Tiểu Đoàn Trừng Giới

Heinz G. Konsalik

Nguyên tác: Straf-battalion 999

Tâm Vũ dịch

Nhà xuất bản: Thùy Dương 1973

Post by Sơn râu 25 Aug 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 3.

Vào đúng buổi tối mà Julia Deutschmann trở về nhà, ném chiếc áo khoác lên ghế, chạy vào phòng thí nghiệm của chồng, mặc chiếc áo choàng trắng và bắt đần sắp xếp lại những bản ghi chú của chồng thì ở Posen, tại căn cứ chính của Tiểu Đoàn trừng-giới 999, cảnh tượng như sau:

Trung Úy Wsraher, Đại đội trưởng đại đội I, cưỡi ngựa băng qua sân trại đến nhà bà nghiệp chủ người Ba Lan lai Đức. Bà là một góa phụ còn trẻ, chồng chết tại mặt trận Ba lan.

Đại úy Bart, Tiểu đoàn trưởng, ngồi trong phòng, dưới cây đèn đọc cuốn “Những cuộc mạo hiểm của Tom Sawyers”. Chân đi tất gác lên thành ghế, ông mỉm cười luôn. Khuôn mặt ông lúc đó mang một vẻ thiếu niên, thoải mái.

Thượng sĩ nhất Krull, đội nón sắt, bước ròn rã trong sân. Thỉnh thoảng ông dẫm phải một vũng nước. Có lúc ông ngừng lại nhìn trời. Có lẽ ông định đi tới các phòng ngủ để kiểm soát như thường lệ. Trung úy Obermeier chăm chú theo dõi viên Thượng sĩ một lúc rồi quay vào, kéo chiếc màn, đóng cửa sổ lại, lần mò tìm chiếc núm bật đèn và nhắm mắt lại vì quáng, ông rỏt nửa ly rượu Cô-nhắc, ực một hơi cạn. Ồng quyết định uống cho say.

Trong các phòng ngủ, người ta lo ngại tự hỏi không biết Thượng sĩ Krull sẽ chọn phòng nào để thi hành công tác thường nhật của ông, nhưng ai cũng có thể đoán được rằng chắc hẳn Thượng sĩ sẽ đến phòng có bốn anh lính mới tới. Trước hết, dưới gầm chiếu giường cuối, Thượng sĩ Krull khám phá ra được hạt sỏi lớn hơn hạt cát. Ông nhặt lấy, cầm giữa ngón tay cái và tay trỏ rồi buông cho hạt sỏi rơi xuống, ông không nói một tiếng. Tiếp theo, ông lại gần chiếc ghế đẩu đặt trước tủ, lấy ngón tay sờ và không thấy chút bụi nào. Nhưng đến chiếc giường sắt và khung cửa sổ thì thấy bụi. Gọi anh binh sĩ trực phòng, cựu Trung úy Stubnitz, người mà ông đã bắt chạy suốt buổi tối ở sân, ông quệt bụi lên má, lên trán, lên mũi, ngang dọc thành những ô vuông. Lần này ông cũng chẳng nói gì.

Cả phòng im lặng nặng nề, chỉ có tiếng bước chân của Thượng sĩ vang lên rõ rệt. Không một ai động đậy : hai mươi hai người nằm ngửa, chiếc chăn ẩm kéo lèn tận cằm, tay duỗi thẳng dán sát vào người, gót chân chụm lại, một kiểu “đứng nghiêm trong thế nằm”, ai cũng chờ đợi truyện không thể tránh được sắp xảy ra. Trong một góc phòng có tiếng thở hổn hển của binh nhì Reiner nguyên luật sư ở Munich, bị giam ở trại Dachau từ năm 1939, rồi được thuyên chuyển về Tiểu đoàn 999 từ mùa xuân năm 1943. Anh ta mắc bệnh suyễn.

Khi Thượng sĩ Krull ước chừng đã bôi đủ bụi lên mặt Binh nhì Stubnitz, ông đi khám các tủ. Ông ném quần áo trong chiếc tủ thứ nhất ra ngoài, đến chiếc thứ nhì thì ông lôi ra hết mọi đồ đạc. Ông bỏ qua chiếc tủ thứ ba, thứ tư, ném quần áo chiếc tủ thứ năm, vét sạch chiếc thứ sáu, vẫn không nói một tiếng.

Chiếc tủ thứ bảy là của Karl Schwnecke Krull mở tủ và lập tức lùi lại một bước. Một tai họa thực sự ! Vật duy nhất được xếp có thứ tự, theo thứ tự của nhà binh, đó là những hình đàn bà khỏa thân được gắn phía sau cửa tủ.

Krull cố nén tính tò mò, thâm tâm quyết định phải đến xem kỹ những hình này một cách thỏa thích, và cho lệnh lôi mọi người dậy. Ông chờ dịp khám chân binh sĩ trước khi đuổi họ ra sân tập thể dục ban đêm ; nhưng rồi ông bỏ ý định đó và cho lệnh họ xếp hàng diễn hành trước tủ của Schwanecke với “động tác nhìn trái !”

Rồi ông cho xuống sân. Hình phạt kéo dài trong nửa giờ. Quang cảnh thực kỳ quặc với những người mặc sơ mi, chân đi guốc gỗ, thao diễn như những bóng ma trong chiếc sân tối tăm. Thượng sĩ bắt họ thi hành : đi chân ngỗng, nhảy cóc v.v…

Khi chấm dứt thì ba binh sĩ gần lên cơn đau tim : nguyên luật sư bị bệnh suyễn, Deutschmann và Barlitz. Những người khác thì ngất ngư chân đi lảo đảo, người xanh lét, đẫm mồ hôi và bẩn thỉu. Ai cũng mệt lử, chỉ trừ Schwanecke. Hắn vừa cười vừa nguyền rủa Thượng sĩ. Vi vậy hắn phải chạy thêm mấy vòng sân. Nhưng hắn vẫn không để tắt nụ cười, chẳng bao giờ hắn không cười. Mọi người phải mất trọn một giờ để tắm rửa, lau chùi căn phòng. Mãi đến 11 giờ rưỡi họ mới được đi nằm với hy vọng được ngủ yên cho tới sáng mà không bị đánh thức dậy. Ernst Deutschmann nằm ngửa, cố thở thật dài và thật đều. Tim anh đập mạnh. Rồi dần dần, tình trạng khá hơn, cơn chóng mặt biến mất, anh chỉ còn thấy như bị liệt bại đau đớn khiến thân thể nặng nề như một khối chì.

Người nằm cạnh là anh nông dân Wiedeck mà anh quen từ ngày ở quân lao Francfort-Suroder. Hắn là một người bạn tù thật ít nói Họ mới chỉ trao đổi với nhau một vài lời mặc dầu luôn luôn họ ở chung,- cả khi làm công việc đóng đinh đế giầy của quân đội. Tình bạn đã nảy nở vào một hôm có viên Thượng sĩ vốn không ưa bộ mặt Deutschinann đem đổ luôn mấy thùng đinh giữa buổi nghỉ trưa và cho lệnh ông cựu bác sĩ phải nhặt lên. Vẫn giữ im lặng, Wiedeck đã giúp anh trong công việc đó.

Deutschmann nghe tiếng anh bạn nông dân nằm cạnh hỏi :

– “Thế nào, đỡ rồi chứ ?”

– “Khá hơn.”

Hai người cùng im lặng.

Một lát sau, Wiedck thì thầm :

– “Thằng khốn nạn thật.

– “Thắc mắc với nó làm gì.”

Lại im lặng. Wiedeck lại hỏi :

– “Mày nghĩ gì ?”

– “Nghĩ tới vợ tao, Julia”.

– “Tao cũng vậy, Tao nghĩ tới Erna. Mày có con chưa ?”

– “Chưa.”

– “Tao, hai rồi… Nhưng không, bây giờ là ba”

Có tiếng la :

– “Tụi bây câm mồm lại.”

Erich Viedeck bắt đầu kể chuyện bằng giọng thật khẽ, thỉnh thoảng ngừng lại thật lâu để lựa lời. Tuy vậy, qua truyện của hắn, Deutschmann thấy hiện lên trước mặt cả một thế giới xa lạ với anh. Anh không còn nghe thấy hơi thở rộn ràng của anh lính suyễn, cũng không nghe thẩy tiếng ngáy của Schvvanecke. Bóng tối dầy đặc của căn phòng dường như mở rộng giống như cánh đồng miền Porémanie.

Và đây là câu chuyện tại sao cựu hạ sĩ Erich Wiedeck, từng được ân thưởng huy chương anh dũng đệ nhất hạng, từng mang huy hiệu bạc của đoàn bộ binh xung phong và huy hiệu chiến thương đã phải về Tiểu-đoàn Trừng-giới 999 trước khi sắp thăng cấp Trung sĩ : Ngày đó là một buổi trưa trên cánh đồng Melchow. Một vài chiếc máy kéo kêu lách cách trên có những người đàn ông tóc cắt ngắn, mặc rách rưới, theo sau là những đàn bà và thiếu nữ, tóc phủ khăn quàng nhiều màu. Đó là những thợ nông nghiệp người Nga, những nông dân miền Ukraine, Caucase, miền Nga trắng, vùng lân cận Minsk hoặc miền đồng hoang Saporojié, bị bắt như những con vật săn, trong ban dêm, tại giường ngủ của họ, được chất lên những toa tàu chở súc vật và gửi sang Đức để hoàn thành mùa màng bảo đảm cho chiến thắng,

Wiedeck lấy ngón tay vuốt những bòng lúa mạch của anh. Bông nào cũng dầy, phồng lên, chín kỹ, đẹp hơn những năm trước. Hai mươi mẫu ruộng đã được cày cấy đủ thử hoa màu : lúa mạch, lúa mỉ, khoai tây, củ cải đường.

Anh nhìn những chiếc máy kéo và những người Nga trở lại thôn xóm, tươi cười. Hôm nay thứ bảy, trước ngày nghỉ. Trời đẹp. Mặt trời còn rực rỡ chừng vài ngày nữa thôi. Anh nghĩ :

– “Họ sẽ không kịp, họ không thể nào kịp. Một vài người Nga, mấy người đàn bà, một hai chiếc máy kéo. Mùa màng sẽ chín rục dưới chân nếu không gặt hái cho nhanh. Rồi anh chợt nhớ tới vợ anh, Erna, đang có mang, sẽ sinh nở trong ba tuần nữa, chị ấy không thể cúi xuống được và sẽ đau ốm nếu làm việc dưới nắng.

Anh nhìn cánh đồng như một mặt biển gợn sóng lúa, tính nhẩm xem phải mất mấy ngày mới gặt xong trước đầu mùa mưa. Khi anh trở về vào lúc xế trưa, Erna đứng đợi anh ở khung cửa.

Chị lo ngại hỏi anh :

– “Anh ở đâu về đó ? Chuyến tàu anh đi khởi hành lúc 2 giờ trưa đó”.

Anh trả lời vắn tắt:

– “Anh ra đông xem qua một chút”.

Chị cởi chiếc áo vải làm bếp choàng ngang người rồi nói :

– “Lúa thật đẹp. Anh vào ăn một miếng, Em làm cho anh chiếc bánh để anh mang đi.”

– “Ai lo vụ đó ?”

– “Vụ gì ?”

– “Gặt lúa.”

– “Em…”

– “Em lo?”

– “Hẳn rồi. Với ba người Nga nữa. Khi họ xong việc bên bác Pilchow, họ sẽ đến đây cùng chiếc máy bó lúa kiểu lớn.”

– “Như vậy quá chậm.”

Anh ngửng lên nhìn bầu trời. Chắc không nắng lâu quá một tuần nữa, và khi mưa bắt đầu thì mùa màng càng chóng thối rữa.

Erna kẻo chồng vào nhà :

– “Vào đây… Chả có cách nào khác. Mình cố gắng thu hoạch được gì hay nấy. Còn lại đành… Ngày nào đó sẽ hết chiến tranh, lúc đó anh sẽ chăm nom chu đáo.”

– “Để cho mùa màng thối rục thực là điều xấu hổ.”

Anh ngồi trong nhà bếp, gần cửa sổ, nhìn ra ngoài, rồi anh quay lại Erna đang rót cà phê cạnh bếp, hơi thơm ngát căn nhà. Trên bàn, có chiếc bánh ngọt trộn lần nho khô. Bên cạnh là bó hoa… hoa lấy trên đồng cỏ của anh. Anh quay lại nhìn cảnh đồng quê. Anh nói :

– “Anh ở lại.”

Erna sững sờ hỏi:

– “Sao ? Anh nói gì ?”

– “Anh không đi.”…

° ° °

Erich Wiedeck kể tiếp, trời tối nên không ai thấy mắt anh ướt đẫm :

– “Thế là tao ở lại. Tao bảo Erna là tao được gia hạn phép, tao được ở nhà cho tới khi mùa màng xong xuôi. Thực ra tao đâu có ở lại chỉ vì vụ đó, mày hiều không ? Bác sĩ bảo vợ tao phải giữ gìn trước khi sanh, nhưng nó giữ gìn thế nào được nếu tao phải đi và nó phải tự làm lấy mọi việc. Mà nếu không làm thì lấy gì ăn, lấy gì nuôi lũ trẻ. Mùa màng đâu có được là mấy và tụi nó chịu chết đói sao ? Mày hiểu tại sao tao không thể bỏ đi được.”

Deutschmann đáp :

-“Ừ”

– “Thế là tao lo việc gặt hái, làm vỉệc như một con vật. Từ sớm đến tối tao ở ngoài đồng, rồi lại còn phải làm thêm công việc ở nhà nữa chứ Nhưng rồi tao cũng đem được thóc lúa vào vựa. Đem hết ! Tao chỉ ngại công an đến bắt tao đi, nhưng họ không thấy tới. Tao chỉ tiếc có một điều…”

Anh ta ngừng lại Deutschmann hỏi :

– “Điều gì vậy ?”

– “Tao tiếc là không được ở nhà lâu hơn cho tới khi Erna sinh nở. Chắc nó sinh con trai. Mày nghĩ sao ?”

– “Chắc thế.”

– “Có lẽ tao nên ở lại mới phải. Nhưng sau đó, khi mùa màng xong, tao sợ quá. Thế nên tao ra đi. Hai đứa con gái nhỏ của tao tiễn tao ra ga vì Erna không đi nổi. Đứa lớn lên năm tên là Dorthe, đứa nhỏ lên ba tên Elke. Tao bảo chúng nó phải ngoan ngoãn vì má chúng sắp đau, dặn chúng không được nghịch ngợm. Chủng hứa với tao như vậy và tao tin chúng vì chúng ngoan lắm… Tao chỉ mong được biết Erna ra sao… Mày tin rằng có chuyện gì chứ ?”

Deutschmann trả lời chắc chắn :

– “Hẳn thế rồi.”

– “Tao có thể ở thêm hai hay ba ngày nữa. Và như thế, bây giờ tao có lẽ đã biết được. Nhưng…”

Deutschmann suy nghĩ… “Phải, bao giờ cũng có một tiếng “nhưng” : nếu ta làm như thế thì mọi việc sẽ khác, nhưng… Bây giờ mình đã hiểu. Mình còn sống được đã là một phép lạ. Với tình trạng hiện lại cho thấy chất huyết thanh không hiệu nghiệm. Minh đã mắc phải một điều sai lầm. Có lẽ mình chẳng nên hấp tấp quá như vậy. Chính ra mình nên suy nghĩ lâu hơn, tính toán kỹ hơn. Nhưng…”

Deulschmann nói từ tốn :

– “Thôi ngủ đi”.

Wiedeck đáp : “ừ” và hắn không nói thêm tiếng nào vì hắn đang khóc…

° ° ° ° ° ° °

Ngày hôm sau, khi xong công việc trở về, cả Tiểu-đoàn được phép viết thư. Những tay cáo già hiểu ngay là sắp có chuyện gì ; có lẽ họ sắp đưa đơn vị này sang Nga.

Deutschmann viết cho vợ ;

“Em Julia yêu dấu,

“Anh vẫn khỏe, ăn uống đầy đủ. Anh chẳng có gì, trừ em, đôi mắt nai của anh. Em không thể biết anh thiếu em đến mức nào. Anh thèm được nhìn lại em… nhưng, vào lúc này thì đó chỉ là một ước vọng thực vô tích sự. Đừng lo ngại gì cho anh cả, nhưng em cần cẩn thận, nhất là lúc này với những cuộc ném bom đó. Anh van em, hãy giữ gìn cẩn thận, đôi mắt nai của anh. Anh muốn rằng khi trở về, anh thấy em đẹp và mạnh khỏe”.

“Hôn anh của em đi”…..

…..“Em Erna”

“Anh vẫn không rõ em sinh nở ra sao? Con trai hay con gái ? Nếu là con trai, đặt tên nó là Wilhelm, như tên ông nội, nếu là con gái em phải rỏ phải đặt tên nó là Erna, như tên em. Ở đây anh khỏe mạnh, anh chỉ lo cho em và các con. Nhưng phải tin ở Trời để ngài chóng đưa anh về với em và các con. Anh hôn em và các con.”

Chồng em

Erich……

Hai bức thư hơi dài hơn luật lệ ấn định, nhưng biết rằng họ sắp phải đi xa nên người ta cũng bỏ qua.

Dù là một anh mù đi chăng nữa cũng có thể đoán biết một chuyện gì đang chuẩn bị. Hơn nữa Đại úy Bart lại mới có thêm viên Tiểu-đoàn- phó.

Mới đầu Đại-úy không hiểu rõ tinh thần bức văn thư mà ông vừa nhận được từ Bộ Chỉ-huy các đơn-vị trừng-giới.

Ông nói với Obermeier và Wernher :

– “Mình có thêm ông bạn mới, các bố ơi. Một Trung úy tên là Fritz Bevern, theo lý lịch thì là một tay khá đây: Trưởng đoàn thanh niên Hít le, con một công chức cao cấp, tốt nghiệp sĩ quan ưu hạng, chuyên môn về giáo dực. Huy chương hạng nhất chiến công, anh dũng bội tinh hạng nhì, Hôm nay cậu ta tới đây.”

Wernher bàn:

– “Thật đúng như mình cần. Mình xin đã lâu rồi phải không Đại-úy ?”

Bart trả lời :

– “Anh chàng này chắc khá lắm. Chờ xem. Dù sao, tôi cũng có một ông phó. Tuyệt chứ, hả ? Vừa nhẹ bớt được công việc chỉ huy lại là người trung gian với binh sĩ. Tôi chỉ sợ ông ta sớm trở thành dư.”

– “Đại-úy khó hiểu quá.”

Bart mỉm cười :

– “Độ ba hay bốn tuần sau khi mình tới đất Nga thì liệu còn ai nữa không để ông ta làm trung gian liên lạc nhỉ ?”

Wernher nói:

– “Đại úy lại bi quan nữa. Xin phép Đại ủy cho tôi đi chút.”

Bart hỏi, vẻ chế riễu :

– “Ngựa đã đóng yên chưa ?

– “Dạ, từ một tiếng đồng hồ rồi.”

– “Được, chúc cậu vui nhiều. Còn Obermeier, cậu ở lại với tôi chứ ?

Trung úy Bevern tới đơn vị bằng chiếc xe Horch lộng lẫy, chắc khi trước là của một đại nghiệp chủ nào.

Khi ông xuống xe là đi những bước mềm dẻo vào văn phòng Tiểu-Đoàn, có nhiều tiếng xuýt xoa từ các cửa sổ doanh trại. Bốt bóng loáng, quân phục vừa khít, mũ kết ngay ngắn, găng tay bằng da heo rừng màu xám nhạt, súng lục trong chiếc bao da nâu thật đẹp : đúng là mẫu Sĩ Quan, một hình nộm từ trong tủ kính các nhà may quân phục.

Đại Úy Bart đốt điếu thuốc, tự nhủ với vẻ ngán ngẩm : “Mình làm gì được với con khỉ ăn mặc chỉnh tề như thế này ? Có lẽ phải đem theo một thợ sửa bàn tay cho hắn khi Tiểu Đoàn lăn lóc trong bùn lầy đất Nga !”

Nhưng ông đã lầm. Khi trình diện xong, ba Sĩ Quan tìm hiểu nhau thêm quanh chai rượu chát, Fritz Bevern đã đứng vào tư thế tấn công ngay, ông nói :

– “Khi vừa tới, tôi nhận thấy ở ngoài cổng trại có một thằng ba bị tay cầm chiếc chổi. Mới đầu tôi lại tưởng rằng đó là một tên Nga. Nhưng mà, thưa quý vị, đó là một binh sĩ Đức. Tôi đoán chắc như vậy ! Tôi gọi lại nhìn tận mặt, nhưng thằng cha mất gốc đó cũng không thèm chào tôi. Hắn làm cho tôi có cảm tưởng hắn không phải là người. Và lúc đó, hắn cho tay ngoáy mũi. Thực là xấu hổ. Tôi hỏi tên hắn. Quỷ vị biết hắn trả lời sao không ?”

Bart hỏi, vẻ chú ý !

– “Sao ?”

– “Ha…”

– “Thế là thế nào ?”

– “Hắn chỉ nói : Ha… Thực là kỳ quái !”

Đến lượt Obermeier bỏi :

– “Tên hắn là gì ?”

Bevern lấy từ trong túi áo khoác ra một tấm giấy, đóng nắp túi rồi đọc:

– “Karl Schwanecke, Đại Đội 2. Biết được điều này không phải dễ. Thằng cha ấy điếc như vịt !”

Bart không nín được cười, hỏi :

– “Anh nói sao ?”

– “Nó điếc như vịt.”

Đại Úy Bart nói với vẻ thú vị:

– “Thằng cha kỳ quặc đó nó nghe rõ còn hơn anh hay tôi.”

Obermeier cũng mỉm cười.

Bevern chưng hửng, nhắc lại :

– “Nó nghe rõ hơn…”

Đại Úy Bart gật đầu :

– “Hơn nữa, hắn là một chuyên viên trộm đạo, ăn cướp có vũ khí, và hiếp dâm gái vị thành niên. Trước kia hắn là binh nhất, gan dạ một cách điên cuồng.”

Bevern mặt đỏ tía, nói :

– “Mai tôi sẽ gọi nó. Hỗn thật !”

Bart thở làn khói xanh bay lên trần nhà, đáp :

– “Mong anh sẽ làm được đến nơi đến chốn!”

– “Tại sao tôi lại không làm đến nơi đến chốn được ?”

– “Anh đã từng phục vụ trong một… một đơn vị này chưa ?”

Bevern ưỡn ngực trả lời :

– “Thưa Đại úy, cho tới nay, tôi đã hoàn thành nhiều nhiệm vụ khác rồi.”

– “Vậy thì bây giờ nên thay đổi ý kiến đi một chút, anh bạn thân.”

– “Thay đổi vì quan hệ cho chính anh. Đơn vị này không giống các đơn vị khác, Đây là một Tiểu-Đoàn trừng-giởi (Đại úy nói rành mạch từng vần từng chữ theo thói quen mỗi khi nói say sưa . Anh sẽ thấy ở đây những người như Schwanecke, họ không biết tới một uy quyền nào cả và nếu uy quyền đó lại là cấp bậc thì họ càng ít biết tới nữa. Điều duy nhất mà bọn họ chịu khuất phục, đó là những tư tưởng của họ, nó đối nghịch lại với tư tưởng của các anh… ấy.., tôi muốn nói là tư tưởng của chúng ta: thí dự như trường hợp Schwanecke đó là nbững bản năng phạm tội. Đừng mong doạ nạt hắn cũng như doạ nạt những tên như hắn. Còn có một bọn khác nữa : đó là những người họ không hiểu tại sao họ lại bị đưa đến đây… chắc chắn là bọn nầy đông nhất. Trong bọn họ, người ta quan sát thấy đủ thứ khác biệt: có cả những tên không chút khí lực nào, giống như những con chó vừa bị đánh đập, sợ hãi tìm hiểu ý muốn trong mắt chủ, cho tới những tên sẵn sàng húc đầu vào tường dù biết rằng sẽ vỡ óc.”

Bevern bực tức hỏi:

– “Vậy thì chịu thua họ sao?”

Đại úy Bart trả lời cương quyết :

– “Không, chỉ cần thích ứng. Xem như Trung Uý Obermeier, ngồi trước mặt anh đó. Thân phụ anh ấy là Sĩ-Quan. Ông nội anh ấy cũng là Sĩ Quan, Cụ tổ anh ấy là cận vệ cao cấp của nhà vua. Còn riêng anh ẩy thì là một chiến sĩ tiền tuyến với đủ loại huy chương: anh dũng bội tinh đệ nhất hạng, bội tinh vàng Đức Quốc v…v… còn được bộ Tổng Tư Lệnh tuyên dương một lần. Khi tới đây, anh ấy tin tuyệt đối rằng chẳng còn gì phải học thêm nữa. Chỉ trong vòng một tuần, anh ấy đã cảm thấy quá nhỏ bé. Bây giờ thì anh ta đã bắt đầu trưởng thành”.

– “Dù sao tôi cũng nhất định cho gọi tên Schwaneike đó và tôi sẽ nói khiến hắn ta phải mềm nhũn đầu óc. Cũng là một cách thị uy với hắn.”

Obermeier lễ độ bàn:

– “Anh cần phải có tài bùng biện ghê gớm lắm.”

Đại úy Bart kêu: “Cha chả !” với vẻ luôn luôn tươi tắn.

Bevern im lặng, bực bội. Ổng nghĩ: “Bọn chi lạ ! Chịu đầu hàng trước những tên hôi thối được thoát án tử hình vì lòng nhân đạo! Thích ứng là cái gì? Thực lố bịch!”

Ông nhìn qua cửa sổ. Đại đội 2 đang tập. Những con người mắt sâu, mặt méo mó, quân phục dầy cộm vì bẩn thỉu. Ồng quay vội đi, kinh tởm, tự nghĩ: “Nên đem bắn bỏ hết, đó là giải pháp hay nhất.”

Buổi tối, trong khi Obermeier đi coi chiếu bóng, Wernher cùng với bà nhân tình tính toán toán ăn thêm nữa hay đi ngủ ngay, Đại úy Bart nghe nhạc Beethoven thì Trung úy Bevern đi quanh doanh trại để tự giới thiệu với tiểu đoàn theo phong cách của ông.

Trước hết, ông gặp Thượng Sĩ Nhất Krult. Ông này vừa đi kiểm soát trở về. Ông vừa bắt Deutschman lau cầu tiêu thêm một lần nữa vì thấy chưa được sạch theo ý ông. Thượng sĩ đã chắp tay sau lưng đứng ngắm một lúc lâu : nhà bác học đánh vật với chậu nước và nùi giẻ.

Ông nói:

– “Trong nửa giờ nữa, tao sẽ trở lại. Nếu không sạch được như một phòng giải phẫu, tao sẽ bắt mày liếm suốt cái sàn nhà này bằng cái lưỡi trí thức của mày. Hiểu chưa? “

Chạm trán với vị Trung úy mới, Thượng sĩ đứng nghiêm trong tư thế thật toàn hảo. Trung úy Bevern hỏi một cách lơ đãng ;

– “Tên anh là gì Thượng sĩ ?”

– ” Thưa Trung úy, Thượng sĩ Nhất Krull.”

– ” A!… Thế ra anh là Thượng sĩ Nhất Krull đó !”

Krull tươi tỉnh trả lời ;

– ” Dạ, thưa Trung úy.”

À, Thì ra như vậy đó. Ngay người mới tới cũng biết đến tiếng ông. Nhưng ông sẽ bớt khoan khoái nếu ông biết Bevern quyết định lấy ông để trả thù sự vô lễ của Obermeier :

– “Thượng sĩ cân nặng bao nhiêu ?”

Krull ngước mắt nhìn trời tự nghĩ :

– “Thằng cha này điên chắc !”

– “Thưa Trung Uý, tôi không rõ.”

– “Anh nặng 95 kí lô đó, Thượng sĩ !”

– “Tôi… không đến thế,.. Tôi tưởng…”

– “Anh nặng bao nhiêu, Thượng sĩ ?”

– “Thưa Trung Uý, 95 ki lô,”

– “Rõ ràng là nặng quá đó, Thượng sĩ. Anh không tin như thế sao ?”

– “Dạ, có, thưa Trung Uý.”

– “Ít ra cũng thừa đến 20 kílô.”

– “Dạ, thưa Trung Uý.”

– “Phải cho tiêu bớt chỗ đó đi, Thượng sĩ.”

– “Dạ phải, thưa Trung úy.”

Krull sững sờ, tưởng rằng cuộc thẩm vẩn ngớ ngẩn đó đã chấm đứt. Nhưng viên Trung úy mới không tỏ vẻ gì muốn cho Thượng sĩ được đi. Trái lại, Krull ngờ rằng có lẽ ông Trung úy này đang sử dụng đúng những phương pháp như chính Thượng sĩ đã từng làm.

– “Mình bắt đầu ngay, Thượng sĩ… Đằng sau, quay!… Chạy đều… Đằng trước, bước!”

Krull chạy đủ bốn phía, mặt đỏ bừng, mồm há hốc. Đã từ 5 năm nay, lần đầu ông ta phải chạy. Chiếc áo sơ mi dính sát vào thân ướt đẫm mồ hôi. Bao nhiêu định kiến của ông bay biến hết. Cho tới nay, ông vẫn tin là mình đứng ở phía bên này hàng rào ngăn cách, cùng phía với các sĩ quan, Nay cái anh chàng bảnh bao này đột nhiên làm ông bắn sang phía bên kia. Ông thở hổn hển.

Giọng nói chua cay của Bevern như búa bổ đầu ông:

– “Nhanh hơn, Thượng sĩ. Kìa, nhanh hơn lên chứ. Chạy như thế sẽ làm thân mềm dẻo và thoải mái. Lại rất tốt cho bộ phổi. Nhanh nữa lên.”

Cuối cùng, Krull thất thần, gần như bất tỉnh rồi cũng được trở về phòng.

Đối với Bevern, đây mới chỉ là khởi sự thôi. Răng nghiến chặt, ông tự nhủ: “Rồi tụi bay sẽ biết tay tao. cả bọn chúng bay. Binh sĩ ! Hạ sĩ quan ! Và cả mấy Sĩ Quan thích lợi dụng cả tên Obermeier và Bart nữa.”

Trong phòng ngủ Đại đội 2, Trung úy Bevern khám phá ra một điều mà mới đầu làm ông sững người : đó là tập sưu tầm hình ảnh của Schwanecke. Hắn ta đang bận bịu trang hoàng đầu giường và hai bên cạnh bằng những hình đàn bà khỏa thân. Trung úy rón rén tiến lại gần và nói :

– “A! Bây giờ mới tìm thấy anh,”

Schwanecke quay lại mỉm cười :

– “Làm thế không ai sợ đâu, Trung Uý. Hình thật tuyệt, hả ?”

Bevern bắt đầu : “Anh..,” nhưng Schwanecke không hề lúng túng nói tiếp : – “Trung Úy khoái những hình này không ? Trung úy ? Cô tóc vàng này… hả ? Trung úy nghĩ sao ?… Cô nàng ở Bá Linh đó… Đâu có phải thường. Nếu Trung úy khoái (hắn nghiêng người về phía Viên Sĩ Quan như muốn tâm sự một chuyện bí mật , tôi sẽ cho Trung úy địa chỉ của nàng, đó dịp Trung úy về Bá Linh… một búp bê cỡ như như thế này, đáng tìm hiểu lắm, bất cứ ai!”

Bevern rùng mình, cảm thấy tức thở.

Ông đưa một ngón tay vào cổ áo.

Schwanecke hỏi với vẻ ân cần :

– “Trung úy khó chịu trong người hả ?”

Bevern ra lệnh cho hắn quay đằng sau và chạy vòng quanh sân trong nửa giờ. Rồi chính ông thấy mệt, còn Schwanecke vẫn cứ cười. Chỉ thấy hắn đổ mồ hôi một chút.

Karl tới trước mặt Bevern hắn nói :

– “Trung uý cũng giỏi gần bằng huấn luyện viên của tôi khi tôi mới nhập ngũ, À, vấn đề địa chỉ cô gái…”

– “Câm miệng !”

Schwanecke còn phải làm thêm năm mươi cử động đứng lên ngồi xuống. Đầu gối hắn run run, nhưng hắn giữ nụ cười. Hắn nghĩ : “Không phải mày ! Không phải mày ! Chính tao rồi sẽ thắng mày…”

Deutschmann đã kiệt lực.

° ° ° ° ° ° °

Cho tới nay, một thứ tinh thần hoạt kê đã hỗ trợ cho anh. Nhưng bây giờ thì hết, anh đã quá mệt mỏi, quá thất vọng để còn có thể coi những lời la hét, chửi mắng của Krull và các Hạ sĩ quan khác như là một thói khoa trương kiêu hãnh về thể chất, anh đã bị kiệt quệ vì căn bệnh lâu dài và trầm trọng, vì nhà tù, vì vụ án, bị vùi dập vì những tủi nhục liên tiếp, anh cần tất cả nghị lực còn lại để tự đứng vững được trong cái khung cảnh tiều tụy này. Anh hết còn thấy giận giữ hay đắng cay mà chỉ còn cảm thấy yếu đuối và mệt mỏi.

Sau khi đã cất dọn chiếc chậu, búi giẻ, chiếc chổi và tắm rửa xong, anh lê bước về phòng, chỉ náo nức về một thèm muốn duy nhất : hút điếu thuốc và ngủ, ngủ suốt một ngày, không động đậy. Cánh tay trái của anh đau không chịu nổi. Cánh tay này là nơi anh đã chích thí nghiệm vâ bây giờ chằng chịt những sẹo, gầy đét tới xương, chắc không bao giờ có thể lành hẳn.

Ngọn đèn điện trần trụi chiếu ánh sáng lờ mờ. Một vài binh sĩ còn chơi bài tại chiếc bàn lớn giữa phòng, nhưng đa số đã nằm dài trên giường. Ngồi ở đầu bàn là ông cựu đại tá cao lớn đang ngắm nghía bàn tay quấn băng. Một cựu thiếu tá, nguyên thuộc bộ tham mưu lộ quân, sử dụng uể oải chiếc chổi: hôm nay là phiên ông ta trực phòng.

Deutschmann lại tủ lấy chiếc hộp thuốc lá bằng da nhận bạc có chữ tắt tên anh ở góc dưới : một món quà tặng của Julia.

Anh ra bàn ngồi và mở hộp thuốc để trước mặt. Một người đang chơi bài, người gày ốm, mặt chuột hỏi:

– “Thằng cha Krull hành mày hả ?”

Hắn cười để lộ những chiếc răng xỉn. Nguyên là một thử cò mồi ở Bá Linh, hắn không thể nào ngưng việc ăn cắp vặt nên bị đưa đến tiểu-Đoàn trừng-giới.

Deutschmann gật đầu, quá mệt chẳng muốn trả lời, quá mệt đến nỗi không buồn đưa tay lấy một trong hai điếu thuốc lá anh đã dành dụm cho buổi tối.

Đúng lúc đó, Schwanecke bước vào với nụ cười nở rạng. Hắn đóng cửa lại và nói :

– “Tụi bay ! thằng khốn nạn đó tưởng rằng thắng được tao. Nó tự hại nó một cách thảm thương !”

Một người chơi bài hỏi :

– “Bây giờ nó đâu rồi ?”

– “Nó ngán quá và đi nằm rồi. Cỡ như nó là cái thá gì ? Thằng cha thắng nỗi Karl Schwanecke chưa hề sinh ra trên đời này mà !”

Tên mặt chuột hỏi :

– “Mày chơi không?”

– “Có ngay” – chợt Schwanecke nhận thấy Deulschmann ngồi gục xuống, hắn hỏi ;

– “Mày làm sao vậy ?”

Deutschmann không đáp. Schwanecke lại ngồi bên cạnh anh :

– “Có đứa nào chơi ác với mày hả, giáo sư ?”

Deutschmann chợt thấy bàn tay to lớn đầy lông, móng tay cáu ghét, lần về phía hộp thuốc lá và cầm lấy. Anh ngửng đầu nhìn hắn.

Schwanecke xoay qua, xoay lại chiếc hộp ngắm nghía kỹ, gật đầu hai ba lần, đưa chiếc hộp lêu mũi, hít một hơi dài, lấy một điếu thuốc châm hút.

Deutschmann nói yếu ớt:

– “Trả tao chiếc hộp đó.”

– “Chiếc hộp tuyệt quá. Mày muốn đổi lấy gì nào ?”

– “Trả tao chiếc hộp.”

– “Này, tao cho mày hai tấm ảnh. Tùy mày chọn lấy.”

Deutschmann cố gắng đứng dậy và giơ tay lấy lại chiếc hộp Schwanecke lùi lại một bước và bỏ chiếc hộp vào túi ngực.

Hắn nói :

– “Tao giữ chiếc hộp nầy cho tới khi mày quyết định đổi bằng cái gì. Ba chiếc hình? Đồng ý không ?”

Đối với hắn, công chuyện thế là giải quyết xong. Hắn trở lại với đám người đánh bài. Deutschmann dựa vào mép bàn, nhắm mắt, đứng lên và kêu tuyệt vọng :

– “Chiếc hộp… Trả tao chiếc hộp !”

Ông cựu đại tá cao lớn ngửng lên nhìn, Schwanecke hỏi :

– “Đến lượt thằng nào đi bài đây ?”

Tên mặt chuột đáp :

– “Đến lượt thằng Werner… mày xuống đây.”

Schwanecke lấy chân khều chiếc ghế đầu và sắp ngồi xuống thì thấy có người nắm vai và hắn quay lai. Erich Wiedeck, mặt đỏ bừng, đứng thẳng trước mặt hắn. Anh nói :

– “Trả nó chiếc hộp, thằng hèn!”

Schwanecke cười nhẹ:

– “Ê mày ! từ từ. Bỏ tay xuống !

Deutschmann đẩy vào chiếc bàn, cố tiến lên hai bước và nắm cánh tay Schwanecke Hắn đẩy nhẹ như đuổi ruồi. Deutschmann bị gạt ra, ngã ra, ngã trên chiếc ghế đẩu, đầu đập vào chiếc tủ, nằm lăn ra bàn, bất tỉnh.

Wiedeck nắm lấy áo Schwanecke gầm lên :

– “Thằng khốn nạn.”

Nhưng không, một cú đấm móc nhanh như chớp vào bụng và Wiedeck kêu rên lên, gặp người làm đôi. Một cú thứ hai, đánh trúng cằm với sức mạnh phi thường làm anh la dựng người lên và bắn về phía sau. Gáy anh đáp vào cánh tủ kêu rầm và Wiedeck mắt lờ đờ, từ từ rũ xuống. Schwanecke vẫn cười để lộ hàm răng trắng ởn.

Hắn cũng chưa kip lấy điếu thuốc gắn trên mép.

Hắn hỏi :

– “Đến lượt thằng nào đây ?”

Hắn đứng thẳng, hơi cúi, mi mắt lim dim vì khói thuốc, thân thể đầy bắp thịt tỏa ra một sinh lực được tập trung, một sự mềm dẻo của loại thú rừng, một sức mạnh khó chế ngự. Hắn nhoẻn cười rộng hơn, nhắc lại :

– “Đến lượt thằng nào ?”

Một tên chơi bài hỏi :

– “Thôi, mình chơi tiếp chứ ?”

Tên mặt chuột nói:

– “Bọn chết nhát… Ngồi xuống đi Karl.”

Viên cựu Đại Tá cao lớn tiến đến không nói một câu và ngừng lại trước Schwanecke cách hai bước. Wiedeck lật người nằm sấp xuống, cố gắng đứng dậy, nhưng lại ngã xuống, miệng rên rỉ.

Schwanecke hỏi cựu Đại-Tá :

– “Mày muốn gì ?”

– “Yêu cầu trả lại chiếc hộp đó ngay”

Tên mặt chuột kêu lên một tiếng đúng như ngựa hí. Một tên chơi bài từ từ đứng dậy, chống tay lên bàn, chờ xem..

Schwanecke nói :

– “A ! gì nữa đây ? Hãy nghe kỹ tao đây, cái loại Đại-Tá cao kều đã bị lột lon, hãy nghe kỹ tao đây : Mày đừng có làm mặt chì ở đây, mày nghe rõ không? Mày tưởng mày vẫn còn là một ông lớn nào đó chăng ? Mày đừng mong đánh lừa tao. Ở đây, mày cũng chỉ là cục cứt như tao vậy. Cút ngay nếu không ông đấm vỡ mặt.”

Viên cựu đại tá nghe với một vẻ thản nhiên. Khi Schwanecke quay đi, ông nói bằng giọng lớn hơn, oai nghiêm hơn :

– “Yêu cầu trả lại chiếc hộp ngay và lại xin lỗi Bác sĩ Deutschmann cùng Wiedeck. Anh nghe rõ tôi chứ ?”

Schwanecke quay mặt trở lại, giận dữ, giựt điếu thuốc lá khỏi môi và vất xuống nền nhà. Hắn thét lên :

– “Câm đi ! Câm đi ! Thằng cục cứt ! Tao không thể chịu được những thằng như loại mày nữa. Chúng mày làm tao buồn nôn. Thưa các ông lúc nào cũng thưa các ông ! Rồi còn gì nữa ? Nghe đây, thưa ông… (tiếng hắn thấp xuống, rít lên với một giọng hằn học chết chóc, biểu lộ sự thù hận mù quáng của những kẻ trọng tội đối với mọi người khác. Hắn ghé sát mặt vào viên cựu Đại tá … nghe đây! Tao luôn luôn bị những người như loại mày quấy nhiễu, tao luôn luôn phải hạ mình, trả lời: “Dạ, đúng như vậy, thưa ông… nào đó. Tao có thể nghiền nát mày bằng một bàn tay thôi, đại-tá của đít tao ! Và tao sẽ làm, tao nói cho mày biết (Hắn nắm áo ngoài của cựu Đại-tá, kéo ông lại gần, giơ bàn tay trái toan đánh. Lần này trên môi hắn không còn nụ cười . Tao sẽ đánh nếu mày không nói ngay: Dạ đúng thưa ông Schwanecke ! Mày đã hiểu tao nói: Dạ đúng, thưa ông Schwanecke !…”

Đại tá nói giọng khàn khàn :

– “Buông tao ra!”

– “Dạ đúng, thưa ông Schwanecke !… Nếu mày không nói tao giết mày.”

Gian phòng im phăng phắc. Không một ai nghi ngờ gì nữa : Schwanecke đã nói thực, không còn sức mạnh nào trên thế gian này này có thế bắt nó ngưng. Vị cựu Đại-tá và nguyên Tư-Lệnh sư- đoàn, có huy chương anh dũng với nhành lá sồi, nay là binh nhì Gottfried von Bartlitz thuộc Tiểu – đoàn trừng – giới 999, tượng trưng cho tất cả sức mạnh mà hắn ghét, vì suốt cuộc đời hắn phải cúi đầu truớc sức mạnh đó, phải trốn chạy như con chó ghẻ, phải trú ẩn trong những căn lều hôi tanh, phải nguyền rủa cuộc đời và nguyền rủa cả mẹ hắn đã sinh ra hắn. Tuy nhiên bản năng sinh tồn rất mạnh trong người hắn đã luôn luôn ngăn không cho hắn hạ một thám tử hay một cảnh binh đang truy lùng hắn. Nếu giết một người cỡ như vậy, chắc chắn thoát không khỏi tử hình, hắn biết thế. Cũng cái bản năng đó đã cấm hắn nghiền nát khối mỡ mang tên là Thượng sĩ Krull cho đến thành một đống thịt máu, cấm hắn bẻ gãy xương tên Trung úy giống như khỉ, Bevern. Những người đó hắn không dám động chạm đến, bởi vì đằng sau họ là cả một quyền hành có thể điều động được lưỡi gươm của đao phủ. Nhưng còn đối với lão cựu đại tá này thì không giống như thế. Thằng cha này, mới trước đây còn là thuộc phe của bọn kia, nhưng bây giờ thì cũng ở bên này hàng rào ngăn cách cùng với hắn. Hắn có thể bóp nát lão ta bằng bàn tay mạnh mẽ của hắn, làm nát ngướu bộ mặt kiêu ngạo đó và để tỏ cho đồng bọn của hắn trong căn trại khốn nạn này biết bây giờ ai làm chúa. Chắc chẳng còn ai mà nghĩ tới đại tá von Barilitz ?

– “Tao đếm đến ba. Một…”

Bỗng một giọng nói bình tĩnh cất lên :

– “Thôi như thế đủ rồi, nhỏ!”

Một binh sĩ còn trẻ, mập lùn, tóc vàng hoe, không có gì ghê gớm cả, lững thững lại gần chiếc bàn, chân đi đất.

– “Hai… và…”

Người lính trẻ nói lớn hơn.

– “Quay lại đây, mày !”

Schwanecke hình như lần đầu nghe thấy tiếng anh lính. Hắn khẽ quay đầu lại, nhìn thoáng qua để đánh giá trị địch thủ mới, rồi quay lại nhìn viên đại tá. Bàn tay hắn đã nắm lại.

Anh lính trẻ thét lên : “Nhìn đây” rồi như một giáo sư thể dục dày công luyện tập, anh nhảy thót qua bàn, giựt Schwanecke ra khỏi ông đại-tá khiến hắn ta phải ngạc nhiên.

Tên mặt chuột vừa la vừa nhảy nhót :

– “Thịt nó đi, Schwanecke!”

Những tên đánh bài cũng toan can thiệp nhưng đều không kịp nữa. Chuyện xảy ra lúc ấy diễn biến quá nhanh đến nỗi không ai dám nói chắc làm thế nào mà anh lính trẻ bề ngoài quả yếu ớt bên cạnh địch thủ to lớn lại thành công. Hai chiếc đầu cuốn xoáy vào nhau, chiếc bàn lật đổ, rồi người ta chỉ nghe tiếng gầm gừ giận dữ của Schwanecke, hơi thở hổn hển của hắn, rồi bất thần một tiêng kêu chói lói, man rợ..

Người lính trẻ khéo léo thoát ra khỏi thân hình to lớn nằm bất động. Anh cúi người một lúc rồi đứng thẳng dậy, tay vuốt bộ tóc ngắn và nói:

– “Thấy chưa !”

Schwanecke mắt lờ đờ, đau đớn nhìn trần nhà Nước mắt chảy trên gò má hắn. Hắn há miệng vừa phát ra tiếng kêu ghê gớm lúc trước rồi lại ngậm miệng, Mọi người chỉ nghe thấy tiếng nghiến ghê rợn của hàm răng đã mòn. Sau hết hắn ấp úng:

– “Cái gì ?… cái gì vậy”

Viên cựu đại tá hỏi :

– “Trời đất! anh làm gì nó vậy ?”

Anh lính trẻ đáp :

– “Không có sao đâu. Nó chỉ đau chốc lát thôi. Chút xíu xíu mà. Trong nữa giờ nữa nó sẽ như thường. Thôi dậy đi mày!”

Schwanecke trước còn nhìn anh ta, không hiểu rồi dần dần sức sống sự hiểu biết và…. sự sợ hãi hiện lên trong mắt hắn. Vừa rên rỉ, hắn nhỏm dậy, quỳ gối chống hai tay một lúc, ngắc ngư cái đầu và sau cùng vịn vào chiếc ghế đầu, hắn đứng dậy.

Anh lính trẻ nói bình thản :

– “Bây giờ trả lại chiếc hộp đi.”

Với dáng nặng nề như phải mang quá nặng trên vai, Schwaneeke thất thểu lê qua căn phòng và đưa chiếc hộp cho Deutschmann.

– “Cả thuốc lá nữa !”

Schwanecke rút điếu thuốc trong túi và đưa ra. Deutschmann ngần ngừ.

Anh lính nói:

– “Cầm lấy đi.” Khi Deutschmann đã nhận anh nói thêm với Schwanecke :

– “Thôi bây giờ mày xin lỗi đi.”

– “Được rồi ! Tao rất lấy làm tiếc !”

Viên cựu đại tá nói chen : “Cám ơn chú !”

Người lính quay lại nhìn ông khinh bỉ và nói bằng giọng ung dung như thường lệ, nhưng lần này hơi run run:

– “Ông không phải cám ơn tôi. Tôi làm thế đâu phải vì ông. Nếu một mình ông liên hệ đến việc này, tôi đã chẳng thèm động ngón tay. Nếu ông phải có mặt tại đây là lỗi của ông. Và nếu những thằng cha như thế (anh hất đầu về phía Schwanecke, ngồi rũ trên chiếc ghế đẩu nó tặng ông trận đòn cũng là tại ông. Chính ông đã từng giúp nâng cao bọn người đưa ông đến đây mà chẳng hề quyết định làm gì chống lại họ khi còn đủ thời gian. Lạ hơn nữa, ông còn giúp họ…, chính các ông, những sĩ quan (tiếng anh ta thêm lạnh lùng khinh bỉ. Anh bước nhanh về phía viên đại tá đang bối rối, nghiêng mình nói tiếp ông có biết tại sao tôi phải ở đây không? Bởi vì tôi đã sửa trị một thằng sĩ quan ngu xuẩn đúng – như thằng cha kia. Và, lạy trời, hắn xứng đáng bị trừng trị một cách khác hơn. Nên tôi đã khóa mõm thằng Schwanecke là bởi vì tôi chẳng muốn đổi sự tàn ác của bọn thượng sĩ, bọn sĩ quan bằng sự tàn ác của những quân vô lại. Với bọn này thì phải chẹt cổ chúng theo lối đó, còn đối với những người như các ông thì không. Các ông chỉ hết tàn ác khi nào các ông đã bị chôn chặt.”

Làm như kinh tởm, anh đi qua mặt viên cựu đại tá lúc đó xanh rờn, tiến lại chỗ Schwanecke và hỏi dịu dàng bằng giọng thân hữu :

– “Sao khỏe rồi chứ?”

Schwanecke ngước nhìn anh ta bằng ánh mắt gần như chịu khuất phục, trả lời;

– “Ờ, khá rồi, bồ. Cậu chơi tôi miếng gì gì thế? Cậu phải dậy tôi miếng đó mới được. Cho tới nay, chưa thằng nào đánh ngã được tôi đó.”

Anh lính trẻ mỉm cười nói:– “Tôi phải giữ miếng cho tôi chứ! Thôi bây giờ giúp bọn này xếp đặt lại cho gọn gàng đi.Thằng cha khùng có thể trở lại bất cứ lúc nào đó”….

Người bạn triệu phú

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 25 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

Phần 6.

Thấy cảnh nhớ người

Liên ơi! Phải Liên đó không?

Mấy ngày rày, nhìn kỹ cái khuôn mặt ấy, cái dáng đi ấy, cai bàn tay ấy nhưng tôi còn nghi ngờ, chưa dám quả quyết rằng cô gái bán hàng gọi là Liên này chính là Liên ở miệt Bình Thủy ngày trước. Biết đâu người lại giống người, tên lại trùng tên! Trong số có một trăm phụ nữ, rất dễ mà có bốn người mang cái tên thơ mộng là Liên (hoặc trong tờ khai sanh ghi sẵn, hoặc tự mình sửa lại cho hợp với trào lưu mới).

Còn về dung nhan thì đôi chân mày đẹp, làn môi đẹp, mái tóc đẹp của người phụ nữ ngày nay dường như đã thành công thức, thành qui chế chặt chẽ như luật giao thông đi đường, như danh từ trong tự điển. Kỹ thuật trang điểm đã trở thành khoa ảo thuật, hóa trang. Nói vậy không phải là tôi công kích Liên đâu! Ngoài đường – Lắm khi ở trong nhà và trong tâm tư – chúng ta ít nhiều là nhưng đào kép bất đắc dĩ thủ những vai Lữ Bố, Nguyệt Nga, Điêu Thuyền, Tào Tháo hoặc Lan và Điệp, Sạc-Lô, Tạc Dăng… trên cái hí trường bao la mà tạo hóa là tay đạo diễn nghiêm khắc.

Đã bẩy hôm rồi, cứ chiều chiều lại nhớ chiều chiều, là đôi chân của tôi cảm thấy ngứa ngáy, bầu trời như chuyển mưa u ám nếu tôi không được ngồi uống giải khát tại cái quán mà Liên là chiêu đãi viên. Thế nào tôi cũng phải đến. Đến để ngồi đó mà nhìn. Ngồi đó mà nhìn rồi chập sau trơ trẽn ra đi, như con cóc trong bài thơ khôi hài bất hủ. Con tim và ký ức của tôi điều khiển việc ấy. Tôi đóng vụng về vai trò của một “thám tử tình cảm” để dò xét những phản ứng của Liên khi Liên đối diện với tôi. Nhưng Liên vô tình quá, suốt buổi chị cười cười với tôi, thỉnh thoảng lại cám ơn, xin lỗi, vân vân… Với tất cả mọi người. Liên đã thận trọng san sẻ tình cảm xã giao, tùy trường hợp, như một nữ y tá lành nghề cầm ống bôm mà đếm từng nhểu sinh tố nhân tạo, mặc dầu cái quán này bán nước ép trai cây thứ thiệt.

Mới hồi tối hôm qua, tôi bước ra về, chán nản như mọi khi. Trong quán, Liên bỗng cười lớn với bạn:

– Cam mùa này sao mà chai cóng, ít nước. Khách hàng uống không vừa ý mà họ không muốn nói ra.

– Tại sao không nhiều nước? Cam thất mùa? Cam rụng chín héo?

Giọng của Liên chậm rãi:

– Đó là một lẽ. Nhưng cái chính là tại thiếu kiến vàng… như trái cam này đây, dưới đít héo queo, xù xì, kiến hôi đẻ trứng lấm tấm đen…

Trồng cam thì phải nuôi kiến vàng để nó đuổi kiến hôi. Hồi đó ở Bình Thủy, tôi ra vườn bắt kiến vàng rồi giỡn với kiến vàng hoài…

Tôi mừng quýnh. Rõ ràng đây chính là nàng Liên bé bỏng năm xưa. Tôi giả bộ đứng lại mua thuốc hút, nghe Liên nói tiếp:

– Kiến vàng đái nước đái… làm cho trái cam ngọt.

Cô bạn lên tiếng:

– Tốp bớt lại, muốn cho quán mình ế luôn sao chớ? Cái gì mà nước đái. Ghê quá,  sao dám uống…

Đêm về nằm trên gác trọ, tôi không ngủ được, nghe hình ảnh của tuổi trẻ thơ mộng sống dậy trong tâm hồn khô cằn. “Hồi đó, tôi bắt kiến vàng rồi giỡn với kiến vàng hoài”. Câu nói hồn nhiên của Liên nhắc lại bao nhiêu chuyện cũ. Ờ! Năm đó, 1943 thì phải, tôi đi học ở Cần-Thơ, lần đầu tiên bước chân đến một miền quanh năm nước ngọt. Người bạn học rũ tôi về Bình Thủy thăm vườn ngày chủ nhật để ngắm dòng nước lình bình… như sông Hương đang soi bóng dáng đen ngòm của màn lá cam hai bên bờ. Thỉnh thoảng nắng lấp lánh chóa lên có lẽ vì sắc lá cam xanh đậm nhưng sáng chói…

Bước ra vườn, tôi thất vọng. Hàng trăm con vật gì bò chạy nhột nhạt trên tóc, sau ót, chui vào cổ áo mà cắn đau điếng. Tôi giậm chân, nhảy nhổm: Thì ra nãy giờ bao nhiêu kiến vàng lìa ổ xúm lại tấn công tôi, châm chích tận trong lưng quần, trong giày, trong vớ.

Tôi chạy hoảng vào nhà. Bạn tôi cười mà nói:

– Phải thận trọng từng bước. Ở đây cần săn sóc cây trái người ta mới ra vườn, không ai ra đó chơi hoặc nằm đọc sách, hóng mát. Có kiến vàng nhiều như vậy, cam mới ngọt.

Tôi sực nhớ một bài văn của A. Daudet rồi cãi lại:

– Bên Tây, bên Phi Châu không nghe nói tới chuyện kiến vàng. Họ trồng cam còn nhiều hơn xứ mình. Có lẽ người mình nuôi kiến vàng theo tục lệ dị đoan…

Bạn tôi không đồng ý và trưa hôm ấy dắt tôi qua nhà ông hương giáo kế bên:

– Muốn hiểu tục lệ dị đoan đó thì giỏi mà cãi vòi ông già này này…

Ông hương giáo chưa già cho lắm, đầu để búi tóc, móng tay hớt ngắn, đang săm soi lật qua lật lại mấy trang sách chữ nhỏ. Ông nhướng mắt, gỡ mục kỉnh ra rồi gật đầu như nể lời bạn tôi:

– Ồ! Cháu muốn coi vườn cam cho biết hả? Ra đó mà coi, ai rầy la gì mà sợ. Muốn hỏi điều gì thì phải coi trước cho tận mắt: “Bách văn bất như nhất kiến”.

Ông hương giáo lại cúi đầu vào trang sách, nói đúng hơn là ông nâng quyển sách lên, đưa ra thực xa để nhìn rõ, theo tật người viễn thị. Người bạn chỉ hướng sau nhà, bảo tôi cứ tự do đi dạo rồi lát nữa vào ăn cơm trưa.

Đất rộng, xẻ nhiều mương song song cam mọc sát mí nước, trông mút mắt, khuất mất chân trời. Nhìn cho rõ thì lá cam màu xanh đen, đọt non nhú lên, trải ra từng miếng lụa trắng vàng lợt, tương phản lại qua khỏi một líp dài, xảy đâu có mương nhỏ chắn ngang.

Tôi đứng lại, mải mê nhìn mấy con kiến vàng bò trên sợi dây giăng nối liền gốc cam này đến gốc cam nọ như những sợi dây thép nói… Chiếc cầu bắt ngang là trọn thân cây dừa nằm dầm dưới nước, một lớp bùn non mỏng mịn phủ lên như lớp nước sơn màu trắng.

Tôi đặt chân xuống. Bùn non quá trơn. Bị mất thế quân bình, tôi lảo đảo, bấm ngón chân xuống nhưng quá trễ, đành té xuống mương. Rất may lòng mương không sâu nên chỉ ướt khỏi đầu gối.

Đâu đây, có tiếng cười khúc khích trong trẻo. Tôi cả thẹn, day lại, nghe sột soạt trong líp cam bên kia bờ, và gương mặt một cô gái hiện ra, ẩn sau kẽ lá:

– Ông đi lạc hả? Vô nhà tui thì đi phía đẳng, ai biểu ra đây…

Tôi vội qua bên kia bờ. Cô bé toan chạy. Tôi gượng vui để trấn tĩnh:

– Bà con mà. Tôi ở trong nhà bác ra đây lần đầu coi vườn cam cho biết… Cháu đi đâu đây?

Cô bé nói:

– Ngộ nghĩnh gì đâu mà coi cho biết… Tôi đi hái kiến vàng. Sửa soạn vô nhà thì gặp ông ở đây.

Bây giờ tôi mới hiểu rõ cái giỏ bằng tre mà cô bé xách bên tay, tòn ten dưới một sợi dây chì.

– Hái kiến ở đâu vậy? Nó là trái cây sao mà hái?

– Nó đóng ổ trên cây xoài. Phải leo lên mà giựt xuống từ ổ. Nó cắn sần mình mẩy, ý là tôi vo ống quần lại. Năm ngoái mùa cam đâu có cực khổ như vầy, năm nay, kiến hôi tới nhiều quá sợ thất mùa.

Tôi hỏi tiếp:

– Sao vậy?

Kiến hôi nó đái làm hư bông hư lá, phải kiếm kiến vàng về nuôi để đánh tụi nó…

Ông thấy tụi nó đánh lộn chưa? Ông coi nè… Ba tôi ở nhà nói vậy tôi không tin…

Vừa nói, cô bé móc một cái vỏ hộp quẹt, mở ngăn ra thấy lểnh nghển kiến hôi… Cô bắt ra vài con, rồi thảy trên dây, nơi bọn kiến vàng đang bò lui tới. Chúng bắt cặp tay đôi ngừng lại, ngóc đầu lên rồi nhào tới mà ôm, mà cắn – Rốt cuộc cả hai đều té xuống đất.

Cô bé nói:

– Đó là thủ huề. Bây giờ ông coi… Tôi chăm chỉ chờ xem cô bé diễn tiếp trò gì, chợt nghe phía sau có tiếng nói lớn, giọng cáu kỉnh:

– Làm cái gì mà ở hoài ở ngoải, Liên à?

Tôi day lại, giựt mình. Ông hương giáo mang cặp mục kỉnh lên rồi gỡ cặp mục kỉnh ra, nheo nheo đôi mắt…

Liên nói nhỏ:

– Ông về trước đi. Đừng nói với ổng là tôi bắt lén kiến hôi đem vô vườn cho nó cắn lộn coi chơi. Ổng đánh chết.

Vào nhà, ông Hương giáo hỏi:

– Cháu thấy tở mở vườn cam chưa? Không có gì là ngộ để mà coi hết, phải không cháu.

Tôi đáp:

– Dạ có cái vụ nuôi Kiến Vàng. Sách ở bên Tây không thấy dạy chuyện đó…

Ông nói:

– Vậy sao! Sách chữ nho cũng không nhắc tới. Bác đọc mấy ngày rồi. Nè cháu! Bác dám khuyên cháu điều này: con người tuổi trẻ thì không nên lêu lổng…

Rồi ông nhìn thẳng vào tôi, nghiêm nghị:

– Phải cần học. Cháu rán tìm sách vở nói về cái việc kiến hôi phá hại mùa màng. Loại sao, độc ác quá, rớ tới đau là héo nhụy, lá úa cuốn kèn lại…

Tôi hỏi thêm:

– Kiến vàng đánh kiến hôi, phải không bác?

– Đúng vậy, nhưng còn công dụng khác. Cây cam nào không có kiến hôi mà cũng không có kiến vàng thì cũng hư như thường. Bác thí nghiệm rồi… Có lẽ nhờ nước đái của con kiến vàng. Thiếu chất đó không được. Cháu có rảnh tìm thử sách Tây coi nói làm sao.

Tôi gật đầu:

– Để cháu kiếm thử. Chuyến sau trở về đây, cháu nói cho bác rõ…

– Bác trông lắm! Nhớ nghe cháu. Trồng cam, trồng quít là nghiệp ông bà để lại, tấc đất tấc vàng. Con cháu phải ráng tái bồi, nhứt nghệ tinh nhứt thân vinh…

Cuộc tạm biệt ấy mãi kéo dài, ngày qua tháng lụn. Suốt mấy năm trường chinh chiến, tôi không được dịp gặp lại bác giáo.

Tôi đã quên hẳn chuyện kiến hôi kiến vàng, quên hình dáng cô bé tên Liên. Và khi thấy từng giỏ cam chở trên xe cam-nhông từ lục tỉnh về Sài-gòn, tôi không còn được cảm giác gì, ngoài câu hỏi âm thầm: “Làm sao có tiền để ăn cam? Nó có sinh tố, bổ lắm!”

Nhưng trái đất thì tròn. Người ở khác lục địa thường gặp gỡ nhau huống chi là người ở chung một miền một xứ. Cách đây chừng một tháng, tình cờ tôi gặp lại bác hương giáo tại chợ Bình Tây, nói đúng hơn là bác gặp tôi. Bác chào hỏi trước:

– Mạnh giỏi hả châu! Trời ơi! Còn sống nhăn hả?

Tôi hỏi về chuyện làm ăn sanh sống, chuyện gia đình. Bác vui lên:

– Mấy năm đó, vườn cam của bác bị đốn rạp ngã liệt như thây ma. Tội nghiệp mấy gốc cam, gốc quít. Nó không chịu chết, sống thoi thóp mà gắng gượng chờ thời. Mấy con kiến vàng, cháu nhớ không? Không ai nuôi dưỡng vậy mà nó tới lui bên gốc cây, kết lá khô làm ổ che nắng.

Thiệt là có nghĩa.

Bây giờ lộc non đâm xanh mịt rồi. Năm tới là bác có tiền, ngặt không ai săn sóc. Bác có một mụn con gái, hồi năm đó…

Tôi gật đầu:

– Ờ! cô Liên. Phải tên là Liên không bác? Năm nay chắc cô có chồng rồi…

Bác hương giáo thở dài:

– Cháu ơi, nó đi theo bà con lên Sài-gòn này mần ăn. Hồi mấy năm đó nghèo lắm, lâu lâu nó gởi tiền về. Bây giờ thì bặt tin nhưng bà con nói chắc chắn với bác rằng nó còn sống… ngặt nó muốn ẩn mặt. Xe cộ lưu thông về lục tỉnh như vậy mà nó không về thăm. Cháu gặp nó lần nào không? Tuổi già rồi, có của mà không có con, nghĩ cũng buồn tủi…

Tôi xin địa chỉ của bác hương giáo và ghi địa chỉ tôi vào quyển sổ tay của bác.

Đêm ấy tôi về gác trọ, cám cảnh ngày xưa mà ráp lại mấy vần thơ… Tôi nhớ tới Liên… Đây là lần đầu tiên tôi làm thơ:

Thân quít lớn đẵn ngang nằm ủ rũ.

Lũ kiến vàng vương vấn gốc chưa khô.

Đếm lá rơi rơi… ngỡ đến bao giờ.

Chồi non dậy phất phơ màu lụa trắng.

Liên ơi! Sao Liên “ẩn mật” chưa về quê để bắt kiến vàng. Đoạn thơ tiếp theo, tôi chưa hoàn thành được. Nó phải là xây dựng nhưng làm sao xây dựng bằng lời thơ khách sáo, mơ hồ! E nó quá nhàm theo công thức lành mạnh chăng? Tôi chờ hành động cụ thể của Liên: Liên nên gởi thơ về gia đình. Chắc chắn rằng Liên vẫn nhớ địa chỉ cũ. Trong hoàn cảnh này tôi chỉ muốn yên lặng, nghĩ rằng hiệu lực của văn thơ, của câu văn chỉ có giới hạn.

Nó không khiến chúng ta suy nghĩ bằng tình nghĩa chung thủy của con kiến vàng chịu cực để xây dựng cho gốc cam ở vườn xưa. Nó là loại côn trùng nhưng mình nên noi gương nó.

Liên ơi! Về đi! Đời hơi muộn rồi đó! Thảm quá! Đêm vừa qua lúc quá mười giờ đêm dưới trời mưa lất phất, tôi đã thấy Liên bắt đầu ngồi trên yên chiếc “ếch ba” vòng tay vào eo ếch của người bạn (đã có vợ, ba con rồi) của tôi. Tôi chợt nhớ hồi nào Liên cho hai con kiến hôi kiến vàng cắn nhau, thí nghiệm trên dây để rồi nhào xuống chết chùm, thủ huề.

Nàng thơ lạc lối

vietmessnenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 25 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

Cái tàn thuốc cũ cháy nghi ngút, bốc lên thứ khói nồng đầy thán khí khiến thi sĩ Hải Hồ muốn ngất xỉu. Chàng cố gắng chịu đựng. Mỗi ngày, chàng có nhiệm vụ viết đầy ba trang giấy học trò – viết một mặt – để trám cho đầy một lõm nhỏ ở trong hai tờ nhựt báo “gió thổi”. Từ nãy giờ, chàng viết hai trang rưỡi rồi. Còn nửa trăng nữa, tức là chừng mười hàng. Dễ quá. Thiên tình sử mỗi ngày tiếp nối đã đến lúc cực kỳ gây cấn. Việt Vương Câu Tiễn kéo đại quân sang đánh phá đất Ngô. Thì cứ cho quân sĩ của Câu Tiễn hướng thẳng về phía Cô Tô Đài, khen ngợi, cãi vã nhau, kẻ nói, người trả lời, đề cập đến nhan sắc của nàng Tây Thi diễm lệ.

Mùi khói từ cái gạt tàn thuốc xông ra như trút vài hơi “độc khí” cuối cùng.

Thi sĩ Hải Hồ viết: “Bỗng dưng từ phía Cô Tô Đài, tiếng dịch thâm trầm, réo rắt trôi lên. Vài lá ngô đồng rụng lả tả xuống giếng vàng… Còn tiếp”.

Vài bạn đồng nghiệp cằn nhằn:

– Ngột quá bạn ơi. Đổ một chút nước vô cái gạt tàn thuốc, cho nó tắt.

Thi sĩ Hải Hồ đứng dậy, vỗ tay vào túi quần tìm gói thuốc, rút ra một điếu, mồi vào cái tàn sắp lụn:

– Đừng nóng nảy. Nó tắt rồi. Bữa nay sao Cô Thúy Lệ khó tánh quá. Hồi tối, cô bị vợ rầy hả?

Anh chàng ký giả mang bút hiệu là Cô Thúy Lệ cười hô hố, bộ râu còi nhếch qua nhếch lại:

– Phá gạo hoài. Bí mật nhà nghề mà. Để thủng thẳng… viết vài hàng nữa là bọn mình đi uống cà phê. Viết ẩu không được. Cái mục “Gỡ rối Tơ vò” của tôi dạo này quá ăn khách, nữ độc giả bốn phương gởi thơ tới nườm nượp.

– Nói dóc. Thú thật với anh, tôi chẳng bao giờ đọc một hàng. Văn chương của anh giống như bài ca Vọng cổ hồi năm 1930.

– Lại đây. Mặc sức mà mơ mộng. Nếu tôi làm thơ nhanh như anh thì tôi sẽ gỡ rối bằng những bài thơ. Độc giả thích hơn.

Nói xong, chàng trai “Cô Thúy Lệ” khoe một xấp hàng chục cái thơ có dán tem. Bỗng dưng, thi sĩ Hải Hồ cảm thấy ganh ti vu vơ. Tự hỏi làm thơ… cho đến lúc ra mắt tập thơ đầu tay “Đôi mắt không tròn”, chàng hứng chịu bao nhiêu thất bại. Tập thơ bán quá ế, không đủ tiền trả cho nhà in, bạn bè chế riễu ra mặt đầu đuôi chỉ có hai bài phê bình ngắn ngủi liệt tập thơ “Đôi mắt không tròn” vào loại “hiện sinh” khó ngửi. Chàng gặp vỏn vẹn một bà góa phụ, yêu thơ, ở tận miệt lục tỉnh, tuổi hơn 40 đến tìm để xin chữ ký và triện son. Lý do: mua đem về cho cậu con trai, cậu này thích làm collection thơ xưa và nay.

– Anh tốt số quá. Suốt ngày làm quen với bao nhiêu cô gái, cậu trai…

Chàng trai “Cô Thúy Lệ” đáp:

– Nhiều bức thơ lạ lùng lắm, đọc sơ quá, mình muốn chảy nước mắt.

Thi sĩ Hải Hồ nói:

– Vậy hả? Quả tim của phái yếu thật là…

– Thôi thôi… Lâu ngày, tôi quen rồi. Tôi đâu dư nước mắt. Bởi vậy, lâu lâu tôi ngáp dài. Nước mắt tôi đã ráo khô. Tôi chỉ ao ước kỳ này, báo bán thêm ba số.

– Đừng khinh thường nỗi đau khổ của kẻ khác chớ.

Chàng “Cô Thúy Lệ” lắc đầu:

– Thi sĩ này ngơ ngác quá. Thí dụ như trường hợp của cô này. Có lẽ cô ta sắp tự tử. Một bức thơ kêu cứu với tất cả văn nhân ký giả tòa báo “Gió Thổi” chúng ta. Tôi thay mặt toàn thể anh em, viết bài này đúng mức lắm. Báo bán thêm 3 số! Hoặc 5 số!

– Thiệt hay chơi!

– Để tôi ghi chép tóm tắt tâm sự cô ấy. Dài quá. Nếu thi sĩ đa sầu đa cảm muốn giải đáp dùm một cách thực tế thì tôi sẵn sàng trao cho sứ mạng… cứu nhân độ thế. Tội nghiệp. Nàng mang cái tên rất đẹp: Paulette Cúc. Nhà ở đường Cây Me, số 1000. Nhưng nàng chưa muốn ai đến tận nhà, e gây thêm rắc rối.

*

Thi sĩ Hải Hồ nằm dài trên gác trọ, nằm sấp theo kiểu mấy anh học trò dài lưng tốn vải. Trong bao thơ, có tất cả 8 mặt giấy học trò, tuồng chữ hơi dối và hơi xấu.

Đây, bức thơ thứ nhất, sao y nguyên văn:

“Thủ đô, ngày…

Kính gởi quí anh ký giả,

Kính gởi cô Thúy Lệ, mục “Gở Rối Tơ Vò”. Em là một độc giả trung thành của quí báo “Gió Thổi” cho nên em viết thơ này gởi đến các anh và nhờ cô Thúy Lệ đăng hộ vào mục “Gở Rối Tơ Vò” vì em có một chuyện buồn lắm, buồn không thể kể được. Vậy em nhờ mấy anh có tấm lòng tốt và thương người em không bao giờ đòi hỏi ở các anh tiền nhuận bút và chỉ cầu xin chuyện của em được đăng mau và nếu được phổ biến thì em xin cám ơn lắm và xin các anh nhớ ghi tên người em đáng thương hại là Paulette C. và tránh gặp mặt em tại nhà.

Mong quí anh giúp đỡ em trên bước đường khổ sở, địa chỉ như sau: đường Cây Me, số 1000.”

Thi sĩ Hải Hồ lật qua, đọc tiếp bản văn tâm sự đính kèm (nguyên văn):

“Đêm nay, sao mình khó ngủ thế? Và chán đời quá, đã thao thức bao đêm khi nhà nhà yên vui trong giấc điệp. Thì trong lúc đó thân em nước mắt đầm đìa. Em khóc cho ai đây? Em cũng đang tự nghĩ.

“Đời em chắc có lẽ bị những vì sao trong sáng án ngữ chung quanh nên đành lu mờ theo định luật khắt khe của tạo hóa ban cho… thôi em không dám nói nữa vì nước mắt em đã rơi nhiều, em phải thay từng trang giấy. Em khổ quá vì ba má em đành sống ly thân. Ba em xưa kia địa vị, tiền bạc nào thua kém ai, còn má em thì thư ký đánh máy. Em phải sống với người dì và người dượng rể. Lắm lúc, dì em chửi mắng: mầy là đứa vô dụng, khùng điên, không cha, không mẹ. Trời ơi! còn cảnh nào khổ hơn nữa, hỡi các anh nhà báo?

“Không phải em muốn kể xấu gia đình, nhưng buồn quá, không biết giải lòng cùng ai nên mượn trang báo “Gió Thổi” của quí anh để tâm tình trước là với các anh, và tri kỷ bốn phương.

“Hỡi ôi! Nếu tình đời chỉ có thể thì như mặt nước hồ thu vướng chút là vàng khô; đằng này, sóng muốn êm, gió không ngừng thổi, cứ thổi để đưa chiếc lá đến một ngày lạnh lùng và ghê sợ nhứt như trận bão lụt đang tàn phá và giết chết bao nhiêu oan hồn.

“Trời ơi! Ngày ghê gớm kinh thiên động địa ấy đã đến trên mái đầu xanh vô tội. Một hôm ấy, người dượng ghẻ của em đến gần và bảo: “Này cháu, thấy cháu lớn khôn nên dượng thấy cần săn sóc đến cháu về mọi mặt. Cháu nên xem cuộc sống tưng bừng của mùa xuân, đừng để mùa xuân già héo… Rồi ổng nói tới những điều hại thuần phong mỹ tục, dụ dỗ em…

“Các anh ơi! Em có thể nghe theo lời xúi dục ấy không các anh? Danh dự của em còn đâu nữa. Người dượng hứa cho em một số tiền nữa.

“Các anh ơi! Chữ trinh đáng giá ngàn vàng phải không các anh? Vậy mà họ xem em như cỏ cây. Em khóc liên tiếp mấy đêm các anh à.

“Các anh đừng cười đứa em ngây thơ, đau khổ này. Có lẽ lúc chào đời, em được trời phú cho em tật ưa khóc.

“Chừng nào có một vị thiên thần hạnh phúc đưa tay vớt em ra khỏi hoàn cảnh bất hạnh. Chừng ấy em sẽ cười và… không biết nghĩ gì về đời em nữa.

“Các anh thân mến,

“Em viết thư này đến nhờ giúp đỡ, em chẳng cần xin tiền nhuận bút nhưng điều quan trọng cho hạnh phúc của em là được các anh thuật hoàn cảnh và trả lời trên mặt báo.

“Đứa em đau khổ nhứt đang mong đợi từng ngày, từng giờ. Paulette Cúc.”

…Xem xong, thi sĩ Hải Hồ đi tới đi lui trên sàn gác. Trời nắng chang chang. Chàng nhứt định xuống từng nhà dưới để ra đường. Trường hợp của người đẹp Paulette ra sao? Nàng nói ba hoa nhưng biết đâu vì chưa quen diễn tả tâm sự bằng phương tiện mực đen giấy trắng nên vấp nhiều khuyết điểm về hành văn.

Nàng đáng yêu chăng? Mái tóc nàng ra sao? Đôi mắt nàng chắc hẳn buồn bã.

Đồng hồ chỉ 12 g 45. Bỗng dưng thi sĩ nảy ra sáng kiến:

– Tại sao mình không đến tìm nàng, tìm lén, theo địa chỉ ghi rõ trong thơ. Giờ trưa, nàng có mặt tại nhà. Nghe đâu, bên Âu Châu… mỗi khi gặp tâm sự rắc rối trai hay gái thường nhờ một sở trinh thám tư hoặc một văn phòng giao duyên để giải quyết dùm. Nhân viên các sở này làm việc nhanh chóng, kín đáo. Họ đóng vai trò của ông tơ bà nguyệt. Nên thí nghiệm một phen.

Chiếc xích lô máy ngừng lại đầu đường Cây Me. Hẻm quá nhỏ, trẻ con chạy giỡn lăng xăng, mấy người bán hàng chưng bày thúng mủng chật cả lối đi. Thi sĩ Hải Hồ dùng phương tiện xê dịch ấy để tránh cặp mắt tò mò của người đẹp Paulette Cúc. Văn nhân ký giả thường đi Vespa, hoặc xe đạp, hoặc đi bộ. Nếu người đẹp tinh mắt, nàng chẳng bao giờ chú ý đến người thi sĩ trên chiếc xích lô máy.

Đường Cây Me mới tráng đá, số nhà còn hỗn loạn. Căn này số 75, căn nhà kế số 108A, số chẵn lẻ lộn xộn. Tuy nhiên, nhà cửa khá đẹp, cửa sổ sơn màu xanh đỏ lòe loẹt. Nhà ở không ra nhà ở, quán giải khát chẳng ra quán giải khát. Những tấm bảng nhỏ, kẻ chữ “Nhà bán, nhà sang”. Đó đây, một vài cô gái, già trước tuổi mặc kiểu quần áo ngủ đứng nhìn phía chân trời bị chắn ngang. Khói thuốc bay chập chờn, bao phủ mấy ngón tay thoa màu hường. Trưa thiếu gió.

Thi sĩ Hải Hồ day bên tả, bên hữu. Căn nhà số 998, rồi kế bên 997 rồi 1004B. Người đẹp đâu rồi? Ai là người con gái toan tự tử vì ông dượng bố ghẻ háo sắc. Dãy nhà trông nghiêm trang quá, cửa cái đóng hờ, giờ trưa.

Chàng lẩm bẩm:

– Nàng sống trong một gia đình đứng đắn, gần đây.

Một đứa bé trạc mười ba tuổi đội chiếc nón La mã bằng nhựa chạy xốc tới, trố mắt. Thi sĩ Hải Hồ vịn vai nó, cúi mình hỏi:

– Nhà số 1000 ở đâu em?

Thằng bé chỉ ngay căn nhà số 1005C:

– Ông hỏi nhà đó. Tui hổng biết. Nghe người ta nói nhà đó số 1000. Chủ nhà đó… dữ lắm.

– Bà chủ nhà… còn trẻ, chẳng lẽ hung dữ với em.

Thằng bé đáp:

– Bả thì cười hoài. Thầy sáu ưa đờn ca.

Dịp may để thi sĩ Hải Hồ sưu tầm tài liệu về người đẹp:

– Bà chừng mấy mươi tuổi? Tóc bạc chưa?

– Còn nhỏ xíu hè. Bà chủ Cúc ở khu Dân Sinh. Thôi…

Nói xong, thằng bé vụt chạy.

Cánh cửa nhà số 1005C tức là nhà số 1000 theo lời thằng bé – vụt mở. Một gã đàn ông gầy ốm ló mặt ra, nhe cái răng vàng. Sợi dây chuyền vàng đong đưa. Thi sĩ Hải Hồ rất ghét cái lối chưng diện ấy. Nhứt là gã ta có mái tóc quá dài, phủ gáy.

Gã nói đổng:

– Con cái nhà ai mà mất dạy quá. Xóm này thiếu văn nghệ…

– “Dường như gã đã thấy mặt mình tại đây nhưng gã chẳng thèm chú ý. Âu cũng là một việc đáng mừng.” Và để gã đừng nghi ngờ, thi sĩ Hải Hồ rảo bước về phía tận cùng đường Cây Me. Chừng mười phút sau, khi gặp ngôi mộ đá ong nằm chắn ngang, chàng mới dám quay mặt.

– Chuyến trở ra, thi sĩ Hải Hồ cố gắng nhìn thẳng về phía trước. Căn nhà khả nghi lại mở cửa. Bên trong, một thiếu nữ – dường như còn trẻ – nói giọng chanh chua:

– Chừng này rồi mà sao chưa thấy bán báo. Mấy ông đó làm việc… như thế nào đó mà phục vụ chậm chạp quá, như rùa.

*

– Hổm rày, tình hình… tới đâu rồi?

Dường như thi sĩ nhà ta bắt đầu thay đổi nguồn cảm hứng.

Câu nói châm chọc của chàng trai “cô Thúy Lệ” khiến thi sĩ Hải Hồ buồn phiền. Từ khi theo dõi nơi ăn chỗ ở của người đẹp, chàng vừa hy vọng, vừa thất vọng. Tại sao người đẹp lại lọt vào tay một kẻ thất phu như thế? Chàng thi sĩ muốn vào khu Dân Sinh, tìm quán Cúc Cúc để hỏi thêm nhưng chưa đủ phương tiện: Tiền bạc ít quá. Chiều hôm qua chàng đi một vòng liếc tìm bảng hiệu các quán giải khát. Quán đóng cửa, có lẽ vì còn sớm. Đời tư của Paulette như thế nào? Ông dượng rể si tình là ai? Nhiều phen, chàng toan trở lại rình mò nơi căn nhà ở đường Cây Me nhưng lại ngại ngùng vi gã đàn ông đeo sợi dây chuyền, có nụ cười răng vàng nọ thuộc vào hàng “hạ cấp” nếu gã xông ra để chất vấn, chàng trả lời thế nào cho xuôi? Người đẹp đã căn dặn quí anh ở nhà báo đừng tìm nhà kia mà!

Chàng ký giả “cô Thúy Lệ” nói tiếp:

– Tội nghiệp thi sĩ quá. Muốn cứu vớt người đẹp hả? Gặp nàng chưa? Nàng hất hủi rồi chăng?

Bị chạm tự ái, thi sĩ Hải Hồ nói gắt:

– Anh là kẻ vô nhân đạo.

– Thật vậy hả?

– Tôi gặp nàng rồi. Và chiều nay, chúng tôi hẹn nhau.

– Sao chừng này anh chưa đi?

– Vì chưa đủ tiền.

Với bản chất dễ dãi thường lệ, “cô Thúy Lệ” trao cho thi sĩ Hải Hồ tấm giấy một trăm đồng:

– Ngao du một buổi đi. Già rồi sinh tật.

– Tôi muốn kiếm đề tài mà. Này, tôi nói cho anh nghe. Cái mục “Gở Rối Tơ Vò” của anh dở quá, quanh đi quẩn lại chỉ có vài bài thuốc gia truyền. Văn chương vô thưởng vô phạt, vuốt ve mơn trớn.

– Nhờ vậy mà tôi thu hút cảm tình của nhiều độc giả. Anh đọc kỹ lần nào chưa? Toàn là lời an ủi, xây dựng. Nhiều cô muốn tự tử để phủi sạch nợ đời nhưng sau khi đọc bài giải đáp của tôi, họ trở thành lạc quan, bất chấp mọi trở ngại để tiến theo con đường hạnh phúc. Xin lỗi anh. Tính bổ đồng mỗi tuần tôi nhận chừng 60 bức thơ. Tháng này, đã có hai cô gái xinh xắn đến tòa soạn hỏi thăm gia cánh của tôi, mời tôi đi ăn để tạ ơn.

Mặt trời đã xế dài. Thi sĩ Hải Hồ suy luận: chừng này, chắc quán giải khát của người đẹp đã mở cửa.

– Tôi sẽ viết truyện ngắn thật hay, sống động… đi đến kết thúc xây dựng. Văn chương “Gở Rối Tơ Vò” của anh sao giống bài ca vọng cổ quá?

Dứt lời, thi sĩ Hải Hồ lên xe taxi:

– Về phía Khu Dân Sinh.

Xe dừng lại.

Ánh đèn nê ông sáng rực. Mấy nữ chiêu đãi viên bắt đầu kéo ghế, kéo bàn ra. Vài cô còn nằm dài, nghỉ lưng trên chiếc ghế “phô tơi”. Có cô đang nặn mụn, thoa phấn, kẻ chơn mày…

Mặc dù nghe hàng chục tiếng mời mọc, thi sĩ Hải Hồ vẫn làm tai ngơ mắt điếc, lách qua những dãy bàn ghế, đến quán Cúc Cúc.

Chàng ngồi xuống.

Đã 6 giờ chiều. Tại quán này chàng là người thân chủ đến trước tiên. Các cô chạy đến bao vây, niềm nở:

– Uống gì anh?

– Ba mươi ba.

Chai rượu khui ra, rót vào ly từ bao giờ. Bọt rượu tràn… Thi sĩ vẫn chăm chú nhìn vào quầy để tìm cho được cô chủ quán, tức là Paulette C. trong bức thư gởi đến tòa báo “Gió Thổi”.

Chàng thất vọng:

– Bà chủ đâu rồi các em?

Một chiêu đãi viên đáp:

– Bả gần ra rồi. Nhà ở trên Phú Nhuận.

Chàng buột miệng:

– Đường Cây Me.

– Sao anh biết… Chắc là…

– Bả già hay trẻ?

– Anh này giả ngộ hoài. Bả con trẻ khô, gọi bằng chị, bằng cô thì hợp hơn. Xin lỗi, anh ở đâu mà biết bả?

Người nữ chiêu đãi viên chợt nghe tiếng gọi, phía sau:

– Hường ơi! Lại đây nói cho nghe.

Linh tính như báo trước điều gì trục trặc! Thi sĩ lắng tai nhưng nghe không rõ. Lát sau, cô chiêu đãi viên trở lại bàn nói giọng eo éo:

– Nè! Anh làm nghề gì, em biết rồi.

– Thôi cô ơi! Mặc kệ đời tư của tôi. Nghèo lắm!

– Nghèo nhưng mà sang trọng. Anh làm ký giả. Đúng không?

– Thôi! Tôi không nói chuyện với cô nữa…

Nói xong, thi sĩ Hải Hồ nâng ly rượu, uống ừng ực. Một người đàn bà phấn son lòe loẹt, mặc áo bà ba ny lông xanh đã ngồi chễm chệ trong quầy rượu tự bao giờ.

Cô chiêu đãi viên nói khẽ:

– Bà chủ của em đó! Ủa! Anh uống lẹ quá vậy. Để em đem thêm hầu anh hai chai.

Gương mặt phàm tục của bà chủ khiến thi sĩ Hải Hồ cụt hứng. Chàng nói gắt to giọng:

– Thôi! Tôi đi bây giờ…

Cô chiêu đãi viên cụt hứng, đến gần nài nỉ:

– Tội nghiệp em. Anh mắng em lớn tiếng, e bà chủ nghe được, bà rầy.

Bà chủ quán phàm phu tục tử ấy có thể là nàng Paulette C. sao? Vô lý quá. Thi sĩ tự an ủi như vậy.

Đột nhiên, thi sĩ chợt kêu rú. Bà ta trương lên tờ báo “Gió Thổi”, lật ra trang 2, nơi đăng mục “Gỡ Rối Tơ Vò”. Bà ta gọi cô chiêu đãi viên:

– Làm gì mà mích lòng mấy thấy vậy?

Cô chiêu đãi viên đến gần bà chủ. Bà ta đem ra bốn tờ báo “Gió Thổi” còn mới tinh, chưa xếp, loại báo mới bán trước đây vài giờ. Bà chủ và nữ chiêu đãi viên cười khúc khích, đọc hơi to:

– Em Paulette C.

Thi sĩ Hải Hồ toan rút lui để bớt đau xót. Nhưng làm sao bây giờ. Trước khi rút lui, chàng phải trả tiền. Chàng gọi đôi ba lượt. Hỡi ôi! Tất cả bốn cô chiêu đãi viên đều bao quanh bà chủ. Nó đọc tiếng to tiếng nhỏ. Thi sĩ Hải Hồ nghe lóm. Rõ ràng giọng vẫn rất ăn khách của chàng ký giả “Cô Thúy Lệ”:

–  “Nỗi đau của em… thế gian hy hữu. Đời còn tươi đẹp… mắt em, cửa sổ tâm hồn. Cố gắng lên. Bên cạnh em luôn luôn có Thúy Lệ… Đời mấy ai không buồn, hướng mắt nhìn tương lai.

“Còn điều gì chưa rõ, em cứ biên thơ về Thúy Lệ…”

Quá xấu hổ, thi sĩ Hải Hồ day mặt qua chỗ khác. Rồi chàng gõ vào ly nghe “keng keng”.

Cô nữ chiêu đãi viên chạy tới. Chàng hơi gắt:

– Làm gi lâu dữ vậy? Nói thật đi. Nói xấu tôi cái gì với bà chủ?

– Thưa anh… Em nói rằng anh làm ký giả, bả không tin. Bả nói rằng bả mới thiệt là ký giả. Bức thư của bả được đăng lên báo “Gió Thổi”!

– Thật vậy sao?

– Bả viết trước, chúng em thêm vào ý kiến. Nhà báo, mà cô Thúy Lệ đăng gần đúng… văn chương.  Bả mừng quá, mua thêm 3 số, cất bài đó để dành.

Cô nữ chiêu đãi viên đánh mạnh vào vai thi sĩ Hải Hồ:

– Anh này tệ quá. Bà chủ phiền anh ghê…

– Tôi uống rượu, tôi trả tiền sòng phẳng mà…

Cô nữ chiêu đãi viên lắc đầu:

– Bả nói anh mạo danh ký giả. Thiệt ra, anh làm nghề khác.

– Nghề gì?

Làn môi người nữ chiêu đãi viên hé nở. Thi sĩ Hải Hồ suýt ngất xỉu khi nghe nàng nói thỏ thẻ:

– Nè! Đừng hại mấy em đây, nghe anh. Bả nói anh là nhân viên kiểm tục. Bữa hỗm, trời nắng chang chang mà anh đi qua lại rình nhà bả hai lần!

Cây trứng cá

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 25 Aug 2024

Tôi dạo thơ thẩn trên đường Phát Diệm với ý định đổ ra đại lộ Trần Hưng Đạo, tim xe đi Chợ Quán thăm người bạn thi sĩ vừa thọ tang cha. Vì công chuyện thăm viếng không gấp rút cho lắm nên tôi bước thật chậm, hút thuốc phì phà, liếc mắt nhìn xem các cô gái qua lại, nhìn chòng chọc, nhìn cho mãn nhãn – vì cái nhìn ấy không tốn kém gì ráo, nó làm cho tôi yêu đời thêm. Và chắc hẳn các cô sẵn sàng tha thứ cho muôn ngàn cặp mắt tò mò, mất dạy, biểu lộ bao nhiêu chuyện ác ý, vô lễ. Đó là giấc mơ giữa ban ngày của bọn mày râu, của những kẻ sẵn sàng chịu cực, lì lợm, đã học luân ly khá nhiều nhưng chẳng áp dụng được bao nhiêu, mặc dầu đầy đủ thiện chí bảo vệ luân lý cổ truyền!

Một cô gái mặc áo dài xanh đậm từ bên kia đường băng qua. Tôi ngừng lại để ngắm nghía dung nhan cô, từ chính diện. Đẹp thật. Có vẻ sang trọng, tay dài, chân dài. Tuy xe cộ chạy như mắc cửi nhưng cô băng qua dễ dàng, không hấp tấp, như kẻ dạo vườn hoa.

– Anh Ba ơi!

Cái giọng hơi quen ấy khiến tôi quay lại. Một bàn tay vẫy lên cao, làm dấu hiệu như ngầm bảo: “Có ta đây!”. Đó là anh chàng soạn giả tuồng cải lương, nhỏ tuổi hơn tôi, người đồng hương. Tôi lúng túng, chẳng biết xưng hô thế nào cho gọn. Chẳng lẽ gọi anh ta bằng biệt hiệu: soạn giả Hoa Mơ. Anh ta chẳng ưa khoe khoang nơi công cộng. Với năng lực dồi dào, với hàng chục tuồng ăn khách, anh ta được các ông chủ đoàn hát lưu ý từ lâu. Về đường tình duyên, anh ta đã có đến hai vợ, và dường như đã chán ngán thế sự thăng trầm. Tôi rẽ vào quán, nói trỗng:

– Ủa! Ngồi đây hồi nào?

– Lâu rồi! Bữa nay anh Ba coi bộ mến nguòi mến cảnh quá. Hồi nãy, anh Ba dòm cô đó. Thôi! Dòm mà làm gì. Tôi sẽ cho địa chỉ cô ta.

– Phá hoài. Lúc này, nhà cửa ở đâu?

– Bây giờ dời qua nhà khác, bỏ cái nhà bên kia cầu chữ Y, bỏ cái nhà trong chợ Bình Tây…

Trước kia, hồi… ông Diệm và bà Nhu còn sống, sống với uy thế gần như vô địch, tôi và soạn giả Hoa Mơ ở chung một nhà. Anh ta làm thơ ký tại một tư sở, lúc rảnh rang thì ngâm thơ và nghiên cứu cổ nhạc. Tiền lương hàng tháng – tuy ít oi – nhưng tạm đủ mua gạo, mua rau nuôi sống vài người bạn thân, trong đó có tôi. Tôi còn nhớ dạo ấy gian nhà chật, hẹp nhà mướn, cất trên vũng bùn. Ban đêm, tôi nằm trên chiếc ghế bố nhà binh, ngoài sân, mặt chiếc áo dày (kiểu áo cầu thủ bóng tròn) thay mền. Và cái ghế bố ấy lấn ra ngoài ngõ hẹp, đụng vào chậu kiểng của nhà đối diện.

Anh ta hỏi:

– Bây giờ anh Ba ở đâu? Xóm nào?

– Thì xóm cũ, từ hai năm qua, tôi không muốn di chuyển.

– Bà vợ tôi khó tánh. Tôi đổi nhà hoài, theo ý của bà cho yên vui. Hôm nào rảnh, anh Ba tới chơi. Chỗ này hơi ồn ào và khó kiếm số nhà.

Nói xong, anh ta gọi cô chiêu đãi viên:

– Thêm hai chai bia.

Lại phải uống rượu vào lúc mặt trời vừa mọc hai sào! Tôi sợ những cữ nhậu sớm. Lúc đói bụng, rượu dễ công phạt, khiến mình nhìn sự đời thêm méo mó. Nhưng tôi không muốn từ chối. Biết đâu ba bốn tháng sau, tôi mới gặp anh soạn giả cố tri này! Dường như anh ta đang “ưu thời mẫn thế”. Tội tình gì mà không ngồi nán, uống cạn ly cho vui. Quán này chuyên bán cơm trưa cho giới lao động. Vào lúc 9 giờ sáng, ít ai ra vào. Và có lẽ ông chủ quán cần sự hiện diện của vài ba người nào đó để bầu không khí thêm phần ấm áp. Cô nữ chiêu đãi viên khui chai rượu rồi lạnh lùng trở lại… “hậu trường”, đọc tiểu thuyết. Ngoài này, chúng tôi chọn vị trí, dựa lưng vào vách để chuẩn bị cuộc đối thoại lâu dài. Tôi mở lời:

– Có ai về xóm cũ không?

Anh ta đáp:

– Anh Ba muốn nói xóm nào?

– Xóm cầu Mũ, hồi mình ở chung đó. Bao nhiêu vật đổi sao dời rồi.

– Anh Ba đi tuốt chớ tôi thì về lai rai, để thăm ông già vợ, kẻo lỗi đạo quân thần. Vẫn còn y nguyên mấy gia đình cũ…

Tôi sực nhớ đến gốc cây trứng cá. Cây này to lắm, che phủ chừng mười thước vuông. Mỗi trưa, trẻ con và luôn cả bọn người lớn thất nghiệp xúm xít lại đó để nhìn lên. Mấy chị bán chè, bán cháo ngồi bên đường hẻm, nương vào bóng mát:

– Cây trứng cá còn không?

Anh ta đáp:

– Còn đó chớ ai bứng đem đi đâu.

– Chắc nó lớn dữ rồi. Năm sáu năm nay. Cây trứng cá mọc mau lắm.

– Thì thiên hạ chặt nhánh nó, mấy hồi…

Để câu chuyện khỏi lạc đề rồi đi sâu vào thế giới siêu hình, tôi nói cụ thể hơn:

– Cây trứng cá đó là tượng trưng cho xóm nhỏ. Chú mầy nhớ chưa! Nó như cây da đình làng ta… Nhà ông già vợ chú mầy còn đó chớ? Ổng còn mạnh khỏe?

Chàng soạn giả câu mày, nâng ly uống một hơi rồi im lặng. Trong ánh mắt anh ta, thoáng gợn bao nhiêu dĩ vãng riêng tư mà chỉ có riêng tôi mới đọc ra vài chữ. Đó là thiên tình sử thuộc loại “tình nghèo xóm nhỏ”. Chúng tôi ở sát vách một gia đình đông con gái. Năm ba cô mơn mởn, chưa chồng. Người cha ruột đang hồi làm ăn xuống dốc nên cứ ngồi nhà mà uống trà, thỉnh thoảng răn dạy các con về dung công ngôn hạnh. Ông theo luân lý cổ truyền và là người ngoan đạo. Vóc dáng của ông gợi hình ảnh người nông dân thời xa xưa với bao nhiêu khắc khổ. Cứ hừng sáng, ông mặc áo dài đen, xách dù, đi nhà thờ. Và đến tối, các con quì xuống đọc kinh, không được chểnh mảng bất cứ vì lý do nào. Mỗi đứa tự ý tìm sanh kế để tiêu xài. Ông hiểu mơ hồ công việc làm của các con, nhưng công việc thường bị dư luận khiển trách – nghề chiêu đãi viên ở khu Dân Sinh, chợ Trần Quốc Toản, đại khái… Lẽ đi nhiên, hễ thức đêm quá thì các cô ngủ suốt buổi trưa. Thôi! Đèn nhà ai nấy sáng. Điều mà tôi biết rõ là cô Tám, con gái ông, sống theo nếp đứng đắn, ít đi khỏi nhà, lo cơm nước cho cha rất chu đáo. Vài tháng sau, anh bạn của tôi trở thành người chồng của cô Tám, trong vòng lễ giáo. Lúc ấy, anh bạn chưa nổi danh là soạn giả.

Anh bạn gật gù:

– Ông già vợ của tôi còn ở đó hoài. Cũng đi nhà thờ.

Tôi hỏi:

– Mấy cô em vợ? Con Lương, con Mịn?

– Con Mịn có chồng rồi theo chồng ra ngoài Côn Đảo. Chồng nó làm gát dan giữ tù.

– Còn con Lương?

– Bây giờ ngon lắm. Nó giàu có, và là đứa có hiếu nhứt. Cả gia đình người một nơi. Còn nó săn sóc cha. Xưa kia, anh nhớ không?

Làm sao tôi không nhớ? Con Lương không đẹp nhưng trắng trẻo, nở nang. Nó ưa đi hoang. Thỉnh thoảng, nó bị cha đánh mắng, để làm gương cho các em và để đánh tan dư luận trong xóm. Giấy rách phải giữ lấy lệ. Việc đánh con được người cha cử hành như một nghi lễ trang nghiêm. Cha chuốt ngọn roi. Roi này để trên nóc tủ, không xê dịch, như lưỡi gươm treo trên vách nhà tướng. Ông giảng luân lý rồi gọi con ra. Đứa con nằm sấp. Người bên canh tha hồ tụ họp trước sân nhìn vào. Cửa cái và cửa sổ mở rộng. Ông đánh, đếm kỹ từng roi. Và đứa con không được rên la, kêu van hoặc cựa quậy. Sau đó đứa con quá tuổi dậy thì ấy được lịnh ngồi dậy và… tuyên thệ chẳng bao giờ dám tái phạm.

– Con Lương bây giờ ra sao? Làm nghề gì mà giàu?

– Nó học Ăng Lê, làm nữ chiêu đãi viên trong quán sang trọng và có chồng hẳn hòi. Chồng nó là một Mỹ kiều, đẹp trai. Chàng này “chịu chơi” lắm. Nó cưng con Lương, bắt buộc con Lương dẫn nó về nhà, ra mắt cha mẹ vợ. Nó trợ cấp cho vợ và cha vợ một số tiền khá to, hàng tháng. Còn gì vui mừng cho bằng. Mái nhà gần sập phía trước được tu bổ, vách tường có treo tranh ảnh đường xa xứ lạ. Ông già vợ vui lắm. Bởi vì con gái mình được tiếng tốt, có chồng đàng hoàng. Ban ngày, thằng chồng nó về ăn cơm và không quên mua vài thứ xa xí phẩm như thuốc Salem, xà bông thơm, máy thâu thanh thứ nhỏ, thuốc sinh tố ngừa bá bịnh…

Thằng chồng cũng vui lòng vì cưới con nhà lành, chứ không phải loại “chị em” mất nết đổi thay tình nghĩa như cơm bữa.

Tôi hơi buồn ngủ, có lẽ vì rượu công phạt cái bao tử trống rỗng và có lẽ vì câu chuyện hơi nhàm. Đợi lát sau, anh bạn soạn giả mới tổng kết.

– Thế là đứa con bất hiếu nhất ngày xưa trở thành rường cột gia đình, dưỡng nuôi cha già. Và người cha này có phản ứng rất tốt, khuyên con gái nên tuân theo dung công ngôn hạnh để đền đáp lại tấm lòng của người chồng xứng đáng. Và hàng ngày, cứ hừng sáng, ổng mặc áo dài, xách dù đi đọc kinh. Đứng về mặt tu thân mà xét, tôi chưa thấy ai đàng hoàng như ổng. Hồi nào cũng như hồi nào…

Câu chuyện tưởng có thể chấm dứt. Dè đâu anh soạn giả gọi thêm chai bia. Tôi nói nhanh:

– Được rồi. Nếu có về xóm cũ, tôi gởi lời thăm bác. Chắc ổng quên tôi rồi.

– Ổng bây giờ chẳng muốn chú ý tới ai hết, ờ anh Ba, anh còn gởi lời thăm ai nữa không?

– Nhớ ai bây gio? Có lẽ thiên hạ đã dời nhà đi chỗ khác.

– Họ còn ở đó y nguyên, anh Ba ơi. Năm ngoái, xôn xao một độ, thiên hạ đồn rằng tòa Đô Chánh giải tỏa, phóng con đường ăn thông qua chợ Năng Xy. Nhưng rồi đâu vào đó, chẳng ai bị đuổi đất dỡ nhà gì ráo.

Tôi sực nhớ đến gia đình cô Bảy Thém. Dạo trước, tôi thường qua hút thuốc, uống trà với cha ruột cô. Cô đã có chồng, sanh hai con. Chồng cô theo vợ bé, đi suốt, hằng tháng trợ cấp một số tiền tượng trưng là hai ngàn đồng. Ông chồng ấy làm nghề mua bán đường xa, tận Cao Nguyên Trung Phần. Ở trong xóm suốt hai ba năm mà tôi chỉ gặp mặt ông ta có hai lần. Lần nào, tôi cũng không dám nhìn kỹ. Dường như ông ta ghen bóng ghen gió với bọn trai tơ và trai già trong xóm. Ngày chồng về thăm con, cô Bảy Thém chẳng dám nhìn chúng tôi. Nhưng khi chồng cô ra đi biền biệt, thỉnh thoảng cô ôm con, ngồi ca Vọng Cổ trên võng. Lời ca vô nghĩa, trích trong mấy quyển bài ca hai đồng bạc, nhưng giọng ca áo não làm sao. Tưởng rằng tâm sự người ôm đàn tỳ bà ở bến Tầm Dương không khác mấy. “Khách trọng lợi khinh đường ly biệt, mãi buôn chè, sớm tếch ngàn khơi. Thuyền trơ đậu bến mặc ai, quanh thuyền trăng dãi, nước trôi lạnh lùng.” Về lúc ấy, cô Bảy sẵn sàng mời chúng tôi qua nói chuyện khào. Cô than thân và trách móc tất cả bọn đàn ông: “Chẳng ai chung thủy cả. Người đàn ông thiếu tình cảm và ác độc như con rắn”. Một bạn trẻ của tôi mỉm cười, nói bóng gió: “Thực tế sẽ chứng minh” rồi bạn đi tuốt. Người bạn này lợi hại lắm, tên là Chước, khá đẹp trai ít ăn nói. Cô Bảy Thém thích nói chuyện với tôi và bắt buộc đứa con gái gọi tôi bằng bác.

Người hàng xóm họ nghĩ rằng cô Bảy dành cho tôi khá nhiều cảm tình nồng hậu và rất ghét anh chàng Chước kiêu hãnh ấy…

– Thuở đó, anh Ba mê cô Bảy Thém.

– Đâu có làm ăn gì? Tình láng giềng giữa thanh thiên bạch nhựt.

Anh chàng soạn giả cười bí hiểm:

– Chỉ có tôi mới hiểu thấu nỗi lòng anh Ba. Bây giờ, nói thiệt nghe thử coi! Hằng đêm, cô Bảy ngủ ngoài chái nhà, xuất nhập tự do, không cần mở cửa khoét vách. Anh Ba có ý nghĩ gì đen tối không?

Tôi đáp:

– Có chớ. Nhưng không dám.

– Tại sao? Anh Ba sợ cô Bảy bị chồng bắt tại trận rồi “cúp” tiền trợ cấp?

– Đâu phải. Tôi sợ cô Bảy bắt buộc tôi đóng vai trò bình phong…

Chàng soạn giả cười vang:

– Anh Ba thông minh và hiểu đời quá. Anh Ba nhận xét cô Bảy là người như thế nào?

– Người đa tình, đầy đủ sức khỏe, ăn no rồi ở không, nhàn cư vi bất thiện. Thôi đi, hơi đâu mà nói xấu kẻ khác. Nhưng tôi phải nói ra để làm… đề tài văn nghệ. Cô Bảy cố tình bắt buộc tôi đóng vai bình phong.

– Đâu là bằng cớ? Anh Ba nói thử.

– Đêm đó tôi thao thức, bước ra khỏi nhà. Trời tối mờ mờ, mưa lác đác. Tôi thấy gió thổi mạnh. Bên kia, cách vài thước, cái thành mùng cô Bảy bay phấp phới. Cô thò tay ra ngoài. Tôi lại gần. Nhưng lập tức cô rút bàn tay vô, tấn ém mí mùng. Tôi ngỡ là mưa dột chái nhà nên đến gần. Trong mùng cô Bảy, lụ khụ những gối ôm. Và bỗng nhiên đứa bé khóc lên. Và trước khi nó khóc, tôi nghe cô chửi rủa nó. Cô Bảy cố tình gây tiếng khóc để cảnh cáo tôi, không cho tôi lại gần hơn.

Chàng soạn giả gật đầu:

– Anh Ba chưa hiểu rõ. Cô Bảy thỉnh thoảng rước một chàng trai trẻ vào mùng cho vui. Không chừng lúc đó anh Ba thấy chàng ta trong mùng mà ngỡ là cái gối. Chàng ta nhỏ thó, trắng trẻo. Chính là thằng Chước. Thằng Chước tìm cách chứng minh sự đa tình của bọn con trai.

Tôi lắc đầu:

– Vậy sao? Hèn gi có độ, thằng Chước thường đi chơi đêm. Khi về thì nó hút gió, động cửa, vặn đèn, làm rùm beng cả xóm theo kiểu “đợt sóng mới”.

– Nó ở trong mùng cô Bảy Thém chun ra chớ đi đâu xa. Nó muốn phi tang. Nhưng gà đẻ, gà cục tác. Tôi dám bảo đảm rằng chuyện thằng Chước tư tình với cô Bảy còn ở trong vòng bí mật, chẳng ai hay biết.

– Nhưng tại sao chú mầy biết?

– Thằng Chước nói lại. Dạo đó, thỉnh thoảng cô Bảy cho nó vài trăm, gọi là cho mượn xài đỡ… Anh Ba thử nghĩ coi: ông chồng thương gia chẳng bao giờ hay biết, luôn cả anh là người gần như trong cuộc. Ai cũng nói cô Bảy nết na, thủ tiết chờ đợi ngày hối cải của ông chồng…

– Bây giờ cô Bảy còn đó không?

– Chồng cổ về rồi. Anh chàng thương gia ấy đã về chuồng cũ, sau khi theo vợ bé. Lá rụng về cội mà.  “Hồn con một thuở đã đi hoang” giờ đây về quì lụy bên cạnh người vợ lớn. Chàng ta mua nhà, nuôi nấng vợ con, cho con học trường Tây, gia đình êm ấm lắm.

– Cũng đáng mừng. Rốt cuộc rồi, mọi người đều vui và sống trong lúc tao loạn. Cũng là vui. Chẳng ai chết chóc, trong xóm Năng Xy.

Nói xong, tôi nốc cạn ly rượu. Câu chuyện đã đến lúc nhạt phèo. Anh bạn soạn giả vẫn dựa lưng vào vách. Tôi đoán chừng anh ta đang chờ một người bạn để vay hoặc đòi nợ. Anh ta nói lạt giọng:

– Không phải vậy đâu, anh Ba. Đời là buồn.

Trong một tháng, tôi chợt hiểu anh ta đang thắc mắc về gia đình. “Một vợ nằm vườn lèo, hai vợ nằm chuồng heo”. Sáng nay anh ta túng tiền, bị tất cả hai người vợ ruồng rẫy nên nhìn đời bằng cặp mắt xiêng xéo. Anh ta muốn giải bày nỗi lòng cho vũ trụ hay biết để bao nhiêu đau khổ được vơi! Tôi hỏi:

– Tại sao đời là buồn?

– Anh Ba lớn tuổi hơn tôi, anh dư biết.

– Làm sao tôi biết được. Chú mầy có tới hai vợ, hẳn là đầy đủ bản lãnh.

– Hai câu chuyện mà tôi vừa kể cho anh Ba nghe toàn là tài liệu sống, tai nghe mắt thấy. Nó chứng mình rằng mọi người đàn bà đều có dĩ vãng. Anh chàng Mỹ Kiều và anh chàng thương gia là hai kẻ vô tình mà biết sống với hạnh phúc hiện tại. Nếu suy nghĩ vớ vẩn đến dĩ vãng, nếu điều tra lý lịch vợ con mình thì làm sao họ cười cợt được.

– Ta nên bắt chước họ.

Chàng soạn giả lắc đầu:

– Làm sao bắt chước được. Anh chàng Mỹ Kiều và anh chàng thương gia chồng cô Bảy Thém hàn gần được dĩ vãng và hiện tại, nhờ họ có tiền. Chúng mình khô túi, chỉ còn cách nói dóc nghe chơi.

– Thôi, hẹn dịp khác.

– Anh Ba chưa tin hả? Cứ đi Năng Xy về xóm cũ.

Tôi vội bước ra khỏi quán, đi bộ, lần phía Năng Xy. Đường xa mà hóa ra gần. Vừa đi tôi vừa suy nghĩ miên man. Nếu không gặp chàng soạn giả này, chưa ắt tôi trở về xóm cũ.

Đến đầu hẻm.

Tôi đi chậm rãi, qua cây cầu ván. Nước đen ngòm, chảy lờ đờ, hơi cạn hơn hồi xưa vì rác rến đổ xuống quá nhiều. Qua cầu, tôi nhìn hai bên đường. Chẳng có gì lạ. Chẳng ai nhận ra tôi.

Cây trứng cá hiện ra, cao lớn. Lá vàng rụng đầy gốc. Cái chái nhà, nơi cô Bảy ngủ lúc chồng theo vợ bé hãy còn đó. Bộ ván trống trơn.

Tôi qua nhà con Lương.

Nhà trang trí khá đẹp, sặc sỡ, cửa khép hờ. Con Lương vặn máy thâu thanh, nhai kẹo. Người cha đang nằm đọc báo. Con Lương nhận ra tôi. Nó chào hỏi. Tôi vào nhà. Nó đã có chồng sang trọng, như anh chàng soạn giả thuật lại. Tôi hỏi đến cô Bảy. Con Lương cho biết dạo này chồng cô mua nhà, cưng cô lắm. Nhà cũ của cô Bảy chẳng còn ai.

Tôi hút thuốc, liếc ra cửa sổ:

– Còn cây trứng cá. Buồn quá.

– Chú thấy cây đó khác không? Nó không lớn, cứ như vậy hoài.

Tôi dòm kỹ. Rõ ràng cây trứng cá không rậm rạp tuy gốc to hơn. Và bên gốc, tua tủa những nhánh to bị chặt, bui lại những vết thương khô cứng như những con mắt mù lòa. Tôi hỏi:

– Hổm rày, thằng anh rể soạn giả có về đây không?

Con Lương đáp:

– Ảnh có về rồi đi. Coi bộ ảnh khổ lắm. Mời vô nhà thì ảnh không chịu. Ảnh đứng dựa gốc cây trứng cá cả buổi…

Tôi ngáp dài, kiếu từ. Lại một buổi sáng trôi qua, chẳng có gì mới lạ. Từ chàng soạn giả đến cây trứng cá và đến tôi. Như những con mắt mù lòa, cúi xuống đất.

Hallelujah

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

July 12th, 2024

Post by Sơn râu 23 Aug 2024

Tranh Hồ Đắc Vũ

Tìm việc

Ngà bước xuống giường, đi thẳng ra tủ lạnh, lấy hộp nước trái cây, hộp không còn một giọt, cô ném mạnh vô thùng rác, lấy ly, ấn nút, nốc hết ly nước lạnh, ngước mặt, thở một hơi dài, vô phòng thay đồ, tay chụp chùm chìa khóa xe trên bàn.

Căn phòng khách nhỏ, tối thui, nồng mùi rượu, mùi cần sa. Ngà bước tới mở màn cửa sổ.

– F…! Tao đang ngủ.

Ngà khép màn.

Mike say thuốc, anh ngồi dậy, dựa lưng chiếc ghế dài, chiếc mền vắt ngang người, một nửa rớt dưới sàn, lăn lóc mấy vỏ bia.

– Đi đâu?

– Tìm việc ở bên Marble head.

– Vậy ghé Harry, lấy cho tao 5 bông.

– Tiền?

– Khỏi trả, nó cho tao nợ.

– Em không đi!

– Tại sao?

– Nó… Không tốt

Harry

“Lần trước, Ngà vừa bấm chuông, Harry đã lôi tuột cô từ cửa vô phòng ngủ, đẩy Ngà bật ngửa ra giường, cô đang cố ngồi dậy, Harry đổ ập cái thân thể to lớn trần truồng của nó xuống, một tay đè cổ, tay kia lột chiếc quần của Ngà.

– Hà hà! Yên đi, tao chỉ mần một phát.

Tay Harry thô bạo, giựt tung hàng nút áo, chiếc nịt ngực, văng ra, Ngà lăn qua, nhưng con bò mộng Mike đã bồng cô lên. Ngà trần truồng, đạp 2 chân vô khoảng không.

Hai chân Ngà co lại, tiếng la từ cái thân thể trắng nõn của người phụ nữ nhỏ bé thất thế, chìm mất trong tiếng giường kêu, tiếng thở hồng hộc của thằng khốn Harry.

Harry ném cái gói ny lông vô Ngà, cô đang ngồi co người ở ghế dài, uống từng ngụm nước.

– Đây! 5 bông loại ngon cho chồng mầy! Mẹ! Mất cha $500 của tao…

Harry bước tới, mở cửa.

– Biến lẹ giùm cái! Vợ tao sắp về!

Ngà ra về”

Cú đấm

– Mẹ! Tại sao không đi? Nó cho tao chơi hàng đắt tiền, không tốn xu nào mà!

Ngà khoanh tay.

– Xin lỗi anh, em không thể đi!

Mike đứng dậy, chỉ tay

– Tao muốn mày đi!

Ngà rớt nước mắt.

– Không!… Không anh.

Mike đấm một cú dã man vô mặt Ngà, cô bật ngửa, té xuống, máu trên mặt túa ra, xỉu…

Quầy bánh mì

“Cô gái tóc ngắn, bán quầy bánh mì cười.

– Anh ăn gì? Bánh mì thịt nguội, chả lụa, bò nướng, phá lấu, chả bò nướng, đậu hũ chiên hay trứng gà?

– Hôm qua thịt nguội…hôm nay ăn bò… nấu!

– Bò nướng!

Mike nói tiếng Việt giống như Ngà bập bẹ nói tiếng Mỹ.

– Và cà phê lạnh.

– Cà phê đá!

Mike nhún vai.

– Lạnh và đá đâu có khác gì!

Đó là ngày thứ 2 của Mike ở Sài Gòn. Anh mướn 1 phòng nhỏ trong căn nhà lớn, kiểu phòng trọ ở đường Phạm Ngũ Lão, khu phố “Tây”, Sài Gòn, quầy bánh mì của Ngà nằm đầu hẻm, sát bên phòng trọ.

Cho tới ổ bánh mì thứ 5, thì Mike nói tiếng Việt khá hơn và Ngà đã nói thêm được nhiều từ Mỹ. Bữa đó trời mưa, mới 6 giờ sáng, Ngà dọn xong quầy bánh mì. Mike bước vô.

– Bữa nay là ổ bánh mì thứ 6… Thịt bò hay thịt nguội, Mike?

– Cô Ngà cho bánh mì đậu hũ chiên.

– Hôm nay không có đậu hũ.

– Trứng gà với thịt nguội vậy!

Ngà nói nguyên câu tiếng Mỹ rõ ràng.

– Anh làm ra món bánh mì mới.

– Ha ha.

Ngà làm ổ bánh mì thập cẩm, cô nói

– Ngày mai ăn đậu hũ chiên.

– Không được!

Đang gắp thịt nguội, Ngà dừng lại.

– Tại sao?

Mike sửa lại cổ áo, chắp tay trước ngực.

– Vì tôi muốn mời cô Ngà đi chơi Đà Lạt vào thứ 7, chiều Chúa Nhật trở lại… Tối thứ 2, tôi về Mỹ.

Ngà để ổ bánh mì và cái gắp xuống quầy, ngước nhìn Mike, Mike đang lúng túng, vái mấy vái.

– Có được không?

Ngà chúm chím, cúi mặt, nói thật nhỏ.

– Yes!

Mike la.

– Ô! Chúa ơi!

Ngà đưa tay lên môi.

– Đừng la lớn…

Chỉ vô 2 bàn tay chắp trước ngực của Mike.

– Cũng đừng vái! Không tốt!

Mike bỏ tay xuống, Ngà làm ổ bánh mì.

– Nhưng tôi thấy ở chùa người ta làm vậy để cầu xin.

Ngà chỉ tay lên trời.

– Xin Buddha…

Chỉ mình

– Not me.

Đà Lạt

Mike không còn dịp mua ổ bánh mì thứ 7, vì tối thứ 7 đó, Anh và Ngà ăn bữa đồ Huế thật ngon tại một nhà hàng nhỏ, sau lưng chợ Đà Lạt. 10 giờ tối, trời mưa to, Mike kéo Ngà đi nhậu bê thui ở tiệm nhà lá gần thác Cam Ly. Bữa nhậu bê thui giữa đêm Đà Lạt gió mưa với vò rượu cần đã đưa Mike và Ngà về phòng trọ, ngủ với nhau trên chiếc giường nhỏ cho 1 người nằm, suốt đêm Ngà nằm ngủ trên người Mike. Về Mỹ, 6 tháng sau Mike trở lại, làm đám cưới với Ngà.

Revere

“Ngà tới Revere, một thành phố nhỏ, ven biển ở Massachusetts.

Mike mướn căn nhà 2 phòng ngủ, gần khu đánh tôm, sát con lạch dài, đâm thẳng ra bãi biển, Anh thừa hưởng chiếc tàu đánh tôm và 1 công nhân của người cha quá cố để lại, nên, sau khi tốt nghiệp, anh dẹp cái bằng đại học thương mại qua một bên, ra biển đánh tôm, cá, mực theo mùa, như ba anh đã làm trong 60 năm qua.

– Năm nay thời tiết thay đổi …Tôm cá biến mất, mực ở New Port mỗi lưới chỉ chừng vài chục con…

Mike dựa vô thành lan can, uống ngụm bia, nhìn ra biển xanh ngắt, bên kia đường.

– Tiền thu được chỉ đủ trả tiền dầu, lương cho người phụ việc.

Mike quay lại nhìn Ngà đang ngồi trên ghế dài, trước hiên nhà, cô khoanh tay bối rối.

– Công việc ở nhà hàng của em cũng chậm lại từ 2 tháng trước, nhiều lúc, cả ngày chỉ có 10 khách, ông chủ đã cắt 30% lương.

Cô bước tới bên chồng.

– Chắc em tìm việc khác.

Việc khác của Ngà là làm một ngày 8 tiếng ở tiệm giặt ủi của ông Tàu bên vùng Marblehead, cách nhà 30 phút”

Khủng hoảng

… Mike đã đi khỏi nhà, Ngà tỉnh dậy, 2 tay ôm đầu, cô vô phòng tắm chùi sạch vết máu, thay đồ, đeo kính mát lớn để che vết bầm nằm ngang mắt, đánh chút son, đè vết nứt trên môi, ném cái răng gãy vô thùng rác, lấy chìa khóa xe.

Đã 2 giờ chiều, Ngà chạy tới nhà hàng dọc bờ biển Marblehead.

– Rất tiếc, hôm qua quản lý hẹn chị 1 giờ…

Người phục vụ coi đồng hồ tay.

– Bây giờ là 2:15 chiều, chị tới trễ quá, ông ta không tiếp!

Ngà buồn bã ra xe, lái xe đi… Nhưng cô không biết phải đi đâu với cái mặt sưng và đôi mắt bầm.

Đi đâu?

Con đường với 2 hàng cây xanh quen thuộc trước mắt, sao bỗng lạ, mặt nhựa đen lại, gập ghềnh, hàng cây xanh biến mất, thay vào là ánh đèn màu chớp sáng, chạy vùn vụt, rồi mờ đi, màu đen chụp xuống… Tiếng kèn xe chói tai, Ngà sực tỉnh, cô ngước mặt, mấy chiếc xe phía sau bấm kèn liên tục, một chiếc xe vượt qua, người lái thò đầu ra cửa, hét lên.

– Đồ điên!

Ngà ghé vô lề

– Đi đâu?

Cô lẩm bẩm.

Ngà lên xe, quẹo về hướng Nahant. Con đường qua Nahant cắt ngang eo biển lớn, hai bên là nước và đá. Trời thật xanh, đồng vị với mặt biển bằng một đường ngang lô nhô những tòa cao ốc, dinh thự và chiếc cầu treo vô Boston. Biển bên kia, mấy người bắt sò, ốc với những thùng nhựa trắng, lom khom dọc bãi đá, phía bờ trái, nhiều chiếc lều màu của dân tắm biển, câu cá, xa ngoài bãi là nhóm người chơi môn thể thao bay diều, những con diều lớn nhiều màu sặc sỡ, bay lượn trên cao.

Ngà tấp vô bãi đậu, bước ra, ngồi xuống gộp đá nhỏ, mấy đứa nhỏ dắt chó chạy ngang, vẫy tay chào.

– Hello.

Chiều đang tới, khu dân cư dọc eo biển Nahant từ bên trái, rực lên một màu đồng thau của ánh nắng cuối ngày, hắt những mảng vàng lăn tăn trên mặt biển yên lặng.

Ngà nhìn trân trân vô đường biển màu xanh, vạch ngang tận chân trời, cô bật khóc, những lọn tóc bay trên mặt…

Thất nghiệp

“Chừng 2 tuần.

kinh tế Mỹ tuột dốc, dân Mỹ không dư tiền ăn nhà hàng, bây giờ lại không có tiền giặt đồ, nên.

– Chắc nị nghỉ việc từ thứ 2 này…Tặng nị $500, xài đỡ, tìm việc khác.

Ông Tàu tử tế, ái ngại nói với Ngà.

Ngà về tới nhà đúng lúc Mike đang uống Vodka, ăn mấy bao chip nướng với Harry, người bạn đồng nghiệp, mặt 2 người đỏ gay.

– Ủa! Sao về sớm vậy em?

– Mất việc!

Ngà không chào Harry, cúi đầu, lặng lẽ vô nhà, mở tủ lạnh, uống ly nước, tới bếp nướng ổ bánh mì, lấy bao xà lách dọn ra dĩa, rưới 2 muỗng dầu ô liu, rắc lớp phô mai bột lên trên, lấy vỉ đùi gà trong tủ lạnh đã xả đá từ sáng, mở lửa đặt chảo, đổ dầu, bỏ vô 5 cái đùi gà, tiếng dầu xì xèo.

Bữa tối đã dọn ra bàn, Ngà vô phòng, lấy đồ đi tắm, cô bỗng khựng lại.

Tiếng Harry nói nhỏ.

– Mẹ! Đã không làm ra tiền, mầy còn phải nuôi con nhỏ ăn bám đó…

– … Nhưng nó là vợ tao.

– Vợ cũng vậy! Vợ tao làm ra tiền ngay sau đêm động phòng, đã 10 năm kiếm tiền tự lo! Tự nhiên mầy gánh cục nợ tuốt bên Việt Nam vô thân mình! Nên nghĩ lại, bỏ những phiền toái bám víu, lo cho mình đi.

Tiếng chửi thề lớn của Mike, tiếng ly bể dưới sàn, tiếng xe của Harry chạy đi.

Hôm sau, Ngà dậy sớm, dọn chai rượu, 2 cái ly bể và bao chip văng tung tóe, bỏ vô thùng rác, cô làm 2 cái bánh mì kẹp ham và xà lách để trên bàn cho Mike ăn trưa, uống ly sữa, rồi đi thẳng ra trạm bus. Lang thang trong siêu thị ở Reverve cho tới 4 giờ chiều, Ngà vẫn không tìm ra một việc làm, ngay cả việc lau chùi tiệm, hay đổ rác cho mấy nhà hàng, cô chán nản về nhà.”

Bandidos

Mike đang ngồi bàn tán gì đó với 2 người lạ mặt, trên ghế dài, trước thềm nhà, Ngà cúi đầu chào, vô phòng.

Ngoài thềm bỗng có người lớn tiếng, chửi thề, gây gổ, Ngà bước ra, một người lạ mặt, đè cổ Mike sát tường, đút đầu khẩu súng ngắn vô miệng anh.

Ngà la lớn.

– Ê! Ngừng lại.

Người lạ kia chụp lấy Ngà, kéo lên, chĩa đầu súng vô trán cô.

– Im! La là tụi tao cho thằng gian lận kia đi tàu suốt luôn!

Nó thả Ngà xuống, chỉ mặt Mike.

– Thằng Mike khốn kiếp này đã bán “Cỏ” với tụi tao từ khi còn đánh cá, mấy tháng rồi gian lận tiền hàng tới $5,000, bây giờ nó lấy cớ thất nghiệp, hết tiền, không trả nợ…

Chả quay súng chỉ vô mặt Ngà.

– … Mẹ! Trong 2 ngày, không trả hết số tiền, thì nó…

Chĩa súng vô hạ bộ Mike.

– … Ăn 1 viên, mất dái!”

Lang thang

Ngà nhìn ra biển. Phía bên kia chắc là quê mình, nơi cha mẹ chết nghèo xác xơ, bó đôi chiếu, chôn ở cái cồn hoang gần con lạch, tới mùa nước, nước trôi, cồn lở, sạt mất trong đêm. Cả đời, nhà mình ai cũng khổ…

Mấy đứa nhỏ lại dắt chó chạy ngang, vẫy tay chào. Ngà cười.

– Hello!

Ngà bước tới chỗ ghềnh đá, nhiều người đang câu, phía trên là tảng đá lớn, nhô ra mặt biển, cô bước xéo qua gần mép tảng đá, ở dưới là biển xanh đen, sóng từ ngoài đập vô tung những lớp bọt trắng.

Ngà loáng thoáng nghĩ tới cái chết, cô nhìn xuống biển

Nợ

Hôm sau.

– Tới ngày phải trả tiền, Harry cho mượn $1,000, thiếu $4,000… Em có cách nào đi mượn, hoặc cho anh mượn số tiền còn lại…

– Em không còn đồng nào

Mike ngồi xuống ghế, ôm đầu,

Ngà nói.

– Tiền dành dụm cả năm nay, đã chi vô đồ ăn, tiền điện, tiền rượu cho anh rồi… Còn xu nào đâu.

– …Nếu không, tụi nó chơi anh liền, Bandidos nói là làm!

Ngà tới của sổ, nhìn ra biển đầy sương, mờ mịt ngoài xa.

– Em không có cách nào…

Câu nói chưa ra hết miệng, Mike đã nhảy tới, chụp chiếc khăn tay vô mặt Ngà, cô sụm xuống.

Trả nợ

Ngà mở mắt trong căn phòng đèn mờ, thơm mùi trầm, nhạc văng vẳng trên trần, cô ngồi lên, không khí mát lạnh cho biết là Ngà đang mặc bộ đồ ngủ mỏng dính. Đang ngơ ngác, thì cửa phòng mở, 2 người lạ mặt đã cầm súng hăm dọa Mike bước vô, cúi chào, cùng nói.

– Chào cô gái xinh đẹp, cám ơn thằng chồng gian lận của cô đã mang cô tới đây trừ nợ!

Ngà hiểu ra, nhảy xuống giường, cầm cái gối, che ngực, thủ thế.

Một người nói.

– Cô biết là mình sẽ vui chơi tối nay… Cho tới sáng.

Người kia nói.

– Với màn sex “Xa luân chiến” kiểu “Thành Cát Tư Hãn công thành.”

Và hai thằng chó Bandidos đã “Công cái thành của Ngà” cho tới sáng.

6 giờ sáng, 2 thằng Bandidos, chở Ngà về nhà, Mike đang say thuốc, nằm trên ghế, Ngà lẳng lặng đi ngang, vô thẳng phòng tắm, mở đèn, chiếc áo ngủ rớt xuống, Ngà nhìn vô kiếng, những dấu vết bạo dâm của 2 thằng Bandidos đã giày vò, hiện rõ, bầm đen trên thân thể, cô bật khóc trong lòng bàn tay … Ngà ngước lên, đôi mắt buồn bã bỗng sáng rực, cô lấy khẩu súng Browning đã ăn cắp trong phòng của tụi Bandidos, đeo đôi bao tay mỏng.

Ngà trần truồng bước ra, tay giấu sau lưng.

Căn phòng khách nhỏ, tối thui, nồng mùi rượu, mùi cần sa. Ngà bước tới mở màn cửa sổ.

– F…! Tao đang ngủ… mở làm gì?

Ngà mở màn thật rộng, ánh sáng ùa vô, tạo một mảng sáng ngay ghế dài, chỗ Mike đang nằm say thuốc,

Ngà bước tới.

– Good morning, Mike! Mở mắt ra…

– Làm gì?

– Em muốn cám ơn anh đã mang em qua đây, cho em một đời sống, một gia đình…

Mike vẫn nhắm mắt, lầm bầm.

– … Một gia đình có con vợ ăn hại, nghèo xác xơ.

– Điều này do anh gây ra!

– Do mầy ăn bám!

Ngà cười nhẹ.

– Mike! Ngước mặt lên, nhìn đây.

Mike mở mắt, lờ đờ

– Hãy nhìn cái thân xác của em…

Mike cố ngồi dậy.

– … Chính anh, anh là người đã tàn nhẫn bán đứng vợ mình, làm dơ bẩn cuộc đời em…

Ngà khóc.

– …Làm nát tan mảnh thịt da nhỏ bé mà cha mẹ đã cho em…

Ngà nhắm mắt.

– Xin anh tha thứ cho một người vợ.

Mike tựa lưng vô ghế dài, nghiêng đầu, nhìn Ngà.

Ngà đưa khẩu súng, chỉ vô mặt Mike.

– Đùng!

Cô quay mặt đi, lẩm bẩm.

– Hallelujah.

HĐV

* Hallelujah, nguyên gốc là Hebrew, diễn tả sự hân hoan, thường sử dụng trong cầu nguyện, bài hát, kinh lễ. Tiếng Việt là, “Há lê lu ya”

Lụy đò

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 7/11/2013 

Post by Sơn râu 23 Aug 2024

Cái đập vào mắt tôi trước tiên là tấm bảng đỏ Stop mà ai đã bôi đen để xịt sơn lem nhem bên dưới chữ Arret. Phía sau, thương hiệu gắn vào gạch đá ở trên cao có chú thích năm: 1835. Ông nội tôi chắc chưa chào đời? Xưa mút thẳm xa. Cung cấm triều Nguyễn e đã rêu xanh mấy lớp, đền đài tịch liêu gãy đổ chốn ấy. Sao chốn này vẫn thọ? Quá xá quà xa…

Stop, dừng lại, đôi khi không chỉ thoáng phút giây như luật lệ giao thông qui định. Có đôi người dừng lại để rồi nán ở dài lâu với cuộc chơi, chẳng cưỡng chống. Năm 1991 nhà thơ Hoàng Xuân Sơn đã dắt tôi ngơ ngáo tới địa chỉ ấy, chẳng có một màn phỏng vấn nào cả và từ một tay tơ lơ mơ tôi được nhận vào làm việc trong căn nhà rường cột đang đến hồi xiêu vẹo. Một nơi in ấn thượng vàng hạ cám, từ những hoá đơn mỏng tang cho chí một cuốn niên giám điện thoại dày cộm với máy móc thô lậu. Linh tinh đủ việc chúi mũi chúi lái thần sắc hư hao nhưng anh Hoàng Xuân Sơn tâm sự, đa phần những bài thơ nằm trong thi tập “Huế Buồn Chi” đều được viết ra trong giai đoạn “hồn lìa khỏi xác” nọ.
Không nên gạn hỏi nhà thơ, cớ sao lại Huế buồn chi? Tự tìm câu trả lời thích hợp: ngoài chuyện xa nơi chôn nhau cắt rốn tang thương, anh em chúng tôi còn lòng dạ nào vui thú với việc làm bất ưng chốn đây? Buồn ngủ mà suốt đời chẳng gặp chiếu manh, cứ đè thầy tu mà mượn lược cố xá. Bắt cóc bỏ dĩa. Biểu trói gà mà chẳng đưa được sợi giây. Vắn tắc: cực chẳng đã, không sướng, dễ hư bột hư đường. Dễ từ chết tới bị thương. “Thôi thà cứ để nguyên lòng giấy, trắng cả chân như trắng cả lời”. (HXS).

Hai kẻ Việt Nam lìa quê xa vạn dặm loay hoay trong cộng đồng mắt xanh tóc vàng để bị chúng nó phân lìa ra, mỗi người một góc hồn ai nấy giữ. Anh Hoàng Xuân Sơn nói tiếng Anh với chúng, tôi thì sử dụng Pháp văn pạt-lê-phờ-răng-xe. Xe qua dốc dựng xuôi miền, người ôm hệ luỵ thấp triền áo cơm. Đôi lúc cả hai giả ngây nói tiếng Đan Mạch có nhuận sắc Việt ngữ cho hả cơn giận sau những giờ túi bụi lùng bùng, nói sướng mồm mà chẳng chết thằng Tây nào cả: Mẹ rượt, có biết chúng ông là thành phần quen lao động chữ nghĩa không hở? Một ngày đẹp trời nào đấy chúng ông sẽ trở lại bắt bọn bây cặm cụi in sách cho chúng ông. In ấn thậm đàng hoàng siêu đẹp đẽ, gây ra lầm lỗi là chúng ông đếch có giả tiền, dẫu một xu đen.

Tuyết không rơi vào mùa hạ, phượng đỏ chẳng ra bông vào mùa đông nên chúng ông ngậm bồ hòn làm ngọt ngày ngày đổ mồ hôi sôi nước mắt mà ngâm câu kệ: Tình xê la mua, tiền xê lạt răng, đời xê la vi. Ba xu triết lý ngẫm cũng đủ hinh hích cười nửa miệng. Bắt mỉm chi cười mím chi, cho vui nhếch mép để rồi nín thinh!

Vì nhà thơ mang tên Sơn nên thằng cai khi giao việc thường la toáng: Ê son, son. Dễ nực gà vì chữ ấy tựa như cha gọi con. Mụ nội mi, tao là Sony, biết không hả? Tôi thì phổng phao với danh xưng bác Hồ bé tí. Chúng nó biết tỏng ông Hồ có thời cong đít đi rửa chén bát do bởi chúng từng in cho ai đó một xấp tài liệu những ôn chóp bu cộng sản cùng bọn hậu duệ. Dĩ nhiên chúng cũng rành sáu câu mà mông-xừ Mirek Chojecki ở trong Công đoàn Đoàn kết Ba Lan từng nói: “Những người Cộng sản là những kẻ không được bình thường!” Chúng tôi chạy trốn cộng sản nên chúng tôi rất mực bình thường. Chúng tôi trả giá sòng phẳng cho những thất thoát cũng như nhận mua niềm vui hiếm muộn chẳng mặc cả. Công ăn việc làm khiến cảm xúc hư hao nghèo dần, muốn tìm điều quân bình chúng tôi phải thiếp đi trong mộng tưởng mà chỉ có vật lộn cùng thơ văn mới giúp chúng tôi đứng vững trong thế giới thợ thuyền tạp nhạp.

Rồi người mang tên Sơn khuân núi bỏ đi, bác Hồ bé tí vẫn cực thân ở lại bám trụ tìm đường cứu… thân.

Chấp nhận đắm mình vào mê hồn trận vì vẫn ngại một cuộc giải phóng, bức rời đi, thoát khỏi nó và rồi lại loay hoay thi gan nhảy vào một trận đồ khác? Trịnh Công Sơn có chữ dùng thậm hay, thậm chính xác: Đường chạy vòng quanh, một vòng tiều tuỵ… Hoặc “đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt “. Một vòng tròn khép kín tựa như chiếc nhẫn tròng vào ngón tay áp út của sống đời chồng vợ. Nhẫn là nhẫn nhục nhịn nhường nhân như nhu.

Chủ lớn là một vị nữ lưu, là công chúa được vua cha giao truyền ngôi báu cai quản cơ ngơi. Có trưa “bà chủ” bắt gặp thằng nhân viên quèn đang ngồi trên bãi cỏ cúi mặt với giấy viết hí hoáy ghi chép.

Mi không ăn trưa?

Đã.

Chẳng lẽ mi là nhà văn?

Phải.

Hú hồn! Thú thật là tao không ngờ tới.

Trang vở còn mở rộng, để ngõ. Nắng dội vàng những tuồng chữ hoa mắt.

Mi viết những gì?

Fiction.

“Hay gì bà hỏi đến tôi. Khóc thì trái thói mà cười vô duyên” (Trần Huyền Trân).

Đối thoại ngắn vì lunch-time rất giới hạn, chóng mãn. Vu vơ, chiếu lệ, ngỡ sẽ chìm quên. Nhưng không, lại tái ngộ, cảnh cũ, người xưa. Tao rất thích hình ảnh một kẻ đưa đầu trần ngồi chết trân dưới nắng để viết quên ăn, lơ là luôn cả ngoại cảnh. Và bà chủ có lối chấm câu rất ấn tượng: Tao đã lên lương cho mi. Tuần tới nhận ngân phiếu, tự khắc biết.

Cho hay văn chương hạ giới rẻ như bèo hay không, hạ hồi phân giải. Trước mắt, người ấy nghe ta biết vọc chữ tư duy người ấy có đổi thay. Ấy, chẳng qua nhà ngươi vì hoàn cảnh mà hoán đổi thân phận chịu đầu quân dưới trướng ta làm việc tạp nhạp sinh bất phùng thời không tìm ra giờ hoàng đạo. Bản cô nương vẫn quí trọng kẻ hiền tài, tốn thêm ngân lượng cho ngươi ta thật chẳng tiếc! Chỉ hận một điều, ấy là ta không đọc trôi chữ nghĩa bí hiểm của bộ tộc nhà ngươi.

Người viết văn vẫn chậm lụt mài bút nơi hiểm địa, trong lúc núi kia đắm vàng mùa Xuân. Nhà thơ lại cho ra đời thi tập Lục Bát. Thằng đồng chí cũ vẫn quẩn quanh cổ thành mòn vẹt những đế giày đường hầm không ánh sáng gay cấn chuyện đẻ sinh, để nghe tin xa từ Laval truyền về, bây chừ ta đổi món, ta chơi phóng bút và ta vất vào cõi bạc tình cuốn bí kíp Cũng Cần Có Nhau.

Có khi cấu thành chữ nghĩa bí hiểm thì cha đẻ ra thơ ấy là Sử Mặc. Tôi đã từng bắt tay hai ôn Mặc Sơn, vậy thì phải kíp mọc thêm “cũng cần có tay” để ôm choàng anh chàng văn xuôi hiện hữu bất ngờ. Hát hay và hay (ca) hát. Thơ hay và hay (làm) thơ. Ngoài song long cầm nã thủ giờ thì thi triển tuý quyền huê dạng cước bộ gừng càng già càng cay.

Mi còn làm chỗ cũ?

Còn. Vẫn trú thân hiểm địa.

Lâu hung! Mi hẳn còn năng, chảu vảy.

Ngó rứa đó nhưng nội thương thì mô có chộ được. Eng thì ra reng?

Ta đã nghỉ hưu. Sân sau chẳng có gà mà đuổi. Mây trắng trôi nhanh qua đầu! Tặng mi cuốn ni đọc chơi.

Móc viết từ túi áo. Mi về ta cho mi về, chờ lật trang đầu ta đề câu thơ. Ui chao tuồng chữ cứng cáp hiển lộng e chừng hổng khớp cho tuổi hưu trí mô nghe. Còn năng hung, cắt đầu gối máu hẳn còn ràn rụa, thậm sung. Hay là hết xí goách chuyện lao động chân tay thôi, còn món kia thì vẫn ngon cơm thường hằng. “Đời không khoá một linh hồn để ngõ, miệng quỳnh thơm xin cứ nhả hương vào”. (HXS).

Đừng nói là người làm nhiều thơ, bút lực dồi dào. Ngay cả trí nhớ, người tuồng sắc sảo khi bước về miền quá khứ, mồm một, chi li. Rứa mà còn thưa thốt lời ốt dột: “viết hồi kí đòi hỏi phải có một đầu óc khá minh mẫn…” Ôi chao, nếu thực sự là vậy thì suốt đời kẻ hèn này phải lánh xa thể loại ấy, bởi có những sự việc vừa xảy ra hôm qua, hôm nay đã vội thừ người cật vấn, mi đã thanh thỏa chưa, mi còn nhớ hay mi đã quên? “Chìm sao vội đắm muôn nghìn khúc kể, chiếc thuyền con và tuổi nhỏ không về” (HXS).

Tôi rất yêu chuộng cái kết luận mà nhà thơ đưa ra: “Rồi ra, nghiệm thấy một điều. Chỉ xin nghiệm một điều: Bạn ơi! Lúc tuổi đã dần dà ám sương, dù đã bằng hữu hay chưa bằng hữu; hãy đến với nhau, nhìn ngắm nhau thân thiện. Hãy thăng hoa lòng tử tế. Và đừng nên nói với nhau những lời cay đắng. Để làm gì?”

Chung chỗ, chung công việc trong gần hai năm với anh Hoàng Xuân Sơn tôi vẫn thầm nghi hoặc, sao “đại ca” này giao tiếp rộng, bạn bè đông vui quá thể. Để bụng, không tiện hỏi. Và giờ đây thì ngó ra đáp án, “Cũng Cần Có Nhau” là cuốn sách kể lại một chặng đường thời trai trẻ, tháng ngày ấy thật tươi đẹp vì nhân vật chính đã quây quần cùng bằng hữu, đã chia sẻ với họ với tấm lòng thành chẳng nghi ngại. Một trái tim nhân hậu, một sự tử tế viết hoa. Giữa họ tuồng như không có đất để mọc lên cay đắng. Cái kết trong thiên phóng bút dường như mới viết ở đêm qua, quá khứ gần. Đế làm gì? Để cuộc đời này hẳn chúng ta “cũng cần có nhau”.

Đi làm (vẫn còn năng), tôi mang sách theo đọc khi ngồi métro, suýt xuống nhầm trạm vì những con chữ trong sách mang tội quyến rũ chúi mũi chúi lái. Vào hãng, bà chủ chào “hai”. Tôi đáp “ba”. (Bả muốn trau dồi ngôn ngữ bộ tộc xa lạ). Bà ngó thấy cuốn sách. Của mi? Phải chăng? Tôi cho bà ta xem ảnh tác giả. Mi còn nhớ hay mi đã quên? Lạy Chúa tôi, Sony đây mà, đúng thế chăng? Lọ phải ngôn, còn ai trồng khoai đất này? Cha chả, có ai dè chốn này đã là nơi ngoạ hổ tàng long!
Sách in ở đâu mà ngó cũng mượt? Tôi nhún vai, dĩ nhiên là những cái máy cổ xưa sẽ không đủ tài cán.

Tôi ngó về một góc khuất, thế kỷ trước, chỗ ấy, nhà thơ Hoàng Xuân Sơn một mình một cõi làm việc trong mộng du để chiều về đọc cho tôi nghe, nhin nhín: em lên côi bợt em ngồi, tới bờ em đứng khóc mùi mẩn em.

Nhà thơ đang thong dong ở nơi khô ráo. Tôi vẫn mỗi ngày bơi qua sông rộng, lên bờ có khi tôi đã mùi mẩn khóc. Những giọt nước rỉ rả chảy ngược bên trong. Lệ, là thứ cần có. Tôi yêu tất thảy những ai còn biết khóc, để thấy vui khi nhìn ra một nụ cười.

Cám ơn nụ cười tròn đầy của anh Hoàng Xuân Sơn.

Hồ Đình Nghiêm
(Đem theo iPad và viết trong giờ cơm trưa quên giờ giấc)

Long bào

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 19/01/2015 

Vua Tự Đức dụng bút: “Tứ thời giai hữu hạ, nhất vũ tiện thành đông”.

Minh quân, cai quản đế đô, ăn dầm ở dề nên hiểu thấu diện mạo nó, ngôn một câu thơ thậm ấn tượng về “tính tình” Huế: Bốn mùa thảy đều hè, chỉ mưa một trộ là biến thành mùa đông.

Vua có nói quá không? Mùa đông hình thành bởi vạn cơn mưa, chí ít. Mưa một trận, chỉ một mà thôi? Vậy thì mưa nọ hẳn rơi triền miên, dầm dề, lê thê, giọt ngắn giọt dài chẳng đứt đoạn ròng rã ngày này qua tuần nọ, hết tuần lại đến tháng. Ướt át sang giêng, hai.

Người xứ Thần kinh, do chịu ơn mưa móc kiểu đó nên lòng dạ úng thuỷ đôi phần, phên dậu ẩm thấp hứng tạt vào nơi sâu khuất chút thâm trầm, hơi bị chảnh. Một ông người Pháp mang tên Jean Hougron viết trong cuốn sách “Soleil au ventre”: Các cô gái Huế kiêu sa, làm ra vẻ khinh khỉnh, bởi chăng họ là đám hậu sinh của các phi tần không bao giờ quên rằng một giọt máu thiên tử đang trôi chảy trong huyết quản mình.
Tên vua chúa được mang ra đặt cho những ngôi trường. Trường Khải Định, trường Hàm Nghi, trường Đồng Khánh… Ngoài mưa, nón lá và áo dài điểm xuyết vào, tạo ra và bao phủ lấy một địa chỉ độc tôn. Nhắc tới Huế mà quên đi cái vườn hoa đầy kỳ hoa dị thảo mang tên nữ trung học Đồng Khánh là một thiếu sót khó thứ tha. “Đồng Khánh gánh cứt trâu” phát ra từ cửa miệng của mấy “trò” nam bên Quốc Học khi đã hơn một lần bị mấy o Đồng Khánh dòm bằng nửa con mắt. Đôi khi cũng chả thèm nhìn để ngó ra mặt ngang mặt dọc của cái đuôi đeo bám nọ. Ốt dột một phần, phần khác do bởi cái vùng đất mọc lên ngọn núi Ngự Bình trước tròn sau méo kia. Nết na thuỳ mị, đoan trang hiền thục, lễ nghĩa gia giáo, công dung ngôn hạnh… có cả vạn điều can dự làm bóp méo, làm rào cản bưng bít một tấm lòng ưa thổ lộ buồn vui cùng tha nhân. Không đánh đổ thành kiến được, bước theo lối mòn của nề nếp để rồi than thở trong cuốn lưu bút: Mình đã hai mươi mùa lá đổ, nhưng chưa một lần nắm cổ tay ai! Mình ăn mặn nói ngay chứ không là hạng ăn chay nói láo. Mình trinh trắng từ ngoài vô trong tuyệt chưa một lần rớm máu.

Chỉ Nhược học trường Đồng Khánh. Đạp xe đi học mất khoảng hai chục phút có khi nửa tiếng vì nhà nằm không mấy xa, ở đường Giao Thuỷ. Tên nghe ướt át và vô tình con đường trở nên nổi tiếng, một địa chỉ hoa. Dài khoảng 150 mét nhưng Giao Thuỷ đã cho Huế biết bao bông hoa nức lòng: Cao thị Phố Châu, Hà thị Như Nguyện, Minh Nguyệt, Lưu thị Kim Đính, Ngọc Hà…

Dĩ nhiên Chỉ Nhược luôn được điểm danh, chen vai cùng chị em “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười” kia. Nhược khác họ, thích xông xáo ra khỏi khuôn viên kín cổng cao tường, thích phô bày cái sản phẩm mà tạo hoá biệt đãi nặn trao. Nhược yêu thích bơi lội. Hè về, Hương giang là người tình thuỷ chung cho Nhược đắm thân vào vùng vẫy. Mười sáu tuổi, nẩy nở sớm hơn hạn kỳ, Nhược đã sở hữu một hình thể vẹn toàn đúng với những số đo chuẩn mực. Và rất đỗi bình thường, Nhược cũng rơi vào tầm ngắm của biết bao người con trai, những đứa chỉ vì ngộ ra một vẻ đẹp thoáng qua đầu đường mà có thể biến đổi hắn ta thành kẻ bán trời không văn tự. Hắn khoe sự đột biến vừa xảy ra, tỉ như: Nước mắm chanh dành ăn bánh hỏi, tui thương Nhược dịu dàng theo dõi bao niên. Những kẻ ấy ngồi cà phê Lạc Sơn sát chợ Đông Ba không ngớt tán dương vẻ sexy mà Nhược chẳng ngại ngần thu dấu. Họ sẵn lòng cạo sửa câu nói của Voltaire: Ý tưởng cũng giống như lông tóc vậy. Con gái không có nó cho tới khi họ trưởng thành.

Nhược trưởng thành. Như hầu hết các cô gái Huế, Nhược tự đóng cho mình một cuốn vở bằng giấy pelure xanh để chép tay bao bài thơ gây rung động của Nguyễn Bính, Huy Cận, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử… Nhược sưu tập những hình ảnh các diễn viên điện ảnh tuyệt sắc như Ava Gardner, Audrey Hepburn, Elizabeth Taylor, Grace Kelly, Romy Schneider, Marilyn Monroe, Gina Lollobrigida, Sophia Loren, Brigitte Bardot, Claudia Cardinale… Những đêm đi dưới lòng đường Lê Lợi sum vầy bóng lá cào xướt vào bóng tối rung động, dưới kia là Vỹ Dạ dâng đầy sương, Nhược đã đọc thầm câu thơ của Baudelaire: Entends, ma chère. Entends la douce nuit qui marche. Lắng lòng em yêu, lắng nghe đêm dịu dàng bước đi. Đó là giai đoạn Nhược rối trí trước những bày tỏ tình cảm của đôi ba kẻ khác phái. Phân vân giữa sự giằng xé: Tình yêu sẽ thăng hoa khi đi kèm với xác thịt hay giữ thân cho nhau để ngợi ca một cuộc tình trong sáng thánh thiện? Nhược biết, điều không thể chối cãi, chính cái vóc vạc ngồn ngộn sức sống của mình luôn có sức quyến dụ, và họ hăm hở lao vào chỉ với một mục đích, khám phá, lột truồng, cưỡng hãm, chiếm đoạt. Nhược nhớ một lời khuyên: How others see you, is not important. How you see yourself means everything. E hèm, thú thật tôi ưa làm con thiêu thân lao vào thử lửa và đằng khác, tôi lại sợ tiếng thị phi. Thành phố này nhỏ và dân cư sẵn lòng có ít xít ra cho nhiều, họ thiện nguyện vẽ rắn thêm chân. Tôi sẽ chết chìm dưới biển dư luận bạc ác mà không một kẻ chau mày cảm xót. Bọn con gái trời bắt xấu nghe tin sẽ hả hê, sẽ cả tin vào lẽ thường của đời bày biện: Mất cái này được cái khác, tốt gỗ hơn tốt nước sơn.

Mỗi bận hoang mang không biết nhờ ai gỡ rối tơ lòng Nhược thường mặc áo tắm hai mảnh phóng thân xuống nước. Nhược bơi, bơi mãi miết. Sự bình an sẽ đến trong tâm trí, gạn đục khơi trong. Mặt khác sóng nước vỗ về ôm kín thân Nhược, vuốt ve đến rợn cảm từng phân da. Hưng phấn như khi dùng những ngón tay tự khám phá lấy ngóc nghách chìm ẩn vào thân thể mình. Thuật ngữ gọi là thủ dâm. Nhược ghét chữ đó nhưng rối trí chẳng tìm ra chữ điền thế. Quạnh vắng, mênh mông, chỉ có nước, chỉ có mây bay, trời yên bể lặng và có thể, chỉ một mình hà bá mới thấy bàn tay nàng tiên cá giúp Nhược tìm ra khoái cảm, xối xả, dâng trào. Sông Hương sẽ thơm hơn nếu như tất cả các nữ sinh trong thành phố đồng loạt xuống ngâm thân giao hoan cùng thuỷ thần tựa Nhược. Nước trong người họ rỉ ra, kể cả nước tiểu sẽ làm cho con sông không bao giờ cạn, thêm sâu thẳm mông lung. Con sông mà khi đứng núi cao nhìn về Nguyễn Trãi đã nhận xét: Nó nằm đó, tựa một thanh kiếm báu ngời sáng. Và hậu thế, ai đó nói: Vẻ đẹp nó mang, giống như lưỡi gươm đâm sâu vào lồng ngực, vào tâm hồn kẻ thưởng ngoạn. Rồi Nguyễn Du: Hương giang nhất phiến nguyệt, kim cổ hứa đa tình.

Đầu tiên là vòng số một, kế đến là vòng số ba. Rồi đôi chân dài, rắn rỏi, mạnh khoẻ của em… Trong lúc này, nói năng là chuyện vô bổ, điều anh cần làm là hãy chứng minh anh yêu tôi tới mức độ nào. Nhược nói, tự mình cởi bỏ y phục. Giao cho đàn ông? Những thằng ấy thảy đều vụng dại, lóng cóng tựa trẻ con. Hoặc chúng nôn nóng khiến áo quần mình toe tua trong chóng vánh. Chỉ một cái móc nằm đằng sau nịt vú, mất nửa giờ chúng chẳng tài nào gỡ xong với đôi tay run. Dầu sôi lửa bỏng, nước tới chân rồi mà không biết cách nhảy, đành phải dẹp bỏ chướng ngại cho chúng nhờ, cho khỏi lôi thôi rách việc.

Nhược đã rời Huế, xuôi Nam theo cách định nghĩa của gia đình: Lớn rồi, đủ lông đủ cánh rồi, phải bay xa mưu sinh lập nghiệp cho thoả dạ. Điều này đồng nghĩa với động thái Nhược tự cởi bỏ cái vòng kim cô vô hình mãi chụp vào đầu. Xa Huế là quay lưng với những điều lệ nội quy y như mười điều răn gắn ngay cổng tu viện luôn chùi sạch bụi. Xa Huế là điếc đặc thính giác chẳng còn vang vọng tiếng chuông chùa Thiên Mụ gợi nhắc một giữ mình. Hừ, kinh kệ ích gì cho buổi ấy!

Nhược nằm ngửa ra đón đợi cơn chấn động sẽ đi sâu vào người. Bước chân vào vườn địa đàng, người ta không thể bỏ quên trái táo mọng đỏ nằm gần tay với. Hãy bức hái, hãy khiến cây cành rung động, hãy cắn nhai và nhâm nhi cái vị ngọt, hay chát đắng? Nước mắt tự nhiên ứa ra. Khóc vì ý thức mình mất trinh, và lệ đổ do bởi sự thống khoái sớm từ giã. Hạnh phúc chẳng hề là cái gì ghê gớm đến độ ta phải hát khúc hoan ca, nó mong manh vội tàn úa chỉ trong một sát na. Sát na sau là cả một sự bẻ bàng đầy hối tiếc. Như nỗi thất vọng của kẻ đầu đời tự sắm cho mình viên kim cương, phút giây sau nhìn nhận đó là hột xoàn giả. Bàng hoàng.

Không. Phim ảnh cũng như tiểu thuyết có lối diễn giải khác thế. Cái thơ mộng tiềm ẩn dẫn đến sự trao thân để sau đó người ta đón nhận sự vỡ bờ của ngàn cảm xúc khiến sướng rêm người. Buộc người ta phải kêu gào trong bải hoải. Nhược thất vọng, có lẽ đối tượng không phải là đứa nắm vững nghệ thuật gối chăn? Hắn lanh lợi ở mặt tán tỉnh chìu lòn nhưng hắn khù khờ dốt đặc cán mai trong việc cõng Nhược dìu qua bên kia bờ khổ nạn. Hắn khóc ngoài biên ải và Nhược tấm tức về cơn mưa chưa giải nhiệt vùng đất khô hạn.

Ngạn ngữ Nga có nói: Nếu bạn săn đuổi hai con thỏ, bạn không tài nào bắt được một con. Nhược chẳng săn đuổi, thỏ tự nguyện đến chầu chực vây quanh và Nhược toàn quyền gạt bỏ những anh chàng playboy dở hơi. Cắt bớt râu ria tua tủa cho lành. Nhược hứa sẽ thôi phiêu lưu hồi nào tìm được một người hướng đạo mang Nhược lên tận đỉnh vu sơn. Trác táng, tạm gọi thế, làm Nhược chóng già tựa một cánh hồng cắm trong bình cạn nước. Khi phát hiện cái manh nha của sự úa tàn tìm tới, Nhược thường thừ người nhớ vu vơ về quãng đời êm đẹp cũ. Nhớ có đêm tá túc nhà người anh cô bạn, Nhược đã tỉnh queo nằm giữa hai người đàn ông trên chiếc giường hẹp bé, Nhược thích thú khi tự mình cá cược, ai là kẻ động thủ trước, tả hay hữu? Họ sẽ thức trắng đêm, thúc thủ với những giấc mơ xằng bậy luôn diễu hành trong rối trí. Họ sẽ thầm đọc câu chú: Ngồi trên giếng mà khát nước. Và một sớm mai nào họ sẽ lập nên một bản án nhằm áp đặc vào thân Nhược: Ác phụ!

Những kỷ niệm thường không mấy đẹp, khi xấu nó sẽ là một vết thương lòng. Nhược đã hai lần phá thai, hai bận hát khúc đoạn trường. Nhược trách mình muôn đời không làm chủ được bản thân. Nếu sáng suốt và cứng rắn thì lần thử nghiệm bằng lý trí kia lại bị đối tượng lọc lừa. Thua cuộc, cháy túi. Đời biến Nhược thành một kẻ vô sản. Không tiền của, không chức vị, không gia đình, không luôn một người hiểu mình. Cô đơn gieo cho Nhược cái ý tưởng, hãy chìm quên, đắm mình vào kinh kệ an tâm dưỡng tánh. Năm tháng trôi chênh vênh, trước khi đóng cửa diện bích, có người run rủi tình cờ phát hiện ra Nhược. Cô ta khai tên Trinh, chị còn nhớ em không? Nhược tần ngần, gạn đục khơi trong để mong hiện ra một hình bóng nằm lắng đọng dưới bao hư ảo của bộ nhớ 60 GB. Trinh người Huế, em gái một người bạn trai. Khi Nhược đến thăm anh ta, ngày đó Trinh còn bé xíu, không nhớ là chuyện dễ hiểu.

Hai thế hệ già trẻ dắt nhau vào quán nước tha phương tâm sự. Xa nửa vòng trái đất nhưng qua chuyện trò của họ, tưởng chừng như Huế đang nằm ngoài sân, xô cánh cửa là dẫm phải đất đá trầm mặc, là rêu phong thành quách, là gió Lào bỏng rát thiêu đốt nung lửa, là lụt lội sông Hương lên bờ cá lội đầy mương. Địa hình khắc nghiệt đói kém ảnh hưởng tới tính tình người ngợm. Răng ri rứa một lát lại đến ui tội chưa tề chi mà đoản hậu dễ sợ. Làm đày làm láo một lúc lại thành tâm chuyện vãn riêng mục bí ẩn chị em ta. Nhược nói, đời chị sưu tập được tá chuyện tình. Trinh nheo con mắt lá răm. Chỉ một tá, mười hai thôi? Láo chết, rứa cũng đủ tổn thọ rồi em nợ. Sướng sung chi mà phải phách tấu. Còn em? Noái chị đừng cười, nhiều quá, tới độ em chưa tỉnh trí để kiểm điểm làm phép toán cọng cho được minh bạch. Nhược quan sát Trinh, quả là tuổi trẻ tài cao, đúng là sóng sau dồn sóng trước. Hỏi thăm một vài nhân vật, hoá ra những kẻ kia từng ăn nằm qua với Trinh, bất luận tuổi tác chênh lệch dễ khiến người bình thường phải ái ngại e dè khi ráp lại. Lạ lùng chi những cái mặt mâm nớ chị. Ui chào, chơi kiểu chi ba de rứa em, chơi nỏ sợ cha già mẹ yếu.

Lạ. Tên con người có vận vào mình, vào số phận họ mang không? Có đấy. Nguyễn Khoa Nam, Lê Minh Đảo, Ngô Quang Trưởng… Xướng tên là thấy ngay ra một vị võ tướng tài ba lỗi lạc. tên họ đó tuyệt không thể áp đặt vào một vị quan văn chân yếu tay mềm. Nhưng Trinh, nói bó lỗi, mợ này thuộc loại ưa đi làm cách mạng để lật đổ sự dị đoan. Phải vin nhờ vô ca dao để minh hoạ thân phận Trinh mang:

Chữ trinh đáng giá ngàn vàng
từ anh chồng cũ đến chàng là năm
còn như yêu vụng nhớ thầm
họp chợ trên bụng hàng trăm sá gì!

Chuyện trò nóng sốt đâu hai canh giờ là bắt đầu nguội lạnh. Nhược đang tập quên, đang muốn quay đầu vào bờ mà ngồi gần ma nữ này thì thị vẽ ra bao là sóng dữ tai ương khó bề tìm nhặt chút thanh tịnh. Chị hết xí quách rồi em nợ. Vóc vạc em còn năng mược sức mà trửng giỡn. Chị có cho em một lời khuyên thành tâm thiện ý? Chị mô có tư cách để bảo ban ai. Hay là thế này, em thử ngả chữ ra giấy viết hồi ký thật trung thực, có sao nói vậy người ơi, bảo đảm khi in thành sách nó mà không đắt như tôm tươi thì em chặt đầu chị đi. Bạch hoá chuyện thầm kín chăn gối thì có khối thằng lo sốt vó chị hí. Ừ, hãy cho bọn đó biết chút lễ độ khi vày vò trong tay một cành hoa. Ông Mai Thảo nói “Đời tôi sử chép cả ngàn trang” thì cuốn hồi ký của Trinh e phải lên tới hai ngàn, chí ít. Cầm mỏi tay đọc mờ con mắt.

Họ chia tay trong thứ viễn ảnh sẽ gây sốt dư luận. Họ cả tin, họ sẽ trả thù cuộc đời bội bạc này bằng chữ viết, hoặc không thì tôi nói lần cuối, cạn tàu ráo máng cho lòng dạ nguôi ngoai, vay thiên trả địa sòng phẳng. Họ sẽ thêm một lần nữa thoát y, bày cho bá tánh soi mói chiêm nghiệm về cụm chữ hồng nhan đa truân.

Trinh nói, em đọc truyện của Kim Dung, ông ấy cho một nhân vật nữ mang tên y như chị rứa. Chu Chỉ Nhược, qua bao đổ vỡ đắng cay trong tình trường, cuối cùng hấp thụ võ học cái thế và được đề cử làm chưởng môn nhân phái Nga Mi. Đạo sĩ thúi phái Võ Đang lắm thằng tẩu hoả nhập ma.

Nhược quay đầu, tóc điểm bạc. Bầu trời Cali tha hồ mây trắng bay.

Hồ Đình Nghiêm
Đầu năm Dê

Cơ Ngơi Ngày Cũ

hoiquantramhuong.org

Lâm Chương

Post by Sơn râu 23 Aug 2024

Google photo

Phía trước nhà ngoại tôi, có hàng cây duối. Thân cây sần sùi già cỗi, to cỡ người ôm. Cây không cao, tàn không lớn, mà chi chít lá rậm. Trong ấy thường lẩn khuất những con rắn lục màu lá non. Chung quanh gốc cây, người ta chất những nồi đất nứt vỡ, và ông táo cũ bằng gạch nung. Trong xóm có người đau bệnh, thân nhân thường đến đây đốt nhang khấn vái, còn lại những chân nhang tàn qua bao năm tháng. Ngoại tôi nói, có thần linh trú ngụ nơi cây duối. Và những con rắn lục là binh gia của ngài, không ai dám sát hại. Bọn trẻ nhỏ cũng kiêng dè, tránh tới gần chơi giỡn làm ồn, sợ thần linh quở phạt. 

Bên kia hàng duối là gò đất cao. Ðất khô cằn chai cứng. Ngoài những cỏ gấu, cỏ may và những bụi chùm hôi chịu được nắng hạn, không có cây gì mọc nổi trên khu đất gò. Vì địa thế cao, không úng nước, nên được chọn làm đồng mả riêng cho dòng họ ngoại tôi. Người trong thân tộc, tha phương bất cứ nơi nào, khi chết cũng đem về chôn ở đây. Có những cái mả xây bằng đá ong, lâu đời đến nỗi không ai biết nắm xương tàn của ông bà cố tổ dưới mộ tên gì, liên hệ huyết thống ra sao. Hồi nhỏ, nghe đồn khu gò đồng mả có ma. Nhất là sau khi dì Út tôi chết trong tuổi còn thanh xuân, tiếng đồn càng dễ sợ hơn. Chỉ tưởng tượng đến những đêm trăng lạnh mù sương, dì hiện hồn về, xoã tóc ngồi trên mộ mà khóc, cũng đủ làm đám trẻ nhỏ rợn mình. Gợi trí tò mò, năm ba đứa chúng tôi, núp dưới chân khu đất gò, rình coi ma. Ma đâu không thấy, nhưng đôi khi thấy những cục lửa màu xanh lân tinh từ trên gò, không biết nơi cái mộ nào, lảo đảo bay lên đọt tre. Tôi kể cho ngoại nghe hiện tượng này. Ngoại bảo, đó là hồn người chết bay lên trời. không nên nhìn, e hồn ma sẽ theo về nhà. Dù thương dì Út, nhưng không bao giờ tôi muốn dì trở về dưới hình bóng một con ma. Lúc còn sống, dì Út là người thanh tú hơn hết trong các chị em của má tôi. Da dẽ trắng trẻo mịn màng, và mỗi khi dì tháo búi tóc ra, tóc đen mướt, buông dài xuống quá lưng. Tôi hay nâng mái tóc của dì, đưa lên mũi hít thở. Dì cười, hỏi:

-Ngửi thấy thế nào?

 Tôi nói: -Nghe mùi của dì.

-Mùi dì ra sao?

-Mùi vú, và mùi dầu dừa.

Dì nhéo tai tôi:

-Ðừng nói mùi vú. Người ta cười chết. 

Thuở còn bé tí teo, tôi thường hay khóc đêm. Má tôi cho mằn vú để tôi dễ ngủ, đã thành thói quen. Khi ở nhà ngoại, tôi ngủ với ngoại hoặc dì Út, cũng không bỏ được tật mằn vú. Vú của ngoại thì teo tóp nhùng nhằng như cái túi da nhão nhẹt. Tôi thích vú dì Út hơn. Xoè bàn tay nhỏ của tôi mà xoa cặp vú căng phồng tròn trịa của dì, thật đã. Bóp mềm mềm như cái bong bóng. Nhưng lần nào tôi bóp, dì cũng hất tay tôi ra. 

-Ðừng!

Tôi hỏi:

-Ðau hả? 

Dì nói: -Mày cứ sờ mò nắn bóp hoài, làm sao dì ngủ được? Hãy nằm nghiêng qua bên kia, quay lưng lại phía dì! Nằm như thế, tôi lại trằn trọc hoài, khó ngủ. Một lúc sau, độ chừng dì đã ngủ, tôi quay qua mằn vú.

Dì thức giấc:

-Lại nữa! Mày muốn dì đuổi qua giường ngoại không?

Tôi nín thinh. Ðể im bàn tay trên vú. Cái đầu vú nhỏ xíu của dì kẹp giữa hai ngón tay tôi.

Và tôi êm đềm đi vào chiêm bao. Năm hai mươi mốt tuổi, dì soi gương đối bóng mỉm cười, hay chải chuốt và chưng diện áo quần. Dì trở chứng bất thường. Không thích ánh sáng, hay rúc vào buồng, nói chuyện nho nhỏ, cười khúc khích một mình. Mọi người cho rằng, dì mắc bệnh “cõi âm”. Dân gian thời bấy giờ giải thích, dì bị một vong linh đàn ông nào đó, theo quyến rũ tư tình. Nghĩa là bị ma ám. Sắc diện dì vàng võ khô héo dần. Năm sau, dì chết đi trong niềm đau xót của gia đình ngoại tôi. Tôi thương dì Út hết sức. Nhìn lên bàn thờ, di ảnh của dì ngó tôi không chớp mắt. Ban ngày tôi không sợ. Nhưng ban đêm mường tượng lại đôi mắt ấy, tôi sợ đến khủng hoảng tinh thần. Tôi cầu mong dì đừng hiện về nhát tôi, tội nghiệp.

Ðương nhiên, dì Út tôi được chôn trên khu đất gò đồng mả. Mộ xây bằng đá ong. Ngôi mộ nào cũng thế. Sao những cọng cỏ may phất phơ theo gió trên mộ dì Út lại mang màu ảm đạm thê lương, làm tôi muốn khóc? 

Năm xưa. Có hai thầy trò địa lý người Tàu, đi ngang qua xóm, dừng chân nhìn thế đất gò đồng mả, tấm tắc khen là nơi linh địa. Nghe thế, ông ngoại tôi mời về nhà, cơm nước đãi đằng tử tế, hỏi chuyện tương lai. Thầy Tàu cho biết, tổ tiên được chôn trên gò đất này, thì đời sau con cháu sẽ phát về hướng quan trường, phúc lộc. Ông lại nói thêm, phải chi cái gò nằm dựa lưng vào con sông thì tuyệt. 

Ông ngoại tôi hỏi:

-Tuyệt ra làm sao?

Thầy Tàu bảo:

-Gò đất dựa lưng con sông. dù không được như hàm rồng long mạch, nhưng cũng tựa như kình ngư quẫy sóng. Con cháu dù không phát vương, cũng có thể cầm gươm vạch đất, chia cắt giang sơn, cát cứ một vùng, ngước mặt mà làm minh chủ, sứ quân.Ông ngoại tôi chắc lưỡi, tiếc sức người không dời được con sông Vàm Cỏ Ðông về bên gò đất, cho con cháu mai sau được nhờ. Nhưng trời đã khiến vậy. Chịu thôi. Con cháu chỉ được làm quan lớn, hưởng nhiều phúc lộc, thoát được số phận hẩm hiu của bao đời cha ông còng lưng cày bừa trên những ruộng đồng rẫy bái, cũng an ủi lắm rồi.

Ðể đáp lại tấm lòng người đã tha thiết gọi mời, ân cần chiều đãi, ông thầy Tàu ở lại mấy ngày, giúp ngoại tôi đo đạc đất đai, định hướng mồ mả, đóng cọc yểm bùa trấn yêu chung quanh gò đất. Ông bảo, muốn đời sau hưng thịnh, thì đời này phải khai thông nguồn mạch ẩn tàng trong lòng đất. Xong việc, ông khăn gói ra đi, để lại tên học trò. Ngoại tôi mừng. Không nắm được thầy, thì cột chân học trò. Cũng là một cách giữ ông thần độ mạng nho nhỏ trong nhà. Và người con gái của gia đình làm sợi dây thân ái, nối với tên học trò Tàu, biến hắn thành con rễ. 

Thời gian thấm thoát. Cặp vợ chồng Tàu Việt cho ra đời đến sáu đứa con đầu gà đít vịt. Tôi là một trong sáu đứa này. Mấy chục năm qua, dòng họ ngoại tôi chưa có ai khá nổi. Ðừng nói chi đến chuyện ngóc đầu lên để làm quan triều đình.

 Sự kiên nhẫn đợi chờ nào cũng có giới hạn. Ngoại tôi hỏi chàng rễ Tàu:

-Sao người trong dòng họ nhà ta chưa khá? 

Ba tôi, tức chàng rễ Tàu, nói:

-Ngộ lâu piết.

 -Thế sao thầy của mày bảo cái khu gò mả nhà ta là linh địa?

-Nó lâu phải thầy của ngộ.

-Vậy nó là ai?

-Là người cùng một làng với ngộ, ở pên Tàu.

-Sao mày đi chung với nó?

 -Ở pên Tàu, nó nghèo, ngộ cũng nghèo. Nó rủ ngộ qua Việt Nam làm giàu. Nhưng xứ Việt Nam cũng nghèo quá. Nó dẫn ngộ li chỗ này chỗ kia hoài. Ngộ than mỏi cẳng. Nó muốn pỏ ngộ, nên pảo ngộ ở lại nhà nị. Có cơm ăn, có vợ ngủ. Ngoại tôi trợn mắt:

-Trời đất! Sao lúc đó, mày không nói?

Ba tôi trả lời tỉnh bơ: -Nị không hỏi. Ngộ nói làm chi.

-Bây giờ nó ở đâu?

-Ngộ lâu piết.

-Nó có phải là thầy phong thủy địa lý không?

-Nó cũng như ngộ thôi. Piết chi mà làm thầy.

-Khốn nạn! Vậy mà nó bảo khu gò mả nhà ta là linh địa.

-Nó gạt nị, pảo lất của nị linh thiêng. Nị tin nó làm chi. Lất chỉ có tốt hay xấu thôi. Làm gì có lất linh hay không linh? Ruộng vườn nhà nị, gò cao lất cứng. Trồng trọt vừa lủ ăn là may rồi. Ngoại tôi tức khí, chửi đổng:

-Tổ cha thằng Chệt tha phương cầu thực, dám gạt ta!

Dù có tức, thì chuyện cũng đã đâu vào đấy, như một tiền định. Ông ngoại tôi tuổi già sức yếu. Không còn cơ hội trở mình. Ðành bỏ hết những vọng động lo toan. Làm người sằn dã.

Sống theo tinh thần Lão Trang. Hoà mình cùng trời đất. Yên phận với những nương xanh, bờ

 cỏ, vườn cây.

Ba tôi nói:

-Nị là người trường thọ.

Ngoại tôi nạt:

-Lại nữa. Mày muốn bắt chước thằng Chệt tha phương cầu thực, gạt ta sao?

-Ngộ là con rể của nị. Lâu dám gạt nị. Năm nay nị gần pảy mươi, nhưng sức còn dẻo, lòng dạ thảnh thơi. Không làm thầy pói cũng piết, nếu không gặp tai nạn pất lắc kỳ tử, thì nị còn sống được nhiều năm nữa. Như thế không gọi là trường thọ sao? 

-Ừ! Mày cũng có lý. Nhưng từ nay, ta cấm mày không được dùng hai tiếng nị ngộ với ta.

Phải gọi ta là cha, và xưng là con.

 -Lược! Nị làm cha, ngộ làm con. 

Tám mươi ba tuổi, ông ngoại tôi thanh thản từ giả cõi đời. Nhiều năm sau, má tôi kể lại cho đám con đầu gà đít vịt nghe chuyện tình duyên của má. Anh em chúng tôi cười nôn ruột. 

Tôi hỏi:

-Tình duyên của má, nghe có vẻ quái đản. Vậy má có yêu ba không? 

Má nói:

-Má không biết tình yêu là gì. Nhưng sống với nhau lâu năm, má cũng thương vì ổng có trách nhiệm gia đình, và biết lo cho các con. 

-Lần đầu ngủ chung, ba có tâm tình gì với má không?

-Ngôn ngữ bất đồng. Ổng thủ thỉ thù thì xí xô xí xào bằng tiếng Tàu. Má không hiểu. Ổng xáp lại gần vuốt ve. Má cự tuyệt, hất ổng ra. 

Anh tôi nheo một con mắt, chọc quê: -Má hất ổng ra, mà có sáu đứa con lai giống. Nếu không hất, chắc tụi con phải có đến hàng tá anh em. Chúng tôi lại cười nghiêng ngửa.

Một lần khác. Nhân lúc ba tôi nhắc lại quãng đời tuổi trẻ, tôi hỏi:

-Ba ơi! Ở bên Tàu, dòng họ mình có ai nổi tiếng trong lịch sử không? 

Ông nói:

-Có chứ. Lâm Xung là một trong một trăm lẻ tám vị anh hùng Lương Sơn Pạt. 

Thời kỳ chiến tranh nha phiến, tổng trấn lưỡng Quảng, Lâm Tắc Từ, lổ nha phiến của pọn Anh xuống piển. Và trong cuộc trường chinh của Mao Trạch Lông, có Lâm Pưu làm lến chức thống tướng. 

-Còn ở Việt Nam, họ Lâm có ai nổi tiếng không?

-Mày học chữ Việt mà không piết ông Lông Hồ làm thơ nổi tiếng sao? Tên thật của ổng là Lâm Tấn Phát.

 -Còn ai nữa không?

 -Trong quân lội pây giờ, cũng có họ Lâm làm chức lớn. Bên Lục Quân có Lâm Quang Thơ, Lâm Quang Thi. Bên Hải Quân có Lâm Nguơn Tánh.

 -Mấy ông ấy đâu có bà con gì với mình?

-Gốc gác cùng một ông tổ họ Lâm ở pên Tàu. Sao lại không pà con?

 -Nhưng mấy ông ấy làm tướng. Còn nhà mình nghèo quá.

-Mới qua Việt Nam, thằng Chệt nào cũng chỉ có hai cái hòn dái treo tòn ten dưới háng.

 Xây dựng sự nghiệp pan đầu, pằng cách quảy cặp gánh li mua ve chai, pán đồ cũ. Khá hơn, thì mở tiệm pán pánh pao, hủ tiếu. Piết chút ít chữ Tàu, thì mở tiệm pán thuốc Pắc cho pà con Việt Nam. Lâu dần, mới khá lên lược. Cũng như tụi pây lang li lính, piết lâu vài chục năm sau,

lược làm quan lớn. Quân lội Việt Nam sẽ có thêm vài ông tướng họ Lâm. 

-Ấy là chuyện tương lai xa vời, còn mù mịt lắm. Hiện tại, tụi con đang làm lính tác chiến, lúc nào cũng có thể phủi chân lên ngồi trên bàn thờ. 

-Sống ở lất nước này, phải hy sinh cho lất nước này, lền ơn tổ quốc.

 -Ba nói nghe dễ sợ quá!

-Sao lại sợ? Tao ở pên Tàu qua lây, tin có ông Trời sắp lặt mọi chuyện. Như chuyện tao

với má tụi pây, cũng do ông Trời lịnh. 

Anh tôi cải:

-Phải nói là do ông ngoại định.

 Ba tôi lý luận:

-Ông Trời khiến ông ngoại. Ông ngoại ép má tụi pây phải chịu tao.

 -Như vậy là má bị ép duyên!

 Chúng tôi la lên. Lại được một trận cười nữa

 Ai cũng có hai nơi, quê nội và quê ngoại. Anh em tôi chỉ có một quê ngoại làm chỗ đi về. Ba tôi bảo, nên học chữ Tàu, để ngày nào đó, sẽ về thăm quê nội. Chẳng đứa nào có được ý niệm, hoặc hình ảnh thân yêu gì về một quê nội xa xôi. Và cũng không bao giờ tha thiết sẽ đặt chân lên một nơi chốn, mà tất cả anh em tôi đều cảm thấy bơ vơ lạc lõng. Vì thế, chúng tôi không chịu học chữ Tàu. Ba tôi lại bảo, phải tập nói tiếng Tàu. Cái loại ngôn ngữ líu lo như tiếng chim, khó nghe khó nói. Anh em tôi không nghe không nói được. Rốt cuộc, ba tôi phảI tập nói tiếng Việt, nếu không muốn trở thành một người câm suốt ngày trong gia đình. Lý do cũng dễ hiểu. Mỗi lần ông la rầy bằng tiếng Tàu, chúng tôi giương mắt ngó cái miệng của ông, và cứ trơ ra, chẳng có phản ứng gì cả. Tức quá, ông học tiếng Việt để chửi chúng tôi cho hả dạ.

 Vì thiếu quê nội, nên bao nhiêu tình cảm, tôi dồn về một quê ngoại mà thôi. Từ ngày ông ngoại tôi mất, gia đình nhà ngoại càng sa sút thêm. Chính sự sa sút này, làm tôi nặng lòng vớI bà ngoại nhiều hơn. Miệng đời thường nói, không ai giàu ba họ, chẳng ai khó ba đời. Không biết các đời trước ra sao, chứ đến đời ngoại thì tàn mạt. Nhiều người cho rằng, nhà hướng ra hàng cây duối, nên phong quang bị quỷ thần che ám. Cửa nhìn về đồng mả, nên vận mạng bị âm khí người chết phong tỏa. Vì hai điều khắc kỵ ấy, mà ngoại tôi không mong gì ngóc đầu lên nổi. Nhưng nhà cửa đất đai đã có sẵn như thế từ đời trước rồi, còn biết đổi dời đi đâu nữa?

Những năm chiến tranh ác liệt, xóm làng nhà ngoại cũng tan hoang. Ðầu tiên là khu đồng mả. Quân du kích lợi dụng địa hình gò đống lô nhô, chiếm lấy cao điểm, biến nơi đây thành bãi chiến trường, tấn công phe địch. Phía Quốc Gia phản công bằng cách dùng phi pháo cày nát khu đồng mả, đánh bật quân du kích ra ngoài. Khi chiến trường im tiếng súng, thì mả mồ cũng tanh banh, quan tài bật nắp. Xác chết của người đời nay, nằm lẫn với xương trắng của người đời xưa. Nhưng xác chết được mau chóng thu dọn, người ta mang đi đâu không biết. Rải rác còn lại những đầu lâu xương trắng người đời xưa.

 Dưới cơn mưa mùa tháng bảy, ngoại tôi dầm mưa, gom lại từng khúc xương, chôn về huyệt cũ. Rồi ngoại thắp đèn đốt nhang trên bàn thờ khấn vái, và khóc còn hơn trời sầu đất thảm. Ðám con cháu ái ngại nhìn ngoại, nhưng chẳng đứa nào chạnh lòng khóc theo. 

Tôi cầm tay ngoại: -Thôi đi ngoại ơi, tổ tiên ngày xưa lúc mới chết, đã được khóc một lần rồi. Bây giờ chỉ còn xương cốt. Lẽ nào mỗi lần nhìn thấy nắm xương là mỗi khóc?

Ngoại mếu máo: -Thời mạt pháp, quỷ dữ lộng hành. Người chết không yên mồ mả. Người sống làm sao sống được?

-Ngoại đừng lo chi cho hao tổn tinh thần. Người sống cứ ăn cơm vào, là tiếp tục sống thôi. 

Ngoại tôi đang khóc, bổng ngừng lại, giận dữ điểm ngón tay vào mặt tôi:

-Tổ cha thằng

Tàu lai đầu gà đít vịt. Nói vậy mà nghe được sao? Làm người phải có nguồn cội. Ðừng nói theo kiểu bội nghĩa vong ân. Mày chỉ nghĩ đến ông bà cố tổ nội của mày nằm ở bên Tàu, chứ có thương xót chi người ở đây!

Bà con anh em bên ngoại tôi, đang cố tạo vẻ mặt rầu rầu cho phù hợp với nỗi sầu ai oán của ngoại, bỗng cười rộ lên. Ngoại cũng gạt nước mắt, cười theo. 

Nhiều lần, sau những cuộc đụng độ giữa hai phe lâm chiến, xóm làng nhà ngoại tiêu điều thê thảm. Người ta dùng xe ủi, khai quang cây cối chung quanh khu đất gò. Những hàng tre, lùm bụi trong xóm cũng bị san bằng trống trải. Hàng cây duối, mà ngày nào đó, ngoại tôi nói có thần linh trú ngụ, cũng không còn nữa. Chẳng biết thần linh di tản nơi nào? Có dẫn đám binh gia rắn lục của ngài theo? Bây giờ, nhà ngoại đứng trơ vơ giữa đồng không mông quạnh. Ngó lên khu đất gò, mộ bia xiêu lệch, như những nấm mồ hoang. Quân du kích không còn nơi ẩn núp, lui sâu hơn vào những vùng hẻo lánh. Ban đêm. Thỉnh thoảng, họ về làng kiếm ăn, và rỉ tai ngoại tôi:

-Quân ngụy ác ôn. Cày mồ phá mả. Hủy diệt màu xanh. Triệt tiêu mầm sống. Phá hoại làng mạc. Ðem bom đạn giết hại dân lành…

Ngoại nói:

-Nếu các ông không núp ló trên khu đất gò, không rình mò bắn lén, thì bom đạn đâu có động đến mồ mả nhà tôi.

-Mẹ chiến sĩ đừng nói thế. Luận điệu mất lập trường của mẹ, dễ bị phê bình chỉ trích là phản cách mạng.

-Tôi có nhập bè kết đảng với ai đâu, mà bảo là phản?

-Mẹ nói thế là có ý gì?

-Tôi không có ý gì hết. Chỉ yêu cầu các ông, kéo nhau vô rừng mà đánh nhau. Ðừng lảng vảng chung quanh đây. Tôi sợ bị vạ lây. Tôi già rồi, chỉ mong được yên thân cho đến ngày nhắm mắt.

-Công cuộc giải phóng đất nước còn nhiều khó khăn, đòi hỏi nhiều hy sinh gian khổ. Mẹ ích kỷ, chỉ muốn được yên phần mẹ. Tư tưởng như thế, nhân dân không thể chấp nhận.

Ngoại tôi không dám nói tiếp. Khi người ta đã viện lý do giải phóng, thì không từ nan bất cứ biện pháp sắt máu nào. Khi đã lạm dụng đến hai tiếng nhân dân, thì mọi cá thể đều không nghĩa lý gì.Mãi lâu sau, có người hỏi ngoại:

-Già rồi, còn sợ chết hay sao? 

Ngoại ngước mặt, nhìn trời: Thân phận hèn mọn như con trùn con dế, còn ham sống thay. Huống chi ta! Nếu đứng bên ngoài mà trông, nhà ngoại rất bề thế. Nhà rộng ba gian, nền cao lót gạch, mái ngói âm dương. Dù tường vôi loang lở nhưng còn thể hiện được cái quá khứ sung mãn một thời. Vào bên trong rỗng tuếch, mới thấy hết được sự suy sụp của thời gian, phơi bày ra nỗi nghèo nàn cơ cực. Ðồ đạc cũ kỹ, lâu ngày mối mọt hư hao. Cối xay lúa, và cối giã gạo chiếm gần hết gian nhà giữa. Hồi nhỏ, mỗi lần nghe tiếng xay lúa rồ rồ, tiếng giã gạo cùm cụp, thế nào tôi cũng ngủ gục. Có khi còn nằm lăn ra bên cạnh cối xay, thiếp đi một giấc ngon lành. Cái âm thanh và hình ảnh nghèo nàn thân thuộc ấy, tiềm tàng ăn sâu vào tâm thức, đeo đẳng theo tôi suốt đời. Nhiều khi bồi hồi nhớ lại, tôi tưởng chừng còn nghe tiếng cối xay đang rền rĩ trong đầu, và mềm lòng đến ứa nước mắt. Gian nhà trên, có bộ ván gõ. Mỗi tấm ván dày cỡ gang tay. Qua bao thế hệ thấm đẫm mồ hôi, mặt ván lên nước bóng ngời. Những trưa mùa hè, nằm trên bộ ván, nghe mát lạnh tấm lưng. Sát vách, có ba cái tủ thờ bằng cẩm lai khảm xa cừ, chạm hình cảnh và người. Tôi ngắm hoài không chán. Lớn lên, mới biết những hình ấy lấy sự tích từ truyện Tàu. Ðặc biệt hơn nữa, nhà ngoại có cái rương bằng gỗ, rất to. Tôi chưa từng thấy nhà ai có cái rương to đến thế. Cái rương to như chiếc xe bò. Phía dưới có gắn bốn bánh xe, cũng bằng gỗ. Ngoại tôi nói, vào thời trước, mỗi lần chạy giặc Tây, người trong gia đình phải đẩy cái rương chạy theo. Có lần ngoại mở nắp rương, tôi thấy bên trong toàn là chén dĩa bằng sứ, và những nồi đồng, mâm thau cất giấu lâu ngày không dùng, nên bị rỉ một lớp ten xanh. 

Tôi hỏi:

-Chạy giặc, sao còn đẩy cái rương theo?

Ngoại nói:

-Bỏ lại, Tây sẽ lấy hết.

-Ở bên Tây không có những thứ này sao?

-Xứ nó nghèo, làm sao có được của quý? Nó qua xứ mình để ăn cướp. 

Tôi tin lời ngoại, nhưng vẫn thắc mắc. Tây qua xứ mình chỉ để cướp đi những chán dĩa, nồi đồng, mâm thau thôi sao?

Ngày còn thơ ấu. Những buổi trưa, tôi thường nằm ngủ trên bộ ván gõ nhà ngoại. Khi thức dậy, thấy những tia nắng xuyên qua những lỗ hở trên mái nhà, dọi xuống. Trong tia nắng, có vô số hạt bụi bay vơ vẩn, như những sinh vật li ti đang bơi trong không khí. Không biết tại sao, cảnh tượng này, lại gây cho tôi một nỗi buồn khôn tả. Ðang buồn, nhìn vào phía trong lại thấy cái rương quá to. Ðiều kỳ lạ, là càng nhìn cái rương càng to ra, và tôi có cảm tưởng mình càng bé lại. Thế là tôi khóc. 

Ngoại tôi cằn nhằn:

-Thằng nhỏ này có cái thói không chừa được. Lần nào ngủ trưa dậy, cũng khóc.

Cậu tôi là người rất dữ dằn, doạ nạt cỡ nào, tôi cũng không nín. Cậu bỏ tôi trong cái thúng. Ðặt cái thúng vào chiếc gióng. Cột dây thòng tôi xuống giếng. 

-Nếu mày không nín. Tao thả rớt xuống luôn.

Tôi vừa khóc vừa nói:

-Thả rớt luôn đi. 

Cậu từ từ thòng tôi xuống chạm mặt nước. Nước làm ướt đít tôi.

Cậu hỏi vọng xuống:

-Mày chịu nín không?

 Tôi khóc, không trả lời. Cậu hạ thêm. Nửa người tôi ngập trong nước.Giếng quá sâu, không đủ ánh sáng. Nước lại lạnh. Thành giếng cũng toát ra hơi lạnh. Tôi quơ tay ra ngoài, đụng phải thành giếng rong rêu trơn nhớt. Cảm giác rờn rợn luồn vào da thịt, làm tôi khiếp vía. Hình như tôi bị ngộp. Không biết vì giếng sâu thiếu dưỡng khí, hay sự sợ hãi làm tôi khó thở. Tôi nhắm mắt lại, và muốn được chết ngay, để thoát cái cảnh bị hành hạ khốn nạn này.

Có tiếng ai la nheo nhéo trên miệng giếng. Và cậu kéo tôi lên. Tôi thấy ngoại đang khóc.Ngoại nhấc tôi ra khỏi cái thúng, mắng cậu: -Mày độc ác. Doạ kiểu này, nó hoảng hồn

chết luôn làm sao? 

Cậu chống chế:

-Nó mà hoảng hồn? Thằng này lì lắm. Thiên lôi tầm sét, chưa chắc đã làm nó sợ. 

Ngoại dẫn tôi vào nhà, ôm tôi và khóc. Trong khi ngoại khóc, tôi lại nín khe. Thương ngoại bao nhiêu, tôi oán cậu bấy nhiêu. Từ đó trở đi, nơi nào có cậu, tôi đều tránh mặt. Nghe tiếng nói tiếng cười của cậu, tôi cũng ghét. Ấn tượng một lần bị thả xuống giếng, tôi không bao giờ quên.

Sau này, cậu bỏ nhà theo Việt Minh. Trong gia đình ai cũng nhắc nhở, nhớ thương. Riêng tôi lại mong, cậu đi đâu thì đi luôn cho rồi. Ðừng về nữa. Thế nhưng, thỉnh thoảng cậu vẫn ghé về thăm nhà. Tôi chỉ chào hỏi qua loa, rồi lẩn mất. Những chuyến đi về của cậu, càng về sau, càng thưa dần. Rồi cậu đi biền biệt, bặt tin luôn. Ðến khi nghe tin cậu mất, mọi người trong thân tộc bàng hoàng. Má tôi chảy nước mắt như mưa. Ngoại xót xa rên xiết từng đêm. Tôi không hề xúc động, dửng dưng như người chưa từng quen biết. Cậu là người duy nhất trong dòng họ ngoại tôi, khi chết không đem được xác về chôn trên khu đất gò đồng mả.

Cái chết của cậu, một kẻ trở về kể lại, nghe cũng rất ly kỳ. Cậu đặc trách công tác nội thành. Lâu lâu, về mật khu để báo cáo tình hình. Một buổi chiều. Cậu cùng vài ba đồng chí về gần tới mật khu.Bỗng nghe bên đường, trong cây rậm, có tiếng hô lớn:

-Tất cả đứng lại. Giơ tay lên! 

Cậu nói:

-Ðường sá xa xôi, mệt lắm rồi. Ðừng đùa, đồng chí ơi!

-Tao bắn bể đầu. Chứ đùa với mầy hả? 

Những người cùng đi với cậu dừng lại, sửng sốt. Ðây là địa phận an toàn của Việt Minh, sao bị phục kích?

Từ trong cây rậm, ra lệnh:

-Thằng cha quấn khăn rằn trên cổ, đứng lại. Những người khác tiếp tục đi.

Cậu ở lại. Người ta dẫn cậu đến một cái chòi của rẫy bắp, trong rừng. Nơi đây, cậu được ăn một bữa cơm chiều với khô trâu. Sau đó, cậu bị chính những người đồng chí của mình kết tội, lợi dụng công tác nội nội thành, làm gián điệp cho Tây. Người ta trói, và dẫn cậu đến một cái giếng lạn, loại giếng bỏ hoang lâu ngày, khô nước. Cậu bị đập đầu, xô xuống giếng. Giữa rừng già mênh mông, tìm cái giếng để đem xác cậu về, không là chuyện dễ. 

Vợ cậu, người tôi gọi bằng mợ, nhan sắc mặn mà, sắc sảo khôn ngoan. Mợ quyết chí trả thù chồng, làm đơn khiếu nại, tố cáo kẻ giết chồng mợ. Ðể tránh con mắt dò xét của người lạ, mợ giấu đơn từ vào trong chiếc nón lá, và chằm kín lại, trông như chiếc nón bình thường. Một ngày mưa, mợ đội nón lá ra đi. Tôi đứng trước thềm hiên, trông theo người đàn bà khốn khổ. Thấy mưa rả rích trên hàng dừa trước ngõ. Mưa mù tận ngoài bưng. Mưa khuất rặng cây xanh ở phía chân trời. 

Ngoại tôi chạy theo, níu áo:

-Con ơi, người chết không sống lại được. Con khiếu nại, tố

cáo cho ra lẽ, thì chuyện cũng đã rồi. 

Mợ nói:

 -Người ta giết oan chồng con. Lẽ nào con cắn răng im lặng?

-Nếu không im lặng, con làm gì được ai?

Mợ nghẹn lời, rồi bật khóc. Cương quyết dứt áo ra đi.

Ngoại tôi lủi thủi quay vào. Ðầu tóc ướt mem. Ngồi rũ trong bếp. 

Những ngày sau. Ngoại bồn chồn không yên, trông mợ trở về. Không phải để nghe mợ báo tin, trả được thù chồng. Ngoại chỉ sợ người ta sẽ thủ tiêu luôn cả mợ. Rồi mợ cũng về trong bơ phờ thất vọng. Những đồng chí cũ của cậu đều làm ngơ, không ai nhận trách nhiệm về cái chết của cậu.

Cái gan của mợ, chẳng biết lớn tới cỡ nào. Mợ nhất định rời khỏi nhà ngoại. Rời khỏi cái nôi của đại gia đình dòng họ nhà chồng, dẫn mấy đứa con nheo nhóc về vùng kiểm soát của Lực Lượng Liên Minh giáo phái Cao Ðài. Không lâu sau, mợ lấy một sĩ quan của Lực Lượng Liên Minh. Dựa thế lực chồng mới, báo thù cho người chồng cũ. Máu oan cừu của cả hai phe lại âm thầm đổ xuống. Không phải qua những đụng độ trên chiến trường, mà bằng những thủ đoạn rình rập chặt đầu, bắn giết thủ tiêu nhau. Và đó cũng là một trong những nguyên nhân đưa đến sự tàn mạt cho gia đình ngoại tôi. Bởi các đồng chí cũ của cậu, coi gia đình nhà ngoại là thù địch, luôn luôn theo dõi, gây ra nhiều nỗi khó khăn. Theo thời gian, nhà ngoại đổ xiêu rách nát. Bà ngoại tôi bỏ nhà, lên khu đất gò, nằm kế bên mả ông ngoại. Má tôi rầu rĩ ho lao, cũng vội vàng lên chiếm một chỗ trên khu đất gò. Ba tôi từ bên Tàu, theo ông thầy phong thủy địa lý giả mạo sang đây, bị bỏ rơi ở nhà ngoại. Ngoài người vợ Việt Nam, và mấy đứa con lai Tàu, ông không còn liên hệ họ hàng với ai. Khi má tôi từ giả cõi đời, ông buồn tình, không thiết sống nữa. Thế là ông tự động đứt mạch máu não, hôn mê mấy ngày trước khi bơi qua sông Nại Hà, theo cho kịp má tôi. Ðối với bên vợ, ba tôi là người ngoại tộc, nhưng cũng được đặc ân chôn trên khu đất gò đồng mả dòng họ ngoại tôi.Thời thế xoay nhanh đến chóng mặt. Mặt đất cũng biến đổi dị thường sau những thăng trầm dâu bể. Mồ mả tiên tổ bao đời của ngoại tôi, được lệnh bốc đi nơi khác. Trên quê hương xứ sở, còn có nơi nào được nằm yên vĩnh viễn? Thôi thì hốt cốt, dồn chung lại, hoả táng một lần cho xong. Khu đất gò, bây giờ là văn phòng Ủy Ban Nhân Dân Xã. Từ trên văn phòng Ủy Ban nhìn xuống, cái nền nhà cũ của ngoại, mọc lên hai dãy nhà kho, dùng chứa nông phẩm Hợp Tác Xã. Và vườn cây ăn trái phía sau nhà ngoại cũng bị san bằng, biến thành sân đá banh.

Dòng đời, và tất cả cơ ngơi của ngoại tôi, chỉ còn trong hồi tưởng.

Lâm Chương

Chuồng Người

http://www.dutule.com

Lâm Chương

23 Tháng Chín 2019

Post by Sơn râu 23 Aug 2024

Chỉ còn vài ngày nữa là thu hoạch xong vụ mùa. Tôi được miễn đi lao động, vì cái chân đau. Hôm qua lúc chuyển lúa vào bồ, tôi vô ý vấp ngã nơi bậc thềm nhà kho. Mặc dù đã được nắn bóp, sửa trặc, nhưng khớp xương mắc cá chân vẫn sưng đỏ, đau nhức.
Khi các đội đã xuất trại, tôi chống cây gậy ra cửa, đứng nhìn lên sân trại. Giữa sân có đặt ba cái thùng phuy, dùng chứa phân người. Sau một đêm bài tiết của anh em trong trại, phân được xúc từng gánh đem đổ vào thùng. Hàng ngày, người của đội rau xanh sẽ chuyển ba cái thùng này bằng xe cải tiến đến vườn rau. Đổ phân xuống hố, lấp phủ lên một lớp đất. Ủ phân. Một thời gian sau, phân từ màu vàng như đất sét nhão, biến thành màu xám như bùn, đã tới lúc có thể dùng được, xúc lên làm phân bón rất tốt. Phân được chế biến kiểu này gọi là phân Bắc. Mới đầu, anh em đội rau xanh rất tởm phân Bắc, nhưng thời gian lâu dài, tiếp xúc mãi thành quen, thấy cũng không có gì đáng gớm ghiếc, và khám phá ra cái công dụng tuyệt vời của nó. Chỉ cần rau muống nếm một chút phân Bắc, rau trở nên xanh tốt, tăng trưởng rất nhanh.

Từ trong đội cải tạo hình sự, có hai tên cầm que đi đến thùng phuy. Nó bươi móc thứ gì trong đó. Một trong hai tên này, tôi quen. Hồi mới quen, tôi hỏi nó:

– Mày tên gì?

– Ný!

– Tên ngộ quá! Họ gì?

– Nê!

– Cái gì? Làm gì có họ Nê?

– Có chứ! Rất nhiều! Tên họ của cháu: Nê văn Ný.
Tôi chợt hiểu, bật cười:

– Mày nói ngọng. Tên họ của mày là Lê văn Lý.

– Người miền Nam của các chú thường nói thế. Ở đây chúng cháu gọi Nê Văn Ný!

Từ đó trở đi, tôi cũng gọi nó là thằng Ný.

Thấy nó bươi móc trong thùng phuy, tôi kêu lớn:

– Ný! Mày làm cái gì đó?

Nó quay lại nhìn tôi, rồi bỏ cái que, đi lại gặp tôi.

– Hôm nay sao chú được nghỉ?

– Tao bị bong gân chân. Còn mày?

– Cháu chờ để trưa gánh đồ ăn thông tầm cho đội!

– Mày tìm gì trong thùng phân?

– Nhà bếp vừa đổ rác trong ấy. Cháu kiếm chút rau cải vụn.

– Ăn uống dơ bẩn, có ngày bỏ mạng con ơi!

– Cháu mang về rửa sạch, cho vào ca cống, đun sôi, vi trùng nào chả chết!

Tôi nhìn thân hình gầy gò, cái mặt hốc hác của nó, và nghĩ đến mình. Tôi có khác nó gì đâu. Cùng một hoàn cảnh khốn khó, người ta không cần tỏ lòng trắc ẩn cho nhau.

Đứng tần ngần một lúc, nó hỏi:

– Chú có thuốc nào, cho cháu xin một bi!

-Vô đây!

Tôi dẫn nó vào lán, ngắt trong cái bọc nhỏ, cho nó một bi thuốc lào. Rít xong hơi thuốc, nó nói:

– Hôm nay, đội cháu có mấy thằng được chỉ định nên khung, mổ nợn cho cán bộ bồi dưỡng. Cháu không được đi.
Tiếc thật!

– Mổ lợn đâu có gì thích mà mày tiếc?

– Thích chứ! Được xơi thịt!

– Cán bộ cho ăn hả?

– Không. Làm gì có người tốt thế!

– Vậy ăn bằng cách nào?

– Khi được chỉ định đi mổ nợn, thằng nào cũng phải măc hai nớp quần. Nớp trong được bó sát vào bìu dái như cái quần xì của người miền Nam. Đến núc xẻ thịt thì xén vài cục, nén dấu vào quần, dưới bìu dái. Trước khi về, cán bộ bắt đứng xếp hàng, mò xét khắp ngườii, nhưng không mò dưới bìu dái. Thế nà thoát!

-Tụi mày tài thật!

– Cách này dùng mãi, bị phát giác. Chúng nó bắt cởi đồ, chỉ còn độc cái quần trong, thò tay sờ vào quần, sờ nắn trong háng, nhột bỏ mẹ. Bắt gặp có dấu thịt, chúng nó dần cho nát đòn và cùm vào nhà kỷ nuật.

– Khó khăn, nguy hiểm như vậy, tụi mày không sợ?

– Trong khó khăn nẩy sinh sáng tạo. Chúng cháu nghĩ ra được cách giấu thịt, chỉ có trời biết.

Nó ngừng lại, chỉ tay vào túi tôi:

– Chú cho cháu thêm bi thuốc!

– Mày có tài thật, đang kể chuyện tới hồi gây cấn là ngừng lại, đòi thứ này, thứ nọ.

Dù cằn nhằn nhưng tôi vẫn ngắt cho nó bi thuốc lào thứ hai. Nó cẩn thận cho bi thuốc vào nõ điếu, châm mồi lửa, rít một hơi dài…Tôi giục:
– Kể tiếp đi. Cái mánh lới giấu thịt của mày!

– Thằng nào được chỉ định đi mổ lợn, khi trở về đội cũng phải nạp cho thằng đội trưởng hai cục thịt bằng ngón chân cái. Không có, nó thụi vào bụng cho thổ huyết!

– Tao không muốn nghe chuyện thằng đội trưởng của tụi mày. Hãy kể phương pháp dấu thịt mà mày cho rằng sáng tạo.

– Vâng! Phương pháp này không cần phải chuẩn bị đồ nghề gì cả. Lúc xẻo thịt, nếu cán bộ không để ý, cứ xén từng cục, cho vào mồm xơi tươi!

– Ăn thịt sống hả?

– Vâng! Xơi thịt sống thì đã có sao?

– Tụi mày ăn uống như người tiền sử!

– Người tiền sử nà người xứ nào mà ăn uống như chúng cháu?

– Chẳng phải xứ nào cả! Đó là tổ tiên của chúng ta nhiều triệu năm về trước. Khi chưa tìm ra lửa, loài người phải ăn thịt sống.

– Đấy! Họ vẫn khỏe mạnh, sinh tồn đến ngày nay. Cọp beo cũng thế!

– Hãy nói vấn đề lấy thịt. Tụi mày ăn tại chỗ, nhưng làm sao lấy về cho thằng đội trưởng?

– Chúng cháu xén sẳn vài cục, khi có nệnh về nà cho vào mồm nuốt ngay. Bọn cán bộ dù có con mắt thánh cũng không bắt gặp. Xét xong, chúng cháu vội về đội, móc họng, nôn ra niền, nạp đủ số cho thằng đội trưởng.

– Rồi thằng đội trưởng ăn bằng cách nào?

– Hắn rửa cục thịt sạch chất nhớt, cho vào ca cống, đun lên nà có được bữa ăn ngon.

Nói xong, thằng Ný đứng dậy:

– Cháu phải về gánh cơm cho đội thông tầm. Cái chân chú đau, không nên đi đứng nhiều.

Nó quay lưng, ra khỏi lán.

Nhìn đôi vai gầy guộc của nó rút lại như đôi vai của người bệnh ho lao, tôi gọi: -Ný! Mày trở lại lấy vài bi thuốc lào, đêm nay hút cho đỡ lạnh!

Vào những ngày cuối năm, trời bỗng dưng trở lạnh. Mưa phùn lất phất trên những vòm cây. Đồi nương ẩm đục. Ngày hai mươi chín tháng Chạp, được phép trại trưởng, các đội khỏi phải xuất trại lao động bên ngoài. Thay vào đó, anh em được giao công tác dọn dẹp và làm vệ sinh trong trại, chuẩn bị đón Tết.

Tôi đang ngồi nhổ cỏ dọc theo những chân tường ngăn chia các đội. Thăng Ný đi ra. Hôm nay nó mặc bộ đồ lành lặn, sạch, mặt hiện niềm vui. Tôi nói:

– Chưa Tết mà ngó mày, tao đã thấy mùa xuân!

Nó báo tin: – Cháu được mẹ từ Vĩnh Yên nên thăm. Bộ đồ này cháu mượn của thằng bạn, để mẹ cháu không nhìn thấy cháu rách. Cháu đang chờ cán bộ dẫn ra nhà thăm nuôi.

– Mày ngon rồi! Vừa có đồ ăn của trại, vừa được mẹ tiếp tế thêm. Tết này mày huy hoàng!

– Vâng! Huy hoàng thật! Cháu không ngờ may mắn đến thế!

Khoảng hai giờ chiều, cán bộ dẫn thằng Ný về trại, tay ôm bụng, mặt nhăn nhó, tái nhợt. Ngờ nó bị trúng gió, tôi theo nó vào lán. Nó nằm vật lên sạp, lăn lộn, kêu đau bụng và lạnh. Tôi hỏi mượn mấy thằng bạn của nó ve dầu nóng để cạo gió.

Thằng đội trưởng hình sự đứng nhìn một lúc, nói:

– Chả phải trúng gió đâu! Nó bị bội thực đấy! Móc họng nôn ra là khỏi ngay!

Nhiều thằng khác lao nhao:

– Nôn? đi! Nôn đi!

Thằng Ný trườn về bìa sạp, rướn cổ, thò đầu ra ngoài, cho ngón tay vào miệng. Có thằng la lớn:

– Hãy khoan!

Và nó chạy ra ngoài, đem vô một cái thau bằng nhựa, bưng thau kề sát miệng thằng Ný:

– Hãy nôn vào đây!

Thằng Ný móc họng, ụa mữa. Đồ ăn lẫn nhớt dãi tuôn trào xuống thau. Thằng bưng thau bóc lên những miếng thịt còn dính lòng thòng nhớt dãi, đưa lên miệng ăn. Một thằng khác đang đói cũng ăn.

Có thằng nhăn mặt: – Gớm quá!

Thằng bưng thau nói:
– Gớm gì? Từ bụng kia sang bụng nọ mà thôi!

Sáng mồng một Tết, mọi người quy tụ ra sân trại coi anh em văn nghệ trình diễn. Có đàn và trống xập xình vui tai. Tôi gặp thằng Ný đang lóng ngóng coi hát. Tôi hỏi:

– Mày khỏe hẳn chưa?

– Hôm sau nà khỏe ngay!

– Mẹ mày thăm nuôi, sao tao thấy mày đi vào tay không?

– Nhà cháu nghèo, không có tiền sắm sửa. Thăm nuôi là thăm cho có nệ thế thôi! Mẹ cháu chỉ mang cho cháu một con gà nuộc, và một cân xôi.

– Sao không đem vô trại, để dành ăn từ từ?

– Nếu đem vô trại, mấy thằng đầu gấu, chúng nó giành giựt cả. Thế cháu mới xơi hết tại chỗ!

Tôi trợn mắt:

– Mày ăn hết một lần hết con gà và cân xôi?
– Vâng! Không còn cách nào khác! Lúc thì dư thừa phải nôn ra, bây giờ thì đói.

Nhìn thằng Ný, tôi thấy nó đang tàn tạ, khô héo dần. Nó không có mùa Xuân.

Tiếng Hờn Chân Mây

baovecovang2012.wordpress.com

Trần Thy Vân

Posted on February 10, 2013 by Lê Thy

Post by Sơn râu 23 Aug 2024

Google photo

Chương Bốn

Hình Ảnh Chiến Trường Xưa với Lm. Nguyễn Văn Vàng

Chiếc Renault vừa trườn lên tới đầu dốc bỗng phát ra mấy tiếng nổ liên tục, với luồng khói đen khét lẹt mùi dầu ở trước máy, và muốn khựng lại. Bác tài xế vội bẻ tay lái tắp vào lề. Chú lơ xe cũng nhanh như chớp, rút trái khế gỗ ba cạnh nhảy xuống chêm dưới một cái bánh sau, rồi hô to: “Xe banh?”. Hành khách lao nhao, kẻ nhổm dậy, người lom khom mò mẫm tìm đồ đạc của mình một cách mất trật tự.

Tưởng tôi còn ngái ngủ, không hay biết sự việc đang xảy ra, vị khách ngồi kế vỗ vai tôi và chỉ lên mui, tỏ ý để anh leo qua cửa sổ lấy giúp chiếc xe lăn. Tôi gật đầu.

Xe hỏng máy ai cũng thở dài, tôi thì chẳng lo lắm, tới đâu tới, vì đã rời xa Đà Nẵng. Từ đây tôi có thể khai man lý lịch, giấu cả tông tích. Tôi ráng hết sức còn lại của nửa thân mình lăn chiếc xe vượt qua vạt đất xù xì sỏi đá, để theo mọi người vào bóng mát. Ngồi nhìn quanh, đột nhiên tôi ngờ ngợ trước cảnh vật. Vách núi cũng áp sát phía tây Quốc lộ 1, mặt đông là khu đồi thấp, nhấp nhô như sóng lượn, làm tôi xúc động. Tôi muốn nhìn xa hơn, mới xác định được nơi này là đâu, mà trông quen thuộc. Rất tiếc, tầm mắt bị giới hạn.

Ông bạn lúc nãy đến gợi chuyện:

– Anh là phế binh chế độ “quỵ”?

Bị quấy rầy, làm tan biến những điều tôi vừa hồi tưởng, lại nghe hỏi bằng một giọng miền Nam ngụy thành quỵ, mà từ nào cũng ẩn ý xấu, xấc xược, tôi giằn từng tiếng đáp:

– Ai “quỵ” chứ tụi này chưa quỵ đâu!

Đã không tỏ vẻ giận hay trách móc tôi chóng quên ơn việc lấy giúp chiếc xe lăn trên mui xuống đất, kẻ đối diện còn nở nụ cười thiện cảm:

– Đó là một cách nói che mắt bọn ác, bỏ qua đi bạn…

Nói xong, anh ngồi xuống tảng đá bên cạnh, tay ôm cứng cái túi dết nhà binh trước ngực. Dáng điệu anh như một quân nhân vừa rã ngũ, chưa hoàn hồn. Trên cổ đeo một thánh giá, càng làm tôi tin anh cùng chung số phận “quỵ” thật. Tuy vậy, tôi vẫn giữ thái độ không mấy cởi mở:

– Xin lỗi, anh có biết địa danh này?

– Sa Huỳnh Đức Phổ!

Nghe anh đáp vừa cộc lốc vừa nhanh như bốn phát súng bốn tiếng thân thương ấy, tôi vội bụm mặt:

– Trời!…

– Gì kêu trời?

– Trí nhớ tôi tệ quá !

– Tuổi chưa già mà thời thế muốn mình sụm sớm…

– Không phải ý nghĩa đó. Mới hai năm tôi đã quên… Khu đồi che khuất trước mắt tôi không thấy được đầm Nước Mặn. Và vì ngủ gà ngủ gật, tôi cũng chẳng hề hay biết khi xe chạy ngang qua con xóm cũ của Nhị, bạn gái tôi, ở quận Mộ Đức.

-Ừ ngoài kia có cái vịnh lớn lắm! Chắc lúc trước anh là lính trấn thủ lưu đồn, hay làm nghề đánh cá ở đây, hả?

Không biết anh hỏi thật hay đùa mà miệng cứ mủm mỉm, như cười nhạo báng, làm tôi tức thêm:

– Tôi đánh giặc liểng xiểng thì có, chứ đánh cá đánh tôm gì! Mới đầu năm kia đây, 1973, tôi Đại đội trướng Đại đội 1, Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân, dự cuộc tái chiếm Sa Huỳnh này. Xương máu lính đổ khá nhiều, nhưng bọn giặc thiệt hại gấp bội, hai trung đoàn của chúng đều tan rã, hàng ngàn xác chết bị vùi dập, từ trên các dãy đồi xuống tận dưới đáy sâu đầm Nước Mặn…

Tôi đưa mắt nhìn ra xa và kể tắt ngang, không đầu không đuôi về một trận chiến đã xảy diễn nơi đây. ông bạn lộ vẻ thích thú :

– Ồ, ở Đà Lạt tôi có nghe vụ Sa Huỳnh, các anh đã cứu vãn được tình thế bi đát, năm tỉnh địa đầu miền Trung khỏi cô lập chấm dứt nạn thiếu các nhu yếu phẩm. Dữ lấm đó !

– Dữ thì không bằng các cuộc giải tỏa các thành phố hồi biến cố Tết Mậu Thân 1968, Bình Long An Lộc… Nó cũng nhẹ hơn việc tái chiếm tỉnh Quảng Trị suốt mùa hè sang thu 1972 về tầm vóc ác liệt, cả không gian, thời gian. Nhưng trận đánh Sa Huỳnh lại quá rùng rợn, khác lạ, ai nghe cũng tường chuyện huyền thoại…

– Huyền thoại, ly kỳ?

Tôi quấn một điếu thuốc rê, đốt hít một hơi dài rồi nhìn xuống con dốc phía sau chiếc xe đò:

– Nếu không lấy lại được Quảng Trị, dân miền Nam mỗi người bị bớt một chén cơm, còn mất hẳn Sa Huỳnh, Đức Phổ, dù đây là cỡ quận, thì một phần ba nước, gồm năm tỉnh địa đầu miền Trung, đói te tua. Ví như vậy để anh thấy tầm quan trọng của vùng đất anh và tôi đang đứng. Trung đoàn 141/2 với một tiểu đoàn phòng không của địch chiếm cứ lại bị một đại đội chỉ 52 tay súng, đánh vỡ phòng tuyến, và bị bắn ngã dài dài từ trên các khu đồi đất đá chập chùng, xuống tới ven bờ lẫn đáy sâu đầm Nước Mặn.

Tính ra, trung bình một người lính Đại đội 1 Biệt Động tôi chỉ huy, rượt chạy trối chết 16 Cộng quân Bắc Việt. Rùng rợn và nghe như chuyện huyền thoại là chỗ đó, đúng không? Nay dù cụt hai chân tôi cũng thỏa mãn…

Kìa, tôi nhớ rồi! Hãy nhìn dưới dốc, cái vách đồi dài còn đổ vỡ bên phải con lộ, là nơi khởi đầu Đại đội 1 tôi đột nhập tấn công phòng tuyến địch, điểm xuất phát từ đường xe lửa bị cây cối phủ lấp, sát chân núi mé tây. Sau đó, chúng tôi vòng quanh qua cửa khẩu ngoài kia, để truy kích đánh nát đám tàn quân Sư đoàn 3 Sao Vàng đang tháo chạy như bầy vịt, và bắt sống hàng loạt, chúng vừa khóc vừa cúi đầu lạy xin tha. Tội nghiệp, dù anh hùng cách mấy khi sa cơ trông chúng rất thảm. Chỉ nơi một sườn đồi thoai thoải trải dài xuống mỏm kế bờ đầm khoảng 300 thước, mà địch thiệt hại non một đại đội còn bị túm cổ 18 tên, trong đó có mấy sĩ quan…

– Anh nói tôi thích quá. Đánh cách nào thắng hay vậy?

– Khi cùng đường, địch bị dí vào tử lộ, ba mặt là biển, Biệt Động Quân siết dần vòng vây, ép chúng dồn lại, những tay súng bạt mạng của Trần Thy Vân tha hồ bắn.

Thấy anh chịu nghe, tôi vắn tắt thêm phần Đại đội 1 Biệt Động đã đạt được trong trận đó, tháng 2/1973:

– Kết quả để đời. Tuy mình có thiệt hại, từ khi xuất quân mùng 1 Tết, 1973, tại Mộ Đức, lính tôi chết lẫn bị thương 37 người, nhưng đã đổi lại giết trên 200 tên Việt Cộng, bắt sống 19. Vũ khí thu 106 súng đủ loại, có khẩu phòng không 12ly8. Đó là thành tích chưa từng thấy ở cấp đại đội trong Quân Lực VNCH. Người thắng còn kinh hồn lọ là kẻ thù bại trận…

Mải mê nói tôi quên tìm hiểu chút lai lịch người bạn đồng hành, mà tôi đã hết thành kiến. Tôi hỏi:

– Từ Đà Lạt anh đi Đà Nẵng thăm ai vậy?

– Tôi đưa Cha Vàng ra đó, bây giờ về.

– Linh mục Nguyễn văn Vàng (1) phải không?

– Anh biết Cha à?

Tôi vừa cười vừa gật đầu:

– Tôi gặp Cha hai ba lần lận, lần sau cùng tại đây…

Anh ngạc nhiên:

– Tại Sa Huỳnh này? Tôi tên Thành, Nguyễn văn Thành. Còn quý danh anh, và xin cho biết những trường hợp nào anh gặp Cha, mà lần sau cùng lại tại đây, một nơi khỉ ho gà gáy? Cha đến Sa Huỳnh làm gì nhỉ?

Ngẫu nhiên hai người có vài điểm trùng hợp, ai cũng thấy thích thú trong lòng. Tôi quấn một điếu thuốc rê đốt hút cho đỡ đói rồi nối tiếp những hình ảnh vui buồn hai năm qua và mười bảy năm về trước.

Tôi làm ra vẻ kênh kiệu:

– Hồi nãy tôi có nói đến tên tôi “những tay súng bạt mạng của Trần Thy Vân tha hồ bắn…”. Tại anh không để ý. Giờ kể chuyện dĩ vãng, về Cha Vàng, Nguyễn văn Vàng, thì nó dài dòng lắm, chẳng mấy hấp dẫn.

Thành nôn nóng:

– Tiện đây anh nói cho vui, chứ để lát nữa lên xe tâm tình nguy hiểm lắm, biết đâu có công an chìm trà trộn…

– À, tôi quên nói, Quảng Trị được tái chiếm chưa đầy một trăm ngày, còn hoang tàn đổ nát, thì Sa Huỳnh, Đức Phổ, rơi vào tay giặc. Anh thấy không, vùng đồng bằng này chiều dài khoảng 30 cây số, nhưng hẹp, chỗ rộng nhất, từ chân núi ra biển chừng 600 thước, chỉ có con quốc lộ chúng ta đang đứng cặp sát hông núi xuyên qua, độc đạo. Do đó Sa Huỳnh được coi là một vị thế trọng yếu. Hình dung xem, rõ ràng nó giống cái cuống họng, bộ đầu là Vùng 1 chiến thuật. Đầu năm 1973, địch lấn chiếm, khống chế trục giao thông huyết mạch, năm tỉnh giới tuyến miền Trung đều bị cô lập, các nhu yếu phẩm trở nên khan hiếm, thiếu hụt trầm trọng, dân chúng chen lấn nhau mua xăng dầu, mua gạo, cả khoai khô nữa…

Mặc dầu hiệp định Ba Lê về hòa bình Việt Nam, cái lệnh ngưng bắn đã có hiệu lực ngày 27-01-73, Sư đoàn 2 Bộ Binh vẫn trách nhiệm tổ chức phối hợp các quân binh chủng, trong đó có Liên đoàn 1 Biệt Động Quân gồm ba Tiểu đoàn 21, 37 và 39 làm nỗ lực chính, mở ngay cuộc phản công, đánh bật được Sư đoàn 3 Sao Vàng, một đại đơn vị hung hãn nhất, với Trung đoàn 141/2 Cộng Sản Bắc Việt tăng cường, ra khỏi Sa Huỳnh quận Đức Phổ, Quảng Ngãi, tháng 2/1973.

Chiến thắng, Quốc lộ 1 được khai thông, cứu nguy Vùng 1. Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu cùng các tướng lãnh thuộc Bộ Tổng Tham Mưu, các cơ quan truyền thông ra thăm Đức Phổ. Xong, họ về lại Sài Gòn, các lực lượng tham chiến, với Liên đoàn 1 Mũ Nâu chúng tôi, đều xuất phái.

Đại đội Biệt Động của tôi lúc đó, thời gian phái đoàn TT Thiệu đến thăm, đang trấn thủ trên đỉnh núi ngay sau lưng tôi và anh đây, để giữ an ninh, cũng nhận lệnh hạ sơn về hậu cứ Đà Nẵng. Trong lúc chờ xe, tôi rải lính nằm dài theo quốc lộ, trước mặt làng Sa Huỳnh.

Ngày ấy thật là nhộn nhịp, xe cộ ngược xuôi và từng đoàn người lánh nạn phương xa lũ lượt dắt díu gia đình hồi cư. Nơi các thôn xóm đã đổ nát quanh bờ đầm Nước Mặn, dân chúng lăng xăng sửa sang lại nhà cửa, đường sá… Họ còn đào huyệt chôn cất các thây ma của thân nhân và luôn cả những kẻ thù chết vì bom đạn vào những ngày giặc về xâm chiếm.

Khi Đại đội đang dừng chân, bỗng tôi nghe có tiếng quát tháo trước trụ sở xã Sa Huỳnh. Tôi và hai người lính đi tới thì thấy một vị hạ sĩ quan của tôi, Trung sĩ Nguyễn Thuận, đứng giữa đám đông hành khách gần chiếc xe đang đậu sửa máy. Anh ta vừa nói vừa vung tay trông dữ dần. Vì mới có chuyện buồn, bọn lính còn tức giận, là Biệt Động Quân chúng tôi bị tướng Tư Lệnh Sư đoàn 2 Bộ Binh cướp công, tiếm đoạt mấy trăm khẩu súng đủ cỡ trước phái đoàn Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, tôi ngại Thuận gây gổ dân chúng không tốt. Tôi hỏi Trung sĩ Thuận:

– Anh to tiếng chuyện gì vậy?

Thuận trả lời:

– Chiếc xe đò Sài Gòn ra bị banh, một tiểu đội bộ binh từ đâu kéo tới hối thúc tài xế sửa máy cho lẹ để chở họ vô Đức Phổ, bất bình tôi cự tụi nó.

Tôi liền gọi tốp lính lạ lại hỏi:

– Các anh ở đơn vị nào?

Người trưởng toán đáp:

– Trung đoàn 5, thưa Trung úy?

– Đây vô phố Đức Phổ bao xa mà đòi đi quá giang khi xe hư chưa sửa xong? Cuốc bộ được không?

Tốp lính ngoan ngoãn kéo nhau lên đường, vừa lúc một vị linh mục cùng hai thanh niên mặc áo sơ-mi trắng quần xanh từ trong một ngôi nhà bước ra. Thấy Cha quen quen, đã gặp đâu đây tôi cố nhớ… Đúng là Linh mục Nguyễn văn Vàng. Tôi mừng, còn Cha thì tỉnh bơ, chỉ thoáng nhìn tôi, rồi lạnh lùng quay mặt về phía chiếc xe đò. Cha không nhận ra tôi sau 15 năm phong trần, giày saut áo trận đầy cát bụi, chẳng còn vẻ thư sinh của thuở nào…

Khi Cha vừa đi ngang trước mặt, tôi khẽ cúi đầu:

– Kính chào Cha ! . . .

Vị Linh mục tưởng tôi chỉ vì lễ phép chào, chứ không hiểu ý tôi muốn nhìn thầy. Tuy vậy, ông cũng dừng bước, đáp lễ:

– Chào Trung úy!

Tôi, như cậu học trò năm xưa, đứng thẳng người:

– Con hân hạnh được gặp lại Cha.

Cha Vàng, thần tượng của tôi ngày nào, nay hơi già, tóc đã muối tiêu. Cha ngước mặt lên ngọn núi Diễn Trường xa xa ở phía bắc, ra chiều suy nghĩ:

– Lần trước chúng mình gặp nhau ở đâu nhỉ?

– Tại Đà Nẵng, 15 năm trước, thưa Cha !

– Ồ, xin lỗi, lâu quá tôi quên…

– Cha không nhớ đâu. Con tên Trần Thyy Vân, cựu học sinh trường Phan Thanh Giản Đà Nẵng. Năm 1958, con có dự buổi diễn thuyết của Cha tại trường Phan Chu Trinh kế bên. Chiều hôm sau con tới nhà thờ xin theo Cha để học “tài hùng biện”. Cha từ chối, bảo con còn nhỏ, phải thi đậu xong tú tài toàn…

Linh mục Vàng bỗng nhìn tôi đăm đăm:

– Nhớ rồi! Hồi đó anh đến gặp tôi. Thì ra, nay là trung úy Biệt Động, chắc anh Vân đánh giặc dữ lắm?

Mặc dầu là môn sinh hụt, không được may mắn theo Cha thọ giáo, tôi vẫn nghĩ Cha như một vị thầy, đã hấp thụ nhiều điều hữu ích mỗi lần nghe Cha diễn thuyết tại Đà Nẵng và Phan Rang. Nay gặp nhau, giữa chiến trường vừa ngưng tiếng súng, dấu bom đạn còn nồng nặc khói mây, xác thù chưa rữa mục vung vãi khắp vùng đất Sa Huỳnh. Tôi, và có thể cả Cha Vàng, đều cảm thấy buồn.

Tôi đáp:

– Chỉ vì bổn phận. Con nhớ ngày xưa Cha dạy chúng con qua bài thơ “Chí Làm Trai” của Nguyễn Công Trứ. Còn một vị sĩ quan nữa, học cùng lớp -Thiếu tá Quách Thưởng- hiện là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn này, dự buổi diễn thuyết của Cha trước sân trường Phan Chu Trinh.

Tiện thể tôi khoe:

– Cha à, Liên đoàn Biệt Động Quân tụi con mới tái chiếm nơi đây, từ khu phố Đức Phổ đến ranh giới quận Tam Quan, Bình Định. Kìa, Cha xem…

Tôi lấy tay chỉ vài địa điểm nguyên là các mục tiêu hiểm hóc, rồi kể sơ diễn tiến trận đánh giữa ta và địch. Lúc ấy, tôi có cảm tưởng Cha Vàng như một ông tướng đến thị sát mặt trận, hơn là vị linh mục, một hành khách của chiếc xe đò.

Cha đưa mắt nhìn sang bên kia đầm Nước Mặn đang lung linh soi bóng những hàng cây dương liễu, khu đồi 94, và vòng qua hải đăng nơi cửa khẩu, toàn vùng rực lên như bức tranh sơn thủy của một chặng đường quê mẹ.

Rồi đột nhiên, Linh mục Nguyễn văn Vàng chưa nói một lời khen tặng cậu học trò xưa cũ vừa góp công không nhỏ tái lập an cư Sa Huỳnh, Đức Phổ, thì tiếng còi inh ỏi thúc bách, ba người vội vàng vẫy tay từ giã. Tôi cũng chẳng kịp chúc họ thượng lộ bình an. Tôi nhìn theo dáng Cha đi thoăn thoắt về hướng chiếc xe đò đang nổ máy…

Tôi ngưng câu chuyện, lấy thuốc đốt hút. Tôi hít liên tục. Nguyễn văn Thành, ông bạn sơ giao, ngồi thở dài. Chắc anh đang suy nghĩ đến một vấn đề gì, hoặc buồn vì chuyện tôi kể nhưng đây chỉ mới khởi đầu. Tôi nói tiếp:

– Lúc ấy tâm trạng tôi vui buồn bất chợt. Khi chiếc xe chở Cha Vàng đã lăn bánh vào quốc lộ, tôi ngồi phệt xuống bên lề đường, hồi tưởng về mùa thu 1958. Tôi nhớ sau ngày thi rớt bằng trung học, tôi ngồi lại Đệ tứ Phan Thanh Giản Đà Nẵng. Tuy trường cũ, thầy cô quen thuộc, như quý thầy Tôn Thất Dung, Nguyễn văn Thông, Nguyễn văn Xuân và Bùi Đặng Hà thị Phụng… sao tôi lại thấy mình xa lạ, lạc lõng giữa đám học trò lớp dưới mới lên.

Những ngày đầu niên khoá, sân trường rất rộn rã tiếng nói tiếng cười của các cô cậu ăn mặc bảnh bao. Chúng đùa giỡn, chạy nhảy tung tăng, gọi nhau chí chóe, đứa khoe cái cặp da kiểu mới, nhiều ngăn, thằng thì đưa xem cây bút máy Parker mà ngòi viết đâm mạnh xuống bàn không rè…

Tôi thì mặc cảm, ngồi thúc thủ một mình cuối phòng nghe cô đơn, tâm trạng não nề vì thi hỏng. “Đệ nhất buồn là cái hỏng thi”, tưởng chừng tôi buồn hơn Tú Xương. Nhìn quanh, bạn bè cũ chẳng thấy ai, đa số đậu được chuyển qua học Đệ tam Phan Chu Trinh, còn những khuôn mặt thân thiết khác tản mạn đâu hết. Nghe nói năm sáu đứa đủ tuổi rủ nhau tình nguyện đi lính, vào quân trường Sĩ Quan Thủ Đức và Đà Lạt; cũng lắm thằng lại bị công an mật vụ bắt vì hoạt động chống chính phủ Ngô Đình Diệm, như bọn Huỳnh Bá Thành
(2), dân xã Hòa Long, kế núi Non Nước. Đặc biệt, một người bạn chí thân, cùng xóm với tôi, thường sánh vai nhau đi học, qua lại sông Hàn chung một chuyến đò, là Lê Độ vừa mới chết. Độ (3)bị xử bắn tại sân vận động Chi Lăng Đà Nẵng… Sau đó, một buổi sáng, hàng ngàn học sinh từ các trường trung học ở Đà Nẵng, lần đầu tiên được các thầy cô dẫn qua Phan Châu Trinh để nghe Linh mục Nguyễn văn Vàng diễn thuyết. Tôi vốn thành kiến, ghét những lời truyền đạo, nhưng không hiểu sao hôm ấy, tôi lại náo nức, mong thấy mặt nhà hùng biện tài danh Nguyễn văn Vàng mà tôi đã nghe tiếng. Qua hai đề tài hấp dẫn, như có chất tiểu thuyết của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, “Dũng Khí” dành cho nam sinh, “Hương Hoa Đất Nước” cho nữ sinh, dù cả hai phái đang ngồi chung đông đảo trên sân trường mang tên nhà cách mạng miền Trung.

Sau lời giới thiệu của thầy Hiệu trưởng Phan Chu Trinh, Cha Vàng bước tới đứng trước hành lang, bên một cái bục, rồi bắt đầu thao thao bất tuyệt. Tuy vóc dáng nhỏ nhắn, thanh nhã, nhưng giọng Cha vang động, thấm sâu vào tim óc rừng người từng lời dạy dỗ. Ý Cha khuyên các lứa tuổi thanh xuân, nam lẫn nữ, là rường cột nước nhà, sống cho ra hồn, ích nước lợi dân. Cha đọc một đoạn bài “Chí Làm Trai”, thơ Nguyễn Công Trứ, nhấn mạnh những câu cần thiết, như bản hùng ca, và luận về cái dũng của người trai:

Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc
Nợ tang bồng vay trả trả vay
Chí làm trai nam bắc đông tây
Cho phỉ sức anh hùng trong bốn bể

Tôi nhớ có lúc giọng Cha trầm buồn than phiền về chuyện một thiếu niên cầm dao giết một cụ già để đoạt lấy 150 đồng (bằng số tiền học phí một tháng lớp đệ thất thời đó). Các cô gái thì phô bày, ăn mặc quá mỏng manh, hở hang đến rõ nét những đường cong tuyệt mỹ…

Hay thật! “đường cong tuyệt mỹ”! Những lời Cha nói bao lần bị đứt quãng bởi hàng ngàn tràng vỗ tay với tiếng cười ồ vang dậy tán dương. Các cô cậu choai choai, dĩ nhiên, lấy làm khoái chí mấy cụm từ gợi hình, mà cũng gợi tình ấy. Tôi khác gì họ, nhưng chẳng qua vì lòng buồn rũ rượi, hét không nổi thôi. Tôi chỉ miên man suy nghĩ theo từng ý tướng lạ phát ra từ các loa phóng thanh cực mạnh vít trên mái hiên trường.

Tôi tiếc, phải chi Cha Vàng đừng nêu dẫn cái oái oăm cậu bé giết người. Tuổi học trò thời thập niên 50 ít ai muốn nghe mấy điều hung dữ tương tự. Xã hội lúc bấy giờ khó tìm thấy lớp trẻ ngậm điếu thuốc đi ngoài đường phố, hoặc một tiếng văng tục, chửi thề. Tâm hồn họ thích hợp với những giấc mơ tiên cho dù hão huyền. Tiếng ve sầu nỉ non trên cành phượng cũng làm người học sinh xúc cảm…

Sau ngày diễn thuyết, tôi còn lẻn vào rạp Ly Đô để nghe thêm một buổi về đề tài “Nhân Loại Sẽ Về Đâu’, chỉ dành riêng cho các giới quân nhân, công chức trong tỉnh. Linh mục Vàng vẫn hùng hồn, khiến ai cũng nín thở. Riêng tôi, tưởng chừng tôi đã trưởng thành, có sự suy nghĩ xa vời với thực tế, nên muốn thôi học theo Cha thọ giáo dù tôi người ngoại đạo.

Chiều đó tôi đến nhà thờ “Con Gà ” ở đường Độc Lập, nơi Linh mục Nguyễn văn Vàng tạm trú. Gặp mặt tôi trình bày ý nguyện ngay:

– Dạ thưa, sau khi nghe hai buổi Cha diễn thuyết ở trường Phan Châu Trinh và rạp Ly Đô, con đã lãnh hội nên đến đây xin được hân hạnh hầu chuyện Cha.

Cha Vàng mỉm cười:

– Chắc em muốn góp ý kiến về hai đề tài “Dũng Khí và Hương Hoa Đất Nước”?

Tôi vòng tay trước ngực:

– Dạ không dám…

– Chứ sao?

– Tuy con đạo Phật, con xin Cha ban ân là nhận con theo làm đệ tử. Cha đâu con đó…

Vị Linh mục khả ái nhìn tôi từ đầu xuống chân. Vì quá bất ngờ trước một vấn đề quan trọng, nên có một giây phút Cha ngỡ ngàng im lặng. Dưới ánh mắt nhà hùng biện thời danh rực sáng tỏ sao băng, tôi như con nai ngơ ngác, rụt rè. Thuở niên thiếu tôi chẳng mấy khôi ngô tuấn tú, tóc tai lòa xòa tới gáy, hẳn không được Cha thiện cảm lắm, chỉ vì lịch sự Cha niềm nở đón tiếp. Rồi đột nhiên Cha Vàng “quay” tôi như con dế về ba chuyện đâu đâu, làm tôi vốn rất gan lì cũng quýnh lên.

Trước hết Cha hỏi:

– Em tên gì, bao nhiêu tuổi, học lớp mấy, tên song thân và nhà ở đâu?…

Anh Thành nghe đó, câu hỏi quá dài dòng văn tự? Với tôi, nó còn dính dáng đến nhiều vấn đề, như làm tôi nhớ chuyện một viên cảnh sát thời Pháp, ở Hội An Quảng Nam 1953. Vì câu hỏi dài lê thê khiến tôi nhớ đầu quên đuôi, trả lời không đầy đủ, ăn khớp, liền bị mấy bạt tai nảy lửa, khi ông ta hạch sách xuất xứ một tài liệu của Việt Minh nằm trong túi áo tôi. Đó là tờ pelure màu hồng, ghi chằng chịt các hàng chữ bằng mực xanh, ai vứt trong thùng rác, trước tiệm ăn Thời Đại Đà Nẵng. Thấy tờ giấy còn sạch và chưa nhàu nát, tôi nhặt để về xếp làm tàu bay hay chiếc ghe chơi, ỷ y chả đọc, nên không biết nội dung viết gì. Lúc đến bến đò Hội An, đang lúc ngồi chờ ghe qua cồn Vạn giữa sông, tôi lấy nó ra ngắm nghía, thì bỗng một ông cảnh sát từ đâu bước tới giật xem, rồi nắm tay tôi dẫn về đồn ở một góc phố. Nơi đây, họ nói tôi chạy liên lạc cho Việt Minh và vặn vẹo hỏi mãi ai đưa, đem đi đâu cái tài liệu có ám hiệu màu hồng ghê gớm ấy. Mà thật, tôi nào biết Việt Minh là cái mốc gì. Ngay sau câu hỏi tôi ngớ, liền bị đục te tua, nào mấy ông cú cốc cốc trên đầu, nào bộp tai, đá đít nữa, có ông còn ngắt véo, chằn hai bên má tôi ra đau điếng, rồi tống tôi vào xà lim tối thui. Mãi chiều mẹ tôi mới hay tin, lên xin trả tự do cho tên “tù’ vừa tròn 10 tuổi này…

Đến lúc Cha Nguyễn văn Vàng “hỏi thăm”, cũng kiểu một câu hỏi gồm nhiều chi tiết ấy, tôi không phát lạnh sao được? Chỉ khác cách xưng hô, Cha gọi tôi bằng em ngọt dịu, không phải mày, thằng nhóc, nên ít run.

Để được nhận làm môn sinh, như dự cuộc tuyển lựa, tôicố trả lời sát ý, phải tràng giang đại hải và rất “bay bướm”:

– Con tên Trần Thy Vân, tuổi thật 15, vừa thi rớt, học lại Đệ tứ trường Trung Học Phan Thanh Giản Đà Nẵng. Dưỡng phụ tên Huỳnh văn Hậu, nhân viên quan thuế, dưỡng mẫu là bà Ngô thị Em. Nhà bên kia sông Hàn, phường An Thuận, xã An Hải, quận 3, còn gọi là quận Đông Giang, thưa Cha?

Cha đưa tay chỉ cái ghế bành bằng gỗ gõ:

– Em ngồi. À, sao lại có cái vụ tuổi thật, tuổi giả vậy?

Linh mục Vàng vừa hỏi vừa cười cười. Tôi ngồi xuống với lòng mừng thầm, chắc “đậu” rồi, nên Cha cho ngồi:

– Đó là con tính theo tuổi ta.

– Thế thì tuổi “giả” bao nhiêu?

Hiểu ý Cha đùa: “giả” đây là tuổi Tây, tôi đáp:

– Dạ, 14.

– 14 đã thi trung học, giỏi nhỉ? Hỏng môn gì, nhớ không?

– Con khá toán và luận. Vào oral con trả lời đúng một, trật hai câu sử địa. Chắc bị zéro bài dịch tiếng Pháp qua Việt.

– Dịch thế nào lại bị zéro?

Tôi đáp têu tếu cho Cha vui, mà cũng thật:

– Cái đề kỳ cục, gãy gọn một chữ “Auberge”, con tưởng nghĩa của nó là chó Berger, tên loại chó Đức. Bạn bè kế bên cũng nói vậy. Sau về tra tự điển mới vỡ lẽ “auberge” là quán trọ, chẳng dính dáng gì đến chó mèo hết.

Cười khật khật xong, Cha hỏi thêm: Ngay cái đề đã dịch trật, đến phần thân bài thì sao?

Tôi không nhớ hết, mà kể ra ngượng lấm, vì tôi bốc hứng sửa đổi nội dung bài thi, cầu may. Tôi nói quẩn quanh:

– Con quên, đại khái con khai triển: “Lúc bấy giờ nước Đức dưới thời Hitler, một lãnh tụ độc tài của đảng Quốc Xã, mới bại trận, người và thú đều đói. Có một chú ‘Auberge’ vô chủ mãi chạy rông ngoài đường…”. Các thí sinh ngồi thi cùng bàn đều “phỏng dịch” tương tự. Traduire librement hết, thưa Cha !

Linh mục Nguyễn văn Vàng lại cười ngất. Cha co một ngón tay đưa lên giụi mất, mặt đỏ au. Xong, Cha chất vấn tôi câu chót, chẳng khác nào những lần roi xé thịt đối với một cậu học trò đang “tầm sư học đạo”, cứ ngỡ đời bao giờ cũng đẹp:

– Vân định theo tôi học cái gì?

– Con xin học “tài hùng biện”…

– Vân lầm rồi, tôi đâu có tài đó? Hùng biện là khả năng thiên phú. Chưa đủ, còn nhiều điều khác ràng buộc, nào tuổi tác, kinh nghiệm… ít nhất em cũng phải đậu tú tài 2 mới được. Thôi, về lo gạo bài, sang năm tái thí. Nợ đèn sách em còn…

Thất vọng, tai tôi lùng bùng, uể oải đứng dậy xin kiếu từ. Vị Linh mục khả kính hẳn cảm động đến đặt tay lên vai tôi, giọng nhỏ nhẹ:

– Gắng học, theo tôi khổ lắm, rày đây mai đó…

Tôi ứa nước mất, lảo đảo bước ra khỏi giáo đường.

Con phố đã về đêm. ánh sáng các bóng đèn tròn trên các trụ sắt cũ kỹ từ thời Pháp thuộc, nhuộm màn sương vàng vọt, thấm hút vào hàng me Tây chập chờn, ma quái. Hai đầu đại lộ Độc Lập ngang trước nhà thờ Con Gà, thường thì khách bộ hành, xe cộ qua lại đông đúc nhất Đà thành, lúc ấy như hai cái cửa hang sâu hoắm, đang chờ đợi, đi hướng nào tôi cũng bơ vơ, lạc lõng…

Kết thúc câu chuyện chẳng mấy vui, Thành cũng uể oải, ngồi phệt xuống đất, lưng dựa tảng đá. Trông anh dày dạn, khuôn mặt sạm nắng, đầy nét suy tư, bí ẩn. Thành khéo tìm hiểu tôi ngay phút đầu gặp nhau. Tôi thì không muốn tò mò, hỏi han đời tư, những ý nghĩ của anh về hiện tình đất nước. Chắc gì anh thổ lộ tâm tình giữa thời buổi quá nhiễu nhương, dưới chế độ cực kỳ hiểm ác, phân hóa, gieo rắc mọi ngờ vực, khiến chẳng ai tin ai. Thậm chí trong gia đình, chồng vợ, cha con, anh em, thân bằng quyến thuộc, vẫn giữ thái độ dè dặt, không thật lòng. Tuy nhiên, tôi có linh tính Thành và tôi sẽ là đôi bạn thân.

Sau một hồi im lặng anh hỏi:

– Vân nói Vân có dự buổi diễn thuyết của Linh mục Vàng ở Phan Rang nữa, phải không?

– Ừ, tại rạp Thanh Bình, ở đường Thống Nhất, năm 1965. Không những dự còn giữ trật tự, ghi âm, vì tôi đã có lòng yêu mến Cha từ bảy năm trước ngoài Đà Nẵng. Cuộc nói chuyện ấy do trường Trung Học Duy Tân Phan Rang tổ chức. Học trò bốn trường đến nghe, chật cứng cả rạp.

– Vân rất xông xáo, có sự liên hệ với Cha. Bây giờ ông bạn về đâu? Một điều tôi xin hỏi thêm: vợ con thế nào?

Tôi cười buồn:

– Bộ muốn bắt chước Cha Vàng quay tôi nữa à? Vợ con? Vì gia đình mà tôi chưa biết nơi đến. Tôi muốn dừng chân ở một miền quê hẻo lánh của cao nguyên Lâm Đồng, chẳng ai để ý mình. Tôi mong gặp lại vài người lính cũ, với cô gái tên Nhị đã thương tôi trong thời chiến, lúc tôi chưa gãy chân, bại trận. Chắc cô ấy sống đâu đó trên phố núi, “phố núi cao, phố núi đầy sương”. May mà có em đã hơn một lần ra tận chiến trường Sa Huỳnh này…

Chiếc xe đò đã sửa xong, máy nổ. Tài xế rú ga inh ỏi làm hành khách, kẻ đứng người ngồi rải rác ở các gốc cây, tảng đá mừng reo lên và lật đật tủa ra.

Thành vội đẩy chiếc xe lăn. Có anh tôi đỡ khổ. Thành thỏ thẻ bên tai, như sợ không còn cơ hội tâm sự:

– Tôi trước phục vụ ở Tiểu đoàn 304 Địa Phương Quân…

Anh chỉ nói có vậy rồi hì hục đẩy cái xe lăn bươn qua vạt đất lốc chốc sỏi đá .

Tôi gợi ý:

– Của Đại úy Phong, Tiểu khu Tuyên Đức, đúng không? Tôi biết Tiểu đoàn Phong đánh giặc giỏi, mà cũng tan hàng, “cải cách Lê Lai” (chạy làng). Tức thật!

– Không phải đâu, họ chưa bao giờ “cải cách Lê Lai”, vẫn tiếp tục Mình còn nhiều cơ hội gặp nhau! Tôi cầu mong Cha Vàng thành công…

Tôi nghĩ thầm, ông bạn mới quen hơi chủ quan, tôi không buồn cãi lại, chỉ nói lảm nhảm trong miệng: “Lớp bỏ chạy ra hải ngoại, lớp lọt mưu bọn tặc phương Bắc mời đi tù ráo, còn ai nữa chiến đấu?”.