Trần Hoài Thư và Ngọc Yến Với Con Chim Chằng Nghịch và Nỗi Nhớ Quê

dongsongcu.wordpress.com

Ngô Thế Vinh

Posted on June 24, 2024

Post by Sơn râu 25 Jun 2024

Lời Dẫn Nhập: 

Gần đây, qua bao nhiêu biến cố dồn dập trong cuộc đời Trần Hoài Thư, đã đến lúc không thể không có một bài viết về người bạn văn, như một tấm thiệp mừng 50 năm ngày cưới – 50th Gold anniversary của đôi vợ chồng Nguyễn Ngọc Yến – Trần Hoài Thư, một “đám cưới nhà binh” của thế kỷ, với  rất nhiều hạnh phúc cùng với nhiều khổ đau khi cả hai sắp bước vào tuổi 80. Cũng nhân đây, có một gợi ý với các bạn trẻ trong và ngoài nước đang chuẩn bị luận án tiến sĩ văn học, thì chân dung văn hoá của Trần Hoài Thư cùng với nỗ lực phục hồi Di Sản Văn Học Miền Nam 1954 – 1975 là một đề tài vô cùng phong phú và hấp dẫn, rất xứng đáng để các bạn khám phá và dấn thân vào. Các bạn cũng không còn nhiều thời gian – nói theo cách ví von của nhà văn trẻ Trần Vũ, chiếc kim đồng hồ trên tay anh Trần Hoài Thư đã chỉ 12 giờ kém 5 phút sắp qua nửa đêm và chỉ sau năm phút phù du đó, khi Trần Hoài Thư trở thành “người của trăm năm cũ”, tất cả sẽ bị lớp bụi thời gian mau chóng phủ mờ. 

Hình 1: trái, thầy giáo Trần Hoài Thư (1967) ở tuổi 25 khi mới chuẩn uý về làm trung đội trưởng thám kích sư đoàn 22 Bộ binh. [nguồn: “Nhà văn Việt Nam” của Lương Trọng Minh]; phải, nửa thế kỷ sau nhà văn Trần Hoài Thư (2017) ở tuổi 75 đang ngồi khâu Di sản Văn học Miền Nam dưới tầng hầm căn nhà 719 Coolidge Street, Plainfield, New Jersey 07062, là địa chỉ Thư Ấn Quán, cũng là toà soạn Thư Quán Bản Thảo. [nguồn: ảnh THT tự chụp từ video với iPhone 5; Chân Dung VHNT & VH, Việt Ecology Press 2017]

Tiểu Sử Trần Hoài Thư

      Trần Hoài Thư tên thật Trần Quí Sách, sinh ngày 16/12/1942 tại Đà Lạt. Tuổi thơ bị thất lạc cha, theo mẹ sống khổ cực ở thành phố Nha Trang, có một thời gian sống trong cô nhi viện Bethlehem Hòn Chồng. Sau khi được đoàn tụ với thân phụ – là một ông đồ còn mặc áo lương đen, THT mới được theo học trường Quốc Học Huế, rồi vào Đại học Khoa học Sài Gòn. Từ năm 1964-1966 là giáo sư Toán đệ nhị cấp trường trung học Trần Cao Vân, Tam Kỳ tỉnh Quảng Tín (nay đã sát nhập vào tỉnh Quảng Nam).

      Năm 1967, nhập ngũ khóa 24 SQTB Thủ Đức. Phục vụ tại đại đội 405 Thám kích sư đoàn 22 Bộ binh. THT bị thương 3 lần. Lần đầu tiên do một viên đạn AK VC bắn vào ngực trái khi đơn vị anh tới tăng viện cho mặt trận Quy Nhơn trong Tết Mậu Thân 1968, THT phải nằm Quân Y viện Quy Nhơn một thời gian. Hai lần sau đều là những vết thương miểng do lựu đạn trong hai cuộc giao tranh khốc liệt trên chiến trường Bình Định: một trên ngọn đồi Kỳ Sơn với 4 sĩ quan tử trận 2 sĩ quan còn lại bị thương trong đó có THT, một trên trận địa xứ dừa Bồng Sơn. THT rời đơn vị Thám kích sau 4 năm với 3 chiến thương bội tinh, rồi về làm phóng viên chiến trường ở vùng IV nơi anh mới có một người vợ đồng bằng – Ngọc Yến là một cô gái Cần Thơ mê văn anh, cho tới ngày 30/4/1975.

Một Mối Tình Văn Chương

      Trần Hoài Thư khởi sự viết văn từ năm 1964, có lẽ sớm hơn. Truyện ngắn đầu tay Nước Mắt Tuổi Thơ được đăng trên tạp chí Bách Khoa Sài Gòn. Ngoài Bách Khoa, những năm sau đó THT còn cộng tác với Văn, Văn Học, Đời, Bộ Binh, Thời Tập, Vấn Đề, Khởi Hành, Ý Thức…

      Không biết cô gái Cần Thơ Nguyễn Ngọc Yến bắt đầu đọc và hâm mộ Trần Hoài Thư từ bao giờ. Trên Tạp chí Sóng Văn (1997), Ngọc Yến cho biết: “cũng vì yêu mến văn chương, nên duyên văn nghệ đã đưa chúng tôi gặp nhau, và nhà văn Nguyễn Lệ Uyên là ông mai”. Từ trước đến nay, tôi vẫn đinh ninh anh Lê Ngộ Châu chủ nhiệm Bách Khoa là ông mai. Qua Đỗ Nghê, tôi đã liên lạc được với Nguyễn Lệ Uyên, và anh đã mau mắn trả lời tôi ngay trong đêm qua một email [viết ngày 05.05.2021]:

      “Chuyện là thế này: hồi học Sư Phạm Đại học Cần Thơ (1968), lúc làm hồ sơ nhập học bị trễ mấy ngày, bị làm khó. May sao gặp chị Yến làm ở phòng Hành Chánh của Viện nói giúp với ông Khoa trưởng. Sau đó thì thân nhau, bởi chị cũng biết tôi có võ vẽ mấy truyện ngắn trên Văn, Khởi Hành… mà chị thì mê văn chương, đọc nhiều, các tạp chí văn học chị hầu như ít bỏ sót, nên chúng tôi coi như chị em, chị lớn hơn tôi 7,8 tuổi. Những dịp nhận nhuận bút, tôi thường chở chị đi ăn món gì đó. Rồi trên số Văn chủ đề Những cây bút trẻ, lại có truyện của tôi và anh Trần Hoài Thư. Khi nhận nhuận bút, tôi mời chị đi ăn bún bò Huế ở quán ông Ba Mập ngoài Bình Thủy, trên đường đi Long Xuyên. Ăn, chị hít hà, chảy nước mắt và khen ngon. Trong lúc ăn, chị hỏi tôi có biết, quen anh THT không, có nhận xét gì về truyện anh Thư. Tất nhiên là quen nhiều, vì ảnh, từ Quy Nhơn hay vào chơi với anh em văn nghệ Tuy Hòa năm ba hôm, thường thì ăn uống rồi ở lại nhà tôi.

      Thâm tâm, tôi chỉ nghĩ chị hỏi để hiểu rõ thêm về một tác giả, nhưng không ngờ, chị mê truyện anh Thư, mê các nhân vật khốn khổ của ảnh, như hiện thân của một THT được bê nguyên xi vào truyện rồi yêu cả truyện và người viết! Tới cuối năm 69 đầu 70, nhóm sinh viên chúng tôi thực hiện chương trình ca nhạc, đọc, ngâm thơ hàng tuần ở giảng đường lớn, chị mới biểu lộ tình cảm thật của chị đối với anh Thư. Chị hỏi tôi gia cảnh, sinh hoạt cá nhân, tính tình… Vậy là đã rõ. Tôi ra sức vẽ vời anh THT còn hay hơn truyện tôi viết. Tôi sơn phết anh Thư cho tròn trịa hơn một chút, bặm trợn, lãng mạn như cụ Hemingway một mình giữa biển khơi. Tối đó, tôi viết cho anh Thư đến 4, 5 tờ pelures về chị Yến. Kể thật về điều tai nghe mắt thấy, về nhan sắc, tính tình của chị trong gia đình gia giáo (ông cụ thân sinh chị là GS Tổng Giám thị trường Trung học Phan Thanh Giản). Với anh THT, tôi viết thư nói đây là một mẫu người lý tưởng để làm vợ, anh đừng để mất cơ hội. Chị Yến thì gần, gặp nhau hai chị em nói chuyện thơ văn, tán dương ông anh Quí Sách, khuyến khích chị viết thư làm quen với các nhân vật của ảnh. Sau vài ba lần như vậy, tôi nói thẳng với chị: Anh Thư là một người tuy không hoàn hảo, nhưng sẽ là người chồng tốt…” [hết trích dẫn]

      Từ đó địa chỉ Toà soạn Bách Khoa, trở thành hộp thư để cô gái miền Tây làm quen và liên lạc với người lính lang bạt Trần Hoài Thư. Sau đó Bách Khoa cũng là điểm hẹn cho lần gặp gỡ đầu tiên của hai người.  Rồi trong một chuyến về phép ngắn ngủi, Thư có hẹn lần đầu gặp Yến ở Bách Khoa. THT vui bạn bè nên trễ buổi hẹn với Yến. Khi Đỗ Nghê chở Thư tới 160 Phan Đình Phùng thì Yến đã giận bỏ đi. Và cũng chính anh Lê Ngộ Châu đã tất bật đuổi chạy kịp theo Yến đưa trở lại toà soạn gặp THT. Những kỷ niệm trân quý với anh Lê Ngộ Châu là điều mà mãi sau này THT không bao giờ quên. Rồi không lâu sau đó hai người nên duyên vợ chồng. Thư đã làm lễ thành hôn với Yến ngày 18/6/1971.

       Nguyễn Lệ Uyên viết tiếp: “Cuối cùng, như duyên tiền định với tô bún bò Huế cay xè tôi đãi chị, hai người hẹn hò nhau ở tòa soạn Bách Khoa, đến tháng 6/1971 hai người làm đám cưới;  khi ấy  tôi đang ở quân trường Thủ Đức, nhận được thư chị viết mấy dòng ngắn: Chị và anh Thư cưới nhau, ngày… tháng… năm… Em gắng lấy giấy phép về dự, không anh chị buồn”.

      Đúng là một “đám cưới nhà binh” tại Sài Gòn không thể nào đơn giản hơn, chỉ với mươi người bạn nơi một căn nhà trong xóm Bàn Cờ, không có rước dâu cũng không có cả nhẫn cưới.

      Một tuần lễ sau, ngày 23/6/1971 Cơ sở Xuất bản Ý Thức tổ chức một buổi ra mắt sách cho Trần Hoài Thư với tác phẩm đầu tay “Những Vì Sao Vĩnh Biệt” có Trần Phong Giao thư ký toà soạn Văn tới tham dự.

Tiểu Đăng Khoa Đại Đăng Khoa

      Trong tờ Văn 181 tháng 07/1971, nhà văn Trần Phong Giao viết: “Người xưa coi đại đăng khoa là thi đỗ, tiểu đăng khoa là cưới vợ. Đối với người cầm bút trẻ thời nay, phải “xếp bút nghiên theo việc đao cung” thì đại đăng khoa không còn là thi đỗ, mà (có lẽ vậy) là có tác phẩm được in. Cây bút trẻ Trần Hoài Thư viết rất nhiều hiện nay, qua cả tiểu lẫn đại đăng khoa, cùng lúc. Ngày 18 tháng 6, anh đã làm lễ thành hôn với cô Nguyễn Ngọc Yến tại Sài Gòn trong vòng thân mật. Ngày 23 tháng 6, vào hồi 19 giờ 30, Cơ sở Xuất bản Ý Thức vừa tổ chức một buổi tiếp tân trình diện tập truyện đầu tay của Trần Hoài Thư “Những Vì Sao Vĩnh Biệt”. Tiểu đại đăng khoa xong, Trần Hoài Thư vội vã lên đường trở về đơn vị ở Quân khu II. Lính chiến chỉ có một tuần nghỉ phép. Chạy ngược chạy xuôi, không có tuần trăng mật, cũng như không kịp đem sách mới đi tặng anh em bà con. Vui vậy đó! Nhân dịp vui mừng này, chúng tôi xin có lời cầu chúc đôi bạn Thư -Yến một hạnh phúc bình dị, lâu dài và bền chặt. Cũng xin cầu chúc tác giả “Những Vì Sao Vĩnh Biệt” sẽ sớm có thêm nhiều tác phẩm mới khác, những tác phẩm não tuỷ và tinh tuỷ.”

      Một năm sau, đứa con trai đầu lòng Trần Quí Thoại cũng là đứa con duy nhất chào đời. Đôi uyên ương Thư-Yến cho dù qua bao thăng trầm, họ đã có một cuộc sống lứa đôi hạnh phúc bình dị, lâu dài và bền chặt cho tới bây giờ, đúng một nửa thế kỷ (1971 – 2021).

Hình 2: Chủ nhiệm Lê Ngộ Châu và báo Bách Khoa, người chọn đăng truyện ngắn đầu tiên Nước Mắt Tuổi Thơ của Trần Hoài Thư trên Bách Khoa 1964.

Hình 3: phải, nhà văn Trần Phong Giao Thư ký Toà soạn báo Văn [ photo by Lê Phương Chi, Tin Sách Hội Bút Việt]; giữa, bản tin trên báo Văn số 181, tháng 7/1971 loan tin THT cưới vợ: tiểu đăng khoa, và THT ra mắt tác phẩm đầu tay: đại đăng khoa; trái, bìa cuốn Những Vì Sao Vĩnh Biệt do Nhóm Ý Thức xuất bản 1971. [tư liệu Thư Quán Bản Thảo]

      Sự thực tác phẩm đầu tay của Trần Hoài Thư là cuốn Nỗi Bơ Vơ của Bầy Ngựa Hoang cũng do cơ sở Ý Thức xuất bản năm 1969, tại Phan Rang một tỉnh lỵ nhỏ của miền Nam, dưới hình thức “phổ biến hạn chế” theo cái nghĩa không qua kiểm duyệt. Mẫu bìa 2 màu do Lê Ký Thương vẽ, bản kẽm bìa làm từ Cliché Dầu Sài Gòn, được in typo bằng máy đạp / pedal thô sơ, và in 2 lần, mỗi lần cho một màu chồng lên nhau. Ruột sách thì  in ronéo và khi thực hiện trên giấy stencil, được chị Kim Phương bạn của Nguyên Minh canh lề bằng chân sao cho giống bát chữ typo. Đợt đầu 100 ấn bản được ra mắt và phát hành từ nhà sách Huy Hoàng Nha Trang, cũng là quê hương tuổi thơ nghèo khó của Trần Hoài Thư. Và kết quả Nỗi Bơ Vơ của Bầy Ngựa Hoang đã được độc giả miền Nam đón nhận trong sự ngạc  nhiên và thích thú.

      Như vậy, Những Vì Sao Vĩnh Biệt phải được kể là tác phẩm thứ hai của Trần Hoài Thư nhưng là tác phẩm thứ nhất hoàn toàn được in theo kỹ thuật typo.

Hình 4: Les Trois Mousquetaires – Ba Chàng Ngự Lâm ít nhiều có “hệ luỵ” với cuộc đời Trần Hoài Thư, từ trái: Lê Ký Thương, người vẽ bìa cho tác phẩm đầu tay Nỗi Bơ Vơ của Bầy Ngựa Hoang của THT do Ý Thức xuất bản (1969), Nguyễn Lệ Uyên, “ông mai” xe duyên cho đôi uyên ương Ngọc Yến – THT (1969), Đỗ Nghê người chở THT tới buổi hẹn đầu tiên của Ngọc Yến – Trần Hoài Thư tại toà soạn Bách Khoa (1970). [tư liệu Đỗ Nghê, hình do Cao Kim Quy vợ Lê Ký Thương chụp tại nhà LKT 09/05/2021]  

Phóng Viên Chiến Trường Vùng IV

      Trần Hoài Thư sống sót sau 4 năm trong một trung đội Thám kích, với 3 lần bị thương, được coi như một phép lạ. Sau khi lập gia đình, Trần Hoài Thư đã nghĩ tới dừng chân lại. Phải được sống và tiếp tục được viết như một nhân chứng. Rồi bằng một cách thế không giống ai, không tuân theo hệ thống quân giai, một lỗi rất nặng về quân kỷ, Trần Hoài Thư tự viết một thư riêng cho vị tướng cao cấp nhất trong Tổng cục Chiến tranh Chính trị, với nguyện vọng vẫn được  ở trong quân ngũ nhưng chuyển ngành sang làm một phóng viên chiến trường. Trong phong thư riêng ấy, có những trang báo, những bài viết, những tác phẩm đã xuất bản và dĩ nhiên cả những tin tức liên quan tới ba lần bị thương cùng với các huy chương.

      Không phải chờ đợi lâu, một sự việc lạ lùng nhất đã xảy ra. Trần Hoài Thư đã viết báo tin ngay cho Yến: “Không thể tưởng tượng cho một kẻ xuất thân từ đơn vị hai quản trị mà tờ sự vụ lệnh vẫn còn ghi: sĩ quan đương sự phải phục vụ ở đơn vị tác chiến, xa trục lộ giao thông. Nhưng cái công điện đánh lên từ Tổng cục Chiến tranh Chính trị, cho biết Tổng cục chấp thuận ý nguyện của anh và hỏi anh muốn về nơi nào: vùng I, II, III, IV hay thủ đô. Dĩ nhiên anh chọn vùng IV nơi có Yến, người nữ độc giả của anh, và nay trở thành người vợ mới cưới của anh. Có lẽ anh may mắn hơn cả những người may mắn, bởi vì khó có ai được quyền lựa chọn một đơn vị mình ưa thích trên toàn cõi miền Nam như anh.”

      Như một tự sự, THT viết: “Xin cảm tạ văn chương. Nhờ văn chương mà tiếng chuông ngân vang, như những niềm vui lẫn tự hào kỳ diệu. Nhờ văn chương mà ta quên đi thân phận nhục nhằn, nhờ văn chương mà ta thấy ta cao lớn hơn bao giờ.” 

      Hành Phương Nam là những dòng chữ mới mẻ của một Trần Hoài Thư khác, của một người lính đang từ Cao nguyên nay xuống dưới Đồng bằng:

      “Phương Nam. Tôi bắt đầu làm quen với những chiếc xe lôi hay những chiếc xuồng tắc ráng. Hay những cánh đồng mênh mông bạt ngàn. Hay những rừng tràm rừng đước. Tôi bắt đầu làm quen với những bãi đầm sình lún ngập đến cổ người. Những hàng ô môi, những chòm  bông điên điển, những lời kinh giảng vang vọng trong đêm trăng, những tấm lòng hiền như đất, trọng tình trọng nghĩa mà tôi đã gặp. Tôi cám ơn, rằng cuối cùng Ơn Trên đã cho tôi một cõi nương tựa sau những tháng ngày lênh đênh trôi nổi… Cánh cửa đã mở ra như Phương Nam đã mở ra, đón tôi. Có mùi thơm khó có thể quên của bông lúa, hương cau, của mùi đất phù sa lan toả. Cánh cửa ấy đã được kết bằng những chùm mận trĩu nặng trên cành, rực đỏ giữa màu xanh của lá. Nơi nào, từ vườn sau nhà, hay bên dòng kênh, hay trước nhà, hay cạnh bờ ao, hai bên đường quốc lộ, những vườn mận sum suê trái quả. Có trái màu đỏ, có trái màu xanh, trái ửng hồng. Mời mọc ngọt lịm như đôi môi hồng muốn cắn, no đầy tròn trịa như bầu ngực con gái thanh tân, bầu bĩnh au au như đôi má ửng hồng của người gái quê quấn chiếc khăn sọc vằn chèo thuyền xuồng đưa người qua sông trong một ngày mùa hạ để bắt người khách không muốn về:

      Qua sông mùa mận chín

      Tháng nắng ngại đường xa

      Em ra vườn sau nhà

      Hái mời anh chùm mận

      Bông mận rơi lấm tấm

      Da mận hồng như môi

      Ôi con mắt có đuôi

      Má hồng đào ửng đỏ

      Si em người em nhỏ

      Ta ở mãi quên về

      Trái mận nào dậy thì

      Ta giữ hoài không cắn…

Người Vượn Trần Hoài Thư

      Nhưng rồi cũng chẳng được bao lâu, tới ngày 30/4/1975 lại một đổi đời. Trần Hoài Thư bị bắt đi tù cải tạo khi thằng con trai mới 2 tuổi. Cây mận trước sân nhà bông đã nở trắng, trắng như tóc của bà ngoại nó.

      Hơn 4 năm tù khổ sai, mấy tháng đầu bị giam tại Trung tâm Huấn luyện Chi Lăng cũ, thuộc huyện Tịnh Biên tỉnh An Giang; sau đó THT bị chuyển qua trại tù Kiên Lương, trong một khu đầm lầy còn hoang vắng phía tây bắc tỉnh Kiên Giang gần biên giới với Cam Bốt.

      Kiên Lương cũng như mọi trại tù cải tạo cộng sản khác, không bỏ tù nhân chết đói nhưng luôn luôn phải thiếu ăn. Thiếu ăn ngay giữa một vựa lúa ĐBSCL có thể nuôi sống cả nước.

      Nhân danh nhân đạo, ban quản giáo trại cho phép đám tù nhân được lập thêm toán cải thiện: trồng rau trái và hái lượm để có thêm chất xanh. Vì Kiên Lương là vùng trũng [thuộc khu tứ giác Long Xuyên, vùng trũng  thứ hai là Đồng Tháp Mười], giữa mênh mông rừng tràm với rất nhiều tôm cá, cua ốc. Với cơ duyên đó THT tình nguyện xung phong ngay vào nhóm đi câu, gọi là nhóm chứ đó là thứ lao động mà đám tù nhân muốn xa lánh: do sợ đỉa vắt và cả vô số trăn rắn trong khu rừng tràm; họ còn sợ nước phèn ăn da thịt và cả sợ sa chân vào vùng đất lún trong khu đầm lầy. Do nghĩ rằng chẳng có lối nào mà trốn thoát, nên lính canh trại cũng không cần phải đi theo canh gác. Với THT đó lại chính là cơ hội để có những khoảnh khắc sống tự do cho một tên tù thám kích đã quá quen với mưu sinh và thoát hiểm. Chàng Robinson Crusoe bất đắc dĩ thời hiện đại THT viết: “Tôi thì muốn tránh những con mắt. Tôi muốn trong rừng tôi có quyền la hét, hát hò, ỉa đái, cười ha hả. Tôi muốn ôm lấy đời tôi cùng thiên nhiên, mây trắng. Tôi muốn ngồi trên cây tràm như một con vượn người.”

      Do nguồn cá thì ê hề: cá lóc, cá trê, cá rô… câu được với lưỡi câu tự chế với mồi trùn, những con trùn béo nhẫy rất dễ kiếm. Người tù khổ sai THT mỗi ngày dễ dàng “đạt chỉ tiêu” với số ký cá bỏ vào bao cát mang về nộp cho tổ anh nuôi. Dĩ nhiên phần cá ngon thì anh nuôi phải lựa ra nộp đem cho cán bộ quản giáo, phần còn lại mới là nguồn chất đạm / protein cải thiện cho anh em.

      Hình ảnh mà THT không bao giờ quên là khuôn mặt đen đủi của Yến bám đầy bụi than mỗi lần đi thăm nuôi, do phải đi những chuyến xe đò cải tiến chạy bằng than củi.

      Rồi cũng ra tù, THT trở về Cần Thơ quê vợ, với tấm thân xác nặng chưa tới 35 ký lô, để tiếp tục sống những ngày bị quản chế.

      Ban ngày THT gò lưng trên chiếc xe đạp cũ nát với một thùng mốp cà-rem, đi vào các làng mạc, sáng chiều lắc chuông bán dạo, làm bầu bạn với đám con nít để kiếm sống. Cũng chính cái nghề rung chuông mua vui cho con nít ấy đã khiến một ông chủ ghe cảm kích, hơn nữa ông cũng đang cần một người dò đường mà đó cũng là nghề của chàng sĩ quan Thám kích THT. Ông cho Thư một vé xuống ghe “miễn phí” vì biết Thư quá nghèo. Chỉ có một chỗ, nhưng Thư thì còn vợ và một đứa con.  Mãi sau này Thư mới được biết, chính Ngọc Yến vợ anh đã lén lút tìm đến ông chủ ghe  năn nỉ. Ông chủ ghe nói: ‘Chị suy nghĩ lại, chúng tôi không muốn làm anh chị phải chia lìa’. Nhưng Yến vẫn cương quyết: ‘Tôi sẵn sàng để cho chồng tôi ra đi. Xin ông cứu giùm ảnh.’

      Trần Hoài Thư viết: “Ở lại hay ra đi? Tôi đã sống trong sự giằng xé ghê gớm ấy. Ở lại thì ôm nhau mà chết, mà ra đi thì tôi sợ là một lần vĩnh viễn. Tôi đã thấy con thuyền ấy. Khoảng 20 thước bề dài, thuyền ván mong manh, chỉ dành đi trên sông sao lại đem nó ra thử với biển sóng hãi hùng?”  Chính Yến giục giã chồng không thể bỏ qua cơ hội mà phải ra đi. THT viết tiếp: “Tôi chấp nhận. Tôi hèn nhát để chấp nhận. Ích kỷ để chấp nhận.

      Rồi trước khi đi tôi phải đóng kịch, phải làm sao hàng xóm láng giềng biết việc tôi đào thoát không có sự đồng loã của gia đình. Nếu không Yến sẽ bị đuổi việc, vì sát bên vách là nhà của  một mụ đảng viên. Không ai khác hơn chính bà mẹ Yến, một bà mẹ quá hiền quá tội, mẹ chưa một lần nói dối, lại là tác giả của vở tuồng cười ra nước mắt này. Bà khuyên hai con: “Con à, mình phải đóng tuồng. Hai vợ chồng con giả bộ gây lộn để hàng xóm biết, từ nay hai vợ chồng con mạnh ai nấy đi. Con hẳn biết, bên nhà hàng xóm là đảng viên.”   

      Tôi phải chứng tỏ rằng tôi bỏ bê, phụ bạc vợ con. Vở kịch chỉ có hai diễn viên. Người chồng và người vợ. Không gian là cái bếp. Thời gian là buổi chiều. Chỉ có chai đập nồi liệng, tiếng hét tiếng la, tiếng khóc, lớn chừng nào tốt chừng ấy. Với tiếng của Thư: Tao chán cái nhà này quá rồi. Tao sợ cái nơi này quá rồi. Tao đập hết, tao phá hết. Rồi với tiếng Yến: Tới nay thì liên hệ giữa tôi và anh kể như chấm dứt… Vai vợ chồng tôi đóng xuất sắc lắm. Đến nỗi thằng con trai 6 tuổi của tôi phải sợ hãi khóc oà. Và bà má vợ tôi phải sụt sùi nước mắt. Và chỉ có ba người biết rõ những gì trong lòng.

      Tôi đi khi con tôi ngủ như một thiên thần. Tôi đi chỉ có một bộ đồ độc nhất. Vợ tôi đứng đầu ngõ dõi mắt nhìn theo. Sau đó nàng vào lại buồng chúng tôi ôm gối mà khóc ngất, khóc như chưa bao giờ khóc như vậy.” Và đó là một ngày cuối năm 1979, ngày anh đi cũng là ngày “xả chế”, chúng trả lại anh quyền công dân.

Tự do hay là chết

      Phải bỏ lại vợ con, Trần Hoài Thư vượt biển trên một chiếc ghe nhỏ đi sông dồn nén cũng chở được 93 người. Chuyến đi gian truân nhưng cuối cùng cũng tới được bến bờ tự do, đảo Pulau Bidong Mã Lai.

      “Cuối cùng anh cũng quỳ xuống trên bãi cát để cảm tạ Ơn Trên. Tự do, mơ ước là đây. Biển  bây giờ sao quá êm và quá xanh biếc. Sóng bây giờ sao quá đỗi hiền từ. Anh quỳ, dù hai tay anh đã che đỡ những cú đánh, cú thoi, cú đá từ người lính Mã Lai. Anh nhắm mắt lại, không kêu đau, không van xin. Để biết thêm về cái giá của một cuộc ra đi và thấm thía thêm thân phận của một người không có đất nước. ‘Này đất này là của vua ta, bãi biển này là bãi biển của vua ta… Còn ngươi, một thằng từ đâu lạc chợ trôi sông, mang bao khổ luỵ phiền toái tới đất nước này.’

      … Cứ chửi, cứ rủa đi anh lính đội chiếc nón bê-rê đen, cầm thêm cây gậy, bên mình lủng lẳng khẩu súng ngắn. Tự do đâu phải quá dễ dàng như một lần du ngoạn. Bao nhiêu người đã không may. Bao nhiêu người đã nằm dưới lòng biển. Bao nhiêu người con gái đã bị hãm hiếp và bị bắt cóc. Và có người con gái tóc dài tung toé, nhảy ào xuống biển. Còn nữa, còn bao nhiêu người đã lênh đênh trong vô tận của ngày của đêm, không thức ăn, nước uống, trên những vùng đá ngầm san hô, cá mập… Tự do hay là chết. Chết hay là tự do. Anh cứ đập tôi đi, nhưng cơn đau bầm của tôi, bụm máu khạc ra từ cửa miệng tôi, đâu có thấm gì với cái bóng tối mà tôi bỏ lại. Tôi đã chờ đợi quá lâu, trong ngôi nhà mồ. Tôi đã muốn nhảy xuống biển tự tử khi nghĩ đến một lần họ bắt tôi trở lại. Bây giờ là ánh sáng rồi. Nó đã rực rỡ như muôn ngàn hào quang ân sủng. Nó vô hình vô dạng nhưng nó nồng nàn như mùi thuốc hồi sinh trong phòng cấp cứu. Tôi không buồn hay giận anh đâu. Bởi vì, tôi sẽ đứng lên, dù run rẩy đi nữa, dù đau tận cùng đi nữa.” 6        

      Khi Tôi Đi Rồi, bài thơ đầy cảm xúc của Trần Hoài Thư khi phải cắn răng bỏ lại vợ con, lao mình ra biển khơi đi tìm tự do:

 “… tôi ra đi thành thị sau lưng

chào từ biệt, quê hương mình lần cuối

tôi có thằng con chưa đầy bốn tuổi*

tôi có mẹ già tóc bạc tợ sương

tôi có vợ tôi cay đắng đoạn trường

đêm nay, đêm nay, trời ơi bỏ hết

khi tôi đi rồi một là chết biển

hai là bỏ xứ làm kẻ lưu vong

khi tôi đi rồi hai bàn tay không

giữa vùng mênh mông ngàn trùng bát ngát

khi tôi đi rồi, chắc hồn khó thoát

bởi quê hương cứ giữ chặt, không buông”…

(*Năm 1979, con của Trần Hoài Thư – Ngọc Yến lúc đó 6 tuổi)

      Trên đảo, tuy phải mòn mỏi chờ đợi nhưng là của hy vọng. Khi có phái đoàn Mỹ tới phỏng vấn, THT được hỏi có gì chứng minh ông là sĩ quan hay lính miền Nam, THT cởi áo vạch ngực chỉ vết thương đạn với sẹo lớn cắt đứt một núm vú nơi ngực trái; sang câu hỏi thứ hai ông dự tính làm gì nếu được vào Mỹ, THT nói anh là nhà văn anh sẽ tiếp tục viết về những nỗi khổ của miền Nam trong và sau chiến tranh. Không hỏi gì thêm, người Mỹ phỏng vấn tươi cười bắt tay anh và chúc may mắn. Rất sớm sau đó, THT được đi định cư tại Mỹ, thời gian đầu anh được đưa tới Maryland, sống tạm bợ tá túc khi thì trong một ngôi chùa nhỏ, khi trong nhà thờ rồi lang bạt qua nhiều nơi khác nhau sau đó.

Ngọc Yến Nỗi Khổ Người Ở Lại

      Trước 1975, Ngọc Yến là nhân viên hành chánh của Viện Đại học Cần Thơ, là thư ký của Giáo sư Viện trưởng Nguyễn Duy Xuân. Sau 1975, Gs Nguyễn Duy Xuân bị cộng sản bắt đi tù cải tạo 11 năm, cuối cùng chết tức tưởi ở trại tù Hà Nam Ninh, miền Bắc Việt Nam.

      Chuyện chỉ được Yến kể lại về sau này, là sau 1975, chức thư ký cho Gs Viện trưởng của Yến ban đầu được “cách mạng” đánh giá là quan trọng: Ngọc Yến như là “bí thư” của Gs Nguyễn Duy Xuân, có thể là đối tượng bị thanh lọc để cho đi học cải tạo. Nhưng do ý kiến “nhân dân”, đám công nhân viên cũ bảo rằng Yến chỉ là một thư ký hiền lành lo giấy tờ, đánh máy trong văn phòng chứ chẳng có một quyền hành gì khác, và Yến đã không bị bắt đi cải tạo, không bị sa thải.

      Nhưng vẫn chưa yên, sau khi chồng đi rồi, Yến là đối tượng được chăm sóc của đảng uỷ nhà trường. Yến luôn luôn được nhắc nhở rằng chồng chị là một tên sĩ quan “nguỵ” phản quốc đã trốn đi, chị hãy quên nó đi để xây dựng cuộc đời mới. Khi ấy Ngọc Yến là gái một con, còn trẻ đẹp nên có nhiều cán bộ theo bám. Rồi Yến được đảng uỷ chuẩn bị tác thành cho lấy một tên Đại uý phục viên và cũng là cán bộ của trường. Đang là công nhân viên, tuy với đồng lương chết đói nhưng Yến cần phải giữ hộ khẩu với sổ lương thực cho hai mẹ con. Uất hận nhưng Yến không dám dứt khoát nói không và chỉ xin cho một thời gian nguôi ngoai.

      Đầu năm 1980, khi biết được tin chồng đã đi thoát, Ngọc Yến quyết định bế đứa con trai chưa đầy 7 tuổi tìm ghe vượt biên, cũng lại là một “chuyến đi chùa” do một ông chủ ghe có tâm Phật cho đi. Thêm chuyến đi thừa sống thiếu chết với đói khát nhiều ngày trên biển cả, rồi gặp hải tặc và tiếp theo đó những ngày dài phải bồng con đi ăn xin nơi một ngôi làng hẻo lánh bên Thái Lan. 

Tới Ngày Một Gia Đình Đoàn Tụ

      Trần Hoài Thư kể lại, không hiểu bằng cách nào, Đại tá Nguyễn Bé nguyên chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Cán bộ Xây dựng Nông thôn Chí Linh Vũng Tàu, có được số phone của THT. Ông báo cho Thư biết là có nhận được một phong thư gửi từ Thái Lan. Không chờ thư chuyển, Thư yêu cầu Đại tá Bé mở thư đọc qua phone, chỉ có vẻn vẹn một câu: “Em và con đã tới Thái Lan.”

      Nhờ phước đức ông bà nay anh sẽ lại có một gia đình đoàn tụ. Sắp bước vào cái tuổi “tứ thập nhi bất hoặc”, THT thấy chỉ có một con đường tiến thân duy nhất là đi học trở lại. Từ Maryland, theo lời khuyên của một người bạn trẻ gặp được trong nhà thờ, THT quyết định  đưa gia đình sang Philadelphia. Do không có tiền nên phải thuê một căn phòng giá rẻ trong một khu “slum” phía bắc thành phố, nghèo nàn mất an ninh, cư dân đa phần gồm nhóm người tỵ nạn Đông Dương như Lào, Cam Bốt và Việt Nam mới tới. Chỉ có một tay Đại Hàn hảo hớn là dám mở một tiệm Grocery store nơi đây. Đám tội phạm thường là từ bên ngoài đến, ra vào như chỗ không người. Có lần ban đêm, thấy cửa hàng Đại Hàn dưới lầu bị trộm phá cửa với các thùng hàng lớn nhỏ lũ lượt được khiêng ra. THT kêu 911, thì được sở cảnh sát cho biết: cửa hàng ấy đã có bảo hiểm, họ sẽ được bồi thường, và cảnh sát còn lưu ý là nên thận trọng, vì nếu tụi nó biết có người báo cảnh sát có thể bị trả thù. Hiểm nguy rình rập nhưng không có chọn lựa nào khác, gia đình THT vẫn phải tiếp tục sống trong khu ổ chuột ấy, trong một căn phòng chật hẹp với cửa sổ luôn luôn đóng kín, có đóng thêm cả đinh nhọn 10 phân làm chông.

     Trần Hoài Thư đi học, vợ đi làm công nhân lắp ráp đồ điện tử với đồng lương tối thiểu. Thằng con trai thì được ba hoặc mẹ dẫn đến trường và hết giờ học thì nó phải tự về nhà một mình. Nó còn nhỏ và quá thấp, vợ chồng Thư phải kê thêm hai cục gạch để nó có thể vói tới ổ khoá mở cửa vào nhà. THT lúc đó là sinh viên toàn thời gian ngành điện toán của Spring Garden College, ban ngày đi học, ban đêm thì làm janitor quét dọn phòng ốc để có thể trang trải cuộc sống.

      Hai vợ chồng Thư đều biết luật pháp ở Mỹ, cho dù có lý do bận sinh kế đi nữa  nhưng việc bỏ con nhỏ vị thành niên ở nhà một mình là phạm pháp. Vợ chồng vẫn phải luân phiên gọi điện thoại về thăm chừng con, khi không thấy ai lên tiếng, không biết chuyện gì xảy ra cho con, Thư phải tức tốc bỏ học về nhà nhưng đa phần là do nó ngủ quên không nghe chuông reng.

      Rồi THT cũng xong học trình 4 năm, Thư tốt nghiệp điện toán với thứ hạng cao trong nhóm top five. Khi hãng AT&T tới trường tuyển chọn sinh viên vừa tốt nghiệp với thứ hạng cao, THT qua được cuộc Interview khó khăn, và ít lâu sau đó được nhận vào làm cho một chi nhánh của hãng này ở tiểu bang New Jersey. Đó là lý do gia đình THT dọn về đây, nơi có rất ít người Việt. New Jersey từ nay là nơi đất lành chim đậu. Ban đầu Thư ở nhà thuê, không còn phải lao động tay chân cực nhọc như một blue-collar worker, với đồng lương khá hơn hai vợ chồng dành dụm mua được căn nhà 4 buồng như hiện nay. Rồi thằng Thoại xong trung học, điểm cao nên được nhận vào trường Y khoa chương trình 7 năm, thuận buồm xuôi gió, nó tốt nghiệp bác sĩ y khoa.

      Trong công việc của hãng, Thư chứng tỏ rất có khả năng và có sáng kiến, lại giỏi toán. Như một đầu tư lâu dài, hãng AT&T trả tiền cho Thư đi học thêm bán thời gian. Sau hai năm, Thư đậu thêm văn bằng Cao học Toán Ứng dụng / Master of Applied Mathematics. Nghiệp vụ tiếp tục thăng tiến. Khi chi nhánh của Thư được chuyển nhượng cho hãng điện toán IBM, Thư lên tới chức vụ Project Leader cho tới khi nghỉ hưu.

Hình 5: từ trái, qua cơn bĩ cực, sau khi THT tốt nghiệp cử nhân điện toán, có công việc ổn định của một white-collar worker, hai vợ chồng Ngọc Yến và Trần Hoài Thư từ nay bắt đầu biết thế nào là vẻ đẹp muôn màu của mùa Thu miền đông bắc nước Mỹ. [ photo by Trần Quí Thoại 1990 Poconos, Pennsylvania ]; phải: Nguyễn Ngọc Yến và Trần Hoài Thư trong đám cưới của người bạn trẻ, đã từng đón gia đình THT bước đầu sang lập nghiệp ở Philadelphia, khi ấy Ngọc Yến còn rất trẻ, THT mái tóc chỉ mới ngả muối tiêu. [nguồn: Blog’s Trần Hoài Thư, ghi chú của Ngọc Yến]                                                                                                                                                                               

Phục Hồi Di Sản Văn Học Miền Nam

      Từ năm 2001, tuy còn đi làm Trần Hoài Thư đã cùng với người bạn lính Phạm Văn Nhàn, người bạn văn thuở nào, hai người sáng lập tạp chí Thư Quán Bản Thảo và nhà xuất bản Thư Ấn Quán.

      Khi chi nhánh của công ty IBM outsourcing chuyển qua Ấn Độ, THT quyết định nghỉ hưu. Không còn bận bịu về sinh kế, đây cũng là thời điểm Thư có thể thực hiện điều mơ ước. THT có toàn thời gian bắt tay vào việc thực hiện tủ sách DI SẢN VĂN CHƯƠNG MIỀN NAM.       Trần Hoài Thư có hùng tâm và gần như đơn độc trong suốt nhiều năm nỗ lực khôi phục lại những văn bản của một thời kỳ văn học bị CS Việt Nam trong nước đã không ngừng truy lùng và huỷ diệt. 

Hình 6: trái, nhóm bạn văn thuở thanh xuân, Phạm Ngọc Lư, Trần Hoài Thư, Nguyễn Lệ Uyên, Phạm Văn Nhàn. [nguồn: tư liệu Nguyễn Lệ Uyên, hình chụp năm 1969]; phải, Trần Hoài Thư và Phạm Văn Nhàn, hai người bạn lính và cho đến nay 2021 vẫn là hai bạn đồng hành của Thư Quán Bản Thảo và Thư Ấn Quan, cả hai vẫn bền bỉ trên con đường phục hồi Di Sản Văn Chương Miền Nam; Trần Hoài Thư và Phạm Văn Nhàn trên đỉnh ngọn núi Watchung, Green Brook, N.J. là một cao điểm từng được tướng George Washington 1777 dùng để theo dõi các đạo quân Anh di chuyển, nay là Washington Rock State Park với con đường ngoạn cảnh 30 dặm tuyệt đẹp rất hấp dẫn du khách. [photo by Tô Thẩm Huy]

Đường Xa Chi Mấy: Tới Thư Viện Cornell

      Qua các thư viện Đại học lớn ở Mỹ, Thư có thể tìm ra một số sách báo miền Nam. Tương đối gần nhà là thư viện Đại học Yale, chỉ cách nhà 2 tiếng lái xe, nơi có học giả Việt Nam nổi tiếng Huỳnh Sanh Thông, người đã dịch truyện Kiều của Nguyễn Du sang tiếng Anh, ông cũng là người giúp nhà văn Võ Phiến tài liệu để hoàn thành bộ Văn Học Miền Nam. Rồi đến thư viện Đại học Cornell tuy xa hơn, cách nhà 5 tiếng lái xe, nhưng thư viện Đại học Cornell, khu Đông Nam Á châu phải nói là nơi có đầy đủ sách báo miền Nam nhất.

      Thường thường Trần Hoài Thư chỉ lái xe ban ngày lúc trời còn sáng, còn Yến giúp lái xe ban đêm vì biết chồng dễ ngủ gục khi lái. Đường rất nguy hiểm, có đoạn là đường núi, nhiều khi tuyết băng đông đặc. Cũng hai lần suýt chết vì tai nạn khi đi Cornell trên những đoạn đường mưa tuyết trơn trợt. Và không thể tưởng tượng được, tại Cornell sách báo Tiếng Việt của miền Nam rất dồi dào là thế nào; họ có cả tờ truyền đơn chiêu hồi cũng được lưu trữ.

      Có lẽ do bản chất của dòng máu thám kích nên THT rất liều lĩnh với những bước chân khai phá. Rời nhà lúc 4 giờ sáng trời còn tối Yến lái xe, khi trời sáng là phiên THT. Thường là tới nơi thư viện Cornell lúc 10 giờ sáng. Đằm mình trong khu thư viện Á châu, lục lọi tìm tòi, ghi chép, làm photocopy cho tới sẩm chiều – ngoài một lunch break ngắn của hai vợ chồng, cho tới giờ ra về. Không phải chỉ một ngày, mà nhiều ngày, không phải một tuần mà nhiều tuần, trong nhiều năm như vậy. Nhiều chục ngàn trang sách thơ văn miền Nam của Thư Ấn Quán là thành quả tích luỹ của công sức bền bỉ của vợ chồng Trần Hoài Thư trong nhiều tháng, nhiều năm, cho tới năm 2012.

Hình 7: trên, Đại học Cornell thành lập từ 1865, nơi lưu trữ đầy đủ nhất sách báo của miền Nam Việt Nam trong khoảng thời gian 20 năm từ 1954 tới 1975; dưới, Trần Hoài Thư ngồi trong thư viện Cornell từ khi mái tóc còn xanh đến khi tóc trắng bạc như sương. [nguồn: tư liệu Trần Hoài Thư].  

      Về máy móc thì THT lên Craigslist tìm kiếm đồ phế thải. Có khi họ cho không, có khi họ bán rất rẻ. Sau khi thỏa thuận, họ cho biết địa chỉ, mình đến, với cái screwdriver trong túi. Họ hỏi máy nặng cả tấn sao ông lại khiêng nổi? Tôi cười, tao biết cách. Rồi tháo máy ra, đến mức không thể tháo. Fuser, ngăn giấy, mực, assembly parts, khung… Mấy anh chàng Mỹ trố mắt nhìn, ngạc nhiên. Chỉ có mực là mới có vấn đề. Lên eBay mua, nhưng làm sao biết ống mực tốt hay xấu?

      Vậy mà đã 46 năm qua đi 1975-2021, với đời người như một cơn gió thoảng, với lịch sử chỉ là một chớp mắt, nhưng lại là một chặng đường rất dài trải nghiệm những tang thương. Thêm một chớp mắt nữa, thế hệ những người cầm bút 1954-1975 đều trở về với cát bụi, một số có thể còn được nhắc tới qua tác phẩm nhưng rồi cũng phải kể tới cuộc sống đầy đoạ và cả những cái chết tức tưởi của họ trong các trại tù cộng sản. Nói tới Văn Học Miền Nam, không thể không có một “cuốn sách trắng / livre blanc” về thời kỳ đó, một Wikipedia mở, như một “bộ nhớ” cho các thế hệ Việt Nam tương lai.

Hình 8: trái, địa chỉ 719 Coolidge Street, Plainfield, New Jersey 07062 là ngôi nhà vợ chồng Trần Hoài Thư đã sống ngót 30 năm, cũng là địa chỉ của Thư Ấn Quán, và là Toà Soạn Thư Quán Bản Thảo; phải, nhà văn Trần Hoài Thư đang còng lưng cắt xén những số báo Thư Quán Bản Thảo. Ước mong sao, rồi ra nơi đây sẽ là một landmark văn hoá của Thế hệ thứ Nhất cần được lưu giữ cho các thế hệ Việt Nam tương lai. [photo by Phạm Cao Hoàng]

Hình 9: một phần của tủ sách Di sản Văn học Miền Nam của Thư Ấn Quán, bộ Văn Miền Nam 4 tập: I, II, III, IV (2013); bộ Thơ Miền Nam trong thời chiến 2 tập: I, II (2017); bộ Thơ Tình Miền Nam (2017); Một Thời Lục Bát Miền Nam (2008); Thơ Tự Do Miền Nam (2009). Tất cả đều do Trần Hoài Thư thực hiện bằng phương pháp thủ công và có thể nói THT là người đi tiên phong trong kỹ thuật POD / Print On Demand trong lãnh vực sách báo tiếng Việt ở hải ngoại. [photo by Phạm Cao Hoàng] 3

Tác phẩm đã xuất bản:

Trước 1975

1. Nỗi bơ vơ của bầy ngựa hoang; 2. Những vì sao vĩnh biệt; 3. Ngọn cỏ ngậm ngùi; 4. Một nơi nào để nhớ.

Sau 1975

VĂN

1.  Ra biển gọi thầm (Tập truyện); 2.  Ban Mê Thuột ngày đầu ngày cuối (Tập truyện ); 3.  Về hướng mặt trời lặn (Tập truyện); 4.  Mặc niệm chiến tranh (Tập truyện); 5.  Đại đội cũ, trang sách cũ (Tập truyện); 6.  Thế hệ chiến tranh (Tập truyện); 7.  Thủ Đức gọi ta về (Tạp bút); 8.  Đánh giặc ở Bình Định (tự truyện); 9.  Hành trình của một cổ trắng  (truyện vừa); 10. Ở một nơi trên Trường Sơn (tập truyện); 11. Truyện từ Bách Khoa (Tập truyện); 12. Truyện từ Văn (Tập truyện); 13. Truyện từ Trình Bầy, Văn Học, Khởi Hành… (Tập truyện); 14. Truyện từ Vấn Đề (Tập truyện); 15. Tản mạn văn chương (tập I); 16. Giấc mơ Giáng Sinh (Tập truyện); 17. Cảm tạ Văn chương (Hồi ức).

THƠ

1.  Thơ Trần Hoài Thư; 2.  Ngày vàng; 3.  Nhủ đời bao dung; 4.  Ô cửa; 5.  Xa xứ; 6. Quán; 7. Vịn vào lục bát

Hai Tác Phẩm Thất Lạc Sau Chiến Tranh

1. Của Chiến Tranh; 2. Một Ngày Gạo Ba Ngày Hành Quân.

      Trong quân ngũ và ngay cả giai đoạn bỏ ngũ, Trần Hoài Thư viết rất khoẻ. Chỉ trong hai tháng sống ở Tháp Chàm với Phạm Văn Nhàn, Thư đã viết xong một truyện vừa có nhan đề Của Chiến Tranh, giao cho Thầy Từ Mẫn Võ Thắng Tiết * giám đốc nhà xuất bản Lá Bối lúc đó  nhưng không sao qua được kiểm duyệt, và sau tháng Tư 1975 thì bản thảo duy nhất bị thất lạc.

[*Sau 1975, anh Từ Mẫn Võ Thắng Tiết cũng là một thuyền nhân, đi cùng chuyến tàu với nhà văn Nhật Tiến, ban đầu sinh sống sống ở Alaska, rồi xuống ở Nam California, anh thành lập nhà xuất bản Văn Nghệ rất có uy tín ở hải ngoại trong nhiều năm trước khi anh nghỉ hưu].

      Tác phẩm thứ hai, Một Ngày Gạo Ba Ngày Hành Quân cũng là một truyện dài, được giao cho nhà văn Thế Uyên lúc đó đang trông coi nhà xuất bản Thái Độ và Tủ sách Văn Nghệ Xám.

[Thái Độ cũng đã từng in cuốn tiểu thuyết Vòng Đai Xanh của Ngô Thế Vinh]. Cho dù Thế Uyên rất xông xáo nhưng cũng vẫn không vượt qua được hàng rào “phối hợp văn học nghệ thuật” của Bộ Thông Tin, cho tới tháng Tư 1975, bản thảo duy nhất cũng bị thất lạc.

      Cả hai cuốn sách trên đã được quảng cáo trên báo chí nhưng không bao giờ được ra mắt. Đó là những tác phẩm bị thất lạc, thêm vào những tổn thất trong chiến tranh, vĩnh viễn đi vào sự quên lãng.

      Những tổn thất nhân mạng trong chiến tranh đã được thống kê và nói tới. Thế còn những tổn thất trong văn học, liệu đây có phải là phần trách nhiệm của các sử gia?

Hình 10: trái, Trung uý Thám Báo Trần Hoài Thư với hạnh phúc được bồng con (1974);

phải,Trần Quí Thoại con trai Trần Hoài Thư tại Hội chợ Science Fair do Bell Lab bảo trợ và tổ chức. Thoại đang thuyết trình về công trình nghiên cứu khoa học “The magnetic field of a Superconductor” được một giải thưởng cho công trình nghiên cứu này. Trần Hoài Thư và Ngọc Yến có mặt và hãnh diện với đứa con của mình. Rồi không thể không chạnh nghĩ, Thoại với gốc là con một sĩ quan “nguỵ” nếu như còn kẹt lại ở Việt Nam, chắc nó chỉ là một đứa trẻ chăn trâu. Nay tới được một lục địa mới, một đất nước mới, nó có cơ hội làm đủ mọi điều để phát triển. Trần Quí Thoại nay đã là một bác sĩ y khoa. [nguồn: tư liệu Trần Hoài Thư] 

Hình 11: trái, các trang trí trên đĩa sứ của Trần Quí Thoại, vẽ tặng cha; giữa, tranh của Trần Quí Thoại vẽ cảnh “Con Vịn Cha”; phải, bức hình mới nhất, nay thì cảnh “Cha Vịn Con”.

Con Vịn Cha                                                 Cha Vịn Con

Lan can ba, ba thẳng lưng                            Bây giờ ba lại vịn con                                    

Ba dạy con chân đạp bùn mà đi                   Tay trong tay con dẫn ba qua đường                

Con nhón chân, con đưa tay                         Ba đi từng bước ngập ngừng

Con vịn ba với cái đầu ngẩng lên!                Bỗng nghe hơi ấm chảy rần trong ba

Hình 12: trái, Trần Hoài Thư, bán cà-rem nay nhận bằng Cao học Toán Ứng dụng tại Viện Kỹ thuật Steven New Jersey ngày 24.05.2005; phải, gia đình Trần Hoài Thư vui mừng đoàn tụ trong ngày lễ tốt nghiệp: Nguyễn Ngọc Yến, Trần Hoài Thư và con trai Trần Quí Thoại. Thoại tốt nghiệp bác sĩ.  

Ngọc Yến Đột Quỵ Sau Trận Bão Sandy

     Chỉ một tháng sau cơn bão tố Sandy tàn phá nhiều nơi trong đó có New Jersey, Ngọc Yến bị tai biến mạch máu não / stroke tháng 12 năm 2012. Hurricane Sandy thì được đài khí tượng báo trước, nhưng trận bão stroke của Ngọc Yến thì không. Với Trần Hoài Thư, thì đó là một trận động đất / earthquake, mà động đất thì không có dấu hiệu gì báo trước và Yến rất bất ngờ bị một cơn stroke đánh gục, bị liệt nửa người bên trái. Tay trái, chân trái không thể cục cựa. Nhìn Yến không thể ngồi, đứng, một nửa thân người không còn cử động, Với Thư thì Yến vợ anh đã bị đóng đinh khổ nạn từ đây.

      Quan sát những gì người ta làm cho Yến ở nhà thương, Trần Hoài Thư tự tay biến đổi căn nhà với thêm bậc thềm, tay vịn sao cho thích nghi với người vợ tàn phế. Thư cũng mau chóng học được cách đưa người bệnh từ xe lăn lên giường, chuyển từ giường xuống ghế ngồi, rồi cả những công việc vệ sinh cá nhân cho Yến như tắm rửa, thay quần, thay áo, thay tã và những thao tác tập vật lý trị liệu cơ bản cho người bệnh liệt bán thân. Tất cả nhanh và gọn mà ngay cả những therapists và home caregivers cũng phải trố mắt ngạc nhiên. Thư cố tạo một cảnh sống gia đình gần như bình thường cho Yến. Thấy Yến ăn ngon, ngủ ngon, luôn miệng nói mình vui quá là Thư vui. Chấp nhận như số phận đã an bài và anh nghiệm ra là: hạnh phúc càng lớn khi nó được nẩy sinh từ khổ nạn. Thư trải lòng mình trên trang giấy: “Mỗi ngày tôi cố mang cho Yến niềm vui. Cũng mỗi ngày tôi giấu Yến nỗi buồn của tôi.” 

      Nhưng rồi chưa yên, Yến còn bị giáng thêm một trận stroke thứ hai, rồi thứ ba, đến tháng 05/2015, Yến không còn có thể sống ở nhà mà cần được chăm sóc 7/24 trong một nursing home, bác sĩ bảo đó là cách duy nhất để cứu Yến và cứu cả Trần Hoài Thư.

      Trong suốt 11 năm [từ 2001 tới 2012], Ngọc Yến – người bạn đời của THT, đã đồng hành  giúp anh rất nhiều trong việc thực hiện các công trình phục hồi Di Sản Văn Học Miền Nam.    

      “Yến giúp tôi lái xe khi đi xa trong những lần tới Thư viện Đại học Cornell, rồi đóng bằng chỉ những cuốn sách dày cả ngàn trang, hay phụ với tôi khiêng những thùng giấy tôi mua với giá rẻ. Yến giúp tôi viết địa chỉ, bỏ sách báo vào phong bì, dán tem, hay nhắc tôi về những sơ suất. Khi một người hỏi order một cuốn sách, Yến luôn luôn nói là tặng, đừng lấy tiền. Tâm Yến là tâm Phật. Mất Yến là mất cả cánh tay phải, tôi như hết chỗ vịn.”

      Rồi đều đặn như vậy, trong nhiều năm, ngày hai lần, Trần Hoài Thư nội trợ nấu thức ăn Việt Nam nóng đem vào cho Yến. Yến không chịu ăn đồ ăn Mỹ. Mỗi ngày Thư tìm cách kéo dài thời gian ngồi túc trực bên giường của Yến. Đứa con trai bác sĩ thì đi làm xa, nhưng mỗi cuối tuần đều về để đi với ba vào thăm mẹ. Nó biết cách làm cho mẹ nó vui, cả gây cho mẹ mối ghen tuông với ba nó.

Chuyện Ông Trần Hoài Thư “Cưới Con Phương”

      Mỗi lần hai cha con vào thăm, bình thường thì Yến gọi Thư là “ba Thoại”, Trần Quí Thoại là tên đứa con trai. Bỗng một hôm, chẳng rõ tại sao, Yến xoay lưng không thèm nói chuyện với Thư. Không biết chuyện gì đã xảy ra, Yến đổi hẳn cách xưng hô. Thay vì là “ba Thoại” thì hôm nay gọi anh là “ông Trần Hoài Thư”. Yến nói “Ông đang chờ tôi chết để cưới con Phương, có phải không?” Nghe Yến nói vậy, Thư tá hoả tam tinh, hỏi Yến: “Con Phương nào?” Một cái tên không thể nào Thư có thể nhớ ra. Thế là Yến giận, quay mặt vào tường không thèm nói chuyện với ba thằng Thoại nữa.

        Nằm bệnh bao năm sau ba lần bị tai biến, chuyện mới thì Yến không nhớ, nhưng các chuyện cũ thì vẫn nhớ như in. Nhưng Thư thì vẫn nghĩ không ra “con Phương” là ai, hay là Yến ghen với một nhân vật nào đó trong các truyện đã viết của mình. Thế là về nhà suốt đêm vào máy tìm kiếm. Eureka! Cuối cùng Thư đã có câu giải đáp, thì ra “con Phương” là tên một cô gái giang hồ, một nhân vật trong truyện “Cơn Giông” được viên thiếu uý thám kích gặp trong một động điếm và đem lòng yêu thương, truyện mà chính Thư không còn nhớ, đã đăng trên báo Bách Khoa số 288 (1969) 5. Tuy bị Yến giận và ghen tuông vô lý nhưng Thư lại cảm thấy vui vì biết được phần trí tuệ còn sắc sảo của Yến.

Nhớ Quê Nhớ Chim Chằng Nghịch

      Trước đại dịch Covid-19, hầu như mỗi ngày 2 lần Thư được phép tới Nursing Home  thăm Yến với thức ăn Việt nấu từ nhà đem vào. Nhưng rồi một hôm, các cô y tá cho biết, Yến không chịu ăn từ mấy ngày nay.

      Yến không ăn đồ Mỹ điều ấy Thư đã biết nên Thư đã học nấu các món ăn Việt Nam từ Internet và cả biết Yến thích ăn món gì. Bác sĩ tới khám tổng quát cho biết tình trạng Yến vẫn ổn định và không mắc thêm một căn bệnh gì. Thư hỏi, vậy Yến thích ăn món gì để anh nấu. Yến trả lời: muốn ăn món chim chằng nghịch. Từ ngày về Vùng IV làm phóng viên chiến trường suốt 2 năm mà THT cũng chưa biết chim chằng nghịch là gì. Như mọi lần, Dr. Google đã giúp anh, và bây giờ Thư mới được biết, chim chằng nghịch hay còn gọi là gà nước vằn, mỏ dài chân đen là loại chim thiên nhiên chỉ có ở miền Tây Nam Bộ. Nhưng có lẽ chim chằng nghịch sau này quá hiếm và gần như biến mất khỏi đồng ruộng miền Tây rồi. Ngay cả bây giờ, nếu còn sống ở Cần Thơ quê Yến, thì cũng chẳng biết kiếm chim chằng nghịch ở đâu ra, huống chi đang ở Mỹ. Giải thích cho vợ hiểu nhưng Thư cũng thấm thía hiểu rằng, chẳng qua là Yến nằm bệnh quá lâu, quá  nhớ quê mà nhớ ra tên con chim chằng nghịch từ một tuổi ấu thơ xa xưa nào.

Hình 13: Chim chằng nghịch hay nỗi nhớ quê, còn gọi là gà nước vằn, tên khoa học Gallirallus striatus, xưa kia có ở đồng ruộng miền Tây ĐBSCL nay hầu như không còn nữa, nhưng chưa thấy trong Danh mục sách đỏ động vật Việt Nam. [nguồn: birdwatchingvietnam]

      Cũng sáng hôm đó, từ California tôi phone thăm Trần Hoài Thư. Lúc ấy Thư đang ở trong Nursing Home với Yến. Tôi bảo Thư đưa phone cho tôi được nói ít câu thăm chị. Thư giới thiệu tên tôi Ngô Thế Vinh thì chị nhớ ngay và nói “chào bác sĩ”. Tôi nhắc chị Yến, tôi là bạn của Thư, chị đừng gọi tôi là bác sĩ, nhưng lúc đó trong lòng thực sự có niềm vui, vì biết với cách xưng hô đó chứng tỏ trí nhớ chị còn rất tốt cho dù đã hơn 6 năm nằm bệnh. Tôi cũng nói với chị Yến qua phone, là mới đây tôi có về thăm miền Tây, và cũng chẳng còn thấy một con chim chằng nghịch nào. Và rồi Yến cũng quên đi chuyện con chim chằng nghịch và trở lại ăn uống bình thường với những món Thư tự tay nấu, trong nỗi vui mừng của cả hai cha con.

Cù Huy Hà Vũ Thăm Anh Chị Trần Hoài Thư 2016

      Cù Huy Hà Vũ, là con trai của nhà thơ Huy Cận, nhỏ hơn Trần Hoài Thư 15 tuổi. Năm 1968, khi Thư là sĩ quan Thám kích đang lặn lội trong chiến tranh ở miền Nam thì Vũ mới là một cậu bé 11 tuổi, còn thập thò nơi cửa hang nơi đi sơ tán, xem phi cơ Mỹ từ xa oanh kích miền Bắc đạn bắn như pháo bông.

      Văn kỳ thanh, nghe tiếng nhà văn Trần Hoài Thư, lại yêu thích văn học, hai vợ chồng Vũ đang sống ở Chicago, bay sang Boston, cùng với người bạn lái xe đi New Jersey thăm anh chị Trần Hoài Thư. Vũ xin được cùng THT đi thăm chị Ngọc Yến. Khi nghe Thư giới thiệu là có Cù Huy Hà Vũ là con trai của nhà thơ Huy Cận tác giả Lửa Thiêng, tới thăm, Yến kết nối được được ngay. Cũng ngay tại Nursing Home, Cù Huy Hà Vũ đã lấy giấy bút chớp nhoáng vẽ xong bức ký hoạ cùng với dòng chữ đề “Tặng Chị Nguyễn Ngọc Yến nhân Ngày của Mẹ Mother’s Day May 8, 2016”.

      Vũ có nét vẽ tài hoa, bắt được ngay cái “thần” của Chị Yến, với đôi mắt đẹp thông minh và một vầng trán cao bướng bỉnh. Thấy Yến vui và cảm động, Thư cũng vui lây,  cảm giác ấm áp như có “một chút mặt trời trong nước lạnh – Un peu de soleil dans l’eau froide”, cuốn phim mà Thư đã xem từ những năm rất xa xôi mà nay chỉ còn nhớ tên.

Hình 14: Hai vợ chồng Cù Huy Hà Vũ và Nguyễn Thị Dương Hà vào thăm chị Yến tại Nursing Home Ashbrook, N.J. nhân Ngày của Mẹ, Chủ Nhật 08.05.2016; trái, chân dung chị Nguyễn Ngọc Yến, vợ Trần Hoài Thư qua nét ký hoạ của Cù Huy Hà Vũ; phải, ký hoạ nhà văn Trần Hoài Thư, cũng qua nét vẽ của Cù Huy Hà Vũ. [tư liệu Trần Hoài Thư]

      Về tới nhà, suốt ngày hôm đó Vũ chỉ đằm mình tromg núi sách báo nơi tầng hầm nhà của Trần Hoài Thư. Cù Huy Hà Vũ đã được Trần Hoài Thư ký tặng nhiều bộ sách báo miền Nam.

Đôi Uyên Ương Giữa Mùa Đại Dịch

      Mấy tháng đầu năm 2020, bắt đầu trận đại dịch, các Nursing Homes trên toàn nước Mỹ là nơi tới viếng của lưỡi hái tử thần Covid hung hãn nhất. N.H. Ashbrook cũng không hơn gì. THT được báo tin Yến phải nhập  viện vì bị nhiễm Covid-19 cùng với một số bệnh nhân khác. Yến với bao nhiêu là bệnh nền, với 3 lần bị tai biến mạch máu não, ai cũng nghĩ Yến khó qua khỏi. Vậy mà Yến vẫn là một ngoại lệ, một trường hợp hiếm hoi khỏi bệnh, Yến không phải vào ICU không qua máy trợ thở, chỉ ít ngày sau thì Yến được xuất viện trở về Nursing Home còn nhiều chiếc giường trống trải. Có thể nói đây là phép lạ, Yến vẫn sống, vẫn vác chiếc thánh giá khổ nạn để ở lại với hai cha con Thư Thoại. Trong thời kỳ tuyệt đối cách ly, trong nhiều tháng hai cha con hoàn toàn không được vào thăm Yến.

      Nhưng rồi hoạ vô đơn chí, tháng 06/2020 đến lượt Trần Hoài Thư cũng bị cơn bão tai biến. Nhưng lần này thì Trần Hoài Thư như bị phục kích. Một ngày bình thường như mọi ngày khác, khi Thư cầm bút viết ít dòng chữ lời đề tặng trên trang đầu một cuốn sách. Thư bỗng thấy bàn tay cầm cây bút sao mà khó khăn, rồi lại thấy cả hàng chữ viết run rẩy xiêu đổ. Biết đây là một dấu hiệu chẳng lành. Ngay trong đêm, Thư phone cho con, lúc ấy nó đang là bác sĩ trực ở Philadelphia. Thoại khuyên ba gọi ngay 911 để được đưa vào bệnh viện vì đó là triệu chứng của stroke, và Thoại cũng cho biết sẽ lái xe về ngay sáng hôm sau. Trong nhà thương gặp lại con, Thoại cho biết ba bị một cục máu đông  trong óc. Vậy ra, sau Yến cơn bão stroke Sandy nó cũng không chừa anh. Một thoáng bi quan, Thư đã chạnh nghĩ: “Số phần chúng tôi coi như là mạt lộ rồi. Thôi hết rồi giấc mơ Thư Quán Bản Thảo, giấc mơ Thư Ấn Quán. Thôi hết rồi những bài văn những bài thơ theo nhịp gõ êm êm trên bàn phím. Niềm vui trong tuổi xế chiều tự nhiên bị cướp mất”.

      Thư mau chóng gạt mọi ý nghĩ bi quan ra khỏi óc. Anh chuẩn bị ngay cho một cuộc chiến đấu từng ngày. Sau một tháng nằm nhiều hơn ngồi, người ta cho Thư xuất viện; không phải vì đã  hồi phục mà vì Insurance chỉ cho nằm bấy nhiêu. Thoại chở ba về cũng vẫn căn nhà cũ, sau một tháng đóng cửa. Vườn sau, sân trước cỏ dại mọc cao. Thư nghĩ bây giờ là lúc “ba bắt đầu phải vịn con”. Thoại dọn dẹp lại căn phòng bừa bộn, sắp xếp cho ba nằm trên cái giường bệnh viện / hospital bed có thể điều khiển cao thấp mà mẹ Yến đã bỏ lại khi vào Nursing Home. Thoại cũng mua và đặt camera khắp mọi nơi trong nhà, để có thể theo dõi ba từ xa qua chiếc iPhone. Sau đó trở lại Philadelphia nơi bệnh viện nó làm việc. 

      Rồi một mình trong căn nhà vắng, THT vẫn phải đương đầu với một thực tế trước mắt. Những ngón tay đã không giữ được cái muỗng, đôi đũa để những hạt cơm hay thức ăn khỏi vương vãi ra trên áo trên quần. Tệ hơn nữa, chúng không còn sức mạnh để gõ hay để viết trên bàn phím, bộ não đã không sao điều khiển được các ngón tay để có thể gõ cho chính xác…   

      Tinh thần chiến đấu với Trần Hoài Thư đã trở thành một bản năng thứ hai. Vẫn như một programmer, THT đã “phác thảo” cho riêng mình một chương trình “Hoạt động Trị liệu / Occupational Therapy” tại nhà với một lối tập độc nhất vô nhị. Thay vì là bài tập thô sơ như trong bệnh viện: các cô therapist tập cho anh cách bốc lượm đồ, cách lắp ráp các hình nhà, hình xe bằng những miếng gỗ. Những bài tập của Thư là tập viết khó khăn trên giấy hay tập  bấm vụng về trên màn hình chiếc iPhone từng dòng thơ lục bát mà anh thích. Dần dần qua ít tuần lễ THT cũng làm chủ được mười ngón tay của mình. Sau đó, Trần Hoài Thư lại say sưa viết, anh làm việc như một người đang cạn kiệt quỹ thời gian.

      Tìm lại được tập hồi ức dở dang viết rồi để đó, không có dự định cho xuất bản nhưng sau lần bị stroke THT nghĩ khác, anh phải viết xong giữa khoảng cách sống và chết, chưa biết sẽ đến lúc nào. Anh đặt tên cho tập hồi ức là: Cảm Tạ Văn Chương – mà anh cảm thấy như đang viết một Di chúc. Cuốn sách đã được THT hoàn tất trong một thời gian kỷ lục. Có những trang sách khiến người đọc phải rơi lệ. Sách tuy không bán, nhưng Cảm Tạ Văn Chương đã trở thành một best-seller của Thư Quán Bản Thảo.       Nơi mấy trang cuối của cuốn hồi ức, vẫn Trần Hoài Thư viết: “Thêm một lần nữa tôi phải cảm tạ văn chương. Nó đến khi tôi ngã xuống. Nó giúp tôi vịn mà đứng dậy. Nó là chiếc gậy thần, tôi chống mà đi. Cho dù bây giờ không hồi phục hẳn, nhưng tôi vẫn có thể gõ một bài thơ, post một bài viết, hay xuống hầm nhà để tự tay đóng một cuốn sách. Dù mắt mờ, bước chân xiêu đổ. Để niềm vui mọc cánh nở hoa”.  

Hình 15: trái, Cảm Tạ Văn Chương, hồi ức của Trần Hoài Thư – như một Di Chúc, dày 224 trang, được THT hoàn tất trong một thời gian kỷ lục sau 4 tháng bị tai biến mạch máu não, đây là ấn bản đặc biệt của Thư Quán Bản Thảo tháng 10/2020; phải, Mai Thảo – Bài viết ở trang cuối là 32 bài tuỳ bút của Mai Thảo, dày ngót 200 trang chỉ trong vòng hai tuần đã được THT đánh máy, layout, in ấn và phát hành tháng 5/2021. Sức làm việc của “người bệnh THT” là phi thường, không ai có thể sánh kịp. [nguồn: 2 ấn bản đặc biệt THT tặng Ngô Thế Vinh]    

Tưởng cảnh khổ của hai vợ chồng Ngọc Yến – Trần Hoài Thư như vậy là đã đụng đáy, nhưng không. Đến tháng 2/2021 một cơn bão stroke Sandy thứ 4 lại phủ ập lên tấm thân đã đầy những thương tật của Yến. Ít ai sống sót được ở lần tai biến thứ tư này. Lần này Yến phải nằm bệnh viện lâu hơn, mang thêm một số thương tật mới: Yến bị mất tiếng nói vì bị tổn thương vùng ngôn ngữ trên não, Yến còn bị mất thêm nửa vùng thị giác do bị tổn thương vùng vỏ não thị giác. Rồi Yến vẫn sống sót để trở về Ashbrook N.H. Yến vẫn còn phần thính giác để nghe và hiểu được những câu đùa giỡn của hai cha con Thư Thoại, nhưng phần tham dự của Yến từ nay chỉ còn là biểu tỏ qua cử chỉ – mà thuật ngữ chuyên môn gọi đó là ngôn ngữ cơ thể/ body language. Yến cũng không nuốt được, THT từ nay cũng mất luôn nguồn hạnh phúc được nội trợ mỗi ngày nấu ăn cho Yến; và phần dinh dưỡng của Yến chỉ còn là một ống G-Tube dẫn thức ăn thẳng vào bao tử. “Bao nhiêu đau khổ của trần gian, trời đã dành riêng để tặng nàng” hai câu thơ ấy của Nguyễn Bính hình như đã vận vào người Yến.

Can đảm chấp nhận số phận nghiệt ngã, với Thư và Yến kể từ nay, hạnh phúc rồi ra chỉ là tính riêng cho mỗi từng ngày.

Một Ngày Nghiện Ngập Của Trần Hoài Thư

Trong một eMail mới gửi cho tôi, Trần Hoài Thư viết: “Bạn bảo tôi là típ người “ghiền làm việc / workaholic”. Vâng, chính vậy. Nếu không có việc làm chắc tôi buồn mà chết sớm quá. Dù quá bận rộn mà vui. Vui như những trái hỏa châu được bắn lên trong cõi đêm của đời xế bóng. Chỉ trong vòng 2 tuần nào in: “Mai Thảo – Bài viết ở trang cuối.” Nào là chuẩn bị bài vở viết bài cho Thư Quán Bản Thảo số 93 sắp tới. Nào là scan, layout, thực hiện toàn bộ tập san Chính Văn… Nào là làm thơ, viết văn… không ngưng nghỉ. Thực phẩm nuôi dưỡng tinh thần khiến tôi bận rộn cả ngày. Còn thực phẩm nuôi dưỡng thân xác thì có gì mà cần bận tâm chứ.

      Dĩ nhiên “ghiền làm việc” không phải là làm khi cảm thấy tay chân thừa thãi, nấu nướng cũng là một nghệ thuật, làm ngon cái miệng, sao lại không ham. Lại đi ham đánh máy bằng hai ngón tay, 32 bài tùy bút của Mai Thảo, mang khổ nhọc vào thân. Nhất là bị ảnh hưởng nặng nề sau trận stroke.

      Ngón tay điều khiển khó khăn, muốn đánh được một chữ đúng thì đôi khi phải sửa đi sửa lại 4, 5 lần. Hay mỗi khi thực hiện một flipbook, phải scan chụp cả cuốn, layout lại, đổi size lại cho đúng kích thước, tìm cách làm giảm sức nặng mỗi trang từ cấp MB, giảm xuống vài trăm kilobytes, kẻo memory không “kham nổi.”

      Bạn làm sao hiểu ở trong những con chữ mà tôi đánh máy ấy có sức nam châm kỳ lạ, khi ta đánh máy một bài văn ta ưa thích, chữ không còn là một hình phạt mà là niềm vui nở búp nở hoa! Bởi vì nó tỏa ra cái đẹp, đó là nghệ thuật. Ví dụ khi tôi đánh máy câu sau đây của Mai Thảo trong bài tùy bút Quán Bệnh:

“Đêm tháng tám bên ngoài bát ngát sao.

 Trong những lùm cây xôn xao, gió múa những thuyền đầy.”

      Tôi không khỏi ngây ngất cùng với những chữ trong câu “gió múa những thuyền đầy”, Gió mà biết múa sao? Thưa bạn, tại mình không biết đấy thôi. Giờ ông MT đã nói cho chúng ta biết. Cho tôi biết. Chính vì cái muốn biết ấy đã giúp một lão già sắp 8 bó này phải đánh máy miệt mài, không nghỉ, không mệt và bây giờ cũng in miệt mài, không nghỉ một cuốn sách dày 200 trang để tặng đời!

      …

      Khác với quan niệm về già, phải hưởng nhàn, phải coi đời là phù du, hãy nhâm nhi hớp cà phê buổi sáng, đừng bận tâm đến in ấn, in báo, hay sưu tập các tạp chí cũ để thực hiện flipbook cho thiên hạ đọc chùa… Họ không hiểu tôi cần làm việc. Cần sự thách đố. Cần cái đẹp… Tôi có thể vất hàng trăm bìa in không thương xót, dù giá tiền không phải là nhỏ, mà chỉ cần một bìa – một bìa đẹp – đủ vui rồi. Sức mạnh của nghệ thuật kỳ lạ lắm.

      Tôi bỗng liên tưởng đến người bạn đời. Yến gần như một pho tượng khổ hình. Không còn biết chuyện đời. Không còn thắc mắc suy tư. Không biết cái nắm tay nóng hổi tình thương yêu của người chồng, không còn mắt sáng ngời lên khi thấy con…  Không cần ngồi xếp bằng nhắm mắt tham thiền. Nàng có một chỗ ngồi trong xe lăn, mắt nhìn về một cõi vô minh nào đó suốt 8 năm dài…

      Tôi nghe lòng ràn rụa. Tôi phải làm gì để cứu khổ, cứu nạn, cứu nàng khỏi cơn mê thiếp. La hoài cũng vậy. Siết tay chặt hoài cũng vậy. Thôi thì, chỉ có cách lấy Iphone mở bài Tóc Mây Sĩ Phú hát kê sát vào tai nàng. Để âm thanh lọt vào màng nhĩ, đánh động bộ não, xẹt lửa những sợi dây thần kinh đã chết, Tóc Mây. Đây là bài hát mà mình thích tôi mở cho mình nghe… Tóc Mây. Ngày xưa tóc đen huyền vì gội bằng bồ kết. Bây giờ thay vì bồ kết, tóc Yến vẫn đen mun vì gội bằng trái khổ nạn. Tôi nhìn vào mắt nàng. Tôi thấy mắt nàng lim dim muốn ngủ, thì ra, những lời ca kia, bài hát quen thuộc kia đã có một phép lạ. Tôi nói là phép lạ, Yến đã rơi vào giấc ngủ ngon như một đứa trẻ. Chúng mang lại bình an mà ta đang khao khát.

Hình 16: Hơn bao giờ bằng lúc này, chính tôi cần sự bình an đó. Yến đã trả nó bằng khổ nạn. Còn tôi công việc đâu có khổ nạn, khó khăn gì… Đánh máy ngón tay còn lẩy bẩy, không chính xác nên lỗi nhiều. Xin bạn thông cảm.

Hình 17: Trong mùa đại dịch, tháng bảy ở Mỹ không có mưa ngâu, nàng trên xe lăn, chàng vịn walker, Ngưu Lang Chức Nữ thời hiện đại, cả hai chỉ có 15 phút nhìn nhau bên ngoài cửa nursing home Ashbrook, New Jersey. [photo by Trần Quí Thoại 2021] 

Bài Thơ Ngưu Lang

Bây giờ Ngưu Chức đã già

Chàng vừa bị stroke đi bằng walker

Nàng cũng thoát dịch Corona

Hai người vẫn đợi đến ngày gặp nhau

Tháng bảy Mỹ không mưa ngâu

Bởi nước mắt họ thấm vào đá cương

Nở lên một đoá vô thường

NGÔ THẾ VINH

Sài Gòn 18.06.1971 – New Jersey 18.06.2021

[50 năm Vàng, ngày cưới Nguyễn Ngọc Yến – Trần Hoài Thư] 

THAM KHẢO:

1/ Lê Ngộ Châu. Bách Khoa 160 Phan Đình Phùng Sài Gòn

https://www.diendantheky.net/2011/09/le-ngo-chau-160-phan-inh-phung.html

2/ Báo SVYK Tình Thương, 113 Nguyễn Bỉnh Khiêm Sài Gòn

 http://vietecologypress.blogspot.com/p/tinh-thuong.html

3/ Phạm Cao Hoàng. Trang Văn Học Nghệ Thuật

http://blogphamcaohoangtacgia.blogspot.com/2013/06/tran-hoai-thu.html

4/ Ngô Thế Vinh. Chân Dung VHNT & VH, Việt Ecology Press 2017

Chan Dung Van Hoc Nghe Thuat & Van Hoa (full colour version) (Vietnamese Edition)

5/ Cơn Giông. Trần Hoài Thư. Tạp chí Bách Khoa 1969, số 288.

Click to access nhatbook-Tap-chi-Bach-Khoa-so-288-1969.pdf

6/ Cảm Tạ Văn Chương. Trần Hoài Thư. Tạp Chí Thư Quán Bản Thảo. Ấn bản đặc biệt tháng 10/2020. 

*******

Trần Hoài Thư and Ngọc Yến The Slaty-Breasted Rail and Longing For The Homeland

Introduction: Trần Hoài Thư is listed in The Anthology of Portraits of Literature, Art and Culture II. It shows this literary figure has been extensively written about and to write another article on him would indeed be a challenging undertaking. Moreover, the latter half of his life is so eventful it would take a voluminous effort to cover it all. In recent days, his life has taken so many unexpected turns that it is high time for me to write a long 50th Gold anniversary card to my friends Trần Hoài Thư and his better half Nguyễn Ngọc Yến. They tied the knot in a unique “military wedding,” knew unbounded happiness, are facing numerous ordeals as they were about to enter their eighties. On this occasion, I would like to venture that doctoral candidates would be well served to choose Trần Hoài Thư and his efforts to restore the Heritage of Literature of South Vietnam 1954 – 1975 / Di Sản Văn Học Miền Nam 1954 – 1975as a topic for their thesis. They will find in it an extremely rich and exciting topic worthy of commitment and discovery. There is not much time left. To borrow thewords of the young author Trần Vũ, the watch on Trần Hoài Thư’s wrist shows it is 5 to midnight – once those five ephemeral minutes are gone, Trần Hoài Thư would join the rank of the departed “người của trăm năm cũ”and everything would be irretrievably covered by the dust of time.

Picture 1: left, teacher Trần Hoài Thư (1967) at the age of 25, warrant lieutenant and leader of the Scout Ranger platoon of the 22nd Infantry Division. [source: Lương Trọng Minh]; right, half a century later, author Trần Hoài Thư (2017) age 75 binding the Di sản Văn học Miền Nam book in the basement of his house at719 Coolidge Street, Plainfield, New Jersey 07062 which also serves as the address of Thư Ấn Quán andthe editorial office for Thư Quán Bản Thảo. [source: a still frame of THT from a selfie video done with an iPhone 5; Chân Dung VHNT & VH, Việt Ecology Press 2017 ]

Trần Hoài Thư – A Biography

Trần Hoài Thư, given name Trần Quí Sách, was born on 12/16/1942 in Dalat. In early childhood, his father lost contact with the family and he lived with his mother in the coastal city of Nha Trang.  He also spent some time at the Bethlehem Orphanage in Hòn Chồng. After he was reunited with his father – a scholar still wearing the traditional black áo dài – THT attended the Quốc Học Huế then the University of Science in Saigon. From 1964 to 1966 he taught mathematics at Trần Cao Vân High School, Tam Kỳ, Quảng Tín Province (now incorporated into the Quảng Nam Province).

In 1967, he received training at the Thủ Đức Military Academy – Class of 24. Later assigned to the 405 Scout Ranger Company of the 22nd Infantry Division, THT was wounded three times. The first one, when a bullet from a VC AK tore through his left chest as his unit was sent to reinforce the battle of Quy Nhơn during the Tết Offensive of 1968. Consequently, THT was treated at the Military Hospital at Quy Nhơn. The other two wounds were caused by grenade fragments during ferocious engagements in Bình Định Province: the first time on the Kỳ Sơn Hill where 4 officers lost their lives and two were wounded including THT. The second one during the battle in the coconut region of Bồng Sơn. After 4 years and 3 Purple Hearts, THT was reassigned from the Scout Ranger company to serve as a war correspondent in IV Corps. There, he met Ngọc Yến, his wife to be. She is a native of Cần Thơ and a fervent fan of his.

A love born in literature

Trần Hoài Thư picked up his pen in 1964. It could be sooner. He made his debut with his first short story Nước Mắt Tuổi Thơ that appeared on the magazine Bách Khoa Sài Gòn. In later years, he became a contributor to Văn, Văn Học, Đời, Bộ Binh, Thời Tập, Vấn Đề, Khởi Hành, and Ý Thức …

We cannot ascertain when the Cần Thơ beauty Nguyễn Ngọc Yến was first introduced to and became a fan of Trần Hoài Thư. In the Sóng Văn Journal (1997), Ngọc Yến confided: “it is the love of literature that led our two ways to cross and writer Nguyễn Lệ Uyên acted as the matchmaker.” For a long time, I was convinced it was Lê Ngộ Châu the editor of Bách Khoa who brought them together. With the help of Đỗ Nghê, I was able to contact Nguyễn Lệ Uyên who responded on the same night with an email dated 05.05.2021:

“The story goes like this: while at the school of Pedagogy, Can Tho University, (1968), I was late enrolling for a couple of days and found myself in a bind. Fortunately, I met Yến who worked at the Administration Office. She put in a kind word for me with the Dean. We became good friends because she knew I authored several short stories published by Văn, Khởi Hành … she loves literature, is a bookworm and rarely misses reading a literary publication. I looked up to her as my big sister since she was 7 or 8 years my senior. Each time I received a payment for my writing I would take her out to eat. Then, in an issue of Văn featuring young writers both the short stories written by me and Trần Hoài Thư were published. As customary, when I received the author’s royalties, I took her to eat bún bò Huế at the Mister Ba Mập joint in Bình Thủy, on the direction of Long Xuyên. Enjoying the spicy food, with her mouth on fire and tears running down her eyes she commented that the dish is good. While we were eating, she asked if I knew THT and what I thought of his story. Of course, I knew him very well. He often travelled from Quy Nhơn to Tuy Hòa and spent a couple of days each time with his literary friends.  After meals, he usually stayed at my place.

In my mind, I only suspected that the purpose of her inquiry was to gain more information about the author but never imagined that she was infatuated with his works, sympathized with the wretched antagonists in his stories to the point of identifying them with the author. She ended up falling in love with him and the stories! At the close of 1969 or start of 1970 our group of students organized a weekly show of music and poem reading at the big auditorium. It was during one of those events that she opened up about her true feelings for Thư. She asked me about his family status, personal activities, character … Now, everything became as clear as day. Outdoing myself as a writer, I tried to create an exceptional persona out of Thư. I painted THT in a more flattering light turning him into a tough, macho, romantic individual like Hemingway’s old man sailing alone in the open sea. That night, I wrote Thư a 4- or 5-page letter telling him about Yến. I related faithfully what I knew or heard about her, her look, behaviours, and respectable family background (her father was a teacher and the superintendent at Phan Thanh Giản High School).I told THT, he’d find in her an ideal spouse and he should not let this golden opportunity slip through his fingers. Yến and I lived not far from each other. Each time we met, we talked about literature, sang the praise of Mr. Quí Sách. I encouraged her to write him and learned more about the antagonists in his stories. Several meetings later, I told her point blank that Thư though not a perfect man would make a good husband …” [end of quote]

From that day on, the address of Toà soạn Bách Khoa served as a P.O. Box for the girl from the Mekong Delta to correspond with the vagabond soldier Trần Hoài Thư. On a fateful day, the place was also used as the location for their first meeting. It took place on the occasion Thư was on a short leave and obtained a date to see Yến at Bách Khoa’s office. THT showed up late because he was kept too long by his friends. By the time Đỗ Nghê took Thư to the address at 160 Phan Đình Phùng Street, Yến already left piqued. It was Lê Ngộ Châu who left in haste on Yến’s trail to bring her back to meet THT. Not long after, they became husband and wife in a wedding ceremony on 6/18/1971.Those dear memories shared with Lê Ngộ Châu remained forever engraved in THT’s mind.

Nguyễn Lệ Uyên continued: “To make the story short, as if by predestiny, after we finished a flaming hot bowl of bún bò Huế I bought her, the two of them had a date at the Bách Khoa’s office, exchanged the vow in June,1971. At that time, I was a cadet at the Thủ Đức Military Academy when this short note arrived: Thư and I will get married on the day … month … year … Try to get a leave to come and attend our wedding to make our joy complete”.

It was a typical “military wedding” in Saigon. The simplest one possible, attended by about ten friends at a house in the Bàn Cờ area. No ceremony to take the bride to the groom’s house. Not even a wedding ring.

The small and big blessings

In the issue No. 181 of Văn Journal dated 07/1971, author Trần Phong Giao wrote: “In the past, the small blessing happened when you got married and the big one when you passed the court’s examinations. With the young writers of today who have to “give up their pens to pick up the rifles” the big blessing would no longer be passing the court’s examinations but probably when they see their works being published. Trần Hoài Thư, the prolific young author of our day, knows both joys at the same time. On the 18th of June he tied the knot with Miss Nguyễn Ngọc Yến in Saigon with an intimate circle of friends. On June 23, at 7:30 PM, Ý Thức Printing House organized a book launch for Trần Hoài Thư’s first work “Những Vì Sao Vĩnh Biệt”. After the celebration of the small and big blessings, Trần Hoài Thư had to rush back to his unit in II Corps. Our soldier was only allowed a week leave. All hustle bustle. No honeymoon, no time to give his new book to friends and relatives. That’s how things went! On this happy occasion, we would like to wish our friends Thư -Yến a joy pure, lasting, and steadfast. We also are looking forward for many new works by the author of “Những Vì Sao Vĩnh Biệt.” Works that would be cerebral as well as cardinal.”

In the following year, the couple was blessed with their first and only son Trần Quí Thoại. To this day, half a century later (1971-2021), the lovers Thư-Yến still enjoy a long, pure happiness that outlasts countless tribulations.

Picture 2: Lê Ngộ Châu, editor of Bách Khoa, the person who chose to publish Trần Hoài Thư’s first short story Nước Mắt Tuổi Thơ in a 1964 issue of Bách Khoa.

Picture 3: right, author Trần Phong Giao, editorial secretary, of Văn [ photo by Lê Phương Chi]; centre, the press release in the issue No.181 of Văn July 1971 announcing THT’s marriage: small blessing, and the publication of his first book: big blessing; left, book cover of Những Vì Sao Vĩnh Biệt showing the name of Nhóm Ý Thức Printing House 1971. [private collection Thư Quán Bản Thảo]

Actually, Trần Hoài Thư’s first book Nỗi Bơ Vơ của Bầy Ngựa Hoang was also published by Ý Thức Printing House in 1969, in Phan Rang a small town of South Vietnam in “limited edition”– meaning it did not pass censorship. The two-colour book cover was designed by Lê Ký Thương while the zinc plate used in printing it was done with the Cliché Dầu Sài Gòn process.  The typo printing was done using a rudimentary pedal machine. Since this is a two-colour cover, the printing was done twice. One colour each time.  The text was printed on stencil papers using a ronéo machine. The first edition of 100 copies was launched and distributed by Huy Hoàng Bookstore in Nha Trang which was also the town where Trần Hoài Thư spent his difficult youth. Nỗi Bơ Vơ của Bầy Ngựa Hoang was received by the readers in the South in complete surprise and amazement.

Picture 4: The Three Musketeers – who in one way or the other played a part in Trần Hoài Thư’s life, from left: Lê Ký Thương, the designer of the book cover for Nỗi Bơ Vơ của Bầy Ngựa Hoang, THT’s first work, published by Ý Thức (1969); Nguyễn Lệ Uyên, “the matchmaker” in the marriage of the lovers Ngọc Yến – THT (1969); Đỗ Nghê the driver who took THT to his first date with Ngọc Yến at Bách Khoa’s editorial office (1970). [private collection Đỗ Nghê, photo by Cao Kim Quy, Lê Ký Thương’s wife at their house on 09/05/2021]

War Correspondent in IV Corps

It was a miracle that Trần Hoài Thư survived the four years he served in a scout ranger platoon and was wounded three times. After he started a family, Trần Hoài Thư gave serious thoughts to the need to settle down. He was convinced he must live to continue to write as a witness of the war. In an unusual move, in complete disregard to the military hierarchy of command, a most grave breach of military discipline, Trần Hoài Thư wrote a personal letter to the top commanding general of the General Department of Political War, expressing his desire to remain with the military but be transferred to serve under the general as a war correspondent. Attached to the letter were, newspaper clips of the articles he wrote, his published books and naturally the details pertaining to the three times he was wounded and the medals he received

Not long afterward, a most extraordinary thing happened. It did not take long that Trần Hoài Thư wrote to inform Yến: “I could not imagine that being an officer in the Intelligence Department the mission order I was issued stated: this officer must serve in a combat unit, away from any traffic axis. Nevertheless, the written order from the General Department of Political War advised me that it approved my request and let me choose the Corps I wished to be assigned to: I, II, III, IV or the Capital Corps. Naturally I chose IV Corps where you live, my faithful reader, my new bride. I think I am the luckiest of the lucky because it is extremely rare for a soldier to be allowed to select his preferred assignment like me in the entire land of the South.”

As an inner thought, THT wrote: “A million thanks to literature. Thanks to literature the bell chimes so vibrantly, conveying such magical joy and exultation. Thanks to literature I forgot my humble lot, thanks to literature I feel myself in such an elated state.”

Hành Phương Nam / Journey to the South reflects the new writing style of a different Trần Hoài Thư, of a soldier moving from the Highland to the Delta:

“Phương Nam. I became familiar with the buggies or dinghies. Or the boundless fields. Or the melaleuca and mangrove forests. I learned to get acquainted with the swamps where you could sink as deep as your neck. The rows of cassia fistula, clumps of sesbania sesban, religious preaching resounding in the moonlit night, people as gentle as doves guided by love and obligations in their dealing with each other. I am thankful to Heaven for allowing me to finally find a haven after long days of tribulation… The door was flung open, the door of the South, to welcome me. The fragrance of rice stalks, the scent of areca nuts, the smell of the earth mixed with alluvia … they permeated the air, haunting your memory. That door’s panels were made of braids of red plums, resplendent under the blue sky. Everywhere, in back gardens, on the banks of canals, in front of houses, the sides of ponds, the shoulders of national routes, you see trees weighed down with fruits. Some red, others green, some bright pink. They look inviting like the sweet and rosy lips you want to bite into – so full and round like the breast of an adolescent girl; plump, bright and cheerful like the flush pink cheeks of a country girl wearing a checkered scarf and ferrying the travellers who are reluctant to bid her goodbye across the river on a summer day.

Crossing the river,

      When the plums are ripening

The sunny month,

      The weary traveller

You go to the garden in the back

Pick for me a bunch of fruits

The plum flowers fall like dusts

The skin of the plums

      Look as rosy as your lips

Oh! the corners of the eyes

The bright pink cheeks

I fall in love with the little girl

I linger on reluctant to leave

      The plum that enters maturation 

I want to keep not wanting to bite …

Ape Man Trần Hoài Thư

Unfortunately, good things did not last long. On April 30, 1975 another upheaval occurred. Trần Hoài Thư was sent to the reeducation camp when his son was only two-years old. The plump tree in the backyard was covered with white flowers, as white as the hair on his maternal grandmother’s head.

More than four years of hard labor. During the first few months, he was detained at the old Trung tâm Huấn luyện Chi Lăng, in the Tịnh Biên District, An Giang Province. He was subsequently transferred to the Kiên Lương Prison, in a deserted marshland area northwest of Kiên Giang City on the Cambodian border.

Like with any other communist re-education camps, at Kiên Lương, the prisoners did not starve to death but were kept in a constant state of hunger. Even when it was located in the heart of the Mekong Delta’s rice bowl that could feed the entire country.

In a humane gesture, the camp’s management allowed the prisoners to set up a group to improve their food intake: they are tasked to grow and harvest vegetables to add fresh food to their diet. Kiên Lương lies in a low land region of the Long Xuyên Quadrangle. The vast melaleuca forests teemed with fish, shrimps, and snails. Under those circumstances, THT volunteered to join the so-called group the other prisoners wanted to stay away from because of their fear of leeches, boas, and serpents that thrived in the forests. They also dreaded the alum in the water that could damage their skin or be stuck in the sinking sand of the swamps. The environment was so inhospitable the camp commander saw no need to assign guards to watch over the group since there was no place for them to escape to. However, for a scout well trained in survival skills like THT, this was the opportune time for him to live in freedom. Our modern reluctant Robinson Crusoe wrote: “I, on my part, wished to avoid the probing eyes. In the forest, at least I found the freedom to scream, sing, defecate, laugh to my heart’s content. I wanted to hold my life and the white clouds in a tight embrace. I desired to sit on the Melaleuca tree like an ape man.”

The source of fish was plentiful: snake heads, catfish, perches … They were caught using homemade hooks and fat worms that were readily available.  The prisoner condemned to hard labor THT could easily meet his “daily quota” of catch and bring it back to his group in a sand bag. Naturally, the best catch would be reserved for the camp commanders while the rest were sent to the communal kitchen to improve the protein intake of the prisoners.

As long as he lives, THT will always cherish the image of Yến’s face covered with dust and smoke from the charcoal driven bus she took each time she came to see him at the camp.

Eventually he was released and THT returned to Cần Thơ, his wife’s homeland. In an emaciated body weighing only 35 kilograms, he started a new life under “probation” or more precisely under surveillance.

During the day, from sunrise to sunset, he pedalled his rickety bicycle with a Styrofoam box in the back to go from village to village ringing a bell and selling ice cream to the children to earn a living. It was exactly his bell ringing to amuse the children that gained the sympathy of a boat owner who was searching for a scout for his coming sea trip. He offered THT a free ticket on his boat knowing full well his extreme poverty. The catch: What about his wife and child? It was only much later that THT found out that it was his wife Ngọc Yến who took the initiative behind his back to go and plead with that man to let him go on the trip. The boat owner advised her: “You should give it some more thought. I don’t want you two to separate.” But Yến insisted: “I’m determined to see him leave. Please give him a chance”.

Trần Hoài Thư wrote: “To leave or not to leave? I was torn by that dilemma. If I stayed, the two of us would eventually die. If I left, I was afraid it’d be without return. I had a look at that boat. About 20 meters in length built with wooden planks destined for river travel.  Who would ever think of using that flimsy boat to brave the mighty waves of the ocean?” It was Yến who urged him to grab that chance and go. He went on: “I took the plunge. I chose that dastardly decision. I was being selfish to the extreme.

But before I could leave, I had to figure out a way to convince the neighbours that I left without my family’s consent. Otherwise, Yến would lose her job because the lady who lived next door was a communist party member. It was nobody else but Yến’s mother, a kind hearted and totally honest lady, who came up with a dramatic plot. She told the two of us: “Children, we have to act this out. You two must pretend that you are having a fight and make the neighbours believe you are going your separate way. You know too well that the lady next door is a party member.  

I had to show that I neglected, betrayed my wife and child. The act required two players: a husband and wife. The space was the kitchen. The time: in the afternoon. Smashing of bottles, pans flying, screaming, shouting, crying the louder the better. Thư: “I am fed up with this family. This place repulses me. I will smash everything up, I’ll destroy everything.” Followed by Yến: “From now on I don’t want to see your face again …” The two of us turned out to be first class actors. So good that my son who was only 6 at the time got really frightened and busted into tears. And my mother-in-law started to sob. And only three people knew what was really happening.

I left when my child was deep in his angelic sleep. With only the clothes I was wearing. My wife stood at the head of the alley watching me walk away. After that, she went back to our room, hugged the pillow then cried as if she never cried like that before.”

It was near the close of 1979, he left on the day he regained his civil rights.

Freedom or death

Leaving behind a wife and child, Trần Hoài Thư got on a tiny riverboat packed like sardines with 93 persons aboard. It was an eventful trip but they eventually reached the shore of freedom on Pulau Bidong Island in Malaysia.

“At the end he knelt down on his knees and kissed the sand on the beach in thanksgiving. He found the freedom he long sought. Oh! How could the sea now look so placid and blue? The waves were so gentle? He knelt while his two hands were trying to ward off the blows, punches, and kicks of a Malaysian soldier. He closed his eyes, not uttering a moan, a supplication. He did so while fully realizing it was the price he had to pay for leaving on such a trip and accepting the lot of a person who no longer had nationality. ‘This land belongs to our Yang di-Pertuan Agong, the king, this beach belongs to our Yang di-Pertuan Agong, the king … And you, a stateless wanderer, you only bring misery and problems to this land.’”

“… Keep heaping scorn and curse, you the soldier wearing a black beret, holding a baton, with a revolver hanging by your side. Freedom is not earned easily like going on a tour. Many people were not so fortunate. Many people found their resting place at the bottom of the sea. Many girls were raped and kidnapped. And there was a girl with her long hair flying in the air as she plunged into the sea. That’s not all! There were countless souls navigating in the infinity of days and nights, with no food, no water, over reefs, corals, waters infested with sharks…Freedom or death. Death or freedom. You can keep on beating me, I will willingly suffer the pain you inflict upon me, the blood I spit out of my mouth, it’s nothing compared to the darkness I left behind. I have waited for too long in a tomb. I have wanted to jump into the sea to find death when thinking I would be forced to turn back. Now I see the light. It is as bright as thousands of blessed radiances. It possesses no shape, no form but feels as comforting as the smell of life-giving medicine in an emergency room. I do not blame you. I do not feel angry at you. Because I will stand up even on my shaky feet, in the most excruciating pain.” [6]

Khi Tôi Đi Rồi, the poignant poem written by Trần Hoài Thư when he had to leave behind his wife, and son to embark on a perilous adventure at sea in search of freedom:

“… I walk away leaving the city behind

Farewell to you my homeland for the last time

I have a son, he’s not even four years old *

I have an old mother, her hair as white as the dew

I have a wife who has suffered the vagaries of life

Tonight, tonight, Oh God, I left everything behind

Once on the sea, I may lose my life

Leave behind my country, live in exile

Once that I left, I would lose everything, my two hands empty

In the vast, boundless immensity of the sea

Once that I left, my soul would never be free

From the unending calls of love from my country.

 (*In 1979, his son was six years old)

On the island, the long wait however was full of expectation. When the interviewer of the American team asked for proof of his being an officer or soldier of the Army of the Republic of Vietnam (ARVN), THT opened his shirt and pointed to the big scar that took a good part of his left nipple; he was then asked what he planned to do if he was allowed to go to the U.S., THT answered he was a writer and would continue to write about the misfortune of the war and its aftermath. That’s the end of the exchange. The American interviewer smiled, shook his hand and wished him well. Soon afterward, THT was able to resettle in the U.S.. In the beginning, he was flown to Maryland to live in a small pagoda, then in a church and several other places.

Ngọc Yến – the Agony of the person who stayed behind

Prior to 1975, Ngọc Yến served as administrative secretary to the president of Cần Thơ University, Professor Nguyễn Duy Xuân. After 1975, the communists detained him in a re-education camp for 11 years. He breathed his last at the Hà Nam Ninh camp in North Vietnam.

As Yến later explained, at the beginning, the communists thought that her title of secretary to the president of the University implied that she held an important position. That would make her a potential target for being purged. Fortunately, Yến was spared from being sent to a re-education camp or losing her job thanks to the report from the “people”, the other university’s employees, who described her as a gentle person whose job consisted of taking care of the paperwork’s, typing documents with no other authority.

That was not the end of the story, however. Yến remained under the watchful eye of the university’s party secretary. She was constantly being reminded that her husband was an officer of the ancient regime who fled the homeland and she should forget him in order to build a new life. At that time, she was the mother of a child, still young and attractive in the eyes of many communist cadres. The party wanted her to consent to an arranged marriage with a captain who also worked at the university. In spite of her pitiful, low-level salary she had no choice but to hold on to her job in order to keep the Household book and the food voucher she and her child depended on. Utterly indignant, but in no position to turn down the party’s decision, she asked to be given some time for her sorrow to heal.

Beginning in 1980, after learning that her husband was safe in the U.S., Ngọc Yến made up her mind to cross the ocean with her son who was not yet seven. Another “free ride” from a boat owner with a “Buddha” heart.  The trip proved perilous. Suffering from hunger, thirst and attacks by pirates followed by long days of begging for food in an out-of-the-way small village in Thailand.

The day a family was reunited

Trần Hoài Thư recalled, for some unknown reason, Colonel Nguyễn Bé the former commander of the Training Center for Rural Construction Officer at Chí Linh Vũng Tàu, got hold of THT’s telephone number. He told Thư he just received a letter from Thailand. Without waiting for the letter to be forwarded to him, Thư asked Colonel Bé to open it and read the content to him over the telephone. The message was short: “Our son and I are now in Thailand.”

Thanks to the blessings from his pious ancestors, Thư was reunited with his family. Almost forty, THT clearly knew that his only ticket for a brighter future was to go back to college. On the counsel of a young friend, he met at the church, THT moved his family from Maryland to Philadelphia. The only place they could afford was an apartment in a slum in the northern part of the city. It was in a poor neighborhood teeming with newly arrived refugees from Indochina like Laos, Cambodia and Vietnam.   A lone brave Korean was fearless enough to open a Grocery store there. Criminals visited mostly from the outside and behaved as if they came to a no man’s land. One night, the door on the first floor of the Korean’s store was smashed open and people were seen carrying out big or small boxes. THT called 911. He was told by the police the store was insured and the owner would be paid by the insurance company. The police also, warned him to be cautious because if those guys knew he reported on them they might exact revenge against him. Danger was lurking everywhere. His family had no choice but stay put in that tiny rat hole of an apartment with the windows studded with 10 cm long nails and always shut for protection.

Trần Hoài Thư went back to school while his wife worked as an electronic assembler earning minimum wage. They took turns taking their son to class and at the end of the school day he would have to walk home alone. He was still too young and short to reach the door lock, prompting Thư to stack two bricks on top each other so that his son could reach the knob to open the door on his own. At that time, THT enrolled as a full-time student with Spring Garden College majoring in computer science.  During the day, he attended classes and held a janitor job cleaning offices at night to make ends meet.

The couple was fully aware of the law in the U.S. requiring that a minor should not be left alone in the house regardless of how busy the parents were. They took turn calling to check on the child. Should he fail to pick up the phone, Thư would immediately leave his class and rush home to find out. Most of the time, he simply was sleeping and did not hear the phone ringing.

In the end, THT completed his four-year program in computer science and graduated in the top five of his class. When the AT&T recruiting team showed up at his school looking for outstanding graduates THT passed a strenuous interview and was offered a job with the company’s branch in New Jersey. That explained why the family moved to the state where only a few Vietnamese lived. New Jersey now became the promised land for them. They rented a house since Thư no longer worked at a blue-collar job. With the higher income, they were able to save and eventually bought a four-bedroom house they are still living in to this day. Their son Thoại finished high school with flying colours and was admitted to a seven-year program at a medical school. He graduated and now works as a medical doctor.

At his job, Thư proved to be capable, full of initiative and gifted in mathematics. As a result, AT&T made a long-term investment in him and paid for his higher education on a part-time basis. Two years later, Thư obtained a Master of Applied Mathematics. He continued to advance in his career.  After his branch was bought by IBM, Thư was promoted to Project Leader and worked in that position until his retirement day.

Picture 5: from left, gone are the stormy days. After he graduated with a BS in computer science THT found a stable white-collar job. The couple Ngọc Yến and Trần Hoài Thư learned to enjoy the colourful splendour of Fall in the Eastern part of the country [photo by Trần Quí Thoại 1990 Poconos, Pennsylvania]; right: Nguyễn Ngọc Yến and Trần Hoài Thư attending the wedding ceremony of the young friend who welcomed them during their first days in Philadelphia. Ngọc Yến was still very young, THT’s hair was just turning grey. [source: Blog’s Trần Hoài Thư, annotation by Ngọc Yến]

The restoration of the literary heritage of the south

Since 2001, though still holding a job Trần Hoài Thư and Phạm Văn Nhàn, his soldier friend joined hands to establish the magazine Thư Quán Bản Thảo and Thư Ấn Quán publishing house.

When the IBM office was outsourced to India, THT decided to retire. Freed from the need to earn a living, Thư deemed it the propitious time for him to realize his dream. He could devote all his efforts to the completion of his collection DI SẢN VĂN CHƯƠNG MIỀN NAM/ THE LITERARY HERITAGE OF THE SOUTH.

Trần Hoài Thư has the magnanimity of heart to labor singlehandedly over the years striving to restore the literary works of a time the Vietnamese communists did their utmost to track down and destroy.

Picture 6: left, Phạm Ngọc Lư, Trần Hoài Thư, Nguyễn Lệ Uyên, Phạm Văn Nhàn. [source: private collection Nguyễn Lệ Uyên, Picture taken in 1969]; right, Trần Hoài Thư and Phạm Văn Nhàn, two comrades in arms and currently (2021) companions at the magazine Thư Quán Bản Thảo and Thư Ấn Quán publishing house. The pair works in tandem to restore the Di Sản Văn Chương Miền Nam/The Literary Heritage of the South; right, Trần Hoài Thư and Phạm Văn Nhàn on the summit of mount Watchung Green Brook, N.J.. In 1777, General George Washington used this peak to observe the movements of the British troops. Now known as Washington Rock State Park it boasts an extremely beautiful 30–mile–long scenic routevery popular with tourists. [photo by Tô Thẩm Huy]

At the library of Cornell university

Using the library system at the large American universities, Thư succeeded in getting hold of a number of publications in South Vietnam. The library at Yale was relatively close to his home – just about two hours driving. The renowned Vietnamese scholar Huỳnh Sanh Thông worked there. He translated the Tale of Kiều by Nguyễn Du into English and provided materials to the writer Võ Phiến to complete his work Văn Học Miền Nam/ the Literature of South [Vietnam]. Then, there was also the library at Cornell, somewhat farther away, approximately 5 hours by car. However, its Southeast Asia Section contained the most exhaustive collection of published materials of South Vietnam.

Usually, Trần Hoài Thư only drove during the daytime when it’s still bright.  At nightfall, Yến took over because her husband tended to doze off when it’s dark.  The drive was very dangerous going through mountain passes and sleets in the winter. Twice they had a brush with death driving on their way to Cornell on a treacherous road covered with slippery sleets. It was quite astonishing that Cornell could amass such a huge number of publications from South Vietnam – even a leaflet used during the “chiêu hồi” campaign to induce the communists to surrender to the government.

Probably because he has the DNA of a scout ranger, THT was very audacious in his work habits. Leaving the house at 4 AM when it’s still dark Yến would be at the wheel until dawn. It’s then THT’s turn to drive. They would usually arrive at Cornell at 10AM and immediately plunged into work at the Asia section of the library, searching, perusing, taking notes, making photocopies until sundown. After a short lunch break then it’s back to work again until the time to head home. It’s like that not only for one day but many days; not only for one week but many weeks, for years on end. The tens of thousands of pages on poetry, literature of South Vietnam found at Thư Ấn Quán Publishing House testified to the laborious and tenacious collecting of this couple over the months and years up to 2012.

Picture 7: top, Cornell University was founded in 1865.It is the most extensive repository of publications from South Vietnam for the period of 20 years from 1954 to 1975; bottom, Trần Hoài Thư at the Cornell University Library from the time his hair was still black until the time it turned as grey as dew. [source: private collection Trần Hoài Thư]. 

As for the printing machine and equipment, THT went on Craigslist to look for the things he needed at a bargain or at times free. Once the price was agreed upon, he would show up at the given address with a screwdriver in the pocket. People would ask: “How could you move the machine weighing a ton or so?” I smiled and said “I have my way.” I started dismantling the machine to its barest minimum: fuser, paper box, ink, assembly parts, frame… The American owners watched me work in amazement, astonished. My only problem was ink. I could buy it on eBay but could not vouch for the quality.

So, 46 years have gone by 1975-2021, life also unfolds like a passing breeze, history evolves in the blink of an eye, entailing so much suffering and tragedy. Another blink and the generation of writers (1954-1975) would have returned to dusk where they came from. A number of them would still be remembered through their works but, at the same time, we must not forget the wretchedness they suffered in their lives or the painful death they met at the communist camps.  The Literature of South Vietnam would not be complete without a “white paper” for that period in history, an open Wikipedia, like a memory bank for the use of the Vietnamese generations of the future.

Picture 8: left, the street address 719 Coolidge Street, Plainfield, New Jersey 07062 is where Trần Hoài Thư and his wife have lived for almost 30 years. It is also the address of Thư Ấn Quán Publishing Houseand the editorial office of Thư Quán Bản Thảo; right, author Trần Hoài Thư assiduously at work cutting to size the issues of Thư Quán Bản Thảo. Hopefully, one day, this place will be kept as a literary landmark of the first Vietnamese generation to be bequeathed to future ones. [photo by Phạm Cao Hoàng] 

Picture 9: A sample of the collection Di sản Văn học Miền Nam/Literary Heritage of the South published by Thư Ấn Quán, tome Văn Miền Nam 4 volumes: I, II, III, IV (2013); tome Thơ Miền Nam trong thời chiến/ War Time Poems of the South 2 volumes: I, II (2017); tome Thơ Tình Miền Nam/ Love Poems of the South (2017); Một Thời Lục Bát Miền Nam/ The Lục Bát Poems of the South (2008); Thơ Tự Do Miền Nam/Free Style Poems of the South (2009). These are the works realized by Trần Hoài Thư using artisanal methods. It can be said that THT is the pioneer of POD / Print on Demand in the publication of Vietnamese materials overseas. [photo by Phạm Cao Hoàng] 3

Published Works:

Prior to 1975

1. Nỗi bơ vơ của bầy ngựa hoang; 2. Những vì sao vĩnh biệt; 3. Ngọn cỏ ngậm ngùi; 4. Một nơi nào để nhớ.

After 1975

PROSE

1.  Ra biển gọi thầm (Tập truyện); 2.  Ban Mê Thuột ngày đầu ngày cuối (Tập truyện ); 3.  Về hướng mặt trời lặn (Tập truyện); 4.  Mặc niệm chiến tranh (Tập truyện); 5.  Đại đội cũ, trang sách cũ (Tập truyện); 6.  Thế hệ chiến tranh (Tập truyện); 7.  Thủ Đức gọi ta về (Tạp bút); 8.  Đánh giặc ở Bình Định (tự truyện); 9.  Hành trình của một cổ trắng  (truyện vừa); 10. Ở một nơi trênTrường Sơn (tập truyện); 11. Truyện từ Bách Khoa (Tập truyện); 12. Truyện từ Văn (Tập truyện); 13. Truyện từ Trình Bày, Văn Học, Khởi Hành … (Tập truyện); 14. Truyện từ Vấn Đề (Tập truyện); 15. Tản mạn văn chương (tập I); 16. Giấc mơ Giáng Sinh (Tập truyện); 17. Cảm tạ Văn chương (Hồi ức).

POETRY

1.  Thơ Trần Hoài Thư; 2.  Ngày vàng; 3.  Nhủ đời bao dung; 4.  Ô cửa; 5.  Xa xứ; 6. Quán; 7. Vịn vào lục bát.

Two Works that Were Misplaced After the War

1. Của Chiến Tranh;

2. Một Ngày Gạo Ba Ngày Hành Quân.

Both in and out of uniform, Trần Hoài Thư was quite prolific. In just two months living at Tháp Chàm with Phạm Văn Nhàn, he completed a medium size novel titled Của Chiến Tranh. He trusted the book to Rev Từ MẫnVõ Thắng Tiết * director of Publisher Lá Bối but it never passed censure. After the event of April 1975, the book was misplaced.

[ *After 1975, Từ Mẫn Võ Thắng Tiết joined the rank of boat people. He left on the same boat with the author Nhật Tiến. At first, he resettled in Alaska, then moved to Southern California where he established the prestigious Văn Nghệ Publishing House. He retired after running it for many successful years.]

The second book Một Ngày Gạo Ba Ngày Hành Quânis a long story. Author Thế Uyên, at the time, was managing Thái Độ Publishing and Tủ sách Văn Nghệ Xám.

[ Thái Độ also published the novel Vòng Đai Xanh by Ngô Thế Vinh]. In spite of the aggressive attempts by Thế Uyên, it failed to pass the censure of the bureau for “phối hợp văn học nghệ thuật” in the Ministry of Information.  After April 1975, this manuscript suffered the same sad fate of its predecessor.

Those two works were advertised in the news media but never saw the light of day. They were works that were lost, war casualties, forever falling into oblivion.

The human death toll of the war has been compiled and made public. What about the literary loss? Will historians be willing to address it?

Picture 10: left, Scout Ranger First Lieutenant Trần Hoài Thư’shappiness in holding his child (1974); right,Trần Quí Thoại, Trần Hoài Thư’s son, at the Science Fair sponsored and organized by Bell Lab. Thoại gave a lecture on the topic of “scientific researchon the magnetic field of superconductors” for which he received an award. Trần Hoài Thư and Ngọc Yến were in the audience and proud of their child. Watching Thoại’s achievement, it’s hard not to raise this question: what would have become of Thoại, the son of an officer of the ancient “renegade” regime, if he still lives in Vietnam? Probably a buffalo boy!Now, he’s living in a new continent, another country and finds all doors are open to him to advance. Trần Quí Thoại is now a medical doctor. [source: private collection Trần Hoài Thư]

Picture 11: left, the designs on a ceramic plate crafted by Trần Quí Thoại for his father; centre, drawing by Trần Quí Thoại showing cảnh “Con Vịn Cha/Son leaning on father”; right, the latest photo showing “Cha Vịn Con/Father leaning on son”.

Son Leaning on Father

Father Leaning on Son

The handrail! Dad

Straighten your back Dad

Now lean on me Dad

You taught me to step

On the mud to move ahead

Hand in hand I led

You across the street

I tiptoed; I gave you my hand

You hesitated Dad

You paused after each step

All of a sudden, I felt warmth

Running all over your body.

Picture 12: left, Trần Hoài Thư, the former ice-cream seller graduating with a Master in Applied Mathematics from the Institute of Technology Steven New Jersey on 05.24.2005; right, Trần Hoài Thư in a happy family reunion on the occasion of his graduation: Nguyễn Ngọc Yến, Trần Hoài Thư and their son Trần Quí Thoại. Thoại is now a medical doctor.

Ngọc Yến Suffered A Stroke In the Aftermath of Hurricane Sandy

A month after Hurricane Sandy devastated New Jersey, Ngọc Yến suffered a stroke in December of 2012. There was advance warning before Hurricane Sandy struck. Not so with the stroke that Ngọc Yến suffered. She was taken by surprise when it came and rendered the left side of her body paralyzed. It also hit Trần Hoài Thư with the force of an earthquake. Yến could not move her left arm and left leg, sit, stand, retain command of the left side of her body at all. In Thư’s mind, Yến’s journey on her via dolorosa began on that day.

Learning from the care his wife received at the hospital, Trần Hoài Thư made changes to their house i.e., adding steps to the door, handrails … to better accommodate the new physical conditions of his wife. Thư quickly learned how to transfer her from the wheelchair to the bed, help her take care of personal hygiene like bathing, dressing, changing diapers and basic physical therapy. He did everything in such a fast and tidy way that astonished even professional therapists and home caregivers. Thư tried his best to create a normal family atmosphere for Yến to live in. His happiness consisted of seeing to it that Yến had a good appetite, a good sleep, saying she’s happy. He accepted what Providence had in store for them and learned that: happiness grew deeper when it was born out of tribulations. Thư used his pen to bare his thoughts: “Each day I find a way to bring joy to Yến. Likewise, each day I conceal from Yến my sorrow.”

Things do not stop there. The initial stroke was followed by a second then a third. By May 2015, it became no longer practical for Yến to be cared for round the clock at home. She was moved to a nursing home by order of the doctor who saw it as the only way to save both Yến and Trần Hoài Thư.

For 11 long years [from 2001 to 2012], Ngọc Yến, THT’s lifelong companion, has walked by his side and helped him immeasurably in the restoration of the Di Sản Văn Học Miền Nam/Literary Heritage of the South.

“Yến helped drive me on long trips to the library of CornellUniversity, bind books a thousand of pages thick or carry boxes of paper I bought at a bargain. She helped me write addresses, stuff books into envelopes, stick on the postage, or point out the mistakes I made. When we received a book order, she never failed telling me I should send it out free as a gift. She has the heart of the Buddha. Losing Yến, I lost my right arm. I no longer have my “rock” to lean on.”

For many years, like clockwork, Trần Hoài Thư turned “housewife” cooked two hot Vietnamese meals for Yến to eat at the hospital. She refused to eat American food. Thư would find excuses to stay at Yến’s bedside as long as possible. Their son practiced medicine out of town but came home on weekends to go with his father and visit Yến. He knew how to make his mother happy, even making her jealous of his father.

The Anecdote: Mr. Trần Hoài Thư Marries the Gal Named Phương”

When the father and son came to see Yến she usually called Thư “Thoại’s dad” using the name of her son in the appellation. One day, out of the blue, she turned her back to Thư and refused to talk to him. For no apparent reason, she completely changed her way of addressing him. Instead of calling him “Thoại’s dad” she referred to him as “Mr. Trần Hoài Thư”. Yến accused him: “You’re waiting for me to die to marry that gal Phương, aren’t you?” Upon hearing those words, Thư was scared out of his wit and asked Yến: “Phương who?” The name Thư could not place at all. Yến became angry, she turned towards the wall and completely ignored Thoại’s dad.

Having stayed in the hospital for several years on account of the three strokes, Yến easily forgot recent events but for those that took place in the past, she could remember as if they just happened yesterday. Though Thư raked his brain he could not figure out who the “gal Phương” was. Could it be that Yến was jealous of one of the antagonists in his books? Once home, he spent the whole night searching the computer. Eureka! Finally, Thư stumbled on the key to the puzzle. The “gal Phương” turned out to be a prostitute, a protagonist in the story “Cơn Giông”, whom the scout ranger second lieutenant met at a house of ill repute then fell in love with. The story was published on the issue No. 288 of Bách Khoa in 1969. [5] Though Yến’s unreasonable jealousy has made him go through some heart-rending time, Thư was very happy finding out that Yến’s mind was still very sharp.

In medicine, this is a typical episode of “delusional jealousy” secondary to organic brain syndrome.

Longing For the Homeland – Longing for the Slaty-Breasted Rail

Before the advent of the Covid-19 pandemic, usually Thư was authorized, two times a day, to bring home-cooked Vietnamese food to the hospital for Yến. But then, one day Thư was advised by the nurses that Yến had not been eating for the last few days.

Thư was fully aware that Yến did not like to eat American food and for that reason he went on the Internet to learn how to cook the dishes Yến liked. The doctor gave her a general checkup and told Thư that her condition was stable and free of new complications. He asked Yến what dishes she liked him to cook for her and learned she wanted a dish prepared with the meat of “chim chằng nghịch” – slaty-breasted rail. For two full years, THT had served as war correspondent in IV Corps but never heard of a bird named slaty-breasted rail. As usual, with the help of Dr. Google, Thư learned that the bird is also known by another Vietnamese name “gà nước vằn”. It has a long beak, black legs and is indigenous to the Mekong Delta. Lately, it is very rare to lay one’s hands on one. Probably, it has almost disappeared from the fields of the Delta. Nowadays, even in Cần Thơ, Yến’s homeland, it is almost impossible to find a slaty-breasted rail. Let alone in America. Thư tried to explain the situation to Yến but from the bottom of his heart he knew because she has been sick for too long – also too homesick – that the thought of the slaty-breasted rail came back to her mind and she asked for it.

Picture 13: The slaty-breasted rail or the nostalgia of the homeland, is also known as “gà nước vằn”, scientific name Gallirallus striatus. It used to live in the fields of the Mekong Delta but has practically become extinct. However, it has not been included in the Red Bookof Vietnam. [source: birdwatching Vietnam]

On that particular day, I called from California to talk with Trần Hoài Thư. He was then at the nursing home with Yến so I asked him to pass the phone for me to say hello to her. Thư told her it was Ngô Thế Vinh calling. She remembered me right away and said: “hello doctor”. I reminded her I am Thư’s friend and please do not call me “doctor.” All the while, I was really glad realizing that the way she greeted me showed that her memory was still working very well even after a stay of more than six years at the Nursing Home. In addition, I told her I just visited the Mekong Delta and did not see a single slaty-breasted rail. Eventually, Yến never mentioned the slaty-breasted rail again and went back to eating the dishes Thư prepared for her to the great joy of Thư and their son.

Cù Huy Hà Vũ’s Visit with The Couple Trần Hoài Thư 2016

Cù Huy Hà Vũ, the son of poet Huy Cận, is 15 years younger than Trần Hoài Thư. In 1968, when Thư was serving as a Scout Ranger officer in the battlefields, Vũ, the 11-year-old boy, was watching, from the mouth of the cave where his family evacuated to, waves of American fighter jets bombing North Vietnam.

The two have never met but Vũ has heard of THT. He and his wife flew from their home in Chicago to Boston then drove with a friend to New Jersey to visit the Trần Hoài Thư couple. Vũ asked THT to take them to see Ngọc Yến at the nursing home. When Thư told her that Cù Huy Hà Vũ, the son of poet Huy Cận, the author of Lửa Thiêng came to see her, Yến immediately made the connection. Right there at her bedside, Cù Huy Hà Vũ took a piece of paper and drew Yến’s caricature with this dedication “To Nguyễn Ngọc Yến on Mother’s Day May 8, 2016”.

Vũ is a gifted artist. He faithfully captured the “person” of Yến in his work: the pair of beautiful bright eyes, the highbrow reflecting her determined character. The joy and emotion Yến showed touched Thư equally and filled him with the thought that there was “Un peu de soleil dans l’eau froide /a little sunlight in the cold water,” the title of a film he saw way back.

Picture 14: Cù Huy Hà Vũ and his wife Nguyễn Thị Dương Hà visited Yến at the Nursing Home Ashbrook, N.J. on Mother’s Day, Sunday 05.08.2016; left, caricature of Nguyễn Ngọc Yến, Trần Hoài Thư’s wife, drawn by Cù Huy Hà Vũ; right, caricature of author Trần Hoài Thư, also drawn by Cù Huy Hà Vũ.  [ private collection Trần Hoài Thư]

Back at Thư’s home, Vũ went to the basement and spent the rest of the day perusing the extensive book collection he found there. Trần Hoài Thư also autographed a number of his works on the literature of the South and presented them to his new friend.

The Love Birds in The Midst of The Pandemic

The first months of 2020 was plagued by the corona pandemic. Nursing homes all over the country became the hunting ground of the Angel of Death. N.H. Ashbrook did not fare any better. THT was informed that Yến had to be hospitalized because she was infected by Covid-19 along with other residents. Considering that Yến had several underlying diseases and three strokes, the chances that she’ll make it through were not good. But Yến beat the odds and belonged to the rare ones who survived at the nursing home. She was not admitted to the ICU or connected to a ventilator. After a few days, she was discharged back to the nursing home where fewer beds than usual were occupied. We can call this a miracle. She survived in order to keep Thư and her son company. During the many months of maximum social distancing, Thư and Thoại were not allowed to come and visit her.

But then, misfortune often strikes twice. In June 2020, it’s Trần Hoài Thư’s turn to come down with a stroke. However, this time Thư was ambushed. One day, like any other, Thư started to autograph the first page of a book intended for a friend. Suddenly, he felt some difficulty holding the pen and the lines he wrote seemed to be quivering, wobbling before his eyes. He knew something was awfully wrong. That very night, Thư called his son who was the doctor on duty at a hospital in Philadelphia. Thoại advised his father to dial 911 immediately to be taken to a hospital because Thư was displaying symptoms of an impending stroke. He also promised his father he’d drive home early in the morning of the next day. In the hospital, Thoại explained to his father that he had a blood clot in the brain. So, after Yến’s stroke in the aftermath of Hurricane Sandy, Thư was not spared but in turn came down with the same. In a fleeting moment of despair, Thư felt heartbroken: “Both of us have come to the end of our rope. Gone the dream of the magazine Thư Quán Bản Thảo, Gone the dream of Thư Ấn Quán Publishing House. No more the typing of poems and articles with their rhythmic soft sounds on the keyboard. It looked like I’ve been robbed of my remaining joy in the autumn of my life”

Thư swiftly brushed aside those pessimistic thoughts. He immediately came up with a daily plan of action. After a month in the hospital, mostly lying on his back, Thư received his discharge order; not because he had fully recovered but because it’s the longest hospital stay the insurance allowed. Thoại took his father back to their old home that was left unoccupied for a month. In the backyard, the weeds had grown quite tall. The thought that the time has come for “the father to lean on the son” dawned in Thư’s mind. Thoại tidied up the mess in the room, helped his father get on the adjustable hospital bed his mother Yến left behind when she moved to the nursing home. Thoại bought and installed cameras all over the house so that he could keep watch over his father with his iPhone. When everything was taken care of, Thoại drove back to his hospital in Philadelphia.

Alone in the empty house, THT came face to face with the stark reality. His fingers could no longer hold the spoon, the chopsticks could no longer handle rice grains or food causing them to splatter on his shirts or pants. Worst yet, they could no longer command enough strength to type on the keyboard. His brain lost control of his fingers and he found it impossible to type correctly…

For Trần Hoài Thư his fighting spirit is always second nature to him. Like a programmer, THT set up for himself a “program” for “Occupational Therapy” he could use at home following a unique algorithm. At the hospital, the therapists showed him simple exercises to follow like picking up things, building houses or cars using Lego blocks. On his own, Thư started the difficult steps to teach himself the skill to write on paper or type on his iPhone one line at a time his Favorite “lục bát” poems. Week after week, he gradually regained full use of his ten fingers. Before long, Trần Hoài Thư was back to his passion. He worked feverishly afraid he would waste the precious time he has left.

Thư got his hand on a misplaced unfinished memoir that he never intended to publish. But it’s different this time around. THT decided he had to finish it within the time he still walks on this earth. He was not sure when that time would come to an end. He gave this book the title: Cảm Tạ Văn Chương [6] /In Gratitude to Literature– intending to leave it behind as his personal Will. The book was completed in record time. There were passages in it that brought tears to the readers’ eyes. The work was not put up for sale to the public but, somehow, Cảm Tạ Văn Chương turned out to be the best-seller of Thư Quán Bản Thảo.

In the closing pages of his memoir, Trần Hoài Thư wrote: “Again I have to say thanks to literature. It came when I fell down. It gave me the support to get back on my own feet. It is a magic wand. It helps me continue on my way. I have not fully recovered, but I can still type a poem, post an article, and go down to the basement to bind a book with my own hands. In spite of my blurred vision, wobbling legs. So that my joy can soar and blossom”.

Picture 15: right, Cảm Tạ Văn Chương, memoir by Trần Hoài Thư– a Will, 224 pages, THT finished it in record time after a four-month convalescence from a stroke. This is a special edition published by Thư Quán Bản Thảo in October 2020; left, Mai Thảo – Bài viết ở trang cuối includes 32 essays by Mai Thảo, almost 200 pages thick. THTcompleted the typing, layout, printing and publishing in May 2021. The devotion to work of “patient THT” is phenomenal, unmatchable. [source: 2 special editions, a gift from THT to Ngô Thế Vinh]

People would think that the suffering and pain this couple had endured had hit bottom. Not so! In February 2021, a fourth stroke – Hurricane Sandy style – again hit her frail and sickly body. Not many people could survive a fourth stroke. This time, Yến was hospitalized for a longer period and afflicted with new illnesses: she lost her speech function because the parietal lobe of her brain was damaged. In addition, since the occipital lobe was also impaired her sight was reduced by half. Nevertheless, Yến survived the ordeal and was transferred back to Ashbrook N.H. She could still retain her hearing and understand the teasing or jokes coming from Thư and Thoại. Nevertheless, her participation was limited to what is known as body language. Yến was no longer able to swallow food depriving THT of the joy to cook for her. She received her nutrients through a G-Tube that connected directly to the stomach. “All the pains in this world, the heaven for her has reserved” those two lines of a poem by Nguyễn Bính seemed to foretell a gloomy omen to Yến’s destiny.

Both Thư and Yến put on a brave front in the face of adversity. From that time on, happiness for them is counted by each day that goes by.

A Day in The Life of The Addict Trần Hoài Thư

In an email he sent me, Trần Hoài Thư wrote: “You told me I am a ‘workaholic’. Yes, you’re exactly right. I would die an early death out of sadness if I do not have something to do.  My extremely hectic schedule keeps me happy. Joyful like flares that illuminate the darkness of life’s sunset. In two-week time, I was able to do the following: print “Mai Thảo – Bài viết ở trang cuối;” prepare materials to write the upcoming issue No. 93 of Thư Quán Bản Thảo; scan, layout, put the finishing touch to the magazine Chính Văn… compose poems; do some writing … without stop. The spiritual food that nourishes the soul keeps me going all day. As for the food that nourishes the body, it’s not worth the attention.

Of course, being a “workaholic” does not mean you work when you feel you don’t know what to do with your idle limbs, cooking is also an art that brings pleasure to your palate you should enjoy. But, when one goes on typing with two fingers the 32 essays by Mai Thảo it is tantamount to self-inflicted pains or self-torture. Especially when one has been severely affected by a stroke.

It may take 4 or 5 tries before one can type a word correctly. Or to do a flipbook, one needs to scan an entire book, redo a layout, change to the correct size, attempt to reduce a page’s memory from kB to MB size so that the system can handle it.

How can you appreciate the fact that the letters I type possess a strange power that attracts me like a magnet? When you type a work that you like, the work itself no longer represents a choir but a pleasure, a blossoming! It radiates beauty. It’s art. For example, when I type this line in Mai Thảo’s essay Quán Bệnh:

“Đêm tháng tám bên ngoài bát ngát sao.

Trong những lùm cây xôn xao, gió múa những thuyền đầy.”

“A night in August outdoor – myriads of stars in the sky

In the clumps of grumbling trees, the wind dances in the full sails.”

I cannot help feeling ecstatic with each of the letters in the phrase “gió múa những thuyền đầy”. Does the wind know how to dance? My friend, it’s just that we do not understand. Now, Mr. Mai Thảo has made everything clear, transparent. He explained it to me. It is that very thirst for understanding, knowledge that keeps this old man, going into his eighties, at his desk typing vigorously, tirelessly, without rest and likewise doing the printing vigorously, without stopping of a 200-page book as an offering to life!

Some people hold the viewpoint that old age is the time for you to enjoy, to be conscious of the ephemerality of life, find simple pleasure in your early morning sip of coffee, not to burden your mind with printing, searching old magazines for materials to finish your flipbook so that people can read free of charge … They cannot understand that I need to work. I need challenges. I need beauty … I can throw away hundreds of books covers without any second thoughts, no matter how much they cost. I only need a book cover – a beautiful one – And I’ll be happy. The power of art is quite surprising.

I, all of a sudden, think of my wife, my life companion. Yến is almost the personification of Pietà. Fully removed from the real world. Free of any worries or concerns. No longer conscious of the warm hand clasp burning with love of her husband, no longer able to acknowledge the presence of her son with her eyes twinkling with life … She no longer sits in her lotus position practicing yoga. She has her own space in her wheelchair, looking lost with her eyes searching a distant, dark world throughout those last 8 years…

I need to do something to save her from her current state of suffering, misery, stupor. All the shouting comes to nothing. The clasping of the hand means nothing. My only recourse is to grab the iPhone, turn on the song Tóc Mây sung by Sĩ Phú and press it close to her ears. I hope that the music will activate her tympanic membrane, awaken her brain, turn on the dead neurons, Tóc Mây. That’s the song you like me to play for you … Tóc Mây. In yesteryears your hair was still pitch black when you washed it with the water of the locust fruits. Now, instead of the locust fruits, her hair still looks black because it is being washed with the fruits of torments. I look into her eyes. They tell me she’s sleepy, about to doze off. So, the lyrics of that familiar song have performed a miracle. I say a miracle. Yến falls into a deep angelic sleep. It brings with it the peace we all crave for.

Picture 16: More than ever,it is I who need that peace. Yến bought it with her tribulations. As for me, my work is not that taxing, that difficult… I type with an unsteady finger, full of errors! Please understand.

Picture 17: During the pandemic, The Ngâu rains do not fall in July in the U.S., she sitting in a wheelchair, he clutching a walker, the lovers Ngưu Lang Chức Nữ of modern days. They have only 15 minutes to look at each other in front the door of the nursing home Ashbrook, New Jersey. [photo by Trần Quí Thoại 2021]

BÀI THƠ NGƯU LANG

Now, the modern-day lovers Ngưu and Chức* have aged

He moves with a walker after a recent stroke

She escapes the Coronavirus’ yoke

The two lovers long for the Ngâu rain to fall so they can meet

In July, in the U.S., the heavy, sudden Ngâu rain does not fall

Their voluminous teardrops pour on a diamond stone

Out of it, an impermanent flower blooms.

* According to Chinese folk tale, Ngưu Lang/ the Cowherd and Chức Nữ/ the weaver girl were a pair of lovers. Because their love was not approved by Heaven, they were banished to opposite sides of a river in the Milky Way. Once a year, during the season of the Ngâu rain, on the seventh day of the seventh month in the lunar calendar, a flock of magpies would gather and form a bridge for them to cross and meet

NGÔ THẾ VINH

Saigon 06.18.1971 – New Jersey 06.18.2021

[The gold wedding anniversary of Nguyễn Ngọc Yến – Trần Hoài Thư ]

References:

Lê Ngộ Châu. Bách Khoa 160 Phan Đình Phùng Sài Gòn

https://www.diendantheky.net/2011/09/le-ngo-chau-160-phan-inh-phung.html

Báo SVYK Tình Thương, 113 Nguyễn Bỉnh Khiêm Sài Gòn

http://vietecologypress.blogspot.com/p/tinh-thuong.html

Phạm Cao Hoàng. Trang Văn Học Nghệ Thuật

http://blogphamcaohoangtacgia.blogspot.com/2013/06/tran-hoai-thu.html

Ngô Thế Vinh. Chân Dung VHNT & VH, Việt Ecology Press 2017

Chan Dung Van Hoc Nghe Thuat & Van Hoa (full color version) (Vietnamese Edition)

Cơn Giông. Trần Hoài Thư. Tạp chí Bách Khoa 1969, số 288.

Cảm Tạ Văn Chương. Trần Hoài Thư. Tạp Chí Thư Quán Bản Thảo. Ấn bản đặc biệt Tháng 10/2020.

Trần Hoài Thư và Ngọc Yến với con chim chằng nghịch và nỗi nhớ quê. Ngô Thế Vinh.

http://vietecologypress.blogspot.com/2021/05/tran-hoai-thu-va-ngoc-yen-voi-con-chim.html

Nguồn: https://vietbao.com/a308072/tran-hoai-thu-va-ngoc-yen-voi-con-chim-chang-nghich-va-noi-nho-que

Thung lũng tử thần

vietmessenger.com

A20 Vũ Ánh

Post by Sơn râu 25 Jun 2024

Phần 16

6 Lát Khoai “Cõng” 300 Hạt Cơm

Không phải nước trà và điếu thuốc lào làm cho không khí buổi làm việc sáng hôm đó bớt căng, mà nó bớt căng bởi thực sự chẳng có gì là căng thẳng đối với chúng tôi khi một bên (Lý “lé”) đã đọc lệnh bắt, có nghĩa là dù cuộc thẩm vấn diễn ra chiều hướng nào thì tôi cũng phải vô “chuồng cọp”, còn một bên (là tôi) đã chuẩn bị ngày vào “chuồng cọp” lâu dài thì làm gì còn chuyện để mà e dè, để mà căng thẳng nữa. Những câu hỏi của Lý “lé” đưa ra cho thấy hắn chưa biết gì về tờ “Hợp Đoàn”. Toàn chuyện lẩm cẩm, đại loại như tôi thường liên hệ, nói chuyện bàn tán với người này trong đội, người kia ngoài đội và nội dung những câu chuyện nói với nhau. Cuối cùng Lý “lé” hỏi: “Anh biết anh tội gì không?” Tôi hỏi lại: “Tội gì, thưa cán bộ?” Lý “lé”: “Tội gì thì anh phải tự biết. Trại quyết định đưa anh vào phòng kỷ luật để suy nghĩ về tội của anh.” Cuộc thẩm vấn kết thúc trong vòng 15 phút, cuộc thẩm vấn ngắn nhất trong số vài chục lần tôi bị thẩm vấn, nhất là tôi không bị buộc phải viết kiểm điểm như mọi lần. Trật tự Của dẫn tôi từ phòng thẩm vấn vào thẳng khu chuồng cọp.

Khu chuồng cọp này nằm ngay sau nhà bếp trại. Những chuồng cọp này không giống như chuồng cọp mà người ta từng nhìn thấy trong phim “Cầu sông Kwai” mà quân Nhật dùng để nhốt viên Đại Tá Trưởng toán tù binh Anh tại Miến Điện hồi Đệ Nhị thế Chiến. Chuồng cọp ở đây cũng không giống chuồng cọp ở trại tù binh Côn Sơn của VNCH (người Pháp gọi là trại tù Côn Đảo do chính họ thiết lập để nhốt tù binh Việt Minh) mà ký giả Don Luce đã mô tả trong loạt bài sau những lần ông ta viếng thăm Việt Nam hồi giữa thập niên 60 và đầu thập niên 70. Cái bề ngoài của khu chuồng cọp Phân trại E trại tù A-20 Xuân Phước có thể đánh lừa người ngoài về những gì xảy ra bên trong. Nó tọa lạc ngay dưới một rặng dừa xanh tốt, bên cạnh một ao cá có mấy gốc mít đã có trái và vười rau cải bẹ xanh mượt nhờ phân tươi của tù nhân cải tạo.

Có tất cả “10 chuồng” đếm từ ngoài cổng vào được đánh số từ 1 đến 10. Khu chuồng cọp bị cô laa65p bởi một bức tường trên có trãi những cuộn thép gai. Mỗi một chuồng như vậy có kích thước tiêu chuẩn: rộng 2.50 thước, sâu 3 thước và cao 5 thước. Tất cả được xây dựng bằng bê tông cốt sắt dày 10 phân, mỗi một chuồng có một cánh cửa bằng gỗ Căm Xe (loại gỗ rất cứng như Lim, bào lạng quạng là mẻ lưỡi bào) dày 5 phân, chỉ có một lổ thông hơi mà chúng tôi gọi là cửa tò vò hay cửa gió, mỗi chiều vuông vức 5 phân. Kích thước này chỉ là ước lượng thôi chứ không phải là con số chính xác. Xà lim có hai bện nằm, mội bệ có hai hệ thống của một bộ cùm mà tôi đã có dịp trình bày ở phần trên.

Mỗi chuồng như vậy không có hệ thống tiểu tiện. Tất cả việc đưa các chất thải ra ngoài đề tùy thuộc vào một cái thùng nhỏ dung tích khoảng 2 gallons. Việc cho phép tù cải tạo trong chuồng cọp xách thùng tiểu tiện ra ngoài đổ trên những luống cải của vườn rau cải ngay sau lưng của khu chuồng cọp cũng “mưa nắng bất thường” lắm. Tất cả tùy thuộc vào viên cán bộ trực trại, một chức vụ gần như là đại diện trại trưởng để điều hành công việc hằng ngày của trại giam. Chỉ có cán bộ trực trại mới được quyền mở cửa các chuồng cọp để phát thực phẩm và nước uống cho những tù cải tạo bị biệt giam. Ngay cả cán bộ an ninh của phân trại E cũng như tất cả những cán bộ khác, kể cả chính ủy, cũng không được quyền và không có chìa khóa để vào khu chuồng cọp này. Muốn lấy tù nhân ra làm việc, tất cả phải qua viên cán bộ trực trại.

Vì thế nếu vui thì có thể trực trại cho đổ cầu tuần một lần, buồn buồn có khi một tháng mới cho đổ và tù nhân trong chuồng cọp nào đang ở trong tình trạng bị ép cung thì có khi nửa năm mới được đem cái thùng nhỏ lúc đó đã đầy dòi bọ ra ngoài vườn rau. Quý độc giả có thể sẽ không tưởng tượng nổi cảnh trong suốt 5 năm trong chuồng cọp ở phân trại E của trại A-20 Xuân Phước tôi chỉ được ra cái giếng ở bên cạnh ao cá tắm có 3 lần, mỗi lần chỉ được dội nước khoảng 5 phút, không kịp kỳ cọ gì cả, cứ cái quần đùi ướt sũng nước ở trần, thân thể chỉ còn là bộ xương đứng phơi cho khô người dưới cái lạnh rừng núi Xuân Phước vào những ngày cuối năm dương lịch. Tôi không phải là người lì lợm đến như thế, nhưng ở hoàn cảnh đó, không ai có thể làm khác đi được. Trực trại không bao giờ cho phép tôi ra tắm vào mùa Hè trong khi thung lũng tử thần nóng như đổ lửa. Nhưng bắt đầu vào Đông thì hắn bắt buộc chúng tôi phải đi tắm hết. Có một lần tắm vào trước Tết dương lịch 1983, lúc đó cảm thấy người đã yếu lắm rồi, thời tiết lại quá lạnh, tôi xin được ở lại trong biệt giam không ra tắm, trực trại Luật thẳng thừng: “Anh còn khoẻ lắm, ra đi tắm! Có thuộc 8 điều lệnh nếp sống văn hóa mới không, các anh ăn ở sao mà phòng giam giống như cái chuồng lợn vậy?”

   Khi tháo cùm hai nhượng chân tê cứng, tôi cũng đành cố gắng đứng xuống sàn và lết ra cửa phòng, chập chững như trẻ mới biết đi. Thấy thế Linh Mục Nguyễn Văn Vàng tù chính trị án tử hình giảm xuống còn chung thân ở chuồng cọp số 9 cũng vừa được tháo cùm và bị lùa ra đi tắm cùng với tôi, đã nói với Luật bằng giọng bình thản: “Chuồng lợn còn sạch hơn nhiều thưa cán bộ. Chúng tôi không những không thuộc 8 Điều Lệnh Nếp Sống Văn Hóa Mới mà còn coi như không có điều lệnh này vì làm gì có nếp sống văn hóa mới trong một trại tù như thế này, cán bộ có đồng ý không?” Luật bí nên quát tháo: “Ra đi tắm ngay, chỉ bố láo” Tôi và Linh Mục Vàng vịn vào nhau chậm chạp đi ra ngoài giếng. Trật tự Của đi theo sau đay nghiến vị tu sĩ: “Anh Vàng, bộ anh muốn chết hay sao mà anh nói với cán bộ như vậy? Nói thật, nếu cán bộ Luật ra lệnh, tôi đánh chết anh ngay lúc đó” Thấy không còn gì để mất, tôi thẳng thừng với Của: “Anh Của, anh cũng là tù như chúng tôi, án của anh cũng là án nặng, ngày về còn quá xa. Tôi nghĩ là nếu anh có đánh chết bố Vàng hoặc tôi thì cũng là cách giải thoát cho chúng tôi. Sống như thế này cũng như đã chết rồi. Mạng chúng tôi chẳng đáng xu teng nào đâu. Cần gì anh phải đánh, trước sau chúng tôi cũng chết trong cùm mà!”

Trật tự Của là người dữ tợn nổi tiếng trong số những trật tự của trại. Nhưng như một điều khác thường trưa hôm đó Của im lặng không phản ứng. Mãi sau này tôi cũng không rõ lý do khiến tự nhiên Của không thượng cẳng chân, hạ cẳng tay với chúng tôi và tôi chỉ có thể tự giải thích với lòng mình rằng có thể do chúng tôi đánh thẳng vào nỗi tuyệt vọng âm thầm trong lòng Của từ lâu nên trong một phút anh ta có thể chạnh lòng và chùn tay chăng? Trong cuộc lưu đầy chúng tôi cứ lẩm cẩm hay căn cứ vào một chút lương tri còn rơi rớt lại trong lòng những kẻ ác để chính mình tin rằng sự ngay thẳng và lương thiện rồi ra cũng sẽ giành được một phần thắng lợi khi bị du vào tình thế khó xử hay trong tình trạng phải đối đầu với kẻ thắng. Cho đến những năm tháng sau này khi đã được tái định cư ở Hoa Kỳ, khi đã được nằm trong Studio ở khu chung cư Christian Home tôi thuê ở ngõ Song Long trên đường Bolsa tuy không sang trọng đối với người đã ở Mỹ lâu, với tôi nó là một thiên đường.

Thỉnh thoảng, những cơn ác mộng vẫn trở về, đánh thức tôi giữa đêm khuya thanh vắng. Đã nhiều lần mồ hôi toát ra và đầu óc những lúc như thế dường như chẳng còn ý thức thời gian nửa. Tôi thường phải cấu vào đùi mình để bảo đảm rằng tôi đang là thực, đang hiện hữu ở phố Bolsa chớ không phải là nhân vật của một giấc mộng. Sau những đêm như thế, tôi thường điện thoại cho Đoàn Bá Phụ, một bạn tù thân thiết thời kỳ còn ở Phân trại E của A-20 cũng như giai đoạn về sau này khi chúng tôi gặp nhau lại ở Nam California. Tôi hỏi Phụ xem là những năm đầu khi được thả ra khỏi tù và vượt biển thành công rồi sang sống ở quận Cam, Phụ có phải đối phó với tình trạng “mộng là thực” như thế không. Anh trả lời không đắn đo: “Thì tao cũng như mày thôi. Phải ba năm sau tình trạng này mới chấm dứt” Phụ còn dọa thêm: “Ba năm mà mày vẫn còn bị ám ảnh, phải đến một bác sĩ tâm thần đấy”. Cuối cùng, những tiên đoán của Phụ chỉ đúng một phần và khi tôi có một việc làm, được trở lại nghề cũ, sự bận bịu của công việc, đã xua những cơn ác mộng ấy ra khỏi giấc ngủ.

Cho đến nay khi ngồi viết lại hồi ức này tôi cũng vẫn không tìm ra được lý do giải thích tại sao tôi và những bạn tù khác trong khu biệt giam ở Xuân Phước lại có thể thoát được cảnh địa ngục trần gian lâu dài như vậy ngoài niềm tin rằng mọi sự đều có giai đoạn khởi đầu và cũng có lúc phải kết thúc. Tôi là một tù nhân cải tạo không còn xa lạ gì với các khu biệt giam ED nhà tù Chí hòa xuống tới Hàm Tân Z-30 C. Nhưng với tôi khu biệt giam hay còn gọi là chuồng cọp ở phân trại E A-20 nhà tù Xuân Phước là đáng chú ý nhất. Vì khu chuồng cọp này thể hiện tính chất triệt để của những đòn trừng phạt mà chế độ Cộng sản nhắm vào để trả thù, câu thúc, kiểm soát và hủy diệt những phản ứng đối kháng cuối cùng của con người.

      Tại sao tôi gọi khu biệt giam ở A-20 Xuân Phước thể hiện tính chất triệt để của những đòn trừng phạt? Thứ nhất khu chuồng cọp này nằm ngay sau nhà bếp trại nhưng kỷ luật nghiêm ngặt đến nổi nó trở thành một thế giới khác, hoàn toàn bị cô lập. Hoàng Vũ Duyên, một người bạn học với tôi từ nhỏ ở trường tiểu học Văn Trinh tỉnh Hải Phòng và đồng thời cũng là bạn đánh đinh đánh đáo với nhau trong suốt những năm tiểu học trước khi chúng tôi cùng di cư vào Nam đang lao động ở đội nhà nhưng không hề biết tôi đang nằm cùm cách Duyên không đầy 15 thước. Thứ hai, thời hạn nằm biệt giam thường là cùm hai chân tối thiểu cũng một năm, trong một số ít trường hợp kéo dài 3 đến 5 năm như trường hợp cá nhân tôi và vài người khác như Luật Sư Trần Danh San người đứng ra đọc bản Tuyên ngôn Nhân Quyền vào năm 1977 ở quảng trường Quách Thị Trang, Linh Mục Nguyễn Văn Vàng, Linh mục Nguyễn Luân. Thứ ba chế độ ăn uống trong khu biệt giam này cực kỳ kham khổ. Tiêu chuẩn bình thường của một tù nhân trong biệt giam là 9 kí lô thực phẩm hàng tháng. Như thế trung bình một ngày hai bữa trưa và tối, mỗi tù nhân biệt giam được nhận mỗi bữa 150grams thực phẩm. Thực phẩm gồm cơm và khoai mì. Thực tế mỗi bữa ăn chúng tôi được phát 6 lát khai mì phơi khô rồi luộc chín. Sáu lát khai mì khô ấy “cõng” thêm từ 250 đến 300 hạt cơm. Người tù có nhiệm vụ chia cơm biệt giam tưới vào đó khoảng hai muỗng nước muối. Tiêu chuẩn nước bình thường là ¼ ca đánh răng nước uống. Tình trạng này dẫn đến một hiểm họa khát triền miên và phù dẫn đến chết người mà tôi sẽ đề cập ở phần sau.

Tuy nhiên những tù nhân cải tạo trong biệt giam bị đì hay đang bị ép cung thì trự trại Luật thi hành đúng lệnh của “ban”: tiêu chuẩn thực phẩm chỉ còn 6 kí lô một tháng, tiêu chuẩn nước muối gia tăng gấp đôi, nghĩa là thay vì chan vào thực phẩm hai muỗng thì chúng tôi lãnh tới 4 muỗng, tiêu chuẩn nước uống tụt xuống chỉ còn hai muỗng cho mỗi bữa cơm.

Thung lũng tử thần

vietmessenger.com

15/03/2014

A20 Vũ Ánh

Post by Sơn râu 25 Jun 2024

Phần 15

“Chuồng Cọp’ ở A-20 Xuân Phước

Nếu tôi nhớ không lầm, trước ngày 30 tháng 4 1981, ban quản trại mở cuộc tổng kiểm tra tư trang của tù cải tạo, từ các tù nhân diện tù tập trung cải tạo cho tới diện tù chính trị có án. Lý “lé”, cán bộ an ninh trại đã huy động tù hình sự trong đội lao cải “diện rộng”, các quản giáo và vệ binh súng dài khám tư trang tù cải tạo kéo dài từ 10 giờ sáng đến 6 giờ chiều mới kết thúc. Điều này có nghĩa là “tài sản” của tù cải tạo bị tịch thu sạch sẽ, từ mì gói, cơm khô, cám rang trộn gừng, những viên thuốc chống phù thủng B1 nghĩa là mọi tù nhân cải tạo đều …sạch bách!

Sự căng thẳng của tôi giảm xuống sau khi T.B.N. mà anh em chúng tôi quen gọi thân mật là Ng. “đen” thông báo là anh đã tìm kiếm được phương tiện để thực hiện tờ báo. Việc tìm kiếm những phương tiện và vật liệu để tờ Hợp Đoàn có thể ra đời đúng kế hoạch cũng là một câu chuyện dài và ngay cả bản than tôi cho tới nay cũng không thể tưởng tượng rằng nhóm chủ trương chúng tơi lại có thể hoạt động được một cách suông sẽ trong những năm đầu thập niên 80 tại cái thung lũng đày ải con người ấy.

Cùng với T.D.S. một luật sư nổi tiếng trong luật sư đoàn miền Trung, N.C.T. viên chức cao cấp trong chính quyền VNCH, tốt nghiệp học viện Quốc Gia Hành Chánh, T.B.N. và H. “bầu” các cựu sĩ quan biệt kích và thiết giáp phụ trách an ninh và lưu chuyển tờ báo, H “cà” cựu sĩ quan bộ binh tác chiến, nhưng có tài đàn hát, vẽ minh họa lẫn hí họa và P.Đ.N. cựu sĩ quan chính huấn với những vần thơ rực lửa…tôi có may mắn được anh em giao quyền điều hành được 5 số báo Hợp Đoàn, trong đó có một số kỷ niệm ngày Quân Lực 19 tháng 6 và một số tưởng niệm 30 tháng 4 trước khi bị biệt giam dài hạn.

Chỉ có bấy nhiêu người nhưng chúng tôi đã vượt qua bao nhiêu khó khăn để hoàn thành êm thắm mục tiêu do chính chúng tôi đặt ra. Mãi cho đến sau này, tôi vẫn nghĩ rằng sự đoàn kết và sẵn sàng hy sinh cho lý tướng chính là nguyên nhân của những thành tựu này.

Mấy tháng sau khi tôi bị đưa vào “chuồng cọp” Ng. “đen” là người thay thế tôi trông nom tờ báo. Nhưng anh chỉ cho ra được số thứ 6 với sự cộng tác bài vỡ của một nhà báo mà trước 30 tháng 4 1975 là biên tập viên của tờ Saigon Post một trong hai tờ báo viết bằng Anh ngữ ấn hành tại Sài Gòn. Nhà báo vừa nói vốn là con trai của một sử gia viết quân sử nổi tiếng trong quân đội VNCH. Dù chỉ là Sĩ Quan cấp Úy anh đã phải bóc tới hơn 10 cuốn lịch sau những cánh cổng nhà tù cộng sản vì tham gia vào cuộc nổi loạn tại trại tập trung Suối Máu đêm Noel 1978.

Sau khi xảy ra vài vụ trốn trại, tù cải tạo lãng công để phản đối chế độ lao tù, viết khẩu hiệu chống Cộng trong nhà giam, những đêm tù ca bỏ túi bị ăng ten báo cáo..dường như ban quản trại đã gia tang khủng bố. Nhiều tù “cải tạo” bị gọi đi làm việc và sau đó bị đưa vào cùm tại khu biệt giam phân trại B của A-20, tức là trại trong cách phân trại E khoảng 5 cây số. Nhưng họ không đụng tới tôi và những anh em trong nhóm Hợp Đoàn. Ngọc “đen” khuyến cáo tôi rằng cần phải lưu ý đến sự yên tĩnh kỳ lạ này và đề phòng bằng cách chuyển hết tài liệu và vật liệu trong chiếc ba lô hai đáy của tôi đến một chổ dấu an toàn mà chỉ anh biết. “Đen” bảo tôi là phải nằm im, “không nên nhúc nhích”. Anh còn cẩn thận may một lớp poncho trong chiếc áo trận đã rách, vá chằng vá đụp và buộc tôi phải luôn mặc nó dù trời nóng. Ng. “đen” nói với tôi “Alpha” (danh hiệu anh em dùng để gọi tôi một cách thân mật) cẩn thận. Tụi tôi “clear” hết rồi vì cảm thấy lần này chúng muốn đưa Alpha vào biệt giam luôn. Thằng Lý “lé” vẫn nghi anh là một cái đầu máy xe lửa trong trại này. Anh thấy không, gần đây hắn kêu tất cả những người hắn nghi ngờ đi làm việc liên tiếp để lượng định và có thể nó đã nghĩ tốt hơn hết là đem cất cái đầu máy đi là yên chuyện”.

Dù chỉ là một quân nhân tác chiến, cái nhìn của T.B.N. tương đối bao quát và sâu sắc. Quảng giao, giang hồ và chơi với tất cả những thành phần trong trại giam, anh giúp tôi nhiều ý kiến để vượt qua những khó khăn trong những hoạt động bí mật tại trại giam. “Đen” không bao giờ ra mặt đối đầu với một số ít thành phần phản bội anh em. Anh thường nói với tôi: “Chửi bới, nói móc, xỏ xiên, đối với tụi nó không ăn thua. Trong hoàn cảnh ai trong chúng ta cũng đói khổ cả, chúng ta phải coi lại dư luận đồn đại. Nghe thì nghe nhưng đừng vội kết luận người này làm ăng ten, người kia làm mật báo. Nên kiên nhẫn chờ đợi, cho đến khi nắm vững bằng chứng là phải ra tay cảnh cáo ngay cho chừa cái tật bép xép với chèo.” (Chèo cũng là cách gọi mỉa mai chúng tôi dung để chỉ công an trại giam).

      Từ ngày vào trại cải tạo lúc tóc còn xanh cho đến khi ra từ tóc đã muối tiêu, tôi không hề coi những thành phần phản bội này có ảnh hưởng gì đến đời tù của mình. Bởi vì tôi nghiệm ra một điều: họ làm ăng ten, mật báo với an ninh trại cũng vì đói nên cần miếng ăn chứ trong thâm tâm tôi không tin rằng họ thực tâm cộng tác với kẻ thù. Cho nên những ai không sợ hãi e dè quá đáng vì bị cúp thăm gặp gia đình hoặc sẽ sẳn sàng chấp nhận vào cùm trong chuồng cọp thì những phần tử này lùi bước ngay và ít khi muốn đụng độ. Trong thời gian bị “gởi” lên A-20, bọn quản trại củng lẫn xen vào hàng ngũ chúng tôi những thành phần mà anh em gọi là “đầu gà, đít vịt” nghĩa là tù chính trị không ra chính trị, hình sự cũng chẳng ra hình sự. Những thành phần được trại giam cài vào cũng chỉ với mục đích quấy nhiễu chúng tôi mà thôi. Điển hình nhất là P.V.Đ. và T.T.V. Một người P.V.Đ. là lính quân dịch với cấp bậc binh nhì, trước 30 tháng 4, 1975 phạm tội hình sự bị đưa vào quân lao Gò Vấp chờ ngày ra tòa án Quân Sự. Khi anh ta được đưa vào ở chung với thành phần cựu sĩ quan cải tạo, không ai là không nhìn ra vai trò của anh ta. Còn người kia khi vào trại khai là “thiếu tá tình báo VNCH” nhưng khi hỏi thăm đến đơn vị mà anh ta từng phục vụ thì T.T.V. nói đến toàn những đơn vị được tác giả Bùi Anh Tuấn viết trong bộ truyện Z-28 một bộ truyện tình báo nhiều tập rất ăn khách vào thập niên 70 ở Sài Gòn.

Điểm đặc biệt ở hai nhân vật này là tư cách của họ rất thấp, nhưng trò thưa gởi với cán bộ an ninh và dùng những buổi bị gọi đi làm việc để dọa nạt những tù cải tạo tuy yếu bóng vía nhưng nhiều quà thăm nuôi thì thật là “tuyệt chiêu”. Chẳng hạn, thường kỳ hàng tháng họ phải làm việc với cán bộ an ninh trại để khai báo những khả nghi trong nhà giam, nhưng khi đi làm việc về thì họ tung hỏa mù, nào là cán bộ có hỏi đến người này, người kia trong nhà giam. Vài hôm sau, chúng lân la đến những người bị chúng nhắc tên để xin một vài món gì đó, nhiều khi là một gói mì ăn liền, có khi là một ít cơm sấy hay miếng cá khô. Tôi nghiệm thấy là P.V.Đ. và T.T.V. thành công trong chuyện đi vay không bao giờ trả này. Ít khi nào mà họ về chổ nằm mà trên tay không có một món nào đó xin của những người đồng cảnh vốn không bao giờ muốn bị lôi thôi với những con chiên ghẻ này. Biết thế cho nên T.T.V. và P.V.Đ. chỉ nhắm vào một số tu sĩ, những tù chính trị già cả, một vài ông cựu dân biểu VNCH và nhất là một vài bạn đồng vốn đã nhát nhưng lại cứ hay “bô lô ba loa” cái miệng. Chúng kỵ nhất là đụng độ với những cựu sĩ quan trẻ tuổi hay những người coi việc vào nằm chuồng cọp chỉ là một giấc ngủ trưa. Bởi vì chúng biết đụng độ với những đối tượng này không những không được gì mà có khi còn mang đầu máu lúc đêm hôm tối lửa tắt đèn, nếu muốn nói theo cách trừng trị giang hồ trong nhà tù cải tạo của Cộng Sản.

Tôi muốn nhắc lại những sự việc này trong hồi ức của mình cũng chỉ với mục đích để cho giới trẻ đang tranh đấu cho tự do dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam nhìn lại và làm sạch hàng ngũ của mình, nhìn lại cơ cấu tổ chức của mình và phải nên đặt câu hỏi: hoạt động tự phát liệu có thể tránh được những cái bẫy do guồng máy an ninh của nhà cầm quyền không?

Nếu các bạn nói tránh được thì tôi rất phục bởi vì như thế là hoạt động của cả một guồng máy an ninh của cộng sản không làm gì được các bạn. nhưng có những thực tế diễn ra trước mắt các bạn mà chưa có câu trả lời: đó là các bạn trẻ bí mật hội thảo trong một lớp dạy Anh văn trong ngõ hẽm ở Hà Nội, nhưng khi các bạn ấy mới bước vào lớp thì bọn công an đã ập vào đánh cho một trận tơi bời rồi ném lên xe bus chở đi. Hãy nhìn vào thực tế này để rút ra một bài học, trừ khi các bạn trẻ này chỉ chơi bạo lấy tiếng thì không kể.

Buổi sáng cuối tháng 4, 1981phân trại E của nhà tù A-20 vẫn còn ướt đẫm hơi nước của những cơn mưa nhỏ trãi lên thung lũng Xuân Phước đêm hôm trước. Lãnh phần khoai mì lát xong, tôi đem để lên bệ nằm, định ra ngoài tập thể dục một chút rồi vào nhà giam ăn sáng để chời đi lao động thì trật tự Của bước vào cổng nhà giam. Nhìn qua song sắt của khung cửa sổ rộng, tôi thấy tên trưởng ban trật tự này (vốn là một thượng úy công an biên phòng bị án tử hình sau giảm xuống còn chung than vì tội giết mười hai người Cambodia để cướp vàng) có vẽ nghiêm trọng. Hắn bước vào phòng và gọi tên T.D.S. và tôi rồi bảo cả hai chúng tôi phải ở nhà khộng đi lao động để ra làm việc với cán bộ. Khi Của vừa quay đi thì “Đen” vớ lấy cái áo trận may nhiều lớp ném cho tôi và nói: “Cởi áo kia ra ngay, mặc cái áo dày này vào. Anh mặc hai áo, chúng lột cái áo dày ra thì hỏng việc. Thuốc B1 ở trong các đường vá sau lưng, H “bầu” đang clear ba lô của anh, thế nào lát nửa anh đi làm việc thằng Của sẽ leo lên sàn trên khám xét”.

   Nhưng không hiểu sao vào lúc đó tôi bình tĩnh một cách lạ thường, có thể là do tôi hiểu một cách chắc chắn đây là buổi sáng cuối cùng tôi còn nhìn thấy các bạn tù trong nhà giam chung. Có thể vài giờ nửa tôi đã phải giam mình lâu dài trong cái căn phòng bê tông kín mít rộng 2 thước, cao 5 thước, dài 3 thước, chỉ có một lổ nhỏ vuông mỗi bề 5 phân để thở. Tôi nói với Ng. “đen” người lính từng sát cánh với tôi trong tù cải tạo nhiều năm rằng hãy cho “đông lạnh” tất cả mọi thứ và nếu có chuyện gì xảy ra thì chỉ có S. và tôi chịu mà thôi, theo đúng kỷ luật của nhóm.

Khi tất cả các đội xuất trại đi lao động thì Lý “lé” tay cầm một hồ sơ bước vào nhà kêu tên tôi và trật tự Của kè tôi ra khỏi cổng trại tiến về phía một văn phòng nhỏ nằm cách cổng trại không xa lắm. Tôi đã nhiều lần bị thẩm cung trong văn phòng này, nhưng buổi sáng đó là lần đầu tiên cái vẽ lạnh lẽo đặc biệc của nó làm tôi chú ý. Bộ đồ trà gốm có 4 cái tách bằng gốm thô, một bình tích trà nóng, ủ trong một vỏ dừa ngã màu nâu, một chiếc gạt tàn thuốc lá, bao thuốc thơm Thăng Long vẫn còn nguyên cái bao bì bằng giấy xám chỉ giúp làm tang cái vẽ đe dọa đối với người bị thẩm cung thay vì tất cả những vật dụng này lẽ ra đã phải làm tròn nhiệm vụ của chúng là giúp cho cuộc gặp gỡ thêm đậm đà. Mãi cho đến lúc Lý “lé” rút trong túi ra một tờ giấy đọc “lệnh bắt” tôi mới chú ý tới khẩu K-59 anh ta mang bên hông và chiếc nón kết có cái vành rộng tụt xuống sát mang tai. Tôi rủa thầm: “Mẹ kiếp.. còn bày đặt lệnh bắt với chả lệnh tha. Bố mày đây đã tù 6 năm rồi, chúng mày có đọc vài cái lệnh bắt cũng chẳng ăn nhằm gì.” Lý “lé” ra lệnh cho tôi ngồi xuống chiếc ghế trước bàn làm việc. Anh ta cầm bao thuốc lá lên rút ra một điếu đưa cho tôi, nhưng tôi nói: “Tôi không hút thuốc lá, chỉ hút thuốc lào”. Lý gọi trật tự Của đang đứng ngoài  trước hàng hiên của văn phòng: “Đi lấy cho anh ấy cái điếu cày và thuốc” Sự màu mè lộ liễu và nham hiểm của Lý “lé” tôi cũng đã quen nên tôi “đổ bựa” hỏi người thẩm vấn: “Cán bộ kêu tôi ra đây có chuyện gì, không lẽ chỉ ngồi uống nước trà và hút thuốc” Lý “lé” cười khảy: “Lát nửa anh sẽ biết, bây giờ uống nước trà và hút thuốc đi cho bớt căng cái đã”

Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 25 Jun 2024

Google photos

Phần 41

“Buổi chợ đông con cá hồng em chê lạt, tan chợ rồi con tép bạc, em khen ngon?”

Cô Ba liều mình mà không chết được.

Lúc nầy là hồi đen tối nhứt trong đời cô Ba. – Đi vắng nhắm chưa bao lâu, về nhà thấy lạnh tanh như chùa bà Đanh Nguyệt tiên cung là thuở nào kìa, nay trước cửa lấp ló bóng chủ nợ và người thừa hành của chưởng toà, trông thấy mặt chực banh da xé thịt, thụt vào trong á múi, a sam (xẩm phục dịch) không một bóng, khi nào có mật ngon đường ngọt chúng bu đầy, nay túi không tiền hết, chúng giả lơ như chưa biết mình đã về đây, tệ nhứt là anh Tây sê-ri buổi nào, nay độ chừng có con nào mới nên lạnh lùng tính thay dĩa! Như vậy cho biết thế nào là tình đời!

Cô Ba là người gọn việc, nên thanh toán lẹ chuyện nhà: trả phố Richaud, giao chủ nợ từ khí thập vật, của quí, của kỷ niệm anh nầy anh kia, hãy chia nhau trừ bớt số thiếu.

Phải chăng đay là buổi thất thủ Hạ Bì, binh tráng binh đinh, vỏn vẹn một em gái tên Tư, trung thành không bỏ chủ, tả xông hữu đột vừa sai vặt vừa đi chợ nấu cơm, tướng cạnh có một chàng trai người Bắc, làm cho hãng buôn, ở đậu dây cho có bạn, bao nhiêu tiền lương xúp, cô tự tiêu pha, và tiếng xưng hô em nuôi em út nghe ngọt xớt? Thỉnh thoảng có một người biết chỗ cô ẩn trú ấy là Sáu Ngọ, vua cờ bạc lừng danh thuở ấy, vẫn còn lên xuống khi rủ cùng theo vào sòng, nhưng tiền đâu mà giỡn bạc, khi khác thấy thầy Sáu cho quà cho bánh trái, tỏ ra còn biết phải trái, tuy ngồi trên đống vàng mà chẳng khi người đang lúc lỡ chơn trái bước.

Nhưng lui tới cùng đường, đi xa về mệt, quẩn trí và mệt mỏi tinh thần, cô lén mua một hộp indien bốn chục đồng, lấy phân nửa, trút vào ly pha thêm đường cho bớt đắng và cô ực một hơi quyết giã từ mọi việc. Nhưng số cô chưa tới. Trong khi em Tư ngủ vùi ngoài chõng nhỏ nơi hàng ba, bỗng thầy Sáu Ngọ ghé xe tính rủ cô Ba vào sòng trong Chợ Lớn, hỏi Tư, Tư ú ở như ma bắt hồn, thầy không chờ trả lời, xô cửa bước vào trong mới hốt hoảng tam tinh chớ chi trễ nửa phút thì ắt Ba Trà còn xác trơ trên nệm.

Không nói không rằng thầy Sáu ra tay nghĩa hiệp, xốc nàng vào tay, đặt lên xe chạy tuốt ra nhà thương cấp cứu đô thành ngay đường Bonard, sẵn lương y túc trực, bôm rửa nàng thở được, Sáu Ngọ biết cơn nguy đã qua, mới để đó lo chạy xe vô sòng me nơi tửu lầu Chợ Lớn, kẻo tiền xâu hao hớt. Sáu Ngọ về tới nhà là kiểng nhà thở đức Bà đo mười hai tiếng, chớ chi Ngọ không ghé lúc nãy thì hồn Trà đã bay xa!

Đến đây mới thấy bụng tốt của bác sĩ A., người đã cứu cô lần đầu Sáng ngày, bác sĩ đi làm việc nơi nhà thương đầu đường Bonard gần Chợ Mới Bến Thành, mới hay đêm rồi ban gác có cứu một nàng tự tử bằng thuốc phiện và nàng ấy nay, còn nằm đường bệnh, không ai khác hơn là Trà, ái khanh năm trước. Lại một dịp thi ân vô cầu báo, giận mình không trẻ để xứng với duyên cỡi phụng cỡi loan, nhưng về kinh nghiệm nhà nghề thì ai già giặn ăn qua mình được! Ông cho chớ về đường Colombier và ngày ngày xách túi da đựng thuốc đến săn sóc chu đáo, và suốt ba tháng yếu ốm, ông mỗi đến viếng và tuần mạch, không nói không rằng, mỗi lần ra về, vẫn nhẹ nhẹ đặt một tờ giấy một trăm đồng trên đầu nằm, tiền xài vặt, cà na cánh chỉ. Còn ai tốt hơn ông nầy? Cà na vừa chua vừa chát, cánh chỉ vừa ngọt ngọt chua chua, món ăn vặt cho người bịnh mau biết miệng, nhưng người bịnh nầy đau bịnh cần dùng tiền thiệt nhiều để vào sòng me ngồi me đứng, có hoạ là biến ra cái máy in giấy bạc thì cô mới động tình, chớ mỗi bữa một xăng (cent piastres), thì không khác bù mát cắn sừng trâu, sao thấm!

Một hôm cô vừa lại nghỉn, ăn cơm được hai chén biết ngon, sẵn đứa em làm hãng buôn về lo le 520 đồng khoe trúng mối, cô chừa hai chục mua gạo, còn chẵn năm trăm, cô bó túi qua thăm dì Tư Ăng lê cùng xóm, thấy sòng bạc hoắc, ngứa tay kéo chơi, không dè thời vận bất tể, hoắc luôn trọn năm trăm mới sướng!

Cô về nhà nằm sải tay, nước mắt tự nhiên tuôn ra, không khóc tiền muôn bạc vạn cúng cho me, lại khóc năm trăm thua bài hoắc?

Nhưng nước mắt cũng là phương thuốc tiên, tuôn ra bao nhiêu thấy trong mình nhẹ nhõm bấy nhiêu. Cô đứng dậy cười gằn, khóc vô ích. Đời đã chó má giận chi đời, phải can đảm hơn lên. Nhưng nằm ngồi bực bội, lấy tiền đâu đắp đỗi tháng ngày. Bỗng nhớ lại bao nhiêu vàng xoàn, cầm cho má Hai (bà Ty), thử qua tìm hoạ may trừ tiền vốn tiền lời, má có cho lại chút ít buổi nầy?

Lúc nầy là lúc Tần Quỳnh trong truyện Thuyết Đường đang đau, nghèo khổ đến phải bán con ngựa làm chơn, con chiến mã Huỳnh Biếu ngày đi ngàn dặm không biết mỏi, mà chủ nó phải đành lìa vì không tiền trả chủ quán. Nhưng cũng là lúc Tần Quỳnh thoát cơn hoạn nạn, gặp Đơn Hùng Tín giải cơn nguy. Cô Ba bước qua tìm bà Hai thì bà đang gầy sòng. Vận đen đã dứt, vận đỏ vùng lên, sẵn còn hai chục là tiền còn dư lại trong số bạc một trăm của hảo tâm lang bác sĩ vừa cho buổi sáng, cô chưa tin thọc tay vào túi mò mẫm thử, vẫn còn ràng ràng tờ giấy hai chục, cô nhớ lại tích ngộ ngộ anh thợ hồ Quảng Đông bữa kia sửa nóc nhà dột cho ông Sáu Nhiều là một tay đổ bác khét tiếng không thua gì Sáu Ngọ, khi sửa nóc xong, vừa tuột xuống định lãnh tiền công là mười lăm đồng bạc Đông Dương, nhưng sẵn thấy ông Sáu đang làm cái cầm chén hốt me, anh thợ ngứa nghề, luôn tay đặt cầu âu trọn mấy chén đều trúng, vốn và lời cả thảy được độ mười lăm ngàn đồng, anh thợ không vùa tiền ăn vô lại toan đánh nữa, nhưng ông Sáu bỗng xên ngang, anh thợ hít hà xin cho đánh thêm chén chót, nhưng ông Sáu điềm tĩnh, rằng: “Anh thợ nầy kỳ! Lợp chơi có mấy miếng ngói quèn mà nhận của tôi mười tăm ngàn đồng tiền công, như vậy mà còn chưa vừa bụng hay sao?”. Anh thợ lễ phép thưa: “Dạ tôi thua sạt nghiệp bên Tàu mới học cầm bay tô hồ. Xin cho tôi đánh một chén nữa thôi, may mà trúng thì tôi về xứ chuộc đất chuộc nhà, còn như không may thì tôi sẽ ở lại đây sửa nhà cho ông thì tôi cũng bằng lòng”. Nhưng Nhiều là tay cao đệ dễ gì cho anh thợ ăn quá, nên một hai cuốn chiếu không hốt nữa. Nay đến lượt cô Ba tay cầm hai chục đặt cầu may, miệng vái lầm thầm: “Ưng ai hôn anh thợ linh thiêng, giúp cho tôi qua cơn túng ngặt”. Quả cô đánh ngồi mấy chén, cô vét sòng được hơn mười lăm ngàn đồng. Chú chứa tiếc tiền, không cho cô về, ép ở nán lại, chờ gọi ngảnh thầu mới, ban đầu là thầy Ba Đồng và kế đó là thầy Ba Khương, người là chủ cái có danh (ông Đồng), còn ông kia (Phương), vốn là mại bản của hãng Charner, tiền ăn của xài mấy đời chưa hết, hai người tiếp tục cầm chén thay, nhưng quả vận đỏ cô Ba đã đến, khiến trọn đêm ấy, cô đặt đâu trúng đó, rạng ngày cộng lại ba tay hổ kha kia đều sạch túi và túi cô Ba thì thình lình nặng thêm hơn tám chục ngàn đồng bạc là một con số quá sức tưởng tượng buổi ấy, trong khi vàng ròng Đông Thạnh hiệu “con ngựa” trung bình là sáu chục đồng một lượng.

Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 25 Jun 2024

Google photos

Phần 40

Cô Ba qua Xiêm chuyến thứ ba,

Như Gia Cát đệ tam xuất Kỳ sơn… nhưng chẳng thành công, và cô gặp ông Hoàng Xiêm là chuyên ngải nghệ có linh hay không, ai muốn hiểu sao thì hiểu. Tôi đã đọc lâu bộ Histoires d’Amour de l’Histoire de France của Nguyễn Breton, nay còn ngán bề trái của lịch sử: Ông vua Louis XV, khi chưa biết gì, đã nhờ bà hầu tước nào dạy cho con ong tơ biết hút mật trong hoa, nhờ vậy chồng bà được bổ nhiệm đại sứ một nước lớn, vinh quang một thuở (nhớ bằng cấp da của vợ), chính đế Napoléon 1er cũng tránh không khỏi bị một bà nhơn tình sang một bịnh kín, trong trận đại chiến nào đó để vừa hành binh vừa bi bịnh kia hành hạ dầm dề như một phàm nhơn. Nhưng lý thú nhứt có lẽ là chuyện ông vua Louis XVIII, vua nầy về già suy yếu nếu không nói là bất lực, nhưng đối xử với cựu nhân tình, bà De Cayla, ngọt không chỗ nói: đã tặng bà một lâu đài xinh xắn gọi château de Saint Quen, thêm biếu bả một cuốn sách kinh thánh (bible) trong đó đóng thêm 50 tấm ảnh kỷ niệm, mỗi ảnh có kèm thêm một tô giấy bạc 1.000 quan (nhưng trong sách không nói rõ bả có chịu khó lật từ tờ để đọc kinh chăng, hay là bà để cho con đòi siêng năng làm thế, tôi nói vậy là chuyện ngoại sử, lấy kinh nghiệm bản thân mà nói, vì lúc tôi còn ở đường Thủ khoa Huân, trước gọi Aviateur Garros, tôi có một tiểu đồng bữa nào quét nhà lau sách, đều cẩn thận lật sách từ tờ không phải để kiếm bụi bặm kỳ thật tiểu ta kiếm bạc giấy tôi thường nhét trong sách, tuy không có bà de Cayla để tặng, nhưng thiếu chi bồ bịch cần dùng khi bà xã về quê thăm nhà!

Ấy vua chúa xứ người, lịch sự làm vậy.

Cô Ba từ ngày làm ăn thất bại ở Bạc Liêu, bị tay con cao tay hơn, vét sạch vốn liếng, trở về Sài Gòn, Nguyệt tiên cung trở nên ổ rắn, chủ nợ thấy mặt và cứ tưởng còn tiền theo đòi cảng riết, bực quá chồng con không kể và để lánh mặt một thời gian, ngựa quen đường cũ, cô xin giấy qua Xiêm một chuyến nữa, quyết phen nầy thay bùa chuộc ngải mới, để về tranh thủ với tay lạ, chớ nhơn tình cũ đã ngán cô nhiều và đức phu quân Pháp tựa hồ cũng ngán và toan trở dĩa. Nhưng chuyến xuất binh kỳ ba nầy rốt lại cũng thất bại, vì hễ tham thì thâm, cô chỉ có hai tay mà toan bắt một lượt đến hai con cá bự. Bước đầu qua Xiêm, cô gặp dê con bốn đứa, bốn anh Tàu lai Xiêm thấy cô và nhan sắc cô, nói hành nói tỏi, cô nghe thấu, dùng tiếng Hải Nam cho chúng một bài học khôn, không nên thấy người nước khác ở viễn phương mà dám phê bình kia nọ. Buổi “thiệt chiến quần nho” ấy chưa thâm thuý, và chớ chi cô là người có học, biết được ngoại ngữ tỷ dụ tiếng Ăng lê thì hay biết chừng nào, vì sau đó cô gặp một người trộng tuổi da đen đen mét mét, đó là cứu tinh chiếu mạng, nhưng cô đã để vuột mất rồi. Ông trộng tuổi nầy, sau nầy rốt, là thân vương, ngự đệ đức vua đang trị vì ở Xiêm la quốc, nếu cứ thứ chuyển đệ thì, sau khi vua đang ngự chầu trời, thì ông là người kế vị chánh thức, nhưng ông trộng tuổi nầy, không như người thường, vẫn không ham ngôi báu, cũng không ham làm chánh trị rẻ tiền, ông vẫn sống một đời phong lưu cực kỳ bình dân, khiến nên thần dân Xiêm lại càng tôn sùng ông hơn nữa. Ông thích việc nghĩa hiệp.

Nay nhắc lại cô Ba qua Xiêm tìm chuộc ngải, nhưng ngái chưa thấy, đã thấy mối tình còn hơn trong mộng và trong ao ước, là sắp gá nghĩa cùng ông hoàng nầy, và nếu được như vậy chẳng là chuyện Tấm Cám, chuyện con dân lấy hoàng tử chẳng là chuyện thật? Ngặt một nôi ngôn ngữ bất đồng, ông hoàng phải dùng một phụ nữ Việt biết rành tiếng Thái làm trung gian, và truyện gió trăng mà có nhân chứng ở giữa thì trở ngại nào bằng. Cô Ba khen nước Xiêm phong thổ tốt, hoa có nhiều giống lạ cô chưa từng thấy, ông hoàng cao hứng hẹn đưa cô đi xứ Pénang, viếng chùa rắn và xem phong lan muôn màu ngàn sắc xứ náy. Bữa lên xe, rủi cho cô Ba là đụng đầu với kỳ đà, bất ngờ gặp chàng đẹp trai họ Đỗ, tuỳ viên nơi toà lãnh sự Pháp ở Bangkok có việc đến đây hai người gặp nhau, khách đa tình gặp gái thuyền quyên, chuyện đầu mày cuối mắt không lọt qua mắt xanh nhà lịch duyệt Xiêm, nhưng ông hoàng tốt nết ghê, xe chạy tới ranh giới để qua xứ Pénang, ông hoàng bắt tay từ giã cô Ba, khuyên cô cứ tiếp tục cuộc du lịch như có mặt ông và ông cắt theo cô một thơ ký đem theo một mở ngân phiếu, dặn cô muốn xài bao nhiêu cứ tự do ghé các nhà sét ty, chúng sẽ nhận ngân phiếu của ông, xài bao nhiêu cũng mặc, miễn cô vui lòng là đủ. Đó, tôi muốn nói người quí tộc nước ngoài là vậy, không như bên mình cho uống một trái dừa cũng xuýt xoa biên sổ! Thế là hỏng bét, hỏng nặng! Họ Đỗ, biết được cô là người của ông hoàng, đã hát bài “tẩu mã” trước, vì một viên chức nhỏ toà lãnh sự làm sao dám đương đầu một thân vương của nước mình đang nương náu. Đàng khác ông hoàng, khi thấy cô quyến luyến với họ Đỗ, ông tự rút lui, vì mình vàng lá ngọc há đi tranh giành một bông hoa, dầu là lạ mắt, với một bộ hạ dưới tay mình? Tội nghiệp nhứt là cô Ba, vì luyện phép chuộc ngải chưa kịp, nên sẩy một lần đến hai con cá to, và như tôi đã nói, tham thì thâm là vậy. Cốt ý của cô khi qua Xiêm là quyết luyện phi đao ngải linh để trở về hơn thua với đám Dư Hồng lục tỉnh, nào ngờ bước đầu cô gặp trở ngại thình lình. Cô đâu có ý đi tìm lan lạ lan quí như lời ông hoàng giới thiệu và cuộc hành trình của cô đã mất hứng, từ khi ông hoàng và họ Đỗ trở bước về Xiêm. Đến xứ Ma lai you (Bà lai du), cô viếng chùa rắn ở Pénang cho có chừng, đến kinh đô Mã lai là Kuala Lumpur càng thấy vô vị, và khi đến Tân gia ba hay Tân gia Phố (Singapour), cô cho hay cô trở về Sài Gòn, không hân hạnh gặp lại ông hoàng Xiêm như giao ước trước. Cô nói với viên thơ ký, về rán học tiếng việt và rán đọc và hiểu truyện Kiều.

Nói lại với hoàng thân, tôi kính dâng hai chữ “bình an” và hẹn kiếp tái sanh hoạ may sẽ gặp, chớ kiếp nầy: “Trăm ngàn gởi lạy tình quân, tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!”. (Kiều)

Mối tình kết thúc có hơi đột ngột, một lần nữa cô Ba biết làm tiền chớ không giỏi làm tình! Và ngải mê, có hay chăng, đố biết?

Chuyến xe tháng 5

baotreonline.com

Vương Mộng Long

July 21st, 2021

Post by Sơn râu 25 Jun 2024

Kỳ cuối

Lời giới thiệu: 

Tháng 5 năm 1975 chiến tranh đã hoàn toàn chấm dứt. Trên toàn cõi Việt-Nam không còn nghe bom nổ, không còn thấy đạn bay. Nhưng giữa tháng 5 năm 1975 cũng có những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa đã bị đem đi mất biệt, mãi mãi không về…

Vừa nhảy khỏi rào trại, tôi đã bị một vệ binh túm được. Lạ lùng một điều là thằng Việt-Cộng này đã không bắn tôi, không bắt tôi, mà chỉ xua tay ra dấu cho tôi chui vào sân trại trở lại.

Ghìm súng trước ngực tôi, y ra lệnh:

“Anh Long không được đi! Trong giờ tôi gác mà anh trốn thoát thì tôi sẽ vào tù thay anh! Vào đi! Vào đi! Anh không chịu chui vào thì tôi phải bắn!”

Nghe thế, tôi bèn nhanh nhẹn chui vào trong rào trở lại. Ai ngờ, một tuần lễ sau ngày đó thì tên Công An vệ binh Việt-Cộng này đã cùng một ông tù cải tạo rủ nhau vượt biên. Họ trốn trong khi tên Công An dẫn ông cải tạo viên đi kiếm củi! Có lẽ hai người này đã an vui sinh sống trên đất Hoa-Kỳ.

Cuối năm 1985 tù cải tạo trại Z30C được tha gần hết, gần chục người sau cùng, trong đó có tôi, bị chuyển sang trại Z30D cũng ở Hàm-Tân, Thuận-Hải; trại này còn có tên là Trại Thủ-Ðức. Tôi gặp lại ông Lương Ðình Chi và anh Huỳnh Cẩm Lường ở trại này.

Tại đây, chúng tôi tiếp tục bị cưỡng bức lao động cật lực cả ngày lẫn đêm.

Khoảng trung tuần tháng 12 năm 1987, sau một ngày làm công tác đào ao thông tầm, ông Lương Ðình Chi tìm gặp tôi trong sân. Ông Chi ôm ngực, nhăn nhó,

– Long ơi! Nhờ chú cạo gió cho anh. Ngực anh đau quá, thở không được.

Tôi dẫn ông về phòng, nhờ bác Mậu già trực buồng xoa dầu, cạo gió, nắn xương cho ông.

Hôm sau ông Chi được cho vào nằm trong bệnh xá, không phải đi lao động. Bệnh tình của ông Chi ngày một tăng, ông không ăn được, không thở được. Trước lễ Giáng Sinh năm 1987 thì Việt-Cộng cho ông Chi về điều trị tại gia; sang năm 1988 tôi cũng được thả.

Tôi được về, nhưng anh bạn Trung sĩ Thông Dịch Viên Huỳnh Cẩm Lường của tôi vẫn còn bị giữ trong trại.

Về tới nhà hôm trước, hôm sau tôi tới góc đường Nguyễn Biểu, Trần Hưng Ðạo để thăm ông bạn già Lương Ðình Chi, ông Chi đang nằm liệt giường, liệt chiếu. Tháng sau thì ông Chi qua đời.

Cũng trong thời gian này tôi tái ngộ cựu Thiếu tá Biệt Ðộng Quân Hồ Văn Hòa, anh Hòa đang làm chủ một xe bán nước sinh tố trên đường Lê Thánh Tôn.

Anh Hòa cho tôi hay rằng ngay tối 11 tháng 5 năm 1975 anh và vài chục người khác bị đưa xuống tàu thủy chở ra Côn Ðảo. Không biết vì lý do gì nửa đường, tàu có lệnh quay trở lại.

Về lại Sài-Gòn, anh Hòa bị đưa vào Lao Xá Chí-Hòa chờ ngày đưa đi cải tạo. Vì lý do đó mà sáng 21 tháng 5 năm 1975 tôi đã nhìn thấy anh ta đứng trong hiên Chí Hòa.

Tới năm 1988, bạn bè mà tôi gặp trong sân Biệt Khu Thủ Ðô ngày 11 tháng 5 năm 1975 chỉ còn rất ít.

Trong suốt 13 năm, từ 1975 tới 1988, trải qua bao nhiêu trại giam; ở đâu tôi cũng cố tìm tin tức những người bạn đã cùng tôi có mặt trong phòng “Zét” ngày xưa. Nhưng tới ngày tôi rời trại tù, 6 ông bạn của tôi vẫn bặt vô âm tín.

Ít lâu sau ngày về tôi đạp xe qua khu doanh trại cũ của Biệt Khu Thủ Ðô để xem quán cháo lòng của bà vợ ông Huỳnh Thanh Bền có còn ở đó hay không.

Thời 1988 khu vực này vẫn chưa có nhiều thay đổi, lều quán bên đường vẫn y nguyên, phố xá có vẻ còn tiêu điều hơn là trước ngày tôi bị dẫn lên xe đưa đi khỏi nơi đây.

Quán cháo lòng ngày xưa được che bằng hai cái poncho ghép lại, nay được thay bằng một tấm vải nhựa dày. Nồi cháo bốc hơi ngày xưa nay được đổi thành nồi xôi đậu xanh, cũng bốc hơi.

Tôi thấy người ngồi sau cái bàn vuông có hai cái ghế con là một bà già gầy guộc tóc bạc phơ. Nhưng tôi đoan chắc rằng người đó là vợ ông Trung sĩ Huỳnh Thanh Bền.

Thấy tôi dừng xe chị Bền ngước mắt hỏi,

– Ông khách cần mấy gói xôi? Muốn gói muối đậu chung với xôi hay là gói riêng?

Tôi ân cần,

– Chị Bền! Chị không nhận ra em sao? Long đây chị!

Nghe vậy, chị Bền giật mình trợn mắt,

– Cái gì? Ông khách là chú Long hả?

Tới lúc nhận ra tôi rồi, chị Bền bật khóc,

– Em về rồi hả? Em về lúc nào vậy? Em có gặp anh Bền không?

– Em mới về mấy ngày thôi! Mười ba năm nay, đi tới trại nào em cũng dò hỏi, nhưng không có tin tức gi của anh Bền cả. Còn chị, từ ấy tới giờ chị có đi tìm anh không? Có nghe ngóng được gì không?

Chị Bền kéo cái ghế con cho tôi ngồi, rồi lấy tấm vải nhựa phủ lên trên gánh xôi, làm như đã dẹp cửa hàng, không tiếp khách nữa,

– Chuyện dài lắm chú ơi! Ðể chị từ từ kể cho chú nghe.

Chị Bền bắt đầu kể chuyện bằng những âm thanh nghẹn ngào chan bằng những giọt nước mắt.

Trong gần một giờ đồng hồ tôi đã được nghe toàn bộ câu chuyện đi tìm chồng của Chị Bền.

Thì ra từ khi bị chuyển đi, tôi đã lấy lại cái thư mà tôi đã gửi chị Bền, nên chị không còn địa chỉ nhà tôi, do đó chị không biết tìm cách nào mà liên lạc được với vợ con tôi.

Năm cái thư của những bạn phòng “Zét” đã được con gái anh Bền gửi đi ngay sau ngày các anh ấy lên xe. Bốn gia đình nhận thư đã không hồi âm, riêng người vợ của Thiếu úy Bổn mãi ba tháng sau mới liên lạc với con gái anh Bền.

Trong thư, chị Hà, vợ anh Bổn đã hẹn ngày để vào thăm chị Bền. Hôm đó chị Bền không ra quán, ở nhà đón chị Hà.

Chị Hà không đội khăn tang, nhưng ghim trên ngực áo một miếng vải đen, đó là dấu hiệu chị có thân nhân vừa quá vãng.

Bước vào nhà, chưa kịp ngồi xuống ghế, chị Hà đã vừa mếu máo vừa nói,

– Các anh ấy chết hết rồi! Các anh ấy bị xử tử, trôi sông hết rồi!

Nghe được câu này thì vợ Trung sĩ Huỳnh Thanh Bền ngã ra ngất xỉu. Cạo dầu, đánh gió cả giờ sau mà chị Bền vẫn phải nằm trên giường không dậy nổi.

Chị Hà đành kể tiếp phần sau câu chuyện cho cháu Thoa nghe.

Thì ra cơ mưu thả thư rơi của ông Thiếu úy Thám Báo đã không thành công. Những cái pháo tép có vỏ ngoài quấn bằng những tờ giấy bạc 500 đồng của Ngân-Hàng Quốc-Gia Việt-Nam phát hành đã bị tịch thu ngay khi các ông bạn tôi vừa đứng vào hàng tập họp trong sân để kiểm tra an ninh trước khi lên xe.

Chiếc Molotova chở sáu ông phòng “Zét” đã chạy thâu đêm và suốt ngày hôm sau thì tới Qui-Nhơn. Họ được giao cho Ủy Ban Thanh Lọc của Quân Khu 5.

Ngày kế đó, họ bị đưa vào một khu vườn cây cối um tùm, nằm sát bờ sông Lại Giang gần chân cầu xe lửa Bồng Sơn. Nơi này có mấy dãy nhà tôn vách ván kín mít. Sáu người bị trói tay và bị nhốt trong một căn phòng tối như bưng. Phòng giam này do ba cán binh Việt-Cộng luân phiên canh giữ suốt đêm ngày.

Liên tiếp một tuần lễ, ngày nào họ cũng bị áp giải lên một phòng chứa đầy dụng cụ tra tấn để các chuyên viên khai thác thẩm vấn và chấp cung.

Qua ngày thứ tám thì sáu ông cựu quân nhân Việt-Nam Cộng-Hòa đã kiệt lực, không ai đứng dậy nổi. Ngày thứ chín họ được ở yên trong phòng.

Tới tối ngày thứ mười thì có bốn tên Việt-Cộng từ Ủy Ban Thanh Lọc Quân Khu 5 tay thủ AK 47 lầm lì xuất hiện trước phòng giam.

Bọn này gọi tên, ra lệnh cho người tù lớn tuổi nhứt là Trung sĩ Huỳnh Thanh Bền bước ra ngoài.

Tới cửa, trước khi bị dẫn đi, ông Bền bị trói chặt hai tay bằng một sợi dây dù, hai mắt ông bị bịt bằng một vuông vải đen, miệng ông bị nhét một cái giẻ to.

Rồi cứ thế, mỗi tối phòng giam lại hụt đi một người. Anh Thiếu úy Thám Báo Tỉnh là người bị trói tay, bịt miệng, bịt mắt dẫn đi sau cùng.

Chị Hà biết được chuyện này là do một trong ba tên cán bộ Cộng-Sản canh giữ phòng giam kể lại cho chị nghe. Y là người đã chứng kiến những gì đã xảy ra từ ngày đầu tới ngày cuối.

Số là, khi ra đi, anh Bổn đã chuẩn bị sẵn mười cái khoen vàng một chỉ. Anh luồn những cái khoen vàng đó trong lưng quần. Sau khi bị khảo đả ngày đầu, anh Bổn vội rút hết vàng ra mua chuộc một tên cán bộ bảo vệ. Tên này cùng quê Phú-Phong, Bình-Ðịnh với anh Bổn. Y đã cố gắng giúp anh khai bệnh tiêu chảy lúc nửa đêm. Anh được đưa ra bờ sông để đại tiện; thừa dịp này anh có thể nhảy xuống nước mà lặn đi. Nhưng mỗi lần anh ra ngoài, đều có hai vệ binh đi theo. Tên vệ binh thứ nhì đã ranh ma, cột chặt một tay anh vào cổ tay nó, do đó đã có hai dịp may ngồi bên bờ nước mà anh Bổn vẫn không trốn được.

Vài ngày sau, biết mình đã cùng đường, anh Bổn kể hết mọi chuyện đã xảy ra từ ngày anh bị tập trung ở Sài-Gòn cho tới ngày anh bị đưa về Bình-Ðịnh cho tên Việt-Cộng gốc Phú-Phong nghe. Anh cho y địa chỉ gia đình anh ở Qui-Nhơn và viết mấy chữ nhắn người nhà anh đền ơn cho y, nếu y tìm tới gặp vợ anh và kể cho chị ấy biết hết sự tình. Thời gian này chị Hà đang ở nhà cha mẹ đẻ trong thành phố Qui -Nhơn.

Một tuần lễ sau ngày anh Bổn bị trôi sông, tên cán bộ người Phú-Phong đã tới nhà gặp chị Bổn.

Tên Việt-Cộng kể rằng ngày cuối cùng chỉ còn một mình anh Bổn trong phòng, anh vẫn bình tĩnh như thường, anh nhờ y nhắn với chị Hà một câu:

“Kiếp này duyên tình của vợ chồng mình nửa đường đứt đoạn, đôi ta chỉ biết hẹn gặp nhau ở kiếp sau!”

Y cũng tiết lộ cho chị Hà biết lý do vì sao mỗi đêm Ủy Ban Thanh Lọc Quân Khu 5 chỉ đem một người đi bắn rồi đạp xác xuống sông Lại Giang.

Sở dĩ nhà cầm quyền Vịệt-Cộng chọn cách giết từng người như thế chỉ với mục đích tránh tai mắt của ngư dân quanh vùng. Lại Giang là con sông lớn, nước chảy không ngừng, nên chỉ vài giờ sau khi bị ném xuống nước, xác người bị thủ tiêu đã trôi tới biển Ðông.

Nghe xong chuyện sáu anh em phòng «Zét» bị thủ tiêu, gia đình chị Hà đã bỏ công thuê người đi dò dẫm hỏi thăm dân cư ngụ hai bên bờ Lại Giang từ cầu Bồng-Sơn ra tới cửa biển An Dũ xem có xác chết trôi nào nổi lên không?

Cả tháng sau không tìm thấy dấu tích gì, gia đình chị Hà đành bỏ cuộc. Tới tháng thứ ba, chị Hà mới vô tình lục ra cái thư của bà chị anh Bổn gửi ra từ Sài-Gòn, từ đó chị Hà có địa chỉ của vợ anh Bền.

Từ sau lần gặp mặt đó, bẵng đi một thời gian dài, tới cuối năm 1979 chị Hà lại tái xuất hiện. Lần này chị tới từ biệt chị Bền để ra đi theo chương trình xuất cảnh bán chính thức. Chị Hà bước thêm bước nữa. Chồng mới của chị là một ông lớn tuổi, người Việt gốc Hoa.

Chị Bền cho tôi hay cháu Thoa đã có gia đình, chồng cháu là con một ông đại úy chế độ cũ, ông ấy đã được tha về từ năm 1981. Chồng cháu Thoa đã nhiều lần bỏ công sức đi tìm người tù có tên Huỳnh Thanh Bền qua những trại giam của Quân Khu 5 như Tiên Lãnh, Bình Ðiền, Gia-Trung, Thuần-Hạnh,  Củng-Sơn… vân vân, nhưng vô vọng.

Có một lần, vào năm 1982, gia đình cháu Thoa được tin ông Bền bị giam ở Trại Z30 A nơi Ngã Ba Ông Ðồn và đang nằm chờ chết vì bịnh sốt xơ gan. Cả nhà ông Bền, gồm cả con trai, con gái, con rể, cùng với hai đứa cháu ngoại, kéo nhau lên Ngã Ba Ông Ðồn để xin gặp mặt ông lần cuối. Nhưng tiếc thay, khi gặp nhau mới vỡ lẽ ra, ông Huỳnh Thanh Bền này chỉ là một người trùng tên, trùng họ với ông Bền ở phòng «Zét» của trại Lê Văn Duyệt mà thôi.

Thời gian sau khi tôi được thả thì tất cả tù nhân cải tạo còn lại đều bị tập trung về trại Z 30 D, ở Hàm-Tân. Tôi nói với cháu Thoa hãy lên đây hỏi thăm xem có ai tên là Huỳnh Thanh Bền hay không.

Bạn cựu tù cải tạo tiễn Vương Mộng Long lên đường đi Mỹ – tháng 4 năm 1993

Chỉ một tuần sau tôi gặp lại chị Bền, chị gạt nước mắt rồi nói với tôi,

– Chú ơi! Chẳng có ai tên Huỳnh Thanh Bền ở trại này!

Bận rộn công việc làm ăn kiếm sống, nhưng tôi và một anh bạn gốc Thủy Quân Lục Chiến vẫn lâu lâu ghé thăm chị Bền.

Gặp hai đứa em, chị vui mừng ra mặt, nói đủ thứ chuyện.

Chị kể rằng ngày xửa, ngày xưa chị và anh Bền là con của hai ông địa chủ ở Cần Thơ. Hai ông địa chủ gả con, cưới vợ cho con mà chẳng thèm hỏi ý kiến con.

Hai cô chiêu, cậu ấm này đều là dân học trường Tây, trường Ðầm, nhưng vẫn nghe lời phụ mẫu: “Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó!”

Chị kể cho tôi nghe chuyện đám cưới nhà quê diễn ra như thế nào.

Chị nói, ngày đưa dâu chị lo sợ lắm. Chị không biết ông chồng mình dáng dấp cao, thấp, béo, gầy, ra sao, tính tình hiền lành hay hung dữ, rồi chị che miệng cười,

– Vậy mà chỉ ít lâu sau khi thành vợ, thành chồng, tụi này đã thương nhau dứt ra không nổi.

Chị tâm sự,

– Ảnh là tri kỷ của tui, còn tui cũng là tri kỷ của ảnh! Ảnh Solo Guitar hay lắm! Nhưng ảnh chỉ đờn cho mình tui nghe thôi! Hai đứa tui cứ tự ví mình như Bá Nha, Tử Kỳ. Ngày đám cưới, mẹ ảnh có cho tui một cành thoa bằng vàng, ảnh nói sau này có con gái thì ảnh sẽ đặt tên nó là cây trâm vàng để nhớ mẹ anh ấy. Vì thế, đứa con gái đầu của tụi tui có tên là Kim Thoa…

Một hôm, tôi ghé thăm, chị cho tôi hay thằng con trai và đứa con gái út mới về làm ăn dưới Cần-Thơ, quê nội, còn chị thì dọn về ở với gia đình cháu Kim Thoa đâu đó vùng Thị Nghè.

Tôi thắc mắc,

– Giờ này mấy đứa nhỏ đã lớn khôn và có gia thất cả rồi, chị không còn phải lo lắng nuôi dạy chúng nó nữa. Sao chị không ở nhà nghỉ ngơi và trông cháu?  Chị còn tiếp tục buôn bán kiếm tiền làm chi? 

Nghe thế, chị Bền nhìn tôi rầu rầu,

–  Chị đâu có cần nuôi ai! Chị chỉ nuôi hy vọng thôi! Chị ôm gánh xôi mỗi ngày ở đây chỉ vì chị coi chỗ này như một cái hộp thư. Biết đâu hôm nào đó có một ông của phòng “Zét” còn sống sót đi qua, thì chị sẽ có tin tức của anh Bền.

Ngày 5 tháng 5 năm 1992 những người tù cải tạo sau cùng được trả tự do; một trong những người đó là Thiếu tướng Ðỗ Kế Giai, người đã chỉ huy tôi.

Một tuần sau tôi tới tư gia của Thiếu Tướng Giai để thăm ông.

Dịp này Tướng Giai đã nói với tôi,

– Thế là từ nay tất cả anh em mình đều đã được đoàn tụ với gia đình.

Tôi buồn rầu, nắm tay ông Tướng,

– Không phải vậy đâu Thiếu tướng ơi! Còn nhiều anh em đã ra đi mà chưa thấy về!

Trên đường về nhà, tôi đạp xe qua con đường xưa ghé thăm chị Bền. Chị vẫn còn ngồi chỗ cũ. Chị vẫn bán xôi. Chị vẫn chờ tin chồng.

Chị hỏi tôi,

– Em đi thăm ai về?

Tôi trả lời,

– Em vừa từ nhà Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai về, tiện đường ghé thăm chị. Ông Giai mới được thả tuần trước. Ông ấy là người sau cùng ra khỏi nhà giam.

Nghe vậy, chị Bền thở dài,

– Như thế thì anh Bền không về thật rồi! Anh ấy không về thật rồi em ơi!

Chợt chị ngẩng mặt nhìn tôi,

– Bây giờ là tháng 5, năm xưa anh Bền cũng ra đi vào tháng 5. Anh ấy không về, thì coi ngày anh lên xe cũng là ngày giỗ của anh! Chú có nhớ ngày anh Bền lên xe không?

– Hôm đó là 20 tháng 5 năm 1975.

– Hôm nay là ngày mấy rồi hả chú?

– Dạ! Hôm nay là 12 tháng 5.

Chị Bền bỗng hạ thấp giọng như tự nói cho một mình chị nghe,

– Còn tám ngày nữa là tới ngày giỗ của anh. Anh Bền ơi! Em hẹn sẽ gặp anh đúng ngày hôm đó! Chờ em! Chờ em! Anh ơi! Anh ơi!…

Nghe chị Bền buông những lời than não lòng như thế, tôi bèn an ủi chị,

– Chị đừng quá bi thương, chị còn con, còn cháu. Chị hãy nhìn vào con, vào cháu mà quên đi những muộn phiền…

Chị Bền mở to đôi mắt nhìn tôi, rồi nói với một giọng thật là tỉnh táo,

– Chị ráng sống tới ngày hôm nay chỉ vì chị còn hy vọng. 

Sau đó chị đứng lên, xếp gọn quang gánh chuẩn bị đi về.

Những lần qua đây sau ngày ấy tôi không còn trông thấy chị nữa.

Một năm sau, tháng 4 năm 1993 gia đình tôi lên đường đi Hoa-Kỳ định cư theo diện H.O.

Trước ngày đi Mỹ, tôi ra thăm Ðà-Nẵng lần cuối cùng. Trong chuyến đi này, tôi có dịp ngồi trên xe đò qua cầu Bồng-Sơn, Bình-Ðịnh.

Chiếc xe già chở đầy khách, bò từ từ trên cây cầu dài, dưới sông nước cuồn cuộn đục ngầu.

Nhìn những cụm lục bình trôi băng băng xuôi dòng, tôi chợt rùng mình, nhớ lại chuyện xưa.

Tôi tin rằng ngày 20 tháng 5 năm 1975 Thượng Ðế đã ra tay cứu tôi thoát khỏi chuyến xe oan nghiệt chở tù binh đi Quân Khu 5, vì nếu Ngài không sắp đặt sẵn những điều đã xảy ra ngày hôm đó thì chắc chắn giờ này linh hồn tôi đã vật vờ đâu đây, dưới chân cầu Bồng-Sơn hay trên sóng sông Lại Giang…

VML 

Seattle tháng 5 năm 2021

Chuyến xe tháng 5

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 14 Jul 2021

Post by Sơn râu 25 Jun 2024

Kỳ 3 

Lời giới thiệu:

Tháng 5 năm 1975 chiến tranh đã hoàn toàn chấm dứt. Trên toàn cõi Việt-Nam không còn nghe bom nổ, không còn thấy đạn bay. Nhưng giữa tháng 5 năm 1975 cũng có những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa đã bị đem đi mất biệt, mãi mãi không về…

Tôi ghé phòng Y hỏi thăm một người đàn bà đang ngồi trước cửa,

– Chị ơi! Chị làm gì ở đây? Sao hôm nay phòng nào cũng trống không vậy chị? Bà con đi đâu hết rồi?

Người nữ quân nhân (hay công chức) trả lời,

– Tôi là nhân viên của Ty Cảnh Sát tỉnh Bình-Thuận bị tập trung ở phòng Y. Hôm nay xe đã tới chở các ông, các bà ở mấy phòng khác đi sạch trơn. Cán bộ canh gác cũng lên xe đi hết, chỉ bốn người của Quân Khu 6 chúng tôi còn ở đây thôi anh ơi!

– Mấy người ở phòng “Zét” đi lúc nào vậy chị?

– Mấy ông phòng “Zét” tập trung từ sáng sớm, mãi tới hơn 3 giờ chiều họ mới bị còng tay đưa lên xe, chẳng biết đi đâu.

Phòng Y và phòng Z ở sát vách nhau, vậy mà cả tuần lễ sau tôi mới biết phòng Y chứa những người bị gọi tập trung theo lệnh của Quân Khu 6.

(Quân Khu 6 gồm các tỉnh Quảng Đức, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Tuy.)

Tôi cám ơn chị nữ công chức Việt-Nam Cộng-Hòa rồi lên văn phòng chính của trại để hỏi cho rõ sự tình. Ngay cửa vào, tôi chạm mặt một cán bộ người Nam.

Vừa nghe tôi xưng danh, hắn đã hét lên,

– Anh là Vương Mộng Long hả? Anh đi đâu mà giờ này mới vác mặt tới đây? Xe của Quân Khu 5 chờ anh cả nửa ngày mà không thấy anh, họ đã khởi hành rồi! Anh đúng là thằng phá hoại!

La hét xong, y quay vào trong ra lệnh,

– Ðồng chí trực trại đem thằng này đi nhốt cho tôi!  

Thế là tôi bị còng hai tay dẫn tới góc rào, tống vào cái điếm canh bỏ trống nằm đằng sau một cái lô cốt lớn bên phải cổng trại.

Tới 6 giờ chiều thì kẻng tan sở gióng lên. Mấy người bị quản thúc trong phòng Y lần lượt theo nhau đi ra cổng.

Trong khi đó tôi ngồi bên song sắt ngó ra ngoài. Tôi không biết những bạn bè cùng phòng Z của tôi đã bị đem đi đâu. Nhưng cứ nghĩ tới câu nói mà tên cán bộ người Hải Hưng đã nói với tôi: “Nếu anh mà bị đưa về Quân Khu 5 thì khó toàn mạng đó! Có trốn được thì trốn đi! Cố gắng kín miệng, đừng cho ai biết tôi đã nói với anh điều này!”

Tôi thấy số mình còn hên. Có khi phải bất đắc dĩ chạy xe ôm không công một ngày mà tôi đã được toàn mạng cũng nên.

Ðúng 6 giờ 5 phút, tên cán bộ đã ra lệnh nhốt tôi chợt đi xăm xăm tới cửa điếm canh,

– Anh đã cơm nước gì chưa? Nếu đói thì chờ đó! Chút nữa sẽ có người đem cơm cho anh ăn.

Chợt nhớ tới cái giấy chứng nhận của tên Việt-Cộng ở Tòa Ðô Chánh, tôi nói với tên cán bộ,

– Hôm nay tôi tới trễ là có lý do! Cán bộ hãy mở còng tay để tôi lấy bằng cớ cho cán bộ coi.

Ðọc xong những chữ viết và săm soi kỹ cái dấu mộc đỏ, y gật gù,

– Tôi sẽ giữ cái giấy chứng nhận này. Bây giờ tôi cho phép anh về. Sáng mai đúng 8 giờ anh phải tới trình diện tôi trong phòng trực. 

Năm phút sau tôi ra tới cổng, chị Bền đang chờ tôi, mặt chị không giấu nổi nỗi âu lo,

– Chuyện gì vậy chú?

Tôi vắn tắt kể cho chị biết lý do vì sao tôi tới trễ và lặp lại những lời người nữ Cảnh Sát tỉnh Phan-Thiết đã nói với tôi cho chị nghe.

Ngày 21 tháng 5 tôi gửi xe sau quán của chị Bền rồi vào văn phòng chính của trại. Ở đây đã có bốn người, ba nam, một nữ của phòng Y ngồi chờ sẵn.

Năm chúng tôi là những người còn sót lại sau cùng của đợt tập trung ngày 11 tháng 5 năm 1975 của Ủy Ban Quân-Quản Thành Phố Sài-Gòn, Gia-Ðịnh.

Sau này tôi mới hay, hôm qua, 20 tháng 5 là thời hạn chót để các đơn vị địa phương tới tiếp nhận người.

9 giờ sáng chúng tôi được lệnh lên xe. Tôi lựa một chỗ ngồi bên trái, đằng sau xe để khi ra tới đường Lê Văn Duyệt tôi có thể vẫy tay báo hiệu cho chị Bền.

Xe vừa ra tới cổng, tôi đã thấy chị Bền và đứa con gái lớn của chị đứng bên lề vẫy tay. Tôi chắc mẩm rằng, thế nào chiều nay gia đình tôi cũng sẽ nhận được tin tôi bị đưa đi xa rồi.

Chúng tôi được chở đi quanh co một hồi rồi đậu trước khám đường Chí -Hòa.

Tên cán bộ trưởng toán ra lệnh cho chúng tôi xuống xe rồi dẫn chúng tôi đi vòng vòng một lúc sau thì chui vào một cái sân cỏ nhỏ. Y bảo chúng tôi đứng chờ nơi sát cổng, còn y thì ôm một tập hồ sơ đi vào phòng trực.

Tôi thấy dưới hiên một dãy nhà có vài người đứng chen chúc nhau. Trong số những người đang đứng lố nhố đó, tôi nhìn mặt được ba ông Biệt Ðộng Quân là Hồ Văn Hòa, Lương Ðình Chi và Nguyễn Hiệp. Tôi giơ tay vẫy họ, họ vẫn tỉnh bơ, có lẽ họ không nhận ra tôi.

Sau mười phút đợi chờ, tên cán bộ trưởng đoàn hối hả đi ra, y ngoắc tay cho chúng tôi đi theo.

Tới xe, y lớn tiếng nói với tên Việt-Cộng tài xế,

– Hết chỗ rồi! Chúng nó không nhận! Mình đi Quang Trung!

Xe nổ máy chạy ra ngoại ô Sài-Gòn, hướng về Trung Tâm Huấn Luyện Quang-Trung.

Tới cổng Trung Tâm Huấn Luyện Quang-Trung tên cán bộ trưởng đoàn lại lếch thếch ôm cái cặp đi vào.

Lần này chúng tôi không được xuống đất, mà phải ngồi yên tại chỗ. 

Mười phút sau thằng Việt-Cộng lại đi ra, lại ban lệnh cho thằng tài xế,

– Hết chỗ rồi! Chúng nó không nhận! Mình về Hoa Lư!

Trưa hôm đó chiếc GMC chở chúng tôi ngừng bánh trước một tòa nhà khá lớn nằm đối diện với sân vận động Hoa Lư trên đường Ðinh Tiên Hoàng. Vị trí này là cơ ngơi của một bộ gì đó tôi không nhớ, nay là chỗ đóng quân tạm thời của một đơn vị trực thuộc Quân Khu 7 Cộng-Sản. Trước sân có vài chiếc xe quân sự đang đậu.

Tên cán bộ dẫn giải ôm cặp hồ sơ đi vào cổng, mười phút sau lại đi ra.

Lần này y cho chúng tôi xuống xe. Chỉ tay về hướng căn phòng cuối dãy nhà, y ra lệnh,

– Các anh chị vào nghỉ trong đó, chờ phương tiện đi Quân Khu Ngoài!

Tôi nghĩ: “Quân Khu Ngoài chắc là Quân Khu 5 và Quân Khu 6”

Ngay khi đó, hai cán bộ Việt-Cộng khác từ sau khu dinh thự tiến ra vẫy tay gọi tên trưởng toán dẫn giải; rồi cả ba chụm đầu vào nhau bàn tán.

Mấy phút sau, ba tên này vừa nhìn về phía chúng tôi vừa viết viết, ký ký cái gì đó trên một mảnh giấy.

Cuối cùng, một thằng già Nghệ-Tĩnh bước tới trước mặt chúng tôi. Y hắng giọng “khạc! khạc!” vài ba cái rồi nói,

– Tôi đã ký nhận danh sách của các anh chị. Các anh các chị cứ ở tạm đây. Hôm nào có người ở Quân Khu Ngoài vào nhận, tôi sẽ cho các anh các chị đi. Bây giờ các anh các chị có thể về nhà, sáng mai đúng 8 giờ phải có mặt ngay chỗ này!

Nghe được câu này, tôi khoan khoái thở ra: “Thế là chưa sao! Chưa sao!”

Xế chiều, tôi mò về tới quán của chị Bền. Tôi kể cho chị hay diễn biến chuyện đã xảy ra trong ngày. Chị gật gật đầu,

– Như vậy chú còn hên hơn anh Bền! Không rõ giờ này anh Bền ở đâu? Chắc không lâu nữa chú sẽ bị chở đi gặp anh Bền. Gặp anh Bền, chú nhớ nói với anh ấy rằng, vợ con anh ấy suốt ngày cầu Trời Phật phù hộ, độ trì cho anh ấy. Vợ con anh ấy vẫn mong đợi từng ngày để gặp lại anh ấy!

Chị Bền đưa hai bàn tay lên vuốt mặt, nước mắt đã rơi, chị tôi không nói thêm được lời nào nữa…

Hôm đó tôi về tới nhà sớm hơn mọi ngày. Vợ chồng con cái chở nhau trên chiếc Honda đi quanh phố một vòng mà thấy trong lòng thật là vui, quên hết muộn phiền, lo âu.

Từ ngày 22 tháng 5 tôi không còn dùng Honda để làm phương tiện di chuyển nữa; tôi tới sân vận động Hoa Lư theo hai tuyến đường xe Lamb. Vì nếu tôi tiếp tục dùng Honda mà bất chợt người ta bắt tôi đi, thì gia đình tôi làm sao hay biết mà đi tìm xe? Vả lại cái sổ chủ quyền của chiếc xe lúc nào cũng phải nằm trong túi người lái nó. Lái xe mà không có sổ chủ quyền, gặp các trạm kiểm soát giao thông thì xe sẽ bị tịch thu ngay. Người nhà có tìm ra xe mà không có sổ chủ quyền thì cũng bó tay. Trong thời gian gửi xe ở quán cháo lòng của vợ anh Bền, tôi cũng gửi chị Bền cái sổ chủ quyền chiếc Honda của tôi.

Ðược cái là vấn đề kiểm soát giờ giấc của bọn Việt-Cộng này cũng rất dễ dãi, không chút khắt khe. Chúng tôi có tới trễ, tới muộn nửa giờ, một giờ, cũng không ai làm khó dễ gì.

Hàng ngày chúng tôi chỉ cần có mặt ký tên trên sổ điểm danh một lần, rồi muốn đi đâu thì đi, lâu lâu lại tạt về phòng cho có mặt.

Gần tới cuối tháng chúng tôi có thêm hai ông bạn mới. Hai ông này là hai ông thiếu tá khóa 10 Ðà Lạt; một ông làm Trưởng ty Cảnh-Sát, một ông làm Trưởng ty Chiêu-Hồi. Chẳng rõ các ông này do cơ quan nào mang tới gửi ở đây. Chắc hai vị này cũng là những người đang chờ bị bốc đi như chúng tôi.

Mãi hai ngày sau tôi mới biết ông Trưởng ty Cảnh-Sát tên là Nguyễn Hồ Ðịch, còn ông Trưởng ty Chiêu-Hồi tên là Trần Hướng Trung.

Một buổi trưa tôi rủ hai ông đàn anh Võ-Bị tản bộ ra ngã tư ăn bún bò. Khi chúng tôi quay về thì thấy bốn người Quân Khu 6 đang tụ họp trong văn phòng để làm việc gì đó. Lúc trở ra mặt người nào người nấy đều có vẻ tươi vui. Chúng tôi đang chuẩn bị đi về, nên không kịp hỏi han xem có chuyện gì đã xảy ra. Sáng hôm sau thì bốn người bạn này không xuất hiện nữa.

Thấm thoát đã qua đầu tháng 6, qua tin truyền đi trên Truyền Thanh và Truyền Hình thì Ủy Ban Quân Quản Thành Phố đã ra thông cáo rằng sĩ quan cấp thiếu tá trở lên sẽ phải trình diện đi học tập cải tạo tại vài địa điểm trong Sài-Gòn.

Tên Việt- Cộng thường ngồi nhận chữ ký hằng ngày của chúng tôi cho chúng tôi biết rằng từ nay Quân Khu 7 sẽ không cho phép các Quân Khu khác tới nhận người nữa. Như thế là chúng tôi không còn phải lo lắng chuyện sẽ bị chuyển giao cho các Quân Khu Ngoài.

Y nói, chúng tôi chỉ cần có mặt ở đây vào ngày các lớp học tập khai giảng thì đơn vị này sẽ cung cấp phương tiện để đưa chúng tôi tới trường, tới lớp. Y nhắc nhở chúng tôi nhớ chuẩn bị đem theo áo quần cùng những vật dụng cần thiết như kem đánh răng, bàn chải để tiện dùng trong thời gian một tháng học tập xa nhà.

Cũng từ ấy, chúng tôi có thể chia phiên nhau, một người có mặt, hai người kia ở nhà. Ba chúng tôi đều biết địa chỉ của nhau. Do đó, người trực có thể đi kêu hai người kia nếu có chuyện gì cần gấp.

Tên cán bộ quản chế cho chúng tôi biết rằng các trung tâm sẽ nhận người đăng ký từ ngày 13 tới 15 tháng 6 năm 1975. Chúng tôi sẽ được chở tới trung tâm vào ngày cuối, tức là 15 tháng 6 để khỏi phải chờ lâu tại trung tâm trước khi tới địa điểm học tập.

Ðúng 12 giờ trưa ngày 15 tháng 6 năm 1975 tôi và hai ông đàn anh được đưa lên xe để di chuyển tới các trung tâm tiếp nhận.

Xe chạy thẳng một lèo tới Trường Trung Học Lasan Taberd thì ngừng, tôi bị gọi xuống. Tên cán bộ hướng dẫn đem tôi vào văn phòng của trường, giao nạp tôi cho một sĩ quan Cộng-Sản.

Cầm cái biên nhận tù binh, tên cán bộ dẫn giải bắt tay tôi rồi nói,

– Mừng anh! Chúc anh học tập tốt, lao động tốt để sớm về sum họp với gia đình.

Sau đó tôi được một tên bộ đội dẫn lên lầu để nhập bọn cùng vài sĩ quan cấp thiếu tá đã trình diện sáng nay; vì vậy tôi không rõ hai ông thiếu tá khóa đàn anh của tôi bị đưa tới trung tâm nào. Mãi tới sáu năm sau, 1981 tôi mới gặp lại hai vị này ở Trại Z30C Hàm-Tân, Thuận-Hải.

Từ 15 tháng 6 năm 1975 tôi bắt đầu một chuyến đi xa dài ngày…

Nửa năm đầu, từ tháng 6 năm 1975 tới giữa tháng 10 năm 1975 tôi bị giam tại trại Long-Giao. Qua một tháng sống đời tù đày, tôi bắt đầu có ý định vượt ngục. Tôi đã bàn chuyện trốn trại cùng hai ông thiếu tá cựu quận trưởng, nhưng giờ chót hai ông này thối chí, nên tôi đành phải huỷ bỏ mưu đồ.

Nửa năm kế đó tôi bị chuyển về trại giam Suối Máu, Tam-Hiệp, Biên-Hòa, chờ ngày bị đưa ra Bắc.

Hai tuần lễ sau ngày bị đưa ra đất Bắc, nửa đêm 8 tháng 8 năm 1976, tôi vượt ngục lần đầu. Trải qua mười ngày lặn lội trong rừng dưới cơn bão số 6, tôi và người bạn đồng hành bị bắt lại, bị cùm, bị đánh đập, khảo tra, rồi được cho về Ðội 11, Trại 4, Liên Trại 4 để tiếp tục lao động.

Một hôm trời giăng giăng mưa phùn, tôi và bạn tù đi cấy lúa vần công cho Thôn Nam Xã Cẩm-Nhân, Yên-Bình, Yên-Bái thì thấy hai ông tù cải tạo khiêng một cái võng có người nằm bên trong.

Cái võng được phủ bằng chiếc mền Trung Cộng màu đỏ. Theo sau cái võng là một ông tù đeo cái balô, có lẽ trong balô là tài sản của người nằm trên võng.

Có một vệ binh Việt-Cộng đeo AK đi canh chừng đằng sau ông tù đeo balô. Chắc mấy người này đang đưa một ông tù bệnh nặng lên bệnh xá của liên trại để chữa trị.

Tôi ngừng tay cấy, lớn tiếng hỏi,

– Ê! Ai đó? Các cha?

Ông tù mang ba lô liền lớn tiếng đáp lời,

– Tước! Tước rằn ri!

– Phải Nguyễn Ðỗ Tước Biệt Ðộng Quân không?

– Ðúng rồi!

– Bệnh gì vậy?

– Kiết lỵ!

Chiều hôm đó cái võng lại quay về, vẫn có chiếc mền đỏ Trung Cộng phủ bên trên.

Tôi lại hỏi,

– Hết bệnh chưa?

Ông tù mang ba lô lại đáp lời,

– Chết rồi!

Tôi chỉ còn biết ngậm ngùi đứng nhìn theo bóng chiếc mền đỏ đi xa dần về hướng Trại 8 nơi Ðèo Lũng Ngàn.

Ngày xưa, trước tôi, Trung tá Nguyễn Ðỗ Tước đã là Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân ở Pleime. Tết Dương Lịch 1978 vừa đi qua thì tôi vượt ngục lần thứ hai. Sau hai tháng lặn lội trong rừng, chưa vượt khỏi biên giới Việt-Lào, tôi lại bị bắt. Thất bại lần này, qua những trận khảo đả dã man của kẻ thù mà tôi không thành người tàn phế cũng là nhờ phúc đức ông bà đã che chở cho tôi.

Năm 1981 tôi bị chuyển trại về Nam, trại tù mới có tên Z30C Hàm-Tân, Thuận Hải.

Rồi một sớm tinh mơ cuối năm 1984 tôi vượt ngục lần thứ ba.

Chuyến Xe Tháng 5

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 8th Jul 2021

Post by Sơn râu 25 Jun 2024

Kỳ 2

Lời giới thiệu: 

Tháng 5 năm 1975 chiến tranh đã hoàn toàn chấm dứt. Trên toàn cõi Việt-Nam không còn nghe bom nổ, không còn thấy đạn bay. Nhưng giữa tháng 5 năm 1975 cũng có những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa đã bị đem đi mất biệt, mãi mãi không về…

Anh chị Bền là người Nam chính gốc, còn tôi lại là dân Bắc (Di Cư) chính gốc; vậy mà chỉ qua vài ngày sơ giao chúng tôi đã thấy thân thiết nhau. Vợ chồng Trung sĩ Bền coi tôi như em, ba đứa con của anh chị Bền thì gọi tôi là “Chú Long”. Ngoài tên ông Bền ra, tới nay tôi chỉ còn nhớ, ông Thiếu úy Thám Báo tên là Bổn, một ông sĩ quan Ban 2 chi khu tên Nghĩa, ông phản gián tên Phụng; tên của hai người còn lại thì tôi quên mất rồi.

Những ngày sau đó cũng có vài người tới trình diện phòng Z, nhưng chỉ qua vài chục phút tiếp xúc thẩm vấn là họ được cho về. Quân số phòng Z hầu như cố định 7 người. Chúng tôi cứ 8 giờ sáng có mặt, cùng nhau tán gẫu, 6 giờ chiều lại chia tay, sau khi nghe một hồi kẻng báo giờ phát đi từ giữa sân cờ.

Hàng ngày, nhân dịp đi loanh quanh trong sân, tôi được biết những phòng đánh số khác cũng là chỗ quy tụ những quân nhân đặc biệt được gọi về chờ các cơ quan quân sự địa phương tới tiếp nhận.

Sau vài bữa, đã có nhiều bảng 40X40 cm được tháo gỡ, chỉ còn lác đác vài phòng là còn người đi vào, đi ra.  Chắc những người bị gọi tập trung thanh lọc trong những phòng bỏ trống đó đã được các cơ quan quân sự địa phương đem đi hết rồi.

Một hôm tôi đang trên đường từ nhà vệ sinh công cộng trở về phòng Z thì thấy tên cán binh người Hải Hưng đang đứng chờ tôi dưới một gốc phượng đầy xác hoa.

Y ngoắc tay ra dấu cho tôi đi ra đằng sau dãy nhà ngang. Mắt y đảo quanh một cái thật nhanh rồi nhỏ giọng, vừa đủ cho tôi nghe: 

“Anh Long à! Nếu anh mà bị đưa về Quân Khu 5 thì khó toàn mạng đó! Có trốn được thì trốn đi! Cố gắng kín miệng, đừng cho ai biết tôi đã nói với anh điều này!”

Tôi chưa mở miệng nói được tiếng nào thì y đã hấp tấp phẩy tay đuổi tôi đi.

Suốt ngày hôm đó tôi cứ băn khoăn suy nghĩ. Cứ theo lời tên cán binh này thì chắc chắn tôi nằm trong số những nhân vật đặc biệt mà Quân Khu 5 Cộng-Sản nhắm vào.

Chắc chắn tình trạng của tôi và những anh bạn cùng phòng sẽ lành ít dữ nhiều trong những ngày sắp tới.

Tối đó, về tới nhà, nhìn thấy 3 đứa con nheo nhóc, đứa lớn nhất mới 3 tuổi rưỡi, đứa thứ nhì 2 tuổi rưỡi, đứa thứ ba vừa chập chững biết đi, vợ tôi lại đang mang bầu sắp tới ngày sinh, tôi không dám nghĩ tới chuyện bỏ vợ con mà đi trốn.

Ngày Ban Mê Thuột thất thủ tôi những tưởng vợ chồng tôi sẽ chẳng còn gặp lại nhau. Trong những ngày khói lửa ở Ban Mê Thuột, một quả bom từ máy bay thả xuống giữa phố, đứa con gái lớn của tôi đã bị một mảnh bom ghim vào cánh tay. Hơn hai tháng nay vết thương trên tay con tôi còn đau, mảnh bom còn nằm trong cánh tay nó. Nay mẹ tôi vừa đón được vợ tôi và 3 đứa bé về Sài-Gòn chưa được mấy ngày, tôi đã bị cấm túc.

Suy đi, tính lại, dù gì thì hiện giờ đêm đêm tôi vẫn nhìn thấy vợ thấy con, còn hạnh phúc.

Thôi đành kệ! Ai sao mình vậy! Ngày mai muốn ra sao thì ra!

Tuy thế, trong thâm tâm, tôi vẫn lo lắng không yên.

Tôi cũng không dám chia sẻ những gì mà tên cán bộ Việt-Cộng đã tiết lộ cho tôi, vì thời buổi này tôi không tin ai, lỡ mình phơi bày tâm tư cho người ta biết, người ta quay sang phản mình, đi tố cáo mình để lập công thì mình chết chắc. Tuy vậy, tôi thấy trong hoàn cảnh này, chính tôi và những người đồng cảnh của tôi cũng rất cần những sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau.

Trưa hôm sau, vào giờ ăn trưa, trong quán cháo của bà Bền, tôi đứng lên hỏi ý mấy ông bạn cùng phòng,

– Các bác ơi! Nếu bất ngờ tụi mình bị đưa đi chỗ khác thì các bác có cách gì báo tin cho gia đình biết?

Vừa nghe tôi hỏi, ông Huỳnh Thanh Bền đã nói ngay,

– Các ông cứ chuẩn bị sẵn một lá thư có địa chỉ gia đình rồi giao cho bà xã tôi cất. Ngày nào mình bị bốc đi thì nhà tôi sẽ chuyển thư của quý vị tới tận nhà để thân nhân quý vị biết mình đã đi khỏi đây rồi.

Anh Thiếu úy Thám Báo Tỉnh bổ sung thêm,

–  Tôi có ý kiến là các ông nên viết sẵn một lá thư mở đầu với câu: Nhờ ai nhặt được thư này thì ghi giùm địa danh nơi thư này rơi, rồi gửi nó về địa chỉ của gia đình tôi ở địa chỉ sau đây…Ða tạ! 

Sau đó các ông cuốn lá thư trong một tờ giấy bạc 500. Tới địa điểm mới thì mình đánh rơi thư này. Thấy tiền, người ta sẽ lượm, rồi có thể, người ta sẽ giúp gửi thư đi cho mình, gia đình mình sẽ biết mình bị đưa đến đâu.

Tôi nghĩ thầm:

“Công nhận ông Bổn Răng Vàng này đa mưu thật!”

Anh chàng Thiếu úy Bổn là người ăn nói rất lưu loát, miệng anh ta lại có cái răng nanh bịt vàng, quen nhau rồi, tôi cứ gọi anh ấy là “Bổn Răng Vàng”.

Thế là sáng hôm sau trước giờ chúng tôi trình diện ở phòng Z thì trong túi bà vợ ông Huỳnh Thanh Bền đã có 6 lá thư nhắn tin, và trong túi của 7 anh em trong phòng Z đều có sẵn một cuộn giấy tròn như cái pháo tép, bên ngoài lá thư được bao bởi tờ giấy bạc 500 đồng do Ngân Hàng Quốc Gia Việt-Nam phát hành.

Một buổi chiều giữa tháng 5, tôi vừa mở khóa chiếc Honda chuẩn bị đi về thì một người khách qua đường dừng chân bên quán cháo lòng,

– Ðại ca! Ðại ca!

Tôi quay mặt lại, nhận ra ngay người vừa gọi mình là ông Trung úy Ðại đội trưởng một Ðại Ðội Ðịa Phương Quân của tỉnh Bình-Long. Suốt trận Xuân-Lộc tháng 4 năm 1975, đơn vị Ðịa Phương Quân của ông này đã nằm dưới quyền chỉ huy của tôi. Tôi và ông trung úy này chia tay nhau chiều 23 tháng 4 tại căn cứ Long-Bình.

Ông trung úy người Cái Sắn nắm tay tôi thật chặt,

– Em đi kiếm đại ca cả tuần nay. May quá giờ gặp rồi! Gặp rồi!

Tôi cũng cảm động,

– Chú bình an chứ? Ði đâu đây? Kiếm anh làm gì vậy?

Người đàn em ghé tai tôi thì thầm,

– Ðại ca ơi! Về Cái Sắn với em! Ba ngày nữa tụi mình sẽ vượt qua Cao Miên rồi trốn sang Thái Lan. Em có đường dây đưa đi an toàn trăm phần trăm. Ðại ca đi với em nhé! Gia đình em sẽ trang trải hết mọi phí tổn cho anh em mình!

Thật bất ngờ, nhưng tôi vẫn còn tỉnh trí. Tôi buồn rầu nói,

– Anh không đi được! Tình cảnh gia đình của anh không cho phép! Chú đi một mình đi! Chúc chú thượng lộ bình an! 

Từ ấy tôi không rõ người anh em này phiêu dạt nơi đâu. Tôi luôn cầu mong cho chú ấy luôn luôn gặp những điều may mắn.

Vậy là, trong khoảng thời gian không đầy nửa tháng sau chiến tranh tôi đã có những cơ duyên được bạn bè và cả người phía bên kia giúp đỡ. Nhưng tôi đã không dám hành động để tự cứu mình. Thời gian này, hầu như tôi đã xuôi tay, nhìn cái thòng lọng cứ từ từ siết chặt dần quanh cổ mình.

Thế rồi…

Sáng 20 tháng 5 tôi vòng xe sang đường Lê Thánh Tôn để mua một ổ bánh mì thịt, rồi chạy thẳng lên Tòa Ðô Chánh để cho anh Thiếu úy Thám Báo Tỉnh quá giang. Nhà anh này ở trong con hẻm cách Toà Ðô Chánh chừng một trăm thước. Anh này không có xe, cả tuần lễ nay anh ta phải tới Trại Lê Văn Duyệt bằng hai chặng xe Lamb chuyển tiếp.

Ba tuần lễ sau ngày Miền Nam sụp đổ, Tòa Ðô Chánh Thủ Ðô Sài-Gòn đã có bộ mặt mới, với lá cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam to tổ bố cùng toán bộ đội nón cối, dép râu ôm súng AK47 gác trước cổng.

Tới cổng Tòa Ðô Chánh, tôi giảm ga cho xe chạy từ từ theo bảng chỉ đường giới hạn 5 Km/ Giờ.

Ðoàng! Ðoàng! Ðoàng!”

bất thình lình, một tên bộ đội Việt-Cộng từ hiên Tòa Ðô Chánh nhảy ra giữa phố.

Tên Việt-Cộng này có lẽ là sĩ quan, vì bên hông y có đeo một cái cặp da tòn ten.

Y giơ một tay chận xe tôi lại, tay kia giương cao khẩu K54 bắn ba phát chỉ thiên, miệng la,

– Ðứng lại! Ðứng lại!

Chẳng hiểu chuyện gì, tôi vội răm rắp tuân lệnh của người cầm súng, tấp xe vào lề đường, thắng lại.

Thằng Việt-Cộng chĩa súng ngay đầu tôi, rồi nhảy lên, ngồi trên yên sau, miệng y hét lớn,

– Anh khẩn trương chở tôi lên Bộ Tổng Tham Mưu Ngụy! Nhanh lên! Nhanh lên!

Tôi im lìm nhấn chân sang số, xe đi tới.

Chạy được vài chục thước, tôi thấy trước mặt, bên đường, là anh bạn Bổn Răng Vàng, Thám Báo Tỉnh. Tôi đạp thắng cho xe chạy chậm lại, thì thằng Việt-Cộng hét to,

– Ði! Ði! Cấm dừng!

Thấy một thằng Việt-Cộng vừa kê súng vào đầu tôi, vừa la hét oang oang, ông Thiếu úy Thám Báo Tỉnh cũng hoảng hồn, vội vàng bước thối lui vào lề đường.

Thế là tôi phải vặn tay tăng ga cho chiếc Honda vọt lên. Bạn tôi đứng ngẩn người nhìn theo.

Tôi đâu có biết đường nào lên Tổng Tham Mưu? Tôi cứ chạy vòng vo trong khu Yên Ðổ, Hai Bà Trưng hoài.

Thấy thế, thằng Việt-Cộng lớn tiếng ra lệnh,

– Anh chạy theo lệnh tôi! Chạy thẳng! Rẽ phải! Rẽ trái! Chạy thẳng! Rẽ phải! … 

Xe qua cầu Trương Minh Giảng một lúc lâu mới tới Bộ Tổng Tham Mưu…

“Kia rồi! Dừng lại!” 

Vương Mộng Long và Mẹ tháng 4 năm 1993

Hóa ra một thằng Việt-Cộng vừa ra khỏi rừng mấy ngày mà đã thông thuộc đường sá Sài-Gòn hơn một thiếu tá tiểu đoàn trưởng Biệt Ðộng Quân Vùng 2 của Việt-Nam Cộng-Hòa!

Tới cổng sau của Bộ Tổng Tham Mưu, tôi tưởng mình thoát nạn, nào ngờ,

– Anh đỗ xe ở đây! Không được thoái bộ! Chờ tôi họp xong, tôi sẽ quay ra! Nghe rõ chưa?

Y chỉ chỗ cho tôi tắt máy và đậu xe sát vọng gác bên hông của Bộ Tổng Tham Mưu rồi ra lệnh cho mấy tên bộ đội trong điếm canh,

– Tôi giao cho các đồng chí nhiệm vụ quản chế anh này! Giữ anh ta tại đây cho tới khi hội họp xong tôi sẽ trở ra. Nếu anh ta thoái bộ thì các đồng chí cứ việc bắn! Ðừng bắn chết là được! Cứ bắn gãy chân thôi! Nghe rõ chưa?

Tôi ngồi xuống bờ cỏ bên vọng gác, móc túi lấy điếu thuốc Ruby ra hút đốt thời giờ. Tôi hút tới điếu thuốc thứ ba mà tên cán binh Việt-Cộng vẫn chưa ra. Ðã tới 8 giờ, giờ điểm danh của ban tiếp quản Quân Khu 5, mà tên Việt-Cộng vẫn chưa ra.

Tôi mon men tới bên vọng gác,

– Anh bộ đội ơi! Ðã tới giờ tôi phải có mặt ở Ủy Ban Quân Quản Thành Phố, tôi có thể đi được không? 

“Crách! Crách!” cùng với tiếng lên cò súng là khẩu lệnh,

– Ngồi xuống đó! Cấm di chuyển! Anh mà bước khỏi đây một bước là tôi bắn!

Thế là tôi đành ngồi xuống.

Tôi dự trù nếu thằng cán binh ác ôn mà trở ra, tôi sẽ đòi nó ký cho tôi tờ giấy chứng nhận lý do vì sao tôi tới phòng Z trình diện trễ.

Thoáng chốc mặt trời đã tới đỉnh đầu. Sài-Gòn tháng Năm trời vừa nắng cháy da, vừa ẩm ướt hầm hầm như đang trông chờ những cơn mưa bóng mây.

Gặm xong ổ bánh mì thịt, tôi thấy cổ khô ran, khát nước. Tôi lại mon men tới bên vọng gác,

– Anh bộ đội ơi! Tôi xin phép đi sang bên kia đường để mua nước uống có được không?

– Ngồi xuống đó! Ði là tôi bắn! Không có nước nôi gì hết! Nghe rõ chưa?

Tới hai giờ chiều thì bụng tôi căng như cái trống, tôi lại mon men tới bên vọng gác,

– Anh bộ đội ơi! Tôi xin phép vào nhà xí của trại để đi tiểu tiện có được không?

– Cần gì phải vào nhà xí! Anh cứ ngồi xuống vạch cu ra mà đái! Không ai thèm nhìn anh đái đâu!

Cố nín thêm chừng một giờ sau nữa, tôi cũng đành phải mở nút quần. Tôi nhắm mắt, đái đại ngay trên lề cỏ bên đường.

Ðồng hồ tay của tôi chỉ đúng 4 giờ chiều thì tên cán bộ mới xuất hiện. Vừa phóng lên yên sau, y đã hối,

– Khẩn trương lên! Họp hành gì mà lâu quá! Tôi đói lắm rồi! Anh mau mau chở tôi về lại Tòa Ðô Chánh! Mau lên! Mau lên!

Trên đường về, thằng Việt-Cộng không còn kê súng lên đầu tôi nữa.

Vì đã biết đường đi, nên lúc về tôi không bị lạc. Tới cổng Tòa Ðô Chánh tên cán bộ xuống xe, rồi mở cái cặp da,

– Anh tính tiền xe ôm thuê bao cả ngày hôm nay là bao nhiêu? Tôi sẽ trả cho anh! Anh làm việc có lương tâm lắm! Tôi tuyên dương anh đấy!

Thì ra thằng Việt-Cộng này tưởng lầm tôi là một anh chạy xe ôm! Tôi nói,

– Anh nhầm rồi! Tôi không phải xe ôm! Nhưng thôi! Anh không cần trả tiền tôi, mà hãy ký cho tôi cái giấy chứng nhận rằng anh đã trưng dụng tôi chạy xe đưa anh đi công tác suốt ngày nay để tôi xuất trình cho Ủy Ban Quân Quản Thành Phố. 

Nghe tôi nói, tên cán bộ hơi ngẩn người ra một giây, rồi nhẹ giọng,

– Vậy thì xin lỗi anh nhé! Ðược rồi! Tôi sẽ ký giấy làm chứng cho anh.

Nói xong, y mở cái cặp da, rút ra một quyển sổ công lệnh của Quân Khu 7, tờ nào cũng có con dấu đỏ chót.

Y xé một tờ rồi ghi trên đó mấy chữ:

“Chứng nhận đã sử dụng nhân công này từ 8 giờ sáng tới 5 giờ chiều ngày 20 tháng 5 năm 1975” 

Y ký tên rồi đưa tờ công lệnh cho tôi,

– Ði đi! Yên chí sẽ không có ai làm khó dễ anh đâu!

Quá 5 giờ chiều tôi mới tới cái lều bán cháo lòng của chị Bền. Thấy tôi, chị Bền lo lắng hỏi,

– Ủa! Sao giờ này chú mới tới? Trưa nay anh Bền và mấy ông phòng “ZÉT” không ra ăn cơm. Chú vào trong đó xem có gì lạ thì ra báo cho chị hay.

Tôi khóa xe rồi đi vào trại. Khu doanh trại của bộ đội vẫn sinh hoạt bình thường. Dãy nhà ngang là khu tiếp quản chỉ còn một phòng Y là có người. Phòng Z cửa cũng mở toang, cái bảng carton 40X40 cm có chữ “Z” đã bị gỡ bỏ, trong phòng không thấy bóng dáng ai.

Chuyến xe tháng 5

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 30th Jun 2021

Post by Sơn râu 25 Jun 2024

Kỳ 1

Lời giới thiệu:

Tháng 5 năm 1975 chiến tranh đã hoàn toàn chấm dứt. Trên toàn cõi Việt-Nam không còn nghe bom nổ, không còn thấy đạn bay. Nhưng giữa tháng 5 năm 1975 cũng có những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa đã bị đem đi mất biệt, mãi mãi không về…

Ðời tôi đã có một tháng 5 tràn đầy hạnh phúc, đó là tháng 5 năm 1969. Vào một ngày đẹp trời giữa tháng 5 này, ở Ban Mê Thuột, tôi đã gặp được người trong mộng ước của mình. Người con gái tôi gặp ngày đó đã thành người tôi yêu suốt đời. Người đó đã trở thành mẹ của 4 đứa con tôi, đã thành bà của 5 đứa cháu tôi. Hơn thế nữa, người đó, với tôi còn là một người vợ chung thủy, đồng thời là một người bạn tri kỷ không ai thay thế được.

Tóm lại, từ lâu lắm rồi, tháng 5, với tôi đã trở thành một tháng thần tiên, trừ ra một tháng 5 thật là đáng ghét, nhưng tôi cũng không thể nào quên nó được, đó là tháng 5 năm 1975.

Tôi đã sống qua những ngày đau thương của cái tháng 5 năm ấy, đã bị giằng co bởi những quyết định sống còn của cuộc đời mình, đã xuôi tay chấp nhận cái chết, và đã chứng kiến những cảnh chia ly não lòng.

Tháng 5 năm 1975 trên toàn cõi Việt-Nam không còn tiếng súng giao tranh, nhưng có những người đi không thấy về.

Sáng 1 tháng 5 năm 1975 tôi lang thang trong vùng Ngã Bảy Chợ-Lớn, trên đường tìm về nhà mẹ tôi.

Ngày hôm trước đơn vị của tôi đã bị đánh tan. Ðêm qua, sau khi trốn thoát một cuộc truy sát của kẻ thù, tôi vào tá túc trong nhà một người quen nằm trên đường An-Bình, Chợ Lớn.

Tới trưa 1 tháng 5 tôi mới về tới nhà. Vậy mà chỉ vài giờ sau đã có lệnh kêu tôi sáng mai phải có mặt ở văn phòng liên gia trưởng khu phố để khai báo lý lịch.

Sáng 2 tháng 5 năm 1975, tôi rời nhà ra chợ tìm tới văn phòng liên gia trưởng. Văn phòng liên gia là một căn nhà nhỏ vách phên, lợp tranh, nằm sát bên một hiệu tạp hóa lớn của người Hoa.

Lúc tôi tới văn phòng thì đã có vài vị cựu sĩ quan Quân- Lực Việt- Nam Cộng- Hòa hiện diện ở đây rồi. Những vị này là người cư trú trong liên gia này. Họ và ông liên gia trưởng có vẻ không lạ lẫm gì nhau.

Hình như chỉ có mình tôi là người xứ khác, không phải là dân Sài-Gòn. Vì đơn vị tôi bị tan hàng, nên tôi mới phải chạy về tá túc ở đây.

Nghe các ông sĩ quan nói chuyện, tôi được biết ông đứng ghi danh trước tôi là một trung úy An-Ninh Quân-Ðội, nhà ông này ở ngay đầu hẻm và cách nhà mẹ tôi chừng năm, sáu căn. Bên cạnh tôi là ông đại úy Không Quân ở cách nhà tôi ba căn. Sau lưng tôi là ông chủ tiệm gạo bên kia đường, ông này là đại úy sĩ quan Công Binh.

Ông liên gia trưởng khu phố TK9 phường Nguyễn Cảnh Chân mà mẹ tôi cư trú là bác Thọ. Nhà của bác Thọ cách nhà mẹ tôi một con hẻm nhỏ.

Vì là hàng xóm, hôm qua bác Thọ đã chứng kiến cảnh mẹ tôi khóc sướt mướt khi tôi bước vào nhà, nên vừa nhìn thấy mặt tôi, bác đã niềm nở,

– Bác có nghe má cháu nói cháu đi lính ngoài Miền Trung. Chắc cháu mới chạy về phải không? Cháu mau xưng tên họ để bác ghi vào sổ. Cháu là lính Ðịa Phương Quân phải không? Cháu là trung sĩ chứ gì? Cháu chỉ cần khai vắn tắt thôi! Quan trọng nhất là cái địa chỉ tạm trú phải khai cho đúng! Nếu Cách Mạng có lệnh gì thì bác cứ theo địa chỉ mà thông báo cho cháu.

– Thưa bác, bác ghi tên cháu là Vương Mộng Long, nhưng cháu không phải là trung sĩ…

Tôi nói chưa hết câu, “cháu không phải là trung sĩ mà là thiếu tá…” thì bác Thọ đã lớn tiếng phán một cách chắc chắn như đinh đóng cột,

– Cháu và thằng con bà hàng xóm nhà cháu ngang tuổi, ngang lớp với nhau, nó khai là trung sĩ thì cháu cũng là trung sĩ thôi, không thể khai là binh nhất hay binh nhì được đâu! Tội gian khai là nặng lắm đó!

Hai ông sĩ quan đứng bên tôi cũng gục gục đầu khuyên:

“Trung sĩ thì cứ khai là trung sĩ, có gì đâu mà phải sợ? Khai man hay giấu giếm cách gì thì người ta cũng phát giác ra thôi!”

Bác Thọ hất hàm ra lệnh cho anh thư ký,

– Số thứ tự 25 là Vương Mộng Long, cấp bậc trung sĩ Ðịa Phương Quân, địa chỉ TK9…

Tôi chưa kịp phản đối thì bác Thọ gọi người tiếp theo, đó là ông chủ tiệm gạo. Ông sĩ quan Công Binh này là một người cao to như một vị hộ pháp. Ông ta vừa bước lên là tôi bị văng sang bên ngay.

Trong lúc ông đại úy khai tên và đơn vị thì tôi thấy nơi cuối hàng có một bàn tay ai đó giơ lên vẫy gọi mình,

– Long! Long ơi! 

Tôi giơ tay vẫy lại,

– Chờ chút! Chờ chút! 

Rồi tôi sấn tới trước bàn giấy, cầm tay bác Thọ,

– Cháu có việc phải đi ngay! Yêu cầu bác đính chính lại số thứ tự 25 Vương Mộng Long là thiếu tá Biệt Ðộng Quân, không phải trung sĩ Ðịa Phương Quân!

Ông liên gia trưởng ngớ người ra,

– Cháu không nói đùa đấy chứ! Xóm mình từ xưa tới giờ làm gì có ai là sĩ quan cấp tá!

Tôi nghiêm mặt,

– Cháu nói thật đấy! 

Ông đại úy chủ tiệm gạo nheo mắt nhìn tôi rồi buột miệng,

– Ðù mạ! Giờ này mà còn hám danh! Khoa trương! Làm oai!

Chắc ông đại úy nghĩ tôi chỉ là một anh trung sĩ hám danh, man khai thành thiếu tá để lấy le nên ông ta lớn tiếng chửi thề cho bõ ghét.

Mấy vị sĩ quan đứng gần đó cũng cau mày, nhăn mặt tỏ vẻ khó chịu và khinh bỉ. Có lẽ vì thấy tôi có vẻ trẻ trung, khỏe mạnh, lại ăn mặc không được chững chạc lắm, nên bà con cho rằng tôi chỉ là một hạ sĩ quan nhưng thích làm oai. Chờ cho anh thư ký điều chỉnh xong lời khai báo của tôi, tôi chui ra khỏi đám đông để gặp người vừa vẫy tay gọi tên mình.

Thì ra đó là ông Thiếu tá Lương Ðình Chi, cựu Trưởng ty Cảnh-Sát Bà-Rịa, một người bạn vong niên của tôi. Nhà ông ta ở bên kia đường, ngay góc Trần Hưng Ðạo, Nguyễn Biểu. Ông Chi vô tình ghé đây. Nhìn thấy tôi trong đám đông, nên ông ta giơ tay vẫy gọi. Ông ta cũng vừa tới văn phòng liên gia trưởng của ông để khai báo.

Ðâu ngờ, cái chuyện khai báo lý lịch xem ra thật đơn giản và không có gì đáng lo ngại, vậy mà nó che đậy một cái bẫy sập ghê gớm.

Chỉ với cái tên, cấp bậc và đơn vị mà chúng tôi khai với ông liên gia trưởng, đã đủ để những người Cộng-Sản có thể phát hiện ra những kẻ thù mà chúng cần truy cứu.

Chỉ ít bữa sau, một Thượng tá Trung đoàn trưởng của Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản đã tới gõ cửa nhà tôi để thăm tôi. Tôi và ông ta đã từng có vài lần đối đầu qua những trận đánh đẫm máu năm 1974 ở Tây Nguyên.

Cũng từ cái chuyện khai báo lý lịch mà chưa tới mười ngày kế đó, sáng 11 tháng 5 năm 1975, tôi đã trở thành một tù binh. Mười ba năm sau, trên cái giấy ra trại của tôi đã ghi rõ ràng rằng: Ðương sự bị bắt ngày 11 tháng 5 năm 1975.

Hôm đó, tôi bị gọi lên văn phòng liên gia trưởng. Bác Thọ nhìn tôi ái ngại,

– Phường Nguyễn Cảnh Chân vừa nhận được lệnh nội nhật ngày 11 tháng 5 năm 1975 phải áp giải tên Vương Mộng Long lên giao nộp cho Ủy Ban Quân Quản Thành Phố Sài-Gòn Gia-Ðịnh.

Văn phòng phường không có xe, nên bác Thọ ra lệnh cho anh thư ký của liên gia chở tôi đi bằng xe gắn máy.

Tới Trại Lê Văn Duyệt của Biệt Khu Thủ Ðô, nay là trụ sở Ủy Ban Quân Quản Thành Phố Sài-Gòn Gia-Ðịnh của Việt-Cộng, tôi xuống xe rồi tự động đứng lẫn vào đám người đang tụ tập trước sân cờ.

Hôm đó, có khoảng vài trăm quân nhân viên chức Việt-Nam Cộng-Hòa bị tập trung về từ nhiều nơi quanh Sài-Gòn. Họ được chở trên những quân xa đủ loại. Người xuống hết, xe chạy đi, nối đuôi nhau. Chỉ có mình tôi tới đây bằng xe hai bánh do người khác cho quá giang.

Trong số những người hiện diện trong sân, tôi thấy Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo, Chuẩn tướng Lê Trung Tường và mấy vị tướng khác, cùng vài người quen của tôi như Trung tá Nguyễn Hiệp, Trung tá Nguyễn Ðỗ Tước, Thiếu tá Hồ Văn Hòa, Thiếu tá Lương Ðình Chi, và Trung sĩ Thông Dịch Viên người Hoa là Huỳnh Cẩm Lường.

Chúng tôi đứng trước sân chờ nghe cái loa treo trên cột cờ kêu tên mình để vào trình diện một trong số những căn phòng đánh số thứ tự A, B, C, D…X, Y, Z… nằm ở tầng trệt của dãy nhà lầu phía sau.

Tôi được gọi tên để vào làm việc trong căn phòng nơi cửa có cái bảng carton cỡ 40X40 cm ghi chữ «Z” thật to bằng sơn đen, nằm ở đầu hồi.  Phòng có cái bảng chữ «Z» là nơi tiếp quản của Quân Khu 5 Cộng-Sản. Quân Khu 5 Cộng-Sản bao gồm lãnh thổ các tỉnh từ Quảng-Trị tới Phú-Yên. (Chữ Z= phát âm là Zét)

Văn phòng này do bốn cán binh Việt-Cộng phụ trách. Bốn tên cán binh này mặc quân phục xanh, không đeo phù hiệu hay quân hàm, và cũng không vũ trang.

Có khoảng trên dưới hai chục người được gọi vào phòng Z. Mỗi người được phát một tờ giấy in roneo gọi là bản tự khai, chỉ có mấy dòng:

1) Họ tên

2) Cấp bậc, chức vụ

3) Ðơn vị và nơi đồn trú.

4) Thời gian phục vụ ở địa bàn Quân Khu 5 từ năm nào tới năm nào?

5) Ðịa chỉ cư trú và liên lạc hiện nay

Dưới đó là ngày tháng và ký tên.

Công việc ghi chép những câu trả lời 5 mục nêu trên và ký tên diễn ra không tới một giờ.

Tiếp theo là giai đoạn khẩu vấn, công việc này cũng chỉ nhằm mục đích xác nhận xem chúng tôi có đúng là người mà Quân Khu 5 cần tiếp quản hay không.

Từng người trong chúng tôi phải lần lượt đối diện với bốn thẩm vấn viên để trả lời những câu hỏi liên quan tới từng đề tài khác nhau như quê quán, tôn giáo và gia cảnh.

Kết thúc buổi thẩm vấn, tên cán bộ trưởng toán xoa tay cười khẩy, rồi đẩy mấy tờ giấy ghi lời khai của tôi ra trước mặt tôi,

– Ðược rồi! Anh đọc lại đi! Có gì cần sửa thì trình cho tôi. Tôi có cho phép anh thì anh mới được sửa. Nghe rõ chưa?

Tôi liếc qua những dòng chữ đã ghi trên bản tự khai rồi lắc đầu,

– Tôi không muốn sửa chữa điều gì cả.

Nghe vậy, tên Việt-Cộng vội xếp tờ giấy tự khai của tôi vào cái bìa cứng rồi đưa tay ra cho tôi bắt,

– Anh có thể đi về, nhớ đúng 8 giờ sáng mai lại vào đây trình diện!

Ra khỏi phòng, tôi đi một vòng quanh trại để tìm người quen, thì được tin Trung tá Nguyễn Hiệp, Thiếu tá Hồ Văn Hòa, Thiếu tá Lương Ðình Chi, đã bị còng tay chở đi rồi.

Trung tá Nguyễn Ðỗ Tước và ông Thông Dịch Viên người Hoa là Huỳnh Cẩm Lường còn ở trong phòng nào đó chưa ra.

Sáng 12 tháng 5 tôi leo lên Honda chạy một lèo tới Ủy Ban Quân Quản Thành Phố Sài-Gòn Gia-Ðịnh.

Gửi xe xong, tôi bước vào trại để tới phòng Z; đã có nhiều quân nhân khác nhanh chân hơn tôi; họ có mặt trong sân doanh trại từ sáng sớm.

Vào phòng, tôi mới hay, sau buổi thanh lọc ngày hôm qua đã có nhiều người được trả tự do vì lời khai của họ không phù hợp những chi tiết mà Quân Khu 5 đã nêu ra.

Hôm nay, trong phòng Z chỉ còn lại đúng bảy (7) người.

Chúng tôi không phải khai báo gì hơn, chỉ ngồi tán gẫu với nhau thôi.

Những cán binh phụ trách công việc tiếp quản chúng tôi cũng vui vẻ nói chuyện với chúng tôi không chút ngại ngùng. Qua vài câu trao đổi, chuyện trò, tôi được biết, hai trong số bốn cán bộ Cộng-Sản này là người Thanh-Hóa, một là dân Hà Nam Ninh, một là dân Hải-Hưng (tỉnh Hải Hưng là tên do hai tỉnh sáp nhập Hải Dương và Hưng Yên) Biết tôi là dân Hải Dương nên người bộ đội Cộng-Sản quê Hải-Hưng hay nhìn tôi với vẻ mặt nửa lưu luyến, nửa ái ngại và khó hiểu.

Buổi trưa chúng tôi được phép túa ra đường kiếm cơm cháo, mì, phở, một giờ sau sẽ quay trở lại.

Bên kia đường là một dãy quán hàng bán đồ ăn. Thấy một ông từ phòng Z dẫn theo vài ông khác chui vào một cái lều bên đường, tôi cũng chui vào theo.

Trong lều là một gánh cháo lòng do một bà tuổi trung niên làm chủ.  Chúng tôi theo nhau, bảy người, ngồi trên hai cái ghế dài của học trò.

Chỉ qua mấy phút tâm sự, tôi đã biết lý lịch của sáu ông bạn mới. Sáu ông này gồm có một Thiếu úy Trung đội trưởng Thám Báo Tỉnh, một thẩm vấn viên của Trung Tâm Thẩm Vấn Quân Ðoàn II, hai ông sĩ quan Ban 2 Chi Khu, một Trưởng Lưới Mật Báo Viên và một nhân viên phản gián của Ủy Ban Phượng Hoàng.

Ông chồng bà bán quán là Trung sĩ Trưởng Lưới Mật Báo Viên của Tiểu Khu Bình-Ðịnh tên là Huỳnh Thanh Bền. Ông Trung sĩ Bền là một hạ sĩ quan Ðồng Hóa.

Từ ngày thứ ba, tôi không còn phải tốn tiền gửi xe Honda, tôi khóa xe, rồi để xe ngay vách quán của bà vợ ông Bền.

Trung sĩ Bền lớn hơn tôi mười tuổi, vợ ông cũng lớn hơn tôi bảy tuổi. Anh chị Bền có ba đứa con, cháu lớn là con gái 19 tuổi, đang học Sư Phạm, hai đứa kế tuổi 15 và 13 đang học trung học.

Nhà anh chị Bền ở gần Quân-Lao Gò-Vấp.

Nhà Tù

vietmessenger.com

Hồi ký của Duyên Anh

Post by Sơn râu 25 Jun 2024

Phần 24

Giữa tháng 3 năm 1978, Tư Long ra lệnh cho chúng tôi lên một phòng trên lầu 3. Phòng này, tù nhân vừa bị chuyển khu hay chuyển trại, bừa bãi rác rưới. Tôi đã viết, Cộng sản “giải phóng” tù nhân chế độ cũ chiều 30-4-1975 thì ngay sáng sớm 1-5-1975 đã có tù mới. Và tù cũ lần lượt bị lùa vào. Thực sự, Chí Hòa đã xao xuyến từ 28-4-1975. Tù nhân nào “đấm mõm” chúa ngục là ra về thơ thới hân hoan. Đến trưa 30-4-1975, cả chúa ngục lẫn tù nhân “tốt số” bỏ Chí Hòa mà chạy. Còn lại đám tù “xấu số” không thể phá cửa ngục, đành đợi cách mạng “giải phóng”. Một tù nhân de luxe không được “giải phóng”: Ông tướng Trần Quốc Lịch.

Người ta đồn rằng, ở Chí Hòa có nhiều ma, đặc biệt là Con Ma Vú Dài mà nhật báo Hoà Bình của linh mục Trần Du đã khai thác ròng rã mấy tháng. Con ma vú dài, chúng tôi không được hân hạnh… ngắm vú nó. Nhưng, tôi biết chính xác đã nhiều tù nhân tự tử hay chết đòn, chết bệnh ở Chí Hoà. Tại sao biết chính xác? Vì, tôi đã sống chung phòng với một cán bộ cải huấn khám Chí Hòa. Oan hồn, chướng khí dầy đặc vùng tù ngục này. Người ta bảo rằng, chỉ khi nào tất cả cửa phòng giam, cổng khám, mở tung ra một lượt, oan hồn mới phiêu diêu miền cực lạc hay về thiên đàng và chướng khí mới tiêu tan. Cửa phòng giam, cổng khám đã mở tung một lượt. Oan hồn mới, chướng khí mới dầy đặc hơn. Ở Việt Nam, sau mỗi cách mạng thì tỷ số nhà tù tăng lên. Nhà tù thực dân trên quê hương tôi khiêm tốn hơn nhà tù cách mạng, bất kể cách mạng gì. Hãy nói cách mạng vô sản giải phóng con người. Nó giải phóng nhà tù Chí Hòa ra sao?

Các ống nước dẫn lên lầu bị cắt. Tấm bảng để tù nhân giỏi dạy học tù nhân dốt bị gỡ. Cấm dạy dỗ lẫn nhau. Dạy dỗ kiến thức đồng nghĩa với tuyên truyền phản động. Cấm bút. Cấm giấy. Tù nhân lúc nhúc trong phòng giam như đàn gà kỹ nghệ. Cách mạng không sơn lại tường tù. Do đó, tường phòng giam chúng tôi còn đầy máu muỗi, máu rệp, còn đầy tên tù nhân ghi rõ năm tháng tiền giải phóng, còn đầy những lời thề huyết hận giang hồ. Trên một bức tường có vẽ hình con rồng đang lộn bằng gạch non. Vốn thận trọng và sợ trách nhiệm, ông Trưởng phòng Phạm Quang Khai quan sát tỉ mỉ phòng mới. Rồi ông báo cáo vụ con rồng với trật tự. Trật tự báo cáo Tư Long. Chúa ngục Tư Long lồng lộn chạy lên. Hắn điên tiết vì đám tù cũ đã “chơi” hắn. Long là rồng. Chúa ngục Rồng mà tù dám cho rồng lộn thì… phản động quá, xúc phạm nặng nề tới cách mạng vô sản và chủ nghĩa Mác Lê bách chiến bách thắng.

– Trưởng phòng đâu?

Ông Khai le te bước sát tường:

– Tôi đây.

– Ai vẽ con rồng?

– Tôi không biết

– Anh phải biết.

– Chúng tôi vừa lên đây, thấy rồng đã vẽ sẵn, vội vàng báo cáo ngay.

– Anh vẽ.

– Tôi không vẽ.

– Đồng bọn anh vẽ.

– Thưa cán bộ, chúng tôi không vẽ.

– Tôi bảo anh vẽ.

– Tôi đâu dám vẽ.

– Vậy anh biết ai vẽ. Tôi chỉ thị anh kiếm ra ai vẽ nội trong một giờ. Không kiếm ra, cả phòng chịu kỷ luật.

Tư Long hầm hầm bỏ xuống với đám trật tự đầu trâu mặt ngựa. Ông Khai, nhà tỷ phú Phạm Quang Khai, vua tầu dầu chiến lược Phạm Quang Khai bị tên bán vé xe đò át giọng thì ngồi thừ, đau khổ. Đổi đời mà. Con lạc đà có thể chui qua lỗ kim, ông Khai khó mà tìm được thằng nào vẽ con rồng lộn xỏ Tư Long. Ông thở dài thườn thượt, trong khi, anh em quét phòng, chia chỗ nằm. Nước trong phòng không còn một giọt, cầu tiêu ngập phân, thối um, tanh tưởi. Sàn nước nhơ nhớp. Chẳng cần một giờ, Tư Long sai liền trật tự lên dán miếng giấy “niêm phong” phòng và tuyên bố:

– Cúp nước một tuần. Cúp tắm một tuần.

Tưởng tượng một tuần lễ không có nước xối cầu! Anh em nhao nhao cào cấu ông Khai:

– Nhanh nhẩu đoảng, thật thà hư.

– Con rồng kệ mẹ nó, con c… cũng có sao! Báo cáo, báo cáo…

– Già mà ngu.

– Đọc kinh ra nước đi!

Ôi cha, ông Khai lãnh búa. Đúng là trên đe dưới búa. Chức sắc nhà tù khổ vậy đó. Tội nghiệp ông Khai. Ông đã bị cai ngục đì, còn bị anh em rủa. Đạo đức như linh mục Tự Do, hiền lành như anh Võ Xuân Đình mà cũng chê ông Khai tối dạ. Với Cộng sản thì phải gian dối, thành thật là lãnh đòn. Cái triết lý sống giả khùng của Bẩy Bốp Nguyễn Ngọc Tân hay nhất. Nguyền rủa ông Khai chán chê đâm ra mỏi miệng. Đành chịu đựng một hình phạt hiện thực xã hội chủ nghĩa, một hình phạt mà tôi tin rằng, ở Pháp, Bùi Kim Bảng vẫn nhớ, ở Mỹ, Hoàng Mạnh Hùng, Nguyễn Công Kha chưa quên. Nhưng nhân loại chưa biết. Các vị đại diện tù đòi hỏi nhân quyền chưa biết. Rằng, con người đã có những ngày sống như con vật.

Chúng tôi bị cúp hai lần tắm. Không sao. Nhưng một tuần không rửa mặt, đánh răng, không có nước rửa bát, rửa đít, xối cầu tiêu thì hãi hùng quá. Cai ngục Quỳnh đã dạy: “Chiến đấu từ đau khổ, cố mà học nếu muốn chiến đấu chống Cộng sản”. Mấy ai nhập tâm câu này? Thay vì chịu đựng để, nói theo Tố Hữu, “Nuôi đi em cho đến lớn đến già, mầm hận ấy trong lòng xương ống máu. Để mai mốt thêm hăng hồn chiến đấu, mà hôm nay em đã nhóm trong lòng“, người ta hết than vãn lại gấu ó lẫn nhau. Dân tộc đã trưởng thành sau kinh qua lịch sử nghẹn ngào 30-4-1975, song vẫn còn nhiều người chưa khôn lớn, kể cả người trong tù và người ngoài tù, người trong nước và người ngoài nước. Chúng ta hằng nhắc nhở Phù Sai nằm gai nuốt mật nhớ thù, Câu Tiển nếm phân nuôi hận. Nhắc nhở thôi, chúng ta không thích noi gương… Ba Tầu. Ba Tầu là Ba Tầu, dẫu thù hận ở không gian và thời gian nào cũng đồng dạng, đồng tình. À, chúng ta sẽ chỉ thích anh Ba Tầu Hàn Tín. Mới bị dở nón chào thằng cai ngục đã nghĩ mình khuất thân ghê gớm, đã so sánh mình với Hàn Tín. Có tài năng như Hàn Tín hãy so sánh với Hàn Tín. Nhưng Hàn Tín xin cơm thuở bần hàn chứ không chịu “ăn cắp cháy, ăn vụng thịt, ăn tranh phần cơm heo”. Tôi cần “phanh” tôi lại, trở về kỷ luật khốn kiếp mà Cộng sản bắt chúng tôi chịu đựng. Mỗi ngày, chúng tôi, mỗi tù nhân, chỉ được hai ca nước uống. Hai ca khoảng nửa lít. Nước uống cung cấp sáng và trưa. Cơm canh đều đặn. Nửa lít nước một ngày cho một tù nhân sống trong phòng giam 62 người, một người ba gang tay chỗ nằm. Trời đang mùa nắng, mồ hôi thường xuyên toát ra, nửa lít nước kỷ luật! Chúng tôi không dám pha bột, pha sữa, pha mì, không dám đánh răng, rửa mặt. Tự nhiên, cả phòng khen anh Nguyễn Mạnh Côn và tặng anh biệt danh Dr. Anti-Hynos, vì từ khi vào tù, anh Côn khước từ đánh răng. Chúng tôi phải xé áo, xé quần thành những miếng nhỏ. Để lau chén, muỗng sau bữa ăn. Và để chùi đít sau khi đại tiện. Tôi cố nhịn ỉa đến mức tối đa. Tôi thèm táo bón. Bất hạnh thay, vào đúng cơn khốn khó này, nhiều anh em bị bệnh tiêu chẩy. Trưởng phòng Phạm Quang Khai kêu gọi anh em khắc phục… ỉa! Người ta có thể nhịn ăn, nhịn uống chứ không thể nhịn đái, nhịn ỉa. Cầu tiêu ngập gần ngang mức gạch, xây cao che phần không tiện để ra của “kép tù” trên “sân khấu”. Rốt cục, các “kép tù” đành ngồi trên hàng gạch xây, coi như “màn nhung” mà “diễn tuồng” đại tiện. Ông anh kết nghĩa Khai Trí của tôi đau khổ nhất. “Ai đau khổ vì bệnh trĩ”? Không khí phòng giam “ngạt ngào” mùi phân tiểu. Chúng tôi thở, chúng tôi ăn, chúng tôi uống, chúng tôi ngủ, chúng tôi ước mơ, chúng tôi hy vọng trong mùi phân tiểu nồng nặc.

Có lẽ, dưói ngọn cờ quang vinh của Đảng và bằng thành tích bách chiến bách thắng của chủ nghĩa Mác Lê, các thứ vi trùng đều bị tiêu diệt hết. Nên, tù nhân không được chích ngừa một thứ bệnh gì cả. Cũng tốt thôi. Qua ngày thứ hai, Tư Long cho phép xách hai thùng nước dội cầu. Cầu đã đầy nghẹt, hai thùng nước thấm thía gì! Giá có con lươn anh hùng, lươn dũng sĩ thả vô trước vài tiếng đồng hồ rồi dội mạnh nước là “thông suốt vấn đề khẩn trương” và “hồ hởi phấn khởi” và “đột xuất bay mùi hương cách mạng”. Chúa ngục Tư Long gian ác không cho mượn cây gậy thọc cầu. Thành thử phân ì ạch rút như sự tiến bộ ì ạch của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Vậy đó, chúng tôi chịu đựng liên tiếp bốn ngàỵ. Thấy không có ai chết, Tư Long “giải phóng” phòng của chúng tôi ngày thứ năm. Chúng tôi xách nước “giải phóng” cầu tiêu”, chà sàn nước, rửa phuy… Chúng tôi tắm gội. Vẫn chỉ 8 phút. Lúc ấy mới hiểu hạnh phúc đánh răng và hạnh phúc… rửa đít.

Sinh hoạt của phòng dần dà trở lại bình thường.

Thời kỳ này, chiến tranh biên giới Miên-Việt đã gay go. Các tỷ phú Tầu, các nhà tư sản mại bản không được ra ngoài làm việc nữa. Trần Thành hết nghề nuôi heo. Trương Vĩ Nhiên hết nghề y tá. Trương Vĩ Nhiên độc quyền nhập cảng phim ảnh Hồng Kông, Đài Loan. Anh ta là chủ nhiều rạp chiếu bóng lớn. Ở đề lao Gia Định, anh gánh cơm cho các phòng khu C-1. Cộng sản chọn có hai nhà tư sản mại bản đưa ra tòa: Lý Sen và Trương Vĩ Nhiên. Lý Sen lãnh án 15 năm. Trương Vĩ Nhiên 20 năm. Đến năm 1982, toàn bộ tư sản mại bản Chợ Lớn được tha hết. Không nghe nói Lý Sen, Trương Vĩ Nhiên có “trúng số” hay không. Những ngày Trương Vĩ Nhiên làm y tá, chúng tôi dễ chịu. Anh đề nghị bác sĩ Việt cộng cho tù nhân giữ hết thuốc tư. Chúng tôi khỏi đăng ký thuốc ở Y Tế, mất công ốm đau phải xin rút thuốc. Tư Long vẫn “ghim” phòng của chúng tôi. Hắn chủ trương “đong đo, cân đếm” tinh vi. Một tù nhân nửa lít nước uống và một lít nước xử dụng dịch vụ cá nhân, mỗi ngày. Tư Long nghiêm cấm trò “tắm gỡ” khi xuống hồ xách nước. Tù nhân chơi màn múc đầy thùng rồi nhấn mạnh cho nước trong hồ tràn ra “tắm gỡ”, Tư Long cấm luôn. Hắn cấm đem theo bình múc nước riêng. Cuối cùng, cấm nước nhễu trên hành lang. Những người tình nguyện xách nước hết tình nguyện. Phòng lại ủy cho tổ. Tổ cắt người vác nước. Tư Long bắt vác nước trên vai không được nhỏ một giọt nào. Thành ra, thùng nước không đầy. Tôi nhớ bốn ngày cấm nước, chúng tôi đứng trên lầu nhìn xuống hồ. Thấy bọn trật tự đánh bóng chuyền xong thì nhẩy vào hồ nước đùa rỡn. Tư Long muốn chúng tôi đau đớn. Hắn đã nhầm. Đảng của hắn đã nhầm. Chủ nghĩa của hắn đã nhầm. Nếu đích thực là con người, đắm chìm trong bất cứ một nghịch cảnh nào, con người vẫn tồn tại với đầy đủ ý nghĩa làm người.

Một số anh em được gọi đi lao cải ở trại tập trung. Cai ngục nói rõ đi lao động cải tạo. Tôi dùng chữ được thay chữ bị. Thoát khỏi FG đã hạnh phúc, thoát khỏi Chí Hòa hạnh phúc nhân lên. Vậy thì Chí Hòa không phải là chốn cải tạo trường kỳ, là chốn tù nhân nằm chờ chết mòn bằng bệnh hoạn, bằng tuyệt vọng. Rồi sẽ đi… Những cuộc phiêu lưu mới đang đợi những bước chân sắp tê liệt. Trong số anh em đi lao cải có Phan Thành Trường, Nguyễn Đình Bách, Quang què, Cốc Chính Cương… Thời kỳ này, Cao Dao 1 đã “thống lĩnh” một “ngọn núi” Chí Hòa. Võ Long Triều từ đề lao Gia Định sang. Nguyễn Đan Quế cũng đã có mặt. Họ không vào phòng tôi. Nhóm luật sư “Nhân Quyền” ngự ở khu AH. Tôi không nghe kể tên Huỳnh Thành Vị. Như vậy, Chí Hòa đã nhiều nhân vật. Càng đông càng vui. Khu FG thay đổi toàn bộ cai ngục. Tư Long vẫn còn nhưng hắn không lảng vảng rình mò nữa. Một tên cai ngục mà Đoàn Kế Tường đặt cho hắn cái tên “Đề Xuất” – vì hắn ưa hỏi phòng có đề xuất gì không sau khi điểm danh – đã tặng chúng tôi một bài học đề xuất. Hắn hỏi hoài khiến ông Khai phải… đề xuất:

– Báo cáo cán bộ, phòng chật chội quá.

– Bao nhiêu người?

– Năm mươi nhăm.

– Tôi ghi nhận, sẽ nghiên cứu giải quyết.

Ngay buổi trưa, cửa phòng mở, ông Khai nhận thêm 15 tù nhân hình sự gồm các tội móc túi ăn trộm. Dĩ nhiên, ông Khai lại bị công kích về tội “ngứa mồm” đề xuất. Đoàn Kế Tường ra mặt chống đối ông Khai. Chưa hết đâu, hôm sau, ông Khai tiếp nhận 5 tù nhân hình sự khác. Các tù nhân hình sự được chuyển tới Chí Hòa đều đã nằm ở nhà giam các quận. Mà nhà giam các quận là nơi con người biến thành ròi bọ. Hoàng Mạnh Hùng đã nằm nhà giam quận 3 một tháng. Anh kể những tệ trạng khốn kiếp xẩy ra. Cai ngục ngó lơ, mặc kệ vua tù và triều đình lộng hành. Thảm cảnh ức hiếp, bóc lột tù yếu và bắt cả tù yếu làm công việc “thổi kèn” để thoả mãn thú tính của tù mạnh còn ghê tởm gấp bội những “xen” tôi đã diễn tả về các phòng tạm giữ trong tiểu thuyết của tôi. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, vệ sinh ở các nhà giam các quận thả nổi. Chấy rận lổm ngổm, ghẻ lở kềnh càng. Một tháng tắm một lần. Ốm no bò dậy. Những màn đấm đá tàn bạo. Những màn trốn ngục táo bạo. Vua tù dám mua cai ngục một chai xì-dầu thủy tinh giá cắt cổ. Nó sai đàn em đập chai, nhắm bụng nó mà đâm mạnh. Đừng đâm chết. Bị thương nặng thôi. Cai ngục chở nó tới bệnh viện Đô Thành. Nó… vượt ngục ở đây dễ dàng.

Bị mắc mưu “đề xuất”, phòng chúng tôi rộn ràng tiếng văng tục, chửi thề, lổm ngổm chấy, rận, cái ghẻ… Sự tranh giành cơm nước, chỗ nằm sinh động một đời tù Cộng sản. Rồi cũng quen đi vì đã có lần chịu đựng bốn ngày kỷ luật cúp nước. Tôi đã tưởng những mùi thối tha, tanh tưởi của phân tiểu, của máu mủ tù ngục sẽ làm mình quên bất cứ mùi tanh tưởi, thối tha nào bên ngoài, khi tôi ra đời. Rốt cuộc, tôi lại phải tương tư những mùi thối tha, tanh tưởi, hôi hám của tù ngục. Bởi vì, những mùi nồng nặc nhất của tù ngục vẫn thơm hơn những mùi kháng chiến, đấu tranh của đám cai thầu vô lại, của bọn mưu đồ danh phận bằng nỗi bất hạnh của dân tộc và tổ quốc chúng nó.

Phòng chúng tôi đã chẵn 70 mạng. Nước giới hạn, tắm giặt giới hạn, bệnh ghẻ tái phát và tăng trưởng thật lẹ. Tôi bị cảm cúm. Đoàn Kế Tường xoa dầu cù là, cạo gió. Ở “chuồng” lâu ngày, da chúng tôi mỏng và thịt bủng. Những vết cạo gió chẳng cần đợi lâu, hôm sau thôi, đã nhiễm trùng, sưng mủ. Tôi đã trải qua “mùa ghẻ” đề lao Gia Định. Thêm “mùa ghẻ” Chí Hòa. Tất cả tù nhân đều bị một thứ nấm “ăn” ở hạ bộ gây ngứa khó chịu. Hễ gãi mạnh xước da là thành ghẻ mủ ngay lập tức. Bởi vậy, tiến sĩ Hoàng Mạnh Hùng sáng tạo một kiểu gãi thần sầu. Dùng bàn chải đánh răng mà… chà ghẻ! Chà nhẹ nhàng. Bệnh ghẻ nham hiểm như Cộng sản. Ban ngày nó không hành mình, đợi lúc mình nằm ngủ nó mới ngứa. Hòa tấu khúc “đàn Ta-Lư” thường chơi đêm khuya. Âm thanh phóng ra đời sống chỉ là những tiếng “xoàn xoạt” liên tục. Vậy thì, bàn chải gãi ghẻ ban đêm và đánh răng ban ngày! Chúng tôi đã nuốt cái ghẻ. Anh Nguyễn Mạnh Côn ca ngợi ghẻ, nếu ghẻ mọc một mụn duy nhất ở đốt xương sống cuối cùng, gần hậu môn. Anh bảo có thằng cái ghẻ để gãi cũng đê mê lắm. Anh Côn nhận xét đúng. Để móng tay ngón út đùa bỡn với chú cái ghẻ ở đốt xương cùng thì tuyệt cú mèo. Nếu cái ghẻ là những thằng chụp mũ, là những thằng phản phúc, là những thằng hèn mọn bắn sau lưng, núp bóng tối đâm lén ta, chúng nó rất xứng đáng nằm ở đốt xương sống cuối cùng, gần hậu môn ta. Thiếu những thằng này, cuộc đời giảm nhiều thú vị. Ở trong bất hạnh, bạn cần tìm kiếm hạnh phúc. Tôi kiếm hạnh phúc từ ca nước ấm. Giúm muối bỏ vô, tôi lên “sân khấu” ngâm “toàn bộ”. Ôi, đang ngứa bạo mà ngâm nước nóng, sướng sao mà sướng. Sướng hơn làm tình, sướng rên mé đìu hiu… Nếu tôi được soi gương lúc tôi thả “toàn bộ” vào nước nóng, tôi sẽ có định nghĩa chính xác về các tĩnh tử nghệt, thộn, đờ đẫn… Phi ghẻ bất thành tù. Gãi trong cơn ngứa đã đời lắm, nhưng xót xa sau cơn ngứa. Ngâm nước nóng trong cơn ngứa, đang ngâm thì đê mê mà ngâm xong thì “hồ hởi phấn khởi.” Nhân vật tiểu thuyết của tôi nằm khám Chí Hòa bị ghẻ nước, đã khám phá ra chân lý hạnh phúc. Là đốt nến cho nhễu từng giọt xuống mỗi mụn ghẻ. Sức nóng của giọt nến vừa độ không làm phỏng da nên mỗi giọt nhỏ xuống một mụn ghẻ cơ hồ mỗi giọt sướng nhỏ xuống hồn. Nến không thể dùng cho hạ bộ, cái hạ bộ đen thui, mỏng teo. Phải nước ấm và muối. Nước ấm gây cảm khoái và muối làm se. Cái tứ khoái của cổ nhân cần thêm khoái lấy ráy tai, khoái ngoáy lỗ ghèn, khoái gãi ghẻ, khoái ngâm hạ bộ ghẻ vào nước ấm… Khoái lấy ráy tai, người Việt Nam nào chả biết, chả thích. Khoái ngoáy lỗ ghèn, ít ai biết. Nếu biết, người ta sẽ nghiện. Ở tù, bạn đến phòng nào cũng kiếm ra một vài tài năng lấy ráy tai, ngoáy lỗ ghèn, tẩm quất. Người ta chọn sợi tóc dài nhất trên đầu bạn, nhổ ra, chập đôi, se lại. Có tí an-côn rửa sợi tóc càng tốt, không có chẳng sao. Bạn nằm thẳng cẳng. Người ta vạch mắt bạn, đưa sợi tóc vào cái lỗ ghèn ở đầu con mắt, người ta xoáy sợi tóc. Cảm giác của bạn lâng lâng. Nước mẳt bạn trào ra. Bạn khoái tỉ cao độ, hắt xì hơi. Và bạn sẽ hiểu, trên đời có nhiều lạc thú, những lạc thú thiếu be bét trong cuốn Lạc thú ở đời của ông Lâm Ngữ Đường. Đời bạn, luôn luôn, gặp những lúc muốn hắt xì hơi mà không hắt xì hơi nổi. Bạn khó chịu. Bạn tức tối. Bạn ngước nhìn mặt trời hoài, vẫn không hắt xì hơi. Bạn thèm hắt xì hơi. Một phát thôi, bạn sẽ sảng khoái liền. Bạn ơi, lúc ấy, bạn được ngoáy lỗ ghèn, bạn sẽ hắt xì hơi lu bù. Anh Nguyễn Mạnh Côn đã thử ngoáy lỗ ghèn. Và anh ấy tuyên bố: “Sướng gấp bội say thuốc phiện.” Ngoáy lỗ ghèn dễ dàng thôi, muốn lâng lâng thì được lâng lâng tức thời, chỉ cần tốn một sợi tóc. Ngâm hạ bộ ghẻ vào nước ấm, bạn sẽ nhịn uống bột Bích Chi và rồi, chính cái ca nhựa bạn ngâm hạ bộ, bạn sẽ múc nước đánh răng, rửa mặt và uống bột Bích Chi.

Vào thời kỳ ghẻ ngứa tưng bừng này, chúng tôi không được ăn cơm nữa. Chí Hòa luộc bột mì nuôi tù nhân. Mỗi bữa, mỗi tù nhân nhận hai cục bột luộc to bằng nắm tay. Bột mì của Đức Giáo Hoàng tặng bị pha với bột khoai mì xã hội chủ nghĩa. Bột luộc ăn với canh bí rợ nấu muối. Đề lao Gia Định còn chịu khó gọt vỏ bí, chứ Chí Hòa để nguyên vỏ. Tôi sợ nhà bếp lười biếng rửa luôn. Tù nhân phải se giây ni-lông rút từ bị đựng phân bón 2 làm… dao cắt bột thành từng khoanh. Có người cầu kỳ cắt bột nhỏ như con cờ, chan canh vào mà nuốt. Linh mục Nguyễn Văn Tự Do chế một lối súp tù. Ông bấu bột ngâm nước đường. Bột rữa ra, ông khuấy đều mà húp. Đa số cầm cả cục bột ngoạm cho xong chuyện. Tôi cũng ngoạm cả cục. Tay cầm tán đường mía, tay cầm bột luộc, tôi ăn. Ăn để sống. Đôi khi, tự an ủi mình, tự vuốt ve mình cho bớt tủi vì chậm chân không di tản kịp, chúng tôi vừa gãi ghẻ vừa hội thảo:

– Con người ăn nổi mấy bữa một ngày?

– Ba.

– Chúng ta đã ăn ba bữa.

– Đúng.

– Ăn sơn hào hải vị, ăn Hamburger, McDonald, uống Whiskey, Cognac, Coca, Pepsi, Fanta… đi cầu có thơm không nhỉ?

– Thối.

– Chúng ta đã đi cầu cũng thế.

– Lái xe Cadillac, hay Mercedes và nằm tù rồi có chết không?

– Chết hết.

– Thế nào là sống?

– Biết tận cùng của thống khổ.

– Chúng ta đã sống. Đã sống, đã biết sống. Thế đủ rồi. Ai có thể từ sự biết sống của mình, gởi lại cho đời sống điều gì đó càng tốt. Chẳng gửi lại thì thôi.

Như thế, chúng tôi đã ngoạm bột luộc, an phận ngoạm bột luộc. Tuyệt nhiên, chúng tôi không bình phẩm những người may mắn thoát vòng tù tội và đang sung sướng ở nước ngoài. Chúng tôi không hề biết gì về họ. Không hề biết gì về người khác mà phán xét người ta là thái độ của quân vô lại. Có lẽ, tôi không nên điểm mặt vô lại. Tự chúng nó, chúng nó đã chường nguyên mặt vô lại. Xin cám ơn quan tòa Thời Gian.

Cuối tháng 3-1978, bọn sát nhân, bọn trộm cắp bị chuyển trại. Tình trạng hỗn loạn của phòng tôi chấm dứt.

Nhà tư sản mại bản Đào Mậu rồi Tăng Tài được thả. Lệnh tha đọc ngay tại phòng. Chúng tôi hân hạnh tiếp đón thượng khách: Linh mục Nguyễn Quang Minh, nhân vật hàng đầu của vụ án nhà thờ Vinh Sơn. Cùng với linh mục Nguyễn Quang Minh còn có linh mục Chức và vài người nữa. Linh mục Chức nói hơi nhiều, nói gần như ba hoa chích chòe. Ngược lại, linh mục Minh trầm lặng. Ông nằm hàng giữa phòng, cả ngày ngồi trầm tư. Các con chiên quấn quanh linh mục Minh nhờ ông “làm lễ.” Tôi đã chứng kiến cảnh linh mục treo mùng ngồi trong, con chiên xưng tội ngồi ngoài, hồi tôi ở chung với linh mục Pham Minh Thiện tại đề lao Gia Định. Nhưng cảnh “rước lễ” ở Chí Hòa, tôi nghĩ, là cảnh “rước lễ” bi thảm và tuyệt vời nhất của lịch sử Thiên Chúa giáo. Nửa đêm, chờ tù nhân ngoại đạo ngủ kỹ, linh mục Nguyễn Quang Minh ngồi dậy. Ông cũng mặc quần xà lỏn, áo sơ-mi như mọi tù nhân. Tôi không biết, không hỏi bằng cách nào linh mục Minh có “bánh thánh” và “rượu lễ.” Vốn là tù nhân khó ngủ, thao thức gần sáng mới nhắm mắt, nên tôi đã được nghe nhiều điều lạ xẩy ra ban đêm. Thí dụ những lời báo cáo hồ đồ của tù nhân ở cachot, những tiếng khóc của con nít, những câu hát của nữ tù dưới ô… Và rồi, được chứng kiến cảnh “rước lễ”. Ở Chí Hòa, không có tuần tra ban đêm. Khi kẻng báo ngủ điểm, các cửa sắt hành lang khóa kỹ. Những việc vi phạm Nội quy có sợ là sợ những tên bộ đội đào ngũ, những tên cán bộ mất phẩm chất cách mạng nhòm ngó thôi.

Cùng lúc linh mục Minh ngồi dậy, các con chiên cũng lần lượt ngồi hết dậy, vì đã dặn dò “đêm lễ,” tất cả đều giả vờ ngủ. Dưới ánh điện vàng, linh mục Nguyễn Quang Minh áo sơ-mi, quần xà lỏn, ngồi khoanh chân thầm thì rao Phúc Âm. Các con chiên tội nghiệp chung quanh đang kính cẩn hướng về Cha của họ. Hình tưởng Chúa Jesus “thấy quần chúng, bèn leo lên núi. Khi ngài đã ngồi thì các môn đồ tớì cùng Ngài. Ngài mở miệng dạy họ:

Phước cho kẻ có lòng nghèo khó, vì nước Trời là của kẻ ấy.
Phước cho kẻ buồn thảm, vì sẽ được yên ủi.
Phước cho kẻ nhu mì, vì sẽ thừa thọ đất.
Phước cho kẻ đói khát về sự công nghĩa, vì sẽ được no đủ.
Phước cho kẻ hav thương xót, vì sẽ được thương xót.
Phước cho kẻ cỏ lòng trong sạch, vì sẽ thấy được Đức Chúa Trời.
Phước cho kẻ chịu bắt bớ vì sự công nghĩa, vì nước Trời là của kẻ ấy.
Phước cho các ngươi khi người ta lăng nhục, bắt bớ và vu cho mọi điều ác vì cớ ta.
Hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng các ngươi trên Trời là lớn… 3

Linh mục Nguyễn Quang Minh ở trong hoàn cảnh khốn khó hơn. Quân dữ bốn bề. Ông không có núi mà leo. Ông ngồi giữa căn phòng hôi hám của khu FG Chí Hòa làm sáng danh Thiên Chúa. Chắc chắn, Chúa Jesus đã ban phép truyền âm cho linh mục Minh để ông giảng Phúc Âm cho con tin theo “bí kíp” truyền âm. Vẫn bài giảng bất hủ đó thôi, tôi nghĩ vậy. Ông bác bỏ mọi nghi lễ của Giáo Hội. Nghi lễ vụ hình thức. Hình thức là giả dối. Chúa nghèo, Chúa không giầu. Chúa đi chân đất. Chúa đâu có trình diễn như Đức Giáo Hoàng. Nên Chúa đã là Chúa. Linh mục Nguyễn Quang Minh mang hình ảnh Chúa, tâm hồn Chúa vào Chí Hòa. Ông ngồi một lúc thì dơ tay lên. Lần lượt, các con chiên đứng dậy, rời chỗ nằm của mình, giả vờ ngang qua chỗ Cha, ngồi xuống, há miệng nhận “bánh thánh” rồi giả vờ lên cầu tiêu, rồi trở về chỗ của mình. Linh mục Nguyễn Quang Minh sẽ lên nước Thiên Đàng gặp Chúa Jesus, sẽ kể cho Chúa Jésụs nghe chuyện “sống đạo giữa tù” dưới thế. Các ông cha di tản, vượt biên về hết Địa Ngục, cần báo trước, Địa Ngục có nhiều món hấp dẫn hơn Thiên Đường. Chúa Jesus tìm đến chỗ cùng khổ. Các ông cha tìm đến nước Mỹ sung sướng. Chúa ơi, kẻ ngoại đạo thương Ngài lắm. Ngài bị khá đông chiên ghẻ nhân danh Ngài mà buôn bán, đổi chác…

Linh mục Nguyễn Quang Minh là người khả kính. Ông sống chung với chúng tôi đến cuối tháng 4 năm 1978, thì rời phòng. Từ đó, tôi không được nghe nói gì về ông nữa. Tôi đã đàm thoại với ông hai lần. Cả hai lần, ông đều khẳng định: “ông tin tôi chứ, ông Duyên Anh? Không to tát như người Cộng sản phóng đại. Không có đường hầm, không có đài phát thanh, không có máy in bạc giả, không có súng đạn, không có chống trả gì trong nhà thờ Vinh Sơn cả”. Phải, không có gì cả. Linh mục Nguyễn Quang Minh không bao giờ làm phản động. Người Cộng sản đã chọn nhà thờ Vinh Sơn, đã bịa đặt thế. Mục đích của họ là dằn mặt những người Thiên Chúa giáo quá khích hậu thuẫn Đức Cha Thuận về thay thế Tổng giám mục Bình và lấy cớ bắt nhốt một số linh mục và trí thức công giáo. Một số tổ chức chống Cộng sản sau 30-4-75 do các lãnh tụ công giáo lãnh đạo đều bị ghép dính vào vụ nhà thờ Vinh Sơn, kể luôn tướng phục quốc Nguyễn Việt Hưng và Ali Hùng.

Linh mục Minh, linh mục Chức và những người dính líu vụ Vinh Sơn xuống phòng lầu 1 dành cho những tù nhân đã thành án. Nhưng tử tù Vinh Sơn vẫn thoi thóp trên cachot FG. Chúng tôi gặp mặt Ali Hùng lần chót hôm chàng được xuống hành lang xế phòng tôi tắm nắng. Người nhái Ali Hùng đã thành bộ xương cách trí. Mắt chàng trũng sâu, thâm quầng. Người tử tù biết mình chết, biết mình phải chết mà cứ bị kéo dài nỗi sống thảm. Nhân loại vẫn chưa vỡ lẽ Cộng sản đâu. Chúng ta cần “giáo dục” nhân loại: Dưới chế độ Cộng sản, sống đã nhục nhã mà chết càng nhục nhằn. Muốn sống không được sống, muốn chết không được chết. Hình như, nhân loại dần dà mất tính người. Bạn thử công khai giết một con chó nấu rựa mận ở nước Pháp coi, cô đào Brigitte Bardot sẽ điên lên, sẽ nhân danh Hội Bảo Vệ Súc Vật truy tố bạn ra tòa án. Thế nhưng, bọn khủng bổ sát hại “đồng bào” cô ta, cô ta không có ý kiến. Đó là nhân loại, là lương tri, mọi chuyện để bắn phá giáo đường, xúc phạm thánh là trắc ẩn, là xúc động dành cho đồng loại của nó, thời đại của nó.

Một tuần, sau ngày linh mục Nguyễn Quang Minh ra đi, linh mục Nguyễn Văn Tự Do ra đi nốt. Đoàn Kế Tường nóng lòng đi lao cải. Phiên họp cuối tuần nào, Tường cũng xin ghi vào biên bản. “Tôi tình nguyện lao động cải tạo mười năm.” Sự tình nguyện của Đoàn Kế Tường trở thành chuyên hài hước. Không ai trả lời Tường cả. Với Tường, ở phòng tập thể hai tháng là thời gian quá lâu. Tường bực bội, gây gỗ lung tung. Người bị Tường gây gỗ thường xuyên là Trưởng phòng Phạm Quang Khai. Song song vụ gây gỗ Tường-Khai là vụ đấu tranh tư tưởng quốc gia, Cộng sản giữa Mai Đức Khôi và Phạm Văn Diện. Tôi nhớ Khôi cụt đã kê tủ đứng vào họng Phạm Văn Diện câu này: “Anh mất mẹ nó phẩm chất cách mạng rồi, đợi bao giờ lấy lại phẩm chất cách mạng hãy đấu tranh với tôi. Cỡ tôi đâu thèm đấu tranh tư tưởng với cựu phường trưởng.” Khôi cụt yêu cầu ghi vào biên bản. Và Khôi cụt liên tục “ra làm việc” cả tuần. Trước Khôi cụt, Quang què đã công kích Diện những lần Diện thở giọng Cộng sản trong buổi họp. Nhưng Phạm Văn Diện, nhờ bị Khôi cụt chửi thẳng mặt, được thay thế Phạm Quang Khai nắm chức Trưởng phòng. Diện biết điều, gặp riêng Khôi cụt xin lỗi. Có Diện cai trị, bọn bộ đội đào ngũ ngoan ngoãn. Diện nể nang Tường nên mọi chuyện trong phòng tốt đẹp. Đoàn Kế Tường hết đối tượng công kích thì bầy trò chọc cười Tư Nhì. Ông Tư Nhì chuyên hút thuốc lá nhãn hiệu Lá Vàng 20 điếu gói bằng bao ni-lông. Anh ta nhiều thuốc mà hút tiết kiệm, không đốt liên miên giống chúng tôi. Muốn được Tư Nhì tặng nguyên gói, Đoàn Kế Tường và Dương Đức Dũng phải song ca hai bè một đoạn nhạc của Phạm Duy, theo điệu bài Tiếng đàn tôi.

Ông Tư Nhì ơi
Cả phòng hết thuốc rê rồi,
Ông Tư Nhì ơi!
Mình ông còn Lá Vàng thôi…

Để quên ngày tháng Chí Hòa, Đoàn Kế Tường và Dương Đức Dũng thi hát nhạc sến xem ai thuộc nhiều nhạc sến nhất. Kiến thức nhạc sến của tôi dồi dào vào dịp này. Đoàn Kế Tường có khiếu hài hước, có trí nhớ thật tốt. Tường thuộc nhạc “cách mạng” đủ bài. Bài nào Tường cũng chêm một câu phản động. Thí dụ, bài Cô gái vót chông.

… Còn giặc Mỹ cọp beo
Khi còn giặc Mỹ cọp beo
Em chưa ngừng tay vót chông rào làng
Nhưng mai đây giặc chạy rồi
Tre rừng ta làm nhà làm chòi cao

Tường hát rất thành khẩn:

… Nhưng nay mai giặc chạy rồi
Thằng Việt Nam lại nhốt thằng Việt Nam…

Một hôm, cả phòng cười lăn lộn. Ông Khai cười rung râu, Tường mượn cuốn lịch tay Quân đội nhân dân của bạn tù xem. Dở trang ghi lộ trình hỏa xa, Tường đọc lớn:

“Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1000 ki-lô-mét. Thành phố Hồ Chí Minh, Chí Hoà, 1 ki-lô-mét. Thành phố Hồ Chí Minh, đề lao Gia Định, 3 kí-lô-mét… Thành phố Hồ Chí Minh, nhà tôi, 100 ngàn ki-lô-mét!”

Ấy đó, niềm vui FG. Chúng tôi buồn như vậy, vui như vậy. Cạnh nỗi buồn, niềm vui còn có khoái gãi ghẻ và khoái ngoáy lỗ ghèn. Mọi việc sẽ bình thường, nếu con người can đảm chịu đựng và cố gắng tìm kiếm sự bí ẩn trong thống khổ.

——————————–

1Đã sang Bỉ năm 1984 và chết ở Bỉ năm 1986. Một người tài giỏi, không thích hợp với bất cứ chế độ nào và ở bất cứ chế độ nào cũng nằm tù.
2Thân nhân thường mua túi đựng phân bón chứa quà gửi vào cho được nhiều và tiện.
3Bài giảng trên núi của chúa Jesus theo Thánh Matthew, trong Kinh Thánh, bản tiếng Việt của hội Gideons quốc tế.