Chiếc bánh và người lính trận

Đoàn Xuân Thu

Posted on July 13, 2025 by dongsongcu

Postr by Sơn râu 19 Aug 2026

Kỷ niệm 50 năm Sài Gòn lọt vào tay Cộng Sản (1975-2025)

Đoàn Xuân Thu – 9 tháng 7, 2025

Hình minh họa: ĐT)

Chiếc bánh nhỏ và người lính già: Một chuyện tình người giữa thời buổi bạc màu.

“Hẹn mai gặp lại.” Câu nói tưởng đơn giản, nhưng là cả một bài học nhân sinh: Giữa thời buổi lọc lừa, chỉ cần một chút tình người cũng đủ cứu một linh hồn.

Người lính già ấy không cần lời xưng tụng. Ông không cần biểu ngữ, không cần rải hoa đón chào. Điều ông cần là một chỗ đứng nhỏ trong trái tim người đời, để biết mình vẫn còn hiện hữu. Sáu năm trời, ông sống trong im lặng giữa những bận rộn của một nước Mỹ quay cuồng với điện thoại thông minh, xe tự lái và mạng xã hội, nơi mà nỗi buồn của một người cựu chiến binh không còn ai nghe nữa.

Có lẽ ông đã chết. Không phải vì đói. Mà vì không ai nhớ đến ông. Cho đến một ngày, cô thợ làm bánh trẻ tuổi ấy đã lặng lẽ bước qua đường, tay cầm một chiếc bánh mì mới ra lò, trao cho ông, và một câu: “Hẹn mai gặp lại.”

Câu đó không phải là một phép màu. Nhưng trong khoảnh khắc đó, nó là lý do duy nhất khiến ông dừng lại, chưa gieo mình khỏi cầu, chưa rút súng kê vào đầu trong bóng tối.

Có biết bao cựu binh Mỹ sau chiến tranh Việt Nam đã rơi vào tình cảnh tương tự. Họ không chết vì chiến trận, mà chết vì bị quên lãng trong hòa bình. Bao nhiêu người mang vết thương vô hình trong tâm khảm, khó lành hơn cả cụt tay hay mù mắt. Những tiếng trực thăng đêm, tiếng nổ đì đùng, những người bạn ngã xuống ngay bên cạnh, tất cả vẫn nằm đó, trong trí nhớ không chịu nguôi.

Đáng lý họ phải được vinh danh như những người đã đứng lên vì lý tưởng chống cộng sản, bảo vệ một quốc gia tự do tên là Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng không. Khi nước Mỹ rút khỏi Sài Gòn, mọi thứ bị bôi đen là “cuộc chiến vô nghĩa.” Họ bị cười chê, bị xem là thất bại, là biểu tượng của một chính sách sai lầm.

Trong khi đó, kẻ chiến thắng chế độ Cộng sản miền Bắc lại tự phong mình là “giải phóng quân,” che giấu đi vô vàn tội ác sau lá cờ máu. Họ “giải phóng” bằng cách đày hàng trăm ngàn sĩ quan, công chức, trí thức miền Nam vào trại cải tạo. “Giải phóng” bằng cách bắt dân lên vùng kinh tế mới, để lại những khu phố ma trống rỗng. “Giải phóng” bằng việc biến cả một đất nước văn minh thành một trại lính, nơi mà lời ca tụng lãnh tụ quan trọng hơn cả bữa cơm no.

Và suốt nửa thế kỷ sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975, họ vẫn không một lần nhận lỗi. Không một lời xin lỗi cho hàng triệu người đã chết trên Biển Đông, trong trại tù cải tạo, hoặc trong các cuộc thanh trừng chính trị bằng lý lịch địch ta.

Tệ hơn nữa, họ lại ra sức tuyên truyền trong nước và ngoài nước rằng: chiến thắng đó là chính nghĩa. Là “khúc khải hoàn ca” của dân tộc. Họ viết lại lịch sử, nhồi sọ cả một thế hệ rằng miền Nam là tay sai, là phản động, là cần bị tiêu diệt.

Nhưng sự thật không thể bị chôn vùi mãi mãi.

Và điều cảm động hơn cả là: ông không hề đơn độc.

Không phải tất cà mọi người đã bỏ quên ông.

Sự thật sống trong ký ức của những người như Emily, tuy không có mặt trên chiến trường, nhưng bằng tình thương vô vụ lợi, đã cứu lấy một mảnh hồn từng bị rách nát bởi chiến tranh. Sự thật sống trong ánh mắt cay xè của Thượng Sĩ Daniel Reid, khi ông ngồi giữa dàn lính danh dự, chậm rãi nhấp tách cà phê, nghe bản nhạc cưới vang lên trong lễ đường như một điệu khúc phục sinh cho chính đời mình.

Sự thật sống trong tiếng vỗ tay đứng dậy của những người có mặt hôm ấy, những người nhận ra rằng: dù có ai quên đi người lính, nhưng chúng ta thì không.

Năm mươi năm kể từ ngày Sài Gòn thất thủ, có những người Việt vẫn phải sống lưu vong, không phải vì hết yêu quê hương, mà vì quê hương không còn nhận ra họ. Có những người lính VNCH đã ngã xuống, không có mộ bia. Có những người còn sống thì nghèo túng, tật nguyền, bị gọi là “ngụy quân, ngụy quyền.”

Và trong khi đó, các thế hệ mới lớn lên tại Việt Nam thì chỉ được dạy rằng: Cộng sản là chân lý, là anh hùng, là vinh quang.

Chúng ta viết bài này không phải để khơi lại hận thù.

Chúng ta viết để không quên.

Để ghi nhớ rằng giữa một thế giới đầy dối trá, vẫn còn có Emily. Vẫn còn có những chiếc bánh mì âm thầm được trao đi như ánh lửa nhỏ trong đêm đen.

Và còn có những người lính như Daniel Reid – người đã từng chực ngã xuống, nhưng rồi lại đứng lên, chỉ vì ai đó nói với ông những tiếng giản dị: “Hẹn mai lại gặp.”

Chúng tôi không biết Emily hôm nay ra sao. Có thể cô đang ở một nơi yên ả nào đó, tiếp tục nướng bánh mỗi sáng. Có thể ông Daniel Reid đã rời thế giới này. Nhưng chắc chắn, cái khoảnh khắc giản dị giữa cô và ông sẽ sống mãi, như một chứng từ rằng: Tình người thật sự có thể cứu rỗi thế gian.

Và cũng là một lời nhắc: Tội ác chiến tranh của CS Bắc Việt không bao giờ nên được tôn vinh bằng diễu binh và biểu ngữ. Nó phải được họ ghi nhớ bằng nước mắt, sám hối ăn năn, và sự thật.

(Melbourne)

Chia tay

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 11/01/2018 
Post by Sơn râu 19 Aug 2026

Montreal snow scene
Darlene Young

Sáng nay trời ửng chút nắng. Nhiệt độ leo lên được con số 3, độ C. Nàng Bạch Tuyết mới làm tình làm tội phủ ngập người mà giờ này lại cựa mình, bắt đầu tan chảy, tựa niềm vui hiếm thấy, chẳng mấy khi gặp. Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ? Câu này đúng mấy phần, sai bao dặm? Chớ thắc mắc. Chỉ nên tin vào thống kê người ta cất công nghiên cứu: Ngoại cảnh u sầu ám nặng trong mùa đông đã ảnh hưởng tới tâm lý và sức khoẻ con người, dẫn tới số tử vong cao nhất so với ba mùa Xuân Hạ Thu còn lại trong năm. Nôm na, qua khỏi mùa Đông thì trên các mặt báo sẽ thưa bớt những ô phân ưu chia buồn bao kẻ bạc mệnh nhác chơi với cuộc lữ. Và mùa đông chốn này, eo ơi nó lê thê kéo dài, giết người không gươm đao bằng cái miên man nọ. Đứng tuổi mới dạ cảm hoài kiểu ấy, chứ thanh niên trai tráng lại phán: Chỉ teo bu-gi chút đỉnh. Chuyện nhỏ! Già cả đâm bất tiện các thứ. Nó teo lại là chết chắc đấy con ạ!
Trời ấm, phải tận dụng màu vàng eo xèo của nắng yếu, tôi cầm đùi lẻ chống cây ba-toong đi bộ ra đầu đường gió nhẹ mơn man. Chim bồ câu tụ bầy trên mái giáo đường đứng gật gù rỉa lông thì thầm bao cung bậc đầy trắc ẩn. Điều này đồng nghĩa là chưa đúng ngọ, tháp chuông gắn phía sau nhà thờ sẽ đổ nhịp lúc 12 giờ trưa. Chim chóc cũng biết hưởng thụ giây phút thanh nhàn trong yên ả. Chúng sẽ bay đến nơi khác trước khi hồi chuông đổ tràn ra điệp trùng tiếng kinh cong. Tôi chưa từng xét nghiệm lòng mình về phản ứng khi nghe chuông giáo đường mãi tạo sóng. Tôi chỉ nghe bất an khi cúi đầu hứng chịu tiếng mõ cùng những đoạn kinh khó hiểu rót vào tai. Và hương hoa, và nhang đèn, và hương khói… Một thứ buồn vào hồn không tên!

Quán cà phê quen thuộc bữa nay có thay đổi cách trưng bày làm như mùa xuân đang ngấp nghé bên ngoài hàng hiên. Chỉ chút nắng tạo ra vệt vàng tấp vào cửa kính cũng đủ đóng khung bức tranh trông sinh động. Tấm bảng gỗ thường viết phấn màu quảng cáo món đặc biệt trong ngày cũng như kê khai một loạt thức uống đã được thay bằng hàng chữ huê dạng: “BOOK, the only thing you can buy that makes you RICHER”. Ủa, giờ này mới biết là sách chứ không phải vé số. Vậy mà bấy lâu cứ đè vé số cá cược may rủi với thần tài đỏ đen, mấy tiền cũng hết răng chưa mua được tiên? Giàu và nghèo, hoá ra không nằm riêng ở khoảng số tiền anh đang sở hữu được. Một ông homeless râu ria ra rậm rạp ngồi trụ ở góc đường đang hí hoáy làm thơ bỏ quên thế sự sầu não thì không hẳn đích thực là kẻ vô sản nghèo rớt mồng tơi đâu nhé, bởi đơn giản đứa tiền rừng bạc biển chưa chắc đã rung động con tim để tạo ra vẻ đẹp, dẫu phù du.

Khi tôi gọi xong ly cà phê và chọn được cái bàn có hai ghế trống thì bạn tới. Bạn tôi nằm trong danh sách những người thôi lao động ở trường đời, ăn tiền già, ăn hưu non hoặc hưởng một thứ trợ cấp nào đó từ chính phủ quan tâm đoái hoài chi viện. Tiền bạc rủng rỉnh tuy chẳng dư thừa nhưng thời gian thì giàu sụ chẳng biết cách tiêu cho hết. Rất đại gia. Đó là những ca sĩ nghiệp dư chỉ biết hát có đôi bài tủ, đại loại: Ôi, ta buồn ta đi lang thang bởi vì đâu… Hoặc: Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa… Rất thân bại danh liệt.

Ông có thấy tấm bảng dựng ở cạnh cửa không? Bạn hỏi. Tôi khuấy ly cà phê đen, chậm rãi: Do đâu mà chúng đổi menu lạ thường vậy không biết! Những cuốn sách long bìa tróc gáy bám bụi dựng sát vách kia thuần chỉ là món dùng để trang trí. Người bạn cởi bớt áo xống móc ở lưng ghế: Chừng nào ông tính in một cuốn sách? Tôi ngó vào mặt kính cận mờ đục hơi ẩm nơi gương mặt người đặt câu hỏi để nhớ lại những dự tính chẳng mấy thiết tha. Hình như đêm tụ họp ăn tất niên cùng nhau, tôi lỡ vung vít: Sang năm mới tôi sẽ thực hiện hai điều có hơi lạc hậu, một là tự mở cho mình trang facebook, hai là in một tập truyện ngắn. Thầm thà thậm thụt kiểu nói trước bước không rời. Ngó trước trông sau, nghiệm thấy chẳng mấy vui. Bất ổn và bất khả. Chắc phải về cố quận để hỏi cho ra lẽ: Hồ hởi phấn khởi nghĩa là gì? Rất hoang mang!

Người bạn tháo hai con mắt xuống để lau cho trong trẻo, hai mắt còn lại tuồng như chưa hề ngủ tròn giấc. Khi lấy cặp kính cận ra, gương mặt bạn lộ rõ những tàn phai ghi dấu, tựa một trang lưu bút đã chịu qua nhiều giở lật. Ngày xưa bố mình tuy nghèo nhưng ông luôn hào sảng chuyện mua sách cho con cái. Bố mình bảo, sách là người bạn chung tình không hề phản bội. Anh mình thì ví von: Đàn bà giống như một cuốn sách mà chúng ta khó đọc xong. Bạn thôi nói khi mang lại vật bảo vệ cửa sổ tâm hồn. Tôi bắt gặp một dung mạo quen thuộc cũ. Tôi kể cho người bạn nghe một mẩu chuyện hài với tựa đề “Sách, đôi khi không tốt”, có anh chàng nọ rất yêu hoa, bỏ tiền mua bao kỳ hoa dị thảo mang về trồng vun xới làm khu vườn trông lung linh huyền ảo. Ngày kia, đi làm về mặt anh biến sắc khi nhìn ra sự trơ trụi xác xơ của khu vườn trong khi vợ anh thì đang nghiền ngẫm cuốn sách Nghệ Thuật Cắm Hoa. Người bạn cười thành tiếng: Vậy thì đã có thêm người đồng ý rằng đàn bà là một cuốn bí kíp hóc hiểm.

Tôi nói e là vậy, vì những cuốn truyện nhiều tình tiết mãi lôi cuốn đều chứa đựng đôi ba hình ảnh của quý vị nữ lưu. Thi ca cũng thế, riêng khoảng diện mạo và thể hình của “nàng” cũng khiến anh hồn xiêu phách lạc, ca ngợi đủ mọi ngôn từ. Món phở nổi đình nổi đám hơn cơm là có nguyên cớ bên trong. Người bạn cho hay mấy năm qua để dành được một ít tiền đặng về thăm nhà trong nay mai. Xa quê hương thì lúc nào cũng nhớ mẹ hiền, bạn bổ túc thêm, và nếu về êm xuôi mình sẽ quyết dùng văn hoá phong bì để được đi vào tù thăm thú phạm nhân Nguyễn Hoàng Tâm. Rất ấn tượng tay này, chỉ mới có 30, tuổi trẻ tài cao mình ên đi xe máy vào Thành nội Huế, cướp ngân hàng BIDV gần cửa Đông Ba lấy đi 800 triệu đồng chỉ trong vòng 12 giây. Ung dung ra nổ máy xe chạy thoát trong lúc nhân viên bảo vệ chưa kịp phản ứng. Tuyệt! Đạo diễn phim hình sự cũng chả dám viết ra được một kịch bản thần sầu như rứa. Ôi chao, con cái nhà ai mà giỏi dang rứa bây! Rất đáng ngưỡng mộ.

Cà phê chỗ này uống được quá đi chứ? Nhâm nhi gần hết ly mà sao giọng người bạn nghẹn như chưa thông cần cổ: Sáng nay mình xem tin tức phát sóng trên đài VTV: Ở Việt Nam vừa phát hiện ra đường dây buôn người. Người được mua đứt với giá từ 300 đến 500 triệu. Mua xong mang về phân loại: Bắt mắt thì thời gian đầu cho làm gái mại dâm, thời gian sau đem bán cho bọn đang cần vợ. Xấu xí thì chuyển đến trại chuyên mổ lấy nội tạng. Mua nhanh bán chạy đắt như tôm tươi là các trẻ sơ sinh…

Có hoang đường không? Những cuốn sách fiction cũ mốc dựng chật một góc kia có tác giả nào viết được một tình huống ấy? Mạng người sao rẻ rúng, sao túng quẫn, sao nằm mơ cũng chẳng ngờ tới nhường kia? Vậy thì khi anh cướp ngân hàng được tới những 800 triệu, buồn tình anh có thể mua luôn hai bà vợ một lúc nhỉ? Biết xài sao cho hết! Vào lúc 30 tuổi, thời đó chúng mình có làm được gì đâu. Sao đẳng cấp bằng! “Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi, van nợ lắm khi tràn nước mắt” như cụ Tú Xương mà thấm béo gì. Tình huống căng hơn nhiều. Kể làm răng cho hết. Cháu con nó hoàn cảnh lắm cụ ạ! Nhưng an ủi một điều, chúng nó chưa đánh mất nhân tính, chúng bổn thiện, chúng biết hổ ngươi khác xa thời buổi đương đại này.

Tôi hỏi: Vậy thì bạn còn giữ nguyên tính bổn thiện không. Mang thứ hành trang ấy về không chừng mà thua thiệt đấy. Sách xưa có dạy “Đi với Phật mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”. Trước đây bạn mắng những thằng Việt kiều sao giờ này lại giở thói sáng nắng chiều mưa tiền hậu bất nhất. Người bạn ngồi rụt cổ: Thôi mà, chớ gắp lửa bỏ tay người, cho em nhờ tí! Hãy xem như mình đang âm mưu viết nên một cuốn tiểu thuyết và về lại chốn cũ là cách đi thực tế. Va chạm, chung đụng, thu gom tư liệu làm giàu vốn sống. Mình tin là sẽ hấp dẫn hơn chuyện Liêu Trai Chí Dị.

Tôi ngó người vừa đơm mộng ước để tự nhủ lòng, cho hắn bon bon chạy mà chớ thọc gậy bánh xe. Ừ, chúc ông thuận buồm xuôi gió. Ông nên tự tạo ra niềm tin, chớ sờn lòng. Kiểu như cách tuyên bố của ông phó chủ tịch quận 1 Sài Gòn: “Không lấy lại được vỉa hè tôi sẽ cởi áo từ quan”. Nghĩa là sao? Nghĩa là không viết được cuốn tiểu thuyết hiện thực huyền ảo kia tớ sẽ thôi làm nhà văn. Tôi gợi ý cho bạn một cái nhan truyện nhé: Đi Xe Có Còi Hụ.

Chuyện nhạt dần, cà phê cũng đã cạn. Một cuốn sách mỏng đã đọc hết chữ cuối. Ngồi trong quán lâu cũng đâm áy náy, nên giã từ trả chỗ trống cho người ta tiếp khách mần ăn. Khi mặc lại áo ấm, người bạn cho hay sẽ ghé thăm các chùa chiền khắp ba miền cho mãn nhãn, ở Hà Nội họ vừa mở khoá bồi dưỡng cho sư sãi và ni cô biết cách tránh thai, cách tính chu kỳ kinh nguyệt và cách sử dụng condom. Muốn ghi danh học lên tiến sĩ về đạo pháp bạn phải thi đỗ môn lý luận triết thuyết Mác-Lê. Mình sẽ đi thăm thượng toạ Thích Chân Quang, người vừa tạo sóng: “Theo lịch sử không chối cãi được, Trung Quốc là anh, Việt Nam là em… mà Lý Thường Kiệt mang quân đánh là hỗn”. Lạ thật, sao những tin tức rậm rật kiểu đó mà tôi lại chẳng hay biết cà? Tại vì ông cứ bình chân như vại chốn đây, còn mình sắp lên đường nên cần phải bỏ công tìm hiểu đôi chút. Ta không vào địa ngục thì ai vào? Phải chăng chính Phật là người nói ra câu đó?

Xô cửa bước ra đường, tôi nói cùng bạn: Tôi cũng hồ nghi chẳng nhớ ai viết ra câu: Khi bọn học trò lớn dần, viết chì được thay bằng viết mực, chỉ để giải thích là bây giờ khó mà tẩy xoá những lỗi lầm. Hơi lạnh còn ẩn chứa trong gió, dù heo may rợn cảm. Về Việt Nam, chẳng biết mình có mắc phải lầm lỗi? Điều ấy chỉ có lương tâm ông hay biết, nhưng viết được một cuốn sách sau chuyến đi là cả một điều đáng xiển dương. Chừng nào chính thức khởi hành? Cuối tuần, chủ nhật tới. Bà vợ cũ vẫn còn ở Nha Trang? Không, nhà dưới đó đã bán vì giá quá hời, bả hiện ở Đà Lạt và trùng hợp làm sao bả có chân trong hội văn nghệ Lâm Đồng. Có nghĩa là khi ông xuống tới phi trường Liên Khương sẽ gặp lại người xưa đứng đợi? Mình không rõ, bà ấy từng gửi email: “Nếu bạn yêu ai mà kẻ đó không yêu lại bạn, nó giống như bạn ra phi trường để chờ một chiếc tàu thuỷ”.

Hai đứa đi ngược hướng nhau. Thôi, bai nhé. Thượng lộ bình an. Còn sớm tôi rảo tới gian hàng bán đồ cũ. Việt Nam gọi là đồ hàng bành, hoặc Sida. Đã xi-đa mà còn xông pha hiến máu. Bên đó bị nhiễm vi-rút chơi chữ, hăng làm thơ đến nỗi bị vợ bỏ mà cũng không nhụt khí. Buồn đến khó chuồn, chán hơn sứt trán. Quá ngao ngán, không cách chi ta thán.

Siêng tay lục soạn một hồi, tôi mua được cuốn “Một Chút Mặt Trời Trong Nước Lạnh” của nhà văn nữ Francoise Sagan với giá 50 xu. “Un Peu De Soleil Dans L’eau Froide”. Một chút mặt trời vừa bỏ đi, trời xám, ẩm lạnh, nhức xương ở chân bước về nhà, gồng mình đợi trận tuyết khác kéo về. Không một chút mặt trời trong băng giá.

Hồ Đình Nghiêm

Tháng Tư nhớ bạn

phamtinanninh.com

Phạm Tín An Ninh

April 19, 2019 

Post by Sơn râu 19 Aug 2026

(đặc biệt tặng các bạn Khóa 18 Thủ Đức)

Trước những ngày Tháng Tư buồn, tôi lại nhận thêm một tin buồn: Đồng môn Võ Văn Khoa vừa vĩnh viễn ra đi. Với tôi, anh Khoa không những là bạn cùng Khóa 18 Thủ Đức mà sau này, vì gốc giáo chức, nên theo nhu cầu của Bộ Quốc Gia Giáo Dục, anh được biệt phái về dạy ở trường Võ Tánh Nha Trang, ngôi trường trung học nổi tiếng ở quê tôi mà trước kia tôi đã từng theo học. Do đó chúng tôi nặng thêm mối thâm tình. Ngay từ những ngày còn trẻ, anh đã nghiên cứu, tu tập và viết nhiều sách về Thiền Học, cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt. Anh sống thanh đạm, chân thành, đạo hạnh, luôn hết lòng giúp đỡ tha nhân. Sau khi sang Mỹ một thời gian, anh trút bỏ mọi phiền não thế gian, xuất gia đi tu, trở thành Thiền Sư Di Như nổi tiếng của một Thiền Viện ở Las Vegas, do chính anh sáng lập và giảng dạy. Nhờ vào trình độ và đức độ, anh đã quy tụ đông đảo môn đệ.  Vì vậy trên trang cáo phó được viết: “Sư Thầy Di Như Võ Văn Khoa viên tịch.”

Tuy biệt phái về làm nghề dạy học, nhưng trong hồ sơ lý lịch, anh vẫn còn mang cấp bậc đại úy và phục vụ nhiều năm trong ngành Chiến Tranh Chính Trị, từng đóng góp cho việc hình thành và giảng dạy cho Trường Đại Học CTCT Đà Lạt, nên sau khi Cộng Sản chiếm Nha Trang, đầu tháng 4/75, anh bị tù đày nhiều năm. Ra tù, anh trở về Nha Trang, làm nghề sửa xe đạp ở một góc đường, ngay phía sau ngôi trường cũ mà anh từng dạy học. Thời buổi ấy gần như gia tài mỗi người chỉ còn mỗi chiếc xe đạp. Cùng cảnh thất cơ lỡ vận, nên anh thường nhắn các cựu giáo chức đồng nghiệp và học sinh của mình, khi nào xe bị hư, cứ mang đến để anh sửa miễn phí.

Tang lễ được tăng đoàn tổ chức rất trang trọng tại Peek Funeral Home, Westminster, California. Số người đến viếng và tiễn đưa anh khá đông. Ngoài một số giáo chức đồng nghiệp, những cựu đồng môn Khóa 18 Thủ Đức, số đông đảo còn lại là những đồng đạo của anh. Chúng tôi được sự đón tiếp nồng hậu của gia đình và đặc biệt của tăng đoàn, mà hầu hết là những học trò, môn đệ của anh. Nhìn cung cách của họ, chúng tôi hiểu được lòng tôn kính và hết mực tiếc thương mà họ dành cho vị Sư Thầy của mình. Cùng với những đồng môn Khóa 18 Thủ Đức, đứng trước linh cữu, đưa tay lên chào vĩnh biệt anh, bỗng tôi thấy lòng mình chùng xuống, bâng khuâng. Cả buổi trưa hôm ấy, tôi mênh mang nhớ tới bạn bè, đồng môn, đồng đội cũ. Hình dung từng khuôn mặt của những thằng bạn thân thiết đã hy sinh trên các chiến trường, hay chết đau đớn tức tưởi trong các trại tù, và một số đông đã phải bỏ quê ra đi, đang sống lặng lẽ đâu đó trên xứ người, mỗi người mỗi cảnh, nhưng có cùng một nỗi đau chung, khi giấc mơ trở về lại trên quê hương ngày một héo hắt, mỏi mòn. Có thằng đã tự vẫn.

Ký ức bắt đầu đưa tôi trở về ngọn đồi Tăng Nhơn Phú, nơi từng tọa lạc một quân trường nổi tiếng đã có mặt từ những năm đầu thập niên 1950, đào tạo hầu hết những sĩ quan trừ bị, có rất nhiều vị đã trở thành những tướng lãnh lẫm liệt một thời, có vị đã tuẫn tiết vào giờ thứ 25 để giữ tròn tiết tháo: Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ…

Khóa 18 chúng tôi ra trường ngày 18.3.1965 với 1219 tân sĩ quan, vốn xuất thân từ nhiều thành phần khác nhau, và được phân phối về đủ các quân, binh chủng, các ngành chuyên môn, các quân trường, đặc biệt còn được biệt phái về một số cơ quan hành chánh, các cấp bộ, nha, sở. Hôm nay, trong những đồng môn Khóa 18 đến tiễn biệt anh Võ Văn Khoa, tôi được gặp lại một số anh em thân quen, từng phục vụ ở những đơn vị khác nhau như thế. Anh Nguyễn Văn Lân: trước khi nhập ngũ là giáo sư của một Collège Français, ra trường về làm việc ở Bộ Ngoại Giao; bạn Đào Minh Hùng: Thiếu Tá của Liên Đoàn 81 BCND, một đơn vị nổi danh ở các chiến trường đẫm máu nhất; bạn Nguyễn Nhật Minh: Thiếu Tá Trưởng Ty ANQĐ Lâm Đồng; bạn Vũ Ngọc Bích: Thiếu Tá của Cục Mãi Dịch, các anh Nguyễn Ngọc Kỳ, Bùi Trọng Nghĩa, Nguyễn Thế Hùng: CTCT, bạn Lê Trường Xuân: Biệt Động Quân, Nguyễn Thanh Thế, Trần Minh: Bộ Binh, Đỗ Văn Đạt: HCTC, và đặc biệt có bốn người bạn cùng Trung đội 14/ Đại đội 4 SVSQ với tôi: anh Nguyễn Xuân Hồng: giảng viên Trường Sinh Ngữ Quân Đội, về sau trở thành Mục Sư Tin Lành và phục vụ tại Nha Tuyên Úy; Phạm Duy Cường: CTCT, Nguyễn Văn Long: Thiết Giáp và Nguyễn Hồng Tâm: SĐ5BB, người trẻ tuổi nhất của Đại Đội 4.

 Gặp lại nhau, cũng là dịp để điểm danh, xem ai còn ai mất, cùng ngậm ngùi cho phần số của mỗi người.

Riêng Đại Đội 4 và Trung Đội 14 SVSQ của chúng tôi cũng có nhiều điều đặc biệt khó quên. (Đại Đội 4 là hậu thân của Đại Đội 10 trong giai đoạn 1.) Cán bộ đại đội trưởng là Trung úy Phan Tấn Mỹ, tốt nghiệp Khóa 13 Võ Bị Đà Lạt, từ binh chủng TQLC thuyên chuyển về Trường, sau khi mãn một khóa học ở Hoa Kỳ. Ông là nhà thơ được nhiều người biết đến dưới bút hiệu Ý Yên (cũng là tên của quê hương ông ở miền Bắc). Ông có cung cách và tâm hồn của một thi sĩ hơn là một ông quan nhà binh. Biết SVSQ nào làm thơ, ông thường gọi lên văn phòng đại đội uống trà bàn chuyện thơ văn. Đi bộ cùng SVSQ ra bãi tập, thỉnh thoảng ông hứng chí đọc lên mấy câu thơ ông vừa nghĩ ra hay sáng tác. Chẳng bao giờ phạt ai và mỗi khi có SVSQ nào bị Quân Cảnh 301 bắt, ông liền chạy đến nhận về. Trung đội trưởng Trung đội 14 của bọn tôi là Thiếu úy Trần Bá Linh, Khóa 12 Thủ Đức. Ông là bào đệ của Thiếu tướng Trần Bá Di, rất thẳng thắn, kiệm lời, có thái độ bất cần, chẳng biết “ngán” ai, nên bọn tôi cũng dễ thở mà cũng có lắm khi hồi họp, lo âu.

(cùng với một số bạn thuộc Trung Đội 14/4 SVSQ)

Ba tuần trước ngày mãn khóa, một số trong đại đội đã biết mình được bổ nhậm hay biệt phái về đơn vị, cơ quan nào. Đặc biệt có hai đồng môn đầu tiên nhận lệnh về Trường Võ Bị Đà Lạt làm giáo sư Văn Hóa Vụ. Hai anh lại là bạn đồng nghiệp trước khi nhập ngũ, là giáo sư ở Đại Học Khoa Học. Trong cuộc thực tập cuối khóa, hành quân cấp đại đội suốt ba ngày đêm ở một bãi tập bên bờ sông Đồng Nai, khi diễn tập bài đại đội tấn công đêm lên đồi, một trong hai anh bị một quả đạn (chiếu sáng) súng cối 60 ly không nổ rơi trúng, ghim sâu vào lưng, làm tử thương tại chỗ. Tôi là một trong số những đồng môn được chỉ định về Tổng Y Viên Cộng Hòa, luân phiên đứng gác bên quan tài anh ba ngày trong “Nhà Vĩnh Biệt”, chứng kiến nỗi đau buồn, than khóc thống thiết của gia đình, đặc biệt vị hôn thê của anh, và nghe lời chia buồn, tiễn biệt của đồng nghiệp bạn bè và những sinh viên từng học với anh. Trong các bài điếu văn, ai cũng ca ngợi và thương tiếc anh, một vị giáo sư tài ba đức độ. Tôi ngậm ngùi, tiếc cho một người có tài mà yểu mệnh. Và đó là người bạn đồng môn, cùng khóa của tôi đã hy sinh đầu tiên, trước ngày tốt nghiệp. Người còn lại, anh Phùng Văn Bộ, ngay sau khi dự đám tang đưa tiễn bạn mình và lễ mãn khóa, đã một mình cô đơn lên trình diện Trường Võ Bị. (Cũng có thể có vài anh ở đại đội khác cùng được bổ nhậm về Trường Võ Bị mà tôi không biết.)

Một đồng môn khác cũng đã âm thầm chia tay trong trường hợp không vui. Khi cuộc hành quân thực tập chưa kết thúc, anh được gọi tên, lên xe về trình diện Trung tá Đào Duy Ân, Tham Mưu Trưởng. Ngày mãn khóa, anh không có mặt. Chúng tôi rất buồn và ngạc nhiên khi biết người bạn đồng môn hiền lành, dễ mến này đã bị đưa ra đơn vị với cấp bậc binh nhì. Năm 1973, trong một lần đến QYV Nguyễn Huệ, Nha Trang thăm một sĩ quan cùng đơn vị bị thương nặng đang điều trị ở đây, bất ngờ tôi gặp lại anh, khi ấy anh là y tá với cấp bậc Hạ sĩ 1. Hai thằng nhìn nhau, bắt tay rồi ôm lấy nhau trong sự ngỡ ngàng. Anh vẫn sống độc thân trong căn phòng nhỏ thuê ở gần QYV. Buổi chiều, tôi lái xe đưa anh về căn phòng trọ này để anh thay áo quần dân sự, sau đó chúng tôi ra một cái quán bên bờ biển uống rượu tâm tình, nhưng tôi ngại không dám hỏi lý do vì sao anh bị ra trường non với cấp bậc binh nhì như thế. Ăn uống xong, thay vì về nhà, anh nhờ tôi đưa anh đến một ngôi trường gần đó. Anh dạy Anh văn cho một lớp đêm ở đây. Lúc còn trong quân trường, anh nằm giường kế bên tôi, là người gốc Quảng Bình, một con chiên ngoan đạo, rất tư cách, vui vẻ hiền lành, mọi người đều quí mến, nên lúc anh gặp tai ương, dù không biết lý do gì, ai cũng ngạc nhiên và tội nghiệp anh.

Người tử trận đầu tiên của Trung Đội 14 chúng tôi là bạn Dương Văn Chánh. Chánh là một trong số rất ít được chọn về Binh Chủng Nhảy Dù. Có lẽ vì Chánh là em vợ của Tướng Trương Quang Ân, lúc ấy đang là Trung Tá, Chiến Đoàn Trưởng Chiến Đoàn 2 ND. Sau khi tốt nghiệp khóa Căn Bản Nhảy Dù, Chánh được bổ sung cho Tiểu Đoàn 7 ND và bị thương ngay trong trận đánh đầu tiên, trận Đồng Xoài, vào cuối tháng 6.1965. Một trận chiến đẫm máu khi lần đầu tiên Cộng quân đã sử dụng một lực lượng đến cấp sư đoàn. Sau khi xuật viện, đến tháng 12. 1965, anh lại bị tử thương cùng 80 đồng đội thuộc Đại Đội 72 ND, khi chiếc C-123B của Không Lực Hoa Kỳ chuyên chở đơn vị Nhảy Dù của anh đến khu vực hành quân, bị rơi trên một đỉnh núi, ở vùng Tây Bắc Tuy Hòa (Phú Yên). Trước khi nhập ngũ, Chánh học ở Luật Khoa. Da đen, giọng khàn khàn, ít nói, trông tướng tá hơi “ngầu”, nhưng rất hiền hậu, dễ thương.

Dù là sĩ quan trừ bị, nhưng Khóa 18 của chúng tôi đã đóng góp rất nhiều chiến công và xương máu cho cuộc chiến bất hạnh này. Bạn bè tôi không chỉ đã hy sinh trên chiến trường, mà còn chết oan khiên trong các trại tù man rợ của Cộng Sản, và có người đã chết trên xứ người bởi vì hệ lụy từ cuộc chiến bất hạnh, mà “bên thắng cuộc” lại là bọn người gian ác bị mê hoặc bởi một chủ thuyết man rợ.

 Tôi nhớ tới Trần Công Lâm,  một thằng bạn cùng Trung Đội 14, nó nằm giường trên, tôi giường dưới, nên hai thằng trở thành đôi bạn thân thiết nhất. Quê ở tận Nha Trang, nên những ngày cuối tuần về phép, tôi thường theo về nhà nó ở khu Bình Triệu, cùng đi chơi với cô vị hôn thê, sau này là vợ của nó. Lâm có ông anh là thượng sĩ, nhân viên Phòng Nhất của Bộ Tư Lênh Lực Lượng Đặc Biệt đồn trú tại Nha Trang, ngay trên quê tôi. Nó bảo đã nói chuyện với ông anh và ông cam kết là hai thằng bọn tôi sẽ được chọn về binh chủng này trước ngày mãn khóa. Thấy tôi có vẻ hoài nghi, nó bảo, dù chỉ mang cấp bậc thượng sĩ, nhưng ông anh khá thân thiết và là cánh tay mặt của ông trưởng phòng, nên chuyện chọn hai thằng về LLĐB chỉ là chuyện nhỏ. Thực tình, lúc ấy bọn tôi cũng không am hiểu mấy về binh chủng này, chỉ thấy bộ đồng phục rằn ri, cái bê-rê màu xanh và huy hiệu con cọp nhảy qua cánh dù, trông rất oai phong, nên thích vậy thôi.

Gần ngày mãn khóa, tôi đã thấy trên tủ áo của nó có cả bộ quân phục và bê-rê xanh LLĐB. Nhưng khi ra hội trường để được gọi về các binh chủng, cả hai thằng đều không có tên. Giờ chót chỉ còn chỗ ở các Sư Đoàn Bộ Binh. Tôi bảo nó theo tôi về Sư Đoàn 23, vì quê tôi nằm trong vùng hoạt động của đại đơn vị này. Lần này thì Lâm theo tôi, bỏ Sài gòn ra tận núi rừng miền Trung xa tít. (Sau này nó cho biết, đúng thời gian chọn tân sĩ quan về binh chủng thì ông anh của nó chẳng may bị tai nạn phải vào quân y viện, nên hai thằng bọn tôi bị lọt sổ.) Ngoài Trần Công Lâm ra tôi còn rủ thêm Nguyễn Văn Túc. Túc không cùng Đại Đội nhưng là  bạn học cùng lớp Đệ Nhất C với tôi lúc trước ở trường Võ Tánh, và trước khi vào lính hai thằng rủ nhau về quê tôi dạy ở một trường trung học tư thục đệ nhất cấp vừa mới mở, mà ông hiệu trưởng là bạn của cha tôi.

Khi ra đơn vị, theo yêu cầu của chúng tôi, cả ba thằng được bổ nhậm về cùng một tiểu đoàn. Lâm về Đại Đội 1, Túc về Đại Đội 2, còn tôi về Đại Đội 3. Khi ấy, tiểu đoàn tôi có lẽ là một tiểu đoàn đánh đấm có hạng, nên được chọn làm đơn vị lưu động, có trách nhiệm tiếp ứng cho cả Khu 23 Chiến Thuật. Vì vậy có khi buổi sáng còn ở núi rừng Quảng Đức, Lâm Đồng, buổi chiều đã có mặt ở vùng biển Tuy Hòa, Phan Thiết. Về đơn vị đã hơn ba năm mà bọn tôi chưa hề biết hậu cứ tiểu đoàn nằm ở đâu trên Ban Mê Thuột. Thời gian ấy chiến trường chưa sôi động lắm, chúng tôi chỉ thường đụng độ với các đơn vị địa phương của địch. Chỉ có ở Quảng Đức và Phú Yên thỉnh thoảng có sự xuất hiện của lực lượng chính quy mới xâm nhập từ miền Bắc. Làm trung đội trưởng hơn hai năm, đánh đấm vài trận, được mấy cái huy chương, thì cả ba thằng lần lượt được lên nắm đại đội. Sau đó tôi được ông tiểu đoàn trưởng kéo về làm Ban 3, còn Lâm về làm Đai Đội Trưởng Đại Đội Chỉ Huy kiêm Trưởng ban Truyền Tin, thay cho người tiền nhiệm thuyên chuyển đi nơi khác. Lúc ấy, Lâm hiền lành như con gái, mấy lần ông tiểu đoàn trưởng bảo Lâm: “cậu ra trường hơn hai năm rồi mà trông cứ như một thư sinh, làm sao lính nó ngán được!” Có lẽ với lý do này, nên ông gởi Lâm theo học Khóa Rừng Núi Sình Lầy rồi sau này lại học thêm khóa Viễn Thám. Riêng Túc, sau khi lên trung úy một thời gian, đang là một đại đội trưởng có hạng thì được lệnh giải ngũ vì cận thị quá nặng. Túc được nhận vào làm tại Nha Bưu Điện và được sang Singapore học một khóa khóa chuyên môn để về dạy ở Trường Bưu Điện Sài gòn.

Cùng lúc tôi được chuyển về Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn thì Trần Công Lâm nhận lệnh theo học Khóa Căn Bản Truyền Tin tại Vũng Tàu. Nhưng chưa tới ngày mãn khóa tôi đã thấy Lâm về lại đơn vị. Trước khi trình diện ông trung đoàn trưởng, Lâm khoe “thành tích”với tôi:

    -Học và làm cái nghề Truyền Tin này coi bộ nhức đầu quá, nên tao nản, cứ dù về nhà thăm vợ và thằng cu mới sinh, nên bị ông chỉ huy trưởng Trường  ký cho mười ngày trọng cấm và trả về đơn vị. Mày trình với ông trung đoàn trưởng cho tao ra tiểu đoàn khác, về lại tiểu đoàn cũ khó làm việc!.

Lâm về Tiểu Đoàn 4 làm đại đội trưởng một thời gian. Khi anh đại đội trưởng ĐĐ Trinh Sát có lệnh thuyên chuyển đi đơn vị mới, tôi tìm gặp Lâm:

– Mày có muốn về nắm Đại Đội Trinh Sát không, tao sẽ “nổ”với ông trung đoàn trưởng, vì mày có bằng RNSL và cả bằng Viễn Thám. Về Trinh Sát có cơ hội thi thố tài năng, thử lửa ra sao, để không ai còn dám gọi mầy là “Lâm Con Gái” nữa!

 Lâm vỗ vai tôi cười khoái chí.

Không ngờ, chỉ sau một thời gian, Trần Công Lâm trở thành một đại đội trưởng Trinh Sát lừng danh của cả Quân Đoàn. Bây giờ, chuyện xông pha trận mạc đối với Lâm còn dễ hơn chuyện dắt đào đi chơi ngoài phố. Nơi nào không giải quyết được chiến trường, Lâm tình nguyện nhảy vào, và lúc nào cũng xuống mục tiêu trước tiên với một toán Viễn Thám. Một lần, một tiểu đoàn trực thuộc cùng chi đoàn TQV và pháo đội PB 105 ly tăng phái, di chuyển đến vùng hành quân, bị một lực lượng Cộng quân hùng hậu đào giao thông hào, ngụy trang hai bên đường phục kích. Đơn vị phản công kịp thời, các sĩ quan Kỵ Binh dạn dày kinh nghiệm, cho thiết vận xa M 113 vừa tác xạ vừa cày nát đè bẹp các giao thông hào của địch, lực lượng Bộ Binh bung ra, vừa bảo vệ Pháo Binh vừa đánh cận chiến và tung lựu đạn xuống phòng tuyến địch, Pháo Binh hạ nòng trực xạ vào các cao điểm nghi ngờ địch tập trung. Địch chết khá nhiều, một số bị ta bắt sống, Khai thác cấp thời, biết được vị trí bộ chỉ huy của địch nằm cách nơi chạm súng khoảng hơn hai cây số, và chỉ được bảo vệ bằng một đại đội với quân số chưa tới 50 người. Đại Đội Trinh Sát của Lâm đang ứng chiến bên cạnh Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn, được trực thăng Hoa Kỳ bốc thả xuống ngay sát bên hông địch, sau một tràng TOT của Pháo Binh cùng với sự yễm trợ của bốn chiếc Cobra, địch không ngóc đầu lên được. Với hỏa lực phi pháo và lối đánh thần tốc của Lâm, địch không kịp trở tay, cả bộ chỉ huy địch đều bị giết và một số bị bắt sống, trong đó có tên chính ủy và cả tên trung đoàn trưởng, ta tịch thu nhiều tài liệu quan trọng cùng mấy triệu đồng tiền VNCH (toàn giấy 1.000 mới toanh đựng trong các thùng gỗ), nhưng khi giao cho Ty Ngân Khố giám định, hóa ra đều là tiền giả được in từ Trung Cộng.

Một lần khác, được tin tình báo cho biết, một đơn vị địch vừa mới xâm nhập vào vùng núi giữa ranh giới ba tỉnh Lâm Đồng – Ninh Thuận – Bình Thuận, Lâm tình nguyện dắt một toán viễn thám, được cải trang thành những bộ đội VC mang theo AK-47 và B- 40 (chiến lợi phẩm tịch thu của địch) xâm nhập. Một tiểu đoàn được lệnh ứng chiến, cùng với Đại Đội Trinh Sát (-) của Lâm, do anh đại đội phó chỉ huy, để khi nào nhận hiệu lệnh của Lâm sẽ nhảy vào tiếp ứng. Nhưng đến khuya, Lâm cùng toán viễn thám trở ra an toàn, còn bắt theo ba tên địch, trong đó có môt phụ nữ. Sau khi khai thác, biết chính xác địa điểm ém quân của địch, Lâm báo về TTHQ, chúng tôi liên lạc cố vấn Mỹ xin mấy phi tuần cất cánh từ Căn cứ Cam Ranh đến đánh bom ngay khuya hôm ấy. Sau đó cũng chính Lâm, chỉ huy Đại Đội Trinh Sát nhảy vào kiểm soát chiến trường và truy kích địch. Đơn vị lại tạo thêm một chiến thắng lớn, gần cả trăm xác địch bỏ lại, rất nhiều vũ khí các loại bị ta tịch thu, trên mười tên bị thương bị ta bắt.

Lâm ngày một đam mê chiến trận. Chiến trường như là những tảng nam châm cực mạnh cuốn hút lấy Lâm. Đại đội nghỉ vài hôm là Lâm xin đi hành quân. Hành quân mà chưa đụng địch, Lâm không về và đề nghị tái tiếp tế để bốc đi nơi khác. Thuộc cấp cũng mệt vì Lâm, nhưng tất cả đều nể phục Lâm. Chính Lâm đã biến Đại Đội Trinh Sát này trở thành đơn vị thiện chiến, lừng lẫy một thời.

Khi một lực lượng chiến xa Hoa Kỳ đến hoạt động trong Mật Khu Lê Hồng Phong, một mật khu có địa thế khá rộng lớn và hiểm trở của Cộng quân tại Bình Thuận, đã xin đích danh Đại Đội Trinh Sát của Lâm biệt phái để phối họp, tùng thiết. Vị chỉ huy lực lượng chiến xa này đã hết lòng ca ngợi Lâm và đề nghị ân thưởng huy chương Hoa Kỳ cho Lâm.

Trong hơn ba năm làm đại đội trưởng, Đại Đội Trinh Sát của Lâm đã tạo rất nhiều chiến thắng, mà tổn thất rất ít. Số vũ khí và tù binh thu bắt được còn hơn cả số lượng chiến lợi phẩm và tù binh của các tiểu đoàn trực thuộc. Lâm trở thành người hùng của Sư Đoàn, được thăng cấp đại úy tại mặt trận, tưởng thưởng khoảng 4, 5 ADBT với  nhành dương liễu và nhiều ADBT với ngôi sao vàng, bạc, 1 huy chương của Hoa Kỳ, 1 của Đại Hàn và tất nhiên có cả Chiến Thương Bội Tinh. Qua bao nhiêu lần thoat chết trong đường tơ kẻ tóc, Lâm khoe với tôi là nhờ đạn tránh nó. Mùa Hè 1972, Lâm ra nắm Tiểu Đoàn 3/44, đơn vị đầu đời của Lâm và tôi. Lâm đã góp rất nhiều chiến công để có được một “Kontum Kiêu Hùng.” Tháng 6/ 1973, Lâm được chọn làm“chiến sĩ xuất sắc của Quân Đoàn” để về dự tiệc khao quân trong Dinh Độc Lập nhân ngày Quân Lực 19.6, nhưng chưa đến ngày đi thì tử trận. Lâm đã hy sinh tại phía Bắc Kontum, khi cùng toán thám báo đi thám sát địa thế đóng quân trên một cao điểm. Do một thằng em vướng phải mìn Claymore của một đơn vị bạn triệt thoái trước đây, không kịp thu hồi. Thằng em thì chỉ bị thương mà ông thầy thì lãnh đủ. Cái chết thật xót xa, đáng tiếc đối với một người từng tạo nên nhiều chiến thắng lẫy lừng, và biết bao lần vào sinh ra tử như Lâm.

Ngày Lâm chết, tôi không có mặt ở đơn vị, vì đang nghỉ phép đặc biệt ở Nha Trang. Tôi ghé vào Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế, tìm Nguyễn Tấn Hưng, một người bạn cùng khóa, cùng Trung Đội 14 SVSQ, rất thân thiết với Lâm và tôi, được bổ nhậm về quân trường này, và khi ấy đang là Trưởng Phòng Điều Hành. Hưng đón tôi vào văn phòng rồi đóng cửa lại. Hai thằng ôm mặt khóc.

Tôi nhớ tới một người bạn cùng khóa khác, Phù Văn Vũ, cũng về Sư Đoàn 23, cùng trung đoàn nhưng ở tiểu đoàn khác. Thỉnh thoảng, những ngày nghỉ quân, chúng tôi gặp nhau, rủ đi uống rượu. Sau khi lên trung úy, và bị thương trong một trận đánh ở Lâm Đồng, Vũ được theo học một khóa CTCT ở Sài gòn. Mãn khóa được về Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn làm Sĩ quan Tâm Lý Chiến. Vũ có nét lai Tây, cao lớn, thuộc hàng “bô” trai, tính tình vui vẻ dễ thương, nên ai cũng quí. Và cũng là một cao thủ “nhậu”. Trong những cuộc so tài uống rượu, Vũ luôn chiếm giải quán quân. Lúc ấy trong toán cố vấn Mỹ có Thiếu Tá Davis rất chịu chơi, cung cấp đủ thứ whisky, nên rượu không bao giờ cạn. Là dân Sài gòn chính hiệu, gia đình mấy đời ở gần khu cầu chữ Y, thỉnh thoảng chị Vũ dắt con ra thăm và làm nhiều món ngon cho chồng đãi bạn bè. Chị vừa đẹp vừa hiền lành bặt thiệp, nên ai cũng quí. Lúc ấy vợ chồng có hai đứa con, một gái một trai, khoảng 8, 7 tuổi, xinh xắn, lễ phép, dễ thương. Lên đại úy một thời gian, Vũ xin ra tiểu đoàn để giữ chức vụ tiểu đoàn phó. Mấy tháng sau đi học Bô Binh Cao Cấp rồi thuyên chuyển về Vùng 3. Chúng tôi mất liên lạc nhau từ đó.

Sau tháng 4/ 75, khi có thông báo của Cộng sản (Ủy Ban Quân Quản Sài gòn) kêu gọi đi “trình diện học tập cải tạo”, tôi đến địa điểm Trường Đại Học Kiến Trúc. Khi xếp hàng chờ ghi danh làm thủ tục, thấy phía đằng trước có một người chống hai cái nạng gỗ. Khi anh ta quay mặt lại, tôi nhận ra Phù Văn Vũ. Trong cảnh sa cơ cá chậu chim lồng này mà gặp được một người bạn thân thì mừng vui lắm. Hai thằng dặn nhau phải luôn đi chung. Đặc biệt Vũ rất cần tôi phụ giúp băng bó, chữa trị vết thương. Bọn tôi bị đưa tới trại tù An Dưỡng (Biên Hòa), may mắn ở cùng một nhà, một tổ. Vết thương khá lớn ở chân phải của Vũ vẫn còn mưng mủ, tôi trở thành “y tá” riêng cho Vũ, rửa vết thương và băng bó mỗi ngày. Theo lời Vũ kể, vào cuối tháng 3/75, lúc ấy đang làm tiểu đoàn trưởng thuộc Sư Đoàn 25 BB, Vũ bị thương nặng ở đầu gối chân phải do đạn pháo của địch. Ngày 1 tháng 5, đang điều trị ở TYV Cộng Hòa thì bị VC đuổi ra. Về nhà may mà bà xã săn sóc thuốc men chu đáo nên mới khá được như hôm nay.

Vì phải chống nạng, nên Vũ không phải đi lao động, (khi ấy bọn tôi phải đi tháo gở kẽm gai và mìn trong hàng rào phi trường Biên Hòa), chỉ ở nhà quét dọn nhà ở, nhà bếp và hội trường. Không đủ thuốc men, nên vết thương kéo dài, cho mãi đến tháng 6.1976, khi lên tàu sông Hương ra Bắc, vẫn chưa lành hẵn.

Khi xuống tàu để lên bến Hải Phòng, thấy tôi đi chung và xách ba lô cho Vũ, một tên bộ đội kéo tách chúng tôi ra, giữ Vũ lại và bảo tôi phải đi xuống trước, mặc dù tôi đã năn nỉ xin được đi chung để giúp đỡ Vũ trong tình trạng vết thương chưa lành và đi đứng khó khăn, nhưng hắn không cho mà còn nạt nộ.

Tôi bị đưa về Trại 3 (Hang Dơi) nằm cực bắc Yên Bái thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn lúc ấy. Sau một thời gian, trong một lần đi xuống kho tổng trại ở Nghĩa Lộ để vác gạo về cho trại, thấy một người chống nạng, chăn bầy bò bên đường, tôi nhận ra Vũ với đôi chân thấp cao, khập khiễng. Bất ngờ gặp lại nhau, cả hai thằng đều mừng mà ứa nước mắt. Vũ cho biết đang ở Trại 8, và vì phải chống nạng nên được cho chăn bò của trại. Khi tên vệ binh thúc tôi phải đi, Vũ kịp đưa cho tôi một gói nhỏ. Tôi bỏ nhanh vào túi áo. Khi dừng lại nghỉ trưa trên ngọn đèo cao, mở ra tôi thấy một cái bánh nướng làm bằng bột sắn (khoai mì), tôi vừa ăn vừa lau nước mắt.

Trại 3 của tôi cách Trại 8 của Vũ khoảng hơn hai mươi cây số, đặc biệt phải đi qua một cái đèo rất cao. Mỗi lần đi vác gạo, bọn tù chúng tôi khốn khổ bởi cái đèo này. Không biết tên gì, nhưng bọn tôi gọi đó là “Đèo Bá Thở.” Ba tháng sau, trong chuyến đi vác gạo kế tiếp, tôi lại được gặp Vũ, lần này thì cả hai thằng mừng rỡ, nhưng đứng cách nhau khá xa, chỉ kịp gọi tên và vẫy tay chào. Rồi ba tháng sau nữa, cũng trong một chuyến đi lấy gạo, khi gần đến khu Trại 8, thấy bầy bò từ xa, tôi háo hức để được gặp lại Vũ, nhưng khi người chăn bò đưa tay chào các bạn tù, tôi ngạc nhiên vì không phải Vũ, mà lại là một người khác, khá già, râu tóc bạc phơ. Anh cho biết là Vũ đã chết trước đó hơn một tháng, do bệnh kiết lỵ mà không có thuốc chữa. Tôi bỗng thấy đau nhói trong lòng, và bâng khuâng nghĩ tới vợ con Vũ, bởi lúc ngồi trên tàu Sông Hương ra Bắc, Vũ đã buồn bã nói với tôi, các con còn quá nhỏ, ngày Vũ đi vào tù, nhà không còn tiền và cũng chẳng có tài sản gì đáng giá, rồi không biết vợ con sẽ phải sống ra sao. Khi ấy tôi chỉ còn biết lấy hoàn cảnh tương tự của chính mình để an ủi Vũ.

Một hôm vào khoảng đầu năm 2007, trong một dịp sang Cali, tôi bất ngờ gặp lại một người bạn tù khá thân. Anh đang hợp tác trong tổ chức nhân đạo của cựu tù Thiếu Tá Nguyễn Đạc Thành, nhằm tìm kiếm mồ mả, hài cốt của những anh em chết ở các trại tù miền Bắc. Tôi hỏi ngay đến Phù Văn Vũ, và quá đỗi ngạc nhiên khi anh bạn cho biết đã tìm ra được mộ của Vũ và cũng đã liên lạc với vợ con Vũ để về Việt Nam bốc mộ. Anh bạn còn cho tôi xem tập hồ sơ, có cả hình ảnh của Vũ lúc còn trong quân ngũ, và hình của ngôi mộ hoang phế trong núi rừng Việt Bắc với tấm bia xám xịt còn lờ mờ mấy chữ: Phù Văn Vũ chết ngày 23.8.1977 (chỉ sau một năm chuyển ra Bắc). Vợ con Vũ đã may mắn được sang định cư ở Hoa Kỳ theo diện HO và đang sinh sống ở Tiểu Bang N. Carolina. Trong hồ sơ có ghi số điện thoại con trai lớn của Vũ. Tôi liên lạc hỏi thăm và nói chuyện mấy lần. Sau đó, vì chị Vũ không được khỏe, nên cháu Nguyễn Ngọc Thị Hương, cô con dâu trưởng của Vũ đã theo tổ chức này về VN phối họp cùng cô con gái lớn của Vũ (còn ở lại VN) bốc mộ Vũ vào ngày 26.2.2007 và mang tro cốt về cải táng tại Hoa Kỳ.

Tôi nhớ tới Trần Ngọc Thăng, thằng bạn cùng Khóa 18 khác và cũng là bạn học cùng truờng ở Nha Trang lúc trước. Ra trường, Thăng tình nguyện về Biệt Động Quân.  Khoảng ba năm sau tôi bất ngờ gặp nó mang ba lô về trình diện trung đoàn tôi tại Sông Mao. Đúng lúc các đơn vị đang nghỉ dưỡng quân, tôi gọi tất cả đám bạn cùng Khóa 18 về Câu Lạc Bộ đón mừng nó. Khi ấy cả bọn tôi đều đã lên trung úy, chỉ duy nhất có Thăng còn mang thiếu úy. Hỏi ra mới biết chàng ta từ quân lao mới chuyển ra Đơn Vị 2 Quản Trị và được bổ sung về đơn vị tôi.Thăng bảo, mới vừa lên làm đại đội trưởng BĐQ thì đụng độ với ông tiểu đoàn phó khi ông chửi thề và tát tai một anh chuẩn úy mới ra trường, trung đội trưởng của Thăng. Đang cãi nhau thì bất ngờ bị ông đá thúc vào ống chân thách thức, nên sẵn súng trên tay Thăng bắn một phát vào bàn chân ông. Bị 30 ngày trọng cấm và ra Tòa Án Quân Sự lãnh tám tháng tù. Không biết có phải vì lý do này mà suốt thời gian ở đơn vị, ngoài những bạn cùng khóa, Thăng không chơi với ai. Tình nguyện về làm đại đội phó Trinh Sát. Hơn một năm sau được thăng cấp trung úy, Thăng xin ra nắm đại đội ở Tiểu Đoàn 2. Đầu năm 1973, khi đang làm tiểu đoàn phó TĐ3 cho Trần Công Lâm, Thăng được bổ nhậm làm tiểu đoàn trưởng TĐ 2/44 trong một trường hợp khá đặc biệt. Thời gian còn làm đại đội trưởng, hành quân ở khu vực Di Linh – Đức Trọng, Thăng quen biết một nữ sinh sắc tộc Thái Trắng, khá xinh, nhưng mãi đến đầu năm 1974 hai người mới làm đám cưới và một đứa con trai ra đời trong những ngày cuối tháng Tư buồn. Trong lúcThăng bị tù ngoài Bắc, ở nhà vợ Thăng treo cổ tự vẫn, đứa con trai được giao lại cho bà nội nuôi nấng. Theo người nhà kể lại, khi chết, vợ Thăng mặc chiếc áo dài trắng thuở còn đi học và có để lại một lá thư, nhưng bị công an tịch thu nên không ai biết vợ Thăng đã viết những gì trong đó. Ra tù vài năm, Thăng đưa mẹ, hai cô em gái và đứa con trai vượt biển. Đến Mỹ, định cư ở San Jose, Thăng nhờ mẹ chăm sóc đứa con thơ để vừa đi làm vừa đi học. Mỗi lần nói chuyện trong điện thoại, tôi đều ca ngợi Thăng có chí, nó cười bảo: “tao vùi đầu vào sách vở là chỉ để được quên, không muốn có chút thì giờ nào để phải hồi tưởng hay suy nghĩ điều gì”. Cuối cùng nó cũng lấy được bằng Cao HọcTâm Lý (Master of Psychology) và tìm được việc làm lương cao, ổn định. Bạn bè ai cũng khen và mừng cho nó. Bao nhiêu tình thương Thăng dồn hết cho mẹ và đứa con trai. Nó bảo mẹ nó đã một đời tão tần nuôi nấng cưu mang mấy anh em nó từ lúc còn tấm bé, di cư từ Bắc vào Nam năm 1954. Do lời khuyên nhủ của mẹ, Thăng tục huyền. Cô vợ nhỏ hơn nó khá nhiều tuổi, quen nhau lúc cả hai cùng là sinh viên ở một trường đại học Mỹ, cũng là ái nữ của một cựu thiếu tá ở Sư Đoàn 7 BB. Vẫn cái tính như ngày xưa, Thăng sống khép kín, ít giao tiếp với bạn bè, nhưng với vợ chồng tôi, Thăng luôn dành một tình cảm đặc biệt. Mỗi lần sang Mỹ, chúng tôi đều ghé lại thăm, và vợ chồng Thăng luôn giữ lại nhà vài hôm. Vợ Thăng cũng rất hiền lành, vui vẻ và hiếu khách. Đầu năm 2007, mẹ già ngã bệnh, vợ chồng Thăng đã hết lòng lo chữa chạy, nhưng vì tuổi già sức yếu, không chống chọi nổi bệnh tình, bà đã quy tiên. Biết Thăng rất đau lòng, từ Bắc Âu tôi bay sang với Thăng, và chạnh lòng khi nhìn thấy Thăng tiều tụy, chán chường. Trong dịp này, tôi lại biết thêm một nỗi buồn khác, cũng rất to lớn của Thăng. Đứa con trai duy nhất mà Thăng hết mực cưng chiều yêu quý, như muốn làm vui lòng người vợ bất hạnh ở dưới suối vàng, đã bỏ học và có con với một cô bạn gái cùng lớp trong high school, khi cả hai còn ở tuổi vị thành niên. Thăng giấu tôi chuyện này. Chỉ thỉnh thoảng than với tôi là không còn thiết tha gì nữa và hối tiếc là ngày xưa không được chết trên chiến trường. Tôi vừa an ủi vừa đùa, bảo Thăng đã học nhiều năm về Tâm Lý, sao không “lấy sở tồn ra làm sở dụng.”

Bỗng một hôm được tin Thăng chết. Chết một cách đau đớn. Thăng dối vợ, bảo đi thuê hộ khách sạn cho một người bạn từ tiểu bang khác tới. Nhưng thực ra Thăng đi thuê phòng trong một khách sạn nhỏ ở gần nhà, rồi ở đó dùng súng bắn vào đầu mình tự sát, sau khi viết mấy lá thư để lại trên bàn. Tôi nhận được lá thư Thăng viết cho tôi, do Cảnh sát giao lại. Nét chữ ngay ngắn, đẹp đẽ, chứng tỏ Thăng rất bình tĩnh trước khi tự kết liễu đời mình:

“Xin lỗi mày, tao đi trước mà không kịp chia tay với mày. Bọn mình rồi sẽ như những con chim đã đến lúc phải bay về với núi rừng thuở trước. Thôi thì tao đi trước để dọn chỗ cho bọn mày, những thằng bạn thân thiết, đã từng sống chết với nhau. Chỉ có một điều tao tiếc và ân hận là đã không đựợc chết một cách oai hùng ở chiến trường nhưng thằng Lâm, thằng Bê, anh Tài, anh Đức…”

Đọc xong, thấy đau đớn trong lòng tựa hồ như đang có nhiều vết chém, vậy mà không hiểu vì sao tôi không khóc được.

Tháng Tư này, nhân dịp tiễn đưa đồng môn Võ Văn Khoa về miền miên viễn, nhớ tới bạn bè, bỗng tôi nghĩ thật nhiều đến ba cái chết của ba người bạn cùng khóa, cùng một đơn vị, và một thời rất thân thiết. Ba cái chết trong ba thời điểm và hoàn cảnh khác nhau. Một thằng đánh giặc nổi danh rồi chết tại chiến trường, một thằng luôn yêu đời, vui vẻ hiền lành bị chết trong tù với đôi chân tàn phế, và một thằng từng ngang dọc một thời, sống bất cần, ba chìm bảy nổi, vượt thoát thành công, đỗ đạt trên xứ người, cuối cùng bắn vào đầu mình tự vẫn. Ba cái chết khác nhau, nhưng chỉ có một nguyên nhân duy nhất: hậu quả của một cuộc chiến bất hạnh, và chúng tôi lại là những chiến binh bất hạnh nhất.

Trong nỗi xót xa, tôi thầm cầu mong không còn phải chứng kiến những tranh chấp, bất đồng , hơn thua giữa những người anh em từng một thời xuất thân  từ một mái quân trường hay cùng chiến đấu, sống chết bên nhau trên các chiến trường lửa đạn. Chẳng lẽ cả một đời binh nghiệp, cuối cùng chúng ta chẳng còn giữ lại được điều gì, ngay cả cái tình đồng môn, huynh đệ? Tôi cũng thật đau lòng khi biết có những người đã vội quên mình từng một thời là lính, sống thản nhiên vô tâm trước nỗi đau của quê hương đất nước, và quên cả món nợ máu xương mà mình chưa trả được một chút gì cho đồng đội anh em.

Tôi bỗng chạnh lòng khi nhớ tới một đoạn đã đọc được từ khá lâu trong“Mặt Trận Miền Tây Vẫn Yên Tĩnh”, tác phẩm viết về chiến tranh nổi tiếng của nhà văn Erich Maria Remarque: “… Rồi mọi người sẽ không hiểu được chúng tôi…Chúng tôi sẽ trở thành một thứ thừa thãi ngay cả đối với chính mình, chúng tôi sẽ ngày càng già đi, một số có thể hội nhập được với cuộc sống mới, một số khác sẽ nhẫn nhục mà sống, và hầu hết là sống trong nỗi bàng hoàng đau đớn. Ngày tháng sẽ trôi đi và cuối cùng chúng tôi sẽ rơi vào tàn lụi”.

Không! Chúng tôi, dù là những người lính trừ bị, nhưng đã hiến cả đời mình cho quân đội, cho Tổ Quốc, luôn ngẩng cao đầu hãnh diện đã góp phần bảo vệ quê hương và phát huy giá trị tự do nhân bản. Chúng tôi đã từng sống chết hết lòng với đồng đội anh em, và chiến đấu bằng tất cả danh dự cùng cả trái tim mình.

Cuộc chiến bất hạnh khi người bạn đồng minh đành đoạn quay lưng, để phải kết thúc trong đớn đau, tức tưởi: “phía man rợ đã thắng”, lời của chính bà Dương Thu Hương, một nhà văn, một cán binh Cộng sản đã từng xác tín. Và một chế độ được dựng lên bởi một đảng cướp man rợ, độc tài, sống hèn mạt, phè phỡn trên nỗi thống khổ oán than của dân tộc cùng sự điêu linh của đất nước, sẽ không thể tồn tại lâu dài. Lịch sử dân tộc nhất định sẽ có ngày viết lại những chiến công vinh quang hiển hách, và cả những hy sinh, đau đớn, khổ nhục mà thế hệ chúng tôi đã từng đạt được, trải qua, trong một giai đoạn bất hạnh và đau thương nhất của dân tộc.

(tháng Tư 2019)
Phạm Tín An Ninh

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 19 Aug 2026

“Ôi! Huynh Đệ Chi Binh là cái gì đó anh Hai ơi?”

(Nhạc sĩ Lê Minh Bằng)

Nhớ ngày xưa trong thời kỳ chiến tranh, quân sĩ ngoài mặt trận, sống chết bên nhau từng giây phút cam go. Lúc ấy chỉ có súng đạn và đối phương, không có thành phố, không có thân nhân, vợ con họ hàng, quan cũng như quân, cái chết cận kề, cùng vào sinh ra tử nên cuộc sống khắng khít với nhau biết bao nhiêu.

Người ta dùng thành ngữ “huynh đệ chi binh” để nói tới mối tình anh em thiêng liêng trong đời sống quân ngũ ngoài mặt trận. Quân sĩ chia nhau từng ngụm nước, từng miếng lương khô, chia sẻ với nhau từng bức thư nhà, kể cho nhau nghe những tình cảm che kín tận đáy lòng. Họ là anh em, không có gì để dấu nhau, không có của cải nào để làm sở hữu cho riêng mình. Những lúc hiểm nguy, họ sẵn sàng hy sinh cả thân xác mình để bảo vệ cho bạn, vì đã là huynh đệ chi binh, bạn bè cũng không từ nan phải chết cho họ.

Nhất là đối với cấp chỉ huy, thì những chiến công, những thành tích của họ chính là do các binh sĩ dưới quyền làm nên. Một sĩ quan mới ra trường, đến với đơn vị hành quân tác chiến, bao nhiêu năm, leo lên đến cấp tá, rồi cấp tướng đã chứng kiến qua nhiều đoạn đường trải đầy xương máu của đồng đội. Người xưa đã nói: “Nhất tướng công thành vạn cốt khô!” vì khi một cấp bậc được gắn lên cổ áo hay một huy chương được trao tặng, điều đó đã được hình thành, xây dựng bởi bao nhiêu cái chết của thuộc cấp họ, bởi bao nhiêu vành khăn tang được vội vã quấn trên đầu của thân nhân đồng đội.

Nhưng mấy ai nhớ tới những điều đó, tướng lãnh thì đời sống xa hoa, lên xe xuống ngựa, binh sĩ thì sống chật vật nghèo nàn, thiếu thốn tiện nghi trong trại gia binh. Khoảng cách giữa những ngươi chỉ huy và thuộc cấp vẫn là một khoảng cách quá xa, thành ra đôi khi những khẩu hiệu vẫn chỉ là những khẩu hiệu, phù phiếm không hơn không kém. Những ông tướng vào bếp binh sĩ nếm thử một muỗng canh “đại dương” cũng chỉ là một hình thức “mị hoặc” để tuyên truyền, trong khi chính bà tướng đã đi hàng ngang với các nhà thầu cơm lính tại quân trường để ăn chặn trên mỗi bữa ăn vốn đã nghèo nàn của binh sĩ. Khi nhà thầu lương thực tặng bà tướng một triệu đồng có nghĩa là chúng đã đồng lõa cắt nửa phần cơm trong nhà ăn của những người vốn đã cơ cực, đói khổ.

Người viết bài này còn nhớ trong cuộc hành quân thực tập cuối khóa 16 SQTB Thủ Đức giữa năm 1963, ông Chỉ Huy Trưởng buổi chiều có theo giám sát cuộc hành quân của chúng tôi, nhưng theo ông là một đoàn xe và cả một tiểu đội lính để dựng lều, có “xi tẹc” nước cho ông tắm, có cả tủ nước đá lớn và nhiều chai rượu mạnh.

Một điều gây ấn tượng mạnh, giờ này, bốn mươi hai năm sau, tôi vẫn còn nhìn thấy như ngay trước mắt tôi, đó là tai nạn sau buổi thực tập tác xạ súng cối 60 ly của Đại đội I chúng tôi tại quân trường. Sau giờ học, SVSQ được lệnh đi lượm các vỏ đạn để thu vào một đống. Một bạn đã vô ý ném vào một viên đạn lép 60 ly vào đống vỏ đạn. Một tiếng nổ kinh hồn đã giết mất sáu bạn trong đại đội chúng tôi và hai huấn luyện viên vũ khí, vì lúc ấy tất cả đều đứng quanh đó để chuẩn bị tập họp về trường. Đại đội trở về doanh trại với một tâm trạng buồn rầu và tang tóc. Phía trong cổng số 6 (cổng sau ngõ ra Tăng Nhơn Phú), ông Chỉ Huy Trưởng của chúng tôi là Thiếu Tướng Trần Ngọc Tám đang cầm can chỉ huy chờ chúng tôi bên cạnh chiếc xe Hoa Kỳ có gắn bảng sao của ông và đứng gần ông là một người lính cầm trong tay một ly rượu còn sóng sánh vàng với những viên đá cục và tay kia một chai rượu whisky sẵn sàng chờ lệnh chủ. Ngày đó chúng tôi và bạn bè chưa biết là sẽ phải chết vì những viên tướng như thế kia và đó chỉ mới là cái ấn tượng sơ khởi ở một nơi gọi là quân trường, chưa phải là ngoài đơn vị tác chiến. Những ngày cuối cùng của tháng 4-1975, tướng tá phần lớn có phương tiện trong tay hoặc có quyền lực để tìm phương tiện ra đi, hoặc được Mỹ bốc đi cả gia đình, kể cả con cháu, người ăn kẻ ở trong nhà và mang theo đủ của cải, tiền bạc. Những người còn ở lại là ai, thương binh què quặt lê la kiếm sống trên đường phố hoặc trong thôn xóm nghèo nàn, chiến hữu xếp hàng trình diện để vào trại tập trung ba năm, sáu năm, chín năm hay mười hai năm. Qua đây chưa thấy đàn anh nào có lòng thành, ý tốt nghĩ tới những người đã bỏ xương máu để gầy dựng nên binh nghiệp, gắn lên cổ áo mình đôi ba sao, để đứng ra tìm cách giúp đỡ cho đàn em bất hạnh ở quê nhà. Chỉ thấy đàn anh hội hè, gởi về quê hương những danh từ không thể làm no bao tử hay ấm được tấm thân. Ngày nay ở Hoa Kỳ, từ Pháp, Úc, Canada … nếu không có những anh em cấp nhỏ đã đồng lao cộng khổ, cũng như đồng bào qua đây còn ghi nhớ công ơn người chiến sĩ đã xả thân cho miền Nam Việt Nam, thì anh em thương binh, các bà quả phụ từ hai ba mươi năm nay đã không có được chút quà đắp đổi cho những ngày tháng bất hạnh còn lại của đời mình. Thực tình người viết bài này cũng mong có vị cựu tướng anh minh nào có thể “hỏi” được cả Mỹ và “xin” được cả chính quyền Cộng Sản để kiếm được một ngân khoản lo cho các thương phế binh VNCH. Nhưng nếu có được thì tiền cũng không ai đem về phát cho không, mà phải lập ra trường dạy nghề, hướng nghiệp. Đến lúc này thì cũng đã quá muộn, ba mươi năm qua, thương phế binh nay đã già yếu, chỉ chờ ngày chết. Người quân tử biết cẩn trọng lời nói, xin các đàn anh chớ có đem nỗi khốn khổ của thuộc cấp ngày xưa mà lót đường danh vọng một lần nữa.

Xin hãy làm một việc nhỏ như một người bình thường, mỗi năm giúp cho một vài hoàn cảnh thương phế binh để bớt nỗi nhọc nhằn cho họ và đem lại niềm vui ấm áp của tình huynh đệ chi binh mà ngày xưa chúng ta vẫn thường nghe nói tới hằng ngày.

Samurai! Những trận không chiến dữ dội nhất lịch sử Thái Bình Dương

vietmessenger.com

Tủ sách Khoa Học Nhân Văn

Lê Thanh Hoàng Dân

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Post by Sơn râu 18 Aug 2026

Martin Caidin

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

Trẻ Xuất Bản 1974

Vào ngày 2 tháng 12-1941, Phó Ðô đốc Nishizo Tsukahara, Tư lịnh Không Hạm đội XI, lần đầu tiên gởi các phi công thám thính đến quần đảo Phi Luật Tân. Ngày 4 và 5, các phi cơ này trở lại một lần nữa để chụp hình 2 phi trường Clark Air Base và Iba Airfield cùng những nơi đồn trú quan trọng khác gần Manila, từ độ cao 20,000 bộ (6,000ma). Các không ảnh đã cho chúng tôi nhìn thấy rõ ràng tại phi trường Clark AB có 32 oanh tạc cơ B17, 3 phi cơ hạng trung và 71 phi cơ nhỏ. Theo xét đoán của Hải quân, địch có khoảng 300 máy bay quân sự đủ loại ở Lữ Tống (Luzon), là đảo chính. Sau này chúng tôi khám phá ra số phi cơ thiệt nhiều gấp đôi con số kể trên. Không phải chỉ chúng tôi độc quyền thực hiện các phi vụ do thám. Nhiều thám thính cơ Catalina PBY-5A của Hoa Kỳ cũng thỉnh thoảng được nhìn thấy trên không phận Ðài Loan. Loại thủy phi cơ hai máy này xuất hiện vào những ngày mây sà thấp, bay chậm ở độ cao 1,500 bộ (450m), nhởn nhơ chụp hình các nơi đồn trú và dãy phi cơ đậu trên mặt đất của chúng tôi. Các phi công Mỹ gây xiết bao kinh ngạc. Với những thân tàu chậm chạp và cũ kỹ, coi rất dễ ăn vậy mà chúng tôi không tóm được một chiếc Catalina nào. Mỗi lần có báo động, hàng chục phi công nhảy xổ lên không, nhưng mấy chiếc Catalina chui vô trong mây dày và biến mất tiêu. Với những không ảnh chụp ở một độ thấp như vầy, phải nói rằng người Mỹ có trong tay mọi thứ mà họ muốn biết về các đơn vị không quân Nhựt Bản.

Khi chúng tôi đến Ðài Nam để gia nhập vào Tân Hạm đội XI, chúng tôi phải trải qua một giai đoạn huấn luyện mới không ngưng nghỉ. Từ bình minh cho đến tối mù, 7 ngày một tuần, bất chấp mọi thời tiết, chúng tôi tham dự các chuyến bay huấn luyện để cải tiến các phi vụ hộ tống, phi vụ đột kích, phi vụ có đội hình đông đảo v.v.

Kế hoạch tấn công Phi Luật Tân nguyên thủy đòi hỏi phải sử dụng 3 hàng không mẫu hạm để mang chiến đấu cơ Zéro đến gần các hòn đảo của địch. Ðó là 3 hàng không mẫu hạm Ryujo (Long Phi) 11,700 tấn, Zuiho (Thụy Phụng) 13,950 tấn là một tàu tiếp tế cho tiềm thủy đĩnh được tân cải, và Taiho (Ðại Phụng) 20,000 tấn là tàu buôn cải tiến. Về mặt lý thuyết 3 hàng không mẫu hạm nhẹ này có khả năng chở đến 90 chiến đấu cơ, nhưng khả năng thực sự chỉ khoảng 50 phi cơ và con số này còn phải giảm xuống vào những ngày giông gió.

Phó Ðô đốc Tsukahara nhận thấy ba chiếc tàu này hầu như không đáp ứng các dự tính của ông. Tuy nhiên, nếu chiếc Zéro có thể bay thẳng một mạch từ Ðài Loan đến Phi và trở về không ngưng nghỉ, thì bấy giờ sẽ không cần đến hàng không mẫu hạm nữa. Nhưng các phụ tá của Tsukahara không tin một chiến đấu cơ một máy có thể thực hiện nổi nhiệm vụ có tầm xa như vậy. Clark Air Base cách căn cứ chúng tôi 450 hải lý (835km), và phi trường Nichols Field, một mục tiêu quan trọng khác gần Manila, cách 500 hải lý (930km). Ðiều đó có nghĩa là phải bay suốt từ 1,000 (1,850km) đến 1,200 dặm biển (2,200 km). Từ trước đến nay chưa có khu trục cơ nào thực hiện được những phi vụ xa như vậy bao giờ. Những cuộc thảo luận ồn ào xảy ra không dứt giữa Bộ Tham mưu Không quân… Chỉ có một cách duy nhứt để xác định vấn đề.

Từ đó về sau, chúng tôi bay ngày lẫn đêm để đo lường tầm hoạt động của chiến đấu cơ Zéro. Nếu là phi vụ đơn độc, loại khu trục Zéro có thể duy trì trên không tối đa 6 đến 7 giờ. Chúng tôi kéo dài thêm thời gian này ra từ 10 đến 12 giờ và thực hiện trong đội hình đông đúc. Riêng tôi lập thành tích trong việc hạ thấp mức tiêu thụ xăng xuống không quá 17 ga-lông (khoảng 68 lít) một giờ; trung bình các phi công giảm mức tiêu thụ xăng từ 35 ga-lông (140 lít) xuống còn 18 ga-lông (72 lít). Thông thường, một chiếc Zéro mang 182 ga-lông xăng. Ðể duy trì, ở cao độ 12,000 bộ (3,600m) chúng tôi chỉ bay với tốc lực khoảng 200 cây số giờ. Tốc lực đầy đủ bình thường của một chiếc Zéro là 500 km, và trong tình trạng khẩn cấp ngắn ngủi có thể lên đến tối đa 650 cây số giờ. Nhiều phương pháp tiết kiệm nhiên liệu có tánh cách kỹ thuật khác cũng được thực hiện.

Các phương pháp mới này đã nới rộng tầm hoạt động của chiếc Zéro một cách đáng kể. Các vị chỉ huy đã báo cáo những tin tức đầy lạc quan lên Phó Ðô đốc Tsukahara, và dẫn đến việc xoá bỏ 3 hàng không mẫu hạm nhỏ trong kế hoạch tấn công Phi Luật Tân của ông. Hai chiếc được điều về Nhựt Bản và một chiếc di chuyển đến yểm trợ cho các cuộc hành quân của chúng tôi ở Palau, phía Tây Thái Bình Dương gần quần đảo Carolina giáp ranh Nam-Dương. Do đó, Không Hạm đội XI trở thành một không hạm đội không có một tàu chiến nào cả.

Chúng tôi tò mò tìm hiểu sự chống trả sẽ gặp từ phía người Mỹ. Chúng tôi hiểu biết rất ít về các loại phi cơ và tài ba của phi công Hoa Kỳ. Chúng tôi chỉ phỏng đoán sẽ đối đầu với những phi công có nhiều khả năng hơn những phi công địch mà chúng tôi đã đối đầu ở Trung Hoa.

Không ai tỏ vẻ nghi ngờ về sự khôn ngoan trong việc phát động chiến tranh của Nhựt Bản. Chúng tôi, tất cả hạ sĩ quan đã được huấn luyện để chỉ biết nhắm mắt tuân lịnh. Khi được lịnh bay và đánh, chúng tôi thi hành.

Lúc hai giờ sáng ngày 8 tháng 12 năm 1941, một liên lạc viên chạy vô chỗ trú ngụ của chúng tôi ở Ðài Nam, đánh thức nhóm phi công chúng tôi dậy. Ðã đến ngày N, là ngày khai chiến theo như chúng tôi biết. Các phi công ngồi dậy lặng lẽ mặc quần áo và từng tốp nhỏ bước ra sân. Ðêm trong lành, thanh vắng với những vì sao chiếu lấp lánh khắp không trung. Yên tĩnh của đêm bị phá vỡ bởi tiếng giày trận của chúng tôi khua vang trên nền đá và tiếng nói thì thào của các phi công lúc bước ra phi đạo. Ðại úy Masahisa Saito, chỉ huy trưởng phi đoàn cho biết chúng tôi sẽ cất cánh lúc 4 giờ và ông thuyết trình về những chi tiết liên quan đến phi vụ tấn công vào phi trường Mỹ ở Phi Luật Tân. Sau đó chúng tôi chờ đợi. Binh sĩ chạy việc mang điểm tâm đến tận chỗ chúng tôi ngồi bên cạnh phi cơ nằm sẵn trên phi đạo. Khoảng 3 giờ sáng, sương mù bắt đầu sà thấp xuống, một hiện tượng hiếm thấy trong khu vực bán nhiệt đới. Vào lúc 4 giờ, sương mù trở nên dày đặc. Không thể nào nhìn thấy hơn năm thước. Chiếc loa trên đài kiểm soát không lưu vang vang: “Cất cánh hoãn vô hạn định!”

Nỗi bồn chồn của chúng tôi càng lúc càng gia tăng khi màn đêm loãng dần. Trong không khí là một dải sương mù dày của những ý nghĩ. Chúng tôi nhìn đồng hồ luôn, chửi rủa sương mù thậm tệ. Ba tiếng đồng hồ trôi qua trong tình trạng này, và sương mù đã không tan mà còn dày hơn. Bỗng nhiên loa phóng thanh lại vang tiếng: “Chú ý! Chú ý! Ðây là công bố quan trọng..” Các phi công chăm chú lắng nghe. “Vào lúc 6 giờ sáng nay, một lực lượng đặc nhiệm Nhựt Bản đã thành công khi tung ra cuộc tấn công hủy diệt bất thần các lực lượng Mỹ trên quần đảo Hạ Uy Di.” (Do lệch múi giờ, là mùng 7 tại Pearl Harbor nhưng là sáng mùng 8 ở Ðài Loan).

Tiếng hò reo dữ dội trổi lên trong màn đêm. Các phi công nhảy múa vỗ đấm lưng nhau thùm thụp. Nỗi vui mừng không trọn vẹn. Ða số phi công chúng tôi đều chửi thề vì bị đóng đinh trên mặt đất trong khi đồng đội đang nghiền nát kẻ thù. Bay và bắn. Ðã là phương châm của phi công Nhựt.

Cuộc tấn công vừa công bố làm cho chúng tôi thêm suy nghĩ. Người Mỹ hiện thời đã báo động và cảnh giác, khó thể tin rằng họ không gom góp hết sức mạnh để chờ chúng tôi ở Phi Luật Tân. Căng thẳng gia tăng khi buổi sáng ló dạng. Sương mù đã phá hỏng kế hoạch của chúng tôi, sẽ cho phép người Mỹ tung phi cơ của họ từ Lữ Tống đến vồ số phi cơ hiện còn nằm trên mặt đất của chúng tôi ngay khi sương mù vừa tan. Chúng tôi chuẩn bị chống trả. Các xạ thủ phòng không ghìm súng, và mọi người vểnh tai ngóng tiếng oanh tạc cơ địch bay đến.

Lạ lùng thay, cuộc tấn công không xảy ra! Lúc 9 giờ sáng, sương mù bắt đầu tan và âm thanh vui mừng từ chiếc loa phóng thanh báo cho chúng tôi biết sẽ cất cánh trong vòng 1 giờ nữa. Tất cả các phi công chiến đấu cơ và oanh tạc cơ đều leo lên phi cơ của mình mà không đợi nhận lịnh thêm.

Ðúng 10 giờ, đèn báo hiệu lấp loáng xuyên qua màn sương mù mong manh. Hết chiếc oanh tạc cơ này đến chiếc oanh tạc cơ khác lần lượt cất cánh. Một, hai, ba, rồi sáu chiếc đã ở trên không trung. Chiếc thứ bảy đang chạy trên phi đạo và khi cách điểm khởi hành khoảng 500 thước bỗng nhiên bộ phận hạ cánh bên phải sụm xuống. Với một tiếng rít kéo dài khủng khiếp, chiếc phi cơ trườn bụng trên đường băng, lửa bao phủ toàn thân. Trong ánh lửa chập chờn, chúng tôi nhìn thấy phi hành đoàn nhảy ra, chạy cuống cuồng khỏi chiếc phi cơ. Kế đó, một tiếng nổ dữ dội phát ra rung rinh cả phi trường. Bom chất trên phi cơ nổ tung. Không một người nào trong phi hành đoàn sống sót.

Những mảnh vụn được dọn dẹp hối hả. Không đầy 15 phút sau, oanh tạc cơ kế đó được lịnh xuất phát. Ðến 10 giờ 45 phút, tất cả phi cơ đều ở trên không: 53 oanh tạc cơ Betty và 45 chiến đấu cơ Zéro. Chiến đấu cơ chia làm 2 nhóm, một nhóm hộ tống các oanh tạc cơ, một nhóm bay phía trước để nghinh chiến. Tôi chắc chắn, sau khi cuộc tấn công trì hoãn quá lâu, kẻ thù đang chờ đợi chúng tôi với tất cả sức lực của họ. Tôi bay trong đợt thứ năm và đội hình chúng tôi nâng cao lên 19,000 bộ (5,800m).

Ngay khi vượt qua mũi cực nam của đảo Ðài Loan, tôi nhìn thấy 9 oanh tạc cơ bay thẳng về phía hòn đảo. Hiển nhiên, chúng đang trên đường tấn công căn cứ của chúng tôi. Chín phi công, trong đó có tôi, trước khi cất cánh đã được lịnh chống trả bất kỳ phi cơ nào của địch phát hiện trên phi trình đến Lữ Tống, trong khi các phi công khác cứ tiếp tục bay như kế hoạch đã định.

Chúng tôi tách khỏi đội hình chính và bổ nhào xuống các oanh tạc cơ địch. Trong hai giây, tôi đã nằm trong vị trí khai hoả, và áp sát vào nhằm tỉa chiếc oanh tạc cơ dẫn đầu. Sắp sửa ấn cò súng, tôi nhận ra đây là các oanh tạc cơ của Lục Quân Nhựt Bản! Tôi lắc cánh để báo hiệu cho các chiến đấu cơ khác. Tôi chửi thề. Văng tục! Không một vị nào ở Bộ Tư lệnh Lục Quân trong khu vực thèm để ý đến việc phối hợp với các phi vụ của Hải quân. Bọn ngu đần ngồi trong mấy chiếc máy bay này đang thực hiện một phi vụ huấn luyện thường lệ!

Chúng tôi kết hợp vào đội hình lúc bay qua nhóm đảo Batan, nằm giữa đường Ðài Loan và Lữ Tống. Các đảo này do quân nhảy dù Nhựt vừa chiếm đóng, nhằm để đón nhận một phi cơ nào đó của chúng tôi bắt buộc phải đáp xuống trên đường từ Phi trở về. Và rồi quần đảo Phi hiện ra trong tầm mắt, một màu xanh lá cây sậm nổi bật giữa màu xanh lơ của đại dương. Bờ biển trải dài phía dưới, ngoạn mục và hiền hoà. Không một chiếc phi cơ địch nào xuất hiện trên bầu trời. Bấy giờ chúng tôi đã bỏ đảo Hải Nam lại sau lưng, và vào lúc 1 giờ 35, chúng tôi trực chỉ US Clark Air Base.

Quang cảnh trước mắt không thể nào tin nổi. Thay vì đụng đầu với một bầy chiến đấu cơ đông như ruồi, bu lấy chúng tôi, chúng tôi nhìn xuống và thấy khoảng 60 oanh tạc cơ và chiến đấu cơ địch đang nằm xếp hàng dọc theo phi đạo như một đàn vịt. Chúng tôi khó có thể hiểu được thái độ của đối phương. Trân Châu Cảng vừa bị tấn công cách đây 5 giờ, chắc chắn họ đã nhận được tin tức và lẽ ra họ phải đề phòng một cuộc tấn công khác nhằm vào phi trường lớn nhất này. Chúng tôi vẫn không tin rằng người Mỹ không tung chiến đấu cơ lên để nghênh cản chúng tôi. Cuối cùng, sau nhiều lần đảo quanh, tôi phát hiện 5 chiến đấu cơ địch đang bay trên cao độ khoảng 15,000 bộ (4,500m) phía bên trên chúng tôi khoảng 7,000 bộ (2000m). Tức khắc, chúng tôi nhả thùng xăng phụ và chuẩn bị hoả lực. Tuy nhiên, phi công địch từ chối tấn công và vẫn giữ độ cao như cũ. Thật lạ lùng. 5 chiến đấu cơ Mỹ bay vòng quanh trên cao độ 15,000 bộ trong lúc chúng tôi bay vòng quanh phía dưới. Chúng tôi vẫn chưa có lệnh tấn công vì phải chờ các oanh tạc cơ của chúng tôi đến.

Lúc 1 giờ 45, từ phía Bắc, 27 oanh tạc cơ Mitsubishi G4M Betty cùng các chiến đấu cơ Zéro hộ tống lướt thẳng đến mục tiêu dội bom. Cuộc oanh tạc hoàn hảo. Dây bom rời khỏi bụng phi cơ, rải lên mục tiêu thật chính xác, sự chính xác mà tôi chưa từng thấy trong suốt cuộc chiến. Cả căn cứ không quân địch như bật tung với chuỗi tiếng nổ. Mảnh của phi cơ, nhà chứa phi cơ và các cơ sở khác bay tứ phía. Những cột lửa và khói vĩ đại cuồn cuộn bốc lên.

Nhiệm vụ hoàn tất, các oanh tạc cơ đảo cánh và bắt đầu bay trở về. Chúng tôi bay theo để hộ tống khoảng mười phút rồi quay lại phi trường Clark đang bao trùm trong khói lửa. Chúng tôi bay vòng ở độ cao 13,000 bộ (4000m), vẫn không gặp sự chống đối nào, và nhận lịnh xạ kích. Với hai đồng đội hai bên cánh, tôi chúi thẳng xuống mặt đất, mục tiêu được chọn là hai oanh tạc cơ B17 còn nguyên vẹn trên sân bay. Tất cả 3 chiến đấu cơ cùng khai hoả cùng lúc vào hai chiếc phi cơ khổng lồ này, sà thấp sát mặt đất rồi lướt thẳng lên.

Năm chiến đấu cơ địch nhảy bổ vào chúng tôi. Ðó là loại Curtiss P40 Warhawk mà tôi chưa từng đụng độ bao giờ. Tôi cho phi cơ rớt theo hình trôn ốc rồi xoáy vượt lên thình lình, thoát khỏi tay kẻ thù. 5 phi cơ địch phân tán tức khắc. 4 chiếc chui vào các cột khói đen bốc lên từ mặt đất và biến mất. Chiếc thứ năm xoáy trôn ốc lạng về phía trái, một lỗi lầm. Nếu bay theo đồng bọn, nó đã có thể thoát thân an toàn. Lập tức, tôi vung ngang và lướt thẳng đứng lên chiếc P40 từ phía dưới. Phi cơ địch lấy thăng bằng và bắt đầu vượt lên cao, bụng phơi bày sáng lóa trước mắt tôi, cách 200 thước. Một loạt đạn đại liên và đại bác xuyên qua buồng lái, thổi bay mái che của chiếc phi cơ. Nó lảo đảo trong không khí, rồi rớt chúi đâm đầu xuống đất. Ðó là nạn nhân thứ ba của tôi, và cũng là phi cơ Hoa Kỳ đầu tiên bị bắn rơi trên không trung Phi Luật Tân.

Sau đó, tôi không đụng đầu một đối thủ nào nữa, nhưng tôi nhìn thấy những đồng đội khác đang quần thảo với một nhóm phi cơ địch. Chiều hôm đó, chúng tôi trở lại Ðài Nam với báo cáo: 9 phi cơ Mỹ bị bắn rơi, 35 chiếc bị hủy diệt trên mặt đất. Súng cao xạ của phi trường Clark hạ một chiếc Zéro và 4 chiếc khác rớt trên đường về, nhưng không một chiếc nào bị hạ trong không chiến.

Mười ba năm chờ đợi – Một đêm chia ly

Bài và ảnh Phạm Sơn Liêm

Post by Sơn râu 18 Aug 2026

Có những cuộc chiến kết thúc bằng tiếng súng ngừng bắn.Nhưng có những cuộc chiến khác… kéo dài suốt cả một đời người.

Sau năm 1975, có những người đàn ông ra đi với lời hẹn “vài tháng sẽ về”.

Và có những người vợ lặng lẽ đứng ở cửa nhà… chờ đợi mười năm, mười ba năm, thậm chí lâu hơn thế.

Họ không cầm súng.

Họ không có huân chương.

Nhưng họ đã chiến đấu bằng sự nhẫn nhịn, bằng nước mắt, và bằng tình nghĩa vợ chồng không gì lay chuyển.

Câu chuyện này không nói về chiến trận.

Nó nói về một người vợ nghèo, ba đứa con thơ, một bà mẹ già… và một người chồng đi cải tạo mười ba năm.

Ngày đoàn tụ, họ tưởng rằng cuộc đời đã trả lại cho họ chút bình yên.

Nhưng đôi khi…

số phận lại chỉ cho con người một khoảng hạnh phúc rất ngắn, trước khi lấy đi tất cả.

Nếu khi đọc câu chuyện này, bạn thấy mắt mình ướt…

xin hãy nhớ rằng ở một góc nào đó của đất nước này, đã từng có những người vợ chờ chồng gần cả một đời người như thế.

Psl.

Lon Cơm Và Chuyến Tàu Ra Bắc

Những năm sau 1975, ở một xóm nghèo cuối thị xã, người ta thường thấy một người đàn bà gầy gò, lúc nào cũng mặc chiếc áo bà ba đã sờn vai, buộc tóc sau gáy. Ba đứa con nhỏ bám quanh, còn trong nhà là một bà già lưng đã còng như dấu hỏi.

Người đàn bà đó tên Hạnh.

Chồng chị,một sĩ quan cũ, đã bị đưa đi “học tập cải tạo”. Ngày đi, anh nói một câu nhẹ tênh:

“Ba tháng thôi… anh về.”

Ba tháng ấy kéo dài mười ba năm.

Những năm đầu, chị Hạnh còn tin.

Mỗi buổi chiều chị đứng ngoài đầu ngõ nhìn ra con đường đất, tưởng như sẽ thấy chồng xách túi trở về. Ba đứa con cứ hỏi:

“Má ơi, chừng nào ba về?”

Chị nuốt nước mắt:

“Ba đi làm xa… mai mốt ba về.”

Nhưng năm tháng cứ trôi.

Đồ đạc trong nhà lần lượt đội nón ra đi: cái đồng hồ cưới, chiếc xe đạp, rồi đến cái tủ nhỏ. Còn lại chỉ có ba đứa con và một bà mẹ chồng già yếu.

Chị làm đủ nghề: bán rau, gánh nước thuê, giặt đồ mướn. Đêm về, chị ngồi vá áo cho con dưới ngọn đèn dầu leo lét.

Có đêm mệt quá, chị gục đầu xuống bàn mà ngủ.

⸻

Đứa con trai lớn tên Tuất.

Nó mới chín tuổi đã biết cầm cái lon đi xin cơm dư ở mấy quán ăn.

Ban đầu chị Hạnh la nó:

“Con làm vậy người ta coi thường.”

Thằng bé cúi đầu:

“Con không xin… con lấy đồ người ta bỏ thôi. Má đừng khóc.”

Từ đó, sáng nào nó cũng đứng trước quán ăn, đợi khách ăn xong.

Những tô còn dư chút cơm, chút thịt… nó trút hết vào cái lon.

Mang về cho má, cho bà nội.

Nhiều bữa nó nói dối:

“Con ăn rồi.”

Nhưng chị biết nó chưa ăn gì.

Một hôm chị Hạnh nghe tin: muốn đi thăm chồng ngoài Bắc phải có giấy.

Chị bán luôn chiếc nhẫn cưới cuối cùng.

Rồi vay mượn khắp nơi.

Sau mấy tháng trời chạy ngược chạy xuôi, chị cầm được tờ giấy phép thăm nuôi.

Chuyến tàu ra Bắc kéo dài gần ba ngày ba đêm.

Chị ôm theo túi gạo, ít cá khô, mấy bộ quần áo vá chằng vá đụp.

Đêm trên tàu, chị không ngủ.

Chỉ ôm cái túi, nhìn ra cửa sổ tối đen.

Trong đầu chị chỉ có một câu:

“Không biết ổng còn sống không…”

Ngày gặp lại chồng trong trại cải tạo, chị không nhận ra anh.

Người đàn ông gầy đến nỗi hai má hóp sâu, da đen sạm, tóc lốm đốm bạc.

Anh nhìn chị một hồi lâu.

Rồi bật khóc.

Đó là lần đầu tiên chị thấy người đàn ông từng chỉ huy cả đại đội… khóc như một đứa trẻ.

Anh run run hỏi:

“Con… còn đủ không?”

Chị gật đầu.

Nhưng không dám nói rằng đứa lớn phải đi xin cơm dư.

Mười ba năm sau.

Một buổi chiều, anh được thả về.

Không có kèn trống.

Không có chào đón.

Chỉ có một người đàn bà đứng ở cổng xóm, tay run run nắm tà áo.

Anh bước xuống chiếc xe đò cũ kỹ.

Hai người nhìn nhau.

Không ai nói gì.

Chỉ có nước mắt.

Những năm sau đó là những ngày bình yên hiếm hoi.

Anh đi sửa xe đạp, vá dép kiếm sống.

Chị bán hàng ngoài chợ.

Ba đứa con đã lớn.

Thằng Tuất giờ thành thanh niên, da đen vì nắng, nhưng hiền như đất.

Có lần anh nói với vợ:

“Anh mang ơn em… suốt đời.”

Chị cười:

“Ơn nghĩa gì… vợ chồng mà.”

Nhưng hạnh phúc ấy ngắn lắm.

Một buổi sáng, đang sửa xe trước nhà, anh bỗng ngã quỵ.

Tai biến.

Nửa người tê liệt.

Từ đó, người đàn ông từng chịu đựng mười ba năm trại cải tạo… nằm một chỗ.

Chị Hạnh lại bắt đầu một cuộc đời khác.

Ngày ngày đút cơm cho chồng.

Đêm đấm bóp tay chân cho anh.

Có hôm chị ngồi bên giường, tưởng anh ngủ rồi.

Chị khẽ nói:

“Ông ơi… ráng sống nha. Tui chờ ông mười ba năm rồi… đừng bỏ tui nữa.”

Anh mở mắt.

Nước mắt chảy xuống thái dương.

Một chiều mưa.

Thằng Tuất đứng trước hiên nhà.

Trong tay nó là cái lon cũ đã móp méo – cái lon ngày xưa đi xin cơm dư.

Nó nhìn cái lon rất lâu.

Rồi lặng lẽ ném đi.

Vì bây giờ nó đã là trụ cột gia đình.

Nhưng trong lòng nó biết…

Có những năm tháng không bao giờ quên được.

Người ta thường nói chiến tranh kết thúc năm 1975.

Nhưng với nhiều gia đình…

Chiến tranh không bao giờ thật sự kết thúc.

Nó nằm trong những chuyến tàu thăm nuôi ra Bắc.

Trong cái lon cơm dư của một đứa trẻ.

Và trong đôi mắt của một người vợ…

đã chờ chồng gần cả đời người.

Đêm đó mưa rơi rất nhẹ.

Những giọt mưa gõ lộp bộp lên mái tôn cũ của căn nhà nhỏ, thứ âm thanh quen thuộc của bao năm nghèo khó. Trong căn phòng chật hẹp, ánh đèn dầu leo lét hắt bóng con người lên vách tường loang lổ.

Người đàn bà ngồi bên giường.

Đó là chị Hạnh.

Trên chiếc giường tre cũ, người chồng nằm bất động. Sau cơn tai biến, nửa người ông gần như không còn cử động được. Hơi thở yếu, ngắt quãng. Mỗi lần ông thở, ngực nhô lên rất chậm… như phải gắng hết sức mới giữ được một hơi sống.

Chị Hạnh ngồi đó, tay cầm chiếc khăn nhỏ lau trán cho chồng.

Động tác quen thuộc suốt mấy năm nay.

Nhẹ nhàng.

Chậm rãi.

Như sợ làm ông đau.

Ngoài hiên, mấy đứa con đã ngủ. Thằng Tuất đi làm phụ hồ cả ngày, mệt lả, nằm gục bên chiếc bàn gỗ. Hai đứa em nó ngủ sát nhau dưới nền nhà.

Chỉ còn chị Hạnh thức.

Và người chồng đang ở ranh giới mong manh giữa sống và chết.

Chị nhìn gương mặt ông thật lâu.

Mái tóc bạc gần hết.

Hai gò má hóp sâu.

Không còn bóng dáng của người sĩ quan ngày xưa, người đàn ông từng đứng thẳng lưng trong bộ quân phục, từng bế chị quay một vòng trong ngày cưới.

Chị khẽ nắm bàn tay ông.

Bàn tay ấy gầy và lạnh.

Ngày xưa bàn tay đó từng rất mạnh. Khi dắt chị qua đường, khi bồng con đầu lòng, khi đặt lên vai chị mà nói:

“Có anh đây.”

Mà bây giờ…

Bàn tay đó nằm im như một cành cây khô.

Chị Hạnh cúi xuống gần tai chồng.

Giọng chị nhỏ lắm.

Như nói một mình.

“Ông ơi…”

Ông khẽ mở mắt.

Ánh mắt đục, mệt mỏi.

Nhưng khi nhìn thấy vợ… nó dịu lại.

Chị cười.

Một nụ cười đã quen với nước mắt.

“Ông ráng ngủ đi… tui ngồi đây.”

Ông không nói được nữa. Cơn tai biến đã lấy đi tiếng nói của ông từ lâu. Nhưng khóe mắt ông ướt.

Một vài giọt nước mắt chảy xuống thái dương.

Chị Hạnh lau đi.

Rồi bất chợt chị thì thầm, giọng run run:

“Ông biết không… hồi ông đi cải tạo… tui sợ lắm…”

Chị nhìn ra ngoài màn mưa.

Như đang nhìn lại cả một đời.

“Tui sợ ông chết ngoài đó… mà tui không được gặp.”

Giọng chị nghẹn lại.

“Tui chờ ông… mười ba năm trời.”

Căn phòng im lặng.

Chỉ còn tiếng mưa.

Chị nắm tay ông chặt hơn.

“Ngày ông về… tui nhìn không ra ông nữa.”

Chị cười, nhưng nước mắt rơi.

“Ông gầy quá trời… tui tưởng người ta thả nhầm người khác.”

Ông chớp mắt.

Một cái chớp mắt yếu ớt.

Như muốn nói điều gì đó.

Chị cúi đầu nhìn xuống bàn tay ông.

“Nhưng mà ông về là được rồi…”

“Về để tui còn thấy ông.”

Một giọt nước mắt rơi lên tay ông.

“Ông biết không… tui không sợ nghèo…”

“Tui chỉ sợ… chờ hoài mà không thấy ông về.”

Ngoài trời, mưa nặng hạt hơn.

Gió lùa qua khe cửa.

Ngọn đèn dầu rung nhẹ.

Chị Hạnh đưa tay vuốt tóc chồng.

Động tác rất chậm.

Như vuốt từng năm tháng.

Một lúc lâu sau, chị khẽ nói.

Giọng nhỏ đến mức gần như tan vào tiếng mưa.

“Ông ơi…”

“Nếu ông mệt quá… thì thôi…”

Câu nói dừng lại rất lâu.

Rồi chị nói tiếp, nghẹn ngào:

“Ông nghỉ đi…”

“Tui… không trách đâu.”

Nước mắt chị rơi xuống gối.

“Ông đã khổ đủ rồi…”

“Mười ba năm ngoài trại…”

“Rồi mấy năm bệnh nằm đây…”

“Tui biết ông mệt lắm.”

Chị áp trán vào tay ông.

Thì thầm:

“Ông đi trước…”

“Mai mốt tui theo.”

Một lúc sau…

Bàn tay trong tay chị nhẹ dần.

Hơi thở… thưa hơn.

Rồi…

dừng lại.

Chị Hạnh ngồi yên rất lâu.

Không khóc.

Chỉ nắm tay ông.

Như sợ buông ra thì ông sẽ đi mất thật.

Ngoài hiên, mưa vẫn rơi.

Căn nhà nghèo im lặng.

Một lúc sau, chị cúi xuống.

Hôn nhẹ lên trán ông.

Rồi nói một câu rất khẽ:

“Ông về nhà rồi…”

“Không phải đi đâu nữa.”

Đêm đó…

Một người đàn bà góa chồng sau gần cả đời chờ đợi.

Nhưng lần này…

chị không còn phải chờ nữa.

Sáng hôm sau, khi mấy đứa con thức dậy, chúng thấy má vẫn ngồi bên giường, hai tay nắm chặt bàn tay ba.

Người đàn bà ấy đã thức suốt đêm.

Không gọi ai.

Không khóc thành tiếng.

Chỉ ngồi đó… như ngày xưa đã từng ngồi đợi chồng suốt mười ba năm.

Chỉ khác một điều.

Ngày trước bà ngồi chờ ông trở về.

Còn lần này…

bà ngồi đưa ông đi nốt đoạn đường cuối cùng của cuộc đời.

Sài Gòn – Người muôn năm cũ.

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 18 Aug 2026

“Tổng Cóc” là cái tên thân mật chúng tôi thường để gọi ông Quốc Phong từ khi ông lên chức tổng thư ký tòa soạn tuần báo Truyện Phim thời 1956-57 ở Sài Gòn. “Tổng thư ký tòa soạn Quốc Phong” nghe dài lê thê. Tên “Tổng Cóc” gọn gàng dễ nhớ, dễ gọi và cũng biểu lộ phần nào “bản tính cố hữu” của con người. Bởi Quốc Phong thẳng thắn, nóng tính, dễ nổi giận và khi đó anh vung chân múa tay, đập bàn xô ghế… oai như cóc. Vả lại cái tên “Quốc” nó gần giống với “cóc” nên anh em tặng ông cái “nickname” này quá đúng.

Tôi không nhớ ai đã tặng “biệt danh” đó cho ông, rất có thể là Hoàng Hải Thủy vì ông này thích đặt tên cho người khác theo một nghĩa nào đó mà ông cho là thú vị, đôi khi còn gợi nhắc một hình ảnh, một giai thoại dù nhỏ nhưng rất riêng biệt. Tất nhiên, những “biệt danh” đó, có người thích, có người không thích, nhưng lâu dần rồi nó cũng “chết” tên rồi, không đổi được nữa. Cứ gọi như thế, “cả làng” cùng biết. Riêng Quốc Phong thì vui vẻ nhận cái tên “Tổng Cóc” mà chính ông không biết “thằng phải gió nào” đã đặt cho mình. Lần đầu tiên, từ Pháp, ông điện thoại cho tôi và xưng danh ngay: “Tổng Cóc” đây”!

Nghe cái tên ấy thôi, dù xa nhau bao nhiêu năm tháng, tôi vẫn thấy chúng tôi thật gần gụi nhau, có thể cởi mở, nói hết mọi chuyện với nhau không cần giữ gìn ý tứ, khỏi phải đề phòng, màu mè. Hơn bao giờ hết, tôi nhận thấy cái “nickname” nó quan trọng với tình bạn như thế nào. Cho nên hôm nay viết những dòng từ biệt anh, tôi vẫn giữ nguyên cái biệt danh ấy cho gần anh thêm, như chẳng bao giờ muốn rời xa.

Ông Tổng Ra Đi

Vào một buổi sáng sớm ngày 28-2-2005 tức là ngày 20 tháng Giêng năm Ất Dậu, theo thường lệ, tôi mở hộp thư điện tử, đã thấy ngay cái tin buồn của Hồng Vân, con gái Quốc Phong, từ Houston gửi cho tôi báo tin:

“Nhà báo Quốc Phong nguyên chủ nhiệm kiêm chủ bút nhật báo Tiếng Vang và tuần báo Kịch Ảnh, nguyên chủ tịch Hội Chủ Báo, giám đốc hãng phim Liên Ảnh Công Ty, vừa từ trần lúc 8 giờ sáng ngày 28 tháng 2 năm 2005 tại Nice – Pháp Quốc. Ông sinh ngày 15-2-1924 tại làng Vân Ðồn, Hải Hậu, tỉnh Nam Ðịnh. Hưởng thọ 82 tuổi”.

Thật ra, đây là điều chúng tôi đã thấy ít nhất từ một hai năm trước, khi bệnh tình của anh trở nặng, phải vào bệnh viện để cắt một phần phổi và một miếng gan. Sau đó phải làm chemo để ngăn ung thư lan thêm ra. Mỗi lần vào thuốc như vậy anh rất khổ sở, mệt mỏi, buồn nôn. Thuốc đã làm rụng hết tóc. Ðã có lúc anh điện thoại cho tôi nói “không đi bệnh viện nữa vì chịu không nổi mỗi lần chemo — vào thuốc — muốn “đi” sớm cho đỡ khổ và khỏi làm phiền bà Thuận — vợ anh — nay cũng đã già yếu rồi”.

Trước tình cảnh ấy tôi chẳng biết nói câu gì, chỉ còn biết cầu nguyện cho anh mà thôi. 15 ngày trước đây, giữa tháng 2-2005, Hồng Vân gửi thư cho tôi xin lá đu đủ để gửi cho Bố uống bởi Vân nghe ai đó mách, thứ lá đó có thể chữa khỏi hoặc giảm bớt bệnh ung thư. Tôi hiểu đó chỉ là phương pháp cuối cùng, “còn nước còn tát” mà thôi, bởi anh yếu lắm rồi, hầu như chỉ còn nằm chờ ngày ra đi. Tôi thẳng thắn nói với Hồng Vân điều này.

Sự Thật Về Lá Đu Đủ Có Chữa Được Ung Thư Không?

Những năm gần đây, một đôi lần, tôi đã được một số bạn bè hoặc người quen ở nước ngoài, hỏi xin lá đu đủ để chữa bệnh ung thư. Tôi từng trình bày rõ ràng về trường hợp này. Nhân đây cũng xin trình bày cụ thể hơn về lá đu đủ có chữa được ung thư không?

Câu trả lời hết sức chân thật là tôi hoàn toàn không biết hiệu quả của nó ra sao. Tôi chỉ nghe người ta nói lại và yêu cầu tôi kiếm giùm thứ lá này. Từ đó tôi nhận được nhiều nguồn tin cho biết về một số trường hợp đã uống lá đu đủ. Có người khỏi hoặc kéo dài cuộc sống một thời gian nào đó, có người không đạt hiệu quả gì, “ra đi” luôn, nhưng hầu hết là vì bệnh tình quá nặng rồi.

Tôi chỉ biết làm mỗi công việc là đi tìm lá đu đủ phơi khô để gửi cho bạn nào ở nước ngoài cần. Sau đó người ta lại mách rằng lá đu đủ đực mới công hiệu. Thứ lá “đực” này quá hiếm vì đó là thứ đu đủ không có trái nên chẳng ai giữ làm gì cho tốn đất, cứ thấy đu đủ đực là chặt phăng ngay. Vì thế tôi lại phải nhờ người nhà ở Long Khánh vào rừng kiếm rồi trồng đu đủ đực ngay vườn nhà nên mới có để cung cấp cho bạn bè và ngay cả những người không quen. Tôi cũng xin nói rõ là tôi hoàn toàn tặng theo yêu cầu, tuyệt đối không hề nhận bất cứ cái gì của ai, dù một bao thuốc lá.

Thứ hai là dùng lá đu đủ để chữa bệnh chưa được một trung tâm y khoa hoặc nhà nghiên cứu nào công bố về tác dụng ra sao. Đây chỉ là bài thuốc dân gian, có lẽ chỉ có ở Việt Nam. Tôi chỉ biết một người bạn tôi uống lá đu đủ này từ vài ba năm nay và không gây tác hại gì, đến nay vẫn mạnh khỏe. Tuy nhiên anh ấy thỉnh thoảng vẫn đi bệnh viện khám lại nên chưa thể biết chắc vì thuốc Tây hay bài thuốc dân gian. Ðó là sự thật về lá đu đủ. Ai tin thì dùng. Chưa thể có một kết luận nào rõ ràng.

Tôi chưa kịp gửi lá đu đủ thì Quốc Phong đã ra đi rồi!

Cũng may, chứ nếu tôi vừa kịp gửi và ông Tổng Cóc vừa uống một liều đã lăn ra đi tàu suốt, tôi sẽ ân hận lắm và chưa biết chừng cái bài thuốc dân gian kia lại bị nghi ngờ cho cái tội làm chết người. Nói là nói thế thôi, tôi chắc người nhà ông Tổng Cóc chẳng ai nghĩ thế.

Một Thời Xưa Cũ

Tôi biết Quốc Phong khi viết cho tờ Truyện Phim của anh Nguyễn Ngọc Linh. Hồi đó, khoảng năm 1957, anh Linh du học Mỹ mới trở về Việt Nam, tòa soạn báo còn đặt ở một ngôi nhà nhỏ đường Ký Con, thuộc Quận 1, Sài Gòn. Tuần báo Truyện Phim nhanh chóng được độc giả trẻ yêu thích, được đón nhận và gây tiếng vang từ miền Nam đến miền Trung. Hầu như sinh viên, học sinh thời đó, không ai là người không biết đến Truyện Phim. Tờ báo cũng nhanh chóng thay hình đổi dạng, trở nên bảnh bao hơn, bìa offset 4 màu, ca sĩ tài tử ngoại quốc và Việt Nam được trưng lên trang bìa hàng tuần. Bài vở về “cinéma” dịch từ những báo Tây qua Air France rất nhanh, sáng tác trang trong hầu hết là truyện thời đại rất hợp với tuổi trẻ. Ðặc biệt là mỗi lần ra số Tết đều có tặng thêm một cuốn lịch của hãng Paramount Picture rất bảnh chọe gồm 12 trang, mỗi tháng một trang, in hình tài tử thượng thặng thời đó của Hollywood như Ava Gardner, Grace Kelly, Audrey Hepburn, Marilyn Monroe, Frank Sinatra… Mỗi năm, ông tổng thư ký đích thân đi thuê đóng tất cả số báo trong năm, thành một tập bìa da, gáy mạ chữ vàng, cho anh em tòa soạn mỗi người một cuốn dày cộm lưu giữ làm kỷ niệm. Ðó là nét rất đặc biệt của tòa soạn Truyện Phim mà không tòa soạn nào làm được.

Hồi đó tôi còn độc thân, đi chiếc vespa ọc ạch, mỗi tuần ít nhất phải đến tòa báo một lần đưa bài. Phóng sự tiểu thuyết Những Ngày Hoa Mộng là feuilleton đầu tiên của tôi đăng trên tờ này. Cùng viết với tôi có Thanh Nam, Hoàng Hải Thủy, Gia Tuấn, Mai Châu… Anh em tòa soạn thường gặp nhau vào buổi chiều, buổi tối ở một nơi nào đó để cà phê, nghe nhạc. Nhà hàng La Pagode ở góc đường Tự Do còn bày bàn ghế ra vỉa hè rộng thênh và đó là nơi hội tụ khá nhiều gương mặt “văn nghệ” của Sài Gòn thời ấy. Hầu như không ai không biết đến nhà hàng này. Muốn gặp nhau thì buổi chiều cứ đến đó.

Năm 1957, tôi được biệt phái lên Pleiku thành lập Ðại Ðội 3 Văn Nghệ của Quân Khu 3, dưới quyền ông tướng nổi tiếng kỷ luật Ðỗ Cao Trí. Nhưng tiểu đoàn văn nghệ của tôi lại trực thuộc trung ương nên thỉnh thoảng tôi có dịp bay về Sài Gòn. Mỗi lần như thế ông Tổng Cóc kéo tôi đi ăn, đi chơi và không quên nhờ viết bài giới thiệu một ca sĩ đang được yêu chuộng để làm bìa báo. Vì thế tôi bỗng có thêm nghề tường thuật về “cuộc đời ái tình sự nghiệp” các danh ca tài tử, nhưng tôi lấy một bút danh khác là Hoài Giang Ngọc và đã có chuyện trớ trêu là một nữ ca sĩ, sau khi tôi phỏng vấn và viết bài, ngay hôm báo ra đã gặp tôi và “phỏng vấn” lại:

– Anh phỏng vấn em, sao lại để anh “vớ vẩn” nào viết bài vậy?

Hôm đó, có mặt cả Thanh Nam, Hoài Bắc, Mai Thảo, Quốc Phong. Mọi người cười phá lên, tôi cũng cười.

Thanh Nam chỉ tay lên sân khấu, lúc đó Hoài Bắc đang đứng hát:

– Người viết bài cho em là “thằng vớ vẩn” đang hát trên kia đấy.

Em ca sĩ trợn mắt:

– Ui cha, thật thế không anh? Quốc Phong cũng hùa vào:

– Thật đấy, Hoài Bắc viết hay hơn nên anh đăng bài của anh ấy.

Tôi nói:

– Hoài Bắc tức Phạm Ðình Chương mà viết bài là nhất rồi, làm sao anh so sánh với anh ấy được.

Em ca sĩ nửa tin nửa ngờ, nhưng đợi Hoài Bắc hát xong, em đến cảm ơn như một người lịch sự nhất thế giới. Hoài Bắc cứ ớ mặt ra chẳng hiểu chuyện gì. Nhưng bản tính vốn hiền lành, chậm chạp, ít nói nên Hoài Bắc không thể nói nhiều và nói nhanh bằng mấy người chúng tôi họp lại. Nữ ca sĩ vẫn tin người viết bài cho mình là Hoài Bắc. Sau này khi biết chuyện, ca sĩ đó trả thù bằng cách cứ gặp tôi là chắp tay chào “Thưa chú Hoài Bắc”.

Trong số ca sĩ mà ông Tổng Cóc cùng tôi đi phỏng vấn, tôi chỉ còn nhớ mang máng có nữ ca sĩ Khánh Ngọc, Kim Chi, Minh Hiếu, Lệ Thanh, Thanh Thúy, Băng Tâm, Thùy Trang… Ơ, mà sao đến bây giờ tôi mới nhớ ra tại sao ông Tổng Cóc lại chỉ đưa tôi đi phỏng vấn nữ ca sĩ chứ không cho phỏng vấn nam ca sĩ? Lạ thật. Hay là ông cho rằng tôi chỉ có khiếu viết về nữ ca sĩ, còn gặp nam ca sĩ thì không có hứng? Câu hỏi này có lẽ phải chờ đến khi tôi gặp lại ông Tổng ở “bên kia” mới có dịp đặt ra.

Từ Báo Truyện Phim Đến Kịch Ảnh

Sau vài năm, khi tôi đã trở lại làm việc tại Sài Gòn, anh Nguyễn Ngọc Linh được lệnh động viên vào Thủ Ðức. Tờ Truyện Phim không có chủ, Quốc Phong bèn ra riêng, làm tuần báo Kịch Ảnh. Từ đó Kịch Ảnh được cải tiến nhiều trang mục khá hay và ăn khách hơn. Chúng tôi lại có mặt và công việc chẳng khác gì khi viết cho Truyện Phim. Và cũng theo thông lệ, hàng năm Kịch Ảnh vẫn đóng tập tặng cho anh em tòa soạn, đặc biệt cứ mỗi dịp cuối năm lại có một chầu tất niên rất linh đình. Sau mục ăn uống tất niên ở một nhà hàng thuộc loại khá sang như Văn Cảnh lại có mục đi ăn, đi chơi, bất chấp sang hèn ở bất kỳ nơi nào, theo đề nghị của đa số biên tập viên.

Lúc đó ông tổng thư ký đã lên chức “ông chủ báo” nhưng cái tên Tổng Cóc vẫn còn nguyên si. Không ai gọi ông là ông chủ như ông Ðinh Văn Khai hay bà Bút Trà. Kỷ niệm của chúng tôi về thời làm Kịch Ảnh quá nhiều, khó kể hết. Từ công việc tòa soạn đến những lúc đi quay phim, ngồi đánh chắn, đánh xì và sau này là xoa mạt chược còm. Trong làng mạt chược còm, giai thoại về ông Tổng Cóc đến nay vẫn còn được nhắc. Ngày đầu năm 2005 vừa qua, Nguyễn Ðình Toàn lên chơi nhà tôi ở Lộc Ninh còn nhắc lại “sự tích” này: Khi một người trong bàn mạt chược chỉ còn mỗi cây trên tay, tức là ăn và phỗng sạch rồi, chỉ còn chờ “tú la de” — có lẽ theo tiếng Tây là “tout ouvert”, mạt chược vốn là thứ ngôn ngữ loạn xà bì, Tàu, Tây, Mỹ lẫn lộn. Ông Tổng Cóc bèn đánh ngay ra con Hợp, tức là khung thứ ba ông đánh ra. Anh em trong bàn bật ngửa, nhưng biết ông mới tập chơi nên cho ông đánh lại. Nguyễn Ðình Toàn cười hăng hắc: “Nếu nó chờ con tài phao thì đúng Tổng Cóc nó là thánh”.

Ðánh xì với ông Tổng Cóc cũng dễ ăn, ông nóng tính nên thường thua nhiều hơn được, cho nên mỗi khi ông rủ tôi đi đánh xì là có anh bảo tôi đi lãnh lương. Nhưng cũng có lần ông ăn ngược tôi những ván đau như hoạn. Tôi 3 cẩu, ông có đôi xì, xì chết một con giữa bàn rồi, vậy mà ông “ta-pi”. Tôi chắc mẩm chỉ còn việc vơ tiền.

Nhưng khi ông rút bài và nặn ra “đen bụng”, ông lên ba xì, thế là ông vơ tiền, tôi ngáp.

Có những kỷ niệm cỏn con mà nhớ đời. Bạn bè lúc này chỉ còn những chuyện lẩm cẩm như thế mới thật thấm đậm. Còn chuyện lớn hơn như chuyện “Văn nghệ và phú lít” tôi đã có dịp kể trong vài số báo xuân những năm trước. Kể lại như một chuyện vui không hề giận hờn bất cứ ai trong câu chuyện thật 100% đó. Tuổi trẻ nào chẳng có những lúc sai lầm.

Ông Tổng Cóc rất hào hoa và có số đào hoa nữa. Ông cũng có vài mối tình với những người đẹp từng là danh ca, tài tử màn bạc. Chuyện này thì bà Quốc Phong đã “biết tỏng ti” đi rồi nên tôi có nhắc lại cũng chỉ là “ca tụng” một người đàn ông mà thôi. Có lần tôi đến tòa soạn báo Kịch Ảnh, lúc đó đã dọn về ngôi nhà 69 Cống Quỳnh là nhà riêng của gia đình Quốc Phong. Bà Thuận nói ngay: “Ông có muốn tìm ông Quốc Phong nhà tôi thì đến nhà cô XY… mà tìm”. Tôi hiểu ngay bà… hơi ghen một tí đấy, nhưng đó là chuyện tất nhiên của mọi bà vợ, ai chẳng vậy. Tôi chỉ thầm phục bà Thuận là bà rất trầm tĩnh, dường như bạn bè không ai biết. Bà ghen nhưng vẫn giữ gìn thể diện cho chồng con và hàng tuần vẫn tiếp chúng tôi đến nhà đánh chắn, ăn cá nướng, đớp bún chả tưng bừng, trong khi ông Tổng lợi dụng lúc bà bận rộn lỉnh đi chơi với đào. Vậy mà vợ chồng ông rất hòa thuận đến cuối đời. Sang Pháp cũng lại thỉnh thoảng dở bài ra đánh chắn với những bạn Việt kiều ở quanh đó.

Từ Kịch Ảnh Đến Liên Ảnh Và Chân Trời Tím

Làm báo Kịch Ảnh được vài năm, một bữa ông Tổng Cóc quyết định làm phim và ông tập hợp 7 hãng phim lớn ở Sài Gòn thời đó như Mỹ Vân, Alpha… thành lập công ty Liên Ảnh để làm cuốn phim “CinémaScope” màu đầu tiên ở Việt Nam. Ông đến gặp tôi bàn về việc lấy truyện dài Chân Trời Tím quay thành phim. Ðạo diễn đầu tên mà ông nhắm tới là Hoàng Vĩnh Lộc, tài tử thì ông dự định chọn một số người khác chứ không phải là thành phần tài tử đã đóng phim Chân Trời Tím. Nhưng sau đó, vì là một công ty nên có nhiều ý kiến khác nhau, cuối cùng công ty chọn đạo diễn Lê Hoàng Hoa, nữ tài tử chính Kim Vui, nam tài tử Hùng Cường. Mai Thảo và tôi được yêu cầu viết kịch bản đối thoại — bây giờ gọi là kịch bản văn học. Tôi mù tịt về cách viết kịch bản nên phải mang giấy bút đi học Hoàng Vĩnh Lộc và Hoàng Anh Tuấn. Hai tháng sau truyện phim mới hoàn thành.

Tôi gặp Lê Hoàng Hoa để thảo luận về truyện phim trên chuyến bay từ Sài Gòn đi Nha Trang và vỏn vẹn một ngày trước khi quay cảnh đầu tiên ở tiền đồn Suối Dầu. Tôi cũng là người của quân đội được cử đi phối hợp các lực lượng yểm trợ cho những cảnh quay lớn gồm căn cứ Không Quân, Hải Quân Nha Trang, trường Hạ Sĩ Quan và Trường Biệt Kích ở Ðộng Bà Thìn, Cam Ranh. Và như thế tôi nghiễm nhiên bước lên vai “cố vấn quạt mo về quân sự” cho cuốn phim. Mãi đến lúc đó chúng tôi mới quyết định mời nữ ca sĩ Mộng Tuyền đóng một vai trong phim này. Hồi đó nhà văn Ðỗ Tiến Ðức còn làm giám đốc Trung Tâm Ðiện Ảnh Quốc Gia, kiêm giám đốc Ðài Truyền Hình Việt Nam, nên Chân Trời Tím được yểm trợ tối đa. Quốc Phong, Ðỗ Tiến Ðức và tôi chỉ gặp nhau đúng một lần, mọi chuyện đã xuông xẻ ngay, không có trở ngại nào đáng kể.

Tuy vậy, thú thật là tôi cũng không hy vọng nhiều vào tương lai cuốn phim, nhất là về thành phần tài tử, không chỉ mình tôi mà ngay những người quanh tôi cũng không yên tâm. Nhưng tôi chẳng có quyền hạn gì và cũng chẳng biết gì về việc quay phim. Một đôi lần được hỏi ý kiến, tôi mang hết những hiểu biết về quân sự của mình ra bàn bạc. Ngay cả khi Hùng Cường đóng vai hạ sĩ nhất, anh cũng chưa biết cái “lon” của nó đeo ra sao, ở cánh tay hay trên cầu vai. Tôi phải đưa Hùng Cường đi mua “lon” và đích thân “gắn lon” cho anh ấy. Bọn trẻ bu lại coi danh ca cải lương đông quá.

Nhưng như nhiều bạn đã biết, cuốn Cinemascope Chân Trời Tím đã thu hút một lượng khán giả lớn và gây tiếng vang đáng kể. Ông Tổng Cóc hỉ hả chi cho tôi một khoản tiền và sau đó, khi phim mang sang chiếu ở Lào và ở Pháp, ông cũng không bao giờ quên tôi. Nhờ vậy tôi mới có được chiếc Toyota vi vút với thiên hạ.

Xin cảm ơn ông Tổng Cóc.

Người “Chạy Nhanh” Nhất Sài Gòn

Khoảng cuối tháng 2-1975, tức là trước ngày “bể dĩa” 30-4-1975 hơn một tháng, khi tôi chuẩn bị đưa phái đoàn đi du hành quan sát ở Ðài Loan thì Quốc Phong đang xin giấy tờ đi Pháp dự Ðại Hội Ðiện Ảnh. Buổi tối sau cùng, chúng tôi ăn cơm ở nhà Phương Hồng Hạnh cùng một số bạn bè, sau đó đi ăn chơi ở Bar Dancing Tự Do. Lúc đó Quốc Phong mới rù rì với tôi, đã bán nhà bán xe và mang theo cả vợ con đi Pháp. Tôi hiểu ngay anh đã dự tính ở hẳn lại Pháp rồi. Anh còn bày tỏ ý định mở một cửa hàng ăn ở Marseille là nơi anh đã có một người bà con ở đó. Chúng tôi bắt tay nhau từ biệt trong bóng tối của Tự Do. Thầm hiểu sau lần gặp này khó có cơ hội gặp lại. Tuy vậy cũng chưa ai có thể dự đoán được tình hình sẽ bi đát thế nào.

Khi tôi ở Ðài Loan về thì Quốc Phong đã đi rồi. Anh có người con trai duy nhất sau Hồng Vân là Nguyễn Văn Thông. Cậu con trai đeo cặp kính cận thường hay ra tòa soạn báo Tiếng Vang ở đường Phạm Ngũ Lão ngồi với mẹ. Cậu ngồi oách lắm và tập làm “trị sự” nối nghiệp Bố. Nhưng vào năm 1972-73 gì đó cậu đã sang Thụy Sĩ du học, cả cô con gái út là Ngân Hà cũng đi du học ở Thụy Sĩ sau khi có bằng Tú Tài 2. Còn Hồng Vân có gia đình riêng nên ở lại Sài Gòn, đến năm 1979 mới vượt biên đến Thái Lan và Tổng Cóc qua đón mẹ con Hồng Vân sang Nice đoàn tụ. Ai cũng nói là Tổng Cóc khôn và “chạy nhanh” nhất Sài Gòn.

Hoảng Hồn Vì Được Gửi Tiền

Sau này, khi tôi từ “trại cải tạo” ra, đói rách thê thảm. Có tới bốn năm cái “không”: Không nhà cửa, không vợ con, không hộ khẩu, đi ở nhờ, nhất là không tiền. Bỗng một hôm nhận được khoản tiền 1.100 quan Pháp của Nguyễn Văn Hanh gửi về từ Pháp. Lúc đó còn phải lãnh tiền ở đường Cô Giang, chợ Cầu Ông Lãnh. Tuy cánh cửa nhà nước đã hé mở tí ti, nhưng vẫn phải khai báo lôi thôi lắm. Tôi vừa khai báo xong thì một ông đúng người Bắc Kỳ 75 thứ thiệt bèn xán lại hỏi tôi:

– Nguyễn Văn Hanh có phải là Quốc Phong không và bây giờ ông ấy ở đâu? Ông quen với ông Hanh như thế nào? Tôi hoảng hồn, cứ nghĩ là ông theo dõi mình, dò xét xem “liên hệ của bọn văn nghệ” này ra sao, có làm gì “phản động” không. Vừa ở trại cải tạo ra, nghi ngại như thế là hoàn toàn “đứng đắn”, vừa ra lại vô ngay thì cuộc đời còn gì nữa. Thế nên tôi trả lời u ơ rồi lỉnh ra chỗ khác, chờ lãnh tiền xong là biến. Nhưng sau này bình tĩnh lại mới chợt nghĩ nếu là công an thì họ vào thẳng quầy trả tiền hỏi lý lịch, chứ cần gì hỏi tôi. Có thể đó chỉ là người nhà hoặc người cùng làng với Quốc Phong từ Bắc mới vô Nam mà thôi. Tôi cũng hơi yên tâm, lúc đó tôi mới trả lời Tổng Cóc là tôi đã nhận được tiền và cũng nhờ món tiền đó tôi hiên ngang xin ghi tên theo học lớp vi tính ở trường Ðại Học Sư Phạm Sài Gòn vào những khóa đầu tiên mà hồi đó chưa có Windows nên các thày cô giáo phải dạy tôi học vỡ lòng từ hệ điều hành DOS.

Tôi lại phải cảm ơn Quốc Phong một lần nữa vì cái nghề mới mẻ này tôi đã học được để có thể kiếm cơm ngay sau đó ít lâu và cũng nhờ nó tôi có can đảm ở lại Sài Gòn. Sau này cứ mỗi năm, đến gần Tết, ông lại gửi cho tôi đúng một ngàn quan Pháp. Tôi biết là ông đã trích trong số “tiền già” ít ỏi mà ông đang nhận chứ không làm ăn buôn bán gì. Nhiều lần ông điện thoại hỏi tôi có nên về Việt Nam chơi không. Những năm đầu tôi trả lời khoan đã, đợi xem thế nào. Vài năm sau, tôi thấy có thể về chơi được nên mạnh dạn nói với ông: “Già rồi, ông còn làm được cái cóc gì nữa mà người ta làm gì ông. Tôi thấy có thể về được đấy”. Vậy mà hai ba năm sau, ông mới trở về. Hai vợ chồng và cậu con trai cùng cô con gái út và chồng kéo nhau đến nhà tôi vào một buổi chiều.

 (Ảnh: Văn Quang, Quốc Phong, Phan Nghị).

Cậu con trai bây giờ đã là kỹ sư làm việc cho một hãng nước ngoài. Tôi chợt nhớ tới hình ảnh anh “nhóc” đeo kính cận hạng nặng ngồi với mẹ ở tòa soạn báo Tiếng Vang xưa. Lúc này cậu cũng viết lách như một thú vui và ký tên Nguyên Ngã. Còn cô gái út, ngày nào chỉ thích ôm con mèo chạy lăng xăng hết trên lầu đến dưới nhà, bây giờ cũng đã có hai con. Cuộc đời trôi nhanh quá.

Chúng tôi cùng hiểu rằng ông về Việt Nam lần này chắc là lần cuối. Ðó là tâm trạng của hầu hết bạn già của tôi, muốn được trở lại nhìn quê hương, thăm họ hàng anh em một lần trước khi không bao giờ về được nữa. Dịp đó cũng là dịp đứa cháu ngoại của ông còn ở lại Sài Gòn với bố, lấy chồng ở Ðan Mạch. Chúng tôi vui vẻ đi ăn cưới và đến nay thì cô cháu ngoại ở Ðan Mạch cũng đã có một đứa con trai và cũng đã sang Nice thăm cụ cố ngoại trước khi cụ mất ít ngày. Thế là ông Tổng Cóc của tôi đã đạt cả hai ước nguyện: về thăm quê hương và bế đứa chắt đầu tiên của mình. Ðó là an ủi cuối cùng cho ông bạn tôi.

Trước Tết năm vừa qua vài ngày, khi tôi còn ở Sài Gòn, ông cũng điện thoại cho tôi ngay lúc ở bệnh viện về đến nhà ở Nice. Ông than mệt mỏi, không ăn uống gì được và chỉ mong được ra đi. Tôi không chờ đợi nhưng cái tin buồn kia rồi cũng đến. Hồng Vân kể lại, ông ra đi nhanh chóng nhẹ nhàng trong giấc ngủ với gương mặt hiền hòa toại nguyện, vì đã gặp lại tất cả con cháu và nói chuyện lần cuối cùng với những người thân thiết trong đời. Vĩnh biệt ông Quốc Phong. Mãi mãi trong lòng tôi, ông vẫn là Tổng Cóc của cả anh em chúng tôi còn ở đây hay đã ở nơi khác. Tang lễ của ông đã được cử hành tại Nice, Pháp quốc, sáng ngày Thứ Năm 03-3-2005. Sau lễ hỏa táng, gia đình gồm vợ con và các cháu nội ngoại — trừ Hồng Vân ở Houston, Texas không xin kịp visa — cùng rất đông bà con Việt kiều có mặt tại Nice, đã đưa linh hồn ông đến an nghỉ cuối cùng tại chùa Phật Quang. Chủ Nhật 6-3-2005 Thượng tọa Thích Tâm Châu sẽ làm lễ cầu siêu cho ông tại Chùa này. Tại Houston, Hồng Vân làm lễ cầu siêu cho Bố tại chùa Linh Sơn chiều Thứ Bảy 05-03-05.

Cô em họ ông, bà Phương Thảo, hiện ở Sài Gòn cũng làm lễ cầu siêu cho ông vào sáng Chủ Nhật 6-3-2005, tại chùa Hải Ðức — ngôi chùa của Hội làng Vân Ðồn — ở quận Phú Nhuận, Sài Gòn.

Xin thắp một nén hương cho người bạn thân thiết của tôi suốt một thời trai trẻ.

(Sài Gòn 6-3-2005)

Chiếc áo bà ba in hình chữ Hỷ

Đoàn Xuân Thu

Mới đầu nghe ba em gọi, tôi tưởng tên em là Muỗi. Tôi ghẹo em: “Muỗi này! Đừng chích anh, đau lắm”. Em trề môi, vẻ không bằng lòng: “Tên em là Muội. Muội là em. Em là Muội”. À ra thế!

Ba Muội, chú Phu, người Quảng Đông. Phu là phú, phú là giàu. Tên chú giàu nhưng chú không giàu. Chú chỉ có chiếc xe hủ tiếu, bán điểm tâm dưới hai tàng me đại thụ, trên vỉa hè, bên hông rạp chớp bóng Định Tường

Má tôi đông con, cũng nghèo, có quầy bán cơm tấm gần bên.Chủ nhựt được nghỉ học, hai đứa ra phụ chạy bàn. Em giúp ba em. Tôi giúp má tôi. Năm ấy tôi mười tám tuổi, học Đệ nhứt, năm cuối cùng của bậc Trung học Đệ nhị cấp. Cuối năm, tôi sẽ thi Tú tài hai. Đậu thì lên Đại học. Rớt thì vào Thủ Đức. Chiến trường đang hồi ác liệt. Bạn tôi, rớt Tú tài một, đi Đồng Đế, có đi mà chẳng có về. Muội, mười sáu tuổi, học Đệ tam, trường Tàu, sắp thi bằng Cao Trung.

Muội là cô giáo dạy tôi tiếng Quảng Đông. Dách là một, dì là hai, xám là ba, xập là mười. Bài xập xám là bài mười ba lá. Muội nói Muội không thích thanh niên đánh bài. Tôi đâu có ở không để đi đánh bài; vì tôi còn bận tơ tưởng đến Muội của tôi suốt ngày; ngay cả năm thi Tú tài hai, bài vở còn cả đống, tôi còn không để mắt tới nữa là.

Muôi dạy tôi tính tiền là xấu lúi. Kỷ tố là bao nhiêu. Dách cô phảnh là một tô hủ tiếu. Tôi hỏi: “Một dĩa cơm tấm bì, tiếng Quảng nói làm sao?” Muội nói: “Muội không biết”. Tôi nói: “Đi hỏi ba Muôi đi!”. Muội không dám. Muội sợ ba biết Muội quen với tôi, ba Muội rầy.

Ba Muội nói: “Con trai Việt Nam làm biếng lắm, đi chơi tối ngày, không lo buôn bán. Không buôn bán lấy gì ăn. Không có gì ăn, làm sao lấy vợ. Nếu lấy được vợ làm sao nuôi vợ, nuôi con”.

Tôi nói: “Muội đừng lo. Tôi sẽ rán học, thi đậu Tú tài hai, vào Đại học Sư phạm, được hoãn dịch, đi bán chữ, để có tiền nuôi Muội. Muội đi bán hủ tiếu, để tôi có hủ tiếu, ăn trừ cơm, trong những ngày mưa bán ế”.

Muội nói: “Muội còn nhỏ lắm, chưa biết yêu”. Tôi nói: “Tôi sẽ chờ vài năm nữa”.

Nhưng thời cuộc biến chuyển. Tôi không chờ được Muội mà ngược lại Muội phải chờ tôi. Chờ tôi suốt cả một thời con gái

Cuối năm đó tôi đậu Tú tài hai. Hai năm xa Mỹ Tho, đi học Đại học Cần Thơ, tôi không còn dịp gặp Muội mỗi sáng chủ nhựt, để nói chuyện tào lao bắc đế nữa. Tôi sắp ra trường, sẽ đổi về một quận lỵ buồn thỉu, buồn thiu nào đó của đồng bằng sông Cửu Long; để làm một ông giáo làng, hai mươi mốt tuổi. Tôi sẽ trở về Mỹ Tho nhờ má tôi nói với chú Phu, ba Muội, hỏi cưới Muội cho tôi. Bây giờ tôi đã có đủ chữ để đi bán rồi. Tôi sẽ có tiền nuôi Muội, để ba Muội không còn chê con trai Việt Nam làm biếng nữa. Tôi sẽ không còn ăn cơm tấm má nấu. Tôi sẽ ăn hủ tiếu Muội nấu, trừ cơm, trong những ngày mưa bán ế.

Tôi không ao ước cao xa gì hết. Chuyện ấy dành cho con nhà giàu, quyền thế. Tôi chỉ ước được làm thầy giáo làng, có vợ bán hủ tiếu. Vậy mà cũng không được! Mùa hè năm 72: mùa hè lửa đỏ. Các trận đánh lớn đồng loạt nổ ra ở Quảng Trị, Kon Tum, An Lộc. Tin chiến sự chiếm đầy mặt báo. Trang sau là cáo phó, phân ưu những người lính tử trận. Tôi tốt nghiệp, nhưng không được nhận nhiệm sở. Lệnh tổng động viên đã ban hành. Tôi vào trường Bộ Binh Thủ Đức.

Tôi thư về Muội bảo chờ tôi. Tôi còn quá trẻ để chết. Tôi sẽ trở về! Tôi sẽ trở về! Tôi vẫn còn muốn ăn hủ tiếu Muội nấu, trừ cơm, trong những ngày mưa bán ế. Hai năm xa Mỹ Tho, tôi đã ăn hủ tiếu nhiều nơi, nhiều chỗ nhưng không nơi nào, chỗ nào nấu hủ tiếu ngon bằng Muội của tôi.

Muội hứa sẽ chờ tôi về dẫu trời sập chăng đi nữa. Lời hứa ấy làm ấm lòng tôi suốt những ngày gian khổ giày sô, áo trận.

Tôi rời trường Bộ Binh Thủ Đức, về Thủy quân Lục chiến. Sư đoàn là lực lượng tổng trừ bị, nên tôi lội khắp nơi: từ Cà Mau, Chương Thiện, Bến Tre ra tận Thừa Thiên, Quảng Trị.

Một năm lính trôi qua, khi tiểu đoàn về Mỏ Cày, Bến Tre truy kích chủ lực miền của địch về quấy rối thì tôi đạp phải mìn. Sức nổ của trái mìn tự tạo bằng quả đạn pháo 105 lép, đẩy tôi văng tuốt xuống mương, mình dính đầy những miểng.

Đường Gia Long – Mỹ Tho, 1969

Tôi không chết, như đã hứa với Muội. Trực thăng phầm phập tải thương về Bịnh viện 3 Dã chiến Mỹ Tho. Tôi nằm trên băng ca, ngoài hành lang trên lầu, chờ ngày mai xe hồng thập tự chuyển tôi về bịnh viện Lê Hữu Sanh của sư đoàn ở Thị Nghè. Muội nghe tin tôi bị thương; tất tả cùng má đến thăm. Đã hết giờ thăm thương bịnh binh, má với Muội đứng dưới lề đường Trương Định nhìn lên nơi tôi nằm. Tôi thò cái tay, không bị dính miểng, vẫy vẫy. Má khóc. Muội cũng khóc. Vạt áo xẩm, Muội mặc, đẫm đầy nước mắt. Muội sợ tôi chết, Muội khóc. Khóc cho giấc mộng tôi muốn làm thầy giáo đi bán chữ nuôi Muội; Muội đi bán hủ tiếu cho tôi ăn trừ cơm những ngày mưa bán ế đã không thành.

Tôi nằm bịnh viện cả tháng trời. Miểng trong người lâu lâu lại lòi ra. Tôi nghiến răng, rút miểng ra, máu lại chảy. Tôi được hai tuần phép để chờ ra hội đồng giám định y khoa.

Tôi trở về Mỹ Tho gặp má. Cởi giầy sô, áo trận, tôi mặc lại chiếc áo học trò năm cũ. Tôi ra vỉa hè, dưới hai tàng me đại thụ, bên hông rạp chớp bóng Định Tường, chạy bàn cho má tôi. Tôi gặp lại Muội. Đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhứt đời tôi, khi bây giờ, tôi nhớ lại.

Tôi hỏi Muội: “Đẹp tiếng Quảng là gì?”. Muội nói: “Hụ len. Còn yêu là ói”. Vậy thì “Nị hụ len; ngọ ói nị”. Muội mắc cỡ, ửng hồng đôi má.

Cả tháng trời nằm bịnh viện, không có dịp xài, lương vẫn y nguyên. Tôi lãnh tiền ra, đưa cho má tôi một nửa. Má tôi không cầm tiền, má khóc.Tôi nài nỉ: “Em con đang sức lớn, má ơi!” Số tiền còn lại tôi dắt Muội xuống tiệm Văn Minh, gần rạp hát Vĩnh Lợi, mua vải cho Muội may áo. Tôi chọn một xấp gấm Thượng Hải có in chữ Tàu.

Tôi hỏi: “Chữ Tàu đó nghĩa là gì?”

Muội nói: “Đó là chữ hỉ. Hỉ là vui. Vải này dành cho người ta may áo cưới”.

Tôi hỏi: “Muội muốn màu gì?”

“Màu đỏ hên lắm! Muội xin Trời, Phật cho anh đi đánh giặc bình an, hết giặc, về với Muội”.

Tôi nói: “Thôi! Đời anh xui quá xá rồi còn gì, muốn đi bán chữ mà cũng không được, mới đi lính có một năm đã bị thương rồi, hên đâu hỏng thấy”.

Tôi chọn cho Muội vải áo màu xanh đọt chuối.

Tôi bảo: “Màu xanh là màu hy vọng. Anh hy vọng Muội sẽ chờ anh dù cho trời sập tới nơi.” Muội nói: “Muội sẽ chờ.”

Tôi may cho Muội một chiếc áo bà ba để bắt đền cho chiếc áo xẩm đẫm đầy nước mắt khi đến thăm tôi bị thương nằm ở Bệnh viện 3 Dã chiến ngày nào.

Muội nói: “Muội mặc chiếc áo bà ba giống hệt con gái Mỹ Tho.”

“Ba má sanh Muội ra ở đây thì Muội đã là con gái Mỹ Tho rồi; mà con gái Mỹ Tho chánh cống chưa chắc đã dám đọ với em”. Tôi nịnh Muội.

Hai tuần phép trôi nhanh, tôi ra hội đồng giám định y khoa tái khám, bị phân loại một, trở về tác chiến. Lại băng rừng, vượt suối, bạc màu áo trận, mốc thích giầy sô cho đến ngày tan hàng, sập tiệm.

Tôi chỉ là một sĩ quan cấp thấp, nhưng lại thuộc binh chủng rằn ri nên những người thắng trận cải tạo tôi hơi lâu; mãi năm năm sau mới thả tôi về. Tôi trở về Mỹ Tho bèo nhèo như một chiếc áo rách. Má tôi đã mất khi tôi còn ở trong trại. Mấy đứa em giấu tôi tin buồn. Đứng trước bàn thờ má, đốt một nén nhang, tôi không còn khóc được nữa, nước mắt tôi đã cạn lâu rồi. Miệng tôi méo xệch như mếu, mắt chớp chớp, mặt nhăn nhúm, giựt giựt.

Má ơi!

Tôi nhớ lại nồi cơm tấm má nấu, nồi cơm tấm nuôi tôi ăn học. Tôi nhớ cái vỉa hè, bên hông rạp chớp bóng Định Tường, dưới hai tàng me đại thụ mà mùa thu lá me bay bay, rơi đầy trên tóc. Tôi nhớ những giọt nước mắt của má tôi, khi đến thăm tôi bị thương nằm ở Bịnh viện 3 Dã chiến năm nào. Tôi nhớ những giọt nước mắt của má tôi khi không chịu cầm số tiền lương tôi gởi. Bây giờ má tôi đã mất rồi; đàn em tôi vẫn còn nheo nhóc. Cả nhà đói, ăn độn bo bo mà cũng không đủ. Ăn buổi sáng, phải chạy, lo buổi chiều. Việc chạy gạo dồn lên cả đôi vai khẳng khiu của em gái tôi đang tuổi thanh xuân. Nhưng tuổi thanh xuân của em tôi còn đâu nữa. Nước mất nhà tan! Chưa bao giờ tôi thấm thía câu nói ấy cho bằng bây giờ.

Tôi không tìm gặp lại Muội nữa. Tình thơ dại của tôi đã tan theo vận nước. Bây giờ tôi chỉ là một sĩ quan ngụy, đi cải tạo về, mỗi tuần phải trình diện công an phường một lần cho tới ngày xả chế. Tôi ra khỏi một nhà tù nhỏ, để vào một nhà tù lớn hơn! Tôi chỉ có chữ, mà chữ bây giờ chẳng ai mua. Chế độ này không cần chữ. Lúc tôi lên trình diện, lão phó công an phường lẩm nhẩm đánh vần lịnh tha của tôi mà nước miếng tràn ra cả khóe miệng. Chế độ này cần lý lịch. Mà lý lịch tôi hạng 15, nghĩa là hạng bét, tận cùng đáy xã hội, thì tôi làm được gì bây giờ? Tôi không tìm gặp lại Muội không phải vì tôi mặc cảm. Tôi không có gì phải mặc cảm cả. Tôi chỉ đi lính, đánh giặc, tôi thua, giặc bắt tôi ở tù. Thế thôi!

Tôi không tìm gặp lại Muội chỉ vì tôi không muốn mình trở thành gánh nặng cho Muội. Yêu người, có ai muốn trở thành gánh nặng cho người mình yêu bao giờ đâu? Tôi cũng không muốn trở thành gánh nặng cho em tôi. Thương em, có ai muốn trở thành gánh nặng cho em mình thương bao giờ đâu?

Tôi đã sống sót suốt năm năm trời dưới chín tầng địa ngục. Tôi đã đói, đói đến mức phải ăn bất cứ cái gì động đậy: cóc, nhái, ễnh ương, bù tọt. Tôi phải sống sót để trở về, như đã hứa, với Muội. Kẻ thù muốn tôi quỳ xuống, van xin. Tôi không quỳ xuống, van xin. Kẻ thù muốn tôi chết. Tôi không chết. Tôi đã trở về, dù thân tàn ma dại.

Em gái tôi đem chiếc nhẫn cưới của má để lại, đến vợ tên công an khu vực cầm, để tôi có chút vốn đi buôn lậu dầu dừa. Ngày xưa nói đến buôn lậu là nói đến tiền tỉ, đến những vật phẩm đắt tiền, trốn thuế, chuyển hàng có xe quân cảnh hụ còi như vụ Long An. Còn bây giờ chỉ mười lít dầu dừa, bỏ vào cặp táp, từ cầu Ba Lai qua phà Rạch Miễu về Mỹ Tho, kiếm lời đủ mua lít gạo.

Đế quốc Mỹ, tàu to, súng lớn, không đủ sức đưa nhân dân ta trở về thời kỳ đồ đá. Nhà nước ta, đỉnh cao trí tuệ loài người, bằng ngăn sông, cấm chợ, rào đường, chặn ngõ dễ dàng đưa nhân dân ta trở lại thời kỳ đồ đá, thời kỳ hái, lượm, thời kỳ của nền kinh tế tự cung, tự cấp; bởi buôn bán, dù năm mười lít gạo, mười, hai chục lít dầu dừa là không lao động, không sản xuất, là bóc lột, là chủ nghĩa tư bản xấu xa.

Tôi cắt tóc ngắn lên, cho gọn gàng, cho có vẻ thầy giáo. Phần thì để né mấy tay du kích bên Cầu Bắc Tân Thạch, quê hương Đồng Khởi. Mấy tay du kích VC này có kiểu làm tiền rất láu cá, bằng cách làm nhục khách bộ hành qua phà, dùng súng, chận họ lại, bắt vào hớt tóc. Tóc dài là tàn dư Mỹ Ngụy. Ngồi trước gương của ông thợ hớt tóc đầu đường, thấy tóc mình đã điểm vài sợi bạc, dù tôi chưa đầy ba mươi tuổi. Tôi mặc lại chiếc áo sơ mi trắng năm học đệ nhứt, đã ố vàng. Chiếc quần xanh được nhuộm đen. Mặc áo bỏ vô quần, mang giày với đôi vớ rách. Tôi xách chiếc cặp táp cũ nhưng không để đựng sách vở. Sách vở ích gì cho buổi ấy. Chiếc cặp đựng cái can nhựa mười lít dầu dừa. Tôi nhập vai thầy giáo, dù ước mơ làm thầy giáo làng, có vợ bán hủ tiếu để tôi ăn trừ cơm những ngày mưa bán ế, đã chết tự lâu rồi, từ Mỹ Tho qua Bến Tre dạy học, canh giờ đến lớp hay tan học, hòa vào đám học trò để vượt qua trạm Cầu Bắc.

Tôi đi buôn lậu dầu dừa được chừng sáu tháng thì thằng bạn học cũ thời trung học cũng ở tù về, rủ tôi hùn tiền mua chiếc xích lô đạp. Nó chạy sáng, tôi chạy chiều hoặc ngược lại. Thằng bạn tôi nói, cay đắng: “Thằng Mỹ quýnh quáng bỏ chạy, còn làm rớt lại cái tên Mỹ, Xô xích Le, xe xích lô”. Tôi thì lại nói: “Mấy ông tai to, mặt lớn của tụi mình thì hô hào tử thủ, để có thời giờ tom góp vàng bạc, đô la rồi dông, còn làm rớt lại chức dân biểu. Xô xích Le, dân biểu. Dân biểu đâu, mình chạy đó”

Một buổi chiều sau khi chở khách ra bến xe cổng thị xã, tôi thả xe không về chợ Vòng Nhỏ thì thấy một ông cắc chú đội chiếc nón mây đan, rộng vành, như Khương Đại Vệ trong phim kiếm hiệp tàu trước 75. Ông mặc chiếc quần tiều lỡ, quá gối, chiếc áo thung tay dài gần tới cùi chỏ, bỏ vô quần, gánh hai cái cần xé không, đi lủi thủi. Tướng đi ngờ ngợ, quen quen. Chú Phu rồi chứ chẳng ai!

“Đi xích lô hông? Chú ba!” Chú Phu nhìn lên, ngơ ngác, ngờ ngợ một lát, rồi nhận ra tôi. Tôi đã đổi thay nhiều quá.

“Chèn ơi! Vậy mà ngộ tưởng nị chết rồi.”

“Chết sao được! Sống nhăn răng ra đây nè.”

Tôi chở chú Phu về nhà. Cũng căn nhà lợp ngói âm dương ở đường Huyện Toại, nhưng có vẻ tiêu điều, u ám. Chiếc xe hủ tiếu xập kỷ nìn, năm xưa, ngày cũ, còn đậu trước hàng ba, xẹp bánh, bụi bám, nhện giăng.

“Nị ở chơi, ngộ nấu hủ tiếu cho nị ăn. Lâu quá ngộ cũng không có ăn hủ tiếu.”

“Vậy chứ chú thôi bán hủ tiếu rồi sao?”

“Thôi lâu rồi! Giờ ai cũng mạt, tiền đâu ăn hủ tiếu.”

“Thì bán cho mấy ổng.”

“Ổng nào? À mấy ông cách mạng hả? Ờ mấy ổng đâu có thèm ăn hủ tiếu. Mấy ổng ăn vàng không hà.”

Chú Phu đem ra một tô hủ tiếu và một lít rượu. Tô hủ tiếu, chú Phu vừa mới nấu, cũng chịu cùng số phận tang thương theo vận nước, chỉ nước lèo, bánh và lèo tèo những lát thịt mỏng như tờ giấy quyến.

Tôi nhớ tô hủ tiếu Muội nấu cho tôi ăn trong những ngày mưa bán ế. Tô hủ tiếu với bánh bột lọc làm bằng gạo Gò Cát, trụng với nước thật sôi, dai mà không bở như hủ tiếu Sài Gòn, nước lèo nấu bằng xương heo, tôm khô, khô mực, cải bắc thảo, thêm vài tép mỡ, điểm xuyến vài cọng sà lách non xanh với mấy cọng hành luộc, một nhúm giá, vài lát ớt sừng trâu xắt mỏng, rắc chút tiêu, ăn với xì dầu và dấm đỏ. Tô hủ tiếu, người thương mình nấu, ly cà phê sữa nhỏ, xây phé nại, do chính tay mình pha, trong những ngày bão rớt, mưa dầm, bán ế giờ đã trở thành kỷ niệm.

Tôi không tiện hỏi thăm về Muội, dù rất muốn.

Tôi hỏi: “Chú bây giờ làm gì để sống?”

“Thì nị thấy đó, ngộ đi mua ve chai, lông vịt về bỏ cho vựa. Nghề ve chai lông vịt mà, nghề móc bọc, móc bọc ny lon đem xuống sông rửa, rồi cân ký. Bây giờ khổ quá! Nhớ hồi xưa mình vui quá!”

Lít rượu ngâm ô môi, cho có màu, chú, cháu cưa hai gần hết.

Chú Phu, chưn nam đá chưn chiêu, lảo đảo bước vào nhà trong, lấy ra cái bọc ny lon.

Chú nói: “Con Muội! Nó gởi cho nị. Con Muội! hu hu! Nó chết rồi!”

“Muội ơi!”

“Ngộ biết nó thương nị. Lúc nị đi ở tù, nó nói nó chờ nị được tha về, nó sẽ đi bán hủ tiếu nuôi nị. Nhưng có được đâu! Tụi nó đánh ăn tụi mình rồi lại giành ăn, đánh lẫn nhau. Thiệt hết biết! Hết Pol Pot, Bành Trướng Bắc Kinh, rồi Nạn Kiều. Ngộ sợ tụi nó sẽ đuổi cha con ngộ về Trung Quốc. Tưởng thống chế bỏ ngộ chạy ra Taiwan. Mao xếnh xáng rượt ngộ chạy tuốt đến đây. Mỹ Tho đất lành chim đậu. Rồi sanh ra con Muội. Ngộ nói với con Muội: “Mỹ Tho bây giờ đất dữ rồi, thôi bay đi con!”

Muội ngần ngừ, có ý đợi nị về. Ngộ nói: “Nị làm quan, mà lại rằn ri nữa, tù biết đến lúc nào ra? Nếu không đi; sợ không còn có dịp. Cái cột đèn còn muốn đi nữa mà.”

“Suốt cuộc đời bán hủ tiếu, ky cỏm được hai cây vàng, ngộ xuống năn nỉ mấy xì thẩu dưới chợ Mỹ Tho cho con Muội một chổ.”

“Tàu nó ra cửa được ba ngày đêm thì bơm nhớt bị hư, máy lột dên, trôi giạt. Ở hải phận quốc tế, tàu buôn qua lại nườm nượp mà không ai vớt. Ba tuần linh đinh trên biển, tuyệt vọng quá, mấy người đi trên tàu gom quần áo, giày dép lại, đốt. Cuối cùng có chiếc tàu buôn tội nghiệp dừng lại, thả thang dây xuống. Ba tuần trên biển, nị nghĩ coi, sức đâu nữa mà leo. Nó sút tay, rớt xuống biển. Chết chìm. Hu hu.”

Chú Phu không còn nước mắt nữa để khóc, chú chỉ kêu hu hu, tiếng kêu của con thú bị một vết thương trí mạng, bị ví vào đường cùng, không lối thoát thân.

“Đêm trước khi đi, nó đưa cho ngộ cái này, nói nếu nị còn sống sót trở về, thì đưa lại cho nị. Hu hu!”

Trong cái bọc ny lon, chú Phu đưa cho tôi, là chiếc áo bà ba hình chữ hỉ tôi may cho em ngày cũ.

Muội ơi! Xác em giờ ở phương nào. Trôi vào đất Thái hay vào Nam Dương. Áo bà ba, Muội yêu, hòa biển tím. Tình còn đây trời đày ta mất nhau.

Tôi không còn khóc được nữa, nước mắt tôi đã cạn lâu rồi. Miệng tôi méo xệch như mếu, mắt chớp chớp, mặt nhăn nhúm, giựt giựt.

“Muội ơi! Anh sẽ đem chiếc áo bà ba hình chữ hỉ của chúng mình theo, ra biển!”

Đoàn Xuân Thu

Chi lạ rứa

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 06/09/2018 
Post by Sơn râu 18 Aug 2026

Tôi viết liên tiếp ba lá thư mà không nhận được hồi âm.

Chi lạ rứa?

Vì tôi đợi nên người chẳng đến.

Rứa có lạ không?

Người Huế có một chữ tôi mãi yêu. Chữ: Dễ sợ.

Đẹp dễ sợ. Xấu dễ sợ. Vui dễ sợ. Buồn dễ sợ. Mắc dễ sợ. Rẻ dễ sợ. Hiền dễ sợ. Ác dễ sợ. No dễ sợ. Đói dễ sợ. Xa dễ sợ. Gần dễ sợ. Nóng dễ sợ. Lạnh dễ sợ… Chi cũng dễ sợ cả. Rứa thì người Huế chắc yếu bóng vía dễ sợ. Hoặc họ hàm hồ dễ sợ! Việc chi mà sợ, cứ tỉnh như ruồi không được hay răng? Bởi rứa nên chữ dễ sợ nó ôm đồm tất thảy những trạng huống, nó tô son trét phấn vào từng cung bậc cảm xúc. Nó làm cho thứ đáng phải dễ sợ trở nên không dễ sợ một chút chi cả. Sự độ lượng nào mà chẳng đáng yêu? Xa em bắt anh nhớ em dễ sợ. Hỏi mà em ngậm câm chẳng trả lời làm anh ghét em dễ sợ.
Người con trai tỏ tình: Em đẹp dễ sợ. Gái vùng miền khác sẽ la: Tôi là ma quỷ chăng? Tôi là bà chằng lửa chăng? Là chèn đét toi đâm chằng ăn trăn quấn chăng? Dễ sợ mà một hai cứ đòi xấn vô cầm cái tay nắm cái chân, bu như sam nguyện làm cái đuôi, xong cái tới nhà thì dậm cẳng biến thành cây si trồng trước ngõ. Lì dễ sợ! Mặt dày mày dạn dễ sợ! Ưa làm kỳ đà cản mũi, ưa chêm cục đá ngoài đường lộ. Giận dễ sợ.

Hiện tình, đang có một thứ khiến tôi nản dễ sợ, ấy là nghe tin amazon sẽ không nhận in những thơ văn viết bằng tiếng Việt nữa. Vì răng rứa? Ba de dễ sợ! Ai đã làm chi xúi “em” giận hờn ngoảnh mặt quay lưng chối từ lòng anh trao gửi? Anh đang viết truyện dài chưa tìm ra nhan tựa thì điệu này chắc đành mang tên “Con Ai Đem Bỏ Chùa Này”. Nhiều chùa không duyên phận nên lạc hồn lén lút mang đặt ngay cổng chùa Bà Đanh. Chùa này nổi tiếng vắng lặng, giờ chỉ nổi cộm tiếng khóc rấm rức của hòn thịt đỏ hỏn cuốn trong manh tả trắng nhạt nhoà một hôn hoàng tranh tối tranh sáng, nhọ mặt người chẳng vọng về tiếng chuông thu không. Cảnh sắc có xốn xang? Sao nghe lòng đau dễ sợ!

Nguồn tin chưa được kiểm chứng hư thực, nhưng giả như người ta đi tới quyết định trên thì hẳn họ đã có lý do. Lý do dễ hiểu nhất: Chả có ma nào bỏ tiền ra mua ngoại trừ chính tác giả “thỉnh” về đôi ba chục cuốn. Hết. Thị trường tiêu thụ vắng, lặng ngắt như tờ, hỏi mấy anh chừ em biết tính làm răng? Em nghỉ chơi thì mấy anh trách em bạc tình. Hỏi lại nhé, mấy anh có ai kiếm ra lượng độc giả còn mặn nồng với thơ văn, chữ viết trên giấy? Lỗi tại ta mọi đàng! Lời than ấy mắc mớ chi tới bọn em? Xù. Đừng sợ em nhen!

Amazon nó tiện lợi ra sao thì quý vị đã tường (kể ra làm gì cho tốn giấy). Nếu nó làm mất đi sự kỳ vọng của người viết từng trông mong thì người viết muốn in ra một hai đầu sách phải trở về “con đường xưa em đi”. Bản boléro ấy du dương theo từng nhịp ngắt: Tác giả tự in tự phát hành sau khi tốn một nạm tiền chi trả vào việc nhờ người ta lay out, người ta trình bày bìa. Tác giả dọ hỏi rằng in ở Đài Loan giá rẻ (dễ sợ), nó gửi sách về bằng đường thuỷ và một ngày bất kể với thứ thời tiết gì, mình áo mão cân đai hẳn hoi ra bến tàu nhìn sóng nhấp nhô đón đợi đứa con chưa từng trông ra mặt mũi sắp vượt biển an toàn tới bến bờ đoàn tụ. Đóng thuế nhập khẩu, bìa sau cuốn sách nên in ảnh chân dung tác giả để dễ bề ăn nói với nhân viên nhà đoan: See? Sách của tớ mà lị. Mặt mày tớ nào phải là một con buôn, khệ nệ mang về để phát không cho người quen thôi mờ. Văn nhân thi sĩ thời nay luôn am tường bản tin chiến sự: Từ chết tới bị thương đếm không xuể! Cuộc chơi kia chẳng sòng phẳng một mảy may, cán cân thua lỗ đổ dốc phía người lỡ điếc không sợ súng, mất cả chì lẫn chài. Ngồi buông cần bên bờ sông đầy lau lách mà cá nào cắn câu. Rất dễ cởi áo từ quan, xếp giáp quy hàng trước một mặt trận bốn miền đều yên tĩnh. Và nghi ngờ chuyện Kiều: Mua vui cũng được một vài trống canh! Không dám đâu. Bàn lui luận tới mãi cũng không ngộ ra, chỉ còn ba chữ nghĩ là đắc địa: Chi lạ rứa!

Bây chừ rách áo trách ai
văn(g) anh dễ sợ mốt mai ăn mày
vung gậy chừa ngõ nhà này
tường cao kín cổng đã dày mặt chưa?

Mai kia sẽ có người nhắc lại một điều cần nhắc: Amazon in cho tác giả viết chữ Việt nào đầu tiên? Cáo chung bằng cuốn sách gì? Để rồi “chạy làng” không kèn chẳng trống coi thứ ngôn ngữ tiếng Việt chả ra ki-lô nào sất. Rứa chơ răng mà mình vẫn cứ nhẹ dạ, hy vọng dễ sợ rằng amazon sẽ rút lui ý định nông nổi đó dù cho công ty nọ biết rõ mười mươi “vắng mợ chợ vẫn đông”. Mợ xách giỏ đi chợ, mợ nói “đi không há nhẽ trở về không”? Đừng để tâm vào việc mua bán, mình mãi mặn nồng chung tình cùng chữ viết thì hậu vận sẽ gặp được “phú ông xin đổi ba bò chín trâu”. Và đại gia phương ấy sẽ ngáng đường cà khịa, ra bộ gia ơn: Tớ sẽ in cho đằng ấy một đầu sách, với một điều kiện là đằng ấy bớt xiên xỏ mấy ngài tai to mặt lớn, đoạn văn nào xét thấy nhạy cảm thì bọn tớ có quyền cắt bỏ, nhuận sắc lại. Có nhất trí không nào?

Không, không, trăm lần không vạn lần không. Nhạc vàng từng hát thế và thú thật là mềnh thích vàng mà ghét đỏ (dễ sợ). Bắt ở trần phải ở trần, cho may ô mới được phần khoe xương. Xưa rồi diễm. Giờ đây xiêm áo lụa là, lên bờ xuống ruộng thả tà huy bay. Cho tôi giữ sạch bàn tay, ác chi dễ sợ thày lay gạ tình.

Tôi viết thêm lá thư gửi người hỏi về cuốn sách, bỏ dấu bộ chữ Việt tân kỳ đường hoàng. Người đổi hòm thư hay răng, không ư hử. Chơi chi lạ rứa? Chữ chừng thừa mứa? Kềm chế tự ái sân si bởi tôi mong ngóng nhìn ra cái minh bạch. Có hoặc không? Yes or No? Nhớ bài nhạc “Hello Goodbye” của tứ quái Beatles với ca từ (hợp tâm cảm dễ sợ):

… I say high, you say low
You say stop, I say go
You say yes, I say no
I don’t know why you say goodbye, I say hello…

Anh và em một đằng mâu một đằng thuẫn, bên thích cà phê đen bên cương quyết đòi ăn chè đậu đỏ, đứa thích đi xe ôm kẻ ưa ngồi vào taxi, đứa nhật đứa nguyệt khó bề thống nhất hai miền âm dương. Bàn chuyện tình yêu mà gái trai nhìn ra hai hướng khác biệt biểu sao đường rầy xe hoả muôn đời là hai thanh sắt mãi song song. Một bài thơ, một đoản văn hiện hữu chỉ với duy một mong cầu: Sự hội tụ, nỗi đồng cảm để mang hai đứa ngoái đầu nhìn về một hướng. Cho dù ở hướng đó khi dõi trông cảnh sắc xúi ta phải ruột đau (dễ sợ) tới chín chiều.

Huế mộng Huế mơ ngó lơ mất dép
Lạc hồn qua sông đánh rơi con cá chép
Lên chùa gió lật xiêm y thầy la vô phép
Ngó về phố thị sân si bước đi khép nép
Trở trời nhác chơi đưa gan cho nhà thương lắp ghép

Nghe phụ huynh phản biện: Nếu phải học ngôn ngữ Bùi Hiền tôi sẽ cho bầy con nghỉ học, khỏi lẻo mép.

Thơ đó ư? Dở dễ sợ. Cứ quen thói kiểu nớ thì người ta không in mô tề. Mà nói tình ngay dù thơ hay dàng trời khi in ra, bạn hàng làm biếng mua lắm lận. Sao ghẻ lạnh, thờ ơ, rẻ rúng tới độ đó? Thật chán mớ đời! Đời thì luôn nảy sinh lắm đột biến, có nhiều tâm sự cần kể ra, phơi bày, ruột để ngoài da ưa chia sẻ nhưng dòm qua ngó lại chẳng còn ai muốn nghe. Như nông dân tay bưng thúng hạt giống mà không có đất thịt để vãi xuống, gieo hạt. Ruộng đồng sáng ngập nước mặn chiều trở qua khô hạn. Mưa chưa bao giờ thuận gió không khi mô hoà.

Trịnh Công Sơn hát: Rừng xưa đã khép em hãy quay về… rồi lại đổi: Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt. Rồi lại xướng: Mệt quá đôi chân này, tìm đến chiếc ghế nghỉ ngơi. Cứ vòng vo Tam quốc, cứ tiến thoái lưỡng nan. Mãi chưa tìm ra thông lộ. Buồn dễ sợ! Buồn vương cây ngô đồng (trong Đại nội có trồng), mùa Thu đang tới, mênh mông vàng rơi. Rơi phủ đầu để cảm thán: Sách truyện ích gì cho buổi ấy!

Nhân thất học bất tri lý, nhỏ không học lớn làm Đại uý (công an?) Mày cứ tìm cách bôi bác chế độ thì sẽ biết tay tao, siết cái hầu bao rồi sẽ nhốt cho hư hao, ở đấy mà luận chuyện tào lao toàn cả rêu rao. Nếu bốc thơm về đây tao sẽ khao, tha hồ lao nhao như bồ chao.

Lại kiên trì bày giấy bút ra, bóp trán. Nhớ và thương ông Bùi Giáng quá thể. Thích dễ sợ:

“Viết thư cho em
Viết rằng mỗi tháng
Có một đêm rằm
Mỗi năm có bốn mùa
Và có nhiều chuyện
Ly kỳ trên mặt đất”.

Ly kỳ như thế nào? Ôi cả ngàn vạn ức triệu điều, nôm na là thiếu giống.

“Người có ý chi
Nhìn ta như thế
Hôm qua nhìn rồi
Bữa nay nhìn nữa
Ở dưới nhìn lên
Nhìn cái chi lạ rứa?”

Nhìn cũng thấy lạ. Nghĩ cũng thấy lạ. Viết cũng thấy lạ. Nói chung, thời buổi này thảy đều lạ. Bốn mươi mấy năm (lâu dễ sợ) chung đụng tới trầy trụa mà vẫn chưa hề thấy quen. Cái sự cắc cớ nọ biết tỏ cùng ai? Ưa chơi trò bịt mắt bắt dê đó ru?

Hồ Đình Nghiêm

Người góa phụ giờ thứ 25

phamtinanninh.com

Phạm Tín An Ninh

October 15, 2018

Post by Sơn râu 18 Aug 2026

Tôi gặp chị trong buổi họp mặt của các anh Khóa 17 Võ Bị Đà Lạt, được tổ chức  tại một nhà hàng ở thành phố Westminster, Nam Cali, nhằm kỹ niệm 55 năm ngày mãn khóa. Vợ chồng tôi có chút cơ duyên được xếp ngồi cùng bàn với chị. Qua đôi lời chào hỏi đầu tiên, chúng tôi biết chị từ Việt Nam mới sang theo lời mời của Ban Tổ Chức, muốn dành cho chị một ân tình đặc biệt để có cơ hội gặp lại những người bạn cùng khóa Lê Lai với phu quân của chị, Cố SVSQ Đoàn Đình Thiệu.

Sau nghi thức chào quốc kỳ là một lễ tưởng niệm những vị đồng môn đã hy sinh trong không khí rất trang trọng, cảm động và mang nhiều ý nghĩa. Trên bàn thờ, phía sau những ngọn nến lung linh là hình phóng lớn của tấm bia đá tưởng niệm có khắc đậm tên 79 vị sĩ quan Khóa 17 đã lẫm liệt hy sinh trong cuộc chiến. Tấm bia này là một kỳ công được các cựu SVSQ Khóa 17 thực hiện và dựng tại Công viên Victor Memorial Veterans Park, thuộc Thành phố Greer, Tiểu Bang South Carolina, Hoa Kỳ từ tháng 6 năm 2008.

Khi chị Thiệu cùng một số cô nhi quả phụ khác của Khóa 17 được mời lên thắp hương trước bàn thờ tử sĩ và nhận món quà lưu niệm của Khóa, qua lời giới thiệu của người điều khiển chương trình, chúng tôi được biết nhiều hơn về chị. Và trong số những cô nhi quả phụ cùng đứng chung với chị chúng tôi còn nhận ra cháu Võ Hải, trưởng nam của Đại Tá Võ Toàn, vị đại tá duy nhất của Khóa, đã hy sinh cũng vào giờ thứ 25 khi Quân Đoàn I di tản, đến bây giờ chưa biết thân xác nằm  ở  nơi đâu;  và phu nhân  của Trung Tá Võ Vàng,  một cấp chỉ huy nổi tiếng trong Binh chủng Biệt Động Quân, đã bị kẻ thù sát hại dã man tại trại tù Kỳ Sơn – Quảng Nam, sau 1975.

Thiếu Tá Đoàn Đình Thiệu tử trận tại Phú Lâm vào khoảng 12giờ 30 trưa ngày 30.4.75, hơn một giờ sau lệnh “buông súng” của Tướng Dương Văn Minh. Khi ấy anh là Tiểu Đoàn Phó của Tiểu Đoàn 86 BĐQ mà Tiểu Đoàn Trưởng là Thiếu Tá Trần Tiễn San, một niên đệ Khóa 19 Võ Bị của anh. Trước khi ra đơn vị này, Thiếu tá Thiệu phục vụ nhiều năm tại TTHL Biệt Động Quân Dục Mỹ với chức vụ Trưởng Khối Yểm Trợ. Do quyết định của Tướng Đỗ Kế Giai, Chỉ Huy Trưởng Binh chủng Biệt Động Quân, một số sĩ quan phục vụ lâu năm tại quân trường hay giữ những phần hành tham mưu được điều động hoán chuyển ra các đơn vị tác chiến.  Cuối năm 1974, đúng vào lúc Thiếu Tá Thiệu nhận lệnh hoán chuyển,  tại TTHL/BĐQ đang có Liên Đoàn 8/BĐQ vừa mới được thành lập với đa phần quân số từ các Tiểu Đoàn 7, 9, 11 Quân Cảnh giải tán bổ sung cho Binh chủng Biệt Động Quân, nên nhân tiện, ông xin ra phục vụ ở đơn vị tân lập này. Vì ở quân trường và đảm trách một phần hành tham mưu khá lâu, nên khi ra đơn vị tác chiến, ông không thể đảm nhận một chức vụ chỉ huy ngay trong thời gian ban đầu, do đó ông tìm gặp Thiếu Tá Trần Tiễn San, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 86 và ngỏ ý muốn được về làm Tiểu Đoàn Phó cho Thiếu Tá San, một niên đệ Khóa 19, mà lúc còn trong trường Võ Bị Đà Lạt, ông có trách nhiệm hướng dẫn, dạy dỗ với tư cách niên trưởng. Biết ông là niên trưởng lại có thâm niên cấp bậc hơn mình, Thiếu Tá San muốn giúp đỡ, nhưng rất e ngại nên đề nghị ông phải làm đơn gởi lên Thiếu Tướng CHT/BĐQ để trình bày nguyện vọng của mình.

Cuối cùng ông được toại nguyện. Để nhận Thiếu Tá Thiệu về làm Tiểu Đoàn Phó cho mình, Thiếu Tá Trần Tiễn San còn phải giải quyết một vài khó khăn tế nhị khác. Vì lúc ấy Tiểu Đoàn đã có Tiểu Đoàn Phó là Đại Úy Phan Trí Viễn. Thiếu Tá San đã năn nỉ Đại Úy Viễn sang làm Trưởng Ban 3 Tiểu Đoàn và xin Liên Đoàn nhận anh Đại Úy Trưởng Ban 3 cũ về giữ một chức vụ tại BCH/ Liên Đoàn. Thông cảm cho anh, tất cả đều vui vẻ chấp nhận sự sắp xếp của anh.

Kính nể một niên trưởng có tư cách, Thiếu Tá San đã dành cho vị Tiểu Đoàn Phó nhiều ưu ái đặc biệt. Có điều đúng vào thời điểm Thiếu Tá Thiệu ra đơn vị, cuộc chiến đang ở giai đoạn khốc liệt nhất. Sau khi Mỹ bất chấp những phản đối của VNCH, đã tự cho mình ngồi ngang hàng với Cộng Sản Bắc Việt và đơn phương nhượng bộ quá nhiều điều trong Hiệp Định Paris ký kết ngày 27.1.1973, chứng tỏ ý định sớm bỏ rơi đồng minh, phủi tay cuộc chiến.  Lợi dụng điều này, Cộng quân đã ồ ạt tung nhiều sư đoàn với lực lượng chiến xa, từ miền Bắc và Lào, theo đường mòn Hồ Chí Minh xâm nhập Nam Việt Nam, đồng loạt mở các cuộc tấn công qui mô vào các đơn vị phòng thủ của ta. Phước Long là tỉnh đầu tiên bị thất thủ vào ngày 6 tháng 1/1975  nhưng không có bất cứ dấu hiệu nào từ phía Hoa Kỳ can thiệp hay phản đối CSBV vi phạm hiệp định,. Điều này đã báo hiệu cho số phận của VNCH.

Liên Đoàn 8 BĐQ ban đầu đặt dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Vũ Phi Hùng, với ba vị tiểu đoàn trưởng  đều là niên đệ Võ Bị của Thiếu Tá Đoàn Đình Thiệu. Thiếu Tá Nguyễn Văn Nam (K.20) TĐT/TĐ 84, Thiếu Tá Trần Tiễn San (K.19) TĐT/TĐ 86, và Thiếu Tá Nguyễn Hữu Mạnh (K.20) TĐT/TĐ 87. Thiếu Tá Thiệu chọn về làm Tiểu Đoàn Phó cho một niên đệ Khóa 19, là khóa đàn em có nhiều gắn bó và xem như học trò của Khóa 17 thời họ còn là những sinh viên sĩ quan.

Dù chưa được trang bị và huấn luyện đầy đủ, Liên Đoàn nhận lệnh của Bộ TTM di chuyển về Sài gòn để giữ an ninh trong dịp Tết nguyên đán. Liên Đoàn đặc trách phòng thủ khu vực từ QL 1 đến  QL 4, ngoại trừ TĐ 84 đặc trách một khu vực kế cận. Vào những ngày đầu tháng 4/75, Liên Đoàn 8 BĐQ thường phối họp cùng Lữ Đoàn 4 Nhảy Dù tân lập mở các cuộc hành quân vào Mật khu Lý Văn Mạnh và đã phát giác có sự hiện diện của nhiều đơn vị chính quy Bắc Việt đang hoạt động, ém quân tại đây.

Để đề phòng cho trường hợp bị tấn công bởi các đại đơn vị này của địch, Đại tá Vũ Phi Hùng, Liên Đoàn Trưởng bàn bạc với các Tiểu Đoàn Trưởng, vạch ra một kế hoạch ứng phó khi tình hình trở nên nguy ngập, được gọi là kế hoạch “Bravo”: Các tiểu đoàn tự rút về Giáo xứ Tân Phú của Linh Mục Đinh Xuân Hải để tái phối trí và tiếp tục chiến đấu tại đây.

Khoảng hai tuần lễ sau đó, Sư Đoàn 106 BĐQ được thành lập, với vị Tư Lệnh là Đại Tá Nguyễn Văn Lộc. Đại Tá Vũ Phi Hùng, Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 8 BĐQ được chỉ định giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng, và bàn giao Liên Đoàn cho Trung Tá Chung Thanh Tòng từ BĐQ Vùng I di tản.

Ngày 27/4/75 Cộng quân mở các cuộc tấn công liên tục vào tuyến phòng thủ của Tiểu Đoàn 84 và 87. Hai vị Tiểu Đoàn Trưởng xuất sắc cùng xuất thân Khóa 20 VB đã anh dũng điều quân chiến đấu, yểm trợ cho nhau để giữ vững phòng tuyến. Lực lượng địch quá đông và có chiến xa T 54 hỗ trợ, trong khi bên ta đã có nhiều binh sĩ thương vong, đạn dược cạn dần. Đến tối ngày 29/4/75 tình trạng trở nên tồi tệ hơn nên các đơn vị đề nghị thực hiện kế hoạch “Bravo”, rút về Giáo xứ Tân Phú lập tuyến phòng thủ mới như đã dự trù. Nhưng Đại Tá Vũ Phi Hùng từ BTL/SĐ 106 cho biết kế hoạch này không thể thực hiện được nữa, vì nhiều đơn vị Cộng quân đã thâm nhập vào Sài gòn từ các hướng khác.

Trong tình huống này, vẫn không có cách nào khác hơn, sáng sớm ngày 30/4 Liên Đoàn ra lệnh bằng mọi giá phải mở đường máu lui binh về hướng Sài gòn. Tiểu Đoàn 84 của Thiếu Tá Nguyễn Văn Nam lúc ấy đang bố trí dọc theo xa lộ Đại Hàn, bị áp lực nặng nề nhất do nhiều chiến xa của địch bao vây tấn công liên tục. Tiểu Đoàn 87 của Thiếu Tá Nguyễn Hữu Mạnh rút ra từ Mật Khu Lý Văn Mạnh, mở đường cho BCH/ Liên Đoàn và Tiểu Đoàn 86 của Thiếu Tá Trần Tiễn San vừa rút ra sau cùng, vừa làm lực lượng án ngữ bọc hậu.  Cuộc lui binh rất khó khăn trong lúc bị địch quân bao vây, tấn công  từ mọi phía.

Thiếu Tá San ra lệnh cho Tiểu Đoàn Phó Đoàn Đình Thiệu thu nhặt hết số súng thặng dư bỏ vào ụ súng cối 81 ly để thiêu hủy. Pháo Đội Pháo Binh trong căn cứ BCH/ Liên Đoàn có bốn khẩu đại bác 105 ly, nhưng mỗi khẩu chỉ còn một quả đạn trong nòng. Thiếu Tá San cho lệnh bắn trực xạ vào những điểm địch quân tấn công mạnh nhất, sau đó phá hủy súng, và yêu cầu Pháo Đội rút theo BCH/ Liên Đoàn. Tiểu Đoàn phải mở đường máu để có thể thoát ra khỏi vòng vây của địch, nên tất cả thương binh đành phải bỏ lại phía sau. Trong lúc vừa điều quân vừa chiến đấu, Thiếu tá San bị thương ở mặt, phải bò đến một mô đất tạm ẩn nấp để tự băng bó.  Đúng lúc ấy,  Trung Úy Đoàn Ngọc Lợi (K.26VB), Đại Đội Trưởng ĐĐCH chạy đến báo cáo là Niên trưởng Đoàn Đình Thiệu vừa mới hy sinh bên bờ ruộng. Ông bị bắn đứt động mạch ở chân.  Mấy người lính trung thành ngỏ ý cõng ông theo, nhưng ông khoác tay, bảo “chạy gấp đi, anh không thể sống được!” Trung Úy Lợi còn cho biết, trước khi nhắm mắt ông hỏi Lợi: “Moa chết rồi ai sẽ nuôi vợ con đây?” Lúc ấy khoảng 12 giờ 30 trưa ngày 30/4, sau đúng một giờ Tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng!

Sau đó Thiếu Tá San cùng nhiều cấp chỉ huy khác bị bắt đưa vào làng. Vì bị thương ở đầu, máu ra nhiều, nên anh được cho về, gia đình đưa vào điều trị tại Bệnh viện Triều Châu. Một ông chú nghe tin vào thăm, biếu anh 30.000 đồng. Anh cho người nhà tìm gặp gia đình Thiếu Tá Đoàn Đình Thiệu báo tin về cái chết của người niên trưởng. Chị Thiệu tìm đến thăm anh và hỏi kỹ địa điểm anh Thiệu đang nằm để đi tìm. Anh San chỉ dẫn, chia buồn và biếu chị Thiệu 30.000 đồng mà ông chú vừa mới cho anh.

Theo lời kể của chị Thiệu, vì tình hình lúc ấy rất hỗn loạn, tiếng súng vẫn còn nổ khắp nơi, nhiều đơn vị của ta không chịu buông súng và vẫn tiếp chiến đấu, nên chị không dám đi tìm anh Thiệu, hơn nữa chị cũng không rành đường sá ở đây,  đành phải nhờ cậu em trai, dùng xe Honda len lỏi tìm đến vị trí mà Thiếu Tá San chỉ dẫn. Cậu em tìm được xác anh Thiệu, nhưng không thể tìm được bất cứ một phương tiện nào để chuyên chở, và cũng không biết sẽ chở về đâu, trong tình thế lúc này. Cuối cùng, rất may mắn, một anh tài xế xe rác nặng tấm lòng với QLVNCH, đã vui vẻ nhận lời giúp đỡ. Sau khi đổ hết rác trên xe xuống vệ đường, theo sự hướng dẫn của cậu em chị Thiệu, nhưng cũng rất nhiều khó khăn, anh tài xế mới đưa xe đến được vị trí, nơi anh Thiệu nằm. Sau một lúc thảo luận, cuối cùng hai anh chở xác Thiếu Tá Thiệu đến Nhà Thờ Bùi Phát để nhờ giúp đỡ. Và cũng rất may mắn, đã gặp đúng một vị linh mục nhân từ. Cha Trần Quốc Phú vui vẻ nhận lời, đứng ra tẩm liệm và chôn cất Thiếu tá Thiệu ngay trong khu đất của nhà thờ.

Chị Thiệu thường xuyên đưa các con đến đây thăm viếng và xây lại ngôi mộ cho chồng. Mấy năm sau, chị xin hỏa táng, và mang tro cốt anh về thờ tại tư gia ở Mỹ Tho. Lúc Thiếu Tá Thiệu mất, anh chị có ba con, hai trai 9 và 7 tuổi, cô con gái út chưa tròn 12 tháng. Sau này, cháu trai lớn mất, cháu gái định cư ở Úc.  Hiện nay chị sống với cậu con trai thứ tại Mỹ Tho, quê hương của chị. Điều đáng ngưỡng mộ hơn, khi chồng hy sinh, chị còn khá trẻ, nổi tiếng có nhan sắc, nhưng không hề bước thêm một bước nào nữa, ở vậy nuôi dạy các con trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, nghiệt ngã. Cả hai cháu đều nên người, thành đạt, hiếu thảo và luôn sống với niềm tự hào về người cha Võ Bị, từng sống rất tư cách và chết hiên ngang.

Cuộc chiến Việt Nam đã gây ra biết bao đau thương tang tóc. Vào giờ thứ 25 của cuộc chiến có biết bao nhiêu người đàn bà trở thành góa phụ, biết bao đứa con thơ  trở thành cô nhi, nhiều cháu chưa hề biết mặt cha mình. Không những không được hưởng bất cứ một ân sũng nào của quôc gia khi chồng, cha hy sinh cho Tổ Quốc mà họ còn bị kẻ thù phân biệt đối xử, nhục mạ và phải đương đầu với muôn vàn khó khăn trong cuộc sống. Những người như chị Đoàn Đình Thiệu rất xứng đáng để chúng ta biết ơn và ngợi ca. Sự hy sinh nào của những người lính, hay vợ con của lính, cũng đều tiềm ẩn những ý nghĩa cao quý, cho dù những cái chết vô danh, không được truy thăng hay chôn cất theo lễ nghi quân cách. Với Tổ Quốc và lịch sử dân tộc, những hy sinh dù trong âm thầm, vẫn mãi mãi là điều bất diệt.

Viết những dòng này, xin được thay bó hoa hồng tươi thắm nhất, gởi đến Chị Đoàn Đình Thiệu và các cháu cũng như những cô nhi quả phụ khác của giờ thứ 25, lòng tri ân và ngưỡng mộ của những người một thời từng là đồng đội, là huynh đệ của phu quân các chị, người cha đáng kính của các cháu. Và xin cầu chúc những điều tốt đẹp nhất cho những người đã sẵn sàng chấp nhận những số phận nghiệt ngã, hy sinh, nhưng vẫn luôn hãnh diện có chồng, cha là lính chiến VNCH, đã dám chết cho quê hương, dân tộc.

Cali, tháng 4/ 2018
Phạm Tín An Ninh