vietmessenger.com
A20 Vũ Ánh
Post by Sơn râu 26 Jun 2024


Phần 18
“Gặp” Trần Danh San trong biệt giam
Tôi vào biệt giam phòng số 5 buổi sáng thì Trần Danh San bị dẫn vào “chuồng” số 3, tức xà lim 3, cách tôi một xà lim về phía tay trái nếu nhìn từ cửa vào. Trần Danh san, một luật sư trẻ vào thập niên 60 rất nổi tiếng ở Sài Gòn lẫn miền Trung Việt Nam. Anh là người vào ngày 23 tháng 4 , 1977 cùng người bạn là luật sư Triệu Bá Thiệp soạn thảo “Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Những Người Việt Nam Khốn Cùng” và bản tuyên bố “Vì sao Chúng Tôi Chiến Đấu” và mang ra đọc tại Công Trường Hòa Bình trước Vương Cung Thánh Đường Sài Gòn, nơi vào thời gian đó ký giả ngoại quốc được phép hoạt động tại Việt Nam thường lui tới Sở Bưu Điện để gởi tin tức về nước họ. Anh cùng một số người khác bị bắt, bị đánh đập và bị tra tấn suốt trong thời gian thẩm cung, rồi sau đó bị đày lên trại trừng giới A-20 Xuân Phước.
Trần Danh San là một trong những sinh viên trường Đại Học Luật Khoa Sài Gòn nổi tiếng là hùng biện và là thần tượng cho lớp sinh viên mới bước vào trường luật như chúng tôi vào đầu thập niên 1960. San nổi tiếng rất mau trong những vụ án liên quan đến chính trị hay tội đại hình. Bạn bè anh từ khi còn trung học hay những trường Pháp và sau này cũng theo đuổi nghề Luật như anh cho biết dù là tay chơi trong một đời sống tư, khi đã nhận bênh vực cho một thân chủ nào, anh làm việc hết mình bất kể công sức anh bỏ ra bao nhiêu. Sự kiện Trần Danh San bị đưa vào xà lim kiên giam không làm tôi ngạc nhiên, nhưng dù bị cùm cứng hai chân trên bệ nằm, tôi cũng cố nhổm người lên để xem có thể nhìn thấy San qua lổ tò vò ở giữa cánh cửa phòng giam hay không. Tuy nhiên cố gắng của tôi thất bại. Lúc đó tôi mới nhận ra rằng khi bị cùm hai chân thì chỉ có cách nằm ngửa trên bệ ngủ là cái cùm chân ít gây đau đớn hơn. Mỗi lần ngồi dậy tôi phải cố gắng như người tập bụng và những lần như thế hai vòng cùm ở hai cổ chân siết chặt vào da đau đớn.
Như mọi người đều biết tại những phòng tập thể dục người lực sĩ nằm thẳng người trên sàng rồi nhờ người khác cầm hai chân kềm cứng lại, hai tay của lực sĩ co lại nâng gáy lên và lấy hết sức nhấc phần thân thể từ bụng trở lên. Họ làm động tác này để làm nổi những bắp thịt bụng. Người tù cải tạo ở khu xà lim A-20 Xuân Phước hai chân bị cùm vào thanh sắt trên bệ nằm khi đã nằm ngữa trên bệ nếu muốn ngồi dậy cũng phải làm như thế, nhưng tất nhiên không còn thịt, còn mỡ đâu mà phải tập. Do thiếu ăn đã năm sáu năm rồi nên rất gầy yếu phải cố gắng hai ba lần mới ngồi dậy được, nhưng da ở cổ chân thường xuyên bị trầy xước. Chúng tôi tránh nhiễm độc bằng cách đổ nước muối vào những vết trầy.
Bên ngoài sân biệt giam có tiếng của trật tự Của: “Tại sao các anh cứng đầu quá vậy. Trước đây các anh có cả triệu quân mà chưa làm gì được huống chi bây giờ. Chỉ cần các anh bước ra cái xã Xuân Phước này là dân nó đập chết các anh ngay”. San giọng bình thản nhưng đầy diễu cợt: “Thế ạ, nhưng sao tôi thấy từ cán bộ trại trưởng đến cán bộ Lý rồi xuống tới anh nói giống nhau quá. Phải nhìn nhận là các anh thuộc bài lắm. Bữa nào anh trình cán bộ cho tụi này ra ngoài xã mua con gà luộc ăn chơi rồi dân nó có đánh chết cũng cam lòng”. Tiếng Của: “Thôi đừng có bố láo nữa. Tao lại cho một trận bây giờ” Vừa lúc đó tôi nghe tiếng của trực trại Luật: “Của, mở số 3”. Có tiếng khóa lách cách và tiếng kéo của sợi dây xích ở khóa cửa bên ngoài buồng giam. Tiếng Của hỏi trực trại Luật: “Cùm nó vòng cùm số mấy cán bộ?” Luật giọng gắt gỏng: “Anh làm trật tự hay tôi làm trật tự? Làm sao khóa hai chân nó lại thì làm. Nhanh lên”. Dường như trật tự Của chọn vòng cùm 16 vì sau đó tôi nghe tiếng búa đóng, điều này chứng tỏ cổ chân San lớn hơn vòng cùm nhỏ nhất là 16. Như thế là đau đớn lắm, nhưng tôi không nghe một tiếng kêu la nào của San. Rồi lại có tiếng của trực trại Luật ra lệnh cho Của: “Lên trên đội lấy hết tư trang xuống cho chúng nó”. Chừng 10 phút sau Của đi xuống. Tiếng trật tự luật ra lệnh: “Khám kỹ vào, ngoài quần áo chăn mền, còn tịch thu tất”. Việc khám xét tư trang kéo dài khoảng 15 phút và Của theo lệnh của trực trại Luật mở cửa phòng giam đưa vào cho tôi chiếc ba lô đựng quần áo. Nhìn chiếc ba lô, tôi nhận ra ngay chiếc ba lô của tôi, nhưng phần bên trong thì không. Như thế vào buổi sáng Hải “bầu” đã “dọn dẹp” tất cả nên tôi yên tâm là tài liệu đã được di chuyển an toàn đến nơi cất giấu.
Trong ba lô chỉ có một cái mền bằng len do Trung Quốc dệt và hai bộ đồ trận vá chằng đụp bằng những miếng vãi bao cát, một ca nhựa đựng nước uống, một cái muỗng nhựa và một tô đựng thực phẩm cũng bằng nhựa đã nứt và được hàn lại bằng một miếng nhựa khác. Cái muỗng, cái tô và cái ca này đã theo chân tôi từ thời gian tôi bị bắt và nằm biệt giam ở nhà tù B-5 Tân Hiệp Biên Hòa ngày 16 tháng 8, 1975. Nó theo chân tôi về đến biệt giam khu ED rồi ra đến trại Hàm Tân Z30-C. Khi ra tới Hàm Tân trong một buổi tù ca đêm giao thừa Tết 1978, nổi hứng tôi dùng cái tô nhựa của mình làm trống khiến nó nứt toác ra. Việc kiếm để xin anh em một cái tô khác không phải dễ dàng và cũng không muốn phiền ai nên tôi dùng một cọng kẽm may chổ nứt toác ra rồi kiếm một miếng nhựa bể khác để hàn đè lên. Do không được khéo tay, vết hàn trông thật thảm hại. Nhưng trong tù nào ai cần bày biện làm gì, miễn sao có cái đựng là tốt rồi!
(Ghi chú: Đầu tiên nhiều cựu sĩ quan khi đi trình diện mang theo bên trong ba lô của mình nào là gà-mênh bằng sắt không bị rỉ, trên cán còn khắc chữ US. Cả những chiếc bi đông nước cũng vậy, có cả bao ngoài in chữ US bằng sơn đen.
Nhiều người còn mang theo cả cái ca đa năng cũng bằng sắt không rỉ. nhưng chính vì chữ US (United States) này mà những vật dụng bình thường này trở thành mục tiêu tịch thu của cán bộ công an trại giam. Lý do chỉ vì họ rất khoái những loại quân trang này của Hoa Kỳ và rất thích lấy lý do nội quy không cho xử dụng vật bén nhọn, vật dụng làm bằng nhôm, sắt, thép nên phải tịch thu. Trại “đền” lại bằng cách cấp phát cho mỗi tù cải tạo một bộ gồm ba thứ hoàn toàn bằng nhựa: tô đựng cơm, ca đựng nước và muỗng để múc. Giai đoạn sau này khi được thăm gặp gia đình, một số tù cải tạo nhắn người thân mang lên cho họ hàng bằng nhựa tốt hơn và đẹp hơn. Tuy nhiên, chúng tôi không muốn như thế.
Đã đi tù khổ sai, ăn đói, làm việc nặng, quần áo vá chằng, vá đụp, thì sá gì một cái tô hay cái muỗng bằng nhựa không vạ gì mà phải làm đẹp thêm cho một chế độ lao tù coi con người không hơn một con vật như vậy. Cho nên nhiều tù cải tạo giữ những vật dụng bằng nhựa này cho tới khi ra khỏi cánh cổng nhà tù dù đã phải hàn những chổ nứt bằng những cách dùng một bao bì bằng nylon hơ vào ngọn lửa cho chảy ra thành một chất nhựa dẽo rồi nhỏ xuống những vết nứt. Một số anh em tù cải tạo ý thức cao hơn cũng muốn mang theo những trang phục và vật dụng từng dùng hàng ngày trong tù về làm kỷ niệm khi họ nhận được giấy ra trại, nhưng hầu hết không ai mang ra được. Lý do dễ hiểu là trước khi cầm trong tay cái giấy xuất trại để ra khỏi cổng nhà tù, tư trang của họ vẫn bị khám xét , khám còn kỹ hơn lúc còn ở trong trại. Tất cả quần áo vật dụng dùng trong tù phải bỏ lại hết và không người nào được mặc quần áo rách hay vá khi ra cổng trại. tại những trại mà tôi trãi qua những người được thả không phải được kêu tên để nhận giấy ra trại về ngay đâu. Họ bị tập trung vào một khu nhà khác bên ngoài trại tù để khai lý lịch và nghe giảng chính trị. Sau đó người nào không có được một bộ quần áo nào lành lặn thì được cấp một bộ đồ tù mới may bằng vãi thô xám. Thành thử khi ra khỏi trại người tù cải tạo nào cũng ăn mặc tươm tất. Chỉ có nước da xanh mét và thân thể như cái xác ve của người tù cải tạo là có khả năng tố cáo chế độ lao tù khắc nghiệt dưới chế độ Cộng sản mà thôi).
Những bạn nào đã từng vô nằm “chuồng cọp” ở các trại tù cải tạo tất thắc mắc: đi cùm trong nhà kỷ luật cao lắm là một hai tháng, trại cần gì phải đưa tư trang cá nhân cùa tù vào làm gì? Quý vị thắc mắc cũng phải thôi, vì đây cũng là thắc mắc của chính tôi lúc đầu. Nhưng chỉ 10 phút sau khi cửa phòng biệt giam số 5 đóng lại, tôi hiểu ra ngay số phận của mình.
Tôi sẽ không có ngày ra khỏi phòng biệt giam này trừ phi bỏ thân nơi đây hay có một đột biến nào về chính trị ở bên ngoài trại giam. Những tiên đoán của tôi được kiểm chứng bằng thời gian gần 5 năm liên tiếp trong những cái hộp bé tí bị cô lập hẳn với thế giới bên ngoài trước khi tôi được chuyển về một trại bình thường và ở gần Sài Gòn hơn là ở trại Z-30 ở Xuân Lộc thuộc tỉnh Long Khánh, nơi trước đây đặt Bộ Chỉ Huy của Trung Đoàn 54 của Bộ Binh VNCH.
Ngay buổi chiều hôm đó, khi vẫn còn loay hoay chưa biết làm cách nào để liên lạc với Trần Danh San ở xà lim số 3 thì đã tới giờ lãnh khẩu phần cho bữa ăn tối. Trật tự Của là người chia thực phẩm cho các xà lim dưới sự giám sát của trực trại Luật. Tôi và San là những người cuối cùng trong khu biệt giam được chia thực phẩm. Của vào phòng lấy tô nhựa và ca đựng nước của tôi ra ngoài chia khẩu phần ngay trên bậc thềm của xà lim. Tôi thấy anh ta đếm đủ 5 lát khoai mì khô luộc và chan vào đó hai muỗng lớn nước muối. Sau đó dùng cái ca đựng nước của tôi thọc vào trong thùng nước uống, múc ra khẩu phần nước uống mà khi cửa biệt giam vừa đóng lại, tôi dùng ngón tay để đo mực nước trong ca. Tôi thấy chiều sâu khoảng nửa lóng tay. Rất nhanh tôi cầm ngay lấy tô khoai, một tay chận khoai mì, một tay nghiêng cái tô để lọc hết nước muối xuống thùng nước tiểu nằm trên một lối đi hẹp giữa hai bệ nằm, trước khi nước muối thắm đẫm vào khoai.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.