This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Mỗi người Việt Nam mình là một nhà thơ! Nhưng không phải chỉ mấy anh mới biết làm thơ thôi đâu nhe. Mấy em cũng biết làm thơ và làm thơ rất tới!
“Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No. Anh có thương em thì mua một chiếc đò. Ðể em đi lại mua cò gởi thơ” là của mấy em đó thôi!
Tranh Bảo Huân
Ðêm cuối năm sầu lưu lạc! Nhớ quê nhà quá đỗi, tui bèn tẩn mẩn đem câu hát ru nầy ra chẻ nhỏ gặm chơi. Tui săm soi từng chữ coi có bớt được chút nào nỗi buồn xa xứ hay không?
Trường Ðại học Văn Khoa, môn ‘Ca dao Giảng luận’ Thầy tui, ngày cũ, cho rằng: Thơ truyền khẩu của ông bà mình là Ca dao, (từ Hán Việt). Ca có chương khúc, có vần, có điệu để hát và tấu (đàn hòa theo). Dao là bài hát ngắn, không có giai điệu, chương khúc.
Nhưng tui hổng có chịu cách cắt nghĩa tréo ngoe như vậy! Vì tui cho đây là lời hát ru của ông bà mình vốn làm ruộng mà đâu có học chữ Hán, chữ Tàu; nên không cần viết theo thể phú, thể tỉ, thể hứng gì ráo của mấy ông Tàu.
Lời hát ru đa phần là buồn quá mạng, tất phải có vần có điệu cho nó mùi, cho nó dễ nhớ, dễ thuộc. Câu lúc dài, lúc ngắn. Gieo vần có lúc ở giữa (yêu vận) có lúc ở cuối câu (cước vận); rồi vần với chữ tiếp theo sau là liên vận lên trầm, xuống bổng.
Nhưng tui hổng dám cãi; vì sợ thầy ‘quạu’ đeo cho bài thi của tui hai cái hột vịt!
***
Cái Răng
‘Chợ Cái Răng xứ hào hoa. Phố lầu hai dãy xinh đà quá xinh. Có trường hát cất rộng thinh. Ðể khi hứng cảnh thích tình xướng ca!”
Cái Răng là cái Cà ràng. Người Thổ (Khmer) ở miệt Xà Tón (Tri Tôn, Châu Ðốc) nơi có đất sét tốt, làm cà ràng, nồi, ơ, trách, chất đầy một ghe, chở xuống vùng đất nầy bỏ sỉ cho vựa nó bán. Năm dài chày tháng, cái vùng đất chuyên bán mấy cái ‘cà ràng’ nầy được gọi là Chợ Cái Răng.
Cà ràng hình số 8. Một đầu vách lú lên cao, chắn gió, để lửa không tạt ra ngoài để cơm mau chín, canh mau sôi. Tới cái eo thắt lại đủ chỗ đút vô vài ba cây củi. Xong lại phình ra chang bang, đối xứng với cái đầu trên. Trước khi lấy lá dừa khô nhúm lửa, mình cào tro còn sót lại ở trên đầu cà ràng xuống; không cho tro rớt ra ngoài.
Nhớ hồi Má tui đi coi vợ cho tui, vô nhà người ta mà Má cứ xăm xăm xuống bếp làm như ở nhà mình vậy. Tui hỏi: “Chi vậy Má?”“Thì tao coi cái bếp có sạch hông mới cưới nó cho mầy. Chớ cái bếp mà bung thùa cắt cái, mầy cưới về thì con vợ mầy chỉ biết nấu nước sôi”.
Má tui thiệt là bà già Trầu mà. Nếu em yêu hổng biết nấu cơm canh gì ráo thì tui đi ăn tiệm còn ngon hơn nữa, có sao đâu nè?
Ba Láng
Láng là vùng đất thấp. Mùa khô láng đầy bùn nhão nhẹt khó đi. Mùa nước nổi, láng nước tràn linh láng; xuồng ghe phải vẹt bèo mà đi. Dân cư thưa thớt; chỉ muỗi, đỉa, vắt thì nhiều. Một Láng đã khổ như vậy thì Ba Láng ắt phải khổ gấp ba.
3.Vàm Xáng
Còn cái Vàm Xáng là ngã ba sông, nơi thằng Tây nó đem xáng vào để đào kinh: Một là dẫn nước ngọt từ sông Hậu vô để rửa phèn cho dân làm ruộng, lập vườn. Hai là đem phù sa sông Hậu bồi đắp cho những vùng đất trũng. Ba là tiện bề đi lại bằng đường thủy. Bốn là chợ búa sẽ mọc lên, buôn bán ì xèo, kinh tế phát triển.
Kinh Xáng mới đào, Tàu Tây mới chạy. Thương thì thương đại, Bớ điệu chung tình! Con nhạn bay cao khó bắn, Con cá lội dưới ao quỳnh khó câu!’
Xáng chạy bằng hơi nước thoát ra từ nồi ‘súp de’, chụm bằng củi tràm, củi đước sắp sẵn dọc trên bờ nơi xáng đào sắp tới.
Xáng là con quái vật khổng lồ, máy nổ ầm ầm vang xa năm ba cây số. Xáng mạnh tới 350 mã lực với gàu bằng sắt, múc sâu tới 9 thước, được 375 lít, thổi bùn ra xa đến 60 mét.
Mấy thằng Tây làm cai, đứng cao trên xáng, hò hét chỉ huy đám ‘cu li’ người Việt. Trong số ‘cu li’ đó cũng có nhà thơ đã đặt ra câu hát ru truyền khẩu buồn nẫu ruột gan là: “Ðèn treo dưới Xáng tỏ rạng bờ kinh. Em có thương anh thì nói cho thiệt tình. Ðừng để anh lên xuống một mình bơ vơ”
Xà No
Vùng đất tên Xà No (Srok Snor) vì có nhiều cây điên điển. Ðất rộng người thưa, hoang vu chưa có chủ, nên hai thằng Tây Duval và Guéry xin chánh quyền thực dân Pháp cho đào con kinh Xà No. Toàn quyền Lanessan (1891 1894) cho đấu thầu ở Paris năm 1893.
Năm 1901 bắt đầu đào kinh Xà No tới tháng 7, năm 1903 là xong. Quân nhạc từ Sài Gòn xuống thổi kèn đồng tò le, tí le. Cả bọn gồm Toàn quyền Paul Beau (1902 1918), đám quan chức địa phương, thân hào nhân sĩ có máu mặt xúm nhau ăn nhậu, khui sâm banh lốp bốp; lại có cả nhảy đầm.
***
Con kinh mới cắm “bông tiêu”, xáng chưa nổ máy… chưa đào mà Toàn quyền Paul Doumer (1897 1902) đã ký nghị định số 338 ngày 14, tháng Hai, năm 1901 cho không hai thằng Tây Duval và Guéry 2,500 mẫu đất tốt hạng nhất (tọa lạc tại làng Nhơn Nghĩa, tổng Ðịnh Bảo, tỉnh Cần Thơ)
Ðiền Tây mướn bọn cựu lính Pháp có súng ống hẳn hòi làm cai điền. Tá điền nào bê trễ việc đong lúa ruộng, hoặc lén lút bắt trộm cá, tôm; ít thì bị bạt tai, đá đít. Nhiều thì giải lên Nhà việc đóng trăn rồi ra hầu Tòa.
Những người nông dân đó đã đổ mồ hôi sôi nước mắt mà vẫn bị mạt hạng cùng đinh có câu hát ru buồn rười rượi:
“Phải chi tôi ở nhà gạch nhà lầu? Mỗi năm xâu thuế hai đầu cũng cam! Phải chi tôi làm chú lái, ông bang? Mỗi đêm ra dỏ canh làng cũng ưng! Tôi nghèo cháy nóp chai lưng…Úy trời đất ơi! Sao không để tôi đi làm thuê làm mướn? Ðặng sống cầm chừng với vợ con!”
Rồi những người Việt theo bợ đít Tây như Tổng đốc Phương được 2,223 mẫu, thuộc các làng Hỏa Lựu, Hòa Hưng, Vĩnh Hòa Hưng.
Còn bọn hương chức hội tề chạy chọt, đút lót cho Tây thì giành đất mặt tiền, “đất mứt”, (sát bờ kinh) lấn bà con dân ngu khu đen vào tuốt bưng biền.
Xưa giờ nơi nào có hơi tiền là có Chú Ba tới hè. Nhiều nhà máy xay lúa, chành lúa mọc lên. Ghe chài từ Chợ Lớn kéo xuống ăn lúa, đậu đầy nghẹt cả một khúc sông. Chợ được chánh quyền sở tại cất lên để thâu huê chi, buôn bán ì xèo.
Lỡ một cục đất chọi chim cũng không có… thì đành: “Ngồi trên mui ghe chài lớn. Cầm lái về kinh xáng Thới Lai. Nhìn thấy khói đốt đồng mù mịt lên khơi. Bây giờ anh mới biết chán đời đi ghe”.
Mà sao ông anh chán đời đi ghe đến vậy? Chẳng qua là trên ghe rày đây mai đó. Nếu có vợ rồi cũng đâu được đem theo, trừ con vợ của thằng Chủ ghe chài cho theo để nấu ăn cho cả bọn.
Nếu còn cu ki, chưa có em nào, là thôi rồi Lượm ơi! Ðành: “U Minh, Rạch Giá thị (thiệt) quá sơn trường! Gió rung bông sậy dạ buồn nhớ em”. Hu hu!
Làm ruộng thì không có đất. Ði ghe thì buồn thiệt! Nhưng thôi đừng có dại dột mà nghe lời soạn giả Ðiêu Huyền xúi bậy đi theo VC như nhân vật Thừa trong tuồng ‘Tiếng Hò Sông Hậu’ nhe mấy cha!
Tôi đeo sac à dos sau lưng. Ra đi phải mang ba-lô, quần áo cứ thế chêm vô. Tôi mua một vé đi métro lắc lư chạy tới bến xe đò, tự hỏi mình về nguồn gốc chữ ba-lô. Vì sao lại Tây ba-lô nhỉ? Có Việt ba-lô chăng? Lắc lư con tàu đi. Tàu ấy là tàu hoả, tàu điện hay tàu thuỷ? Trên đất hay dưới nước? Chắc chẳng phải là tàu bay lượn trên không trồi sụt những mây chập chờn.
Đi về những địa phận khác thì có lắm người sắp hàng, riêng quầy bán vé Québec thì tôi là người đứng thứ ba, sau một bà già và sát cái va-li to tướng của một trung niên râu ria xồm xoàm. Khứ hồi hay sao? Người ngồi sau tấm kính hỏi tôi. Không, vé lẻ. Tôi trả lời và đút ba tờ 20 vào cái vòm cung khoét dưới tấm kính ngăn chia. Số bạc lẻ mà người mặc đồng phục màu xanh vừa thối cho tôi không chắc sẽ mua được một ly cà phê. Dầu gì thì chất nước không dùng để giải khát ấy là thứ mà tôi cần dung nạp. Bạn thấy đó, ở sân ga, ở bến tàu, ở sân xe đò, ở phi trường, kẻ lữ thứ thường dùng cà phê để đè nén bao bồi hồi, lắm xúc cảm. Lại phải đối mặt với cô hàng cà phê: Lớn? Trung bình? Nhỏ? Tôi nhìn mặt hoa da phấn đang được tẩm hương thơm không phải cứt chồn. Trung bình, xin vui lòng. Và phụ chú thêm: Loại dark, strong. Plus fort possible. Đắt đỏ quá. Cà phê ở bến xe thường không mấy ngon, nhưng họ có lý do chính đáng để bán giá khác thiên hạ. Sắp lên đường mà, chín bỏ làm mười đi mà, phân bì kiện tụng đưa ý kiến làm gì cho ngày mất vui, sir!
Mông-xừ lạ mặt ôm ly cà phê đi ra ngoài trời. Trời nắng, thứ nõn nà của dương quang vừa thức giấc. Lá cây xanh biếc cũng bừng tỉnh, đêm qua hình như sương có về. Không gian dựng đặt một hình khối hư ảo, nó khiến tôi nhớ Hàn Mặc Tử: Sao anh không về chơi thôn Vỹ? Xa xứ lạc bước đến nơi này, tôi vẫn xem Québec là một thôn Vỹ tưởng tượng dù có thắp đuốc hai hàng cũng chẳng tài nào ngó ra một ngọn cây cau, một hoa bắp lay bên sông có dáng con đò sẵn lòng chở ánh trăng về đúng với hẹn thề.
Đây về thôn Vỹ mất hơn ba tiếng, chưa kể dọc đường phải dừng ba nơi để đổ người xuống đón khách lên. Liên tỉnh lộ thênh thang, hút mắt những cánh đồng không biên giới ẩn hiện những căn nhà tạo ra từng vệt màu nóng trên bức tranh thẫm xanh làm trôi bớt sự buồn tẻ điệp trùng. Một đàn bò ơ hờ gặm cỏ, đôi ba con ngựa chạy loanh quanh. Những chiếc máy cày được phủ bạt và đàn chim đậu trên dây chùng trông như những nốt nhạc chưa hoàn thiện, khó trỗi nên cung bậc du dương. Tất cả câm lặng vì xe đò dường như có trang bị hệ thống cách âm. Ngay cả khi lao thân dềnh dàng đi, tiếng động cơ cũng không việc gì phải gầm rú. Êm ái, rù rì, dễ làm mắt ríu lại.
Tôi đứng lên với tay moi bọc hành lý để nhặt ra cuốn sách nhàu cũ mang tựa “L’ile d’espérance”. Một kỷ niệm vàng úa Diane trao tay trước hôm từ giã Québec. Diane là cô giáo dạy Pháp văn ở ngôi trường COFI, cánh cổng học đường đầu tiên dành cho bọn di dân đa chủng tộc trọ trẹ ú ớ tấp vào. Cô tận tuỵ, chí tình chỉ bày và hơn bốn năm chia lìa tôi chưa ngốn xong cuốn tiểu thuyết của Erich Maria Remarque. Tôi đọc nhát gừng, chắp vá với cuốn từ điển Pháp-Việt tuy vậy vẫn cảm được cái không khí tan vỡ, đố kỵ, lạc lõng, mất niềm tin mà tác giả bày ra qua nhân vật Ernst Grâber, người lính trẻ được về phép từ mặt trận bên Nga. Diane đã rào đầu tuy cùng một tác giả nhưng cuốn “A l’Ouest rien de nouveau” hay hơn. Tôi thưa, hình như hồi còn ở quê hương, bậc trung học tôi đã từng xem qua, dưới tựa “Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh”. Và tôi đã chết mê chết mệt. Ở xứ tôi chiến tranh liên miên, ác liệt, gà cùng một mẹ đá nhau chết bỏ nhưng chưa có ai đủ nội công để vẽ nên một cảnh sắc bạc tình vô lý đớn đau kèm chút thơ mộng tựa Remarque. Xe đò mỗi lúc một thu ngắn dặm trường, Québec miền Tây Bắc biết có yên tĩnh như ngày xưa?
Tôi không là một quân nhân Đức được hai tuần phép về lại thành phố tan hoang bom đạn, tôi chỉ là một di dân mà Québec ngày đó đã mở ra cánh cửa đầu tiên, rộng lòng đón nhận, dạy dỗ nuôi nấng. Cho cơm ăn, cho áo mặc và cho tấm lòng vàng son của Diane thiết thân chia sẻ. Khác biệt không gian thời gian hoàn cảnh, khác tất. Nhưng lạ lùng là tôi đang mang tâm trạng gần giống như Grâber, hoài nghi chen lẫn bồi hồi. Nhân vật ấy về căn nhà cũ bị đánh sập, tìm bố mẹ thất lạc ở trung tâm tiếp cư, ở nhà thương, ở trường học, thậm chí chạy ra ngoài nghĩa trang để nhìn mặt từng tử thi. Còn tôi tự lục soạn trong đầu ra từng địa chỉ, bốn năm hẳn đủ dài để Diane thay đổi số phận trên chính quê hương mình? Tóc nâu luôn bối lên, cái ót nhiều lông măng, sợi dây chuyền đánh rất nhuyễn để đeo một mặt ngọc xanh hình thể như một giọt nước. Nước rơi lưng chừng giữa đường khe chia lìa đôi vú không mấy lớn, áo nịt ngực mang số A-34. Tiếng Pháp mang nặng thổ âm, luôn nói chậm rãi cho các “trò” bắt kịp, thông hiểu. Tôi mê đắm lời thơ Jacques Prévert khi Diane cất tiếng giảng về một bài học nằm ngoài giờ. Alicante:
Une orange sur la table Ta robe sur le tapis Et toi dans mon lit Doux présent de la présent Fraicheur de la nuit Chaleur de ma vie.
Bến xe đò ở Québec có nới rộng, sửa sang, nâng cấp. Một khách sạn 3 sao nằm kề còn mới màu vôi, cờ tỉnh bang màu xanh nước biển in hình 4 bông huệ trắng phập phồng ở đỉnh cột vắng gió. Việt ba-lô đứng với thân chao khi cảnh cũ ập tới mang nhiều đổi thay. Từ đây về trung tâm thành phố nếu không dùng taxi thì băng qua bên kia đường, vào lồng kiếng đợi chuyến buýt mang số 11 ghé ngang, và tội gì phải gọi taxi. Xe buýt sẽ chạy vòng vo lắc léo ở các con đường, mất thời gian một cách vô lối, phí phạm để đánh đổi một lộ trình bình thường chẳng quá bốn lăm phút. Nhưng đã có hành khách là tôi đang mềm lòng hoài niệm, tôi muốn nhìn lại đủ mọi góc cạnh về nơi chốn tôi dầm mình trong hơn hai năm. Dịu dàng tươi mát trong đêm và cuộc sống tôi từng đón nhận sự ấm áp không diễn tả được bằng lời.
Ngôi trường đã đổi thay bảng hiệu, Mái ngói bạc màu như ngân sách tỉnh bang hết hào phóng nuôi dạy bọn người tứ xứ. Tốn kém cả trăm điều, bạn nên hiểu cho. Hỏi về một cô giáo tên Diane, tầm 40 tuổi, cao 1m 70 nặng 52 ký là chuyện bất khả. Chúng tôi không phải cảnh sát và nếu là police thì họ đề nghị bạn nên mang theo một tấm ảnh, mất chừng non tháng, hy vọng thế, chúng tôi sẽ tìm ra một bóng chim tăm cá. Cây xăng nằm ở góc đường vẫn chưa di dời. Tiệm tạp hoá gần bên cũng mang diện mạo loè loẹt như cũ. Một nhà giữ trẻ đối mặt với “kẻ thù” muôn đời có sức thu hút những đứa đầu xanh vô tội: McDonald’s. Tôi từng được nhận vào đó làm người phục vụ đồ ăn nhanh có mặc đồng phục tươm tất. Chỉ đúng một tuần vì trình độ giao tiếp với khách hàng của tôi quá thấp. Đang học tiếng Pháp và tiếng Anh thì đi đong kể từ hôm người bạn đồng minh nhẫn tâm tháo chạy. Nghe tôi bị đuổi, Diane an ủi theo cách của cô: Toi bị từ khước tới 10 lần thì đến lúc đó mới có cảm nhận đúng đắn về một cuộc sống xa lạ. Đừng nản, niềm tin là thứ chúng ta không thể để vuột trôi. Yêu một người cũng thế. Đam mê hoặc niềm tin đôi khi là hai chân phải trái mỗi ngày bạn cất bước xuống đường. Dọ dẫm rồi sẽ có lúc vững chải.
Tôi chẳng thích quan điểm của Diane, tôi không trang bị niềm tin nào cả. Cái tôi cần là một công việc và được trả lương mỗi thứ năm hàng tuần. Ba ngày sau tôi vào xin việc ở quán ăn có tên gọi lạ thường: “Con Mèo Bị Cảm”. Chủ quán người Ý, đã ba đời cắm dùi mưu sinh ở đây. Ông nheo mắt ngắm tôi: Ông nội tao khởi nghiệp bằng nghề rửa chén lúc 19 tuổi, 25 thì phụ bếp. 32 thành bếp trưởng và 45 tuổi ổng mở ra cái nhà hàng này. Mày tin không? Rửa chén thời buổi này sướng thấy mồ, có máy phụ đỡ một tay…Tuần lương đầu tiên tôi nhận được trong đôi tay bắt đầu biến dạng. Hai bàn tay đã tự nó đoạn tuyệt với giấy bút. Nước nóng, dầu mỡ, xà phòng, thuốc khử trùng, bùi nhùi, lọ nồi mãi bày binh bố trận để tôi ngập đầu vật lộn trong ma mị. Tôi bắt đầu quen miệng chửi thề, những từ ngữ mà chính Diane cũng không thông hiểu về nghĩa đen, nghĩa bóng. Tabarnak, chữ ấy làm gì có trong tự điển Larousse. Và dường như nó dễ phát âm hơn chữ Je t’aime.
Chân mỏi dừng đứng ở một ngả tư, lòng đang phân vân tôi chợt ngó ra một tấm bảng hiệu. Tấm bảng thật xấu, từ màu sắc cho đến cách đặt để những con chữ lộn xộn. Nhưng vì xấu, nó phô bày một sự gợi mời. “Quán Đồng Hương. Đặt Biệc PHỠ”. Một thương hiệu lạc loài, nó chẳng màng lỗi chính tả. Miễn bà con cô bác hiểu điều chúng tôi muốn nhắn nhe là vui rồi. Tôi vui chân băng qua đường. Dạo tôi còn ở đây, thành phố chỉ có duy một cái chợ thực phẩm Á Châu nhỏ xíu, điều này gây khó khăn không ít cho ai kia nuôi mộng mở quán ăn đậm đà bản sắc dân tộc. Phỡ này chẳng biết có giống món Phở đặc thù của người Việt? Không cứ là ban đêm, đôi lúc ban ngày nhà ngói cũng giống như nhà tranh vậy! Và bạn tin không, vàng thiệt gặp lửa cũng phải sợ. Thứ gì mà chẳng ngán bà hoả. Ba má tôi mất sau 75, ông bà nói: Thà mà bị cháy nhà cho cam! Chiến tranh ròng rã mấy chục năm không sứt mẻ, đợi hoà bình tới mấy ổng ngang nhiên vào soán đoạt căn nhà dấu yêu kia. Khi không mà mình trở thành kẻ đầu đường xó chợ, và quy luật khách quan đã diễn ra, song thân tôi chết không nhắm mắt dưới tấm khẩu hiệu “độc lập, tự do, hạnh phúc”. Tôi hằng tin những kẻ “Việt ba-lô” như tôi sống tản mác ở bốn phương trời cũng do 6 chữ vàng ấy xua đuổi đi (một đêm không trăng sao).
Quán không có thực khách, có hai cô gái ngồi cuốn chả giò, vừa làm việc họ vừa trao đổi về một cơn lụt lịch sử đang tác hại ở quê nhà. Giọng họ thật thản nhiên khi nói tới sự tổn thất quá lớn, nhân mạng, trâu bò gà vịt, mùa màng cũng như nhà cửa bị nhấn chìm trong mưa lũ. Tôi hiểu điều gì đã khiến lòng họ nguội lạnh khi nhắc về chốn xưa. Họ sẽ giỏi tiếng Pháp hơn tiếng mẹ đẻ, họ sẽ “merde” nếu tôi bảo chữ phở nên là dấu hỏi hơn dấu ngã. Lớp người họ thuộc loại thịt ba rọi. Đành vậy, nửa nạc nửa mỡ.
Ai đã đan tâm lấy đi một nửa thịt nạc của họ vậy? Và tôi, xương thịt này cũng là một thứ tái nạm gầu đó thôi.
Mấy người ạ? Một cô đứng lên khi thấy tôi bước vào. Chao ơi, phải mà tìm ra cô Diane nhỉ? Hai người. Chưa khi nào tôi nói được chữ đó. Tôi đã đánh rơi lời thề, rằng có ngày sẽ tự mình nấu cho cô ăn món bún bò. Tôi không trông mong đâu. Diane nói, rửa chén ở đó thì bất quá bạn chỉ nấu được món spaghetti là cùng. Dạ, chú thích ngồi ở đâu cũng được ạ. Tôi nhìn quanh và tôi đến ngồi dưới một bức tranh vẽ cảnh đò trôi trên sông với bóng chiều tà. Một bức tranh thuộc dạng “bờ hồ”, có nghĩa là chẳng mang chút nghệ thuật nào ở đấy cả. Vẽ là vẽ vậy thôi, bất biết những điều cơ bản cần có khi gia công. Mặt bàn có vuông kính dày, tấm thực đơn được ép mình bên dưới. Chú ăn gì ạ? Tấm màn sáo ngăn chia được vén mở, một người đàn bà từ sau bếp hiện ra ở đó, có lẽ vì nghe tiếng chào hỏi khách. Tôi nhìn bà ấy, mường tượng chính bà là người chèo đò trên giòng sông trôi xuôi về hoàng hôn. Đò chưa tấp bờ đã vội xắn quần leo vào triền cỏ. Cỏ lưa thưa, mọc cao thấp chút nhớ chút quên. Chút hoài nghi chút xác tín. Tôi đang tự giận mình khi nghĩ mãi vẫn chưa nhớ được một danh xưng. Soan, đúng là Soan, S chứ không phải X. Hoa Soan chớ không là hoa Xoan. Học chung lớp với tôi và theo như cách đánh giá của Diane: Một học trò kém!
Soan trông có già đi, bằng chứng là gương mặt ấy đã nương nhờ vào lắm mỹ phẩm, hoặc thời mới sang chưa có tiền để “nâng cấp” mặt mày? Soan đang vận dụng bộ nhớ, một học trò kém không hẳn là kẻ luôn nhớ trước quên sau. Cách Soan biểu lộ sự ngạc nhiên khiến hai cô gái phải sớn sác chú mục tới vị khách không mời. Săm soi, dọ hỏi, hoài nghi. Tôi ngồi ở cái bàn có hai ghế, một ghế tôi đặt đít và ghế đối diện chễm chệ cái ba-lô. “Ra đi không mang ba-lô, quần áo cứ thế cắp nách”, đó là ngày tháng cũ của một thằng người vượt biên, thậm chí nó chẳng có gì để cắp nách ngoài một nỗi sợ hãi về canh bạc cầm chắc sự thua lỗ, từ chết tới bị thương đếm không xuể, canh cánh bên lòng. Đến được bờ bãi tự do, chí ít hắn phải nên sắm một cái ba-lô để đi đây đi đó (ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn!). Muốn ngồi chung bàn với tôi Soan phải kéo lê một chiếc ghế lại gần. Ôi, lâu ngày quá! Bấy chầy phiêu bạt nơi đâu? Đã lập nên công trạng gì chưa?
Tôi nhìn Soan, thầm nghĩ là mình yêu cái tên ấy quá. Tôi cũng yêu khuôn mặt trái soan của Diane. Chẳng biết hoa soan có đẹp không? Và hương mùi nó mang có đằm thắm?
Tôi vui lòng trả lời tất cả những vấn an của Soan, để đáp lại tấm thịnh tình tôi chỉ hỏi duy một câu: Có phải bà là chủ nhân quán này không? Giọng cười của Soan vỡ ra, phải nhiều nội lực mới tạo được một chất lượng tựa thế. Giọng cười quyền uy của một bà chủ. Gọi thức ăn chưa? Uống bia nhé? Mình đón mừng cuộc hội ngộ. Tôi ngắm người thiếu phụ học chung khoá Pháp văn kéo dài trong bốn tháng. Chỉ cần quen biết trong ngần ấy tháng ngày, tình cờ khi gặp lại, người đó sẵn lòng khao đãi bạn và gọi “đón mừng cuộc hội ngộ”. Tôi cảm động: Hồi nào quán cần người rửa chén đổ rác nhặt rau thì nhớ gọi tôi nhé. Tôi giàu kinh nghiệm việc ấy, nhớ không?
Soan đánh vào vai tôi: Mình không biết đùa, ghi số điện thoại trước rồi sẽ ưu tiên giải quyết cho. Quán đang cần sự góp tay của đàn ông.
Tôi đùa, được làm việc ở đây thì xem như lập được công trạng rồi, “đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt”. Nhạc trong quán vừa trỗi bài hát ấy và tôi bè theo. Soan sửa thế ngồi: Tin được mấy phần? Lặn lội về đây có mục đích chi không? Tôi nắm lấy chai bia ướp lạnh mà cô tiếp viên vừa mang ra: Uống nước nhớ nguồn, tôi về thăm trường cũ, thăm cô Diane. Họ tốt với mình quá. Soan vẫy tay làm hiệu, người con gái đang cuốn chả giò ngưng công việc để tiến lại gần. Ngồi tiếp chuyện với chú này đi, tao lui sau lo ninh nồi phở cái đã. Con Trúc này là học sinh sau cùng của ngôi trường vắn số ấy.
Soan đứng lên Trúc ngồi xuống. Tóc che nửa mặt khi Trúc chùi những ngón vào cái tạp dề ca-rô xanh trắng. Tôi hỏi: Trúc có học với cô Diane không? Không, khi cháu vào học thì cô ấy vừa thôi dạy. Trường có tổ chức một buổi tiệc nhỏ với sự đóng góp của các học viên, tự mang lại, giới thiệu những món ăn đặc sản của quốc gia mình chung vui làm bữa tiễn đưa cô Diane. Trúc có biết lý do cô ấy nghỉ dạy? Nghe nói cô bị bệnh nặng, cô muốn về sống gần gia đình. Là rời khỏi Québec? Dạ, ba má cô ở phía cực bắc. Họ mang hai giòng máu, một nửa của thổ dân giống như người Esquimau vậy. Bộ chú không biết sao?
Tôi uống hết chai bia, hèn gì gương mặt Diane luôn thu giữ một nỗi buồn trầm lắng, lôi cuốn. Chút hoang dại cọng với niềm u ẩn ta thường nhìn thấy đọng chiếu trong những cặp mắt của những người không thích hoà mình vào văn minh thành phố. Họ khép kín, họ sẽ hân hoan chừng nào họ bắt gặp một khoảng trời rộng cho dầu trắng toát bạt ngàn giá băng. Tôi hiểu do đâu Diane luôn rộng lòng với những người di dân, những kẻ tị nạn như tôi. Cô hạnh phúc khi còn có chốn quay về, cô thương tôi vì tôi từng là đứa vô tổ quốc. Hắn đang ngồi trong quán Phỡ sai lạc dấu và hắn biết đã thực sự vuột mất cô. Hắn chưa đọc xong cuốn “Một thời để yêu một thời để chết” mà cô trao tặng nhưng hắn ngầm hiểu cái kết thúc bi thảm buộc phải tới của tác phẩm đó.
Không ăn phở vì nghĩ là món ấy dở, tôi gọi dĩa cơm sườn bì chả do đích thân Soan động dao động thớt. Tôi thương những giọt mồ hôi rịn ướt ở chân tóc Soan khi cô mang ra cái đĩa lớn một cách cực đoan. Tôi đùa: Món Sà Bì Chưởng của Soan thâm hậu quá, ăn tới mai vẫn không vơi bớt sáu phần hoả hầu. Cho mình gửi tiền. Tầm bậy. Soan nạt. Biết có còn nhìn thấy nhau bận sau mà vẽ vời. Chúng tôi ôm nhau một lát như ngày cuối kết trúc khoá học để mỗi người một hướng lìa xa. Ngày ấy Soan có hôn bên má tôi nhưng hôm nay thì không. Cô hỏi: Bây giờ vác ba-lô đi đâu? Phía Bắc mênh mông chi xứ biết đâu mà tìm. Thôi cứ thu cất một kỷ niệm đẹp, gặp lại người xưa thêm buồn vì người xưa đang thập tử nhất sinh. Tôi đánh liều hôn vào môi Soan, chỉ để ngăn Soan đừng nói. Soan xô tôi ra: Bậy bạ quá! Hồi nào hết đường đi thì trở lại đây, chắc chắn là không cần người rửa chén đâu.
Tôi cúi đầu. Thấy cái ba-lô không dưng nặng quá. Tôi sẽ trở lại một ngày xấu trời nào đó, việc đầu tiên tôi sẽ bắt thang lên nhúng cọ vào lon sơn để viết lại chữ Đặc Biệt Phở kẻo chúng bạn cười, khi dễ Việt ba-lô. Tôi sẽ lùng sục vào internet, đăng tải một lời cầu mong: Muốn gặp lại cô Diane bất kể cô ở ngàn trùng cách biệt. Quý vị nào hay tin xin chỉ bày, thành thật cảm ơn.
Tôi ra bến xa đò. Đi Montréal. Một vé lẻ. Xin vui lòng. Tôi mua một cốc cà phê. Hoàng hôn đổ xuống trên Québec nhiều bóng tối. Tôi sẽ về tới chốn tôi nương náu lúc nửa khuya. Mùa hè vẫn có từng cơn gió lạnh chạy vụt qua. Qua nhanh hơn cả mộng mị. Nhức buốt. Québec, Je me souviens.
Cuộc chiến ba mươi năm kết thúc, nhưng chỉ làm cho đất nước điêu linh, dân tộc khốn cùng, kéo theo bao chia ly tan tác. Trước tháng 4/1975 hầu hết những người trai trẻ miền Nam là lính chiến. Nếu may mắn sống còn qua thời lửa đạn, cũng từng phải khốn cùng trong ngục tù cộng sản sau ngày bại trận oan khiên. Ra tù, tứ tán trôi dạt muôn phương, ngỡ không bao giờ còn gặp lại bạn bè đồng đội cũ. Vậy mà dường như đất trời thương xót, hồn thiêng sông núi chở che, run rủi bao cuộc trùng phùng bất ngờ, cảm động, như họ vừa cùng tái sinh ở một thế giới nào khác.
Tôi gặp lại Hà văn Kỳ trong tình huống ấy. Anh trung sĩ trẻ từng làm trung đội phó cho tôi khi vừa mới ra trường. Người Bắc di cư, nhỏ hơn tôi ba tuổi. Có lẽ nhờ lớn lên ở thành phố Đà Lạt sương mù thơ mộng và bên những vườn hoa, sản nghiệp của bố mẹ, nên Kỳ được hun đúc bao nét đẹp thánh thiện. Chân thật hiền lành, lễ phép, sống theo mẫu mực của một người Ki- tô hữu ngoan đạo. Học hành chăm chỉ nhưng chẳng may bị bệnh kéo dài, phải bỏ cả hai kỳ thi tú tài, nên bị động viên vào trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế. Ra đơn vị đã hơn một năm, nhưng đời sống quân ngũ và khói lửa chiến trường chưa làm thay đổi được tính nết quá mềm yếu, hiền lành. Đôi lúc tôi phải quát tháo, bởi Kỳ quá dễ dãi với lính, ngay cả những lúc cần phải cứng rắn, quyết liệt trước họng súng của kẻ thù. Nhưng rồi sau đó tôi lại thấy tội nghiệp, nên thường khuyên lơn, vỗ về an ủi. Kỳ cũng rất quí tôi, dành cho tôi không những tình đồng đội mà cả lòng yêu thương của tình huynh đệ. Kỳ làm đám cưới trước khi ra đơn vị. Bà xã là con gái một ông bà bạn vong niên của bố mẹ Kỳ từ ngày còn ngoài Bắc, cùng di cư vào Nam và chọn thành phố Đà Lạt làm quê hương mới. Biết vậy, nên thời gian nghỉ quân ở Di Linh, tôi thường lén cho Kỳ “dù” về Đà Lạt thăm vợ một vài hôm. Trước đó, tôi cũng thường khuyến khích và giúp đỡ Kỳ tiếp tục tự học thêm khi thời gian thuận tiện. Chịu khó và chăm chỉ. Gần đến kỳ thi, Kỳ nhờ tôi năn nỉ xin ông tiểu đoàn trưởng cho nghỉ phép đặc biệt một tháng để chuẩn bị bài vở. Trở lại đơn vị, với một tin mừng: đỗ tú tài hạng bình thứ. Kỳ làm đơn xin theo học khóa sĩ quan. Chưa nhận được lệnh gọi thì đã bị thương trong một cuộc hành quân. Khi đưa Kỳ ra một chiến thuyền của Hải Quân để tản thương, tôi nắm chặt tay Kỳ, lòng nhói đau, khi thấy Kỳ nhìn tôi với dòng nước mắt lăn trên gò má còn bám đầy bụi đất.
Theo đơn vị rày đây mai đó, tôi không có dịp gặp lại Kỳ. Đến khi nhận được lá thư gởi từ quân trường Thủ Đức, tôi mới biết là khi sau được chữa trị tại QYV Nguyễn Huệ Nha Trang, Kỳ được nhận theo học Khóa 23 SQ Thủ Đức. Tôi có nhận thêm vài lá thư của Kỳ, từ hậu cứ chuyển ra. Những bức thư đã viết từ 4, 5 tháng trước. Tôi hồi âm, nhưng không thấy trả lời. Tôi đoán là Kỳ đã ra trường và thuyên chuyển đến một đơn vị tác chiến nào đó. Mất liên lạc nhau kể từ dạo ấy.
Mùa hè 2010, trong tiệc cưới cậu con trai lớn của một người bạn cùng lớp thời trung học, tổ chức tại thành phố Cologne của Đức, tôi bất ngờ gặp lại Kỳ. Nếu hôm ấy người MC không giới thiệu những người khách đến từ phương xa, và với cái tên khá đặc biệt của tôi, thì có lẽ Kỳ và tôi đã không nhận ra nhau. Sau khi chào hỏi, Kỳ dắt tay tôi đến bàn bên cạnh, giới thiệu vợ Kỳ và vợ chồng cậu con trai. Thì ra Kỳ là sui gia với anh chị bạn của tôi. Cô con dâu của Kỳ là chị của chú rể trong tiệc cưới hôm nay. Vui mừng như gặp lại người thân trong nhà bao năm bặt tin nhau, nhưng chương trình tiệc cưới đang tiếp tục giới thiệu gia đình hai họ, nên Kỳ hẹn ngày mai sẽ đón vợ chồng tôi đến nhà dùng bữa cơm mừng cho cuộc trùng phùng và sẽ có rất nhiều chuyện để tâm tình.
****
Cuối năm 1966. Vừa chấm dứt một cuộc hành quân dài hạn ở Di Linh, Lâm Đồng, tiểu đoàn được lệnh di chuyển về Đa Nhim bảo vệ an ninh cho công trường xây dựng nhà máy thủy điện. Sau gần hai ngày hành quân tảo thanh quanh khu vực Sông Pha, chưa kịp nghỉ ngơi, đại đội tôi lại có lệnh biệt phái cho Tiểu Khu Ninh Thuận, tham dự một cuộc hành quân hỗn hợp. Ông trung úy đại đội trưởng vừa mới bị thương, còn nằm trong Quân Y Viện. Không có đại đội phó, tôi là trung đội trưởng thâm niên nhất, được ông tiểu đoàn trưởng chỉ định xử lý thường vụ.
Cho đoàn xe chở đại đội dừng lại bên ngoài, tôi vào Tiểu Khu nhận lệnh. Người đón tôi là Trung úy Đinh Viết Hạp, Trưởng Phòng 3 (Hành Quân) Tiểu khu. Gặp anh bất ngờ, thật là vui, vì anh là huynh trưởng thời còn đi học ở trường Võ Tánh Nha Trang, phu nhân của anh lại là người bạn cùng lớp với tôi. Anh cũng là bào đệ của ông tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng: Trung tá Đinh Viết Lãng. Sau khi nói qua cuộc hành quân, anh Hạp đưa tôi đến trình diện Trung tá Lãng để trực tiếp nhận lệnh và nghe những dặn dò đặc biệt. Tôi biết đây là một cuộc hành quân khá quan trọng.
Đại Đội tôi có nhiệm vụ tùng thiết một Chi Đoàn TQV, phối hợp với Hải Quân, đổ bộ đột kích bất ngờ vào Sơn Hải, ngôi làng hẻo lánh nằm ven biển, bị địch chiếm đóng từ ba tháng trước và đang tổ chức thành một sào huyệt kiên cố. Lực lượng địch gồm một đại đội địa phương và các toán du kích. Có thể có cả ban chỉ huy tỉnh đội.
Đại đôi tiếp tục di chuyển đến Ninh Chữ, quê hương của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Khu vực vừa tương đối an ninh vừa có bờ biển đẹp. Sau khi bố trí quân xong, cho anh em binh sĩ luân phiên ra biển tắm rửa, nghỉ ngơi, tôi vào Duyên Đoàn 27 họp hành quân. Điều bất ngờ lý thú là anh Duyên đoàn trưởng, trung úy Hoàng Đình Thanh, lại là bạn cùng Khóa 16 VBĐL với anh đại đội trưởng của tôi, nên đám sĩ quan bọn tôi được Duyên Đoàn thết đãi và chăm sóc chu đáo. “Commandant” Thanh xem bọn tôi như em út của chính anh. Sau khi họp hành, nhận bản đồ và đặc lệnh truyền tin xong, anh xách xe jeep chở bọn tôi lên thành phố Phan Rang chơi xả láng một đêm và cả một buổi sáng hôm sau. Ông duyên đoàn trưởng gốc Võ Bị Đà Lạt này chịu chơi còn hơn cả đám bộ binh đánh đấm nhà nghề bọn tôi. Tửu lượng của anh cũng thuộc hàng “sư phụ”. Và đây là lần đầu tiên tôi tham dự một cuộc hành quân do Hải quân chỉ huy.
Một chiến hạm ủi bãi ngay phía trước Duyên Đoàn. Anh Duyên Đoàn Trưởng đưa tôi và anh Chi Đoàn Trưởng TQV lên chiến hạm trình diện Thiếu Tá Hạm Trưởng, người chỉ huy tổng quát cuộc hành quân đổ bộ, để họp bàn chi tiết. Chi Đoàn TQV và đại đội của tôi lên tàu lúc 4 giờ sáng. Chạy theo hai bên chiến hạm là các chiến thuyền Yabuta của Duyên Đoàn. Chưa đầy một tiếng đồng hồ, chúng tôi đã đến trước mục tiêu. Tàu dừng ngoài khơi để lính tráng ăn uống trước khi lâm trận. Đúng giờ G, tàu tiến vào gần bờ. Lính bộ binh ngồi trên những chiếc M-113, rời chiến hạm, chia làm ba cánh, lội nước “bơi” vào bờ. Trong tranh tối tranh sáng, tôi mơ hồ tới trận đổ bộ Normandie của quân đội đồng minh trong Đệ Nhị Thế Chiến mà tôi đã được xem qua phim. Vì mục tiêu nằm ngoài tầm yểm trợ của pháo binh, nên hải pháo từ chiến hạm tác xạ vào mục tiêu và hai ngọn núi trước khi chúng tôi tiến vào bờ. Tôi bàn với anh Chi Đoàn Trưởng TQV, khi cách bờ khoảng 50 mét, các đại liên 30 trên M-113 đồng loạt nổ súng vào mục tiêu, uy hiếp tinh thần địch, để đại đội tôi nhanh chóng đổ lên bờ và bung ra trước. Tất cả lính tráng đều đã cột trên cánh tay phải một băng vải trắng làm dấu hiệu nhận nhau, tránh việc bắn nhầm từ các xạ thủ trên thiết giáp. Lực lượng Duyên Đoàn nhanh chóng án ngữ mặt biển.
Đúng như kế hoạch tiên liệu. Chúng tôi làm chủ tình hình khi trời vừa sáng. Địch quân hoàn toàn bất ngờ, một số còn đang ngái ngủ chưa kịp hoàn hồn, một số vừa nhảy xuống giao thông hào cũng chỉ kịp đưa tay đầu hàng trước họng súng của binh sĩ đơn vị tôi, một số chạy tán loạn vào rừng, bị các chiến xa M-113 vây bắt, nhiều tên chạy ra biển, lọt vào tay của các chiến sĩ Duyên Đoàn. Hầm hố và công sự của chúng bị các thiết vận xa M-113 cày nát.
Sơn Hải, ngôi làng nghèo hẻo lánh, cách xa những vùng dân cư khác, nằm sát biển, dưới thung lũng, giữa một bên là những động cát mênh mông, một bên là hai ngọn núi thấp với khu rừng khá rộng. Không xa về phía Nam là Mũi Dinh với ngọn hải đăng hoang phế, được xây dựng từ năm 1904 dưới thời Pháp thuộc. Chính phủ muốn xây dựng lại và thành lập một đài kiểm báo, nhưng đơn vị Bảo An được đưa tới giữ an ninh, thường bị lực lượng địch tấn công liên tục, gây thiệt hại không nhỏ, phải rút bỏ. Người dân ở đây sống nhờ vào con suối nước ngọt chảy róc rách trong rừng. Ngôi làng chỉ có chừng trên 60 nóc gia, đa số dân chúng sống bằng nghề đánh cá và trồng khoai lang, dưa hấu, nhưng hầu hết đã bỏ đi từ khi Cộng quân đến chiếm. Chỉ một số còn ở lại đều là thân nhân của địch. Dường như đã có các cuộc oanh kích hoặc hải pháo trước đây, nên một số nhà bị cháy sập, đổ nát, chỉ còn trơ vài mảng vách bám khói đen xám xịt, loang lỗ những vết đạn. Địch quân chọn vị trí này làm sào huyệt vì các đơn vị của ta khó tiếp cận, muốn đến đây phải băng qua một sa mạc cát, vừa mất sức lại vừa dễ bị phát hiện, và nếu có biến động, chúng sẽ thoát ra biển bằng ghe xuồng, hoặc chạy biến vào khu rừng bên cạnh. Chúng không ngờ cuộc hành quân phối hợp qui mô lần này, chúng không còn con đường nào khác để thoát thân.
Cuộc hành quân kết thúc. Kiểm điểm đơn vị, chỉ có một anh trung sĩ bị thương vào giờ chót trong lúc lục soát các hốc đá trong rừng, do trái lựu đạn nội hóa đám địch quân hốt hoảng tung ra trước khi tháo chạy. Địch chết gần ba mươi tên và khoảng mười tên bị bắt sống. Điều đặc biệt bất ngờ là trong số ấy có một em bé khoảng chừng 2- 3 tuổi, được tìm thấy bên trong một hốc đá nằm ở bìa rừng sát biển. Bên ngoài có một số tử thi của địch, cả nam lẫn nữ. Thằng bé bị thương nhẹ do một số mảnh đạn M-79. Rất may là không nguy hiểm đến tính mạng. Nhiều vũ khí bị tịch thu, trong đó có khẩu súng cối 60 ly và hai khẩu thượng liên Trung Cộng. Giao hết chiến lợi phẩm, tù binh và cả thương binh lại cho lực lượng của Duyên Đoàn. Theo kế hoạch hành quân, Chi Đoàn Thiết Giáp và đơn vị tôi tiếp tục băng rừng truy kích địch, tiến đến Mũi Dinh bảo vệ an ninh cho Duyên Đoàn đưa một đơn vị Địa Phương Quân đến canh giữ để xây dựng lại đài kiểm báo. Hai ngày sau, chúng tôi tiếp tục tảo thanh khu rừng dọc theo hai bên con suối, trên đường tiến ra Quốc lộ 1.
****
Cả đêm thao thức không ngủ được, tôi nằm hồi tưởng tới bao chuyện vui buồn của một thời làm lính. Hình dung từng khuôn mặt của những đồng đội cũ. Một số đã chết, những người còn sống thì giờ này tứ tán muôn phương. Lòng thấy ngậm ngùi. Sáng hôm sau, khi ngồi ăn điểm tâm, tôi kể cho vợ chồng anh bạn nghe chuyện của tôi và Kỳ, rất vui khi biết hai gia đình đã là sui gia. Quả đất tưởng chừng bao la, nhưng cũng có nhiều giao điểm để có những cuộc trùng phùng thật bất ngờ kỳ diệu.
Buổi chiều, Kỳ đến đón chúng tôi. Vợ chồng người bạn xin từ chối vì bận phải giúp đôi tân hôn giải quyết một số việc sau đám cưới. Nhà Kỳ ở không xa. Chỉ hơn 20 phút lái xe. Căn nhà nhỏ nằm bên bờ sông Rhine thơ mộng. Sân sau khá rộng trồng nhiều hoa và vài cây táo. Chỉ có vợ chồng Kỳ ở đây, nhà vợ chồng đứa con trai duy nhất ở gần bệnh viện, nơi làm việc. Chồng là bác sĩ, vợ là y tá. Kỳ cho biết như thế và bảo vợ chồng cháu cũng đang trên đường đến đây để chào hai bác.
Trong khi vợ Kỳ rủ bà xã tôi ra vườn khoe mấy cụm hoa hồng nhung, Kỳ đi pha trà, tôi ngồi nhìn tấm ảnh của một đôi uyên ương trẻ, treo trên vách, nhớ tới khuôn mặt khá khôi ngô, xinh xắn của đứa con trai và cô dâu mà Kỳ đã giới thiệu tôi tối hôm qua trong tiệc cưới. Bỗng giật mình khi nghe tiếng Kỳ hỏi:
– Năm ấy, khi em bị thương trong trận đổ bộ xuống một ngôi làng ven biển Phan Rang, có một thằng bé mới 3 tuổi cũng bị thương và được Duyên Đoàn tản thương về Dân Y Viện Phan Rang với em, anh còn nhớ không?
Tôi suy nghĩ giây lát rồi trả lời:
– À, mình nhớ ra rồi. Chắc là con của người dân nào đó, sợ quá bỏ chạy mà không kịp mang theo.
– Không, là con của một tay Việt cộng, sau 75 về làm một chức gì đó khá lớn trong tỉnh Ninh Thuận.
– Sao em biết?
Thay vì trả lời tôi, Kỳ chỉ tay vào tấm ảnh treo trên vách. Tấm ảnh tôi vừa mới xem qua.
-Anh có nhớ vợ chồng đứa con trai của em ngồi chung bàn với vợ chồng em trong đám cưới tối hôm qua?
Tôi còn đang ngơ ngác, Kỳ nói thêm:
-Chắc anh không ngờ, thằng bé bị thương ngày ấy lại là con của vợ chồng em. Con nuôi!
Đúng là tôi quá bất ngờ. Hơn nữa, chuyện xảy ra đã quá lâu, nếu Kỳ không nhắc, có lẽ tôi không còn nhớ. Sau khi rót nước trà vào tách mời tôi, Kỳ kể tôi nghe về câu chuyện ấy.
Khi được tản thương về Dân Y Viện Phan Rang, không phải chỉ có Kỳ mà có cả thằng bé bị thương ấy nữa. Nhận được tin báo, từ Đà Lạt bố mẹ và cả vợ Kỳ tức tốc chạy xuống Phan Rang thăm và săn sóc cho Kỳ. Khi nghe kể lại chuyện thằng bé bị thương cùng trận với Kỳ mà không biết cha mẹ của nó là ai, ông bà đến thăm thằng bé. Thấy nó tội nghiệp dễ thương, ông bà xin bệnh viện cho vợ chồng Kỳ nhận làm con nuôi. Ông bác sĩ giám đốc bệnh viện mừng quá, vì đang lo lắng chưa biết phải giải quyết tình trạng thằng bé này ra sao. Sau khi chữa lành vết thương, bệnh viện làm giấy tờ giao thằng bé cho ông bà và vợ Kỳ. Khi làm giấy khai sanh, theo đề nghị của vợ Kỳ, thằng bé được đặt tên là Hà Văn Ngộ. Riêng Kỳ được chuyển tiếp ra QYV Nguyễn Huệ Nha Trang để được giải phẫu lấy vài mảnh đạn trong vùng dưới bụng. Không ngờ định mệnh đã an bài cho đứa bé ấy sau này trở thành đứa con duy nhất của vợ chồng Kỳ. Vì do ảnh hưởng vết thương lần ấy, bác sĩ giải phẫu cho biết là Kỳ không bao giờ có con mặc dù chuyện chăn gối, tình dục vẫn bình thường.
Bé Ngộ lớn lên trong vòng tay yêu thương của vợ chồng Kỳ cùng tấm lòng nhân hậu của bố mẹ Kỳ, mà nó cứ ngỡ đó chính là bố mẹ và ông bà nội của nó. Nó là một đứa bé có nhiều diễm phúc.
Năm 1975, khi bé Ngộ vừa tròn 9 tuổi, thì cùng với số phận của miền Nam, gia đình Kỳ trở nên khốn đốn. Kỳ bị vào tù. Cậu em trai của Kỳ đang học Khóa Võ Bị đã phải theo trường di tản vào Nam trước khi thành phố xinh đẹp này lọt vào tay giặc. Ông anh của Kỳ là sĩ quan TQLC được bạn bè cho biết đã chết ở bờ biển Thuận An ngoài Vùng 1. Bà chị của Kỳ theo chồng là lính Pháo Binh lên Pleiku không biết sống chết thế nào. Bố mẹ Kỳ bao năm sống khá giả bằng nghề trồng hoa bỗng dưng thất nghiệp. Bao nhiêu thứ hoa đẹp đẽ ngát hương bây giờ chỉ còn là cỏ rác. Cả mấy khu vườn đều bị chính quyền trưng thu sáp nhập vào Hợp Tác Xã “Rau Xanh”. Đà Lạt quí phái thơ mộng bây giờ trở thành một thành phố chết. Dân tình đói rách, cây cỏ úa tàn. Chỉ còn có lớp sương mù phủ kín một vùng núi đồi ảm đạm. Cùng với nhiều người khác, bố mẹ Kỳ cũng muốn cắt ruột bỏ đi để mong tìm ra một con đường sống, như đã từng phải bỏ quê hương Hà Nội hơn 21 năm về trước. Nhưng rồi phải ở lại để chờ đám con cháu trở về.
Sau hơn năm năm tù, Kỳ được thả về. Bố mẹ đã mất. Trong ngôi nhà xưa chỉ còn có vợ Kỳ, bé Ngộ và hai mẹ con bà chị, sống sót trong cuộc di tản trên Tỉnh Lộ 7 kinh hoàng. Riêng ông anh rể gốc Pháo Binh thì mất tích, không có chút hy vọng nào còn gặp lại. Người em trai của Kỳ, sau khi di tản theo trường Võ Bị, đã ra trường “non” ở Long Thành. Ở tù gần 2 năm, trốn trại, thoát và cùng vượt biển với một người bạn, được tàu Cap Anamur vớt nên được định cư từ năm 1978 ở Tây Đức. Nhờ có sẵn trình độ và ý chí được rèn luyện từ trường Võ Bị, anh vừa học đại học vừa đi làm kiếm tiền giúp gia đình còn ở Việt nam. Cũng nhờ người em này tận tình giúp đỡ, nên gia đình Kỳ tạm vượt qua bao khó khăn, và sau đó có tiền vượt biển, đến đảo Palawan, và được bảo lãnh sang định cư tại Tây Đức.
Những năm cực khổ, vợ Kỳ rất vất vả, có khi phải đi cuốc đất thuê, gánh rau mướn. Bé Ngộ lúc ấy mới 14 – 15 tuổi đã phải bỏ học để đi làm phụ mẹ. Trong hoàn cảnh khốn cùng, tình mẹ con càng thêm thắm thiết. Nhiều lúc vợ Kỳ không còn nghĩ bé Ngộ là con nuôi của mình.
Sang Đức, vợ Kỳ được em trai Kỳ xin vào làm trong hãng Siemens mà anh là kỹ sư sản xuất. Kỳ cố gắng theo học ngành kế toán và được nhận vào làm ở Sở Thuế Vụ thành phố, cùng sở với người bạn của tôi, và nhờ đó mà sau này hai người trở thành sui gia.
Khi bà xã tôi phụ giúp vợ Kỳ làm món ăn trong bếp thì vợ chồng Ngộ dắt theo đứa con gái nhỏ cũng vừa đến. Nghe bao điều bất ngờ Kỳ kể lại, nên tôi tò mò chăm chú nhìn Ngộ kỹ hơn, muốn tìm ở cậu con trai này một điều gì không mấy thiện cảm, hoặc không giống vợ chồng Kỳ. Nhưng rồi tôi ngạc nhiên, khi nhận ra ở Ngộ là một thanh niên có giáo dục, lễ phép, nhân hậu và thông minh. Cả trong cái cười, cũng rất giống Kỳ ngày xưa, lúc còn là lính với tôi. Một chút gì đó gần như là ác cảm vô cớ trong tôi biến mất. Tôi thoáng một chút ngượng ngùng.
Một bữa cơm đoàn tụ thật vui. Bà xã tôi cũng dễ thân thiện gần gũi và rất quý mến vợ chồng Kỳ cùng vợ chồng cháu Ngộ và đứa cháu nội của Kỳ, ba tuổi, bập bẹ nói tiếng Việt nam. Chia tay, tôi chúc mừng Kỳ có một gia đình hạnh phúc. Khi đưa chúng tôi ra xe, cháu Ngộ lễ phép mời vợ chồng tôi và ba má cháu đến nhà dùng một bữa tiệc cá, do vợ chồng cháu đi câu được, trước khi chúng tôi trở về lại Na-uy. Cháu còn bảo là hôm ấy sẽ mời cả ông bà bố mẹ vợ, là bạn thân của tôi, để được đầy đủ một nhà, Tôi nắm tay cháu, nhận lời và nói cám ơn.
Hai hôm sau, Kỳ gọi phôn bảo sẽ đến đón vợ chồng tôi đi thăm trại chăn nuôi do vợ chồng người em trai làm chủ. Cách thành phố hơn một giờ lái xe. Ở đó cũng có một vườn hoa và nhiều cảnh đẹp. Trại có hơn 500 con heo, 20.000 gà vịt, và có cả lò ấp hột vịt lộn nữa. Nghe nói tới trại chăn nuôi bà xã tôi rất thích, nhất là món hột vịt lộn, lúc ấy ở Na-uy chưa có. Vợ chồng người em của Kỳ đón tiếp chúng tôi thật nồng hậu. Người sĩ quan tốt nghiệp “non” của trường Võ Bị này trông rất còn phong độ. Tóc cắt ngắn, đôi mắt sáng, giọng nói cứng cỏi như vẫn còn là chàng SVSQ đứng trên đỉnh Lâm Viên thuở trước. Cùng gốc lính với nhau nên rất dễ thân tình. Vợ chồng tôi rất phục anh. Vừa là kỷ sư trưởng trong hãng Siemens nổi tiếng lại vừa là ông chủ của một trại chăn nuôi rộng lớn, với gần 20 người làm. Chúng tôi được đãi món cơm gà thật tuyệt vời do chính tay anh nấu, và anh cũng không quên gói một thùng hột vịt lộn làm quà cho bà xã tôi (riêng tôi không hảo món này lắm).
Cơm nước xong, chúng tôi cáo từ và theo vợ chồng Kỳ đi thăm một vài thắng cảnh quanh đây. Kỳ đưa chúng tôi đến một vườn hoa. Đang đúng mùa hoa nở. Mênh mông các sắc màu. Ngát hương trong gió. Nhưng khi vừa đến nơi, Kỳ bảo vợ đưa bà xã tôi đi ngắm hoa, còn “hai anh em tôi thì đã có sẵn hoa trong nhà rồi, nên không cần ngắm hoa ngoài vườn nữa”. Kỳ nói đùa rồi dắt tay tôi đến ngồi trên chiếc ghế đá đặt dưới một tàn cây khá lớn. Phía trước là một con suối nhỏ chảy qua chiếc cầu làm bằng gỗ. Vừa ngồi xuống, Kỳ mở lời tâm sự:
-Có một điều làm em cứ băn khoăn, không biết phải giải quyết như thế nào. May mà gặp được anh ngày hôm nay. Có thể Chúa đã sắp xếp để em được gặp lại anh, được tâm tình về một câu chuyện anh đã từng chứng kiến, và mong anh chỉ dẫn cho như cái hồi em còn ở với anh trong lính.
Tôi ngạc nhiên, không biết có điều gì quan trọng mà trông Kỳ có vẻ bối rối. Chưa kịp hỏi, thì Kỳ lại lên tiếng:
– Mẹ ruột thằng Ngộ đã chết trong trận ấy, nhưng bố của nó thì thoát được, vẫn còn sống, hiện đang ở Phan Rang và giữ một chức hàm gì đó khá lớn trong chính quyền Cộng Sản.
– Cháu Ngộ có biết không? Tôi hỏi.
– Cháu Ngộ chưa biết anh ạ. Nó luôn nghĩ vợ chồng em là bố mẹ ruột của nó.
-Như vậy thì tốt, Kỳ cần gì phải bận tâm.
Đắn đo giây lát, Kỳ lại buồn bã:
-Ông ta đã nhắn tin tìm con và nhờ chương trình “Như chưa hề có cuộc chia ly”, một chương trình giúp tìm người thất lạc trong chiến tranh, thông báo trên đài truyền hình bên Việt Nam. Em nghe bà chị ở Đà Lạt bảo như thế. Bà chắc chắn ông ta chính là bố ruột của thằng Ngộ, vì ông kể lại những chi tiết rất chính xác như những gì mà em đã từng kể cho bố mẹ và chị ấy nghe về thằng Ngộ trước kia.
Tôi khá bất ngờ, không tìm được ý kiến nào để nói với Kỳ. Lại thấy áy náy khi Kỳ vẫn còn kỳ vọng vào mình. Nhưng chuyện này không phải đơn giản như chuyện đánh đấm, hay chỉ huy một tiểu đội lính ngày xưa. Bỗng tôi nghĩ đến bản thân tôi, cũng mất mẹ năm mới lên ba tuổi và ba tôi một đời đã dành trọn tình thương bao la cho tôi như thế nào. Có điều Ngộ không hề biết là ngoài vợ chồng Kỳ ra, nó lại còn có một ông cha ruột trên thế gian này. Oái ăm thay, ông cha ấy lại chính là kẻ thù của bố Kỳ, của ông chú, bà cô và cả ông bà nội nữa. Chẳng phải tất cả những người này đã gánh chịu bao nhiêu mất mát đau buồn khốn khổ vì những người Cộng Sản như ông bố ruột của Ngộ? Tôi nói ra ý nghĩ này với Kỳ, như muốn gợi ý là Kỳ hãy quên chuyện ấy đi. Ít nhất sẽ không gây những khó khăn, xáo trộn tâm lý cho vợ chồng cháu Ngộ.
Kỳ lắng nghe. Suy nghĩ một lúc rồi nói nhỏ như chỉ tự nói với chính mình:
-Mẹ ruột của nó lại bị chính trung đội em giết chết, trước khi em tìm thấy nó trong hốc đá.
Có một điều gì đó chặn ngang dòng suy nghĩ của tôi. Một lúc sau, tôi nắm tay kéo Kỳ đứng lên đến bên cây cầu gỗ trên dòng suối nhỏ. Nhìn dòng suối chảy mang theo một cánh hoa tulip, có lẽ người nào đó vừa ném xuống trên đầu dòng. Tôi cúi xuống, với tay nhặt lấy cánh hoa. Một ý nghĩ vừa lóe lên trong đầu, tôi buộc miệng thốt ra với Kỳ:
– Tất cả rồi cũng như dòng nước kia. “Có ai tắm hai lần trong cùng một dòng sông?” Tốt nhất hãy để cho nó cứ tự nhiên chảy qua cầu, cho dù có kéo theo bao nhiêu bông hoa hay là rác rưởi. Cuộc chiến mà chúng ta đã tham dự, chẳng phải đã có nhiều bông hoa đẹp nhưng cũng có bao rác rưởi đó sao. Nếu được, hãy giúp cho cháu Ngộ giữ lại những bông hoa, như cái hoa này. Còn tất cả rác rưởi nên để cho nó trôi vào quên lãng.
Lời nói mơ hồ, không đâu vào đâu ấy như chỉ để bào chữa cho cái bế tắc của tôi và tất nhiên Kỳ không thể nào hiểu được. Sự thất vọng hiện rõ trên mặt. Kỳ chau mày:
-Em cũng đã từng dặn lòng là quên phứt cái chuyện này đi, nhưng cứ mỗi lần trông thầy thằng Ngộ là em lại nhớ ra, rồi băn khoăn suy nghĩ. Có nhiều đêm em mất ngủ.
Cuối cùng, như muốn để không làm phiền tôi và cũng tự nhủ mình, Kỳ đập vai tôi, quyết liệt:
– Rồi! Kể từ hôm nay em nhất định sẽ dẹp hẳn chuyện này. Không nhớ và cũng không nhắc tới nữa. Anh cũng vậy, xem như chưa hề nghe em nói chuyện này nghe. OK?
Tôi vòng tay ôm vai Kỳ, nói hai tiếng “OK” mà trong lòng dường như còn có điều gì chưa ổn lắm.
Ngày họp mặt ở nhà vợ chồng cháu Ngộ thật vui và cảm động, vì mọi người ai cũng có ràng buộc ân tình. Riêng tôi đã gặp lại hai người bạn cũ. Nhất là Kỳ, một đứa em nhà binh kết nghĩa, đã gợi lại trong tôi bao kỷ niệm của một thời chinh chiến. Chúng tôi rời Cologne trở về lại Na-uy ngày hôm sau. Vợ chồng Kỳ và vợ chồng người bạn đưa tôi ra phi trường. Suốt hai giờ ngồi trên máy bay, đầu óc tôi nặng nề với hình ảnh của Ngộ và câu chuyện về người cha ruột mà Kỳ đã kể cho tôi nghe. Tôi biết, cũng như tôi, Kỳ bảo là sẽ quên “phứt” đi, nhưng chắc chắn là sẽ không thể nào quên được.
Mấy tháng sau, như thường lệ, cứ đến mùa đông là vợ chồng tôi bay sang Cali (Mỹ) để trốn cái lạnh Bắc Âu và thăm mấy cô con gái. Ở Cali nắng ấm, chúng tôi lại có bao nhiêu bạn bè, thời gian gặp gỡ, chuyện trò không còn trống cho đầu óc suy nghĩ vẩn vơ. Bỗng một hôm tôi nhận được điện thư của Kỳ. Thư viết khá dài:
“…Cuối cùng thì vợ chồng em đã quyết định cho thằng Ngộ và vợ nó về gặp bố nó. Bà chị em còn ở bên Việt nam cho biết, ông ta bị tai biến mạch máu não và trong tình trạng nguy ngập. Chờ chết. Nội bộ của mấy tay Cộng sản bây giờ lục đục lắm. Ông bố của thằng Ngộ này nắm một chức gì đó dễ hái ra tiền. Chuyện tham nhũng hối lộ ở Việt nam bây giờ gần như “không người lái”. Nước họ còn bán được huống hồ là đất. Có lẽ ăn chia không đều ra sao đó, cánh ông bố của thằng Ngộ bị phe đàn anh mạnh hơn, có lọng to che, đánh cho gục luôn. Bao tội lỗi trút hết trên đầu ông ta. Cả đám em út vào tù, ông ta mất chức, chờ ra tòa lãnh án thì bị tai biến mạch máu não. Nghe nói khi ra Hà Nội, ông ta có lấy một nữ đồng chí, sinh được một thằng con trai, nhưng nó nghiện ma túy rồi theo băng đảng, bị giết chết trong một cuộc ẩu đả khi vừa lên 16 tuổi. Sau này khi có chức quyền tiền bạc ông bỏ bà vợ già để lấy một cô á hậu hay người mẫu “miệt vườn” gì đó, tuổi bằng con ông. Bà vợ già giận bỏ ông về Bắc. Sau này, khi ông thất sủng, bà vợ trẻ của ông cũng đã bỏ ông để chạy theo một tay công an, vốn là đàn em của ông, vào tận Vũng Tàu, mang theo tất cả vàng bạc tiền của cùng cô con gái nhỏ, mà nhiều người đồn đãi chẳng phải máu mủ của ông. Tài sản còn lại bị các đồng chí đàn anh tịch thu chia chác. Cuối cùng ông ta sống trong cô đơn và trở thành “vô sản” như chính ông một thời bị lừa gạt để hô hào mị đám nông dân nghèo lúc trước. Bà chị của Kỳ nghe được trên đài truyền hình, lời ông nhắn tin mong muốn được gặp mặt đứa con trai thất lạc một lần trước khi ông nhắm mắt. Bà gọi sang khuyên vợ chồng em cố sắp xếp cho vợ chồng thằng Ngộ nó về gặp ông ta một lần. Gia đình mình có đạo đức nhân nghĩa. Thôi dù sao nghĩa tử cũng là nghĩa tận. Bà bảo thế.
Như anh biết đó, chuyện này thì chính em cũng đã từng nghĩ đến, nhưng lại không muốn cho thằng Ngộ biết lai lịch của nó. Nó sẽ buồn lắm nếu biết vợ chồng em không phải là bố mẹ ruột, và bố ruột nó lại là một người Cộng sản. Em và bà chị bàn nhau. Em bảo với vợ chồng thằng Ngộ, ông ta là anh nuôi của em, tức con nuôi của ông bà nội, thất lạc bao nhiêu năm trong chiến tranh bây giờ mới biết. Vì em không thể về Việt Nam, nên vợ chồng nó thay mặt em, về thăm ông bác ốm nặng, nhân dịp về Đà Lạt thăm bà cô và mồ mả ông bà nội. Cũng để vong linh ông bà nội được vui. Bà chị thì tìm gặp riêng ông ta, báo cho ông biết là đứa con thất lạc ấy vẫn còn sống, thành đạt và đang sống rất hạnh phúc với cha mẹ nuôi ở nước ngoài mà nó vẫn nghĩ là cha mẹ ruột của nó. Bà chính là chị của ông bố nuôi ấy. Sẽ đưa hình ảnh nó cho ông xem. Hứa sẽ năn nỉ cha mẹ nuôi cho nó về gặp ông, với điều kiện là ông phải giữ kín, không nói ông là cha của nó cũng như mẹ của nó đã qua đời khi nó lên ba. Làm vậy là cốt để tránh cho nó bị “sốc” vì quá bất ngờ, hụt hẫng có thể gây xáo trộn tâm lý, nguy hiểm cho nó.
Mọi sắp xếp đều thuận lợi. Vợ chồng thằng Ngộ đã bay về Việt Nam sáng hôm nay. Em hy vọng là mình đã làm hết bổn phận để sau này không có điều gì hối hận. Có tin gì thêm em sẽ báo anh sau..”
Bận bịu với bao bạn bè từ vài tiểu bang xa tới thăm, chưa kịp hồi âm, thì vài hôm sau tôi lại nhận thêm một email mới của Kỳ, có kèm theo vài tấm ảnh.
“…Khi bà chị đưa vợ chồng Ngộ đến gặp ông ta trong bệnh viện, tuy mệt nhưng ông còn tỉnh táo lắm. Nhờ anh y tá đỡ ngồi dậy. Ông sững sờ nhìn Ngộ thật lâu, đôi mắt sáng lên. Có lẽ ông không ngờ đứa con thất lạc, ông bỏ lại chiến trường từ lúc mới 3 tuồi, không hề được ông nuôi nấng, bây giờ lại là một thanh niên tuấn tú, thành đạt và hiền lành đức hạnh, khác hẳn đứa con trai của ông với bà vợ Bắc kỳ, mà ông đã từng cưng chiều, lo lắng. Ông chắp hai tay cúi gập mình trước bà chị của em như muốn tỏ lòng biết ơn người đã dưỡng dục Ngộ. Bỗng ông bật khóc và cố lấy hết sức tàn ôm chầm lấy Ngộ. Ngộ ngạc nhiên nhưng cứ để yên, giữ lấy hai cánh tay để ông gục đầu lên vai mình. Khá lâu, không nói một lời gì, cũng không còn nghe tiếng khóc. Khi cảm thấy có điều bất thường, Ngộ bảo bà cô và vợ nó phụ đỡ ông ta nằm xuống. Mọi người hoảng hốt khi thấy ông đã tắt thở từ lúc nào.
Cháu Ngộ phụ ông bác sĩ làm hô hấp nhân tạo. Sau một lúc, cả hai đều lắc đầu, bảo ông ta đã chết.
Cả anh ý tá rồi ông bác sĩ vuốt mắt ông để phủ lên di thể tấm ra trắng, nhưng mắt ông vẫn mở trừng. Nghe lời bà chị em, cháu Ngộ đưa tay vuốt, mắt ông nhắm lại. Rồi đột nhiên mặt ông trở nên hồng hào và trên miệng như vừa mới mỉm một nụ cười.
Không có ai đến thăm ông ta. Các đồng chí một thời của ông có lẽ vì sợ liên lụy nên cũng đã tránh xa ông. Cháu Ngộ đứng ra nhận lo chi phí cho việc chôn cất và xây phần mộ cho ông. Đám tang thật buồn. Cũng chỉ có vợ chồng Ngộ và bà chị em tiễn ông đến nơi an nghỉ cuối cùng. Em nghĩ chắc ông yên lòng ra đi khi đã được nhìn thấy mặt đứa con trai lạc nhau khi mới vừa 3 tuổi, giờ là một thanh niên thành đạt. Và vợ chồng em cũng yên tâm, xem như cháu Ngộ đã thực sự đoạn tuyệt một gốc gác đau lòng.”
Nhìn tấm ảnh của ông, Kỳ gởi kèm theo điện thư (tấm ảnh đặt trước quan tài, có lẽ chụp đã lâu, lúc ông ta còn đang quyền lực), tôi thấy thấp thoáng khuôn mặt của Ngộ. Không biết vợ chồng Ngộ có nhận ra điều này không, hay có thể đó chỉ là ảo ảnh được ráp nối từ những mảng liên tưởng mơ hồ của tôi. Nhưng điều này bây giờ đâu còn có ý nghĩa gì khi Ngộ đã thực sự bước ra khỏi đám mây mù quá khứ. Tất cả như đã cuốn theo dòng nước chảy qua cầu.
(Hai câu thơ của ai đó đã khắc lênmột bức tường của Ngôi Làng Buồn Thảm!)
“Dưới ống kính của Brian Đoàn, trong toàn thể tập sách, tôi chỉ tìm thấy duy nhất một nụ cười trong ngôi làng buồn thảm này, đó là nụ cười của một người mất trí, anh Huỳnh Phong.”
Where can a refugee find happiness? Which country will record my foodprint?”
The poem was written on a wall at the camp by an anonymous Vietnamese refugee. It describes the stateless condition of “The Forgotten Ones”.
– Palawan, The Philippines, 2004
Cái cảm giác của tôi sau khi xếp lại cuốn sách “The Forgotten Ones” của người nhiếp ảnh gia trẻ tuổi Brian Đoàn là một cảm giác phiền muộn. Những gì đã được Đoàn ghi lại qua ống kính trong tập sách này là quang cảnh của một ngôi làng buồn thảm và những con người thiếu sinh khí, không có lấy một nụ cười. Đi từ một vùng biển hoang vu Palawan, với xác một con tàu vỡ nát còn lại trên bờ cạn và chấm dứt với những ngôi mộ ngày càng nhiều ra ở trang cuối, toàn thể tập ảnh là một bài thơ buồn, tuyệt vọng, không thấy hé lên ở cuối chân trời tăm tối một tia ánh sáng nào. Tôi chưa hề có dịp ghé lại làng Việt Nam trên đảo Palawan của quốc gia Phi Luật Tân, nhưng những gì tôi được nghe thấy qua sự diễn tả của người ở xa về mô tả, thì đó là một sự tuyệt vọng vô bờ của những người Việt Nam, cách đây 15 năm đã hăm hở trong một đêm tăm tối nào đó, ra đi mong có được một cuộc đời tươi sáng, đẹp đẽ hơn. Người tới thì đã tới bận rộn với đời sống bon chen, người chết thì đã chìm xuống biển sâu tăm tối u uất, người trở về thì đã để phần còn lại của cuộc đời mình theo số phận đưa đẩy. Chỉ còn lại những con người ở đây. Tôi hình dung ra họ là những con cá mắc cạn trên bờ khô, đang ngáp thở những hồi mệt nhọc, những con người đã bị thế giới này quên lãng từ lâu, hiện sống những ngày mỏi mòn vô vị, không có tương lai.
Những đứa trẻ như hai chị em Nguyễn Kim Tuyến, Nguyễn Ngân Tuyến đã sinh ra dưới những ngôi nhà tăm tối và trong vòng thép gai của ngôi làng này, học hành ra sao, tương lai sẽ như thế nào? Những người đàn bà như chị Võ Thu Vân bị kéo lên máy bay về Việt Nam nhưng vẫn quyết lòng ở lại, rồi cuộc đời sẽ đi về đâu? Bà Nguyễn Thị Thương theo chương trình con lai đến Palawan nhưng không đủ điều kiện đành phải chấp nhận làm người lưu dân ở đây vĩnh viễn cùng chung hoàn cảnh với 200 người khác. Anh Hoàng Đức Minh đến đây năm 1989, kết hôn với một thiếu phụ Phi Luật Tân, nhưng chính hoàn cảnh này đã đưa gia đình anh đến chỗ tuyệt vọng, không thể đi định cư ở bất cứ nơi nào.
Một số người từ đây đã ra những khu phố tồi tàn của Manila để kiếm sống bên vệ đường như anh Phan Ngọc Diệp mà vẫn còn bị xua đuổi. Một cựu quân nhân VNCH như anh Lê Văn Trung với tấm thân đau yếu, đang chờ đợi những gì ở ngày mai. Anh Huỳnh Phong cùng vượt biên với gia đình, vợ con đã chết trên biển, sự mất mát và nỗi tuyệt vọng khốn cùng đã khiến cho anh trở thành một người mất trí. Chúng ta thấy những đứa con lai Mỹ lạc loài, không được quê cha chấp nhận, như Trương Tấn Thành đã ở đây mười ba năm dài đằng đẳng.
Ngày xưa, cái tên Palawan, trong hồi tưởng của Brian Đoàn, là tiếng gọi reo vui của người đã với tay được tới bờ tự do, là tên một hòn đảo của hy vọng của những ngày mất phương hướng trên biển cả mênh mông, nhưng giờ đây khi Brian Đoàn có dịp đến thăm, nó lại là mảnh đất của vô vọng, nơi giam hãm những mảnh đời phiêu bạt, không có bến neo. Brian Đoàn cũng đã chuyển lại cho người đọc, cho tôi, ánh mắt buồn rầu của những đứa trẻ không có tuổi thơ, những ngấn lệ của người già đang chờ những ngày tàn, tháng tận.
Đây là những người có thể nói là đã hết đường hy vọng, họ đã qua nhiều lần thanh lọc, đã bị những phái đoàn ngoại quốc thẳng thừng từ chối. Họ vẫn còn là người Việt Nam nhưng không bao giờ muốn trở lại quê hương, họ không được xem là người Phi dù đã sống trên đất Phi mười lăm năm nay. Họ không có quyền sở hữu tài sản, không có việc làm ổn định. Trong quá khứ họ đã chứng kiến bao nhiêu cái chết, bao nhiêu nỗi chia lìa, bao nhiêu dòng nước mắt, bao nhiêu tiếng kêu gào đau đớn. Đây là nơi tập họp những bệnh tật, nghèo khổ, bị khinh rẻ, kỳ thị của những người tuy được coi là con người, nhưng đã hoàn toàn bị người đời quên lãng.
Từ cái làng buồn thảm này, những người Việt Nam đã ra đi, trong một khoảng cách gần hay xa, để kiếm miếng sống trên mảnh đất xa lạ này với những nỗi nhọc nhằn bất tận. Đó là từng ngày, từng buổi chiều, từng đêm, rồi buổi sớm mai thức dậy lập lại những nỗi chán chường miên viễn.
Trong cái làng mang tên là làng Việt Nam buồn thảm này, họ vẫn còn nuôi hy vọng, hy vọng như những đốm lửa nhỏ nhoi trong đống tro tàn đã hầu như nguội lạnh. Họ hy vọng cho tới một ngày nào đó khi xuôi tay nhắm mắt nơi cõi xót xa này mà chưa hề mỉm được một nụ cười mãn nguyện và sẽ xếp hàng theo những bia mộ ngoài nghĩa trang.
Không có hy vọng, thì những con người trong ngôi làng buồn thảm này đã chết vì khô héo từ lâu. Dưới ống kính của Brian Đoàn, trong toàn thể tập sách, tôi chỉ tìm thấy duy nhất một nụ cười trong ngôi làng buồn thảm này, đó là nụ cười của một người mất trí, anh Huỳnh Phong. Dưới ống kính của Brian Đoàn, những đôi mắt của những người lớn chứa đựng những nỗi niềm tuyệt vọng đã đành, cả đến những đứa trẻ, cũng đã mất hết cả sự hồn nhiên trong trắng của tuổi thơ. Sự thành công của Đoàn, dù chỉ vỏn vẹn trong ba mươi bức ảnh, đã làm cho người ta cảm nhận được những gì Đoàn muốn chuyển đạt đến người xem, khi niềm tuyệt vọng, u uẩn thể hiện lên từng bức ảnh. Riêng đối với câu chuyện của những người hiện đang sống tại Phi Luật Tân đang tuyệt vọng tìm một nơi để đến định cư, và những quan tâm gần đây của những người có lòng đã đến với họ, tôi chỉ lo sợ một điều, chúng ta có nên vứt thêm một cành củi mục xuống nước để cứu cho những người sắp chết đuối chăng?
Người Việt mình rất hiếu học và trọng bằng cấp! Thầy giáo dù nghèo sặc gạch cũng được bà con mình trọng vọng; được mấy em đem lòng thầm thương trộm nhớ.
“Chẳng ham ruộng cả ao liền. Chỉ ham cái bút cái nghiên anh đồ!” Để mai sau “ngựa anh đi trước; võng nàng theo sau!”
Chắc bà con mình còn nhớ chuyện Trần Minh khố chuối và Quỳnh Nga con quan huyện mà!
Rồi Tây qua! Ảnh hưởng văn hóa của thực dân, bà con mình dần dần thay đổi!
Giờ ai là nghề gì có chữ ‘sĩ’ là ngon hè! Như bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ… (Chỉ trừ ông hạ sĩ).
Bịnh vô nhà thương gặp bác sĩ bà con mình co rúm sợ hãi dù phải móc xỉa trả tiền chữa bệnh.
Ngoài ‘sĩ’ ra còn ‘sư’ nữa. Như kỹ sư hoặc luật sư. Nên có câu vè: “Nhứt y, nhì dược; tạm được bách khoa!”
Rồi xưa giờ hay bà con mình cũng hay nghĩ là vô phước đáo tụng đình. Rất ngại lôi thôi cò bót hay ra Tòa thưa gởi tới lui. Thấy ai làm tới luật sư là nể, kính nhi viễn chi, đứng xa xa mà dòm chớ không dám lại gần.
Nhưng nước Úc nầy thì quan niệm hơi khác. Bất cứ ngành nghề gì mà nhận tiền của thân chủ thì: “Khách hàng là Thượng đế” nên chất lượng dịch vụ được cung cấp là phải đặt lên hàng đầu, là công bằng và sòng phẳng với số tiền mà thân chủ đã bỏ ra.
Úc khoái công bằng, ghét áp bức bất công. Nó ăn hiếp mình thì mình đi thưa nó. Chuyện nhỏ như con thỏ cũng đi thưa! Vì “Mình không sai thì chẳng phải sợ gì ai!”
Chớ người Việt mình thì chín bỏ làm mười, tự an ủi là: “Nó ăn hiếp mình cũng như nó ăn hiếp thằng cha của nó vậy mà!”
***
Johnny, người Úc, là ‘ní’, bạn thiết của tui! Vì cờ bạc, rượu chè, trai gái, hút xách, tứ đổ tường nhốt tui chung với nó. Nhưng mà con vợ nó lại quá khó, kêu nó cuốn nóp ra khỏi nhà!
Dĩ nhiên tiền bạc suốt cả đời tom góp là của chung! Bắt mình trần đi ra đâu có được nè. Thế là nó mướn luật sư chuyên về luật gia đình ra Tòa cãi!
Kết quả cuối cùng là thua trắng! Luật sư gì mà cãi như hạch chỉ giỏi tính tiền không hè!.
Chiều cuối tuần rồi, đang ngồi nhậu, đấu láo um sùm thì nó ra dấu im lặng vô tuyến, đừng đứa nào hó hé gì hết ráo để nó gọi cho công ty luật của nó.
“Tôi muốn nói chuyện với luật sư của tôi.” Bên kia đầy dây, tiếng một em thư ký ỏn ẻn báo tin rằng: “Dạ rất tiếc! Ông ấy đã ngỏm củ tỏi hồi tuần rồi!”
Johnny lại quay lại nhậu tiếp. Chừng 15 phút sau, bổn cũ soạn lại “Tôi muốn nói chuyện với luật sư của tôi!”
Em thư ký hơi bực mình rồi nhe, dắm dẳn: “Tôi đã nói là luật sư của ông đã chết hồi tuần rồi. Tại sao ông cứ gọi hỏi hoài vậy hả?”
Johnny cười khè khè đáp lại: “Tại vì nghe cái tin nầy, cứ lập đi lập lại, nó đã cái lỗ tai của tui biết là bao. He he!”
Johnny phân bua rằng:“Không phải mình tui ghét luật sư của tui đâu mà dân Úc, thằng nào bị vợ bỏ, cũng rứa.”
Ra Tòa chia con chia của, có mướn luật sư đại diện đàng hoàng mà quan Tòa xử xong là mình mạt.
Mất hết! Căn nhà của mình, phân nửa về em (không còn yêu nữa); còn phân nửa về tay luật sư của mình.
Johnny lên lớp tui rằng: “Nè trong 30 ngành nghề trong xã hội, dân Úc tin tưởng nhứt hạng là y tá. Hạng bét, tức hạng 30, Úc cho rằng là những tay bán xe hơi cũ chuyên môn nói dóc để bán được xe. Còn luật sư, dân Úc không tin lắm nên xếp đứng chính giữa, tức thứ 15 đó. Nhưng qua kinh nghiệm đau đớn ly dị vợ vừa rồi, tui cho tay luật sư của tui đứng hạng bét.”
***
Tui vẫn giữ quan điểm của người Việt mình là kính trọng người học giỏi, thông thái với cái đầu tóc giả và áo chùng thâm xuất hiện cãi sùi bọt mép tại Tòa.
Tui không chia sẻ quan điểm với thằng Johhny, vẫn cho nó giữ bản quyền mấy câu chuyện châm chọc về nghề luật sư dưới đây để bớt tức tối, kẻo tăng xông nó lên là chết không kịp trối.
Johhnny giận luật sư về gia đình thì cũng còn hiểu được. Nhưng nó còn giận luôn với mấy ông luật sư lo về di chúc, phân chia tài sản của người quá cố để lại. Vì cũng là con mà kẻ nhiều người ít…Tất phải gấu ó với nhau hè.
Càm ràm với ông (hay bà) đã đi bán muối rồi đâu có được; nên bao ấm ức tấm tức đem dội hết lên đầu ông luật sư có bổn phận phân chia tài sản theo di chúc.
Thiệt là oan ơi ông Địa!
Nên có chuyện xỏ xiên rằng: “Tú bà của một động yêu hoa ở Melbourne vừa mở cửa thì thấy một khách hàng ăn mặc rất lịch sự đúng mốt, cử chỉ lịch lãm dù tóc đã muối tiêu.
Ông khách yêu cầu: “Tôi muốn em Natalie!” Tú bà trả lời: “Natalie là em tính tiền cao nhứt ở đây đó thưa ông. Hay là gọi em khác rẻ hơn nhiều cho ông anh nhé?!” “Không! Tôi chỉ muốn gặp Natalie mà thôi!”
Lúc đó em Natalie xuất hiện cho giá: “Phục vụ từ A tới Z, 45 phút, 1000 đô Úc!”
Không một cái chớp mắt, ông anh móc trong cặp ra 10 tờ 100 đô cáu cạnh.
Cả hai sóng bước lên lầu! 45 phút sau, ông anh lặng lẽ rời đi.
Đêm sau, ông anh lại đến và lại muốn gặp Natalie. Em ỏn ẻn: “Đâu có ai đến liền tù tì hai đêm liền đâu. Dẫu vậy cũng không có chăm chước, giảm giá gì hết ráo. Phục vụ từ A tới Z, 45 phút, 1000 đô Úc!”
Không một cái chớp mắt, ông anh móc trong cặp ra 10 tờ 100 đô cáu cạnh.
Cả hai song bước lên lầu! 45 phút sau, ông anh lại lặng lẽ rời đi.
Đêm thứ ba người lại đến. Xong xuôi hết ráo, Natalie mới hỏi ông anh mình rằng: “Chưa có ai sử dụng dịch vụ của em ba đêm liền như anh vậy! Xin cho hỏi anh là người từ đâu đến?”
“À Tôi từ Sydney tới!” “Vậy hả? Em cũng có người thân ở Sydney đó!”
“Tôi biết! Ba của em vừa mới qua đời, tôi là luật sư của chị em. Bà ấy nhờ tôi trao 3000 đô nầy lại cho em đó!”
***
Rồi cũng lo về di chúc, ông luật sư nầy lại hên quá xá là hên, trúng mối sộp vô cùng!
Chuyện rằng: Một cụ bà gọi đến văn phòng một luật sư để làm di chúc.
“Suốt cả đời sống thui thủi một mình, tôi hiếm khi đi gặp bất cứ một ai; nên xin cô thư ký thu xếp cho ông luật sư đến nhà tôi được không?”
Công ty Luật độ rày ế quá nên viên luật sư bằng lòng chạy sô.
“Xin bà cho biết tài sản gồm bất động sản như nhà cửa, xe cộ, tàu bè, và tiền mặt bà có bao nhiêu? Và dự định sẽ cho ai?”
“Ngoài vật dụng như bàn ghế, tủ, chén trong nhà, tôi còn có 400 ngàn đô trong tài khoản ngân hàng Commonweath Bank!”
“Dà! Bà tính chia 400 ngàn đô nầy như thế nào ạ?” “À như đã nói, vì sống suốt một đời lặng lẽ, không ai thèm để ý đến tôi cả; nên lúc chết đi, tôi muốn làm đám tang của chính mình cho thật lớn, có ban nhạc rock, có cả vũ sexy. Nên tôi dự chi 350 ngàn đô cho lễ an táng của mình.”
“Chu choa! 350 ngàn đô một số tiền quá lớn! Đám ma của bà chắc hẳn rất là hoành tráng, thiên hạ sẽ lé mắt hết trơn. Trả thù đời như vậy cũng đáng đồng tiền bát gạo!”
“Dà còn lại 50 ngàn đô, bà tính ra làm sao?” “Như luật sư biết, cả đời sống cu ky một thân một mình, tui chưa biết mùi đời là gì hết. Trước khi chết đi, tôi cũng muốn nếm thử coi nó ra làm sao? Xin luật sư sắp xếp cho tôi một người rồi trả công cho anh ấy 50 ngàn đô còn lại nhé!”
Về nhà, viên luật sư kể cho vợ nghe câu chuyện hơi lạ lùng nầy thì em yêu sáng mắt lên như mắt cú vọ: “50 ngàn đô một số tiền quá lớn! Thôi đừng mướn ai hết! Anh làm đi, em cho phép đó!”
“Sáng mai, em sẽ chở anh yêu đến đấy, em sẽ đợi ngoài xe cho đến khi anh xong việc.”
Sáng hôm sau, em yêu ngồi đợi ngoài xe. Một tiếng đồng hồ trôi qua, nóng ruột, em bóp kèn xe kêu inh ỏi.
Thì cửa sổ phòng ngủ trên lầu mở ra, anh luật sư ló đầu ra, la to: “Mai trở lại đón anh đi! Bà ấy đã quyết định để ‘cáo sồ’ lo việc an táng khi bả chết!”
***
Chính vì làm luật sư ắt phải thông minh học giỏi, nên đôi khi trong từ điển cuộc đời bôi luôn từ khiêm tốn. Hở ra cứ hù thiên hạ không hè nên phải ngậm đắng nuốt cay như câu chuyện dưới đây. Một luật sư lần đầu tiên đi săn vịt trời ở tiểu bang Queensland. Ông nổ súng và một con vịt bị bắn hạ rơi vào một nông trại có hàng rào ngăn cách.
Viên luật sư định leo rào vào thì ông chủ nông trại lái chiếc máy cày ngang qua hỏi: “Ê! Làm gì đó cha nội?”
“À tôi bắn một con vịt trời, nó rớt xuống cái ruộng nầy, tui leo vào để lượm mà!” “Đây là điền sản của tôi; ông không được quyền leo vào!”
Viên luật sư hù: “Nghe nè ông già! Tui là luật sư giỏi nhứt nước Úc đây. Cãi vụ nào cũng thắng. Nếu ông không cho tôi leo vào lượm con vịt; tôi sẽ đưa ông ra Tòa, sẽ làm ông tán gia bại sản! Đừng giỡn mặt với luật sư số một nước Úc nhe!”
“Ôi! Ngài luật sư không biết cách giải quyết những bất đồng ý kiến của dân Queensland chúng tôi rồi!”
“Ở đây chúng tôi xử theo tập tục là: Đá ba cú!”
“Nghĩa là sao?” “Nghĩa là trước tiên tôi đá ông ba cú. Sau đó ông đá lại tui ba cú.
Cứ đá qua đá lại tới chừng nào một bên chịu không nổi phải thua!”
Vốn là người thông minh, nhanh trí, nghĩ mình còn trẻ khỏe, lực lưỡng vì đi ‘gym’ mỗi ngày; còn đối thủ một ông già lụm khụm rồi mình ăn chắc.
“OK! Tui với ông giải quyết bất đồng theo dân luật của Queensland đi. Ông già rồi! Tui cho đá tui trước!”
Ông lão nông co cẳng đá một cú trúng cái đầu gối, đau quá khiến viên luật sư muốn khụy xuống. Cú thứ hai trúng ngay cái cột thu lôi, chỗ hiểm, làm viên luật sư mặt xanh chành vì tức thở! Cái thứ ba dính vào cái bụng nghe cái hự! Chu choa đau quá! “Rồi! Tới phiên tui!”
Thì ông già cười hè hè nói: “Thôi! Tui chịu thua! Ông luật sư được quyền leo vào, lượm con vịt về nhà nấu cháo ăn đi!”
Là học trò miền Nam, mình không thông hiểu chữ bộ đội. Lẽ nào ám chỉ thành phần chuyên lội bộ và đội đồ? Nghe chẳng ổn, nhỉ? Nhưng cứ mường tượng ra một kẻ chuyên trị đi bộ và đội đồ, nhìn mặt rồi bắt hình dong thì trông chừng dáng vẻ ấy nó rập khuôn với mấy o bộ đội. Như hai giọt nước.
Sau năm Một Chín Bẩy Nhăm, khi san bằng vĩ tuyến 17 hai miền thông thương, chúng sinh miền Nam đã tập làm quen con mắt dần dà thôi dị ứng với những nhân dạng quê mùa, cục mịch chốn nào cũng hiện diện có chung tên gọi: Bộ đội gái. Lỡ ăn dầm ở dề với da thịt lụa là, với thanh cảnh, với mình hạc xương mai, với yểu điệu thục nữ, với xô động hương mùi, với đài các khói sương, với beauté, với “em là con gái trời bắt đẹp”… cho nên lỡ bị ngó ra mấy o trách sao người ta không choáng, không sốc. Người ta giật thót mình mẫy và xằng bậy thay, người ta đã “cười trên nỗi đau của kẻ khác”. Trời ơi! Lính cụ Hồ ngó quê một cục. Người ngợm ngó bắt nản. Đờn ông con trai miền “được” giải phóng có đối diện cũng xin bất tương phùng tựa phỏng dái. Thanh niên gãi đầu: Dạ, bị trên bảo mà dưới không nghe. Cứ xìu xìu ển ển miết, chừ em biết tính làm răng hở chị! Cái sự cố này hổng có liên hệ tới nhất trung ương nhì địa phương đâu nhé. Cũng chả dính dáng tới thơ thẩn: “Bề trên ở chẳng chính ngôi, để cho kẻ dưới chúng tôi hỗn hào”. Ngộ nhỡ thằng cu đen nó hỗn hào đột xuất thì chị bộ đội mừng húm. Chị nhớ ông Bút Tre: Má kề nòng súng thẳng đơ, tay suông chị cứ bóp cò sướng chưa. Có vậy chứ, công trình chị xẻ dọc Trường sơn vào đây lôi em ra khỏi bàn tay lông lá của bọn Mỹ Nguỵ, em tha hồ hỗn láo đêm bảy ngày ba vào ra không kể để giải hạn cho chị, cứ bắn trực xạ vào mình chị, cho chị bỏ những ngày cơ cực. Trong khi mà lắm kẻ mãi hoang mang ngờ vực: Cớ sao mình lại cháy túi trong canh bạc xui tận mạng này, trước một đối tượng ngô không ra ngô khoai chẳng ra khoai kia, thì Dương Thu Hương, đại diện cho bộ đội gái đã thổn thức không kềm lòng cho nước mắt tuôn, khóc ròng khi dẫm được bàn chân lên bờ cõi nọ: Than ôi, ta đã bị lừa bịp quá đỗi trắng trợn. Chú phỉnh ta rồi chính phủ ơi! Chốn này hơn cả vạn lần chốn kia. Hơn con người, hơn văn hoá, hơn cảnh vật, hơn luôn cả bầu khí quyển đang bắt đầu tan tác mây trôi. Ta khóc chính vì sự ngược ngạo trái khuấy ấy. Bi kịch nằm ở trường hợp khóc lẻ tẻ nọ, phía thắng cuộc, tuyệt đại bộ phận đều hồ hỡi phấn khởi “em về điểm phấn tô son lại, ngạo với phương Bắc một nụ cười”. Từ đi bộ đội đồ họ biến đổi thân phận đi xe thồ đồ, đi tầu vác đồ, dùng đủ mọi phương tiên để khuân của cải “phồn vinh giả tạo” của miền Nam trực chỉ Bắc tiến. “Chúng nó ăn không từ một cái gì”, từ một vùng đất mầu mỡ rừng vàng biển bạc, phút chốc miền Nam bị giải phóng thành một bãi tha ma. Công trạng này một phần có sự tiếp tay của bộ đội gái, của những “người mẹ anh hùng”. Người ta không quên ơn, đã tạc nên bức tượng thật hoành tráng, cực choáng, cực kỳ vĩ, siêu khủng và cũng… mất mỹ thuật. Hình minh hoạ ở đầu bài thì khác, đây là bộ đội Trung quốc. Mấy o này chẳng biết đóng quân ở đâu? Căn hộ tập thể với tường vôi sứt mẻ gạch đá e không khéo cắm dùi tận chốn hiu quạnh xa đất liền? Hoàng Sa Trường Sa chăng? Họ cố làm vơi nỗi nhớ nhà bằng cách tụ tập hát hò, đèn thắp sáng, đèn cháy bỏng niềm thương về hậu phương dạt dào cách trở thiên dặm hải lý. Chắc hẳn họ không biết bài ca của bọn phương Nam thù địch “đường ra trận mùa này đẹp lắm” ?. Đẹp cái khỉ mốc, bản cô nương đang lậm nhớ thằng người yêu bé bỏng ở hậu phương đây, nhớ đến thắt cửa mình. Mình mà đi công tác dằng dặc lâu, tiền đồn trấn nhậm nơi lạ nước lạ cái, bọn người iu ở nhà không khéo mà sanh bạc lòng, chúng xuôi Nam, chúng tuyển vợ Duỵt-nàm-dành thì bỏ mẹ! Nghe nói ở xứ ấy, chúng nó lựa gái giống như đi chợ lựa cá tôm.
Xem con nào ương con nào tươi, mặc cả rồi bê về bắt phục dịch. Ngôn ngữ bất đồng? Thì cứ ú ớ chơi chị năm. Có sao đâu? Cờ nó chỉ một sao, cờ ta thì cả nạm sao chư hầu. Nó lấy tư cách gì đàm phán với ta, thằng đàn em hỗn láo.
Tranh vẽ của một hoạ sĩ nhân dân nào đó, thấy trên mạng, chẳng nhớ tên. Hoạ sĩ này chắc sanh sau đẻ muộn, thôi ám ảnh thời cách mạng văn hoá, đã vung tay quá trán cho mấy cô bộ đội ăn vận hơi bị mất tác phong quân đội. Tranh của vị xếnh xáng này so ra không hơn được hoạ sĩ Vi Vi của phương Nam ngày nọ. Không màng tới đội ngũ bộ đội, chứ nếu vọc tay vào, Vi Vi sẽ vẽ “tới” hơn. Liên tưởng tới người hoạ sĩ từng một thời phiêu bạt ở Montréal vì chợt nghĩ, nếu dưới bức tranh này ký tên Vi Vi thì cũng rứa, ngó xêm xêm chẳng ai thét mét, bởi chàng rất giỏi ở lãnh vực cơ thể học, dessin vững, dựng hình khối rất chuẩn và thiếu nữ trong tranh chàng… bộ đội gái ngó phải chảy nước miếng. Anh ơi, em lột truồng ra nhé, để mong anh vẽ cho em một tấm tranh nuy. Đừng run tay cầm cọ, xin hãy nghía em một lần cho thoả. “Bây giờ em đối diện anh, cỏ trên mình mẩy em sầu như ri đây!”
Đã là bộ đội e thắp đuốc tìm chẳng ra gái đẹp, hoạ sĩ nhân dân này khi lao động buộc lòng phải đánh tráo sự thật, hòng ca ngợi và cổ động binh lực của họ. Một gã bất hạnh bị đắm tàu lạc vào hoang đảo, trời xui khiến bắt gặp bầy “ma nữ” này thì lo kiếm cách mà tìm đường vượt biển kẻo chết không toàn thây. Họ xa luân chiến, họ dụng binh, mang chiến thuật lấy thịt đè người thì còn gì tính mạng nam tử hán mí lị đại trượng phu. Phải ngửa mặt lên trời mà ta thán, thống thiết kiểu Chu Du: Trời sinh ta sao còn sinh một tiểu đội gái sung! Một khẩu K-59 hèn mọn lủng lẳng dấu trong quần mần sao đương cự nổi với ngần ấy B-40 với cối to đùng! Làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm cọng thêm giờ nghỉ là lao động tắt quạt kiểu như nối lại tuyến đường mòn Hồ Chí Minh, chứ sức nghỉn đâu mà phục vụ hết Triệu Minh lại tới phiên Chu Chỉ Nhược, Tiểu Long Nữ vừa nhào vô đã thoáng thấy Hoàng Dung trút bỏ xiêm y đợi chờ. Than ôi! Biết vậy trước đây ta nên tu luyện Tịch Tà kiếm phổ để triệt tiêu chim cò thì giờ này khiến cho đối tượng tức ói máu. Cứ xìu xìu ển ển thì làm gì nhau, binh pháp gọi bất chiến tự nhiên thành là vin vào lẽ ấy. Có ưa thì ngủ chay thôi, nhớ? Ôm ấp hôn hít bậy bạ vậy thôi cho qua đêm dài lắm mộng, chứ tại hạ không thể thân này ví xẻ làm năm được, các hạ có OK?
Bộ đội phương Nam có còn ngon cơm như thuở nọ? Cái thời mà “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Cái thời mà lắng lòng nghe dân anh chị phương Bắc rót mật: Sông liền sông núi liền núi, chớ hở môi mà răng lạnh, hử? Giờ này hoà bình đã bốn mươi năm e cơm cháo thảy nguội lạnh mất rồi. Văn không ôn võ nhác luyện đã đành, quan trọng hơn, lòng dạ lỡ nhuốm bệnh hoài nghi ngờ vực mất rồi. Ta vắt kiệt tuổi xanh cũng giống như lãnh đạo vắt chanh bỏ vỏ. Đời ta trước sau vẫn vậy, đi từ nghèo đói tới giáp vòng đói nghèo chẳng sanh đột biến; nhưng thượng tầng kiến trúc thì dinh thự nguy nga xe cộ bóng lộn lon lá đầy mình không-phong-tướng-anh-em-họ-tâm-tư. Hoá ra ta dâng trọn sức lực mình để cho ai kia thụ hưởng thành quả. Lịch sử sang trang, giờ đây ta còn nhuệ khí nào để ra tuyến đầu mà làm vật cản, mà đánh đấm người anh em, người đồng chí ngày cũ? Phương chi súng ống này, đạn dược này thảy đều do họ chi viện cho ta. Thua, thua tứ tung bát giác thù trong giặc ngoài. Tình ngay ta cũng biết ngậm đắng nuốt cay, một liều ba bảy cũng liều, có điều mấy vị đại ca ở trên e lòng dạ cũng ngổn ngang trăm mối nên cứ thầm thà thậm thụt tịnh khẩu như bình. Mấy ảnh im re nên ngày 14 tháng 3 năm 1988 mới xẩy ra sự cố là 64 chiến sĩ hải quân ở Gạc Ma đứng như phổng đá để làm bia cho chúng bắn trực xạ vào người oan ôi ông địa. Thù này phải trả! Có ai thốt nên lời ấy chưa? Đụng trận, tả xung hữu đột, đứng trước ba quân mà thề nguyền, tự cổ chí kim chuyện gay cấn nọ tuồng không mắc mớ chi tới phận đàn bà. Nhi nữ thường tình xứ An Nam chỉ nổi trội duy trong lĩnh vực nội trợ hoặc trèo đèo lội suối lặn lội bới xách đi thăm nuôi chồng học tập rừng sâu. Chung thuỷ giỏi dang chỉ ngần ấy thôi đã sớm tàn lụn một kiếp nhân sinh bọt bèo hồng nhan đa truân. Sau lưng một người đàn ông tiếng tăm luôn có bóng dáng của phụ nữ. Ẩn mặt trong bóng tối cuộc đời Tú Xương vẫn hiện hữu một người tự nguyện làm thân cò lặn lội bờ ao nuôi chồng nuôi con không quản ngại giông bão, kìm hãm được tiếng than van. Giặc đến nhà đàn bà phải đánh! Vừa dứt câu thì hiện ngay ra công án với dấu hỏi to đùng: Vậy chứ đàn ông trốn biệt đi đâu?
“Chiếc gạt nước như xua tan nỗi nhớ, ở Trường Sa em lại tương tư Hoàng Sa”. Bài hát mùi boléro nọ e bất khả sáng tác tự biên tự diễn. Mới rục rịch xuống đường đi biểu tình thôi đã bị tó, cho nhập kho thì sức nghỉn đâu mà đòi chủ quyền này nọ. Về nhà đi nhớ, chuyện nước non đại sự thì trên, lãnh đạo họ có cách giải quyết, họ sẵn phương án hành động rồi. Ưa uýnh nhau hở? Haizz, nếu gây ra chiến tranh một mất một còn thì tự thuở nào tới giờ chỉ có dân ngu khu đen mới thiệt thòi lãnh đủ thôi bà con ạ. Lời thật thường mất lòng, lãnh đạo mới tậu cái ghế xịn nom như ngai vàng, chắc như kiềng ba chân, ngự lên trên thì y như rằng một sợi lông cũng chẳng rụng, để yên cho mấy người ra yêu sách đá đảo này nọ thì có khác gì vẽ đường cho hươu chạy. Ốm o xo bại là thế mà sao ưa tơ tưởng được voi đòi hai bà Trưng, hử! Nghe đây này, đã có vị tướng mần cuộc so sánh: Nói về sự đối đầu giữa bộ binh thì chưa rõ mèo nào cắn miêu nào, nhưng xét về lực lượng hải quân thì ta phải nhìn nhận điều không thể chối cãi, ta không cách gì so bì với Trung Quốc được. Họ hiện đại lắm cơ!
Bạc nhược chăng? Thức thời chăng? Khiếp vía chăng? Hay thuộc làu binh pháp “biết người biết ta trăm trận trăm thắng”. Quan võ đã nói thì chí ít cũng có chút cơ sở do kinh nghiệm tích luỹ. Nhưng mà tướng, sao trong thời chiến quân đội ta chỉ có 56 ôn mà giai đoạn hoà bình này lại có tới 1000 ôn? Lon lá đeo kín ngực để làm gì nhỉ, ăn không ngồi rồi thì hơi bị lãng phí nhỉ? Dân số 90 triệu mà có 1000 vị tướng, bà con nên xem đó là một tỉ lệ khiêm nhường chứ lị. Và cơ bản, hệ trọng nhất, bà con chớ dại mồm dóng hỏi, 1000 vị thì có mấy trăm vị lỡ móc ngoặc mần ăn chia chác với Trung Quốc?
Xưa kia mình có cô bạn gái, chẳng ngờ gia đình cô có công với cách mạng, anh em bà con giòng họ từ ngoài Bắc vào sum họp rộn ràng đoàn viên. Dĩ nhiên cô được chế độ ưu ái bổ nhiệm cho một công việc có nằm mộng cũng chẳng ngờ. Mình không biết cơ quan cô nhằm điều hành chuyện chi trong cái thành phố bát nháo thuở nọ nên mình liệt kê cô là bộ đội gái cho tiện việc sổ sách. Cô thay đổi tư duy, ban đầu nói cạnh nói khoé, riết được trớn mắng mỏ mình như tát nước. Thời gian như nước chảy chân cầu. Nắng mưa là bệnh của đất trời, mới đây cô viết email xem chừng khuynh đảo đánh mất lập trường. Mình đọc, rất tâm tư. Cô bảo ta hơn Trung Quốc cái gì nào? Nói nghe thử? Văn học ta chưa đạt hoả hầu trong khi bên Trung Quốc vô số kẻ tung chưởng phong đều tích tụ tới 12 thành công lực, chỉ riêng ông nội Kim Dung cũng khiến hắc bạch giang hồ chốn ta xiêu hồn bạc vía, chưa tính tới Mạc Ngôn linh tinh các thứ. Điện ảnh xứ ta phải vòng tay gọi Trương Nghệ Mưu là sư phụ. Thời trang ư? Bọn trẻ xứ ta luôn đi săn hàng hiệu do Trung Quốc nhái. Ẩm thực ư? Biết thức ăn người nước lạ ngâm tẩm độc dược vẫn tranh nhau đớp hít. Cần tiền chăng? Sang xứ ấy bán thận bán gan hoặc bán luôn cả thân thể. Rồi sẵn dịp đi tham quan Vạn lý trường thành, không đặt chân lên đó hổng phải là hảo hán… Cô bạn mình chấm dứt mục bình luận bằng lời than, nghĩ mà tủi cho vong linh của tiền nhân! Chuyện nọ xọ chuyện kia, nói Sở xong quay qua Hán, Lưu Bị xong lại móc ngoặc tới Tào Tháo, tràng giang đại hải cứ y như là Mao Tôn Cương. Ba hồi bảy đỗi, nói qua nói về không bằng nói thiệt, đương sự cho hay là cô rất nhớ mình, cô ước ao có ngày mình khăn gói quả mướp làm diệt kiều về thăm lại chốn xưa chôn gò đống kỷ niệm.
Mình chẳng vắt tay lên trán trằn trọc năm canh, ba mươi giây có ngay đáp án, mình hát: Không, không, trăm lần không vạn lần không. Mình đọc thơ: Khoan khoan ngồi đó chớ ra, nàng là phận gái ta là phận trai. Mình chảnh kiểu Kinh Kha một đi không trở lại. Rứa đi nghe, hẳn chờ một ngày trời quang mây tạnh mới tính được. Quê hương mình cực lắm người ơi!
Cả tháng trời công tác địch vận ra sức chiêu hồi cứ nước đổ đầu vịt, sau cùng cô giở hạ sách, theo kiểu trường phái Bút Tre:
email anh viết thật bay bướm em mong đợi từng ngày từng đêm.
Bộ đội gái vốn không mấy đẹp thời hoàng kim, giờ này bốn bó lẻ ba que thì nhan sắc ắt phải nhạn trốn chiều tà, lấy tư cách gì mà tính kế mỹ nhân!
Em nay về viện bảo tàng Thực thi công tác cách mạng giao cho.
Một chuyện tình buồn sau ngày 30 tháng Tư, 1975… Rất nhiều cuộc tình dang dở sau ngày dài đau thương đó…
Tôi đến Đà Lạt đúng vào một ngày mưa. Mưa tầm tã. Ngồi trong nhà Thủy Tạ, nhìn những hạt mưa bay giăng kín rừng thông, phủ mờ khu phố Hoà Bình, và rơi lả tả xuống mặt hồ Xuân Hương, tôi mơ hồ như những giọt nước mắt của người góa phụ đã từng một thời nhan sắc.
Người con gái vừa đến gặp tôi làm cho tôi mỉm cười với sự so sánh lạ lùng này. Bởi cô ta cũng xinh đẹp, và dù có nở nụ cười tỏ ra mừng rỡ khi chào tôi, vẫn không giấu được nét buồn trong đôi mắt. Một nỗi buồn có cái gì xót xa sâu lắng lắm.
Tôi đã đến thành phố này nhiều lần. Lần cuối cùng vào mùa Giáng Sinh năm 1970, khi đơn vị tôi may mắn được lệnh về đây phối họp hành quân giữ an ninh cho một khóa Võ Bị làm lễ ra trường. Bao nhiêu năm trong rừng núi tây nguyên gió lạnh mưa mùa, rồi xuống bờ biển Phan Thiết với những động cát trơ trọi nóng như lửa đốt, bất ngờ được về Đà lạt, cho dù chỉ sau một ngày ở thành phố, đơn vị tôi lại được đổ xuống những rừng thông xa tít, nhưng đám lính tráng bọn tôi vẫn có cái cảm giác như được đi nghỉ mát. Người ta nói đúng, Đà Lạt dễ thương như những cô gái với gò má trắng hồng và đôi môi mộng đỏ để ai một lần lên xứ Hoa Đào mà lòng không vấn vương. Đà lạt cũng là nơi có nhiều huyền thoại về những mối tình đẹp và buồn của các cô sinh viên với những chàng trai mang alpha đỏ theo nghiệp kiếm cung, mà tôi đã đọc được trong những bài thơ thật buồn của Lệ Khánh từng vang tiếng một thời.
Nhưng đó là Đà Lạt của ngày xưa. Còn hôm nay tôi đến Đà Lạt, với ngổn ngang những nỗi buồn nặng trĩu trong lòng, và Đà Lạt bây giờ chỉ là một thành phố chết.
Tôi ra tù, trong thời gian còn bị quản chế, trong túi không có bất cứ một tờ giấy nào. Ngay tấm “Giấy Ra Trại” cũng đã bị công an xã giữ. Nhờ thằng em cùng đơn vị cũ, có lò bánh mì ở Tháp Chàm, gởi tôi theo một chiếc xe bộ đội nhận mối chở bánh mì với tiền thù lao khá, tôi mới có mặt ở đây. Anh tài xế sau khi giao mấy thùng bánh mì, còn gởi tôi cho cô “chủ nhiệm” quán Thủy Tạ (bây giờ là của nhà nước), bảo là ông anh họ, để tôi yên lòng không bị hỏi giấy tờ. Quán vắng tanh. Tôi chọn cái bàn nhỏ xa phía trước và gọi hai tách trà nóng. Tôi cũng chỉ đủ tiền để trà hai tách trà này.
– Anh chờ em có lâu không?
Tôi giật mình khi nghe cô gái hỏi.
– Không sao, tôi chờ cũng đã khá lâu, nhưng được gặp chị hôm nay là tôi mừng lắm rồi.
Điều mà ai cũng ái ngại khi phải mang tin buồn đến cho một người. Đặc biệt người đó lại là một cô con gái đẹp, như cô gái đang ngồi trước mặt tôi đây. Tôi dè dặt:
– Chắc chị đã biết, như trong lá thư tôi gởi. Tôi là bạn tù của Thống, và hôm nay muốn gặp chị là để nhắn lại những điều Thống đã nhờ tôi.
– Em biết là anh Thống đã chết từ năm 1978, nhưng mãi đến năm ngoái , em mới được phường đưa “Giấy Báo Tin”. Em không biết làm sao báo cho mẹ anh ấy biết. Bà ở bên Mỹ nhưng em không liên lạc được.
Tôi bất ngờ, nhưng chợt thấy một chút yên lòng khi nghĩ là cô sẽ không còn đột ngột nhận một tin buồn từ chính miệng của tôi.
– Chị đã biết tin buồn về Thống. Như vậy cũng là may, chứ không phải người tù nào chết mà người nhà cũng được báo tin. Hôm nay, dù hoàn cảnh khó khăn, tôi cũng phải tìm gặp chị đề nói lại cùng chị những lời trăn trối cuối cùng, và trao cho chị những kỷ vật mà anh Thống nhờ tôi trao lại chị.
– Cả tuần nay lòng em rất bồn chồn, mong sớm được gặp anh. Vì em không biết anh Thống chết ở đâu và mồ mả ra sao. Nhiều lần nằm mơ, em thấy anh Thống, nhưng chưa bao giờ nghe anh ấy bảo là anh đã chết.
Tôi lấy trong túi ra để trên bàn một sợi dây đeo một tấm ảnh nhỏ được lồng vào trong cái khung có hình trái tim đẽo bằng gỗ mun, loại gỗ quý mà chúng tôi thường tìm được ở khu rừng Việt Bắc, một chiếc vòng nhỏ làm bằng nhôm xinh xắn, có khắc đậm sáu chữ Lê Minh Thống & Hà Nhất Anh, và trịnh trọng đứng lên đưa cho cô.
Nhất Anh chính là cô gái, và Minh Thống là tên một người bạn tù của tôi. Anh đã chết sau gần hai năm bị chuyển ra ngoài Bắc.
Tôi gặp Thống ở trại Lào Cai, khi hai thằng vừa trong Nam mới chuyển ra. Sau hơn một năm cả hai cùng chuyển về trại Hang Dơi thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn và may mắn được “biên chế” về cùng một tổ. Thống tốt ngiệp từ trường Võ Bị Đà Lạt, được chuyển sang Không Quân, lái phản lực. Trong thời gian học trường Võ Bị, Thống quen Nhất Anh, khi ấy đang là sinh viên của trường Chính trị Kinh Doanh. Thống chỉ còn bà mẹ già và cô em gái ở Sài Gòn. Cuộc tình của cô sinh viên Đà Lạt và chàng cựu sinh viên sĩ quan Alpha đỏ kéo dài khá lâu. Hai người đã làm lễ hỏi. Nếu Thống không sang Mỹ học phi hành và nếu không có ngày 30 tháng Tư, thì hai người đã làm đám cưới.
Những ngày cuối cùng khi Sài gòn hấp hối, Thống được bạn bè thu xếp hai chỗ trên trực thăng để bay ra hạm đội Mỹ, nhưng Thống lại dành cho mẹ và cô em gái. Gởi mẹ và em cho thằng bạn thân, Thống nói dối với mẹ là anh sẽ đi sau.
Thống liều lĩnh tìm mọi cách chạy về Đà Lạt. Chưa kịp đón Nhất Anh, thì Sài Gòn mất. Thống nằm ở nhà Nhất Anh một tuần rồi ra trình diện “uỷ ban quân quản”, nhưng người ta chỉ cấp giấy chứng nhận và ghi là phải về Sài Gòn trình diện chính quyền địa phương ngay. Trở lại Sài Gòn, nhà bị tịch thu, Thống phải ở ké nhà một người bà con trước khi vào trại cải tạo.
Mấy năm trong tù, Thống có liên lạc được với Nhất Anh. Nhưng vài tháng mới nhận được một lá thư ngắn, chỉ hỏi thăm vài câu và khuyên “học tập tốt để sớm được khoan hồng về với nhân dân”. Bao nhiêu nhung nhớ yêu thương đều phải dấu kín ở trong lòng. Trong tờ khai lý lịch, Thống ghi Hà Nhất Anh là vợ, cũng là người thân duy nhất, và địa chỉ của Nhất Anh cũng là nơi anh xin cư trú sau này.
Thống to con đẹp trai, nhưng dường như tình yêu dễ làm cho Thống yếu lòng. Có những ngày đi chặt nứa trong rừng, Thống chỉ ngồi khóc và thì thầm gọi tên người yêu. Mấy lần không mang về đủ nứa, bị phạt cắt bớt một nửa phần ăn vốn đã ít oi, nhưng vẫn không ngăn được nước mắt của Thống. Dường như khi lòng đang thương nhớ ai, thì cái đầu không còn điều khiển đôi tay được nữa. Nhiều hôm tôi phải vận động anh em nhường bớt một chút phần ăn cho Thống, và chia nhau đi lấy thêm nứa cho Thống có đủ chỉ tiêu để không bị phạt.
Thống còn trẻ, nhưng cũng như hầu hết sĩ quan xuất thân từ Đà Lạt, dù ở binh chủng nào cũng kiêu hùng và thăng tiến rất nhanh. Thống nhỏ hơn tôi sáu tuổi, nên xem tôi như người anh. Có điều gì vui buồn, Thống tìm tôi chia sẻ. Tôi luôn an ủi và khuyến khích để anh có thêm nghị lực. Thống có gì khó khăn tôi sẳn sàng hết lòng giúp Thống.
Sau này, đội tù của tôi được phân công đi lấy gỗ về xây dựng hội trường. Họ bắt chúng tôi phải tìm những cây gỗ lớn và thẳng. Có những thân cây lớn đến hai vòng tay ôm không hết. Trời mùa đông với những cơn mưa phùn không dứt, nên những con đường mòn trơn như mỡ, chúng tôi chia từng nhóm hai mươi người vừa kéo vừa bẩy cho từng thân cây lăn theo những con đường mòn ấy từ trên núi cao lao xuống suối để cho nó trôi về bên hông trại.
Ăn uống quá thiếu thốn, đám tù chúng tôi triền miên trong cơn đói. Sức ngày càng yếu mà phải lao động quá nặng nhọc, nên chỉ sau một tuần lấy cây, người nào cũng mệt lả.
Một hôm đang lấy sức bật một thân cây xuống bờ suối, Thống mệt quá nên lảo đảo rồi ngã sấp trên thân cây, đúng lúc cây này lăn xuống suối, bật luôn theo Thống. Chúng tôi chỉ còn nghe tiếng hét của Thống trước khi anh bị văng xuống lòng suối nằm sâu dưới vực.
Trời nhá nhem tối, cả hơn bốn mươi thằng tù chia nhau trèo xuống suối đi tìm Thống. Gần nửa giờ sau chính tổ của tôi tìm được Thống. Anh nằm bất động bên bờ suối. Rất may là ở một nơi không có đá. Thống thoi thóp thở, nhưng không còn cử động được.
Chúng tôi nhanh chóng kết một cái bè gỗ, rồi theo dòng suối, cùng nhau đẩy anh về trại. Sau hơn một tiếng đồng hồ trong trạm xá, Thống tỉnh lại, mở hé mắt nhìn mọi người. Khi nhận ra tôi, Thống thì thào:
– Nếu sau này anh còn sống mà về được, nhớ tìm giùm Hà Nhất Anh và nói là em xin lỗi nàng. Mong nàng hãy sớm lấy chồng và quên em đi.
Tôi nắm chặt đôi vai lạnh lẽo của Thống:
– Thống yên chí, tôi sẽ làm bất cứ điều gì mà Thống dặn dò.
Thống cố gắng mở lớn mắt nhìn tôi như cầu khẩn:
– Nhờ anh giữ lại cái vòng nhôm trong balô và tấm ảnh em đang mang trong cổ này, trao lại cho Nhất Anh. Nhớ nói giùm là em xin lỗi cô ta.. xin lỗi cô ta.
Ngày hôm sau, một buổi chiều mưa buồn ảm đạm, dưới sự kiềm soát của hai vệ binh, tôi cùng ba người bạn tù đẩy xác Thống trên một chiếc xe “cải tiến” ra chôn dưới triền núi, bên một hốc đá. Chúng tôi đào huyệt đúng vào lúc cơn mưa trút xuống. Huyệt đào tới đâu thì nước ngập theo tới ấy. Tôi năn nỉ xin hai vệ binh cho chúng tôi tìm một nơi khác cao hơn, và chờ cơn mưa tạnh bớt, nhưng không được đồng ý, mà còn bị quát tháo, bảo phải “chôn khẩn trương lên mà về ngay”.
Tôi phải ngồi đè trên xác Thống, lềnh bềnh trên nước, để cho ba người bạn tù kia lấp đất.
Chuyện xảy ra đã hơn sáu năm rồi. Thời gian có biết bao sự đổi thay. Tôi cũng đã nghe và chứng kiến không ít những điều phản trắc. Không biết bây giờ Nhất Anh đã có chồng chưa và trong cảnh đổi đời kéo theo bao cay đắng, liệu trong lòng cô có còn lưu luyến chút tình xưa.
Đắn đo giây lát rồi tôi cũng quyết định phải nói hết những gì tôi biết và nhất là những điều mà Thống, trước khi trút hơi thở cuối cùng, đã nhờ tôi nếu còn có dịp trở về, hãy nói lại cùng nàng.
Nghe tôi kể xong mọi điều, Nhất Anh vẫn ngồi yên bất động. Im lặng một lúc tôi nghe tiếng nàng khóc. Hai tay nắm chặt các kỷ vật mà tôi vừa trao lại cho nàng. Ngoài trời những cơn mưa càng vần vũ. Tiếng mưa như thấu hiểu được nỗi niềm, từng đợt trút xuống mái nhà Thủy Tạ làm át đi tiếng sụt sùi, để cho nàng khóc. Tôi cũng đã không cầm được nước mắt.
– Em cám ơn anh, và xin lỗi .. em đã không nén được xúc động.
Tôi cũng kịp lấy lại bình tĩnh và tìm lời an ủi nàng:
– Dù sao mọi việc cũng đã qua rồi. Sau cái ngày nước mất nhà tan, biết có bao cảnh chia lìa tang tóc. Thôi thì tôi cầu mong Nhất Anh sớm nguôi được nỗi buồn này và có thêm nhiều nghị lực để mà bước tới, như lời trối trăn của Thống. Nhất Anh còn trẻ mà, còn cả một con đường thật dài trước mặt. Còn tôi, trong hoàn cảnh này, cũng chẳng biết rồi đời sẽ ra sao. Thôi đành phó cho trời đất đẩy đưa.
Nhất Anh vẫn ngồi bất động, không nói lời nào. Nhìn đồng hồ treo trên vách, nhớ tới lời hẹn của anh tài xế, tôi khẽ gọi nàng:
– Chị Nhất Anh! Chỉ còn 15 phút nữa là anh tài xế sẽ quay lại đón tôi. Sau này nếu chị có cần gì ở tôi, cứ liên lạc với tôi nghe!
Tôi nói cốt chỉ để an ủi thôi. Chứ tôi thì còn khả năng gì mà giúp nàng. Hơn nữa thời buổi nhiễu nhương này, dễ gì mà liên lạc được với nhau.
Nhất Anh lấy tay lau nước mắt, ngước lên nhìn tôi, ngần ngừ vài giây rồi lên tiếng:
– Nhờ anh vẽ lại và hướng dẫn cho em nơi chôn cất anh Thống. Sau này biết đâu có dịp may, em sẽ tìm ra thăm anh ấy.
Tôi đứng lên đến quày trả tiền hai tách trà, và xin một tờ giấy trắng. Tôi ngồi vẽ khá tỷ mỷ và hướng dẫn cho Nhất Anh con đường đến trại tù, và mộ của Thống nằm bên hốc đá trên triền núi, phía sau trại tù chừng một cây số. Cũng may là có cái hốc đá lớn duy nhất, để có thể định hướng được ngôi mộ nằm ở nơi nào giữa vùng rừng núi bao la.
Nhất Anh đứng dậy mặc lại áo mưa, xúc động nói lời chia tay, rồi đạp xe đi. Tôi nhìn theo bóng dáng nhỏ nhắn của nàng lảo đảo xiêu vẹo dưới cơn mưa tầm tã mà ngậm ngùi lo âu cho số phận của nàng. Tôi nghĩ có lẽ không bao giờ tôi còn có dịp gặp lại Nhất Anh.
Mùa Hè năm rồi, vợ chồng tôi sang Cali thăm mấy cô con gái, nhân tiện chúng tôi đến thăm gia đình ông anh họ ở thành phố biển San Diego. Giáng Sinh năm 1970, nhân cuộc hành quân bất ngờ ở Đà Lạt, tôi có ghé thăm anh chị,. Khi ấy anh làm ở trung tâm điện lực Đa Nhim và vợ anh là giáo sư dạy trường Bùi thị Xuân Đà Lạt. Anh chị rời Việt Nam từ những ngày Sài Gòn hấp hối, nên cũng đã hơn ba mươi năm rồi bây giờ anh em mới gặp lại nhau. Anh lớn hơn tôi gần mười tuổi, vừa bà con lại vừa là học trò cưng của ba tôi lúc anh còn học ở trường Pháp Việt, nên anh chị rất quý chúng tôi, nhất quyết bắt vợ chồng tôi phải ở lại nhà anh chị một tuần để cùng đi chơi với anh chị. Sau một ngày đi khắp nơi ở San Diego, chúng tôi đi một vòng sang khu nghỉ mát Cancun bên Mexico. Đến ngày thứ Bảy cuối tuần anh chị rủ chúng tôi đi tham dự buổi họp mặt của Hội Đồng Hương Đà Lạt, tổ chức tại Anaheim, gần khu Little Saigon, nhân tiện sau đó anh chị đưa tôi về lại nhà cô con gái ở Fullerton, cũng rất gần nơi ấy. Gia đình anh được giấy mời với bốn chỗ ngồi. Vợ chồng đứa con trai lớn không đi, nhường chỗ cho chúng tôi. Bảo là chú thím ở tận bắc Âu, lâu lắm mới có dịp gặp nhiều đồng hương.
Không ngờ đã rời khỏi quê hương khá lâu, nhưng những người Đà Lạt còn giữ cái tình đồng hương đậm đà như thế. Hội trường không còn một chỗ ngồi. Nghe bà chị nói là họ đã đến từ khắp nơi trên nước Mỹ và Canada, một số từ Úc và Âu châu. Chưa tới giờ khai mạc, mọi người ngồi nói chuyện líu lo với những tiếng cười nghe như dư âm của một thời trai trẻ. Những cô gái với đồng phục áo dài trắng trong ban tổ chức đang chuẩn bị cho bài quốc ca, vẫn còn dáng dấp của Đà Lạt ngày xưa: môi đỏ má trắng hồng.
Chúng tôi ngồi ở dãy bàn đầu dành cho quan khách, cùng với gia đình của hai vị cựu giáo sư Bùi Thị Xuân khác. Trên sân khấu, một cái phông lớn là hình ảnh của khu chợ Hòa Bình và một mảng của hồ Xuân Hương trong sương mù. Tôi thầm phục người họa sĩ Đà Lạt nào đã vẽ bức tranh thật sống động. Tôi có cảm giác như mình đang ở một nơi nào đó trên thành phố thơ mộng một thời này. Ai đó đã nói đúng “người Việt nào ra đi cũng mang theo quê hương”.
Khi nghe cô MC giới thiệu thành phần ban tổ chức cuộc họp mặt hôm nay, tôi hơi ngạc nhiên khi thấy toàn là phái nữ. Tôi chợt nhớ tới một bài viết nào đó mà tôi đã đọc đươc: Người Việt đến Mỹ, nữ giới thành công hơn là nam giới, và số lượng phụ nữ tham gia vào những hoạt động chính trị, cộng đồng ngày một nhiều hơn. Tôi nghĩ tới Dương Nguyệt Ánh, Lê Duy Loan, những người phụ nữ đã mang đến cho người Việt bao điều hãnh diện. Nhưng đến khi chị trưởng ban tổ chức có đôi lời cùng đồng hương, tôi mới hiểu thêm: Buổi họp mặt này là do các cựu nữ sinh trường Bùi Thị Xuân đảm trách.
Đang vui tôi bỗng ngậm ngùi khi một chị trong Ban Tổ Chức lên trình bày về hoàn cảnh thương tâm của nhà thơ Lệ Khánh. Bây giờ tôi mới biết Lệ Khánh là con gái của Phó Trưởng Ty Cảnh Sát Đà Lạt và có cuộc hôn nhân thật buồn với một nhà thơ quân đội, lại là sĩ quan cấp Tá trong ngành Tâm Lý Chiến. Bao nhiêu điều ấy đã đưa nhà thơ nổi danh một thời của xứ sương mù vào bước đường cùng, phải đi bán hàng rong, bán từng trái cà trái ớt trong cơn bệnh hoạn, và đứa con trai duy nhất phải đi ở mướn cho người ta. Ban tổ chức kêu gọi tình thương của những cựu Bùi Thị Xuân, của những người Đà Lạt cũ. Tôi thầm cám ơn tấm lòng của những người Đà Lạt và nghĩ đây là một việc rất nên làm.
Đến phần văn nghệ, cô MC giới thiệu nhạc phẩm “Ai Lên Xứ Hoa Đào” với một giọng hát truyền cảm của một Bùi Thị Xuân ngày trước, đã từng làm điêu đứng bao trái tim học sinh, sinh viên Đà Lạt”.
Lời giới thiệu đó không có một chút cường điệu nào. Giọng hát cất lên cao vút làm cả hội trường im lặng trong khi lòng tôi lắng xuống thẫn thờ. Không phải vì giọng hát truyền cảm, mà vì người hát ấy chính là Hà Nhất Anh, người con gái có một mối tình buồn với người bạn tù của tôi ngày trước. Gần hai mươi năm rồi, khuôn mặt có đôi chút đổi thay, nhưng tôi vẫn nhận ra. Cũng với nhan sắc ấy, nhưng với nụ cười rạng rỡ, không còn nét buồn nào đọng trên đôi mắt.
Thấy tôi nhìn đăm đăm lên sân khấu, bà chị đập vai tôi:
– Bộ có quen hay sao mà nhìn dữ vậy? Hay lại là một người xưa?
Tôi quay lại, đúng vào lúc bài hát vừa chấm dứt. Chờ cho những tràng pháo tay, cùng những tiếng la hét lắng xuống, tôi ôm vai bà chị:
– Đúng là có quen, nhưng không phài người xưa của em, mà là hôn thê của một thằng bạn tù của em, đã chết ngoài Bắc! Chính em là người đã trao lại cho cô ấy những kỷ vật của anh ta, khi em vừa mới ra tù.
– Cô ấy là học trò cũ của chị, để chị gọi cô ấy lại nghe.
Tôi chưa kịp trả lời, thì bà chị đã vẫy tay gọi một cô trong ban tiếp tân nhờ đi mời “ca sĩ Hà Anh”.
Cô đến nhoẻn miệng cười, cúi đầu chào anh chị tôi và các thầy cô giáo cùng bàn, rồi khựng lại khi nhìn vợ chồng tôi, gật đầu nhưng không nói lời nào. Thấy tôi ngồi gần bà chị, nên cô nhìn bà chị như muốn hỏi chúng tôi là ai. Bà chị cười chỉ vào tôi:
– Đã gặp nhau rồi mà không còn nhận ra sao?
Cô nhìn tôi, rồi lắc đầu:
– Xin lỗi, em không nhớ ra.
Tôi có một chút khó chịu trong lòng. Hóa ra người đàn bà cũng dễ quên, ngay cả những kỷ niệm đáng ra phải nhớ trong đời. Giữ lịch sự, tôi nhìn cô:
– Có phải chị là hôn thê của anh Lê Minh Thống? – Tôi là người đã trao cho chị những kỷ vật của anh ấy ở nhà Thủy Tạ, khi tôi vừa mới ra tù. Chị không còn nhớ
Cô ta khựng lại giây lát, nhưng rồi lắc đầu:
– Xin lỗi, em không nhớ. Có lẽ anh nhầm em với… ai đó!
Cô chào tất cả mọi người rồi vội vã quay về phía sau sân khấu.
Tôi nhìn sang ông anh bà chị nói cho đỡ ngượng:
– Chắc bây giờ chị ta đang hạnh phúc, nên không muốn nhắc lại chuyện tình xưa.
Trên sân khấu chương trình văn nghệ nối tiếp bằng một hài kịch. Thiên hạ cười ầm ĩ, trong lúc lòng tôi dửng dưng với một chút bẽ bàng.
Buổi họp mặt chấm dứt, tôi theo ông anh bà chị bước ra khỏi hội trường. Trong lòng không còn cái háo hức của lúc mới bước vào đây. Trống rỗng và một chút bực dọc.
Tôi đang đứng chờ ông anh bà chị đi lấy xe, thì một bàn tay đâp trên vai tôi. Quay lại, tôi ngạc nhiên khi nhận ra Hà Nhất Anh. Cô đưa cho tôi mảnh giấy, rồi bảo nhỏ, trước khi chạy nhanh về phía hội trường:
– Em xin lỗi, nhưng Anh nhớ phải đến nghe!
Tôi mở vội tấm giấy ra đọc. Chỉ có số điện thoại và địa chỉ, cùng với một dòng ngắn ngủi: “Suốt ngày mai, Chủ Nhật, em sẽ chờ anh ở nhà”.
Tôi cảm giác có điều gì lạ lắm. Và dường như cô ta muốn dấu mọi người. Nghĩ như vậy nên tôi không nói lại với ông anh bà chị và ngay cả vợ tôi. Ông anh bà chị đưa vợ chồng tôi về Fullerton, rồi hẹn quay lại sáng thứ Bảy tới đưa chúng tôi đi thăm mấy người đồng hương và cũng là học trò cũ của cha tôi ngày trước.
Tôi nhờ cô con gái lớn gọi phôn, hẹn đến gặp vào lúc hai giờ chiều Chủ Nhật. Cô con gái chở vợ chồng tôi tới trước cổng nhà, sau khi xem đúng địa chỉ, bấm chuông, rồi lái xe đi, bảo khi nào cần gọi cellphone, sẽ quay lại đón.
Một ngôi nhà nhỏ, khá xinh, có trồng nhiều loại hoa Đà Lạt, nằm trong khu Fountain Valley yên tĩnh. Người ra mở cổng là một người đàn ông trẻ, khá bảnh trai với hàng ria mép. Anh gật đầu chào, nở nụ cười rất tươi bắt tay chúng tôi, giới thiệu tên, nói năng lễ phép bặt thiệp:
– Cám ơn anh chị đến thăm. Bà xã em mừng lắm, đợi mong từ sáng tới giờ. Tôi bước vào sân nhà, với một ý nghĩ vừa thoáng trong đầu: Được một người chồng như thế, hèn gì cô ta chóng quên mối tình xưa.
Nhất Anh mang nước ra mời chúng tôi, vui vẻ, thân tình, khác hẳn với Nhất Anh trong hội trường ngày hôm qua. Tôi im lặng, bởi không biết phải nói điều gì, ngồi chờ cô ta lên tiếng trước. Một lúc im lặng, tôi bất ngờ nhìn thấy cô ta khóc. Anh chồng đưa giấy cho cô lau nước mắt.
– Mong anh chị tha lỗi cho em. Ngày hôm qua khi gặp anh, nghe anh nhắc tới anh Thống em xúc động lắm, lại biết chính anh là người đã mang về những kỷ vật của anh Thống nữa. Nhưng hôm qua đông người quá, em không tiện nói.
Tôi đỡ lời:
– Tôi hiểu. Làm sao mà chị có thể quên được mối tình đầu, vừa đẹp lại vừa buồn, nhất là anh Thống đã ở lại và bị chết oan ức cũng vì quá yêu chị. Phải không?
Rồi quay sang anh chồng, tôi lên giọng như một nhà tâm lý học:
– Ai lại chẳng có mối tình đầu. Và người chồng nào lại không tôn trọng cái kỷ niệm đẹp đó của vợ mình, phải không anh?
Anh ta không trả lời, chỉ cúi xuống với một chút bối rối.
– Xin lỗi anh. Em không phải là chị Nhất Anh, và cũng không phải là người yêu của anh Thống!
Tôi bất ngờ, vừa ngượng ngùng vừa hụt hẩng khi nghe câu nói của người con gái, mà tôi đã chắc nịch là Hà Nhất Anh. Bây giờ người bối rối lại chính là tôi.
Cô gái hạ giọng:
– Em là em kế của chị ấy và cũng là đứa em duy nhất. Ba má em chỉ sinh có hai đứa con gái. Chị em giống nhau lắm, nên có nhiều người cũng lầm.
Tôi nhìn cô ngờ vực:
– Tôi nhớ ngày hôm qua khi MC giới thiệu chị lên hát, cũng với tên là Hà- Anh mà? Tôi nghĩ Hà Nhất Anh, nhưng khi qua Mỹ người ta thường bỏ đi chữ lót.
– Đúng ra tên em là Hà Nhị Anh, nhưng bây giờ trong giấy tờ, em mang tên chị em: Hà Nhất Anh, mà Nhất Anh hay Nhị Anh gì sang đây, như anh nói, cũng đều gọi Hà Anh như nhau mà anh. .
Đến lúc này thì tôi không còn hiểu gì nữa. Cô ta đứng lên nhoẻn miệng cười và mời vợ chồng tôi theo cô lên từng trên, cô bảo:
– Anh chị cứ theo em lên trên này thì hiểu nhiều hơn.
Ba tấm ảnh để trên bàn thờ nhỏ. Tôi nhận ra Thống và Nhất Anh, mặc dù lúc chụp những tấm ảnh này hai người còn rất trẻ. Còn tấm ảnh thứ ba, một người con gái khác, tôi không nhận ra ai. Tôi chưa kịp hỏi thì cô gái lại sụt sùi:
– Chị Nhất Anh đã chết khá lâu rồi anh ạ. Vào một ngày mùa Đông mưa tầm tã, chị ấy đạp xe đi đâu không biết, cả nhà chờ cơm tới tối vẫn chưa thấy về. Từ trước chị không bao giờ đi đâu một mình vào buổi tối. Cả nhà em và mấy người bạn hàng xóm chia nhau đi tìm. Em đạp xe đi khắp nơi. Trời mưa lớn quá nên em lạnh cóng. Đường xá vắng tanh không một bóng người. Cuối cùng thì chính em tìm ra chị ấy. Chị nằm bất động bên bờ hồ Xuân Hương, không xa nhà Thủy Tạ bao xa.
Tôi giật mình hoảng hốt:
– Ở gần nhà Thủy Tạ, bên bờ hồ Xuân Hương? Rồi có tìm được chiếc xe đạp và cái gì nữa không?
– Chiếc xe đạp rớt xuống hồ, ngày hôm sau người ta mới tìm thấy.
– Và chị đã chết? Tôi hỏi
– Không, khi ấy thì chị còn sống, nhưng bất tỉnh và mình mẩy thì lạnh cóng. Vào bệnh viện, nửa giờ sau chị tỉnh lại, nhưng rất yếu chưa nói được. Khi thay áo cho chị, em thấy trong túi áo có một sợi dây đeo cổ có tấm ảnh của chị và một chiếc vòng nhôm có khắc tên chị và tên anh Thống.
– Không có tờ bản đồ vẽ trại tù và nơi mộ anh Thống?
– Có chứ! Chính nhờ tấm bản đồ đó mà vợ chồng em, cách nay ba năm về Việt Nam, ra tận nơi tìm được, rồi thuê người lấy hài cốt của anh Thống mang về chôn trên Đà Lạt . Cám ơn anh đã vẽ cái bản đồ khá chi tiết và chính xác.
– Còn chị Hà Nhất Anh?
– Hai tuần sau, chị khá hơn nhiều, nói năng tỉnh táo, bệnh viện cho xuất viện bảo về nhà điều trị, bồi dưỡng là chị sẽ khỏe thôi. Nhưng không ngờ về nhà mấy hôm thì lên cơn sốt nặng rồi hôn mê trở lại. Đưa vào bệnh viện thì chị mất. Người ta bảo là chị bị sưng phổi cấp tính. Mà thời ấy có thuốc men gì đâu mà chửa. Trong mấy ngày tinh táo, chị thường nhắc tới anh Thống, năn nỉ ba má em tìm mọi cách đem anh Thống về Đà Lạt, và báo cho mẹ anh ấy biết. Lúc trước bà thương quí chị lắm, nên chị cũng rất thương và lo lắng cho bà, khi em gái anh Thống vừa quá trẻ lại vừa yếu đuối. Không ngờ đó lại là những lời trăn trối của chị.
Tôi thầm nghĩ, chính vì đi gặp tôi hôm ấy mà Nhất Anh chết. Chắc cô đã xúc động nhiều lắm. Lòng tôi chùng xuống. Tôi có cái cảm giác đau đớn như vừa có những nhát chém vô hình nào đó trong lòng mình. Tôi lấy lại bình tĩnh:
– Như vậy là bây giờ mộ của Thống nằm trên Đà Lạt.
– Dạ. Anh nằm bên cạnh chị Nhất Anh. Vợ chồng em mua lại mảnh đất tư gần khu rừng Ái Ân. Từ đó anh Thống có thể nhìn thấy Trường Võ Bị của anh lúc xưa và đỉnh núi Lâm Viên mà anh đã từng chinh phục.
– “Đồi Thông Hai Mộ”. Tự dưng tôi buột miệng.
Đến lúc này tôi mới thấy cô nhoẻn miệng cười:
– Sau ngày 30 tháng 4/75, ở Đà Lạt có khá nhiều “Đồi Thông Hai Mộ”. Có dịp anh chị về Đà Lạt, ghé lại Rừng Ái Ân hỏi thăm, là người ta biết hai ngôi mộ của anh chị Thống-Anh.
– Thế rồi, cô có liên lạc được mẹ và em gái của anh Thống?
Cô không trả lời, mà lại mời vợ chồng tôi bước sang phòng bên cạnh. Căn phòng rộng, thoáng mát, có cửa kính lớn nhìn ra công viên phía trước. Một bà cụ tóc bạc trắng, nhưng da dẻ hồng hào, đôi mắt sáng, ngồi trên chiếc xe lăn. Khi tôi cúi đầu chào bà, cô gái giới thiệu:
– Anh này là bạn tù của anh Thống ở ngoài Bắc.
Rồi quay sang tôi:
– Chắc anh ngạc nhiên lắm, đây chính là mẹ của anh Thống.
Bà cụ ôm lấy tôi, nước mắt trào ra trên đôi gò má. Bà hỏi tôi về Thống trong những ngày ở tù và vì sao mà Thống chết. Nhưng tôi chỉ kể vài kỷ niệm về Thống trong những lúc vui vẻ, và không dám nói cho bà nghe về cái chết thảm thương của Thống. Tôi nói dối là Thống chết vì bệnh kiết lỵ nặng mà nhà tù không có thuốc. Tôi tưởng nói dối như vậy cho cụ yên lòng, không ngờ cụ đã khóc ngất lên. Tôi chỉ còn biết ôm vai bà cụ mà im lặng.
Một lúc sau, bà cụ mới tỉnh táo và kể lại tai nạn xe hơi đã làm chết cô con gái, em Thống và làm tê liệt đôi chân của bà. Nhìn sang cô gái, bà cụ thỏ thẻ:
– Cũng nhờ vợ chồng cháu nó đây mà bác còn sống đến bây giờ.
Nhị Anh nắm tay bà cụ:
– Má coi vợ chồng em không khác gì con ruột của má. Em sang đây sau khi em gái anh Thống chết. Tấm ảnh trên bàn thờ lúc nãy là của cô ấy. Cô nhỏ hơn em tới sáu tuồi. Lúc ấy má đang làm chủ mấy sạp may, đã lo lắng tiền bạc cho em sang đây và cho em tiếp tục học xong đại học nữa. Ngôi nhà này là của má cho vợ chồng em đó chứ.
Vợ chồng tôi chào bà cụ, chúc bà sức khỏe và hứa bất cứ lúc nào có dịp sang Cali, sẽ ghé lại thăm bà.
Khi bắt tay từ biệt vợ chồng Hà Nhị Anh, chợt nhớ tới một điều, nên tôi hỏi cô:
– Khi nãy tôi có nghe chị nói là bây giờ tên tuổi của chị trong giấy tờ lại là tên tuổi chị Nhất Anh. Sao vậy?
Cô gái vẫn còn nắm chặt bàn tay tôi, kéo tôi ra xa, nhìn quanh rồi hạ giọng:
– Chính nhờ cái giấy của trại tù báo tin anh Thống chết, trong đó có ghi tên chị Nhất Anh là vợ, nên em đã thay chị ấy mà sang đây theo diện dành cho vợ tù nhân cải tạo bị chết trong tù. Em thấy xấu hổ lắm khi phải làm điều gian dối ấy, tội lớn lắm đối với luật pháp Hoa Kỳ, nhưng đó lại là ước mong của mẹ anh Thống, và của cả chị Nhất Anh trước khi chết nữa. Em săn sóc cho má bao nhiêu năm nay, nên má thương em như con gái má. Biết đâu đây là sự sắp xếp nhiệm màu từ chị Nhất Anh – anh Thống? Hơn nữa nhìn em cũng giống chị em lắm, và tên em với tên chị ấy cũng như nhau mà. Nhưng anh nhớ phải tuyệt đối giữ hộ cho em điều bí mật này nghe.
Vâng! Chính vì tôi đã giữ cho cô cái điều bí mật đó, nên hai cái tên Hà Nhất Anh, Hà Nhị Anh mà các bạn vừa đọc được trong truyện, đều không phải là tên thật của hai chị em nàng.
Thoạt đầu kẻ viết bài này định dùng mấy chữ “máy vi tính” hay “máy điện toán” thay cho “computer”, nhưng thấy vẫn có một điều gì đó chưa ổn vì đồng bào hải ngoại của chúng ta có lẽ 90% vẫn nói là “computer” thay cho “vi tính, điện toán” như ở trong nước. Rồi chúng ta lại nghe danh từ “phần cứng”, “phần mềm” dịch “sát sàn sạt” từng tiếng một, lên internet thì gọi là “lên mạng, xuống mạng” hay “rớt mạng”. Làm thân chữ nghĩa trong chế độ XHCN thì lại bị còng, cùm, khóa tay khóa chân thật tội nghiệp. Nếu có quyền, tôi đã đề nghị với Viện Ngôn Ngữ Hà nội (!) xin tha tội cho chữ @, chỉ gọi nó là @ vòng, @ khoanh, chứ đừng gọi là @ còng mà tội nghiệp. Tôi không hiểu vì sao quí vị lại thích dùng những tiếng có tính cách áp đảo đầy hăm dọa như thế, hèn chi thiên hạ cũng không thấy làm lạ, khi người ta đòi “thề phanh thây uống máu quân thù” ngay cả trong quốc ca. Cái mà xướng ngôn viên Vũ Chung của đài VNCR đã nói rằng “tới sở ông ôm nó suốt ngày, về nhà ông lại ôm nó suốt đêm” thì không có gì khác hơn là cái máy “computer “đã hầu như quen thuộc của mọi gia đình, từ đứa bé lên năm cho tới ông cụ chín mươi tuổi, và công dụng đa năng của nó thì ai cũng phải công nhận. Trong các cái mê ngày xưa các cụ thường nói tới cái mê “tứ đổ tường”, mê gái, mê cờ bạc, mê rượu chè, mê thuốc phiện, thêm vài chút mê vô hại nữa như mê thuốc lào, mê đi câu, mê đọc sách … Cái câu “thư trung hữu nữ nhan như ngọc” ngày xưa ấy chắc cũng chỉ có nghĩa bóng thôi cho nên hồi ấy người ta mê sách không bằng bây giờ người ta mê computer, vì trong computer có đủ gái đẹp hở hang, cờ bạc, mua bán, sách vở, âm nhạc, hội họa và cả vô số thứ hấp dẫn con người trên hành tinh này.
Tại thành phố Krakau, Ba Lan có một bà mẹ vừa bị tòa án tước quyền nuôi con vì bà này mê … computer hơn hết thảy những gì đang có trến đời. Một nhân viên Sở Xã Hội đã khám phá ra suốt ngày bà ngồi trước máy computer, con cái bỏ bê, hóa đơn mọi thứ không buồn trả, ngoại trừ cái hóa đơn internet. Trong nhà bà này, mọi thứ đều ngổn ngang, dơ bẩn, ngoại trừ cái máy PC của bà được lau chùi sạch sẽ. Thông tấn xã PAP của Balan cho biết, không những bà bị mất quyền nuôi dưỡng con cái mà còn phải tới bác sĩ chuyên môn để chữa bệnh ghiền … computer. Tuổi trẻ ở các nước tân tiến, trước kia thì chú ý tới game, bây giờ thì suốt ngày dính liền với máy computer quên cả ăn uống học hành. Những gia đình dùng internet qua điện thoại thì đường giây luôn luôn bận rộn không ai liên lạc được. Những đứa trẻ ít đi ra ngoài chạy nhảy hay chơi thể thao lại là những đứa trẻ ngồi trước máy computer suốt ngày, vì qua internet, quả là một thế giới rộng mở với nhiều việc ly kỳ, hấp dẫn lôi cuốn. Trong cộng đồng của chúng ta cũng đã có hiện tượng quí bà mê computer để cả nhà phải ăn “cơm chỉ” hay cửa nhà bề bộn, cũng có vài cụ bà cao niên than phiền rằng “không biết có gì trong computer mà ông ấy cả ngày chúi đầu vào, mỗi lần thấy tôi đi đâu về ông ấy lại bảo:
– Sao bà về sớm thế?”
Quí ông cũng nên coi chừng đừng mê computer quá mà xao lãng cả việc “trả bài” sẽ có cơ nguy vợ đưa ra tòa xin ly dị. Computer cũng đã gây ra nhiều vụ án tình bi đát qua “chat”, người bên đông kẻ bên tây, khi liên lạc thường không nói thật, che dấu tên tuổi, dung nhan của mình, ôm ấp biết bao nhiêu mộng lành, đến khi gặp nhau, vỡ mộng đành phải mượn tới cái chết, như trường hợp một cô gái từ Anh Quốc lặn lội sang Mỹ để tìm một người yêu trong mộng của “trang điện toán”. Những vụ dụ dỗ trẻ em vị thành niên vào con đường trụy lạc trên máy không thiếu, vụ tìm người để cho mình ăn thịt xẩy ra bên Đức năm ngoái cũng được liên lạc, móc nối qua internet.
Rùng rợn nhất là vụ một phụ nữ giết người mang thai mổ bụng để lấy thai nhi tại một thành phố nhỏ, Skidmore, Missouri mới tuần trước đây. Lần theo những liên lạc trên internet của nạn nhân, cảnh sát tin rằng thủ phạm là Lisa M. Montgomery 36 tuổi và nạn nhân Bobbie Jo Stinnett, 23 tuổi đã trao đổi với nhau về việc mua bán một loại chó “ratterrier” trên máy computer, do đó kẻ giết người đã biết rõ về bà mẹ mang thai gần ngày sinh và đã ra tay hành động như trên. Một chuyện tình oái oăm vừa đươc kể qua báo chí là một chuyện liên quan đến internet khiến ta phải cười ra nước mắt. Số là một đôi vợ chồng nọ ở Jordan đang sống trong tình trạng ly thân và cả hai đều buồn nản, thất vọng đi tìm nguồn an ủi về một người bạn nào đó chưa gặp mặt trong một “chat room”. Người chồng là Bakr Melhem mang tên Adnam, một thanh niên trí thức và vợ là Sanaa mang tên Jamila, có nghĩa là “diễm kiều”, tự mô tả mình là một thiếu nữ độc thân, có văn hóa, thích đọc sách. Sự trao đổi lãng mạn và mơ màng trên “net” này kéo dài ba tháng, đã đem họ đến gần nhau, thề thốt yêu nhau và nhất định gặp nhau tại một trạm xe bus ở Zarpa, phía đông bắc Amman, để đi đến lễ cưới. Quí vị cũng đoán được tình huống ra sao khi hai người gặp nhau. Tình trạng ly thân đã đưa đến sự ly hôn thật sự, theo luật “ngoại tình” Hồi Giáo, và cô Sanaa đã té xỉu sau khi chửi thằng chồng là “đồ khốn nạn”.
Computer, theo các dữ kiện của Bộ Y Tế Nhật Bản lại bị lên án là thủ phạm làm cho số thu nhập của hãng làm bao cao su Okamoto xuống thấp, từ số tiêu thụ 737 triệu trong năm 1980 đã xuống chỉ còn 419 triệu trong năm 2003. Báo cáo này nói người Nhật mê computer đến họ có thể ngồi bên cạnh máy suốt đêm để lên internet, thì đâu còn cần tới sex nữa. Cứ như vậy, ông một máy, bà một máy thì nước Nhật một thế kỷ nữa sẽ không còn … người nữa. Nữ phát ngôn viên của hãng condom này, trong dịp ngày chống AIDS thế giới vừa qua cũng đã than phiền một cách rất buồn cười rằng, sở dĩ ngành sản xuất bao cao su thất thu, một phần là những hình ảnh dâm tục đề cập trên internet qua những pha làm tình không bao giờ thấy dùng tới bao cao su (!). Một chuyện khác là cái computer nhỏ xách tay thường người ta mang theo khi di chuyển, du lịch, để trên đùi mà làm việc thì người ta gọi là cái “laptop”. Vậy mà cái laptop ngày nay cũng sinh chuyện rắc rối. Ông Sheykin, một khoa học gia của Hoa Kỳ đã cảnh báo rằng, thanh thiếu niên chớ nên để laptop trên đùi, nhất là để trên đùi lâu mà làm việc chắc chắn sẽ mất khả. năng truyền giống, nói tóm lại là không thể có con để nối giõi. Người ta đã đo nhiệt độ của tinh hoàn (hay ngọc hoàn) của 29 trường hợp thử nghiệm, cứ dùng laptop để lên đùi 15 phút, trong khi máy tỏa ra ngoài một nhiệt độ 40 độ C, thì tỏa xuống “chỗ hiểm” làm nhiệt độ tinh hoàn tăng lên 1 độ, và chỉ với 1 độ thôi là tinh trùng đã bị hủy hoại. Như vậy mà người dùng laptop làm việc quá lâu, từ giờ này sanggiờ khác đương nhiên sẽ bị một sự tổn hại khó lường và sẽ mất hết khả năng truyền giống. Tuy nhiên không nghe nói phụ nữ dùng laptop để trên đùi có ảnh hưởng gì tới các noãn sào không, nhưng có lẽ là buồng trứng nằm ở địa điểm khá xa cặp đùi nên chắc là nhiệt độ của laptop không có ảnh hưởng gì. Không nói chuyện ở sở làm, các bạn đã thường sinh hoạt với cái máy computer mỗi đêm lúc về nhà hai giờ tới sáu giờ, nghĩ thế nào cho đến một hôm cái máy bỗng nhiên bị crash hay bị virus, phải ngưng làm việc và đem đi sửa. Cái thời gian mà bạn ngồi trước máy, thay vào đó, bây giờ bạn làm gì? Đọc tin tức, trả lời thư tín, tìm một địa chỉ, “chat”, viết thư, lay out bài vở, sửa một tấm ảnh … vô số việc phải đình chỉ. Có phải chăng là bạn thấy trống trải, đi ngủ sớm mà không ngủ được, vào ra thơ thẩn như nhớ tới người yêu.
Phải so sánh nỗi nhớ đó như nhớ thuốc lào hay nhớ cần sa, ma túy? Giá mà bà vợ phải về thăm bên ngoại mươi hôm, nhà cửa có lẽ cũng không trống trải bằng cái computer cứ nằm ỳ ra đó không có ánh sáng, hay đã được đem đi, để lại một khoảng trống buồn bã trên chiếc bàn làm việc quen thuộc. Thành ra người xưa nói đâu sai “hữu thân, hữu khổ”, có cái gì khổ cái đó, xưa không có computer không thấy khổ, giờ có nó, đôi khi lại thấy khổ. Vào thời văn minh, tân tiến có lẽ người ta còn nhiều thứ khổ hơn thời còn ăn lông ở lỗ.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.