This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Phần 20 Làm sao để không cúi đầu trước cường quyền?
Nhục hình để hỏi cung, hỏi cung để tìm ra những âm mưu chống lại chế độ hay nhỏ hơn là chống lại kỷ luật trại giam. Quy trình của ngành an ninh tại Việt Nam đều dựa vào công thức này trong đó điểm căn bản là dùng nhục hình để bắt tù nhân phải xưng tội. Nhưng ở trại trừng giới như A-20 những việc làm đi ngược lại đường lối của ban quản trại diễn ra hàng ngày, công khai. Tù nhân cải tạo ở trại giam nào đi nửa thì cũng như cá nằm trên thớt, người Cộng sản muốn chặt xuống cái thớt ấy lúc nào chả được. Hỏi cung bao nhiêu thì cũng vẫn vậy mà thôi, không thay đởi gì được. Họ biết như vậy chứ nhưng vẫn phải làm vì cần phải có một điều gì đó để báo cáo lên trên. Không báo cáo là không làm việc. Hình thức, chỉ tiêu, định mức là những căn bệnh rất nặng trong hàng ngũ cán bộ Cộng Sản. Cho nên tại một trại thuộc kiểu trại Lý Bá Sơ như trại A-20 ở thung lũng Xuân Phước mà hằng nằm ban quản trại sống “êm ru bà rù” trong báo cáo thường kỳ không khám phá được “âm mưu” phá trại giam hay âm mưu trốn trại hàng loạt thì không được.
Vì thế chúng tôi không hề ngạc nhiên khi hàng năm, vào những dịp “lễ lớn” của chế độ như 30 tháng 4 hay 2 tháng 9 một số anh em chúng tôi thế nào cũng phải khăn gói quả mướp vào nằm trong biệt giam trước ngày lễ khoảng 2 ngày. Trong số những anh em vào biệt giam họ bắt cả nhưng thành phần hiền lành nhất trại. Nguyên tắc của ban quản trại ở trại lao cải trong kịch bản khủng bố là: “một tên ăn trộm chạy vào khu chợ đông người thì tốt nhất là bắt cả chợ. Mâu thuẩn giữa người này và người kia trong hoàn cảnh bị giam cầm sẽ lòi ra những đầu mối để tìm ra tên trộm”. Nguyên tắc vừa kể được tên trại trưởng A-20 là Lê Đồng Vũ áp dụng triệt để, nhưng đòn này không linh nghiệm đối với phần đông anh em tù cải tạo tại đây. Lý do rất dễ hiểu: một khi người tù cải tạo ý thức được rằng “không an tâm cải tạo” và “an tâm cải tạo” thì đều bị đẩy vào tình trạng bế tắc, đó là lưu đày không có ngày ra thì tại sao lại phải an tâm cải tạo, cách gọi khác của nhóm từ “nín thở qua sông”. Một bạn tù trẻ tuổi trong số anh em chúng tôi là N.Q.T. nói: “Thật ra trong cái rọ trong chốn rừng xanh núi đỏ như thế này, chống chúng nó rồi thì cũng đến thế thôi. Nhưng hãy cứ coi đây là trò vui chơi của mình mà trở thành thử thách đối với chúng. Cũng phải làm cho chúng mất ăn, mất ngủ chứ, đâu cứ mãi cúi đầu im lặng để chúng vo tròn bóp méo bọn mình thế nào tùy thích được. Cuối cùng chúng ta dù không làm được gì nhưng không thể cuối đầu trước bạo lực.”
Tôi chỉ được mở cùm và dẫn lên phòng thẩm cung tọa lạc ngoài khuôn viên trại ngày thứ 16 kể từ khi bị vào biệt giam trong xà lim. Vừa khát, mất ngủ, đói, hai nhượng chân tê cứng, tôi đã ngã quị ngay khi vừa bước ra khỏi cổng khu biệt giam. Tôi đòi uống nước nếu không trại sẽ phải cho người khênh tôi lên phòng thẩm cung. Biết rằng tôi đổ bựa, trực trại Luật ra lệnh cho trật tự lấy cho tôi một ca nước lạnh từ nhà bếp. Sau đó Luật còn cho gọi hai tù hình sự dìu tôi đi. Lên tới phòng thẩm cung tôi đã tỉnh dần và nhận ra người thẩm cung tôi không phải là Lê Đồng Vũ hay Lý “lé” mà là một người tôi chưa gặp bao giờ. Ông ta ngồi sau bàn thẩm cung không mặc đồng phục của công an mà ăn mặc theo lối cán bộ nhà nước: quần vải kaki màu oive, áo sơ mi trắng vạt ngắn bỏ ngoài quần, dép lốp, cái túi xắc cốt bằng da giả để trên bàn, không mang nón cối, tóc hoa râm cắt ngắn. Thấy hai tù hình sự dìu tôi vào, ông ta chỉ vào cái ghế để trước bàn thẩm cung. Trên bàn ngoài cái xắc cốt còn hai món bày biện khác mà tôi thường thấy ở những nơi tôi bị thẩm cung, đó là một bao thuốc lá Điện Biên và một bộ đồ trà. Ông ta hỏi tôi giọng “Bắc 1975”: _Anh bị ốm à, trại cấp thuốc gì chưa?
Có lẽ trong suốt cuộc đời tù đày dài dặc của tôi đây là lần bị thẩm cung mà tôi nhớ nhất. Ca nước mà trực trại cho uống đã làm tôi tỉnh lại. Cho nên khi vừa nghe thấy lời đãi bôi của viên sĩ quan công an thẩm cung, cơn giận trong tôi bùng lên:
_Không, tôi không đau ốm gì cả, tôi bị đưa vào biệt giam và bị cùm hai chân không được biết lý do. Mỡi bữa ăn tôi được cấp 5 lát khoai mì khô luộc, chan vào hai muỗng muối, nhưng chỉ được phát hai muỗng mước cho mỗi bữa ăn thì bảo sao thân thể tôi không như thế này. Tôi không khiếu nại gì về việc tôi bị cùm hai chân, cho ăn đói, nhưng tôi phản đối việc hành hạ bằng cách rút phần nước uống một cách quá đáng như thế. Nội qui là do các ông viết ra chứ không phải là do tù cải tạo anh em chúng tôi viết. Chúng tôi không hề vi phạm nội qui mà chính ban quản trại ở đây đã vi phạm nội qui. Cán bộ cho phép tôi hỏi chứ?
Vừa nghe đến chữ “hỏi” người thẩm vấn tôi đứng bật dậy. Ông ta cố giữ bình tĩnh nhưng không thể che dấu được sự giận dữ trong đôi mắt, chỉ ngón tay vào tôi:
_Anh là cải tạo hay tôi là cải tạo. Anh phải biết vị trí của mình chứ? Tôi là Hoàng Thanh ở ngoài trung ương (Hà Nội) vào trong chuyến đi thực địa và tìm hiểu. Bổn phận của anh là trả lời những câu tôi hỏi chứ không phải là anh được đưa ra đây hỏi tôi. Anh sẽ được uống nước đầy đủ trước khi chúng ta bắt đầu chuyện trò.
(Ghi chú: Hoàng Thanh chỉ có thể là bí danh của một sĩ quan công an làm nhiệm vụ thẩm vấn điều tra thuộc PA-24 thuộc Bộ Công An có chi nhánh tại Sài Gòn. Anh em trong trại trừng giới A-20 không biết dựa vào nguồn tin nào mà kháo nhau đó là tướng Hoàng Thanh. Thật ra không ai biết được tên thật của ông ta, vì những thẩm vấn viên của c ông an trại giam không bao giờ cho biết tên thật và cấp hàm của họ).
Nói xong ông ta bỏ ra ngoài khoảng 10 phút sau quay lại với một ca nước trên tay. Tôi hiểu việc ông ta đích thân đi lấy nước cho tôi là một đòn tâm lý. “Trò này không ăn thua gì đâu. Bọn bây là một lò như nhau cả”, tôi nghĩ trong đầu như thế. Đợi tôi uống xong ca nước, viên sĩ quan thẩm vấn mới ngồi lại vào bàn. Ông ta nói:
_Hồi nảy anh muốn hỏi gì thì hỏi đi, nhưng phải nghiêm túc!
Chỉ chờ cơ hội này là tôi “phang” ngay, bởi không còn gì để mà phải sợ hãi:
_Tôi hỏi thật cán bộ. Cán bộ nghĩ sao khi cuộc chiến đã chấm dứt rồi, miền Nam đã thua trận, những sĩ quan từ cấp Chuẩn Úy trở lên, những công chức từ trưởng phòng trở lên đã khăn gói vào tù hết rồi mà những người chiến thắng vẫn còn sợ là sao chứ. Chúng tôi đã ở trong những cái rọ như thế này hơn 6 năm rồi, người nào cũng thân tàn ma dại, nhà tù thì ở chốn rừng xanh núi đỏ một con kiến lọt ra trại giam này cũng không được, mà có lọt ra được thì sẽ sống ra làm sao, trốn sao được trước mạng lưới an ninh còn dầy hơn ở đây nửa? Tôi nói thẳng với cán bộ là chúng tôi thua trận nên người thắng muốn sinh sát ra sao cũng được, chúng tôi không hề ân hận vì công cuộc chống Cộng của mình. Trong một cuộc chiến tranh, có bên tấn công thì có bên chống lại. Chúng tôi là dân miền Nam là bên bị tấn công thì phải chống lại, chúng tôi không có lỗi gì cả đối với bất cứ người Việt Nam nào, nhưng đả ở bên thua thì không nói gì được nên đành nhẫn nhịn mà sống, ấy vậy mà cũng vẫn không yên. Cách hành hạ của ban quản trại đối với anh em chúng tôi ở đây là biến chúng tôi thành những con vật, nhưng không cho chết ngay mà để cho chúng tôi chết dần mòn. Khoan hồng mà nhà nước nói như kiểu này thì thà các ông đưa chúng tôi ra ngoài đồng cho mỗi đứa một viên đạn nhu thế mới đúng là khoan hồng. Câu hỏi của tôi là liệu cán bộ có cho tôi làm đơn xin nhà nước đem tôi ra bắn bỏ không?
Hoàng Thanh, cứ tạm tin tên ông ta là như thế đã gạt phăng:
_Nhiệm vụ của tôi không phải là nhận đơn xin ra pháp trường của anh. Anh là trại viên cải tạo, cải tạo tốt thì được trả về với gia đình, chưa tốt thì nhà nước để anh tiếp tục cải tạo. Còn chưa cải tạo tốt mà thả ra thì dân chúng bên ngoài không chấp nhận anh đâu!
_Cán bộ định nghĩa cho tôi xem thế nào là cải tạo tốt? Cải tạo đến bao giờ thì được gọi là tốt? Cải tạo mãi mà không tốt thì có được đem đi bắn hay vẫn là chung thân trong trại? Tôi mong mỏi cán bộ cho tôi một xác định rõ rệt!
Tôi nghĩ có lẽ Hồ Chí Minh có đội cái hòm kính trong lăng sống dậy cũng không thể trả lời cho đám hậu duệ này của ông ta được. Cho nên Hoàng Thanh cũng cho chạy lại “cuốn băng đã nhão” của kịch bản khủng bố:
_Cải tạo tốt hay không là tùy anh. Anh phải tự biết là anh đã tốt hay chưa . Cho nên ngày ra khỏi cổng trại giam này cũng tùy thuộc anh chứ không phải tùy thuộc trại giam. Trong trại mới xảy ra vụ cướp súng trốn trại, rồi sau đó xảy ra những vụ viết khẩu hiệu, đình công, lãng công, tụ tập hát hò nói xấu chế độ, tổ chức cơm đoàn kết, nay lại có báo cáo các anh âm mưu phá trại giam, hủy hoại tài sản xã hội chủ nghĩa. Ở trong trại chắc anh biết mấy vụ này chứ? Ai là người lãnh đạo?
Tôi trả lời mà không cần phải đắn đo gì:
_Những vụ nào xảy ra công khai thì tôi và bạn đồng tù với tôi đều biết. Nhưng những vụ gọi là còn đang âm mưu thì đến ngay như các cán bộ trại giam này còn không biết thì làm sao tôi biết. Tôi là tù nhân. Việc khám phá ra những âm mưu là công việc của các cán bộ có trách nhiệm tại trại giam không phải trách nhiệm của các tù nhân chúng tôi!
Cứ như thế vụ thẩm cung trở thành vụ tranh luận trong hơn một tiếng đồng hồ và một lần nửa nó là một minh chứng cho thấy ngay ở vào một tình trạng thất thế nhất, một người tù nếu sẵn sàng chấp nhận một số phận xấu nhất cho mình thì sẽ không bao giờ còn phải sợ hãi trước bất cứ một áp lực nào. Một tù nhân vẫn còn ngại ngùng, sợ hãi vì vẫn còn tin vào điều kiện “phải cải tạo tốt để được về với gia đình” sẽ không bao giờ đứng được cho thẳng lưng trước cường quyền.
Trước đó P. Đ. Nh. Là người nhóm sĩ quan đầu tiên trãi qua những đòn trừng phạt không trại nào có trong chuồng cọp sau khi anh tổ chức cuộc lãng công gọi nôm na là “No eat, No work” (Không ăn thì không làm) đã chuyển đạt cho tôi một kinh nghiệm về những điều cần làm để đối phó với chế độ “hai muỗng cơm, hai muỗng nước và hai muỗng muối” trong biệt giam. Anh nói: “Việc cần làm ngay đầu tiên của Alpha (tên anh em gọi tôi theo mẫu tự đầu tiên của Việt ngữ) là phải chắt nước muối khỏi tô khoai mì ngay lập tức, sau đó chỉ ăn một chút cầm chừng thôi. Nước uống thì đừng vội vã ực một hớp là hết ngay. Hãy làm chậm và nhạt cơn khác của mình bằng cách uống từng nửa muỗng một, không nuốt mà để nước nhỏ từng giọt xuống chân răng rồi thấm dần vào cổ họng, cơn khát sẽ dịu xuống dần. Việc cần làm thứ hai là mỗi khi bị gọi đi thẩm cung thì cố gắng kéo dài thời gian thẩm cung và số lần thẩm cung. Để làm gì? Alpha cần lợi dụng những lần này để xin uống nước. Mình phải giở trò lì ngay: nói thẳng với chúng là nếu không được uống nước thì không có sức đâu mà nói và cương quyết yêu cầu chúng đem Alpha ra sân trại bắn bỏ. Khi được dẫn trở lại phòng giam, Alpha đái ra cái ca nước. Nước tiểu lúc đó còn nhạt , dễ uống và không nguy hiểm”.
Bài học mưu sinh và thoát hiểm của P.Đ.N. khá chính xác nhưng trường hợp của tôi không giống trường hợp của anh. Anh chỉ phải ở trong thời gian vài tháng, như g tôi phải ở một thời gian dài hơn nhiều, cho nên cái trò nhục hình này chỉ xảy ra vào những tuần lễ trước và sau khi tôi bị thẩm cung. Ngoài thời gian ấy chúng phát nước trở lại mức bình thường ngĩa là một phần tư ca nước cho mỗi bữa ăn. Những thời gian bị “đì” và phải ăn chế độ được tính toán theo công thức “qui ra” cơm canh như dưới đây:
Năm (5) lát khoai mì = 2 muỗng cà phê cơm
Nửa lóng tay nước uống = hai muỗng “canh đại dương”
Tôi hiểu ngay đây là một lối giết người dần dần bằng cách làm cho người tù bị phù thủng vì “ăn mặn và uống ít nước”. Vì thế tôi giảm việc ăn tới mức tối đa nghĩa là có bữa chỉ ăn hai lát khoai mì. Đói kinh khủng nhưng ngược lại bớt khát hơn. Người tôi gần như lả đi nhưng vẫn cảm thấy đầu óc tỉnh táo. Tôi tập uống nước theo kiểu đếm từng giọt để cho cơ thể quen dần, chịu đựng được những cơn khát cháy cổ họng. Việc tập luyện cộng thêm với việc ngồi yên tập trung và thở đều có khả năng làm cho cơn khát tạm dịu xuống. Khát cộng thêm với muỗi hành vào ban đêm tôi không thể chợp mắt được chút nào. Không khí trong chuồng cọp mùa hè nóng như một lò than ngột ngạt, khó thở. Nhưng chỉ vào khoảng 5 giờ chiều dù vẫn còn chút ánh tà dương lọt qua cửa tò vò của xà lim, muỗi rừng đã kêu như sáo. Loại muỗi rừng này nhỏ mình đen thẫm và có vân, chích vào người đau, da phồng rộp lên như người nổi mề đay và ngứa. Mặc áo thì nóng hừng hực không thể nào chịu được mà cởi áo ra thì bị những đàn muỗi tấn công. Suốt đêm tôi chống trả bằng cách dùng chiếc áo vung lên không trung. Đến khoảng 5 giờ sáng, khi tay mỏi nhừ thì nằm vật xuống ngủ thiếp đi.
Khi trật tự mở cửa vào lúc 6 giờ sáng để trực trại Luật điểm số xem ban đêm có tù nhân nào phá được cái cùm sắt 16 ly trổ nóc bê tông của xà lim trốn hay không, nhìn xuống sán nằm tôi có thể thấy hàng trăm xác muỗi, có nhiều con còn đọng đậy. Hóa ra những con muỗi này hút máu đến no nê không bay nổi, lăn kềnh ra. Dùng bàn tay chà một lượt, máu muỗi đỏ bàn tay. Cũng mất ba ngày sau tôi mới tìm cách liên lạc được với Trần Danh san nhờ một em tù hình sự nằm ở biệt giam 6 tức là ngay cạnh xà lim tôi đang nằm. Thông thường cách liên lạc trong tù tốt nhất là dùng Morse mà anh em chúng tôi gọi nôm na là “tạch tạch xè”. Morse là phương pháp truyền tin cổ điển. Tôi biết xử dụng Morse do tình cờ. Khi phục vụ tại Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia, Sở Thời Sự do tôi điều hành về phương diện tổ chức không có Phòng Kiểm Thính vốn luôn thuộc Sở Kỹ Thuật, nhưng về hoạt động vốn là công việc hằng ngày lại nhắm vào phục vụ cho Sở Thời Sự. Nhiệm vụ của Phòng Kiểm Thính là nghe xem những đài sau đây nói gì hằng ngày: đài Giải Phóng của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam, Đài Tiếng Nói Việt Nam của Hà Nội, Phần phát thanh bằng Việt ngữ của đài Mạc Tư Khoa (Liên Xô), Phần phát thanh bằng Việt Ngữ của đài phát thanh Bắc Kinh (Trung Cộng), Phần phát thanh Việt ngữ của đài BBC, Phần phát thanh Việt Ngữ của đài Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA và đặc biệt phần phát tin bằng Morse của hãng Thông Tấn DKP (Đông Đức). Đây là hãng Thông Tấn chuyên gởi đi những bản tin bằng Morse bằng ba thứ tiếng Đức, Pháp và Anh nhằm lũng đoạn thế giới tự do. Kỹ thuật của họ là “lấy một phần sự thật của các bản tin quốc tấ được xác nhận và thêm vào những chi tiết do họ chế ra, chỉ để gây bất lợi cho Hao Kỳ và thế giới Tây phương”.
Chẳng hạn như năm 1968, Tổng bí thư theo chủ nghĩa xét lại của đảng Cộng Sản Tiệp ông Ducek bị bắt sau khi ông dấy lên cuộc Cách Mạng Nhung vào mùa Xuân tại Tiệp Khắc thì lập tức 3 giờ đồng hồ sau, đài DKP cho phát đi một bản tin xác nhận Tổng Bí Thư Ducek bị bắt và ông đọc ý đoc một bản phản tỉnh “xin lỗi nhân dân Tiệp”. Thời điểm nói trên, các phương tiện thông tin không có nhiều như hiện nay nên khó phối kiểm tin này. Cuối cùng chúng tôi biết đây là một tin dỏm mà DKP đưa ra nhằm kiểm soát sự thiệt hại cho Đảng Cộng sản Đông Đức mà thôi. Ngoài nhiệm vụ kiểm thính, Phòng Kiểm Thính, gọi nôm na là phòng thâu tin còn phải phụ trách coi 4 máy viễn ấn tự của các hãng Thông Tấn quốc tế nổi tiếng lúc bấy giờ như Reuter, Associate Press (AP), United Press International (UPI), Hãng Thông Tấn Pháp (AFP). Hệ thống truyền thanh quốc gia có hợp đồng ký với những hãng này và họ đặt máy viễn ấn để chúng tôi có thể lấy tin trực tiếp với họ và chuyển thành tiếng Việt.
Phòng Kiểm Thính phải nghe và thu những tin tức này từ các đài nói trên, rồi ngồi nghe lại đánh máy ra nội dung, một bản sẽ chuyển cho văn phòng tổng giám đốc, bản thứ hai sẽ chuyển xuống Sở Thời Sự để tôi và các Chủ Bút đọc. Thấy gì cần khai thác và phản tuyên truyền, tôi có trách nhiệm triệu tập các phiên họp các Trưởng Phòng Bình Luận và Chủ Bút Tin Tức để thảo luận về nội dung cần phải phản tuyên truyền. Phòng Kiểm Thính có hai nhân viên nghe Morse rất giỏi. Tôi tìm hiểu và tập nghe morse từ hai nhân viên này sau khi nhọ hướng dẫn tôi cách nghe và xử dụng. Khi đi tù, ngồi tẩn mẩn, tôi nghĩ ra việc dùng morse đơn giản hơn và để giết thì giờ tôi hướng dẫn San cách liên lạc bằng morse đơn giản để xử dụng trong những trường hợp cần thiết, chẳng hạn như khi vào biệt giam có thể liên lạc với nhau.
Nhưng trường hợp các xà lim biệt giam ở khu biệt giam trại A-20 khá phức tạp vì chỉ khi nào hai người nằm sát nhau ở hai bệ nằm ngăn bằng bức vách chung thì mới xử dụng morse gõ vào tường được. Còn nếu nằm hai xà lim cách nhau thì khi gõ vào tường người bên kia chỉ nghe những tiếng động bị “echoed” (tạm dịch là bị vang) và bị cộng hưởng nên không thể nhận ra được. Trong suốt 3 ngày tôi gõ mấy lần, nhưng rõ ràng San không thể nhận ra những điều tôi muốn nói. Nhưng vào buổi tối ngày thứ 4 kể từ khi tôi vào biệt giam, tôi bỗng nghe người bạn tù ở phòng số 6 tức là nằm sát ngay tôi lên tiếng. Tôi nghe văng vẳng nhưng khá rõ: “Anh…số..5…ơi…em…là…Trí…tù…ở…đội…hình…sự…Anh…không…cần…gõ…vào…tường…Muốn…liên…lạc…anh…chỉ…cần…nói…lớn…và…chậm…bên…kia…sẽ…nghe…”
(Ghi chú: Mỗi dấu chấm là tượng trưng chữ bị “echoed” nhưng rất nhẹ cho nên nói với tốc độ càng cah65m càng nghe rõ)
Tôi thử và tập luyện với người bạn trẻ tù hình sự nằm ở biệt giam 6 vào nửa đêm hôm sau. Kết quả khá tốt. Trường hợp hai xà lim nằm cách xa nhau. Chẳng hạn như ở xà lim 2 muốn liên lạc với xà lim 10 nếu gặp khó khăn thì có thể nhờ một xà lim nào ở gần giữa tiếp vận. Trong suốt thời gian 4 năm nằm ở xà lim ở phân trại E của trại A-20, tôi dùng phương pháp này để liên lạc với các xà lim khác: linh mục Nguyễn Văn Vàng dòng Chúa Cứu Thế ở xà lim 10, linh mục Nguyễn Luân, một linh mục mới chịu chức còn đang tập sự tại nhà thờ chính tòa Phan Thiết bị suyễn khá nặng ở xà lim 7 và dĩ nhiên Trí ở xà lim 6, số 4 bỏ trống, rời xà lim 3 là nơi luật sư Trần Danh San mới bị đẩy vào, xà lim số 2 là nơi hai linh mục Nguyễn Quang Minh và Nguyễn Duy Chương (vụ nhà thờ Vinh Sơn) bị cùm chung và ở xà lim 1 là phòng biệt giam Nguyễn Đình Quý một sĩ quan cảnh sát phục vụ tại Bộ Tư Lệnh CSQG. Liên lạc theo kiểu nói chậm mà chúng tôi gọi là “phương pháp của người robot” có điều không thuận lợi là chúng tôi phải nói bằng bạch văn, người mở các xà lim khác có thể nghe và hiểu câu chuyện. Hơn nửa bọn vệ binh có nhiệm vụ tuần tra khu vực xà lim vào ban đêm có thể nghe thấy. Dù không hiểu rõ lắm nội dung việc thông cung giữa các tù nhân biệt giam, chúng cũng can thiệp để cắt ngang câu chuyện giữa chúng tôi bằng cách đạp chân vào khóa cùm xuyên qua bức tường phiá chân cùm trổ ra phía ngoài. Mỗi lần như vậy các vòng cùm siết chặt hai cổ chân tù nhân xà lim chuyển động khiên cho họ đau đớn vô cùng.
Nhưng đồng thời chúng tôi hiểu rõ rằng luật lệ mở cổng khu biệt giam và các phòng biệt giam vào ban đêm rất khó khăn, chỉ trường hợp bất đắc dĩ phải đưa tù nhân mới vào biệt giam hay tù nhân biệt giam bị bệnh chết đột ngột, trực trại mới chịu vào mở cổng. Cho nên tù nhân khu biệt giam nếu bị bệnh đột ngột vào ban đêm, liên quan đến tim mạch sẽ cầm chắc cái chết. Lý do chính khiên trực trại chỉ mở cổng khu biệt giam vì anh ta lười cũng có, nhưng yếu tố chính là do vấn đề an ninh. Ban đêm vào khu xà lim, trực trại phải mang theo mít nhất là hai vệ binh súng dài và một hoặc hai trật tự. Chúng sợ bị tù nhân xà lim tấn công cướp súng trốn trại, nhất là sau vụ cướp súng tại bãi lao động trốn trại của 6 sĩ quan xảy ra gần một năm trước đó.
Cá nhân, trong thời gian đầu bị “đì” phần nước tôi hết sức giới hạn việc liên lạc với San và những phòng biêt giam khác trừ trường hợp thật cần thiết để thông cung. Lý do rất dễ hiểu: nói nhiều thì khát nhiều. Với 4 muỗng nước mỗi ngày, cổ họng cháy bỏng chỉ cần nói một hai câu là tôi có cảm tưởng cái màng mỏng ở lưỡi gà rộp lên. Tình trạng kéo dài khoảng 10 ngày. Trong 10 ngày đó biện pháp đối phó của tôi là giảm ăn tới mức tối đa. Tôi chỉ ăn khi nào thấy chân tay bủn rủn và người toát mồ hôi lạnh. Cộng thêm vào với phương thúc này là ngồi thiền theo phương thức mà một tu sĩ Phật giáo thân với tôi là Thượng tọa Thích Huệ Đăng chỉ dẫn: nếu hai chân bị cùm thì ngồi duỗi thẳng chân ra thân mình phải thẳng thành một góc 90° với hai chân, hai tay chống nhẹ xuống đùi và thở ra hít vào thật nhẹ, phải đếm mỗi lần thở trong giai đoạn đầu để đầu óc thảnh thơi không suy nghĩ gì cả, quên tất cả mọi chuyện, kể cả chuyện đói, chuyện khát.
Ba bốn ngày đầu thì còn chật vật nhưng kể từ ngày thứ năm kể từ khi vào biệt giam là có thể vĩnh viễn, tôi thấy mình quen dần với phương thức “thiền biệt giam” này. Nó khiến tôi có thể bớt việc nghĩ đến khát và khiến tôi tin tưởng mạnh hơn vào ý chí chống lại kiểu nhục hình này trong nhà tù cộng sản.
Ngày 7-9-83, tôi đang đọc quyển “La Cochinchine Contemporaine nhưng đọc vừa được độ ba mươi trang, bỗng tôi phải dẹp cuốn sách xuất bản năm 1884 nầy qua một bên, vì tôi bắt gặp một tài liệu trích trong quyển “Histoire de l’Expedition de Cochinchine xuất bản bốn năm sau, tức năm 1888”. Thế là tại sao vậy?
Sau đó, nhờ tra lại trong tập nhỏ của Jean Bouchot “L’ anaissance et les premières années de Sài gòn”, khi ấy tôi mới rõ, sách của năm 1888 là tái bản kỳ nhì, vẫn có bản đầu, xuất bản năm 1864 và như đã nói, chỉ có Toà Bố Chợ lớn, theo Bouchot, còn tàng trữ một cuốn mà tác giả cuốn La Cochinchine Contemporaine (in năm 1884), trích đăng trong cuốn của mình (cóp dê) việc khó chối cãi. Nhơn đó, tôi xin giải bày cách tôi làm việc:
Năm xưa tôi có nuôi một con chó xi, lai biệt dạng và nhỏ con, nhưng thông minh, nói rằng khôn, tôi không bằng. Bữa nào có ăn món “chí quách” (trư cốt), xương heo bỏ đầy dưới đất, xi ta không vội ăn mà vẫn lui cụi gặm từ khu lẳng, từ ống xương đem ra chôn nơi sau vườn, để dành đó, và vì vậy, luôn luôn xi ta có xương gặm hằng ngay; khi tôi rõ biết, tôi bắt chước theo° và lấy theo đó, vạch ra lối làm việc và lối đọc sách: Sách của thơ việc, tôi không thích mượn đem về đọc, vì có kỳ hạn, đọc như “bị dịch thúc đít” mất hứng mà chớ, lại nữa, khi nào có đoạn hay ho, muốn đọc lại nữa cũng không được vì sách phải trả đi rồi. Tôi chưa nói sách công, nhiêu người dùng, khi mình đến thư viện hỏi, rủi đã có người khác thân thế hơn, lấy mang về nhà, thì hoạ ra mình “cùi” và tuyệt hứng ái lại. Tôi rán tự nhín nhúc tiện cặn, mua lấy sách, riêng mình đọc, riêng mình dùng, thong dong không ai thúc hối, có nhiều cuốn, tôi biết rằng hay, bèn mua về, và bắt chước xi ta, tôi chôn xương, quên nữa, tôi cất cuốn sách và tủ, có khi suốt mười mấy năm quên phứt, khi lấy ra đọc, thích thú càng tăng, lại hú hí mừng thầm, của để dành lâu, thời buổi loạn ly mà không thất lạc thú chơi sách là như vậy đó. Thậm chí, chủ như tớ, tôi đọc sách gặp đoạn hay, thường xếp sách lại vì sợ e khi đọc gấp đọc liền, sẽ mất thú. Nào ngờ cũng vì cái tật “ngâm giấm” như vậy mà trễ trang không hay, nay tôi đọc lại sách cũ và viết lại như vầy là “hoa quả trái mùa”, mất ngon, mất hứng”.
Trở lại quyển “thuật lại trận chiến tranh đánh Nam kỳ”(Histoire de l’expé dition de Conchinchine) bản lần đầu in năm 1864 đã bán quá chạy, nên năm 1888, in lại lần nữa, mà kỳ nầy, vì nghe lời khuyên của người đọc, nên đã lọc bỏ những chi tiết thành thật buổi ban sơ, không khai tệ những gì xấu của đạo quân viễn chinh Pháp, vì vậy, tôi gọi “màu hồ đã mất”, và nhơn đó, cho tôi lặp lại, sách khảo cứu nên để y và chỉ nên sửa sai cải chính kỳ sau những gì thuộc tỷ dụ như chính tả, hay ngày tháng in sai; kỳ dư, nếu tháo sách ra, “sắp xếp cho có trật tật”, thì lại vướng mắc cái nạn “không chịu tên Mèo”, và hại hơn nữa, nói về nhà cũ, dở ra cất lại nó tanh bành thì có, chớ không hay ho vén khét chút nào.
Tôi kể ra đây để rồi bỏ qua, là sức bực nhả học giả chân chính như tác giá quyển “Việt Nam sử lược” tủ sách nào cũng trước đây thường có trong bán kỳ đầu, có danh “tổng binh Cao Lôi Liêm “, ông hiểu và gọi đó là danh tánh của vị tổng binh ấy, về sau, có người mách, đó là ba tỉnh Cao Châu, Lôi Châu, và Liêm Châu, nhưng tác giả cũng giả lời như không biết và khòng thêm cải chính trong mấy bản in sau, việc ấy, cho đến nay tôi vẫn lấy làm lạ, tác giả không lẽ thiếu thành thực của nhà văn nhơn chính (probité litléraire), hoạ chăng vì ông mãi làm chánh trị buổi tàn niên và đã không có thì giờ đẽo gọt lại nữa? Theo tôi, tỷ như ông Anatole France và các nhà văn Pháp khác (Chateaubriand chẳng hạn), o bế đổi đi đối lại từng chữ và từng morasse (bản tạm, in thử), không biết đến mấy lần mấy lượt, là vì đó là những áng văn chương, còn đậu sượng không nên chớ như tôi, viết để quên đời và nhứt là không cố ý làm văn, lại nữa, như đã phân trần trước đây, nước ta, kể về nghề ấn loát, quen làm khoán, không có tục lệ hay chưa có lệ “sửa chữa theo ý muốn của người sáng tác”.
Hai cuốn tôi đang đọc đây, viết địa đanh quốc ngữ, rất là “tây” người đọc phải thận trọng cho lắm, tỷ như Thủ dầu một họ viết “Fou yen mot” (Pallu, trang 112), rạch “Bà Hòm”, viết Hach baoun, (Fallu, trang 58), và Tong Keo, Oc-moun, Tay-theuye… mình phải chịu khó đọc lại là Thuận kiều, Hóc môn, đến như Tay theuye, tôi phân vân không rõ nên đọc Thủ Thừa? hay là “Tân thới” (Fallu, trang 98).
Xét ra, những gì viết sai chính tả của người Pháp trước đây, ta có thể tha thứ được, (duy xin hỏi khi làm với họ, ta viết sai tiếng Pháp, họ có châm chế đâu nào), và trở lại việc khó bỏ qua, là việc các thầy đồ phiên âm sai chữ nôm, và các thiếu niên tân học lầm lộn “Đồng tranh” (trên Biên hoà), với Bến Tranh (Mỹ Tho), nay đọc lọi mới thấy, thật là đáng tiếc. Và bởi thế, nên có mấy trang nghêu ngao nầy. (7-10-83).
Tiếp theo đây, tôi sẽ ghi lại từng tác giá, những gì bổ túc Sài gòn năm xưa làm ra tập III, và nếu có thì giờ, tôi sẽ viết lại những gì tôi hiểu biết về Trận binh Pháp thâu đoạt thành trì Mỹ tho vào năm 1861 đã nói trong báo sử địa năm 1966, số 1(7-10).
Đọc “Les premiéres années de la Cochinchine Francaise”, của Paulin Vial, in 1874 dẫn. Tôi đã nói rồi, cách tôi làm việc, nhứt là khi soạn chơi, viết thử về chuyện cũ xảy ra trong nước, tôi không thể nhờ sách của ông thư viện chung, vì cái tật lớn của tôi là nghiền ngẫm năm nầy qua tháng kia, các sách phải tự mua sắm, thình lình nhớ lại đoạn nào, thì có sẵn đế lấy ra coi, cuốn sách đối với tôi không khác xương xóc, đồ bỏ, Xi ta chôn để dành, chớ những ngày không có chi để gặm, thì sẵn đó mặc tình moi lên, nhầu nhất nhâm nhi khoái trá.
Nay tôi nhận đọc lại quyển kể trên, tôi ghi lại đây những gì tôi thấy nên nói, thì tôi tóm tắt thuật lại, tôi vẫn biết chuyện cũ đã qua, không nên nhắc lại làm gì nhứt là về tôn giáo, đạo ai nấy giữ, tôi không cố ý bươi đống tro tàn, thồi lông tìm vết, tôi thờ ông bà, nhưng vẫn đi lễ chùa lễ phật, đi đình miếu xem cúng giỗ, và khi có một bạn thiên chúa, rủi mất, tôi vẫn vào nhà thờ xem lễ chớ không đố kỵ và không khi nào dám mang tội bất kính. Nhưng phải nhìn nhận, các người xưa kia làm mối chỉ chọc cho tây lấy nước, đại đa số là người công giáo, tý dụ Gẫm, đem thơ từ tin tức trong giặc Lê Văn Khôi, Trần Bá Lộc trong trận giúp binh Tây chống vua Tự Đức, đều là người thờ Giê su… Nơi trương 84 sách nầy; có câu “Ùn petit noyau d’inidigènes, dont la plupart étaient chuétiens et tonquinois s’ étaient réfugiés sous notre protection et nous avaient suivis depuis Tourane. Grâce à leur concours et surtout à celui de plusieurs missionnaires français,…”
Tôi dịch: Một nhóm nhỏ, người bản xứ, phần đông là người Bắc kỳ và người theo Cơ đốc giáo, vẫn ẩn núp theo dưới sự che chở cua ta và theo ta từ Đà Nẵng, nhờ bọn này trợ lực, nhứt là nhờ sự giúp sức của các cố đạo lang sa…, (nên ta đánh thắng).
Oái oăm thay và xui xẻo thay, ta mất nước đời Tự Đức? Vì nhiều duyên cớ không may, như là:
– Sơ khởi, vua Minh Mạng ghét đạo cơ đốc và sai bắt đạo triệt để quá nên hoá sanh từ đó.
– Xuống đến đời vua Thiệu Trị và Tự Đức, một mặt sắc chỉ vua sai bét, một mặt kẻ dưới quan quân dung tảng, ăn của đút, nhắm mắt để người cơ đốc hoành hành…, nước yếu, không cho dân ra khỏi nước học hỏi gì thêm, lại làm dữ quá, người Gia-tô nột hoá khùng, bèn chỉ đường cho Tây biết chỗ yếu, Tây thắng, ngôi nhà Nguyễn sụp đổ, nay nhà thờ cũng đổ theo, y như việc Trịnh bại, Lê vong buổi trước.
Đau đớn nhứt là Tây dòm ngó, dốc lòng chia xẻ nước Trung Hoa với các nước Tây Âu, rủi lúc ấy, tướng Pháp Rigault de Genouilly, cầm binh đánh Tàu, toan chiếm tỉnh Phước Kiến, khi biết nuốt cái bánh ngon không trôi, sẵn có người chỉ chọc và cắt nghĩa thiệt hơn rằng nước Nam thế yếu’ dễ ăn”, sẵn có cớ bắt đạo, giết đạo, bèn rủ nước I-pha-nho giúp (tám trăm quân Maní, Tagal, nay là Phi Luật Tân) hùng hổ kéo xuống bắn đại vào đồn Đà Nẵng, thấy lâu ngày làm không xuể, và nhờ tay trong mách nước, bèn kéo xuống đánh và cướp lấy thành Sài gòn (1859), từ ấy thấy dễ dàng quá, Tây tàu sắt súng tối tân, ta chỉ tầm vong vạt nhọn, đao mác cùn nhụt, sự bại trận vì binh khí thua kém, chớ gan lì, biết chết cho nước, gẫm người học xưa Khổng Mạnh, nào người văn minh tân học sánh bằng?
Càng đau đớn hơn nữa, là vì Tây dốt địa dư, hai lần hiểu lầm, phen nhứt năm 1859, đoạt Nam Kỳ là vì tưởng sông Mê kông thông thương được lên đất Tàu mà họ lăm le muốn chia phần xôi thịt, đi thám hiểm Cửu Long giang, chốt một Doudard de lagrée, (1868) vẫn chưa tởn, phen sau, nghe lời tên con buôn J. Dupuis, tính đoạt Bắc kỳ để lấy con đường thuỷ qua đất Trung Hoa, té ra sông Nhĩ sông Cái (sách pháp viết Song koĩ) cũng vẫn không thông thương dễ dàng lên đất Tàu, chết mất thêm một Garnier (1873), mấy ông vì dốt về địa dư mà hại chúng tôi mất nước; đến như tướng de Genouilly, cũng vẫn làm liều mà được việc, sách nói “trọn sáu tháng, đạo binh viễn chinh do ông cầm đầu, vẫn không liên lạc và không nhận được chỉ thị hay tin tức với Pháp triều”. Ông thấy dễ ăn, ông đánh miết và đoạt chiếm Nam kỳ, trong khi ấy nơi triều đình Pháp tại Paris, vẫn nhốn nháo chia làm hai phe để:
a) một phe, Tây không thích thuộc địa và có lương tâm, vẫn muốn trả đất chiếm, chỉ mong được bồi thường phí tổn chiến tranh (mà chiến tranh ấy vẫn do tự họ gay hấn, nay dùng cường quyền nên cố đòi cho cao giá, lại thuở ấy chưa biết luật nước nào do nước nấy định đoạt và nước nấy không có quyền xâm phạm về việc nội bộ của nước khác), và cái tin đồn tiền bồi thường quan Phan cầm đầu phái đoàn, lên đến tám mươi lăm triệu quan Pháp (85 millions de Francs, trang 12 trong bài tựa quyển Premières années de Cochinchine), nên họ càng ham thêm;
b) còn phe thứ hai là phe bọn dốc lòng chiếm làm thuộc địa để sanh lợi cho con cháu, cầm đầu là phe de Chasseloup-Labat, trưởng bộ thuỷ binh, và Rieunier, (tác giả bài tựa đã dẫn), vẫn lo sợ đế Napoléon III xiêu lòng nhận tiền trả đất, Rieunier, viết hai cuốn sách để biện hộ cho thuyết quyết tâm chiếm giữ Nam Kỳ làm thuộc địa lâu dài, theo bốn cuốn đã tham khảo, nếu sứ đoàn Nam khéo vận động, biết sử dụng báo chí bên Tây, vẫn chưa có thuộc địa (như báo Gazette du Midi, các Miền Tây và hải cảng Pháp (Journaux de l’Oueast et des ports), báo La patrie, Le Siècle, trang 15 bài tựa nói trên vân vân, thì ắt đã chuộc đất được rồi.
Cái xui xẻo và đau đớn khác nữa là sau trận giặc Pháp Đức năm 1870, nước Pháp có dã tâm và ác ý toan trao Nam kỳ cho Đức để gật nợ chiến tranh, họ cầm mình không bằng con gà con vịt, làm như bợm cờ bạc đánh thua, và chớ chi việc gật nợ ấy thành tựu thì ta đã học tiếng Đức và theo văn hoá Đức rồi, thậm chí thủ tướng nước Đức lúc 1871 ấy cũng không biết giá trị thuộc địa, đó là ông Bismarck, có danh là “tể tướng thiết diện”, cũng vẫn ngầm để Pháp qua thuộc địa bành trướng hầu quên việc mất đất và khỏi tranh lại hai tỉnh Alsace và Loiraine, v.v.
Tôi trở lại “thú chơi sách” và đinh ninh lần nữa rằng “muốn viết về sử thì đi đến thư viện để mượn sách tham khảo, tiền xê dịch, công di chuyển, cơ hội gặp sách chưa ai mượn, chi bằng xuất ra một số tiền mua được sách xưa để tự mình làm chủ, tha hồ muốn đọc lúc nào cũng có sẵn, thêm được hãnh diện mình có tài liệu riêng người khác không có, chẳng là sướng khoái hơn sao? Vả lại việc viết lách là việc lâu dài, cần nhiều thì giờ, cần dụng cụ có sẵn dưới tay, không khác xe xài công cộng mau hư vì ít ai tu bổ hết lòng, và anh thợ mộc lành nghề phải tự sắm cưa sắm bào, chớ mỗi mỗi đều nhờ là mượn nhờ làm sao (9-10-83).
Thuốc lá (tabac), Nhựt Bản biết hút từ năm 1590 và biết trồng cây thuốc từ 1605, Trung quốc biết hút thuốc lá trước năm 1649 và theo tôi, các bình điếu sứ, gọi rằng đời Thành Hoá (1465-1487) đều đáng cho là giả tạo, và cố nhiên nước ta biết hút thuốc lá do người Trung Quốc (đến như thuốc phiện, thì nhà giảng đạo Matteo Ricci đem qua Trung Quốc vào đời Đại Minh Vạn lịch (1573-1619) vả gọi đó là thần được, có phép bồi bổ sức khỏe như thần, về sau lạm dụng quá nhiều nên hoá ra độc) và nước ta biết phù dung tiên nữ ắt sau người Tàu những đồ sứ về thuốc lá và thuốc phiện, xin chớ quên các năm trên đây để định tuổi. (Ricci sang Tàu năm 1582, xem trang 227, H.C.Đ.S số 6).
Cây quinquina, người Trung Hoa biết dược chất từ năm 1692. Tiện đây tôi nói bắt quàng qua tuổi thọ của con người, theo tạp san Spounik của người Nga xuất bản tháng 3-1982, bằng Pháp văn, trang 70, luận về tuổi thọ, có viết câu “les lignes (au poignet d’un centenaire) étaient profondément creusées dans la peau, comme dans l’écorce d’un vieil arbre;non pas deux, ni trois, mais quatre plis circulairesen ntoraient ses poignets. C’est d’après ces cercles, dit-on, que l’on prédit la durée se la vie”, (dịch: những lằn nơi cổ tay một ông lão thọ trên trăm vẫn ăn sâu vào da như lằn thấy trên da một cây cổ thọ, không phải hai lằn, hay ba lằn, mà đến bốn lằn, và người ta nói có lẽ đếm tuổi thọ con người theo mấy lằn nầy). Nói úp mở nửa chừng, và theo sách tướng Tàu vẫn đếm mỗi lằn là 30 tuổi thọ)
Google photos
Tạp san BSEI năm 1957 viết rằng theo y như thuyết của Agtippa denettesheim, người Tàu lấy con số 7 để định vận hạn bất luận con trai hay con gái, là: 7 tháng mọc 7 răng sữa; 21 tháng (3×7) trẻ biết nói; 35 tháng (5×7) thôi bú; tuổi, bắt đầu rụng răng sữa thay răng thiệt thọ; 14 tuổi (2×7) bắt đầu thành niên (puberté); 21 tuổi {3×7) tuần cập kê, định hôn phối (âge nubile); 35 tuổi (5x7j tuổi thôi lớn; 42 tuổi ( 6×7) không thêm sức hơn nữa: 49 tuổi (7×7) tuổi bắt đầu suy, bước qua tuổi già; 63 tuổi (9×7) (tuổi năm hạn, ách niên, âgơ cliamaterique); và 70 tuổi (10×7) tuổi sống trung bình của con người. Có sách khác, (cũng theo tạp san BSEI IS57 nầy thì con số 7 thuộc về phái nữ: 7 tháng mọc răng sữa, 14 tuổi có kinh nguyệt, 49 tuổi dứt đường kinh nầy, còn về phái nam, thì đổi lại đó là con số 8: 8 tháng mọc răng sữa, 8 tuổi thay răng; 16 tuổi, dậy mẫy; 64 tuổi, hết muốn việc phòng sự, ăn nằm chồng vợ, hoặc tuổi lầy léo lên tới 70 và sách Tàu nói đến tuổi nầy chồng vợ mặc chung áo quần cũng không hề gì (xưa kiêng cữ mặc y phục lộn. lạo)…
Trở lại nói về đi chiếm thuộc địa, lợi hại có đôi, tỷ như:
Tục uống cafe đến ghiền, không có để uống, bắt nhớ bắt thèm. Tục nầy truyền qua châu Âu vào lối năm 1600 và được hoan nghinh dữ lắm. Nói cho cùng mà nghe, nếu không nới ra khỏi xứ, tôi muốn nói nếu không đi tìm đất mới để chiếm làm thuộc địa, thì đâu có nạn biết giống nước đen đen, uống vào đăng đằng nếu có thêm chút đường, thì vị thêm ngon, và nhứt định khi biết uống rồi không thể bỏ qua được nầy: Cây café từ bờ “malabar Ấn Độ” đem qua trồng nơi đảo Java, từ đầu thế kỷ thứ 18.
Theo sách Pháp, “L’Asie et la domination occidentle” du XVè siècle à nosjóurs” của K.M. Panikkar (Editions du Seuil), thì bên Trung Quốc, năm 1729, tức dưới đời Thanh, vua Ung Chính (1729-1735) đã có lịnh cấm dân hút thuốc phiện, và chất độc nầy đầu tiên du nhập Trung Hoa từ năm 1773 do người Anh tên Warren Hastings đem qua, trước do công ty Ấn Độ (Compaglúe des Indes), sau đó và từ năm 1797 do va chiếm độc quyền và do xưởng chế tạo của va lập nơi Ấn Độ. Chính người Anh bị “phản phé”, ban đầu ngỡ chơi với nước Tàu là thâu mối lợi lớn, ngờ đâu người Tầu, tuy bề ngoài xem dễ nuốt, nhưng tinh khôn tổ mẹ, vì mua bán với họ phải trả bằng vàng (kim) và như vậy ba món hàng nhứt hảo hạng của Tàu là đồ sứ (porcelaine), tơ lụa (soi) và nhứt là trà (thé) vô tình rút rỉa túi tiền anh Hồng mao khá bộn bàng, lâu ngày thấm đòn, Ăng Lê mới nghĩ ra kế độc là lấy á phiện bên thuộc địa Ấn qua nhử và đầu độc chú Ba Tàu, khi họ ghiền phu dung rồi, thì Ăng Lê ngồi giũa thủ lợi, lấy thuốc phiện Ấn (gout. Bom bay) qua đổi trao Trung quốc, lấy đồ sứ trà và tơ lụa lả đắc sách nhất. (trang 120). Số á phiện bán lậu qua Tàu, năm 1831, lên đến 11 triệu; và trang 405 đến 412 nói ảnh hưởng nghệ thuật Tàu truyền qua châu Âu từ đồ sứ và đồ sơn mài, tơ lụa, cỏn đồ vải sô thì do Ấn Độ sản xuất. Ba nhà truyền giáo Âu đem văn minh Tây phương gieo rắc bên Tàu là:
– Matteo Ricci, từ đời Vạn Lịch (trang 349), Schall (trang 351) và Verbiest (trang 355), hai ông nầy giỏi về toán pháp, thiên văn và dạy nghề đúc súng đồng.
Trang 424 cho biết ý nghĩa cuộc đi chinh phục thuộc địa, ban đầu là mua rẻ, cướp giựt hàng hoá, bắt làm công trả giá thật nhẹ, sau đó bán cho dân bị chinh phục những món do nước đi chinh phục sản xuất…, như vậy còn chưa đủ, lại lấy vốn nơi nước mẹ cho qua các nước con vay để lấy lãi: Một tỷ dụ điển hình là nước Anh cho nước Ấn vay tiền dặt đường xe lửa trong nước: 1/3 số tiền nầy ở lại bên Anh quốc về mục thuế vụ, 1/3 nữa, dùng trả tiền mua đường sắt và dụng cụ máy móc, còn 1/3 chót thì dùng trả tiền nhơn công chuyên viên, tức 3/3 tiền Anh chuyển từ tay mặt qua tay trái, ở lại trong nước Anh và bắt anh Ấn đem trả đủ.
Trang 426 – Ý nghĩa khai thác thuộc địa, đến giai đoạn sau thì đế quốc bị đòn khá nặng, tỷ dụ đặt đường xe lửa, xây cất máy dệt, v.v. khi nước Trung Hoa hiểu sự ích lợi thì có lúc dân gỡ mất cá khúc “đường rầy” (rail), đường sắt, và lương thiện thì họ mua và tự khai thác lấy những đường do người Anh phóng, đặt cũng như bên Ấn thì lần hồi các hãng dệt đều về tay người Ấn chủ trì. Ấn Độ, Á châu, Nam Dương quần đảo đều nhờ châu Âu chiếm ng, mà nay đều thâu hồi độc lập, đất đai. Về khoa ngôn ngữ, đảo cổ học, v.v.: quả có nhờ công âu châu khởi xướng, nhưng họ đã lấy lại từ lâu những gì họ gọi truyền bá, và Ấn, Á chưa đúng là bội ân… Ngày nay tôi mới hiểu vì sao xứ Tây Tạng (Tibet) không cho người lạ nhập nước họ, và họ vẫn không mở đường giao thông với nước ngoài, chẳng quả vì họ thấy xa: làm đường, xây cầu, bồi lộ nhiễm văn minh mới thì văn minh cũ lui lần, và sẽ có ngày mất tự do, độc lập và quyền mình làm chủ nước mình. Vua dầu lửa xứ Koweit được người Anh khuyên nên lấy tiền mở trường, lập nhà thương, mở mang dân trí, đã trả lời vì nước Anh dạy dân khôn nên mất thuộc địa Ấn, thà để dân dốt dễ tịì, gẩm lời đáp này chưa hẳn là ngu (2-12-83).
Về Tôn Thất Thuyết, Lưu Sinh Phúc, Phùng Tư Tài, Lý Hồng Chương (văn hoá hiện đại học sĩ Nhứt đẳng bá ). Với ba đồng, năm 1977, mua được tại Chợ Trời sách, đường Cá Hấp, Bùi Quang. Chiêu, một cuốn Pháp văn 342 trang khố 13×21, cho ba thú vui không dễ gì kiếm được buổi nầy:
1) Thú chơi sách: nhan sách là “Ma Mission en Chinh” của A. Gérard, xuất bản năm 1918, Lon et Nourrìt, thuật chuyện bên Trung Quốc (1893-1897), có hình Lý Hồng Chương;
2) Thú vui biết chuyện xưa: trang 204 nói về Lưu Vĩnh Phúc, Fong Tseu tsai (Phùng Tử Tài?) và Tôn Thất Thuyết, sau khi tách xa vua Hàm Nghi, lánh nạn sang Trung Hoa;
3) Thú vui bổ túc bài nói về việc hại lợi chiếm thuộc địa, đại khái như sau:
a) Pháp và Anh, tranh nhau bành trướng nơi miền Nam nước Trung Hoa rộng lớn: Phát đặt đường xe lửa Hà Nội-Vân Nam, thì Anh cũng có đường tàu hoả nối liền Miến Điện-Vân Nam, đây là chuyện hai con hổ đói Tây phương chực banh đa xẻ thịt con nai tơ nước Tàu (trang 205)
b) Nga bắt bồ với Trung Quốc, bằng cách Nga hoàng và Nga Hậu gởi lễ vật tặng hảo (hối lộ) cho Từ Hy thái hậu và Quang Tự hoàng đế, do prince Ouchtomsky sang dâng; (trang 215)
c) Trương 225, Nga cầu thân và bắt tay với Đức và năm 1902 Anh ký hiệp ước với Nhựt, để sau đó, năm 1904-1905 đi đến trận chiến giữa Nhựt và Nga (cũng nên nhắc chính Anh can thiệp che chở và không cho Thanh triều bắt Tôn Dật Tiên, trên lãnh thổ Anh (Londres).
d) Trương 293, Đức khuấy nước cho đục để thả câu xúi Anh Nhựt kết liên và xúi Nga bất hoà cùng Nhựt;.
e) Trương 297, Lý Hồng Chương sang Nga ký hiệp ước Nga Hoa đề phòng hiệp lực chống chú lùn Oải-nhi Nhựt. Lý Hồng Chương mất ngày 7-11-1901, qua năm 1904-1905, Nhựt thắng Nga và chiếm trọn các nhượng địa của Nga trên đất Tàu, té ra Nga và Nhựt đánh nhau mà thật ra anh Tàu thua và chung đủ (quả là một chuyện ngao cò tranh nhau mà ngư ông là Nhựt thủ lợi còn Tàu là ngao hay cò, khó phân biệt cho rành);
d) Chuyện nầy ngoài lề là: Vua Quang Tự băng ngày 14-11-1908, còn Từ Hi thái hậu băng ngày 15-12-1908. Câu chót của bà khi gần tắt hơi, trong Pháp văn ghi là: “Ne laissez plus jamais une femme s élever au pouvoir suprême, ne permettez-pas aux eunuques de se mêler des affaires publiques” (tự hậu chằng nên để đàn bà cầm quyền tối cao, và không nên để hoạn quan tham gia triều chánh). Trong di chiếu vua Quang Tự, thì có câu viết rằng đức Thái Hậu không có lòng yêu vì hoàng đế (Quang Tự), nhưng suốt mười năm nay, người đầu dây mối nhợ nỗi khổ tâm của vua là Yuan Che K’ai và ý nguyện của vua là Viên Thế Khải phải bị xử trảm mới vừa lòng vua nơi chín suối.
Đám an táng Từ Hi xảy ra ngày 9-11-1909, phí tổn là 1.500.000 taels bạc, còn đám táng vua Quang Tự chỉ tốn một phần ba (1/3), tức 500.000 taels. Học bao nhiêu việc mới lạ, tốn có ba đồng bạc giấy, ai dám nói đời nầy chỉ toàn là chuyện không vui? (viết ngày 3-12-1983). Nửa trang giấy lộn này chứa đựng nhiều hơn bao nhiêu sách đã in rồi hoặc vẫn chưa xuất bản.
Không có một món ngoạn hảo nào (cổ ngoạn, đồ xưa) hoặc một bạn hảo tâm nào giúp ta mua vui với giá cuốn sách quèn của một người bỏ chạy bán ra chợ trời như vầy.
Nhớ lại mà thương tiếc cho bao nhiêu sách vô phước, bị lạc loài thú tiêu hay làm mồi cho lò giấy hay ông táo buổi vừa rồi. Nhưng khi biết tiếc thương thì đã muộn. Si ri y a pas de bol de riz, on meurt; qưimportent alors les autres libertés? (Không có chén cơm là chết đói; những tự do khác, cần gì?) (trang 427).
Sách cũ: Số mục lục 2596-L/21 sau đổi lại số 581-b/8-Jean- Jacques Brieux. -La Chine, du nationalisme au communisme.
Trang 138. – Sau 10 năm giặc giã, loạn ly, giá trị đồng bạc Tàu (dollar chinois) tuột dốc:
– Với 100$ bên Tàu,
năm 1937 mua được 2 con bò cái (deux vaches),
1938 1 bò cái và 1 tàu
(1 vache ét 1 mouton)
1939 1 bò cái (1 vache)
1940 1 trừu (1 mouton)
1941 1 heo (1 cochon)
1942 1 gà mái (1 poule)
1943 1 gà giò (1 poulet)
1944 1 bao gạo nhỏ (1 sachet de riz)
1945 1 cá nhỏ (1 petit poísson)
1946 1 quả trứng (1 oeuf)
1947 1/3 hộp diêm (1/3 de boite d’ allumettes)
Trang 57 – năm 1514, 3 chiếc tàu Hoà Lan vô cửa sông Quảng Đông, đổ bộ: Âu-Á làm quen.
Trang 59 – Tàu biết mặc âu phục từ sau năm 1840, nhưng khi về nhà, thay y phục Tàu.
Trang 63 – Từ năm 1842, người Âu sang ở Trung Hoa rồi bành trướng mãi… Từ 1858 (điều ước Thiên Tân, từ 1860 (đf ước Bắc Kinh) mở đường người phương khác kéo qua Tàu, sanh ra:
a) Chế độ cũ đã chết, dân coi rẻ triều Thanh, tuy khi dễ ngoại kiều nhưng vẫn bắt chước, họ và nhà Thanh vẫn coi ngoại bang là người nâng đỡ cần thiết;
b ) Người thợ thủ công mất dần tự do vì phải đương đầu với máy móc và làm việc ăn tiền ngày.
c) ở giữa thủ lợi là giới mới “mại bản” compradores.
d) Người Tàu có hai mục đích: chống Thanh triều, chống dân phương Tây…
Trang 183, Hồng Tú Toàn đánh thắng, không nhập Bắc Kinh, nên sau bị binh Tây đánh bại. Tôn Dật Tiên có trí thức, nhưng thiếu binh bị nên không làm ra trò trống gì.
Viên Thế Khải, bề trong có Anh Quốc giúp chống Nhựt, nhưng thiếu dân tâm rồi thất bại.
Năm 1922, Trung Hoa nếm mùi Cộng và 27 năm sau nhuộm màu Cộng đỏ
Trang 83 – Phân chia tài sản theo luật công bình và đưa standing (địa vị danh vọng trong xã hội) của 1.500 triệu dân hắc chủng và huỳnh chủng châu Phi châu Á lên cao, và hạ bớt địa vị vài triệu (quelques millions) bọn da trắng Âu và Mỹ, sanh ra ranh giới phân chia bớt di dân da màu qua châu Âu và bớt bành trướng kỹ nghệ bên châu Á, Phi. Vì lý thuyết sai lầm lợi dụng nhơn công rẻ tiền mà sanh ra nạn cộng.
Trang 84 – Vì quân đội Nhựt đạp đổ bàn thờ người da trắng bấy lâu đi chinh phục dân màu, nên các dân tộc bị trị bèn nổi dậy, hết sợ da trắng và giành độc lập, đuổi dân da trắng ra khỏi các thuộc địa của họ ở Á Đông và châu Phi.
Về Sun Yat Sen.
Sun Yat Sen.- Pour la réussite de la Révolution, Sun manquait à lui même les qualités d’un Chef d’Etat, à son mouvement une doctrine vraiment cohérente, à tous les membres du Kuomintang, une vertu bien rare alors chez les Chinois: l’esprit d’organisation.
Trang 87 – Sun mất năm 12-3-1925.
Trang 87 – Sun nhờ Cộng đánh bọn đốc quân (Toukiun). Tưởng thắng Trương Tác Lâm và nhập Bắc Kinh ngày 4.6.1928.
Trang 191. Tiểu sử Tưởng Giới Thạch viết gọn và chua cay.
Trang 249 – Tàu thu hồi các nhượng địa từ năm 1943, trừ Ma cao và Hong kong.
Trang 306. Tây An thủ kiện. Mao không cho giết Tưởng và nói:
“Je n’ai pas laissé faire cela, parce que l’assassinat ne conduit à rien. Pourquoi l’emploierai-je? Chiang représente un système et il vaut beaucoup mieux qu’il soit assassiné par ses propres hommes”.
Trang 395. Sau khi Tưởng bó chạy, nước Tàu còn lại một mớ quốc dân đảng rút vào rừng; plus de boites de curios… plus de luxueux taxis… plus de boites de nuit… On regrette “la douceur de vivre” ancienne…
Trang 138 đọc ngày 27-6-1977
… pour quelques caisses de médicaments, combien de tonnes d’ obua pour quelques sauvés de la diphtérie, combien de fusillés par la police, combien de morts dans des bagnes “politiques” (đúng mà đọc quá trễ tràng) (viết chúa nhựt 4-12-1983). (Compradore: mot portugais, mandataire chinois d’un établissement occidental.
Trang 422- Entrée interdite aux chiens et aux Chinois “No dogs nor chinamen”.
Đọc sách cũ:
“Général Catroux- Deux actes du drame Indochinois: Hanoi: Juin 1940, Dien Bien Phu: mars-mai 1954 sách mục lục số 436-tủ 9), (mua ở Chợ Trời 2 đồng ngày 29-9-1977, nhưng chỉ đọc tháng 11- 1983) “Amiral Decoux. La Barre de l’Indochine l’ histoire de mon gouvernement général (1940-1945) (sách mục lục số 447-B do anh bạn quá cố Nguyễn Phong Lưu biếu ngày 7-1-1969, có đọc nhưng đã quên hết).
Google photos
Làm sao dám phê bình, một khi mình lả thằng quèn thơ ký kiếm cơm, còn họ là Toàn quyền hiên ngang một cõi ở Đông Dương, oai hơn vua chúa? Nhưng nay lấy công tâm mà tìm hiểu, chỉ biết thương nước mình, vô cớ bị trị và cai trị bởi…? (nên nói làm sao bây giờ?) bởi những người “khó nói quá” thôi thì đổ thừa cho vận mạng nước nhà xui xẻo là lưỡng toàn kỳ mỹ, mặc dầu người đọc sau này sẽ cho là khiếp nhược.
Theo ý kiến riêng, tôi nay rõ lại Catroux khí phách hơn nhiều và quả là người, thành thật quân tử, ít nữa là ăn ngay nói thật, tỷ dụ khi ông đã từ ngôi “toàn quyền”, ông từ không ngụ dinh cũ Norodom khi ở Sài Gòn, và để chờ chuyến tàu ra đi, khi thì tạm trú nhà riêng của bác sĩ Vielle, hoặc khi về Sài Gòn cũng vẫn ở nhà ông bác sĩ nầy (nay nhà vẫn còn, vị trí ngay toà Pháp đình, đường Công Lý cũ), mặc dầu lời mời mọc của ông kế vị Decoux “tôi vẫn ở dưới tàu, và dinh vẫn dinh cũ của đại tướng).
Ngày ông cất bước xuống tàu rời bến Sài Gòn, Catroux vẫn bắt tay từng người Việt, các công chức bộ hạ cũ của ông, đoạn ông chào lá quốc kỳ Tam sắc Pháp, mà không bắt tay một người viên quan Pháp nào có mặt tiễn đưa ông hôm ấy, rõ là đối với ông tuy chưa phải là kẻ thù, nhưng rõ là người không đồng chánh kiến; các ông Lemoult, giúp ông nối tay giao thiệp với người đại diện chánh phủ Ăng Lê ở Singapore để dọn đường theo cuộc kháng chiến de Gaulle, ông đều có kể thành thật và ghi ơn trong sách, nên tôi cho ông có cử chỉ thẳng thắn, đáng gọi là người quân tử. Phải đọc sách ông viết chớ không thể lược thuật các chi tiết nầy ra đủ. Catroux là tướng bộ lục chiến, nên ông chọn tuỳ tùng bộ hạ đều người thuộc võ quan trên đất liền, cái rủi của ông là qua Đông Dương vua đúng lúc gay cấn, binh Nhựt sắp kéo lên bờ, chiếm Đông Dương, – ý ông là “chống”, nên bị chánh phủ bên Pháp lật đật cho người thay thế, và tôi còn nhớ một câu ông viết nhưng không được tuyên bố: “Peuple Indochinois, je vous ai évité une guerre, je ne veux pas vous en créer une aurtre…” trong một bài diễn văn không cho ông đọc, và nếu không thay ông, theo tôi, thì tình hình không như đã thấy.
Về ông Decoux, tôi cũng từng biết mặt, và cử chỉ của ông nầy, theo tôi, rõ là “một người khéo đi dây hát xiếc”, suốt những năm dài từ 1940 đến 1945, Nhựt muốn chi ông đều làm vừa lòng Nhựt, như vậy mà Pháp còn tồn tại mãi trên cõi đất nầy v.v… Sau ông vẫn bị Nhựt bắt làm thì binh, nếu cho đó là nhục thì còn gì ớn bằng, nhưng tại sao sau đó ông viết cuốn “à la barre…” để biện minh và ông vẫn thẳng kiện, được truy lương đủ số, nên tôi làm sao dám hạ lời chê khen? Decoux là tướng thuỷ, nên khi lên bờ làm “toàn quyền” Đông Dương, ông kéo theo cả dọc tá thuộc dưới nước theo ông để thay thế từ anh thổi kèn chào cờ đến võ quan tuỳ giá. Decoux giỏi tài chiều ý “chú lùn” nên tôi gọi ông có tài đi dây, và phút chót ông toan trở cờ theo de Gaull thì hoá ra không có tôn chỉ vững chắc (viết 6-12-83).
Đọc sách cũ (tiếp theo); Henri de Navarre “Agonie de l’indochine” (1953-1954)
Cái sướng của người lượm mót, hút điếu thuốc tàn (thuốc ngon nửa điếu), của đứa trẻ “nhơi cùi mía”, khoan chê đó là hạ tiện ăn mày, vì không khác “lấy gái một con”, mót phế thải của thằng đi trước nhưng nó sướng cực kỳ, và người sang có khi chắp nối, vẫn đồng một thứ, cái thú mua sách lạc son chợ trời, khiến tôi gặp quyển sách nầy và mua lên năm đồng, giá bằng gói xôi bữa sáng, nhưng khỏe hơn đi mượn nơi thư viện công cộng chưa chắc gì người ta cho tôi mượn, chưa chi đã phí mất một buổi chầu hầu.
Henri Navarre là ông tướng xui, để thất cơ thua trận nơi Điện Biên Phủ. Ngày nay, với năm đồng bạc giấy, mua được cuốn sách biện minh của ông và học khôn được nhiều, còn khoái hơn chen mua vé xem chớp bóng chờ rệp cắn. Tôi vẫn chưa xem hết quyển nầy, và nhớ lại hôm trước, nhơn đọc sách của J.J. Brieux “La Chine, du Nationalisme au Commumsme” có đoạn kể về giá trị đồng bạc năm xưa bên Trung quốc, thời quốc dân đảng còn trị vì bên lục địa, cũng trong sách ấy, nơi trang 62, có kể “giá chánh thức đồng đô la”.
1936 3,36
1941 20
mars 1946 2.020
aout 1946 3.350
décembre 1946 5.846
février 1947 12.000
juillet 43.000
novembre 125.000
décembre 165.000
février 1948 210.000
mars 240.000
juillet 4 millions
aout 12 millione
Tôi quên ghi đô la trên đây là đô Tàu, còn đồng đô la Mỹ (le dollar américain) lại khác
septembre 1948 4
octobre 4
novembre 10
décembre 80
janvier 1949 320
février 800
25 février 2.000
1er mars 3.100
(trang 262 và 263 sách Brieux đã dẫn).
Trở lại trang 140 sách nầy, kể rằng giá một mẫu Tàu ruộng (7,5 ares) giá C.N.$ là:
1937 45
1938 45
1940 100
1941 120
1942 500
1943 5.000
1944 26.000
C.N.$ là Chia National Currency: monnaie nationale chinoise, tức đồng dollar Tàu.
Và hỏi ai có tiền mua ruộng nầy? Không phải bọn chủ điền của giới chế độ cũ kia đâu. Ít nữa bọn chế độ cũ nầy còn biết “thương đất” và tha thiết với “miếng ruộng cày hoặc do ông cha họ để lại hoặc sam bằng tiền chắt mót dành dụm riêng, biết thương công người làm ra hột lúa, đàng nầy “mua ruộng” là do bọn “đầu cơ” kiểu mới, chúng có “tiền rừng bạc bể”, gởi nhà băng, ký giấy xuất ra mua ruộng mà không bao giờ xuống ruộng cho đỉa cắn lần nào, chúng chỉ biết tới mùa cắt, tay sai đến điền thâu lúa đem về bán lấy tiền xài, mặc cho người làm ra hột lúa đói rách trối kệ, thậm chí và cùng một loại là bọn mũi lõ năm xưa làm chủ đồn điền trồng cao su mà khi đi trên con đường Hiền Vương lối ngả Sáu, có người chỉ những cây hévéas trồng hai bên lề, chúng vẫn thản nhiên lắc đầu rằng mình mới thấy lần thứ nhứt và cây đó là cây chi, nọ biết! 1
Vả lại tôi có tật đọc sách hổ lốn, gặp đâu đọc đó, thứ gì cũng đọc cũng tìm hiểu, nhơn đọc báo Les temps nouveaux, số 40 tháng 10 năm 1980, thấy một tin rằng buổi ấy, giá trị đồng dollar Mỹ đang xuống, tỷ dụ 1.000 đô la Mỹ, tương đương chỉ mua được: và giá trị gần bì:
280$, nếu dùng mua ét xăng:
460$, nếu dùng mua thực phẩm món ăn hoặc thuốc men trị bịnh;
470$, nhà để ở
560$, trá sở phí cho con cái học hành;
680$, trả tiền mướn phố để ở
600$, ô tô
620$ dép giày
660$ y phục để mặc;
Và tương đương 1.000 đô năm 1970 có thể tương đương với 470$ hiện kim.
Thử hỏi, có ai ăn không ngồi rồi, thử tìm hiểu và vẽ một bảng kê khai theo kiểu nầy đối với đồng giấy ngày nay, xem nào! Riêng tôi thì đành chịu thua, không làm “việc trông xoài, trồng cây sâu riêng” ấy được nữa rồi, và để giúp công chung làm “tập thể” dưới đây là tài liệu đứng về mặt khảo cổ”
– Vào đời vua Minh Mạng (1820-1840), theo nguyên tắc, kể “vàng giá 10 lần cao hơn bạc”, còn trên Cao Miên, lúc đó “một con voi đổi mười con trâu cổ”, và “một trâu trị giá một nén bạc (10 lượng). Trong khi ấy, thế kỷ 19, bên Âu châu, “vàng trị giá cao 15,5 mắc hơn bạc, sau đó tìm được mỏ bạc ở Californie, ở Australie, ở Nevada, giá vàng vọt lên không phải 15,5 (luật bên Pháp), hoặc 16 (luật bên Mỹ) nhưng leo lần 20 hồi lên 30 đến cuối thế kỷ 19 là 33 lần cao hơn. Riêng tôi biết, ở Sài Gòn, tháng Mars 1981, vàng giá vẫn 60 đồng bạc mỗi lạng (5$ lối 1923), mua và làm một đám giỗ vĩ vèo, có đủ heo gà vịt, và “ngày trước đi chợ với một số tiền trong túi, mua về một thúng đồ ăn ngon và béo, ngày nay mang một thúng tiền giấy (sắp tới chớ nay chưa có thấy, sẽ mua về “đồ ăn đựng một túi con còn lỏng lẻo) ( viết 6-12-1983).
2) John Steinbeck, trong Les raisins de la colère có kể một gia đình bị thế lực tư bản đuổi nhà lấy đất, buộc phải chạy tìm đất mới lập thân, nhưng chạy đến nơi nào cũng bị lợi dụng, mướn làm công thì trả giá rẻ, tìm không gặp nơi yên chỗ, rồi lần hồi ông bà mất (chết), đứa trai rốt phạm tội sát nhân phải trốn lánh, đứa con, thì chồng bỏ, khi sanh, hài nhi chết, vú căng sữa nàng phải để một đàn ông lạ mặt bú, bất công đầy trời, nơi nào cũng một thứ không tránh xã hội nay hoá như vầy (612-83).
Chuyện bên mình và kim thời, tôi dốt đặc cán mai, còn chuyện cũ ở ngoại quốc, tôi vanh vách như kéc mẹ, nhờ đọc sách. Trước trận giặc đệ nhị thế chiến 1939, bên Mỹ quốc, vàng và bạc tranh nhau giữ giá:
1834, tương đối, vàng cao hơn bạc 16 lần;
1877, tương đối, vàng cao hơn bạc 17 lần;
1878, tương đối, vàng cao hơn bạc 19 lần;
1886, tương đối, vàng cao hơn bạc 20 lần;
1894, tương đối, vàng cao hơn bạc 32 lần;
1910, (từ cuối thế kỷ 19) 38 lần.
Nhưng sau đó vàng trốn mất, chỉ còn bạc hiện trên thị trường và gọi “mauvaise monnaie” (bạc xấu).
Cũng trong sách nầy “Monnaie: or, dollar, mark, franc” tác giả là Fritz Diwok, hoặc trong quyển Onze monnaies plus Deux” của Ren Sédillot), kể lại rằng: bên Ai Cập, đời các vua Pharaons, bạc có giá trị hơn vàng, vì ít có; và sắt lại quí hơn vàng, bằng chứng là trong chiếc gối liệm theo vua Toutankhamon, có giấu một thỏi sắt nhỏ nặng độ vài trăm gram, trong khi ấy cái quan tài của vua, làm bằng vàng nguyên khối, nặng trên bốn tấn (4.000 ki lô) (trên 4.000.000 gram).
Trang 112 của 1 trong 2 sách kể trên thuật lại rằng: “Lúc đồng mark của Đức mất giá, 1 thương gia Đức lấy trọn tiền mark giấy, mua được 7 tấn đinh sắt, (thay vì 10 tấn buổi trước), anh ta tăng giá và bán lần hồi, sau đó, vốn còn đủ mua 2 tấn đinh, và rốt lại, vừa vốn cả lời, anh ta chỉ mua được một cây đinh. Anh ta bèn đóng cây đinh độc nhứt ấy vào tường, cùng treo cổ…
Trang 110, theo lời Richard Lewinsohn, trong khi ấy, nhiều bất động sản cao quý vẫn giá kém hèn một cây dương cầm hoặc bức thảm do xứ Syrie dệt, và lúc ấy, cổ vật, vàng, nữ trang, vẫn giữ được giá vì dễ chôn dễ giấu, và các nhà văn, luật sư thầy cãi, bác sĩ xưa kia hốt tiền, đều treo mỏ, cạy răng vàng…
Trang 112 thuật chuyện một nhà tuỳ viên Tài chánh ở Berlin, đi xe taxi, một cuốc công tơ chỉ số 750 triệu, chú chàng tặng luôn bác tài xế kể về tiền xúp “buộc ba” là ùn millard (một tỷ) nhưng tính theo bạc quan Pháp, vừa đúng 1 franc (một tỷ).
Tóm tắt lại đó là mầu nhiệm của Hitler năm 1919 đê quỵt nợ chiến tranh cũ để lại. Năm 1919, Ernst Wagemann thuật, với số tiền 1 milion de mark, mua được 1 xưởng (fabrique); năm 1921, còn mua được một nhà trộng trộng (malsonnette); năm 1922, mua 1 ô tô, đầu năm 1923, mua được 1 bộ y phục, sau rốt còn mua một mớ giấy vụn. Một nhà khôi hài vẽ hình trên giấy, tượng trưng cho đồng mark của Đức, năm 1923, tháng aout, đồng mark cao bằng hòn Tuyết sơn (Mong Blanc), tháng septembre, còn dài bằng bề trực quả đất (diamètre de la terr cuối septembre, còn dài bằng kinh tuyến (méridien de la terre); qua cuối tháng octobre, còn dài bằng đường từ quả đất lên mặt trăng (distance de la terre à la lune), tháng novembre, bằng 1/5 đường trái đất cách mặt nhựt, vì tôi không phải nhà giỏi toán, nên xin độc giả tự tìm hiểu lấy. Tôi còn nhớ chuyện một nhà văn Đức viết xong một bản thảo đã giao cho nhà xuất ban, định bụng sẽ có đủ tiền mua một nhà nhỏ và còn dư tiền ăn trọn năm để sáng tác sách khác, bỗng vì thận trọng cau văn, láy bản tháo về nhà nào ngờ đêm ấy có lệnh đổi tiền, bạc mất giá trị, sáng ngày công phu viết lách còn lại không đủ mua miếng bít tết cơm xoàng (6-12-1983).
Google photos
Câu chuyện tiếp, tóm tắt: ngày 4-3-1895, chàng công tử Boni cưới cô gái Mỹ tỷ phú Anna Gould, không phải duyên Tần nợ Tấn mà đúng là đem mảnh “hầu tước hết xu cạn túi” vá chắp với túi bạc no kềnh, tiền lời chắt mót vé tàu tiền ba ga (bagages) tàu hoả, tưởng rằng bền chặt trăm năm ngờ đâu sau mấy năm hương lửa êm đềm, sanh được hai con, bỗng một hôm nọ, chàng đi dạo mát về thì nhà, quên lửa, “dinh thự”, vắng hoe bóng hông, y như chuyện Tú Uyên mất nàng tiên từ trong bức tranh hiện ra và nay cũng biến mất trong tranh hay trong nơi nào đố ai biết rõ, vì mặc dầu con nhà tỷ phú, của tiền đếm ngàn triệu nầy qua ngàn triệu kia nhưng nàng tiên Anna Gould có mũi giống củ khoai lùi tro nhúng rượu vang (une pomme de terre vineuse), nàng Anna chịu không thấu cách ăn xài quá huy hoác, tựa như túi không đáy, của công tử bô trai Boni, nên đã cùng hai con huy hoàng lánh mặt, thà hát sớm bài “tẩu mã”, còn hơn ham nét sang của hầu tước Pháp mà bay túi tiền dành dụm Mỹ còn gì. Chàng tiêu pha làm sao: một buổi tiếp tân nọ, mời khách hai ngàn người, bọn hầu hạ phải mướn năm trăm người mới phỉ, đèn treo rọi đường cho xe chạy suốt mươi lăm cây số bề dài, nhạc tấu mướn hai trăm nhạc công, một đêm ăn lễ mừng hầu tước phu nhơn được hai mươi tuổi xuân, ấy xài ba trăm ngàn quan tiền vàng (300.000 francs-or), ngán quá nên “tẩu vi thượng sách”. Đêm về nhà mất vợ là đêm 26-1-1906, tính ra hai chục năm sắt cầm, tổng kết sáu chục triệu quan tiền mắc nợ, gần gần ba trăm triệu quan tiền giấy hiện kim, cái câu “Tôi đã lầm, nàng Anna Gold không đủ sức giàu cho tôi xài cho phỉ chí”, nàng đâu đáng mang lời trách vô lối ấy và đáng trách hay chăng là chàng công tử Boni gặp tiên thiên thai mà còn đòi trở về cảnh tục, trách mình phải hơn. Nhưng sự đời có như vậy mới thành giai thoại cho tôi viết, bốc thơm một phen cũng vừa.
(Lược thuật theo tin vặt đăng trong báo cũ “Đại hoạ báo” Illustration” đề ngàn 29-1l-1932 và viết từ 12 đến 15-9-1983)
Boni de Castellane, tuy thất thời, vợ cuốn gói theo trai, thêm thất thế, bị thằng già, anh em thúc bá, cuỗm con hiền thê mỏ vàng, tức giận mà không làm gì được, đôi đàng chẳng thà không cho gặp mặt và Boni vẫn là Boni. Chàng công tử công tôn sạt nghiệp, tuy đã hết phú quí hào hoa, nhưng phong nhã vẫn còn như xưa, sanh nhai bằng cách đứng trung gian, nói bắt mối là hèn, nhưng làm mối lái chưa phải là khất thực, bình nhựt anh nhà buôn đồ cổ nào có món quí, hoặc tân phú ông nào muốn có món đẹp cho rôm nhà rôm cửa, thì Boni giúp cho toại lòng. “Bình phong tuy đã rách nát mồng tơi”, nhưng cốt cách vẫn y như trước, thênh thang một chiếc gậy cán ngù vàng, Boni vẫn lên xe xuống ngựa, tuy xe ngựa ấy là xe ngựa mướn, sướng đời Boni. Nghèo sạch rách thơm, bốc hương cho đó.
Luật về cổ ngoạn, bảo vật, phép và cách thức sưu tập, giá trị của vài vật hi hữu hoặc vô giá và riêng bàn về xâu chuỗi “ngọc trân châu” của bà Adolphe Thiers, nguyên là Đức Giám đốc (nay gọi Tổng thống) nước Pháp, ông được cử giữ chức ấy từ năm 1871 vì có công giải quyết vấn đề trả nợ chiến tranh Pháp thua Đức quốc nhưng sau đó ông bị lật đổ ngày 24-5-1873 và mất năm 1877, (ông sanh năm 1797)
Dẫn. Trước tiên, tôi phải nói: Đại phàm, không ai sưu tập và tích tụ làm sưu tập phẩm (collection), những gì cao giá, mắc tiền, trừ phi là ông hoàng, bà chúa, do tổ phụ để lại, hoặc là tỷ phú, của tiền không biết làm gì cho hết, chớ thuở nay vật quí như hột xoàn, kim cương, trân châu, nếu mua sắm và để dành, thì chôn tiền, chết vốn, mất ý nghĩa hai chữ “sưu tập” nói nôm là “nuôi heo bổ ống”, phải biết và có công lượm mót để dành tỷ như tiền điếu, chén bát nhỏ nhặt, lâu ngày tụ thiểu thành đa, bỗng xâu tiền, bộ chén trở nên có giá trị thì ấy mới là người biết chơi và thành thạo đời, đúng nghĩa thành ngữ “sưu tập gia”. Nhưng vật bàn hôm nay là xâu chuỗi “trân châu” của bà A. Thiers di chúc để lại cho bảo tàng Pháp Le Louvre làm kỷ niệm và xâu chuỗi nầy có một lịch sử của nó, nên thuật lại đây làm bài học, dạy khôn.
Trọn xâu chuỗi gồm 145 hạt trân châu (perle), hạt lớn hơn cả trộng bằng đầu ngón trỏ người lớn, đo bề trực, được gần 1 cm, tròn trịa và cả xâu kết làm ba vòng hột từ bé cỡ 5 ly (5mm) bề ngang và cứ đều lần lần toả hào quang một màu toàn hồng hồng sáng chói, hột nào như hột nấy đều đặn tròn khéo như nhau cho đến hột chót, chủ chốt lớn một phân Tây bề ngang như đã nói, thật là xâu chuỗi hy hữu. (Theo chỗ tôi đã đọc và được biết, thì bên Trung quốc ngày xưa có hột trân châu của vua Kiền Long, lớn đến bằng hột gà và vua sai thợ khoét bộng làm “tỷ yên hồ” (tabatière) đựng thuốc hít, lưu truyền đến vua Đồng Trị mới thất lạc, còn về chuỗi đeo cổ, thì vua Khang Hi có để lại một xâu cho đến đời đích tôn là vua Gia Khánh, tưởng rằng “hy hữu, vô song”, có ngờ đâu rõ lại quyền thần là Hoà Thân (ông nầy giúp vua Quang Trung nhà Tây Sơn trong cuộc nghị hoà với Thanh triều trong sử), nhắc lại Hoà Thân có một xâu chuỗi lại to hơn đẹp hơn, dài hơn và quí hơn của vua Gia Khánh nhiều, tưởng đeo báu vật nó phù hộ cho sống lâu dài, té ra vì giàu hơn vua, nên Hoà Thân mắc tội và đã bị chém đầu thêm mất trọn của cải, vậy thử hỏi có ích chi, hòng muôn đeo ngọc quí?
Nói xuýt lạc đề, trở lại xâu trân châu của bà Thiers, tôi đọc một sách Pháp Histoire d’ amour de l’ histoire de France của Guy Breton Ediiols Noi ét Blanc thì nhớ mại thấy nói chính ông Thiers mỗi năm đến ngày sinh nhựt của phu nhơn thì mua tặng kỷ niệm vợ một hạt trân châu, nhưng nay đọc báo cũ Ilustration ngày 3-5-1924, thì sự tích xâu chuỗi có khác, tôi xin tóm tắt lại đây làm giai thoại nhàn đàm: Adolphe Thiers phu nhơn, tên tộc là Ellalie Eie Dosne, bà từ trần tại Paris ngày 11-12-1880, sau chồng ba năm, có di chúc để lại cho người em gái là cô Félicie Dosne (độc thân) được hưởng quyền dụng ích (usufruit) một xâu chuỗi trân châu gồm 106 hột kết làm ba xâu, trong ấy hai xâu đã thành tựu, còn xâu nhỏ vẫn lỡ chừng chưa toàn bích, sau đó cô Félicie châm thêm trân châu của riêng đủ 145 hột và ký tờ ngày 10 6-1881 nhượng quyền usufruit và trao xâu chuỗi cho quốc gia Pháp, đại diện là Viện bảo tàng Le Louvre làm chủ và tàng trữ và chưng bày cho công chúng xem báu vật của cố tổng thống Thiers và dòng họ Dosne di chúc dâng cho tổ quốc. Bà Thiers rằng các hạt trân chân nầy là của dành dụm bà mua lần hồi làm nhiều năm, nhưng mỗi hột tính giá độ bực trung là lối mươi ngàn quan mỗi trân châu, trừ ra hột tô nái thì bà mua vào năm 1878, tức trước ngày lâm chung độ chừng ba năm, và riêng hột ấy giá trên bạc triệu.
Đến năm gần đây, trước năm 1926, việc bảo tàng Le Louvre hội các đại diện của chính phủ và đại diện của hai gia đình Thiers và Dosne, và tất cả đề nghị nên phát mãi xâu chuỗi ấy, lấy tiền làm việc thiện, vẫn hữu ích hơn lưu truyền một món trang sức quá quí giá, chỉ tốn nhiều công gìn giữ và chỉ kliêu khích lòng tham của quân gian phị trộm cướp quốc tế. Uỷ ban chuyên môn ước tính giá xâu chuỗi là ba chục lần hơn giá tiền mua sắm năm xưa, nhưng khi tôi đọc quyến sách “Journal dun colectỉonneltr, marchald de tableaux của Ren Gimpel, nơi trương đề ngàv 28-5-1924, thấy ghi ngày đấu giá, thiên hạ ở Paris đi xem đông hơn hội chợ và xâu chuỗi bán được mười ba triệu (13 millions) quan tiền, tính ra là bốn triệu tiền vàng (quatre millions or), và xâu chuỗi ấy năm 1878, định giá là ba trăm ngàn tiền (trois cent mille francs -or). Tác giả Relé Ginple kết luận lấy tiền bán xâu chuỗi dựng nhà dưỡng lão và cung cấp viện Le Louvre mua sắm vật khác vẫn hữu ích hơn nhiều. Ông Gimpel chỉ ân hận một điều là nay nước Pháp là nước thắng trận, mà vẫn phải “phát mãi đồ xưa vật quí” (nols avonsgagné la glerre mai devons liqtider nos richasse)
Để kết luận, thì tiền nhựt, ngày 12-5-1887, Pháp đã có một lần bán phát mãi 48 lô trân châu, bảo ngọc và kim cương của cựu hoàng gia Pháp để lại, và trước đó sáu năm thí vua Louis XVI lật đổ dòng vua, lập Dân quốc, thì Pháp đã bán nào lâu đài, ngọc xoàn, châu báu, và kẻ thừa hưởng của quí vẫn là Anh quốc tóc hoe hoe.
Về cây hévéas (cây cao su), theo “Le monde malais” của Charles Bchequain, trang 150 nói trước tiên ở Malaisie, bọn da trắng đem giống từ Ceylan qua trồng vào lối năm 1877 đến 1900 mới trồng ra rộng lớn, năm 1910 cây cho mủ nhiều các chủ đồn điền thu hoa lợi dồi dào công phát triển mạnh; từ năm 1910-1920, trận Âu châu đại chiến đến, các nước Âu Mỹ đòi hỏi cao su càng nhiều
Danh từ hay thành ngữ “Thả cầm thi. Thả kìm thơ” nầy, tôi nghe từ nhỏ, lúc chín, mười tuổi, hay mười hai, mười ba tuổi, do một nhạc sĩ có danh là ông Nguyễn Tùng Bá, người đất Sài gòn, xuống Sốc trăng, chuyên dạy đờn. Tôi nhớ ông, người dong dải, cao ráo, là người thứ nhứt, tôi thấy thường thường ăn mặc chải chuốt ít khi thấy ông bận đồ mát, và luôn luôn khăn đóng áo dài xuyến đen, miệng ngậm xi gà, hoặc hút thuốc vấn, thì có đót ống điếu hổ phách sang trọng, rất khác cô bác và cha mẹ chúng tôi tỉnh Sốc, quen áo cụt, đi giày hàm ếch, xập sệ, ăn trầu, nhà quê. Sau tôi rõ lại, ông là con trai của ông Nguyễn Liên Phong, trước có nhà ở đường Vassoigne, Tân Định, là tác giả tập “Điếu cổ hạ kim”, in năm 1915.
Trong tập thơ bát cú nầy, ông Nguyễn Liên Phong nhắc lại sự tích các nhà tiền nhơn trong xứ, có để lại chút công danh với đời, ông gọi điếu cổ, và phần thứ hai, ông tự xuống lục tỉnh, đến viếng từng nhà, từng chỗ, mấy nhà danh giá, tỷ như ông công chức (phủ, huyện, thầy thông, thầy ký), hoặc chủ điền chủ ruộng, hoặc bà goá phụ nào biết tiếp tục khai thác sự nghiệp của chồng để lại, ông biên chép tỉ mỉ tiểu sử, sau rốt bài, ông tặng một bài thơ tám câu và mục thứ hai ấy, ông gọi “hạ kim”, tôi để ý trọn tập, ông khen nhiều, chê ít, và theo tôi, ông Nguyễn Liên Phong nầy là người trước nhứt, lấy nghề biên soạn làm sanh nhai, và có lẽ ông đáng lả bực tiền bối, nếu không nói là một ký giả đi đầu trong trong phỏng vấn và viết lách trong Nam.
Tiếp theo, con ông là ông Nguyễn Tùng Bá, khi ôm một cây tỳ bà, khảy bài phụng cầu hoàng, du dương ngọt xớt, khi khác, ông ôm cây đờn kìm, ông dạy Ba tôi hay là dạy những người khác, tôi nhớ trong số có ông Nguyễn Tấn Vinh, ngoài gọi Xã Vinh là một nhà phong lưu tài tử thời ấy, làm chủ điền lớn ở làng Hoà Tú, dày công theo học đủ bài đủ bản với ông Bá, và sau rốt, nài được cây tỳ bà, thùng đàn bằng gỗ trắc đen bóng, mặt đàn bằng ngô đồng đã lên màu thâm cũ và tiếng nghe rất trong, ngày nay thất lạc đã lâu nhưng tôi còn tiếc mãi, – tôi nói xuýt lạc đề, ông Nguyễn Tùng Bá, sống bằng nghề dạy đờn và bán đờn, tôi không biết đờn ấy do nơi nào làm, tôi chỉ nhớ ông Bá bán giá rất nới, cứ mỗi cây, kìm như tranh, chỉ có năm đồng bạc nhưng phải nói bạc thời ấy mới thật là “đồng bạc lớn”, tương đương một đồng năm 1915 mua được nhiều đồ vật hơn một ngàn lần ngày nay, và ông Bá dạy đờn, cũng một giá ấy, năm đồng bạc thôi, giao khi nào người học hoà đàn với ông được và thuộc rành bản Tứ đại, ông mới nhận tiền dạy, mới nghe ai cũng ham vì rẻ, nhưng rốt lại học trò của ông học đờn xong thảy đều lắc đầu ngó nhau mà nín thở, chưa nghe ai học đờn với ông Bá mà khuyến dụ được nàng “Trác văn Quân cuốn gói theo Tư mã Tương Như” nào, nhưng vì lời giao kết phải nuôi thầy, chạy ăn chạy thuốc, mà ăn, ông Bá ăn uống rất sang, uống toàn rượu cognac Robin, hút thuốc toàn xi gà nguyên hộp hiệu La Havana, Cuba chính cống. Học cho trơn tru bản Tứ đại, đờn còn lộn lên lộn xuống, ít nào cũng một tháng tròn, xem lại lúa bồ đã nhót, thêm học trò chưa thạo đờn mà đã mang bịnh rượu vì mãi hàm chấm chút với thầy, lai rai uốn nắn tiếng “xừ”, tiếng “xang”, tiếng đờn càng thêm ngọt, bịnh ghiền trà rượu càng không dứt bỏ được. Ông Nguyễn Tùng Bá- châu lưu khắp thiên hạ, Hậu giang lục tỉnh, và chính ông, sau ông Phụng Hoàng San, tác giả bản dạy đàn tranh, xuất bản nhà in Phát Toán, tháng giêng năm 1910, và tập Bài ca mới, Bát tài tử do Nguyễn Tùng Bá sáng tác, Đinh Thái Sơn (nhà in Imprimerie de l’union của ông huyện hàm Nguyễn Văn Của làm chủ), xuất bản ngày 20-8-1915, cũng như theo tôi biết, trước kia, chi có ông Tôn Thọ Tường, và ông Phan Hiển Đạo từng ra Huế, ở lâu năm để học thi cử rồi đem nghề đờn về Miền Nam, theo tôi, chính ông Nguyễn Tùng Bá là một thầy đờn kỳ cựu, có công truyền bá điệu cầm ca xuống đất Hậu giang, để sanh ra điệu đờn ca, xuống đến Bạc Liêu, pha hợp với điệu hát Tiều của người lai Triều châu xứ nầy, đẻ ra nghề hát cải lương, cho hay xưa kia khinh thường và chê “xướng ca vô loài”, nhưng nay, các nghề cao cả như luật sư, quan toà đều bó gối, đêm đêm ngồi chung quanh máy ti vi, nếu dư dả có thừa, thì đã xi nê hay chiều ý con cháu, quên sự đời trong rạp với câu ca tiếng hát, xướng ca lên chưn hơn ông chưởng toà không còn truyền rao giấy tờ nào nữa mà hòng hành nghề thừa phát lại, và khi làm như vậy, là thả cầm thi rồi đó. Tôi quen tánh lẩn thẩn, nói không chịu đứt: “Thả cầm thi”, không khác câu “lang bợt kỳ hồ”. Đúng ta, nghĩa chánh “lang bạt kỳ hồ” là dựa tích con lang đạp cái bọc da nơi trước cổ, vì vậy là lúng túng không đi đâu được, nhưng có một ông thi sĩ Bắc phương lại dùng theo nghĩa đen, nghĩa bóng gió và hiểu nghĩa nghịch hẳn là “đi nơi nầy nơi khác, không nhứt định chỗ nào”. Đến phiên tôi, tài vẫn không, nhưng lại muốn lên mặt viết lách mà chơi, tôi nhớ thành ngữ Pháp có chữ “a bâtons rompus”, đúng nghĩa là nói không liên tiếp, nói lát gừng vậy như nay: tôi đang nói không liên tiếp, nói tầm xàm, cu cu chằng chằng, căng căng chù chù, nói lát gừng hay nhát gừng cũng một thứ, vậy xin độc giả hãy cho phép tôi dùng mấy chữ có sẵn: tôi lang bạt kỳ hồ tôi chơi, tôi thả cầm thi đây, và xin miễn chấp.
Từ đây, tôi bắt hết tập nầy, đọc qua cuốn khác, gặp đâu đọc đó và thấy gì nói nấy, nói cho đỡ buồn, nếu thiếu trật tự, cũng không hơi đâu mà trách. (7-10-1983).
Xin nhắc, nơi bài tựa, tôi viết đề ngày 6-10-1983. Tiếp theo, mở đầu, bài thứ 1 lại là những bài: thử tập dịch văn Pháp (viết ngày 12-9-83), bắt qua bài nói về Boni, viết gián đoạn 12 đến 15 tháng 9, xuống bài nói về xâu chuỗi ngọc của bà Thiers (viết 19-9-83), qua bài “sinh kế, sinh hoạt” (viết 3-10-83), đó rồi nối theo là bài viết ngày 22-9-83 lược thuật những gì đã đọc trong quyển Pháp văn “La Naissance et les premières années de Sai gon” của Jean Bouchot, ngài viết lộn lạo cái trước cái sau, đã trót thương, tôi cũng xin miễn chấp luôn, vì có như vậy mới đúng là lát gừng, không tiếp xuôi thẳng giọt”.
(7-10-1983)
Tái bút. Đây là những gì đọc và nhớ lại: Bên Pháp, đại văn hào Renan, thường viết bừa rồi gởi đi nhà in. Nhà in in xong gởi trả, chừng ấy mới sửa, gọt, một lần, hai lần, ba lần, như vậy, đến lần thứ năm, ấy mới đúng là văn của Renan. (Anatole France on pantouffes, trang 78) Đến lượt ông Anatole France (D) nầy, cũng thế tỷ dụ, ông lấy y câu nầy trong một từ điển, ông chép ra giấy: “La dame de Théroude était riche et de bonne renomnlée”. Đoạn ông chỉ trích và chỉnh lại: “Com me la dame de Thérolde était riche, on la disait de bonne renomnlée”. Gọt, giũa như vậy rồi, ông cười hề hề, tự bào chữa: “Mặc kệ mụ Théroude, chết đã ba mươi đời vương, mụ đã ra cát bụi, mà câu văn như vầy mới là sống động”. Ông lại nói: “Đừng sợ trùng tự cũng đừng ngại trùng ý. Lão đây nhại đi nhại lại hoài, có sao đâu. Cũng đừng tưởng đổi cho khỏi trùng là hay là giỏi. Biết đâu đó là ý của người ấy, mình chưa hiểu cạn, đã mong lên mặt làm thầy. Giỏi không là biết cắt xén, hoặc đổi chỗ, mà cây cảnh xem hay, câu văn xem gọn”.
Nhưng những gì Tây phương làm được, có khi ở bên nầy, không thể làm được là thường thấy. Bên nước người ta, có văn phạm, in sai, sách bán ai mua? Lại nữa: bản thảo như của Anatole France, bán rất được tiền. Trái lại bên mình bản thảo in xong, vụt bỏ, mụ xã lấy lót nồi, đứa con, nói lỡ nói luôn, nó dùng chùi đít! Người nào cỏ tánh kỹ, tiếc cất để đành. Đến việc in sách, làm sao sửa chữa, vì là in khoán. Năm xưa, tôi đã từng lãnh bản thảo nơi nhà in, cắp ca cắp cùm (đính chính lỗi chính tá, rồi trả morasse về nhà in, tưởng làm như vậy là trừ khử được mấy hạt đậu sượng, Ngờ đâu, qua bữa sau, đôi ba thằng nhỏ thợ sắp chữ, bù lu bù loa chờ tự hồi nào, vừa mở cửa, chúng nhào vô, vừa chặm nước mắt, vừa mếu máo: “Ông làm mất chén cơm của chúng con, chúng con làm khoán, ông sửa mãi, chủ nhà in chê và đuổi, chúng con mất sở làm…” Không phải nói đây để bào chữa cho chính tả viết sai là tội đã đành; đến như câu văn, thử hỏi lúc xưa, thù lao được bao nhiêu mà ra công gọt đẽo? Một lần nữa, văn của nước ngoài, mình không nên so sánh. Lại nữa, văn kể chuyện có khác, không cần dệt gấm thêu hoa, cứ nói cho thông thông cho nghe được là đủ rồi, nếu viết có mạch lại thì càng may, còn viết cho có khoa học, tầm chương trích cú, tôi xin nhường cho người khác. Vì chưa ai thấy, nên nói ra đây có lẽ ít ai tin, chớ những gì tôi viết, phần lớn, đều phun bắn từ trí óc lên ngay vào máy viết, nếu cho phép tôi xài tiếng Tây, thì là “premierjet”, nếu cho tôi múa búa xài nho, có lẽ đúng là “nhứt khái quán hạ”, tự ngòi bút lông viết ngay vào giấy, có khi lỡ dùng chữ không mấy vừa lòng, thì cũng cứ để vậy, uốn nắn cho xuôi câu là kể như xong, chớ tôi không quen đẽo gọt, vì cốt ý nói và khó tránh lặp đi lặp lại”, còn ý định đó là làm văn, thì tôi chưa nghĩ tới. (ngày 25-9-1933)
Sài gòn cận đại
Nhơn đọc và lấy tài liệu trong sách Pháp:
1) La Cochinchine Contemporaine của A. Bouiais et A. pallus (nhà in Challamel ainé, xuất bản năm 1884); và cũng đọc luôn một lượt ba quyển:
2) Histoire de l’ expedition de cochinchine của Léopold pallu de la barnère (sách nầy có hai bản, bản kỳ nhứt in năm 1861, tôi không có, và chỉ đọc bản in kỳ nhì, năm 1888( nhà in Berger levrault xuất bản); –
3) les premières Années de la cochinchine của Paulin Vial (challamelainé, Paris, 1874) gồm tập 1 và tập 11;
4) Nos premières Années au Tonkin cũng của Paual (Voiron xuất bản 1889).
Bốn cuốn tham khảo nầy, tôi đọc xen kẽ một lượt lộn lạo, cho nên về tài liệu trích lục, tôi không ghi rõ được và xin cáo lỗi).
Hôm nay, 6-10-1983, mồng một tháng chín Quí Hợi, ba giờ chiều, đang nằm trên võng đọc sách, bỗng tôi chợt nghĩ và lật đật lên ngồi nào bàn máy, sắp giấy đánh thành mỗi trang ba bản, chưa biết, – nếu lỡ chừng, sẽ gọi là “mục, chương”, nếu viết được nhiều trên trăm trang, thì sẽ gọi hay đặt tên đó là như đã thấy, là: tập thứ ba của bộ Sài gòn năm xưa và sau nầy, nếu có dịp thuận tiện sẽ in thành sách, tiếp theo tập 1 mà có người đã lấy bản Sài gòn, phóng ảnh và in lậu bên Mỹ, bán tận Paris, và cũng là tiếp “tập 2” tôi đã viết xong dưới đây và chưa có dịp xuất bản, và không chừng chẳng có dịp nào xuất bản.
Ô hay! Tại sao trên mâm cơn người Việt, ta được bày hố lốn, nào canh ngon xen với một món “xào khô”, một đĩa ram mặn, xen với nào muối tiêu, nào xì dầu và không quên món chấm quốc tuý khi sang là nước mắm nhỉ Phú quốc, cũng gọi tắt “nước mắm hòn” hoặc nước mắm nhất hảo hạng Mũi Né, khi hèn, buổi xuống chưn, bất kỳ “ngang, ngửa”, nước mắm dư bữa ăn trước, nước muối tiêu có thêm chút đường, chút giấm, được chanh thì càng quí, xếp không trật tự, người ngồi vào mâm muốn gắp, muốn chấm món nào tuỳ sở thích rồi trái lại, trời đất ơi, khi tôi đang buồn, tôi viết, tôi chơi, trời đất ơi, kêu trời sao cho thấu, khi đọc, độc giả lại rầy tôi viết “thiếu khoa học và không sắp xếp cho ngăn nắp gọn gàng”.
Đã và ngẫu hứng, thưa quí liệt vị, xin làm phước cho tôi được có chút tự do. Và nói túng mà nghe dọn có trật tự như buổi ăn theo Tây: xúp đi trước, cá, gà rồi thịt đỏ thịt rừng, la sấm la sét, đến chừng chán, trật tự cách mấy rồi chán vẫn chán, và mấy ai đã đòi trật tự buổi nầy.
Trở lại câu chuyện viết lách, tỷ như viết “hồi ký”, “nhựt ký” làm vầy vô hà trật tự. Quí vị sẽ thấy: tôi vui đâu chúc đó, hứng khi nào, viết khi nấy viết xong, khi toan đóng lại thành tập, bỗng đổi ý tôi chừng ấy mới sắp lại, tàm tạm cho có chừng, và trật tự nỗi gì?
Một cái bánh ngon, là cái bánh nguyên, vừa mới ra lò, còn nóng hổi, “vừa thổi vừa ăn” tôi muốn nói tập 1; đến như tập 3 nầy, vì còn chút đường dư bột vụn, tôi o bế lại cho đỡ cơn đói lòng, quí vị thương tình, xin bớt hay đừng cố chấp.
Tôi thanh minh một lần nữa, khi soạn tập 1, tôi vẫn chưa đọc đủ các tài liệu đã xuất bản rồi, và sau đây, vừa mới đây, nhơn buồn, lấy sách cũ ra đọc, “bươi đống tro tàn” vụt thấy vài truyện hay hay, bèn chép ra đây, rõ là “xà bần, thập cẩm”, “Tạp pín lù”.
Muốn dùng muốn đọc muốn cho vào xọt giấy, đều được, chỉ xin chút cảm thông là đáng quí rồi và không khách sáo: đây xin muôn vàn tạ ơn lòng.
Cẩn tự.
(Sài gòn muôn vẻ, do tác giả CHUNG viết ra cảm tưởng của tập hồi ký của tác giả Vương Hồng Sển)
SÀI GÒN MUÔN VẺ
Chịu trách nhiệm xuất bản: Nguyễn Kiên
Chịu trách nhiệm bản thảo: Ngô Văn Phú
Sửa bản in: Nguyễn Xanh Vàng
Bìa: Nguyễn Đức Nhu
In 1000 cuốn tại Tuần báo Văn Nghệ TP. HCM. Giấy phép số 32/HNV ngày 18-12-1990 của Cục Xuất bản BVHTT-TT-DL. In xong và nộp lưu chiểu tháng 8-92. Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, 63 Nguyễn Du, Hà nội.
Văn minh, theo tự điển dạy, là cái tia của đạo đức, phát hiện hoặc nơi chánh trị, nơi pháp luật, nơi học thuật, hay điển chương, v.v. gọi là văn minh (Đào Duy Anh). Phản đối với văn minh là dã man. Ai nói mình đã man, thì giận, xét lại là chưa khai hoá, thì giận chỗ nào? Ngày nay, xáo trộn, không nên ham nói chữ, không khéo sanh vạ. Người Pháp viết “la rangon de la civisation”, Đào Duy Anh dịch: “đại giá của văn minh”, cũng như “la rangon du progès”, tưởng cũng nên dịch: đại giá của sự tiến bộ, hoặc cái quả báo của sự tiến hành, nhưng cũng đừng dịch cao kỳ như vậy khó hiểu, và cứ nói nôm na: muốn tấn bộ phải trả giá cao.
– Cô gái quê muốn hưởng chút văn minh của thị thành, phải kỳ mài cho bớt lớp bùn, và bỏ tật sức dầu dừa, chưa chắc thấy văn minh, chỉ vừa sạch sạch nước “cản”, mà chưa chi tấm trinh đã rách!
1. Văn minh, đeo đồng hồ mắc tiền, giục lòng tham thằng bợm, biết đeo mà có biết truy nguyên, khi nói chữ, vướng hai chữ “khắc lậu” nghe như tục tĩu, chẳng qua: khắc lậu là cái đồ ngày xưa dùng để ghi thì giờ, tức lấy một cái bình đựng nước có xoi lỗ nhỏ để cho nước giọt dần dần, và xem chừng độ nước thì biết giờ. Khắc lậu canh tàn, khắc từng độ, lậu là giọt nước rĩ ra. (Dùng cát thay nước là sa lậu: sablier).
Sách thường nói văn minh phát nguyên khi tìm ra hơi nước làm sức mạnh, chuyển động được máy móc, làm cho tàu chạy, xe đi.
Một sách khác dạy rằng nguồn gốc văn minh, xưa hơn tìm ra hơi nước là sức mạnh, và phải kể lúc tìm ra đồng hồ để đo thì giờ, đo giờ chi vấy, để biết giờ tụng kinh thì kinh mới linh thính, linh thiêng, và người tìm ra cách đo giờ trước tiên, vốn là một người tu hành, đã từng xét và kinh nghiệm: xưa hơn nữa, lấy gà gáy làm báo tin, nhưng vẫn gà gáy sai, vì ngày có nhật thực hay nguyệt thực thì gà đi ngủ sớm! Cũng không tin được ánh sáng mặt trời, vì khi trời vân vũ chuyển mưa thì lấy đâu có ánh sáng mà tin với cậy!
2. Văn minh, khi máy hát nhập cảng vào Sài gòn lối 1910, tôi đã từng thấy máy hát xưa lúc đó có cái ống toà loa thật lớn thật choán chỗ, để làm cho tiếng kêu thêm lớn, có máy như máy đồng hồ, khi muốn hát, phải vặn dây thiều, rồi đặt trên mặt cái máy, ban sơ là một ống (như ống chỉ máy may) sau đối cái ống ấy thay bằng “đĩa”, người xứ ta mấy chục năm về trước đã có làm, sơ khởi là “đĩa hát của thầy Năm Tú ở Mỹ tho”, hát tuồng hát bội, tuồng giễu thuật chuyện trớ trêu chọc cười (tích thằng Lãnh bán heo, chuyện hai thằng hề lên cao lầu ăn mì “thổ thần”) đĩa hát Tây có hiệu “Pathé phono” (có trước thầy Năm Tú), xuống đến thâu vào đĩa tuồng Kim Vân Kiều, tuồng Trang tử cổ hồn (Trang Tử thử vợ) cũng của thầy Năm Tú, kế đến đĩa hiệu Asia. Máy hát cũng tân thời là hiệu Columbia, có hai dây thiều và hát được lâu và rõ tiếng hơn. Lúc ban đầu, nhà nào có máy hát là tối đại văn minh, mỗi lần cho máy hát, trong xóm bu lại nghe đứng chật cửa nhà, và người dân quê vẫn tin có con ma trong máy nên tiếng người nghe rõ rệt. Chẳng bao lâu, lối đầu chiến tranh binh Nhật đổ bộ Nam kỳ, tiếp theo có cuộc đảo chánh năm 1945 của Nhật, rồi tới chạy nạn tản cư, nhà cửa đều tiêu tan, máy và đĩa chẳng những không còn mà đã bị thay thế bằng máy transistor và bằng máy télévision, như nay đã biết, nói nữa là thừa.
3. Một triệu chứng của văn minh tôi được biết là cái tủ sắt tức là cái tủ đựng bạc làm toàn bằng sắt, hiệu tốt và bền chắc, đốt không cháy, ăn cướp phá không nôi (hay phá một cách rất khó) là tủ hiệu “Bavehel”, hiệu “Fichet”, hiệu “Le Gavlois”, những tủ này thay thế từ chiếc vò, cái hũ chôn tiền qua cái rương xe, hòm giường, rương sắt, nay thảy đều mới lạ đối với thanh niên tân thời, từng đọc sách vở cũ mà chưa có in hình như cuốn Petit Larousse của Pháp, (không kể trước đây ông Trương Vĩnh Ký có in một cuốn Pháp Việt Tự điển, và được in lại các hình vật y như trong Larousse đã kể, như sách nầy nay cũng ít nhà còn lưu trữ).
Tủ sắt giữ của một thời gian cho các nhà giàu đất Nam, nhưng giữ mà không biết làm cho tiền sanh đẻ ra tiền lãi, tiền lời, và theo luật đào thải, tủ sắt bị thay thế bằng ngân hàng, (tủ lui về nằm ở ngân hàng). Tiền gởi nhà băng, sanh lợi, khiến cho vào thời gần đây, đời Diệm đến đời Thiệu, tiền ký ngân hàng, sanh lợi đến 20 (hai chục phần trăm), có vài triệu phú gởi băng đến 100 triệu (100.000.000$), mỗi năm rút tiền lãi đến 20 triệu (20.000.000$), tưởng rằng vô tận, ngô đâu ngày 30-4-1975, của Tàu trả lại âm ty sạch sành sanh cả đám.
Tóm lại: chiếc đồng hồ, cái máy hát và cái kết bạc, ba món ấy vẫn là của nợ, nợ văn minh, tục luỵ cũng là đây, và “muốn cho sạch nợ, còn gì là duyên” (Kiều) hỡi Trời?
Văn minh có ích là chiếc xe đạp, thánh Gandhi còn khen, và chiếc xe đạp ngày nay có ích và quí hơn chiếc ô tô, nhưng phải coi chừng, xe đạp bị bợm dòm hành, xe xấu, chạy nghe cút kít, khổ xác khổ thân, nhưng bợm cũng không chừa, khổ ơi là khổ! Người Nam kỳ chơn lấm tay bùn, khi thấy chiếc bicyclette, có hai bánh, tự chạy ro ro, khoái trong lòng, tên là “cái xe máy”, máy đâu không thấy, chỉ thấy ngồi đạp êm ru, tưởng gọi xe u mê cũng tạm cho là được. Đến khi xe đạp có gắn máy tự động, gọi motocyclette, người Nam dịch là “xe máy dầu” nghe ẹ quá, và người Bắc gọi “xe mô tô” hay mô-tô, thì cũng ẹ như nhau. Bây giờ, gọi theo hiệu, xe Honda, nọ nọ, và xe ba bánh của Ý bày, gọi Lambretta, qua nước Nam, còn lại xe lam, vừa gọn, vừa không kén mặt, vừa làm giàu cho tiếng nước nhà: xe lam, xe buýt.
Văn minh còn nhiều nữa: cây viết máy, trên kia gọi bút máy, gọi stylo phứt cho rồi.
Có câu cũ rít: “có công mài sắt chầy ngày nên kim”, kim đây theo tôi hiểu, dùng máy bố tời, chớ kim nhỏ chột, hè hụi mà biết bao giờ thành công, chí có nước nhờ ngoại quốc chế tạo sẵn cho dùng, từ kim khâu, kim máy may cho hiệu Singer, và kim của bác sĩ, may ít mũi, lấy tiền bộn bộn. (còn nữa nhưng phải tiết kiệm giấy) (viết 18-10-83).
Franky and Stace Sturzo sở hữu một cửa hàng bán đồ thể thao lớn ở Los Angeles và một ngôi nhà ở Santa Monica chỉ cách bãi biển Malibu năm mươi phút đi bộ. Cả hai đã từng lập gia đình, nhưng hôn nhân của chúng chẳng đi đến đâu, nên bây giờ chúng sống với nhau. Chúng không nói với bất kỳ ai trong đám bạn bè chúng là anh em sinh đôi, mà chúng thậm chí cũng chẳng có vẻ gì là anh em ngoại trừ cả hai đều cả tin và mê thể thao. Franky hấp dẫn và có cá tính hơn. Stace nhanh nhạy hơn, chỉ hơi chút lạnh lùng, nhưng cả hai đều nổi tiếng về lòng tốt của mình. Chúng là thành viên của một trong số những phòng tập thể thao rộng rãi và sang trọng rải rác khắp Los Angeles, một phòng tập có những máy tập thể hình kỹ thuật số và những chiếc tivi treo tường màn hình rộng để xem trong khi luyện tập. Nó có một sân bóng rổ, một bể bơi và cả một võ đài nữa. Ban huấn luyện của nó là những người đàn ông đẹp như tạc và những phụ nữ nom bắt mắt, rắn chắc. Hai anh em chúng dùng phòng tập để tập và cũng là để gặp gỡ những phụ nữ tập luyện ở đó. Đây là một bãi săn lớn cho đám đàn ông như chúng vì được vậy quanh bởi những nàng diễn viên tràn trề hy vọng đang cố giữ thân hình thon thả và những bà vợ ủ ê bệ rạc của những kẻ đầy quyền lực trong làng điện ảnh. Nhưng nhìn chung Franky và Stace khoái chơi bóng rổ. Những cầu thủ giỏi thường lui tới phòng tập – thậm chí đôi khi có cả một cầu thủ dự bị của đội LA 1 Lakers. Franky và Stace thi đấu với anh ta và cảm thấy chúng cũng vững vàng. Điều đó gợi lại những kỷ niệm đầy mơ mộng khi chúng là những ngôi sao của trường trung học. Tuy nhiên chúng không hề ảo tưởng cũng sẽ may mắn như vậy trong một trận đấu thực sự. Chúng chơi đến mệt lử còn anh chàng cầu thủ của đội Lakers được một phen đùa cợt thỏa thích. Tại nhà hàng bán đồ ăn bổ dưỡng tự nhiên của phòng tập, chúng kết bạn với những nữ huấn luyện viên và hội viên của phòng tập, thậm chí đôi khi cả với một vài người nổi tiếng. Chúng luôn được vui chơi, nhưng đó chỉ là một phần nhỏ trong cuộc đời của chúng. Franky huấn luyện cho đội bóng rổ của một trường tiểu học. Gã làm việc này rất nghiêm túc. Gã luôn hy vọng phát hiện ra một siêu sao đang trong quá trình trưởng thành, và gã được bọn trẻ yêu quý vì tốt bụng và nghiêm khắc. Gã có một phương pháp huấn luyện nổi tiếng. “OK”, gã nói. – Các em còn kém hai mười điểm. Đây là hiệp cuối cùng. Các em ra sân và ghi mười điểm đầu tiên. Chỉ cần can đảm và tự tin các em sẽ luôn luôn thắng. Các em chỉ còn kém mười điểm, rồi năm, rồi hòa. Và các em thắng! Đương nhiên, chuyện đó chẳng bao giờ thành hiện thực. Bọn trẻ không phát triển đầy đủ cả về thể chất lẫn tinh thần. Chúng vẫn chỉ là một lũ nhóc. Nhưng Franky biết những đứa thực sự có tài sẽ không bao giờ quên bài học này và nó sẽ còn giúp ích cho chúng sau này. Stace tập trung vào việc điều hành cửa hàng và ra những quyết định cuối cùng anh em chúng sẽ làm những việc gì. Đó phải là những việc ít rủi ro nhất nhưng được trả giá cao nhất. Stace lúc nào cũng tin vào các tỷ lệ và là kẻ bi quan. Hai anh em chúng ít khi lại không nhất trí được với nhau về một vấn đề. Chúng có chung sở thích, chúng ngang sức ngang tài trong những kỹ năng về thể chất. Thỉnh thoảng chúng đấu tập với nhau trên võ đài hoặc ngoài sân bóng rổ. Bây giờ chúng đã sang tuổi bốn ba và có cuộc sống ổn đinh, nhưng chúng vẫn thường bàn thảo về việc lập gia đình lần nữa. Franky cặp một cô bồ ở San Francisco, còn Stace có bạn gái ở Vegas, một ả vũ nữ. Cả hai ả đều tỏ ra không mặn mà lắm với chuyện chồng con nên hai anh em chúng có cảm giác rằng chúng chỉ là những kẻ chèo đò đang dài cổ trông tới ngày cập bến. Vì hào phóng nên chúng kết bạn dễ dàng và khá bận rộn với hoạt động xã hội. Một năm sau ngày giết ông Trùm chúng vẫn sống trong tâm trạng lo lắng. Không thể giết một người như lão mà không gặp nguy hiểm. Khoảng tháng Mười một Stace gọi một cú điện thoại cho Heskow về việc trả nột năm trăm ngàn lệ phí còn lại. Cú điện ngắn gọn và có vẻ tối nghĩa. – Xin chào, Stace nói. Tụi này sẽ tới đích khoảng một tháng nữa kể từ hôm nay. Mọi cái đều ổn cả chứ? Heskow có vẻ mừng rỡ khi nghe giọng Stace. – Mọi cái đều hoàn hảo, y nói. Mọi cái đã sẵn sàng. Tụi mày có thể chi tiết hơn về thời gian không? Tao không muốn tụi mày tới khi tao đi đâu đó ra ngoài thành phố. Stace cười và thản nhiên nói – Tụi mày sẽ tìm, được chứ? Cứ tính một tháng đi. Sau đó gã cúp máy. Tiền nong nhận được trong một hợp đồng như thế luôn luôn có yếu tố nguy hiểm. Đôi khi người ta ghét thanh toán cho những việc đã làm. Điều đó xảy ra trong mỗi vụ làm ăn. Với Heskow nguy hiểm chỉ là rất nhỏ – y luôn luôn là một nhà môi giới đáng tin cậy. Tuy nhiên, vụ của ông Trùm là đặc biệt, cả tiền cũng vậy. Vì thế chúng không muốn Heskow hiểu rõ kế hoạch của mình. Hai anh em chọn quần vợt để tiêu khiển từ năm trước, nhưng với môn này, chúng luôn gặp thất bại. Mặc dù người ta giải thích cho chúng rằng đây là một môn thể thao đòi hỏi phải tập những cú giao bóng từ rất sớm, rằng nó thực sự dựa vào những kỹ thuật nào đó giống như học ngoại ngữ vậy, nhưng chúng có khiếu thể thao đến mức không thể chấp nhận thất bại. Thế là hai gã thỏa thuận ở lại khu nhà của sân quần ở Scottsdale, tiểu bang Arizona ba tuần để theo học một khóa nhập môn. Từ đó chúng sẽ tới New York gặp Heskow. Tất nhiên trong ba tuần này chúng có thể bỏ qua du hý vài đêm tại Vegas, nơi chỉ cách Scottsdale chưa đầy một giờ bay. Khu nhà ở sân quần cực kỳ sang trọng. Franky và Stace được phân một ngôi nhà nhỏ hai phòng ngủ tường làm bằng gạch sống, có điều hòa nhiệt độ, một phòng ăn kiểu Ấn Độ, một phóng khách có ban công và một nhà bếp nhỏ. Từ đây có thể thấy phong cảnh hùng vĩ của vùng núi. Trong nhà còn có một quầy bar, một tủ lạnh lớn và một TV to đùng. Nhưng ba tuần đầu đã diễn ra chẳng mấy suôn sẻ. Một trong các huấn luyện viên bắt Franky làm việc quá sức. Franky dễ dàng trở thành người giỏi nhất trong nhóm học viên mới. Gã đặc biệt tự hào về cú giao bóng của mình: nó rất là và dữ dội. Nhưng huận luyện viên, một người tên là Leslie, có vẻ đặc biệt khó chịu với cú giao bóng của gã. Một buổi sáng Franky quật trái banh về phía đối thủ của gã. Gã quay sang tự hào với Leslie, – Hiểm đấy chứ? – Nhằm nhò gì, Leslie lạnh lùng đáp. Lỗi chân rồi. Ngón chân của anh đã chồm qua vạch giao bóng. Hãy thử lại một lần nữa với một cú giao bóng như vừa rồi, trái banh thường sẽ ra ngoài sân đấy. Franky làm một cú giao bóng nữa, nhanh và chính xác – Cũng hiểm hóc đấy chứ? Gã hỏi. – Vẫn mắc lỗi chân, Leslie chậm rãi nói. Đánh banh như thế thì nước mẹ gì. Mới chỉ đưa được trái banh vào sân. Anh chỉ khá so với một Hacker 2 thôi. Franky bực lắm nhưng gã kiềm chế được. – Cứ xếp cho tôi đấu với một ai đó không phải là hacker đi, gã nói. Cứ mở mắt ra mà xem tôi chơi ra sao. Gã dừng lại. Thế còn anh? Leslie khinh bỉ nhìn gã. – Tôi không đấu với dân hacker, anh ta nói rồi chỉ vào một cô gái trẻ trạc cuối hai đầu ba chục – Rosie đấy phải không? Leslie gọi. Tiếp ngài Sturzo một ván đi. Cô giá vừa mới tới sân banh. Nàng có cặp giò rám nắng rất đẹp lộ ra ngoài chiếc quần sọc trắng, và nằng mặc một chiếc sơ mi hồng có biểu tượng khu nhà của sân quần. Khuôn mặt nàng xinh xắn và tinh nghịch. Tóc nàng buộc túm ra sau thành một cái đuôi ngựa. – Chấp tôi nhé, Franky nói với vẻ khiêm nhường. Trông cô em phong độ gớm. Cô là huấn luyện viên à? – Không, Rosie nói. Tôi cũng chỉ mới tới đây để học mấy bài giao bóng. Leslie là huấn luyện viên bậc thầy về khoản đó đấy. – Cứ chấp đi, Leslie nói. Ngài đây còn kém cơ cô mà. Franky nói nhanh, – Làm hai séc mỗi séc bốn bàn nhé? Thực lòng, gã chỉ muốn thương lượng để hạ bớt. Họ chơi dưới sự chứng kiến của Leslie. Franky thắng hai bàn đầu, nhưng sau đó Rosie giành lai ưu thế. Những cú vụt bóng của nàng thật hoàn hảo và nàng không gặp bất kỳ rắc rối nào với những cú giao bóng của gã. Nàng luôn có mặt tại nơi Franky vụt trái banh tới. Mặc dù đã vài lần cũng san bằng tỷ số hoà bốn mươi – bốn mươi, nhưng nàng vẫn hạ gã với tỷ số chung cuộc 6- 2. – Này, so với dân hacker thì anh khá đấy, Rosie nói. Nhưng anh chỉ bắt đầu chơi khi đã ngoài hai mươi tuổi phải không? – Phải, Franky bắt đầu thấy căm cái từ hacker. – Người ta phải học đánh và giao bóng từ khi còn nhỏ, Rosie nói. – Vậy ư? Franky bỡn cợt. Nhưng tôi sẽ hạ cô em trước khi chúng ta rời khỏi nơi này. Rosie toét miệng cười. Miệng nàng rộng so với khuôn mặt nhỏ của nàng. – Được thôi, nàng nói. Nếu anh có một ngày may mắn nhất đời thì tôi sẽ có một ngày tồi tệ nhất. Franky phá lên cười. Stace bước tới và tự giới thiệu. Sau đó gã nói, Mời cô đi ăn tối cùng tụi tôi. Franky không mời cô vì cô đã hạ chú ấy, nhưng chú ấy sẽ đến. – Ồ, không phải thế, Rosie nói. Anh ấy cũng đang định mời tôi đấy. Tám giờ được chứ? – Tuyệt, Stace đáp. Gã gõ cây vợt vào Franky. – Tôi sẽ tới, Franky làu bàu. Họ ăn tối tại nhà hàng của khu nhà trong sân banh, một phòng lớn có mái vòm với những bức tường kính cho phép nhìn ra sa mạc và những dãy núi. Rosie đúng là cả một phát hiện, như Franky nói với Stace sau này. Nàng ve vãn cả hai đứa, nàng nói về thể thao và xem ra nàng rất thạo, quá khứ và hiện tại – những trận đấu lớn, những cầu thủ lớn, những khoảnh khắc thiêng liêng với mỗi cá nhân. Và nàng là một thính giả có hàng, nàng khích lệ chúng. Franky kể cho nàng nghe cả việc huấn luyện lũ trẻ và bằng cách nào cửa hàng của gã có thể cung cấp những mặt hàng tốt nhất, và Rosie hết lời tán thưởng, – Ôi, thật tuyệt, thật tuyệt vời. Rồi chúng bảo nàng chúng đã từng là những ngôi sao bóng rổ của trường trung học trong thời hoa niên. Rosie ăn uống ngon miệng và anh em Sturzo chấp nhận được điều đó ở một người đàn bà. Nàng ăn chậm rãi, thanh nhã và có thói quen hạ thấp đầu nghiêng về một bên với một vẻ e lệ hầu như giả tạo khi nàng nói về mình. Nàng đang làm luận án tiến sỹ tâm lý tại Đại học tổng hợp New York. Nàng xuất thân từ một gia đình giàu có và nàng đã đi khắp châu Âu. Nàng đã từng là một ngôi sao quần vợt ở trường trung học, nhưng nàng nói tất cả những chuyện đó với một vẻ chẳng mấy hài lòng làm hai gã càng bị cuốn hút, và nàng liên tục chạm nhẹ vào tay chúng khi nàng nói. – Tôi vẫn chưa biết làm gì khi tốt nghiệp, nàng nói. Với toàn bộ kiến thức có được từ sách vở tôi sẽ không thể nào hiểu được con người trong đời sống thực tế. Giống như hai anh thôi. Các anh đã kể cho tôi nghe những chuyện đã qua của mình, hai anh thật dễ mến, nhưng tôi không biết cái gì đã làm các anh vượt qua được? – Đừng có lo về chuyện đó, Stace nói. Cô em cầu gì khắc được nấy thôi.
Google photos
– Đừng có mà hỏi tôi, Franky bảo nàng. Ngay bây giờ tôi chỉ tập trung vào một việc là làm sao thắng được cô em trong môn quần vợt. Sau bữa tối hai gã đưa Rosie xuống con đường đất đỏ dẫn tới nhà nàng. Nàng hôn nhanh lên má chúng, rồi chúng bị bỏ lại một mình trong không gian vắng vẻ. Khuôn mặt vui nhộn của nàng đang ngời lên dưới ánh trăng là hình ảnh cuối cùng chúng mang theo. – Tao nghĩ cô nàng hết sảy đấy. Stace lên tiếng. – Còn hơn thế nữa, Franky nói. Hai tuần cuối cùng ở sân banh, Rosie trở thành bồ của hai gã. Vào những buổi chiều tà sau khi chơi tennis họ lại cùng nhau đi đánh golf. Nàng chơi khá nhưng không bằng cả hai anh em. Chúng có thể đánh mạnh trái banh đi xa và rất bình tĩnh trên vạt lỗ bóng. Một gã tuổi sồn sồn ở khu sân quần đi cùng họ tới sân golf để làm thành một vặp đôi. Y năn nỉ được cùng phe với Rosie và chơi mười đô cho một lỗ. Và mặc dù rất khá nhưng y vẫn bị thua. Sau đó y thử nhập bọn với họ đi ăn tối. Rosie cự tuyệt y để làm vui lòng hai gã sinh đôi. – Tôi đang cố thuyết phục hai anh bạn này kết hôn với tôi mà, nàng nói. Chính Stace là người đưa được Rosie lên giường vào cuối tuần thứ nhất. Trước đó Franky đã đi Vegas để đánh bạc và cũng để Stace dễ “làm ăn”. Nửa đêm khi gã trở về, Stace không có trong phòng. Sáng hôm sau khi gã xuất hiện. Franky hỏi – Cô nàng sao hả? – Hết sảy, Stace nói. – Anh không phản đối nếu tôi cũng làm một phát chứ? Franky nói. Việc này không bình thường chút nào. Chúng đã bao giờ cùng chia sẻ một người đàn bà đâu. Trong lĩnh vực này khẩu vị của chúng hoàn toàn khác nhau. Stace cân nhắc đề nghị đó. Rosie hoà hợp tuyệt vời với cả hai gã. Nhưng chúng sẽ không thể tiếp tục cặp kè cùng nhau nữa nếu Stace có được Rosie và Franky chẳng xơ múi được gì. Trừ phi Franky đưa được một cô nàng nữa về phối hợp – mà thế thì hỏng mất. – Được thôi, Stace nói. Thế là đêm hôm sau Stace mò xuống Vegas và Franky ăn nằm với Rosie. Cô nàng không làm khó dễ và còn tỏ ra thích thú – không có những tiểu xảo khác thường, chỉ có các sinh hoạt vui nhộn tử tế. Nàng không hề tỏ ra khó chịu chút nào. Tuy vậy, sáng ra khi cả ba ngồi ăn sáng, Franky và Stace không biết phải xử sự ra sao. Chúng cũng khá đàng hoàng và lịch sự. Mối quan hệ hài hoà của chúng rạn nứt. Rosie nhanh chóng ăn hết phần của mình rồi ngả lưng vào ghế và hổi một cách thích thú. – Em làm các anh khó chịu hay sao? Em nghĩ chúng mình cùng là bồ bịch của nhau cơ mà. Stace thành thật nói – Chỉ là do cả hai đứa tụi anh đều phát điên vì em thôi, và bọn anh không biết chính xác phải làm thế nào để giữ mối quan hệ này. Rosie cười nói, – Em sẽ giữ. Em thích cả hai anh, rất nhiều. Chúng mình đang vui vẻ. Chúng mình đâu có lấy nhau, và sau khi rời khỏi đây có lẽ sẽ không còn gặp lại nhau nữa. Em sẽ trở lại New York, còn bọn anh sẽ quay lại L.A. Vì thế đừng làm hỏng mối quan hệ của chúng ta trừ phi một trong hai anh có máu ghen tuông. Trong trường hợp đó chúng ta chỉ cần ngưng khoản sex. Bỗng chốc hai gã trở nên thoải mái với nàng. Franky nói. – Tụi anh đâu có ghen, và anh sẽ hạ em một ván Tennis trước khi mình rời khỏi đây. – Anh không có những quả vụt, Rosie nói như đinh đóng cột, nhưng nàng chìa tay ra xiết chặt tay cả hai gã. – Thế thì làm luôn hôm nay đi, Franky nói. Rosie nghiêng đầu bẽn lẽn. – Em sẽ chấp anh mỗi bàn ba điểm, nàng nói. Và nếu thua, anh sẽ không được ra oai với em nữa đấy. Stace nói – Tao sẽ cược một trăm đô cho Rosie. Franky cười với cả hai người, một cái cười dữ tợn. Không khi nào gã cho phép mình thua Rosie với ba điểm chấp. Rosie nở một nụ cười tinh nghịch. – Và nếu em thắng, Stace sẽ qua đêm nay với em. Cả hai gã cười vang. Việc Rosie không hoàn hảo như thế, việc nàng có đôi chút ác tâm làm chúng thích thú. Trên sân banh, không gì có thể cứu được Franky – Cả cú phát bóng như chớp của gã, cả những cú đánh trả khéo léo, cả số điểm được chấp. Rosie với kiểu đánh xoáy cực hay mà nàng chưa từng sử dụng trước đó đã hoàn toàn hạ gục gã. Nàng thắng gã với tỷ số 6- 0. Khi trận đấu kết thúc, Rosie hôn lên má Franky và thì thầm. – Đêm mai em sẽ chiều anh. Như đã hứa, sau khi cả ba ăn tối xong, nàng ngủ với Stace. Việc này cứ luôn phiên cho đến cuối tuần. Ngày Rosie đi, hai gã đưa nàng ra sân bay. – Nếu các anh đến New York nhớ phone cho em, nàng nói. Hai gã cũng đã ngỏ ý mời nàng về ở chỗ chúng bất kỳ khi nào nàng đến L.A. Rồi nàng làm chúng sửng sốt. Nàng lấy ra hai hộp quà nhỏ được gói kỹ. – Làm kỷ niệm, nàng nói và nở nụ cười hạnh phúc. Hai anh em sinh đôi mở hộp và mỗi đứa thấy một chiếc nhẫn Navajo đính mặt đá xanh. – Để mà nhớ em. Sau đó, khi đi mua sắm trong thành phố, chúng thấy những chiếc nhẫn được bán với giá ba trăm đô. – Lẽ ra cô nàng chỉ cần mua cho tụi mình mỗi đứa một chiếc cà vạt hoặc một trong số những chiếc thắt lưng cao bồi ngồi ngộ với giá năm mươi đô là được, Franky nói. Cả hai đều sướng rơn. Chúng ở lại khu sân quần một tuần nữa nhưng chỉ dành ít thời gian để chơi tennis. Chúng chơi golf và đến tối lại bay xuống Vegas. Nhưng chúng đặt ra một quy định không qua đêm ở đó. Bởi lẽ người ta có thể mất rất nhiều – chấp nhận một thảm bài vào sáng sớm khi năng lực đã bị suy giảm và óc phán đoán không còn tỉnh táo. Trong bữa tối chúng nói về Rosie. Không gã nào nói một lời khiếm nhã về nàng, dù rằng trong thâm tâm chúng chẳng tôn trọng gì nàng vì nàng đã ăn nằm với cả hai anh em chúng. – Cô nàng thực sự khoái cái đó, Franky nói. Nàng chẳng khi nào mệt mỏi hoặc cau có sau khi mãn cuộc. – Ừ, Stace tán thành. Cô nàng dữ dội thật. Tao nghĩ tụi mình đã vớ được một con mái hoàn hảo. – Nhưng người ta luôn luôn thay đổi, Franky nói – Tụi mình sẽ gọi cho nàng khi đến New York chứ? Stace hỏi. – Tôi sẽ gọi, Franky nói. Một tuần sau khi rời Scottsdale chúng đăng ký ở khách sạn Sherry Netherland khu Manhattan. Sáng hôm sau chúng thuê một chiếc xe và lên đường tới nhà Heskow ở Long Island. Khi rẽ vào con đường cho xe đi chúng thấy Heskow đang quét lớp tuyết mỏng trên sân bóng rổ. Y giơ tay chào, sau đó ra hiệu cho chúng đưa xe vào ga ra xây liền với ngôi nhà. Chiếc xe của y đỗ ở bên ngoài. Trước khi Stace lái vào ga ra Franky nhảy ra khỏi xe để bắt tay Heskow nhưng thực ra là để đặt y trong tầm khống chế nếu như xảy ra bất cứ chuyện gì. Heskow mở khoá và dẫn chúng vào nhà. – Tất cả đã sẵn sàng, y nói rồi đưa chúng lên lầu, đến bên chiếc hòm lớn trong phòng ngủ và mở khóa. Bên trong có hàng đống tiền được cột bằng cao su thành những bó cao khoảng sáu inch, thêm vào đó là một chiếc túi xếp bằng da to như một chiếc valy. Stace ném những bó tiền lên giường. Sau đó hai anh em chúng lật nhanh từng chồng để đảm bảo rằng tất cả đều là tờ một trăm đô và không có tiền giả. Chúng chỉ đếm số tờ giấy bạc trong một chồng rồi nhân với một trăm. Sau đó chúng nhét tiền vào chiếc túi da. Xong xuôi, chúng nhìn Heskow. Y đang mỉm cười. – Hãy làm một tách cà phê rồi hãy đi, y mời. – Cảm ơn, Stace nói. Ở đây có gì tụi tao cần phải biết không? Có gì lộn xộn không? – Chẳng có gì cả Heskow noi. Mọi cái đều hoàn hảo. Đừng có tiêu xài xả láng đấy. – Cái này để tụi tao dưỡng già đây, Franky nói và anh em chúng phá lên cười. – Thế còn đám bạn của lão thì sao? Stace hỏi. – Người chết làm gì có bạn, Heskow đáp. – Còn con cái lão? Franky hỏi. Chúng không làm ầm lên à? – Chúng được nuôi dạy thành những người ngay thẳng. Stace nói. Chúng không là dân Sicily. Chúng là những nhà chuyên môn thành đạt. Chúng tin vào pháp luật và chúng thấy mình may mắn không phải là những kẻ bị tình nghi. Hai thằng sinh đôi à Heskow cười vang. – Tao lấy làm lạ, Stace nói. Một người đầy quyền lực như vậy mà lại ít ồn ào thế này. – Ơn trời, một năm qua rồi mà chẳng phải mắt la mày lét nữa, Heskow nói. Những người anh em uống hết tách cà phê rồi bắt tay Heskow. – Hãy bảo trọng, Heskow nói. Tao có thể sẽ gọi lại cho tụi mày. Trở lại thành phố anh em Sturzo nhét tiền vào két an toàn rồi quay về khách sạn và gọi điện cho Rosie. Nàng ngạc nhiên và vui mừng vì nhận tin của chúng sớm như vậy. Giọng nàng thật thiết tha khi nàng nài nỉ chúng đến ngay căn hộ của nàng. Nàng sẽ cho chúng xem New York, sự tiếp đãi của nàng. Thế là tối hôm đó chúng đến với nàng. Nàng tiếp chúng đồ uống trước khi cả bọn kéo nhau đi ăn tối rồi vào nhà hát. Rosie đưa chúng đến Le Cirque mà nàng bảo là nhà hàng tốt nhất New York. Đồ ăn thật tuyệt, và mặc dù không có trong thực đơn, nhưng theo yêu cầu của Franky người ta vẫn làm cho gã một đĩa mì ống. Đó là món mì ống ngon nhất mà gã chưa từng được nếm. Anh em chúng không biết một thực tế là một nhà hàng hảo hạng có thể phục vụ bất kì món ăn nào khách hàng yêu thích. Chúng thấy cô em Rosie thật đặc biệt và điều đó gây ấn tượng với chúng. Đây là lần đầu tiên chúng thấy nằng ăn mặc sang trọng. Lúc uống cà phê hai đứa tặng Rosie món quà đựng trong một chiếc hộp nhung màu nâu đỏ chúng mua chiều hôm đó ở cửa hàng Tiffany. Đó là một sợi dây chuyền gắn một hộp trang điểm bằng bạch kim nạm kim cương. Món quà trị giá năm ngàn đôla. – Của anh và Stace, Franky nói. Bọn anh mua chung mà. Rosie sững sờ. Mắt nàng đẫm lệ. Nàng đeo sợi dây chuyền lên cổ để cho chiếc hộp trang điểm nằm ở giữa cặp vú của nàng. Rồi nàng nhoài người hôn cả hai gã. Đấy là một nụ hôn ngọt ngào có mùi mật ong. Anh em Sturzo đã có lần thổ lộ với Rosie chúng chưa bao giờ đến nhà hát Broadway, vì thế đêm hôm sau nàng đưa chúng đi xem vở Những người khốn khổ. Nàng đảm bảo với chúng rằng chúng sẽ thực sự thích vở này. Và chúng thích thật, nhưng với đôi chút hoài nghi. Sau buổi diễn, trong căn hộ của nàng, Franky nói – Tôi không tin lão lại không giết thằng cớm Jarvet khi có cơ hội. – Đó là nhạc kịch, Stace nói. Nhạc kịch không thể hiện được nhiều như phim ảnh. Đấy không phải việc của chúng. Nhưng Rosie không chấp nhận ý kiến đó. – Nó cho thấy Jean Valjean đã thực sự trở thành một người tốt, nàng nói. Nó nói về sự hối cải. Một người phạm tội và ăn cắp sau đó vẫn hòa nhập được với xã hội. Điều này làm cho ngay cả Stace cũng bực mình. – Gượm đã, gã nói. Cha nội này khởi sự là kẻ cắp. Một lần là kẻ cắp thì mãi mãi vẫn cứ là kẻ cắp. Tao nói đúng không, hả Franky? Rosie nhảy vào chữa lửa – Các anh biết gì về một con người như Valjean hả? Thế là những người anh em tịt ngòi. Rosie nở nụ cười tinh quái. – Ai trong các anh sẽ ở lại đêm nay? Nàng hỏi. Nàng đợi câu trả lời, rồi cuối cùng nàng nói. – Em không chơi tay ba. Các anh phải lần lượt thôi. – Em muốn ai ở lại nào? Franky hỏi. – Đừng bắt đầu như vậy, Rosie cảnh báo. Ngược lại chúng mình sẽ có một mối quan hệ đẹp như trong phim ảnh vậy. Không ràng buộc. Mà em cũng không thích thế. Nàng nói và mỉm cười nhằm làm dịu tình hình. Em yêu cả hai anh. – Đêm nay anh sẽ về nhà, Franky nói. Gã muốn nàng biết rằng nàng đừng hòng chế ngự được gã. Rosie hôn gã, chức gã về ngủ ngon và tiễn gã ra tận cửa. Nàng thì thầm – Em sẽ đặc biệt vô cùng đêm mai. Họ có sáu ngày bên nhau. Ban ngày Rosie phải lo làm luận án, nhưng tối đến nàng hoàn toàn rảnh rỗi. Một đêm anh em Sturzo đưa nàng đi chơi Knics ở Garden. Chúng hài lòng nhận thấy nàng đánh giá cao những nét đẹp của trò chơi. Sau đó họ đi ăn tại một nhà hàng đặc sản nổi tiếng và Rosie bảo chúng rằng ngày hôm sau, một ngày trước Noel, nàng phải rời thành phố một tuần. Anh em chúng đoán nàng sẽ nghỉ lễ Giáng sinh cùng gia đình. Nhưng rồi lần đầu tiên kể từ ngày quen biết nhau chúng thấy nàng buồn. – Không, em sẽ nghỉ Giáng sinh một mình tại một ngôi nhà gia đình em sở hữu ở phía Bắc. Em muốn tránh xa mọi thứ giả dối của ngày Giáng sinh, cũng chỉ để học hành và sắp xếp lại cuộc sống của em thôi mà. – Thế thì đình lại đã, ở lại đón Giáng sinh cùng tụi anh, Franky nói. Tụi anh sẽ đỏi chuyến bay về L.A. – Em không thể, Rosie nói. Em còn phải học, mà đấy lại là nơi tốt nhất. – Một mình thôi ư? Stace hỏi. Rosie gật đầu. – Em là một con ngốc như vậy đấy – Tại sao tụi anh lại không đi cùng em vài hôm nhỉ? Franky hỏi. Một ngày sau Giáng sinh tụi anh sẽ chuồn. – Ừ, Stace tán thành, tụi mình sẽ có những phút giây thanh bình. Mặt Rosie ửng đỏ. – Các anh nói thật chứ? Nàng mừng rỡ hỏi. Tuyệt thật, chúng mình có thể đi câu vào ngày Giáng sinh. Ở đó có một trung tâm nghỉ ngơi chỉ cách nhà có ba mươi phút. Và em sẽ nấu một bữa tiệc Giáng sinh. Nàng dừng lại một lát rồi nói, Nhưng hãy hứa các anh sẽ đi ngay sau Giáng sinh, em thực sự còn phải làm việc. – Tụi anh phải quay về L.A mà, Stace nói. Tụi anh còn phải điều hành việc kinh doanh. – Chúa ơi, em yêu các anh quá. Rosie nói. Stace nói tưng tửng, – Franky và anh vẫn nhắc mãi. Em biết đấy, tụi anh chưa từng đến Châu âu, và tụi anh tính hè này khi em học xong, tụi mình sẽ cùng đi. Em sẽ là người dẫn đường cho tụi anh. Chỉ vài tuần thôi. Tụi anh rất vui nếu có em đi cùng. – Đúng đấy, Franky nói. Tụi anh đâu có đi một mình được. Quả là một ý kiến hay, Rosie nói. Em sẽ cho các anh xem London, Paris và Rome. Các anh sẽ thích Venice cho mà xem. Có thể còn chẳng muốn về ấy chứ. Nhưng, quỷ ạ, còn lâu mới đến hè. Em lạ gì các anh, đến lúc ấy các anh lại bám theo những bóng hồng khác mất thôi. – Tụi anh mến em mà, Franky nói pha chút bực bội. – Em sẽ sẵn sàng khi các anh gọi. Sáng ngày 23 tháng Mười hai Rosie đến khách sạn đón hai anh em Sturzo. Nàng lái chiếc Cadilac. Trên thùng xe chất đầy những chiếc va ly to tướng và những gói quà Giáng sinh của nàng, nhưng vẫn còn đủ chỗ để đồ cho hai gã. Stace lên băng ghế sau, nhường Franky ngồi băng trước cùng Rosie. Radio đang mở và tất cả lặng thinh trong khoảng một tiếng đồng hồ. Trong lúc chờ Rosie đến đón, hai anh em Sturzo vừa ăn sáng vừa trao đổi với nhau. Stace có thể nhận ra Franky không thoải mái với gã. Điều đó hiếm khi xảy ra giữa anh em chúng. – Có gì thì cứ nói ra, Stace nói. – Đừng làm hỏng việc. Tôi không ghen bóng ghen gió gì. Nhưng liệu anh có bỏ được Rosie khi tụi mình lên tới đó không? – Được mà, Stace đáp. Tao sẽ bảo cô nàng là tao dính bệnh lậu ở Vegas. Franky nhăn răng cười. – Anh không cần phải đi xa như thế. Tôi chỉ muốn thử chiếm hữu cô nàng cho riêng tôi. Nếu không xong, tôi sẽ bỏ và anh cứ việc sở hữu nàng. – Mày ngu quá, Stace nói. Mày sẽ làm hỏng mọi thứ thôi. Mở mắt ra mà coi, tụi mình đâu có xí phần, đâu có lừa cô nàng. Chính cô nàng muốn thế cơ mà. Mà tao nghĩ, với tụi mình thế là nhất rồi còn gì. – Tôi chỉ muốn tụi mình thử việc này. Franky nhắc lại. Chỉ một thời gian ngắn thôi. – Thôi được, Stace nói. Tao là anh mày, tao phải canh chừng cho mày. Đây là một tình huống kỳ cục của chúng, vì quả thực, nó làm cho Stace có vẻ già hơn Franky vài tuổi chứ không phải chỉ vỏn vẹn có mười phút. – Nhưng mày thừa biết, chỉ mất hai giây cô nàng đã có thể đi guốc vào bụng mày, Stace nói. Rosie là người thông minh. Nàng sẽ biết mày phải lòng nàng. Franky kinh ngạc nhìn thằng anh. – Tôi phải lòng cô nàng hả? Gã nói. Tôi cần cái đó ư? Thế thì khác gì Jesus đéo Christ. Cả hai thằng cười vang. Lúc này xe đã ra khỏi thành phố và đang lăn bánh qua những cánh đồng của quận Westchester. Franky phá vỡ sự im lặng. – Anh chưa bao giờ thấy nhiều tuyết như vậy trong đời, gã nói. Người ta sống ở đây thế quái nào được nhỉ? – Vì ở đây mọi thứ đều rẻ, Rosie trả lời. Stace hỏi, – Còn xa lắm không? – Khoảng một tiếng rưỡi nữa, Rosie nói. Bọn anh cần dừng hả? – Không, Franky đáp. Cứ đến đó đã. – Trừ phi em phải dừng lại, Stace nói với Rosie. Rosie lắc đầu. Trông nàng rất kiên quyết, tay giữ chặt vô lăng, mắt dán vào những bông tuyết đang rơi chầm chậm. Chừng một tiếng sau họ di qua một thị trấn nhỏ. Rosie nói, – Chỉ còn mười lăm phút nữa. Chiếc xe bò lên một đoạn dốc đứng và trên đỉnh một quả đồi nhỏ có một ngôi nhà màu xám trông như một con voi, bao quanh nhà là những cánh đồng tuyết trắng, không một tỳ vết, không dấu chân người, không vết xe qua. Rosie dừng xe trước hiên nhà và tất cả xuống xe. Nàng chuyển đồ và những gói quà Giáng sinh xuống cho chúng. – Vào đi, nàng nói. Cửa mở đấy. Chúng em không khóa cửa khi rời khỏi đây. Franky và Stace bước lên thềm và mở cửa. Chúng thấy mình ở trong một phòng khách rộng thênh thang được trang trí bằng những đầu súc vật treo trên tường. Một chiếc lò sưởi to như cả một chiếc hang nằm trên bệ. Bất thình lình chúng nghe thấy tiếng rú của động cơ Cadilac ở bên ngoài. Cùng lúc đó sáu người đàn ông xuất hiện từ hai cửa ra vào của ngôi nhà. Tất cả đều cầm súng. Tên cầm đầu, một người to lớn có bộ ria rậm, ra lệnh bằng một giọng lơ lớ: – Không được động đậy. Không được buông hành lý. Rồi những họng súng thúc vào người chúng. Stace hiểu ngay lập tức, nhưng Franky vẫn lo cho Rosie. Phải mất chừng ba mươi giây gã mới liên kết được sự việc – tiếng động cơ và Rosie biến mất. Rồi với cảm giác tồi tệ nhất mà gã chưa từng có trong đời, gã nhận ra sự thật. Rosie là một con mồi.
Marriano Fubio là kẻ dính dáng đến đủ mọi chuyện, tất cả những chuyện đó lại liên quan đến vàng ròng. Y giữ một vị trí tại Tổng lãnh sự Peru tuy nhiên phần lớn thì giờ y có mặt tại New York. Y còn là đại diện quốc tế của các tập đoàn kinh doanh lớn làm ăn với các nước Mỹ La tinh và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Y là bạn nối khố của Inzio Tulippa, thủ lãnh Cartell matúy quan trọng nhất Colombia. Rubio may mắn cả trong đời tư cũng như trong kinh doanh. Bốn mươi lăm tuổi vẫn độc thân, y là một kẻ sát gái đáng nể. Lúc nào y cũng chỉ cặp với một nhân tình. Tất cả đám nhân tình đều được hậu đãi mỗi khi bị thay thế bởi một bóng hồng trẻ đẹp hơn. Y đẹp trai, là một kẻ ăn nói có duyên, một vũ công siêu hạng. Y có một hầm rượu lớn và một đầu bếp tuyệt vời loại ba sao. Cũng giống nhiều người may mắn, Rubio tin vào sự đưa đẩy của định mệnh. Y thích thú đấu trí với những kẻ nguy hiểm. Y cần mạo hiểm để thêm hương vị cho cuộc đời mình. Y dính líu vào việc chuyển giao công nghệ bất hợp pháp cho Trung Quốc, y thiết lập đường dây liên lạc vào loại hiện đại nhất cho các ông trùm ma túy, và y là một kẻ tứ cố vô thân đã mua chuộc các nhà khoa học Hoa Kỳ để họ di cư tới Nam Mỹ. Y cũng quan hệ với cả Timmona Porlella – một kẻ nguy hiểm không kém gì Inzio Tulippa. Như tất cả những tay máu me cờ bạc, Rubio hãnh diện về quân xì có điểm dưới số không. Y tránh được những hiểm họa pháp lý bởi được miễn trừ về mặt ngoại giao, nhưng y biết có những mối nguy hiểm khác mà y phải dè chừng. Thu nhập của y cao và y tiêu xài rộng rãi. Y có thể mua bất cứ thứ gì y muốn trên đời, kể cả tình cảm của đàn bà. Y khoái chu cấp cho đám nhân tình cũ. Y là một ông chủ hào phóng và biết trân trọng một cách thông minh danh tiếng của những người phụ thuộc vào y. Lúc này, tại căn hộ của y – một phần của lãnh sự quán Peru – ở New York, y đang sửa soạn để đi ăn tối cùng Nicole Aprile. Như thường lệ, cuộc hẹn này một phần để bàn công việc, một phần dành cho khoái lạc. Y gặp Nicole tại một bữa tiệc chiêu đãi ở Washington do một trong những thân chủ có uy tín của nàng tổ chức. Ngay từ cái nhìn đầu tiên y đã bị thu hút không những bởi vẻ đẹp không bình thường của nàng, khuôn mặt đài các, cương quyết cùng cặp mắt và cái miệng thông minh, thân hình mảnh mai khêu gợi, mà còn bởi nàng là con gái trùm Mafia Don Raymonde Aprile. Nàng mê Rubio nhưng chưa đến mức điên dại và y trọng nể nàng vì điều đó. Y ngưỡng mộ nét thông minh lãng mạn ở đàn bà. Y muốn giành được lòng kính trọng của nàng bằng hành động chứ không phải bằng lời nói. Thế là y lập tức ra tay bằng việc đề nghị nàng đại diện cho một trong số những thân chủ của y với một hợp đồng đặc biệt đắt giá. Y nghe đồn rằng nàng làm rất nhiều để hủy bỏ án tử hình và thậm chí đã từng bào chữa cho một số tên sát nhân khét tiếng đã bị két án được hoãn thụ hình. Với y, nàng là người đàn bà hiện đại lý tưởng – xinh đẹp, có nghề nghiệp ngon lành. Ngoại trừ việc có nhu cầu hơi cao về tình dục, nàng có thể trở thành một người bạn tri kỷ dễ chịu nhất trong một năm hoặc gần như thế. Tất cả những chuyện này xảy ra từ trước cái chết của Trùm Aprile. Bây giờ, mục đích chính của sự tỏ tình của y là tìm hiểu xem Nicole và hai anh trai của nàng có ủy thác các nhà băng của họ cho Portella và Tulippa hay không. Nếu không, sẽ phải giết Astorre Viola. Inzio Tulippa đã đợi khá lâu. Hơn mười tháng sau cái chết của Raymonde Aprile y vẫn chưa có thỏa thuận nào với những người thừa kế các nhà băng của ông Trùm. Một lượng tiền lớn đã bị tiêu hết, y đã chi hàng triệu đô cho Timmona Portella để đút lót FBI, cảnh sát New York và để trả công cho anh em nhà Sturzo. Tulippa không phải là một kẻ buôn bán ma túy đầy quyền lực thông thường. Y xuất thân từ một gia đình danh tiếng và giầu có, thậm chí y còn chơi polo cho đội tuyển Argentina quê hương y. Hiện y sống ở Costa Rica và việc có hộ chiếu ngoại giao Costa Rica cho phép y được hưởng quyền miễn tố ở nước ngoài. Y có các mối quan hệ với các Carten ma túy ở Comlombia, những kẻ trồng ma túy ở Thổ Nhĩ Kỳ và các chuyên gia tinh chế ở Italy. Y thu xếp việc vận chuyển, hối lộ các viên chức từ cấp cao nhất đến cấp thấp nhất. Y vạch kế hoạch đưa lậu những chuyến hàng lớn vào nước Mỹ. Y cũng là người đã dụ dỗ các nhà khoa học nguyên tử Mỹ tới các nước Mỹ La tinh và chi tiền cho những nghiên cứu của họ. Trong mọi lĩnh vực y là một kẻ khôn ngoan, một giám đốc có năng lực và y đã gom được một sản nghiệp khổng lồ. Y hung hăng bảo vệ việc buôn bán may túy. May túy là sự cứu rỗi cho tình thần con người, là chỗ dựa cho những kẻ bị đọa đày đến tuyệt vọng bởi nghèo khổ và bệnh hoạn về tinh thần. Chúng là niềm an ủi cho người tương tư, cho những tâm hồn lạc lối trong cái thế giới nghèo nàn về tinh thần của chúng ta. Xét cho cùng, người ta phải làm gì nếu không còn tin Chúa, xã hội hay chân giá trị của mình? May túy giúp con người được sống trong vương quốc của ước mơ và hy vọng. Tất cả những gì cần đến là điều độ. Rốt cuộc thì ma túy có giết chết nhiều người như rượu, thuốc lá, nghèo đói và tuyệt vọng hay không? Câu trả lời là không. Do đó, trên nền tảng đạo đức, Tulippa hoàn toàn yên tâm. Inzio tulippa có một bí danh lừng lẫy khắp toàn cầu – “Kẻ chủng ngừa”. Các nhà công nghiệp và đầu tư ngoại quốc có những tài sản khổng lồ ở Nam Mỹ – dù đó là các mỏ dầu, các nhà máy sản xuất ô tô, hay các đồn điền đều phải cử các quản trị viên cao cấp đến đó. Nhiều người trong số họ đến từ Hoa Kỳ. Tại đây vấn đề nan giải nhất của họ là nạn bắt cóc đòi hàng triệu đô la tiền chuộc. Inzio Tulippa đứng đầu một công ty bảo hiểm chuyên về bắt cóc cho các quản trị viên, hàng năm y đến Mỹ để ký hợp đồng với các tổ hợp này. Y làm thế không chỉ vì tiền mà còn bởi y cần các nguồn cung cấp khoa học và công nghệ của họ. Tóm lại, y trình diễn một dịch vụ tiêm phòng. Việc này đối với y thật quan trọng. Nguy hiểm hơn, y xem công tác bài trừ ma túy trên phạm vi toàn cầu là một cuộc thánh chiến chống lại chính y, và y ra sức bảo vệ đế chế của mình. Y có những tham vọng nực cười. Y muốn có vũ khí hạt nhân và biến nó thành áp lực tinh thần trong trường hợp xảy ra khủng hoảng. Y đâu cần phải sử dụng, trừ phi đó là phương sách cuối cùng. Nhưng đây sẽ là một vũ khí thương lượng hữu hiệu. Một khát vọng xem ra khôi hài với tất cả mọi người, trừ đại diện FBI ở New York, Kurt Cilke. Đã có lần Kurt Cilke được cử đi học tại trường chống khủng bố của FBI. Trong thời gian học tập ông đã được tiếp cận phần lớn các tài liệu tuyệt mật và cả những kịch bản về khả năng sử dụng vũ khí nguyên tử của bọn khủng bố đến từ những nước nhỏ. Tài liệu nói rõ quốc gia nào có vũ khí hạt nhân. Với mọi người thì đó là Nga, Pháp, Anh, có thể cả Ấn Độ và Pakistan. Israel được xem là có khả năng hạt nhân. Kurt say sưa đọc những kịch bản đề cập đến việc Israel sẽ sử dụng vũ khí hạt nhân như thế nào nếu khối A rập ở thế áp đảo. Với Hoa Kỳ, có hai phương án giải quyết vấn đề. Phương án thứ nhất, nếu Israel bị tấn công, Hoa Kỳ sẽ đứng về phía họ trước khi họ buộc phải sử dụng vũ khí nguyên tử. Còn trường hợp xấu nhất, nếu Israel không thể trụ vững thì Hoa Kỳ sẽ phải xóa sạch khả năng hạt nhân của nó. Anh và Pháp được xem là không có vấn đề, họ không thể mạo hiểm với chiến tranh hạt nhân. Ấn Độ không có tham vọng. Còn Pakistan có thể bị xóa sổ nhanh chóng. Trung Quốc không phải là mối đe dọa. Họ không có khả năng công nghiệp trong tương lai gần. Mối nguy hiểm lớn hơn đến từ các nước nhỏ như Iraq, Iran và Libya, nơi có các nhà lãnh đạo liều lĩnh, hoặc kịch bản cho là như vậy. Giải pháp ở đây hoàn toàn rõ ràng: Các nước này sẽ bị hủy diệt bằng vũ khí hạt nhân. Song nguy hiểm lớn nhất trong tương lai gần lại là việc các tổ chức khủng bố được các thế lực bên ngoài hậu thuẫn và bí mật tài trợ sẽ đưa lậu vũ khí hạt nhân vào Hoa Kỳ và cho nổ ở những thành phố lớn như Washington DC hay New York. Trong trường hợp này giải pháp được đưa ra là thành lập lực lượng phản ứng sử dụng công tác phản gián và sau đó là những biện pháp trừng phạt mạnh mẽ nhất chống lại quân khủng bố cũng như bất kỳ ai đứng sau lưng chúng. Việc này đòi hỏi những cơ sở pháp lý đặc biệt quy định quyền của các công dân Mỹ. Kịch bản cũng thừa nhận không thể có được những cơ sở pháp lý như vậy cho đến khi một kẻ nào đó thành công trong việc nổ bom tại thủ đô nước Mỹ. Chỉ khi đó các thủ tục pháp lý mới nhanh chóng được thông qua. Còn từ nay tới đó chỉ còn biết trông vào số mệnh. Có rất it kịch bản mô tả việc bọn tội phạm chế tạo vũ khí hạt nhân. Mảng này bị xem nhẹ trên cơ sở cho rằng khả năng kỹ thuật, việc thu mua nguyên liệu và quá nhiều người liên quan sẽ không tránh khỏi bại lộ. Đây chỉ là giả tưởng, Kurt nghĩ bụng. Chỉ là suy đoán thôi. Nhưng bây giờ, sau nhiều năm, Cilke nhân thấy nó đang xảy ra. Tulippa muốn có một trái bom hạt nhân cỡ nhỏ. Y cám dỗ các nhà khoa học Hoa Kỳ tới Nam Mỹ và xây cho họ những phòng thí nghiệm, chu cấp tiền bạc cho những nghiên cứu của họ. Và cũng chính Tulippa là kẻ muốn tiếp cận các nhà băng của Trùm Aprile nhằm thiếp lập một quỹ chiến tranh cả tỷ đôla để mua nguyên vật liệu – tất cả đã bị Cilke phát hiện ra trong quá trình điều tra của ông. Ông sẽ thảo luận vấn đề này với giám đốc trong chuyến công tác tới đến tổng hành dinh của FBI ở Washington. Nhưng ông không tin người ta có thể giải quyết được vấn đề. Những kẻ như Inzia Tulippa đời nào chịu bỏ cuộc. Inzio Tulippa đến Hoa Kỳ để gặp Timmona Portella và theo đuổi việc giành giật các nhà băng của Trùm Aprile. Cùng lúc đó thủ lĩnh của băng Corleone ở Sicily, Michael Grazziella, cũng đến New York để cùng Tulippa và Portella soạn thảo kế hoạch chi tiết về việc phân phối ma túy trên toàn thế giới. Chúng đến bằng những cách thức rất khác nhau. Tulippa đáp xuống New York bằng máy bay riêng. Cùng đi còn có năm mươi thuộc hạ và vệ sĩ. Bọn này mặc cùng một kiểu đồng phục: comple trắng, sơ mi xanh da trời, cà vạt hồng, mũ Panama 1 mềm màu vàng. Trông chúng cứ như những thành viên của một ban nhạc Rhumba Nam Mỹ nào đó. Tất cả đều mang hộ chiếu Costa Rica, đương nhiên Tulippa hưởng quyền bất khả xâm phạm của ngoại giao đoàn. Tulippa cùng người của y nghỉ tại một khách sạn nhỏ của tổng lãnh sự quán Peru. Tulippa đi đứng đường hoàng chứ không lấm lét như một kẻ buôn bán may túy. Dù sao y vẫn là “kẻ chủng ngừa” và đại diện của các công ty Mỹ tranh nhau làm cho y được thoải mái trong suốt thời gian lưu lại. Y đến dự phiên khai mạc của nhà hát Broadway, Lincoln Center Ballet, Metropolitan Opera, và các buổi hòa nhạc của các nghệ sĩ Mỹ La tinh nổi tiếng. Y xuất hiện cả trên chương trình đối ngoại với tư cách là chủ tịch Liên đoàn công nhân nông nghiệp Nam Mỹ và y dùng các diễn đàn để bảo vệ việc sử dụng ma túy. Một trong những cuộc đối thoại của y – với Charlie Rose trên đài truyền hình PBS – đã trở thành nổi tiếng. Tulippa cho rằng Hoa Kỳ luôn tỏ thái độ chống lại việc sử dụng côcain, heroin và cần sa trên toàn thế giới là một biểu hiện ô nhục của chủ nghĩa thực dân. Những người lao động Nam Mỹ tồn tại được là nhờ sản xuất ma túy. Ai có thể đổi lỗi cho một người mà cái nghèo đã len vào cả những giấc mơ, buộc họ phải sử dụng ma túy để có được vài giờ thư thái? Đó là một phán xử vô nhân đạo. Thế còn thuốc lá và rượu thì sao? Chúng gây thiệt hại nhiều hơn ấy chứ. Hôm đó, năm mươi thuộc hạ của y cũng có mặt tại phòng quay. Mỹ Panama để trong lòng, chúng vỗ tay tán thưởng rầm rầm. Khi Charlie Rose hỏi về những thiệt hại mà ma túy gây ra, Tulippa đã tỏ ra đặc biệt chân thành. Tổ chức của y đã rót một lượng tiền lớn vào việc nghiên cứu điều chế để ma túy không còn có hại. Tóm lại, chúng sẽ là những loại thuốc tân dược bình thường. Chương trình sẽ được điều hành bởi các bác sĩ danh tiếng chứ không phải những con tốt của Hiệp hội y tế Mỹ – những kẻ chống ma túy một cách mù quáng. Không, ma túy chỉ có thể là niềm hạnh phúc lớn tiếp theo của nhân loại. Năm mươi chiếc mũ Panama màu vàng nhất loạt bay vèo lên không trung.
Google photos
Cùng thời gian đó thủ lĩnh của cosca Corleone, Michael Grazziella, vào Hoa Kỳ bằng một cách hoàn toàn khác. Lão đến kín đáo, chỉ có hai vệ sỹ. Lão gầy khẳng khiu, đầu lão giống đầu thần Faun 2 và một vết sẹo do dao gây ra vắt qua miệng. Lão đi đứng phải chống gậy vì một viên đạn đã tiện gãy chân lão hồi lão còn là một chàng picciôtto Palermo. Lão nổi tiếng về những mưu đồ xảo trá – và người ta nói chính lão đã vạch kế hoạch giết hại hai thẩm phán chống Mafia vĩ đại nhất Sicily. Grazziella ở nhà Portella như khách của hắn. Lão chẳng hề băn khoăn về sự an toàn của chính mình vì toàn bộ việc kinh doanh ma túy của Portella phụ thuộc vào lão. Cuộc họp được ấn định nhằm vạch ra một chiến lược kiểm soát các nhà băng của Aprile. Việc này có tầm quan trọng đặc biệt vì nó cho phép rửa hàng tỷ đôla từ buôn ma túy đồng thời giúp sức tranh giành quyền lực trong giới tài chính New York. Về phía Inzion Tulippa, không những y rửa được tiền mà còn tài trợ được cho kế hoạch phát triển kho vũ khí hạt nhân của y. Nó sẽ làm cho vai trò “Kẻ chủng ngừa” của y vững chắc hơn. Cả bọn gặp nhau tại lãnh sự quán Peru, một địa điểm an toàn, thêm vào đó là tấm bình phong miễn trừ ngoại giao. Ngài tổng lãnh sự Marriano Rubio là một chủ nhà hào phóng. Tụ tập quanh một chiếc bàn nhỏ hình oval, chúng có một cuộc cãi vã khá thú vị. Grazziella trông như một anh nhà đòn trong bộ comple đen bóng láng, sơ mi trắng, cà vạt đen vì lão đang để tang mẹ. Mẹ lão chết mới được sáu tháng. Giọng lão thấp, buồn, hơi rè, nhưng hiểu được. Lão có vẻ dè dặt và lịch sự nhưng thực tế chính lão là người phải chịu trách nhiệm về việc giết hại một trăm nhân viên thi hành luật pháp ở Sicily. Timmona Portella, duy chỉ có hắn tiếng Anh mới là tiếng mẹ đẻ, nói oang oang như thể cả bọn kia bị điếc. Hắn mặc bộ comple xám, áo sơ mi màu chanh, cà vạt lụa xanh bóng láng. Chiếc áo khoác cắt rất khéo lẽ ra đã giấu được cái bụng ngoại cỡ nếu không bị cởi khuy để khoe sợi dây đeo quần màu thanh thiên. Inzio Tulippa nom như một người Nam Mỹ điển hình với sơ mi lụa trắng rộng thùng thình và chiếc khăn màu hồng điều trên cổ. Một cách cung kính y cầm chiếc mũ Panama vàng trên tay. Y nói một thứ tiếng Anh nhấn giọng du dương, và giọng y quyến rũ như giọng họa mi. Nhưng hôm nay trên mặt y lộ rõ vẻ hằn học, rõ là y không mấy hài lòng với cái thế giới này. Marriano Rubio là kẻ duy nhất có vẻ hài lòng. Thái độ niềm nở của y làm tất cả dễ chịu. Giọng y được rèn luyện tốt theo phong cách của người Anh và y ăn mặc theo một kiểu mà y gọi là “en pantoufle”: Pijama bằng lụa xanh, áo choàng xanh đậm, đôi dép mềm bên trong lót lông màu trắng. Rốt cuộc thì đây là nhà y và y có thể thư giãn chứ. Tulippa mở đầu. Y nói huỵch toẹt với Portella với một vẻ lịch sự chết người. – Bạn Timmona thân mến của tôi, y nói. Tôi đã chi đậm cho việc loại trừ Trùm Aprile thế mà chúng ta vẫn chưa nắm được các nhà băng. Một năm chờ đợi rồi còn gì. Ngài tổng lãnh sự giọng trơn tru – Inzio quý mến, y nói. Tôi đã cố mua lại các nhà băng. Portella cũng cố mua. Nhưng chúng tôi gặp một vật cản không lường trước. Đó là cái thằng Astorre Viola, cháu lão Trùm. Nó được giao quyền kiểm soát và nó không bán. – Thế ư? Inzio nói. Tại sao nó vẫn sống hả? Portella cười hềnh hệch. – Vì giết nó đâu có dễ, hắn nói. Tôi đã cử một đội bốn đứa trông nom nhà nó và chúng đều biến mất. Lúc này tôi cũng đếch biết nó ở chỗ chó nào, mà cái thằng này đi đến đâu cũng có một đám vệ sĩ đi theo nữa chứ. – Chẳng có thằng nào khó giết như thế đâu, Tulippa nói, giọng y trầm bổng quyến rũ như đang ngân nga một bài thơ trữ tình. Grazziella lúc này mới lên tiếng. – Chúng tôi biết thằng Astorre ở Sicily nhiều năm trước. Nó là một thằng may mắn, mà nó cũng rất có năng lực. Ở Sicily chúng tôi đã bắn nó và nghĩ rằng nó tiêu rồi. Nếu phải làm lần nữa, chúng tôi phải được bảo đảm. Thằng này nguy hiểm đấy. Tulippa nói với Portella, – Ngài nói ngài mua được một thằng FBI cơ mà? Sử dụng nó đi chứ, lạy chúa. – Nó chẳng dễ bị khuất phục đâu, Portella nói. FBI cao tay hơn NYPD. Chúng chẳng làm ba cái vụ đánh đấm lộ liễu đâu. – OK, Tulippa nói. Vậy thì mình chộp một đứa trong đám con lão Trùm và dùng nó để mặc cả với thằng Astorre. Marriano, ngài biết con gái lão, y nháy mắt. Ngài dụ được con nhỏ mà. Rubio không khoái đề nghị này. Y rít xì gà rồi giận dữ nói không đếm xỉa gì đến phép lịch sự. – Không được. Y dừng lại một lát. Tôi thích cô ta. Tôi sẽ không làm như vậy với cô ta. Tôi cũng phản đối bất kỳ ai trong các ngài định làm chuyện này. Những kẻ có mặt đều nhướng mày. Về quyền lực thực tế, ngài tổng lãnh sự ngồi ở chiếu dưới so với chúng. Y nhận ra phản ứng của chúng nên đành mỉm cười nhã nhặn. – Tôi biết tôi có yếu điểm này. Tôi đang yêu mà. Chiều tôi một tý chứ. Tôi có một chỗ dựa chính trị vững chắc. Inzio, tôi biết bắt cóc là sở trường của ngài, nhưng không thể làm chuyện đó ở nước Mỹ. Đặc biệt là với phụ nữ. Bây giờ mà ngài tóm một trong hai thằng anh rồi tiến hành thương thảo ngay với thằng Astorre thì ngài có cơ hội đấy. – Không được đụng đến thằng Valerious, Portella nói. Nó ở bên tình báo quân đội và có một lũ bạn là CIA. Chúng tôi không muốn dọn đống cứt đó. – Thế thì phải là thằng Marcantonio, ngài tổng lãnh sự chống chế. Tôi có thể thỏa thuận với thằng Astorre. – Hãy đưa ra một bảng báo giá lớn hơn cho các nhà băng, Grazziella nhẹ nhàng lên tiếng. Tránh dùng bạo lực. Cứ tin tôi: Tôi đã từng trải những chuyện như vậy rồi. Tôi đã từng sử dụng súng thay tiền, và tôi luôn luôn phải trả giá cao hơn. Cả bọn ngạc nhiên nhìn lão. Grazziella vốn khét tiếng về bạo lực. – Michael, ngài tổng lãnh sự nói, ngài đang nói đến hàng tỷ đôla đấy. Và thằng Astorre vẫn chẳng chịu đâu. Grazziella nhún vai. – Nếu chúng ta phải ra tay thì cứ làm đi. Nhưng cần rất thận trọng. Nếu trong lúc đàm phán chúng ta điều được nó ra khỏi nhà thì khử nó không còn là vấn đề. Tulippa ngoác miệng cười. – Đó là cái tôi thích nghe. Marriano này, y nói, đừng có dính vào yêu đương nữa. Đấy là một thói xấu rất nguy hại. Cuối cùng Marriano Rubio cũng thuyết phục được Nicole và các anh nàng ngồi lại nghiệp đoàn của y để bàn về việc bán các nhà băng. Tất nhiên, Astorre Viola cũng phải có mặt mặc dù Nicole không thể bảo đảm điều đó được. Trước cuộc họp Astorre dặn dò Nicole và các anh nàng phải nói gì và phải xử sự chính xác ra sao. Họ hiểu sách lược của chàng: Cứ để nghiệp đoàn nghĩ rằng chỉ có mình chàng là đối thủ của chúng. Cuộc họp được tiến hành tại phòng họp của lãnh sự quán Peru. Ở đó không có người phục vụ ăn uống, nhưng một bữa ăn tự phục vụ đã được chuẩn bị và đích thân Rubio rót rượu mời họ. Vì phải dành thời gian cho những bất đồng nên cuộc họp được ấn định vào mười giờ đêm. Rubio giới thiệu và dẫn dắt cuộc họp. Y trao cho Nicole cặp hồ sơ. – Đây là đề nghị chi tiết. Nhưng có thể vắn tắt thế này, giá chúng tôi đưa ra cao hơn giá thị trường năm mươi phần trăm. Mặc dù quyền kiểm soát sẽ hoàn toàn thuộc về chúng tôi, nhưng tiền lãi nhà Aprile sẽ nhận là mười phần trăm lợi nhuận của chúng tôi trong hơn hai mươi năm tới. Tất cả các bạn đều giàu có và hưởng thụ cảnh an nhàn không phải biết đến những căng thẳng khủng khiếp mà loại hình kinh doanh này đòi hỏi. Họ chờ đợi trong khi Nicole đọc lướt qua các giấy tờ. Cuối cùng nàng nhìn lên và nói – Ấn tượng đấy, nhưmg hãy cho tôi biết tại sao lại có một đề nghị hào phóng như thế này? Rubio trìu mến mỉm cười với nàng. – Hợp tác mà, y nói. Mọi chuyện làm ăn bây giờ đều phải hợp tác, như máy tính và hàng không, sách vở và xuất bản, âm nhạc và ma túy, thể thao và truyền thông. Tất cả đều có hợp tác. Với các nhà băng của Aprile, chúng tôi sẽ có quan hệ hợp tác trong giới tài chính quốc tế. Chúng tôi sẽ kiểm soát việc xây dựng các thành phố, việc bầu cử của chính phủ. Nghiệp đoàn này sẽ trải khắp toàn cầu và chúng tôi cần đến các nhà băng của các bạn, do đó đề nghị của chúng tôi là hào phóng. Nicole quay sang các thành viên còn lại của nghiệp đoàn, tất cả các quý ngài đều là đối tác bình đẳng đấy chứ? Tulippa hoàn toàn bị lôi cuốn bởi diện mạo xinh đẹp đượm buồn cùng giọng nói nghiêm nghị của nàng, nên y cố tỏ ra quyến rũ khi trả lời nàng. – Chúng tôi đều bình đẳng trước pháp luật trong vụ mua bán này, nhưng cho phép tôi bảo đảm với các bạn rằng được liên kết với cái tên Aprile là cả một vinh dự. Không ai ngưỡng mộ cha các bạn nhiều hơn chúng tôi. Valerious, mặt lạnh như tiền, thẳng thừng phản đối Tulippa. – Đừng hiểu nhầm tôi, tôi muốn bán thật. Nhưng tôi thích bán đứt hơn, không cần phải phần trăm gì cả. Ở cấp độ cá nhân, tôi không muốn dây dưa với việc này. – Nhưng ngài vẫn muốn bán chứ? Tulippa hỏi. – Đúng thế, Valerious nói. Tôi muốn phủi tay khỏi việc này. Portella định nói nhưng Rubio ngắt lời y. – Thế còn ngài, thưa ngài Marcantonio, y nói. Ngài nghĩ sao về đề nghị của chúng tôi? Nó có hấp dẫn với ngài không? Marcantonio trả lời với giọng muốn bỏ cuộc. – Tôi cũng như Val. Cứ bán đứt chả cần phần trăm gì sất rồi chúng ta sẽ chào tạm biệt và chúc nhau may mắn. – Tốt. Chúng ta có thể làm hợp đồng theo hướng đó, Rubio nói. Nicole lạnh lùng lên tiếng, – Nhưng thế thì các vị phải tăng phụ phí đấy. Các vị có giải quyết được không? – Không thành vấn đề, Tulippa nói và tặng nàng một nụ cười ngưỡng mộ. Grazziella, mặt lộ vẻ lo ngại nhưng giọng nói vẫn lịch sự hỏi – Thế còn người bạn Astorre Viola quý mến của chúng ta thì sao? Cậu ấy có đồng ý không? Astorre nở nụ cười khó hiểu – Các ngài biết tôi đến đây với tư cách một chủ nhà băng. Ngài Aprile đã bắt tôi hứa không được bán. Tôi không muốn đi ngược lại với gia đình tôi, nhưng tôi phải nói không. Và tôi kiểm soát đa số cổ phần. – Nhưng các con của ông Trùm cũng có quyền lợi của họ, ngài tổng lãnh sự nói. Họ có thể kiện ra toà đấy. Astorre cười. Nicole nói chắc nịch – Chúng tôi sẽ không làm thế Valerious cười chua chát, còn Marcantonio dường như đã tìm thấy ý tưởng vui. Portella cằn nhằn – Quỷ tha ma bắt và nhổm đít định chuồn. Astorre nói giọng hòa giải – Xin các ngài kiên nhẫn. Tôi có thể sẽ buồn vì phải làm một chủ ngân hàng. Chúng ta có thể gặp lại sau vài tháng nữa. – Được thôi, Rubio nói. Nhưng chúng tôi không thể ôm cả đống tiền trong thời gian dài như thế. Các bạn có thể sẽ nhận giá thấp hơn đấy. Không có cái bắt tay nào khi họ chia tay. Sau khi anh em nhà Aprile và Astorre ra về, Michael Grazziella nói với các đồng sự của lão – Nó chỉ câu giờ thôi. Nó không đời nào bán đâu.
Tulippa thở dài – Quả là một thằng hấp dẫn. Chúng ta có thể trở thành bạn tốt đấy. Có lẽ tôi phải mời nó tới đồn điền của tôi ở Costa Rica. Tôi sẽ cho nó thấy quãng đời đẹp nhất của nó. Cả bọn phá lên cười. Portella nói một cách thô lỗ, – Nó không đi hưởng tuần trăng mật với ngài đâu, Inzio ạ. Tôi phải quan tâm tới nó tại đây thôi. – Tôi hy vọng kết quả sẽ tốt hơn trước, Tulippa nói. – Tôi đã đánh giá thấp thằng này, Portella phân bua. Tôi còn nói gì được nào? Một thằng chỉ biết hát tại các đám cưới chắc? Tôi đã làm vụ lão Trùm Aprile ngon lành. Có thấy ai phàn nàn đâu. Ngài tổng lãnh sự, khuôn mặt đẹp trai rạng rỡ vì cảm kích nói – Một việc tuyệt vời, Timmona ạ. Chúng tôi luôn luôn tin tưởng ngài. Nhưng cái vụ mới này phải được làm càng sớm càng tốt. Rời khỏi cuộc họp, gia đình Aprile và Astorre đi ăn khuya tại nhà hàng Partinico, nơi có phòng ăn riêng và do một người bạn cũ của ông Trùm sở hữu. – Tôi nghĩ các anh chị làm rất tốt, Astorre nói với họ. Các anh chị đã làm chúng tin rằng các anh các chị chống lại tôi. – Chúng tôi chống cậu thật đấy. Val nói. – Tại sao chúng ta phải chơi trò chơi này? Nicole nói. Tôi không thích chút nào. – Những gã này có thể dích dáng đến cái chết của ông già, Astorre nói. Tôi không muốn chúng làm hại các anh chị. – Chú tin chú có thể đỡ được tất cả những gì chúng ném vào chú à? Marcantonio hỏi. – Không, không. Astorre phản đối. Nhưng tôi có thể ẩn náu mà không ảnh hưởng gì tới cuộc sống. Quỷ ạ, tôi sẽ đi Dakotas và bọn chúng tìm thế quái nào được tôi. Cái cười của chàng khoan dung và thành tâm đến mức chàng xem ra có thể xỏ mũi bất kỳ ai trừ các con của ông Trùm Aprile. Nào, chàng nói, hãy cho tôi biết chúng có liên lạc với ai trong các anh chị không? – Tôi nhận được rất nhiều cú điện thoại của thanh tra Di Benedetto, Valerious nói. Astorre ngạc nhiên – Thằng cha này gọi cho anh làm cái chết tiệt gì vậy? Valerious cười với chàng. – Khi còn làm bên tình báo bọn này có cái gọi là những cú điện thoại “mày biết gì hả”. Một người nào đó muốn gửi cho chú thông tin hoặc giúp đỡ với một thỏa thuận nào đó. Cái họ thực sự muốn là biết được cuộc điều tra của chú tiến hành ra sao. Vì vậy Di Benedetto gọi cho tôi như một hành động lịch sự để lợi dụng tôi đúng lúc cho công tác điều tra của hắn. Sau đó hắn dò hỏi tôi thông tin về chú. Hắn có vẻ quan tâm nhiều đến chú – Nịnh đầm quá, Asotrre nói và toét miệng cười. Hẳn là hắn phải nghe tôi hát ở đâu đó rồi. – Không thể được, Marcantonio nói khô khốc. Di Benedetto cũng gọi cả cho tôi. Hắn nói hắn có một ý tưởng dành cho một loạt chương trình về cớm. Ở phòng quay lúc nào chả có chỗ cho một chương trình như thế nên tôi ra sức khích lệ hắn. Song những thứ hắn gửi cho tôi chỉ là nhảm nhí. Hắn là đứa không nghiêm chỉnh. Hắn chỉ muốn giữ liên lạc với chúng ta thôi. – Tốt lắm, Astorre nói. – Astorre, anh muốn chúng nhằm vào anh thay cho chúng tôi à? Nicole nói. Việc đó không quá nguy hiểm sao? Cái lão Grazziella ấy làm tôi sởn gai ốc. – À, tôi biết về lão, Astorre nói. Lão là người biết điều. Và ngài tổng lãnh sự của chị là một nhà ngoại giao trung thực, y có thể kiểm soát Tulippa. Kẻ duy nhất ngay lúc này tôi lo lắng là Portella. Ông bạn này đủ đần độn để gây ra rắc rối. Chàng nói tất cả những điều này y như thể đó chỉ là những bàn luận làm ăn hàng ngày. – Nhưng rồi chuyện này còn kéo dài bao lâu? Nicole hỏi. – Hãy cho tôi vài tháng nữa, Astorre trấn an nàng. Tôi hứa, đến lúc đó tất cả chúng ta sẽ thỏa hiệp được thôi. Valerious nhìn chàng khinh miệt – Astorre, chú lúc nào cũng lạc quan. Nếu chú là nhân viên tình báo dưới quyền tôi, tôi sẽ điều chú sang bên bộ binh để làm chú cảnh giác. Bữa tối không được vui. Nicole tiếp tục tìm hiểu Astorre như thể nàng đang cố gắng nghiên cứu một bí mật nào đó. Valerious đương nhiên không tin tưởng Astorre và Marcantonio còn đang dè dặt. Cuối cùng Astorre nâng ly và vui vẻ nói – Các anh chị bi quan quá, nhưng tôi chả quan tâm. Chuyện này sẽ buồn cười lắm đây. Ly này là cho ông già. – Ông Trùm Don Aprile vĩ đại, Nicole chua chát nói. Astorre mỉm cười với nàng. – Ừ, cho ông Trùm vĩ đại. Astorre luôn luôn cưỡi ngựa vào cuối chiều. Nó làm chàng thư giãn và ăn tối ngon miệng. Nếu đang tán tỉnh một cô nàng, chàng sẽ bắt nàng cùng cưỡi ngựa. Nếu cô nàng không biết cưỡi ngựa, chàng sẽ dạy nàng việc đó. Nếu cô nàng không ưa gì ngựa nghẽo, chàng sẽ thôi theo đuổi nàng. Chàng đã làm một đường mòn đặc biệt để đua ngựa xuyên qua rừng. Chàng tận hưởng tiếng chim hót véo von, tiếng sột soạt của những con thú nhỏ. Nhưng hơn hết, chàng thích mặc đồ đẹp đi cưỡi ngựa. Áo khoác đỏ tươi, giầy ống đi ngựa màu nâu, chiếc roi trên tay chưa bao giờ chàng sử dụng, chiếc mũ đi săn bằng da mềm. Chàng mỉm cười với bóng của chính mình trong gương, tưởng tượng mình là một lãnh chúa Anh thời trung cổ. Chàng xuống chuồng ngựa. Ở đó chàng nhốt sáu con ngựa, và chàng hài lòng thấy rằng huấn luyện viên Aldo Monza đã chuẩn bị xong một trong những con ngựa đực của mình. Chàng lên yên và cho ngựa chạy nước kiệu lên trên con đường mòn vắt qua rừng. Tăng tốc độ, chàng phi qua một vòm lá đỏ, vàng lộn xộn tạo thành một tấm rèm đăng ten ngăn mặt trời đang lặn. Chỉ có những cánh hoa vàng mảnh dẻ soi sáng con đường. Móng ngựa làm bốc lên mùi lá mục. Chàng nhìn thấy đống phân bón lúa mì và thúc ngựa băng qua, rồi phi lên lối rẽ trên con đường mòn. Đó là một lộ trình khác để đi quanh nhà. Ánh vàng trên đường biến mất. Chàng ghìm dây cương. Đúng lúc đó hai bóng người xuất hiện phía trước chàng. Chúng mặc quần áo của những người lao động chân tay ở trang trại. Nhưng chúng đeo mặt nạ, ánh kim loại lóe lên trên tay chúng. Astorre vội thúc ngựa và cúi rạp mình xuống. Khu rừng chìm trong ánh sáng và âm thanh của những loạt đạn. Bọn người này đã tiến đến rất gần. Chàng cảm thấy lưng và sườn mình trúng đạn. Con ngựa hoảng sợ phi nước đại điên cuồng trong khi Astorre cố ngồi cho vững. Chàng phi xuống đường mòn và lại thêm hai bóng người xuất hiện. Họ không đeo mặt nạ và không mang vũ khí. Chàng tuột khỏi mình ngựa và ngã vào vòng tay họ, bất tỉnh. Trong vòng một giờ Kurt Cilke đã nhận được báo cáo của đơn vị giám sát đã cứu Astorre Viola. Cái làm ông thực sự ngạc nhiên là bên dưới lớp quần áo của anh chàng thích trưng diện này là chiếc áo lót chống đạn che phần thân trên bằng chiều dài của chiếc áo khoác cưỡi ngựa. Một gã như Astorre – một người nhập khẩu macaroni, một ca sĩ phòng trà, một kỵ sĩ lập dị lại đi mặc áo giáp làm cái chết tiệt gì cơ chứ? Cú va chạm của những viên đạn chỉ làm gã bất tỉnh, và gã cũng đã ra viện rồi. Cilke viết một thông báo nhờ điều tra cuộc sống của Astorre Viola từ bé đến giờ. Con người này có thể là chìa khóa để giải quyết mọi vấn đề. Tuy nhiên ông đã biết một điều: Kẻ nào mưu toan sát hại Astorre Viola. Astorre gặp hai người anh họ tại nhà Valerious. Chàng kể cho họ nghe về cuộc tấn công, về chàng đã bị bắn như thế nào. – Tôi đã nhờ các anh giúp đỡ, chàng nói. Nhưng các anh đã từ chối và tôi hiểu. Nhưng bây giờ tôi cho rằng các anh phải xem xét lại. Ở đây có một loạt đe dọa nào đó nhằm vào tất cả các anh chị. Tôi nghĩ việc này có thể giải quyết được bằng việc bán các nhà băng. Đó sẽ là một tình huống hai bên đều thắng. Ai cũng có cái mình cần. Hoặc chúng ta cũng có thể chọn tình huống thắng – thua. Chúng ta giữ các nhà băng, đẩy lùi và tiêu diệt kẻ thù, dù chúng có là ai đi nữa. Cuối cùng là tình huống hai bên đều thua mà chúng ta phải hết sức cẩn thận để không rơi vào. – Dễ ợt, Valerious nói. Bán quách nhà băng. Hai bên đều thắng. Marcantonio nói – Chúng ta đâu phải người Sicily, chúng ta không muốn ném đi mọi cái chỉ để trả thù. – Chúng ta bán nhà băng rồi chúng ta vất bỏ luôn tương lai của mình, Nicole bình tĩnh nói. Marc, một ngày nào đó anh muốn có mạng lưới truyền hình của riêng mình. Val, với những ưu thế lớn lao về chính trị anh có thể trở thành đại sứ hay bộ trưởng quốc phòng. – Còn Astorre, anh có thể hát với ban nhạc Rolling Stones. Nàng mỉm cười với Astorre. Được thôi, cũng hơi khó tin, nàng nói và đổi giọng. Hãy quên những chuyện đùa đó đi. Việc ba bị giết không là cái gì với anh em mình hay sao? Có phải thưởng công cho lũ sát nhân khong? Tôi nghĩ chúng ta phải giúp Astorre hết khả năng của mình. – Em có biết em đang nói gì không? Valerious hỏi. – Biết chứ, Nicole khẽ đáp. Astorre nhẹ nhàng nói – Ông già dạy tôi rằng cháu không được đẻ cho người khác áp đặt ý muốn của họ lên cháu, nếu không cuộc sống chẳng còn mảy may giá trị. Anh Val, đó là chiến tranh đấy, đúng không? – Chiến tranh là một quyết định hai bên đều thua. Nicole nói. Valerious thể hiện sự khó chịu của mình – Những người khoan dung muốn nói gì thì nói, chiến tranh là tình huống thắng – thua. Ai khôn ngoan hơn sẽ thắng trong cuộc chiến. Thất bại là một điều khủng khiếp không thể tưởng tượng được. – Ông già đã có một quá khứ, Astorre nói. Quá khứ đó bây giờ phải được tất cả chúng ta cùng quan tâm. Vì thế một lần nữa tôi yêu cầu các anh chị giúp đỡ. Hãy nhớ rằng, tôi là người dưới sự chỉ đạo của ông, và nhiệm vụ của tôi là bảo vệ gia đình, điều đó có nghĩa là không được bán các nhà băng. Valerious nói – Trong vòng một tháng tôi sẽ có thông tin cho chú. Astorre quay sang Marcantonio – Thế còn anh, Marc? Marcantonio đáp – Tôi sẽ bắt tay vào chương trình đó ngay lập tức. Khoảng hai hay ba tháng là xong. Astorre nhìn Nicole – Nicole, chị đã hoàn thành việc phân tích hồ sơ của FBI về ông già chưa? – Vẫn chưa xong, nàng có vẻ buồn. Chúng ta không thể nhờ Cilke giúp hay sao? Astorre mỉm cười. – Cilke là một trong số những kẻ tôi nghi ngờ. Khi nào tôi có đủ thông tin chúng ta mới có thể quyết định phải làm gì. Trong cả tháng trời Valerious đã tìm ra một vài thông tin vừa bất ngờ vừa đáng buồn. Thông qua các đầu mối CIA của mình gã đã biết sự thật về Inzio Tulippa. Y có những tiếp xúc ở Sicily, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, Pakistan, Colombia, và các nước Mỹ La tinh khác. Thậm chí y còn quan hệ với cả gia đình Corleone ở Sicily. Theo Valerious, chính Tulippa đang tài trợ cho những phòng thí nghiệm nghiên cứu nguyên tử nào đó ở Nam Mỹ. Chính y liều lĩnh mưu toan lập một quỹ khổng lồ ở Hoa Kỳ để mua phương tiện và nguyên liệu. Chính y muốn sở hữu một loại vũ khí khủng khiếp để chống lại chính quyền. Trong tất cả những mưu đồ này Timmona Portella chỉ là tấm bình phong cho Tulippa. Với Astorre, đây là một tin vui. – Những gì Tulippa hoạch định có thể thực hiện được không? Astorre hỏi. – Y sẽ thực hiện được, Valerious đáp. Và y được các quan chức chính phủ bảo vệ ở tất cả những nơi y đặt phòng thí nghiệm. – Cảm ơn anh, Val, Astorre nói. Chàng trìu mến vỗ vai người anh họ. – Không có gì, Valerious nói. Nhưng đây là tất cả những gì chú nhận được từ tôi đấy.
Marcantonio phải mất sáu tuần để nghiên cứu tiểu sử tóm tắt của Kurt Cilke. Gã đưa cho Astorre một đống hồ sơ tin tức. Astorre giữ lại hai mươi bốn tiếng đồng hồ rồi đem trả. Chỉ có Nicole là lo lắng cho chàng. Nàng gửi cho chàng bản copy hồ sơ FBI về ông Trùm Aprile, nhưng ở đó có cả một đoạn hoàn toàn để trống. Khi chàng hỏi về điều đó nàng chỉ nói – Khi tôi nhận nó đã như vậy rồi. Astorre nghiên cứu các giấy tờ rất kỹ. Đoạn để trống hình như nói về quãng thời gian chàng mới lên hai. – Thôi được, chàng bảo Nicole, lâu quá rồi nên chẳng quan trọng lắm. Lúc này Astorre không thể trì hoãn thêm được nữa. Chàng đã có đủ thông tin để bắt đầu cuộc chiến của mình. Nicole bị Marcantonio Rubio và sự tán tỉnh của y làm cho lóa mắt. Nàng vẫn chưa lấy lại được thăng bằng từ vụ bội tình của Astorre khi nàng còn là một thiếu nữ, khi chàng chọn giải pháp vâng lời cha nàng. Mặc dù đã trải qua vài cuộc tình ngắn ngủi với những người đàn ông đầy quyền lực, nàng vẫn biết đàn ông luôn luôn âm mưu chống lại đàn bà. Nhưng Rubio dường như là một ngoại lệ. Y không hề nổi nóng với nàng khi lịch làm việc của nàng cản trở các kế hoạch được ở bên nhau của họ. Y hiểu, với nàng công việc là trên hết. Y không xử sự vô lý như nhiều người đàn ông khác, những kẻ cho rằng ghen tuông mới là cơ sở của một tình yêu chân chính. Rubio là kẻ hào phóng trong khoản quà cáp; quan trọng hơn nàng thấy y là một người thú vị và say sưa nghe y thao thao nói về văn học, về kịch nghệ. Nhưng việc y là một người tình hăng hái, một chuyên gia trong lĩnh vực chăn gối, và bên cạnh đó không làm mất nhiều thì giờ của nàng mới là ưu điểm lớn nhất của y. Một buổi tối Rubio đưa Nicole đi ăn tại nhà hàng Le Cirque với vài người bạn của y: một tiểu thuyết gia Nam Mỹ nổi tiếng thế giới, kẻ quyến rũ Nicole bằng sự hóm hỉnh và những câu chuyện ma vô lý của mình, một ca sĩ Opera cách tân cứ mỗi lần ăn một món mới lại ngân nga một bản Aria vui vẻ và sau đó ngốn ngấu đồ ăn cứ như sắp phải lên ghế điện, và cuối cùng là một nhà báo chuyên mục bảo thủ, rất có uy tín về các vấn đề quốc tế của tờ New York Times. Tay này rất tự hào được cả những người tự do và bảo thủ ghét như nhau. Sau bữa tối Rubio đưa Nicole về căn hộ sang trọng của y trong lãnh sự quán Peru. Ở đó, y quần nàng một trận tơi bời. Cả bằng sức, cả bằng những lời thì thầm. Sau đó y bế nàng trần truồng ra khỏi giường và khiêu vũ với nàng trong khi vẫn ngâm thơ bằng tiếng Tây Ban Nha. Nicole có một khoảng thời gian tuyệt vời. Nhất là khi họ cùng im lặng và y rót Champagne cho cả hai rồi thành thật nói, – Anh yêu em lắm. Vẻ thành thật còn ngời lên trên nét mặt y. Sao lại có những kẻ mặt dày mày dạn đến thế. Nicole cảm thấy hài lòng. Cha nàng lẽ ra đã phải tự hào về nàng. Nàng đã hành động như một Mafioso thực thụ. Là người đứng đầu cơ quan FBI New York, Kurt Cilke có nhiều vụ án quan trọng hơnvụ giết Trùm Raymonde Aprile. Vụ thứ nhất điều tra về sáu tổ hợp khổng lồ âm mưu đưa lậu những máy móc bị cấm, bao gồm cả công nghệ máy tính, sang Trung Quốc. Vụ thứ hai là âm mưu của các công ty thuốc lá lớn khai man trước một ủy ban điều tra của nghị viện. Vụ thứ ba là việc các nhà khoa học hạng trung di cư tới các nước Nam Mỹ như Brazil, Peru và Comlombia. Ngài giám đốc FBI muốn được tường trình về những vụ này. Trên chuyến bay tới Washington, Boxton nói – Chúng ta đã làm mấy tay bên các công ty thuốc lá bị tóm, đã làm cho những chuyến hàng của Trung Quốc bị giữ lại. Cái duy nhất chúng ta chưa rờ đến được là các nhà khoa học kia. Nhưng tôi cá anh sẽ lên phó giám đốc sau vụ này. Người ta không thể phủ nhận chiến tích của anh được. – Cái đó còn phụ thuộc vào giám đốc, Cilke nói. Ông ấy biết rõ tại sao các nhà khoa học lại kéo nhau xuống Nam Mỹ nhưng vẫn bình chân như vại. Tại Hoover Building, Boxton bị cản lại không được vào dự họp. Mười một tháng trôi qua kể từ ngày ông Trùm Aprile bị giết. Cilke đã chuẩn bị xong tất cả những giấy tờ cần thiết. Vụ Aprile dần lắng xuống, nhưng ông đã có thông tin về những vụ thậm chí còn quan trọng hơn. Và lần này, việc ông sẽ đề nghị giữ chân phó giám đốc Cục là một cơ hội thực sự. Giám đốc là một người tầm thước, lịch thiệp, cực kỳ giàu có nhờ tiềm năng của chính mình và tham gia chính trường như một bổn phận trước công chúng. Bắt đầu nhiệm kỳ của mình lão đã đặt ra những luật lệ nghiêm ngặt. – Không làm bậy, lão vui vẻ nói bằng giọng mũi. Tuân theo quy tắc. Không vi phạm Luật nhân quyền. Một nhân viên FBI phải luôn luôn lịch sự, phải luôn luôn đúng luật, phải luôn luôn đứng đắn trong đời tư. Bất kỳ một tai tiếng nào, dù nhỏ đến đâu chăng nữa, như đánh vợ, say rượu, quan hệ quá gần gũi với quan chức cảnh sát địa phương, những trò tra tấn ngu ngốc, thì bạn chỉ còn nước cắp đít mà đi dù cho cha chú bạn có làm đến Thượng nghị sĩ cũng mặc. Đấy là luật lệ suốt mười năm qua. Còn nữa, nếu bạn được báo chí nói đến nhiều, dù toàn những lời khen ngợi, bạn cũng sẽ được lên đường tới Alaska để canh chừng những ngôi nhà tuyết của người Eskimo. Giám đốc mời Cilke ngồi xuống một chiếc ghế cực kỳ khó chịu ở phía bên kia chiếc bàn gỗ sồi rộng rãi của lão. – Tôi triệu tập cậu về vì vài nguyên nhân, lão nói. Thứ nhất: Tôi đã đưa vào hồ sơ cá nhân của cậu việc cậu được đặc biệt tuyên dương vì công tác chống Mafia ở New York. Nhờ có cậu chúng ta đã bẻ gãy xương sống của chúng. Xin chúc mừng. Lão nhổm lên để bắt tay Cilke. Chúng tôi không công bố bây giờ vì Cục chỉ khen thưởng cho những thành tích đặc biệt. Hơn nữa, nó có thể đặt cậu vào tình thế nguy hiểm. – Chỉ từ vài kẻ điên thôi, thưa ngài, Cilke nói. Các tổ chức tội phạm hiểu rằng chúng không thể làm hại một nhân viên Cục điều tra Liên bang. – Cậu định nói rằng Cục trả thù cá nhân chứ gì, lão nói. – Ồ không, Cilke nói. Ý tôi là chúng ta phải cẩn thận hơn thôi. Ngài giám đốc cho qua chuyện này. Ở đây có những đường ranh giới. Đạo đức luôn luôn có một giới hạn mỏng manh. – Thật không công bằng nếu để cậu chôn chân một chỗ, lão nói. Tôi đã quyết định không bổ nhiệm cậu làm phó của tôi tại đây, ở Washington này. Chưa phải lúc. Có ba lý do. Thứ nhất, cậu là một người thông thạo đường phố và ở đó vẫn còn công việc phải được giải quyết. Thứ hai, cậu có một tên chỉ điểm mà cậu từ chối tiết lộ danh tánh hắn với cả phòng giám sát nhân sự của Cục. Thứ ba, quan hệ của cậu với thanh tra cảnh sát New York quá riêng tư. Hai người chuyển qua những mục khác trong chương trình nghị sự. – Chiến dịch Omertà của chúng ta sao rồi? Lão hỏi. Phải hết sức thận trọng, chúng ta có hành lang pháp lý trong toàn bộ chiến dịch của mình. – Tất nhiên rồi, thưa ngài, Cilke nói, mặt lạnh như tiền. Lão giám đốc phải gió này biết rõ phải bỏ qua luật lệ mà. Chúng tôi có một ít trở ngại. Raymonde Aprile từ chối hợp tác với chúng ta. Tuy nhiên, những trở ngại đó không tồn tại lâu được. – Lão Aprile bị giết hợp lý quá, giám đốc giễu cợt nói. Ông bạn Portella của cậu làm vụ này chứ gì? – Chúng tôi không biết, Cilke nói. Dân Italy có khi nào đi báo chính quyền đâu. Chúng tôi chỉ phải chờ những xác chết được tìm thấy thôi. Hiện tôi đã tiếp cận Astorre theo cách chúng ta đã thảo luận. Gã đã ký những giấy tờ bảo mật nhưng lại từ chối hợp tác. Gã không làm ăn với Portella và nghe nói không bán các nhà băng. – Thế chúng ta làm gì bây giờ? Lão hỏi. Cậu cũng biết việc đó quan trọng như thế nào. Nếu có thể buộc tội chủ nhà băng theo luật RICO thì chúng ta sẽ thu hồi được các nhà băng cho chính phủ. Và mười tỷ đó sẽ được dùng để đấu trnh chống tội phạm. Đây sẽ là một thành tích đáng nể đối với Cục. Lúc bấy giờ chúng ta có thể chấm dứt mối liên kết của cậu với Portella. Y đã sống lâu hơn lợi ích của mình. Kurt này, chúng ta đang ở trong một tình huống rất tế nhị. Chỉ có các phụ tá của tôi và bản thân tôi biết việc cậu hợp tác với Portella, việc cậu nhận tiền của y còn y cứ đinh ninh cậu là kẻ đồng lõa. Cuộc sống của cậu có thể bị đe dọa đấy. – Y sẽ không dám làm hại người của FBI đâu, Cilke nói. Y điên thật, nhưng chưa điên đến thế. – Thôi được, Portella phải tiêu trong chiến dịch này. Kế hoạch của cậu thế nào? – Anh chàng Astorre Viole không ngây thơ như mọi người vẫn nghĩ, Cilke nói. Tôi đang cho kiểm tra quá khứ của gã. Tôi cũng sẽ yêu cầu các con của Aprile không đếm xỉa gì đến gã nữa. Nhưng tôi thấy lo, liệu chúng ta có thể mang cây gậy RICO lùi lại mười năm để đối phó với những gì chúng đang làm không? – Đấy là việc của ngài Tổng kiểm sát trưởng, giám đốc nói. Chúng ta chắc chắn tìm ra cái gì đó tòa án có thể ủng hộ. – Về tài khoản bí mật của tôi mà Portella rót tiền vào, Cilke nói, tôi nghĩ ngài phải rút ra một ít để y tin tôi đang sử dụng. – Tôi sẽ thu xếp việc này, lão nói. Tôi phải nói, ông bạn Timmona Portella của cậu không vắt cổ chày ra nước đâu. – Y thực sự tin tôi đã thay đổi, Cilke nói và mỉm cười. – Cứ cẩn thận. Đừng tạo cho chúng những cơ sở có thể biến cậu thành một kẻ đồng lõa với tội ác thực sự. – Tôi hiểu, Cilke noi. Dù sao nói cũng dễ hơn làm. – Và đừng hành động mạo hiểm không cần thiết, giám đốc nói. Nhớ rằng, bọn buôn bán ma túy ở Nam Mỹ và Sicily có quan hệ với Portella và chúng là những kẻ liều lĩnh đấy. – Tôi sẽ lưu chỉ thị của ngài ở dạng lời nói hay văn bản? Cilke hỏi. – Cả hai đều không được, giám đốc nói. Tôi hoàn toàn tin tưởng vào sự ngay thẳng của cậu. Ngoài ra, tôi không muốn phải nói dối trước một ủy ban nào đó của nghị viện. Để trở thành một trong các phụ tá của tôi, cậu sẽ phải rũ sạch những thứ đó. Lão hy vọng chờ đợi. Cilke thậm chí không dám nghĩ những ý nghĩ thật của mình trước mặt ngài giám đốc, sợ rằng lão có thể đọc được suy nghĩ của ông. Mặc dù vậy cơn giận cứ bùng lên. Lão nghĩ ông là thằng đéo nào, thành viên của Hiệp hội những người có quyền tự do dân sự Hoa Kỳ chắc? Thông báo của lão chỉ để khẳng định rằng Mafia đếch phải là người Italy, dân Hồi giáo đếch có thằng nào làm khủng bố, người da đen đếch phải là tầng lớp tội phạm. Vậy lão nghĩ thằng đéo nào gây ra những tội ác trên đường phố chứ? Nhưng rồi Cilke nhẹ nhàng nói, – Thưa ngài, nếu ngài muốn tôi từ chức, tôi đã công tác đủ thời gian để về hưu sớm được rồi. – Ồ không, lão nói. Hãy trả lời tôi. Liệu cậu có thể xóa sạch các mối quan hệ của cậu không? – Tôi đã trao cho Cục tên của tất cả những kẻ chỉ điểm, Cilke nói. Đối với những việc làm tắt, bỏ qua luật lệ, đó chỉ là vấn đề giải thích. Còn việc làm bạn với lực lượng cảnh sát địa phương chỉ là quan hệ xã hội. – Kết quả của cậu biện minh cho công việc của cậu, lão nói. Nào, cố thêm một năm nữa. Cứ tiếp tục đi. Lão im lặng một hồi lâu và thở dài. Rồi không còn kiên nhẫn được, lão hỏi – Theo đánh giá của cậu, chúng ta đã có đủ bằng chứng về việc các nhà điều hành công ty thuốc lá khai man hay chưa? – Dễ quá mà, Cilke, nó và tự vấn tại sao giám đốc lại phải hỏi. Lão đã có tất cả hồ sơ rồi cơ mà. – Nhưng đấy có thể là niềm tin của cá nhân họ, lão nói. Những cuộc thăm dò dư luận của chúng ta chỉ ra rằng một nửa số người Mỹ đồng ý với họ. – Cái đó đâu có liên quan đến vụ này, Cilke phản đối. Những người được hỏi ý kiến không thực hiện hành vi khai man trước Nghị viện. Chúng ta có những cuốn băng và những tài liệu nội bộ chứng minh được các nhà điều hành công ty thuốc lá cố ý lừa dối. Họ đã có ý đồ. – Cậu nói đúng, giám đốc nói cùng một tiếng thở dài. Nhưng ngài Tổng kiểm sát trưởng đã hoàn tất một thỏa thuận. Không một can phạm nào bị kết án, không ai phải đi tù. Người ta sẽ trả tiền phạt lên đến hàng trăm tỷ đô la. Vậy hãy khép vụ án đó lại. Nó nằm ngoài tầm tay chúng ta. – Được thôi, thưa ngài. Tôi có thể sử dụng nhân lực dôi dư vào những việc khác. – Được việc cho cậu quá còn gì. Tôi sẽ còn làm cậu vui hơn nữa. Cứ sử dụng nhân lực của cậu vào cái vụ vận chuyển công nghệ bất hợp pháp sang Trung Quốc. Vụ này rất nghiêm trọng đấy. – Không cho qua được, Cilke nói. Các công ty đó cố ý vi phạm điều luật về đầu cơ tiền tệ và xâm hại an ninh Hoa Kỳ. Những người lãnh đạo công ty đã có âm mưu từ trước rồi – Chúng ta có đủ bằng chứng kết tội họ, lão tiếp tục. Nhưng cậu biết đấy, âm mưu chỉ là một từ chung chung. Ai mà chả có âm mưu. Nhưng vụ này cậu cũng có thể khép lại và tiết kiệm nguồn nhân lực. Cilke ngờ vực hỏi, – Thưa ngài, có phải ngài đang nói một thỏa thuận về việc này đã được hoàn tất? Ngài giám đốc ngả lưng vào ghế và chau mày vì câu nói xấc xược của Cilke, nhưng rồi lão vẫn ngọt nhạt – Cilke cậu là sĩ quan xuất sắc nhất ở Cục nhưng cậu không có giác quan chính trị. Bây giờ hãy nghe tôi và đừng bao giờ quên điều này: Cậu không thể tống sáu nhà tỷ phú vào tù được. Không làm thế được trong một xã hội dân chủ. – Và đó là lý do ư? Cilke hỏi. – Các biện pháp chế tài sẽ rất nặng, lão nói. Bây giờ ta chuyển sang các vụ khác, có một vụ cực kỳ bí mật. Chúng ta sẽ đổi một tù nhân của Liên bang lấy một trong những chỉ điểm viên của chúng ta đang bị giữ làm con tin ở Comlombia, một người rất hữu dụng trong cuộc đấu tranh chống ma túy của chúng ta. Vụ này phù hợp với cậu đấy. Lão đề cập đến một vụ bốn năm về trước. Một tên buôn ma túy đã bắt năm người, một phụ nữ và bốn đứa con, làm con tin. Rồi y giết họ và cả một nhân viên của Cục. Nhưng y vẫn được tha mạng. Tôi nhớ rằng cậu rất kiên quyết với việc thi hành án tử hình, lão nói. Tôi biết cậu chẳng vui vẻ gì khi chúng ta sẽ để y được tự do. Tất cả chuyện này được giữ kín, nhớ nhé. Tuy nhiên, báo chí có khả năng sẽ bới vụ này lên và lúc ấy tha hồ mà om xòm. Cậu và các nhân viên của cậu sẽ không được bình luận gì. Cậu hiểu chứ? Cikle nói – Chúng ta không được dể bất kỳ kẻ nào giết nhân viên của chúng ta được ra đi như vậy. – Với một nhân viên của Cục điều tra Liên bang, thái độ đó là không thể chấp nhận được. Cilke cố gắng không để lộ sự phẫn nộ của mình. – Thế thì tất cả đồng đội của chúng ta sẽ lâm vào tình thế nguy hiểm. Đồng nghiệp của chúng ta bị giết khi đang cố giải cứu con tin. Đó là một vụ giết người tàn bạo. Việc tha bổng kẻ sát nhân xúc phạm đến hương hồn người đồng đội đã khuất. – Không có tâm lý báo thù ở Cục, giám đốc nói. Nếu không chúng ta cũng chẳng hơn gì bọn chúng. Nào, cậu có những gì về các nhà khoa học di cư đó hả? Lúc này Cilke nhận ra ông không thể tin vào ngài giám đốc. – Chẳng có gì mới, ông nói dối. Ông quyết định từ giờ trở đi ông sẽ không dính vào những thỏa hiệp chính trị. Ông sẽ hành động một mình. – Nào, cậu đang có khá nhiều nhân lực, vậy hãy làm vụ này đi, giám đốc nói. Và sau khi cậu tóm Timmona Portella, tôi sẽ đưa cậu về đây làm một trong các phụ tá của tôi. – Cảm ơn ngài, Cilke đáp. Nhưng tôi đã quyết định, sau khi tính sổ Portella, tôi sẽ nghỉ hưu. Giám đốc buông một tiếng thở dài. – Hãy xem xét lại. Tôi biết toàn bộ việc này làm câu ngán tới cỡ nào. Nhưng hãy nhớ điều này: Cục không chỉ chịu trách nhiệm bảo vệ xã hội chống lại những kẻ phạm pháp, mà còn phải thi hành những biện pháp về lâu về dài mang lại lợi ích cho xã hội chúng ta. – Tôi nhớ điều đó từ ngày học phổ thông cơ, Cilke nói. Kết quả biện minh cho phương tiện. Giám đốc nhún vai, – Dù sao cũng hãy xem xét lại việc xin nghỉ hưu của cậu. Tôi sẽ đưa vào hồ sơ của cậu một đơn đề nghị. Dù cậu đi hay ở, cậu vẫn sẽ nhận huân chương do Tổng Thống Hoa Kỳ ban tặng. – Cảm ơn ngài, Cilke nói. Giám đốc bắt ty ông và tiễn ông ra cửa. Nhưng lão còn hỏi thêm câu hỏi cuối cùng. – Chuyện gì xảy ra trong vụ Aprile thế. Đã nhiều tháng rồi mà hình như chưa làm được gì. – Đó là việc của bên cảnh sát New York, đâu phải là của chúng ta, Cilke đáp. Tất nhiên, tôi cũng đã xem xét vụ này. Đến giờ vẫn chưa rõ động cơ. Không có đầu mối, tôi thiết nghĩ, thì không thể giải quyết được vụ này. Đêm hôm đó Cilke ăn tối cùng Bill Boxton. – Có những tin tốt lành đây, Cilke nói. Vụ thuốc là và vụ máy móc của Trung Quốc khép lại rồi. Ngài tổng kiểm sát trưởng ngả theo các biện pháp chế tài chứ không theo biện pháp trấn áp tội phạm. Nhân lực tha hồ mà dôi dư. – Cứt, Boxton nói. Tôi cứ nghĩ giám đốc là một người ngay thẳng, công bằng. Lão sẽ từ chức chứ? – Có những người thẳng thẳn và có những người thẳng thắn với một chút lương lẹo, Cilke nói. – Còn gì nữa không? Boxton hỏi. – Khi tôi hạn xong Portella toi sẽ trở thành phụ tá của giám đốc. Bảo đảm đấy. Nhưng đến lúc đó tôi cũng sẽ nghỉ hưu. – Ừ, Boxton nói. Thế thì đề nghị để tôi giữ cương vị đó nhé? – Không được đâu. Lão giám đốc biết cậu đã sử dụng những từ có ba chữ cái mà, ông phá lên cười. – Cứt, Boxton nói, giả vờ thất vọng. Đêm hôm sau Cilke cuốc bộ từ ga về nhà. Georgette và VAnesa đi Flỏida thăm bà ngoại một tuần và ông không thích đón taxi. Ông ngạc nhiên không nghe tiếng chó sủa khi bước lên con đường dẫn vào nhà. Ông gọi chúng nhưng không được. Hẳn chúng đã xổng nhà đi lang thang đâu đó bên hàng xóm hay trong khu rừng gần nhà. Ông nhớ gia đình mình, nhất là vào giờ ăn. Ông đã ăn tối một mình hoặc cùng các nhân viên khác ở rất nhiều thành phố trên khắp nước Mỹ, luôn phải cảnh giác với bất kỳ mối nguy hiểm nào. Ông chuẩn bị một bữa ăn đơn giản như vợ ông đã hướng dẫn – một ít rau, một món salad trộn và một miếng bít- tết nhỏ. Không cà phê nhưng có một ly nhỏ rượu mạnh. Sau đó ông lên lầu tắm rửa và gọi điện cho vợ trước khi đọc vài trang sách để dỗ giấc ngủ. Ông yêu quý sách và việc FBI bị mô tả như những tên côn đồ trong các tiểu thuyết trinh thám luôn làm ông buồn. Chúng biết quái gì nào? Khi mở cửa phòng ngủ, ngay lập tức ông ngửi thấy mùi máu và đầu óc ông quay cuồng. Tất cả những lo sợ giấu kín trong ông đang hiện ra trước mắt. Hai gã chăn cừu người Đức đang nằm trên giường của ông. Nước da trắng rám nắng của họ lốm đốm đỏ, chân họ bị trói lại với nhau, miệng bị bịt kín bằng băng keo. Trái tim của họ bị cắt ra để bên sườn. Với một cố gắng phi thường, ông cố trấn tĩnh. Theo bản năng, ông gọi điện cho vợ để biết chắc Georgette vẫn an toàn. Ông không nói gì với chị. Rồi ông gọi điện cho sĩ quan trực ban của FBI yêu cầu một đội pháp y đặc biệt và một nhóm truy bắt tội phạm. Họ sẽ phải tống khứ hết khăn trải giường, đệm và thảm. Ông không thấy nhà chức trách địa phương nào xuất hiện. Sáu tiếng sau, các toán FBI ra về còn ông viết một bản tường trình gửi cho giám đốc. Ông rót cho mình một ly rượu mạnh và cố phân tích tình hình. Lúc này ông cân nhắc việc nói dối Georgette, phịa ra chuyện hai con chó đi khỏi nhà. Nhưng phải giải thích ra sao về tấm thảm và khăn trải giường bị mất. Ngoài ra, làm như thế là không công bằng với chị. Georgetta có quyền lựa chọn. Trên hết thảy, chị sẽ không tha thứ cho ông nếu ông nói dối. Ông sẽ phải nói cho chị sự thật. Hôm sau, trước tiên Cilke bay đến Wasshington để hội ý với giám đốc, sau đó ông xuống Florida, nơi vợ con ông đang nghỉ với gia đình bên ngoại. Ở đó, sau khi ăn trưa cùng họ, ông đưa Georgette đi dạo dọc theo bờ biển. Trong khi họ dõi theo mặt nước xanh lung linh, ông nói với chị chuyện lũ chó bị giết, rằng đó là dấu hiệu cảnh cáo của Mafia Sicily nhằm đe dọa ông. – Theo giới truyền thông, các anh đã xóa sổ Mafia ở đất nước này rồi cơ mà, Georgette ngạc nhiên nói. – Chẳng chóng thì chầy, Cilke nói. Bọn anh vẫn còn để sót một vài tổ chức ma túy, và anh biết rõ ai làm việc này. – Lũ chó tội nghiệp của chúng ta, Georgettte than. Tại sao con người lại có thể độc ác đến thế? Anh đã báo cho giám đốc chưa? Cilke cảm thấy một nỗi tức giận trào lên khi chị chỉ quan tâm đến lũ chó. – Giám đốc cho anh ba sự lựa chọn, ông nói. Thứ nhất anh sẽ từ nhiệm và chuyển đến nơi khác. Anh đã từ chối việc này. Thứ hai, anh đặt gia đình dưới sự bảo vệ của Cục cho đến khi vụ này kết thúc. Thứ ba, em cứ ở lại nhà như chẳng có chuyện gì xảy ra. Chúng mình sẽ được một đội an ninh bảo vệ hai bốn trên hai bốn tiếng đồng hồ. Một nữ mật vụ sẽ sống cùng em và mỗi khi em cùng Vanesa ra khỏi nhà, sẽ có hai vệ sĩ đi kèm. Sẽ có những trạm cảnh giới với hệ thống báo động hiện đại nhất được đặt quanh nhà. Em nghĩ sao? Trong vòng sáu tháng việc này sẽ kết thúc. – Anh nghĩ đó chỉ là trò hù dọa thôi sao? Georgette hỏi. – Phải. Chúng không dám làm hại một nhân viên. Cục điều tra Liên bang và gia đình. Đó sẽ là một hành động tự sát đối với chúng. Georgette đăm đăm nhìn nhìn mặt vịnh xanh yên ả. Tay chị xiết chặt lấy tay ông. – Em sẽ ở lại, chị nói. Em nhớ anh nhiều lắm, và em biết anh sẽ chẳng chịu bỏ vụ này. Làm sao anh có thể đoán chắc anh sẽ giải quyết xong trong vòng sáu tháng? – Anh bảo đảm mà, Cilke nói. Georgette lắc đầu. – Em không thích anh quả quyết như thế đâu. Làm ơn đừng làm bất cứ điều gì tệ hại. Và em muốn một lời hứa. Khi vụ này kết thúc, anh sẽ rời nhiệm sở. Hãy bắt đầu công việc luật sư của anh hay đi dạy. Em không thể sống như thế này mãi được. Chị nói hết sức nghiêm chỉnh. Câu nói chị sẽ rất nhớ ông in sâu vào tâm trí ông. Và ông cũng thường nhớ Georgette như vậy. Ông tự hỏi làm sao một phụ nữ như chị lại có thể yêu một người như ông. Tuy nhiên ông luôn biết sẽ có ngày Georgette đưa ra đề nghị này. Ông thở dài và nói, – Anh hứa. Họ tiếp tục đi theo bờ biển rồi rẽ vào một công viên nhỏ rợp bóng cây giúp họ tránh ánh mặt trời. Một làn gió mát từ vịnh thổi vào làm rối tung mái tóc Georgette. Lúc này, trông chị rất trẻ và hanh phúc. Cilke biết ông không thể nào thất hứa với vợ. Và thậm chí ông còn kiêu hãnh về vẻ hấp dẫn của chị trong cách moi lời hứa của ông vào đúng một thời điểm thích hợp, khi chị mạo hiểm cả cuộc sống của mình để đứng về phía ông. Suy cho cùng, có ai muốn được một người đàn bà đần độn yêu thương cớ chứ? Đồng thời ông biết rằng vợ ông sẽ kinh sợ và cảm thấy bị xúc phạm nếu biết được những gì ông đang nghĩ. Vẻ hấp dẫn của chị hoàn toàn trong trắng. Ông xét đoán ai đây? Georgette không khi nào xét đoán ông, không nghi ngờ cái vẻ hấp dẫn không được trong trắng của ông bao giờ.
Kỳ trước: Dù đã dạy cho tên cướp cạn một bài học, nhưng cảm giác u buồn lại dậy lên. Ông nhớ về trường Võ Bị Đà Lạt… Trận mưa đá dội xuống cánh rừng âm u như dội xuống lòng người sĩ quan sa cơ thất thế trước vận nước đen tối.
Kỳ 3
Ôi thời gian qua như tên bay! Ðã có biết bao nhiêu lần mưa đá đi qua trong đời. Năm thằng tuổi trẻ chuyền tay điếu Orland ngày nào, thì một thằng thành phế binh, ba thằng đền nợ nước. Hai mươi bốn năm sau lần mưa đá ấy, còn lại mình tôi, một Kẻ Săn Vàng trên Chiến Khu D…
Trời gầm trên ngọn cây. Chớp giật liên hồi. Mưa như cầm chĩnh đổ. Cứ như vậy suốt đêm và kéo dài cho tới chiều hôm sau, mưa mới nhẹ hạt dần.
Nước đã tràn qua bờ be miệng giếng. Nước cuốn trôi xuống chân đồi những gì cản đường. Dòng suối hiền hòa hôm qua, nay trở thành con sông nhỏ chở đầy củi cành rác rến, nước đỏ ngầu.
Tôi cứ ngồi bó gối nhìn ra ngoài trời. Ðiếu thuốc này tiếp nối điếu thuốc khác trên môi, tôi ngồi nghĩ vẩn vơ toàn những chuyện ngày xưa.
Trời càng về chiều càng lạnh hơn. Ðêm đó tôi bị cảm lạnh. Trong lúc cơn sốt rét rừng hành hạ tôi, thì ngoài kia mưa vẫn rơi.
Nhưng rồi chuyện gì cũng qua. Mấy hôm sau vừng dương lại trở về soi những tia nắng ấm trên cuộc đời những kẻ bất hạnh nhất trần gian.
Những giọt mồ hôi lại đổ xuống mảnh đất chiến trường xưa.
Những gầu đất tiếp tục khơi sâu lòng giếng.
Từ quán cô Nghĩa vang vọng lại giọng hát ngọt ngào thuở nào, Khánh Ly:
“Trời ươm nắng cho mây hồng… Mây qua mau, em nghiêng sầu…Ngoài kia lá như vẫn xanh …”
Tôi chợt thấy một niềm vui nhỏ nhen nhúm trong lòng, nơi rừng thiêng nước độc này, chợt phút giây, tìm lại được cái gì đó gần gũi, ấm cúng ngày cũ.
Giếng đã cạn đá sỏi, bắt đầu vào lớp đá dăm, chúng tôi mừng vui vì sắp tới ngày “hy vọng vươn lên” của giếng vàng thứ nhì.
Ðã đến ngày chúng tôi bắt đầu công việc gom xái. Xái chuyển tới mặt đất thì được đóng thành bao, chất quanh lều. Sau đó chúng tôi mới từ từ chuyển xái xuống suối để đãi lấy tinh. Với dân đào vàng thì ngày này là ngày hạnh phúc nhất.
Tôi cầu mong đợt thu hoạch kỳ này sẽ khấm khá hơn lần trước. Giếng bên cạnh của hai cha con ông người Quảng mới trúng bảy cây. Giếng của chúng tôi sát nách giếng cha con nhà ấy, có rẻ cũng được năm cây!
Tôi nhẩm tính trong đầu, chi phí đâu đó xong xuôi, mỗi người chắc mẩm có cả cây bỏ bọc!
Tôi nghĩ đến đàn con đang ở Sài-Gòn chờ tin tôi, như những con chim non đang trông chờ con chim mẹ kiếm mồi…
Tôi mơ màng hình dung trước mắt, một mâm cơm gia đình có canh, có cá.
Tôi nghĩ tới tuần sau, khi tôi mang vàng về, các con tôi sẽ có tiền trả tiền học. Tôi sẽ mua thêm vài tấm tôle nhựa để che những lỗ dột trên lầu cho lũ con đỡ ướt lúc gió mưa. Tôi sẽ mua dự trữ một số chỉ thêu để con gái tôi có sẵn chỉ mà thêu hàng cho khách đặt hàng thêu. Tôi sẽ mua một cái máy thu thanh cho bọn nhỏ học Anh Văn. Vợ tôi sẽ mua để dự trữ sẵn trong nhà một tạ gạo, vài chai nước mắm, phòng đói cho con…
Trời hừng đông, người ta bàn tán với nhau rằng, ngày mười chín tháng năm, ngày sinh của “Bác”, Huyện đội sẽ cho cán bộ bất thần vào kiểm tra an ninh khu vực khai thác vàng này.
Tin tình báo nhân dân nhanh thật! Hèn nào mới gà gáy sáng, tôi thấy đã có mấy anh thanh niên hì hục chuyển hai thùng súng đạn từ cái quán của cô Nghĩa đem phân tán đi đâu đó không ai rõ.
Sáng sớm, thím Xuân đem lên một con gà trống đã luộc chín và một nồi xôi đậu xanh. Chúng tôi lần lượt thắp nhang khấn vái cám ơn Thổ Ðịa đã phù hộ.
Sau khi ăn sáng, chúng tôi chuẩn bị đánh dây đai những bao xái để dễ dàng chuyển vận.
Khoảng mười giờ sáng, nơi đầu dốc cậu Linh có tiếng súng bắn chỉ thiên, một cái loa cầm tay oang oang ra lệnh:
“A lô! A lô! Ai ở đâu ở tại chỗ! Có đoàn kiểm tra an ninh kinh tế của huyện thi hành nhiệm vụ thanh lọc. Yêu cầu bà con sẵn sàng xuất trình giấy phép khai thác củi cho nhân viên chính quyền. Ðây là công việc bảo vệ an ninh và quyền lợi cho bà con. Xin bà con cứ yên tâm sinh hoạt bình thường, đừng gây lộn xộn. Hãy tiếp tay với chính quyền củng cố an ninh huyện nhân dịp kỷ niệm ngày sinh của Hồ Chủ-Tịch! A lô! A lô!”
Thằng Thanh ghé tai tôi nói nhỏ,
– Con với thằng Hòa phải tránh mặt, vì tụi con trốn nghĩa vụ. Bác Hai và thằng Út ở lại trông coi bãi xái. Hết động, tụi con trở lại.
Sau đó nó và thằng Hòa lủi vào rừng mất hút.
Tiếng loa oang oang tiến lại gần. Nhạc vàng vụt tắt.
Trên đồi, vài dân mõi vàng giấu vội những bao xái trong lùm bụi. Có người ném các bao xái xuống giếng rồi ném cành lá lên trên che đi.
Tôi chưa biết phải làm gì thì những cái nón cối xanh đã nhấp nhô đó đây.
Dẫn đầu đoàn bộ đội là một sĩ quan cấp lớn của Quân Ðội Nhân Dân. Ðầu hắn đội cái nón cối rất mới, sao vàng sáng chói, bên hông có K 54, tay có đổng (đồng hồ), vai có đài (radio), có cặp, mắt có kiếng râm. Miệng hắn toe toét cười khi đi ngang qua các quán lều. Cái quân hàm màu đỏ trên cổ áo hắn với một ngôi sao và hai gạch vàng (Thiếu tá) cho tôi biết lực lượng kiểm tra hiện diện trong vùng này cũng phải cỡ trên dưới một tiểu đoàn.
Như vậy là vòng ngoài, vòng trong đều có bộ đội, không rõ tụi thằng Hoà, thằng Thanh có lọt thoát không?
Hai hàng quân triển khai dọc hai bên bờ Nam Bắc của con suối. Những tên lính Cộng Sản, AK cầm tay, lưỡi lê đầu súng, mặt lạnh như tiền.
Chúng đóng trụ, từng tổ hai đứa. Tổ này cách tổ kia khoảng hai chục thước, trải dài theo con đường mòn bên bờ chờ lệnh.
Công việc kiểm tra bắt đầu với việc trình giấy phép khai thác rừng. Từng toán ba người đến mỗi bãi hỏi giấy phép.
Sau đó họ làm biên bản, bắt người trưởng mũi ký tên. Có vài người bị đưa đến tập trung hướng bên kia đồi, nơi cuối dốc, ở đó có một khoảng đất bằng phẳng với những súc gỗ cũ mục.
Mỗi toán kiểm tra gồm ba bộ đội thì có một tên là sĩ quan, từ một sao một gạch, tới bốn sao một gạch, tức là từ thiếu úy tới đại úy.
Tôi nhủ thầm: “Gớm! Sao mà Quân Ðội Nhân Dân có nhiều sĩ quan dữ vậy!”
Một thượng úy Cộng Sản và hai tên bộ đội tiến tới lều tôi. Mắt chúng sáng lên khi thấy hai dãy gần ba chục bao xái đã đóng bì gọn ghẽ.
Với giọng Miền Trung tên thượng úy trưởng toán hỏi tôi,
– Giấy phép khai thác rừng của anh mô? Ðưa tui coi!
Tôi trình cái giấy phép mới mua lại tại bãi tuần trước với cái giá ba phân vàng.
– Chứng minh nhân dân của anh mô?
Tôi nhỏ nhẹ,
– Vì ở đây không an toàn nên tôi để chứng minh nhân dân ở nhà.
Người sĩ quan Cộng-Sản nhăn mặt,
– Anh nói năng chi lạ rứa? Anh ở ngoài Bắc mới nhập phải không?
Tôi chống chế,
– Không, tôi ở trong Nam lâu rồi, nhà tôi ngoài bến phà mà!
Hắn không để ý gì tới lời tôi nói. Quay qua một tên tùy tùng, hắn ra lệnh,
– Dẫn anh này ra bãi tập trung, giao cho đồng chí Quang.
Tôi quay qua định dặn dò thằng Út đôi điều thì thằng nhỏ đã trốn mất tự lúc nào!
Tôi đi trước, khẩu AK và cái lưỡi lê đi theo sau lưng.
Trên đoạn đường tới bãi, tôi còn gặp cả chục người cùng hoàn cảnh nên lòng cũng không lo lắng lắm.
Khoảng gần hai trăm người chúng tôi bị tập trung nơi bãi cây. Nơi đây có một cái lều vải dã chiến vừa được dựng lên vội vã. Có một cái bàn gỗ đặt trước cửa lều.
Một đại úy Cộng-Sản đang ngồi trên ghế nhâm nhi ly cà phê đen.
Tên bộ đội đẩy tôi về phía bàn giấy và ra lệnh:
– Anh trình diện Thủ trưởng Quang đi!
Tôi chưa kịp bước lên thì tên sĩ quan Cộng-Sản đã xua tay,
– Thoải mái! Thoải mái! Anh cứ thoải mái ra nghỉ ngoài kia, chờ chúng tôi nghiên cứu vấn đề rồi sẽ giải quyết sau. Nhớ đừng tìm cách thoát ly đó nhé!
Sau đó hắn to giọng để những người khác cùng nghe,
– Các anh chỉ được di chuyển trong vòng đai đánh mốc bằng dây thừng này thôi! Ai tìm cách thoát ly thì chúng tôi không chịu trách nhiệm bảo toàn tính mạng đấy nghe không!
Ðám người bị câu lưu nghe lời hăm dọa mà xanh mặt.
Những tên lính Cộng Sản canh gác bốn góc bãi thì vẻ mặt khó đăm đăm.
Những họng AK lúc nào cũng lăm lăm chĩa vào đám đông như sẵn sàng nhả đạn.
Gần hai trăm người chúng tôi ngồi trên cát, trên cỏ, nhịn đói, nhịn khát trong thời gian năm, sáu tiếng đồng hồ.
Tới xế chiều thì viên thiếu tá trưởng đoàn kiểm tra xuất hiện. Hắn vẫn toe toét cười,
– Thế nào? Bà con có khoẻ không? Chờ đợi lâu thế này chắc là bà con đói bụng rồi đấy! Thôi nhé! Mình tranh thủ làm nhanh nhanh công tác kiểm điểm để bà con về nghỉ mệt. Thì giờ là vàng ngọc mà! Hì! hì! hì!…
Mọi người thở ra nhẹ nhõm. Tình hình có vẻ không đến nỗi căng lắm! Vài người trong bọn tôi bạo gan giở thuốc lá ra hút trong khi chờ đợi viên thủ trưởng của đoàn kiểm tra giải quyết vấn đề.
Viên thiếu tá Cộng-Sản đưa từng xấp giấy có in sẵn mẫu cho bốn tên đàn em đem phân phát cho mỗi người chúng tôi một bản. Ðó là mẫu tự khai và kiểm điểm, trong đó chúng tôi phải ghi rõ họ tên, quê quán, nghề nghiệp, ngày sinh, tháng đẻ.
Về mục kiểm điểm thì tùy từng người; người không có chứng minh nhân dân thì hứa lần sau sẽ đem theo giấy tờ theo mình khi đi xa nhà; người không có giấy khai thác củi thì hứa lần sau sẽ xin giấy phép trước khi vào rừng.
Nhiều ông trưởng mũi không biết đọc, biết viết, phải nhờ người khác giúp đỡ.
Tôi khai tên mình là Nguyễn văn Hai, sinh quán Hà-Ðông, nghề nghiệp thợ mộc.
Tôi nộp tờ tự kiểm của anh chàng Nguyễn văn Hai, Hà-Ðông, thợ mộc trên bàn rồi lui ra đứng lẫn vào đám đông.
Những tên bộ đội canh gác an ninh lúc đó đang tháo gỡ căn lều dã chiến. Chúng nó chuẩn bị thu quân.
Sau khi dồn đống giấy kiểm điểm của chúng tôi vào ba lô, tên đại úy phụ tá xách cái ba lô đó đi về hướng dốc Cậu Linh. Hắn vừa nhún nhảy đi, vừa huýt sáo miệng điệu nhạc Lambada Nam-Mỹ.
Viên thiếu tá Cộng-Sản trưởng đoàn trịnh trọng hắng giọng lấy hơi rồi tuyên bố,
– Nhân danh trưởng đoàn kiểm tra nhân dân, tôi khen ngợi các anh đã thành khẩn nhận lỗi và hối lỗi. Nhân ngày kỷ niệm sinh nhật của Bác Hồ, tôi châm chước cho các anh ra về. Nhớ lần sau chấp hành nghiêm chỉnh mọi quy định khai thác rừng của huyện và không được vi phạm nữa nghe không!
Mọi người vỗ tay cảm động. Ðôi người còn đến mời thuốc lá và xin bắt tay tên sĩ quan trưởng đoàn. Tôi cũng thở phào nhẹ nhõm.
Tôi nói với một người đồng cảnh trên đường trở về bãi,
– Chắc lệnh trên ban xuống, bắt tụi nó kiểm tra, thì tụi nó cũng làm cho có lệ vậy thôi, chứ ăn cái giải gì mà khó dễ tụi khố rách áo ôm như mình!
Ông đồng cảnh của tôi cười khẩy,
– Chắc tụi nó có nhận trà nước chia chác của xã, nên mới dễ dãi với mình. Lần trước tụi nó dọn sạch cả đồ nghề, khiên, bao, xẻng, cuốc, chẳng còn gì. Ðể về bãi mới biết kết quả ra sao anh ơi!
Tôi về tới bãi cũng là lúc tụi thằng Thanh chạy bát nháo đi tìm tôi.
Thằng Thanh và thằng Hòa cùng vài trăm người không giấy tờ khác trốn trong khu hầm mỏ cũ suốt bốn, năm tiếng đồng hồ. Chẳng có ma nào thèm tìm đến vây bắt bọn họ.
Khi bộ đội đã rút đi, có người thông báo, tụi nó mới về lều.
Nghe thằng Út nói Bác Hai bị điệu ra bãi tập trung thì tụi nó lo lắng cuống quýt chạy đi tìm.
Thằng Út nói lúc bộ đội gí súng bắt tôi đi thì nó chạy sang lều bác sĩ An, giả đò đau bụng để theo dõi diễn tiến ra sao.
Chờ yên việc nó mới dám mon men về lều. Rồi nó mếu máo,
– Bác Hai ơi! Xái của mình bị tịch thu hết rồi! Bộ đội đã khiêng đi hết rồi!
Tôi nhớ lại, khi lên nộp tờ kiểm điểm trên bàn của tên Thiếu tá Cộng sản trưởng đoàn, tôi tình cờ nghe y dặn dò tên Ðại úy phụ tá,
– Ðồng chí nhớ cho người khẩn trương đãi xái ngay tối nay, bên huyện ủy chia cho cánh mình một nửa số thu hoạch kỳ này đó!
Thì ra cuộc càn quét này, mục đích của huyện là lấy vàng.
Trong thời gian chúng tôi bị giữ ngoài bãi súc sau đồi thì lực lượng vũ trang huyện đã lùng sục khắp các bãi. Tất cả xái đã khai quật đều bị tịch thu đóng bao khiêng đi hết. Có cả chục cái xe tải chờ sẵn ngoài dốc cậu Linh để chở đi những tấn hàng béo bở.
Cán bộ giải thích với dân đào vàng rằng, huyện cho giấy phép “khai thác rừng” chứ không phải để khai thác quặng mỏ. Quặng mỏ là tài sản của nhân dân, đào vàng là xâm phạm tài sản của nhân dân. Những người trưởng mũi đều bị gán tội xâm phạm tài sản nhân dân. Họ bị làm biên bản và phải làm tờ tự kiểm điểm. Tất cả xái vàng họ đã khai thác được đều bị tịch thu giao nộp về văn phòng huyện.
Mẹ kiếp! Cái giấy phép, giá chính thức là hai phân, giá chui là ba, bốn phân. Trên thực tế, khai thác một diện tích vuông, mỗi chiều mười mét, cho dù là rừng cẩm lai cũng không được một phân! Thêm tiền công, tiền di chuyển xe cộ, ăn uống, thuốc men.
Lại một trò “chơi chữ”! Cái đồ ăn cướp cạn!
Tôi chợt bật cười, nhớ lại cái thông cáo tháng Năm 1975 của Ủy Ban Quân Quản Sài-Gòn Chợ-Lớn ra lệnh cho Quân Cán Chính của chế độ Sài-Gòn phải “đem theo 30 ngày tiền ăn khi trình diện học tập cải tạo”
Rồi một tháng sau, “Nhà nước ra lệnh cho các anh mang theo 30 ngày tiền ăn, chứ nhà nước có hứa sẽ thả các anh về sau một tháng đâu?” Thế rồi từng tờ lịch lật qua, theo nhau, mười ba tập lịch được bóc đi, tôi về.
Tôi về, vợ tôi đã sắp đuối, bốn đứa con tôi còn nhỏ dại.
Tôi bắt đầu lại cuộc đời với hai bàn tay trắng.
Mới đó mà đã mười bốn năm trôi qua. Thời gian trôi, nhưng chính sách của Ðảng và nhà nước thì lúc nào cũng tàn ác, dã man, “trước sau như một”
Tôi tự trách, “Mình đúng là thằng tối dạ! Kinh nghiệm đau thương mười mấy năm rồi mà chưa sáng mắt ra!”
Thế là công cốc! Cái lều của thày trò tôi vẫn còn nguyên, nhưng những bao xái vàng chất xung quanh lều đã biến mất. Giờ này xái trong những bao bì ấy đã được những “đầy tớ trung thành của nhân dân” đem đi đãi, vàng sẽ được chia cho những người có công chỉ huy công tác “bảo vệ an ninh và quyền lợi cho bà con” trong cuộc hành quân kiểm tra sáng nay.
Ðúng như tên Thiếu tá Cộng-Sản đã tuyên bố, “bộ đội không tơ hào đến tài sản của nhân dân!”
Chứng cớ là bao, bì, khiên, cuốc, xẻng, đòn, đồ nghề khai mỏ vẫn nằm yên chỗ cũ, có ai đụng tới đâu? Chúng chỉ hớt tay trên miếng ăn của những kẻ đói khổ nhất trần đời. Trong rừng chiều, tôi nghe đây đó vang vọng tiếng khóc than, tiếng nguyền rủa của những nạn nhân vừa bị cướp.
Chiều đầu mùa Hạ 1989, nắng vàng lóng lánh trên những đọt lá giữa rừng già. Trời quang và mây tạnh, nhưng trong lòng tôi cảm thấy lạnh lẽo vô cùng, lạnh hơn là khi trời đang mưa đá trên miếu Thần Hổ, Ðà-Lạt ngày nào.
Quán cô Nghĩa lại vang lên một bài ca xưa, nhưng giọng ca rất lạ, cuộn cassette được lén gởi về từ bên kia nửa vòng trái đất:
Kỳ trước: Có chừng 5 ngàn người là ít. Họ đến từ Móng-Cái, từ Tuyên-Quang, họ nói tiếng Nùng, tiếng Tày. Họ đến từ miền Trung, giọng Quảng, giọng Huế. Họ đến từ Cà-Mau, họ chuyện trò với nhau bằng tiếng Miên…
Kỳ 2
Mặt trời hừng hực tháng Năm. Dòng nước đầu nguồn trôi xuôi, càng về cuối nguồn càng đục. Dòng nước thành màu cà phê sữa đặc.
Người ta lội tới mắt cá, bắp chân, đầu gối. Tay khiên chao nhanh, mắt không rời những hạt vàng óng ánh trong đáy khiên. Lượng cát óng ánh nhiều hay ít là niềm vui, là nỗi thất vọng.
Ðủ loại người tìm sống nơi chiến trường xưa, trên con suối đục ngầu đất đỏ. Những tiếng hát cất cao, ngây ngô, giọng Bắc, Trung, Nam chen lẫn nhau. Những giọt mồ hôi đọng trên trán, trên má những khuôn mặt cháy nắng sạm khô. Những tiếng cười vô tư bên những tiếng thở dài chán chường… Tới cuối đồi, tôi ngừng bên những giếng vàng cũ. Dăm em bé gái trai, tuổi cỡ lên chín, lên mười, thân mình gầy guộc đang chuyền từng gàu đất xái chúng mót được lên mặt đất.
Tôi tò mò hỏi,
-Có khá không các em?
Một bé gái trả lời,
-Tụi con mót cả ngày không đủ ăn chú ơi! Họ ‘cạo’ láng quá! ‘bợn’ còn ít lắm chú à!
Tôi xoa đầu bé cảm thông. Thương cho bé, mới tí tuổi đầu đã vất vả vì đời.
Tôi theo cái thang dây xuống thám hiểm vùng đất thế giới của Diêm-Vương. Sâu hai, ba chục thước dưới lòng đất, ở tầng quặng mỏ, vách ngăn giữa các giếng được đánh thông để lấy xái. Lớp đất sét có quặng chỉ dày chừng ba, bốn thước.
Tôi đứng giữa một căn hầm rộng mênh mông. Mặt đất dưới chân tôi bị cạo sạch sành sanh. Trên trần là lớp đất sét trộn đá dăm, dưới nền cũng là đất sét pha đá dăm. Không khí dưới đáy giếng lạnh lẽo vô cùng. Ánh sáng mặt trời từ trên cao theo những lỗ giếng chiếu xuống đáy như những ngọn đèn pin trắng.
Ngửa mặt nhìn lên, chỉ thấy một khoanh trời xanh xa tít, lâu lâu bay qua vài sợi mây trắng.
Những em bé đang mót xái cách tôi không xa, vậy mà tôi không nghe được tiếng chúng nói chuyện. Xái dưới chân không còn. Chúng dùng xẻng đâm ngược lên tầng vách đất trên đầu, hy vọng tìm được những cục quặng vàng lẫn trong đất đá trên trần hầm.
Những bé con đang tìm miếng cơm dưới chân Thần Chết! Có lúc đất đá sụp từng khối trên đầu chúng khiến bọn nhỏ hoảng sợ chạy vội ra xa. Chờ vài giây, chúng trở lại bới vét đống đá tìm những cục xái còn sót, gom thành từng cụm rồi chuyển vận lên mặt đất.
Tranh Bảo Huân
Khi bọn nhỏ đi khỏi, căn hầm im lặng như tờ, không cả tiếng côn trùng. Tôi chợt nghĩ, chỉ cần một chấn động nhỏ trên mặt đất là cả khu rừng nặng hàng triệu tấn trên kia sẽ đổ sụp xuống, lấp kín căn phòng khổng lồ này trong giây phút.
Tôi đảo người quan sát một vòng, tôi có cảm tưởng như đang đứng dưới một bầu trời đầy mây đen kịt mênh mông.
Ðất dưới chân tôi bốc hơi lành lạnh. Tôi thấy hai ống chân mình có vẻ như muốn mềm nhũn từ từ. Quanh tôi không có ai. Quanh tôi im lặng quá. Tôi chợt rùng mình. Tôi tìm sợi dây thang, vội vàng leo nhanh lên miệng giếng.
Mặt trời xế bóng, có ba người đàn ông đeo mỗi người một cái túi đựng đầy hàng hóa bên hông. Họ đang đứng trước lều của ông Bác sĩ An hỏi han điều gì đó.
Tôi thấy Bác sĩ An và họ nói chuyện với nhau bằng tay, miệng bốn người xí xô om sòm.
Khi tới gần tôi nhận ra ba người lạ là người Thái-Lan. Họ nói chuyện bằng Anh Ngữ, họ hỏi xem có ai biết tiếng Anh thì giúp việc cho họ bán những cái poncho line hoa hòe. Họ sẽ trả công mười lăm nghìn một ngày.
Thấy không có ai lãnh việc này, tôi tình nguyện làm việc với họ. Giao kèo chỉ có một ngày thôi vì ngày kia tôi đã bắt đầu một giếng mới không thể đi theo họ được.
Sáng hôm sau tôi nhận tiền thù lao trước, làm việc thông ngôn sau. Ngày hôm ấy chúng tôi đã đi qua hết cái diện tích của mỏ vàng Hiếu-Liêm, từ đầu dốc Cậu Linh cho tới triền đồi hướng Tây, nơi những cây nọc phân khu mới đóng ranh. Giấy phép khai thác khu đất này chưa được phổ biến.
Chúng tôi la cà từ giếng này sang giếng khác. Tôi thông dịch chuyện mua bán thì ít, mà thông dịch những câu hỏi về thời thế, gia cảnh của dân mõi xái thì nhiều.
Những người Thái có vẻ thích nghe chuyện lạ bốn phương hơn là việc mời chào khách hàng.
Người Thái-Lan lớn tuổi nhất cẩn thận ghi chép những điều ông ta nghe được vào quyển sổ tay dày.
Lâu lâu ông lại giở ba lô lấy cái máy ảnh nhỏ chụp hình hoạt cảnh đang diễn ra trên khu khai thác mỏ.
Ði từ sáng tới chiều chúng tôi chỉ bán được vài cái mền. Ban đêm ở đây cũng lạnh lắm, nhưng những kẻ đào vàng khốn khổ như chúng tôi thì đâu có thời giờ để ngủ mà cần tới mền?
Trước khi chia tay chiều hôm ấy, tôi chỉ dẫn cho những người Thái thương buôn con đường lên cao nguyên để bán chăn nylon. Họ có vẻ không thiết tha lắm với việc lên Ðà-Lạt rao hàng. Hỏi ra, tôi được biết người cao niên nhất trong bọn họ là một cựu chiến binh thuộc Sư đoàn Mãng-Xà Vương của Quân đội Hoàng-Gia Thái-Lan, một đơn vị đồng minh đã có lần hiện diện ở Long-Thành thời chiến tranh.
Chuyến đi này của ông không có chủ đích buôn bán, mà chỉ mượn cớ về thăm nơi chiến trường xưa thời tuổi trẻ.
Ông ta đang trên đường tìm hứng để viết lại hồi ký đời ông. Ông ta hy vọng thiên hồi ký này có thể đem về một số tiền nhuận bút lớn lao, đủ cho ông sống dưỡng già.
Tôi không thiết tha lắm với đám người này, vì tôi vào lại chiến trường xưa chỉ với mục đích tìm gạo sống qua ngày, tôi không có gì hứng thú với việc trở về rừng tìm ý viết văn như họ. Chiều ấy chúng tôi chia tay. Tôi về tới lều thì thằng Út kể cho tôi nghe chuyện chị bán nhang đèn bị cướp.
Chiều qua trên đường về nhà chị bị phục kích giữa rừng.
Lúc chiếc Honda hai bánh của chị đổ dốc thì kẻ gian đã giựt một sợi dây dù căng ngang con đường xe be vừa hẹp vừa rậm rạp. Chiếc xe bổ nhào.
Từ bìa rừng, hai người đàn ông bịt mặt bằng áo thun đen ào ra lôi chị và chiếc xe vào sâu trong bụi lau. Chúng trói chị lại, nhét giẻ vào miệng chị, lột hết nhẫn, vòng, kiềng, cà rá và cả đôi bông tai vàng của chị.
Chúng vứt chị nằm trên đám cỏ lác cho kiến tha, rồi leo lên xe Honda của chị nổ máy chạy đi mất tiêu.
Chị hì hục suốt đêm mới tự cởi trói được. Chị lết ra tới giữa đường nằm chờ người đến cứu.
Gần sáng, có mấy tay bảo tiêu có súng, sau khi chuyển xái về nhà thân chủ, trên đường trở lại rừng, họ thấy chị nằm giữa đường bèn cứu chị về bãi.
Chuyện chị nhang đèn bị cướp chắc cũng được truyền khẩu trong dân gian vùng mỏ này được vài ngày. Ngày sau, tuần sau người ta lại quên chuyện ấy thôi.
Ở đây, mỗi ngày xảy ra cả trăm vụ lộn xộn. Ðủ thứ chuyện tào lao. Tôi nghe tụi nhỏ kể lại, tôi cũng chỉ ậm ừ cho qua! Chẳng hứng thú tìm hiểu thêm làm gì.
Ðụng độ trong cái chợ trời này là chuyện thường ngày. Qua đường, vô ý chạm vai một yêng hùng, nếu không có lời xin lỗi kịp thời có thể gây nên cảnh sứt đầu lỗ trán. Vô tình ném cái tàn thuốc lá trước mặt một tay chơi cũng là hành động châm ngòi cho một cuộc chiến tranh. Ngoài ra, còn cả ngàn nguyên nhân gây ra ẩu đả. Ðánh nhau vì gái, vì cờ bạc, vì chia chác phần hùn, vì mõi xái lấn lằn ranh, và vì vân vân…
Cái khó bó cái khôn, cái khổ làm con người dễ dàng nổi khùng, rồi trút cái khùng ấy lên đầu đồng loại.
Một hôm, tôi vừa đổ gầu đất xuống bờ suối, quay lưng định trở về giếng làm chuyến kế tiếp thì nghe có tiếng đàn ông quát tháo:
“Mày không nộp hết túi vàng cục đó cho tao thì tao vặn họng mày!”
Tò mò, tôi dừng lại quan sát.
Bên bờ suối, một hảo hán to lớn đang kẹp cổ một cô gái cỡ mười bốn mười lăm tuổi. Tay anh ta lần mò trước ngực cô giành giựt cái gì đó.
Cô gái vừa cố ôm chặt cái túi áo vừa khóc lóc:
“Em lạy anh, vốn liếng đào đãi cả tháng nay, em chỉ có ba chỉ. Mẹ em đang bịnh nặng chờ ở nhà. Anh mà lấy hết thì em không còn tiền thuốc thang cho mẹ em. Mẹ em chết mất! Em lạy anh ngàn lạy. Em làm đứt dây lều của anh, em đã thay bằng dây dù loại xịn đền cho anh rồi. Anh tha cho em, anh ơi! Hu!..hu!…hu!…”
Người đàn ông nắm tóc cô gái mà quay, hắn nghiến răng:
“Tổ mẹ mày! Dây lều của tao, mày phải đền bằng thứ dây ‘gin’. Tao không chịu cái thứ dây dù đó. Ở đây cái gì cũng tính bằng vàng. Không đền tao giết!”
Vừa nói hắn vừa đấm đá túi bụi vào ngực, vào mình cô gái đáng thương
Cuối cùng, hắn chộp được cái túi nylon giấu trong áo ngực của cô gái. Người thanh niên bỏ bao vàng vào túi rồi buông cô bé ra.
Cô bé mặt mũi đầy máu, ôm lấy chân anh thanh niên, nắm chặt vạt áo hắn, cô cố gắng giựt lại cái túi nylon.
Người đàn ông liên tiếp đấm đá cô gái. Hắn tìm đủ mọi cách thoát khỏi bàn tay cô gái. Cuối cùng hắn quật cô bé lăn quay ra đất rồi nhổm mình định chạy đi.
Cô gái vội nhào vào ôm chặt chân chàng hảo hán, miệng cô không ngớt gào la thống thiết:
“Bà con cô bác ơi! Cứu con! Người ta ăn cướp vàng của con. Ăn cướp! bà con ơi!”
Thấy tôi đứng nhìn, cô bé cầu cứu,
– Chú ơi! Cứu con với! Anh này cướp vàng của con chú ơi!
Tôi chưa biết tính sao, thì tay hảo hán đã hăm he,
– Này! Ðừng có dính vào nghe cha! Coi chừng lỗ mũi ăn trầu đó!
Tôi xua tay, nhẹ giọng,
–Chuyện đâu còn đó. Anh cứ thủng thẳng mà giải quyết. Sao lại nặng tay với phụ nữ như thế, ngó sao được.
Nghe vậy, người thanh niên nộ khí xung thiên,
– Ð.M! Mày có phải ông nội tao không mà lên mặt dạy khôn tao? Tao uýnh chết mẹ mày bây giờ!
Ðúng là cái ách giữa đàng! Tôi phân bua với những người đồng cảnh đang đãi xái dưới suối,
-Bà con nghe có được không? Tôi thấy đàn ông ăn hiếp đàn bà thì tôi có ý kiến. Anh này hàm hồ, hỗn hào như vậy thì bà con tính sao?
Bà con chưa nói gì thì anh hảo hán đã dấn cho tôi một bạt tai khiến mắt tôi nổ đom đóm. Anh co cẳng bồi thêm một cái đạp ngay hông tôi; tôi té bò càng bên bờ suối. Tôi vừa lồm cồm bò dậy lại bị thêm một cái tát ngay má phải.
Thế là, tôi chẳng còn nghĩ hơn thiệt, phải trái gì nữa. Tai tôi đã ù, mắt tôi đã đổ lửa.
Tôi không kìm được tiếng rú man rợ thoát ra từ miệng mình:
“A! …A!…A!…!!!”
Tôi hất đôi quang gióng xuống đất. Cái đòn gánh trở thành cây côn. Cái đầu côn thốc lên một đòn rất nhuyễn và thuần thục.
Bài côn Bình-Ðịnh do một võ sư xuất thân từ quê quán của vua Quang-Trung truyền dạy cho tôi ở Pleiku thời 1966-67 đã bị bỏ quên nhiều năm, nay được đem ra thi thố giữa rừng xanh.
Mũi côn vừa thọc trúng hàm đối phương thì tôi tự động hạ người xuống thấp, tay tôi xoay cây côn một vòng trên đầu lấy đà…
“Vèo!”
Cây côn chúc xuống quét sát mặt đất, cắt ngang ống quyển tên thảo khấu.
Bị liên tiếp hai đòn chí tử, chàng hảo hán quỵ gối xuống.
Phát côn thứ ba, bổ xuống từ trên cao trúng vai anh ta, kết thúc bài học vỡ lòng “Tam Côn Khai Môn”
Ðó là bài đầu trong ba mươi sáu bài “Ðoạt Mệnh Côn” Bình-Ðịnh, bài nào cũng kết thúc bằng một thế sát thủ.
Theo đúng bài bản, thì phát bổ xuống phải nhắm ngay đỉnh đầu địch thủ, nhưng tôi chợt hồi tâm, nhích tay cho nó chệch sang bên, dù sao thì anh ta cũng không phải là một tên lính Mãn-Thanh!
Lúc này vị hung tinh rũ người xuống như cọng bún.
Tôi bước lên một bước, tay phải vặn ngược tay trái anh ta ra đàng sau. Anh đang cố gượng đứng lên, nhưng đành tự động quỳ xuống, khi tôi xoay tay anh một vòng chín chục độ theo chiều kim đồng hồ.
Mặt anh nhăn nhúm vì đau. Mồ hôi anh chảy ròng xuống má.
Tôi nghe anh ta rên “Ư! ư! ư!” trong họng.
Bà con tụ tập kín xung quanh la ó như cái chợ:
“Ðánh chết mẹ nó đi! Ðồ ăn cướp!”
Tôi móc túi anh lấy cái túi nylon đựng mấy cục vàng ròng đưa cho cô bé.
Cô bé vội vã bỏ vàng vào túi, miệng lúng búng,
– Cám ơn chú!
Rồi cô ta cắm đầu vụt chạy về hướng dốc cậu Linh khuất bóng.
Ðợi cho cô bé chạy đã xa, tôi mới buông tay anh thanh niên ra.
Tôi đẩy nhẹ, anh ta ngã chúi về phía trước.
Tôi chống một đầu đòn gánh sát mũi chân phải. Bàn chân phải sẵn sàng hất cái đòn gánh lên cao phòng hờ một đòn phản ứng cấp thời.
Nhưng anh thanh niên không còn hung hăng nữa. Anh lết mình trên cát như con chó đánh hơi thấy mùi cọp. Anh ta gắng lết cho xa đầu ngọn côn. Anh ngước nhìn tôi, đôi mắt đã mất hết thần sắc. Anh quơ tay, lượm vội đôi dép râu Trường-Sơn rồi ù té chạy về phía con dốc hướng Tây, nơi đầu nguồn con suối.
Tôi đứng nhìn theo bóng anh ta, lòng chùng xuống, man mác buồn. Tôi tự cảm thương cho cái thân tôi! Cạn ao, bèo xuống đất, tôi đang tranh sống trong một thế giới không luật pháp, không cả tình người. Ðâu có ngờ, cuộc đời tôi lại có ngày bị đẩy đưa đến cái khúc quanh thê thảm này!
Năm 1988 ra khỏi cái nhà tù con, tôi lại cùng những người khốn khổ nhất của đất nước này tranh sống trong một nhà tù lớn.
Ðấy! Cuộc sống của dân “Gold-seeker” (người đi tìm vàng) miền Nam vào thời 88-90 đại để là như thế đấy! Muốn nghĩ rằng nó nên thơ, thì nó nên thơ. Nếu cho rằng nó thảm sầu, thì quả thực nó quá thảm sầu. Thời gian thì cứ trôi. Mặt trời lặn rồi lại mọc. Ngày nào cũng là quá dài, đối với những kiếp người sống đọa đày trầm luân trong tăm tối, không tương lai.
Tôi nghĩ đến thân phận mình và đồng bào mình. Chỉ vì cái ngày Ba Mươi tháng Tư năm ấy, chúng tôi đã đánh mất đất nước, mà cả đất nước tôi thành một trại tù khổng lồ.
Chúng tôi khởi công đào giếng vàng thứ nhì vào một buổi sáng trời u ám lất phất mưa rơi. Mặt trời bị mây che kín mà rừng già thì tối om.
Tôi gắng chuyền nhanh từng gầu đất, nặng như những gầu bùn khi đi tát ruộng đào ao thời còn lao động khổ sai trong trại cải tạo Nam-Hà A, Z30C, hay Z30D.
Mồ hôi che mờ con mắt. Mồ hôi chảy ròng ròng xuống má, qua cằm, xuống ngực. Mồ hôi làm nóng lớp da bụng. Mồ hôi chảy xuống ướt cả cạp quần.
Ðúng Ngọ, gió chợt ngừng, tôi nghe như có ai đó vãi từng đợt đá sỏi trên tàn cây cao. Mưa đá! Những cục nước đá nhỏ bằng hạt ngô nhảy tưng tưng từ đọt lá này xuống đọt lá khác, rơi vãi trên nền đất mới. Thoáng chốc, mặt đất đã trắng xóa vì mưa đá. Hạt mưa đá lớn dần, bằng hạt đậu, bằng trứng cút, rồi bằng trứng gà.
Trời tối thui, và nhiệt độ hạ rất nhanh. Da bàn tay tôi săn lại vì lạnh. Những vết vân tay nổi rõ lên màu bạc nhợt nhạt. Tôi thấy gai ốc nổi cùng người. Tôi cảm như bầu trời là một tảng băng khổng lồ đen kịt đang phà khí lạnh xuống những tàn cây trên đầu. Ôi! Sao trời lạnh thế! Giữa trưa, tháng Năm…
Trên đồi, những dòng nước bắt đầu len lách quanh gốc cây. Những dòng nước đỏ ngầu tìm đường xuống dốc. Nước bắt đầu đổ ào ào vào miệng giếng đang đào.
Tôi cho quân tạm nghỉ. Chúng tôi dùng một tấm vải nhựa che trên miệng giếng.
Khi ba đứa nhỏ đã leo lên khỏi miệng giếng chui vào lều, tôi mới theo chân chúng ngồi bó gối nơi cửa ra vô. Tôi mồi một điếu thuốc Cửu-Long, nhìn những hạt mưa đá lăn trên mặt đất, nghĩ ngợi mông lung…
Nhớ chuyện cũ, ở chân núi hướng Ðông của ngọn Lap Bé Nord, Ðà-Lạt, một ngày đầu Hạ năm 1965, cũng có trận mưa đá bất chợt như hôm nay. Những viên nước đá to như quả trứng gà vãi trên tàn thông năm lá, rồi lăn tưng tưng trên nền cỏ, bên miếu Thần-Hổ, trời lạnh quá, giữa trưa, tháng Năm…
Một thằng bạn sinh viên sĩ quan cùng đại đội còn điếu Oakland cuối cùng, chuyền tay nhau năm đứa. Khói thuốc ngọt như mật. Ðiếu thuốc được chuyền nhanh qua những ngón tay ướt và trắng bệch vì lạnh. Hình như hôm ấy không một sợi khói nào kịp bay thoát trong không trung. Khói thuốc chui vào buồng phổi tuổi trẻ. Những lá phổi còn trẻ khỏe đầy sức sống. Những lá phổi hút từng ngụm khói thuốc gọn gàng dứt khoát, như tấm giấy thấm loại thượng hạng ép trên giọt mực tím rơi trên giấy trắng học trò ngày thơ ngây tiểu học.
Ðiếu Oakland qua tay năm chàng tuổi trẻ, Sinh viên Sĩ quan Khóa 20 Ðà-Lạt. Trời lạnh quá! Khói thuốc chưa kịp bay thì điếu thuốc đã tàn…
Ngày ấy, sau cơn mưa, chúng tôi tiếp tục bài chiến thuật “Tiểu Ðoàn Phản Phục Kích” trên đoạn cua chữ “U” bên đồi 1441 đất đỏ, thông xanh. Con đường uốn khúc quanh co. Những anh lính “Kà” giả địch giấu mình dưới bụi sim hoa tím, lúc nào cũng chuẩn bị câu:
“Tôi đầu hàng rồi! Ðừng bắn nữa ông Thiếu úy ơi!”
Khi chúng tôi oai dũng tiến về phía họ ẩn nấp, sau một pha xung phong phản phục kích tuyệt vời qua màn khói đỏ, khói vàng, khói trắng, khói tím, khói xanh, và khói… đạn mã tử!
Rồi Ðại úy Mỹ phê bình trận đánh một cách tổng quát. Rồi Trung úy Ðức rút ưu khuyết điểm. Cứ thế, hai năm dài, lặp đi, lặp lại. Những bài lý thuyết với những trường hợp xử trí, những câu giải đáp a, b, c khoanh. Những buổi thực hành trên đồi thông Ðà-Lạt, đương đầu với địch giả, trong màn khói đạn mã tử. Những buổi dạ hành, xuyên đêm. Những chuyến di chuyển địa hình tìm cọc mốc dưới trăng. Những phiên gác đêm Ðông sương mù lạnh lẽo trên đồi Bắc.
Tất cả những kinh nghiệm tự tin đó đã gom góp lại làm vốn liếng hành trang cho những người trẻ tuổi lớn dần, rồi trưởng thành, vững tâm đi vào chiến trường.
Một chiều đầu mùa Hè 1989, bên bờ hồ đập thủy điện Trị-An, gió nhẹ và mây quang, mặt hồ gợn sóng, tôi ngồi hàn huyên cùng một ông bạn già cựu hạ sĩ quan Lực Lượng Ðặc Biệt của Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa.
Chúng tôi ngồi nhâm nhi đôi ba chung. Rượu vào lời ra, ông ta biết tôi đã từng đơn thương độc mã vào rừng đào vàng, đào thiếc kiếm cơm trên mỏ vàng Suối-Nho, Gia-Kiệm, mỏ vàng K3, Ðơn-Dương và mỏ thiếc Nắp-Bắc (Lap Bé Nord) Ðà-Lạt.
Thế là, tối hôm ấy thằng Hai Thanh, con trai lớn của ông bạn tôi, bái tôi làm thầy, nó đề nghị tôi quy tụ và chỉ huy một “mũi” (tổ làm việc) đi kiếm “xái” (quặng mỏ) trong rừng Hiếu-Liêm.
Tôi đang lúc thất nghiệp, nên nhận lời làm đầu lãnh một mũi gồm hai anh thanh niên trốn nghĩa vụ quân sự là Thanh và Hòa, bạn của Thanh, và một cậu bé mười lăm tuổi, là thằng Út, em của Thanh.
Vì tình trạng trộm cắp nơi mỏ vàng, với sự hiện diện của hàng trăm tay chơi anh chị tứ chiếng đủ loại, tôi phải gởi cái bóp giấy tờ tùy thân tại nhà ông bạn già.
Lý lịch của tôi được giấu. Trong chuyến đi này bọn bộ hạ gọi tôi là Bác Hai, đôi khi chúng gọi tôi là Bác Hai Bắc-Kỳ.
Thằng Ba Chiến, em của thằng Hai Thanh, đang chạy xe thồ và bạn thồ của nó sẽ lo việc chuyển vận chúng tôi vào vùng mỏ. Chúng tôi trang bị hai chỉ vàng rồi lên đường vào Hiếu- Liêm một sớm mai rực rỡ nắng Hè.
Trong những lần “ra quân” trước đây ở Suối-Nho, Ðơn-Dương, Nắp-Bắc, tôi thấy những khu vực khai mỏ đều được xem như “vùng oanh kích tự do” của dân kiếm xái. Chúng tôi đến, đi, chặt rừng, đào núi, lọc quặng, khai mương, ngăn suối, chẳng ai đòi hỏi giấy tờ khai báo phép tắc rườm rà.
Lần này chúng tôi cũng được tự do đi về không ai cấm cản, duy có việc chặt rừng, phá núi phải cần một cái giấy phép khai thác rừng của Ủy Ban Nhân Dân xã Hiếu-Liêm, tỉnh Ðồng Nai.
Lệ phí chính thức cho một tờ giấy phép chỉ có năm ngàn. Nhưng phải chờ hai, ba tháng sau đơn xin mới được chấp thuận. Trong khi đó giấy phép tuôn ra bên cửa hông thì chỉ một buổi hay một ngày là có kết quả, giá “chui” hơi đắt một chút, hai phân vàng!
Tờ giấy phép của Ủy Ban Nhân Dân xã chỉ có mấy dòng:
“Cấp cho đương sự quyền khai thác diện tích 10 mét x 10 mét trong rừng Hiếu-Liêm trong thời hạn 30 ngày.”
Mỏ vàng Hiếu-Liêm cách đập Trị-An, Biên-Hoà khoảng hai giờ xe thồ, nằm trong một khu rừng nhiệt đới đất đỏ, cây cao, tàn rộng. Nơi này ngày xưa là phần địa đầu Chiến khu D của Việt Cộng. Ðường lên dốc, xuống đồi quanh co.
Ngày chúng tôi lên đường trời trong, gió nhẹ. Trên không có những cánh diều hâu bay lượn vòng vòng. Những con ve sầu đã bắt đầu rả rích bài ca mùa Hạ. Tiếng ve rên rỉ được giữ nhịp bằng tiếng “lốc cốc!” của chim gõ mõ từ trên thân cây bằng lăng mốc thếch. Ðàn sẻ rừng ríu rít trong đám cỏ non. Bọn chích choè, chèo bẻo đang xòe đuôi, chí choé chuyền cành đuổi nhau. Trong rừng sâu âm u, vẳng lại tiếng róc rách suối rừng ngọt ngào.
Tiết tháng Năm, hai bên đường hoa khoe sắc. Bướm đủ màu bay lượn chập chờn trên hoa. Ðường càng lên dốc càng hẹp dần, hương rừng càng ngất ngây. Chỉ cần đưa tay, tôi đã vớt được một cành hoa rực rỡ bên vách núi. Tôi cảm thấy mình đang lạc vào nơi thiên đường bừng bừng sức sống.
Ngồi sau lưng thằng Chiến trên yên xe thồ, lòng tôi phơi phới. Miền Nam đang trong mùa hoa nở. Quê hương yêu kiều rực rỡ.
Quê hương ta đẹp quá! Lâu lắm rồi tôi mới có cảm giác về vẻ đẹp của quê hương. Tôi hát nho nhỏ một mình nghe, câu ca cũ: “Hoa vẫn nở trên đường quê hương. Ôi! quê hương ta đó!”
Trước khi tới khu khai thác, chúng tôi phải xuống xe vượt bộ qua một cái dốc khá cao. Trời chợt đổ mưa, đường dốc, trơn trượt, phải mất cả nửa giờ chúng tôi mới lên tới đỉnh dốc.
Nơi đỉnh dốc, thằng Thanh chỉ cho tôi thấy một nấm đất to như cái lô cốt và gọi đó là mả cậu Linh. Có vài người đang thì thụp khấn vái trước mả ra chiều thành khẩn lắm. Hoa quả, vàng mã, chất đầy mặt đất, mà đèn nhang thì nghi ngút mịt mù.
Thanh giải thích rằng hiện tượng này mới có cách đây chừng một tháng thôi. Số là một hôm có cậu bé 16 tuổi “trúng mạch” được cả chục cây.
Bạn cùng mũi với cậu ra về ngay sau khi chia chác.
Cậu còn nấn ná đãi đằng bạn bè vài ngày sau mới dứt áo ra đi.
Giàu rồi, cậu không hẹn trở lại.
Cậu ôm vàng trước bụng và thuê riêng một chuyến thồ về Biên-Hòa vào buổi chiều mưa to gió lớn.
Mấy ngày sau, đội xe thồ không thấy anh bạn thồ trở lại. Trên đỉnh dốc có mùi thối bay xa. Người ta tìm thấy xác cậu bé chết rữa trong rừng, ruột gan bị heo rừng moi ra ăn lê lết trên mặt đất, mùi thịt thối nồng nặc cả một khu.
Cậu bé bị trấn lột, hạ sát, thủ phạm là anh bạn thồ.
Dân kiếm xái thương tình đồng nghiệp nên đã lấp lớp đất mỏng che tấm thân lạnh lẽo của cậu bé đào vàng vắn số.
Vài ngày sau mối đất ùn lên khiến cho mộ cậu bé thành một ụ đất khổng lồ trong rừng. Khách qua đường ghé thắp nén nhang cầu cho hương hồn cậu sớm phiêu diêu…
Người ta đồn với nhau rằng cậu linh thiêng lắm! Ai có thắp nhang, cúng quảy, khấn vái cậu, đều được cậu phù hộ mau trúng mạch, khấm khá ra về.
Rồi người ta gọi cậu là cậu Linh. Vì thế cái mả ấy có cái tên là “Mả Cậu Linh.”
Từ dạo ấy, con đường qua dốc đổi hướng, tạt sang bên trái đỉnh dốc vài chục mét để người qua đường tiện ghé thắp nhang vái cậu Linh xin phù hộ độ trì. Một chị bán quán ngoài xã, đã bỏ xã, bỏ quán, vào đây bán nhang đèn, hương hoa, ngay dưới dốc. Chẳng mấy chốc chị phất to, cổ có kiềng vàng, chuyền vàng, tay có nhẫn vàng, vòng vàng.
Ở cái mỏ vàng Hiếu-Liêm này mỗi ngày tôi khám phá thêm một điều mới lạ. Mới dẫn “quân” vào vùng được một vài giờ, ăn xong bữa cơm, uống xong bát nước chè tươi, tôi đã thấy ruột mình sôi lên “Rột!.. rột!…” rồi thì bụng quặn đau, đi cầu. Ði cầu xong vừa về tới lều, bụng lại lâm râm, lâm râm đau.
Thằng cu Hòa dẫn tôi đi gặp ông Bác sĩ An để xin thuốc.
Ông bác sĩ đóng đô bên bờ suối, trong một chiếc chòi tranh.
Trước chòi treo một cái biển gỗ cỡ 20 x 40 cm, nền xanh, chữ trắng, “Phòng Mạch Bác Sĩ An”.
Cái chòi của Bác sĩ An có hai gian, gian ngoài là nơi hành nghề y khoa, vỏn vẹn chỉ có một cái chõng tre trên để một cái rương gỗ chứa thuốc men, bông, băng, alcohol, thuốc tím, thuốc đỏ.
Ngăn trong là tư thất của vợ chồng ông, với một cái giường tre, một cái bàn tre đặt cạnh cái bếp làm bằng ba cục đá suối xếp châu đầu thành ông Táo.
Bếp nhà Bác sĩ An lúc nào cũng khói lửa nghi ngút, nồi nước nấu kim chích sôi “O!o!…o!…” suốt ngày.
Tụi nhỏ truyền khẩu với nhau, nào là bác sĩ rất giỏi, bệnh gì ổng cũng rành, cũng trị được dứt nọc.
Thêm vào đó, nếu bệnh nhân là dân đào xái bị ngã bịnh trước khi chạm xái, bác sĩ cho nợ tiền công và tiền thuốc cho đến khi xái đã lọc xong thành vàng.
Bệnh nhân con nợ có thể trả công Bác sĩ An bằng vàng hay tiền cũng được.
Nếu anh nào “mo” thì ông chữa thuốc thí công, (mort= là chết, tiếng Pháp, có ý nói thất bại).
Ông An là người sinh ra ở quê hương của “Bác” nên giọng nói của ông nặng lắm.
Năm tôi có cơ duyên gặp ông nơi rừng thiêng nước độc này thì ông đã ở tuổi trên năm mươi. Bà vợ của bác sĩ lại là người miền Nam, còn rất trẻ và trông thật hiền hậu.
Sau vài câu xã giao, Bác sĩ An nhận ra tôi là người Bắc, ông liền vồn vã hỏi han huyên thuyên,
– Này đằng ý ơi! Nhìn cái phong thái của đằng ý, tớ đoán chắc rằng đằng ý không phải tay xoàng. Bộ “bảng đỏ” (bỏ Ðảng) hả? Vô Nam lâu chưa? Gia đình vợ con ra răng? Bởi lý do chi mà đằng ý phải đày đọa như ri? Tớ cũng là dân “bảng đỏ” đây! Anh hùng mấy khi gặp gỡ. Ngồi đây tâm sự với nhau chơi, đừng ngại!
Ông bác sĩ bỏ Ðảng đâu có biết rằng người đứng trước mặt ông lại là một cựu sĩ quan Tiểu đoàn trưởng Biệt Ðộng Quân của Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa vừa mới được thả ra từ trại tù cải tạo!
Phần thì đang bị đau bụng tháo dạ, phần thì e ngại buổi sơ giao, tôi chỉ ậm ừ cho qua câu chuyện.
Sau khi cặp nhiệt, Bác sĩ An hỏi tôi rất kỹ về dạng phân, triệu chứng. Ông nói rằng tôi là một trong số ít người có cơ thể nhạy cảm với đồ ăn thức uống có hàm lượng kiềm cao. Tại các mỏ vàng, nước giếng, nước suối có chứa hàm lượng kiềm rất cao (?) Nước suối ở đây uống hơi chát. Nếu pha trà thì nước trà cũng có màu xám xịt.
Nước uống chính là nguyên nhân gây ra cái bệnh đường ruột của tôi. Muốn tránh, tôi chỉ cần ngưng uống nước trong khu này thôi, không phải dùng thuốc thang gì cả bệnh sẽ tự nó chấm dứt.
Nghe theo lời chỉ dẫn của ông bác sĩ, đêm đó tôi uống nước ngọt loại chứa trong bình hai lít thay cho nước trà. Sáng hôm sau tôi hết bị Tào Tháo rượt.
Thế là, cứ vài ngày thằng Chiến lại thồ vào cho Bác Hai một bình nhựa 20 lít nước suối lấy từ ngoài xã.
Tuy xa thành phố, nhưng trong khu mỏ vàng Hiếu-Liêm này không thiếu thứ gì, từ nước ngọt, bia, rượu, thuốc lá, bánh kẹo, tới rau cỏ, thịt cá, kể cả dụng cụ đào vàng như xẻng, khiên, xà beng, cuốc chim, thuốc nổ C4 dùng phá đá, và thủy ngân để tách vàng khỏi các kim loại khác.
Có cả chục cái quán cóc cung ứng đủ mọi mặt hàng nhu yếu cho dân đào vàng. Thậm chí khi bạn trúng lớn, cần có vũ khí để áp tải số vàng kiếm được về nơi an toàn, bạn cần thuê vài khẩu K54, AK 47, bạn cứ hỏi quán cô Nghĩa là có ngay.
Bất cứ “mũi” nào có “bãi” đều có thể mở một trang trong sổ nợ của cô Nghĩa.
“Mũi” là một tổ làm việc, quân số tùy nghi. Có mũi quân số đông cả chục người, khai thác hai ba giếng. Có mũi chỉ có hai cha con của một gia đình.
“Bãi” là một khoảnh đất vuông mỗi chiều mười mét không hơn không kém. Muốn có bãi thì dân lùng xái phải “đăng ký” với xã. Thủ tục “đăng ký” thì như tôi đã tả ở phần trên: hai phân vàng. Thời buổi này cái gì cũng chi bằng phân, bằng chỉ.
Vào tới vùng hành sự, tôi mới phát giác ra rằng chẳng cần ghé văn phòng xã xin giấy đăng ký cho phí thời giờ, mua trao tay tại hiện trường một cái giấy phép với con mộc đỏ chói cũng chỉ ba, bốn phân là cao.
Ngay khi chúng tôi vừa hoàn tất công việc phát quang cái bãi mà tôi đã chọn thì một người đàn bà trung niên, giọng nói rặt Bắc-Kỳ 75 tới tìm tôi để ký giao kèo tiếp tế.
Từ gạo, thịt, mắm, muối, kem đánh răng, khăn mặt, xà bông cho tới cái lều vải tiểu đội cho bốn thầy trò tôi đều được thím Xuân cung cấp. Phí khoản đều ghi vào sổ nợ tên Bác Hai có đóng ngoặc (Bác Hai Bắc- Kỳ).
Thím Xuân đồng ý cho chúng tôi thanh toán sau khi cạn giếng, nghĩa là sau khi đã bán xong số vàng dưới lòng đất của cái diện tích mà tôi đang căng lều hạ trại.
Mười bốn năm sau chiến tranh, tôi đã sống như một tay săn vàng chuyên nghiệp trong những phim Cao-Bồi Viễn-Tây của Mỹ. Ðây là chuyến trở về chiến trường xưa lần thứ tư của tôi. Oái oăm là chuyến đi nào cũng có chuyện buồn, chuyện vui để nhớ.
Quả thực, chuyện đào vàng chẳng có gì nên thơ, mơ mộng. Ngoài nỗi khổ vì muỗi mòng, lo sợ sập hầm, lo “xái rỗng” (quặng chứa ít vàng quá) không thu hoạch được chút bụi vàng nào, phí công. Ngoài ra còn cái nguy cơ bị sang đoạt bởi những tay hảo hán thương phế binh Việt-Cộng có vũ khí.
Khác với đất Ðà-Lạt và Ðơn-Dương, những nơi tôi đã kinh qua trong các lần đi khai mỏ trước đây. Cấu trúc các tầng đất ở Hiếu-Liêm làm cho dân đào vàng đổ mồ hôi, sôi nước mắt, vất vả hơn nhiều so với đất vùng cao.
Sau bốn, năm thước đất mùn đen thì tới đất đỏ pha đá cuội, đá tổ ong. Hết đá cuội và đá tổ ong lại tới đất pha đá dăm. Xuống sâu gần hai chục thước mới thấy đất chuyển sang màu trắng nhờ nhờ. Lúc này cũng là lúc “hy vọng vươn lên.” Ðất sét màu xám pha lẫn từng cục quặng sắt rỉ là dấu hiệu phần vỏ của lớp đất trộn quặng vàng.
Ðoạn đường từ miệng giếng tới lớp đất xám là đoạn đường đứt ruột, rã rời hai tay. Tôi là trưởng mũi nên không phải thay phiên “mõi” đất (đào sâu xuống lòng đất, chuyền đất lên miệng giếng). Tôi chỉ phải tản số đất đã moi lên cho gọn ghẽ. Công việc này cũng không nhẹ nhàng mà rất tốn sức, tốn công.
Lớp đất đào lên trong những ngày đầu phải gánh ra đổ nơi bờ suối, cách lều cả trăm mét dưới dốc. Những ngày cận xái thì tôi chỉ việc đổ đất mới moi lên ngay nơi chúng tôi ăn ngủ.
Chúng tôi làm việc gần như suốt đêm ngày. Chỉ nghỉ, ngủ vài giờ rồi lại tiếp tục công việc. Tôi phải bấm giờ để ba đứa nhỏ thay nhau mõi cho công bằng. Hai thằng đào dưới giếng, một thằng ngồi trên miệng giếng kéo gầu đất xái.
Cứ hai tiếng đồng hồ chúng lại nghỉ giải lao. Thằng Thanh làm một điếu 555 thì hai đứa kia cũng gắng rít mỗi đứa một điếu. Thằng Hòa chơi một chai bia Chương Dương thì hai đứa kia cũng chơi theo ngay, mỗi đứa một chai. Chẳng đứa nào chịu phần thua lỗ cả. Tóm lại tinh thần đồng đội của dân đào vàng rất cao. Tinh thần tranh đấu cũng rất cao. Bắt tay vào việc là ăn hút cái đã! Ăn hút đồng đều, không ai ganh tị. Chỉ có cô Nghĩa và thím Xuân là lời thôi!
Tôi nghĩ thầm không biết tới ngày cân lọc xong xuôi, số vàng thu được có đủ để thanh toán tiền ăn hút cho bốn người chúng tôi hay không? Công việc đãi xái cũng rất là vất vả. Người đãi phải cúi khom lưng cả buổi trên dòng suối, tay lắc cái khiên chao qua chao lại, giữ làm sao cho nước mới vào khiên thay nước cũ, nhả đất xuống dòng mà đừng để bột quặng trôi đi. Tụi nhỏ gọi công việc này là “múa nước”. Tôi thì tuyệt đối không có đủ cái khéo tay để làm công việc này. Tôi đành làm nghề chuyển vận và bốc xái trong bao đổ vào khiên để đồng bạn làm công việc còn lại.
Khi công tác múa nước hoàn tất, thì bọn nhỏ vác bao bột quặng đi tới chòi ông Lâm Thầu người Tàu Chợ-Lớn nơi cuối dốc để mua thủy ngân và làm công tác lọc tinh vàng. Tôi lo thu dẹp rửa ráy đồ nghề, khiên, chảo, bao bì, cuốc xẻng rồi chuyển vận chúng về lều.
May thay, sau khi thanh toán sòng phẳng sổ nợ cho cô Nghĩa và thím Xuân, giếng vàng đầu tiên cũng đem lại cho chúng tôi đủ số vốn hai chỉ lúc đầu tới bãi.
Hôm sau tôi cho quân nghỉ mệt ba ngày trước khi khởi công một giếng mới. Trong ba ngày nghỉ dưỡng quân này, thằng Hòa và thằng Út thay nhau nấu cơm. Ăn sáng xong, đứa thì đi phụ đãi ngoài suối lấy công, đứa thì đi nhập sòng. Cờ bạc ở đây chỉ có món xóc dĩa. Những con bạc đặt cược bằng tiền, vàng, đồng hồ, dụng cụ khai thác mỏ. Thẻ Chứng Minh Nhân Dân đôi khi cũng có thể dùng làm vật cầm cố.
Có vài ổ bán dâm dọc bên bờ suối. Trong những cái lều che bằng vải nhựa, những người con gái trẻ bán dâm trên những cái chiếu trải dưới đất. Những cô gái hành nghề ở đây không phấn son lòe loẹt. Họ cũng là những người đào xái một thời, đã “mo” nên không thèm đào nữa, đành đem thân xác cho đàn ông “đào” để kiếm cơm sống qua ngày. Họ đi la cà các bãi. Móc ngoặc được khách thì dẫn về lều. Tiền trả trước, trôn trao sau. Ra khỏi lều, người bán dâm và kẻ mua dâm lại trở thành đôi người không quen.
Buổi trưa, tôi thả bộ lang thang dọc bờ con suối đục ngầu đất đãi xái. Dân đãi vàng làm việc cần cù, bất kể đêm, ngày. Ban ngày chúng tôi đãi xái dưới đèn mặt trời. Ban đêm, dọc hai bên bờ suối có hàng chục ngọn măng sông và đèn khí đá. Ðôi khi, đêm vui hơn ngày.
Nhạc từ những cái máy thu băng oang oang, bốn hướng tám phương. Nhạc vàng, nhạc kháng chiến, nhạc disco, bi kịck, hài kịch, vọng cổ xen lẫn nhau. Cùng lúc người nghe có thể thưởng thức cả giọng ca nữ đang lên Cẩm Vân, cùng giọng ca nam đang xuống Quốc Hương, xen lẫn điệu ngân xàng xê bất hủ của Thành Ðược và Bạch Tuyết. Lúc này khúc Lambada Nam-Mỹ đang thịnh hành. Khúc ca này đã lần mò vào tới tận rừng xanh.
Mỏ Hiếu-Liêm đang ở vào thời kỳ đông đảo nhất. Lều trại đó đây, ước lượng dân số đào vàng nơi này cũng cỡ bốn, năm nghìn người là ít. Họ đến từ Phát-Diệm, họ gọi con trâu trắng là “con tâu tắng”. Họ đến từ Móng-Cái, từ Tuyên-Quang, họ nói tiếng Nùng, tiếng Tày. Họ đến từ miền Trung, giọng Quảng, giọng Huế. Họ đến từ Cà-Mau, họ chuyện trò với nhau bằng tiếng Miên…
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.