Nếu còn gặp lại

Thơ Linh Phương

Hoàng Kao phổ nhạc

Post by Sơn râu 31 Jul 2026

Dăm thằng đánh trận dăm thằng chết

Chỉ sót mình ta cứ sống nhăn

Nhiều khi cảm thấy buồn hết biết

Lo mãi sau này cụt mất chân

Mấy tháng hành quân chưa ngơi nghỉ

Tóc tai dài thượt giống người rừng

Kinh Kha vác súng qua Dịch Thủy

Thề chẳng trở về với tay không

Chiến hữu ta toàn dân thứ dữ

Uống rượu say chửi đổng dài dài

Bồ bỏ tức mình xâm bốn chữ

Hận kẻ bạc tình trên cánh tay

Chiều qua xém chết vì viên đạn

Du kích bên song bắn tỉa vù

Cũng may gặp phải thằng bắn dỡ

Nên đạn chẳng khi nào trúng ta

Chiến hữu ta toàn dân thứ dữ

Uống rượu say chửi đổng dài dài

Bồ bỏ tức mình xâm bốn chữ

Hận kẻ bạc tình trên cánh tay

Nhớ hôm bắt được em Việt Cộng

Xinh đẹp như con gái Sài Gòn

Ta nổi máu giang hồ hảo hán

Gật đầu ra lệnh thả mỹ nhân

Mai mốt này đây khi giáp mặt

Gặp ta em bắn chớ ngại ngùng

Cuộc chiến đâu dành cho nhân đạo

Đời nào đạo lý với bao dung

Mai mốt này đây khi giáp mặt

Gặp ta em bắn chớ ngại ngùng

Nếu trời đã gọi ta vâng mệnh

Để khỏi ngày nào cũng đánh nhau

Cái tình văn nghệ

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 31 Jul 2026

Nhà văn Sơn Nam tên thật là Phạm Minh Tài, sinh ngày 11, tháng Chạp, năm 1926, tại làng Đông Thái, quận An Biên, tỉnh Rạch Giá.

Nhưng tay chánh lục bộ ở làng thuở đó, chắc chữ Quốc ngữ chỉ học lem nhem, nên viết chánh tả trật bấy, trật bá hè. Tài hay vì ‘’’ ngắn, Tía chơi vô chữ ‘y’ dài mới chết!

Em tên là Nguyễn thị Lan; (xác thân còn đó hồn tan lâu rồi) thì Tía, chánh lục bộ, tiện tay phang luôn chữ ‘g’ vào. Lan một loài hoa rất đẹp dưới nét chữ như cua bò của ‘Tía’ bỗng ngang xương trở thành Lang, là con chó sói! Thiệt là hết nói.

Đang học trung học tại Collège de Cantho năm 1945 cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, trò Tài chưa kịp thi bằng Diplôme đành dở dang việc học.

(Trường Collège de Cantho, chánh thức lấy tên là Trung học Phan Thanh Giản từ tháng Tám, năm 1945. Học trò thi bằng Diplôme, thi viết tại Cần Thơ nhưng thi vấn đáp vẫn phải khăn gói lên tận Sài Gòn.)

Học cùng thời, cùng lớp với Sơn Nam, là nhà văn Lê Xuyên, người Ô Môn, Cần Thơ nhỏ hơn Sơn Nam một tuổi, sanh năm 1927.

Những nhà văn miền Nam như Sơn Nam, Lê Xuyên, Xuân Vũ nhà vốn ở ruộng, có một điểm chung là thôi học năm 1945, vì thời cuộc đều tham gia 9 năm ‘kháng chiến’.

Nhà văn Xuân Vũ, người Mỏ Cày, Bến Tre từng học Collège de Mytho, năm 54 tập kết ra Bắc rồi theo đường mòn Trường Sơn trở lại miền Nam. Mãi tới năm 1968 mới ra ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.

Nhưng có người theo ‘kháng chiến’ nhưng nhạy bén ‘khiến chán’ trước… như Lê Xuyên, Sơn Nam bỏ về thành, lên Sài Gòn viết văn, viết báo Nhân loại, Công Lý, Ánh sáng, Tiếng chuông, Lẽ sống…như là một cái nghề để kiếm sống sau hiệp định Genève 1954 chia đôi đất nước qua vĩ tuyến 17.

 (Bút hiệu Sơn Nam là để tưởng nhớ người phụ nữ Khmer đã cho ông bú mớm thời thơ ấu. Sơn là một họ lớn của người Khmer, Nam là để nhắc nhớ mình là người phương Nam).

Sơn Nam mất ngày 13, tháng Tám, năm 2008 tại Sài Gòn. Nhà văn Bình Nguyên Lộc nhận xét về bạn văn của mình như vầy: “Sơn Nam là một tâm hồn lạc lõng trong thế giới buyn-đinh và Mercedes, trong thế giới triết hiện sinh, tranh trừu tượng và nhạc twist. Nhưng đó là một tâm hồn đẹp biết bao nhiêu. Cái đẹp của Sơn Nam bất hủ…”

Bạn văn ca tụng nhau như vậy quả cũng là bất hủ! Thực vậy, suốt cả đời người chỉ viết văn, viết báo, biên khảo để kiếm sống một cách vất vả của kiếp nhà văn. Nhưng những trang viết của Sơn Nam không phải để giải trí, đọc qua rồi bỏ, mà là những khám phá cực kỳ thú vị về vùng đất phương Nam.

Là người Nam Bộ rặt ri, nhà văn Sơn Nam, qua lời văn giản dị, mộc mạc nhưng rất thâm trầm, am hiểu quá trình hình thành vùng đất Lục tỉnh Nam Kỳ nên đọc Sơn Nam, mình càng yêu đất nước mình hơn.

***

Năm 56, một truyện ngắn gởi báo Tiếng Dội được ông Trần Tấn Quốc, chủ báo, nồng nhiệt đón nhận. “Xin giới thiệu cùng quý độc giả thân mến: tân truyện Đường về Đồng Tháp của Đoàn Hùng Việt”.

Đoàn Hùng Việt là bút hiệu của ba tôi. Từ đó, ba tôi viết cho nhiều báo khác… kể cả các tuần báo như: Nhân Loại, Bông Lúa.

Lúc ấy, Sơn Nam mỗi tuần một truyện ngắn trên Nhân Loại như: Hương rừng Cà Mau, Tình nghĩa giáo khoa thư, Hát bội giữa rừng, Mùa “len” trâu… mà sau này gom lại thành tuyển tập “Hương rừng Cà Mau’ do nhà Phù Sa của Ngọc Linh cũng là bạn văn, phát hành năm 62.

Sau nầy trong tạp chí Hương quê của Phòng thông tin Hoa Kỳ, chuyên về nông nghiệp, mỗi tháng, còn có đăng truyện ngắn của Sơn Nam hoặc Bình Nguyên Lộc, đọc rất là khoái chí!

Hình ảnh cái tình văn nghệ của phụ thân tôi và Sơn Nam từ độ ấy. Bác Sơn Nam hơn ba tôi hai tuổi nhưng hai người gọi nhau là anh. Ba tôi gọi anh Sơn Nam; còn bác Sơn Nam gọi ba tôi là anh Việt.

Ngoài Sơn Nam ra, ba còn có các bạn văn khác như: Bình Nguyên Lộc, Lê Xuyên, Ngọc Linh, Kiên Giang Hà Huy Hà, An Khê, Dương Hà…

Nhà văn Ngọc Linh chuyên viết truyện dài với tựa rất thơ như: “Buổi chiều lá rụng… Mưa trong bình minh” gởi tặng ba hình một người đẹp với dòng chữ: “Thân tặng anh Đoàn Hùng Việt” và ký tên. Hình người đẹp đó là Kiều Chinh đang là diễn viên điện ảnh.

Nhà văn Ngọc Linh ăn mặc bảnh bao, chải chuốt, quần áo láng cón, đầu bi-ăng- tin bóng lưỡng, chạy Vespa. Còn Sơn Nam tóc chải xước, (kiểu Út Trà Ôn), không có rẽ đường ngôi bảy ba như sau nầy; mặt như lưỡi cày, môi dầy, răng hơi hô, mắt kèm nhèm dưới đôi kính cận. Áo trắng xắn tay, bỏ vô thùng đàng hoàng nhưng mang dép lè phè… đi bộ. Tay trái đeo đồng hồ ‘ô-ma -lắc’…(lắc mới chạy)… Nhưng cả hai đều tài hoa và đào hoa… như nhau. Cho nên Sơn Nam đặt tên con gái là: Đào Thúy Hằng và Đào Thúy Nga thì cũng chẳng làm ai ngạc nhiên…

(Hằng là tên trong giấy tờ, còn tên ở nhà là Mỹ Linh. Nga là Ngọc Ánh. Thúy Hằng là tên Thẩm Thuý Hằng; còn Thúy Nga là tên ca sĩ, vợ Hoàng Thi Thơ. Sau này Sơn Nam có thêm một người con gái nữa là Đào Thúy Liễu, tên ngoài là Trinh.)

“Lúc đó, Sơn Nam có người bạn viết báo tên Đoàn Hùng Việt, làm việc ở Bưu điện Mỹ Tho. Sát vách nhà chú Việt có căn nhà bỏ trống nên chú đề nghị Sơn Nam đưa vợ con về thuê ở.” Lời của Mỹ Linh.

Tôi là láng giềng, sát vách với con nhà văn nổi tiếng nầy được hai năm, thường ra ruộng mò cua, bắt ốc hay chạy qua nhà nghe say mê bác Sơn Nam gái kể chuyện xưa tích cũ.

Năm 59, ba tôi đổi đi Bưu Điện Cái Bè, tôi xa Mỹ Tho, không còn đi bắt ốc, hái rau với Mỹ Linh và Ngọc Ánh ngoài ruộng nữa. Không còn qua nhà nghe bác Sơn Nam gái kể chuyện xưa tích cũ hay ngồi trước cửa nhà nhìn xe lửa Sài Gòn Mỹ Tho, súp lê, chạy xịt khói nữa…

Bưu Điện Cái Bè, làng Đông Hòa Hiệp, là biệt thự kiểu Tây, 13 phòng, rộng minh mông, chánh phủ mướn của ông Hội đồng Đôn. Không điện, không nước. Không điện thì đèn măng sông. Nước thì nước sông, gạo chợ.

Sơn Nam một, hai tháng mới về thăm vợ con một lần ở Mỹ Tho, rồi nhơn tiện ghé Cái Bè ở chơi với ba tôi năm, bảy bữa… Nói là ghé chơi chứ thực là ông về để viết.

Sáng hai ông ăn sáng với hột gà ‘ốp-la’, muối tiêu… bánh mì bán dạo, nóng dòn. Uống cà phê phin kiểu Pháp. Bột cà phê bỏ vô phin, rót chút nước lạnh cho cà phê nở ra rồi rót nước thiệt sôi vào. Cà phê đen rất đậm, ít đường. Buổi sáng hương cà phê thơm ngát… Tôi hưởng nước nhì…

Cả hai đều ghiền thuốc lá và ghiền nặng. Ba hút ngày một gói Melia vàng, hai chục điếu, Sơn Nam cũng không chịu thua, một gói Bastos xanh.

Tới giờ ba tôi đi làm việc, chỉ cần mở cửa là tới văn phòng, thì Sơn Nam rút vô phòng, lấy sổ đầy chi chít những chữ ra xem… rồi viết… Trưa ăn cơm chung, chiều uống chút đỉnh rượu, rồi ngủ.

Má tôi một người phụ nữ đảm đang, một người vợ yêu chồng hết mực (má ai hổng vậy?) lo nấu ăn, đãi bạn văn của chồng mà không một tiếng than van.

Tụi nhỏ được ăn ngon hơn một chút… thường là canh chua cá lóc với cá sặc rằn kho tộ.

Sau đó là Rạch Giá và Sài Gòn, những nơi ba tôi đổi đi, ông Sơn Nam đều có đến thăm.

***

Năm bảy lăm, mất nước, ba tôi bị bắt đi cải tạo hết sáu tháng, dù suốt đời chỉ làm Bưu Đìện, liếm tem, cò, phát thơ chứ “làm cái chó gì đâu” mà có nợ máu với nhân dân… vậy mà cũng bị ở tù.

Ba tôi ra tù về lại Sài Gòn, đường Lý Thái Tổ kiếm sống bằng nghề đánh máy mướn. Người ta làm đơn xin thăm nuôi chồng, con ở tù vì đủ mọi lý do… (mà lúc đó ai mà hỏng ở tù… mới là lạ).

Bây giờ, quê người, viết bài nầy bằng computer, khỏ nhẹ nhàng lên “keyboard” là chữ hiện lên, tôi lại nhớ và thương ba tôi nhiều hơn nữa.

Thương vô cùng những ngón tay cong vòng của Ba; vì phải gõ lọc cọc suốt ngày trên cái máy đánh chữ “Olympia” cổ lỗ sỉ để kiếm gạo nuôi một bầy con, thân gà trống… vì má tôi đã mất lâu rồi!

***

Có lần, khoảng năm 80, cả nước đang đói tợn, từ Cần Thơ đi gạo lậu về Sài Gòn, ghé thăm ba, tôi lại được dịp gặp nhà văn Sơn Nam.

Sáu giờ chiều, dẹp bàn máy, hai ông già, bạn văn, dắt nhau ra Ngã bảy Lý Thái Tổ và Petrus Ký, ăn cơm bụi.

Bây giờ không còn canh chua cá lóc, cá sặc rằn kho khô hay cá lóc nướng trui, uống rượu “con cọp” nữa rồi! Mà là một khúc hũ qua hầm trong canh toàn quốc, uống rượu bọt đường…

Tôi cứ tưởng nhà văn Sơn Nam ở tù hơn một năm rưỡi hồi Việt Nam Cộng Hoà giờ còn được tiếp tục cầm bút thì chắc ổng phải làm quan… ngon rồi chớ… dè đâu cũng vậy… thì sao nhờ vả được hỡi trời!

Tôi hỏi ba tôi hay là bác Sơn Nam giấu, vì sợ cha con mình mượn tiền, chứ con đọc báo thấy bài của ổng nghe “mùi cách mạng” lắm mà ba?

“Hỏng có đâu con, bác Sơn Nam nói mấy thằng biên tập nó chen vô, hỏng cho, nó hỏng đăng, đói.”

“Người viết phải giao thiệp với chủ báo để biết họ cần gì, đặng mình viết mà không sợ phải “lạc đề”, nếu bài “lạc đề” thì dù có hay mấy họ cũng ném sọt rác. Khi đưa bài báo đến tòa soạn báo, họ muốn biên tập, xử lý ra sao cũng mặc kệ, miễn là họ… trả tiền sòng phẳng. Những gì họ biên tập, cắt xén thì khi in thành sách, ta cứ việc “phục hồi” lại nếu thích”. (Lời Sơn Nam).

(Sau nầy, trong Hồi ký của Sơn Nam, nếu tinh ý, độc giả cũng thấy, cái mạch văn, cái từ ngữ rặt ri của vùng U Minh, Trèm Trẹm, lại chen vào những phương ngữ gốc Bắc. Như ‘nghĩa quân’ của ông Nguyễn Trung Trực đánh chiếm Tòa Bố Rạch Giá lại thành ‘du kích’ (?!)

Cái tình văn nghệ giữa ba tôi và Sơn Nam dễ chừng hơn mấy chục năm nhưng thời gian có hề gì. Cái tình nghĩa giáo khoa thư giữa thầy phái viên báo ‘Chim Trời’ và độc giả Tư Có của cái xứ Cà Bây Ngọp, chỉ một đêm… Hai ông ăn cá lóc nướng trui, uống rượu “ông cọp”… rồi sau đó cùng chui vô mùng… nói chuyện: “Quốc văn giáo khoa thư”.

Cái tình văn nghệ giữa các ông với nhau là một chút “Hương Rừng Cà Mau” thoang thoảng nhưng lại thơm tới ngàn sau.

đoàn xuân thu.

melbourne

Bông hồng xám

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 31 Jul 2026

Người con gái cao hơn hắn một cái đầu. Mắt hắn nhìn thẳng, đọng ngay giữa ngực. Ngực cô ta sâu một đường khe. Hắn nuốt nước miếng, tô phở đi vào bụng nửa tiếng trước bắt đầu tạo phản ứng? Bột ngọt vị tinh mì chính, thủ thuật gia giảm liều lượng đinh hương đinh hồi. Khô khát cổ họng.

– Một trăm.

Đứa con gái đá lông nheo. Hết tiếng Pháp lại đổi sang tiếng Anh. Giọng khan, môi son đỏ co giãn và hai hàm răng không ngừng nhai kẹo cao su. Hắn ngửi được một mùi thơm, rất đàn bà. Quyến rũ gấp vạn lần xí quách húng quế ngò gai ớt chua tương ăn phở.

– Cần nói thêm là đã tính luôn tiền phòng cộng với bao cao su.
Mua một món hàng thì ai cũng săm soi nhìn trước ngó sau. Hắn thọc tay vào túi quần và đầu thì đang bị mấy chữ trường túc bất chi lao hiện ra dằn vặt. Đi đâu mà vội, hút một điếu thuốc cái đã. Vã lại ông bà mình có dặn, mới ăn no chớ nên xã láng năng lượng vô ba cái vụ này. Thân thể con người chia làm ba phần, đầu mình và tứ chi. Đợi ba bộ phận ấy ngứa ngáy khó chịu rồi hẳn tính.

– Cho tao một điếu. OK?

Khói thuốc bay cùng lần nơi hai mái đầu chụm lại. Tóc vàng tóc đen quấn quít sợi ngắn sợi dài. Hắn thổi đám mây xám bay lên những bậc cấp ám tối. Có lẽ trên đó, sau cánh cửa im ỉm đóng là nơi hành lạc? (Không hành trần chẳng giá chín).

Buổi trưa, nắng không có, nhưng nóng. Bầu trời trám chì nặng nề đã mấy hôm rồi, tức giông. Chiều nay trời không mưa thì tôi sẽ làm mưa. Hắn nhai đám khói thuốc trước khi thở ra lỗ mũi. Phiá bên kia đường có tiệm bán băng dĩa cũ và DVD phim ba X. Tuy ban ngày mà đèn chớp nháy ngó thật rậm rật. Cửa mở rộng treo bảng đại hạ giá, nhạc hard rock như thác chảy từ trong đó tuôn ra. Bản ấy đang đứng top. “The Unforgiven” của bọn Metallica. Đứa con gái nhún nhảy. Bộ ngực nhún nhảy. Hai cái thánh giá đeo lủng lẳng dưới trái tai cũng nhún nhảy, sáng chói màu kim loại. Lạ. Thời buổi này thánh giá bán rất chạy, cho những cô gái đeo làm vật trang sức; trong khi lời nhạc thì xem thường sự có mặt của thần linh, gào thét thứ ẩn ngôn của ma qủy. Mạt pháp!

Từ trên mười tám bậc cấp có tên đàn ông râu rậm loạng quạng đi xuống. Mặt thằng chả đỏ ké, da thịt bóng nhờn mồ hôi xuất hạn dầm dề, ngang qua đứa con gái thò tay lông lá véo ngắt vào mông.

– Bận sau anh sẽ đi với em. Con Rosé ăn thứ gì mà trở chứng?

– Nó ăn thịt ba của anh chứ ăn thứ gì. Đừng cà chớn.

– Đù má em.

Thằng đàn ông cười khan trong cổ. Nhổ một đám nước dãi rồi bỏ đi. What the Hell…

– Tao chán những đứa lắm chuyện như thế không thể tả. Nghe đồn dân Á châu rất ngon lành trong ba cái vụ im hơi lặng tiếng và ít bày đặt kiểu cọ?

– Có lẽ.

– Thế còn keo kiệt? Thấy một trăm mắc thì dang ra chỗ khác chơi cha nội.

Hắn ném điếu thuốc xuống đất, nhìn lại con đĩ có giọng nói khan. Và chua như giấm. Chiếc áo thun đen in hàng chữ tiếng Pháp chạy méo mó trên vũng thịt lồi lõm, rung động không áo nịt ngực. Dốt ngoại ngữ lắm trí óc hắn cũng tự động phiên dịch ra tiếng Việt: “Hãy cứu vớt linh hồn tôi!”. Hắn từng là thuyền nhân. SOS. Và hắn từng được người giàu lòng từ bi cứu vớt lên thuyền lớn.

– Trên đó phải không? Hắn hất hàm.

– Chịu rồi phải không? Con nhỏ tóc vàng chu mỏ thổi bay cục cao su ra ngoài đường. Đi theo tao.

Mười tám bậc cấp. Có ai dè địa ngục mà phải bước lên. Trần gian đang ở đâu thế? Bên kia đại dương chăng? Ở đó có cô vợ hờ mà người ta nói tương lai sẽ thuộc về hắn. Người ta sẽ chịu chi một cái vé máy bay về bển với điều kiện hắn ra Quy-nhơn tổ chức đám cưới rồi lo mọi thủ tục để có ngày vớt cô vợ bé bỏng ấy sang đây. Người ta cho hắn xem hình đen trắng, ai đó còn xổ Kiều phụ họa thêm: Thấy không? Cũng khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang! Tiếc là tấm ảnh nhỏ chỉ thu lấy khuôn mặt, mình và tứ chi thì chẳng rõ có nở nang? Hắn xem xét, lòng những muốn phiêu lưu vào cuộc hôn nhân quái đản nhưng miệng vẫn ngậm câm chưa có ngay câu xác định: Yes or No. Thiên hạ kháo nhau chuyện tầm phào, gái Quy-nhơn không có lông. Xời, biết đâu đó là lối quảng cáo thiệt khéo nhằm đánh động tính tò mò.

– Lẹ lên cưng.

Đem tuổi tác ra mà so thì chưa rõ hơn thua, nhưng lấy thể xác mà đọ thì đúng là chị trước em sau. Cánh cửa đóng kêu cái két, tù mù một hành lang ẩm mốc với dãy phòng có cửa sơn màu tím. Tiếng giày cao gót gõ xuống nền gỗ hư hao chuyển mình rên rĩ. Một hai lóc cóc ba bốn. Thình thịch thùm thụp lóc cóc. Hắn hơi ngộp thở, có thứ gì đó chẳng tượng hình làm trái tim ép sát lồng ngực. Phòng số 10. Nâm-bờ Ten. Chẳng rộng rãi thoáng khí như hắn lỡ mường tượng. Vách dán giấy hoa có nơi keo không ăn vật mình tờ giấy xuống, oằn oại lưng chừng. Đinh đóng vào vách lỗ chỗ chẳng rõ để làm gì, trống trơn không một tấm tranh móc treo lên. Một bàn vuông nằm trong góc. Hai cuốn sổ niên giám điện thoại dày như chuyện kể nghìn lẻ một đêm hoặc Hồng lâu mộng. Bốn năm vỏ chai bia lăn lóc. Cái gạt tàn thuốc. Cùi một trái táo ai gặm không hết vất dưới chân giường khô quắt tựa một khúc xương người tiền cổ vừa được khai quật. Và cái giường là vật thể cuối cùng nằm chình ình ra đó. Giường nhỏ, trải tấm ra màu xanh bẩn như giường có trong bệnh viện, khu hộ sinh.

– Nóng bức quá hả?

Đứa con gái phát biểu cảm tưởng trong lúc cởi quần jean rách đầu gối treo lên một cây đinh. Hắn phát hiện chẳng có cửa sổ nào cả, như một cái hộp vuông vức. Không quạt trần, không luôn cả máy lạnh điều hoà không khí. Mồ hôi tuôn như đang đứng ở Gò Vấp. Montréal xứ tuyết vẫn có khi qủy quái như thế đó. Lạnh Liên-xô mà nóng Việt-nam.

– Đưa tiền đây.

Năm ngón tay chìa ra. Cánh tay còn lại đang chống nạnh, quần lót màu đỏ nhỏ chút xíu có ưa dùng để hỉ mũi lau cũng không sạch nước giải. Mấy ngón nhịp nhịp trên sợi giây thun chờ đợi. Một trăm là năm tờ giấy hai chục. Hắn thè lưỡi thấm nước miếng mà đếm. Tiền trao nhưng cháo chưa múc.

– Đợi tao dội qua miếng nước cho sạch sẽ. OK?

Nước? Nước non ngàn dặm ra đi. OK. Nụ cười con nhỏ ngó dễ ghét. Chữ ghét này phải hiểu ngược lại. Như mẹ ẳm con thơ lên, lòng vui vô hạn để thì thầm: Cái mặt thấy ghét quá hà! Chiếc áo “cứu vớt linh hồn” được cởi ra, ném vào mặt hắn rồi cô quay lưng bước tới vách, nơi có miếng giấy hoa gần rơi rụng. Chà, hiện đại nhỉ! Có cánh cửa gắn ở đó mà hắn nào thấy. Đằng sau là phòng vệ sinh dồn đẩy mùi long não ra khi cửa mở. Đứa con gái tụt miếng vải cuối cùng vặn vẹo người cho đến hồi nó thoát hẳn đôi chân dài. Hắn ngồi ở mép giường giương mắt ốc ra ngó từng cử động. Tiếng nước chảy, tiếng vòi nước bị khóa lại nơi cái robinet đã han rỉ. Cô bước ra. Đám lông xoắn xít và nó vê lại như một cụm râu cắm dưới cằm con dê tuổi mới lớn.

– Chưa cởi đồ ra sao?

Hắn nhìn cái tam giác co giãn đang chuyển dịch lại gần. Những giọt nước rơi xuống, từ đó rơi xuống. Người ta cho hay, nhỏ đó tên Thủy, mới mười chín tuổi và bảo đảm là chưa thất thân. “Nói láo xe cán, ai lại thất đức làm mai cho cậu một người vợ mất trinh”.

– Xong hết rồi đó. Làm lẹ đi.

Đứa con gái vật mình xuống giường nằm ngữa dang rộng tay chân. Hắn lóng cóng hồi lâu trong việc thoát y. Chậm chạp nhưng sau rốt cũng xong. Hắn phát hiện chiều dài không đồng nhất của hai thân thể đã làm so le những bộ phận cần được bổ sung điền khuyết cho nhau. Hèn gì người ta dùng chữ cân cặp xứng đôi khi tả đến hình ảnh một cặp vợ chồng.

– Mày dễ thương hiền lành hơn tao tưởng.

Đứa con gái nói trong khi hắn thở mệt. Chẳng cân cặp gì cả. Một bên nhịp tim điều hòa như đang từ tốn đi bước nhẹ kiểu tập taichi. Bên kia thì hào hển bấn loạn tựa chạy việt dã ở vòng đua cuối cùng. Phù du! Bận sau nhất định không ghé tiệm phở ấy nữa. Gia vị, nước lèo nấu không đúng bài bản đã đành, lại thêm chẳng có chút gì bổ khỏe cả! Ăn vào khát nước, làm tình thì chóng mỏi gối chồn chân. Lếu láo thật! Năm phút, khoảng đó, là năm tờ giấy hai chục bị đốt cháy. Một trăm đồng, đi cày ở hãng xưởng đổ mồ hôi sôi nước mắt cả ngày mới gặt hái được. Sau năm phút, những động tác ban đầu lại được tái lập, đi ngược trình tự. Xì-líp kéo lên, đi nhón gót tới xỏ chân vào quần jean. Cầm chiếc áo thun lên, rũ rũ.

– Lộn rồi, áo đó của tao. Hắn nói.

– Xin lỗi. Đứa con gái cười và vuốt lấy những sợi tóc rối trước mặt.

– Không sao, thích thì cứ giữ lấy mà mặc.

Đưá con gái hôn một bên má hắn, nhe răng cắn nhẹ vào trái tai:

– Tao tên Nancy. Lần sau có đến tìm thì tự nhiên giá cả sẽ thay đổi.

Hắn mặc chiếc áo “cưú vớt linh hồn” vào người. Áo sực nức mùi đĩ thõa làm da thịt phải nổi gai, châm chích thứ cảm giác lạ.

Khi bước xuống mười tám bậc cấp, trời hung hãn đổ mưa. Cuồng nhiệt, thịnh nộ, rầm rộ và có vẻ dai dẳng dài hơi.

– Đi bộ hả? Thôi bai nghe.

Nancy không bước xuống bậc cuối. Hắn sãi chân ra vuông sân đất nồng, bong bóng vỡ ra khi nước đâm vào đất, mưa xối xả quất vào lưng hắn trăm ngàn roi vọt như cách thức trừng phạt của cao xanh. Hắn nhắm hướng có trạm tàu điện ngầm để tìm tới. Chẳng vội vã, hắn muốn tắm gội, hắn muốn tẩy xóa. Phố phường không bóng bộ hành, tất cả đều đụt mưa dưới mái hiên nhà những mong người được khô ráo. Bốn giờ chiều, con chuột lột về đúng chỗ trọ ướt nghe ngói đứng mở cửa. Mưa móc ràn rụa chẳng làm phai nhạt mùi hương có trên chiếc T-shirt. Cửa mở, anh hắn hiện ra ở lối đi nhỏ dẫn sâu vào bếp, tay vày vò cái khăn ca-rô dùng để lau chén bát. Sau lưng là bóng điện vàng, sau nữa là có thứ mùi gì đó. Chả giò vừa chiên xong? Mùi chanh tỏi ớt nước mắm? Rất nhiều mùi, đòi thoát khỏi căn phòng ngột ngạt.

– Về rồi à? Có sướng không?

Ngọn đèn vàng trên trần nhà chẳng sáng bằng đôi mắt anh hắn. Đôi mắt của kẻ đang làm công việc tra tấn, lấy khẩu cung. Dữ dằn pha lẫn miệt thị nhốt chật trong đó.

– Ngó xuống con người mày đi. Tàn tệ và dơ bẩn đến thế là cùng. Coi, bày đặt chơi chữ nữa chứ. Cứu với lại vớt…

Hắn đứng sững. Nước từ người tụ một vũng dưới chân như sợ hãi tới độ són đái.

– Hồi trưa, khoảng hai giờ mày làm gì ngoài phố? Nói tao nghe.

– Tui hai mươi mốt tuổi rồi đó anh à. Tui không còn là đứa con nít ngày nào chạy theo anh đi vượt biển.

– Tao biết. Ừ, mày lớn bộn rồi. Lúc nào cũng vỗ ngực. Thật khốn nạn! Tao hối hận đã dắt mày đi qua đây.

– Có chuyện gì thế? Anh sắp lấy vợ, sắp ở riêng rồi sao còn nhăn nhó làm chi cho mất vui.

– Thật mất mặt. Tao chở bà Thuyên đi chợ trời thì trông thấy mày đứng trò chuyện mặc cả với một con đĩ. Tại sao vậy? Ăn nói sao cho ổn với người ta?

– Cùng lắm thì hủy cái hợp đồng vợ chồng kia đi. Nghe như giễu vậy mà anh lại tin. Chứ không phải anh là kẻ luôn hò hét chửi rủa những tên đi về Việt-nam à?

– Đây là nói tới chuyện của tao. Mày hại thanh danh và hạnh phúc của tao cũng vừa phải thôi. Rồi mai đây trong cộng đồng họ đồn tùm lum ra.

– Tui chơi đĩ chứ phải anh đâu mà sợ. Bộ tính nghiên cứu lý lịch kỹ như Việt-cộng hay sao đây?

– Mày câm mỏ đi.

Anh hắn bỏ lui sau bếp, ném mạnh một vật gì đó vào bồn rửa chén.

– Tao hẹn bà Thuyên chiều nay lại nhà ăn cơm. Mày đi đâu khuất mắt cho tao nhờ.

– Tui lại nhà anh Đại thì có chi phiền cho anh không?

Hắn thấy anh hắn đang nắm lấy con dao. Chắc chỉ để xắc thịt hoặc thái hành ngò gì đó. Tính khí anh hắn rất nóng nảy, nhưng chỉ thấy lộ ra trên những dòng chữ viết. Bình thường anh tỏ ra là người đàn ông rất dịu dàng nhỏ nhẹ khi lăng xăng bên cạnh chị Thuyên. Bà ấy đã có chồng con, quyết li dị để sống gần anh. Anh Đại nghĩ tình bạn cũ một mực cản ngăn và hậu quả tên chí tình kia trở nên một kẻ… thân Cộng. Lý do ư? Trong người còn giữ mãi một hòn đạn AK47, bắn gần trúng tim mà không chịu chết đi. Hắn nhắc tới ông Trung-uý Biệt động quân ấy để mỉa mai cho vui vậy thôi, chớ ai dại gì vác mặt mốc tới nhìn kẻ từng xám mặt kêu trời không thấu.

– Tao không hơi sức đâu dài lời với đứa mất dạy như mày. Địt má, em với út!

Hắn cũng cảm thấy rát cổ, mở tủ lạnh tìm chai bia. Phòng ăn ngó tươm tất xôm tụ hơn một bữa tiệc đoàn viên theo chương trình “Ra đi có trật tự”. Anh hắn nổi tiếng trong nhiều lãnh vực, không ngờ chuyện bếp núc còn khéo léo tới độ khó tin. Trộn gỏi nhanh hơn múa bút, cắt nem dồi chả heo quay xá xíu sắp ngay ngắn trong dĩa còn đẹp mắt hơn bày đồ cúng ông bà cha mẹ. Loay hoay, tẳn mẳn vụn vặt. Gỉa dụ nếu có kiếp sau, thì kiếp ấy anh sẽ là một mụ đàn bà. Và hắn cầu xin, mọi người sống trong cõi ấy phải chịu trả tiền riêng cho cái khoảng nói năng. Lời nói phải mất tiền mua, phát biểu linh tinh phải chịu đóng thuế. Chắc rằng những kẻ từng bị chụp mũ sẽ đồng thanh hoan hô nhất trí. Phải thế không anh Đại?

– Mày làm gì đó? Nem của bà Thuyên mua không phải để cho mày nhậu khan.

– Cần tui phụ cái gì không?

– Mày xéo đi. Đừng có táy máy hai bàn tay nhơ nhớp vào thức ăn.

– Thế nào là nhơ nhớp? Anh đã nghe anh Đại giảng nghĩa chữ đó chưa? Rằng khi xưa chị Thuyên có lần…

Hắn ngậm miệng. Ánh thép vừa loáng lên và cây dao cắm ngập lưỡi vào cái thớt gỗ. Những trái dưa leo dưa chuột giật bắn mình mẫy lăn đổ xuống đất. Bàn tay anh hắn nổi vồng gân xanh.

– Mày có tin là tao sẽ giết mày không?

– Vì miếng ăn hay vì đàn bà?

Mắt anh hắn đã tắt đi ngọn đèn pha, đọng bên trong đỏ ngầu một tia lửa tỏa nhiệt. Mí mắt căng ra, nhìn hắn không nháy.

– Kể từ giờ này mày nên đi khỏi nhà ngay. Nuôi mày đã mười năm tao chẳng còn gì để hối hận cả. Tròn trịa quá rồi, vun đầy quá rồi. Và nếu có sức mẻ thì vết rạn nứt ấy do mày tạo nên.

– Tui biết anh không nỡ giết tui. Đăng một ô vuông từ em in trên tờ báo chợ thì có lẽ hợp với chuyên môn của anh hơn. Còn chuyện nuôi nấng? Thiệt cám ơn anh, sao anh chẳng nói là vừa thí cho tui một trăm đồng để đi xả xui.

– Khốn nạn thật! Miệng lưỡi y hệt như thằng Đại. Tao thật không ngờ mày chóng học nên những điều thâm độc từ bọn bất lương kia, mày có biết là chúng nó cố tình chia rẽ tình anh em không?

– Nhiều lần, tui cũng cố tin như vậy rồi anh ơi!

– Mày đã nghe nói qua chiến dịch Hoa hồng xám của bọn Việt cộng?

– Tiếng Việt tui dốt lắm. Và anh là người đã gây cho tui nỗi sợ hãi không muốn dây dưa với người đồng hương quanh đây. Chơi với tụi Tây đầm thiệt khỏe trí, không lươn lẹo. Tui yêu sự sòng phẳng quá chừng, như muốn ngủ với gái thì quẳng cho nó một mớ tiền.

Hắn ngửa cổ, đổ xuống một hơi bia đầy. Bia đắng, nhưng hậu vị là cả một sự ngọt ngào. Tình anh em trôi nổi sang xứ người, ban đầu thì mặn mà, thét còn lại cái cốt lõi chát chua. Cũng chẳng trách cứ gì ai được. Con người anh hắn khó tìm ra một kẻ tâm đầu ý hợp, vớ được bà Thuyên buộc lòng anh hắn phải trân qúy và xem mọi thứ khác đều là cỏ rác.

– Anh còn tiền không? Cho tui vay một trăm.

– Không có.

– Bao nhiêu đồ đạc tui sắm trong nhà này không đáng với cái giá đó sao? Cái T.V. Cái DVD. Cái đầu máy Video tui mua hơn cả ngàn chứ có phải đi ăn trộm của bá tánh đâu.

– Mày tính bán à? Bán thì tao mua. Một trăm, có phải không?

– Ừ. Chỉ bấy nhiêu thôi. Xem như đám cưới anh tui là người tặng quà cáp hiến lễ sớm sủa nhất. Còn lời chúc anh chị trăm năm đầu bạc thì tui xin khất.

– Mày lại giở giọng điệu gì nữa đây? Mày tuồng như luôn có ác ý với bà Thuyên!

– Cái đó là do anh suy luận. Anh tài giỏi thì đừng để có ngày chị ấy phải ra thông cáo đòi li dị.

– Tiền đây. Cầm lấy mà đi chơi bời cho mắc bệnh chết cha mày luôn.

– Anh đã dẫn chị Thuyên đi thử máu chưa? Không khéo lại dính vô chữ hoa hồng xám quái quỷ gì đó!

Anh hắn sững mặt ra, trong một giây. Một giây sau thì bàn tay cầm lên chén nước mắm đặt gần đấy tạt hắt vào người hắn. Xác ớt tỏi giã vụn bám không rời hàng chữ “Hãy cứu vớt linh hồn tôi”, thấm vào da bỏng rát, tanh nồng. Hắn cười. Tiếng cười run rẫy giữ trong cần cổ, nghẹn vướng. Hắn cởi chiếc áo ném vào thùng rác:

– Anh nói giùm với chị Thuyên là linh hồn tui đã lỡ bán cho qủy rồi. Chuyện lấy Thủy, cô vợ Quy-nhơn xa ngãi mà chị ấy giới thiệu thì… no fucking way!

Hắn vào phòng vơ đại một chiếc áo rồi bỏ đi. Trời tạnh ráo. Gió thì thào trên cao làm những chùm lá cây như biết đái, rắc nước nhỏ giọt xuống người hắn. Cơn mưa hồi chiều thấm vào mặt lộ đen, thơm mùi ngai ngái. Những hàng đèn cháy đỏ bên kia đường, từ tiệm bán phim sex và diã nhạc không đủ sức thâm nhập vào vũng tối có đám yêu nữ trú thân. Một hai tiếng huýt sáo mồm trỗi lên. Ở xa, tiếng còi xe cảnh sát sắc nhọn đâm về từng chuỗi dài. Ba bốn mái đầu quay đảo ngó quanh quất.

– Uả, lại là mày nữa sao?

Con Nancy từ hẻm tối bước ra. Cách nhau mấy tiếng đồng hồ, bộ tịch và mặt mày nó vẫn không hề suy suyển, nhai kẹo cao su chanh chách và hai cái thánh giá vẫn luôn nhún nhảy.

– Phải mày không? Chiếc áo kia đâu?

– Tao đã lộng kiếng mà treo lên vách rồi.

– Cái gì? Mày nói sao?

– Ở xứ tao, vật gì quý giá hoặc thứ mà mình tỏ lòng yêu mến đều lộng kiếng cả. Xem nặng hơn cả ảnh ông bà cha mẹ. Bộ lạ lắm sao?

– Fuck you! Đừng làm tao cảm động chứ. Dù sao thì lần này mày chỉ trả có tám chục thôi.

– Tao chỉ còn năm chục. Mày có thể cho tao ngủ với mày một đêm không? Ngủ chay. Tuyệt đối chỉ ôm thôi, hoặc không thì nằm nói chuyện đời trước khi ngủ.

– Trên cuộc đời này có mẹ gì để nói, hở baby? Ăn ngủ ỉa đái và Fuck. Ngần ấy thôi. Hiểu không? Chỉ ngần ấy thôi cũng đủ hư hao rồi. Mẹ kiếp cuộc đời!

– Tao chẳng thể hiểu được. Không có tình yêu chân thật hoặc thánh thiện sao?

Con đĩ ngựa cười ré lên:

– Đồ khùng. Đằng kia có cái nhà thờ, mày vào đó thì họ sẽ welcome.

Theo tay dong của con Nancy, ở hướng đó có thằng nhóc con quýnh quáng đạp xe trờ tới. Thằng nhỏ phun một tràng ngôn ngữ trong hơi thở đứt đoạn rồi cắm đầu đạp xe đi như một đứa say rượu. Mấy ả ăn sương biến mất thật nhanh, như nước thấm vào lòng đất. Chắc bị động ổ. Con đường chỉ còn lại mình hắn, đứng lẻ loi. Đứng như một cột điện đã có ai tháo gỡ bóng đèn. Đứng câm nín. Không mấy lâu, trên bức tường vôi đổ nát loang loáng ánh đèn xanh đỏ vẽ hoa ngũ sắc. Xe cảnh sát chạy thật chậm như đang đưa đám một đồng nghiệp đã xả thân diệt sạch tệ nạn xã hội. Trong xe vẳng ra tiếng máy truyền tin kêu ù ù cạc cạc và cặp mắt ai đó mãi nhìn hắn săm soi.

Hắn rảo buớc về hướng phố Tàu, ghé tiệm ăn quen thuộc và kéo lê chiếc ghế sắt đánh động bầu không khí đang uể oải trong quán.

– Hây. Lông thai nâu xi. Khoẻ không tài lũ? Lị xực cái gì đây?

– Hoành thánh mì.

– Thêm gì khác? Nước trà nhé?

– Hầy. Dậm xà.

Hắn ngó cái thằng người Tàu sinh quán ở Chợ-lớn. Tất cả chúng sinh dường như đều chạy trốn cộng sản. Chạy chết bỏ, chạy bất kể cha già mẹ yếu và cuối cùng có được trong tay tấm căn cước ghi chú hàng chữ: Vô tổ quốc. Ở trên một vùng đất đầy cỏ dại và ta phải cuốc xới tự khai quang để mong gieo được lúa. Một cánh đồng rộng, cày bở hơi tai trong câm lặng, nhiều ngộ nhận, dễ mất mùa. Nó đó. Nó tên A Hính, nói tiếng Việt xỉu xỉu, không nhiều. Cà lăm, sốt ruột khi nghe đương sự phát biểu ý kiến. Nhưng đa phần, những ý kiến ấy đều thành thực, rất an tâm khi tiếp cận.

– Lị còn ở chỗ cũ không?

Hắn hỏi. A Hính đáp:

– Còn chớ. Sao không ghé tới chơi?

– Ghé chơi làm gì, ngộ tính dọn tới ở chung với lị, có được không?

– Lị cỏn mách dệ? Nói sao? Đùa chơi hả?

– Thật chớ. Tiền nhà chia đôi. Chỉ mong có một chỗ để ngã lưng vào ban đêm thôi.

– OK. Thời buổi lày đi đâu cũng nghe nói tới kinh tế khó khăn. Tiết kiệm kiểu đó cũng nên lắm. Để mai ngộ đi làm thêm chiếc chià khoá.

– Li quả là hảo bằng hữu!

– Đừng rườm lời. Mụ cỏn mại li ti a! Chuyện nhỏ.

Hắn chià tay ra nắm bắt bàn tay của A Hính. Trước đây hắn từng xua tay và nói câu đó với Hính khi hai đứa làm chung trong một nhà máy. Giúp đỡ và dạy tiếng xứ người cho Hính. Điền một lá đơn xin bảo lãnh thân nhân, giới thiệu tới anh Đại để mua lại chiếc xe cũ với giá tượng trưng. Hắn nhấp môi vào tách trà nóng:

– Lị làm ở đây có khá không?

– Sao bằng chỗ cũ được. Được cái là rất sướng miệng khi nói tiếng Quảng-đông. Dính mảnh? Hầy ngộ sợ phải nói tiếng Anh với bọn mắt xanh lắm. Chẳng phải lộng ngôn chứ hạnh phúc đôi khi nằm ngay trong những cái thật tầm thường. Con em ngộ viết thư qua trách, đàn ông lấy công danh làm trọng sao anh lại chui đầu vào trong tửu lầu cao lâu mà phục vụ, hoang phí tuổi xanh. Than ôi, luôn luôn kẻ ở quê nhà đều ngó tới mình bằng tất cả những ngộ nhận!

– Ngộ hiểu. Sống chốn này có nhiều cái bực mình, bức rức như… mẵn cuối khíu chọ.

– Lị nói tiếng Tiều tiếng Quan-thoại hay tiếng Miên thế?

– Tiếng Việt đấy. Nghĩa của nó là muỗi cắn khó chịu.

– Cảo xồ a lị! Lộn xộn quá!

Tô mì hoành thánh nhạt nhẽo, hèn gì mà quán vắng khách. Tô phở hắn ăn hồi trưa cũng không khá hơn nhưng thực khách lai rai trên dưới mười người. Có vậy mới nghiệm ra dân tộc Việt-nam bác ái và độ lượng vô cùng. Dễ ăn, dễ nuôi, dễ tin, dễ bị lừa. Gốc gác Phật tổ chắc là người Việt mình thôi, con rồng cháu tiên mà lị, nghe sướng như nghe chuyện thần thoại hoang đường khoa học giả tưởng. Mô Phật! Hôm nay con ngã mặn dữ quá. Đã thế còn bị hứng nguyên một chén nước mắm từ tay ông anh, mặn hơn cả biển Thái-bình. Thôi, ta không vào địa ngục thì ai vào?

Hắn gọi chai Bud. A Hính mang ra chai bia nhãn hiệu cầu chứng tận cố quốc. Huda.

– Uống thử xem, hàng độc đó nghe, năm khi mười họa mới có.

Hắn cũng hiếu kỳ ngửa cổ rót bia xuống họng.

– Cũng dậy thôi. Xoàng. Huda là con mẹ gì?

– Là bia Huế do Đan-mạch làm sư phụ chỉ đạo. Họ ghép tên hai địa danh ấy lại và họ nhổ bớt lông lá cho được sạch sẽ gọn nhẹ.

– Hú hồn! Chẳng sáng tạo được chữ nào nghe quyến rũ hơn sao?

Hắn chẳng thể chuyện trò dông dài với thằng bồi bàn. Một đám nai vàng bầu đoàn thê tử vừa kéo nhau vào, loạn xạ tiếng cười đùa tự nhiên như người Hà-lội. Và dĩ nhiên A Hính bị quay mòng giữa biển người đó. Chỉ một tiếng chào cũng phân tâm không thể đáp lễ. Cước bộ thoăn thoắt. Khăn trải bàn, bình trà nóng và chồng ly tách chén dĩa cao ngất ngưỡng trong tay ôm.

Hắn bước xuống những bậc thềm, đứng dưới tấm bảng vẽ hình Long Phượng quấn quít vặn vẹo cái lưng. Chẳng còn một địa chỉ nào khác. Cơ thể mỏi mệt réo gọi thầm một mặt nệm, một giấc ngủ. Hắn từng có khi tiêu phí thời gian bằng cách chui xuống métro, đi từ khởi điểm này đến một kết thúc khác. Đổi tuyến đường màu này sang một tuyến đường màu nọ. Loanh quanh dưới lòng đất, sật sừ với độ rung chuyển của con tàu xé gió, đi cùng khắp những địa đạo mà Montréal có được. Nhưng bây giờ thì không thể. Não nề lắm. Côi cút lắm. Trông như một kẻ bị ruồng bỏ, vô công rỗi nghề, vô tổ quốc vô gia đình vô gia cư… Vô tận cùng của chữ vô buốt giá. Hãy về ngủ thôi. Giờ này họ đã ăn xong. Có thể đã từ biệt hôn nhau bịn rịn trước sân cỏ lung linh ngàn lá đùa nghịch dưới ánh đèn đường. Cánh tay buông thỏng khi người kia rời ra, nói lời hứa sẽ trở lại. Tiếng máy xe nổ và bàn tay có đeo chiếc vòng ngọc thò ra vẫy, cánh tay trần, da trắng đục một màu sữa khuấy rối từng vệt trong bóng tối. Nghe tả, hồ ly tinh đẹp hãi hùng. Nhan sắc của bà Thuyên chẳng có ma lực gì để khiến người đối diện phải mê mẫn tâm thần. Hắn không hiểu được tình yêu. Người đàn ông bốn mươi tuổi như anh hắn bỗng dại khờ như một nam đồng tử còn trinh trắng, mù quáng đi theo tiếng gọi của ma nữ, sẵn sàng làm con thiêu thân lao vào vũng sáng quáng gà, thui chột.

Khi hắn mở cửa vào nhà, tai hắn đón nhận một chuỗi tiếng động lạ. Phòng anh hắn còn thắp đèn, thứ đèn mờ dùng để đọc sách trên giường liếm ra ngoài hành lang một vệt vàng xỉn. Nó đi qua cánh cửa khép không kín nên nó bị ép nhỏ thành hình một lưỡi kiếm nhọn mũi. Có tiếng cười sắc như dao của bà Thuyên len lỏi ra:

– Anh nhìn cái vật của con mẹ đó đi. Ghê quá hở? Xời, tài tử gì trông phát khiếp!

– Ủa, vậy thì bình thường nó đẹp hơn sao?

– Dĩ nhiên… Hà, còn giả bộ ngây thơ. Cái mặt sững sờ ngó phát ghét!

Những tiếng thở gấp rút có nhạc đệm gợi tình từ cái TV stereo bức rức xướng họa. Tài tình thật. Mua rẻ một trăm, muốn ăn chắc liền bê từ ngoài phòng khách vào thu dấu trong buồng mình. Và phút giây đầu tiên, chủ nhân ông bắt nó lao động liền tù tì, phục vụ chiếu hình đồi trụy bá thở, chim bướm bay đầy trời, hơi bị thoải mái.

– Anh mua nhằm phim dở rồi. Chẳng có cốt truyện gì cả. Cứ làm lui làm tới chừng đó động tác.

– Đâu có lựa được. Hồi chiều cứ sợ nó nhìn thấy bọn mình đứng đó thì quê mặt cả đám.

– Thuyên hỏi thật cái này nghe. Em thì hoang đàng như thế, còn ông anh thì sao? Ngủ với đĩ lần nào chưa?

– Nói tầm bậy. Coi phim đi, đặng chốc nữa còn làm tài tử.

– Nó có dẫn xác về bất tử không đó?

– Yên tâm. Nó có tiền và bọn trẻ thì thiếu gì mục ăn chơi về khuya.

– Nó có tương lai lắm chứ không đùa à nghe.

– Là sao?

– Đẹp trai hơn anh. Nhỏ tuổi thua anh. Hai con mắt cu cậu rất thu hồn. Mổi lần nó nhìn Thuyên, có cảm tưởng như mình đang trần truồng. Thuyên sợ…

– Sợ gì? Anh đuổi cổ nó đi mất đất rồi. Mà tại sao em ưa nhắc tới nó vậy?

– Ừ. Chẳng hiểu tại sao. Thuyên yêu anh và sợ một ngày nào đó nó sẽ làm chuyện tầm bậy.

– Nghĩ quẩn. Em chỉ nên tập trung đầu óc vào chuyện giấy tờ li dị thôi. Ô kê? Có được trong tay một ít tài sản thì hoàn cảnh sẽ biến đổi ngay.

– Cũng cầu mong thế. Nhưng có tiền đâu phải làm cha thiên hạ, đạp đổ lời đàm tiếu ong ve dư luận.

– Khờ quá. Tụi mình sẽ bỏ cái thành phố lắm chuyện này mà đi xa.

– Anh tính toán nghe cũng tạm được. Nhưng có người chồng thông minh chưa đủ, để thử chuyện kia xem anh làm có tới không?

Họ yên lặng, thôi thì thầm, ngưng nói năng. Cái giường già nua, từ hồi chính phủ cho khi mới sang, trường thọ tới giờ này bắt đầu lẩy bẩy kêu ca cót két. Hắn nín thở. Tiếng rên của bà Thuyên mỗi lúc một khuếch đại hơn lên. Chịu không nổi, hắn tới mở hé cánh cửa, rộng hơn một tẹo. Cuốn phim đã hết nhưng màn ảnh truyền hình chẳng ai rảnh tay để tắt đi. Căn phòng như có tráng lân tinh, xanh xao một cách quái đản. Bà Thuyên đang ngồi trên người anh hắn, sừng sững khối thịt da trắng muốt. Anh hắn như chiếc ghe mà mặt nệm là đại dương sóng lớn. Thân hình người đàn bà lắc lư uốn lượn. Mái tóc rối loạn dập dềnh. Đôi mắt khép hờ, đê mê. Đôi mắt nhắm lại, thụ hưởng. Nhắm kín rồi mở to. Mở trước tụ điểm mà mình hoài nghi, không tin. Ngây dại, hoảng hốt. Nằm mộng cũng chẳng ngờ. Khi đã xác tín ra sự thật thì bắt đầu cất lên tiếng thét, thất thanh, sảng viá như đang gặp ma, đưa tay cuống cuồng giật vội một mảnh xiêm y. Anh hắn trồi đầu lên khỏi chăn khỏi gối, khỏi niềm hạnh phúc đang đi ngon trớn giữa đàng.

– Lại là mày, thằng khốn kiếp!

Hắn đứng lù lù ra đó như một hình nhân bị thôi miên.

– Mả cha mày. Trời sinh mày ra làm chi để luôn báo hại người khác!

– Tui kiểm lại rồi. Hồi nãy anh chỉ đưa cho tui có bảy mươi lăm đồng…

– Thì mai tao đưa thêm cho. Bộ có con đĩ đứng ngoài dọa đào mả hay sao mà khẩn trương dữ vậy?

Anh hắn không biết thẹn thùng, chẳng thu cất của qúy, trần truồng nhảy khỏi giường chạy lại đóng mạnh cánh cửa.

– Thật mất sướng. Thôi, để Thuyên về.

– Em đừng chơi ngặt, rồi cả hai sẽ ngủ không xuống đâu.

– Thấy chưa? Thuyên vừa kể cho anh nghe… Sao nó linh như một cái miễu. Vừa nhắc Tào Tháo thì Tào Tháo xuất hiện.

– Thằng chó chết.

– Chẳng biết cu cậu đã bỏ đi hay còn đứng rình ở ngoài?

– Địt me, càng nghĩ càng tức, thằng này chắc không phải em ruột của anh, phải tống cổ ra ngoài đường mới khỏi lôi thôi.

Cánh cửa mở ra. Anh hắn đã tròng vào thân chiếc quần cụt, mình trần trơn ướt, tay nắm cây vợt tennis như vừa chơi xong mấy trận hào hứng. Người đàn bà đứng ló đầu ra khỏi cửa phòng hồi hộp theo dõi màn chung kết. Trước kẻ ngoại tộc ai lại vạch áo cho người xem lưng. Hắn nói, có chút thành thật:

– Tui xin lỗi. Thôi, chúc ngủ ngon.

– Ngủ con mẹ gì. Mày nói có khi mà đúng, mai tao sẽ đăng báo cái mẫu tin từ em. Giòng họ Hồ sẽ bớt đi được một thằng khốn nạn.

Thêm một cánh cửa nữa vừa đóng sập, sau lưng hắn. Đóng giận dữ. Phát ra tiếng động khô, tựa một hòn đạn thoát khỏi nòng súng. Đêm đã khuya, không một chiếc xe chạy ngang con đường tối. Hắn ngửa mặt lên trời, chẳng một vì sao. Đen dày, mông lung. Đêm hấp hối, đêm rạn nứt. Phiá sân nhà hàng xóm có tiếng chó sủa, tru tréo, ngầm xua đuổi. Đã lâu, giờ này hắn mới nghe lại tiếng chó gâu, gâu. Đi đi? Ừ, thì đã đành. Nhưng nào ta biết đi đâu!

Hồ Đình Nghiêm

Giai nhân tự cổ

baovecovang2012.wordpress.com

Phạm Tín An Ninh

Posted on April 15, 2023 by Lê Thy

Post by Sơn râu 31 Jul 2026

(viết tặng những giai nhân trường Nữ, và để tưởng nhớ một người…)

“O sinh ra tận mô ngoài Huế

Hà cớ gì trôi dạt tới Nha Trang

Để một “thằng Võ Tánh” phải lang thang

Đem cây si trồng trước sân trường Nữ”

(O Huế Ngày Xưa – PTAN)

Nhờ bài thơ với bốn câu mở đầu không đâu vào đâu này, tôi bất ngờ nhận được điện thư của một người có tên Van Loubet từ một nơi nào đó gởi ngợi khen và hỏi tôi có phải là cậu bé nhà quê ngày xưa vào Nha Trang, có thời trọ học ở một con hẻm lớn trên đường Phương Sài. Tôi khá ngạc nhiên, vì bài thơ tôi viết vội chỉ để gởi đăng trên Đặc San Võ Tánh Nữ Trung Học Nha Trang, nhân dịp đại hội cựu học sinh hai ngôi trường này tổ chức tại Houston hơn hai năm trước đó, mùa hè năm 2005; và cái tên người gởi, Van Loubet rất xa lạ, có thể chỉ là một nick- name, không phải tên thật. Thấy một số chi tiết trên mẫu điện thư ghi bằng tiếng Pháp, tôi tò mò, tìm hiểu cái họ Loubet, được biết đó là họ của ông Émile Loubet, thủ tướng thứ 45 của nước Pháp và sau đó trở thành tổng thống (năm 1906)! Tôi giật mình, làm sao tôi có thể quen biết với một người thuộc “danh gia vọng tộc” tận bên trời Tây?

Hồi âm và hồi họp đợi chờ. Mãi đến hai hôm sau, nhận được thư trả lời, tôi mới vỡ lẽ, nhưng rồi lại có thêm nhiều điều ngạc nhiên khác. Người viết thư cho tôi là chị Bích Vân, bà chị cả của “O Huế” trong bài thơ tôi viết. Chị sang Pháp vào những ngày Sài Gòn trong cơn hấp hối, và bảy năm sau, lập gia đình với một người Pháp có dòng họ với ông tổng thống từ năm 1906 này. Chị cho tôi biết đã vô tình đọc được bài thơ “O Huế Ngày Xưa” của tôi trên diễn đàn của trường Đồng Khánh, mà chị là một thành viên. Trước khi chuyển vào trường Võ Tánh-Nha Trang, chị vốn là một nữ sinh Đồng Khánh. Sau đó chị thử vào Google gõ tên tôi thì tìm ra cả trang Web, có cả địa chỉ email của tôi trong đó. Chị còn bảo, sở dĩ chị đoán ra tôi một phần là do nội dung bài thơ, phần khác chính là nhờ cái tên của tôi đã làm chị dễ nhớ. Điện thư chị viết khá dài, lại không có dấu nên khó đọc, nhiều chữ phải đoán mò. Tôi cố đọc đi đọc lại vài lần mong tìm xem có tín hiệu nào về “O Huế” của tôi, nhưng hoàn toàn không thấy. Phía dưới email, chị cho số điện thoại và dặn tôi gọi cho chị vào cuối tuần, khoảng sau bốn giờ chiều thứ bảy, để chị em tâm sự nhiều hơn.

Còn ba ngày nữa mới đến thứ bảy, nhưng ba ngày với tôi bây giờ có cảm giác còn dài hơn ba tháng!

Ký ức đưa tôi quay trở về một thời xa lắm, khi thành phố Nha Trang đang mở ra cho tôi cả một bầu trời xanh bao la trước mặt. Năm lớp đệ tứ, tôi đang trọ học ở nhà ông chú, nằm góc đường Lê Lợi – Hoàng Tử Cảnh. Ngôi nhà nằm ở một vị trí không thích hợp và cũng không đủ rộng cho việc kinh doanh, nên phải bán đi để xây một ngôi nhà lớn hơn tại khu đất mới. Chú tôi phải thuê tạm một căn phố gần rạp ciné Moderne của ông Bác Ái ở đầu đường Độc Lập để làm văn phòng, rất bất tiện cho tôi trong việc ăn ở học hành. Tôi phải dọn lên ở tạm nhà một người bạn thân của ba tôi, chú Thân Trọng Lý, trên một con hẻm lớn ở đường Phương Sài, Phường Củi. Hẻm khá rộng, hầu hết nhà cửa đều rất khang trang, yên tĩnh.

Khoảng hai tuần sau, một gia đình dọn đến thuê ngôi nhà lớn nhất ở cuối con hẻm. Nhà có bảy người, ông bà chủ, bốn người con và một chị giúp việc. Bà chị đầu, hai cậu con trai trạc tuổi tôi rồi đến cô gái út. Ông bố là trung úy ngành Quân Cụ, từ xa thuyên chuyển đến làm Chỉ huy phó trại Quân Cụ, nằm góc đường Phương Sài – Trần Quý Cáp. Trông tướng mạo oai phong nhưng ông rất hiền từ. Cả hai ông bà rất mộ đạo Phật, ngày rằm nào cũng đi lễ chùa. Gia đình gốc Huế, nhờ vậy, chỉ sau một thời gian, ông bố trở thành bạn đồng hương, đồng đạo với chú Thân Trọng Lý, chủ nhà của tôi, một sĩ quan cơ khí Không quân, và cũng là một Phật tử thuần thành. Vợ chú đã qua đời từ mấy năm trước, để lại cho chú một đứa con trai khoảng 6, 7 tuổi. Chú Lý có họ Thân Trọng, một tộc họ nổi tiếng ở Huế, nhưng lại được chôn nhau cắt rốn tại Vạn Giã, quê tôi. Bởi thân phụ của chú từ Huế đến Vạn Giã làm ngành Hỏa Xa cho Pháp khi còn trai trẻ, lấy vợ rồi lập nghiệp ở đây luôn. Gia đình này nổi tiếng giàu có nhất ở quê tôi lúc ấy. Cùng ở quê vào trọ học với tôi có hai chị em, chị Thân Thị Hảo và anh Thân Trọng Sỹ, cháu ruột, con ông anh cả của chú Lý, học ở Võ Tánh, trước tôi mấy lớp.

Tình bạn gốc Huế của hai ông chủ nhà đã bắc một nhịp cầu khá thênh thang cho anh Thân Trọng Sỹ và tôi dễ dàng làm thân với bốn đứa con của ông trung úy. Hai cậu con trai khá hiền lành và hai cô con gái cô nào cũng thùy mị, xinh đẹp. Sau đó chị cả Bích Vân vào học đệ nhị trường Võ Tánh, cùng lớp với anh Sỹ, còn cô út Bích Hà học lớp đệ lục trường Nữ Trung Học vừa mới mở. Hải và Sơn, hai anh con trai lại học bên trường bán công Lê Quí Đôn. Anh Sỹ may mắn được học cùng lớp, nên ngày càng thân thiết với cô chị, còn tôi thì “phải lòng” cô em, bởi giọng nói “rất Huế” nhỏ nhẹ dễ thương, đôi mắt nai tơ hiền lành và nhất là mái tóc thề bay bay trong gió mỗi lần chúng tôi đạp xe song song trên một đoạn đường dài trước khi rẽ về hai hướng để đến trường mỗi đứa.

“Tôi phải lòng O, khi O còn đệ lục

Nón trắng, áo dài – trắng cả mùa thu

O đạp xe đi hồn nhiên quá đỗi

Cuốn hồn tôi theo vào cõi sa mù”

(O Huế Ngày Xưa – PTAN)

Đều là Phật tử, nhưng anh Sỹ và tôi hiếm khi đi chùa. Vậy mà từ ngày có gia đình Bích Hà, bọn tôi không bỏ sót ngày rằm nào. Ông bố thường chở chú Lý cùng vợ và hai cô gái đến chùa bằng xe Jeep, còn anh Sỹ, tôi và hai anh con trai thì đèo nhau trên hai chiếc xe đạp, chạy theo con đường tắt qua hướng Mả Vòng. Chú Lý quen biết từ lâu với Thầy Trụ trì Chùa Hải Đức, nên tất cả chúng tôi thường đi lễ ở chùa này, hơn nữa ở đây không đông đảo như bên chùa Tỉnh Hội, chỉ cách đó vài trăm thước. Khi lạy Phật, bọn nhỏ thường quỳ sau mấy người lớn. Tôi thường quỳ bên cạnh Bích Hà. Không biết nàng lâm râm khấn nguyện điều gì, còn tôi thì chỉ xin đức Phật cho hai đứa được gần mãi bên nhau. Và dường như từ nhỏ đến giờ, tôi chưa từng cầu xin đấng linh thiêng nào một cách thành tâm như thế.

Khoảng sáu tháng sau, chú tôi đã xây xong ngôi nhà mới ở đầu đường QL 1, nằm bên ngã tư Trần Quý Cáp, cạnh Ty Thông Tin. Ông đến nói chuyện với chú Lý để đón tôi về, nhưng tôi năn nỉ quá nên được cho ở lại đến cuối niên học. Sau này, mặc dù về ở nhà chú, nhưng sáng nào, tôi cũng đạp xe theo đường Trần Quý Cáp và đợi ở góc đường Phương Sài, trước sân phòng mạch của Bác sĩ Nguyễn Văn Tý để chờ Bích Hà, rồi chúng tôi cùng đạp xe song song trên những con đường Gia Long, qua Ngã Sáu Nhà Thờ, đến Lê Thánh Tôn. “Hộ tống” nàng đến trường Nữ, tôi mới rẽ sang đường khác để đến trường tôi. Đặc biệt, những ngày trời mưa lớn, Bích Hà không đạp xe mà nhờ anh Hải chở đi. Lúc ấy tôi phải năn nỉ “lấy lòng” thằng bạn, ông anh rất hiền lành của Bích Hà, cho tôi thay nó chở nàng ở phía sau. Đạp xe dưới trời mưa gió lạnh mà tôi thấy cả người ấm lên và mong sao con đường cứ dài thêm ra mãi.

“Cũng tại vì O mà tôi biết yêu

Tập viết thư tình từ năm đệ tứ

Đọc thư tôi làm sao O hiểu

Cái nghĩa yêu đương mù mịt quá chừng”

(O Huế Ngày Xưa – PTAN)

Anh Sỹ và chị Bích Vân sau khi đậu Tú Tài 2, đều chuyển vào Sài Gòn học tiếp. Và cuộc tình của hai người cũng kết thúc sớm, sau khi chị Bích Vân được sang Pháp du học. Tôi có cảm giác họ chỉ là hai người bạn thân chứ không hẳn là đôi tình nhân. Mặc dù tôi biết anh Sỹ rất mê chị Bích Vân, nhưng tính tình hoàn toàn khác nhau. Anh Sỹ lúc nào cũng đùa cợt, vui vẻ hồn nhiên, còn chị Bích Vân thì trầm lặng và sâu sắc.

Khi tôi vừa thi đỗ Tú Tài 1, Ba tôi từ quê nhân có việc gia tộc, cần gặp chú tôi bàn bạc, nên đã vào Nha Trang khao mừng và đón tôi về quê nghỉ hè với ông luôn. Khi ấy Bích Hà cũng vừa thi đậu Trung Học Đệ Nhất Cấp. Có thể lúc này cả hai đứa tự xem mình đã là người lớn… hơn một chút. Trước khi về quê nghỉ hè, tôi rủ Bích Hà đi ăn kem ở một tiệm bên cạnh rạp ciné Tân Tiến. Tôi tặng một cây bút màu xanh khá đẹp, có khắc đậm bốn chữ “Hoàng Thị Bích Hà”. Lần đầu tiên trong đời nắm tay một người con gái mà lòng thấy lâng lâng, man mác buồn. Bởi “chỉ mới nắm tay em hôm nay mà đã nghĩ đến chia xa ngày mai.” Lúc nói lời chia tay, cô bé không nhìn tôi, cúi xuống, giọt nước mắt tình yêu đầu đời của tôi rơi xuống hai bàn tay nàng. Đọc trong sách, thấy người ta thường nói đến giọt nước mắt hạnh phúc, nhưng với tôi thì dường như đó lại là dấu hiệu của chia ly. Về quê chưa được hai tuần, tôi nhận thư của Bích Hà, bảo gia đình sẽ phải chuyển vào Cần Thơ, vì ông bố được thăng cấp lên đại úy và không hợp cung cách làm việc của vị chỉ huy trưởng, vả lại ông rất thích miền Tây sông nước, nên xin thuyên chuyển về đây, giữ một chức vụ cao hơn. Cả nhà sẽ di chuyển trong mùa hè này, bằng phi cơ quân sự, nhưng chưa biết ngày nào, có thể còn khá lâu vì ba cô phải chờ người đến thay thế. Tôi viết thư, hứa nhất định sẽ trở lại Nha Trang để tiễn Hà và gia đình. Nhưng rồi tôi đã không có cơ hội để thực hiện được lời hứa này. Một hôm nhận được lá thư khác của Bích Hà, bảo là gia đình đã đi Cần Thơ, vì bất ngờ, nên cô bé không hề biết trước. Khi tôi đọc được những dòng chữ xinh xắn quen thuộc này, thì Bích Hà đã rời khỏi Nha Trang hơn một tuần rồi! Bỗng dưng tôi thấy cả đất trời và mọi thứ chung quanh mình trở nên trống rỗng. Chỉ còn có nỗi buồn đầy ắp trong lòng. Không ngờ chuyện tập tễnh yêu đương cứ tưởng chỉ là ngây ngô vụng dại, vậy mà đã làm trái tim tôi nhói đau như thế. Mất mẹ từ nhỏ, nên tôi rất gần gũi thân thiết với Ba tôi. Bất cứ điều gì tôi cũng tâm sự, kể lể với ông, có khó khăn gì tôi đều tìm đến ông để được nghe ông giải thích, chỉ dạy tận tình, nhưng lần này khi thấy tôi buồn, không còn đàn địch ca hát líu lo như mọi ngày, ông dò hỏi, tôi chỉ vờ nhoẻn miệng cười, lảng sang chuyện khác. Chẳng lẽ tôi lại ngu ngơ khai với ông rằng, thằng con yêu quí của ông còn đang học hành, chưa kịp lớn mà đã biết si tình? Vả lại, chính cả tôi cũng đang bâng khuâng không biết đó có phải thực sự là tình yêu hay không nữa!

Sau mùa hè, khi niên khóa mới sắp khai giảng, tôi khăn gói trở lại Nha Trang, nhưng không còn cái háo hức của những năm tựu trường trước đó. Thành phố biển xinh đẹp này với tôi bỗng dưng chẳng còn chút thơ mộng nào nữa. Tôi đạp xe lên nhà chú Thân Trọng Lý và vội vã chạy sang nhìn ngôi nhà của Bích Hà. Bây giờ đã có chủ mới, nhưng tôi vẫn cố ý kiếm tìm bởi cảm giác bóng dáng Bích Hà vẫn còn thấp thoáng quanh đây, và tai tôi phảng phất dư âm giọng nói rất Huế của nàng.

Tôi bắt đầu năm học mới với tâm trạng buồn và đầu óc mang mang như thế!

Lớp Đệ Nhất C của tôi khai giảng đúng vào những ngày biến động của chính trường miền Nam với liên tiếp những cuộc bãi khóa, biểu tình chống chính quyền Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nhưng bù lại có thêm nhiều khuôn mặt mới, đa số là những giai nhân đến từ các trường Pháp và một số trường tư thục sau khi đã đậu Bac 1 hay Tú Tài 1. Lúc ấy Trường Nữ Trung Học Nha Trang vừa mới thành lập, chưa có các lớp đệ nhất, nên các nữ sinh “được” tiếp tục ở lại học chung với đám “ma quỷ” bọn tôi.

Thời ấy, nếu bên các lớp Đệ Nhất A, Nhất B có những tên tuổi đình đám, nổi bật như Trần Xuân Hoa, Nguyễn Thị Danh, Tôn Nữ Ngọc Hà, Thu “Mỹ Kim”, Phạm Phong Nhã…, thì bên Nhất C của bọn tôi vang lừng với nhiều cái tên khác: Thúy Liệu, Minh Châu, Kim Anh, Kim Thoa, Tỷ Muội, Túy Ngọc, Bạch Lan, Như Bá…Bọn tôi cũng hãnh diện khi cùng lớp với mình có quá nhiều người đẹp, nhưng như ông bà ta thường nói “ Bụt nhà không thiêng”, hơn nữa khi bằng tuổi nhau, đám con gái có khuynh hướng nhìn lên, chứ chẳng mấy cô chịu nhìn ngang, nhìn dọc, nên đa phần là hoa đã có chủ, vì vậy hầu hết đám con trai bọn tôi đều đem cây si trồng bên trường Nữ, tìm đối tượng ở một vài lớp nhỏ hơn mình.

Thời ấy, nữ sinh bên Trường Nữ Trung Học, có lẽ nhờ qui tụ từ khắp bốn phương nên hầu hết đều là những đóa hoa ngát hương, muôn màu muôn vẻ, làm khốn khổ trái tim của biết bao anh hùng hào kiệt, đặc biệt những chàng Sinh viên sĩ quan Hải Quân, Không Quân hào hoa từ khắp nơi tập họp về đây để sẵn sàng quỳ gối trước một giai nhân trường Nữ, xin rước những “cánh hoa biển” hay “cánh sao trời” về dinh để tự giam hãm cuộc đời mình.

Có rất nhiều cái tên vẫn luôn đi mãi cùng năm tháng. Riêng tôi chỉ biết (trong hạn hẹp) một vài người: Mỵ Cơ, Hồng Nữ, Xuân Thùy, Quỳnh Như Ý, Trung Thu, Bích Khuê, Như Ý (Thanh Cần), Lệ Son, Mỵ Hảo…Trong số những giai nhân này có mấy nàng từng làm cho vài thằng bạn của tôi đã phải điêu đứng, khốn khổ đến tự hủy hoại cả một đời. Riêng tôi, chỉ có duy nhất mỗi hình bóng cô nữ sinh gốc Huế vừa mới giã biệt ngôi trường Nữ này, dù rất kín đáo, thầm lặng, không có tên trong số những giai nhân ấy, nhưng đã đủ choáng ngợp tâm hồn tôi, đã cho tôi cái cảm giác thế nào là “chết ở trong lòng một ít” của ông nhà thơ Xuân Diệu, mà khi ấy tôi rất mê thơ của ông..

Bây giờ Sài Gòn – Cần Thơ trở nên xa cách muôn trùng, Bích Hà và tôi chỉ liên lạc nhau qua thư từ, và cũng chỉ dám nói đôi điều đùa cợt vu vơ, vì sợ ba, măng (mẹ) nàng kiểm soát. Ông bà không phải là người quá nghiêm khắc, nhưng tất nhiên lúc nào cũng mong cô con gái út chăm chỉ học hành theo chân bà chị cả Bích Vân.

Khi vào Sài gòn học thêm, tôi có rủ anh Sỹ đi Cần Thơ một chuyến nhân dịp Tết Nguyên Đán. Ông bà cụ và cả nhà Bích Hà vui mừng đón tiếp chúng tôi. Khi ấy chị Bích Vân còn ở bên Pháp. Ở đây chỉ có hai hôm, nên bọn tôi không có nhiều thì giờ riêng tư. Buổi tối cuối cùng, ông bà cụ bảo các con đưa bọn tôi đi bộ ra bến Ninh Kiều hóng gió và nhìn dòng sông Cần Thơ buổi tối lung linh dưới ánh đèn. Trên đường về, tôi kéo tay Bích Hà đi lùi lại phía sau, và bất ngờ hôn nhẹ lên má nàng. Đó cũng là nụ hôn đầu đời của tôi.

Tôi nhập ngũ khi Bích Hà vừa vào Đại Học Văn Khoa. Ra trường, tôi được chuyển ra một đơn vị tác chiến lưu động, hành quân liên tục khắp Vùng 2 Chiến Thuật. Có khi buổi sáng còn ở Quảng Đức, Lâm Đồng, buổi chiều đã có mặt ở Tuy Hòa, Phan Thiết. Có điều, đi đâu và lúc nào tôi cũng luôn mang theo bóng dáng của Bích Hà. Sau mỗi cuộc hành quân tôi đều viết thư, nhưng hộp thư KBC lại nằm ở hậu cứ tận Ban Mê Thuột, nên ba, bốn tháng ông thượng sĩ già bưu tín viên mới có phương tiện mang thư ra đơn vị một lần. Sự liên lạc ngày một nhạt dần. Sau đó không còn nhận được lá thư nào nữa của Bích Hà. Tôi hình dung Bích Hà bây giờ không còn là cô học trò bé bỏng của trường Nữ ngày xưa nữa, đã qua rồi cái thời mộng mơ, yêu đương khờ khạo. Một năm sau, tôi bị trọng thương ở chân trái, trong một trận đánh phản phục kích ở ngã ba Dak-Song, Quảng Đức, phải nằm nhà thương gần ba tháng. Rất may là không bị cưa chân. Những ngày nằm treo cái chân băng bột cứng đơ lên thành giường, nghe những đồng đội thương binh bên cạnh rên xiết, tôi càng nhận ra mình chỉ là một thằng lính mạt hạng, năm tháng chỉ còn biết có đồng đội, súng đạn, chiến trường và ranh giới giữa sống-chết còn mong manh hơn sợi tóc, thì đâu có dám mơ gì đến chuyện tương lai hay công hầu khanh tướng. Tôi cố quên dần rồi mất hẳn liên lạc với Bích Hà.

Sau tháng 4/75, trong những tháng năm bị tù tội từ Nam ra Bắc, tôi chỉ còn biết chút cảm giác của hạnh phúc khi mơ màng tìm về quá khứ, hình dung lại thành phố Nha Trang xưa, thời tôi mới lớn, những ngày cắp sách đến trường với từng khuôn mặt bạn bè vô tư trong sáng, nhìn đất trời và mọi người ai nấy cũng hiền hậu dễ thương. Và từ trong ký ức ấy, hình ảnh của Bích Hà lúc nào cũng hiện lên đậm nét. Tôi nghĩ Bích Hà đã lấy chồng và thầm cầu mong cho “O Huế” của tôi sẽ luôn có tròn hạnh phúc. Một cô con gái xinh đẹp, hiền lành phúc hậu như Bích Hà phải xứng đáng để được ông Trời dành cho vòng tay nâng niu, che chở, yêu thương.

Hết chiến tranh ta lạc mất nhau

O cùng ai đó bước qua cầu?

Tôi bất ngờ thành người bại trận

Bước vô tù theo cuộc biển dâu

(O Huế Ngày Xưa – PTAN)

Từ khi đọc được email của chị Bích Vân, tôi nao nức đợi chờ, mong sớm đến chiều thứ bảy để gọi cho chị. Giọng nói của chị vẫn không hề thay đổi, cho dù đã hơn 45 năm tôi mới có dịp nghe lại giọng nói nầy của chị. Ấm áp, thân tình, làm tôi nhớ tới giọng nói của Bích Hà. Tôi thường trêu “cái giọng Huế của bồ làm khổ tôi rồi, bồ nói mà sao cứ như ru hồn người ta!”

Bỗng tôi bàng hoàng khi chị im lặng một vài giây, rồi xuống giọng như muốn nói nhỏ với riêng tôi “Bích Hà đã không còn trên cõi đời này nữa! Bài thơ em viết chị đã đọc trước bàn thờ cho nó nghe trong ngày giỗ thứ 37 của Bích Hà, đêm Giáng sinh tuần trước”

“O Huế” của tôi đã lẳng lặng bỏ đi, chỉ sau một cơn nhồi máu cơ tim. Bích Hà bất ngờ rời khỏi trần gian nhiều đớn đau phiền muộn này đúng vào đêm Giáng Sinh năm 1970, chỉ sáu tháng sau khi tu nghiệp một năm từ Tân Tây Lan trở về và dạy Anh văn cho một Trung Tâm Việt Mỹ. Hải, anh trai lớn của Bích Hà, người bạn hiền lành tốt bụng của tôi ngày ấy, sau này trở thành sĩ quan Pháo Binh và đã tử trận (mất xác) vào khoảng tháng 4 năm 1972 trong một trận chiến đẫm máu tại khu vực Cần Lê, gần An Lộc. Liên tiếp hai năm phải chịu hai cái tang con, mẹ của Bích Hà gần như kiệt sức, Bà cũng đã ra đi vào đầu năm 1975, sau một thời gian dài nằm trên giường bệnh, đúng vào lúc tình hình chiến sự ở miền Nam trở nên tồi tệ nhất. Điều ước mong một lần trở về Huế, thăm lại quê hương, mồ mả mẹ cha, gia tộc, cuối cùng ông bà cũng không thực hiện được.

Nhờ giữ một chức vụ khá lớn trong Banque Nationale De Paris (BNP), ngân hàng lớn nhất của Pháp tại Sài Gòn lúc ấy, nên trước ngày 30 tháng 4/75 chị Bích Vân đưa được ông cụ và Sơn, anh trai kế của Bích Hà sang Pháp. Ông cụ đã về hưu từ đầu năm 1970. Cũng kể từ đó ông bà dọn nhà về sống ở Sài Gòn. Khi đến Pháp ông đã khá lớn tuổi, cộng thêm nỗi buồn mất vợ, hai con và mất cả quê hương, ông trở nên trầm cảm, mất dần trí nhớ, rồi qua đời không lâu sau đó. Sơn thì kết hôn với cô bạn cũ, vượt biên cùng gia đình sang Úc, nên chàng ta cũng đã chọn Úc là quê hương cuối của đời mình. Riêng chị Bích Vân, lúc còn ở Sài Gòn, cũng vì hai cái tang em và gánh nặng phải lo toan cho bệnh tình của mẹ, tuổi già của cha, chị đã không lập gia đình. Mãi sau này, khi sang Pháp được bảy năm, chị mới kết hôn với một người Pháp, là bạn cũ của chị khi hai người cùng theo học ở Hautes Etudes Commerciales (HEC) Paris, từ những năm đầu thập niên 1960. Anh ta đã ly dị với người vợ trước và có một cô con gái.

Tối hôm ấy, khi được nói chuyện khá lâu với chị Bích Vân qua điện thoại, nghe tâm tình của chị, tôi có cảm giác những mất mát lớn lao của chị cũng là nỗi mất mát, đau đớn của chính tôi. Tôi trách ông Trời sao nỡ bất công với những con người phúc hậu dễ thương như ông bà cụ, như bạn Hải, và nhất là “O Huế” của tôi xưa.

Tôi đốt ba nén nhang, mở cửa bước ra balcon. NaUy đang mùa đông, tuyết rơi trắng xóa, trời đất và cả trong lòng tôi cũng ngập đầy băng giá. Hướng về phương Đông, tôi cầu nguyện và cám ơn Bích Hà đã để lại trong tôi hình bóng đẹp đẽ cùng giọng Huế dễ thương nhất của nàng.

***

Mùa Hè năm 2009, vợ chồng đứa con trai lớn mua vé rủ chúng tôi cùng đi tour năm ngày sang Nice, một thành phố biển nổi tiếng ở miền Nam nước Pháp. Tôi hăm hở nhận lời, mặc dù tôi đã từng đến đây vài lần rồi, nhưng vì biết chị Bích Vân đang sống ở đây, và tôi mong muốn có cơ hội được gặp lại chị. Chị rất vui mừng khi nghe tôi gọi, báo cho chị biết là chúng tôi đang có mặt tại Nice, và chỉ còn ở đây ba hôm nữa. Chị hỏi tên khách sạn chúng tôi ở và bảo là mười giờ sáng ngày mai anh chị sẽ lái xe đến đón. Nhà chị ở không xa lắm, khoảng một tiếng đồng hồ lái xe. Bà xã và đám con cháu tiếc nếu phải bỏ một tour du thuyền đến Monaco, nên chỉ có mình tôi nhận lời.

Anh chị ở trong ngôi nhà cổ, khá rộng. Đặc biệt anh chồng nói được tiếng Việt, dù không thạo lắm. Tóc của chị đã hoa râm, nhưng vẫn còn nguyên mái tóc thề ngày trước, khuôn mặt vẫn đầy đặn hồng hào và cả dáng dấp của chị vẫn phảng phất nét xinh đẹp, thanh lịch một thời. Sau khi ăn trưa bằng món bún bò Huế do chính chị nấu sẵn, tôi theo chị lên tầng trên. Nguyên một căn phòng lớn dùng để thờ Phật, nơi chị tụng kinh niệm Phật mỗi ngày, và một bàn thờ phía sau dành cho những người thân quá cố. Thoáng nhìn bốn tấm ảnh phóng lớn có cùng một kiểu khung trên bàn thờ, tôi nhận ra Bích Hà. Vẫn khuôn mặt khả ái, đôi mắt hiền từ ngày nào, đặc biệt với cái miệng rất duyên. Tôi xin phép thắp mấy nén hương. Đứng trước bàn thờ, lâm râm vài lời trong niềm xúc động. Nhìn thật lâu vào đôi mắt của Bích Hà, tôi có cảm giác như nàng đang nhìn tôi mỉm cười, tai tôi văng vẳng một giọng Huế rất dễ thương, quen thuộc một thời.

Trước khi đưa tôi về lại khách sạn, chị Bích Vân nhắc tới anh Thân Trọng Sỹ. Tôi cho biết là sau khi tốt nghiệp ở trường Luật, anh Sỹ được thực tập tại văn phòng một vị luật sư lớn tuổi, cũng là cậu họ của anh, nhưng chỉ một thời gian sau thì anh bị động viên vào Thủ Đức. Anh được chọn về phục vụ trong Ngành Quân Pháp. Lương ba cọc ba đồng và đời sống quân ngũ dường như không thích hợp, nên sau đó anh thi vào Khóa 1 Tham Vụ Ngân Hàng và ra làm Phó Giám Đốc, rồi sau đó là Giám đốc Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp Châu Đốc cho đến ngày mất nước. Anh vượt biển khi tôi còn đang ở trong tù, Được tàu Nhật vớt nên phải sang Nhật định cư một thời gian, rồi chán nản quá nên anh xin sang Mỹ. Trải qua nhiều khó khăn mới được Cơ quan Di Trú Mỹ chấp nhận. Hiện anh sống ở San Jose. Có điều, không biết có phải thất tình ai đó mà anh không chịu lấy vợ. Mãi một lần về Việt Nam thăm gia đình, bị bà già la quá, hối phải lập gia đình để bà có cháu nội mà an lòng nhắm mắt. Sau đó, khi xuống Châu Đốc tìm thăm lại những nhân viên ngân hàng cũ của mình, anh làm đám cưới luôn với cô thư ký ngày xưa, vẫn ở vậy chưa chồng. Nghe nói lúc trước dường như hai người từng đã có tình ý với nhau. Lúc đám cưới anh đã trên năm mươi, nhưng may mắn hai vợ chồng có được một cháu trai. Cha già con mọn. Mỗi lần nói chuyện với tôi anh cứ than “lỡ nay mai tao đi sớm thì không biết ai lo cho thằng bé.” Nhưng chị vợ là người hiền hậu đảm đang, và bây giờ cháu cũng vừa lên High School rồi!

Để làm vơi đi không khí buồn bã, tôi trêu chị:

–Ngày xưa chị đẹp quá chừng. Em nghĩ là anh Sỹ si tình, chắc đã hứa cả một đời tôn thờ hình bóng chị. Sau ngày chị đi du học, anh ấy bắt đầu sống bất cần đời. Chị có nghĩ vì vậy mà anh ấy không chịu lấy vợ không?

Chị nở một nụ cười thật tươi. Lắc đầu.

***

Khi tôi ngồi viết lại những dòng này thì chị Bích Vân đã không còn trên cõi đời này nữa. Chị không có con, anh chồng tốt bụng thì cũng đã khá già, nhưng còn có đứa con gái riêng lo lắng cho anh. Tôi hình dung đến cái bàn thờ, có di ảnh Bích Hà trên đó. Không biết bây giờ ra sao, có ai thắp cho nàng một nén hương mỗi ngày và gõ cho nàng một hồi chuông vào tối những ngày rằm. Riêng tôi, nén hương đặc biệt ấy vẫn được đốt cháy mãi trong lòng mình.

Anh Thân Trọng Sỹ thì cũng vừa ra đi năm ngoái, sau một thời gian dài bị tai biến mạch máu não, và sống cả một cuộc đời vô ưu, thanh bạch. Anh mất âm thầm trong mùa dịch Covid-19, nên tang lễ chỉ tổ chức rất hạn hẹp trong gia đình. Tôi lại thêm một lần nữa nợ anh. Không có mặt để xin lỗi anh nhiều điều, và tiễn anh rời xa nhân thế. Anh ra đi bỏ lại người vợ hiền và đứa con mới chập chững vào đời. Anh cũng bỏ lại biết bao kỷ niệm buồn vui của hai anh em tôi, một thời đẹp đẽ nhất của Nha Trang. Cầu nguyện hồn anh được thanh thản, và ở một nơi xa xăm nào đó, nếu có dịp ngó lại trần gian này, xin anh vẫn nở nụ cười bao dung vui vẻ như ngày nào, cho dù thế gian này đã không mấy sòng phẳng với chính anh.

Cuối cùng, cũng sẽ đến lượt tôi. Rồi tất cả sẽ gặp lại nhau ở một thế giới khác, bình yên, không còn chiến tranh, hận thù, khổ đau, chia lìa mà chỉ còn có tình yêu thương miên viễn.

Phạm Tín An Ninh

(mùa tựu trường trong dịch Covid 19 – 2021)

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 31 Jul 2026

Nói tới món ăn Việt Nam là phải nói tới tô phở. Theo sự phân tích của giới y thì tô phở dù là nước trong đi nữa cũng mang rất nhiều chất béo có cơ hội làm tăng cholesterol trong máu, rất mau dẫn con người tới những vụ tai biến mạch máu não, nhưng quả thật dân ta cũng khó làm ngơ trước một món ăn hấp dẫn đầy hương vị như món phở. Vì giàu nghèo, già trẻ, lớn bé, nam phụ lão ấu ai cũng dùng phở được và ai cũng thích phở. Người Mỹ dùng nước xúp gà để giải cảm, người Việt cảm cúm dùng một tô phở nóng có hành ngò, vắt chút chanh, rắc ít tiêu, cho mấy lát ớt đỏ, ăn cho vã mồ hôi ra, vừa hết bệnh, vừa khoái khẩu, ai mà không thích.

Trong nội tình thì từ năm1954, phở đã theo một triệu người di cư từ Bắc vào Nam đánh bạt tô hủ tiếu (hay hủ tíu) vì dầu sao món ăn này cũng thiếu chất ròng, tinh túy của Việt Nam mà có pha chút “ngoại” Nam Vang hay Triều Châu. Những ngày đi đâu xa về, qua một chặng đường dài trên máy bay, xuống tới đất, làm một tô phở là thấy tỉnh cả người. Mùi vị của phở làm cho người ta đói và làm cho những người xa quê thấy nhớ nhà. Ở đất khách, nhiều vùng dân mình không tập trung đông đúc, người ta phải lái xe đi năm bảy chục “mai” để kiếm một tô phở, ăn cho đỡ … thèm, mặc dầu người ta nói phở ở Mỹ không ngon vì miếng thịt phải nằm trong tủ đá lâu ngày, ngọn rau quá tươi tốt làm loãng hương vị nồng cay của quê nhà.

Tháng 4-1975 cho tới cả hai mươi năm sau, tô phở “xe tăng”, mặc dầu “không người lái” vẫn từ Hà Nội viễn chinh vào Saigon, đuổi những tô phở “tàu bay” Hiền Vương của con đường lá me Saigon, cao bay xa chạy tới nghìn dặm của cả thế giới để làm nở mặt nở mày con người Việt Nam. Nhưng nhờ ôm trọn được miền Nam, tô phở Hà Nội ngày nay mới được gọi là tô phở cho đúng nghĩa, cho ra hồn. Việt Nam gởi các cô có nhan sắc “đem chuông đi đánh xứ người” cả trăm lần coi như cả trăm thất bại, nếu tô phở được cử đi chắc chắn sẽ đem vinh quang về là cái chắc. Nếu phở được làm Đại Sứ thì uy tín của hai chữ Việt Nam còn vang xa.

Chẳng thế mà cách đây vài năm tô phở Việt Nam đã vượt xa món burito của Mễ Tây Cơ đến trở thành món ăn ngoại quốc được ưa chuộng nhất ở Mỹ. Trong lần viếng thăm Việt Nam năm 2000, Tổng Thống Clinton đã dùng luôn một lèo hai tô tại một quán ăn ở Saigon và tại những tiệm phở trong các cộng đồng Việt Nam trên đất Mỹ, rất nhiều người địa phương cũng đã nghe tới món ăn trứ danh này và đã ghé qua để thưởng thức món ngon. Những tiệm phở gần khu Capitol Sacramento của thủ phủ Cali thì đầy nhân viên chính phủ, tiệm phở gần campus của Đại học Cambridge ở Boston thì khách toàn là sinh viên Mỹ. Theo lời kể của Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ là người đã được đi nhiều nơi, sinh hoạt trực tiếp với nhiều cộng đồng Việt Nam trên thế giới, đặt chân đến khoảng vài trăm tiệm phở, thì ở Bankstown-Sydney nước Úc có một tiệm phở lớn nhất thế giới và đắt khách cũng như mắc giá nhất thế giới mang tên Phở An. Tiệm phở này lớn như một nhà hàng Tàu nấu tiệc cưới, có 250 chỗ ngồi và giá mỗi tô phở là 9 Úc Kim. Vì khách ăn hằng ngày quá đông, lúc nào cũng xếp hàng dài dài, xếp hàng cả ngày, nên đến chủ nhật, thứ bảy giá mỗi tô phở được nâng giá thêm 1 đồng ($1.00 Úc = $0.90 Mỹ) để đuổi bớt khách, tuy vậy coi bộ không có kết quả. Phở ở Úc ngon thì cũng không có gì là lạ vì thịt bò Úc có tiếng nhờ những đồng cỏ xanh và với rổ rau xanh tươi từ các nông trại gần đó đem tới.

Phở ở quê nhà ngày xưa là tô phở nghèo vì chất ngọt từ xương hầm không đủ, thịt trong tô vừa mỏng vừa lơ thơ có thể đếm trên đầu ngón tay, sự nghèo đói dần dà đưa đến những tô phở chỉ còn nước sôi pha “mì chính” và bánh phở “only” có cái tên kênh kiệu rất “khoa học-không gian-thời đại” là “phở không người lái”. Khi tô phở sang tới Mỹ, nơi mà “cái gì cũng to, cũng bự, trừ con gián là nhỏ xíu” thì tô phở cũng đã biến dạng và gây sự kinh ngạc sững sờ cho một người Hà Nội từ trong nước mới sang đây lần đầu, trong câu chuyện như sau:

“Lò dò tìm đến địa chỉ đã được căn dặn, tôi ồ lên một tiếng thất kinh khi một tô phở xe lửa giá năm đô la rưỡi được bưng lên nghi ngút khói. Không phải là một tô phở mà một thau phở thì đúng hơn, cỡ bằng cái nón bộ đội. Lần đầu tiên trong đời, tôi nghĩ sự giải lao là tối cần thiết trong ẩm thực. Nghĩa là sau khi chiến đấu – khá vất vả – được có nửa tô, người ăn phở cần bước ra ngoài, đi loanh quanh chừng nửa tiếng, hút vặt dăm hơi thuốc, rồi mới đủ can đảm quay lại đối diện với nửa tô còn lại” (trích lại trong Phố Văn số 50).

Thực ra tô phở ở hải ngoại tuy có to thực, nhưng không đến nỗi được mô tả ví von một cách văn hoa với cái nón cối của ông ấy hay là một cái thau. Thế thì dân Việt hải ngoại, nói theo lối nhà nước ta là “núm ruột ngàn dặm” thô tục thật, không văn vẻ như người của ta. Người đi công tác này phải “chiến đấu khá vất vả” mà chỉ mới hết nửa tô. Tới đây chúng ta lại được hiểu thêm một lối ăn phở rất “văn hóa” của người cán bộ trong nước đi công tác tới Mỹ (Boston), ở khách sạn 5 sao (Jury’s), là vì tô phở lớn quá, người ăn chỉ ăn nổi nửa tô, xong chạy ra sân “hút vặt dăm  hơi thuốc”, đi loanh quanh chừng nửa tiếng rồi mới trở lại ăn nửa tô còn lại (!) Tôi không biết cái nhà hàng nào mang tên Pasteur ở Boston lại chịu để dành nửa tô phở ăn dở để chờ ông khách quái đản trở lại nửa giờ sau, không biết nửa “nón cối” phở ấy bây giờ đã biến dạng thành một thứ “nón cối” tạp pí lù bầy nhầy những thứ gì trong ấy, mà khách còn can đảm trở lại xơi nốt cho đáng cái của đời giá tới năm đô la rưỡi? Nếu tô phở được ví von một cách “thanh lịch” bằng cái nón cối, thì chưa nói ra, cái gỏi cuốn ở Mỹ phải bắt anh chàng này liên tưởng tới chiếc dép râu. Bài báo này lại chê một người Mỹ ăn phở: “Một cô Mỹ tóc vàng, dáng nhỏ nhắn, sau khi khoan khoái xơi hết một tô phở xe lửa to đùng, ung dung gọi thêm một đĩa gỏi cuốn king size, và tà tà thưởng thức với một vẻ khoái hoạt đáng kính phục và kết thúc bằng một trái dừa tổ bố. Hóa ra cái sự ăn uống lấy no làm sung sướng, lấy nhiều làm ngon, cũng có “giá trị nhất định” của nó. Khác hẳn với sự “ăn chơi ăn bời” của các bậc thầy ẩm thực bên nhà” (PV). Nghĩa là ở Mỹ người ta chỉ chuộng cái no, cái nhiều, khác hẳn với sự thanh cảnh của các “bậc thầy ẩm thực” bên nhà.

Đó là chưa nói đến cái sự tò mò thô lỗ, đáng ghét của người khách lạ mới tới, “nhòm mồm” một thực khách địa phương, đếm món ăn của người ta để có thể mô tả bằng những chữ nghĩa mỉa mai như “ung dung gọi một dĩa gỏi cuốn -, tà tà thưởng thức -, một vẻ khoái hoạt đáng kính -, kết thúc bằng một trái dừa to tổ bố”. Điều đáng nói là bài viết này lại so sánh “khác hẳn với sự ăn chơi ăn bời của các bậc thày ẩm thực bên nhà”. Như vậy nếu bà con hải ngoại muốn học cách ăn uống cho thanh lịch, cho có “văn hóa” xin hãy về bên Việt Nam để thụ huấn các “bậc thầy ẩm thực” hiện đang ngồi lổn nhổn từ trong nhà hàng máy lạnh cho tới đầu đường bên cột đèn, miệng cống. Vì theo như lời ông cán đi công tác, thì ở Mỹ người ta chỉ “lấy no làm sung sướng, lấy nhiều làm ngon” chẳng ra làm sao cả. Cái gì chứ nói đến cái vụ ăn uống, thanh lịch hay thô tục, thì kẻ viết bài này mới rời khỏi đất nước mười lăm năm sau ngày Cộng Sản thiết lập XHCN tại Saigon đã biết tỏng và sẽ xin trở lại với một bài phiếm về miếng ăn kỳ tới.

“Cái thìa bạc trong mồm!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 30 Jul 2026

Thiên hạ thường nói rằng: “Mọi người sanh ra đều bình đẳng!”

Nếu nhìn đứa bé sơ sinh, không có quần áo mặc, tất cả đều ở truồng như nhau quả là đúng vậy. Nhưng nhìn lên cái mồm thì có đứa có cái thìa bằng bạc; đứa khác có cái thìa bằng ‘plastic’ thì đúng ra là mới sanh ra đã bất bình đẳng rồi!

Người Việt mình có một thành ngữ, nghĩa tương đương nhưng thâm thúy hơn nhiều, đó là: “Giàu trong trứng giàu ra!”

Tui phục ông bà mình sát đất nhe. Không cần biết về sản khoa gì ráo trọi mà ông bà mình đều biết con người từ trong trứng mà ra! Mà biết từ hồi Lạc Long Quân và bà Âu Cơ lận. Bằng chứng là bà Âu Cơ sanh ra một trăm cái trứng trong một cái bọc (sau nầy người ta gọi là đẻ bọc điều). (Ðẻ bọc điều là hên hết biết; nên từ thuở lập quốc tới giờ giặc Tàu từ phương Bắc muốn xơi tái nước ta đều mắc… nghẹn)

Mỗi trứng nở ra một người con trai. Trăm người con trai đó lớn lên như thổi! Tất cả đều đẹp trai, khoẻ mạnh và thông minh tuyệt vời. (Lục gia phả cả mấy ngàn đời, tui mới biết là ông tằng tằng tiên tổ của tui là một trong trăm chàng trai ấy. Nhờ vậy ‘xí’ được một chút di truyền, đẹp trai và nói dai, nên ngày còn trẻ, em nào gặp tui cũng đều ‘trúng nắng’.

Nhưng thời gian đã nhẫn tâm hủy hoại nhan sắc ‘thiên kiều bá mị’ của tui; nên bây giờ em nào gặp tui cũng thảy đều ‘trúng gió” vì em tưởng gặp quỷ dạ xoa.) Nói thiệt không ai chọn được chỗ để chui ra. Nhưng nếu được, tui thích đầu thai vào cái nhà bá hộ, giàu cỡ tỉ phú đô Mỹ, là tui mừng rồi. Vì mới sinh ra là được quấn trong chăn êm lụa ấm, một thìa bạc đựng đầy ‘vàng lỏng’ để rơ miệng. (Dà ‘vàng lỏng’ là mật ong đấy ạ!). Còn chế độ CS trong nước bây giờ đứa nào sanh ra mà: “Nhà mặt phố bố làm to” là hổng lo gì hết, cứ mặc sức hoang đàng, tàng tàng chơi mát trời ông Ðịa.

Ngon nhứt là ngoài Trung, nhà mặt phố bố làm to, con làm bí thư thành phố Ðà Nẵng chẳng hạn.

Còn trong Nam thì Tía xí phần một chỗ bèo bèo là chủ tịch một quận nghèo nghèo như quận 12. Nghèo về ngân sách vì là quận vùng ven nhưng đất ruộng còn nhiều vô thiên lủng; cứ việc quy hoạch, giải tỏa, đền bù là vàng và đô la cất đầy tới hàng chục cái ‘mái vú’.

Còn mạt rệp hơn là Sở Kế hoạch và Ðầu tư tỉnh Quảng Nam (cái gì có ‘đầu tư’ là có ‘đầu vô’ hè); giám đốc không phải làm gì ráo chỉ ở nhà chơi ‘chim’.

“Ðút rút” là tình phụ tử trong chế độ CS coi bộ bao la hơn tình phụ tử trong chế độ tư bản. CS thì hy sinh đời bố củng cố đời con. Ăn cắp miết hè. Ăn cắp cha truyền con nối. Tranh giành phe phái quyền lực, lỡ có thua thì nhả ra một chút, cùng lắm là đi tù 31 năm như Ðinh La Thăng. Ðối đế quá thì thắt cổ bằng dây giày trong phòng làm việc như một Ðại tá CA mới đây ở Hà Nội mà thôi. Tù là huề! Chết là hết. Hết đứa nào săm soi túi tiền của ông hồi đang ngồi trên chiếc ghế.

Chỉ có cái khác là thời CS, của thừa kế không phải của Bố mà là của dân ngu khu đen. Còn trong chế độ tư bản của đế quốc Mỹ có nhiều ông giàu ôi hết biết, tiền là của mấy ổng, mà hổng thương con gì ráo.

Như Bill Gates (tài sản 90.2 tỉ đô) chỉ để lại cho con mỗi đứa 10 triệu đô. Còn bao nhiêu đi làm từ thiện.

“Ðể con cái tự thành nhân bằng sức của chính mình hơn là cứ dựa dẫm vào số tiền khổng lồ của Tía!”

“Mua cho thằng ‘cu’ chiếc xe cực sang hẳn nhiên dễ gấp nhiều lần so với việc dạy cho nó biết làm thế nào để có thể tự mua được chiếc xe như vậy!”

Nghe thì cũng có lý. Vì mấy công tử nầy giàu có ở không chỉ ăn chơi tất là làm bậy hè. Xì ke, ma túy gái gú tùm lum tà la như con mấy tay trùm CS thì bỏ bố mình luôn.

***

Nói cho cùng, nếu tui kiếp trước ăn ở đàng hoàng, và theo luật nhân quả, kiếp nầy được đầu thai vô nhà giàu nứt đố đổ vách thì tui cũng đâu có ngu để phá gia chi tử gì đâu.

Có tiền, tui sẽ kiếm một em người mẫu chân dài, xuất sắc trong vai tì nữ, cưới làm vợ, rồi dắt em đi vòng quanh thế giới chơi cho hết cuộc đời… rồi chết. Cuộc đời ngắn ngủi mà. Chơi đi kẻo trễ!

Người ta làm việc để có tiền; có tiền rồi thì ngu sao mà mình làm việc chớ?

Nếu được tiền của Tía mình để lại cũng đã; mà tiền trên trời rớt xuống dưới đất chui lên, tiền của thiên hạ cho còn đã hơn nhiều.

Charles Vance Millar trong di chúc, để lại cho em nào đầu năm sanh con trai, cuối năm sanh con gái. Ðẻ càng nhiều càng có cơ may mà lủm bạc.

Kết quả là: 4 em có 9 đứa con lóc nhóc mỗi em nhận được 125 ngàn đô Mỹ.

Làm đàn ông là phải cảm thông với thân phận đàn bà chín tháng mang nặng đẻ đau, ba năm bú mớm như vậy mới làm người ta cảm động được chớ.

Nhưng đã hơn nữa là Alvin Rosenthal được bà chị mình là Leona Helmsley, “Nữ hoàng keo kiệt” năm 2007 qua đời, trong di chúc cho 10 triệu đô, chỉ có nhiệm vụ duy nhứt là chăm sóc con chó cưng của bả (chú cẩu nầy được hưởng tới 12 triệu đô)

Con chó nầy đâu có biết đếm, biết xài tiền nên lo cho nó chút đi đâu có hao tốn gì nhiều… Ðợi nó hui nhị tì là mình lủm trọn.

Quả nhiên, chỉ 4 năm sau, con ‘Trouble’ nầy theo ông bà ông vải dù được bác sĩ thú y tận tình cứu chữa.

Cụ chó qua đời hưởng thọ 12 tuổi chó (so với tuổi người là 84 tuổi vì một năm chó bằng tới 7 năm người). Chính vì vậy tui mới kêu bằng ‘cụ chó’ đó chớ.

Ông Nguyễn Vỹ từng than rằng nhà văn Việt Nam khổ như chó, (Dog’s life)! Than như vậy là trật lất đó thấy hôn?

Nhưng câu chuyện nầy, kể cho con vợ, tức em yêu nghe mà tui rơi nước mắt vì cảm động… đậy.

Hồi năm 2000, trên đường phố Santa Cruz de la Sierra ở Bolivia, thấy Cảnh sát kiếm mình, Tomas Martinez, 67 tuổi, đã bỏ chạy mất dép vì nghĩ mình sẽ bị bắt vì tội nhậu nhẹt say sưa và ‘từa lưa’ chơi ma túy.

“Chạy đâu vậy cha nội? Em yêu của ông để lại cho ông 6 triệu đô la nè!”

Anh đã bỏ em yêu, băng mình vào nơi gió cát để chơi cho mát Trời ông Ðịa hằng bao nhiêu năm trước mà em không oán trách gì.

Em yêu của tui bĩu môi xì một tiếng dài thườn thượt: “Làm vợ như vậy là ngu! Anh mà hư như vậy là không có một xu!”

***

Dà bà con cho tui xin hỏi: “Bà con mình chịu sanh ra trong một gia đình nghèo tiền nhưng giàu tình yêu; hay hơn là sanh trong một gia đình giàu tiền mà chỉ toàn là bọn điên điên, ruột thịt với nhau mà cứ lăm lăm mần thịt nhau để mà chia gia sản?”

“Rồi quý em mình còn trẻ mà lỡ sanh ra trong một gia đình nghèo mạt rệp thì quý em sẽ làm gì?”

Câu trả lời của tui là: Nếu vậy thì tui sẽ ráng kiếm cho được một em nào nhà thiệt là giàu. Ai nói: “Thực lộc chi thê như cá trê…” Thì thây kệ họ chớ.

Ðời mà: Cứ phẻ re như con bò (hổng phải) kéo xe là tui chịu hè! Có một em Úc nầy cư xử cũng giống hịt như tui đó thôi.

Chuyện rằng: Johnny trẻ, nghèo, mắc cái eo nên chưa vợ. Thình lình được ông Nội mình, già cúp bình thiếc, mới biết nghĩ tới bà con nên hứa để lại cho Johnny 50 triệu đô khi chết.

Ôi vui mừng vui hết biết nên Johnny đi nhậu để tìm ý trung nhân. Sau một tuần nhậu nhẹt tơi bời, chú chấm được một em có đôi môi mọng và gò bồng đảo hỏa diệm sơn như nữ tài tử Brigitte Bardot năm 17 tuổi.

“Ðừng thấy anh phèn, lèn èn mà tưởng anh hèn. Chỉ cần ông Nội chết là anh được thừa kế 50 triệu đô trong ngân hàng và cái lâu đài số 13 đường Toorak, khu giàu nhứt Melbourne nầy!”

Tuần lễ sau nữa, Johnny ghé tạt ngang coi ông Nội mình có bán muối chưa thì được ông Nội dắt vào phòng khách rót cho một ly rượu chát, giá tới 3,000 đô một chai, rồi bấm chuông kêu tì nữ dọn một dĩa tôm hùm lên để đưa cay.

Thì lạ thay người con gái yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu nầy giống hệt em mình đã từng gặp trong quán rượu tuần rồi.

“Nè! Johnny! Chào bà Nội đi con!” 

Tranh Bảo Huân

Bóng hồng trên sân cỏ

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 17/06/2019 

Post by Sơn râu 30 Jul 2026

Không bận tâm ngày Phụ Nữ Quốc Tế đã qua hay chưa tới? Đang tháng 6, lịch in ngày 16 là Father’s Day. Làm cha, ai cũng ít nhiều gặt hái hạnh phúc. Tôi không ngoại lệ, cậu con út âm thầm “đi đêm”, ký hợp đồng với đài TSN để bảo chúng trực tiếp truyền hình toàn bộ các trận đấu Fifa Women’s World Cup 2019 cho bố ngồi mát mà rửa mắt cảnh đờn bà so giày hì hục nguyên tháng. Ngày lễ cha mà được ngắm các loài kỳ hoa dị thảo trên thế giới về khoe sắc, toàn thân ướt đẫm mồ hôi việc vờn bóng kéo áo giật quần tại mọi đấu trường ở Pháp, há chẳng đã con mắt sao? Cho bố cảm ơn con một tiếng gọi là… trọn đạo làm cha (con lo cho tròn chữ hiếu chí ít cũng bằng trái banh da Adidas). Và cha hoài nghi có phải là con đưa ra đấu pháp muốn cột chân cha tại gia, chẳng cho ổng vui chân mò đi xem “đánh ba” ở những tụ điểm bia không ôm rậm rật gái xinh ở khu tiểu Ý Đại Lợi mãi rù quến?

Vì tranh tài có tầm mức quốc tế, bốn năm mới tổ chức một lần nên có mang chuông đi đánh xứ người buộc mỗi quốc gia phải dành nhiều thời gian sàng lọc hòng lựa ra 11 cái chuông có tiếng ngân trong trẻo lắm nội lực để vang vọng ra xa. (Tiếng chuông Thiên Mụ thì muôn đời vẫn rè, tiếng đục muộn phiền, yếu hơi trong khu vực và cái băng vải đỏ chữ vàng “Việt Nam Vô Địch” vô cớ chít trên đầu tựa vòng kim cô, mê muội đi bão rần rần cùng nồi niêu soong chảo móp méo, tất thảy chỉ nhằm đệm vào tiếng ru trẻ con bởi chúng vẫn thích nghe kể chuyện hoang đường Nghìn Lẻ Một Đêm. Đêm xứ mình vốn chôn nhiều bóng tối).

Nếu khẩu hiệu mà FIFA luôn đề ra (giăng đầy các sân vận động có sức chứa tối thiểu 10.000 người) là “Nói không với tệ nạn kỳ thị” thì đội tuyển Anh, đáng yêu ở chỗ, các cô nàng mỗi người cầm tay một tấm bìa đỏ có ghi hàng chữ trắng “Hãy trao cho những kẻ phân biệt chủng tộc cái thẻ đỏ”. Luật đá banh hay soccer (Bắc Mỹ gọi thế) hay football ghi rõ: Trọng tài đưa thẻ vàng lên nhằm cảnh cáo lần đầu khi cầu thủ vi phạm lỗi khó dung thứ. Bị dính hai lần thẻ vàng, trọng tài bèn rút ngay ra cái thẻ đỏ. Người nào không có tinh thần thể thao, chơi xấu kiểu một còn một mất thì kẻ ấy kinh qua thẻ vàng, nhận trực tiếp cái thẻ đỏ, bị đuổi ra khỏi sân gầm mặt xấu xa đi khuất mắt. Như vậy, kỳ thị chủng tộc là một tội trạng nặng nề khó chấp nhận, khó dung thứ, nhất là ở cuộc đọ sức trong các bộ môn thể thao. Đội tuyển bóng tròn nữ vương quốc Anh khi đưa hình ảnh đó ra, động lực ban đầu có thể xuất phát ở ngay thành phố London, nơi vừa xẩy ra một tấn tuồng bạo lực mà lắm kẻ đã ví “thảm kịch này chỉ có vào thế kỷ 17”. Chuyện là cô Melania Gaymonat 28 tuổi hẹn hò cùng bạn Chris. Hai phụ nữ đồng tính (lesbian) đêm 30 tháng 5 đi xe buýt trong nội thành Luân Đôn để tới Camden Town, lên tầng hai kiếm chỗ ngồi và họ biểu tỏ cảm tình bằng những nụ hôn cho nhau, cuống quít, say đắm. Một đám thanh niên 5 tên khoảng tuổi 16 đã vây lấy họ, dùng những lời lẽ tồi tệ đậm chất đường phố, đòi hai cô kia phải tái diễn cảnh tình tứ cho chúng xem. Một trong hai cô đã bị chúng thượng cẳng chân hạ cẳng tay một hồi, náo loạn xẩy tới và chúng rút đi. Nạn nhân, Melania đưa hình khuôn mặt đầy máu của mình lên Facebook: “Chúng tôi luôn bị đón nhận những ánh mắt kỳ thị, nhưng đây là lần đầu “người ta” đã bày tỏ trực tiếp cái thái độ thiếu văn hoá. Thật đớn đau…”. Thị trưởng Luân Đôn đã rất phẫn nộ, ông gọi đó là cuộc tấn công đầy bệnh hoạn và khó dung thứ. (Tin từ BBC).

Tôi ghét những kẻ kỳ thị chủng tộc, giới tính, màu da (không phải do tôi có da vàng). Tôi yêu đoá hồng Estelle Johnson 30 tuổi, hậu vệ khoác áo số 6 của tuyển Cameroon đa phần da màu cà phê nâu bóng. Nhìn qua đoàn cầu thủ Jamaica (cũng cột nhà cháy di động) xui khiến xiêu lòng trong phút giây với nhan sắc của thủ môn Sydney Schneider tuổi chỉ 19. Chân dài đúng nghĩa, thể hình thon gọn, mặt thanh tú làm tối sầm cả cầu môn. Khi đối phương dâng lên, Italy vừa thắng 5-0 chiều ngày 14 tháng 6 chẳng hạn, Schneider rõ là “cánh hoa trong thời loạn”, quay như vụ, một mình nàng dương đông kích tây khi gặp bão tố trong khung thành. Nhà dìu dắt, ông huấn luyện viên (coach) ngồi bên mép rìa sân cỏ mặt sầu khổ chảy dài. Ông mang tên thật “dễ thương”: Hue Menzies. Ông hoá thân là Huế từng chịu qua lắm phen bầm dập, sụp đổ thành quách rêu phong.

Tôi cũng không say máu thù hằn kiểu nhược tiểu thì đâm oán hận đại gia phương Bắc. Hãy khách quan mà nhìn nhận nhà nước Trung Quốc đã bất ngờ góp mặt ở giải tranh tài thế giới hôm nay bằng một đội tuyển có bản lãnh chia đều cả ba tuyến: Phòng thủ, tiếp ứng và tấn công. Tuy mặt mày chả “khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang”, có một hai cầu thủ nom như đàn ông cải trang, nhưng các nàng ngoạ hổ tàng long Trung Quốc đá rất có nét, có bài bản, mỗi cầu thủ phải làm tốt vai trò của mình; tuy vậy mộng bá vương muốn thu giang san về một mối là điều bất khả. Họ có thể đá thắng tuyển Nam Hàn nhưng e không qua lọt cửa ải có mấy nàng phù tang Nhật Bản chận đầu (không đứng chung một bảng). Kung-fu của đám con cháu Tập Cận Bình, khả năng đặt được chân vào vòng 16 rất mong manh, sớm cuốn cờ về lại Vạn Lý trường thành không kèn không trống.

Điều khó mường tượng nổi là lực lượng cổ động viên Tung-cọt từ đâu ra mà lắm thế, ngàn dặm hẹn hò tới ngồi lố nhố đông chật khán trường (giai cấp giàu có đâu mà đông vãi, vật giá bên Pháp đắc đỏ lắm mờ, rõ là chúng tiền nhiều như quân Nguyên). Cũng ngập tràn sắc đỏ, cũng la hét vang rân nhưng họ “tử tế” hơn người Việt ở chỗ họ không bê vác theo hình ảnh lãnh tụ đã chết vào trong khán trường hòng nhát ma đối thủ.

Tôi cũng thương cảm cho đội tuyển Thái Lan non yếu về mọi mặt, thể lực cũng như kỹ thuật, đã để cho USA “dội bom trải thảm” những 13 bàn thắng chẳng vị tình kẻ chân ướt chân ráo vừa tới làm quen môn túc cầu. Bóng hồng Thái Lan đúng là hiền lành công dung ngôn hạnh vượt mức quy định, họ chạy đuổi theo trái banh với tất cả nữ tính lộ ra. Ngại va chạm, không mang quyết tâm xương máu như Tàu và như vậy, họ chẳng phạm một lỗi lầm nào cả. Rất con nhà Phật, khi thay người, họ chắp tay trước ngực cúi đầu chào nhau. Tỷ số 13-0 chẳng làm họ bực tức giận dỗi, nóng mặt tủi hổ bởi họ hiểu ra điều cơ bản “biết người biết ta”. (Theo bảng sắp hạng của FIFA, Thái Lan đứng thứ 34). Trước trận đấu, hãy nhìn họ hướng mắt tới lá quốc kỳ và khi bài quốc ca trổi lên, một vài tuyển thủ đã không ngăn được dòng lệ thoát, thổn thức trong vinh dự, những giọt nước mắt hân hoan chảy đẫm khuôn mặt ngời sáng đang cố cất cao đầu. Đừng mơ những điều xa vời, khi Em ưỡn ngực ra đứng sát cánh cùng đồng đội, cả thế giới sẽ không quên gương mặt em, chừng đó không đủ để cảm thấy hạnh phúc sao? Hãy khoan đại ngôn rằng tôi nguyện chết dưới màu cờ sắc áo. Đôi chân em đang dẫm lên sân cỏ ở mọi vận động trường trên đất Pháp, chừng đó cũng đủ để thắp sáng trong lòng một niềm tin. Rồi em sẽ “đi một ngày đàng học một sàng khôn”, em được mở mắt, em nhẫm thầm “ai nên khôn mà chẳng dại một đôi lần”. Trong khu vực, những nước láng giếng đã ganh ghét cái dại em mang, đám con cháu của Phù Đổng thiên vương chẳng hạn. Bọn người này không quen xỏ giày đi xa, lại nữa chúng đào đâu ra tới 5 đô-la US để đóng “phí chia tay” cho nhà nước! Nếu được “số phận mỉm cười”, bầu đoàn sang tới kinh thành ánh sáng với hộ chiếu ma-dzê in Việt Nam, họ có cơ hội pạt-lê phờ-răng-xe nhằm mô tả đội thực dân chủ nhà: Bớp mè pa bớp, luỹ gầm luỹ gừ, luỹ măng-rê moa luỹ măng-rê toa luỹ măng-rê tút. Nôm na là La Vache qui rit? Có phải đằng ấy thích xơi phô-mai nhãn con bò cười? Bọn tớ đang cười bể bụng đây.

Kết thúc trận đấu giữa Mỹ- Thái Lan, người ta không ngớt ca ngợi tiền đạo xinh gái Alex Morgan áo số 13. 29 tuổi, một mình ghi tới 5 bàn. Thực sự, công lớn giúp đội tuyển Mỹ gặt hái thành công hôm đó đều nhờ vào sự năng động của cô hậu vệ trái mang áo số 19, Crystal Dunn, 26 tuổi người da màu. Vai trò hậu vệ, Dunn có tầm mắt chiến thuật bao quát do vậy có khi cô bao luôn vai trung phong, cô dẫn banh lên lấn đất, đã tạo ra những đường chuyền thông minh hiểm hóc khiến đối phương không kịp trở chân trở tay, giúp hàng tiền đạo thoải mái đá tung lưới. Dunn chính là một ngôi sao ẩn mặt trong đội tuyển. Người Mỹ đã từng nói cho nhau nghe: Nếu không có bóng tối làm sao bạn trông rõ những vì sao. Điều đó chẳng sai, nhưng khi đã thốt ra, nó khiến ta băn khoăn về những trường hợp cá biệt, rằng lắm khi sao vẫn hiện mọc giữa trời quang mây tạnh. Tuyển Mỹ đa số đều lớn tuổi, như tiền đạo số 10 Carli Lloyd đã 36, lứa đàn em chỉ có duy Mallory Pugh áo số 2 là sáng giá, cô đang vào tuổi 21 vàng son.

Kinh nghiệm và tuổi tác luôn là nỗi băn khoăn của nhà dìu dắt. Giàu kinh nghiệm thì đôi chân xem chừng đã yếu, ngược lại khi bạn là ngựa non háu đá bạn thường vấp phải lắm sai lầm. Ở mùa giải này, người già tuổi nhất là trung phong Formiga áo số 8 của đội tuyển Brazil, 41 tuổi. Trẻ nhất là trung phong Lena Oberdorf áo số 6 của đội tuyển Đức, 17 tuổi. Hai đội tuyển trẻ trung nhất là Chile và Spain, bình quân, san qua sớt lại tuổi họ chừng 24. Xét về nhan sắc thì Norway, Scotland, Spain, Netherlands, Sweden, Italy, New Zealand là những đội banh sở hữu nhiều bóng hồng nhất. 11 người ra sân thì có đến 4 khuôn mặt đẹp, dễ gây thiện cảm (không bàn tới thể hình có ba vòng khó kiểm chứng).

Tôi định cư ở Canada, lối suy nghĩ của tôi khác mấy người bạn sống tại Úc, tại Anh, tại Mỹ, tại Pháp, tại Đức. Đó là những ông bạn luôn đề cao tới vùng đất đang cưu mang mình, dĩ nhiên họ nhiệt tình tán dương đội bóng nữ của quốc gia đang thi đấu, thay vì “Việt Nam vô địch” thì đèn nhà ai nhà ấy sáng, Úc vô địch, Anh vô địch, Pháp vô địch, Mỹ vô địch, Đức vô địch. Họ nuôi một lòng tin và cứng đầu bảo vệ cho thứ dự đoán đầy cảm tính ấy.

Tôi rất mực yêu thương Canada, nhưng ở bộ môn bóng tròn, tuyển nhà vẫn chưa đào tạo ra những chân sút ấn tượng, các “vua làm bàn” cỡ như thủ quân tiền đạo áo số 12 Christine Sinclair đang sa sút vì cô đã 36 tuổi. Hàng công chỉ vin nhờ vào đôi chân tài năng của cô Janine Beckie đẹp gái áo số 16 chạy cánh trái dũng mãnh xông xáo tuổi vừa 24. So với thế giới, tôi e là Canada khó qua được các đối thủ mạnh (có truyền thống) cỡ như Sweden, France, Germany, England, Netherlands, USA. Hiện tại họ mang quyết tâm tệ lắm phải vào vòng loại 16, những gì xảy tới sau đó còn trông chờ vào sự rủi may.

Nhìn chung, có sự khác biệt dễ nhận thấy về cách chơi giữa nam và nữ. Tuy cũng được đào tạo từ các câu lạc bộ nổi tiếng, đa số ở Anh, Ý, Tây Ban Nha giống bên nam, nhưng những bóng hồng có thói quen là hễ thấy trái banh lăn tới đâu là đâm đầu chạy lại gần, co cụm chen lấn xô đẩy hòng chiếm đoạt lấy. Có thay đổi đấu pháp, khi thì 5-4-1 thủ nhiều hơn công, lúc thì 4-5-1, lại có lần 4-3-3 hoặc 4-2-4, nhưng khi ra sân lâm trận, các đội banh nữ thường bỏ quên vai trò không chịu dàn trải đội hình ra, lớn tiếng kêu gọi nhắc nhở nhau, ơi ới náo nhiệt gây nên cuộc hý trường. Rất đàn bà con gái, hở tí là sửa tóc sửa tai, lau chùi má hoen mặt phấn, móng tay vẫn bôi sơn đỏ, thỉnh thoảng nhìn lên màn hình rộng để phát hiện ảnh hình mình xem có đặng không, môi hồng nở nụ cười vu vơ.

Cho đến giờ phút hiện tại, tạm đứng đầu 6 bảng là những đội banh:

Groups A: Pháp.
Groups B: Đức.
Groups C: Ý.
Groups D: Anh.
Groups E: Hoà Lan (Canada cũng 6 điểm nhưng vì ghi ít bàn thắng, chịu đứng sau).
Groups F: Mỹ.

Mùa giải 2019 sôi động hơn những mùa xưa cũ vì đa số các đội đều tuyển được một vài cầu thủ trẻ đầy tài năng. Tôi thử so sánh là mỗi khi họ sử dụng đội hình 4-3-3, đấu pháp đó mang lại kết quả rõ rệt. Những đội đứng đầu 6 bảng vẫn áp dụng sơ đồ ấy. Đường còn dài, có thể họ sẽ bị vuột mất, đánh rơi vị trí nhưng dẫu sao họ đã chứng minh ngay từ khi nhập cuộc về tài nghệ họ thủ đắc, từng hun đúc và tựu thành trong gian khó.

Em mang bóng lấn đường vôi
trắng da dài tóc banh nhồi một hai
cỏ vùng cấm địa chưa phai
những là xơ xác chân ai dẫm bừa
thu tay kẻo bạn đổ thừa
chạm vào oan nghiệt còi vừa ré lên
mồ hôi đổ chấm phạt đền
lạnh lùng chân sút vang rền lưới tung.

Tôi ghét nạn kỳ thị nhưng thú thật tôi chẳng có mấy tinh thần thể thao khi xem các bóng hồng chạy trên sân cỏ. Cầm lòng không đậu U-60 cũng để trí óc đi hoang, mong được làm cầu thủ Bồn Lừa (nhân vật trong truyện của nhà văn Duyên Anh), thiết tha gì quả banh da ấy, sở dĩ ta đổ mồ hôi cũng chỉ vì ham đuổi bướm vờn hoa thôi, có phơi áo cũng hả dạ, có chấn thương hai bàn tay cũng là… chuyện nhỏ.

Nghe đâu đây vừa có tiếng la ó vọng về.

Hồ Đình Nghiêm

Đường chinh chiến

Trung Hậu

Phạm Tín An Ninh    

March 9, 2022    

Post by Sơn râu 30 Jul 2026

(Đây là bút ký của một chiến binh thực thụ thuộc đơn vị thiện chiến nhất của QLVNCH, với ngòi bút sắc sảo, trí nhớ phong phú, diễn tả trung trực và sống động. Xin phép được giới thiệu đến bạn đọc)

Lời mở: Ba năm trong một đời người có thể không lâu nhưng theo bước chân của người đi chinh chiến thì dài và sâu vô hạn. Có dài hơn chăng là đêm dài đợi chờ của những người mẹ già những người vợ trẻ. Có sâu hơn chăng là ánh mắt xuyên đêm của người lính khinh binh trong giờ chờ giặc tới.
Hắn cố gắng viết để ghi lại chặng đường đã qua với cái nhìn của người lính thấp nhất để không bao giờ quên bao nhiêu máu xương của đồng đội, nhất là những người sống chưa qua tới tuổi hai mươi. Hắn cầu mong không làm buồn lòng người đã chết.

Khối Bổ Sung

Mãn khóa Dù 276, hắn được đưa về Khối Bổ Sung Sư Đoàn Nhảy Dù, chờ ngày đi tăng cường hành quân Quảng Trị. Có dịp hắn mua thêm một bộ đồ Dù và gửi thư và kèm theo tấm bằng Dù về nhà ở Huế. Hắn nhớ niềm vui lúc được Huấn Luyện Viên Nhảy Dù trao bằng và gắn cánh hoa Dù trên ngực áo.
Một buổi sáng trong tuần lễ cuối tháng chín, bốn chiếc GMC đưa bọn hắn ra phi trường Tân Sơn Nhất. Buổi sáng có mưa bay lất phất, đoàn xe vừa ra đến vòng đai phi trường thì một người lính nào đó cất cao giọng hát: “Cờ bay cờ bay oai hùng trên thành phố thân yêu…” rồi từ những chiếc xe đưa người ra trận tất cả đồng hát lên… “Quảng Trị ơi chào quê hương giải phóng…”
Mặt hắn nóng bừng với niềm hãnh diện vô biên.

(Nhảy Dù chuẩn bị Không vận ra chiến tuyến)

Đoàn xe về tiền trạm tiểu đoàn (ở Phong Điền gần Cây Số 17) chạy ngang An Cựu, ra đường Lê Lợi, qua cầu Nguyễn Hoàng. Nhìn thấy cửa Thượng Tứ hắn nhớ nhà vô hạn. Chắc lúc này gia đình ba mạ anh em hắn đã về lại cư xá Xã Tắc trong Thành Nội. Đứa em vắn số nằm lại ở Gò Cà bên ngoài vòng đai thành phố Đà Nẵng.
Xe ngang Văn Xá, thằng Oanh thằng Kiểu trườn ra thanh xe nói “xóm nhà tụi tao sau hàng tre cao đó.”

La Vang

Đường ra vị trí đơn vị bắt đầu từ cầu Mỹ Chánh. Đây cũng là điểm cuối của Đại Lộ Kinh Hoàng. Hai bên quốc lộ qua hết cả mùa hè còn đầy dấu vết tang thương. Đất cát còn nhuộm màu máu của ngươi dân Quảng Trị. Những gồng gánh, bao bì, bếp núc tang hoang bên xác người chưa được mang về chôn cất.Đám linh mới cúi đầu cầu nguyện và chửi thề…”mẹ, tụi nó tàn nhẫn thiệt.”
Về đến nhà thờ La Vang, trong lúc chờ xe M113 đến đưa ra tuyến của đại đội, đám tân binh được cho phép vào bên trong thánh đường cầu nguyện. Thánh đường đổ nát hết chỉ còn bức tường mặt trước còn đứng vững. Các tượng Thánh hai bên lối vào cửa Vương Cung cũng sập đổ, có vài tượng bị cắt ngang đầu.
Có ai đó nhắc cho hắn biết “chổ này có nhiều bom bi lắm… đừng đi lạng quạng”,

(Trận chiến Quảng Trị 1972)

Thường Vụ đại đội 92 Trung Sĩ Nhất Hoàng Văn Châu đón đoàn tiếp tế và tân binh ở bãi đậu M113. Anh Châu ra dấu cho tất cả giữ yên lặng và giải toán lẹ làng trước khi trời tối. Hắn và Kiểu về trung đội 1; Minh đi trung đội 2; Oanh ra trung đội 3; Phan Đoài ở lại trung đội 4.
Sáng hôm sau hắn đi làm ba chỉ gác đấu đời binh nghiệp. Ngồi cong lưng giữa bụi sim già nhìn ra đồi núi hoang vu hắn thật sự không biết làm gì và sử sự ra sao khi có chuyện. Trái tim trong lồng ngực đập thình thịch khi gió Lào lung lay những cành lá nhỏ. Vừa gác vừa cầu nguyện, phiên gác ba tiếng đồng dài tưởng như không bao giờ dứt.
Hầu như ngày nào đơn vị cũng ăn pháo ngày hai ba bữa nên dần dà hắn cũng kinh nghiệm và đỡ sợ hơn. Thường thường pháo 130 ly hoặc 122 ly tuy âm thanh dữ dội cọng thêm tiếng hú kinh hoàng nhưng ít chính xác. Pháo cối 82 ly mới là đáng sợ, và làm gì sau cơn pháo 82 ly tụi Sao Vàng cũng nhào vô.
Buổi chiều mấy ngày sau đó, khi hắn đang sắp sửa xong ca gác thì hàng loạt 122 ly từ bên kia Thạch Hãn ào xuống vị trí các đại đội thuộc Tiểu Đoàn 9. Hắn co giò chạy về hầm trú ẩn khi một quả 122 xé không gian hú xuống trên đầu hắn. Tiếng nổ làm hắn ù tai đất đỏ tung bay tứ phía nhưng hắn không sao cả.
Hắn cà nhắc theo toán tản thương ra bộ chỉ huy tiểu đoàn. Thường lệ thì bác sĩ Tín săn sóc cho thương binh và tùy theo vết thương nặng nhẹ cho di tản (và chắc chắn là hắn sẽ ở lại tiểu đoàn để điều trị,) nhưng hôm đó không biết sao chỉ có Minh Y tá. Minh Y Tá lau vết thương, băng lại rồi viết giấy tờ cho hắn di tản về bệnh viện dã chiến ở Phú Bài.
Sáng sớm hôm sau ba hắn ra tận Phong Điền thăm hắn. Nhìn vết thương ba hắn mới yên tâm, “mạ con lo quá…”
Một buổi chiều hắn đi chơi với Việt, thằng em trai, trên đường Trần Hưng Đạo thì bị xe Thiếu Úy Hồi chận lại. Nhìn huy hiệu sư tử đỏ trên vai là biết lính đại đội 92 liền. Năn nỉ cho về nhà lấy hành trang không xong, hắn bị thẩy lên xe ra tiền trạm và thẩy ra lại vùng hành quân.
Gần chiều tối, hắn về trình diện đại đội gặp đại đội trưởng, đích thân Tường Vi, lần đầu tiên. Tưởng bị ăn đòn thêm một lần nữa nhưng Tường Vi chỉ nhìn nó từ đầu đến chân nói “thôi nghe mày” rồi tha cho về trung đội 2, đi theo Trần Huấn.
Sau này nhiều lúc nhớ về đích thân Tường Vi hắn thấy Tường Vi không khác gì Captain John Miller trong phim Saving Private Ryan, một sĩ quan được hạ cấp kính nể và thương mến.

Đêm Nhìn Đồi Đỏ Cháy

Về trung đội 2, hắn thuộc vào tổ khinh binh, trong đó có Ninh có Liệu. Thằng Minh bạn hắn lúc đó mang máy truyền tin cho Trần Huấn.
Đây cũng là thời gian hắn trưởng thành và già dặn trong trận mạc. Mỗi ngày hắn có thêm kinh nghiệm đào hầm hố cá nhân, canh gác, nấu ăn, định hướng đường đi nước bước. Hắn học hỏi kỹ thuật phòng tuyến, gài lựu đạn, và gắn mìn claymore. So với lúc vừa chân ướt chân ráo về đơn vị, hắn đổi khác quá nhiều. Chuyện học hành cho xong bậc trung học trở thành chuyện của giấc mơ. Hai cuốn sách toán và lý hóa nằm trong ba lô biết bao lâu rồi chưa mở lại
Quần thảo mấy lần như vậy cho đến sau bốn giờ sáng, đặc công Sao Vàng, không dứt điểm được chốt Nhảy Dù, bèn kéo nhau đi. Trung đội 2 có 2 rách áo, trong đó có Minh. Trần Huấn nhìn hắn và chỉ tay nói “chừ mi mang máy cho tao.”
Tháng mười một mười hai là thời gian mút mùa lệ thủy đánh đấm lia chia trước ngày ngưng bắn (Hiệp Định Ba Lê). Ngày nào cũng đi tấp chốt, đào hầm hố, tiếp tế, tản thương vòng đi vòng lại. Quần áo và poncho lúc nào cũng ướt lạnh. Đôi giày thì năm khi mười họa mới được cởi ra; hạnh phúc nhất là được thay đôi vớ khô, mới giặt.
Người dân thành phố chắc không bao giờ tưởng tượng ra người lính Nhảy Dù hàng binh sĩ làm việc ra sao. Quần quật hùng hục cả ngày. Chen vào trong sáu giờ gác là thời gian tranh thủ lo đào hầm đào hố, lo nấu ăn, lo đi tiếp tế, và cơ khổ nhất là tản thương đồng đội. Nhiều khi chưa nhắm được mắt cho tròn giấc ngủ thì lại có lệnh zulu, đi tấp tiếp. Có ai biết ba lô lính, một cây súng M16 và 500 viên đạn, nón sắt, giây ba chạc, 8 trái lựu đạn, cuốc xẻng, bốn ngày lương thực, một thùng đạn M60 và một cây M72 nặng đến chừng nào?
Trên đường chinh chiến nhiều khi gặp bạn đôi khi gặp thù. Với hắn một ngày khó quên là khi trung đội 2 bắt làm tù binh hai non choẹt trên một ngọn đồi không tên, cách đồi đỏ chừng hai cay số. Hắn nhớ một thằng bộ đội Sao Vàng Trần Sĩ Hùng giơ tay đầu hàng khi Nguyễn Liệu dí khẩu M16 vào trán nó.
Thằng tù binh run lẫy bẩy nhưng khi biết mình không chết thì nó trở nên láu lắm. Trần Huấn giao cho hắn giữ tù binh Trần Sĩ Hùng khi trung đội bung ra thanh toan chiến trường. Lần đầu tiên đối mặt kẻ thù hắn thấy trong lòng có nhiều khúc mắc. Chẳng trói chẳng cột chi, thằng tù binh ngồi trước mặt chắc tuổi bằng em gái nó, trông hiền lành và chẳng có gì căm căm thù hận. Vậy thì ai gây ra cảnh tan nát điêu linh trên đại lộ kinh hoàng? Ai gây tang thương trên thành phố Huế trong những ngày Tết Mậu Thân?
Tù binh bắt đầu kể lể đủ thứ, xong rồi tù binh xin được thả cho nó bơi qua sông Ba Lòng về bắc. Cuối cùng tù binh chỉa thuốc lá, “thuốc lá thơm qua anh, mình hút điếu nữa nghe anh nhé.”
Sau đó không bao lâu là ngày N, trung đội 2 nhận lệnh đi tấp một vị trí quan trọng có tên giản dị là Đồi Đỏ. Đồi Đỏ, cách bờ sông Thạch Hãn vài ba trăm thước, từ đó có thể nhìn thẳng ra sông Thạch Hãn, và có thể từ đó quan sát được những vị trí depart và di chuyển của Sao Vàng phía bên kia sông.
Ba giờ chiều Trần Huấn dẫn con cái về gặp Tường Vi ở dưới chân đồi vị trí đại đội. Tường Vi gầy hẳn, hai gò má hóp xuống, hút thuốc liên miên (không biết từ khi nào, cấp chỉ huy tiểu đoàn hay gọi Tường Vi là Tường Ruby Quân Tiếp Vụ, lấy bản đồ ra chấm cho Trần Huấn những vị trí quan trọng chung quanh Đồi Đỏ. Hình như Tường Vi có nhận ra hắn vì cái đầu trọc còn nguyên vẹn lắm “thay cục pin mới trước khi đi.”
Từ vị trí đại đội, trung đội 2 zulu theo hướng 9 giờ, bọc quanh những khe đồi nhỏ rồi nhắm hướng Tango. Chưa được nửa cây số thì toán khinh binh nổ súng và lựu đạn bung ra. Thêm vào đó là mấy tràng AKs và xì ầm của B40. Bương theo dấu chân Trần Huấn, hắn thấy trong khóe mắt Nguyễn Liệu ria một tràng M16 vào một bóng áo xanh cứt ngựa đang cố len lỏi vào bụi sim già ven khe đồi vách núi. Thì ra chỉ là một chốt nhỏ Sao Vàng bung ra để làm khó dễ Nhảy Dù.
Thanh toán chốt nhí xong, trung đội hai, thay vì tiếp tục đi nhắm về Tango, phải quay lại với “mẹ cha” để trang bị lại. Tường Vi nhìn hắn đi cà nhắc bỗng nhiên đổi ý, ra lệnh Thường Vụ Châu cho người thay thế hắn. Hạ Sĩ Hồng (người tổ trưởng trong trung đội một cũ) chạy ra mang máy PRC-25 đi theo trung đội hai, chìm vào bóng chiều đêm Quảng Trị.
Hắn ngồi xuống giữa chân đồi nghiến răng cởi đôi giày. Hai bàn chân của hắn sưng vù như hai trái dưa gan; những ngón cái tím đen và gần như sứt móng. Y tá Minh rắc thuốc bột vào kẽ chân và bó băng cho hắn. Thường Vụ Châu nói hắn ra nằm chung hố với một thằng khác cũng đang bị sưng chân.Màn đêm buông xuống không lâu thi Đồi Đỏ cháy rực lên trong ầm ỳ tiếng pháo binh từ Hải Lăng bắn tới, và cối 82ly bên kia Thạch Hãn câu qua. Sau đó là tiếng súng nhỏ và tiếng lựu đạn cùng ánh lửa xanh lập lòe của B40. Từ chổ ngồi trong hố chiến đấu hắn nghe tiếng Tường Vi đang điều chỉnh pháo binh. Lâu lâu tiếng súng và tiếng đạn pháo bùng lên rồi yên lặng xuống. Cứ như vậy Nhảy Dù và Sao Vàng quần thảo nhau cho gần đến sáng. Từ hố chiến đấu cá nhân hắn thao thức nhìn về Đồi Đỏ nóng lòng cho trung đội hai. Hắn nghĩ đến từng đồng đội, Trần Huấn, Hồng, Ninh, Liệu, Luân, Hồ,… đang chọi mặt tử thần trong bóng tối ngoài kia.
Khi trời sáng Thương Vụ Châu dẫn hầu hết thành phần trung đội 4 mang poncho và băng ca đi về Đồi Đỏ tản thương. Sau cả đêm giành giật Đồi Đỏ cũng chưa thuộc về tay ai. Một nửa đồi Sao Vàng thủ; một nửa đồi Nhảy Dù nắm. Cả trung đội 2 chỉ còn bốn năm người lành lặn. Trần Huấn, Hồng và hai đồng đội nửa 703 (trong Nhảy Dù, lúc nào mà các con số cọng lại thành mười, tức là bù, tức là never never good).
Thường Vụ Châu kể lại là toán tản thương phải bò sát đất lên đồi trọc, kéo trung đội hai về bằng từng thước một. Ló đầu là bị bắn sẽ liền. Ba tiếng đồng hồ sau toán tản thương mới về lại dưới chân đồi đóng quân của bộ chỉ huy đại đội.
Hắn đi xuống nhìn đồng đội mà bàng hoàng. Trần Huân và Hồng ra đi không có chi sứt mẻ. Trần Huấn nằm quay mặt ngang, đất đỏ và máu dính đầy áo trận; vẫn còn khăn len quàng cổ. Nhìn Hồng nhắm mắt ngủ yên, hắn rùng mình tin vào số phận.
Chẳng khi nào hắn quên được Trần Huấn và kỷ niệm của những ngày đêm nằm chung trong hầm chiến đấu, chia nhau hớp cà phê và rít vài hơi thuốc lá. Trần Huấn kể cho hắn nghe những kỷ niệm của những tháng ngày sinh ra và lớn lên rong chơi bên Vĩ Dạ, trong thành phố Huế. Và những ước mơ đơn giản của một tương lai sau chiến tranh.
Có lần nó đọc trong đâu đó một lời nói đại ý như thế này: “cuộc đời phần lớn đầy rẫy chuyện bất công; những thằng giỏi là những thằng hay chết trước.”
Những ngày sau, Sao Vàng bỏ Đôi Đỏ vì đường tiếp tế của bắc quân bên kia Thạch Hãn bị B-52 cày nát. Đêm nào có B-52 dội là đêm đó hai bên nằm yên không đánh đấm.
Đầu tháng một năm 1973, tiểu đoàn 9 được rút ra khỏi mặt trận, kéo về đóng quân gần căn cứ Lữ Đoàn I ở thôn Văn Xá, chỉ vài cây số phía bắc bên ngoài thành phố Huế.
Chiến dịch tái chiếm Thành Phố Quảng Trị đến giai đoạn này được coi như kết thúc. Sư đoàn Nhảy Dù dậm chân tại chỗ chờ lãnh trách nhiệm mới.
Thời gian ở Văn Xá thật là thoải mái, mỗi ngày hắn được đi tắm giếng có xà bông thơm và ngồi phơi chân giữa nắng. Đôi bàn chân của hắn đã hoàn toàn lành lặn.
Đường từ Văn Xá về nhà hắn trong Thành Nội Huế không có bao xa. Có thoáng chốc nó muốn xin phép Tường Vi về thăm nhà một hai ngày mà không dám.
Một hôm Lê Bê (Hạ Sĩ Nhất âm thoại viên đại đội), người xứ Huế, được đi phép bốn ngày. Lúc đó Hạ Sĩ Nhất Phạm Tăng Thọ, cũng là người xứ Huế, là âm thoại viên chính, mang máy tiểu đoàn. Tường Vi nói hắn về mang máy tạm thời cho đại đội.
Khi về mang máy cho đại đội hắn khám phá ra bản thân có một năng khiếu trời cho: một trí nhớ khác thường. Hắn nhớ hết bản số mật mã truyền tin của đại đội và tiểu đoàn, nhớ từng số quân, số súng, quê quán, tên cha mẹ của mỗi người trong đơn vị. Nhờ trí nhớ này, hắn làm việc rất nhanh chóng, mật hóa và khai hóa những lệnh lạc trong tích tắc không cần phải tra bản mật mã trong đêm tối. Dần dà hắn nổi tiếng là một âm thoại viên nhớ dai nhất của tiểu đoàn. Tường Vi cũng tỏ ra tin tưởng hắn vì hắn có một sổ khả năng anh ngữ, có thể hiểu những mật lệnh bằng Anh ngữ từ các Cố Vấn Mỹ của tiểu đoàn.
Mang máy truyền tin cho đại đội tuy phải trực máy 24/24 nhưng không phải đi khinh binh hoăc tải thương ngoài mỗi ngày sáu giờ canh gác. Và thực ra mang máy, dầu không ai nói thẳng nhưng cũng biết, là “thọ” hơn những người lính khác đi đầu mũi tên đường đạn.
Khi Lê Bê đi phép về, Tường Vi vẫn giữ hắn trong công việc âm thoại viên. Lê Bê ở lại bộ chỉ huy đại đội phụ tá thường vụ và trung đội 4.
Cũng trong thời gian đó (khoảng cuối tháng giêng 1973) Hiệp Định Ba Lê ra đời. Hình như đối với Nhảy Dù tin này là tin không buồn không vui. Có người ra tin đồn mai mốt đơn vị được về Hậu Cứ. Có người bàn bạc tình hình này là tình hình chiến tranh da beo, hai bên chiến tuyến đi giành nhau chiếm đất.
Một hai tuần lễ sau, Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù về đóng quân dọc theo Sông Bồ, bên phía trái Quốc Lộ một và hướng tây tây bắc của căn cứ Bình Minh.

Trung Tá Tiểu Đoàn Trưởng Trần Hữu Phú được bổ nhiệm về nắm giữ một tiểu khu nào đó trong miền nam; Trung Tá Trần Văn Sơn (biệt danh Sơn Đui, hay là Moshe Dayan) về thay thế chức vụ. Một tháng sau đó, Trung Tá Sơn về làm Lữ Đoàn Phó Lữ Đoàn II Nhảy Dù, Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhỏ được đưa lên làm Tiểu Đoàn Trưởng.
Sông Bồ, giòng sông rất hoang dã chảy từ những khe núi A Sầu trên Trường Sơn về phía bắc thành phố Huế. Sau ngày ngưng bắn, Nhảy Dù và bắc quân giữ địa thế lẫn lộn da beo dọc theo hai bờ sông, có nơi cách nhau chưa đầy 25 thước. Đây là lần đầu tiên, hai bên chiến tuyến nhìn rõ mặt nhau mà chẳng làm gì nhau hết. Hầu như hai bên ngày nào cũng ra bờ sông tắm rửa và đấu khẩu tùm lum.
Để cho lính tráng có công việc làm hằng ngày, cấp chỉ huy Lữ Đoàn sai lính đi cắt tranh đốn tre để làm nhà cho dân. Mỗi ngày các đại đội tổ chức các toán đi rừng để kiếm tranh chặt nứa giống như đời lính thú ngày xưa…”cắt tranh đốn củi trên ngàn, hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai” (ca dao).
Thực ra thời gian này các đơn vị Nhảy Dù cũng có những sinh hoạt và văn nghệ hằng ngày rất vui. Có những ca sĩ cây nhà lá vườn bắt đầu nổi danh từ đó. Hằng tuần hắn có thêm nhiệm vụ làm danh sách mua đồ câu lạc bộ ký sổ cho các trung đội, thành ra lúc nào các chốt của đại đội cũng có đủ cà phê, sữa đặc, mì gói, kẹo đậu phộng. Mỗi đêm chốt nào cũng có những văn nghệ bỏ túi, và đặc biệt là thư từ cho các “em gái hậu phương”.
Những ngày tháng đó hắn có cơ hội gần gũi hơn với những kỳ cựu trong đại đội. Bố Già Nguyễn Văn Cảnh, Nguyễn Đoàn, Phạm Thụ, Dương Ngọc Tư, Hoàng Quang Thọ, Bùi Quốc Vinh, Vinh con, Nguyễn Văn Thân, Nguyễn Đăng Thùy, Phạm Hữu Thi, Trần Thuận, Minh và Chúc (Y Tá), Nguyễn Thanh Dũng. Vương, Vượng, Nhợ, Lẹ. Các sĩ quan trẻ thì có Thiếu Úy Trần Xuân Mỹ, Thiếu Úy Đổ Thanh Sơn, Thiếu Úy Nguyễn Văn Bình.
Nhân dịp gần Tết hắn được Tường Vi cho 48 giờ phép về thăm nhà. Lần đầu tiên hắn được phép về thăm nhà, cảm giác lâng lâng khó tưởng. Hắn nhớ một buổi chiều hắn thình lình hiện ra trước cửa nhà, mạ hắn mừng líu lưỡi la lên “tổ cha cái thằng ni…” rồi khóc.
Hắn nhớ ngày ra lại đơn vị ba mạ hắn có gửi theo hắn vài chục gói nem Huế và cuốn “Mùa Hè Đỏ Lửa” để tặng Tường Vi. Đi từ vị trí tiểu đoàn ra vị trí đơn vị qua năm bảy chốt cua cac trung đội. Qua mỗi chốt là mất ba bốn gói nem. Đến khi về trình diện lại Tường Vi thì chỉ còn Phan Nhật Nam và Mùa Hè Đỏ Lửa…

Văn Thánh

Sau những tháng ngày làm địa phương quân Nhảy Dù, Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù được kéo ra khỏi vùng hành quân về dưỡng quân ở Văn Thánh, ven bờ sông Hương, cạnh thành phố Huế.
Đây là lúc nhàn hạ nhất của đơn vị, sinh hoạt hằng ngày không khác gì một đoàn hướng đạo đi cắm trại. Riêng với hắn, thời gian này là dịp nhìn thấy nét đẹp, nét nên thơ của Huế, qua con mắt của người xứ Huế. Kim Long, Thiên Mụ, Núi Ngự Bình, Đền Nam Dao bây giờ gần trong tầm mắt. Có những buổi sáng yên bình hắn ngồi nhìn dòng sông trôi trầm lặng mà mơ ước một tương lai thanh bình hắn được trở về lại mái trường xưa.
Có mấy lần hắn và đám bạn qua bên kia sông đi tìm quán nhậu và ghẹo các cô chủ quán. Những buổi nhậu đơn giản thôi, nước mắt quê hương và dái mít non chấm muối ớt, thỉnh thoảng có thêm chút thịt từ đồ hộp quân tiếp vụ, vậy mà lúc nào hắn cũng say ngoắc cần câu bị thả lên ghe lắc lư đưa về bộ chỉ huy đại đội.
Trong thời gian này ba hắn cũng hay ra Văn Thánh thăm con, và thỉnh thoảng có những lon Guizgo đồ ăn mạ hắn gửi ra.
Cũng trong thời gian nay, Thiếu Úy Vương, một Sĩ Quan mới từ trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, được bổ sung về đại đội 92. Người sĩ quan trẻ đầy nhiệt tình tổ chức những buổi sinh hoạt đại đội có đầy đủ các bài chiến đấu ca nâng tinh thần đơn vị.
Những kỷ niệm khác trong giai đoạn ở Văn Thánh: Trung Sĩ Tâm, một lực sĩ bơi lội hạng quốc gia, mỗi ngày lội qua lội lại sông Hương không biết mệt. Thường Vụ Châu dẫn tổ chỉ huy đại đội đi vào nương rẫy đặt bẫy bắt kỳ đà. Có người nói làm như vậy sẽ bị kỳ đà cản mũi nhưng thịt kỳ đà làm đồ nhậu là khỏi chê chỗ nào.

Bạch Mã

Sau Văn Thánh, Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù nhảy trực thăng lên rặng núi Bạch Mã, phía tây Quốc Lộ 1 và phía bắc đèo Hải Vân. Nhiệm vụ của đơn vị là giữ an ninh cho cuộc bầu cử quốc gia sắp xảy ra.
Nếu không có chiến tranh thì Bạch Mã là chốn thiên nhiên đẹp vô cùng. Nhìn ở đâu cũng thấy núi đồi hùng vĩ, cây cối bao la. Hắn nhớ có những buổi sáng thức dậy thấy mây trời trùng xuống sát poncho, và nhiều đêm khuya ngồi nhìn ánh trăng huyền hoặc. Có lần hắn và thằng bạn sau canh gác nữa khuya bóp gạo sấy và hái rau cải tàu làm bữa ăn đêm. Đêm trăng sáng bình yên trên đỉnh núi có hai thằng lính trẻ ngồi mơ ước chuyện mai sau.
Ở Bạch Mã chừng được một tuần thì Tiểu Đoàn 9 lội bộ ra Quốc Lộ 1, và di chuyển về Trung Tâm Huấn Luyện Đống Đa để tập dượt quân sự và bổ sung quân số. Ở đó hắn được thăng cấp lên Binh Nhất, trở thành một binh sĩ gạo cội của đại đội 92. Đồng thời hắn nhận được huy chương Chiến Thương Bội Tinh và Chiến Dịch Bội Tinh dành cho những quân nhân đã tham gia cuộc hành quân tái chiếm Quảng Trị.
Hoàng Mộng, người bạn thân của hắn, được tăng cường về đại đội 92 trong thời gian ở Trung Tâm Huấn Luyện Đống Đa.
Mỗi ngày binh sĩ trong đơn vị tập dượt giống như thời gian ở quân trường Vương Mộng Hồng. Thỉnh thoảng anh em có dịp đi nhảy dù bồi dưỡng bằng trực thăng. Hắn nhớ cảm tưởng lâng lâng khi thấy cánh dù mình bung tròn trên trời đất quê hương.

Cảnh Dương

Sau hai tuần tái huấn luyện, Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù được trực thăng bốc lên dãy núi Cảnh Dương.
Từ đèo Hải Vân đổ xuống đi hướng bắc, qua vịnh Lăng Cô là đến Cảnh Dương. Cảnh Dương nổi tiếng là thắng cảnh mà ngày xưa vua chúa triều Nguyễn hay đến để nghỉ mát. Núi cao biển đẹp, Cảnh Dương yên bình không có dấu vết chiến tranh. Có lẽ các cấp chỉ huy chỉ muốn Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù ứng chiến gần Hải Vân để ngăn chặn quấy rối của địch trên đường đèo Huế Đà Nẵng, và cũng là thành phần trừ bị cho Quân Đoàn I ở miền trung.
Thời gian ở Cảnh Dương chẳng có gì nặng nhọc, mỗi ngày các trung đội cho con cái bung ra đi lục soát các đỉnh đồi lân cận, và ban đêm thì đóng chốt nghe ngóng những dấu hiệu lạ trong vùng. Một điều khó quên là lúc đó đại đội 92 thường hay bị đói bỡii trực thăng tiếp tế không đáp được vì sương mù dày đặc. Hắn nhớ có ngày các trung đội phải lội núi bương qua đầm Cầu Hai qua chợ Túy Vân mua đồ ăn, hoặc xuống biển Cảnh Dương thẩy lựu đạn kiếm cá về ăn cho đỡ đói.

Trở Về Quảng Trị

Tháng 8 tháng 9 năm 1973, tình hình ngưng bắn trong mặt trận da beo ở Quảng Trị đã có dấu hiệu sứt mẻ, lính Sao Vàng đã có nhiều lần lấn đất tấn công các đơn vị địa phương quân và bộ binh ở cực bắc Huế và Quảng Trị. Một lần nữa Tiểu Đoàn 9 được thẩy về tuyến đầu cạnh bờ sông Thạch Hãn.
Trở lại Quảng Trị các tiểu đoàn nhảy dù không được trang bị đầy đủ như những ngày trước khi ngưng bắn. Đạn dược thiếu. Lương thực thiếu. Pháo binh yểm trợ hạn chế 5 quả 105 ly. Lệnh ban ra là các đơn vị phải tiết kiệm toàn bộ vũ khí, đôi khi còn phải đi tìm kiếm và lượm lặt những gì bỏ lại trong chiến trường xưa.
Khi vừa vào vùng trở lại, Nhảy Dù và Sao Vàng đóng chốt sát nhau. Hai trạm gác không cách nhau hơn chiều ngang của một con đường tráng nhựa. Lúc ban đầu vui lắm, ngày nào cũng đấu khẩu nhẹ nhàng, không chửi tục không tuyên truyền chính trị. Nhảy Dù hát nhạc vàng đủ bộ Bolero cho bộ đội nghe; còn bộ đội thì chỉ còn một Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây nhai đi nhai lại cả ngày
Lâu lâu Sao Vàng có tổ chức cắt tóc cho cả hai bên. Chắc trong lịch sử chiến tranh thế giới chưa có bao giờ hai đối phương mặt chạm mặt lạ kỳ như vậy. Lúc đó hắn thường lội ra các chốt trung đội ở tuyến đầu để vào sổ lý lịch cá nhân của đại đội nên có lần được cắt tóc miễn phí. Nhìn thằng thợ hớt tóc có giọng nói Quảng Bình Đồng Hới hắn nghĩ thầm biết đâu trong những giao thông hào bên kia chiến tuyến này có bà con chú bác cô dì của hắn.
Rồi ngưng bắn và hòa bình da beo trở nên căng thẳng khi các Chính Trị Viên Sao Vàng xuất hiện, và bên kia mở loa tuyên truyền láo khoét. Nhảy Dù phản ứng bằng cắt đứt chương trình nhạc vàng Bolero, và trở lại những bài chiến đấu ca.
Hai điều đáng nhớ trong thời gian này nhớ là Tường Vi sau khi sinh con gái đầu lòng, được gửi đi học khóa Đại Đội Trưởng. Trung Úy Phạm Văn Nhơn về làm tân đại đội trưởng của Đại Đội 92.
Tiếp đó Nhảy Dù và Sao Vàng tiếp tục choảng nhau trở lại, cường độ đánh nhau càng ngày càng dữ dội hơn. Thiếu Úy Vương, người sĩ quan TVBQGVN (khóa 26) hy sinh trong một trận mưa pháo của Sao Vàng.
Thình lình Sao Vàng hoàn toàn rút quân ra khỏi chiến trường Quảng Trị, kéo về bên kia biên giới Lào. Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù cũng chuẩn bị bàn giao vùng trách nhiệm cho TQLC và zulu về hậu cứ.

Trở Về Hậu Cứ

Có lẽ lúc đó là tháng 5, năm 1974 khi Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù được trở về hậu cứ. Hậu cứ đây là trại Trần Thanh Phương, nằm trong bản doanh trại Hoàng Hoa Thám của Sư Đoàn Nhảy Dù (khu Ngã Tư Bảy Hiền trong thành phố Sài Gòn.)
Nỗi vui khó tả khi tàu bay đưa đơn vị trở về vòng trên thành phố trước khi đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất. Hầu như từ trên xuống dưới ai nấy cũng lộ chút hãnh diện trên khuôn mặt, và lâng lâng trong men say chiến thắng.
Với thành phần kỳ cựu nòng cốt, cuộc hành quân Quảng Trị là thời gian dài nhất tiểu đoàn xa lìa hậu cứ. Năm tháng trôi qua, có những đứa bé chưa bao giờ thấy mặt cha, chưa bao giờ được cha bồng ẵm. Khi đoàn xe vào khuôn viên Hoàng Hoa Thám, hình như cả trại gia binh tiểu đoàn nhộn nhịp hẳn lên. Xen trong tiếng đám trẻ con reo mừng là những lời chọc ghẹo đám lính mới dành cho các đàn anh đã có gia đình “cha về mẹ có đồ chơi.”
Với hắn và lũ bạn cảm giác khi về lại Hoàng Hoa Thám là như về lại phố xưa xóm củ, và bước chân vào trại Trần Thanh Phương là trở lại nhà; hắn trố mắt nhìn những góc đường, những hàng cây, những công sở doanh trại như lần đầu tiên bước vào căn nhà mới.
Hầu hết thành phần trong đơn vị có gia đình ở Saigon được phép về nhà. Đám con bà phước quê quán miền trung như hắn thì vào chun vào phòng ngủ của lính, mỗi thằng một giường vải bố. Lâu lắm rồi hắn mới có giấc ngủ bình yên trọn vẹn. Không gác, không trực máy, không phải thức dậy sớm báo cáo tình hình chung của đại đội qua đêm cho bộ chỉ huy tiểu đoàn…Ngoài những nhiệm vụ tạp dịch làm vệ sinh doanh trại và canh gác, đám lính hạng binh sĩ như hắn hay la cà ở các quán cafe và quán nhậu ở trong trại gia binh. Những ai khá giả hơn thì được ăn chơi ở Sài Gòn hoặc khu phố gần Ngã Tư Bảy Hiền. Nhiều lúc hắn cũng hơi buồn vì ở hậu cứ đời sống giai cấp giàu nghèo hiện ra rành rành trước mắt. Hắn và đám bạn miền trung hay quay quẩn trong doanh trại, ăn cơm nhà bàn, ngủ phòng trại lính
Một chuyện khá vui trong lúc Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù về hậu cứ là có một trường trung học ở Quận 3 Sài Gòn, trường Lê Bảo Tịnh, mở rộng vòng tay kết nghĩa. Thầy trò của trường trung học này tổ chức buổi tiệc khao quân cho đơn vị hắn ở ngay tại sân cờ tiểu đoàn. Hắn nhớ có ca sĩ tầm vóc như Duy Khánh, Chế Linh, Phương Hồng Quế đến giúp vui văn nghệ. Bữa tiệc có đủ bò bảy món và bia Con Cọp chảy dài dài.
Lính Đại đội 92 hôm tiệc liên hoan mang giày Sault nón Đỏ (lính nghèo không có nón Đỏ thì mượn ở kho Tiếp Liệu) ngồi cạnh một bầy áo trắng vui quá, mang nón đỏ tặng cho “em gái hậu phương”. Ngày hôm sau, trưởng kho tiếp liệu càm ràm với Thường Vụ là nón đỏ bị chôm mất hơi nhiều.
Thời gian ở hậu cứ, mỗi chiều lính trong các đại đội đều ra sân cờ tiểu đoàn để đá banh. Sĩ quan ban 5 đồng thời cũng có tổ chức giải đá banh cho các đại đội thi đua. Đại đội 92 ngon lành lắm, có những cầu thủ miền trung như Hiếu (Phan Rang), Lẹ (Bao Vinh, Huế), nên được vào trận chung kết với đại đội 91. Trận chung kết vui nhộn và hào hứng không khác gì một giải tranh đua lớn trong thành phố. Đại đội trưởng 92, Chinh Nhơn, nổi hứng treo giải thưởng năm két bia 33. Hai đội bóng ngang cơ nên phải kết thúc bằng màn đá phạt đền. Thằng Hiếu là cầu thủ số 1 của đại đội nên được chọn đá trái banh cuối cùng cho 92. Không hiểu vì run hay vì muốn chơi đẹp, Hiếu đá nhẹ nhàng như để làm trái chân thủ môn 91, không ngờ thủ môn 91, như cá chẳng chịu cắn câu, chụp trái banh dễ dàng.
Ban ngày ngoài chuyện đá banh là có màn học võ Taekwondo và đi nhảy dù bồi dưỡng. Ban đêm thì có sinh hoạt chiến tranh chính trị và văn nghệ lính hát lính nghe. Toán thích đi nhảy bồi dưỡng thì thức dậy sớm lên xe qua phi trường Tân Sơn Nhất bay ra tận Ấp Đồn để bung dù trên khung trời củ. Toán thích học võ thì tụ họp ở trước sân cờ học đánh đấm cùng anh em võ sĩ nhà họ Mạc. Sau phần sinh hoạt chung, lính tráng chia thành từng nhóm lang bang ở trại gia binh hoặc ngã tư Bảy Hiền. Khi đầu tháng có lương thì thôi vui biết mấy, áo hoa nón đỏ tung túa ra thành phố Sài Gòn. Lần đầu tiên hắn được đi ra đường Lê Văn Duyệt, vô chợ Bến Thành, qua cầu Phú Nhuận. Kỷ niệm mang theo của hắn là một lần theo thằng bạn về nhà nó nhậu và ăn cơm tối. Lai rai tới khuya, hai thằng linh say mèn ngủ lại; đứa em gái thằng bạn nhường chỗ ngủ, treo mùng, cho hai thằng lính. Tình của người miền Nam đậm đà giản dị
Có một lần cũng vì ham vui, hắn theo một thằng bạn trong trung đội 2 đi xe đò về thăm quê, dưới miệt vườn xa lơ xa lắc. Hai thằng mặc áo dù đi vòng quanh thăm gia đình bà con thằng bạn, quên mất là thời buổi đó chiều tối miệt vườn không có an ninh cho lắm. Sáu bảy giờ chiều ông xã trưởng kêu người chạy xuống nói các anh nên về sớm kẻo tụi nó kéo về đắp mô thì kẹt đó.
Nhảy dù sault đỏ là nhảy dù vào vùng hành quân với hoàn toàn một trăm phần trăm vũ khí và trang bị để nhập trận liền khi chạm chân xuống đất. Hắn nhớ toàn bộ tiểu đoàn có mặt ở phi trường Vũng Tàu lúc 2-3 giờ sáng với đầy đủ trang bị hành quân, và lãnh thêm dù lưng dù bụng. Hắn trong nhiệm vụ mang máy truyền tin đại đội là người nhảy ra khỏi chiếc C147 đầu tiên của đại đội 92 (kế đó là đại đội trưởng Chinh Nhơn) với ba lô, máy PRC-25, giây ba chạc đầy đủ cọng thêm một khẩu M16. Khi dù của hắn bung trên khung trời Quốc Lộ 15, hắn nhìn lên và vui biết mấy khi thấy cả ngàn cánh dù khác của tiểu đoàn trổ tròn ra, che kín cả bầu trời đất nước.
Khi xuống đất hắn phải kéo toàn bộ ba lô máy móc súng đạn và hai bọc dù về chổ tập trung bộ chỉ huy đại đội. Về đến nơi chưa kịp nghỉ ngơi gặm gúc bánh mì thì đã có lệnh xua quân càn quét dọc theo hai bờ quốc lộ, và chiếm các mục tiêu quân sự trên bản đồ thao dợt.
Cuộc hành quân sault đỏ thao dợt kết thúc ba ngày sau đó. Khi gần về đến ngã tư Long Thành thì tiểu đoàn được bốc đi thẳng về hậu cứ.

Ứng Chiến Miền Trung

Trở lại hậu cứ lần này tiểu đoàn được lệnh ứng chiến chuẩn bị cho một nhiệm vụ mới. Chưa biết chính thức đi đâu nhưng tin đồn thì chắc chắn là Nhảy Dù sẽ trở lại miền trung. Đại đội 92 ngày nào cũng tập họp hai lần. Đơn vị được bổ sung thêm các sĩ quan mới ra trường. Các trung đội tổ chức lại các tiểu đội, và bộ chỉ huy đại đội có thường vụ và thư ký mới. Mỗi lính tráng cũng chuẩn bị riêng những thứ cần dùng và quân trang cá nhân. Không khí trong tiểu đoàn trở nên nghiêm trọng. Không ai được rời khỏi bản doanh trại Hoàng Hoa Thám. Ngoài trại Trần Thanh Phương, tất cả chỉ có thể la cà trong các tiệm cafe và quán nhậu trong trại gia binh.

Trời mưa Thượng Đức

Năm giờ sáng của một ngày đầu tháng 8, 1974, Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù có mặt ở phi trường Tân Sơn Nhất. Khi ban Ba tiểu đoàn phát bản đồ hành quân cho các đại đội trưởng, hắn mới biết lần này Lữ Đoàn I Nhảy Dù đi Đà Nẵng Quảng Nam, tăng cường cho mặt trận của Quân Đoàn I ở vùng Đại Lộc Thượng Đức.
Chuyến bay đưa Tiểu Đoàn 9 đáp xuống phi trường Đà Nẵng lúc gần trưa. Hắn nhìn thấy lại bầu trời quen thuộc, những rặng núi xa xa về hướng bắc. Hơn hai năm trước hắn còn non choẹt ra đi từ khi nơi chốn này, bây giờ về lại, già dặn hơn qua hai năm trận mạc, hắn thấy trong lòng gợi lên một chút xao xuyến và một chút buồn buồn. Đám bạn cùng trường cùng lớp chắc đã vào đại học tung bay tứ xứ. Và hắn nhớ lại V, cô bạn hàng xóm láng giềng của ngày tháng cũ.
Đoàn xe GMC đưa Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù rời phi trường Đà Nẵng, qua ngã ba Cây Lang ra Hòa Khánh. Khi đến ngã ba đi Huế, đoàn xe rẽ về hướng trái theo Quốc Lộ 14, đi về Hiếu Đức.
Một chuyện khó quên là khi đoàn xe nhảy dù đến gần Đại Nghĩa thì dân chúng trong làng ùa ra đường vẩy tay mừng rỡ “Nhảy Dù về, Nhảy Dù về. Có Nhảy Dù về rồi bà con ơi!” Điều này làm hắn nhớ cảnh tượng xúc động Phan Nhật Nam ghi lại trong “Mùa Hè Đỏ Lửa” khi Nhảy Dù bắt đầu đáp xuống Hải Lăng, Quảng Trị đầu mùa hè đỏ lửa 1972.
Sau mấy ngày đóng quân chờ lệnh, Tiểu Đoàn 9 xung quân vào vùng, đi theo hai bên đường 14. Đại đội 92 là mũi dùi đi trước. Càng đi sâu hắn thấy tình hình càng căng thẳng. Làng xóm thì vắng vẻ mà trên đường xe tản thương thì đầy nhóc. Từ xa đã có tiếng pháo lớn vọng về, và trên trời có một hai L19 lạng qua lạng lại.
Khi đến làng Hà Nha 2, Chinh Nhơn gọi các trung đội trưởng và trung đội phó về nhận lệnh: cho con cái ăn uống xong rồi sẵn sàng tấp vào các cao điểm phía bắc.
Từ mặt bìa làng Hà Nha 2 đến chân đồi bắt đầu triền núi vùng Đại Lộc Hiếu Đức khoảng cách chừng một phần ba cây số, nhưng chỉ là cánh đồng ruộng lúa. Băng qua cánh đồng này giữa ban ngày thật là không dễ.
Lúc ba bốn giờ chiều, pháo binh Dù bắn trên cánh đồng ruộng lúa một màn đạn khói trắng. Đại đội 92 nhảy xuống bờ ruộng bì bõm chạy nước rút chạy qua cánh đồng. Hắn tháo cần ăng-ten máy PRC-25 cất vào ba lô giữ khoảng cách chạy theo Chinh Nhơn. Đồng lúc từ các cao điểm bên trên dãy núi, lính Sao Vàng nhả hàng loạt 12 ly 7 và hàng trăm trái cối 82 nhắm vào toán quân Dù sau màn khói trắng.
Trời đổ mưa khi đơn vị hắn qua được cánh đồng. Hắn lên máy nhận báo cáo từ các trung đội. Ngoại trừ một ít bị thương ở lại, cả đại đội 92 nhích lên chân núi làm đầu cầu cho cả tiểu đoàn. Khi trời tối thì mưa càng nặng hạt và pháo địch rơi xuống càng nhiều. Đại đội 92 đào hố cá nhân làm phòng tuyến trong đêm tối.
Tiểu Đoàn 9 di quân hình cánh quạt, với đại đội 92 là mũi dùi đi sâu nhất hướng vào đồi 383. Bên trái của đại đội 92 là đại đội 94. Đại đội 91 bảo vệ sườn cực tả. Đại đội 93 lo hông phải. Đại đội 90 và bộ chỉ huy tiểu đoàn, làm nhài cánh quạt, ở phía sau.

(Đồi 52 giữa Đại Lộc – Thường Đức)

Vùng núi đồi Hiếu Đức Thượng Đức địa thế rất là hiểm trở với từng dãy đồi cao trùng điệp. Muốn đi từ đồi cao này qua đồi qua kia phải đi xuống trũng sâu. Bước chân đi thường ngày đã trắc trở nên trong những ngày mưa trở thành khốn khó vô cùng. Ba trung đội tác chiến của 92 chia làm ba nhánh đi ngang hàng; trung đội bốn chia làm hai phần: một nửa ở lại với bộ chỉ huy đại đội; nửa kia lui về phia sau lo công việc nấu ăn và cho cả đại đội.
Thời tiết vùng Quảng Nam cũng chẳng chạnh lòng thương cho người đi chinh chiến. Trời mưa hoài và mưa hầu như liên tục. Vừa đánh vừa đi đến mục tiêu chính nên cả đại đội 92, từ trên xuống dưới, lúc nào cũng ướt nhẹp.
Đồi 383 là mục tiêu quan trọng bảo vệ cạnh sườn của cao đỉnh 1062. Sao Vàng bỏ hết sức lực và sinh mạng cố thủ ngọn đồi trong khi Nhảy Dù cũng dồn hết nỗ lực chiếm cho bằng được.
Sao Vàng nằm trong hầm chữ A kiên cố chờ Nhảy Dù đến gần là ném lựu đạn hoặc dùng 12ly7 trực xạ để phòng thủ. Các tiểu đội khinh binh của 92 báo cáo “tụi nó đặt cọc cây trước miệng hầm làm ná bắn lựu đạn bay ra xa lắm.”
Lệnh của Cửu Long là Chinh Nhơn phải đích thân dẫn một trung đội tấp 383 bằng mọi giá nên lúc nào hắn cũng mang máy đi sát nách những đợt xung phong. Một lần Chinh Nhơn và hắn đang báo cáo tình hình cho 702 thì một trái lựu đạn từ trên cao phóng rẹt xuống ngay trước mặt, hai thầy trò dzọt lẹ trước khi tiếng nổ inh tai.
Trận thanh toán đồi 383 diễn biến như sau: một tiểu đội của trung đội 2 làm trục tấn công chính để rút hỏa lực của Sao Vàng trong khi hai tiểu đội khác chia làm hai cánh bò lên hai cạnh sườn đánh bằng lựu đạn. Cùng lúc, hai cây M60 đặt bên vị trí đại đội 92 nhả đạn đều đều trên các di động trên đỉnh đồi. 12Ly7 và cối 82 của Sao Vàng cũng xối xuống vòng ngoài hầm tuyến. Từ phía xa nhìn, ngọn đồi nhỏ 383 như chìm vào lửa khói.
Phạm Hữu Thi, hạ sĩ tổ trưởng khinh binh, cởi nón sắt ra cầm tay (trên đầu chỉ còn nón nhựa), bỏ vào đó đầy lựu đạn M26, chạy nghênh ngang giữa lưng đồi, một mình một ngựa xung phong bên tay phải. Từ vị trí chỉ huy, hắn và Chinh Nhơn thầm cầu nguyện cho cái thằng “điếc không sợ súng”.
Trước khi trời tối, lính 92 hoàn toàn kiểm soát đồi 383. Một số lính Sao Vàng sống sót dzọt ra khỏi hầm bung chạy về hướng Thượng Đức.
Tổn thất của đại đội 92 tại 383 không phải là không đáng kể; phần lớn vì 12ly7 hoặc CKC bắn sẽ. Trong trí nhớ của hắn lúc nào cũng mang theo những giây phút cuối của người đồng đội trẻ Tăng Văn Năm.
Sau đó Bắc quân trút đủ loại pháo như mưa xuống đồi 383. Và đêm đó các phòng tuyến đại đội 92 đều bị đặc công bò vào thử thách. Ngoại trừ Chinh Nhơn và sĩ quan đề-lô lên máy PRC25 gọi pháo binh Dù trả đũa, tất cả lực lượng của đại đội 92 đều có mặt trong hố cá nhân, sẵn sàng chiến đấu.
Tờ mờ sáng khi pháo Bắc quân vừa dứt là văng vẳng tiếng kèn thúc quân. Chinh Nhơn nói hắn bỏ máy ra ngoài trám tuyến. Vừa ra đến hố cá nhân, hắn đã thấy ngoài phòng tuyến lay động những đầu nón cối. Trần Thuận, xạ thủ đại liên bò tới thì thào “tụi nó đông như kiến.” Tim hắn gần như nhảy ra ngoài lồng ngực.
Bỗng nhưng đất trời đen nghịt và hằng trăm tiếng nổ long trời sát ngay phòng tuyến. Pháo binh Dù từ quận Hiếu Đức Đại Nghĩa bắn tập trung (TOT) vào phía ngoài vị trí đại đội 92. Cây rừng ngã xuống ào ào trên mặt đất. Tiếng người la hét lúc đầu rõ rệt rồi lại xa dần. Mười lăm phút sau chiến trận hoàn toàn yên lặng.
Trung đội 4 và bộ chỉ huy đại đội 92 tiêu hao khá nhiều vì pháo. Bố già Nguyễn Văn Cảnh và Hạ Sĩ Phan Đoài (bạn cùng khóa Dù với hắn) mất ngay tại miệng hầm. Hắn không cần nhìn hai tấm thẻ bài cũng đọc được tên và số quân của hai người lính mang số mệnh da ngựa bọc thây.
Cùng thời điểm này, trong những trận mưa pháo tơi bời của Bắc quân, Thế Tữu, đại đội trưởng 93 bị thương nặng phải di tản; Cửu Long đưa Tường Vi, cựu đại đội trưởng 92 vào thay thế.
Đặc công len lỏi vào sau lưng phòng tuyến nhảy dù phục kích những toán tiếp tế và ẩm thực. Có lần bất ngờ một toán tiếp tế của 92 bị lọt vào tay giặc. Ngày hôm sau hai xác treo trên cành cây với hàng chữ “cảnh cáo Nhảy Dù”…
Những ngày sau đó chiến trận tuy vẫn còn xảy ra hằng ngày nhưng trong vùng hành quân của Đại đội 92 thì ít phần dữ dội hơn. Đụng độ lớn hình như dồn dập trên các đỉnh đồi cao bên cánh phải. Tiểu Đoàn 9 bàn giao vị trí lại cho Tiểu Đoàn 3 (?) và lui lại phía sau chuẩn bị cùng Tiểu Đoàn 1 và Tiểu Đoàn 8 xa luân chiến dành cho được cao điểm 1062.
Lúc đại đội 92 vừa ở đồi 383 rút ra ngoài và đang chuẩn bị lại quân số thì hắn bị sốt rét nặng. Trong người thì lạnh run mà bên ngoài da thì nóng hầm; giòng nước tiểu đậm như máu… Minh y tá đại đội phải thuyết phục lắm ChinhNhơn mới chịu cho hắn di tản ra tiểu đoàn điều trị.
Luc đang năm ở bộ chỉ huy tiểu đoàn thì bất ngờ gặp anh Lũy của hắn đang trên đường chuyển quân vào 1062 (anh Lũy, sĩ quan Thủ Đức, vừa mới ra trường bổ sung về đại đội 83, Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù.) Tâm tư của hai anh em trong lúc đó thật là khó tả, vừa lo âu, vừa an ủi và vừa bối rối.

Địa Ngục Trên Đỉnh Núi

1062 là cao độ của một cao điểm trong rặng núi giữa hai quận Đại Lộc và Hiếu Đức. Không phải là chốn cao nhất trong những điểm cao, nhưng ở đó người ta có thể quan sát được hầu hết vùng Quảng Nam Đà Nẵng. Bắc quân muốn giữ vị trí này để quan sát kỷ đường đi nước bước cho một tấn công mới cắt đứt miền trung. Nhảy Dù, nhận sứ mạng của Quân Đoàn I, nhảy vào nơi chốn để chận đứng âm mưu đó. Thêm một lần nữa, ở đây, “người lại gặp người.”

Bắc quân đưa vào trận địa các sư đoàn và trung đoàn cọng thêm pháo binh và phòng không. Quân Đoàn I đưa Lữ Đoàn I và II Nhảy Dù vào vùng nhập trận.
Trong trí nhớ của hắn. Lữ Đoàn I đưa Tiểu Đoàn 1 tiên phuông vào 1062 trước nhất, sau đó đến Tiểu Đoàn 8, và sau cùng là Tiểu Đoàn 9.
Mặt trận Thượng Đức, hay nói đúng hơn, mặt trận 1062 là một trong những mặt trận đẫm máu nhất của Sao Vàng và Mũ Đỏ. Biết bao nhiêu máu của hai bên đã đổ xuống trộn vào lòng đất; biết bao nhiêu người năm xuống, xác thịt rữa ra không còn phân biệt được ai thù ai bạn.
Trong một thời gian hai tuần, ngọn đồi 1062 thay đổi chủ biết bao lần. Sao vàng giữ; Nhảy Dù lên chiếm. Nhảy Dù thủ; Sao Vang bò vô dựt lại. Lúc nào đại pháo hai bên cũng cày nát đỉnh đồi, diện tích hai mươi thước nhân hai mươi thước. Bắc quân sử dụng phòng không 12ly7 và 37ly cọng thêm súng trường CKC bắn sẽ vào những gì nhúc nhích trên mặt đất. Nhiều đêm Bắc quân bắt loa phóng thanh đe dọa và thách thức Nhảy Dù.
Giữa tháng mười 1974, tiểu đoàn 9 được tung vào mặt trận thay thế tiểu đoàn 8. Đại đội 92 nhận trách nhiệm trấn thủ ngay đỉnh 1062, bên trái có đại đội 94, bên phải có đại đội 93. Đại đội 91 làm thành phần trừ bị ở cạnh bộ chỉ huy tiểu đoàn phía sau đó không xa.
Từ chân đồi 1062 lên đến đỉnh, lính 92 phải bò lên qua biết bao nhiêu xác chết, và cuối cùng phải chạy cắm đầu cắm cổ chừng 25 thước giữa khoảng trống và nhiều lằn đạn để nhảy xuống giao thông hào. Hắn, vì mang máy PRC 25 nên, bị những cây súng bắn sẽ chú ý kỷ, phải lăn vào trong cái hố nằm chờ cho đến khi trời tối.
Đồi 1062 ngày nào cũng lãnh đủ ba bốn lần pháo lớn bắn từ quận lỵ Thượng Đức, và Sao Vàng đêm nào đưa đặc công bò vào vòng tuyến Nhảy Dù. Lính 92 hầu hết sống dưới mặt đất trên đỉnh đồi tàn bạo. Xác người chết nhiều quá trong khuôn vi hạn hẹp nên sình thối mùi hôi không thể tưởng; và những con dòi trong xác chết bò ra leo lên đầu lên cổ người còn sống. Những chuyện tiếp tế, tản thương, vệ sinh, ăn uống đều xảy ra khi mặt trời lặn hẳn.
Đêm nào từ giao thông hào chiến đấu, hắn cũng nghe những tiếng kèn thúc quân của Sao Vàng, và trong tầm nhìn của hắn đoàn xe Molotova để đèn sáng trưng chạy từ Thượng Đức chạy về Đại Lộc.
Những ngày dài trên 1062 tưởng chừng không bao giờ dứt. Khi sức chịu đựng của Sao Vàng và Nhảy Dù cũng đã đến tận cùng, Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù thình lình nhận lệnh rời vùng lập tức. Trong một đêm mưa bụi bay lất phất, các toán kỹ thuật của Sư Đoàn Dù nhảy vào làm hàng rào điện tử (để phát hiện những di động của Bắc quân), trong khi các đơn vị tác chiến thầm lặng rút đi.
Đường đi gập ghềnh trong đêm tối đen như mực, lối đi lại ướt át nên trật chân là té lăn xuống hai bờ cây cỏ. Đại đội 92 ra đến đồi 52 gần hai ba giờ sáng, đói lạnh và mệt rã hắn ngồi xuống ven triền yên ngựa dựa ba lô và gục thiếp. Chập lâu, có tiếng y tá Minh dừng lại chích cho hăn mũi thuốc hồi sinh, và dìu hắn đi theo đơn vị.

Non Nước Ngũ Hành Sơn

Tiểu Đoàn 9 đóng quân ở Đại Nghĩa Hiếu Đức vài ngày rồi rút về dưỡng quân gần Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Nhảy Dù bên vùng Non Nước (Ngũ Hành Sơn.)
Non Nước là một trong những thắng cảnh của Quảng Nam Đà Nẵng. Trong thập niên 60, nơi đây là một địa điểm du lịch và hành hương của dân miền Trung, nổi tiếng về đá quý. Thuở nhỏ, có vài lần anh em hắn đến đây cùng gia đình, đi vào những hang động trên cao dưới thấp.
Ngày xưa, Non Nước là nơi chốn thanh bình, có mái chùa yên tĩnh; bây giờ Non Nước là một chỗ bất an, có du kích địa phương về quấy phá cho nên mỗi đêm các đại đội trong tiểu đoàn thường hay làm tổ phục kích bắt du kích và thành phần kinh tài cho Việt Cọng.
Từ chỗ đóng quân của hắn về thành phố Đà Nẵng khoảng chừng nửa tiếng mà trong đầu óc hắn lúc đó chẳng có ý tưởng về thăm lại ngôi trường củ. Đời sống của hắn lúc đó và đời sống học sinh hơn hai năm trước đây hoàn toàn khác hẳn. Ở Non Nước hắn chỉ muốn ăn, ngủ, và uống rượu say.

Bên Bờ Sông Vu Gia

Dưỡng quân ở Non Nước khoảng ba bốn tuần lễ thì Tiểu Đoàn Nhảy Dù lại phải vào vùng, lúc này nhiệm vụ đơn vị là chận áp lực của Bắc quân hướng hữu ngạn sông Vu Gia. Địa thế hành quân lúc này không là những núi non cao ngất mà là những dãy đồi nhỏ nối kết nhau bằng những trườn đồi dài như lưng ngựa.
Thêm một lần nữa đại đội 92 lại là mũi dùi tiến vào sâu xa nhất. Bên hữu ngạn Vu Gia, không có đồi núi cao và cây rừng rậm rạp như vùng 1062, chỉ có những đồi sim thưa thớt bất lợi cho phía tấn công. Đánh nhau ở đây đại đội 92 bị thiệt hại khá nhiều. Bắc quân từ những cao điểm phụ cận sử dụng 75ly không dật và cối 82ly nhắm xuống những toán quân nhảy dù đi tấp chốt.
Trong lần nhập trận này, đại đội 92 mất nhiều người hạ sĩ quan kỳ cựu như Phạm Tăng Thọ, Nguyễn Dương Ninh, Nguyễn Văn Thân, và thiếu úy Cường, người sĩ quan mới vừa bỗ sung về đại đội.
Cuối cùng Bắc quân và Nhảy Dù thu lại vị trí làm thế thủ; hai bên chỉ vờn qua vờn lại bằng đại pháo kích.
Trong một ngày gần Tết, bộ chỉ đại đội 92 thay đổi vị trí để tránh tầm pháo Bắc quân. Ngày hôm đó cũng là ngày tiếp tế, và hắn nhận được quà Tết từ nhà hắn gửi ra. Mừng vui vô hạn, mở ra hắn thấy đó là quà Tết và một lá thư của anh Lũy hắn gửi từ bệnh viện Duy Tân.
Người anh ruột của hắn, Chuẩn Úy Hoàng Văn Lũy, đại đội 83, Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù bị thương trong lúc tấp lên 1062. Một viên CKC cắt ngang ống quyển chân. Từ lúc anh em chia tay nhau lúc hắn đau sốt rét, hắn không được tin anh Lũy. Chỉ nghe tin từ các toán tiếp tế tản thương là hàng sĩ quan của Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù hầu như bị thương hay là mất hết.
Lúc chạng vạng tối ngày hôm đó, hắn đem bánh chưng bánh tét ra mời bộ chỉ huy đại đội. Đại đội trưởng Chinh Nhơn đáng lẽ ngồi chung bữa ăn lại nói thôi để đi coi phòng tuyến đã. Một phút sau, có tiếng nổ lớn cách hắn không xa. Chinh Nhơn đạp phải mìn con cóc của Bắc quân gài trong lúc đi kiểm soát vị trí. Hắn chạy ra nhìn thì thấy người đại đội trưởng và người thường vụ đại đội đều bị thương nặng. Hắn thấy rỏ ràng Chinh Nhơn mất hẳn một chân.
Cửu Long lên máy ra lệnh cho toán tản thương đi tức khắc mặc dầu trời đã tối. Hoàng Mộng, người mang máy thứ hai, đi theo toán tản thương trong khi hắn ở lại liên lạc với các đơn vị nhảy dù trong vùng để tránh đụng lầm quân bạn.
Gần nửa đêm, toán tàn thương trở về bình an. Chinh Nhơn được trực thăng vào bốc đi an toàn. Theo toán tản thương về là người đại đội trưởng mới – Đại Úy Lê Đình Ruân.
Mấy ngày sau đó, Tiểu Đoàn 9 giao vùng cho một đơn vị Dù trong Lữ Đoàn 2 rồi rút ra sau, về vùng Túy Loan Đại Lộc.

Túy Loan

Khi rút quân ra khỏi Đại Lộc lần cuối cùng thì Đại Đội 92 chỉ còn lại khoảng ¼ quân số so với lúc bắt đầu cuộc hành quân từ hậu cứ tiểu đoàn. Biết bao nhiêu khuôn mặt quen thuộc của những ngày Quảng Trị đã không còn nữa. Có lẽ thời gian đó là thời gian thấp nhất của đại đội, một gia đình thứ hai của hắn.
Một buổi chiều ngồi nhìn mây bay về từ Nam Ổ, đơn vị có tiếp tế và tăng cường. Hắn bỗng thấy trong đám lính mới bổ sung về đại đội một khuôn mặt khá quen. Chỉ cần một phút là hắn nhớ ra đây là khuôn mặt trên sân bóng rổ của trường trung học củ. Vui quá chạy ra bắt tay hỏi chuyện, hắn cũng thấy an ủi thầm nghĩ “Ít ra cũng có một người cùng cảnh ngộ.”

Giã Biệt Miền Trung

Lúc đó là đầu tháng Ba năm 1975, mặc dầu không có tin tức báo chí nhưng hắn cũng biết biết tình hình quân sự ở miền Trung đang tới thời kỳ sôi động nhất. Có điều không thay đổi là Nhảy Dù đi đến đâu dân chúng cũng rất là mừng rỡ.
Ngày 23 tháng 3 năm 1975, Lữ Đoàn I Nhảy Dù bàn giao vùng trách nhiệm cho đơn vị Thủy Quân Lục Chiến, ra thẳng đến phi trường Đà Nẵng bay trở lại Sài Gòn.
Hắn đâu có biết đó là lần từ biệt cuối cùng.

Trở Về Hậu Cứ

Trở về trại Trần Thanh Phương lần này không vui như những lần trước. Cả tiểu đoàn cắm trại 100%, sẵn sàng ra đi khi có lệnh. Đặc biệt là thời gian này Sư Đoàn Dù đang tổ chức thêm hai Lữ Đoàn mới nên trong tiểu đoàn lại thêm có nhiều khuôn mặt về mới thay thế cho nhiều khuôn mặt củ chuyển sang đơn vị mới.
Ngày 30 tháng 3 năm 1975, tin tức tư miền Trung cho biết Huế và Đà Nẵng rơi vào tay giặc. Tin tức miền Trung gây chấn động hoang mang cho đơn vị, vì rất nhiều người trong tiểu đoàn quê quán ở Quảng Trị Huế Đà Nẵng. Hắn bàng hoàng nghĩ đến số mệnh gia đình ba mạ anh em hắn; tất cả bây giờ không biết lưu lạc nơi đâu.
Một buổi tối hắn và nhóm bạn miền Trung ra trại gia binh “uống cà phê”, không biết uống cái gì mà cả đám say quên cả trời trăng; nửa đêm bò về sân tiểu đoàn bị Hạ Sĩ Nhất Hoàng Quang Thọ la om sòm và xách đại liên ra đòi bắn vào cả đám.


Đi Long Khánh.

Giữa tháng Tư 1975 Lữ Đoàn I Nhảy Dù được lệnh đi Xuân Lộc tăng cường cho Sư Đoàn 18 Bộ Binh. Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù di chuyển bằng GMC từ hậu cứ đến Trảng Bom, và từ đó trực thăng vận vào chiến trường Long Khánh.
Bộ chỉ huy Đại đội 92 bay bằng trực thăng UH1B, các trung đội đi theo những cánh chim Chinook.
Từ Trảng Bom đến Long Khánh, chiếc UH1B bay nhanh và sát đầu ngọn cây để tránh phòng không của địch. Từ trên cao nhìn xuống quê hương đang bốc khói, hắn cứ tưởng mình đang ở trong một giấc mơ. Những ý tưởng không lành cứ nhem nhém vào đầu óc, hắn âm thầm đọc mấy lời kinh cầu nguyện.

(Tiểu Đoàn 9 Dù nhảy vào Xuân Lộc tháng 4/1975)

Đại đội 92 đáp xuống Ngã Ba thị trấn, trước mặt là lửa khói của thị xã Xuân Lộc, bên trái là trùng trùng điệp điệp những đồi chuối xiêm đang chín tới, bên phải là rừng cao su xanh ngắt triền miên. Và chung quanh là vô số dân địa phương đang tìm đường tị nạn chiến tranh.
Không có thì giờ để xúc động, hắn mang ba lô và máy PRC-25 theo đơn vị nhắm hướng nhà thờ Bảo Định mà đi. Chưa được một phần hai cây số đơn vị đã “ăn” pháo tùm lum. Phía trước chính Cửu Long cũng bị “rách áo.”
Khi băng ngang vị trí của tiểu đoàn, hắn thấy 702 đang đứng dựa cây cao su ra lệnh cho con cái zulu cho lẹ lẹ. Y Tá Chúc đang băng bó vết thương ở cổ cho 702, và 701 đang chửi thề loạn xạ. Đâu có ai ngờ vết thương của 702 là từ màn đạn cối 60ly bắn từ làng Giáo Xứ Bảo Định.
Trong cuộc hành quân Xuân Lộc Long Khánh, đại đội 92 không là mũi dùi đi trước như thường lệ. Lần này, vinh dự đó dành cho Đại Đội 93 và Tường Vi đảm nhận. Đêm đầu tiên ở Xuân Lộc, hắn đào hố cá nhân trong vườn cây ăn trái của cựu thống tướng Lê Văn Tỵ, nằm dưới hàng cây đu đủ.
Những ngày hôm sau Đại Đội 93, được yểm trợ bằng thiết giáp, đung nặng với Bắc quân. Địa thế lúc này là những hàng cây cao su cao lớn trong các khu vườn rộng bằng phẳng nên Nhảy Dù không tiện đánh bằng lựu đạn. Các toán khinh binh báo cáo Bắc quân treo lên cây dùng CKC bắn sẽ nên rất là khó tấp. Ngày và đêm, chiến trận gay go không ngừng tiếng súng và pháo đốn ngã những tàng cây xanh lá.
Khi cuộc tấn công để nuốt chửng Xuân Lộc Long Khánh coi như không thành công, Bắc quân đổi chiến lược thành bao vây lực lượng Nhảy Dù.
Đột ngột, buổi chiều ngày 20 tháng 4, Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù nhận lệnh cho con cái sẵn sàng băng rừng rút quân trong đêm tối. Tất cả mọi người đều cột trên ba lô một bao gạo sấy để dễ nhìn ra trong đêm tối.
Chín mười giờ đêm, đại đội 92, theo chân tiểu đoàn, yên lặng rời vị trí. Đường đi tối đen nư mực, loáng thoáng là vệt sáng của bao gạo sấy, hắn nghe tiếng nhịp tim và tiếng giày của người đi phía trước.
Quá nửa đêm Đại đội 92 mới đến Ngã Ba Tân Phong. Đến đây hắn thấy người dân Xuân Lộc Long Khánh đã gồng gánh tụ tập đầy đường, sẵn sàng di tản, đi theo con đường Liên Tỉnh Lộ 2 xuôi Nam về hướng Bình Ba Bình Giã.
Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù lãnh nhiệm vụ bọc hậu, đi bộ trong rừng song song với con đường bỏ hoang đã từ lâu. Đại đội 93 đi đầu; đại đội 92 là đơn vị đi sau chót. Khoảng 10 giờ sáng, Bắc quân chận phục kích phía đuôi của đoàn quân ở gần thung lũng Gia-Rai. Tuy hai Đại đội 93 và 92 phản ứng mau lẹ đẩy lui đám Bắc quân, nhưng đơn vị cũng có một vài mất mát. Báo cáo từ Đại đội 93, đại đội trưởng Tường Vi bị thương nhẹ ở chân.
Đại đội 92 thầm lặng làm cái đuôi cho đoàn quân di tản chiến thuật. Từ những con lối đi nhỏ trong rừng đến những con đường đất, ở đâu hắn cũng có cảm tưởng là có rất nhiều đôi mắt nhìn theo từng bước chân của Nhảy Dù. Có lần, hắn phải nhanh nhẹn chạy băng qua con đường đất lớn dẫn lên một ngọn đồi, ở đó có lô cốt quan sát của Việt Cộng, cắm cờ ba màu có sao vàng chính giữa…
Đoạn đường có lẽ dài gần hai mươi cây số. Khi về gần đến Bình Ba thì Nhảy Dù hết nước uống. Trời nóng và khát nước làm từ trên xuống dưới ai cũng hoa mắt và tưởng như không còn đi nỗi. Măy mắn thay, sau, khi mặt trời vừa ngã bóng thì Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù từ Bình Giã đem nước uống và lương thực kéo ra đón Tiểu Đoàn 9.
Hắn ngồi xuống bên đường, một mình uống nguyên một nón sắt nước đá lạnh.
Đêm đó tiểu đoàn tạm đóng quân trong rừng cao su ở Bình Ba; ngày hôm sau được xe đưa về Phú Mỹ, một xã ấp trên Quốc lộ 15, phía Tây Bắc của thị xã Phước Tuy.
Khi về đến Phú Mỹ hắn mới biết là tình hình chung của miền Nam đang đến thời kỳ thê thảm. Trên quốc lộ 15 có nhiều xe chở người tị nạn chiến tranh từ miền Trung vào. Hắn và thằng bạn học cùng trường đi hỏi thăm từng chiếc xe “có ai từ Huế, có ai từ Đà Nẵng, có ai biết…” rồi thở dài thất vọng.
Hai ngày hôm sau, Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù tập họp trong sân trường Trung Học Phước Tuy tham dự buổi tiệc do Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam khoán đãi. Buồn nhiều hơn vui, hắn không nhớ bữa ăn đó ra sao.
Gần nửa khuya đêm 27 tháng 4, cả tiểu đoàn có lệnh moc vô đi vào thành phố Phước Tuy tử thủ. Từ bên ngoài thị xã, đại đội 92 chia thành những nhánh quân đi dọc theo dãy phố. Với hắn đây là lần đầu tiên chiến đấu trong thành phố. Có bao nhiêu hiểm nguy đang chờ ở từng ngỏ hẻm, từng góc phố.
Tin từ các trung đội cho biết T-54 của tụi nó đầy trong đường phố, không đủ M72 để bắn. Lệnh từ sĩ quan ban Ba tiểu đoàn “các đại đội tự quyết định… Tan Hàng Cố Gắng”.
Đại Úy Ruân không lưỡng lự “mày nói con cái dzọt về hướng Vũng Tàu”.
Khi hắn và bộ chỉ huy đại đội 92 ra khỏi lòng thị xã Phước Tuy thì Bắc quân pháo dữ dội trên trục lộ chính đi về phía Vũng Tàu. Hắn thấy trên đường đầy xác người dân chết và bị thương. Không do dự hắn tấp vào khu lao sậy bên đường đi băng về hướng cầu Cỏ May.
Sông Cỏ May bọc bên ngoài bìa thị xã Bà Rịa không rộng lắm nhưng cũng sâu lút đầu và nước cuốn khá mạnh. Khi hắn và đám lính trong trung đội 2 tìm được chỗ qua sông thì cũng nhào qua đại. Hắn mang PRC-25, dây ba chạc và ba lô đến nữa dòng sông thì chìm lĩm. Một thằng nào đó la lên biểu hắn thả ba lô. Hắn thả ba lô mà cũng không trồi lên được, nên cũng đành thả luôn máy PRC-25 trôi theo giòng nước. Trồi lên chìm xuống uống nước cho đã mà cũng chưa tới bên kia bờ. Lại thêm một lần may mắn, ở bên kia bờ sông, thằng bạn học cùng trường cao lớn hơn nhanh trí tháo dây nịt thẩy ra cho hắn chụp.
Qua được sông Cỏ May thì hắn hoàn toàn tay không, gia tài của hắn, máy PRC-25 và ba lô mang tên tuổi của đơn vị và nhật ký hành quân trôi đã theo giòng nước cuốn.
Buồn bã hắn theo Trung đội 2 tiếp tục đi. Khoảng chừng trăm thước thì gặp Tường Vi và Đại Úy Trần Ngọc Chỉ, sĩ quan ban Ba, đang ngồi trên một chiếc M113. Đại Úy Chỉ đưa cho hắn một máy PRC-25 mới bảo hắn bắt thẳng vào tần số liên lạc với Lữ Đoàn; đồng thời Tường Vi đưa cho hắn một cây M16.
Trở ra đến đường Quốc lộ, hắn ngồi phơi nắng cho khô bộ quần áo ướt. Có một người phụ nữ đang quang gánh tản cư dừng lại đem cho hắn hai bao thuốc lá rồi thầm lặng bước đi.
Lữ Đoàn I Nhảy Dù và một chi đoàn thiết giáp tổ chức tuyến phòng thủ bên này cầu sông Cỏ May. Đại đội 92 tập họp lại ở khuôn viên nhà nghỉ mát của cựu tướng Nguyễn Khánh, và chia các trung đội đi theo bảo vệ thiết giáp.
Ngày 28 tháng 4, Bắc quân gửi các toán dọ thám bò qua sông Cỏ May nhưng bị trung đội Nhảy Dù đánh bật lại. Ở chân cầu Cỏ May, các toán Công Binh Dù gài TNT để sẵn sàng giật sập cầu khi có lệnh.
Đêm 28 tháng 4, tiếng xe tăng T54 của Bắc quân đã gần đến bên kia cầu. Bên này cầu chi đoàn thiết giáp cũng sẵn sàng khạc lửa. Trong căng thẳng đó, hai chiếc M113 bất ngờ nhã đạn không ngừng vào bóng đêm trước mặt, suýt nữa bắn lầm vào bộ chỉ huy đại đội 92 đang phòng thủ bên cạnh đó.
Ngày 29 tháng 4, hệ thống liên lạc của Lữ Đoàn I Nhảy Dù bỗng nhiên bận rộn hơn. Trên không có tiếng máy bay rõ rệt. Tin đồn là bây giờ Bắc quân có cả Không Quân.
Khoảng 2 giờ chiều, toàn bộ Nhảy Dù và Thiết Giáp rút về Vũng Tàu. Trên đường từ cầu Cỏ May về, đám nằm vùng Việt Cọng ngang nhiên đem B40 ra đường nhắm bắn vào thiết giáp. Một chiếc M113 chạy trước mặt hắn bị B40 xước ngang hông, hai người lính nhảy dù rơi xuống đất nhưng không bị thương, được chiếc xe theo sau kéo lên đi tiếp.
Khi Đại đội 92 về đến Vũng Tàu, hắn thấy thành phổ vô cùng náo loạn. Đạn pháo 130ly và hỏa tiển 122ly của Bắc quân đang được đề lô điều chỉnh bắn vào khu chợ Lồng và Bến Đá. Có vài đám cháy bùng lên trong dãy phố.
Nhảy xuống xe M113, hắn chạy theo Trung đội 4 và bộ chỉ huy đại đội cắt ngang khu lồng chợ thẳng ra Bến Đá. Đang chần chờ phương hướng thì một quả 130ly đâm xuống mặt đất trước mặt hắn không đây 15 thước. Sau tiếng nổ inh tai và tiếng la hét, hắn tiếp tục chạy về phía trước, có hai thân xác áo hoa dù bị đứt ngang. Ai đó nói thằng Thuận ca sĩ và Trung Sĩ Nhận bị dính rồi.
Ngoài Bến Đá đông đúc các loại tàu đánh cá của dân địa phương. Lần lượt các tàu này quay đầu vào bến để bốc Nhảy Dù. Hắn thả cây M16 xuống nước, cột chặt máy PRC-25 lấy đà nhảy qua một chiếc tàu vừa lướt qua cách bến hơn một thước. Một chân đáp xuống sàn tàu một chân rớt ra ngoài, hắn măy mắn chụp được cái phao cột ngang sườn tàu leo lên vào giây phút chót.
Năm mười phút sau, khi tàu lềnh bềnh trôi xa, hắn nhìn lại thấy Vũng Tàu như trong biển lửa, có những chiếc xe M113 còn chạy dọc theo bờ Bến Đá.
Trên chiếc tàu đánh cá đưa hắn đi có khoảng hơn mười người. Chưa đi được bao lâu, về hướng Sài Gòn, thì tàu vô nước nên tất cả phải lấy nón sắt ra mà tát. Gần nửa đêm có chiếc tàu đi biển lớn hơn chạy ngang vớt nguyên cả đám.
Sáng ngày 30 tháng 4 khi đoàn tàu về ngang ngõ vào sông Sài Gòn, tình hình của miền Nam đã tới lúc không còn cứu vãn. Khi nghe tin đầu hàng trên máy PRC-25, Lữ Đoàn I quyết định kéo về Vùng 4, đoàn tàu đi thẳng luôn về hướng Gò Công.

Gò Công

Về ngang Gò Công, Lữ đoàn Trưởng Lữ Đoàn I Trung Tá Nguyễn Văn Đĩnh, trao lữ đoàn cho Lữ Đoàn Phó Trung Tá Lê Hồng, đi đường bộ về Sài Gòn để mang gia đình đi theo. Trung tá Lê Hồng giữ đoàn tàu lại, hứa sẽ chờ người chỉ huy cho đến sáng hôm sau.
Đại đội 92 nhân cơ hội xếp đặt một toán tiếp tế theo Thiếu Úy Trần Xuân Mỹ vào bờ đi kiếm thức ăn và nước uống. Hắn mang máy truyền tin tình nguyện đi theo. Trong chợ Gò Công chẳng còn ai buôn bán nên toán tiếp tế ghé vào nhà dân, xin ra giếng múc đầy mấy can xăng đựng nước.
Từ bảy giờ chiều ngày hôm đó hắn ngồi áp máy vào tai nghe tin tức. Đến nửa khuya, Trung Tá Lê Hồng cho biết mất liên lạc với Quân Đoàn 4, và có thể đoàn tàu sẽ đi ra đảo Phú Quốc.
Hai giờ sáng ngày 1 tháng 5, khi biết không thể chờ đợi thêm tin tức gia đình Trung Tá Đỉnh,Trung Tá Lê Hồng lên máy ra lệnh cho “tất cả ZuLu.”
Đoàn tàu lênh đênh gần suốt cả ngày thì ra đến hải phận quốc tế. Khi từ buồng lái tàu bước ra, hắn ngạc nhiên nhìn chân trời đen nghịt tàu chiến trong Hạm Đội Số 7 của Hải Quân Mỹ, và tàu chở hàng thương mại. Tự bao giờ, dân Sài Gòn đã lên chật đầy trên những sàn tàu đồ sộ
Lúc đó hắn chợt biết rằng con đường chinh chiến hắn đi từ gần ba năm qua đã tới chỗ tận cùng.

Mới ngày nào năm người lính tân binh nao nức về đơn vị; bây giờ chỉ còn một mình hắn, bồng bềnh trên biển cả, tiếp tục ra đi.

Trung Hậu

Ngày Chiến Sĩ Vô Danh, 2020

Chú Thích
702 – Hay còn gọi là Cửu Long Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 9.
701 – Tiểu Đoàn Phó
703 – Tử thương
Rách áo – Bị thương
Tấp – Xã láng, tapi, tấn công vào vị trí giặc
Zulu – Di chuyển

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 30 Jul 2026

Trong một đất nước khốn khổ đầy tai ương, chiến tranh với bao điều chết chóc, tù tội, chia lìa, đói khát, nhục nhằn … đã làm người Việt Nam, ai không có một lần khóc, nhưng ít người được khóc sung sướng vì đoàn tụ, hạnh phúc trong suốt một cuộc đời bất hạnh của mình. Hôm nay, người viết bài này, bỗng thấy đôi mắt mình cay cay và những giọt nước mắt bắt đầu chạy quanh trong khoé mắt khi nhìn một tấm ảnh nhỏ, một cột, khiêm nhường trên trang nhất của tờ Việt Báo tại Quận Cam, đó là bức ảnh chụp bà Võ Phương, một phụ nữ thuyền nhân tại Phi Luật Tân, nước mắt ràn rụa đang ôm người ân nhân của mình, Luật Sư Trịnh Hội, trước giờ lên phi cơ đi định cư.

Trước đây không lâu tôi đã có dịp xem và xúc động về tập ảnh “The Forgotten Ones” (Những Người Bị Bỏ Quên) của nhiếp ảnh gia trẻ tuổi Brian Đoàn, chụp những hình ảnh trong ngôi làng “không một nụ cười” của những người Việt Nam tuyệt vọng bị giam lỏng tại Phi Luật Tân trong suốt 16 năm trời. Tôi điểm qua tập ảnh này dưới nhan đề của bài báo là “Ngôi Làng Buồn Thảm” và thật xúc động, qua nửa vòng trái đất nghĩ tới những con người cách đây mười sáu năm mang niềm hy vọng ra đi, giờ chôn chặt cuộc đời nơi cái làng hẻo lánh, phiền muộn này. Ở đây, mở đầu cuốn sách là con tàu bể nát trên bờ biển và kết thúc bằng những ngôi mộ ngổn ngang trong nghĩa địa, nơi chấm dứt cuộc đời và chôn sâu dưới lòng đất bao nhiêu hy vọng của một đời người. Ở đây là hình ảnh những đứa trẻ không tương lai, những người già biết chắc mình sẽ phải chôn vùi thân xác trong nghĩa trang càng ngày càng nhiều ở đầu làng, những người buôn thúng bán bưng trên vỉa hè của một xứ sở không khá gì hơn đất nước họ đã bỏ ra đi. Thế mà hôm nay, chuyến bay đầu tiên đã tới Miền Đất Hứa mang theo 229 đồng bào của chúng ta. Tiếc là không còn nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng nơi đây để hát lên cùng nhau rằng: “có tin vui giữa giờ tuyệt vọng”. 1,600 người trong số 2,000 người tại Phi Luật Tân đã được chấp thuận định cư tại Mỹ và sẽ lần lượt đến đây sống cuộc đời tự do, được đối đãi tử tế trong vòng tay của thân thuộc và đồng hương. Từ 16 năm qua, nhiều thuyền nhân đã mong mỏi ngày hôm nay mà họ nghĩ khó lòng đạt tới, cũng như đã hơn 10 năm qua, những người có lòng đã hy vọng có ngày vui này. Như tự do không bao giờ cho không, để được có ngày hôm nay với 1,600 người Việt Nam bị bỏ quên trong cái gọi là … “Làng Việt Nam” được định cư tại Hoa kỳ, những người thiện nguyện đã bỏ ra bao nhiêu tiền bạc công sức, chưa nói đến chuyện đôi khi họ muốn nản lòng vì những con đường đi của họ cũng lắm chông gai bởi những thế lực cản đường.

Tôi chưa bao giờ quen biết hay tiếp xúc với người luật sư trẻ tuổi mang tên Trịnh Hội nhưng đã nhiều lần nghe bạn bè và giới truyền thông nhắc tới tên anh. Nếu như tôi là song thân của người con này, tôi cũng muốn con tôi lớn lên có bằng cấp, hành nghề kiếm tiền và làm giàu càng tốt, lấy vợ và sinh một đàn cháu kháu khỉnh cho tôi. Khi tôi được biết thêm, Trịnh Hội là con trai duy nhất trong gia đình, lòng tôi lại càng thấy khâm phục hơn về những gì mà gia đình Trịnh Hội đã hy sinh. Có cái gì thôi thúc mãnh liệt con người trẻ tuổi này, bỏ gia đình, bỏ đất nước mà anh đã tới định cư và cưu mang giúp đỡ cho anh trở thành một người khoa bảng, để tới những vùng đất khổ đau xa xôi như Hồng Kông, Thái Lan phục vụ cho tha nhân. Đó là một con người có lý tưởng. Sự phục vụ này không phải là một cuộc giải trí cuối tuần, một việc làm ngắn hạn, hay là một hành động bốc đồng khởi đi từ một ý niệm bất chợt nào đó. Trong xã hội hiện nay của chúng ta, hai chữ “phục vụ” đã bị lạm dụng một cách trắng trợn, như khi chúng ta nhờ tới một dịch vụ mà chúng ta phải trả tiền nào đó trong đời sống, kiểu “tiền trao cháo múc”, chúng ta cũng bị gọi là “được phục vụ”.

Có những người Việt tốt nghiệp từ các trường đại học danh tiếng, lấy danh nghĩa “phục vụ cộng đồng”, nhưng thực tế họ muốn về “nấp bóng”, sống nhờ với bà con trong “ao nhà” lâu nay vẫn có tiếng hiền lành, dễ tính, “trăm sự nhịn chín sự lành”, không thích đôi co, khiếu nại, kiện tụng như những sắc dân khác, mà thực tế chưa bao giờ những người này hy sinh chút tiền bạc hay công sức xây đắp cho cái “ao nhà” được mỗi ngày mỗi tốt đẹp hơn. Cái tên Trịnh Hội không thấy liên hệ gì với những vụ đụng xe, thương tích hay kiện tụng, nó là nguồn hy vọng của những người tưởng chừng như đã tuyệt vọng. Nó biểu hiện cho những gì tốt đẹp nhất của đời sống mà chúng ta gọi là “bác ái” hay “từ bi”.

Không như nhiều người trẻ tuổi khác đã quên hẳn quá khứ, quên họ là ai, vì sao họ đến đây, chúng ta còn có hằng trăm thiện nguyện viên trẻ tuổi có học, đã từ các vùng đất xa xuôi như châu Úc, châu Âu, châu Mỹ không chỉ có mục đích học xong để kiếm tiền sớm, làm giàu và sống an nhàn trong các thành phố lớn. Theo lời kêu gọi của lương tâm và quá khứ, họ đã tìm đến những người khó khăn, bất hạnh, để ít ra trên đời này con người còn có thể tin tưởng vào những gì gọi là sự tốt đẹp của đời sống. Tất cả các cộng đồng người Việt trên thế giới hôm nay đang nhìn về Los Angeles, nơi chuyến bay đầu tiên, biểu tượng cho sự tự do và bác ái vừa hạ cánh. Nếu không có mười năm tranh đấu bền bỉ của cộng đồng Việt Nam, nhất là cộng đồng Việt Nam tại Úc, không có tấm lòng của những con người như Trịnh Hội, tất cả các thiện nguyện viên, các nghệ sĩ, giới truyền thông báo chí và tấm lòng bao dung của những người đi trước không quên quá khứ, số người việt Nam này sẽ phải chết mòn trong sự vô vọng. Trong muôn vàn ngổn ngang của thiên tai, chiến tranh … nước Mỹ một lần nữa lại giang bàn tay đón nhận những người Việt Nam mất quê hương. Những giọt nước mắt tri ân của những con người bất hạnh đối với những người đã lặn lội từ các nơi tìm về “ngôi làng bị bỏ quên”, đã khiến chúng ta nghĩ rằng cuộc đời này vẫn còn quá đẹp, và thế giới còn được tỏa sáng với lòng nhân ái. Chúng ta cũng hy vọng rằng, những người đến Mỹ hôm nay, tuy là chậm, nhưng cũng là những người đi trước đối với những đồng bào của chúng ta còn thiếu may mắn hơn mình. Đừng như “con sáo sang sông … “.

Giọt buồn mưa sa

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 29 Jul 2026

Rời khỏi trại đón xe về quê mẹ

Con đường xưa còn nguyên gió bụi mù

Chiếc xe than trườn đi chậm chạp

Như thời gian đằng đẵng chốn lao tù

Ra khỏi trại ta như là trăm tuổi

Chẳng còn gì của người lính năm xưa

Hơi thở đau nhịp rền giữa ngực

Trên hình hài không phải là ta

Bồi hồi nhớ rừng khuya mù sương khói

Rét căm căm nằm co quắp thở dài

Thương mẹ sinh thằng con thời loạn

Cầm súng đi lâu chẳng thấy về

Nhớ thằng bạn không bao giờ về nữa

Gò đất hoang khép một cuộc đời

Rồi ngày sau người thân còn ai nhớ

Đem bạn về yên nghỉ ở miền Nam

Bồi hồi nhớ rừng khuya mù sương khói

Rét căm căm nằm co quắp thở dài

Thương mẹ sinh thằng con thời loạn

Cầm súng đi lâu chẳng thấy về

Ta trở về bạn ngàn năm ở lại

Lá rừng thu theo năm tháng lên đầy

Nghe dế giun hát bài ca thiên cổ

Buồn hay vui rồi cũng sẽ tàn phai

Trời thị trấn chiều nay mưa buồn quá

Ta cô đơn ngồi dưới mái hiên nhà

Thấy nỗi buồn bay giữa trời tơi tả

Tương lai nào trong những hạt mưa sa

Tương lai buồn như những giọt mưa sa.