This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Mặc Xá đứng bên cạnh, tôi nhắm nghiền đôi mắt, cố nhớ lại những hình ảnh ngày đau buồn, một ngày trong tuần trước mà như hôm qua, tôi còn nghe âm vang của tiếng nổ…
Dù đã thất bại, từ khi Sa Huỳnh quận Đức Phổ do các lực lượng chính phủ tái chiếm tháng 2/1973, Cộng quân vẫn tiếp tục vi phạm Hiệp Định Ba Lê, về hòa bình Việt Nam, lấn đất giành dân, cắm cờ Mặt Trận Giải Phóng khắp các vùng quê, chung quanh tỉnh Quảng Ngãi. Chúng tung tin nay mai các tướng Trần văn Trà, Chu Huy Mân, cả Phạm văn Đồng, thủ tướng miền Bắc, sẽ về thăm cố hương Quảng Ngãi này, nên người dân bản xứ lớp dè dặt, lớp hãnh diện.
Vì tin đồn vớ vẩn ấy, hay vì chiến cuộc sắp leo thang, mà đầu tháng 3/1974, Tiểu đoàn 21 Biệt Động ở Đà Nẵng lại trở vào đổ quân xuống vùng đất thênh thang phía đông Mộ Đức, một quận ở hướng nam của tỉnh lỵ.
Đại đội 1/21 Biệt Động Quân, do tôi Đại đội trưởng, trách nhiệm càn quét các nhóm du kích đang hoạt động mạnh tại Đức Lương, Đức Quang và các thôn xóm liên ranh liên địa. Hai xã trên cùng tiếp cận với ngôi làng của Phạm văn Đồng phía tây Quốc lộ 1, tạo thành hình tam giác, phần đáy giáp biển, chằng chịt những hàng dương liễu bao phủ âm u, đáy đặc chông mìn. Bọn du kích địa phương đa số có liên hệ họ hàng với hai bên nội ngoại của thủ tướng miền Bắc, nên là một thứ giặc ngang tàng nhất miền Trung.
Dường như Tiểu đoàn 21 BĐQ có “cơ duyên” lui tới khu “tam giác” này. Đã bao lần khi hành quân xa về là đơn vị lại vào vùng hắc ám Đức Lương, Đức Quang. Thỉnh thoảng Đại đội tôi mới được tùng thiết, phối hợp với Chi đoàn 17 M113, còn thường thì đi riêng rẽ, tùy nghi đâm ngang thọc dọc giữa lãnh nhiệm của mình. Ở những vùng hành quân khác, lúc đơn vị tiến vô hay rút ra không khó lắm. Nhưng tại đây, rất đặc biệt, địch để vào tự do, không phản ứng dữ dội, chỉ chờ ta kéo lui về, chúng mới bám sát, chặn đánh khúc sau, làm mất thì giờ tháo gỡ.
Giặc “tam giác”, ngoài chuyện “vuốt đuôi” như vậy, còn có luật giang hồ là lập mưu giết cho được kẻ nào chúng căm thù. Trường hợp Đại úy Trần Quang Giảng, Đại đội trưởng Đại đội 3/21 Biệt Động, là một. Sau khi đánh tả tơi một đơn vị địa phương của địch, Giảng bị rải truyền đơn lên án “bêu đầu”. Nửa đêm chúng đến tấn công cùng lúc rất dữ dội vào các vị trí đóng quân, BCH lẫn tiền đồn, của Đại đội 3 Biệt Động trên khu đồi Mỏ Cày, phía đông bấc quận lỵ Mộ Đức, với thế đất nhấp nhô từ Quốc lộ 1 ra tới bờ biển. Cả hai bên chết như rạ, trong đó có Trần Quang Giảng. Trận đánh này, phải nói địch đã dùng mưu thần mới giết được người bạn tôi.
Chiến tranh Việt Nam xảy ra nhiều chuyện lạ. Cuộc hành quân ở “tam giác” cũng vậy, không nhất thiết ta và địch luôn luôn phải đằng đằng sát khí, hở là chém giết, mà đôi khi còn đùa nhau một cách nghệ sĩ. Nhiều đêm bọn du kích lẻn vào gỡ hết các quả lựu đạn tôi cho gài ngoài bờ tuyến. Gỡ xong, chúng cuốn dây gọn gàng rồi để tại chỗ, không lấy đi. Mục đích của chúng là biểu diễn tài nghệ xuất quỷ nhập thần, và dằn mặt Đại đội tôi ngán chơi, chứ chẳng phải dọn đường để nửa đêm tấn công hoặc quấy rối gì hết.
Chuyện đấu trí kiểu giang hồ đó làm tôi nhớ một lần tôi cùng chú em đi mua sắm, dựng chiếc Honda trước tiệm sách ở Chợ Cồn Đà Nẵng. Khi trở ra thì các ổ khóa cổ và sợi dây xích khóa vòng cái bánh sau đều bị mở tung rồi cuốn tròn lại để trên yên xe và kèm một mảnh giấy viết mấy chữ: “Cảnh cáo khóa hai khóa”. Nghĩa là có mấy lớp khóa đi chăng nữa, gặp các tay chôm cao thủ xe cũng mất như thường.
Lần đó, vào Đức Lương, Đức Quang tôi rất dè dặt. Đêm đầu không bận rộn lắm, Cộng quân chỉ quấy nhiễu bằng vài trái B40, không có sự thiệt hại nào. Sáng hôm sau, đang lúc đơn vị chuẩn bị tiến lên mé bắc, dọc theo các lũy tre già bao bọc con xóm, thì một tiền đồn cho hay địch xuất hiện ở phía đông. Tôi đến bờ tuyến quan sát. Thoạt đầu, tưởng dân làm ruộng, nhưng nhìn kỹ, quả đúng là du kích, khoảng một trung đội đang lom khom băng qua cánh đồng về hướng nam, cách tôi 300 thước. Miếng mồi ngon trong tầm tay. Tôi định bụng cho toán Thám Báo thiện chiến rượt theo và nã đạn cối 601y xuống, thì nhằm lúc người lính truyền tin tới trình:
– Lệnh Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng bảo Đại đội rút gấp ra đường, không chậm trễ.
Ngạc nhiên và muốn chính tai tôi nghe, nên bấm máy gọi hỏi Bộ Chỉ Huy lớn đang đóng trên đồi Chi khu Mộ Đức:
– Lam Đa, đây Việt Quốc? (Lam Đa danh hiệu của Thiếu tá Nguyễn văn Long, khóa 19 Võ Bị Đà Lạt, mới thay Trung tá Quách Thưởng về Sài Gòn học tham mưu cao cấp).
Tôi chưa kịp hỏi, Thiếu tá Long đã nói dồn dập trong ống liên hợp:
– Việt Quốc cho Đại đội di chuyển ngay ra phố Mộ Đức, rồi theo Quốc lộ 1 tiến về hướng bắc, đến tọa độ XY… Việt Cộng đắp mô chặn lưu thông, bắn cháy chiếc Jeep, chết một sĩ quan Pháo Binh tiền sát viên Tiểu đoàn mình. Lẹ đi!
Hiểu rõ vấn đề, tôi khỏi cần định hướng bản đồ, vội dàn quân băng ngang cánh đồng phóng thẳng tới mục tiêu ở XY, không ôm vòng qua ngỏ khu phố. Chẳng mấy chốc trục tiến theo cạnh huyền nhanh như chớp, hai trung đội đầu tắp vào các bờ ruộng khô, đối diện và cách vị trí Thiếu tá Long chỉ định một trăm thước. Thấy lính Mũ Nâu xuất hiện mé đông, Cộng quân rút chạy về con xóm phía tây , bên kia Quốc lộ 1 , hướng bắc ngôi nhà cổ kính của Thủ Tướng Phạm văn Đồng khoảng nửa cây số, rồi bắn càn trung liên, AK ra. Nghe súng nổ, các hành khách lật đật bò lê bò lết, lủi dưới các lườn xe, vệ đường, trẻ em thì la khóc inh ỏi.
Trước tình thế có thể lâm nguy cho đồng bào kẹt giữa hai lằn đạn, nếu tôi trả đũa vu vơ bằng cách câu vòng cầu M79 với M72, cả cối 601y. Tôi yêu cầu bà con chạy dạt xa về hai đầu quốc lộ, để ta và địch trực diện nhau, không vướng mắc.
Thiếu tá Long, không hiểu thực trạng, cứ gọi xuống thúc phá hủy các bờ mô, và tiến đánh gấp bọn phá hoại, điều mà tôi sắp làm. Tôi liền đẩy một trung đội qua con lộ, men theo vạt gò mả giữa đồng ruộng hông phải để gây sức ép, còn lại thì dàn ngang áp đảo mặt trước con xóm, cách lộ khoảng một trăm mét. Tôi nghĩ quân số địch chẳng nhiều nhưng chúng có thế, chiếm cứ nhà cửa, vườn tược với lũy tre già bao bọc rậm rạp, Biệt Động Quân thì ngoài đồng trống.
Chúng nằm im, như mai phục, chờ đợi. Cả Đại đội dè dặt tiến vào, nhưng bên trong không một bóng người, chỉ lác đác đôi ba cái chòi giữa vườn hoang, đầy cỏ dại.
Rồi thình tinh, từ phía tây, hàng loạt AK cùng B40 bắn ra. Lập tức tôi cho hai trung đội đầu đồng loạt đánh mạnh lên…
Suốt một năm nay, từ ngày Hiệp Định Ba Lê man trá “tái lập hòa bình Việt Nam” được ký kết, và sau trận đẫm máu, góp phần chiến thắng Sa Huỳnh, Quảng Ngãi, Đại đội 1 Biệt Động Quân này chỉ dự các cuộc hành quân có tính cách tảo thanh bọn Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam lấn đất giành dân. Những chuyến đi chán ngắt, khi tành tành, như du ngoạn qua các miền quê êm ả để tháo gỡ cờ Việt Cộng, hoặc nằm giữ an ninh trên các khu đồi đỉnh núi, kiểu trấn thủ lưu đồn buồn nản, không một tiếng súng. Êm ả vì chưa có cơ hội kịch chiến với kẻ thù, như những tháng năm còn nẩy lửa Sa Huỳnh, Trị Thiên, nên lính tráng ngứa ngáy tay chân. Hổ nhớ rừng!
Bây giờ gặp dịp địch quấy phá làm khổ dân, tôi cho lệnh Đại đội nổ súng không nương tay. Rất tiếc, chỉ giết được vài tên, chẳng nhằm nhò gì, mà tôi phải đổi cái giá quá đắt.
An ninh vừa tái lập, tôi tìm địa điểm đóng quân đêm giữa xóm. Vì sợ mìn bẫy, rủi ro có thể bị thiệt hại nặng, tôi không để anh em theo đông, ngay cả việc sử dụng toán Thám Báo rà rẫm trước cũng không, chỉ mỗi mình Thượng sĩ Nguyễn văn Thiệp, Thường vụ Đại đội, cùng đi với tôi. Quả thật, vừa vào trong khu vườn đầy cỏ dại, thì chính tôi đạp một trái mìn nội hóa khá lớn, nổ tung như quả đại bác l051y. Thượng sĩ Thiệp bị gãy một chân, còn tôi cả hai, quỵ xuống giữa một hố sâu to bằng cái nia. Tuy không giập nát, nhưng máu ra nhiều nơi hai mắt cá, rồi phần dưới cơ thể nóng ran, cơ hồ như lửa đốt. Tôi vẫn nghe rõ tiếng anh em gọi nhau tới cấp cứu, nhưng tôi bảo ở ngoài hết, đề phòng đối phương lợi dụng tấn công, và có thể còn nhiều mìn bẫy đâu đó nữa, chỉ y tá với hai người lính thân cận là Trung và Xá vào băng bó.
Hạ sĩ Nguyễn Hiệp truyền tin mang máy PRC-25 tới ngồi bên cạnh, speaker phát ra văng vẳng giọng Thiếu tá Nguyễn văn Long, Tiểu đoàn trưởng 21 Biệt Động Quân, từ căn cứ Chi khu Mộ Đức trên đồi đất đỏ gọi xuống:
– Cho biết tiếng nổ vừa rồi thế nào?
Hiệp đáp:
– Bị mìn hai ngắn hạn: Đại Bàng 1 và Thường vụ, từ vị trí Việt Cộng đắp mô, phương giác 4800, khoảng cách 400 mét.
Nghe Hiệp trả lời chưa rõ rệt, tôi bảo đưa ống liên hợp tôi nói chuyện với Thiếu tá Long:
– Lam Đa!…
– Nặng hay nhẹ, Việt Quốc?
Tôi ứa nước mắt vì quá yêu đời lính:
– Hai chân đều chạm xương ngang mắt cá. Chắc tôi phải rời khỏi quân đội, Lam Đa à!…
– Bình tĩnh, để tôi trình lên Bộ Chỉ Huy Liên đoàn cho xe Ambulance đến tải thương ngay tại địa điểm Việt Cộng đắp mô. Anh bảo Đại đội rút hết ra ngoài lộ ?
Thiếu tá Nguyễn văn Long cúp máy. Việc băng bó các vết thương của tôi và Thiệp cũng vừa xong. Biết rõ mình đã mất khả năng chiến đấu, không thể điều động đơn vị được nữa, tôi cho mời các cấp, tiểu đội trưởng trở lên, đến dự việc bàn giao chức vụ tại chỗ. Vừa thấy đông đủ, tôi nói với Thiếu úy Đặng văn Thiều, Đại đội phó, tết nghiệp khóa 6169 Thủ Đức, vị sĩ quan đã hơn một lần góp công không nhỏ trận đánh hào hùng, đem lại chiến thắng vinh quang cho Đại đội này tại Sa Huỳnh, Quảng Ngãi, đầu năm 1973:
– Tôi lấy làm vinh dự lần cuối cùng, sau hai năm chỉ huy, hôm nay cử Thiếu úy Đại đội phó giữ quyền Đại đội trưởng Đại đội 1/21 Biệt Động Quân thay tôi cho đến khi có lệnh mới của Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn. Thi hành!!
Vị sĩ quan trẻ đứng nghiêm, vẻ mặt xúc động, đưa tay chào tôi nhận lãnh trách nhiệm trước sự chứng kiến của các chiến sĩ Mũ Nâu từng vào sinh ra tử trên khắp chiến trường bão lửa miền Trung, vào một buổi chiều buồn, ngày 3-3-1974…
– Trung úy Vân!
Nghe tiếng gọi tôi mở mắt thấy tôi nằm trên tấm poncho, bên lề đường. Chung quanh có những người lính trận màu áo hoa rừng, tay cầm súng, đi đi lại lại, như chờ giặc dưới nắng chiều vàng hoe. Lâu lắm tôi mới nhận ra các khuôn mặt thân thương của Đại đội 1, họ vẫn còn đây, hay để tiễn đưa tôi về một nơi nào xa cách. Đôi chân tôi bỗng run lên đau đớn.
– Thy Vân biết tôi không?
Nhìn Đại úy Y sĩ trưởng Liên đoàn 1 Biệt Động Quân mờ mờ ngồi bên cạnh, tôi gật đầu:
– Bác sĩ Nguyễn Trung Tín…
– Ừ, nghe báo tôi đến ngay.
– Tín nghĩ chân mình có bị cưa không?
– Vân lắc lắc hai ngón cái thử.
Tôi làm theo. Bác sĩ Tín mỉm cười:
– Gân và động mạch còn tốt, không sao!
Tôi không tin Tín nói. Lúc đạp mìn đôi chân đều bị mảnh chạm thấu xương nơi hai mắt cá.
Tôi bệu bạo:
– Các thầy thuốc khám bệnh ai cũng bảo tốt hết, người ta chết tới nơi, vẫn nói sống dài dài…
Nghe tôi lằm bằm, vị Đại úy Y sĩ trưởng Liên đoàn vẫn nở nụ cười đôn hậu. Rồi đích thân ông băng lại các vết thương dường như đã bị nhiễm trùng làm tôi cứ phát sốt. Tín vừa săn sóc vừa kể chuyện huyên thiên cốt để tôi quên bớt cơn đau đang hoành hành dữ dội.
Từ lâu tôi rất phục vị sĩ quan này. Thiên chức của lương y là cứu người, dù đó là kẻ thù. Nhưng người đang ngồi kế tôi, Nguyễn Trung Tín, thật đặc biệt, như huyền thoại. Mặc dù ở địa vị vừa nhàn hạ vừa cao quý của một bác sĩ, Tín lại thích cầm quân đánh giặc để tung hoành hơn là đeo đuổi cái nghề có tính cách thụ động. Do đó, các chiến sĩ Mũ Nâu chẳng lấy làm lạ khi vị Đại úy Y sĩ trưởng Liên đoàn 1 Biệt Động Quân chưa bao giờ thúc thủ cầu an, mà lúc nào cũng sẵn sàng súng đạn, xông xáo tới tận tuyến đầu khốc liệt, cấp cứu kịp thời thương binh…
Tiếng máy chiếc xe đò vụt nổ, tiếp theo là những lời mời gọi hành khách, và sự va chạm chen lấn giành chỗ ngồi, kéo tôi về với thực tại.
Trời đã sáng tôi nhìn qua khu bệnh viện Duy Tân lần nữa, lần cuối cùng tôi từ giã nó thật sự, khi bốn bánh từ từ lăn ra khỏi bến. Mới hôm nào tôi cũng nói vậy, lúc quân thù nhơn danh cách mạng, mặt đằng đằng sát khí, vào bệnh viện chĩa súng đuổi hết các thương binh miền Nam ra đường. Ngày ấy làm sao tôi quên, kẻ lăn xe người chống nạng, có anh mang đùm ruột bọc ni-lông ngoài bụng với bị máu trên vai, đi ngất ngưởng, đi lang thang, đi mà không biết đi đâu, như những hồn ma bóng quế.
Sau lưng tôi, thành phố thân thương đầy kỷ niệm, trong tay kẻ chiến thắng. Bao cảnh vật chung quanh đều đảo lộn, đang lao nhanh về phía sau. Tôi ôm mặt nhủ thầm, rồi mai đây tôi sẽ trôi dạt nơi nào? Có một điều tôi biết chắc tôi cũng phạm tội là bắt đầu nhập bọn, như chị Trần thị Miên tôi nói: “Một lũ hèn nhát bỏ chạy?”.
Họ vừa đi dưới mưa, vừa hát. Dẫn đầu là Trung sĩ Hefe, có hỗn danh là “Ông Quạu” ướt sũng, bẩn thỉu, giận dữ, cũng bắt buộc phải bước qua những vũng nước, vũng bùn như những binh sĩ đi theo sau.
Con đường kéo dài, vô tận giữa cánh đồng lúa mì đã gặt, trước những hàng cây buồn thảm, sầu muộn. Phía xa, con sông tuôn dòng nước xám giữa hai bờ cát. Đám binh sĩ mệt mỏi chẳng muốn hát chút nào. Nhưng họ vẫn hát vì “Ông Quạu” ra lệnh. Đoàn quân rầu rĩ bước theo nhịp chân, giữa phong cảnh ảm đạm, dưới bầu trời ủ ê, những khuôn mặt chan hòa nước mưa, những chiếc miệng đen sì tuôn ra những bài ca nói về hoa thơm cỏ lạ, về những đoàn chiến xa gầm thét, về những nắm xương tàn trở về cát bụi. Và mưa vẫn cứ rơi, làm chìm ngập tất cả trong nỗi buồn thảm càng sâu đậm hơn. Tất cả gồm năm mươi ba người.
Peter Hefe hô:
– “Đại đội đứng lại… đứng!”
Tách ra phía bên trái, Hefe nhìn đám binh sĩ suy nhược, ướt sũng và bẩn thỉu, Họ cũng nhìn lại anh, không biểu lộ gì qua sắc mặt, chỉ sung sướng là không còn phải hát nữa. Số phận họ thực buồn thảm.
Anh nói léo nhéo:
– “Nghe tao đây, bọn ngu ngốc. Tụi bây hát như những cô gái si tình trong đêm trăng. Nếu tao còn nghe thấy sai điệu hay mất nhịp vì ngủ gục, tao sẽ cho tụi bay chạy lại suốt con đường vừa đi qua. Nghe chưa?”
Đã đành đó là câu đe dọa hão. Chẳng có cái gì trên thế gian này có thể đem anh ta trở lại con đường dài dằng dặc ở phía sau. Vả lại cũng đã khá muộn rồi nên anh cũng tạm bằng lòng khi chỉ độ hai chục binh sĩ đáp : “Dạ, nghe rõ, thưa Trung sĩ”. Anh nói tiếp:
– “Tốt. Trong mười lăm phút nữa, chúng ta sẽ tới trại. Lúc đó thì phải đàng hoàng nghe. Tiểu đoàn trưởng sẽ quan sát đó. Tụi bay đừng có để phiền gì cho tao. Nghe chưa?”
– “Dạ, nghe, thưa Trung sĩ”.
– “Được… bây giờ cần một bài hát. Bài: “Đẹp làm sao đời lính”. Tụi bây phải hát cho có tình cảm, có tâm hồn.”
Đám người lại bước đều trong tiếng hát, giữa hai hàng cây. Họ đi như vậy vào doanh trại, nơi có Thượng sĩ nhất Krull đang đứng chờ.
Vào giữa lúc xế chiều nầy, Krull khám phá ra một điều mà sau này ông gọi là “nghệ thuật để cho tràn ứa”. Ông ta đang giận dữ, nghĩa là tình trạng nóng giận của ông đã vượt qua một cao điểm mới, nguyên do là vì Karl Schwanecke và sự chậm trễ của Đại đội. Lẽ ra Đại đội phải về tới đây từ bảy phút trước rồi. Và giờ này chắc chắn là ông Tiểu đoàn trưởng đang đứng bên cửa sổ, nhìn đồng hồ và mỉm cười theo lối thâm hiểm của ông ta. Krull suy nghĩ: “Rồi ông sẽ thấy. Chính tôi đây nè, tôi sẽ cho ông hay…” nhưng không nghĩ xa hơn nữa. Riêng ngón tay út của ông, nơi tập trung tất cả sự hiểu biết của một viên Thượng sĩ, đang ngọ ngoạy không ngừng.
Chiếc rào cản được nâng lên, Đại đội đi ngoẹo về phía trái : Trung sĩ Peter Hefe cất tiếng hô mạnh mẽ hơn trong chiếc sân rộng, trước mặt Thượng sĩ đang nhìn anh, chân đứng dạng, nắm tay chống nạnh, trong lúc ấy, thẳng phía trước đoàn quân, bốn anh binh sĩ mới tới, nằm sấp bất động, mặt hơi nghiêng nhìn những đôi bốt tiến lại gần.
Một lát sau, Peter Hefe mới nhận ra họ, nhưng anh hô ngay khẩu lệnh cho đổi hướng về bên phải để tránh. Đoàn quân hơi ngập ngừng.
Krull lại thét lên:
– “Tiếp tục đi thẳng!”
Sự ngập ngừng tăng thêm. Peter Hefe nhận thấy tình hình, hiểu rõ Thượng sĩ muốn gì và tuân theo lập tức. Anh cất tiếng hô khẩu lệnh thích ứng. Năm mươi ba người xếp hàng ba, chia thành bốn trung đội, vừa hát vừa tiến lên phía những người bạn đang nằm soài. Krull biết rằng chẳng có gì đáng ngại. Khoảng cách giữa bốn người lính đang nằm kia không xa quá mà vừa đủ. Chỉ cần chú ý, người ta có thể đặt chân vào giữa. Hơn nữa ông ta biết rằng đoàn người sẽ không bước lên những người nằm dài kia, cũng như một con ngựa biết cách tránh trong trường hợp tương tự… Ý kiến này thật mới mẻ và thích ứng để cho những anh lính mới tới được nếm trước, những gì còn chờ đợi họ, một thứ cảnh cáo bổ ích. Sau này, ông phải hoàn hảo phương pháp đó mới được.
Nhưng những người đang bước tới đã mệt lử và dửng dưng. Một số lớn chẳng hiểu có chuyện gì xảy ra. Nhiều người đến nỗi nhắc chân khỏi mặt đất không quá 10 phân và đa số khi nhìn thấy những người nằm quá chậm. Vì thế trong cái cảnh đón tiếp do Thượng sĩ nhất bày đặt ra đó, mấy người nằm bị bầm tím cùng khắp thân thể và binh nhì Coltírieđ Von Bartlitz bị dập ngón tay vì anh ta không kịp dấu bàn tay dưới thân mình.
Đại úy Bart, chỉ huy trưởng Tiểu đoàn, đứng bên cửa sổ của văn-phòng hành chành, nhìn cảnh diễn biến. Khi hàng người sau chót diễn hành qua và bốn hình thù nằm dài lại hiện ra, Đại-úy lại hỏi vị Trung úy đứng phía sau:
– “Đại đội của cậu phải không Obermeier?”
– “Dạ phải, thưa Đại-Úy. Bọn họ đi làm tạp dịch trở về. Chắc chẳng có thú vị gì với trời đất bẩn thỉu này!”
“Một thằng cha kỳ cục, tên Krull đó!”, không thấy viên Trung-úy trả lời, ông nói tiếp: “Đúng là loại người đang cần cho chúng ta.”
Bấy giờ viên Trung úy mới nói:
– “Thưa Đại-úy, tôi không biết”
Đại đội đứng ở giữa sân. Peter trình diện Thượng sĩ Krull. Ông ta lắng nghe và khẽ hất đầu về phía 53 binh sĩ. Rồi thọc ngón tay cái vào giữa nút thứ ba và thứ tư của chiếc áo, ông bắt đầu bài hiểu thị hàng ngày, ông nói về cuộc đi chơi ngoài trời, về những hòn đá cuội mà binh sĩ đã ném thia lia trên giòng sông Warthe, về sự chậm trễ của họ, về truyện này, truyện nọ… một bài diễn từ mà bản chất chẳng có gì khác với những bài, vào giờ này tại các doanh trại hầu khắp Âu châu, những ông Thượng sĩ khác cũng đang nói với những binh sĩ, những tân binh. Nếu có khác chút nào chăng là những binh sĩ ở đây thuộc một Tiểu đoàn trừng giới và đa số họ chẳng nghe gì cả.
Thoạt nhìn thì sự khác biệt không có gì rõ rệt lắm. Một Tiểu-đoàn trừng giới gồm những người mà cái chết nắm chắc từ 95 tới 98 phần trăm, nhưng vào thời kỳ này, gần như mọi người mặc quân phục đều nắm chắc phần chết, tuy rằng ở những đơn vị khác thường tỷ lệ tử vong không cao đến mức đó. Vì vậy trước hết, sự khác biệt chỉ nhận rõ trong cách đối xử với quân phạm, trong những sự sỉ nhục mà người ta trút xuống đầu họ, trong những cảnh gian khổ về tinh thần và thể xác họ phải chịu, trong nỗi tuyệt vọng mà người ta dồn họ tới.
Bài diễn từ chấm dứt, Krull bắt đám binh sĩ đã kiệt quệ chạy hai vòng sân, bắt họ nằm xuống rồi sau mới cho tan hàng. Bổn anh lính mới tới vẫn còn nằm dài.
Viên Trung-úy nhận xét:
– “Bây giờ tụi nó sẽ đánh lộn nhau quanh vòi nước cho mà xem”.
Đại úy hỏi:
– “Sao vậy? Bên ngoài mưa khá lớn mà.”
– “Tôi đã thấy rồi. Làm việc suốt 6 tiếng đồng hồ không được uống nước rồi trở về còn phải hát nữa. Với tôi thì thôi, xin chào thua!” Đại-úy rút điếu thuốc lá, đẩy gói thuốc trên bàn về phía viên Trung Úy và nói với vẻ riễu cợt:
– “Nè, Obermeier, tôi mong được gặp lại cậu ở đây như một người bạn vui tính của câu lạc bộ sĩ quan khi trước. Thế mà bây giờ cậu lại bi thảm như một cây dù ướt, Khi còn ở Vitebsk cậu đâu có như thế.”
– “Đúng vậy, thưa Đại-úy. Ngoài mặt trận, tôi thấy đúng chỗ…. nhưng còn ở đây? Tôi là một sĩ quan chứ không phải anh cai ngục.” Ông lấy điếu thuốc, châm hút, tay hơi run, Đại-úy Bart nhìn ông với vẻ tò mò:
– “Cậu thương hại mấy thằng cha đó hả?
– “Còn Đại-úy thì không hay sao?”
– “Tại sao lại thương? Trong bọn nó, có đứa nào là không bị kết tội một cách xứng đáng đâu?”
Obermeier dập điếu thuốc lá vừa châm vào đĩa đựng tàn:
– “Đại-Úy vừa nhìn thấy Đại đội của tôi đó, năm mươi ba cái xác chết đi vật vờ. Thượng sĩ Krull lại vừa hành hạ thêm vì họ về chậm mất bảy phút. Như vậy là kết tội một cách xứng đáng sao? Thí dụ như cái thằng nhỏ bé, gầy ốm ở hàng thứ nhất, Trung úy Remberg đã được thưởng anh dũng bội tinh, là một trong những chiến sĩ đầu tiên tiến vào Mạc-Tư-Khoa đó. Thế rồi trong một cuộc hội thảo tình hình, anh ấy tuyên bố rằng, quân đội sẽ bị tiêu hao suy mòn tại miền đất mênh mông của nước Nga, rằng cần phải ngưng lại cho kịp thời nếu không chúng ta sẽ đi tới thảm họa. Người ta tống cổ anh đến đây. Anh ấy nói; “Tôi không phải là anh đồ tể, tôi không thể tham dự vào vụ đó được”. Bây giờ thì anh ấy đào đất.
– “Để khỏi thành anh đồ tể, hắn trở thành thợ đào đất. Như vậy hắn không khoái hơn là chết sao?”
Viên Trung úy không nói tiếp truyện đó nữa.
– “Đại-Úy có nhìn thấy người tiều tụy, sói trán, mang kính đang đi ngoài sân kia không?”
– “Hắn ta làm sao?”
– “Giáo sư Ewald Puttkamer, Thiếu-Tá trừ bị đó. Ông ấy dám nói rằng sơ-mi màu nâu (áo của đảng là y phục mới của bọn phu đào huyệt”.
Đại Úy mỉm cười:
– “Khá lắm”.
– “Những người như vậy ở đây rất nhiều. Nhưng Đại-úy cũng biết rồi mà”
– “Có cả những tội nhân nữa phải không?
– “Vâng, cũng có”.
– “Kết luận?”
– “Tôi không tin rằng một sĩ quan Đửc lại thích hợp trong vai trò cai ngục”,
Đại Úy Bart, mỉm cười ngồi xuống chiếc ghế duy nhất trong phòng, thả khói thuốc lên trần nhà. Từ ngoài sân vọng vào, qua cửa sổ, tiếng la hét của Thượng sĩ Krulll, ông ta đang đi đến nơi phát cơm.
Obermeier nói:
– “Thực ghê tởm!”
Bart nói nhẹ nhàng:
– “Ô hay! Chiến tranh là ghê tởm. Và hòa nhã còn ghê tởm hơn nữa vì lính tráng như mình thành vô dụng. Hãy nhận xét sự việc một cách bình tĩnh hơn, từ tốn hơn nhiều nữa, bồ ơi! Có thế thì may ra cậu mới sống sót được. Đừng có bất bình khi nhìn thấy một Trung Tá, một sĩ quan anh dũng bội tinh hay một giáo sư siêu việt phải chạy vòng quanh sân dưới quyền xài xể của thượng sĩ Krull, giống như…cậu nói giống như khỉ… à phải, giống như những xác chết đi vật vã. Đúng vậy không?
Vị Trung-úy đồng ý.
Bart uể oải đứng dậy, ngáp, vươn vai và sửa lại chiếc đai da. Rồi ông nhìn chiếc đồng hồ nhỏ trên cổ tay, ngáp thêm lần nữa, chẳng che miệng. Giây đeo đồng hồ làm bằng vải. Người ta nói rằng, mỗi ngày Bart thay một dây để lúc nào giây cũng trắng tinh. Có thể là mặc dầu việc đó hình như không thích hợp tính tình của con người to khỏe đó, mà lại rất thích hợp với Đại-Đội trưởng Đại đội 1, cục cưng của các bà, Trung úy Wernher.
Khi Đại Úy Bart ngước mắt lên thì thấy Trung úy Obermeier đứng nghiêm trước mặt ông.
– “Thưa Đại-úy, xin Đại-úy vui lòng chấp thuận đơn của tôi xin thuyên chuyển đi một đơn vị tiền tuyến”.
Đại Úy nói với vẻ nhạo báng:
– “Này, này! Một vị anh hùng! Nếu cậu có thể đợi thêm một phút nữa, cậu đã có thể để dành lại cái hình thức biểu lộ anh dũng đó.”
Ông thò tay vào túi lấy ra một tờ gấp đặt thêm vào đống giấy tờ phủ kín một phần chiếc bàn.
– “Đại đội của cậu, Đại-đội 2 của Tiểu đoàn 999 sẽ sang Nga một ngày rất gần đây.”
– “Sang Nga?”
– “Rất đúng, Các Đại đội khác sẽ đi tiếp theo sau 2 ngày. Tôi đi với Đại-đội sau chót, nghĩa là Đại-đội 1. Thỏa mãn không?”
– “Không thưa Đại-úy”.
– “Vẫn chưa? Mẹ kiếp! Vậy thì cậu muốn gì?”
– “Một đơn vị bình thường. Tôi sẽ làm được gì ở Nga với những kẻ dở sống, dở chết này? Chúng ta sẽ thắng trận sao được với những thân xác vờ?”
– “Thắng trận? Obermeier, Cậu thật còn trẻ. Rút cục thì chủng ta cũng đã nhận được một nhiệm vụ rất cao đẹp. Cậu sẽ có thể phô trương tất cả chí khí anh hùng của cậu. Một nhiệm vụ với một mục tiêu phải đạt được nếu không sẽ phải đưa ra tòa-án binh. Không còn phải làm những tạp dịch chán ngắt : gỡ mìn, tháo bom, tát cạn giao thông hào, chuyển đạn, làm đường, chôn xác…”
– “Thế nhiệm vụ rất cao đẹp đó là gì?”
– “Cậu sẽ được biết vào đúng lúc”.
Bart đến gần cửa sổ. Ngoài sân, Krull đang la hét đuổi theo một binh sĩ như đuổi theo một con thỏ rừng.
– “Tên nào đó? Cậu có vẽ am hiểu tất cả binh sĩ của cậu mà.”
Obermeier đáp;
– “Trung-Úy Stubnitz”
Đại-úy sửa lại:
– “Binh nhì Stubnitz. Hắn phạm tội gì vậy?”
– Khi ở Dortmund, hắn ném ly rượu vào hình lãnh tụ và la lên : xin mừng anh khỏe mạnh, anh hề!”
– “Thằng ngu vậy!”
– “Hắn say rượu.”
– “Nếu thế nó là thằng ngu say! Tại sao cậu không can thiệp đi. Tại sao cậu không làm một phúc trình tố cáo Krull đã hành hạ binh sĩ trực thuộc?”
– “Việc đó đưa tôi đi đến đâu? Chắc sẽ đi tới một cuộc điều tra nhanh chóng như thế này: Hỏi: Đơn vị nao ? Đáp: Tiểu đoàn trừng giới 999”.
– Thượng sĩ, ông đã làm gì? – Tôi nhắc lại bổn phận cho một binh sĩ cứng đầu trong khuôn khổ kỷ luật – Tốt lắm, Thượng sĩ, ông cứ tiếp tục! Và cuối cùng là chính tôi sẽ bị khiển phạt”.
– “Đúng vậy. Cậu không “bết” lắm đâu. Nhưng vì chúng ta sẽ sang Nga,
chẳng bao lâu rồi cậu sẽ dẹp được những ưu tư và những hoài nghi triết lý của cậu”.
– “Tại sao thế?”
Đại-úy Bart nói rành rẽ từng tiếng:
– “Bởi vì chỉ trong vòng vài tuần là cậu sẽ không còn Đại đội nữa.”
Im lặng.
Rồi chắc hẳn Đại-úy muốn làm dịu ấn tượng gây ra bởi lời nói của ông ta và để xua đuổi hình ảnh ma quái đẫm máu mà lời nói đã gợi lên, ông nói:
– “Bốn người nằm trong bùn kia thuộc Đại- đội của cậu. Thành phần tăng cường cho cậu đó. Tóm lại, đó là những tên rất đáng chú ý, sẽ không làm mất vẻ đẹp bộ sưu tập của tụi mình đâu. Tên thứ nhất là… ông tìm trong hồ sơ – Gottried von Bartlitz, cựu Đại tá, được ân thưởng huy chương anh dũng kèm theo nhành lá sồi, nguyên Tư lệnh Sư đoàn, bây giờ là binh nhì. Sau trận Stalingrad hắn ta đã nói quá nhiều…. Hình như hắn cũng không muốn trở thành đồ tể. Tên thứ hai tên là Erich Wiedeck, cựu hạ sĩ, nông dân miền Poméranie. Hắn đã tự ý kéo dài thêm ngày nghỉ phép vì hắn muốn gặt lúa cho kịp, đó là hắn tin như vậy. Tên thứ ba, Karl Schwanecke, là một thợ thuộc kim nhưng trước hết là một tội nhân tái phạm nhiều lần, một thứ “phi nhân”. Còn tên thứ tư, bác sĩ Ernst Deutschmann, bị buộc tội tự ý hủy hoại thân thể một cách rất khôn khéo nhưng cũng không thoát. Nhưng mà cậu làm sao vậy, Obermeier?”
– “Người thứ nhất…. tên là gì?”
– “Sao? Cậu biết hắn à?”
– “Tên hắn là gì?”
– “Gottfried von Bartlitz. Cậu biết hắn?”
– “Dạ. Tiểu đoàn trưởng cũ của tôi”
– “Vậy hả! Thú vị đấy chứ!”
Đại-úy Bart trở lại bên cửa sổ coi như cảnh Kull la lối không làm cho ông khó chịu. Không nhìn vị Trung-úy, ông khẽ nói:
– “Truyện đời nó như vậy đó, cậu thấy không? Hôm qua còn ở tít trên cao, hôm nay xuống thấp và ngày mai, còn xuống thấp nữa… dưới lớp đất đen. Phải ở trên cao, Obermeier ạ, đó là điều quan trọng. Cậu hãy cố gắng trèo lên nữa, nhưng đừng cố quá cao. Hãy quên đi mấy thằng cha đó trước đây là cái gì. Hãy quên điều đó đi để khỏi xẩy đến cho cậu những truyện tương tự như họ. Họ không còn dĩ-vãng nữa. Ở đây họ chỉ còn là những binh sĩ trong một Tiểu-đoàn trừng-giới. Những người binh sĩ không vũ khí. Họ đã bị truất mất danh dự mang vũ khí. Đối với bọ, chỉ còn có danh dự được chết. Những binh sĩ của Tiểu-đoàn trừng-giới 999.
Ông thọc hai tay vào túi, nhún vai nói tiếp:
– “Phải sống, phải ở trên cao, đừng có xuẩn động. Có gì uống không cậu?”
– “Đại-úy uống Hennessy?”
– “Thứ đó được quá”.
Hy vọng giống như những món đồ chơi có gắn chì ở đáy, đặt thế nào rồi cũng dựng đứng dậy. Tưởng rằng đã hoàn toàn tiêu tan, ấy thế mà nó giống như một cái mầm nhỏ xíu phát hiện, trước còn rụt rè nhưng rồi lớn mạnh thực mau như tia sáng mặt trời. Tất nhiên nó thường hay đánh lừa chúng ta. Nó phát sinh từ những ước muốn của chúng ta hơn là từ lý trí, nhưng mà cần chi, hãy biết nó giúp cho chúng ta thoát khỏi sự an phận và đôi khi cũng giúp chúng ta tìm thấy hay nhận ra một con đường thoát nạn.
Julia Deutschmann cũng ở vào tỉnh trạng như vậy.
Sau khi gặp Tướng von Frankenstein, cái tia hy vọng le lói mà nàng dự liệu mang một danh tính: Bác sĩ Albert Kukill.
Điều đó hơi lạ lùng vì chỉnh Bác sĩ Kukill đã là nhà chuyên môn được mời ra làm chứng trong hồ sơ buộc tội Ernst. Với đầu óc lạnh lùng, ông đã tuyên bố những ý kiến được coi như không thể sai lầm. Nếu không có Bác sĩ Kukill, có lẽ Ernst đã không bị kết tội. ông Tướng chẳng nói rằng: ý kiến của nhà chuyên môn là yếu tố quyết định, Julia nghĩ rằng chỉ còn một con đường duy nhất: chứng minh cho nhà chuyên môn đó thấy rằng, ông ta đã lầm. Một sự thú nhận của ông ta sẽ đưa đến việc tái xét hồ sơ và Ernst sẽ thoát khỏi Tiểu đoàn trừng giới 999.
Nàng biết rằng chuyện đó sẽ không dễ dàng. Nàng quả hiểu các bạn đồng nghiệp, những vị bác sĩ: chỉ một rất nhỏ dám nhận một sự lầm lẫn và Bác sĩ Kukill thì hình như không thuộc vào nhóm ít ỏi đó. Tuy nhiên, nếu nàng đủ tài khéo léo, nếu nàng có thể tìm được những câu thích hợp, nếu…Dù sao mặc lòng, nàng cũng chẳng còn khả năng nào khác để cứu Ernst.
Thế nên ngay buổi tối, sau khi gặp vị Tướng, nàng đến biệt thự của Bác sĩ Kukill và lấy hết can đảm, nàng nhấn chuông. Nàng không muốn thông báo trước vì chắc chắn người quản gia hay cô thư ký khi nghe tên nàng sẽ trả lời ngay là bác sĩ không có nhà. Nàng đến bất thình lình, gặp ông ta bất ngờ, buộc ông ta phải nói, đặt ông ta đối diện với ác tâm của ông.
Bác sĩ Kukill mặc bộ đồ lịch sự có nút cài chéo, bộ tóc hoa râm chải sát ngược về phía sau. Khuôn mặt ông hẹp làm liên tưởng đến mặt loài chim ăn thịt đang rình mồi và cặp mắt xám, dữ tợn, thích hợp với vóc dáng đó.
Ông không tỏ vẻ ngạc nhiên khi thấy Julia và nếu ông có cảm thấy phần tội lỗi nào đó đối với nàng, hay đúng hơn đối với chồng nàng thì ông ta cũng tuyệt đối không để lộ ra. Nhưng mà một con người trầm tĩnh như thế, từ tốn như thế, có thể nào cảm thấy phạm tội được?
Chính Julia cảm thấy bối rối.
Ông đưa tay bắt tay nàng như đối với người quen biết từ lâu và mỉm cười. Thoắt cái, bộ mặt ông mất vẻ cứng cỏi, hiểm hóc. Khi ông nói, với phong thái của người thành Vienne, bằng tiếng nói mà ông biết xử dụng một cách tuyệt hảo cho thêm âm vang, để khẳng định với giọng lãnh đạm hoặc để biện hộ với niềm tự tin dễ lây sang người khác.
– “Chắc ông biết tại sao tôi tới đây?” Julia nói và mừng thầm căn phòng tranh tối tranh sáng đã che dấu bàn tay run rẩy và nét mặt đỏ của nàng.
– “Tôi tự đoán được điều đó, thưa bà, hay đúng hơn thưa nữ đồng nghiệp vì cả hai chúng ta đều là y-sĩ, phải không thưa bà? Mà ta không nên đứng đây. Dù bà có chuyện gì cần nói với tôi, chúng ta cũng nên vào ngồi trong này tốt hơn.”
Ông ta mở chiếc cửa và mời Julia vào trong một phòng khách, đồ đạc bày biện sang trọng, quay ra vườn. Một chiếc cửa sổ rộng nhìn xuống khu vườn trồng nhiều cây lớn nom như một công viên, nơi hoàng hôn đang phủ xuống. Những bồn hoa các loại che khuất nửa chiếc hồ tắm.
Bác sĩ Kukill bật đèn và kéo chiếc màn cửa. Rồi ông chỉ chiếc ghế bành lớn bọc nệm màu trái chanh:
– “Xin mời bà ngồi”
Nàng nghe theo. Làm thế nào mà con người này có thể mỉm cười và bình thản khi ông ta thừa biết rõ lý do cuộc tới thăm của nàng?
Nàng nói:
– “Tôi muốn được nói chuyện thêm với ông về tất cả vụ đó”.
Nàng lấy lại được thái độ tự chủ. Đối phương trước mặt nàng chỉ có thể bị khuất phục hay dồn vào thế bí bằng sức mạnh của lý trí.
Ông ta đáp:
– “Tôi không được hiểu rõ rằng điều bà yêu cầu có thể có ích lợi gì không ? Nhưng mà bà dùng gì? Cô nhắc? Ác-ma-nhắc 1913? Tôi để dành riêng tiếp đãi bạn bè.”
Ông ta nói không một chút riễu cợt nào.
– “Dạ cám ơn ông, ông cho gì cũng được”.
Bác sĩ Kukill đốt ngọn nến, hơ ly cho nóng và rót chất rượu màu hổ phách, mỗi ly chừng một ngón tay.
Ông nói :
– “Có một số người chê trách tôi về tất cả những thứ này: về nhà cửa phong lưu hoặc về rượu Ác-ma-nhắc 1913. Theo họ, những thứ đó coi chướng mắt trong lúc này. Nhưng thử hỏi lúc nào thì nó không chướng mắt? Các công ty bảo hiểm ước lượng đời sống trung bình một người Âu-Châu bây giờ là 66 tuổi, và chiến tranh lại làm con số đó xuống thấp rõ ràng. Ngày mai có thể là quá xa xôi… và cũng có khi chẳng bao giờ tới với người nào đó. Vậy tội gì không cố đem lại chút hương vị có thể được cho cuộc sống ? Bà nghĩ về vấn đề đó ra sao?”
– “Tôi chẳng bao giờ nghĩ tới điều đó.”
Ông mỉm cười nói:
– “Dù sao mặc lòng, nên làm cho cuộc sống bớt sầu thảm!”
Ông giơ ly rượu nhìn qua chất nước trong vắt:
– “Xin mời bà”
– “Tôi tự hỏi không hiểu ông là con người như thế nào. Có lẽ ông chỉ bận trí về những thứ này (nàng phác một cử chỉ bao quanh phòng khách vườn tược, chai rượu Cô-nhắc và không chú ý đến truyện gì xảy ra quanh ông.”
Kukill vẫn mỉm cười, đáp:
– “Có phần nào,”
– “Vậy mà những truyện đó đang xảy ra. Mới hôm qua, một vụ ném bom làm nhiều người chết, chắc chắn hôm nay cũng sẽ cố. Rồi còn bao nhiêu người đang chết tại mặt trận Nga, mặt trận Ý. Lại còn có những sự bề ngoài coi không đáng gì cả mà có tầm quan hệ, hơn nữa, mang trọn vẹn ý nghĩa cho cuộc sống của một con người.”
Ông ta nói một cách lạnh lùng;
– “Có lẽ bà muốn ngụ ý nói về ông nhà.”
Julia nhìn thẳng ông ta và nói:
– “Dạ phải. Anh ấy là cuộc sống của tôi. Xin ông hiểu cho, tôi không còn biết kiếm ai ngoài ông ra. Câu chuyện gồm toàn hoàn cảnh thảm khốc liên tục.”
– “Một luật gia có thể nói như bà. Nhưng chúng ta hãy nói một cách rõ ràng hơn : bà muốn nói là đã có sự lầm lẫn?”
– “Thế còn ông? Ông nghĩ sao?”
Bác sĩ Kukill trề môi dưới, ngắm nghía bàn tay bé nhỏ trắng trẻo của ông:
– “Và nếu đích thực là một sự lầm lẫn?…”
Julia vuột dậy:
– “Ông…ông nói thế đó! Bản giám định của ông đã làm Ernst thân bại danh liệt. Chính ông đã làm cho anh ấy bị tù tội. Và bây giờ lương tâm ông yên ổn khi tuyên bố rằng, có thể có lầm lẫn trong chuyện đó hay sao?”
– “Xin bà bình tĩnh. Bà ngồi xuống đi. Bản giám định của tôi mang tính chất hoàn toàn khoa học. Trong tình trạng khoa học hiện nay, bản đó đã được thiết lập hoàn toàn đủng. Với tư cách một chuyên viên đứng trước tòa án không thể nói lắt léo với những điều dự tưởng, những giả thuyết.”
– “Thế nhưng tôi và nhà tôi đã đạt được nhiều kết quả mỹ mãn trong cuộc thí nghiệm…?”
– “Ông đã thực hiện bao nhiêu loạt thí nghiệm?”
– “Chừng ba chục.”
– “Như vậy chưa có thể nói là đạt được kết quả mỹ mãn, bà thừa hiểu điều đỏ. Nhưng hãy xếp vấn đề đó lại. Bà thấy nội vụ như thế nào, hay nói cho đúng hơn, nội vụ diễn tiến ra sao?”
Ông chắp tay nhìn Julia, mơ màng, ông không quan tâm mấy đến câu chuyện vừa vô ích, vừa chán ngắt. Chẳng ai có thể cứu Ernst Deutschmann được nữa. Có lúc ông tự nhủ, người đàn bà này làm ông mất thì giờ. Nhưng… bà ta xinh xắn, lịch sự, dám can đảm. Tóm lại là đẹp. Một vẻ quyến rũ đặc biệt của trí thông minh, nghị lực và niềm tuyệt vọng, ông thấy hơi ghen với Ernst Deutschmann và tự hỏi :
“Đối với một người đàn ông thì còn đòi hỏi gì hơn nữa?. Nếu chồng bà chết ở Tiểu Đoàn trừng giới thì bà ta sẽ ra sao?”.
Vừa tìm kiếm những câu để thuyết phục cho nàng thấy nỗ lực của nàng vô ích, ông nghĩ rằng nàng sẽ là một góa phụ xinh dẹp. có điều chắc không phải là góa phụ tươi vui như người ta thường nói.
Ông bắt đầu nói:
– “Thưa bà, cần phải đặt mình vào quan điểm của chúng tôi. Chồng bà nhận được lệnh gọi nhập ngũ hôm trước thì hôm sau lâm bệnh ngay. Sau đó, người ta khám thấy ông ấy đã tự chích mủ một người bệnh sắp chết vào mình, lấy cớ là để thử xem hiệu quả một chất trị độc do ông ấy tìm ra. Một vết thương làm độc do vi khuẩn Staphy-Locoque vàng gây ra như loại đó, đòi hỏi phải nghỉ dưỡng sức vào khoảng một năm và lẽ dĩ nhiên, bất lực về quân dịch”.
Ông ta nói thong thả, dằn từng tiếng. Julia không nói gì. Ông tiếp tục:
– “Ông ấy biết mà chúng tôi cũng biết rằng: sự làm độc như vậy thường là chết và đã có hàng ngàn người chết vì nó trong cuộc chiến tranh này. Tuy nhiên tôi không muốn buộc cho ông ấy là có ý định tự tử. Rất có thể ông ấy tin rằng mình đã tìm ra…thí dụ một thứ huyết thanh nào đó…và rồi giống như mấy người…hà…hà…cuồng tín hay anh hùng khoa học, ông ấy muốn thí nghiệm ngay trên bản thân. Đó, vì sao mà tôi lại nói có thể có sự lầm lẫn…lầm lẫn ở điểm ông ấy tự hủy không phải vì muốn tránh quân dịch, mà vì sự ngộ nhận đáng tiếc. Tuy nhiên, tại tòa án quân sự họ đâu có cứu xét đến những điều như vậy, Người ta chỉ chú ý đến việc ông ấy tự làm cho bất lực với nhiệm vụ quân dịch. Và chỉ có điều đó là quyết định.
– “Nhưng… tôi tin chắc về công việc của anh ấy, tôi thường xuyên có mặt và tôi biết anh ấy đang đi đúng phương pháp. Chứng tôi có rất ít thời gian, cần phải làm gấp…”
– “Cá nhân tôi, tôi nhìn nhận điều đó có thể thành tựu. Nhưng một vị quan tòa thì khác. Tôi đã từng nói với bà: hiện nay không có một thứ thuốc nào thật hiệu lực chống lại sự làm độc đó. Và tôi xin được phép nghi ngờ rằng, chồng bà, dù tài ba mấy đi nữa, khó có thể một mình tìm ra được thứ mà bao nhiêu nhà khảo cứu cố gắng tìm tòi vô ích trong bao nhiêu năm nay. Đó là điều tôi tuyên bố trước tòa. Tôi đã tin tưởng chắc chắn như vậy và hiện tôi vẫn duy trì niềm tin đó. Tôi đâu có thể làm gì hơn được. À mà bà đã tìm cách xin tái thẩm chưa?”
– “Dạ, đã”
– “Thế sao?”
– “Người ta nói với tôi… một nhân viên trong đội phòng vệ SS đã nói với tôi rằng (nàng ngập ngừng nửa như sợ những câu sắp nói, nửa như nhớ lại người đã nói câu đó nếu có vụ tái thẩm hồ sơ của Deutschmann thì kết cục sẽ là cái án tử hình.”
Hai người cùng im lặng. Bác sĩ Kukill đốt điếu thuốc lá và hỏi:
– “Loại nhân viên phòng vệ SS nào đó?”
Julia nhún vai không trả lời.
– “Bây giờ bà tính sao?”
Nàng nhìn ông ta bằng cặp mắt đen lo ngại, rồi hỏi lại bằng giọng run run:
– “Vậy không còn cách nào nữa sao?”
Nàng đứng dậy, vòng quanh bàn, nắm lấy cánh tay ông bác sĩ. Ông ta ngồi yên, e ngại, và dù sao mặc lòng, ông cũng thấy cảm động về nỗi đau khổ và tuyệt vọng của nàng..
Julia khẩn khoản:
– “Ông có thể làm được chút gì… Chắc chắn ông có thể làm được… Tôi van ông. Tất cả đều trông cậy ở ông, tôi biết… ông có thể bảo là có truyện lầm lẫn… thế là anh ấy được trở về với tôi… Lạy trời… Tôi xin khẩn cầu ông, ông hãy giúp tôi…”
Ông ta cố gắng trấn tĩnh nàng, nhưng biết rằng nàng không nghe ông, mà nàng cũng không tin rằng đối với Ernst thế là hết, nàng chẳng có thể làm được gì cho chồng, một khi hàng ngũ Tiểu Đoàn trừng-giới đã nuốt gọn anh ta. Ông cho nàng biết, chính ông cũng không thể làm gì hơn và nhìn nàng yên lặng. Ông tự nhủ nàng có một sắc đẹp khiến người ta phải tôn thờ. Nỗi đau đớn và tuyệt vọng không ảnh hưởng gì mà chỉ làm cho mặn mà thêm. Rồi chợt một ý định thoáng qua trong đầu sẽ không để Deutschmann trở về với nàng nữa.
Julia đột nhiên cất tiếng, không để ý tới người đàn ông trước mặt đã bị xúc động, đứng lên và nghiêng mình xuống nhìn nàng:
– “Còn, vẫn còn một điều có thể làm được. Tôi đã tham dự trong mọi cuộc thí nghiệm của anh ẩy. Tôi còn giữ tất cả những điều anh ấy ghi chú. Tôi sẽ theo đuổi công trình của anh ấy. Tôi sẽ tiếp tục các cuộc thí nghiệm đó, nếu cần, tôi sẽ thí nghiệm ngay trên mình tôi “
Bác sĩ Kukill thốt lên:
– “Trời đất!”
– “Tôi sẽ chứng mình rẳng anh ấy có lý. Và người ta sẽ cho anh ấy trở lại đề tiếp tục làm việc. Và…”
– “Thưa bà, tôi xin bà. Đừng làm thế, chắc chắn bà sẽ chết”…
Hồi Tết năm ngoái, tôi được hân hạnh ra nghỉ mát ở Vùng Tàu trong 24 tiếng đồng hồ. Phút vui quá ngắn ngủi, bởi vậy tôi tìm mọi cách để tận hưởng thời gian đổi gió. Đến 2 giờ trưa, tôi còn ngồi ở Bãi Sau, gần cái chỗ gọi là Eo Quắn. Buồn lắm. Buổi trưa ít gió, hơi cát bốc lên ngùn ngụt. Mấy chiếc ghe lưới đã về bến tự bao giờ. Trong quán giải khát, tôi ngồi trơ trẽn. Ông chủ quán tắt máy radio cho đỡ tốn điện rồi nằm lim dim. Mặt biển xanh cham, lấp lóe ánh nắng, tôi ngả lưng xuống chiếc ghế xếp tìm cách giết thời giờ. Khi hết tiền bạc, hết tình yêu (tình trai gái) thì con người chỉ còn một cách để giải trí, đó là đùa giỡn với bộ óc, với ký ức của mình. Tôi mỉm cười một mình, tâm tư hướng về miền Thất Sơn xa xôi. Ở đây, có vô số “ô”. Nào ô Lâm, ô Đùng, ô Chat. Ô tức là con suối nhỏ, theo tiếng Miên. Ở đây, đúng ra đồng bào nên mạnh dạn xác nhận, nói rõ ràng: Ô Quắn thay vì Eo Quắn. Mình về Sài-Gòn, viết một bài nho nhỏ đăng trên nhật báo, giải thích tiếng “Ô” cho độc giả nghe chơi. Phía sau lưng tôi, có tiếng ngáp dài. Đó là ông chủ quán. Tôi gợi chuyện:
– Ở đây buồn quá. Chắc là ít khách.
Ông ta trả lời:
– Lai rai vài người, nhứt là buổi trưa.
– Ủa! Nãy giờ chỉ một mình tôi. Còn ai đâu nữa?
– Kìa! Thí dụ như hai người đó. Họ vô đây, lát nữa.
Tôi chụp cặp kiếng cận thị, mang lên để nhìn ra xa. Đúng như lời ông chủ quán, đằng kia, dưới ánh nắng chang chang, một người bụng bự và một cô gái “đợt sóng mới” đang ngồi kề nhau, rồi cô gái ngả đầu vào ngực người bụng bự. Mắt tôi sáng lên. Anh chàng bụng bự đó dường như quen thuộc, đã gặp mặt tôi, bắt tay tôi và mời tôi uống cà phê, hút thuốc nhiều lần ở Sài-Gòn. Anh ta là Xìn Phóc. Vì tò mò “khảo cổ”, tôi hỏi anh ta Xìn Phóc chữ viết ra sao, là nghĩa gì? Anh ta viết lên giấy hai chữ Thần Phước.
Kìa kìa! Cô gái xinh đẹp, tuổi độ trăng tròn đang vuốt ve Xìn Phóc. Tức giận quá! Gương mặt cô ta trông cũng khá thông minh. Nhưng mà… Xìn Phóc chỉ là gã chuyên nghề bán a giao, mài dao cắt giấy cho nhà in. Hằng ngày, hắn đạp chiếc xe máy cũ, chạy khắp các nhà in để tìm mối. Hắn đem lưỡi dao lụt và a giao cũ về phía Chợ Lớn để rồi vài ngày sau, trao lại cho nhà in mớ a giao sạch sẽ hơn, cái lưỡi dao bén hơn. Để quí vị độc giả hiểu rõ, tôi xin mạn phép giải thích: a giao dùng để làm ống lăn mực in, lưỡi dao cắt giấy khá to giống như dao của máy chém, phải mài bằng máy mới đều đặn. Tóm lại, mỗi ngày Xìn Phóc kiếm được 100 đồng tiền huê hồng mà thôi.
Một chiếc xe hơi kiểu mới nhất đậu từ lúc nào bên lề đường cái. Phải chăng xe của Xìn Phóc? Hay là anh chàng bụng bự đang làm công việc mùi mẫn ấy là anh hoặc em ruột của Xìn Phóc? Tôi không dám vẫy tay chào. Giữa tôi và Xìn Phóc đâu cần xã giao vớ vẩn. Là bạn thân, từng uống cà phê bình dân với nhau, tôi có đủ tư cách để cười reo và khuấy rối giờ phút nô đùa của anh ta mà.
Hai người từ từ đứng dậy, phủi cát trên quần áo, tiến vào quán. Xìn Phóc reo:
– Thầy Hai! Nãy giờ ngồi đó hả? Sao không kêu tôi?
Tôi đáp nhanh:
– À!… Ông chủ! Ra hồi nào? Chừng nào về?
Xìn Phóc gật đầu:
– Đi xe nhà. Chiếc xe của tôi mới mua. Còn cô này là bạn mới quen. Ngoài kia, nắng quá. Tôi muốn vô quán nhưng sợ gặp người quen… Dè đâu… Thôi! Mời Thầy Hai uống rượu. Đừng kêu tôi là ông chủ.
Cô gái khoác tay, gọi anh chiêu đãi viên:
– Cho tôi một chai “bia lây”!
Rồi xít ghế ra xa, day mặt về phía mặt trời mọc, tức là phía Long Hải, giữ thái độ kẻ xa lạ, đứng ngoại cuộc.
Xìn Phóc cười tươi, nói rỉ vào tai tôi:
– Thầy Hai nhớ cô này không? Lúc trước đứng bán hàng ở “cu loa Ê Đen”. Bây giờ thì về làm thơ ký cho hãng xuất nhập cảng của bạn tôi. Học tới bằng cấp Tú Tài đó.
Tôi đáp:
– Anh giỏi quá. Lập hãng hồi nào? Mấy tháng rồi, anh làm ăn ở xứ nào mà mau giàu quá vậy? Đi Hồng Kông? Đi bên Lào? Đi Nam Vang?
Xìn Phóc lắc đầu:
– Ở Chợ Lớn hoài mà.
– Làm nghề gì vậy? Trúng số độc đắc?
Anh ta im lặng hồi lâu:
– Tôi đâu có mua giấy số.
– Hay là anh buôn lậu?
– Làm ăn đàng hoàng mà! Tôi đố thầy Hai nói trúng cái nghề của tôi. Hay lắm.
Tôi ngả lưng, thở dài. Từ lâu rồi, tôi cam phận làm mướn, ăn tiền ngày, ăn tiền tháng. Thỉnh thoảng tôi nghe vài người bạn chạy “áp phe” thuật lại vài mánh khóe kinh tài của giới Hoa thương. Thôi thì phen này tôi đành chịu dốt để nghe lời giảng giải của Xìn Phóc.
Cô gái đợt sóng mới ngậm cái ống giấy, nút một hơi nước ngọt rồi trợn mắt liếc qua tôi. Tôi chép miệng. Cô ta trông đẹp quá. Đẹp nẩy lửa. Nhờ có xe hơi, nhờ đóng vai chủ nhân mà Xìn Phóc rinh cục lửa đỏ ấy quá dễ dàng, chẳng phỏng tay. Trong giây phút, tôi buồn rười rượi. Còn lâu lắm – hoặc chẳng bao giờ tôi mới gặp một người tình nhân như cô ta. Tôi nhớ đến câu hát “Tiếc thay cây quế giữa rừng” hoặc “Vợ khôn lấy thằng chồng dại”. Phải chỉ cô ta là nữ chiêu đãi viên thì cũng dễ hiểu. Đằng này, cô ta đậu Tú Tài, nghĩ thiệt là uổng.
Cô ta phùng mang, thổi mạnh vào cái ống giấy. Mớ nước cam trong ly lại sôi ùng ục. Trông dơ dáy quá. Tôi đã hiểu: Cô ta muốn phản đối hiện tại, xem thường vũ trụ. Tôi hơi buồn. Cô ta tự dối lòng. Nếu phản đối hiện tại thì tại sao cô ta nhận lãnh tất cả tiện nghi của hiện tại.
Xìn Phóc gọi đem đến hai con cua lược, ăn ngấu nghiến hai cái càng, mời tôi luôn mồm:
– Ăn chơi mà thầy Hai. Thầy Hai chưa tin tôi à?
– Tôi chịu thua rồi.
– Bây giờ tôi nói thiệt cho thầy Hai biết.
Làm sao Xìn Phóc dám nói thiệt công cuộc làm ăn trong thời gian qua? Nói với một người… viết báo, anh ta phải giữ bí mật chớ. Anh ta nheo mắt, rót rượu vào ly cho tôi:
– Tôi làm ăn đàng hoàng mà. Hơi giống công việc làm ăn của người đi ngoại quốc, người buôn lậu, nhưng không có luật lệ nào ngăn cản tôi. Tôi nói ra cho thầy Hai nghe. Tôi không sợ ai cười. Người nào muốn bắt chước như tôi thì cũng khó gặp “cái dịp may”.
Thế rồi Xìn Phóc kể thao thao bất tuyệt công việc làm ăn của anh ta trong thời gian qua, đại khái như sau:
Một hôm, anh ta qua Khánh Hội, khu vực thương cảng, nơi có hàng chục cái kho hàng to lớn cất dài theo mé sông Sài Gòn, từ kho 1, kho 2, đến kho 10… vân, vân.
Xìn Phóc vừa đi, vừa nhìn vào một kho hàng – mà anh ta tạm giấu tên – Cửa kho hàng mở rộng. Anh ta tò mò dừng lại để biết kho hàng là cái gì? Bên trong kho hàng ra sao? Chiếc xe hơi từ ngoài đường cái chạy đến sát cửa kho hàng. Một ông Tây bước xuống, vào kho, theo sự chỉ dẫn của người Chà gác dan.
Lát sau, ông Tây trở ra đường cái, cầm trên tay một món kỳ lạ, gói giấy.
Ông Tây hút thuốc phì phèo, ra vẻ suy tư. Hồi nào đến giờ, Xìn Phóc làm ăn ở phía Chợ Lớn, Bình Tây, lăn lóc trong ngành tiểu thương, tiểu công nghệ nên anh ta tò mò muốn tìm hiểu công việc của giới thương cảng.
Đôi mắt đục ngầu của ông Tây nhìn thẳng Xìn Phóc. Ông ta nói tiếng Việt khá rành rẽ.
– Ông chủ…
Xìn Phóc cười hề hề:
– Ông chủ. Ông chủ bán cái gì?
Ông Tây nói dồn:
– Bán cái này! Khổ quá! Thứ này chắc là quăng bỏ.
Nói xong, ông Tây mở miếng giấy gói bên ngoài. Đó là một cái hộp sữa bò, có dán nhãn. Nhãn sữa đã tróc hết phân nửa, hoen ố màu sét (rỉ).
Bàn tay Xìn Phóc từ từ đưa tới về phía ông Tây như thầm nói:
– Xin lỗi, ông cho tôi coi thử!
Ông Tây nọ tỏ ra lịch thiệp, trao hộp sữa cho Xìn Phóc:
– Biết cái gì không?
Xìn Phóc cười:
– Biết chớ sao không biết! Ông hỏi thiệt hay hỏi chơi?
– Biết cái gì? Nói thử cho tôi nghe.
– Dạ, hộp sữa bò mà. Có dán cái nhãn. Thứ sữa này bán lẻ 10 đồng năm cắc.
Ông Tây lắc đầu:
– Nhưng mà… bán không được. Anh tính coi, một kho như vậy đó, mấy trăm ngàn hộp, cũ mèm, hôi hám qua, tôi tính quăng bỏ.
Thiệt là… ngàn năm một thuở. Xìn Phóc thấy chập chờn trước mắt một khung cảnh náo loạn. Hàng ngàn người chen chúc, giành mua cho kỳ được. Những tiệm cà phê lớn ở Chợ lớn, ở khắp miền Nam, miền Trung, từ tỉnh lỵ đến quận lỵ. Mùi cà phê bốc lên, tiếng guốc kéo lết nghe lốp cốp. Những chiếc ghế đẩu đen bóng. Và tiếng phổ ky nói có ca có kệ: Tống mạnh. Cà phê tống dách. Bạc tẩy xỉu phé. Dách cô xây cá nại…
Anh ta đưa hộp sữa lên mũi, hửi thử rồi nói với ông Tây:
– Sữa này chắc là mua lâu ngày rồi! Uống được không? Đem cho con nít bú…
Ông Tây nọ lãnh nhiệm vụ quản lý kho hàng từ lâu nên tỏ ra dè dặt. Đó là những thùng sữa bò, chồng chất hai năm qua trong kho mà không ai thèm lãnh. Người nhập cảng sữa đã bị phá sản, lúc sữa vừa cặp bến nên không chạy tiền kịp. Nhưng lý do chánh vẫn là sữa nọ bị hư, biến chất khi cặp bến: Lúc chở chuyên, sữa bị ẩm ướt vì hầm tàu thiếu tiện nghi; sữa chịu đựng sức nóng của hầm máy quá lâu ngày nên đặc lại! Ông Tây giữ kho chẳng thèm trình bày “lý đó kĩ thuật” nói trên cho Xìn Phóc biết, vì anh ta là người chưa quen thân. Tạm thời, ông muốn tống khứ số sữa hư hao ấy để kho hàng thêm chỗ trống trải. Theo luật vệ sinh, ông ta phải mướn bọn lao công, vác sữa xuống ghe, chở ra tận phía Nhà Bè, thật xa thương cảng để quăng bỏ xuống sông. Nếu bỏ quá gần, ông ta bị phạt. Ngày lại ngày qua, từ hai tháng rồi, mớ sữa biến chất ấy bốc mùi tanh hôi khó chịu. Ông đã mở vài thùng, xem kỹ: hộp đã sét, sữa chảy ra sền sệt, vừa chua, vừa dơ bẩn, chẳng ai đủ can đảm sờ vào hoặc đưa lên mũi hửi thử!
Xìn Phóc nói khẽ:
– Ông bán cho tôi vài hộp… đem về xài thử!
Ông Tây trố mắt:
– Giỡn sao chớ! Anh đem về uống sao? Coi chừng di cầu sáng đêm. Con nít uống chết…
Xìn Phóc đáp:
– Tôi đem bán.
– Điều đó, tôi chẳng dám bảo đảm. Anh ở tù chừng 10 năm về tội bán sữa bò hư. Nghe chưa.
Gương mặt Xìn Phóc vẫn lạnh lùng:
– Tôi muốn mua. Chẳng hay ông chủ muốn để lại cho tôi với giá nào? Bao nhiêu một hộp? Sau một thoáng suy nghĩ, ông Tây quản lý kho hàng tỏ vẻ bằng lòng. Nếu người Hoa Kiều này chịu mua, ông ta được thêm một số tiền bỏ túi, thay vì xuất tiền ra để mướn nhân công dọn dẹp số hàng hóa mất vệ sinh còn tồn trữ trong kho.
– Một đồng một hộp! Tôi bán tất cả số sữa trong kho, mỗi thùng 48 hộp, tất cả hơn 10.000 thùng.
Xìn Phóc gật đầu:
– Tất cả 480.000 hộp! Mỗi hộp 1 đồng, gần nửa triệu đồng. Nhiều quá. Ông chủ bớt vài cắc một hộp. Tôi hứa…
Vốn là một tay cáo già, ông Tây giữ kho thừa hiểu; tên Huê Kiều này đã làm bài toán xong xuôi. Và đây là một cái “áp phe” lớn. Nhưng ông Tây chỉ đoán chừng:
– Anh mua về… nuôi heo hả? Coi chừng heo mang bệnh.
Xìn Phóc lắc đầu:
– Đâu có nuôi heo. Đem về xài mà.
– Mua về tháo cái lon ra để bán sắt vụn hả? Lon hư rồi. Bộ anh khùng hả? Tôi không bảo đảm rằng lon còn nguyên.
Xìn Phóc mỉm cười:
– Ông chủ… chưa hiểu tôi. Bây giờ thì xin ông chủ cho biết giá cả rõ ràng, cách thức chở chuyên.
Rốt cuộc, ông Tây giữ kho lên giá, và đưa ra vài điều kiện khó khăn. Linh tính như báo trước cho ông biết rằng với 10.000 thùng sữa kia, tên Huê Kiều sẽ làm giàu to. Theo sự thoả thuận chung, đúng 4 giờ chiều hôm ấy, Xìn Phóc phải trả tất cả số tiền, mỗi hộp sữa là một đồng một cắc, thay vì một đồng chẵn. Xìn Phóc phải đem xe cam nhông tới cửa kho hàng và xuất tiền túi ra để mướn phu khuân vác…
°
Kể chuyện tới đó, Xìn Phóc liếc nhìn cái đồng hồ tay:
– Chiều nay về Sài Gòn.
Tôi luyến tiếc câu chuyện sữa bò của anh ta:
– Mua sữa về làm gì? Nhờ đâu mà anh sắm chiếc xe hơi và… cưới vợ?
– Tôi đố thấy Hai biết. Thí dụ như gặp “áp phe” sữa bò trong kho của Tây, thầy Hai dám mua không?
Tôi lắc đầu. Làm sao mà chế biến loại sữa hộp ấy trở thành xe hơi và gái đẹp cho được. Bấy lâu, tôi nghe nhiều thủ đoạn đầu cơ, buôn lậu nhưng trước bài toán sữa hư này, tôi đành chịu thua Xìn Phóc.
Anh ta rút điếu thuốc Lucky, hút phì phà:
– Tôi vô Chợ Lớn kiếm anh em bán. Lúc đó, làm gì tôi có nửa triệu đồng bạc vốn. Anh em bạn trong Chợ Lớn mê tôi qua, sau khi nghe tôi làm bài toán.
Tôi hỏi gắt:
– Mua sữa về làm gì?
Xìn Phóc thích chí, nói to, cố ý khoe tài cho người đẹp nghe:
– Tôi đố thầy Hai!
– Thì tôi chịu thua rồi.
– Nè, sữa hư đó đem vô Chợ Lớn, bán cho mấy người làm bánh sữa, bánh ngọt trong tiệm nước, bánh sữa khô, vô hộp. Mê chưa! Từ trước, mấy ông chủ tiệm mua sữa thứ rẻ, chừng 8 đồng một hộp, đem về trộn với đường, với bột mì. Bây giờ, tôi bán cho họ sữa hư, với giá 4 đồng một hộp. Nghĩa là một hộp tôi lời chừng 2 đồng tám cắc, trừ mọi sở phí, nhơn cho nửa triệu hộp… Cũng vậy thôi! Sữa hư đem về hấp cho chín, ăn cũng ngọn, cũng béo.
– Hay quá!
Xìn Phóc đứng dậy, tiếp lời:
– Vui lắm. Đem sữa về tới Chợ Lớn là tôi bán lẹ như diều! Mấy ông chủ tiệm bánh ngọt tới bao vây tôi, đòi mua cho thiệt nhiều.
Mấy ông lời 4 đồng một hộp mà. Vài ngày sau, bạn bè ở Chợ Lớn rũ tôi lập “công xi”. Tôi lắc đầu vì đâu còn áp phe thứ nhì giống hệt như vậy được. Rồi hai ba tháng sau, mấy người bạn ở Sóc Trăng, ở Đà Lạt, ở ngoài Huế vô Chợ Lớn kiếm tôi, nài nỉ mua thứ sữa hư đó. Họ dám mua tới giá 5 đồng một hộp, họ năn nỉ tôi để họ đặt tiền cọc. Tôi từ chối.
Xìn Phóc và cô gái lên xe. Tôi ngồi một mình trong quán. Bãi biển chiều hôm bắt đầu rộn rịp. Tôi nghĩ đến những “áp phe” luôn luôn xảy ra trong xã hội. Tôi thất bại trên trường đời vì tôi thiếu “nhãn quang thương mãi”.
Năm sau, tôi lại gặp Xìn Phóc tại tòa soạn báo Con Vịt. Anh ta chúc mừng, khuyên tôi cố gắng… về mặt văn nghệ rồi mời tôi lại quán uống la ve. Tôi nhận lời. Xìn Phóc cho biết công việc làm ăn của anh ta dạo này… khá lắm.
Tôi hỏi:
– Còn cô hồi năm ngoái?
Xìn Phóc đáp:
– Đi rồi. Mình kiếm cô khác chớ. Bữa nào thầy Hai rảnh, đi Cấp với tôi một chuyến. Tôi dẫn theo cho thầy Hai một cô.
Vừa nâng ly rượu, Xìn Phóc vừa liếc mắt về tòa soạn báo Con Vit. Ông quản lý nhà báo đang mang kiếng, ghi chép. Vài người lao công vác hì hục những chồng báo bán ế, chất trên cái cân.
Xìn Phóc nói:
– Báo bán nhiều quá hả?
Tôi giật mình nói chua chát:
– Bán ế… bởi vậy mới còn dư nhiều. Bởi vậy ông chủ mới bán “ve chai” nhiều như vậy. Ủa Xìn Phóc mua giấy báo ế?
– Làm ăn mà. Gặp đâu làm đó.
– Giống như mua sữa hộp!… Cái chuyện sữa hộp mà Xìn Phóc nói cho tôi nghe hồi ở ngoài Cấp?
Xìn Phóc gật đầu, tôi hỏi:
– Mua về bán cho thiên hạ gói đồ!
– Ừ. Nhưng bán như vậy dở lắm. Tôi mới lập một cái lò nấu giấy súc. Thứ giấy đó, bán chạy lắm. Bình dân xài nhiều, bán để xài đủ chuyện.
Tôi đưa tay làm dấu hiệu để hỏi riêng Xìn Phóc. Loại giấy súc được chế tạo bằng giấy báo cũ và bông gòn (gòn ta, gòn dồn gối). Các cô các bà thuộc đợt sóng cũ dùng loại giấy ấy làm giấy… vệ sinh, mỗi tháng một lần, thay cho loại “khăn vệ sinh đắt tiền”. Và mấy người chết, nằm trong hòm, thường được tấn được ém bằng giấy súc… để khỏi trở mình dưới ba tấc đất.
Đã trưa rồi, đại lộ Lê Lợi không còn tấp nập ngoại trừ công trường Diên Hồng. Trước những biến cố dồn dập, lộn xộn, Tấn đã lựa chọn cho mình một thái độ: về nhà nằm nghỉ, vặn máy radio, ăn cơm, đọc tiểu thuyết cho qua ngày qua tháng. Ai làm gì thì làm, mình cứ giữ phận mình. Nhưng lương tâm của hắn dường như ray rứt… Phận mình là cái quái gì? Thân phận người dân nhược tiểu, thân phận của thế kỷ thứ hai mươi, của nhân loại chăng? Hay là số phận “bi đát” mà bình thường vài người đã rêu rao? Bên Pháp, có không khí bi đát, còn bên Việt Nam mình? Lại còn hàng chục danh từ triết học; nào phi lý, nào bản thể luận, nào cái tôi, cái ta! Tấn đứng hút thuốc trên hè phố… vầng trán nhăn nheo… suy tư để tìm một tư thế ổn thỏa nhứt, khỏe khoắn nhứt, có lợi nhứt… cho cá nhân mình, lúc mất trật tự ngoài xã hội.
Mấy khung cửa sắt bắt đầu kéo ra, đóng kín cửa tiệm. Người kéo cửa lại là một cô gái mặc áo dài, phấn son lộng lẫy. Mãn giờ làm việc cô ta đảm nhận “công tác” cực nhọc ấy, trước khi về nhà. Đôi tay cô ta gầy yếu quá, lần hồi cánh cửa cũng tháo ra. Ngoài đường mấy anh bán hàng “la” đang hối hả thu dọn nào vớ, nào kiếng mát, nào bột giặt quần áo. Người qua lại ngoài đường dường như đang lo âu về vấn đề khác.
Hồi lâu, Tấn hơi nhột nhạt: Còn gì hổ thẹn cho bằng đứng lì đó, suy tư về thế giới siêu hình để bào chữa cho thân phận ích kỷ của tên vô danh sống trong thế kỷ bi đát như… ta đây?
Tấn nhớ đến lời nói văng vẳng của nhà hiền triết nào đó:
– Suy nghĩ… tức là hành động!
Ngụy biện quá. Giờ phút này, nếu thốt câu nói “cao xa” ấy ra, chắc thiên hạ sẽ bịt mũi mà đi qua. Tấn chép miệng, cố gắng hút cho trọn cái tàn thuốc cay đắng đang cháy dở trên môi. Nhựa thuốc điếu dường như có tác dụng an thần, “thống chỉ an miên” như khói thuốc phiện. Tấn ngáp dài, bước lủi thủi, tự an ủi:
– Bước tức là hành động, là hành động tích cực để trốn lánh.
Giữa trưa, nắng gắt. Động cơ xích lô máy, xe gắn máy nổ giòn, tuôn khói mù mịt. Tấn cho rằng đó là hình thức siêu thoát:
– Có lẽ họ lựa chọn thái độ chạy nhanh về nhà để lo hủ gạo như mình. Nhưng tại sao mình bơ vơ? Giữa họ với mình không có mối thông cảm gì ráo!
Đôi chân của Tấn cứ di chuyển như chân của con cua (nói theo triết học). Nhưng Tấn vẫn là con cua có dục vọng của con người. Đến ngã tư đường, Tấn dừng lại, vuốt sau cổ rồi đưa mấy ngón tay ra xem. Đen những bụi. Đau xót quá. Mới hơn ba mươi tuổi đầu mà Tấn ngỡ mình là một chánh khách lão thành hồi thời Đông kinh Nghĩa Thục, giờ đây đã về hưu, mang mề đay “yêu đất yêu nước”, sống ngày hai buổi một cách khỏe khoắn, thong dong nhờ mờ hôi và máu của đoàn trẻ hậu tiến!
– Lên xe thầy! Lên về gấp!
Tấn giật mình, trở lại thực tế. Anh phu xích lô đạp vừa bóp chuông vừa mời. Chiếc xe số 0001, quen thuộc quá, từ năm sáu tháng qua. Tấn đi trên chiếc xe này hàng trăm lượt. Ngồi trên cho người ta chở thì đúng hơn. Anh phu xe vẫn tươi cười, gương mặt đen xạm, mái tóc cứng như rễ tre. Chưa chi, anh ta đã nhảy lên yên:
– Về thầy!
Tấn mỉm cười:
– Bữa nay, tiền bạc hơi yếu.
– Cứ lên. Tôi với thầy mà. Tiền bạc gì, chừng nào cũng được.
Vừa lúc ấy, một cô hơi lớn tuổi, mặc váy đầm, đeo nhẫn hột xoàn thứ thiệt bước tới. Cô ta thấy xe không có khách nên nhướng mắt:
– Đi về phía Ca-ti-na!
Anh phu lắc đầu:
– Cảm ơn. Ông này sửa soạn đi mà. Xe neo.
Cô nọ bĩu môi, bước vài bước rồi lại day lại với đôi mắt hờn giỗi. Tôi nói:
– Sao anh không chở cô đi?
– Tôi chờ thầy. Nhứt định tôi chở thầy về nhà. Mời thầy. Ở đây làm gì nữa. Tôi muốn nói chuyện riêng.
“Chuyện riêng” là chuyện gì? Tấn mãi ôn trí nhớ. Anh ta đẩy xe tới. Tấn lên ngồi. Chiếc xe quay trở lại, theo con đường thường lệ về nhà Tấn mà anh ta hiểu quá rành: Đường Phạm Ngũ Lão.
Bánh xe cứ lăn. Tấn cau mày. Anh này muốn mượn tiền chăng? Từ mấy tháng trước, anh ta làm quen với Tấn, hỏi han về nghề nghiệp của Tấn. Tấn nhớ rõ anh ta đã vô tình hay cố ý nói:
– Thầy làm một tháng chừng bao nhiêu? Gia đình như thế nào?
Bấy giờ anh ta khen ngợi Tấn là kẻ tốt số. Sẵn dịp, anh ta nhìn Tấn là kẻ đồng hương:
– Thầy ở miệt Bạc Liêu hả?
Tấn hỏi ngược lại:
– Sao anh biết?
Anh ta nói chậm rãi:
– Ở xứ mình, thiên hạ ưa nói một mình “ên” nghĩa là một mình mình.
Rồi anh ta kể qua phong cảnh thơ mộng vùng duyên hải Bạc Liêu, bãi Vĩnh Châu. Nào ruộng muối, nào vườn nhãn. Nhứt là ruộng muối. Ông chủ ruộng muối Bạc Liêu là người Việt Nam đầu tiên dám xuất tiền túi để mua máy bay, bay dạo chơi. Ông ta mướn một phi công người Pháp, cho ăn lương tháng, hồi bốn mươi năm về trước.
Tấn đã phụ họa thêm:
– Nghĩ cũng hãnh diện. Làm dân bị mất nước mà ông chủ ruộng muối ấy lại sống sang trọng hơn Tây, mướn người Tây làm đầy tớ ngược cho dân bản xứ…
Đến ngã tư, xe quẹo. Anh phu đạp chậm rãi, sát bên lề. Anh ta hỏi:
– Trưa nay thầy nghỉ ở đâu thầy?
Tấn giựt mình:
– Về nhà. Sao anh lạ vậy? Mấy ngày này chộn rộn… ra ngoài đường dạo chơi vớ vẩn, rủi bề gì tai bay họa gởi…
Anh ta nói:
– Phải chỉ thầy rảnh…
Tấn hơi hồ nghi. Chiếc xe cứ lướt tới. Đến gần đầu ngõ hẻm X… anh ta tự ý ngừng lại. Thật là mất lịch sự. Đúng ra, trước khi muốn ngừng xe vô cớ ở dọc đường, anh ta phải báo hiệu trước, xin phép người thân chủ đang ngồi trên xe. Nếu là ban đêm, có lẽ Tấn vụt chạy, nghĩ đến trường hợp anh phu xe này liên lạc với bọn bất lương. Bọn họ sẽ ào tới, giả bộ đánh anh phu xe rồi thừa cơ giựt hầu bao của Tấn.
Nhưng bây giờ là ban ngày. Anh nọ muốn điều gì?
Tấn day lại, nghiêm mặt. Anh ta cứ ung dung ngồi trên yên, hai chân ngừng đạp, tay thì thò vào túi áo trên của mình, rút ra một gói thuốc Lucky:
– Mời thầy!
Tấn đáp:
– Ủa! Cám ơn. Tôi hút rồi.
Anh ta nói miên man:
– Hút rồi… chết cũng sướng. Lát nữa, tôi nói cho thầy nghe.
Tấn hợi phập phồng. Tại sao giữa ngày “bất an” mà anh ta bàn chuyện chết? Đành rằng ở miền đất tự do mọi người đều tha hồ mua sắm, hưởng thụ nếu mình có tiền, nhưng trường hợp hút thuốc thơm, mỗi gói 28 đồng, mỗi điếu 1 đồng 4 cắc thật là đáng hồ nghi. Hút để chết? Ai giết mà anh ta chết?
Tấn nói nhanh:
– Chuyện gì mà chết sướng. Xưa nay, chết là khổ bởi vậy con người ai cũng ham sống, thà sống khổ còn hơn chết sướng. Anh nói nghe lạ quá.
Anh ta im lặng, hồi lâu mới nói mơ hồ:
– Bây giờ chưa nói được. Nói ra sớm, tôi sợ thầy phiền. Lát nữa gần tới nhà của thầy, tôi nói sau.
Tấn đâm ra sợ sệt. Hay là anh này toan rủ Tấn làm chuyện phi pháp. Tấn đặt ra trong tưởng tượng hai trường hợp vào tù: một là mua dâm, bị bắt quả tang, hai là làm quốc sự, bạo động. Anh phu xe vừa đạp, vừa ca vọng cổ, giọng ca khàn khàn, lời ca quá xưa đâu từ hồi mồ ma thực dân, lúc cô ba Bến Tre còn hát đủ 20 câu trong dĩa hiệu Béka:
– Tôi khóc đã lắm phen rồi… Sao mà hồ lệ nó chưa có được vơi, tim tôi nát tan mà tâm sự đắng cay càng thêm cay đắng…
Nghi ngờ gì nữa. Tấn đoán chắc anh phu xe muốn dắt mối, đưa người bạn đồng hương vào một ổ mãi dâm. Mấy ngày này, có lẽ nhân viên kiểm tục ít hoạt động. Một số ít phu xe đã chịu mối với các mụ Tú bà, hễ đưa khách đến, anh phu xe hưởng số tiền huê hồng nào đó.
Tấn lại thất vọng. Chiếc xe chạy chậm chậm qua đầu hẻm. Anh phu xe chẳng nói chẳng rằng. Xe đến khoảng đường vắng nhà. Bầu không khí trở nên khó chịu. Thái độ nửa úp nửa mở của anh phu xe khiến chàng phân vân. Chỉ còn giả thuyết chót. Anh phu xe này là kẻ phá hoại, toan rủ chàng giúp một tay trong âm mưu nào đó.
Từ phía sau, anh ta nói:
– Thầy à?
Tấn giật mình:
– Cái gì nữa đó!
– Dạ, hôm qua thầy có đọc báo không?
Đọc báo để làm gì? Một là tìm hiểu tình hình chánh trị trong nước, ngoài nước. Hai là xem trang trong với những mục cổ tích, tâm tình bạn gái và tiểu thuyết. Tấn nhìn quãng đường trước mặt. Đã gần tới nhà chàng rồi. Thà im lặng, tỏ thái độ kiêu căng còn hơn là đi sâu vào tâm tình anh phu xe.
Anh ta hỏi tôi:
– Thời buổi này, thầy hiểu tại sao có người giàu, kẻ nghèo không? Người ở không, vô “áp phe” đều đều, sắm cho mỗi đứa con một chiếc xe hơi đời EB, EC. Kẻ làm cháy da phỏng trán…
Đúng là luận điệu xuyên tạc, phát động căm thù.
Tấn muốn chấm dứt câu chuyên để khỏi giải thích cho anh phu xe hiểu rõ về những sai lầm của thuyết giai cấp tranh đấu:
– Anh đừng nóng nảy. Mỗi người đều có thời vận riêng. Những người khá giả như anh thấy đều đã trải qua khoảng thời gian khổ cực. Họ gặp dịp may mắn, biết dành dụm…
Anh phu xe càng đạp nhanh:
– Nhưng tại sao người khác không may mắn?
– Chuyện đó tùy số tử vi. Nên cố gắng làm ăn là hơn. Rồi dịp may sẽ đến, nhờ phước đức ông bà để lại…
Anh phu xe đáp:
– Như tôi đây, cha mẹ tôi hiền lành, tôi làm ăn cần kiệm, tại sao người khác làm giàu mau hơn tôi? Tại sao tôi không có chiếc xe “tắc xi” bốn ngựa mà cứ cam tâm đạp xe như thế này?
Mớ lý luận hỗn láo ấy nghe thật là điếc con ráy. Trong phút giây, Tấn dằn bớt sự nóng giận. Chàng tự nhủ: “Sự im lặng là vàng, lời nói là bạc”, rồi đâm ra thương hại cho anh phu xe. Anh nọ còn sống trong chân trời chật hẹp, cổ lỗ như bài ca vọng cổ, chưa hiểu những luật lệ của thời đại nguyên tử. Nếu anh ta giàu thì chắc sẽ là tay hà tiện ngu xuẩn, đem giấy bạc cất giấu trong ống trẻ, chôn dưới đất, với niềm tin sắt đá: một trăm đồng vẫn luôn luôn giữ giá một trăm đồng từ giờ phút này đến ngày tận thế. Thật ra, trên thị trường, đồng bạc có thể lên giá hoặc xuống giá.
– Thầy làm tôi tức quá! Thầy khinh tôi à?
Nói xong, anh phu xe đạp chậm. Tấn nhớ câu “dĩ hòa vi quí” nên trả lời, hạ thấp giọng:
– Ai dám khinh anh! Thời buổi này, mỗi người có một cách làm ăn riêng… Anh nên kiên nhẫn. Trước sau gì, anh cũng gặp lúc dễ thở. Đừng nói bậy nói bạ… Thiên hạ họ nghĩ anh là kẻ bất hảo…
Bỗng nhiên, anh phu xe ngừng hẳn lại. Tấn nhảy nhổm, day mặt ra phía sau. Anh phu xe cúi đầu, cười gằn, rút gói thuốc thơm Lucky, châm hút phì phà. Dịp may để Tấn từ giả anh ta. Từ đó về nhà chỉ còn chừng hai trăm thước. Tấn muốn cưốc bộ cho thảnh thơi tâm trí. Rõ ràng anh phu xe đã lợi dụng tình đồng hương, lợi dụng sự thân mật từ trước tới nay.
Anh phu xe cố ý tránh cái nhìn chòng chọc của Tấn. Tấn hiểu rằng mình đang thắng thế. Chàng rút bóp, đưa ra tấm giấy 5 đồng:
– Tôi đi bộ. Anh trở lại kiếm mối khác.
Anh phu xe lắc đầu:
– Thà tôi chết. Tôi đâu muốn đưa thầy tới đây để kiếm năm đồng. Thà tôi chết. Buồn quá. Chắc đời tôi không còn cơ hội thứ nhì. Thầy chưa tin à? Nãy giờ, tôi muốn cho thầy thấy rõ trước mắt.
Nói xong, anh ta nhảy xuống yên, tiếp tục:
– Đọc báo ngày hôm qua, tôi ăn ngũ không yên. Chỗ quen biết lâu ngày, giữa tôi với thầy, tôi muốn tỏ thật. Xin thầy đừng bắt lỗi, cho tôi quá đường đột.
– Anh cứ nói. Nãy giờ, tôi nhức đầu lắm rồi.
– Thầy ngồi trên đó hoài.
– Trên cái gì?
– Trên tấm nệm. Tôi để nó ở dưới tấm nệm.
Với bản chất tham sanh úy tử, Tấn đứng dậy, nhảy xuống đất. Đúng rồi! Anh phu xe đã cất giấu một chất nổ dưới nệm, một trái lựu đạn, thí dụ như vậy. Rủi nhà cầm quyền thấy được, ắt Tấn can tội đồng lõa.
Chàng bước ra xa, toan rút lên rồi chạy nhưng nghĩ làm vậy thì hơi khó coi.
Anh phu xe nói nhanh:
– Thầy xít lại gần đây, tôi nói riêng với thầy mà thôi. Chỗ thân tình, nếu thầy là người lạ thì tôi giấu luôn. Họ cười tôi là kẻ lắm chuyện điên khùng.
– Chuyện gì?
– Thầy dở mí nệm mà xem.
– Tôi đâu dám.
Anh phu xe bước tới gần tấm nệm, cau mày:
– Nãy giờ tôi nói dông dài, không dám chỉ rõ bằng cớ về cuộc đời của tôi, sợ thầy phiền. Cái gì bí mật, luôn luôn tôi không cho thiên hạ thấy. Tôi lỡ giấu nó dưới nệm. Mà hễ muốn lấy ra thì phải ngừng xe lại. Tôi chẳng dám làm mất thời giờ… của thầy. Chớ thời giờ của tôi thì bắt đầu từ đây… tôi sống cũng như chết.
Đôi mắt Tấn nhìn chòng chọc vào tấm nệm. Bàn tay gân guốc của anh phu xe sờ vào, dở hé lên. Anh ta cau mày.
Tấn thở dài, nhẹ nhõm. Dưới nệm xe, chẳng thấy thứ vũ khí nào hết. Nhưng anh phu xe mở tờ báo đã xếp đôi, đem ra một cái bao thơ, trao cho chàng:
– Thầy lên nệm ngồi đi rồi mở ra xem thử.
Sau khi lên yên, anh ta đạp chậm rãi. Tấn ngại ngùng. Phải chăng anh ta vừa trao cho chàng một lá truyền đơn in không cần kiểm duyệt? Tuy nhiên, đã cầm trong tay rồi, chẳng lẽ quăng bỏ. Nếu nhân viên công lực theo dõi, chàng khó bề chạy chối, kêu van.
Giọng anh phu xe như thúc hối:
– Cứ mở bao thơ ra. Thầy đừng ngại. Trong đó, chẳng có tiền bạc gì ráo. Có món khác, ngộ lắm. Hồi nào tới giờ tôi cam đoan thầy chưa thấy.
Trời ơi! Ba tấm giấy số cặp ba và một miếng giấy nhỏ thuộc loại “kết quả xổ số kỳ C” mà các nhật báo thường in tặng không cho độc giả thân mến! Tấn chưa hiểu đó là giấy số trật hay trúng. Liếc sơ qua, chàng nhận ngay: nó không dính dáng gì đến số trúng một triệu.
Anh phu xe nói thao thao bất tuyệt:
– Thấy chưa! Thầy thấy gì chưa? Trật một con số ở đầu, tôi trúng 300.000 đồng rồi. Người ta số 1, còn tôi số “dia rô”. Nói thiệt cho thầy thương, hồi tối rồi, tôi thức suốt đêm, không dám báo tin cho vợ tôi biết, sợ vợ tôi buồn rồi tức tối, gia đình đã nghèo lại gặp thêm chuyện buồn thảm. Tôi uống rượu liên miên. Tôi mua cái bao thơ, để dành 3 tấm giấy số đó làm kỷ niệm cuộc đời. Nhích một chút là đời tôi đâu phải như vầy. Từ số “dia rô” nhích qua số 1. Trời ơi! Có một chút xíu mà sao coi bộ khó quá.
Tấn cười xòa, nghĩ đến chứng bệnh nhát gan của mình. Chàng im lặng, cúi mặt. Đến đầu hẻm, chàng trả tiền rồi giao phong thơ bí mật ấy cho anh phu xe:
– Thời vận mà! Kỳ sau anh sẽ trúng. Đừng lo. Tôi mua giấy số từ năm bảy năm mà chưa lần nào may mắn như anh. Từ số “dia rô” qua số 1 mà nó không chịu qua.
Anh phu xe gật đầu:
– Vậy hả thầy hai. Tôi để dành nó ở đây. Thủng thỉnh, gặp thầy thì tôi đem ra khoe. Chẳng lẽ thầy cười tôi, người một xứ…
Tấn vào ngõ hẻm. Hai bên phố, mấy người hàng xóm đổ xô ra, chào đón:
– Thầy Hai về kìa! Có gì lạ không thầy Hai? Nghe nói ở ngoãi lộn xộn lắm. Hồi sáng tới giờ, tôi giữ chằng chằng mấy đứa nhỏ, sợ tụi nó đi bậy. Nhắm… có sao không? Ghê không thầy Hai?
Thiên hạ người nói vầy, người nói khác, nghe phát ớn. Dân tình coi bộ…
Tấn rút thuốc hút, nói như nói riêng cho mình nghe:
– Hồi nãy tới giờ tôi ở ngoài đường. Ghê lắm, tôi thấy cái chết từng chập.
Rồi chàng sực nhớ tới ba tấm giấy số:
– Hễ cái gì tới thì nhứt định sẽ tới. Còn cái gì không tới thì nhứt định không tới.
Người hai bên đường hẻm nhìn Tấn. Họ khâm phục, ngỡ Tấn là một “chánh trị gia” lão luyện. Chàng nói mơ hồ, như gần như xa. Thà là ra đường, sống bên lề còn hơn nằm co rúc ở nhà. Lần đầu tiên, trong nếp suy tư, chàng tìm ra nguồn hứng cỏn con – như con gà què dám chạy đến gốc tre, bươi đống rác, gặp con sâu bọ nhỏ:
– Tranh đấu là một sự mầu nhiệm! Từ số “dia rô” đến số 1, tuy ngắn ngủi nhưng gang tấc bé bỏng ấy quyết định tất cả vận mạng con người. Ngày nào đó nếu tất cả mọi người đều được như vậy thì… chúng ta không phải là chúng ta nữa.
Tối hôm ấy – tối thứ ba (chi tiết này rất quan trọng) – đâu vào khoảng 7 giờ, tôi đi lang thang trên đường Huỳnh Quang Tiên với ý định thăm viếng một người bạn thân thiết. Rủi thay khi tôi đến thì bạn vừa ra khỏi nhà chừng năm ba phút. Tôi đứng dưới gốc cây, hút thuốc với vẻ mặt sầu tư của con người cô độc. Thời giờ còn dư nhiều quá, giết nó bằng cách nào bây giờ? Hút thuốc được vài hơi, tôi sực nhớ tới nhiệm vụ của mình là phải… Đứng lâu một chỗ, coi kỳ quá, tôi rảo bước về phía mé sông Cầu Ông Lãnh. Quang cảnh hai bên hơi rộn rịp khác thường. Trẻ con đứng lố nhố, chỉ chỏ… Ngay cả những người lớn tuổi, những ông chủ nhà lầu, chủ biệt thự cũng ra ngoài sân, rời khỏi cổng, đi tới lui ngoài đường, nện từng bước khá mạnh, biểu lộ nỗi xao xuyến, bất mãn. Họ giận ai vậy? Thái độ dân chúng ra ngoài đường khiến tôi suy nghĩ tưởng tượng đến một biến cố… sốt dẻo vào giờ chót mà báo chí và các thông tín viên thạo tin nhứt cũng chưa biết đến. Họ đều là người lạ. Người ở hai bên dòm tôi, dòm ngó qua lại. Tôi dòm họ, mỉm cười, nụ cười lạnh nhạt, theo kiểu xã giao mơ hồ. Một bà trạc bốn mươi tuổi từ cổng biệt thự tiến tới như muốn chận đầu. Biệt thự ấy thuộc quyền sở hữu chủ của một ông chủ xuất nhập cảng danh tiếng ở đường Trần Hưng Đạo. Đích thị bà ta là vợ ông chủ.
– Xin lỗi thầy… Bà ta nói ngập ngừng.
– Chào bà.
– Dạ không có gì.
Tôi hơi thắc mắc. Nếu không có gì, tại sao bà ta đột ngột làm quen với tôi. Bà ta tiếp lời:
– Dường như thầy hơi quen với cái ông… thợ sắp chữ nhà in ở đằng kia hả?
Tôi xác nhận với tất cả dè dặt:
– Dạ, hơi quen. Thợ nhà in tôi quen nhiều người lắm. Chẳng hay bà muốn…
– Thì cái ông thợ chạy xe máy “xệp lết” ưa đi uống cà phê với ông đó.
– Dạ… ông ta gặp tai nạn?
Bà ta vung tay, đập mạnh xuống, suýt chút nữa đụng nhằm vai tôi:
– Ổng trúng số độc đắc!
Người thợ nhà in mà bà ta ám chỉ, tôi biết rồi: chính là anh Mộc, anh này nghèo lắm. Thường lệ cứ ba đôi tuần lễ, tôi ghé thăm anh một lần. Nhà anh Mộc cất trên bãi bùn, kiểu nhà sàn nhưng có lầu bằng ván thông. Việc xây lầu của anh ta rất dễ hiểu: nhà quá chật chội, không có đất để phát triển theo bề dài thì chủ nhơn tìm cách cho nhà phát triển theo bề cao với mớ vật liệu kiến trúc thuộc vào loại nhẹ. Tuy nhiên, đám con cái lủ khủ của anh Mộc thích ở tầng dưới để thỉnh thoảng chạy giỡn rồi té xuống bãi, uống nước bùn no bụng.
Tôi đứng im. Bà chủ xuất nhập cảng thúc hối:
– Ổng trúng số độc đắc rồi!
Tôi nghĩ thầm: Rõ ràng Thần tài đến viếng mọi người bất phân giai cấp, tuổi tác. Nhưng trúng số độc đắc là việc thế gian hy hữu. Nhiều người loan tin mình trúng số với mục đích đôi khi bất chánh. Tôi từng đọc báo thấy đăng người này trúng số, người kia trúng số nhưng tất cả đều xa lạ, ngoài phạm vi quen thân.
Lần này, nếu quả thật ông bạn Mộc quí hóa trúng số thì tôi được hưởng cái hên lây.
Tôi hỏi kỹ lại:
– Thưa bà! Ổng trúng thiệt hay trúng chơi?
– Trúng thiệt chớ! Trúng cá cặp, cặp đôi! Tôi nói dốc làm gì? Mới trúng hồi chiều. Ông nên lai “đằng” thăm ổng một chút.
Tôi bắt đầu sượng sùng. Thăm người bạn thân vừa trúng số cá cặp (một triệu nhân cho hai tức là hai triệu) quả là điều hơi tế nhị. “Thăm” trong trường hợp này có nghĩa là xin tiền, một kiểu xin vừa hợp lý, vừa khéo léo. “Thớt có tanh tao ruồi đỗ đến”, “Bầu cư náo thị vò nhơn vấn, phú tại lâm sơn hữu khách tầm”… vân vân… hàng chục câu thơ, câu cách ngôn hiện lên trong ký ức của tôi.
– Mình thăm như vậy coi kỳ không?
Tôi hỏi thầm như vậy rồi bỗng nhiên tìm được câu trả lời:
– Chẳng có chi gọi là kỳ hết. Bạn thân của ta… cụ thể là chưa lãnh tiền! Nghe đâu theo thủ tục, muốn lãnh triệu bạc ấy, “đương sự” cần phải đợi vài ba ngày gì đó. Đi thăm viếng trong trường hợp này, hợp lý quá. Hơn nữa, mình giả bộ như chưa hay biết tin mừng quan trọng ấy. Lời thiên hạ đồn đãi lắm khi trật kia mà.
Bàn chân tôi từ từ di động. Thích thú quá. Tôi vái trời cho thiên hạ đồn trúng như sự thật. Dịp hy hữu để tôi dò xét, sưu tầm, khảo cứu về tâm lý của người vừa trở thành triệu phú.
Con đường hẻm hiện ra bên phải, tối om. Nói là đường hẻm chớ thật ra nó chỉ là một chiếc cầu ván ọp ẹp, nếu đi không quen ắt làm rớt guốc xuống bùn. Yên tịnh quá. Khung cảnh giống hệt như ngày nào anh Mộc chưa trúng số. Vài người ra vào, thưa thớt. Tôi nghĩ thầm:
– Các cha hồi nãy phóng tin vịt. Thần Tài chưa thèm viếng cái cầu ván này.
Đến trước cửa nhà bạn Mộc, tôi thấy mấy đứa con của bạn vẫn trần truồng như thuở nào! Con nít lên năm lên bảy ra đùa giỡn hồn nhiên, nhiều đứa hễ mặc quần áo chừng vài phút là đòi cởi ra lập tức cho cơ thể khỏi bực bội.
Tôi hỏi nhanh:
– Có ba ở nhà không?
Mấy đứa “con nhà triệu phú” mỉm cười:
– Ổng mới đi chợ.
Vì là chỗ quên thân, tôi mạnh dạn mở cửa, trèo lên cái cầu thang bằng cây, ngồi bẹp trên lầu chờ đợi.
Độ nửa phút sau, ở từng dưới tiếng vợ bạn Mộc hỏi:
– Ai đó? Anh Kỳ Phong hả?
Tôi đáp:
– Tôi đây. Anh đâu rồi chị?
– Nhà tôi đi “đốc tơ”.
– Dạ bịnh gì vậy?
Tôi muốn nói luôn: Chắc trở thành triệu phú rồi mang bịnh vì thần kinh xúc động. Nhưng xung quanh tôi, chẳng có điều gì báo hiệu, chủ nhân là người triệu phú hợp pháp trong hiện tại. Mùi cá kho khô từ dưới bếp xông lên thơm thơm. Tôi ghé nhìn trộm qua kẽ hở của sàn gác. Vợ bạn Mộc đang nấu cơm với chiếc soong nhôm, thức ăn quá đơn giản. Ngoài nồi cá kho, trên bếp còn một mớ rau muống chưa luộc, vậy thôi!
– Anh đau bao tử. Bịnh mọi lần đó. Anh ngồi chờ, lát nữa ảnh về mà!
Bây giờ, tôi tin chắc trăm phần trăm rằng anh bạn Mộc không trúng số một triệu hoặc hai triệu như thiên hạ đồn đại. Nếu có, anh chỉ hưởng “lô” an ủi hai ngàn đồng hoặc trúng 100.000 đồng là cao nhứt.
Ngồi chờ lâu quá, tôi trải chiếu, nằm xuống. Bao nhiêu giả thuyết lần lượt nêu ra. Không có lửa làm sao có khói? Anh bạn Mộc vốn hiền lành, chẳng bao giờ dính dáng trong công việc làm ăn hoặc trong hệ thống tình cảm chòm xóm liên gia với bà chủ xuất nhập cảng. Nhứt định nguồn tin nó xuất phát từ một điểm hữu lý nào đó. Chẳng lẽ anh bạn Mộc lương thiện, hiền lành như cục đất lại loan tin ẩu với dụng ý làm “áp phe”? Vô lý quá. Chẳng lẽ bà chủ xuất nhập cảng và số người đứng loi nhoi ngoài đường khi nẫy lại phóng tin vịt để ám hại người lương thiện.
Mấy đứa bé chợt reo lên:
– Ba về! Ba về!
Bạn Mộc vào nhà, dựng chiếc xe máy vào vách. Tôi nghe anh hỏi vợ:
– Nẫy giờ, có ai kiếm tôi không?
– Có anh Kỳ Phong chờ trên gác đó?
Bạn Mộc reo to:
– Anh Kỳ Phong hả? Lại đây lâu mau rồi? Có chuyện gì lạ không?
“Chuyện gì lạ”! Ba tiếng nói mầu nhiệm ấy đáng lý ra phải thốt từ của miệng của tôi, đằng này anh bạn triệu phú hỏi ngược, làm như tôi là kẻ vừa trúng số cá cặp hai triệu. Thiệt ra, nếu là kẻ trúng số, chưa chắc tôi “có lòng tốt” để tìm anh Mộc nghèo nàn, xơ xác này để báo tin trước nhứt.
Bước chân anh nện rầm rầm trên cầu thang. Anh cố tình bước nhẹ để bảo vệ tài sản nhưng cả sàn gác mỏng manh yếu ớt đều rung chuyển.
Nhanh như chớp, tôi liếc xem gương mặt anh Mộc. Chẳng có gì lạ hết, vẫn nụ cười hiền hòa ngày nào. Nụ cười ấy đượm chất gượng gạo dưới vầng trán nhăn nheo.
Tôi hỏi:
– Đi đâu vậy? Đi “đốc tơ” hả?
Anh Mộc thở dài:
– “Đốc tờ” ăn hết năm chục đồng, biên thêm cái toa này đây… tốn kém thêm vài trăm.
Vừa nói, anh rút trong quần ra cái toa thuốc và một tờ nhựt báo! Tờ báo dò số hồi chiều chớ gì? Tôi lại cụt hứng vì báo ra trước khi xổ số. Kết quả xổ số in vào miếng giấy rời. Nhưng miếng giấy rời ấy đâu rồi?
Thế là tôi và bạn Mộc nằm xuống sàn gác. Bạn mở tờ báo, xem tin trong nước:
– À! Ngộ quá, trong đêm tân hôn, nàng dâu đá chàng rể té xuống giường.
Tôi hỏi lấy lệ:
– Ở đâu vậy?
– Ở Tân An. Còn nữa, bên Phi Châu người ta mới đào được bộ xương người xưa hơn 100.000 năm.
Tôi ngáp dài, thất vọng. Toàn những chuyện lạc đề. Trong giây phút, tôi muốn hỏi thẳng “Hồi chiều xổ số có ai trúng không? Số mấy ở sau chót trúng 100 đồng?” Nhưng tôi nghĩ rằng “điều tra” như vậy thiếu khéo léo. Người mà thiên hạ đồn đại trúng số đã thản nhiên chẳng chịu cung khai, báo tin cho bạn bè “chia” vui, lẽ đâu tôi lại hỏi trước, chất vấn một cách thiếu xã giao. Nhưng có chắc anh Mộc “bần cố nông” nằm mệt nhoài bên cạnh tôi đã trúng số không đã? Tôi mỉm cười, tự ban cho cái hân hạnh được nằm bên cạnh một nhà triệu phú “cá cặp đôi”. Bỗng nhiên anh bạn Mộc ngồi dậy, cởi áo, sờ trong túi hồi lâu, rồi mở bóp, nói một câu rất xa khơi:
– Nãy giờ quên mua thuốc hút chớ. Hết thuốc mà đâu có hay.
Anh rút tấm giấy năm đông và trút bốp xuống. Đồng bạc xi kên lăn tròn. Nhập tấm giấy và đồng xi kên lại, anh gọi vợ:
– Mình mua gói thuốc đỏ về hút.
“Gói thuốc sáu đồng” thuộc vào loại khiêm tốn nhứt, rẻ tiền nhứt. Chẳng lẽ nhà triệu phú ăn xài tiện tặn đến mức ấy?
Tôi hỏi một câu chung quanh vấn đề:
– Cữ này làm ăn ra sao?
Anh bạn Mộc nói tỉnh táo:
– Việc làm ăn thụt lùi, so với mấy tháng trước. Còn anh?
Bị điều tra ngược, tôi đáp:
– Đại khái, qua ngày tháng… vậy thôi.
Anh bạn cau mày, im lặng. Hồi lâu, vợ anh đi ra đầu ngõ, mua gói thuốc đem về trao nó lên:
– Thuốc nè anh.
Vừa xé bao thuốc, anh vừa lẩm bẩm:
– Người như anh, cần phải gặp dịp khá… mới sống vui vẻ, đầy đủ như thiên hạ.
Tôi chụp lấy cơ hội:
– Dịp gì bây giờ? Tôi mua giấy số, mỗi kỳ một tấm.
Anh bạn Mộc đánh xạch-xạch, vào cái bánh xe của cái hộp quẹt nhôm. Lửa nháng ra, đổ sao nhưng vẫn không cháy. Anh vẩy mạnh, kéo tim lên. Năm bảy lần sau, ngọn lửa bốc… đen kịt màu khói dầu lửa.
Trao cái hộp quẹt máy cho tôi, anh nói lẩm bẩm:
– À! Mua vé số hoài, mỗi kỳ một tấm mà anh trúng được lần nào không?
Tôi trả lời thành thật:
– Trúng lai rai.
Đôi mắt anh bỗng sáng lên:
– Trúng bao nhiêu?
– Một trăm đồng, đôi ba tháng trúng một kỳ. Chưa bao giờ tôi trúng một triệu… như thiên hạ!
Bỗng nhiên, anh bạn Mộc nằm xuống im lặng rất lâu, rồi thở phào, mệt mỏi:
– Bữa nay ngày mấy rồi hả?
Tôi níu câu hỏi ấy để “đánh mạnh”:
– Bữa nay… chiều thứ ba. Ngày “triệu phú đến nơi, chỉ mười đồng thôi, mua lấy cửa nhà, giàu sang mấy hồi”.
Làn môi anh bạn như nhếch lên cười rồi đâu trở về đó, im lìm như môi của pho tượng bằng đá!
Anh nói:
– Tôi hỏi ngày “an nam” kìa!
Rồi liếc mắt lên tấm lịch, anh tiếp lời:
– Ngày 17. Thôi, để mời anh ngày 19 tới vui với vợ chồng tôi.
– Làm gi mà vui.
Anh bạn Mộc cau mày:
– Cúng ông bà.
Mấy đứa bé đùa giỡn ầm ĩ, rượt bắt nhau rồi bò lên cầu thang, lần lượt:
– Cho tiền mua kẹo ba! Cho đi ba.
Anh bạn gật đầu:
– Tụi bây bốn đứa. Ba cho mỗi đứa… năm cắc. Hai đồng bạc đây.
Anh ngồi dậy, móc bốp, trao tiền cho đàn con rồi nói khẽ với tôi:
– Tụi nó cứ lai rai như vậy hoài.
Đã đến lúc tôi ngồi dậy, chấm dứt cuộc điều tra về nhà triệu phú hụt!
Ngoài kia, gió thổi hiu hiu, xe cộ dập dìu qua lại dọc theo hai bên bờ sông cầu Ông Lãnh.
Chiếc đồng hồ reo kêu đều đều: tích tắc, tích tắc… Kiểu đồng hồ quá xưa, mấy đốm lân tinh ẩn hiện xanh lè bên ánh đèn chong leo lét. Tôi hỏi:
– Tám giờ rồi. Đúng không?
Anh bạn Mộc đáp:
– Đúng lắm. Tôi nhớ coi… mua nó đâu hồi bốn năm qua. Kiểu đồng hồ hơi xưa nhưng máy móc và chuông reo quá tốt, còn xài tới năm sau năm nữa là ít, chưa đem đi sửa hoặc chùi dầu lần nào hết. Cứ một tuần lễ, nó chạy chậm bốn phút rưỡi.
Tôi từ giã, xuống cầu thang. Vợ anh Mộc dọn sẵn mâm cơm cá kho, rau muống:
– Mời anh ăn luôn.
Tôi đáp:
– Dạ ăn rồi.
– Sao anh ăn sớm vậy? Chị Mộc hỏi.
Anh Mộc lại câu mày:
– Ngày 19, anh nhớ nghe…
Anh tiễn chân tôi ra tận đầu ngõ hẻm.
Tôi đi vài bước rồi ngoảnh lại. Anh Mộc ở trần, đứng vẫy tay.
Vài người còn đứng hai bên đường, giương mắt theo dõi phía anh bạn Mộc. Chờ khi anh vào khuất trong ngõ hẻm, họ đến gần tôi.
Qua ngang biệt thự của vợ chồng ông chủ xuất nhập cảng, tôi hơi ngạc nhiên vì họ đứng lẩn quẩn trước cổng. Tôi cúi đầu chào. Bà chủ hỏi dồn:
– Sao, ổng trúng cá cặp hả? Tôi chờ tin tức của ông nãy giờ.
Tôi nói không chút do dự:
– Thưa ông bà, chắc là chẳng trúng gì ráo. Tôi vừa thăm ổng, vợ chồng ổng tỉnh khô, cách ăn uống, con cái của ổng như mọi ngày. Xin lỗi, chắc bà con xóm này đồn đãi trật rồi.
Lần đầu tiên, ông chủ xuất nhập cảng ngỏ lời với tôi:
– Chắc chắn ổng trúng số độc đắc. Trúng thiệt mà.
Tôi cương quyết phản đối:
– Dạ, nếu có, chắc họ trúng chừng mười ngàn là tột bực.
Ông chủ lắc đầu:
– Trúng cá cặp hai triệu. Ông có hỏi không?
– Dạ tôi không dám hỏi thẳng việc trúng số. Chỗ anh em, hỏi vậy hơi kỳ quá. Mình dám mở miệng hỏi là khi nào họ khơi mào trước. Đằng này, từ vợ chồng đến con cái, ai nấy đều tỉnh khô.
Chập sau, tôi nói tiếp:
– Đã tỉnh táo mà còn có vẻ âu lo về sanh kế hơn mấy lúc khác. Nếu trở thành triệu phú, chắc chắn vợ chồng ông vui tươi, ăn uống hơi có cá thịt hơn mọi bữa. Đặt trường hợp tôi trúng cỡ một ngàn hoặc được an ủi hai mươi ngàn tôi hò hét, mua rượu về nhậu om sòm chớ làm sao giấu kín nỗi vui mừng cho được?
Ông chủ xuất nhập cảng mỉm cười:
– Ông nói sao chớ tôi tin chắc trăm phần trăm rằng ổng trúng số độc đắc, căn cứ vào thái đó tỉnh táo, âu lo, ăn uống kham khổ ấy. Nè, ông hiểu không? Điều này tôi xin lỗi… vì ông còn quá trẻ.
Tôi nhướng mắt, tò mò muốn cho ông chủ xuất nhập cảng nói hết ý kiến:
– Thưa ông, tôi sẵn sàng tôn trọng ý kiến của người lớn tuổi và đã thành công quá nhiều trên đường đời như ông.
Ông chủ xuất nhập cảng lại cười:
– Cám ơn, ông quá khen. Nhưng mà… theo kinh nghiệm, tôi thấy như vầy. Hễ trúng số một ngàn, mình hò hét, khoe khoang với anh em chòm xóm, niềm vui của mình được trọn vẹn, cởi mở. Còn nếu trúng một đôi triệu, mình trở nên con người khác… vừa lo lắng, vừa sợ sệt cho tương lai. Rồi đây hàng trăm người bà con xa, bà con gần tới thăm viếng, mình nhức đầu chưa biết đền ơn trả nghĩa mọi người chừng mấy trăm hoặc mấy “ghim” cho trọn vẹn. Lại còn hàng trăm kế hoạch làm ăn, kế hoạch nào cũng hay nhưng đồng thời cũng dở, không khéo chừng một năm sau tiền bạc tiêu tan ráo trọi, thiên hạ cười cho rằng “cốt khỉ hườn trở lại cốt khỉ”.
Tôi gật đầu, gẫm lời nói của ông chủ xuất nhập cảng hơi có lý. Tôi chưa tin vội. Ông có gia sản đáng giá bạc triệu thật đấy, nhưng ông chưa ắt đã từng trải qua tâm trạng của người trúng số một triệu.
Đoán được nỗi thắc mắc của tôi, ông nói tiếp:
– Tôi biết ông chưa tin lời của tôi. Tôi cam đoan trăm phần trăm rằng ông bạn ấy đã trúng số độc đắc rồi đó. Người hàng xóm thấy rõ lúc ổng đang nghe “ra dô” dò số. Ổng la lên một tiếng rồi im phăng phắc không thèm tri hô tiếng thứ nhì. Sau đó, ổng hơi nhăn nhó mặt mày. Thôi, chào ông. Mai chiều, ông điều tra kỹ lại rồi cho biết tôi nói đúng hay sai… nếu khi nào ông có dịp qua đây.
Tôi về nhà đọc sách, uống cà phê, quên mất cái tin trúng số độc đắc nọ. Tôi cho rằng người hàng xóm thấy thấp thoáng con gà bay rồi tri hô… con phụng hoàng. Vài hôm sau, nhân đọc tờ nhật báo nọ, tôi trố mắt bắt gặp bức ảnh ông bạn Mộc đang cầu chứng “một cột” với lời chú thích “nhà tân triệu phú” nơi mục tin vặt trong nước.
Ông chủ xuất nhập cảng nọ quả là ông thánh sống! Tôi muốn trở lại biệt thự để ngỏ lời khâm phục sát đất ông ta. Nhưng trở lại làm gì nữa. Ông ta chắc chắn đã đọc tờ báo ấy hoặc nghe những độc giả ở lối xóm đồn đãi rùm beng rồi.
Lâu lâu một lần là tựa dùng đặt cho mục thư tín. Hiểu ra, năm khi mười hoạ người ta mới viết thư hỏi han nhau. Lời lẽ gay cấn thì đưa ra cùng chia sẻ. Vụ này chắc khác với lời đàm thoại xởi lởi “lông thai nô xi”, nhỉ?
Cơm nước xong, xem hết vở hài kịch trên TV, chồng nói khuya rồi vào ngủ em. Vợ nghe lời, lên giường sửa gối chăn xong liền chép miệng: Hay là mình… lâu lâu một lần…
Trong mọi tình huống, lâu lâu một lần vẫn chứa đủ cái khác thường, bởi nếu đều đặn, chuyên cần vận hành suông sẻ thì đã không “than thở” tới vấn nạn thời gian. Lâu đến nỗi chẳng thèm nhớ tới lần cuối chúng mình gặp nhau là tháng mấy, năm nào?
Tuy vậy, lâu lâu một lần cũng tựa như lô an ủi, có còn hơn không. Đừng quay mặt bỏ đi biền biệt chẳng ư hử, hãy nhớ lâu lâu nên tạt về nhìn lại mặt nhau chuyện trò, dẫu bâng quơ. Hàn Mặc Tử từng có thơ:
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên…
Chẳng trách móc nhắc nhở: Lâu quá rồi, bộ tính bỏ Huế mà đi luôn hay răng? Lâu lâu một lần tôi ghé thăm người ấy, theo gió San Jose về lần khân bên thềm. Tôi luôn bị xem là thằng nhà quê, thúc thủ nỗi dại chưa đi một ngày đàng. Đôi khi Gió O là thôn Vĩ của tôi (tưởng tượng dù trong tưởng tượng) ở đó từng hiện mọc từng đọt nắng mới, dòng sông, hoa bắp lay, hoặc một chuyến đò chở kịp trăng về tối nay. Những quý vị nữ lưu văn hay chữ tốt đi kèm với dung mạo xinh tươi mà năm tháng lâu-lâu-một-lần không khiến họ phải già cỗi. Thơ văn mà, làm sao định được tuổi tác? Từ nắng hàng cau đến nắng rám quả cam, chín hồng trái bưởi, họ già dặn trong cõi viết và mộng thắm cùng văn chương. Nhưng…
Mùa này đang diễn ra cuộc so giày sôi nổi, đầy kịch tính lẫn oan nghiệt của các mỹ nhân khắp năm châu bốn bể quần tụ trên sân cỏ, vận hội được mang tên “FIFA Women’s World Cup 2019” tại France. Đã women, đã là bóng hồng thì cuộc chơi cũng vấp phải ít nhiều trở ngại. Xa chồng thương con nhỏ ở lại nhà thì chẳng nói làm gì, vì tối lên giường ở khách sạn có thể mở máy ra, bắt sóng tỉ tê tâm sự suốt năm canh. Đằng này áo xống hẳn hoi, mang vớ xỏ giày rồi nhưng nhăn nhó mặt hoa da phấn rỉ tai coach: Kẹt ghê nơi, em chơi hổng đặng đâu nha, bị em đang có tháng.
Có tháng là chi? Thanh niên thật thà như đếm cần được “giáo dục” tại chỗ: Mày khờ quá nha, tiền đạo ấy bị kinh nguyệt hành sợ dẫn banh đi phá lưới không được đâu à nhen. Ác vừa vừa thôi, cho con người ta ngồi ở ghế dự bị suốt hai hiệp cho êm, hạ hồi phân giải.
Ở lãnh vực văn chương, từ đầu thập niên 80 xuất hiện một đội ngũ quý cô quý bà đánh đấm ra trò, thơ văn hay dàng trời, lẫy lừng muốn qua mặt đám mày râu không thèm bóp còi (và bóp cái khác). Nhưng dần dà, lần hồi hết chị này đến chị khác… “bị có tháng”. Chồng khuyên: Thôi em đừng hành xác chơi trò vô bổ nữa, con đang mè nheo kìa, vén áo cho nó bú chút chít đặng êm ấm cửa nhà, yên bề gia thất. Lại có đại trượng phu khác ngôn: Anh hăm thik diệc em mần thơ đâu á. Chít mẹ rùi, sao lóng rày có nhìu thằng tán tỉnh em wá. Túm lợi là hỏng mún đâu nha. Nôm na: Vợ bỏ bê trách nhiệm, hết đảm đang. Người tình ra mắt sách, có khối thằng đàn ông xúm lại bu như sam. Ghen. Sợ một mai con sáo sổ lồng sáo bay. Sợ tiếc sợi dây dài lỡ cột vào chiếc gàu bên thành giếng cạn.
Thêm vô vàn chuyện “nghĩ không ra” tác động vào và như vậy, những bóng hồng, những cau, cam, bưởi đã âm thầm như trái sầu riêng lặng lẽ rụng xuống vườn khuya, thôi lâu lâu một lần mang hương mùi cũ về xông lại bên đám cỏ sầu héo mọc hàng giậu thưa, tương tư.
Sau đàng chị, lớp đàn em cỡi voi ra trận tiền. Con cháu hai bà nổi lên một mỹ nhân chung quê Gò Công với Nam Phương Hoàng Hậu: Trangđài Glassey-Trầnguyễn. Nàng xuống tấn, thi triển bao đường quyền huê dạng rồi đùng một cái, nàng nghỉ chơi. Nàng “xếp áo xống, buông gương lược để dành hơi”? Nàng còn ngụ ở khu “Bonsai” California hay nàng giỏi chân xuôi đổ xứ lắm cây xanh thơ mộng quê quán chàng? Tôi chờ tôi đợi viễn ảnh “em về điểm phấn tô son lại, ngạo với nhân gian một nụ cười” nhưng mô có thấy. Răng lạ rứa? Chớ bi chừ em ở nơi đâu? “Cỏ trên mình mẩy em sầu ra sao?” (BG).
Tôi định viết thư lâu lâu một lần để hỏi thăm nhà thơ Lê Thị Huệ về những khoảng trống đáng phàn nàn, về sự vắng mặt chẳng đáng có; nhưng nghĩ lại cái thét mét ấy hơi bị vô duyên. Mọi sự diễn ra, đến rồi đi, cứ nên xem đó chỉ là một cơn gió tình cờ thổi qua. Gió nâng những cánh diều bay lên, bay cao. Gió cũng mang theo mưa tạt, đầm đìa bao cánh hoa vừa hé nụ, rời rã. Gió va vào thái dương gây ra bệnh nhức đầu ớn lạnh, kêu bằng trúng gió. Đau răng mà chết? Dạ, khi không mà trúng gió, nằm thẳng cù đèo, ngủm củ tỏi, chết nhăn răng, bất đắc kỳ tử.
Gió, do vậy, tự thân đã mang đủ cái vô thường. Đàn ông lắm khi cũng nhác chơi, có tháng. Trăng là nguyệt, trăng rằm hoặc nguyệt khuyết. Mấy thằng người sói khi “có tháng” thì tự nhiên lông mọc tràn đầy, ngước mặt trông trăng mà rú lên. Không vô thường thì còn gì nữa? Lâu lâu một lần, quởn tôi xem báo điện tử trong nước, đọc phải bao điều thất thường, hơn cả vô thường, bà con cô bác ở biển ngoài có vị chắc chưa tường, lai rai thuật lại:
Bệnh nhân ở Cà Mau bị tai nạn lao động, chẩn đoán gãy đột sống ngực số 8. Đưa về bệnh viện Chợ Rẫy ở TPHCM điều trị, bị khoan nhầm cẳng chân. Chuyện (có vẻ đùa) sau đó được kể lại: Bác sĩ chuẩn bị đưa máy khoan vào chân bệnh nhân, tôi nghe anh ấy hét to: “Khoan…” Thế thì tôi phải khoan thôi! (Ông bác sĩ này thuộc dạng “phải gió”, ra đường em gặp thằng phải gió nó đè em ra, nó chơi!)
Lại chuyện nhức đầu khác: Ngày 20 tháng 6 vừa qua, toà án nhân dân huyện Quế Sơn, Quảng Nam đã tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn Phước, sinh năm 1973, 3 năm tù vì tội trộm cắp tài sản. Đứng trước vành móng ngựa, bị can thành thật khai báo: Thưa quý toà, số tiền đó tôi đánh cắp trong tủ mẹ ruột để mang cho bà mẹ vợ, vì hoàn cảnh bả đáng thương hơn!
Tôi không học luật, chẳng hiểu mô tê gì cả, nhưng cá nhân tôi dù không bị trúng gió cũng lấy làm cắn rức lương tâm khi nghe tội phạm nhận bản án là 3 năm tù. Anh ta tuy bất hiếu với mẹ này lại có hiếu với mẹ khác. Lý ra bị cáo ấy nên tự bào chữa: Quý toà chưa nghe câu “nhất vợ nhì trời” hay sao? Huống hồ người nhận tiền là mẹ vợ (đẻ ra bà trời). Bà Nguyễn Thị Kim Ngân có trên 300 bộ áo dài, một bộ giá không dưới 100 triệu. Chẳng hiểu bà ấy có được mấy thằng con rể ngon lành như tôi?
300 bộ áo dài (vì sao báo đưa tin lại dùng thêm chữ bộ, ý nói là áo dài với quần dài là một cặp đồng nhất?). Nếu trong tủ bạn sở hữu tới chừng đó áo dài, một ngày kia bạn đứng săm soi, chảnh với gương soi, chắc bạn sẽ nói: Lâu lâu một lần ta mới đụng tới chiếc áo ni. Ui thui, dạo này vòng số hai sao bành trướng chết khiếp, mặc hổng vô rồi. Chuyện nhỏ! Bụng to cũng có nét xếch-xi của bụng to vậy. Không ấy, tìm lựa chiếc áo khác, rộng rãi thông thoáng một tẹo mà thử cài khuy xem sao.
Tôi cũng xin “cài khuy” bài tản mạn dấm dớ này lại để thưa: Các nhà văn nữ thân mến, hãy vui chân trở lại vườn xưa. Cho dù hình hài bạn thay đổi đến cỡ nào đi chẳng nữa, tôi vẫn thuỷ chung ôm giữ một định kiến: Biu-ti-fùn. Lâu (vơ) ly. Tôi rất lấy làm hân hoan khi đọc phải tâm tình bạn dàn trải ra. Bởi xin bạn hiểu cho, dù sao chúng ta cũng có một thời là kẻ đồng hành, tuy chẳng nắm tay nhưng vẫn sát vai đi cày xới những luống đất lạ, nơi treo tấm bảng ngoài vùng đặc khu: “Văn chương hải ngoại”. Lâu lâu một lần, nhé. (Nhìn mặt nhau hoài thì cũng bất tiện?)
Chẳng rõ người chủ biên trang Gió- O có đồng thuận để đăng bài tâm sự vu vơ của kẻ hèn này lên không? Thì cũng lâu lâu một lần vậy mà. Bận sau sẽ tiếp tục nán lại lâu lâu.
Hằng năm cứ vào tháng Tư, ai đó diễu nhại, lá trên đường đổi sắc đỏ và dân Mít lại đổ lệ nhiều. Hơn cả ung thư, có những mầm bệnh mà y khoa đầu hàng thua cuộc buông xuôi phó mặc cho huyền nhiệm. Tới bến bờ hay đắm mình giữa trùng khơi hoạn nạn, chưa khi nao ảnh Chúa tượng Phật lại có cớ lạm dụng hơn thế, mang ra làm lộ phí giữa mê muội hành hương. Có những cảnh đời bày biện đẩy con người chạy làng như quyết định tối hậu, có những cánh cửa mãi đóng chặt then cài và kẻ đứng ngoài ngớ ngẩn lầm bầm đọc vụng ca dao “bầu ơi thương lấy bí cùng”.
Anh và tôi chung một giàn nhưng điều ấy nào sá gì cho toan tính kèn cựa, giở trang sách xưa để gầm mặt vào hàng chữ gạch đít “người ta phải cố gắng để không chết hai lần”. Vượt qua hoạn nạn duy chỉ một lần, xoá nhanh đoạn phim ảm đạm để làm cá hồi ngược dòng về lại chốn xưa. Ví phỏng đường đời bằng phẳng mãi, anh hơn tôi thần sầu ở chỗ còn nghe ra tiếng gọi cố hương. Một con cá hồi, nghe người ta khuyên bảo chí ít một tuần phải ăn hai lần vì thịt nó chứa nhiều nguồn dinh dưỡng, chất omega 3 các thứ. Cá hồi về tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn. Nghe như chân lý, giống thứ chân lý từng có thời đắc địa “dù xăng có cạn lốp có mòn, thì số sườn số máy vẫn không hề thay đổi”.
Email bạn gửi rơi vào hòm thư: Quyết định dài hơn một mùa đông, ngày đầu xuân luôn gợn bao nhăn lòng, tháng tư mình về ngó lại mộ Mạ, chị dúi cho em ba ngàn lận lưng, ăn tiêu dè xẻn chứ đừng dại ngỗ nghe lời ma nữ, chớ tâm đắc câu “trời đãi kẻ khù khờ” mà mang hoạ vào thân, chụp toàn bộ núi đồi khu “nhà Mạ ở”, mang về cho chị xem thôi mộng mị quàng xiên, chuyến bay đêm quờ quạng đâm mây đặc, nếu lạc phi trình thì đến thế giới bên kia, ông bà cha mẹ chắc thôi quỡn, gọi mình về nhìn mặt mà ích gì, hộp đen mình để hộc trên đầu, mở ra chỉ toàn tư trang bèo nhèo phận di dân, mất tổ quốc từ lúc xanh đầu, nhớ và quên như ba lá bài oái oăm luôn đổi chỗ, mình xuống tới mặt đất không sức hút, trùng vây bao chuyện lạ giữa phố xưa, hai hàng cây đã bỏ trốn đi đâu, bạc nhược người trồng chân rát nắng vàng, kỷ niệm không xôn xao chùm lá xanh, người già trơ như vết rạn bấu cổ thành, mình không gặp ai quen thân sơ làm cây chùm gửi, hoa hổ ngươi chỉ lầm lủi ngó ra cậu bé ngày nào ham bắt ve sầu, hắn thả diều chán lại đá banh trên đồi trọc, đi tắm sông và đỏ mặt khi có gái đứng kề, thoáng hối hận bao trùm giây phút đó, chẳng gì xốn xang bằng hắn là kẻ lạ chính trên quê hương…
Là Ca-na-điên chắc bạn sẽ an toàn xa lộ, đứa tỉnh táo mới rước phiền não thường hằng. Nếu hắn biết tìm chỗ thư giãn, a tới z thì bợn lòng sẽ đổ biển trôi sông. Ví dầu đọc phải bảng hiệu “Cô chủ mồ côi” treo trước túp lều tranh trơ trọi trên quốc lộ, ai cầm lòng cho đậu để một mất một còn trong trận chiến đấu tranh tư tưởng? Với ba ngàn tiền như lá mùa thu mà cố quận gọi nhiều như quân Nguyên thì làm hoàng thượng cũng dễ, sá chi duy chỉ một cung tần. Bây đâu, kíp gọi thêm cho trẫm, bản thân ta rất dị ứng chữ mồ côi. Thêm thay nhà nước đang đề xuất an toàn thực phẩm vệ sinh nơi ở, ta không thích than: Long thể bất an vì long sàng có rệp! Ngứa ngáy mình mẫy sẽ nhắc trẫm nhớ lại chuyện xịt thuốc khử trùng ngày đầu chân dẫm lên bờ cõi tự do. Ôi thôi, sông có khúc người có lúc. Lúc đó ta rách nát thảm thương như thế nào em có hay? Y phục toe tua chẳng nhìn ra manh áo, ta đói khổ dơ xương làm mủi lòng người Liên hiệp quốc. Ác quỷ vẫn trốn dưới giường nhưng hàng đêm thiên thần siêng về, đừng sợ hãi những gì chúng thì thào, có ta hiện hữu là biểu tượng một bình minh chan hoà bao vầng quang. Mặt trời sưởi ấm, xua tan mọi giá băng ngươi nhiễm lạnh, hãy cùng ta hát bài ca ngợi tự do phút đổi đời.
Đừng nghe những gì trẫm nói hôm nay mà hãy nhìn con người trẫm ba chục năm về trước. Xốn xang lắm mẫu hậu ơi! Đó là lời trần tình chẳng phải ai cũng thốt ra được. Con người ưa dấu che quá khứ, càng đen tối càng ưa bưng bít thông tin. Xã hội chủ nghĩa mãi ngăn chận tiếng ong ve, họ hổng ưa văn minh nhân loại ngó xuyên suốt luỹ tre làng cũng chẳng phải thuộc dạng khó hiểu. Chớ lấy đó làm điều nên hàng năm Việt kiều búa xua đổ về từ hang cùng ngõ hẹp. Ăn chơi còn sợ mưa rơi nên anh cứ kiếm cách bào chữa cho bận áo gấm về làng. Ừ, thì vạn bất đắc dĩ thôi, cứ giả dại nhắm mắt trước bao điều ngang ngược thì cũng kinh qua. Và họ lập luận, đất nước bi chừ thay đổi dữ lắm. Cứ vô tư ăn chơi tới bến, miễn là anh đừng đá động tới chính chị chính em. Trăm năm trong cõi người ta, Thuý Kiều là chị em là Thuý Vân. Bán mình chuộc cha, cái vận số nọ không liên quan tới chính trị sao? Oải hết biết. Đã mang cái nghiệp vào thân, Việt kiều nhiều hạng khéo là ghét nhau.
Tuy không phản hồi, bạn vẫn tiếp gửi điện thư, thư không suông văn vẻ vần vè tuồng như do tâm cảm chịu nhiều nếp gấp dồn cục gò đống. Hỗn mang nỗi niềm: Mình tình cờ gặp lại cô bạn học khi xưa, đã chồng con và nhan sắc là trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn, một dung mạo đang đi- tới-cuối-tháng-Tư. Cô rộng lòng dắt về nhà làm cơm khao đãi ôn lại bao bể dâu sông kia rày đã nên đồng. Chồng công tác việc cơ quan ngoài thủ đô, con trai lấy vợ xa nhà, duy chỉ mình đứa con gái 17 tuổi là sớm tối kề cận mẹ hiền. Hai mẹ con tươi như hoa khi được tưới nước, họ dắt mình đi chợ tham quan cho biết sự tình thời giá sinh hoạt. Phút đầu ngại ngần nhưng sau họ thuận lòng cho mình chi trả sở hụi bữa cơm gia đình với phí tổn dễ chịu gần hai trăm đô. Ăn uống thoả thuê, mình thành thật khai báo là ở trọ trong khách sạn 3 sao nằm bên sông và mục đích lần về chẳng có gì to tát ngoài việc thăm lại mồ mả cha mẹ, nếu thấy xuống cấp thì kíp phải chỉnh trang ngó sao cho đặng như sự uỷ thác của người chị.
Bạn gửi theo sau là bốn tấm ảnh ghi lại cảnh quang, mặt tiền căn nhà ấy cũng như sơn hào hải vị nằm trên bàn tiệc. Ảnh hai mẹ con và ảnh bạn đứng sát sao bên người có duyên năng tương ngộ. Trông bạn có gầy đi chút đỉnh, đen đúa chút đỉnh, bơ phờ chút đỉnh mặc dù trong thư bạn không viết “mình là con cá nước ngọt rơi vô vùng thuỷ triều có pha muối”. Người đóng vai mẹ hẳn trạc tuổi bạn hoặc kém đôi ba năm. Vào tuổi 55, giả dụ thế, đàn bà hầu như chẳng còn biết định vị đâu là vòng 1, vòng 2, vòng 3 bởi người trong ảnh sở hữu cả ba vòng đều nhau, rất chuẩn. Chẳng có vòng nào ăn hiếp vòng nào cả, đề huề sống chung hoà bình. Riêng con bé 17 tuổi thì khác, nhìn là biết nó được mẹ nuông chiều rất mực. Mẹ mà nghiêm khắc chút đỉnh, mẹ sẽ van lơn, nhà đang có khách quý, nhất là khách đờn ông lão làng, con nên kíp thay chiếc áo khác ngó cho tử tế. Ăn vận kiểu đó mà con sơ ý thì sẽ lộ hàng mất. 17 thôi mà, sao nó chóng “trưởng thành” đến nhường ấy? Đứng đối diện ở cự ly gần, hai hòn đảo của nó có cớ để thổn thức truyền sóng nhấp nhô vào ngực thằng đàn ông luôn xao động. Thằng đàn ông sẽ dùng mọi thủ đoạn để chiếm đoạt chủ quyền hoặc không, nó sẽ niệm Phật để quay đầu vào bờ diệt ngay sắc dục tà ma đen tối.
Tôi viết thư đáp trả: Ông về thăm lại mồ đấng sinh thành khiến tôi cắc cớ nhớ một chuyện tiếu xằng bậy: Một bà mẹ nhắn cậu con mưu sinh ở thị thành gửi về ngay cho tao tấm ảnh trông mặt đỡ nhớ. Thằng con trai trót làm nghề vũ khoả thân nên toàn cả ảnh “đồi truỵ”, buộc lòng phải cắt hai tấm ảnh rồi gửi mẹ phần “tử tế” phía trên. Đãng trí sao khi dán kín phong thư cậu ta bỏ lộn “cái mất mỹ thuật” kia vào. Thư đến tay mẹ, bóc ra xem: Mẹ mày chứ, chốn phồn hoa đô hội phồn vinh giả tạo đã tác hại quá lắm làm thay đổi người ngợm, còn bày đặc đua đòi theo chúng bạn nuôi râu ria rậm rạp, nhưng nhờ trời tao còn nhìn ra mày, không sai trật do bởi cái mũi rất cao giống y như thằng bố mày.
Tôi hỏi ông tính chừng nào trở lại, chẳng nhẽ ở lại cùng chúng sinh chật vật ăn mừng ngày 30 tháng 4 “đình đám”. Đừng mắng tôi là đồ đểu, nhé.
Đôi ba hôm sau lại dán thông báo lên màn hình: Bạn hiền, mình vừa tai qua nạn khỏi. Tối hôm đó con bé Nguyệt 17 tuổi phổng phao kia đến tìm mình ở khách sạn, hình như nó vừa đi hát karaoke về và dường như nó vừa chơi qua hàng quốc cấm. Người nó say thuốc, dật dờ, nó nói con buồn nản cuộc đời, con đéo thích sống trong cái phố phường bưng bít này, ra đường đụng chạm với những thứ bất ưng. Chỉ có chú là người có khả năng chắp vào thân con đôi cánh rộng. Bay đi, bay đi. Mặc giông bão, mặc oan trái, mặc cuối trời là bến đậu chênh vênh. Nó tự trút bỏ áo xống và buông thân xuống mặt nệm luôn tuồng nói nhảm. Chú chơi con đi. Con còn trinh, chú tin không? Cửa phòng lúc ấy quên khoá, cửa mở và cô bạn mình xuất hiện. Cô mắng nhiếc mình thậm tệ bằng thứ ngôn ngữ của một đứa đầu đường xó chợ. Cô la hét trời sầu đất thảm và đánh động thằng người bảo vệ khách sạn chạy ùa vào. Có sự cố gì xẩy ra ở đây? Ông Việt kiều này đã dụ dỗ con tôi, gái vị thành niên vào đây để mưu toan xâm hại nó. Cần tôi gọi công an để trình báo không? Chuyện nhục nhã này tôi không muốn người ta lùm xùm lôi lên mặt báo, anh làm nhân chứng, tạm thời hãy để chúng tôi thương lượng trước xem.
Bạn hiền, kết quả của thứ “hiệp định ngưng bắn” giữa hai bên là mình phải mất đi một ngàn đô để vụ việc chìm xuồng, mất năm trăm đô để mẹ mang con qua bệnh viện xét nghiệm cửa mình. Nếu lời thề mình chưa đút đầu vào biên ải hớ hênh kia là điều khó tin thì tổn thất ngân lượng sẽ hạ hồi phân giải. Bà mẹ giàu kinh nghiệm ứng xử kia biểu mình bôi trơn anh bảo vệ năm mươi đô tiền trà nước xem như chả có chuyện gì xẩy ra cả, chưa rụng một sợi lông. Và như thế, nói kiểu mấy dạy là giả như mình muốn chỉnh trang mộ Mạ mình thì lục soạn các túi quần chẳng còn một xu lận lưng. Mình nghe văng vẳng như tiếng Mạ nói: Tiền mất mà tật không mang là phước đức ba đời để lại đó con. Ca cẩm nỗi gì cho mất mặt bầu cua cá cọp nai gà.
Tháng Tư, chỗ này tuyết chưa tan, đau con mắt nhìn nó phản quang dưới nắng. Hai hàng cây vẫn thế, khẳng khiu chưa đâm chồi trên cành run rẩy. Và gió lộng thổi, chở theo giá băng từ Bắc cực đổ tràn trên những con lộ trắng mốc. Nguôi ngoai, rũ bỏ niệm sầu khi ngước mặt trời xanh nhìn ra từng đàn chim di làm mũi tên đen bay vội gửi xuống vô ngôn một tin nhắn bất diệt “đất lành chim đậu”.
Ba hôm nữa tôi sẽ ra phi trường đón một người trở lại từ vùng đất dữ. Bạn tôi có ăn có học, nó tuyệt không biết nói tục, một chữ chửi thề chẳng biết bẻ đôi. Vậy mà giờ đây, trong email bạn loan báo chuyến bay còn thòng thêm cơ man nào những từ cấm kị cỡ cứt, đái. Tôi đã làm một phép tính đơn giản, nó chứa tới năm lần chữ đê em mờ, còn khốn nạn với chó má thì tôi kể ra làm gì cho… tốn giấy!
Thân bằng quyến thuộc, mười người hết chín, trách tôi bạc lòng, vụng về cư xử. Cúi đầu nhận tội, thành tâm sám hối, diện bích bóng đêm, câu kinh lướt trôi, khói nhang còn vướng: “Đệ tử vốn tạo các vọng nghiệp, đều do vô thỉ tham sân si…”
Ông ngoại mấy cháu qua đời hôm mồng sáu Tết, chẳng xem được thế vận mùa đông, ở Sochi. Năm vòng tròn có cái bạc mệnh nhác chơi để phơi bày bốn vòng kỳ cục, mặc dù khẩu hiệu ban tổ chức đề xuất khá ấn tượng: Hot. Cool. Yours. Chúng ta cuối cùng đều đi tới đích nhưng thảy chẳng có một huy chương tròng vào cổ. Những vận động viên bạc nhược dẫm bước trên lằn vôi chót, thở không ra hơi. Cũng có trao hoa, nhưng hoa kết vòng hoành tráng với hàng chữ thấy choáng “Thành kính phân ưu”.
Những ngày ấy trời cau có thở hàn khí làm co ro. Ngoại cảnh vụn vằn bông tuyết cào xới và trong nhà quàn cũng ủ dột toàn cả sắc xám, trắng, đen. Cực buốt giá. Không dưng nhớ hai câu trong bài Hoa Gạo của Thâm Tâm: “Lòng ai bầm tím, ai buồn tối. Cũng tại rừng đời lạc lối ra”. Tôi ngồi ngó ánh nến nhảy múa, ngó khói nhang nhợt nhạt và thấy cuộc đời đã vây khổn bằng tất cả những hoạn nạn luôn phục sẵn, chẳng bày lối ra. Hay ra đi là cách thế, là phương án cuối cùng, mà kinh sách gọi là giải thoát.
Có kẻ nào đó nói: Khi người ta khóc, giọt lệ đầu tiên ứa ra bên mắt phải, đó là sự hoan lạc. Nếu nó lăn đổ từ mắt trái, đấy chính là niềm khổ đau. Nếu điều đó đúng thì mắt phải chúng tôi luôn khô hạn, không như một đôi người trong đội tuyển Hockey nữ đã đưa tay gạt lệ con mắt phải hôm đánh thắng đội Mỹ để đoạt lấy huy chương vàng. Quốc ca trỗi lên. Oh Canada. Cờ lá phong kéo lên và vô vàn con mắt đỏ úng thuỷ ngước nhìn với niềm tự hào ngập ngụa. Khóc, không cứ là bạn đang đối mặt với niềm đau. Sao ông Bùi Giáng rành sáu câu quá! “Còn hai con mắt khóc người một con”.
Thôi em ạ, nước đã chảy qua cầu và mây đang trôi về cố quận. Hãy làm cách nào để cho đôi mắt được quân bình trong động từ tuôn chảy lệ trào. Cứ hành hạ, cứ bóc lột con mắt trái quá nghĩ cũng xốn lòng thót dạ, chịu đời chi thấu. Cụ bao nhiêu tuổi? Dạ, tám tư. Thôi, cũng tròn đầy. Tui chủ trương nhiêu đó đủ rồi. Cụ bệnh gì? Dạ, hổng bệnh. Bị lỗ tai ổng rất thính, ổng nghe trời kêu thì ổng dạ, có thế thôi. Cung kính không bằng phụng mạng và ông chắp tay không kịp ngoái đầu thốt lời từ biệt. Và như vậy tứ thân phụ mẫu của tôi lần lượt ra đi, chẳng còn ai sớm tối hàn huyên chuyện đất mẹ, chuyện nước người, chuyện Father land.
Cám ơn bài thơ của hoạ sĩ Đinh Cường có đôi dòng loan tin. Cám ơn nhà thơ Luân Hoán đã trách móc chuyện ém tin buồn. Cám ơn nhà văn Song Thao đã điện đàm chia sẻ. Mỗi tối lên giường, tôi không xác quyết được là mình có bừng tỉnh vào sáng hôm sau, tuy vậy tôi vẫn để chuông báo thức 6 AM. Việc đó nên xem là một sự kỳ vọng.
Thức giấc, đi làm, ăn, ngủ. Rõ là “rừng đời lạc lối ra”. Buồn không, cái vấn nạn lẩn quẩn ấy? Bởi thế bao giờ có tin vui tôi sẽ tứng lừng lựng mà khấp báo náo động thiên cung. Chứ tang gia thì buồn quá mạng, biết nói năng chi. Xin niệm tình tha thứ.
Nhứt thành thượng đạt, vạn tội băng tiêu, nguyện hương linh đắc độ cao siêu, kỳ gia quyến hàm triêm lợi lạc.
Đà Nẵng đã chìm sâu vào đêm cuối hạ. Cơn gió heo may khe khẽ se lạnh, như gọi buồn vào thu. Tôi ngồi co rúm trên băng giữa chiếc xe đò chạy tuyến đường xa. Chung quanh bến, ngã ba Cai Lang, khu phố cũ im lìm với những hàng me già lặng lẽ, không người qua lại, vắng cả tiếng rao lanh lảnh của các cô gái bán hàng rong những tháng năm nhộn nhịp.
Tôi cố dỗ giấc ngủ mà không tài nào chợp mất, dù đã bao đêm thức trọn để lo cho chuyến đi phiêu phỏng này, và có ý ngóng đợi chị Miên từ Miếu Bông ra thăm. Con đường nhựa dưới ánh đèn lung linh, cơ hồ các đóm lửa ma trơi, xa tắp về hướng Phú Lộc, một địa danh khó quên, nơi mới hôm nào là hậu cứ của các Thiên Thần Mũ Nâu từng oanh oanh liệt liệt. Lòng tôi se lại.
Hỡi anh em, các chiến sĩ Biệt Động gan đồng dạ sắt! Nào Trung và Xá thân yêu, nào Hòa, Thiều, Cường, Hiệp, Thuận, Cát của hồn thiêng sông núi? Các bạn đã về đâu trên bước đường cùng sa cơ thất thế? Ai còn, ai mất, ai thân tàn ma dại trong tay giặc, vất vưởng lưu đày? Ơi súng gươm, máu đổ hận thù nhuộm đỏ Khe Sanh, Sa Huỳnh, Quảng Trị… Hình ảnh các anh, hình ảnh nào tôi cũng nhớ cũng thương, đang quay cuồng như bão táp lòng người thua cuộc.
Nhìn xa xa, bên kia con lộ, dù ẩn khuất giữa những vòng kẽm gai bao bọc, “Tổng Y Viện Duy Tân Đà Nẵng” vẫn hiện ra rõ nét, từ hàng cây xanh rủ bóng, đến xuyên suốt các bức tường trắng xóa mỗi căn phòng điều trị. Tôi thấy từng mũi kim, lọ thuốc, từng nét mặt nhăn nhó bên cạnh nụ cười hiền an ủi, và bao con đường phẳng phiu thẳng tắp, những dáng ai âu yếm đẩy chiếc xe lăn, dìu người chống nạng… Sao hôm nay tất cả đều lạnh căm, một màn đêm u hoài.
Tổng Y Viện Duy Tân, nơi đớn đau từng thớ thịt, mà cũng xoa dịu bao vết thương của người lính trận. Tôi đã hai lần bê bết máu đến đó rồi đi. Lần sau cùng mùa xuân năm trước tôi trở về còn nửa phần thân thể, nửa bỏ lại chiến trường.
Tôi nhớ hôm nào, vừa hồi tỉnh ở phòng hậu giải phẫu, tôi đã nhận ra ngay cảnh vật chung quanh, vài người đứng bên, thảy đều màu trắng.. Hai tay tôi bị cột chặt vào cạnh giường từ bao giờ, như tên tử tội trên ghế điện, các mũi kim chuyền máu, nước biển, làm tê cứng không co duỗi được.
Lần đầu tiên sau cơn mê giải phẫu, nhìn xuống thấy mình chỉ còn hai bắp đùi, tôi kịp hiểu vì sao tôi mất hai chân…
– Trung úy khỏe không?
Một người cúi xuống hỏi, tôi vẫn im lặng. Sự im lặng như kẻ sắp chết, trong trạng thái biếng nói, như ở một cõi xa xăm nào êm ả, không muốn trả lời để khỏi bị trần tục níu kéo. Tưởng tôi không nghe họ hỏi lại:
– Trung úy Vân khỏe không?
Cảm thấy mệt tôi đáp bằng cái gật đầu, rồi vẫn chưa yên, người ấy mỉm cười:
– Tôi Bác sĩ Trí. Trung úy cho biết số quân, đơn vị?
– 64/41 1567, Đại đội 1 Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân.
– Chức vụ và ngày Trung úy bị thương?
Bực mình tôi cằn nhằn:
– Hậu cứ 21 không gởi QĐ44 vô đây sao?
Vị Bác sĩ, vóc dáng thanh nhã, mang hai giống máu Pháp Việt cười thành tiếng:
– Tôi hỏi coi Trung úy đã tỉnh chưa, vì mới cưa đôi chân lần thứ hai và giải phẫu gắp mảnh đạn nơi đầu nữa. Tốt lắm, Trung úy còn trí nhớ.
Dứt lời, ông tới bàn giấy ở góc phòng, giở kẹp hồ sơ bệnh lý ra ghi chép. Hai y tá cũng lăng xăng, kẻ thăm chừng điều chỉnh từng bình nước biển, bị huyết, người thì thay băng cho các thương binh đang nằm trên hai dãy giường trắng lộp.
Bác sĩ nói tôi còn trí nhớ. Phải còn chứ làm sao mất được. Trí nhớ là sức mạnh, tạo sinh nhân cách, cái dũng, thôi thúc lòng căm hờn khi quê hương chưa sạch bóng thù. Nhưng tiếc thay, đời lính trận đành dở dang mộng ước…
Người lính Biệt Động của tôi, Nguyễn Xá, bước vào đứng bên cạnh:
– Có đau lắm không, Trung úy? Các y sĩ cho em ngồi chờ hai hôm nay trước cửa phòng trong lúc Trung úy mê man.
– Lần này họ cưa trên đầu gối, cách phần nhiễm trùng cả tấc nên thấy êm. Trung đâu?
– Vì thiếu quân số, Trung có lệnh đã lên hành quân. Anh em về cho hay Tiểu đoàn 21 mới chạm súng rất nặng ở Tiên Phước Quảng Nam, riêng Đại đội 1 mình bị thiệt hại khoảng mươi người. Em quên hỏi gồm những ai. Chiến trường đã sôi động trở lại dữ dội. À, Trung úy!… Khoan, để em ra cất cái ba lô, em sẽ trở vô nói Trung úy nghe…
Người lính vội quay lưng. Xá đi rồi tôi suy nghĩ, vì Xá vừa buộc miệng: “À, Trung úy!” rồi ngưng. Dường như anh muốn trình bày một vấn đề gì, nhưng ngại tôi buồn chăng? Tôi tin tưởng Xá, anh không nỡ nào toan tính phản bội giữa lúc đời tôi đen tối thế này. Hay Xá định xin đào ngũ thật, khi nhắm thấy không thể làm tròn nhiệm vụ nội tuyến của anh. Vô lý. Nếu có lòng dạ ấy, trong thời gian qua, anh có nhiều cơ hội ám hại cá nhân tôi, ngay cả đơn vị. Chẳng hạn, một lần trời vừa sập tối, tôi chỉ đem theo mình Xá để bảo vệ, hai thầy trò lén tụt dốc từ một khu đồi ở Kỳ Sơn Tam Kỳ để mong xuống đường về thành phố Quảng Tín gặp Nhị. Đi được một quãng thì tôi té ngã trẹo chân. Thay vì sẵn khẩu súng M16 trên tay bắn gục viên trung úy Đại đội trưởng Biệt Động Quân này, nhưng không, Nguyễn Xá lại cõng tôi chạy tuôn ra chiếc xe Jeep đang chờ ngoài lộ.
Lần khác, BCH Đại đội tạm đóng trên một đỉnh núi phía tây An Lỗ, Huế, bị pháo kích tơi tả. Lính nhảy hết xuống cá hầm hố, khe đá kịp, chỉ mình tôi kẹt cứng dưới một thân cây ngã đè, không ngoi đâu được, phần lửa cháy tứ bề, đạn dược phát nổ chung quanh, thì Xá ngoài tuyến vội lao vào, hì hục xách tôi bỏ lên lưng, và trước khi phóng xuống một trũng sâu bên sườn đồi, anh còn túm luôn cái máy PRC-25 với dây đạn nặng trịch của Binh I Nguyễn văn Thanh.
Đã bao phen cứu tôi như vậy, Xá không thể có ý đồ xấu…
Nguyễn Xá sinh trưởng tại Cửa Đợi, một làng chài lưới ở phía nam núi Non Nước, cửa khẩu dẫn vào phố cổ Hội An. Trước khi gia nhập quân đội Quốc Gia, Xá đã là một du kích Việt Cộng, vùng hoạt động từ quê anh đến các xã ven biển: Hòa Long, Hòa Lân, Hòa Qui, Hòa Phụng và Hòa Hải, thuộc quận Hòa Vang, Quảng Nam. Sau, Xá ra hồi chánh, và năm 1971 được sung vào lính, về Đại đội 1/21 Biệt Động Quân.
Khi lên làm Đại đội trưởng, thấy Xá siêng năng, thật thà, vạm vỡ, nhất là sự thông thạo kỹ thuật di động, cách ẩn trốn, phá hoại của địch quân, tôi không ngần ngại bổ sung Xá vào nhóm Huỳnh Thanh Trung giúp tôi các công việc hằng ngày.
Tôi đang hồi tưởng lại những gì đã xảy ra để tìm một kết luận về Xá, người lính hiếm quý cùng tôi từng vào sinh ra tử, thì anh bước vào.
Tôi gợi chuyện:
– Hình như lúc nãy Xá định nói gì?
– À, cách đây hai hôm chị Nhị đến thăm…
Tôi thấy lóe lên một niềm vui:
– Vậy à? Rồi Nhị đâu?
Xá rầu rầu đáp:
– Trước hết, chị ghé Bệnh Viện 1 Dã Chiến Quảng Ngãi hỏi thăm, họ cho hay Trung úy đã được đưa về Đà Nẵng. Rồi chị vô đây, em và Trung nói lập lững, theo ý Trung úy hôm ấy, là họ chuyển tiếp Trung úy vào b ệnh viện Cộng Hòa Sài Gòn, hoặc ra Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ không chừng. Chị vừa khóc vừa hỏi: “Bộ nặng lắm sao, đưa ảnh đi xa vậy?”.
Ngay trong ngày, nhắm thấy không tiện để chị Nhị ở đây lâu, Trung nhờ Thiếu úy Đại đội phó Đặng văn Thiều cấp sự vụ lệnh cho tài xế Phó Trọng lấy xe Jeep đưa chị về Mộ Đức Quảng Ngãi. Em bảo Trọng chớ nói ai nghe, ngay cả chị Nhị, là Trung úy cưa hai chân. Mọi việc sắp xếp xong, Trung mới lên hành quân. Trung gởi lời cầu mong Trung úy chóng bình phục, yên tâm dường bệnh.
Tôi thở dài:
– Ai báo tin Nhị biết tôi bị thương?
– Chắc đồng bào nơi đó đồn đãi vì có một số người chứng kiến Đại đội Biệt Động mình khai thông quốc lộ Việt Cộng đắp mô và lúc khiêng Trung úy từ trong con xóm nhỏ ở Mộ Đức ra đường.
Tôi thấy bầu trời như sụp đổ. Tại sao tôi không thành thật để đền đáp mối chân tình của người con gái ấy. Tôi có nhiều điều đáng trách, đầy lỗi với nàng. Chắc Nhị mải tìm tôi.
– Thôi, Xá đứng đây lâu các bác sĩ rầy.
– Không sao, Bác sĩ Tri cho phép em vào phòng hậu giải phẫu này thăm Trung úy lúc nào cũng được. Ông Bác sĩ lai Tây rất bình dân, đã đôi lần ngồi ăn bánh mì xíu mại với em ngoài hành lang. Ông nói ông cảm tình thầy trò mình. Trung úy còn nhớ những gì xảy đến ngày bị thương không?
Tôi khẽ gật đầu rồi im lặng…
Đó là hình ảnh hai thầy trò vào những ngày đất nước đầy biến động và Xá còn theo tôi để cùng chung số phận với các thương binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị quân Bắc Việt vào chĩa súng xô đuổi ra khỏi bệnh viện. Từ đó, vật đổi sao dời, Xá một đường, tôi một nẻo. Trong cơn đại hồng thủy, tôi không rõ người lính trung thành tôi mang ơn ấy hiện ở đâu? Kẻ chiến thắng có trả anh về lại ngôi làng chài lưới Cửa Đợi năm xưa, hay vì thành phần hồi chánh, Xá đã bị lưu đày tận rừng sâu nước độc nơi nào?
Hết hy vọng, tình thế không thể đảo ngược được nữa. Vỏn vẹn năm ngày giằng co, thoi thóp, cuối tháng 3/1975 toàn bộ Quân đoàn I, năm tỉnh địa đầu cùng các vùng phụ cận, đã rã ngũ, lần lượt rơi vào tay giặc, rồi tiếp theo cả miền Nam thân yêu sụp đổ, bao mạch sống muốn ngưng hẳn, 30/4/1975. Những kẻ chiến thắng mặt sát khí, ăn mặc hổ lốn, tràn lan khắp nơi, tìm bắt các sĩ quan, viên chức Việt Nam Cộng Hòa còn lẩn trốn, không đầu thú. Mặt khác, chúng vét hết xe cộ, kho tàng, hàng hóa buôn bán tư nhân đem về Bắc, sào huyệt của chúng. Các bất động sản, nào nhà to, đất rộng… của dân cũng bị tịch thu, chiếm cứ. Cộng quân còn giở trò ve vãn vợ con những ai đã phục vụ dưới chế độ cũ, với ý đồ tống tiền, tống tình, phá bỏ cả đạo đức, ly tán mọi gia đình người Nam.
Như lịch sử đã ghi, xưa một ngàn năm giặc Tàu, một trăm năm giặc Tây, nay giặc Hồ phương bắc, Mác-lê bạo quyền.
Trước các nguy cơ dồn dập, chắc tôi phải đi, rời khỏi Đà Nẵng càng sớm càng tốt. Tôi sẽ đến một nơi thật xa lạ, ở đâu tôi có thể ẩn náu được khoảng đời còn lại nửa phần thân thể của người lính bại trận.
Để thực hiện ý định, sáng sớm hôm nay khi tiếng gà còn eo óc của một ngày hoang tàn đầu tháng 5/1975, tôi lẻn vào thăm Quang Châu lần cuối cùng. Quang Châu, quê tôi, một ngôi làng xưa cũ, thuộc huyện Hòa Vang, Quảng Nam, phía tây nam thành phố Đà Nẵng 10 cây số, nơi tôi với hai người chị Trần thị Thông và Trần thị Minh ra đời. Chị Thông thì đã chết từ lâu, năm 16 tuổi.
Tôi phải ghé nhà chị Miên (Minh) trước. Chị lấy chồng ở Miếu Bông, một thôn cùng xã, kế cận với Quang Châu. Tôi sẽ nói rõ là tôi đã quyết định biệt xứ, không bao giờ trở lại.
Chiếc Honda ba bánh của tôi vừa rẽ vào con đường ngoằn ngoèo giữa hai hàng tre quen thuộc, tôi bắt đầu lo ngại. Khi nghe chuyện buồn tôi phải ra đi trong lúc tình hình bất ổn đủ thứ thế này, vì tình chị em chắc chắn Miên sẽ ngăn cản. Tính chị thật thà, thực tế, ít quan tâm đến thời cuộc, chỉ lam lũ làm ăn từ ngày lập gia đình. Cha mẹ và các anh chị lớn đã chết, chỉ còn tôi với Miên cùng chung máu mủ, nay chia tay biết bao giờ gặp lại, chị không buồn sao được.
Tôi dừng xe trước hiên và bỏ chiếc xe lăn tay xuống đất. Thấy Miên thấp thoáng nhà dưới nhìn ra, tôi lăn vào, vừa tới cửa, khác với thường lệ, tôi không chào hỏi chị mà nói ngay:
– Mai em đi sớm?
Đang lui cui bên bếp lửa, chị day mặt qua hỏi:
– Đi đâu?
– Cao nguyên Lâm Đồng!
Miên trố mắt:
– Làm chi?
– Làm ăn.
– Cậu nói đùa hay thật vậy?
Tôi vừa lấy gói thuốc trong túi áo ra đốt một điếu hút vừa nghiêm nghị trả lời:
– Tình thế khiến chết tới nơi, em còn đùa sao?
Miên lắc đầu:
– Cậu suy xét kỹ lưỡng chưa? Tiền bạc không có, phần thì cụt hai chân, bệnh viện mới về, ốm yếu, cậu đòi lên xứ núi xứ thượng, không thân nhân họ hàng, lấy chi sống?
Miên xót ruột, nêu dẫn một số yếu điểm của bản thân tôi, để mong tôi bỏ ý định thực hiện chuyến đi chẳng mấy sáng sủa. Nhìn quanh trong nhà không một bóng người nào khác, tôi dằn cơn xúc động nói cho hả dạ :
– Trời sinh voi thì phải sinh cỏ. Thà đói chết xứ người còn hơn sống nhục nơi mà mình đã bao năm chiến đấu để bảo vệ, nay tất cả đã rơi vào tay giặc, em không thể nhìn mãi kẻ thù rừng rú nhởn nhơ đầy phố. Chị đâu biết, hầu hết các sĩ quan, viên chức chính quyền cũ -Việt Nam Cộng Hòa- đều bị bắt. Vả lại em đã quen với đời sống quân đội rồi. Đói no, gian khổ là chuyện thường.
– Cậu nói tôi tưởng cậu đang đọc một quyển tiểu thuyết tình cảm xã hội. Quân đội đâu nữa để quen đói, quen no?
Miên giằn từng tiếng. Chằng hiểu sao hôm nay chị lại hằn học, hay chị giận cá chém thớt? Mấy năm trước, ông anh rể tôi khi còn trong quân đội, vì xa nhà đã sinh tật có vợ bé nên gia đình thường lục đục… Thấy thái độ của Miên có khác lạ khiến tôi đoán mò, chứ lẽ nào chị nhập nhằng chuyện chồng ngoại tình với con đường sinh tử của em mình. Dẫu sao tôi cũng cố thuyết phục chị:
– Nghe đồn có khóa học “cải tạo tư tưởng” 15 ngày tại chỗ sẽ mở nơi trường Trung Học Nguyễn Trường Tộ, kế Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I cũ, bọn Việt Cộng, qua cái gọi là Ủy Ban Quân Quản thành phố Đà Nẵng, dành cho các phế binh Việt Nam Cộng Hòa cùng đám đầu trộm đuôi cướp, xì ke ma tuý. Nếu tham dự em sẽ bị lộ diện, tụi nằm vùng, đón gió trở cờ, tố cáo công trạng chiến đấu, kẻ thù ắt phải lưu đày em biệt xứ, hay đem chôn sống không chừng. Ai mà tin nổi cái chính sách nói là khoan hồng tất cả như chúng đang rêu rao tuyên truyền trên các đài phát thanh. Chính sách nào dưới chế độ Cộng Sản cũng bắt nguồn từ bản chất phi nhân, gian trá của tập đoàn Marxist.
Chúng đã buộc tội em phản quốc, chẳng hiểu quốc nào, là theo quân đội Quốc Gia. Họ sẽ giao cho các phần tử lưu manh, “cách mạng 30”, địa phương quản lý, bám sát theo dõi, ngay miếng ăn cái mặc, đi đứng thảy đều bị dòm ngó, coi mình như người tù. Trường hợp em dễ gì được chúng tha, kẻ thù sẽ bằm nát thây thôi! Cộng Sản là vậy, chị chưa biết sao?…
Tôi nói lung tung, toàn chuyện ghê gớm, mà thật sự đang xảy ra và còn tái diễn dài dài, để chị hiểu vì nguy cơ tôi phải dứt khoát lẩn trốn. Sáng sớm ngày mai tôi phải lìa quê hương, nơi tôi đã hơn một lần đẫm máu, bỏ lại đôi chân trên chiến trường bão lửa.
Miên xách ấm nước chè lá khô, thoảng mùi gừng, rót tôi một ly. Sau một năm nằm nhà thương, nay tôi về thăm, trông chị quá gầy guộc. Chỉ hơn tôi hai tuổi, mà khuôn mặt chị như trên một giáp, đầy nếp nhăn nheo khắc khổ, nụ cười dịu hiền của những ngày xưa cũng thiếu vắng. Từ lúc người mẹ yêu dấu, dòng dõi hoàng phái, hẳn đã không chịu nổi cảnh cơ cực ở miền quê hẻo lánh Quang Châu, phải quảy gói ra đi bỏ hai chị em tôi phải rày đây mai đó mãi theo cha tìm mẹ. Từ thuở lên ba đã thiếu mẹ, tôi sống bám vào tình thương của Miên, người chị duy nhất…
Chắc vì tình ruột thịt, dầu tôi có tràng giang đại hải, diễn giải hết bao nguy cơ sắp ập đến, chị vẫn phớt tỉnh, còn hầm hừ ngăn cản:
– Theo tôi, đi xa chi cho khổ. Cậu chỉ đoán vậy thôi, chứ đâu chắc chắn người ta hại cậu. Cứ dự 15 ngày để yên thân. Đài phát thanh loan tin mấy ông sĩ quan, cả tướng lãnh nữa, cũng học một tháng, họ trình diện hết rồi…
Không lẽ trái với ý nghĩ của tôi, Miên lại ghét bỏ, đẩy tôi lún sâu vào con đường ô nhục của người bại trận. Lối lý luận của chị làm tôi cay cú:
– Chị nói vậy sao?
Miên ráng gân cổ:
– Không phải à?
– Nghĩ sao mà bảo em đút đầu vô đó học? Học cái gì nơi những kẻ ngu dốt, hèn hạ ấy? Chị chẳng hiểu gì về cái thâm độc của Cộng Sản. “Cải tạo tư tưởng”, ghê không? Một bọn lộng ngôn!
Nghe thấm mệt, chị ngồi phệt xuống đất, bên bếp lửa, ôm mặt. Chắc chị khóc trước quyết định cứng rắn của tôi. Từ nay chị em bắt đầu xa cách mãi mãi, cũng là cái mốc thời gian Việt Nam Cộng Hòa hoàn toàn sụp đổ. Mai đây chị sẽ thấy quê hương này chẳng khác nào địa ngục dưới ngọn cờ đỏ sao vàng, với gót giày cướp nước đoàn quân Bắc Việt.
Tôi đặt điều trấn an chị:
– Đừng lo. Em có vài thằng bạn cùng đi. Tụi nó hứa giúp em trên bước đường hoạn nạn…
Miên với đôi mất đẫm ướt, vụt ngước mặt nhìn tôi:
– Tụi nó hứa giúp? Tụi nó là ai vậy? Đến nước này cậu vẫn còn tin lời hứa hẹn bạn bè? Bạn đó? Cấp chỉ huy của cậu nữa! Một lũ hèn nhát bỏ chạy! Quên à? Cậu không nhớ mấy ngày cuối tháng Ba vừa qua. Việt Cộng còn đâu trong núi, đồng bào lo sợ pháo kích, không được bảo vệ, mới đùm túm, dắt díu nhau di tản tán loạn đã đành; đằng này cả triệu quân, từng nói đánh đông dẹp bắc, cũng vội quăng súng đầu hàng tẩu thoát, bỏ cậu với hàng vạn thương binh, lớp đói khát nằm rên rỉ khắp các bệnh viện, lớp thì lê lết đầu đường xó chợ ăn xin. Chắc cậu tưởng tôi phận đàn bà không biết chăng? Tôi không biết, không hiểu nhiều thật nhưng thấy chứ, thấy quá rõ cái nguyên do đưa đẩy người dân đến thảm cảnh vô tiền khoáng hậu này. Mất nước, không phải Việt Cộng có ba đầu sáu tay đâu, tôi lặp lại cậu nghe, mà chỉ vì một lũ hèn nhát bỏ chạy!…
Tôi sửng sốt, lần đầu tiên tôi nghe Miên thao thao xổ một tràng lời lẽ như người am tường chiến lược quân sự lẫn chính trị đâu hồi nào rồi. Nhận xét và sự phẫn nộ ấy tiêu biểu cho dân chúng có phần đúng, nhưng giọng chị quá quyết liệt, đến độ đanh đá, không thích hợp chút nào với người phụ nữ suốt đời tần tảo nuôi chồng nuôi con. Tôi không ngờ chị trở chứng dữ vậy, làm tôi mất thăng bằng. Tôi biện hộ:
– Vì vận nước thôi. Nếu có ai hèn nhát như chị nói thì chỉ một số tướng tá nào đó, chứ người lính cấp nhỏ họ luôn luôn chiến đấu tới cùng, không được quyền bỏ chạy…
Chưa hả giận, vin vào câu tôi vừa nói Miên lẹ miệng giằn từng tiếng :
– À thì ra ngoài mặt trận có sự phân biệt rõ rệt, gồm hai hạng: một được quyền bỏ chạy, còn một phải chiến đấu đến chết, chết thay cho quân khốn kiếp bỏ chạy. Theo cậu hạng vinh dự để sống là các tướng? Chắc họ biết họ sinh vi tướng thời thế tử bất vi thần, nên tẩu vi thượng sách. Thế mà cứ nói vì vận nước, tức do ông trời!
Người dân tội tình gì phải thất điên bát đảo, con mất cha, vợ mất chồng, nhà cửa tan hoang trong lúc các cấp lãnh đạo, ăn trên ngồi trước, thì lại cao bay xa chạy tuốt ra nước ngoài hưởng thụ giàu sang. Cậu đã hy sinh nửa phần thân thể kể như chết rồi. Nếu ở đây thấy nhục nhã, đi nơi khác cậu lấy gì làm vinh, khi giặc tràn lan khắp nước? Nhân lúc chính phủ “cách mạng” đang đề xuất chính sách giãn dân, quê đâu về đó. Cậu nên dọn vô căn nhà sẵn đất đai vườn tược chung quanh của cha mẹ trong Quang Châu, hơn là lìa bỏ quê hương ra đi xứ người. Cậu coi việc nào lợi…
– Chị nói nghe dễ lắm! Em về ở thì làm sao sống nổi với mấy đứa con anh Phó kế bên, nhất là thằng gì, đại úy không quân Việt Cộng, từng theo xách cặp táp cho Võ Đông Giang đại diện Bắc Việt trong Ban Liên Hợp Quân Sự Bốn Bên tại phi trường Tân Sơn Nhứt Sài Gòn, nó thường về, kênh kênh cái bản mặt Marxist. Cả đám theo giặc đâu từ đời ông nội nó. Bây giờ những người chế độ cũ miền Nam chưa chết tiệt hết, chúng còn kiêng nể bà con giòng họ, chứ mai kia mốt nọ, khi quân cướp nước đã xây thành đắp lũy vững chắc rồi thì đừng hòng mình yên thân.
– Ông nội thằng đại úy là anh của ba, bác mình. Tụi hắn là cháu, ai vô?
Tôi trừng mắt:
– Ừ con cháu! Chị quên vụ Tết Kỷ Dậu 1969? Cháu đó, đứa nào, con ai, đã rước voi về giày mả tổ, đánh phá, làm đổ nát Quang Châu, ngôi nhà thờ ba má, anh hai Thái, chị Thông cũng suýt tan tành. Biệt Động Quân phải vào giải tỏa, tống cổ hết bọn chúng ra khỏi làng. Nay biết đâu cái thứ trời đánh đó nhơn danh giặc trả thù. Chúng đã nhúng tay vào máu rồi, mình đừng để mắc mưu nữa?…
Miên cướp lời:
– Chuyện ngôi nhà thiệt hại là do Biệt Động Quân. Ngày cậu dẫn lính vào giải tỏa tôi có nói Việt Cộng không nhiều, chỉ năm ba thằng bị kẹt lại, ẩn trốn trong làng, cậu vẫn mạnh tay, bắn sụp vách tường sau nhà…
Dù cậu muốn hay không miền Nam cũng đã mất. Giờ thì chính sách của họ là khoan hồng tất cả. Cậu đã thương tật cớ gì phải sợ trả thù .
Miên diễn giải, tôi có cảm tưởng chị đã bị bọn nằm vùng mượn tay chiêu dụ, tôi quá bực tức và dứt khoát:
– Em nói cho chị rõ một lần nữa, chị không hiểu cái độc ác của con người Cộng Sản nên bị lung lạc, phỉnh lừa. Chị ở đó để nhận sự khoan hồng!
Dứt lời, không đợi Miên biện hộ hay giải thích, tôi lăn xe ra cửa. Tôi lăn thật nhanh để khỏi nói gì thêm, dù còn nhiều điều cần bàn, như căn nhà tôi đang ở trước mặt Bộ Tư Lệnh Quân đoàn I Đà Nẵng, phải bán tháo bán rẻ hay là cho ai, và chuyện vợ tôi đã dắt mấy đứa nhỏ về quê ngoại Phan Rang cả tháng nay. Tôi cũng chưa kịp nói tôi cô đơn đến rợn người, những kẻ thân quen, những chiến sĩ từng gian khổ với tôi đã tản mạn đâu hết, phố phường vắng ngắt…
Sau lưng, tiếng chị vọng theo, như níu kéo: “Cậu đã hiểu sai ý tôi” rồi bật khóc. Tôi nhủ thầm hẳn đây là lần cuối cùng tôi sẽ không bao giờ còn được nghe giọng nói của chị nữa.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.