vietmessenger.com
Huy Phương
Post by Sơn râu 19 Aug 2026



“Ôi! Huynh Đệ Chi Binh là cái gì đó anh Hai ơi?”
(Nhạc sĩ Lê Minh Bằng)
Nhớ ngày xưa trong thời kỳ chiến tranh, quân sĩ ngoài mặt trận, sống chết bên nhau từng giây phút cam go. Lúc ấy chỉ có súng đạn và đối phương, không có thành phố, không có thân nhân, vợ con họ hàng, quan cũng như quân, cái chết cận kề, cùng vào sinh ra tử nên cuộc sống khắng khít với nhau biết bao nhiêu.
Người ta dùng thành ngữ “huynh đệ chi binh” để nói tới mối tình anh em thiêng liêng trong đời sống quân ngũ ngoài mặt trận. Quân sĩ chia nhau từng ngụm nước, từng miếng lương khô, chia sẻ với nhau từng bức thư nhà, kể cho nhau nghe những tình cảm che kín tận đáy lòng. Họ là anh em, không có gì để dấu nhau, không có của cải nào để làm sở hữu cho riêng mình. Những lúc hiểm nguy, họ sẵn sàng hy sinh cả thân xác mình để bảo vệ cho bạn, vì đã là huynh đệ chi binh, bạn bè cũng không từ nan phải chết cho họ.
Nhất là đối với cấp chỉ huy, thì những chiến công, những thành tích của họ chính là do các binh sĩ dưới quyền làm nên. Một sĩ quan mới ra trường, đến với đơn vị hành quân tác chiến, bao nhiêu năm, leo lên đến cấp tá, rồi cấp tướng đã chứng kiến qua nhiều đoạn đường trải đầy xương máu của đồng đội. Người xưa đã nói: “Nhất tướng công thành vạn cốt khô!” vì khi một cấp bậc được gắn lên cổ áo hay một huy chương được trao tặng, điều đó đã được hình thành, xây dựng bởi bao nhiêu cái chết của thuộc cấp họ, bởi bao nhiêu vành khăn tang được vội vã quấn trên đầu của thân nhân đồng đội.
Nhưng mấy ai nhớ tới những điều đó, tướng lãnh thì đời sống xa hoa, lên xe xuống ngựa, binh sĩ thì sống chật vật nghèo nàn, thiếu thốn tiện nghi trong trại gia binh. Khoảng cách giữa những ngươi chỉ huy và thuộc cấp vẫn là một khoảng cách quá xa, thành ra đôi khi những khẩu hiệu vẫn chỉ là những khẩu hiệu, phù phiếm không hơn không kém. Những ông tướng vào bếp binh sĩ nếm thử một muỗng canh “đại dương” cũng chỉ là một hình thức “mị hoặc” để tuyên truyền, trong khi chính bà tướng đã đi hàng ngang với các nhà thầu cơm lính tại quân trường để ăn chặn trên mỗi bữa ăn vốn đã nghèo nàn của binh sĩ. Khi nhà thầu lương thực tặng bà tướng một triệu đồng có nghĩa là chúng đã đồng lõa cắt nửa phần cơm trong nhà ăn của những người vốn đã cơ cực, đói khổ.
Người viết bài này còn nhớ trong cuộc hành quân thực tập cuối khóa 16 SQTB Thủ Đức giữa năm 1963, ông Chỉ Huy Trưởng buổi chiều có theo giám sát cuộc hành quân của chúng tôi, nhưng theo ông là một đoàn xe và cả một tiểu đội lính để dựng lều, có “xi tẹc” nước cho ông tắm, có cả tủ nước đá lớn và nhiều chai rượu mạnh.
Một điều gây ấn tượng mạnh, giờ này, bốn mươi hai năm sau, tôi vẫn còn nhìn thấy như ngay trước mắt tôi, đó là tai nạn sau buổi thực tập tác xạ súng cối 60 ly của Đại đội I chúng tôi tại quân trường. Sau giờ học, SVSQ được lệnh đi lượm các vỏ đạn để thu vào một đống. Một bạn đã vô ý ném vào một viên đạn lép 60 ly vào đống vỏ đạn. Một tiếng nổ kinh hồn đã giết mất sáu bạn trong đại đội chúng tôi và hai huấn luyện viên vũ khí, vì lúc ấy tất cả đều đứng quanh đó để chuẩn bị tập họp về trường. Đại đội trở về doanh trại với một tâm trạng buồn rầu và tang tóc. Phía trong cổng số 6 (cổng sau ngõ ra Tăng Nhơn Phú), ông Chỉ Huy Trưởng của chúng tôi là Thiếu Tướng Trần Ngọc Tám đang cầm can chỉ huy chờ chúng tôi bên cạnh chiếc xe Hoa Kỳ có gắn bảng sao của ông và đứng gần ông là một người lính cầm trong tay một ly rượu còn sóng sánh vàng với những viên đá cục và tay kia một chai rượu whisky sẵn sàng chờ lệnh chủ. Ngày đó chúng tôi và bạn bè chưa biết là sẽ phải chết vì những viên tướng như thế kia và đó chỉ mới là cái ấn tượng sơ khởi ở một nơi gọi là quân trường, chưa phải là ngoài đơn vị tác chiến. Những ngày cuối cùng của tháng 4-1975, tướng tá phần lớn có phương tiện trong tay hoặc có quyền lực để tìm phương tiện ra đi, hoặc được Mỹ bốc đi cả gia đình, kể cả con cháu, người ăn kẻ ở trong nhà và mang theo đủ của cải, tiền bạc. Những người còn ở lại là ai, thương binh què quặt lê la kiếm sống trên đường phố hoặc trong thôn xóm nghèo nàn, chiến hữu xếp hàng trình diện để vào trại tập trung ba năm, sáu năm, chín năm hay mười hai năm. Qua đây chưa thấy đàn anh nào có lòng thành, ý tốt nghĩ tới những người đã bỏ xương máu để gầy dựng nên binh nghiệp, gắn lên cổ áo mình đôi ba sao, để đứng ra tìm cách giúp đỡ cho đàn em bất hạnh ở quê nhà. Chỉ thấy đàn anh hội hè, gởi về quê hương những danh từ không thể làm no bao tử hay ấm được tấm thân. Ngày nay ở Hoa Kỳ, từ Pháp, Úc, Canada … nếu không có những anh em cấp nhỏ đã đồng lao cộng khổ, cũng như đồng bào qua đây còn ghi nhớ công ơn người chiến sĩ đã xả thân cho miền Nam Việt Nam, thì anh em thương binh, các bà quả phụ từ hai ba mươi năm nay đã không có được chút quà đắp đổi cho những ngày tháng bất hạnh còn lại của đời mình. Thực tình người viết bài này cũng mong có vị cựu tướng anh minh nào có thể “hỏi” được cả Mỹ và “xin” được cả chính quyền Cộng Sản để kiếm được một ngân khoản lo cho các thương phế binh VNCH. Nhưng nếu có được thì tiền cũng không ai đem về phát cho không, mà phải lập ra trường dạy nghề, hướng nghiệp. Đến lúc này thì cũng đã quá muộn, ba mươi năm qua, thương phế binh nay đã già yếu, chỉ chờ ngày chết. Người quân tử biết cẩn trọng lời nói, xin các đàn anh chớ có đem nỗi khốn khổ của thuộc cấp ngày xưa mà lót đường danh vọng một lần nữa.
Xin hãy làm một việc nhỏ như một người bình thường, mỗi năm giúp cho một vài hoàn cảnh thương phế binh để bớt nỗi nhọc nhằn cho họ và đem lại niềm vui ấm áp của tình huynh đệ chi binh mà ngày xưa chúng ta vẫn thường nghe nói tới hằng ngày.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.