Tiểu Đoàn Trừng Giới

Heinz G. Konsalik

Nguyên tác: Straf-battalion 999

Tâm Vũ dịch

Nhà xuất bản: Thùy Dương 1973

Post by Sơn râu 25 Aug 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 4.

Julia Deutschmann viết cho chồng:

“Anh Ernst yêu dấu,

“Em biết rằng chẳng bao giờ anh nhận được thư này. Tuy vậy, em vẫn viết cho anh vì em cần được nói chuyện với anh, được kể cho anh nghe em đang sống ra sao, em đang nghĩ gì và cảm thấy gì. Thế nhưng đó chỉ là một phương pháp, trước mặt em chỉ có tờ giấy trắng, em không nhìn thấy anh thực sự muốn được thấy anh, em phải nhắm mắt lại. Lúc đó thì anh hiện ra: cao lớn, dong dỏng, với hai tay dài bỏ thõng, một chiếc trán đẹp rất cao, và cặp mắt xám như mắt đứa trẻ ngơ ngác. Nhưng ngay khi mà em tưởng giữ được anh thì anh lại biến đi, anh tự xóa mờ dần dần, bất tuyệt…

“Đã từ mấy ngày nay, em bắt đầu lại công việc của chúng ta. Em muốn làm lại càng sớm càng hay tất cả những gì mà chúng ta đã thực hiện được trong suốt hai năm qua, trước khi người ta đến bắt anh của em đi. Thường thường có lúc em chuyên chú hết cả vào công việc đó, như vậy em quên được nỗi lo sợ dầy vò sự bất lực của em đã không giúp đỡ gì được anh, do sự tin chắc một cách thất vọng mọi rằng cái từ nay trở thành vô ích – và rồi đột nhiên, em nhìn thấy công trình của chúng ta dựng đứng trước mặt em như một tòa lâu đài tư tưởng mới của chúng ta, gần hoàn tất.

“Chúng ta đã được sung sướng biết mấy trong hai năm đó, mặc dầu là trong thời chiến tranh! Nhưng mà, anh thấy không, chúng ta không hiểu được điều đó! Hay nói đúng hơn, chúng ta không nhận ra được điều đó, chúng ta bị chìm ngập trong cuộc sống đều đặn hàng ngày, trong sự lo lắng về thẻ tiếp tế này, về vé tiếp tế khác, trong khí sắc buồn rầu vì những mối chán nản, thất bại, lầm lẫn của chúng ta. Em đã tỏ ra nóng nảy, em biết thế, có lẽ còn cáu kỉnh nữa ; luôn luôn em vấp váp phải những chuyện vặt vãnh. Nhưng khi ấy em đâu có biết rằng, tất cả những cái đó chẳng có gì là quan trọng. Ngày nay, em không biết đổi thứ gì để còn được đi tìm chiếc áo của anh khắp nhà khi anh bất ngờ nổi hứng thay áo, để được lại nhìn thấy anh nuốt vội bữa cơm như muốn chạy đua với đồng hồ! Em sẽ sung sướng biết bao để lại được cùng anh ở trong phòng chúng mình dù nếu anh chỉ trả lời em bằng tiếng ừ ào lơ đãng. Thế mà tất cả những chuyện nhỏ nhặt đó trước đây đã làm em tức tối. Em đã trách anh quên kỷ niệm ngày cưới…mà truyện đó đối với anh rất thường! Và em đã giận dỗi làm sao khi nghĩ rằng anh đánh giá không đúng mức công việc của em mà em vẫn suy luận là không kém tầm quan trọng so với công việc của anh.

“Ernst yêu của em! Tất cả những cái đó thật trẻ con và lố bịch. Từ nay thì em đã hiểu. Một vấn đề duy nhất đáng kể: anh là người như thế nào? Anh đã làm được gì? Một chuyện quan trọng duy nhấ : tình chúng ta. Điều cần thiết là tự tìm hiểu em là người thế nào, em đã làm được gì, địa vị em và công việc mà em phải hoàn tất.

“Chắc chắn em không phải là một Marie Curie thứ hai. Nhưng em quyết làm tròn phận sự của em. Ngày nay em mới hiểu rằng không phải em lao vào công việc như một cuộc đua tranh với anh mà chính là để giúp đỡ anh. Và bây giờ, việc của em trước hết không phải là giữ riêng anh cho em, mà còn phải dành cho người khác, cho công việc của anh, cho ước mộng của anh, cho những gì anh đã làm, cho tất cả những gì anh sẽ còn làm được nữa.

“Em đã nhận ra được con đường của em đi. Công việc của em làm là nguy hiểm, không phải em không biết, nhưng em phải làm. Miễn sao em có đủ thời gian! Miễn sao em biết được rằng anh còn sống và anh hiện ở đâu!

“Khi nghĩ tới anh, Ernst yêu dấu, em lại trở thành một thiếu nữ si tình nhìn trời sao và mơ mộng tới người muốn trao thân gửi phận. Em đã thuộc về anh hoàn toàn. Anh hiện sống trong em. Chúng mình đã gần nhau một thời gian khá dài thế mà lại ngắn ngủi ghê gớm…, tuy nhiên, em vẫn muốn chọn một ngôi sao thực bé nhỏ dành riêng cho hai đứa mình, để ít ra chúng ta có thể ngắm chung ngôi sao đó, ngôi sao phải thật nhỏ, nhỏ đến gần như không thể nhìn thấy để nó chỉ thuộc về riêng cho chúng ta, để chỉ có ánh mắt chúng ta gặp nhau nơi đó.

Nhưng đã khuya rồi. Ngủ cho yên, Ernst thương mến. Em cũng nhắm mắt lại đây, em nghĩ thật nhiều đến anh và có lẽ…, có lẽ… biết đâu em không cảm thấy nụ hôn buổi tối của anh trên miệng, trên mặt… và rồi trên đầu mũi…”

Julia đặt cây viết xưống bàn, ngã người vào chiếc ghế dựa, khép mắt và mỉm cười.

Những giọt nước mắt âm thầm lăn trên má nàng

Hôm mới tới là thứ tư, Schwaneeke đã làm Thượng sĩ Krult kinh ngạc nhưng đến thứ bảy, hắn lại làm thượng sĩ sững sờ không nói nên lời. Đó là điều mà chưa một thuộc cấp nào làm nổi kể từ khi Thượng sĩ gia nhập vào hàng ngũ hạ sĩ quan. Thực là một kiệt tác.

Đằng sau dãy nhà số 2 của doanh trại, nơi trú ngụ của Trung-đội l và Trung đội 2 của Đại đội 2; có một cái thùng và trong thùng có một con thỏ.

Đầu tiên Thượng sĩ nhất đi qua và không để ý chút nào, mặc dầu cái thùng để ở chỗ này thực vô tích sự. Thượng sĩ đang bận tâm về vụ Trung-úy Bevern và toa thuốc chữa bệnh mập mà Trung Uý đã cho ông. Tuy vậy, ông cũng dừng lại, đột nhiên nhận thức ra cái thùng khác thường và vội vã quay trở lại.

Không còn ngờ gì nũa: đứng là một cái thùng, bên trong có con thỏ còn sống và được nuôi béo tốt hẳn hoi. Ông phát khùng, la lên:

– “Con vật này của ai đây?”

Ông đưa mắt giận dữ về phía các binh sĩ vừa lau chùi xong bệnh xá và còn nấn ná hưởng chút tia nắng cuối của mặt trời mùa thu.

– “Deutschmann, con vật này của ai?”.

Deutschmann rán sức la thật lớn:

– “Thưa Thượng sĩ, tôi không biết.”

Anh đã học được trong lề lối nhà binh càng nói lớn càng tốt, anh nào nói càng lớn càng được đánh giá cao.

Thượng sĩ Krull hít một hơi dài đầy lồng ngực đến nỗi như muốn nổ tung, rồi thét lớn:

– “Chạy vòng sân! Chạy nhanh! Nhanh hơn nữa.”

Schwanecke vừa chạy vừa cười.

– “Một vòng sân nữa.”

Schwanecke chạy thêm một vòng rồi ngừng, thở hổn hển một chút và đứng lại trước mặt Thượng sĩ nhất.

– “Đúng mày đã ăn cắp con thỏ?”

– “Dạ thưa Thượng sĩ. Thượng sĩ coi tôi như thế nào? Nó chạy tới mà !”

Vào lúc đó, Thượng sĩ Krull cảm thấy có một cái gì rạn nứt trong thâm tâm. Ông quay gót bỏ đi không nói năng gì và suýt nữa xô vào Trung-úy Bevern. Ông này đã lén tới từ trước và đã quan sát sự việc xảy ra, Krull toan báo cáo nhưng Bevern ra dấu ngăn lại. Tay cầm chiếc que nhỏ đập đập vào bốt, ông đến gần chỗ Sehwanecke và hỏi hắn bằng giọng thân thiện:

-“Anh còn là chuyên viên về thỏ sao?”

– “Dạ, chỉ chuyên về thỏ đực thôi”.

Deutschmann tránh xa ra, không nghe rõ câu đối thoại.

Anh nghĩ : “Thằng cha đáng thương dám bị xử bắn quá.”

Bevern nhíu lông mày, hỏi:

– “Tại sao thế? Tại sao lại chỉ những con thỏ đực?”

– “Dạ thưa Trung úy, tôi dùng thỏ đực để nghiên cứu. Một hôm có con nhỏ bảo tôi là tôi có nhiều cái giống con thỏ đực. Từ đó, tôi ngắm kỹ những con vật này, nhưng tôi vẫn chưa hiểu con nhỏ muốn nói gì.”

– “À… thế còn con thỏ này đến đây sao? Anh thấy nó ngay trước mắt sao?”

– “Dạ đúng như thế, Nó còn ngồi xổm để ngắm vuốt nữa. Nhờ thế mà tôi nhận ra được là con thỏ đực.”

– “Ủa! Tại sao vậy?”

Schwanecke tiến lên hai bước, nói:

– “Của tôi…”

– “À!”.

– “Dạ, tôi quý súc vật lắm, thưa Thượng sĩ. Tôi không thể nào thiếu một con vật để thương yêu.”

Thượng-sĩ Krull cúi xuống cái thùng và ngắm con thỏ. Con vật nhỏ sợ hãi, bỏ củ cà-rốt đang gậm nhấm, chạy trốn vào một góc. Ba câu hỏi đang làm bận tâm viên Thượng-sĩ nhất : Con thỏ ở đâu ra ? Cái thùng ở đâu ra? Củ cà-rốt ở đâu ra?

Sehwanecke nói :

– “Con thỏ này không biết ở đâu chạy tới đây.”

Thượng-sĩ nhất bỏ đi không nói gì. Đến trước cửa văn phòng, ông gặp Trung-úy Obermeier đang sắp sửa đi ra và ông báo cáo chuyện lạ lùng vừa qua. Nhưng Trung-úy không rảnh rang để động lòng trước những nỗi đau khổ của Thượng-sĩ.

Ông vỗ vai Thượng-sĩ và nói:

– “Anh hãy lợi dụng sống cho thoải mái cuộc đời trong doanh trại. Khi nào mình sang đất Nga rồi thi không còn được, như thế nữa đâu.”

Krull đứng lại một mình, suy ngẫm về câu nói chót đó. Tiếng “đất Nga” gợi cho ông tất cả nỗi sợ hãi. Nhưng ông vốn có tài gạt ngay những ý nghĩ khó chịu và ông lại không có một chút khả năng nào giải quyết những chuyện khó hiểu, nên ông bỏ rơi lập tức sự suy nghĩ đó để trở lại vấn đề trước mắt, xác thực: đó là truyện anh lính Schwanecke và con thỏ.

Ông bước nhanh trở lại chỗ cũ, nói một cách khẳng định để giải quyết vấn đề:

– “Mày ăn cắp con thỏ này”

– “Không, nó ở đâu chạy đến.”

– “Thế còn cái thùng, cũng ở đâu chạy đến chăng? Và còn củ cà-rốt ? Tất cả những thứ đó từ trên trời rơi xuống…xẹt…một cái như thế phải không?”

– “Dạ rất đúng, thưa Thượng-sĩ.”

– “Dạ thưa Trung-úy, nếu là con thỏ cái, thì nó đã phải trang điểm chứ.”

Thế là lập tức trong sân diễn ra một việc mà cả đến Đại-úy Barth cũng ngán. Schwanecke phải nằm sấp và bò như con giun, mặt dán xuống đất, băng qua đám bụi bẩn, băng qua đống rác rưởi của nhà bếp, băng qua những vũng nước, những cầu tiêu bị tắc nghẽn và tràn ứa của Đại-đội 1.

Bevern ra nhịp bằng hiệu còi. Schnwnecke đã bò tới 3 vòng sân thì Đại-úy Barth từ trong cửa sổ hô lớn: “Ngưng lại.”

Bevern bỏ mặc người lính bị phạt trong tình trạng bẩn thỉu và lững thững đi về phía phòng sĩ quan.

Đại-úy Barth hỏi với giọng nghiêm khắc:

– “Thế là nghĩa lý gì, hả Trung-úy?”

– “Tôi muốn chứng minh cho tên Schwanecke thấy rằng người ta là giòng dõi của loài cóc”.

– “Ngu xuẩn!”

Bevern đứng cứng ngắc. Barth vừa nói vừa phác một cử chỉ:

– “Và anh tin rằng thắng trận được bằng cách đó sao?”

Cử chỉ của Barth như muốn bảo. “Anh cút đi, anh cút đi, đồ khốn nạn!”

Bevern hiểu và đi ra, nhưng chưa đến cửa anh còn nghe thấy Đại- úy nói:

– “Vào địa vị anh, tôi sẽ không gây thù oán làm gì với một thằng cha như vậy. Chúng ta sắp phải sang đất Nga… Thôi bây giờ anh ra đi.”

Về phần Schwanecke, hắn loạng choạng đứng dậy, mặt mũi nhớp nhúa kinh tởm, ghê gớm, không còn ra hồn người. Thở không ra hơi, hắn dựa lưng vào bức tường của doanh trại.

Deutschmann chạy đi lấy một gà men nước, rồi cởi cúc áo sơ-mi của Scbwanecke. Hắn nhìn anh với cặp mắt lờ đờ, không tinh thần. Hắn nốc một hơi nửa gà men nước và dội phân nửa còn lại lên đầu.

Hắn lẩm bẩm bằng một giọng hằn học và khó nghe rõ:

– “Trung-úy Bevern.”

Deutschmann rùng mình, tự nghĩ:

“Điệu này, mình chẳng muốn là anh chàng Bevern chút nào.”

Anh hỏi:

– “Mày muốn uống nước nữa không?”

– “Thôi, Cám ơn bồ. Đủ rồi. Còn mày, hút thuốc không?”

Chính vào giây phút đó, Bác sĩ nổi danh Deutschmann đã im lặng thán phục tên tội phạm bất lương Karl Schwanecke. Và cả hai, tuy rằng quá khác biệt, từ đó cùng nhận thấy thương mến lẫn nhau. Tình cảm đó càng thêm mãnh liệt vì họ hiểu rằng, cũng như tất cả những người khác ở đây, họ chỉ có một kẻ thù.

Câu chuyện con thỏ lan truyền khắp quân trại nhanh như một mồi thuốc súng Khi đến tai Trung úy Obermeier thì ông lập tức mời ngay Trung-úy Bevern tới và nói:

– “Liệu tôi có cần phải lưu ý ông rằng chính tôi là Đại-đội-trưởng Đại-đội 2 chứ không phải ông. Với cương vị Tiểu-đoàn-phó, ông không có quyền lực gì đối với binh sĩ, ông chỉ nên hạn định trong việc trung gian liên lạc mà thôi.”

Bevern bắt đầu trình bày:

– “Cái thằng cha không ra người đó”

Obermeier cắt ngang :

– “Chưa kể tới việc hắn thuộc Đại đội của tôi, trong câu chuyện đó, ông đã quá lố khi chơi hắn một trò hết sức là tồi tệ.”

– “Ông muốn dạy tôi về bổn phận của tôi và cách thi hành bổn phận đó hay

sao ? Đại đội của ông là một cải chuồng heo, ông bạn thân ạ!”

Obermeier đáp bằng giọng lạnh lùng:

– “Ông sẽ phải phúc trình trước mặt Chỉ-huy- trưởng về những lời lẽ ông vừa nói. Hơn nữa, tôi yên cầu ông miễn việc gán cho tôi danh nghĩa “bạn” đó. Nếu chúng ta không phải đang thời chiến, có lẽ ông đã nhận được bàn tay tôi in trên mặt!”

Bevern, xanh rờn, nói: “Trung-úy!”. Rồi giơ tay gạt nhanh Obermeier sang một bên, ông đi vội ra ngoài.

Trở về phòng, ông rút trong ngăn kéo ra một bản danh sách và đánh dấu chữ thập vào chỗ ghi tên Obermeier. Ông nghĩ: “Tao sẽ cho mày biết tay. Tao sẽ cho mày biết tay. Dám nói như vậy với tao, hả ?”

Trung-úy Bevern được bổ nhiệm về tiểu- đoàn Trừng giới 999 không phải là không có mục đích. Ông ta được ủy nhiệm báo cáo tất cả sự việc xảy ra ở đơn vị này, và đặc biệt là thái độ chính trị của sĩ quan và hạ sĩ quan.

Ngày hôm sau, trong giờ điểm danh, binh sĩ được biết rằng trong hai ngày nữa Tiểu đoàn sẽ lên đường. Thượng sĩ nhất Krull thì đã biết từ tối hôm trước và vì thế mà ông ta say lúy túy. Muốn uống, dù uống nhanh mấy đi nữa, một người bình thường cũng phải uống từng hớp lớn hay nhỏ. Krull thì khác hẳn, bất cứ là la-de, rượu mạnh hay rượu chát, ông ta chỉ đặt miệng chai vào môi và để mặc cho chảy xuống mà cuống họng không hề có động đậy chút nào.

Trung sĩ Hete vừa nguỡng mộ, vừa ước ao được như vậv, một hôm đã phải tuyên bố : Đúng như một cái ống. Thằng cha biết cách đổ vào thùng chứ không uống. Điều lạ là làm sao nó không chảy tuột ngay vào đầu kia!

Dĩ nhiên là trong quân đội Đức cũng có điều quân kỷ cấm uống rượu quá độ. Nhưng nếu Thượng sĩ Krull áp dụng chặt chẽ luật lệ đối với người khác thì riêng đối với mình; ông lại chẳng lưu tâm chút nào về điều đó. Khi đã giận dữ lên, ông ta sẵn sàng quên điều cấm kỵ, uống thả giàn theo lối uống như súc vật của ông, để rồi nhức đầu suốt cả ngày.

Và, tối hôm đó, ông đang giận dữ… và lo sợ nữa, ông giận dữ với Schwanecke, với Trung-úy Bevern, với Trung úy Obermeier, với tất cả binh sĩ trong Đại đội, với tất cả mọi người trên trái đất, với luôn cả trái đất, với cuộc đời chó má! Ông lo sợ vì Nước Nga, vì cái tên giản dị đó, vì tất cả những gì có thể xảy ra nơi đó. Không những chỉ riêng một việc là tụi Nga nó bắn và dám trúng ông quá, mà còn truyện Tiểu-đoàn khi tới đó có thể sẽ được lãnh võ khí, và lúc bây giờ, ai cấm được những thằng cha như Schwanecke nhắm súng vào thượng sĩ nhất Krull thay vì nhắm vào một tên Nga? Cứ nghĩ thế mà ngao ngán thay !

Một lũ khốn nạn! Đáng lý ra phải xếp hàng chúng trước một bức tường và Pan…. Pan.s… Pan… Chỉ có cách duy nhất đó thì mới được yên thân…

Bởi thế nên ông mới uống rượu và nhìn qua cửa sổ bằng cặp mắt lờ đờ, rồi nói lớn :

– “Cục cứt! Đất Nga! Thế là phèo!”

Ông không có bạn, chẳng có bồ, chỉ riêng mình với giận dữ, nỗi lo sợ, với tiếng nói của mình, với quyền hành của mình… và một đám binh sĩ thù ghét ông. Krull cảm thấy quá thiếu thốn cho một người. Và ông uống, uống mãi cho tới khi lăn kềnh ra đất.

Cũng khi đó, trong phòng ngủ của đại đội 2, Schwanecke bảo:

– “Này, tụi bây. Trong vài ngày nữa, bọn mình sẽ chuồn khỏi nơi này.”

Deutschmann hỏi. “Sao vậy?”

Tên mặt chuột nhận xét: “Truyện đó ngửi thấy rõ mà.”

– “Mà đi về đâu?”

– “Về nhà với má!”

Schwanecke mắng tên mặt chuột: “Câm mõm mày lại!” làm tên này im ngay. Hắn nói tiếp: “Chuyện này quan trọng đây. Tao cũng cảm thấy chuyện mình sắp chuồn đi nơi khác, Chắc chắn là sang Nga.”

Wiedeck nằm trên giường hỏi vọng lại : “Sang đó làm cái cóc khô gì?”

Schwaneeke cười đảp: “Đếch có đoán được”.

Deutschmann khẽ nói: “Nước Nga…”

Tên mặt chuột tiếp theo: “Một xứ sở khốn kiếp.”

Schwanecke nghiêng người khẽ đấm đấm vào mạng sườn của Deutschmann và nói: “Đừng có lo, giáo sư. Sẽ chẳng có gì ghê gớm đâu. Và tao sẽ cho mày biết một chuyện hay (hắn thấp giọng tới nơi đó, sẽ có trăm ngàn phương cách. Chính tao đây nói cho mày biết vậy đó.”

Viên cựu Đại-tá hỏi: “Anh nói vậy là nghĩa sao?”.

Schwanecke làm như không nghe thấy. Hắn nhắm mắt, tiếp tục nói với Deutschmann:

-“Rồi mày sẽ thấy, giáo sư ạ. Tao là cáo già ngoài mặt trận mà. Tao đây này, tao biết rõ. Tao đã bảo là có vô số cách thức mà. Mày sẽ phải kinh ngạc, nếu không tao đếch phải là Karl Schwanecke nữa. Mày tưởng tao còn khoái chết vinh quang ngoài chiến địa, chết vì lãnh tụ, vì dân tộc, vì tổ-quốc lắm hay sao?”

Người bạn triệu phú

vietmessenger.com

Sơn Nam
Post by Sơn râu 25 Aug 2024

Phần 8

Những viên thuốc bổ

Chợ Tết bắt đầu rộn rịp. Tân mang theo ba trăm đồng, gọi là để tiêu xài trong buổi du Xuân thường lệ. Hôm nay là 27 tháng chạp. Anh ngỡ mình đang ăn Tết. Tết ở trong lòng chớ ở đâu xa. Hễ ngày nào mình vui, đắc ý, ăn no ngủ kỹ, gặp chuyện may mắn, công việc làm ăn phát đạt nhảy vọt và gặp người đẹp là ngày ấy vui như Tết.

Sáu bảy ngày qua, Tân hãnh diện, cho rằng mình hiểu “nghệ thuật sống” hơn ai hết. Anh thức đêm, uống trà, ra sân đón hơi gió lạnh, lúc nửa khuya. Như vậy là anh đã vui Tết trước thiên hạ trong sáu bảy đêm, anh thưởng thức sáu bảy đêm giao thừa. Nhưng khi sáng ra, anh thức dậy, cảm thấy chưa thỏa mãn. Niềm kiêu hãnh ấy quả tang là giả tạo.

Tết chỉ vui khi mọi người cùng vui. Chẳng ai có thể ăn Tết một mình, vào ngày giờ đó họ qui định riêng, trong thế giới riêng. Tết là niềm vui chung của dân tộc. Hễ toàn dân ăn Tết thì mình mới vui Tết.

Tân cười khì: Khi soi gương chải tóc. Hổm rày, mình là con cá lội trong chậu mà ngỡ rằng lội giữa biển khơi. Niềm vui ấy tuy có nhưng giả tạo. Niềm vui chung của đồng bào thành thị vẫn là thứ tình cảm lâng lâng, e dè. Ai nấy mua sắm hoặc chuẩn bị mua sắm. Tết là đóa hoa hàm tiếu, chưa nở. Tân vui vẻ ra đường với thứ tình cảm chân thành: sẵn sàng hòa mình vào đám đông, như hột muối tan trong biển người.

Ba trăm đồng, nghĩ cũng hơi ít nếu anh muốn mua sắm vài món linh tinh. Nhưng dùng để “dằn túi”, thì số tiền ấy khá nặng. Tân bồi hồi, thương xót vu vơ cho vài cô nữ tư chức nào đó, khá xinh đẹp, dạo phố với mười lăm, hai chục đồng (hoặc không có đồng nào). Các cô ăn mặc sạch sẽ, bước trầm tĩnh… như kẻ có nhiều tiền “dằn túi”… Tân nhớ rõ và biết tên vài ông bạn lái vespa, lái ô tô với hai chục đồng trong túi. Anh gật gù:

– Mình thuộc vào hạng người khá giả rồi. Ba trăm đồng là bao nhiêu hơi ấm triền miên. Tiểu thuyết gia S. Maugham đã từ trần nhưng để lại câu nói bất hủ: “Đồng tiền là giác quan thứ sáu”. Nghĩa là có nó thì mắt, tai, mũi, lưỡi và da tay của con người mới hoạt động, hửi xem, sờ mó đúng mức. Huống hồ mình đem theo để lấy hơi ấm chớ không xài. Năm nay dường như ông chủ không thưởng tiền Tết và không cho mượn trước số tiền nào cả. Về lý do, mình không nên biết, biết cũng vô ích.

Tranh chấp với ông chủ, theo luật lao động, là chuyện chung của mọi nhân viên. Anh em dám kêu nài tới mức nào thì mình cũng gật đầu “ba phải” tới mức đó. Không đứng đầu, không đứng giữa trong cuộc tranh chấp: Nếu đứng sau chót thì xấu hổ. Nên tìm chỗ êm ấm, trước người chót một bực để tự an ủi rằng mình còn một tí hào khí. Ta cứ đi ra phố.

Người trẻ tuổi nhìn chợ Tết với tâm hồn cởi mở. Món gì cũng lạ, cũng hay. Mỗi lần Tết là mỗi lần cảnh vật hiện ra đầy màu sắc sống động trong hiện tại, trước mắt trong khoảnh khắc mà họ ngắm nghía. Họ say mê, há miệng để rồi mau chán. Người lớn tuổi thường suy tư, so sánh hiện tại với quá khứ. Mấy gian hàng sát chợ Bến Thành chưa làm cho Tân chú ý. Cũng bánh mứt, rượu Tây rượu Tàu, kem đánh răng, trái cây.

Tân chép miệng:

– Hơi nhàm. Nghe nói cho đốt pháo nhưng tại sao chưa có gian hàng bán pháo? Bao nhiêu thứ bánh mứt ấy mình đã xem, đã ăn hàng chục năm rồi.

Anh chắp tay sau mông, đề phòng trường hợp bị móc túi. Trông oai vệ, nhàn rỗi và phách lối. Anh tự ví mình như một chậu kiểng xấu xí, một thứ hoa dại, mọc xen vào chợ đời cho rậm đám. Một người không sản xuất mà cũng không tiêu thụ hàng hóa, nói đúng hơn là sản xuất những loại thơ văn không cần thiết để lấy tiền mua vài thứ xa xí phẩm rẻ tiền.

Có tiếng đàn ghi-ta vang lên ầm ầm. Một nhạc công rách rưới đang trình diễn bản gì đó – theo điệu nhảy “túyt”.

Khách qua đường bu lại để nghe. Họ xem chớ không phải nghe. Họ bàn tán:

– Đời bây giờ thiên hạ nhiều sáng kiến quá.

Lại có tiếng phản đối:

– Sáng kiến ác ôn, đáng bỏ tù, đáng truy tố. Chán ơi là chán. Tôi đứng đây nãy giờ, giận run nhưng biết ăn làm sao, nói làm sao con nhỏ này hết lớn rồi.

Tân đến nơi, ngóng cổ. Một cháu bé chừng 8 tuổi đang nhún chân, tại chỗ, hai tay bơi trong không khí, tóc uốn quăn queo, môi thoa son đỏ bầm, bên má điểm đốm son tròn lớn cỡ đồng bạc. Có lẽ hồi mới bắt đầu trình diễn, nó được đánh phấn. Giờ đây, phấn đã trôi, để lộ làn da đen đúa. Làn môi và đôi má như trầy trụa, rớm máu – những vết thương gây bầu không khí tang thương. Hai chân em bé cứ nhún, gọi là nhảy “túyt” để thu hút khán giả, xin tiền. Nó để chân trần, đầy bụi đất. Lỗ mũi nó phồng lên, miệng há hốc. Mệt nhưng chẳng dám thở than.

Một cô nọ ăn mặc sạch sẽ nghiêng đầu gần sát vai Tân, mái tóc thơm mùi trầm hương:

– Cho tiền tại đâu?

– Dạ, tại đây!

Người lên giọng trả lời đang ngồi kế bên nhạc công. Anh ta mặc khá lành lặn, nâng cái dĩa mica đỏ lên cao. Hai đồng bạc chì rơi xuống cành cạch.

– Cám ơn, cô bác. Em cháu nó nghèo, nó phục vụ nghệ thuật thuần túy.

Cô nọ như chẳng buồn đứng nghe và chẳng muốn nhận lời cám ơn. Đầu cô rút lui khỏi vai Tân. Mùi trầm hương thoang thoảng rồi tan biến.

Tân phân vân, chẳng hiểu nên đứng xem hay nên rời chân. Đứng để làm gì và đi đâu bây giờ? Liệu nơi khác còn cảnh nào lạ mắt vui tai hơn không? Mấy người đứng xem cứ cằn nhằn:

– Chán quá. Hai người lớn mà bóc lột đứa con nít. Như vậy thì là khoa học. Mỏi chân mà không dám than van, nếu lười biếng chắc về nhà ăn roi mây.

– Tôi mà làm cảnh sát thì bắt mấy cái vụ xin tiền này.

Nhạc công vẫn đàn, nhướng mắt. Anh ta có lẽ đã nghe lời trách móc ấy hàng trăm, hàng ngàn lần. Lời nói là bạc, sự im lặng là vàng. Nhịp đàn khi khoan khi nhặt, lai rai vài đồng bạc bay xuống như bươm bướm xanh, rơi ngoài vành dĩa. Anh thâu tiền cứ ung dung lượm, bỏ thành đống.

– Kỳ quá. Coi thật là ngứa mắt.

Anh chàng mặt áo trắng cứ cằn nhằn một mình. Anh ta như hứng khí khi nghe lời phản đối:

– Chỗ người ta làm ăn. Anh chán thì đi chỗ khác. Tôi chẳng bà con cật ruột gì với đám này. Nếu không thích thì mình đừng cho tiền. Ai móc túi mình đâu mà mình cằn nhằn.

– Nhưng tại sao anh đứng coi!

– Tôi đứng coi vì lý do khác. Tôi phản đối nhưng tôi im lặng, tôi không cho tiền.

Chàng nọ tiếp tục đả kích:

– Như vậy là anh đồng lõa với vụ bán buôn nghệ thuật này?

– Tôi đâu có đồng lõa. Tôi không cho tiền. Tại sao ta thắc mắc chuyện nhỏ bé này khi nước nhà loạn ly?

Chàng áo trắng trợn mắt:

– Chuyện quốc sự hả?

– Thời bình cũng vậy. Tôi nhớ hồi xưa, mấy người hát Tiều, hát Quảng nuôi con nít từ thuở lọt lòng đặng cho tụi nó đóng vai chánh, hò hát suốt đêm đến tối ba bốn giờ khuya để được ăn một tô cháo. Bây giờ, con nhỏ này sướng hơn.

Chàng áo trắng đáp:

– Nhưng vi phạm luật lao động… Bắt buộc trẻ em đứng nhảy nhót cả buổi như hình phạt đối với tù nhân.

– Ở đây chẳng ai làm mướn cho ai cả. Có thể em bé là con của người gảy đờn. Đem luật lao động nói nơi đây là sai.

– Có sự gì… bóc lột kỳ cục, vô nhân đạo…

– Bóc lột à? Những người đứng xem mà không trả tiền mới thật là kẻ bóc lột…

Tân giật mình. Cãi vã với họ chăng? Họ chửi xéo anh rồi. Thôi thì đi nơi khác. Anh… tự móc túi, đem ra mớ giấy năm đồng, hai chục đồng. Rất tiếc là không có bạc lẻ, đưa cho họ thối lại bốn đồng thì… vô duyên, thôi thì cho phứt năm đồng.

Anh quay mặt, thở phào. Một người nói lẩm bẩm bên tai anh:

– Xài vô lý quá. Tụi nó là… chim mồi.

Tân nhìn người nọ:

– Thiệt vậy sao?

– Ông chưa tin lời tôi thì thôi. Hai thằng cãi nhau là chim mồi, nhử ông, khiêu khích ông để ông cho tiền.

Tân gật gù:

– Hơi vô lý. Đâu phải thảy bài ba lá mà chim mồi? Nếu chim mồi… thì họ vô tình làm chim mồi. Họ cãi vã vì tự ái, rốt cuộc bọn kia thủ lợi. Thôi! Vấn đề nghệ thuật là vô giá. Họ biết trình bày khéo léo. Tôi khen ngợi sự trình bày đó chớ tôi có bố thí, mắc mưu họ đâu…

Người nọ lẩn khuất trong đám đông tự bao giờ. Tân bẽn lẽn vì đoạn chót của câu nói chỉ có một mình Tân nghe thôi.

Anh bước tới, đứng lóng ngóng một chập vì lề đường quá chật hẹp.

– Thầy Hai!

Cô gái bán kẹo, thuốc đang chào Tân. Quen thân lắm. Hai năm qua, Thỉnh thoảng Tân mua chịu thuốc hút của cô ta. Và lâu, Tân cho cô ta thiếu chịu vài chục đồng, khi thiếu tiền lẻ thối lại.

Tân mượn cái ghế, ngồi dựa lưng vào gốc me. Vài tiếng pháo nổ. Nhân viên cảnh sát cằn nhằn. Những cây pháo được đốt trộm nhưng nó công khai. Chẳng lẽ truy nã thủ phạm? Hai em bé nhăn nhỏ, xòe tay, chìa ra mấy cây pháo.

Tân hỏi cô bán thuốc:

– Khá không?

– Bán được được. Thầy mua thuốc xì gà không? Còn hai hộp.

Tân đứng dậy. Một hộp thuốc bán…, theo giá vốn là 450 đồng. Chẳng lẽ anh mua chịu đợi năm sau mới trả tiền. Ngồi đây làm gì? Anh đáp:

– Mai chiều tôi mua.

Hai bên lề đường, vẫn chưng bày những món hàng quen mắt: ly chen, đồ chơi con trẻ con, khăn tay, nút áo man-sết… Tân lắng nghe… Giữa tiếng ồn ào, giọng đàn giựt gân vẫn còn phía sau lưng. Chắc rằng cháu bé nó đang nhảy và hai tên kia vẫn cãi vã lai rai. Anh đào sâu cái triết lý vừa thâu thập lúc nãy.

– Chỉ cần cách trình bày cho khéo léo là thành công trên đường đời. Nhưng đó là sự thành công rẻ tiền. Âu cung là một kinh nghiệm sống. Mấy tên chim mồi đánh mạnh vào tâm lý những kẻ nông nổi, nghèo tiền nhưng giàu tự ái.

Phải chi mình cho tụi nó một đồng bạc như cô thơm mùi trầm hương, rồi đi tuốt thì khỏe trí biết bao. Cô nọ xử sự tỉnh táo vô cùng. Không cho thì tỏ ra kém đứng đắn. Thà rằng cho chút ít rồi đừng suy nghĩ. Thái độ của mình tuy đứng đắn nhưng dại dột, đã tốn tiền nhiều gấp đôi, lại còn nghe thêm tiếng chửi của bọn chim mồi.

Tân dạo hết quãng đường, quẹo về bên trái, theo đường Công Lý rồi đổ qua Lê Thánh Tôn. Ở đây, yên tĩnh hơn. Anh hút thuốc phì phà. Nhiều cô gái đẹp đi ngược chiều.  Họ mặc áo lạnh tuy trời chưa lạnh cho lắm. Màu áo lạnh làm ấm áp những người chung quanh: Tân thấy yêu đời. Lề phố thưa thớt, kém vẻ xô bồ xô bộn, chẳng cần chen lấn. Dường như đường này dành riêng cho những du khách loại chọn lọc. Khỏi sợ bị móc túi.

Tân dí mũi vào tủ kiếng xem mấy đôi giày da sấu. Non ngàn bạc, làm sao mua nổi? Anh thấy thấp thoáng vài bóng hồng từ trong tiệm lú ra. Mấy cô bán hàng đẹp quá. Mấy cô không mời khách hàng, không châm chọc vào lòng tự ái của thân chủ. Những cửa hiệu ấm áp lâu đời, nói tóm lại là… thuần. Chủ nhân mặc đơn giản, không khoe của cải và dường như họ mỏi mệt vì sống lâu năm cuộc đời đầy tiện nghi.

Mấy cô bán hàng đi đứng dịu dàng, ít nói ra vẻ ta đây là thân nhân của chủ nhân chớ không phải là người làm công. Thích quá! Tân rảo bước chợt có bàn tay chìa ra:

– Thưa ông!

Tân trố mắt. Ba bốn người đàn ông đang bán thuốc cao đơn hoàn tán bên lề đường. Họ trao cho anh một tấm quảng cáo:

– Mời ông xem.

Tân gật đầu:

– Cám ơn.

Rồi dợm chân bước tới.

Anh nọ thân ái nắm tay anh.

– Xin lỗi ông, chúng tôi hiểu rằng bấy lâu nay ông sống ở Sài-gòn, ông chán cái lối quảng cáo rồi. Lối quảng cáo thường lố lăng, phải vậy không ông?

Rồi anh ta cướp câu trả lời của Tân để tung ra mớ lý luận ngọt ngào như những dòng nước mưa từ trên máng xối chảy xuống rơi lõm bõm vào lu:

– Tấm giấy quảng cáo này thô sơ, chẳng có gì bảo đảm. Chúng tôi bán chiêu hàng cho nhà thuốc ra mắt! Chúng tôi xin hân hạnh…

Tôi rất chán loại cao đơn hoàn tán. Nói chung, anh sợ những loại… sâm nhung bổ thận bào chế bằng cơm nguội quết với nước đường, vò viên tròn “Trước mặt mấy cô gái đẹp mà mình mua thuốc bổ thận tráng dương, thì mất duyên hết”. Anh từ chối:

– Xin hẹn dịp khác.

Anh nọ như chẳng nghe lời từ chối của Tân:

– Đây là hộp thuốc. Mời ông xem.

Tân dè dặt, chẳng muốn sờ tay vào.

Anh nọ đặt hộp thuốc vào lòng bàn tay Tân:

– Ông cứ lấy. Chúng tôi kính biếu, không lấy bất cứ một đồng xu nào. Chúng tôi mong ông dùng thử. Như vậy cũng đủ hân hạnh cho… bổn hiệu.

– Chà, tôi sợ thuốc lắm, vả lại tôi mạnh khỏe.

Vừa nói, Tân vừa liếc về phía mấy cô bán hàng. Mấy cô nghiêm mặt, nhìn nhau. Tân lúng túng. Anh nọ thúc hối:

– Chúng tôi khổ tâm lắm nếu biết rằng ông từ chối. Chúng tôi kính biếu. Nếu ông mạnh khỏe thì đem về tặng cho các bạn thân.

Tân mân mê hộp thuốc. Dưới lớp kiếng, hiện sáu hoàn thuốc màu vàng, bao sáp.

Anh nọ day lại đồng bạn:

– Đưa thêm cho ông hai hộp nữa…

– Cám ơn. Đủ rồi. Để mấy anh tặng cho người khác.

– Xin lỗi ông, ông là người đứng đắn, có nhiều bạn thân ở Sài-gòn. Chẳng lẽ ông tặng thuốc cho người này mà quên người kia. Đây, tất cả ba hộp. Và xin lỗi ông, ông trao cho tôi… để tôi gói lại kỹ lưỡng. Chẳng lẽ ông mang bao hộp thuốc này di ngoài đường, coi mất vẻ đẹp.

Người đồng bọn của anh kia gói ba hộp thuốc, gói chậm rãi. Tân đang thắc mắc, chẳng hiểu đem ba hộp thuốc nọ về đâu? Nếu là cơm nguội quết với nước đường thì ba hộp kia trị giá ít lắm 30 đồng. Tại sao họ dám biếu với thái độ hoàn toàn cởi mở? Phải chăng đây là kiểu quảng cáo mới, giống như vài nhà báo dám tặng không số ra mắt để câu độc giả hòng bán số thứ hai, họ đã nghiên cứu tâm lý giới tiêu thụ, tin rằng thế nào Tân cũng đồn đãi việc tặng thuốc ấy cho các bạn, hoặc ít ra anh cũng nói lại với vợ con.

Anh bán thuốc nói:

– Xin ông vui lòng thông cảm giúp anh em chúng tôi một số tiền mọn. Chúng tôi trong ban quảng cáo, gồm 3 nhân viên, đi trên chiếc xe… mô bi lết này và hai chiếc xe đạp kia. Thưa ông, nếu chúng tôi ngửa tay xin ông mười đồng, chẳng lẽ ông không cho. Hoặc giờ phút này, đáp lại món quà mọn của chúng tôi… có lẽ ông sẵn sàng cho chúng tôi giải khát một chai “la ve”.

Tân bắt đầu hiểu rằng đã sụp bẫy. Mấy cô bán hàng che miệng, ló đầu ra cười tủm tỉm. Một nhân viên cảnh sát đứng nhìn Tân rồi cười khì. Biết sao bây giờ? Tân hỏi khẽ:

– Tôi không lấy thuốc. Nhưng mấy anh muốn chừng bao nhiêu?

– Dạ, tùy ý ông. Ông cho một đồng bạc, chúng tôi cũng không dám từ chối. Đây là buổi khai trương…

Tân đưa ra tấm giấy 10 đồng. Anh nọ nói với đồng bạn:

– Gói hộp thuốc đưa cho ông. Ông còn bận nhiều việc khác, cám ơn ông.

Anh ta trao gói thuốc. Tân sửng sốt, chẳng biết nói sao. Hồi nãy, anh ta tặng ba hộp, giờ đây, bớt lại còn một hộp. Tân cầm lấy, cười bẽn lẽn, nhủ thầm:

– Nếu không lấy, hóa ra dại vì mình đã tốn 10 đồng. Tụi này khôn quá. Nó bắt buộc mình mua một hộp thuốc “Cơm nguội nước đường” này với giá 10 đồng! Ôi thôi! Xui xẻo quá.

Tân gọi xích lô đạp, ngồi lên chẳng cần trả giá trước. Anh muốn ra khỏi con đường này cho nhanh để khỏi hổ thẹn. Vì tự ái, vì thể diện lặt vặt, vì muốn tỏ ra khoan thai, trầm tĩnh đối với mấy cô gái bán hàng mà anh lãnh một vố hơi cay. Cầm hộp thuốc trong tay, anh tự an ủi:

– Hồi nãy, mình xem nhảy “túyt” tốn hết 5 đồng, còn nghe thêm tiếng chửi xéo. Hộp thuốc này 10 đồng, gẫm đi gẫm lại rẻ hơn.

Nhưng Tân vẫn chưa yên tâm. Anh sợ mấy người bán thuốc cười khì, chế giễu anh là ngu dại:

– Chưa ắt nó dám ngạo mạn. Nó cần giữ thái độ… phục vụ thân chủ để tiếp tục lừa bịp những thân chủ đến sau. Ban đêm, về nhà, khi ăn cơm với vợ con hay khi nhậu la ve, nó mới dám cười.

Quăng hộp thuốc ư? Uổng quá. Đó là hộp giấy bồi khá cứng trên mặt có kiếng dầy, thứ thiệt, chung quanh in nhãn hiệu bốn màu sặc sỡ. Dùng nó để làm gì đây? Xế chiều, Tân buồn bã hơn bao giờ hết. Không xài phí mà vẫn tốn kém, không dám mở miệng ra mà vẫn bị mắng ngược, không lường gạt ai mà sao lại chua chát đắng cay? Nói ra, thiên hạ thêm cười chê. Chiếc xích lô đạp chạy bon bon. Chưa tới nhà, Tân nghĩ ra một biện pháp để tạm giải quyết cái hiện tại ê chề:

– Đêm nay mình nấu nước trà, ăn thử một hoàn thuốc, ăn chơi như trẻ con ăn kẹo. Nếu thuốc mất vệ sinh thì bị sình bụng, chết chóc gì. Muốn cho vui, mình mời thằng bạn thân nào đó, mỗi đứa ăn chơi ba hoàn cho hết hộp thuốc, ăn được mười phút, tức là một đồng bạc giết được một phút của… cuộc đời!

Người bạn triệu phú

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 25 Aug 2024

Photo by Sơn râu

Phần 7

Nhớ năm Thìn

Gió lạnh, mưa lê thê. Tôi hay tin nạn bão lụt miền Trung quá trễ. Những con số 7000 người chết, hàng triệu người không nhà cửa đã vượt ngoài sự tưởng tượng của tôi. Từ hồi lớn khôn đến giờ, tôi chưa từng thấy hàng trăm người chết – thấy tản mát, lần nào cả. Trong nghĩa địa, có hàng ngàn ngôi mộ nhưng là những ngôi mộ sạch sẽ, xác chết nằm yên ấm trong quan tài và trước khi hạ huyệt, người thiện có được an ủi bằng nước mắt của thân nhân bạn hữu, vài cục đất, vài cánh hoa ném xuống… Đi viếng một nghĩa đĩa có 7000 ngôi mộ, có lẽ tôi chỉ buồn buồn cho kiếp sống, thế thôi. Tôi nghĩ đến bảy ngàn – và hơn bảy ngàn xác chết của đồng bào miền Trung, ở một vùng mà từ thuở bé đến giờ tôi chưa từng đặt chân tới. Cớ sao dãy núi Trường Sơn lại giận dữ, trở thành một hung thần? Và biển Thái Bình lại trở chứng đột ngột? Nhưng trách chi núi, trách chi biển! Nếu suy luận miền Nam như thế, tôi sẽ trở thành một người lẩm cẩm, đóng cửa rút cầu, xa thực tế. Ngày xưa, đã nhiều người làm văn tế suông với những câu rất sáo lập đi lập lại. Lại còn những nhà hiền triết ngồi yên ấm bên chén trà nhìn qua cửa sổ để cảm thông với băng giá bên ngoài. Và những thi sĩ đốt lò hương trầm, uống rượu nồng, thả hồn đến tận chốn sa trường than khóc giùm các chiến sĩ đang chinh Đông chinh Tây. Rồi thương tiếc cho những nàng chinh phụ ở nhà đang ôm gối mộng nhìn trăng.

Không có bài văn tế nào nói hết nỗi đau khổ của kẻ chết, người sống trong trường hợp đặc biệt này. Bảy ngàn xác chết, nếu chất thành đống, ắt vun lên như quả núi. Oan ức biết là bao. Suốt 20 năm chiến tranh, họ đã sống, đã đau khổ, đã yêu nước, đã cày ruộng cuốc đất, để rồi chết vì một lý do tức tưởi như vậy, trong khoảnh khắc. Lại còn hàng triệu người không nhà. Một triệu tức là phân nửa dân số Sài-gòn, Chợ-lớn. Tôi chưa hình dung nổi một rừng người đông đảo như thế. Mấy năm nay, tôi chỉ thấy vài chục người ngủ ngoài lề phố, chung quanh nhà chú Hỏa Sài-gòn. Vài chục người không nhà, cảnh tượng ấy cũng đủ làm cho tôi chạnh lòng rồi. Một triệu là bao nhiêu! Nếu họ ngồi đâu lưng với nhau hoặc nằm gần nhau thì sẽ chiếm bao nhiêu cây số bề dài? Lố bịch quá! Giờ phút này những con người có lương tâm không được quyền “giải trí” hoặc tò mò “tìm hiểu” theo lối đó, lối tìm hiểu, giải trí của những kẻ sống ngoại cuộc, thủ lợi, ích kỷ tột độ và thông minh lặt vặt.

Tôi cúi đầu, cầm viết. Viết hiệu triệu chăng? Tôi chưa đủ thẩm quyền để hiệu triệu: “Hỡi đồng bào, chúng ta nên…”. Bấy lâu nay, tôi mang chứng bệnh “suy cổ nghiệm kim”. Tôi sực nhớ đến bài vè về Bão lụt năm Thìn, đăng trong Revue Indochinoise năm 1904, một loại tạp chí ít ai còn giữ được và xưa kia chỉ lưu hành trong một số người được thực dân ưu đãi. Sáu mươi năm về trước. Hơn nửa thế kỷ. Vào thư viện để lục lạo mớ giấy đầy bụi bặm ấy chăng? Để giải trí, để hoài cổ theo lối quí tộc, sang trọng! Tôi thiếu can đảm để làm chuyện ấy. Ra ngoài Trung để chứng kiến thảm họa, tìm đề tài chăng? Tốn tiền, vô ích. Tình thế cấp bách lắm rồi. Sự thật đang diễn biến thiên hình vạn trạng. Nhiều người chết, không được người sống đếm số – vì xác họ đã mất, mất trước khi người làm “công việc đếm” chú ý tìm họ. Nhiều người không nhà đang sắp sửa xuống ngủ dưới lòng đất vì bệnh, vì đói. Nhiều người mạnh khỏe đang trở thành phế nhân. Nhiều gia đình không còn là gia đình và người gia trưởng đang chết hoặc đã chết. Vợ con của họ sắp tung ra tám hướng trời; từ buổi này phải xa nhau, tan tác để mạnh ai nấy tìm sanh kế.

Tôi ra đường thở dài. Sở trường của tôi là cầm bút. Cái sở trường ấy nên sử dụng như thế nào cho có hiệu quả? Viết một bài để cho người còn sống đọc lên. Những người sống ở xa trung tâm bão lụt, đủ tiền mua báo hoặc đủ thời giờ mượn báo của người láng giềng mà đọc qua loa. Trời lạnh lắm. Chưa chắc thiên hạ đọc báo. Tôi tìm một đề tài về bão lụt. Thứ lụt thường niên ở Hậu Giang, vùng làm lúa xạ, tôi đã thấy rồi. Nó khác hẳn với nạn lụt ở miền Trung. Đài khí tượng cho biết: Bão có thể thổi qua Sài-gòn nhưng vào giờ chót, bão lại di chuyển ra miền Trung một lần nữa. Sài-gòn không bao giờ gặp bão to.

Tôi bước lầm lũi, lần hồi đến một ngõ hẻm ở đường T. B. T. để gặp lão Tư Nê. Lão ở một quê xứ với tôi. Tôi nhớ rõ: vào những năm “thái bình thịnh vượng” hễ đến đâu lão cũng bàn tới bàn lui chuyện bão lụt năm Thìn, tại Gò Công. Lão khoe khoang:

– Tôi sống trong cảnh đó mà.

Có người chất vấn:

– Năm Giáp Thìn, đời vua Thành Thái, lão mấy tuổi?

Lão đáp:

– Mười lăm tuổi.

– Bốn năm chục năm trôi qua, làm sao lão nhớ được chuyện hồi thuở mười lăm?

– Sao không nhớ! Chuyện thiên tai, người ta nhớ đến già, đến chết, truyền tụng cho con cháu, đâu phải để quên hoặc nhớ lai rai như chuyện trai gái, chuyện thua cờ bạc. Thảm thiết lắm.

Hồi mấy năm xưa đó, lão phổ biến hai câu hát về bão lụt năm Thìn:

– Gặp mặt em đây, mới biết em còn,  

Hồi năm Thìn bão lụt, anh khóc mòn con ngươi.

và:

 – Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc,

Gió nào độc bằng gió Gò Công…  

Lão nói tiếp:

– Hồi trước, người ta hát: “… Đèn Châu Đốc, Đất nào dốc bằng dốc cho Nam Vang. Một tiếng em than, hai hàng lụy nhỏ. Có một mẹ già, biết bỏ cho ai.” Sau trận lụt Gò Công hồi năm Thìn, câu hát sửa lại rằng:  “… Gió nào độc bằng gió Gò Công. Một trận Đông Phong, xiêu vợ lạc chồng. Em ngồi đây mà nhớ lại, nước mắt hồng tuôn rơi.”

Từ hồi tạm biệt với lão Tư Nê, tôi lên Sài-gòn, thỉnh thoảng lúc túng đề tài “Chuyện xưa tích cũ”, tôi gợi lại hình ảnh bão lụt Gò Công gọi là để mua vui một vài trống canh cho thiên hạ. Tư Nê lên Sài-gòn, trễ hơn tôi; hơn bảy mươi tuổi rồi còn làm ăn gì được nữa. Lão sống nhờ sự “hiểu biết” của đứa con trai út chạy xich lô máy. Thời buổi loạn lạc, còn hy sinh nuôi cha, còn sống gần cha là điều hiếm có. Nhà lão khá đông, thêm năm bảy đứa cháu nội; đứa con trai út có sức xoay trở, giành giựt từng thanh củi quế, từng nắm gạo châu. Mưa gió bấc năm ngoái, lão Tư Nê trở bệnh ho lao ho tốn gì, tưởng đâu sẽ nằm yên giấc trên nghĩa địa Chí Hòa. Ai dè trời còn bắt lão sống, sống để mà thông cảm với nạn bão lụt Giáp Thìn, sáu mươi năm đáo lại. Lần Giáp Thìn này, chắc chắn là lần Giáp Thìn cuối cùng của đời lão. Tuy ở xa trận bão, lão hãy tin rất sớm nhờ cái ra-dô Transistor, nhờ hình ảnh trên báo hàng ngày, hàng chục thứ báo. Thanh niên bây giờ mê “xi-nê-ma” như hồi thuở nọ, lứa thanh niên mười lăm tuổi của lão mê hát bội. Máy bay bay rền trời, ngày như đêm, nhiều hơn tiếng sáo diều. Và chung quanh lão, xe hơi nhiều hơn trâu bò ở xóm nhỏ, thuộc tỉnh Gò Công thời xa lơ xa lắc.°

– Cháu muốn hỏi thêm về bão lụt Gò Công để đăng báo hả? Xưa lắm rồi. Đúng sáu mươi cuốn lịch trên nóc nhà.

Tôi hỏi:

– Thưa bác có phải là mấy cuốn lịch Tàu mỗi quyển xem trọn năm, trong đó nào là tử vi, ngày tốt tháng xấu…

– Âm lịch… nói bậy bạ vậy mà đúng. Bây giờ, thứ lịch đó còn bán lai rai ở Chợ-lớn, ghi rõ thời tiết từng ngày, phương hướng xuất hành… Mỗi năm, mình mua một cuốn, xem xong thì treo nó lên nóc nhà. Đúng sáu mươi năm, tức là sáu mươi cuốn, nếu mình treo đúng thứ tự. Giáp Thìn và Ất Tỵ, Bính Ngọ… thì cứ sao y bổn cũ mà xài, khỏi cần mua thêm cuốn nào khác. Hồi đó, bác để dành đâu được bốn chục cuốn rồi chạy giặc liên miên.

– Bây giờ, người ta xài thứ lịch khác…

Tôi nói lẩm bẩm như vậy. Trên nóc nhà lão Tư Nê, có đến hai tấm lịch gỡ từng ngày nhưng dường như mấy ngày rày con cháu của lão quên gỡ. Tấm lịch này, ba mươi tháng mười. Tấm kia, ba mươi tháng mười một, có lẽ vì con nít xé quá nhiều. Lại còn tấm lịch xài mãn năm, dán trên vách, sắp tróc vì keo rã hồ tan khi mưa bay gió tạt. Tặng phẩm bất ngờ của nhật báo nào đó, phục vụ bạn đọc. Thanh Nga, Thanh Thúy gì đó cười mơ hồ bên cạnh núi Phú Sĩ Sơn và đảo Hạ Uy Di. Suốt năm cười mãi.

Lão Tư Nê vụt đứng dậy, chạy ra cửa, quát to:

– Hai, Ba, Hùng… vô đây. Kiếm cái áo khác bận vô. Sổ mũi đó.

Rồi lão day lại phía tôi:

– Mấy đứa cháu nội. Nó liến khỉ, chịu không nổi.

Tôi tìm cách gợi lại chuyện bão lụt Năm Thìn.

– Thưa bác…

– À! Để tôi nói tiếp. Bây giờ khác rồi.

– Thưa bác, nhưng người ta chết ngộp, mất xác như hồi xưa. Nhờ bác nói lại vài chi tiết… để viết lên báo. Chẳng lẽ cháu ra tận ngoài miền Trung.

– Thì năm đó, cuối tháng Tư chớ không phải tháng Mười. Đầu mùa mưa, ai cũng tưởng là không có sao. Dè đâu, gió trở ngọn thổi mạnh, từ 10 giờ sáng đến 10 giờ đêm. Nước dâng lên. Người ta hơi lo nhưng an ủi: “Bất quá thì nó ngập tới bộ ván. Mình lên bộ ván mà ngồi”. Lát sau, người ta nói: “Bất quá thì nước ngập… tới mái nhà”. Trễ quá rồi. Trời tối đen như mực, vào giờ ngọ, ngửa bàn tay cung không thấy. Sóng đánh ầm ầm, bể vách nhà, vách bằng lá. Thôi thì chỉ còn cách lên xuồng ghe mà tản cư, kiếm mấy chỗ có giồng đất cao. Ghe chìm thì chết. Nếu ghe không chìm thì mình tới một chòm tre ở xa xa. Nhà nơi đó bắt đầu ngập. Thiên hạ chạy loi ngoi ra ngoài. Gió thổi mạnh, mưa quá lạnh. Họ kiếm gốc cây to hoặc vách nhà ngói nào đó mà núp. Cây ngã, vách sập. Chỉ còn một cách trốn tránh sau cùng là nhảy xuống mương, theo kiểu xuống “tăng xê”. Nằm dưới mương, ít gió, không bị cây đè. Nhiều người mang theo cái nồi, cái chảo bằng gang mà đội cho chắc chắn. Nhưng nước ngập ao, ngập mương… Con nít, đàn bà, ông già thì chết tự hồi nào rồi. Mấy người đau ốm thì khỏi cần nhắc tới. Nãy giờ, tôi nói tới bọn đàn ông trai tráng, vai u thịt bắp…

– Thưa bác, họ lội hoặc tìm khúc cây, miếng ván mà nương tựa…

Lão Tư Nê lắc đầu:

– Tay chân họ tê cóng rồi. Nãy giờ ngồi đây, xa trận bão hàng ngàn cây số, cháu thấy không? Bão đã tan, bão đã đi xa mà mình hãy còn lạnh huống gì ở tại chỗ. Thí dụ như bây giờ, cháu nhảy vô lu nước mà ngâm mình, chừng vài phút đồng hồ thôi. Bụng đói, người ta chịu lạnh dở lắm. Người ta van vái Trời Phật, ông bà đất nước. Nhưng giữa ban ngày, trời tối mù mịt. Người ta đâu phải là vật vô tri vô giác, kẻ tán tận lương tâm nhứt cũng nhớ tới vợ, tôi con, tới cha mẹ. Cha mẹ chết từ nãy giờ rồi. Họ mất tinh thần. Ngoài ra, đồng ruộng ngập nước. Trâu bò là giống vật mạnh mẽ, lội giỏi nhưng không thấy con nào nổi trên mặt nước. Tụi nó chìm hết rồi. Chỉ còn vài người cuối cùng, trên biển, thứ biển đầy sóng gió, lạnh như nước đá, thứ nước đá màu đen. Họ chưa lội, chưa quơ tay quơ chân là đã chết chìm rơi xuống đáy nước như cái thây ma. Chẳng một ai nghe tiếng than khóc của ai. Lạnh tê môi, làm sao khóc ra tiếng? Vài người còn sống sót, nhờ họ cỡi trâu lúc trận bão vừa mới tới. Trâu chạy rồi trâu lội qua phía Mỹ Tho. Còn những người sống sót khác… họ có phước vì hôm đó không có mặt tại vùng biển Gò Công. Họ đi thăm bà con từ hôm trước. Lại có nhiều người từ xứ khác tới Gò Công để… lãnh đủ, một thuyền một hội.. Giáp Thìn mà! Tôi tin rằng lịch của ông bà để lại ít khi sai chạy…

Tôi im lặng, chẳng biết hỏi lão Tư Nê điều gì nữa. Gió lại thổi, mưa rơi lắc rắc, không thêm không bớt. Mưa còn dai dẳng tới bao giờ? Lão nói to giọng, như muốn bước qua giai đoạn xã giao khác, đuổi khách:

– Hết rồi.

– Thưa bác, sau trận lụt đó, thiên hạ làm sao mà sống?

– Thì tạm vui mà sống. Năm đó, nhà nước Tây cai trị. Tây nghèo lắm. Từ Mỹ Tho, dường như chỉ có một chiếc tàu đò chạy qua Gò Công. Ở Mỹ Tho, thiên hạ cũng đói rách. Xuồng ghe đều bị quăng lên bờ. Nước rút lần hồi. Mùa màng sạch bách. Thôi thì móc củ co, câu cá, nấu canh bông súng mà ăn trừ cơm. Cá nhiều lắm. Nhiều thứ cá lạ, lội từng bầy. Nghe đâu mấy bầy cá đó từ Biển Hồ lội xuống. Đất bỏ hoang. Nhiều làng không còn một người, không còn một căn nhà. Ruộng đất vườn tược đều vắng chủ. Nhà nước Tây ra lịnh: “Ai muốn khẩn thì khẩn, ghi tên vô bộ mới, làm chủ, miễn là đóng thuế cho nhà nước”. Nhưng ai thèm. Đau xót nhứt là mấy người còn sống. Họ phải sống để thấy cảnh bọn… bất lương. Họ vớt thây ma để lột vòng vàng bán ăn, khỏe thân hơn làm ruộng. Thời xưa, mấy người khá giả luôn luôn đeo vàng trong mình. Hết vòng vàng thì họ vác búa mà bủa mấy cái tủ kính, tủ cẩn trôi lều bều. Trong tủ đó, có thể còn quần áo thứ mắc tiền và tiền bạc. Nhưng trách ai bây giờ? Nhiều người lương thiện bỗng trở nên bất lương. Và nhiều người bất lương nhưng trở thành lương thiện, đâm ra tay cứu vớt… mấy xác chết đem chôn cất, suốt ngày đêm. Chôn người rồi lại chôn trâu bò. Trâu bò chết, sình hôi thúi nực nồng, quạ ăn không hết vì quạ chết trong cơn bão. Thôi! Chuyện xưa nói bao nhiêu đó cho cháu nghe, nhiều rồi. Thời nay, khác hơn. Xứ mình có giặc.°

Tôi ra về cứ ngậm ngùi nghĩ mãi về lời nói của lão Tư Nê. Bão lụt ngày xưa và ngày nay có khác gì nhau không? Có khác chăng thì chỉ khác về chi tiết, chứ cảnh chết chóc thì cũng giống như nhau. Trời cứ mưa và cứ lạnh. Xe cộ qua lại ầm ầm. Những người ấm áp. Những người lạnh lẽo. Mỗi người một số phận. Thời nay, khác hơn. Hoài cổ là vô ích và lắm khi đưa chúng ta đến một nhận định sai sự thật. Thân xác con người cũng mới, với những đòi hỏi mới, những đau khổ mới – những đòi hỏi những đau khổ thật sự hoặc giả tạo “khôn sống bống chết, mạng ai nấy lo, hồn ai nấy giữ”. Cái phương châm xử thế ấy lại hiện ra trong tâm trí tôi. Nó dã man, vô nhân đạo nhưng lắm khi nó được… đề cao, trở thành một nguyên tắc của kẻ muốn thành công trên đường đời! Tôi tin rằng giờ phút này người Việt Nam đã “xét lại” phương châm “sang trọng, khôn ngoan ấy”. Nhưng chẳng lẽ mọi người đều… treo cờ tang, ngồi nhà mà mặc niệm. Lại một hình thức dối lòng, dối mà không biết rằng mình dối. Khóc lóc, rên rỉ là vô ích. Làm sao khóc được khi tình cờ trong những ngày này, có người gặp chuyện may mắn lặt vặt. Cuộc sống là cuộc sống. Tân nhạc, cổ nhạc… cứ hát lên đi! Báo hàng tuần, báo hàng ngày, cứ cạnh tranh sanh tử với nhau đi! Ai thèm rượu thì cứ uống. Ai có mền ấm thì cứ đắp! Vấn đề không phải là khóc lóc mà là một sự tổ chức khoa học. Người đang uống rượu, người đang hát, người đang đắp mền, người đang thất nghiệp đều muốn giúp đồng bào. Chỉ cần tổ chức đừng câu nệ hình thức. Kẻ hoang phí đang muốn mua giấy số.

Gió cứ thổi. Tôi về đến nhà. Viết xong chuyện bão lụt rồi. Viết qua chuyện ma, không bao giờ có. Viết qua chuyện tâm tình gỡ rối. Tâm tư bị xé ra muôn mảnh. Và bài này có đủ năng lực hấp dẫn ai không? Tôi hy vọng nó chỉ là nén hương ngắn ngủi, đốt quá muộn, không an ủi được kẻ chết nhưng họa chăng nó nhắc nhở cho một đời người còn sống lưỡng lự khô khan… chờ đợi. Một đôi người không phải ở miền Trung, nhưng đương sống ích kỷ tại Sài-gòn. Như tôi chẳng hạn.

Ông Sáu Lèo Và Sài Gòn 68

hungviet.org

8 Tháng Mười Hai 2017

Tô Văn Cấp

Post by Sơn râu 25 Aug 2024

Google photo

Với lối sống hòa đồng và thân thiện, phong cách chỉ huy rất sát với thuộc cấp nên Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia, “bị” đặt cho một tục danh “Ông Sáu Lèo”, cái tục danh quá ư là bình dân, nhưng lại được thuộc cấp gọi với tất cả tấm lòng thương mến và kính phục. Tôi xin theo các thuộc cấp của Ông để được dùng danh xưng “Ông Sáu Lèo” trong bài viết này.

Khoảng trung tuần Tháng 6/2017, cựu Đại Úy Nguyễn Quang… chánh văn phòng Thiếu Tướng Tư Lệnh Binh Chủng TQLC/VN gọi điện thoại cho tôi báo cho biết có toán truyền hình người Mỹ muốn tìm hiểu thêm về việc Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn tên đặc công VC Bảy Lốp vào dịp Tết Mậu Thân 1968 tại Chợ Lớn, anh nói:

-Trường đạị học Mỹ ở Texas (Briscoe Historical – University of Texas) tài trợ cho Mr Douglas Sloan cùng một toán chuyên viên truyền hình để quay cuốn phim Saigòn.68, họ đang tìm những TQLCVN đã tham dự trận đánh ở Chợ Lớn trong Tết Mậu Thân 1968, để hỏi về vụ Tướng Loan bắn tên VC Bảy Lốp, vậy anh có muốn “đóng phim” không?

-Lại truyền thông Mỹ! Khi còn sống Ông Tướng đã bị truyền thông và phản chiến Mỹ phê bình và phản ứng gay gắt về bức hình này rồi, nay ông đã mất, họ cần gì nữa, hay lại muốn đóng thêm cái đinh vào quan tài của ông chăng?

-Không phải đâu, họ muốn tìm hiểu thêm sự thật để trả lại công bằng cho Ông. Tôi nghĩ anh nên tham gia, ít nhất cũng cần một vài tiếng nói của chúng ta, những TQLCVN đã chứng kiến hoặc biết ít nhiều về vụ này. Tôi sẽ giới thiệu anh với cô Thúy Lan, một người trong toán quay phim và cũng là thông dịch viên, nếu anh muốn.

Chuyện Ông Sáu Lèo bắn tên đặc công VC Nguyễn Văn Lém (tự Bảy Lốp) bị phóng viên Adams chụp hình đã qua nửa thế kỷ rồi (1968-2017), truyền thông và phản chiến Mỹ đã làm Ông Sáu Lèo “lao đao” khi còn sống, lúc Ông Sáu qua đời, ông Adams gởi vòng hoa phúng điếu đến cho gia đình Thiếu Tướng Loan, với lời xin lỗi chân tình:

–“Tôi xin lỗi ông. Nước mắt đang dâng tràn trong mắt tôi”.

Khi còn sống Ông Sáu giữ im lặng trước làn sóng phê bình chỉ trích, ngày nay Ông đang ở trên chốn bình yên, một lời xin lỗi hay trăm lời khen chê, “một nửa sự thật”, chẳng ý nghĩa gì đối với Ông, nhưng “một nửa sự thật” còn lại rất cần thiết để làm sáng tỏ thêm chính nghĩa, tính nhân bản trong công cuộc chống cộng của đồng đội ông, của thuộc cấp ông nói riêng và Quân Đội VNCH nói chung. Vì vậy tôi đồng ý với đề nghị của Quang để nói với toán quay phim Saigon.68 những gì chúng tôi nhìn tận mắt, nghe tận tai, tay sờ vào sự thật. Tôi nói với Quang:

-Nếu thế thì được, bạn nói cô Thúy Lan liên lạc với tôi và cho biết qua sự việc… Vài ngày sau tôi nhận được email của cô Thúy Lan:

Google photo

ThuyLan Phan <phanthuylanXXX@gmail.com>

To:CAP TO

Jul 20 at 9:24 PM

Kinh goi bac To Van Cap,

Ten cua phan dau cuon phim la Saigon-68. Co the de ten nay, hay co the thay doi.

website: www.Saigon68.com

This is the first part of the film:https://vimeo.xxx

Password: xxx

-Đây la ve ong Douglas Sloan: https://xxx

-Funding, tai tro cho cuon phim tu:

1. Sundance

2. Briscoe Historical – University of Texas.

Cuon phim nay de noi len su that ve Tuong Nguyen Ngoc Loan…

Xin hen gap bac tai…

Cam ơn bac

Thuy Lan

***.

Sau vài lần trao đổi thêm tin tức, tôi và anh KCC đồng ý gặp Cô Thúy Lan, ông Douglas Sloan và toán chuyên viên quay phim tại văn phòng của người “nổi tiếng” Võ Đức Văn. Trong buổi tiếp xúc sơ khởi này ông Douglas và cô Thúy Lan xác định mục đích… và trao đổi với chúng tôi những công việc làm cho buổi quay phim chính thức. Ông Douglas cũng yêu cầu chúng tôi giới thiệu cho gặp thêm những Thủy Quân Lục Chiến có liên quan… nhất là “người trong hình” (tức là Tr/Tá TĐT/TĐ2/TQLC có mặt trong tấm hình khi Tướng Loan bắn Bảy Lốp)

Sau khi được biết mục đích của cuốn phim là tìm hiểu sự thật để trả lại công bằng cho Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan thì chúng tôi nhận lời sẽ tham dự buổi phỏng vấn quay phim. Còn việc Thúy Lan và Douglas muốn gặp “người trong hình”, tức Trung Tá Tiểu Đoàn Trưởng TĐ2/TQLC thì hơi khó, bởi vì ông đang tu tại gia.

Những TQLC có thể cung cấp thêm sự thật về bức hình và Tướng Loan gồm có:

-Tr/Tá NVĐ…Tiểu Đoàn Trưởng TĐ2/TQLC, (người trong hình bên phải, đội nón sắt). Hiện nay ông ở San Jose’, nhưng sau khi hiền thê qua đời, ông đã tu tại gia, không tiếp xúc với ai cả.

-Th/Úy KCC…Đại Đội 4/TĐ2, người bắt được Bảy Lốp từ trong chùa Ấn Quang chạy ra.

-Tôi, ĐĐT/ĐĐ1/TĐ2, được biệt phái đi theo Tướng Loan.

-Th/Úy HVQ…ĐĐ1/TĐ2. Nhưng Q. đang bị bệnh, nói năng khó khăn không tham dự được.

(Xin mở ngoặc ở đây: Khi biết HVQ… bị bệnh, ông Douglas, cô Thúy Lan củng đi với cựu Đại Tá Trần Minh Công đã đến thăm Q… tại nhà. Một nghĩa cử đẹp của phái đoàn khiến tôi thấy cần nói thay cho Q…, vì Q… là trung đội trưởng của tôi).

Trong ngày quay phim tại chùa BQ, tôi được bỉết có thêm Ông B.. một phi công đã từng bay ra Bắc… với Tướng Loan, và Anh Sáu Trần Minh Công (cựu Đại Tá Cảnh Sát, một cộng sự viên đắc lực và luôn đi sát với Tướng Loan).

Mặc dầu buổi quay phim chỉ có 3 “diễn viên” nhưng chuyên viên thì gần 10 người, máy quay quá nhiều, họ làm việc hết sức cẩn thận, điều chính từng chi tiết về âm thanh, ánh sáng, cho đến cả thế ngồi và động tác của “diễn viên”. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi được người đẹp (Cô Thúy Lan) đánh phấn tô son gương mặt sao coi cho được trước ống kính khiến tôi ngượng chín người.

Buổi quay phim kéo dài trong nhiều giờ, từng người riêng biệt nên tôi không rõ Ông B, Anh Sáu Công nói những gì và bằng ngôn ngữ nào, nhưng với tôi, vốn liếng tiếng Mỹ đong không đầy bàn tay, chỉ đủ giao tiếp hằng ngày, còn trình bày vấn đề quan trọng này thì tôi xin nói bằng tiếng Việt và cô Thúy Lan dịch lại cho Mr Douglas nghe.

Đã từ lâu tôi muốn kể chuyện “Mậu Thân và Ông Sáu Lèo” cho độc giả nghe, kể từ đầu tới đuôi, nhưng chưa có cơ hội, nay nhân dịp truyền thông Mỹ, Ông Douglas muốn biết thì bao nhiêu chất chứa bấy lâu nay như tự động tuôn ra, không cần suy nghĩ không cần đắn đo. Tôi nói như đang nhìn thấy khói lửa mịt mù Mậu Thân 68 ở khu vực chùa Ấn Quang Chợ Lớn, như nhìn thấy Ông Sáu Lèo và Bảy Lốp, tai như đang nghe đạn nổ đì dùng. Nhiều lúc cao hứng, tôi vừa nói vừa vung tay như ra lệnh cho binh sĩ tấn công vào mục tiêu khiến Ông Douglas Sloan ngơ ngác vì cô Thúy Lan phiên dịch không kịp, nên Ông Douglas thường ra dấu cho tôi “Stop talking” để ông đặt câu hỏi.

Vì quay phim nên mọi động tác phải phù hợp với chuyên môn và thời gian nên họ stop tôi là đúng, nhưng đối với tôi thì đây lại là một trở ngại lớn khiến tôi không nói được, chưa nói hết những điều cần phải nói, thôi thì tôi đành phải viết ra giấy kể đầu đuôi để tường trình cùng độc giả và may ra góp thêm được chi tiết nào có thể trả lại sự công bằng cho Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan.

***

Trước tiên là xin nhắc qua về Tiểu Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến (TĐ2/TQLC) tham dự trận chiến Mậu Thân tại Saigòn:

Vào giờ phút thiêng nhất của đân tộc Viêt Nam, đêm giao thừa Tết Nguyên Đán Mậu Thân 1968, VC vi phạm lệnh hưu chiến, đem quân đánh chiếm nhiều thành phố miền Nam VN, trong đó có Sài Gòn! Sáng Mồng Một Tết, TĐ2/TQLC được trực thăng Chinook bốc từ Cai Lậy rồi đổ quân xuống ngay sân cờ của Bộ Tổng Tham Mưu. Sau một ngày, một đêm giải tỏa xong các toán đặc công VC đã xâm nhập vào BTTM thì TĐ2/TQLC được tăng cường cho Tổng Nha Cảnh Sát, dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan để thanh toán VC đang chiếm khu vực chùa Ấn Quang.

Khi chúng tôi đến nơi thì thấy súng nổ giữa Cảnh Sát Dã Chiến và VC, khói lửa ngút trời, đồng bào đang tìm cách thoát ra khỏi vùng lửa đạn. Trong tình trạng hoảng loạn, họ mang theo bất cứ thứ gì có thể cầm tay như manh chiếu, cái chổi, cái nồi mà quên tài sàn quý giá. Tài sản quý giá nhất của đồng bào là con người đã bị VC cướp mất, đó đây, những xác người nằm bên vũng máu!

Đại Đội 1 của tôi và Đại Đội 4 của Đại Úy Vũ Đoàn Dzoan được lệnh bao quanh khu vực các con đường Bà Hạt, Vĩnh Viễn, Trần Nhân Tôn, Minh Mạng, Nguyễn Tri Phương v.v.. để xiết chặt vòng vây quanh chùa Ấn Quang, nơi VC cố thủ.

Vì khu vực có dân nên chúng tôi không được phép dùng pháo binh hay không quân mà chỉ có vũ khí cá nhân để tiến vào nơi địch đang cố thủ trong những căn nhà kiên cố nên đành “châp nhận thương đau”, vài đồng đội đã nằm xuống! Sau nhiều giờ kiên trì kêu gọi địch đầu hàng và dùng lựu đạn cay, lựu đạn khói (không sát thương, nhưng cay mắt, khó thở) khiến toán VC trong chùa Ấn Quang buộc phải nhảy qua tường bỏ trốn.

Trung Đội 41/ĐĐ4 của Th/Úy KCC đã bắt được vài tên, trong đó có một tên mang súng lục K54 (loại súng của cấp chỉ huy), trong người hắn còn dấu bản đồ có vẽ những vị trí quan trọng trong thành phố Saigon cần phải đánh. Biết đây là tên chỉ huy nguy hiểm, tên gây chết chóc khu vực chùa Ấn Quang và sẽ còn những nơi khác nữa nên Th/Úy KCC vội giải giao hắn lên Ban 2 Tiểu Đoàn và Tr/Tá TĐT/TĐ2 giao tên này cho Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan, đang chỉ huy cuộc hành quân tại đây, để kịp thời điều tra ngăn chặn âm mưu đánh chiếm của chúng ở những nơi khác. Tên chỉ huy này chính là đặc công, là khủng bố Nguyễn Văn Lém, tự Bẩy Lốp. Hắn đã bị Tướng Loan bắn.

Khi nhìn tấm hình Tướng Loan và Bảy Lốp, trước đây nhiều người cũng có câu hỏi tương tự như Ông Douglas hỏi tôi trong những lần tiếp xúc này:

-Vì sao Ông Loan lại bắn Bảy Lốp khi hắn đã bị bắt, ông có thấy không?

Tôi hiểu ý Ông Douglas muốn tìm một sự thật rõ ràng trong vụ này để trả lại “công bằng” cho Tướng Loan nên tôi cũng phải nói thật, không vì bênh vực cho ai mà nói sai tình hình tại chỗ lúc đó:

Việc dí súng dọa bắn một tù binh để khai thác tin tức là chuyện bình thường nơi chiến trường, nên khi nghe tiếng súng nổ ai nấy đều ngạc nhiên giật mình. Tr/Tá TĐT/TĐ2 NVĐ là người giải giao Bảy Lốp cho ông Tướng, nhưng không biết tại sao Bảy Lốp lại bị bắn, vì sự việc xẩy ra nhanh quá. Tôi đứng trong đám đông xung quanh Bảy Lốp, đang nói chuyện với anh Trương Tấn Bảo, nhiếp ảnh gia phòng Giảo Nghiệm của Tổng Nha Cảnh Sát, (Anh Bảo luôn đi theo Ông Tướng để chụp hình thời sự), thì bất ngờ nghe tiếng nổ, cả hai quay lại thấy… nhưng không biết vì sao Ông Sáu Lèo lại bắn, sự việc xảy ra quá nhanh, nhanh như một tai nạn. Chẳng bao giờ có cái vụ: “Ông Loan mời báo chí đến chứng kiến phiên tòa xử tội…” như một số cây viết tưởng tượng ra cho có vẻ lâm ly bi đát, tàn ác dã man kiểu “tòa án nhân dân”. Sự thật chỉ là một tiếng nổ bất ngờ và một người ngã xuống như hằng chục anh em TQLC của tôi ngã xuống, như hằng trăm người dân ngã xuống giữa hai làn đạn giao tranh trong đó có nhiếp ảnh gia Trương Tấn Bảo.

(Hình Bảo ngồi vespa với máy hình. Khi VC tấn công Saigòn đợt hai, sáng 28/5/68, chúng xâm nhập vào cư xá Phú Lâm A, nơi anh chị Bảo cùng “Ngũ Long Công Chúa” cư ngụ, anh vội bảo chị và các con lánh nạn vào nhà thờ trên đường Lục Tỉnh, còn anh ở lại… Khi im tiếng súng, chị và các con trở về nhà thì thấy Anh Bảo nằm trên vũng máu, hai tay bị trói, vết đạn ở cổ họng, ở bụng, máy hình bể nát bên cạnh xác anh!!!)

Nhiếp anh gia Adams được giải thưởng Pulitzer, được nổi tiếng vì chụp hình Ông Loan bắn đặc công, khủng bố (IS) Bảy Lốp, còn nhiếp anh gia Trương Tấn Bảo chưa chụp được hình các đồng chí của Bảy Lốp, đoàn quân “Giải Phóng” thì anh bị phỏng… và “được” giải thưởng 2 viên kẹo đồng và sợi giây thừng kèm theo nước mắt cùng những tiếng nấc nghẹn của vợ con! Nỗi kinh hoàng đó nào ai hay ai biết, nhưng niềm đau kéo dài mãi, bám theo những người thân yêu của Anh Bảo cho tới ngày nay!

Hai nhiếp ảnh gia, một nằm xuống, một vinh quang vì tấm hình!

Nếu chỉ nhìn phía trước tấm hình của ông Adams rồi trả lời câu hỏi trên thì chưa đủ, mà phải nhìn kỹ “phía sau” thì mới có cái nhìn chính xác và công bằng hơn.

Mỗi tấm huy chương “đều có hai mặt”, mặt trước màu vàng óng ánh chiến thắng vinh quang, “mặt sau” màu đỏ là do máu chảy ra từ thân xác của đồng đội và thuộc cấp đọng lại. Người mang huy chương hưởng tiếng khen: “Giỏi” của đám đông rồi cười sung sướng. “Kẻ” tạo huy chương thì nằm lại đâu đó trong xó rừng góc núi, không còn nghe được tiếng nấc nghẹn của người thân yêu!

Nếu nhìn phía trước tấm hình rồi hỏi: “Vì sao Ông Loan bắn Bảy Lốp” thì cũng nên lật “phía sau” tấm hình rồi hỏi:

-Vì sao Bảy Lốp có mặt tại Saigòn, mang K54 vào chùa ngày Tết Nguyên Đán?

-Vì hắn là một tên khủng bố, một tên “Isis”, không phải là một tù binh chiến tranh.

-Vì sao trong giờ phút thiêng liêng của dân tộc Việt đang đốt pháo, dâng hương, cúng tế tổ tiên ông bà thì súng VC nổ thay pháo, VC đốt nhà thay đốt nhang, thay vì con cháu mời tổ tiên về thì con cháu lại xách quần áo chạy giặc?

-Vì sao 10 người trong gia đình ông Tuấn gồm ông bà cha mẹ con cháu đang quây quân bên mâm cơm ngày Tết thì bị đồng chí của Bẩy Lốp cắt cổ, chỉ một bé trai thoát chết? Bé trai, con ông Tuấn ngày ấy, nay đang là một quân nhân trong quân đội Hoa Kỳ, đó là một nhân chứng sống cho sự thật mà Ông Douglas có thể tiếp xúc dễ dàng.

-Vì sao có “vành khăn tang cho Huế”? Hằng mấy chục ngàn người dân bị đồng chí của Bẩy Lốp tàn sát trong ngày Tết Mậu Thân 1968?

Xin mang lên bàn cân, một bên xác hàng ngàn dân vô tội và một bên Bảy Lốp rồi trả lời những câu hỏi “vì sao” ở trên thì mới chính xác và công bằng.

Ngoài những sự thật kể trên mà ai cũng thấy để có thể trả lời, thì cũng cần biết thêm Ông Sáu Lèo có phải là một người hiếu sát như truyền thông phản chiến kết tội không? Tôi là TQLC nhưng lại “bị” đặt dưới quyền Ông hai lần nên tôi thấy cần nêu ra một vài điểm khác lạ của Ông Sáu Lèo.

Lần thứ nhất: Tháng 5/1966 tại Huế.
Hẳn quý độc giả còn nhớ vào khoảng Tháng 5/1966 xẩy ra vụ “Bàn Thờ Phật Xuống Đường” ở Đà Nẵng và Huế khiến tình hình an ninh miền Trung bi đát. Sau khi Trung Ương đã thay vài vị Tư Lệnh Vùng I mà vẫn chưa ổn định được tình hình mà nguy cơ Miền Trung biến thành “trái độn” hay “vùng tự trị” thì Trung Ương mới đưa Ông Sáu Lèo giải quyết. Kết quả thế nào không cần nhắc lại mà tôi xin kể việc ít người biết:

Hai Tiểu Đoàn 1 vả 2 TQLC được đặt dưới quyền điều động của Ông Sáu Lèo. Khi các con đường trong thành phố bị bàn thờ Phật “xuống đường” khiến lưu thông tê liệt, Ông Sáu ra lệnh cho TQLC giải tỏa với mệnh lệnh phải triệt để thi hành là:

-Mọi quân nhân trước khi thi hành nhiệm vụ phải vái lạy bàn thờ 3 lần rồi mới được phép khiêng bàn thờ vào hai bên lề đường, tuyệt đối tránh mọi hư hại.

Lệnh từ Tr/Tá Chiến Đoàn Trưởng Nguyễn Thành Yên xuống cho Tiểu Đoàn Trưởng TĐ2 là Th/Tá Lê Hằng Minh rồi xuống đến Đại Đội Trưởng ĐĐ4 là Đ/Úy Nguyễn Xuân Phúc nên tôi là Th/Úy Trung Đôi Trưởng TrĐ43/ĐĐ4 cứ thế mà thi hành.

Khi chúng tôi đang lui cui vái lạy và khiêng từng chậu hoa, thùng nước (dưới mỗi bàn thờ đều có 1 thùng nước, không biết để làm gì) và tượng Phật vào lề đường thì Ông Sáu Lèo lại xuất hiện và nhắc nhở:

-“Các chú phải cẩn thận, phải thật cẩn thận, nhớ vái 3 lạy…”.

Từ một vị chỉ huy cao cấp, Ông Sáu đã xuống đến tận nơi đơn vị thì hành cấp thấp nhất để trực tiếp nhắc nhở và kiểm soát, điều này chứng tỏ Ông Sáu lo lắng đến tài sản của dân, đặc biệt là tôn trọng tín ngưỡng, dù tôi không biết Ông theo tôn giáo nào.

Chiều tối đã tới giờ lên đèn mà Huế như một thành phố chết, không ánh sáng điện đường, không người và xe cộ qua lại, chỉ có những đèn “hột vịt”, đèn cầy (nến) lập-lòe giữa lòng đường như những bóng ma, thấy mà rợn người.

Trung Đội 43 của tôi cứ theo y lệnh mà giải tỏa từ đầu đường Trần Hưng Đạo tới cuối đường, dọn đến giữa, nhìn lại phía sau thì thấy đèn nến lại xuất hiện, bàn thờ Phật lại “xuống” đường! Dọn đến cuối thì đèn nến đuổi đến giữa, đến sát sau lưng, phải dọn lại, làm lại từ đầu! Quân và dân cứ như chơi trò “núp-tìm”, buồn mà phải cười. Giữa khuya, “đêm không ngủ”, bao tử hành! Giá như dưới bàn thờ có xôi chuối thì cũng đỡ. Trời đã sáng rồi mà vẫn chưa xong khiến ĐĐT (Đ/Úy Phúc) thúc dục trong máy truyền tin:

-C.. Sao lâu thế? Nhanh lên, xong rồi thì di chuyển về khu chợ Đông Ba.

-Trình Thẩm Quyền chưa xong, dọn rồi họ lại bày ra, giống như bắt cóc bỏ đĩa.

-Không cần biết, ông làm sao thì làm để còn giải tỏa khu vực khác.

Đây là cái lệnh mà các cấp dưới ở chiến trường thường gặp. Mỗi khi trình lên cấp trên tình thế khó khăn, thay vì tìm hiểu tình hình và giải pháp thì thượng cấp ở tít mù xa, ở trên mây thường ra lệnh ngắn gọn: “Không cần biết, phải chiếm cho được mục tiêu bằng mọi giá”! Cái “mọi giá” ấy thường là những máu và nước mắt.

Lệnh trên bảo: “Làm sao thì làm” nên tôi làm theo ý tôi, cho gom bàn ghế, tủ thờ lại, làm vòng rào kẽm gai, thêm vài trái mãng cầu…Không phải mãng cầu gai (xay sinh tố) mà là mãng cầu “gài”, tức gài vài trái lựu đạn M26 xung quanh kèm theo miếng giấy vẽ cái sọ và hai cái xương bắt chéo rồi ghi: “Nguy Hiểm Chết Người, Không Đến Gần”.

Chả hiểu “thầy” bà hay ma quỷ (vc) xúi mà chỉ trong chốc lát đám đông kéo đến biểu tình la hét:

-“Đả đảo lính Thiệu Kỳ giết dân, đả đảo, đả đảo…”

TQLC chúng tôi đã quá quen cảnh đả đảo này trong mấy ngày trước ở trong Đà Nẵng rồi nên cứ “mackeho”, nhưng thật bất ngờ thấy xe jeep Cảnh Sát Dã Chiến chạy đến và Ông Sáu Lèo bước xuống, (thấy Ông đồng bào càng la hét mạnh hơn), Ông nhìn mấy trái lựu đạn gài rồi cau mặt mắng, đủ cho một mình tôi nghe:

-Ai bảo chú mày làm vậy? Nguy hiểm quá, lỡ bọn ly khai vin vào cớ này làm lựu đạn nổ, chết dân là chú “chết” theo, gỡ mấy trái lựu đạn kia ngay đi.

Sau khi trình bày cho Ông biết tình trạng “bắt cóc bỏ dĩa” rồi tôi dẫn Ông đến sát hàng rào, ngay bên trái lựu đạn rồi nói nhỏ:

-Tôi hù thôi, lựu đạn đã rút ngòi nổ rồi, chỉ còn là cục đá.

Sau đó tôi móc trong túi áo ra cho ông thấy mấy cái ngòi nổ, cỡ cái đũa, dài hơn nửa ngón tay, Ông nháy mắt hiểu ý…, nhưng vẫn bảo tôi gỡ lựu đạn cất đi, xong ông dùng loa kêu gọi:

– Đồng bào đừng mang bàn thờ ra đường nữa, làm như vậy là đồng bào cản trở lưu thông, tự hại mình, nếu tái diễn chúng tôi sẽ tịch thu…

Những bàn thờ, tủ, kệ thuộc loại gỗ quý, chẳng ai dám phí của nhưng vì lệnh của “thầy”, loại thầy dùi, không nghe thì thầy dùng dùi đục lỗ tai nên đồng bào buộc phải làm theo, nay Ông Sáu ra lệnh: “dẹp”, thế là đẹp rồi, mau mau khiêng bàn, tủ vào nhà.

Ông Sáu là Tư Lệnh Cảnh Sát, vị chỉ huy cao cấp nhất có nhiệm vụ ổn định tình hình Miền Trung đang bị rối loạn, Ông có nhiều việc quan trọng phải đối phó, việc Ông đích thân xuống đến cấp thấp nhất để ra lệnh chi tiết, kiểm soát là một chuyên khó tin nhưng có thật, và cũng rất…“khó chịu” đối với cấp thừa hành. Đó là vì ông muốn các cấp phải triệt để thi hành đúng lệnh tôn trọng tín ngưỡng, tính mạng và tài sản của dân.

Lần thứ nhất 1966 tại Huế là vậy, còn lần thứ hai năm 1968 tại Saigon thì sao?

Sau khi giải tỏa xong khu vực chùa Ấn Quang và vụ Bảy Lốp, TĐ2/TQLC được lệnh biệt phái một đại đội cho Tổng Nha Cảnh Sát. Trung Tá Tiểu Đoàn Trưởng chỉ định tôi dẫn ĐĐ1 đi theo Ông Sáu.

Thú thật là tôi không thích nhiệm vụ này chút nào, thà đi hành quân với tiểu đoàn còn hơn bị biệt phái. Kinh nghiệm cho biết mỗi khi bị biệt phái đến nơi nào thì nơi đó họ “hành” quân (biệt phái) chết bỏ, vắt chanh vứt vỏ, nay lại phải dẫn quân chạy theo Ông Tướng Cảnh Sát, Ông chạy đi đâu là TQLC phải “chầu” theo đó khiến tôi chán vô cùng! Ông chạy như con thoi, “nơi nào cần thì Ông có, nơi nào khó có Ông”. Ông mặc áo giáp phanh ngực, đầu không nón sắt, vác cây súng đúng tác phong của một chú lính “ba gai”.

Ông nhẩy lên xe jeep cùng CSDC chạy trước, 4 xe GMC chở anh em TQLC chúng tôi theo sau, chạy lung tung khắp nơi, khi Ông đến điểm nóng nào đó thì tôi phải cho quân xuống xe ngay để bố trí chuẩn bị.. thế rồi Ông lên xe jeep chạy đi, nhiều khi chúng tôi theo không kịp, lại phải liên lạc tới lui khiến tôi bực mình.

Một buổi xế trưa đầu Tháng 5/1968, Ông dừng xe tại ngã ba đương Nguyễn Du và Công Chúa Huyền Trân (đường phía sau Dinh Đôc Lập), Ông gọi tôi đến đưa tay chỉ cái “biu-đinh” cao khoảng 8 tầng, đang xây dở dang, nằm ngay bên hông Dinh Độc Lập, tại góc đường Nguyễn Du và Nguyễn Trung Trực, Ông nói:

-Trong cái biu-đinh kia còn một toán VC mà CSDC của “moi” chưa thanh toán được, liệu “toi” có thể giúp “moi” giải quyết được không? Điều quan trọng nhất là làm sao bắt sống được tụi nó.

Ông là cấp Tướng chỉ huy, tôi là cấp Úy biệt phái, lệnh Ông ra là tôi phải thi hành, nhưng kết quả đạt được như thế nào còn tùy thuộc vào tình hình “địch, bạn”. Địch chưa biết, nhưng “bạn” thì có CSDC… Ông Tướng Cảnh Sát lại thân mật “toi-moi”, thay vì chỉ tay 5 ngón ra lệnh, Ông hỏi ý kiến thân tình: “Liệu toi có thể giúp moi…” nên tôi cảm thấy vui vui, cần phải nghĩ cách “giúp” Ông.

VC cố thủ trên biu-đinh cao tầng ngó vào ngay Dinh Độc Lập thì nhức nhối và nguy hiểm quá. Các anh CSDC đã cố gắng hết mình mà chưa chiếm được lại còn bị tổn thất nên Ông Tướng mới dùng TQLC giúp. Tiêu diệt thì dễ nhưng cái khó là Ông yêu cầu phải bắt sống. Bắt sống VC mà lính tôi chết thì sao đây? Nhưng vì danh dự của “Trâu Điên”, của Binh Chủng, tôi phải cố gắng. Để giảm thiểu thiệt hại tối đa, tôi trình Ông:

-Thưa Thiếu Tướng: Chúng tôi sẽ cố gắng bắt sống, nếu họ muốn sống, còn nếu họ muốn chết khiến lính tôi chết theo thì đó ngoài ý muốn. Chúng tôi đã có mặt nạ, áo giáp và khói màu rồi, xin CSDC cung cấp thêm lựu đạn cay và bao vây xung quanh..

Ông Tướng cam kết sẽ có lựu đạn cay ngay, còn bao vây thì CSDC đã xiết chặt rồi. Hơi cay và khói màu không phải vũ khí sát thương nhưng sẽ làm cay mắt, ngộp thở, vì bản năng sinh tồn, địch phải tìm cách thoát thân trừ khi chân bị xích…

Một yếu tố tâm lý hết sức quan trọng khi chúng tôi đi vào chỗ chết để bắt sống VC trước con mắt chăm chú theo dõi của Ông Tướng Cảnh Sát, của anh em CSDC và của đồng bào khiến Th/Úy HVQ… điều động trung đội tiến vào mục tiêu như đóng phim, anh em Trung Đội 14/ĐĐ1 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ: bắt sống 6 tên VC trong tình trạng ngơ ngác, lảo đảo say khói màu như say thuốc lào 888(**).

(**Ngày N/7/2017 khi gặp cựu Đại Tá Cảnh Sát Trần Minh Công tại chùa B.Q.. để Mr Douglas Sloan phỏng vấn và quay phim về Thiếu Tướng Loan, tôi có nhắc lại vụ bắt sống VC này với Đại Tá Công thì Ông ngạc nhiên và thích thú nói: “Không ngờ nửa thế kỷ sau, chúng ta gặp nhau ở đây, ở Saigon Nhỏ tôi mới biết người giúp chúng tôi bắt sống toán VC ngày ấy tại Saigon Lớn lại là anh”).

“Giặc đến nhà đàn bà cũng phải đánh”, VC vào thành, nhiệm vụ của CSDC và các quân binh chủng là phải hành quân giải tỏa, điều đáng chú ý ở đây là lệnh của Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan: “Bắt sống tụi nó”. Điều này chứng tỏ Ông quý mạng sống của con người, dù người đó là thủ phạm gây ra bạo loạn, chiến tranh chết chóc, những người đó sẽ bắn Ông và họ đã bắn Ông!

Ông dẫn đầu mấy xe jeeps CSDC, 4 xe GMC chở TQLC chúng tôi theo sau, đoàn xe dừng lại trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, đoạn nằm giữa hai con đường Phan Đình Phùng (có đài phát thanh) và Phan Thanh Giản (có cây cầu xi măng bắt đầu của xa lộ Saigòn-Biên Hòa), trong khi anh em TQLC chúng tôi đang xuống xe thì Ông và mấy anh CSDC đi vào con hẻm dẫn xuống xóm nhà sàn nằm dọc bên bờ kinh, vài phút sau tôi nghe mấy tiếng “cắc-bù, cắc-bù”.

Nghe “cắc-bù” là tôi biết tiếng súng của VC nên tôi vội ra lệnh cho anh em TQLC nhanh chóng dàn quân tiến vào khu nhà sàn thì cũng là lúc gặp mấy anh em CSDC khiêng Ông ra. Tôi nhìn Ông Sáu sững sờ, không thể ngờ chuyện lại xảy ra nhanh như thế đối với Ông, một vị chỉ huy cao cấp, một cấp tướng, mà ngoài chiến trường chỉ những anh em khinh binh, anh em tiền sát mới thường gặp phải.

Ông ngồi trên bốn cánh tay của hai anh CSDC đan vào nhau, máu thấm ra từ một trong hai chân thõng xuống đong đưa. Tôi biết ông bị thương vào chân, nhưng chắc không sao, bị nhẹ thôi, vì Ông không có vẻ gì là đau đớn cả.

Chúng tôi cẩn thận tiến vào và lục soát hết những căn nhà sàn dọc bờ kinh, không súng nổ, có lẽ vài tên du kích lợi dụng lúc nước con kinh dâng cao nên chúng đã lặn mất tiêu rồi, chỉ tìm thấy một tên bị thương nặng đang thoi thóp chờ chết trong một góc nhà sàn, tên này đã bị thương ở đâu đó được đồng bọn mang về đây cất giấu trước khi Ông Sáu và CSDC tiến vào lục soát.

Quân Đội VNCH đã có những vị tướng bị tử thương ngoài chiến trường khi các vị này điều động quân sĩ từ trên trực thăng, nhưng một vị tướng mà bị thương trong nhiệm vụ của một “tiền sát viên” như trường hợp của Ông Sáu Lèo thì chưa bao giờ xảy ra, một chuyện khó tin nhưng có thật. Chính vì khó tin nên một vài bản tin của những ông ký “giả” không tận mắt chứng kiến đã tưởng tượng ra những tình khúc lâm ly bi đát, nào là một tên VC núp dưới chân cầu Saigòn dùng súng có ống nhắm bắn ông, nào là một giới chức cao cấp Mỹ (CIA) từ trên trực thăng, muốn giết Ông v.v..toàn là những chuyện tưởng tượng không một chút hợp tình hợp lý, nhưng họ đã viết như thế.
Ngoài chiến trường, thành phần bị thương, tử thương nhanh nhất và nhiều nhất chính là các anh em trong tổ tiền sát, trong các tiểu đội trung đội đại đội đi đầu. Ông Sáu Lèo là Tư Lệnh Cảnh Sát cứ phoong-phong dẫn đầu toán CSDC đến những điểm nóng có VC ẩn núp trong thành phố thì lại là chuyện khác, vì Ông Sáu không những là cấp chỉ huy mà còn là người lãnh đạo. Người lãnh đạo luôn sát cánh với thuộc cấp trong mọi hoàn cảnh, đồng lao cộng khổ làm gương khiến cho thuộc cấp tâm phục khẩu phục.

Ông Sáu Lèo là người như thế, không ai hiểu rõ tài chỉ huy và lãnh đạo của Ông Sáu bằng chính thuộc cấp của Ông. Cựu Đ/Tá Cảnh Sát Trần Minh Công nói:

-Chúng tôi biết rõ tài năng của cấp chỉ huy của chúng tôi, vì sao Ông chỉ huy như thế… chúng tôi hiểu tấm lòng của Ông nên kính nể Ông.

Ông Sáu Lèo gốc Không Quân, là Tư Lệnh Cảnh Sát, còn người viết là một TQLC đã đôi ba lần bị biệt phái làm việc dưới quyền Ông và đã hoàn thành nhiệm vụ, dù không được Ông thưởng công một lời khen hay huy chương, nhưng tôi kính phục Ông vì lối sống bình dân, thân thiện và làm gương cho thuộc cấp trong chiến đấu, nhất là luôn luôn tôn trọng tín ngưỡng, tài sản, tính mạng của người dân, kể cả mạng sống của địch quân, đó là tính nhân bản của Ông, của Quân Đội VNCH trong chiến tranh. Chúng tôi kính phục “Ông Sáu Lèo”./.

Phila Tô

Hôm Nay Là Ngày Giỗ Của Ba Tôi

dongsongcu.wordpress.com

Khánh Lưu

Posted on June 7, 2024 by dongsongcu

Post by Sơn râu 25 Aug 2024

Google photo

– Ba con vẫn còn mất tích mà!
Đó là cái lý của mẹ mỗi khi chị em tôi tính chuyện lập bàn thờ cho ba. Mẹ vẫn hy vọng một ngày nào đó ba sẽ đột ngột quay về.
Lần cuối cùng ba về là tết năm Quý Mão nhưng chỉ ở nhà được mỗi ngày Mồng Một là ba phải về đơn vị vì tình hình chiến sự ngày đó nóng lắm. Sau tết, tin từ các mặt trận ngày một xấu. Tây nguyên thất thủ, Quảng Trị đánh lớn rồi thất thủ, quân VNCH rút về Huế rồi co cụm tại Đà Nẵng. Tiếp đến là tin mất Tam Kỳ, Nha Trang, cuối cùng là trận cầm cự đẫm máu Xuân Lộc rồi miền nam thất thủ hoàn toàn.
Từng ấy ngày diễn ra chiến sự, mẹ tôi đứng ngồi không yên. Không đêm nào bà trọn giấc, cứ thấp thỏm lo cho ba tôi giữa làn tên mũi đạn.
Tin Sài Gòn giải phóng qua radio, mẹ tôi thở phào:
– Vậy là hoà bình rồi! Hết đánh nhau rồi! Ba con sẽ sớm trở về thôi.
Bà hy vọng sẽ một đêm có tiếng gõ cửa đánh thức để bà được ôm ba tôi khi ông đột ngột xuất hiện. Rồi tiếng gõ đợi chờ cũng đến. Đêm đó nghe tiếng gõ, mẹ bật dậy sung sướng: “Ba con về!”. Bà ào ra mở cửa. Bà và hai chị em tôi sững người. Không phải ba mà là ba người cách mạng. Một người mặc đồ dân sự, hai người còn lại mặc đồ bà ba mang súng.
Mẹ tôi mời họ ngồi. Người cán bộ dân sự từ tốn:
– Tôi đến hỏi tin tức anh nhà. Đã hơn một tháng vẫn chưa thấy anh ấy lên trình diện chính quyền cách mạng.
Lúc đầu mẹ tôi nghe sợ nhưng nghe người cán bộ nói mẹ cũng an lòng, bà đáp:
– Tôi cũng mong anh ấy về hoặc tin tức về anh nhưng đến nay vẫn chưa thấy. Khi nào ảnh về tôi sẽ bảo ảnh nhanh lên trình diện. Gia đình cũng mong các anh giúp đỡ, nếu có tin tức gì về chồng tôi xin báo cho gia đình tôi biết.
Họ đi ra, để lại niềm hy vọng cho mẹ tôi hết tính bằng ngày, chuyển qua tháng rồi tính bằng năm. Ba tôi vẫn biền biệt.
Những ngày sau đó là những ngày khốn khổ. Gia đình tôi là gia đình nguỵ quân. Mẹ tôi xoay xở đủ thứ để lo cho ba miệng ăn. Của cải rồi vật dụng trong nhà từ dây chuyền, hoa tai sau đến quạt máy, bàn là… cái gì bán được mẹ cũng bán để lo cho cuộc sống khốn khó của ba miệng ăn.
Chị em tôi đi học lại nhưng ba năm sau chị phải ở nhà cùng mẹ bươn chải, bán bánh, bán xôi ở bến xe để có tiền lo cho cái ăn cái mặc và để nuôi tôi đi học. Khổ quá, dù cật lực cũng không đủ ăn, chị tôi xin đi công nhân đường sắt. Mẹ tôi thương con rướm nước mắt nhưng không còn đường nào khác. Tôi cũng muốn nghỉ học để đi kiếm việc làm nhưng mẹ nhất quyết không cho. Mẹ buồn buồn: “Chị con nghỉ học giữa chừng mẹ đau lòng lắm rồi, con mà nghỉ nữa, ba về mẹ ăn nói với ba sao đây!”
Mẹ tôi vẫn hy vọng. Khắp trại cải tạo từ nam ra bắc, ai bà biết có người thân cải tạo cũng nhờ hỏi tin tức về ba tôi. Bà vẫn đợi chờ, không có tin trong nước, bà mong tin từ nước ngoài. Biết đâu ba tôi đã được định cư ở một quốc gia nào đó.
Tôi tốt nghiệp cấp 3, định nộp đơn thi vào đại học nhưng đơn tôi đã bị gạt khi chưa kịp đến “vòng gửi xe” vì lời nhận xét trong lý lịch:
Cha: Đại uý, sĩ quan ác ôn nguỵ.
Tôi chán nản không thiết gì với tương lai giờ chỉ lo tìm việc gì kiếm được tiền giúp mẹ.
Nghe ý định mở quán sửa xe đạp, mẹ tôi ủng hộ. Bà chắt bóp đồng tiền kiếm được và vay mượn thêm mua cho tôi bộ đồ nghề. Nhà tôi mặt phố nên tôi làm quán sửa xe ngay tại nhà.
Từ sửa xe đạp tôi mày mò tìm hiểu rồi sửa được xe máy honda. Tuy không khá mấy nhưng cũng có được đồng tiền giúp mẹ. Năm năm sau chị tôi lấy chồng xa, mẹ tôi cũng yếu dần vì gánh xôi trên vai mẹ. Một hôm mẹ về bảo tôi:
– Con nè! Mẹ nghe ngoài bến xe họ nói là từ nay thi đại học họ bỏ xét lý lịch. Hay là con nộp đơn thi thử.
Tôi cười buồn:
Năm năm rồi, chữ thầy đã trả cho thầy, còn nhớ chi đâu mà thi hả mẹ!.
Mẹ vận động viên:
Con từng là học sinh giỏi nhất trường mà! Con thử ôn lại hay đi học thêm, mẹ dành dụm được ít tiền chắc cũng đủ cho con học.
Tôi tìm hiểu và đúng như mẹ nói. Trong công cuộc “mở cửa” nhà nước đã bước đầu “mở trói”, bớt phân biệt thái độ chính trị, trước hết là cho thành phần con em gia đình dính líu đến chế độ cũ được học đại học.
Tôi bỏ ra ba tháng ôn luyện kiến thức cơ bản, vốn gần như quên sạch. Sau đó bằng đồng tiền tích cóp ít ỏi, tôi lùng mua các cuốn sách luyện thi đại học. Tiền mẹ cho, tôi xin ghi tên học mấy khoá luyện thi đại học cấp tốc.
Đúng vậy, lần này làm lý lịch, phần chứng nhận của phường chỉ ghi: Lý lịch khai đúng như hồ sơ tại địa phương. Tôi nộp hồ sơ thi vào đại học kinh tế.
Tôi đậu đại học. Mẹ tôi mừng phát khóc khi tôi đọc điểm thi trên giấy báo khá cao để khoe mẹ.
Tôi vào trường đại học trong điều kiện cực kỳ khốn khó. Chị tôi không đủ sức lo cho gia đình chị thì làm sao có thể giúp tôi. Đôi vai mẹ cũng không còn sức nuôi tôi trên gánh xôi đi – về của mẹ. Tôi chống chọi với miếng ăn nơi thành phố đã khó huống gì việc học. May mà trong cái khó ló cái khôn. Trường đại học có một khoảnh đất hẹp, cỏ mọc giáp đường. Tôi lên ban giám hiệu trình bày hoàn cảnh, xin được đặt tạm cái lều chỗ đó để làm quán sửa xe. Thông cảm hoàn cảnh của tôi, nhà trường đồng ý. Vậy là tôi đã có cần câu cơm. Một buổi đi học, một buổi tôi thay bộ đồ, làm anh thợ sửa xe bên cái quán tềnh toàng với cái tên rất gợi: “Quán sửa xe Sinh viên”. Tôi sửa chủ yếu xe đạp cho sinh viên. Giá cả cũng rất “sinh viên” vì ai cũng nghèo mà!
Qua gần 4 năm tôi bám trụ “cần câu cơm” để học và để mơ về tương lai của mình. Có lẽ ở trường tôi là sinh viên nổi tiếng với 3 cái nhất: Sinh viên già nhất, nghèo nhất và… giỏi nhất khoá.
Giữa học kỳ 1 năm cuối, trường có buổi hội thảo về thị trường Châu Âu. Diễn giả là một tiến sĩ người Thuỵ Sĩ, Dr Moolie Hoods. Sinh viên tham dự phần lớn do tính hiếu kỳ vì ngày đó khái niệm “kinh tế thị trường” còn lạ lẫm lắm, có lẽ trừ tôi ra. Từ khi đọc được cuốn Economics: An Introductory Analysis của nhà kinh tế học người Mỹ, Paul Samuelson, tôi hiểu rằng kiến thức kinh tế học được ở nhà trường chỉ là hạt cát, nhiều khi những điều học từ giáo trình xem ra rất phản quy luật. Do vậy được tham gia dự thính buổi hội thảo với tôi là cơ hội quý giá nhất để hiểu biết thêm về nền kinh tế châu Âu tư bản.
Tôi chăm chú nghe ngài Hoods giới thiệu về kinh tế châu Âu trong giai đoạn tiền hợp nhất thành EU và tương lai sắp tới mà cứ há hốc mồm. Tôi không cần nghe qua phiên dịch, thậm chí người phiên dịch trong nhiều ngữ cảnh dịch rất tệ. Tiếng Anh với tôi cũng không khó khăn gì vì từ hồi 5 tuổi, ba tôi đã gửi tôi vào trường của hội Việt – Mỹ nên sau 7 năm, tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ thứ hai của tôi rồi. Thời gian gần đây tôi thích tìm đọc các sách báo bằng tiếng Anh và nghe đài nước ngoài nên vốn liếng Anh ngữ của tôi ngày được nâng cao.
Sau bài giới thiệu về nền kinh tế châu Âu, ngài Hoods khuyến khích sinh viên đặt câu hỏi để ông trao đổi, trả lời. Chỉ một vài sinh viên đứng lên dè dặt đặt câu hỏi mà kiến thức chủ yếu không vượt qua được những gì tiếp thu tại giảng đường.
Vẻ thất vọng thoáng hiện trên khuôn mặt ngài Hoods. Đợi không còn ai hỏi nữa, tôi đứng dậy đặt câu hỏi bằng tiếng Anh. Mắt ông sáng lên đầy thú vị vì chỉ có tôi là sinh viên trao đổi trực tiếp bằng tiếng Anh với ông.
Diễn đàn trở nên hấp dẫn vì cuộc trao đổi và tranh luận bằng tiếng Anh chỉ có tôi và ngài Hoods. Sinh viên chủ yếu ngồi nghe chứ phần lớn không hiểu hết chúng tôi tranh luận về đề tài, nội dung gì, chỉ biết rằng họ rất ngưỡng mộ mỗi khi tôi đối đáp bằng tiếng Anh và được ngài Hoods gật đầu kèm với nụ cười.
Buổi chiều, khi tôi còn loay hoay trong bộ đồ dính đầy dầu mỡ để sửa xe thì bỗng nghe tiếng gọi: “Hi!”. Tôi ngẩng lên thì ngài Hoods tay cầm máy ảnh vừa nháy tôi một pô. Tôi đứng dậy chào, đưa tay bắt nhưng sực nhớ tay mình đang nhem nhuốc, định rụt về thì ngài đã bắt tay tôi lắc mạnh, cười tươi thân thiện: “No problem! you’re good!”. Tôi lấy chiếc ghế đòn, phủi bụi mời ông ngồi. Ông đưa máy ảnh chụp “gara” tôi thêm vài kiểu nữa rồi ngồi xuống ghế. Cứ tưởng sau buổi hội thảo khi sáng ông đã đi rồi. Ông bảo đoàn ông còn buổi chiều làm việc với nhà trường về việc tài trợ học bổng tương lai. Người phụ trách đoàn ông đang làm việc với ban giám hiệu, ông tranh thủ dạo chơi quanh trường chụp mấy kiểu ảnh làm kỷ niệm và không ngờ gặp tôi nơi đây. Ông hỏi tôi về gia đình, về tài chính học tập. Tôi kể sơ về hoàn cảnh của mình và cười chỉ bộ đồ nghề sửa xe bảo là “nhà tài trợ tài chính” cho tôi suốt 4 năm đại học. Ông cười, trong nụ cười chứa đầy thông cảm. Cuối buổi ông hỏi tôi là có khi nào nghĩ đến du học nước ngoài không? Tôi lắc đầu bảo là tôi sống được để học là nhờ cái “gara” này thì lấy tiền đâu mà ra nước ngoài. Chỉ mong học xong có được việc làm là mừng lắm rồi.
Ông chia tay tôi bằng nụ cười với ngón tay “number one” cùng với một lời khen: “good!”
Một tháng sau, một người bạn học báo là tôi có thư từ nước ngoài. Tôi mừng phát run, chạy lên văn phòng khoa. Cứ nghĩ là ba tôi ở một nơi nào đó gửi về. Nhưng khi nhận thư, xem lại là thư ngài Hoods gửi cho tôi. Tôi đọc thư. Dr Hoods kể rằng đã đọc qua học bạ của tôi, về nước ông đã trao đổi với viện công nghệ danh tiếng của Thuỵ Sĩ là ETH Zurich và xin cho tôi được 1 suất học bổng toàn phần để làm luận án Master sau khi tôi tốt nghiệp đại học. Kèm theo thư là các tài liệu giới thiệu về trường ETH Zurich cùng các mẫu đơn và bản hướng dẫn về hồ sơ xin học bổng.
Dù không phải thư của ba nhưng tôi mừng khôn xiết. Úp lá thư ngài Hoods vào ngực tôi nhắm mắt cho cơn mơ vượt khỏi dải đất hình chữ S bay đến tận trời Âu.
Tôi tốt nghiệp với tấm bằng loại giỏi. Theo hướng dẫn, tôi làm đơn và gửi cho viện ETH Zurich rồi chờ đợi. Một tháng, hai tháng tôi đợi thư trả lời từ Thuỵ Sĩ nhưng đến tháng thứ ba thì hy vọng trong tôi tắt lịm. Tôi lại quay về thực tại là mơ ước được một chân nhân viên quèn ở bất kỳ công ty nào để có việc làm.
Trong cơn tuyệt vọng thì ngài Hoods như từ trên trời rơi xuống. Ngài quay lại Việt Nam tìm tôi vì tin chắc có chuyện không hay nào đó xảy ra với tôi vì ngài đã liên hệ với viện ETH Zurich. Họ báo rằng đã gửi thư chấp nhận đến 2 lần nhưng không thấy tôi liên hệ lại. Khóa học mới đã học 1 tháng nhưng không có tên tôi nên ông quyết định sang tìm tôi. Khi biết tôi chưa nhận được bất cứ thư nào, ông đã hiểu ra. Ông cầm tay tôi động viên: “Đừng từ bỏ hy vọng, anh bạn trẻ! Tôi sẽ làm hết sức mình”.
Ông chia tay tôi bay ra làm việc và nhờ đại sứ quán Thuỵ Sĩ tại Hà Nội can thiệp. Chưa đến một tuần, hai thư chấp nhận của viện ETH Zurich gửi các tháng trước đã đến được với tôi.
Nửa tháng sau tôi từ giã mẹ và chị, bay qua châu Âu bằng vé máy bay do ngài Hoods tài trợ.
Năm sau, tôi đã xong luận án Master rồi được luôn học bổng toàn phần để lấy bằng tiến sĩ về kinh tế tại viện ETH Zurich danh giá. Thời gian học tập tôi luôn được sự giúp đỡ chân tình của Dr Hoods. Ông là ân nhân, là bạn và là đối tác của tôi sau này. Ngày nhận bằng tiến sĩ, tôi không có mẹ bên cạnh để tri ân nhưng tôi được hân hạnh có ngài Hoods thay mẹ trong buổi vinh dự trao bằng. Ngài rất tự hào về tôi. Hôm sau, một tờ báo Thuỵ Sĩ với tít: From a bicycle repair student to a doctor of the prestigious university.
(Từ một sinh viên sửa xe đạp đến tiến sĩ của một đại học danh tiếng)
Bài báo với hình tôi ngồi sửa xe mà Dr Hoods chụp năm xưa cùng với hình ảnh tôi tươi cười nhận bằng tiến sĩ hôm qua chiếm hẳn một trang báo. Thì ra bài là của Dr Hoods viết về tôi.
Từ bài báo này, cùng với lời giới thiệu của Dr Hoods mà Viện Nghiên cứu chiến lược kinh tế Đông Nam Á Thuỵ Sĩ (gọi tắt là IESSAS) mời tôi về làm việc.
Một năm sau, IESSAS mở văn phòng đại diện tại Việt Nam ngay trên thành phố quê tôi,. Tôi được cơ hội trở về với quê hương cùng mẹ, cùng chị.
Tôi trở thành cầu nối giữa Việt Nam – Thuỵ Sĩ về quan hệ kinh tế. Các nhà đầu tư Thuỵ Sĩ qua giới thiệu của tôi đã đầu tư rất nhiều dự án tại Việt Nam đặc biệt là tại thành phố nơi tôi sống. Trường đại học kinh tế nơi tôi từng học, qua mối quan hệ với Dr Hoods tôi đã tìm được nhiều suất học bổng sau đại học cho các khoá sinh viên sau này.
Trên Facebook cá nhân, tôi đặt ảnh ba tôi làm avatar và hình nền là ảnh tôi ngồi sửa xe năm xưa mà Dr Hoods chụp tặng tôi. Thỉnh thoảng mở facebook, tôi lại được nhìn ba tôi cười. Nhìn chân dung thời trai trẻ trong bộ quân phục lính dù mà tôi thầm ngưỡng mộ. Cám ơn ba, cuộc đời này con luôn tự hào được là con trai của ba. Tôi nhìn hình nền để được nhắc nhở rằng: Dù hôm nay tôi có là tiến sĩ danh giá thì quá khứ năm xưa, tôi đã từng là cậu sinh viên sửa xe đạp để tự nuôi mình.
Một đêm, nghe messenger báo tin nhắn, tôi tỉnh thức, nhìn màn hình điện thoại, có ai đó nhắn cho tôi:
– Xin chào!
Tôi nhắn lại: “Xin chào!”
Nhìn nick name là John Le, tôi đoán là một Việt kiều. Người đó nhắn tiếp:
– Xin lỗi, cháu có phải là con trai của đại uý Giang, Hoàng Thanh Giang, không?
Tôi bật dậy, tim đập dồn. Tôi nhìn avatar của người đang chat. Đó là người đàn ông ở tuổi 70 trong quân phục lính dù, mũ đỏ giống quân phục ba tôi. Tôi đáp:
– Dạ, đúng rồi, con là con trai của ba Giang. Bác biết ba con à?
– Bác là trung uý Tá, Lê Văn Tá là đại đội phó của ba con.
Tôi mừng rơn mà tim đập thình thịch.
– Vậy bác có biết tin tức gì về ba con không?
Bác không đáp mà hỏi lại: – Vậy từ đó đến nay con không có tin tức gì về ba à?
– Dạ không, con và mẹ không biết ba còn hay mất.
Một lát lâu bác nhắn lại: – Ba con mất rồi!
Dẫu biết câu trả lời sẽ không chút hy vọng nhưng lời chat của bác làm tôi không khỏi bàng hoàng.
– Ba con mất ở đâu? Khi nào? Bác biết không?
– Ba con mất trên cầu Sài Gòn vào buổi sáng 30/4/1975.
Rồi bác kể: Sáng hôm đó đại đội ba tôi chỉ còn hơn 10 người. Vì bị truy kích nên phải rút về cố thủ trên cầu Sài Gòn. Cuộc giao tranh ác liệt vẫn chưa dừng lại. Quân số và súng đạn không thể đối chọi với quân giải phóng. Phải rút tiếp thôi! Ba tôi cùng hai đồng đội bò lên phía trước thu hút hoả lực địch để toán còn lại phía sau có cơ hội thoát lui. Khi trung uý Tá cùng các chiến hữu về được bên trong cầu Sài Gòn thì hoả lực đã nổ tung khiến thân xác ba tôi cùng hai chiến hữu của ông bị hất tung lên rồi rớt xuống sông. Khi trung uý Tá rút về đến ngã tư Hàng Xanh thì trên loa truyền thanh, Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng và yêu cầu các lực lượng quân đội VNCH bỏ súng.
Tôi ngồi úp mặt vào lòng hai bàn tay. Tưởng tượng lại phút giây chiến đấu không cân sức nhưng bi hùng của ba tôi năm ấy trên cầu Sài Gòn mà nước mắt giàn dụa. Bình tâm lại tôi gọi điện thoại cho mẹ. Mẹ tôi nghe máy khi nghe tôi báo là đã có tin tức của ba. Câu đầu tiên mẹ hỏi là “ba con giờ đâu rồi?” Tôi ngậm ngùi kể lại nội dung vừa chat với bác Tá. Mẹ tôi im lặng nghe tôi kể, khi tôi nghe mẹ nấc lên trong điện thoại là mẹ tắt máy.
Ngày hôm sau mẹ điện thoại bảo là tôi đưa mẹ vào cầu Sài Gòn được không? Tôi bảo được. Chiều hôm sau, theo chuyến bay, mẹ, chị và tôi vào Tân Sơn Nhất rồi đón taxi đến cầu Sài Gòn.
Chúng tôi đi bộ dọc theo thành cầu mà mường tượng trận đánh cuối cùng năm xưa. Cầu Sài Gòn người xe như mắc cửi. Dưới cầu, sông Sài Gòn lượn lờ mang những mảng lục bình trôi về biển. Trong dòng nước bao la ấy, thân xác, thịt da ba tôi cùng với bao người của hai chiến tuyến và những người dân vô tội năm xưa, bao năm nay đã bị rửa trôi về cùng biển mặn. Chiến tranh đã lùi xa nhưng nỗi đau vẫn còn ở lại với bao người trong đó có gia đình tôi. Mẹ thẫn thờ nhìn những mảng lục bình trôi xuôi như cố tìm dáng hình ba tôi trong ấy.
Qua đến bên kia cầu, tìm được nơi, tôi thắp bó hương rồi trao nửa bó cho mẹ, nửa còn lại chị em tôi chia ra cắm xung quanh. Mẹ tôi quỳ hướng về sông, lâm râm khấn. Chắc trên trời ba tôi đã hiểu nỗi đau trong lời khấn của mẹ. Bà đã đi gần nửa thế kỷ trong thân phận người vọng phu. Mẹ tôi cắm phần hương trên mô cát gần đó để mặc cho làn khói bay xa. Tôi mong sao làn khói kia cuốn bớt nỗi đau trong lòng mẹ. Hương tàn hơn nửa, tôi bảo mẹ:
– Thôi mình về đi mẹ.
Mẹ không quay lại, giọng buồn buồn:
– Hãy để hương cháy thêm lát nữa đi con.
Hai chị em tôi lặng im, chắp tay đứng sau lưng mẹ, cứ để mẹ thì thầm từ tận đáy lòng với ba tôi trong cõi hư vô. Nén hương cháy hết, tắt hẳn, mẹ mới quay lại gật đầu: – Mình về thôi các con!
Vậy là gia đình tôi chọn 30/4 là ngày giỗ ba tôi. Hôm nay là ngày giỗ đầu tiên của ba. Gia đình cũng vừa nhận được tin vui là bác Tá, chiến hữu của ba cũng về dự giỗ. Bác bảo rằng đây là lần về Việt Nam đầu tiên kể từ ngày bác định cư ở Mỹ. Trước khi đáp chuyến bay tiếp theo về thăm gia đình tôi, bác sẽ đến cầu Sài Gòn thắp hương tưởng niệm ba tôi cùng đồng đội bỏ mình ngày đó. Hy vọng cuộc tương phùng này, qua bác, gia đình tôi sẽ biết thật nhiều về đời binh nghiệp của ba, đặc biệt là trong những ngày cuối của cuộc chiến.
Sáng nay tôi dậy sớm, sửa sang và dâng hoa bàn thờ ba trước khi đi dự buổi lễ kỷ niệm ngày “Giải phóng miền nam, thống nhất đất nước” do Uỷ ban nhân dân thành phố mời. Vì tính chất trong quan hệ đối ngoại giữa cơ quan đại diện viện nghiên cứu với cấp chính quyền sở tại mà tôi không thể không dự.
Buổi lễ diễn ra hết sức hoành tráng. Trước khi vị chủ tịch đọc diễn văn là các màn trình diễn múa vui văn nghệ. Các bài ca đi cùng các vũ điệu tái hiện những giây phút hào hùng của ngày chiến thắng năm xưa.
Vị chủ tịch lên đọc diễn văn kỷ niệm ngày chiến thắng. Các điệp khúc “Mỹ cút, ngụy nhào”, “Chiến thắng vinh quang dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng” gần nửa thế kỷ được lặp lại trong giọng đọc đầy tự hào của vị chủ tịch. Trước khi kết thúc buổi lễ, dàn đồng ca lên sân khấu hát vang bài “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. Tôi quay lại, chỉ có quan khách ngoại giao nước ngoài, kể cả tôi là còn ngồi. Hầu hết hội trường đều đứng dậy hát theo trong nhịp vỗ tay tự hào.
Khi người dẫn chương trình tuyên bố bế mạc, tôi đứng dậy. Vị chủ tịch thành phố tiến đến tươi cười bắt tay tôi. Ông cám ơn tôi vì đã tham dự cùng với lời mời trân trọng:
– Hôm nay là kỷ niệm ngày chiến thắng, Uỷ ban có tổ chức buổi tiệc trưa long trọng, xin mời anh đến dự.
Tôi cười đáp lại: – Rất cám ơn lời mời của anh nhưng trưa nay tôi không thể.
– Anh bận việc gì à? Vị chủ tịch hỏi lại, tôi rời bàn tay ông còn đang nắm chặt, trả lời:
– Hôm nay là ngày giỗ ba tôi.

Khánh Lưu

Trốn trại

thoibao.com

Nguyễn Ngọc Thạch

Post by Sơn râu 25 Aug 2024

Google photo

Sau khi ở tù cải tạo đuợc 5 năm, khi tôi đang ở trại Suối Máu Biên Hòa, thì có một số tù đuợc đưa lên trại Tống Lê Chân gần An Lộc Bình Long. Tôi mừng thầm là nếu đưa tôi lên Tống Lê Chân thì tôi có rất nhiều hy vọng để trốn trại, vì tôi biết rất rõ vùng đất này. Đon vị đầu tiên khi tôi mới ra truờng là Đại đội 11 thuộc Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 9, Sư đoàn 5 Bộ Binh đóng gần sân bay An Lộc Bình Long. Và trong suốt thời gian phục vụ từ cấp Trung đội lên đến cấp Trung đoàn tôi vẫn ở trong vùng rừng xanh đất đỏ này.

Giữa tháng 5 năm 1980, họ chuyển tôi từ trại Suối Máu Biên Hòa lên trại Tống Lê Chân. Đây là một trại tù ở giữa rừng, gồm các dãy nhà tranh với mấy lớp hàng rào kẽm gai bên ngoài và một lớp hàng rào tre bao bọc bên trong che kín, không nhìn thấy đuợc bên ngoài. Ở bốn góc và ngay cổng ra vào là các chòi canh đuợc trí súng đại liên. Sau khi lên đến trại Tống Lê Chân, chúng tôi liền nghiên cứu ngay kế hoạch để trốn, vì phải trốn càng sớm càng tốt.

Khi ở trại Suối Máu Biên Hòa tôi có luợm được một cục nam châm hình trụ to bằng đầu ngón tay. Theo nguyên tắc của địa bàn thì khi một thanh nam châm đuợc treo trên sợi chỉ, đuợc quay tự do thì một đầu luôn luôn chỉ về huớng Bắc, còn đầu kia là huớng Nam. Vì hai đầu giống nhau nên tôi phải dùng dầu hắc nhựa đuờng để làm dấu đầu huớng Bắc.

Trong thời gian ở tù chung nhau qua các trại, tôi có quen thân và hay tâm sự với Thu, một nguời cùng thuộc Sư đoàn 5 Bộ Binh truớc đây và có cùng chung một quyết tâm là sẽ cùng nhau trốn trại khi có dịp. Thu cũng cho biết là có thêm một nguời bạn nữa cũng muốn nhập bọn đó là Bình. Bình là một nguời rất tháo vát, lanh lợi và đã từng đổ đầu khóa học “Rừng Núi Sình Lầy” ở trường Biệt Động Quân Dục Mỹ, Nha Trang. Bình đã làm đuợc một cái kềm để cắt kẽm gai. Kềm này làm bằng hai quai xách của cuộn kẽm gai concertina, hai quai xách này bằng thép rất cứng. Khi một đầu đuợc đập dẹp, mủi mài nhọn và đục lổ, thì trông giống nhu luỡi dao. Nhưng khi hai cái luỡi dao ghép chập vào nhau và dùng một cây đinh làm trục xỏ xuyên qua hai lổ, thì biến thành một cái kềm để cắt kẽm gai.

Để chuẩn bị cho việc trốn trại, mỗi nguời may một túi vải nhỏ bằng loại vải ngụy trang để đựng đồ mang theo như lon guigoz, mì gói, gạo muối v.v…Mỗi nguời mang theo một bộ đồ thật tốt, quần tây áo sơ mi bỏ trong bọc nylon thật kín cho khỏi ướt, để bên trong áo truớc ngực, mặc đồ trận áo lính cũ bên ngoài. Ngoài ra tôi còn may thêm một cái túi vải nhỏ để cất giữ cái địa bàn, có dây choàng qua cổ để khỏi rớt mất. Mỗi lần đo là tôi rút một sợi chỉ từ lai áo trận và nhờ tôi có làm dấu đầu hướng Bắc bằng dầu hắc nhựa đuờng nên tôi sờ vào là biết để đi cả ban đêm. Chúng tôi phải kiểm soát lẫn nhau cho thật kỹ, quần áo mặc, túi vải, đồ đạc mang theo tất cả đều phải đuợc ngụy trang cho tiệp với màu cây lá trong rừng và không được gây ra tiếng động chạm nào. Ngoài ra chúng tôi còn sắp đặt những gì sẽ bỏ lại, thật ít đồ bỏ lại, cố ý ngụy tạo như là có ý định sẽ đi xa, tức là sẽ đi về huớng Bắc để qua biên giới Kampuchia.

Buổi chiều hôm đó tôi và Thu cùng ăn chung nhau, đem tất cả những gì ngon đem ra ăn, ngốn cho thật đầy bụng để lấy sức tối đi. Tất cả đồ còn lại đem cho hết hoặc chôn dấu. Thu đem cả túi balô quần áo cho bạn bè. Tôi có cho một nguời bạn cùng khóa là Lương Văn Thìn mấy gói mì, mà bạn tôi không hiểu tại sao, tuyệt nhiên tôi không có đá động gì tới chuyện trốn trại.

Suốt trong ba tuần lễ liền, Thu đã phải theo dỏi thật kỹ các toán tuần tra canh gác, giờ nào đi tuần, giờ nào đổi gác v.v…Sau cùng chúng tôi đã đi đến quyết định giờ xuất phát là 9 giờ tối, khi máy phát điện vừa tắt thì bắt đầu chui ra. Ở đây mỗi tối có máy phát điện cho công an coi truyền hình, đến 9 giờ thì tắt. Sau đó họ về sửa soạn độ 15 phút sau là bắt đầu đi tuần. Và theo như chúng tôi dự tính là phải mất 10 phút để cắt kẽm gai và 5 phút chót phải bò thật nhanh qua con đuờng tuần tra là khoảng đất trống bên ngoài. Địa điểm thuận lợi nhứt để chui ra là khoảng giữa hai chòi canh phía sau trại. Ban đêm họ đứng gác trên chòi canh cao nên không thể thấy rõ ở duới đất đuợc, theo đúng nguyên tắc canh gác ban đêm là phải ở duới thấp. Còn ngày đi thì chúng tôi chọn vào cuối tuần trăng, để khi chui ra thì trời còn tối, đến nửa đêm trăng lên dễ thấy đuờng để đi. Chúng tôi chọn đêm 22 ta, âm lịch, vì tin dị đoan sợ đêm 23 ta là không tốt.

Đúng 8 giờ ruởi tối đêm 22 tháng 4 âm lịch tức là ngày 3 tháng 6 năm 1980, chúng tôi bắt đầu theo đúng kế hoạch ra ngồi ngoài cầu tiêu, để chuẩn bị cắt dây lạt của lớp hàng rào tre truớc, để đến đúng 9 giờ khi máy phát điện vừa tắt là chui ngay. Nhưng không ngờ khi đó chúng tôi thấy ở ngoài suối có ánh đèn của công an đang đi bắt cá ở duới suối, nên chúng tôi phải ngưng lại ngay và trở vô ngủ như thuờng lệ.

Qua đêm hôm sau bắt buộc là phải đi chớ không thể nào chần chờ được nữa, vì sợ nếu để lâu dể bị bại lộ. Lần này cũng đúng 8 giờ ruởi là ra cầu tiêu, vì cầu tiêu là chỗ tốt nhứt để tới sát hàng rào mà không ai để ý. Bình bắt đầu cắt dây lạt của lớp hàng rào tre và cố vạch ra một lỗ để sẵn sàng chui ra. Lớp hàng rào tre này đuợc chôn sâu duới đất và sát khít nhau bằng hai lớp tre đan chéo vào nhau dầy đặc. Vì vậy rất khó gở ra, phải đào sâu xuống đất mới vạch ra một lỗ vừa chui và phải làm thật chậm thật kỹ vì sợ ở chòi canh nó có thể thấy lúc lắc ở đầu ngọn tre. Khi máy phát điện vừa tắt bầu trời chụp tối đen là lúc chúng tôi bắt đầu chui, thì bất ngờ có hai nguời đợi chui trốn theo. Thật hết sức bất ngờ và không thể nào từ chối đuợc nên chúng tôi đành phải lo bảo bọc nhau cùng trốn. Bình chui ra truớc là để cắt kẽm gai rồi đến tôi chui kế, tiếp theo là hai nguời trốn chui theo và Thu là nguời chui sau cùng.

Sau khi chui ra khỏi lớp hàng rào tre thì gặp lớp hàng rào kẽm gai thứ nhứt. Nhưng phía duới lớp hàng rào kẽm gai này là rãnh thoát nuớc với đất bùn sình hôi thúi, nên chui lòn qua đuợc mà khỏi phải cắt. Đến lớp hàng rào kẽm gai thứ hai thì Bình bắt đầu cắt. Hàng rào kẽm gai của VC rào thì họ có quá nhiều kinh nghiệm cho nên họ cho rào rất kỹ. Họ bắt phải đào một cái rãnh sâu xuống đất rồi mới trồng cột sắt lên và rào kẽm gai ngay từ phía duới rào lên, rồi lấp đất lại, nên không có cách nào vén lên để chui lòn qua đuợc, mà chỉ có cách duy nhứt là phải cắt thì mới chui ra đuợc. Mà cái kềm cắt kẽm gai của Bình biến chế nên không cắt dễ dàng nhanh chóng đuợc. Khi đang nằm chờ trong đám cỏ tranh giữa mấy lớp hàng rào với quần áo đầy bùn sình hôi thúi, tôi nhìn lên bầu trời đầy sao, cảm thấy như bình tâm chấp nhận những gì đến sẽ đến, vì không còn cách nào hơn để lựa chọn đuợc nữa.

Bình cắt xong hàng rào này cũng mất 5 phút mới qua đuợc và còn một lớp sau cùng cũng mất 5 phút nữa. Và cuối cùng chúng tôi chui qua đuợc hết và phải bò thật nhanh, chỉ dùng cùi chỏ và đầu gối bò thật sát mặt đất như bò hỏa lực, vuợt thật nhanh qua khoảng đất trống, rồi truờn mình xuống suối. Lúc đó tôi có cảm giác như tim tôi đập quá mạnh như muốn vỡ lồng ngực. Tiếng thở dồn dập hổn hển mà tôi nghe rất rõ, và gợn lên sóng nuớc khi ngâm mình trong nước để lội qua suối.

Qua bên kia bờ suối chúng tôi phải bám theo rể cây để leo lên vì lòng suối sâu thẩm. Lên khỏi suối là băng mình qua đám rừng tre, rồi băng qua con đuờng mòn. Con đuờng mòn này đi ra chuồng bò nên chúng tôi phải tránh xa nơi đây gấp vì sợ có nguời lui tới. Bất ngờ Thu bị lọt xuống một hố sâu có lẽ là hố rác, tụi tôi phụ nhau kéo Thu lên. Vừa lên xong là đâm đầu chạy vô phía rừng rậm.

Không bao lâu sau, bỗng nghe tiếng súng đại liên từ các chòi canh nỗ ran trời và sau đó là những tiếng quát tháo hò hét của đám công an chạy túa ra về phía chúng tôi, càng lúc nghe càng gần. Tiếng lên đạn súng AK47 nghe rớp rớp, tiếng hò hét vang động khắp nơi, tiếng chửi rủa hăm dọa “địt mẹ ra đi không tao bắn chết mẹ hết bây giờ”, nghe rất gần ở ngoài con đuờng mòn mà chúng tôi vừa mới chạy qua. Vì vậy chúng tôi hết đuờng chạy, sợ chạy sẽ gây ra tiếng động dễ bị lộ, nên 5 đứa tụi tôi đành phải chui vô một bụi rậm, nằm rút trong đó. Sau này được biết là sau khi chúng tôi chui ra khỏi hàng rào, thì lại có nguời chui trốn theo, nên bị phát giác bị bắt và bị đánh chết tại hàng rào và họ liền truy đuổi theo để bắt chúng tôi.

Chúng tôi cố nằm yên không động đậy. Một lúc sau nghe tiếng máy điện chạy trở lại và nghe tiếng lào xào ở trong trại, chắc là VC đang ra lệnh tập hợp điểm danh. Một hồi lâu sau thấy yên tịnh, không hiểu là họ vẫn còn lục soát hay ngồi núp rình đâu đó hay là đã đi chỗ khác. Nhưng trong lúc đó chúng tôi quyết định là phải bò đi vì không thể chần chờ ở đây lâu đuợc.

Chúng tôi 5 đứa bắt đầu bò đi thật chậm, hai tay rồi lại hai chân, đưa lên đặt xuống thật nhẹ nhàng, nếu lở có một tiếng động nhỏ như tiếng lá cây kêu sột soạt hay một tiếng cành cây gãy là ngưng lại ngay nghe ngóng rồi mới bò tiếp. Bò đuợc một lúc lâu chừng một tiếng đồng hồ, tôi nghi là chưa đi đuợc bao nhiêu, chân tôi bị đứt ngang ở ống quyển máu ra ướt xuống tới vớ, tôi rờ thấy ướt mới biết, nhưng cũng chẳng thấy đau đớn gì. Sau đó chúng tôi bắt đầu đứng dậy để đi cho nhanh ra khỏi chỗ này, nhưng vẫn đi hết sức thật cẩn thận, buớc đi thật nhẹ nhàng im lặng. Tôi lấy thẳng huớng Nam mà đi, đi ngược với huớng Bắc là hướng qua biên giới. Chúng tôi giữ đúng hướng, không đi theo đuờng mòn hay chỗ trống, bất kể là băng qua các đám ô-rô duới suối hay bụi lùm gai góc. Và càng lúc nghe tiếng máy điện ở phía sau lưng càng nhỏ dần.

Khi đó nghe có tiếng xe molotova, loại xe chở quân của VC, chạy đổ ra tứ phía. Chúng tôi phải đi chậm lại, sửa soạn đồ đạc cho thật gọn gàng, tuyệt đối không đuợc gây tiếng động và phải quan sát cho thật kỹ. Mỗi nguời nhìn một huớng, khi đến chỗ trống hay gặp đuờng mòn là dừng lại lủi ngay vô bụi rậm gần nhứt rồi từ từ quan sát sau. Có nhiều lúc gặp họ đang đi bằng xe đạp, chạy ngang qua rất gần mà họ không thấy. Mỗi khi muốn băng qua đường mòn hay trảng trống, chúng tôi dừng lại nghe ngóng quan sát rất kỹ rồi mới chạy nhanh qua từng nguời một. Bỗng đâu có một tốp nguời Thuợng, vợ chồng con cái vừa đi vừa nói chuyện lào xào, nên chúng tôi lủi tránh kịp thời.

Lúc trời sáng hẳn chúng tôi đổi huớng đi về phía Đông tức là huớng ra quốc lộ 13. Đi trong rừng hoang vắng nhưng thỉnh thoảng nghe có tiếng đốn cây chặt củi, chúng tôi phải tránh xa ra. Đi tới chiều thì gặp con đường lộ đá đỏ, đó là đường vô Minh Thạnh. Chúng tôi chuẫn bị kỹ rồi băng qua đường cho thật nhanh và lủi vô sâu trong rừng một khoảng xa rồi dừng lại nghỉ. Chúng tôi lựa chỗ kín đáo để dừng lại nghỉ, bởi vì từ đêm tới giờ gần một ngày tròn đã đem hết sức lực để cố vuợt thoát xa vùng nguy hiểm, nên bây giờ thấy thấm mệt, nhứt là vấn đề nước uống rất là khan hiếm. Tôi mang theo lon guigoz đựng nuớc uống nhưng đã bị đỗ mất hết vì nắp đậy của lon guigoz không kín chắc, giờ thấy khát rát cỗ họng. May sao Bình tìm đuợc một giếng nuớc bỏ hoang, cỏ mọc um tùm, nhìn xuống giếng tối om không thấy nuớc, nhung khi thòng lon guigoz xuống, múc lên đuợc những lon nuớc thật trong veo, uống thật ngon thật đã, nhờ đó chúng tôi ăn mì gói với nuớc lạnh. Xong rồi lấy thêm đầy nuớc rồi đi ngay, tiếp tục lấy hướng Đông để ra Quốc lộ 13.

Trời bắt đầu tối, nhưng khi tiếp tục đi thì nghe có nhiều tiếng súng trong rừng, chắc có lẻ là họ đi săn, mà cũng có thể là bọn công an, vì vậy chúng tôi phải dừng lại để tìm cách lẫn tránh. Chúng tôi ra giữa đám trảng tranh lớn cao quá ngang đầu, vạch đuờng ra ở giữa đám tranh, trải một tấm nylon để nằm nghỉ lưng và canh chừng mọi động tĩnh chung quanh. Nếu có nguời đi tới thì chúng tôi sẽ thấy dễ dàng để tìm đường lẫn tránh, nhưng nguợc lại họ sẽ không thấy chúng tôi đuợc vì tranh cao quá khỏi đầu. Khi đó hỏi chuyện nhau mới biết tên hai nguời đi chui theo, đó là Tuờng phi công phản lực A37 và một nguời nữa tên là Thạch, hình như là nguời Việt gốc Hoa, tôi không biết đơn vị, cả hai anh đều mang dép nên rất khó đi.

Sáng sớm hôm sau chúng tôi tiếp tục lên đuờng sau khi xóa mọi dấu vết. Khi đi thỉnh thoảng gặp các bẫy của nguời Thuợng rất là nguy hiểm, như bẫy cò ke, nếu vuớng chân vào thì cần bật sẽ bung lên rất là mạnh, có thể làm bị thương, hay bẫy bắn tên khi đụng vào cần bật thì bao nhiêu mũi tên tẫm thuốc độc sẽ bắn xuống. Vì vậy khi thấy khả nghi là phải dừng lại xem xét cho thật kỹ rồi tránh xa ra. Chúng tôi rất khát nuớc vì đi cả ngày mồ hôi ra nhiều mà không có miếng nuớc uống nên khát dữ lắm. Gặp một cây nói là trái gấm, Bình leo lên hái xuống ăn thử, vừa ngứa miệng, vừa khát nước thêm. Có lần gặp được nước đọng trong các lằn bánh xe bò và trên những lá cây khô còn đọng nuớc của những trận mưa truớc, chúng tôi góp nhặt lại hớp những giọt nước đó cho đỡ khát.

Đến chiều thì trong lúc đang đi bất chợt gặp một em bé trai độ 11, 12 tuổi đang lang thang trong rừng. Chúng tôi giả dạng như là cán bộ đi khảo sát địa chất và hỏi em bé ở đâu có suối, thì em bé đó chỉ về huớng truớc mặt, đi thêm vài chục thuớc là thấy suối, một con suối rất lớn. Nhìn ở phía xa kia là một khu rừng đã đuợc phát quang và có các cây to bị đốt cháy nám đen, một đám nguời đang cuốc đất làm rẩy, chắc là dân vùng kinh tế mới. Chúng tôi lội xuống suối uống một bụng nước thật no nê. Sau đó chúng tôi tìm chỗ bụi lùm kín đáo để nấu cơm, nấu bằng lon guigoz, hai đứa thay phiên nhau quạt để khói đừng bốc lên cao. Chúng tôi ăn bữa cơm này thật là ngon, ăn cơm nóng với bột ngọt trong gói mì.

Sau khi ăn xong, trời đã xế chiều, chúng tôi thấy đoàn nguời làm rẫy đi về nhà đi theo hướng Đông, như vậy là ra Quốc lộ 13, nên chúng tôi đợi cho họ đi hết rồi mới men theo con đuờng mòn đó để đi cho nhanh. Đi độ chừng một tiếng đồng hồ thì ra tới ấp, tôi đoán chừng là vùng Tân Khai hay Tàu Ô, nằm cạnh Quốc lộ 13. Thấp thoáng nhìn từ xa thì thấy có lớp hàng rào tre bao bọc, và hình như có cổng ra vào, giống nhu một trại tập trung, nên chúng tôi không dám đến gần và cũng không muốn vô đó làm gì.

Sau khi trời sụp tối thì chúng tôi tiếp tục đi, chúng tôi dự định đi trong bìa rừng theo đuờng rầy xe lửa Sài Gòn – Lộc Ninh nằm song song với Quốc lộ 13 để đi, dự định sẽ đi qua khỏi quận Chơn Thành, rồi mới ra đuờng đón xe. Riêng hai nguời trốn theo là Tuờng và Thạch thì không dám đi nữa, mà họ có cho địa chỉ nếu ai về đuợc đến Sài Gòn thì nhắn dùm gia đinh họ lên đón. Chúng tôi ba đứa đi lần mò trong đêm và vì trời tối quá nên không đi đuợc bao xa, mà đành phải dừng lại nghỉ qua đêm.

Sáng sớm hôm sau lên đuờng đi tiếp, đi cho đến trưa thì dừng lại nghỉ bên cạnh một cái ao nhỏ xung quanh có cây cối um tùm, dễ ẩn náu để nấu cơm ăn. Xong rồi lại đi tiếp, đến chiều chạng vạng tối thì đến một cái ấp khác, một xóm nhà lô nhô ngoài gần quốc lộ, chúng tôi ở bìa rừng trốn trong hầm hố cũ đuợc che phủ bởi những lùm tre rất kín đáo. Buổi chiều dân trong làng đi lao động về, họ đi ngang qua khá gần chỗ chúng tôi đang trốn, tiếng chó sủa dữ dội nhưng họ không để ý mà chỉ lo đi cho mau về nhà.

Chiều hôm đó nằm nghe tiếng chó sủa, tiếng trẻ con đùa giởn trên đuờng, nhìn khói lam chiều từ một mái nhà tranh quyện bay lên không trung mà lòng tôi cảm thấy buồn vô hạn. Chạnh lòng nhớ đến vợ con, thầm nghĩ đến một mái ấm gia đình bên vợ hiền con thơ mà tôi uớc mơ đuợc như họ. Được sống đầm ấm trong một căn nhà tranh vách đất ở một miền thôn quê rừng núi nào đó. Nhưng nghĩ lại thân phận tôi là một người tù trốn trại, tương lai rất mờ mịt, không biết ngày mai sẽ ra sao. Một uớc muốn tầm thuờng, đuợc làm một nguời dân bình thuờng để sống mà lo cho gia đinh nuôi vợ nuôi con cũng không đuợc. Tôi buồn cho thân phận bơ vơ lạc lõng của tôi trong cái xã hội mới này. Hoàn cảnh của tôi thật đúng với câu “nước mất nhà tan, gia đình ly tán”.

Đêm đó chúng tôi khát nước vô cùng, cồn cào lên cổ họng. Bình với ý định lẻn vô nhà dân để xin nuớc uống, nhưng tôi với Thu cản lại, vì bao công trình giờ rủi ro vô gặp phải nhà của công an thì nguy khốn, đành chịu nhịn khát qua đêm. Nhưng không ngờ đến khoảng nửa đêm thì trời đỗ xuống một trận mưa thật lớn. Chúng tôi mừng quá lấy tấm nylon ra căng để hứng nuớc uống. Uống no bụng xong rồi, đỗ đầy vô lon guigoz mà trời vẫn tiếp tục mưa càng lúc càng lớn. Chúng tôi bị lạnh quá phải ôm lấy nhau trên đầu phủ tấm nylon và mỗi đứa phải lo ôm thật chặt bộ quần áo tốt ở trong bọc nylon, ôm kỹ ở truớc ngực để giữ cho khô. Trận mưa này thật lớn thật lâu sau cùng rồi cũng dứt hẳn. Vì không thể đi tiếp trong rừng cho đến quân Chơn Thành, vì đuờng còn xa mà đường rầy xe lửa thì không còn nguyên như truớc nữa, mà chỉ còn là những đám rừng tre che phủ um tùm rất là khó đi, chỉ có thể chui lòn duới đám tre gai, cho nên chúng tôi quyết định là sẽ chia tay nhau ở đây, phân tán ra mỗi nguời tự tìm cách để đi về Sài Gòn rồi sẽ gặp lại nhau sau.

Trời hừng sáng chúng tôi thay bộ đồ thật tốt thật tươm tất, đồ đạc còn lại đem chôn dấu trong bụi, xong chờ cho đến khi nghe có tiếng xe chạy là lần luợt ra đuờng, lựa khoảng trống giửa hai nhà mà ra đón xe. Bình lên đuờng trước tiên, một lúc sau thì đến Thu, và tôi là nguời ra đuờng sau cùng. Khi buớc ra quốc lộ 13 tôi lấy bình tỉnh đi men theo bên đường chờ đón xe. Tôi không thấy Bình đâu hết mà chỉ thấy Thu đang đi phía truớc tôi một khoảng xa. Có chiếc xe Lam (xe ba bánh chở hành khách hiệu Lambretta) chạy trờ tới tôi liền đón để đi, vì xe đã đầy nguời nên tôi phải đeo theo xe đứng ở phía sau. Thu cũng lên đuợc chiếc xe đi truớc tôi. Xe chạy qua cầu Tàu Ô và như vậy là đêm qua chúng tôi đã ngủ ở giửa khoảng Tàu Ô – Tân Khai. Trước kia, đây là đoạn đuờng nguy hiểm nhứt của quốc lộ máu mang số 13 và cũng chính nơi đây đã xảy ra những trận chiến vô cùng ác liệt, mà dấu vết các hầm hố còn lại rất nhiều, dọc theo bìa rừng trông ra quốc lộ.

Khi xe vô quận lỵ Chơn Thành tôi xuống xe ở đầu ấp Chơn Thành 2 để đi bộ vô, vì sợ vô tới bến xe sẽ gặp công an. Đi bộ dọc theo con đuờng vào quận lỵ, tôi nhớ lại các nơi mà ngày xua quen biết như Trại cưa Lê Quang, Trại cưa Mai Chấn Hung, Lò than ông Năm Thãnh, sau này ông Năm Thãnh cũng lập thêm trại cưa. Đi gần đến chợ là đến bến xe và tại ngả tư đường đi Đồng Xoài có một đồn cảnh sát hồi xưa, bây giờ là đồn công an Việt Cộng. Tôi dự định đi bộ ra khỏi quận lỵ rồi mới đón xe để đi Bình Dương. Tôi đi ngang qua dãy phố chợ mà ngày xua có các tiệm ăn như Nghĩa Thành, Bạch Tuyết, nổi tiếng với món canh chua cá lóc, cá kho tộ. Đi ngang qua ngôi chùa, qua cây cầu là gần đến đầu quận lỵ. Tôi nhìn thấy Thu đang đi phía truớc bỗng dưng đổi huớng qua trái tấp vô một quán nước. Tôi nhìn kỹ về phía truớc phía bên phải thì thấy có một trạm kiểm soát nên tôi cũng đổi hướng qua trái tấp vô một quán nuớc. Tôi nhớ mài mại hình như đây là quán của bà Năm Chích, có cô con gái ra tiếp. Tôi kêu một ly cà phê, ngồi uống để quan sát coi trạm kiểm soát đó nó hoạt động như thế nào. Tôi thấy rõ hai thằng công an coi tù ở trong trại ra đây chận xét xe để nhìn mặt bắt chúng tôi, hai tên này đứng bên cạnh trạm kiểm soát tài nguyên. Mỗi khi xe đến đó, tài xế vô trình giấy tờ cho trạm kiểm soát tài nguyên ở bên trong, thì hai tên công an đứng bên ngoài đi ra lục soát xe.

Tôi đoán chắc là nó sẽ bố trí chận xét ở đây để bắt tù trốn trại, vì đây là quân lỵ gần nhất, mà muốn ra khỏi quận thì phải đi ngang qua trạm kiểm soát này. Nếu đi bằng xe đạp, xe thồ, mặc đồ như nguời đi làm cây làm củi trong rừng thì mới lọt qua đuợc. Còn nếu bây giờ băng vô trong rừng để đi bọc qua thì cũng sợ gặp phải nguời lạ mặt họ dể nghi ngờ, vì mình mặc đồ sạch sẽ tươm tất quá. Tôi còn đang phân vân không biết phải làm cách nào để qua khỏi trạm kiểm soát này, thì thấy Thu đi nguợc trở lại, ngang qua chỗ tôi. Thu trở lại bến xe để đón xe đi, còn Bình thì không còn thấy tâm dạng đâu hết, chắc là đã đi thoát rồi.

Tôi ngồi chờ một hồi thì thấy chiếc xe lô chạy trờ tới, tôi nhìn thấy Thu ngồi ở băng sau cùng. Xe tới trạm kiểm soát thì ngừng lại, trong khi nguời tài xế vô trình giấy tờ thì một tên công an đi ra nhìn vào xe, một lúc sau thì tài xế trở ra và nó cho xe chạy đi. Tôi mừng cho Thu đã thoát nạn, giờ đây chỉ còn lại một mình tôi, tôi không còn biết cách nào khác hơn là trở lại bến xe để đón xe đi. Đây là chỗ nguy hiểm nhứt mà tôi cố tránh nhưng không đuợc nên đành phải liều mạng.

Khi vô bến xe thì thấy có một chiếc xe lô, loại xe nhỏ để chở khách, tôi thấy xe trống trơn chưa có ai, tôi lên ngồi băng sau cùng. Ngồi một lúc lâu thấy nóng ruột nên mới hỏi bác tài là xe chừng nào chạy, ông ta nói chờ khách lên đầy thì đi, mà thuờng là khách ở trong Minh Thạnh ra nhiều. Tôi hơi lo vì khách ở trong Minh Thạnh ra có thể là công an trong trại ra đi phép. Ngồi một hồi lâu thì chợt có một tốp người đi buôn than họ lên gần đầy. Bỗng tôi thấy có hai đứa nhỏ độ hơn muời tuổi tay cầm một con gà, tay xách một giỏ đồ, tôi liền nhanh miệng kêu hai em bé đó vô ngồi gần bên tôi và tôi phụ xách dùm đồ, làm như vậy thấy đở trống trải vì có hai em nhỏ che đỡ phần nào.

Khi xe chạy tới trạm kiểm soát thì dừng lại, bác tài vào trình giấy tờ trong trại kiểm soát tài nguyên. Tôi thấy một thằng công an, đứng bên cạnh trạm kiểm soát, buớc ra để nhìn mặt nguời trên xe. Nó nhìn vào băng truớc, trên đó có hai nguời ngồi, tôi nghe tiếng quát tháo của tên công an là hai nguời ngồi đằng truớc là “tại sao đầu tóc để dài bù sù nhu cao bồi du đảng, đâu đưa giấy tờ coi”. Sau khi coi xong giấy tờ hai người phía truớc là nó liệng vô xe rồi ra lệnh cho đi một cách thật oai quyền. Cũng vừa lúc bác tài đã trở ra xe, bác tài liền rồ ga cho xe chạy đi, mà lòng tôi vui mừng khắp khởi vì vừa thoát được một trạm kiểm soát thật là vô cùng nguy hiểm.

Xe chạy qua khỏi Tham Rớt, Bầu Bàn, Bầu Lòng rồi đến quận Bến Cát, ở đây cũng có trạm kiểm soát nhưng là trạm kiểm soát tài nguyên nên không có gì trở ngại. Xe chạy về tới Chánh Hiệp Bình Dương, một trạm kiểm soát rất lớn, nơi cửa ngỏ vô thành phố nên xe đậu nối đuôi nhau rất dài. Chiếc xe tôi đi là xe nhỏ chở than lậu nên tài xế đã biết cách vô trình giấy tờ và nộp tiền mải lộ là xong ngay. Xe đi tiếp vô thành phố vào đậu ở bến xe, tôi xuống xe cũng vẫn còn nắm tay hai em bé vô mua giấy xe để về Sài Gòn, vì hai em bé đó cũng về Sài Gòn. Tôi thấy người ta sắp thành hàng dài để chờ mua vé xe, tôi cũng sắp vô hàng chờ đợi. Nhưng khi tôi nhìn kỹ lại thì thấy mỗi nguời khi mua vé xe đều phải trình ra một thứ giấy tờ gì đó, hình như là giấy phép đi đuờng hay là giấy căn cuớc, mà trong mình tôi thì không có thứ giấy tờ nào nên tôi hơi sợ, nên mới nói với hai em nhỏ là cứ sắp hàng để mua vé về Sài Gòn truớc đi còn tôi thì sẽ đi sau. Tôi bỏ ra ngoài tìm đường khác để đi, chớ khi mua vé họ hỏi đến giấy tờ là mình không biết trả lời ra sao, vì trong mình tôi không có thứ giấy tờ nào hết. Tôi vào quán nước kêu ly nuớc đá chanh vừa uống vừa quan sát để tính kế. Bỗng chợt thấy xe Honda ôm, tôi liền nghĩ ra phương cách hay nhứt để đi về Sài Gòn là bằng xe ôm. Tôi dự định là sẽ về nhà của chị Đồ ở Phú Thọ. Trong những lần đi thăm nuôi, vợ tôi thường đi chung với chị Đồ nên hai gia đinh rất thân nhau và trước khi trốn trại tôi có dọ hỏi anh Đồ địa chỉ nhà cho thật kỷ, thật đầy đủ chi tiết đuờng đi nước buớc, làm sao vô nhà, đi vô ngỏ hẻm nào v.v….Tôi chỉ hỏi chơi chơi chứ không cho anh biết ý định trốn trại của tôi.

Anh lái xe ôm ra giá đi Sài Gòn là 50 đồng, tôi không có đủ tiền nhưng tôi nói với anh là đưa tôi về đến nhà tôi lấy tiền rồi trả sau. Sau khi bằng lòng giá cả anh ta mới đi đổ xăng và trở lại đón tôi. Trên đuờng đi tôi cũng nói thêm với anh là tôi vừa ở vùng kinh tế mới về, bị mất hết giấy tờ nên nhờ anh chạy làm sao để tránh các trạm kiểm soát. Anh ta nói là tụi công an nó chỉ xét coi có buôn đồ lậu, chứ như ông đi mình không, thì không có gì để xét thì đừng có lo. Tôi nghe mừng trong bụng và trong lúc đi đuờng tôi có hỏi chuyện thì anh có cho biết hồi truớc anh là lính của Sư đoàn 5 Bộ Binh. Nghe biết vậy thôi chứ tôi cũng không có hỏi thêm gì về chuyện ngày trước. Xe chạy qua các trạm kiểm soát Búng, Lái Thiêu rồi Bình Triệu. Thấy xe kẹt đậu dài dài để chờ xét, còn xe Honda ôm này chạy qua hết mà không bị hỏi han gì và sau cùng vô Sài Gòn qua ngả cầu cư xá Thanh Đa rồi qua cầu Phan Thanh Giản và chạy trên đường Phan Thanh Giản để về Phú Thọ.

Nhìn quang cảnh thành phố Sài Gòn sau 5 năm trở lại, tôi cảm thấy như bơ vơ lạc lỏng, như lạc vào một thế giới nào xa lạ lắm. Đây không phải là thủ đô Sài Gòn năm xưa, một thời đã từng đuợc mệnh danh là một “Hòn Ngọc Viễn Đông”. Nay tôi thấy trên đuờng toàn là xe đạp, mà nguời nguời trông lam lũ tả tơi, không cuời không nói, với dáng vẻ buồn thiu ảm đạm, thật đúng với câu “nguời buồn mà cảnh có vui đâu bao giờ”.

Khi đến Phú Thọ, xe Honda chạy vào con hẻm nhỏ, một số con nít chạy theo. Khi xe vô đúng số nhà mà tôi đã học thuộc lòng, tôi gỏ cửa và chị Đồ ra mở cửa. Khi thấy tôi chị buột miệng la lên: “Ủa anh Thạch mới đuợc thả về, còn ông Đồ của tôi đâu”. Tôi lật đật nói nhanh là tôi mới đuợc thả về và xin muợn chị 50 đồng để trả tiền xe. Chị vô lấy tiền cho mượn ngay để trả tiền xe. Khi xe đi rồi và đám con nít đa tản đi hết rồi thì tôi mới nói thiệt với chị là tôi trốn trại và nhờ chị về báo tin cho vợ tôi hay. Chị hốt hoảng cho biết là mới vừa tuần truớc đây thằng em trai của chị vừa mới vuợt biên đã đi thoát được. Nhà chị đang bị công an phường khóm điều tra theo dỏi, cho nên chị không dám chứa tôi trong nhà, mà bảo tôi ra ngoài đuờng đón xe autobus để ra bến xe Xa Cảng miền Tây, ở Phú Lâm, rồi sẽ tính sau. Truớc khi đi tôi còn hỏi muợn chị đôi giày, vì đôi giày tôi đang đi là loại giày đi rừng nên đi trong thành phố coi không tiện. Chị cho tôi muợn đôi giày sandal và còn đôi giày đi rừng của tôi thì chị nói là chị sẽ đem lên cho anh Đồ trong lần thăm nuôi tới.

Tôi ra khỏi hẻm ra ngoài đuờng thì thấy có một quán hủ tiếu, tôi liền tấp vô ăn một tô hủ tiếu, uống một ly cà phê sữa rồi mới ra đón xe autobus để đi ra Xa Cảng miền Tây. Khi ra đến bến xe Xa Cảng miền Tây, tôi thấy cả một rừng nguời hỗn độn la liệt khắp nơi. Họ trải chiếu, trải tấm nylon hay kê tấm ván tùm lum tứ tung không theo một lề lối nào cả. Hỏi ra mới biết đây là những nguời bỏ vùng kinh tế mới trở về, nhà cửa bị tịch thu không nơi nương tựa đành phải sống lang thang đầu đuờng xó chợ bến xe. Sau khi thấy cảnh hổn độn này tôi nghĩ thầm là mình có thể trà trộn để ngủ tạm qua đêm ở đây.

Trong khi đó thì chị Đồ đạp xe đạp từ Phú Thọ vô Gia Định để báo tin cho vợ tôi biết. Sau này gia đinh kể lại là khi chị Đồ vào nhà, chị rất lo sợ có nguời theo dõi, nên chị kéo vợ tôi ra phía sau nhà, không cho mấy đứa con tôi lại gần, rồi chị mới nói cho vợ tôi hay là tôi đã trốn trại. Tôi đang ngồi uống nuớc đá chanh ở xe nuớc đá và định chỗ ngủ qua đêm, thì bỗng thấy chị Đồ đạp xe đạp ra tới. Chị đưa cho tôi 50 đồng và một giấy cử tri của vợ tôi gởi và căn dặn tôi sáng mai ra mua vé xe đò để về Mỹ Tho.

Sáng sớm hôm sau trước khi ra bến xe tôi đi tìm nhà của Thạch, là một trong hai nguời trốn chui theo. Thạch và Tường thì còn ở lại trong rừng và có dặn là nếu ai có thoát về đuợc Sài Gòn thì báo tin cho gia đình họ biết tin, để tìm cách lên đón. Địa chỉ của Thạch thì tôi nhớ lờ mờ là ở gần Phú Lâm nên tôi sẳn dịp ghé qua báo tin. Lúc đó trời còn lờ mờ chưa sáng hẳn, đuờng vắng vẻ. Khi đi ngang qua trạm xe chữa lửa có vài tên công an đang đứng nói chuyện ở phía truớc, tôi cố giử bình tỉnh khi đi ngang qua. Sau cùng tôi tìm đuợc nhà của Thạch, tôi gỏ cửa một hồi thì có nguời ra mở cửa nhưng với dáng vẻ bực bội vì tôi đánh thức họ quá sớm. Tôi hỏi có phải là nhà của Thạch không, thì họ không trả lời mà đóng ập cửa lại làm tôi ngần ngừ một lúc, vì tiếc là không báo tin cho gia đinh Thạch được. Tôi cũng không biết là có đúng nhà không, hay là họ sợ không dám tiếp tôi. Cho đến sau này tôi cũng không biết tin tức gì về hai nguời trốn chui theo, có thoát đuợc không và bây giờ ra sao.

Tôi trở ra bến xe ngồi xếp hàng chờ để mua vé xe về Mỹ Tho, trong túi có 50 đồng và thẻ cử tri nên thấy hơi yên tâm. Một hàng rất dài ngồi chờ mua vé xe rồi từ từ nhích lần lên. Tôi ngồi chồm hổm hai tay bó gối gục đầu rồi thiếp đi lúc nào không hay. Bỗng đâu có nguời vỗ vai kêu tên tôi, tôi giật mình nhìn lên thì thấy chị Đồ, chị bảo tôi vô quán nước ở bên kia đuờng để gặp bà xã tôi. Vừa mừng vừa lo, chỉ sợ công an theo dõi vợ tôi để đón bắt tôi nên tôi hơi luỡng lự. Chị Đồ vô đứng thế chỗ tôi để mua vé xe.

Tôi vô quán để gặp bà xã tôi, vợ tôi đã kêu đủ thứ đồ ăn nào hủ tiếu, bánh bao, xiếu mại v.v…. Bà xã tôi kêu tôi ăn đi ăn đi. Tôi hỏi coi có ai biết hay theo dõi gì không, thì thấy không có dấu hiệu gì. Ba đứa con tôi đang ở nhà chưa hay biết gì về chuyện này. Sau này kể lại mới biết là chúng nó đói khổ lắm, đâu có được ăn hủ tiếu bánh bao như thế này. Từ ngày tôi đi tù tới giờ gia đình suy sụp, có bao giờ dám ăn các món cao lương mỹ vị này đâu và tôi cũng quên hỏi mời vợ tôi cùng ăn, bà xã tôi cứ kêu tôi ăn đi ăn đi. Phần thì lo sợ công an nó theo dõi, phần thì không biết là về Mỹ Tho rồi sẽ làm gì, nên tôi cố nhét cho đầy bụng rồi đi liền. Tôi dặn vợ tôi là đừng có xuống Mỹ Tho, mà nên ở nhà lo cho mấy đứa con còn nhỏ dại, đừng để bị nguy hiểm cho cả hai, rồi không ai lo cho các con.

Tôi trở ra chỗ mua vé xe thì chị Đồ đã mua vé xong xuôi và chị còn cẩn thận mua cho tôi tờ báo Nhân Dân, chị bảo lên xe đọc báo này nguời ta tưởng là cán bộ. Tôi lên xe ngồi gần băng phía sau. Xe chạy qua hết các trạm kiểm soát một cách dễ dàng vì ở mỗi trạm bác tài đều biết thủ tục đầu tiên, là tiền đâu. Qua Bình Chánh, Bến Lức, Tân An, Tân Hương, Tân Hiệp, Trung Lương rồi vô thành phố Mỹ Tho.

Xe vô đến bến, tôi xuống xe và vô tìm đứa em gái tôi. Vợ tôi có cho biết là em gái tôi bây giờ làm ở tổ hợp may mặc phuờng 4 ở bến xe này. Mới vừa vô gặp mặt em tôi, nó mừng rỡ rồi la lớn “Ủa anh Tư mới đuợc thả về”. Tôi hơi bối rối vì sát bên cạnh tiệm may là đồn công an phường 4, có một số công an đang đứng gần đó sợ nó nghe được. Tôi giả bộ như thiệt nói một hơi là anh mới đuợc thả về bây giờ em có rảnh ra quán uống nuớc. Em tôi lật đật xin phép bà hội truởng hợp tác xã rồi đi liền. Ra tới quán nuớc tôi mới nói thiệt với em tôi là tôi trốn trại. Em tôi giật mình mặt tái xanh vì quá bất ngờ. Tôi dặn dò em tôi về nhà cho má hay và coi chung quanh có ai không rồi cho anh biết để anh về nhà. Em tôi đạp xe đạp chạy về báo tin xong trở lại làm việc, còn tôi một mình đi bộ về nhà. Má tôi đã biết truớc nên đã mở cửa sẳn chờ. Khi vô nhà tôi đi thật nhanh và đi thẳng ra phía sau nhà vì sợ lối xóm nhìn thấy.

Sau đó em tôi đi làm về có mua cho tôi một dĩa cơm suờn và hôm sau là cơm tấm bì chả và mua hủ tiếu bánh bao v.v…. toàn là các món ăn ngon đắt tiền mà tôi cũng quên hỏi là em tôi đi may lương tháng bao nhiêu. Má tôi thì già yếu không có làm gì ra tiền. Hồi truớc Má tôi đi may đồ quần áo ở trong nhà thương Mỹ Tho, nhưng đã nghỉ lâu rồi. Sau này mới biết là ở nhà không có đủ tiền để mua gạo, đôi khi còn phải bán máu để đổi lấy mấy bát cơm, thì nói gì đến thức ăn sang trọng. Thì ra em tôi chạy qua Chợ Cũ để xin Cô tôi. Cô Ba tôi có mở tiệm ăn, Cô rất thương tôi, vì vậy khi hay tin tôi về, cô tôi liền gởi cơm và đồ ăn rất ngon qua cho tôi.

Ở đây đuợc mấy ngày thì vợ tôi xuống thăm tôi làm cho tôi càng thêm lo sợ, vì sợ công an theo dõi. Tôi mới tính tìm đuờng vuợt biên chớ ở đây lâu thế nào cũng bị bại lộ. Mà tìm đuờng dây để vượt biên không phải là chuyện dễ dàng. Phần thì không có tiền, phần thì không dám đi lại nên cũng không biết cách nào để vuợt biên, mà tội vuợt biên lúc đó bị coi như là tội phản quốc, chạy theo đế quốc, bọn công an biên phòng bắt đuợc là chỉ có chết. Hồi đó đã có xảy ra những cảnh vuợt biên bị đổ bể, bị công an tàn sát như ở cầu Chữ Y Sài Gòn, như ở bãi biển Vũng Tàu, như ở kinh Chợ Gạo hay ở cửa biển Gò Công v.v…. Họ tàn sát không nương tay, mặc cho tiếng khóc trẻ thơ, hay những lời van xin lạy lục, của những nguời khốn khổ cùng đuờng. Tôi dự định nếu không tìm được đuờng đi bằng ghe tàu, thì như đã hẹn với Thu và Bình, là sau một tháng chúng tôi sẽ gặp lại nhau, để bàn tính để đi bằng đuờng bộ.

Vợ tôi lại xuống một lần nữa và lần này có cả đứa con gái đầu lòng của tôi. Coi như vậy là tôi ở đây đuợc một tuần lể và vợ tôi đem tiền xuống lần này là để mua vé xe cho tôi đi Cà Mau vào sáng sớm mai, vì hy vọng ở Cà Mau dễ kiếm đuờng vượt biên hơn. Bất ngờ ngay buổi chiều hôm đó vào khoảng 7 giờ, thì có một người anh bà con cô cậu, đi cùng với một nguời bạn, xuống thăm để từ giã Má tôi, để sáng sớm mai họ lên đường đi Kampuchia, và từ đó sẽ tìm đuờng vuợt biên, và anh muốn xin địa chỉ của em tôi, hiện đang sống ở Mỹ, để anh liên lạc khi cần. Thật là một điều quá may mắn cho tôi vì sau khi anh biết tôi vừa mới trốn về nên anh kéo tôi đi theo luôn.

Thế là phải trở về Sài Gòn ngay trong đêm nay để sáng sớm mai lên đuờng đi Kampuchia. Tôi từ giã Má tôi và để đứa con gái đầu lòng ở lại với Bà Nội. Tôi và vợ tôi đi theo Long và Nghĩa ra đón xe để về Sài Gòn. Tôi ra đi mà lòng buồn vô hạn, rồi không biết sẽ đi tới đâu trên buớc đuờng bôn ba vô định này. Ở lại Mỹ Tho thì không được, mà đi qua Kampuchia thì cũng không biết ra sao, thật là đau lòng truớc cảnh chia tay, rồi đây không biết có còn được gặp lại nhau. Trong đêm đó hai bà cháu đã tụng niệm suốt đêm để cầu nguyện cho chuyến đi của tôi được bình an. Trời đã tối lúc đó khoảng 9 giờ đêm nên không còn xe chạy về Sài Gòn. Chúng tôi đón chiếc xe lôi đạp để đi vô ngã ba Trung Lương, hy vọng ở đó sẽ có nhiều xe miền Tây lên, dể đón hơn. Ông xe lôi, đạp không muốn nổi, vì trên xe có tới 4 nguời, nên chúng tôi phải thay phiên nhau nhảy xuống để đẩy phụ, nhứt là khi lên dốc cầu Trung An, thì phải nhảy xuống hết rồi qua cầu mới nhảy lên lại.

Vô tới ngã ba Trung Lương là trời đã tối, nên không còn thấy xe miền Tây nào hết, mà chỉ thấy có một chiếc xe hàng bị hư máy và nguời tài xế đang sửa chữa. Chúng tôi mon men lại gần tìm cách làm quen rồi dọ hỏi xin quá giang về Sài Gòn, nhưng ông tài xế nhìn chúng tôi như nghi kỵ điều gì nên lắc đầu trả lời một cách xẳng giọng là xe đang hư mà làm sao cho quá giang đuợc, vì vậy chúng tôi lại lủi thủi đi tiếp. Ở đây có một trạm công an khá lớn để xét xe từ miền Tây lên, nên có nhiều công an ở đồn bót này, nên trong đêm tối mà đi lang thang ở đây cũng nguy hiểm lắm. Tình cờ có một chiếc xe lô chạy từ Mỹ Tho lên huớng về Sài Gòn, chúng tôi mừng quá đón ngoắc lại nhưng xe không ngừng mà chạy luôn một khoảng, rồi bỗng đâu xe dừng lại và lùi lại cho chúng tôi quá giang. Bác tài chỉ cho đi quá giang một quãng đuờng lên đến Tân Hương để đón xe khác mà đi, vì xe này đi về nhà để nghỉ nên không có đi Sài Gòn.

Trong khi xe đang chạy và qua tài giao thiệp của anh Long, cũng là lơ xe, nên anh biết nhiều nguời trong nghề xe đo nên câu chuyện dần dần trở nên thân mật và bác tài dần dần có cảm tình với chúng tôi. Và sẵn đó anh Long đề nghị bao xe đi Phú Lâm rồi bận về anh sẽ phụ giúp tìm khách cho chuyến trở về. Vợ tôi móc trong túi ra đếm còn 200 đồng nên đề nghị bao xe 200 đồng và nhờ anh Long nói thêm vô, nên sau cùng bác tài chịu đi Phú Lâm với giá 200 đồng. Thật là hết sức may mắn, chớ nếu tới Tân Hương chưa chắc gì có xe để đi, mà nếu không lên kịp Sài Gòn trong đêm nay thì ngày mai xe sẽ đi sớm rồi, sẽ mất đi một dịp may hiếm có ngàn vàng.

Khi xe chạy qua khỏi trạm công an Tân Huong một quảng, thì gặp một tốp công an ra chận đuờng. Tôi thấy nguy vì trên xe không có ai khác, chỉ có gia đinh tôi, nên rất khó xoay sở trà trộn. Tôi có ý dò hỏi bác tài coi tính sao, nhung bác tài cho biết là xe không có ngừng đâu vì tụi này là tụi chuyên chận xe dọc đuờng để ăn cuớp, bác tài rất rành về bọn này. Tôi nghe thế cũng thấy mừng thêm, vì thà là chạy luôn nó có bắn theo cũng khó trúng. Bác tài cho xe giảm tốc độ rồi khi đến gần bọn chúng thì tống hết ga vuợt nhanh qua, nên chúng trở tay không kịp, nên xe chạy vuợt qua một cách êm xuôi. Nhưng tôi lại lo cho trạm kiểm soát kế tiếp sợ tụi nó gọi máy báo lên chận bắt xe lại thì còn nguy hiểm hơn. Tôi hỏi ý bác tài thì bác tài nói là tụi nó đâu có máy móc gì đâu mà báo đừng có lo, nên tôi càng yên tâm tin tuởng bác tài muôn phần. Xe qua khỏi Tân An, Bến Lức, Bình Chánh rồi vào Phú Lâm một cách êm xuôi.

Sau khi trả tiền xe xong xuôi là chúng tôi chạy đi ngay vì trời đã tối rồi mà còn phải chạy lo kiếm mượn tiền để đi. Chúng tôi về nhà của Nghĩa cũng ở gần đó, vợ chồng tôi muợn chiếc xe đạp để đạp vô Phú Thọ. Vô tới nhà chị Đồ là đúng nửa đêm, giờ giới nghiêm. Chị Đồ không có sẳn vàng chị rút chiếc nhẩn đang đeo trên tay 2 chỉ vàng đưa cho tôi mượn đở. Tôi đạp xe đạp chở vợ tôi trở về nhà của Nghĩa trong lúc đã quá giờ nghiêm nên cũng sợ bị hỏi giấy tờ hay bị bắt lại thì trể chuyến xe sáng sớm mai đi. Tôi đạp xe lên dốc cầu Minh Phụng không nỗi, vợ tôi phải xuống xe đẩy phụ qua cầu, nguời của tôi lúc đó rất là ốm yếu xanh xao.

Về tới nhà Nghĩa, là chúng tôi phải đi ngay đến chỗ đậu xe, để kịp chui vô trong xe sắp xếp truớc khi trời sáng. Đây là chiếc xe hàng dân sự bị VC trưng dụng để chở chiếu qua Nam Vang tiếp tế cho bộ đội VC bên Kampuchia. Long là lơ xe của chiếc xe này nên mới dấu Nghĩa và tôi vô trong đống chiếu mà tài xế không hay biết gì. Sau khi sắp lại đống chiếu, vạch ra một lổ vừa đủ để hai đứa tôi chui vô, xong rồi Long mới gát hai cây gỗ đà ngang trên đầu rồi sắp chiếu phủ kín lên như cũ rất là kín đáo. Chúng tôi đem theo một bình nước và hai ổ bánh mì với một gói muối.

Ngoài hai chỉ vàng của chị Đồ cho muợn, vợ tôi đưa luôn chiếc nhẫn cuới đang đeo ở tay đưa cho tôi, như vậy tôi mang luôn hai chiếc nhẫn cuới. Lúc đó cũng khoảng 3,4 giờ sáng, vợ tôi và má của Nghĩa cũng vẫn còn ngồi đâu đó để chờ sáng ra xe chạy. Long ngồi ở ngoài nên có cho tụi tôi biết là vợ tôi và má của Nghĩa khóc nhiều lắm, vì không biết chúng tôi đi làm sao, vì không ai có tiền hay có vàng đem theo, không biết rồi sẽ đi đến đâu. Riêng tôi thì tôi quyết ra đi mặc dầu không biết ra sao, nhưng vẫn còn tốt hơn là ở lại Việt Nam.

Sáng sớm hôm sau xe rời bến để đi Nam Vang, nhìn qua khe ván ở sàn xe trời còn lờ mờ nghe tiếng nguời nói lao xao mới biết là vừa qua khỏi Ngã Tư Bảy Hiền. Khi đến trạm kiểm soát biên giới thì họ chỉ xét qua loa vì đây là chuyến xe công tác chở đồ cho bộ đội VC. Xe chạy càng nhanh đống chiếu trên đầu càng đe nặng, vì cây gỗ chận trên đầu không còn ở nguyên vị trí cũ, mà vì sự lúc lắc của chiếc xe đa làm lệch đi và hai đứa tôi phải đưa lưng chống đỡ sức nặng bên trên đè xuống. Tệ hại hơn nữa là dọc đuờng VC đón xe đi quá giang nên họ ngồi trên đầu chúng tôi. Nghe tiếng họ nói chuyện với nhau thì biết là VC đang ngồi ở ngay trên đầu mình. Chúng tôi phải rán đưa lưng ra chịu đựng, vì chỉ sợ nó sụp xuống thì bị lộ ngay, rất là nguy hiểm. Khi tiểu tiện thì phải đợi lúc xe chạy nhanh rồi mới dám tiểu qua khe hở của ván sàn xe mà phải tiểu từ từ để bên ngoài không thấy không biết.

Đến chiều thì xe tới nơi đậu vào một chỗ nào đó mà tôi nghe có tiếng nhạc của những bản nhạc ngày xưa. Tôi mừng thầm vì được nghe lại những tiếng hát quen thuộc đầm ấm nồng nàn tràn đầy kỷ niệm của ngày truớc. Tiếng nhạc hòa lẫn tiếng nguời nói chuyện lao xao gần bên cạnh xe. Chúng tôi vẫn nằm im trong xe chờ khi nào có hiệu lệnh của Long thì mới ra đuợc. Một hồi lâu sau khi bên ngoài hoàn toàn im vắng và khi nghe ba tiếng hiệu lệnh của Long thì chúng tôi chui ra. Khi nhảy xuống xe, tôi không thể đứng được vì bị ngồi lâu trong thế co ro nên chân bị tê cứng, mà Long thì thúc hối phải đi khỏi nơi đây ngay vì sợ tài xế và an ninh đoàn xe họ biết, nên tôi và Nghĩa phải cố lết đi ra khỏi xe thật xa.

Nhìn chung quanh, đây là một bồn binh khá lớn ở cuối đại lộ, bên cạnh một sân vận động, xe đậu một đoàn dài chừng vài chục chiếc, tài xế và lơ xe khá đông, có nhiều xe họ mang theo cả gia đinh vợ con với đồ đoàn nồi niêu soong chảo, nên tôi thấy cũng dễ trà trộn ẩn thân. Tối đó tôi và Nghĩa ngủ ở một đám cỏ bên cạnh đường khoảng giữa đoàn xe và không dám gần xe nào cả vì sợ họ báo với an ninh đoàn xe.

Ngay tối hôm sau, tôi bán chiếc nhẩn cuới đuợc 75 đồng Riel, tiền Kampuchia, và nhờ Long môi giới mời một số tài xế lơ xe ra quán nuớc uống cà phê nghe nhạc, để tìm cách lân la làm quen gây cảm tình với họ. Tôi và Nghĩa đóng vai lơ xe, bạn với Long. Vì Nghĩa cũng là lơ xe nên nói chuyện dễ dàng, còn tôi thì cảm thấy hoàn toàn xa lạ, nên trong các câu giao tiếp tôi thuờng cuời nhiều hon là nói vì sợ bị bại lộ tông tích.

Ban ngày thì ra chợ Nam Vang, bữa đầu thì đi bằng xe lôi cho mọi nguời thấy, và vì không biết đường, mấy lần sau thì đi bộ. Đi ngang qua mấy con đuờng rất đẹp với hai hàng cây phủ mát bên đuờng, với những ngôi biệt thự sang trọng kiến trúc theo kiểu villa của Pháp, giống như khu đường Duy Tân, Yên Đổ ở bên xứ mình. Mấy ngôi nhà sang trọng đó bây giờ là dinh của VC, treo cờ đỏ sao vàng và có lính canh truớc cổng. Mỗi khi đi ngang qua thấy hơi chùng chân vì sợ nó hỏi giấy tờ bất tử.

Uống nuớc phông tên ở gần đó, ăn cơm thì mua của mấy gánh bán hàng rong, cơm một dĩa 10 đồng Riel. Ra ngoài chợ thì đi lòng vòng coi nhìn cái này cái nọ cho hết thì giờ, thỉnh thoảng công an chạy ruợt đuổi bắt người ở trong chợ, làm mình cũng sợ giật mình. Tôi thì có ý định tìm mua một quyển sách địa lý để coi bản đồ vùng Battambang, Siem Rệp, vùng biên giới Thái Lan. Họ bày bán sách cũ rất nhiều nhưng đều là tiếng Miên. Tôi lựa xem mấy cuốn sách có hình bản đồ rồi mua một quyển. Nhưng vì tôi không biết tiếng Miên mà mua sách Miên trong đó có hình bản đồ địa lý, nên họ có ý nghi ngờ. Mua xong tôi lật đật đi bộ về chỗ đậu xe vì sợ họ báo với công an chợ. Sau khi nghiên cứu bản đồ để biết địa thế, đường đi nuớc buớc, cũng như khoảng cách bao xa. Tôi cố học thuộc lòng vùng Battambang, Siem Rep, vùng gần biên giới Thái Lan, rồi xé bỏ quyển sách đó ngay.

Lúc bấy giờ bên Miên hoàn toàn do VC kiểm soát, thỉnh thoảng có mấy tên lính Miên trẻ mặt còn non choẹt, mang khẩu AK dài đụng tới đất. Ở đây họ mắc loa phóng thanh cứ sáng sớm và chiều tối là nghe tiếng nhạc Miên, một âm điệu đều đều nghe buồn não ruột, nghe nhớ nhà, nhớ vợ nhớ con, nhớ quê hương mình vô cùng. Cuộc đời tôi cũng không ngờ lại lưu lạc đến noi đây, xứ lạ quê nguời, rồi cũng không biết ngày mai sẽ ra sao. Nghĩ lại thân phận mình, lêu bêu bình bồng, mà cảm thấy buồn vô hạn.

Tôi lân la mấy quán nuớc làm quen hỏi chuyện để tìm đuờng đi, thì đuợc biết là xe lửa chạy từ Nam Vang lên Battambang đã bị giật mìn không còn chạy nữa, bây giờ chỉ còn đuờng xe, nhưng VC đặt rất nhiều nút chận kiểm soát để chận bắt đào binh, nên rất khó mà lọt qua đuợc. Tôi ra phía đầu thành phố đường đi về huớng Battambang để xem trạm kiểm soát họ xét ra sao. Tôi thấy rất ít xe đi về phía đó và họ kiểm soát rất kỹ. Xe thì không thấy loại xe đò chở khách, mà toàn là xe chở hàng hay xe quân sự. Vả lại tôi không biết tiếng Miên nên rất ít hy vọng thoát qua đuợc, giá mà còn xe lửa thì tốt hơn.

Ở đây đuợc ba ngày thì nghe tin đoàn xe được lệnh đi xuống hải cảng Kompong Som tức là Sihanoukville. Tôi không biết hải cảng này ra sao, nhưng nghe nói ở đó có tàu ngoại quốc ra vào. Trước đó tôi có dọ hỏi đuờng lên Battambang, thì họ nói là phải có nguời dẫn đuờng và phải trả bằng vàng, ít nhứt là hai lượng. Trong mình tôi chỉ đuợc hai chỉ vàng thì làm sao mà đi và hơn nữa chúng tôi không biết tiếng Miên nên rất khó khăn, thành ra tôi đã bỏ ý định đi lên Battambang. Bây giờ nghe tin đi xuống hải cảng Kampong Som thì tôi thấy cứ đi đại xuống đó rồi sẽ tính sau, dầu sao ở hải cảng cũng còn có hy vọng hơn.

Buổi trua hôm đó tôi và Nghĩa ra chợ mua một nải chuối, lên chùa Năm Tháp gần đó để cúng Phật, để cầu xin Đức Phật Từ Bi độ trì đưa đuờng dẫn lối cho chúng tôi thoát ra đuợc khỏi nạn cộng sản. Sau khi quỳ lạy cầu nguyện Đức Phật xong, khi đứng lên là không còn thấy nải chuối đâu hết, mà trong lúc chúng tôi quỳ lạy thì có nguời tới chớp nải chuối đi mất thật là nhanh.

Đêm đó suy tính cách theo xe để đi, vì Long bảo phải tìm xe khác mà đi, chứ không được đi theo xe cũ vì sợ tài xế biết. Trong thời gian mấy ngày ở đó tôi cũng đã quen biết nhiều nên họ nhận cho tôi đi theo. Đoàn xe đi đến trạm kiểm soát thì ngừng lại để xét truớc khi ra khỏi thành phố, nhưng vì đoàn xe này có sự vụ lệnh đi công tác xuống hải cảng để chở hàng cho bộ đội VC nên không bị lục soát hay hỏi han gì và qua trạm kiểm soát này một cách dễ dàng.

Trên đuờng đi VC đóng đồn dọc theo đường, thỉnh thoảng đón xe quá giang, nhưng tôi ngồi phía trước chung với tài xế và lơ xe, nên rất là yên tâm. Trên xe bác tài có khoe một khẩu súng AK47 đuợc phát cho mỗi xe, nhưng chưa chắc là bác tài đã biết sử dụng. Tôi nhớ bữa đó trời mua tầm tả và xe bị hư máy phải dừng lại để sửa chữa, nhưng bác tài rất rành nghề chỉ sửa một chút là xong ngay, nhưng phải câu một bình xăng phụ ở bên ngoài. Đến chiều thì xe đến hải cảng Kampong Som, xe dừng trước cổng trên con đường lộ đá dẫn vào hải cảng. Khi xe vừa đến nơi thì tài xế và lơ xe đi vô cổng một cách tự nhiên mà không bị hỏi giấy tờ gì hết, nên tôi, Long và Nghĩa cũng đi theo vô trong hải cảng một cách dễ dàng.

Hải cảng này ở xa khu dân cư, có mấy lớp hàng rào kẽm gai bao bọc chung quanh, và một trạm kiểm soát tại cổng chính ra vào, với một số công an biên phòng VC canh gác. Đóng trên một ngọn đồi gần đó là một đồn công an biên phòng. Bên trong hải cảng là một bến đá, xây bằng đá tảng, để tàu cặp bến. Tôi cố nhìn thật kỹ quanh bến tàu để tìm xem có chiếc tàu nào của nuớc tự do, nhưng tôi chỉ thấy toàn cờ đỏ búa lìềm, toàn cờ cộng sản, thật là thất vọng vô cùng. Gần bến tàu là hai nhà kho rất lớn bằng sắt cất theo kiểu tiền chế của Mỹ. Có một đuờng rầy xe lửa, và ở phía trong xó góc có vài toa xe lửa bỏ không, không thấy nguời lai vãng, gần đó có một phong tên nuớc. Ở phía ngoài cổng bên cạnh con đuờng lộ đá là một cái ao khá lớn, mà thỉnh thoảng thấy có công an đến câu cá. Chiều tối đó tôi trở ra xe để ngủ qua đêm.

Sáng sớm hôm sau xe vô đậu truớc nhà kho lớn để chất hàng lên. Họ chất lên những bao bắp hột do nhân đạo quốc tế viện trợ để cứu đói cho dân Kampuchia, nay thực phẩm đó đuợc dùng để nuôi ăn cho bộ đội VC. Tôi chỉ còn bửa nay để đi lại thong thả trong hải cảng này, đến sáng mai khi đoàn xe đi rồi thì tôi không còn chuờng mặt ra đây đuợc nữa, vì bọn công an thấy sẽ biết ngay.

Chúng tôi đang lân la trong hải cảng thì bỗng có một chiếc tàu tuần của công an biên phòng VC vào cặp bến để lấy nước ngọt ở cái phong tên nuớc. Khi đó họ có hỏi tụi tôi, có muốn mua mấy món đồ lậu như ruợu, thuốc lá, đồng hồ, máy radio cassette v.v….Chúng tôi làm bộ nhận chịu, nhưng hẹn với họ ngày mai sẽ gom tiền cho nhiều để mua một lần cho tiện. Họ nghe nói thế tuởng là trúng mối to. Sau khi lấy nuớc xong là họ đi, truớc khi rời bến họ rủ chúng tôi lên tàu. Long nhanh chân nhảy lên truớc, tôi còn đang luỡng lự ngần ngừ, vì không biết họ đi đâu và đi làm cái gì, họ không nói gì cả, chỉ rủ lên tàu để đi thế thôi. Long đã ở trên tàu rồi nên thúc hối tôi lên tàu. Khi tàu mở dây cột tàu sắp chạy và vì sự thúc hối của Long nên tôi cũng nhảy lên theo, còn Nghĩa thì không đi.

Tàu chạy ra ngoài, nghe họ kể về những chuyện đi bắt ghe tàu vuợt biên. Họ đã bắt rất nhiều ghe tàu vuợt biên và lên giọng rất là sắt máu. Nguyền rủa những nguời vuợt biên là bọn phản quốc, chạy ra nuớc ngoài, bám chân đế quốc để ăn bơ thừa sữa cặn v.v… Tôi thầm nghĩ đến những chiếc ghe tàu vuợt biên nếu bị chiếc tàu tuần này bắt, thì coi như là thân tàn ma dại. Có những chuyến ghe tàu vuợt biên bị công an VC xả súng tàn sát mặc dầu họ biết đa số là đàn bà con trẻ.

Họ dẫn chúng tôi xuống hầm tàu để quảng cáo mấy món hàng mà chúng tôi hứa sẽ mua. Tàu chạy một lúc rồi cặp bến vô đậu trong căn cứ hải quân của chúng, rồi bảo chúng tôi lên bờ. Tôi cứ tuởng là tàu trở lại bến cũ cho mình lên, ai dè lại vô căn cứ VC nên cũng hơi ngại ngại. Hai đứa tôi đi ra cổng và đi theo con đuờng lộ đá dẫn vô bờ. Căn cứ này nằm xa bờ chừng vài chục thuớc, có con đuờng lộ đá làm bằng những tảng đá núi mà xe loại lớn có thể chạy đuợc.

Vô tới bờ đi bộ nguợc trở về hải cảng, dọc theo bờ biển thấy có một xóm chài, có một số tàu đánh cá, hai đứa tôi vô hỏi thăm. Lên một chiếc tàu thì gặp một nguời có mang một khẩu súng AK47, lỡ rồi nên tôi làm bộ hỏi để mua cá. Anh này nguời Miên gốc Việt nên nói được tiếng Việt. Anh ta ngó tới ngó lui rồi hỏi tụi tôi có muốn vuợt biên không. Chắc có lẽ họ thấy bộ dạng mình vô đây là định tìm đuờng vuợt biên nên mới hỏi thẳng như vậy. Thấy anh ta có súng thì hơi sợ, nhưng trong bụng thì muốn tìm cơ hội để đi, nên tôi cũng trả lời lưng chừng là bây giờ mà tính chuyện vuợt biên đâu phải dễ, tụi tôi ở đoàn xe vận tải đang đi công tác ở hải cảng. Ông ta tiếp thêm là nếu muốn vuợt biên thì ba ngày nữa trở lại đây rồi họ sẽ đưa ra hải đảo, ở đó họ sẽ chuyển qua tàu đánh cá Thái Lan, mỗi nguời hai lượng vàng, ba ngày nữa tàu sẽ ra khơi, nếu muốn đi thì lại đây. Nói xong ông ta cho một con cá to và hối tụi tôi đi ngay, vì ở đây lâu không tiện dễ bị nghi ngờ.

Tôi và Long trở về hải cảng, trên đuờng đi thỉnh thoảng gặp các toán tuần tiểu của công an biên phòng, họ đi tuần tra dọc theo bờ biển. Chúng tôi giả vờ mò cua bắt cá trong các hóc kẻ đá, khi họ đi qua khỏi rồi thì tiếp tục đi. Đi bộ một đoạn đường khá xa chừng vài cây số. Khi về đến chỗ đậu xe thì thấy có gánh bán cơm, tôi đổi cho họ con cá để lấy hai dĩa cơm. Sau khi ăn xong, tôi bàn với Long và Nghĩa là tối nay phải vô ngủ ở trong hải cảng, vì sáng sớm đoàn xe sẽ chạy trở về Nam Vang, khi đó thì mình không còn có chỗ ẩn thân ở bên ngoài đuợc. Long và Nghĩa thì có ý định trở lại Nam Vang, rồi trở về Việt Nam kiếm thêm tiền, vàng rồi trở qua đây, để đi theo mấy ghe tàu đánh cá. Riêng tôi thì tôi quyết tâm ở lại, kiếm chỗ ẩn náu quanh đây, may ra có dịp tìm đường đi, chớ quay trở lại Việt Nam thì không thể đuợc. Tôi quyết tâm là sẽ đi tới mãi chớ không quay lui. Riêng Long và Nghĩa đều là lơ xe nên chuyện đi hay trở về đều không có gì là nguy hiểm cả. Sau khi bàn tính một lúc thì Long và Nghĩa đồng ý ở lại vì thấy tôi quá quyết tâm. Chúng tôi mua ba ỗ bánh mì và lấy theo một bình nuớc rồi vô trong hải cảng ngay, truớc khi trời tối.

Tôi đã để ý từ truớc thấy có mấy goong xe lửa bỏ không ở một xó góc không có nguời lui tới. Vì vậy chúng tôi đợi đến khi trời tối, kín đáo lẻn vô trong toa xe đó và trốn luôn trong đó. Ngồi trong goong xe nhìn qua khe ván thấy đồn công an canh gác ở cổng cũng không xa lắm, vì vậy chúng tôi phải giữ gìn thật hết sức im lặng, đề phòng thật kỹ luỡng. Trong những lúc nguy hiểm tôi thuờng cảnh giác thức suốt đêm, quan sát nghe ngóng mọi động tịnh bên ngoài. Sợ khi ngủ hết, lỡ mà có nguời nào ngủ mớ la hoảng hay phát ra tiếng ngáy thì nguy hiểm lắm.

Khi trời sáng hẳn, tiếng đoàn xe rời hải cảng để trở về Nam Vang. Lúc bấy giờ bên ngoài không còn nguời lui tới, không còn thấy bóng dáng tài xế hay lơ xe nữa, vì vậy chúng tôi phải ẩn mình cho thật kỹ. Chúng tôi nằm im trong toa xe lửa đó, buổi trưa trời nóng như thiêu, chúng tôi cởi trần, nhờ khe ván hở nên cũng không đến đỗi nào. Tôi chỉ sợ nếu có nguời muốn sử dụng goong xe này, họ đến kéo đi thì rất là nguy, chúng tôi sẽ bị phát giác ngay.

Cho đến chiều thì may quá có một đoàn xe khác xuống cùng vào đậu ở phía cổng như truớc. Tôi mừng quá vì lại có dịp ra ngoài trà trộn với đám tài xế lơ xe mà không ai để ý. Và cũng vào khoảng 4 , 5 giờ chiều hôm đó, bỗng đâu xuất hiện một chấm đen từ ngoài biển khơi đang tiến dần vô bờ, càng lúc càng lớn dần và sau cùng hiện rõ ra một chiếc tàu đang huớng vô hải cảng, rồi từ từ cặp vào bến đá. Một chiếc thương thuyền quá lớn mang tên PEP STAR, đặc biệt là lá cờ trên tàu không phải là cờ đỏ búa liềm, chắc chắn không phải là tàu cộng sản. Hơn nữa chữ PEP STAR có vẻ là tiếng Anh hơn là tiếng Nga.

Sau khi tàu cặp bến xong xuôi, thấy có nhiều nguời đi lại gần chiếc tàu, khi đó tài xế và lơ xe ra vô tấp nập. Trời đã tối chúng tôi chui ra khỏi chỗ trốn và tìm cách lại gần chiếc tàu. Lúc đó có nhiều công nhân nguời Miên đang lên tàu, tôi liền hỏi nguời thủy thủ trên tàu họ cho biết là tàu của nuớc Đan Mạch, mà Đan Mạch là một nuớc ở Âu Châu, nên tôi yên trí chắc chắn không phải là một nuớc cộng sản, tôi mừng quá vì có thể xin tị nạn đuợc.

Trong bóng tối chúng tôi ngồi ở xa xa nhìn lên chiếc tàu thấy công nhân nguời Miên lên xuống theo chiếc cầu sắt cặp sát bên hông tàu. Ở trên tàu ngay chỗ đầu cầu lên xuống có hai tên công an đang đứng canh gác kiểm soát mọi nguời lên xuống rất là kỹ lưỡng. Tôi tập trung quan sát mọi hoạt động trên tàu để tìm cách lẻn trốn lên tàu, nhưng rất là khó khăn vì hai tên công an đang canh gác quá kỹ. Nếu lở lên tàu mà chúng bắt tại trận thì hết đuờng chối cãi chỉ có nuớc vô tù, mà riêng tôi thêm tội trốn trại nữa thì chắc chúng sẽ không tha.

Kể từ khi chui ra khỏi hàng rào ở trại tù Tống Lê Chân cho đến bây giờ là tôi đã vuợt đuợc một quảng đuờng khá xa, đã ra khỏi nuớc và ra đến biển và con đuờng duy nhất là phải lên cho bằng đuợc chiếc tàu này. Nhìn lên trên tàu mà thèm thuồng uớc gì mình đuợc trốn vô nằm trong chiếc thuyền cấp cứu đang treo lủng lẳng đong đưa trên đó thì quá kín đáo. Tôi cứ nhìn hoài, tàu này chở những chiếc xe truck, chỉ có phần đầu máy với cái suờn phía sau. Đây là những chiếc xe viện trợ nhân đạo của Liên Hiệp Quốc. Cần trục trên tàu đang hoạt động liên tục đang bốc hàng xuống, mỗi lần một chiếc xe, cho nên rất là nhanh. Theo tôi nghĩ thì trong đêm nay sẽ bốc hàng xong và ngày mai tàu sẽ đi, mà tàu của các nuớc Âu Châu thì hiếm khi vào hải cảng của nuớc cộng sản này.

Trời tối dần mà Long và Nghia thì cứ hối thúc hoài, định leo đại theo dây cột tàu mà ra tàu. Nhưng đèn pha chiếu sáng khắp tứ phía thì làm sao mà leo ra đuợc, mà làm sao thoát hết đuợc ba đứa. Rồi Long lại tính đuờng nhảy xuống nuớc bơi qua bên kia thành tàu rồi tìm cách leo lên tàu. Tàu thì cao sừng sững đâu có dễ gì leo lên được, mà chung quanh đèn chiếu sáng choang, vừa nhảy xuống nuớc là bị bắn liền chứ đừng nói gì tới bơi ra tàu.

Tôi cứ chờ đợi dịp thuận tiện, mắt tôi cứ dán sát vào hai tên công an đang đứng gác trên tàu, một tên mang súng AK47, còn một tên mang K54 có lẽ là cán bộ. Quan sát theo dõi họ thật kỹ để mong tìm một chút sơ hở, nhưng mỗi lần có ai lên tàu là nó chận lại xét hỏi rất kỹ càng. Với lại mình không biết tiếng Miên, không giống nguời Miên, nên khó qua mặt đuợc nó.

Bỗng dưng trời xui đất khiến hai tên công an này đồng lúc rời bỏ vị trí buớc vô trong cabin tàu. Tôi vụt chạy lên tàu tức khắc kéo theo Long và Nghĩa. Khi lên đuợc trên tàu chúng tôi chạy băng qua bên kia thành tàu và tìm chỗ ẩn trốn, thì khi đó hai tên công an lại trở ra canh gác như cũ, nhưng chúng chỉ nhìn về phía cầu thang lên xuống, chứ không để ý gì về phía chúng tôi. Tôi nhìn quanh quất không thấy có chỗ nào để ẩn thân, không thể chui vô đống dây luột hay đống cây gỗ bên cạnh đó, vì dấu đầu lòi đuôi không thể che dấu hết ba nguời. Nhìn xuống hầm tàu thì thấy nhân công Miên đang làm ở duới đó và không thể lẫn quẫn ở đây lâu đuợc vì thủy thủ hay công nhân Miên bất chợt họ thấy họ sẽ nghi.

Ở trên tàu có hai cần trục một cần trục ở phía bên kia đang hoạt động liên tục, còn một cần trục phía gần bên tôi thì không hoạt động. Ở phía trên là phòng điều khiển bằng kiến, ở bên duới là phòng máy, có một lỗ tròn vừa nguời chun vô, tôi liền thử chui vô rồi kéo Long và Nghia vô theo. Tôi cố ép sát nguời vô trong để vừa đủ chỗ cho ba đứa ẩn mình. Lần lần tôi dọn dẹp các lon dầu, đồ đạt dụng cụ để chui sâu vào trong. Nếu có ai bất chợt đi ngang qua thì sẽ không thấy chúng tôi đuợc, nhưng nếu ló đầu vô trong thì sẽ thấy ngay. Hơi yên tâm một chút, lúc đó chắc cũng vào khoảng 11, 12 giờ đêm.

Cần trục bên kia vẫn còn đang tiếp tục hoạt động, độ một giờ sau thì chấm dứt. Sau đó công nhân lần luợt rời khỏi tàu, duy chỉ còn hai tên công an vẫn đi tới đi lui canh gác bên kia thành tàu. Sau đó nắp hầm tàu đuợc đóng lại, nắp hầm tàu làm bằng những lá sách bằng sắt nó chạy từ trong ra ngoài nghe rền vang. Sau khi nắp hầm tàu đậy xong, bây giờ chúng tôi có thể chui vô sâu thêm nằm truờn mình trên nóc hầm tàu và mọi sự trở lại vắng lặng hoàn toàn.

Tôi suy nghĩ, truớc khi tàu rời bến chắc chắn công an biên phòng và quan thuế sẽ kiểm soát rất kỹ, cho nên tôi phải tìm chỗ trốn khác kín đáo hơn, chớ không thể trốn ở đây đuợc. Lúc còn ở duới nhìn kỹ mọi hoạt động trên tàu, tôi thấy thỉnh thoảng có thủy thủ lên xuống ở phía truớc mủi tàu, như vậy phải có cầu thang lên xuống ở mũi tàu.

Đợi đêm thật khuya vắng lặng, tôi dặn dò Long và Nghĩa từng nguời một lần luợt chui ra và phải chờ khi nào công an quay lưng lại thì mới cho chui ra. Bò theo thành tàu, bò ra phía truớc mũi tàu để tìm cầu thang đi xuống hầm tàu. Trên tàu rất trống trải mà đèn thì sáng choang, do đó phải bò thật thấp để không thấy lộ hình lên trên nền trời. Sau cùng tôi đợi khi tên công an vừa xây lưng lại là tôi chui ra sau cùng, bò dọc núp duới thành tàu đến gần mủi tàu thì thấy có một cửa nhỏ, tôi mở chốt cửa rồi chui vào trong, có một cầu thang bằng sắt hình khu ốc, tôi lần theo xuống.

Xuống đến hầm tàu thì tôi thấy Long và Nghĩa nằm dài ở đó. Đây là khoang tàu nơi chứa hàng, sau khi hàng bốc đi rồi thì trống trơn không có chỗ nào để ẩn thân, mấy cây cột bằng sắt cũng không lớn đủ để che thân. Tôi thấy trốn ở đây không đuợc vì sẽ bị lộ ngay. Tôi lần theo cầu thang khu ốc để đi xuống nữa, thì khi xuống duới đáy hầm tàu, tôi thấy có một đống cây gỗ ở ngay mũi tàu, tôi mừng quá vì tìm đuợc chỗ trốn tốt. Tôi sắp lại đống cây gỗ để chừa ra một lỗ trống, đủ chỗ để cho ba đứa chui vào, xong rồi kéo thanh gỗ đậy lại, trông giống như cũ, không có dấu vết gì khả nghi. Lúc đó chắc khoảng 3, 4 giờ sáng, tôi nằm im trong đó, không dám ngủ và dặn kỹ Long và Nghĩa phải giữ thật im lặng, không được thở mạnh hay ho hen.

Độ khoảng 6 giờ sáng, tôi nghe tiếng lộp cộp đi xuống cầu thang, họ quét đèn lên trên đống cây, nhưng không thấy gì khả nghi, họ bỏ đi trở lên. Một lúc sau nữa tôi nghe tiếng còi tàu hụ lên ba tiếng, tôi mừng quá vì “tàu souffler ba là tàu ra cửa biển”. Một hồi sau tôi nghe tiếng sóng nước rào rào ở mủi tàu, tôi chợt biết là tàu đã chạy. Vì đang ở mủi tàu nên tôi không nghe tiếng máy tàu, mà chỉ nghe tiếng sóng nước đập vào thân tàu nghe rào rào và càng lúc càng mạnh. Đến một hồi nữa nghe ầm ầm, tôi biết là tàu đang chạy nhanh, đang rẽ sóng ra khơi. Một hồi sau chúng tôi chui ra khỏi đống cây gỗ.

Tôi định chờ một ngày một đêm rồi mới lên trình diện vì sợ nếu còn trong hải phận Kampuchia hay Việt Nam, thì họ có thể kêu tàu tuần đến bắt chúng tôi. Nhưng đến chiều thì Long bị ói mửa vì say sóng, càng lúc càng nặng, mặc dù trong bụng không còn thức ăn, chỉ ói ra nuớc, ói ra mật xanh. Sau cùng Long năn nỉ tôi phải lên trình diện, nếu không sẽ chết. Lúc đó tôi nghĩ là tàu đã chạy đuợc khoảng 8, 9 tiếng đồng hồ, chưa được xa lắm, chắc là còn trong hải phận Việt Nam, nhưng vì Long năn nỉ quá, nên sau cùng tôi đành phải lên trình diện.

Một mình tôi lên truớc, theo cầu thang khu ốc để lên và khi vừa chui ra khỏi cửa ở mủi tàu nhìn lên phía phòng lái bằng kính, tôi thấy nguời hoa tiêu đang nhìn xuống phía chỗ tôi, chỗ mũi tàu. Tôi tức tốc tìm cách đi thật nhanh lên đó ngay, vì sợ họ kêu tàu tuần đến bắt. Tôi đi thật nhanh, leo lên cầu thang lên tầng trên cùng và đi thẳng vô phòng lái.

Thấy tôi vừa buớc vô phòng hoa tiêu, ông ta nỗi giận dậm chân đùng đùng, bấm còi báo động. Ông hỏi tôi là ai, làm gì vô đây. Tôi liền trả lời tôi là sĩ quan Việt Nam trốn từ trại tù ở Việt Nam sang Kampuchia và trốn xuống tàu hồi đêm qua, tôi xin được tị nạn. Nhờ tôi nói bằng tiếng Anh, mặc dù không được trôi chảy, nhưng cũng hiểu đuợc phần nào. Lúc đó quần áo mặt mày tôi lem luốt dính đầy dầu nhớt, mạt cưa trông không giống ai. Tôi nói tiếp tên họ số quân của tôi và tôi đã học khóa Bộ Binh Cao Cấp tại truờng Fort Benning, tiểu bang Georgia, Hoa Kỳ và xin ông vui lòng liên lạc với tòa đại sứ Mỹ nào gần đây thì sẽ xác đinh đuợc lý lịch của tôi. Tôi xin ông một điều là nếu ông không nhận cho tôi tị nạn, thì xin ông bỏ tôi xuống biển, chớ đừng gọi tàu tuần đến bắt tôi, vì họ sẽ giết tôi.

Sau khi nghe tôi trình bày sự việc, tình hình bắt đầu lắng dịu, tôi liền nói thêm là hiện còn có hai nguời nữa còn đang trốn duới hầm tàu. Ông ta lại nỗi giận lên, kêu nguời đi xuống dẫn Long và Nghĩa lên. Long và Nghĩa đuợc dẫn lên ngồi trong góc, trông rất thãm não, mặt mày xanh xao, quần áo lem luốc bẩn thỉu. Xong rồi ông Thuyền truởng gọi báo về công ty, một lúc sau thì công ty chấp nhận cho chúng tôi tị nạn. Tôi mừng quá đỗi, coi như được sống lại và tôi có hỏi ông là hiện giờ tàu đang ở đâu, có còn trong hải phận Việt Nam không, thì ông chỉ cho tôi thấy một hòn đảo trông mờ mờ từ xa đó là đảo Thổ Chu của Việt Nam và ông cũng nói thêm rằng là kể từ bây giờ không ai có quyền lên tàu này để bắt chúng tôi lại, vì đây là tàu của Đan Mạch là đất nuớc Đan Mạch.

Một số thủy thủ đứng chung quanh, nghe thấy, dần dần họ có cảm tình với chúng tôi, họ đưa cho quần áo giày dép rồi dẫn chúng tôi đi tắm. Cho chúng tôi vô ở trong một căn phòng, đây là phòng của một ông kỹ sư đã đi phép. Trên giường nệm có hai tấm nệm tôi lấy một tấm đặt xuống sàn nằm ngã lưng xuống một cách thoải mái tuyệt trần. Một lúc sau chúng tôi được dẫn đi ăn, một bửa ăn thật tuyệt diệu trong đời, trong đó có cơm chiên dương châu và mấy khúc cá thu hấp rất thơm ngon chưa từng có. Đây là một bửa ăn tuyệt diệu nhất, tự do nhất, thoải mái nhất, mà tôi cảm thấy như đuợc sống lại sau bao nhiêu ngày trốn tránh lang thang vất vả căng thẳng tột cùng, có đôi khi gần nhu tuyệt vọng.

Sau khi ăn xong bửa cơm tuyệt diệu đó, chúng tôi đuợc dẫn đi thăm viếng tàu. Truớc hết đến phòng ông thuyền truởng, ông rót ruợu uống mừng cho chúng tôi đã thoát nạn cộng sản và chụp hình lưu niệm. Sau đó đi tiếp qua các phòng và được biết trên chiếc tàu này có nhiều nguời thuộc quốc tịch khác nhau như Hòa Lan, Đan Mạch, Ba Tây, Phi Luật Tân v.v….Các thủy thủ trên tàu cho chúng tôi xem hình ảnh gia đình của họ và chuyện trò rất là thân mật, thật là hết sức lịch sự và đầy tình nhân ái. Nghĩa có mang theo một số tiền Việt Nam không còn xài được nữa, nên mới đưa cho các thủy thủ. Họ rất tốt bụng đã cho lại chúng tôi mỗi nguời 20 US dollars và chọn cho chúng tôi mỗi đứa một bộ đồ vừa vặn đẹp đẽ để mặc khi lên bờ.

Chúng tôi được cho lên phòng hoa tiêu để ngắm nhìn hoàng hôn trong buổi chiều tàn, nhìn mặt trời lặn trong cảnh nuớc trời bao la, thật là tuyệt đẹp, mà tuởng chừng như trên chốn bồng lai tiên cảnh nào vậy, trong khi con tàu đang luớt sóng thật êm đềm. Đây là một chiếc thương thuyền rất lớn nên chạy thật là êm ái, khác xa với cảnh tuợng của những chiếc ghe vuợt biên bé nhỏ, chở đầy nguời, bập bềnh trên biển cả mênh mông, sóng gió hãi hùng, và còn phải lo sợ bị hải tặc hảm hiếp, cuớp của giết nguời thật là ghê rợn.

Buổi tối hôm sau tàu tiến vô một hải cảng với muôn ngàn ánh đèn rực rỡ, trong một vùng vịnh bao la, với vô số thương thuyền tàu bè đủ loại, trông thật hùng vĩ huy hoàng tráng lệ. Đó là hải cảng Singapore. Theo thủ tục của luật di trú thì chúng tôi phải vô trong phòng và thuyền truởng sẽ khóa cửa lại, để giử chúng tôi trong đó. Tuy nhiên nếu có cần gì thì cứ gọi, thỉnh thoảng có nguời đến thăm chừng, thật là hết sức lịch sự tử tế và chu đáo vô cùng.

Chừng vài tiếng đồng hồ sau thì có hai nhân viên của sở di trú Singapore đi xuồng máy ra lên tàu và mở khóa cửa phòng, thẫm vấn chúng tôi và làm thủ tục giấy tờ, xong rồi họ đi ngay. Sau đó thì có một phái đoàn của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, UNHCR, xuống phỏng vấn và làm thủ tục. Tôi trình bày bằng tiếng Anh, nhưng bất ngờ nguời đó trả lời bằng tiếng Việt và bảo tôi cứ nói bằng tiếng Việt Nam đuợc rồi. Tôi mừng quá vì đuợc gặp nguời đồng hương, sau này tôi đuợc biết đó là cô Bích làm việc trong văn phòng Cao Ủy Tị Nạn ở Singapore. Khi làm thủ tục giấy tờ, và trong nguyện vọng xin đi định cư nuớc nào, thì tôi xin đuợc đi Mỹ, vì hiện tôi có một đứa em đang ở Mỹ, và tôi cũng đã từng du học ở Mỹ, nên nghĩ rằng sẽ đuợc cứu xét dễ dàng hơn. Chúng tôi ngủ thêm một đêm trên tàu và sáng hôm sau thì có nguời của Cao Ủy Tị Nạn ra đón ba đứa tôi lên bờ, tôi còn nhớ đó là cô Robin, nguời nuớc New Zealand.

Sau một thời gian 22 ngày đêm vuợt thoát từ trại tù Tống Lê Chân, nay tôi được đặt chân lên một đất nuớc tự do là nuớc Singapore vào ngày 27 tháng 6 năm 1980. Chúng tôi đuợc đưa về tạm trú ở khách sạn YMCA. Ở đây hiện có chừng muời nguời Việt Nam tị nạn cũng mới đến chừng vài ngày truớc và họ giao nhiệm vụ cho tôi làm thông dịch viên. Điều đầu tiên là tôi ra Bưu điện để đánh điện tín về Việt Nam cho gia đình tôi biết tin. Vì có tiền 20 dollars nên tôi gọi taxi ra Bưu điện và gởi điện tín về cho vợ tôi với nội dung nhu sau: “Đã giải phẩu xong bình an” , đó là câu mật hiệu để cho vợ tôi biết là tôi đã thoát nạn và đã đến nơi an toàn. Điện tín này đã đến nhà tôi vào ngày 30 tháng 6 năm 1980. Vợ tôi hết sức vui mừng khi nhận đuợc điện tín này, phân vân không biết Singapore là nước nào ở đâu. Vợ tôi liền đi xuống Mỹ Tho để báo tin mừng và vô Trung Lương, nơi đất hương quả mồ mã tổ tiên để cúng tạ.

Chúng tôi ở khách sạn YMCA vài ba ngày để làm thủ tục. Buổi chiều rỗi rảnh chúng tôi dắt nhau ra chợ Tàu. Đi bộ chừng 15 phút là đến, một dãy kios quán ăn rất là đông vui và ngon miệng. Long biết nói tiếng Tàu nên rất dễ giao tiếp. Ở Singapore 80% là người Hoa, còn lại là nguời Ấn và người Mã Lai.

Sau đó chúng tôi đuợc đưa vào Trại Tị nạn Sambewang, còn gọi là trại Hawkins. Khi vừa buớc vô văn phòng trại tị nạn, tôi chợt thấy lá cờ vàng ba sọc đỏ thật lớn treo trên tường mà lòng hân hoan vui mừng quá độ. Tôi và nhóm nguời mới tới đều vui mừng sung suớng đến rơi nuớc mắt, đuợc hôn lên Lá Cờ Quốc Gia Dân Tộc và biết chắc rằng mình đã thật sự thoát khỏi ngục tù cộng sản và đã đến đuợc bến bờ tự do.

Chúng tôi đuợc lãnh tiền trợ cấp mỗi nguời 2.50 đồng một ngày, một đồng Singapore lúc đó trị giá vào khoảng 0.8-dollar Mỹ. Ngoài ra còn đuợc phát mỗi nguời một chiếc chiếu, và cứ 6 nguời thì đuợc phát một cái lò nấu ăn. Đây là một trại lính với nhiều tòa nhà có hai tầng khang trang, trại viên trải chiếu trên sàn gạch rất mát mẻ sạch sẽ, không có ruồi muỗi. Phía ngoài là sân cỏ, đuợc giử gìn chăm sóc cắt xén rất đẹp như một tấm thảm xanh.

Cuộc sống ở trại tị nạn này rất là thoải mái, có khu chợ nhỏ ngay trong trại, đa số là nguời Ấn độ, bán đủ loại thực phẩm, rau cải, trái cây, đặc biệt là trái sầu riêng ở đây có rất nhiều. Ở ngoài vòng rào và cách trại chừng vài trăm thuớc, có một con rạch rất lớn, có nhiều cá, nhứt là cá rô Phi. Có nguời chui rào ra, luới đuợc rất nhiều cá, đem về bán chui qua các nhà.

Những nguời đuợc đưa về trại này thuờng là chỉ đuợc tạm trú ở đây khoảng 3 tháng, để làm thủ tục đi định cu, hoặc là những nguời từ trại đảo Galang đưa đến chờ máy bay để đi định cư. Hàng ngày công việc của trại là theo dỏi tin tức phát thanh trên loa, để biết khi nào đuợc gặp phái đoàn để đuợc phỏng vấn và khám sức khỏe.

Khi mới đến trại khai hồ sơ lý lịch, vì tôi đã từng du học bên Mỹ nên được Ban Chỉ huy trại giao nhiệm vụ làm Thông dịch viên. Công việc thường ngày của tôi là giúp thông dịch nếu có phái đoàn vô trại. Còn không thì phải đưa người đi ra các toà Đại Sứ Anh, Mỹ, Úc v.v…Hoặc đưa người đi bệnh viện, để khám sức khỏe để đi định cư. Ở trong trại cũng có bệnh xá để điều trị các bệnh nhẹ thông thường như ho, đau bụng, nhức đầu, nóng lạnh v.v…Lúc đó có Bác sĩ Rạng trách nhiệm bệnh xá, ông cũng là người tị nạn và trước kia ông từng là bác sĩ của Bệnh viện 3 Dã chiến ở Phú Lợi Bình Dương.

Ở trong trại tôi thấy có nhiều hoàn cảnh rất là thương tâm. Có nhiều nguời mất vợ mất con mất cha mất chồng trên đường vượt biển. Như có một ông bác sĩ, tôi nhớ mang máng tên là Phùng, Bác sĩ Phùng, ông bị khủng hoảng tinh thần gần như điên loạn, vì cả gia đinh vợ con đều bị chết. Tôi thấy ông cứ đi lang thang nói nhảm suốt cả ngày. Vì ông mắc bệnh tâm thần như vậy nên không được phái đoàn nào phỏng vấn, rồi không biết sau này ra sao.

Sau khi đến trại đuợc một tuần, tôi liền gởi gói quà nhỏ đầu tiên về cho gia đình, trong đó có vài thước vải đen, chai dầu xanh và kẹo bánh. Ba tháng sau vào tháng 10 năm 1980 thì tôi được đi định cư qua Mỹ. Long và Nghĩa thì được định cư ở Đan Mạch.

Với lòng tri ơn sâu xa, tôi xin ghi lòng tạc dạ công ơn cứu tử của thuyền trưởng và toàn thể thủy thủ đoàn trên chiếc thương thuyền Pep Star, thuộc công ty hàng hải của nước Đan Mạch, đã cứu vớt tôi và giúp cho tôi thoát khỏi ngục tù cộng sản và cho tôi đến được bến bờ tự do. Đây quả là một công ơn quá lớn lao mà suốt đời tôi không bao giờ quên đuợc.

Tôi cũng không bao giờ quên nghĩa cử cao đẹp, đầy lòng nhân đạo của Cơ quan Tị nạn Liên Hiệp Quốc UN/HCR và dân tộc các nuớc trên thế giới, đã mở rộng vòng tay cứu vớt, trợ giúp và cưu mang chúng tôi, những người tị nạn trốn chạy khỏi chế độ cộng sản bạo tàn phi nhân bản.

Sau khi đến Hoa Kỳ được một năm thì tôi đuợc vào quy chế thường trú, năm năm thì đuợc vào quốc tịch. Ngay khi đến Hoa Kỳ, tôi lo ngay việc nạp đon xin bảo lãnh gia đình qua chương trình ODP và 9 năm sau thì vợ tôi và ba đứa con đã đến được Hoa Kỳ. Sau hơn 14 năm xa cách kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày miền Nam rơi vào tay cộng sản, nay gia đinh tôi đuợc đoàn tụ lại như xưa, đã thoát khỏi gông cùm cộng sản và được sống trên quê hương mới đầy lòng nhân ái bao dung.

Đây quả như là một phép lạ do Ơn Trên ban phuớc cho./.

Nguyễn Ngọc Thạch, K20 VBDL
(Minnesota)

Định số

Lâm Chương

Post by Sơn râu 25 Aug 2024

Google photo

Nếu có thể tự quyết định vận mệnh của mình thì đời tôi đâu có tệ. Tôi thuộc loại học hành không được siêng năng, nhưng có cái mộng lớn, muốn đỗ đạt cao, để khi ra làm việc khoẻ thân, lại được nhiều người trọng vọng. Bao nhiêu lần, tôi ra vào đã nhẵn mặt trường thi, nhưng kết quả chẳng lấy gì làm khả quan lắm. Thất bại trên đường khoa cử, tôi còn đang loay hoay tìm một hướng đi khác, thì lệnh động viên gởi tới. Túng thế, tôi đành trốn lính. Nói rằng trốn cũng không đúng, tôi đang chờ định mệnh đưa tôi đến một cơ hội nào đó, khá hơn trường hợp đi lính. Nếu tình trạng bấp bênh này, kéo dài tới mùa thi năm sau, may ra tôi kiếm thêm được một cái bằng cấp lận lưng cho đời đỡ tủi. Hàng ngày, tôi vẫn lêu bêu ngoài phố, ngang nhiên đi trước mặt các toán Cảnh Sát chận xét giấy tờ tùy thân của thanh niên, để tóm cổ những thằng không thi hành lệnh gọi nhập ngũ, như tôi. Và mười lần như một, Cảnh Sát đều làm ngơ, không thèm xét hỏi khi tôi đi qua. Chắc họ thấy cái mặt có vẻ hiên ngang đầy khí phách của tôi, rồi tưởng tôi là thằng đàng hoàng?

Một hôm, khi đi ngang khu chợ đông người, tôi thấy một bà bán hàng cầm đòn gánh đánh một người đàn ông đạp xích lô. Người đàn ông chỉ tránh né, đỡ đòn mà không hề phản công. Bà bán hàng vừa đánh vừa chửi rủa. Tò mò, tôi đứng lại coi, và cau mày, nghĩ: “Cái loại đàn bà đanh đá, chanh chua thế này, mà cũng có người dám lấy làm vợ!” Trong phút chốc, một xe Cảnh Sát ập tới, hốt gọn hai người lên xe. Bà bán hàng thấy tôi cau mày, tưởng tôi động lòng trắc ẩn, cảm thông với bà, nên đưa tay chỉ tôi và nói với Cảnh Sát: “Cậu này là người chứng kiến từ đầu đến cuối câu chuyện, có thể làm chứng cho tôi.”

Tôi vội chống chế: “Không! Tôi có biết gì đâu?”

Nhưng đã quá muộn, người Cảnh Sát đẫy luôn tôi lên xe, và nói: “Chúng tôi cần lời khai trung thực của cậu, giúp chúng tôi phân xử vụ này phân minh.”

Khi ngồi trên xe, trên đường về bót, người đàn bà bán hàng và người đàn ông xích lô tranh nhau để giải thích với tôi về lý do ấu đả xảy ra, cố giành phần phải cho mình. Người nào cũng mong vì cảm tình riêng trong nhất thời, tôi sẽ nói những lời có lợi cho họ. Nhưng, tôi còn tâm trí đâu mà để ý chuyện ruồi bu của họ. Tôi đang nghĩ đến vấn đề khó khăn rắc rối sắp tới của tôi.

Tại bót Cảnh Sát, trước khi lấy lời khai nhân chứng, họ yêu cầu tôi xuất trình giấy tờ tùy thân. Sau khi xem xét giấy tờ, viên Cảnh Sát ngồi sau chiếc bàn nhỏ, ngẩng đầu lên hỏi: “Cậu có giấy hoãn dịch không?”

Tôi lắc đầu. Thế là họ chẳng cần tôi làm nhân chứng. Họ tống tôi vô phòng tạm giam, chờ giao cho Quân Cảnh, đưa vào quân trường thụ huấn trò chơi súng đạn. Tôi nghĩ, định mệnh đã khiến người đàn bà bán hàng xô tôi vào khúc quanh mới của cuộc đời. Thời gian thụ huấn tại quân trường Thủ Đức, có một bài thi trắc nghiệm tâm lý. Theo lời vị sĩ quan giám khảo, bài thi này được chấm bởi máy IBM, đưa tới quyết định ám số chuyên nghiệp của mỗi quân nhân trong đời binh nghiệp. Trong bài có rất nhiều câu hỏi ngớ ngẩn, buồn cười, vô lý.

Thí dụ: “Khi đang đứng trên lầu cao, bạn có ý tưởng muốn nhảy xuống đất không?” Chỉ những kẻ điên khùng hoặc muốn tự vận mới trả lời “có” mà thôi. Tôi không thuộc loại người này. Nhưng muốn trả lời trái ngược, để cho cái máy IBM không biết đường nào quyết định. Tôi đánh dấu thập vào ô chữ “có”. Nhiều câu hỏi khác, tôi cũng trả lời một cách bất thường như thế. Thật không ngờ, ngày ra trường, tôi mang ám số chuyên nghiệp loại tác chiến. Tôi nói với mấy tên bạn đồng khoá về điều này, và chê cái máy IBM thiếu chính xác.

Chúng nó lý luận rằng: “Đứng trên lầu cao, mày muốn nhảy xuống đất, có nghĩa mày là thằng gan cùng mình. Vì thế, cái máy quyết định đưa mày ra tác chiến để làm người hùng chiến trường. IBM chính xác quá đi chứ!”

Cũng trong thời gian ở quân trường, kỳ thi hạch miệng về môn chiến thuật, vị sĩ quan giám khảo đặt câu hỏi: “Theo tin tình báo, vào giờ G, sẽ có một trung đội địch di chuyển ngang địa điểm B. Anh nhận nhiệm vụ dẫn trung đội đến điểm B phục kích. Đúng giờ G, địch di chuyển ngang qua một tiểu đoàn, chứ không phải một trung đội như tin tình báo. Trong trường hợp này, anh là trung đội trưởng, phải xử trí thế nào?”

Tôi đứng ngẩn ra một lúc, than thầm: “Trời ơi, đặt chi một câu hỏi hóc búa, làm khó người đem thân giúp nước!” Đối với môn chiến thuật, khi huấn luyện viên giảng bài, tôi thường ngủ gục, nên sự lãnh hội và ghi chép có rất nhiều thiếu sót. Cuối cùng, tôi nghĩ, đã đem quân đi phục kích, gặp địch là phải đánh chứ còn lừng khừng gì nữa.

Tôi trả lời một tiếng cứng cỏi: “Đánh.”

Vị sĩ quan trố mắt ngạc nhiên nhìn tôi, nói: “Cấp số giữa địch và ta quá chênh lệch. Nếu đánh thì trung đội sẽ chết hết. Tôi cho anh quyết định lần thứ hai.” Tôi lại suy nghĩ, nếu dẫn quân chạy, thì cũng chưa chắc thoát được hoả lực hùng hậu của địch, mà còn mang tiếng hèn. Chi bằng nhào vô tử chiến, dù bên ta chết hết, nhưng cũng gây cho địch một tổn thất nặng nề. (Đó chỉ là ý nghĩ thôi. Trên thực tế, có lẽ tôi sợ đến quýu cả tay chân, không dám động đậy.)

Google photo

Và lần thứ hai, tôi cũng trả lời: “Nhất định đánh.”
Vị sĩ quan giám khảo lắc đầu, bỉu môi: “Anh không biết gì về chiến thuật cả. Trường hợp này, anh phải im lặng cho địch đi qua, để ta bảo toàn lực lượng. Sau đó, báo về trung tâm hành quân, cho phi pháo dội lên đầu tiêu diệt địch.” Ông ngó tôi một lúc để nghĩ ngợi, rồi nhè nhẹ gục gật cái đầu, nói tiếp: “Môn thi này, tôi cho anh mười bảy điểm, không phải vì anh giỏi chiến thuật. Đó là số điểm gan dạ phi thường của anh.”
Sau chín tháng mồ hôi, sương gió, nắng mưa trên các bãi tập vùng đồi Tăng Nhơn Phú, tôi ra trường Thủ Đức, được đưa về một đơn vị Biệt Động Quân. Nghe nói, có vị sĩ quan trưởng phòng năm, sắp sửa đi thụ huấn bổ túc một khoá tâm lý chiến. Hiện tại, tiểu đoàn đang cần một phụ tá trưởng phòng năm, để tạm thay thế điều hành công việc trong thời gian ông này đi vắng. Tôi cố tạo một bộ mặt hiền lành, để người ta thấy tôi dễ thương, cho tôi làm phụ tá thì đời đỡ khổ biết mấy. (Đâu có ai thích bộ mặt hung dữ, dễ ghét làm phụ tá cho mình).

Một buổi chiều, trong phiên hợp, ông già tiểu đoàn trưởng, nói với các sĩ quan: “Có thằng chuẩn uý mới ra trường, trông nó còn non sữa lắm, cần phải lăn chai, tẩm thuốc cho săn da, chắc thịt. Có đại đội nào nhận thằng này không?”

Vị đại đội trưởng đại đội hai, lên tiếng: “Để tôi nhận. Tôi chỉ cần “dợt” nó vài ba tháng là đêm ngủ hết thấy ác mộng, sét đánh cũng không giật mình.”

Quay nhìn tôi, ông già tiểu đoàn trưởng nói: “Tạm thời chuẩn uý về đại đội hai, rồi từ từ sắp xếp lại, tính sau.”

Tôi đã chờ đợi cái câu: “… từ từ sắp xếp lại, tính sau.” gần mười năm, nhưng chẳng thấy ai sắp xếp lại, và tính gì cả. Tôi vẫn là thằng lính đi trận cho đến ngày tàn cuộc chiến.

Về đại đội hai, tôi làm cố vấn trung đội. Theo thông lệ của binh chủng, sĩ quan mới ra trường chỉ được làm cố vấn trung đội. Gọi là cố vấn cho oai, chứ hình thức chỉ là thằng lính trơn, mang ba lô lẽo đẽo theo trung đội để học nghề đánh giặc. Sau ba tháng, nếu thấy “làm ăn” được, sẽ cho nắm trung đội trưởng.

Đúng mười lăm ngày, sau khi tôi về đại đội, một trận đánh lớn xảy ra. Giữa khuya, đang nằm ngủ, tôi choàng dậy vì một tiếng nổ thật lớn. Tiếp theo, tiếng súng nổ liên hồi không ngớt. Tôi nghe có tiếng ai la lớn: “Địch tấn công!” Trong bóng đêm lờ mờ, tôi thấy mọi người đang lao xao, tất bật xách súng đạn nhào ra kháng tuyến. Tôi cũng quơ vội súng đạn, phóng xuống hố cá nhân, nằm chết điếng, không dám ngóc đầu lên, nghĩ thầm: “Đi thứ lính gì mà lang thang rày đây mai đó, không có đồn bót phòng vệ cố định. Đêm nằm, không có lấy một hàng rào kẽm gai làm chướng ngại vật. Địch chỉ cần xông tới là vị trí bị tràn ngập ngay. Đời một chuẩn uý mới ra trường, sắp tàn mạng tại đây, đêm nay.”

Khi trận đánh còn đang tiếp diễn, không biết thằng truyền tin từ đâu vụt đến, bảo tôi hãy di chuyển chỗ khác, vì chỗ tôi đang núp, ngay tầm B40 của địch. Quả thật, đã có mấy trái B40 nổ chát chúa gần bên tôi rồi. Nhưng, tôi không đi đâu hết. Không phải tôi gan, chỉ vì quá sợ, tôi không dám ló đầu lên khỏi mặt đất mà thôi. Một lúc sau, vị thượng sĩ già trung đội trưởng bò tới, căn dặn tôi hãy nằm yên tại chỗ, và bảo tôi hô lên thật lớn.

Tôi hỏi: “Hô cái gì?”

“Anh em trung đội giữ nguyên vị trí chiến đấu.” Thượng sĩ nói.

Tôi lập lại: “Anh em trung đội giữ nguyên vị trí chiến đấu.”

“Phải la thật lớn cho mọi người đều nghe.”

Tôi rướn đầu lên khỏi miệng hố, gân cổ hô mệnh lệnh bằng cái giọng sợ hãi lạc thần, bị át đi trong tiếng đạn nổ dữ dội như nhiều nhà cùng đốt pháo tết một lượt. Trong đêm, ba lần, vị thượng sĩ đã bò tới, bò lui bắt tôi hô lớn câu đó.

Trận đánh tàn trước lúc trời sáng. Có nhiều người chết và bị thương. Tôi lên khỏi hố, đi qua đi lại, không biết làm gì. Những người khác đang lo bó những tử thi vào poncho, và những chiếc trực thăng đang đáp xuống tải thương, dưới ánh sáng chập chờn của hoả châu.

Buổi xế chiều, sau phiên họp với các đại đội trưởng, ông già tiểu đoàn trưởng cho lệnh gọi tôi lên trình diện. Tôi hồi hộp, lo sợ ông ta sẽ xài xễ trách mắng. Vì trong suốt trận đánh, tôi chỉ rúc đầu xuống hố cá nhân, không bắn được viên đạn nào. Nhưng thái độ của ông làm tôi vô cùng ngạc nhiên.

Ông thân mật vỗ vai tôi, và nói: “Tuyến phòng thủ của đại đội hai là mặt bị tấn công mạnh nhất. Mày, chuẩn uý mới ra lò mà can đảm, và biết điều động trung đội giữ vững vị trí chiến đấu, đẫy lùi hai đợt xung phong của địch. Đáng lẽ mày được tưởng thưởng anh dũng bội tinh, nhưng còn nhiều anh em khác đã tham dự nhiều trận trước, chưa được tưởng thưởng. Thôi, lần này hãy nhường cho họ. Tao biết mày có khả năng, lần sau tao không quên đâu. Đời còn dài, mày còn nhiều cơ hội đụng trận.”

Tôi đâu biết, địch đã xung phong hai lần, đều bị đẫy lui. Công đó của ai, chứ không phải của tôi. Tôi cũng không ham cái huy chương. Tôi lo vì câu nói của ông tiểu đoàn trưởng: “…Đời còn dài, mày còn nhiều cơ hội đụng trận.” Với tôi, câu này còn có nghĩa rằng, mày còn nhiều cơ hội chạm mặt tử thần. Nghe mà ớn lạnh!

Trở lại trung đội, tôi hỏi vị thượng sĩ: “Tại sao trong đêm ông bảo tôi hô lớn mệnh lệnh nhiều lần, khi có ông đang chỉ huy trung đội?”

Ông giải thích: “Nay mai, chuẩn uý sẽ nắm quyền trung đội trưởng, và tôi làm trung đội phó. Tôi muốn tạo cho chuẩn uý một lớp hào quang người hùng. Nếu anh em không tin khả năng của chuẩn uý, khó chỉ huy lắm. Chuẩn uý yên trí đi, với cương vị trung đội phó, tôi sẽ giúp đỡ chuẩn uý hết mình. Đừng lo.”

Bây giờ, tôi mới hiểu mục đích của người đồng đội. Tôi nghĩ, định mệnh đã dùng ông như bàn tay, để sơn phết cho tôi, một tên hèn nhát được nhìn như một người can đảm. Lại một lần khác, trong cuộc hành quân vùng sình lầy. Mục tiêu là khu rừng phía trước. Khi đại đội đang lội bì bõm dưới nước, gần tới bìa rừng thì từ trong những lùm cây, địch khai hoả dữ dội. Tôi nhìn thấy nhiều người ngã xuống. Cả đơn vị lâm vào thế tấn thối lưỡng nan. Lui không được, tiến không xong. Những người còn lại phải trầm mình xuống nước, bám theo những bờ đất, bắn chống trả, chờ phi pháo yểm trợ. Tôi cũng trầm mình xuống nước. Chợt nhớ đến một con vật tối kỵ đối với tôi: con đỉa. Tôi quay đầu ra sau, quan sát. Trời ơi! Một con đỉa bự bằng cái quai dép râu, trên lưng có hai cái sọc vàng như cương ngựa, đang phóng nước đại về phía tôi. Kinh hoàng, tôi trườn lên nằm trên bờ đất. Bây giờ, tôi là mục tiêu ngon lành cho bao nhiêu họng súng từ bìa rừng bắn xuống.

Thằng truyền tin hấp tấp, nói: “Thẩm quyền gọi máy, bảo chuẩn uý xuống bờ núp đạn.”

Tôi vẫn nằm trên bờ, xả súng bắn ngược lên bìa rừng.

Lúc sau, thằng truyền tin lại nói nữa: “Thẩm quyền bảo, nếu chuẩn uý không chịu núp đạn, ổng sẽ bắn chuẩn uý chết trước khi bị địch bắn.”

Tôi nhìn lui, thấy vị đại đội trưởng chỉa họng súng về phía tôi. Tôi nhìn xuống nước, con đỉa đâu mất rồi. Nhưng, chắc còn nhiều con khác đang lặn trong nước chờ đợi tôi, để chui vào quần áo, bám vào da thịt. Nghĩ đến lớp da con đỉa nhớt nhợt, trơn lùi, tôi ghê tởm, rùng mình nổi gai ốc.

Nỗi sợ đỉa lớn hơn nỗi sợ hoả lực của địch, tôi vụt đứng dậy, quơ tay làm thủ hiệu tấn công, miệng la lớn: “Xung phong. Xung phong.”

Vừa la, tôi vừa bắn và nhào lên. Lính trong trung đội thấy tôi xung phong một cách anh dũng, cũng đứng dậy bắn, đồng loạt hô: “Xung phong” và tràn lên chiếm bìa rừng. Nhiều anh em đồng đội ngả xuống giữa khoảng đường ngắn ngủi nhưng thập tử nhất sinh này.

Nhờ vào địa thế mới chiếm làm bàn đạp, đơn vị đã thanh toán hoàn toàn được mục tiêu sau một ngày giằng co quyết liệt. Quân số trung đội tôi, hai mươi sáu thằng, chỉ trở về một nửa.

Ngày ông liên đoàn trưởng đến thăm đơn vị, để khen tặng công trạng tiểu đoàn, ông già tiểu đoàn trưởng ca ngợi tôi không tiếc lời: “Tao đứng từ xa, quan sát trận địa bằng ống dòm, thấy trung đội của mày chơi mạnh và đẹp như một mũi nhọn đầu tiên thọc vào hông địch. Nhất là mày, một chuẩn uý mới ra lò, đã tỏ ra xứng đáng là con chim gương mẫu đầu đàn. Dù chưa đủ ba tháng thử thách, tao cũng cho mày nắm quyền trung đội trưởng, từ đây. Tao đã đề nghị lên thượng cấp, tưởng thưởng cho mày anh dũng bội tinh ngôi sao bạc.”

Nghe ông tiểu đoàn trưởng nói, tôi mắc cỡ đỏ mặt. Lần này, định mệnh dùng con đỉa rượt tôi chạy về phía trước, để người ta lầm tưởng rằng tôi là một tên anh hùng gan dạ. Trong binh nghiệp, đời tôi cứ thế mà đi, như có bàn tay vô hình đưa đẩy. Bao nhiêu lần dấn thân vào bom đạn, vì chưa tận số nên tử thần chưa cầm lưỡi hái cắt đứt sự sống của tôi. Gần mười năm trận mạc, tôi chỉ bị xây xước nhẹ, vài lần. Lính trận coi chuyện đó như kiến cắn mà thôi.

Nếu đứng trên phương diện quốc gia mà xét, tôi là một công dân tốt. Chẳng có ông thầy bói nào dám tiên đoán rằng tôi có số ở tù. Cuối tháng Tư, năm bảy mươi lăm. Định mệnh lại xô tôi vào khúc quanh mới. Khúc quanh này bi thảm và ác liệt hơn khúc quanh mười năm trước.

Sau ngày chế độ miền Nam sụp đổ, tôi lò dò ra nạp mạng. Tưởng chỉ bị chửi bới sơ sơ, rồi người ta đuổi về, cho đạp xích lô, hoặc đi cày, làm ruộng kiếm ăn. Không ngờ họ lý luận rằng, kẻ tốt của chế độ này, là thành phần xấu của chế độ kia. Cùng một không gian, nhưng thời gian thay đổi, tôi vụt biến thành tù nhân, và bị đưa ra đất Bắc cải tạo. Chẳng biết Nguyễn Du thông đạt cái lý lẽ thiên cơ mầu nhiệm đến cỡ nào, nhưng trường hợp của tôi, ông đã nói quá đúng: “Cho hay muôn sự tại trời!”

Làm tù khổ sai nơi miền thượng du. Lao động quần quật giữa vùng sơn lam chướng khí. Chiều về, không đủ miếng ăn. Thường xuyên bị nhục mạ đủ điều. Đêm nằm trong bóng tối phòng giam, tôi nghĩ, sao vận mệnh con người lại bị sắp xếp bởi một bàn tay vô hình? Dù không làm được việc thiện, nhưng tôi cũng chẳng làm việc gì ác. Thế tại sao tôi lại sa vào địa ngục trần gian? Có cách nào cưỡng lại được không? Đang trong hoàn cảnh bi đát, bỗng tôi nhớ thêm một câu, trong truyện Kiều: “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều.” Tôi tin cụ Nguyễn Du, và quyết tâm thay đổi vận mệnh, bằng cách tháp tùng với vài người bạn, làm một cuộc vượt trại, hi vọng cải được số trời.

Toán vượt trại gồm bốn người. Trong thời gian ba tháng, chúng tôi bí mật bàn thảo kế hoạch, và chuẩn bị những vật dụng cần thiết cho chuyến đi.

Đêm đầu tiên, chui ra khỏi hàng rào trại tù, chúng tôi đi về hướng Tây, và để lại nhiều dấu vết. Mục đích đánh lừa cho địch theo dấu, truy đuổi về hướng Tây. Họ sẽ đoán, chúng tôi xuyên Lào, qua Thái Lan. Đến ngày thứ hai, chúng tôi đột ngột chuyển về hướng Bắc, và không để lại dấu vết. Sở dĩ, chúng tôi chọn hướng này vì biết được mối tình hữu nghị giữa hai nước Việt Trung đã trở mặt rồi. Chúng tôi đang nằm trong địa phận Yên Bái, dự trù mười lăm ngày sau, sẽ có mặt bên kia biên giới. Dãy núi hình rẽ quạt Hoàng Liên Sơn trong sách địa dư ngày còn đi học, hiểm trở hơn nhiều so với tưởng tượng của tôi. Núi tiếp núi, chập chùng như sóng biển. Nhắm hướng Bắc, theo đường chim bay, chúng tôi leo lên tận những đỉnh núi mây mù phủ kín quanh năm, lần mò qua những lũng thấp âm u đầy sên vắt. Chịu biết bao nhiêu nhọc nhằn, nguy hiểm. Ngày thứ mười hai, một người vĩnh viễn bỏ thây lại giữa rừng già, bởi chứng sốt cấp tính. Còn lại ba người, chúng tôi vẫn đi tiếp tục đoạn đường, theo kế hoạch ban đầu. Hai ngày sau, khi đang len lỏi giữa rừng cây, trèo lên dốc núi, chúng tôi bị một người đàn bà Mèo nhìn thấy. Tính giết đi để bảo toàn bí mật, nhưng không ai nở xuống tay với người vô tội. Để sống, thì cũng biết đây là mầm tai họa. Cuối cùng, tha cho người đàn bà Mèo đi. Và chính người này, đã tố giác chúng tôi với chính quyền đia phương. Định mệnh vẫn không dung cho kẻ có lòng nhân. Chúng tôi bị bủa vây cùng khắp. Ngày thứ mười sáu, cả toán bị phát hiện, lúc tôi đang núp ló nơi một khe nước trên lưng chừng núi.

Một tên chỉa súng vào tôi, hô lớn: “Đứng dậy. Giơ tay lên.”

Tôi từ từ đứng dậy, buông xuôi hai tay.

“Giơ tay lên.” Hắn lập lại mệnh lệnh.

Tôi lắc đầu, đứng sững nhìn hắn. Cử chỉ phản đối này, như một thách thức cho hắn bắn vào giữa ngực tôi. Trong khi chờ đợi viên đạn, tôi nghe một luồng khí lạnh từ dưới bàn chân, vụt tràn dâng lên tới đỉnh đầu, làm cả người lạnh toát. Tôi vốn nhát gan, nhưng lâm vào đường cùng, tôi liều mạng. Hành động này, dễ làm cho người ta tưởng tôi là người can đảm.

Tên cầm súng kéo cơ bẩm, cho đạn lên nòng, nghiêng đầu, nhắm hướng súng vào mục tiêu. Bỗng tên chỉ huy từ phía sau, vượt tới, hất mũi súng chỉa lên trời, không cho bắn.

Hắn ra lệnh: “Trói nó lại.”

Một lần nữa, bàn tay vô hình của định mệnh đã điều khiển tên chỉ huy giữ lại mạng sống tôi. Nơi chúng tôi bị bắt, thuộc địa phận Lao Cai. Nếu chậm hơn vài ngày, có thể chúng tôi sang được bên kia biên giới Việt Trung, thoát khỏi cảnh tù đày và đời tôi đã đổi khác.

Mười năm sau, tôi ra khỏi tù. Sức khoẻ đã bị vắt cạn trong những ngày lầm than, đói khổ. Bây giờ, tôi đang sống tàn tạ nơi quê người. Nhìn lại đời mình như một bức tranh lỡ tay của người hoạ sĩ, với những phác hoạ nửa chừng dang dở, những lem nhem làm ố khung màu. Một bức tranh hư, bị ném vào xó góc, buồn hiu, đóng bụi.

Con Sâu Đỏ

http://www.dutule.com

23 Tháng Mười Hai 2021

Lâm Chương

Post by Sơn râu 25 Aug 2024

Google photo

(Một bài viết cũ. Một chuyện thiếu nhi dành cho người lớn, đọc mua vui trong thời gian dịch Covid-19 hoành hành theo chiến thuật du kích rình mò đánh lén).

Gốc gác gia đình cậu Hai Say là nhà nông, nhưng cậu ít khi ngó ngàng đến ruộng nương. Mùa màng cấy gặt, cậu giao hết cho vợ trông nom. Còn cậu, cứ tà tà đi tán dóc, coi đời như chốn rong chơi. Đầu thôn cuối xóm, ai cậu cũng quen. Ra đường, gặp nhau chào hỏi mệt nghỉ. Chào mãi đâm nhàm, chỉ cần nhìn mặt nhếch mép mỉm cười là đủ.

Có một thời cậu theo cách mạng vô bưng biền. Công cuộc trường kỳ kháng chiến cần nhiều hy sinh gian khổ, không hợp với tính ưa hưởng nhàn của cậu. Cậu bỏ về, mang theo căn bệnh sốt rừng. Da cậu tái nhợt như tàu lá chuối non. Thầy thuốc Nam bảo, cậu ăn uống nhiều vật thực mang tính âm hàn nên sinh ra dị chứng, phải xổ độc để tống khứ nhiễm khí rừng thiêng. Cậu uống bao nhiêu thang thuốc Nam, vẫn không xổ hết chất độc. Mợ Hai, vợ cậu phải bán một bồ lúa, đưa cậu ra tỉnh thành trị bệnh. Bác sĩ nói, cậu bị sốt rét kinh niên. Nếu để lâu, con vi trùng xâm nhập vào gan thì bỏ mạng. Sau một thời gian dùng thuốc Tây, cậu khỏi bệnh. Và từ đó, cậu lấy chữ nhàn làm gốc.

Cái tên của cậu làm tôi thắc mắc. Cậu là Hai Say hay Hay Say? Cách phát âm của người miền Nam, không phân biệt giữa Hai với Hay. Và Say có phải là tên thật của cậu, hay người ta thấy cậu thường có hơi rượu, rồi gán cho cậu cái biệt danh Say? Tôi không dám hỏi về điều này. Mà có hỏi, cũng chưa chắc cậu trả lời thật. Bởi xưa nay, cậu vẫn hay thêu rồng vẽ rắn. Chuyện thật như đùa, chuyện đùa như thật. Biết đâu mà lường.

Trước cửa nhà tôi có con đường đất. Cậu Hai Say thường đi trên đường này, mỗi ngày. Cậu ghé vào nhà này, nói năm ba chuyện trên trời dưới đất. Tạt vào nhà kia, tiên đoán thời tiết nắng mưa. Không bao giờ nghe cậu đặt vấn đề làm ăn sinh kế. Cậu nói, cậu là ông tiên ở trên trời bị đọa xuống trần gian, và ngâm nga:

Có chồng say như trong chay ngoài bội

Ngó vô nhà như hội Tầm Dương

Có chồng ghiền như ông tiên nho nhỏ

Ngó vô nhà đèn đỏ đèn xanh.

Đã là tiên thì đâu cần phải làm gì. Cậu rong chơi, chờ ngày mãn kiếp về trời.

Nhà tôi là nơi cậu thường vào nghỉ chân sau một chuyến đi rảo quanh làng, hoặc lừng khừng sau khi lai rai vài ba sợi đế. Cậu đến nhà tôi, người lớn không cần phải bận tâm đón tiếp. Quen thân quá, hóa lờn. Không ai vô công rồi nghề để ngồi nghe cậu nói chuyện Nam Tào Bắc Đẩu. Cậu cũng không cần làm khách, cứ nằm tự nhiên trên cái võng giữa nhà, đưa qua đưa lại, miệng phì phà điếu thuốc.

Anh chị em tôi rất thích cậu Hai Say. Cậu có cả một kho tàng chuyện lạ, kể hoài không hết. Muốn nghe cậu kể chuyện, chúng tôi phải thay phiên đưa võng cho cậu lấy hứng. Đưa võng cũng phải có nghệ thuật. Cậu nói, đưa mạnh quá làm nôn ruột, đưa nhẹ quá dễ buồn ngủ. Thế thì phải đưa thử, đến lúc nào cậu bảo được là giữ nhịp võng ấy mà đưa hoài. Mỗi khi cậu chấm dứt một câu chuyện kể, phải biết ý cậu, đưa mạnh hơn để tán dương và phụ họa cho tiếng cười phơi phới lên cao. Không phải lúc nào cậu cũng chịu đưa võng. Những khi trời nóng nực, phải quạt cho cậu mát. Quạt mạnh quá, cậu nói ngộp thở. Nhẹ quá, cậu bảo không mát. Phải quạt vừa vừa, đều đặn. Cậu nằm phanh áo, bày ngực và bụng. Quạt từ trên mặt, quạt dài xuống bụng. Cái quạt làm bằng mo cau, tôi còn nhỏ phải cầm hai tay quạt mới xuể.

Những chuyện kể của cậu Hai Say, mấy mươi năm qua rồi, tôi không nhớ hết. Sau đây là một trong vài chuyện, tôi còn nhớ được:

Thời cậu còn theo kháng chiến làm cách mạng. Cậu đã đi rất nhiều nơi, từ chốn bưng biền cho đến miền rừng sâu núi thẳm. Một hôm cậu ngang qua một vùng núi non hiểm trở, bỗng nghe tiếng động ầm ầm dữ dội như tiếng của Thần Rừng Thần Núi giao tranh. Cậu hoảng hồn, mau chân chạy tránh xa nơi hung hiểm. Năm sau, cậu có dịp hộ tống Bác Hồ ngang qua vùng ấy nữa. Cậu thấy xác hai con vật khổng lồ, con rít chúa và con mảng xà vương nằm chết. Xác đã rữa mục rồi. Bấy giờ, cậu mới hiểu ra rằng tiếng động ầm ầm mà cậu nghe năm ngoái là do hai con vật đánh nhau. Cái đuôi của chúng vùng vẫy làm gãy đổ cây cối cả một vùng rừng rộng lớn.

Mảng xà vương chết, còn lại bộ da trải dài như con đường lát gạch. Bác Hồ là người thông minh, có nhiều sáng kiến lạ. Bác bảo, mỗi người cắt vài miếng da mảng xà để làm dép râu. Và Bác đã mang đôi dép này đi suốt “Đường Kách Mệnh.” Đôi dép râu bằng da mảng xà, bền chắc vô cùng. Khi Bác lên làm chủ tịch nước, người ta đưa đôi dép râu này vào trưng bày trong viện bảo tàng. Các nhà khoa học lừng danh của Liên Xô có đến chiêm ngưỡng. Họ dùng phương pháp khoa học tối tân để phân chất, nhưng vẫn không khám phá ra dép của Bác làm bằng nguyên liệu gì. Đó một bí mật mà nhà nước ta giấu kín, không công bố cho bất cứ nước nào biết, dù là nước anh em xã hội chủ nghĩa cũng vậy. Tất cả những gì liên quan đến Bác, đều được truyền miệng một cách hư hư thực thực như huyền thoại. Để từ đó, người ta nhìn thấy Bác là một vĩ nhân.

Con rít chúa chết, còn lại cái vỏ. Vỏ rít có nhiều đốt, nối lại như một đường ống dài. Lúc ấy, trời bỗng đổ mưa to. Bác Hồ bảo mọi người chui vào cái vỏ rít mà trú mưa. Mưa to thế mà không ai bị ướt.

Bác Hồ nói: “Lấy cái vỏ rít này dùng làm địa đạo hoặc nóc hầm trú ẩn, có thể chống được bom đạn.”

Đấy lại là một sáng kiến độc đáo nữa. Có người rút nhật ký ra ghi chép lời Bác.

Anh tôi hỏi: “Ghi chép làm gì?”

Cậu nói: “Để sau này Bác dùng làm tài liệu, viết ký sự “Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện,” dưới cái tên giả T. Lan hay Trần Dân Tiên gì đó.”

Cậu tiếc rằng, ở giữa vùng rừng núi xa xôi, không thể khiêng vài cái đốt của vỏ rít chúa về xóm làng.

Anh tôi lại hỏi: “Khiêng về làm gì?”

Cậu nói: “Để bán cho người ta làm mui xe bò. Mỗi đốt làm được một cái mui xe, rất chắc. Xài cả đời cũng không hư.”

Chị tôi hỏi: “Cậu từng phục vụ cho Bác Hồ. Cậu thấy Bác ra sao?”

Cậu tấm tắc khen: “Ồ, đẹp lắm. Trông Bác có cái dáng vẻ tiên phong đạo cốt, dưới càm phơ phất một chòm râu.”

Tôi phấn khởi, hát bài hát được cách mạng dạy cho trẻ em miền quê lúc ấy: “Mong Bác Hồ cho chúng cháu xin, đôi sợi râu làm dây thân ái.” Và hỏi:
“Sao cậu không xin Bác một sợi râu?”

“Dễ gì? Bác chỉ có một chòm râu mà trẻ em cả nước đứa nào cũng muốn xin một sợi. Lấy đâu cho đủ?” Ngừng một lúc, cậu lại nói. “Dù thế, nhưng cậu cũng tìm cách để có được một sợi râu của Bác.”

“Khi Bác ngủ, cậu lén nhổ râu bác hả?”

“Không. Nhổ râu Bác cũng giống như vuốt cái vảy ngược dưới cổ con rồng.”

“Vuốt cái vảy ngược của rồng thì sao?”

“Thì chết chứ sao? Tương truyền, rồng là một linh vật chúa tể của muôn loài. Vảy rồng mọc xuôi về phía sau, nhưng dưới cổ có một cái vảy mọc ngược về phía trước. Ai chạm phải cái vảy ngược, nó giết liền. Người có chân mạng đế vương, thường được ví với rồng. Vì thế, mỗi sợi râu của Bác được coi như một sợi râu rồng. Người đời thường gọi là long tu. Nhổ long tu của Bác, chẳng khác nào chạm cái vảy ngược của rồng.”

“Nguy hiểm như vậy, làm sao cậu lấy được long tu Bác?” Anh tôi hỏi.

Cậu giải thích: “Mỗi buổi sáng, cậu có bổn phận bưng thau nước vào cho Bác rửa mặt. Khi xong, cậu đem đi đổ. Trước khi đổ, cậu quan sát thật kỹ, những mong có được một may mắn. Và cậu đã may mắn thật, trong thau nước rửa có một sợi râu rụng của Bác. Cậu giữ lại sợi râu quý này làm kỷ niệm.”

“Cho tụi cháu xem thử đi.” Chị tôi háo hức.

Cậu nạt: “Ngồi yên! Nghe cậu kể. Người ta nói cọp chết để da, nhưng không ai nói cọp chết để râu. Vì mỗi lần hạ được một con cọp, việc đầu tiên phải làm là đốt ngay bộ râu.”

“Sao thế?”
“Nếu kẻ ác lấy được sợi râu cọp, họ sẽ dùng vào việc giết người.”

Anh tôi thắc mắc: “Râu cọp mà có thể giết người được sao?”

Cậu Hai Say nói: “Họ nhét râu cọp vào mụt măng. Cháu biết măng là gì không?”

Chị tôi nhanh miệng: “Măng là mầm non của tre trúc mới nhú lên khỏi mặt đất.”

“Đúng rồi. Nhét sợi râu cọp vào mụt măng. Lâu ngày, sợi râu sẽ hóa thành con sâu màu đen. Cứt của con sâu này là một thứ thuốc độc ghê gớm. Chỉ cần cho vài viên cứt sâu nhỏ bằng đầu cọng tăm vào lu nước. Ai uống phải nước này, sẽ ngả ra chết liền.”

Chúng tôi rút cổ le lưỡi: “Ghê quá!”

“Im! Bình tĩnh, nghe cậu kể tiếp. Râu Bác Hồ như râu rồng. Cậu tự hỏi, nếu đem nhét vào mụt măng, nó sẽ hóa ra con gì? Vì tò mò, cậu đã làm thử.”
“Cháu nghĩ nó sẽ hóa ra một con rồng nhỏ.” Chị tôi đoán.

“Không. Chẳng phải rồng mà là một con sâu đỏ lòm, cháu ạ.”

“Thế, cậu làm gì với con sâu ấy?”

“Chẳng làm gì cả. Thấy con vật lạ thì nuôi chơi vậy thôi. Cậu nhốt nó trong một chiếc hộp nhỏ, đi đâu cũng mang theo bên mình. Nhưng nó không chịu ăn, lừ đừ gần chết. Cậu không biết làm sao để có thể nuôi nó lâu dài. Có lần, cậu vô ý làm đứt tay, một giọt máu tươi rớt vào trong hộp. Nghe mùi tanh của máu, nó như được hồi sinh và hút sạch giọt máu. Thế là cậu khám phá ra con sâu đỏ này chỉ có thể nuôi bằng máu.”

“Cậu làm sao đủ máu mà nuôi nó hoài?” Anh tôi hỏi.

“Phải có cách chứ. Đâu thể trích máu của cậu mãi được. Đi với Bác lâu ngày, cậu cũng khôn ra. Nghĩa là tận dụng mọi thứ chung quanh mà không hề làm tổn hại đến mình. Cậu bắt con đỉa hút no máu con trâu. Xong, cậu cho con đỉa vào hộp. Con sâu đỏ hút lại máu từ con đỉa. Đỉa là loài sống rất dai, cho nên có câu “sống dai như đỉa.” Thế mà sau khi bị con sâu đỏ hút máu, con đỉa chết luôn. Điều này cho cậu biết rằng, con sâu đỏ là một độc vật ghê gớm nhất trên đời.”

Chị tôi hỏi: “Sao không giết nó đi, nuôi chi một con vật gớm ghiếc?”

“Cậu đã nói, thấy con vật lạ thì nuôi chơi. Mãi sau, có người biết được, tố giác chuyện này lên Bác Hồ. Bác ra lệnh tịch thu con sâu đỏ. Cậu giao nạp con sâu, nhưng vẫn còn sợ bị khép tội ăn cắp long tu Bác Hồ nên trốn về, không theo cách mạng nữa.”

“Rồi Bác Hồ giết nó hay nuôi?”

“Nếu giết nó thì đỡ khổ cho dân lành rồi. Bác nuôi mới chết người chứ!”

“Không lẽ Bác nuôi nó bằng chính máu của Bác?”

“Bác đâu có dại? Máu của nhân dân thiếu chi!”

“Nhưng Bác nuôi nó làm gì?”

“Làm gì, ai biết? Mọi hành vi của Bác đều được giữ bí mật. Trong thời kỳ cải cách ruộng đất, tiêu diệt thành phần trí phú địa hào, thanh trừng văn nghệ sĩ bất mãn, có hàng vạn người bỗng ngả lăn ra chết bất đắc kỳ tử. Cậu nghi họ bị đầu độc bằng cứt của con sâu đỏ này.”

Sau mỗi chuyện kể của cậu Hai Say, thường là những tiếng cười vui thích thú. Nhưng sau chuyện này, cậu không cười. Và chúng tôi thì sợ.

Mấy chục năm qua rồi, ấn tượng về con sâu đỏ vẫn còn đậm nét trong tôi.

Mùa Xuân năm Ất Mão (Tháng Tư năm 1975), theo lệnh đầu hàng, tôi buông súng, quay về làng cũ. Cậu Hai Say bây giờ đã già lắm rồi.

Cậu bảo: “Hãy chạy đi.”

Tôi hỏi: “Sao cậu không chạy?”

“Với số tuổi đời của tao, bỏ thây không tiếc.”

“Cậu thường hay nói chơi. Không biết lần này cậu nói chơi hay nói thật. Nhưng đất nước vừa chấm dứt chiến tranh, không ở lại mà hưởng thái bình, còn chạy đi đâu?” Tôi phân trần.

Cậu ngước mặt lên trời, than: “Người ngu mắc nạn, thường hay đổ thừa cho thiên mệnh.”

Rồi mười năm sau nữa. Tôi ra khỏi tù, áo rách xác ve trở về chốn cũ. Nghe nói, cậu Hai Say được cách mạng mời tham dự tiệc mừng Đại Thắng Mùa Xuân. Và, cậu đã chết ngay sau khi rời bàn tiệc. Tôi chợt nghĩ đến con sâu đỏ. Chẳng biết cái chết của cậu, có liên quan gì với cứt của loài độc vật này hay không?

Tiếng Hờn Chân Mây

baovecovang2012.wordpress.com

Trần Thy Vân

Posted on February 10, 2013 by Lê Thy

Post by Sơn râu 25 Aug 2024

Google photo

Chương 6

Giặc ngoài loạn trong

Thành hướng dẫn tôi từ nhà thờ Domaine de Marie xổ dốc chạy tiếp đến gần khúc cua khuỷu tay của con đường xuyên qua khu số 4, phía tây thành phố sương mù Đà Lạt.

Lâu ghê, sau bảy năm, ngày giải tỏa Việt Cộng xâm nhập dịp Tết Mậu Thân 1968, tôi mới trở lại vùng này.

Tôi vào đậu trước sân một ngôi nhà mái ngói, nằm khuất giữa vườn cây ăn trái sum sê. Xe chưa kịp tắt máy, Thành đã vội tụt xuống đất, đứng gọi lớn:

– Ba ơi, con về đây này?…

Một vị cao niên, tuổi trạc sáu mươi, hẳn là ba của Thành, hé cửa nhìn ra. Bất chợt, thấy tôi lạ mặt lại cụt hai chân, ngồi trên chiếc Honda 3 bánh, cùng đồ đạc lỉnh kỉnh sau lưng, ông nhíu cặp lông mày, ngạc nhiên. Tôi cúi đầu chào, vị gia chủ đáp lễ bằng một nụ cười nhếch môi, rồi cất tiếng hỏi lớn, có ý trách móc Thành đi Đà Nẵng quá lâu:

– Mãi đến nay mới về?

Thành im lặng, cõng tôi vô nhà để ngồi trên đi-văng. Anh phân bua với ông cụ, giọng anh nói như thuở còn bé:

– Không khí ngoài Quảng căng lắm, ba ơi! Vật giá gì mà leo thang hết trọi. À ba, đây là Vân bạn con, cựu sĩ quan Đại đội trưởng, Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân.

Advertisement

Ông cụ không quan tâm đến lời giới thiệu, vì sự biện minh của Thành chưa làm ông hài lòng:

– Căng lắm, đến nỗi con không về sớm được?

Thành vừa nhún vai vừa xuống nhà dưới lục tủ kiếm thức ăn cho hai đứa đang đói meo, chứ hai tô bún lúc sáng đã tiêu tan hết.

– Này, ở Biệt Động Quân, có biết Đại úy Trực?

Ba của Thành bất ngờ hỏi một câu tắt ngang làm tôi ngớ người, giây lâu mới nhớ được nhân vật mà một thời tôi coi là thần tượng. Tôi dè dặt đáp:

– Dạ, cháu chỉ nghe truyền khẩu và qua hình ảnh trên báo chí. Thời Đại úy Trực nổi tiếng đánh giặc ở miền Trung, Việt Cộng hễ thấy Tiểu đoàn 11 Biệt Động Quân của anh đâu là né đó, cháu còn cắp sách đi học. Sau, cháu vào binh chủng Cọp Rừng này thì anh Trực đã chết…

– Vân qua bàn này được chứ? Qua đây dùng nước trà với bác.

Tôi leo lên chiếc xe lăn, tới ngồi cách ông một cái ghế.

– Bác và Trực chơi thân nhau một dạo. Trực như con ngựa chứng, đánh giặc hay mà cũng rất bướng. Ngoài chiến trường Trực anh hùng, ở hậu phương nó là vua quậy.

– Anh ấy chỉ “quậy” bọn du đãng thôi, bác ơi! Nơi nào có anh là không có du đãng.

Ông cụ cười khà khà:

– Cháu không biết đâu. Trực dung túng nhiều phần tử vô kỷ luật, tạo tiền lệ Tiểu đoàn 11 Biệt Động phá phách lung tung, một đơn vị hùng dũng nhất mà cũng kiêu binh nhất, đưa đến tình trạng Tiểu đoàn ly khai 1966…

Than phiền xong, ông ngả người ra sau, tay khoanh ngực, và thở dài:

– Buồn quá ! Chẳng lẽ ngồi chờ chết?…

Hiểu được tâm trạng ông, không phải buồn vì chuyện quá khứ xa xưa của Đại úy Trực, người hùng mũ nâu, mà do thời cuộc hiện tại làm đau khổ mọi người.

Thành dưới bếp bưng lên bàn một xoong mì nóng hổi, cắt đứt câu chuyện phiếm giữa tôi với ông cụ. Ba người ngồi lại. Trời chiều Đà Lạt lành lạnh, mùi tôm khô lẫn mùi tiêu hành với lớp mỡ óng ánh làm tôi háu ăn. Phút chốc tôi đã tém gọn hai tô, no cành hông. Thành cũng gác đũa, cầm bình nước rót ra ba tách, hương trà lài thơm ngát. Tôi trầm trồ:

– Ngon quá, bác Hai! Miền Nam chúng ta chỉ có hai hiệu trà danh tiếng: Quốc Thái và Đỗ Hữu Bảo Lộc. Kỹ thuật họ ướp sói hay lài rất tuyệt diệu. Nước nhì ngon hơn nước nhất. Phải không bác Hai?

– Tôi thứ Sáu. Giờ Quốc Thái với Đỗ Hữu gì nữa, chúng đã tịch thu hết của người ta. Các cơ sở, máy móc chế biến thảy đều bị niêm phong. Vân dân Đà Nẵng mà rành trà Bảo Lộc dữ vậy sao?

– Thưa bác Sáu. Xưa, cháu từng hành quân qua các vùng rừng núi và phố phường cao nguyên, kể cả Đà Lạt, trước và sau biến cố Tết Mậu Thân năm 1968. Đó là dịp đầu tiên binh chủng Mũ Nâu của cháu xuất hiện nơi xứ hoa anh đào này, để đuổi giặc ra khỏi khu số 4 của bác…

Ông cụ trố mắt:

– Vậy à? Lúc ấy cháu ở đơn vị nào?

Tôi khẽ cười rồi đáp, nhấn mạnh cái oai danh mà ông đã biết để ông ngạc nhiên chơi:

– Tiểu đoàn 11 Biệt Động Quân!

– Ồ, Tiểu đoàn thằng Trực !

– Như bác Sáu rõ, sau giai đoạn ly khai, ủng hộ Phật giáo miền Trung tranh đấu chống chính phủ quân nhân Việt Nam Cộng Hòa giữa thập niên 1960, đơn vị Biệt Động Quân này chuyển lên Pleiku, đặt hậu cứ đóng tại Biển Hồ, bị đì, bắt lội liên miên khắp xứ Thượng. Lúc ấy anh Trực đã buộc phải rời khỏi binh chủng, ra phục vụ ở một sư đoàn bộ binh đâu miền Đông, rồi bị giết một cách mờ ám.

Kỳ Tết Mậu Thân, các vận tải cơ khổng lồ, C-130, vừa đổ xuống phi trường Cam Ly, và dưới sự chỉ huy của Đại úy Hồ Khắc Đàm, Tiểu đoàn tiến đánh ngay cái mục tiêu rộng lớn là khu số 4 này, từ nhà thờ Domaine de Marie vào đến chân núi Chúa Cứu Thế. Hai bên giao chiến dữ dội suốt mấy ngày, nhiều nhà cửa hư hao khá nặng. Trên dải đồi trọc nằm trước mặt bác, Việt Cộng chết la liệt hàng chục tên. Thật bi thảm, chúng cùng đường phải chạy băng qua, để vào núi, thì bị đại bác 105ly của mình dập xuống cả trăm quả, xác chết tung lên từng mảnh như xác pháo.

Đà Lạt yên, Biệt Động Quân lại vào Di Linh giải tỏa tiếp áp lực Việt Cộng đang quấy phá, đắp mô chặn đường nhiều nơi trên Quốc lộ 20. Đơn vị đi tới đâu là tháo gỡ tới đó, làm sạch hết các chướng ngại vật, kể cả trên các ngọn núi trong vùng. Xong, tụi cháu về trấn thủ quanh cầu Đại Nga, gần phố Bảo Lộc.

Advertisement

Cháu ghiền trà Quốc Thái, Đổ Hữu từ những chuyến hành quân đó. Vì ghiền trà cháu mới được quen biết ông chủ Quốc Thái. Mỗi lần cháu đến ông mời vào bàn, tự tay ông pha trà ngon nhất để nhâm nhi, rồi khi ra về cháu còn có vài gói…

Tôi đang say mê nói đến cái goût của tôi sau thuốc lá là trà thì Thành xen ngang câu chuyện:

– Vụ tái chiếm Sa Huỳnh, Quảng Ngãi, Vân có tham dự, và gặp nói chuyện với Cha Vàng mình nữa…

Ông thân sinh của Thành hình như đã thấm mệt, chỉ nhoẻn miệng cười một cách trìu mến, rồi uể oải tới ngả lưng xuống chiếc ghế bố kế bên.

Tôi lăn xe ra sau ngồi ngắm quanh khu vườn xanh mượt và nhìn xa xa về phía tây. Trên ngọn đồi ngôi nhà thờ Chúa Cứu Thế lúc ẩn lúc hiện, mờ mờ trong sương. Hình ảnh ấy, sau bảy năm, chợt gợi tôi nhớ lại đầu xuân 1968, những tiếng kêu gào thảm thiết của các giáo dân lánh nạn trên thánh đường vọng xuống khi nghe thấy Tiểu đoàn 11 Biệt Động dưới chân đồi, đang truy lùng tàn quân Việt Cộng vừa bị đánh bật khỏi khu số 4, thành phố Đà Lạt, chúng chạy lên vơ vét hết thực phẩm, áo quần, kể cả các vật dụng, máy đánh chữ, của nhà thờ đem đi…

Cơm tối xong, Thành mời tôi vô căn phòng riêng của anh để bàn chuyện tôi sẽ đi lập nghiệp ở xã Phú Hội, huyện Đức Trọng, Lâm Đồng, nơi ngày xưa có lần tôi đến thăm gia đình một người bà con. Địa điểm mà tôi nhắm tới, theo Thành mô tả hôm qua, thì rất hẻo lánh, thâm sơn cùng cốc. Nhưng vùng đất ấy đối với tôi dễ bề mai danh ẩn tích, giấu lý lịch, giữa lúc giao thời tranh tối tranh sáng. Sống riêng rẽ vô tình bị nổi bật mà che đậy được sự khai man.

Thành, nhân danh tình bạn, bất đắc dĩ mới chấp nhận cho tôi lựa chọn cách đó. Anh thở dài:

– Phiêu lưu quá ? Cái khó là Vân bị cụt hai chân, làm sao bươn chải kiếm ăn, khi đời sống cần sức lao động.

Tôi gượng cười che lấp nỗi khổ tâm:

– Đừng bi thảm hóa vấn đề, Thành ơi? Tôi đã nói với chị Miên: “Trời sinh voi sinh cỏ”. Thành giúp tôi ở đây vài hôm nữa, cho khỏe khoắn chút, lấy lại tinh thần rồi đi. Hãy thông cảm, tôi sắp đối đầu với mọi gian nguy, nhưng tôi tin rằng nó không gian nguy hơn thời binh lửa đẫm máu vừa qua.

Thấy tôi quả quyết, gương mặt Thành bớt thiểu não. ông Sáu bước vào ngồi xuống bên cạnh. Sự hiện diện của tôi đêm nay làm phiền ông không ít, chẳng ngủ sớm được, còn vướng bận lo âu.

Advertisement

Biết cuộc đàm đạo liên quan nhiều việc, Thành đảo một vòng quanh nhà, nghe ngóng động tĩnh, và không quên khóa chặt các cửa trước ngõ sau xong mới trở vào nói:

– Hình như đồng bào trong xóm đi họp đâu hết, ba à !

Ông Sáu phì phà điếu thuốc, khói tỏa mù mịt:

– Mấy bữa đã có tin đồn chính phủ “cách mạng” sắp phát động chiến dịch đánh mạnh các thành phần mà chúng gọi là gian thương, tư thương. Nếu đúng vậy thì chiêu thức đó khởi đầu cho chính sách lừa đảo, cướp đoạt tài sản đồng bào thôi. Xong rồi, Bắc Bộ Phủ sẽ tiến dần tới chủ nghĩa xã hội, nhằm mục đích bần cùng hóa nhân dân miền Nam, nghĩa là lấy hết của cải, tài nguyên ở đây đem về Bắc. Chúng đi từng bước…

– Tức thiệt!…

Thành cay đắng, lầm bằm trong miệng những lời bất bình.

Tôi nói:

– Chính chúng ta đã làm mất nước.

– Đúng. Bác thấy tại mình mới nông nổi này.

– Sao tại mình, ba?

Ông Sáu không trả lời câu hỏi của Thành. Chắc ông ngại phải diễn giải rộng ra quanh chữ “mình”, chỉ gật gật cái đầu, như hài lòng một vấn đề gì đó ông đã nhận định, nay nghiệm lại thấy không sai. Nhưng trên khuôn mặt rắn rỏi, trầm tư ấy cũng hiện rõ những nét đau khổ tột cùng, nỗi đau khổ chẳng riêng ông, nó đang xói mòn trong tâm não mọi người…

Tôi hỏi ông Sáu:

– Mấy năm xưa, đi hành quân liên tục, rồi bị thương nằm bệnh viện cả năm, không theo dõi kịp tình hình chính trị, nên cháu thắc mắc tại sao Việt Nam Cộng Hòa chịu ký vào hiệp định Ba Lê quái ác đưa đến mất nước thế này? Tổng Thống Thiệu cứng rắn với Cộng Sản lắm mà !

Được cởi tấc lòng, ông Sáu vừa lấy gói thuốc ra quấn hút vừa giải thích:

– Trước lúc ký hiệp định, phía miền Nam chẳng ai rõ các thỏa thuận ngầm, gồm những gì giữa Bấc Việt và Hoa Kỳ. Chỉ có Tiến sĩ Kissinger, Lê Đức Thọ và Xuân Thủy mật đàm với nhau thôi. Lại nữa, họ muốn quân đội Mỹ phải rút hết về nước, theo đòi hỏi của cao trào phản chiến ở Hoa Kỳ, mới đặt thành vấn đề “Việt Nam hóa chiến tranh”. Vì quyền lợi riêng ông bạn đồng minh đành muối mặt áp lực miền Nam chúng ta phải chấp nhận hạ bút ký vào hiệp ước là cái “bản án khai tử” chính mình.

Nhìn xuống hai chân cụt, tôi lắc đầu:

– Khốn nạn thật?

Ông Sáu hét to:

– Gọi khốn nạn thì nhẹ quá ! Kissinger không những phản bạn lừa thầy, còn qua mặt luôn tổng thống của ông nữa. Nói nôm na kiểu Việt Nam mình là hắn đâm sau lưng chiến sĩ!

Một điều rất oái oăm, đất nước sắp rơi xuống vực thẳm mà thượng viện ta chẳng hay. Thậm chí, các tin tức về cuộc hòa đàm Paris, các nghị sĩ cũng chỉ biết qua báo chí, các đài phát thanh, nhất là nghe được từ đài Hà Nội. Đến lúc, ngày 11-9-1972, Bắc Việt đề nghị thành lập chính phủ hòa hợp dân tộc ba thành phần thì các ông quýnh lên, mở phiên họp khoáng đại cuối năm 1972, để bàn thảo đến các nguy cơ của chế độ miền Nam. Mất trâu rồi mới lo đóng chuồng…

Ông Sáu bỗng ngưng nói, vụt đứng dậy bước ra ngoài. Tôi lấy làm lạ, nhìn theo đáng ông đi, phía sau cái áo sơ-mi trắng đang mặc ông dựa vào vật gì dính lấm lem. Một lát trở vào với bó giấy cũ mốc trên tay, ông ngồi bệt xuống nền nhà vừa tháo sợi dây vừa lẩm bẩm:

– Còn nguyên đây. Việc gì cũng có dẫn chứng. Đây, Vân xem các bài phát biểu của mấy ông thượng nghị sĩ được ghi lại trong phiên họp khoáng đại đó. Các ông mổ nhau dữ dằn, chỉ biết chửi cho đã giữa phe này nhóm nọ, chứ chẳng có một kế sách chung nào khẩn trương cứu nước.

Tôi lấy một xấp và xin phép ông Sáu nằm đọc từng trang. Trước hết, tôi thoáng qua những đoạn có đánh dấu bút mực. Khi đọc tôi tưởng tôi đang dự thính, nghe từng giọng điệu, từ ôn hòa xây dựng, nêu dẫn lập trường chống Cộng dứt khoát, đến những lời lẽ gay gắt, chỉ trích Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu. Trong 56 thượng nghị sĩ tham dự có ba khuynh hướng rõ rệt: ủng hộ, trung dung và chống đối hành pháp cả quan điểm chính kiến về hiện tình đất nước. Nhất là nhóm đối lập chọi nhau ráo riết. Tôi nghĩ chắc là nhiệm vụ của phường ăn hại đái nát này vào thượng viện chẳng phải vì dân, mà chỉ để tranh giành quyền lợi cho bản thân của họ.

“Những điều trông thấy thật đau lòng” ấy, mấy ai biết từ đâu để trách? Nhưng, những lúc ấy cũng có nhiều kẻ đã thấy rõ cái mưu đồ cơm áo của đồng viện. Hãy nghe Nghị sĩ Trần Quang Thuận đã đưa ra vài thắc mắc để bàn, để những con quấy rối lưu tâm:

“Ngày hôm nay Thượng Nghị Viện chúng ta bàn về vấn đề hòa bình, vấn đề ngưng chiến thì cố vấn Kissinger đã gặp Lê Đức Thọ, gặp Xuân Thủy biết bao nhiêu lần. Trong khi nhiệm vụ của Thượng Nghị Viện là theo dõi sự thực thi chính sách của chính phủ mà chúng ta không biết hòa đàm Ba Lê đã đi đến đâu rồi. Và một dân biểu, ông Dân Biểu Trần văn Đôn đã qua Ba Lê để theo dõi hội đàm, và không biết rằng Thượng Nghị Viện chúng ta thảo luận về vấn đề này với sự hiểu biết về các căn nguyên như thế nào?

Advertisement

Phải chăng chúng ta ở trong cái rọ, rồi cũng thảo luận và biểu quyết trong cái rọ hay sao? Do đó chúng tôi thấy rằng chúng ta phải đặt vấn đề một cách rõ ràng hơn nữa. Thượng Nghị Viện chúng ta có làm đúng nhiệm vụ Hiến Pháp giao phó cho chúng ta hay không? Nghĩa là kiểm soát việc thực thi chánh sách của Chánh Phủ.

Ở một lúc khác ông Thuận kêu gào các đồng viện:

“Trong giai đoạn hiện tại cũng như trước đây mấy tháng, chúng tôi có nói là chúng ta không nên đặt vấn đề chống đối hay ủng hộ nữa, chúng ta chỉ nên đặt vấn đề làm sao cho miền Nam này có thể tồn tại được. . . ” .

Nghị sĩ Tôn Thất Niệm thì điềm tĩnh, lên diễn đàn nhằm mục đích là kêu gọi đại đoàn kết. Bên dưới có nhiều tiếng xì xào, nhất là ở hàng ghế NS Trần Thế Minh. Tuy chủ trương ôn hòa, Bác sĩ Niệm cũng chua chát mở đầu bằng những câu ẩn ý trách móc Hành Pháp và cả những vị dân cử lưỡng viện, thảy đều mù tịt, mà lại chia rẽ nữa, trước nguy cơ mất nước. Ông đã bao lần nói đến chữ “sinh động” để yêu cầu các đồng viện của ông phải động hơn “tĩnh”, như một quan niệm chính chắn. Ông dẫn chứng có sự thiếu đoàn kết trong chính quyền như không tận tình cứu giúp dân tỵ nạn. Ý Nghị Sĩ Tôn Thất Niệm muốn nhắc vụ đồng bào Huế, Quảng Trị lánh nạn vào Đà Nẵng trong chiến cuộc mùa hè đỏ lửa 1972.

Ông cũng không quên đề cập đến công lao của Phật giáo:

“Nếu không có những sự tranh đấu của những Phật tử năm 1966 đòi có Quốc Hội Lập Hiến, tôi nghĩ chắc chúng ta ngày nay không có ngồi ở Thượng Nghị Viện này”…

“Nếu câu nói của chúng tôi có làm buồn lòng vị đồng viện nào, xin quý vị tha thử cho chúng tôi. Chúng tôi nói với chân tình là hình như các nhà chính khách tại miền Nam đang chờ đợi gió rõ ràng, ngã về phía nào, khi đó giơ tay đón cho chắc.

Chúng tôi quan niệm rằng công việc của chúng ta sắp làm ở đây là với quyết nghị này, chúng ta đừng để nó bị coi như là một bè phụ của một bản hợp tấu, đã được xếp đặt và đang có người nhạc trưởng điều khiển.

Chúng tôi muốn đóng góp là chúng ta phải thể hiện cái công việc của chúng ta, của Thượng Nghị Viện, bằng cách thúc đẩy chánh quyền thực hiện một chính sách đại đoàn kết dân tộc.

Do đó, giờ phút này hơn lúc nào hết những oán thù cũ cần phải được xóa bỏ. Chúng ta kêu gọi đoàn kết mà trong quốc gia chúng ta lại nhìn những người quốc gia với nhiều thù hận hơn là nhìn Việt Cộng nữa… “.

Nghị sĩ Trần Thế Minh cũng tỏ bất bình trước sự mưu toan phản bội của đồng minh:

Nói tới hòa đàm thì những nhân vật ở quốc ngoại nói đến rất nhiều. Nhưng ở quốc nội thì thật là mù tịt. Tôi mới nhận được một tài liệu của ủy ban Ngoại Giao Thông tin Thượng Nghị Viện đưa đên gồm có một bản họp báo của ông Kissinger, một bản của đài Hà Nội, cũng như xem báo chí xuất bản hàng ngày mà thôi chứ chưa có một tài liệu chính xác về lập trường của quốc gia mật đàm ra sao ? Công khai ra làm sao? Tôi chẳng được ai thông báo.

Quý vị Nghị sĩ đang họp ở đây có vị nào biết hòa đàm ra làm sao? Bí mật ra làm sao? Công khai ra làm sao? Được, thua ra làm sao? hay là chỉ xem báo nói mò ?

Đặc biệt xin kính thỉnh cùng ông Chủ Tịch Thượng Nghị Viện, nếu ngài có những dữ kiện, biết được việc nước, xin vui lòng cho các nghị sĩ chúng tôi hay để chúng tôi đồng chèo.

Bởi vì ngài cũng là một nghị sĩ làm Chủ tịch Thượng Nghị Viện, chúng tôi là nghị sĩ đang họp ở Thượng Nghị Viện, vô lý ngài giữ bí mật làm chi để anh em phải chống gậy đi mò.

Chúng tôi xin phép chất vấn ông Chủ Tịch ủy ban Ngoại Giao Thông Tin Thượng Nghị Viện là đã có những dữ kiện gì về lập trường hòa đàm của Việt Nam Cộng Hòa không ? Chính xác không? Hay là xem báo rồi trả lời chúng tôi, cái đó không được!

Kinh nghiệm máu lẫn nước mắt cho chúng ta thấy từ khi Cộng Sản nẩy mầm ra ở đất nước này thì xảy ra chiến tranh giữa Cộng Sản, Quốc Gia và Pháp đánh nhau.

Năm 1954 thực dân Pháp cấu kết với Cộng Sản Bắc Việt ký hiệp định chia đôi đất nước, chính phủ không biết, hàng ngũ quốc Gia không biết.

Trước khi ký hiệp đinh ba tháng, thực dân rút quân ở năm tỉnh miền Nam Trung châu, Bắc Việt chạy lên Hà Nội không ai biết. Ngày nay chúng ta cũng tiếp tục đi vào con đường không biết, rồi biểu quyết tuyên ngôn, tuyên cáo hay sao?

Ngày 22-10-1972, tôi đã đòi hỏi Hoa Kỳ không được chà đạp lên quyền dân tộc tự quyết của VNCH, không được phản bội lại quyền lợi của đồng minh Việt Nam trong những cuộc thương nghị hòa bình.

Khuyến cáo TT Nguyễn văn Thiệu phải trung thành với lời tuyên thệ bảo vệ Hiến Pháp, noi gương các vị anh hùng dân tộc bảo vệ chủ quyền Quốc Gia, không được nhượng bộ ngoại bang và Cộng Sản để khỏi đắc tội với tổ quốc và toàn dân.

Advertisement

Nhưng chúng tôi tiếc rằng những lời tuyến bố này bị ngăn cấm không được phổ biến trên báo chí, đài phát thanh. Tuy nhiên nay mai nhà nước hoặc những người phải ứng phó với tình thế sẽ phải học lại những điểm này mà nói.

56 ông nghị sĩ ở Thượng Nghị Viện này có lẽ không biết lập trường quốc gia ra sao.

Vừa chấm dứt bài tham luận, định bước xuống diễn đàn, NS Trần Thế Minh bỗng khựng lại, xin phép Chủ tịch để nói thêm vài lời, rồi ông nhìn về hướng NS Tôn Thất Niệm đang ngồi dưới:

Nghe thấy NS Tôn Thất Niệm đề cập đến “đại đoàn kết ” làm cho chúng tôi phải xin phép nói thêm nửa câu.

Từ trước nay, người ta chỉ đoàn kết suông, đoàn kết cái lỗ mồm, miệng nói đoàn kết, nhưng bụng coi nhau như thù địch.

Bởi vậy cho nên chúng tôi yêu cầu TT Nguyễn văn Thiệu phải trọng nhân hiền, dụng chính ngôn, đoàn kết và đích thân tận dụng những người quốc gia chống Cộng Sản vào một khối mạnh để đối phó với tình thế nay mai. Bởi vì, những người quốc gia chống Cộng còn chút lương tâm ngày nay đang bị một lũ gian thần dối trên, lừa dưới, phá phách, không hiểu nhà vua có biết hay không?

Khi nghe tin Bắc Việt đề nghị lập chính phủ hòa hợp dân tộc ba thành phần mà chúng gọi là “Hội Đồng Quốc Gia Hòa Hợp Dân Tộc” thì NS Trần văn Quá phản đối mãnh liệt. Ông tỏ ra rất am tường về các mưu mô xảo quyệt của Cộng Sản, nhắc nhở các đồng viện đừng quên hai nghị quyết số 3 và 7 địch ban hành năm 1969, chủ trương liên hiệp với chúng ta ở thượng tầng, còn cấp xã ấp thì lực lượng thứ ba chính là lực lượng Cộng Sản. Như vậy chúng hai, ta một ắt phải thua.

Giả như ở các tầng, số lượng đầu người hai bên bằng nhau, tức số phiếu véto với nhau, cũng không giải quyết được việc. Trái lại, phía quốc gia chỉ cần một người bị hăm dọa thủ tiêu, ta sẽ thua ngay trong các cuộc biểu quyết quan trọng.

Nay đã tới lúc Bắc Việt âm mưu thôn tính miền Nam bằng mọi giải pháp quyết liệt, quân sự lẫn chính trị. Chính trị, cho dù đòi hỏi vô lý, như chúng đề nghị thành lập chính phủ hòa hợp dân tộc ba thành phần ngày 11-09-1972, mà thành phần thứ ba không ai khác hơn là tay sai của chúng, hoặc bọn đón gió trở cờ, trung lập…

Do đó, Nghị sĩ Trần văn Quá bày tỏ lập trường dứt khoát. Ông đề nghị:

1. Cương quyết bác bỏ sự đòi hỏi thành lập chính phủ hòa hợp dân tộc ba thành phần của Cộng Sản ngày 11-09-1972, mà hiện nay Cộng Sản dùng danh xưng bịp bợp là Hội Đồng Quốc Gia Hòa Hợp Dân Tộc. Đồng thời chống lại mọi ý đồ đen tối nào nhằm thực hiện đòi hỏi phi lý đó của Cộng Sản dưới bất cứ hình thức hay danh xưng nào.

2. Kể cả những dự thảo đình chiến không do chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đồng ý thì không thể chấp nhận được.

3. Quyết nghị của Thượng Nghị Viện đưa ra hôm nay, phải thể hiện lập trường chống Cộng cố hữu của Thượng Nghị Viện, phải nói lên khát vọng hòa bình chân chính của toàn dân, đòi hỏi quyền dân tộc tự quyết phải được tôn trọng.

4. Thượng Nghị Viện phải ấn định một số công thức tổng quát về nghị hòa, buộc Hành Pháp phải theo. Hành Pháp không được tự ý hoặc vì bị áp lực đi ra ngoài công thức căn bản đó.

Rất tiếc, những đề nghị phát xuất từ lòng yêu nước của NS Trần văn Quá không mấy ai quan tâm, hường ứng. Hẳn ông đã biết vậy vì ngay trong hội trường này cũng giống như một chính phủ gồm ba thành phần rồi, đã từng kèn cựa nhau rõ rệt.

Rồi, bỗng nhiên nghị trường trở nên sôi động. Những tay hoạt bát lần lượt đăng đàn chỉ trích Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu. Trong lịch sử Việt Nam dường như chỉ có ông Thiệu, vị nguyên thủ quốc gia, luôn luôn trên đe dưới búa. Hãy xem nhóm “con ghẹ” bắt đầu cựa quậy. Đám ghẹ đã khiến cho hội trường Thượng Nghị Viện hôm đó có cảm tưởng họ thay mặt Cộng Sản Bắc Việt nguyền rủa TT Nguyễn văn Thiệu.

Trước hết, NS Phạm văn Tâm làm mọi người nghẹt thở. Ông xác quyết cuộc chiến Nam Bắc chỉ vì tranh quyền nhau mà thôi. NS Tâm còn cho rằng Hoa Kỳ không phản bội Đồng minh VNCH, chỉ có hoàn cảnh thực tế (ám chỉ sự lãnh đạo của TT Thiệu) là phản bội dân tộc. Ông nêu dẫn những lời TT Nguyễn văn Thiệu tuyên bố như: “Bác bỏ mọi giải pháp ba thành phần tiền chế; chống lại hình thức chính quyền liên hiệp”, nhất là câu TT Thiệu nói với sinh viên, học sinh: “ông làm lịch sử”, để chỉ trích một cách hỗn láo về cái lập trường cứng rắn đối với Cộng Sản của TT Nguyễn văn Thiệu:

Lịch sử của ông (TT Thiệu) là cái chính trị 5 năm đã qua! 5 năm ông chà đạp lên Hiến Pháp (vụ hành hạ và bắt bớ dân biểu, vụ độc diễn và vụ ủy quyền chỉ là những vụ điển hình).

Advertisement

Ông Thiệu đã bất chấp luật pháp, ông biến Tối cao pháp viện thành bù nhìn, làm trò cười cho thiên hạ, ông cũng biến Hạ Nghị Viện thành một đối tượng bị khinh rẻ trước mắt quốc dân, ông đưa tham nhũng lên thành một chế độ, ông đưa gian lận lên thành một quốc sách. Trên đầu những chiến hữu ông, ông đặt các cấp chỉ huy nổi tiếng tham nhũng, buôn lậu, bất tài và lấy sự luồn lọt làm cầu thang danh lợi.

Năm năm làm lịch sử của ông là năm năm phá chế độ và tự phá mình. Con đường ông đi là con đường phá sản toàn bộ và đưa chế độ đến chỗ diệt vong.

Điều đó chúng ta đã nói nhiều lần để cản ngăn ông nhưng chỉ được nghe ông trả lời: “Đoàn người cứ tiến, chó sủa mặc chó “ . Bây giờ đoàn người đã “tiến ” tới vực thẳm, chó không sủa nữa! (NS Tâm hét to: “chó không sủa nữa!”).

Cộng Sản đưa chế độ này đến bờ vực thẳm ư? Trăm ngàn lần không. Cộng Sản không có khả năng đó, bất quá trong cái tương quan giữa ta và địch; những khuyết điểm ở phía ta đã trở thành những ưu điểm của Cộng Sản, sự suy yếu ở phía ta là sự lớn mạnh ở phía Cộng Sản và sự ngu dốt của chúng ta đã trở thành sự tài giỏi của Cộng Sản, đều theo một thứ quy luật đấu tranh mà Cộng Sản đã vận dụng được.

Chẳng hạn cái chính nghĩa đấu tranh cho dân tộc ở phía ta không phát huy được, ngày càng lu mờ thì cái danh nghĩa “giải phóng ” của Cộng Sản nhờ đó mà sáng tỏ lên, mặc dầu miền Nam Việt Nam chúng ta không có nhu cầu giải phóng mà chỉ có nhu cầu cải tạo xã hội….

Chúng tôi chia sẻ những nỗi lo âu của quý vị nhưng chúng ta chẳng nên có những phản ứng của những con vật bị trói và bị đưa tới lò sát sinh, chỉ còn có biết kêu tuyệt vọng.

Chúng ta không chống khi chân tay bị trói. Chúng ta không chống trong những điều kiện bị phá sản, đổ vỡ. Bởi vì chúng ta biết tự trọng không muốn đóng vai lâu la và cũng không muốn dân chúng phải tủi hổ thêm nữa vì chúng ta…

Lúc này, chúng ta lẫn quốc dân thực không có điều kiện không gian và thời gian để chống theo cái ý nghĩa đứng đắn của một sự chống đối. Lúc này chúng ta chỉ “quẫy ” mà thôi, “quẫy” như chim trong lồng, như cá trên thớt. Sự chống đối đứng đắn không phải đợi đến lúc này mới bắt đầu mà phải chống ngay khi chế độ này được thành lập.. .

Advertisement

Người ta chỉ mải ăn, mải chơi, mải bóc lột, mải chia chác quyền lợi, mải tranh giành địa vị với chức tước trong khói lửa chiến tranh, trước những giòng máu, nước mắt không ngừng chảy của quân đội và dân chúng.

Người ta đi vào con đường phải chia quyền với Cộng Sản từ lâu rồi, trước khi cúi đầu chấp nhận hình thức liên hiệp với Cộng Sản.

Con đường đó, cho tới giờ phút này, chúng ta vẫn còn tiếp tục đi, vẫn tham nhũng, thối nát, vẫn ăn gian, nói dối, không một chút thành tín với quốc dân, vẫn hành pháp cướp quyền lập pháp để độc tôn, độc quyền, vẫn tư pháp bỏ trách nhiệm cán cân công lý để chạy theo quyền lực, vẫn bóp chết tự do ngôn luận, vẫn “bỏ tù và bắn bỏ ” dân lúc nào cũng được…

Những người cầm quyền ở đây vì ý thức chính trị hạn chế và nông cạn đã sử dụng chính quyền trong tay như một quyền lực riêng của mìn, muốn làm gì thì làm. Chính quyền ờ đây vì thế mà đã biến thành một thứ chính quyền của một cá nhân, không phải là một chính quyền chân chính dân tộc. Cũng như ở ngoài miền Bắc, không có chính quyền dân tộc mà chỉ có chính quyền Cộng Sản.

Dân tộc chúng ta bị lôi kéo vào một cuộc chiến giành đoạt chính quyền cho phe cánh này nọ lồng trong một cuộc tranh chấp quốc tế.

Chiến tranh dẫu có chấm dứt nay mai, cuộc đấu tranh đoạt chính quyền sẽ còn tiếp diễn dưới những hình thức khác.

Chúng ta đã đánh mất những điều kiện chiến thắng trong chiến tranh. Chúng ta cũng đánh mất những điều kiện chiến thắng trong hòa bình… “.

Từ lâu, tại miền Nam có ai đòi hỏi giải pháp là phải chia quyền lãnh đạo miền Nam cho Cộng Sản, như lúc đầu Trần Thế Minh xác quyết? Chỉ có ông lập lửng nêu ra để rồi ông kết luận bài tham luận đầy những ý tưởng phản nghịch, làm xuống tinh thần quân đội đang chiến đấu ngoài trận mạc:

Nếu không làm được thế thì dẫu bây giờ có không phải chia quyền thì sau này cũng phải chia, và dầu bây giờ mới mất có một phần quyền thì sau này cũng sẽ mất hết, dầu có đào sâu và mở rộng thêm sông Bến Hải và có xây thành đắp lũy ở vĩ tuyến 17 thì cũng không ngăn chặn nổi sự phát triển của Cộng Sản.

Thấy tôi đọc xong mấy bản văn muốn phờ người, ông Sáu vội búng cái mẩu thuốc rê đã tắt ngấm ra ngoài khung cửa, rồi nhìn tôi cười chua chát:

Advertisement

– Đấy, NS Tâm còn nương tay. Đến lượt NS Nguyễn văn Chức thì ông đem hết những lời lẽ rất nặng ký, như những cú đấm thôi sơn nhắm thẳng vào Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, làm lung lay luôn cả chế độ. Do đó bọn Cộng Sản chỉ đạp nhẹ thôi miền Nam đã nhào trái. Đây, Vân xem tài hùng biện của một luật sư.

Tôi cầm xấp giấy đã thâm kim, đổi màu, đọc từng chữ:

“Năm 1954, sau 9 năm chiến đấu chống ngoại xâm, dân tộc Việt Nam đã bị đảng Cộng Sản Việt Nam phản bội, phải chấp nhận hiệp định Genève chia đôi đất nước: miền Bắc dưới quyền thống tri của độc tài Cộng Sản, miền Nam là đất sống tự do của người Quốc Gia. Tiếng súng tạm ngưng gần 6 năm.

Ngày 20-12-1960, đảng Cộng Sản Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế đem chiến tranh xâm lăng miền Nam Việt Nam ròng rã 12 năm nay, quân đội và nhân dân đã hy sinh xương máu để chống lại cuộc xâm lăng ấy, với sự giúp đỡ của các nước đồng minh, đặc biệt là Hoa Kỳ. Sự hy sinh của quân dân ta rất to lớn, không lịch sử nào viết cho hết. Hy sinh cho chính nghĩa dân tộc, hy sinh cho quyền được sống trong tự do, hòa bình của thế hệ này và của thế hệ mai sau.

Bây giờ khúc quanh lịch sử đang hiện ra trước mắt. Cuộc chiến đang đi vào giai đoạn kết thúc, khởi đầu bằng một thỏa hiệp ngưng bắn.

Là những người đau khổ nhiều vì chiến tranh, chúng ta khao khát hòa bình hơn bất cứ ai, khao khát ấy đã trở thành sự khao khát của thể xác. Vì vậy, ngưng bắn phải là một tin mừng, bởi lẽ ngưng bắn là bước đầu tiên để chấm dứt chiến tranh, để có hòa bình. Nhưng vấn đề không giản dị như vậy. Như mọi người đã biết, cuộc chiến tranh mà quân dân ta phải đương đầu ròng rã 12 năm nay là một cuộc chiến tranh xâm lược do Cộng Sản Quốc Tê phát động và do Cộng Sản Việt Nam thừa hành. Ròng rã 12 năm nay, quân dân ta chiến đấu gian khổ, là để cho miền Nam này không rơi vào vòng nô lệ của Cộng Sản. Vậy thì một cuộc ngưng bắn chỉ có ý nghĩa dân tộc, nếu nó không đưa miền Nam này rơi vào vòng nô lệ của Cộng Sản.

Hiện giờ chúng ta chưa biết rõ nội dung thỏa ước giữa Hà Nội và Hoa Kỳ về vấn đề Việt Nam và Đông Dương. Chúng ta chỉ được biết một đàng là bản văn 9 điểm do Hà Nội công bố ngày 26-10-72, và một đàng là những lời minh xác của Tiến sĩ Kissinger trong cuộc họp báo giải thích của ông trưa 26-10-1972. Cứ tạm cho rằng sự thật phải được tìm giữa hai lập trường ấy, nhưng chắc chắn căn bản sẽ không thay đổi. Vì vậy chúng ta có lý do để khẳng định rằng nếu đem thi hành thì thỏa hiệp ấy sẽ có lợi cho phía Cộng Sản, chứ không lợi cho phía chúng ta. Cho nên việc chúng ta đòi hỏi những bảo đảm tối thiểu, trước khi ký kết, là một điều dĩ nhiên.

Advertisement

Những bảo đảm ấy được thực hiện trong những điều kiện có thể gọi là tiên quyết sau đây:

– Quân đội Bắc Việt phải rút toàn bộ ra khỏi miền Nam.

– Vùng phi quân sự phải được duy trì và tôn trọng.

– Miền Nam Việt Nam chỉ có một chính quyền hợp hiến, hợp pháp, là chính quyền hiện hữu.

Đó là lập trường nguyên tắc. Ông Thiệu đang nỗ lực nói lên lập trường nguyên tắc ấy. Chúng ta không thể nào không đồng ý với ông. Nhưng vấn đề đặt ra cho Thượng Nghị Viện ngày hôm nay không phải là thảo luận để tìm kiếm một thái độ thuận lý, bênh vực một lập trường nguyên tắc.

Với những đề nghị của Việt Nam Cộng Hòa và của Hoa Kỳ ngày 26-01-72, nhất là với đề nghị ngày 8-5-72 của riêng Hoa Kỳ (không bị Việt Nam Cộng Hòa phản đối), lập trường nguyên tắc ấy đã bị bỏ rơi. Bánh xe thực tế quay một cách nghiệt ngã, và không đi trở lại.

Thực tế có cho phép chúng ta chống lại thỏa hiệp ngưng bắn hay không? Và nếu chúng ta bó buộc phải chấp nhận, bản thỏa hiệp mà Hà Nội đã đưa ra qua đài phát thanh của họ ngày 26-10-72 vừa qua. Lẽ tất nhiên với một vài sự thay đổi, thì chúng ta sẽ chuẩn bị đối phó như thế nào ?

Có hai giả thuyết: Giả thuyết thứ nhất, chúng ta chống, giả thuyết thứ hai, chúng ta phải chấp nhận.

Giả thuyết thứ nhất chúng ta chống. Vấn đề đặt ra, chúng ta liệu có thể bắt Hoa Kỳ phải theo quan điểm của chúng ta hay không? Có thể chắc chắn là không. Bởi vì, Hoa Kỳ phải giải quyết chiến tranh Việt Nam với mọi giá, chiến thắng Cộng Sản bằng quân sự đã không còn đặt ra cho Hoa Kỳ từ sau Tết Mậu Thân. Người Hoa Kỳ phải chấm dứt chiến tranh, bằng thương thuyết, để có thể rút quân ra khỏi Việt Nam và đem tù binh về.

Đó là một trong những vấn đề nội bộ chính quyền Nixon phải giải quyết trong những tháng đầu của nhiệm kỳ tổng thống thử hai. Hãy nghe Tiến sĩ Kissinger tuyên bố ở phần kết luận cuộc họp báo 26-/O-72: “Với thái độ ấy, chúng ta (Hoa Kỳ) hy vọng đem lại hòa bình và thống nhất cho nước Mỹ “.

Hãy nghe cho rõ: “hòa bình và thống nhất cho nước Mỹ” chứ không cho nước Việt Nam.

Trong trường hợp chúng ta chống thỏa ước ngưng bắn với những điểm căn bản đã được tiết lộ thì Hoa Kỳ sẽ làm gì ? Chắc chắn Hoa Kỳ sẽ ký kết hòa bình riêng với Hà Nội. Đại cương chúng ta có thể ước tính được rằng Hoa Kỳ sẽ chấm dứt oanh tạc và phong tỏa Bắc Việt. Hoa Kỳ sẽ không còn trực tiếp tham chiến ở Nam Việt Nam, bằng Lục quân, Hải quân, Không quân. Đổi lại, Hà Nội sẽ phóng thích tù binh của Hoa Kỳ. Như vậy có nghĩa là chiến tranh ở đây vẫn còn tiếp tục.

Chúng ta, những người không thể chấp nhận hòa bình nô lệ, những người không chấp nhận một cuộc ngưng bắn tủi nhục sẽ đơn độc chiến đấu với Cộng Sản.

Trong cuộc chiến đấu này chúng ta hãy lạc quan mà tin rằng Hoa Kỳ sẽ không bỏ rơi miền Nam Việt Nam. Chúng ta hãy lạc quan mà tin rằng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục viện trợ quân sự và kinh tế để chúng ta đương đầu với Cộng Sản. Việc Hoa Kỳ đang vội đổ thêm vũ khí vô đây nếu không phải là một bằng chứng thì cũng là một dấu hiệu. Mặc dầu chúng ta cũng phải cầm chắc rằng số lượng viện trợ quân sự và kinh tế ấy tất sẽ giới hạn, không dồi dào như từ trước. Thế nhưng chúng ta cũng tạm lạc quan mà tin rằng trong bối cảnh thế giới mới, trong những quan hệ mới giữa Hoa Kỳ, Nga Sô, Trung Cộng, thì Mạc Tư Khoa, Bắc Kinh cũng sẽ giới hạn viện trợ quân sự, kinh tế cho Bắc Việt, và cho bọn tay sai Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Trong những điều kiện trên, chúng ta cứ lạc quan mà nghĩ rằng cán cân lực lượng sẽ nghiêng về chúng ta. Ít nhất là trong hiện trạng.

Về bộ máy quân sự của Cộng Sản đã suy sụp nhiều từ hơn sáu tháng nay, nhất là sau khi họ xua quân công khai xâm lăng miền Nam ngày 29-3-72 vừa qua. Trái lại, bộ máy quân sự của chúng ta từ sáu tháng nay đã được tăng cường nhiều, lớn mạnh nhiều. Ít nhất, theo lời giải thích và tuyên truyền của chính phủ..

Về phía nhân dân thì như thế nào ? Chúng ta hãy tạm tin vào những con số mà chính phủ vẫn thường rêu rao kiểm soát được 99% dân số, 98% đất đai và nhất là 94,36% cử tri bỏ phiếu cho vị “Tổng Thống 3-10-71 “. Tương quan lực lượng đã rõ rệt. Cộng Sản yếu ta mạnh.

Nhưng, trong cái yếu của Cộng Sản có mầm mống cái mạnh, do khả năng khắc phục sự khó khăn, do tổ chức, và do lãnh đạo của họ.

Và trong cái mạnh của ta đã có sẵn mầm mống cái yếu, do sự bất lực không khắc phục nổi khó khăn, do tổ chức lỏng lẻo, và nhất là do lãnh đạo quá tồi tệ.

Bởi vậy, trong trường hợp chống lại bản văn ngưng bắn, tiếp tục chiến tranh một mình, vấn đề căn bản của chúng ta vẫn là chỉnh đốn tổ chức và cải thiện lãnh đạo, hoặc tốt nhất là thay thế lãnh đạo.

Trong giả thuyết thứ 2, chúng ta bắt buộc phải chấp nhận một hiệp đinh với nội dung đã được tiết lộ qua đài phát thanh Hà Nội ngày 26-10-1972, và được xác nhận một phần bởi Tiến sĩ Kissinger. Những gì sẽ xảy ra ? Điều chắc chắn căn bản hiến định của chế độ này không còn nữa và cả cái thế hợp pháp của chính quyền này không còn nữa.

Vấn đề được đặt ra sẽ là sự hữu hiệu của một chính quyền thực tại của quốc gia dù chính quyền ấy là chính quyền Nguyễn văn Thiệu hay không Nguyễn văn Thiệu.

Sự hữu hiệu ấy căn cứ trên mực độ kiểm soát quần chúng tại đô thị và nông thôn, đồng thời trên khả năng và sự nhất trí của quân đội. Hai sự hiện hữu ấy cần được thể hiện gấp bằng những biện pháp cấp bách trước khi nói đến các chương trình dài hạn. Thế nhưng hai căn bản hữu hiệu ấy lại hoàn toàn tùy thuộc vào lãnh đạo.

Từ mấy năm nay và đã nhiều lần tại diễn đàn này, tôi đã nói về lãnh đạo. Nhiều người đã nói về lãnh đạo. Cụ thể hơn nói về Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu.

Lãnh đạo có ba yếu tố căn bản là quyền lực, quyền bính và quyền uy. Nền tảng của quyền lực là sức mạnh, sức mạnh quân đội, sức mạnh cảnh sát. Nền tảng của quyền bính là luật pháp quốc gia. Nền tảng của quyền uy là sự kính nể của quần chúng đối với người lãnh đạo. Nhưng, Trung tướng Nguyễn văn Thiệu có những gì trong ba yếu tố đó?

Về quyền lực, tạm gọi Trung tướng Thiệu có một triệu quân đội, 125 ngàn cảnh sát, 4 triệu nhân dân tự vệ, trong đó có 500 ngàn được trang bị võ khí.

Quyền bính, Trung tướng Nguyễn văn thiệu đã mất. Mất, vì ông đã không thi hành nghiêm chỉnh luật pháp quốc gia, trong đó có hiến pháp.

Trong bài nói chuyện ngày 24/10 mới đây, ông đã nói nhiều đến cái thế hợp pháp chính quyền hiện hữu. Ông đã nói đến luật pháp quốc gia, ông đã nói đến hiến pháp. Nhưng hiến pháp đó, luật pháp quốc gia đó, và cái thế hợp pháp đó, ông có tôn trọng hay không? Chúng ta phải trả lời là không. Ai cũng biết, bảy năm nay, hiến pháp và luật pháp quốc gia đã bị chà đạp như thế nào, chà đạp bởi ngay người cai trị. Những thí dụ không thiếu. Điển hình cuộc bầu cử ô nhục ngày 3-10-71, với sự đồng loã của Tối Cao Pháp Viện đã từ nhiệm, rồi vụ cướp quyền lập pháp trong đêm 27-6-72, vụ ném lựu đạn vào giữa phiên họp Thượng Nghị Viện ngày 23-9-72, rồi các sắc luật nhân danh cái gọi là luật ủy quyền.

Ấy là chưa nói đến những sắc lệnh của chính phủ đưa ra các biện pháp chế tài đối với các vị dân cử ở địa phương, như nghị viên hội đồng tỉnh, nhân viên hội đồng xã ấp. Những sắc lệnh ấy hoàn toàn trái hiến pháp.

Tôi sẽ không nói nhiều, vì sợ mất thì giờ quý vị. Tôi chỉ nói rằng quyền bính là căn bản mà người cai trị nhân danh, để có quyền sử dụng quyền lực trong việc duy trì luật pháp quốc gia. Nhưng cái đó chính người cai trị không tôn trọng. Cho nên có tình trạng loạn pháp như ngày nay, mà nạn nhân là dân chúng.

Thời đại ông Nguyễn văn Thiệu là thời đại hỗn loạn nhất, vô trật tự, vô luật pháp. Điều đó lịch sử đã ghi nhận rồi. Quyền lực (puissance), quyền bính (pouvoir) quan trọng, và quan trọng nhất vẫn là quyền uy (autorité).

Quyền uy là gì ? Phía người lãnh đạo, là khả năng. Phía quần chúng, là sự tin tưởng rằng lãnh đạo có thể giải quyết các vấn đề lớn của cộng đồng theo chiều hướng có lợi cho cộng đồng. Khả năng chưa đủ, lãnh đạo còn phải có phẩm cách. Thử hỏi nhà cầm quyền đương thời có hai yếu tố khả năng, phẩm cách hay không?

Bảy năm đã trả lời rằng không. Bảy năm bất lực, trên mọi bình diện, nhất là về kinh tế, an ninh xã hội. Bảy năm bất xứng, vì thiếu thành tín, và nhất là vì tham nhũng.

Ông Thiệu đã nuôi dưỡng tham nhũng, sống trên lưng tham nhũng. Tham nhũng trong quân đội, trong chính phủ, trong các cơ quan công quyền. Tham nhũng làm lở loét chế độ tới xương tủy, từ trên xuống dưới hôi thối nồng nặc.

Chính vì vậy, mà quần chúng không kính nể lãnh đạo, chẳng những thế còn coi thường, khinh khi, còn riễu cợt.

Chính vì vậy mà bảy năm lãnh đạo thiếu hẳn yếu tố quyền uy nghĩa là thiếu cái thế chánh đáng (légitimité). Chính vì vậy mà bảy năm nay tại miền Nam Việt Nam không có lãnh đạo. Người ta lập luận dù sao ông Thiệu cũng là người chống Cộng, lúc này chống Cộng là mục tiêu lớn nhất của Quốc Gia. Nhưng chúng tôi xin khẳng đinh, ông Thiệu đánh Cộng, giết Cộng chứ không chống Cộng. Cũng như một người ngồi trong căn nhà, suốt ngày vỗ ruồi, đập ruồi, hai bàn tay nhoe nhoét máu, đang khi đó thì các ổ ruồi muỗi là phân bón, rác rưới vẫn ngập ngụa trong nhà. Người ấy cùng với vợ con ăn ngủ ngay trên đống rác, ngay trên đống phân.

Ông Thiệu đánh Cộng, giết Cộng, nhưng ông đã vô tình nuôi dưỡng Cộng Sản bằng tham nhũng bất công, bất lực và bằng sự phá hoại cái thế hợp pháp của chế độ này. Như vậy, có phải là chống Cộng hay không?

Tóm lại, miền Nam đứng trước hai con đường, hoặc chống lại mọi hiệp đinh ngưng bắn ô nhục, chấp nhận chiến đấu một mình với Cộng Sản, hoặc phải chấp nhận hiệp định ngưng bắn ấy, chấp nhận đấu tranh chính trị với Cộng Sản. Trên cả hai con đường miền Nam này cần một lãnh đạo theo đúng nghĩa của nó.

Nếu không, ngày thua trận sẽ không xa “.

Bài phát biểu của Nghị sĩ Nguyễn văn Chức
(4)
làm tôi xốn xang trong lòng. Tôi áp vào ngực xấp giấy đánh máy đã thâm kim với những vết loang ẩm mốc, cố dỗ giấc ngủ, như để chạy trốn thực tại.

(4) Chương 6, trang 80- “Giặc Ngoài Loạn Trong”. Cuối năm 2000, tôi gởi biếu quyển Tiếng Hờn Chân Mây đến hai vị cựu Thượng nghị sĩ VNCH, Luật sư Nguyễn văn Chức và Bác sĩ Tôn Thất Niệm. Bất ngờ được đọc, như nghe lại những lời phát biểu của chính mình cách đây 26 năm về trước, trong một phiên họp khoáng đại thượng viện 1974.

Bs Niệm, có phòng mạch trên đường Bolsa, Nam Califomia, nói với Tác giả: “Lâu quá tôi quên, không nhớ những lời phát biểu của tôi”. Còn Luật sư Nguyễn văn Chức, từ Texas điện thoại qua, thì tỏ nỗi ngạc nhiên và xúc động: “Đúng là bài tham luận của tôi đã thất lạc. Ở đâu mà Vân có vậy?” Bỗng giọng ông như muốn khóc: “Tôi bị oan, Vân ơi? Tôi bị oan?”. Lời kêu oan ấy cũng làm tôi nao núng dù tôi không hiểu “bị oan” chuyện gì. Tôi nghĩ, ngày xưa ông là một vị thẩm phán nổi tiếng cương trực, sao lại bị buộc vào một tội nào đó. Hay ông cựu nghị sĩ buồn vì đọc thấy câu nói của ông Sáu: “Đấy, NS Tâm còn nương tay, đến lượt NS Nguyễn văn Chức thì ông đem hết những lời lẽ rất nặng ký, như những cú đấm thôi sơn nhắm thẳng vào Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, làm lung lay luôn cả chế độ. Do đó, bọn Cộng Sản chỉ đạp nhẹ thôi, miền Nam đã nhào trái. Đây, Vân xem tài hùng biện của một luật sư ‘ (Tr. 73).

Tôi nhớ năm ấy ông gọi tôi vào một chiều mùa đông, khác với quê nhà, nơi xứ lưu vong này trời lạnh căm căm, tôi càng thêm bùi ngùi sau khi ông vừa dứt lời.

Tiếng Hờn Chân Mây

baovecovang2012.wordpress.com

Trần Thy Vân

Posted on February 10, 2013 by Lê Thy

Post by Sơn râu 25 Aug 2024

Google photo

Chương 5

Thành Phố Cũ

Thấm thoát, chiếc xe đò cũ kỹ, nhét vội mấy mươi người, đã rời khỏi Sa Huỳnh, chạy thâu đêm xuyên qua Bình Định, Khánh Hòa, sáng nay thì dừng lại ở xóm Động.

Phan Rang đây rồi sao? Ngày trở về có anh thương binh, tổ quốc đã dành cho một sự trừng phạt, mất nửa phần thân thể vẫn chưa chai đá, để còn biết hổ thẹn. Phan Rang, thành phố cũ, của mười năm trước tôi thôi học lên đường tòng quân với mộng ước quê hương sẽ sạch bóng thù, mà nay tôi như kẻ xa lạ giữa khung trời ảm đạm, lớp phế hưng che khuất đường về với những ánh mắt thân thương, bao nụ cười tuổi đại. Tôi ngơ ngác, lạc lõng…

Thành, người bạn mới quen, lăng xăng lấy hành lý và nhờ các phu khuân vác đưa chiếc Honda ba bánh trên mui xuống. Xong, Thành và tôi, cả hai như bất động, đứng nhìn nhau, dù sâu kín cũng không giấu được một nỗi buồn hiện rõ trên mỗi nét mặt. Tôi ở đây, Thành thì đổi hướng tiếp tục lên Đà Lạt, biết bao giờ gặp lại.

Rất tiếc, qua một chặng đường dài mệt mỏi, hai đứa ngủ gà ngủ gật, chưa kể hết cho nhau nghe những mẩu chuyện về thân phận những kẻ chiến bại sa cơ, bị đọa đày dưới chế độ bạo ngược này, nhưng Thành cũng rất tâm đầu ý hiệp với tôi từ lúc xe ngừng tại Sa Huỳnh.

Trước phút chia tay Thành biết tôi chưa dứt khoát về đâu, nhà Huệ, cô em gái cùng cha khác mẹ của tôi có chồng dưới Vân Sơn, gần Ninh Chữ. Trên bước đường lánh nạn thế này, tôi không muốn lụy tới Huệ. Còn ông bà ngoại sắp nhỏ trên ấp Phủ Thành, Thuyền Cũ, thì cũng ý hướng đó. Thấy tôi mãi lưỡng lự, Thành chạnh lòng đổi ý, bỏ ngang chuyến xe lên Đà Lạt, anh đưa tay chỉ cái quán ăn bên kia đường, nơi khu Tam Giác:

– Vào đó kiếm gì lót bụng, mọi chuyện tính sau. Tôi hiểu tâm trạng Vân, như kẻ đứng giữa ngã ba đường.

Không đợi tôi gật đầu, Thành vội vứt hai túi xách lên phía sau chiếc Honda ba bánh, rồi hì hục dắt bộ, tôi lăn xe theo.

Tuy quán vắng khách, Thành vẫn ngại hai đứa có thể hớ hênh không ý tứ, nói năng “phản động”, nên đưa tôi vào ngồi bàn trong cùng.

Bà chủ còn trẻ, gật đầu chào và giới thiệu thực đơn:

– Sáng nay chỉ có bún tươi với mắm nêm.

Thành nói:

– Được! Cho hai tô, bỏ ớt tỏi nhiều, rau nữa.

– Phan Rang này khỏi nhắc mấy thứ đó? Phải không, anh Thy Vân?

Tôi giật mình, ngước nhìn người chủ quán:

– Sao biết tên tôi hay vậy?

Với nụ cười mủm mỉm, bà vừa cầm khăn lau các vệt nước loang lổ trên mặt bàn vừa hỏi lại:

– Làm như tên anh đẹp lắm! Không nhớ ai đây sao?

Tôi nhíu mày:

– Nhớ sao nổi…

– Anh biệt xứ cả chục năm, quên hết! Hân học Duy Tân đây, nhớ chưa? Tụi bạn nói anh đi Biệt Động Quân bị thương cụt hết hai chân trong trận nào đó ngoài miền trung, nay Hân mới thấy. Sao dữ vậy?

– À… Hân cùng lớp ngày xưa với tôi. Xin lỗi, vì Hắn bây giờ đẹp hơn thời thiếu nữ, hay vì tôi tàn phế, lẩm cẩm không nhìn ra cô bạn cũ. Chồng đâu Hân?

Nghe tôi hỏi, Hân đổi sắc mặt, từ vui qua buồn, đôi môi mấp máy, muốn khóc:

– Tù rồi…

Cô bạn miễn cưỡng trả lời xong vội đi xuống bếp. Vì chưa thấu hiểu tâm trạng của nàng, tôi nói với theo:

– “Học tập cải tạo” chứ tù gì, Hân!

Nàng quay lui:

– Anh cũng nói vậy à?…

Hân im lặng một giây sau câu hỏi vặn lại ẩn ý trách móc, rồi nàng vừa run rẩy vừa trút ra một tràng lời cay đắng:

– Huân, chồng tôi, không tuân hành cái lệnh hèn nhát của tổng thống phản quốc Dương văn Minh, bảo toàn quân buông súng đầu hàng, giao nạp vũ khí, cả mạng sống của mình cho kẻ thù. Cái lệnh ngu xuẩn ấy tiếp tay giặc chiếm miền Nam, sẽ còn ám hại đến ba đời chứ không riêng thế hệ này. Huân không thể làm “hàng thần lơ láo”, tự trình diện “học tập cải tạo, để bản thân, đất nước ô nhục. Huân vào rừng, thà hợp tác với Fulro tiếp tục chiến đấu như ngày nào. Dĩ nhiên, anh đã phải sa cơ, bị Cộng quân, lũ cướp nước, bắn trọng thương ờ Hữu Đức tháng Sáu vừa qua… Như vậy mà gọi là “học tập cải tạo,, sao anh Vân?

Tôi tối mắt, mặt sa sầm xấu hổ. Lời nói tôi vô tình chạm đến nỗi đau đớn của người bạn học có chồng là một chiến sĩ bất khuất, đang chết dần mòn trong bàn tay sắt máu của giặc cướp phương Bắc.

Thành cũng kém vui, anh phân bua:

– Vân dùng cụm từ đó là để che mắt bọn gian ác, cô Hân!

Xong, Thành gật gật cái đầu, tỏ vẻ đắc ý. Câu Thành nói như một châm ngôn, đã hóa giải được sự tự ái của hai người, hôm qua tôi tại Sa Huỳnh, hôm nay đối với Hân.

Chắc chưa nguôi giận, gương mặt Hân còn lộ nét chua xót khi đến đặt bình trà trên bàn và không buồn nhìn tôi như lúc mới gặp nhau. Hân chậm rãi rót nước ra hai ly, thái độ chần chờ một điều gì.

Tôi nói khẽ:

– Xin lỗi nghe Hân! Huân khí khái thật? Hân à, tôi không buồn vì những lời đay nghiến ấy, mà còn muốn đón nhận sự nguyền rủa nặng hơn.

Hân im lặng. Thành thì không nắm bắt được ý của tôi, vội chuyển qua đề tài khác, đánh trống lảng, và cũng để thay đổi bầu không khí hơi u ám, anh hất cằm hỏi tôi:

– Hân vừa đề cập đến Hữu Đức, là ở đâu?

– Một làng Chàm, thuộc quận Bửu Sơn, nằm heo hút phía tây Phan Rang, cách đây trên mười cây số. Cảnh trí nên thơ, có núi sau lưng, có sông trước mặt…

– Vân tới rồi?

– Hồi còn học trường Duy Tân Phan Rang, tôi thường theo mấy người bạn Chàm Năng Xuân Bì, Quảng Đại Banh, Hán Thanh Tủ, Đàng Năng Hồi… về chơi các miền quê cố quốc Chiêm Thành mỗi dịp hè ở Hữu Đức, Cà Na, Chất Thường, Công Thành, Bà Dày, và vào tuốt Mỹ Nghiệp tán tỉnh các cô trong đội vũ Chiêm từng đi lưu diễn nhiều nơi… Vui nhất là những lần dự đám cưới, tụi này phải lưu lại hai ba ngày, ăn uống thoải mái. Người Chàm hiếu khách, tiếp đón niềm nở, nhà luôn luôn sẵn sàng hàng chục đôi chiếu để khách nằm. Tụi tôi hay lui tới nơi nào có con gái. Mỗi lần vậy thì cha mẹ lánh mặt hết, nhường nhà trên cho các cô cậu tự do đùa giỡn suốt đêm. Nhưng chớ bao giờ dại dột tán tỉnh công khai, hay nói: “Ai ních tài lô” (anh yêu em) là chết…

Thành cười khật khật:

– Sao vậy?

– Đề cập đến yêu đương tức thuộc về hôn nhân, rất quan trọng. Người Chàm theo mẫu hệ. Nếu cha mẹ cô ta nghe được câu tỏ tình ướt át thì lập tức họ yêu cầu cả bọn về ngay, như đuổi khéo để họ hỏi ý cô con gái cưng, nếu thuận sẽ đem lễ vật đến cưới. Tục lệ người Chàm phải bắt rể. Trai kinh đừng hòng có chuyện đó, chẳng bao giờ các cô đáp lại: “Tài lô ai ních” (Em cũng yêu anh), và được nghe hát bài: “Em sẽ đưa anh về, về quê hương Chiêm quốc…”. Ngược lại, con gái kinh mình cũng lắm cô bắt chước Huyền Trân Công Chúa. Tín ngưỡng, người Chàm theo hai đạo, Bà La Môn và Bà Ni hay Bà Chăm, chắc đạo Hồi. Một bên cữ thịt heo ăn thịt bò, bên thì ngược lại…

– Vân cữ món nào?

Tôi nhìn Thành:

– Tôi hả? Vì đạo “trung dung” cửa giữa, tôi đớp láng cả hai, thịt heo lẫn bò, cho bỏ ghét.

– Gái Hời sao?

Tôi trừng mắt:

– Sao là sao, ý anh muốn hỏi gì? Đừng gọi Hời. Con cháu Chế Bồng Nga bây giờ văn minh lắm, có nhiều học giả, văn nghệ sĩ nổi tiếng.

– Nước Chàm có bao đời trước, đâu phải Chế Bồng Nga, vua đầu tiên? Chắc Thy Vân thích cái tên đẹp đó?

– Đúng vậy. Thế kỷ thứ 2 đã có nước Lâm Ấp, sau gọi là Chiêm Thành, giang sơn từ đèo Ải Vân đến Phan Rang, Ninh Thuận (có sách viết từ Quảng Bình đến Bình Thuận), dải đất hiền hòa, dân tình đôn hậu. Khoảng cuối thế kỷ 17 thì quê hương Chàm bị xâm chiếm, chỉ còn hồn, chứ quốc đã bị xóa tên trên bản đồ. Sở dĩ tôi nói họ là con cháu Chế Bồng Nga, vì ông vua này rất được dân Chàm quý trọng. Theo sử sách, nước Chiêm thời hậu bán thế kỷ 14 cường thịnh nhất. Vị anh hùng ấy đã dám đem quân ra đánh thành Thăng Long, khiến vua tôi nhà Trần phải thất điên bát đảo, chạy trối chết. Nói đến sắc thì tuyệt vời. Thoạt nhìn dung nhan các nàng rất uẩn khúc, lúc nào cũng “Hận Đồ Bàn”, nhờ nước da ngăm ngăm, không đen không trắng, tiếng Việt thiếu từ chính xác để diễn tả, thích hợp với xiêm y lộng lẫy, tha thướt, làm tăng thêm vẻ đẹp liêu trai của các cô gái Chàm. Quốc mất hồn còn. Tôi không nhìn hồn qua phong tục tập quán đặc thù họ giữ được đến ngày nay và chắc sẽ mãi mãi, mà trên khóe mắt u buồn người Chiêm nữ. Thuở đi học tôi có làm bài thơ tặng một cô gái Chiêm tên B. trong ban vũ truyền thống ở Mỹ Nghiệp. Nghe tôi đọc:

HUYỀN SỬ

Huyền thoại ca một mùa xuân lịch sử
Chiêm quốc kiêu hùng vó ngựa ba quân
Ngày em về ngàn xiêm y rực rỡ
Trăm lời ca trăm họ nước non Chàm.

Nay còn đâu giang sơn ta cẩm tú
Nét đẹp thiên hương màu mắt giai nhân
Ngàn năm sau em vẫn là huyền sử
Hồn Chế rêu phong thành quách điêu tàn. . .

Thành lắc đầu và thở dài:

– Sao nó giống tâm trạng mình quá, Vân ơi? Mình có khác họ đâu, nước mất nhà tan vì giặc Bắc. Kìa, Hân đem bún lên. Ngon, nay mới có dịp ăn lại mắm nêm Phan Rang…

Anh vừa nói vừa lụp chụp chan mắm vào tô, như đói đâu lắm. Tôi hầm hừ anh:

– Làm mất hứng. Tôi đang thả hồn thơ, tưởng tượng tôi là Chế Bồng Nga đang triệu giai nhân tên B vô cung múa quạt để “trẫm” xem, anh lại reo lên “mắm nêm!”, và chưa ăn đã biết ngon. Trộn xà bần rau bún lẫn nhau. ăn trưa luôn đó!

Hân đứng bên cạnh, thấy vui nàng mỉm cười:

– Các anh có nghĩ mai đây thiên hạ sẽ lấy mắm nêm, búp chuối làm chuẩn không?

Tôi đáp:

– Nữa, hết mắm nêm giờ tới búp chuối, mà làm chuẩn với thứ gì chứ, cơm gạo Nàng Hương thơm phức hay với sắn luộc đắng ngắt?

– Chọc tức hoài. Nàng Hương chỉ ở xứ Quảng anh thôi!

– Trật! Giống gạo tuyệt vời đó gốc Huế, ngày xưa họ chỉ trồng cho vua chúa ăn. Dân đen không được vớ tới. Huân bị nhốt ở đâu? Hân có đi thăm?

– Gần Di Linh. Thăm ảnh mới hai lần.

– Cho gởi lời thăm, nghe!

– Vô duyên, Huân có biết anh đâu mà nói?

Tôi lấy tay bóp trán:

– Quên, lẩm cẩm thật?

Hân kéo cái ghế sát vào đầu bàn và ngồi xuống:

– À, hôm trước Hân gặp Nhẫn vợ anh đi chợ Dinh. Lát về Thuyền Cũ, Phủ Thành chứ?

– Hân hỏi ai?

– Anh chớ ai?

– Ồ chưa biết sao đây. Hân làm mỗi đứa một tô nữa, nhớ đừng quên hai món “chuẩn”.

Nàng vừa đứng dậy vừa hỏi gặng:

– Sao chưa?

Tôi gác đũa:

– Thôi, đừng nhắc người ấy!

Thành xen ngang:

– Ăn xong mình vọt thẳng Đà Lạt chơi.

– Chà, bất ngờ ghê! Như tôi kể đêm qua, dù ông bà ngoại sắp nhỏ xúi vợ chồng tôi thôi nhau, tôi cũng phải đến thăm, nhân tiện dắt vài đứa con theo để nhờ. Có chúng nó bên cạnh mình bớt cô đơn.

– Chuyện dẫn con đi, dù vài đứa, không đơn giản đâu, và cũng chưa thuận tiện trong lúc này, phải chờ cơ hội. Vân lên chơi ít hôm để biết nhà và đủ thời gian bàn tính.

Ý kiến người bạn mới quen mà đã thông cảm hoàn cảnh, tôi đành nhắm mắt đưa chân:

– Được, mình chạy chiếc Honda ba bánh này, nhưng phải ghé qua thăm mấy đứa con một chút, nhớ quá!

– Xe chở hai thằng lên dốc Sông Pha nổi không?

– 72 phân khối lận, mạnh lắm? Từng chở trên cả trăm ký. Dốc Sông Pha ăn nhằm gì, đèo Ải Vân nó còn phóng lên như tên bay. Thành ngồi đằng sau, lưng dựa cái túi dết và ba lô. Xe lăn thì xếp để trên khung sắt bên hông.

Thành bảo Hân tính tiền. Nàng lẩm nhẩm:

– Bốn tô 100 đồng chẵn.

Thành lấy đưa tờ giấy 200:

– Khỏi thối. Xin tạm biệt, chúc Hân gặp nhiều may mắn.

Tôi nhìn Hân vẻ xúc động:

– Tôi cũng mong vậy, nhất là Huân sớm bình phục về với Hân, người vợ quý.

Xong, tôi lăn xe ra khỏi quán. Tội nghiệp cô bạn, đứng im lặng nhìn theo, nàng mỉm cười mà như muốn khóc, biểu lộ sự cảm nhận thân phận lạc loài của người thương binh ngay trên đất nước mình.

Tôi nổ máy, chạy vào con đường ngày xưa có tên là Khải Định, nhắm hướng Phủ Thành, nơi mười năm trước, Tý cùng tôi trốn học đi chơi bị ông anh nàng bất gặp về mét mẹ đánh đòn. Thấp thoáng, dọc hai bên lề, từng tốp bộ đội mang súng đi lang bang, mắt láu liên nhìn quanh, trước những ngôi nhà im vắng, buồn tẻ.

Tôi gợi chuyện:

– Thành à, gặp tôi chắc sắp con mừng lắm. Tôi vẫn chưa tin đã thực sự đổi đời. Lẽ nào mất nước là mất tất cả, như lời ai nói đó!

Anh sửa lại thế ngồi, áp sát lưng tôi và nói nhỏ bên tai:

– Đừng bi quan. Còn nước còn tát…

– Nước non gì nữa? Mới ngày nào đây một quân đội hùng mạnh giờ đã tan rã, khiến lớp chết lớp tù đày, một số cao bay xa chạy ra nước ngoài…

– Lúc nãy Hân có đề cập chuyện Fulro, nhóm Huân hợp tác. Tuy anh đã bị thương và ở tù, nhưng các tổ chức kháng Cộng vẫn còn. Vân biết Fulro chứ? Nhớ trả lời nhỏ, kẻo tiếng nói vọng xa phía trước, khách bộ hành họ nghe.

– Fulro, tên một tổ chức người Thượng: “Mặt Trận Thống Nhất Đấu Tranh Các Dân Tộc Bị Áp Bức”, nổi loạn ở Buôn Mê Thuột từ thời Đệ I Cộng Hòa, với yêu sách quá lớn, đòi tự trị cả cao nguyên trung phần. Bất thành, họ ly khai chống chính phủ. Tổng Thống Ngô Đình Diệm sai Tướng Tôn Thất Đính lên hòa giải không được, Fulro vẫn ngoan cố, và vì đa số là quân nhân sẵn có vũ khí, liền vào rừng lập chiến khu. Và mùa thu năm 1964, Fulro nổi lên chiếm cả một buôn lớn ở Buôn Mê Thuột. Họ cũng đánh luôn Việt Cộng mười năm nay, nên rơi vào thế lưỡng đầu thọ địch.

Năm 72, trên đường ra tái chiếm Quảng Trị, Tiểu đoàn 21 Biệt Động của tụi tôi đã đôi lần chạm súng với Fulro trong một thung lũng phía tây An Lỗ, Huế. Lạ, tầm hoạt động của Fulro ra đến vùng I. Tuy quân số ít, mà họ rất can đảm. Bất đắc dĩ phải đánh nhau chứ Fulro không nặng lòng thù hận với người Quốc Gia. Do đó chồng Hân dựa được đám loạn quân mà bây giờ ta mới thấy hữu ích, họ chống Cộng còn hơn mình.

Một lợi điểm nữa, lực lượng Fulro có sự kết hợp với người Chiêm. Tôi nghĩ chắc Thượng-Chàm dựa dẫm nhau để tranh đấu Tôi nhớ 1964, người Chiêm lại đòi hỏi tiếng Chàm phải được dạy ở các trường học, nhưng chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không thuận. Dịp hè năm đó, từ Tháp Chàm tôi cuốc bộ vào Hữu Đức chơi, nửa đường dừng chân bên một con sông nhỏ, điểm hẹn, chờ người bạn Chàm tên Bì cỡi ngựa ra đón. Khi gặp nhau, Bì lại nghiêm sắc mặt bảo. tôi quay lui gấp, vì trong làng đang có cuộc họp lớn, bàn nhiều vấn đề trọng đại, sẽ tổ chức chống chính phủ. Tôi vội trở về.

Vì sự cảm mến nên đã hai lần tao ngộ chiến năm 1972, dĩ nhiên Fulro bỏ chạy, mà lần nào tôi cũng không thúc Đại đội 1/21 Biệt Động Quân truy kích theo, vì ngại rằng lính tôi sẽ bắn nhầm, biết đâu trong số ấy có người Chàm chưa hề phản nghịch, lại là bạn học chung trường Duy Tân Phan Rang với tôi ngày nào…

Thành vỗ vai tôi:

– Có dịp tôi kể nhiều câu chuyện huyền thoại giữa vùng rừng núi tam biên Lâm Đồng, Bình Thuận và Ninh Thuận.

“Có dịp”, nghĩa là Thành chưa thể kể lúc này. Không buồn nhìn lui anh, tôi vặn thêm tay ga cho xe phóng nhanh trên con đường quen thuộc mà buồn tênh.

Quê hương ơi, tôi đã trở về thành phố cũ thân thương, xin đừng xua đuổi nữa…