Tạ Tỵ
Post by Sơn râu 22 May 2024

Chương V: Về xuôi
Phần 4
Tin đồn sắpcó biên chế được tung ra! Anh em bàn tán mỗi ngày, nhưng chuyện đó chưa xảy đến ! Vì lo nghĩ nhiều chuyện khác, nên cũng quên đi. Đùng một cái, tin biên chế thành sự thực. Một buổi trưa, các Đội xếp hàng đi lao động như thường lệ, tên Thịnh đứng sau chiếc cửa tò vò trong “chuồng chim”, nói:
– Chiều nay, khỏi lao động. Các anh được “biên chế” lại, cần chú ý nghe tên mình thuộc Buồng nào, Đội nào, để sau đây cứ thế thi hành. Đây là việc “biên chế” toàn trại, do đó, mất rất nhiều thì giờ, sau khi nghe xong, phải thi hành ngay mới kịp ! Các anh nghe rõ chứ ?
Tên Thịnh gọi qua chiếc loa cầm tay chạy bằng pin, như loại các cán bộ Tâm Lý Chiến thường dùng trong các công tác vận động quần chúng !
– Tiên sư tụi nó, lại đểu cáng! Nếu mất nhiều thời giờ, sao không cho mình làm từ sáng? Nó sợ mất nửa ngày công lao động của tù!
Một tiếng chửi cất lên trong hàng! Tôi quay nhìn thấy Thạch, Tổ trưởng.
Chiếc loa phóng ra từng tên, số Đội và số Buồng.
Đây công việc cho tên tù vào rổ xóc, rồi bốc ra từng nắm, nhằm mục đích để tù không có hoàn cảnh và thời gian cấu kết, âm mưu chuyện gì đó không có lợi cho Cộng Sản. Việc gọi tên, được thực hiện cả 2 tiếng đồng hồ. Sau đó, anh em ùa về như đàn ong vỡ tổ. Buồng nào, buồng ấy loạn cả lên. Tất cả đều vội vàng, nhồi nhét vào bao, chuyển ra sân để đến nơi ở mới. Có người, sau khi thu xếp xong, để đó đi xem nơi ở mới, lúc quay về, mất gói đựng đồ ăn, kêu như cha chết!
Tôi bị chuyển đến căn buồng ngay cổng trại. Mỗi Buồng gồm 2 Đội, làm hai công việc khác nhau, tùy theo quyết định của Ban Giám Thị mỗi ngày. Trời bắt đầu vào mùa lạnh. Những cơn gió đầu mùa đã thổi từng cơn dào dạt mỗi sáng, mỗi chiều. Mọi người đã mang áo lạnh đi lao động. Con nước đã rút từ lâu, để lộ những bờ đất ngang dọc, đan kín một vùng rộng lớn. Đội tôi phải đi vớt cỏ ruộng.
Buổi sớm nay mưa gió tơi bời, những cơn mưa không đủ lớn, để có thể nghỉ lao động. Gió thổi vun vút, chúng tôi đi dưới cơn mưa. Những chiếc áo tơi đủ kiểu được khoác lên người. Từ trại đi đến ruộng cũng khá xa, khoảng 2 cây số. Đường đi phải men theo sườn núi rồi xuống con dốc, đi theo con đê nhỏ dẫn đến khu làm ruộng. Công tác này, không phải một Đội, mà nhiều Đội. Mỗi Đội làm một việc. Đội rắc vôi, Đội sửa bờ, Đội khai mương, bắc cầu, Đội làm cỏ. Ở giữa ruộng, có chòi gác cao. Một tên Công An vũ trang đứng trên đó nhìn bao quát toàn khu.
Tên Công Ạn quản giáo xua chúng tôi xuống ruộng kéo cỏ. Buối sáng trời mưa gió lạnh giá, chúng tôi xắn quần tới bẹn. Vài người cởi quần dài, mặc xà-lỏn lội xuống. Có người hụt hố, nuớc ngập tới ngực. Những chiếc hố sâu do sự lấy đất đắp bờ. Chỗ nông, nước quá đầu gối. Tôi vừa cho chân xuống đã thấy 2, 3 con đỉa đói đang đo nước tiến đến. Nhìn thấy chúng, tôi bước nhanh để tránh. Nhưng dù cẩn thận đến đâu, buổi sáng hôm đó, tôi cũng bị 3 con hút máu, khi lên đến bờ, mới biết vì máu chảy ròng ròng. Theo kinh nghiệm, tôi xé chút lá nón áp vào chỗ máu chảy, tự nhiên máu ngưng liền. Hay thật, người nông đân Việt Nam có nhiều cách trị đỉa. Thuở nhỏ, tôi về quê, thấy gã lực điền, mỗi khi đi cầy, thường mang theo ống tre nhỏ, đựng vôi trộn với bồ hóng bếp để trị đỉa. Mỗi lần đỉa bám, họ cầm chiếc que cắm sẵn trong ống tre, gạt nhẹ, đỉa nhả ra ngay. Trong trường hợp lội ít, có thể dùng nước miếng thoa vô, đỉa cũng nhả, nếu không, gỡ ra còn khó! Trên rừng có vắt, dưới nước có đỉa, quả trời sinh ra những loai này quá vô ích, cũng như ruồi muỗi vậy!
Chúng tôi làm công tác kéo cỏ thì ít, bắt cua, ốc thì nhiều. Mỗi buổi, người nào cũng mang về đầy nhóc hai túi ốc, cua. Có buổi, khi về đến cổng, chờ được vô trại. Nhưng chờ mãi chua thấy gọi, trong khi các Đội khác tuy về sau lại được vô trước. Chúng tôi biết ngay có sự chẳng lành. Tên hung thần Lực tiến đến:
– Đội 15, đứng dậy. Mỗi người, đứng cách nhau 1 thước.
Mọi người đứng lên, mặt buồn xo. Những túi cua, ốc được vứt ra xa từ trức, vì biết thế nào cũng bị khám. Mọi người đều dang ra đứng nghiêm chỉnh. Một anh, đứng trước mặt tôi, có túi cua, ốc con để nguyên trong chiếc mũ vải. Tôi tin, thế nào anh cũng bị tịch thu, còn bị viết kiểm điểm nữa. Nhưng anh quả tài tình, tên Lực khám kỹ như vậy, anh ta phớt tỉnh cứ đưa lên, hạ xuống chiếc mũ, khiến tên Lực không để ý, thế là thoát. Mọi người đều bị thu hết, nếu chưa vứt kịp.
Sau khi khám xong, tên Lực còn xỉ vả một hồi, mới cho vô trại. Về đến buồng, tôi hỏi anh, sao tài thế? Anh cười cười:
– Có gì đâu Bố, tụi nó cũng có 2 mắt, 2 tay, 2 chân như mình. Ai lanh người ấy được! Con chỉ nhờ lanh, qua mặt được tụi nó!
Ngày tháng phai đi. Mùa lạnh đích thực đã về với nhưng cơn mưa phùn lê thê kéo dài theo gió Bấc. Chúng tôi đã được gửi thư có phiếu quà từ 2 tháng trước, nay quà thấp thoáng tới. Vì thiếu thốn quá, lại lao động khổ sai lâu ngày, không còn sức chịu nổi, nên ngã bệnh rất nhiều. Phần đông, trông như những xác ma. Có lẽ, tụi Cộng Sản nhìn rõ, nếu không cho thăm nuôi, sớm muộn gì tù cũng chết 1/3, 1/3 ngất ngư, còn 1/3 gồm những người còn có sức chịu đụng thêm một thời gian ngắn, rồi cũng quỵ. Cứ ăn bánh mì nướng, bánh mì luộc với muối thì không sao sống nổi. Do đó, họ quyết định cho viết thư về gia đình nói rõ địa điểm giam và báo cho gia đình biết, thể thức thăm nuôi. Nhưng từ ngày viết, đến lúc gia đình nhận được thư, lo sửa soạn xin phép địa phương, đến lúc thăm nuôi được, ít nhất cũng nửa năm! Thư đi, mỗi tháng được gửi một lần nhưng thư nhận mỗi năm may ra được 2 lần. Do đó những gì cần nói, hay cần biết về gia đình đều mất hết thời gian tính. Vấn đề này nằm trong phương cách kềm chế tù của Cộng Sản.
Còn gần 1 tháng nữa đến Tết. Chuyến thăm nuôi của em gái tôi qua đã lâu. Tôi lại quay về với ổ bánh mì chấm muối, đôi khi có phát cá khô, nhưng con cá nhỏ xíu, ở miền Nam dùng làm phân bón.
Một sáng, tên Công An buồng vô mở cửa “chuồng”. Khi vừa mở khóa, rút luôn chiếc then sắt cầm trong tay. Chờ mọi người ra sân hết, nó nói:
– Các anh sửa soạn, mang tư trang ra sân điểm nghiệm.
Ai nấy quên cả việc đánh răng, rửa mặt vội vàng thu xếp đồ đạc mang ra sân. Buồng trưởng Cường nguyên là cựu Chuẩn Úy biệt phái qua Bộ Giáo Dục, giáo sư Toán, bị bắt đưa ra đây vì ở trong mặt trận Phục Quốc. Anh rất trẻ, tính tình hòa nhà, có thái độ rõ ràng với Cộng Sản, nhìn tôi nói:
– Tụi “chèo” lại giở trò gì rồi, anh cẩn thận!
Ở đây, tù thường gọi tụi Công An là “chèo” vì ngụ ý khinh khi, coi thường. Tụi nó chỉ là những tên nhà quê đóng tuồng, không có giá trị gì, tuy bộ môn hát chèo là một nghệ thuật cổ truyền của Dân Tộc.
Một buổi, có tên Công An hỏi người tù:
– Tại sao các anh lại gọi tôi là “chèo”?
Anh kia trả lời cho xong :
– Chúng tôi gọi cán bộ là “chèo”, nhằm đề cao đó. Con thuyền Cách Mạng hôm nay đạt tới bến vinh quang, nhờ có nhiều người “chèo lái” giỏi, mà Công An là những tay “chèo” chính, chuyên lo về nội trị mà!
Chăng biết lời giải thích đó có làm tụi Công An hết thắc mắc không, chỉ biết từ đó chúng không hỏi thêm nữa!
Anh em cứ ngồi chờ hơn 1 tiếng đồng hồ, không thấy tên Công An nào vào khám đồ. Trời lất phất mưa. Bỗng tên Công An buồng từ ngoài xồng xộc bước vô nói:
– Các anh thu đồ lại, ra sân lớn chờ lệnh!
Tuy không ai có thì giờ nói với ai, nhưng mọi người đều đoán, sẽ chuyển Trại.

mạnh hải flickr
Chiếc sân lớn đã kín người và hành trang. Không khí hôm nay hoàn toàn khác biệt với những buổi tập họp hàng ngày. Rất nhiều Công An vũ trang đứng lố nhố ngay nơi cổng Trại. Tên Huy, phó Giám Thị, hai tay khoanh sau lưng, đi đi, lại lại trước “chuồng cu”. Tên Thịnh đứng sẵn bên trong tay cầm chiếc loa:
– Các anh im lặng! im lặng!
Tiếng ồn ào im bặt.
– Hôm nay có một số anh chuyển Trại. Tôi đọc tên anh nào, anh đó đứng dậy mang đồ ra khỏi cổng. Nghe rõ cả chưa?
– Chưa rõ, yêu cầu nói lại!
Đúng, chiếc loa yếu pin, nên chỉ người nào ngồi gần nghe, còn ở xa không rõ!
Tên Thịnh thử loa, nhưng nó vẫn rè rè, sau tên Huy cho lệnh đi lấy chiếc khác. Chiếc loa mới được mang đến.
– A lô, A lô, các anh nghe rõ không?
– Rõ!
Trên 1,000 cái miệng cùng há ra, tạo nên âm thanh vang động!
– Bây giờ, tôi bắt đầu gọị!
Không khí im phăng phắc. Sau mỗi tiếng gọi, một người đứng dậy vác đồ lên vai len lách đi ra phía cổng. Cuộc gọi tên đến trưa mới dứt. Số người đi, chừng nửa trại. Những ai còn ở lại cũng được biên chế qua buồng khác. Tôi được biên chế qua buồng kế bên.
Vào xế trưa, có mấy trăm người tù trại C và B chuyển tới. Đây là “biên chế Liên trại”
Chúng tôi sống luôn luôn bị đe dọa bởi những bất trắc. Ngày Tết gần kề. Đây là cái Tết thứ tư tôi đang sống trong tù. Tôi gặp lại Tài, người bạn trẻ đã chặt dùm tôi mấy cây dang khi còn ở Yên Bái. Có Tài, đời tù cũng vui lên một chút, vì có người tâm sự. Tài hãy còn trẻ nhưng rất kín đáo. Những gì chúng tôi nói với nhau như nói với chính mình. Tài lúc này làm ở Đội mộc, chuyên đóng mái nhà tù, những nhà tù đang làm thêm, hoặc làm nhà cho tụi Công An ngoài trại.
Tết nào cũng vậy, tù được phát bánh chưng, kẹo bánh, thuốc lá. Nhưng mỗi cái Tết qua đi, hình như tặng vật được thu gọn lại. Chiếc bánh chưng mỏng như chiếc bánh xu xê, chỉ có gạo đậu, không thịt. Kẹo, bánh, thuốc lá, mỗi thứ một chút cho có lệ.
Tết, mưa gió tơi bời. Mưa phùn và gió bấc làm mọi người ngại đi, chỉ muốn ngồi một chỗ. Ở đây không nhiều trò chơi như ở Lào Cai, cũng chẳng có bích báo. Ngày Tết tù đuợc nghỉ lao động từ hôm 25, trừ Đội làm ruộng, phải cấy lúa cho xong trước Tết.
Từ ngày biên chế, qua buồng khác, tôi làm công tác đào kinh. Con kinh dài khoảng 3 cây số, được thực hiện nhằm mục đích “thủy lợi”, có thể lấy hoặc tháo nước tùy theo nhu cầu canh tác. Nơi đào kinh, là vũng sình lầy, nước đen ngòm, đỉa cả đống. Mùa lạnh, ngâm chân suốt ngày, sao chịu nổi? Vì sức yếu, tôi xin làm trên khô. Tên Công An quản giáo lao động nhất định bắt xuống. Nó nói:
– Nếu anh không xuống lao động, tôi đấm vỡ mặt anh ra.
Tôi trả lời:
– Đấm, là quyền của cán bộ! Tôi sức yếu, đang ốm làm sao ngâm chân cả ngày dưới nước, tôi làm trên khô!
– Quăng anh ấy xuống nước!
Một tên Công An đứng gần đó nói. Tôi cứ đứng trơ trơ, sau chẳng đấm, cũng chẳng quăng, họ cho tôi đi theo Đội khác xây cất kho dụng cụ. Công việc này làm mấy hôm xong. Nó bảo tôi giặt áo quần. Công việc này nhục lắm, nhưng còn hơn ngâm chân dưới nuớc đầy đỉa, tôi cũng đành nhận. Bộ quần áo vàng nó thay ra, nhìn thấy đã ghét, đã căm thù, làm sao có thể giặt? Tôi đem dúng nước vò sơ, rồi vắt lên cây phơi! Vài lần như vậy, nó chê tôi giặt bẩn, bắt xuống bùn đào kinh. Lúc này tôi nghĩ thà đào kinh, bị đỉa cắn, còn hơn kéo dài sự nhục nhã. Từ hôm đó, hai chân tôi ngâm nước giữa mùa đông, mưa gió như cắt ruột, các kẽ chân bị nước ăn lở loét, sưng vù! Mấy hôm nghỉ trước Tết, tôi cố gắng bôi thuốc, nhưng không đỡ chút nào. Khi ngứa gãi sướng lắm, nhưng gãi xong, đau như chết! Đêm qua, lúc Giao Thừa, cũng như trên Lào Cai, tụi Công An mũ mảng đàng hoàng vô chúc Tết tù. Buồng trưởng lại đáp lễ. Thêm một lần giả dối!
Sáng nay mồng 1, trước khi ra “chuồng”, anh em lại chúc nhau, những câu như những năm trước, nghe nản quá ! Tôi qua thăm “tu-bíp” Nhâm, để uống café như đã hẹn trước. Trại có 5, 6 “tu-bíp”. Từ sáng, mỗi vị khoác áo bờ-lu trắng, đứng ở đầu “nhà văn hóa” giữa sân, như những tên lơ xe, đón khách! Xin chớ hiểu lầm, mấy ông “tu-bíp” này, có giá lắm. Các ông có quyền cho nghỉ hay không, tùy theo bệnh và số bệnh của mỗi buồng. Họ cho nghỉ theo tỷ lệ. Tôi có đi khám vài lần. Sau khi bệnh nhân tự khai bệnh, và nhìn sổ bệnh mỗi sáng, các ông tùy nghi quyết định.
– Anh đau gì? À, đau bụng đi cầu, anh ra góc kia cố “rặn” một tí, đưa lại đây tôi xem!
– A, anh bị sốt rét. Cứ đi lao động, trưa về lãnh thuốc.
– Còn anh này sao? Đau chân hả, đưa coi! Có gì đâu, đi lao động! Anh kia nữa, bệnh gì? Ho hả? Nhẹ mà, đi lao động. Còn anh này, nghỉ mấy hôm rồi, chịu khó đi lao động, hôm nay đến phiên người khác.
Cứ như vậy, các ông “tu-bíp” nói, như đọc bài học thuộc lòng! Người bệnh thật, người bệnh giả. Có người quá mệt, muốn nghỉ một hôm, nói thẳng:
– Nói thật với Bác sĩ, hôm nay khai bệnh không ngoài mục đích muốn nghỉ lao động một bữa, mong Bác sĩ thông cảm!
– A, ô kê nghỉ! Cứ thành thực như anh, chúng tôi dễ làm việc!
Buổi sáng nào cũng vậy, mỗi “tu-bíp” phụ trách vai buồng, thỉnh thoảng lại thay vị trí để đỡ “bắt bồ”. Nhâm, tương đối, một “tu-bíp”, biết điều và đứng đắn. Khi mới đến đây, Nhâm có ở chung buồng với tôi. Ngoài ra, còn ông “tu-bíp” già Trương Như Quýnh, anh ruột Trương Như Tảng, một đảng viên Cộng Sản, Bộ Trưởng Tư Pháp trong thời gian đầu Cách Mạng của Mặt Trận Giải Phóng trá hình, bất mãn phản Đảng, nên “tu-bíp” Quýnh chịu ảnh hưởng lây, cho đến nay vẫn còn bị giam trong khi các “tu-bíp” khác được tha về gần hết. Quýnh có vợ đầm, nói tiếng Pháp như Tây, nay lại cầu mong được về để ăn mắm cá lóc với mẹ già trên 80 tuổi. Còn các “tu-bíp” khác như Võ Tam Anh và Mã Thanh Phong, anh này liều một cây. Hồi còn bị giam ở trong Nam, khi chữa bệnh cho một nữ cán bộ, không hiểu anh tán tỉnh thế nào mà xơi được tên “phún” đó.Tụi nó biết, đưa ra Bắc, tuy cấp anh nhỏ, đáng lẽ được ở lại trong Nam. Tôi nghe anh em nói lại như vậy.
Trong số các “tu-bíp” tại Trại Nam Hà, có tên Diễn là đểu cáng nhất. Nó nạt nộ anh em, chuyên môn làm khó dễ mỗi khi tù khám bệnh. Một bữa, vợ nó đến thăm nuôi, vô tình gặp anh em lao động nơi mé lộ hỏi:
– Chị đi thăm nuôi ai vậy?
– Tôi là vợ Bác sĩ Diễn.
Tất cả anh em đều ồ lên:
– A, chị là vợ thằng khốn nạn đó hả? Chị nên mang quà về, thằng đó không xứng đáng làm người.
Người vợ quá ngượng, cúi gầm mặt lùi lủi đi vô nhà thăm nuôi. Tên Diễn cũng được tụi Công An ban đặc ân cho 24 tiếng để giải quyết sinh lý trong căn nhà hạnh phúc!
Nhưng anh “tu bíp” tốt nhất phải nói là Trần văn Chơn, em ruột Cựu Bô Trưởng Y Tế miền Nam Trần văn Lữ Y. Chơn một bác sĩ có nhiều tinh thần bác ái, thương mến anh em cùng chung cảnh ngộ. Khi trước, anh phục vụ trong binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt. Anh được tha vào giữa năm 1980 cùng một số bác sĩ và anh em khác.
Tôi đến, Nhâm đã ngồi chờ trước phin café. Mùi café bốc lên thơm ngát. Chúng tôi không chúc nhau câu nào chỉ nói chuyện vui. Tôi đột nhiên mang câu chuyện tự tử bằng 48 viên độc dược, tại sao không chết? Tôi nói dối với Nhâm, đó là trường hợp của người bạn ở Lào Cai. Nhâm cho biết, nếu anh kia chỉ uống 1 trong 2 thứ đó, chắc chắn chết, vì uống cả hai thì chúng hóa giải nhau, do đó thoát. Qua lời Nhâm, tôi biết ngay Lan chết vì chỉ uống có Chloroquine!
Chúng tôi uống Café, hút thuốc Tam Đảo, nói chuyện về y học và nghệ thuật. Nhâm có một kiến thức khá rộng về chuyên môn cũng như nghệ thuật. Anh vào tù vì chức Thượng Nghị Sĩ trong Ủy Ban Quốc Phòng.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.