Bút ký chiến cuộc Việt Nam – Ngày 30 tháng tư – Lần thật chét với quê hương

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 8 Aug 2026

Dẫn Nhập:

Hoá ra cảm giác nhạt nhạt trong miệng, buồn buồn đè nặng, đau đau ở trũng ngực làm đứa nhỏ có thói quen luôn rờ tay lên ngực áo như muốn gỡ đi một khối nặng vô hình dính sâu đâu trong người mà sau nầy khi khôn lớn, nó mới biết đó là vị trí gần quả tim làm chặn ngang đường thở. Cảm giác nầy vốn có từ thời thơ ấu nhưng do còn quá nhỏ nên đưá bé chưa biết gọi ra tên. Cảm ứng xa xưa ấy chính là Nỗi Đau sau nầy khôn lớn anh mới biết ra qua thân phận Người Lính trên Quê Hương Việt Nam.  

Nhưng không hẳn chỉ là thế, sâu xa hơn ám ảnh của thời ấu thơ, mối phiền bực ngày tuổi trẻ, còn có điều gì khác, lớn lao, kinh hoàng, khốc liệt hơn.. Đấy là Năm 1965, sau trận chiến bùng nỗ ngày 11 tháng 6, với cơn mưa u uất mùa hạ Miền Nam, nơi Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp. Mưa không đủ lớn, không dài lâu để cho người có cảm giác được tẩy rửa, cuốn trôi. Mưa âm âm, ngột ngạt làm bốc dầy thêm mùi xác chết của những đơn vị gồm Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 7  Sư đoàn 5 Bộ Binh; của Tiểu đoàn 52 Biệt Động Quân; và đơn vị đầu đời, thiết thân, thương mến, Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù với những người lính anh quen mặt từ buổi trưa cuối năm 1963 khi mang chiếc xắc marin nhà binh bước qua cổng doanh trại, vào trình diện tiểu đoàn trưởng.. Những người lính với sức chịu đựng dường như vô hạn dưới khối nặng của thùng đạn, ba-lô, nón sắc, vũ khí họ mang trên vai, vác lên lưng, để từng ngày cúi gầm mặt bước xuống vùng sình lầy mênh mông, trèo lên dốc đá núi thăm thẳm, lội xuyên rừng rậm ngút ngàn không tiếng nhỏ than van, ghìm lại hơi thở dài nặng nhọc… Nhưng ngày ấy, tất cả những người lính gần gũi thuơng mến nầy đã là những xác chết căng cứng, da tím sẫm bốc mùi xanh  xao tanh tưởi.. Những khuôn mặt, dạng người tinh anh tươi trẻ của tuần, tháng trước biến dạng thành những khối thịt ủng lầy máu sẫm, đất bùn đỏ, nhầy nhụa thêm bởi thấm mưa của bao ngày nằm nơi đụng trận, một chốn gọi là xã Đồng Xoài, Quận Đôn Luân, Tỉnh Bình Dương, nơi chỉ xa Sài Gòn khoảng năm-mươi cây số đường chim bay.

Từ Giao Thừa Mậu Thân, bắt đầu ở Huế, ngõ Âm Hồn, lối đi ra đường Mai Thúc Loan, hướng Cửa Đông Ba. Khoảng đường u thẫm chập dầy bóng đen đêm Xuân 1968, với tình thế nguy biến tang thương hơn qua hoạt cảnh người lính xao xác chạy dọc những khu nhà đỗ nát, vừa chạy tránh đạn, vừa kéo xác đồng đội.. Anh đi ngang qua căn nhà có xác người đàn bà chết trong vị thế quỳ trước chiếc bàn thờ xiêu đỗ tung toé, hẳn đang khấn lạy, cầu xin.. Nhưng xác chết chỉ còn thân người, bởi chiếc đầu đã bị cắt lià, vất tung đâu đó. Bên cạnh, thây cô gái tóc dài lây lất, khuôn mặt chỉ còn những tảng thịt rời rã.. Nhận biết đấy là người thiếu nữ do chiếc áo dài trắng và áo len màu tím than, màu riêng biệt đặc trưng của người thiếu nữ xứ Huế. Nhưng, như một an ủi khốn cùng, ở Huế, hay quanh ngoại ô Sài Gòn, vùng Nhị Bình, Thạch Lộc, Hốc Môn, Gia Định trong dịp chiến loạn Mậu Thân 1968, người ta vẫn còn khả năng phân biệt đấy là xác chết của lính hay của dân; của dân chúng Huế hay gã bộ đội Sinh Bắc-Tử Nam, hoặc cán binh Mặt trận giải phóng.. qua áo quần, dạng tướng, đôi dép Nhật làm ở Chợ Lớn, giày botte de saut của lính cộng hòa hay loại dép râu mang theo từ Miền Bắc của bộ đội cộng sản. Suốt dọc cù lao sông Sài Gòn chảy qua Bình Phước, Bình Triệu, Thạnh Lộc, Nhị Bình, Gò Vấp.. Cả một vùng hoa mai tàn tạ trong ánh nắng lung linh mùi tử khí.

Tiếp đến năm 1972, cảnh chết trên quê hương miền Nam tăng vụt cường độ với  bất  hạnh, tang thương nhân lên gấp bội phần cho dù trí tưởng tượng về tình huống khốn cùng từ lâu đã được người Việt hằng mang nặng, chuẩn bị gánh chịu. Trên chín cây số từ La Vang, nam Quảng Trị đến Cầu Trường Phước lớp nhựa đường đã hoàn toàn chảy nhão, đun nóng sôi bởi một thứ lửa nhân tạo. Lửa được cháy lên do từ áo quần, tay nải, bao bị, gồng gánh, và tế bào thịt da của người tẫm vào lưỡi lửa của xe cộ, xăng nhớt.. Tất cả biến thái nên thành ngọn lửa bền bỉ âm ỉ. Thế nên trên quảng đường chín cây số nam Thị Xã Quảng Trị mà báo chí Miền Nam đặt nên tên đau thương Đại Lộ Kinh Hoàng hoàn toàn không còn dạng thây ma để được gọi nên là xác chết, mà chỉ là những mảnh xương cốt rời rã, lăn lóc, lẫn lộn đất, đá, cát vương vãi dưới gầm khung xe cháy nám, nơi ổ súng cong queo, sau những bụi lùm trơ trọi, những gò, đụn oan khiên mà ổ mối đùn lên gây tanh mùi máu. Trong cùng lúc, vào thời điểm đầu mùa Hè, 1972 ở An Lộc nơi Bệnh viện Tiểu Khu Bình Long cũng xẩy ra tình cảnh kinh hoàng đau thương tương tự. Vì pháo binh yểm trợ chocác sư đoàn 5, 7 bộ binh cộng sản đã học được một kinh nghiệm hữu dụng: “Ban ngày chỉ pháo xuống nhiều điểm bên trong thị xã để dân chúng tin rằng “bộ đội giải phóng” không pháo kích vô chỗ bệnh viện!” Nhưng vào ban đêm, Trường Trung Học Cộng Đồng, Bệnh Viện Tiểu Khu Bình Long.. nơi lớp lớp người bị thương đang lê lết trong bãi máu, giữa những người hấp hối để cầu sống sót, cầu được lúc bình yên.. Cho dẫu bình yên được chết.. Những nơi nầy biến thành những điểm tập trung của pháo binh cộng sản.. Điễn hình chỉ trong một đêm 10 tháng Tư tám ngàn quả đạn 130 ly rơi xuống xé toang đám xác người.. Người sống lẫn kẻ chết.. Tất cả đồng tung lên ngật ngật với thân thể con người chỉ còn là những mảnh vụn tơi tả lẫn với bụi, khói, mãnh thép.. 

Với tình cảnh sống-chết đan kín, xen kẻ cùng nhau trong suốt chặng đường dài hơn một thập niên như trên vừa kể ra.. Nên đã rất nhiều lần, trong đêm khuya bất chợt anh nghe ra tiếng gọi oan hờn từ Nghĩa Trang Quân Đội nhìn từ Đồi Mũ Đỏ, hậu cứ của Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù trên vùng đồi Long Bình.. TẤT CẢ HIỆN ĐỦ TRONG BUỔI SÁNG HÔM NAY – Ngày 30 Tháng Tư, Năm 1975.

Sự Chết bắt đầu trùm chiếc cánh tối tăm hung hiểm lúc 6 giờ 15 chiều ngày 28 Tháng 4, khi chuỗi bom dưới cánh của những chiếc A37 do viên phi công phản trắc Nguyễn Thành Trung hướng dẫn rơi xuống phi đạo Tân Sơn Nhất. Đạn phòng không bắn lên, phi cơ F5 đuổi theo muộn màng, vô vọng. Cửa ngỏ tháo chạy của Sài Gòn đóng sập lại. Cuối cùng, Tân Sơn Nhất thật sự vùng vẫy, hấp hối, chìm dần trong lửa hoả ngục khi dàn đại pháo, hỏa tiễn cộng sản từ Đồng Dù, Củ Chi, ranh giới Hậu Nghĩa, Gia Định bắt đầu đỗ xuống không ngắt nhịp… Từng trái đạn 130 ly, từng hỏa tiễn 122 ly chính xác rơi xuống..Tân Sơn Nhất vật vã, co quắp, rã chết, sụp vỡ, hấp hối trong khói đen, lửa ngọn.. Cuộc hành hình kéo dài từ 1 giờ sáng ngày 29 tiếp tục đến rạng đông. Ở căn cứ DAO, Văn phòng Tùy Viên Quân Lực Mỹ, ba ngàn người tỵ nạn chờ đợi di tản bằng C130, hoặc C141 qua Guam đưa mắt nhìn lên trời, giữa vũng lửa, đếm rõ từng viên đạn pháo rơi xuống.. Đống hành lý khổng lồ gồm quý kim, vàng, kim cương, giấy bạc Năm Trăm Trần Hưng Đạo của Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam; giấy bạc đô-la của ngân khố Mỹ.. Tất cả cùng trộn lẫn với thịt da thân thể người thành một thứ pháo bông tan tác bay tung toé, hiện thực nơi trần thế cảnh địa ngục vô vàn mà nhà thơ Dante đã diễn tả qua thi ca. 

Sáng 29 tháng 4, những tướng lãnh đã ra đi, những sĩ quan cao cấp cũng rời bỏ nhiệm sở, đơn vị.. Nhưng, Trung Úy Phi Công Trang Văn Thành còn lại. Thành có danh hiệu “Thành mọi” bởi nước da ngâm đen quá độ ra chỗ đậu tàu.. Anh nỗ máy chiếc C119 Hỏa Long, đơn độc bay lên trời xanh bảo vệ, cứu viện Tân Sơn Nhất. Từ trên cao, Trung Úy Thành thấy rõ những vị trí pháo của binh đội cộng sản.. Anh nghiêng cánh, chúc mũi chiếc Hỏa Long căm phẫn trút xuống tràng đạn 7.62 ly, và tất cả hỏa lực cơ hữu của hai khẩu đại bác 20 ly gắn dưới cánh.. Lửa nháng lên dưới thân tàu, toán phòng không cộng sản phản pháo, nhưng không kịp, Thành bình tĩnh, tài giỏi lách ra khỏi vùng hỏa tập lưới đạn của giặc. Anh đáp xuống lại phi đạo thân yêu quen thuộc đang bốc khói mù bởi cuộc dội bom chiều hôm trước, và cuộc pháo kích cường tập từ sau nửa đêm về sáng của ngày đau thương tang tóc nầy. Mặc, Thành một mình tự tay nạp đạn vào tàu, anh trở lại bầu trời trên phi cảng Tân Sơn Nhất – Cửa ngỏ của Miền Nam. Anh nhìn xuống những vị trí pháo cộng sản mà giờ nầy tạm ngưng hoạt động vì vừa bị anh tấn công.. Hóa ra cả một quốc gia chỉ còn được lần cứu viện bi hùng tuyệt vọng nầy. Thành chúc mũi tàu, bấm chặt hệ thống kích hỏa bên cạnh chỗ ngồi, một mình anh lấy đường nhắm.. Một mình anh.. Phải chỉ một mình anh – Trung úy Trang Văn Thành, “Thành Thiếu Sinh Quân”. Thành hạ thấp hơn để đường đạn thêm phần chính xác. Thân tàu rung mạnh.. Lửa! Lửa! Lửa cháy ngang cánh trái con tàu, ngay bình xăng, sát cạnh ghế ngồi.. Thành giật mạnh chốt thoát hiểm để bung thân ra khỏi con tàu. Tất cả kẹt cứng. Anh dùng tay đẩy cửa buồng lái phóng mình ra, chiếc dù bung mạnh.. Các múi, giây dù vướng vít rối rắm. Thành bị giữ chặt bởi chiếc dù và khung cửa. Lửa bừng bừng! Lửa ào ạt.. Người phi công chìm trong lửa, gục chết giữa không gian trên quê hương.

Sáng 30 tháng 4, năm 1975. Anh lục túi lấy hết giấy tờ gồm Chứng Chỉ Tại Ngũ, Thẻ Lãnh Lương, Thẻ Báo Chí, Chứng Minh Thư mang Danh Số 41 Ban Liên Hợp Quân Sự Trung Ương… ném tất cả xuống miệng cống trước trước nhà sách Khai Trí, Đường Lê Lợi.. Coi như mình đã chết…Hình như anh vừa nói ra lời với cảm giác thanh thản của người vừa cất xong gánh nặng quá lớn. Tay anh giữ hai chiếc máy ảnh trước ngực.. Anh tự nhắc nhở: Ít ra còn có vật dụng để thực hiện một công việc, làm một nhiệm vụ. Đây là những hình ảnh không thể thiếu cho mai sau. Để tương lai còn có người biết đến, thấy ra lần tận diệt của Sàigòn. Của miền Nam. Với cách giải thích tội nghiệp cùng đường nầy, anh đi về phía Công Trường Lam Sơn, trước trụ sở Hạ Viện. Chung quanh Sàigòn vắng hoe. Trời bỗng nhiên trở mưa.. Cơn mưa ngắn, từng giọt khô nồng, u uất. Chiếc xe Molotova Trung Cộng (sau khi đi tù mới biết đấy là xe Zil) từ hướng đường Trần Hưng Đạo, chạy chậm rãi qua bùng binh chợ Bến Thành.. Những người đi đường nhìn lên, ngó mông trống trải. Xe tới trước thềm Hạ Viện, đám thiếu nữ nhẩy xuống, một người đội mũ tai bèo, chắc là người chỉ huy trung đội lính phụ nữ, từ ca-bin xe bước ra, chỉ chỏ, ban lệnh, kéo từng người vào vị trí gọi là “chiến đấu”… Các đồng chí, các đồng chí… bố trí đây nì, sẵn sàng tác chiến… Giọng người vùng miền Bắc Trung Việt cấm cẳng, the thé. Những thiếu nữ ngồi bất động nghiêm trọng. Tất cả đều mặc áo quần mới, áo mầu xanh dương, quần đen, vải nội hoá còn nguyên dấu hồ, giây đạn đeo chéo qua thân, miết xuống những thớ thịt ở ngực, phần bụng. Băng đạn trên thân người mới tinh màu đồng đỏ au.

Từ Công Trường Lam Sơn, đầu đường Nguyễn Huệ, đám đông dần tập trung để xem mặt “bộ đội Việt cộng”. Thêm hai xe đổ quân trước rạp Rex. Lính cộng sản nhẩy xuống, chạy vội vào hàng hiên, nằm, trườn, bò, nháo nhác. Tiếng đập đục rầm rập từ những cơ sở ngoại quốc, những khối cửa sắt lay động, phá bung, những tấm kiếng tủ lớn bị đập vỡ, đồ đạt kéo lê hỗn độn, vội vàng trên mặt đường. Người mỗi lúc mỗi đông. Người dồn dập ùn ùn, la ó, chưởi thề, giành giựt. Đám đông chạy về phía Building Brink, khu Đồn Đất, nhà thương Grall, những nơi có cơ sở của Mỹ kiều, những văn phòng mà chủ nhân đã bỏ đi. Bất chợt, tất cả lắng lại để nghe rất rõ .. Có người tự tử. Có người mới bắn chết. Ai? Lính hả? Không biết, chỉ thấy mặc đồ lính mình. Ở đâu? Ở ngoãi, chỗ tượng Thủy Quân Lục Chiến.. Lời trao đổi đứt khúc, vội vã, mất hút giữa những tiếng thở dồn dập, bước chân cuống cuồng nôn nóng của đám đông đang hăm hở tiến tới những kho hàng, cơ sở đầy ắp vật dụng, thức ăn, rượu, bia. Tiếng súng nổ, đạn bay lên trời.. Và những bóng người chạy lúp xúp vào cổng Tòa Đô Chính. Anh đưa máy hình lên làm động tác quen thuộc, thuần thục hằng thực hiện trước kia nơi những chiến trường lửa đạn vây bủa. Đồng thời  anh chợt nhói đau, nói thầm.. Đây là lần cuối cùng. Đây là giờ cuối cùng với cảm giác cạn ly rượu ân huệ hành quyết trước khi bịt mắt dẫn đi bắn. Anh đi theo đám lính cộng sản với hai thanh niên cầm cờ đỏ chạy vào chiếm Tòa Đô Chánh. Thoáng rất ngắn, anh ngừng lại, liếc về phía khối tượng đài Thủy Quân Lục Chiến, nơi có Người Lính vừa chết. Buổi Sáng 30 tháng Tư, 1975. Chen giữa âm sắc xích xe tăng đổ nhào cửa Dinh Độc Lập có tiếng nổ khô nhỏ của viên đạn ghim vào, nằm sâu trong đầu Trung Tá Cảnh Sát Quốc Gia NGUYỄN VĂN LONG.

Anh lên yên, nhấn mạnh bàn đạp, động tác không chủ đích đi dọc đường Lê Văn Duyệt, qua Chợ Đũi, nơi các bạn hôm qua hằng vui vầy, sống động.. Anh đạp dài theo Lê Văn Duyệt giữa giòng âm động dồn dập của Sài Gòn đang hồi tẫm liệm với nhịp chày vồ dộng mạnh xuống trăm, ngàn quan tài. Mà quả thật có nhiều quan tài của những người vừa chết.. Đến trước cổng trại Nguyễn Trung Hiếu, hậu cứ  Tiểu Đoàn 1 Dù, gặp Thiếu Tá Trần Công Hạnh, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 2 Dù. Anh hỏi Hạnh: “Bây giờ bạn tính sao?” Tròng mắt người bạn khô khan ráo hoảnh sau bao ngày đêm không ngủ. Hạnh nói dứt khoát, dẫu mệt nhọc, rời rã: “Tôi còn đến 500 người lính, tất cả các đại đội trưởng đang đợi lệnh tôi. Anh xem tôi có thể làm gì, đi đâu?!” Có một xác con trẻ trần truồng không biết ai ném ra từ bao giờ lên mặt đường. Một cô gái mặc áo dài trắng nữ sinh đi đến, gác chiếc xe đạp mini cạnh lề đường, bình thãn, thành thạo đưa máy ảnh lên, lấy góc cạnh thây đứa trẻ chết. Anh hỏi cô gái: Cháu chụp tấm hình nầy làm gì trong khi không dám nhìn đến thây đứa bé mà giờ nầy đã miết xuống mặt nhựa đường do đám người chạy loạn từ khu Ngã Tư Bảy Hiền dẫm lên. Cô gái nhỏ trả lời mau chóng: Chụp để làm chứng tội ác Mỹ-Ngụy trước khi bọn chúng rẫy chết! Giọng cô nhỏ đanh lại, mắt quắt lên sau lớp kính trắng. Anh thoáng kinh hãi vì chứng kiến một điều ghê rợn: “Hóa ra Sự Ác do cộng sản giáo dục có thể chụp xuống lòng người mau chóng đến thế sao?” Bấy giờ chỉ mấy mươi phút sau lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh.

Một trung đội lính Dù mà thật sự chỉ khoảng hơn một tiểu đội giữ nhiệm vụ an ninh cư xá sĩ quan Bắc Hải đặt dưới quyền chỉ huy của Chuẩn Tướng Hồ Trung Hậu, trước 1972 là Tư lệnh phó Sư đoàn Dù. Chuẩn Tướng Hậu đang trãi chiếc bản đồ trên mui xe jeep, bàn tính với những viên sĩ quan. Khi biết lệnh đầu hàng đã thi hành, ông vất tung chiếc bản đồ, gầm lên lời nguyền rũa.. Anh nói với viên thiếu úy trung đội trưởng: Tôi vừa gặp ông Hạnh ngoài cổng Tiểu Đoàn 1. Ông Hạnh không có ý kiến, bảo anh em ai về nhà nấy. Nhưng viên thiếu úy trả lời quyết liệt: “Tôi không đầu hàng, tôi với trung đội sẽ ra bến tàu tiếp tục chiến đấu..”. Thiếu úy Huỳnh Văn Thái tập họp trung đội, hô nghiêm, xếp hàng, ra lệnh di chuyển.. Trung đội lính ra khỏi cư xá theo lối cổng Đường Tô Hiến Thành, rẽ vào Nguyễn Tri Phương, đi về phía chợ Cá Trần Quốc Toản, hướng bến tàu. Nhưng những Người Lính Nhẩy Dù của Thiếu Úy Huỳnh Văn Thái không ra đến bến Bạch Đằng, khi tới đến bùng binh Ngã Sáu Chợ Lớn, họ xếp thành vòng tròn, đưa súng lên trời đồng hô lớn.. Việt Nam Cộng Hoà Muôn Năm.. Con chết đây cha ơi! Và những trái lựu đạn tiếp nhau bừng bực nỗ sau lời hô vĩnh quyết cùng đất nước Miền Nam.

#10-NĐT: Sau nầy, anh biết thêm, trên đoạn đường anh vừa đi qua, ngõ nhỏ băng ra Chợ Ông Tạ, trong một căn nhà đã diễn nên hoạt cảnh uy nghi bi tráng của cả một gia đình quyết tử cùng vận nước. Thiếu Tá Đặng Sĩ Vĩnh thuộc Khoá 1 Nam Định, chuyên ngành tình báo đặc biệt, biệt phái ngoại ngạch qua ngành viễn thông, phụ trách đường giây quốc ngoại. Người con trai lớn của gia đình, Trung Úy Đặng Trần Vinh sĩ quan Phòng 2 Bộ Tổng Tham Mưu.. Hai người cùng trao đổi lời đối thoại sau khi có lệnh đầu hàng.. Tùy con, riêng bố đã quyết như đã nói với con từ trước. Nếu bố đã quyết như thế, con và các cháu cũng đồng lòng. Toàn gia đình uống chậm những liều thuốc độc cực mạnh đã chuẫn bị từ trước. Cuối cùng Trung Úy Đặng Trần Vinh kết thúc bi kịch với viên đạn bắn tung phần sọ não sau khi đứng chào tấm Đại Kỳ Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ với lời hô khiến sông núi cũng quặn thắt thương đau.. Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm!

#11-NĐT: Ở Vùng IV, đồng bằng châu thổ Sông Củu Long, chị Nguyễn Thị Thàng vợ một Nghĩa Quân Đồn Giồng Trôm, thay chồng giữ đồn đến trái lựu đạn cuối cùng. Chị kết thúc đời mình bên cạnh thây của chồng, các con, với những vũ khí, máy truyền tin đã bị phá hủy.. Không để cho Việt cộng một cái gì cả! Người chồng đã dặn chị trước khi lâm tử. Cùng lần với những danh tướng vị quốc vong thân Nguyễn Khoa Nam, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai, Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Hồ Ngọc Cẩn… rất nhiều người không ai biết cấp thiếu, trung úy kể cả binh sĩ, hạ sĩ quan,.. cũng không thiếu những người dân, những người dân thường đã chết cùng lần vĩnh quyết Miền Nam. Anh đi qua biên giới tử sinh nầy với mặc cảm phạm tội – Tội đã sống sót. Đấy là cảm ứng có thật từ ngày 15 tháng 3 khi theo đoàn người di tản dọc Tỉnh Lộ 7 từ Pleiku về Phú Bổn, xuống Tuy Hoà.. Khi đứng trên Đèo Hải Vân ngày 25 tháng 3, nhìn đoàn người chạy loạn từ Quảng Trị, Huế vào Đà Nẵng. Khi nghe ra tiếng hờn đau ai oán của người đàn bà chân trần, tóc rối, lật vạt áo dài ra để thấy đứa con nhỏ đã chết từ lâu trên tay. Nay sáng 30 Tháng tư, anh đi về nhà với màn nước mắt pha máu.. Máu trên áo, ở đầu ngón tay, nơi cánh mũi gây gây, nồng gắt mùi nồng lạnh do khi anh đến gần, cúi xuống chụp hình Thiếu Úy Thái và những người lính nhảy dù tự sát. Mắt người chết nhìn anh trừng trừng khốc liệt. Không hiểu anh đã về đến nhà theo lối nào, nhưng quả thật đây thật là đoạn đường dài nhất, gớm ghê nhất anh vừa đi qua với cổ đắng, miệng khô rốc, trí óc vỡ loãng trỗng không.

Hậu từ:

“Người Nhật là một dân tộc vĩ đại qua nghi lễ hiến tế, tức Sepuku (mỗ bụng tự sát) khi danh dự cá nhân, tập thể, tổ quốc bị xúc phạm. Dân tộc Việt Nam không có nghi thức uy hùng, dũng cảm ấy. Tuy nhiên, Người Việt cũng có phương thức riêng để bày tỏ Lòng Yêu Nước, cách gìn giữ phẩm giá Con Người. Người Việt xử dụng Cái Chết để chứng thực nguyện vọng kia qua cách thế im lặng và đơn giản nhưng không kém phần cao thượng. Cuối cùng, bi kịch không chỉ xẩy ra với thời điểm 30 tháng tư, 1975 mà sau đó, suốt hai thập niên 70, 80, hai triệu người Việt Nam, không phân biệt người Nam, hay người Bắc những người đã sống lâu dài dưới chế độ cộng sản Hà Nội từ 1945, từ 1954.. Tất cả đã cùng phá thân băng qua biển lớn, xuyên rừng rậm vùng Đông-Nam Á, với giá máu 600.000 người chết trên đường di tản ra khỏi nước. Hóa ra Dân Tộc Việt, những người Việt Nam bình thường đã đồng lần thực hiện một điều mà họ không hề diễn đạt nên lời: Chết vì Tự Do để bảo vệ Phẩm Giá, Quyền Làm Người. Người Việt Nam đã và  đang hiện thực điều mầu nhiệm nầy qua từng ngày vượt sống trên quê hương khổ nạn, với chính thân xác của mình.

Viết lại sau 37 năm

Với lời kính nguyện

Dâng lên Tổ Quốc

Và Anh Linh Người Việt đã lâm tử trong

Ngày Thật Chết Với Quê Hương.

Tháng tư, 2012

Cali, PNN

Sài Gòn – Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 8 Aug 2026

Chương trình “quân nhân học tập” đã được khai sinh vài năm trước khi tôi về làm việc ở Ðài Phát Thanh Quân Ðội. Có lẽ nó có từ những năm 1967-68. Chương trình này do hai nghệ sĩ Phi Thoàn, Khả Năng phụ trách và là một chương trình “ăn khách” nhất của Ðài Quân Ðội cùng những chương trình đặc biệt khác như Dạ Lan, Nghệ Sĩ với Chiến Sĩ…

Hầu hết anh em trong quân đội và gia đình họ rất thích nghe hai ông Binh Méo, Cai Tròn “tán dóc”. Dĩ nhiên là “tán dóc” trong một chủ đề đã được chọn lọc để phổ biến một đường lối, chủ trương nào đó của quân đội, tránh hình thức học tập khô khan. Nhờ vậy nó chuyên chở được hầu hết bài học mà người lính cần hiểu và hiểu sâu sắc hơn.

AI LÀ BINH MÉO, AI LÀ CAI TRÒN?

Hai nhân vật chính của chương trình này là Phi Thoàn đóng vai “Binh Méo” và một người đóng vai “Cai Tròn”.

Nhìn bề ngoài lúc đó Phi Thoàn gầy gò nên cái biệt hiệu Binh Méo dành cho anh bên cạnh diễn viên Khả Năng tướng người to cao nên được tặng biệt danh là “Cai Tròn” rất đúng điệu. Cũng có người ví hai anh như Laurel & Hardy. Hai nhân vật ấy rất quen thuộc với các sân khấu kịch quân đội và người lính suốt nhiều năm. Thậm chí khi các anh đi diễn những “sô” ở các rạp hát, rạp chiếu bóng ngoài phạm vi quân ngũ cũng có nhiều nơi yêu cầu các anh diễn theo phong cách “Binh Méo, Cai Tròn” đủ chứng tỏ ảnh hưởng của hai vai diễn này rất mạnh.

Bên cạnh phòng làm việc của tôi có một phòng vi âm nhỏ chuyên dùng để thu thanh trước các chương trình đặc biệt chỉ cần một số ít người.

Phi Thoàn.

Hàng tuần vào một ngày cố định, tôi không còn nhớ rõ là ngày thứ mấy trong tuần, chương trình “quân nhân học tập” được thu thanh tại đây. Vài tuần đầu tôi để ý thấy chỉ có Phi Thoàn và một số nhân viên vào ghi âm chương trình này, không thấy Khả Năng. Vậy mà chương trình vẫn có “Cai Tròn Binh Méo” và giọng nói của Khả Năng.

Tôi chưa kịp hỏi thì một buổi Phi Thoàn thu thanh xong, anh gõ cửa vào phòng tôi. Bao giờ cũng vậy, gặp anh là thấy nụ cười trước tiên. Anh đưa tay chào kiểu nhà binh nhưng vẫn xưng hô với tôi như tình anh em:

– Nghe nói anh về Đài mà mấy lần định vào nhưng anh lại có khách.

Cần nói rõ là Phi Thoàn làm ở tiểu đoàn 30 Chiến Tranh Chính Trị chứ không phải nhân viên của Đài Quân Đội. Anh chỉ là người cộng tác và vẫn được hưởng cát-sê như những nghệ sĩ dân chính khác cộng tác với Đài. Chúng tôi quen nhau qua cái tình văn nghệ trong quân đội từ lâu. Nhưng hồi đó tôi còn làm việc ở phòng Báo Chí, nay mới có dịp làm chung một “nghề”. Tôi hỏi:

– Còn Khả Năng đâu sao không vào chơi luôn? Phi Thoàn cười:

– Ông ấy giận tôi nên không chơi với tôi nữa. Hồi này tụi tôi đi làm ăn riêng hết, không chơi chung như xưa.

PHONG CÁCH PHI THOÀN

Lúc đó tôi mới biết rằng sau này Phi Thoàn “một mình một chợ” đảm nhận vai trò nồng cốt trong chương trình Binh Méo, Cai Tròn mà người đóng vai Cai Tròn lại là một xướng ngôn viên khác có giọng nói y hệt Khả Năng. Có lẽ điều này rất ít thính giả biết cho đến tận bây giờ. Cũng như chương trình Dạ Lan, sau khi Dạ Lan của thời kỳ đầu nghỉ không làm nữa thì lập tức một xướng ngôn viên có hạng của Ðài được thay thế với tiếng nói y chang Dạ Lan làm nhiều người cứ tưởng vẫn chỉ là một giọng nói. Mãi sau này mới có một số người biết.

Tôi lấy làm tiếc vì sự “chia đôi đường” của cặp bài trùng đang trong thời kỳ rất ăn khách này. Tôi ngỏ ý với

Phi Thoàn lúc nào có dịp tôi sẽ mời Khả Năng đến Đài rồi cùng ngồi nói chuyện. Nhưng Phi Thoàn lắc đầu:– Vô ích thôi, anh ạ. Vài “sếp” đã tính đến chuyện này, nhưng tôi thấy không vui vẻ với nhau nữa thì cứ để nó như thế cho yên chuyện đời.

Thiệt thòi cho sân khấu là từ đó khán giả không còn có dịp thấy “Laurel và Hardy Việt Nam” xuất hiện chọc cười thiên hạ nữa, dù trên làn sóng phát thanh họ vẫn cứ như hình và bóng. Đâu có ai biết Binh Méo sẽ không bao giờ diễn chung với Cai Tròn nữa.

Và chuyện đời cứ như thế trôi cho đến những ngày trước cuối tháng 4 năm 1975, Phi Thoàn vẫn hàng tuần đến thu thanh bên phòng của tôi. Thỉnh thoảng gặp nhau nói dăm ba câu chuyện vặt rồi ai làm việc nấy.

Ngoài công việc của quân đội, thỉnh thoảng Phi Thoàn đảm nhận “xô” diễn của các đoàn ca kịch bên ngoài. Lối diễn hài của anh rất độc đáo, không phùng mang trợn mắt mà là lối diễn rất thông minh, hóm hỉnh do chính anh tự khám phá ra cho mình và đôi khi cho bạn diễn cùng với mình có cơ hội được chọc cười khán giả.

Lối diễn của anh gần như của Trần Văn Trạch, nếu anh Trạch có vẻ Tây phương hơn thì Phi Thoàn lại quay về với những cử chỉ, lời thoại của người thôn quê, ngây thơ chất phác thú vị. Tràng cười của anh không dung tục quá đáng đến sỗ sàng mà mang hơi thở của chú Tư Cầu Lê Xuyên với ruộng đồng mộc mạc. Vì thế sau này anh diễn các vai bác nông dân rất thành công và còn được khán giả đặt cho cái tên “chú Sáu Mỹ Thuận”. Anh khôi hài châm biếm rất hồn nhiên, không cường điệu quá lố, không cố ép khán giả phải cười mà là tiếng cười bật lên từ chính trong lòng khán giả qua phong cách tự nhiên của anh, qua sự việc hợp tình hợp lý chứ không gán ghép để buộc khán giả phải cười dù nó có vô lý. Anh không thích sự vô lý trong cách bố cục một kịch bản, dù là kịch bản đó của mình hay của người khác. Tôi đã thấy Phi Thoàn yêu cầu người viết kịch bản là trưởng ban thông tin thời sự của Đài, thay đổi mạch hành văn của một câu chuyện thời sự cho hợp lý hơn, lúc đó anh mới chịu diễn. Có thể nói anh là người rất kỹ tính với kịch bản. (Ảnh: Phi Thoàn và Tô Kiều Lan trong vở cải lương “Nếu Em Là Hoàng Đế”).

Về thành tích của nghệ sĩ Phi Thoàn, phải nhắc đến sự đa dạng trong diễn xuất. Nhờ sự đam mê sân khấu từ hồi còn nhỏ mà, từ một anh chuyên đóng hài trên đài phát thanh, anh nhanh chóng chiếm lĩnh vai trò chủ chốt các đại nhạc hội Sài Gòn thời đó. Tên tuổi Phi Thoàn một thời được xem là sự bảo đảm bán vé đắt cho buổi diễn. Cùng với các danh hài thượng thặng như Thanh Hoài, Tùng Lâm, Thanh Việt, La Thoại Tân, Xuân Phát…, anh mang lại tiếng cười sôi nổi cho người xem.

Sau một thời gian tham gia các ban kịch ở Sài Gòn, anh còn đóng nhiều thể loại phim hài. Cứ mỗi lần có một đoàn làm phim tính chuyện “làm phim hài chiếu Tết” là người ta nghĩ ngay đến Phi Thoàn. Các ông chủ hãng phim thi nhau đến mời anh ký hợp đồng và hầu như bất kỳ phim hài loại nào có anh đóng là y như bà con đến chật rạp, chủ hãng phim hốt bạc.

Không còn gì đúng hơn và khôn ngoan hơn là làm phim hài vào dịp tết, người Việt Nam có thói quen kiêng khem và đôi khi đi xem hát, xem kịch vào dịp đầu năm là để “bói tuồng” nên thường chọn những phim kịch vui để được vui vẻ suốt năm.

THUỞ ẤU THƠ CỦA BINH MÉO

Tên thật của anh là Nguyễn Phi Thoàn, sinh năm 1932 tại Trà Vinh. Bắt đầu hoạt động nghệ thuật từ năm 1948 và trở thành nghệ sĩ hài nổi tiếng khi mới bắt đầu khôn lớn.

Nhắc lại tuổi thơ, anh thường kể một sự kiện, đó là anh sinh ngày 19-6-1932, ngày người Pháp cho chạy thử chiếc tàu thủy rất lớn trên sông Trà Vinh. Chiếc tàu đó tên Phi Thoàn nên ba mẹ anh quyết định đặt tên cho đứa con trai duy nhất trong nhà là Nguyễn Phi Thoàn. Nhưng số anh lại là con khó nuôi, cứ đau bệnh liên miên, nên ba mẹ anh đã nhờ một người thầy Khmer nhận làm con nuôi. Bởi vậy anh còn có tên Sen. Cái tên gắn chặt tâm hồn mình với quê hương. Anh thường kể với bạn bè:

– Có lẽ nhờ chết hụt lúc còn nhỏ nên lớn lên tôi là một thanh niên sống thảnh thơi, thích nhìn những sự việc tréo ngoe để gây tiếng cười. Năm tôi 16 tuổi, ở xóm đã nổi danh là thằng “Sen tếu”. Một lần bạn bè xúi “mày có máu khôi hài nên lên Sài Gòn xin vào đài phát thanh kể chuyện tiếu lâm”. Tôi khăn gói một phen thử vận. Hồi đó ở Đài Phát Thanh Sài Gòn có chương trình tuyển chọn ca sĩ trẻ, giữa giờ giải lao thường có một anh hề ra chọc cười khán giả. Tôi xin thử kể, không dè ông chủ lắc đầu. Lúc định quay về thì trời đổ một cơn mưa thiệt lớn. Nhờ vậy tôi mới được thử. Câu chuyện tôi kể là hình ảnh một anh nông dân say bí tỉ gây lộn với con chó. Một mình tôi giả hai giọng: người và chó. Không ngờ ông “sếp lớn” nhận tôi vào làm ngay và đó là bước ngoặt gắn chặt đời tôi với sân khấu.

NỖI NHỚ SÀN DIỄN CỦA NGƯỜI NGHỆ SĨ VỀ GIÀ

Nghệ sĩ Phi Phụng, con gái của nghệ sĩ Phi Thoàn, đã tâm sự:

“Với tôi, ba không chỉ là một người cha kính yêu mà còn là một người thầy tận tuỵ. Ngay khi còn rất rất nhỏ tôi đã bắt chước ba hát diễn đúng kiểu “cha truyền, con nối”. Tôi được ba chăm chút, uốn nắn từng chút, rồi ba dắt tôi vào hát từ năm 1978, đi hát “xô” cũng dắt tôi theo. Hồi mới vào nghề chưa có kinh nghiệm, chỉ đóng cảnh “ngất xỉu” mà tôi bị ba bắt đóng tới, đóng lui hoài… Không chỉ với riêng tôi mà với các bạn diễn ba cũng rất nghiêm khắc trong tập luyện. Nhà tôi có 7 chị em nhưng hễ một đứa có lỗi là ba “phạt… tập thể”. Ông bắt tất cả nằm sắp lớp xuống nền nhà rồi phán: “Nằm yên đó, đợi tao đi diễn về là tụi bây biết tay!” Tụi tôi thay phiên nhau 6 đứa nằm còn 1 đứa ra canh cửa. Một chặp sau đứa canh cửa báo động:

“Ba về! Ba về!”. Thật ra ông già chỉ đi loanh quanh đâu đó, về thấy đàn con vẫn nằm sắp lớp nghiêm chỉnh, ổng cười hì hì: “Thôi, tha!”. Khi chị em tôi có bạn trai, dù đi chơi tập thể ở tận Bửu Long ba cũng đòi lên tận nơi “canh chừng”, sợ… con hư! Còn nữa: “Ðứa nào mà đi nhảy đầm thì tao chặt giò!”. Trong nhà là thế, nhưng bước ra ngoài là ba trở thành “chú Sáu Mỹ Thuận” rất ư vui tính với bạn bè đồng nghiệp, với khán giả và với cả bà con chòm xóm. Ba nằm bệnh viện hai tháng rồi 9 tháng nằm ở nhà, khoảng thời gian ấy ba nhớ sàn diễn, nhớ bạn diễn vô cùng. Có những đêm ba thức rất khuya, chờ tôi về để chỉ hỏi một câu: “Con đi hát về, có gì vui kể cho ba nghe với!” Nỗi nhớ sàn diễn của người nghệ sĩ về già sao mà tha thiết quá. Hình dung ra cảnh Phi Thoàn nằm đó nhớ ánh đèn sân khấu, nhớ khán giả, nhớ vai diễn và bạn diễn chắc bạn đọc cũng thấy lòng nao nao.

CHÚT KỶ NIỆM CUỐI CÙNG

Sau một thời gian dài, suốt từ năm 1975 đến khoảng năm 1991-92, khi tôi ở trại “cải tạo” ra, trở về Sài Gòn, tôi chỉ gặp lại Phi Thoàn đúng một lần.

Khi đó tôi còn lang bang xách “bút nghiên” đi học computer ở trường Ðại Học Sư Phạm Sài Gòn.

Chẳng biết hôm đó chiếc xe ca đón nghệ sĩ nào ở đường Hùng Vương, Phi Thoàn ngồi đợi ở một quán trước cổng trường gần đó.

Tôi tan lớp học bước ra, Phi Thoàn nhìn tôi ngờ ngợ rồi anh đứng ra giữa đường cản lối, hai tay chống nạnh nhìn tôi trừng trừng.

Vừa nhìn thấy anh là tôi nhận ra ngay. Anh vồ lấy tôi:

– Bắt được ông rồi đây nhé. Cứ nghe ông về mà chẳng biết ở đâu.

Tôi đùa:

– Coi chừng anh quen một tên “ngụy” hơi nguy hiểm đấy nhé.

Anh cười:

– Tôi quen với nguy hiểm rồi. Mà ông đi đâu đây? Bộ lúc này phải đi dạy học kiếm sống à?

– Ði học chứ dạy cái nỗi gì, ai cho dạy mà dạy. Phi Thoàn không tin:

– Ông tính thay tôi đóng phim giễu hay sao đây?

– Nói thật đấy. Học computer mà. Ở trong trại, đọc thấy cái máy vi tính ghê quá, về học xem nó ghê đến đâu.

– Ông có chí thật.

Tôi cười trừ:

– Ðừng có khen tôi, chẳng qua đói quá và cũng hơi nhục nên mới đi học đấy, tôi là học trò già nhất ở cái trường này.

Phi Thoàn an ủi:

– Việc quái gì mà nhục! Ông cứ hiên ngang mà sống chứ, đời anh em mình còn dài mà.

– Không phải như ông nghĩ đâu, tôi ở chung với mấy người bạn, họ đánh mạt chược suốt ngày, họ có tiền, còn tôi thì rách như tổ đỉa. Có ba chân, thiếu người, họ cứ bảo tôi ra ngồi đánh cho đủ chân. Tiền đâu mà chơi nên tôi cứ phải giả vờ ốm nằm trùm mền. Mình là dân chơi từ xưa, quen máu đi rồi nên nằm trùm mền mãi, nghe họ lóc cóc chơi ở nhà ngoài, chịu hết nổi và cứ thấy nhục thế nào ấy.

Phi Thoàn cười ha hả:

– Vì thế ông cắp sách đi học cho khuất mắt chứ gì.

Chuyện đó của ông viết thành kịch được đấy.

– Còn khối chuyện viết thành kịch được, nhưng bây giờ tôi chưa có thì giờ.

Phi Thoàn kéo tôi vào quán đãi ly cà phê đá.

Anh tỉ tê tâm sự cuộc đời anh gắn liền với sân khấu và bây giờ vì cuộc sống nên vẫn cứ đi diễn.

Tôi hỏi thăm đến một số anh em khác và Khả Năng. Phi Thoàn nói hồi này cũng không biết Khả Năng ở đâu. Nghe tin anh ấy đi vượt biên.

Tôi kể cho Phi Thoàn nghe hồi mới vào trại “cải tạo” tôi ở trại Suối Máu, một hôm nghe có người bạn nói Khả Năng đợi tôi ở hàng rào phía hông trại.

Tôi chạy ra. Khả Năng đứng bên hàng rào kẽm gai trại bên kia, chúng tôi nhìn nhau ngao ngán. Xem ra Khả Năng có vẻ mất tinh thần lắm. Anh ấy không còn là một cây cười ngoài đời nữa, trại giam đã giam cả tiếng cười của anh ấy rồi. Trao đổi vài câu chuyện trời đã vào tối, chúng tôi chia tay. Sau đó tôi chuyển trại ra miền Bắc, từ đó tôi không còn có dịp gặp lại Khả Năng.

Mãi những năm sau này, tôi nghe nói Khả Năng đã vượt biên sang được đất Thái Lan nhưng rồi tử vong vì một lý do nào tôi không rõ.

Nay thì đến lượt tôi phải từ giã Phi Thoàn.

Anh mất lúc 16 giờ 40 ngày 4 tháng 5 năm 2004 tại nhà riêng, hưởng thọ 73 tuổi.

Thế là hai anh Binh Méo, Cai Tròn đều đã ra đi cùng với anh trưởng ban thông tin hồi đó là Mai Trung Tĩnh.

Những tài hoa xưa đã rơi rụng dần. Chiều nay, 7 tháng 5, khi tôi viết bài này, đám tang Phi Thoàn vừa cử hành.

Một nỗi buồn mênh mông trùm lên không khí Sài Gòn bắt đầu vào một mùa mưa mới mà chưa mưa được!

(Sài Gòn 7-5-2004)

Cẩm Lệ

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 8 Aug 2026

Lý lịch Phan Thị Cẩm Lệ thoạt đầu sơ sài, giản đơn. Mở mắt chào đời vào mùa xuân có vạn người vui có triệu người buồn. Sinh quán: Hoà Vang, Quảng Nam. Ba: Cầm súng cho Nguỵ quyền. Mẹ: Nội trợ, sau đổi qua mua bán phế liệu, ve chai đồng nát. Học lực: Xong tiểu học.

Không cần tới thầy bói, nếu cứ “sao y bản chánh” như thế mà luận thì đời con gái của Cẩm Lệ e mãi lầm lạc đi trong đường hầm chẳng bao giờ nhìn ra ánh sáng. Bóng tối là thứ gì rất đỗi quen thuộc, hiện thực; bao trùm mọi hoàn cảnh chứ nào chừa cho một ai cá biệt. Không có lê nên cứ vui với lựu, ánh trăng nhợt nhạt nên vẫn thuỷ chung nương cậy vào đốm sáng đèn dầu. Bình địa, chẳng có núi để leo lên đứng trông vời núi khác. Không có nhà ngói nên đành thiệt thòi trú ẩn vào nhà tranh. Voi không thấy đi qua nên chẳng đơm mộng ước được ngó ra tiên. Đời bày ra khẩu quyết “ai sao ta vậy” và khó khăn làm bức tử một sự phân bì, so đo, hơn thiệt. Thoát ra khỏi vùng đất chôn nhau cắt rốn này thì hoạ may…
Năm Cẩm Lệ lên sáu thì cha được người ta thả về. Phút đầu gặp nhau Lệ rất hãi sợ khi ngó thấy một ông già còm cõi lạ hoắc lạ huơ dang tay đòi bế đòi bồng đòi hôn đòi hít. Khi nào Lệ chướng đều nghe mẹ doạ: Mi mà còn khóc la thì ông kẹ đứng rình ngoài cửa sẽ bước vô. Bây chừ thì mình có gây lỗi lầm gì đâu mà tự dưng ông kẹ xuất hiện “ăn dầm ở dề’ trong căn nhà xiêu vẹo vì “xuân này ba vắng nhà, không người sửa sang”.

Khi bắt đầu quen hơi, khi dần bỏ rơi bao chướng ngại, khi tiếng đầu đời biết gọi chữ cha thì ông Phan Văn Được hạnh phúc một sớm vác cuốc đi làm rẫy, ham lấn đất sao đó cong lưng cuốc phải một quả mìn. Tin đâu sét đánh ngang tai, Được không chết khi ngày cũ theo Sư đoàn 2 xung trận, không bỏ thây trong trại tù cải tạo, Được “may phước” được chết trong thời bình ngay trên cuộc đất máu thịt của cha ông. Một người trong xã khi thuật chuyện đã lấy làm tiếc nuối: Có điều kiện như xưa kia, chở ảnh vào bệnh viện thì đâu đến nỗi. Tội nghiệp!

Lật giở lại vài trang quá khứ, trong khi tạo hoá trêu ngươi xúi người chồng đi trình diện cải tạo với bản án vô thời hạn, không hẹn ngày về, thì người vợ lủi thủi cô quạnh của Được có một anh chàng ngụ ở Hoà Khánh ngắm nghía chùng vụng tìm cớ lân la rù quến tranh thủ chở đi ăn chè ăn cháo, mang bộ mặt ba phần lấm le bảy phần lấm lét. Mèo (dấu cứt ngoài) mả gà đồng là chuyện cực chẳng đã, chồng bất ngờ trở về, cuộc diện chưa có bề ngã ngũ thì con tạo lại khéo xoay vần lần nữa. Đùng một cái chồng vắn số phủi chân lên bàn thờ ngồi và cỏ vừa xanh trên nấm mồ còi cọc cả sạn cát thì “trai đơn gái chiếc” đồng tình vượt rào lấn qua phương án hai rất chi là danh chính ngôn thuận. Ảnh nói: Gái một con trông mòn con mắt thì cũng chừng mực nào đó thôi, bông ở trong chậu không có ai tưới nước thì ắt sẽ héo úa tàn tạ, nói hồ đồ thì em bỏ lỗi chứ gái mà thiếu hơi trai thì nhác chơi sinh đổ bệnh, tiếc nuối xuân sắc đang đổ dốc vùn vụt chạy tìm về cái nhăn nhó già cỗi một sớm một chiều.

Anh này quả có khiếu ăn nói dù ảnh làm thợ mộc chính hiệu chuyên bào cưa xẻ đục, trong nhà lúc nào cũng có sẵn một hai cái quan tài mới cáu dựng nắp đậy một bên chờ người có phúc phận đến rước đi. Siêng đóng hòm nên coi vậy mà ảnh luôn có đồng ra đồng vào, chốt lại là việc nuôi hai mẹ con em nào thành vấn đề, chuyện nhỏ, anh dư sức qua cầu đầy đủ tơi nón nhằm che nắng mưa cho cả ba nhân mạng. Cẩm Lệ đôi phen được mẹ dẫn đi “thực tế” đến giang sơn người dượng tương lai, Lệ thử chui vào nằm trong áo quan. Ui chu choa, nó mát đến sảng hồn sảng vía. Mùi diêm bào, mạt cưa, mùi thịt gỗ của thân cây to vừa bị đốn hạ ướt át nồng nàn thơm đến mụ mị; được ngủ một giấc thì cái oi ả của hạ nồng đang chụp lửa ngoài trời cũng chẳng thể can dự tới, cứ riu riu cứ mơ màng cho đến hồi mẹ xớn xác gọi lớn tiếng: Lệ mô rồi? Lệ, chơ răng mi ngẳng nghịch rứa con tê! Bộ hết cách chơi rồi à? Ông bạn trai của mẹ cười hề hề: Em chớ rầy rà con, biết đâu nhờ vào hơi hám của Lệ vướng mắc mà sinh ra việc buôn đắc bán chạy cũng không chừng.

Sau đó chừng vài ba niên, Cẩm Lệ đột ngột biến mất. Dì Ba chấm dứt tâm sự. Dì thòng thêm phụ chú: Tui bán buôn lặt vặt ở chợ Cồn, Đà Nẵng. Sáng sớm đi, tối mịt bắt xe ôm về. Tiếng là dì cháu nhưng thú thiệt cũng xa cách, bị cuộc sống nó bắt mình phải điên đảo thần hồn, ít kiếm ra cơ hội hỏi han biểu lộ tình cảm cho nhau. Dịp Tết thì cho nó chiếc áo mới, mua tặng cháu bộ nội y, chỉ chừng đó thôi. Hỏi: Cẩm Lệ thương ai nhất nhà? Nó trả lời: Thì mỗi mình dì chớ ai khác. Biết còn làm bộ hỏi! Nó đi, chẳng để lại một câu giã từ. Nhưng không biết do đâu, người nhà, nhất là ông bạn trai của mẹ cứ khẳng định, vẫn tin chắc là số nó chẳng thể chết bụi chết bờ được, nó vẫn thích chui vào ngủ trong quan tài mà. Cứ đơm một ý nghĩ, nó thử giang hồ xuôi Nam đặng mong cầu tìm gặp một cuộc sống mới, khả dĩ thông thoáng hơn. Số nó coi bộ không hợp với mẹ nó…

Lý lịch Cẩm Lệ tới ngang đó thôi. Chỉ “nửa chừng xuân”, hơi bị trong sạch, hơi bị nhân thân tốt. Dì Ba đâu ngờ tới một hôm trở trời gây đột biến, Cẩm Lệ bị số phận han hỏi làm tình làm tội khiến đứa cháu dại khờ của dì Ba buộc phải đi bụi chẳng buồn báo cáo sự tình. Nguồn cơn phát sinh ban đầu là bữa nọ nghe trong người trống trải, ma đưa lối quỷ dẫn đường, buồn chân Cẩm Lệ lang thang ra ngoài khu chợ tân lập nhóm bên kia con sông cạn nước. Người ta đang bu lại bãi đất trống đầy rác thải hiếu kỳ xem có con khỉ biết mặc áo quần, tay cầm dù đỏ, nhỏ nhắn, biết làm trò cười nhảy nhót lung tung, y như khúc dạo đầu cho tuồng mãi võ Sơn Đông. Có một ông mình trần nằm dưới đất chờ một bà điệu bộ nhanh lẹ đặt hai cục gạch lên trên bụng, xong rồi bà ta nhổ nước miếng vào hai tay, kế đến cầm lên thanh sắt nhắm hai cục gạch mà đánh xuống, cật lực. Bà con la lên “bộ tính giết người không gươm đao hả”? Cục gạch vỡ làm đôi, làm ba, làm tư nhưng người kia ngồi dậy mặt tỉnh như ruồi kiểu như gãi chưa đã ngứa. Ui, cha nội này mà được vô đoàn lực sĩ nước nhà đi dự thế vận hội thì cầm chắc rinh về cái huy chương đồng. Hiện tại thì cha nội đang gào lên: Nhức đầu sỗ mũi cảm mạo ho hen trở ngại đường ruột đau lưng mỏi gối bệnh trĩ hoặc mồng gà hoa liễu giang mai mau nóng chóng nguội hoặc sớm xuất tinh chúng tôi đều có bài thuốc trừ khử hiệu nghiệm chóng lấy lại phong độ. Mại dô mại dô trong uống ngoài thoa ngày làm ba cử thì xuyên tâm liên nghe thế phải hổ thẹn cúi đầu, mua một tặng một dịp may hiếm có…

Đang há miệng theo dõi, Cẩm Lệ nghe tiếng nói thật gần, vẳng bên tai: Cưng muốn sở hữu hai triệu đồng thì đi theo chị. Êm ru bà rù, việc nhàn nhã, khoẻ re. Chắc rằng cưng đang thắc mắc, tạm thời mình lại đằng quán kia ngồi uống nước, chị sẽ lần lượt giải đáp ngọn ngành cho cưng nghe. Chị vừa lĩnh hai triệu đây, vào quán chị sẽ dành phần chiêu đãi. Người đàn bà mở ví cho Cẩm Lệ thấy cả đống tiền xanh đỏ nằm cộm trong đó, bà rút ra một chiếc khăn tay và thoáng chốc Cẩm Lệ không còn nhận biết đôi chân đang đặt ở đâu, người lâng lâng chẳng biết trời cao đất rộng là thứ gì, lòng tự nhiên thấy vui như mở hội. Ở nhà, có thể Cẩm Lệ biết cự cãi lại mẹ nhưng đang ở chốn mờ ảo này, người đàn bà ấy nói gì nhất nhất Cẩm Lệ đều nghe theo. Ở quán nước có người đàn ông chực sẵn, ông đứng lên theo hiệu lệnh của “bà chị”, liền bước ra và khởi động máy nổ chiếc xe gắn máy. Ông hối hả chở “kiện hàng trinh nữ” đi tới một nhà nghỉ, hối hả lột bỏ áo quần Cẩm Lệ, phô bày da thịt trong ngọc trắng ngà, chân chất hương đồng cỏ nội, mùi gái quê thuần khiết không pha tạp. Hôn hít rồi đi sâu vào người nó ắt sẽ khiến điều hoà kinh mạch, làm ăn hanh thông, vận hên luôn tới và tuổi thọ có thể kéo dài thêm đôi ba năm.

Gần một giờ đồng hồ sau, Cẩm Lệ thực sự tỉnh thức. Chiếc gối đẫm đầy nước mắt, tay chân nhừ mỏi, cửa mình đau rát và một cõi lòng đầy cả sợ hãi, nát tan. Một tuần trước, ở thành phố khác, báo có thuật chuyện theo lời kể của chủ nhân tiệm bán vàng: Đúng ngọ, trời nắng gắt, một bà bước vào hỏi mua vàng, tự nhiên người tôi như say nắng, hoa cả mắt, bà ấy chỉ thứ gì nằm trong tủ kính tôi đều lấy ra, xong cái bả biến đi hồi nào tôi chẳng hay. Khi đã lại thần hồn thì chỉ biết đứng chết điếng, nói không ai tin, tôi vừa mất đi tới bảy lượng vàng, êm ru bà rù.

Cẩm Lệ vừa bị chúng cướp đi cái ngàn vàng, nhưng may phước là bọn ác ôn còn tử tế, không nhẫn tâm, qua việc chúng có để lại một triệu đồng giữa chăn chiếu tơi tả. So ra bà bán vàng kia quả là vô phước hơn. Cẩm Lệ ngó thứ tài sản quá lớn vừa từ trên trời rơi xuống. Cẩm Lệ dòm tờ lịch: 13 tháng 3. Làm tính đố cộng trừ một chốc, hay ra đó là ngày sinh nhật mình tròn 15 tuổi. Không ai hơi sức đâu để tâm tới chuyện lặt vặt ấy, chỉ có bọn giàu có mới bày đặt trưởng giả học làm sang mượn cớ ngày sinh tháng đẻ để gầy tiệc tùng bù khú ăn nhậu. Cẩm Lệ ra chợ mua bộ áo quần mới rồi tìm về tiệm đóng hòm của ông “dượng”, nói mà chẳng cần tới sự đồng ý của gia chủ: Cho tui vào tắm một phát nhen, nóng chết cha mệ nội luôn. Ủa, có sao đâu, bữa rày còn làm bộ khách sáo! Ông nói thêm: Mới sai thằng Quới đi ra quán cơm bụi mua mấy dĩa sườn bì chả, có gì nán lại ngồi ăn chung một thể. Ăn ba hột cũng được, cốt lấy thảo.

Quới trạc tuổi với Cẩm Lệ, nó dưới quê ngác ngơ lên đây được “dượng” nuôi cơm để học nghề thợ mộc. Học thì ít mà bị sai vặt là nhiều. Chỉ mình Quới phụ việc, hô đâu chạy đó. Nó có sứ mạng phải đi, nên “giang sơn” chuyên cung cấp “bộ đồ lớn” cho người chết chui vào chỉ còn duy một mình ông chủ tiệm. Và chủ tiệm cũng vừa nghỉ tay thôi bào thôi đục, sẵn ngồi không nên khi nghe tiếng nước đổ rào rào trong phòng tắm có dựng tấm tồn ngăn che mong manh thì không ngăn nổi sự tò mò thọc mạch. Lóng rày nó trổ mã dù thiếu hơi trai, nói theo giọng thằng Quới thì là “điện nước đầy đủ”. Dượng nhón chân nín thở đi lại chỗ đáng để đặt mắt vô thăm dò. Thót tim. Tóc tai nó dày rậm e hơn cả mẹ nó, thiệt là con hơn mẹ thì nhà có phúc. Gỗ thì có không dưới ba loại thuộc hàng quý, giá đắt phỏng tay, cưa khoan cắt đục phải bở hơi tai mới đoạn lìa thân cứng. Và do méo mó nghề nghiệp, “dượng” nghĩ chùng vụng, thân thể con Cẩm Lệ nhễ nhại ướt át trơn láng đó coi bộ săn chắc bên tám lạng bên nửa cân so với loài thảo mộc đang dần khan hiếm trong rừng rậm.

Cẩm Lệ đã tắm xong, đã dội nước kỳ cọ tẩy rửa vùng miền bị xâm hại, ô uế. Không có khăn để lau mình lau mẩy, cứ thế mà tròng bộ đồ mới mua vào người. Hơi rộng chút đỉnh, nhưng chẳng hề gì, mang đi giặt qua một lần thì hàng vải nội hoá này sẽ tự khắc bó lấy thân, khít khao. Dượng giả bộ ngó lơ mà chẳng đặng, vải áo in hoa hoè hoa sói kiểu gì mà bắt con mắt quá. Người ta quen nói “tốt gỗ hơn tốt nước sơn” thì chỉ đúng có nửa phần. Bộ y phục con Cẩm Lệ đang mặc thì rõ là vừa tốt gỗ mà nước sơn cũng tốt không khoan nhượng. Tiệm hòm dù không mở hai bóng đèn néon dài tám tấc cũng nào có tối tăm gì, tự nhiên có luồng ánh sáng chiếu rọi một cách lạ thường do bởi có Cẩm Lệ đứng đó. Dượng nuốt nước bọt, nó vừa tắm xong, nó như một cây cà-rem có ai vừa chăm chỉ mút, chảy mềm, hẳn là ngọt ngào hết biết, hẳn là mật ngọt chết ruồi, hẳn là giết người không gươm đao.

Bao lâu thì thằng Quới trở về? Nó đi đã lâu chưa? Cẩm Lệ gióng tiếng. Dượng nhìn ra con đường: Hỏi chi vậy? Thằng này có tật ưa la cà, như gà sổng chuồng, đôi lúc sai việc mà thiên lôi cứ vác búa chạy rông. Cẩm Lệ dùng tay thử độ co giãn ở thắt lưng quần. Một là nó hơi rộng, hai là do bởi bụng đói ăn. Cẩm Lệ nói với cúi mặt, tóc rủ che: Có việc này không nên để cho người thứ ba biết… Dượng đến khép bớt một cánh cửa, phía trống trải. Bên kia đã có cái quan tài kê trên đòn, án lối. Có nghĩa là sao? Chuyện bí mật thì bao giờ cũng nóng lòng muốn nghe qua. Cẩm Lệ ngắt lời: Có sẵn tiền đó không? Đưa tui hai triệu, xong cái leo lên bộ phản gỗ kia tui lột đồ nằm ngữa muốn làm gì thì làm. Bảo đảm là cuộc mua bán này chỉ có người trong cuộc biết thôi…

Dượng ngó chăm vô người Cẩm Lệ. Sao lại đột xuất thế? Sao bữa nay nó đưa ra lời đề nghị táo tợn như rứa? Nghe mà khí huyết đảo lộn, người nóng ran, dễ nhồi máu cơ tim, dễ chui vô áo quan ra đi không lời từ giã quá. Dượng nuốt nước bọt: Hai triệu đâu phải nhỏ, muốn có hoạ may phải đợi tới chiều mai. Thứ nữa là thằng Quới hắn đường đột dẫn xác về thì chết một cửa tử. Phải lên phương án hành động nhằm tránh sơ suất, cụ thể là tính toan vẹn toàn xong, chiều mai dượng chốt cửa ngồi trong bóng tối đợi Lệ chui vô. Cẩm lệ nhìn ra vuông nắng chiều xắn một khoảng nơi bậu cửa: Nước đến chân mà không chịu nhảy, phải đợi tới mai thì không sợ tui đổi ý sao. Một là tối nay hai là mãi mãi chẳng còn cơ hội. Ui, sao ưa chơi kiểu thắt họng thế? Vậy thì khi thằng Quới mua cơm về cứ ngồi ăn với nó, dượng đi chạy tiền xong tìm cách tống khứ nó ra khỏi nhà đặng tụi mình làm việc bí mật với nhau.

Chiếc xe tay ga được chủ nhân dắt ra, vụng về quờ quạng một lát mới điều khiển nó vặn vẹo chạy thoát khỏi cơ sở chuyên bán hòm. Chứng tỏ là ổng thành thật, không đủ số tiền mà đối tượng ra giá, đòi hỏi. Hai triệu cũng chả nhiều nhặng gì, nhưng tình ngay lóng rày bà con cứ sống mạt máu, lặt lìa vướng trăm thứ bệnh rề rà mà chẳng ai chịu chết cả, việc kinh doanh vì thế đâm hơi bị ế. Dượng mà ngồi ngáp vặt thì sự thiệt hại đó lại kéo theo một bộ phận không nhỏ khác đói cơm, đó là mấy ông thầy tụng, mấy bà rành phong thuỷ, các vị thầy bói, tập đoàn phu phen đào huyệt và công ty chuyên sản xuất bia mộ khắc tên tuổi kẻ vừa về nơi chín suối.

Cẩm Lệ mó tay vô công tắc đèn khi thằng Quới tay xách bịch ny-lông rõ to lần khân bước qua ngạch cửa. Hắn chỉ la đúng một chữ “Ủa”, mặt tái đi như kiểu trông thấy ma. Con ma nọ nửa quen mặt nửa lạ lùng. Cỡ tuổi Quới bắt đầu biết ngánh biết nghía biết nghễ biết nhìn đểu con gái. Mặt nổi mụn, thanh quản có cục gì mắc kẹt lộ hình làm phải đổi giọng, bể tiếng. Con ma dễ thương ấy chưa biết tới áo nịt vú nên chi cái thứ trốn đằng sau cứ thế mà lên xuống phập phồng. Đã đoạn tuyệt với quả cau nho nhỏ cái vỏ vân vân, bây giờ là cam thì mai kia mốt nọ sẽ là bưởi, mà cực đoan làm trái với quy định thì hổng chừng mà biến đổi thân phận thành trái dừa. Ai cầu dừa đủ xoài thì mặc họ chớ bản thân thằng Quới có ưa nếm lê nếm cam thì hoàn cảnh nào có cho phép mà thử qua. Ngoài chợ chỉ bán thuốc trừ sâu diệt chuột chứ nào có thuốc liều, gan ai to chứ gan thằng Quới này nhỏ có chút xíu hà. Phải mà được làm giáo viên cho cam, cứ mang chiến thuật đổi điểm lấy tình mệt nghỉ.

Thế ông chủ đi đâu hổng thấy. Dượng mới sai tui đi mua thức ăn đó mà… Mua hai phần chứ gì? Mày với tao cứ thế mà ăn vô tư. Ổng đi lo công chuyện rồi? Quới quẹt mồ hôi mặt: Mới có người vừa qua đời à? Hay việc gì quan trọng xúi phải khẩn trương? Ừ, có thể. Lo ăn lia ăn lịa đi, bởi không chừng ổng về lại giao sứ mạng cho mày đi giải quyết. Quới kéo lê chiếc ghế: Ngoài chợ dạo ni nổi lên nhiều nguồn thông tin lạ lắm nghen. Quới nói trong khi bày hai phần cơm ra trên nắp quan tài dùng thế mặt bàn. Mày chăm đi hóng tin hèn gì ổng la cái thằng thiên lôi vác búa chạy không, đi đâu đi lâu dữ! Quới ngó một hạt nút nằm trên áo Cẩm Lệ, có thể do trời nóng nực nên nút phải bung ra cho gió lọt vô, mát chút đỉnh. Làm con gái thật khổ, riêng cái khoản không được ở trần thông thoáng như hắn. Đang mặc sơ-mi thấy nóng: Cởi. Áo thun ba lỗ vẫn nực: Cởi. Tuy chẳng vai u thịt bắp nhưng muốn mát mẻ thì dứt khoát phải khoe thân, ruồi bu kiến đậu muỗi cắn chỉ là chuyện nhỏ. Quới rưới nước mắm lên mặt cơm:

Biết ông Thôn không?

Thôn nào?

Thôn chạy xe ôm. Thôn Bù đó.

Tại răng kêu ổng là Thôn Bù?

Bị ổng lúc nào cũng ngợi ca vẻ đẹp giòng sông Thu Bồn chảy qua quê ổng. Tán mà hổng ai nghe thì bù trất. Thu Bồn chẳng Thôn Bù thì biết kêu chữ gì khác?

Thôn Bù chạy xe thồ, rồi sao nữa?

Tối hôm qua ổng trúng mánh lớn, chở được một ông Việt kiều về thăm quê, cuốc xe chừng có mười cây số chứ xa xôi gì mà khoắm được tiền công tới ba triệu. Mừng húm. Tới khi trở xe ra đường lộ, dưới ngọn đèn đường sáng moi cọc tiền ra đếm lại cẩn tắc vô ưu mới phát hiện tiền giả. Mặt bác Hồ đàng hoàng, giống y chang nhưng tiếc cái là hổng có chòm râu. Ba triệu đồng cộng hoà xã hội chủ nghĩa độc lập tự do hạnh phúc đó ngoài chợ kêu bằng tiền âm phủ.

Chết mẹ. Loạn quá! Bọn tiêu thụ bạc giả chơi kiểu đó rõ là không khoan nhượng coi khinh tới nền công đạo nhà nước rồi.

Biết bà Tôn không?

Hết ông Thôn xong tới bà Tôn. Lập ngôn xong tới bán trôn. Tôn nào?

Bà Tôn Lò chủ cà phê đèn mờ trên đường Đồng Khởi đó.

Khi không sao thêm chữ Lò vào tên bả? Thôn Bù cho cố xá lại đến lượt Tôn Lò, kỳ cục!

Đâu biết, ai bảo sao mình nghe vậy. Bả kể là người ta vừa triệt phá đường dây tội phạm chuyên đi vào vùng quê hẻo lánh để mua người.

Cái gì? Trộm chó hoặc mua heo gà bò trâu, xưa nay vẫn thế, người mô phải là súc vật mà nói tới chuyện bán mua?

Nghe đồn là bọn Đài Loan khuyến mãi tiếp thị gì đó, giá một cô trinh nữ được trả là 5 tới 8 ngàn đô la Mỹ. Làm vợ xong cái vô luôn quốc tịch xứ người. Khoẻ re.

Cẩm Lệ nuốt không trôi cục cơm, nhai nhằm một vụn xương sườn heo thiếu đường mẻ răng, đau như cắn phải lưỡi. Phun ra. Quới nhìn: Ưa nghe thêm chuyện bùa chú mang về từ Thái từ Cam không? Mấy “em” dấu dưới lưỡi đợi Tây ba-lô bú mồm xong cái thì tối tăm mặt mũi bủn rủn tay chân giao trứng cho ác liền khi. Nhưng mà đôi lúc đâu phải nương nhờ tới việc yểm bùa, ai mà hôn Cẩm Lệ đứa đó cũng phải bổ nhào say lăn quay. Mày nói vậy là có ý gì? Thuốc lá Cẩm Lệ đó, tui thử hút rồi, đi mây về gió lâng lâng goắt cần câu. Nếu trong cơm còn cát sạn hoặc xương xóc hoặc gặp phải ớt cay nuốt không xuống thì cứ việc phun vô miệng tui chứ phun cơm xuống đất thêm mang tội với trời. Mồ tổ mày nghe Quới, bị không có mặt dượng đây nên mày ưa làm tới đòi trèo cao sao? Quới phát tiếng he he he. Đừng nổi sùng, thầy bói nói sau này ai mà lấy được chú em thì cô ấy sướng lắm lận, nào khác gì được quới nhơn phù hộ độ trì. Mày quới đản thì có, không dám đâu.

Quới cất tiếng cười. Rõ là quái đản, cười mà nghe nào khác tiếng dê kêu. Mình trần tươm đổ mồ hôi láng lườm, phía dưới thì quần xà-lỏn nhăn nhàu bèo nhèo thu dấu một bộ phận rất chi là cà chớn. Lớn bao dường mà đòi hăm he muốn khoe hàng? Cẩm Lệ thôi nhá cơm: Sức vóc mày trai tráng nên ăn hết phần này đi, lại rót cho tao ly nước coi. Chuyện nhỏ. Quới nói. Không phải đặt điều chứ Cẩm Lệ sai việc gì tui cũng vui trong bụng, còn nghe dượng ấy chỉ việc tui hổng thích chút nào, lao động tắt quạt mà mô có vói tới được vinh quang. Mày thề bán mạng thì tao tin, giả như mai này tao làm chuyến đi bụi xa khỏi chốn heo hút cùn mằn này thì mày có dám làm bạn đường với tao không? Mắt Quới lại đặt để vô hạt nút áo, hay đúng hơn là nhìn cái chữ V vén mở thứ màu da ăn nắng. Hắn nói: Hai đứa đang ngồi quanh với mấy cái quan tài, thằng Quới đây xin thề thốt nguyện bỏ theo Lệ dù trôi sông lạc chợ tới chốn sơn cùng thuỷ tận cũng không sờn lòng, nói láo sẽ chết dấm chết dúi bờ cây bụi cỏ chẳng có hòm che thân. Đã được chưa? Hắn xuống giọng: Tui nghe chữ bú mồm hơi bị lạ, Lệ cho tui thử một miếng. Đồ qủi, sao không nói sớm? Biết vậy hồi nãy đã mớm cơm thừa cá cặn cho mày nhai.

Dượng về, tiếng máy nổ của chiếc xe coi bộ dòn dã hơn lúc đầu hậm hực gầm rú chạy ra đường. Tiếng động cơ đôi khi cũng chất chứa tâm trạng chứ không đùa, nó ngầm bảo chứng rằng như thế trong túi quần dượng đã xoay đủ hai triệu đồng. Công đoạn tiếp là tìm cách tống khứ thằng đệ tử Quới cản mũi kỳ đà sớm chừng nào tốt chừng đó, khỏi gai con mắt. Có mặt thằng du kích thêm rách việc, khó hoàn thành công cuộc giải phóng minh bạch đời đứa con gái thịt thơm từng xúi thế lực dượng vắt tay lên trán nuôi kế hoạch mười năm ngỗn ngang cả mộng mị. Treo tòng ten ở tay lái là cái túi ny-lông chứa đựng một chai lít chất lỏng gì đó. Chắc hẳn không phải là dự trữ xăng dầu vì sợ thị trường đang thay phiên lên giá vượt mức quy định. Khớp với hoàn cảnh thì e rằng đó là rượu ngâm ngũ xà, hoặc nhân sâm Hàn quốc nhập lậu, hoặc ngâm thai nhi Trung quốc xuất xưởng, hoặc đậm đà bản sắc dân tộc là toa thuốc Minh Mạng lục giao sinh ngũ tử. Tóm tắc là dược liệu ông uống bà khen hay, hoặc một thứ cường dương bổ thận hoàn chơi cho xứng đồng tiền bát gạo.

Cẩm Lệ đứng vòng tay quan sát, đã cùi thì nào sợ hủi, chim bị thương một lần thấy ná giương lên thì giật bắn nhưng đã là phận con người thì phải can trường hơn chim chóc. Cẩm Lệ làm bài toán cộng rất mực đơn giản: Một triệu máu đổ gộp với hai triệu nước mắt vị chi là ba triệu đời hoa chưa thể bỏ cuộc, vùi dập, tàn héo. Ôm ba triệu, kiểm tra bạc ông Hồ có râu đàng hoàng để tránh đồ hàng nhái, xong cái hú thằng Quới mần chuyến xuôi Nam. Quới à, mày thề rồi đó và mày phải nên tin tao, đường ra trận mùa này đẹp lắm dù trời đất cực đoan thay phiên nổi cơn gió bụi lấm lem.

Hồ Đình Nghiêm

Người nữ tu trong cô nhi viện Pleiku

thoibao.com

Phạm Tín An Ninh

Ngày 19/12/2018

Post by Sơn râu 8 Aug 2026

Hơn sáu tháng sống chết với chiến trường và giữ vững được Kontum, đầu tháng 10 1972, đơn vị tôi nhận lệnh kéo về Pleiku dưỡng quân và bổ sung quân số. Đây là phần thưởng đặc biệt dành cho một đơn vị đã tạo nên kỳ tích trong trận chiến đẫm máu để có một “Kontum Kiêu Hùng”. Một tháng đóng trên Đồi Đức Mẹ lại là một tháng “gió lạnh mưa mùa”. Hình ảnh của bao nhiêu bạn bè đồng đội vừa hy sinh trên chiến trường lúc nào cũng hiện ra trước mặt, đau đớn tựa hồ như những vết chém đang còn rỉ máutrong lòng. Muốn tạm quêntrong chốc lát đã là một điều không dễ, nên bọn tôi thèm những cơn say. Rất may, tôi có một anh bạn – phải nói ông anh mới đúng – là Liên Đoàn Trưởng của một liên đoàn Biệt Động Quân, có căn cứ tại Biển Hồ. Vợ và hai đứa con bị chết thảm tại Quảng Đức hơn một năm trước, khi xe bị VC giật mìn, nên bây giờ anh chỉ còn làm người tình với rượu. Những ngày không bận hành quân, anh đến đón tôi đi uống rượutrong một cái quán nằmtrong Khu Chợ Mới, đã vậy mỗi khi trở về, anh còn dúi cho tôi một chai Henessey. Trước kia anh từng là một cấp chỉ huy có tiếngtrong binh chủng này, nhưng vì bản tính ngang bướng bất cần, nên nhân một lý do phe phái chính trị nào đó, anh bị ngồi tù một thời gian ngắn. Ra tù, anh bị thuyên chuyển về đơn vị tôi với cái lệnh “không được giữ bất cứ chức vụ chỉ huy nào”. Biết anh là một niên trưởng và từng dạn dày lửa đạn, tôi tận tình giúp đỡ, an ủi anh và kéo anh về ở chung nhàtrong khu cư xá, vợ tôi lo chuyện cơm nước cho anh. Một thời gian sau, bỗng dưng anh được xét cho “vô tội”, trở lại binh chủng, thăng cấp và chỉ huy một liên đoàn Biệt Động Quân. Do cái ân tình đó mà anh quý mến tôi, kéo tôi theo các cuộc giải sầu này.

Dường như ngoài quán rượu ra, thỉnh thoảng anh chỉ ghé đến thăm một cô nhi viện. Nói là viện nhưng thực ra đây chỉ là một ngôi trường cũ, được chỉnh trang lại, tạm đáp ứng nhu cầu cần thiết cho một trại cô nhi. Có lẽ anh muốn tìm lại bóng dáng của hai đứa con đã phải chết oan một cách đau đớn qua hình ảnh các cháu cô nhi mà đa số là con của tử sĩ, có cả con của những người lính Biệt Động Quân của anh, mà cả người mẹ cũng chết, hay vì một lý do nào đó không có khả năng nuôi dưỡng, nên đành phải gởi lại nơi đây, nương nhờ vào bàn tay và tấm lòng nhân ái của những bà sœur. Anh bảo là từ sau trận chiến Tân Cảnh và Kontum, cô nhi viện này nhận thêm khá nhiều cô nhi. Hằng tháng. anh ghé lại đây thăm và tặng cho viện một số tiền, bởi bây giờ anh sống độc thân, không còn phải chu cấp cho ai. Biết điều này, tôi càng kính quí anh hơn. Một người ngang tàng không biết sợ ai, sống bất cần đời, nhưng bên trong là cả một tấm lòng vị tha nhân ái.

Một hôm theo anh đến đây, chúng tôi được một bà sœur ra tiếp và mời vào văn phòng uống trà. Anh bạn tôi thì đã là người quen biết từ lâu, trong cách giao tiếp, anh được các sœur xem như một ân nhân bảo trợ, chỉ có tôi là người lạ. Nhưng khi chào tôi, sœur bảo thấy tôi giống một người thân quen nào đó. Còn tôi, thì cũng mơ hồ như đã từng gặp người nữ tu này ở đâu rồi. Cũng có thể vì khuôn mặt khả ái, hiền thục của sœur phảng phất gương mặt của Đức Mẹ Maria mà tôi thường thấy trên các bức ảnh hay bức tượngtrong các nhà thờ. Được giới thiệu là sœur Anna, tôi biết đây chỉ là tên thánh của bà. Khi tôi vừa ngồi xuống phía đối diện, sœur nhìn chăm chú vào cái bảng tên của tôi trên nắp túi áo, bỗng mắt sœur như sáng lên:

– Có phải lúc trước đại úy ở Tiểu Đoàn 3/44?

Tôi khựng lại, ngạc nhiên:

– Dạ, đúng là trước kia có mấy năm tôi ở tiểu đoàn này. Nhưng cách nay đã 6, 7 năm rồi!

– Đại úy còn nhớ trận Quảng Nhiêu. Hình như đại úy suýt chếttrong trận ấy?

Tôi càng ngạc nhiên hơn, không hiểu tại sao người nữ tu này biết rõ mình như thế. Tôi vừa trả lời vừa nghĩ ngợi, thăm dò:

– Dạ đúng, nhưng sao sœur biết. Chuyện đã xảy ra lâu lắm rồi mà.

Sœur Anna không trả lời mà hỏi lại tôi:

– Đại úy thoát chết, nhưng người nằm hố bên cạnh thì bị nguyên một quả đạn súng cối 60 hay 80 gì đó, phải không?

Tôi giật mình, từ ký ức hiện ra rất nhanh hình ảnh hải hùng này, và ngay lúc ấy, trước mắt tôi sœur Anna cũng phảng phất bóng dáng của một người con gái khác.

Vào khoảng đầu mùa hè năm 1966, tôi đang làm đại đội phó Đại Đội 3 thuộc Tiểu Đoàn 3/44. Thời gian này hậu cứ tại Ban Mê Thuột, nhưng tiểu đoàn được chọn làm đơn vị trừ bị lưu động cho Sư đoàn và Khu 23 Chiến Thuật. Thời ấy chưa có các đại đội trinh sát. Đơn vị tôi có mặt gần như trên khắp lãnh thổ Khu 23 Chiến Thuật, kéo dài từ vùng cao nguyên có biên giới với Cam Bốt cho đến tận miền duyên hải. Có khi hôm trước còn hành quân ở Quảng Đức, Lâm Đồng, hôm sau lại có mặt ở Bình Tuy, Tuy Hòa, Phan Thiết…

Một hôm, sau cuộc hành quân dài hạn ở khu Cà Ná, thuộc tỉnh Ninh Thuận, tiểu đoàn được lệnh di chuyển về Cam Ranh, vừa nghỉ dưỡng quân vừa giữ an ninh các đảo ngoài khơi để lực lượng Hoa Kỳ bắt đầu đổ quân xuống đây thiết lập căn cứ.

Trong một đợt bổ sung quân số, đại đội tiếp nhận ba hạ sĩ quan và gần hai mươi tân binh vừa rời khỏi quân trường. Tôi đến bộ chỉ huy tiểu đoàn nhận lãnh và đưa về trình diện anh đại đội trưởng trong ba trung sĩ, một anh có dáng dấp, nói năng hiền lành như một thầy tu. Xem qua lý lịch và nhất là sau khi nói chuyện, tôi biết anh là thầy giáo một trường dòng và cũng là trưởng ca đoàn của một nhà thờ ở ngoại ô thành phố Nha Trang, quê hương tôi. Tôi không phải là người Công giáo, nên không mấy am tường các sinh hoạt này, nhưng biết chắc một điều, trưởng ca đoàn phải là một người hát hay và giỏi về nhạc lý. Vốn có máu văn nghệ, lại là người đồng hương, nên tôi dễ thân tình và thường bắt anh hát cho cả đại đội nghe. Tôi đề nghi anh đại đội trưởng cho anh làm Hạ Sĩ Quan Tâm Lý Chiến của đại đội. Từ đó chúng tôi rất thân nhau, ăn cơm chung và treo võng ngủ gần nhau dưới một vòm cây dương liễu.

Thấy anh có cái tên hơi lạ, Nguyễn Phú Hùng Em, tôi đoán và hỏi anh có phải anh có người anh tên Nguyễn Phú Hùng Anh. Anh cười mà nét mặt không vui:
– Dạ, đúng là có một người là Nguyễn Phú Hùng Anh, nhưng không phải là anh ruột. Chúng tôi lớn lên trong viện mồ côi, vì trùng tên, và anh ấy lớn hơn tôi ba tuổi, nên các sœur đặt lại tên chúng tôi như thế. Bọn tôi cũng rất thân nhau và xem như anh em. Điều buồn, là anh ấy đi lính trước, vào Trường Sĩ QuanThủ Đức và tử trận cách nay hơn một năm rồi.

Thời gian này, đơn vị chúng tôi rất may mắn, chẳng khác nào được đi nghỉ mát. Hải đảo này là nơi thực tập cho các toán Biệt kích của Trung Tâm Huấn Luyện Lực Lượng Đặc Biệt Đồng Bà Thìn, nên khá an toàn. Suốt ngày bọn tôi chỉ tắm biển, câu cá, ban đêm nằm nghe sóng vỗ, đàn hát nghêu ngao. Có lẽ đây là thời gian đặc biệt thoải mái nhấttrong cuộc đời làm lính của tôi. Nhân cơ hội hiếm hoi này, ông Tiểu đoàn trưởng cho phép binh sĩ được luân phiên đón vợ con ra thăm và được ở lạitrong hai tuần lễ.

Một hôm anh Trung sĩ Hùng Em xin tôi cho được đón người yêu mà anh cho biết, nếu anh không bị động viên thì chắc hai người đã làm đám cưới. Tôi sắp xếp, dọn sang nằm với người lính ô-đô và nhường chiếc võng lại cho anh. Cả bọn tôi khá bất ngờ khi anh đưa người yêu đến chào. Một cô gái đẹp, làn da trắng, khuôn mặt phúc hậu, đôi môi mọng đỏ với nụ cười hiền lành, lễ độ. So với anh, cô còn khá trẻ và có cái tên cũng rất khả ái: Thụy Khanh. Đặc biệt cô có giọng hát rất hay. Mỗi lần cô hát, cả đám lính tráng bọn tôi ngồi nghe mê mẩn.

Sau đó, cô đến đảo thăm anh vài lần nữa. Những ngày có bóng dáng cô, núi rừng trên đảo dường như bỗng trở nên đẹp, thơ mộng và vui vẻ hơn, sóng biển thì êm ả hơn như để cùng hòa theo tiếng hát của cô. Ngoài ra cô còn có tài nấu ăn, thường đãi bọn tôi những bữa cơm rất ngon miệng. Tất cả đơn vị, từ quan tới lính ai cũng nghĩ anh Trung sĩ Hùng Em thật là tốt phước, ông trời đã cho anh một người tình, một người vợ lý tưởng sau này. Qua tâm tình, chúng tôi được biết, hai người quen biết nhautrong viện mồ côi từ khi còn rất nhỏ. Sau này anh vừa là thầy dạy học, dạy nhạc vừa là trưởng ca đoàn của côtrong cùng một nhà thờ. Hai người đều chơi dương cầm và hát hay nhấttrong ca đoàn. Tình yêu bắt đầu nẩy nở từ môi trường cô nhi và âm nhạc. Và cuộc tình của hai người được các vị linh mục cùng các sœur đồng tình, khuyến khích, như là một sự kết hợp nhiệm màu của Thiên Chúa.

Hơn ba tháng thần tiên ở đảo Cam Ranh, khi các đơn vị tiền trạm của Hoa Kỳ được ào ạt đổ xuống thành lập “Cam Ranh Air Base”, tiểu đoàn tôi có lệnh rời khỏi đảo, di chuyển để tiếp tục lưu động khắp nơi. Lâm Đồng, Bình Thuận rồi Ninh Thuận, Sau những cuộc hành quân dài hạn trong rừng, mỗi lần đơn vị được về phố ít ngày hoặc đóng quântrong các làng mạc ở khu ngoại ô tương đối an toàn, chúng tôi lại thấy người con gái xinh đẹp Thụy Khanh đến thăm và ở lại với người yêu. Đó là một đôi tình nhân gắn bó, đẹp và lãng mạn nhất mà bọn tôi chứng kiến, và có lẽ ai cũng thèm thuồng có được một hạnh phúc như thế.

Tháng bảy năm 1966, khi đơn vị nghỉ quân ở Tháp Chàm – Phan Rang, Trung sĩ Hùng Em xin một tuần phép đặc biệt để về Nha Trang làm đám hỏi. Anh bảo cả hai người đều không có cha mẹ anh em, nên lễ đính hôn đều do các vị linh mục và các sœur đỡ đầu tổ chức.

Đúng lúc anh vừa mãn phép trở lại, thì đơn vị có lệnh không vận khẩn cấp lên Ban Mê Thuột để tiếp viện cho một đơn vị Biệt Động Quân và Thiết Giáp bị thiệt hại khá nặng tại trận chiến Quảng Nhiêu, nằm phía Tây Bắc, cách thành phố Ban Mê Thuột khoảng hơn mười cây số. Trận chiến khá cam go, ác liệt. Một lực lượng địch cấp trung đoàn, sau khi tổ chức phục kích gây tổn thất cho chi đoàn Thiết Quân Vận và một đại đội Biệt Động Quân tùng thiết, bọn chúng đào nhiều giao thông hào và hầm hố cá nhân kiên cốtrong các vườn cà phê, để chặn đánh các cánh quân của ta tiếp viện. Tiểu đoàn tôi cùng một chi đoàn Thiết Vận Xa khác được tăng phái cho Trung Đoàn 45, đặt dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Võ Văn Cảnh, đảm trách cuộc hành quân phản công, bao vây tiêu diệt địch.

Địch chiếm ưu thế về vị trí, chuẩn bị trận địa, bên ta có sức mạnh của thiết giáp và không yểm. Sau suốt năm ngày đêm không ngủ, lăn mìnhtrong mịt mù lửa đạn quần thảo với địch, cuối cùng chúng tôi đã đạt được chiến thắng. Một số lớn địch quân bị tiêu diệt và bắt sống, nhưng bên ta cũng phải trả một cái giá không nhỏ. Đại đội tôi may mắn, chỉ có ba quân nhân tử trận và khoảng mười người bị thương, trong đó có anh đại đội trưởng. Tôi được chỉ định tạm thời chỉ huy đại đội.

Cuộc hành quân vẫn chưa kết thúc, một số đơn vị tiếp tục truy kích địch, riêng tiểu đoàn tôi được lệnh ở lại Quảng Nhiêu. Ban ngày tung các cuộc hành quân tảo thanh chung quanh, ban đêm phòng thủ bảo vệ khu vực dân cư, mà đa số là người Công giáo, đề phòng địch quay lại quấy rối, phục thù. Đại đội tôi được chỉ định bảo vệ một Pháo đội Pháo Binh 105 ly. Điều tồi tệ là vị trí Pháo đội này nằm trên một khu đất trống trải, trong phòng tuyến và cả phía bên ngoài cũng không có một cành cây, dưới đất chỉ toàn là bụi đỏ, dày cả một gang tay. Mỗi lần Pháo binh tác xạ, cả đất trời gần như chỉ toàn là bụi. Đám lính chúng tôi từ đầu tới chân cũng phủ đầy bụi đỏ. Đơn vị Pháo Binh thì đã có sẵn hầm hố kiên cố từ trước, còn đại đội tôi phải tự đào lấy những hố cá nhân, nhưng không thể đào sâu được, vì dưới đất chỉ toàn bụi và bụi, đào đến đâu bụi đỏ tràn theo tới đó, và mỗi lần Pháo Binh tác xạ, những cái hố này bị bụi lấp cạn thêm. Ban đêm, chúng tôi nằmtrong những chiếc hố ấy, nhưng không che đủ nửa thân người. Cái hố của tôi dành cho hai người nằm, tôi và anh Hạ sĩ mang máy truyền tin. Hố kế bên trái là Trung sĩ Hùng Em và anh lính ô-đô của tôi.

Một hôm, khoảng hai giờ sáng, khi tôi đang ngủ chập chờn, bỗng một tiếng nổ chát chúa ngay bên cạnh, mảnh đạn và bụi phủ đầy người, tôi bật dậy chụp vội cây súng Carbine M2 chạy ra hàng rào phòng thủ, nơi vọng gác có đặt khẩu đại liên. Rờ nắn vội qua khắp người xem có thương tích gì không, tôi thở phào vì không thấy dấu hiệu đau đớn nào, nhưng khi các trái sáng bắn lên, nhìn bụi đỏ phủ đầy người tôi giật mình cứ ngỡ là máu. Địch quân đã pháo kích chúng tôi hơn 10 quả bằng hai khẩu súng cối 61 ly từ hai địa điểm khác nhau. Pháo Binh đã phản pháo chính xác làm bọn chúng câm họng. Khi tình hình ổn định, trở về hố, tôi bàng hoàng nghe anh lính ô-đô báo là Trung sĩ Hùng Em đã chết. Anh đã lãnh nguyên một quả đạn 61 ly, rớt ngay sát bên cạnh, ruột đổ ra ngoài và thân thể nhuộm đầy máu. Điều kỳ lạ, là anh lính ô-đô của tôi nằm ngay một bên mà không hề hấn gì, chỉ có áo quần dính đầy máu và thịt của người đồng đội xấu số. Tôi theo hai người lính khiêng thi thể Trung sĩ Hùng Em, được gói tạmtrong tấm poncho, vào hầm cứu thương của Pháo Đội. Anh chết thật thê thảm. Tôi đứng lặng người, sau khi vuốt đôi mắt cho anh. Từ khi ấy cho đến sáng, tôi không hề chợp mắt. Tôi nghĩ đến Thụy Khanh, cô con gái xinh đẹp hiền thục, có giọng hát khuấy động cả trái tim người, vừa trở thành vị hôn thê của anh chỉ mới hai tuần trước. Trưa hôm qua, khi rủ nhau vào thăm ông cha xứtrong xóm đạo và để xin được tắm giặt ở cái giếng sâu phía sau nhà thờ, anh đã khoe tôi tấm hình anh chị chụp chung trong lễ đính hôn, và bảo rằng cuối năm này hai người sẽ làm đám cưới. Anh còn nói nhỏ với tôi, ông cha xứ của anh hứa sẽ giới thiệu anh với vị Linh mục Tuyên Úy của Sư Đoàn để xin anh về làm ở Phòng Tuyên Úy, vì hai ngài là bạn tu với nhau và được thụ phong cùng một ngày.

Nhớ tới hai khuôn mặt hiền lành với nụ cười rạng rỡtrong tấm hình đính hôn, lòng tôi se lại. Chiến tranh tàn ác quá, đã chia ly biết bao nhiêu người, và làm dang dở biết bao mối tình đẹp đẽ như anh Hùng Em và cô gái Thụy Khanh. Tôi bỗng chạnh lòng, nhớ tới người yêu, cũng là vị hôn thê của chính mình, hằng đêm cầu nguyện cho tôi, từ một thị trấn nhỏ, mà giờ đây đang xa tít mịt mùng.

Một năm sau đó, tôi được nghỉ mười lăm ngày phép về Nha Trang làm đám cưới. Nhớ đến Hùng Em, tôi rủ vợ cùng tìm đến nhà thờ gần khu Đồng Đế để hỏi thăm tin tức về nơi chôn cất anh. Chúng tôi được một vị linh mục trẻ đón tiếp niềm nở và hướng dẫn đến thăm mộ Hùng Em, nằmtrong một nghĩa trang nhỏ của giáo xứ, gần biển. Từ đó, tôi có thể nhìn thấy Hòn Chồng, nơi chôn giấu nhiều hang động của tuổi thơ tôi. Đọc trên tấm bia, tôi thấy tên người lập mộ được ghi vỏn vẹn hai chữ: Thụy Khanh.

Nhớ tới người con gái xinh đẹp, phúc hậu, có giọng hát rất hay ấy, tôi hỏi vị linh mục:

– Thưa cha, chị Thụy Khanh, vị hôn thê của anh Hùng Em có khỏe không, và bây giờ chị đang ở đâu?

Vị linh mục buồn bã:

– Chị ấy đã di chuyển đến một nơi khác, khoảng ba tháng sau khi anh Hùng Em qua đời, nhưng thi thoảng chị có ghé về đây ít hôm thăm giáo xứ và viếng mộ anh ấy.

Tôi không dám tò mò thêm nữa. Cám ơn cha và đưa ngài về lại nhà thờ rồi xin phép cáo từ.

Sau đó, cuộc chiến ngày càng khốc liệt, tôi theo đơn vị hành quân liên miên, bao nhiêu lần thoát chếttrong đường tơ kẽ tóc. Người lính chiến, chuyện sống chết chỉ tùy vào số mệnh, không ai có thể tránh được lằn tên mũi đạn. Đồng đội tôi đã có biết bao người ngã xuống. Có những cái chết còn thê thảm hơn cả cái chết của anh Trung sĩ Hùng Em lúc trước. Tôi đã chứng kiến cảnh một người vợ trẻ ngất xỉu khi đến nhận xác chồng mà không tìm thầy cái đầu, một bà mẹ đã lăn đùng ra chết ngất khi thi thể đứa con hy sinh chỉ còn lại một phần và bà không thể nhận diện được con mình. Những khủng khiếp của chiến tranh sau này, cùng với thời gian, dần dà làm tôi tạm quên nhiều chuyện đau đớn cũ.

– Ông Trung úy Điệp, người Huế, làm đại đội trưởng lúc ở ngoài Cam Ranh, bây giờ ra sao rồi, đại úy?

Câu hỏi của sœur Anna làm tôi giật mình, trở về thực tại:

– Dạ, anh Điệp đã chết lâu rồi. Anh tử trận tại Thiện Giáo – Phan Thiết, chỉ sau hai tuần làm đám cưới với cô giáo Diệu, cũng người Huế, nhưng sống ở Ninh Hòa. Hai người quen nhau khi đơn vị tôi về thụ huấn bổ túc tại TTHL Lam Sơn. Không ngờ sœur vẫn còn nhớ tên anh ấy.

Sœur cúi xuống, trầm ngâm giây lát. Khi ngước lên, bà lấy khăn tay lau nước mắt.
– Tôi và anh Hùng Em cũng làm đám hỏi đúng hai tuần. Cô giáo Diệu nào đó không biết may mắn hay là bất hạnh hơn tôi khi đã được làm vợ, cũng chỉ mới hai tuần?

Vừa nói xong, sœur vội vàng nói lời xin lỗi, bảo đúng ra, một người đi tu, không nên suy nghĩ đến những điều như thế.

Bốn tháng sau lần gặp gỡ bất ngờ đó, tôi đến thăm cô nhi viện môt lần nữa, nhưng lần này, tôi cùng đi với cô Trung úy Trưởng Ban Xã Hội, để giới thiệu với sœur Anna, nhờ cô nhi viện tạm chăm sóc hai đứa bé, con của một anh chuẩn úy. Cả hai vợ chồng bị chết bởi đạn pháo ở Kontum. Sœur Anna rất vui vẻ, ân cần, sẵn sàng nhận giúp và bảo tôi bất cứ khi nào có dịp về Pleiku, nhớ ghé lại thăm. Chúng tôi cám ơn, biếu cô nhi viện một ít tiền, và hứa nhất định sẽ trở lại thăm sœur và hai đứa bé.

Nhưng rồi tôi đã không giữ được lời hứa ấy. Từ đầu năm 1973, sau khi Mỹ ký hiệp định Paris trên xương máu của người bạn đồng minh, những người lính VNCH đã phải chống đỡ làn sóng xâm lăng của Cộng sản phương Bắc, ồ ạt đưa đại quân, xe pháo vào quyết chiếm miền Nam, tôi đã cùng đồng đội miệt mài với chiến trường, súng đạn, mà sự viện trợ ngày một cạn dần, nên xương máu anh em lại càng đổ ra nhiều hơn nữa.

Ngày 11.3.75, Ban Mê Thuột thất thủ. Đơn vị tôi đang hành quân ở khu vực Tây Nam Pleiku, có lệnh kéo về Hàm Rồng để được trực thăng vận xuống Phước An, quân lỵ cuối cùng còn lại của tỉnh Đắc Lắc, nhằm tái chiếm Ban Mê Thuột, nơi có bản doanh Sư Đoàn và hậu cứ của đơn vị chúng tôi. Khi BCH Trung Đoàn và một tiểu đoàn cùng đại đội Trinh Sát vừa được đổ xuống Phước An thì Pleiku có lệnh di tản. Hai tiểu đoàn còn lại của chúng tôi phải di chuyển theo đoàn quân di tản trên tỉnh Lộ 7B. Một kế hoạch triệt thoái tồi tệ đã đưa đến thất bại nặng nề bi thảm. Cả hai tiểu đoàn khi về đến Tuy Hòa chỉ còn lại một phần tư quân số, hai anh tiểu đoàn trưởng đã phải tự sát để không lọt vào tay giặt.

Cuối cùng, miền Nam cũng mất. Tôi và cả cha tôi đều bị tù đày khốn khổ. Cha tôi, tuổi già sức yếu, không đủ sức để chịu đựng bao đòn thù tra tấn, hành hạ, nên đã chết trong trại tù Đá Bàn vào tháng 6 năm 1976, còn tôi bị đày ải qua nhiều trại tù, từ Nam ra Bắc. Sau gần tám năm tôi được thả về để chứng kiến một quê hương nghèo khổ điêu tàn, vợ con nheo nhóc. Tôi quyết định vượt biên, dù có phải chấp nhận bao hệ lụy khôn lường. Tôi rủ vài người bạn tù cùng tổ chức vượt biển,trong số này có một anh bạn nguyên là sĩ quan Hải quân có nhiều kinh nghiệm hải hành. Nơi bọn tôi hẹn gặp gỡ là một cái quán nhỏ của gia đình người bạn tù khác nằm gần khu Hòn Chồng. Một hôm, sau khi bàn công việc và ăn uống xong, tôi bỗng nghĩ tới anh Trung sĩ Hùng Em, khi chợt nhớ ngôi mộ của anh cũng nằm gần nơi này. Tôi nhờ anh bạn chở tôi đến đó. Vì nghĩa trang nhỏ, nên tôi dễ dàng tìm ra ngôi mộ của anh Hùng Em. Điều làm tôi sững sờ là ngôi mộ nằm bên cạnh có tấm bia ghi đậm tên người quá cố: Sœur Anna Phan Thụy Khanh, được Chúa gọi về ngày 15.3.1975. Tôi không biết vì sao cô chết, chỉ còn nhớ thời gian này đã từng xảy ra cuộc di tản kinh hoàng trên tỉnh Lộ 7B. Chúng tôi tìm đến nhà thờ với ý định hỏi thăm cha xứ, nhưng rất tiếc ngài đi vắng,trong nhà thờ chỉ có hai thiếu niên rất trẻ, không hề biết sœur Anna là ai. Khi rời khỏi nơi này,trong cái man mác buồn tôi bất chợt thấy vui vui, và buột miệng như để nói với chính mình:

– Cuối cùng thì hai người cũng được ở bên nhau.

Tôi chưa (và có lẽ không) có cơ hội nào để trở lại Pleiku. Ngày xưa, tôi chỉ ghé lại thành phố bụi đỏ này một đôi lần ngắn ngủi, như chỉ một thoáng chợt đến chợt đi, chưa hề làm quen với một “em Pleiku má đỏ môi hồng” nào. Ngoài Đồi Đức Mẹ, nơi đơn vị đóng quân một tháng, cả một tháng gió mưa lầy lội, tôi chỉ còn nhớ cái quán rượutrong Khu Chợ Mới, nơi anh bạn Biệt Động Quân đưa tôi đến để tìm những cơn say, và một ngôi trường được dùng làm cô nhi viện, nơi có sœur Anna xinh đẹp, đã gợi lạitrong tôi hình ảnh của những đồng đội đáng mến mà vắn số như Nguyễn Phú Hùng Em. Tôi da diết nhớ đơn vị cũ, thời chúng tôi còn trai trẻ, nhớ từng khuôn mặt bạn bè đã nằm lại trên các chiến trường xưa hay đang lưu lạc muôn phương, tiếc thương cho cuộc tình đẹp của những người lính trẻ, lãng mạn, thơ mộng, nồng nàn nhưng sớm chia lìa đớn đau bởi cuộc chiến tranh oan nghiệt.


Phạm Tín An Ninh

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 8 Aug 2026

Năm ngoái, Thông Tấn Xã CSVN đã công bố một thành tích xuất cảng gạo trong năm 2003: 4.2 triệu tấn, tăng 400,000 tấn so với năm 2002. Nguồn tin này còn cho biết, năm 1999 là năm vô địch, Việt Nam đã xuất cảng gạo ra nước ngoài tới 4 triệu rưỡi tấn. Năm 2003 cũng là năm đầu tiên Việt Nam sản xuất 400,000 tấn gạo sang Châu Phi. Gạo Việt Nam không chỉ đạt số lượng cao mà còn đạt chất lượng tốt, chỉ thua gạo Thái Lan 5-10 đô la một tấn. Đọc tin này, chúng ta buồn hay vui? Vì sao Việt Nam đạt con số gạo xuất cảng đứng hàng thứ hai thế giới, mà ở Orange County, ông mục sư Nguyễn Xuân Bảo còn quyên tiền của đồng bào, đem về Việt Nam mua từng bao gạo nhỏ để phát cho đồng bào vùng thôn quê?

Cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại năm 2002 tải về cho VN 2.4 tỉ, năm 2003: 2.8 tỉ đô la; năm 2004: 3tỷ 3. Miền Nam trên bờ vực thẳm 1975 chỉ cần 300 triệu đô la trong cơn hấp hối mà không kiếm ra. Đó là qua các đường dây chính thức, cộng đồng gởi qua các đại lý gởi tiền ở Mỹ có giấy phép chính thức, chuyển qua trung gian ngân hàng ở Singapore rồi về ngân hàng Việt Nam đem tiền tới khách hàng. Thống Đốc “Ngân Hàng Nhà Nước CSVN” đã cho biết “thặng dư ngoại tệ sau khi đã cân đối các khoản trả nợ tín dụng ngoại quốc là khoảng 1 tỉ đô la một năm. Mức thặng dư ngoại tệ trong năm 2004 sẽ gần với mức đó.” Ngoài ra số tiền Việt kiều đem lậu về Việt Nam cho gia đình không tính, trong tổng số tiền đem về này, số tiền dùng vào việc cứu trợ không phải là ít. Các bạn thấy CSVN giàu có hay nghèo đói, để chúng ta phải cưu mang, cứu giúp?

Đúng ra chính phủ CS quá giàu, nhưng dân Việt Nam thì quá nghèo. Đó là sự thật xẩy ra ở hầu hết các nước CS, từ Liên bang Xô Viết, CS Đông Âu trước kia và Bắc Hàn, CSVN ngày nay. Và ngày nay, nhờ đồng tiền của hải ngoại gởi về cho Việt Nam, càng ngày chính phủ CS càng thấy rõ mối lợi lớn có thể lợi dụng này đã có những chiến dịch kêu gọi tình thương của những người đã bỏ nước ra đi. Họ không từ nan việc thổi phồng các thiên tai, thiệt hại ở quê nhà để đánh động lòng thương của hải ngoại. Con người Việt Nam là con người sống bằng tình nghĩa, lương tâm, đồng bào chúng ta đi thoát được sang ngoại quốc không bao giờ quên gia đình, thân quyến kể cả bạn bè, lối xóm còn ở lại. Do đó dù việc gởi tiền về Việt Nam có thể làm cho chính quyền CS thêm sức mạnh, như thức ăn nuôi người đang bệnh, đương nhiên cũng làm cho các tế bào ung thư lớn mạnh thêm. Nhưng vì mục đích nhân đạo, chúng ta không thể làm ngơ trước hoàn cảnh khó khăn của người thân. Ngoài việc giúp tiền, có thể nói hằng tháng cho thân nhân ở quê nhà, đồng bào chúng ta ở hải

ngoại còn sốt sắng đóng góp tự nguyện hay được các tổ chức tự do hoặc thân CS kêu gọi:

Giúp đỡ các nạn nhân thiên tai (bão lụt) gần như hằng năm. Giúp đỡ các trại cô nhi, người già, người tàn tật (mù, què cụt) bằng tiền bạc hay xây dựng cơ sở, nơi tạm trú 1. Giúp đỡ phương tiện cho các học sinh nghèo hiếu học. Gởi tiền về xây chùa, trùng tu nhà thờ (kể cả việc sửa một cái cổng hay nới rộng hoặc xây to lớn thêm).

2. Về xây trường học ở các vùng thiếu trường. Giúp đỡ thương phế binh (VNCH hay nói chung là nạn nhân của chiến tranh ở cả hai miền) tiền bạc, nhà, xe lăn, thực phẩm. Làm đường, đào giếng nước. Các phái đoàn bác sĩ khám chữa bệnh, vá môi, giải phẫu dị tật … và giúp đỡ thuốc men. Xây nhà riêng cho thân nhân, xây mộ phần, tô đắp nghĩa trang tổ tiên, thân quyến làm đẹp thêm cho vẻ đẹp bề ngoài của chế độ.

Tính con số ngoại tệ gởi về mỗi năm lên đến hằng tỷ đô la, thì cộng với những sự giúp đỡ vữa kể trên, hải ngoại chúng ta đã đem tiền về cho Việt Nam lên tới con số bao nhiêu?

Chúng ta thấy rằng trong nhiều năm gần đây, chính quyền CS không bao giờ làm khó dễ hay ngăn cấm những phái đoàn cứu trợ về Việt Nam, nếu những công cuộc cứu trợ đó không đem theo những lời tuyên truyền cho chính trị hay đạo giáo có tính cách chống lại chế độ, trái lại còn làm ngơ và khuyến khích bằng những chiến dịch qua tin tức phổ biến bằng cách phóng đại những thiệt hại ở quê nhà. Thái độ của Bộ Chính Trị và Trung Ương Đảng CS là tuy biết Việt Nam đang ôm chặt cái bầu sữa bổ béo “khúc ruột ngàn dặm”, của hai triệu người phải di tản, luôn luôn tỏ thái độ có vẻ o bế nhưng đầy tính cách hằn học, khinh miệt khi phải đụng tới vấn đề chính kiến. Vẫn bám chặt lấy vú con bò sữa, nhưng mồm thì đầy vẻ khinh thị, bất cần. Tại sao những công tác về y tế, giáo dục, xã hội như xây trường, xây bệnh viện, làm đường, đào giếng nước, giúp đỡ người đau ốm, CS không muốn làm, trong khi lại khuyến khích việc xây khách sạn, nhà hàng, khiêu vũ trường, sân đánh gôn. Vì sao cán bộ CS và những tay nhà giàu có gởi con đi du học, chịu tốn phí hằng chục nghìn đô la hằng năm, trong khi chúng ta tom góp từng đồng bạc hải ngoại để mua từng cuốn tập, cây viết, đôi dép cho đám học sinh nghèo. Vì sao bọn cán bộ cao cấp quyền thế trong chế độ CS có năm bảy cái xe hơi đắt tiền, có nhiều ngôi nhà cho thuê, có hàng nghìn cổ phần trong các công ty lớn, hải ngoại chúng ta đi kêu gào xin từng tấm tôn lợp nhà cho dân? Trong khi ngay ở Saigon, những anh cán bộ và gia đình lắm tiền vào nằm các bệnh viện cao cấp của Pháp, Mỹ … mỗi ngày phải trả $100 US, và các bác sĩ Việt ở đó có đồng lương mỗi tháng 3,000 đô la, thì hải ngoại có những phái đoàn bác sĩ về đi làm công tác nhân đạo, khám bệnh, phát thuốc cho đồng bào nghèo khó quần rách áo ôm. Việc cứu trợ đồng bào khốn khó ở quê nhà, nói thế, nhưng chúng ta cũng dư biết, như muối bỏ biển, chẳng thấm vào đâu đối với cái nghèo khó, khốn khổ kinh niên và rộng lớn của con dân nước Việt.

Những người có lương tâm ở hải ngoại đã làm việc thay cho bọn vô lương ở quê nhà, chúng ta hành động với con tim đầy tình thương thay cho bọn có con tim bằng sắt đá. Những việc làm đó có đáng cho chúng ta làm không? Đó là câu hỏi lớn mà chúng ta đã nghe nhiều người đặt ra với cộng đồng. Người ta nói những người đặt câu hỏi này là những thành phần chống Cộng quá khích. Người “quốc gia” chúng ta thường sống theo tình cảm, theo nhân tính và chính việc này chúng ta đã thua CS nhiều phen. Ngày xưa bao nhiêu sĩ quan miền Nam đã tiếp đón thân nhân, người quen thuộc hoạt động cho CS, có khi vì một lời giới thiệu xa mà người miền Nam đã chứa chấp cán bộ hoạt động nội thành CS ngay trong nhà mình. Nhiều bà mẹ “nuôi ong tay áo”, đào hầm nuôi bọn nằm vùng không phải vì chống quốc gia mà vì tình thương hay vì bị hăm dọa, bị đưa vào đường cùng phải hành động như thế.

Gần đây báo chí cả CS lẫn bên Mỹ loan tin một cách có thiện cảm với việc xây dựng những làng Việt Kiều có đầy đủ tiện nghi ở vùng Nhà Bè, Khánh Hội, với giá mỗi ngôi nhà lên tới giá $200,000 và làm những bài phóng sự về cuộc sống phong lưu phè phỡn của những con người trước đây đã vượt biên. Có thể trước đây họ là những con người cũng khốn khổ, lam lũ như mọi người, nay sau một thời gian ở nước ngoài đã thay da, đổi thịt, trở lại quê nhà, đổi đời và sống trong những ngôi nhà đắt tiền bên cạnh đồng bào ruột thịt chúng ta còn quá ư nghèo đói, lầm than trong những xóm nghèo bùn lầy, nước đọng. Đó là một sự hưởng thụ cạnh những đau khổ, khốn khó của những người kém may mắn của mình và tô son vẽ phấn thêm cho chế độ. Khi những người đã ra đi vì tránh hiểm họa và sự cai trị của CS, nay đã đem đồng đô la trở về ung dung mua đất, mua nhà để hưởng thụ, thì chế độ CS đâu còn là một chế độ “cọp dữ” mà người ta phải đi tránh nạn như trước đây nữa!

Như vậy, nếu việc khuyến dụ Việt kiều về Việt Nam mua nhà thành công thì coi như những chữ “đi tìm tự do”, những câu chuyện vượt biên vượt biển, “bỏ phiếu bằng chân” không còn một chút mảy may giá trị gì nữa, mà tự những người vốn là nạn nhân của CS phải bỏ nước ra đi, tự thân họ đã làm cái việc phủ nhận những hành động của họ trước kia. Và chế độ CS được ngẳng mặt lên nhìn thế giới tự do để nói rằng chế độ bây giờ quá tốt đẹp, không có gì đáng chê trách, bằng chứng là “người về càng ngày càng đông, người đi càng lúc càng thưa dần” như lời nhạc của Trịnh Công Sơn. Cộng đồng hải ngoại phải chăng là không có sức mạnh để có thể làm khuynh đảo chế độ CS ở quê nhà?

Chúng ta có thể thấy rõ là chính chúng ta hôm nay đi biểu tình hoặc tuyệt thực chống Cộng tích cực, nhưng ngày mai lại nhịn ăn, nhịn mặc để gom góp đồng đô la gởi về cho thân nhân vừa để nuôi thân mà nuôi luôn chế độ bất hảo càng thêm lớn mạnh. Việc cứu trợ cho đồng bào ruột thịt ở quê nhà cần được cân nhắc đúng, chúng ta chỉ giúp cho cá nhân bị nghèo đói, thiệt thòi, không giúp cho “nhà nước” CSVN xây dựng lại hạ tầng cơ sở như trường học, bệnh viện hay cầu cống, vì đây là bổn phận của các cơ quan chính phủ “nhà nước CS”.

Hiện nay chính phủ CS đang đổ tiền vào đầu tư trong các ngành du lịch để kiếm tiền, móc túi khách ngoại quốc, hoặc phục vụ cho một số nhỏ giai cấp có tiền như xây sân “gôn”, sân quần vợt, khu giải trí … trong khi thực sự bỏ bê những vùng dân cư xa đô thị, thiếu cả những tiện nghi căn bản trong đời sống.

Cũng chính vì cái bề mặt luôn luôn được tô son trát phấn, vậy mà đồng hương của chúng ta trở về, có người vì nông cạn, hời hợt đã có cái nhìn lạc quan, Việt Nam bây giờ giàu có, nhà cao cửa rộng, mọi người ăn ngon mặc đẹp, vũ trường đông người nhảy, nhà hàng nhiều người có tiền vào ăn nhậu. Những dân ở các vùng xa, lội qua sông rạch không có cầu, gạo không có ăn, như những tờ báo của chính đảng CS đã loan tin nhiều người phải ăn cây xương rồng như nguồn tin một vài năm trước đây. Các tổ chức nhân đạo quốc tế đã kêu gọi lòng từ tâm của nhân loại để rồi đi xây những ngôi trường khang trang tốt đẹp sát quốc lộ 1 hay ở ngay thị xã như Đồng Hà hay Quảng Nam, Quảng Trị. Điều đó có thiết thực giúp cho đồng bào nghèo khó không hay chỉ tô điểm thêm cho chế độ CSVN ở bề mặt để cho mọi người dễ trông thấy. Con người việt Nam ở hải ngoại là con người thương nước, nhớ nhà, đầy tình nghĩa, nhịn ăn nhịn mặc (vì không phải ai cũng khá giả). Hải ngoại không thể quên thương binh, quả phụ là những người phải đền ơn đáp nghĩa, bà con họ hàng đang nghèo khó phải giúp đỡ, nhưng những công việc có tính cách giúp đỡ cho chế độ ở quê nhà khác, có lẽ cần phải xem xét lại. Đây là một vấn đề rất khó xử giữa lý và tình, giữa thái độ chính trị và lòng nhân đạo đã gây nhiều tranh luận trước đây. Chế độ Cộng Sản là một khối ung thư trong thân thể gầy còm, suy dinh dưỡng Việt Nam, khổ một nỗi khi tẩm bổ cho thân thể thì cũng làm cho các tế bào ung thư phát triển mạnh hơn.

Hải ngoại có nghe những lời tuyên bố hoàn toàn xác thật pha đôi chút hãnh diện của nhà cầm quyền CSVN: “sau khi đã cân đối các khoản nợ tín dụng ngoại quốc, thặng dư ngoại tệ của Việt Nam lên tới một tỉ mỗi năm” chưa? Vậy chúng ta còn giúp đỡ, gánh vác cho cái “nhà nước” tham ô, bất nhân này bằng cách góp tay xây giúp trường học, xây cầu cống, xây nhà dưỡng lão … cho đến bao giờ?

Sài Gòn người muôn năm cũ

vietmessenger.com

Văn Quang

Gần 10 giờ đêm 2-3-2004, chị Lê Xuyên điện thoại cho tôi thông báo tin anh vừa mất lúc 9 giờ 20, tức là cách đó nửa giờ. Lời chị kèm theo rất chân tình:
– Tôi gọi cho anh trước khi gọi cho nhà đòn.
Tôi hiểu ý chị và phải nói hiểu từ lâu mới đúng. Gia đình anh chị trong hoàn cảnh sinh sống rất khó khăn chật vật, vì thế nên tôi đã dặn trước: nếu có chuyện gì cần chị cứ gọi cho tôi. Tôi không tin vào tôi mà tin vào tình yêu thương của bạn bè từ khắp nơi luôn sẵn sàng giúp đỡ Lê Xuyên nên hứa ngay: Chị cứ lo mọi chuyện cho tang lễ của anh, còn chuyện khác để anh em chúng tôi lo. Chị vui vẻ:
– Nếu thế tôi an tâm rồi.
Buông điện thoại, tôi hoàn toàn không ngạc nhiên trước cái tin buồn này. Từ hai năm nay, Lê Xuyên nằm một chỗ, có thể nói thẳng nằm đó chờ ngày “về với ông bà”. Một năm trước đây thôi, anh phải vào bệnh viện, chị cũng gọi cho tôi rồi đến nhà mang theo cả giấy “nhập viện” và số tiền phải trả. Tôi cũng lại làm cái nhiệm vụ thông báo cho một số anh em ở nước ngoài để kiếm tiền trả bệnh viện. Không phải chỉ có riêng chúng tôi mà còn những người quen khác của anh, những người bạn đồng hương, những người học cùng trường cùng lớp, có cả những người không hề quen biết cũng xúm nhau vào chung lo. Hầu như ai cũng hiểu rằng ngày “ra đi” của anh không xa. Nhưng may mắn, anh vẫn còn qua được vài mùa Xuân.
Những lần sau này tôi đến thăm anh, anh nằm đó nhưng tỉnh táo, không nói chuyện được song hỏi nhiều điều, anh vẫn nhớ, vẫn hiểu. Khi anh gật đầu, thỉnh thoảng có được một nụ cười, đôi mắt ánh lên một niềm vui. Nhất là khi tôi cố gợi lại một vài câu chuyện vớ vẩn từ hồi xa xưa chúng tôi gặp nhau ở ngoài đường hoặc ở toà soạn một vài tờ báo.

Tính Cách Lê Xuyên:
Để cho anh được sống lại với những kỷ niệm cũ, tôi kể lại một buổi sáng sớm vào khoảng năm 1971-72, sau một đêm đánh chắn với vợ chồng ông chủ báo Kịch Ảnh đường Cống Quỳnh, tôi lái xe về nhà. Qua đường Lê Lai, tôi thấy Lê Xuyên cúi đầu đi trên hè phố. Tôi đậu xe sát lại, Lê Xuyên vẫn chưa thèm nhận ra là xe của ai. Tôi bóp còi, lúc đó anh mới ngước lên nhìn và toét miệng cười. Ít khi ông Lê Xuyên cười lắm. Tôi đẩy cửa xe, thò đầu ra hỏi:
– Ăn gì chưa?
– Chưa gì hết trọi, có tiền đâu mà ăn.
– Lên đây, tôi đưa ông đi ăn sáng.
Leo lên xe, anh hỏi thẳng:
– Đêm qua được hay thua?
– Được.
– Nhà không còn một xu, tui để tiền trong túi cũng hết luôn.
Tôi cười và hiểu cái sự “hết tiền trong túi” của anh dù mới lãnh lương. Móc trong cốp xe, tôi chia cho anh một nửa số tiền được bạc đêm hôm qua và dặn dò rất kỹ:
– Mang về toà soạn cất vào ngăn kéo để tiêu dần đấy.
– Ừ, tốt. Ông ăn sáng chưa, cho tôi đi với. Lâu rồi không được ăn đồ Tây.
Tôi cười:
– Ra Givral hay Brodard, ông thích chỗ nào.
– Đâu cũng được.
Chúng tôi ra Givral, sáng sớm tinh mơ chỉ có hai bàn khách. Tôi gọi mì jambon là món “đặc sản” ở đây còn Lê Xuyên gọi omelette jambon ngồi nhai bỏm bẻm lấy làm thú vị lắm. Ăn xong tôi bảo ông có tiền rồi, lấy xe taxi về toà soạn, tôi phải về nhà thay quần áo rồi còn phải vào sở chào cờ vì hôm nay là thứ hai. Lê Xuyên cười hì hì:
– Cả đời tao chưa biết chào cờ là cái gì. Tao chỉ chào ông chủ báo khi lần đầu tiên đến làm. Ngô Quân cũng thế và Hồ Anh cũng thế.
Thỉnh thoảng tôi đưa bài đến báo Thời Thế, đôi khi vào buổi trưa, tôi lại rủ Lê Xuyên đi ăn trưa, hôm có tiền thì chui vào Chợ Lớn ăn cơm Tàu Bát Đạt. Có lần tôi rủ:
– Chúng tớ có cái phòng thuê ở trên lầu ba để thỉnh thoảng chơi phé, lấy tiền sâu gửi lại tay quản lý nên bất cứ lúc nào cần phòng là có ngay. Ông có muốn nằm lại đây một buổi không?
Bản tính anh hiền lành nên hỏi lại:
– Nằm làm gì, tôi phải về làm việc chứ.
– Ông ngây thơ thật hay ngây thơ cụ, ông cứ lên với tôi là biết ngay “nằm làm gì”. Ông muốn Tàu cũng có mà ta cũng có.
Dĩ nhiên đến nước này thì ông bạn tôi phải hiểu, nhưng ông lắc đầu quầy quậy như thằng con nít bị mẹ bắt lấy vợ sớm. Tôi đưa ông trở lại toà soạn và xác nhận với anh em rằng “Lê Xuyên nó đứng đắn thật các ông ạ”. Một ông bạn tôi cãi: “Nó nhát chứ đứng đắn cái gì”. Thôi thì nhát cũng được, đứng đắn cũng được nhưng nó không giống tụi mình. Và một điều ai cũng nhận thấy là chưa bao giờ thấy mặt Lê Xuyên ở bất cứ cái phòng trà tiệm nhảy nào, ngay cả chỗ đông người anh cũng tránh. Tôi cứ lẩm cẩm ngồi nhắc lại từng chuyện khiến anh thú lắm, đó là lúc anh được sống thêm.

Một bí mật bây giờ mới tiết lộ:
Cũng vào khoảng thời gian đó, tờ báo Thời Thế có một loạt bài điều tra phóng sự về một vụ tham nhũng của một ông “tướng vùng”. Ông tướng nhờ một đại tá và một trung tá liên hệ với tôi để nhờ tôi can thiệp. Tôi chẳng biết trắng đen ra sao, nhưng đã có lời nhờ và giải thích thì tôi làm. Tôi gọi cho Lê Xuyên giải thích những gì tôi được nghe và đề nghị “thông cảm” với phóng viên cho ngưng loạt bài đó kẻo làm mất uy tín của một người chỉ huy vùng chiến thuật. Lê Xuyên nói ngay:
– Ông nói thì tôi nghe, nhưng để tôi thu xếp với anh em cho có đầu có đuôi.
Sau đó tôi điện thoại cho ông chủ báo Hồ Anh, lúc đó tôi mới biết rằng đã có một hai ông nghị sĩ dân biểu can thiệp, nhưng Lê Xuyên vẫn cứ tiếp tục cho đăng loạt bài này. Ông Hồ Anh bảo tôi cứ nói chuyện với Lê Xuyên, nếu anh ấy chịu thì không có gì trở ngại. Chỉ có thế thôi. Rất bất ngờ, hôm sau tôi đọc được hàng chữ trên trang nhất: “Vì có người bạn chúng tôi can thiệp nên chúng tôi thấy cần phải chấm dứt loạt phóng sự này”. Quả thật đó là điều khiến tôi hết sức cảm động và ngay lúc đó tôi trở nên áy náy vì biết đâu đó là một sự thật mà công sức của anh phóng viên trẻ đã bỏ ra bị tôi “kỳ đà cản mũi”. Tôi gọi lại cho Lê Xuyên, anh chỉ cười:
– Thông cảm với phóng viên rồi nó bảo ngưng cũng được, viết thế đủ rồi.
Tôi rủ anh đi ăn trưa, anh nói:
– Tôi vừa ngưng phóng sự mà đi ăn với ông thì khác gì đi ăn hối lộ. Thôi hôm nào ông được bạc mình lại đi ăn đồ Tây. Hôm nay tôi bận quá ông ạ.
Lê Xuyên cúp máy và tôi thì cứ ân hận, chẳng hiểu vì sao. Chuyện này còn có nhiều nhân chứng còn sống ở đâu đó, may ra họ còn nhớ. Tôi thì chẳng bao giờ quên.


Bỏ đi Tám!

Hơn mười năm sau, khi tôi ở trại cải tạo ra, Thanh Thương Hoàng dẫn tôi đến thăm Lê Xuyên. Anh ngồi bán thuốc lá lẻ ở một góc phố. Chiếc quầy thuốc bé tẹo nhưng cũng đủ che hết tấm thân gầy gò của anh. Chúng tôi nhìn nhau và cùng cảm thông rất sâu sắc cái thân phận mình lúc này. Anh chớp mau mắt nói như để an ủi hơn mười hai năm tù của tôi:
– Trông ông vẫn cứ phong độ như ngày nào.
Tôi thẳng thừng thương bạn:
– Còn ông, trông chán bỏ mẹ… Chỉ muốn khóc!
Hai bàn tay bạn tôi run lên, lật bật đút chiếc chìa khoá vào ngăn tủ kính để mấy gói ba số năm bán lẻ (hồi đó ba số năm quý lắm):
– Hút thuốc lá không?
– Không, tớ hút thuốc lào quen rồi, về đây hút thứ nặng hơn mới đủ đô.
Thanh Thương Hoàng rủ sang bên con hẻm phía trước ăn sáng. Đó là con hẻm lối đi vào một ngôi chùa hay ngôi đình gì đó. Không có hủ tíu, Lê Xuyên phải chạy đi gọi ở một nơi nào quen bán chịu cho anh ở gần đó. Lê Xuyên trở lại với con người thật của anh. Vẫn hiền lành, cười tủm và chân quê. Phải nhìn thấy cái cười tủm của anh mới biết tại sao anh viết về những cuộc tình của những đôi trai gái đồng ruộng miền Nam hay đến như thế, láu cá đến như thế. Tôi nhủ thầm: Thằng cha này tâm ngẩm tầm ngầm mà ghê lắm đấy. Nó không nói mà chỉ viết nên nó viết được nhiều hơn mình. Chỉ có nó mới viết được những “dòng chảy ngầm” của trai gái thôn quê miền Nam thật đến thế và hấp dẫn đến thế. Lê Xuyên khác với một số những cây bút hoàn toàn Nam Bộ như ông Bình Nguyên Lộc và Sơn Nam ở chính cái “thật” của anh, không màu mè, không lý luận, không làm một cái gì như nghiên cứu sưu tầm về phong tục tập quán dưới hình thức này hoặc dáng vẻ khác. Từng động tác, từng thái độ, từng lối ứng xử trong nhân vật của anh cứ như con người thật lồ lộ đang ở trước mặt chúng ta vậy.
Trước mặt tôi, ông già Lê Xuyên vẫn còn cái hóm hỉnh riêng, nhưng bây giờ thì như anh nói: “đếch viết nữa”. Tôi hỏi không viết được hay không thích? Câu trả lời của anh gọn lỏn: “bỏ đi tám”. Tôi không thể hiểu nỗi ba chữ “bỏ đi Tám” mà anh dùng. Có một nỗi chua chát nào đó trong cái tâm sự thật của anh? Đến cái chứng minh nhân dân anh cũng không muốn làm nên không có hộ khẩu, cứ như ở lậu, công dân lậu. Thái độ đó có đồng nghĩa với sự “bỏ đi Tám” của anh không? Chỉ có anh mới hiểu và bây giờ anh mang theo.
Cách đây vài năm, tôi có viết về Lê Xuyên và may mắn nhận được sự giúp đỡ thiết thực của khá nhiều bạn bè. Trong đó có một vài tờ báo muốn đăng lại những truyện dài của anh, tôi hỏi, anh chỉ lắc đầu: “chẳng còn cuốn nào” và cả chị ấy cũng không kiếm được cuốn nào cả.
Ba năm sau cùng, anh không còn sức để bán thuốc lá lẻ nữa. Thỉnh thoảng tôi và Nguyễn Thuỵ Long kéo đến thăm, cố dìu anh ra quán cà phê cuối ngõ ngồi lai rai tâm sự vặt. Tôi vẫn cho rằng chỉ có lúc đó Lê Xuyên mới được sống thật. Hai năm sau này dù có cố lôi anh đi cũng không nổi nữa rồi. Anh như cái bóng trong góc tối của gian phòng chật chội vây quanh bởi hàng trăm thứ lỉnh kỉnh nào bàn ghế, chai lọ, giường tủ. Chỉ có cô gái út săn sóc cho anh, vợ và các con lớn của anh vất vả với công việc hàng ngày rất ít thì giờ trông nom cho bố. Cái chết đến từ từ theo từng ngày giờ buồn tênh, dường như anh chán cả cái sống cái chết, không thèm chú ý đến nó nữa.
Khi tôi đến với anh lần cuối là lúc các con anh đang tắm rửa, thay quần áo cho anh trước khi nhập quan. Cái thân hình gầy gò trần trụi của anh phơi ra, tất cả chỉ còn có thế. Tôi chuyển ngay cho chị số tiền mà tôi mới gửi e-mail tối hôm qua thông tin về sự ra đi của anh, nhanh chóng được đáp ứng. Các bạn ở Virginia, San Jose, Santa Ana yêu cầu tôi chuyển ngay khoảng 1.000 Mỹ kim đến lo tang lễ cho anh. Một người bạn đưa ngay đến 2 triệu và mang đến vòng hoa đầu tiên của bạn bè Sài Gòn. Hôm sau chị khoe với bà con đến phúng:
– Có bạn bè làm chỗ dựa nên tôi mạnh tay làm đủ thứ việc cho anh ấy. Mạnh gì gạo bạo vì tiền, có phải không các bác? Không có bạn bè, tôi chẳng còn biết xoay trở ra sao.

Từ trái: Nguyễn Thụy Long-Lê Xuyên-Văn Quang

Tôi nói với chị:
– Chắc sẽ còn nữa, có một số anh em chưa gửi kịp, xin chị an tâm đi tiếp con đường ai cũng phải đi.
Buổi chiều ngày 5-3, đúng hai giờ lễ động quan bắt đầu, giữa trời nắng chang chang, chúng tôi đưa anh đến Bình Hưng Hoà. Có rất nhiều người bên hè phố lặng lẽ tiễn đưa anh, không ồn ào như những đám tang của những nhà nghệ sĩ mà ở đây người ta cho rằng đó là những “nhà nghệ sĩ lớn”, nhưng những con người thầm lặng ấy dõi theo anh với tất cả tấm lòng mình. Họ không nói gì, không có kèn saxo như trong đám tang Trịnh Công Sơn, không có giọt nước mắt dài ngắn thở than của những danh ca nghệ sĩ, không có cả những bài “điếu văn tưởng niệm” lâm ly bi đát, nhưng đầy ắp những tình yêu thương từ xa xưa đọng lại, từ bốn phương lãng đãng bay về phủ kín khung trời Sài Gòn. Thế là đủ, nó vượt lên trên tất cả.

(viết riêng cho Văn Nghệ – tác giả Văn Quang)




Cây đa tróc gốc

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

August 9th, 2024

Post by Sơn râu 7 Aug 2026

Nhớ: “Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh. Có sông sâu lờ lững vờn quanh êm xuôi về Nam”. Khoảng năm 1950, ông Trần Viết Long, đoàn Kim Chung ở Hà Nội làm bộ phim Kiếp Hoa. Bài hát “Làng Tôi” của Chung Quân đã được chọn làm bản nhạc nền.

Người Bắc trồng cây đa ở đầu làng, chợ, giữa cánh đồng, ở sân đình, chùa, bến đò. Khi phải vượt Trường Sơn vào xâm lược Miền Nam, nhớ cây đa đầu làng cao vút trời xanh, là điểm chuẩn để ‘thằng cu’ tưởng ‘sinh Bắc; tử Nam’ may còn sống sót nhắm hướng để trở về nơi mẹ và bu nó đang mong ngóng.

Ngoài ra, còn có ‘cây đa, cây đề’ trong giới văn học thời CS. Các nhà văn lớp hậu sinh của Bắc Kỳ có ý xỏ xiên ‘lão ấy’ (như Tố Hữu, Huy Cận, Thanh Tịnh… là bọn ‘sống lâu lên lão làng’, sáng tác nhàn nhạt như nước sirop, cà lăm ý cũ. Chỉ làm Thượng sĩ già vậy thôi!

Ngoài ra còn có câu: “Cậy thần phải nể cây đa”. Muốn đút lót Huyện Trìa là phải qua Thầy Đề. Trong tuồng Nghêu, sò, ốc, hến, ta thấy cái hủ tục đó.

Sài Gòn không có cây đa; chỉ có cây da.

Cây da trong Vườn Ông Thượng (quan lớn). “Dinh quan Thượng” là Nha Nội Vụ (Le Directeur de l’intérieur). Gia Định Báo, tờ báo chữ quốc ngữ đầu tiên của nước ta: “Ai muốn mua thì tới dinh quan Thượng lại tại Sài Gòn cho người ta biên tên, mua trót năm thì giá 20 francs mua 6 tháng thì 10 francs, mà mua 3 tháng thì 5 francs”.

Cây da trong Vườn Bờ Rô (préau tiếng Pháp nghĩa là “sân lót gạch giữa vườn)

Cây đa đầu làng 

Vườn Bờ Rô, thời CS là Công viên Tao Đàn, khoảng 10 mẫu tây, rộng nhứt cái đất Sài Gòn. Chu vi của nó là đường: Chasseloup Laubat thời Pháp, đường Hồng Thập Tự thời VNCH, Nguyễn Thị Minh Khai, thời CS. Đường Miss Clavell, thời Pháp. Huyền Trân Công Chúa. Tabert thời Pháp Nguyễn Du. Đường Verdun thời Pháp, thời VNCH Lê Văn Duyệt và Cách Mạng Tháng Tám thời CS.

Cây da trong Thảo Cầm Viên Blanchard de la Brosse, còn gọi là Sở Thú, số 2 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Sài Gòn còn có cây da nổi tiếng trước Dinh Gia Long (vì nó nằm trên đường Gia Long). Thời Pháp, nó được gọi là Palais de l’Inspection (Dinh Thanh tra) và sau đó là Palais de l’Indochine (Dinh Đông Dương). Giờ CS lấy Dinh Gia Long làm Bảo tàng Thành phố. Chúng bỏ tên đường Gia Long mà thay bằng đường Lý Tự Trọng. (Lý Tự Trọng (1914-1931) sinh tại Hà Tĩnh. Tháng 11 năm 1930, Lý Tự Trọng bắn chết một viên mật thám, Pháp xử tử hình Lý Tự Trọng khi mới 17 tuổi vào ngày 21 tháng 11 năm 1931)

Vì cây cao bóng cả, vẻ uy nghiêm, cây da thường trồng ở nơi thờ phượng. Vào năm 1744, Lý Thoại Long, người Minh Hương, đã xây một cái am trên gò vắng có trồng một cây da. Ngày nay là Chùa Giác Lâm hay Tổ Đình Giác Lâm của phái Thiền Lâm Tế Tông số 565 đường Lạc Long Quân thuộc Phường10, Quận Tân Bình.

Khuôn viên Nhà thờ Đức Bà (Cathédrale Notre-Dame de Saïgon) có nhiều cây da lớn. Thời Việt Nam Cộng Hòa, là Công trường Hòa Bình; rồi đổi thành Công trường John F. Kennedy tưởng niệm Tổng thống Hoa Kỳ bị bắn chết ngày 22 tháng 11 năm 1963. Sau tháng Tư, năm 1975, CS đổi lại là Quảng trường Công xã Paris. Trong tiếng Việt, công trường thường được dùng để chỉ những khu vực rộng lớn, tụ tập cho lễ lạt lớn. Công trường hồi chiến tranh, mật danh Công Trường 7, CS lại chỉ sư đoàn 7 quân CS. Nghĩa là chúng xài chữ ‘Công trường’ lung tung, bà con không biết đâu mà rờ?.

Tàn rộng che mưa đụt nắng, cây da trong sân rộng 1000 m2 của Đình Nam Chơn số 29 Trần Quang Khải, Tân Định, Quận Nhứt.

Cây da cổ thụ trước Dinh Gia Long – nguồn kienthuc.net

Với tàn rộng giúp che mưa, đụt nắng, cây da cũng là nơi họp chợ. Sách Gia Định thành thông chí (1820), Trịnh Hoài Đức ghi chép về Chợ Cây Da (Khung Dung thị): “Phía nam trấn, dưới chân thành về phía hữu có cây da nhánh rễ rằng ni, bóng lá xum xuê nửa mẫu, người buôn bán nhóm chợ dưới bóng cây. Lúc đầu canh tư người ta đã đi chợ đèn đuốc sáng trưng kẻ đội người gánh những đưa bí rau cải đến nhóm tại đầu chợ phía tây, có người mua sỉ ngồi bán lại; đến sáng đầu chợ phía đông cá thịt và vật hàng mới bày bán”

Tập Ký ức lịch sử về Sài Gòn và vùng phụ cận (Souvenirs historiques sur Saigon et ses environs, ấn bản 1885): “Trên khoảng Khám đường (nay là Tòa án mới, xưa có ngôi chợ gọi là chợ Cây Da Còm (còm cõi). Gần ngã tư đường Bà Hom, quận Sáu có cây da rất lớn; vùng đất đó bà con mình gọi là Cây Da Sà (cây sà xuống). Chợ Cây Da Bà Bầu (Quận Mười) gần nhà nhạc sĩ Trường Kỳ (1946-2009). Chợ Cây Da Thằng Mọi thời Đức Tả quân Lê Văn Duyệt; giờ ở góc đường Nguyễn Trãi – Cống Quỳnh, Quận Nhứt. Chợ này có bán chưn đèn bằng đất nung, nặn hình thằng mọi, đội đèn trên đầu, trong đó đặt một cái tim bấc thấm ngập dầu phộng hay dầu dừa.

Xã An Mỹ, quận Kế Sách (nơi tui một thời dạy giáo) tỉnh Ba Xuyên (Sóc Trăng) cũng có cây da ở ngã ba sông, là bến nước, đò Kế Sách ghé vô rước em ra chợ quận thăm anh ngày cũ

Quê người, tui nhớ: Vườn hoa Lạc Hồng, gần nhà hàng Cửu Long, cuối đại lộ Gia Long, tỉnh lỵ Mỹ Tho, một chiều giông gió năm 1969, cây da đà trốc gốc ngã làm chết người đụt mưa dưới tàn cây của nó.

Tui nhớ cái đất Sài Gòn, với câu hát ru: “Cây da Chợ Đũi nay nó trụi lủi, trốc gốc, mất tàn. Tình xưa còn đó, ngỡ ngàng nan phân” Rồi: “Cây da trước miễu? Ai biểu cây da tàn? Bao nhiêu lá rụng; em thương chàng bấy nhiêu! Cây da trốc gốc trôi rồi. Em xa người nghĩa đứng ngồi không yên.”

Ối em ơi! Anh giờ như cây da đà trốc gốc. Trôi rồi ra biển tuổi xuân anh. Cái thời tuổi trẻ anh yêu dấu, Đã chết lâu rồi bởi chiến tranh.”  “Đại mộc lưu giang, bất đắc hồi cố”. Cây lớn trôi sông, chẳng đặng về chỗ cũ. Xin em đừng đợi nữa em ơi!

ĐXT

Cầm chĩnh đỗ

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 7 Aug 2026

Thông thường, mùa này trời không chóng tối. Trái khuấy do cuồng phong từ phương xa đã đùn mây đen, xua đuổi nắng, trám màu chì trĩu nặng trên vuông trời xuống thấp. Gió mặn miền duyên hải thổi về, xác xơ trên hai hàng cây cắm ngoài liên tỉnh lộ; luông tuồng run rẩy, tượng hình nỗi đe dọa, rằng sẽ có điềm báo một chia xa. Vật vã một nhắc nhở không gián đoạn. 

Người đàn bà ăn không hết chén cơm lưng, bỏ đũa. Em đi thay quần áo. Ừ, để anh dọn dẹp cho. Anh nói với: Đừng mang nhiều thứ quá, một túi nhỏ thôi. Khuất sau cánh cửa, người đàn bà gửi ra thứ tiếng động của lục soạn, những hộc tủ kéo, đóng. Thứ tiếng nghe bồn chồn, của đôi tay mất sự tập trung. 

Người đàn ông đi lại bên ngạch cửa, những giọt nước lưa thưa bắt đầu làm đen bậc tam cấp loang lỗ màu xi-măng. Sự thẩm thấu chậm rãi nhưng dần dà mọi vật sẽ chịu một đổi thay. Anh nên gọi về nhà một tiếng để thông báo. Người đàn bà đặt cái túi vải lên ghế, một tay vịn mép bàn. Da mặt xanh, giọng nói yếu, những cử động chậm; nguyên cớ do bởi cô đang mang thai. Bụng đã lớn và nó khiến cô khó khăn che dấu những biểu hiện. Như cảnh quang một ngày xấu trời, sáng tối bất chợt, cau có trần mây thấp. Người đàn ông moi từ túi quần ra chiếc điện thoại di động trong lúc vợ anh để mắt tới những hạt mưa rơi ngoài thềm, mỗi lúc chúng có vẻ như đan kín, hối hả hơn trước. 

– Tụi em sẽ ra bến xe. Chắc đến khoảng sáu giờ chiều… Không chị, Nhàn đi trước, em lo một vài việc, xong sẽ có mặt dưới đó, chậm lắm là hai ngày… Vậy à? Ở đây trời đang chuyển đổi, mưa to gió lớn… Em có xem ti-vi, chỗ chị ở không bị ảnh hưởng cơn bão… 

Người đàn bà dùng tay thoa nhẹ vào bụng, chậm rãi đến bên cửa sổ ngó hàng cây thưa đang run thân dầm mưa. Lá như bị vặt bớt đi. Trong màn nước, cảnh sắc thường ủ dột, chán tẻ, đơn điệu. Đi chưa anh, mưa mỗi lúc như nặng hạt hơn. 

Người đàn ông phụ vợ khi cô mặc chiếc áo mưa sột soạt vướng víu vào thân. Anh đeo túi vải của vợ trước khi trùm kín chiếc poncho thụng thịnh. Mưa đâm ngoài tai lục bục thứ tiếng đục làm át giọng người vợ khi anh dắt xe gắn máy ra sân. Khởi động máy nổ, anh nói gần như hét lên: Chỉ hai hôm thôi, anh cố xong việc sớm. Không, em chỉ hỏi là chị Thanh sẽ đón em ở bến xe hay em phải dùng xích lô? Nếu không đón được chị sẽ biểu thằng Quảng đi thế, em đừng ngại. 

Chiếc poncho làm người anh ấm, nhưng ngược lại anh cũng đón nhận sự châm chích của mưa đi dọc theo sống lưng, nhột nhạt. Áo đã cũ và dẫu lành lặn, nó không tài nào giúp ta khô ráo khi đứng dưới thứ vũ lượng này. Nó lùng bùng trên đầu anh nãy giờ cũng chỉ ngầm thông báo chuyện giản đơn ấy. Anh ngó tới vợ mình để hiểu rằng rồi cô cũng bị thấm ướt, chiếc áo che mưa kia chẳng tài nào bảo vệ được cái bụng trương lớn của cô. Anh khoá kín cửa để người vợ hiểu đã đến lúc leo lên ngồi trên yên có vẻ trơn láng. Cô ôm siết lấy người chồng. Anh quay đầu:
Được không? Anh sẽ cố chạy chậm.
Được. Người vợ nói chỉ một chữ. 

Xe chạy trên những khúc đường vắng. Khi người ta chờ đợi cao xanh gieo hiểm hoạ đến, người ta trú thân vào chỗ xét thấy vững chãi nhất. Chạy ngoài đường cũng là cách đi tìm một nơi để nương thân. Vợ anh chẳng thích di chuyển dưới gió mưa nhưng vì mang thai, gần ngày lâm bồn nên cô buộc lòng phải nghe chồng thuyết phục, rằng bão tố thì dễ dẫn tới tình trạng mất điện, và nhà hộ sinh dưới kia đầy đủ tiện nghi hơn, chưa kể sẽ có hai ba người trong gia đình bỏ công tới chăm sóc, trông nom. So ra, đó là sự tính toán không thể làm tốt hơn, dù tạm rời xa, dù anh thực bụng chẳng muốn cô ấy đi biển mồ côi một mình. 

Bến xe đông người hơn anh tưởng. Anh chạy vạy được một chỗ ngồi tốt trên xe cho vợ, anh thành khẩn nói với người đàn bà đứng tuổi ngồi ghế kế cận, xin hãy giúp đỡ một người đang mang thai, sẽ sanh con so, đầu lòng.
Anh xuống khỏi lòng xe chật, đội mưa, bồn chồn đứng cho tới hồi chiếc xe đò mang biển số chín nút rời bến. Anh không thấy vợ, cửa kính bên thành xe mù mờ, ẩm đục. Và rồi mọi thứ trôi đi, vất anh lại giữa khoảng sân rộng phập phồng gió.
Anh ngó thấy một vuông cửa mở, qua màn mưa mờ che nó vẫn hiển lộ rõ cái hấp lực của sự ấm cúng. Một cốc cà phê, trong lúc này đây xét thấy chẳng có gì quan trọng hơn. Người anh sẽ ấm lại, áo quần sẽ khô ráo. Và như vậy anh đỡ cực lòng nếu đón nhận điều thất thường.
Quán mọc bên hông bến xe nên nó giản lược đến cuối cái đơn sơ. Chỉ có ghế và bàn, chỉ có ly và tách, chỉ có hương cà phê và mùi khói thuốc. Nó từng xiêu vẹo nên giông bão có đi ngang qua nó nguyện sẽ hiến thân cho thần gió, mặc tình muốn trấn lột thứ gì thì cứ tháo gỡ. Và chủ quán biểu lộ cái dửng dưng, ngay cả khi đón khách. Không nhăn nhó, chẳng vui thú. Ông chậm rãi thực thi những đòi hỏi. Ông quen với sự cam chịu, có lẽ vậy. Thái độ ấy, không chắc ai cũng học được. Thường thì người ta bẳn gắt làu bàu chứ chẳng câm lặng như thế.
Cà phê ngon không ngờ tới, điếu thuốc đầu ngày cũng vậy, đậm đà. Khi bắt đầu loay hoay tìm được chút tiện nghi, anh moi chiếc điện thoại thông minh ra.
Mình ngồi uống cà phê bên bến xe… Ừ, đã vừa đưa bả đi… Nghỉ làm à… Vậy mình đợi ở đây hay sao?… Cũng được, tụi mình sẽ ăn ở chỗ đó cũng tiện.
Anh lại dầm mưa khi thân nhiệt chưa kịp ấm lại. Thực ra thì có đôi kẻ xem việc đi trong mưa tựa một hành động dầm dề thứ hạnh phúc nó có. Tuổi trẻ anh từng chứng nghiệm điều ấy, đó là thời gian đầu khi anh ngỏ lời yêu cô. Đi sát vào nhau, che dù và lội bộ không mỏi mệt trên tất cả những con đường chợt thu ngắn lại. Dĩ nhiên, nếu hoán đổi bằng một ngày nắng, con tim lúc đó sẽ không lấp đầy thứ ân sủng dịu dàng choáng ngợp kia. Những đứa ca tụng về màu nắng e lòng chẳng yếu mềm như đứa ngợi ca những cơn mưa. Và mưa hôm nay trở về để mang cô đi ra khỏi thành phố, mưa ngập một nỗi niềm đang vây khổn anh.
Anh đến đúng hẹn. Có nghĩa là người anh cần gặp cũng vừa dựng đứng chiếc xe máy trước quán mang bảng tiếng Tây: Dèja Vu. Không rõ bên Pháp, ngoại quốc nói chung, khi biết bão đang kéo tới, họ còn lòng dạ để dắt nhau đi kéo ghế?
Anh kéo ghế cho người ấy được thong dong ngồi xuống. Những lọn tóc ướt như chôn ở đó một hương mùi khiến anh bần thần. Tinh dầu của giống hoa gì mà mang sức quyến rũ nhường ấy? Vợ anh dường như theo tự nhiên chủ nghĩa, cô không màng tới những mỹ phẩm và có khi anh đã dốc lòng để cổ xuý việc ấy. Anh thích vùi mặt mình vào người vợ, và da thịt trinh nguyên của em tự thân đã là kho hương liệu chất ngất thuỷ chung đậm một thứ mùi khó trùng lẫn, riêng em và riêng của anh.
Chúng ta ăn cái gì dằn bụng trước, hay anh muốn đón nhận tin tức trước. Xin thực lòng để nói: tôi muốn chia buồn cùng anh. Người ấy nhập đề, khuôn mặt dễ nhìn, tươi mát; như thề đoạn đường cô vừa trải qua mưa đã tắm gội hộ những điều mà người ta gọi là phiền muộn. Một cành hoa vừa được tưới nước cũng chỉ tươi mươi có ngần ấy. Và đã là hoa thì kẻ ngắm nhìn khó lòng nhận biết cái già cỗi nó ủ ấp. Một vẻ đẹp chẳng tuổi tác khi hiện hữu.
Anh ít có dịp để gặp cô, phần vì ai nấy đều có việc để lo toan, để mưu sinh với lủ khủ công ăn chuyện làm; phần khác anh đã có gia đình và song phương vẫn ái ngại một ngộ nhận đến từ tha nhân. Gặng hỏi, chất vấn, ghen tuông sẽ cướp mất thứ sinh khí mà người ta cần bảo vệ để sống thở. Hôm nay thì khác, một ngày đang chờ chực giông bão, từ thiên nhiên cũng như từ hệ huỵ chính con người nhiễu sự tạo nên.
Như chẳng dằn lòng, người ấy cúi đầu đưa tay lục soạn vào cái túi xách vẫn nằm trên đùi cô. Thu mình trong xách nhưng khi thoát thân, tờ giấy tuồng như bị cảm lạnh, èo uột rơi xuống bàn. Góc giấy in tên và địa chỉ cơ quan cô ấy làm việc, phòng thí nghiệm và phân chất trực thuộc bệnh viện trung ương. Tên họ anh, ngày tháng năm sinh, phái tính, loại máu, nước tiểu, tinh trùng, vân vân và vân vân, bla bla bla để cuối củng là theo kết quả khám nghiệm: “Vô sinh”. Chữ ấy nằm trong vòng tròn mực đỏ có ai buồn tay tô đậm nét.
Vô sinh. Anh đọc lên, khá to, như một thực khách vừa chọn xong món ăn in trên tờ bìa tấm thực đơn. Tôi không thể hiểu. Là sao? Có nhầm hổ sơ của một cha nội nào khác không?
Người ấy thay vì khoanh hai tay trước ngực, cô dùng một cánh tay với năm ngón chống cằm hứng đỡ một dung nhan bắt đầu đọng nhiều bóng tối. Ca này do chính tay tôi xét nghiệm và với mười hai năm kinh nghiệm trong lab… Tôi thực chẳng biết nói gì hơn, tôi hiểu được cái trạng thái anh đang phải chịu đựng. Tôi đã dùng tới chữ xin chia buồn, tôi lập lại. Bởi nỗi buồn này nó to tát quá…
Anh nghĩ tới người vợ đang ngồi trên xe đò chạy băng trong gió mưa ở quốc lộ luôn cài đặt những khúc quành chết người. Tài xế ngủ gật, xe lạc tay tái đâm đầu xuống sông hồ, hỏng chân thắng để tạo tai nạn liên hoàn. Hằng ngày những thứ tin không đáng có cứ phải truyền đi trên mặt báo, trên truyền hình. Nhưng tuyệt không ai đào sâu về gốc gác một thai nhi nằm ẩn khuất trong bụng mẹ. Này con, chứ ba con là ai?
Tự dưng trong trí anh sắp hàng một dãy khuôn mặt bạn bè. Những thằng đã có vợ hoặc những đứa độc thân. Những hình ảnh như biết trò luân vũ có mưa gội xoá nhoè nhoẹt mà anh, một mình chịu hứng đỡ giữa trung tâm cơn bão càn, nhọc mệt bao tai ương.
Sao rồi? Đâu còn lòng dạ để nuốt trôi thức ăn, đúng không? Anh ngó sâu vào đôi mắt người ấy. Người vừa thảy ra một dấu hỏi khiến anh quặn ruột. Đôi mắt sâu đen có kẻ đường chì xám trên mí. Dù gió mưa, bất luận với khung cảnh nào, khi ra đường cô ta cũng mất chút ít thời gian để sửa soạn điệu đàng. Cô đã nhọc công đến và anh phải đền bồi tấm thạnh tình kia. Trước sau, cô vẫn là người bạn tốt. Những người sẵn lòng dội gáo nước lạnh vào mặt ta thường mang sự chí tình khi muốn ta tỉnh thức. Vô cớ giận lẫy thì nông cạn quá. Và anh luôn coi thường mấy đứa giận cá chém thớt.
Bạn gọi thức ăn đi chứ. Bạn ăn gì mình ăn tựa thế, hai phần giống nhau. Bão sẽ ập về, chợ búa tiêu điều, vật giá leo thang, củi lửa khan hiếm, ăn thật no lúc này là quyết định sáng suốt. Anh nói. Hình như đôi mắt không nháy kia có thu giữ khuôn mặt tựa gà nuốt giây thun của anh. Một tấm gương thần biết đọc ra nỗi niềm của kẻ vừa săm soi.
Người ấy vẫy tay ra hiệu và gọi một món ăn đặc sản của nhà hàng, hai tô lớn. Tôi uống cà phê sữa nóng còn anh này thì một chai bia, hiệu gì cũng được, miễn là bia ướp lạnh.
Môi có thoa son đỏ và không phai nhạt thứ hương hoa đã bám vào người cô. Cách một vuông bàn, anh ngửi ra trọn vẹn cái mùi nồng đậm, dằn vặt đến độ buồn rầu vô cớ. Trên trung bình mọi thứ, công việc ổn định nhưng tại sao người ấy vẫn ở không? Vẫn một mình trong căn hộ tiện nghi thuê ngay trung tâm thành phố. Đã nhiều lần anh dìm xuống nỗi hoài nghi, anh tuyệt chằng muốn đón nghe một giãi bày từ phía cô. Anh vẫn đứng yên trong lằn mức anh tự vẽ đường phấn giới hạn, bước ra khỏi nó là hành động của kẻ đi xâm phạm làm vấy bẩn tình bạn. Chắc cô quý anh do bởi cô đồng tình về chuyện đó. Cả hai đều đồng thuận thứ lề luật đèn nhà ai nấy sáng.
Nhưng giờ đây, cực lòng quá, anh phải vượt rào. Anh không rót bia ra ly, anh tu từ miệng chai vừa khui mở. Người anh nóng ran. Bạn cho mình một lời khuyên, bởi bạn đang sáng suốt, mình sẽ phải làm gì ở những ngày tới?
Người ấy xâm phạm biên giới, đưa cánh tay sang khoảng cách mặt bàn và lùa năm ngón vào đầu tóc anh. Anh sẽ không làm gì cả, tốt nhất là bình thường hoá sự việc cho tới ngày chị ấy sinh con. Hãy nhìn mặt đưa bé, hãy chứng tỏ mình là một người cha bình thường tới độ tầm thường như tất cả những người đàn ông khác, lăng xăng cuốn quýt vụng về khi vợ vừa đẻ đau.
Nên nhớ cho cây kim nằm trong túi lâu ngày cũng sẽ lòi đầu ra. Một đáp án ngay lúc này cũng chẳng mang anh thoát ra khỏi sự quẫn trí. Hãy nuôi giữ sự sáng suốt. Đừng làm nhiều người thất vọng.
Nhiều thực khách từ bỏ chỗ ngồi ấm cúng rời khỏi quán với bộ điệu vội vã. Có người nói họ thử sử dụng điện thoại nhưng bị mất sóng. Màn ảnh máy truyền hình nhập nhoà đường nét, vằn vện những đường ngang dọc.
Chúng ta về. Người ấy nói. Nếu muốn, hãy ghé lại đằng chỗ tôi trước, xem tình hình ra sao rồi hẳn tính.
Cây lá vật vã trên đường lớn. Đôi ba bộ hành đi khom thân bên kia lề, bước chân như có ai trì kéo. Người ấy níu lấy chiếc poncho anh mặc, tấm bảng hiệu “Nhà Nghỉ Hạnh Phúc” rời khỏi nơi máng treo bay vụt đi như một cánh diều đứt dây. Anh ôm siết lấy thân người cao ngang cằm bởi anh sợ cái mong manh của cô sẽ bị gió cướp đi.
Chẳng toan tính, không hò hẹn, chẳng nói năng, không cù rũ, cả hai tự động dắt xe băng qua mặt lộ trống trải để ẩn thân vào nhà nghỉ đã bay mất chữ hạnh phúc. Mọi con đường khác đều quá xa xăm, đều bất ổn.
Khi người ấy đứng làm thủ tục nhận phòng với nhân viên nhà nghỉ, đồng hồ máng trên vách chỉ đúng vào con số 3. Vào giờ đó, bình thường xe đò chở người bụng mang dạ chửa sẽ tới bến. Anh lấy điện thoại ra nhưng màn hình không lưu giữ một tin nhắn nào cả, tựa như nó hấp hối đã lâu và lạnh tanh với cái chết vừa đến.
Mưa ngoài hiên vẫn rầm rộ trút. Thịnh nộ. Anh nói thầm. Trong bốn năm sống đời chồng vợ khắn khít, anh có gây ra một lỗi lầm nào cho em không? Một vết nhơ khó thứ tha? Một sự bội phản?
Người ấy đến kéo tay anh, cô nói: Hãy vào nằm nghỉ một lát cho lại sức, chúng ta đã trải qua nửa ngày trời quá mức chịu đựng.
Nhân viên mặc đồng phục quan sát anh, tay trái anh có đeo nhẫn. Chúc ông bà tìm gặp giấc ngủ an lành, thức giấc có khi lại trời quang mây tạnh chẳng chừng.
Em yêu, anh sẽ cố ngủ giữa phong ba. Trong mê thiếp, em hiện ra, vẹn toàn một hình ảnh cũ, dung nhan thuỳ mị của một người vợ thuỷ chung.

Người đàn bà trên cầu Nitelva

Phạm Tín An Ninh

Post by Sơn râu 7 Aug 2026

   Thực ra cây cầu không có tên, nhưng có lẽ vì nó bắc ngang qua đoạn quanh co và đẹp nhất của dòng sông Nitelva, nên người dân ở địa phương này thường gọi như thế. Đây là đoạn cuối cùng của một con sông lớn trước khi đổ ra biển.
Sau khi các con đã trưởng thành và có cuộc sống riêng, vợ chồng tôi bán ngôi nhà rộng cũng nằm bên bờ sông này, nhưng ở tận vùng Fjerdingby xa xôi, về đây mua căn nhà nhỏ trong một khu apartment, nằm khá xa thành phố. Chỉ làm việc thêm một năm là đến tuổi về hưu. Sống trong vùng ngoại ô tĩnh mịch này,  cả ngày không biết làm gì, ngoài cái thú đọc sách và đi bộ. Ở đây khá lâu rồi, nhưng lúc ấy còn phải đi làm, mùa hè thì bận bịu chuyện sửa sang nhà cửa, mùa đông thì chỉ nằm nhà hoặc bay sang Mỹ thăm con nhân dịp nghỉ lễ Phục Sinh, nên chúng tôi không biết gần bên nhà có một con đường đi bộ đẹp và thơ mộng đến như thế. Sau này, khi đã về hưu, nhờ ông bà láng giềng người bản xứ giới thiệu và rủ đi bộ, chúng tôi mới biết.
Con đường tráng nhựa đen bóng, lớn như những tỉnh lộ trong vùng, nhưng đặc biệt chỉ dành riêng cho người đi bách bộ.  Chạy quanh co xuyên qua cánh rừng đầy những loại hoa dọc theo bờ sông Nitelva, đến khúc sông đẹp nhất, là một chiếc cầu đúc bắc qua để tiếp tục đến một khu rừng khác, nhưng bây giờ là cánh rừng thông với những hàng cây cao, thẳng tắp, che kín cả mặt trời.
Chúng tôi khởi sự đi bộ vào đầu mùa hè, bởi mùa đông con đường và cả khu rừng ngập đầy tuyết, dòng sông đóng cứng băng, chẳng ai có hứng thú. Chúng tôi thường đi vào buổi chiều tàn, vắng người.  Mùa hè Bắc Âu trời tối muộn. Có những hôm, đến 12 giờ đêm mà vẫn còn chói chang ánh nắng mặt trời. Hôm đầu tiên và suốt cả tuần sau đó, khi đến giữa cây cầu, chúng tôi thấy một người đàn bà Á châu. Không biết bà đã đến đây từ lúc nào, nhưng khi vừa bước lên cầu chúng tôi đã thấy bà đứng bất động bên thành cầu nhìn đăm đăm xuống dòng sông, như không hề để ý đến mọi điều chung quanh. Muốn chào, hỏi thăm bà đôi câu, nhưng không dám, ngại làm mất đi cái không khí yên tĩnh riêng tư của bà.
Mãi một hôm, trên đường trở về, khi đến gần đầu cầu, trời đang nắng bỗng đổ xuống một cơn mưa rào, chúng tôi chạy vào trú mưa dưới một tàn cây khá lớn, bất ngờ gặp bà đứng sẵn ở đó. Bà gật đầu chào và kéo bà xã tôi đứng sát bên bà để tránh mưa tạt. Rất vui khi biết bà là người đồng hương, đến định cư ở nước Bắc Âu xa xôi này từ khá lâu, năm 1979. Nhìn mái tóc bạc, tôi đoán bà cao tuổi hơn mình. Trông bà hiền lành, nói năng từ tốn, thỉnh thoảng nở nụ cười, nhưng khó tìm được nét vui nào, bởi đôi mắt thật buồn. Và không ngờ cơn mưa rào hôm ấy đã đưa chúng tôi trở thành những người bạn già đồng hương sống đời lưu lạc.

     Bà cho biết, bởi hoàn cảnh đặc biệt, nên hơn hai mươi năm nay, từ khi dọn về sống ở vùng  này, bà không quen biết ai. Bà muốn sống yên lặng một mình trong căn nhà nhỏ, riêng tư với những nỗi niềm quá lớn của mình.
-Tôi vẫn muốn giữ lấy quá khứ buồn bã cho riêng mình, cứ sợ chia sẻ với người khác thì mình sẽ chẳng còn lại cái gì hết.
Lần đầu tiên, khi đến thăm chúng tôi bà tâm tình như thế.
Tôi nói như để an ủi bà:
-Người ta thường nói lời phân ưu, chia buồn. Nhưng thực ra cũng chỉ là một cách an ủi thôi. Chứ làm sao có thể chia sớt được nỗi buồn của người khác. Tuy nhiên, khi nói ra cũng là cách để làm nhẹ bớt những gì cứ đè nặng trong lòng mình đi chị ạ.

     Sau đó bà thường đến chơi và càng lúc càng thân tình với vợ chồng tôi. Bả bảo thấy rất hợp với chúng tôi, vì có cùng những hoàn cảnh, hoạn nạn, và giờ thì đang cùng “sống ở cuối trời quên lãng” tận xứ Bắc Âu này. Sau lần vợ chồng tôi gật đầu trước đề nghị khi bà muốn được kết nghĩa chị em, bà ôm chầm lấy chúng tôi nước mắt sụt sùi, bảo là bà chỉ có một cô con gái, nhưng phải sống ở trong Trung Tâm dành cho người bị bệnh tâm thần, mất trí nhớ.
Trung Tâm này khá lớn nằm trong khu vực chúng tôi đang ở. Chúng tôi đã từng đi qua lại rất nhiều lần, nhưng không biết đó là một trung tâm như thế.
Chiều hôm sau, chúng tôi cùng đi bộ theo bà đến thăm cô con gái. Không ngờ đây là một cơ sở rất qui mô, có nhiều bác sĩ đảm trách. Cứ một bác sĩ phụ trách mười bệnh nhân, và mỗi bệnh nhân có riêng một y tá trực tiếp săn sóc, dẫn dắt đi chơi, mỗi năm có hai lần đi du lịch nước ngoài tùy theo hoàn cảnh, xuất xứ của mỗi người.
Cô bé trông khá xinh, nhưng đôi mắt thất thường. Có khi đang thật buồn, bất ngờ trở nên giận dữ. Dường như đôi lúc vẫn còn nhận ra mẹ, nên sau vài phút xa lạ, lại ôm vai và vuốt tóc mẹ. Khi mới đến, cả bà và vợ chồng tôi đã được dặn dò, bất cứ tình huống nào cũng luôn nở nụ cười. Có khi cô bé cũng cười với chúng tôi, nhưng bất chợt sa sầm nét mặt. Tôi nhìn thấy bà cười, nhưng có dòng lệ ứa ra từ khóe mắt. Trên đường về, thấy bà trầm ngâm, chúng tôi tìm cách đi sau bà, tôn trọng sự yên lặng và những suy nghĩ trong đầu bà. Đã có hẹn trước, chúng tôi mời bà về nhà dùng cơm tối với chúng tôi. Biết sở thích của bà, bà xã tôi đã cuốn sẵn chả giò, về nhà chỉ chiên lên là xong.
Tối hôm ấy, bà ở lại với chúng tôi, và ngồi kể lại cuộc đời mình. Bà cho biết đây là lần đầu và cũng là lần duy nhất bà kể những điều này, bởi bà xem chúng tôi như người thân trong nhà, và có thể sau này có đôi điều cần thiết phải nhờ đến chúng tôi.

     Trước ngày mất nước, chồng bà là thiếu tá Pháo Binh thuộc Quân Đoàn I. Ông là bạn học cùng lớp với ông anh cả của bà. Hai người làm đám cưới ở Nam Định, lúc bà vừa đúng 18 tuổi. Sau đó theo về sống cùng nhà chồng, ở thành phố Hải Phòng. Nhưng chỉ mấy tháng sau thì  xảy ra chuyện Hiệp Định Genève, chia đôi đất nước, bà theo gia đình chồng xuống tàu há mồm di cư vào Nam, trong lúc cả gia đình của bà vẫn còn kẹt lại. Ngoài cha mẹ, bà chỉ có một người anh duy nhất, là bạn cùng học ở Hà nội với ông chồng.
Vào miền Nam, chỉ có một lần duy nhất bà nhận được tấm bưu thiếp của gia đình với đôi dòng vắn tắt, rồi bặt tin luôn. Nuốt bao đau đớn vào lòng, bà cố quên đi nỗi buồn chia ly, để cùng gia đình chồng tìm kế sinh nhai trên vùng đất mới, giúp chồng tiếp tục con đường học vấn dở dang.
Sau ba năm đại học, ông đi dạy toán ở một vài trường trung học tư thục để lo cho gia đình. Khi ấy ông bà cũng vừa có đứa con trai đầu lòng. Mấy năm sau, do tình hình chiến tranh ngày một leo thang, ông theo lệnh gọi nhập ngủ vào Trường Sĩ Quan Thủ Đức. Sau đó được chọn theo học Ngành Pháo Binh.
Ra trường, ông lần lượt chuyển về phục vụ tại các đơn vị Pháo Binh của các Sư Đoàn Thuộc Vùng 3, rồi Vùng 2.  Khi thăng cấp Thiếu Tá, đang làm Tiểu Đoàn Phó, ông được chọn sang Mỹ học một khóa chuyên môn. Về nước, được bổ nhiệm về Trường Pháo Binh Dục Mỹ để đảm trách huấn luyện. Năm 1971, tình hình chiến sự Vùng 1 trở nên quyết liệt, sau những thiệt hại nặng nề trong cuộc hành quân Hạ Lào Lam Sơn 719, ông được chọn bổ sung cho Pháo Binh Quân Đoàn I. Bà và ba đứa con di chuyển theo ông, thuê căn nhà nhỏ ở thành phố Đà Nẵng. Bà lo việc học hành cho mấy đứa nhỏ, ông ở đơn vị, mỗi tuần một đôi lần về thăm. Có khi bận hành quân cả tháng mới về được một lần rồi vội vã ra đi.
Đầu tháng ba 75, thấy tình hình có nhiều dấu hiệu bất lợi, ông  thu xếp cho vợ và ba đứa con về lại Sài gòn, tá túc tạm thời với gia đình người em, một sĩ quan Hải quân, đang làm việc ở Hải Quân Công Xưởng. Hôm đưa ra phi cơ, ông ôm bà và hai đứa con thật chặt, không muốn rời nhau.  Không ai ngờ đó lại là dấu hiệu của chia ly.
Ngày 11.3 Ban Mê Thuột thất thủ. Cuộc di tản từ Pleiku theo tỉnh lộ 7 B đã kết thúc số phận của các đơn vị thuộc Quân Đoàn II, từng tạo nên những chiến công hiển hách , đặc biệt đã đánh tan mấy Sư đoàn Cộng quân của Mặt Trận B3, để giữ vững Kontum và Tây Nguyên trong suốt mùa hè khói lửa 1972. Rồi tiếp theo là lệnh bỏ Quân Đoàn I của vị tướng lừng danh Ngô Quang Trưởng. Không mấy ai tin là ông sẽ bỏ vùng đất địa đầu từng thắm đẫm máu đào của hàng vạn sinh linh, đồng đội, một thời trấn giữ, giành lại từng tấc đất, để dựng cờ trên Cổ Thành Quảng Trị. Vậy mà cuối cùng đã bỏ, bỏ thật. Mọi người, từ quân tới dân đều bàng hoàng, hụt hẫng. Kế hoạch di tản và sự phối hợp, chỉ huy tồi tệ của một số tướng lãnh, đã tạo nên một cuộc bại trận đớn đau bi phẫn nhất trong lịch sử chiến tranh. Một cuộc lui quân đẫm máu trên bờ biển Thuận An, mà có những người lính gọi đó là pháp trường cát. Một vùng biển máu ngập những xác người, cả dân và đủ mọi sắc lính. Một quân đoàn với ba sư đoàn bộ binh thiện chiến, nhiều Liên Đoàn Biệt Động Quân dạn dày lửa đạn, những Thiết Đoàn Kỵ Binh với hỏa lực hùng mạnh, hai  Lữ Đoàn TQLC của một đơn vị Tổng Trừ Bị vang danh, từng tạo những chiến tích lẫy lừng ở các trận chiến Mậu Thân, Quảng Trị, giờ phải lâm vào bước đường cùng, không còn lối thoát, không còn đạn để có thể chiến đấu. Nhiều người tự sát trong tiếng cười ngạo nghễ, nhiều người bị giết khi vừa bắn đi viên đạn cuối cùng, và tất cả số còn lại bị bắt bởi những tên du kích!
Chồng bà là một trong hàng vạn người lính bất hạnh ấy. Vị thiếu tá Pháo Binh đã phải phá hủy hết các khẩu pháo, từng bao nhiêu năm sống chết với mình, để chỉ tự vệ bằng cây súng cá nhân M16, rồi cuối cùng cũng phải vất đi để chiến đấu với sóng biển, với số phận, khi tìm cách bơi ra những chiến hạm Hải Quân lắc lư xa tít ngoài khơi, dưới xích sắt của những chiến xa M113 cũng lội sóng đi tìm sinh lộ.
Ở Sài gòn, mỗi ngày bà ra bến Bạch Đằng hỏi tin tức chồng mình, nhờ người em Hải quân liên lạc các chiến hạm công tác tại Vùng I, nhưng tất cả đều không thể cho bà một tin tức nào cụ thể. Trong cái mất mát quá lớn và khủng khiếp ấy, cá nhân một ông thiếu tá, chồng bà, trở nên vô cùng nhỏ nhoi hơn bất cứ lúc nào.
Cuối cùng thì Cộng quân cũng vào đến Sài gòn. Người Mỹ có lệnh phải ra đi. Những người làm việc cho Mỹ hoặc có liên quan đến họ bắt đầu được ưu tiên di tản khỏi Việt nam bằng phi cơ. Tướng Lê Minh Đảo chỉ huy Sư Đoàn 18 BB của ông cùng các lực lượng Thiết Giáp, Nhảy Dù, Biệt Động Quân, Địa Phương Quân tăng phái, đã chiến đấu thật dũng mãnh, kiêu hùng, ngăn chặn hằng mấy quân đoàn địch tràn vào Long Khánh, làm cả thế giới ngạc nhiên, thán phục. Nhưng cũng chỉ cầm chân được hơn một tuần. Địch quân tránh đụng độ, mở đường sang hướng Biên Hòa để bao vây, uy hiếp Sài gòn.
Tối ngày 29.4, người em chồng từ Hải Quân Công Xưởng mang xe về nhà đón vợ con xuống tàu. Anh thúc hối bà và ba đứa con theo ông di tản. Nhưng bà nhất quyết cùng con ở lại chờ chồng.
Miền Nam mất vào tay Cộng Sản đã hơn một tháng, chồng bà vẫn biệt tăm. Bà nghĩ chắc ông đã bị bắt, lặn lội ra Đà Nẳng tìm. Vào các trại tù nhốt những sĩ quan miền Nam hỏi thăm, nhưng không ai biết chồng bà. Bà tìm đến nhà anh tài xế cũ, nhờ đưa bà đi thăm một số đồng đội  của chồng. Cuối cùng, một anh trung sĩ, người lính thân cận của ông, cho biết là ông đã chết trên biển. Chính anh cùng bơi ra với ông và nhìn thấy ông bị thương do pháo kích của địch, rồi chìm xuống biển, nhưng anh không thể nào cứu được, bởi lúc ấy, anh cũng không nghĩ là mình có thể sống sót. Bà nhờ anh trung sĩ đưa bà ra bờ biển và chỉ nơi nào ngoài khơi mà ông đã ra đi. Nhìn những cánh hải âu lượn lờ trên mặt nước, tưởng như hóa thân của chồng mình, bà quỳ xuống khóc nức nở.

     Cuộc đổi đời đã dìm bà và cả ba đứa con xuống vực thẳm. Nhà ngươi em bị tịch thu, kẻ chiến thắng đuổi mẹ con bà không chỉ ra khỏi nhà mà ra khỏi cả Sài gòn. Bà dắt con chạy lên Long Khánh tá túc nhà một người bạn thân có vườn cây ăn trái, rồi mua lại một căn nhà tranh bên cạnh để sống qua ngày. Nhờ người bạn giúp, bà theo buôn bán trái cây. Cả ba đứa con phải nghỉ học, ở nhà khai khẩn thêm đất hoang, làm vườn, trồng khoai, trồng sắn.
Lo âu khốn khổ chất chồng, bà không còn biết đến thời gian. Mấy năm sau, nhờ những thùng quà của người em chồng từ Mỹ gởi về, mẹ con bà có được chút vốn làm ăn, cậu con trai lớn tập tành buôn bán thuốc tây. Bớt khổ một chút.
Nhưng đùng một cái, khi cậu con trai đầu lòng này vừa tròn 22 tuổi, thì trận chiến biên giới với Campuchia bùng nổ, Trung Cộng đòi dạy cho Việt nam một bài học. Thằng bé bị bắt “thi hành nghĩa vụ quân sự”. Bà phản đối, nêu lý do nó là con của “ngụy” sao các ông tin mà cho vào “Quân Đội Nhân Dân”. Nhưng họ vẫn nhất quyết cưỡng bách, bảo là đáng lẽ phải đi cả hai anh em, như vậy là nhân đạo lắm rồi. Cũng có thể thằng bé phải thế chỗ cho một thằng nào có tiền bạc chạy chọt hoặc quen biết bà con với đám chính quyền. Năn nỉ xin xỏ không được, bà khóc hết nước mắt tiễn con đi, làm lính cho kẻ thù. Bà đau lòng lắm, chỉ cầu mong Trời Phật và vong linh chồng bà phù hộ cho nó. Nhưng chỉ ba tháng sau, bà nhận giấy báo, đứa con trai đầu lòng của bà đã trở thành liệt sĩ! Không biết xác thân nằm ở nơi nào. Người ta chỉ mang đến cho bà tấm bằng Tổ Quốc Ghi Công. Họ vừa ra khỏi nhà, bà xé nát rồi cho vào bếp lửa. Trong ngôi nhà tranh bé nhỏ giờ có hai cái bàn thờ, leo lét ánh đèn dầu.

      Giữa năm 1979, muốn cướp tài sản của những người gốc Hoa, Cộng Sản bày ra chương trình “Ra đi bán chính thức”. Nhờ người em chồng ở Mỹ, liên lạc được một người lính thuộc cấp thân cận cũ gốc người Hoa Chợ Lớn, nhờ ứng vàng và lo lót cho công an, làm giấy tờ giả cho ba mẹ con bà ra đi. Ông sẽ hoàn tiền lại khi họ đến Mỹ.
Chiếc thuyền mới đóng, lớn và chắc chắn, nhưng mới ra khơi hai ngày thì hỏng máy. Hai người thợ máy đi theo lại chẳng biết gì về máy tàu, nên cuối cùng chiếc thuyền như thả trôi giữa biển mênh mông, mang theo số mạng của hơn hai trăm người. Tất cả chỉ còn cầu nguyện để mong có một chiếc tàu nào cứu thoát. Nhưng bao nhiêu lời cầu xin vẫn chưa làm động lòng Trời. Chiếc thuyền trôi dạt trên hai mươi ngày, lương thực đã cạn, và vì do không điều khiển được nên bị sóng đánh, nhiều lúc như muốn chìm. Nước tràn vào trong khoang. Mặc dù không còn sức, nhưng tất cả đàn ông đều được gọi lên trên mạn thuyền để thay nhau tát nước. Một số tháo những thanh gỗ trên đài chỉ huy, thu góp tối đa áo quần, chăn mền mang theo, đốt lên tạo thành cột khói để làm dấu hiệu cấp cứu. Con thuyền nghiêng ngả, những đợt sóng lớn đánh vào mạn thuyền, kéo theo một số người xuống biển khơi. Sinh mạng con người lúc này thật nhỏ nhoi. Ai cũng nghĩ rồi sẽ đến lượt mình. Khi tàu sắp chìm, thì Thượng Đế xuất hiện. Một chiếc tàu chở dầu của Vương quốc Nauy đã cứu họ.
Thủy thủ đoàn trên tàu rất nhân đạo, tận tình cứu vớt. Họ thi nhau dùng dây đu xuống chiếc thuyền bị nạn, ưu tiên cõng theo con nít và đàn bà, và giúp những người đàn ông cố bám theo chiếc thang lưới, leo lên tàu. Ngay trên sàn tàu, họ sắp xếp đàn ông vào một khu, đàn bà một khu khác, rồi dùng vòi nước ngọt “tưới” lên những người bị nạn để giúp họ tỉnh táo lại, và phát quần áo mới để thay.
Sau khi hoàn hồn, không tìm thấy cậu con trai, bà và cô con gái chia nhau đi tìm nhưng không ai biết. Cả anh lính Hải quân đã giúp mẹ con bà cũng mất tích. Bà và cô con gái ôm nhau khóc nức nở, đòi nhảy xuống biển. Vị thuyền trưởng người Nauy biết chuyện nên lệnh cho cô bác sĩ  đưa mẹ con bà vào phòng y tế săn sóc và bảo đảm sự an toàn. Bà bảo, nếu không nghĩ đến cô con gái út, bà đã nhảy xuống biển.      Đến định cư ở Nauy, một đất nước giàu có và đầy lòng nhân đạo, bà và cô con gái được ưu tiên sắp xếp cho định cư ngay tại thủ đô Oslo. Mẹ con được cấp một căn nhà mới khang trang, hai phòng ngủ có đầy đủ tiện nghi. Cô con gái được theo học một trường Gymnas (trung học đệ nhị cấp) sau một khóa học ngôn ngữ Nauy dành cho người ngoại quốc.
Bà cũng được theo học tại một trường Voksengymnas (trung học dành cho người lớn). Hằng tháng, với số tiền trợ cấp đặc biệt, hai mẹ con không những sống đầy đủ mà còn dành dụm trả dần cho vợ người lính Hải quân tiền tương ứng với số vàng mà người em chồng của bà đã hứa với người thuộc cấp cũ. Người lính ân nhân này cũng đã chết trên biển cùng với đứa con trai của bà.


Cuộc sống tưởng chừng yên ả, sau khi những đau thương mất mát tạm lắng xuống, thì cô con gái trở nên kỳ lạ, thất thường sau những cơn ác mộng. Ở nhà, ban ngày chỉ đóng cửa nằm suốt trong phòng, ban đêm thức giấc la hét thất thanh. Bà phải đưa con tới trường, nhưng nhiều hôm cô bé la hét và vất tung sách vở chạy ra ngoài. Được đưa vào bệnh viện tâm thần chữa trị, nhưng không thuyên giảm. Bệnh tình ngày càng trầm trọng, mất dần trí nhớ. Thấy cô bé không còn làm chủ được mình, có thể nguy hại đến bản thân và cho người khác, Hội đồng Y khoa quyết định đưa vào một trung tâm đặc biệt dành chữa trị lâu dài. Bà không chịu, khóc lóc xin cho cô con gái được sống ở nhà, bà sẽ tự chăm sóc cho con, nhưng mọi người đều khuyên bà nên để cho cháu vào sống ở Trung tâm, để có thể chữa trị và giúp bà tự lo được cho mỉnh. Hơn nữa, mỗi tuần Trung Tâm sẽ sắp xếp cho bà hai lần vào thăm và ở lại với con khoảng ba tiếng đồng hồ.
Đúng vào lúc này bà lại nhận thêm một tin buồn. Người em chồng vừa qua đời ở Mỹ do một tai nạn giao thông. Bà không thể sang dự tang lễ được.
Trung Tâm đặc biệt này nằm trong khu vực chúng tôi đang ở. Bà thì đã dọn về đây từ lâu rồi, sau ngày cô con gái được đưa vào sống ở đây.

      Từ ngày thân tình bà luôn đi bộ với chúng tôi mỗi ngày trên con đường dọc theo bờ sông Nitelva. Nhưng khi đến giữa cầu bà dừng lại, đứng ở đó, chờ chúng tôi trở lại sẽ cùng về với nhau. Điều đặc biệt, thành chiếc cầu này là một tấm lưới bằng sắt sơn màu xám, trên đó có treo rất nhiều ổ khóa, cả mấy trăm chiếc. Có những cái nằm riêng một mình, có những cái khóa chung vào với hai, ba cái khác. Trên nhiều ổ khóa có khắc tên hai người,  một số có tên nhiều người. Đã mấy lần, vợ chồng tôi tò mò, đứng lại xem và đọc vài cái tên trên ấy. Chỉ toàn tên người bản xứ, Nauy. Tôi nghĩ có lẽ đây là nơi hẹn hò, thề non hẹn biển của những cặp tình nhân.

       Buổi chiều, sau ngày đến thăm cô con gái và ở lại nhà chúng tôi, khi cùng thả bộ tới giữa cầu, bà dắt tay chúng tôi đến một chiếc ổ khóa lớn, nằm riêng rẻ trên tấm lưới thành cầu. Cái khóa đồng, có khắc đậm năm cái tên. Mặt trước là tên của vợ chồng bà, mặt sau là tên của ba đứa con. Cũng lần đầu tiên, bà giải thích vì sao bà thường đứng một mình giữa thành cầu. Vì cứ mỗi lần nhìn xuống dòng sông phía dưới, bà đều nhìn thấy hiện lên khuôn mặt của chồng bà và hai đứa con trai. Trong gợn sóng, bà vẫn thấy họ mỉm cười với bà. Chính điều này đã giúp bà có nghị lực để sống tới hôm nay.
Mỗi năm, bà làm giỗ chung cho ba cha con vào giữa tháng ba, vì họ đều mất trong cùng tháng ba. Tháng ba, Bắc Âu đang mùa Đông, trời rất lạnh. Khoảng thời gian này, vợ chồng tôi lại thường sang Mỹ thăm ba cô con gái, và cũng để trốn lạnh. Nhưng năm nay, chúng tôi ở lại Nauy, theo mong muốn của bà. Ước nguyện của bà là sau kỳ giỗ này bà theo chúng tôi sang Tây Ban Nha, sống trên đảo nào đó vài hôm, để bà có thể mỗi ngày ngồi trước biển, nhìn ra đại dương xa xăm, hy vọng sẽ thấy được quê hương và hình ảnh chồng và hai đứa con trai. Bà nghĩ như thế.
Trong ngày giỗ, bà khẩn khoản nhờ chúng tôi, trước khi trao một tờ giấy ủy quyền, để khi bà qua đời, thân xác được thiêu, và chúng tôi sẽ mang tro cốt rải xuống dòng sông Nitelva, nơi mà bà thường đứng trên cầu, mỗi buổi chiều hè, nhìn xuống đó. Bà cũng dặn dò, nhờ chúng tôi bỏ hết mấy tấm ảnh của gia đình, chồng và các con vào quan tài để cùng thiêu với bà.
Bà đi với vợ chồng tôi sang Mallorca, một hòn đảo du lịch nổi tiếng của Tây Ban Nha và ở đây hai tuần. Bà bắt buộc chúng tôi phải để cho bà bao trọn chuyến du lịch này. Theo ước muốn của bà, mỗi ngày sau khi ăn điểm tâm xong, vợ chồng tôi đưa bà ra biển, nơi có mô đất cao, được làm thành một vườn hoa rất đẹp. Bà ngồi trên ghế đá có dù che, nhìn ra một vùng biển trời mênh mông trước mặt. Không biết bà có nhìn thấy được chồng con và quê hương ở phía cuối chân trời? Chúng tôi ngại, không dám hỏi bà.

       Sau chuyến đi khoảng ba tháng, bà bị bệnh. Chúng tôi đến thăm. Bà than mệt, thỉnh thoảng lên cơn ho. Tôi nghĩ bà chỉ cảm nhẹ, hoặc mùa này nhiều người bị dị ứng phấn hoa, nên đi mua thuốc cho bà. Khi mang cốc nước đến cho bà uống thuốc, tôi vỗ vai, an ủi:
– Bà chị đã trên 80 rồi, tất nhiên sức khỏe có yếu đi, hay mệt, hoặc có thể bị dị ứng phấn hoa, chứ chẳng có chuyện gì đâu”
Bà xã tôi dọn dẹp nhà cửa, nấu cơm, làm ít món ăn bà thích và dặn dò bà phải nghỉ ngơi, không được làm việc gì, nhà cửa, cơm nước để chúng tôi lo.
Không ngờ bệnh tình ngày một nặng hơn. Chúng tôi đưa bà vào bệnh viện. Sau khi khám và làm xét nghiệm, bác sĩ cho biết trong phổi bà có nước và có cả vi khuẩn. Tình trạng khá nguy hiểm.

      Hơn một tuần sau bà mất. Là người thân duy nhất được bà ghi vào hồ sơ, chúng tôi được bệnh viện báo tin. Với tờ ủy quyền, chúng tôi nhận đứng ra lo việc an táng cho bà. Tôi đến Trung Tâm Tâm Thần, nơi cô con gái của bà ở, báo tin cho Bác sĩ Giám Đốc, và yêu cầu vào ngày tang lễ, xin Trung Tâm đưa cô con gái đến dự và chịu tang cho mẹ, theo truyền thống Việt nam
Đám tang tổ chức ngay tại nhà quàn bệnh viện. Ngoài vợ chồng tôi, chỉ có cô con gái của bà và hai người của Trung Tâm Tâm Thần. Tôi cũng mời một vị sư đến niệm kinh cho bà. Cô con gái ăn mặc đúng phong cách, một bộ vest đen mới toanh, theo sự hướng dẫn của cô ý tá, cùng chúng tôi quỳ xuống trước linh cữu của bà. Không biết cô gái có biết điều gì đang xảy ra hay không? Chỉ im lặng cúi đầu. Khi vị sư choàng chiếc khăn tang vào đầu, cô đưa tay giật xuống. Không biết cô ý tá nói nhỏ với cô điều gì, rồi lấy chiếc khăn tang quấn lại trên đầu. Lần này cô bé yên lặng, chống hai tay cúi xuống.

       Đúng một trăm ngày, theo ước nguyện của bà, cũng là đầu tháng bảy, mùa hè, chúng tôi mang tro của bà ra rải giữa dòng sông, dưới chiếc cầu Nitelva, cùng lúc với những cánh hoa hồng trắng được bỏ xuống. Loại hoa bà thường cắm trên bàn thờ chồng và hai đứa con trai của bà. Hôm ấy trời đang thật đẹp, bỗng bất chợt một cơn mưa rào. Mùa hè ở đây thường như thế. Vợ chồng tôi vội vàng chạy vào dưới tàn cây ở phía đầu cầu trú mưa, nơi mà lần đầu tiên chúng tôi đã thực sự gặp bà, để rồi sau đó trở thành thân thiết.
Chiều hôm sau, khi đi bách bộ, tôi mang theo chai Zip,  chùi sạch và đánh bóng lại ổ khóa của bà treo trên thành cầu, lấp lánh năm cái tên được khắc sâu trên ấy. Nước mắt tôi bỗng trào ra, khi nhớ tới bà và câu chuyện đau thương của gia đình bà. Cả một gia đình đều là nạn nhân của Cộng sản. Một chế độ man rợ đã gây nên biết bao chia lìa tang tóc cho đồng bào và hủy hoại cả quê hương đất nước. Và đó cũng chỉ là một trong muôn vàn thảm cảnh sau ngày CS cưỡng chiếm miền Nam, xích xiềng cả nước.
Từ hôm ấy, cứ mỗi lần đi bộ, chúng tôi đều dừng lại giữa cây cầu Nitelva này khoảng vài phút, đứng yên lặng bên thành cầu, tưởng niệm vợ chồng và hai đứa con trai bất hạnh của bà.

       Bệnh viện cũng đã trao lại cho chúng tôi những di vật của bà. Trong đó ngoài hai thẻ ngân hàng và mấy tấm ảnh còn có lá thư ngắn viết cho vợ chồng tôi và tờ di chúc viết bằng tiếng Việt. Bà nhờ tôi dịch ra tiếng Nauy hai bản. nhờ bệnh viện chứng nhận. Một bản trao lại cho kommune (văn phòng thị xã), một bản cho Trung Tâm Tâm Thần. Trong đó bà quyết định, tất cả tài sản, căn nhà và tiền bạc trong ngân hàng, bà xin hiến tặng cho Trung Tâm, nơi nuôi nấng chăm sóc con gái của bà. Bà chỉ có một yêu cầu, khi nào con gái bà qua đời, xin cho thiêu xác và rải tro xuống dòng sông, giữa cầu Nitelva, để cháu được đoàn tụ với bố mẹ và hai anh, khi theo dòng sông chảy ra biển và cùng nhau trôi dạt về lại quê nhà.

Phạm Tín An Ninh

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 7 Aug 2026

Phái đoàn y tế của một tiểu bang Hoa Kỳ sang giúp một bệnh viện tại Hà nội. Công việc đầu tiên là mở lớp huấn luyện cho các bác sĩ và y tá. Trước hết phái đoàn đã phải bỏ tiền túi ra để sửa sang lại phòng ốc và sắm bàn ghế cho lớp học, nếu không sẽ không có chỗ cho các học viên dự lớp huấn luyện ngồi. Trước ngày khai giảng đã dự định, ban Giám Đốc Bệnh Viện xin phái đoàn giúp trang bị máy lạnh cho năm lớp học giảng dạy, nếu không sẽ rất trở ngại cho việc huấn luyện. Phái đoàn chấp thuận và sau đó việc giảng dạy tiến hành suông sẻ, nhưng chỉ ngay sau khi bế giảng khóa học, phái đoàn y tế của Mỹ chưa về, ban Giám Đốc Bệnh Viện đã chia nhau 5 cái máy lạnh đem về ráp ở nhà riêng và toàn bộ bàn ghế vừa sắm sửa, lý do là tài sản này không nằm trong số tài sản của bệnh viện, nghĩa là không có sổ sách.

Các bác sĩ Việt Nam từ Hà nội sang tu nghiệp một lớp phẫu thuật xương cho biết các bệnh viện tại Việt Nam, bệnh nhân bắt buộc phải trả tiền khi phải mua khớp nhân tạo. Tuy vậy khớp cũng có nhiều giá, thứ rẻ 500,000 đồng, thứ đắt nhất lên tới 2 triệu, “tiền nào của đó”, nhà giàu thì dùng đồ tốt, nghèo thì dùng của “lạc xon”. Cái đau của những người bệnh có tiền, là sau khi trả cho bác sĩ một số tiền lớn, hy vọng sẽ có được của tốt hơn người, nhưng cuối cùng thì ai cũng như ai, nghĩa là chỉ được dùng thứ rẻ tiền nhất. Lý do là khi bác sĩ đề nghị giá cả, chỉ nhắm vào “túi tiền” và “máu mặt” của bệnh nhân để kiếm thêm chút tiền, còn giàu nghèo, lừa được ai thì cứ lừa, miễn là có tiền bỏ túi. Nghề thầy lâu nay vẫn được coi là một nghề cao quí nhất, nhưng tư cách nhà giáo có khi không bằng một gã hoạn heo. Các bác sĩ đi thực tập ở Hoa Kỳ về, đều phải lo chạy đi mua “đồ ngoại” cho thầy, nếu không muốn bị thầy trù dập. Không có rượu, không có thuốc, không có đồ chơi cho thầy, thì luận án thầy cứ gạch tuốt luốt mà không sửa một chữ. Ở trên cao thì Giáo Sư Y Khoa mở lớp luyện thi y khoa tại nhà riêng, ở hạ tầng thì cô giáo tiểu học mở lớp học hè tại nhà cô giáo.

Chúng ta cũng rõ câu chuyện diễn tiến như thế nào. Khi sự vô đạo còn lang thang chụp giật ngoài chợ trời, ta còn chấp nhận được, khi nó đã đi vào nghề “lương y như từ mẫu” hay len vào địa vị cao quí danh dự của “chữ Thầy”, đứng hàng thứ hai sau vua và hơn cả cha, thì hết thuốc chữa.

Những đứa trẻ được đào tạo trong khuôn viên nhà trường và ngoài xã hội hiện nay, nhanh nhẹn, tinh khôn hơn, nhưng rõ ràng ranh mãnh và láu cá hơn, biết làm tiền sớm, thủ lợi cho mình, không cần tới sự thật thà và lẽ phải. Chúng ta chứng minh được điều này bằng cách so sánh hai đứa trẻ, một sinh ra hay lớn lên ở hải ngoại và một đứa trẻ mới đem từ Việt Nam sang. Chúng ta phải công nhận rằng, từ khi xe tăng Cộng Sản vào cổng chính dinh Độc Lập thì đạo lý con người và sự tử tế leo ngõ sau, ra đường Huyền Trân Công Chúa bỏ đi mất. Điều đáng buồn và ai cũng phải thấy là ngay cả người miền Nam cũng bị tha hóa sau thời điểm tháng 4 năm 1975 một cách đáng kinh ngạc.

Tội nghiệp cho rằng người nước Tề không ăn trộm, sang ở tại nước Sở, vì khác phong thổ mà sinh ra ăn trộm, như cam trồng ở đất Hoài Nam thì trái ngọt, đem sang trồng ở Hoài Bắc thì sản sinh ra trái chua. Nói một cách khác, người miền Nam ngày xưa có chế độ tốt, văn hóa thanh lịch thì con người tốt, nay dưới chế độ mới, con người chỉ biết trọng tiền tài, coi liêm sỉ nhẹ thì tâm tính con người lại thay đổi phát triển theo chiều xấu. Phải nói là không biết bao nhiêu chuyện đời, chúng ta có thể thấy ngay từ trong vòng họ hàng bà con hay những con người cũ nay còn ở lại. Những vụ lường gạt, dối trá giữa anh em, bạn bè, mẹ con xẩy ra nhan nhãn.

Người ở hải ngoại thường nhận được những bức thư dối trá, sống sượng với mục đích làm tiền bà con, thân nhân, nêu những lý do đau ốm, làm nhà, mua xe, đi bệnh viện, tai nạn, vào đại học … Quan niệm đồng tiền là chủ đạo, cần tiền không cần tới nhân nghĩa đã khiến xã hội xô đẩy nhau trên con đường bon chen, đạp lên nhau mà sống, thể hiện trong những câu nói nhân gian vẫn được thiên hạ truyền miệng một cách thích thú là “Đồng tiền là Tiên, là Phật, là sức bật của lò xo, là thước đo lòng người, là tiếng cười tuổi trẻ, là sức khoẻ tuổi già, là cái đà của danh vọng, là cái lọng che thân, là cái cân công lý. Đồng tiền là hết ý!”

Có một quốc gia nào trên thế giới sinh ra được một câu đồng dao bất hủ như thế không? Khẩu hiệu “mình sống vì mọi người” trở thành một khẩu hiệu dối trá, xoen xoét ngoài miệng, không còn được chút ý nghĩa nào.

Cũng vì coi đồng tiền là tối thượng, nên người ta không còn coi trọng danh dự gia đình hay gốc gác. Ngày xưa, cái căn cước của mỗi cá nhân có ghi rõ tên mẹ cha, ra đường và ra đời, làm điều gì cũng ngó trước ngó sau, sợ tổn hại đến thanh danh cha mẹ, họ hàng, bởi vậy mới có câu “thương cha chớ chọc ăn mày”. Cũng vì sống trong xã hội coi đồng tiền là trọng, người ta sẵn sàng bán thân, bán con, bán vợ … là những xương thịt cụ thể, nói chi đến những danh từ trừu tượng, không sờ mó, đem ra ăn uống hay “deposit” vào nhà băng được như danh dự, trách nhiệm, lương tâm hay đạo đức …

Chúng ta vẫn tự hào là người hải ngoại có văn hóa, đạo đức hơn những người hiện đang sống dưới chế độ Cộng Sản. Được sống trong một xã hội văn minh, có pháp luật, tử tế, thật thà, nhưng đã có những người đã lợi dụng sự tử tế thật thà đó để mưu lợi riêng cho mình. Người nghèo ngụy biện, lấy lý do vì không đủ cơm ăn, áo mặc đành phải vác dao làm đạo tặc, ở hải ngoại có người khoa bảng, ở nhà hai triệu đồng, mua du thuyền, đi xe hơi thời thượng vẫn con gian lận y tế, làm giàu trên sự ngây thơ, ngu dốt của bệnh nhân, qua các kẽ hở của pháp luật; lớp dịch vụ hạng trung tập thói lường gạt khách hàng, vì sự tin cậy và mặc cảm ngôn ngữ nên phải nhờ cậy đến đồng hương. Người trong nước, hàng cán bộ cao cấp, mang sự tự tôn chiến thắng, điêu ngoa bóc lột dân lành đã đành, người hải ngoại, đáng lý ra phải mang mặc cảm lưu vong, bỏ nước, mang ơn tổ quốc cưu mang, thương yêu đùm bọc lấy nhau không hết, lại tìm cách bòn rút, gian lận, thâm lạm ngân sách y tế, lợi dụng sự ngây thơ, tin tưởng của bệnh nhân. Cán bộ trong nước được “xử lý nội bộ” hay vào tù, kẻ hải ngoại bị cảnh sát còng tay giữa đám đông, tủi nhục, xấu hổ cũng như nhau. Biết là chết chẳng mang theo được gì như vợ đẹp, con đỗ đạt, nhà cửa trên đồi dưới biển và cả cái trương mục ngân hàng kếch xù kia, ngoài cái “bia miệng” còn để lại. Thân xác đẹp đẽ, hồng hào, đeo kính gọng vàng, “complet-cà vạt” kia rồi cũng thối rữa dưới bia mộ, mà sao người ta vẫn còn mải miết, tham lam theo đồng tiền “vô đạo”một cách say mê, hăm hở như thế?”