This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Tôi vào biệt giam phòng số 5 buổi sáng thì Trần Danh San bị dẫn vào “chuồng” số 3, tức xà lim 3, cách tôi một xà lim về phía tay trái nếu nhìn từ cửa vào. Trần Danh san, một luật sư trẻ vào thập niên 60 rất nổi tiếng ở Sài Gòn lẫn miền Trung Việt Nam. Anh là người vào ngày 23 tháng 4 , 1977 cùng người bạn là luật sư Triệu Bá Thiệp soạn thảo “Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Những Người Việt Nam Khốn Cùng” và bản tuyên bố “Vì sao Chúng Tôi Chiến Đấu” và mang ra đọc tại Công Trường Hòa Bình trước Vương Cung Thánh Đường Sài Gòn, nơi vào thời gian đó ký giả ngoại quốc được phép hoạt động tại Việt Nam thường lui tới Sở Bưu Điện để gởi tin tức về nước họ. Anh cùng một số người khác bị bắt, bị đánh đập và bị tra tấn suốt trong thời gian thẩm cung, rồi sau đó bị đày lên trại trừng giới A-20 Xuân Phước.
Trần Danh San là một trong những sinh viên trường Đại Học Luật Khoa Sài Gòn nổi tiếng là hùng biện và là thần tượng cho lớp sinh viên mới bước vào trường luật như chúng tôi vào đầu thập niên 1960. San nổi tiếng rất mau trong những vụ án liên quan đến chính trị hay tội đại hình. Bạn bè anh từ khi còn trung học hay những trường Pháp và sau này cũng theo đuổi nghề Luật như anh cho biết dù là tay chơi trong một đời sống tư, khi đã nhận bênh vực cho một thân chủ nào, anh làm việc hết mình bất kể công sức anh bỏ ra bao nhiêu. Sự kiện Trần Danh San bị đưa vào xà lim kiên giam không làm tôi ngạc nhiên, nhưng dù bị cùm cứng hai chân trên bệ nằm, tôi cũng cố nhổm người lên để xem có thể nhìn thấy San qua lổ tò vò ở giữa cánh cửa phòng giam hay không. Tuy nhiên cố gắng của tôi thất bại. Lúc đó tôi mới nhận ra rằng khi bị cùm hai chân thì chỉ có cách nằm ngửa trên bệ ngủ là cái cùm chân ít gây đau đớn hơn. Mỗi lần ngồi dậy tôi phải cố gắng như người tập bụng và những lần như thế hai vòng cùm ở hai cổ chân siết chặt vào da đau đớn.
Như mọi người đều biết tại những phòng tập thể dục người lực sĩ nằm thẳng người trên sàng rồi nhờ người khác cầm hai chân kềm cứng lại, hai tay của lực sĩ co lại nâng gáy lên và lấy hết sức nhấc phần thân thể từ bụng trở lên. Họ làm động tác này để làm nổi những bắp thịt bụng. Người tù cải tạo ở khu xà lim A-20 Xuân Phước hai chân bị cùm vào thanh sắt trên bệ nằm khi đã nằm ngữa trên bệ nếu muốn ngồi dậy cũng phải làm như thế, nhưng tất nhiên không còn thịt, còn mỡ đâu mà phải tập. Do thiếu ăn đã năm sáu năm rồi nên rất gầy yếu phải cố gắng hai ba lần mới ngồi dậy được, nhưng da ở cổ chân thường xuyên bị trầy xước. Chúng tôi tránh nhiễm độc bằng cách đổ nước muối vào những vết trầy.
Bên ngoài sân biệt giam có tiếng của trật tự Của: “Tại sao các anh cứng đầu quá vậy. Trước đây các anh có cả triệu quân mà chưa làm gì được huống chi bây giờ. Chỉ cần các anh bước ra cái xã Xuân Phước này là dân nó đập chết các anh ngay”. San giọng bình thản nhưng đầy diễu cợt: “Thế ạ, nhưng sao tôi thấy từ cán bộ trại trưởng đến cán bộ Lý rồi xuống tới anh nói giống nhau quá. Phải nhìn nhận là các anh thuộc bài lắm. Bữa nào anh trình cán bộ cho tụi này ra ngoài xã mua con gà luộc ăn chơi rồi dân nó có đánh chết cũng cam lòng”. Tiếng Của: “Thôi đừng có bố láo nữa. Tao lại cho một trận bây giờ” Vừa lúc đó tôi nghe tiếng của trực trại Luật: “Của, mở số 3”. Có tiếng khóa lách cách và tiếng kéo của sợi dây xích ở khóa cửa bên ngoài buồng giam. Tiếng Của hỏi trực trại Luật: “Cùm nó vòng cùm số mấy cán bộ?” Luật giọng gắt gỏng: “Anh làm trật tự hay tôi làm trật tự? Làm sao khóa hai chân nó lại thì làm. Nhanh lên”. Dường như trật tự Của chọn vòng cùm 16 vì sau đó tôi nghe tiếng búa đóng, điều này chứng tỏ cổ chân San lớn hơn vòng cùm nhỏ nhất là 16. Như thế là đau đớn lắm, nhưng tôi không nghe một tiếng kêu la nào của San. Rồi lại có tiếng của trực trại Luật ra lệnh cho Của: “Lên trên đội lấy hết tư trang xuống cho chúng nó”. Chừng 10 phút sau Của đi xuống. Tiếng trật tự luật ra lệnh: “Khám kỹ vào, ngoài quần áo chăn mền, còn tịch thu tất”. Việc khám xét tư trang kéo dài khoảng 15 phút và Của theo lệnh của trực trại Luật mở cửa phòng giam đưa vào cho tôi chiếc ba lô đựng quần áo. Nhìn chiếc ba lô, tôi nhận ra ngay chiếc ba lô của tôi, nhưng phần bên trong thì không. Như thế vào buổi sáng Hải “bầu” đã “dọn dẹp” tất cả nên tôi yên tâm là tài liệu đã được di chuyển an toàn đến nơi cất giấu.
Trong ba lô chỉ có một cái mền bằng len do Trung Quốc dệt và hai bộ đồ trận vá chằng đụp bằng những miếng vãi bao cát, một ca nhựa đựng nước uống, một cái muỗng nhựa và một tô đựng thực phẩm cũng bằng nhựa đã nứt và được hàn lại bằng một miếng nhựa khác. Cái muỗng, cái tô và cái ca này đã theo chân tôi từ thời gian tôi bị bắt và nằm biệt giam ở nhà tù B-5 Tân Hiệp Biên Hòa ngày 16 tháng 8, 1975. Nó theo chân tôi về đến biệt giam khu ED rồi ra đến trại Hàm Tân Z30-C. Khi ra tới Hàm Tân trong một buổi tù ca đêm giao thừa Tết 1978, nổi hứng tôi dùng cái tô nhựa của mình làm trống khiến nó nứt toác ra. Việc kiếm để xin anh em một cái tô khác không phải dễ dàng và cũng không muốn phiền ai nên tôi dùng một cọng kẽm may chổ nứt toác ra rồi kiếm một miếng nhựa bể khác để hàn đè lên. Do không được khéo tay, vết hàn trông thật thảm hại. Nhưng trong tù nào ai cần bày biện làm gì, miễn sao có cái đựng là tốt rồi!
(Ghi chú: Đầu tiên nhiều cựu sĩ quan khi đi trình diện mang theo bên trong ba lô của mình nào là gà-mênh bằng sắt không bị rỉ, trên cán còn khắc chữ US. Cả những chiếc bi đông nước cũng vậy, có cả bao ngoài in chữ US bằng sơn đen.
Nhiều người còn mang theo cả cái ca đa năng cũng bằng sắt không rỉ. nhưng chính vì chữ US (United States) này mà những vật dụng bình thường này trở thành mục tiêu tịch thu của cán bộ công an trại giam. Lý do chỉ vì họ rất khoái những loại quân trang này của Hoa Kỳ và rất thích lấy lý do nội quy không cho xử dụng vật bén nhọn, vật dụng làm bằng nhôm, sắt, thép nên phải tịch thu. Trại “đền” lại bằng cách cấp phát cho mỗi tù cải tạo một bộ gồm ba thứ hoàn toàn bằng nhựa: tô đựng cơm, ca đựng nước và muỗng để múc. Giai đoạn sau này khi được thăm gặp gia đình, một số tù cải tạo nhắn người thân mang lên cho họ hàng bằng nhựa tốt hơn và đẹp hơn. Tuy nhiên, chúng tôi không muốn như thế.
Đã đi tù khổ sai, ăn đói, làm việc nặng, quần áo vá chằng, vá đụp, thì sá gì một cái tô hay cái muỗng bằng nhựa không vạ gì mà phải làm đẹp thêm cho một chế độ lao tù coi con người không hơn một con vật như vậy. Cho nên nhiều tù cải tạo giữ những vật dụng bằng nhựa này cho tới khi ra khỏi cánh cổng nhà tù dù đã phải hàn những chổ nứt bằng những cách dùng một bao bì bằng nylon hơ vào ngọn lửa cho chảy ra thành một chất nhựa dẽo rồi nhỏ xuống những vết nứt. Một số anh em tù cải tạo ý thức cao hơn cũng muốn mang theo những trang phục và vật dụng từng dùng hàng ngày trong tù về làm kỷ niệm khi họ nhận được giấy ra trại, nhưng hầu hết không ai mang ra được. Lý do dễ hiểu là trước khi cầm trong tay cái giấy xuất trại để ra khỏi cổng nhà tù, tư trang của họ vẫn bị khám xét , khám còn kỹ hơn lúc còn ở trong trại. Tất cả quần áo vật dụng dùng trong tù phải bỏ lại hết và không người nào được mặc quần áo rách hay vá khi ra cổng trại. tại những trại mà tôi trãi qua những người được thả không phải được kêu tên để nhận giấy ra trại về ngay đâu. Họ bị tập trung vào một khu nhà khác bên ngoài trại tù để khai lý lịch và nghe giảng chính trị. Sau đó người nào không có được một bộ quần áo nào lành lặn thì được cấp một bộ đồ tù mới may bằng vãi thô xám. Thành thử khi ra khỏi trại người tù cải tạo nào cũng ăn mặc tươm tất. Chỉ có nước da xanh mét và thân thể như cái xác ve của người tù cải tạo là có khả năng tố cáo chế độ lao tù khắc nghiệt dưới chế độ Cộng sản mà thôi).
Những bạn nào đã từng vô nằm “chuồng cọp” ở các trại tù cải tạo tất thắc mắc: đi cùm trong nhà kỷ luật cao lắm là một hai tháng, trại cần gì phải đưa tư trang cá nhân cùa tù vào làm gì? Quý vị thắc mắc cũng phải thôi, vì đây cũng là thắc mắc của chính tôi lúc đầu. Nhưng chỉ 10 phút sau khi cửa phòng biệt giam số 5 đóng lại, tôi hiểu ra ngay số phận của mình.
Tôi sẽ không có ngày ra khỏi phòng biệt giam này trừ phi bỏ thân nơi đây hay có một đột biến nào về chính trị ở bên ngoài trại giam. Những tiên đoán của tôi được kiểm chứng bằng thời gian gần 5 năm liên tiếp trong những cái hộp bé tí bị cô lập hẳn với thế giới bên ngoài trước khi tôi được chuyển về một trại bình thường và ở gần Sài Gòn hơn là ở trại Z-30 ở Xuân Lộc thuộc tỉnh Long Khánh, nơi trước đây đặt Bộ Chỉ Huy của Trung Đoàn 54 của Bộ Binh VNCH.
Ngay buổi chiều hôm đó, khi vẫn còn loay hoay chưa biết làm cách nào để liên lạc với Trần Danh San ở xà lim số 3 thì đã tới giờ lãnh khẩu phần cho bữa ăn tối. Trật tự Của là người chia thực phẩm cho các xà lim dưới sự giám sát của trực trại Luật. Tôi và San là những người cuối cùng trong khu biệt giam được chia thực phẩm. Của vào phòng lấy tô nhựa và ca đựng nước của tôi ra ngoài chia khẩu phần ngay trên bậc thềm của xà lim. Tôi thấy anh ta đếm đủ 5 lát khoai mì khô luộc và chan vào đó hai muỗng lớn nước muối. Sau đó dùng cái ca đựng nước của tôi thọc vào trong thùng nước uống, múc ra khẩu phần nước uống mà khi cửa biệt giam vừa đóng lại, tôi dùng ngón tay để đo mực nước trong ca. Tôi thấy chiều sâu khoảng nửa lóng tay. Rất nhanh tôi cầm ngay lấy tô khoai, một tay chận khoai mì, một tay nghiêng cái tô để lọc hết nước muối xuống thùng nước tiểu nằm trên một lối đi hẹp giữa hai bệ nằm, trước khi nước muối thắm đẫm vào khoai.
Do đã vào khu chuồng cọp một hai lần trước đó ở trại Hàm Tân cũng như trại này, tôi không còn mối lo sợ nào nửa, dù rằng tôi biết chắc lần nào vào năm nghỉ mát trong những cái hộp bé tí sẽ là lâu dài, tối thiểu cũng phải từ 3 đến 5 năm là giá chót. Xui hơn nửa thì có khi chưa đủ hạn đã phải ra nằm ngoài đồi thông rồi. Đồi thông là khu nghĩa địa cho tù nhân của các phân trại thuộc A-20, nơi có hàng vài trăm ngôi mộ, có những mộ bia bằng đá khắc tên họ tù nhân, ngày sinh và ngày qua đời, nhưng hầu hết dưới những ngôi mộ này chỉ có xác tù nhân bó chiếu hay bó cái chăn dạ màu đỏ do trại phát.
Quách Văn Trung một luật sư đồng hóa Thiếu Tá cảnh sát, nguyên chánh sự vụ Sở Ngoại Kiều dường như là người đầu tiên khi chết có được một cái áo quan do đội mộc đóng bằng ván ép. Hơn một năm sau khi đến phân trại E thuộc A-20, Trung là người mở đầu cho chương trình thăm gặp gia đình vốn rất hiếm hoi ở một trại trừng giới như Xuân Phước. Vào giờ đội của anh tập trung trước cổng trại để sẳng sàng ra đồng lao động sau khi ăn trưa thì anh được kêu tên ra gặp vợ. Sự xúc động hiện rõ lên nét mặt và anh luống cuống đứng lên để vào nhà giam thay một bộ quần áo tươm tất hơn. Đã trãi qua nhiều trại trước khi lên tới A-20 Quách Văn Trung vẫn cố gắng giữ cái quần Jean hiệu Lee màu xanh và chiếc áo Pull trắng hiệu Lactose. Trong mấy lần khám tư trang tại phân trại E, bộ quần áo của anh bị “tịch thu” nhưng Trung cứ đeo theo trực trại xin xỏ và hứa nếu được thăm nuôi sẽ bảo vợ mang lên trại bộ khác tặng cán bộ. Điều này khiên cho anh em trong trại không ưa anh và cũng có anh em đàm tiếu diễu cợt: “Anh Trung, anh là thiếu tá mà sao phải đến nổi như thế, nước mất, nhà đã tan, chúng lấy cả mạng anh còn được nửa huống chi mấy bộ quần áo”.
Không may khi mặc quần áo xong, leo từ tầng trên xuống toan xỏ chân vào đôi giầy thì anh gục xuống. Anh em khiêng lên bệnh xá nhưng không cứu được vì tai biến mạch máu não nghiêm trọng. Vợ anh vốn là một y tá bệnh viện, theo lời anh kể trước đó phải đi phục vụ chiến trường Campuchia mới trở về nhận được thư của chồng nên lên thăm anh ngay.
Buổi tối hôm đó bà Trung ngồi ngoài nhà thăm nuôi chờ đợi vì trực trại cho biết Trung vừa bị kỷ luật cần phải cứu xét, có thể sáng hôm sau mới gặp được. Cái xe cải tiến chở chiếc áo quan đi ngang qua nhà thăm nuôi hôm đó là do mấy anh em hình sự đẩy đi chôn Quách Văn Trung trên đồi thông. Bà Trung nhìn thấy nhưng không bao giờ nghĩ đó là chồng mình. Sáng hôm sau tại nhà thăm nuôi trực trại Luật báo cho bà biết chồng bà đã qua đời vì tai biến mạch máu não. Không thể tưởng tượng nổi trên thế gian này lại có sự dối trá, che đậy đến mức phi nhân như thế!
Khi bị trật tự Của đẩy vào xà lim số 5, lập tức tôi phải nếm ngay món ăn chơi đầu tiên của Lý “lé”. Hắn chọn vòng cùm nhỏ nhất là 16, nhưng với cẳng chân khẵng khiu của tôi vào lúc đó, vòng cùm này được coi như vẫn rộng. Lý “lé” bực mình gắt Của: “Có việc đó mà không làm được. lấy búa đóng nó hẹp lại”. Của đi kiếm búa đóng để cho miệng vòng cùm khép lại gần hơn, nhưng vô phương. Mỗi nhát búa đóng xuống vòng cùm nháng lửa nhưng vòng cùm vẫn trơ trơ. Cuối cùng hắn đành phải cùm hai chân tôi lại bằng hai vòng cùm 16. Sau đó Của bắt tôi cong người về phía trước để anh ta cùm thêm hai tay tôi vào thanh sắt 18- bắt qua bệ nằm bằng còng omega sau khi cởi chiếc áo lính tôi đang mặc, chiếc áo Ngọc “đen” may sẳn hai lớp vất xuống đầu nằm. Hắn nói: “Cởi áo cho mát, có thể dùng làm gối đầu”. Lại một lần nửa tôi tỏ thái độ không còn gì để mất. Tôi nói với Của: “Cán bộ bảo anh làm gì thì anh cứ việc làm nhưng đừng có diễu cợt mất dạy như thế”. Khi Của mới đạp tôi một đạp từ sau lưng làm tôi choáng váng và có cảm tưởng xương sống gãy lìa thì có tiếng trực trại Luật: “Của, ai cho anh làm vậy?” Lý “lé” đứng ngoài không nói gì. Luật tiếp tục lớn giọng với Của: “Tôi đưa chìa khóa cho anh nhưng anh phải chờ tôi vào mới được mở hay đóng cửa biệt giam. Anh làm việc với tôi hay làm việc với cán bộ Lý?” Luật ra lệnh tháo cùm tay cho tôi rồi đích thân khóa cửa xà lim số 5. Bên ngoài phòng giam, ở trước khu biệt giam, một trận cãi nhau, mày tao chi tớ, diễn ra giữa Luật và Lý “lé”. Trận cãi cọ chắc không bắt nguồn từ nguyên nhân một bên nhân đạo với tù cải tạo hơn và một bên thù hận ngập tràn. Lý “lé” người Quảng Bình và Luật người Nam Định, nhưng có thể nguyên nhân dẫn đến xích mích bắt nguồn từ sự tranh giành cưa ghế nhau.
Lý “lé” làm cán bộ an ninh phân trại bề ngoài là người quyền hành chỉ sau trại trưởng. Anh ta còn kiêm nhiệm vai trò chính ủy. Nhưng thực tế, ngôi vị này có tiếng mà không có miếng. Còn Luật chỉ là trực trại nhưng cai quản cả ngàn tù nhân, trong số tù cải tạo chúng tôi có lẫn vào những ông “vua” bị kết án từ chung thân cho đến 20 năm trong đợt đánh tư sản mại bản. Phần lớn những ông “vua” này là người Hoa và rất nổi tiếng là người cầm trịch nền kinh tế VNCH trước 30 tháng 4, 1975 như Lý Sen, Lưu Trung, Trương Dĩ Nhiên. Báo chí Sài Gòn từng có thời gọi các “xì thẩu” Lý Sen. Lưu Trung, Trương Dĩ Nhiên và Lý Long Thân là “tứ trụ triều đình” Chợ Lớn. Một triều đình với hình ảnh mờ mờ, ảo ảo bên cạnh Dinh Độc Lập nhưng lại là yếu tố quyết định đối với đời sống hằng ngày của dân chúng thủ đô Sài Gòn và các tỉnh, từ giọt xăng, hạt gạo, hộp sữa đến những chiếc máy cày, máy đuôi tôm và nộng cụ không thể thiếu được trong nền kinh tế vẫn còn nặng về nông nghiệp.
Dưới chế độ VNCH họ là những ông vua thật sự, lũng đoạn nền kinh tế quốc gia công khai ngay trước mắt quyền lực của Dinh Độc Lập. Nhưng sau 30 tháng 4, 1975 họ chỉ còn làm vua ở trong các nhà tù Cộng Sản. Quà thăm nuôi của họ là những bao bố chỉ xanh chứa đầy thịt muối, lạp xưởng, thuốc lá, thịt hộp, sữa bột và một nửa phần quà đó là dung để “biếu xén” cán bộ trại, trong số đó dĩ nhiên không thiếu trực trại Luật. Lưu Trung một ông Tàu Chợ lớn thâm trầm hơn dường như là đầu tàu của các xì thẩu trên nên đã có lần cảnh cáo Lý Sen vì ông Tàu này có lẽ sinh ở gần kho đạn thành thử hay nổ về cách làm ăn trước 30 tháng 4, 1975: “Lù mẹ…tiền nị bao nhiêu mà miệng lúc nào cũng như ống nhổ chớ…Chung quanh..anh em người ta khổ quá mà sao nị cứ khoe của vậy. Coi chừng cái lưỡi bị cắt lúc nào không hay á..” Bị giải giao lên Xuân Phước khoảng một năm các xì thẩu này được kêu tên khăn gói quả mướp ra về để được “tống xuất” ra nước ngoài sau khi đã để hết tài sản ở lại Việt Nam. Mãi về sau này khi được thả ra khỏi trại giam một vài nguồn tin nói với tôi rằng Cộng Sản đưa những ông vua này lên A-20 cũng chỉ là để áp lực họ khai báo hết tài sản còn lại và chịu ký giấy “bỏ của chạy lấy người” sang Hồng Kông. Trong khi nhiều anh em sau này gặp nhau bàn tán mãi chuyện cải lãy căng thẳng giữa Luật và Lý “lé” để suy diễn ra nhiều “hot news” có liên quan đến các ông vua nghe rất tức cười. Cá nhân, tôi coi câu chuyện không có gì đáng để ý cả mà điều đáng để ý là làm sao đối phó với những đòn trừng phạt trong những tháng đầu tiên trong chuồng cọp, chứ còn sau đó nếu còn sống tôi vẫn tin rằng mình thích ứng được với môi trường mới. Cú đạp của trật tự Của làm cho lưng tôi ê ẩm nhưng vẫn cố gắng vặn vẹo để xem mình có đến nỗi nào không. Thấy vẫn có thể nằm ngửa và tự mình ngóc đầu dậy không khó khăn lắm, tôi yên tâm với cái áo lính mặc vào, kéo cái thùng tiểu rồi cố gắng uốn mông ra khỏi bệ nằm rồi tiểu thử xem có gì khó khăn không. Người bị cùm hai chân mỗi lần đi tiêu hay tiểu là một cực hình. Đây đúng là trò không những hành xác mà còn là một nhục hình tàn bạo. Ánh năng trưa lọt qua lỗ tò vò cũng đủ làm cho tôi thấy rõ một bức họa trên bức tường được những người vào trước tôi vẽ lại, gồm máu muỗi, những lời lẽ bậy bạ, những ô vuông gạch chéo để đánh dấu số ngày họ bị biệt giam. Nhưng tôi đặc biệt chú ý tới mấy câu thơ được khắc trên tường.
Tác giả khắc theo kiểu thư pháp rất đẹp và đầy nghệ thuật với nội dung như tôi trích dẫn hai câu trên đầu bài: “Thôi thì thôi mộ người tà dương. Thôi thì thôi nhé đoạn trường thế thôi”
Chỉ có hai câu thơ của bài “Động hoa vàng” trong hoàn cảnh ấy cũng đã vẽ lên trước mặt tôi bức tranh thủy mạc tuyệt đẹp mà Phạm Thiên Thư đã cung hiến cho đời. Câu thơ ấy lần đầu tiên kể từ ngày tôi đi tù và phải đối phó với sự hành hạ rất căng thẳng của kẻ chiến thắng đã có khả năng làm trái tim nguội lạnh của tôi sống lại hình ảnh của Ty1 khi nàng thăm gặp tôi lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng tại nhà tù Chí Hòa trước khi tôi bị đày đi trại lao cải. Hôm đó nàng mặc chiếc áo bà ba trắng và chiếc quần dài đen. Với 15 phút gặp mặt mỏng manh chúng tôi không nói được điều gì nhiều với nhau ngoài chuyện hỏi thăm sức khỏe và nước mắt. Tôi cũng không thể nắm tay Ty và ôm mẹ tôi bởi vì lúc đó người tù cải tạo nào bị đưa về Chí Hòa thẩm cung cũng đều bị ghẻ kềnh ghẻ càng. Ty chỉ kịp đưa cho tôi bức hình chụp bán thân của nàng và mấy câu chú viết bằng chữ Hán của bộ kinh Lăng Nghiêm rồi nàng dẫn mẹ tôi theo đoàn người bước ra cổng trại.
1. Tôi gặp lại Ty 17 năm sau ở Nam California và hai năm sau đó chúng tôi lập lại gia đình và sống với nhau cho tới nay cũng đã gần 20 năm
Nhà tù của tôi rất nhiều tiếng gọi không thể vọng ra bên ngoài Những tiếng gọi bỡn đùa sự hoang vắng những tiếng gọi chọc cười niềm trắc ẩn mà tôi nghe ròng rã nghìn đêm mà tôi nghe tưởng đã khùng điên bởi mỗi lần một tù nhân vĩnh biệt Báo cáo cán bộ: Cachot có người chết
Thế giới vẫn phóng lên sáng rực tín hiệu nhân quyền Và nhà tù của tôi vẫn bóng tối triền miên ở biệt giam hàng chục kiểu còng ngồi còng đứng còng chéo hai tay còng chung một cụm còng rướn ngón chân còng dộng ngược đầu còng khoan dung một lối chết thật lâu để thấm thía lòng yêu tự do dân chủ Báo cáo cán bộ: Cachot có người tự tử
Nhân loại thường cảm thông nỗi khổ rất mùa màng và phải rất thời trang nên cụ thể dễ biến thành trừu tượng Nỗi khổ khác hẳn niềm sung sướng nó cần quên ngay nó không được phép rên xiết dài dài Một đêm mưa lạnh tôi nghe tiếng trẻ thơ kêu kinh hoàng trong hiu quạnh Bố ơi bố ơi Mẹ chết rồi
Anh khó hiểu nổi nhà tù của tôi Người cha bị lưu đầy ra hải đảo Người mẹ mang bầu dắt con theo cải tạo
Bài thơ nhan đề Tiếng gọi không thể vọng ra ngoài tôi làm ở khu AH Chí Hòa. Bài này và 15 bài khác không có trong tập Thơ Tù1) nhưng tôi đã cho dịch sang Pháp văn trọn vẹn 30 bài thơ tù của tôi, 30 bài thơ tôi đã đọc ỏ Centre Pompidou, Paris; Theatre Action, Grenoble; Salle des fêtes, Paris 7è. 2
Đề lao Gia Định và Chí Hòa gây cho tôi nhiều cảm hứng thơ. Phải đợi qua AH, “đời sống” thoải mái, tôi mới sáng tác. Ở bài Chút tâm sự của người làm thơ trong tù, trên đầu tập Thơ Tù, tôi đã viết rõ, tưởng chẳng cần diễn tả thêm. AH mỗi ngày mỗi vơi bạn tù tốt nên phải dùng thơ lấp vào. Ông Tư Nhì đã được tha. Anh Võ Xuân Đình, anh Mai Đức Khôi đã đi lao cải. Ở nhà tù, mỗi lần chia tay kể như mỗi lần vĩnh quyết. Tôi nghĩ nên ghi cái cảm xúc ấv vào thơ. Ít ra, nó cũng bớt ẩn ức vô tích sự. Thế thì, tôi đã làm khá nhiều thơ, ở Chí Hòa. Khác với Đoàn Kế Tường, buồn quả hóa khùng, khùng quá cứ nhè ông Phạm Quang Khai mà sinh sự. Mấy ông tư sản mại bản Việt Nam có thú vui khó ngửi. Là thường xuyên khoe khoang sự phú quý đã trở thành “vang bóng một thời.” Lại khoe oang oang:
– Thằng út nhà tôi sang năm tốt nghiệp kỹ sư điện tử. Con cháu gái lớn, tiến sĩ kinh tế rồi.
– Các cháu tôi cũng tiến sĩ, kỹ sư hết.
Đoàn Kế Tường xía vào:
– Chưa hay đâu. Con cu ly bến tầu, con điếm, con ma-cô tốt nghiệp tiến sĩ, kỹ sư mới bảnh. Còn con cái bọn làm giầu bằng chiến tranh, muốn bảnh và xứng đáng khoe khoang phải đậu bằng cấp ma-cô, đĩ điếm, trộm cắp!
Các nhà tư sản mại bản nín thinh. Vì đúng quá. Lần khác, một nhà tư sản mại bản cao hứng kể thành tích đóng góp cho công cuộc chống cộng:
– Tôi đã tặng thương phế binh 200 xe lăn, mỗi Tết đều lì xì cảnh sát quốc gia vài triệu.
Đoàn Kế Tường nổi giận:
– Ông hút máu họ 2 lít, ông chích cho họ một ống sérum. Mà ông xuất tiền túi bao giờ? Ông bị phạt thuế, xin xỏ tiền phạt mua xe lăn tặng lính què. Của sở thuế, phúc ông. Ông lưu manh số một.
Nhà tư sản mại bản lại nín thinh. Cứ vậy, tối ngày, Chí Hòa công kích lẫn nhau khiến hồn thơ của tôi bay lên cachot. Tôi bắt đầu thèm động. Cái động lao cải ở trại tập trung. Con người bị giam hãm một nơi chật chội quá lâu đâm ra bẩn tính, hẹp hòi, cố chấp. Riết rồi, chỉ thấy ở nhau những điều xấu xa mà quên ở nhau những điều tốt đẹp. Và rồi, khi thoát đời tù vẫn quên những điều tốt đẹp mà chỉ nhớ những điều xấu xa nẩy sinh ở nơi tù túng, nơi con người bị xếp dưới hàng con vật. Tôi nghĩ, sống mãi với cái tĩnh, cái tĩnh ao tù của Sở Công An, của đề lao Gia Định, của Chí Hòa, da đã mỏng, thịt đã bủng mà hồn càng mỏng, càng bủng. Như bốn ngày bị Tư Long cúp nước, mọi người gần gũi nhau, thông cảm nhau. Như những ngày thoải mái AH, mọi người xa rời nhau, khó chịu nhau cả túi thăm nuôi lớn và túi thăm nuôi bé. Buồn, nản nhất là chỉ tù nhân Việt Nam gấu ó tù nhân Việt Nam. Tù nhân Ba Tầu không gấu ó nhau, không quan tâm đến sinh hoạt của tù nhân Việt Nam. Tôi thèm cái động của lao cải. Để xem, ngoài trời, con người tù có cao cả hơn, đại lượng hơn.
Phòng của chúng tôi lại thu nhận những người bệnh kiết lỵ bị cách ly trả về. Vi trùng Amibe khinh thường “thuốc dân tộc” của chế độ cộng sản. Bệnh kiết lỵ khó tiêu diệt ở nhà tù. Tôi thấy một điều thật mâu thuẫn. Những người mắc bệnh tiêu chẩy “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” lên kiết lỵ đều thuộc… giai cấp “con bà phước,” giai cấp vô sản chính thống trong nhà tù. Giai cấp tư sản ăn thịt bò bíp-tếch “ướp muối” cả tuần, ăn gà rô-ti thiu “ướp muối” cả tháng, đâu có bị tiêu chẩy, kiết lỵ. Tôi đã ăn, ròng rã mấy năm, thịt kho ướp tầu vị ỵểu trong keo nhựa đến nỗi thịt chua lè. Mà vẫn không hề bị tiêu chẩy, kiết lỵ. Nhưng “con bà phước” ăn cơm, ăn bột luộc, ăn bo bo với canh bí nấu muối thì bị Tào Tháo đuổi tơi bời. Mâu thuẫn này nặng nề ngoài đời. Kẻ nghèo suốt đời kiết, dẫu cách mạng vô sản là cách mạng của người nghèo. Công an khu vực chơi với vô sản chính thống thì đói, chơi với tư sản thì no, lại còn được tặng quần bò3 của con cháu tư sản phản động theo Mỹ gửi về. Những kẻ chống cộng sản đã không chịu khai thác kỹ lưỡng cái mâu thuẫn này.
Để tôi đếm những bạn tù đề lao Gia Định của tôi xem còn ai: Hoàng Mạnh Hùng, Đặng Hải Sơn, Đoàn Kế Tường, Dương Đức Dũng, Phạm Quang Khai. Tư tưởng chiến đấu mới của tuổi trẻ rải rác trong tiểu thuyết của tôi bắt nguồn từ những buổi thầm thì đàm thoại với Hoàng Mạnh Hùng ở nhà tù. Anh ta quy định rõ rệt Hà Nội là phỉ quyền, Sàigòn là ngụy quyền. Từ sau chính biến tháng 3 năm 1945, Việt Nam chưa có chính quyền. Người Việt Nam chân chính phải chiến đấu để tạo dựng một chính quyền thì mới giương danh chính nghĩa quốc gia. Anh ta chống đổ máu, chống tàn sát thêm ở Việt Nam. Tàn sát 500 tên lãnh tụ lớn, nhỏ của cộng sản Việt Nam. Là đủ. Hạnh phúc phải được ban phát cùng khắp. Tốt nghiệp tiến sĩ bên Mỹ, về nước anh ta khước từ chức vụ Thứ trưởng Văn hóa Giáo dục, dạy ở Thủ Đức. Vợ con đi Mỹ trước cả 1975, anh ta ở lại chiến đấu. Tồi đồng ý với anh ta nhiều điểm. Đặng Hải Sơn, nghị viên đơn vị Tùng Nghĩa, không tái tranh cử vì không thích làm bù nhìn nữa. Anh ta tâm sự một câu đáng suy nghĩ: “Phải ra Cam Ranh, nhìn thông non Đà Lạt mà Trần Thiện Khiêm và bè lũ bán cho Nhật, nó chặt ngọn, chặt gốc vất lại, chỉ lấy một khúc giữa thôi, khi ấy không yêu nước sẽ thấy yêu nước.” Đặng Hải Sơn về Sàigòn làm báo, chủ trương cơ sở xuất bản Hải Âu với Trần Dạ Từ. Anh ta cùng quan điểm với Hoàng Mạnh Hùng. Tôi rất quý mến Đặng Hải Sơn. Anh ta trầm tính, sâu sắc 4. Đoàn Kế Tường và Dương Đức Dũng kể và vẽ sơ đồ cachots đề lao Gia Định, Chí Hòa thật chi tiết cho tôi nghe. Nhờ đó, tôi mô tả cachot FG không sai mấy.
Bạn tù tôi đã sống với họ, đã vui buồn cùng họ từ Gia Định rồi lại sống với họ, vui buồn cùng họ bên Chí Hòa còn có năm người. Chẳng biết hôm nào chúng tôi vĩnh biệt nhau.
° ° °
Giữa tháng 11 năm 1978, cai ngục Thuận đem đến một danh sách. Hắn ta đứng ngoài hành lang đọc lớn:
– Nguyễn Mạnh Côn.
– Có.
– Đặng Hải Sơn.
– Có.
– Nguyễn Thái Hà.
– Có.
– Vũ Mộng Long.
– Có.
– Chuẩn bị đồ cá nhân.
Cả phòng xôn xao. Khai Trí, Phạm Quang Khai, Nguyễn Công Kha thở phào. Vì thoát lao cải. Đoàn Kế Tường, Dương Đức Dũng buồn hiu. Vì danh sách thiếu tên mình. Cửa phòng mở. Đằng Giao hớt hãi vào:
– Tôi cũng đi.
– Không đọc tên ông mà.
– Thằng Thuận bảo tôi về chuẩn bị hành lý.
Thu xếp hành lý thật nhanh. Chúng tôi còn thì giờ tạm biệt nhau, ông Khai bắt tay tôi:
– Ông đi may mắn.
– Cám ơn ông.
Đoàn Kế Tường ôm lấy tôi, khóc như con nít. Tôi nhớ lời hai của Đoàn Kế Tường ở Trả lại em yêu của Phạm Duy, bèn rống lên lấy khí thế cơ hồ Kinh Kha qua Dịch Thủy:
… Anh sẽ ra đi về tận miền Bắc Anh sẽ ra đi Chẳng mong ngày về Trả lại em yêu Chí Hòa chật chội Kỷ luật Tư Long Ngón đòn cu Phách Buổi chiều thăm nuôi Ngóng hoài em tới Nuốt nhanh miếng thịt Nuối tim con mình…
Cai ngục Thuận đã trở lại. Chúng tôi rời phòng. Giã từ AH. Giã từ phòng giam đã giúp mình thoát chết bệnh đau màng óc. Tôi đeo bị, xách giỏ, bước xuống dưới, ngồi xếp hàng cạnh phòng của các tù nữ. Ở đâv, đã có một nhóm tù ngồi đợi lệnh. Sau khi gom đủ số tù nhân các khu ghi trong danh sách, cai ngục Thuận dẫn chúng tôi sang khu BC.
Cai ngục khu BC tiếp nhận chúng tôi, điểm sổ, điểm danh, ký tên vào danh sách rồi đưa chúng tôi lên lầu 3. Tôi biết thêm BC. Chí Hòa bát giác hay Chí Hòa bát quái có bốn khu, tôi đã đặt chân lên ba khu. BC chỉ là chỗ dừng chân, lâu nhất chứng hai tuần lễ. Từ đây, tôi sẽ bị tống đến một chân trời lao cải nào đó. Ở phòng mới BC toàn tù nhân lạ và chung một tội: Phản động. Chung một tội không phải là chung một tâm sự. Trong lịch sử chống cộng sản ở Việt Nam, chưa giai đoạn nào “phồn thịnh” như giai đoạn này.
Đủ tầng lớp quần chúng chống cộng sau 30-4-1975. Trí thức có. Bình dân có. Nông dân có. Công nhân có. Nghèo có. Giàu có. Ông già có. Niên thiếu có. Phụ nữ có. Sinh viên có. Học sinh có. Thậm chí, lơ xe đò, phu nhà đòn cũng nức lòng tham gia các tổ chức chống cộng sản. Tù nhân chính trị hiện hành đông hơn tù nhân sĩ quan và viên chức chế độ cũ trình diện học tập cải tạo. Chẳng ai biết, chẳng ai đếm xỉa đến cái khối tù nhân chính trị vô danh này. Thế giới thường băn khoăn cho số phận mấy ông công chức cao cấp phủ Tổng thống. Và muốn cứu các tù nhân… tư tưởng nàv! Để giải trí cho đỡ buồn thì can thiệp với Nhà Nước cộng sản thả ông sư vượt biên, ông cố đạo vượt biên, ông nghị sĩ hay ông bộ trưởng đều phúc đức cả. Những kẻ chiến đấu đích thực không cần ai can thiệp xin tha. Chiến đấu là chấp nhận thiệt thòi. Anh lơ xe đò, anh phu nhà đòn, chắc chắn, không bao giờ thèm quan tâm cái tước vị Chủ tịch hay Tổng thống. Nhưng vào tù, các anh khổ hơn những ông chiến đấu với âm mưu Chủ tịch, Tổng thống. Hiển nhiên, các anh ấy sẽ bị liệt vào giai cấp “con bà phước.” Chung một tội mà không chung một tâm sự là vậy.
Ổn định chỗ nằm xong, Đằng Giao hỏi tôi:
– Mình sẽ đi đâu, ông thầy?
Tôi lắc đầu:
– Chịu.
– Tôi thèm đi xa.
– Tận nơi nào?
– Sơn La, Lào Kay..
– Nếu chúng ta là sĩ quan, là viên chức cao cấp, là nghị sĩ, là dân biểu. Bọn mình là nhà văn, nhà báo độc lập, thiếu “hân hạnh” thăm Lăng Bác. Chỗ xa nhất, theo tôi, mình có thể đến là Gia Lai, Kontum.
– Trại Gia Trung.
– Có cả chục trại ở Gia Lai, Kontum. Được nhập trại Gia Trung, mình sẽ gặp các ông Doãn Quốc Sĩ, Mặc Thu, Thái Thủy, Thanh Thương Hoàng, Trịnh Viết Thành, Chóe, Tô Ngọc…
– Tôi muốn mình đến một nơi nó cấm mình thư từ về và nhận thư từ đến. Kéo dài thêm sự vô vọng của vợ con, tôi nản quá.
– Bạn ơi, tôi cũng muốn vợ con tôi coi như tôi đã chết.
Không có tù nhân nào bất hạnh hơn tù nhân không được xét xử, không có án phạt. Chúng tôi mòn mỏi. Vợ con chúng tôi mòn mỏi. Tôi cảm tưởng tôi tù trong, vợ con tôi tù ngoài. Sự trừng phạt của hận thù khiếp đảm quá. Tôi đã viết bài thơ tặng nó.
Gửi cho anh đôi mắt để anh ráp trên khuôn mặt hận thù Nó sẽ biết nhìn sự trơ trẽn ngục tù và nó thấy nó bọ hung lầm lũi
Gửi cho anh cái mũi để anh ráp trên khuôn mặt hận thù Nó sẽ biết ngửi mùi tanh tưởi cachot và nó thấy nó côn trùng câm nín
Gửi cho anh cái miệng để anh ráp trên khuôn mặt hận thù Nó sẽ biết ăn thực phẩm trâu bò và nó thấy nó nghìn năm rác rưởi
Gửi cho anh cái lưỡi để anh ráp vô họng hận thù Nó sẽ biết tập tành nói chuyện thương yêu, lãng mạn, mộng mơ và nó thấy nó xụt xùi muốn khóc
Gửi cho anh bộ óc Gửi cho anh trái tim Gửi cho anh ái tình Gửi cho anh cuộc đời dạt dào cảm xúc Gửi cho anh con người hào hoa đích thực Gửi cho anh gửi tặng hận thù
(Thư Tù, trong tuyển tậpPoèmes de prison).
Gửi tặng thù hận hay gửi tặng những kẻ nuôi dưỡng thù hận dân tộc, thù hận con người?
– Tôi xuống tinh thần rồi, ông thầy ạ!
– Xuống tinh thần nguy hiểm lắm.
– Chết là cùng.
– Chết dai dẳng, chết không đúng ý mình muốn. Mà chết vô ích. Ngu sao chết, sống để nhìn chứ. Bạn ơi, coi như mình chết thì được, chết thật thì không nên. Niềm bí ẩn của đời sống thường đến thật chậm. Bạn biết chúng ta sống bao nhiêu ngày trong tù chưa?
Đằng Giao tính nhẩm:
– 31 tháng, tức là 930 ngày.
Tôi nói:
– Cổ nhân phán: Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại. Ta cứ coi rằng một ngày tù của cổ nhân bằng một ngàn ngày tù cộng sản của ta, thì 930 X 1000, ta đã nằm tù 930,000 năm rồi bạn ạ! Ta nhập cõi từ khuya, lo chi chuyện sống chết.
Đằng Giao cười méo xệch:
– Ông thầy an ủi tôi hay an ủi ông thầy?
Tôi chớp mắt:
– Ta an ủi nhau, Đằng Giao ạ!
Quả thật, chúng tôi đã trải qua 930,000 năm ở Sở Công An, ở đề lao Gia Định, ở Chí Hòa. Có gã tù nhân nào đó đã ngạo nghễ nói: “Mười năm tù như một giấc ngủ trưa.” 930,000 năm chỉ là 930,000 giấc ngủ trưa. Thu nó lại, 930 ngày mới bằng một góc giấc ngủ trưa. Có chi phải ồn ào cái nỗi tù đầy của mình nhỉ?
Chúng tôi ở BC đã đuợc một tuần, sinh hoạt như AH. Đằng Giao bị chỉ định làm Trưởng phòng. Mỗi sáng nhìn sang AH, tôi thấy quần áo phất lia. Bèn hiểu là Đoàn Kế Tường, Dương Đức Dũng hỏi thăm mình. Ở BC, nhìn xuống hồ tắm, tôi thấy rõ bộ trưởng Ngô Khắc Tĩnh hơn. ông vốn thấp, mặc quần xà lỏn, áo thung, ông càng thấp, ông Thợ Lặn 5 hết ngụp lăn trong danh vọng quyền bính mà lặn ngụp trong ngục tù. Ngắm ông xách hai thùng nước bỗng tội nghiệp ông vô cùng.
Đến ngày thứ 10, một cán bộ hồ sơ đến phòng, mở rộng cửa “làm việc” với chúng tôi. Chiếc bàn gỗ kê sát cửa. Anh ta gọi tên từng tù nhân và yêu cầu tù nhân bước gần bàn, đứng nghiêm, đọc sơ yếu lỷ lịch của mình để anh ta xem hồ sơ ghi đúng hay sai. Mỗi tù nhân riêng một hồ sơ đựng trong một tấm bìa. Đằng Giao, Nguyễn Mạnh Côn “can tội văn nghệ sĩ phản động,” cán bộ hồ sơ xác nhận đúng. Anh ta nói thêm:
– Các anh đi lao động cải tạo đúng 3 năm thì về. Còn vài tháng nữa thôi, án phạt tính từ ngày các anh bị bắt.
Đến lượt tôi khai “can tội nhà vàn phản động” cán bộ hồ sơ lắc đầu:
– Anh nghề nghiệp “nhà văn phản động”, can tội đảng viên Duy Dân trốn trình diện học tập, trong tổ chức chống phá cách mạng hiện hành. Nhưng anh cũng đúng 3 năm là được tha.
Tôi bàng hoàng giây lát. Rồi tôi xét lại Hai Nghiêm và lão cán bộ của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Trung ương 6. Cộng sản không bao giờ nói thật. Cộng sản chơi trò giả đạo đức rất tài. Tôi quên mất lời khuyên của người công an chấp pháp miền Nam đã “làm việc” với tôi lần đầu tiên ở Sở Công An: “Trong tù, tuyệt đối không tin ai.” Nhưng mà tội gì thì tội, không được xét xử, không có án phạt thì ngày về xa lơ xa lắc. Tôi không tin lời anh cán bộ hồ sơ nữa. Đằng Giao càng không tin. Tù nhân tự hào là mình từng đi guốc vào bụng cộng sản, mình đã nằm tù cộng sản năm 1948 là Nguyễn Mạnh Côn, thì tin tưởng ra mặt.
Trật tự đem cơm trưa hôm ấy là con trai của nhà thơ phúng biếm nổi tiếng một thời, can tội trộm cắp. Cậu ta cho chúng tôi biết chúng tôi sẽ rời Chí Hòa sáng sớm ngày mai.
– Đi đâu?
– Cháu không biết.
– Gần hay xa.
– Còn tùy.
– Tùy gì?
– Tùy thực phẩm ăn đường. Nhà bếp đang lo luộc bột. Hễ các chú được phát ít thì đi gần, phát nhiều thì đi xa.
Cậu con trai của nhà thơ nói đúng. Sáng sớm hôm sau, trước giờ kẽng báo thức, chúng tôi được lệnh rời phòng. Vệ binh võ trang giải chúng tôi xuống sân vòng ngoài. Tôi không còn thấy bên trong Chí Hòa. Vĩnh biệt nó, vĩnh biệt FG, AH, BC. Chúng tôi bị chia thành bốn nhóm, đứng xếp hàng đôi. Kẽng báo thức điểm một lúc thì bốn chiếc xe vận tải chuyên chở súc vật chầm chậm chạy vào. Rồi xe quay đầu lại. Nhóm chúng tôi đầu danh sách nên được “chiếu cố” trước. Cán bộ hồ sơ, hôm nay, mặc đồng phục công an nhân dân, đeo súng ngắn. Vệ binh rất đông, kè kè AK nạp đạn.
– Nguyễn Mạnh Côn.
– Có.
– Lên xe!
Người ta phát cho mỗi tù nhân một cục bột luộc khá lớn. Đi gần thôi, tôi nghĩ thế. Tù nhân ném hành lý lên sàn xe rồi leo sau. Không có thang. Mỗi chiếc xe tải nhồi nhét 50 thằng tù. Chở heo, tối đa, 30 con. Đằng Giao và tôi lên xe sau cùng. Trần xe và thành xe đan lưới sắt lợp vải bố. Cửa sau là song sắt lớn, hàn xì vững chắc. Tù nhân lên xe xong, cửa khóa chặt và vải bố buông kín. Tuy nhiên, vẫn có thể he hé vải bố nhìn ra. Tôi thấv, trên nóc ca-bin xe sau tôi, một vệ binh ôm súng ngồi. Trong ca-bin, một vệ binh khác. Ngoài ra, còn một chiếc jeep gắn đại liên. Đảng và Nhà Nước cộng sản võ trang hùng hậu dẫn độ đám tù ốm đi học tập cải tạo.
– Ông thầy đoán thử, nó đưa mình về nghĩa địa nào? Đằng Giao hỏi.
– Lát nữa sẽ biết. Tôi nói.
– Thử cho đở buồn.
– Nếu xe ra đường Lê Văn Duyệt, rẽ trái là mình đi Kà Tum, Trảng Lớn.
– Rẽ phải?
– Lại đợi đến bùng binh đường tầu. Rẽ phải, ta về miền Tây, ta vô trại Vườn Đào ở Cai Lậy hay xuống Năm Căn, Cái Đước… Đi thẳng rồi rẽ trái, ta xuôi chiều Phan Thanh Giản ra xa lộ Biên Hòa. Hễ qua cầu Đòng Nai, ta ra miền Trung. Mà một cục bột, tôi cho rằng, mình ghé Rừng Lá thôi.
– Có thể Long Thành, Suối Máu chăng?
– Với cộng sản, cái gì cũng có thể.
Xe đã chuyển bánh lạo xạo trên lớp đá răm. Lát sau, nó qua cổng khám lớn Chí Hòa mà cách mạng vô sản gọi là Trại cải Tạo Trường Kỳ. Bây giờ mới thực sự giã biệt Chí Hòa, nơi chốn mà nô lệ hay độc lập, cách mạng nhân vị hay cách mạng vô sản, chỉ thấy người Việt Nam bắt nhốt người Việt Nam, chỉ thấy người Việt Nam đọa đày người Việt Nam. Xe đang chạy từ từ. Đường Hòa Hưng đây. Tôi hé tấm bố, cố tìm một cách vô vọng xem có thấy vợ con mình ngơ ngác đứng trên hè phố đợi chuyến xe tù ngang qua. Cảnh tượng đìu hiu vô cùng. Tấm bảng quán Ly Tao của danh ca Ngọc Long đã hạ. “Kẻ đi, người lại dáng lao xao.” Đằng Giao và tôi căng mắt nhìn Saigon. Xe rẽ bên phải. Chúng tôi thoát Kà Tum, Trảng Lớn. Xe qua bùng binh đường tầu, chạy thẳng luôn. Chúng tôi hết về miền Tây. Xe rẽ xuôi chiều Phan Thanh Giản. Tôi phải nhường chỗ cho anh em khác. Cũng chẳng thích ngắm thêm nỗi ưu phiền giăng mắc kín thành phố thân yêu cũ.
Tôi đã vỡ lòng cay đắng ở sở Công An. Tôi đã nhập môn thống khổ ở đề lao Gia Định. Đau thương của tôi, tôi rấm ở Chí Hòa, kể như đã chín. Đã chín những hệ lụy trong cái tĩnh của nhà tù. Còn những hệ lụy nào nữa, sắp phơi ra cái động của trại tập trung. Tôi sẽ mang về cái gì hay chẳng bao giờ mang về cái gì. Tôi sẽ tồn tại hay tôi sẽ bị hủy diệt. Điều đó không quan trọng, không cần thiết. Sự quan trọng là biết sống và dám uống tới giọt đắng cuối cùng của cuộc sống. Tôi sẽ cố gắng sống với hy vọng được thưởng thức giọt đắng cuối cùng của cuộc sống. Để khôn lớn và để không thẹn làm người.
Amnesty International và International Pen, trong những thư gửi cho nhà cầm quyền Việt Nam can thiệp trả tự do cho tôi, đều được trả lời: Duyên Anh không phải là nhà văn. Và họ đã khước từ phái đoàn AI xin gặp tôi tháng 8-1978. Nhưng trong Giấy Ra Trại, họ vẫn ghi tôi can tội “nhà văn phản động”.
Chiến dịch đánh tư sản năm 1978 tàn bạo đến nỗi Chí Hòa leo thang tù nhân. Phòng của tôi chứa 90 người. 90 người thay phiên lên “sân khấu”, điều này thôi đã đủ nói lên sự bi đát của chế độ ngục tù cộng sản. 90 tù nhân một cái cầu tiêu hạn chế nước xối. Khó mà hiểu tại sao tôi còn sống sót. Khó mà hiểu tại sao chúng tôi còn sống sót. Khó mà hiểu tại sao con người có thể vượt qua những hình phạt của thù hận để tồn tại. Và, càng khó mà hiểu tại sao con người thích trừng trị con người nghiệt ngã thế. Tôi đối nghịch tư tưởng cộng sản, người cộng sản bắt tôi, giam nhốt tôi, hành hạ tôi là điều “công bình, hợp lý” nặng tính chất lê-nin-nít. Nhưng cơ man đàn bà buôn bán và con cái họ vì sự “hợp lý” nào mà phải vào tù, phải ngồi bó gối suốt đêm ở sân Chí Hòa, khóc lóc sầu thảm? Ánh sáng quang vinh của Đảng có vinh quang thêm? Marx không bần tiện thế. Engels không bần tiện thế. Chỉ có lãnh tụ cộng sản Việt Nam mới vô liêm sỉ bắt đàn bà, con nít lùa vào các nhà tù về tội buôn bán mà họ nâng quan điểm lên hàng tư sản. Suốt đời, tôi mãi mãi bị ám ảnh bởi tiếng khóc khô cổ nghẹn lời của những người vợ, chồng đã bị lưu đầy, vợ con còn bị tước đoạt chỗ dung thân, bị tống vào tù, bị phơi nắng, dầm sương hai ngày đêm mới “nghiên cứu” phòng nhốt dồn họ vào chen chúc nhau nằm, ngồi như súc vật. Tố Hữu ca ngợi Hồ Chí Minh: “Tự do cho mỗi đời nô lệ,” rồi chính Tố Hữu và đồng bọn biến đồng bào thành nô lệ, thứ nô lệ tồi tệ hơn cả nô lệ thời trung cổ. Bài học của cai ngục Quỳnh đánh thức tôi: “Chiến đấu từ đau khổ, cố mà học nếu muốn chiến đấu chống cộng sản.’’ Tôi đã nghiến răng nuốt đau khổ, từng phút, từng giây. Với tôi, đau khổ là thực phẩm nuôi dưỡng tôi khôn lớn. Văn chương một chút và lãng mạn một chút, tôi mơ ước khám phá ra niềm bí ẩn của đời sống trong cực kỳ thống khổ. Những trang sách của ngày mai sẽ đỡ tẻ nhạt hơn những trang sách ngày qua. Có lẽ không, chắc chắn, ước mơ đã cho tôi sự tồn tại.
Sau chiến dịch đánh tư sản, Chí Hòa mở cửa đón tiếp các giáo viên Việt gốc Hoa mà họ bảo là thân Trung Cộng và làm gián điệp cho Trung Cộng. Những người này, trước 1975, đã cộng tác mật thiết với Việt cộng, đã “nằm vùng” Chợ Lớn. Thêm nữa là những người khờ khạo, nghe lời Mai Chí Thọ, đăng ký về Tầu. Trung Cộng dựng vở “Hoa nạn” chơi Việt cộng phản bội đàn anh. Hai chiếc tầu của họ đã vào vùng biển Vũng Tầu. Trung Cộng gây áp lực thì chỉ khổ Tàu máu mặt ở Chợ Lớn. Chí Hòa đầy nghẹt tù… Tầu. Nền tù ngục sầm uất, phát đạt. Chiến tranh biên giới Miên – Việt càng ngày càng khốc liệt. Chúng tôi biết qua những mảnh giấy báo “ngụy trang” gói quà thăm nuôi. Ở Chí Hòa, tù nhân cách biệt hẳn với xã hội loài người. Không được nghe ra-đi-ô, không được đọc báo. Tù nhân mòn mỏi theo tiếng kẻng răn đe. Tôi đã ngỡ mình sẽ chết tại khu FG. Bất ngờ, tháng 7-1978, chúng tôi chuyển sang khu AH, cả phòng.
AH là thiên đường của Chí Hòa so với FG địa ngục. Không còn ED chế độ riêng lẻ và đặc biệt nữa. Nhà Nước xã hội chủ nghĩa đã thống nhất nhà tù Chí Hòa. Bốn khu đều thuộc quyền quản lý của Sở Công An thành phố Hồ Chí Minh, tiêu chuẩn ăn uống giống nhau nhưng cung cách quản chế khác nhau, tùy thuộc Trưởng khu. Trưởng khu AH tên là Vũ. Anh ta còn trẻ, trên 30 tuổi, tóc hơi loăn xoăn, bồng bềnh, khuôn mặt tươi tỉnh. Đợi chúng tôi chia chỗ nằm, sắp xếp hành lý xong, anh ta đến với hai cai ngục, trẻ như anh ta. Trưởng khu Vũ tự giới thiệu tên tuổi, chức vụ của mình, rồi “tâm sự”:
– Chúng tôi không phải là công an gốc. Đồng chí Thuận, đồng chí Phong đây và tôi đều từ quân đội điều sang ngành công an quản giáo can phạm. Chúng tôi đảm trách khu AH. Tất cả sẽ dễ dàng với anh em trong khả năng của chúng tôi, yêu cầu anh em đừng gây khó khăn cho chúng tôi. Ai làm Trưởng phòng bên FG?
Phạm Văn Diện đáp:
– Báo cáo cán bộ, tôi.
– Anh tiếp tục làm Trưởng phòng. Chúng tôi sẽ cố gắng giữ quân số phòng các anh là 50, tối đa 60. Anh chuẩn bị cho anh em đi tắm.
Trưởng khu Vũ nói năng nhẹ nhàng. Rõ ràng, anh ta không phải là cai tù chuyên nghiệp như Hai Phận vĩ đại, cai tù nằm vùng như Tư Long anh hùng. Anh ta là lính.
Người lính chiến, dưới bất cứ chế độ nào, dưới bất cứ mầu cờ nào, đều hào sảng hơn công an, cảnh sát. Sự dễ dàng mở màn bằng cuộc tắm giặt “bao giờ xong thì tự giác xếp hàng.” Ông Phạm Quang Khai lại được gội râu. Chúng tôi tắm giặt cạn mấy hồ nước, nước chẩy vô không kịp. Mấy tháng tắm 8 phút không dám xát xà phòng, nay được kỳ cọ, xát xà phòng, cảm giác hạnh phúc tràn trề. Trưởng khu Vũ ngồi hút thuốc lá chờ chúng tôi tắm và dẫn chúng tôi về phòng. Chúng tôi phơi quần áo ở hành lang trước phòng mình. Anh ta nói:
– Vì thiếu cán bộ mà lại đông phòng, chúng tôi không thể cho các anh tắm mỗi ngày một lần. Vậy một tuần các anh tắm ba lần, mỗi lần nửa tiếng đồng hồ. Nước dùng trong phòng sẽ tăng lên.
Chúng tôi được cấp thêm một cái phuy. Mấy ngày đầu, xuống hồ xách nước, tự do xối nước. Rồi AH dùng máy bơm nước lên các lầu. Chúng tôi xách nước vào phòng đỡ vất vả. Trưởng khu Vũ cho chứa nước vào các xô, các bình cá nhân, ngoài hai phuy đầy tràn. Nước ê hề, nạn ăn cắp, sự gây gỗ chia nước chấm dứt. Trật tự khu AH hoàn toàn mới và không đến nỗi cô hồn. Một hôm, có thằng trật tự FG sang AH, chúng tôi xầm xì, lo ngại. Trưởng khu Vũ biết, anh ta trấn an ngay:
– AH là AH, FG là FG.Tất cả do cán bộ không do trật tự.
Nhưng Trưởng khu Vũ đuổi tên trật tự FG xuống lầu 2. Anh ta cho chúng tôi mượn tông-đơ, kéo, lưỡi lam. Chúng tôi cắt tóc cho nhau. Và tôi biến thành thợ hớt tóc “hạng nhất.” Những khách hàng đầu tiên bị tôi “thí nghiệm” đều có những mái tóc đặc biệt. Tôi đã chơi kiểu tóc Jules César cho văn hào Nguyễn Mạnh Côn, kiểu tóc Indonésie cho Đoàn Kế Tường, kiểu tóc Tintin cho Đằng Giao… Cuối cùng, tôi chỉ còn cắt kéo tỉa dao. Và thân chủ của tôi là Ngụy Nghiên Trinh, Dương Đức Dũng, Hoàng Mạnh Hùng. AH là thiên đường của Chí Hòa so với FG địa ngục là vậy. Tôi không hiểu sự dễ dãi có nằm trong chính sách của Đảng? Có một chiều, sau khi điểm danh, Trưởng khu Vũ ở lại xem chúng tôi sinh hoạt. Rồi anh ta hỏi:
– Anh nào là Nguyễn Mạnh Côn?
Anh Côn đứng dậy:
– Tôi đây.
– Anh ngồi yên đi, đừng đứng dậy. Anh nào là Đằng Giao?
– Tôi đây.
– Anh nào là Duyên Anh?
– Tôi đây.
– Anh nào là Đoàn Kế Tường?
– Tôi đây.
– Dương Đức Dũng?
– Tôi đây.
– Đặng Hải Sơn?
– Tôi đây.
– Mai Đức Khôi?
– Tôi đây.
– Các anh nhà văn, nhà báo, các anh có tội với Đảng chứ không có tội với ai hết. Các anh lao động đầu óc, khác mấy anh tư sản mại bản. Tôi kính trọng các anh với tư cách cá nhân. Tôi là bộ đội, đang là công an tạm thời, chờ chuyển ngành hoặc giải ngũ. Tôi đã lấy vợ. Vợ tôi người Thủ Đức.
Chúng tôi “hội thảo bỏ túi” và đồng ý với nhau nên thận trọng với những dễ dãi của AH. Trưởng khu Vũ thích nói chuyện vớí “các anh nhà văn nhà báo”. Anh ta mời chúng tôi hút thuốc lá và không ngần ngại đến xin thuốc lá chúng tôi khi hết. Trưởng khu Vũ dễ dãi với toàn khu AH. Đặc trách lầu 3 có cai ngục Thuận và Phong cũng dễ dãi. Đằng Giao được gọi ra ngoài trang trí phòng họp và vẽ Nội san Chí Hòa, tối tối đem về phòng một bình nước nóng hổi. Tôi có những đêm ngủ ngon lành. Hạnh phúc tới về đêm. Hạnh phúc trong ca nước ấm pha muối ngâm “cái sự thừa thãi” mà gây rắc rối ở tù. AH cho phép tù nhân ra hành lang phơi nắng tuần lẽ hai lần và tự do nói chuyên với phòng lân cận. AH và FG, là hai thái cực. Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là hai thái cực. Cộng sản đầy rẫy mâu thuẫn.
Ở AH, chúng tôi đã nhìn rõ Ngô Khắc Tỉnh, Hồ Văn Châm vì hồ tắm của AH sát khu BC. Chúng tôi còn thấy mấy người Đại Hàn trên phòng. Thời kỳ này, Nguyễn Đình Toàn đã từ đề lao Gia Định qua Chí Hòa và “trụ trì” khu FG. Đứng ở hành lang AH phơi nắng, tôi nhìn Nguyễn Đình Toàn gầy ốm tắm dưới hồ nước FG. DươngĐức Dũng đã sống chung với Nguyễn Đình Toàn tại 5C-2 đề lao Gia Định và được tác giả Tro than dạy truyền khẩu mấy ca khúc như Saigon, niềm nhớ không tên, Lưu đầy giữa quê nhà… Cũng vào thời kỳ này, tướng cướp lừng danh Điền Khắc Kim đã bị đem ra nhốt ở Thanh Hóa, bị dẫn về khu AH. Cả khu xôn xao vì súng lên đạn dẫn độ Điền Khắc Kim lên cachot. Sinh hoạt của chúng tôi lại đều đặn, bình thường, buồn bã. Nhiều người đã quên FG bốn ngày cúp nước hãi hùng. Tất cả đã quên bài giảng của cai ngục Quỳnh; “Chiến đấu từ đau khổ, cố mà học nếu muốn chống cộng sản.” Chúng ta có một đức tính khả ái. Là dễ quên đau khổ. Ngay ở trong tù. Một chút sướng nhỏ đã đủ quên khổ lớn. Và hễ được vuốt ve là quên tranh đấu. Người cộng sản ưa xử dụng hai danh từ bản chất và hiện tượng. Tôi cho rằng trưởng khu Vũ là hiện tượng chứ không phải là bản chất. Bởi vì, khi con người vụt thức tìm lại cái bản chất đích thực của nó, chủ nghĩa cộng sản sẽ nghiêm chỉnh phê bình nó mang hiện tượng xấu. Cái tốt đối với chúng ta là cái xấu đối với cộng sản. Nói rõ ràng hơn, cái thiện của con người, cộng sản gọi là hiện tượng. Cái ác của cộng sản, họ gọi là bản chất. Hiện tượng và bản chất lại còn được xử dụng lung tung. Đảng sai, Đảng đổ vạ cho cán bộ và bảo đó là hiện tượng. Đảng đúng, Đảng bảo đó là bản chất. Bản chất của Đảng, thực ra, chỉ là gian ác và gian ác. Vậy nên chấp nhận hiện tượng của Trưởng khu Vũ, thứ hiện tượng dễ chịu và đối nghịch bản chất Tư Long, bản chất Đảng.
Dần dà, chúng tôi nhận ra Trưởng khu Vũ không “đóng kịch.” Anh ta còn nhiều tính người. Anh ta còn là con người. Đừng hòng một chúa ngục tặng tù nhân thuốc lá và tỉnh bơ xin thuốc lá tù nhân. Tôi suy nghĩ mãi về sự gần gũi của con người và sự tìm đến nhau của con người. Và đó là cảm hứng Thơ tù của tôi, cũng là oan khiên của đời tôi. Một hôm, cai ngục Thuận gọi Nguyễn Mạnh Côn, Đoàn Kế Tường, Dương Đức Dũng và tôi ra “làm việc.” Ở bàn giấy đầu hành lang đã pha sẵn bình trà và những cái ly nhựa. Trưởng khu Vũ chờ chúng tôi. Anh ta rót trà:
– Làm việc gì đâu. Lấy cớ mời các anh ra uống trà chơi. Các anh chịu khó đứng nhé!
Xong tuần trà, anh ta nói:
– Các anh không ở đây lâu đâu. Tôi cũng không ở đây lâu đâu. Tôi không thích công tác quản giáo tù nhân. Tôi ít tuổi hơn các anh, xin các anh một điều: Đừng chống đối cán bộ quản giáo, bất cứ nơi nào. Họ không có quyền bắt các anh, không có quyền tha các anh nhưng có quyền hành hạ các anh, đầy đọa các anh vào chỗ chết thảm.
Thật khó hiểu Trưởng khu Vũ. Tác giả Cộng sản là gì? Nguyễn Mạnh Côn về phòng bình luận: “Thằng đó không phải là cộng sản.” Tôi bỗng nhớ câu thơ bất hủ của Hoàng Cầm: Cái còn vĩnh viễn là người Việt Nam. Trưởng khu Vũ cư xử tốt với mọi tù nhân, anh ta nặng cảm tình với nhà văn, nhà báo 1. Nhờ một tên trật tự hiền lành làm môi giới, chúng tôi “mua” cai ngục Thuận bằng quần tây, áo sơ-mi mang vào tù mà khó mặc về nhà. Cai ngục Thuận thèm ăn diện, mặc cả tiền luôn. Thế là, chúng tôi lần lượt gặp mặt vợ con. Chuyện này, trưởng khu Vũ không hề biết- Mà chúng tôi không ngu kể cho anh ta nghe.
Đầu tháng 8, Phạm Văn Diện đi lao động cải tạo. Nguyễn Sơn La và Nguyễn Kiến Thiết phòng cạnh, đổi sang phòng chúng tôi. Nguyễn Sơn La, đại úy quân đội nhân dân, dân Quỳnh Côi, Thái Bình, giải phóng miền Nam xong thì được chuyển sang ngành thương nghiệp, can tội mất phẩm chất cách mạng, vào tù. Anh ta làm Trưởng phòng. Nguyễn Sơn La vui nhộn, thật thà và không ngại ngần khoe sơ yếu lý lịch… bần cố nông. Anh ta bảo vì thèm ăn ngon, mặc đẹp mà xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa.
– Bố tôi đặt tên tôi là Sơn La vì tiên đoán sẽ mất tỉnh Sơn La.
Anh ta nói oang oang. Đã hai lần ra tòa, lần nào cũng đeo quân hàm và huân chương đầy ngực. Nguyễn Kiến Thiết, thiếu úy quân đội nhân dân, đệ tử của Nguyễn Sơn La, chung một tội thụ hưởng khẩn trương, quên Bác quên Đảng. Anh ta làm trật tự phòng. Cả hai phản động hơn phản động. Trưởng khu Vũ phá lệ Chí Hòa, không phát giấy làm biên bản họp cuối tuần, Nguyễn Sơn La dẹp bỏ họp cuối tuần luỏn. Sau hết, điểm danh buổi sáng cũng lơ là. Tháng 8 năm 1978, thằng con trai đầu lòng của tôi trốn khỏi Việt Nam. Tôi nhận thư nhà bảo tin: “Cu Tí về Long Xuyên, nhưng còn rong chơi dọc đường.” Tôi lo lắng vô cùng. Chỉ sợ Cu Tí bị bắt, bố tù, con tù thì rắc rối to. Hầu như, từ hôm con tôi xuống thuyền, ngày nào tôi cũng có thư. Đến hôm, thư nhà báo tin: “Cu Tí ghé cù lao ông Chưởng rồi mới về ở với cậu Tư.” Tôi thở phào sung sướng. Con tôi đã tới hòn đảo nào đó. Nghĩa là tôi không sợ nó vào nhà tù cộng sản. 19 tuổi, tôi làm cuộc phiêu lưu Hà Nội – Saigon, tưởng đã dài. 16 tuổi, Chương còm phiêu lưu vĩ đại hơn tôi, gian khổ hơn tôi. Con tôi đã vượt biển thành công, tôi nuôi hy vọng mới: Vợ tôi sẽ đưa một hai đứa con tôi ra đi thành công. Còn tôi, tôi bình thản sống đời tù, “sống bằng không mà chết cũng bằng không.” Tôi đã sống một thuở bơ vơ và sẽ sống tiếp thuở bơ vơ còn lại.
Ở AH, Bùi Kim Bảng và Ngụy Nghiên Trinh nhận lệnh tha. Bùi Kim Bảng, nhân vật thần sầu, kịch sĩ lên “sân khấu” đúng giờ giấc, cũng để lại một kỷ niệm… tư sản mại bản. Ông ta nằm cạnh tên tù hình sự Lê Anh Kiệt. Biết chắc mình được về, ông ta nhờ cai ngục đem lại tặng Lê Anh Kiệt cái bị cói có hai món đồ. Lê Anh Kiệt hí hửng dở ra. Một: Gói thuốc lá Saigon giải phóng đầu lọc còn đầy nhưng đã mốc thếch. Hai: Gói tôm khô đã mọc rêu xanh. Tên tù hình sự đành liệng vô thùng rác. Ông Bùi Kim Bảng không hút thuốc lá. Dịp Tết, gia đình ông gửi cho ông một gói mừng xuân, ông mời tôi một điếu, hút một điếu rồi để dành chờ được tha mới… tặng đệ tử. Ông Bảng về xum họp gia đình, cả phòng mừng rỡ. Chúng tôi có thể yên lòng ăn cơm trưa, ông Bảng về, ông Phạm Quang Khai mất trộm. Mấy thằng hình sự cấu kết “đi chợ” gần hết “kho” thực phẩm của ông. Ông la lối rùm beng, kê khai hàng chục thứ. Trưởng phòng Nguyễn Sơn La yêu cầu anh em cho ông Khai khám hành lý. ông thu hồi ít bánh, ít mì, sữa bột, đường, thịt chà bông của ông, chúng nó đã ăn bằng hết hồi đêm. Nguyễn Sơn La không báo cáo Trưởng khu và cai ngục. Ông Phạm Quang Khai mất trộm, ông “ướp muối” Nguyễn Công Kha giật mình, Ồng Kha nuôi thằng bộ đội đào ngũ tên Việt, ông gửi nó giữ hộ mấy kí-lô thịt chà bông. Nó treo gần cầu tiêu. Mỗi ngày, đi cầu, ông Kha đều kiểm soát. Ông phấn khởi vì cái bị cói lúc nào cũng nặng. Thấy bạn mất bò, ông lo, ông gở bị xuống, định đem về chỗ mình. Than ôi, chỉ có mấy cục gạch!
– Sao thế này, Việt?
– Cháu không biết.
– Tao nuôi ong tay áo à?
– Ai bảo ông nuôi ong?
Nhà tư sản giận tím mặt. Vô sản nhà tù đã vùng lên và đã thắng lợi tư sản mại bản. “Bạn tù, tình nhà thổ.” Một tên tù cảm khái nói. Ăn no nê thịt chà bông của ông Khai, và ông Kha xong, đám hình sự lên đường đi lao cải. Hai nhà tư sản tiếc rẻ. Giá chúng nó đi sớm vài ngày!
Phòng chúng tôi tiếp nhận một số tù nhân vượt biên và hai ông già Tàu, can tội đăng ký hồi hương Trung quốc. Một ông tên Dương Hải Làn, ông kia Hoàng Mậu Thìn. Ông Dương đỏ da, thắm thịt, khuôn mặt giống hệt Lê Nin. Ông Hoàng nhỏ thó, thấp bé. Hai ông nằm cạnh nhau, thân thiết nhau vô cùng. Tháng 9-1978, Chí Hòa có dịch… kiết lỵ. Tôi quên chưa kể, giữa tháng 7, tù nhân không còn được ăn bột luộc nữa. Mà ăn bo bo. Bo bo nhai mỏi răng, nuốt mỏi cổ. Thoạt mới ăn, bo bo nấu như nấu cơm, thấy là lạ. Bo bo tiêu hóa thật nhanh. Ăn chừng nửa tiếng đồng hồ sau là lên “sân khấu” ào ào. Rồi đói. Mới hay, bo bo chẳng béo bổ gì. Nhiều tù nhân ăn bo bo bị bệnh tiêu chảy. Tiêu chẩy biến sang kiết lỵ. Tưởng tượng một phòng giam có mười tù nhân kiết lỵ thường xuyên trên “sân khấu.” Tanh tưởi đến buồn mửa. Y tế ở Chí Hòa tồi tệ lắm, kém xa đề lao Gia Định. Thiếu thuốc riêng là khốn khổ khi bênh hoạn. Sợ kiết lỵ truyền nhiễm cả phòng, Trưởng khu Vũ dành riêng một phòng nhốt những tù nhân mắc bệnh. Đó chỉ là sáng kiến riêng của Trưởng khu Vũ, không phải chính sách y tế của các nhà tù xã hội chủ nghĩa.
Dịch… kiết lỵ coi như không đe dọa phòng của chúng tôi nữa. Thì bất đồ ông Dương Hải Làn ngã bệnh. Ông sốt có hai hôm mà hốc hác rõ rệt, da giẻ tái lại. Bác sĩ khu AH, một bà Nam bộ tập kết, đến khám bệnh cho ông Dương Hải Làn cười mỉa ông giả vờ ốm. Và không cho uống thuốc. Bác sĩ tù có nhiều vị vĩ đại hơn Bác Hồ. Tỷ dụ, bác sĩ Lý Sen. Nhà tư sản mại bản Chợ Lớn này thừa liêm sỉ đeo ống nghe rà tim phổi bệnh nhân tù. Hãy nghe những lời khuyến cáo của bác sĩ Lý Sen ở đề lao Gia Định:
– Gội đầu nhớ khom lưng mà xối nước. Đứng thẳng xối nước, con vi trùng gàu nó bám vào dái, nó kết tụ ở đấy là sinh ghẻ!
Tôi không hiểu ông Dương Hải Làn bệnh gì và biến chứng của nó, cũng không hiểu bệnh khởi sự từ lúc nào, nhưng cười mỉa ông ta ốm giả vờ thì bà bác sĩ Việt cộng (bác sĩ đàng hoàng) này bất hủ. Sang ngày thứ tư, ông Dương Hải Làn hôn mê, cứ ôm chặt ông Hoàng Mậu Thìn mà rên ư ử. Ông ta bỏ ăn uống, tiểu tiện ra chỗ nằm. Trưởng phòng Nguyễn Sơn La báo cáo. Bác sĩ Quang của đề lao Gia Định khám bệnh. Ông Dương Hải Làn được khiêng ra khỏi phòng. Và ông chết trên đường đến bệnh viện Chợ Rẫy. Chúng tôi được uống mỗi ngày bốn viên thuốc và cấm phòng đúng một tuần. Nghĩa là không được ra ngoài tắm và phơi nắng. Ông Dương Hải Làn chết vì bệnh đau màng óc. Ông ta chết rồi, nhà tù mới cho phòng tôi uống thuốc ngừa đau màng óc và lập “hàng rào” y tế. May sao, chúng tôi không có ai… chết theo ông Dương Hải Làn.
Sau khi lệnh cô lập phòng tôi bãi bỏ, Trưởng khu Vũ gọi tôi ra “làm việc.” Anh ta mời tôi uống trà Thái Nguyên, hút thuốc lá Sông Cầu.
– Hôm qua có mấy người ngoại quốc thăm Chí Hòa.
– Phái đoàn nào đó, cán bộ?
– Ân xá quốc tế!
– Họ đến làm gì?
– Thăm anh.
– Thăm tôi?
– Lãnh đạo chỉ cho họ gặp anh Cao Dao và khước từ không cho gặp anh. Anh có khả năng được tha sớm đấỵ.
Trưởng khu Vũ gọi tôi ra báo tin thế. Tôi biết vậy, ngậm miệng chẳng nói với ai. Tự đấy sự tuyệt vọng của tôi vừa le lói một ánh lửa hy vọng. Chắc chắn, Amnesty International đã can thiệp cho một số nhà văn, nhà báo mà tôi may mắn lọt vào danh sách ấy. Tôi biết tôi không thể bị thủ tiêu, bây giờ can đảm hơn mà chịu đựng chờ ngày về đời. Tôi cảm giác mạnh khỏe, bền bỉ. Tôi đã mơ hồ thấy niềm bí ẩn của đời sống. Hôm qua không giống hôm nay và ngày mai khác hẵn ngày mai kế tiếp. Bỗng nhiên, tôi trở thành người trầm lặng nhất trong phòng. Tôi không khó chịu chuyện “’tổng thống” Bùi Ngọc Phương “tuyển lựa” nhân viên cho Phủ tổng thống ở nhà tù nữa, dù ông ta vẫn tiếp tục ngớ ngẩn. Nếu có người lạc quan coi Bộ chính trị trung ương Đảng cộng sản Việt Nam là con nít, người ấv chỉ là “tổng thống cầu cơ” Bùi Ngọc Phương. Ông ta bảo ông ta chơi thân với ông đại sứ Mỹ bên Thái Lan và ông yêu cầu Trưởng khu cho ông giấy ông viết thư nhờ bạn ông giàn xểp với Đặng Tiểu Bình đừng lộn xộn chuyện Việt Nam! Trưởng khu Vũ đùa bỡn:
– Anh có biết thư anh sẽ đến đâu không?
– Biết chứ.
– Đến đâu?
– Thái Lan.
– Đến cát-sô. Anh là tổng thống cát-sô. Thế mà cũng có người theo anh chống cộng sản!
Phó thủ tướng Đỗ Văn Lựu rầu rĩ tổng thống đến thối ruột. Tổng thống y hệt Lão Ngoan Đồng, chấp nhận cuộc phỏng vấn tranh cử của ký giả Dương Đức Dũng một cách thành khẩn. Và ngồi bói bài đoán vận nước! Nhưng mà tổng thống và phó tổng thống đã ra đi. Buổi chiều hôm ấy, cai ngục Thuận đến gọi:
– Anh Bùi Ngọc Phương.
– Có.
– Anh Đỗ Văn Lựu.
– Có.
– Hai anh chuẩn bị hành trang khẩn trương.
Cai ngục Thuận khuất bỏng. Tổng thống không thèm thu xếp hành lý tù. Người đứng giữa phòng, vỗ tay ba tiếng:
– Anh em thân mến!
Tổng thống ứng khẩu bài diễn văn hứa hẹn nẩy lửa:
– Giờ phút quan trọng của lịch sử đã điểm…
Mới đến đây thì cai ngục Thuận xuất hiện đột xuất. Tổng thống đang hùng dũng, trầm giọng:
– Những ngày sống với anh em, nếu tôi có gì sơ sót, anh em bỏ qua đi nhé! Cám ơn…
Và tổng thổng vội vàng gom đồ tù ra đi. Tổng thống ra đi, phòng giam buồn hẳn. Những bạn tù đề lao Gia Định của tôi lần lượt ra đi. Tôi sẽ nhớ suốt đời tán đường của cụ Đỗ Văn Lựu. Hôm đó, chúng tôi hết đường ăn bột luộc. Thấy tôi gặm bột suông, cụ Lựu đem cho một tán. Đằng Giao bẻ tư, chia phần cho Tường, Dũng và tôi. Cắn nhìn từng chút đường đã thấy ngọt lịm họng. Hạnh phúc nó vẫn đơn sơ và đến đúng lúc người ta cần định nghĩa nó. Từ khi tôi còn viết nhật báo Sống, tôi đã không ưa Đằng Giao. Anh ta cũng chẳng ưa gì tôi. Vào tù, chúng tôi trở thành thân thiết gần như sống chết có nhau. Vì chúng tôi đã hiểu nhau, thương nhau. Đằng Giao làm cho tôi tất cả những gì anh ta có thể làm ở khu AH Chí Hòa, kể luôn việc, trước khi về phòng, nhóm bếp, nấu nước sôi, đổ bình xách về để tôi ngâm ghẻ và pha bột Bích Chi, pha mì. Anh ta không mày tao, không ông tôi với tôi nữa. Mà gọi tôi là “ông thầy.”
– Được ra, ông thầy dọt không?
– Dọt chứ.
– Ông thầy vẫn viết à?
– Chứ biết làm nghề mẹ gì?
– Tư tưởng của ông thầy tôi sợ lại làm ông thầy khốn đốn. Tôi, xưa ghét ông thầy cay đắng, sống chung với ông thầy mới thấy chúng nó xét đoán sai lầm. Khó ai chứa nổi tâm hồn ông thầy.
– Có ông, thừa rồi.
Đằng Giao vào nghề báo rất ly kỳ. Anh ta tên thật là Trần Duy Cát, bạn thân của Đỗ Tiến Đức, cùng nhóm anh em di cư Nhà Hát Tây. Đỗ Tiến Đức, thuở mới viết lách ký bút hiệu Đằng Giao. Cậu Cát thất nghiệp dài, nhờ Đức xúi vào làm nhân viên dân sự Nha Chiến Tranh Tâm Lý, mỗi kỳ Chiến sĩ cộng hòa viết một bài do Đỗ Tiến Đức cung cấp, ký Đằng Giao. Cậu Cát, lúc rảnh rỗi, ngồi vẽ vớ vần giết thì giờ. Thư ký tòa soạn Chiến sĩ cộng hòa thấy cậu vẽ đẹp bèn sai cậu vẽ thay vì viết. Cậu Cát mừng húm. Cậu vẫn ký Đằng Giao. Bạn vàng Đỗ Tiến Đức tặng cậu bút hiệu đó luôn. Rồi Đằng Giao trở thành người trình bày tuần báo, tạp chí đẹp nhất Sàigòn, nhà “cách mạng” lối trình bày nhật báo không phi lê dọc. Dĩ nhiên, cậu bắt chước báo Tây. Sự lủng củng giữa Trọng Tấn và Hoàng Anh Tuấn đã biến Đằng Giao thành thư ký tòa soạn nhật báo Thân Dân, Tranh Đấu và Sống. Đằng Giao là một hiện tượng thư ký tòa soạn, một thư ký tòa soạn không biết viết bài, dù chỉ viết một cái tin.
– Ông thầy, ông thành thật nghĩ gì về người cộng sản?
– Nói theo kiểu Nhậm Ngã Hành nhé.
– Ừ.
– Tôi khen nó giỏi và tôi khinh nó hèn.
– Nó giỏi?
– Nó đã chiến thắng, nó đã bỏ tù chúng ta.
– Nó hèn ?
– Nhà văn, nhà báo chuyên nghiệp như cầu thủ bóng đá nhà nghề, cấm viết như treo giò vĩnh viễn. Là đủ thỏa mãn thù hận rồi. Bắt nhốt chúng ta, hành hạ chúng ta mà chi.
– Ông thầy đúng.
– Đúng chứ. Như ông, tội tình chi mà chúng nó hầm lâu vậy? Chúng nó nhúm cả vợ ông, cả đứa con sơ sinh của ông vào tù. Cộng sản bần tiện, không tuyết hận nổi Chu Tử, chúng nó om ông.
Đằng Giao im lặng. Người họa sĩ này chỉ cằm cọ và chưa hề vẽ bức tranh chống Cộng nào. Biệt kích văn nghệ Dương Nghiễm Mậu, cộng sản tha sớm. Biệt kích văn nghệ Nhã Ca, cộng sản tha sớm. Có 9 tháng tù. Biệt kích văn nghệ Doãn Quốc Sĩ, 4 năm. Biệt kích văn nghệ Duyên Anh, 5 năm 5 tháng. Đằng Giao lâu hơn 2.
– Cộng sản còn ngu nữa.
– Ngu sao, ông thầy?
– Nó mang trọng tội với dân tộc, với tổ quốc. Nó đã làm hỏng cái cơ may nghìn năm một thuở mà nhân loại thèm muốn.
– Là sao?
– Là cơ may văn minh, văn hóa, khoa học, kỹ thuật Đông Tây tổng hợp trên quê hương Việt Nam. Đem những tinh hoa nó học ở Liên Xô, ở Đông Âu về, hòa với tinh hoa ta học ở Mỹ, ở Đức, ở Pháp, ở Nhật về sẽ thành cái của Việt Nam. Hai mươi năm Mỹ đào tạo cho miền Nam bao nhiêu chuyên viên, chưa kịp xử dụng, nó bỏ tù và bỏ… chợ trời. Đến nỗi, người ta phải chuồn khỏi xứ sở. Nó không ngu thì nó kiêu ngạo ngu xuẩn. Nó sẽ tiếc hộc máu mồm. Muộn rồi. Cái truyền thống trả thù vặt của dân tộc mình cứ thế tiếp nối, không ngóc đầu lên nổi. Triều đại nọ phá hủy mọi công trình của triều đại kia. Người nào hay hơn ta là y rằng ta không phục, không tranh đua mà chỉ tìm cách bôi bẩn.
– Thôi, ông thầy ạ! Tôi mong ông thầy ở lại với tôi khi được tha. Ông thày chả nên đi.
– Hiểu rồi, ông ơi! Tôi biết đi cũng dở, ở không xong. Số tôi nó vậy, trót vậy.
– Tôi không đi. Tôi thề tôi không đi.
Đó là lần Đằng Giao nói chuyện với tôi lâu nhất, từ dạo chúng tôi sống chung ở Chí Hòa. Tôi mơ hồ thấy tôi sắp chuyển trại. Tháng 9, ăn cơm với thịt heo mừng “ngày lễ lớn” xong, Chí Hòa đi lao động cải tạo sôi nổi. Liên tiếp một tháng, đêm nào cũng ồn ào tiễn đưa, dặn dò. Tù hình sự nói văng mạng. Chẳng ai thèm kiểm soát ngôn ngữ, tư tưởng lúc chuyển trại đêm khuya. Các anh trên lầu của các khu tha hồ nhận bừa các em dưới ô là người tình. Anh chị đối thoại nẩy lửa. Đoàn Kế Tường đã thức, đứng sát tường, ngó qua song sắt quan sát. Tường mơ ước dựng một bộ tiểu thuyết về nhà tù. Tôi thì lại mơ ước dựng một tiểu thuyết với nhan đề Ở một nơi không có nhà tù. Cuối cùng, tôi mơ ước viết truyện thần thoại. Nhưng mọi ước mơ sẽ chỉ nhằm mục đích trả lời cộng sản: “Thế giới đâu đã đọc sách của các anh.” Ước mơ đó, tưởng đã tàn lụi ở những ngày cuối đề lao Gia Định và ở những ngày đầu Chí Hòa, bây giờ lại hừng hực trong tâm hồn tôi. Có lẽ, tôi là tù nhân may mắn đã nhập tâm bài học đáng giá của cai ngục cộng sản: “Chiến đấu từ đau khổ, cố mà học nếu muốn chiến đấu chống cộng sản.” Tối cố học, tôi chăm học. Rốt cuộc, sự thống khổ đã trở thành không tưởng với những ai xa lạ nó. Giữa những người đó và tôi đã có một cuộc ly dị buồn bã. Và tôi là con gọng vó bơi ngược giòng. Bao nhiêu con gọng vó bơi ngược giòng trong thờỉ đại khốn kiếp của tôi. Tôi đã chê cộng sản ngu, đại ngu, chí ngu là làm mất cơ may nghìn năm một thuở. Hỏi một câu ngớ ngẩn chơi. Nếu Quốc Gia Bắc tiến chiếm Hà Nội, thì sự việc sẽ xảy ra như thế nào? Tôi e rằng cũng giống cộng sản chiếm Saigon, sợ còn tệ hơn. Bởi vì, cái truyền thống trả thù vặt của dân tộc ta nó án ngữ tầm nhìn xa của sự nghiệp kiến quốc. Cho nên, người Việt Nam cứu nước rất giỏi mà giữ nước thì rất dở, làm cho dân giầu nước mạnh càng quá dở. Vấn đề đặt ra cho những người muốn làm lại quê hương Việt Nam. Thù hận dân tộc đã không giải quyết được gì, sẽ không giải quyết được gì. Phải truy nã thân phận mình, phải ra công tìm lại bằng được nhân sinh quan Việt Nam nguyên thủy thì mới hy vọng có ngày mai đại phúc của giống nòi. Điều này, tôi muốn nói với cả người cộng sản lẫn người quốc gia. Tư tưởng chiến đấu của tôi thể hiện rõ rệt trong hai tác phẩm Sỏi đá ngậm ngùi và Một người Nga ở Saigon. Tôi là người Việt Nam. Tôi không chống đối dân tộc và tổ quốc tôi. Nhưng tôi chống đối bất cứ một chủ nghĩa, một chế độ nào không đem lại hạnh phúc cho dân tộc tôi, tước đoạt phẩm cách làm người, chà đạp tự do, dân chủ, tạo dựng thù hận, hình phạt, tù ngục, chiến tranh… Những chủ nghĩa, chế độ ấy mang bất cứ một nhãn hiệu nào, tư bản hay vô sản, cộng sản hay quốc gia, tôi đều chống đối. Và ngay cả một chế độ nào đạt nổi lý tưởng thanh bình, hạnh phúc, yêu thương, đoàn tụ cho dân tộc, nhà văn không được phép quên lãng bổn phận phản kháng. Để hạnh phúc thăng hoa. Thiên đường nối tiếp những thiên đường. Chúng ta đang sống trong bối cảnh lịch sử mà nhân loại và dân tộc cần thiết những tiếng thét phẫn nộ của tư tưởng đối nghịch mọi tư tưởng phi nhân. Nhưng, hình như, những tiếng thét đó chỉ đem lại bất hạnh cho nhà văn phản kháng. Y luôn luôn bị khu trừ ở những nơi y ngậm thống khổ nhả từng sợi giây máu thức tỉnh thù hận. Thù hận trút xuống y không thương xót.
Cho nên, tôi thường nuối tiếc ước mơ tôi đã mơ ước trong nhà tù. Giá tôi không được thả về, giá tôi không đánh đu với số phận vượt biên ra ngoại quốc, tôi, mãi mãi, hình tưởng bên ngoài như mơ ước trong tù của tôi. Tôi sẽ mang mơ ước xuống huyệt mộ. Cầu mơ của tôi, tiểu thuyết của tôi, tôi đã không cho nhân vật của tôi đến cầu mơ. Mà tôi, tôi ngu dại đến cầu mơ. Có gì bên kia dốc mơ? Bạn có thể trả lời giùm tôi. Và rồi, cho phép tôi trở lại Chí Hòa.
Đầu năm 1982, tôi gặp cai ngục Thuận. Anh ta bị sa thải khỏi ngành công an, lấy cô vợ miền Nam làm nghề uốn tóc. Trưởng khu Vũ cũng bị sa thải. Cai ngục Phong mê một em tù, giúp em này trốn trại. Anh chị rủ nhau vượt biên, bị bắt và nằm tù chưa ra. Thuận kể vậy: Anh ta xin tôi 100 bạc.
Tôi viết mấy chuyện nầy, cốt ý là để quên buồn, và cũng muốn bổ túc quyển “Sài Gòn năm xưa” và nếu còn sống thêm ít tuổi, không biết chừng tôi sẽ viết tiếp những gì tôi biết về cảnh cũ trong nầy.
Trong câu chuyện, tôi thường viết tên thật của những nhân vật tôi không sợ búa rìu dư luận, vì tôi cho rằng những nhân vật nào đã mất, tức đã vào sử, miễn khi viết đừng có ác ý là được, việc xảy ra sao, tôi biết được là cứ viết, nếu có sai lạc là ngoài ý muốn, tôi chỉ muốn sao những gì tôi ghi lại đây, không là “tiểu thuyết hoá” và chỉ là sự thật hay gần như thật, và chỉ có vậy thôi.
Tài liệu tôi đã dùng, là những bài vụn vặt cắt trong sách báo cũ may còn giữ được, nay tôi lấy ra đọc và viết lại, như đã nói, cho đỡ buồn, tỷ dụ:
1) Chuyện 1 về bà V.A., là chuyện tôi thuật lại theo một bộ của ông Trần Thiện Thành đã viết từ năm 1916, tôi từng ghi chép nay dọn lại cho suôn sẻ, và tôi gọi đó là loại “viết phỏng theo” Pháp gọi: “à la manière de…”. Trong tủ sách của tôi, có một quyển Pháp văn, nhan là T.S.V.P. (petites histoires de ous et de personne) của đôi tác giả viết chung J. W. Bienstock và Cumonsky (Editions Grès). T.S.V.P. nên đọc là Toumez s’il vous plait (mới lật qua chương khác) và petites histoires de tous et de personne, tôi hiểu là “chuyện nhỏ vặt của chung mọi người mà cũng không cả một ai”, tức là của bá tánh, của vô danh, tôi xin lấy đó làm nòng cốt miễn đừng đạo văn là được.
2) Đến chuyện 2, về cô Ba Trà, tôi vần nói thêm nhiều. Cô nầy khi trước từng thuật chuyện của cô cho tôi ghi lại, sau đó tôi hay cô đã giao cho ông Trần Tấn Quốc đăng trên báo TIẾNG CHUÔNG năm 1952, dưới bút hiệu Thanh Quyền, Thanh Huyền, khi hay tin nầy, tôi thôi ghi, và nay cách ba chục năm sau, trong khi sách báo cũ hiện ít ai tàng trữ, hai ông Trần Thiện Thành và Văn Sen, tôi không tin tức, riêng cố nhân Trần Tấn Quốc, tôi biết hiện dưỡng nhàn nơi quê nhà là Mộc Hoá, cũng vô phương, xuống tới đó mà xin phép, nếu ngày nào những gì tôi viết đây lọt dưới mắt xanh, tôi tưởng cố nhân cũng không làm khó cho tôi làm chi, vì biết đâu khi xuất bản tập nầy, tôi còn nào ở trên nầy mà tranh luận. Xin ba ông miễn nhớ, ngày nào tập nhỏ nầy chào đời, thì công trước tác ba ông chưa phải mất. Về đoạn nầy, tôi viết theo điệu narration văn kể chuyện, nói sao viết vậy, không đẽo gọt, không cốt ý làm văn.
Tiếp theo tập Bên lề sách cũ (en marge des vieux livres) tôi viết tập nầy “cho qua ngày tháng”, cũng là một cách tưởng niệm tác giả “Trước đèn xem chuyện Tây Minh” – (Viết từ 9-6-1982 đến 24-8-1982, tức 18-4 nhuận đến 6-7 năm Nhâm tuất).
Vân Đường Phủ
Vào khoảng 1915-1945 thời Pháp thuộc, ruộng miền Nam trúng mùa liên tiếp, trong xứ tiền bạc dồi dào, nhưng cái hoạ ngấm ngầm phát sanh từ đó, duy chưa hiện ra rõ rệt. Hoạ tôi nói đây là hoạ đất cát nhà cửa ruộng vườn của cải, phần lớn đều chuyển sang tay khác, không ai cầu không ai muốn nhưng không sao tránh được, và cũng không phải một sớm một chiều sanh ra.
Và ai cười ai bây giờ?
Thằng bo bo giữ của cười thằng con hư phá sản, hay thằng phá sản không có gì để kê khai đăng ký, cười lại thằng giàu, không dám ăn không dám xài, mà nay tiền của bi tịch thu, thân bị đi cải tạo con trai chạy trốn, con gái thôi việc trau chuốt phấn son, cháu nội ngoại phải quét đường làm lao công, “tụi bây còn dại khờ hơn tao mấy lần, thà bán đất cầm nhà mà nay khỏi phải bận tâm khai báo, lại thêm được tiếng “tiến hoá sớm”, phe họ bần họ cố nông”. Ai dại hơn ai?
Tại sao khoảng ấy, 1915-1945, con sanh ra phần đông đều hư: trai hư theo trai, chuộng gái chơi bời có sắc hơn vợ nhà, cha mẹ cho đi ăn học phương xa, không lo trau giồi kinh sử, rủi thời cha mất, chỉ trông có tiền để cho gái, cầm cố bán mau bán lẹ, chê làm ruộng cực nhọc muỗi mòng, quen ăn sung mặc sướng sống ở thị thành xem hát, đi ăn cơm nhà hàng, nay xuống ruộng bùn đỉa, ai mà chịu thấu?
Trong khi ấy, gái hư theo gái, có chút nhan sắc, chê lấy chồng quê là phí đời hưởng nhan, giữ chữ trinh chữ hạnh, suốt đời gánh nước mướn chai vai, thổi bếp nấu cơm đã mất đẹp vì khói xông xốn mắt, bửa củi chai tay, sao bì con A con B, xuống chợ làm nghề rước khách, đã khỏi nhọc nhằn, lại được lên xe xuống ngựa, v.v…
Nguyên do những cái hư hèn ấy, oan hay ưng, tôi đổ tội cho quan thầy thời 1915-1945 đó là quan cai trị Pháp bất tài. Họ qua đây chỉ lãnh lương cho cao, ở nhà chỗ rộng, trông mau mau đến tuổi về hưu, lùi về xứ thưởng thức đồng tiền thuộc địa biến thành hưu bổng, việc giáo hoá, tuyên truyền rùm beng, mấy ông quả có dạy chữ mới, dạy cách trí phổ thông, nhưng ấy là đào tạo mớ “bồi Tây” làm mọi cho mấy ông, còn phần đạo đức, vẫn chê Khổng Mạnh là lỗi thời và phổ biến văn minh Tây phương của mấy ông là dạy con nghịch ý cha, vợ tranh quyền với chồng. và nếu tranh cãi không lại thì đã có luật sư biện hộ giúp!
Mấy ông có đào kinh phá rừng thật, nhưng luật “khẩn đất” viết tiếng Pháp và dịch ra quốc ngữ, chỉ người biết chữ học trò trưởng các ông hiểu được, còn bọn củi lục làm ăn, khai hoang biến rừng thành ruộng vẫn quê kịch dốt nát, tưởng có công mở mang làng xã sau nầy sẽ làm chủ đất, dè đâu ruộng khai phá xong vừa phát, thì đã có thằng dân chợ đến trưng đơn khẩn hợp pháp, bằng khoán hợp lệ làm chứng rồi phổng tay trên quịt ruộng của dân nghèo, không làng xã quan tỉnh nào binh vực cho một lời, một tiếng cho mát dạ kẻ ngay nhưng thất thế vì dốt luật.
Tồi tóm tắt lại đây, vấn đề khai hoang.
1) Sau trận tranh giành Tây Sơn với nhà Nguyễn Phúc, miền Nam trải qua một thời loạn lạc không yên, dân thưa rừng rậm.
Người ngũ Quảng, người miền Đông, để tránh bắt lính làm xâu, nên kéo vô Nam, tìm rừng mà ở yên thân hơn. Vùng Sốc Trăng, Bạc Liêu đến năm 1860, còn quan Cơ-me cai trị, chưa thuộc bờ cõi cai trị của quan Việt.
Những dân tứ chiếng ấy, với cái tục tảo hôn, vả lại dân Việt có tiếng rất nhạy con, nên chẳng bao lâu miền Nam đổi ra mặt mới:
Lấy một tỷ dụ, cứ cái đà mươi tám, đôi mươi là dựng vợ gả chồng đến trễ lắm là tuổi hai mươi lăm, đã có con đầu lòng, “làm cha thằng xích tử” dễ như chơi.
Tuổi năm mươi đã thành ông nội ông ngoại, tuổi bảy mươi làm nên cố, lối 90 lên ông sơ, và nhà xưng “ngũ đại đồng đường” đếm lại chưa tới trăm năm.
Đông con mà con hư, nào có ích gì?
Chưa tới ba đời, nhà đổi chủ, của vườn sang tay khác, lỗi tại đâu?
Nhà giàu chỉ lo sắm ruộng cho nhiều.
Nhà nghèo mất ruộng, đêm khuya vợ chồng than thỉ với nhau, mấy con nghe được, oán tích nhiều đời, nên trai nghèo lo học và đọc nhiều sách mới, thành người cách mạng, gái thì nghĩ ra cách đục khoét tủ sắt nhà giàu bằng cách rủ rê con họ vào con đường ăn chơi đàn đúm, để bán ruộng cầm nhà, tung tiền cho gái, gái vãi tiền qua tay bác tài, chú bếp, khiến cơ đồ tư bản đổ sụp còn mau hơn trong giấc mộng huỳnh lương.
a) Bà V.A., như kể, còn sanh tiền, nay cư trú bên Pháp, xin miễn luận. Cỡ bà hoạt động là năm 1915, thì nay bà hơn tuổi tám mươi lăm. Xin bả thứ lỗi, chớ lớp bà còn quê, chỉ lấy Hạch, bị má ăn trên đầu, rồi bà trả thù cạo lại đầu khô hội đồng tỉnh nửa quê nửa chợ, cũng không chi đáng nói nhiều.
b) Cô Ba Trà, đã là vào thuở văn minh tân tiến, nhưng Trà ít học, chỉ có sắc mà còn thiếu nhiều điều kiện mới xứng hay chưa xứng danh từ “gái bao” (femme entretenue), nói cách khác chưa phải “điếm sang” và chỉ biết đập lột, khảo của, cô phát minh lối mới “lựa chồng” nhưng thiếu chữ “tình chung” và lọt vào tay ông toà, ông lục sự là mất danh thì có.
Về công tử, tôi không nghe có công tử miền Đông vì Biên Hoà, Bà Rịa, Thủ Dầu Một vẫn là xứ rừng, núi, những đồn điền cao su sau nầy là của Pháp, nên công tử không mọc nơi đất đỏ, đất đen, đất xám nầy.
Ở Tiền Giang có Bạch công tử một người.
Còn lại bao nhiêu công tử vẫn ở Hậu Giang, đen đúa thì xưng “Hắc công tử”, đều là con chủ điền giàu, đứa ăn cắp lúa bồ bán để tiêu pha, đứa thì bò đi kiếm gái rồi xưng “cậu Tám bò”, đứa nữa cha chết cố ruộng cho xã tri, lấy tiền mua một lần chín mười xe hiệu Wihpep để được danh cậu, rồi thảy đều lui vào bóng tối chết vô danh hay chỉ danh “con hư phá của của mẹ cha”. Nhục nhã thì có chớ danh thơm chỗ nào?
Nếu kể về tài, ắt cô không bằng một góc cô ả đào hồng nhan bạc phận nầy. Kể về tánh nết, gái xứ Bắc, thất chí vào chùa, còn gái xứ Nam như Ba Trà, có tiền muốn sắm chồng như sắm áo Le Mur không khác. Ba Trà muốn đổi giống cái ra giống đực, muốn có chồng cho vừa con mắt lại thêm muốn có chồng hờ chồng phụ, như đàn ông sung sức sẵn tiền, sắm V.1, V.2 cho phỉ chí bình sanh. Thìn là con trai có đầu óc ban đầu từ chối, cự nự nhưng cự làm sao lại mắt liếc như dao, mũi đo đỏ như muốn khóc. Hai người kể cũng gay cấn lắm, hạnh phúc dầu có cũng chẳng được bao lâu, một trở ngại là mẹ cô Ba không thích Thìn vì chê nghèo, và sau hồi tâm cho Toàn chịu tang của mình, vì Toàn là con nhà tỷ phú. Cô Ba lập tâm “bắt sống” Thìn bằng mọi cách. Sơ khởi, cô ỷ có quen với lục sự Đỗ Hữu Bửu là chủ sở của Thìn, nên giả chước vô toà xin sao lục khai sanh, nói với ông Bửu xin cậy Thìn làm thủ tục giúp cô, nhưng Thìn không vì Bửu mà vâng lời Trà…, Trà thất trận phen nầy bày ra trận khác, cậy Nguyễn Hữu Phương đường Testard là tay làm cái hốt me chứa bài còn trước hơn Sáu Ngọ, Búa Lồ, Sáu Nhiều, Huyện Đước nữa và Phương là tay lịch duyệt, nhà Phương, Thìn năng lui tới, Phương ban đầu ngăn khuyên Trà nên chọn nơi khác, chớ Thìn, lương tám chục đồng mỗi tháng, làm sao đủ gánh một gia đình mà người nội trợ không biết luộc một cái hột gà la cót (beaf à la coque) cho nên thân, trái lại quen tật đánh bài đánh me như cơm bữa lại còn đèo tật hút lớn, mỗi ngày lúc đó một hộp một đồng bạc (10 grammes) mà nay trở nên triệu nầy triệu kia, Thìn gánh sao kham. Thìn đau trĩ, vào nhà thương Gia định nằm điều trị, cô kéo thầy Bảy Phương cùng ngồi xe vào rước cho được Thìn vào Chợ Lớn xơi cơm Tàu “hối thèn”, mà trời đất ơi, trốn lòi con trê, ngồi xe nệm êm mà còn nhảy nhổm mỗi lần xe xóc đá, mà ăn uống sao vô? Nhưng mê hồn trận của đàn bà, lỳ lợm như Từ Hải, “xô chẳng rúng”, chết tức nên đứng sững như trời trồng, thế mà “Kiều than mà ngả”, đủ biết ma lực của giống cái mạnh đến bực nào. Những ai đứng ngoài vòng, đứng đánh phách, hãy vào vòng thì biết. Tôi bữa đó nghe cô Ba kể đến đoạn nầy, tôi đang nằm nơi động Khang trong khu xóm Đất Thánh Chà, bất ngờ tôi cũng ngồi nhổm dậy và mừng lòng vì năm 1952, cô “tha Năm và tôi” chớ cô ừ một tiếng, có lẽ tôi cũng vào mê hồn trận mặc dầu năm 1952 cô đã trên bốn mươi còn tôi đã tròm trèm ngũ thập. Bây giờ tôi nhớ lại, sở dĩ tôi với Thìn không quen biết nhau, là vì Thìn làm việc ở toà Sải gòn nhưng thuộc bên grefe, Đào Duy Anh dịch là “ký lục phòng”, nôm na nói theo Nam là phòng lục sự, chuyên về sao lục án toà và hộ tịch, còn lúc đó tôi vẫn năng lên toà để “chầu hầu” ông bô tôi là ông Kính, và làm nơi phòng phiên dịch (bureau de traduction) là nơi bạn quen gồm Siêu Đức, Khai, Trường, Giàu, Xứ, và một người tôi mang ơn lớn không quên nhưng đã từ trần là anh Bùi văn Khá.
Thìn sánh đôi với Trà, vô phúc hay là hữu phúc. Thiếu chi người thèm muốn địa vị của Thìn. Con ngựa trời bắt cặp được với cái rồi để cho cái làm thịt xơi ngon lành, nhưng cho đến tận thế, ngựa trời vẫn tìm ngựa trời cái để bắt cặp. Chớ chi Thìn và Trà khi bắt tay nhau thì xin đổi ra Hà nội, xa sòng me, hoặc lên Lào lên Nam vang, tốt hơn hết là lên vùng cao nguyên ở chung với đồng bào sơn cước hoạ may bền bỉ.
Sau một tháng nhà thương Gia định, lành mạnh về, Thìn dọn về ở chung với Trà, và đưa Trà về ra mắt cha mẹ, thì thảy đều vui vẻ, tuy song thân không thích chưng dọn bông hoa trong nhà, nhưng có bao giờ ai lại chối từ khi có người biếu một nhánh mai ngày tết hay một giò lan hún hín mấy ngày xuân. Nhưng như đã nói, một hoen ố trên gương trong là khi ra mắt mẹ của Trà thì bà không vui, bà lui về Cần Đước, không chịu ở Sài Gòn, và một thời gian sau, bà lâm bịnh, vợ chồng Trà về làng thăm, thì hôm ấy mẹ đã bớt và năm giờ chiều vợ chồng Trà quay xe về nhà, đêm ấy vào lúc mười hai giờ khuya ít giờ sau có người nhà ở Cần Đước lên cho hay thân mẫu của Trà đã tắt thở vào giờ tý.
Việc ma chay quàn lâu đến mười sáu ngày thay vì một tháng chẳng qua là để cho giới me bài có thì giờ điếu tang, việc ấy vừa tỏ lòng Trà trước sau vẫn là con có hiếu, việc ấy chưa đáng kể bằng nhà họ Trần là nhà có huông, ngày trước cha trối không nhìn Trà, bây giờ mẹ Trà trối gọi dây thép ra Nha trang cho Toàn hay vào thọ tang, làm bỉ mặt Thìn, một cách không cần thiết lắm.
Một câu nhớ trong văn Pháp: “Sống là đau khổ. Kẻ nào đau khổ nhiều, kẻ ấy sống nhiều”. Sống đây là có kinh nghiệm già giặn. Thìn lấy Trà, đau khổ nhiều hơn là vui sướng.
Trà tính sai một con toán khi lấy Thìn làm chồng. Muốn thủ phận làm một vợ tòng nhứt nhi chung, nhưng cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng, khi tiền bạc hết, thì sự chung thuỷ trở thành bọt nước! Đánh me thua thâm thủng lần hồi hết sạch tiền ăn năm nọ. Xin nghỉ việc vợ chồng dắt nhau qua Xiêm, Thìn tìm không ra sở làm, cũng may không gặp con sâu họ Đỗ, còn rắp tâm tìm ông hoàng năm trước, định nhớ nhói, thì: “Sư đà hái thuốc phương xa, mây bay hạc cánh biết là tìm đâu (Kiều). Lại đành trở về Sài Gòn nợ đẻ thêm nợ, bối rối không vừa.
Và câu sáo phải dùng là “hoạ vô đơn chí”, bỗng có một ông toà, trước có vợ Pháp, nay đã mặc áo đỏ, đáng lẽ nghiền ngẫm luật pháp, có chơi trống thì đánh trống chầu mới phải, nhưng đến tuổi đàn bà “hồi xuân” (retour dage), ông bắt chước hồi xuân theo, và không thích cầm chầu nẻ mặc lại tập chơi trống bỏi. Tuổi của ông, gái tơ thiếu gì, nhưng ông lại ham thứ nạ dòng, gái từng xông pha trận mạc!
Cay nghiệt thay, lúc làm bạn với Thìn, Trà muốn làm sao Thìn hiểu nỗi lòng, Trà chưa hư, chưa thất thân cùng bất cứ ai, ý nghĩ ngoại tình chưa đến cùng Trà, nhưng tỷ có ai muốn đánh dây thép bắt tình, chưa phải là “tư thông”, Trà vẫn đánh đưa trả lời, không khác trái banh nhỏ chuyền qua lại trên vợt tơ nít, vợt nào mòn, trái banh nào hầy hấn, mà lợi cả đôi đàng. Trong câu chuyện “chén me Đại Thế Giới” của cầu thủ Koln đã kể trong tích “một cô lưu lạc” trước đây, có nói đến một a múi phá hoả cho sòng me, nhan sắc lộng lạc nhứt thời, cô ta trên tay đeo ba chiếc nhẫn kim cương, tự xưng mình là Võ Tắc Thiên, lấy một lượt ba chồng là ba công tử triệu phú Chợ Lớn, mới đủ cung cấp cho cô ta “tình” và “tiền”.
Trà vẫn không từ chối, tuy không biết a múi Võ Tắc Thiên, nhưng vẫn cùng tư tưởng, “lấy con sóng sắc đong đưa thuyền tình”, nào có hao mất có mảy may nào cái kia đâu mà sợ, nhưng Trà quên làm như vậy, trái tim của Thìn nát ngớu như tương còn gì? Trà muốn một mặt giữ dạ chung tình với Thìn, nhưng mặt khác hãy để Trà cọ dĩa với khách bự cỡ quan toà như vầy để giải cơn nguy khốn.
Quan toà không lo xử kiện, lại giả làm khách thương nhiều bạc ở Bạc Liêu lên đây bán mấy ghe muối, và cậy lục sự Bửu làm người giới thiệu, nhưng làm sao qua mắt hoa khôi Ba Trà? Chỉ làm khổ cho Thìn, là người có khí tiết, đâu chịu cảnh giã chày đôi? Bọn đàn ông chúng tôi cũng lắm kẻ hèn đốn, tướng tá tỉnh trưởng, khi mất ghế, vẫn ăn bám những đàn bà nạ dòng lên cỡn, nhưng cũng không thiếu người như Thìn, bình phong tuy rách, cốt cách vẫn còn, Thìn ở trong giới nho phong lễ giáo xuất thân, đâu khứng làm ma cô, ma cạo, maquereau, hạng hư thúi.
Tử ngày ở Xiêm về, Thìn trở lại nghề thông ngôn toà án, nhưng nợ càng níu áo, Trà bán đồ đã có trưởng toà niêm phong, tội sang đoạt về phần Thìn chịu, và trong khi bối rối, quan toà kia có dịp tuyên án tha bổng Thìn, gây cái ơn khó trả. Quan toà bắt bén, mượn cớ đến thăm Trà, đã mấy phen đụng đầu Thìn, Thìn chịu mãi cảnh nhục nhã để cho vợ nói chuyện với “mèo” trong nhà, Thìn bỏ nhà ra đi, Thìn chịu thua người quyền thế, nhưng máu hiên ngang vẫn sôi nóng, Thìn thề quyết sang Pháp học thêm, sẽ trở về nhưng từ ấy bặt tin, còn mất chẳng ai hay.
Khi Thìn lánh mặt, quả Trà có bỏ công lặn lội đi tìm, như vậy dây tơ tình chưa dứt, nhưng khi gặp nhau giữa đường Catinat, Thìn giả lơ không thấy, Trà cố chường mặt mà Thìn không ngó ngàng, Trà nhiều tự ái mà Thìn tự ái không kém, thành thử dây tơ tình bị căng thẳng quá, đứt luôn, cuộc đổ vỡ bắt đầu từ đây, trách ai bây giờ.
Google photos
Nhắc lại thuở Âu châu chiến tranh kỳ nhứt (giặc 1914-1918), miền Nam có sản xuất một mớ công chức cao cấp, sơ khởi là công chức hạ cấp tình nguyện sang Pháp cho biết hơi đàn bà mẫu quốc với chức thông ngôn đạo binh lính thợ, lính làm công việc cực nhọc sau trận tuyến, khi Pháp thắng trận, các viên thông ngôn ấy được cho vào trưởng đào tạo công chức cao cấp miễn tú tài, trong số kể sơ:
– Dương Văn Giáo, học trường chánh trị, đậu tấn sĩ luật, bổ làm trạng sư ở Sài Gòn.
– Nguyễn Xuân Giác, Nguyễn Xuân Quang, đều về làm quan toà.
– Dương Văn Mai, về làm chưởng toà ở Sài Gòn rồi xuống ở Long Xuyên.
– Phạm Văn Còn, trước học trường Sư phạm Hà nội, qua Pháp, trở về làm nơi phòng kiểm duyệt báo chí rồi làm hiệu trưởng trường trung học Trương Vĩnh Ký, sống đến gần chín mươi và mới mất cách nay vài tháng, đạo hạnh hiền lành.
– và Trần Văn Tỷ, trước làm thơ ký toà bố Bạc Liêu, qua Pháp, cùng học một trưởng chánh trị với Dương Văn Giáo, và làm toà áo đỏ nhiều năm ở Sài Gòn.
Ông kể là người khá, giúp ích cũng nhiều, duy hiếu sắc và ăn ở quá theo Tây, trước có vợ đầm, sau lấy cô Ba Trà, rồi lấy cô Bảy Trà Ôn, thảy đều vợ của người khác! Đạo đức bỏ trôi sông biển, chơi cho phỉ sức người nắm quyền trong tay nhưng phải tật hiếu sắc và cướp đoạt hoa có chủ, không sợ gai đâm! Ngoài ra, phận sự nơi toà, ông lo tròn, thêm có khả năng, các quan Tây mến phục nên nhắm mắt việc đời tư, ông về hưu với tiếng tốt.
Vào khoảng năm 1927 hay lối đó, kẻ viết bài nầy nhiều hôm gặp ông, khi mặc áo ngủ pyjama, khi khác theo dõi cô Ba leo thang lầu cao lâu tửu điếm Chợ Lớn trong khi kẻ nầy đi với bồ trên lầu đi xuống, gặp nhau chào, ngỡ ngàng ngượng nghịu tôi kính ông vào bậc thúc bá, quen nhau vì thường gặp ông nơi nhà ông Kính, sau nầy là nhạc phụ nhiều năm, ông gặp tôi vẫn hít hạt cười như tuồng tha thứ, với ý nghĩ không nói: “Tao làm gì thây kệ tao, và mi còn nhỏ lắm, không nên bắt chước gương nầy?”
Riêng nói về Trà, từ thôi nhau với Thìn, là nàng xuống dốc, tuy còn mấy năm sung sướng trên nhung lụa với ông toà nầy và kế đó là một lục sự toà, con nhà danh giá sẽ nói nơi đoạn sau, nhưng từ khi lựa chọn Thìn mà không được nối tóc đến răng long đầu bạc, từ ấy Trà phú cho hoa trôi nước chảy, “mặc người mưa Sở mây Tần, những mình nào biết có xuân là gì?” (Kiều).
Ông toà đem Trà về sống chung nơi nhà riêng, đường Testard, Trà vẫn bài bạc, lên xuống các sòng me Sáu Ngọ, Búa Lồ, báo hại quan toà phải theo làm hộ vệ trong lúc còn mê nhan sắc nàng, và vẫn xuất tiền nhà trả nợ thua thiển. Chung cuộc được vài năm kế tan vỡ, mạnh đường ai nấy đi.
Kể lại ông Bảy Phương nầy cũng ác? Ba Trà muốn ông Thìn, cậy Bảy Phương dọ đường đất giùm, ông lại lần khân hỏi trước hỏi sau:
Cậy chàng mua lụa Đồng Nai,
Chàng sao lại hỏi vắn dài làm chi?
Đã từng ăn cận ngồi kề,
Vóc nầy bao nả, chàng thì nhớ cho.
Thì chàng liệu lấy mà mua!
Ba Trà có tiền trong tay, muốn sắm cho mình một người chồng theo ý muốn. Lại phải hỏi vắn dài, vừa vặn làm chi. Cần là cần áo khít khao, cho lòi cái co là đủ khéo. Đến đây tôi tạm để cho thầy Bảy suy nghĩ và lựa…
Khi gặp được Từ Hải, nàng Kiều bèn tính việc ân ái đáp đền, oán báo oán. Cô Ba làm khác hơn cô Kiều. Nay đã cầm bạc vạn trong tay, thuở ấy con số “triệu” chưa ai thấy lần nào, cô thuở nay giận đời mình có nhan sắc không ai hơn, mà vẫn làm một món đồ chơi cho bọn râu mày kia, và tại sao chúng nó lấy đày tớ vẫn được lấy con vú con ở cũng không ai cười, trong khi đàn bà trí non nghĩ cạn, rủi thất thân một phút, phải mang tiếng “bà chủ bà Tổng, đành để thằng sốp phơ nó mò tỳ!” Nay như mình, bị Toàn hắt hủi, chồng Tây u không kể sá, ông bác sĩ tốt thật nhưng đã có vợ và ông trộng tuổi hơn mình nhiều. Nay sẵn tiền, thử lựa một chồng cho xứng đôi vừa lứa, lại có hại gì? Trong khi cô lên xuống nhà bác Bảy phương đường Testard, cô chíp trong bụng một chàng bô trai, tóc trán quăn quăn, đáng yêu nhứt là không khi nào ngó cô ngay mặt. Hỏi thăm ra cha người đó là ông Thưởng, nhà còn ở đường nay là Tự Đức, trước làm giám thị và dạy về đồ mộc nơi trường “bá nghệ” đường Hồng Thập Tự, hiện trường còn đó. Vốn nhà dòng dõi thơ hương nề nếp, chị và em gái đây xin miễn kể, kể sơ ba anh em trai thôi, thảy đều khác chúng.
Người của cô Ba lựa là con trưởng, hỏi ra nay còn sống bên Pháp, cứ định tuổi thìn, thì đã tròm trèm 79 tuổi. Cũng là thông ngôn toà án như Khai, Thìn có tánh khẳng khái, chưa vợ, nhưng biết xét phận, nên thấy gái xinh, không ngó cũng không chào. Ngộ quá thuở nay trâu tìm cột, mà nay cột lại tìm trâu! Bấy lâu lắm người móp sát đất cầm lá đơn cầu hôn lo le trước mắt mà Trà không đếm xỉa, thế mà chàng nầy sao chẳng động tình. Và ông trời già cũng éo le, bao nhiêu si tình kia đều rớt mà Thìn được chấm đậu. Nhưng đậu và rớt là gì? Thà thi rớt mà khỏi bị mò tôm, Thìn được cô chấm đậu làm chi để sau nầy Thìn mãi khổ tâm và bực tức.
Nhắc lại mấy lần gặp mặt Thìn tại nhà bác Bảy Phương, đường Testard, Trà lấy mắt đưa tình, mà Thìn để trơn trợt như trên hàng lá môn nàng mặc. Nhưng người đẹp là Trà nào chịu buông tha, và lần thứ nhứt, một trai bô (beau gosse) bị gái đa tình bắt sống.
Năm tháng sau cái chết của Ông Trùm Aprile, Astorre bận rộn với việc tham khảo ý kiến một số chiến hữu cao niên đã nghỉ hưu của lão, áp dụng các biện pháp bảo vệ con cái lão và điều tra về vụ sát hại lão. Trước hết chàng phải tìm ra nguyên nhân dẫn đến một hành động mạo hiểm và khác thường như vậy. Kẻ nào có thể ra lệnh giết? Chàng biết mình phải hết sức thận trọng. Đầu tiên chàng gặp Benito Craxxi ở Chicago. Craxxi đã giã từ tất cả các phi vụ làm ăn bất hợp pháp trước Trùm Aprile mười năm. Lão là một nhân vật tai to mặt lớn của Ủy ban Mafia quốc tế và có kiến thức uyên bác về toàn bộ cơ cấu Mafia ở Hoa kỳ. Lão cũng là người đầu tiên nhận ra sự suy giảm quyền lực của các Đại gia và tiên đoán được ngày tàn của chúng. Thế là lão khôn ngoan về hưu để quay sang thị trường chứng khoán. Tại đây lão vô cùng kinh ngạc khi biết rằng lão có thể lấy cắp tiền nhiều như trước mà lại chẳng lo bị pháp luật trừng phạt. Trùm Aprile đã cho Astorre biết Craxxi là một trong những người chàng phải tham khảo ý kiến khi cần. Ở tuổi bảy mươi, Craxxi sống với hai vệ sĩ, một lái xe và một phụ nữ Italy còn trẻ vừa là đầu bếp vừa là người trông nhà, và nghe đâu còn là người đáp ứng nhu cầu chăn gối của lão. Sức khỏe của lão còn rất sung mãn vì cách sống điều độ. Lão ăn uống rất chừng mực. Bữa sáng một bát trái cây và pho mát; bữa trưa một suất ốp la hoặc canh rau, chủ yếu là rau diếp xoăn; bữa tối chỉ có một miếng thịt bê hoặc cừu rán đơn giản và món sa lát hành, cà chua và rau diếp. Lão chỉ hút một điếu xì gà một ngày, ngay sau bữa tối, với cà phê. Lão tiêu tiền rộng rãi và khôn ngoan. Lão rất thận trọng với những ai lão đã từng khuyên bảo. Vì một người đưa ra lời khuyên dai tức khắc bị căm ghét như kẻ thù. Nhưng với Astorre lão rất độ lượng, vì lão là một trong số nhiều người mắc nợ Trùm Aprile. Chính Aprile đã bảo vệ lão khi lão về nghỉ hưu. Họ gặp nhau vào bữa sáng. Trên bàn là những bát trái cây – những quả lê vàng bóng, những quả táo nâu đỏ, một bát dâu tây quả nào quả nấy to như trái chanh, nho trắng và những trái anh đào đỏ sẫm. Một tảng bơ lớn đặt trên tấm bảng gỗ trông như một khối vàng ròng. Người giúp việc rót cà phê cho họ rồi biến mất. – Thế đấy, anh bạn trẻ, Craxxi nói. Cậu là người bảo vệ mà Aprile đã chọn. – Vâng, thưa ngài, Astorre trả lời. – Ta biết ông ấy đã huấn luyện cậu cho công việc này. Ông bạn già của ta luôn nhìn xa trông rộng. Chúng ta đã trao đổi với nhau. Ta biết cậu rất có khả năng. Vấn đề là ở chỗ cậu đã có bản di chúc chưa? Astorre nở nụ cười duyên dáng, nét mặt chàng cởi mở. – Bác tôi đã cưu mang tôi và cho tôi tất những gì tôi đang có, chàng nói. Tôi là người bác ấy hy vọng. Và tôi đã thề sẽ bảo vệ gia đình. Nếu Nicole không được làm hội viên hãng luật, nếu mạng truyền hình của Marcantonio có gì trục trặc, nếu có chuyện gì xảy ra với Valerious thì họ vẫn sẽ còn các nhà băng. Tôi có một cuộc sống hạnh phúc. Tôi tiếc rằng phải nhận nhiệm vụ này. Nhưng tôi đã hứa với bác tôi và tôi phải giữ lời. Nếu không, tôi còn có thể tin vào cái gì trong suốt quãng đời còn lại của tôi? Những khoảnh khắc thời thơ ấu chợt hiện về trong tâm trí chàng, những khoảnh khắc của niềm hân hoan tuyệt đỉnh nhờ nó mà chàng cảm nhận được lòng biết ơn. Những hình ảnh của chính chàng khi còn là một cậu bé ở Sicily đang cùng ông bác dạo bước qua miền sơn cước, nghe bác kể những câu chuyện về các Ông Trùm. Rồi chàng mơ thấy một thời đại khác khi công lý được thực thi, lòng trung thành được coi trọng và những chiến công vĩ đại được thực hiện bởi những con người tử tế và mạnh mẽ. Và vào lúc đó chàng nhớ cả Aprile và Sicily. – Tốt lắm, Craxxi nói, cắt ngang dòng suy nghĩ của Astorre và kéo chàng về với thực tại. Cậu đã có mặt ở đó. Hãy tả lại mọi cái cho ta nghe. Astorre làm theo yêu cầu của lão. – Và cậu chắc rằng cả hai sát thủ đều thuận tay trái chứ? Craxxi hỏi. – Ít nhất là một đứa, đứa kia hình như cũng thế, Astorre nói Craxxi chậm rãi gật đầu rồi dường như chìm vào suy tư. Một lúc sau lão nhìn thẳng vào Astorre và nói – Ta nghĩ là ta biết chúng. Nhưng không được vội vàng. Quan trọng hơn là ai đã thuê chúng và tại sao. Cậu phải hết sức cẩn thận. Ta đã nghĩ nhiều về việc này. Kẻ đáng ngờ nhất là Timmona Portella. Nhưng vì lý do gì và để làm vừa lòng ai cơ chứ? Timmona luôn là một kẻ liều lĩnh. Nhưng giết Aprile là cả một việc làm hết sức mạo hiểm. Ngay cả Timmona cũng rất sợ Trùm Aprile cho dù ông ấy có về hưu hay không. – Còn bây giờ là suy nghĩ của ta về hai tay súng. Chúng là hai anh em sống ở Los Angeles, và là nhữug kẻ cừ nhất ở đất nước này. Chúng kín như bưng. Rất ít người biết chúng là anh em sinh đôi. Và cả hai anh em chúng đều thuận tay trái. Chúng can đảm, và là những chiến binh bẩm sinh. Nguy hiểm thôi thúc chúng, còn phần thưởng ắt là rất lớn. Còn nữa, chúng nhất định phải có một số bảo đảm – đó là chính quyền không theo đuổi vụ này. Ta lấy làm lạ là cả cảnh sát và FBI đều không tiến hành giám sát tại nhà thờ. Aprile vẫn là đối tượng của FBI ngay cả khi ông ấy đã về hưu. – Những gì ta nói chỉ là giả thuyết. Cậu phải điều tra mà khẳng định. Và rồi, nếu ta đúng thì cậu phải giáng trả với toàn bộ sức mạnh của cậu. – Còn một việc nữa, Astorre nói. Các con của Ông Trùm có bị nguy hiểm không? Craxxi nhún vai. Lão thận trọng trong khi vẫn đang gọt vỏ một quả lê vàng. – Ta không biết, lão nói. Nhưng đừng quá khiêu hãnh để không yêu cầu họ giúp đỡ. Chính cậu cũng không tin mình đang gặp nguy hiểm cơ mà. Ta có một đề nghị cuối cùng dành cho cậu đây. Hãy đưa ngài Pryor từ London về đây để quản lý các nhà băng của cậu. Ông ấy là người có năng lực trong mọi lĩnh vực. – Còn Bianco ở Sicily thì sao? Astorre hỏi. – Cứ để ông ấy ở đó, Craxxi nói. Khi nào cậu tiến xa hơn chúng ta sẽ lại gặp nhau. Craxxi cho thêm hương vị vào cà phê của khách. Astorre thở dài. Việc này có vẻ lạ lắm, chàng nói. Tôi không ngờ tội lại phải hành động vì Ông Trùm, Ông Trùm Aprile. – Thế đấy, Craxxi nói. Cuộc sống luôn luôn tàn nhẫn và đầy rẫy khó khăn với lớp trẻ. Hai mươi năm Valerious sống trong giới quân báo, không phải một thế giới giả tưởng như của các em gã. Gã dường như đón trước được những gì Astorre nói và phản ứng lại mà không hề ngạc nhiên. – Tôi cần anh giúp, Astorre nói. Có lẽ việc này sẽ động chạm đến một số nguyên tắc đạo đức của anh đấy. Valerious nói khô khốc – Cuối cùng thì cháy nhà mới ra mặt chuột. Tôi tự hỏi chuyện này sẽ kéo dài bao lâu? – Tôi không biết anh muốn nói gì. Astorre nói, thoáng ngạc nhiên. Tôi cho rằng cái chết của ba anh là một âm mưu liên quan đến NYPD và FBI. Anh có thể nghĩ là tôi đang phịa, nhưng đấy là những gì tôi nghe được. – Có thể lắm, Valerious nói. Nhưng tôi không tiếp xúc được với những tài liệu mật. – Nhưng anh phải có bạn bè trong các cơ quan tình báo. Anh có thể hỏi họ. – Tôi không pahỉ hỏi han gì cả, Valerious cười nói. Họ là những kẻ ba hoa. Chú có biết chú đang tìm kiếm cái gì không? – Bất kỳ thông tin nào về kẻ đã giết ba anh, Astorre nói. Valerious ngả người ra chiếc ghế bành và rít xì gà – thói xấu duy nhất của gã. – Đừng nói nhảm nữa, Astorre, gã nói. Để tôi nói với chú điều này. Tôi đã tiến hành phân tích. Đây có thể là hành động trả thù của một băng nhóm tội phạm. Tôi cũng nghĩ tới việc chú được kiểm soát các nhà băng. Ông già vẫn luôn có một kế hoạch mà. Tôi hình dung thế này. Ông già đã biến chú thành người đúng mũi chịu sào cho cả gia đình. Sau đó thì sao hả? Chú được đào tạo này, chú là đại diện tại chỗ của ông chỉ để ra tay trong một thời điểm quyết định. Có một khoảng trống mười một năm trong cuộc đời chú, và lớp ngụy trang của chú thì hết ý – một ca sĩ nghiệp dư, một vận động viên đua ngựa ư? Cái vòng vàng chú luôn luôn đeo cũng đáng ngờ. Gã dừng lại, thở dài rồi nói tiếp, phân tích như vậy được không hả? – Rất tốt là đằng khác, Astorre nói. Tôi hy vọng anh giữ kín việc này. – Được thôi, Valerious nói. Nhưng rồi té ra chú là một người nguy hiểm và vì thế chú sẽ có hành động cực đoan. Nhưng tôi có vài lời khuyên: Tấm mặt nạ của chú mỏng lắm, nó sẽ bị bóc ra ngay thôi. Còn về sự giúp đỡ của tôi, tôi có một cuộc sống tốt đẹp, tôi và chú hoàn toàn trái ngược nhau. Vì vậy, câu trả lời của tôi lúc này là không. Tôi không giúp được. Nếu có gì thay đổi thì tôi sẽ liên lạc. Một phụ nữ bước ra dẫn Astorre tới phòng làm việc của Nicole. Nàng ôm chầm lấy chàng và đặt lên môi chàng một nụ hôn. Nàng vẫn còn yêu chàng. Mối tình lãng mạn thời niên thiếu của họ không hề để lại những vết thương lòng. – Tôi phải nói chuyện riêng với chị, Astorre nói. Nicole quay sang vệ sĩ của mình. – Helene, làm ơn để chúng tôi ở lại. Tôi không sao đâu. Helene nhìn Astorre một chặp. Cô đang khắc sâu vào ký ức sự tỉnh táo của chàng. Cũng như Cilke, Astorre để ý đến vẻ tự tin của cô – một loại niềm tin thường được thể hiện bởi một con bạc khi đang thủ một quân bài chủ tại thời điểm quyết định hoặc bởi một kẻ có vũ khí giấu trong người. Chàng đưa mắt tìm kiếm xem vũ khí có thể được giấu ở đâu. Chiếc quần bó và áo khoác phô ra một vóc người đầy ấn tượng – không mang vũ khí. Rồi chàng phát hiện ra một đường xẻ trên ống quần. Cô nàng đang đeo súng nơi ống chân, thật chẳng khôn ngoan chút nào. Sử dụng hết vẻ quyến rũ của mình chàng mỉm cười với Helene lúc cô đi ra. Helene thờ ơ nhìn lại chàng. – Ai tuyển cô ta thế? Astorre hỏi. – Ba tôi, Nicole nói. Thế mà lại hay. Cô ấy hạ ngon ơ đám trấn lột và tán gái đấy. – Tôi cá vậy, Astorre nói. Chị đã lấy được hồ sơ của ông già bên FBI rồi phải không? – Phải, Nicole nói. Và đó là thứ khủng khiếp nhất mà tôi từng đọc. Đơn giản là tôi không tin, vả lại, người ta cũng chẳng chứng minh được bất kỳ điều gì trong đó cả. Astorre biết rằng ông Trùm hẳn muốn chàng sẽ lên tiếng phủ nhận sự thật. – Cho tôi mượn bộ hồ sơ vài ngày được không? Chàng hỏi. Nicole nhìn chàng với cái nhìn thờ ơ của một luật sư. – Tôi nghĩ rằng anh phải đọc nó ngay bây giờ. Tôi muốn viết một bản phân tích, gạch dưới những vị trí quan trọng đã. Thực ra trong đó cũng chẳng có gì giúp ích được cho anh. Có lẽ, anh và các anh tôi không nên xem thì hơn. Astorre trầm ngâm nhìn nàng rồi mỉm cười. – Tệ lắm sao? – Để tôi nghiên cứu đã, Nicole nói. Lũ FBI chó chết như vậy đấy. – Bất cứ điều gì chị nói đều tốt đối với tôi. Nhưng hãy nhớ, đây là một việc nguy hiểm. Hãy bảo trọng. – Nhất định rồi, Nicole nói. Tôi có Helene. – Tôi sẽ đến ngay nếu chị cần. Astorre đặt tay chàng lên cánh tay Nicole để trấn an nàng, và nàng nhìn chàng hồi lâu với ánh mắt khát khao đến nỗi chàng cảm thấy khó chịu. Gọi cho tôi nhé. Nicole mỉm cười – Tôi sẽ gọi. Nhưng tôi ổn mà. Thực ra, nàng đang chờ cuộc hẹn tối nay với một nhà ngoại giao dễ thương và hấp dẫn đến khó tin.
Google photos
Trong phòng làm việc bài trí công phu lắp sáu màn hình, Marcantonio Aprile đang tiếp người đứng đầu công ty quảng cáo hùng mạnh nhất New York. Richard Harrison là một người tầm thước, quý phái, ăn mặc lịch sự, có thân hình của một cựu người mẫu nhưng mạnh mẽ như một lính dù. Trong lòng Harrison là một chiếc cặp nhỏ đựng băng video. Với một vẻ hoàn toàn tự tin, không hề xin phép, ông ta bước tới bộ đầu máy TV và nhét vào đó một cuốn băng. – Xem cuốn này đi, Harrion nói. Đây không phải là một trong số những khách hàng của tôi, nhưng tôi nghĩ cũng đáng xem đấy. Cuốn băng video quay một quảng cáo cho bánh pizza Mỹ, và người quảng cáo là Mikhail Gorbachev, cựu tổng thống Liên Xô. Gorbachev chào hàng với một thái độ im lăng, không hề nói một lời, chỉ chú tâm cho các cháu ông ta ăn bánh pizza trong khi đám đông bày tỏ lòng ngưỡng mộ. Marcantonio mỉm cười với Harríon. – Một chiến thắng của thế giới tự do, anh nói. Thì đã sao? – Cựu lãnh đạo của nhà nước Xô Viết, vậy mà bây giờ ông ta đang làm trò quảng cáo cho một hãng bánh pizza của Mỹ. Như thế chẳng ngạc nhiên lắm sao? Và tôi nghe nói người ta chỉ trả cho ông ta có nửa triệu đô thôi. – OK, Marcantonio nói. Thế thì đã sao? – Tại sao người ta có thể làm những việc nhục nhã như vậy? Harrison nói. Và bỗng nhiên Marcantonio nhớ đến cha mình. Ông Trùm cũng sẽ có cảm giác khinh thường như thế đối với người đã từng lãnh đạo một đất nước vĩ đại mà không bảo đảm được khả năng tài chính cho gia đình mình. Trùm Aprile sẽ nghĩ cha nội này là kẻ ngu nhất trên đời. – Một bài học đắt giá trong lịch sử và tâm lý con người, Marcantonio nói. Nhưng tôi nhắc lại, như thế thì đã sao? Harrison vỗ bồm bộp vào hộp băng hình của ông ta. – Tôi còn có nhiều hơn thế, mà lại còn dự phòng cả một vài phản ứng. Những cuốn băng này còn có phần nhạy cảm hơn. Tôi và anh làm ăn với nhau đã lâu. Tôi muốn được bảo đảm rằng anh sẽ tiếp tục phát những quảng cáo thương mại này trên mạng lưới truyền hình của anh. Những băng còn lại rất cần được quan tâm. – Tôi không tưởng tượng nổi, Marcantonio nói. Harrison lắp tiếp một băng khác và giải thích – Chúng tôi đã mua bản quyền sử dụng những danh nhân đã chết vào các quảng cáo thương mại của mình. Việc không sử dụng họ trong xã hội chúng ta là vô cùng lãng phí. Chúng tôi muốn thay đổi điều đó và đưa họ trở lại với niềm vinh quang trong quá khứ. Băng hình bắt đầu chạy. Một loạt hình ảnh mẹ Teresa đang cứu trợ người nghèo và người bệnh ở Calcuta, chiếc áo nữ tu của bà choàng lên người đang hấp hối. Trong một cảnh khác, bà đang nhận giải Nobel Hòa bình. Khuôn mặt giản dị của bà thật rạng rõ, vẻ khiêm nhường thánh thiện của bà trông thật cảm động. Sau đó là cảnh bà đang múc súp từ một chiếc nồi to cho những người nghèo trên đường phố. Tất cả các cảnh này đều là đen trắng. Bất ngờ màn hình chuyển sang có màu. Một người đàn ông ăn mặc phong lưu cầm chiếc bát không tới bên nồi súp. Ông ta nói với người phụ nữ trẻ đẹp – Có thể cho tôi một ít súp không? Tôi nghe nói súp ở đây ngon tuyệt. Người phụ nữ trẻ nở một nụ cười rạng rỡ với ông ta rồi múc súp vào bát. Người đàn ông húp, trông như thể ông ta đang rơi vào trạng thái mê ly. Sau đó màn hình chuyển sang cảnh một siêu thị với cá giá hàng chất đầy cá can súp nhãn hiệu “Calcutta”, Người thuyết minh ca ngợi “Súp Calcutta mang lại sức sống cho cả người giàu lẫn người nghèo. Mọi người có thể thưởng thức hai mươi loại súp tuyệt ngon. Làm theo công thức của mẹ Teresa”. – Tôi nghĩ cảnh vừa rồi cũng khá đấy chứ, Harrison nói. Marcantonio nhướng cao cặp lông mày. Harrison nạp một băng video khác. Một cảnh độc đáo về công nương Diana trong bộ váy cưới trùm kín màn hình, tiếp theo là một số cảnh quay nàng trong điện Buckingham. Rồi cảnh nàng đang khiêu vũ với hoàng tử Charles, vây quanh là đoàn tùy tùng hoàng gia, tất cả trong trạng thái chuyển động sôi nổi. Người thuyết minh ngân nga: Mỗi công nương xứng với một hoàng tử. Nhưng nàng công nương này còn có một bí mật”. Một người sành điệu luôn có một lọ nước hoa bằng pha lê tao nhã, nhãn hiệu sản phẩm rất rõ ràng. Người thuyết minh tiếp tục: ” Với một giọt nhỏ nước hoa Princess, các bạn cũng có thể bắt được chàng hoàng tử của mình – và không bao giờ phải lo về mùi khó ngửi nữa. Marcantonio nhấn một chiếc nút trên bàn làm việc của mình và màn hình chuyển sang màu đen. Harrison nói – Đợi đã, tôi vẫn còn mà. Marcantonio lắc đầu – Richard, anh là người có đầu óc sáng tạo đấy, song thô thiển quá. Những quảng cáo kiểu này sẽ không bao giờ được phát trên sóng của tôi. Harrison chống chế – Nhưng mà một phần tiền thu được sẽ được làm từ thiện – và chúng cũng khá đấy chứ. Tôi hy vọng anh sẽ rộng lòng. Cuối cùng thì chúng mình còn là bạn tốt của nhau cơ mà. – Chúng mình là bạn chứ sao, Marcantonio nói. Nhưng câu trả lời vẫn là không. Harison lắc đầu và miễn cưỡng bỏ những cuốn băng hình vào hộp. Marcantonio cười hỏi – À mà này, lão Gorbachev làm quảng cáo ra sao hả? Harrison nhún vai – Tệ hết chỗ nói. Cái gã ấy đến bánh pizza cũng không biết bán. Xong việc, Marcantonio lại chuẩn bị chương trình buổi tối. Đêm nay gã phải dự lễ trao giải Emmys. Phòng quay của gã có ba cái bàn lớn dành cho ban điều hành mạng lưới truyền hình, các ngôi sao và một số người được đề cử. Gã còn hẹn gặp cả Matilda Johnson, một phát thanh viên chính thức. Văn phòng của gã có một phòng ngủ với nhà tắm khép kín, một chiếc tủ đầy quần áo. Gã thường qua đêm tại đây mỗi khi phải làm việc khuya. Vào phần nghi lễ, một số người đoạt giải nhắc tên gã như một nhân tố quan trọng cho thành công của họ. Điều đó luôn luôn dễ chịu. Nhưng trong lúc bắt tay và ôm hôn gã lại nghĩ đến tất cả những lễ trao giải và tiệc tùng phải dự trong năm: Lễ trao giải Oscars, People’s Choice Awards, quà tặng AFI, và những giải thưởng đặc biệt khác dành cho các ngôi sao, các nhà sản xuất và đạo diễn. Những con người này xứng với danh vọng của họ, họ cần cái danh cũng nhiều như cần tiền bạc. Sau phần nghi lễ gã tự mình giải trí bằng cách quan sát các diễn viên với khả năng không đáng kể đang cố gây ấn tượng cho những nhân vật có ảnh hưởng như gã, và tổng biên tập một tờ tạp chí ăn nên làm ra đang bị mấy tay văn sỹ ve vãn. Gã chú ý đến nét cảnh giác trên mặt mụ, thái độ thân tình có mức độ, cứ như thể mụ là Penelope đang chờ một tay tán gái lừng danh hơn. Tiếp theo là khách mời – những nhân vật quan trọng. Những vị này đang đi một nước cờ cao: vừa ve vãn vừa là bộ dửng dưng với những ngôi sao mà họ cần cho các cuộc phỏng vấn. Các diễn viên ngôi sao rạng ngời hy vọng. Họ đã đủ thành đạt để làm một cú nhảy từ màn hình sang màn bạc, không bao giờ quay lại – hay ít ra họ cũng nghĩ vậy. Cuối cùng Marcantonio cũng kiệt sức. Những nụ cười thường trực, giọng nói vui vẻ gã phải dùng với cả kẻ thắng lẫn người thua làm gã mệt lử. Matilda thì thầm vào tai gã – Đêm nay anh về chỗ em chứ? – Anh mệt quá, Marcantonio nói. Bù đầu cả ngày lẫn đêm. – Thôi vậy, nàng nói với lòng cảm thông. Cả hai đều có thời gian biểu chặt chẽ. Em sẽ vào thành phố một tuần. Họ là những người bạn tốt vì không cần phải lợi dụng lẫn nhau. Matilda rất vững vàng. Nàng không cần đến cố vấn hay người bảo trợ. Marcantonio không phải tham gia đàm phán với các tài năng mới. Đó là việc của lãnh đạo phòng kinh doanh. Cuộc sống mà họ theo đuổi không thể dẫn đến hôn nhân. Matilda đi nhiều, còn gã làm việc mười lăm tiếng một ngày. Tuy thế họ cũng là bồ bịch thỉnh thoảng vẫn qua đêm với nhau. Họ làm tình, tán gẫu về công việc và cùng xuất hiện tại một số lễ hội. Năm thì mười họa Matilda chợt phải lòng một chàng nào đó họ mới tạm xa nhau. Marcantonio chẳng khi nào yêu cả, mà với gã việc đó cũng không hề gì. Đêm nay vô cùng mỏi mệt với cái thế giới mà gã sống, vì vậy gã rất mừng khi thấy Astorre đang chờ mình ngoài hành lang. – Ê, rất mừng được gặp chú, Marcantonio nói. Tình hình ra sao? – Tôi bận ngập đầu, Astorre đáp. Tôi có thể vào uống chút gì chứ? – Tất nhiên rồi. Tại sao lại mang áo khoác và dao găm thế này? Sao chú không gọi điện? Chắc chú chờ ngoài hành lang lâu lắm rồi. Tôi phải đi dự dạ tiệc mà. – Không sao, Astorre nói. Chàng đã giám sát ông anh họ của mình suốt cả buổi tối. Vào nhà, Marcantonio pha đồ uống cho cả hai. Astorre có vẻ hơi bối rối. – Anh có thể đề xướng cho các dự án tại mạng truyền hình của anh, đúng thế không? – Việc đó tôi làm lúc nào chả được, Marcantonio nói. – Tôi có một dự án cho anh. Nó liên quan đến việc ba anh bị giết. – Không, Marcantonio nói. Đó là tiếng “không” nổi tiếng của gã trong kinh doanh, nó ngăn chặn tất cả những tranh luận tiếp theo. Nhưng xem ra không ngăn được Astorre. – Đừng nói không như thế với tôi. Tôi có bán cái đếch gì cho anh đâu. Việc này liên quan đến sự an toàn của anh trai và em gái anh. Cả anh nữa. Rồi chàng ngoác miệng cười. Và cả tôi – Vậy chú nói đi, Marcantonio yêu cầu, gã nhận ra những thay đổi đáng kinh ngạc ở đứa em họ. Rốt cuộc thì cái thằng được chăng hay chớ đó này đang có âm mưu gì đây? – Tôi muốn anh là một bộ phim tài liệu về FBI, Astorre nói. Đặc biệt là bằng cách nào Kurt Cilke có thể tiêu diệt gần hết các gia đình Mafia. Sẽ có rất nhiều người xem bộ phim này, đúng không nào? Marcantonio lắc đầu. – Mục đích của chúng ta là gì hả? – Tôi không thể hẹn gặp Cilke được. Việc đó quá nguy hiểm. Nhưng nếu anh làm một phóng sự thì không một cơ quan nào của chính phủ dám cản trở anh. Anh có thể tìm ra nơi ông ta sống, tiền sử của ông ta, ông ta làm việc ra sao, ông ta ở vị trí nào trong cơ cấu quyền lực của Cục. Tôi cần tất cả những thông tin đó. – FBI và Cilke sẽ không chịu hợp tác đâu, Marcantonio nói. Điều đó sẽ làm cho công việc trở nên khó khăn. Anh dừng lại. Chẳng như ngày xưa khi Hoover còn làm giám đốc. Bọn mới bây giờ đi nước bài rất kỹ. – Anh làm được mà, Astorre nói. Tôi cần anh làm việc đó. Anh có trong tay cả một đoàn những nhà sản xuất và phóng viên điều tra. Tôi phải biết tất cả về ông ta. Mọi cái. Vì tôi cho rằng ông ta có thể là một phần trong âm mưu chống lại ba anh và gia đình chúng ta. – Đấy là một lý thuyết thực sự điên rồ, Marcantonio nói. – Chắc thế, Astorre nói. Có thể nó không đúng. Nhưng tôi biết đây không phải là vụ giết người do giới tội phạm non nớt gây ra. Và cái ông Cilke ấy lại tiến hành một kiểu điều tra rất nực cười. Hình như ông ta đang xóa dấu vết chứ không phải đang làm rõ chúng. – Vậy là tôi giúp chú thu thập thông tin. Thế tôi phải làm gì? Astorre dang hai tay ra và mỉm cười. – Còn tôi phải là gì hả anh Marc? Tôi chỉ muốn xem mớ tài liệu. Tôi sẽ không copy ra đâu. Anh sẽ không bị nghi ngờ. Marcantonio nhìn chàng chằm chằm. Đầu óc gã đang định hình bộ mặt vui vẻ và quyến rũ của Astorre. Gã trầm ngâm nói – Astorre, tôi tò mò về chú đấy. Ông già để chú nắm quyền. Tại sao? Chú là người nhập khẩu Macaroni. Tôi luôn luôn nghĩ về chú như một gã lập dị với chiếc áo cưỡi ngựa màu đỏ tía và cái băng nhạc nhỏ bé của chú. Nhưng ông già sẽ chẳng đời nào tin một kẻ như vậy cả? – Tôi không còn hát nữa, Astorre nói và mỉm cười. Tôi cũng không cưỡi ngựa nữa. Ông già luôn có cái nhìn chính xác. Ông đặt niềm tin vào tôi. Anh cũng sẽ phải làm như vậy. Chàng dừng lại một lát rồi nói hết sức thành thật. Ông chọn tôi để các con ông không phải cầm súng. Ông đã chọn và dạy dỗ tôi. Ông yêu thương tôi nhưng tôi có thể toi mạng. Đơn giản vậy thôi. – Chú có khả năng đánh trả không? – Ồ, có chứ, Astorre đáp và mỉm cười với người anh họ. Đó là một nụ cười nham hiểm mà một diễn viên đài truyền hình có thể nặn ra nhằm thể hiện rằng mình là quỷ sứ, nhưng ở đây nó được tạo ra bởi một tâm trạng phấn chấn cao độ đến nỗi Marcantonio phải bật cười. Gã hỏi – Đấy là tất cả những gì tôi phải làm hả? Tôi sẽ không dính dáng thêm nữa chứ? – Anh không đủ tiêu chuẩn để đi xa hơn đâu, Astorre nói. – Liệu tôi có thể suy nghĩ vài ngày được không? – Không, Astorre nói. Nếu anh nói không thì sẽ là mình tôi phải chống lại chúng. Marcantonio gật đầu. – Tôi thích chú, Astorre ạ, nhưng tôi không làm được việc này. Có quá nhiều mạo hiểm. Cuộc gặp Kurt Cilke tại phòng làm việc của Nicole là một bất ngờ đối với Astorre. Cilke mang theo Bill Boxton và năn nỉ Nicole tiếp kiến. Ông đi thẳng vào vấn đề. – Tôi được thông báo rằng Timmona Portella đang cố lập một quỹ một triệu đôla tại nhà băng của cô. Có đúng không? – Đó là thông tin cá nhân, Nicole nói. Tại sao chúng tôi phải nói với ngài chứ? Nicole nói với cái giọng Xéo mẹ mày đi cho rồi. Cilke nén giận. – Chúng tôi cho rằng lão đang rửa tiền buôn bán ma túy, ông nói với Astorre. Chúng tôi muốn các vị hợp tác với lão để chúng tôi có thể theo dõi hoạt động của lão. Chúng tôi muốn các vị nhận một số kế toán của chúng tôi vào làm việc. Ông mở cặp. Tôi có một số giấy tờ để các vị ký. Việc này sẽ bảo vệ cả hai phía chúng ta. Nicole nhận mớ giấy tờ từ tay Cilke và đọc nhanh hai trang. – Không ký, nàng cảnh báo Astorre. Các khách hàng của chúng tôi có quyền tự do cá nhân. Nếu muốn điều tra Portella thì phải có lệnh. Astorre cầm giấy tờ lên đọc. Chàng mỉm cười với Cilke. – Tôi tin ngài, chàng nói. Chàng ký rồi đưa chúng cho Cilke. – Đổi lại là gì đây? Nicole hỏi. Chúng tôi được gì cho việc hợp tác này? – Thi hành nhiệm vụ như những công dân tốt, Cilke nói. Một thư khen ngợi của Tổng thống, và chấm dứt kiểm toán có thể gây nhiều rắc rối nếu các vị không hoàn toàn trong sạch. – Thế một ít thông tin về vụ giết bác tôi thì sao? – Được rồi, Cilke nói. Bị bắn. – Tại sao hôm đó cảnh sát lại không làm việc? – Đó là quyết định của thanh tra cảnh sát Paul Di Benedetto, Cilke đáp. Và cả cánh tay phải của ông ta, một phụ nữ tên là Aspinella Washington. – Tại sao không có nhân viên FBI nào ở đó? Astorre hỏi. – Tôi e rằng đấy là quyết định của tôi, Cilke đáp. Tôi không thấy cần phải làm thế. Astorre lắc đầu. – Tôi không nghĩ rằng tôi có thể chấp nhận đề nghị của ngài. Tôi cần vài tuần để cân nhắc đã. – Cậu đã ký giấy tờ rồi, Cilke nói. Thông tin này từ giờ trở đi sẽ là tin mật. Cậu sẽ bị truy tố nếu tiết lộ cuộc trao đổi này. – Việc gì tôi phải làm thế chứ? Astorre nói. Tôi chỉ không muốn chia sẻ việc điều hành nhà băng với FBI hoặc Portella thôi. – Cứ nghĩ cho kỹ nhé, Cilke nói. Khi hai nhân viên FBI ra về, Nicole điên tiết quay sang Astorre. Sao anh dám phản đối quyết định của tôi và ký vào những giấy tờ đó! Thật là ngu xuẩn. Astorre lườm nàng; đây là lần đầu tiên nàng thấy chàng tức giận đến như vậy. – Ông ta sẽ cảm thấy yên tâm với những giấy tờ tôi ký, Astorre nói. Và đó là điều tôi muốn.
Vụ ám sát Don Raymonde Aprile đã làm rung động cả thế giới ngầm. Kẻ nào dám xuống tay hạ một Ông Trùm như lão và động cơ nào thúc đẩy chúng làm việc đó? Hay chúng bị ai sai khiến? Hoặc ai thuê? Lão đã phân phát hầu hết đế chế của mình thì còn gì mà kiếm chác? Chết đi, lão không còn cơ hội để ban phát những món quà hẫu hĩ cũng như sử dụng ảnh hưởng của mình để giúp những người ai cần đương đầu với pháp luật và số phận. Phải chăng đây là một cuộc báo thù đã từng bị trì hoãn? Liệu bí mật này sẽ có ngày bị phơi bày ra ánh sáng? Đương nhiên cũng có thể dính dáng đến đàn bà, nhưng ba mươi năm nay lão vẫn sống vò võ một mình, không ai thấy lão cặp kè với bông hoa nào hết. Lão cũng đâu phải loại người ham sắc. Con cái lão không ai bị nghi ngờ. Đây là một cú chuyên nghiệp, mà họ thì không tiếp xúc với bọn này. Cho nên việc giết lão không những bí ẩn mà còn là báng bổ. Một kẻ đã gây ra bao nỗi kinh hoàng, đã trở nên vô hại với pháp luật và đồng bọn, vẫn sống nhăn khi cai quản cả một đế chế tội ác rộng lớn hơn ba mươi năm, tại sao lại có thể bị giết như thế này? Và thật nực cười, khi đã hoàn lương, đã đặt mình dưới sự che chở của pháp luật, lão lại chỉ sống được có ba năm ngắn ngủi. Còn lạ lùng hơn khi cái chết của lão lại rơi vào im lặng. Giới truyền thông không lên tiếng, cảnh sát kín như bưng còn FBI từ chối điều tra vì coi đó là vấn đề của địa phương hoặc tệ hơn, của băng nhóm. Có vẻ như danh tiếng và quyền lực của Trùm Aprile đã tiêu tan chỉ trong ba năm giải nghệ. Thế giới ngầm cũng tỏ ra không mấy quan tâm, không có vụ thanh toán nào vì thù hận. Tất cả bạn bè và chiến hữu trung thành của Ông Trùm Aprile dường như đã quên lão. Ngay cả con cái lão xem ra cũng muốn gác vụ này lại và chấp nhận số phận của cha mình. Không ai quan tâm – Không ai, trừ Kurt Cilke. Kurt Cilke, đại diện FBI tại New York, quyết định nhúng tay vào vụ này mặc dù đây là một vụ hình sự có tính địa phương dành cho NYPD 1. Ông quyết định lấy lời khai của gia đình nạn nhân. Một tháng sau đám tang của Ông Trùm Aprle, Cilke cùng cấp phó của mình, Bill Boxton, gọi điện cho Marcantonio Aprile. Họ phải thận trọng vì Marcantonio là người lãnh đạo bộ phận lên chương trình của đài truyền hình và có nhiều ảnh hưởng ở Washington. Một cú điện thoại lịch sự đã thu xếp một cuộc gặp qua cô thư ký của gã. Marcantonio tiếp họ trong văn phòng riêng của mình tại Trung tâm truyền hình. Gã nhã nhặn chào họ, mời họ cà phê nhưng cả hai từ chối. Gã là một người cao ráo, đẹp trai, nước da màu kem Ô liu, mặc bộ vét đen, thắt cà vạt màu hồng đỏ kỳ lạ do một nhà tạo mẫu có tiếng trong giới truyền thông sản xuất. Cilke lên tiếng – Chúng tôi đang điều tra về cái chết của cha anh. Anh có nghĩ ai có thể gây ra vụ này không? – Tôi thực sự không biết, Marcantonio mỉm cười nói. Cha tôi bắt tất cả con cháu đứng ngoài cuộc. Chúng tôi lớn lên hoàn toàn xa rời công việc làm ăn của ông. Gã đưa tay làm một cử chỉ xin lỗi. Cilke không thích cử chỉ đó. – Anh nghĩ cái gì có thể là nguyên nhân? Ông hỏi. – Các ngài đã biết quá khứ của cha tôi. Marcantonio nói một cách nghiêm túc, Ông không muốn con cái dính dáng vào công việc của mình. Chúng tôi được đi học để tìm một chỗ đứng cho mình trong xã hội. Ông không khi nào đến nhà chúng tôi ăn tối. Ông chỉ đến dự lễ tốt nghiệp của chúng tôi; vậy đấy. Và đương nhiên, khi hiểu ra, chúng tôi vô cùng biết ơn. Cilke hỏi: – Anh thăng tiến vùn vụt. Ông có giúp anh chút nào không? Lần đầu tiên Marcantonio bớt đi vẻ nhã nhặn. – Không khi nào. Trong nghề nghiệp của tôi, việc những người trẻ tuổi thăng tiến nhanh chóng không có gì bất bình thường cả. Cha tôi gửi tôi đến học ở những trường tốt nhất và cho tôi khá nhiều tiền trợ cấp. Tôi đã dùng số tiền đó để phát triển khả năng kịch nghệ, và tôi đã có những lựa chọn đúng. – Và cha anh hài lòng chứ? Cilke hỏi. Ông đang quan sát Marcantonio, cố gắng đọc từng biểu hiện trên mặt gã. – Tôi không nghĩ ông thực sự hiểu rõ những gì tôi đang làm, tuy nhiên ông hài lòng, Marcantonio giễu cợt đáp. – Anh biết không, tôi đã theo dõi cha anh suốt hai mươi năm nhưng chưa lần nào bắt được ông ấy. Thật là một con người khôn ngoan. – Chúng tôi cũng không thể làm việc đó, Marcantonio nói. Anh tôi, em gái tôi và tôi. Cilke vừa hỏi vừa cười, Anh không cảm thấy sự báo thù của người Sicile đấy chứ? Anh có nghĩ đến một cái gì đại loại như vậy không? – Hoàn toàn không, Marcantonio nói. Cha tôi nuôi dạy chúng tôi khôn lớn không để làm chuyện đó. Tôi hy vọng các ngài sẽ bắt được hung thủ. – Thế còn di chúc? Cilke hỏi. Cha anh là một người giàu có. – Các ngài phải hỏi em gái tôi chuyện đó. Nó là luật sư mà, Marcantonio trả lời. – Nhưng anh biết trong di chúc có gì chứ? – Chắc thế, Marcantonio nói. Giọng gã đanh lại. Boxton chen vào, Anh không nghĩ rằng có kẻ nào đó muốn hại cụ nhà hay sao? – Không. Nếu có một cái tên, tôi sẽ báo ngay cho các ngài. – Ok, Cilke nói. Tôi để lại cho anh danh thiếp. Phòng xa mà. Trước khi đi gặp hai người con khác của Aprile, Cilke quyết định gọi điện cho thanh tra cảnh sát thành phố. Vì không muốn bị ghi âm, ông mời Paul Di Benedetto tới một trong những nhà hàng Ý đẹp nhất khu East Side. Di Benedetto rất khoái ăn nhậu miễn là y không phải chi tiền túi. Hai người thường phải giải quyết công việc cùng nhau nhiều năm qua và Cilke rất thích giao du với y. Lúc này ông đang quan sát Paul nếm thử các món. – Thế đấy, Di Benedetto nói. Cánh điều tra Liên bang chẳng mấy khi được xơi một bữa ngon lành như thế này. Cậu muốn cái quái gì hả? Cilke nói: một bữa ăn thịnh soạn. Đúng không? Di Benedetto nhún đôi vai bự như chuyển động của một con sóng. Sau đó y mỉm cười hơi pha chút ác ý. Khuôn mặt y biến thành một nhân vật được yêu thích nào đó của Disney. – Kurt, y nói. Chỗ này toàn cứt. Nó được lũ khốn ngoài vũ trụ điều hành. Thật đấy, chúng nấu đồ ăn nom giống kiểu Italy, chúng làm nó có mùi Italy, thế nhưng nó lại có cái vị chết tiệt thế này. Đúng là bọn ngoài hành tinh. Tớ nói cho cậu biết. Cilke phá lên cười. – Này, nhưng rượu cũng ngon đấy chứ? – Với tớ, chúng có mùi thuốc trị bệnh, trừ loại guine đỏ pha lẫn soda. – Cậu quả là người khó chiều, Cilke nói. – Không tớ rất dễ tính. Lúc nào cũng thế. Cilke thở dài. Mất toi hai trăm đô để đổi lấy một bãi phân. – Ồ không, Di Benedetto đáp. Tớ đánh giá cao nghĩa cử mà. Cilke gọi cà phê đặc cho cả hai. Ông nói – Tớ đang điều tra vụ Trùm Aprile. Nó là của cậu, Paul ạ. Bọn tớ đã quan tâm đến lão nhiều năm mà chẳng nước non gì. Lão về hưu, sống đường hoàng, lão chẳng còn gì khiến kẻ khác thèm muốn. Vậy tại sao lão bị giết? Một việc rất nguy hiểm đối với bất kỳ kẻ nào nhúng tay vào. – Rất chuyên nghiệp, Di Benedetto nói. Một thành tích xuất sắc. – Vậy sao? – Thật chẳng khôn ngoan chút nào, Di Benedetto nói. Cậu đã xóa sạch phần lớn các yếu nhân của Mafia, một việc làm cũng đáng giá đấy. Tớ xin bái phục. Có lẽ cậu còn buộc lão già đó phải về hưu. Vì thế những kẻ khôn ngoan vẫn còn chưa bị tóm không có lý do gì để nốc ao lão. – Thế còn những nhà băng của lão? Cilke hỏi Di Benedetto vung vẩy điếu xì gà. – Đó là việc của cậu. Bọn tớ chỉ chạy theo đám cặn bã thôi. – Thế còn gia đình lão ? Cilke gặng. Ma túy, đàn bà, thôi thì mọi thứ? – Hoàn toàn không. Những công dân thượng lưu với những nghề nghiệp cao quý. Cùng một tay lão Trùm sắp đặt cả. Lão muốn con cái mình là những người hoàn toàn ngay thẳng. Y dừng lại và làm bộ nghiêm trọng. Ở đây phải có nguyên nhân. Phải có kẻ nào đó được lợi. Đấy là cái chúng tớ đang tìm. – Còn di chúc của lão? – Ngày mai con gái lão sẽ nộp. Tớ yêu cầu mà. Cô ta bảo tớ phải chờ. – Và cậu vẫn chờ chứ? Cilke hỏi. – Ừ, Di Benedetto nói. Cô ta là một luật sư thượng hạng, có nhiều ảnh hưởng và hãng luật của cô ta là một lực lượng chính trị. Làm sao tớ có thể cứng rắn với cô ta được ? Tớ chỉ còn cách phục tùng thôi. – Có thể tớ sẽ làm tốt hơn. Cilke nói. – Tớ chắc vậy. Kurt Cilke biết phó thanh tra cảnh sát, Aspinella Washington, hơn mười năm nay. Mụ cao sáu bộ, là người Mỹ gốc Phi có mái tóc cắt ngắn và những đường nét đẹp như tạc. Mụ là nỗi khiếp sợ của thuộc cấp và đám tội phạm rơi vào tay mụ. Một cách cố ý, mụ hay làm mếch lòng mọi người, và mụ chẳng ưa gì Cilke cũng như FBI. Mụ đón Cilke tại cơ quan với câu hỏi – Kurt, anh đến đây mời tôi đi ăn cỗ phải không? Cilke cười – Không, Aspinella. Tôi đến tìm thông tin. – Rõ rồi, mụ nói. Miễn phí chứ ? Hay sau khi anh trả cho thành phố năm triệu đô la? Mụ mặc áo khoác bằng vải thường và quần màu nâu vàng. Dưới áo khoác của mụ anh nhìn thấy một bao súng ngắn. Tay phải mụ đeo một chiếc nhẫn kim cương xem ra có thể cắt được lớp da chẳng kém gì một lưỡi dao cạo. Mụ vẫn còn ác cảm với Cilke vì FBI đã có lần làm rõ một vụ lạm dụng vũ lực chống lại các điều tra viên của mụ và trên cơ sở quyền công dân, nạn nhân đã thắng kiện, hai điều tra viên của mụ phải ra tòa. Nạn nhân, một kẻ giàu có, là một tên ma cô và bán rong ma túy. Chính Aspinella đã có lần nện y một trận nhừ tử. Mặc dù được đề bạt làm phó sếp để xoa dịu người Mỹ da đen, nhưng Aspinella lại tỏ ra cứng rắn với đám tội phạm da đen hơn đám tội phạm da trắng. – Ngừng đánh những người vô tội, Cilke nói. Tôi cũng sẽ dừng lại. – Tôi chưa bao giờ chụp mũ những người không có tội cả, mụ nói và cười toe toét. – Tôi đang tìm kẻ giết Trùm Aprile, Cilke nói. – Đấy có phải việc của anh đâu? Đây là một vụ đụng độ của các băng nhóm địa phương. Chó chết. Hay anh đang làm một vụ quyền công dân khác đấy? – Ừ, nó có thể liên quan đến tiền bạc và ma túy, Cilke nói. – Làm sao anh biết được? – Chúng tôi có chỉ điểm chứ sao. Bất thình lình Aspinella lên cơn thịnh nộ. – Anh và cả cái đám FBI chó chết tới đây để lấy thông tin mà chẳng chịu chìa cho tôi cái gì cả. Các anh không đàng hoàng như cớm. Các anh chỉ lượn lờ quanh việc bắt giữ mấy thằng trí thức. Các anh chẳng bao giờ đụng vào những việc bẩn thỉu. Các anh đéo biết đó là cái gì. Xéo khỏi đây ngay. Cilke hài lòng với hai cuộc phỏng vấn. Kết quả đã rõ ràng. Cả Di Benedetto và Aspinella sẽ phải vào nhà đá trong vụ Trùm Aprile. Họ sẽ không hợp tác với FBI. Họ sẽ chỉ làm chiếu lệ. Tóm lại, họ đã bị hối lộ. Ở đây, một nguyên nhân giải thích cho niềm tin của ông. Ông biết việc buôn bán ma túy chỉ có thể tồn tại nếu các nhân viên cảnh sát bị mua chuộc, và ông có lời bảo đảm, không được tốt lắm trước tòa, rằng Di Benedetto và Aspinella có tên trong danh sách trả lương của bọn buôn ma túy. Trước khi gặp Nicole, Cilke quyết định tận dụng cơ hội với người con cả của lão, Valerious Aprile. Thế là ông và Boxton phải lên West Point, nơi Valerious – một đại tá quân đội Mỹ – dạy chiến thuật quân sự – hay một môn quỷ quái nào đấy, Cilke nghĩ vậy. Valerious tiếp họ trong một căn phòng rộng nhìn xuống sân duỵêt binh, nơi các học viên sĩ quan đang tập đi đều. Gã không được nhã nhặn như đứa em trai. Cilke hỏi liệu gã có biết về các kẻ thù của cha mình không. – Không, gã nói. Tôi phục vụ ở nước ngoài suốt gần hai mươi năm qua. Tôi chỉ về nhà khi có thể. Cha tôi tin rằng tôi sẽ leo lên đến hàng cấp tướng. Ông muốn thấy tôi đeo ngôi sao đó. Thậm chí lon thiếu tướng cũng làm ông vui rồi. – Thế thì ông nhà yêu nước quá còn gì? Cilke hỏi. – Ông yêu đất nước này. Valerious đáp cộc lốc. – Ông cho ngài cơ hội được làm học viên sĩ quan phải không? Cilke thúc ép. – Tôi nghĩ vậy. Valerious nói. Nhưng ông không thể làm cho tôi thành một viên tướng. Tôi đoán ông không có ảnh hưởng ở Ngũ Giác Đài, hoặc ở một mức độ nào đó, tôi không đủ tiêu chuẩn. Dù sao tôi cũng thích nó. Tôi có cơ hội của mình. – Ngài không thể cho chúng tôi một đầu mối dẫn đến bất kỳ kẻ thù nào của ông nhà ư? Cilke hỏi. – Không, ông không hề có kẻ thù. Valerious đáp. Cha tôi lẽ ra có thể trở thành một vị tướng tài. Khi về hưu, ông đã che giấu được mọi thứ. Sức mạnh của ông khi được sử dụng luôn luôn nhằm mục đích ngăn chặn. ông có lực lượng và tiền bạc. – Ngài có vẻ chẳng mấy quan tâm xem ai đã giết cha ngài. Không có ý định trả thù chứ? – Không nhiều hơn so với một đồng sự ngã xuống trong chiến đấu, Valerious nói. Tất nhiên tôi rất muốn không một ai phải nhìn thấy cha mình bị giết. – Ngài có biết gì về bản di chúc của ông nhà không? – Ngài phải hỏi em gái tối, Valerious trả lời. Cuối chiều hôm đó. Cilke và Boxton có mặt ở văn phòng của Nicole Aprile, và tại đây họ được đón tiếp khác hẳn. Chỉ có thể đến được phòng làm việc của Nicole bằng cách đi qua ba lớp rào thư ký và một nữ vệ sẽ trông có vẻ thừa sức đẩy cả Cilke và Boxton văng ra trong vòng hai giấy. Nhìn cách di chuyển có thể nói rằng công ta đã tập luyện một cách công phu và bài bản. Các cơ bắp của cô hằn lên qua lớp quần áo. Bộ ngực được nịt chặt, cô mặc áo khoác bằng lanh trùm ra bên ngoài áo len cổ lọ và chiếc quần màu đen. Nicole chào đón khách không được nồng nhiệt lắm. Trông nàng rất hấp dẫn trong bộ vét hợp thời trang màu tím đậm. Nàng đeo đôi khuyên tai rất to bằng vàng, còn mái tóc đen của nàng vừa mượt vừa dài. Nét mặt nàng đẹp và cứng rắn được biểu lộ bởi đôi mắt to màu nâu dịu. – Thưa các ngài, tôi chỉ cho các ngài hai mươi phút thôi, nàng nói. Nàng mặc chiếc áo cánh có riềm xếp bên trong áo khoác tím. Hai ống tay áo che kín cả bàn tay nàng trong khi nàng chìa một tay ra cầm chiếc thẻ của Cilke. Nàng xem một cách cẩn thận rồi nói: – Đại diện đặc biệt à? Cấp bậc khá cao cho một yêu cầu thường ngày thế này. Nàng nói bằng một chất giọng quá quen thuộc với Cilke, giọng nói này thường làm ông bực mình. Đó là giọng trách mắng nhẹ nhàng của các công tố viên Liên bang khi đang giải quyết các vấn đề điều tra mà họ phụ trách. – Cha cô là một người rất quan trọng, thưa cô. Cilke nói. – Vâng, cho đến khi ông về hưu và đặt mình dưới sự che chở của pháp luật. Nicole cay đắng nói.
Google photos
– Điều đó càng làm cho việc giết ông nhà bí hiểm hơn, Cilke nói. Chúng tôi hy vọng cô có thể cho chúng tôi một số ý niệm về những kẻ có thái độ hằn học với ông nhà. – Không đến nỗi bí hiểm đến thế, Nicole nói. Ngài biết cuộc sống của cha tôi rõ hơn tôi nhiều. Ông có không ít kẻ thù, trong đó có cả ngài nữa đấy. – Ngay cả những người chỉ trích chúng tôi tệ hại nhất cũng không buộc FBI dính vào vụ án mạng bên thềm nhà thờ. Cilke nói khô khốc. Mà tôi cũng chẳng phải là kẻ thù của ông ấy. Tôi chỉ là người thừa hành pháp luật. Sau khi nghỉ hưu ông không còn kẻ thù. Ông đã đấm mõm bọn chúng. Cilke dừng lại một lát. Tôi thấy khó hiểu là cả cô và các anh cô hình như đều không muốn tìm ra kẻ đã giết cha mình. – Vì chúng tôi không phải là những kẻ đạo đức giả, Nicole vặc lại. Cha tôi không là một vị thánh. Ông tham gia cuộc chơi và đã trả giá. Nàng dừng lại. Và ngài đã nhầm khi cho rằng tôi không quan tâm. Thực tế là tôi sẽ kiến nghị lấy hồ sơ của FBI về cha tôi theo luật tự do thông tin. Tôi hy vọng ngài sẽ không gây trở ngại, vì nếu thế chúng ta sẽ là kẻ thù của nhau đấy. – Đấy là quyền của cô, Cilke nói. Nhưng biết đâu cô có thể giúp tôi bằng cách cho tôi biết những điều khoản trong di chúc của ông. – Tôi có thảo di chúc đầu, Nicole nói. – Nhưng tôi nghe nói cô là luật sư. Lúc này cô hẳn phải biết các điều khoản của nó rồi. – Chúng tôi sẽ đệ trình xin chứng thực vào ngày mai. Nó sẽ là hồ sơ công dân. – Còn gì giúp được chúng tôi mà cô có thể nói bây giờ không? Cilke hỏi. – Chỉ còn việc tôi sẽ không về hưu sớm nữa thôi. – Sao hôm nay cô không nói gì với tôi hả? – Vì tôi không có nghĩa vụ phải làm như vậy, Nicole lạnh lùng đáp. – Tôi biết cha cô khá rõ, Cilke nói. Lẽ ra ông ấy phải chừng mực hơn. Lần đầu tiên nàng nhìn ông bằng ánh mắt tôn trọng. – Đúng thế, nàng nói. OK. cha tôi đã phân phát rất nhiều tiền trước khi chết. Tất cả những gì ông để lại cho chúng tôi là các nhà băng. Tôi và hai anh thừa hưởng bốn mươi chính phần trăm, năm mốt phần trăm còn lại sẽ thuộc về một người bà con, Artorre Viola. – Cô có thể cho tôi biết đôi điều về anh ta không? Cilke hỏi. – Astorre ít tuổi hơn tôi. Anh ấy chưa bao giờ dính dáng vào chuyện làm ăn của cha tôi cả, và tất cả chúng tôi đều yêu quý anh vì đấy là một anh chàng dễ thương. Tất nhiên bây giờ tôi không còn yêu anh ấy nhiều như trước kia. Cilke lục tìm trong ký ức. Ông không thể nhớ hồ sơ về Artorre Viola nhưng nhất định nó phải nằm đâu đó. – Cô có thể cho tôi địa chỉ và số điện thoại của cậu ta không? Cilke hỏi. – Được thôi, Nicole trả lời. Nhưng các ngài chỉ phí thì giờ thôi. Tin tôi đi. – Tôi phải làm rõ các chi tiết, Cilke nói giọng hối lỗi. – Vậy điều gì làm FBI quan tâm? Nicole hỏi. Đây là vụ trọng án của địa phương cơ mà? Cilke lạnh lùng nói – Mười ngân hàng cha cô sở hữu đều là những ngân hàng quốc tế. Ở đây có thể có những rắc rối về tài chính. – Ồ đúng rồi, Nicole reo lên. Vậy tôi sẽ hỏi hồ sơ về anh ấy ngay bây giờ. Xét cho cùng thì tôi cũng sở hữu một phần các nhà băng đó. Nàng nhìn ông ngờ vực, và ông biết mình sẽ còn phải để mắt tới nàng. Ngay hôm sau Cilke và Boxton đánh xe đi Westehester County để gặp Astorre Viola. Nơi đây có một bất động sản trồng nhiều cây bao gồm một ngôi nhà đồ sộ và ba chuồng ngựa. Có cả thảy sáu con ngựa trên đồng cỏ được bao quanh bởi một hàng rào hai nhánh ray cao tới thắt lưng có những cánh cổng làm bằng sắt rèn. Bốn chiếc xe hơi và một xe tải nhỏ đỗ ở bãi đất trống trước nhà. Cilke nhớ được hai trong số các biển đăng ký. Một bà lão chừng bảy mươi tuổi cho họ vào rồi dẫn họ tới một phòng khách sang trọng chất đầy dụng cụ thu âm. Bốn thanh niên đang đọc bản nhạc trên giá nhạc và một người ngồi trước cây đàn piano – một sự phối hợp nhà nghề của Saxophone, guitar bass, guitar và trống. Astorre đứng trước micro đối diện với những người kia và đang hát bằng một giọng khàn khàn. Đến Cilke cũng có thể nói rằng loại nhạc này sẽ không có khán giả. Astorre ngừng hát và nói với hai vị khách, – Các ngài có thể chờ năm phút cho đến khi chúng tôi thu âm xong được không ? Sau đó các bạn tối có thể nghỉ ngơi còn các ngài sẽ có đủ thời gian mong muốn. – Được thôi, Cilke nói. – Mang cà phê cho khách nhé, Astorre nói với bà giúp việc. Astorre không yêu cầu một cách lịch sự mà là ra lệnh Cilke và Boxton phải chờ hơn năm phút. Astorre đang thu âm một bài dân ca Italy – vừa gảy tưng tưng vào cây đàn banjo chàng vừa hát bằng một thổ ngữ dung tục mà Cilke không hiểu được. Nghe chàng hát cũng thấy thích, cứ như nghe chính giọng mình trong cơn mưa rào. Cuối cùng chỉ còn lại mình họ, Astorre lau mặt. – Cũng không tệ lắm, chàng cười nói. Phải không các ngài? Cilke thấy mình ngay lập tức mến chàng trai. Khoảng ba mươi, chàng có sức sống của một đứa trẻ và không làm ra vẻ quan trọng. Chàng cao và cân đối, khéo léo như một võ sĩ quyền Anh. Chàng có vẻ đẹp của nước da ngăm và những đường nét trên khuôn mặt không đều nhưng sắc sảo mà người ta có thể thấy ở những bức chân dung thế kỷ mười lăm. Chàng không có vẻ tự phụ nhưng quanh cổ lại đeo một chiếc dây vàng bản rộng tới hai inch, gắn vào đó là một huy hiệu có khắc hình Đức mẹ đồng trinh. – Nghe hay đấy, Cilke nói. Cậu sẽ chọn lựa một đĩa nhạc để bán chứ? Astorre cười, một nụ cười rộng mở hòa nhã. – Tôi muốn lắm chứ. Nhưng tôi không khá đến thế đâu. Tuy nhiên tôi thích những bài hát này. Tôi tặng chúng cho các bạn tôi làm kỉ niệm. Cilke quyết định đi ngay vào công việc. – Đây chỉ là thủ tục thôi, ông nói. Cậu có biết kẻ nào có thể hại bác cậu không? – Không ai sất, Astorre nói, mắt nhìn thẳng. Cilke mệt mỏi vì phải nghe mãi điều này. Ai mà chẳng có kẻ thù cơ chứ, nhất là Trùm Aprile. – Cậu được thừa kế các nhà băng. Về mặt huyết thống cậu có gần đến thế không? – Thực ra tôi cũng không biết, Astorre nói. Khi còn nhỏ tôi là một trong số những người được bác tôi yêu quý. Bác giúp tôi kinh doanh và rồi hình như quên tôi luôn. – Cậu kinh doanh những gì? Cilke hỏi. – Tôi nhập khẩu các loại macaroni thượng hạng từ Italy. Cilke nhìn cậu ngờ vực. Astorre mỉm cười, chàng đã quen với những phản ứng loại này. Đây không phải là lĩnh vực kinh doanh hấp dẫn. – Ngài biết tại sao Lee Iacocca không khi nào nói xe hơi mà luôn luôn nói ô tô chứ ? Cũng vậy thôi, trong kinh doanh chúng tôi không nói bột và mì ống, chúng tôi chỉ nói macaroni. – Và bây giờ cậu sẽ là chủ nhà băng? Cilke hỏi. – Tôi sẽ thử, Astorre trả lời. Trên đường về Cilke hỏi Boxton – Cậu nghĩ sao? Ông thích Boxton. Một người luôn được yêu mến ở Cục vì những gì anh làm – đó là luôn đúng luật, liêm khiết và tố hơn nhiều so với bất kỳ một cơ quan thi hành pháp luật nào về tính hiệu quả. Những cuộc phỏng vấn này phần nào có lợi cho anh. – Với tôi tất cả đều có vẻ thành thật, Boxton nói. Không phải lúc nào cũng vậy sao? Ừ, họ luôn thành thật, Cilke nghĩ. Rồi một cái gì đó nảy ra trong ông. Tấm huy hiệu gắn vào chiếc vòng vàng trên cổ Astorre không khi nào chuyển động. Đối với Cilke quan trọng nhất là cuộc phỏng vấn cuối cùng với Timmona Portella, trùm Mafia New York. Chỉ có hắn và Trùm Aprile là chưa bị truy tố sau các cuộc điều tra của Cilke. Portella điều hành các hoạt động của mình từ một văn phòng rộng rãi trên đỉnh một cao ốc của hắn ở khu West Side. Các công ty con do hắn kiểm soát chiếm nốt phần còn lại của tòa nhà. An ninh ở đây chặt chẽ như ở pháo đài Fort Knox, và bản thân Portella đi về dinh thự của mình bằng máy bay lên thẳng – trên nóc cao ốc trang bị một bãi đáp. Chân hắn chẳng mấy khi chạm vào hè phố New York. Portella chào đón Cilke và Boxton tại văn phòng của hắn. Nơi đây la liệt ghế bành, còn những bức tường chống đạn bằng thủy tinh cho người ta cái nhìn tuyệt diệu về đường nét của thành phố từ trên trời. Hắn có một thân hình đồ sộ, tươm tất trong bộ comple đen và sơ mi trắng. Cilke bắt bàn tay đầy thịt của Portella và tỏ ra ngưỡng mộ chiếc cà vạt đen thắt trên cái cần cổ tổ bố của hắn. – Kurt này, tôi giúp được gì cho ngài đây? Portella nói bằng giọng kim vang khắp căn phòng. Hắn lờ luôn Bill Boxton. – Tôi chỉ kiểm tra việc làm của Aprile. Tôi nghĩ rằng ngài có thể biết một số thông tin mà tôi đang cần. – Tiếc quá, ông ấy chết rồi, Portella nói, Ai mà không yêu quý Raymonde Aprile chứ. Tôi không tài nào hiểu nổi ai đó lại có thể làm việc này. Ông ấy đã thành một vị thánh, thánh sống. Ông ấy đã hiến tiền bạc của mình như Rockefeller vậy. Lúc Chúa mang ông ấy đi tâm hồn ông ấy hoàn toàn tinh khiết. – Chúa không mang ông ấy đi, Kurt nói khô khốc. Đó là một vụ giết người cực kỳ chuyên nghiệp. Ở đây nhất định phải có động cơ. Mắt Portella giật giật nhưng hắn không nói gì. Cilke tiếp tục, Ngài là đồng nghiệp của ông ấy nhiều năm qua. Ngài phải biết một cái gì đó chứ. Việc cháu ông ấy được thừa kế ngân hàng là sao hả? – Nhiều năm trước Don Aprile và tôi có làm chung vài vụ, Portella nói. Nhưng khi Aprile về hưu, suyt nữa ông ấy đã khử tôi. Việc tôi hãy còn sống chứng minh rằng chúng tôi không là kẻ thù của nhau. Về thằng cháu ông ấy tôi chả biết gì trừ việc cậu ấy là ca sĩ. Cậu ấy hát tại các đám cưới, các buổi tiệc tùng, thậm chí cả ở vài hộp đêm nữa. Cậu ấy là một trong số những thanh niên mà mấy lão già cổ hủ như tôi yêu mến. Cậu ấy bán loại Macaroni hảo hạng của Italy. Tất cả các nhà hàng của tôi đều dùng chúng. Hắn dừng lại và thở dài. Một người vĩ đại bị giết luôn luôn là một điều bí ẩn. – Ngài biết đấy, sự giúp đỡ của ngài sẽ được đánh giá cao, Cilke nói. – Tất nhiên. FBI luôn chơi sòng phẳng mà. Tôi biết sự giúp đỡ của tôi sẽ được đánh giá cao. Hắn ban cho Cilke và Boxton một nụ cười ấm áp làm phô ra những chiếc răng vuông vức và hoàn hảo. Trên đường về cơ quan, Boxton nói với Cilke, – Tôi đã đọc hồ sơ về thằng cha này. Nó là trùm kinh doanh mặt hàng đồi trụy và ma túy, nó còn là một kẻ sát nhân nữa. Tại sao chúng ta lại chưa tóm được nó nhỉ ? – Cũng chẳng tệ hơn những đứa khác đâu, Cilke nói. Thế nào cũng có ngày tôi chộp được nó. Kurt Cilke đề nghị giám sát điện tử nhà Nicole Aprile và Astorre Viola. Một thẩm phán của tòa án dân sự Liên bang đã thông qua quy định cần thiết. Không phải Cilke thực sự nghi ngờ – ông chỉ muốn thật chắc chắn. Nicole bẩm sinh là người gây rắc rối, Astorre trông đáng tin cậy hơn. Không thể nghe lén Valerious vì nhà gã nằm trong học viện West Point. Cilke nghe nói niềm đam mê của Astorre là những con ngựa trên đồng cỏ của chàng. Sáng nào chàng cũng chải lông cho một con ngựa đực trước khi thả nó ra đồng cỏ. Cũng không có gì xấu, trừ việc chàng toàn mặc lễ phục kiểu Anh – áo choàng đỏ và những thứ khác kể cả một chiếc mũ đi săn bằng da mềm màu đen. Ông thấy khó mà tin rằng Astorre lại trở thành mục tiêu không tự vệ được của ba kẻ trấn lột ở Central Park. Hình như chàng thoát được – nhưng về những gì đã xảy ra với những kẻ trấn lột thì báo cáo của cảnh sát lại quá mù mờ. Hai tuần sau Cilke và Boxton đã có thể nghe được những cuộn băng được cài tại nhà Astorre. Những giọng nói là của Nicole, Marcantonio, Valerious và Astorre. Trên cuốn băng họ trở nên con người hơn với Cilke, họ đã tháo bỏ mặt nạ của mình. – Tại sao chúng lại giết ba? Nicole hỏi, giọng nàng vỡ ra đầy đau khổ. Không còn sự lạnh lùng mà nàng đã thể hiện với Cilke. – Ở đây phải có lý do, Valerious khẽ khàng nói. Giọng gã nhã nhặn hơn khi nói với gia đình mình. Tôi chẳng có mối liên hệ nào với việc làm ăn của ông già nên tôi cũng không lo gì cho tôi cả. Thế còn cô chú? Marcantonio nói với vẻ khinh thị, rõ ràng không khoái anh trai mình. – Val, ông già lo cho anh đến West Point vì anh là người nhu nhược. Ông muốn làm anh cứng rắn. Rồi ông lại lo cho anh đi làm tình báo ở nước ngoài nên anh mới có hôm nay. Ông khoái cái ý tưởng anh có thể lên đến cấp tướng. Tướng Aprile – ông khoái cái âm thanh đó lắm. Ai mà biết ông đã giật những sợi dây nào. Giọng Marc ở trong băng vang lên với quá nhiều năng lượng và sôi nổi hơn khi đối thoại trực tiếp. Một đoạn tạm dừng dài, rồi Marcantonio nói tiếp – Tất nhiên ông cũng giúp tôi khởi sự. Ông tài trợ cho hãng sản xuất của tôi. Các cơ quan đại diện lớn đã cho tôi cơ hội làm việc với những ngôi sao của họ. Nghe đây, chúng ta không hiện diện trong cuộc sống của ông già, nhưng ông luôn luôn ở trong chúng ta. Nicole, ông già đã đỡ cho cô mười năm trả nợ bởi đã lo cho cô nghề luật sư ở hãng luật. Còn Astorre, chú nghĩ coi ai đã lo cho chú cái quầy macaroni ở các siêu thị hả? Bất thình lình Nicole nổi cáu. – Ba có thể đã lo lót cho tôi lọt cửa, nhưng người duy nhất có trách nhiệm về những thành đạt trong nghề nghiệp của tôi chính là tôi. Tôi đã phải đấu tranh với các tay tổ tại hãng luật cho những gì tôi nhận được. Tôi đã phải dành tám tiếng một ngày để đọc các ấn phẩm nghệ thuật. Nàng dừng lại, lúc này giọng nàng trở nên lạnh lùng. Hẳn nàng đã quay sang Astorre. Và điều tôi muốn biết là tại sao ba lại để anh đại diện cho các nhà băng. Anh thì làm được cái quái gì hả? Giọng Astorre vang lên hối tiếc – Nicole à, tôi đâu biết. Tôi không đòi hỏi điều đó. Tôi có cơ sở kinh doanh, tôi thích ca hát và cưỡi ngựa. Ngoài ra, như thế cũng tốt cho các anh chị. Tôi phải làm tất cả mọi việc, và lãi sẽ được chia đều cho bốn người chúng ta. – Nhưng anh có quyền kiểm soát trong khi anh chỉ là chỗ họ hàng, Nicole nói. Nàng mỉa mai chua thêm. Chắc ba tôi phải thích nghe anh hát lắm. Valerious nói – Chú sẽ cố điều hành nhà băng một mình chứ ? Astorre giả vờ khiếp sợ – Ồ, không, không. Nicole sẽ ném vào mặt tôi một danh sách những cái tên, họ vẫn làm thế mà. Giọng Nicole đẫm nước mắt và thất vọng – Đến bây giờ tôi vẫn không hiểu tại sao ba không chọn tôi. Tại sao? – Bởi ông không muốn bất kỳ đứa con nào của mình ngồi trên đầu người khác, Marcantonio nói. Astorre nhỏ nhẹ – Có lẽ làm thế để tránh cho các anh chị khỏi gặp nguy hiểm đấy thôi. – Tại sao anh lại thích thằng cha FBI, kẻ đã tới nhà mình cứ như thể một người bạn tốt nhất ấy? Nicole nói. Hắn đã săn đuổi ông già nhiều năm trời. Bây giờ lại còn hý hửng tưởng anh em mình sẽ rót tất cả bí mật gia đình vào tai hắn. Đồ đê tiện. Cilke cảm thấy máu nóng dồn lên mặt. Ông đâu có xứng với điều đó. Valerious nói – Hắn đang làm nhiệm vụ. Cũng chẳng dễ đâu. Hắn hẳn phải là một người có tài. Hắn đã lôi được khá nhiều bạn bè của ông già ra trước vành móng ngựa. Và hắn làm được hoài. – Quân phải bội, lũ chỉ điểm, Nicole khinh bỉ nói. Và còn luật RICO nữa, người ta thực hiện chúng rất bài bản. Chiếu theo luật này, một nửa các nhà lãnh đạo của chúng ta có thể phải ra tòa, và phần lớn cánh nhà giàu của Câu lạc bộ năm trăm nữa. – Nicole, cô là luật sư đấy, Marcantonio nói. Cắt cái chuyện rác rưởi ấy đi. Astorre tư lự hỏi, các nhân viên FBI kiếm đâu ra bộ cánh kẻng thế nhỉ? Có thợ may đặc biệt cho họ à? – Đó là cách ăn mặc của họ thôi, Marcantonio nói. Chuyện đó cũng bí mật đấy. Nhưng trên TV tụi này chưa bao giờ kiếm được một gã như Cilke cả. Cực kỳ lịch sự, cực kỳ trung thực, danh giá trên mọi phương diện. Tuy nhiên đừng bao giờ tin hắn. – Marc, hãy quên cái chương trình TV giả cầy của chú đi. Chúng ta đang lâm vào một tình thế bất lợi. Và lúc này có hai vấn đề lớn được đặt ra: Tại sao và kẻ nào. Tại sao ba bị giết? Kẻ nào có thể làm việc đó? Ai cũng nói ba không có kẻ thù và chẳng có gì để người khác phải thèm muốn. – Tôi có kiến nghị được xem hồ sơ của ba tại Cục lưu trữ, Nicole nói. May ra tìm được đầu mối. – Để làm gì? Marcantonio phản đối. Tụi mình không làm được gì đâu. Vụ này phải để cho chính quyền lo. Giọng Nicole lộ vẻ xem thường. Vậy việc chúng ta xem xét kẻ nào đã giết ba là vô lý à? Anh nghĩ sao hả Astorre? Anh có thấy như vậy không? Giọng Astorre nhẹ nhàng, ôn hòa. – Anh em mình có thể làm gì? Tôi yêu cha của các anh chị. Tôi biết ơn bác, trong di chúc bác đã quá hào phóng với tôi. Nhưng hãy chịu khó đợi xem chuyện gì xảy ra. Đúng, tôi thích Cilke. Nếu ở đây có gì để tìm, ông ấy sẽ tìm được. Anh em mình đều có cuộc sống tốt đẹp, vậy thì hủy hoại nó làm gì? Chàng dừng lại rồi nói tiếp – Thôi, tôi còn phải gọi cho một trong số những nhà cung cấp của tôi. Tôi phải đi đây. Nhưng mọi người cứ ở lại mà bàn tiếp. Đến đây có một khoảng im lặng khá dài. Cilke không thể không dành thiện chí cho Astorre và sự phẫn nộ cho những người còn lại. Nhưng nhìn chung, ông hài lòng. Đây không phải là những người nguy hiểm. Họ sẽ không gây rắc rối cho ông. – Tôi yêu quý Astorre, lúc này giọng Nicole vang lên. Anh ấy gần gũi ba hơn bất kỳ ai trong ba anh em ta. Nhưng cũng chả là cái quái gì. Marc, liệu anh ấy có thể hành nghề hát xướng được không? Marcantonio phá lên cười – Bọn này đã thấy hàng nghìn thằng như nó. Nó giống một ngôi sao bóng đá trong một trường trung học nhỏ. Vui tính, nhưng nó không có tài sản. Tuy thế nó có việc làm tốt và nó thích thế, vậy thì việc chó gì hả? – Anh ấy kiểm soát những ngân hàng nhiều tỷ đôla – tất cả những gì chúng mình có, nhưng cái làm cho Astorre thực sự quan tâm lại là ca hát và cưỡi ngựa. Nicole nói. Valerious nói nửa thương hại, nửa hài hước. – Ăn mặc thì cũng bảnh đấy, nhưng chú ấy có một vị trí tồi tệ quá. Nicole nói – Sao ba có thể làm thế nhỉ? – Thì cũng nhờ món macaroni ấy mà ông già mới làm được một việc tốt, Valerious nói. – Anh em mình phải bảo vệ Astorre, Nicole nói. Anh chàng này quá non nớt để điều hành các nhà băng và quá khờ khạo để đối phó với Cilke. Nghe hết cuộn băng Cilke quay sang Boxton. – Cậu nghĩ sao? – À, như Astorre, tôi nghĩ anh là một gã cừ đấy. Boxton nói. Cilke phá lên cười. – Không, ý tôi muốn nói là các vị này có khả năng giết người hay không? – Không. Thứ nhất họ là con cháu lão, thứ hai họ không có khả năng giết người. – Dẫu vậy họ cũng thông minh đấy, Cilke nói. Họ đặt ra một câu hỏi đúng. Sao vậy nhỉ? – À đấy không phải là việc của chúng ta, Boxton nói. Nó là của địa phương chứ không phải của Liên bang. Hay anh đã lần ra mối quan hệ nào rồi? – Các nhà băng, Cilke nói. Không cần phải lãng phí tiền của Cục nữa, chấm dứt nghe trộm. Kurt Cilke thích chó vì chúng trung thành. Ông có hai con chó chăn cừu giống Đức để giữ nhà. Đêm đêm ông cùng chúng tản bộ qua khu rừng gần nơi ở, lòng tràn ngập niềm tin và thanh thản. Đêm đó trở về nhà ông rất hài lòng. Tình hình không còn nguy hiểm nữa, không có mối đe dọa nào từ phía gia đình nạn nhân. Sẽ không có trả thù đẫm máu. Cilke sống ở New Jersey cùng người vợ ông hết mực yêu thương và đứa con gái ông hết mực cưng chiều. Nhà ông được lắp hệ thống bảo vệ, thêm vào đó còn hai con chó. Chính phủ chịu phần chi phí. Vợ ông từ chối học cách sử dụng súng nên ông chỉ còn trông cậy vào việc giấu kín tung tích. Hàng xóm nghĩ ông là luật sư (ông đã từng là luật sư thật), con gái ông cũng nghĩ vậy. Cilke luôn cất kín súng đạn và thẻ mật vụ khi ông ở nhà. Ông không bao giờ gửi xe ở nhà ga để và thành phố làm việc. Lũ trộm vặt có thể thó mất súng và bộ đàm trên xe. Khi về New Jersey ông gọi điện để vợ đi đón. Chỉ mất năm phút là tới nhà. Đêm nay Georgette vui vẻ hôn lên má ông, một đụng chạm thể xác ấm áp. Cô bé gái Vanessa vô cùng hiếu động ôm chầm lấy ông. Hai chú chó mừng rỡ chạy quanh ông. Cilke trân trọng những giây phút như thế trong cuộc đời mình. Ông luôn cảm thấy an bình bên gia đình. Ông biết vợ rất yêu ông. Chị quý trọng tính cách của ông: làm việc có tình có lý, luôn công bằng với thuộc cấp. Ông đánh giá cao trí tuệ của chị và tin tưởng kể cho chị nghe công việc của mình. Tất nhiên, không phải là tất cả. Chị cũng luôn luôn bận rộn với công việc của mình. Chị viết về những người đàn bà nổi tiếng trong lịch sử, dạy môn đạo đức tại một trường đại học địa phương, tranh đấu cho những vấn đề xã hội mà chị quan tâm. Lúc này Cilke quan sát vợ chuẩn bị bữa tối. Vẻ đẹp của chị luôn làm ông say mê. Ông thấy Vanessa đang dọn bàn, con bé muốn bắt chước mẹ, thậm chí còn cố đi đứng nhẹ nhàng với những bước chân uyển chuyển như một điệu ba lê. Georgette không muốn thuê người giúp việc, và chị đã nuôi dạy con trở thành một đứa trẻ không ỷ lại. Năm lên sáu, Vanesa đã biết tự dọn giường, lau nhà và giúp mẹ nấu nướng. Lúc nào cũng vậy, Cilke tự hỏi tại sao chị lại yêu ông, lại cảm thấy hạnh phúc với lựa chọn của mình. Tới khuya, sau khi đưa Vanessa đi ngủ (Cilke kiểm tra lại chuông, cô bé có thể nhấn chuông nếu cần đến cha mẹ), họ về phòng riêng. Như mọi khi, Cilke lại bị mê hoặc khi Geprgette cởi bỏ hết quần áo. Rồi đôi mắt xám rộng mở của chị, đôi mắt rạng ngời trí tuệ, mờ đi vì yêu thương. Cuối cùng khi chìm vào giấc ngủ, chị ôm lấy tay ông để dẫn chúng vào những giấc mơ của chị. Cilke gặp Georgette khi ông đang điều tra những tổ chức cực đoan bị tình nghi dính líu đến những hoạt động khủng bố. Chị là một nhà hoạt động chính trị giảng dạy môn lịch sử tại một trường đại học nhỏ ở New Jersey. Cuộc điều tra của ông cho thấy chị đơn giản chỉ là một người có tư tưởng tự do và không hề có liên hệ nào với các nhóm cực đoan. Cilke đã viết như vậy trong báo cáo của mình. Khi thẩm vấn chị ông rất ngạc nhiên bởi chị không có thành kiến hay căm ghét ông – một nhân viên FBI. Thực vậy, chị có vẻ tò mò về công việc của ông. Ông nói với chị đơn giản ông là một trong những người bảo vệ xã hội. Một xã hội không thể tồn tại được nếu thiếu một vài quy định. Ông nửa đùa nửa thật nói thêm, ông là một tấm lá chắn giữa những người như chị và những kẻ muốn ăn tươi nuốt sống chị để phục vụ cho những mưu đồ riêng của họ. Thời gian tìm hiểu thật ngắn ngủi. Họ nhanh chóng làm đám cưới. Vì biết rằng họ đối lập nhau trong hầu hết các vấn đề nên hai người tránh không để quan niệm riêng của họ ảnh hưởng đến tình yêu. Ông không chia sẻ những tín điều của chị, còn chị lại hoàn toàn ngây thơ trong thế giới của ông. Chị dứt khoát không chia sẻ với ông lòng sùng bái FBI. Nhưng chị vẫn lắng nghe những phàn nàn của ông, việc ông phẫn nộ vì danh dự của một vị thánh – J. Edgar Hoover 2– bị bôi nhọ. “Người ta mô tả ông ấy như một kẻ đồng giới, một tên cuồng tín phản động. Thật ra ông ấy là một nguời tận tâm không muốn những tư tưởng tự do phát triển”. Ông bảo chị – Cánh nhà văn chế nhạo FBI như Gestapo hoặc KGB, nhưng bọn anh không bao giờ tra tấn, chưa bao giờ vu cáo bất cứ người nào – hoàn toàn khác cánh NYPD chứ. Đám thanh niên ở trường đại học có thể mất tự do nếu không có bọn anh. Các lực lượng cánh hữu sẽ hủy diệt chúng, chúng quá đần độn về chính trị. Chị mỉm cười trước những xúc cảm của ông. – Đừng mong em thay đổi, chị nói, nếu anh nói đúng thì chúng mình khỏi cãi vã nhau. – Anh không cần em phải thay đổi, Cilke nói, và nếu FBI ảnh hưởng đến quan hệ của chúng mình thì anh sẽ tìm một việc làm khác. Ông không hề nói với chị đó sẽ là một mất mát to lớn đối với ông. Nhưng có bao nhiêu người nói được rằng họ hoàn toàn hạnh phúc, rằng họ có được một người bạn đời hoàn toàn đáng tin cậy? Ông là người may mắn có được cả hai yếu tố nói trên và toàn tâm toàn ý che chở cho chị, tin tưởng chị cả về thể xác lẫn tâm hồn. Từng giây từng phút chị vẫn cảm nhận được việc ông lo lắng cho sự an nguy của mình. Khi phải đi tập huấn xa nhà Cilke nhớ vợ kinh khủng. Ông không khi nào quyến rũ những người đàn bà khác vì ông không thể phản bội chị. Ông mong đợi ngày trở về bên Georgette, được thấy nụ cười tin cậy của chị và cơ thể mời gọi của chị lúc đợi ông trong phòng ngủ, trần truồng, dễ bị tổn thương, tha thứ cho ông vì đã để công việc trở thành một thứ tôn giáo ám vào cuộc đời ông mất rồi. Nhưng niềm hạnh phúc của ông bị ám ảnh bởi những bí mật mà ông phải giữ kín, những rắc rối nghiêm trọng trong những công việc ông thực hiện, hiểu biết của ông về một thế giới đang bị lũ người tội lỗi – cả đàn ông lẫn đàn bà – làm cho thối rữa, là những vết nhơ của nhân loại đang lan tràn. Thiếu chị, ông sống trên đời không còn ý nghĩa. Có lần, hồi mới cưới, vì nghi ngờ tình cảm của Georgette ông đã làm một việc mà chính ông cũng lấy làm hổ thẹn. Ông đã đặt máy nghe lén trong nhà để ghi lại những gì chị nói, sau đó ông nghe băng ở dưới tầng hầm. Ông đã lắng nghe từng thay đổi trong giọng nói. Và chị đã qua được kỳ sát hạch. Chị không thâm hiểm, không nhỏ mọn hay phản phúc. Ông làm việc đó suốt một năm trời. Đối với Cilke, việc chị yêu ông bất chấp những khiếm khuyết của ông là cả một điều kỳ diệu. Nhưng ông luôn e sợ chị sẽ phát hiện ra thực chất con người ông rồi ghê tởm ông. Và vì thế trong công việc ông càng trở nên khó tính và càng có tiếng là công bằng. Georgette không khi nào nghi ngờ chồng. Một đêm chị đã chứng tỏ điều đó khi cùng hai mươi người khách nữa dự tiệc tại nhà ngài giám đốc. Đêm ấy J. Edga Hoover cũng dành được chút thời gian cho riêng vợ chồng Cilke. Lão bảo Georgette – Tôi biết cô có liên hệ với nhiều nhóm có tư tưởng tự do. Tất nhiên, cô có quyền làm như vậy. Nhưng có lẽ cô thật sự không ý thức được rằng những hành động của cô có thể hủy hoại sự nghiệp của Kurt tại Cục. Georgette nở nụ cười với lão và nói một cách nghiêm túc – Tôi biết chứ, nhưng đó là sai lầm và rủi ro của Cục. Tất nhiên, nếu vấn đề trở nên nghiêm trọng thì chồng tôi sẽ từ chức. Giám đốc quay sang Cilke, ném vào mặt ông một cái nhìn đầy kinh ngạc – Đúng vậy không? Lão hỏi. Cậu sẽ từ chức chứ? Cilke không hề do dự – Đúng vậy thưa ngài. Tôi sẽ nộp đơn vào sáng mai nếu ngài muốn. Giám đốc phá lên cười. – Ồ không, lão nói. Chẳng mấy khi chúng tôi kiếm được một người như cậu. Rồi lão nhìn Georgette với ánh mắt quý phái. Tình yêu vợ có lẽ là nơi nương náu cuối cùng của một người đàn ông trung thực. Tất cả cùng cười cái dí dỏm có phần khiên cưỡng ấy để bảy tỏ thiện chí của mình.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.