This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Thời còn đi học, lang thang từ Nha Trang đến Sài Gòn, dù con nhà nghèo, học tàm tạm, và nhan sắc dưới trung bình, tôi cũng đã mang tiếng đào hoa. Cho nên có muốn kéo dài thêm cái đời học trò để được mơ mộng đủ thứ chuyện dưới biển trên trời thiên hạ cũng đâu có cho. Rồi có phải thuộc dòng hào kiệt gì đâu, tôi cũng xếp bút nghiên theo việc kiếm cung. Nói kiếm cung cho nó vẻ văn chương và lãng mạn, chứ thực ra tôi vào lính, mà lại là thứ lính hạng bét thì làm gì có kiếm với cung. Có phải lính tàu bay tàu thủy gì đâu, mà là lính đi bộ. Lúc băng rừng lội suối, mặc bộ đồ trận hôi hám cả tuần không tắm, tôi ghét cay ghét đắng cái ông nào là tác giả cái câu ” Bộ Binh là nữ hoàng của chiến trường ” mà tôi đã đọc được ngay từ khi mới vào quân trường, đếm bước một hai để hát bài “đường trường xa”.Khổ thì khổ vậy, chứ mấy cô gái bé bỏng hậu phương lại mê lính trong mấy bản nhạc của ông Nhật Trường. Vì “nếu em không là người yêu của lính, ai thương nhớ em chiều rừng hành quân, ai băng gió sương cho em đợi chờ, và giữa chốn muôn trùng ai viết tên em lên tay súng? .. “. Nhờ vậy trong mấy năm đóng quân dọc đường số 1, nơi nào tôi cũng để lại vài mối tình con. Tôi nghĩ đời lính như vậy mà vui, thì thôi chớ tính chuyện vợ con làm gì cho nó vướng chân vướng cẳng. Hơn nữa, tôi cũng hiên ngang với đám con gái lắm, nên làm gì có chuyện “chết trong mắt em”. Vậy rồi trời xuôi đất khiến thế nào, sau mấy năm đánh đấm ở Quãng Ðức, Ban Mê Thuột rồi Bình định, Phú Yên, đơn vị tôi được mấy cái tàu há mồm chở vào bỏ xuống bãi biển Nha Trang vào lúc đường phố mới lên đèn. Tôi thấy lòng lâng lâng sung sướng vì không khí yên bình của thành phố biển, mà cũng vì tưởng mình đã được trở về với những “hang động tuổi thơ” của ông Nguyễn Xuân Hoàng. Nào ngờ, khi còn mải mê với mộng mị, tôi bị đánh thức lúc nửa đêm cùng đơn vị leo lên một đoàn xe mấy chục chiếc để tiếp tục “hát khúc quân hành “. Ðoàn xe ra khỏi thành phố, qua Ty Thông Tin, ra quốc lộ 1, trực chỉ hướng bắc. Tôi lại mừng thầm, nghĩ là sẽ được về dưỡng quân ở Dục Mỹ. Nhưng tôi đã “ước tính tình hình” sai bét. Ðoàn xe dừng lại tại bùng binh, ngã ba Ninh Hòa. Một tiểu đoàn lính đổ xuống cái thị trấn còn đang say ngủ. Ðại đội tôi nhận lệnh vào đóng quân trong sân vận động. Sáng hôm sau tôi rủ mấy thằng bạn, quần áo chỉnh tề, ra phía trước ” thăm dân cho biết sự tình”.
Thấy một ngôi nhà mở cửa, bọn tôi bước vào làm quen. Chủ nhà là một cô gái nho nhỏ dễ thương, mời đón mấy thằng lính trời ơi đất hởi mà miệng vui cười, e thẹn nhìn tôi bằng cặp mắt nai tơ. Vậy mà thằng lính ngang tàng như tôi lại chết trong đôi mắt ấy. Bắt đầu từ một chuyện tình cờ như vậy đó, mà tôi trở thành chú rể của Ninh Hòa hơn một năm sau. Trường Trần Bình Trọng cũng vừa có một cô học trò bỏ trường, bỏ lớp, bỏ bạn bè và bỏ cả đội múa “Trăng Mường Luông “.
Bây giờ cứ mỗi lần đọc bài thơ của ông nhà thơ Quan Dương, người Ninh Hòa, là tôi nhìn thấy có tôi trong đó:
Nàng làm vợ lính đúng tám năm. Tám năm khốn khổ lo âu. Vì lúc nào cũng có thể trở thành góa phụ. Ðã vậy đứng ở Ninh Hòa lúc nào nàng cũng nhìn thấy hòn núi vọng phu sừng sững cuối chân trời! Nhưng rồi nàng không trở thành góa phụ mà lại trở thành tù phụ. Cơn sóng bất ngờ phủ xuống miền Nam, cuốn nàng theo cùng những người có chung số phận. Thân phận bọt bèo với một đàn con dại, cô học trò Trần Bình Trọng bé nhỏ ngày nào bây giờ phải một mình chống chọi với phong ba.
Riêng tôi, một thằng lính bất ngờ thua trận thì chuyện tù đày nào có than chi. Chỉ tội nghiệp cho “người tình bé nhỏ” ngày xưa. Tôi tự trách mình, giá mà ngày đó tôi đừng ra khỏi cái sân vận động, không gặp nàng, thì biết đâu nàng chẳng tìm lại một cố nhân nào đó – mà tôi thường nghe nàng nhắc đến với lòng ngưỡng mộ – bây gìờ đã là một ông quan hải quân, sẽ đưa nàng xuống tàu ra khơi đi tìm vùng đất hứa.
Rồi nàng bỗng dưng trở thành con cò lặn lội bờ sông của ông Trần Tế Xương, để nuôi đủ sáu con với một chồng – ông chồng gần tám năm biền biệt ở các trại tù Lào Cai, Yên Bái.
Tôi còn nhớ lúc ở trong tù, tôi may mắn nằm bên cạnh nhà thơ lớn Tô Thùy Yên. Tôi rất quý Anh vì Anh là một người tù có tư cách. Thấy tôi dốt nát mà cũng thích thơ văn, Anh làm tặng tôi một bài thơ khá dài và hay lắm. Nhưng lúc bị cai tù kiểm tra, tôi nhát gan nên bỏ cả bài thơ vào miệng nhai nát rồi nuốt vào cái dạ dày đang đói. Vì vậy tôi không còn nhớ hết mà chỉ thuộc lòng mấy câu viết về nàng:
“Tám năm rách áo bao nhiêu lượt. Em vá chồng lên những nỗi niềm. Từ thưở anh đi nhà tróc nóc. Con thơ đâu còn biết vui cười. Cô gái Ninh Hòa thương quá đỗi. Một mình chèo chống giữa phong ba.”
Ra khỏi trại tù, dường như tôi chỉ đem về cho nàng thêm những đắng cay. Với một người chồng còn mang đầy những vết thương cả trên thể xác lẫn tâm hồn, một đàn con thơ dại, giữa một xã hội chất chồng thù hận, nàng biết xoay sở làm sao? Cuối cùng, nàng phải cùng chồng con, đem sanh mạng đánh một canh bạc cuối cùng. Có lẽ ông trời không phụ lòng nàng. Chuyến đi vội vã, chuẩn bị chưa xong, rồi cũng đến được bến bờ. Trong lúc bao nhiêu người tìm cách tận hưởng hạnh phúc của một điều tưởng chừng may mắn nhất của con người, hoặc ít ra cũng ngơi nghỉ để hoàn hồn từ cõi chết, nàng lại tiếp tục làm kiếp con cò trong một vùng tuyết lạnh mênh mông, lo lắng cho con, để cho chồng học thêm vài chữ và vác ngà voi chạy đủ thứ chuyện bao đồng..
Bây giờ những đứa con đã trưởng thành. Nàng chiều chồng để cho mỗi đứa tự chọn quốc gia nào nó thích mà dung thân. Mỗi đứa một phương trời. Nàng lại là một hậu phương cho các con đi vào trận mới. Ngôi nhà trở nên trống vắng. Cuối cùng nàng cũng chỉ còn có tôi, ngưới lính thất trận năm nào đã mang đến cho nàng biết bao là hệ lụy. Dư âm cuồng nộ của những cơn giông bão năm nào dường như vẫn còn đâu đó trong giấc ngủ của riêng nàng.
Tuổi sắp già, mà tôi còn mang nhiều món nợ. Biết làm sao trả cho xong. Nợ núi sông, nợ máu xương bè bạn. Mà tôi thì cứ mãi là thằng lính hèn mọn, bạc tình . Và tôi còn nợ nàng, nợ Ninh Hòa. Mãnh đất hiền hòa đã cho tôi một người vợ chung tình, cùng tôi qua bao nhiêu cuộc biển dâu.
Ngày 14 tháng 7-1997 tại San Francisco, tiểu bang California, Joe Trimn, 29 tuổi đã bị giải tòa vì mang tội đánh chết con chó nhỏ (puppy) của người bạn gái. Y khai với cảnh sát là vì con chó tranh phần ăn của chú mèo cùng nhà, y tức giận đá con chó một phát. Con chó trở lại ngoạm y vào cánh tay, y nổi điên nện vào đầu con chó ba lần. Khi bạn gái của y trở về nhà, thấy con chó cưng nằm bất tỉnh, rên rỉ trên giường, cô đã cấp cứu bằng cách hô hấp nhân tạo “mouth-to-mouth” nhưng không có kết quả. Joe Trimn bỏ xác con chó nhỏ vào bao và đem vất vào thùng rác. Cô bạn gái của y gọi cảnh sát và y bị còng tay tống giam. Cảnh sát tìm ra y đã có tiền án và đối xử độc ác với thú vật. Y không chạy nổi số tiền “bail” lên đến $50,000 nên đành phải vào tù. Tại tòa án San Francisco sau đó, Trimn bị tòa kết án 5 năm tù vì tội đã giết con chó cưng của cô tình nhân. Đó là một trong trăm nghìn câu chuyện chó ở Mỹ. Trong đời sống Việt Nam ngày xưa, tuy con chó rất gần gũi, giúp đỡ, trung thành với con người nhưng luôn luôn bị khinh khi coi rẻ mạt. Danh từ “chó” là danh từ thấp nhất để cho con người chửi bới hay mạt sát … con người như “đồ chó”, “cẩu trệ”, “cẩu hợp”, “chó đẻ”, “cứt chó”, “chó chết”, “chó má”, “chó ghẻ” … Không ai hôn hít chó, ngủ chung với chó, gọi chó bằng “cưng”, bằng “honey”, mà còn nói mỉa mai “chọc chó, chó liếm mặt. Ngay cả chuyện dắt chó đi … ị cũng không có trong ngôn ngữ nhân gian, mặc đầu đây là chuyện bình thường trong đời sống Âu Mỹ, thuở nhỏ chúng ta chỉ nghe” à b c dắt dê đi … ị, a ă â dắt vợ đi chơi mà không nghe ai nói tới chuyện dắt chó. Chó bị khinh rẻ vì chó hay ăn bậy, nhưng người ta lại thích ăn chó vì “sống dương gian không ăn miếng dồi chó, chết về âm phủ biết có hay không? Sống ở Mỹ rồi mới biết không gì quí hơn … chó mèo. Ông Đại Sứ Martin ngày 30 tháng 4-75 di tản khỏi Saigon không quên ôm con chó nhỏ theo, ngay cả trong lúc tình hình Iraq nát như tương, sáng nay (3/8/05) trên TV tôi vừa thấy Tổng Thống Bush, ôm con chó đen bước xuống trực thăng. Chỉ tội là trong bộ nhớ của tôi, không có chỗ nào ghi lại được tên con chó “cưng” của hai vị này, nên phải đành cáo lỗi.
Người ta thương quý chó mèo hơn cả con cái, vì con cái bỏ bê không ngó ngàng đến, trong khi con chó, con mèo thì quanh quẩn bên mình, nên chó mèo được hưởng gia tài một hai triệu bạc là chuyện vẫn thường xẩy ra. Con người có gì thì chó có nấy, từ nhà thương, bác sĩ, thuốc men, thức ăn cho tới tắm gội, tỉa lông, cắt móng. Con người có “nhân phẩm”, thì chó mèo cũng có “miêu, cẩu phẩm”, không ai có quyền đánh đập, bạc đãi hoặc vô cớ giết chóc chó mèo. Chó mèo có pháp luật bảo vệ hẳn hoi, đụng vào là tù mọt gông.
Hiện nay hầu hết các tiểu bang tại Hoa kỳ đều có những đạo luật xử phạt, những đạo luật dành cho việc đối xử độc ác với thú vật có thể dẫn đến việc phạt tiền hay phạt tù những người vi phạm. Nhân viên điều tra việc đối xử độc ác với súc vật cho rằng vi phạm này thường liên quan tới việc hành hạ trẻ em (hầu hết những kẻ giết người hằng loạt đều là những người độc ác với súc vật). Ví dụ như theo “Texas Penal Code #420”, thiếu các bổn phận sau đây đối với súc vật nuôi trong nhà có thể dẫn tới việc cảnh sát còng tay: không cho ăn, không cho uống, không cho chỗ ở, không săn sóc đàng hoàng (reasonnable care). Chỉ cần thiếu một trong bốn bổn phận trên đây một cách cố ý thôi, hoặc là hành hạ, bỏ bê, giết, làm bị thương, đầu độc, săn đuổi, đánh đập hoặc lấy cớ huấn luyện để đánh đập, người vi phạm có thể bị bỏ tù một năm và số tiền phạt có thể lên tới $40.000,00. Ngoài ra những ai can thiệp hoặc dấu nhẹm các chứng cớ hành hạ súc vật sẽ bị kết án phạm trọng tội cấp ba, chịu từ 5 đến 10 năm tù. “The Humane Society of the United States” là một cơ quan bảo vệ súc vật lớn nhất nước Mỹ, gồm có 9 triệu hội viên, đã ghi nhận trong năm 2003, trên toàn quốc có 1373 trường hợp độc ác với súc vật đã bị đưa ra tòa án. Tuy người ta nói rằng, ở Mỹ, “nhất đàn bà, nhì chó mèo, ba mới tới đàn ông”, nhưng con số về các trường hợp hành hung súc vật quá nhỏ, nếu so với con số đàn ông “thượng cẳng tay, hạ cẳng chân” với đàn bà, vì thật sự người ta không nỡ tàn bạo với chó mèo hơn các “cục cưng” khác.
Ngày 9 tháng 7-2005 tại Belle Tire, tiểu bang Michigan, người ta đã treo giải $1,000 cho ai tìm ra để bắt thủ phạm đã vứt xác một con chó con vào thùng rác và sơn đỏ một con mèo cho tới chết. Tên tuổi người cho tin sẽ được dấu kín và xin quí vị vui lòng gọi số điện thoại (313) 943-2697 bất luận ngày đêm.
Tại Seattle, tiểu bang Washington, vào tháng 5 năm 2005 mới đây, tòa án đã kết án ông Wallace Gray một năm tù và ba tháng quản thúc tại gia và bồi thường cho bà giáo về hưu Paulo Roemer, 71 tuổi số tiền $35,000 vì đã tàn nhẫn, độc ác với một con mèo. Ông không tự tay đánh chết con vật nào, nhưng đã để con chó của ông cắn con mèo 12 năm tuổi của bà giáo cho tới chết, trong khi ông có mặt ở đó mà không can thiệp. Luật sư của bà này đã trình trước toà án rằng, từ khi con mèo đen trắng yêu quí của bà Roemer bị chết, bà đã mất ngủ, khủng hoảng và mang bệnh trầm uất. Tòa đã phán bà được bồi thường $20,000.00 cho cái chết của con mèo và $15,000.00 cho việc tổn thương tâm lý của bà.
Tại Flintville, Tennessee, ông Dennis Ray Price, 34 tuổi đã bị bỏ tù 9 tháng vì bỏ đói, bỏ lạnh và xích con chó của ông trong vườn cho tới chết. Con chó này khi được đem tới phòng mạch bác sĩ thú ý đã trơ xương, sụt ký và không kịp cứu cấp vì đã trễ! Ngày 2 tháng 7-2005 tại Pomona, California, ông Williams Dale Costner, cư dân thành phố Clairemont đã bị cảnh sát bắt giam vì đã giết con chó của ông bằng lưỡi rìu. Ông phải đóng tiền bail $20.000 để được tại ngoại. Ngày 20 tháng 7-2005, ông bị kết án một năm tù ở và ba tháng quản thúc tại gia dưới sự kiểm soát của Ủy Ban Bảo Vệ Súc Vật. Ngay như chuyện “chó chết”, ở tiểu bang Florida, thương một con chó tên Heidi mà chủ nó lượm được ngoài đường rất có nghĩa, bị bệnh qua đời, người ta đã lập một cái quỹ mang tên “Heidi’s Legacy” để cứu giúp những con chó kém may mắn bị bỏ rơi khác.
Thân phận con chó ở Mỹ có được như ngày nay không phải đương nhiên mà có. Cũng như tự do của con người, những ưu đãi trong xã hội Mỹ dành cho chó mèo không ai cho không. Được vậy là nhờ sự đấu tranh bền bỉ của các tổ chức, tư nhân, hội đoàn … đã làm áp lực với xã hội, tòa án để trừng phạt những người ác độc với thú vật. Ở Mỹ này, bạn thử đánh hay giết một con chó ngoài đường, lấy ví dụ ngay trên đường Bolsa ở Little Saigon đi, coi người ta có gọi cảnh sát còng tay bạn lại không? Vậy mà tôi biết tại Quận Cam, sáu tháng nay có một người mẹ có con trai bị chết thảm khốc khi bị một xe cảnh sát đuổi theo, đè chết dí vào gốc cây. Bà đã sống để chờ đợi công lý phán xét, nhưng đến nay người ta cho bà biết, người cảnh sát cán chết con bà không vi phạm một luật lệ nào của tiểu bang và đương nhiên được coi như vô tội.
Tôi không có ý định so sánh mạng người với con mèo hay con chó, nhưng tôi biết nổi đau đớn của một người mẹ mất con không có gì có thể so sánh nỗi. Chúng ta may mắn sống trong một đất nước có pháp luật như ở Mỹ, nhưng nếu chúng ta không biết vận dụng các định chế pháp luật, tranh đấu bảo vệ cho quyền lợi của chúng ta, thì Bùi Tấn Hoàng sẽ không phải là một trường hợp duy nhất và thương tâm cuối cùng xẩy ra.
Tôi lại đem lòng ganh ghét với lũ chó ở Mỹ, ôi chúng nó sung sướng làm sao, chẳng bao giờ người ta thấy những con chó ở Mỹ lang thang đi bươi đống rác kiếm ăn, như những đứa cháu tôi ở quê nhà.
Trong số nhạc sĩ tôi quen biết, điều có thể khẳng định ngay rằng Nhật Bằng là một nhạc sĩ tài hoa nhưng không hề “bay bướm”. Anh có dáng người nhỏ nhắn, đẹp trai kiểu thư sinh, ăn nói nhỏ nhẹ và luôn tỏ ra hòa nhã trong mọi cách giao thiệp. Thấy anh, người ta cứ nghĩ là một sinh viên hơn là một nghệ sĩ.
Cuộc sống của anh gắn bó với gia đình, xa lánh những chỗ ăn chơi chỉ trừ một thứ duy nhất anh thích là mạt chược, nhưng là thứ mạt chược “còm”, phải nói là “rất còm” mới đúng. Ðó là thú vui của gia đình anh. Cả nhà anh hợp lại đã thành một bàn mạt chược, đôi khi có thể thừa chân và gồm toàn “danh thủ” chứ không phải loại lơ mơ. Cái thú vui ấy hoàn toàn là một thú vui gia đình.
Những cái tên lớn trong một căn nhà nhỏ
Tôi biết anh từ khi về làm ở Sài Gòn năm 1957, khi anh phục vụ ở Ðài Phát Thanh Quân Ðội hồi đó còn là một căn nhà nhỏ nằm ở mặt tiền đường Hồng Thập Tự, ra vô tự do, không một người lính gác. Trưởng đài hồi đó là Vũ Quang Ninh, và Vũ Ðức Vinh tức nhà văn Huy Quang làm phó kiêm trưởng ban biên tập. Ban nhạc thì gồm toàn nhạc sĩ, ca sĩ thượng thặng từ Ðệ Tam Quân Khu ngoài Hà Nội chuyển vào Nam. Các anh Canh Thân, Ðan Thọ, Anh Ngọc, Ngọc Bích, Văn Phụng, Xuân Tiên, Xuân Lôi, Vũ Huyến… đều có mặt trong căn nhà nhỏ bé này.
Đó là những nghệ sĩ được đồng hóa vào quân đội theo khả năng và như thế dĩ nhiên không phải “động viên” vào lính ra chiến đấu ngoài chiến trường.
Các anh ấy đều hơn tôi vài ba tuổi.
Tôi làm ở Phòng Báo chí quân đội nên việc liên hệ với Đài phát thanh là chuyện hàng ngày. Bởi Đài Quân Đội hồi đó chưa có phóng viên, nhất là phóng viên chiến trường nên phóng viên báo chí có bài tường thuật nào cũng cung cấp cho Đài Quân Đội.
Chính tôi hồi đó, thỉnh thoảng cũng đi làm phóng sự và đọc trực tiếp cho Đài Quân Đội thu thanh. Dù khác nhau về công việc, cấp bậc, tuổi đời, nhưng chúng tôi coi nhau như anh em bạn bè và riêng tôi vẫn giữ sự kính trọng đặc biệt với những bạn này.
Nhật Bằng và tôi hồi đó đều chưa lập gia đình, nhưng chưa hề đi chơi chung. Chừng hơn một năm sau anh mới lập gia đình với chị Tường Huệ, lúc đó cũng là một nhân viên khả ái của Đài Quân Ðội. Anh chị có cuộc sống đầm ấm, khép kín trong một gia đình nền nếp của những công chức cấp cao khi còn các Ðốc Phủ Sứ, ông Tham, ông Phán.
Người nghệ sĩ không làm công việc chuyên môn của mình
Đến năm 1969, khi tôi về làm việc tại Ðài Quân Đội, lúc đó chúng tôi mới có dịp gần nhau hơn. Khi ấy những Canh Thân, Văn Phụng, Anh Ngọc… đều đã giải ngũ trở về với cuộc sống dân sự, nhưng Nhật Bằng vẫn ở lại. Có một điều lạ là Nhật Bằng tuy là một nhạc sĩ kiêm ca sĩ và chơi được nhiều nhạc cụ rất điêu luyện nhưng không làm ở ban nhạc của Đài mà lại làm ở ban thông tin. Anh là biên tập viên thường trực, chuyên cung cấp tin tức thời sự và chiến trường hàng ngày cho Đài. Các bản tin thường lấy ở Việt Tấn Xã và cơ quan quân sự từ các sư đoàn và Tổng Tham Mưu gửi đến.
Thấy điều này có vẻ “phí phạm nhân tài” nên có lần tôi gặp anh, đề nghị chuyển anh trở lại ban nhạc cho đúng chỗ. Nhưng anh từ chối, với một vẻ rất hiền lành.
Anh cho biết là có những phức tạp ở ban nhạc mà anh không muốn liên quan. Tôi nghĩ có lẽ trong một ban nhạc gồm nhiều nhân tài quá, rất có thể có những va chạm mà tôi chưa biết hết. Giả dụ như sự phân công, người làm trưởng ban chỉ huy dàn nhạc, người phụ trách hòa âm, người chỉ có nhiệm vụ đệm đàn cho ca sĩ hát… nếu so về khả năng chuyên môn, có thể người này hơn người kia, nhưng cấp bậc trong quân đội và những điều tế nhị lại là vấn đề khác hẳn. Ðiều này sau một thời gian tôi mới thấy rõ, tuy nó không trầm trọng nhưng cũng là một “ẩn khúc” mà anh Nhật Bằng muốn tránh. Biết tính cách của Nhật Bằng nên chúng tôi không đề cập đến vấn đề này nữa.
Suốt những năm tháng làm việc bên nhau, Nhật Bằng lặng lẽ lo công việc “không chuyên môn.” Anh làm hết nhiệm vụ, tròn trịa như một công chức gương mẫu, không chú ý tới bất cứ chuyện gì khác.
Sau một ngày làm việc cho Ðài, anh có cuộc sống riêng với các ban nhạc, các tổ chức văn nghệ, sân khấu ca nhạc, phòng trà mà anh cộng tác. Anh không hút thuốc, không uống rượu, khi lái chiếc xe hơi cũ, khi đi xe gắn máy đến nơi làm việc. Trong bộ đồ “nhà binh” rất gọn gàng, tươm tất, Nhật Bằng vẫn cứ là một thư sinh ngồi ngay ở bàn điện thoại của ban thông tin thời sự ngay căn phòng trực của Đài.
Những đêm trăm phần trăm
Những ngày “dầu sôi lửa bỏng” như biến cố Mậu Thân, những lần đảo chính thật đảo chính hụt, Nhật Bằng cũng chung lo công việc như tất cả anh em khác. Anh làm hết sức cho công việc.
Vào thời kỳ chiến tranh leo thang những năm sau này, cấm trại 100%, tối nào chúng tôi cũng có dịp gặp nhau trong Đài. Những hôm yên tĩnh thì bày bàn mạt chược trong một phòng nào đó cho anh em chơi chung. Như thế vừa đông đủ, vừa vui vẻ, không anh nào “nhớ vợ”, không anh nào “chuồn” trong đêm cấm trại. Một tháng 30 ngày mà ngày nào cũng cấm trại 100% thì khá mệt nên phải có trò gì cho vui. Nhất là những anh em có việc làm thêm ở các phòng trà, dancing, thì đời sống có nhiều trở ngại. Lương quân đội, hầu hết là cấp bậc nhỏ làm sao nuôi nổi gia đình giữa thành phố. Thông cảm với những khó khăn đó, tôi hết sức vận động cho các nhạc sĩ và ca sĩ được phép đi làm đến giờ giới nghiêm mới trình diện ở Ðài.
Rất may đề nghị này được ông Cao Tiêu, có thời làm chánh văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng, ủng hộ nên được chấp thuận. Thế là danh chính ngôn thuận, cứ hàng đêm, anh em ca nhạc sĩ có giấy phép được “hành nghề” ở ngoài trong một giới hạn thời gian cho phép. Lúc sau này thường là từ 20 giờ đến 24 giờ đêm. Cuộc sống như thế vất vả lắm, hết lo việc của Đài đến lo việc của gia đình, anh nào cũng phờ râu. Dù vậy so với các anh em ở ngoài chiến trường thì chưa thấm vào đâu. Quan niệm như thế nên mọi người đều làm hết sức mình.
Ðôi khi tôi được Nhật Bằng giúp đỡ về phạm vi chuyên môn, bởi anh là người có nhiều kinh nghiệm về lãnh vực ca nhạc và phát thanh. Thí dụ một bản nhạc có tính “chiến dịch” phải làm sao cho hay hơn, cho sôi động và dễ dàng phổ biến trong “quần chúng”. Anh vui vẻ giúp ý kiến nhưng không bao giờ trực tiếp nhúng tay vào. Anh luôn là người mẫu mực, không bon chen, không màng tới bất cứ thứ quyền lợi nào bên mình.
Tấm lòng của gia đình người bạn
Sáng ngày 30-4-1975 khi các chiếc xe tăng bò qua cầu Thị Nghè, ầm ầm chạy qua cổng Ðài Quân Đội là lúc tôi rời khỏi Đài. Có lẽ Nhật Bằng cũng rời khỏi Ðài vào thời gian đó. Bởi khi Trung Tâm Phát Tuyến Quán Tre đã bị chiếm, làn sóng điện của chúng tôi không lên ăng-ten được, có nghĩa là Ðài không thể phát thanh được nữa, tôi còn thấy Nhật Bằng và một số anh em cùng đứng ngẩn ngơ ngoài sân. Dù sao anh và tôi cũng là những người làm việc cho đến phút chót và rời Đài sau cùng. Vài hôm sau, Nhật Bằng đến nhà tôi chỉ với mục đích là “xem tình hình ra sao”.
Giữa không khí chộn rộn đó chưa biết chuyện gì sẽ xảy ra, chưa biết ai đi ai ở, ai còn ai mất, ai lo tính cái gì cho những ngày sắp tới. Cũng như Mai Thảo, Phạm Ðình Chương xuống nhà tôi, không để làm gì, chỉ để nhìn thấy nhau và rồi có hôm lại đâm lì, ngồi ăn uống với nhau, lần nào cũng cứ như lần chót. Rồi ít lâu sau có nhiều anh em nghĩ đến tìm đường “vượt biên”. Mai Thảo, Hoài Bắc cũng nhắc chuyện đó nhưng Nhật Bằng thì không. Tôi hiểu anh gắn bó với gia đình nên không tính đường ra đi một mình, nếu có thì anh phải đi cùng vợ con anh mà chuyện này lại quá khó khăn.
Sau đó chúng tôi không gặp nhau nữa vì mỗi người đã ở một trại “cải tạo” khác. Anh về trước tôi sáu năm. Khi tôi về năm 1987, nghe tin gia đình anh vẫn ở chỗ cũ. Tôi chưa kịp đến thì anh lần mò đến căn nhà tối tăm ở giữa khu chợ Bàn Cờ thăm tôi trước. Anh lại tổ chức đánh mạt chược còm ở nhà và mời tôi xuống chơi.
Có lẽ mạt chược ở nhà anh là thứ “còm” nhất Sài Gòn.
Hầu hết anh em đi “học tập” về, anh nào cũng rách như tổ đỉa trong khi gia đình anh cũng chẳng làm ăn gì. Thế nhưng trưa nào anh cũng bắt chúng tôi ở lại ăn cơm với gia đình anh. Phải nói thẳng thắn rằng, lúc đó mời một vài người bạn ở lại ăn cơm, dù là bữa cơm bình thường đơn giản cũng là một điều cần phải tính toán.
Hồi đó có Duy Trác, Thái Thủy, và đôi lần cụ Hà Thượng Nhân, Phan Lạc Phúc cũng tới chơi. Cụ Hà rất thẳng thắn, cứ “cơm nắm muối vừng” hoặc cái bánh, nắm xôi mang theo chứ không chịu làm phiền gia đình Nhật Bằng. Nhưng cả nhà anh chị lại rất hiếu khách, rất tha thiết với bạn bè. Thỉnh thoảng tôi mang theo vài gói cà phê, anh chị cũng không bằng lòng. Tôi hiểu thấm thía được cái tình thương yêu anh chị dành riêng cho tôi cùng những bạn thân khác. Ít năm sau, anh chị đi định cư ở Mỹ, tôi lại “bơ vơ” ở Sài Gòn, thỉnh thoảng có dịp ghé ngang khu Chí Hòa sao mà nhớ đến thế, nhớ cây mít đầu nhà anh có năm chỉ ra được đúng một trái, anh chị cũng để phần cho tôi. Trái mít thơm và ngọt lạ lùng, có lẽ nó đã sống cùng gia đình anh từ ngày “di cư” 1954 cho đến những ngày tháng đó.
Dường như anh Nhật Bằng chịu khó trở lại thăm quê hương bởi một lẽ giản dị anh còn người con trai lớn sống ở Sài Gòn không đi cùng gia đình được vì lúc đó cháu đã có gia đình và có một đứa con kháu khỉnh. “Ông bà nội” nhớ cháu thì phải mò về là chuyện đương nhiên.
Lần gặp sau cùng
Từ trái: Văn Quang, Nhật Bằng.
Lần sau, Nhật Bằng cũng lại đến thăm tôi khi tôi đã về ở chung cư Nguyễn Thiện Thuật. Anh vẫn vậy, không già đi bao nhiêu, bản tính cứ hiền lành ít nói như chẳng có chuyện gì xảy ra, chẳng có chuyện gì đáng nói ở Mỹ. Lần gặp nhau sau cùng là lần anh đến nhà tôi ăn món “nhà quê Bắc Kỳ” nhưng anh còn vài chỗ mời nên chỉ ngồi được gần một tiếng đã phải ra đi “đám” khác.
Ngày 7-5-2004, khi tôi vừa vĩnh biệt Phi Thoàn thì lại nghe tin anh đã từ trần lúc 8 giờ sáng ngày 8 tháng 5, giờ Việt Nam. Thật ra hôm trước tôi đã nhận được email của Thái Thủy báo tin anh Nhật Bằng phải đưa đi cấp cứu, nhưng khó có hy vọng qua khỏi.
Tôi điện thoại sang Virginia hỏi thăm, chỉ gặp anh Hoàng Hải Thủy và Hoàng Song Liêm, hai anh xác nhận là Nhật Bằng vẫn còn nằm trong bệnh viện. Nhưng nay thì đã có tin anh ra đi rồi. Tôi điện thoại cho Nhật Hào, con trai lớn của anh đang sống ở Sài Gòn cùng với vợ con và cũng là một ca sĩ có hạng của thành phố Sài Gòn bây giờ. Nhật Hào xác nhận và tỏ ý muốn được đi Mỹ dự đám tang của bố. Nhưng rất tiếc là gặp đúng ngày Thứ Bảy và Chủ Nhật, tòa lãnh sự Mỹ ở Sài Gòn không làm việc. Thế nên mọi việc phải đợi đến ngày Thứ Hai 10-5 mới biết kết quả chắc chắn.
Cho đến khi viết bài này, tôi chưa biết Nhật Hào có kịp đến nhìn mặt bố lần cuối và đưa bố đến nơi an nghỉ cuối cùng hay không. Tôi mong rằng cháu sẽ đi được dù không kịp đám tang cũng là dịp cho gia đình anh Nhật Bằng đoàn tụ. Tôi điện thoại thông báo tin này cho một số bạn bè ở Sài Gòn, người nào cũng giật mình thương tiếc một người bạn chân thật hiền hậu, không ngờ anh ra đi nhanh thế. Nhạc sĩ Lê Hoàng Long thì la lên: “Trời sao thế, nó là phù rể trong đám cưới của tao đấy”.
Rồi anh lặng đi một lát mới nói được: “Có email thì cho tao gửi lời chia buồn cùng gia đình, chứ tao biết làm gì hơn bây giờ. Anh em… thế là xa nhau mãi”.
Ðó cũng là lời tôi chuyển đến gia đình Nhật Bằng của những anh em bạn bè của anh còn ở lại Sài Gòn. Anh còn nhiều bạn lắm và tất cả đều thương tiếc anh.
Rai lai báo chí có chạy tin là: nhân viên hãng xưởng của Nhựt Bổn nhảy lầu tự tử vì áp lực của công việc đã quá sức chịu đựng. Quốc hội Nam Hàn nghe vậy chắc cũng sốt vó, lo cho con dân của mình nên vừa thông qua một dự luật cắt giờ làm việc từ 68 tiếng một tuần xuống còn 52 tiếng.
Vì theo thống kê, tính sa cạ, cho biết mấy Củ sâm Cao Ly nầy cày tối tăm mặt mũi, cực đứng hàng thứ ba trên thế giới, chỉ sau Mexico và Costa Rica.
Chính vì làm chết bỏ, làm bất cần thân thể như vậy nên sau Thế Chiến Thứ Hai, Nam Hàn tăng trưởng về kinh tế rất đáng kể và đáng nể.
Đánh đổi cái tăng trưởng thần kỳ nầy, Nam Hàn đã trả một cái giá không hề nhỏ.
Làm việc nhiều mà chưa chắc chết ngay bây giờ; nhưng cũng sẽ chết chắc vì đủ thứ loại bịnh như tim mạch, cao máu vì căng thẳng thần kinh.
Phụ nữ Nam Hàn từ bỏ cái truyền thống khuê môn bất xuất để lăn xả vào đời, chịu chết vì chi phiếu trả lương “Dying for a Paycheck”.
Phụ nữ Đại Hàn giờ đây lập gia đình trễ. Lấy chồng không chịu đẻ nhiều như gà nữa. Bình quân chỉ có 1.2 con. Sinh suất thuộc hàng thấp nhứt trên thế giới. Hậu quả là dân số sẽ già nua hơn, trong tương lai số người trong tuổi lao động sẽ ít đi hậu quả tất nhiên đưa tới những bất ổn về xã hội.
***
Mấy thằng Úc đọc tin nầy, nó cười khè khè nói: “Sống là lè phè. Làm để sống; chớ sống đâu phải để đi làm! Sống vừa làm vừa chơi! Làm vừa đủ xài. trả ‘biu bộng’ là được. Cày là phải để dành thời giờ đi ăn nhậu với bạn bè. Rồi ‘trả bài’ cho con vợ nữa chớ.
Cày hoài, bỏ nhà riết, thì một hôm đi làm về sẽ nhận được bức tuyệt tình ca của em gài trên cánh cửa trong khi bếp lửa chiều hôm đã tắt rồi vì em đã bỏ nhà, tiếu ngạo giang hồ theo thằng khác. Lúc đó có hối cũng không còn kịp nữa. Vì đời đâu phải em lúc nào cũng cần ăn mà còn cần cái ‘khác’ nữa! Mà ‘cái khác’ cần cũng không thua kém gì ‘ăn’. Thiếu là bức rức lắm, ngủ không có được hè!”
Nhân sinh quan của Úc như vậy là đúng ngay chóc với bà con mình!
Nhớ lại Miền Tây quê mình được thiên nhiên ưu đãi, mưa thuận gió hòa, đất đai phì nhiêu nhờ nước phù sa sông Cửu Long bồi lấp nên bà con mình xưa sống rất lè phè! Làm ruộng, lúa mùa 6 tháng mưa; sáu tháng nắng nghỉ nhậu cho nó phẻ! Không có vụ ăn bữa sáng chạy lo bữa chiều bao giờ cho đến khi trời sập vào tháng Tư năm 1975. CS chiếm được chánh quyền, bọn quan lại ăn không chừa một thứ gì làm bà con mình mới bị lâm vào vòng đói khổ đến mức phải bỏ nước ra đi.
Người kẹt lại phải bán vợ, đợ con cho cái bọn Chệt Đài Loan hay bọn Củ Sâm Cao Ly. Làm quan cai trị để dân đến nông nỗi nầy thì thiệt là nhục!
Còn bà con mình may mắn hơn, chạy thoát được chế độ CS, tới đảo, mười người là hết chín đều muốn đi Mỹ định cư; vì nước Úc ngày ấy có ai biết mặt mũi nó tròn méo ra làm sao? Rồi một số bà con ở đảo lâu nhưng không thấy Mỹ kêu réo gì hết ráo, sợ mục đảo, nên liều mạng đến Úc thử xem sao?
Đúng là hay không bằng hên! Đến đây thì ở lại đây; bao giờ bén rễ xanh cây cũng hổng thèm về nếu còn ‘Vi Xi’! Vì đến đây như cá gặp nước, (mặc sức lội); rồng gặp mây (mặc sức bay).
Mới tới, vô nhà tạm trú ‘hostel’ tạm 1, 2 tháng, chờ mướn nhà bên ngoài dọn ra, là ‘Social Security’, Sở An sinh Xã hội, ứng trước cho một mớ xài chơi… rồi từ từ mình tính.
Hồi nhỏ tới lớn, chưa thấy ai cho cắc bạc nào, trên răng dưới dép, lẹp bẹp tới đây, được móc xỉa cho xài, hỏi sao hỏng khoái nè Trời!
Bèn thư qua đảo nói: “Đi Úc đi sướng lắm!”. Và bà con mình ùn ùn kéo tới!
Bây giờ con số người Úc gốc ‘Mít’ đã tăng lên tới hơn 200 ngàn rồi đó! Ra đường, dạo tới dạo lui, đi lên đi xuống, may mà có em đời còn dễ thương, cứ 1000 người Úc mình gặp được tới 10 người Việt!
Úc đủ loại chủng tộc trắng, đen, vàng, đỏ sống chung đụng với nhau. Đôi khi cũng có cự nự qua lại, do cái bọn chánh trị gia ‘láu cá’ đem vấn đề chủng tộc ra mà câu phiếu… Nhưng không có đến nỗi hở ra là kêu lính bắt vì da chú mầy đen quá như em nhân viên quán cà phê Starbucks bên Hoa Kỳ.
Vì người Úc nói chung vốn là dân ‘Outlaw’, coi pháp luật không ra ‘cà ram’ nào, khoái nghĩa khí giang hồ, coi ai cũng vậy, tụi mình bị áp bức, khổ quá mới giạt đến đây thì ăn hiếp nhau chi?
Phần lãnh thổ mênh mông gần 8 triệu cây số vuông, trải tới 3 múi giờ, tài nguyên quặng mỏ nằm ngủ yên dưới đất nhiều vô thiên lủng bấy nay, dân chỉ hơn 23 triệu một chút, hết tiền, đào đất lên bán cho Tàu cộng lấy tiền, chia đứa một mớ sống cầm hơi để chờ kinh tế qua cơn suy trầm cũng được mà; có chết đói đâu; nên giành ăn làm chi cho chúng nó khi.
***
Chính vì sướng lè phè như vậy nên Úc chế ra câu chuyện là: “Ông Trời đã tao ra nước Úc như thế nào?
Ngày đầu tiên, tạo thiên lập địa, Ộng Trời lấy đất sét nặn một đứa con thân yêu của người tên là ‘Aussie’ (Úc).
Ngày thứ hai, Người tạo ra ngày và đêm. Đêm để đi câu tôm về nhậu! Ngày có mặt trời, để Aussie chơi bóng bầu dục kiểu Úc gọi là: ‘Footy’. Chơi đồ mồ hôi, đi trượt sóng cho mát, đói bụng, leo lên ăn thịt nướng.
Rồi Người tạo ra đất để ‘Aussie’ trồng cây thuốc lá, vấn hút chơi, rừng cho củi để nướng thịt, men để làm ra beer.
Sau bảy ngày, mấy chú ‘Aussie’ nầy chỉ biết ăn rồi nhậu mà không ai dọn dẹp rửa chén, chùi lò gì hết ráo nên Ông Trời bèn tạo ra em Sheilas để dọn dẹp rửa chén, chùi lò, ẵm con, dỗ ngủ xong… bèn chiều chồng một tí!”
(Ông thần nào vẽ ra cái chuyện nầy thiệt là phi thực tế. Nói cho sướng miệng thôi chớ sự thực là mấy chú em ‘Aussie’ nầy phải sống một đời nô lệ, rửa chén, giặt đồ, bồng con mệt nghỉ trong khi con vợ nằm chình ình ở ghế sa lông, xem ti vi…
Bởi vì cũng theo thống kê, số đàn ông Úc nhiều hơn đàn bà. Mà theo quy luật cung cầu cái gì thiếu, ít là nó lên giá hè. Do đó làm đàn ông xứ Úc nầy đây so với đàn bà Úc không có ‘cà ram’ nào hết. Mấy thằng bạn nhậu của tui bị vợ bỏ hà rầm hè… Chắc mai mốt chắc sẽ tới phiên tui!)
***
Còn mấy em gái Úc đi cày cũng được đối xử ưu tiên hơn mấy anh ‘Aussie’. Đứa nào làm ‘boss’, ‘dê sảng’ nên mấy em không chịu, lại ỷ vào thế lực làm ẩu, bốc hốt bậy bạ như những quan lại CS trong nước, thì chịu khó vô hộp!
Thừa thắng xông lên, mấy em lợi dụng cái nữ quyền, cái thân liễu yếu đào tơ của mình một cách rất thông mình! Và anh ‘Aussie’ (láu cá vặt) rình rình ‘ăn theo’ em như vậy nè:
Một em công nhân nói “Em có thể khiến thằng cha quản lý cho em nghỉ làm bữa nay?” “Bằng cách nào vậy cưng?” “Coi nè!” Xong em chổng ngược chân lên trần nhà!
Boss bước vào hỏi: “Nè em gái đang làm gì vậy?” “Em làm cái bóng đèn!”
Boss nói: “Em làm việc nhiều quá nên đâm khùng rồi. Thôi ‘qua’ cho em nghỉ làm một ngày!” Nghe vậy anh ‘Aussie’ đồng nghiệp dợm bước theo em. Boss chặn lại: “Nè anh kia đi đâu đó?” “Tui đi về nhà; vì tui đâu có thể làm việc trong bóng tối!”.
***
Úc cu li, cà chớn bị đuổi việc bữa nay là mai có công ty khác nhận cho nó vô làm liền hè. Chỉ cần thấy cái đơn xin việc ‘John Smith’ là nó thích. Còn ‘Teo Nguyen’ tức Nguyễn văn Tèo chắc còn hơi lâu lâu; đối đế quá hỏng kiếm được ai mới tới phiên mình.
Tuy nhiên thấy Úc cà chớn làm vậy, mình đừng có xớn xác bắt chước theo nhe! Lợi bất cập hại! Bởi có chuyện vầy: “Trưởng phòng Kinh doanh, Trưởng phòng Nhân viên và Tổng Giám đốc điều hành công ty cùng đi ăn trưa. Quẹo qua con hẻm, tình cờ cả ba thấy một cái đèn có vẻ cổ xưa.
Trưởng phòng Kinh doanh nhặt lên, chùi xem nó có phải bằng vàng hay bạc? Thì bất ngờ có ông thần đèn từ trong đám khói hiện ra.
“Ta bị lời nguyền, nhốt trong chiếc đèn nầy gần 3000 năm. Bữa nay được các người giải thoát. Để tạ ơn, ta cho mỗi đứa một điều ước.”
Em Trưởng phòng Kinh doanh ước: “Trên bãi biển tuyệt đẹp Jamaica, một chiếc thuyền buồm, có kép đẹp như Alain Delon hồi còn trẻ. Tài khoản ngân hàng đủ để sống suốt cả đời mà không phải làm gì hết ráo!”
“Được!” Sau câu nói của Thần đèn, em Trưởng phòng Kinh doanh biến mất.
Anh Trưởng phòng Nhân viên: “Tôi muốn có một con vợ đẹp cỡ Nicole Kidman, thuở chưa có chồng. Tôi muốn sở hữu 3 tòa lâu đài ở ba nơi: New York, Paris và Hong Kong.” “Được” Sau câu nói của Thần đèn, anh Trưởng phòng Nhân viên biến mất.
“Còn ông Tổng Giám đốc công ty thì ước cái gì hè?” Thần đèn hỏi.
“Tui muốn hai đứa ‘ngu’ đó trở lại văn phòng làm việc lúc 2 giờ chiều nay!”
Bài học rút ra là bất cứ chuyện gì cũng phải nhường cho thằng ‘boss’ nói trước.
Nó nói gì cũng được… hơi sức đâu mình nghe!
Úc cu li, cày chừng 5 năm là nó lên đốc công, chỉ tay năm ngón, sai mình làm;
nhưng xạo sự là: “Mấy bồ đừng coi tui là ‘boss’ mà là bạn nhưng một người bạn có quyền ‘đá đít’ bồ!”
Chớ quý anh mình hồi xưa ở trong nước cũng bằng cấp đầy mình đó chớ nhưng qua Úc nầy xin làm cu li cày chừng hai, ba chục năm vẫn cứ cu li… thì chọc cho thằng boss, nó quạu mà chi?
Nên tâm niệm là: “The boss is always right!” Nghĩa là thằng ‘boss’ luôn luôn đúng; cho dù nó ngu đến nỗi ‘con bò’ còn thấy sợ!
Muốn trả thù nó, mười năm chưa muộn mà. Rán làm nuôi con cho nó lớn lên làm bác sĩ đi. Một ngày nào đó, vợ thằng ‘boss’ đến khám bịnh, con mình kêu nó cởi truồng ra, sau đó gởi cái ‘bill’ về tính tiền thằng chồng của bả, tức thằng ‘boss’ của mình!
Trong khi chờ ngày tới con mình phục mối hận thù âm ỉ cháy trong lòng, thì mình cứ giả dại qua ải, nhẫn nhục đi cày, lè phè ít hơn Úc một chút… để nó nghĩ mình siêng!
Phòng tranh mang tên “Giao Mùa” mở cửa hơn hai ngày thì bị đóng. Mưa đang về, bay nghiêng hạt xuống một địa phận sẵn lòng đón nhận sự dầm thân trong rét mướt. Tấm bích chương mềm nhũn, hoen màu, chịu thử thách ban đầu cái tác hại của nước ngấm. Hàng chữ “từ ngày 7 đến ngày 14” đã bị mưa cào đến thủng giấy, hết còn đọc ra. Đây là cuộc triển lãm cá nhân đầu tiên của Nguyễn Văn Xê, 30 bức tranh sơn dầu hiện hữu sau 10 năm mài miệt vẽ. Xin được giấy phép đúng một tuần, chỉ bán được một bức “Thiếu Nữ Cởi Áo Lụa Bên Hồ” thì… giông bão tới. Đột ngột. Khách muốn thưởng ngoạn ngác ngơ trước cánh cửa có bắt cái khoá rõ to. Những kẻ muốn lợi dụng một không gian nồng ấm để trú mưa cũng bị dội ra. Nghệ thuật mà làm gì mấy cha! Nghe đâu bão lớn ngoài biển Đông đang đe nẹt đòi thổi vào. Hai ba người đứng luận chuyện trước cửa đóng then cài. Thì ít ra phải có mặt tay hoạ sĩ đứng đó phân bua giải thích. Đóng bất ngờ kiểu này coi bộ không êm. Ừ, quả có đột xuất thật! Tay ấy bị xe điên đụng phải chăng?
Nguyễn Văn Xê, 32 tuổi. Chẳng được đào tạo từ trường ốc chính quy. Do khéo tay cộng với niềm đam mê chẳng ngơi nghỉ nên trì chí tự mày mò để bước vào con đường nghệ thuật tạo hình. Quá trình đã từng góp tranh trong những cuộc triển lãm “12 khuôn mặt trẻ”, hoặc “Sức sống và cuộc đột phá của những cây cọ miền Trung”. Nguyễn Văn Xê, chưa vợ con. Tóc để dài, trang phục bụi bặm, quần jean thủng rách lấm lem màu dầu, và như đa số bọn “tác nghiệp” thứ nghề tự do vô bổ ấy, hắn nghèo rớt mồng tơi. Nhưng chớ nên áp đặt Xê là dân vô sản chuyên chính, hắn giàu có ở mặt khác, hắn sở hữu những thứ vô giá.
Nguyễn Văn Xê ngồi một mình trong căn phòng nhỏ, đóng kín. Một ngọn đèn vàng, một chiếc bàn gỗ và hai cái ghế. Phòng có trổ một ô cửa sổ, tấm kính mờ đục ở đó không bưng bít được vuông màu xám nát nhừ những giọt mưa mãi cào cấu bên ngoài. Một cốc cà phê, một điếu thuốc. Yêu cầu của Xê chẳng được đáp ứng, người ta chỉ vứt xuống mặt bàn tờ giấy vở học trò cùng cây viết từng bị những dấu răng gặm nhắm qua. Thật thà khai báo, có thể đó là đầu đề mà Xê phải trả bài, không nhất thiết phải đúng niêm luật vần điệu câu cú. Khi anh tự nhận mình vô tội thì chữ thật thà kia đã nhảy sang dối gạt. Tìm cách tạo dựng ra tình huống. Bằng không thì anh bó tay, để sự trinh nguyên cho trang giấy vở khỏi lấm màu. Anh sẽ bị bợp tai? Anh sẽ bị mắng chửi? Bị lên lớp? Bị nguyền rủa? Nguyễn Văn Xê cúi mặt xuống. Bài làm bao giờ cũng khởi đi bằng khúc dạo đầu: Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc…
Cửa mở, một “anh” cán bộ bước vào. Anh này không giống anh ban trưa dù áo quần của hai anh tựa hai giọt nước. Anh đứng ngọ dữ dằn, anh chiều tà bớt dằn dữ. Coi bộ tử tế vì ảnh có cầm theo ly cà phê, đặt xuống bàn, trước mặt Xê. Quen vẽ vời chứ không quen viết lách à? Anh ta vừa hỏi vừa kéo chiếc ghế trống, bốn chân gỗ lê thứ âm thanh nghe bất an. Uống đi, cho tỉnh trí. Nguyễn Văn Xê nghe lời, dù mãi hoang mang, hắn cố kềm giữ, không muốn để gã kia nhìn thấy năm ngón tay run. Có lần Ngọc ngồi làm mẫu đã gióng câu hỏi: Điều gì khiến anh sợ nhất? Hắn nheo mắt ngắm bầu ngực trần của cô gái tuổi 17: Anh sợ bị thương tật ở đôi bàn tay.
Cà phê rất tệ dù được uống trong hoàn cảnh này. Chẳng biết khi pha chế, người ta có hoà thêm “một thứ gì đó” vào trong chất nước đen đã mất mùi. Cán bộ sửa giọng, nhập đề buổi lấy cung: Bức tranh “Xuân Thì” là vẽ theo ngẫu hứng hay có chủ đích? Nguyễn Văn Xê khảy đất bám dưới móng tay: Xin lỗi, tôi không hiểu hết ý của anh… Người trong tranh rất giống một nhân vật ngoài đời… Ồ, cô ấy đồng ý làm người mẫu. Làm không công hay sao? Theo hợp đồng thì số tiền tôi phải chi trả là một triệu. Trả hết chưa? Cũng theo thoả thuận tôi đưa trước một nửa, số còn lại sẽ thanh toán sau khi đóng cửa phòng tranh. Chỉ mới hai hôm, tôi chẳng hiểu vì sao… Được, có hai chuyện vướng mắc nên đả thông: Thứ nhất, trên đánh giá là số tranh trưng bày đa phần đều mang tư tưởng ám tối gợi dục. Thứ hai, do đơn thưa kiện của bà Trần Thị Hoàn cáo buộc hoạ sĩ đã cưỡng bức và xâm phạm xác thân gái vị thành niên tên Phan Thị Ngọc, con bà đồng thời cũng là người mẫu trong bức “Xuân Thì”.
Sao ngồi nín khe vậy? Có phản biện không? Hay câm lặng là thú nhận lỗi lầm? Xê ngó xuống mặt gỗ trầy trụa trên mặt bàn, hắn từng vẽ chi ly, gọt tỉa sống động một cái bàn học thời niên thiếu hoen ố đầy vết mực đổ, ghim đầy nét khắc các mẫu tự cặp đôi nằm trong trái tim nham nhở. Và bức tranh tĩnh vật sống động ấy đã lọt vào mắt xanh một Việt kiều rinh về Mỹ quốc. Một ngàn đô la, hắn đã mời hai mẹ con đi vào nhà hàng cao cấp ăn mừng, đã mua quà theo sự vòi vĩnh của Ngọc. Hắn đã sống với những ngày êm đẹp ngắn ngủi gần như hoang tưởng, tận hưởng và phung phí…
Phóng lớn một tấm ảnh, chuyển qua tranh thì mất bao lâu? Nguyễn Văn Xê nhìn vào đôi mắt người quyền lực. Thú thật là tôi không hành nghề như thợ vẽ truyền thần, thứ công việc chuyên sao chép cho thật giống so với bản chánh. Đâu ai ra điều kiện khó khăn thế? Chỉ cần nhìn thoáng thôi là đủ phát hiện… kiểu như ngắm bức “Xuân Thì” thì biết ngay đấy là dung mạo cô Phan Thị Ngọc. Cũng tuỳ anh ạ, việc vẽ vời tôi chưa bao giờ tự ép mình vào một khung thời gian nhất định. Kẻ kia nhún vai: Ba hôm, giả dụ thế, là hoàn tất chứ gì?
Trước mặt Xê, vừa nằm trên vuông giấy vở là tấm ảnh cỡ 5×7 thu giữ một khuôn mặt đầy đặn của người thiếu nữ. Cứ gật đầu chu toàn cái hợp đồng nầy thì tự khắc cánh cửa kia sẽ mở rộng, tha hồ mà dầm mưa trở về nhà thu vén dọn dẹp phòng tranh. Nghe êm không? Có nghĩa là ngoài việc vẽ lại chân dung từ tấm ảnh này ra tôi không phải làm thêm thứ gì khác? Có đấy cậu ạ. Theo thủ tục cậu cứ viết cho xong tờ khai kia, những rắc rối tình cảm liên quan tới hai mẹ con ấy thì phải chính cậu tự giải quyết lấy, bồi thường tiền bạc gì đấy, chuyện đâu có gì phải náo loạn kiện tụng tới chốn pháp đình. An tâm đi, nhớ tập trung đầu óc vào việc được trao gửi. Người trong ảnh là vợ mới cưới của sếp cơ quan đấy chứ không đùa đâu nhé.
Qua trung gian một người bạn tôi gặp được Nguyễn Văn Xê, thực ra giờ này hắn đã đổi chữ ký, dưới góc tấm tranh thôi còn chữ X màu đỏ như trước đây, điền thế bằng chữ Dịch màu vàng. Hắn trú trong xóm nhỏ, cuối đường, tiếp cận với một nghĩa địa trồng lắm mộ bia và chân nhang và hoa héo. Hỏi Xê không ai biết, Dịch thì may ra có đôi ba người chỉ lối giúp. Dịch tóc húi cua, ngắn thật ngắn. Ngắn như tóc vừa mọc dài trên đầu kẻ vừa hoàn tục. Khi biết tôi có ý định in một tập truyện, hắn hứa sẽ minh hoạ giúp tôi cái bìa. Hắn hỏi viết thể loại gì? Ờ, mình viết chuyên tình. Vậy thì thay tranh tĩnh vật hoặc phong cảnh bằng môi hôn, bằng vòng tay ôm giữ, bằng thiếu nữ khoả thân, bằng cuống quýt xác thân nam nữ…
Tôi mời Xê hay Dịch đi ra đầu đường uống cà phê. Hắn mang theo xấp giấy nằm trong bìa cứng. Khi bày cả ba bức tranh màu nước cho tôi chọn, chúng làm khó tôi bởi cả ba đều đẹp hết chỗ chê, phải băn khoăn nhờ tác giả cho ý kiến. Tôi nghe lời hắn: Bức này có nhiều khoảng trống, sẽ dễ sắp xếp những con chữ nằm vào mà chẳng phá hỏng bố cục. Nhan truyện nên dùng màu nâu, những chữ khác màu cam, nét thật mảnh kiểu chân phương, như vậy nó “ăn” với màu sắc đường nét của bức tranh. Không nén được, tôi hỏi: Vì sao chữ ký lại là Dịch mà thôi còn Xê? Đơn giản vì hôm nay không còn như hôm qua. Hắn cười với tay xoa đầu. Mình xuống tóc cũng là cách cố quên đi ngày cũ.
… Khi bước vào phòng, sau khi đóng lại cánh cửa bằng lưng, N. đưa tay gạt xuống công-tắc đèn. Loay hoay một đỗi, N. xua đuổi bóng tối bằng những ngọn nến cô vừa đốt sáng lên. N. quay mặt với hai tay đang mang lại chiếc bánh kem, những đốm lửa nhảy múa, một gương mặt nửa sáng nửa tối và đôi mắt sâu, thu giữ một hân hoan long lanh. Luôn luôn, bầu khí quyển trong căn phòng này phải bị hoán đổi khi N. xuất hiện. Mãi hoài N. vẫn là người muốn xáo trộn cái trật tự mà tôi chẳng biết cách sắp xếp chúng. Nếu đó là sự bừa bộn thì một khi đã bị giăng bủa chẳng ai phải khó chịu cả. Và tôi, tôi vui vẻ thuận lòng đón nhận lấy dù đôi lúc N. tới, bắt tôi phải ngưng ngay công việc. Những mảng màu thôi tấp vào mặt bố, những đường viền phải chịu đứt ngang. Chúc mừng sinh nhật. N. nói. N. nhắc về một con số, một ngày tháng mà lý ra tôi buộc phải nhớ hơn ai cả. Tôi chùi đôi bàn tay vào cái khăn lau mặt cũ. Tôi ôm lấy N. khi cô vừa đặt bánh xuống mặt bàn. Có thể khi mua bánh cô đã nhón lấy một thỏi chocolat. Môi N. còn vị ngọt đắng, như thể nó vừa tan trên lưỡi nóng, như thể nó còn vướng víu ở kẽ răng chờ tôi dọn sạch. Bao giờ thì đến ngày sinh nhật của em? Tôi hỏi khi mũi mình đang đánh cắp hơi thở N. rối loạn. Hôm nay, em nghĩ vậy. Chính xác là ngày nào thì chẳng một ai còn nhớ, nhà bị cơn hoả hoạn đốt sạch, khi làm lại giấy khai sinh, ba em lấy ngày thành hôn cùng má để điền thế, bảo cho dễ nhớ, cho dù mai sau có bị thêm khổ nạn thì thứ tháng ngày kia sẽ không phản bội, mãi lưu vào đầu óc. Trong đống tranh nằm úp mặt kia, có bức nào anh đặt tên là “Vết Sẹo”? Hoặc “Thương Tích”? Vụ cháy nhà đã làm em phỏng nặng, khi nhìn thấy dấu tích nhăn nhúm đó, liệu anh còn thương em?
Không một ai bỏ công thổi đi những đốm lửa run rẩy trên đầu các cây nến nhỏ cắm xiêu vẹo trên mặt bánh. Chúng sẽ thầm lặng đi tới hết đường để rồi tắt ngúm, nhưng khi chúng hấp hối, chúng còn đủ lực để soi cho tôi thấy vết bỏng cháy đã thành sẹo sau mông N. Nó làm da thịt ở đó co rúm lại để phá bớt một hình thế vốn tròn trịa. Trước, tôi chỉ vẽ bán thân N. trong động tác đang cởi áo. Giờ đây thì N. thôi ngượng ngùng dấu che. Hãy cùng nhau ăn mừng sinh nhật, nghe anh. Chúng tôi nằm xuống giường và chính tay N. đã thiện nguyện mặc chiếc áo mưa cho xác thân tôi đợi cơn giông lũ đổ về…
Tôi xoá bỏ truyện ngắn này, không nằm trong mục lục cuốn sách sẽ mang đi in. Người bạn hỏi thăm rằng tôi đã gặp tay hoạ sĩ ấy để xin cái mẫu bìa chưa? Rồi, anh ta dễ chịu hơn tôi tưởng, chỉ cho mà không nhận một đền đáp nào cả. Ừ, tay ấy chơi được. Hắn từng nếm trải hương vị dịu mát cũng như sóng gió bức bối ở cuộc sống này. Hắn là nạn nhân giữa một cuộc tình tay ba. Hai mẹ con cùng yêu mù quáng riêng hắn. Một tình duyên đầy thương tật. Mình còn giữ một bức tranh thuở đầu đời của hắn, dùng toàn gam màu lạnh, vẽ một con mèo co thân dưới chân giường trông lên con chim bất động ở trong lồng. Bức tranh thần sầu ở chỗ, là khi nhìn ngắm bạn sẽ bắt gặp ở đó nguyên vẹn nỗi bất an, ngầm thông báo một tai ương sẽ xẩy tới. Đó là thời gian mà hắn ký tên X. Toàn bộ bức tranh chỉ duy có mẫu tự ấy là màu đỏ.
Tôi còn một ít tiền, tôi nghĩ nên mời Xê hoặc Dịch tới một quán ăn, thế lời cảm ơn về những gì hắn trao cho. Cuối đường vẫn là nghĩa trang cô quạnh thiếu kẻ viếng thăm vọng tưởng khấn nguyện. Cửa đóng, gõ không nghe hồi đáp. Tiếc công, tôi chưa muốn về vội, linh cảm là hắn quanh quất đâu đó, không xa. Tôi thả bộ đi men ngoài hàng rào phân định ra vuông lãnh địa, bóng chiều bắt đầu bôi xoá những hình thể, chỉ có những tấm bia mộ màu trắng là biết phát quang. Và rồi tôi trông thấy hắn. Đối mặt là tảng xi-măng khắc ghi tên tuổi tháng ngày sinh tử của kẻ bất hạnh. Là ai đã bỏ cuộc chơi? Là người tình 17 bé nhỏ, hay phần mộ má người yêu? Những cây nhang được thắp, được cắm trước bia có gió thổi qua làm chớp đỏ từng hồi, yếu mệt. Tôi nhớ có lần nói với hắn, khi tập truyện hoàn thành, bản đầu tiên tôi dùng để mồi lửa nguyên hai trăm trang chữ. Tôi muốn người ở cõi âm chứng giám trước. Lần đó hắn nhìn tôi không nháy mắt, có tin không, hắn nói, hiện tại mình chẳng còn giữ được một bức tranh nào cả. Mình khánh kiệt trước cuộc đời này. Xê rồi Dịch, cứ loay hoay mà làm gì nhỉ?
Những ngày cuối năm, bệnh viện ít nhộn nhịp. Người nằm bệnh tại các khoa thường nôn nao xin bác sĩ về sớm để còn kiếm tiền mua áo mới cho con và sửa soạn đón Tết. Chỉ có những bệnh thật nặng mới phải nằm lại theo yêu cầu của bác sĩ và một số trường hợp chính người nhà bệnh nhân xin ở lại bệnh viện để… trốn Tết vì quá nghèo. Khu vực hành chánh của bệnh viện, gồm cả ban giám đốc, buổi chiều càng vắng vẻ hơn.
Cuốn sách mua hồi đầu tuần mới đọc chưa hết 2 chương còn nằm trên bàn làm việc. Tôi lật từng trang sách định đọc tiếp nhưng không tập trung được vì thấy có bóng dáng một anh bộ đội cứ đi qua đi lại trước phòng như muốn tìm hỏi việc gì. Bước vội ra cửa vừa lúc anh nhìn vô phòng:
– Hình như anh muốn kiếm ai?
– Dạ, báo cáo đồng chí, em muốn tìm giám đốc.
– Thưa tôi đây, anh tìm có chuyện gì không?
– Dạ, báo cáo đồng chí thủ trưởng, em muốn nạp đơn xin giảm viện phí.
– Vậy thì mời anh vào.
Cô thư ký thấy khách vào, định rót nước mời thì tôi yêu cầu:
– Em cho xin 2 ly cà phê đá đi, khát nước quá.
Tôi nhìn anh, gợi chuyện:
– Sao thấy anh… quen quen, mà anh là bộ đội đóng quân ở đâu?
– Báo cáo đồng chí thủ trưởng, em là bộ đội miền bắc, quê ở Thái Bình, khi giải phóng có thời gian dài đóng quân ở Trảng Lớn, sau đó chuyển lên Đồng Ban cho đến bây giờ.
– A, quê lúa Thái Bình. Trước đây, hồi còn đi học trung học, tôi có đọc sách của mấy nhà văn (trong này) viết về quê lúa Thái Bình, nhất là Hải Hậu…
– Báo cáo đồng chí thủ trưởng, đó là quê em… Hình như thủ trưởng là người trong này?
– Mà sao anh hỏi vậy?
Anh ngập ngừng:
– Dạ, tại thấy thủ trưởng nói chuyện.. “khác” với với cấp trên của em.
– À, không giấu gì anh, tôi bác sĩ ra trường trước 1975, học ở Huế. Mà hồi Trảng Lớn anh ở đơn vị nào nhể?
– Báo cáo đồng chí thủ trưởng em ở L1T1 (trung đoàn 1, tiểu đoàn 1).
– Nhưng anh làm gì ở đó?
– Báo cáo đồng chí thủ trưởng, em làm quản giáo, quản lý các sĩ quan ngụy quân đi cải tạo.
– Hèn gì thấy quen quá. Tôi nhớ ra rồi, anh phải là… thiếu úy X. không?
Anh trố mắt nhìn tôi, vừa dò xét, vừa thận trọng:
– Báo cáo, đúng là khi đó em là thiếu úy, sao thủ trưởng biết tên em?
– À, hồi đó, tôi là y sĩ trung úy cải tạo ở L1T1 và anh là quản giáo của tôi. Có lần nửa đêm, anh gọi tôi lên bắt làm kiểm điểm vì kết tội tôi “coi thường cách mạng” “không khai báo trung thực với cách mạng, có thành tích giết nhiều cán bộ nên mới đăng ký nghĩa vụ đã thăng quân hàm trung úy. Ai có lệnh đi nghĩa vụ, nếu ở Thủ Đức, học một năm gắn quân hàm chuẩn úy, ai học lâu hơn ở Võ Bị Đà Lạt, gắn quân hàm thiếu úy, còn anh, mới vào lính đã mang quân hàm trung úy, vậy mà lý lịch không thấy khai thành tích chống phá cách mạng, giết hại bao nhiêu cán bộ. Láo…”.
“Chắc anh không nhớ, hồi đó anh chửi tôi ngoan cố, đập bàn đá ghế tùm lum…”
Mồ hôi trán anh đổ ra. Anh hốt hoảng nhìn tôi, tay chân lúng ta lúng túng, mặt cúi gằm nhìn đất:
“Em xin lỗi thủ trưởng”.
Một thoáng, trong đầu tôi hiện nhanh loạt hình ảnh đói lạnh, cơ cực của những ngày “nhất phá sơn lâm, nhì đâm hà bá…” trong trại cải tạo, khác với (một lần đi công tác ở Đức), có thấy lằn ranh “vô hồn”ngày xưa là vết tích của bức tường Berlin ô nhục, nơi hai chân mình đứng chênh vênh bên hai bờ tử sanh, lằn ranh như phân cách giữa nề nếp giáo dục và bản năng hoang dã, giữa tình người và sự cuồng trí; rồi những đêm trực kinh hoàng trong mùa dịch sốt xuất huyết làm việc không ngơi tay đầy tiếng rên khóc hoảng loạn của trẻ con, của những người dân nghèo, ít học, thiếu thốn đủ thứ thuốc men, phương tiện.. Và bây giờ, ngồi đây…
– Báo cáo đồng chí thủ trưởng, hồi đó em không biết, chỉ làm theo lệnh chính ủy. Thời gian đầu, chúng em chưa biết, sau này thấy có nhiều người như thủ trưởng quá, chính ủy đi hỏi lại mới biết là mình thiếu hiểu biết, kết tội sĩ quan cải tạo máy móc, ngu xuẩn…
Tôi hít vào một hơi thật dài rồi nói nhanh:
– Thôi anh uống cà phê đi, nước đá tan hết rồi. Chuyện cũ, tôi quên rồi, bây giờ tôi là thầy thuốc anh là người cần giúp đở, thế thôi. Yên tâm đi.
Rồi tôi đọc hai câu thơ như đọc cho chính mình nghe và tôi biết chắc anh nghe mà chẳng hiểu gì cả:
Ngày mai, chẳng biết ra sao nữa, Mà có ra sao, cũng chẳng sao!
Anh thở ra nhè nhẹ, hai tay bưng ly cà phê, lắp bắp:
– Mời thủ trưởng.
Tôi cũng bưng ly:
– Dạ, mời anh. Mà người nhà anh đau ra sao? Gọi tôi là bác sĩ được rồi, dễ nghe hơn.
Anh nói một hơi:
– Bố em ngoài Thái Bình vào thăm, chẳng may bị sốt ho kéo dài, bác sĩ chẩn đoán là Viêm Phổi có nước màng phổi đã nằm điều trị, chích thuốc 2 tuần, bác sĩ báo vài ngày nữa có thể xuất viện về điều trị tiếp ở nhà. Nhưng em sợ viện phí nhiều quá, không đủ tiền nên y tá có hướng dẫn làm đơn xin giảm 50%. Mong thủ trưởng giúp em. Báo cáo thủ trưởng, ngày xưa chỉ làm theo lệnh trên. Hồi đó, em còn trẻ, dốt nát…
– Tôi hiểu, thôi cho tôi xem lá đơn.
Tôi liếc nhanh những hàng chữ nghiêng ngã, xiêu vẹo rồi trả lời:
– Bây giờ như thế này nhé… Thiếu tá X xin giảm 50% nhưng tôi ký duyệt miễn phí cho anh 100% vì anh là…người quen. Được không?
Anh như không tin vào lời tôi nói, trố mắt nhìn không chớp vào người đối diện, người một thời là tù cải tạo của mình:
– Thật không thủ trưởng. Xin lỗi… báo cáo… bác sĩ nói thật chứ?
– Hồi nhỏ , tôi được dạy, không nói gạt người khác vì bất cứ lý do gì…
Có khách và cô thư ký lấp ló ngoài cửa, tôi nói nhanh:
– Bây giờ tôi là thầy thuốc. Trong gia đình, ba tôi vẫn dạy tôi, “trước khi trở thành thầy thuốc, trước khi trở thành người quản lý, con phải học làm một con người đã”. Thôi sắp Tết rồi, thay mặt bệnh viện, tôi chúc mừng bác trai lành bệnh, chúc bác và gia đình anh năm mới sức khỏe, nhiều may mắn. Anh chờ cô thư ký đóng dấu rồi nhận lại lá đơn, về gửi lại cho cô y tá. Bây giờ tôi có khách, không thể lên thăm bác trai cùng anh, xin lỗi nghe. Thôi chào tạm biệt thiếu tá X. Ở Đồng Ban, ngày xưa, tụi tôi phá rừng, làm đường, làm cầu ở đó. Bây giờ chắc khác xưa nhiều lắm…?
Anh nói lí nhí mấy câu gì tôi không nghe rõ, rồi đứng dậy, vội vàng đi theo cô thư ký lấy lá đơn có ký tên, đóng dấu và bước đi lính quýnh. Lâu lâu, lại ngoái nhìn phía sau như sợ tôi đòi lại lá đơn.
Tôi ngồi yên trên ghế nhìn ra sân bệnh viện chiều cuối năm. Những tia sáng xuyên qua tàn lá vẽ thành những vệt nắng nhảy múa lung linh sau từng cơn gió nhẹ như minh họa cho bản nhạc xuân vui tai ai đang mở ở phòng bên cạnh. Bầu trời phía trên như cao hơn, xanh hơn mọi ngày.
Còn vài ngày nữa là tới tháng 4, không phải tháng 4 năm 1975 mà là tháng 4 của ba mươi năm sau, năm 2005. Ở Saigon của nhiều người là tháng tư, nhưng ở Banmêthuột, Pleiku, Quảng Trị, Huế rồi Đà Nẵng … là tháng ba. Ba mươi năm trôi qua đối với những người đang sống trong hạnh phúc là quá nhanh để người ta không còn nhớ gì nữa,nhưng ba mươi năm đối với những người cùng khổ, những người mất mát, đang kéo lê cuộc sống là quá dài, quá dài nên người ta khó có thể quên. Những gia đình đã chạy loạn trên đường số 7B từ Phú Bổn về Khánh Dương, những con người đã vượt đèo Hải Vân cố tìm con đường sống hy vọng về hướng Nam. Những bãi biển Thuận An, Sơn Chà, những địa danh Đại Lộ Kinh Hoàng, Cầu Đá mà chúng ta đã để lại bao nhiêu thây dân, xác lính, quân cụ, chiến xa … không còn dấu vết gì trên thực địa, nhưng không có lẽ trong lòng chúng ta cũng không còn lại gì? Trên những tờ lịch vô tri cùng những con số lớn số nhỏ, chữ đen chữ đỏ chúng ta với tay bóc mỗi ngày, có lẽ cũng không còn mang lại cho chúng ta mảy may chút suy nghĩ nào?
Tôi có một người bạn nguyên là hạm trưởng một chiếc tàu của Hải Quân Việt Nam, tháng 4-1975, đang tu nghiệp ở Hoa Kỳ, anh vội vã trở về tìm mẹ, tìm vợ con và sau đó thì mọi sự đã trễ tràng, khăn gói lên đường đi cải tạo. Ra tù, người hạm trưởng của chế độ cũ là món hàng đắt giá cho những người tổ chức vượt biển tìm kiếm để đưa con tàu ra khơi, nhờ đó anh đã thu xếp đưa cả gia đình đi cùng chuyến. Cuối cùng thì rồi cũng tới đất liền, nhưng người trên tàu đã trải qua những ngày đói khát, kinh hoàng vì cướp bóc.
Tất cả đều mệt mỏi, kiệt sức, không ai chia sẻ ý nghĩ trong đầu với ai, nhưng ai cũng cầu nguyện, ai cũng tự hứa với lòng mình sẽ làm những công việc thánh thiện, tốt lành, sẽ thay đổi hoàn toàn cuộc sống nếu, Trời, Phật, Chúa và Ơn Trên .. cho họ được sống và đến bến bờ. Để được sống thôi, còn ngoài ra tất cả đều là vô nghĩa. Tất cả mọi người lúc bấy giờ đều thánh thiện, đều tốt lành như thiên thần, như những đứa trẻ sơ sinh không tham lam, không sân si, không mưu tính. Như người đang bị bệnh nặng chỉ ao ước có một điều là mạnh khỏe, như câu nói “đừng cầu không bệnh tật, không bệnh tật thì tham dục dễ sinh”. Người bệnh tật tâm hồn còn trong sáng như vậy, huống gì người đang ở trong thời điểm “thập tử nhất sinh”, cái chết chỉ gần trong gang tấc.
Sự tình cờ, trong số những người đi trên chiếc tàu vượt biên ngày ấy, sang Mỹ đã có khoảng mười người được định cư tại cùng một thành phố ở miền Đông với người lái tàu Hải Quân ngày trước. Họ thân tình, quen biết, đi lại với nhau và kết thân như những người trong một đại gia đình. Nghĩa đen họ là những người đã “cũng người một bội một thuyền đâu xa”. Mỗi năm cứ vào cuối tháng tư, người lính hải quân này đã mời những người “cùng thuyền” đến nhà mình dự một buổi tiệc nhỏ, để họ có dịp gặp gỡ, trao đổi tin tức, hàn huyên tâm sự, giới thiệu con cái, gia đình với nhau. Những người này đang trong thời gian băng bó vết thương, phục hồi tâm trí, làm lại cuộc đời, họ thương yêu, quí mến, thường xuyên điện thoại hoặc thăm viếng nhau.
Nhưng rồi mọi sự không như người ta tưởng, người lính hải quân ngày nào đành ngậm ngùi nhại theo lời thơ của Vũ Đình Liên:
“Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người vượt biển nay đâu?”
Người ta có thể có hai tuần vacation, có vài ngày ra bãi biển, có suốt đêm ở sòng bài, nhưng một buổi chiều gặp
lại những người bạn “đồng thuyền” xem ra khó khăn là dường nào. Có muôn nghìn lý do để người ta có thể nêu ra vì bận bịu, đa đoan công việc làm ăn, cưới hỏi, thù tạc. Bây giờ xem ra ai cũng làm ăn khấm khá, da dẻ hồng hào, con cái thành đạt, còn thấy đâu cái hình ảnh râu tóc, gầy gò, xanh xao, mất nước, mệt mỏi cái ngày vừa leo thang giây lên boong tàu của chiến hạm, thương thuyền hay lội cạn trên bãi biển nào đó của Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân hay Thái Lan … Ôi ngày đó thật xa rồi, nói làm gì những chuyện đã trôi qua hai ba mươi năm. Vì không phải là bác sĩ chuyên môn, tôi chỉ biết đại khái rằng bệnh Alzheimer là thứ bệnh quên, quên chuyện gần trước, quên chuyện xa sau, như họ có thể quên đường về nhà sau buổi đi làm, quên tên người vợ bên mình mà hỏi “ai đây?”, nhưng họ có thể nhớ dễ dàng những chuyện xa xưa hồi còn thơ ấu như tên thằng bạn hay đánh bi đánh đáo với mình.
Nhưng gần đây, lại có thứ bệnh Alzheimer ngược đời, người mang bệnh lại hay quên chuyện cũ dù là chuyện lớn mà lại thích nhớ chuyện hiện tại, nhất là những chuyện nhỏ tủn mủn. Những người này hầu hết là người già, đã gần đất xa trời. Có người quên ngày xưa họ đã bỏ Cộng Sản về thành, quên cả chuyện di cư vào Nam sau hiệp định Genève để tìm Tự Do năm mươi năm về trước đã đành, chuyện di cư lần thứ hai mới ba mươi năm đây thôi cũng đã quên tuốt. Có người khác quên lúc được nhảy bàn độc, mỗi lần thăng quan tiến chức là đổi lấy hàng nghìn thuộc cấp phải hy sinh, hàng vạn vành khăn tang quấn trên đầu quả phụ cô nhi. Họ quên cả những lời nói do chính từ miệng họ thốt ra, cũng mới ba mươi năm đây thôi, để dành những khoảng trống trong đầu cho những chuyện lỉnh kỉnh, linh tinh miễn sao có lợi cho miếng ăn, giấc ngủ của họ là được.
Họ làm như, muốn đem cả thân thế, sự nghiệp của họ để đổi lấy chút vinh thân cuối đời. Phải chi ai cũng như ông Kiềm Lâu là một bậc cao sĩ nước Tề về thời Xuân Thu. Tính ông thẳng, bao giờ cũng giữ đạo phải, không chịu khuất thân để lụy đời. Ông nghèo lắm, lúc mất chỉ có cái chăn, không liệm đủ thân thể. Thầy Tăng Tử đến viếng thấy vậy nói:
– “Để lệch cái chăn đi thì liệm đủ thân thể.”
Bà vợ ông bảo:
-“Lệch mà thừa không bằng ngay mà thiếu.” Lúc sinh thời, tiên sinh chỉ vì tính thẳng mới được như thế. Bây giờ tiên sinh mất mà liệm lệch cho tiên sinh thì chắc không được hợp ý tiên sinh. Tăng Tử nghe, không nói gì được nữa. Đó là “quân tử Tàu” mới dại vậy, còn quân tử … ta, ai chửi mặc ai, miễn mình vẫn đỏ thịt thắm da! Vả lại, chúng tôi cũng xin thưa rằng, nhân gian đã có câu: “Quân tử nhất ngôn là quân tử dại, quân tử nói đi nói lại là quân tử khôn.”
Sau bài Đĩ & Điếm, người viết có cảm giác “ghê ghê” khi tự hỏi: Chẳng lẽ giữa con người, trong lịch sử (lại có thật?) những “Á Thánh; Phó Thượng Đế” tổng hợp những nhân vật cái thế điễn hình như Nhậm Ngã Hành, Tả Lãnh Tiền, Nhạc Bất Quần chỉ có trong tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung… Những kẻ “nhất thống quần hùng-Muôn năm trường trị” – Nhưng hơn hẳn các danh tính tiểu thuyết kia, bởi từ thực tế, dẫu chết (lâu) rồi, các “đấng” vẫn tồn tại với tượng hình nơi lăng, đền, miếu thờ ngang hàng với chư vị Phật Tổ, Bồ Tác của Đạo Phật.
Không phải chuyện truyền kỳ, huyền sử như Lạc Long Quân, Vua Hùng, Thánh Gióng… mà hiện diện đầy đủ hình ảnh cụ thể trên đồng bạc mua con cá, lá rau; ở nghị quyết trung ương đảng, trong sắc lệnh nhà nước, lần chú nhỏ đá trái banh, khi chiến sĩ gái vỗ tay xem bộ đội anh hùng diễu binh! Lực lượng “thừa tự với muôn đời sự nghiệp chúng ta” không phải tự nhiên mà nên thành, nhưng được xây dựng, giáo dục, chỉ đạo bởi “đơn vị bất (hoại) tử” Lénine (1870-1924) với sấm ngôn đại loại: “Chúng ta (Đảng/Người Cộng sản) không phải là những kẻ chủ trương hòa bình. Thật là vô lý khi đòi hỏi phong trào thợ thuyền cách mạng không được (thực hiện) chiến tranh cách mạng, nếu chiến tranh nầy phụng sự cho chủ nghĩa xã hội”. Sấm truyền từ ngày 8 Tháng 4, 1917 LUÔN được “Bác-Đảng ta” rập khuôn áp dụng từ 2 Tháng 9, 1945; 19/12/1946; 20/7/1954… 1960, 1968, 1972, 1973, và trước, sau 30 Tháng 4/1975… tiếp tục tại hôm nay với những “thừa tự ủy viên” thực hiện, phát triển.
Với “trí tuệ cao nhất của thời đại” hệ thống thừa tự chủ chốt luôn vững tin: “Trong vòng năm-mươi năm, khoảng 1970, những Quân Lực (Tất cả của bọn phản cách mạng) không còn ý nghĩa nào nữa. Chúng ta (Người/Đảng CS) chỉ cần làm ung thối kẻ thù (Bọn tư bản rẫy chết) trước khi trận chiến bùng nổ, bởi vì bộ máy chiến tranh của chúng không thể xử dụng trước giờ cần thiết!” Sấm ngôn (cũng) được tuyên cáo từ 1918 bởi Tổ Sáng Lập Lénine chứ không ai khác. Tóm lại, “Sấm Ngôn/Nghị Quyết” đã được thành hình và tồn tại hơn 100 năm (1918-2026), với tượng Lénine hiện vẫn đang đứng nguyên hình nơi Hà Nội.
Một.
Ở Đại Hội Đảng 3 (9/1960), Bác (Đã nói khá đủ về tài và tình của bác trong Đĩ&Điếm) “quán triệt-Chữ, nghĩa của ta” để những người gắn bó với Nam Bộ, Trung Bộ như Lê Duẩn, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Hùng…vv vào Bộ Chính Trị đông đảo là Cụ (Luôn được Trần Đĩnh viết hoa trong suốt hơn 1000 trang hai cuốn Đèn Cù (ĐC, Người Việt Book, Nam Cali, US 2014) muốn bày tỏ ý gửi gắm công cuộc giải phóng miền Nam cho họ! Nhưng chuyện “Cụ của Đĩnh” không phải là chủ điểm bài viết nầy. Chúng tôi tiếp tục với những kẻ thừa tự do bác đích thân tuyển chọn.
Trước tiên là Tố Hữu, đệ nhất văn công của chế độ. Đây là nhân sự nhờ đã viết những vần thơ hừng hực “thi khí” (Mượn chữ “văn khí” từ Ngô Nhân Dụng/Báo Người Việt, Nam Cali khi tán tụng Trần Đĩnh) nên đã lên chức Phó chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (Phó thủ tướng) đảm trách nông nghiệp khiến đưa đến tình cảnh cả nước gần chết đói sau 1975, sau khi đã tịch thu hết lúa gạo miền Nam chở ra Bắc trả nợ cho Tàu.
Tố Hữu bị mất “uy tín” vì chức năng “nhà (làm) thơ (lại) đi làm kinh tế (trật)” qua những vụ gây nên khủng hoảng tiền tệ (1985), cải cách nông nghiệp (1981) nên bị miễn nhiệm mọi chức vụ thực tế, chỉ còn làm một chức vụ nghiên cứu vờ vĩnh – Tương tự của Đại Tướng Võ (Nguyên) Giáp “được” đề cữ giữ chức “Chủ tịch Ủy ban dân số”, nhằm kiểm soát đàn bà sinh đẻ (1984-1987). Trở lại chuyện năm 1953, Tố Hữu đã thành danh nhờ màn kêu khóc: “Ông Stalin ơi! Ông Stalin ơi! Thương cha, thương mẹ, thương chồng. Thương mình thương một. Thương ông thương mười!“ để ngợi ca tên sát nhân thấm máu 20 triệu dân Nga và các sắc dân thuộc Liên Bang Sô Viết chết (5/3/1953). Tố Hữu không khóc một mình, y có “đồng chí bác” qua lần đồng tế bi (hài) kịch diễn hình như sau: “…Một tối kẻng thình lình gọi toàn thể lên hội trường. Thì Tố Hữu ủ rũ đi vào theo sau là Cụ Hồ. Tố Hữu bước lên sân khấu, cầm lên hai tay bưng một vật gì ấp vào ngực, từ từ quay lại nước mắt chan hòa trên mặt từ lúc nào. Trên phông màn đò hiện nên chân dung đại nguyên soái Stalin… Cụ Hồ nức nở không ngừng đưa khăn tay màu trắng lên lau nước mắt. Và nước mắt thì cứ chảy trên hai má Cụ đỏ bóng, vì khóc, vì xúc động. (ĐC, Cuốn 1/Trg 73-74).
Mấy năm sau, Tố Hữu bỏ “Tổ quốc” Xô Viết, chuyển qua “Thánh địa” Trung Quốc với bài hát mới: “Mao Trạch Đông! Mao Trạch Đông! Tôi đã thấy: Dáng người cao lồng lộng. Đẹp như một ngọn cờ hồng. Trên mặt người. Mặt đất mênh mông.” Hoặc: “Bác Mao tuy ở rất xa. Bác Hổ ta đó ấy là Bác Mao”. (ĐC, Cuốn 1/trg 233). Thơ như thế quả thật rất xứng đáng với thành tích giết 50 triệu người Hoa (Có thể cao hơn nữa, theo tài liệu của nhà nghiên cứu người Mỹ Stuart Schram (1924-2012) viết (về) Trung Hoa CS, nêu ra con số 70 triệu).
Kể ra không ngẫu nhiên, Tố Hữu được cha mẹ đặt cho tộc danh Lành (1920-2002) với mong ước lớn lên sẽ là người hiền lương, tốt lành ai ngờ Lành đi theo cộng sản với “nghề giết người bằng thơ” – Chắc rằng cổ kim đông tây không có chữ/thơ nào máu me bằng: “Giết! Giết! Bàn tay không phút nghỉ! Cho ruộng đồng lúa tốt. Thuế mau xong…” của “Thi Sĩ Nhân Dân Lành/Tố Hữu”. Thật ra Lành cũng không đến nổi “máu” như thế, nhưng do “nhà thơ” ăn phải bả của ông bác – Chủ tịch HCM người ký Sắc lệnh 197/SL, 19 Tháng 12/1953 – Sắc lệnh phải giết (cho) đủ chỉ tiêu 5% tổng số bị “quy thành địa chủ” ở nông thôn Miền Bắc mà bác nhận được từ Stalin và Mao trong lần đi cẩu viện (quân sự) 1952 để đánh Pháp. Nhưng Lành/Tố Hữu không đáng bao nhiêu, còn có những “đấng thừa tự” siêu việt khác.
Hai.
Giới thừa tự không chỉ loại văn công với những lời thơ nhảm nhí tán tụng, suy tôn như kể trên. Kẻ thừa tự phải là một đại tướng quân dẫu không hề học bất cứ trường lớp quân sự nào, kể cả học chữ – Đại Tướng Nguyễn Chí Thanh. Thanh tên thật Nguyễn Vịnh sinh ngày 1/1/1914 trong một gia đình bần nông ở Thôn Niêm Phò, Huyện Quảng Điền, Tỉnh Thừa Thiên-Huế. Gia đình bần cố tức là Vịnh không (được) đi học nên (tất nhiên) đi làm cách mạng/cách mạng vô sản (!) Tháng 8/1945, Vịnh được cử (Ai cử?!) đi dự Quốc Dân Đại Hội ở Tân Trào, gặp Hồ Chí Minh được đổi tên thành Nguyễn Chí Thanh. Đầu năm 1948, Trung ương Đảng quyết định giao cho Nguyễn Chí Thanh (tên mới) giữ chức Bí Thư Liên Khu Ủy Khu 4/Trị-Thiên, và Bác tặng thêm danh hiệu “Vị tướng du kích”.
Tháng 8/1959, Tướng du kích Thanh được điều động vào quân đội giữ chức Chủ Nhiệm Tổng cục Chính trị Bộ Tổng Tư lệnh, Phó Bí thư Tổng Quân ủy Trung Ương, phong quân hàm Đại tướng. Bạn đọc đừng ngạc nhiên với cách thăng cấp quân đội tay ngang của bác?! Đây là thói “hạ mục vô nhân/dưới trời chỉ có ta” bác ta học từ Bác Mao – Người đã từng đánh giá Hán Vũ Đế (156 TCN- 87 TCN), Chu Nguyên Chương/Minh Thái Tổ (1328-1398) chỉ là bọn “Giương cung bắn ó diều /Thơ Tuyết”; hoặc đến như Thống Chế Hồng Quân Bành Đức Hoài khi cần thì hạ ngục và bắt phải ăn… cứt để (được) chết trong Cách Mạng Văn Hóa (1967-1974). Cách bác phong chức quân sự chỉ là những tiểu xảo như lần gắn lon “Đại Tá” cho thư ký riêng Vũ Đình Huỳnh (1905-1990) nhằm để người nầy chỉ phải chào Tướng Raoul Salan (1899-1984) lần đi qua Pháp dự Hội Nghị Fontainbleau (9/1946). Chuyện của bác nếu cứ phải nhắc lại thêm một lần của nhiều lần vì dẫu đã nói trong Đĩ&Điếm cũng chưa đủ thiếu bao nhiêu.
Với chức vụ Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Đại Tướng Thanh đã lập thành tích trong việc xây dựng chính trị, tư tưởng, hệ thống tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, để có sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Viên tướng (gốc nông dân) nầy đã phát động chiến dịch: “…Đánh phá ác liệt tiểu thuyết “Phá Vây” của Phù Thăng vì cuốn sách có (một) câu: “Hòa bình là nguyện ước của vạn con người”! Rồi đánh tiếp tiểu thuyết “Vào Đời” của nhà văn quân đội Hà Minh Tuân (1929-1992), vốn là một chính ủy trung đoàn trong chiến tranh chống Pháp (1946-1954). Vào Đời của Hà Minh Tuân bị Đại tướng Thanh kết tội là “có lập trường giai cấp tiểu tư sản” (TrĐ-ĐC, Cuốn1/trg 234-235). Thật sự, Hà Minh Tuân công trận lớn, có học thức, phong cách hơn Thanh, vốn chỉ là một anh “Tướng du kích” Làng Niêm Phò Thừa Thiên-Huế.
Không những “chỉ đạo sâu sắc” trên mặt trận văn hóa/tư tưởng, Đại Tướng Thanh “Con người của những đột phá/Vị tướng của các phong trào (lớn)”, còn nâng cao khả năng lãnh đạo/nhận thức chính trị lên một tầm vóc mới qua sự kiện: “Năm 1963, Tướng Thanh viết bài đăng trang nhất Báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận trung ương của đảng (Cũng cần nhắc lại, đánh giá của giới chính trị tư tưởng cộng sản gốc Bắc Kỳ, Hà Nội cho rằng Thanh chỉ là nông dân vô học) kêu gọi nhân dân tiết kiệm lương thực với biện pháp là “Không ăn bún”. Thanh liệt bún vào bảng xa xỉ phẩm qua bài viết nầy lửa “Tại sao phải ăn bún?! (TrĐh, ĐC, Cuốn 1/Trg 235). Tuy nhiên, cũng nên nhắc lại sự kiện: Khi ăn thịt chó nhà Tố Hữu, chính Thanh đã một lần ca ngợi, luận thuyết hào hứng về thiên tài bếp núp dân tộc (ta) – Thanh đã rao giảng tuyên ngôn: “Thịt chó thì nhất định phải thằng bún đi với thằng mắm tôm !“ (ĐC, Cuốn 1/Trg 173)”. Thanh còn tỏ ra rất “văn minh”, ăn thị chó uống sâm banh Moet & Chandon ướp lạnh.
Tướng Thanh đột chết tại Hà Nội, 6/7/1967 trước cuộc Tổng công kích và nổi dậy Tết Mậu Thân, 1968, Tuy nhiên, Thanh vẫn được coi là người dựng kế hoạch cuộc tấn công nầy, bởi chủ trương “nắm thắt lưng địch mà đánh” để đối phó với quân đội Mỹ. Nhưng TCK Mậu Thân chỉ đánh với Quân Lực Cộng Hòa nơi 40 thành phố, quân lỵ, thị xã Miền Nam. Chỉ riêng mặt trận Huế lực lượng cs có giao tranh với liên quân Việt-Mỹ, nhưng thành tích nổi bật là chôn sống hơn 5000 người, phần đông là đàn bà, người già kể cả con trẻ. Vụ thảm sát Mậu Thân ở Huế đến nay vẫn duy trì cách phủ nhận: Do cộng sản địa phương Thừa Thiên-Huế (Quê hương của Nguyễn Vịnh/Chí Thanh) hạ thủ – Đảng- nhà nước ta ở Hà Nội không biết!
Tuy nhiên Tướng Võ (Nguyên) Giáp vẫn phê điểm tốt cho Thanh: “… Tôi (Giáp) tin là nếu anh Nguyễn Chí Thanh còn sống trong thời điểm lịch sử ấy, kế hoạch tổ chức tập kích chiến lược năm Mậu Thân 1968, “có thể” sẽ được thực hiện chắc chắn hơn, thắng lợi “có thể” to lớn hơn và nhất là cái giá phải trả có thể được hạn chế hơn”. Thật ra Giáp muốn phê phán trách nhiệm về sự thua trận (quân sự) là do Lê Duẩn và Lê Đức Thọ (Phần Đĩ&Điếm đã trình bày) nhưng Giáp (rất) rét vì hai đương sự nầy nắm trọn quyền lực đến cả Bác (ta) cũng phải ngồi im nơi Bắc Kinh nghe đứa nhỏ hát “Bé! Bé! Bồng bông” sau khi đọc thơ chúc Tết “Máu nhuộm Miền Nam,”
Ba.
Chúng ta đóng lại bài viết với một trong những thủ phạm cần phải gọi đích danh: Tổng Bí Thư Lê Duẩn – Người với cái đầu được tán tụng là có đến “200 bougies/hai trăm bóng đèn”. Nhân sự nầy với cái đầu cực kỳ ghê gớm kia có khả năng: ” Lê Duẩn không bận tâm tới ý người khác. Cán bộ cộng sản các cấp chỉ là những mặt người giống như các vách hang đá cho ông thử nghiệm độ vang dội của lời ông! Khi (LD) nổi cáu thì hai con mắt càng xáp lại gần nhau. tiếng nói càng ríu lại” (ĐC, Cuốn 1/Trg 186). Cái đầu “200 bougie” của tổng bí thư Duẩn do không hiểu Marx là cái gì hết nên mới xẩy ra hoạt cảnh hài hước như sau: “Khi Lê Duẩn nói hết (về Marx), Bình (NĐBình thư ký của Duẩn) lên tiếng:”Tổng bí thư đã nói xong, xin giáo sư góp ý kiến. Ngơ ngác một lúc, Thảo (Trần Đức Thảo, giáo sư tiến sĩ đại học Sorbone Pháp, năm 1951 xin “cụ Hồ về nước phục vụ kháng chiến”. Sau 1956 do dính líu với vụ Nhân Văn Giai Phẩm, tuy không bị tù nhưng được giao công tác cho ra nông trường chăn bò). Thảo nói: Tôi không hiểu tổng bí thư nói gì cả! Thảo vừa dứt lời, thoắt một cái rất nhanh, Duẩn đã nhào đến đằng sau lưng, quàng hai tay vào ngực anh rồi liên tiếp xốc lên, dội xuống anh mấy bận!
Hãy tiếp xem xét tổng bí thư Duẩn đã làm gì với thảm kịch Việt Nam. Với cái đầu “cực kỳ” Duẩn chỉ đạo: “Kìa, không có thì in ra! In ra! Không sợ lạm phát! Tư bản đế quốc in tiền mới sợ lạm phát chứ ta, chuyên thì sao lại là lạm phát mà sợ (ĐC, Cuốn/Trg 187) Và chuyên chính vô sản là gì? Duẩn ngắn gọn vô cùng: “Người ta lầm Marx đã đề ra đấu tranh giai cấp. Không, nhiều người đã nói cái nầy trước Marx rồi. Vậy phát kiến vĩ đại của Marx là gì? Rồi Duẩn cười cười đưa cạnh bàn tay lên ngang cổ nói: Là như Jacobin thời Đại Cách Mạng Pháp – Giết! Thủ tiêu! Bạo lực! (ĐC, Cuốn1/Trg.187). Nhưng Duẩn không nói suông. Con người nầy với Đảng cộng sản đã lập nên thành tích qua báo cáo chính trị của Đại Hội 4, 1977: Đã đập tan của cuộc phản công lớn nhất của tên đầu sỏ tư bản, đế quốc với câu nói để đời hiện vẫn còn mạ vàng nơi đền thờ của Duẩn ở Nghệ An: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc”. Về miền Bắc, Duẩn nói: Thành tựu to lớn nhất là đã thủ tiêu chế độ người bóc lột người (?) Các giai cấp bóc lột đã bị xóa bỏ!! (ĐC, Cuốn1/Trg. 462)
Kết từ.
Tóm lại “Thành tích” đã kể ra qua hai bài viết không chỉ là thành quả riêng của “Bác Hồ vô vàn kính yêu” luôn sống mãi trong “Sự Nghiệp Chúng Ta” – Khẩu hiệu chiến lược luôn đi kèm theo “Chân lý: “Không có gì quý hơn Độc Lập-Tự Do”. Thành tích nầy là tổng hợp của: Cách mạng Tháng 8, 1945 -Tuyên ngôn độc lập Ngày 2 Tháng 9/1945 – Toàn quốc kháng chiến 19/12/1946 – Cải Cách Ruộng Đất 1953-1956 – Cải tạo Công Thương Nghiệp miền Bắc (1956-1958) – Đại Hội 3/Nghị Quyết 9 TUĐ/Đồng khởi miền Nam/1960 – Tổng Công Kích Mậu Thân 1968 – Chiến Dịch Nguyễn Huệ 1972 – Chiến Dịch Hồ Chí Minh 1975… và tiếp tục tại hôm nay.
Đoạn đường dài đẫm máu toàn Dân Tộc Việt vửa kể ra (không loại trừ một ai) được tổ chức/chỉ đạo/điều hành bởi: Nguyễn Sinh Côn, Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc, Linov, Vương Đông Hải, Hồ Quang, Hồ Chí Minh… được thi hành, thực hiện với Trường Chinh, Võ (Nguyên) Giáp, Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Hùng, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt… và hiện nay với Nguyễn Phú Trọng, Tô Lâm. Danh sách sẽ rất dài nếu muốn kể đủ.
Bản thân tôi chỉ là một Con Người/Công Dân bình thường của Miền Nam không có trách nhiệm, khả năng, bổn phận nào khác như vạn triệu Người Lính VNCH trong giai đoạn hơn 81 năm của thời đoạn 1945-2026. Nay cuối đời chỉ muốn nói cho ra lẽ: Sự ÁC có Thật – Đảng Công Sản/CSVN là hiện thực Sự ÁC toàn diện và thuần thành nhất – Cách nói đơn giản của Phan Thúy Hà, sinh 1979 ở Nghệ An vùng đất khai sinh người, đảng CS.
Do một nguyên tắc tự đặt định từ khi bắt đầu cầm viết, 1968 và tuân thủ đến hôm nay: Không viết điều sai quấy, xúc phạm đến tính chất cá nhân người khác (cho dù đối với những nhân sự cầm quyền chính trị-quân sự thuộc phía đối phương cộng sản). Nhưng đến hôm nay, nhân ngày 20/7/2026, sáu mươi-hai năm sau lần ký kết Hiệp Định Đình Chiến Geneve/The Geneva Armistice, hiệp định ký kết do hai đại diện (cấp thứ trưởng Pháp-Việt Minh) ấn định lần chia cắt tạm thời hai miền đất nước – Là tiền đề chiến cuộc 1960-1975, gây nên hậu quả, hệ quả nguy hại sâu xa đối với vận mệnh Việt Nam-Toàn thể đất nước Việt Nam mãi đến hôm nay.
Và hôm nay, hơn 50 năm/nửa thế kỷ sau 1975, những thế hệ người Việt sinh sau 1975 trong và ngoài nước phần đông vẫn lập lại những “luận điệu tuyên truyền quần chúng” của đảng cộng sản Hà Nội chủ trương, thực hiện trong những thập niên 1950, 60, 70… và tiếp tục sau 1975! Hóa ra, thành phần thế hệ trẻ nầy đã KHÔNG THẤY/KHÔNG HIỂU ra được một phần căn bản: Cộng sản/Cộng sản Việt Nam là Ai? Như thế nào? cho dẫu họ đang sinh sống, học tập, làm việc tại các nước “tư bản” Pháp, Mỹ, Úc, Canada… Mà phần đông (lại) không muốn trở về VN! Tại sao? Thế nên, bài viết phải được viết nên.
Dẫn Nhập:
Sinh hoạt nhân gian thông tục Miền Nam có phương cách gọi (theo) thứ bậc thai sinh: Anh Hai, Chị Ba… Không có “Anh/Chị Cả” cốt né tránh (kỵ, húy) thứ bậc “Cả” của Hoàng Tử Cảnh, “Con Cả” Chúa Nguyễn Ánh, nên gọi trại “Cảnh thành Kiểng – Chơi Kiểng, Đình Tân Kiểng, Kiểng chùa…”.
Nơi Miền Nam, giới nhà binh thuộc những thế hệ 1930, 40, 50… thêm thắt, điều chỉnh lối gọi trên bằng cách thêm vào tộc danh những nét/tính (độc đáo) của đối tượng (muốn) đề cập nhằm phân biệt người nầy, kẻ khác. Ví dụ: Ông “Minh Râu”/Tư Lệnh Không Quân (1967-1975) nhằm phân biệt với “Minh Bự”, người hai lần giữ chức quốc trưởng, lập nên thành tích đánh sập hai nền cộng hòa (1963, 1975), cũng để xác định không phải là ông “Minh Đờn”, Tư Lệnh Quân Đoàn III ở Biên Hòa (1971-1973).
Trong tinh thần, với thuật dụng (bất thành văn) kể trên, thế hệ trẻ tuổi (trong, ngoài quân đội) miền Nam chế biến, bày đặt thêm hai tính từ/hình dung từ rất ấn tượng: Đĩ và Điếm. Phải nói ngay, đây không là hai tính chất, hình thái mang tính phủ định/chê trách; cũng không phải để mô tả về một “nghề/nghiệp” không mấy thiện lành của những người nữ (lỡ hoặc cố ý) sa vào cảnh đoạn trường tương tự Thúy Kiều; hoặc diễn dịch những tay quá quắt như gã Xuân Tóc Đỏ trong tiểu thuyết Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng. Trong nhiều trường hợp (lại) là đánh giá cao (gián tiếp) những anh đàn ông “hình dung chải chuốc, áo khăn dịu dàng” như nhân vật Thúc Sinh trong Truyện Kiều, hoặc những tay chơi có thành tích ái tình lừng lẫy cỡ Don Juan, Casanova của văn học, xã hội cổ điển Tây Phương.
Nhưng “Đĩ/Điếm” không chỉ là nét đan thanh thông tục của sinh hoạt nhân gian như trên vừa trình bày mà lịch sử VN từ 1945, 1946… dài đến 1954, 1960, 1968, 1972… trước, sau 1975 gần một thế kỷ đã cho thấy: “Đĩ-Điếm lại là đỉnh cao trí tuệ” từ diễn tiến vận động quân sự, chính trị, ngoại giao có “tính tiến công cách mạng hơn hẳn” của “Bác và Đảng ta”. Bài viết dưới đây xin được thật chứng minh.
Một.
Vào khoảng năm 1955, khu sân Bệnh Viện Đà Nẵng đường Lê Lợi (Trước Trường Phan Châu Trịnh, xây 1954, bị nhà nước cộng sản đập phá sau 1975) trước khi giao cho Sở Học Chánh Đà Nẵng mở Trường Nam Tiểu Học có cuộc triển lãm tranh ảnh về Việt Minh (Chưa có từ thông dụng Việt Cộng sau nầy). Thằng bé mười-hai tuổi vào xem triển lãm, nhìn thấy bức hình ông Hồ Chí Minh ngồi giữa một đám thiếu nữ mặc áo dài trắng với lời chú “Bác Hồ dâm bôn”. Dẫu không hiểu rõ nghĩa thế nào là “dâm bôn”, nhưng nhìn cảnh tượng một ông già (với râu dài) vây quanh bởi đám con gái, đàn bà thằng bé (cảm) thấy ra có điều gì kỳ chướng, bất thường – Do phản ứng (thẹn) của đứa nhỏ thụ nhận cách giáo dục thông thường của học đường, gia đình, xã hội người Việt từ Thế kỷ 19, 20 trước, sau 1954 – Nền giáo dục căn bản dạy người, liên hệ hai phái nam/nữ là một điều kín đáo, cần che dấu.
Tiếp theo những năm sau lần ra trường Đà Lạt 1963, đi hành quân lục soát những căn cứ địa Việt cộng, người lính vô tình tìm thấy tài liệu, hình ảnh “Bác Hồ với thiếu nhi, thiếu nữ từ Miền Nam/Không có giới thanh niên” ra thăm sau 1960 (Thời điểm thành lập Mặt Trận Giải Phóng 20/12/1960) – Ảnh nào trông ”Bác cũng rất “đã” khi ôm hôn các em, cháu gái – Với phản ứng kinh nghiệm tự nhiên của đàn ông (chưa tới 30), bản thân hiểu ra khoái cảm (sinh tâm lý) của phái nam (lớn tuổi) khi tiếp xúc với phụ nữ trẻ, thiếu nữ và thiếu niên nhỏ tuổi/Khuynh hướng tính dục ấu dâm. Sau nầy, khi đọc bài viết và hình ảnh từ cuộc phỏng vấn (20/4/1966) của ký giả Úc Wilfred Burchett đăng trên tuần báo Life thì cảm giác về một “Bác Hồ với phản ứng sinh tâm lý mạnh mẽ kích động nhục cảm” càng thêm cụ thể rõ rệt. Cảm giác, phản ứng mà Burchett đã diễn tả: “Bác Hồ là một nhân cách lớn nhất mà tôi chưa hề gặp, người với phong thái thuần nhã giản dị với ”tính nhân bản” cao nhất”.
Nhưng không chỉ chừng ấy, cảm giác của đứa nhỏ năm 1955 khi nhìn thấy hình ảnh “Bác Hồ vây quanh bởi đám thiếu nữ”; hoặc phản ứng của gã lính trẻ do hiểu ra mối kích động nhục thể từ những tấm hình “Bác hôm hôn, ôm các cháu thiếu nhi, thiếu nữ từ Miền Nam ra thăm” … Tất cả cộng với hình ảnh, nhận định của Burchett nói rõ viết trên báo Life trong năm 1966 có thể đưa đến kết luận chung nhất: Bác “Đĩ” thật/Bác rất “Đĩ”. Nhận định có thêm chứng cứ: Bộ ảnh bác thăm Ba Lan năm 1950 do Lisa Larsen (1925-1959) cũng của Báo Life bấm ảnh. Bộ ảnh có những những tấm hình rất ướt: Khi Bác ôm hôn môi vợ thủ tướng cộng sản Ba Lan Cyrankiewicz (1911–1989); hoặc khi bác nhân cơ hội hôn bó hoa (tặng) lẫn người nữ cầm hoa. Những bức ảnh đẹp và “mặn” đến nỗi bác không dằn lòng nên đã ngỏ lời tán Lisa: “Nếu còn trẻ tôi đã yêu cô rồi!” Bác nói thật chứ không hề đãi bôi.
Tháng 2, 1959 trong lần thăm viếng Indonesia, bác 69 tuổi (theo khai sinh chính thức, 1890) đã thố lộ với một bé gái: “Em đẹp lắm!” sau khi đã hôn đủ “ba phùa” ngọt lịm: Ôm hôn bên trái – Ôm hôn bên phải – Hôn môi! Bác hôn ướt đến nổi báo The Straits Times, số ra ngày 8 Tháng 3, 1959 (Hiện lưu trữ tại Thư Viện Quốc Gia Singapore) phải đăng lời báo động: “Nên bảo Chủ tịch Hồ phải ngừng hôn hít con gái…/President Ho is told to stop kissing girls…”. Bác không những chỉ hôn đàn bà, con gái, trẻ nít… Bác hôn cùng khắp. Bác hít đủ loại: Bác ôm hôn Thủ Tướng Ấn Độ Nehru, Bác ôm hôn ông da đen quốc trưởng Châu Phi, Bác ôm hôn đồng chí Liên Xô da trắng… Lẽ tất nhiên đồng chí vĩ đại Trung Quốc những là đối tượng không thể thiếu: Bác ôm hôn (chằm chặp) Chủ Tịch Quốc Vụ Viện/Đồng Chí Thủ Tướng Châu Ân Lai đến méo mặt, ngộp thở nhân lần đến Liễu Châu, nam Trung Hoa dự hội nghị mật quyết định số phận Việt Nam (3-5/7/1954). Chuyện “hôn, hít” của Bác đến đây tạm đủ. Bài viết qua chủ đề thứ hai: “Điếm”
Hai.
Bác không chỉ “Đĩ chất lượng” như trên. Bác còn “Điếm đúng tiêu chuẩn” hơn hẳn. Nếu phần trên “Đĩ” đã được bổ túc, xác chứng qua nhận định của Burchett. Tuy nhiên với bản năng/kỹ năng/tri thức của một người phương Tây (vốn) thuần lý, Burchett chưa biết/không thể biết những khả năng/tính chất/việc làm THẬT sau đây của “Bác” đối với những người từng liên hệ… Jean Sainteny (1907-1978), Ủy Viên Cộng Hòa Pháp, người đã nhảy dù xuống Hà Nội (10/1945) để tiếp xúc với “Chủ Tịch Nhà Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh” nhằm thực hiện kế hoạch (không tưởng): Thiết lập “quan hệ ngoại giao với chính phủ HCM – Một tổ chức chính trị chưa được bất kỳ quốc gia nào công nhận kể từ lần thành hình 2/9/1945 tại Hà Nội” có mục đích tái lập, duy trì quyền lợi kinh tế của Pháp ở Đông Dương, hớt trên tay Đồng Minh, cụ thể đối với Mỹ. Kế hoạch ngoại giao (không thực tế) do Sainteny thiết kế, xác lập đã bị phá bỏ bởi chiến tranh Pháp-Việt Minh (19/12/1946-20/7/1954). Nên năm 1972, trong hồi ký cá nhân Sainteny đã phải kêu lên: “Ông ấy con như cáo muốn vồ lấy tôi”–Dẫu rằng Sainteny luôn kỳ vọng: “HCM (vẫn) là một Gandhi của Đông Dương!”
Nhưng không chỉ một mình Sainteny bị “Bác phỉnh” mà Tướng Philippe Leclerc de Hauteclocque, Tư Lệnh Quân Đội Pháp tại Đông Dương (sau 8/1945), khi đưa quân từ Nam ra Bắc (thay thế quân Quân Dân Dảng Trung Quốc của Lư Hán) trong ngày 18 Tháng 3, 1946 đã có quyết định “… Nên bàn thảo với Việt Minh với mọi giá vì vấn đề “chống cộng sản (Việt Minh) hoàn toàn không cần thiết?!”. Dẫu Leclerc hiểu hơn ai hết: “Hồ là người của Cộng sản Liên Xô nhằm thực hiện thống trị thế giới.” Cũng hiểu (rõ) Hồ tương tự như thế, nhưng Cao Ủy Đông Dương Thierry D’Argenlieu vẫn rất vui thích khi ra Hà Nội trong Ngày 19 Tháng 5, 1946 được một rừng cờ đỏ sao vàng chào đón – Vì Ngày 19 Tháng 5 là “sinh nhật bất ngờ” do Bác (vừa) dựng chuyện/thông báo để Thư Ký (riêng của Bác) Vũ Đình Huỳnh (1908-1990) ra lệnh tổ chức khẩn cấp từ đêm trước! Vụ (giả) chào cờ mừng Cao Ủy Pháp không đi tới đâu, nên chỉ sau mấy tháng, Ngày 19 Tháng 12, 1946 chiến tranh Pháp-Việt Minh bùng nổ với máu xương của bao người Việt, lính Pháp đổ xuống cho đến ngày 7 Tháng 5, 1954 lần cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ – Tiền đề ký Hiệp Định Đình Chiến Genève, 20/7/1954 – Buộc Pháp nhường nửa nước Việt Nam cho Việt Minh, 1954 – Mất trọn Đông Dương, 1956 – Mất Algérie, 1962… hiện thực “Thơ khẩu khí của Bác” khi thăm đền Trần Hưng Đạo: “Tôi dẫn năm châu đến đại đồng!”
Bác không chỉ “điếm” đối với những đối thủ chính trị cao cấp, tầm cỡ quốc tế, bác giở trò điếm cùng khắp, bất kỳ lúc nào, với bất kỳ ai. Sau 15 Tháng 8, 1945 về Hà Nội, bác và thành phần lãnh đạo Việt Minh được vợ chồng ông bà Trinh Văn Bô (1914-1988), nhà tài phiệt lớn nhường cho căn biệt thự số 48 Hàng Ngang để lập trụ sở chính phủ lâm thời; ông bà Bô còn góp 5.147 lượng vàng vào ngân quỹ nhà nước (vốn không có một xu nhỏ). Vợ chồng ông bà Bô lo từ miếng ăn đến áo quần (loại hàng vãi đắc tiền) để xứng danh vị chủ tịch nước VNDCCH (?!). Nhưng đến mỗi bữa ăn, bác “diễn xuất” lấy một lon gạo đổ vào “hủ gạo bác Hồ” để cứu dân đói! Bác vừa đổ gạo vào hủ vừa thấm nước mắt! Bác “thương dân” chăng? Không phải! Hãy xem trường hợp Bà Nguyễn Thị Năm (1906-1953), chủ cơ sở thương mãi lớn Cát-Hanh-Long ở Hải Phòng.
Bà Nguyễn Thị Năm là chủ nhân khu đồn điền ở Thái Nguyên nơi đã tiếp đón, nuôi ăn hầu hết đám cán bộ trung ương Việt Minh trong những ngày trước Tháng 8, 1945, trước khi bác khai sinh nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, 2 Tháng 9, 1945 tại Hà Nội. Tương tự như ông bà Trịnh Văn Bô, Bà Năm góp 20.000 ngàn bạc Đông Dương, tương đương 800 lượng vàng cho chính phủ của bác làm ngân quỹ. Tuy nhiên, dù đang lúc chiến tranh với Pháp, (vừa) nhận tiền/vàng của Bà Năm, bác (lại) lên kế hoạch “giết” người ân nhân để đạt chỉ tiêu “5% địa chủ/Hộ nông dân đề ra trong chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất (1953-1956). Bà Năm là đối tượng điễn hình, đầu tiên được bác chọn trong kế hoạch đấu tố. Bác giết người ân nghĩa đối với bản thân mình với chữ!
Hãy đọc Trần Đĩnh kể trong Đèn Cù, in 2014 do Cơ Sở Người Việt Book, Nam Cali:”… Để phối hợp với bài viết của tôi (Trần Đĩnh) trên Báo Nhân Dân (Cơ quan ngôn luận của đảng cộng sản VN từ 1950), có một người viết ký tên “CB/Của Bác – lại một bí danh nữa” gởi đến bài “Địa chủ ác ghê”. Bài viết có nội dung: “Thánh hiền dạy rằng: “Vi phú bất nhân”. Ai cũng biết rằng địa chủ thì ác: như bóc lột nhân dân, tô cao lãi nặng, chây lười thuế khoa –thế thôi. Nào ngờ có bọn địa chủ giết người không nháy mắt. Đây là một thí dụ: Mụ địa chủ Cát-Hanh-Long cùng hai đứa con (cán bộ chỉ huy quân sự Việt Minh) và mấy tên lâu la với các tội, con số cụ thể (Đèn Cù, trg 85).”
Bà Nguyễn Thị Năm bị đưa ra đấu/giết để dọa quần chúng nhưng không “được chết” một cách yên lành mà với cảnh tượng kinh hoàng: “Khi du kích đến đưa bà đi, bà ta đã cảm thấy như có sự gì nên cứ van lạy “các anh làm gì thì bảo em trước để em còn tụng kinh…” Bà ta vừa quay người thì mấy loạt đạn tiểu liên nổ sát lưng… Mua được áo quan thì không cho (xác) bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta lên miệng cổ áo quan rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: “chết rồi còn ngoan cố này!!” Nghe xương kêu răng rắc!! Cuối cùng xác bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối vậy…” (Đèn Cù, trg 86). Sợ rằng viết như thế chưa trình bày đủ khả năng/quyền giết người của Bác, Trần Đĩnh viết rõ hơn: ”… Sở dĩ báo chí không được dự đấu là vì giữ bí mật, ngại Đồng Bẩm chỉ cách Hà Nội vài chục cây số đường chim bay, Pháp có thể nhảy dù xuống đó. Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt”. (Đèn Cù, trg 84)
Tóm lại, thành tích giết bà Nguyễn Thị Năm đã được chỉ đạo/thực hiện/chứng kiến nhất quán với quyền giết người của Bác. “Tôi (Trần Đĩnh) đọc lại danh sách những người bị tuyên án tử hình do các đoàn ủy thí điểm giảm tô trong Thanh-Nghệ gửi lên Cụ Hồ đề duyệt ân xá. Mỗi bản gồm tên bảy tám con người khốn khổ” (Đèn Cù, trg 90). Nhưng Bác được tay em (Hoàng Tùng, Tổng biên tập Báo Nhân Dân (1951-1982); Ủy viên BCH/TUĐ (1976-82) chạy tội trong hồi ký: “Thật ra Bác cũng chỉ là kẻ thi hành vì mùa hè năm 1952 Mao Trạch Đông và Stalin gọi Bác sang, nhất định bắt phải Cải Cách Ruộng Đất. Sau thấy không thể từ chối được nữa Bác mới quyết định phải thực hiện!!” Nạn nhân Miền Bắc bị giết trong Cải Cách Ruộng Đất (1953-1956) hãy nhớ: Bác bị buộc phải giết người theo lệnh của Nga-Tàu, dẫu Bác rất “thương dân”. Bác đã khóc nhận lỗi trên Đài Hà Nội vào ngày 18 Tháng 8, 1956. Bác khóc thật.
Ba.
Rõ ràng “nước mắt Bác” trong màn khóc lóc kể trên không đủ xóa trôi tội ác đối với những người chỉ sở hữu 0,65 hécta đất! Nhưng không chỉ có thế, Tết Mậu Thân, 1968 bác ban lệnh Tổng Tấn Công-Tổng Nổi Dậy thanh toán Miền Nam với “Thơ/Thơ Chúc Tết”: “Xuân Nầy hơn hẳn mấy Xuân qua. Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà. Nam Bắc thi đua diệt giặc Mỹ. Tiến lên toàn thắng ắt về ta!”. Nhưng (cũng) không phải chỉ là thơ xúi giục khởi động cảnh máu xương, hãy xem lại «tuyệt chiêu điếm» của bác: “…Sau hội nghị trung ương 14, đầu tháng 1, 1968 bác lỉnh đi Bắc Kinh lấy cớ chửa bịnh (?!). Và đêm 31 Tháng 1, 1964 khi toàn miền Nam chìm trong khói lửa của cuộc tổng tiến công do bác khai hỏa, trong căn phòng vắng ở Bắc Kinh với thư ký Vũ Kỳ, bác cười hả hê (chẳng có gì là bịnh hoạn) nghe một em bé Hà Nội hát bài “Bé bé bồng bông..” và thưởng thức «Thơ Chúc Tết » của chính mình (Huy Đức. Bên Thắng Cuộc/Cuốn II/Quyền Bính. OSIN Book, USA. 2012, Trg 158).
Sau hai đợt tổng công kích (Tháng 1 và 5, 1968), chiến dịch thất bại (về mặt quân sự), bác (lại) lấy cớ giải thích với Chủ Tịch Mao ở Bắc Kinh và trung ương đảng Hà Nội: «Bản thân bác không chủ trương tổng tấn công quân sự (để giữ sức đảng, yêu nước, thương dân…) mà chỉ cốt thực hiện chiến lược Chiến Tranh Nhân Dân/Dùng Nông Thôn Bao Vây Thành Thị – Chủ trương của Chủ Tịch Mao – Trái với kế hoạch tổng tấn công với hỏa lực do Liên Xô cung cấp –Trong giai đoạn Liên Xô –Trung Cộng đang ở cao điểm chống đối. Cuộc tổng tấn công còn là một thất bại nghiêm trọng đối với lực lượng vũ trang của Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam VN – Con bài chính trị của Bắc Kinh cốt nhằm làm yếu thế/lực/áp lực của Hà Nội. Sau ký kết Hiệp Định Ba Lê 27/1/1973, Ngày 30/4/1975 nhận định nầy càng được thật xác chứng.
Tóm lại, Bác né thất bại Mậu Thân, đổ trách nhiệm qua Lê Duẩn và Lê Đức Thọ, hai nhân sự có thực quyền, thực lực trong Bộ Chính Trị không được Bắc Kinh cho điểm tốt – Và (nếu) thắng thì Bác (sẽ) lấy phần «đọc Thơ» đã ra lệnh tổng tấn công – Quả thật, Bác là bậc thầy (chạy) của «Kế mưu tuyệt điếm/Tá đao sát nhân/Mượn dao kẻ khác để giết người ». Lịch sử điếm đông-tây kim cổ khó ai qua mặt. Cỡ Tào Tháo, Lưu Bị cũng xoàng.
Bốn.
Nhưng bác không « Điếm độc diễn ». Bác có những tay em, những học trò «Kiệt xuất với cường độ điếm» không kém bác: Tổng Tư Lệnh Quân Đội Nhân Dân-Bộ Trưởng Quốc Phòng Đại Tướng Võ (Nguyên) Giáp. Trước khi trình bày «năng lực, mức độ điếm » của Võ Giáp (Tên thật), bản thân người viết cần nói rõ một phản ứng có tính cách cá nhân đối với nhân sự tên tuổi nầy. Đấy là do bản năng, phản ứng của một người lính chuyên nghiệp, bản thân rất khâm phục khả năng, trí năng của Tướng Võ Giáp về mặt quân sự – Khả năng tổ chức điều hành, chỉ huy hai cuộc chiến tranh vượt thắng hai đối thủ hơn hẳn về vũ khí, kỹ thuật. (Phần thất bại của hai lực lượng quân đội Pháp, Mỹ không thuộc về nội dung của bài viết nầy). Nhưng song song với sự thán phục về mặt quân sự đối với Võ Giáp, bản thân thấy rõ một điều bất cập nơi con người nầy: Cách thức ăn mặc, màn hí kịch «diễn xuất» lộ liễu bày ra bản chất nhỏ nhen, tầm thường của một viên đại tướng lừng lẫy: Luôn «diện» veston, thắt cà-vạt, đội mũ phớt theo mode «công tử Hà Thành» thông dụng trước, sau 1945 tại Hà Nội. Khổ nổi, những bộ đồ mồi của Giáp là những chiếc áo veston cũ, cà-vạt màu mè nhăn nhúm vì đang ở «chiến khu»; nhưng khi đi duyệt binh đội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân trong ngày 22/12/1944, Giáp lại đeo thêm súng colt ngang hông, chân đi giày botte cao cổ của lính cỡi ngựa – Hình tướng của một kép hát bội diễn dỡ. Võ Giáp không chỉ «diện » như trên để «hù » đám du kích quê mùa quần cộc, chân trần, đương sự để nguyên bộ khi chụp hình với tổ Biệt Kích OSS Mỹ trong cảnh núi rừng Tây-Bắc (có lẻ) nhằm nâng «tác phong (văn minh) của một đại tướng» -Xuất thân là một ông gíáo trung học dạy môn sử địa được « Chủ tịch Bác» ngang xương phong cấp đại tướng theo ngẫu hứng. Những điều tầm ruồng về áo quần, cách diệu võ, giương oai của Võ Giáp không hề ngẫu nhiên dần được hiện rõ qua những việc như sau…
Từ đầu tháng 1/1968 Võ Giáp đã «bị/được» Lê Duẩn, Lê Đức Thọ « bố trí » cho đi Hungary chữa bệnh (?!). Ngày 28/1, trên đường từ Hung trở về nước, Võ Giáp ghé Bắc kinh xin gặp Chủ Tịch Mao. Mao không tiếp, còn ra lệnh đàn em đãi cơm cho Giáp với một cái chén mẻ (Mao ghim Giáp vì đánh giá Giáp là phe của Mạc Tư Khoa). Giáp ngồi tỉnh ăn cơm Tàu với cái chén mẻ bằng thái độ «khôn ngoan » của AQ, nhân vật vô sản Trung Cộng được Lỗ Tấn (1881-1936) mô tả qua kỹ thuật khôi hài (đen) với chước láu cá gọi là «thắng lợi tinh thần ». Ví dụ, như khi bị đánh, bị chửi, bị trò đểu thì hãy nghĩ “chúng đang đánh, chửi, chơi đểu bố của chúng”. Tương tự như thế, Võ Đại Tướng tỉnh bơ nâng cái chén mẻ với lý luận khôn ngoan – Ăn chén mẻ cũng là ăn cơm Tàu/Coi như ta ăn cơm của bố thằng Tàu! Ngày 29 Tết, máy bay Trung cộng đưa Giáp về Hà Nội. Giáp luận tiếp: «Nó/Thằng Tàu chơi đểu ta nhưng vẫn phải đưa ta về bằng máy bay chúng». Triết lý «thắng lợi tinh thần » của AQ được Võ Giáp thực hiện đúng. Hôm sau Tướng Giáp được Vũ Lăng, Cục Trưởng Cục Tác Chiến báo cáo “kế hoạch Tổng Công Kích-Tồng Khởi Nghĩa”–Kế hoạch thay đổi hẳn cục diện chiến tranh VN, Võ Giáp cố giữ vẻ mặt bình thản (cách «khôn ngoan/chịu trò điếm» của AQ để che dấu niềm cay đắng: Bộ Trưởng Quốc Phòng- Tổng Tư Lệnh đã không được biết một kế hoạch thay đổi vận mệnh quốc gia trước khi nổ súng CHỈ ĐÚNG MỘT NGÀY (Sách Huy Đức sđd; trg 159). Sau nầy khi được hỏi về «thất bại Mậu Thân», Võ Giáp nói nước đôi/của ngón «võ điếm» chân truyền: « Đợt Một (1-2/1968) «chưa » có kết quả cụ thể mà mở đợt Hai (2/1968) là « kém cơ sở!» Dẫu Giáp biết thua nặng nhưng do «ngón điếm» có sẵn, ông đại tướng không dám nói rõ, phần rất ngán Duẩn và Thọ vốn ghim Giáp từ lâu!
Năm
Tướng Giáp không những “điếm mà còn (rất) ác” không kém ông bác. Xin xem câu chuyện sau đây giữa Võ Giáp và nữ ký giả người Ý Oriana Fallaci (1929-2006). Cuộc gặp diễn ra tại Hà Nội trong Tháng 2, 1969, được kể lại trong sách Phỏng Vấn (với) Lịch Sử/Interview with History (NXB Houghton Miffilin Co Boston, chuyển dịch, tái xuất bản bởi Liveright Newyork, US. 1977). Buổi gặp mang tính chất “nói chuyện” giữa hai người hơn là một cuộc phỏng vấn đúng nghĩa về những vấn đề nghiêm trọng thuộc lãnh vực ngoại giao-chính trị-quân sự, nên có lúc Fallacio dùng danh xưng “thưa ông” thay vì “thưa đại tướng”. Vì chỉ để “nói chuyện” nên Fallaci đã hỏi những vấn đề mà (nếu) là cuộc phỏng vấn chính thức người hỏi thường tránh né hoặc dùng những hình thức đối thoại khác. Fallaci hỏi về Điện Biên Phủ (11/1953-5/1954), chiến thắng của bộ Đội Việt Minh do Giáp chỉ huy (trên danh nghĩa) chứ trong thực tế do Cố Vấn Trung Cộng La Quý Ba, Vi Quốc Thanh quyết định toàn thể về vũ khí, quân trang, quân dụng cho chiến trường, và do các Tướng Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn về tham mưu, chiến thuật. Tuy nhiên, đây không là chủ điểm của cuộc nói chuyện.
Hỏi về Điện Biên Phủ, nhưng Fallaci không đề cập đến khía cạnh vinh quang của Võ Giáp/Việt Minh, nhưng lại hỏi về cái giá tổn thất 45 ngàn bộ đội Việt Minh. Và Võ Giáp đã trả lời rất tỉnh: “Cứ hai phút, trên địa cầu có ba trăm ngàn người chết. Có nghĩa lý gì với 45 ngàn bộ đội chết tại Điện Biên Phủ?!” (O.F. sđd, trang 67). Fallaci lại cố “truy” Võ vấn đề thứ hai:”… Mặc dù mọi người đều đồng ý là cuộc tổng tấn công Tết (Mậu Thân 1968) là một thắng lợi tâm lý lớn. Nhưng về mặt quân sự, ông có nghĩ rằng đây là một thất bại không? Vì trên tổng quát, đứng về mặt chính trị cũng không hẳn là hoàn toàn thắng lợi! Dân chúng không nổi dậy. (Phía cộng sản-Pnn) chỉ chiếm đóng ở Huế trong khoảng một tháng. Ở Huế có những đơn vị lính Miền Bắc… Thưa Đại Tướng, phía Mỹ bảo rằng ông đã mất đến nửa triệu (lính), tính đến 1969” (O.F. sđd, trang 82).
Võ Giáp (thành thật): “Sự thiệt hại đúng là như vậy… Nhưng Mậu Thân là một vấn đề nhạy cảm. Cô nên hỏi phía Mặt Trận thì rõ hơn. Tôi không thể xét đoán vấn đề nầy, những gì xẩy ra nơi chiến trường. Tổng tấn công Mậu Thân không thuộc (quyền tôi-Tất nhiên). Cũng không thuộc về chúng tôi (Ai là “chúng tôi”-Pnn). Chiến dịch do Mặt Trận thực hiện (O.F. sđd, trg 83) Cuối cùng, khi Oriana Fallaci hỏi về chiến tranh sẽ kéo dài bao lâu nữa? Chiến tranh sẽ kéo dài bao lâu với người dân (VN) khốn khổ phải chịu đựng, hy sinh và chết? Võ Giáp lập lại chiêu cố thức “Điếm” cố hữu của Bác-Với Sự Ác: “Chiến tranh sẽ kéo dài (nếu) cần thiết: 10, 15, 20, 50 năm… Như Bác Hồ của chúng tôi đã từng nói… Chúng ta phải toàn thắng! Phải, 20 năm cho dù 50 năm… Chúng tôi không sợ! Chúng tôi không có gì phải vội vã!!” (O.F. sđd, trang 87)
Hậu Từ:
Bài viết đã khá dài, tôi phải chấm dứt do tâm trạng (nặng) não nề với câu (tự) hỏi: Có thể nào như thế? Chẳng lẻ những nhân vật quá quắt trong tiểu thuyết như Vi Tiểu Bảo của Kim Dung (1924-2018) hoặc Xuân Tóc Đỏ của Vũ Trọng Phụng (1912-1939) là những con người có thật Với Lịch Sử- Giữa Con Người- Trong Cuộc Sống? Gã Xuân Tóc Đỏ xuất thân là kẻ nhặt banh trong sân quần vợt biến thành “Người Ái Quốc, xây dựng, giữ vững nền ngoại giao, hòa bình giữa hai nước An Nam-Xiêm La?” Tương tự như thế qua sự THẬT: Lucien Emile “Lou” Conein (1919-1998) chỉ là một nhân viên CIA trung cấp, nhưng chỉ với bao tiền 42,000 Đô-La đem vào văn phòng Tướng Trần Thiện Khiêm trong ngày 1/11/1963 đã đủ để bảo chứng cho một kế hoạch sát nhân gồm những nhân vật tài trí của quân đội VNCH: Đại Tá Lê Quang Tung (1926-1963), Hồ Tấn Quyền (1927-1963)… và tiếp theo Tổng Thống Ngô Đình Diệm (1900-1963), người khai sinh VNCH, mà ngày Tết 1962/1963 (vừa) nhận cành hoa đào từ Hồ Chí Minh gởi từ Hà Nội với lời xưng tụng: “Ngô Đình Diệm là người yêu nước theo cách (riêng) của ông ấy”. Nhưng cũng chính Bác Hồ nhân nghĩa nầy là người đã khởi động, lãnh đạo, điều hành cuộc chiến tranh:”… Chiến tranh sẽ kéo dài (nếu) cần thiết: 10, 15, 20, 50 năm… Chúng ta phải toàn thắng! Phải, 20 năm cho dù 50 năm… Chúng tôi không sợ! Chúng tôi không có gì phải vội vã!!” như trên đã trích dẫn.
Bác không nói suông. Bác làm thiệt qua lần “tâm sự” với Madelein Riffaud (1924-?) Tháng 6/1964 trong vườn nhà bác tại Hà Nội. Riffaud, nữ phóng viên, nhà thơ vốn là “nữ kháng chiến quân” của phong trào xã hội/cộng sản Pháp trong chiến tranh trước, sau 1945. Bác không nói với Riffaud với vị thế cách chủ tịch nước VNDCCH mà với tính cách “câu chuyện giữa chúng ta” – Cách thức mà bác thực hiện vô cùng “nhân bản” với Burchett (1966) hoặc giữa Võ Giáp và Onario Fallacci (1969). Nói chuyện với cách nhìn thăm thẳm “nhân bản, mưu lược, chen lẫn ác hiểm” khiến Fallaci dẫu đã gặp đủ mặt Kissinger (Mỹ), Arafat (Palestine); Hussein (Jordan)… cũng phải chột dạ. Đấy mới là Võ Giáp, chỉ là “học trò” của bác – Huống chi gặp phải tay bác vừa phà khói thuốc, vừa nâng ly rượụ, ngồi sát bên cạnh… Sức mấy “em” nhỏ 40 tuổi (sinh 1924-1964), đến từ Paris, đất Pháp chịu đời cho thấu? Đến cỡ Sainteny còn phải kêu lên suýt nữa bị bác vồ từ 1945, 1946. Hóa ra Đĩ và Điếm không là tính chất mà là Thuộc Tính của Người. Biểu tượng sụp đỗ của Babylon trong Khải Huyền của Thánh John là con Điếm Vĩ Đại với Màu Đỏ thẫm máu tươi.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.