Nhà Tù

vietmessenger.com

Hồi ký của Duyên Anh

Post by Sơn râu 25 Jun 2024

Phần 23

Trước Tết năm 1978 ba ngày, chúng tôi nhận được quà thăm nuôi của gia đình. Trừ các tù nhân “con bà phước”, thư từ của chúng tôi đã về tận nhà. Mỗi khu một ngày thăm nuôi. Không khí Chí Hòa rộn ràng những ngày cuối năm. Sự nhận quà ở Chí Hòa khác hẳn đề lao Gia Định. Có vẻ… dân chủ một tí. Tù nhân được gọi xuống phòng thăm nuôi nhận những túi bị đề tên mình. Trật tự viên khám đồ, không cần sự giám sát của cai ngục. Giả vờ vất hai gói thuốc lá xa túi quà của mình thì sự kiểm soát dính theo trạng từ qualoarement. Quên giả vờ hay tiếc của thì sự kiểm soát tỉ mỉ và bị hạch hỏi lung tung. Cái màn đổ thịt kho ra thau, dùng đũa khoắng tứ tung không có ở Chí Hòa. Được cái dễ này, mất cái dễ kia. Ở đề lao Gia Định, quà cáp vào, tù nhân loay hoay rỡ ra bỏ vào bị vào keo. Bánh kẹo, đường thẻ, mì vụn, sữa bột ưu tiên cất trước. Rồi mới đến nước mắm, mỡ phi hành, xì dầu, thịt kho, tôm kho… Những món cần tiêu thụ ngay như bánh cuốn, bún chả, phở xào để riêng ra. Thời gian dành cho dịch vụ “thăm nuôi” mất cả tiếng. Sau đó, mồ hôi toát đầm đìa, mỡ màng nhớp nhúa đầy tay. Làm một phát tắm gội thoải mái rồi enjoy là nhất. Ở Chí Hòa, chỉ có một ca nước rửa tay. Thưởng thức quà cáp của vợ con cũng kém phần hứng thú. Chẳng ai đặt ra, nhưng đã thành lệ: Tù có thăm nuôi mời “con bà phước” chung vui một bữa đầu tháng. Ở Chí Hòa đông anh em quen biết còn vui hơn. Ta chơi góp quà ăn liền enjoy tập thể. Đủ các thứ, đủ các món. Tết Chí Hòa, chúng tôi có dưa hấu, bánh chưng, giò chả… Tư Long cho phép “liên hoan” ba ngày Tết, tính từ đêm 30. Trong ba ngày này, miễn điểm đanh, miễn báo cáo và miễn… tắm. Lợi dụng “liên hoan”, chúng tôi xào mì, xào hủ tíu, nấu chè bột xả láng.

Đêm 30 Chí Hòa năm 1978 là đêm rộn rã nhất trong đời tù của tôi. Phòng bên phải loan tin:

– Đàn anh đón nghe nhé, chúng em ca nhạc trắng đêm.

– Đêm không ngủ hả?

– Dạ. Đêm chờ quân ta về.

– Có sân khấu không?

– Nhạc cụ, trống phách đàng hoàng.

Đoàn Kế Tường khoái lắm. Bản tính của Tường sống động. Tường đại diện phòng tôi liên hệ với phòng phản động trẻ.

– Đàn anh có thăm nuôi không?

– Có.

– Tưởng không có, đàn em thẩy sang.

– Thiếu cà-phê thôi.

– Cái đó chịu à. Này đàn anh, ô dưới các em gái hậu phương hứa hẹn hát chào mừng các anh trai tiền tuyến đấy.

Những phòng ô của FG dành riêng nhốt đàn bà, con gái và con nít có mẹ đi tù! Con nít theo mẹ đi tù, mẹ lại mang bầu và cha lao động cải tạo rừng già là một điểm sáng chói của chủ nghĩa Mác Lê bách chiến, bách thắng. Dưới ngọn cờ quang vinh của Đảng, còn có người mẹ mang bầu dắt con vào tù về tội mua bán xăng nhớt của bộ đội nhân dân! Các nữ tù ở phòng ô được hưởng đặc ân, đặc lợi. Đặc lợi: hồ nước ngay trong phòng, nước tràn trề ngày đêm. Đặc ân: Hàng ngày ra dạo vườn hai tiếng, phơi quần áo, co quần áo. Nhiều em trẻ và mướt lắm, diện đáo để. Chúng tôi thường đứng sát tường, ngắm các em nhởn nhơ qua song sắt nhà tù. Khu FG là khu lẫy lừng, tù nhân phải lẫy lừng. Vậy đa số các em dưới ô FG, theo Đằng Giao, đều đã dính vào những vụ tán tỉnh yêu đương quý vị cán ngáo có Honda 90, Vespa Sprint dại gái, lùa quý vị này vào đường tình sử để bồ tèo lột Honda, Vespa và đôi khi, thủ tiêu luôn quý vị ấy. Đoàn Kế Tường nhiều sáng kiến. Tường chỉ chúng tôi từng em và đặt tên nhân vật nữ Kim Dung cho mỗi em.

Ngay chập tối, phòng phản động trẻ đã phóng tín hiệu xuống dưới ô:

– Trên văn nghệ trước, dưới văn nghệ sau nhé!

Dưới ô, một em trả lời.

– Ô-kê!

Các nhà tư sản mại bản sợ văn nghệ phiền phức, bèn đi ngủ sớm. Như thế, khỏi tham gia văn nghệ và có lý do chính đáng “làm việc” với cai ngục, nếu bị gọi ra.

– Đàn anh!

Đoàn Kế Tường đáp.

– Rõ.

– Tụi em chơi bạo đấy. “Thà một phút huy hoàng rồi sụp tối”…

– Chơi đi.

– Chơi chứ. Đàn anh yên chí, tụi em vừa tuyên thệ sống chết có nhau, trung thành với tổ quốc. Chỉ FG chơi thôi. Các khu khác vượt biên, hình sự lem nhem, bộ đội đào ngũ sẽ vểnh tai nghe.

– Bạo lắm.

Chúng tôi chờ đợi vài phút. Bỗng trỗi dậy một tiếng hô dõng dạc mà tôi nghĩ toàn thể tù nhân Chí Hòa đều nghe rõ.

– Nghiêm! Quốc kỳ chào!

Tôi vốn chán cái trò “chào cờ, mặc niệm, suy tôn tổng thống” từ ngày khôn lớn. Mười tuổi, tôi say mê chào cờ đỏ sao vàng, suy tôn Hồ Chủ Tịch. Vào đời, sự say mê nguội lạnh nhưng bị cưỡng bức chào cờ vàng ba sọc đỏ, suy tôn Ngô tổng thống ở ngoài đường, trong rạp xi-nê. Thì đành đứng nghiêm mà lòng ấm ức. Một lần, chỉ một lần thôi, tôi rưng rưng nước mắt thấy lá cờ quốc gia quen thuộc không còn nữa vào buổi sáng 1-5-1975. Tôi xuống phố. “Tôi đi không thấy phố thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên nền cờ đỏ”. Mưa rơi ngập mắt tôi. Bây giờ, nghe bạn tuổi nhỏ hô “nghiêm”, tự nhiên, tôi đứng nghiêm, lòng chứa chan hoài cảm và hồn phất phơ lá cờ tổ quốc. Cả phòng tôi đứng nghiêm, trừ những nhà tư sản mại bản và mấy tên bộ đội đào ngũ. Chúng tôi hướng mắt sang phòng bên cạnh, hình tưởng quốc kỳ, bàn thờ tổ quốc hương trầm nghi ngút. Bản quốc ca vang lên, hùng tráng. Bản quốc ca vang lên từ nhà tù Chí Hòa. Lâu đài âm thanh muốn rạn gẫy song sắt, xiềng gông. Chúng tôi hát theo. Rồi các khu khác hát theo. Cai ngục không có phản ứng. Họ cố tình “thả giàn” ba ngày Tết. Và họ sẽ bất lực đàn áp cả nhà tù. Sự nguội lạnh và rửng rưng chào cờ của tôi được hâm nóng và tha thiết đêm trừ tịch năm ấy. Từ đó, cờ tổ quốc trong tim tôi. Một đời chỉ cần chào cờ một lần thật xúc động. Tôi đã chào cờ một lần. Tôi ước ao được chào cờ thêm lần nữa, trên quê hương tôi. Ngoài ra, tôi sẽ khước từ chào cờ ở bất cứ nơi nào. Nó phù phiếm, giả tạo và chẳng cưu mang một ý nghĩa nào. Anh sẽ phản đối tôi, dĩ nhiên. Vì anh chưa hề hưởng hạnh phúc chào cờ, hát quốc ca trong khám Chí Hòa. Nếu anh có hạnh phúc ấy, anh sẽ phải suy nghĩ lại lòng yêu nước của anh. Người đau khổ sẵn sàng tin nghe người sung sướng. Nhưng người sung sướng khó mà tin nghe người đau khổ. Do đó, giữa anh và tôi đã có một biên giới, một đoạn tuyệt về ý niệm đời sống.

– Chú ý, phút mặc niệm các chiến sĩ hy sinh vì tổ quốc, các chiến sĩ bị Cộng sản sát hại bắt đầu…

Điệu sáo ai oán não nùng của Tiêu Sử phản động vụt bay khỏi phòng giam, lãng đãng trong vùng trời Chí Hòa. Im lặng tuyệt đối. Tiếng sáo buồn “mặc niệm” đã khiến chúng tôi rơm rớm lệ. Anh đã hiểu tại sao những tiểu thuyết của tôi sáng tác ở Pháp chỉ nhằm mục đích vinh tôn tuổi trẻ chiến đấu ở quê nhà. Bởi rằng tôi đã nhìn thấy họ chiến đấu, nhìn thấy họ sa cơ, nhìn thấy họ tin tưởng, nhìn thấy họ bất khuất. Tôi đã nhìn thấy họ can đảm cả trong lúc sa cơ thất thế. Nhân danh họ, nhân danh lòng son sắt và sự chịu đựng thống khổ của họ, tôi có quyền khinh bỉ những kẻ mộng du chiến đấu, những kẻ giả hình chiến đấu dẫn dắt những tâm hồn đích thực chiến đấu vào chiêm bao. Tiếng sáo ngừng lại. Phút mặc niệm chấm dứt. Không có suy tôn lãnh tụ. Lãnh tụ nào đáng suy tôn? Lãnh tụ đáng suy tôn là tuổi trẻ Việt Nam anh dũng, là sư tử lãng mạn của dân tộc. Họ vừa mới làm lễ chào cờ, mặc niệm. Họ vừa mới hát quốc ca trong tù. Họ thách đố bạo lực và quyền uy Cộng sản.

– Bây giờ sang phần văn nghệ, đàn anh ạ!

– Vẫn lắng tai nghe đây.

– Mở đầu chương trình, DzũngThị Nghè trình bày ca khúc Vết thù trên lưng ngựa hoang của Phạm Duy tặng anh Duyên Anh.

Dzũng Thị Nghè chắc phải mê Dzũng Đakao lắm. Chú nào đó đã mánh mung dấu được cây Harmonica nhỏ. Chú thổi nhạc dạo. Sáo hòa theo. Giọng hát Dzũng Thị Nghè đầm ấm. Giàn trống là mấy cái xô nhựa và thau nhôm. Tôi thấy “văn nghệ khám” sáng giá quá. Tôi rất cảm động được hát tặng bài hát mở đầu, bài hát Phạm Duy lấy ý một đoạn trong Vết thù hằn trên lưng con ngựa hoang làm lời. Tôi không ngờ, lưu lạc bất cứ một trại giam nào, một phòng tù nào cũng gặp khá đông độc giả của mình. Mà độc giả tuổi trẻ yêu mến tôi nhất. Họ đến với tôi, an ủi tôi, giúp đỡ tôi, săn sóc tôi. Và đó chính là tai họa. Tai họa tới từ hai phía 1. Tôi chăm chú nghe Dzũng Thị Nghè. Bài hát dứt, chúng tôi vỗ tay. Phòng phản động trẻ vỗ tay quyết liệt. Dưới ô, các em gái “bis bis” loạn xì ngầu. Tiếng hát Dzũng Thị Nghè, tiếng hát của tuổi trẻ hiên ngang như tiếng nhạc Thạch Sanh. Tiếng hát xuyên qua tường xi-măng cốt sắt, luồn qua trần phòng, sàn phòng, lách ngang chấn song tù, lan tỏa khắp không gian. Tiếng hát tin tưởng một niềm vui lệch đất, nghiêng trời.

– Sau đây Hiền lừa hát tặng anh Đoàn Kế Tường và các anh bản Ra khơi của Phạm Duy.

Hiền lừa hẳn đá bóng ngang cơ Bồn lừa. Chú nhỏ hát thật tốt. Đến đoạn cuối, hợp ca bốn bè. Đoàn Kế Tường, Dương Đức Dũng cảm khái hát theo. Văn nghệ do phòng phản động trẻ đảm trách kéo dài khoảng hai tiếng đồng hò thì được kết thúc bằng bài Quê em của Nguyễn Đức Toàn. Cả phòng hát. Khi tới câu: “Bao là gươm, bao là súng, dựng lưỡi lê lên đi lấy lại làng xưa. Bao lòng dân, bao chờ mong, quân ta sẽ về, quân ta sắp về”.., các bạn trẻ reo hò:

– Quân ta sắp về rồi!

– Quân ta về giải phóng Saigon tới nơi rồi…

– Quân ta phải về, anh em vững niềm tin.

Vỗ tay tưng bừng. Cứ như pháo mừng thắng trận. Bỗng nhiên, bên phòng hình sự rầm rầm la lối. Đoàn Kế Tường hỏi vọng sang:

– Chuyện gì thế?

– À, có thằng khốn nó hát “quân ta đếch về”, tụi này sửa nó cho bõ ghét.

– Thôi bỏ qua đi, nó cũng mong quân ta về nhưng quân ta chưa về, nó nản nó than “quân ta đếch về” đấy.

– Ô-kê, nghe anh.

Bây giờ, các em tù nữ chơi văn nghệ. Các em hát toàn nhạc sến. Vậy mà nghe cũng thấm thía. Lâu lâu nghe nhạc sến triết lý “hai với hai là bốn, thực tế thế mà khôn” hay “con Thúy con Hồng nhìn em khẽ nói, Tao biết rồi mày đang đón người yêu”… thú vị ra phết. Tôi chỉ đủ can đảm lắng tai nghe hai ca khúc sến. Bèn đi nằm. Văn nghệ dưới ô thiếu hấp dẫn nên nó tàn mau. Nửa khuya, có lẽ cảm khái văn nghệ phòng tập thể, một giọng hát tuyệt vời từ cachot bung ra. Ali Hùng. Đích thị người nhái Ali Hùng. Chàng diễn tả ca khúc Tôi ru em ngủ của Trịnh Công Sơn. Chúng tôi đang nằm, ngồi hết dậy nghe người tử tù gửi một thông điệp cuối cùng cho đời sống. Đã nhiều đêm, ở đề lao Gia Định tôi nghe tiếng sáo gió của Ali Hùng. Đêm nay, tôi nghe chàng hát. Cachot FG Chí Hòa xoáy mòn thân phận của tử tù trước ngày nó trở về cát bụi. Tôi chưa thấy, ở một chế độ nào, tù nhân bị tuyên án xử tử và Chủ tịch Nhà Nước khước từ sự khoan hồng mà vẫn phải kéo dài tháng ngày đợi chết trong quan tài xi-măng. Đúng vậy, cachot FG Chí Hòa là thứ quan tài xi-măng. Tôi đã biết những cachots FG xây sát cầu thang mỗi lần xuống sân tắm. Tận mắt, tôi nhìn nước ở sàn cachot rỉ ra nhễu giọt liên tục. Thì tôi đoán nổi sự ẩm ướt thường xuyên. Không có ánh sáng vào cachot FG.

Người ta đã kiểm soát được ánh sáng. Có lẽ, khoa học kỹ thuật Cộng sản đang nghiên cứu phương pháp kiểm soát không khí. Và Nội quy của nhà tù Cộng sản sẽ có điều cấm tù nhân thở tự do.

Một chút về cachot FG Chí Hòa: Chiều dài của cachot 1 thước 50 phân. Chiều ngang, 70 phân. Chiều cao, 1 thước 80 phân. Tường bê-tông cốt sắt. Cửa sắt dày, ba ổ khoá. Một ô cửa nhỏ giữa cửa lớn đúng tầm mắt tù nhân đứng để cho cai ngục rọi đèn vô xem tù nhân còn sống hay đã chết và để đưa cơm nước cho tù nhân. Cachot FG Chí Hòa trên lầu chót, hai dẫy đối diện, cách nhau một hành lang hẹp không đèn, dù đèn vàng hiu hắt. Do đó, cachot ngàn năm tối tăm. Dưỡng khí lùa vào hành lang. Tù nhân hít thở qua 6 cửa nhỏ, gọi là “cửa gió”. Bên trong cachot có cái xô. Tù nhân tiểu tiện, đại tiện vô đó. Không có giấy chùi đít. Tù nhân sẽ noi gương súc vật nếu không muốn xé quần áo làm giẻ chùi hay nếu không muốn nhịn uống dùng nước rửa đít. Mỗi ngày, tù nhân được phát hai ca nước đun sôi. Không có chiếu. Tù nhân nằm, ngồi trên sàn xi-măng đã đóng lớp phân tiểu khô quánh của các tù nhân bị nhốt ở cachot qua nhiều chế độ. Con người đã được chủ nghĩa Cộng sản ưu việt bảo vệ với đầy đủ phẩm cách làm người. Nó hít thở nhiều uế khí, nhiều thán khí và rất ít dưỡng khí. Nó chỉ được mặc một bộ quần áo. Hàng tuần, chủ nghĩa ưu ái cho nó đi tắm một lần. Nó xách xô phân tiểu theo. Trước hết, nó đổ phân tiểu xuống cống, rửa sạch xô. Rồi nó tắm gội, giặt quần áo. Chủ nghĩa giám sát nó trần truồng tắm gội. Vì chủ nghĩa quản lý con người. Không tìm ra sự trắc ẩn trong danh từ quản lý nên chủ nghĩa mặc kệ sự ghẻ lở của con người tắm thiếu xà phòng. Con người tắm xong, giặt quần áo xong, vắt khô quần áo rồi mặc và xách xô lên cachot đợi lần tắm giặt, đổ phân tiểu kế tiếp. Nó sẽ phơi quần áo trên giây thân thể trong bóng tối mịt mù cho đến khi khô. Ấy đó, cachot FG Chí Hòa, nơi các tử tù Nguyễn Văn Nghị, Nguyễn Việt Hưng, Ali Hùng đã sống chờ chết, nơi Đoàn Kế Tường đã sống và đã phát biểu: “Với cachot FG, mọi thứ cachot trên đời đều vô nghĩa”, nơi báo chí Mỹ không bao giờ sủa ăng ẳng đòi “cải thiện chế độ lao tù”. Có cơ may nào dẫn họ vào cachot FG Chí Hòa? Những kẻ từng gang họng lên án “Chuồng Cọp Côn Sơn” sẽ xấu hổ lắm khi họ được phép “tham quan” – tham quan thôi – một cachot thứ yếu của khu FG khám Chí Hòa dưới chế độ quang vinh Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Lê Thanh Minh, đại úy trốn trình diện học tập, người đã từng coi tù Cộng sản ở Côn Sơn, nói với tôi hồi chúng tôi sống ở phòng 6C-1 đề lao Gia Định: “Chuồng cọp thấm mẹ gì! Nó chỉ là thứ cũi sắt nhốt những thằng vi phạm kỷ luật, những thằng sách động tù nhân. Nó rực rỡ ánh sáng và tràn đầy dưỡng khí”. Đại úy Lê Thanh Minh mới chỉ so sánh Chuồng Cọp với cachot khu A đề lao Gia Định mà anh đã bị nhốt. Trên tất cả những điều tôi muốn nói, tôi muốn hỏi báo chí Mỹ đã từng ủng ẳng đòi Việt Nam Cộng Hòa “cải thiện chế độ lao tù” là họ nghĩ gì về những tử tội phải kéo dài tháng ngày đợi chết ở cachot FG Chí Hòa. Có nên phất ngọn cờ Quyền Chết của con người bên cạnh Quyền Sống của con người? Và tôi cũng muốn hỏi qúy vị tự xưng mình là Đại Diện cho tù nhân chính trị, tù nhân tư tưởng ở Việt Nam, đòi hỏi Cộng sản – có vị còn hách dịch bắt Cộng sản Việt Nam – thả hết tù nhân ra khỏi các nhà tù, có vị nào đã nằm tù Cộng sản? Tôi biết đích xác những vị to mồm nhất đều là những vị đã phè phỡn, ít nhất, 20 năm ở ngoại quốc. Hôm nay, quý vị ấy đấu thầu tù nhân bằng nước bọt, quý vị ấy dùng tù nhân làm thang để leo lên sự nghiệp ái quốc, ái quần. Quý vị ấy tưởng tượng nỗi khổ của tù nhân, mở đồ hộp cho chó ăn mà liên tưởng cảnh đói của tù nhân quê hương. Nếu quý vị còn liêm sỉ nên câm họng lại. Bởi vì, có đến 99 phần 100 tù nhân chính trị, tù nhân tư tưởng, tù nhân của lương tâm đã, đang nằm trong các nhà tù Cộng sản Việt Nam, bị đày đọa quằn quại thì có, bị hành hạ khốn đốn thì có, nhưng rên siết thì không. Và, chắc chắn, ai cũng muốn phỉ nhổ vào mặt những kẻ đấu thầu nỗi khổ của mình. Tôi dám nói điều này: Tất cả những lên tiếng của bất cứ một cá nhân, một hội đoàn nào yêu cầu Cộng sản thả tù nhân đều vô tích sự và chỉ làm phiền tù nhân. Cái tích sự, nếu có – bắt buộc phải có, đi buôn cần kiếm lời – là ồn ào quảng cáo tên tuổi mình. Người Việt Nam quốc gia hải ngoại chỉ có mỗi cách can thiệp hữu hiệu nhất cho tù nhân là đầy đủ lực lượng quân sự giải phóng dân tộc, xóa bỏ mọi nhà tù, trại tập trung Cộng sản. Cách thứ hai, kém hữu hiệu, nhưng làm tăng sự can đảm để tù nhân sống mà hy vọng ngày được giải phóng là âm thầm vận động Amnesty international, âm thầm vận động các Tổ chức quốc tế có thế lực, âm thầm vận động với chính phủ các nước viện trợ nhân đạo cho Cộng sản Việt Nam để họ làm áp lực, để họ can thiệp cho tù nhân đỡ bị hành hạ điêu đứng và cho những tù nhân già cả, bệnh hoạn được tha. Cách thứ ba thiết thực nhưng khó thực hiện, là đóng góp tiền bạc, mua thuốc, gửi tiền tặng vợ con tù nhân để vợ con họ vững lòng nuôi chồng đợi ngày đoàn tụ gia đình. Cách này khó thực hiện vì sẽ chẳng vị đại diện nào chịu bỏ tiền mà quyên tiền thì tiền cứ muốn chạy vào túi riêng! Trên mọi địa hạt, hai kẻ đối nghịch không nhường nhau một bước. Cộng sản không thể bảo quốc gia đừng chống nó. Quốc gia không thể “ra lệnh” cho Cộng sản thả tù vô điều kiện. Tranh đấu là tốt, nhưng chớ quên lô-gích. Những kẻ thích đại diện hư ảo, thích nhân danh hư không (ai cho phép đại diện, ai cho phép nhân danh) thường giả vờ quên lô-gích, biết chuyện phù phiếm, vẫn rêu rao lấy danh. Nghĩ mà đau cho tù nhân. Họ chẳng biết cachot FG, chẳng được chào cờ, mặc niệm ở khám Chí Hòa, đã đành, họ còn chẳng biết 20 năm chiến tranh, dân tộc họ ra sao; họ ngậm miệng hôm qua, họ to mồm hôm nay và to mồm hơn cả tù nhân đã kinh qua ngục tù Cộng sản! Bọn đấu thầu nỗi khổ sao hiểu nổi cái hào sảng của tù nhân, hiểu sao nổi cung cách sống chờ chết mòn của tù nhân. Cái hào sảng của Ali Hùng, chẳng hạn, sống đợi chết, vẫn Tôi ru em ngủ.

Giọng Ali Hùng bồng bềnh lãng mạn, chan chứa cảm xúc. Hòa âm cho bản nhạc chàng hát là nỗi hiu quanh ngục tù. Nơi tiếng hát bay ra, cachot FG, như nơi tiếng đàn Thạch Sanh thoát lên. Đã cổ tích dưới hang lấp kín đá. Sẽ cổ tích Chí Hòa mai sau. Người ta sẽ kể cachot của Ali Hùng lớp phân dầy mấy phân, thấm nước mắt của tù nhân oan khiên, thấm máu của tù nhân tự sát, qua các triều đại, qua những cách mạng. Người ta sẽ ngợi ca đoạn kết cổ tích Chí Hòa y hệt đoạn kết cổ tích Thạch Sanh. Không có con người trả thù con người. Lý Thông trở về đời sống hèn mọn của nó. Con người Thạch Sanh không nỡ giết nó. Nhưng trời không tha nó, Trời bắt nó chết thảm. Những đứa gian ác sẽ hoá thành bọ hung hết. Thạch Sanh ở mãi với lòng người, ngự trị mãi hồn đời. Ali Hùng và những ai làm tốt, làm đẹp cho quê hương sẽ ở mãi lòng người, ngự trị mãi hồn đời. Chàng biết uống giọt sống cuối cùng, dám uống giọt sống cuối cùng. Những người tử tù kéo dài thời gian đợi chết ấy không cần ai đại diện họ xin kẻ thù họ cả. Bọn đại diện, bọn cai thầu tù ngục đã vấy nhơ lên sự thản nhiên sống chểt của họ. Ali Hùng đó, chàng đã làm xong bổn phận của chàng với dân tộc chàng. Chàng thơ thới đợi ngày về đất. Trước khi nhập cõi, cái chết gần kề, trong bóng tối mông lung của thời đại, Ali Hùng vẫn lên tiếng.

Tôi ru em ngủ
Một sớm mùa đông
Em ra ngoài ruộng đồng
Hỏi thăm cành lúa mới
Tôi ru em ngủ
Một sớm mùa thu
Em đi trong sương mù
Gọi cây lá vào mùa
Con đường thật buồn
Một ngày cuối đông
Con đường mịt mù
Một ngày cuối thu
Em vào mùa hạ
Nắng thắp trên cao
Và mùa xuân nào
Ngẩn ngơ tình mới
Đi nhẹ vào đời
Thầm thì gót chân
Em gọi nụ hồng
Vừa tàn cuối sân
Nghe tình chợt buồn
Trong lá xôn xao
Để mùa xuân sau
Mua riêng tình sầu
Tôi ru em ngủ
Một sớm mùa xuân
Em hôn một nụ hồng
Hỏi thăm về giọt nắng
Tôi ru em ngủ
Hạ cũng vừa sang
Em hôn lên tay mình
Để chua xót tình trần

Chàng kết thúc ca khúc chàng diễn tả bằng cái “fade out”: Em hôn lên tay mình, để chua xót tình trần… em hôn lên tay mình, để chua xót tình trần… Rồi bốn bề im lặng. Em hôn lên tay em và em chua xót cuộc đời, chua xót tình người. Còn anh không chua xót gì cả, anh không cần em đại diện anh xin kẻ thù của anh tha anh, em hiểu chưa? Chúng tôi ngồi hút thuốc rê, thuốc lào chờ Ali Hùng hát thêm bài mới hay thổi sáo gió. Thiên hạ đã ngủ hết. Và Ali Hùng cũng bặt tiếng. Tôi hiểu Ali Hùng đuối sức rồi. Cachot FG đã xử tử anh từng phút. Những phát súng găm thân thể anh, hôm nào đó, khi anh dựa lưng cột sân bắn, sẽ là những phát súng ân huệ. Người ta sẽ ban ân huệ chết cho anh ra sao, Ali Hùng? Trước hết, người ta bắt anh há rộng miệng, tống kín họng anh một trái chanh để anh hết đòi hỏi một ân huệ cuối cùng dành cho tử tù. Rồi, người ta bịt mắt anh. Không có linh mục rửa tội giùm anh đâu. Anh bị âm thầm dẫn đến một huyệt mộ đào sẵn. Chắc chắn, vào đêm khuya. Người ta kê súng vô thái dương anh, bóp cò. Anh rơi luôn xuống huyệt. Người ta lấp đất và san phẳng. Chẳng có bia mộ đâu. Những cái chết đích thực của anh hùng quốc gia, quốc gia chân chính, đừng hòng người quốc gia biết để làm lễ truy điệu, đừng hòng người quốc gia biết ngày chết để làm giỗ chạp. “Chinh phu tử sĩ mấy người, nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn”. Ai đã gọi hồn Ali Hùng nhỉ?

Chúng tôi trải qua ba ngày Tết ở Chí Hòa. Theo… truyền thống nhà tù Cộng sản, ba ngày Tết tù nhân được ăn cơm với thịt. Cộng cả ba ngày, mỗi tù nhân hưởng một lạng thịt. Văn nghệ rộn ràng trọn ba ngày. Với tôi, văn nghệ chấm dứt sau bài ca của Ali Hùng. Sinh hoạt Chí Hoà trở lại bình thường. Tỷ phú Trần Thành đổi phòng và được giữ chức nuôi lợn. Hàng ngày, ông xách cái xô đến các phòng xin cơm thừa. Làm gì còn cơm thừa? Ông Tư Nhì có cái ghe đánh cá bên Chánh Hưng. Vì không chịu gia nhập Hợp tác xã, muốn làm ăn cá thể, ông bị vào tù và ghe của ông bị tiếp quản. Nhân vật Tư Nhì to con, cao lớn, bụng phệ như ông ve dầu Nhị Thiên Đường, hàm răng vàng chóe, vui tính, tốt dạ. Vì ông Tư Nhì khoẻ, phòng đề cử ông nhiệm vụ chia cơm. Chức quản lý nước đã giao lại cho Đoàn Kế Tường, lý do: Tường không ngủ trưa. Được một tuần yên lành sau Tết thì phòng phản động trẻ bị chuyển khu nguyên vẹn. Đó là phản ứng muộn màng của Chí Hòa đối với đêm văn nghệ trừ tịch. Lãnh đạo đã họp và quyết định phân tán mỏng phòng phản động trẻ. Sẽ khối chú vào cachot. Cai ngục Phách bắt đầu có thái độ với phòng của chúng tôi.

Một sáng điểm danh như thường lệ, Trưởng phòng Phạm Quang Khai mặc quần xà lỏn, áo sơ mi, đứng nghiêm:

– Báo cáo cán bộ, phòng 60 người, hiện diện đủ.

Chúng tôi ngồi xếp hàng 5, mỗi hàng 10 người. Mọi hôm, ông Khai báo cáo thế là xong. Nhưng cai ngục Phách dở chứng:

– Ai dạy anh báo cáo thế?

– Tôi vẫn báo cáo.

– Anh thuộc Nội quy không, đọc điều 1 xem nào!

Ông Khai quíu lưỡi. Chẳng có thằng tù nào thèm thuộc Nội quy cả, vì không thèm học.

– Anh phải học Nội quy, cả phòng phải học Nội quy Chí Hòa. Riêng anh, làm đến chức Trướng phòng thì nên biết cách báo cáo. Anh phải đọc sơ yếu lý lịch rồi mới báo cáo. Rõ chưa?

– Rõ.

– Báo cáo lại.

Ông Khai đứng nghiêm:

– Tôi, Phạm Quang Khai, sinh năm 19… tại..,, hộ khẩu thường trú số… đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, thành phố Hồ Chí Minh, can tội tư sản mại bản, bị bắt ngày… tháng… năm 1975, Trưởng phòng báo cáo cán bộ phòng có 60 can phạm, hiện diện đủ.

Cai ngục Phách, thằng oắt tì, gật gù:

– Được.

Buổi chiều, hắn tới đưa cho ông Khai 4 trang Nội quy đánh máy gồm 44 điều. Nội quy đề lao Gia Định có 11 điều thôi. Sáng hôm sau, vẫn cai ngục Phách điểm danh. Ông Khai báo cáo xong, hắn “giáo dục”:

– Anh Khai đọc Nội quy, cả phòng lắng nghe học thuộc. Tôi sẽ bắt đọc, anh nào không thuộc Nội quy sẽ bị cấm tắm, cấm nhận quà… Rõ chưa?

– Rõ.

Trưởng phòng Phạm Quang Khai đau khổ đọc 4 trang Nội quy và chúng tôi đau khổ ngồi bó gối nghe.

– Anh Khai!

– Dạ.

– Sao anh đọc như ăn cướp vậy, mắt liến la liến láu? Mai đọc thật chậm.

– Dạ.

Cai ngục Phách nhận chỉ thị hành phòng tôi. Phòng hình sự bên cạnh đâu phải đọc Nội quy. Nhờ tiết mục học thuộc Nội quy, Đoàn Kế Tường chế ra trò giải trí. Tường cầm Nội quy, phổ nhạc vào những điều khoản, thứ nhạc hát xong thì quên mình đã hát gì. Chúng tôi nghe Tường hát, ôm bụng cười. Tường bảo học kiểu này chóng thuộc. Trong cảnh khốn cùng, kẻ nào làm cho người khác cười vui, kẻ ấy là Bồ Tát. Đoàn Kế Tường đã là Bồ Tát. Giữa không khí sôi nổi học Nội quy, phòng chúng tôi tiếp nhận linh mục Nguyễn Văn Tự Do và anh Đình (tôi không nhớ rõ họ, hình như Võ Xuân Đình). Linh mục Nguyễn Văn Tự Do, tên căn cước là Nguyễn Văn Tự, người giảng Phúc Âm trên Đài Phát Thanh Saigon. Ông bị bắt về vụ Đức Mẹ Fatima Bình Triệu. Vụ này hơi ly kỳ và được thần thoại hoá ở đề lao Gia Định năm 1977.

Tù nóng kể cho tù nguội 2: Đức Mẹ hiện ra ở nhà thờ Đức Mẹ Fatima Bình Triệu. Thiên hạ hay tin, ào ào kéo về hành hương, cầu nguyện. Hoa dâng lễ ngập cả nhà thờ, Cộng sản không ngăn cấm nổi. Có một người tê liệt ngồi trên xe lăn, sai vợ con chở tới và đẩy xe vào nhà thờ cầu khẩn ân huệ. Anh ta đứng dậy, chạy nhẩy bình thường. Cộng sản sợ hãi, bắt anh ta đem đi đâu chẳng rõ. Đồng thời, một số linh mục cũng bị bắt, trong số đó có linh mục Nguyễn Văn Tự Do và linh mục Hoài Linh 3. Ngoài các linh mục còn thêm một nhân vật “kỳ bí” Hồ Ngọc Anh. Nhân vật này bị Cộng sản chọc mù mắt ở cachot, Đức Mẹ vẫn ban ân nhìn đời sống rõ như ban ngày, bị Cộng sản bỏ đói, Đức Mẹ vẫn nuôi nấng… Vân vân. Hồ Ngọc Anh nằm cachot khu A đề lao Gia Định. Tôi không tin. Gặp linh mục Nguyễn Văn Tự Do, ông không chịu giải thích. Nhưng ông thích bàn luận chuyện chính trị. Và ông bị kết tội phản động. Anh Đình nói là anh cộng tác với nhật báo Chính Luận, rất thân Đặng Văn Sung. Tổng số tù nhân phòng tôi nâng lên 62 người. Có linh mục Tự Do, các tù nhân Thiên Chúa giáo mừng ra mặt. Chúa đã gửi linh mục Tự Do đến phòng của chúng tôi.

Trưởng phòng Phạm Quang Khai bị đọc Nội quy hai tuần liền mệt đừ. Ông ta chưa thuộc hết và chúng tôi, mỗi người mới thuộc vài điều đề phòng bị cai ngục Phách truy bài. Hắn chưa truy bài “học tập’” thì bị đổi sang khu khác cùng với cai ngục Quỳnh. Cai ngục mới điểm đanh. Trưởng phòng Khai báo cáo kiểu cai ngục Phách, bị hạch hỏi:

– Sao anh râu ria thế?

Ông Khai ngẩn tò te:

– Tôi già rồi, được phép để râu.

– Râu ria là dài dòng chứ không phải râu của anh. Râu của anh ai thèm quan tâm. Báo cáo vắn tắt.

Vậy là ông Khai thoát nạn kể sơ yếu lý lịch đọc Nội quy 44 điều. Làm Trưởng phòng khổ vô cùng. Thế mà ông Khai khoái. Ông ôm luôn chức Thư ký phòng, ông chủ tọa các phiên họp cuối tuần rồi ông gò lưng tôm nắn nót biên bản. Dường như, những người đã có địa vị chức tước xã hội thì ở nơi chốn nào, hoàn cảnh nào vẫn thích chức tước, địa vị.

Hai hung thần Quỳnh, Phách cút, Đoàn Kế Tường hát cho cả phòng nghe bài Em đến nuôi anh một chiều mưa, nhạc Tô Vũ, lời Đoàn Kế Tường.

Em đến nuôi anh một chiều mưa
Em đến nuôi anh một chiều đông
Nuôi lần này ở ngay khám Chí Hòa
Em đến nuôi anh lầm than quá
Cầm cái phong bì
bước qua cổng khám
là đến phòng nuôi
Em đến nuôi anh trình xong giấy
Em đến nuôi anh bàn cu Phách
gần bên thằng Quỳnh
Mặt nhìn mặt hồi lâu Tư Long mới phán một câu
“Hiện thời còn đây
Ngày mai nuôi đâu
thư sẽ gửi sau
Nếu hên xuống Long Thành
Nếu xui tới Lao Bảo
Và xa hơn, ngoài Bắc
Nếu không gắng học tập
Sẽ chui ấp Hoả Lò
Cải tạo thêm mười năm
Chắc mai mốt anh về
Sẽ lê giống anh Quang què
hay là cuộc đời buồn như Ngao Song
như Nguyễn Mạnh Côn

Lòng nhủ thầm lần sau nuôi anh
một túi đầy hơn
Em ước mơ kỳ thăm nuôi tới
Em đến nuôi anh còn khu F
Và chưa chầu trời…

Quang què tức là đại úy nhẩy dù Quang (tôi không nhớ họ anh ta), ông Đô trưởng của 3C-1 mà tôi đã giới thiệu sơ sơ ở phần thứ hai Nhà tù, hiện đang sống chung phòng với chúng tôi. Sống chung với chúng tôi nên kể ông Phường trưởng Phạm văn Diện, bạn đồng nằm vùng của Vũ Hạnh. Nhờ nằm vùng, Diện được chỉ định làm Phường trưởng một Phường thuộc quận 3. Rồi bị kết án “mất phẩm chất cách mạng”. Và vô tù. Diện vẫn nuôi hy vọng cách mạng sẽ soi sáng nỗi oan cho mình. Anh ta có vẻ nguy hiểm nhưng nể nang Đoàn Kế Tường. Tường ngông nghênh, chấp hết, ăn nói mạnh bạo, phản động quyết liệt. Có tài nhại nhạc, nhại thơ. Đoàn Kế Tường đã nhại bài Đi chơi chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp. Rất tiếc, tôi nhớ có vài câu, xin ghi ra đây gọi là nhớ người bạn tù:

Hôm nay ngày thăm nuôi
Xe cộ chạy ngược xuôi
Tay em xách cái giỏ
Tay kia cầm gói xôi…

Được anh em tán thưởng Em đến nuôi anh một chiều mưa, Đoàn Kế Tường chế tạo thêm Kỷ vật cho em đưa tên các bô lão râu dài, bệnh tật của phòng vào lời:

Em hỏi anh
Em hỏi anh: Bao giờ trở lại
Xin trả lời đến Tết mới về.

Anh trở về thành cụ Ngao Song
hay ít ra cũng bằng cụ Hà Năng Đắc
Anh trở về già như cụ Lựu
Anh trở về tóc trắng Nguyễn Mạnh Côn
Anh trở về
Đem bệnh trĩ của Nguyễn Văn Trương
hay bệnh lao của Bùi Kim Bảng
Anh trở về
điếc lòi Phan Bá Thúc…

Cứ thế, ngày trôi nhanh. Nhờ Bồ Tát Đoàn Kế Tường. Tù đầy không hứa hẹn chi cả. Chúng tôi luôn luôn ở tư thế chuẩn bị đổi phòng, chuyển trại, luôn luôn nghĩ rằng tương lai nghẹn ngào hơn hiện tại.

——————————–

1Sẽ viết rõ ở Trại tập trung.
2Tù nóng: Tù vừa mới bị bắt. Tù nguội: Tù đã nằm đề lao lâu.
3Cũng làm nhạc nhưng không phải nhạc sĩ Hoài Linh.

Nhà Tù

vietmessenger.com

Hồi ký của Duyên Anh

Post by Sơn râu 25 Jun 2024

Phần 22

Chí Hòa không phải là đề lao Gia Định. Để có nhận xét này, nhiều tù nhân đã sưng mặt, phù mỏ. Kinh nghiệm Chí Hòa được phổ biến ở phòng mới. Bây giờ, mọi người mới vỡ lẽ, với Cộng sản không có đòi hỏi, không được phép đòi hỏi. Với Cộng sản, phải giành lại. Muốn giành lại, phải chiến đấu. Khi chưa đủ sức trực diện chiến đấu, cần biết “xếp tàn y lại để dành hơi.” Theo Cựu ước, có một thời im lặng và một thời lên tiếng. Đa số chúng ta không quán triệt cái thời của mình. Nên đã ồn ào lên tiếng vào thời cần thiết im lặng. Do đó, sự lên tiếng vội vàng đã lạc lõng trong hoang vu của thế sự. Mà, buồn thay, sự lên tiếng vội vàng thường hụt hơi. Cuối cùng, nó biến thể thành những gấu ó lẫn nhau vô tích sự, những chụp mũ bôi bẩn lẫn nhau bệ rạc. Rồi tiếng nói nào dõng dạc cho đúng thời? Tôi sợ rằng sẽ không có tiếng nói ấy.

A, tôi cần giới thiệu những nhân vật của phòng tôi. Trước hết là Trần Thành, nhà tài phiệt lừng lẫy Chợ Lớn, một trong những tài phiệt đã góp phần thao túng nền kinh tế miền Nam. Tất cả tỷ phú đều keo cú, bần tiện. Điều này là chân lý. Trần Thành thoát khỏi cái chân lý khốn kiếp. Ông ta hào sảng, cởi mở. Tôi nhớ, có thời gian ngắn sống chung với các ông Hoàng Kim Quy, Lý Sen, Lâm Huê Hồ, Trương Vĩ Nhiên, Trần Thành ở đề lao Gia Định, khu C-1, vào dịp đề lao bắt đăng ký tiền mặt, chỉ cho tù nhân giữ lại 30 đồng. Tỷ phú Trần Thành đã phát tiền tặng các tù nhân “con bà phước.” Ông ta không thèm đăng ký. Ai không nhận tiền, ông ta buồn bã, cố nằn nì được tặng. Trái lại, “vua kẽm gai” Hoàng Kim Quy khó ai xin nổi ông một điếu thuốc lào Cái Sắn chính gốc, hút xong là phê lăn kềnh. Tỷ phú Hoàng Kim Quy, nghị sĩ của nước Việt Nam Cộng Hòa, đã tặng tù nhân đề lao Gia Định, một “giai thoại” bất hủ. Ở đề lao, tù nhân được gửi tiền mua quà. Bài ca nhại lại nhạc và lời Quê em của Nguyễn Đức Toàn sau đây, diễn tả sinh hoạt đề lao:

Trong phòng giam khu C
Thường xuyên 40 người
Một tù hai gang chiếu
Trưa chờ cơm cháy
Sáng chờ chia nước sôi
Ngày điểm danh hai lần
Tờ mờ sáng tinh mơ
Anh em chưa thức dậy
Đã thấy hàng đầy sân
Thôi thì rau, thôi thì chuối
Tương chao, bánh mì, thuốc rê, thuốc lào…

Đủ các mặt hàng, từ dao cạo, cà-phê, trà, rượu, cán bộ phục vụ can phạm với giá cắt cổ. Đó là hiện tượng, không phải bản chất. Tỷ phú Hoàng Kim Quy gửi mua một ký cà-chua. Hôm đó, hàng về trễ. Khi chia, ông bận ngủ trưa. Lúc ông thức dậy, Trưởng phòng bảo ông nhận hàng. Nhà tỷ phú không nhận, ông bắt chia lại để ông chứng kiến. Cả phòng đành gom cà-chua một đống, chia lại. Tù nhân Hoàng Kim Quy đòi hỏi công bằng và hợp lý… chia hàng ở nhà tù, nhưng chưa hề thấy ông đòi hỏi công bằng và hợp lý cho dân chúng ở nghị trường. Mà sự công bằng ông đòi hỏi ở nhà tù cũng chỉ cho riêng ông. Ông lại chỉ đòi hỏi với các bạn đồng tù. Bởi vì, ông ta là một khuôn mặt tiêu biểu của cơ cấu quốc gia Việt Nam Cộng Hòa nên tôi thấy cần thiết nhắc lại “giai đoạn” bất hủ này. Những “chuyện buồn nhỏ nhặt” xẩy ra ở đề lao thường do các bậc “đại nhân” gây ra. Chẳng hạn, vị đại khoa bảng họ Vũ, ăn cắp chai tầu-vị-yểu (chai nhựa) của bạn đồng tù nghèo nàn, cãi nhau vì cơm chia cho mình có vẻ thiếu cân lạng, bị cai ngục mỉa mai: “Trí thức miền Nam các anh thế đấy a!” khiến đau lòng… trí thức. Nhưng ta trở lại tỷ phú Trần Thành.

Ông ta tình nguyện chùi rửa cầu tiêu và lau quét sàn phòng giam không cần các Tổ cắt cử trực sinh. Luôn luôn, trên môi điếu thuốc lá Ăng-lê, nhà tỷ phú Trần Thành làm công việc “‘đầy tớ” một cách vui vẻ. Không hề nghe ông ta thở dài, tiếc của, than thân, ông nói: “Còn sống, còn hy vọng làm lại.” Tinh thần lạc quan của ông ta đã dạy tôi can đảm chịu đựng. Tôi bỗng quên cay đắng, tủi nhục và nỗi chết. Tôi cũng nhớ nằm lòng câu nói của cai ngục Quỳnh: “Chiến đấu từ đau khổ, cố mà học nếu muốn chiến đấu chống Cộng sản”. Sự khinh miệt của Cộng sản: “Thế giới đâu đã đọc sách của các anh” lại sôi sục đáy tim tôi. Mỗi tù nhân hiểu “học tập cải tạo” một ý.

Nhiều người khước từ những bài học Cộng sản. Riêng tôi, tôi thành thật cám ơn “lời vàng ngọc” của gã cai ngục tầm thường, có thể, hắn đã cường điệu, hắn đã cương, đã bứt khỏi giáo điều của các lãnh đạo hắn. Song, quý hóa thay là ngón võ “đem cái đạo của thiên hạ trả lại thiên hạ.” Tôi nhập tâm câu nói: “Chiến đấu từ đau khổ, cố mà học nếu muốn chiến đấu chống Cộng sản.” Chúng ta đã, đang chiến đấu chống Cộng sản, chỉ tiếc rằng, trong chúng ta còn khá đông những kẻ tưởng tượng đau khổ mà chiến đấu. Và, tệ hại hơn, còn khá đông những kẻ nhục mạ nỗi đau khổ chống Cộng của người khác. Để độc quyền chống Cộng bằng đau khổ tưởng tượng. Chí Hòa là nơi tôi sẽ học hỏi nhiều hơn.

Nhân vật thứ hai của phòng tôi là Đào Mậu, Bang trưởng bang Quảng Đông, Saigon. Nhà tỷ phú này già nua, thâm trầm, ít nói, không có nét “đan thanh” nào cần diễn tả. Nhân vật thứ ba là Tăng Tài mà Đoàn Kế Tường đã phong chức Tư lệnh hải quân đường sông. Mọi vận chuyển lúa gạo đường sông miền Nam nằm trong tay ông Ba Tầu bụng phệ không biết viết cả chữ Tầu lẫn chữ Việt này. Tăng Tài, chắc chắn, thuộc huyết thống Tăng Sâm, rất có công lao vận chuyển thuốc Tây vào mật khu cho Cộng sản. Thế mà vẫn bị nhúm. Vì tư sản mại bản. Tư lệnh hải quân đường sông có bệnh thích cầm nhầm, bệnh “mất áo trắng đòi áo thâm.” Hôm chúng tôi bị khám hành lý, Đặng Hải Sơn xếp dọn đồ tù bị lục tung thấy lạc cái khăn tắm. Trưởng phòng yêu cầu anh em tự giác lôi hành lý của mình ra cho Đặng Hải Sơn tìm khăn. Cái khăn của Đặng Hải Sơn bị “lạc” vào bị của Tăng Tài. Vị tư lệnh hải quân đường sông thản nhiên nói: “Đây là khăn của tôi, nhưng nếu anh Sơn mất, tôi xé chia đôi”.

Đặng Hải Sơn ngao ngán: “Thôi, ông giữ mà dùng, giữ nguyên chiếc.” Dĩ nhiên, tỷ phú Tăng Tài cười rất đẹp và không cần… cám ơn.

Nhân vật thứ tư là Trương Viso. Nhà tư sản mại bản Việt 90% gốc Hoa 10% này có đức tính thích-hơn-người. Nước đã chia đều cho tù nhân dùng vào việc cá nhân. Trương Viso vẫn “chôm” nước xối cầu tiêu của phòng. Đoàn Kế Tường lãnh nhiệm vụ phân phối nước, chửi um lên. Trương Viso vẫn trơ ra. Anh em tặng Trương Viso hỗn danh Trương thớt me. Tôi hỏi ông ta:

– Ông không xấu hổ à?

Trương Viso tỉnh bơ:

– Xấu hổ gì? Đứa nào tức giận tôi, nó sẽ mau chết. Còn tôi, tôi cứ sống lâu.

Cái triết lý sống của Trương Viso sẽ hay lắm, nếu ông ta đừng xâm phạm vào quyền lợi của người khác. Người Tầu mưu sinh đất khách đã sống với triết lý đó. Mày cứ chửi ông, cứ coi thường ông đi, rốt cuộc ông giầu hơn mày, mạnh hơn mày.

Tôi vừa kể những khuôn mặt tư sản mại bản Chợ Lớn. Bây giờ, điểm mặt tư sản mại bản Saigon, Việt Nam chính gốc. Nhân vật cự phách hàng đầu vẫn là Phạm Quang Khai, tư lệnh hải quân đường biển. Ông Khai có những 50 chiếc tầu chở dầu chiến lược. Ông trở thành tỷ phú, được báo Newsweek của Mỹ xếp vào hạng 1 trong 10 người giầu nhất Việt Nam nhờ chiến tranh. Ông Khai không làm buồn ai, không làm hại ai cả nhưng vì quá tiếc của, vợ con lại… di tản từ khuya, ông đâm ra lẩm cẩm. Ông bị kẹt lại là do muốn di tản hết chổi cùn giế rách.

Chúa tầu mà không đi lọt, âu cũng là thiên định. Và còn là nguồn an ủi của những ai phải ở lại với Cộng sản. Ông tư lệnh hải quân đường biển Phạm Quang Khai có thú vui vá quần xà-lỏn. Hai cái quần của ông mỗi ngày một dầy, liệng xuống sông là chìm nghỉm. Đã thế, ông còn chơi râu. Tù nhân trên 50 tuổi, Đảng cho phép chơi râu, tuy Đảng rất thèm râu dành độc quyền cho Bác Hồ chơi. Ông Khai chơi râu, cai ngục khó chịu lắm. Hồi sống chung với ông Khai ở 1C-1 đề lao Gia Định, tắm sau ông là đợi dài. Ông… gội râu đã mất hai mươi phút, giặt quần xà-lỏn đụp hai mươi phút. Ông đeo kính lão cả giờ ngủ. Mỗi ngày, ông nằm “đạp xích-lô” ba lần, mỗi lần ông đếm dủ 3000 vòng. Để chữa bệnh trĩ, ông nói thế. Ông cũng đọc kinh, bấm đốt tay thay vì lần tràng hạt, mỗi ngày ba lần. Bốn giờ ông đã dậy đọc kinh, “đạp xích-lô”. Lúc ông đọc kinh, quan sát ông, tôi suýt phì cuời. Tay trái là tràng hạt, tay phải cầm quạt quạt phành phạch, miệng bập bập liên hồi. Tuy đọc kinh có vẻ tập trung tư tưởng lắm, nhưng đôi mắt ốc nhồi của ông vẫn ngó ra phía cửa xem cai ngục có đi tuần “đột xuất”. Hễ nghe bước chân cai ngục là ông Khai “phanh” miệng cái rốp. Sau khi đọc kinh, ông cung kính vái lậy tường tù và… tù nhân. Cai ngục nực ông vô cùng. Thằng Phách đã xỏ ông: “Anh Khai, anh đừng dỡ trò nhà có của đóng cửa đi ăn mày nhé! Cách mạng chưa tịch thu quần đùi của anh đâu. Anh bêu riếu cách mạng vừa vừa thôi.” Vậỵ là ông Khai liệng quần xà-lỏn đụp tại Chí Hòa. Ông đã giải phóng quần xà-lỏn, giải phóng công nhân xà-lỏn, không nỡ bóc lột thêm. Thú vui nặng tính chất “tỷ phú” của ông là làm cô-lếch-sông gói giấy đựng mì. Ăn mì xong, ông giữ lại cái bao, vuốt ve phẳng phiu, xếp ngay ngắn, cất vào bị. Anh em xin, làm đóm hút thuốc lào, ông không cho. Bị khám hành lý, cô-lếch-sông bao mì của ông bị cai ngục tịch thu, ông nằn nì xin lại vài cái. Cứ vậy, dài dài. Ông lẩm cẩm hay máu tỷ phú nó thế. Đồ thăm nuôi của ông, ông không tiêu thụ hết, nhất định để mốc vất thùng rác chứ chẳng dại cho các “con bà phước”. Đấy, nhà tỷ phú Phạm Quang Khai, ngang cơ tỷ phú Hoàng Kim Quy. Vua tầu dầu và vua kẽm gai giống hệt nhau.

Ông vua thứ ba, vua hóa chất Nguyễn Công Kha hỗn danh Kha muối 1, không đến nỗi keo cú và ích kỷ như hai vua tầu dầu, vua kẽm gai, nhưng có tính lo xa. Nghĩ rằng chỉ sợ hết thức ăn sớm, không chịu nổi canh bí rợ nấu muối. Ngày thăm nuôi, gia đình gửi vào ba miếng thịt bò bíp-tếch, một con gà rô-ti… Thay vì đã có sườn kho theo kiểu ‘’chả chìa”, thịt chà bông, thịt kho ăn dài hạn, bíp-tếch, gà rô-ti thưởng thức ngay cho sướng miệng. Không, người lo xa Nguyễn Công Kha ăn một miếng bíp-tếch bò thôi. Hai miếng kia rắc đầy muối, bỏ vô hũ, để dành tuần sau! Còn chú gà rô-ti, hôm sau đã có chất nhờn trên da, vua hóa chất nhờ bạn tù nghèo lột da, xé thịt rồí… ướp muối. Xương và da nhờn tặng “con bà phước”. Mất cả tỷ bạc mà vẫn ướp muối bò bíp-tếch thì… lạc quan thật. Ông Kha có hai niềm vui. Một: Khom lưng cúng Phật. Ông là người thân cận của hòa thượng Thích Tâm Châu. Một hôm, đang say mê cúng Phật, ông quên cai ngục Phách đứng ngoài hành lang theo rõi ông.

– Anh kia!

Vua hóa chất giật mình:

– Làm gì thế?

– Tôi tập thể dục, cán bộ ạ!

– Thành khẩn đi, anh lễ lạy ai?

– Dạ, tôi lễ Phật.

– Anh mất tự do rồi, cấm chỉ anh lễ Phật.

– Nhà nước chủ trương tự do tín ngưỡng.

– Trong tù không có tự do, hiểu chưa?

– Hiểu.

Ông Kha mất niềm vui cúng Phật. Hai: hàn những lọ nhựa, keo nhựa, xô nhựa bị thủng. Ông hàn giúp bất cứ ai nhờ ông. Để thay thế niềm vui cúng Phật, lợi dụng xuống tắm, ông lượm sợi giây điện lớn, cục đá nhỏ đem lên phòng chế kim khâu, ông Kha tỉ mỉ đục cái lỗ xuyên chỉ thì tuyệt. Vua hoá chất cung cấp kim may túi, may quần xà-lỏn, vá áo cho Đặng Hải Sơn, Mai Đức Khôi…

Nhân vật tư sản mại bản tôi sắp kể chưa lên hàng vua là Bùi Kim Bảng 2, con trai của giáo sư Bùi Hữu Sủng. Ông ta, chủ một viện Bào Chế Âu Dược, tròn như hột mít. Chỉ có một điều đáng nói về ông Bùi Kim Bảng. Các phòng giam tại Chí Hòa, cầu tiêu xây ở góc phòng, sát sàn nước. Phải leo lên cái tam cấp mới đại, tiểu tiện được. Do đó, tù nhân gọi công việc đại tiện là lên sân khấu. Ông Bùi Kim Bảng có thói quen lên sân khấu vào đúng bữa cơm trưa. Ác nghiệt thay, ông “diễn trò” giữa lúc anh em ăn dở dang. Trò của ông “thối” vô cùng, ông lại “chơi ra-phan”, chấp tất mọi la lối, chửi thề. Đó là mẫu trí thức chỉ biết mình và thói quen của mình. Khác hẳn người tự trọng Khai Trí Nguyễn Văn Trương, chờ khuya mới “lên sân khấu” vì mắc bệnh trĩ, không muốn phiền ai đợi mình lâu.

Ngoài mấy nhân vật tư sản mại bản, trừ Trần Thành, mà sống chung với họ mòn đời, chắc chắn, tôi không học được ở họ một điều gì hữu ích. Họ chỉ than van, oán trách rồi mơ ước Cộng sản thua. Để họ được trả lại những gì Cộng sản đã tước đoạt của họ. Nhân sinh quan của họ không thay đổi, dẫu họ đã bị xoáy tròn trong cơn lốc tháng 4 năm 1975 và đã tận mắt chứng kiến sự khốn cùng của dân tộc họ mà chính họ chịu trách nhiệm lớn. Có những kẻ sinh ra chỉ biết làm giầu và chẳng thèm biết đến ai. Những kẻ ấy, ở bất cứ hoàn cảnh nào, vẫn chẳng thèm biết đến ai. Bất hạnh cho dân tộc ta là có khá nhiều hạng người ấy.

Tôi kể sang những nhân vật chính trị của một chính phủ… buồn cười: Chính phủ liên bang Đông Dương. Câu chuyện như thế này:

Cụ Đỗ Văn Lựu, cựu đại tá Ngự Lâm Quân, thời đeo lon trung úy đã đồn trú tại tô giới Thượng Hải, bố vợ của tướng Phạm Văn Phú. Cụ Lựu vốn là bạn thân của ông Bùi Ngọc Phương. Ông Phương, hẳn mọi người còn nhớ rằng, đã bị chính phủ Ngô Đình Diệm bỏ tù về tội Công ty dầu lửa chi đó. Cụ Lựu có một đệ tử tên là Nguyễn Văn Cương mà Đằng Giao tặng biệt đanh Cốc Chính Cương. Cốc Chính Cương, kỹ sư canh nông còn trẻ, được chế độ mới lưu dụng và xử dụng vào công tác đắp đập Ông Nhiêu làm thủy lợi. Đập Ông Nhiêu thất bại. Cốc Chính Cương bị phê bình phá hoại. Vừa lo sợ, vừa phẫn nộ, Cốc Chính Cương gặp cụ Lựu, phịa chuyện có 7000 tinh binh, sẵn sàng điều động. Cụ Lựu dậy hồn trẻ, muốn báo đáp non nước tấm thân già tin Cốc Chính Cương và nhập cuộc. Cụ rủ Bùi Ngọc Phương, con rể của tác giả Mồ Cô Phượng. Ông Phương mê cầu cơ và nhiều thủ đoạn, lại có máu lãnh tụ. Để chính thức được nhận là Tổng thống chính phủ Liên bang Đông Dương, ông Phương mời cụ Lựu và vài vị tổng trưởng về thánh thất Cao Đài. Ông thuê đồng tử, trinh nữ nhập cơ nói những điều ông đã dặn. Cơ lên, chỉ đúng ông Bùi Ngọc Phương mà phán “Chân mạng đế vương”. Cụ Lựu tin, nhiều tổng trưởng tin. Ngô Khởi dạy: Khi xuất quân, không tin cái thế tất thắng ở mình thì chỉ còn cách bói mu rùa. Thời gian sau 1975, con người bối rối, nôn nóng cứu nước đến mê muội, tin cơ là chuyện thường. Và Bùi Ngọc Phương hiểu tâm lý con người quá xá. Nhưng, những Lê Khải Trạch, Nguyễn Cao Thanh, Vũ Đăng Dung không tin cơ đâu. Họ tin 7000 tinh binh của Cốc Chính Cương mà họ tưởng là của tướng tuẫn tiết Phạm Văn Phú, vì cụ Đỗ Văn Lựu nói. Rốt cuộc tổng thống Bùi Ngọc Phương, phó thủ tướng Đỗ văn Lựu, các tổng trưởng vào tù. Cốc Chính Cương vào tù luôn. Phòng tôi có cụ Lựu, ông Phương, chàng Cương. Họ nhìn nhau cười trừ. Những chiến sĩ chống Cộng bằng… cầu cơ còn tiếu lâm hơn cả ông Đinh Xuân Cầu chống Cộng với Mỹ của Trương Phiên. Tôi bỗng thấy mình ngu dại. Có ai nguyền rủa kẻ sắp chết đuối bạ cái gì cũng níu không nhỉ?

Nhân nói về chính phủ Liên Bang Đông Dương… cầu cơ, tôi kể một câu chuyện xẩy ra tại Đề Lao Gia Định. Một tù nhân tâm sự với tôi rất thành khẩn:

– Ông tin tôi đi, Mỹ đã đổ quân lên Trường Sa, chờ ngày giải phóng Saigon. Nó viện trợ 2 tỷ đô la. Mấy trăm ngàn xe hơi Mazda đã có sẵn ở Trường Sa rồi.

– Dựa vào đâu mà ông bảo tôi tin?

– Cứ tin đi!

– Ai nóí?

– Thì cơ nói chứ ai nói!

Hơn một nghìn ông thầy bói đã bị đi học tập cải tạo mấy tháng chỉ vì dám đoán cái thế tất thua của Cộng sản và sự thành công vượt biên. Tôi mà chỉ sống chung với tỷ phú và tổng thống, tổng trưởng, ngày tháng tù sẽ dài vô tận. May mắn chừng nào, cái vũ trụ Chí Hòa của tôi còn có sát nhân, tướng cướp, án tích du đãng cũ, bộ đội đào ngũ, cán bộ mất phẩm chất cách mạng. Và Dương Đức Dũng, Đoàn Kế Tường, Hoàng Mạnh Hùng, Đặng Hải Sơn, Khai Trí, Nguyễn Mạnh Côn, Phan Thành Trường, Mai Đức Khôi, Cốc Chính Cương… Phan Thành Trường, kỹ sư cầu cống, tốt nghiệp tại Pháp, con trai bà hiệu trưởng Trưng Vương. Anh về nước phục vụ, dạy học ở Trường Kỹ thuật Phú Thọ. Không chấp nhận chế độ Cộng sản, anh gia nhập tổ chức chống Cộng của những người lính nhẩy dù.

o O o

Vài nét về vài nhân vật của phòng mới của tôi do Phạm Quang Khai “lãnh đạo”. Những nhân vật đề lao mà tôi đã sống với họ như Phan Bá Thúc, Hà Năng Đắc… thì miễn kể. Niên trưởng phòng tôi là cụ Ngao Song, người Nùng, 80 tuổi, cựu đại úy Biệt khu Hải Yến. Nhi đồng phòng tôi là Nguyễn Ngọc Phước, 8 tuổi, móc túi ở bến xe đò. Đã có một tờ báo dành cho độc giả từ 7 đến 77 tuổi, phải có một nhà tù dành cho tù nhân từ 8 đến 80 tuổi. Trẻ không tha, già không thương là nhà tù Cộng sản.

Lần đầu tiên, kể từ ngày bị bắt, tôi mới có dịp sống chung phòng với anh Nguyễn Mạnh Côn. Cơn nghiện đã tha anh, không hành hạ anh nữa. Thuốc phiện hút chất nước trong cơ thể con người. Thiếu thuốc phiện, anh Côn “mập” ra, thứ mập thê thảm. Trông anh như bị phù. Mắt anh lờ đờ và tất cả tinh anh của anh biến mất.

Tính ra, tôi đã sang Chí Hòa hơn một tuần. Đoàn Kế Tường vẫn nằm cachot rùng rợn của khu FG. Đằng Giao đã chia cơm nước cho cachot FG kể rằng, các “lãnh tụ” Vinh Sơn nằm ở cachot, chưa bị xử tử. Cha Nghị, “tướng” Nguyễn Việt Hưng, Ali Hùng đủ mặt. Cha Nghị đã mù vì tuổi già mà cachot tối om, tanh tưởi, nhầy nhụa. Tôi chờ Đoàn Kế Tường về tả tỉ mỉ bên trong cachot FG.

Không có Giáng Sinh tại Chí Hòa. Sau khi đã ổn định các phòng mới, tù nhân được mua giấy, phong bì, tem, bút viết thư báo tin cho gia đình biết trại mới và thể thức thăm nuôi. Bút viết xong phải nộp cai ngục. Gọi là thăm nuôi chứ chỉ nhận quà thôi. Lệ Chí Hòa lạ lắm. Có án mới được gặp vợ con, thân nhân. Chúng tôi là tù nhân không án tích, không xét xử. Khác với đề lao Gia Định, mỗi tháng, Chí Hòa cho nhận quà một lần. Gia đình không nhận thư là kể như đợi tháng sau. Thư tù thay thế giấy thông hành qua cửa khám. Vụ mua hàng dẹp bỏ. Chúng tôi phải chờ gần Tết mới nhận quà mừng xuân. Sinh hoạt của Chí Hòa, chúng tôi đã quen. Kẻng báo thức: Dậy, đánh răng, rửa mặt, chuẩn bị điểm danh. Điểm danh xong, xuống hồ xách nước. Màn xách nước sôi nổi nhất. Anh em tình nguyện lao động, cãi vã, giành giật phục vụ tập thể. Xách nước có lợi lớn. Thứ nhất, được múc một thùng xối từ đầu xuống chân làm một “quả” tắm chớp nhoáng. Thứ hai đem theo cái bình bốn lít lấy đầy nước xối cầu ưu tiên. Nếu bồ ruột đi xách nước, ta xung phong trần truồng, cầm bàn chải chà cầu, bồ của ta sẽ tặng ta trận tắm ngoạn mục trên “sân khấu”. Chúng tôi, 60 tù nhân, một ngày được cung cấp 20 thùng nước. Phòng có một cái phuy nên xô nhựa lớn nhỏ của tù nhân bị trưng dụng chứa nước. Phòng nhờ một tù nhân bảo quản nước. Năm ca nước cho mỗi người một ngày dùng vào các dịch vụ đánh răng, rửa mặt, rửa chén, rửa đít. Đi cầu chỉ xử dụng hai ca nước công dội cầu. Đi tiểu, một ca thôi. Ai xử dụng nước phải hỏi quản lý và bị giám sát. Bồ bịch thì du di. Quản lý nước thường lời cả xô. Chàng tắm thoải mái buổi tối nhưng chàng phải bỏ ngủ trưa để canh gác nước. Nước qúy nên có màn bán nước. Bốn ca một cục đường. Một ca một điếu thuốc lào thật phê. Những kẻ bán nước là “con bà phước”, không cần đánh răng vì không bàn chải và kem đánh răng, không cần rửa mặt và không cần rửa chén.

Người ta đã cho chúng tôi tắm đúng hạn kỳ. Tuần lễ hai lần tắm, mỗi lần 8 phút. Tắm không dám sát xà phòng. Đã tắm là khỏi giặt quần áo. Mà giặt quần áo là khỏi tắm. Bởi vậy, nhiều tù nhân chậm chạp chơi trò mặc quần áo vừa tắm vừa giặt. Tỷ phú Phạm Quang Khai hết thú gội râu. Đang tắm, chưa xối sạch xà phòng, nghe tu hít thổi, phải ra xếp hàng, điểm danh rồi lên phòng. Bệnh ghẻ ở Chí Hòa tái phát, leo thang vun vút.

Sau mục xách nước tới mục lau sàn phòng, chia nước sôi… âm ấm. Rồi pha bột, ngâm mì. Rồi cờ tướng, đô-mi-nô. Rồi thuốc lào vặt, tán láo. Rồi chờ cơm trưa. Kẻng báo ngủ trưa. Cả phòng im lặng. Không ngủ thì ngồi dựa tường, ngồi bó gối, nằm nhớ nhà, nhớ đời…

Trưa ở Chí Hòa hiu hắt vô cùng. Tôi chưa biết âm ty, hẳn nhiên, vì tôi chưa chết. Dẫu tôi chết, tôi khó phục sinh để diễn tả những gì tôi thấy dưới âm ty. Nhưng mà, trong nỗi hoang vu của trưa Chí Hòa, nằm nghiêng sát tai trên sàn xi-măng, tôi đã nghe rõ những âm thanh quái đản từ phòng dưới. Làm sao tôi viết chính xác những âm thanh một đời chỉ có một lần được nghe nhờ ngụp lặn giữa dòng bất hạnh? Cảm giác của tôi, lúc ấy, là rờn rợn, nổi da gà. Tôi đã hình tượng hàng tỷ con ròi lúc nhúc trên lớp phân đang ồn ào đòi hỏi một thứ quyền sống. Tôi cũng còn hình tượng một đại hội âm ty báo cáo thành quả tội ác của qủy sứ. Và liên hoan… Bây giờ, ngồi viết hồi ký Nhà tù, tôi thèm được, một lần nữa, nằm nghiêng sát tai trên sàn xi-măng, trong nỗi hoang vu của trưa Chí Hòa, nghe lại những âm thanh quái đản mà tôi nghĩ đã trở thành điệu ru tuyệt đời của tôi. Chí Hòa, tôi đã mô tả thật kỹ ở tiểu thuyết Vết thù hằn trên lưng con ngựa hoang. Tôi mô tả theo sự tường thuật của các tù nhân Chí Hòa. Đúng đấy nhưng chưa thực. Hôm nay mới thực, bất cứ một chi tiết nào của Chí Hòa, của Chí Hòa sau cái người ta gọi là cách mạng, giải phóng. Để có cái thực, tôi phải nằm nghiêng sát tai trên sàn xi-măng, trong nỗi hoang vu của trưa Chí Hòa, nghe những âm thanh quái đản. Thỉnh thoảng, ở cái sa mạc loài người đó, giọng nói nhọn hoắt của một nữ tù phóng ra: “Báo cáo cán bộ, cachot A-4 có người bệnh nặng’’. Giọng nói nhọn hoắt chìm vào im lặng cố tình. Ngay con chim sẻ đậu trên sợi kẽm gai của cửa gió phòng giam cũng buồn bã nín thinh. Nhân loại bên ngoài càng nín thinh. Và đồng loại nín thinh kỹ hơn. Đôi khi, đồng loại bên ngoài ầm ỹ chát chúa để khỏa lấp những vô tình chủ mưu. Khi đó, bên trong, giọng nói đã hụt hơi, rời rã: “Báo cáo cán bộ, cachot A-4 có người sắp chết”! Nhiều nhà văn triết lý giáo khoa thư lớp đệ nhất hay dạy triết lý giáo khoa thư lớp đệ nhất của chúng ta, hằng đề cập tới tiếng thét của cô đơn. Ở đâu chúng ta nghe rõ tiếng thét của cô đơn? Ở chấp vá, vay mượn tư tưởng của các triết gia thế giới rồi nhập nhằng nhận là sáng tạo của mình? Hoặc ở sự tưởng tượng sau cuộc vui chóng tàn? Hoặc ở cung cách làm dáng tư tưởng trong văn chương? Riêng tôi, tôi thấy tiếng thét của cô đơn ở những buổi trưa, những ban đêm tù ngục; tiếng thét của cô đơn ở ngay quê hương tôi, ở nơi tôi sinh ra, khôn lớn, đau khổ, chịu đựng và hy vọng. Nếu sự chịu đựng đau khổ để tạo dựng ngày mai hạnh phúc thì, tôi khẳng định rằng, ngày mai hạnh phúc của dân tộc tôi phải do người quê hương tôi tạo dựng ngay trên quê hương tôi. Hạnh phúc của dân tộc tôi không bao giờ ở Mỹ châu, Âu châu hay Úc châu, không bao giờ là những đồng đô-la lạc quyên mập mờ, không bao giờ là những chiến khu thuê rừng đất khách, không bao giờ là vo ve của bọn nhặng đấu thầu nỗi khổ, rao bán nghẹn ngào của dân tộc. Trước hết và sau hết, bọn giả vờ yêu nước chưa đủ kiến thức nghe và hiểu nỗi cô đơn của dân tộc họ. Cả Cộng sản lẫn quốc gia. Bổn phận của nhà văn là lay động cái bóng tối u mê phủ kín những tham vọng đê tiện làm què quặt dân tộc, làm u ám quê hương. Người ta đã khước từ cái sứ mạng cầm bút đó. Rốt cuộc, mặt trận mà Cộng sản sợ hãi nhất là Mặt trận Văn hoá thì hoàn toàn im lặng, thụ động. Thụ động buồn tênh trong cái thế tư tưởng quốc gia đối kháng tư tưởng mác xít, chủ nghĩa nhân bản đối kháng chủ nghĩa phi nhân. Đôi khi, tôi rất tội nghiệp tôi. Trải dài đời mình chịu đựng mọi oan khiên, nhục nhã để cống hiến đời sống, ít ra, những trang sách về tù ngục Cộng sản chính xác nhất, chẳng những vô tích sự mà còn bị căng thây lãnh hàng trăm mũi tên bẩn. Tôi dứt khoát tuyên bố, sau khi ký tên hoàn tất hồi ký Nhà tù và Trại tập trung, tác phẩm của tôi sẽ không còn hai tiếng Cộng sản nữa. Tôi không chống Cộng nữa. Tôi noi gương các tiên chỉ, lý tưởng văn nghệ hải ngoại, cúi gầm mặt trước bạo lực, thản nhiên trước những rên siết, quằn quại của tổ quốc, dân tộc, nói chuyện tình yêu, viết chuyện ăn uống. Để được tiếng đứng đắn, không công kích ai. Để được lòng cả quốc gia lẫn Cộng sản. Để được cả Cộng sản và quốc gia khen ngợi. Và được cả những đứa bần tiện nhất trên đời ngưỡng mộ. Tôi đã chọn lựa một thái độ. Tôi không ngu đi chống Cộng một mình, nhịn đói chống Cộng. Để bị quốc gia bêu nhục. Để bị Cộng sản nguyền rủa. Có lẽ, tôi nên trở về Chí Hòa của tôi.

Kẻng trưa báo thức: Dậy, chờ nước sôi. Phải nói nước đun sôi. Tôi chưa thấy nước sôi ở Chí Hòa bốc khói khi gánh lên phòng. Sinh hoạt phòng giam ồn ào. Lại cờ tướng, đô-mi-nô ăn đấm lưng, hút thuốc lào vặt, tán gẫu và ngồi thẫn thờ nhớ vợ, thương con. Láng giềng của tôi, phòng bên trái là tù hình sự, có Nguyễn Đăng Viên, anh ruột của nhà văn Mai Thảo; phòng bên phải là tù phản động gồm toàn con cháu các sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Nhờ đi tắm ngang qua phòng nhau, chúng tôi nhận ra nhau dễ dàng. Người ta bảo các ông Ngô Khắc Tinh, Hồ Văn Âm bị giam ở Chí Hòa. Tôi chưa gặp mặt họ. Tôi ước ao chuyển phòng khắp 4 khu Chí Hòa. BC là khu tôi thích đến, vì trong truyện ngắn Ánh lửa đêm tù tôi đã tả một phòng giam BC do Nguyễn Thụy Long kể. Có một sự kiện buồn cười giữa Nguyễn Thụy Long và tôi. Tác giả Loan mắt nhung mới là du đãng thứ thiệt, tay giang hồ hạng nặng, từng nằm quân lao Gò Vấp, khám Chí Hòa. Nguyễn Thụy Long khoái tôi, ưa tâm sự với tôi về cuộc đời ngang dọc của anh. Long thật hiền. Anh em tặng biệt danh Trâu Nước Quách Tỉnh. Mê quãng ngày hành hiệp của Long, tôi viết Điệu ru nước mắt. Thấy tiểu thuyết du đãng thành công, Nguyễn Thụy Long bèn sáng tác Loan mắt nhung. Rồi hàng loạt tiểu thuyết bụi đời. Được nhờ giới thiệu Loan mắt nhung sau bìa sách, tôi đã cho Trần Đại lu mờ trong vùng trời giang hồ. Đến khi Nguyễn Đình Thiều viết loại truyện này, tôi để một Nguyễn Thụy Long tung hoành, khai thác đề tài mới. Tôi thích đến khu BC, bởi vậy. Nhân vật Quân của Ánh lửa đêm tù là hình ảnh Nguyễn Thụy Long.

Kỷ luật ở Chí Hòa “sắt thép” hơn đề lao Gia Định. Qua đây, kể như hồ sơ của chúng tôi đã khép lại, hết còn bị hành hạ tự khai. Thay vào sự hành hạ tinh thần, Chí Hòa khủng bố tinh thần, đày đọa thể xác và thường xuyên đe dọa tù nhân bằng những quyết định tự chế của từng cai ngục. Tư Long, tôi nhắc lại, là tên Cộng sản nằm vùng, bán vé và xếp chuyến xe đò Minh Trung lộ trình Saigon – Đà Lạt. Sau 30-4-75, hắn đeo quân hàm đại úy công an, nắm chức vụ Trưởng trại đề lao Gia Định. Bây giờ, Tư Long bị hạ tầng công tác, xuống chức Trưởng khu FG. Chắc chắn, vì lờ đờ bị hạ tầng công tác nên Tư Long đã hung hăng ở Chí Hòa. Cai ngục và đám trật tự thuộc hạ cai ngục đều hắc ám và thường xuyên rình mò phòng tôi. Có điều lạ là qua Chí Hòa, chúng tôi ăn cơm hai bữa với canh bắp cải hầm xương heo. Ăn no nê. Đằng Giao giải thích: Bếp do sĩ quan cảnh sát khu ED phụ trách và Bộ Nội Vụ cung cấp thực phẩm. Nhưng tuần trăng mật cơm canh chẳng kéo dài, Sở Công An tiếp thu bếp, tù nhân phải ăn cơm với bí rợ nấu muối. Và đội cấp dưỡng gồm lũ công an can tội hiếp dâm, ăn cướp… Ở Chí Hòa, người ta không phát chén, ca, muỗng, chiếu. Các “con bà phước” phải xin những cái bình nhựa đựng nước tương, nước mắm của tù nhân thừa bình, cắt bỏ phần trên, lấy phần dưới đựng canh. Cơm thì chia vào túi ny-lông. Bốc cơm, húp canh. Chúng tôi cắt bị cói may chiếu. Đặng Hải Sơn và Mai Đức Khôi đã trở thành tay thợ may tài tình. Mép chiếu viền vải đàng hoàng. Nhét tiền vào viền vải, chắc ăn nhất, cai ngục đâu ngờ mà lục xét.

Vài hàng về Mai Đức Khôi, hỗn danh Độc thủ phản động. Khôi, sĩ quan tốt nghiệp Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, chiến đấu cụt một cánh tay, chủ trương một hãng thông tấn tư. Can tội phản động. Dáng dấp thư sinh, bướng vô tả, ăn thua đủ với cai ngục nhưng nhường nhịn bạn bè, nhất là những người ít tuổi. Chỉ một tay thôi, Độc thủ phản động có thể cắt quần xà-lỏn, sửa sơ-mi bằng dao nắp lon sữa bò mài sắc và kim giây đồng do Nguyễn Công Kha chế tạo. Tất cả ba-lô may bằng túi đựng phân bón và chiếu may bằng bị cói phá ra của phòng đều đo Khôi cụt và Đặng Hải Sơn đảm trách. Thoạt đầu, “con bà phước” nằm sàn xi-măng. Qua vài kỳ thăm nuôi, ai cũng có chiếu made by Khôi cụt.

Đoàn Kế Tường đã ra cachot. Tường nói:

– Gần Tết rồi, nhớ anh em quá, đành làm kiểm điểm nhận lỗi và hứa không tái phạm. Với lại cachot Chí Hoà châm quá, không chịu đựng thêm nổi. Em đã cố gồng thử sức, rốt cục xìu.

Có Đoàn Kế Tường, không khí phòng sinh động hẳn. Tường, dân Quảng Trị, giọng nói nặng nề khó nghe mà ham nói nhiều, nói lớn. Tính nóng nẩy, ưa dính vào chuyện bất bình của kẻ khác, không nể nang chi già trẻ, nếu già trẻ sai trái. Bản chất tốt nhưng đầy mặc cảm xuất thân bần hàn. Nằm cachot FG ngót bốn tuần, có lẽ, Đoàn Kế Tường đã truy nã kỹ lưỡng thân phận mình nên dáng điệu buồn bã, mệt mỏi. Tự nhiên, trong những tâm sự riêng tư, Tường bầy tỏ sự thù hận Uyên Thao và khai hết mọi lầm lẫn thuở cộng tác với nhật báo Sóng Thần. Tường hối hận đã gián tiếp dính vào vụ ám sát Phan Mỹ Trúc, chủ nhiệm Đông Phương. Có cuộc trần tình giữa Đoàn Kế Tường với Đằng Giao về chuyện hất Chu Tử khỏi Sóng Thần. Hoàng Mạnh Hùng và tôi ngồi nghe. Nội bộ Sóng Thần được mổ xẻ ở nhà tù Chí Hòa. Tôi đâm ra ớn. May mà tôi đã giã từ làng báo từ năm 1970. Và tôi không ngạc nhiên khi hay tin ký giả Đạm Phong bị bắn chết ở Hoa Kỳ.

– Nó cho cậu viết thư chưa?

– Rồi, ngay sau ký tên dưới bản kiểm điểm. Nó hứa đưa thư đến tận nhà.

– Nhà ai?

– Chị em.

– Còn vợ con?

– Thôi, các anh ạ, quên chuyên ấy đi.

Tôi thấy Đoàn Kế Tường rơm rớm nước mắt. Tường kể trận đòn hội chợ, kể những ngày cachot thê lương, kể những lần đối thoại trong bóng tối với cha Nghị, với Ali Hùng và với một nữ tù nhân. Cuộc đời Đoàn Kế Tường là một cuốn tiểu thuyết đầy tình tiết lâm ly. Thông minh, có chí song gặp đàn anh tồi. Rồi cứ nằm gọn trong móng vuốt của đàn anh phù thủy và làm âm binh mê muội đi từ sai lầm này đến sai lầm khác. Từ nhập thế, Đoàn Kế Tường chỉ có một lần làm đúng và làm theo ý mình. Là chống Cộng sản tự nguyện. Sau 30-4-1975, Tường thất chí, bỏ bê vợ con, sống lang thang ở các vỉa hè với chiếc xích lô đứng tên mình. Đạp xích lô để đủ tiền hút Lucky! Chán nghề đạp xích lô, Tường bán xe, tậu chiếc ba gác. Chán đạp xe ba gác,Tường tìm Dương Đức Dũng kiếm đường vào mật khu. Không có mật khu, hai chàng thành lập một tổ chức phản động, kết nạp toàn sinh viên, học sinh. Họ mời cụ Phan Vô Kỵ cố vấn. Tài chính do nhà quảng cáo Thái Sơn và Phó giám đốc khách sạn Palace bảo trợ. Hai chàng tuổi trẻ đều là ký giả nên hăng say xuất bản báo lậu. Bất hạnh cho cả hai và tổ chức là tên công an Đỗ Hữu Cảnh (luật sư, bạn thân của Dương Đức Dũng, nằm vùng) lọt vào tổ chức. Tất cả dính lưới Mai Chí Thọ. Muốn diệt trọn ổ, Mai Chí Thọ dùng Đoàn Kế Tường làm cò mồi. Những ngày đầu vừa bị bắt, công an ngụy trang thường dân dẫn Tường tới Caféterie Palace, bảo Tường ngồi riêng một bàn. Bất cứ ai quen biết Tường, sà lại chào hỏi Tường là bị nhúm. Phó giám đốc khách sạn Palace bị nhúm tại đây.

– Em ngồi đọc kinh thầm cầu nguyện đừng có ai quen biết vô đây. Em đã gặp anh Hoàng Anh Tuấn dắt xe đạp xì bánh ngang qua, em chỉ sợ anh ấy ngó thấy em.

Đoàn Kế Tường bị bắt cuối năm 1975.

– Anh ạ, cái màn này đã làm em choáng váng. Khối người kết tội em chỉ điểm bắt “đồng chí”.

Chuyện này, cả Tường lẫn Dũng và Thái Sơn đã kể cho tôi nghe ở đề lao Gia Định. Tôi càng yêu mến người bạn tuổi nhỏ của tôi. Trong Bầy sư tử lãng mạn, tôi có viết về Tường và Dũng để tỏ lòng ngưỡng mộ. Chúng tôi lại gặp nhau ở Chí Hòa. Dũng ăn đòn toét môi, nằm cachot FG một đêm. Tường ăn đòn oằn thân thể, nằm cachot FG ngót nghét một tháng. Sẽ chẳng có một dòng chữ nào viết về Đoàn Kế Tường, Dương Đức Dũng và sư tử lãng mạn chống Cộng sản cô đơn và tuyệt vời ngay trên đất quê hương. Người ta đã truy điệu, đã suy tôn những liệt sĩ tưởng tượng hy sinh trong những cuộc chiến đấu chiêm bao. Nhưng mà đó không phải là chuyện của tôi. Chuyện của tôi chỉ là những anh em đang thoi thóp ở các miền tù ngục quê mẹ ngàn đời đòi đoạn.

——————————–

1Hiện đã có mặt tại Huê Kỳ.
2Hiện đã có mặt tại Pháp.

Thung lũng tử thần

vietmessenger.com

Post on 15/03/2014

A20 Vũ Ánh

Post by Sơn râu 24 Jun 2024

Phần 14

Hợp Ðoàn: bài tập hoạt động bí mật trong lòng địch

Tình thực mà nói khi quyết định ra tờ Hợp Ðoàn trong một trại giam như A-20, tôi lo nghĩ rất nhiều. Mức căng thẳng được biểu lộ qua việc có ngày dù đói như thế, nhưng không thể nào nhá hết mấy lát khoai mì khô vào buổi trưa và buổi chiều, thay vào đó uống bao nhiêu nước cũng vẫn khát. Ngọc “đen,” người điều hành nhóm nhận ra hiện tượng hơi bất thường về sức khỏe của tôi. Anh lặng lẽ đi tham khảo với bác sĩ Lạc, một người tù chính trị án chung thân, giảm xuống còn 20 năm. Lúc đó ông Lạc đang lao động ở đội tù chính trị bên có án, nhưng cũng được biên chế lên bệnh xá. Ông khuyên là phải khai cháo, cố gắng tập thể dục hay có thể thì ngồi thiền. Ngọc “đen” thông đạt lời khuyên và tôi thực hiện ngay. Tôi bớt căng thẳng, ngủ được nhiều hơn nhưng không thể quá 5 tiếng một đêm.

Trong thâm tâm, tôi hiểu tại sao tôi lo lắng về giai đoạn chuẩn bị tờ Hợp Ðoàn như vậy. Không phải là tôi lo sợ cho bản thân mình vì trước khi được giải giao từ khu biệt giam ED nhà tù Chí Hòa lên trại lao cải Hàm Tân, tôi đã tự chọn cho mình một số phận u ám rồi. Tôi còn nhớ rõ buổi hoàng hôn ngày 16 tháng 8 năm 1975, khi mặt trời đỏ lừ đang từ từ rơi xuống phía sau hàng cây trên bờ sông La Ngà, toán chúng tôi gồm tôi, Cự, Phụ, Khải, Thuật và một số khoảng 20 người khác đã rơi ngay vào tay một cánh quân mà sau này chúng tôi biết là của Quân Khu 7 Việt Cộng khi vừa đến một điểm hẹn tập trung gần bờ sông. Hầu hết những người bị bắt đều là sĩ quan, công chức, cảnh sát VNCH khước từ lệnh trình diện để lựa chọn một con đường khác: đi tìm bóng dáng của các nhóm tàn quân VNCH mà chúng tôi được mật báo một cách sai lạc bởi chính bọn quân báo Việt Cộng qua trung gian gồm chính một số cựu sĩ quan, viên chức VNCH cộng tác với họ.

Giận dữ, nôn nóng, vội vã và cả tin đã khiến chúng tôi bị sập bẫy như những đứa con nít. Và khi vào nằm trong gông cùm rồi, chúng tôi chỉ còn biết tự an ủi: bản thông báo của Ủy Ban Quân Quản ra lệnh cho các sĩ quan, viên chức chỉ huy trong chính phủ VNCH, thành viên trong các chính đảng ở Miền Nam Việt Nam phải trình diện và mang theo lương thực đủ 10 ngày để đi “học tập cải tạo” không đánh lừa được chúng tôi, dù cái giá chúng tôi phải trả cho sự tỉnh táo ấy rất đắt.

Khi ánh hoàng hôn nhanh chóng lướt nhẹ trên mặt nước con sông La Ngà rồi tắt ngấm và và mầu tín của rừng chiều trùm phủ xuống cảnh vật, chúng tôi bị đánh đòn hội chợ khá nặng bằng báng súng, rồi bị dẫn xuống sát bờ sông. Bọn cán binh Việt cộng lên đạn xoành xoạch, nhưng tôi hiểu rằng họ không nổ súng. Bởi vì nếu muốn họ đã nổ súng từ lúc lúc hô hoán rầm rĩ khi bao vây chúng tôi rồi. Máu ở trong miệng tôi tiếp tục chảy xuống làm ướt ngực của bộ bà ba đen tôi đang mặc.

Khi bóng tối choàng lên cảnh vật một mầu đen, toán y tế của đơn vị Việt cộng mới soi đèn pin để băng bó cho chúng tôi, đồng thời trói những người bị bắt thành một xâu giống y như ngày trước tôi đã chứng kiến những tù binh Việt cộng bị bắt trên chiến trường miền Nam và bị xỏ xâu đưa lên trực thăng Chinook. Sau này, tôi mới được biết là trong cuộc hành quân vào ngày 16 tháng 8, 1975, lực lượng hành quân thuộc quân khu 7 đã bắt khoảng 1,500 người mà họ gọi là thuộc lực lượng tàn quân “ngụy” trốn trình diện cải tạo. Gia đình Bác Sĩ Phan Huy Quát, cựu thủ tướng VNCH, cựu chủ tịch Liên Minh Á Châu Chống Cộng chi hội Việt Nam cũng nằm trong số những người bị bắt.

(Chú thích: Mấy năm sau, cựu Thủ Tướng Phan Huy Quát đã qua đời vì bệnh gan tại nhà tù Chí Hòa. Tại Chí Hòa vào thời gian đó có khá nhiều những tên tuổi lớn của cả hai nền Ðệ Nhất và Ðệ Nhị Cộng Hòa của Việt Nam và Cambodia: hai cựu chủ tịch Quốc Hội thời Ngô Ðình Diệm là các ông Trương Vĩnh Lễ và Phạm Văn Nhu, cựu Thủ Tướng VNCH Phan Huy Quát và cựu thủ tướng Cambodia là ông Sơn Ngọc Thành. Ông Sơn Ngọc Thành cũng chết tại nhà tù Chí Hòa do biến chứng của bệnh ghẻ, ứng cử viên tổng thống VNCH Nguyễn Ðình Quát và đặc biệt nhà thơ Vũ Hoàng Chương, ông Lương Trọng Tường nhà lãnh đạo tổ đình Hòa Hảo, và ông Phan Bá Cầm Chủ tịch Lực Lượng Dân Xã Ðảng, Linh Mục Hoàng Quỳnh, Linh Mục Trần Hữu Thanh người lãnh đạo phong trào chống tham nhũng của chính quyền của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, ông Nguyễn Phan chủ tịch và tổng giám đốc công ty bột giặt NET.)

Những thất bại nói trên đã làm cho mãi đến sau này, tôi luôn luôn đặt ra những câu hỏi trước bất cứ một hoạt động chống cộng nào được nói đến trong suốt thời gian 4 năm ở trong nước sau khi được thả ra khởi nhà tù vào năm 1988 và trước khi được tái định cư ở Hoa Kỳ. Và cũng chính từ thất bại trên cho nên khi quyết định làm báo chui trong trại giam, tôi luôn luôn đắn đo trước khi bước chân vào con đường khó lượng trước được sự thành công hay thất bại. Các khó khăn mà tôi phải giải quyết trước nhất là giấy, bút. Không như những trại khác, ở A-20 Xuân Phước không một tù cải tạo nào được mang giấy bút viết thư vào trong trại giam. Nếu gia đình không biết và lỡ gởi giấy bút trong giỏ quà thăm nuôi hay trong những gói quà gởi bằng bưu điện, chúng sẽ bị tịch thu. Trại giữ lại và chỉ phát giấy bút cho những tù nhân cải tạo viết thư về cho gia đình trong thời hạn được ấn định 3 ngày đầu tháng. Sau đó họ thu lại. Lý do của việc làm này của ban quản trại chỉ nhằm chặn đứng việc tù nhân cải tạo gởi thư chui cho gia đình khi có dịp tiếp xúc với dân chúng vùng kinh tế mới ở gần trại. Từ ngày tôi bị chuyển lên Xuân Phước, đã có ít nhất hơn một chục vụ gởi thư chui bị phát giác và các tù nhân cải tạo tác giả những bức thư ấy thường bị nâng quan điểm và bị trừng phạt từ 6 đến 8 tháng trong chuồng cọp, cùm một chân. Thực tế, nội dung của thư chui cũng chỉ là những thư khẩn cấp, tù nhân thường viết bằng bạch văn hỏi thăm tình hình gia đình liên quan đến những vấn đề sau đây: vợ con vượt biên có đi thoát không hay lại bị lừa, tình hình kinh tế, chính trị và xã hội, nhất là hỏi thăm đến một kế hoạch của Hoa Kỳ “đổ bộ đánh tháo tù cải tạo,” vốn là một “hot news” giầu trí tưởng tượng nhưng lại nghèo nàn về sự hiểu biết của những tác giả chế biến ra chúng. Nhưng lạ một điều là phần đông tù cải tạo cũng vẫn tin vào điều hoang tưởng đó để nuôi hy vọng sống qua ngày.

Như vậy, để tránh nghi ngờ và những đôi mắt dòm ngó của đám ăng-ten khá lộ liễu trong nhà giam, bằng mọi giá phải thực hiện xong tờ báo trong 3 ngày tù nhân cải tạo được phép viết thư. Ðiều này cũng đúng thôi vì những ngày không phải là ngày tù được phép mà lại cứ lúi húi trên giấy thì đúng là lạy ông tôi ở bụi này. Thời lượng của việc phải hoàn tất tờ báo trong 3 đêm đòi hỏi những điều kiện khác: bài vở phải ngắn, mỗi bài như vậy không quá hai trang khổ một nửa trang của tập vở học trò. Viết ngắn không bao giờ là việc dễ dàng, hơn nữa những người cộng tác trong nhóm chưa một lần nào được huấn luyện viết ngắn. Ngoài ra, đã gọi là những trang báo thì không thể viết bừa bãi gạch xóa lung tung được. Như vậy vấn đề cấp bách là tìm ra người chỉ chuyên viết lại tất cả những bài tôi đã sửa chữa, cắt xén cho vừa khổ báo. Vấn đề nhức đầu thứ hai mà tôi phải giải quyết là khi viết tất cả những bài đóng góp xong rồi phải nghĩ đến chuyện đóng thành tập và bên ngoài phải có một cái bìa bằng một loại giấy phải hơi cứng. Nhưng đóng thành tờ báo là điều dễ làm cho bọn ăng ten chú ý nhất. Tôi không sợ những tên ăng-ten lộ liễu mà sợ những tên ăng-ten ngầm mà mình không biết hay không định được vị trí của họ. Suy đi nghĩ lại, tôi thấy chỉ còn một lựa chọn: lén lút huấn luyện cho từng cá nhân chịu cộng tác để xây dựng tờ Hợp Ðoàn. Tôi nói thẳng với họ rằng hãy coi công việc này là một cuộc vui đắt giá và là một lớp huấn luyện có thực tập hoạt động bí mật ngay trong lòng địch để khi về nếu có cơ hội có thể làm một tờ tương tự chuyển ra nước ngoài.

Cũng may là trong nhóm của tôi chỉ có một vài người cần một ý niệm viết sao cho ngắn gọn để đỡ công những người phải viết lại sau khi bài được sửa chữa.

Vấn đề thứ hai làm tôi suy nghĩ nhiều, đó là vấn đề an ninh cho nhóm. Làm cách nào để ngăn bớt được sự thiệt hại cho những anh em cộng tác với mình khi kế hoạch bị phát giác. Ðây là một vấn đề phức tạp và tế nhị. Các nhà giam trong các trại tù cộng sản nào cũng có những chỉ điểm viên mà chúng tội gọi là cần ăng-ten nổi, cũng như ngầm. Nhưng khi phát giác ra họ và trừng trị là bứt dây động rừng, cho nên cần tránh tối đa việc đụng chạm. Tốt nhất là cần phải lựa chọn trong nhóm những người cần hy sinh khi bị đánh đau đứng ra nhận lãnh trách nhiệm dù có thể là cái chết và dĩ nhiên, những đầu tầu cần phải làm gương xung phong ghi tên trước. Cho nên, ở trong trại giam cộng sản muốn đấu tranh cái gì cũng cần phải biết và sẵn sàng trả cái giá của người làm đầu tầu trong các hoạt động bí mật khi bị địch phát giác.

Thung lũng tử thần

vietmessenger.com

Post on 15/03/2014

A20 Vũ Ánh

Post by Sơn râu 24 Jun 2024

Phần 13

Tờ Hợp Ðoàn ra đời trong bí mật ở A-20 Xuân Phước trong hoàn cảnh nào?

Chọn lựa ở xã hội bên ngoài sau khi người tù cải tạo được thả ra từ sau những cánh cổng nhà tù đã là một khó khăn huống hồ là những chọn lựa trong tù, nghĩa là trong một môi trường không thể có chọn lựa. Nhưng nếu bảo ở sau cánh cổng nhà tù, người tù không còn lựa chọn nào khác hơn là chấp nhận thì không đúng. Tuy nhiên, sự lựa chọn ấy chắc chắn sẽ là một quyết định khó khăn giữa hai thái độ: hoặc là thà chết để đứng thẳng lưng, hai là cứ cong lưng để sống. Tôi có thể nêu ra một điển hình mà chắc bạn nào từng sống ở cái địa ngục A-20 Xuân Phước trong thời kỳ từ 1979 cho đến 1984 chưa quên. Ðó là khi trưởng trại giam Thân Yên, người mà hôm “đón tiếp” chúng tôi khi chúng tôi bị giải giao đến trại đã ngồi vỗ tay rất hăng hái khi PÐN cựu sĩ quan Chính Huấn quân lực VNCH điều khiển anh em hát ca khúc “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ” của Nguyễn Ðức Quang, đã ra lệnh thành lập đội Văn Thể, tức Văn Nghệ và Thể Thao tại Phân trại E.
Ban quản trại rất ngạc nhiên khi thấy việc thành lập đội Văn Thể gặp khó khăn vì khi người được giao phó cho đi làm công việc vận động trong khối tù cải tạo ở đây mang cái tên Tây là René không nhận được sự tham gia nào của anh em. Ngay cả chính bản thân người bạn đồng tù này (bị bắt vì tổ chức vượt biển có vũ khí) cũng bày tỏ ngạc nhiên là không hiểu tại sao “quyền lợi” dành cho những tù nhân cải tạo tham gia đội Văn Thể nhiều như vậy mà anh em cứ “lững lờ con cá vàng.”
Anh ta đưa ra một danh sách ưu quyền: thăm nuôi không giới hạn, mức ăn là từ 18 đến 21 kí thực phẩm, chưa kể “bồi dưỡng” tập luyện. Ở địa ngục trần gian ấy thì quả những điều kiện này là ưu quyền thật, nghe nói mà “phát ham” như lời diễu cợt của anh em đối với miếng mồi ấy.

Cứ thử tưởng tượng một người tù bị “tuyển lựa” lên thung lũng Tử Thần, nghĩa là bị đày vào chỗ chết rồi chỉ vì cái đầu “không thể thay đổi được,” cứ muốn giữ cho lưng mình thẳng để nhìn thẳng vào kẻ thù mà nay lại lên xếp hàng trên sân khấu của nhà tù hát những ca khúc như “Bác cùng chúng cháu hành quân,” “Dường như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng,” “Lá đỏ,” “Trường Sơn Ðông, Trường Sơn Tây,” “Tiểu đoàn 307”… thì còn ra cái thể thống gì nữa. Trong trại A-20 lúc đó lại có một ca sĩ lừng danh gốc luật sư ở Phủ Thủ Tướng VNCH (Khuất Duy Trác). Do cái đầu rỗng tuếch nên René đã rất nhiệt tình “tiến cử” người ca sĩ vốn là thần tượng của tuổi trẻ chúng tôi thời ấy vào ban Văn Thể. Ðiều này làm ông rất lo lắng. Ông nói thẳng: “Moa (moi) không thể cúi đầu như thế được, chúng nó muốn giết moi không gươm giáo nên đã tống moa vào Văn Thể.” Cuối cùng, sau vài ngày bị biên chế, ông dùng một kế thoát ra khỏi được ban Văn Thể mà chúng tôi gọi là ban “Văn Bựa.” Trong những lần tập dượt có mặt viên cán bộ quản giáo, ông cố tình hát “xỉa ngang,” hát “hụt hơi.”
Một hôm bực quá, viên quản giáo gọi Rene xuống xỉ vả “Ai bảo anh là anh T. người có giọng ca vàng ở Miền Nam. Hát thế mà cũng hát. Miền Nam các anh thật là…” Hắn bỏ lửng câu nói, nhưng anh T. bị đuổi ra khỏi đội Văn Thể và ông thở phào nhẹ nhõm, vui vẻ sống với những gian khổ cùng phần đông anh em đồng tù khác.

Nhưng nói đến KdT thì cũng phải nói đến một người tù nhỏ tuổi nhất trại, đó là sinh viên năm thứ nhất của trường Ðại Học Văn Khoa, anh VmD. Anh bị bắt vào lúc mới chỉ qua tuổi 19 năm 1976 vì cùng một số sinh viên khác đi rải truyền đơn và lập tòa án xử Hồ Chí Minh về tội phạm chiến tranh. Nhà cầm quyền quân quản đã phải huy động cả tiểu đoàn công an đến vây bắt những thanh niên này ở xóm Củi Saigon cuối năm 1976. Chúng tôi gọi VmD là một ông cụ non vì anh là người trầm lặng, ít nói. Nhưng qua làn kính cận, đôi mắt VmD sáng rực lên trong những buổi tối hát tù ca bỏ túi trong nhà giam và dường như chỉ những lúc như thế, VmD và PđN mới trở thành một cặp bài trùng linh hoạt với trái tim rực lửa.

Tháng 6, 1980 ở thung lũng Xuân Phước cũng đã có những trận mưa bất chợt. Hiện tượng thời tiết này làm cho những tù nhân lao cải chúng tôi vui, vui không phải vì những kỷ niệm của quá khứ trở về như lời ca khúc “Mưa Tháng Sáu” mà vui vì rau dại trên các bãi lao động xanh um hứa hẹn cho chúng tôi những gô canh tạp tàng nuốt vào bụng cho đỡ đói. Bãi lao động của VmD nằm về phía Ðông phân trại E, nơi có một đặc điểm là rau dền gai (rau dại) mọc nhiều. Lá dền gai có đặc khi nấu chín cho một chút muối vô ăn ngọt như canh rau dền trồng. Giờ lao động bình thường bao giờ cũng kết thúc trước giờ tập trung điểm số để về trại khoảng 10 phút. Tù nhân cải tạo nào còn nhanh chân, nhanh tay có thể hái một mớ lá dền gai nhét vào lon gô, đổ vào chút nước rồi ném đại vào chỗ than hồng còn lại tại bếp lộ thiên nấu nước sôi cho đội. Lúc xếp hàng để về đội, không biết VmD nói diễu gì đó liên quan đến Hồ Chí Minh, tên vệ binh súng dài cuối hàng la toáng lên: “Anh kia, nói gì đó, nhắc lại xem nào.” VmD bình tĩnh nói: “Tôi nói giỡn với các bạn tôi chứ có gì mà cán bộ hô hoán lên như vậy.” Hắn lên đạn khẩu súng trường CKC và buộc anh ra khỏi hàng ra lệnh: “Thằng này, mày quì xuống, đ.mẹ nói xấu bác hả.” VmD để lon gô rau dền xuống và bước ra khỏi hàng. Anh đứng thẳng và nói: “Tôi yêu cầu cán bộ không mày tao với tôi. Nội qui trại không cho phép cán bộ có những lời lẽ như thế. Tôi không bao giờ quì đâu vì trong đời tôi chỉ có 4 lần quì, trước hết là quì trước bàn thờ gia tiên khi lấy vợ, lần quì thứ hai là trước sân vũ đình trường của một quân trường ngày tôi mãn khóa học trung đội trưởng, lần quì thứ ba và thứ tư là lần quì trước bài vị bố mẹ tôi khi các người qua đời. Tôi chưa bao giờ được thực hiện những lần quì đó thì không thể quì gối trước cán bộ. Không hài lòng, cán bộ cứ việc nhốt tôi vào biệt giam hay bắn chết cũng được.”

Quản giáo và các vệ binh đều tái mặt và chúng tôi liếc mắt nhìn nhau ngầm bảo: “Nó mà nổ súng chúng ta phải xông vào, bề nào thì cũng có lúc phải ra Ðồi Thông thôi.” Có lẽ nhìn ra được các cặp mắt của hơn 50 tù nhân của đội lao cải nhìn chòng chòng vào tên vệ binh súng dài, viên quản giáo ra lệnh cho vệ binh: “Ðồng chí dẫn đội về trại. Tôi sẽ phạt cả đội chúng nó.” Chuyện phạt cả đội đã không diễn ra, nhưng VmD bị trực trại ra lệnh đưa anh vào biệt giam. Trước khi bị đày vào “chuồng cọp,” anh đã bị đánh đập khá nặng tại khoảng sân khu biệt giam nằm sau nhà bếp trại. Ba tháng sau VmD được thả ra khỏi chuồng cọp, phải vịn vào vai anh em trong đội mới đi được. Hai tháng sau đó, đôi chân bị tê cứng vì vòng cùm mới tạm bình phục và VmD vẫn vui vẻ với cái giá phải trả khi muốn gìn giữ nhân cách của mình.

Hình ảnh trên chỉ là vài nét chấm phá minh họa cho những trường hợp mà các bạn đồng tù của tôi phải trải qua như thế nào khi phải lựa chọn. Sự lựa chọn ấy vô cùng khó khăn đặc biệt là trong môi trường mà mạng sống của người tù bị coi như cỏ rác tại các trại lao cải trong rừng sâu núi đỏ vào thời điểm ấy. Chỉ nội một chuyện nhỏ nhặt thôi như việc bị gọi đi thẩm cung, việc lựa chọn một thái độ cũng đã là một núi những khó khăn phải vượt qua trước sức ép của cái bao tử trống rỗng rồi. Các độc giả cứ tưởng tượng mà xem, một người tù cải tạo vốn đã đói khát triền miên bốn năm năm trời bị gọi ra thẩm cung bởi những viên chức thẩm cung từ Hà Nội hay Saigon vào thăm trại. Họ lựa những tù cải tạo cứng đầu nhất ra “làm việc.” Những viên chức thẩm cung này thường là những người có nghiệp vụ cao, nói năng lịch sự, không đánh đập, nhưng mìn và chông sẽ được rải ra suốt trong bốn năm tiếng đồng hồ nói chuyện. Buổi trưa, họ ra lệnh cho nhà bếp trại mang mang xuống cho người tù phần ăn hậu hĩnh gồm toàn cơm trắng với một con cá khô nướng, buổi chiều trước khi về lại trại, ông ta lại tặng thêm một phần ăn tương tự gọi là “bồi dưỡng” mang về trại. Người tù nào kém suy nghĩ hay yếu bóng vía vì đói hành hạ mà vội nhận mang phần cơm tặng này về trại là rơi ngay vào bẫy của những viên chức thẩm vấn.

Nhưng từ chối là một lựa chọn không dễ dàng đâu. Dù phần đông anh em trong trại luôn luôn thông cảm trong những trường hợp này nếu như người tù mang phần cơm “bồi dưỡng” về trại. Vì, ngày hôm sau chắc chắn họ lựa một tù cải tạo khác ra làm việc và chỉ yêu cầu nhà bếp trại mang phần thực phẩm đã chia cho anh ta ở đội và lúc về trại không được tặng phần cơm “bồi dưỡng.” Thế là có tiếng xì sầm ngay, đầu tiên chỉ trong số vài người, sau đó lan rộng ra thành một vết rạn nứt hoài nghi giữa anh em với nhau, nào là “chắc là nó lại khai gì cho anh em mình nên mới được ân huệ như vậy chứ chúng mày thấy không thằng X… phải mang cơm từ đội ra.” Không may những lời nhỏ to ấy đối với với một người tù lại khó gột rửa lắm cho dù người tù đó sau này được thả ra và sống ở xã hội bên ngoài tại Việt Nam hay ở hải ngoại.

Bây giờ, cuộc sống no đủ của nước Mỹ này có thể làm cho các người ta nghĩ rằng đã là tù chính trị thì phải nghĩ đến những điều to tát hơn chứ sao lại cứ phải đối phó với điều lặt vặt như vậy. Ðiều này, về lý thuyết không có sai, nhưng xa rời thực tế khiến cho những tranh cãi về điều này sẽ bất tận. Chỉ có những ai từng trải qua một giai đoạn ăn đói, làm việc khổ sai, đau yếu không có thuốc chữa trị, cảm thấy rõ sự bất lực của mình sau những cánh cửa nhà tù cộng sản thì mới có thể hiểu tại sao sự lựa chọn để giữ nhân cách, không đầu hàng đói khổ và sự hành hạ của kẻ thù là sự lựa chọn khó khăn giữa cái sống theo bản năng và cái sống thanh sạch không sợ hãi. Tự tranh đấu với bản thân mình và sự giữ danh dự cho tập thể tù cải tạo trong bối cảnh ấy rất quan trọng, không phải là chuyện lặt vặt. Người bạn tù là nhạc sĩ VtA cho tới bây giờ đã đi tu rồi mà lâu lâu vẫn còn phải đối phó với những cáo buộc về nhân cách, về danh dự trong trại giam đã là một điển hình cho thấy tự buông thả mình trong đời sống tù đầy có nhiều phần trăm sẽ tạo ra hậu quả lâu dài.

Khi nêu ra những điểm này, tôi muốn nhấn mạnh dù ở thời điểm nào, chính sách “xuyên suốt” của người cộng sản về chế độ lao tù là điều có thể giải thích được. Mục tiêu chính nhất của chế độ này là câu thúc và gây chia rẽ để trị khối người còn khả năng gây chống đối khi họ được thả ra ngoài xã hội. Ðường lối tốt nhất để thi hành chính sách này là kiểm soát bao tử rồi thỉnh thoảng châm vào trong đời sống tù nhân những sự kiện để sự hoài nghi lẫn nhau trở thành một phản ứng quen thuộc. Không có sự phấn đấu, không có sự suy nghĩ sáng suốt, một người tù cải tạo rất dễ đi vào con đường cụt và bế tắc, rồi đến một lúc nào đó sẽ hành động như người bị tẩy não. Những lần quản giáo buộc các đội trưởng phải sinh hoạt đội vào lúc 8 giờ tối, nhiều khi chỉ là kiểm điểm mức chỉ tiêu hay là đọc tờ Nhân Dân hoặc Quân Ðội Nhân Dân rồi phê và tự phê về lòng nhiệt thành lao động, tôn trọng điều lệ Nếp Sống Văn Hóa Mới, mặc dù chỉ là “ngồi đồng cho qua chuyện,” nhưng điều làm tôi ngạc nhiên là một số rất nhỏ anh em trong đội cũng nói và phê bình nhau rất hăng hái, dù nguyên do chẳng phải nhiệt thành trong phê và tự phê nhưng là do không hài lòng nhau về một điều gì đó riêng tư trong đời sống hàng ngày. Những từ ngữ chính trị dao to búa lớn dùng với nhau trong rất nhiều trường hợp đã trở thành nguyên nhân dẫn đến đổ vỡ tình đồng đội trong tù đầy. Một số anh em lo ngại là tình hình này sẽ dẫn đến việc sinh hoạt của tù nhân chính trị mà giống y như sinh hoạt của cán bộ và vệ binh vì cũng tố cáo, cũng nâng quan điểm, thậm chí mạt sát nhau. Họ tìm đến tôi và đề nghị cùng nhau thực hiện một thư luân lưu bí mật trong trại giam để có thể đưa ra những lời kêu gọi đoàn kết rộng rãi hơn. Tại sao lại phải nhiêu khê đến như vậy?

Thực ra, có nhiều nguyên nhân để giải thích. Trước hết, trước làm chuyện này cần phải tìm hiểu một cách thực tế anh em trong trại đa số có muốn chấp nhận hy sinh ngay khi họ chỉ là người đọc hay không. Thứ đến những phương tiện để thực hiện, giấy bút. Thứ ba, những người cộng tác để thay phiên nhau viết thư và làm cách nào để chuyển cho anh em đọc. Sau nhiều lần gặp gỡ, chúng tôi đồng ý đi xa hơn nhiều. Ðó là thay vì ra một lá thư, chúng tôi thực hiện một tờ báo khổ nhỏ, chỉ có một bản viết tay, lấy tên là tờ Hợp Ðoàn sau nhiều tên khác được đề nghị. Hợp Ðoàn là một tờ báo chỉ có 16 trang, khổ bằng nửa tập vở học trò, chỉ có một bản viết tay, nhưng tất cả những anh em tham dự phải đổ ra nhiều công sức trong hoàn của một trại tù mạng lưới an ninh dày đặc và nếu bị khám phá chúng tôi chắc chắn sẽ bị choàng lên vai thêm cái án chung thân.

Khe nước khô

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 24 Jun 2024

Bún mắm cô Ba ngon nhức nách, đặc biệt cuối tuần có cháo lòng húp nhức răng. Quán Cây Khế chẳng mấy đông khách, bị con cô Ba đường đột bồng bột nông nỗi dại ngỗ bỏ má đi theo trai. Cô Ba tâm sự với đôi mắt như đang xắt hành, ươn ướt lộ ruột để ngoài da.Cô làm như thực khách tới quán chỉ để nghía con Tưng. Sáo sổ lồng sang sông thì tình hình eo xèo đâm ế chảy bởi thanh niên trai tráng chẳng thiết vãng lai. Để mần chi, khi lưỡng mục không ngó ra mục tiêu đặng ký gửi một tia nhìn man dại. Ai kia có si tình thì chỉ hát được mỗi điệu “Lý quạ kêu”. Sáo bay mà quạ theo đó cũng tìm cách thăng. Nghe xao xác dật dờ quãng lặng.
Cô Ba không mắng đứa con hư sớm nhấm nháp mùi vị của hoan lạc đèo bồng chuyện chăn gối mà cứ than van cho bọn phàm phu tục tử “thực bất tri kỳ vị”. Cô Ba cũng dấu nhẹm tình trạng sức khoẻ khi đứa phụ bếp tài cán nọ trở chứng xé rào, giao bao công chuyện cho mình má nó tả xung hữu đột. Khách ăn thì nhức nách nhức răng, còn chủ quán đêm trường có nghe ra nhức mình nhức mẩy? Ơn trời là Cây Khế cũng biết đóng cửa vào ngày thứ hai hằng tuần, lao động quá thì ngay cả máy móc cũng sẽ lột dên đứt cu-roa cháy bu-gi tắt quạt huống hồ phận chân yếu tay mềm mình hạc xương mai!Ông Tư làm nhân viên cho tiệm tạp hoá Vạn Thắng chung khu vực vẫn thuỷ chung kéo ghế, trừ thứ Hai, vẫn tâm đắc một mực thực phẩm ấy lành. Ai chứ cô Ba thì tui tin tưởng, tui ngó vô ngực thấy cổ đeo cái tượng Phật bằng ngọc to đùng. Lâu ngày chầy tháng ngọc lên nước láng bóng, người tâm hiền như cô Ba nên ngọc cũng cho là hợp tạng để xởi lởi khoe da. Ai đó nói ngọc đẹp cũng do người mang, tui biết vật trang sức tuy vô tri giác nhưng có khi nó thui chột ở kẻ này lại phát quang khi vào tay người khác. Rất đều tay chuyện củi lửa hay cái miệng tui đã hợp vị với tài nêm nếm của cô Ba. Món cơm tấm bì ngó đơn sơ vậy chứ cả tuần quên ăn, nói tội trời, đâm ra nhớ thương. Cô Ba được tiếng hiền vì cho ông Tư ăn uống ghi sổ vô tư. Được cái, người đàn ông trên năm chục tuổi đầu kia chưa hề chạy làng, ngó trước trông sau rồi dõng dạc: Trên bước đường tha phương vô định vị mà tình cờ kỳ ngộ người đồng hương thì phải nên xem trời đãi kẻ khù khờ. Cứ giáp vòng hai tuần, đến thứ năm ra ngân hàng đổi tấm ngân phiếu là tui ba chân bốn cẳng tới Cây Khế thanh thoả những ân tình có với cô Ba. Tui với cô Ba liên hệ như kiểu cá với nước vậy. Cá mà không có nước, cá chết. Nước mà không có cá… Nước mà không có cá…Tóc ông Tư đã sâu sia nhiều sợi bạc. Thời gian ngoài chuyện làm con người già cỗi đi, nó còn tác hại sâu đậm vào trí óc cây sậy biết suy tư. Ông Tư cà lăm cà cặp không biết tìm ra mệnh đề nối tiếp. Hoặc giả sợ mình vô duyên. Nước mà không có cá thì… có sao đâu! Trăng vành vạnh sáng chỉ mỗi đêm rằm, đôi lúc bầu trời cao rộng thẳm đen thắp lẻ loi một vài vì sao mờ nhạt cũng nên hiểu là lẽ thường hằng của tạo hoá. Mọi thứ đều có chu kỳ để vận hành đi quanh. Quán Cây Khế là hình ảnh một bể nước cảnh giam đủ đầy bộ sậu: Máy lọc róc rách nổi bong bóng, rong đong đưa, giả sơn, sạn sỏi, hang động trầm mình mà chỉ gặp duy vấn nạn: Thiếu cá. Do đâu? Công tâm mà nói, do cái quán Fung Hinh án lối ngay đầu đường. Bề thế, hoành tráng, long hổ sum vầy, nhe nanh lộ móng, điệu võ dương oai, khách khứa rậm rật sáng chiều. Sáng thì dim sum mà chiều thì sơn hào hải vị tam thập lục thức bốc mùi xào xẹt. Bồi bàn đồng phục thắt nơ cột bím, gái trai tươi mươi đon đả chào mời vô ra nhanh lẹ tợ biết lăng ba vi bộ.

Nghe cô Ba chép miệng chắt lưỡi, ngồi trên ghế ông Tư nhấp nhổm phát lời bình luận: Ngó dậy mà hổng phải dậy. Hoặc ngó lùng tùng xèn như rứa đó mà tiền đồ là cả một tuột dốc đứt thắng không thể kềm hãm. Nói cô Ba nghe, trước hết là cái cây sồi hình thù kỳ dị án trước quán mà chính quyền sở tại bảo vệ môi trường không cho ai di dời chặt đốn. Thứ hai, cánh cửa sơn màu đỏ loét phản cảm. Thứ ba, nội thất trưng bày quá nhiều gương soi. Chỉ ba điều ấy thôi cũng đủ phạm tới những huý kị ở trong lãnh vực phong thuỷ. Fung Hinh sẽ điêu đứng và Cây Khế sẽ mọc lắm trái vàng. Cô Ba tin tui hông? Cô Ba mang ra cho ông Tư bình trà nóng, ngồi xuống ghế đối diện sơ hở cho Phật ngọc lung lay thoát khỏi khu vực bị cưỡng chế, lộ hàng dễ thắt tim ông Tư. Dậy hén? Ngộ quá ta, hơn ai cả người Tàu họ rành phong thuỷ hơn người mình sao họ chẳng hay chuyện chí tử nọ? Mà nói nào ngay người đồng hương ai cũng ngôn kiểu anh Tư thì tui mới có sức ngậm đắng nuốt cay để đi tiếp cuộc trầm luân này. Con Tưng đã chọn ra ngày lành và mai hậu bên đàng trai quyết dùng địa điểm cái dằm nằm trong con mắt ấy mà tổ chức hôn lễ rình rang. Lão chủ quán Fung Hinh vin vô tình lân bang láng giềng kỳ cựu nên có tính toán sổ sách gia giảm chút phí tổn bớt năm mươi phần trăm gọi là chúc mừng lứa đôi răng long đầu bạc. Chao ôi, mình lớn tuổi chậm lụt khù khờ chẳng tính được chuyện tựa bọn trẻ ngày nay. Sách hoạch, thậm tinh ranh, thậm mưu lược. Nói bỏ lỗi, chúng mà ra yêu sách, chúng mà đặt đâu là cha mẹ phải ngồi đó, cấp kỳ cấp lệnh. Yên vị, chớ nhúc nhích, không vị tình thái sơn suối nguồn gì ráo, buộc phải nghe theo nghiêm lệnh. Bắt trao đô phải hao tiền, cho mua xế khủng mới thôi ghiền ô tô! Nuôi con cho rạc rài thần trí hao mòn thể lực mà lớn lên con ho một tràng thời cha mẹ phải run theo. Qua tới đây cha mẹ phải bỏ quên roi vọt ở cố quận, đi mình ên thúc thủ mà trả món nợ đời. Đêm nằm tứ bề yên vắng, nghe gió vật vã vườn lạ mà tự dưng mắt cay tim lạnh co thắt dồn nén bao chuyện tủi thân. Cô Ba nói đi mình ên thì ông Tư phải tin, vì suốt tháng năm dài thọc mạch dòm chừng ổng chưa hề ngó ra một nhân dạng đờn ông nào chàng ràng chấu rấu quanh thân cô Ba chủ tiệm. Gà mái nuôi con đằng đẵng nhưng con gà trống đạp mái thuở xưa đã cứng cựa bỏ đi đâu biền biệt chẳng vọng gửi về tiếng gáy mê sảng. Bình minh không hiện mọc vậy cô Ba có thực bụng tơ tưởng một đánh thức đầu ngày? Eo ôi, phận công nhân viên quèn lương ba đồng ba cọc không thể giúp ông Tư tròng đôi hia bảy dặm tự tin vượt biên tới những bến bờ trần tục. Ông đã vỡ mộng lắm phen, đã bị tình phụ muối xát gừng thoa lắm bận… nhưng tình ngay, có khi buồn chân ngang qua cửa hàng La Vie En Rose chuyên bán nội y đờn bà, ông vẫn tưởng tới một thứ định mệnh nằm dấu mặt sau ngổn ngang gò đống kia. Thế mới là màu hồng chứ. Đóng đô thường trực vào quán Cây Khế, người ơi, không phải đó là nuôi dưỡng sắc son niềm hy vọng ư? Họ, cô Ba và ông Tư thường trò chuyện ngắn dài những thứ vô thưởng vô phạt lúc quán vắng. Cái ấy chưa thể gọi là tâm sự để dốc lòng sẻ chia đồng cam cộng khổ. Ngồi bên nhau, cảm nhận vu vơ thứ thời tiết sáng nắng chiều mưa và tối tuyết đổ câm nín chẳng phải là phương thuốc làm nguôi ngoai một nỗi niềm chưa tiện nói ra? Nhà trống lạnh thì gia chủ có thể bày biện thêm vật thể cho vui mắt. Treo lên vách bức hình tự sướng, đổ nước đầy bình để cắm vào đấy đôi ba cành hoa nụ hé ướt át ngậm giọt sương trong. Ngồi bên người nữ tợ cô Ba, ông Tư mường tượng là được buông xuôi thân xác, thả lỏng tứ chi để chăm mắt đọc từng hàng chữ đầu Ngô mình Sở có trên cuốn sách mà cô Ba không ngại giở lật. Đa phần là những trang đánh số mù mờ với nội dung chẳng mấy vui. Mà thực lòng, khi nghe ông Tư vạch áo chuyện mình, hẳn cô Ba cũng vấp phải điều gì thoạt nghe không ổn thoả. Phận di dân thường hiếm muộn niềm vui. Hoặc cái hạnh phúc họ muốn tích luỹ thảy đều bèo bọt. Ra ngồi bờ bãi hoang vu nghe sóng mãi gào ở xa, vốc một nắm cát thì chúng dần vơi hao hụt trong kẽ tay. Nhẹ đi, rơi mãi, luôn cạn kiệt.

Cô Ba than, con Tưng nó hại tui dàng trời. Khi khổng khi không bỏ quán làm tui hoa mắt tối lửa tắt đèn không biết đường mà rờ. Định bụng dìa Việt-nam một chuyến mà đành bù trất chết một cửa tử. Quán không ai trông coi, chẳng lẽ đóng cửa cả tháng nhìn đời hiu quạnh? Về bển làm gì? Đi thăm thú những ai? Hẳn anh Tư sẽ hồ nghi cật vấn. Số là con em tui ở dưới quê điện qua cho hay nhà nước sẽ san bằng mảnh đất nơi có mộ phần tía má tui an nghỉ. Họ chỉnh trang nâng cấp làm văn phòng du lịch, tụ điểm đưa đón chỉ bày cho khách đi tham quan thắng cảnh với di tích đổ vỡ hào hùng thời chiến tranh. Tui rảnh thì ngồi nói chuyện cùng anh, nhà nước mà quỡn thì họ bày ra khối chuyện để thêm rách việc. Phá cái này dẹp cái kia, chỉ thị thu mua thức này ra quyết định bán buôn hàng khác. Họ lu bu kiểu của riêng họ mà dân ngu khu đen không hiểu được. Ở chốn này mần ăn không khấm khá e do bởi chốn kia mồ mả gia tộc bị động chăng? Cô Ba sa sầm nét mặt khi nói xong. Một chút thất thần, một chút hụt hơi, một chút ngây dại, tựa diện mạo của kẻ vừa bị móc túi, chới với cái mạng không đang sứt mẻ trầy trụa. Con Tưng nó có vẻ đẹp tươi sáng của đứa con gái vừa đủ lông đủ cánh, nghĩa là sắc đẹp kia vừa hồn nhiên, vừa tự tin, vừa mơn mởn lụa là sung mãn. Một sự dấn thân rộn ràng đầy sức sống ít chạm trán nỗi buồn. Má nó thì khác, thứ hoa chỉ nở trong bóng tối, mang sầu muộn tới, dằn vặt để tượng hình ra một điều gì kề cận với mong manh. Khi về già người ta buộc phải sầu héo, và tàn phai không hẳn là điều nhằm trút bỏ hết những vàng son cũ. Phún xuất thạch đã trào dâng tự lòng núi lửa, nhưng nó sẽ để lại trên hoang mạc một chu vi màu mỡ ăn sâu vào đất. Ông Tư ước ao được làm nông dân chí thú việc cày bừa khai khẩn dẫu loay hoay trong tay lắm thứ phương tiện thô sơ ông đang sở hữu. Một lòng thành, chỉ có vậy thôi. Và lòng thành phải đi đôi với cam chịu những hy sinh tổn thất.

Không nói tới chuyện tiền trao cháo múc, khi xong việc đằng tiệm tạp hoá ông Tư tấp về quán Cây Khế, gắp thức ăn nóng sốt cô Ba vừa dọn ra, nhai, thưởng thức, ngó cô Ba mồ hôi mồ kê ướt áo xống, nuốt xuống và lòng ông ăm ắp chộn rộn hình ảnh người chồng đang được vợ hiền săn sóc hỏi han chu đáo, thiệt mát cả ruột gan, ngậm mà nghe. Sướng rêm mé đìu hiu. Con Tưng khiếm diện thường trực là điều kiện thuận lợi. Một kẻ thứ ba, sự hiện hữu của nó thường làm người trong cuộc rối trí, chao đảo lung lạc những trận đồ.  Khi có khách vào, ông Tư đã lắm phen tự động cầm tấm thực đơn lại mở rộng nụ cười chào mời, cơm dâng nước rót. Ngồi không cũng chướng, mấy lúc mà có dịp đi “xã giao” làm bộ làm tịch tợ người của Cây Khế, chua ngọt khoan nói tới, chưa đả động việc leo trèo hái bức. Cô Ba chỉ can ngăn cho có lệ, cho phải phép thế thôi chứ bản thân cô đâu phải hạng người có ba đầu sáu tay mà mần từ a tới z. Sao tới bến đặng? Cô oải và hơn ai cả ông Tư đã chứng nghiệm bộn lần cái hoạt cảnh một con vụ có tứ chi đầu bù tóc rối. Người ta mệt ngất ngư con tàu đi mà mình làm đứa vô cảm thì có đáng trách không? Càm ràm với háy, nguýt, giận cá chém thớt thì tình hình mất vui, môi hở thì răng sẽ lạnh, điều ấy ắt sẽ tới. Thằng Sáu đảm nhận chức vụ rửa chén, quét dọn vệ sinh kiêm luôn job của Thiên lôi sai đâu uýnh đó, thấy ông Tư lăng xăng làm việc thiện nguyện, ngứa cổ đưa ra lời bàn, vọng từ chốn lầy lội xó xỉnh khuất tất: Không ấy chú bỏ mẹ chỗ làm kia đi, trôi về đây sum vầy có ngày mà đạt đạo. Chốn ni âm thịnh mà dương suy, phải có chú vô ra mới cân bằng được hoàn cảnh. Đôi khi riêng mình tui con chim đa đa lẻ bạn cứ bị nạt nộ rầy rà nghĩ mà tủi thân cho phận đờn ông thất cơ lỡ vận. Ông Tư ném nguyên chồng chén bát đũa muỗng vào bồn nước đục lờ nghe thằng Sáu ca cải lương mùi, miễn cưỡng phải đằng hắng giọng, lên cung bậc giao duyên: Thôi đi mày ơi, chớ vẽ đường cho hươu chạy mà hư bột hư đường, tao hổng có kinh nghiệm gì ráo, ngộ nhỡ ưa gồng mình cũng sợ người ta chê bai. Tìm người phụ việc thì chí ít cũng ngon cơm sức lực như mày vậy, trọng tuổi như tao chỉ tổ làm họ thêm vướng tay vướng chân chứ được ích gì. Thằng Sáu cười, nghe như dê kêu, he he he: Chú nhiêu tuổi mà sớm nhụt chí? Ông bác tui hơn sáu bó mà còn chơi bảnh, dã về nước cưới con vợ có ba mí xuân xanh, đêm bảy ngày ba vào ra không kể. Lại khe khe khe, cười mà như bị mắc xương cá vào cần cổ.

Ông Tư lộn ra, ngó cô Ba đứng nơi quầy thu ngân. Tóc búi lên, cột một cục trên đầu nhỉnh hơn trái chanh, nhường cái cổ trắng cho ông Tư đặt mắt vô. Lưa thưa ở đó vài sợi lông măng in tuồng đang dựng đứng. Ông Tư thủ thỉ: E đi dìa quê một thời gian thay đổi không khí chẳng chừng là phương án tốt. Chớ nên bội bạc, phải quan hoài tới chuyện mồ mả ông bà cha mẹ đang bị người ta đào xới. Nhắm đi được không? Khoảng nửa tháng mươi ngày thôi. Thử kêu con Tưng một tiếng, có gì tui xin phép đặng tháp tùng theo chim trời mỏi cánh. Mấy chục năm rồi tui cũng chưa ngó lại mặt ngang mặt dọc cố hương. Đường xa vạn dặm có người đồng hành cho đỡ cực thân. Cô Ba nhìn sâu vào mặt đối tượng, mắt long lanh. Cái khăn vắt vai bị cô lôi xuống vày vò trong đôi bàn tay. Cô chùi dầu mỡ thịt thà hành ngò mắm muối tỏi ớt và cũng muốn chùi trơn một cảm xúc vừa vướng mắc. Khi hoang mang thường người ta có những động thái thừa thải đến vậy, biểu tỏ sự khó xử. Vày vò cũng là cách thức nhằm gỡ rối những ý tưởng dùng dằng tiến thối lưỡng nan. Chùi tới chùi lui, trải ra xếp lại, như khăn ấy có ai vừa trao vào tay ở một sân ga diễn đầy cảnh đưa tiễn, người lên tàu lìa ra, kẻ ở lại đứng lóng cóng dậm chân nghe hao hụt lùa tới khi tiếng còi hú lên riết róng, nẫu ruột. Trong vô thanh, giữa câm nín, mơ hồ một dự tưởng lần hồi được tượng hình, ngày mỗi nhích gần tới hiện thực. Giác quan của ông Tư đánh hơi ra bản hợp đồng tròn trịa mà cô Ba sẽ vui vẻ tác thành. Không chắc ông sẽ về quê nếu hay tin mồ mả bố mẹ đẻ bị cày xới, ông sẵn lòng đưa ra cả vạn lý do để thoái thác; nhưng giờ đây, một mãnh lực nào ập tới hối thúc, mụ mị mong chóng hoàn thiện cuộc lữ kia. Đường Tăng cùng Trư Bát Giới đi thỉnh kinh e cũng nghe ra sự khinh khoái lớn bằng ngần ấy thôi. Và cô Ba gọi điện thoại cho con Tưng. Gọi khó khăn, ba chừng bảy đỗi bữa nhiếp bữa kia để bây chừ nó mới lộ hình. Tưng đến, như trăm khi, tựa vũ bão ập vào quán với những tiếng động đặc biệt mà Tưng tự khuấy động. Áo xống chễnh mảng ưa khoe da thịt và người ngợm thì luôn thịnh vượng hương thơm, reo rắc thứ mùi khó phân giải làm dật dờ mọi vật, làm át và giết ngay lập tức mùi mắm mùi lòng mùi dồi mùi cật mùi tim gan phèo phổi heo gà bò. Sự có mặt của đứa con gái mười tám tuổi điện nước thừa mứa như làm bừng tỉnh những bóng đèn vàng ưa chiếu sắc ủ dột, khung cảnh trong quán bỗng sáng hẳn lên.

Tưng vọt vào bếp, động nồi động niêu để nấu riêng cho mình món hải sản cầu kỳ chẳng có niêm yết trong thực đơn. Khuôn mặt đỏ au khi mang tô xe lửa ra bàn ăn. Tóc nhuộm nâu chen cài với vàng, cắt tuỳ tiện sợi ngắn sợi dài. Ngực vun đầy núp sau chiếc áo thun có nhiều lỗ thủng. Thằng Sáu lui cui sau bếp mà không lé mắt cũng uổng! Vừa ăn Tưng vừa liếm môi, cau mày nhọn mỏ: Má đi, con không có ý kiến. Con có thể kêu đôi ba đứa bạn tới phụ, trông coi hàng quán bán buôn thế má dăm bữa nửa tháng… Nhưng kẹt một nỗi, con đang lánh mặt người ta. Con xù, con bỏ. Vất hết, thèm vô! Mẹ rượt, nôm na là con không lấy thằng mắc dịch đó nữa. Khốn kiếp, ba thằng Tàu thảy chơi không được. Má biết nó nói với con ra sao không? Địt mẹ em tưởng em ngon hả, chỉ là người Việt thôi mà, ưa làm tàng hả? Rồi thằng a Pạt đằng quán Fung Hinh đổ thêm dầu: Cái quán Cây Khế của má nị chết tới nơi chứ béo bổ gì mà lên mặt. Đâu có “hủ xực” như đồ ăn Tàu. Má mà đóng cửa quán thì chúng ngộ nhận thêm khinh khi. Má nghe con nói không? Về bển mà được nước nôi gì trong lúc này. Người ta tìm cách chạy ra má lại kiếm cớ lộn vô, muốn từ chết tới bị thương hả? Ông Tư ngồi rùn vai, thu nhỏ người lại. Vậy là hết. Chắc chẳng ra ngô khoai cơm cháo gì nữa. Nói trước bước không rời, tắt thở chuyến song hành cùng nhau đi về miền quá khứ xa xôi. Ta lại phải nhắm mắt cày bừa như số phận đã định. Tiệm tạp hoá đằng ấy cũng có phần hùn của người Trung quốc, hàng hoá đa phần đều dán nhãn Made in China, từ cây tăm tre xỉa răng cho chí những máy móc kềnh càng rắc rối. Áo nịt ngực cho phụ nữ có thể làm ung thư vú, giày da dành cho phái nam có thể gây tác hại lỡ móng sưng chân. Gối kê đầu có thể tạo biến chứng mất ngủ rụng tóc. Đồ chơi dành cho con nít thì baby đụng vào cơ thể không chịu tăng trưởng. Thiên hình vạn trạng các thứ nhuốm độc tố trên từng cây số, ông Tư chẳng tường, chỉ nghe báo đài cảnh giác vậy thôi. Ngực con Tưng “xịn” thế kia, bềnh bồng như hai hòn đảo mà để rơi vào tay thằng Tàu mân mê sờ soạn, nghĩ cũng phí. Xem ra con Tưng thuộc diện thức thời. Nó ăn nói bổ bã vậy chứ thực bụng thuộc tuýp ưa tắm ao nhà, chả ham thích của lạ, biết phân biệt chánh tà. Ông Tư tợp hết chén nước trà đắng sau khi nghe cô Ba khẻ khàng bên tai: Xin lỗi anh Tư nghen, anh giỏi chân dìa cho má con tui đóng cửa nói chuyện riêng tư đại sự. Nhờ trời sau này tình hình yên vui thuận lợi nhứt định tui gọi anh Tư tới bàn tiếp việc thăm quê cho bỏ những ngày cơ cực. Ông Tư nghĩ mình bị đuổi khéo, tuân thủ bỏ ra ngoài đường thấy lạt miệng nhạt mồm. Ông ngó xuôi dòm ngược chẳng biết đang muốn mong một điều gì. Thằng Sáu mang hai bao rác lớn đi vất dáo dác đến gần: Bặp điếu thuốc cho thơm râu, tía. Dù buộc kín, đồ cặn bã hầm bà lằng nằm trong bao cũng xông mùi chua lét khiến xây xẩm. Ừ, chơi một điếu cho lai tỉnh thần hồn. Mẹ, cái xứ này mênh mông buồn tới độ tìm không ra chỗ để đi! Thằng Sau nhổ nước miếng: Trời, nói chi như không vậy tía. Sợ hổng đủ sở hụi thôi, chứ đất này chán khối mục cám dỗ. Muốn yêu tinh có yêu tinh, muốn ma nữ có ngay ma nữ. Thích chay có chay, ham mặn có mặn. Hang ổ đồi truỵ mọc đầy như nấm sau mưa. Bị tía chí thú đi mần việc, tan tầm lại tới quán này ngồi đồng nên bù trất chuyện rậm rật bên ngoài cảnh giới. Ông Tư quăng điếu thuốc. Thôi mày, lúc nào cũng ưa ca cẩm lung tung, để tao về ngủ cho yên thân phận già. Ông quay lưng, chất nỗi sầu trong dáng đi cắm cúi. Ông tới đứng bên tấm bảng hiệu mà chốc lát nữa xe buýt sẽ dừng đổ để tha ông về, thả ngay trước phòng trọ quanh năm yên hàn quạnh quẽ, một mực lặng như tờ. Phố lên đèn, bóng lá cây phong đen đúa vờn trên thân ông. Tự dưng ông Tư nhớ ra câu ca dao coi mòi hợp tạng:

“Lên non đốn củi đụng chỗ đốn rồi,
Xuống sông lấy nước gặp chỗ cát bồi khe khô!”.

Hừ, bún mắm với cháo lòng. Nhức đầu với nhức xương. Quê hương và cây khế, từ nay xin vĩnh biệt, người ơi!

Hồ Đình Nghiêm

Luật im lặng

vietmessenger.com

Mario Puzo

Lương Lê Giang dịch

Post by Sơn râu 24 Jun 2024

Chương 2

Cuộc tập kích quy mô của FBI trong thập niên 90 vào các gia đình Mafia New York chỉ để sổng hai mạng. Trùm Raymonde Aprile, sộp nhất và cũng đáng sợ nhất vẫn còn chưa bị tóm. Kẻ còn lại, Trùm Timmona Portella, quyền lực cũng gần bằng nhưng thuộc đẳng cấp quá thấp hèn, đào thoát bởi một lý do có vẻ hoàn toàn may mắn. 
Nhưng tương lại đã rõ ràng. Với luật RICO ban bố năm 1970 nới rộng khung hình phạt, với sự hăng hái của các đội đặc nhiệm FBI và việc phản bội luật Omerta trong nội bộ Mafia Mỹ, Trùm Raymonde Aprile biết đã đến lúc lão phải rời bỏ chiếc ghế của mình. 
Trùm Aprile đã cai quản “gia đình” suốt ba mươi năm và giờ đây đã trở thành huyền thoại. Được nuôi dạy ở Sicily, lão không hề có những ý tưởng sai lầm hay vẻ cao ngạo đài các của các tay trùm Mafia sinh ra trên đất Mỹ. Trên thực tế, lão mang trong mình dòng máu của những người Sicily cổ hủ thế kỷ XIX, những người đã cai quản các thành phố và làng mạc bằng uy danh cá nhân, óc hài hước, bằng những phán xử chết chóc và dứt khoát của mình với bất kỳ ai bị nghi ngờ là kẻ thù. Lão hóa ra cũng có được cái thao lược của những anh hùng thời đó. 
Bây giờ, ở tuổi sáu hai, lão có một cuộc sống ngăn nắp. Lão đã thẳng tay trừ khử kẻ thù và hoàn thành trách nhiệm làm bạn, làm cha của mình. Lão có thể vui thú tuổi già với đầu óc thảnh thơi, có thể rút lui khỏi cái thế giới đầy bất hòa của lão để đảm nhận vai trò chủ nhà băng lịch lãm hay trụ cột của xã hội phù hợp hơn. 
Ba đứa con lão đều có những nghề nghiệp cao quý và đều đã thành đạt. Cậu cả Valerious lúc này ba bảy tuổi, đã có vợ và con, mang hàm đại tá quân đội Mỹ và là giảng viên học viện West Point. Chính cái tính dụt dè như trẻ con đã xác định nghề nghiệp của cậu. Trùm Aprile may mắn giành được một suất bổ nhiệm học viên sĩ quan tại học viện West Point để điều chỉnh khiếm khuyết trong tính cách của con trai lão. 
Cậu con thứ, Marcatonio, mới bước qua tuổi ba lăm, ngoài vài bí ẩn trong biến dạng gen, là trưởng ban điều hành một mạng lưới truyền hình quốc gia. Khi còn nhỏ cậu sống ủ rũ trong một thế giới tưởng tượng và ông Trùm nghĩ cậu sẽ thất bại tại bất kỳ một công ty làm ăn nghiêm túc nào. Vậy mà bây giờ tên cậu lại thường xuất hiện trên báo chí như một mẫu người đầy sức sáng tạo và có nhân quan sâu sắc. Điều đó làm Aprile rất khoái nhưng không làm lão tin. Suy cho cùng, lão là cha nó. Ai hiểu con rõ hơn cha? 
Cô út Nicole, khi còn nhỏ được gọi một cách trìu mến là Nikki, nhưng từ năm lên sáu đã yêu cầu thẳng thừng phải gọi bằng tên riêng, là người bạn tranh luận mà lão yêu thích. Ở tuổi hai chín nàng là luật sư, là người ủng hộ phong trào bình đẳng của phụ nữ, và là một luật sư Pro bono 1 của những tội phạm nghèo và tuyệt vọng, những người không thể nhận được sự biện hộ hợp pháp thích đáng. Nàng đặc biệt xuất sắc trong việc cứư những kẻ giết người thoát khỏi ghế điện, những phụ nữ giết chồng thoát khỏi vòng lao lý, những kẻ hiếp dâm tái diễn được ban thêm thời hạn sống. Nàng hoàn toàn phản đối án tử hình, tin vào sự hoàn lương của bất kỳ phạm nhân nào, là người chỉ trích mạnh mẽ cơ cấu của nền kinh tế Mỹ. Nàng cho rằng một đất nước giàu như Mỹ không thể dửng dung với người nghèo bất kể những khiếm khuyết của họ. Hơn thế nữa, nàng còn là một nhà thương thuyết đầy năng lực và cứng rắn trong Hội luật gia, là một phụ nữ nổi bật và mạnh mẽ. Ông Trùm chẳng đồng ý với nàng ở bất kỳ vấn đề nào. 
Về phía Astorre, cậu là một bộ phận của gia đình và gần gũi với ông Trùm như một đứa cháu trên danh nghĩa. Với những người con của lão, cậu giống như một đứa em bởi sinh lực và sức cuốn hút mạnh mẽ của cậu. Từ lúc lên ba tới năm mười sáu cậu là người bạn tâm giao của họ, là đứa em ruột thịt bé bỏng và yêu mến của họ – cho đến khi cậu tha hương tới Sicily mười một năm trước đây. Mãi đến khi về hưu ông Trùm mới gọi cậu trở về. 
Trùm Aprile lập kế hoạch về hưu của mình một cách cẩn thận. Lão chẳng những hiến đế chế của mình để giảng hòa với những kẻ thù tiềm tàng mà còn tặng quà cho đám bạn bè trung tín dù lão từa biết lòng biết ơn hiệu quả chẳng được bao nhiêu và rằng quà cáp phải luôn được bổ sung. Lão đặc biệt thận trọng xoa dịu Timmona Portella. Đó là kẻ nguy hiểm bởi tính tình lập dị và côn đồ đôi khi khó lường trước được. 
Bằng cách nào mà Portella thoát được cuộc bố ráp của FBI những năm 90 là một điều bí ẩn với tất cả mọi người. Hắn là một trùm sinh ra trên đất Mỹ. Hắn ít sắc sảo, đầy khinh suất và thiếu tự chủ. Hắn có một thân hình ngoại cỡ cùng cái bụng bự và ăn mặc đầy màu sắc và lụa là giống hệt một Picciôtt xứ Palermo, một gã giết người tập sự trẻ tuổi. Quyền lực của hắn dựa vào việc cung cấp ma túy bất hợp pháp. Hắn chưa vợ và mãi đến tuổi năm mươi vẫn là một kẻ phóng đãng. Hắn chỉ thể hiện lòng yeu mến đích thực với thằng em Bruno, gã này có vẻ hơi chậm phát triển về thể chất nhưng lại chia sẻ với ông anh tính tình hung bạo. 
Trùm Aprile chưa bao giờ tin Portella và ít khi làm ăn với hắn. Một kẻ nguy hiểm vì yếu điểm của mình là một kẻ cần phải làm mất tác dụng. Vì vậy lão mời Timmona Portella tới gặp. 
Portella đến cùng thằng em Bruno. Aprile đón chúng với thái độ lịch thiệp không ồn ào thường ngày rồi nhanh chóng đi thẳng vào vấn đề. 
– Timmona thân mến của tôi, lão nói. Tôi đang rút ra khỏi các mối làm ăn, trừ các nhà băng của mình. Giờ chú sẽ nổi như cồn trong con mắt của mọi người. Nếu khi nào đó chú cần một lời khuyên thì cứ phone cho tôi. Về dưỡng già tôi vẫn hoàn toàn không thiếu người giúp đỡ đâu nhé. 
Bruno, một bản sao nhỏ của ông anh, kẻ kinh sợ danh tiếng của Aprile, mỉm cười vui vẻ vì lòng kính trọng được dành cho anh gã. Nhưng Timmona hiểu lão già hơn nhiều. Hắn biết mình đang bị đe dọa. 
Hắn cúi đầu về phía lão một cách kính cẩn. 
– Anh luôn dành cho tất cả chúng tôi ý kiến đúng đắn nhất, hắn nói. Và tôi tôn trọng những gì anh đang làm. Cứ tin tôi như một người bạn của anh. 
– Tốt lắm, tốt lắm, Trùm Aprile nói. Bây giờ, như một món quà tặng chú, tôi đề nghị chú lưu tâm đến lời cảnh báo này. Cilke, người của FBI, là thằng xảo trá. Đừng bao giờ tin nó. Nó đang say sưa với thành tích của mình và chú sẽ là mục tiêu tiếp theo của nó đấy. 
– Nhưng tôi đã thoát khỏi tay nó rồi cơ mà, Timmona nói. Dù nó đã tóm tất cả anh em tụi mình. Tôi cóc sợ nó nhưng tôi cảm ơn anh. 
Tất cả uống mừng, rồi anh em Portella chuồn. Trên xe Bruno nói 
– Một người vĩ đại làm sao. 
– Ừ, Timmona tán thành. Thằng cha này quả là một người vĩ đại. 
Về phía Trùm Aprile, lão rất hài lòng. Lão đã thấy nỗi sợ hãi trong mắt Timmona và lão chắc rằng sẽ chẳng còn mối nguy nào cho mình nữa. 
Trùm Aprile đề nghị được gặp riêng với Kurt Cilke, sếp FBI ở New York. Cilke, trước sự ngạc nhiên cảu chính lão, lại là người được lão khâm phục nhất. Ông đã tống hầu hết các trùm Mafia miền duyên hải phía đông vào khám và hoàn toàn bẻ gãy sức mạnh của chúng. 
Trùm Raymonde Aprile đã thoát khỏi tay ông vì lão biết tên chỉ điểm bí mật của ông, kẻ đã giúp ông thành công. Tuy nhiên lão thậm chí còn thán phục ông hơn vì ông luôn chơi đẹp, không khi nào vu cáo hay dùng vũ lực, chưa một lần công khai những dấu vết nhằm vào con cái lão. Vì vậy lão thấy cần cảnh báo cho ông cũng là lẽ công bằng. 
Cuộc gặp diễn ra tại điền trang của Aprile ở Montauk. Cilke phải đến một mình, vi phạm nguyên tắc của ngành. Đích thân giám đốc FBI chấp thuận nhưng cố nài Cilke sử dụng một thiết bị ghi âm đặc biệt được gắn chặt vào người, phía dưới mạng sườn, để không bị phồng lên phía ngoài thân thể ông. Thiết bị này chưa từng được biết đến và cơ sở chế tạo ra nó được kiểm soát hết sức ngặt nghèo. Cilke nhận ra rằng mục đích đích thực của chiếc máy là ghi âm những gì ông nói với Trùm Aprile. 
Họ gặp nhau vào một chiều vàng tháng 11 tại hiên nhà lão. Cilke chưa bao giờ vào được ngôi nhà này với một thiết bị nghe lén, một vị quan tòa được đội bảo vệ liên tục bao quanh. Ngày hôm ấy ông không hề bị người của ông Trùm khám xét. Điều đó làm ông ngạc nhiên. Rõ ràng, Raymonde Aprile sẽ không đưa ra một đề nghị sai quấy nào với ông. 
Như mọi khi, Cilke bị ngạc nhiên, thậm chí còn hơi ho lắng bởi cái ấn tượng mà Aprile gây ra. Dù biết rằng lão đã ra lệnh cho cả trăm kẻ sát nhân, vi phạm vô số luật lệ của xã hội, Cilke vẫn không hề ghét lão. Những loại người tội lỗi như vậy, tuy tin, nhưng ông vẫn ghét cay ghét đắng cái lối chúng hủy hoại cơ cấu của nền văn minh. 
Trùm Aprile mặc bộ đồ sẫm, cà vạt sẫm và áo sơ mi trắng. Nét mặt lão trang nghiêm toát lên vẻ hiểu biết. Trên mặt lão là những đường nét dịu dàng của một người đức độ đáng mến. Làm sao một khuôn mặt đầy nhân tính thế kia lại có thể thuộc về một kẻ nhẫn tâm như vậy, Cilke tự hỏi. 
Ông Trùm không mời bắt tay vì không muốn làm Cilke bối rối. Lão chỉ cúi đầu chào. 
– Tôi đã quyết định đặt tôi và gia đình dưới sự che chở của các ngài – nghĩa là, sự che chở của xã hội, lão nói. 
Cilke ngạc nhiên. Lão già này định ám chỉ cái quái gì thế nhỉ? 
– Suốt hai mươi năm qua ngài là kẻ thù của tôi. Ngài truy đuổi tôi. Nhưng tôi luôn biết ơn lòng quân tử của ngài. Ngài không tìm cách gài bẫy hay khuyến khích việc khai man chống lại tôi. Ngài đã tống hầu hết bạn bè tôi vào nhà đá và ngài đã hết sức để cố gắng làm điều tương tự đối với tôi. 
Cilke mỉm cười. 
– Thì tôi vẫn đang cố đây. 
Lão già gật đầu cảm kích. 
– Tôi đã rũ sạch mình khỏi mọi mối nghi ngờ, ngoại trừ vài nhà băng bảo đảm làm ăn đứng đắn. Tôi đã quyết định đặt mình dưới sự che chở của xã hội các ngài. Đổi lại, tôi sẽ thực hiện bổn phận của mình đối với xã hội đó. Ngài có thể làm cho mọi việc dễ dàng hơn nếu không truy đuổi tôi, bởi lẽ đâu cần như thế nữa. 
Cilke nhún vai. 
– Cấp trên là người quyết định. Tôi đã bám theo ngài từng ấy năm tại sao bây giờ bỗng phải dừng lại chứ? Tôi có thể gặp may mà. 
Khuôn mặt ông Trùm trở nên nghiêm nghị hơn và mệt mỏi hơn. 
– Tôi có cái để trao đổi với ngài. Thành tích to lớn của ngài vài năm qua đã ảnh hưởng đến quyết định của tôi. Vấn đề là ở chỗ tôi biết tên chỉ điểm đáng giá của ngài, tôi biết nó là đứa nào và tôi chưa nói với ai cả. 
Cilke lưỡng lự vài giây trước khi ông thản nhiên nói.
– Tôi làm quái gì có tên chỉ điểm nào như vậy. Tôi xin nhắc lại, cấp trên là người quyết định chứ không phải tôi. Ngài đang làm mất thì giờ của tôi đấy. 
– Không, không, Lão già phản ứng lại. Tôi không tìm kiếm một lợi thế mà chỉ tìm một thỏa hiệp. Cho phép tôi, vì tuổi tác đã nhiều, nói với ngài những gì tôi học được. Đừng dùng sức mạnh bởi vì với ngài nó nằm trong tầm tay. Đừng say sưa với khả năng chắc chắn giành chiến thắng khi sự minh mẫn của ngài mách bảo ngài rằng trong chiến thắng này còn có dấu ấn của bi kịch. Cho phép tôi được bày tỏ giờ đây tôi coi ngài như một người bạn chứ không phải kẻ thù, và ngài thử nghĩ xem ngài được hay mất gì khi từ chối đề nghị này. 
– Và nếu ngài đã thực sự về hưu thì kết giao với ngài hỏi còn lợi lộc gì? Cilke mỉm cười hỏi.
– Ngài sẽ có thiện chí của tôi, Ông Trùm đáp. Nó thực đáng giá ngay cả với những kẻ mạnh nhất. 
Trở về, Cilke quay lại cuốn băng cho Bill Boxton, cấp phó của ông nghe. Boxton hỏi. 
– Toàn bộ việc này là thế chó nào hả? 
– Lá thứ cậu phải nghe, Cilke bảo anh ta. Lão nói với tôi rằng không hẳn lão không tự vệ được, rằng lão đang để mắt đến tôi. 
– Chó chết. Chúng không được giỡn mặt đại diện của Liên bang. 
– Phải, Cilke tán thành. Lão có về hưu hay không thì đó chính là lý do tại sao tôi tiếp tục theo dõi lão. Đến giờ tôi vẫn còn phải dè chừng. Chúng ta không chắc lắm… 
Sau khi đã nghiên cứu lịch sử của những gia đình danh giá nhất nước Mỹ, những nam tước kẻ cướp đã xây dựng cơ nghiệp của mình một cách tàn bạo trong khi phá vỡ luật pháp và đạo đức của xã hội loài người, Trùm Aprile, giống bọn người đó, bỗng trở thành Mạnh thường quân đối với tất cả. Giống bọn người đó, lão cũng có đế chế của mình – sở hữu mười nhà băng tại các thành phố lớn nhất thế giới. Lão vung tiền ra xây một bệnh viện cho người nghèo. Lão còn hào phóng đong s góp cho nghệ thuật. Lão giành một ghế tại đại học Columbia cho việc nghiên cứu thời kỳ Phục hưng. 
Việc đại học Yale và Harvard từ chối hai mươi triệu đô la của lão đổi lấy việc một khu cư xá sinh viên được mạng tên Christopher Culumbus, người lúc đó không có mấy tiếng tăm trong giới trí thức, là có thật, Yale đề nghị được nhận tiền và đặt tên cho khu Cư xá là Sacco và Vanzetti, nhưng Trùm Aprile không khoái hai người này. Lão ghét cay ghét đắng những kẻ tử vì đạo. 
Một kẻ kém cạnh hơn sẽ cảm thấy bị lăng mạ và ôm ấp nỗi buồn, nhưng Raymonde Aprile thì không. Thay vào đó lão đơn giản chỉ gửi tiền vào nhà thờ Thiên chúa giáo cho các thánh lễ hàng ngày tán dương vợ lão, người đã hai mươi năm yên nghỉ nơi thiên đường. 
Lão cũng hiến một triệ đô la cho HIệp hội cảnh sát từ thiện New York và một triệu khác cho một hiệp hội bảo vệ những người di cư bất hợp pháp. Trong ba năm giải nghệ lão đã vãi phúc lành lên khắp thiên hạ. Ví của lão mở ra cho bất kì yêu cầu nào, chỉ trừ một. Lão từ chối những thỉnh cầu của Nicole đóng góp cho Phong Trào Chống Án Tử Hình – cuộc thập tự chinh mà nàng theo đuổi nhằm chấm dứt việc hành quyết. 
Thật đáng ngạc nhiên, chỉ trong ba năm hào phóng làm việc tốt lại có thể xóa sạch tiếng ác của ba mươi năm. 
Thì những người vĩ đại vẫn mua tiếng thơm cho mình, mua lòng vị tha vì đã phản bội bạn bè và thi hành những quyết định chết người đấy thôi. Trùm Aprile cũng vậy, lão cũng không tránh khỏi cái yếu điểm chung ấy. 
Raymonde Aprile là kẻ sống bằng những luật lệ hà khắc xuất xứ từ chuẩn mực riêng biệt của chính mình. 
Nguyên tắc ứng xử của lão đã làm lão được trọng nể suốt hơn ba mươi năm và làm nảy sinh nỗi khiếp sợ lạ thường tạo ra nền tảng uy quyền của lão. Giáo điều chính của nó là hoàn toàn không có lòng nhân từ. 
Điều đó bắt nguồn không phải từ cái ác bẩm sinh, từ lòng thèm muốn bệnh hoạn được thấy kẻ khác phải chịu đau đớn và khuất phục mà là từ niềm tin tuyệt đối: Những kẻ ấy luôn luôn từ chối vâng lời. Ngay cả Lucifer, đường đường là một vị thánh, còn bị tống cổ khỏi thiên đường vì dám coi thường Chúa cơ mà. 
Vì vậy, một kẻ có tham vọng đang đấu tranh giành quyền lực không có cách lựa chọn nào khác. Tất nhiên, còn có thể thuyết phục, còn có thể nhượng bộ cho tính vụ lợi của con người trên cơ sở bảo đám tính hợp lý. Nhưng nếu tất cả những việc này đổ vỡ thì sẽ chỉ còn hình phạt tử hình. Mối đe dọa của các hình thức trừng phạt khác có thể dẫn đến việc trả thù. Tử hình thì không. Thật đơn giản, việc bị cách ly khỏi cuộc sống nơi trần thế chẳng mấy chốc sẽ rơi vào quên lãng. 
Sự phản trắc có tác hại lớn nhất. Gia quyến kẻ phản bội cũng như đám bạn hữu của y sẽ phải đau khổ; toàn bộ thế giới của y sẽ bị hủy diệt. Tuy nhiên cũng có những kẻ dũng cảm vênh vang muốn đặt cược cả đời mình hòng kiếm chác lợi riêng; nhưng họ phải suy nghĩ hai lần về việc làm cho những người thân yêu của mình gặp nguy hiểm. Và thế là bằng cách đó Trùm Aprile đã tạo ra vô vàn nỗi kinh hoàng. Lão dựa vào hành động hào phóng của cải vật chất của mình để giành được sự kính nể và lòng say mê không đáng có của họ. 
Nhưng cũng phải nói rằng lão cũng tàn nhẫn như vậy với chính lão. Quyền lực đầy mình là thế song lão vẫn không thể ngăn cản cái chết đến với cô vợ trẻ sau khi cô nàng đã sinh cho lão ba đứa con. Vợ lão đã phải nhận một cái chết từ từ và khủng khiếp vì bệnh ung thư trong khi lão ngồi kề giường bệnh ròng rã sáu tháng trời. Và chính trong thời gian đó lão đâm ra tin rằng vợ lão đã bị trừng phạt chính bởi những tội lỗi ghê gớm mà lão đã gây ra. Vì thế lão quyết định sám hối: sẽ không lấy vợ khác nữa. Lão sẽ gửi con cái đi xa để chúng được hưởng một nền giáo dục trong một xã hội tuân theo pháp luật, như thế chúng sẽ không phải lớn lên trong cái thế giới đầy thù hận và nguy hiểm của lão. Lão sẽ giúp chúng tìm ra đường đi cho mình, cấm chúng dính dáng vào “việc nhà”. Với nỗi buồn thăm thẳm lão tin rằng mình sẽ không bao giờ biết đến bản chất đích thực của tư cách làm cha. 
Vậy là lão thu xếp để Nicole, Valerious và Marcantonio được gửi đến một trường tư nội trú, và không khi nào cho chúgn chia sẻ cuộc sống riêng tư của lão. Ngày nghỉ chúng về nhà, lão đóng vai một người cha biết quan tâm lo lắng, nhưng dè dặt, vậy thôi. 
Bất chấp mọi thứ và dù hiểu rõ tai tiếng của lão, bọn trẻ vẫn yêu bố. Chúng không bao giờ nói đến những chuyện này khi chỉ có chúng với nhau. Đó là một trong số các bí mật của gia đình lại chẳng còn là điều bí mật. 
Không ai có thể bảo lão là người đa cảm. Lão có rất ít bạn riêng, không vật nuôi trong nhà, lão cố tránh xa những kỳ nghỉ và những hội hè đàn đúm càng nhiều càng tốt. Chỉ có một lần cách đây nhiều năm lão “bị” dính vào một việc làm đầy lòng trắc ẩn khiến đám đồng nghiệp của lão tại Mỹ phải giật mình. 
Khi cùng cậu bé Astorre từ Sicily trở về, Trùm Aprile nhận ra cô vợ yêu của mình đang chết dần chết mòn vì bệnh ung thư và ba đứa con của lão sắp lâm vào cảnh bơ vơ. Không muốn Astorre chứng kiến một hoàn cảnh như vậy, e rằng trong một chừng mực nào đó sẽ có hại cho cậu, lão quyết định gửi cậu cho một trong những cố vấn thân tín nhất, một kẻ có tên là Frank Viola, và vợ gã chăm sóc. Việc làm này hóa ra lại là một lựa chọn thiếu khôn ngoan. Lúc đó, Frank Viola đang co tham vọng kế vị lão. Nhưng chẳng bao lâu sau khi vợ lão chết, Astorre lúc này đã lên ba, lại trở thành một thành viên trong gia đình riêng của lão. “Cha” cậu đã tự sát trên thùng xa của gã, một tình huốn khác thường; và “mẹ” cậu cũng đã chết vì xuất huyết não. Lúc đến đón cậu về nhà Trùm Aprile phải giả đóng vai người bác. 
Khi Astorre đủ lớn để bắt đầu hỏi về cha mẹ mình, Aprile bèn kể rằng cậu mồ côi. Nhưng Astorre là một đứa bé tò mò và kiên trì, vì thế, để chấm dứt những câu hỏi của cậu, lão nói cha mẹ cậu là nông dân, không đủ khả năng nuôi cậu, và họ đã chết vô danh tính tại một làng nhỏ ở Sicily. Aprile cũng biết lời giải thích này hoàn toàn không thỏa mãn cậu bé, và lão cảm giác được nỗi day dứt tội lỗi qua việc này, nhưng lão thừa hiểu khi Astorre còn nhỏ việc giữ kín gốc gác Mafia là quan trọng – cho sự an toàn của chính Astorre và cho sự an toàn của cả đám con cái lão. 
Trùm Raymonde Aprile là người nhìn xa trông rộng và biết rằng thành công của lão không thể tiếp diễn mãi – đây là một thế giới đầy phản trắc. Ngay từ đầu lão đã có kế hoạch chuyển hướng để được an toàn trong một xã hội có tổ chức. Không hẳn lão thực sự nhận thức được mục đích của mình, nhưng những người vĩ đại có bản năng đoán biết tương lai luôn biết mình muốn gì. Và trong trường hợp này, thật vậy, lão đã hành động vì lòng trắc ẩn. Về phía Astorre, ở tuổi lên ba, không được gây ấn tượng, không được bóng gió cậu sẽ là một người như thế nào khi đã trưởng thành, hoặc cậu sẽ đóng một vai trò quan trọng ra sao trong gia đình. 
Ông Trùm hiểu rằng vẻ hào nhoáng của nước Mỹ gắn liền với sự trỗi lên của các gia đình vĩ đại, và cái gia tầng xã hội tinh túy nhất ấy lại xuất thân từ những kẻ trước kia đã ít nhiều phạm phải những tội ác khủng khiếp chống lại chính cái giai tầng đó. Những kẻ như vậy trong lúc đi tìm vận may đã xây dựng nên nước Mỹ và để những việc làm xấu xa tan thành cát bụi lãng quên. Còn cách nào khác để làm việc đó không? Hay cứ giao Great Plains của nước Mỹ cho người da đỏ, những người không thể tưởng tượng ra nổi một chỗ ở có ba tầng? Hay hãy trả California cho người Mexico, những người không có khả năng kỹ thuật, không thấy được những máng nước khổng lồ dẫn nước về những cánh đồng cho phép hàng triệu người tận hưởng một cuộc sống thịnh vượng? Nước Mỹ có một vị thần hộ mệnh để thu hút hàng triệu người trên khắp thế giới, để dụ dỗ họ đến với những công việc cần thiét nhưng nặng nhọc: Làm đường xe lửa, xây đập nước và nhà chọc trời. Chà, tượng thần Tự Do quả là một áp phe quảng cáo thiên tài. Nó không có mặt ở đây cho những gì tốt nhất hay sao? Chắc chắn đã có những bi kịch, nhưng đó là một phần của cuộc sống. Chẳng lẽ Mỹ không phải là đất nước giàu mạnh nhất mà thế giới đã từng biết đến? Chẳng lẽ mức độ bất bình đẳng không phải là giá rẻ phải trả? đó luôn là tình huống mà mỗi cá nhân phải hy sinh để thúc đẩy tiến bộ của nền văn minh và hình thái xã hội đặc trưng của nó. 
Tuy nhiên, có một định nghĩa khác về một con người vĩ đại. Điều chủ yếu là y không chấp nhận gánh nặng kia. Trong chừng mực nào đó, phạm tội, phi đạo đức, hay bằng sự khôn khéo, y sẽ chiếm lấy thành quả tiến bộ của nhân loại mà không cần hy sinh. 
Raymonde Aprile là một người như vậy. Lão tạo ra quyền lực cá nhân của mình bằng trí thông minh và tính tàn nhẫn. Lão tạo ra nỗi khiếp sợ và rồi lão trở thành huyền thoại. Ấy thế mà con cái lão khi lớn lên vẫn chẳng hề tin vào những chuyện tồi tệ ấy. 
Có một truyền thuyết về bước khởi đầu sự thống trị của lão với tư cách một sếp “gia đình”. Aprile lúc đó kiểm soát một công ty xây dựng được điều hành bởi tên đàn em, Tommy Liotti, kẻ đã được lão làm cho giàu có khi còn ít tuổi bởi những hợp đồng xây dựng thành phố. Gã này đẹp trai, dí dỏm, cực kỳ quyến rũ, và lão luôn hài lòng về công ty của gã. Gã chỉ có một tật: uống rượu quá mức. 
Tommy cưới Liza, co bạn thân nhất của vợ lão, một phụ nữ có vẻ đẹp khỏe mạnh, lỗi mốt và chanh chua. Ả thấy mình có bổn phận phải kiềm chế những lạc thú của đức ông chồng, tất nhiên là những lạc thú của riêng gã. Việc này dẫn đến vài rắc rối đáng tiếc. Gã nhẫn nhịn những lời xuác phạm của vợ tương đối khá khi gã còn minh mẫn, nhưng khi đã xỉn là gã sẽ vả vào mặt ả, đủ để ả phải giữ mồm giữ miệng. 
Việc gã chồng khỏe như vâm và phải làm việc nặng lâu năm tại các công trường xây dựng khi còn trẻ cũng là một điều xui xẻo nữa. Thật vậy, gã thường mặc sơ mi cộc tay để phô ra hai cánh tay săn chắc và cơ bắp cuồn cuộn. 
Đáng buồn thay, những rắc rối cứ leo thang suốt hai năm. Một đêm Tommy đánh vỡ mũi Liza và làm gãy vài chiếc răng của ả. Việc đó đòi hỏi phải chi một khoản nặng tiền mông má. Ả đàn bà không dám nhờ vợ ông Trùm che chở, vì một yêu cầu như vậy hoàn toàn có thể biển ả trở thành quả phụ, mà ả thì vẫn còn yêu chồng mình. 
Aprile không muốn can thiệp vào những ầm ĩ trong chuyện gia đình của thuộc hạ. Nó chẳng đi đến đâu cả. Thậm chí thằng chồng có giết con vợ lão cũng khỏi có gì phải lo. Nhưng những trận đòn đã gây ra dấu hiệu nguy hiểm cho quan hệ làm ăn của lão. Một mụ vợ phát khùng có thể nói năng lung tung, để lọt ra ngoài những thông tin tai hại. Thí dụ chuyện gã chồng luôn trữ một lượng tiền mặt lớn trong nhà dành cho những “chi phí ” bất ngờ nhưng hét sức cần thiết cho việc thực hiện những hợp đồng xây dựng thành phố. 
Vì vậy, Aprile cho gọi gã chồng. Với sự nhã nhặn hết mức lão nói rõ lão can thiệp vào cuộc sống riêng của gã chỉ vì chuyện đó ảnh hưởng đến việc làm ăn. Lão khuyên gã hoặc giết vợ ngay lập tức hoạc ly dị ả, hoặc không được ngược đãi ả nữa. Gã chồng bảo đảm với lão chuyện thượng cẳng chân hạ cẳng tay sẽ không tái diễn. Nhưng Aprile không tin. Lão đã nhận ra ánh mắt gã, ánh mắt của ý chí tự do. Lão coi việc một người cứ làm những gì mình thích mà không thèm quan tâm đến cái giá phải trả là một trong những sự khó hiểu lơn nhất trên đời. Kẻ quân tử liên kết bản thân mình với các thánh thần với cái giá khủng khiếp bằng chính bản thân họ. Kẻ tiểu nhân say mê với những bốc đồng nhỏ nhặt nhằm vào những thỏa mãn cỏn con trong khi chấp nhận số mệnh bị thiêu dưới hỏa ngục. 
Và điều đó lại xảy ra với Tommy Liotti. Gần một năm sau Liza càng trở nên chua ngoa hơn trước. Bất chấp những lời cảnh báo của ông Trùm, bất chấp tình yêu gã vẫn dành cho vợ, Tommy nện ả một trận nhừ tử. Ả phải nằm viện với mớ xương sườn gãy và phổi bị tổn thương. 
Nhờ giàu có và các mối liên kết chính trị Tommy đã mua được một trong những thẩm phán thoái hóa của ông Trùm với số tiền cực lớn. Sau đó gã thuyết phục vợ quay về với gã. 
Aprile bực tức quan sát và hối tiếc bởi phải gánh chịu trách nhiệm. Trước tiên lão quan tâm đến những khía cạnh thực tế của vấn đề. Lão có được một bản copy di chúc của gã chồng và biết rằng, như một người chủ gia đình tử tế, gã để lại toàn bộ tài sản nơi trần thế cho vợ và các con mình. Cô ả sẽ trở thành một góa phụ giàu có. Thế rồi lão cử một đội đặc nhiệm với những chỉ dẫn đặc biệt lên đường. Trong vòng một tuần, tay thẩm phán nhận được một cái hộp dài quấn ruy băng. Trong hộp, giống như một đôi găng tay dài, đắt tiền bằng lụa đỏ, là hai cánh tay to tướng của gã chồng, một bên cổ tay đeo chiếc đồng hồ Rolex đắt tiền mà Aprile tặng gã nhiều năm trước, như một biểu hiện quý mến. Ngày hôm sau phần còn lại của thi thể được phát hiện đang dập dềnh trôi trong làn nước bên cầu Verrazano. 
Một truyền thuyết khác cũng ớn lạnh bởi sự mập mờ của nó, như chuyện ma của trẻ nhỏ. Trong lúc các con của ông Trùm đang theo học trường nội trú, một anh chàng phóng viên táobạo và có tài, nổi danh về việc vạch trần nhược điểm của các nhân vật nổi tiếng bằng giọng văn hóm hỉnh, đã lần ra bọn trẻ và dụ chúng vào cái được xem như cuộc trao đổi bằng lời vô hại. Chàng phóng viên tếu táo cùng bọn trẻ, với vẻ ngay thơ của chúng. với áo quần đồng phục của chúng và với chủ nghĩa lý tưởng trẻ thơ của chúng về cách tạo dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Anh ta đối chiếu việc này với danh tiếng của cha chúng trong khi vẫn chấp nhận Trùm Aprile thực sự chưa từng bị kết tội. 
Bài báo trở nên nổi tiếng, được lưu hành trong các phòng thông tin trên toàn quốc, thậm trí cả trước khi phát hành. đó là một loại thành công mà người cầm bút mơ ước. Ai cũng thích nó. 
Chàng phóng viên là người yêu thiên nhiên. Năm nào anh ta cũng đưa vợ và hai con đến ngôi nhà nghỉ ở phía bắc New York để đi săn, câu cá hoặc để sống một cách giản đơn. Họ đã ở đó trong kỳ nghỉ cuối tuần có lẽ Tạ ơn dài lê thê. Vào ngày chủ nhật, ngôi nhà nghỉ, cách thị trấn gần nhất mười dặm, bốc cháy. Không có ứng cứu trong khoảng hai tiếng đồng hồ. Ngôi nhà đã cháy trụi còn chàng phóng viên cùng vợ con thì chỉ bị cháy xém. Một cuộc xuống đường rầm rộ nổ ra và một cuộc điều tra quy mô được tiến hành, nhưng không tìm được chứng cứ về hành động bạo lực dẫn tới sát nhân. Đoàn điều tra kết luận, cả nhà bị ngất xỉu vì khói trước khi có thể thoát ra ngoài. 
Rồi một việc kỳ lạ xảy ra. Ít tháng sau thảm kịch trên những tiếng đồn bắt đầu lan truyền. Những tin tức nặc danh lọt vào cơ quan FBI, cảnh sát và báo chí. Tất cả đều cho rằng vụ cháy là hành động trả thù của tay Trùm Aprile bỉ ổi. Báo chí hâm nóng câu chuyện, kêu gọi mở lại phiên tòa. Phiên tòa được mở, nhưng một lần nữa lại không có chứng cứ. Thế là bất chấp mọi thử thách, vụ này trở thành truyền thuyết thứ hai về tính tàn bạo của Trùm Aprile. 
Mặc cho dư luận phản đối, nhà chức trách đành phải hài lòng, bởi chẳng có gì bắt bẻ được lão. ai cũng biết các nhà báo được hưởng quyền bất khả xâm phạm. Hàng nghìn nhà báo cứ bị giết thì còn ra thể thống gì ? Trùm Aprile quá khôn ngoan để chấp nhận mạo hiểm như vậy. Song huyền thoại chẳng bao giờ chết. Một số nhân viên FBI thậm chí còn cho rằng chính lão đã góp phần tạo ra những đồn đại để hoàn thiện huyền thoại về lão. Và cứ thế nó lan ra. 
Nhưng ở một khía cạnh khác Aprile là một người hào phóng. Nếu bạn phục vụ lão một cách trung thành bạn sẽ trở nên giàu có và nhận được sự che chở tuyệt vời mỗi khi bạn gặp khó khăn. Phần thưởng lão ban rất hậu hỹ, nhưng đòn trừng phạt thì bất di bất dịch. đó là huyền thoại về lão. 
Sau lần gặp Portella và Cilke, Trùm Aprile phải sắp xếp lại một số việc. Lão cho đón Astorre về nhà sau mười một năm xa cách. 
Lão cần Astorre, thực ra lão đã chuẩn bị cậu cho thời điểm này. Lão thậm chí yêu thương Astorre còn hơn con đẻ. Ngay khi còn nhỏ Astorre đã luôn là đứa cầm đầu, già dặn trong khả năng úng xử. Cậu yêu quý lão và không khiên slão phải lo lắng như đám con đẻ của lão vẫn thường làm. Và mặc dù Valerious và Marcantonio đã hai mươi và mười tám tuổi, trong khi Astorre mới lên mười, nhưng cậu vẫn thể hiện khả năng độc lập với các anh. Mỗi khi Valerious bắt nạt cậu đều bị cậu chống trả. Marcantonio trìu mến với cậu hơn và đã mua cho cậu cây đàn banjo đầu tiền để khuyến khích cậu ca hát. 
Chỉ có một người Astorre nghe lời hơn cả, là Nicole. Hơn cậu hai tuổi, nàng đối xử với cậu như bạn bè đồng trang lứa trong lúc cậu vẫn chỉ muốn làm một chú nhóc. Nàng nhờ cậu làm những việc vặt và xúc động lắng nghe những bản ballads Italy cậu hát cho nàng. Và tát vào má cậu khi cậu cố hôn nàng. Ngay từ hồi còn nhỏ vẻ đẹp của phụ nữ luôn làm cậu thích thú. 
Mà Nicole lại rất đẹp. Nàng có đôi mắt đen rộng mở và nụ cười đầy khêu gợi. Khuôn mặt biểu lộ từng trạng thái cảm xúc của nàng. Nàng thách thức bất kỳ kẻ nào dám cho rằng là phái yếu luôn thua kém và phải tuân thủ cánh nam nhi. Nàng căm ghét cái thực tế là về mặt thể lực nàng không khỏe như hai anh và Astorre, nàng không thể khẳng định ý chí của mình bằng sức mạnh mà chỉ bằng sắc đẹp. Tất cả những ấm ức kể trên làm nàng trở nên can đảm, và nàng giễu tất cả, kể cả cha mình, bất chấp cái danh tiếng dễ sợ của lão. 
Sau cái chết của vợ, cá con khi đó hãy còn nhỏ dại Trùm Aprile quyết định đi nghỉ một tháng hè ở Sicily. Lão yêu cuộc sống quê nhà, gần thị trấn Montelepre. Ở đó lão vẫn còn sở hữu một bất dộng sản có tên là Villa Grazia, một chốn ẩn dật nơi thôn dã xa xưa của một bá tước. 
Vài năm sau lão thuê một người trông nom Grazia. đó là một quả phụ Sicily tên là Caterina. Bà là một phụ nữ đĩnh đạc, khỏe mạnh, có vẻ đẹp của một nông dân no đủ và một khứu giác nhạy bén về quản lý cơ ngơi khiến dân làng phải trọng nể. Bà trở thành nhân tình của lão. Lão giấu nhẹm chuyện này với các con cũng như bè bạn mặc dù lúc đó lão đã ngũ tuần và là một ông vua trong thế giới của lão. 
Lần đầu được cùng Raymonde Aprile tới Sicily, Astorre mới lên mười. Trước đó Aprile đã được đề nghị hòa giải gấp cuộc xung đột dữ dội giữa cosa nhà Corleone và cosa nhà Clericuzio. Lão khoái trá tận hưởng một tháng nghỉ ngơi thảnh thơi tại Villa Grazia. 
Ở tuổi lên mười, Astorre là đứa dễ bắt chuyện. Cậu luôn vui vẻ. Khuôn mặt tròn đẹp của cậu cùng màu da ôliu toát lên tình thương yêu. Cậu luôn miệng hát với một giọng tenor ngọt ngào. Và khi thôi hát cậu lại đòi được cùng trò chuyện. Vì có tính cục cằn của một đứa trẻ mang dòng máu kẻ cướp, cậu bắt nạt tất cả bọn trẻ cùng trang lứa. 
Aprile mang cậu tới Sicily vì cậu là chỗ bầu bạn tốt nhất đối với một người tuổi trung niên. Việc này xem ra rất lạ với cả hai cũng như với cách lão nuôi dạy ba đứa con đẻ của mình. 
Khi giải quyết công việc, Aprile thường dùng cách hòa giải các tranh chấp để tạo ra một nền hòa bình tạm thời. Lúc này lão tận hưởng những ngày nghỉ ngơi để hồi tưởng thời thơ ấu tại nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Lão ăn chanh, cam và ô liu, lão làm những chuyến đi bách bộ dài cùng Astorre dưới ánh sáng âm u của mặt trời Sicily phản chiếu những ngôi nhà đá và những mỏm núi bất tận với cái nóng oi ả. Rất lâu rồi lão đã kể cho cậu bé nghe những câu chuyện cổ về các chàng Robin Hood xứ Sicily, cuộc đấu tranh của họ chống lại người Moor, người Pháp, người Tây Ban Nhà và cả Đức Giáo Hoàng. Cả những truyền thuyết về người anh hùng nơi đây, ông Trùm Zero Vĩ Đại. 
Ban đêm, ngoài thềm Villa Grazia, hai người cùng ngắm nhìn bầu trời Sicily trong xanh với hàng ngàn ngôi sao lấp lánh và những tia chớp phóng qua những dãy núi cách đó không xa. Astorre nhanh chóng học được thổ ngữ Sicily và ăn ôliu đen cứ như thể chúng là kẹo vậy. 
Chỉ cần vài ngày Astorre đã thiết lập được quyền thủ lĩnh của mình lên đám trẻ trong làng. Với Aprile, đó quả là một điều kỳ diệu vì trẻ con Sicily vốn đầy lòng tự trọng chẳng dễ nể vì ai. Nhiều tiểu thiên thần mười tuổi trong số đó đã thành thạo Lupara, một loại súng Sicily từng vang danh một thuở. 
Aprile, Astorre và Caterina dành những đêm hè cho việc ăn uống ngoài trời trong khu vườn um tùm sạch sẽ. Những cây cam, cây chanh tỏa vào không gian mùi hương thơm ngát. thỉnh thoảng đám bạn thiếu thời của lão được mời tới ăn tối hay chơi bài. Astorre giúp Caterina tiếp rượu họ. 
Caterina và ông Trùm không khi nào để lộ tình cảm của mình trước mặt mọi người, nhưng cả làng đều biết tỏng nên chẳng ai dại gì ve vãn Caterina. Họ chỉ bày tỏ lòng kính trọng mà nữ chủ nhân của tòa nhà cần được hưởng. Chưa bao giờ trong đời ông Trùm Aprile vui như vậy. 
Thể rồi chỉ ba ngày trước khi chuyến viếng thăm kết thúc, một chuyện động trời đã xảy ra: Trùm Aprile bị bắt cóc khi đang đi dạo trên đường làng. 
Tại tỉnh bên, Cinesi, một trong những tỉnh hẻo lánh nhất và kém phát triển nhất Sicily, thủ lĩnh cosca, một Mafioso địa phương, một kẻ hung bạo và tàn nhẫn có tên là Fissolini. Thâu tóm quyền lực trong vùng nhưng y lại không nắm được thông tin về các cosca còn lại trên đảo. Y không biết tí gì về quyền lực ghê gớm của Trùm Aprile và cũng không ngờ sự việc lại có thể vượt ra khỏi cái thế giới xa xôi, an toàn y đang ngự trị. Y quyết định bắt cóc ông Trùm Aprile để đòi tiền chuộc. Cái điều luật duy nhất mà y biết mình phạm phải là đang xâm lấn lãnh địa của cosca láng giềng, nhưng lão người Mỹ xem ra đủ giàu để thử liều một quả. 
Cosca là đơn vị cơ sở của tổ chức mang tên Mafia và thường bao gồm những người cùng huyết thống. Những công dân danh giá như luật sư hay bác sĩ bám vào cosca để bảo vệ lợi ích của họ. Mỗi cosca là một tổ chức phức tạp nhưng có thể liên minh với các cosca mạnh hơn. Mối liên kết đó được gọi chung là Mafia. Tuy nhiên ở đây không có thủ lĩnh hay chỉ huy tổng thể. Mỗi cosca thường tham gia một lĩnh vực làm ăn riêng trên lãnh thổ riêng của nó. Có cosca kiểm soát giá nước và ngăn cản chính phủ xây dựng các đập nước nhằm làm hạ giá thành. Bằng cách đó nó chống lại độc quyền của chính phủ. Có cosca kiểm soát thị trường lương thực thực phẩm. Những cosca hùng mạnh nhất Sicily lúc này là cosca Clericuzio ở Palermo – kiểm soát công cuộc xây dựng trên toàn Sicily, và cosca của Corleone kiểm soát các chính khách ở Roma và sắp đặt việc vận chuyển ma túy trên toàn thế giới. cũng có những cosca vớ vẩn chỉ bắt đám thanh niên ngon mắt đáp lễ bằng cách hát cho đám bồ bịch của chúng nghe. Tất cả các cosca đều dính dáng đến tội ác. Chúng không dung thứ bất kỳ một kẻ vô tịch sự lười biếng nào dám chôm chỉa những gia đình trong sạch – những người nộp đầy đủ lệ phí cho cosca của chúng. Những tên móc túi hay hãm hiếp phụ nữ tức khắc bị hành quyết. Ngay trong các cosca, tội ngoại tình cũng không được dung thứ. Cả đàn ông và đàn bà đều bị xử tử. Điều đó ai cũng hiểu. 
Cosca của Fissolini có thu nhập thấp. Nó kiểm soát việc buôn bán tranh thánh, được trả tiền để lo việc bảo vệ gia súc và tốt chức bắt cóc đám nhà giàu bất cẩn. 
Thế là trong khi đang ung dung tả bộ trên đường làng, Trùm Aprile và cậu bé Astorre bị thằng ăn cướp hạng bét Fissolini cùng đàn em tống lên hai chiếc xe quân dụng Mỹ. 
Mười gã đàn ông mặc áo quần nông dân, vũ trang bằng súng trường. Chúng nhấc Trùm Aprile khỏi mặt đất rồi ném lão lên chiếc xe thứ nhất. Astorre không do dự nhảy lên xe cùng lão. Lũ cướp cố kéo cậu ra nhưng cậu bám rất chặt. Hai chiếc xe chạy khoảng một tiếng đồng hồ thì tới một căn cứ trên những dãy núi bao quanh Montelepre. Sau đó cả bọn lại lên ngựa và lừa men theo triền núi đi về phía chân trời. Suốt cuộc hành trình, cậu bé quan sát mọi vật với cặp mắt xanh mở to nhưng không một lần mở miệng. 
Gần hoàng hôn, họ tới một cái hang nằm sâu trong núi. Ở đó họ được ăn thịt cừu nướng, bánh mỳ và rượu nhà làm. Tại nơi hạ trại có bức tượng bán thân cỡ lớn của Đức Mẹ Đồng Trinh đặt trong cái hòm đựng thánh cốt bằng gỗ màu đen được chạm trổ bằng tay. Bất chấp tính tàn ác của mình, Fissolini vẫn là một kẻ sùng đạo. Y có vẻ lịch sự chất phác của một nông dân. Y tự giới thiệu tên với Trùm Aprile và cậu bé. Không nghi ngờ gì, y là thủ lĩnh của băng cướp. Y lùn mà khỏe như vâm. Bên hông y lủng lẳng khẩu súng trường và hai khẩu súng lục. Mặt y chai lỳ như miền đất Sicily nhưng trong mắt y ánh lên vẻ phóng khoáng. Y yêu đời và khoái những chuyện khôi hài, đặc biệt là lúc này y đang giữ trong tay một người Mỹ giàu có mà trọng lượng được quy ra vàng. Và đang thưởng thức nó. 
– Thưa quý ngài, y nói với ông Trùm. Tôi không muốn ngài phải lo lắng về cậu bé này. Sáng mai cậu ấy sẽ mang thư đòi tiền chuộc vào thành phố. 
Astorre đang ăn uống ngon lành. Cậu chưa từng được nếm món nào ngon như món thịt cừu nướng này. Cậu ngừng nhai và can đảm lên tiếng.
– Tôi sẽ ở lại với bác Raymonde của tôi. 
Fissolini phá lên cười 
– Thức ăn ngon mang lại lòng can đảm. Để tỏ lòng tôn kính của tôi đối với quý ngài đây, tôi đã tự tay nấu ăn đấy. Tôi còn dùng đến cả gia vị của mẹ tôi nữa. 
– Tôi sẽ ở lại với bác tôi, Astorre nói, giọng cậu vang lên rõ ràng, thách thức. 
Trùm Aprile nói với Fissolini một cách nghiêm nghị nhưng thân mật 
– Thật là một đêm tuyệt diệu – Thức ăn, không khí trong lành, bè bạn của ngài. Tôi mong đợi làn sương tinh khôi nơi thôn dã. Tuy nhiên tôi khuyên ngài nên đưa tôi về lại nhà. 
Fissolini kính cẩn cúi đầu về phía lão. 
– Tôi biết ngài giàu có. Vậy ngài có thế lực đằng sau không? Tôi chỉ yêu cầu một trăm ngàn đô la Mỹ thôi. 
– Việc đó xúc phạm tôi, lão nói. Ngài sẽ làm tổn thương thanh danh của tôi. Cứ gấp đôi lên. Và năm mươi ngàn nữa cho thằng bé. Tiền sẽ được trả. Nhưng rồi cuộc sống của ngài sẽ vĩnh viễn khốn nạn. Lão dừng lại một lát, tôi ngạc nhiên khi thấy ngài liều đến thế. 
Fissolini thở dài. 
– Mong ngài hiểu cho, thưa quý ngài, tôi là một người nghèo. Thực ra tôi có thể lấy bất kỳ những gì tôi muốn trong lãnh địa này, nhưng Sicily là miền đất đáng nguyền rủa đến nỗi những kẻ giàu có cũng lại quá nghèo để giúp đỡ loại người như tôi. Ngài phải hiểu rằng ngài đang là cơ hội để tôi gỡ gạc chút đỉnh. 
– Thế thì lẽ ra ngài phải đến chỗ tôi để yêu cầu giao việc cho ngài chứ, Aprile nói. Tôi luôn luôn trọng dụng nhân tài. 
– Ngài nói thế vì lúc này ngài là kẻ yếu và đang không được giúp đỡ đấy thôi, Fissolini nói. Kẻ yếu lúc nào chả hào phóng. Nhưng tôi sẽ làm theo lời khuyên của ngài mà yêu cầu gấp đôi. Dù sao tôi cũng cảm thấy có chút tội lỗi trong chuyện này. Không ai có giá cao như vậy cả? Tôi sẽ để cậu bé tự do ra đi. Tôi dễ mủi lòng trước lũ trẻ. Tôi có bốn đứa con, tôi phải lo cho những cái tàu há mồm ấy. 
Aprile nhìn Astorre 
– Cháu sẽ đi chứ? 
– Không, cậu đáp, đầu cúi thấp. Cháu muốn ở lại với bác. Cậu mở to mắt nhìn thẳng vào Aprile. 
– Vậy thì cứ để nó ở lại, Lão nói với băng cướp. 
Fissolini lắc đầu. 
– Nó sẽ quay về. Tôi giữ lời mà. Tôi sẽ không bị mang tiếng là một kẻ bắt cóc trẻ con. Bởi rốt cuộc thì, thưa quý ngài, dù cho tôi có được hết sức trọng vọng, tôi vẫn phải gửi ngài về nhà từng mẩu một nếu người ta không trả tiền chuộc. Còn nếu tiền được trả, tôi xin thề với ngài lời thề danh dự của Pietro Fissolini, không một sợi râu nào của ngài bị đụng đến. 
– Tiền sẽ được trả, Trùm Aprile bình tĩnh nói. Còn bây giờ hãy để chúng tôi được làm điều tốt nhất. Này cháu, hãy hát một bài cho các quý ông đây nghe đi. 
Astorre hát cho đám cướp nghe. Chúng rất khoái và khen ngợi cậu bằng cách làm rối tung mớ tóc của cậu một cách trìu mến. Quả thật, đây là một khoảnh khắc kỳ diệu đối với tất cả bọn chúng. Giọng ca ngọt ngào của cậu bé cùng những bản tình ca lấp đầy cả vùng sơn cước. 
Lát sau mền và túi ngủ được mang từ hang bên cạnh tới. Fissolini hỏi 
– Thưa quý ngài, ngài muốn dùng món gì vào bữa sáng mai? Một ít cá tươi vừa đánh nhé? Rồi thì mì ống và thịt bê cho bữa trưa chứ? chúng tôi xin được phục vụ ngài. 
– Xin cảm ơn ngài, Aprile nói, một ít phó mát và trái cây là đủ rồi. 
– Chúc ngài ngủ ngon, Fissolini nói. Cái nhìn buồn bã của cậu bé làm y mủi lòng, y vỗ nhẹ đầu cậu. 
– Ngày mai cậu sẽ được ngủ ngay trên giường của cậu thôi. 
Astorre nhắm mắt để ngủ ngay trên mặt đất cạnh Aprile. 
– Nằm cạnh ta nào, lão nói rồi vòng tay ôm lấy cậu. 
Astorre ngủ say đến nỗi khi những tiếng lách cách làm cậu thức dậy thì vầng dương đỏ ối đã lên cao quá đầu. Cậu ngồi dậy và thấy khoảng năm chục người đàn ông có vũ trang đã đứng đầy trong hang. Trùm Aprile nhã nhặn, bình thản và đường hoàng đang ngồi trên một phiến đá lớn nhấm nháp tách cà phê. 
Lão nhìn thấy Astorre và vẫy tay ra hiệu 
– Astorre, cháu có muốn uống cà phê không? Lão chỉ tay vào người đàn ông đứng trước mặt 
– Đây là người bạn tốt của bác, Bianco, chú ấy đã cứu bác cháu mình. 
Astorre thấy một gã khổng lồ, dù được bọc kín trong lớp mở, mặc comple, đeo cà vạt và hình như không mang súng vẫn đáng sợ hơn nhiều so với Fissolini. Lão có mái tóc quăn và trắng, cặp mắt to vằn đỏ, và lão toát ra uy quyền. Nhưng lão có vẻ muốn che giấu uy quyền của mình khi nói bằng một giọng nhẹ nhàng và nghiêm trang. 
Octavio Bianco nói 
– Thưa Don Aprile, tôi phải xin lỗi vì đã tới trễ để ngài phải ngủ như một nông dân trên mặt đất thế này. Nhưng tôi đã lên đường ngay sau khi nhận được tin báo. Tôi vẫn biết Fissolini là một thằng ngu, nhưng tôi không ngờ nó dám làm việc này. 
Có tiếng búa vang lên và có vài người bước ra khỏi tầm nhìn của Astorre. Cậu thấy hai thanh niên đang đóng một cây thập tự. Dần dần, vì nằm ở góc xa của nền hang, cậu thấy Fissolini cùng mười tên cướp bị trói gô trên mặt đất và bị buộc vào những thân cây. Chúng bị bó chặt trong một tấm mạng bằng cả dây điện lẫn dây thừng, chân tay quấn với nhau. Trong chúng giống một đàn ruồi bu trên tảng thịt. 
Bianco cất tiếng hỏi 
– Don Aprile, đứa nào trong đám súc sinh này ngài muốn xử trước? 
– Fissolini, Ông Trùm nói. Nó là đứa cầm đầu. 
Bianco kéo lê Fissolini đến trước mặt Aprile, y vẫn bị bó chặt như một xác ướp. Bianco và một tay súng của lão xốc y lên và bắt y phải đứng. Xong đâu đấy Bianco quát 
– Fissolini, sao mày có thể ngu đến như vậy hả? Mày không biết ngài đây đang được tao bảo vệ à, nếu không thì chính tao đã bắt cóc ngài ấy rồi, đâu đến mày? Hay mày nghĩ mày chỉ vay một chai dầu, tí dấm? Đã bao giờ tao xâm phạm lãnh địa của mày chưa? Thế mà mày lại luôn cứng đầu, và tao biết mày sẽ toi mà. Được, giống như Chúa, mày phải bị treo lên cây thánh giá. Hãy xin lỗi Don Aprile và thằng cháu của ông ấy. Tao sẽ ban cho mày một ân huệ là bắn mày trước khi tụi tao đóng đinh. 
– Đúng thế, Aprile bảo Fissolini. Hãy giải thích sự vô lễ của ngài. 
Fissolini đứng thẳng và ngạo nghễ. 
– Nhưng sự vô lễ không phải nhằm vào cá nhân ngài, thưa quý ngài. Tôi đâu có biết ngài là người quan trọng và thân thiết với các bạn tôi. Cái thằng Bianco này lẽ ra đã có thể thông báo cho tôi đầy đủ chứ. Thưa quý ngài, tôi đã phạm sai lầm thì tôi phải trả giá. Y dừng lại một lát rồi thét vào mặt Bianco một cách giận dữ và khinh miệt 
– Bảo những thằng kia ngừng đóng đinh lại. Tao điếc tai mất. còn mày không thể làm tao sợ chết trước khi giết tao đâu. Fissolini lại quay sang Aprile, Cứ xử tôi, nhưng xin hãy tha cho người của tôi, chúng chỉ làm theo lệnh thôi. Chúng có gia đình. Ngài sẽ hủy hoại cả làng nếu ngài giết chúng. 
– Thì chúng là những đứa có trách nhiệm đấy chứ, Aprile mỉa mai nói. Ta sẽ làm mếch lòng chúng nếu chúng không chịu chung số phận với ngài. 
Đến lúc này Astorre, dù đầu óc còn non nớt, cũng hiểu ra rằng người ta đang nói về sự sống và cái chết. Cậu thì thầm 
– Bác ơi, đừng làm đau ông ấy. Aprile không phản ứng gì về những điều đã nghe. 
– Cứ tiếp đi, lão nhắc Fissolini. 
Fissolini ném vào lão cái nhìn dò hỏi, vừa ngạo mạn vừa cảnh giác. 
– Tôi không cầu xin tha mạng cho tôi. Nhưng mười người đang nằm đây đều là máu mủ ruột ra của gia đình tôi. Ngài giết chúng là giết luôn vợ con chúng. Ba trong số đó là con rể tôi. Chúng hoàn toàn trung thành với tôi. Chúng tin vào ý kiến của tôi. Nếu ngài để chúng đi, tôi sẽ bắt chúng thề trung thành vĩnh viễn với ngài trước khi tôi chết. Chúng sẽ nghe lời tôi. Có mười người bạn trung thành quả là có ý nghĩa. Người ta nói với tôi ngài là một người cao quý, nhưng ngài không thể là một người cao quý nếu không tỏ ra rộng lượng. Ngài không thể cố tỏ ra rộng lượng được, nhưng chỉ xin ngài một lần này. Y mỉm cười với Astorre. 
Với Trùm Raymonde Aprile đây là một thời điểm quen thuộc, và lão không hề nghi ngờ quyết định của mình. Lão chẳng bao giờ tin vào sức nặng của lòng biết ơn. Lão tin chẳng có ma nào có thể điều khiển được ý chí tự do trong mỗi con người ngoại trừ cái chết. Lão xem Fissolini là kẻ lạnh lùng và lão lắc đầu. Bianco tiến lên phía trước. 
Astorre bước về phía bác cậu và nhìn thẳng vào mắt lão. Cậu đã hiểu mọi chuyện. Cậu sẵn sàng bênh vực Fissolini. 
– Ông ấy không làm bác cháu mình đau, Astorre nói. Ông ấy chỉ muốn tiền của chúng ta thôi. 
Ông Trùm mỉm cười rồi nói 
Và điều đó chẳng là gì chứ? 
Astorre đáp, 
– Nhưng đó là một lý do tốt. Ông ấy cần tiền để nuôi gia đình. Và cháu quý ông ấy. Làm ơn đi bác. 
Trùm Aprile mỉm cười với cậu và nói 
– Hoan hô. Rồi lão im lặng hồi lâu làm như không biết Astorre đang giật mạnh tay mình. Và, lần đầu tiên trong nhiều năm lão cảm thấy phải thể hiện lòng nhân từ. 
Người của Bianco đốt những điếu xì gà nhỏ, rất nặng. Khói xì gà bay lên không trung lúc bình minh rồi được làn gió nhẹ mang theo vào trong núi. Một gã trong đám người bước lên lấy từ trong chiếc túi đi săn một điếu xì gà mới mời Aprile. Bằng hiểu biết trẻ thơ Astorre cũng hiểu rằng đó không chỉ là thái độ lịch sự mà còn là cách bày tỏ lòng kính trọng. Ông Trùm cầm điếu xì gà, còn người kia châm lửa cho lão trong hai lòng bàn tay khum lại. Ông trùm chậm rãi rít điếu thuốc rồi nói 
– Ta không muốn làm nhục ngài bằng việc tỏ lòng nhân từ. Nhưng ta sẽ yêu cầu ngài một thỏa thuận làm ăn. Ta nhận ra ngài không ác tâm và ngài đã thể hiện lòng kính trọng cao cả đối với ta và cháu ta. Vì vậy đây chính là thỏa thuận. Ngài sống. Người của ngài cũng sống. Nhưng trong quãng đời còn lại của ngài, ngài phải nghe theo lệnh ta. 
Astorre cảm thấy cực kỳ nhẹ nhõm, và cậu mỉm cười với Fissolini. Cậu quan sát thấy Fissolini quỳ xuống rồi hôn tay Trùm Aprile. Cậu nhận ra rằng những người đàn ông vũ trang ở xung quanh rít thuốc dữ dội, và cả Bianco uy nghi như một quả núi cũng run lên vì vui mừng. 
Fissolini lẩm bẩm, 
– Đội ơn ngài, thưa quý ngài. 
Ông Trùm ném điếu xì gà xuống một tảng đá gần đấy. 
– Ta nhận lời cảm tạ của ngài, nhưng ngài phải hiểu rằng Bianco đến đây để bảo vệ ta và ngài cũng sẽ làm công việc này. Ta trả Bianco một khoản tiền, mỗi năm ta cũng sẽ trả ngài từng nấy. Nhưng chỉ cần một hành động phản bội thôi, cả ngài và thế giới của ngài sẽ bị hủy diệt. Ngài, vợ ngài, các con của ngài, các cháu của ngài, các con rể của ngài sẽ chấm dứt cuộc sống. 
Fissolini đứng lên ôm lấy lão và òa khóc. 
Thế rồi ông Trùm và đứa cháu trở nên gắn bó hơn. Lão yêu cậu vì cậu đã thuyết phục lão mở lòng nhân ái, còn Astorre yêu lão vì lão đã nghe lời cậu mà tha mạng cho Fissolini và mười người của y. Mối quan hệ này kéo dài cho đến cuối đời. 
Đêm cuối cùng tại Villa Grazia, Trùm Aprile ngồi uống cà phê trong vườn còn Astorre ăn trái ô liu lấy từ thùng chứa. Astorre rất trầm tư, không giống với tính tình cởi mở thường ngày của cậu. 
– Cháu có buồn vì phải rời Sicily không? Lão hỏi. 
– Cháu ước gì được sống mãi ở đây, Astorre trả lời. Cậu nhét hạt ôliu vào túi. 
– Thôi được, bác cháu ta hè nào cũng sẽ đến đây. Lão nói. 
Astorre nhìn lão như nhìn một người bạn già thông thái, khuôn mặt trẻ trung của cậu đượm vẻ lo lắng. 
– Bà Caterina có phải là bạn gái của bác không? 
Aprile phì cười 
– Bà ấy là bạn tốt của bác. 
Astorre nghĩ ngợi. Thế các anh chị cháu có biết bà ấy không? 
– Không, các con bác không biết. Một lần nữa lão bị cậu làm cho kinh ngạc và lão tự hỏi còn chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo. 
Astorre lúc này rất nghiêm trang, 
– Các anh chị cháu có biết bác có những người bạn dữ dằn như Bianco sẵn sàng làm mọi cái bác bảo họ phải làm hay không? 
– Không. 
– Cháu cũng sẽ không nói với các anh chị ấy bất cứ điều gì, kể cả việc bị bắt cóc. 
Ông Trùm cảm thấy lòng tự hào trào dâng. Ometa đã ngấm vào máu nó rồi 
Khuya đêm hôm đó, một mình, Astorre đi đến góc xa của khu vườn. Với đôi bàn tay trần cậu đào một cái hố. Cậu thả vào đó những hạt ô liu đã kín đáo bỏ trong túi. Cậu ngước mắt nhìn lên bầu trời Sicily xanh nhợt và mơ thấy mình là một người già giống như bác cậu, vào một đêm tương tự, đang ngồi trong khu vườn này nhìn những cây ô liu này vươn cao. 
Sau vụ đó, ông Trùm tin mọi cái đều có số. Cho đến khi Astorre mười sáu tuổi, năm nào lão và cậu cũng đến Sicily. Trong ký ức lão một hình ảnh đang hình thành – nét phác thảo lờ mờ về định mệnh của Astorre. 
Người gây ra khủng hoảng đẩy Astorre vào định mệnh đó là con gái lão. Ở tuổi mười tám, hơn Astorre hai tuổi, Nicole phải lòng cậu. Với tính tình bốc lửa của mình, nàng khó mà giấu được sự thật. Nàng hoàn toàn lấn át chàng trai đa cảm. Với tất cả sự mãnh liệt nồng nàn của tuổi trẻ họ trở nên thân thiết. 

Ông Trùm không thể cho phép tồn tại một câu chuyện như vậy, nhưng là một vị tướng lão phải điều chỉnh chiến thuật sao cho phù hợp với địa hình, địa vật. Lão chẳng khi nào bóng gió về những gì lão biết trong chuyện này. 
Một đêm lão gọi Astorre vào phòng riêng và cho biết lão sẽ gửi cậu sang Anh học nghề trong lĩnh vực ngân hàng vời một ông Pryor nào đó ở Luân Đôn. Lão không đưa ra thêm lý do nào khác sợ rằng cậu sẽ nhận thấy mình bị tống khứ khỏi nhà để chấm dứt vụ việc. Có điều lão không để ý đến con gái mình đang lắng nghe bên ngoài cánh cửa. Nàng ào vào phòng như một cơn bão, sự giận dữ càng làm nàng đẹp hơn. 
– Ba không được đưa anh ấy đi khỏi đây, nàng hét lên. Chúng con sẽ rời khỏi nhà này. 
Lão tủm tỉm cười và lên giọng dỗ dành 
– Cả hai con đều phải học hành cho xong đã. 
Nicole quay sang Astorre lúc này đang đỏ mặt vì bối rối. 
– Astorre, anh sẽ không đi chứ? Nàng hỏi, Phải vậy không? 
Astorre không trả lời, và Nicole òa khóc. 
Làm cha thật khó mà không động lòng trước cảnh này. Nhưng lão thì khoái lắm. Con gái lão bảnh quá, một Mafioso chính cống có giác quang già dặn, một báu vật thật sự. Bất chấp điều đó, hàng tuần liền nàng từ chối tiếp chuyện cha và giam mình trong phòng. Nhưng ông Trùm đâu có ngán, con gái lão đâu phải loại người có thể tan nát cõi lòng mãi vì một thằng đàn ông được. 
Chứng kiến Astorre dính vào rắc rối của đám choai choai đang trưởng thành càng làm lão khoái hơn. Đúng là nó yêu Nicole. Và đúng là tình cảm nồng nàn, mãnh liệt của con bé đã làm nó thấy mình là một người quan trọng trên đời. Có thằng đàn ông nào lại không bị quyến rũ bởi được quan tâm đặc biệt như vậy chứ. Nhưng lão cũng hiểu rằng Astorre cần một lý do để thoát khỏi mọi vướng víu trong cuộc hành trình đến với những vinh quang của cuộc sống. Lão mỉm cười. Thằng bé có tất cả những bản năng thích hợp và đã đến lúc nó phải học hành tử tế rồi. 
Giờ đây, sau ba năm nghỉ ngơi, Raymonde Aprile đã cảm nhận được sự an tâm, thỏa mãn của một người có những lựa chọn đúng trong đời Aprile an tâm tới mức lão bắt đầu phát triển một mối quan hệ gần gũi hơn với mấy đứa con. Cuối cùng thì, ở một mức độ nào đó, lão đang được hưởng thành quả của tình phụ tử. 
Valerious đóng quân ở nước ngoài hầu như toàn bộ hai mươi năm qua nên chưa khi nào gần gũi với lão. Bây giờ gã về West Point nên hai cha con thường gặp nhau hơn và đã bắt đầu trò chuyện cởi mở hơn. Tuy nhiên, cũng chẳng dễ dàng gì. 
Với Marcantonio thì khác. Lão và thằng con thứ hai có một vài điểm chung. Marcantonio giải thích công việc của mình trong chương trình truyền hình, sự phấn khích của gã qua các diễn biến đầy kịch tính, trách nhiệm đối với khán giả, khát vọng muốn làm thế giới trở nên tốt đẹp hơn. Cuộc sống của những người như thế giống như những câu chuyện thần tiên đối với lão và lão bị chúng quyến rũ. 
Trong những bữa tối của gia đình, Marcantonio và lão có thể tranh cãi một cách thân tình cho những người khác giải trí. Một lần lão bảo Marcantonio, 
– Ba chưa từng thấy những người quá tốt hay quá xấu như những nhân vật trong những vở kịch đó đâu. 
Marcantonio trả lời, 
– Đó là cái mà khán giả tin. Chúng ta phải mang những gì khán giả tin lại cho họ. 
Tại một buổi gặp mặt gia đình, Valerious cố giải thích tính hợp lý đối với cuộc chiến vùng Vịnh. Ngoài bảo vệ những lợi ích kinh tế quan trọng và quyền con người, cuộc chiến tranh này còn là một cơ hội làm ăn béo bở cho mạng lưới truyền hình của Marcantonio. Vậy mà Aprile chỉ nhún vai. Các cuộc xung đột chẳng làm lão quan tâm. 
– Nói ba nghe, lão bảo Valerious. Bằng cách nào các quốc gia thực sự thắng trận? Cái gì là nhân tố quyết định hả? 
Valerious cân nhắc. 
– Phải có quân đội được huấn luyện tốt, tướng tài. Đánh nhau có bên được, bên thua. Khi còn làm bên tình báo, chúng con phân tích mọi thứ và đi đến kết luận: Nước nào sản xuất nhiều thép nhất sẽ thắng trong cuộc chiến, vậy thôi. 
Ông Trùm gật đầu hài lòng. 
Quan hệ giữa láo với Nicole là ấm áp và mãnh liệt nhất. Lão tự hào về tài năng, vẻ đẹp tự nhiên, tính tình sôi nổi và trí thông minh của nàng. Quả thực. Mới ba hai tuổi đời nàng đã là một luật sư đầy triển vọng. 
Lão đã bí mật giúp đỡ con gái, hãng luật của nó nợ lão chồng chất. Các anh thì lo lắng cho em gái ở hai nguyên nhân: Nàng chưa lập gia đình và làm nhiều việc từ thiện. Mặc dù thán phục, lão vẫn không coi trọng con gái lắm. Nó rốt cuộc vẫn chỉ là đàn bà. Mà đàn bà chính là mọi rắc rối của đàn ông. 
Trong các bữa tối lão và con gái tranh cãi không ngừng như hai con mèo đang nô đùa một cách nguy hiểm, đôi khi có đổ máu. Họ có một vấn đề tranh cãi khá gay gắt, cái duy nhất có thể ảnh hưởng đến tính nhã nhặn bát biến của lão. Nicole tin vào yếu tố thánh thiện trong cuộc sống con người, còn hình phạt tử hình là một điều ghê tởm. Nàng tổ chức và lãnh đạo Phong Trào Chống Án Tử Hình. 
– Tại sao? Lão hỏi. 
Thế là Nicole lại tức điên lên. Nàng tin rằng hình phạt tử hình cuối cùng sẽ hủy diệt nhân loại. Tội sát nhân trong bất kỳ hoàn cảnh nào vẫn có thể được minh chứng bởi những góc độ hoàn cảnh khác, góc độ niềm tin khác nếu nó được tha thứ. Rốt cuộc thì khung hình phạt chết người này cũng chẳng giúp gì cho quá trình tiến hóa và nền văn minh. Niềm tin đó đẩy nàng đến chỗ xung khắc liên miên với Valerious. Xét cho cùng, quân đội đã làm được quái gì nào? Các lý do không thuyết phục được nàng. Sát nhân là sát nhân, nó sẽ đưa tất cả chúng ta sẽ tới chỗ ăn thịt lẫn nhau, thậm chí còn tệ hại hơn. Nicole đấu tranh tại các phiên tòa trên khắp đất nước để cứu những kẻ giết người đã bị kết án. Dù coi việc này là vô nghĩa nhất, ông Trùm vẫn đề nghị nâng cốc chúc mừng tại bữa tối diễn ra sau chiến thắng của con gái trong một vụ kiện nổi tiếng. Nàng đã giành được việc giảm án tử hình cho một trong số những tên tội phạm khét tiếng nhất thập kỷ, một gã đàn ông đã giết người bạn thân nhất của y và cưỡng hiếp người vị bị y làm cho thành quả phụ. Trên đường đào tẩu y hạ tiếp hai nhân viên trạm xăng khi chặn cướp của họ. Y tiếp tục hiếm dâm và giết chết một cháu bé mười tuổi. Việc làm của y chỉ vỡ lở khi y âm mưu giết hai cảnh sát trong phiên tuần tra. Nicole đã thắng kiện vì chứng minh được y là một người điên, và vì bảo đảm rằng y sẽ phải sống nốt quãng đời còn lại trong một nhà thương dành cho phạm nhân tâm thần mà không có hy vọng được phóng thích. 
Bữa tối tiếp theo của gia đình là lễ ăn mừng Nicole lại thắng một vụ kiện khác – lần này là của chính nàng. Trong một phiên xử gần đây nàng đã bênh vực cho một đối tượng cực kỳ nguy hiểm. Rồi nàng bị đưa ra trước Hội đồng lập pháp vì tội hành nghề phi đạo đức song, may mắn thoát. Lúc này nàng đang phấn khởi lắm. 
Ông Trùm, bộ dạng tươi tỉnh, thể hiện sự quan tâm không bình thường đến vụ kiện này. Lão chúc mừng con gái được trắng án nhưng lại hơi lẫn lộn, hoặc giả vờ lẫn lộn. Nicole phải giải thích cho lão. 
Nàng đã biện hộc ho một gã tuổi ba mươi. Y cưỡng hiếp và giết chết một bé gái mười hai tuổi rồi giấu xác cô bé kín đến nỗi cảnh sát cũng không tìm ra. Chứng cứ buộc tội chống lại y khá mạnh, tuy thiếu tử thi, song bồi thẩm đoàn, dù miễn cưỡng, vẫn có thể khép y vào án tử hình. Cha mẹ nạn nhân vô cùng đau khổ trong một nỗ lực không thành tìm xác con. 
Kẻ sát nhân tin cẩn thổ lộ với Nicole, trong tư cách là người đại diện của y trước tòa, nơi chôn giấu xác nạn nhân và ủy quyền cho nàng thương lượng một thỏa thuận – y sẽ tiết lộ nơi giấu xác cô bé để đổi lấy bản án chung thân thay cho tử hình. Tuy nhiên , khi Nicole mở cuộc thương lượng với bên nguyên, chính nàng phải đối mặt với nguy cơ bị truy tố nếu không tiết lộ ngay cái nơi giấu xác đó. Nàng tin rằng việc bảo vệ bí mật giữa luật sư và khách hàng rất quan trọng đối với xã hội. Vì thế nàng đã từ chối, và một vị chánh án nổi tiếng đã tuyên bố nàng đúng. 
Ủy viên công tố, sau khi tham khảo ý kiến cha mẹ nạn nhân, đã chấp nhận thỏa thuận. 
Kẻ sát nhân nói với họ rằng y đã chặt chân tay xác chết, bỏ vào bao, ướp đá và đem chôn tại một đầm lầy không xa New Jersey. Thế là thi thể cô bé được tìm thấy và hung thủ bị phạt tù chung thân. Nhưng rồi Hội đồng lập pháp lại khép nàng vào tội thương lượng phi đạo đức. Và hôm nay nàng được xử trắng án. 
Ông Trùm nâng cốc chúc mừng tất cả các con rồi hỏi Nicole 
– Và trong suốt vụ án này con đã luôn xử thế đầy tự trọng đấy chứ?
Nicole mất ngay vẻ phấn khởi. 
– Đó là nguyên tắc của vấn đề. Chính phủ không thể cho phép người ta xâm hại đặc quyền giữa luật sư và khách hàng trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù có nghiêm trọng đến đâu chăng nữa, nếu không, tính bất khả xâm phạm của nó chẳng còn hiện hữu. 
– Còn với cha mẹ nhạn nhân con không cảm thấy gì chăng? Lão hỏi. 
– Có chứ, Nicole bực bội đáp. Nhưng liệu con có thể để tình cảm ảnh hưởng đến nguyên tắc cơ bản của pháp luật được không? Con rất khổ tâm vì việc đó, đúng thế, sao lại không cơ chứ? Nhưng rủi thay, để điều chỉnh những tiền lệ cho bộ luật tương lai lại phải có những hy sinh. 
– Và thế là Hội đồng lập pháp đã lôi con ra xét hỏi chứ gì? 
– Để giữ thể diện thôi. Đó là một hành động chính trị, những người bình thường, mù tịt trước những vấn đề rắc rối của hệ thống pháp lý, không thể chấp nhận những nguyên tắc luật pháp như vậy, thế là có la ó. Cho nên vụ xét hỏi con đã hòa tan mọi thứ. Một vị thẩm phán có tên tuổi nào đó đã phải ra trước công luận giải thích rằng về mặt pháp lý con có quyền từ chối cung cấp thông tin. 
– Hoan hô, ông Trùm vui vẻ nói. Luật pháp bao giờ chả đầy rẫy những điều bất ngờ. Nhưng dĩ nhiên, chỉ với các luật sư thôi. 
Nicole biết lão đang giễu cợt nàng. Nàng nói gay gắt, thiếu một bộ luật không thể tồn tại một nền văn minh. 
– Đúng thế, lão nói như để an ủi con gái. Nhưng việc để kẻ phạm tội tày đình lại thoát án tử hình xem ra không công bằng. 
– Đúng thế ba ạ. Nhưng hệ thống pháp lý của chúng ta lại dựa vào thỏa thuận nhận tội có điều kiện. Chuyện các can phạm nhận hình phạt nhẹ hơn mức chúng đáng phải nhận là có thật. Nhưng như thế cũng có cái hay – Chữa bệnh bằng lòng nhân ái. Và về lâu về dài, những kẻ phạm tội chống lại xã hội chúng ta sẽ được phục hồi dễ dàng hơn. 
Bằng một lời châm chích vui vẻ ông Trùm đề nghị nâng cốc. 
– Nhưng nói ba nghe coi, lão bảo Nicole. Đã khi nào con tin một người vô tội bởi nguyên nhân là bệnh tâm thần chưa? Cuối cùng thì y cũng đã vận dụng được sự tỉnh táo của mình rồi. 
Valerious nhìn Nicole bằng đôi mắt lạnh lùng dò hỏi. Gã cao lớn, tuổi chừng bốn mươi, có bộ ria ngắn lởm chởm và mái tóc đang chuyển sang màu muối tiêu. Là một nhân viên tình báo, gã tự mình đưa ra những quyết định không đoái hoài đến các chuẩn mực đạo đức. Gã rất khoái lập luận của nàng. 
Marcantonio hiểu em gái mình. Nàng khát khao một cuộc sống bình thường phần nào cũng vì lòng hổ thẹn với cha. Gã rất lo nàng sẽ nói những điều thiếu chín chắn, khiến người cha có thể chẳng bao giờ tha thứ cho con gái. 
Về phần Astorre, chàng ngưỡng mộ Nicole – đôi mắt long lanh của nàng, năng lực phi thường mà nhờ nó, nàng đã chống trả lại sự khiêu khích của cha. Chàng nhớ cả hai đã tán tỉnh nhau thế nào khi còn niên thiếu và cảm thấy nàng vẫn dành cho mình tình yêu thương thật sự. Nhưng giờ đây chàng đã thay đổi, không còn như ngày họ yêu nhau, và cũng dễ hiểu thôi. Các anh nàng có biết gì về mối quan hệ thời xa xưa đó không, chàng tự hỏi. Và chàng lo ngại một cuộc cãi vã sẽ phá vỡ sự nhất trí trong gia đình, cái gia đình chàng yêu thương, chốn nương thân duy nhất của chàng. Chàng hy vọng Nicole sẽ không đi quá xa. Nhưng chàng cũng không mấy có thiện cảm với những quan điểm của nàng. Những năm tháng ở Sicily đã dạy chàng khác hẳn. Cái khiến chàng ngạc nhiên lại là hai con người mà chàng quan tâm tới nhất trên thế gian này lại có thể khác nhau đến thế. Và chàng chợt nghĩ rằng thậm chí nếu Nicole đúng chàng cũng không thể đứng về phía Nicole mà chống lại cha nàng. 
Nicole phớt tỉnh nhìn thẳng vào mắt cha. 
– Con không tin rằng y tỉnh táo, nàng nói. Y bị thúc ép bởi các hoàn cảnh của chính đời y, bởi những nhận thức méo mó của chính bản thân y, bởi di truyền, bởi đặc trưng sinh hóa của y, bởi sự dốt nát của y học, – y là một kẻ điên. Bởi thế đương nhiên con tin vào điều đó. 
Sau một lát cân nhắc ông Trùm lên tiếng 
– Hãy nói ba nghe, nếu y thú nhận với con rằng tất cả những lý do bào chữa của y đều là láo lếu liệu con có còn cố cưu mang y không? 
– Có, Nicole đáp. Cuộc sống của mỗi cá nhân đều thiêng liêng. Nhà nước không có quyền kết thúc nó. 
Lão cười giễu nàng. 
– Đấy là dòng máu Italy của con. Con có biết nước Italy hiện đại không hề có án tử hình không? Cuộc sống của tất cả mọi người bên đó đều được bảo đảm. Hai người con trai lão và Astorre đều e ngại trước lời giễu cợt của lão, nhưng Nicole không hề bối rối. 
Nàng nói với lão một cách cứng rắn, 
– Việc núp bóng pháp luật để phạm tội giết người có chủ ý là một hành vi man rợ đối với quốc gia. Con thiết nghĩ, khác với tất cả mọi người ba lẽ ra sẽ đồng ý với điều đó. Đây là một thử thách, là động vào danh tiếng của lão. Nicole cười và nói tỉnh queo, Chúng ta có một sự lựa chọn. Kẻ phạm tội bị cách ly vĩnh viễn trong nhà thương điên hay trại giam không có hy vọng được phóng thích hoặc tạm tha. Vậy thì y không còn là mối nguy hiểm cho xã hội nữa. 
Ông Trùm lạnh lùng nhìn con gái, mỗi thời mỗi việc, lão nói. Ba đồng tình với nhà nước trong vấn đề thi hành án tử hình. Thời của các con mà không có phóng thích hay tạm tha thì thật khôi hài. Hai mươi năm trôi qua, giả sử chứng cứ mới được tìm thấy, hoặc sự phục hồi được thừa nhận, và kẻ sát nhân đã trở thành một con người mới khác với chính bản thân y, bây giờ y mới bộc lộ bản tính thiện của con người. Nhưng nào có ai quan tâm đến người đã chết. Kẻ sát nhân thì đi lại tự do, còn người chết hoàn toàn không quan trọng. 
Nicole chau mày. 
– Ba, con không có ý nói rằng nạn nhân không quan trọng. Nhưng thi hành án tử hình đâu có thể làm người chết sống lại được. Chúng ta càng tha thứ tội sát nhân, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, bao nhiêu thì cuộc sống càng trường tồn bấy nhiêu. 
Ông Trùm uống rượu và đưa mắt nhìn quanh bàn rồi dừng lại ở hai người con trai và Astorre. 
– Để ba nói với các con một thực tế, lão nói, và quay về phía Nicole. Lão nói với một vẻ hăng hái hiếm thấy. 
– Con cho rằng cuộc sống của con người là thiêng liêng phải không? Thế chứng cứ đâu? Ở trang nào của lịch sử? Những cuộc chiến tranh đã giết hàng triệu người lại được tất cả các chính phủ và tôn giáo ủng hộ. Việc tàn sát hàng ngàn kẻ thù trong một cuộc tranh chấp chính trị, vì những quyền lợi kinh tế được ghi nhận qua thời gian. Đã bao lần việc kiếm tiền được đặt lên trên sự thiêng liêng của cuộc sống con người? Và chính con đang tha thứ cho việc giết người khi con giúp khách hàng của con thoát khỏi bản án. 
Cặp mắt đen của Nicole long lanh. 
– Con không tha thứ, nàng nói. Con không tha thứ cho tội danh đó. Con nghĩ giết người là man rợ. Con chỉ bác bỏ việc đưa ra lý lẽ để tiếp tục giết người. 
Lúc này ông Trùm nói nhỏ nhưng thân ái hơn. 
– Giả sử nạn nhân, là người con yêu thương, nằm dưới nấm mồ. Nó vĩnh viễn không còn ở trên đời. Chúng ta sẽ không còn được thấy khuôn mặt nó, sẽ không còn nghe giọng nói của nó, không còn chạm được vào da thịt nó. Nó nằm trong bóng tối không còn biết đến chúng ta và thế giới của chúng ta…. 
Tất cả im lặng lắng nghe trong khi lão tợp thêm ngụm rượu. 
– Nào Nicole của ba, hãy nghe ba. Khách hàng của con, kẻ giết người của con, bị tuyên án tù chung thân. Y sẽ phải nằm nhà đá hay nhà thương điên cho đến hết đời. Nhưng sáng sáng y vẫn thấy mặt trời mọc, y vẫn thưởng thức đồ ăn nóng, y vẫn nghe nhạc, máu vẫn chảy rần rật trong huyết quản y và làm y phấn chấn với đời. Những người thân yêu của y vẫn ôm hôn y. Ba biết thậm chí y còn đọc sách, học nghề thợ mộc để đóng bàn ghế. Tóm lại, y vẫn sống. Vậy là không công bằng.
Nicole cương quyết. Nàng không hề nao núng. 
– Ba à, với vật nuôi trong nhà ba đâu có cho chúng ăn thịt sống. Ngay cả ngửi thôi ba cũng không cho, không thì chúng còn đòi nhiều hơn ấy chứ. Chúng ta càng giết nhiều bao nhiêu thì càng dễ dàng quen với việc giết chóc bấy nhiêu. Ba không thấy thế sao? 
Khi lão không trả lời nàng lại hỏi, 
– Làm sao ba có thể quyết định cái gì là công bằng cái gì là không công bằng? Ba sẽ chia ranh giới ở đâu? Đây quả là một thách đố nhưng phần nhiều mang tính biện minh để hiểu được toàn bộ những năm thắng hoài nghi của nàng về lão. 
Tất cả chờ đợi cơn giận dữ của lão trước những lý lẽ xấc xược của nàng. Nhưng thật bất ngờ, lão vẫn giữ được thái độ bỡn cợt. 
– Ba cũng có những lúc mềm yếu, lão nói. Nhưng không bao giờ ba cho phép một đứa con phán xét cha mẹ. Con trẻ chỉ biết ăn theo và sống bằng những chịu đựng của chúng ta. Ba coi mình là một người cha hoàn hảo. Ba đã nuôi dạy ba con, những trụ cột của xã hội, có tài, có năng lực và thành đạt, lại không hoàn toàn bất lực trước số mệnh. Trong các con có đứa nào trách cứ ba không? 
Đến đây Nicole không còn giữ được bình tĩnh. 
– Không, nàng nói. Là bậc sinh thành không ai có thể trách cứ ba. Nhưng ba có một vài thiếu sót. Chỉ có người nghèo mới bị treo cổ. Người giàu thừa sức xoay xở để thoát án tử hình. 
Lão ném vào Nicole một cái nhìn nghiêm nghị. 
– Vậy sao con không đấu tranh đòi thay đổi luật dịnh để cho người giàu cũng bị lên đoạn đầu đài cùng người nghèo? 
Astorre khoái trá cười rung cả người 
– Thế thì chỉ còn lại rất ít người trong chúng ta. Và câu nói này cắt đứt sự căng thẳng. 
– Đức tính tốt nhất của loài người là lòng nhân từ, Nicole nói. Một xã hội văn minh không lượng thứ cho con người, nó chỉ cố tránh trừng phạt, trong chừng mực hệ thông tư pháp cho phép. 
Chỉ đến lúc này ông Trùm mới đánh mất vẻ bỡn cợt của mình. 
– Con lấy đâu ra những ý tưởng như vậy hả? Lão hỏi. Chúng tự mãn, hèn kém, hơn thế nữa, còn có tính báng bổ. Có ai nhẫn tâm hơn Chúa? Chúa không tha thứ cũng không cấm hình phạt. Theo ý Người, ở đây có Thiên đường và ở đây có Địa ngục. Người không xua đuổi khổ đau và buồn tủi trong thế giới của Người. Bổn phận của Đấng tối cao là thể hiện lòng nhân từ không nhiều hơn mức cần thiết. Vậy con là ai mà ban phát ân huệ dồi dào đến thế. Đấy là thói kiêu ngạo. Con có nghĩ rằng nếu con cũng Thánh như thế, con có thể tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn không? Hãy nhớ rằng các thánh chỉ cần thầm thì nguyện cầu lên Chúa, ngay lập tức các ngài có thể làm được như ước muốn nhờ tấm lòng tử vì đạo của chính các ngài. Không, chúng ta chỉ theo đuổi bổn phận của giống người. Nếu không chúng ta còn có thể phạm những tội lỗi lớn đến mức nào. Chúng ta sẽ dâng thế giới này cho quỷ dữ mất. 
Nicole lặng thinh giận dữ, Valerious và Marcantonio mỉm cười. Astorre cúi đầu như thể đang cầu nguyện. 
Cuối cùng Nicole lên tiếng, “Ba ạ, ba cũng phù phiếm như một người dạy đạo đức vậy. Và chắc chắn ba không phải là tấm gương để noi theo. 
Một không khí im lặng kéo dài. Mỗi người ngồi đó với những hồi ức về mối quan hệ kỳ lạ của họ với ông Trùm. Nicole chẳng bao giờ quá tin vào những chuyện nàng đã nghe được về cha nàng, nhưng nỗi khiếp sợ chúng gây ra là có thật. Marcantonio nhớ là một trong các đồng nghiệp của gã tại đài truyền hình đã hỏi một cách lén lút 
– Ông già mày đối xử với mày và hai đứa kia ra sao? 
Cân nhắc câu hỏi một cách cẩn thận vì biết rằng tay này muốn ám chỉ đến oai danh của cha mình, Marcantonio đã trả lời hết sức nghiêm chỉnh, 
– Ông thân mật với tụi tao có cỡ. 
Valerious lại nghĩ cha gã giống với viên tướng cấp trên của gã đến nhường nào. Họ là những người sẵn sàng đạt tới mục đích mà không có bất kỳ một đắn đo nào về mặt đạo đức, không có bất kỳ nghi ngờ nào về bổn phận của mình. Những mũi tên lao đến mục tiêu của họ bao giờ cũng nhanh đến chết người và chính xác. 
Với Astorre thì lại khác. Ông Trùm luôn tỏ ra trìu mến và tin tưởng chàng. Chàng cũng là người duy nhất ngồi tại bàn ăn này biết rõ danh tiếng của lão là có thật. Chàng nhớ lại ba năm trước, khi chàng quay về sau những năm tháng tha hương của mình, lão đã hướng dẫn chàng cẩn thận. Lão bảo chàng 
– Một người ở tuổi ta có thể chết chỉ bởi vấp chân vào cửa hoặc bởi một cái nốt ruồi trên lưng, hay chỉ vì một gián đoạn nhịp đập trái tim mình. Thật lạ, con người ta chẳng thể nào biết được cái chết sẽ đến lúc nào trong đời mình. Cũng chả sao. Con người không cần có kẻ thù nhưng phải có dự định. Ta sẽ để cháu làm người thừa kế chính các nhà băng của ta. Lý do là thế này: có những tập đoàn nào đó muốn mua các nhà băng ấy, một trong số đó do tổng lãnh sự Peru chỉ đạo. Chính phủ Liên bang vẫn tiếp tục điều tra ta theo luật RICO nên người ta có thể chộp các nhà băng của ta. Thật là một việc làm mỹ mãn dành cho chúng. Chúng sẽ chẳng tìm thấy gì. Còn bây giờ, chỉ dẫn của ta cho cháu là không bao giờ được bán các nhà băng. Chúng sẽ càng sinh lời và mạnh hơn theo thời gian. Cũng theo thời gian, quá khứ sẽ bị quên lãng. 
– Nếu có gì không ổn xảy ra, cháu hãy gọi cho ngài Pryor đến giúp với tư cách một nhà quản lý. Cháu chưa biết rõ ông ấy. Một người rất có năng lực và được hưởng lợi quá nhiều từ các nhà băng, ông ấy trung thành với ta. Còn nữa, ta sẽ giới thiệu cháu với Benito Craxxi ở Chicago, một người có tiềm lực vô tận và cũng có lợi nhiều từ các nhà băng. Đó cũng là một người đáng tin cậy. Đồng thời, ta sẽ giao cho cháu một lĩnh vực kinh doanh phức tạp, đơn giản là để cháu điều hành và mang lại cho cháu một cuộc sống tốt đẹp. Với tất cả việc này, ta trao cho cháu trách nhiệm bảo đảm an toàn và cuộc sống sung túc cho các con ta. Đây là một thế giới tàn nhẫn và ta đã nuôi dạy chúng thành những người trong sạch. 
Ba năm sau, bây giờ đây Astorre đang suy ngẫm những lời này. Thời gian trôi qua và hiện tại những việc làm của chàng dường như không còn cần đến nữa. Thế giới của Dôn Aprile không thể sụp đổ. 
Nhưng Nicole chưa hoàn toàn kết thúc cuộc tranh luận. 
– Thế còn giá trị của lòng nhân từ? Nàng nói với cha. Cha có biết những người Cơ đốc giáo cổ vũ điều gì không? 
Ông Trùm trả lời không do dự 
– Lòng nhân từ là một sự yếu đuối, là khát vọng vươn tới những quyền lực mà ta không có được. Những kẻ thể hiện lòng nhân từ đã xúc phạm nạn nhân đến mức không thể tha thứ được, và đấy không phải là bổn phận của chúng ta trên trái đất này. 
– Vậy là ba đâu cần lòng nhân từ? Nicole hỏi. 
– Không cần, lão nói. Ba không tìm kiếm nó và cũng không cần đến nó. Nếu phải cần đến nó, ba sẽ chấp nhận hình phạt dành cho tất cả các tội lỗi của mình mất. 
Cũng tại bữa ăn này, đại tá Valerious Aprile mời cả gia đình tham dự buổi lễ lần đầu của cậu con trai mười hai tuổi tại New York sau đó hai tháng nữa. Vợ gã cứ năn nỉ phải tổ chức thật đàng hoàng tại nhà thờ họ. Việc nhận lời mời là một thay đổi mới trong tính cách của Ông Trùm. 
Và thế rồi vào một trưa chủ nhật lạnh giá tháng Mười hai sáng một màu chanh, gia đình Aprile lên đường tới Saint Patrick trên Đại lộ Năm, nơi ánh mặt trời lấp lánh in bóng ngôi nhà thờ lớn ấy xuống những đường phố xung quanh. Trùm Raymonde Aprle, Valerious cùng vợ, Marcantonio – người vẫn khao khát một chuyến đi ngắn, và Nicole lộng lẫy trong bộ đồ đen quan sát Đức Hồng y giáo chủ làm thánh lễ. 
Nhìn đám con trai bước vào tuổi dậy thì, đám con gái bước vào tuổi cập kê mặc áo dài trắng có những tua bằng lanh đỏ trang trí xung quanh đang bước xuống lối đi giữa các hàng ghế trong khi các thiên sứ bằng đá quan sát chúng, xác nhận chúng sẽ phụng sự Chúa đến hết đời quả là một niềm vui ngọt ngào và bí ẩn. Nicole ứa nước mắt dù nàng chẳng tin vào những gì Đức Hồng y đang nói. Nàng cười với chính mình. 
Bên ngoài thềm nhà thờ bọn trẻ cởi bỏ áo choàng để lộ ra những bộ quần áo được cất giữ lâu ngày. Đám bé gái mặc những bộ váy đăng ten trắng mỏng manh dệt theo kiểu mạng nhện. Đám bé trai trong những bộ vét màu đen, áo sơ mi trắng kết nơ đỏ trên cổ để xua đuổi quỷ dữ. 

Google photos

Trùm Aprile nổi bật trong nhà thờ, Astorre một bên, Marcantonio phía bên kia. Valerious và vợ đầy tự hào đang cầm chiếc áo dài của câu con trai, trong khi một tay phó nháy bấm nhanh kiểu ảnh. Ông Trùm bắt đầu bước xuống thềm một mình. Lão hít thở khí trời. Một ngày tuyệt đẹp. Lão thấy phấn chấn và tỉnh táo. Khi đứa cháu vừa được làm lễ bước lên ôm hôn lão, lão trìu mến xoa đầu nó và đặt vào lòng bàn tay nó một đồng tiền vàng lớn – món quà truyền thống trong ngày lễ này. Rồi với một bàn tay hào phóng, lão lấy từ trong túi áo khoác ra một nắm tiền vàng loại nhỏ hơn phát cho lũ trẻ. Lão lấy làm hài lòng bởi tiếng reo hò hân hoan của chúng, bởi được đến chính thành phố này, nơi có những tòa cao ốc bằng đá xám duyên dáng như những hàng cây. Lão đủng đỉnh một mình, chỉ có Astorre đi sau vài bước. Lão nhìn xuống bậc thềm lát đá phía trước rồi dừng lại trong giây lát. Đúng lúc đó một chiếc xe màu đen to tướng đõ xịch lại cứ như để đón lão vậy. 
Sáng chủ nhật đó, ở Brightwaters, Heskow dậy sớm rồi đi nhận tin và báo, Y giấu chiếc xe đánh cắp vào gara, một chiếc xe du lịch màu đen to đùng chất đầy súng, mặt nạ và thùng đạn. Y kiểm tra lốp xe, đầu máy và đèn chiếu hậu. Tất cả đều hoàn hảo. Y quay gót vào nhà để đánh thức Franky và Stace, nhưng rõ ràng chúgn đều đã dậy và Stace đã pha xong cà phê. 
Chúng lặng lẽ ăn sáng và đọc tờ New York Times. Franky kiểm tra điểm số của đội bóng trường đại học. 
Vào lúc 10 giờ Stace hỏi Heskow 
– Xe sẵn sáng chưa? 
Và Heskow trả lời 
– Tất cả đã sẵn sàng. 
Chúng lên xe phóng đi. Franky ngồi băng ghế trước cùng Heskow, Stace ngồi băng sau. Vào thành phố mất đứt một tiếng đồng hồ nữa. Điều quan trọng là phải đúng giờ. 
Trên xe Franky kiểm tra lại súng. Stace đeo thử một chiếc mặt nạ, những quả đạn màu trắng đục được cột chặt vào đầu những sợi dây để chúng có thể quấn quanh cổ cho đên khi phải gỡ ra vào thời điểm cuối cùng. 
Trên đường vào thành phố chúng nghe Opera qua radio. Heskow là một tài xế tuyệt hảo, thận trọng, vững vàng, không phóng nhanh vượt ẩu. Y luôn chừa một khoảng trống vừa phải ở truớc và sau xe. Stace lầm rầm thán phục làm vơi bớt một phần căng thẳng. Bọn chúng đều căng thẳng nhưng không hề lo lắng. Chúng biết chúng phải hoàn thành. Chúng không thể sai sót. 
Heskow lái xe từ từ len lỏi qua thành phố. Hình như y đều bắt kịp mỗi lần đèn xanh. Sau đó y rẽ vào Đại lộ Năm và dừng xe tại một nửa dãy nhà tính từ cửa lớn của nhà thờ. Chuông nhà thờ bắt đầu rung, âm thanh vang dội vào những tòa nhà chọc trời xung quanh. Heskow khởi động lại động cơ. Cả ba tròn mắt nhìn đám trẻ đang ùa ra đường phố. Điều này làm chúng lo lắng. 
Stace thì thầm, 
– Franky, bắn vào đầu nhé. 
Rồi chúng thấy Trùm Aprile bước ra đi vượt lên trước đám đông. Lão bắt đầu bước xuống thềm. Hình như lão nhìn thẳng vào bọn chúng. 
– Mặt nạ, Heskow ra lệnh. Y nhẹ nhàng tăng tốc, còn Franky đặt tay lên chốt cửa. Tay trái gã lăm lăm khẩu Uzi, sẵn sàng phóng xuống vỉa hè. 
Chiếc xe tăng tốc và dừng phắt lại khi Trùm Aprile xuống đến bậc thềm cuối cùng. Stace lao từ băng ghế sau xuống đường, chiếc xe nằm giữa gã và mục tiêu. Bằng một cử động mau lẹ gã kê súng lên nóc xe. Gã bắn bằng cả hai tay. Và chỉ xiết cò hai lần. 
Viên đạn thứ nhất găm chính giữa trán Ông Trùm. Viên thứ hai xé toang cổ họng lão. Mãu lão phun ra khắp vỉa hè, rải những giọt hồng lên ánh nắng vàng.
Cùng lúc đó Franky, vẫn đứng trên hè phố, bắn một loạt đạn dài từ khẩu Uzi của gã qua đầu đám đông. 
Sau đó cả hai nhảy lên xe và Heskow rú ga lao đi. Vài phút sau chúng đã phóng qua đường hầm để tới một sân bay nhỏ, ở đó một máy bay phản lực của tư nhân đang chờ đưa chúng ra nước ngoài. 
Khi tiếng súng thứ nhất vang lên, Valerious xô vợ con xuống đất và lấy thân mình che cho họ. Đúng là gã không biết chuyện gì đang xảy ra. Nicole cũng vậy. Nàng kinh hãi nhìn cha. Marcantonio nhìn xuống mà không thể nào tin được. Thực tế này khác hẳn với những hư cấu cho sàn diễn trong những thảm kịch trên TV của gã. Phát đạn bắng vào trán cha gã đã bửa đôi đầu lão như bửa một quả dưa đến nỗi có thẻ thấy óc và máu sóng sánh bên trong. Phát đạn bắn vào cổ lão thì cắt phăng ra một tảng thịt lởm chởm đến nỗi nom lão cứ như thể bị chém bởi một con dao hàng thịt. Và cơ man nào là máu trên vỉa hè quanh xác lão. Nhiều máu hơn người ta có thể tưởng tượng trong cơ thể một con người. Marcantonio nhìn thấy hai gã đàn ông đeo mặt nạ, thấy cả súng trên tay chúng, song gã như bị tê liệt vì cú sốc. Thậm chí còn không thể nói được chúng là da đen hay da trắng, cởi truồng hay mặc quần áo đàng hoàng. Chúng hẳn phải cao đến mười bộ chứ chẳng chơi. 
Trái lại, Astorre đã cảnh giác ngay khi chiếc xe du lịch màu đen dừng lại. Chàng thấy Stace khai hỏa và cho rằng gã bóp cò bằng tay trái. Chàng cũng thấy Franky khai hỏa khẩu Uzi và gã này rõ ràng thuận tay trái. Chàng nhớ đã thoáng thấy gã lái xe, một kẻ có cái đầu trông nặng nề. Hai tay súng di chuyển với vẻ lẹ làng của những vận động viên được huấn luyện tốt. Lúc nhảy xuống vỉa hè, chàng đã vươn tay để kéo Trùm Aprile nằm xuống với chàng nhưng chàng chậm chưa đầy một giây. Và bây giờ người chàng đẫm máu lão. 
Sau đó chàng thấy bọn trẻ di chuyển như một cơn lốc kinh hoàng, tâm cơn lốc là một dấu chấm đỏ to tướng. Bọn trẻ đang gào thét. Chàng thấy Aprile nằm vắt trên thềm như thể cái chết đã rút đi bộ xương của lão. Và chàng cảm thấy hãi hùng về tất cả những gì có thể đến với chàng, đến với những người chàng yêu thương nhất. 
Nicole bước tới đứng bên xác cha. Gối nàng khuỵu xuống trái với ý muốn của nàng. Và nàng quỳ bên cha. Trong im lặng nàng đưa tay chạm vào cái cổ đẫm máu của cha. Rồi nàng khóc, tựa hồ nàng sẽ khóc như thế này mãi mãi.

——————————–

1Pro bono: làm dịch vụ chuyên môn thuần túy (không phục vụ mục đích từ thiện hay lợi ích công cộng).


Luật Im Lặng

vietmessenger.com

Mario Puzo

Dịch giả: Lương Lê Giang

Post by Sơn râu 24 Jun 2024

Mở đầu 1967

Luật im lặng (Omertà) Là luật danh dự của người Sicily cấm tố giác những hành động tội lỗi của những người liên quan.
World Book Dictionary.


Tại làng Castellammare del Golfo trông ra Địa Trung Hải u ám, ông Trùm đang hấp hối. Vincenzo Zeno nổi tiếng trọng danh dự, luôn được mọi người gần xe yêu mến bởi sự phân xử công bằng và sự giúp đỡ dành cho những ai cần được giúp đỡ, và cả việc trừng phạt không khoan nhượng với những ai đáng bị trừng phạt. 
Quanh lão đang có ba trong số những thuộc hạ cũ, những người đã giúp lão đạt tới quyền lực và vị trí của mình: Raymonde Aprile đến từ Sicily và New York, Octavious Biauco đến từ Palermo, và Bentino Craxxi đến từ Chicago. Cả ba đều biết ơn lão vì ân huệ cuối cùng này. 
Trùm Zeno là kẻ cuối cùng trong số các ông trùm mafia chính thống suốt đời tuân thủ các tập tục cũ. Lão bòn rút thuế đánh vào tất cả các hoạt động kinh doanh, nhưng không dính đến ma túy, đĩ điếm hay các tội lỗi bất kỳ nào khác. Chẳng khi nào một kẻ bần hàn tới nhà lão xin tiền phải ra về tay không. Lão sửa lại những bất công của pháp luật- tòa thượng thẩm ở Sicily có thể đưa ra phán quyết của mình, nhưng nếu bạn đúng, Trùm Zeno sẽ phủ quyết phán quyết đó bằng sức mạnh ý chí của chính lão và bằng cả vũ lực nếu cần. 
Không một chàng Sở Khanh nào có thể quất ngựa truy phong sau khi đã tòm tem con gái của một nông dân nghèo, nếu đã được Trùm Zeno thuyết phục tiến tới hôn nhân. Không một nhà băng nào đang tâm xiết nợ một nông dân thất cơ lỡ vận nếu đã được Trùm Zeno nói chuyện phải quấy. Không một chàng trai trẻ nào khao khát học lên đại học lại bị chối bỏ chỉ vì thiếu tiền hay gặp hoàn cảnh khó khăn nào khác. Nếu người ta có quan hệ với cosca 1 của lão thì mọi mơ ước đều trở thành hiện thực. Luật lệ từ Roma không chạm tới được những truyền thống của Sicily. Ở đây Trùm Zeno chính là luật lệ. 
Nhưng bây giờ ông Trùm đang sang tuổi tám mươi, và vài năm qua quyền lực của lão đã bắt đầu suy yếu. Lão có nhược điểm là kết hôn với một cô gái trẻ đẹp. Cô nàng đã đúc cho lão một bé trai kháu khỉnh. Nàng chết khi sinh nở, còn chú nhóc thì giờ đã lên hai. Lão đang phải cân nhắc về tương lai của nó vì biết rằng phút lâm chung đang đến gần, và rằng thiếu lão thì cái cosca này sẽ bị các cosca mạnh hơn của bọn Corleone và Clericuzio nghiền nát. 
Bây giờ lão cảm ơn ba anh bạn bồ tèo vì sự giúp đỡ và lòng kính trọng mà họ đã thể hiện khi vượt ngàn trùng tới đây để nghe lời trăng trối của lão. Rồi lão nói với cả ba rằng lão muốn thằng con bé bỏng của lão, Astorre, được đưa đến một nơi an toàn, được nuôi dạy trong những hoàn cảnh khác nhưng phải bảo đảm truyền thống của một người trọng danh dự như chính lão. 
– Ta có thể chết với lương tâm thanh thản, lão nói, tuy nhiên đám bạn bồ tèo của lão biết tỏng sinh thời lão đã làm hàng trăm người mất mạng, nếu ta thấy con ta tới được nơi an toàn. Trong thằng bé mới hai tuổi đầu này ta thấy trái tim và tâm hồn của một Mafioso 2 chính thống, một phẩm chất hiếm hoi và hầu như đã mất. 
Lão nói với họ rằng sẽ chọn một trong số họ làm giám hộ cho đứa con đặc biệt của lão, và với trọng trách này, sẽ có những phần thưởng lớn. 
– Chuyện này đến lạ, Trùm Zeno nói, nhìn đăm đăm qua đôi mắt mờ đục. Theo tục lệ, đứa con cả phải là một mafioso thực thụ. Nhưng với ta, phải đến khi vào tuổi tám mươi ta mới có thể biến ước mơ thành hiện thực. Ta không phải là một người mê tín, nhưng nếu phải, ta tin rằng thằng bé được sinh ra từ chính mảnh đất Sicily này. Mắt nó xanh như quả ô liu trên những cây tốt nhất của ta. Nó có tính nhạy cảm của người Sicily – lãng mạn, say mê âm nhạc, vui vẻ. Tuy nhiên, nếu kẻ nào xúc phạm nó, nó sẽ không quên, dù còn nhỏ tuổi. Nhưng nó phải được chỉ bảo. 
– Vậy ngài muốn gì ở chúng tôi, thưa Don Zeno? Craxxi hỏi. Tôi sẽ rất vui được mang cậu nhà đi và nuôi nấng cậu ấy như con đẻ. 
Bianco tức tối lườm Craxxi, Tôi biết cậu bé từ lúc cậu ấy được sinh ra. Cậu ấy quen thuộc với tôi. Tôi sẽ coi cậu ấy như con tôi. 
– Thế còn chú, Raymonde? Trùm Zeno hỏi. 
Aprile đáp 
– Nếu ngài chọn tôi thì con ngài là con tôi. 
Ông Trùm cân nhắc cả ba, tất cả đều là những người bạn quý giá. Dù mỗi người mỗi vẻ Craxxi thông minh nhất, Branco chắc chắn có tham vọng và năng động nhất. Aprile tự chủ hơn, gần gũi với lão hơn. Nhưng y là kẻ nhẫn tâm. 
Ngay cả trong phút lâm chung Trùm Zeno vẫn hiểu rằng người cần cho cậu bé chính là Aprile. Y sẽ hưởng lợi nhiều nhất qua tình yêu con trẻ, và bảo đảm y sẽ dạy con trai lão học được cách tồn tại trong cái thế giới phản trắc của chúng. 
Trùm Zeno im lặng một lúc lâu. Cuối cùng lão nói, 
– Raymonde, chú sẽ là cha nó. Ta có thể ra đi thanh thản được rồi. 
Đám tang thật xứng với một ông Trùm. Tất cả các trùm cosca ở Sicily đều đến bày tỏ lòng kính trọng của mình, thêm vào đó còn có văn phòng bộ trưởng từ Roma, các chủ nhân của latifundia đồ sộ, và hàng trăm thần dân của cái cosca rộng lớn của lão. Trên đỉnh xe tang là cậu bé lên hai Astorre Zeno, một đứa bé có đôi mắt nẩy lửa mặc áo dài đen, đội mũ trùm đen, uy nghi như một hoàng đế La mã. 
Đức hồng y giáo chủ Palermo chủ trì tang lễ cất tiếng ca tụng 
Khi ốm đau cũng như khi khỏe mạnh, khi bất bạnh cũng như khi tuyệt vọng, Don Zeno vẫn là một người bạn đích thực của tất cả mọi người. Rồi cha ngân nga những lời cuối cùng của Trùm Zeno, con gửi gắm mình cho Chúa. Người sẽ tha thứ cho những tội lỗi của con vì con đã sám hối từng ngày để xứng đáng được người soi xét. 
Và thế là Astorre Zeno được Raymonde Aprle đưa sang Mỹ và trở thành thành viên trong gia đình Aprile.

Chương 1

Khi hai anh em sinh đôi nhà Sturzo, Franky và Stace, quẹo vào con đường dẫn tới nhà Heskow, chúng thấy bốn thiếu niên cao lêu đêu đang chơi bóng rổ trên sân bóng nhỏ cạnh nhà. Franky và Stace xuống xe, một chiếc buick to đùng, và Heskow bước ra đón chúng. Y là đứa cao lớn, hình trái lê. Mái tóc thưa của y khoanh tròn gọn ghẽ trên đỉnh cái đầu hói, còn cặp mắt xanh ty hý của y long lanh. 
– Thật đúng lúc, y nói, Tao muốn tụi mày gặp một người. 
Trận đấu bóng tạm dừng. Heskow nói đầy hãnh diện, 
– Đây là Jocko, con trai tao. Đứa cao nhất trong đám thiếu niên chìa bàn tay to bè về phía Franky. 
– Ê, Franky nói, Đấu với bọn tao một hiệp chứ? 
Jocko nhìn hai ông khách. Họ cao khoảng sáu bộ và có vẻ khỏe mạnh. Cả hai mặc sơmi cổ lọ hiệu Ralph Lauren một màu đỏ, một màu xanh, quần kaki và giày đế cao su. Họ là những kẻ dễ gần, bảnh trai, khuôn mặt cương nghị toát lên vẻ tự tin lịch thiệp. Rõ đây là hai anh em nhưng Jocko không biết hai ông khách này là anh em sinh đôi. Cậu đoán họ mới ngoài bốn mươi. 
– Được ạ, Jocko đáp với vẻ hồn nhiên con trẻ. 
Stace cười toe toét, 
– Hay lắm. Bọn tao vừa vượt qua ba ngàn dặm nên cũng cần thư giãn chút đỉnh. 
Jocko ra hiệu cho các bạn, tất cả đều cao trên mét tám và nói: 
– Chúng nó về bên cháu, đấu với ba người bên các chú. Vì cậu là người chơi tốt hơn nên cậu nghĩ chia phe như thế này sẽ cho những người bạn của cha cậu một cơ hội. 
– Nương tay thôi nhé, John Heskow bảo bọn trẻ. 
– Các chú ấy chỉ là những anh già đang tiêu phí thì giờ vào những việc với vẩn thôi. 
Lúc đó là giữa chiều một ngày tháng 12 và không khí lạnh đủ để cần hâm lại bầu nhiệt huyết. Ánh mặt trời Long Island lạnh lẽo, vàng nhạt hắt xuống từ những mái vòm thủy tinh và những bức tường của dãy nhà trồng hoa của Heskow, lĩnh vực kinh doanh bề ngoài của y. 
Đám bạn của Jocko phấn chấn thi đấu làm vui lòng cánh người lớn. Nhưng bất thình lình Franky và Stace lao vèo qua đám trẻ để ném bóng vào rổ. Jocko kinh ngạc về tốc độ của hai gã. Thế rồi chúng lại không ném rổ mà chuyền trái bóng cho cậu. Những vị này không ném trật đâu. Đây có lẽ là một cử chỉ thân thiện. 
Các cậu bé bắt đầu sử dụng chiều cao của mình để vượt qua phe người lớn, nhưng lạ thay chúng chỉ có được vài lần đập bóng. Cuối cùng, một trong số các cậu bé mất tự chủ đã tặng Franky một củi trỏ ra trò vào giữa mặt. Ngay lập tức cu cậu lăn ra đất. Chứng kiến từ đầu, Jocko vẫn không biết việc này xảy ra như thế nào. Nhưng rồi Stace đập trái bóng vào đầu ông em nói: 
– Thôi nào, chơi đi, mày ngu quá. 
Franky đỡ chú nhóc đứng lên, vỗ vào mông chú làm lành 
– Này, tao xin lỗi. Cả bọn chơi khoảng hơn năm phút nữa thì bỏ cuộc. 
Heskow mang soda ra sân bóng cho cả bọn. Các chú nhóc vậy quanh Franky, kẻ có tài năng siêu phàm và đã chứng tỏ những kỹ năng nhà nghề trên sân. Franky ôm chặt cậu bé gã vừa hạ đo ván. Gã hiện nguyên hình là một kẻ bông lơn, khuôn mặt xương xẩu của gã trở nên dễ chịu. 
– Cho phép tao dành cho tụi mày vài lời khuyên của một người lớn tuổi, gã nói, Đừng khi nào dẫn bóng khi tụi mày có thể chuyền. Đừng bỏ cuộc khi tụi mày đang bị dẫn điểm, và đừng bao giờ đi chơi với một ả đàn bà có hơn hai cái mồm. 
Bọn trẻ phá lên cười. 
Franky và Stace bắt tay chúng, cảm ơn chúng vì cuộc chơi rồi theo gót Heskow vào một căn nhà màu xanh xinh xắn. Jocko gọi với theo, 
– Này, các chú cừ thật đấy! 
Trong nhà, Heskow dẫn hai gã lên lầu, về phòng của chúng. Căn phòng có cánh cửa nặng nề và ổ khóa chắc chắn. Cả hai ngó nghiêng quan sát trong lúc Heskow để chúng vào và khóa trái cửa lại. 
Căn phòng rất rộng, như cả một căn hộ, có phòng tắm riêng, hai giường đơn – Heskow biết hai anh em này thích ngủ chung phòng. Ở góc tường kê chiếc hòm lớn gắn đai thép với ổ khóa tổ bố bằng kim loại. Heskow dùng chìa khóa mở hòm rồi đẩy bật nắp hòm lên. Lộ ra trước mắt vài khẩu súng ngắn, súng tự động, hộp đạn. Trông y như các khối hình học màu đen. 
– Được chứ? Heskow hỏi. 
– Tao không thấy nòng giảm thanh, Franky nói. 
– Tụi mày đâu có cần đến nòng giảm thanh cho việc này. 
– Tốt thôi, Stace nói, Tao cũng ghét ba cái thứ giảm thanh đó lắm. Có nó tao đếch làm nên trò trống gì. 
– OK, Heskow nói. Tắm táp rồi nghỉ ngơi đi. Tao sẽ tống tiễn lũ nhóc và nấu bữa khuya. Ê, tụi mày thấy thằng con tao thế nào hả? 
– Một thằng bảnh đấy, Franky nhận xét. 
– Tụi mày có khoái cái cách nó chơi bóng không? Heskow hỏi với một niềm tự hào không giấu giếm, nó càng làm y giống với một quả lê chín hơn. 
– Một thằng đặc biệt, Franky nói. 
– Stace, mày nghĩ sao?, Heskow hỏi. 
– Rất đặc biệt, Stace trả lời. 
– Nó được một suất học bổng tại Villanova, Heskow khoe, NBA cơ đấy. 
Lát sau, khi quay xuống phòng khách, hai anh em Sturzo thấy Heskow đang ngồi chờ chúng. Y đã chuẩn bị mót thịt bê rán với nấm và salad trộn. Một chai vang đỏ để trên một bàn ăn dọn cho ba người. 
Cả bọn ngồi vào bàn. Chúng là chỗ bạn bè thân thiét và biết rõ về nhau. Heskow đã ly dị mười ba năm. Cô vợ cũ và Jocko sống cách đây vài dặm về phía tây, ở Babylon. Nhưng phần lớn thời gian Jocko ở đây, và Heskow là một người cha tận tụy hết lòng vì con. 
– Tụi mày phải lên đường vào sáng mai, Heskow mở đầu. Nếu biết trước rằng sẽ đến hôm này thì sao đã tống thằng nhóc đi chỗ khác. Đến lúc mày phôn tới thì tao chịu, không thể xua nó và lũ bạn nó đi đâu được nữa. 
– Không sao đâu, Franky nói. Nhằm nhò mẹ gì. 
– Với lũ nhóc ngoài kia thì tụi mày cừ lắm. Song có lúc nào tụi mày tự hỏi liệu có chơi ngang ngửa được với cánh nhà nghề không? Heskow nói. 
– Không, Stace nói. Tui tao quá thấp, chỉ cao có 6 bộ. Những trái cà tím ấy quá to so với tụi tao 
– Đừng có nói như thế trước mặt tụi nhóc, Heskow nói, ghê bỏ mẹ. 
Heskow thư giãn, nhấm nháp từng ngụm rượu. Y lúc nào cũng thích làm việc với anh em Sturzo. Cả hai đều thích bông lơn, không đến nỗi xấu xa như phần lớn đám cặn bã mà y phải giao du. Chúng tận hưởng sự thanh thản trong cái thế giới phản ánh những lọc lừa giữa chúng với nhau. Chúng vững vàng và điều đó đem lại cho chúng một cảm giác thú vị. 
Ba đứa ăn chậm rãi, uể oải. Heskow cầm chảo đổ thẳng thức ăn vào đĩa của bọn chúng. 
– Tao muốn hỏi, Fraky quay sang Heskow. Tại sao mày lại đổi tên hả? 
– Chuyện đó xưa rồi, Heskow nói. Tao đâu có xấu hổ khi là một người Italy. Nhưng tụi mày biết đấy, tao lại giống một thằng Đức chó chết. Tóc vàng hoe, mắt xanh và cả cái mũi này nữa. Việc tao mang một cái tên Italy đúng là đáng nghi còn gì. 
Hai thằng anh em sinh đôi phì cười, tiếng cười thoải mái và cảm thông. Chúng lạ gì bụng cha nội này đầy cứt, nhưng chúng cóc cần. 
Khi chúng ăn xong món salad trộn Heskow tiếp thêm cafe đặc và một đĩa bánh ngọt kiểu Italy. Y mời xì gà nhưng hai thằng từ chối. Chúng chỉ hút Marlboros, loại này hợp với những cái mặt miền Tây đầy nếp nhăn của chúng. 
– Đến lúc bàn công việc rồi đấy”, Stace lên tiếng. Đây hẳn phải là một việc ra trò nếu không việc đéo gì tụi tao phải lái xe ba ngàn dặm đường? Tụi tao có thể đi máy bay cơ mà. 
– Cũng không tệ đến thế, Franky nói. Tao khoái đi xe. Tụi mình được xem nước Mỹ, xem trực tiếp, sờ vào được. Tụi mình có một khoảng thời gian vui vẻ. Dân tỉnh lẻ thế mà hay ra phết. 
– Hết sảy ấy chứ, Stace nói. Nhưng gì thì gì đó vẫn là một chuyến đi dài. 
– Tao không muốn để lại bất kỳ một dấu vết nào tại phi trường, Heskow tiếp tục. Đấy là nơi đầu tiên sẽ bị kiểm tra. Cớm sẽ được tăng cường đến đó. Các cha nội vẫn dè chừng cớm đấy chứ? 
– Đừng có mà dọa tao. Stace vặc lại. Còn bây giờ mày nói đi, nó là thằng đéo nào? 
– Trùm Raymonde Aprile, khi thốt ra cái tên đó Heskow gần như nghẹt thở trong món cafe đậm đặc của y. 
Một không khí im lặng kéo dài, rồi Heskow lần đầu tiên nhận ra cái chết lạnh người mà hai thằng sinh đôi vừa để lộ. 
Franky hỏi nhỏ 
– Mày bắt tụi tao đi ba ngàn dặm để lãnh cái án tử hình này sao? 
Stace cười với Heskow và nói 
– John, thật hân hạnh được biết mày. Bây giờ hãy trả thuế sát sinh để tụi tao còn lên đường. Cả hai anh em nhà Sturzo cười khằng khặc vì câu đùa đó, còn Heskow vẫn tỉnh bơ. 
Một trong số những đứa bạn của Franky ở Los Angeles, một văn sĩ tự do, đã có lần giảng giải cho anh em gã rằng người ta không cần mua cả kho đạn. Để giết một mạng người chỉ cần trả một khoản lệ phí thỏa thuận là đủ. Anh em gã thấm nhuần thực tế đó. Chúng ra giá chỉ để nghe ngóng một thỏa thuận. Lần này, tính cả chi phí đi đường và cả hai đứa cùng tham gia, lệ phí giết mướn là hai mươi ngàn đô la. 
Dẫu vậy, thuyết phục chúng nhận nhiệm vụ đâu phải dễ. 
– Lão Trùm về hưu ba năm rồi, Heskow nói. Tất cả các mối làm ăn cũ của lão đang nằm bóc lịch. Lão đâu còn quyền hành gì. Người duy nhất có thể gây rắc rối là Timmona Portella, nhưng ông ta sẽ không động tay. Thù lao của tụi mày là một triệu đô. Một nửa được trả khi xong việc, nửa còn lại được trả trong một năm. Nhưng trong năm đó tụi mày phải nằm yên. Bây giờ mọi việc đã xong. Tất cả những gì tụi mày phải làm chỉ là bóp cò. 
– Một triệu đô, Stace thảng thốt. Đó là món tiền lớn. 
– Khách hàng của tao biết đây là bước đi quan trọng để dập Trùm Aprile, Heskow nói tiếp. Nó cần một sự trợ giúp tốt nhất. Những tay súng lạnh lùng và những cộng sự thầm lặng có đầu óc. Tụi mày đơn giản là những thằng cừ nhất. 
Franky nói 
– Cũng chẳng mấy thằng chấp nhận mạo hiểm. 
– Ừ, Stace vào hùa. Mãy sẽ phải sống với nó suốt quãng đời còn lại của mày. Một thằng cứ lẵng nhẵng bám theo mày, đấy là chưa kể cớm và tụi FBI nữa. 
– Tao hứa với tụi mày, Heskow nói Cớm New York sẽ chẳng ra khỏi nhà. Bọn FBI cũng không thèm động chân động tay. 
– Thế còn đám bồ cũ của lão Trùm ? Stace hỏi. 
– Người chết không có bạn. Heskow dừng lại một lát. Lúc về hưu lão đã cắt đứt mọi quan hệ. Có đếch gì mà phải lo. 
Franky quay sang Stace, chẳng buồn cười lắm sao, trong tất cả các hợp đồng của tụi mình người ta luôn nói chẳng có gì phải lo lắng cả. 
Stace phá lên cười. 
– Thì cái bọn nói câu đó có phải bóp cò súng đâu. John, mày là chỗ bạn bè, tụi tao tin mày. Nhưng nếu mày nhầm thì sao? Ai cũng có thể nhầm lẫn. Sẽ ra sao nếu lão Trùm vẫn còn bạn bè cũ ? Mày biết lão phản kích thế nào rồi. Đừng hòng có khoan dung. Tụi tao sẽ bị đóng đinh, tụi tao không chỉ bị giết. Thêm nữa, gia đình tụi tao sẽ lên giàn thiêu tho luật của lão. Có nghĩa là thằng con mày không thể thi đấu cho NBA ở dưới mồ được. Có lẽ tụi tao cần phải biết ai đang trả tiền cho vụ này. 
Heskow nghiêng người qua phía chúng. Nước da trắng của y đỏ ửng cứ như thể y đang xấu hổ. 
– Tao không thể nói với tụi mày được. Tụi mày biết thế mà. Tao chỉ là người mối lái. Và tao cũng đã nghĩ tới tất cả những điều cứt đái khác. Tụi mày nghĩ tao là một thằng chó chết ngu xuẩn hay sao ? Có đứa nào không biết Trùm Aprile là ai không ? Nhưng lão hết đường rồi. Tao có được bảo đảm từ thượng đỉnh. Cảnh sát sẽ chỉ làm chiếu lệ. FBI không thể điều tra được. Còn các trùm Mafia sẽ không can thiệp. Chắc chắn đấy. 
– Nằm mơ tao cũng chưa khi nào thấy Trùm Aprile sẽ là một trong số các nạn nhân của tao, Franky nói. Việc giết một người đáng sợ và đáng kính đến thế đã chạm đến bản ngã của gã. 
– Franky, đây đâu phải là một trận bóng, Stace lên tiếng cảnh báo. Nếu tụi mình thất bại, tụi mình sẽ không còn vẫy tay và ra khỏi sân thi đấu được. 
– Stace, những một triệu đô cơ mà, Fraky nói. Mà John đời nào chịu để tụi mình hỏng việc. Nào, làm tới đi. 
Stace cảm nhận được nỗi kích động của chúng. Quỷ tha ma bắt. Gã và Franky có thể tự lo được cho mình. Sau cùng, lại còn một triệu đô. Thực ra Stace còn vụ lợi hơn Franky, máu ăn thua hơn và một triệu đô làm gã sôi lên. 
– OK, Stace nói. Tụi tao nhận vụ này. Xin chúa rủ lòng nhân từ cho linh hồn chúng con nếu chúng con đắc tội. Đã có thời gã là một cậu bé giúp việc làm thánh lễ trong nhà thờ. 
– Ngộ nhỡ lão Trùm đang bị FBI để mắt đến thì sao ? Franky hỏi. Tụi mình có phải lo chuyện đó không? 
– Không, Heskow trả lời. Khi tất cả đám bồ bịch của lão vào khám, lão về hưu như một người đáng kính. FBI đánh giá cao việc đó. Chúng để lão được yên. Tao bảo đảm mà. Bây giờ hãy để tao trình bày. 
Y mất đứt nửa tiếng đồng hồ đẻ trình bày kế hoạch một cách chi tiết. 
Cuối cùng Franky hỏi: Khi nào? 
– Sáng chủ nhật, Heskow nói. Hai ngày đầu tụi mày ở đây. Sau đó một máy bay tư nhân sẽ đưa tụi mày rời khỏi Newark. 
– Tụi tao cần phải có một tay xế giỏi, Stace đề nghị. Loại đặc biệt ấy. 
– Tao sẽ lái, Heskow nói, rồi y bổ sung thêm, giọng đầy nuối tiếc. Đây là một ngày hội phát lương. 
Cho đến hết kỳ nghỉ cuối tuần, Heskow trông nom anh em nhà Sturzo, nấu cho chúng ăn, chạy những việc vặt cho chúng. Y không phải loại người dễ bị gây ấn tượng, nhưng hai thằng Sturzo thỉnh thoảng lại làm y lạnh sống lưng. Chúng giống loài rắn độc, đầu óc lúc nào cũng tỉnh táo. Được cái chúng hợp tính nhau và thậm chí còn giúp y chăm sóc hoa hoét trong khu nhà kính. 
Hai đứa chơi bóng theo kiểu một chọi một ngay trước bữa ăn khuya còn Heskow say mê quan sát cách chúng uốn mình vờn nhau như loài rắn. Franky nhanh nhẹn hơn và là một tay thiện xạ. Stace không được như thế nhưng lại thông mình hơn. Franky lẽ ra đã có thể gia nhập NBA, Heskow nghĩ bụng. Nhưng đây không phải là một trận bóng rổ. Trong một trận đấu thực sự, kẻ có mặt hẳn phải là Stace. Hắn sẽ là tay súng quan trọng nhất.

——————————–

1Cosca: nhóm bè đảng (mọi chú thích đều của người dịch).
2Mafioso:thành viên mafia.





Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 24 Jun 2024

Google photos

Phần 39

Lấy Franchini. Đem Tư Nhị về làm em nuôi. Một lời nói “sát thủ giản” 1

Lúc công tử B. đưa tôi lại hãng lựa mua xe thì một anh chàng hảo ngọt Tây đã “mi lai nhãn khứ” với tôi và chíp để bụng rồi mà tôi nào dè! Kể ra anh Tây nầy là tay háo sắc số một. Y ta có một người anh làm giáo sư dạy khoa học tại trường Chasseloup và kẻ viết bài nầy đã từng thọ giáo, ông tên Franchini, và báo Tiếng Dội vì sợ kiện tụng, đã đổi gọi Mr. Franch, khiến nhiều người lạc lối. Franchini em, tiên khởi đứng bán xe hơi cho hãng Bainier, hãng nầy ở gần nhà thị sảnh đô thành, nay văn còn duy thay tên khác ở góc đường kinh lấp Charner xưa. Khi phân tay thôi làm bạn với tôi, va lấy vợ một nhà viết báo chữ lang sa, tên Khai, anh ta xuống làm rể cho một ông đốc phủ triệu phú ở châu thành Mỹ Đạo chịu cực chịu khó còn hơn “ở rể cố công Việt” rất nhiều, tỷ dụ như Tây chính cống mà hạ mình bưng ống nhổ ra cho mẹ vợ, tuy vợ đốc phủ, mà là một bà già trầu, nhổ nước miếng đỏ lòm cổ trầu, nước cốt trầu ghê tởm, nhưng khi mua được lòng tin của gia đình bên vợ, va sống nhờ số vốn bên vợ tạo lập và khai thác một khách sạn quan trọng nhứt xưa nay tại Sài Gòn, vốn là của ông hoàng mất ngôi vua le comte de Paris xây dựng để có chỗ làm ăn cho một bà thiếp Pháp và làm cho ngài một chỗ nghỉ chân mỗi khi ông qua đây săn voi bắn cọp, ấy là lục địa khách sạn Continental, nay còn sưng sưng gần nhà hát lớn đường Đồng Khởi. Trước năm Giải phóng, làm ăn phát đạt, kiếm được đủ số một triệu bạc (1.000.000$00), Franchini có thiết một tiệc trọng thể ăn mừng “le premier million” (triệu bạc lời lần đầu).

Anh B. bị kẹt nằm khám lớn vì tội không tiền trả nợ bị chủ nợ bắt “giam thâu” chờ có tiền trả sẽ trả tự do cho chàng. Tôi bơ vơ bối rối phải về với anh Franchini nầy, bỗng một hôm buồn quá tôi thả cu ky lại rạp chớp bóng Cầu Muối, gọi rạp ông Bầu Nịnh (Lương Khắc Ninh) giải muộn. Phim đang diễn, bỗng tôi nghe từ đàng sau lưng tiếng thanh tao mời mọc:

– Mời cô Ba hút với em một điếu thuốc!

Vì phép lịch sự xã giao, tôi đáp nho nhỏ:

– Cám ơn cô, tôi không biết hút thuốc!

Bỗng cô kia nói tiếp và rất rõ:

– Thôi mà, cô Ba! Hút cho em một điếu để làm quen mà? Tại cô chưa biết tôi, chớ tôi biết cô đã từ lâu. Má tôi thường nhắc đến tên cô hoài hoài và thường dạy tôi: “Thà làm đĩ, ra chơi bời như cô mới đáng gọi là gái ngoan!”

Trời đất ôi, thiệt là một câu sét đánh bưng tai không kịp? Dè làm vầy, ở nhà mà hay hơn, đi coi hát làm chi, để nghe chửi một tiếng nóng phừng da mặt không kịp đỡ! Cả mấy người ngồi gần đều day lại dòm, mặt càng thêm nóng. Tôi bực quá, mặc dầu phim còn một đoạn nữa mới dứt, tôi đứng dậy ra về, ra tới xe chưa kịp leo lên, thì cô gái mời hút thuốc cũng vừa ra theo, nhảy phóc lên xe không đợi mời và nói tỉnh bơ:

– Nhà cô Ba ở đâu, cho tôi về theo với!

Tôi lấy giận làm vui, nhìn kỹ, thì đây là một cô gái mơn mơn đào tơ hết sức trẻ, tròn trịa như con chim chàng nghịch óc cau đầu mùa lúa trổ, ngực tròn như cặp tuyết sơn muốn xé hàng sọc dưa rằn ri tung ra, trán thấp có mở tóc quăn xoắn che lúp xúp ngỗ nghịch nhiều hơn phục tùng, cặp mắt mơ màng tình tứ, nhứt là cặp môi dày đỏ mọng, nửa mời mọc nửa khiêu khích, đúng là một con đĩ mén mất dạy, ăn nói như hồi nãy, nhưng mặn mòi duyên dáng một cách rừng rú, khiến không giận được với con “ba trợn” nầy. Sau rõ lại nàng ta từ Nam vang xuống, cha Cơme, mẹ người Sa Đéc, có chút pra hóc (mắm bò hóc) pha với chút sắc bén của gái Nha Mân xưa từng được Cao miên tuyển vào cung vua đàn Thổ, thảo nào!

Ba đời thằng Tây, thằng nào cũng dê đủ mười. Tôi đem cô nầy về anh Franchini không nói không rằng, vui vẻ chấp nhận, nhơn đi xem tuồng chớp bó ng sau đó, thấy trên màn bạc một nữ diễn viên Pháp duyên dáng và có hình dáng giống giống cô gái mời thuốc nầy nên anh Franchini đặt tên cho cô là Marianne là tên cô đào trên màn ảnh, để đối với tên tôi là Yvette, và sẵn tôi thứ ba, Ba Trà, bèn đặt tên cô là thứ tư, Tư Nhị, chớ Nhị vốn thứ hai, con cả đầu lòng xứ Nam vang ăn bò hóc!

Nhưng Tư Nhị ở với chúng tôi, anh Franchini tỏ ra khó chịu, một là Nhị rù quến trai tơ trong xóm, đêm nào như đêm nấy đến rù rì rủ rỉ điếc tai không một ai chịu được đúng là một bầy rương cái đứa núp trong mương khô nước, đứa nằm trong bọng cống ven đường chờ cho Tư Nhị ăn cơm xong ra mà trai gái, hai nữa Franchini nói với tôi con nhỏ gì quê một cây, đi giày cao gót chưa quen, làm văng giày ra xa, Franchini vì tánh nịnh đầm ban đầu còn lượm giày và lấy làm vui, sau đổ quạu, biểu tôi trả Nhị về chị nuôi của nó ở gần chợ Thái Bình, nhứt định không chứa thứ đồ gái bật rật bướng rướng không ai chịu nổi. Nhưng chẳng bao lâu, tôi lựa cho Nhị một chồng là công tử Gò Đen, và với số bạc một ngàn của công tử nầy chi ra, Tư Nhị nghiễm nhiên có một căn phố trệt xinh xắn có bàn ghế giường nệm ra phết ở gần góc đường Richaud và Verdun yên tịnh.

Từ đây vòm trời Sài Gòn mọc một ngôi sao mới, tuy không sáng chói bằng sao Ba Trà, nhưng đối với khách ham lạ ham trẻ thì Tư Nhị Maianne vẫn mới vẫn giòn vẫn mát da mát thịt hơn, dầu gì cũng mới, Nhị hơn Trà ở chỗ “Nhị đào vẹn vẻ đường tơ, Trà mi kia đã sởn sơ gần chiều”.

Riêng tôi, tôi không thấy hoa khôi nào chóng sáng chóng lu như Tư Nhị. Có lẽ định luật thế thưởng còn đó, hễ “bạo phát tức bạo tàn”, và “hữu thế bất khả ỷ tận”. Chính Nhị trẻ làm cho cuộc đời mình thâu ngắn: không được có vi cánh như Ba Pho, Ba Trà, từ Nam Vang xuống Sài Gòn, ban đầu cất mình vào chốn hí trường, nhưng hữu sắc vô thinh, Nhị đành nhảy ra, làm cô “đào thịt”. Làm em nuôi cho Ba Pho rồi trở mặt nhảy qua làm em của Trà, bày ra lấy rượu mạnh thuốc thơm để nhử khách.

Nhị phí sức khoẻ và nhan sắc còn hơn con thiêu thân, gặp đèn gặp ánh sáng là nhảy a vào, mặc cho lửa đốt cháy lông cháy cánh!

Nhị phách lối và tự đặt cho mình lên quá cao, khi còn nhan sắc còn tuổi trẻ, không biết lo hậu về sau, đêm đêm thuốc lá thơm liền miệng, whisky liền môi, để lát nữa ro ro kéo ống, điếu nầy qua điếu khác, hoa phù dung tuy đẹp, tuy một ngày ba lần thay sắc nhưng không tránh khỏi cảnh sớm nở tối tàn, Tư Nhị lúc phùng thời, phải thấy chị ta trên xe Hotchkisss hoặc Alpha-Roméo xả hết tốc lực, chạy lên Xuân Trường, Thủ Đức, miệng ngậm ống đót thật dài để giống các gái ăn chơi Pháp trong sách, tay cặp mỗi tháng mỗi một công tử mới, thằng nầy bị vanh cánh đến lượt thằng khác bị làm lông, Nhị dòm thế gian không người, và thứ cạo giấy như kẻ nầy, lương tháng tám chục không đủ tiền son phấn đứng trông mong Nhị ban cho ruột cái liếc!

Ấy thế mà kết cuộc, Pho chết được chôn ấm đám, Trà còn kéo dài cuộc đời mãi về sau khá dài, duy Tư Nhị thiệt là thảm não.

Gần đây, tháng bảy dương lịch 1982, tôi gặp bạn cũ, anh Ba Quan, một tay lịch duyệt trong giới ca cầm “Giang đô khảo võ”, anh Ba thuật lại sau năm 1945-1946, tiền hết, giấy bạc 500 của chánh phủ Pháp “hết xài”, anh trong mình còn độ một trăm bạc, vừa đói vừa khát anh lết trở về Sài Gòn, một buổi sáng nọ anh làm gan ra đường thì đường vắng hoe không một người đi, anh thả lần tới Chợ Cũ đường Georges Guynemer (đường Võ Di Nguy) anh điểm tâm xong ra cửa vừa đưa tờ giấy xăng (100đ.) chưa kịp thâu tiền lẻ, bỗng nghe có tiếng người gọi: “Anh Ba!”, giựt mình day lại không thấy một ai trừ năm ba người đàn bà hành khất dơ dáy, Quan nói trong bụng “ai kêu mình vậy kìa?” bỗng nghe một tiếng gọi lần nầy thống thiết bi ai hơn lần trước: “Anh Ba! Em là Tư Nhị đây?”. Quan nhìn không ra, vì đứng trước mặt là một người ăn mày không còn hình thể con người, hai chơn sưng vù và băng bó mấy lớp vải máu mủ và ruồi bu đầy, mặt đổi sắc, môi thâm đen, Quan không dám ngó lâu, lật đật rút hai tờ giấy hoảnh (giấy bạc hai chục đồng) đặt nhẹ vào lỏng bàn tay… và đi thẳng một nước: ấy ngày tàn của cựu huê khôi Tư Nhị! Than ôi! Độc địa làm chi và hành phạt làm chi con người vô tội. Có tội chăng là xã hội kìa chớ! Xã hội xa hoa coi tiền như đất cục, để đến hôm nay đào đất kiếm không ra!

Tỉ tê Tư Nhị mà xuýt quên Ba Trà?

Lấy Franchini, về vật chất không thiếu món nào, nhưng ông Tây nầy cưng vợ theo Tây, mà nước ghen lại là nước ghen Á Đông thuần nhứt! Tử đường Frères Louis nay cô Ba dọn trở về Richaud, tái chiếm Nguyệt tiên cung, nhưng đó là một cung Hằng lạnh ngắt sang trọng không kém xưa, nhưng kỷ niệm cũ nào còn, và nào đâu gác dan dưới lầu, a múi khi chén trà sâm, khi nước tắm ấm? Cô Ba chỉ còn một cách tiêu khiển là ngày ngày hay chiều chiều lượn mấy vòng hết chợ cũ qua chợ mới, hết lăng tô (láng thọ) tới Catinat, xe mới, nệm êm, hai tài xế đồng phục, bâu áo một màu với com lê cô mặc, kiểu Cát Tường (Le Mur) hay kiểu của cô sáng chế, quần lai thêu ren, áo màu nào quần màu nấy, và khăn choàng cổ dài phất phơ như cánh bưởm. Chỉ ngồi luôn luôn một mình trọn băng sau, Franchini ít khi nào ra mặt đồng hành, mặc cho đoá lan độc chiếc khoe sắc “đệ nhứt hoa khôi” hay nói theo điệu chơi đồ cổ: “nhứt phiến bình hay mai bình (mei ping) trong có cắm một cành hoa lan bản xứ “hương sắc song toàn” số dzách! Lúc nầy cơm thuốc đầy đủ, thêm được một anh chồng từng nuôi ngựa đua, săn sóc cô còn hơn nhà hiếu cổ tưng tiu lọ Khánh Xuân, Nội Phủ, cô Ba trở lại phong độ mấy năm trước thanh xuân hơ hở, tăng thêm phần sang trọng nhờ biết xài son phấn đúng thời trang. Đây là buổi cực thịnh của nhan sắc trời dành, cô mặc sức láng xê kiểu áo cắt may, và lúc ấy chưa có tá chưa có tướng, duy vợ các ông cò mi và các thầy thông ký chạy theo cũng mệt và báo hại mấy ông chồng đào tiền không ra cho mấy cô ăn xài.

Có câu “lạc cực sanh ai”, sống sung túc quá, con chim kia lại nhớ rừng, và với lông cánh mới, lòng muốn tung bay một chuyến.

Một hôm Franchini đi khỏi, cô Ba sẽ lén vào sòng, và vận đang đỏ, cô trúng một hơi vét sòng, cô đi ngay lại hãng xe, sẵn tiền sẵn bụng muốn, cô kéo về một chiếc ô tô hiệu Alfa-Roméo của Ý, giá 11.000$, mắc gấp đôi xe Hotchkiss giá 4.000, mắc gấp ba xe Citroen bảy chỗ ngồi, hoặc FIAT mui kiếng limousinet bốn chỗ ngồi giá 2.700$.

Không kể lúc Tây mới qua, vài chục năm sau mới trổ mặt có xe hơi ở Sài gòn nhưng có để khoe của và chưng chơi, chớ cầu kỳ chưa có bắc phà cũng chưa, lộ còn trái đá đỏ, có đường đâu mà chạy! Vỏn vẹn Nam kỳ có một trăm chiếc công xa, xe quan thống đốc sáu máy hiệu Delage, số đăng bộ là C.20. Một người cầu kỳ nhứt, sắm xe may mùng trồng lên xe cất trong ga ra năm nầy qua năm kia không bao giờ cho xe chạy đó là bà hàm đốc phủ Hà Minh Phải, người đàn bà biết giá trị độ xưa trong Nam bạc nhứt và chiếc xe ấy là xe của phế đế Thành Thái, bà gìn giữ xe nầy như một món “ngự dụng” không hơn không kém. Nhà có xe ô tô với số đăng bộ C.9999 là cựu ký giả, cựu thủ tưởng Nguyễn Phan Long, và cô Ba Trà đây với chiếc xe hiệu Ý đắt tiền Alfa-Roméo như đã kể.

Thuở ấy biết chơi xe như biết lựa vợ nhà:

– Vợ một kèo một cột, chuyên làm tiền vô và không khi nào lãng phí là bà hiền nội trợ con chú Hương con cậu xã trong làng, không khác chiếc Citroen, bảy chỗ ngồi, rẻ tiền, ít hao xăng, xe nào chạy tới đâu xe Citroen cũng tới đó, duy chậm hơn vải giờ, máy tốt, hư dễ sửa, như người vợ hiền, rủi đau cho uống café đậm cũng đủ mạnh, đủ thoát qua cữ rét.

– Vợ có nhan sắc như hiệu xe Hotchkiss, có cặp đèn pha chồm ra tới trước như hai hòn tuyết sơn của cô Sáu. Còn lúc đó ở Sốc Trăng, đầu xe như chiếc quan tài giấu mấy chục mã lực bên trong, chạy mau, nệm êm, duy hao xăng và thỉnh thoảng máy trục trặc, ít có thợ rành sửa chữa… Vợ đẹp thêm nhiều lo, thất công gìn giữ.

– Ham vợ quí phái, như ham ô tô Ý, ô tô Ăng lê, ô tô Đức, nào Alfa Roméo, Bugatti, nào Rolls Royee, nào Mercédès, uống xăng thì như trâu uống nước, lúc xăng chín xu (0$09) hay một cắc bạc (0$10) mỗi lít thì ngồi xe này sướng thật, qua mặt các hiệu khác vù vù, nhưng từ ngày khan hút và xăng lên giá, thì chỉ cất xe trong ga ra chờ ngày lấy ra làm thùng để “trồng hành” vì còn tiền đâu mà cho nó chạy! Thuở ấy xe hiệu Mỹ (Hoa Kỳ) chưa qua, và các hiệu thường thấy gồm có: Panhard Levassor Delahaye, De Dion Bouton, Lorraine Diétrich, v.v.., thảy đều bền và ít làm khó chủ xe, không khác gái Nha Mân, Bà Điểm, giúp chồng như câu tục thường ví:

“Thiếp như cơm nguội giúp chàng đỡ lòng khi bụng đói”?

Cô Ba kéo xe về, Franchini vẽ viên thêm, dạy khôn, bảo cô Ba đem xe ra ngay đường Catinat, trước mắt nhà hát Tây, treo băng và một chai champagne, cô tự cắt dây băng cho champagne đụng vào đầu xe, gọi lễ khai quang điểm nhãn! (tôi còn mắt thấy xe đò Châu Đốc có lư hương thờ cô Hiên, xe buýt Sài Gòn gần đây còn thắp nhang thờ ông Địa, không rõ các xe nầy sản xuất từ nước ngoài, ký bán năm nào?)

Google photos

Sẵn xe mới cốt ý để khoe ngón phong lưu, sẵn giàu tiền tự do người chồng Pháp mắc bận việc sanh nhai lớn tại Sài Gòn, cậy thế lực của Franchini quen nhiều với các chủ đồn điền cao su ở Chúp (Cao Miên), sẵn ma lực trời dành nơi đầu mày cuối mắt của cô, nên cô nảy ra một nghề mới là cùng một á múi tin cẩn phục dịch hôm mai và một tài xế tin cậy, cô ngồi xe mới thả một vòng ngao du, làm chủ cái hốt me, nhưng muốn ăn trứng nhạn phải lòn hang mai, cô hỏi thăm và biết đi nước nhỏ nhẹ với các tay anh chị mỗi vùng: xuống Bạc Liêu phải làm quen với cậu Hai Hiền (Chung Bá Hiền, con ông Chung Bá Vạn, ngoài gọi hội đồng Banh) và Tư Hi, cầm đầu bọn du côn đứng bến, ghé Sốc Trăng có Ban Tư (Lưu Liễu) công tử Cáo (Lưu Nhu), lên Cần Thơ có Lê Thọ Tường, ở Cầu Cống và Cầu ngang (Trà Vinh) thảy đều có anh hùng bản xứ, đến nơi mà không ra mắt các tay chiếng ấy, thì sao cho khỏi ăn me mà bị cướp ngành thầu dọc đường, hoá ra sạch vốn, duy chơi me ở Chúp xứ Thổ, trong đồn điền của chủ Pháp quen thân với Franchini, thì lo gì mất của, lại nữa ở Chúp, cô Ba mười phần chắc thắng trọn thắng vì các tay con quen đánh đủ bốn cửa, chủ cái lấy ba cửa thua chung một cửa thắng thì thế nào cũng dư tiền hồ (xâu) lại dư tiền thắng cuộc và ít hao đến vốn.

Cái vòng quanh lục tỉnh của cô Ba, làm cho nhiều người bàn tán, đồn rằng cô thua bài quá nhiều nên đi vơ vét các tay chơi ở tỉnh, kỳ trật cô ghé nghỉ ngơi ở lữ quán bungalow là để đùng cơm Tây và đổ xăng vào xe, cô vẫn mở phòng, và khách sộp nào muốn ra mắt phải đi lễ trọng hậu, lễ nho nhỏ cỡ một trăm đồng, cô đều gọi bác tài và a múi phân phát trước mắt làm cho khách hổ thẹn ra về, chớ cô nào hạ mình rước khách cốc keng như gái ăn sương tứ thời nhì hạng..

Có một chuyến cô xuống Bạc Liêu, cô cạn vốn, định quay xe trở về Sài Gòn nghĩ cách, cậu Hai Hiền trước học Chasseloup đồng những năm 1919-1923 với kẻ viết bài nầy, Hai Hiền hay được định cầm cô ở lại giúp vốn cho cô gầy sòng khác, Hiền về nhà lấy bạc thì cô đã lên xe xông lướt dặm ngàn, xe cô ghé lữ quán bungalow Sốc Trăng thì vừa được tin xe cậu Hiền vì tránh con bò đi lang thang ngoài lộ, liền thắng gấp tránh bò, xe lật xuống ruộng đưa bốn bánh lên trời, cậu Hiền thoát chết nhưng gãy lọi một giò, máu me đầy mình đang nằm ở nhà thương cho lương y điều trị. Cô tức tốc vào dưỡng đường, sai a múi lấy một bộ pyjama hường của mình thay cho bộ âu phục của Hiền rách nát, Hiền sau khi lành mạnh vẫn xem bộ y phục của cô như vật linh bùa lạ, luôn luôn vẫn giữ nhớ câu “xếp tàn y lại để dành hơi” 2 .

——————————–

1Người hay chữ nói “sát nhơn, sát thủ” là đủ rồi. Sát là giết, thủ là đầu, là tay. Nhưng tôi viết theo điệu “nghề võ rừng”, nó là sát thủ chưa lấy làm hay, phải thêm “sát thủ giản” mới vừa bụng. Giản là thẻ tre, là một thứ binh khí cổ, có bốn cạnh mà đầu bằng không có mũi nhọn, theo tôi, ông hộ giáp ở chùa, ắt cầm giản, nhưng đúng ra trong ý tôi là tôi nhớ cây giản của tướng Tần Thúc Bảo trong truyện Thuyết Đường và câu nằm lòng: “Song giản đả thành Đường tbế giới” “đơn tiên bình định Lý giang san” nhắc tích hai ông tưởng Tần Thúc Bảo (Tần Quỳnh) mặt vàng tay cầm cặp giản và tưởng Uất Trì Cung, mặt đen, cả hai người dày công gầy dựng cơ đồ nhà Đường của vua Lý Thế Dân. Tạo lập hay “bình định” cũng là một thứ. Và nói “sát thủ giản” trật văn phạm nhưng nghĩa mạnh hơn, nên tôi bất chấp văn phạm.
2Câu “Đập cố kính ra tìm lấy bóng, xếp tàn y lại để dành hơi” là của đức Dục Tông hoàng đế. Cụ Trân Danh Án, thi sĩ trung thần thời Lê mạt, đã viết: “Phá toái lăng hoa tầm cựu ảnh, Trầm phong khâm tứ hộ dư hương”, dịch: “Đập vỡ tan gương tìm bóng cũ, lại phong mến lớn giữ hương thửa”. Sự trùng hợp này là một giai thoại nên ghi lại (trích Thi thoại của văn học, trang 109, Quốc học thư xã Hà Nội 1939)

Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 24 Jun 2024

Google photos

Phần 38

Ngải mê có thật hay chăng? Và cô Ba qua Xiêm chuộc ngải như thế nào?

Về chuyện bùa mê ngải lú, ngày nay còn kể là quá hủ lậu, nhưng nó thuộc về khía cạnh của tin tưởng ngày xưa, cũng nên tìm hiểu chơi cho ra người lịch duyệt. Tôi đã viết rồi trong bộ Hiếu cổ đặc san (cuốn 1 Phong lưu cũ mới”, nay chỉ viết thêm những gì được nghe cô Ba nói lại, gọi bổ túc phần nào.

Một hôm, vào năm 1952, không nhớ rõ tháng nào, hôm ấy thuận tiện vì cô vừa trúng vài chén me khá khủm, nên kỹ sư Bảng chở cô và tôi từ giã Đại thế giới lối 11 giờ khuya, chạy xe con cóc của Bảng ra xóm Đất Thánh Chà, tìm lại động phù dung của Khang. Tôi rót cho cô một chén trà nóng, cô tiếp lấy hớp một hớp rồi nhỏ nhẹ đáp:

– Anh Sển, anh khéo bầy đặt!

Tôi nghe bao nhiêu ấy đã hoảng hồn tưởng đã không xong, nhưng cô ngó ngay mặt tôi và hạ giọng:

– Tôi tưởng anh là nhà văn, nhà khảo cổ, phải khác hơn người thường, té ra anh còn mê tín và tin dị đoan quá chừng chừng! Anh muốn biết có ngải hay không, tiện đây tôi cũng thuật cặn kẽ cho anh nghe, chuyện tin cùng không là chuyện khác không cần biết. Nhưng có mặt ông kỹ sư đây, tôi nói cho hai người biết, nếu tôi muốn bỏ bùa mê cho anh Sển nầy, anh nhớ nhé, tôi chỉ cần đem hết can tràng ra mà đối đãi với anh, rồi tự nhiên lần lần anh cảm và bị tôi chinh phục ngay, chớ ngải với nghệ là cái quái gì anh khéo hỏi! Mà nè, đừng nói lôi thôi lạc đề, ngải hay nghệ là như vầy:

Người ta nói với tôi có ba thứ ngải: 1) ngải Mọi, ở trên cao nguyên, mọi nuôi ngải bằng gà sống, thả gả vô bụi ngải, một thời gian sau xem lại gà chỉ còn bộ xương khô, nhưng ngải mọi chỉ dùng để hại cho người chết, tôi ghê quá, không dám xài. 2) ngải núi Tà Lơn và vùng Xà Tón, nhưng chưa linh chưa hiệu nghiệm cho lắm, vì các thầy ở Bảy Núi vả trên Nam Vang, tài nghệ chưa tinh thông. 3) Ngải hiệu nghiệm nhứt là ngải bên Xiêm do các thầy cao tay ấn luyện, người chuộc ngải phải nằm bảy ngày bảy đêm trần truồng cho thầy ướp phép, và người ấy phải một lòng tin tưởng và cữ kiêng nhiều bề: cữ ăn rau nặng mùi, sẽ bán phai ngải, nhứt là củ tỏi và hành lá, cấm không đi dưới dây phơi quần áo vì uế khí sẽ làm cho ngải bay mất, tránh chun lòn dưới thang gác dưới lầu mà từng trên có đặt cầu tiêu cầu tắm nhiều uế trược, trong mình nếu có đeo cà tha hay dây niệt, thì phải giữ kín không nên cho nhiều người thấy, nhứt là phải giữ tinh khiết, chỗ nào dơ dáy, phải lánh né, v.v… Tôi (Ba Trà) lúc ấy manh giáp chẳng còn, anh mái chính ở mãi Chợ Lớn không ra thăm, nợ vây phủ tứ tung, Nguyệt tiên cung vắng khách, vắng hơn chùa bà Đanh, chà sét ty than hết tiền không cho tôi vay nữa, các công tử lặn mất như sao trên trời đêm ba mươi qua mồng một, nằm gạt tay lên trán, tôi bỗng nhớ lại cứu tinh là chị Hai tóc đỏ, chỉ năm xưa khoe tài ngải bao nhiêu, nay tôi nhớ mà thương chỉ bấy nhiêu, nhưng nghe đâu chỉ có chồng bên Xiêm thì tôi phải qua bên ấy, níu lưng chỉ mà cầu cứu… nhưng rủi cho tôi là lúc ấy quân sư sắp đặt cuộc viễn du của tôi dở tệ, đã biết sa thải những người dư thừa, đã biết thu gọn cho tôi tớ phục dịch, tạm đóng cửa Nguyệt tiên cung giao cho người tin cậy coi sóc, bao nhiêu việc làm nghe trôi chảy, mà trong việc sắp đặt cho tôi qua Xiêm lại quên không biết xin trước giấy thông hành. Dở tệ là vậy. Tôi nói mà hai anh thương, tuy vậy Trà nầy còn người khuất mặt hộ trì, xe vừa bị lính Xiêm giải giao lãnh sự Pháp ở Bangkok, thì bỗng nhiên có cứu tinh xuất hiện.

Đó là một thanh niên Bắc Việt độ tuổi ngoài ba mươi, nhưng lịch duyệt bặt thiệp và đa tình ra phết. Nghe đâu người cha trước đó có công giúp quân đội Pháp sanh cầm đức ngài Hàm Nghi, và để thưởng công, Pháp cho con là ông nầy (tên Đỗ H. nhưng giấu bặt về sau chỉ gọi là l’ agent X.) được học bên Pháp, khi thành tài, bổ nhiệm vào hàng cao cấp toà lãnh sự, nhưng chỉ cho làm ở xứ ngoài như Xiêm chẳng hạn, và không bao giờ cho về xứ, vì e bị cho mò tôm không kịp trối, bởi quả dòng giống “Việt gian” bán nước! Trà gặp H. như buồn ngủ gặp chiếu manh, H. mềm tình người đồng hương thêm Trà sắc đẹp không ai bì, H. niềm nở tử tế chẳng những giúp cô khỏi bị giải về bản xứ, vì xuất ngoại không giấy tờ, H. sẵn biết cô Hai tóc đỏ mà H, có quen trước, thiệt là một buổi “tha hương ngộ cố tri” đáng đích!

Nói chí tình, cô Hai Tóc đỏ đối xử với tôi thật là ngọt. Trong buổi đầu đất lạ quê người, cô đã giúp tôi gặp vị sư tổ hay nhứt của châu thành Bangkok, và phép luyện xong xả, lời thầy ngải ghi chép thuộc nằm lòng, người thứ hai cư xử tuyệt diệu đối với tôi là ông đầu phòng toà lãnh sự Pháp ông Đỗ H., tuy mới quen, và trong nước nạp chưa có chi gọi là “biết nhau”, nhưng ông đối xử với tôi còn hơn bạn tri kỷ lâu ngày xa vắng, bổn thân ông gỡ rối, tôi đã khỏi bị phạt vạ và khi tôi ngỏ ý muốn trở về Sài Gòn, chính bổn thân ông lấy xe nhà tự lái đưa tôi từ kinh đô Xiêm Bangkok, đưa đến tận ranh giới Miên Xiêm, tôi đáp xe lửa, xe thổi còi tách bến, ông mới quay xe trở về Xiêm la quốc. Thiệt là “Làm chi cho bận lòng này lắm thân” và biết thuở nào trả xong món nợ nầy cho phỉ?

Về tới Sài Gòn phen nầy, phép bùa có sẵn, ngải nghệ đầy mình, nhưng người trung tín cho tôi hay Nguyệt tiên cung đang bị chủ nợ bủa vây khắp chung quanh, đặt trưởng toà trực sẵn trông bắt cho được tôi cho vào khám “giam thâu” cho tôi mau trả dứt nợ, mà như vậy còn gì thể diện và tiếng tăm nàng tiên cung nguyệt?

Vì vậy tôi đến Hôtel des Nations đường kinh lấp Charner, mở phòng tạm ẩn mặt, chỗ tôi lánh trần chỉ có bác tài xế trung tín biết và ngày ngày có phận sự báo tin tức, giờ xuống dùng bữa cũng phải chớ không có người khả nghi, tôi mới xuất hiện trong chốc lát cơm nước xong tôi lại rút về động hay phòng, nằm khoanh tôm luyện phép chớ thời. Hai anh nãy giờ nghe tôi kể thuật dông dài và trông nghe sự hiệu nghiệm của ngải. Hai anh có tin củng không, tôi không cần biết, mà người đầu tiên làm vật hy sinh cho tôi thí nghiệm phép Xiêm lại là một người xa lạ, thuở nay chưa quen biết bao giờ? Tôi có ngờ đâu bữa trưa hôm ấy tôi dùng bữa ngó thoáng qua tôi giựt mình tưởng đâu anh Toàn xuống bắt tôi để chở về Phan Rang, người ấy trao cho tôi một danh thiếp nhỏ và xưng là mãi biện của nhà băng Cần Thơ, chi nhánh của Đông Dương ngân hàng Sài Gòn: “Lâm Kỳ Xuyên, comprador de la Ban que de l’Indo-chine, annexe de Cần Thơ” sau tôi rõ lại ông là cơn nhà tỷ phú chủ hãng rượu công ty ở Châu Đốc có đại lý bán rượu nếp gần khắp các tỉnh miệt Hậu giang, và rượu trắng hãng Pháp Distillerie francaise de l’ Indochine làm không lại vì hãng Pháp đặt rượu bằng phương pháp mới, gọi “rượu máy” bằng cám, uống không “mát” không êm giọng bằng rượu hãng Hóc-Tchai Châu đốc, nấu bằng nếp tinh anh vừa bổ, gọi “rượu công-ci” tức rượu công ty, nói theo Tàu. Chưa chi Lâm Kỳ Xuyên để một bao thơ chẵn chòi mười tấm giấy xăng (Cent piastres) cắt chỉ, mà không nói một lời cắt nghĩa đó là tiền gì, hai anh nghĩ xem khi ở bên Xiêm tôi lạy lục thầy Xiêm chỉ xin “cho có tiền”, và nay tiền thinh không đến cách nầy, do Lâm Kỳ Xuyên mê tôi về nhan sắc, hay “sa bẫy” vì ma lực của ngải, đố hai anh giải thích cho êm. 1.000 đồng thuở ấy dùng làm lễ ra mắt, trong lúc một đốc phủ sứ trật hạng gần ngày về hưu mới lãnh được 250$ mỗi tháng, tức 3.000 đồng mỗi năm, hai anh nghĩ xem 1.000 đồng to tát đến bực nào? Mà có phải cho bao nhiêu ấy rồi thôi đâu? Nói tắt một điều, chính người ấy hình như in được giấy bạc “nhà băng” hay sao mà ông ta xài tiền như nước ai cầm chĩnh mà đổ, dẫu nước trong chĩnh cũng luôn có hạn, đàng nầy tôi muốn ngàn nào là được ngàn nấy, trả nợ cho các chỗ tôi thiếu, trở về Nguyệt tiên cung, có một lần ông ấy ở nhà băng Cần Thơ đang làm việc trong khi tôi đang đổ “con mèo” gọi chơi xí ngầu lác (đổ hột “tứ ngũ lục” nói theo giọng Tiều, khi nào hột lật mặt nhứt nhì tam thì thua, nhứt là khi hột lật ba mặt nhứt, gọi tục là “lỗ đít gà” thì thua tróc đít!) Bữa ấy tôi đổ hột nơi nhà 108 Bonard, nhà bác Năm Hy chủ tiệm vàng, tôi sai người gọi điện thoại xuống Băng Cần Thơ xin năm ngàn bạc và bốn giờ sau, quả nhiên có tài xế cổ áo mang chữ tắt “B.I.C.” đem lên tôi kính cẩn năm chục tờ giấy xăng bon bon cắt chỉ, tôi nào chường mặt và cũng không bổn thân nói téléphone mà tiền lên nhấp nháy, hai anh muốn hiểu sao thì hiểu. Ấy thế mà bỗng lúc sau tự nhiên tịt ngòi như phong tên bị cúp nước, chờ không thấy mặt, thơ viết gởi đi không thấy thơ trả lời, sau biết được là vì ông bắt được tôi ngồi chung xe với thầy Sáu Ngọ để vô Chợ Lớn chơi me, ông bặt, ông ghen và “ái ân chỉ có một lần”! Bạc đúc cũng không ai dám xài đến bực ấy, và tôi bị cắt đứt viện trợ, không hiểu tại ông ghen hay một lẽ khác, tại vì tôi không giữ gìn kỹ lưỡng để cho ngải lạt, phép nọ “mất linh”!

Và đó là phen “nhị xuất Kỳ sơn” tôi phải trở lại Xiêm quốc kỳ nhì, để tìm thầy thay bùa niệt và cho tôi ngải mới. Nhưng chuyến nầy tôi đã học khôn được rồi, đã xin cấp giấy thông hành hợp lệ (tire d’ identité thời đó, tiền lệ phí chỉ có năm cắc bạc (0$50) mà hiệu nghiệm vô cùng, có lá thông hành tuỳ thân, đi khắp xứ từ Nam chí Bắc khỏi cần xin phép).

Chuyến nầy tôi đã thuộc đường đi nước bước, đi tìm gặp vị thầy cũ, tôi giải bày cặn kẽ sau khi cột tay cho thầy một sợi tim đèn bằng chỉ vải có vấn một khoanh vàng y năm chỉ mà thời ấy giá không tới ba chục bạc (30$00) và thầy tôi đã dẫn đường đưa tôi ra mắt vị tổ sư, thầy của thầy tôi, tức nói ví dụ, tôi đã gặp Chí Thiện thoàn sư của phái võ Thiếu Lâm, thầy của “mình đồng da sắt” võ sĩ Phan Thế Ngọc anh hùng bạt tuỷ trong truyện Tàu “Càn long hạ Giang Nam”, nhưng Chí Thiệt thì tay chân lành lẽ mới thí võ di quyền được, còn vị sư tổ nầy không phải cùi cũng không phải phung hủi, mà mười ngón tay và mười ngón chơi đều rụng sạch không còn ngón nào, vì ngải quá linh quá mạnh, đã ăn hai chục ngón của thầy trụi lủi! Sau khi nghe tôi giải bày “nhưng phải thoát y vũ trước bàn Tổ”, vị sư cả trao cho tôi đủ số ngải và thần chú lại còn cho một đồ đệ cao tài theo tôi về Sài Gòn, mà vị đồ đệ nầy không ai khác là ông thầy ngải tôi đã quen kỳ nhứt ở Bangkok. Việc đưa người Xiêm qua Nam Việt không khó vì tôi đã có cố nhân họ Đỗ lo cho tôi giấy tờ hợp lệ. Đến Sài Gòn tôi phải ăn chay nằm đất và thoát y vũ đủ bảy ngày nữa là thầy tôi gói phép trở về Xiêm, còn tôi, đạo giới đủ điều, ngải mê ngải quyến rũ “đầy mình”, khi ấy tôi mới dắt một chị đầm chơi thân (Madame Pit) cùng xuống Hậu giang thử phép hay là đấu phép.

Lúc ấy Cần Thơ chưa đúng là kinh đô xinh đẹp miền Tây, như sau nầy báo chí tôn lên, và chị em tôi bị cụ bị nồi ống xuống tới đó không chọn lữ quán Bungalow vì bày binh bố trận có bàn đèn chủ Tây nó không vui, nên chúng tôi lựa Hôtel de l’Ouest, tức nhà ngủ Trần Đắt Nghĩa đóng đô ở đường kinh lấp, nhớ mang tên Pháp là boulevard Delanoue, khiến cho buổi ấy có câu: “Rộn ràng một đoá trà mi, ngoài đường nô nức ong đi bướm về” (lảy Kiều)

Ngày nay chuyện cũ nhắc lại, tôi lấy làm hối hận cho cử chỉ thiếu đẹp của tôi lúc ấy. Mãi biện ân nhân là người rất tốt, thế mà tôi trả ơn bằng hai chữ “đoản hậu” thiệt vô duyên. Tôi xuống tới nơi, ngỡ ngàng bỡ ngỡ, viết thơ mời ông lại phòng, trong khi nói chuyện bằng lời nói trổng điệu đánh dây thép:

– Xuống hồi nào?

– Mới tới!

– Xuống chi vậy?

– Thua quá, thiếu nợ nhiều, xuống kiếm anh…

– Nhiều bao nhiêu?

– Bốn chục ngàn?

– Chớ một giờ nữa được không?

– Được.

Rồi ông ra về, xuống lầu, quá nửa giờ sau, tôi nóng ruột, sai tài xế cầm thơ tay viết mấy chữ vắn tắt, chưa tàn điếu thuốc, bác tài xế xách về một bao bố nhỏ, mở ra, mẹ ôi, giấy một trăm la liệt đầy bàn, đếm đúng 40.000$00. Thình lình anh Tư Phước (Phước Georges theo gánh hát) bỗng xô cửa bước vào, và xui xẻo là hai đứa tôi đang ôm nhau tỏ tình cách mặt theo Tây, chưa kịp buông nhau ra thì khiến có họ Lâm cũng vừa bước vô bắt gặp. Thế mà ông không giận, vẫn bắt tay chào Tư Phước như thường, và Tư Phước ra về rồi, khi ấy anh Lâm có ý bảo tôi sửa soạn để lát nữa anh đem xe lại rước tôi cùng đi Rạch Giá vì anh phải xuống nơi ấy điều tra việc công. Chẳng lành mà chớ, tôi nằng nặc đòi ôm bạc về Sài Gòn trả nợ. Anh buồn rầu bảo đưa tiền bà Pit mang về cho má tôi cũng được còn tôi phải theo anh xuống Rạch giá. Tôi cương quyết một hai cũng đòi về Sài Gòn cho được, anh không nói gì bà Pit khuyên dỗ tôi cũng giả điếc, thế rồi chia tay không thấy mặt nhau từ buổi ấy. Bây giờ tôi nhớ lại việc cũ, không biết tại tôi thiếu tình thương hay tại ngải hành, ngải nầy làm cho ra tiền chớ không phải đẻ ra tình yêu, tôi đểu giả và tàn nhẫn quá, không xứng đáng là có máu giang hồ khí phách, đành lòng nào nuốt của anh Lâm ngót 70.000$: 10.000 ra mắt, 20.000 gầy lại Nguyệt tiên cung, 40.000 nói láo thua bài, một người ngọt đến thế, quân tử đối với tôi đến thế mà tơ duyên ngắn ngủi chỉ một lần giao hoan, nhắm lại sao Ngưu sao Chức có một lần mỗi năm, tệ bạc trời dành hay tôi thiếu sót không hiểu chữ”ân” chữ “nghĩa”? Anh Lâm tha tội cho tôi! (Chỗ nầy cô Ba thuật với tôi thì nhơn vật ấy là họ Lâm, Tàu lai rất giống Toàn, tình nhơn buổi đầu, còn báo Tiếng Dội, thì gọi đó là phó giám đốc ngân hàng Cần Thơ, một Pháp lai đã có vợ người Pháp và si mê nhan sắc của Trà đến thế)

Google photos

Tôi xin không kết luận và để cho độc giả tự trả lời có ngải mê thật hay là không, chỉ xin nhấn mạnh ngày nay còn sờ sờ gương đàn bà đi xe lam hay xe đò bị thổi bùa mê lột vòng vàng “cho điếm lạ mặt”, chừng tỉnh lại là sự đã rồi, và thiếu chi chuyện ngờ ngợ người tai mắt có học thức vẫn thương người không có chút gì hấp dẫn và khi tỉnh ngộ thì gia đình đổ nát sự nghiệp tan tành, cũng vì một lúc say mê lầm lạc không giải thích được. Cô Ba kết thúc buổi bàn luận bằng bùa ngải mê tín với câu đầy triết lý: “Trai mê gái hay gái mê trai, cũng tuỳ, và ngải linh nghiệm nhứt, nhứt là đối với hàng thức giả, ngải ấy là mối chân tình, nói cách khác là tình thương chân thật, một sự âu yếm thẳng thắn bằng pha nước nóng lau chơn cho chàng đánh tơ nít vừa về, lột giày bổn thân đem cất, lo bữa ăn lo giấc ngủ, nhưng những ấy Trà nói được mà không làm được, Trà là đứa hư rồi! Tại xã hội, tại thiếu giáo dục, tại cha mẹ không biết dạy con hay gì gì nữa? Nghĩ cho má tôi cho tôi ăn củi đòn và mỗi lần đánh là nhiếc “cho tiệt dòng đản hậu (đoản hậu), đến phiên tôi, không đánh đòn không mắng nhiếc, tôi trả thù gián tiếp cho mẹ tôi, mà ân nghĩa anh thầy thuốc và của anh mãi biện họ Lâm, quá là quá ác, và gẫm lại dùi đánh đục, đục đánh săng, cá ăn kiến, kiến ăn cá, Trà nầy quả là đứa không ra gì!

Chuyện bùa ngải làm cho chúng tôi ngẩn ngơ, suốt một tuần vô sở tôi không làm gì cho nên thân, chỉ chấm công ăn tiền, qua thứ bảy sau, chúng tôi hội lại nữa, cũng một mâm đèn, một ống hút trúc Hạ châu quí giá và một nồi hút, Khang khoe là của một ông hoàng ở Huế kỷ niệm, tròn như trái thẩu, vốn bằng đất châu sa Mạnh Thần, có chạm một ông già tay xách gậy đi trước theo sau là một tiểu đồng tay ôm một chiếc đàn tranh và câu chữ nhỏ rí: “Át Tỵ vân vân…” chữ hán tôi không đọc được trọn, vì tôi là một thằng dốt, chỉ biết dọc tẩu nầy chế tạo năm Ất Tỵ đời Kiền long, đến niên hiệu vua Mãn mình thuộc cháo chan, đó là năm dương lịch 1785, tức năm thứ 50 Kiền long (sau tôi nài được mà không phải của Khang và có bạc triệu tôi không cho rớ, vì rõ lại đó là báu vật ngót hai trăm năm, dễ gì gặp!). Hôm ấy tôi lo le một hộp thuốc điếu giẹp bằng đồi mồi Hà Tiên, cô Ba vừa thấy vụt nói:

– Anh Sển cũng biết hút thuốc lá à? Chớ chi tôi gặp anh sớm, tôi có một vật quí tặng anh mà tôi đã làm mất tại ngã tư Cai Lậy, vì bị đụng xe đến bất tỉnh nhơn sự, khi hoàn hồn thì chúng đã chọt mất cái bóp vàng đựng thuốc thơm có nạm hai chục hột kim cương lớn bằng hột đậu, do một ông hoàng “lưỡi đen” ở Xiêm kỷ niệm cho tôi buổi gặp mặt trong khoảng khắc tựa hồ chiêm bao. Nhưng chuyện ấy còn dài và còn lâu mới tới, nay tôi kể tiếp bước đường truân chuyên của tôi cho đủ đầu đuôi cái đã!

Tôi thiệt là không biết điều, anh Lâm đối xử với tôi như đã nói, mà tôi còn hại anh cách khác thật là tàn nhẫn và đáng trách. Tôi ôm bạc kè kè về Sài Gòn, trả được mớ nhắm cho các chủ nợ may mà gặp được tôi, còn lại gần hai chục ngàn, tôi ôm vô cúng trong sòng me sạch bách! Thiệt là đồng tiền phi nhơn phi ngải, làm không chút đổ mồ hôi, nó bội bạc hơn tôi nhiều, và cầm chưa nóng tay nó đã vù bay qua tay khác. Tưởng anh Lâm đi Rạch Giá như lời nói, nào dè anh bốc xe lái thẳng lên Nguyệt tiên cung nằm chờ tôi thẳng thét hai ngày một đêm, trong lúc tôi đang mài miệt say mê trong canh bạc, đi cặp với vua cờ bạc Sáu Ngọ (để lọt mắt anh Lâm thấy mà tôi không dè), và tôi cặp bồ với người khác không đáng gì, và đã bỏ rơi một người đủ tình đủ nghĩa, đủ ân đủ đức như anh Lâm, ông trời có mắt sau nầy, hành hạ tôi như hôm nay cũng đáng!

Tôi xui quá, thua me sạch túi, một thời gian nằm nhà trốn nợ, bổng thần tài chiếu mạng, tôi gặp một công tử xứ Trà Vinh trùng tên với cậu chủ rạp chớp bóng Cần Thơ. Nhưng B. đã có vợ là cô Tám B. để cho ở nhà ở Tiểu Cần, bất hạnh cho tôi, ngày B. đưa tôi lại hãng Auto-hall kéo cho tôi một cái xe cắt chỉ bốn chỗ ngồi Citroen, thì cô Tám lên Sài Gòn tìm chồng, bắt gặp tôi tại trận, báo hại hai đàng gấu ó đến đưa nhau xuống bót quận Nhì, B. xấu hổ, biệt vợ nhà, dắt tôi lập ổ uyên ương xài không mấy tháng, đổ nợ lung tung, B. bị bắt giam thâu vào khám, tôi lo tròn cho B. đủ cơm đen cơm trắng, ít lâu sau B. được tha, nhưng sạch túi, cả hai đành chia tay, B. về xứ, tôi vừa đói vừa bơ vơ lạc lõng…

Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 24 Jun 2024

Google photos

Phần 37

Hắc công tử (cậu Ba Bạc Liêu thay vì công tử Hậu giang, tộc danh là Qui)

Ông nầy lớn tuổi hơn Georges, uy danh kém hơn Bạch công tử, vì ăn nói hơi khinh người, ưa “mầy tao mi tớ” duy xài tiền thì “cảng” không thua. Ghe cảng là ghe đi biển, ăn xài cảng là ăn xài lớn. Cậu ta là người xứ cá mặn, tôm khô, ruộng muối, da cậu ngâm ngâm đen, hình thù vằm vỡ to xương, y như con gà cù lự chuyên đá đòn, bình thường cậu thích xe sport, mắt kiếng đen gọng đồi mồi to, cổ quấn khăn lông thứ người Âu châu dùng trong nhà tắm, mình mặc áo thun thể thao dày, khi nào bước xuống xe mới cặp nách thêm một cái áo nỉ sport mà ít khi choàng vào hai vai, khiêu vũ có điệu vào sòng bạc dám ăn thua bạc ngàn bạc muôn, chữa me cho cậu chơi mới thấy tiền lâu to tác, bữa me nào xui, có thân phụ cậu lẹp xẹp dưới lầu bước lên, cậu chuồn cửa sau mất dạng, thì bữa ấy chết cha tiền xâu, chủ chứa lỗ nặng vì ông hội đồng quản hạt kiệm hội đồng cố vấn thời Pháp thuộc, (huý là Trạch) chỉ chuyên đánh nhỏ, ăn thua ít ít đủ mua vui, một đêm me có cậu dự, xâu lên đến bạc ngàn, một đêm có ông hội đồng vừa giúp xâu chưa tới bạc trăm, và các tay khác cũng rút lui sớm, chủ chứa lỗ tiền hồ là vì vậy, trở lại nghề lái xe, hễ cậu ngồi vào cầm volant thì chạy hết tốc lực, trừ khi cậu đi với “bồ” ngồi băng sau thì cũng phải biết ý cậu, bác tài phải đường trường không cho xe nào qua mặt, và xe của cậu, thứ tám máy (huit cylindres) là để được có tiếng có xe hạng chiếng chớ tánh tình y như trong “Năm chục năm mê hát” đã tả, mất một tờ giấy năm đồng nơi rạp hát, cậu bỏ coi diễn để lo mò kiếm “tờ giấy bạc con công” (5$00), trong khi Bạch công tử ngồi kế bên, hay được Hắc công tử kiếm tờ năm đồng, Georges miệng cười hề hề, tay móc túi đốt tờ giấy hai chục (20$00) dùng làm đuốc rọi… Tư Phước ngọt với em út bao nhiêu thì cậu Ba cũng ngọt với bồ bịch bấy nhiêu, duy “chiến lược” mỗi chàng mỗi khác. Phước chuộng người phải cho đẹp, cậu Ba chọn người phải cho “ngon”, phần đông tuyển trong hàng gái vườn, tập khiêu vũ chơn chưa rửa sạch phèn. Cậu Tư cho tiền không bao giờ lấy lại. Cậu Ba lúc gặp buổi đầu, thường dắt bồ lên lầu hãng Chamer tha hồ lựa nước hoa đắt tiền, phấn son mua bao nhiêu cũng được, gặp cô nào biết nghề già giặn, kéo cậu lại nhà bán kim cương Giuntoli, lựa mua cậu cũng không từ chối, nhưng khi cậu chán chê thì cậu giờ ngón đểu, giả đò thua me, mượn cầm đỡ vào tiệm mà không bao giờ chuộc lại và cậu cũng lánh mặt luôn với chiếc xe chạy ngày mấy trăm cây số ngàn, có giỏi lội bộ theo mà bắt? Lỡ khóc lỡ cười, gái nào biết khôn thì vơ vét cho đã và sớm phải học thuộc bài “tẩu mã”. Vỏ quít dày, móng tay nhọn!

Một hôm tôi nghe cậu Ba phân trần với ông Kính: “Mình lâu ngày kiếm cho ổng một “con mèo” cho ổng vui, không dè ổng bị bà ấy làm cho ông suyễn luôn trót tháng, tưởng đã không xong? (Ôi tình cha con trong giới nhà giàu!) câu nầy dùng hạ màn tả hình dạng cậu Ba. Hết đảo chánh qua phong trào xôi thịt, mãi về lâu, Tư Phước hết tiền, chết trước, cậu Ba còn tồn tại sau trào Diệm vẫn còn…°

Một ông trưởng giả sắm một cảnh hoa viên phụ để thỉnh thoảng vào vườn hái trái, bỗng bị hai bợm hái trộm đào non, nói cách khác bác thầy thuốc vì gởi cục cưng nhà ra vô cờ bạc, bị hai đứa nó chơi lú lận, lén chớ nàng xinh tốt kia đi một vòng xuống Hậu giang… Hết sức bị một mụ tú đầm lai dụ dỗ mời về nhà hơn ở nhà má Tư Ăng lê, Trà về học lại má, hai người đấu khẩu đến sanh giận hờn, bác thầy thuốc hay được mới dọn phố riêng đường Richaud gần đường Lareynière cho Trà về ở, nhưng ở chưa lâu đã bị hai công tử đứa đốc, đứa lói, đứa xúi giục, đứa mời mọc, cùng nhau bộ ba đưa nhau xuống miền Tây kiếm me vườn để gỡ gạt, cô nghe ham, nhưng me đâu không thấy chỉ thấy hai cậu trổ tài hào hoa phong nhã, mướn phòng khách sạn Bangalow đánh bài tay ba, chia xong dành nhau chung tiền, cô Ba gom tiền không hết, nhưng đụng chạm nói chơi thì có mà không có chuyện kia, vì mãng kỳ đà vần công, cả hai đều tốn tiền để ăn trét!

Cô Ba chuyến về có tiền xọc xạch trong túi, sắm thêm bàn ghế, tuy chưa hề bị ai nhám hiểm” nhưng bác thầy sanh nghi.

Đến đây là một khúc quanh gay cấn: ghen thì đổ vỡ, chặt quá thì đứt dây, lỏng quá thì bị trút lọp, lấy xâu thêm tức. Con lừa của lão Buridan đứng giữa thùng nước và thùng thóc, thì phân vân lưỡng ước, khát cũng có mà uống làm sao nhơi thóc, nhược bằng xơi thóc thì uổng thùng nước ngon lành, bộ ba nầy cũng vậy: cô Ba thấy đức ông chồng quá biết điều, cô Ba thêm kính, nhưng thèm thuồng tự do giữa Georges xứng đào xứng kép vì “anh ta” quá đắt mèo, vì cậu Ba tuy đen đúa mà nghe nói bồ lúa no lắm tràn trề đến xúm nhau moi móc mà cha hiền không hay hoặc hay mà không nói, vì rầy la, cậu Ba khai thiệt số nợ thâm thủng càng thất công “bán lúa trả” thà để nó lắm lét sợ tránh mặt mình mà ít tốn hơn. Giữa lúc ấy, Tư Phước không ham me bài nên bỏ lảng đay qua đào biết ca êm tài thêm sắc đẹp có thua gì cô Ba, còn cậu Ba vì nóng tánh, đeo theo hoa, bị gai cho trầy trụa khá bộn mà chưa được chấm mút mật ngon nào nên cũng bớt hăng hái. Gay cấn và khó xử nhứt là bác tôi, như đã nói “già néo thì đứt dây”, nhưng lúc ở nhà bị tiếng bấc tiếng chì, nhẹ thôi của bác gái, cũng lâu ngày sanh bực, một hôm bác tôi dỗ ngọt em cưng: và hai người nói với nhau như đánh dây thép:

– Ba tuần nay không thấy mặt em ở nhà dì Tư (Tư Ăng lê)?

Làm thinh, không trả lời.

– Em đi đâu và ở đâu?

– Không ở đâu hết!

– Bộ em ngủ ngoại trời hay sao?

– Dạ không! Tôi ngủ tại nhà bồi của dì Tư.

– Sao anh ghé tại đó mà không thấy?

– Tại tôi dặn bồi nói như vậy!

– Vì lẽ nào em nói dối với anh?

– Vì tôi sợ người ta biết mà nom theo.

– Ai?

– Các chủ nợ?

– Em làm gì đến thiếu nợ?

– Tôi giấu anh, tôi thua me ở đường Testard và nay mắc nợ khá nhiều.

– Khá nhiều là bao nhiêu?

– Ba ngàn, ủa bốn ngàn.

– Em trốn chủ nợ rồi trốn anh nữa hay sao? Hay là em có mèo? Em lỡ thương ai, cứ nói thiệt cho anh biết đi.

– Tôi buồn, tôi có đi chơi với họ, mà tôi không thương ai hết!

(Một câu quá trống trải, không thương luôn bác tôi hay sao?)

Nhưng sự thật, bao nhiêu gái buổi đầu lỡ chơn trái đều bước một thứ như nhau, làm quen với cậu Tư, cọ dĩa với Hắc công tử, nhưng lòng luôn luôn gởi đám mây Hằng, thỉnh thoảng nhớ mẹ, chập chôn nhớ chồng, người anh rộng lòng tha thứ như biển Ô Cấp, tuy chưa thương về xác thịt nhưng cảm phục về nét quân tử hải hà.

Thoạt nghe tiếng kèn ô tô ngoài cửa, bác tôi vụt nói:

– Kìa xe cậu Tư!

Vô tình cô Ba chạy ra cửa coi có quả vậy không, nếu như ai đã tam bành nổi lên, nhưng bác tôi tỉnh như trước bàn phé gay cấn, chờ cô trở vô, hỏi tỉnh bơ:

– Nếu không có tiền em làm sao? Có ở nhà không?

– Thưa không?

– Còn nếu có tiền?

– Tôi sẽ ở nhà.

Không nói gì, bác tôi từ giã ra về sau khi căn dặn cô tạm lánh mặt trong hai ngày, mà cho đến nay cô Ba nói với tôi không hiểu vì sao lại dặn lánh hai ngày, tiền nhà ông dư dật, muốn lấy bao nhiêu có sẵn, hay là để đủ ngày giờ ông quơ ở ngoài chớ không đụng chạm tủ két trong nhà, e chị lớn hay!

Và quả đúng hai ngày, ông đem ba ngàn đưa cho em càng khuyên đừng đánh bài, đừng chơi bạc nữa… nhưng con vụ đã quay thì phải lăn, lời khuyên như nước đổ vào hàng “lá môn” không thấm vào đâu, được tiền đã không trả nợ lại quyết gỡ, gỡ đâu không thấy, thấy thua sạch số tiền ba ngàn kia. Mắc nợ ba ngàn đến phải “trốn”, nay dồn dập thêm ba ngàn nầy nữa, thì còn lối thoát nào? Đến đây mới thấy cái hại của cô bạc và cái hại vì quá tin và có lòng tốt tha thứ không nhằm chỗ, nhứt là thiếu người để theo kiềm con ngựa hay chứng “ưa đâm đầu vào hàng rào”!

Chớ chi bác tôi già tay ấn, đưa nàng đi một vòng miền Trung hay lục tỉnh sau khi dứt khoát nợ nần, thì hoạ may con chim không cơ hội vẫy cánh tung bay, chớ bác quá tốt nơi dây thì con diều kia gặp gió dữ làm sao không đứt chỉ!

Trong khi đang khủng hoảng tinh thần, ma dắt lối quỷ đưa đường, không ma quỷ gì cả mà Phước Georges lù lù đem xe lại rủ đi một vòng xuống Cần Thơ ăn cá cháy.

Đi thì đi. Mặc cho con Tạo… đến đâu hay đó?

Xe chạy rồi nước mắt bỗng cầm không đậu, khóc ăn năn vì thương anh thầy quá tốt, – xin anh hỉ xả cho em phen nầy, – khóc vì hối hận sao quá xui lấy cái phản bội trả ơn một người nếu đáng trách chỉ là đã có vợ rồi! Từ buổi ấy hai người xa nhau và để kỷ niệm mối tình lỡ khóc lỡ cười, cô Ba giữ biệt hiệu, của bác thầy nhơn xem chớp bóng thấy cô đào trên màn bạc giống cô Ba bèn mượn tên Yvette gọi luôn và Yvette Trà rất xứng với Georges Phước.

Diều đứt dây, chim sổ lồng! Cô Ba từ đây bay với cánh của mình, có khác. Cặp nhơn tình vừa xuống tới quán khách Bungalow Cần Thơ, xe chưa nguội máy thì chiếc tám máy của cậu Ba cũng vừa xuống tới, cả ba nhập bọn, đôi bên cười thầm “chạy đường trời cũng không khỏi nắng”! Nắng và mưa còn dễ tránh, dễ gì thoát khỏi tay một người không biết tiếc tiền và đương ham lấy cho được người đẹp tức cậu Ba. Nhưng ái tình có nhiều cái bất ngờ. Vả lại cậu Ba muốn chưa phải lúc. Lúc đó cậu Tư Georges cung cấp cho cô Ba đầy đủ quá, không làm phật lòng một mảy mai nào thì làm sao con cá nầy ăn câu của cậu Ba cho được! Một hôm Phước lột chiếc cà rá nhận hột xoàn trị giá trên ba ngàn thời đó để trên bàn bước vô phòng tắm, bận ra thấy cô Ba đã đeo cà rá vào tay vừa cười, vừa nói:

– Anh Tư, coi vừa ngón tay em quá nè!

– Vừa thì em đeo luôn đi, anh cho em đó! (ấy tánh cậu Tư là vậy, bình sanh từ nhỏ không màng vật gì, dẫu quí đến đâu cũng thế, gặp lúc cậu hứng ai xin gì đều được toại lòng). Chuyện trở về Sài Gòn bộ ba đưa cô Trà về phố cũ của bác thầy mướn, buổi chiều là Trà đã khoe với dì Tư chiếc cà rá của cậu Georges tặng. Ít hôm sau, cậu Ba hay được vội biếu cô Ba một chiếc khác hột còn to xấp hai chiếc kim cương của Phước, nhưng cái số cô Ba không phải là tay “cầm của”, chẳng bao lâu cả hai chiếc cá rá hột xoàn đều được gởi vào tiệm cầm đồ, và có bao nhiêu tiền cô đều thua vào sòng của thầy Bảy Phương đường Testard hết ráo.

Bây giờ cái thuyết “ái tình không đi đôi với đổ bác” vẫn có người không tin rằng có thật, nhưng sự thật là cô Ba vừa cho “mò tỳ” đêm đó thì sáng ngày thua trút túi không còn một xu teng? Bởi vậy bợm cờ bạc rất sợ mèo chuột, chủ cái lập ngành thầu, rủ nhau hùn vốn hốt me, tuỳ người đẹp, nhưng đem theo để trưng chơi nhử chưng hoa kiểng và tuyệt nhiên không dám mó đến, vì sợ xui lây. Trừ khi nào đánh ăn, định nghỉ đánh mới dám “tả xíu quảy” (đả tiểu hoa) mò chút ít chớ không dám đi sâu sợ xúi quảy?

Ba Trà đạp vào vòng đổ bác, ban đầu tưởng đánh ăn để có bạc đền ơn lòng tốt dì Tư, nhưng nghề cờ bạc, xem cho cùng thua nhiều ăn ít, khi ăn thì ăn xài cho lớn, cho chác mua sắm hời hợt, bao nhiêu cũng hết, khi thua vơ vét, bán sạch không tiếc, khi trắng tay thì đã muộn rồi. Chừng nợ nần lút đầu hút cổ, dì cháu bàn bạc, mới nghĩ đến việc tìm một chỗ buôn bán cho có đồng ra đồng vào, và vì vậy mà dì Tư Ăng lê mới bày sẵn ông Lý Kỳ Quân tính sang nhà hàng bán cơm Việt ở đường d’Espagne, giữa nhà hàng Quảng Thạp bán cơm Tây và nhà hàng Cửu Long giang ở góc đường d’Espagne và Aviatsut Garros, chiều thứ bảy có đờn ca điệu tài tử nay chạy tiền “từng” nhà Đông Pháp lữ quán của họ Lý, con Ba mầy ngồi két (caisse), không lo gì khách hai nhà kia tựu sang đây “để ngó mầy”!

– Nhưng tiền đâu có mà sang mà làm vốn sau nầy?

– Thì vay bạc chà sét ty là có tiền, lo gì!

Và vài hôm sau Đông Pháp lữ quán được thay chủ mới, ông Lý Kỳ Quân lấy vốn, lỗ lã cũng bộn, lui về tỉnh nhà là Rạch Giá, trở lại nghề cũ là khẩn đất làm ruộng vùng kinh xáng mới khai rừng Phước Long, Vĩnh phú, cô Marie Huệ, ngồi kết, cũng là một tay nhan sắc đương thời nhưng đã trộng tuổi nay nhường chỗ cho Ba Trà là phải điệu. Lúc ấy tôi học còn một năm nữa là thi ra trưởng, và nhờ lấy năm nầy làm mốc mà biết được năm 1923, Đông Pháp lữ quán được dì Tư Ăng lê đứng điều khiển, cô Ba Trà đứng két.

Google photos

Đó là chiêu bài chánh thức, chớ bề trong là thỉnh thoảng chứa một “sòng me chạy” mới chịu nổi với sở phí nhà nầy. Mỗi chúa nhựt tôi đã từng làm khách đến đây dùng một bữa cơm trưa, vì khi học, tôi không có người thay mặt bảo lãnh (correspondant), tôi phải nhờ bạn học ra trường đứng tờ bảo lãnh nhưng anh Từ Văn Chấn nhà quá xa, tôi thường mướn phòng khách sạn Đỗ Văn Bình đường Amiral Courbert làm nơi nghỉ chân và luôn luôn ăn cơm quán, nhưng rất vừa túi tiền, khi mua một trăn bánh hỏi thịt bò nướng gần khách sạn thì giá tiền không hơn hai cắc bạc (0$20), bữa nào cao hứng lại Đông Pháp lữ quán để ngắm hoa biết nói, thì một bữa cơm mắm ruột rau sống chỉ tốn bốn cắc (0,$40), bữa nào thịnh soạn con gà ba món hay cua xào giấm thì cũng lối bảy cắc mà bữa ấy hoặc đãi bạn hoặc bạn đãi mình, tức ăn hai đứa mới ăn hết ba món kia và một chúa nhựt xài không quá hai đồng (2$00) mà có đủ ciné trong ấy.

Lúc đó Sài Gòn trổ ngón ăn chơi, nhà Quảng Thạp là của một anh Hải Nam, trước nấu bếp cho thống đốc Cognacp, sau có vốn lập quán cơm Tây nầy là danh tiếng đang thời tôi đã nói buổi café sáng vừa bánh mì vừa bơ lạt, vừa café moka thơm ngát mà giá chỉ có hai cắc bạc, tha hồ quết bơ lên bánh mì lút bánh mà chủ nào có nói gì, nhà hàng Cửu Long Giang là nơi tựu hội các ông già viết tuần báo Nguyễn Tử Thức, Lê Sum (Trường Mậu) và Lão Ngạc Nguyễn Viên Kiều, v.v.., còn nhà Đông Pháp lữ quán từ ngày về tay cô Ba, ban ngày là quán cơm ban đêm là ổ me ổ cờ bạc và nơi tụ hội các tay ăn chơi lục tỉnh thường đến đây để gầy sòng và hút xách 1 .

Nhưng như đã thành thông lệ lúc đó nảy ra một thành ngữ mới, mọc ra có mấy năm đó rồi lặn luôn không nghe nhắc tới là muốn đến Đông Pháp lữ quán nhắp một ly khai vị hay ăn sò nướng hoặc đông nướng, nhộng chiên, thường nói “Đi lại Yvette chơi!” đủ biết cái đẹp của cô Ba quyến rũ thế nào?

Sự thật cái nhà hàng Đông Pháp lữ quán đúng ra mới là cái lò đào tạo Ba Trà, từ một gái quê thiếu học, biến ra một ả tứ thời đẹp vì còn mơn mởn đào tơ, và đẹp thêm cũng nhờ tay dì Tư Ăng lê và Marie Huệ dạy cho từ cách giồi làm sao, trau trìa làm sao cho phấn hiệu nào ăn với da mặt, cây son nào ăn với làn môi, không đỏ choẹt giả tạo vì son rẻ tiền, cũng không đỏ mét vì lấy giấy bao nhang thấm ướt mượn màu hường dợt thoa môi má hồng men mét tai tái mà khoe làn thu thuỷ, nét thu ba sao được. Vì muốn đền đáp dì Tư cái ơn tái tạo sanh ấy, mà cô Ba đạp nhằm cái tật đeo theo bài bạc me sòng, và thua mãi công tử chưa thấy sự nghiệp ông cha tan tành, mà cô đã thấy tài làm đổ quán xiêu đình chỉ đem lại bản thân nợ nần lút đầu lút cổ đến sau nầy “sập tiệm”. Ăn xài huy hoát, tiền vô không đếm xiết mà tiền ra cũng tuông như cầm chĩnh mà đổ, đưa tiền mua món nào, bồi bếp đem về tiền lẻ, cô Ba không bao giờ lấy lại, hoặc nói “để đó mà xài”, tức là cho anh cho mầy luôn đó, hoặc những lúc thua thiếu, chỉ dạy bỏ vào một rổ con để gần bàn phấn, đứa nào thèm chè cháo chút đỉnh cứ lấy đó mà chi tiêu, cô không bao giờ tra hỏi cũng không nói một lời khi thấy rổ đang đầy bỗng hoá rổ không, vì tiền hoang chuột chù cứ khoét!

Tội nghiệp cho mấy tay chủ điền nửa mùa muốn học làm sang, đưa con lên Sài Gòn, chạy chọt lo lót cho con vào học trường Chasseloup khỏi thi nhập học, tức nhiên phải biết cửa mà đút sáp, khi học ban quartier européen dành cho bọn Tây lai côi cút hay cho bọn con nhà giàu gộc khách trú hay con đại điền chủ có Pháp tịch, sinh viên được ăn cơm Tây và mặc âu phục, giờ chơi cũng như giờ học phải dùng Pháp ngữ làm gốc, nhờ vậy mà mau giỏi mau rành tiếng Tây, không nữa thì xin vào học ban quartier indigène, gọi ban bổn quốc, ăn cơm Việt, được tha hồ nói tiếng mẹ đẻ nhưng thầy dạy vẫn là thầy lang sa chung cả hai ban. Nếu không xin vô trường Chasseloup được thì đóng tiền xin học nội trú trưởng nhà dòng là trường Taberd, dạy dỗ cho các thầy dòng, ép buộc kinh thánh quá nhiều và dụ dỗ hay thế nào mà anh nào vô học Taberd mười anh nhiễm đạo Gia-tô đến gần nửa chục, tuy học có kém Chasseloup nhưng số thi ra trường lại đông hơn vì ở Taberd là học gạo, còn ở Chasseloup giáo sư Pháp chuyên dạy về học thức, thể dục, âm nhạc cho ra người lịch duyệt sau nầy, còn phần hồn vẫn để tự do, ai theo đạo nấy, không ép buộc, thậm chí lối 1922-1923 giáo sư Goupillon còn lập ra phái Patronage laique, chiêu dụ sinh viên nhập phái, đóng tiền nguyệt liễm mỗi tháng sáu cắc bạc (0$60) mà ngấm ngầm là chống đạo Gia-tô. Tội nghiệp cho mấy ông đại điền chủ dắt con và đem tiền lên trên nầy lo cho con có chỗ ăn học, chuyến về nhà, con thì gởi “tại trường lớn”, nói với má bù trẻ làm vậy mà nào dám nói thật bao nhiêu tiền đem theo, lớp trả tiền mướn phòng ngủ sang trọng nơi Hôtel des Nations (lữ quán vạn quốc) cho thêm sang, đó là tiền xài chính đáng, má bù trẻ nào nói gì, duy tiền không lổ gởi vào áo túi Ba Trà, mẹ ai dám nói. Con lên đây ăn học, cha lên đây tập làm sang, tứ sắc năm cắc một lện (0$50) nếu tính ra tiền ngày nay biết là mấy trăm mấy ngàn, hoặc me hoặc bài cào, thét vô rồi cậu Năm B. chủ rạp chớp bóng ở Cần Thơ đề nghị, và có ông hội đồng Th. tỉnh Rạch giá tán thành, đánh bài chung tiền không sướng bằng đánh “tứ sắc ăn hôn”, thua thì thua thiệt có dấu hiệu Banque de l‘Indochine (ngân hàng Đông Dương), còn thắng thì được phép “hôn” mà trời đất ôi, chớ chi được hun ngay vào má cô Ba thì còn sung sướng chút nào, gần hơi hương hít hơi hương (hay hơi gì đó) tưng an ủi phần nào, đàng này lập lệ người thắng, bài ăn 7/10 thì cho hôn mo bàn tay cô Ba một cái, nhược bằng thắng lớn, ăn quan tỷ dụ 17/40 thì bốn cái hun trót trót trên da trơn trợt, hoặc đúng máu con cháu họ Bùi (Bùi Kiệm), thì được phép gởi một cái hôn lại kỳ thắng sau.

Ông hội đồng Rạch giá và cậu nhà giàu Cần Thơ ở trên nầy trót tháng, rốt lại phải từ giã cô Ba, để mạnh ai về xứ nấy, kẻ luyện phi đao, người luyện phi bạc, chỉnh tu binh mã để kỳ bãi trường tới rước con về sẽ chiến đấu tranh nhau hôn cái da non của bàn tay mềm mại của cô Ba, thành ngữ đổ quán xiêu đình, vào khoảng 1920-1945 nên đổi lại “xiêu điền nát ruộng” cũng vì đua nhau tranh tiếng hảo “có ngủ có gần cô B. người đẹp số “dách” đất Sài gòn”.

Lúc khách ở Đông Pháp lữ quán bắt đầu thưa, vì đến mùa gieo mạ các chủ điền phải rút về đốt đồng làm mùa mới, khi ấy cô Ba bèn nhớ lại người ân là bác thầy thuốc của tôi. Hai người gặp nhau, ông sẵn lòng tha thứ, con chim biết nói trở về, thì cứ mở lồng cho chim được “kim ốc trử chi”. Phen nầy bác thầy tổ chức lấy xe nhà đưa đứa em lạc đàng tắm biển để hưởng lại tuần trăng tái hợp

Tưởng đưa cưng ra Cấp để hàn gắn mối thương lòng, dở lò hương cũ, nối lại tình xưa, té ra đại thất vọng, cô Ba ra tới Ô Cấp, thấy biển xanh non thắm, bỗng vụt khóc oà, bác sĩ A. thất kinh lật đật hỏi, cô trả lời: “Tôi nhớ nhà!”

Bác sĩ hoà hưởn hỏi tiếp:

– Nhà gì? Ở đâu?

– Thú thật với anh, tôi nhớ chồng tôi lắm!

– Chồng nào nữa?

– Dạ thưa, người chồng ở Phan Rang.

– Tại sao em ra đi với anh, em lại nhớ chồng Phan Rang?

– Tại vì ra đây thấy núi thấy biển, tôi nhớ anh Toàn, chồng của em! Tôi tưởng chỉ ngoài ấy mới có núi có biến, ngờ đâu ở đây cũng có núi có biến y như ngoài ấy.

Thế là đổ vỡ. Ép dầu ép mỡ, ai nỡ ép duyên. Duyên em nằm trong vòng tay anh mà em mơ tưởng người khác, chi cho bằng…

Dầu tốt đến bực nào, Phật trên bàn có khi cũng phải đứng nhỏm dậy vì ngồi lâu đã mỏi? Đề huề trở lại Sài Gòn, dẹp bỏ chuyện tái trùng phùng nối lại duyên xưa. Về tới Chợ Bến Thành, ghé xe đường d’Espagne trả cô về Đông Pháp lữ quán mặc dầu trong bụng rất là không bằng lòng, bác sĩ A. dạy xe về nhà ở gần lối đó, dối với bác gái rằng biển động mưa gió lu bù, Ô Cấp lúc này ở không được nên về sớm ở nhà nghỉ khoẻ hơn.

Lên võng nằm, ôn lại chuyện cũ: tại mình quá tốt. Đi sai một nước cờ, tâm lý cao thượng quá cũng không xong. Phép nuôi chim, phải khéo giữ giữ, chẳng bao giờ để chim sút lồng. Chim sút lồng ra ngoài không khí tự do, nếm được hột trái rừng, uống được nước suối trong nguồn chảy ra, bao giờ chim ưng trở lại lồng xưa với gạo giã quá trắng mất ngon, nước cũng vậy, nước nhà máy dẫu sạch cách mấy cũng còn chút mùi khử độc, không mùi thuốc tím thì mùi canh ty dót, tức mùi nhà thương, bác sĩ A. dầu ngọt thế nào, sao bằng anh Tư G. bảnh trai hoặc sao bì anh Ba H. đen đúa thật mà lúa bồ lúa ghe chài, một người tốt thật, rộng rãi thật là ông A., nhưng quen nghề quen tật, mỗi mỗi đều đo lường, có cho thì cân đúng mấy chỉ hay là nhiểu từng giọt đếm không cho thiếu và chẳng bao giờ cho dư, sao bì hai anh hẩu tố dành (hảo đa nhơn) nầy, cà rá xoàn khen chơi một tiếng là cho luôn không tiếc.

Tử đây, con chim sống theo cánh chim tự do, thiếu chi mai mối, nào ông hội đồng xứ nước mắm nhỉ, ruộng cò bay thẳng cánh kiếng, nào anh Năm B. chủ rạp hát ở Cần Thơ, tiền xài như nước, nào Hắc công tử đang đút đơn mà mình chưa thâu nhận, nào Bạch công tử, mình chưa trả ơn nghĩa đền… Bác sĩ anh ôi, em xin chịu lỗi anh tốt với em thật, nhưng ngồi xe anh, em vẫn ngại ngại sợ ngày nào chị cả không bằng lòng, thì cơ hội tốt của em cũng qua rồi, em hối sao kịp. Bác sĩ anh ôi! Có thương thì đừng giận, nếu giận thì đã hết thương, chi cho bằng anh trả tự do cho em kiếp nầy, và nói theo truyện Tàu và theo tâm lý quân tử Tàu, anh với em, xin chớ liếp tái sanh, kết cỏ ngậm vành em sẽ trả!

Nghĩ cho cùng, việc đời đưa tới với cô Ba chớ cô nào muốn. 14 tuổi đụng thằng Tây sồn sồn, không khác hoa lan vừa chởm nở, gặp dông tố phũ phàng, may sao chàng về Tây, kế 18 tuổi gặp anh Toàn, anh cho mặc áo xẩm, lại càng thêm lạ mắt? Bơ vơ sau cơn đau mắt tưởng đến mù, vớ được ông bác sĩ biết điều, như người đang đau gặp người giỏi khoa điều trị thêm được mát tay, mặc sức đoá hoa rừng tươi thắm. Ai dạy cô đánh bạc? Dì Tư hay chính bác sĩ đã có vợ đẹp sẵn tại nhà? Nhưng từ khi lỡ tay thua sạch và sẩy chân khỏi lồng độc chiếc (lấy Tây, lấy Toàn, lấy A., đều là đánh một sức một nêu cũng gọi đánh độc chiếc), sau nầy cọ dĩa hắc bạch – nhị công tử, tập tành so sánh chơi bài tay ba, rồi đụng Năm B. Cần Thơ, hội đồng H. Rạch giá, ngồi sòng me đụng chạm nhiều tay nhiều hơi đàn ông khác, khiến nên khi chồng ơn chồng nghĩa chớ ra Vũng Tàu, cổ thèm khát tự do cỏ mượn cớ nhớ núi nhớ biển mà nhắc lại Toàn, và một một hai hai cô vẫn nài trở về Sài Gòn cho bớt nhớ. Bực quá bác tôi trả chim về ổ cũ, mặc tình nhớ cảnh nhớ rừng.

Đông Pháp lữ quán sau khi hết sức tấp nập dập dìu công tử vương tôn, đến hồi vắng khách, may sao có một chàng Huê kiều có máu Việt, ở Chợ Lớn họ Lương, làm nghề mại bản, triệu phú, ngoài gọi Lương mái chính, gặp nàng và thích ý, bằng lòng bao bọc quyết chuyện trăm năm, nhưng với điều kiện kiếm chỗ khác cho được yên tịnh để xây tổ uyên ương, chớ Đông Pháp lữ quán quá ồn ào, gần chợ gần chỗ đông người, y không muốn. Thiệt là buồn ngủ mà gặp chiếu manh, chớ Đông Pháp lữ quán đã động ổ rồi, cò bót khởi sự dòm ngó, lại nữa chủ nợ tới lui khó chịu! Nhưng chỗ tôi muốn nói là “bầu tròn ống thẳng”, cô Ba Trà là gái thiếu học, lúc thanh xuân thiệt thà như cục đất, vừa hiếu mẹ vừa biết sợ chồng, duy xấu là xã hội tập cho xấu, ở ngay ổ cờ bạc là nhà dì Tư Ăng lê, không khác cô Ba Pho bị công tử Bích dạy cho giải buồn bằng đánh me hốt cái hoặc chơi tay con, và cái bông đẹp tự nhiên từ Cần Đước dời qua Sài Gòn, chớ xuống Vĩnh Long, Cần Thơ, bắt mùi giang hồ lưu lạc, dì Tư dạy cho trang điểm, ông bác sĩ dạy cho cầm nĩa dao tay, nào xắt thịt ăn cá cơm Tây lấy xương làm sao, nhứt là tập ăn thịt bò còn máu cho thêm bổ, ban đầu cho ăn bít tết, sau cho ăn thịt bò con chiên kiểu Chateaubriand, thưởng thức biết ngon rồi, ép trở lại nếm bít tết dầu ngon cách mấy cũng chê lợm giọng, bèn giả chước nhớ nhà nhớ biển, để cho tui sống theo tui, anh à.

Dịp may, cô đi dự đám cưới của Tuyết, con của thầy Ba Kính, đến căn phố lầu mà tôi từng được ở mấy tháng và làm lễ tân hôn tại đây, cô Ba chíp bụng, nên khi ông Bô của tôi đề huề dọn xuống phố ông hội đồng Trạch 69 đường Taberd, nơi tiền hơn (80 đồng mỗi tháng), lầu 260 Richaud vừa trống, không rõ ai chỉ đường dọn nẻo, cô đến mướn (lúc chúng tôi ở là 160$ mỗi tháng và chủ phố là trưởng toà Tư ở Vĩnh long), không treo bảng hiệu không đánh trống rinh rang, nhưng đó là NGUYỆT TIÊN CUNG đã tả rồi trong báo Tiếng Dội năm 1952 và nay tôi nhắc lại:

Mấy năm sau nầy, tôi nói đây là chuyện trước năm 1975, phố xá Sài Gòn mọc lên như nấm, đẹp to cao tốt, phố cũ ví làm sao được nhưng vào năm 1928, căn 260 Richaud là xinh bực nhứt rồi. Mặt tiền độ sáu thước bề ngang, một từng lầu thôi, nhưng thênh thang chắc chắn, và bề tiện nghi, không chỗ chê, vì dài thấu ra mặt hậu là đường Colombier (nay là đường Hồ Xuân Hương), cửa sau là cửa nhà chứa xe, rồi trở lên tới nhà bồi nhà bếp, còn phía trước day mặt ra Richaud là lầu năm ngăn bảy nắp, gọi cho rôm là “Nguyệt tiên cung” nghe cho kêu, chớ thật không biết thâm ý của kiến trúc sư hay của chủ nhà thế nào, chớ nhà nầy dành chứa me đánh bài thì tuyệt diệu, vì có ngả hậu để lui binh, có thang lầu riêng biệt để khi tấn khi thối, khi xuất khi hiện, đố lính tráng nào theo kịp bước lúc có báo động Tây gọi là alerte! Tôi được ở nhà nầy mấy tháng trước khi kết hôn nơi đây với cô Tuyết, nên vẫn biết được bề trong của Nguyệt tiên cung nầy, không đến bí ẩn như Tiếng Dội từng viết, nhưng khi lọt vào tay cô Ba, ông thợ bà thợ nào đây sắp đặt thiệt là kín đáo, nhưng theo tôi, cái khéo nhứt chốn nầy là cô Ba mượn nhà nầy mà “thỉnh” cựu phu quân Toàn đến đây cho thưởng thức một đêm ở trong nguyệt mà chẳng bao giờ được gần người nguyệt và trả thù lúc trước bị hất hủi bỏ rơi, trả thù như vầy tôi cho là tuyệt khéo. Ăn năn như Toàn, ỷ y như Toàn, ao ước ong cũ nút nhuỵ xưa không được, chớ mãi đến sáng thì mới hay “tình xưa” vẫn ở trên lầu, một đêm gần trong gang tấc chớ nào phải “cô tôi vô Chợ Lớn ăn tiệc, có lẽ mắc lỡ tay đánh bài, xin cậu rán chớ”, chờ đến sáng, tức giận lui binh, thì một tiếng kêu “anh Toàn” từ trên câu lơn lầu kêu xuống, – bị thoa mỡ bò cho tuột dên cách ấy, ai bày kế nầy, tôi cho là khéo và sướng không biết lá gan của cô Ba lúc ấy nở đến bực nào)

Google photos

Còn cái chuyện câu khách làng chơi từ nạp tiền lễ ra mắt 1.000 bạc chẵn chòi mà phải lựa toàn giấy xăng giấy lớn (nạp tiền lẻ tiền nhỏ, tỏ ra vét tủ và keo kiết) cô cho ra rìa, về không, rồi khi được nhập hội, qua khỏi cửa có hạch gác, có chuông reo sang qua tay á múi mời vào phòng khách có chén trà sâm giải khát, chuyền qua phòng kế một xẩm con tiếp mời một chén yến nấu đường phèn hay yến chưng cách thuỷ với bồ câu ra ràn, rồi chuyền tay một phen nữa qua phòng có tiểu mỹ nữ Tàu mời tắm nước nóng và thay y phục nhẹ, bao nhiêu ấy để rồi tốt số thì may gặp nàng Trà, xấu số thì thâu bửu bối ra ngả sau chuồn về với bao nhiêu tức ấm ách vì người dẹp nàng tiên cho leo cây, những chi tiết tôi đã đọc trong Tiếng Dội 1952, tôi không dám tin hoàn toàn là có. Theo tôi nghe nói, thì quả vô nhà Trà rất khó vì là chỗ chứa me, thang lầu trên dưới đều có đèn báo động… nay chỉ còn dư âm, mỗi người thuật lại tuỳ theo trí tưởng tượng của mình, duy cái bóng giai nhân, mỗi lần có dịp đi ngang chốn cũ, trước 1975 thì lúc ấy phòng mạch bác sĩ Hồ Văn Nhựt cố nhân vẫn ở sát vách cung xưa mấy lúc sau nầy, cũng còn dịp trở lại đây, cảnh thì còn đó, phố lầu trơ trơ vô tri vô giác, biết với ai mà nhắc chuyện vang bóng một thời!

Tôi còn nhớ năm 1928, vào làm rể ông Kính, lúc ấy dãy ngang số 260 còn là đất trống cây mọc che khuất một vuông nhà lụp xụp bằng gỗ đã cũ kỹ, dường như là trại cưa súc ván, chung quanh chưa có dinh thự xinh tốt như bây giờ, mỗi ngày tôi đi làm nơi trường máy, một cuốc xe kéo tay phải trả 0$15 vì đường xa khá đến, chiều chiều là tôi được ngồi ghế strapontin (ghế phụ) trên chiếc Peogeot mui trần, băng sau danh dự là ông Kính chễm chệ ngồi giữa, bên tả là cô Tuyết, ái nữ con riêng của phu nhơn, và bà Kính vẫn ngồi bên hữu, xe đảo mấy vòng hết chợ cũ qua chợ mới Bến Thành rồi đảo xuống Nhà Rồng lăng tô (láng thọ), ghé các tay bài quen để hỏi tối me hốt nơi đâu, rồi trở lộn về nhà xơi cơm tối hối hả rồi ngồi xe trở lại để kiếm sòng gầy tụ, hoặc tôi xin ở lại nhà, hoặc tôi phải đi theo vào các nhà xét trong Chợ Lớn cho đến khuya lơ khuya lắc, may đánh ăn thì về sớm, thua thì ở lại trông mong gỡ gạc, khi thì: như ngày thứ bảy và ngày lễ có tổ chức đờn ca tại nhà, thức muốn lòi con mắt, và thân làm rể nhờ hột cơm, vẫn ngủ ghế bố bày ra nơi câu lơn lầu trong, không mùng, trị muỗi cắn bằng nhang khoanh hiệu Nhựt bổn, ấy ai thì như tiên đến đây để giỡn tiền cho biết thế nào là người đẹp, duy tôi nằm tại đó mà nào biết đó sau trở thành Nguyệt tiên cung là cái cung động gì? Tôi chỉ nhớ nhà nầy đối với tôi là xui xẻo nhứt, muốn cưới Tuyết nên phải lăn vào lửa, thân xếp ve cân không tới 40 kí, làm ra tiền khá đến, thơ ký hạng tư lương mỗi tháng 80 đồng, kiếm thêm được 60 đồng nữa nhờ dạy Việt văn cho ba ông Tây chủ sở, nhưng những 140 đồng ấy tương đương với lương tri phủ chớ phải ít ỏi gì sao, nhưng nào đủ cho tôi ngồi nhà hàng và hút thuốc thơm con mèo nguyên hộp.

Khi cô Ba Trà thuật và nhắc lại cảnh cũ, cũng làm cho tôi hồi hộp nhớ lại kỷ niệm riêng buổi nào, và lúc nầy cô Ba mới thật là xinh tốt như hoa, tuy biết bề trong thì ắt đó là hoa đã nở từ sáng, xiết bao ong bưởm đã mở đàng đi lối về, nhưng bọn đàn ông nào ai xét chi chỗ đó, chỉ biết cô còn nheo nhẻo như nữ học sinh áo tím vừa ra trường, mỗi chiều cô ngồi xe trần mặt hoa da ngọc, đàn ông nào lại chẳng muốn nhào vô, đâu phải lấy cô mà chỉ muốn được danh là biết cô cũng đủ. Duy tôi thanh minh một lần nữa, nhiều người không được gần rồi tra tiếng oán, chớ cô biết giữ gìn danh tiếng, không phải hễ có tiền là được gần cô đâu!

Ngày hội đồng Th. Rạch giá và cậu Nam B. Cần Thơ từ giã cô Ba để về xứ làm cho cô lấy làm lạ, hỏi:

– Coi! Hai anh sao về đi? Ở lại đây chơi mà!

Cả hai như sắp đặt trước, đồng trả lời một lượt:

– Chúng tôi có nguyện ngày nào cô mặc trở lại chiếc áo lần đầu khi ba ta gặp nhau, thì chúng tôi rút lui, kể như đã công thành duyên mãn. Hôm nay cô mặc trở lại bộ com lê (complet) nữ sinh trường áo tím, ấy cũng là ngày chúng tôi tự bãi trường.

Cô nghe nói mới sực nhớ lại, y phục quá nhiều, cô mặc chiếc áo còn lằn xếp đã trót bốn tháng mới lấy từ trong tủ ra… Bắt tay từ giã, xe chạy nghe cái vù, cậu Cần thơ văng luôn rạp hát bóng đang ăn khách, ông Rạch giá bay luôn mấy sở ruộng luôn và năm sáu đìa cá đồng, tuy không cánh mà biết đằng vân, phép cô Ba hay thật. Cái hại mê nữ sắc!

Và nhan sắc cô Ba lúc ấy thật là quyến rũ: hai chàng về tỉnh chưa được bao lâu, kẻ ngứa ngáy hai chơn, người động lòng bốn phương, cả hai tom góp “gió máy” được vừa nặng túi, không hẹn mà đồng hè trở lên Đông Pháp lữ quán, ông Hội quyết dâng đủ sính lễ cưới nàng, cậu Bích (không phải Bích Trà Vinh) cũng quyết dâng trái tim mặc cho nàng mổ xẻ, miễn nàng ừ một tiếng nhìn nhận làm chồng, và cả hai đều đưa đơn nhờ dì Tư Ăng lê chuyển đạt. Thấy việc khó xử, bà mai nói phân hai:

– Việc ấy nói thẳng với Ba, chớ qua tính là tính làm sao được?

Đến đây ta mới thấy cái ma lực của ái tình. Chính chuyên, chung tình thì xuýt bị thằng ghiền Sáu Mão bày đặt chuyện rà lưỡi trị mắt nhặm để trước hôn má, sau sẽ viếng động tiên, qua khỏi truông chị Sáu toa rập với chồng, vì quá thua me, sổ lồng ông A. thì bị kế hắc bạch hai chàng, chớ đi giáp vòng Hậu Giang Ba Thắc, nay đến lượt chồng sờ sờ đó mà hai người nầy đòi cưới là cưới làm sao? Đơn lên tới cô Ba, cô lạnh lùng trả lại: “Tôi là gái có chồng?” Rồi đúng một cái, không thắng không bại mà sòng me Hắc Bạch Cần Rạch tự nhiên xên: cậu Ba đeo mà không được đành làm con ong già bay qua bông khác, cậu Tư bị mấy cô đào cải lương thu hồn vì xem tích Hồ nguyệt cô bị Tiết Giao đoạt ngọc, đến lượt hai anh công tử vườn nầy, hốp tốp, đơn đưa cô Ba quyết định, bỗng bị một tay triệu phú Huê kiều, như đã nói nơi đoạn trước là Lương H., đóng vai Thúc sinh quen thói bốc rời, ra lịnh dẹp Lữ quán Đông Pháp và lập cho cô một động mới: Nguyệt tiên cung. Lương thắng cuộc, chiếm được mỹ nhân, cuộc thi đua giữa các công tử tạm chấm dứt, vì giỡn tiền không lại mái chính triệu phú Tàu.

——————————–

1Ngày nay các tay viết Bắc thường viết “hút sách”, tôi không biết dựa vào điển tích nào và tôi vẫn giữ chính tả của riêng tôi viết “hút xách” dựa theo điển nầy: có mặt ông già thần tinh Sốc, xứ tôi, linh ứng lắm, không ai dám nói xúc phạm hay có cử chỉ bất nhã nào với ngài, một hôm đạp đồng lên dặn người từ coi miếu dặn không nên cho bợm hút vào miễn bất cứ sang hèn cũng vậy, các đạo lấy làm lạ, hỏi duyên cớ, ngài để tên ngồi đồng đáp: “Làng nầy người nào cũng tốt, duy bợm hút phải coi chừng, vì khi nó ghiền, lư lương tao nó cũng xách!”.
Hút xách đi đôi đi cặp với nhau là vì diễn nầy. Tôi nói cho tôi và ai muốn viết sao mặc ý.