Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 21 Aug 20265

Tôi không nhớ vào dịp nào, ông Tony Lâm, nghị viên thành phố Westminster vào những năm trước, có kể cho tôi nghe một câu chuyện rất tếu, mà tôi tạm đặt tên là “Giỏ Cua Cộng Đồng”.

Câu chuyện ấy như sau: Có hai người đi câu cua bên bờ biển, ngồi gần nhau, một người Mỹ và một người Việt Nam. Giỏ cua của người Mỹ thì có nắp đậy và được cột rất chặt vì sợ cua bò ra, trái lại giỏ cua của anh Việt thì để tênh hênh không có nắp đậy. Anh chàng Mỹ rất ngạc nhiên, hỏi lý do thì người Việt bình thản trả lời rằng: “Cua của tôi không con nào bò lên tới miệng giỏ được, hễ con này bò gần tới thì những con kia trong giỏ cặp càng kéo xuống trở lại, như vậy chẳng con nào lên nổi, thì việc gì phải đậy nắp!”

Câu chuyện nghe rất thường mà muốn chảy nước mắt. Anh nào mà có làm được một tí gì trong cộng đồng thì thế nào cũng có vài ba anh xúm nhau lại chửi bới. Trong chúng ta hễ ai làm được việc gì thì cũng có năm ba người chê bai, dè bỉu; người nào thành công thì cũng có dư luận nói xấu hay xoi mói vào đời tư.

Hễ một người xây được thì có ba người tới đập đổ. Như vậy, không có ai giỏi bằng mình, thành công bằng mình, đạo đức bằng mình, nghĩa là thói đời có cái nhìn “mục hạ vô nhân” (dưới mắt ta chẳng có thằng nào đáng mặt con người cả!) Cho nên, chúng ta ít thấy người khen ngợi người khác, mà mở miệng ra là toàn thấy chê bai. Mới nói tới ông A., thì có người đã lên tiếng “Ôi cái thằng chả mà … .” Mới nghe thoáng tên bà B., thì có ai đó đã thọc vô

“Tao đâu có lạ gì cái con mẻ đó mà … .” Trong cuốn “Người Trung Quốc Xấu Xí”, ông nhà văn Bá Dương đã cho cái lối đó là “bản thân mình là đáng khen, còn những người khác đối với họ là cứt chó hết”. Trong tiếng Tàu, các thành ngữ kiểu: “Trí thức khinh nhau” (Văn nhân tương khinh), “Cùng nghề hay ghen nhau (Đồng hành tương kỵ), “Cùng tính thì hay khích bác nhau” (Đồng tính tương xích) … nhiều không sao kể xiết! Xưa kia mình cũng có một câu hát, hình như của ban AVT là “hai cô ca sĩ có khen nhau bao giờ”. Bây giờ thì chúng ta đã thấy loạn hơn, vị này chê vị kia, báo này chê báo nọ, nhà văn này chê nhà văn kia, hội đoàn này chê hội đoàn khác. Gần đây, ông Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh chê ông Nguyễn Cao Kỳ tới đất đen, thì một vị không quân nọ lại mạt sát lại Ông Vinh thậm tệ, cứ ăn miếng trả miếng như thế, cuối cùng ai cũng đưa cái lưng đầy ghẻ ra cho người khác nom thấy. Ông Nguyễn Khánh thì cho rằng sau khi ông Dương Văn Minh và ông Nguyễn Văn Thiệu đã về bên kia thế giới, thì chính ông là người lãnh đạo duy nhất còn lại, ông Nguyễn Cao Kỳ cũng cho ông là người lãnh đạo còn lại sau cùng (trong cái hàm ý đủ tư cách để “hầu” chuyện bên kia).

Ông Nguyễn Khánh cũng hé cho mọi người biết ông Kỳ là “đàn em” của ông mà ông đã hết lòng giúp đỡ. Trong trường hợp này, nếu có một nhân vật ngoại quốc đầy uy thế đến hỏi: “Theo ông ai là người có thể đại diện cho người Việt hải ngoại?” thì tôi chỉ có cách là chỉ vào ngực tôi là: “Đâu có ai xứng đáng hơn, chính tôi đây thưa ông!”

Những con cua ở trong cái giỏ tự do, con này có quyền bò lên miệng giỏ thì con cua khác cũng có quyền kéo cẳng xuống. Kết luận của bầy cua là: “Tao mà chưa bò lên được miệng giỏ, thì đố con nào bò lên được với tao!”

Vào thời điểm từ năm 1994 đến 2000, đồng hương tại Quận Cam còn tích cực quan tâm đến sinh hoạt cộng đồng, mỗi lần đầu phiếu con số cử tri lên đến hằng chục nghìn. Nhưng càng ngày vì quyền lợi riêng tư của cá nhân hay phe nhóm, chúng ta phải công nhận rằng sự chia rẽ, phân hóa đã bắt đầu trong các tổ chức, cộng đồng hay ái hữu của chúng ta ở hải ngoại.

Chúng tôi không muốn nêu ra đây những địa phương có tới ba hội cựu tù nhân chính trị, ba hội lính, hai hội ái hữu dưới những nhãn hiệu khác nhau dưới những cái tên khác nhau. Cuối cùng đồng hương ai cũng nản lòng, không muốn tham gia, tình nghĩa thì tràn đầy mà nhân sự thì nhiễu nhương, hội này chê hội kia, hội kia chửi hội nọ. Có những ban chấp hành đã hết nhiệm kỳ “phục vụ” của mình, nhất quyết “hy sinh” thêm vài nhiệm kỳ hay muốn ôm ghế trọn đời như Ông Bokassa bên Trung Phi hay ông Castro ở Cuba. Muốn làm được việc này họ sửa “hiến pháp” dùng luật rừng, nhất quyết không cho bầu lại. Nếu tình thế không cho phép họ chấp nhận làm một ban chấp hành song song, coi như họ cũng có quyền đại diện cho cộng đồng, một ăn một thua với ban chấp hành kia. Một năm nọ, một Hội Ái Hữu Trung Học tại Bolsa tổ chức cuộc họp mặt tất niên, ông Chủ Tịch muốn “dĩ hòa vi quí” nên mời luôn cả hai ông Chủ tịch Cộng Đồng cho đỡ mất lòng. Ông Đại Diện ông Chủ tịch Cộng Đồng này mới bước chân vô cửa đã hỏi ban tiếp tân: “Có mời Ông Chủ Tịch kia không.”

Ban tổ chức trả lới “Có”, thế là ông này mặt hầm hầm bước ra cửa, quày quả đi không thèm nói một lời. Ban Tổ Chức chạy theo níu áo năn nỉ hết lời, nhưng thà ông ghé quán phở ăn một tô (vì nói lỡ với vợ là đi dự tiệc), còn hơn là ngồi chung với thằng cha không đội trời chung kia. Đó là chỉ mới ông Đại Diện thôi, chứ đúng là ông Chủ Tịch thật thì Ban Tổ Chức còn và bị thù oán dài dài.

Samurai! Những trận không chiến dữ dội nhất lịch sử Thái Bình Dương

vietmessenger.com

Tủ sách Khoa Học Nhân Văn

Lê Thanh Hoàng Dân

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Martin Caidin

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

Trẻ Xuất Bản 1974

Nhiều năm sau chiến tranh, tôi có đọc quyển “Lịch Sử Những Cuộc Hành Quân của Hải quân Hoa Kỳ trong thời Ðệ Nhị Thế Chiến” của Ðề đốc Samuel Eliot Morison. Ðề đốc chứng tỏ là một sử gia có tài và nghiên cứu của ông đã cung cấp một sử liệu đồ sộ. Tuy nhiên, đáng tiếc là có một đoạn lịch sử đặc biệt liên quan đến cuộc chiến trong sách này ít dựa vào căn bản của sự thật. Tôi muốn nói đến mặt trận quần đảo Ðông Nam Dương thuộc Hoà Lan, mặt trận đã mang đến chiến thắng cho chúng tôi, nhứt là việc đánh chiếm pháo đài quan trọng Java. Theo quan điểm của Morison, sự chiến thắng của chúng tôi ở mặt trận này là “do đánh lén với sức mạnh, hơn là do sự tinh tế”. Một điều đáng lưu ý trong cuộc chiến bại của các hạm đội Ðồng Minh và Hoà Lan vào tháng 2 năm 1942, là không chỉ một mình Morison mà còn nhiều sử gia tăm tiếng khác của Hoa Kỳ cũng đều bỏ qua, không đề cập tới các chi tiết của trận không chiến lớn nhất Nam-Dương trong tài liệu của họ.

Qua vai trò một hạ sĩ quan phi công, dù đã tham dự trực tiếp vào trận đánh đó, cái nhìn của tôi dĩ nhiên sẽ có nhiều giới hạn hơn cái nhìn của những sử gia “ôm đồm” cả một cuộc chiến rộng lớn trong tay. Tuy nhiên, sự góp phần cá nhân của tôi vào mặt trận tháng 2 này có thể giúp soi sáng sự tìm hiểu những chi tiết liên quan đến cuộc chiến Thái Bình Dương.

Mặt trận Java kết thúc hẳn vào ngày 25 tháng 2 với sự chiến bại của các lực lượng trên biển của Ðồng Minh trong khu vực. Yếu tố quan trọng gây ra cuộc chiến bại này là các chiến hạm của Ðồng Minh thiếu sự bao che trên không, vì trước đó, vào ngày 19 tháng 2, các đơn vị không quân của họ đều bị tiêu diệt trong một cuộc không chiến dữ dội và lớn nhất ở Surabaya, với tổng số gần 80 chiến đấu cơ của cả hai phía tham dự. Nhưng không có bài tường thuật nào của người Mỹ về cuộc chiến, mà tôi đã từng đọc qua, đề cập đến trận không chiến này. Chính chiến thắng của các khu trục cơ Zéro đã chiếm lĩnh bầu trời, chứ không phải các cuộc ném bom của các oanh tạc cơ Nhựt, mới là thành tố quyết định.

Vào ngày 4 tháng 2-1942, tôi bay đến phi trường Balikpapan với nhiều phi công khác. Ngày hôm đó, tôi thực hiện các phi vụ tuần tiễu trong khu vực. Nhiệm vụ khó khăn, vì hoạt động không quân địch đã gia tăng mạnh mẽ. Báo cáo chính thức phía Nhựt ghi nhận thêm một chiến công của tôi ngày hôm ấy.

Tuần lễ kế đó, các phi cơ thám thính của chúng tôi báo cáo rằng địch quân đã tập trung trong khu vực Surabaya một số lượng chiến đấu cơ từ 50 đến 60 chiếc, loại Curtiss P36 Mohawk, Curtiss P40 và Brewster F2A Buffalo, nhằm chống lại cuộc đổ bộ lên Java của chúng tôi.

Bộ tư lệnh tối cao Nhựt ra lệnh cho tất cả các chiến đấu cơ khả dụng, đóng tại các căn cứ trên đất liền nằm trong khu vực mặt trận, tập trung về Balikpapan vừa mới chiếm giữ. Vào buổi sáng ngày 19 tháng 2-1942, 23 chiến đấu cơ Zéro thuộc các đơn vị không quân ở Cao Hùng và Ðài Nam đều cất cánh quy tụ về Surabaya.

Ðây là cơ hội đầu tiên, theo chúng tôi đoán biết, chúng tôi sẽ đối đầu với các loại chiến đấu cơ tối tân của địch. Chúng tôi phải bay 800 cây số liền để đến căn cứ Hòa Lan, nơi kẻ thù đang chờ đợi với số phi cơ áp đảo. Không một ai trong chúng tôi trông đợi một chiến thắng dễ dàng, như đã hoàn thành ở Phi. Tất cả những dự phòng đều được chuẩn bị. Mỗi phi công có một danh sách các hải đảo có thể đáp khẩn cấp với cấp cứu của tàu Nhựt. Các phi cơ thăm dò khí tượng bay trước chúng tôi nhằm thông báo cho chúng tôi biết những thay đổi của thời tiết sẽ ảnh hưởng đến trần mây. Một máy bay thám thính dẫn đầu hợp đoàn tấn công.

Khi bay vô không phận Surabaya vào lúc 11 giờ 30, trên cao 16,000 bộ (4,900m), chúng tôi đụng đầu với khoảng 50 chiến đấu cơ Ðồng Minh, đang bay ở cao độ 10,000 bộ (3,000m) và xoay vòng trên thành phố, ngược chiều kim đồng hồ, theo đội hình hàng dọc. Như vậy, lực lượng đối phương nhiều hơn gấp đôi chúng tôi. Máy bay địch chia ra làm 3 nhóm với từng phi đội tam giác. Chúng tôi nhả bình xăng phụ và đâm xuống, ngang hàng với địch thủ. Các chiến đấu cơ Ðồng Minh phá vỡ đội hình vòng tròn và gia tăng hết tốc lực lao về phía chúng tôi. Họ sẵn sàng và nôn nóng đánh nhau, khác xa các chiến đấu cơ Hoa Kỳ mà chúng tôi đã đối đầu ở phi trường Clark vào ngày 8 tháng 12-1941.

Không đầy một phút, hai bên đã dàn xong đội hình quy củ và bước vào một trận đấu ác liệt.

Nhìn thấy một chiếc P36 đang gầm thét xông đến, tôi liền nhích cánh lộn thật mau về phía trái chờ phản ứng của đối thủ. Ngu dại thay, đối thủ vẫn duy trì hướng bay cũ. Tôi lập tức xoay sang phải thật ngặt, lấy thăng bằng, và lướt thẳng vào đuôi của chiếc P36 với tên phi công đang sửng sốt.

Liếc nhìn lại phía sau thấy trống không, tôi thâu ngắn khoảng cách giữa tôi với viên phi công địch. Hắn lộn về bên trái, nhưng với một cái nhích nhẹ ở cần điều khiển, tôi theo sát đuôi hắn. Còn cách 50 thước, tôi thổi vừa đạn đại liên vừa đạn đại bác ra. Tức khắc, cánh phải của đối thủ long ra, bay trong không khí, rồi tới cánh bên trái cũng bị xé đứt. Xoáy như chong chóng, chiếc P36 chúi xuống vỡ tan dưới mặt đất cùng với viên phi công.

Tôi đảo một vòng thật rộng để vượt lên, và trở về đội hình chính. Có ít nhất 6 phi cơ đang rơi xuống như những bó đuốc. Bóng màu ô liu của một chiếc P36 đang xoay tít hướng về phía tôi. Tôi quay lại để chặn đầu, nhưng một chiếc Zéro khác đã vượt thẳng từ dưới lên, chụp chiếc P36 bằng một tràng đại bác, rồi lách ra như chớp trong khi chiếc phi cơ Hoà Lan nổ tung. Phía bên trái một chiếc P40 theo sát đuôi một chiếc Zéro đang tháo chạy. Tôi cấp tốc xoay lại nhằm chận đứng chiến đấu cơ địch. Nhưng hành động của tôi thừa thãi, chiếc Zéro đã quất ngược mũi lên, lộn nhào về phía sau, ở trên chiếc P40 một chút, rồi đạn đại liên và đại bác nện cùng lúc. Chiếc P40 biến thành cây đuốc.

Cách đó không xa, một chiếc P40 khác loé sáng, kéo một vệt lửa dài gấp 3 lần thân phi cơ, và một chiếc P36 lảo đảo như một chiếc lá rụng trên không, viên phi công đã gục chết trên tay lái. Phía dưới tôi một phi cơ dẫn đường không võ trang của chúng tôi đang bị 3 chiến đấu cơ của Hoà Lan rượt đuổi. Viên phi công Nhựt đang cuống cuồng lẫn trốn.

Một lần nữa, tôi lại lướt đến quá chậm. Một chiếc Zéro hùng hổ bổ nhào xuống và đạn đại bác của nó phá tung bồn chứa xăng của chiếc chiến đấu cơ Hoà Lan bay đầu tiên. Rồi vừa vượt lên chiếc Zéro vừa “đấm” vô bụng chiếc P36 thứ nhì, phi cơ địch đứt hẳn một bên cánh ngay khi chiếc thứ ba lộn vòng trở lại để chận đầu chiếc Zéro. Quá muộn, buồng lái của chiếc P36 này cũng ăn đạn và vỡ tan tức khắc. Chiếc Zéro lướt dọc theo phi cơ của tôi, viên phi công đưa tay vẫy vẫy và cười rạng rỡ rồi bay đi hộ tống chiếc phi cơ quan sát ra khỏi khu vực.

Một chiếc P36 tháo chạy, lướt ngang phía trên tôi. Tôi gia tăng tốc lực cấp tốc, vượt thẳng lên và ấn cò đại bác. Quá sớm! Áp lực của vòng xoáy để lấy lại thăng bằng của đối thủ đã làm lệch đường nhắm của tôi. Chiếc P36 lộn nhào nhiều vòng về phía trái và chúi thẳng xuống đất. Tôi cắt thẳng vào đường xuống của phi cơ địch và ấn cò súng. Một vệt khói màu đen kéo lê thật dài. Tôi bồi thêm hai viên đại bác 20 ly nữa, và lảng ra ngoài khi cuộn lửa đỏ bao trùm cả thân chiếc chiến đấu cơ Hoà Lan này.

Một chiếc Zéro với hai sọc xanh kẻ trên thân phi cơ lướt ngang qua cách 200 thước trước mặt tôi. Không dấu hiệu nào báo trước, chiếc Zéro nổ tung, lửa loà sáng. Trung úy Masao Asai, phi đội trưởng của chúng tôi thiệt mạng. Lúc đó tôi không hiểu lý do gây ra sự nổ tung này.

Trở lên cao độ 8,000 bộ (2,400m), tôi nhận thấy khoảng 20 chiến đấu cơ Zéro đang lượn vòng quanh trong đội hình tập họp. Một vài chiến đấu cơ Hoà Lan sống sót chỉ còn là mấy chấm đen ở xa. Trận đánh đã kết thúc, sáu phút sau khi phát khởi.

Thật kỳ lạ, với bầu trời không còn một chiếc phi cơ địch nào, các khẩu cao xạ của Hoà Lan vẫn im tiếng khi chúng tôi lượn vòng trên thành phố của họ, chờ đợi xem còn chiếc chiến đấu cơ Zéro nào truy đuổi địch trở về hay không.

Trong khi những chiến đấu cơ khác lượn vòng, tôi bay về phía trước, trên eo biển ngăn đôi Surabaya và đảo Madura… Nơi đây có một phi trường được ngụy trang cẩn thận. Tôi bay thật chậm, ghi toạ độ phi trường trên bản đồ, nằm ở mũi phía Tây Madura. Chưa ai báo cáo về phi trường bí mật này, tin tức của tôi chắc chắn sẽ được cơ quan tình báo đón nhận một cách hài lòng.

Khi bắt đầu bay lên cao để quày lại kết hợp với những chiến đấu cơ khác, tôi nhìn thấy một chiếc P36 bay phía dưới sà thấp trên thành phố. Mục tiêu ngon lành. Viên phi công địch bay nhởn nhơ, không biết tôi đang đến gần.

Sự nôn nóng của tôi làm mất cơ hội chiến thắng nhanh chóng. Cách tầm súng quá xa tôi đã vội vã bóp cò. Bị động, viên phi công Hoà Lan lập tức chúi mũi xuống, gia tăng hết tốc lực để tháo chạy. Chửi thề cho sự ngu dốt của mình, tôi cũng gia tăng tốc lực rượt theo.

Khả năng bay của chiến đấu cơ P36 kém hơn loại chiến đấu cơ Zéro của chúng tôi. Zéro mau lẹ hơn, nắm ưu thế về võ trang, và nhanh nhẹn khi nhào lộn hoặc vượt lên, nhưng lại rất yếu khi chúi xuống với tốc độ cao. Hơn nữa, tôi khai hoả quá sớm, cho phép chiếc P36 kéo dài khoảng cách giữa hai phi cơ đến 200 thước. Tôi không thể tiến gần thêm được. Nếu ở một độ cao hơn nữa, chiếc P36 chạy thoát dễ dàng bằng cách cứ bay chúi xuống. Nhưng lúc ấy mặt đất phía dưới đang dâng cao, bắt buộc viên phi công địch phải vượt lên. Bây giờ tôi có thể sử dụng ưu thế của chiếc Zéro.

Viên phi công Hoà Lan bay sà sát mặt đất theo hình chữ chi rất ngặt. Tôi cắt thẳng vào mỗi nét của chữ chi (giống như chữ Z), thâu hẹp khoảng cách lại. Hắn bay càng lúc càng thấp hơn, lách vào khoảng trống của cây cối và nhà cửa, vừa trốn chạy vừa hy vọng tôi bỏ cuộc vì thiếu nhiên liệu. Tôi hiểu điều này. Ðánh ván cuối cùng, tôi gia tăng tốc lực khẩn cấp ngay khi căn cứ Malang hiện ra trước tầm mắt. Cách 50 thước, tôi nhắm vào buồng lái của chiếc P36 và ấn cò súng. Ðại bác hết đạn nhưng hai tràng đại liên đã xé nát viên phi công. Chiếc chiến đấu cơ nhào xuống và vỡ tan trong một ruộng lúa. Tôi là phi công cuối cùng trở về kết hợp với những chiến đấu cơ khác đang bay quần trên cao độ 13,000 bộ (4,000m) cách phía Bắc Madura 20 dặm (30km).

Chúng tôi mất Trung úy Asai và 2 phi công khác. Trở về Balikpapan, theo báo cáo của các phi công Nhựt, có tất cả 40 chiến đấu cơ địch bị bắn hạ. Tôi luôn luôn trừ đi 30% báo cáo của bất kỳ nhóm phi công nào, sau một trận không chiến dữ dội, như trận không chiến vừa rồi chẳng hạn. Bởi lẽ, trong cảnh hỗn đấu, hai hoặc ba phi công có thể cùng xạ kích một chiếc phi cơ địch, và mỗi người đều cho rằng mình bắn hạ một chiếc. Tuy nhiên, lần này con số có vẻ ít sai sự thật, vì kể từ ngày đó chúng tôi hầu như không còn đụng độ với số lượng đông đảo các chiến đấu cơ Hoà Lan nữa. Ðồng thời, phi trường bí mật ở Madura bị oanh tạc, tiêu diệt hầu hết số phi cơ P40, Buffalo và Hurricane còn lại trên mặt đất của Ðồng Minh.

Ðêm nào chúng tôi cũng đều nghe đài phát thanh của địch quân cho biết 5 hay 6 chiến đấu cơ Nhựt bị bắn hạ trong ngày. Ðiều này sai sự thật, vì nhóm chúng tôi là nhóm duy nhất bay loại phi cơ Zéro trong khu vực, và con số thiệt hại lớn nhất của chúng tôi chỉ xảy ra vào hai ngày 19 và 20 tháng 2, với 6 phi cơ và phi công bị bắn hạ.

Và ngày 25, tám chiến đấu cơ Zéro được lịnh rời khỏi Balikpapan bay đến “dọn dẹp” căn cứ không quân Malang nơi mà cơ quan tình báo tin rằng có nhiều oanh tạc cơ của Ðồng Minh. Trên đường đến Malang, chúng tôi đụng đầu với một chiếc thủy phi cơ Hoà Lan, và tôi đã tách khỏi đội hình để nhận nó xuống đại dương.

Sau khi bay quần trên phi trường khoảng 6 phút, chúng tôi nhào xuống làm thịt ba chiếc B17 đang đậu trên mặt đất. Hoả lực phòng không của địch dữ dội, xoi thủng nhiều chiến đấu cơ của chúng tôi nhưng không lôi được chiếc nào xuống đất.

Nạn nhân kế, cũng là nạn nhân chính thức thứ mười ba của tôi, xuất hiện vào ngày cuối của tháng Hai.

Tôi tham dự vào một phi vụ gồm 12 chiến đấu cơ hộ tống 20 oanh tạc cơ Mitsubishi G4M Betty từ Macassar phía Tây Nam đảo Sulawesi đến tấn công cuộc di tản bắt buộc của Ðồng Minh ra khỏi đảo Tjilatjap (Ðông Nam Bandung). Chiến hạm của địch rời khỏi hải cảng trước khi chúng tôi đến. Các chiến đấu cơ chúng tôi quần chầm chậm trong khi các oanh tạc cơ ném bom vào những cơ sở của địch trên hải cảng. Cuộc không kích suôn sẻ và, sau khi hộ tống các oanh tạc cơ ra đến biển Java, chúng tôi quay lại Malang để lục lọi phi cơ địch.

May mắn đến với chúng tôi hôm ấy. Bốn chiến đấu cơ, thuộc loại mà tôi chưa từng đụng độ, bay quần trên không, gần một đám mây dầy đặc, ở cao độ 25,000 bộ (7,600m). Khi tiến đến gần, tôi nhận ra đó là loại chiến đấu cơ Brewster F2A Buffalo của Hoà Lan. Tôi không bao giờ hiểu nổi sự thiếu đề cao cảnh giác của mấy viên phi công Hoà Lan này, cho dù trước đó họ đã biết có sự hiện diện của chúng tôi.

Chúng tôi áp sát, và một chiếc Zéro đốt ngay một chiếc Buffalo với một quả đại bác. Tôi xông đến chiếc thứ nhì, lúc nó đang xoay thân. Ðúng là nó muốn nghinh chiến. Tôi cắt thẳng vòng xoay của chiếc phi cơ, mũi hơi chếch để bay lảng ra, cách địch thủ 200 thước, và bóp cò súng liên tục. Nhiều viên đại bác trúng đầu máy chiếc Buffalo và khói bốc ra cuồn cuộn trôi ngược về phía sau. Hình như viên phi công cũng bị trúng đạn, vì chiếc phi cơ lộn nhào chầm chậm nhiều vòng cho đến khi biến mất trong mây. Nó khó có thể tồn tại trước cơn nóng dữ dội trong những đám mây đó.

Nhiều tháng sau, chúng tôi chuyển hết căn cứ này đến căn cứ khác rồi trở về Phi Luật Tân, và thực hiện các phi vụ yểm trợ cho Lục quân lúc các hệ thống phòng thủ của Mc Arthur ở đảo Corregidor bị chọc thủng. Sau đó, đơn vị chúng tôi được chuyển đến đảo Bali ở Nam-Dương để chuẩn bị cho cuộc hành quân quan trọng kế tiếp về phía Nam.

Tôi không bao giờ hiểu nổi những phúc trình của người Mỹ về các trận không chiến vào khoảng thời gian này. Ðáng kinh ngạc hơn hết là một phúc trình của Ðại tá Jack Delmar Dale. Theo đó, phi đoàn chiến đấu cơ P40 của ông đã hạ 71 phi cơ Nhựt và ông chỉ thiệt mất 9 chiếc trong suốt 45 ngày chiến đấu ở Java. Ðây là một con số không thể tưởng tượng nổi, khi mà mất mát của chúng tôi vào giai đoạn này không hơn 10 chiếc Zéro.

Ðại tá Dale còn mô tả cả đội hình mà ông đã thiết lập khi chiến đấu, khiến cho chúng tôi nhìn 16 chiến đấu cơ của ông thành 48 chiếc. Ðó là đội hình chữ S phân tán. Trong tất cả những trận đụng độ giữa tôi với các chiến đấu cơ P40 của Hoa Kỳ, tôi chưa bao giờ thấy một đội hình nào như Ðại tá Dale mô tả.

Ðại tá Dale cũng đã phúc trình: “Một đêm tối chúng tôi có nghe đài phát thanh Ðông Kinh loan báo: nhiều trăm chiến đấu cơ P40 được tung ra tấn công đều khắp. Ðó là những chiến đấu cơ Curtiss Tomahawk loại mới, võ trang đến 6 đại bác.” Katsutaro Kamiya, phụ trách phần phát thanh Anh ngữ của đài Ðông Kinh, nói với tôi rằng không bao giờ có loại tin tức như vậy được loan đi, bởi lẽ giản dị là đài chỉ loan những tin tức chiến thắng của Nhựt mà thôi. Các phúc trình của Ðại tá Dale cũng ít dựa vào sự thật như phúc trình “đánh chìm” thiết giáp hạm Haruna của Ðại úy Kelly.

Chiếc lá Trường Xuân

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 20 Aug 2026

Tranh Bảo Huân

Nhớ xưa, những năm 70s, thầy và cô Beidler là giáo sư dạy Anh Văn tại trường Ðại Học Văn Khoa Cần Thơ. Nhà thầy cô, cất theo kiểu California, ở Khu Văn Hóa đầu đường Tự Ðức. Ở đó có một thư viện nhỏ, sách đa phần là tiếng Anh để sinh viên đến đọc hoặc dùng tài liệu tham khảo.

Và người viết lần đầu tiên biết đến O. Henry, Mark Twain… qua những tuyển tập truyện ngắn gọi là ‘Ladder books’ (Ladder nghĩa là thang). Những truyện nầy được viết với số từ vựng giới hạn theo bậc thang từ thấp lên cao! Bậc thang thấp nhứt một ngàn chữ, rồi lên bậc thang thứ hai, hai ngàn và cao nhứt là bậc thang thứ ba, ba ngàn chữ.)

Khi vốn từ đã được ba ngàn, tương đối đầy đủ, thì sinh viên  sẽ tìm đọc nguyên tác ở Thư viện Hội Việt Mỹ Cần Thơ nằm trên đường Phan Ðình Phùng để cảm thụ được hết cái hay, cái đẹp của một tác phẩm nổi tiếng thuộc nền văn chương của đất nước Hoa Kỳ.

***

Sau nầy biết thêm chút đỉnh về sự tự do của đất nước Hoa Kỳ, tôi mới nghiệm ra rằng tự do không chỉ bó hẹp về chánh trị. Mà tự do có nghĩa rộng hơn rất nhiều.

Tự do sống, tự do yêu, tự do chọn nghề theo sở thích. Chính vì thích nên dành hết công sức của mình vô, làm rất nhiệt tâm, nhiệt tình nên nghề mới tinh diệu. Chọn nghề không hẳn vì Ba Má mình muốn thế cho nở mặt nở mày với lối xóm bà con. Chọn nghề không hẳn phải là Bác sĩ, Kỹ sư cho nó có danh, có lợi. Chọn nghề không hẳn vì: ‘Phi Cao đẳng bất thành phu phụ’. Chọn nghề không hẳn vì ‘Nhứt sĩ nhì nông. Hết gạo chạy rông nhứt nông nhì sĩ’. Chọn nghề không hẳn vì chén cơm manh áo như thường thấy ở đất nước đầy biến loạn của chúng ta.

Ðã thân nầy kể bỏ, quyết tâm theo đuổi nghề viết văn chừng một thế kỷ trước, nhà văn Hoa Kỳ ắt cũng nghèo đói thế thôi! Nhà văn của mình, trong và ngoài nước, ngay từ xưa rồi đến cả bây giờ cũng vậy, ngoại trừ một số rất ít sống được bằng ngòi bút của mình.

Nhưng là nhà văn, là nghệ sĩ, là dân chơi thì sợ gì mưa rơi. Chọn nghề văn là thân nầy kể bỏ. Nên việc nhà văn nghèo, không cưới được vợ như Tản Ðà hoặc như Arthur Miller bị Marilyn Monroe bỏ thì cũng chẳng có nhằm nhò gì hết ráo!

***

Mùa Giáng Sinh về, tôi lại nhớ O. Henry, một nhà văn sống một đời bất hạnh, một bi kịch! Vợ chết, mình phải đi tù chỉ vì một số tiền biển thủ không đáng là bao nhiêu, con phải vào Trại Mồ Côi.

Tháng Chạp lại về, đang ở tù thì làm gì có tiền mua cho đứa con gái còn bé bỏng của mình một món quà Giáng Sinh đơn sơ cho con mình khỏi tủi, O. Henry bèn cầm viết!

Tình phụ tử cao quý đó đã sản sinh cho chúng ta, những người đọc trên toàn thế giới, suốt cả trăm năm nay, những truyện ngắn về Mùa Giáng Sinh tuyệt tác của O. Henry!

***

O. Henry, tên thật là William Sydney Porter, sanh ngày 11, tháng Chín, năm 1862 tại Greensboro, North Carolina, Hoa Kỳ.

Mẹ mất vì bịnh lao nên ông mồ côi khi mới lên 3 tuổi. Về với Nội, ông chỉ học ở trường trung học Lindsey tới năm 15 tuổi rồi phải bước xuống cuộc đời mà kiếm sống.

Tháng Ba, năm 1882, khi bắt đầu có những cơn ho dai dẳng, sợ bị lao như Mẹ, ông chuyển về Texas, sống trong một trại chăn nuôi với hy vọng khí hậu ấm áp nơi đồng nội miền Nam Hoa Kỳ sẽ giúp ông vượt qua cơn bệnh.

Khi còn bé, rất ham đọc; đọc bất cứ cái gì mà ông có trong tay. Ðến Houston năm 1895, ông bắt đầu viết cho tờ Post (Bưu Ðiện). Tiền nhuận bút được một tháng 25 đô, một ngày kiếm chưa tới một đô la, lương trung bình lúc đó là 300 đô một năm!)

O. Henry yêu Athol Estes, 17 tuổi, con của một gia đình giàu có nhưng gia đình cô không chịu gả. Tháng Bảy, năm 1887, O. Henry và Athol trốn đi; trở thành vợ chồng. (Tháng Chín, năm 1889, họ có con gái đầu lòng, tên là Margaret Worth Porter.)

Năm 1896, làm nhân viên cho First National Bank ở thành phố Austin, Texas. bị tình nghi biển thủ 1,150 USD, ông bỏ trốn đến Honduras. Sáu tháng sau, nghe tin vợ mình đau nặng, hấp hối, ông quày quả trở về. Nhà cầm quyền đợi đến khi vợ ông qua đời mới đem ông ra xử tội biển thủ với bản án 5 năm tù giam.

Trong nhà tù ở thành phố Columbus, tiểu bang Ohio, O. Henry muốn mua quà Giáng Sinh cho con gái 9 tuổi Margaret đang ở trong Trại Mồ Côi, nhưng không có tiền nên gửi một truyện ngắn tới một tạp chí và được ông Chủ bút cho đăng ngay mà tác phẩm không bị sửa chữa bất cứ điều gì.

Mùa Hè năm 1901, ở tù đã hơn ba năm, O. Henry được trả tự do sớm nhờ hạnh kiểm tốt! Năm 1902, hàng tuần, O. Henry, theo hợp đồng, phải gửi cho tờ ‘The New York World Sunday Magazine’ một truyện ngắn. Tiền nhuận bút mỗi truyện là 100 đô la Mỹ, niềm mơ ước của bất cứ nhà văn Mỹ nào lúc bấy giờ.

Cả tòa soạn háo hức chờ đợi; ai cũng muốn được là người đầu tiên đọc tác phẩm mới của O. Henry!

***

Những tháng năm cùng quẫn O. Henry đã bỏ lại sau song sắt nhà giam. O. Henry danh tiếng giờ đây đã nổi như cồn. Tiền nhuận bút khá khẳm, nhưng vẫn không đủ xài vì tánh ông rất là hào phóng.

Cuộc hôn nhân thứ hai không hạnh phúc, O. Henry chìm trong men rượu! Ðến năm 1908, sức khỏe của ông sút giảm nhanh chóng. O.Henry lìa đời vào ngày mùng 5, tháng Sáu, năm 1910 tại New York trong sự cô độc, ở tuổi 48, vì xơ gan, vì tiểu đường và bị phì tim. O.Henry được chôn cất ở quê nhà North Carolina.

***

O. Henry mất cách đây hơn một thế kỷ mà ngày nay, mỗi mùa Ðông Bắc Mỹ, mùa Cúm, mùa sưng phổi lại về, chúng ta lại nhớ đến ông. Truyện ngắn của O. Henry thấm đẫm tình người. Mỗi truyện là một tuyên ngôn ‘nghệ thuật vị nhân sinh’.

Trong những truyện ngắn lừng danh đó phải kể đến tác phẩm: ‘The Last leaf’ ( Chiếc lá cuối cùng) xuất bản lần đầu vào năm 1907.

Chuyện rằng: “Sue và Johnsy là hai nữ họa sĩ trẻ sống trong Greenwich Village, Manhattan, thành phố New York, Hoa Kỳ. Behrman là một ông họa sĩ già sống cùng chúng cư. Suốt cả cuộc đời, Behrman khao khát tạo nên một kiệt tác nhưng chưa làm được.

Mùa Ðông năm ấy, Johnsy bị bệnh sưng phổi rất nặng. Bệnh tật khiến cô bị trầm cảm. Johnsy tuyệt vọng và nghĩ rằng khi chiếc lá cuối cùng trên cây Trường Xuân dưới sân nhà rụng xuống, cũng là lúc Johnsy lìa đời.

Sue, người bạn thân thiết cùng phòng hết lòng chạy chữa cho Johnsy. Nhưng vô ích, Johnsy vẫn âm thầm đếm từng chiếc lá Trường Xuân rụng xuống, chờ cho đến ngày tận tuyệt.

Biết được ý nghĩ bi quan đó của Johnsy, ông họa sĩ già Behrman cô đơn thức suốt canh thâu để vẽ một chiếc lá Trường Xuân ở trên tường. Chiếc lá giống y như thật. Chiếc lá cuối cùng đó như đang cố bám vào cây Trường Xuân để chống chọi lại mùa Ðông giông bão. Nó đã kiên cường chiến đấu mà không chịu bỏ cuộc, không rụng dù trong đêm qua Trời nổi cơn bão lớn. Ðiều đó làm Johnsy suy nghĩ lại, cô muốn được sống, muốn được sáng tạo.

Johnsy trở về từ cõi chết nhưng Behrman lại chết vì sưng phổi sau một đêm tạo ra kiệt tác chiếc lá để cứu sống Johnsy.

***

Chiều cuối năm quê người, năm tận tháng cùng ngày sắp hết, tôi lại nhớ O. Henry sống một cuộc đời bi kịch. Bi kịch đó như chiếc lá Trường Xuân, kiệt tác của người Họa sĩ già vẽ trên bức tường trong một tối đêm Ðông trời New York.

Chiếc lá Trường Xuân đó không thể nào rơi vào quên lãng của đời người. Cho dù mải mê mần văn đến nỗi tiền nhuận bút không đủ mua rượu uống. Ðôi khi bánh mì cũng không đủ  để mà ăn. (Ðói bao giờ cũng viết văn hay hơn lúc no! Mần văn nghệ nó tréo cẳng ngỗng vậy đó.)

Xin cúi đầu ngưỡng mộ, xin lạy quý nhà văn ba lạy. Mỗi tác phẩm của các ông là một chiếc lá Trường Xuân dâng hiến mãi cho đời!

Đoàn Xuân Thu

Chiếc áo mới

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 20 Aug 2026

Ánh sáng không có nhiều trong nhà, có lẽ vì vườn cây đầy lá, vì mặt trời ngủ li bì suốt hai ba hôm. Tin tức khí tượng có loan là bão cấp 5 đang thổi qua vùng đất nào đó ở phiá bắc. Trời chẳng gió lộng chốn này, nhưng cau có âm u với từng đám mây chạy vội. Mùa xuân như bị cuốn hút lên cao, những tảng màu xám vung vẫy ở đó khiến chân dung thành phố gần như bị kéo về lại sự tiêu điều của mùa đông. Khi chạy xe thấy lạnh, ở tay cầm ghi-đông tê tái.
Hai bàn tay xoa vào nhau, hắn ngồi trên ghế kê sát cửa; để nhìn chừng chiếc xe, bồn chồn ngó trời ái ngại một cơn mưa dội xuống bất ngờ. Căn nhà tù mù, đã vậy chủ nhân cố làm ra vẻ thần bí ngồi dấu mặt ở đâu đó sau tấm màn vải đỏ rủ che. Tự khuất lấp nghe vọng ra tiếng nói:

– Bây giờ cô đi bứt vào cho tôi một chiếc lá.

– Dạ… hái lá cây?

– Ừ, tùy ý lựa chọn, miễn đừng lượm lá rụng dưới đất.

Tấm màn vải đỏ lay động, khuôn mặt người đàn bà ngó tới hắn với đôi lông mày thoáng nhíu, ngờ vực. Dáng người gầy yếu, đi nhẹ như sợ làm kinh động những đồ vật chung quanh. Băng qua chỗ hắn ngồi, làm thinh bước ra sân, định vị được mục tiêu, đi lại bụi cây thấp, rậm rạp, xum xuê, đưa tay ngắt một chiếc lá “định mệnh”. Những ngón tay đẹp, hiểu theo nghĩa là bàn tay ấy như chẳng bao giờ biết lao động nặng là gì. Bứt rời một chiếc lá, việc đó nhẹ nhàng biết bao, vậy mà hắn thấy sự nhọc nhằn hiện hữu. Cổ tay ẩn hiện chiếc vòng ngọc xanh, áo màu đen thêu công phu những đóa hoa vàng sẫm, ngỡ như hoa từ bụi cây đang dụi mặt vào ngực người đàn bà. Bà mang tên Cẩm Chướng đứng không lâu, nhưng đủ sáng rỡ một góc nhìn tẻ nhạt. Hoa cẩm chướng cầm chiếc lá không tên bước vô, và rồi tấm màn đỏ phủ lấp, chôn chặt điều khó hiểu. Hắn thấy ngột ngạt, bước khỏi thềm nhìn mông lung. Xa nhất là ngọn đồi, cắm không đều những bia mộ xám, rối rắm mọc giữa triền cỏ xanh. Dáng một hai người mãi khom lưng đào cuốc lao động mãi mê. Trồng trọt, thu hoạch hoa màu hay đang cố sức làm đẹp “căn nhà” thân nhân hồn đã về bên kia núi? Dưới chân đồi là những ô vuông sồi trụt của đám ruộng ngập nước. Từ đó khai mở con đường đất loanh quanh chạy tuốt ra ngoài quốc lộ. Mơ hồ tiếng động cơ rót vào, cách khoảng. Thứ tiếng nghe rã rời, mau chìm khuất, lặng buồn. Những ngày cuối năm, không gian thường có những phút im sững như vậy, cực lòng. Hôm qua, một người khách lạ mặt cầm cành mai chưa nở hoa từ chợ bước ra đã vẫy gọi hắn. Khi chở đến nhà, ông ấy trả tiền cuốc xe rồi chúc “Năm mới, thắng lợi mới”. Như ông ấy vừa tan một phiên họp kiểm điểm từ cơ quan, chưa tiêu hóa xong những khẩu ngữ dành cho loài vẹt. Thắng lợi? Chữ ấy thật lạ lùng, e suốt đời chẳng thích hợp với hắn. Dung dị, bình thường, thân mật, quen thuộc biết mấy nếu nói: Năm mới phát tài nghe bạn!

– Thôi mình về.

Người đàn bà đã trở ra.

– Xong xuôi rồi sao? Có tốt không chị?

Người đàn bà lặng yên bước lại bên chiếc xe còn phả miên man chút hơi nóng ở bộ máy đen đúa. Chiếc khăn nhỏ mãi vày vò ở lòng bàn tay làm như chiếc lá đã để lại trên da thịt những giọt mủ rít rát. Xe chạy ra quốc lộ, đường đất mấp mô ở đây chưa thể có một êm ái của mặt nhựa hắc ín rải xuống nên hắn đón nhận một vòng tay từ sau buộc lòng ôm giữ bụng hắn. Mây mù trên núi và con đường đất đỏ bắt đầu đón nhận thưa thớt những hạt mưa.

– Bẻ cho chị bẹ lá chuối để che nhé?

– Thôi đừng, mưa có lớn đâu?

– Một chiếc lá mà cũng mang theo nó điều hên xui cho người hái sao?

– Không biết.

– Bà ấy nói với chị những gì?

– Toàn cả chuyện không may.

– Chiếc lá mà chị hái chắc là bị sâu ăn.

Người đàn bà cười. Lưng hắn có vùng hơi ấm bò lan man, qua làn vải áo.

– Đôi khi mình phải nên tin vào những chuyện xét thấy kỳ cục. Người đàn bà nói. Nhất là trong cái lúc mà sự tuyệt vọng đã giăng bủa bốn bề.

Xe leo dốc, hắn sang số và hắn nghe rõ tiếng nấc, nỗi oán than của chiếc xe già tuổi.

– Lạnh không?

– Đã quen rồi.

– Thật không?

– Thật. Có hôm chở khách từ ga về dưới cơn mưa tầm tả rơi. Bong bóng vỡ ra trên mặt đường lớn bằng những chén đựng cơm.

– Chẳng có áo mưa?

– Có, nhưng nhường cho khách.

– Sao hôm nay khách chẳng được mặc?

– Cái áo ấy đã rách, đã vá đến chỗ không còn có thể cứu chữa.

Khi nói, hắn nhìn thấy một cái quán, hắn giảm tốc độ và cho xe đổ xuôi theo vệ đường, tìm tới.

– Chi vậy?

– Mưa nặng hạt rồi, chỉ sợ chị bị thấm ướt.

– Bà thầy bói phán “cô sẽ ốm một trận thập tử nhất sinh” nhưng phải hai ba năm nữa kia.

Mưa ào ạt trút nước, như pháo kích trên mái tôn. Nếu không sớm vào có lẽ giờ này cả hai đều như chuột lột. Đó cũng là điều thích thú. Và được ngồi ấm cúng như phút này cũng là niềm hạnh phúc khác. Anh chị dùng chi? Người con gái từ góc tối bưng cây đèn dầu khá lớn đặt trên bàn gỗ. Cô giải thích. Không có điện, chắc ảnh hưởng mưa bão chi đó. Bánh ướt thịt nướng? Hắn ngó Cẩm Chướng. Tôi mời chị bữa nay nghe. Đôi mắt người đàn bà nhỏ lại, những nếp nhăn chạy dài ở đuôi mắt khi cười, thế cho một ưng thuận. Dưới bàn là ngọn đèn dầu, nhưng trên vũng màu vàng đục ấy hắn thấy được khoảng sáng trưng ánh điện kỳ lạ. Cảm tưởng không thực này có phải do người đàn bà từ Sài-gòn mang lại? Đem theo thứ không khí khác, làm xáo trộn những ngày tiêu điều của hắn ở Huế. Kề cận để hít thở, hắn choáng ngộp thứ nỗi niềm rất mới, rất lạ mặt.

– Anh Khiêm bây giờ ở đâu?

– Đâu đó ngoài Bắc, chẳng thể biết đích xác, không chừng là nơi đang hứng chịu thiên tai bão tố.

– Anh ấy ra sao?

– Có lẽ vẫn còn sống.

– Chưa một lần được thăm nuôi?

– Chị thấy đó, biết bao những khó khăn. Làm sao hơn được?

Hắn nói trong cúi mặt. Hắn thấy những ngón tay run của người đàn bà đang chậm rãi xếp vuông vức chiếc khăn tay. Miếng vải có nhiều vết ố và có lẽ nó chẳng tài nào được giặt sạch, tẩy rửa vệt nhơ. Hắn không biết người anh có buồn giận và trách cứ hắn? Người vợ của anh đã sang tới Mỹ sau đúng một năm chờ đợi ông chồng “có nợ máu” kia. Và hôm nay, người bạn học cũ của anh đã nhắc nhớ tới kẻ xấu số mãi còn khiếm diện dài lâu. Hắn lái câu chuyện thoát khỏi những phút giây trì nặng:

– Hồi nào thì chị chính thức bỏ đi?

– Đi đâu?

– Còn đâu khác. Không lẽ chị từ ngàn dặm ra đây tìm thầy bói để chỉ hỏi chuyện tình duyên gia đạo vớ vẫn?

Người đàn bà nheo mắt ngó hắn:

– Thời buổi này coi bộ làm thầy bói là dễ nhất, đúng không?

– Lái xe ôm nữa. Chị cần đi đâu sẽ có người đèo cõng tới nơi tới chốn, chỉ tiếc là không ai đi xe được trên mặt biển!

– Hai anh em thật có nhiều điểm giống nhau.

Hắn nghe người đàn bà nhận xét, không chắc điều ấy đúng đâu, bởi một đứa yếu đuối, dở hơi, luôn mang ảo tưởng và sống với những điều không có thật; những thằng người “lạc hậu” như vậy sẽ chết chắc khi ngày đầu chịu thúc thủ bước chân vào trại cải tạo.

– Thời tiết như thế này chỉ sợ không ổn!

– Cái gì chị?

– Về chuyến đi đó, thêm thấy bà ấy nói sẽ có lắm trắc trở lươn lẹo.

– Chị tin sao? Bây giờ có ai được sống bình thường suông sẻ đâu. Phải thường trực đối đầu với những tai ương hoạn nạn. Đã bảo làm thầy bói không khó mà.

– Đổi nghề đi, và nhớ trấn an cho nhiều những kẻ nhẹ dạ. Mà này, Lâm đã có người yêu chưa?

– Tạm xem như chưa có, một đứa hành nghề chạy xe ôm, công việc đó chẳng nhằm hứa hẹn được điều gì cả. Ngay cả bản mệnh của chính hắn. Chị hiểu không?

– Mặc cảm à?

– Không, cô ấy là một con người mới, hiểu theo chữ dùng của họ. Đối tượng của cô ấy phải là một cán bộ công nhân viên nhà nước có lý lịch tốt… Sao chị hỏi tới chuyện đó?

– Để biết. Và biết rồi sẽ dễ rũ Lâm cùng đi. Tệ quá, chẳng có cách gì làm cho cô bạn ấy mở mắt ra sao?

– Thấy mỏi mệt và chẳng hứng thú gì cả. Trên căn bản đã có khoảng cách, bên đỏ bên vàng. Làm gì thêm cũng đều là miễn cưỡng. Nếu được đi, chị có đòi hỏi điều kiện gì không?

– Dĩ nhiên là có, một tuồng kịch hơi khó diễn xuất.

Hắn nhìn ra thềm mưa, mơ màng. Chiếc xe ấy bán cũng được chút ít… Người đàn bà chận đứng: Có cách nào để chuyển số tiền đó cho anh Khiêm là tốt hơn cả. Thêm một chỗ ngồi trên ghe đó không phải là vấn đề nan giải.

Thức ăn dọn ra, họ cùng ăn một món giống nhau. Tuy chưa đồng hội đồng thuyền, nhưng nhỡ có đau bụng thì họ sẽ cùng gặp Tào Tháo một lần. Hắn cảm thấy ngon miệng, không do bởi thực phẩm, bởi đã quá lâu hắn mãi gầm đầu nhai nuốt qua loa trong đơn độc, vị giác sẽ xơ cứng đi; nó sẽ hoàn hồn sống lại hồi nào nó có chung kẻ đối ẩm, đối thực, đối tác, đối diện. Do vui miệng, khi ăn, hắn kể cho người đàn bà nghe lần hắn chở một người đàn ông đứng tuổi đi len lỏi trong thành phố vào đêm mất điện, khó khăn khi lần ra đích tới. Ngồi sau, ông ta phát biểu: Cậu biết không, rằng tôi không hiểu nhà nước tiết kiệm được bao nhiêu tiền cho mỗi đêm cắt điện, trong khi ấy sẽ có hàng trăm ngàn cặp tình nhân vợ chồng đồng lòng làm chuyện ấy trong bóng tối và năm sau xuất hiện thêm trăm ngàn cái miệng ăn réo khóc. Nhà nước lại đi tiết kiệm trong cái đường hầm hun hút không cách nào tìm thấy ánh sáng.

Người đàn bà gát đũa, lau miệng:

– Ông chuyên gia kinh tế đó không góp chất xám cho nhà nước kể cũng phí!

Hắn rùn vai: Biết đâu ông ta là cán bộ chuyên điều tra về dân số?

– Mưa tạnh rồi phải không? Mình về.

Hắn nghe lời, dành trả tiền rồi mượn cô chủ quán miếng giẻ để chùi khô ghế xe. Chiếc xe như bảo vật, là tài sản đơn lẻ và cũng có thể ví là người bạn chung tình duy nhất mà hắn có. Nếu được ra đi, như vậy cuộc đời lại bày thêm nỗi chia lìa, buộc hắn phải cắt bỏ dần dà những kỷ vật tưởng đã khô héo mọi giây mơ rễ má. Máy xe nổ, tiếng động cơ nửa trấn an nửa làm hắn nản lòng. Hắn từng chở một kẻ gặp nạn trên đường, chẳng thu tiền để mang khuôn mặt nhàu nát tới được bệnh viện cấp cứu. Hắn từng chở một bà đi đánh ghen và suýt chút nữa chứng kiến kẻ ăn vụng bị thiến mất của quý. Hắn từng đón ở bến xe đò người đàn ông xác xơ bồn chồn cảnh đoàn tụ sau hơn sáu năm tù tội. Hắn từng đưa một thiếu nữ tới sân ga và cầm số tiền ngập nước mắt của cô câm lặng trao như thế lời vĩnh biệt. Tựu trung, sau yên xe hắn đã thồ đi biết bao những tình huống oan nghiệt, đã đón đưa bao phần số của một phận người. Để giờ này hắn chở một người và kẻ ấy sẽ quyết định một lối đi cho chính bổn mạng hắn. Người ấy hỏi:

– Lâm có sợ chết không?

– Tùy thuộc vào từng hoàn cảnh, nhưng sắp giã từ năm cũ tại sao lại đi nói tới chuyện không may kia?

– Vậy thì Lâm sợ giả chết không?

– Chết mà còn làm bộ nữa sao? Kịch sĩ hả?

– Ừ, nằm yên trong quan tài, tim vẫn đập, tai vẫn nghe tiếng khóc nhân gian rộn ràng bên ngoài áo quan.

– Chị có mặc áo tang u sầu tiếc thương đi theo tới cuối đường?

– Dĩ nhiên, và sẽ có nhiều những diễn viên nghiệp dư phụ diễn.

– Tên xe thồ được đóng vai chính?

– Nếu Lâm không ngại, chẳng sợ dị đoan.

– Hết cách rồi sao?

– Hết, họ nói giả làm đám cưới thì hơn một lần bị lộ tẩy. Hôn lễ cử hành xong, ghe chưa kịp tới thì cô dâu chú rể đồng loạt bị áp giải hưởng hai năm trăng mật ở trong tù.

Xe thắng đứng trước một căn nhà cửa sắt kéo đóng im lìm lạnh ngắt. Trên tường vôi, cái bảng hiệu ngày cũ bị quét phủ mờ lớp sơn. Số nhà, tên đường cũng chung số phận, khó đọc ra. Như hằng lâu nó muốn chết đi, từ chối sự có mặt để mong những bàn tay đường đột tới gõ cửa sẽ hoài nghi nản lòng bỏ đi. Người đàn bà rời yên xe:

– Cho một ngày để quyết định, đêm mai sẽ đợi Lâm ở đây, khoảng tám giờ.

– Không vào nhà với chị được sao?

– Đừng, những người bà con ở trong đó cũng thuộc loại diễn viên ưa giả chết. Giả chết ở hình thức khác, họ mong hưởng được chút an lành tối thiểu, hiểu không?

– Còn cái áo quan thì sao?

– Đừng lo, rất vừa chiều dài của Lâm và sẽ cố làm cho thật tiện nghi.

Hắn ho khan: Thiệt là chưa thấy quan tài chưa đổ lệ! Người đàn bà đặt tay lên ghi-đông, phủ bao bàn tay lạnh giá của hắn và cười bằng đôi mắt chứa nhiều bóng tối. Hắn cảm nhận rõ hắn là một thây ma, thoi thóp được ít nhiều nhờ con mèo đen Cẩm Chướng vừa bất thần nhảy ngang qua thi thể.

– Lâm sẽ nằm trên một đống lương thực, hải bàn ống nhòm các thứ. Tóm lại là cái hòm kia sẽ ngụy trang sao cho người nằm trong không bị ngạt thở.

– Dracula của thế kỷ hiện đại hả? Bắt đầu thèm máu nóng rồi. Chị đi uống cà phê không?

– Chẳng dại cho Lâm hút máu đâu? Về ngủ đi.

– Quan tài nằm ở đâu mà biểu đi ngủ?

– Đồ quỷ!

– Chị không leo lại lên xe thì thằng tài tử đóng vai chính sẽ từ bỏ nhiệm sở.

– Biết dọa nữa à?

Người đàn bà véo vào tay hắn, vỡ ra những tiếng cười cố nén. Nghe theo lời, vòng tay ra trước bụng hắn để ôm. Vòng ngọc chạm vào hàng nút nhựa trên thân áo kêu vui tai.

– Lâm thấy liệu màn kịch đưa người về miền cực lạc đó có thành công không?

Hắn nghe rõ nhưng chẳng trả lời. Lòng hắn lúc ấy bừa bộn nhiều cảm xúc quá, chưa thu xếp được.

Đêm dịu dàng nhiều sắc xanh, có vẻ ngọt ngào sau cơn mưa. Hai hàng cây đứng rũ lá bên đường lao xao như một đầu tóc mới gội chờ hong khô. Ở trên đó có chiếc lá nào dành cho hắn sự may mắn? Hắn không việc gì phải tìm tới thầy bói bởi linh tính cho hắn hay, rồi mai đây hắn sẽ vĩnh viễn lìa xa thành phố này. Cái thành phố thân yêu đã lắm lúc cay nghiệt phản bội, gieo cho hắn một ý nghĩ đau lòng: Hắn chỉ là một kẻ trọ, qua đường, dừng chân. Và kẻ lữ thứ kia sẽ gầm đầu ra đi chẳng để lại một vấn vương. Tuyệt không vọng động!

Hồ Đình Nghiêm

Tình huynh đệ trong một thời binh lửa

phamtinanninh.com

Phạm Tín An Ninh

May 5, 2018    

Post by Sơn râu 20 Aug 2026

(Đặc biệt tặng các bạn Thiết Đoàn 3/KB và tưởng niệm Trung Tá Trần Lý Hưng)

Đúng vào sáng ngày 30 Tết Nhâm Tý (1972) khi chuẩn bị cho buổi tiệc khao quân  tất niên tại bản doanh Sông Mao, đơn vị tôi nhận lệnh phải di chuyển gấp lên An Khê để cùng Thiết Đoàn 3 Kỵ Binh tăng phái, thành lập một Chiến Đoàn Đặc Nhiệm, thay thế vị trí của một Lữ Đoàn thuộc Sư Đoàn 1 Không Kỵ Hoa Kỳ vừa rút quân về nước và làm lực lượng trừ bị ứng chiến cho Quân Đoàn. Thời điểm này, chúng tôi đã có một tiểu đoàn (1/44) ở An Khê, tăng phái cho Thiết Đoàn 3/KB từ hơn hai tháng trước.

Theo khẩu lệnh của Tướng Ngô Dzu, Tư Lệnh QĐ II, giai đoạn đầu, Chiến Đoàn phối họp với Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn, hành quân tảo thanh tiêu diệt các lực lượng địch nằm sâu dọc theo hai bên QL-19 và đảm trách giữ an ninh lộ trình con đường huyết mạch này từ chân Đèo An Khê đến Pleiku, để kịp thời cho các nhu cầu chuyển quân, tiếp tế lên chiến trường Pleiku và Kontum. Thời gian này Sư Đoàn 22/BB tại Bình Định đang bổ sung quân số quân dụng, chuẩn bị di chuyển lên Tân Cảnh để đối phó với tình hình đột biến. Một lực lượng lớn Cộng quân từ miền Bắc và Lào ào ạt xâm nhập qua biên giới, tăng cường cho Mặt Trận B-3 của Tướng CS Hoàng Minh Thảo, trong ý đồ đánh chiếm Tây Nguyên.

Ông còn nhắc nhở chúng tôi, những khúc quanh từ An Khê đến Đèo Mang Yang là đoạn đường đầy hiểm nguy, tử địa, mà trước kia, tháng 6 năm 1954, Lữ Đoàn 100 Cơ Động, gồm nhiều đơn vị thiện chiến của quân đội Pháp đã phải thảm bại gần như tan rã, khi bị một lực lượng Việt Minh phục kích. Vị Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng và rất nhiều sĩ quan đã bị bắt sống, gây chấn động cả Đông Dương và nước Pháp.

Buổi tiệc khao quân tất niên bị hủy bỏ, thực phẩm được nhanh chóng phân phát cho binh sĩ và trại gia binh. Chúng tôi rời bản doanh Sông Mao lúc 12 giờ trưa. Chi Đoàn 2/ 8 TK tăng phái hộ tống lực lượng bộ binh đến Đèo Cả, ranh giới tỉnh Phú Yên. Sau đó được lực lượng Thiết Kỵ của Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn mở đường và đón đơn vị chúng tôi từ Đèo Cả đến Đèo Cù Mông, Bình Định. Nghỉ đêm và đón giao thừa tại Vạn Giã, sáng hôm sau  tiếp tục di chuyển. Chúng tôi đến căn cứ An Khê lúc 4 giờ chiều ngày mồng một Tết.

Bộ Chỉ Huy “Chiến Đoàn Đặc Nhiệm 44” được nhanh chóng thành hình. Trung Tá Trần Quang Tiến, Trung Đoàn Trưởng 44/BB là Chiến Đoàn Trưởng, Trung Tá Trần Lý Hưng, Thiết Đoàn Trưởng TĐ. 3/KB là Chiến Đoàn Phó. Cá nhân tôi đảm trách Trưởng Ban 3 Chiến Đoàn. Một toán liên lạc của Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn, do một vị Đại Tá chỉ huy, được đặt bên cạnh BCH Chiến Đoàn. Ngoài Thiết Đoàn 3/KB, Chi Khu An Túc và hai tiểu đoàn Địa Phương Quân của TK Bình Định cũng được đặt dưới quyền chỉ huy, điều động của Chiến Đoàn.

Chúng tôi rất vui khi được hành quân phối họp với Thiết Đoàn 3/KB, khi biết đơn vị Thiết Kỵ này được mang biệt danh “Thiên Mã”, là một trong bốn Trung Đoàn Thiết Giáp đầu tiên của Quân Lực, hậu thân của Trung Đoàn 3 Thám Thính, thành lập từ năm 1954 tại Bắc Việt, là một đơn vị Thiết Kỵ quá dạn dày trong chiến trận, và từng tạo nhiều chiến công hiển hách tại các chiến trường vang tiếng một thời: Pleime, Đức Cơ (1965), An Lão (1965) Bồng Sơn (1966), Trà Bá- Tết Mậu Thân tại Pleiku (1968) Dakto, Ben Het (1971). Khi ấy, Thiết Đoàn đã sáu lần được tuyên dương công trạng trước Quân Đội, nên tất cả các kỵ binh đều mang giây biểu chương màu Bảo Quốc Huân Chương (*). Đặc biệt năm 1970 được Tổng Thống Hoa Kỳ trao tặng Huy chương President Unit Citation.

Ba hôm sau, Chiến Đoàn được lệnh tổ chức một cuộc hành quân khẩn cấp, giải tỏa hai căn cứ cấp đại đội của Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn trú đóng, nằm trên Đèo An Khê, vừa bị một lực lượng Công quân khá hùng hậu bất ngờ tấn công và đang vây hãm. Nhờ công sự rất kiên cố, nên bọn chúng không thể chiếm được mà chỉ bao vây, gây thiệt hại cho quân sĩ trú phòng và tạo gián đoạn cho việc lưu thông trên QL 19. Hai căn cứ này nằm trong khu vực trách nhiệm của Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn. Sư Đoàn này đã phái một lực lượng tiếp ứng, nhưng bị phục kích, thiệt hại khá nặng. Lực lượng địch được uớc tính gồm hai tiểu đoàn và một đại đội đặc công của Sư Đoàn 3 Sao Vàng.

 Nhờ hỏa lực hùng hậu và những kỵ binh dũng cảm trên các chiến xa M-113 của Thiết Đoàn 3/KB, cùng các phi công tài ba gan dạ thuộc Phi Đoàn Mãnh Sư 243 (Phù Cát), sau những kế hoạch nghi binh, tạo các bãi đáp giả, lừa địch rất hiệu quả, từng đại đội bộ binh được tuyển lựa ra các binh sĩ trẻ, trang bị nhẹ, đổ xuống, vừa khép vòng vây vừa ngăn chặn lực lượng tăng viện của địch. Đại Đội 44 Trinh Sát nổi danh thiện chiến, với hai toán Viễn Thám được trang bị mặt nạ chống hơi ngạt, chia làm hai cánh bất ngờ nhảy xuống ngay sau lưng địch, từng toán nhỏ lao vào tấn công bằng hơi cay, lựu đạn, và cả M-72, dưới sự yểm trợ chính xác hữu hiệu của các trực thăng võ trang, nhanh chóng tiêu diệt hai cái chốt chặn của địch ở hai bên dốc đèo, làm đầu cầu cho lực lượng Thiết Giáp có bộ binh tùng thiết, đồng loạt tấn công, nhanh chóng làm chủ chiến trường. Chỉ trong vòng hai tiếng đồng hồ, cả hai căn cứ đã được giải tỏa, địch quân tháo chạy, bị các đơn vị bao vây tiêu diệt, có mấy tên bị ta bắt sống. Chiến Đoàn đã ghi một chiến tích vẻ vang cho đầu năm mới.

Sáng hôm sau Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng, và Tưóng Tư Lệnh Lực Lượng Đại Hàn tại Việt Nam từ Sài gòn bất ngờ bay ra An Khê quan sát chiến trường và ngợi khen các đơn vị tham chiến. Vì lý do an ninh, không được báo trước, nên chỉ có vị Chiến Đoàn Trưởng, Chiến Đoàn Phó, Trung Tá Cố Vấn Mỹ,vị Đại Tá Đại Hàn, đại diện Sư Đoàn Mãnh Hổ và cá nhân tôi (tháp tùng) ra đón hai ông Tướng tại sân bay. Sau đó dùng hai trực thăng, cùng bay xuống viếng thăm BTL/Sư Đoàn Mãnh Hổ, tại Bình Định.

Ngày 24.4.72, Tân Cảnh thất thủ, khi BTL/SĐ22BB bị địch quân tràn ngập, Đại Tá Lê Đức Đạt, vị Tư Lệnh liêm sĩ và khí phách đã cùng đồng đội chiến đấu tới giây phút cuối cùng, và chấp nhận vùi thây nơi chiến địa, Trung Đoàn 44 chúng tôi có lệnh di chuyển khẩn cấp lên phi trường Cù Hanh, Pleiku để được không vận lên Kontum.

Chúng tôi ở An Khê chỉ gần ba tháng. Ba tháng cùng sinh hoạt và hành quân chung với Thiết Đoàn 3/KB. Nhưng từ vị Thiết Đoàn Trưởng đến tất cả các sĩ quan tham mưu và ở các Chi Đoàn đã để lại trong lòng chúng tôi sự kính mến vô bờ. Tôi nghĩ, có lẽ nhờ những đức tính của Trung Tá Trần Lý Hưng, một vị sĩ quan thâm niên, vốn xuất thân từ Trường Thiếu Sinh Quân với truyền thống“Nhân Trí Dũng”, nên đã tạo được một không khí thắm đẫm tình huynh đệ. Những kỵ binh ở Thiết Đoàn 3/KB đã rất may mắn, dù gian khổ hiểm nguy, nhưng được sống trong không khí thân tình, dễ thương đáng quý ấy, và đặc biệt có một cấp chỉ huy bình dị, hiền lành đức độ.

Cá nhân tôi chỉ là một sĩ quan của một đơn vị bạn, cùng hành quân hổn hợp, nhưng ông luôn dành cho những tình cảm gần gũi, thân tình, quí mến tôi như người anh đối với một đứa em trong gia đình. Mỗi đêm, ông đều rủ tôi cùng đi một vòng với ông, kiểm tra các vọng gác trong căn cứ khá rộng lớn này. Ông rất quan tâm việc phòng thủ, bởi hai tuần trước khi chúng tôi đến, một toán đặc công Việt Cộng hóa trang nấp dưới những cánh lục bình trôi theo con sông bên cạnh căn cứ, bất ngờ xâm nhập, tấn công chiếm một phần vị trí của Pháo Đội A/233 Pháo Binh, phá hoại một khầu 105 ly và làm thiệt mạng Đại úy Lê Hữu Chí, Pháo Đội Trưởng. Nhưng ngay tức khắc, bọn chúng đã bị lực lượng Thiết Giáp của Thiết Đoàn và Tiểu Đoàn 4/44 ( đã được tăng phái từ trước cho Thiết Đoàn) kịp thời phản công, bao vây tiêu diệt gần như toàn bộ, những tên còn sống đều bị bắt. Ông tỏ ra rất buồn về sự kiện này.

Là một sĩ quan có thâm niên quân vụ từ khi mới mười lăm tuổi đời ở Trường Thiếu Sinh Quân Đông Dương Vũng Tàu, rồi sau đó tốt nghiệp với cấp bậc thiếu úy từ Trường Võ bị Địa phương Nam Việt Vũng Tàu,(Nhạc sĩ  Đại Tá Nguyễn Văn Đông thủ khoa khóa này), từng làm huấn luyện viên cho Trường Võ Khoa Thủ Đức và được tôi luyện trong Binh chủng Thiết Giáp hào hùng, Trung Tá Hưng là một cấp chỉ huy thao lược, tài đức vẹn toàn.

Ngay từ buổi gặp gỡ ban đầu, hình ảnh của ông đã in đậm nét trong lòng tôi, khi thấy ông đứng nghiêm đưa tay lên chào ông Trung Đoàn Trưởng của tôi theo đúng lễ nghi quân cách. Mặc dù cả hai đều mang cấp bậc trung tá, không biết vị nào thâm niên hơn, nhưng ông chào với danh nghĩa là một Chiến Đoàn Phó trình diện ông Chiến Đoàn Trưởng. Cử chỉ ấy đã làm cá nhân tôi và chắc chắn hầu hết các sĩ quan của đơn vị tôi thán phục .

Mỗi buổi chiều, khi không bận hành quân, ông đều gọi tôi đến nhà ông dùng cơm. Gia đình ông ở một căn nhà gỗ trong căn cứ, do đơn vị Hoa Kỳ giao lại. Trên sân thượng có mấy chậu hoa quỳnh. Ông có thú trồng hoa, nhưng chỉ duy nhất có hoa quỳnh, nên rất am tường về loại hoa nở về đêm, và sớm nở tối tàn này. Nhìn nụ hoa, ông biết khi nào, chính xác hơn là giờ khắc nào, hoa sẽ nở.  Mỗi kỳ hoa nở, sau khi cùng đi kiểm soát việc phòng thủ trong căn cứ, ông rủ tôi ghé lại nhà ông uống rượu (thuốc) và chờ đến nửa khuya để xem hoa quỳnh nở. Ông rất thích thú và trân quý những giờ khắc khi nhìn một cánh hoa quỳnh bắt đầu nở và từ từ bung ra . Đời lính, với ông, ngoài đánh đấm, có lẽ đây là cái thú tiêu khiển duy nhất. Ông thường đem binh pháp trong Tam Quốc Chí phân tích cho tôi nghe, và bảo đó là những bài học rất hay để dụng binh. Một lần vợ tôi dẫn theo hai đứa con ra thăm, ông nhất quyết đón về ở chung nhà với ông và bảo vợ ông lo cơm nước. Tôi đi với vợ, tay xách theo hành lý, còn ông hai tay dắt hai đứa nhỏ, con tôi. Sau đó bọn nó cứ chạy theo đùa giỡn với ông. Hình ảnh đẹp đẽ ấy mãi in đậm trong lòng, tôi không thể nào quên được.

Vợ ông, chị Nguyễn Thị Công Nữ, rất bình dị hiền lành, không bao giờ xen vào công việc của chồng mình, và là một người nội trợ đảm đang. Tôi thích nhất là món cá kho tộ của chị làm. Chị vốn là một nữ sinh rất nhu mì ở Chợ Nhỏ, Vùng Tăng Nhơn Phú, Thủ Đức, nơi một thời chàng sĩ quan trẻ Trần Lý Hưng làm huấn luyện viên cho Trường Võ Khoa Thủ Đức và sau đó là Trường Thiết Giáp. Một mối tình đẹp xảy ra ở vùng đất hiền hòa nhưng rất nổi danh này, bởi có rất nhiều chàng trai trẻ, bỏ sách đèn hội tụ về đây để theo viêc kiếm cung, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ quê hương, đất nước.

Ngày chia tay để cùng đơn vị di chuyển lên chiến trường Kontum, ông Trung Đoàn Trưởng và tôi được Trung Tá Hưng mời đến ăn bữa cơm cuối cùng với ông. Lòng tôi thật buồn như sắp phải chia tay một người anh thân quí nhất. Trước giờ đơn vị tôi chuyển quân, ông đã đến tiễn đưa, bắt tay ôm lấy từng người trong anh em chúng tôi. Ai nấy đều lưu luyến cảm động. Tôi ôm ông mà giấu đi những giọt nước mắt. Nếu ai không từng là lính chiến, có thể không hiểu được những tình cảm đệ huynh của chúng tôi dạt dào như thế.

Chỉ một ngày sau khi rời An Khê đến Kontum, đơn vị chúng tôi đã tạo một chiến thắng lẫy lừng khi đánh tan một lực lượng chiến xa và bộ binh địch thuộc Sư Đoàn Thép 320 CS từ Tân Cảnh tràn xuống với ý đồ chiếm lấy Kontum. Lần đầu tiên tại chiến trường Quân Khu 2, chúng tôi bắn cháy sáu chiếc, và bắt sống ba chiến xa T-54 của địch. Tướng Nguyễn Văn Toàn, vừa nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn II, cũng đã rất xứng đáng là một vị tướng Kỵ Binh, khi đứng trên một M-113, đầu đội bê-rê đen, đến thăm chúng tôi, quan sát chiến trường đang còn đầy khói lửa, và gắn cấp bậc Đại tá vinh thăng cho vị Trung Đoàn Trưởng ngay tại mât trận. Và chúng tôi rất bất ngờ khi nghe tiếng Trung Tá Trần Lý Hưng tìm vào tần số đặc biệt của đơn vị gởi lời chúc mừng và khích lệ anh em. Trong cảnh dầu sôi lửa bỏng, nghĩa cử ấy đã làm chúng tôi cảm động. Nhưng chỉ sau đó vài tuần, chúng tôi lại được tin ông bị thương khi chỉ huy Thiết Đoàn bất ngờ đánh vào Tây Chư Pao. Để hoàn thành nhiệm vụ then chốt này, Thiết Đoàn 3/KB đã cùng BĐQ xuyên rừng dọc theo con đường bỏ hoang 14 bis, đánh vào sau lưng đơn vị cộng quân đang chế ngự đèo Chư Pao, bắt tay được với Đại đội 44 Trinh Sát của chúng tôi, và thành công phá vỡ tuyến bao vây phía Nam Kontum, giải tỏa Quốc Lộ 14, con đường huyết mạch từ Pleilu đến Kontum để cho các đoàn xe lên tiếp tế đạn dược và thực phẩm cho đơn vị chúng tôi.

Sáu tháng sau, tình hình Kontum tạm yên, khi các đơn vị địch bị thiệt hại nặng nề, cần phải có thời gian ẩn quân để tái bổ sung, Trung Đoàn chúng tôi đặc biệt được Tướng Tư Lênh Quân Đoàn cho về nghỉ dưỡng quân một tháng tại Đồi Đức Mẹ Pleiku, như là phần thưởng dành cho một đơn vị góp nhiều chiến công và xương máu nhất để tạo nên một “Kontum Kiêu Hùng”. Chúng tôi đã tìm đến thăm ông. Lúc này ông không còn ở Thiết Đoàn 3/KB mà vừa được chuyển về làm Chỉ Huy Trưởng Trường Thiếu Sinh Quân Pleiku (Cao Nguyên), nơi những em TSQ Kinh Thượng nối nghiệp ông để trở thành những cấp chỉ huy lỗi lạc sau này.Và với cương vị mới, ông càng xứng đáng là một vị “sư huynh” hết lòng dìu dắt, yêu thương em út, đem bao nhiêu kinh nghiệm chiến trường và cả tình “huynh đệ chi binh” tô đậm thêm nét son truyền thống “ Nhân Trí Dũng” của Thiếu Sinh Quân..

Gặp lại chúng tôi ông mừng rỡ, ôm lấy từng người. Nhưng mắt ông bỗng nhòa lệ, khi nhắc tên hai người bạn thân của chúng tôi đã hy sinh trên chiến trường Kontum. Thiếu Tá Võ Anh Tài và Thiếu Tá Đặng Trung Đức, hai anh tiểu đoàn trưởng mà ông hằng quí mến khi hành quân chung với Thiết Đoàn 3/KB ở An Khê. Điều làm chúng tôi bất ngờ và cảm động hơn, khi ông lấy từ trên bàn thờ Phật, đưa cho chúng tôi xem tờ giấy có ghi ngày tử trận của hai anh cùng với một số bạn bè và thuộc cấp của ông, và bảo là ông sẽ thắp hương cầu nguyện cho hai anh mỗi năm khi đến ngày này.  Một nghĩa cử thật hiếm hoi của một cấp chỉ huy từ một đơn vị bạn mà chúng tôi may mắn được hành quân chung chỉ trong vòng ba tháng.

Trong thời gian chúng tôi ở An Khê, Thiết Đoàn 3/KB chỉ có 2 chi đoàn. Lúc ấy Chi Đoàn 1/3 CX biệt phái cho Quân Đoàn I, kể từ khi tham gia cuộc hành quân Lam Sơn 719 Hạ Lào.

Trong Thiết Đoàn, chúng tôi có dịp gặp Thiếu Tá Nguyễn Văn Đêm, Thiết Đoàn Phó. Anh là người ít nói, nhưng nổi tiếng về sự can đảm và tài điều quân từ khi còn là một Chi Đội Trưởng. Sau này anh về chỉ huy Thiết Đoàn 8/KB, trực thuộc Sư Đoàn 23 BB của chúng tôi. Sau các cuộc hành quân, chúng tôi cũng thường đi chơi chung hay ngồi tán gẫu với bạn Trương Gia Lương, một sĩ quan trẻ giữ chức vụ Trưởng Ban 3 Thiết Đoàn kiêm Chi Đoàn Trưởng 3/3, anh có nhiều khả năng và trình độ Anh ngữ, được Trung Tá Hưng tin cẩn, cùng các bạn Huỳnh Văn Mỹ, Nguyễn Văn Hội, Bùi Cán, anh Khôn, anh Phong và một vài bạn nữa mà vì thời gian quá lâu, tôi không còn nhớ tên. Người nào cũng gan dạ trên chiến trường và rất vui vẻ thân thiện trong tình anh em chiến hữu.

(Capt. Ferarra- Tr.úy Lương- Tr.Tá Hưng- 2/1972)

Từ ngày rời khỏi An Khê, chúng tôi không có dịp gặp lại những người bạn Kỵ Binh quý mến này. Nhưng sau đó, vào tháng 4/74, chúng tôi rất vui mừng biết được anh Huỳnh Văn Mỹ, khi ấy còn mang cấp bậc trung úy, đã chỉ huy Chi Đoàn 2/3 TK, làm nỗ lực chính trong một trận chiến nổi danh, đánh tan hơn một trung đoàn của Sư Đoàn 3 Sao Vàng CS,  khi bọn chúng chuẩn bị tấn công với ý đồ chiếm lấy Căn cứ Không Quân Phù Cát, nhằm uy hiếp tỉnh Bình Định, lợi dụng lúc Sư Đoàn 22/BB, vừa mới hồi sinh sau trận Tân Cảnh, đang phải đối mặt với một lực lượng lớn Cộng quân tại chiến trường cam go Bắc Bình Định. Cuộc phản công đánh phủ đầu tuyệt vời này theo kế hoạch và dưới sự chỉ huy tài tình thao lược của “Mãnh Sư” Trung Tá Nguyễn Mạnh Tường. TK Phó/TK Bình Định, tạo một chiến tích lẫy lừng ghi đậm nét son trong quân sử VNCH.

Tháng 3/ 1975, trong cuộc di tản đẫm máu của Quân Đoàn II theo TL. 7B, đã kéo theo sự sụp đổ miền Nam, khi Lữ Đoàn II/KB bị Cộng quân bao vây, phục kích , gây thiệt hại nặng nề, Đại Tá Nguyễn Văn Đồng, Lữ Đoàn Trưởng bị bắt(?). Chỉ duy nhất Chi Đoàn 3/3 do Đại úy Nguyễn Văn Hội chỉ huy đã anh dũng chiến đấu và đưa toàn bộ chiến xa về tới Nha Trang, nơi tạm thời đặt BTL/QĐ II (di tản). Anh Hội đã rất xứng đáng khi được Tướng Tư Lệnh Phạm Văn Phú tiếp đón và gắn cấp bậc Thiếu Tá, tưởng thưởng công trạng thật xuất sắc của anh. Và có lẽ đó là người sĩ quan cuối cùng được thăng cấp thiếu tá vào giờ thứ 25 của cuộc chiến.

Riêng Trung Tá Trần Lý Hưng, khi bất ngờ nhận lệnh di tản, ông đã can thiệp xin cho các em Thiếu Sinh Quân được ưu tiên đi bằng máy bay, nhưng đến khi phi trường Cù Hanh gần như bị rối loạn, ông vẫn chưa nhận được một quyết định cụ thể nào. Ông tập trung tất cả các em lại và đau buồn báo tin “Pleiku di tản”, khuyên các em nên trở về với gia đình. Một số TSQ không có gia đình ở Pleiku, ông đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt các em, vượt qua bao hiểm nguy chết chóc, nên có vài nhóm nhỏ bị thất lạc, nhưng cuối cùng đã về đếnTrường TSQ/Vũng Tàu

Sau ngày tan đàn xẻ nghé, mỗi người trôi dạt một phương, nhưng đều mang theo cùng một nỗi lòng và thân phận. Riêng tôi thì lưu lạc tận vùng Bắc Âu xa xôi lạnh giá nên lại càng khó có cơ hội để được gặp lại những anh em đồng đôi cũ ở Thiết Đoàn 3/KB ngày nào, nhưng rồi tôi đã may mắn liên lạc được với Trung Tá Trần Lý Hưng, và các anh Trương Gia Lương, Huỳnh Văn Mỹ. Tôi rất cảm động, vì dù mỗi người vẫn phải còn mang những vết thương không lành được trong lòng, nhưng tất cả vẫn còn giữ đầy hào khí của những người lính chiến, và nặng tình huynh đệ.

Trung Tá Hưng, sau hơn 9 năm 6 tháng bị đày đọa trong các nhà tù CS, ông trở về sum họp gia đình vào khoảng gần cuối năm 1984. Ngày 22.10.1996 đến Mỹ theo chương trình HO-44 và định cư tại Houston, Texas cùng vợ và năm đứa con. Bảy cháu lớn có gia đình còn ở lại Việt Nam.

Được nói chuyện vài lần. Mặc dù sau này sức khỏe ông kém đi nhiều lắm, nhưng ông vẫn tâm tình khá lâu, có lúc ngậm ngùi, nhưng cũng có lúc tôi nghe được tiếng ông cười, dễ thương độ lượng như ngày nào. Ông nhắc lại thời trận mạc, nhắc tới đơn vị chúng tôi, ông vẫn còn nhớ tên từng người trong anh em chúng tôi, và dừng lại xót xa khi chúng tôi nhắc đến một người nào đã không còn trên cõi đời này nữa. Ồng còn cười đùa, mỗi lần tôi gọi ông là Trung Tá. Ông bảo,“bộ bạn không cho tôi được làm anh của bạn nữa hay sao?” Từ hôm ấy, tôi gọi ông bằng anh Hưng.

Đầu năm 2012, khi biết mình bị ung thư yết hầu trong thời kỳ không mấy hy vọng vào việc chữa trị, ông đã cùng bà về lại Việt Nam và ở lại đây gần một năm để vui cùng con cháu, mà ông nghĩ đó sẽ là cơ hội cuối cùng. Ông đã giấu tôi về căn bệnh hiểm nghèo.Tâm tình nhiều lần nhưng ông chỉ bảo là tuổi già nên hơi mệt. Tôi hẹn sẽ sang thăm ông vào mùa đông 2013, nhân một dịp đến Mỹ. Nhưng cuộc hẹn đó đã không thành. Ngày 2 tháng 7 năm ấy ông đã ra đi, để lại cho gia đình, bè bạn và tất cả những anh em đồng đội cũ lòng thương tiếc khôn nguôi.

Vẫn biết thế hệ những người lính ngày nào, giờ cũng đã đến lúc xếp hàng để chờ đến lượt mình trút bỏ, trả lại cho thế gian này một cuộc đời tạm bợ với đầy những vui buồn đắng cay, hào hùng vinh nhục; nhưng sự ra đi của những người như Trung Tá Trần Lý Hưng đã thêm một lần nữa xác tín lời một bài hát rất xưa mà Tướng Douglas MacArthur đã dùng trong bài diễn văn đọc trước Lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ, ngày ông rời quân ngũ: “Những người lính già sẽ không bao giờ chết mà chỉ mờ đi theo năm tháng – Old soldiers never die, they just fade aways.”

Xin tạm biệt Anh Trần Lý Hưng, một Kỵ Binh khả kính, mà em vẫn còn nợ Anh món nợ nghĩa tình. Hẹn gặp lại Anh ở một nơi không có bom đạn, chết chóc, hận thù, và cũng không còn nghe thấy tiếng xích sắt của những chiến xa M-113, M-41, M-48 và của cả những T-54,T-59!

Phạm Tín An Ninh
(một người lính Bộ-Binh)

(*) Sau này Thiết Đoàn 3 KB đã tạo thêm các chiến tích lẫy lừng ở các trận chiến Nam Chư Pao, Đức Cơ (1972), Phù Cát (1974) và được thêm hai lần tuyên dương công trạng trước Quân Đội (tổng cộng: 8 lần), được mang giây biểu chương màu Tam Hợp.

Thiếu tá Binh Truong, Chỉ huy trưởng Phi đoàn 860 bảo trì phi cơ, Không quân Hoa Kỳ

dongsongcu.wordpress.com/

Nguyễn Quân

Posted on August 18, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 20 Aug 2026

Huy hiệu Phi đoàn 860 bảo trì phi cơ của flightlineinsignia.com

Thiếu tá Binh Truong** được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng Phi đoàn 860 bảo trì phi cơ vào tháng 5 năm 2025. Phi đoàn 860 thuộc Không đoàn 60 không vận, Không quân Hoa Kỳ đóng tại căn cứ Không quân Travis, California, Phi đoàn 860 chịu trách nhiệm tổ chức và điều hành cho 296 Sĩ quan, Hạ sĩ quan, binh sĩ và nhân viên bảo trì hỗ trợ cho 13 chiếc phi cơ vận tải C-17 Globemaster III. Phi đoàn 860 có nhiệm vụ kiểm tra, bảo trì, sửa chữa, cất cánh và hạ cánh tất cả các phi cơ được giao. Các thành viên của phi đoàn thực hiện các nhiệm vụ cơ động toàn cầu nhanh chóng 24 giờ/ngày, 7ngày/tuần, bao gồm các nhiệm vụ hỗ trợ chiến đấu như: Sơ tán y tế hàng không, cứu trợ nhân đạo và không vận ứng phó khẩn cấp. Phi đoàn bảo đảm phi cơ, nhân lực và thiết bị sẵn sàng cho việc khai triển trên toàn thế giới để hỗ trợ sứ mạng và nhiệm vụ không vận toàn cầu của Bộ Tư lệnh Không vận, Không quân Hoa Kỳ.

Thiếu tá Binh Truong tốt nghiệp Chương trình Sĩ quan Không quân trừ bị (ROTC program) tại Đại học Tiểu bang San José (San José State University) với Văn bằng Cử nhân quản lý và vận hành hàng không, năm 2014. Sau khi gia nhập Không quân, Thiếu tá Binh trương được chỉ định và bổ nhiệm phục vụ tại các đơn vị bảo trì phi cơ được ghi nhân qua các thời gian: Thiếu uý, Sĩ quan phụ trách bảo trì phi cơ C-17, Phi đoàn 860 bảo trì phi cơ tại căn cứ không quân Travis từ tháng 5 năm 2015 đến tháng 1 năm 2016; Nhiệm vụ tiếp theo, Trung uý được chỉ định làm Trưởng phi hành đoàn bảo trì phi cơ thuộc Phi đoàn 60, bảo trì phi cơ tại căn cứ Không quân Travis; tiếp theo, ông được chỉ định làm Sĩ quan phụ trách bảo trì phi cơ KC-10 thuộc Phi đoàn 660 bảo trì phi cơ tại căn cứ không quân Travis; Sau đò, ông được điều động làm Sĩ quan phụ trách bảo trì phi cơ thuộc Phi đoàn 5 vận tải hàng không viễn chinh hoạt động tại Kuwait.

Đại tá Sergio Anaya, Chỉ huy trưởng Không đoàn 62 không vận và Đại úy* Binh Truong, Trưởng ban chiến thuật thuộc Liên đoàn 62 bảo trì phi cơ, đang bốc thăm trúng thưởng trong buổi dạ hội Không quân tại Trung tâm Tacoma, Washington, ngày 16 tháng 9 năm 2023. Buổi dạ hội thường niên kỷ niệm ngày thành lập Không quân nhắc nhở về di sản và niềm tự hào trong truyền thống Không quân Hoa Kỳ (hình của Hạ sĩ Không quân Megan Geiger, dvidshub.net).

Từ tháng 11 năm 2017 đến nay, Thiếu tá Binh Trương được chỉ định và bổ nhiệm lần lượt phục vụ tai các đơn vị bao gồm: Sĩ quan phụ trách Đơn vị bảo trì phi cơ KC-10 thuộc Phi đoàn 660 bảo trì phi cơ tại căn cứ không quân Travis; Sĩ quan điều hành Liên đoàn 60 bảo trì phi cơ tại căn cứ không quân Travis; Sĩ quan Cố vấn bảo trì phi cơ PSAB, Sư đoàn Không quân, Phái bộ huấn luyện quân sự Hoa Kỳ tại Vương quốc Ả Rập Xê Út; Sĩ quan phụ trách Đơn vị bảo trì phi cơ Silver, Phi đoàn 62 bảo trì phi cơ tại căn cứ liên hợp Lewis–Mc; Giám đốc điều hành Phi đoàn vận tải hàng không 62 tại căn cứ Liên hợp Lewis-McChord, WA; Giám đốc diều hành Phi đoàn 62 bảo trì phi cơ tại căn cứ Liên hợp Lewis-McChord; Sĩ quan, Trưởng ban chiến thuật Liên đoàn 62 bảo trì phi cơ tại căn cứ Liên hợp Lewis-McChord; Giám đốc điều hành Phi đoàn 60 bảo trì phi cơ tại căn cứ Không quân Travis; Từ tháng 5 năm 2025, Chỉ huy trưởng Phi đoàn 860 bảo trì phi cơ thuộc Không đoàn 60 không vận tại căn cứ Không quân Travis, California.

Sĩ quan Không quân Hoa Kỳ gốc Việt mang cấp Thiếu tá đang phục vụ các ngành trong Quân chủng Không quân ngoài Thiếu tá Binh Truong, còn có hơn 160 vị (không tính những vị được thăng cấp Trung tá và đã hồi hưu), một số vị được ghi nhận bao gồm: Thiếu tá Andrew Dang là Phi công phi cơ oanh tạc chiến lược tàng hình B-2 Spirit; Thiếu tá Khoa Huỳnh, Phi công thử nghiệm; Thiếu tá Allan Pham, Phi công phi cơ C-130J; Thiếu tá Khiem Nguyen, Nha sĩ phi hành; Thiếu tá Chau Tran, Chi huy trưởng Phi đoàn 97 an ninh phòng thủ căn cứ không quân Altus Air Force Base; Thiếu tá Vu Q. Nguyen, Trưởng ban nhạc Không quân Vệ binh Quốc gia vùng bờ biến Tây, Quần đảo Channel, Port Hueneme, California; Thiếu tá Dalton Nguyen, Trưởng Phòng truyền thông Đệ Nhất Không Lực Hoa Kỳ (1st Air Force); Thiếu tá Eric Phạm thăng, Sĩ quan huấn luyện Phi công phản lực 14 Quốc Gia Liên hợp NATO; Nữ Thiếu tá Linh Dan Trinh, Sĩ quan phi hành; Nũ Thiếu tá Ashleigh Nguyen, Luật sư Quân pháp Không quân; Nữ Thiếu tá Lynn Nguyen, Điều dưởng phi hành, Phi đoàn 18 Quân y; Nữ Thiếu tá Tina Nguyen, Bác sĩ phi hành Không đoàn 104; Nữ Thiếu tá Thoa Phạm, Chỉ huy trưởng Phi đoàn 49 chẩn đoán và trị liệu; Nữ Thiếu tá Anh Ison, Dược sĩ trưởng Liên đoàn 28 Quân y; Nữ Thiếu tá Jessica Pham; Nữ Thiếu tá Fiona M. Pham; Nữ Thiếu tá Linda Kim Nguyen; nữ Thiếu tá Caroline H. Nguyen; Nữ Thiếu tá Cecilia T. Nguyen; Nữ Thiếu tá Thuy Trang Thu Lam; Nữ Thiếu ta Diana P. T. Le; Nữ Thiếu tá BaoHan Huynh; Nữ Thiếu tá Augustine D. Tran; Nữ Thiếu tá Lyndney U. Vu, và còn rất nhiều nam, nữ Thiếu tá Không quân gốc Việt chưa cập nhật hết được.

Chú thích: *Ghi theo thời gian mang cấp bậc; **Họ và tên Việt, Trương T Bình.

Nguồn: linkedin.com; amc.af.mil; dvidshub.net; congress.gov

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Cổ thi có câu: “Mỹ nhân tự cổ như danh tướng, bất hứa nhân gian kiến bạch đầu – Xưa nay danh tướng như người đẹp, chẳng mấy khi ai thấy bạc đầu!” Người đẹp thì chết yểu, danh tướng không bao giờ sống tới tuổi già. Đôi khi chúng ta còn thấy người đẹp còn có thể trở thành lão bà, nhưng đã gọi là danh tướng thật sự thì mấy người được sống lâu.

Là người lính ở miền Nam, chúng ta đã chứng kiến bao nhiêu cái chết của danh tướng: Trương Quang Ân, Nguyễn Viết Thanh, Đỗ Cao Trí đều tử nạn trực thăng lúc rất còn trẻ. Nguyễn Văn Hiếu chết gục trên bàn làm việc lúc chưa thi thố hết tài năng cho đất nước. Dù là danh tướng hay không nhưng tiết tháo như Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai đều đã chết cho tròn nghĩa khí. Chưa thấy ai đầu bạc. Đọc những trang sử hào hùng của nước Việt, lòng chúng ta không khỏi bồi hồi xúc cảm thương xót những liệt sĩ anh hùng, đồng thời con dân nước Việt cũng ngẩng đầu hãnh diện vì những trang sử oanh liệt. Năm 1801, tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng vây thành Qui Nhơn. Lương thực súng đạn trong thành đã cạn, quan Trấn Thủ là Võ Tánh cho người mang thư ra cho Tướng Trần Quang Diệu nói rằng:”Phận sự ta làm chủ tướng, thì dành chết ở dưới cờ, còn các tướng sĩ không có tội gì thì không nên giết hại.” Đoạn sai quân sĩ lấy rơm chất dưới lầu bát giác, đổ thuốc súng rồi tự đốt mà chết. Quan Hiệp Trấn Ngô Tòng Châu cũng uống thuốc độc tự tử theo.

Sau hòa ước năm Nhâm Tuất (1882) triều đình Việt Nam nhường đứt ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường cho Pháp. Sau khi Ông Phan Thanh Giản đi sứ xin chuộc lại ba tỉnh này không thành, quân Pháp lại tiến đánh để thôn tính ba tỉnh miền Tây là Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Biết thế chống đỡ không nỗi, ông Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử. Tháng 10 năm Quí Dậu (1873), quân Pháp đánh thành Hà Nội, chỉ non một giờ thành đã tan, con của Tướng Nguyễn Tri Phương là Phò Mã Nguyễn Lâm trúng đạn chết,

Nguyễn Tri Phương bị thương nặng bị quân Pháp bắt đem xuống tàu, ông nghĩ tới nỗi nhục, nhịn ăn, xé băng bó mà chết.

Trong trận đánh thành Hà Nội lần thứ hai (1893), quân Pháp vây thành, chỉ sau ba giờ tấn công, thành vỡ, Hoàng Diệu là Tướng giữ thành, thành mất, tướng tự ải mà chết theo thành như truyền thống thủy quân, tàu chìm, hạm trưởng phải chết theo tàu .. Ông Trần Trọng Kim trong cuốn “Việt Nam Sử Lược” đã viết những dòng sau đây về Tướng Nguyễn Tri Phương, cũng là lời nói chung về tiết tháo của các Tướng đã thà chịu chết chứ không chịu nhục: “Ông Nguyễn Tri Phương làm quan từ đời vua Thánh Tổ (Minh Mệnh), trải qua ba triều, mà nhà vẫn thanh bạch, chỉ đem trí lự mà lo việc nước, chớ không thiết của cải. Nhưng chẳng may khi quốc bộ gian nan, ông phải đem thân hiến cho nước, thành ra cả nhà cha con, anh em đều mất vì việc nước. Thật là một nhà trung liệt xưa nay ít có vậy.”

Đã là danh tướng, tiếng tốt để đến đời sau, thì phải có tiết tháo, trong sạch. Quan niệm xưa là “ơn vua, lộc nước”, khi cần đền đáp phải xả thân. Đời này phải là món nợ đối với quốc gia và cả với những thuộc cấp, những “vạn cốt khô” để cho tướng được “công thành.”

Những nhà vua yêu nước, bất khuất trong lịch sử thì chúng ta có vua Hàm Nghi bị đày sang Algérie, vua Thành Thái và vua Duy Tân bị đày sang đảo Reunion. Lịch sử đời sau chúng ta không thiếu anh hùng, như trong Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi đã viết: “Nước Nam không thiếu hào kiệt … .”. Chết dưới cờ chúng ta có những liệt sĩ đã làm nể mặt quân thù.

Người ta nói rằng số tướng lãnh của miền Nam tự sát khi thất trận lần này còn cao hơn tất cả các nước bị thất trận trong Đệ Nhị Thế chiến gộp lại. Khi người lính miền Nam thất trận vào tù, chỉ còn biết lấy phẩm cách của mình để trả lời cho sự trả thù, dày đạp của kẻ chiến thắng, thì cái chết của những tướng lãnh trên đây đã “rửa mặt” cho cả miền Nam thất trận. Có đâu như Tướng quân của tôi, khi thấy tình hình không cứu vãn nỗi, ông lên trực thăng bay về Cần Thơ không một lời từ giã, để đơn vị lại cho ông Đại Tá Chỉ Huy Phó, dở khóc dở cười khi địch quân tiến vào. Ông Tá chỉ huy trực tiếp của tôi thì lặn mất từ mấy ngày hôm trước, nằm một nơi nào đó ở Tân sơn Nhất, lâu lâu ông gọi về dặn tôi coi đơn vị, xong mấy công việc ở Tổng Cục, ông sẽ về.

Sau này vỡ lẽ ra thì ông đã cao bay xa chạy sau lần điện thoại nhắn nhe. Thà các ông cứ nói thật, cho đơn vị tan hàng để bảo toàn mạng sống và của cải cho thuộc cấp, hoặc ở lại với anh em dù là để cuối cùng đầu hàng đi nữa. Đằng này các vị đi hàng hai, nếu tình hình đảo ngược, chưa chừng còn được gắn thêm lon.

Sau nhiều năm một chén bo bo, một thìa nước muối, “chém tre đẳn gỗ trên ngàn”, bàn tay tôi đã bại xuội chắc không còn nhấc lên nổi để mừng các đàn anh của tôi ngày tha hương ngộ cố tri. Tôi thật lòng không mong gặp lại Tướng Quân của tôi ở một Sở Xã Hội nào đó trên đất Hoa Kỳ đang điền đơn để xin lãnh tiền … già.

Miền Nam chúng ta có đủ 152 vị Tướng Quân (*), đếm được bao nhiêu danh tướng. Nên nghĩ mà thương cho những người trung liệt.

(*) Danh sách trong phụ bản của cuốn “Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu” đã xuất bản.

Samurai! Những trận không chiến dữ dội nhất lịch sử Thái Bình Dương

vietmessenger.com

Tủ sách Khoa Học Nhân Văn

Lê Thanh Hoàng Dân

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm
Post by Sơn râu 19 Aug 2026

Martin Caidin

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

Trẻ Xuất Bản 1974

Ngày thứ hai của cuộc chiến, ngày 9 tháng 12 năm 1941, chúng tôi phải đương đầu với những trận đánh tồi tệ nhứt, những trận mưa bão. Chúng xém gây thiệt hại trầm trọng cho các đơn vị không quân của chúng tôi. Rạng sáng chúng tôi quay lại Lữ Tống. Thời tiết xấu đến mức các oanh tạc cơ Betty phải nằm lại mặt đất. Giông bão cũng quần nát Phi Luật Tân như trên đảo Ðài Loan. Ðến chiều, chúng tôi chỉ phá hủy được vài chiếc phi cơ Mỹ trên phi đạo. Trên đường về một trận mưa lớn phá vỡ đội hình của hợp đoàn khu trục. Những cú đấm của thiên lôi mạnh không thể tưởng; chưa bao giờ tôi hứng chịu sấm sét khủng khiếp như thế và ngay cả sau này cũng vậy. Từng khối mây đen cuộn lấy chúng tôi và nhấn dìm xuống sát mặt đại dương. Sau cùng chúng tôi đành phân tán thành từng phi đội nhẹ ba chiếc một và tự túc bay về Ðài Nam riêng rẽ. May mắn thay, không một phi công mất tích.

Ngày thứ ba của cuộc chiến, một ngày tôi không bao giờ quên. Ðó là ngày tôi bắn rơi oanh tạc cơ B17 đầu tiên, và cũng là pháo đài bay đầu tiên của Mỹ rớt trong phi vụ chiến đấu. Sau chiến tranh, tôi biết được viên phi công của chiếc oanh tạc cơ này là Ðại úy Colin Purdie Kelly Jr, một anh hùng của Không quân Mỹ.

Vào ngày hôm đó, 10 tháng 12 năm 1941, chúng tôi bay che cho một đoàn công-voa Nhựt chuyển quân đổ bộ lên Vigan, phía Tây Bắc Manila 400 cây số, bao gồm tuần dương hạm nhẹ Nagara 4,000 tấn và 6 khu trục hạm hộ tống 4 dương vận hạm (Sau này chúng tôi được biết người Mỹ sai lầm khi cho rằng đoàn công-voa này bao gồm thiết giáp hạm Haruna 29,000 tấn, 6 tuần dương hạm, 10 khu trục hạm và 15 đến 20 vận tải hạm).

Trong khi bay bao che ở cao độ 18,000 bộ (5,500m), tôi nhận thấy có 3 tia nước bắn lên gần đoàn công-voa. Thật ra đây là 3 cột nước do 3 trái bom gây ra, nhưng vì bay quá cao nên chúng tôi không nhìn thấy rõ. (Không chiếc tàu nào trúng bom, nhưng theo phía Mỹ thì chiếc thiết giáp hạm “tưởng tượng” bị trúng bom trực tiếp, và chìm lĩm, chỉ còn thấy khói và dầu trên mặt nước). Mặc dù được các chiến đấu cơ Nhựt bao che kỹ lưỡng như vậy, đối phương vẫn tấn công được. Ðiều này khiến tất cả chúng tôi đều bực tức. Ngay cả bóng dáng oanh tạc cơ địch, chúng tôi vẫn không nhìn thấy.

Một vài giây sau khi nhìn ngang liếc dọc, tôi thấy một chiếc B17 lẻ loi, bay cách 6,000 bộ (1,800m) bên trên chúng tôi, trực chỉ về hướng Nam. Tôi báo động cho các phi công đồng đội và đảo mắt tìm kiếm phi cơ khác của địch, vì chúng tôi chưa từng nghe nói một oanh tạc cơ lâm trận mà không có chiến đấu cơ hộ tống bao giờ. Nhưng không ngờ việc này thật sự xảy ra. Chiếc B17 này đã thực hiện phi vụ tấn công đơn độc. Chắc chắn viên phi công có thừa can đảm.

Chiến đấu cơ dẫn đầu của chúng tôi báo hiệu truy đuổi, chỉ để lại ba chiếc phía sau bao che cho đoàn tàu chuyển vận. Chớp mắt, chúng tôi đuổi kịp chiếc B17 và còn cách phi trường Clark khoảng 50 dặm (80km), chúng tôi dàn đội hình khai hoả. Ngay lúc đó, 3 chiếc Zéro khác đột nhiên xuất hiện và lướt ngang đường bay của chiếc B17. Ðây là 3 chiến đấu cơ của phi đoàn Cao Hùng (Kaohsiung) tham dự cuộc tấn công phi trường Nichols Field vào sáng sớm này. Cả 3 cùng khai hoả, nhưng chiếc oanh tạc cơ vẫn lướt đi an toàn.

Bảy chiến đấu cơ chúng tôi nhập với 3 chiến đấu cơ của phi đoàn Cao Hùng. Mười chiến đấu cơ khó có thể tạo ra một cuộc tấn công nhịp nhàng. Ðể tránh né hoặc bắn lầm lẫn nhau, thay vì tấn công một lượt, chúng tôi bay thành hàng dọc chiếc này khai hoả rồi vung ra ngoài để nhường cho chiếc kế tiếp. Chúng tôi sửng sốt, vì không một viên đạn đại liên hoặc đại bác nào trúng chiếc oanh tạc cơ.

Ðây là lần đầu tiên chúng tôi chạm trán một chiếc B17, và kích thước bất thường cũng như tốc độ mau lẹ lạ lùng của nó làm cho chúng tôi ước lượng sai tầm súng. May mắn, xạ thủ địch cũng tệ không kém.

Sau đó, tôi nhận thấy chúng tôi đang ở trên phi trường Clark. Chắc chắn viên phi công B17 đã gọi chiến đấu cơ Mỹ giúp đỡ. Chúng tôi phải ra tay nhanh chóng. Tôi quyết định đánh cận tập từ phía sau. Tôi lướt đến trong khi các họng súng của chiếc oanh tạc cơ rực lửa nhưng không trúng tôi. Tôi lướt thêm nữa và khai hoả. Những mảnh kim khí bay tung ra từ cánh phải của chiếc B17. Tôi lạng ra và chiếc Zéro từ phía sau tôi xông tới, rót thêm một loạt đạn vô đối thủ. Tuy nhiên khi chiếc Zéro khác nối đuôi theo, thì phi cơ địch chúi mũi cố đáp xuống phi trường Clark với đôi cánh đã lệch hẳn. Tôi chúi theo sau chiếc pháo đài bay què quặt, giữ khoảng cách nhiều trăm thước, và chụp hình với chiếc máy ảnh Leica. Lúc cách mặt đất khoảng 7,000 bộ (2,000m), 3 người nhảy dù ra khỏi phi cơ, và chiếc B17 biến mất vào một đám mây. Về sau, chúng tôi nghe người Mỹ loan tin các phi công Nhựt đã bắn mấy người nhảy dù ra khỏi máy bay. Tin này chỉ có tánh cách tuyên truyền. Tôi là phi công duy nhứt bay gần chiếc oanh tạc cơ lúc đó và tôi không hề bắn ra một viên đạn nào cả. Vật duy nhứt mà tôi bấm là chiếc máy chụp hình Leica của mình. Không một phi công Nhựt nào khác nhìn thấy chiếc B17 rơi, vì vậy, “chiến công” bị phủ nhận vào thời gian đó.

Xế trưa hôm đó, trở về Ðài Loan, chúng tôi nhận thấy cánh của 2 chiến đấu cơ Zéro đầy vết đạn do các xạ thủ chiếc B17 gây ra. Và mười ba năm sau này, tôi có dịp gặp Ðại tá Frank Allen Kurtz chỉ huy Không đoàn 463 Hoa Kỳ ở Ðông Kinh, ông ta đã nói với tôi:

“Ngày Colin bị bắn rơi, tôi đang ở trên đài kiểm soát của phi trường Clark. Tôi nhìn thấy phi cơ của ông ta bay đến và anh đang bay bên phải, phía trên, trong lúc ông ta cố đáp xuống. Ba chiếc dù rơi xuyên qua mây mù, tôi thấy hình như ở cao độ 800 thước. Rồi năm cây dù nữa bung ra. Colin, dĩ nhiên, không kịp thoát khỏi phi cơ.”

Chiều tối hôm đó, tôi nhận nhiều lá thư gửi từ Nhựt Bản và một gói quà nhỏ của Fujiko. Nàng gửi cho tôi một dải lụa thêu một ngàn mũi chỉ đỏ và muốn tôi quấn quanh thắt lưng. Là tấm bùa hộ mệnh truyền thống của phụ nữ Nhựt Bản gửi cho chồng, cha, anh em ruột hay con trai, nhằm gìn giữ người thân của mình trước mũi tên hòn đạn. Lá thư của Fujiko viết: “Hôm nay, gia đình em biết tin xứ sở của chúng ta đã khai chiến với Hoa Kỳ và Anh. Gia đình em chỉ biết khẩn cầu cho chiến thắng sau cùng của tổ quốc và sinh mệnh của anh được bảo toàn. Hatsuyo-san, em họ của anh và cả em, chúng em cùng đứng ở góc phố nhiều giờ mỗi ngày, trong suốt một tuần lễ, để xin 998 phụ nữ qua đường mỗi người một mũi kim thêu cho anh, trên khăn lụa này. Chúng em hy vọng là anh sẽ chấp thuận thắt tấm lụa ấy quanh lưng anh, vì chúng em ước nguyện tấm lụa này che chắn cho anh trước lằn đạn của quân thù…”

Một cách thành thực, không nhiều phi công Nhựt tin vào phẩm hạnh của bùa hộ mệnh nhưng tôi ý thức công sức lớn lao của Fujiko và cô em họ Hatsuyo của mình đã kiên nhẫn đứng trong buốt giá nhiều tiếng đồng hồ mỗi ngày ở góc đường để xin cho tôi từng mũi thêu. Vì vậy tôi lập tức thực hiện ý nguyện của họ; quấn tấm lụa quanh thắt lưng mình. Cánh thư chân thành của Fujiko còn làm tôi suy nghĩ; lần đầu tiên tôi xem những phi công địch mà tôi đã bắn hạ là những con người giống mình. Cho đến khi ấy họ chỉ là những khách thể xa xôi mà tôi không màng đến. Cảm giác mình đã thờ ơ với đồng loại gây u sầu. Nhưng biết sao hơn, trong chiến tranh trên không trung cũng như trên mặt đất, phải giết để không bị giết.

Chúng tôi tiếp tục các phi xuất tấn kích từ Ðài Loan đến Phi Luật Tân trong mười ngày kế tiếp. Sau đó nhận lịnh thuyên chuyển đến căn cứ Jolo ở quần đảo Sulu, nằm giữa Mindanao và Bornéo, cách phi trường Ðài Nam 1,200 dặm (2,200km) đường chim bay. Ngày 30 tháng 12, tôi cất cánh vào lúc 9 giờ sáng với 26 chiến đấu cơ Zéro khác, bay không ngừng nghỉ đến nhiệm sở mới. Nơi đây mạng lịnh đang chờ sẵn, và chúng tôi thực hiện một phi vụ 270 dặm (500km) xa hơn về phía Nam đến Tarakan, nằm cuối bờ biển phía Ðông Bornéo. Phi vụ không xảy ra điều gì quan trọng, chúng tôi không gặp một phi cơ địch nào.

Phản công chính thức của đối phương đối với các đơn vị chúng tôi được tung ra lần đầu tiên là vào tháng Giêng. Gần nửa đêm, một oanh tạc cơ B17 đơn độc bất ngờ oanh tạc Tarakan. Một dây bom rơi xuống những doanh trại của công binh kiến tạo tại đây, sát hại hơn 100 người cùng gây bị thương cho nhiều người khác, và nhiều toà nhà sụp đổ.

Không một chiếc Zéro nào có thể cất cánh kịp thời, bởi vì phi trường Tarakan là một trong những phi trường xấu nhứt của quần đảo phía Ðông xứ Nam-Dương (Indonesia). Ngay cả trong những hoạt động ban ngày, chúng tôi phải cất cánh và đáp xuống trên phi đạo ngập bùn. Thời gian chúng tôi ở đây, hai chiếc Zéro hư hại do phi đạo gây ra.

Bị oanh tạc, chỉ huy trưởng căn cứ Tarakan phẫn nộ, ra lịnh cho tôi và trung sĩ Kuniyoshi Tanaka cất cánh để bay tuần tiễu bên trên phi trường. Tanaka từng bắn hạ 12 phi cơ địch ở Trung Hoa, và 8 chiếc khác trong cuộc chiến Thái Bình Dương.

Bay đêm rất nguy hiểm và khó khăn, vì trong thời gian đó chiến đấu cơ Zéro chưa được trang bị cơ phận bay đêm, cả tôi lẫn Tanaka không biết phải làm gì nếu bị tấn công trước. May cho chúng tôi, và cho căn cứ, chúng tôi không bị phá rầy trở lại.

Vào ngày 21 tháng 1-1942, một đoàn công-voa của chúng tôi rời cảng Tarakan mang quân đổ bộ lên Balikpapan ở phía Nam Bornéo cách 900 cây số. Bộ chỉ huy tối cao Hoàng gia ra lịnh cho phi đoàn chúng tôi cung cấp không yểm, nhưng chúng tôi chỉ có thể thực hiện một cuộc tuần thám trên đoàn công-voa mà thôi.

Thay vì được cung cấp một số lượng chiến đấu cơ to tát theo nhu cầu sử dụng của chúng tôi, vào những tháng đầu năm 1942, chúng tôi chỉ có trong tay không hơn 70 chiếc Zéro cho toàn thể khu vực Ðông Nam-Dương rộng lớn. Và các chiến đấu cơ còn cần phải bảo trì, sửa chữa sau mỗi 150 giờ bay, do đó chỉ còn trung bình 30 chiếc khả dụng.

Giữa tháng Giêng, oanh tạc cơ B17 bắt đầu được đưa đến căn cứ Malang của đối phương ở Java, và tung ra các cuộc tấn công sơ khởi nhắm vào lực lượng trên bộ của chúng tôi ở Phi Luật Tân và Ðông Nam-Dương. Các pháo đài bay này có đường kính hoạt động 3200 cây số làm bộ binh Nhựt điêu đứng, nhưng vì con số ít ỏi nên không thể ngăn nổi các cuộc hành quân của chúng tôi.

Vào mùa Xuân 1942 những oanh tạc cơ B17 loại mới, với các pháo tháp đại liên 12 ly 7 nòng đôi phía sau đuôi, xuất hiện trên chiến trường. Chúng tôi sớm tìm ra yếu điểm của loại phi cơ này để tấn công.

Chiều ngày 24 tháng Giêng, Tanaka trở về phi trường với hai đồng đội sau một cuộc tuần thám ở Kalikpapan. Cả ba phi công đều kiệt sức, tuy không ai bị thương. Tanaka báo cáo đã đụng độ với 8 pháo đài bay B17 vào buổi sáng và cuộc tấn công của hắn không có kết quả. Tanaka cho biết có nhìn thấy đạn đại liên và đại bác của hắn trúng vào thân phi cơ địch rõ ràng, nhưng chiếc oanh tạc cơ không rơi. Hắn có vẻ chán nản: “Mấy chiếc oanh tạc cơ khốn nạn này thật khó ăn khi chúng bay theo đội hình phòng vệ.” Chúng tôi hiểu một hợp đoàn B17 mà mỗi chiếc trang bị 12 đại liên là cả một tấm lưới đạn khủng khiếp. Tanaka tiếp tục kể việc hắn đã tấn công khiến cho các oanh tạc cơ địch thả bom không chính xác xuống đoàn công-voa phía dưới. Chỉ có một chiếc tàu dầu khổng lồ trúng bom và, khi hắn rời Balikpapan để quay về, lửa vẫn còn bốc cháy dữ dội.

Ngày hôm sau, tôi lại thực hiện cuộc tuần thám ở Balikpapan với một phi cơ khác do trung sĩ Sadao Uehara lái. Cả 2 chiếc Zéro của chúng tôi là tất cả những gì còn khiển dụng mà căn cứ Tarakan có thể tung ra giúp đoàn công-voa, các chiến đấu cơ khác đều đã được cắt đặt nhiệm vụ riêng. Biết Tanaka chạm địch ở cao độ 20,000 bộ (6000m), chúng tôi bay cao hơn hắn 2,000 bộ (600m). Nhìn xuống dưới, chiếc tàu dầu trúng bom ngày hôm trước vẫn còn bốc cháy như một cây đuốc.

Khoảng 10 giờ, nhiều chấm đen nhỏ xuất hiện trên nền trời, tiến đến Java. Các chấm đen lớn mau dần cho đến khi hai nhóm phi cơ, mỗi nhóm 4 chiếc hiện ra rõ ràng. Các pháo đài bay, bay sát cánh nhau, giống như Tanaka đã mô tả ngày hôm qua. Nhóm phi cơ sau bay cao hơn nhóm dẫn đầu, và khi chúng tôi lướt đến, nhóm thứ hai bay sát vào nhau hơn, lập thành một Box phòng vệ.

Tám chiếc B17 bay ngang phía dưới tôi nửa dặm. Tôi lộn lại, với Uehara theo sát bên cánh, và chúi xuống tấn công. Ðịch vẫn còn nằm ngoài tầm súng nhưng tôi cũng quất một quả đại bác khi lướt qua. Tôi nhìn thấy những trái bom từ bụng oanh tạc cơ rơi xuống đoàn công-voa phía dưới. Tôi lộn nhào nhiều vòng, lướt thẳng lên, và nhìn thấy những cột nước tung cao. Không trái bom nào trúng mục tiêu. Bầu trời trong sáng. Tôi quày phi cơ lại, cách 500 thước bên trên nhóm oanh tạc cơ bay phía sau, và chúi xuống hết tốc lực với mọi loại súng đều khai hoả. Vô hiệu. Quanh tôi hầu như không nơi nào là không có bóng dáng phi cơ địch. Tôi chúi xuống trót lọt và bắt đầu vượt lên để chúi xuống tấn công nữa.

Chúi xuống, lộn nhiều vòng, tập trung hoả lực vào một oanh tạc cơ. Lần này tôi túm được đối thủ. Tôi thấy những viên đạn nổ bùng, những đốm đỏ và đen túa dọc theo thân phi cơ địch. Chắc chắn nó sẽ rớt ngay lập tức. Nhưng không có gì xảy ra. Không có lửa, không có khói… Chiếc B17 vẫn tiếp tục bay trong đội hình.

Tôi đảo vòng vượt lên và lộn lại tấn công hiệp thứ ba. Lần này tôi nhắm chiếc oanh tạc cơ trúng đạn của tôi khi nãy. Tôi nhìn thấy những viên đạn phát nổ và những mảnh kim khí túa ra từ cánh và thân phi cơ địch. Tôi lướt ngang qua, bung một vòng thật rộng, quày trở lại và vượt lên cao.

Chiếc B17 vẫn còn trong đội hình. Không lửa, không khói. Mỗi lần tôi chúi xuống tấn công, mọi khẩu súng của địch thủ đều khai hoả dữ dội, nhưng cũng may đội hình chặt chẽ đã giới hạn hoả lực địch rất nhiều. Chiếc Zéro của tôi nguyên vẹn. Tôi lại tấn công thêm hai lần nữa với sự hỗ trợ của Uehara, và mỗi lần chúng tôi đều nhìn thấy đạn đại liên và đại bác của mình nện vào thân phi cơ địch, nhưng không thấm tháp gì hết. Vỏ chiếc B17 bọc thép!

Chúng tôi vừa hoàn tất đợt tấn công thứ sáu, tám oanh tạc cơ địch tẻ ra làm hai, một đảo qua trái, một đảo qua phải. Tôi gia tăng hết tốc lực đuổi theo nhóm có chiếc B17 bị hư hại và tụt hẳn lại phía sau ba chiếc kia. Với tốc lực tối đa, tôi lướt đến trong khoảng 50 thước, và bóp mạnh cò súng. Bao nhiêu đạn đại bác 20 ly và đại liên 7 ly 7 cuối cùng tôi đều rót hết vào đối thủ què quặt. Một bụm khói đen bốc lên, chiếc oanh tạc cơ chúi mũi xuống và biến mất trong đám mây phía dưới.

Trở về Tarakan, tôi báo cáo chi tiết phi vụ cho thượng cấp của tôi là Trung úy Singo. Các phi công khác bu quanh để nghe tôi kể lại quang cảnh của trận đụng độ và tất cả đều cho rằng tôi trở về được là một phép lạ, sau khi phải đối đầu với hoả lực tập trung của 8 pháo đài bay. Nhân viên dưới mặt đất chỉ tìm thấy ba lỗ đạn gần đầu cánh chiếc chiến đấu cơ của tôi. Hai ngày sau, một phi cơ thám thính Nhựt báo cáo có một chiếc B17 đã vỡ tan khi cố đáp xuống một hòn đảo nhỏ nằm gần Balikpapan và Surabaya.

Hồn ai trong gió

dongsongcu.wordpress.com

Chu Lynh

Posted on August 18, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 19 Aug 2026

Anh nằm đó, nghìn thu giấc ngủ.
Nhưng sao trong gió ta nghe có tiếng thì thào.

Kẻ tha hương không đủ thì giờ và tâm trí trong ngày trở về để đi suốt chiều dài đất nước như ước vọng cuối đời: tìm về nơi chôn nhau cắt rốn, nhìn lại ngôi trường xưa với những giấc mộng vàng thời niên thiếu, ghé thăm núi Ngự quấn khăn tang hay nhìn dòng Hương Giang khóc sướt mướt của những ngày chiến chinh máu lửa. Nỗi tự tình về quê hương đành nén lại trong lòng, bởi ngổn ngang bao điều thúc bách. Ô hay, đau thương từ quá khứ như còn đâu đây, thoảng trên con hẻm về khuya khua đôi nạng gỗ hay bên túp lều không đủ che nắng trú mưa. Và hơn hết mọi nẻo đường đất nước, một mảnh đất không xa phố thị bao nhiêu, nhưng xa hẳn thế giới đua chen, cần được những bước chân ghé thăm và những nén nhang lòng thắp lên.

Sau hơn một giờ, chiếc Taxi mới thoát ra khỏi Sài Gòn. Xe đi vào xa lộ Biên Hòa, bỏ lại sau lưng một Thành phố đầy khói và bụi. Hầu như mọi con đường đều chật ních xe hai bánh. Dòng xe cộ trên xa lộ thi nhau lao đi, như thể bị thúc đẩy bởi một lực vô hình phía sau. Nhà cửa ngoại ô cùng chung số phận với phố xá Sài Gòn, đua nhau mọc lên, phô trương hình dáng, khoe khoang mặt tiền tựa cô gái quê thích trang điểm, tạo nên một cảnh trí mất cân đối giữa những căn nhà lụp xụp và quán xá lấn chiếm bất cứ khoảng trống nào. Dân cư chia nhau những không gian nhỏ để tồn tại, còn lại là những tòa nhà bề thế hay những căn nhà sang trọng, nhắc nhở sự xuất hiện của những chủ nhân mới.

Không thể nhận ra con đường dẫn vào Nghĩa trang, tôi bảo anh tài xế trẻ tắp vào một quán nước. Bà chủ quán đứng tuổi chăm chú nhìn tôi.

– Ông hỏi Nghĩa trang Thành phố thì bên kia đường, còn Nghĩa trang Quân đội cũ thì đi tới ngã ba đằng kia.

Trước đây mỗi lần đi ngang khu vực nầy, tôi thường lái xe chậm lại để dán mắt vào kiến trúc quy mô và Nghệ thuật của Nghĩa trang, và khi nhìn tác phẩm Thương Tiếc, lúc nào tôi cũng thấy bức tượng người lính sống động. Người lính ngồi lặng lẽ bên đường như một nhân chứng âm thầm của cuộc chiến. Trong tư thế nuối tiếc đồng đội, anh như còn muốn nhắc nhở khách đi đường về một thế giới thầm lặng khuất sau ngọn đồi. Nhưng nay tác phẩm đầy huyền thoại đã biến mất không một dấu tích để lại. Tôi nghe nói, người Cộng sản đã đổ hận thù lên cả người lính bằng đồng, một tác phẩm điêu khắc hiếm có, bằng cách đập phá bệ tượng, giật sập và kéo lê bức tượng qua nhiều nơi.

Toàn cảnh đã đổi thay. Con đường dẫn vào Nghĩa trang bị che khuất bởi hai dãy nhà mới cất, chỉ còn vài cây bạch đàn không biết sống sót từ ngày cũ hay ai đã trồng lên sau này. Khi chiếc xe chầm chậm đi vào con đường nhựa và bắt đầu lên dốc, thì khung cảnh quen thuộc bất ngờ hiện ra trước mắt tôi: Cổng Tam Quan và Ðền Tử Sĩ. Tôi nói với tài xế chạy thật chậm để thích thú thu vào ống kính con đường uy nghi thẳng tắp dẫn lên ngôi đền. Từ Cổng Tam Quan, hai con đường hai bên ôm lấy ngọn đồi theo mô hình con ong mà ngày xưa nhà thiết kế đã chọn lựa.

Con ong không thờ hai chúa, người lính chỉ chết cho một ngọn cờ.

Hai hàng chữ hai bên cổng đã tróc sơn, nhìn thật rõ mới đọc được: Vì Nước Hy Sinh – Vì Dân Chiến Ðấu. Tôi bước lên từng bậc thang phủ đầy rêu phong, mà tưởng như đi giữa những cặp mắt thật xa xưa mà rất gần gũi đang nhìn tôi. Tôi đang gặp lại những Đồng đội của mình. Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, Nghĩa Trang Của Những Người Lính Ðã Chết Cho Quê Hương Việt Nam.

Tôi sắp bước lên những bậc thang cuối cùng để đặt chân vào Ðền Tử Sĩ, ngự trên đỉnh đồi, ngày nào là nơi tôn nghiêm vị Nguyên thủ Quốc gia thường đến hành lễ trong các dịp lễ Chiến Sĩ Trận Vong, Lễ Vu Lan, ngày Quân Lực, ngày Quốc Khánh.

Tôi ngẩn ngơ trước cảnh trời đất êm ả của buổi chiều lộng gió, chưa kịp đưa máy quay lên, bỗng từ trong một góc đền hai con chó nhảy ra sủa vang. Hai con chó đã báo động. Năm bảy người bật dậy khỏi nền nhà. Họ đứng hàng ngang trước mặt tôi, nhìn vào máy ảnh và máy quay phim lỉnh kỉnh trên vai tôi. Tôi nói với họ tôi từ xa đến, muốn thăm lại ngôi mộ người bạn ở nghĩa trang nầy nhưng không thể tìm ra vị trí và mong họ giúp đỡ. Toán lính cho biết toàn khu vực nghĩa trang do bộ đội quản lý, không cho phép người ngoài vào, không được chụp hình quay phim. Khu vực nầy không có mồ mả.

Tôi cứ hỏi tới, làm thế nào tìm được ngôi mộ người bạn để cắm vài nén nhang. Thấy tôi tha thiết, một anh lính nói giọng Nam chỉ phần đất phía sau ngọn đồi.

– Chú vào đó, cứ hỏi khu vực mồ mả là người ta chỉ cho.

– Cám ơn cháu nhiều lắm.

Tôi chào toán lính, rồi bước nhanh xuống những bậc thang, e ngại họ có thể đổi ý tịch thu máy ảnh và máy quay phim. Tôi đến đây không có những thông tin chính xác về hiện tình nghĩa trang, ngoài những nguồn tin ít ỏi từ bạn bè. Tuy vậy toán lính đâu biết rằng, tôi đã quay xong khung cảnh mặt tiền nghĩa trang, chỉ còn cảnh mấy người lính ăn mặc lếch thếch nằm ngủ la liệt trên nền xi măng là tôi chưa thu vào ống kính.

Từ trên cao nhìn bao quát cảnh trí chung quanh ngọn đồi, tôi hiểu tại sao người cộng sản muốn xóa đi một di tích lịch sử đã in đậm dấu ấn trong lòng mọi người. Ở hải ngoại, người Việt đã hay tin chính quyền cộng sản sẽ giao nghĩa trang cho một công ty ngoại quốc để khai thác du lịch. Cho đến nay, chẳng hiểu vì sao họ chưa cày nát nghĩa trang này như đã làm ớ các nơi khác. Chung quanh Ðài Liệt Sĩ, người ta trồng bạch đàn, nhưng rừng bạch đàn không lớn nổi, sống thoi thóp giữa lớp cỏ ngập cả sườn đồi.

Con đường đất nhựa chấm dứt khi chiếc xe rẻ bên trái, chuyển qua đường đất bụi lồi lõm dường như từ lâu không được sửa chữa. Bên phải là bức tường mỏng dang dở bám đầy bụi ngăn cách nghĩa trang với bên ngoài. Những xưởng làm gạch ngói kéo dài mấy trăm thước, vào lúc nầy không thấy cảnh hoạt động tấp nập. Chiếc xe lướt qua một bức tượng Phật Bà bên phải.

Thấy một quán nhỏ bên đường, tôi ngừng lại hỏi. Tôi gặp ngay anh trưởng toán bảo vệ nghĩa trang. Anh ta hỏi tôi tên họ thân nhân, mất năm nào để dễ tìm kiếm. Tôi muốn nói, tôi đến đây không phải để thăm một người, mà thăm toàn nghĩa trang. Nhưng tôi đã có một tên người chết bịa ra lúc ngồi trên xe.

– Nguyễn Quốc Việt, chết khoảng năm 70 hay 71 gì đó.

– Nếu vậy, chú sẽ rất khó tìm. Ở đây chúng tôi quản lý trên mười ngàn ngôi mộ, người ta tìm mộ theo lô năm chết.

– Tôi hy vọng nhớ địa điểm, vì trước đây tôi có đến một lần. Anh ráng giúp tôi, người chết sẽ nhớ anh, người sống sẽ không quên ơn anh.

Anh chần chừ một lát rồi nói :

– Chú chờ cháu lấy xe gắn máy. Ở đây quy định xe hơi không được vào.

Tôi gặp may, nhưng không dám lộ niềm vui ra mặt. Tôi để gia đình ngồi tại quán nước, lén nhét máy ảnh vào túi Jacket. Khi chiếc xe gắn máy chạy vào Trung tâm Nghĩa trang, tôi bảo anh dừng lại. Khuất sau những dãy nhà cửa và xưởng gạch ngoài kia, nghĩa trang như một thế giới lạc lõng nằm trong quên lãng. Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, sẽ trở thành Nghĩa Trang Quốc Gia như kế hoạch của chính phủ trước đây, vẫn còn đó nhưng khắp nơi đều một cảnh hoang tàn làm se thắt lòng người viễn xứ.

Rừng bia mộ mênh mông nằm xen lẫn với cỏ cây um tùm, phân chia từng lô bởi những con đường đất. Nghĩa trang quá rộng lớn, tầm nhìn của tôi không thể thu hết toàn cảnh. Dân cư và các lò gạch đã lấn chiếm sát vòng đai nghĩa trang. Rải rác đó đây là những ụ đất, những hố sâu, những cây cao su mới trồng lẫn trong những đám cỏ đuôi chồn mọc cao. Một số ngôi mộ đã được dọn sạch sẽ, còn lại là những mồ hoang ngập trong cỏ dại không nhang không khói, có lẽ ba mươi năm nay, chưa một ai đến viếng. Ðã có những con người từ tâm đến đây sửa sang, nhưng vẫn chưa làm nghĩa trang bớt hoang phế.

Tôi có cảm tưởng nghĩa trang đã bị lấy đi một lớp đất, để lộ những tấm đan trồi cao trên mặt đất. Có vẻ như người ta sắp làm một cái gì trên mảnh đất nầy. Hầu hết những ống cống trên đường bị lấy đi không được lấp đất lại, tựa như dấu đùn của thú rừng ăn đêm. Nhiều tấm bia bị đập bể. Có những phần mộ bị dời khỏi vị trí. Một sự phá hoại quy mô đầy tính thù hận. Ðột nhiên, đôi mắt tôi rưng rưng niềm phẫn uất.

Người cộng sản đang tìm mọi cách chiêu dụ người Việt hải ngoại về xây dựng đất nước, mời mọc đầu tư, cổ xúy hòa giải, vậy mà họ đang trút hận thù lên cả những kẻ đã nằm xuống. Người chết đã không được yên ổn dưới lòng đất. Nghĩa tử là nghĩa tận. Mồ mả các chiến binh cộng sản khắp nơi được sơn phết cẩn thận, mồ mả nơi đây bị dày xéo thật tàn nhẫn. Người cán binh cộng sản, người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, họ là ai? Tất thảy họ là những người con dân Việt bất hạnh, là nạn nhân của một chủ thuyết điên cuồng, phải được chia sẻ từng mảnh đất chôn cất, chia sẻ từng nén nhang và cả lời nguyện cầu được bình an dưới lòng đất hay nơi một thế giới nào đó không binh đao và oán thù.

Làm thế nào tìm ra lô đất chôn theo năm, nói gì tìm ra tên người thân khi lạc vào đây? Tôi đến gần anh bảo vệ và dúi vào tay anh một số tiền :

– Anh nói đúng, có lẻ tôi cần phải đến đây ba bốn ngày liên tiếp mới mong tìm được mộ người bạn tôi.

Rất tiếc, chỉ còn vài ngày nữa là tôi rời khỏi nơi nầy. Vậy anh cho tôi thắp hết bó nhang cho những ngôi mộ trong khu vực nầy. Ðó là cách tôi gởi lòng thành của mình cho người bạn và luôn thể đến những người khuất mặt ở đây.

– Vâng… chú làm thế cũng được.

– Cám ơn anh đã giúp tôi tận tình. Có lẽ không bao giờ tôi có dịp đến Nghĩa trang lần nữa. Mong anh cho tôi chụp vài tấm hình kỷ niệm.

– Chú đã biết rồi đó. Họ cấm chụp hình. Nhưng cháu sẽ canh chừng cho chú.

Trước khi đưa máy hình cho anh bảo vệ, tôi chụp ngay vài tấm toàn cảnh nghĩa trang, nằm dưới ngôi tháp Nghĩa Dũng Ðài với Vành Khăn Tang quấn quanh xa xa. Tôi nghe nói, công trình ngôi tháp xây gần xong thì miền Nam mất. Tọa lạc trên một ngọn đồi, thêm mấy cần thu lôi làm tăng thêm chiều cao, nổi bật trên rừng mộ bia, ngôi tháp dũng mãnh cao trên bốn mươi thước như thách thức thời gian, như đang chứng tỏ với con người sự hiện hữu của một thế giới vô hình.

Kiến trúc uy nghi nầy làm tôi liên tưởng đến bao nhiêu người đã bỏ tim óc và sức lực vào việc xây dựng công trình lịch sử lớn lao nầy, để hơn ba mươi năm trôi qua, ngôi tháp vẫn còn đứng vững và tiềm tàng uy lực khó hiểu, đã làm chùng lại mọi mưu toan xóa bỏ nghĩa trang. Thấp thoáng vài bóng người trong khuôn viên ngôi tháp. Tôi ao ước được vào bên trong để nhìn công trình dang dở với thanh kiếm khổng lồ cắm xuống mặt đất và vành khăn tang rộng lớn quấn quanh ngôi tháp, nhưng không nghĩ ra cách nào, vì anh bảo vệ lắc đầu từ chối.

Trong cơn gió vi vu xô dạt hàng cây bạch đàn, tôi đến từng ngôi mộ, cắm từng nén nhang vào những tấm đan xiêu vẹo, đối diện với từng hình ảnh, tên họ, đơn vị, ngày sinh, ngày mất. Dù không còn ngay ngắn vị trí, những tấm đan vẫn còn nguyên vẹn. Anh bảo vệ có vẻ quen thuộc với máy chụp hình, bấm máy kịp thời mỗi lần tôi di chuyển qua từng ngôi mộ. Hình như anh đã thông cảm việc làm của tôi nên sau đó sẵn sàng dẫn tôi đi qua các khu vực khác.

Anh cho biết, có những gia đình đã đến đưa tiền nhờ bảo vệ dọn dẹp phần mộ thân nhân của họ. Hàng năm có một số Thương phế binh và cựu Quân nhân sống ở các khu vực lân cận thường đến đây vào dịp Tết để tảo mộ. Còn lại những ngôi mộ khác không ai chăm sóc, ẩn sâu dưới lớp cỏ rậm, bia mộ như cố vươn lên nhắn gởi một lời ghé thăm.

Bó nhang trong tay đã hết sạch. Anh bảo vệ cho biết các khu vực khác cũng tình trạng tương tự, nghĩa là có những ngôi mộ đã được chăm sóc xen lẫn với những ngôi mộ ngập cỏ. Tôi muốn đi xa hơn, nhưng anh ta bảo, không nên đến gần toán bộ đội đóng rải rác quanh nghĩa trang. Ðành nhủ với lòng mình, dù sao tôi đã thăm lại được Nghĩa trang, một việc hằng ấp ủ trước đây. Tôi lại ngồi sau chiếc xe gắn máy lao đi trên những đoạn đường bụi đỏ, chạy quanh một vòng qua các con đường bị đào xới, để ngậm ngùi thấy mọi nơi của nghĩa trang đều hoang tàn giống nhau.

Ra khỏi bức tường thành hoen ố, tôi trở lại quán nước. Tôi chưa kịp nói chuyện với gia đình về những bức ảnh vừa chụp được, thì anh tài xế nói nhỏ bên tai nên cho thêm tiền người bảo vệ để được quay phim. Tôi kéo anh bảo vệ ngồi riêng một bàn. Tôi đưa cho anh thêm một số tiền Việt và ngỏ ý muốn trở lại quay vài đoạn phim. Anh ta không phản đối nhưng khuyến cáo không nên đi quá xa khu vực ấn định. Uống chưa xong ly nước, chúng tôi trở lại nghĩa trang.

Chiều xuống, nghĩa trang không một bóng người, chỉ nghe tiếng chim kêu áo não trên một cành cây gần đó và tiếng đa đa khàn khàn từ những lùm cây trên sườn đồi khiến cảnh chiều thêm quạnh hiu. Xa xa, một làn khói xám xịt lên cao từ một lò gạch, uốn éo theo chiều gió, ngập ngừng không biết tan về đâu. Những bia mộ như hớn hở đi vào ống kính, cả cỏ dại cũng lắc lư nhảy múa hưởng ứng công việc của tôi.

Tôi cẩn thận thu cận cảnh vài tấm bia. Khi quay ống kính về phía ngôi tháp Nghĩa Dũng Ðài sừng sững trước mặt, tôi thực sự xúc động, cảm thấy mọi thứ trong nghĩa trang đều sống động như đang đồng cảm với tôi về cuộc viếng thăm bất ngờ nầy. Nhìn rõ những hình ảnh trên màn hình, tôi bỗng rùng mình. Nghĩa trang đang thở từ lòng đất. Từng tấm bia lướt qua trong máy đang gởi lời chào thân ái. Tôi tin những cặp mắt vô hình đang đồng loạt nhìn tôi. Phải chăng đây là khoảnh khắc giao cảm hiếm có với những người lính vô danh ngày xưa đã hy sinh mạng sống của mình, ngày nay họ đã trở thành những anh hùng trong lòng dân tộc.

Advertisement

Ðâu đây như có tiếng chân đều nhịp của những tháng ngày thao trường đổ mồ hôi để chiến trường bớt đổ máu. Chúng ta đang sống lại trong hàng ngũ? Những ngày xưa thân ái, anh đã gởi lại nơi đây. Anh về qua xóm nhỏ, tình quê hương đậm đà. Anh về thủ đô, lòng em rộn rã.

Những địa danh bỗng hiện ra, những trận đánh như còn sôi động đâu đây. Máu ai nhuộm thấm ngọn đồi chiến lược ? Bàn tay nào giương cao lá cờ tung bay trên Cổ thành? Anh đã hiến trọn tuổi thanh xuân của mình để bảo vệ mảnh đất miền Nam. Thế rồi anh ngã xuống, thế rồi tôi buông súng. Anh cô đơn nơi hoang địa, tôi lầm lũi cảnh tha hương.

Bao nhiêu năm chiến tranh, chỉ có một ngày đáng nhớ. Chỉ có một ngày đáng nhớ, nhưng không thể viết hết thành lời. Không thể viết hết thành lời, bởi vì thảm kịch phân ly đã vượt khỏi biển khơi.

Người nằm đó không buồn lên tiếng. Những kẻ bạc mệnh đã hiến cho lịch sử những giọt máu đào quý giá. Một thế giới câm lặng nhưng lại cho ta bao điều suy nghĩ về sinh ký tử quy của con người, về tình tự dân tộc muôn thuở của quê hương. Thế mà con người lại đem về những chủ thuyết xa lạ để sát hại ngay chính đồng bào mình. Thế giới vô sản được hô hào đoàn kết lại để chết cho một số người. Sự dối trá và tàn ác được vinh danh như một tiêu chuẩn của đạo đức.

Ôi quê hương, ta không dám hồi tưởng lại quá khứ, e không còn nước mắt để khóc cho những đau thương của dân tộc. Ta chưa dám mơ một ngày mai rạng rỡ, khi vẫn còn những ngày hôm nay đen tối.

Kẻ nơi cõi âm, người còn dương thế, không còn khoác chiến y, nhưng nỗi lòng về đất nước vẫn còn trong mạch sống. Mạch sống vẫn còn tuôn chảy, dù những năm tháng cuối đời có thể đếm được rồi, bởi mạch sống vẫn trung thành với quá khứ, vẫn lan rộng ra như một dòng nước thủy chung cho thế hệ mai ngày.

Lịch sử đang phơi bày trước mắt, không cầu kỳ hay bóp méo, như dấu tích đập phá trên bia mộ cùng khắp nghĩa trang, như ngôi tháp Nghĩa Dũng Ðài hùng vĩ đứng giữa trời kia, như ngôi Ðền Tử Sĩ chứng nhân trên đồi cao, như bầu trời lồng lộng, như cỏ cây đang lay động theo nhịp thở của anh từ lòng đất.

Anh nằm đó, nghìn thu giấc ngủ, nhưng sao trong gió ta nghe có tiếng thì thào.

Ðột nhiên, trời tối sầm lại. Giờ của hoàng hôn đã vãn. Mặt trời đã thu về những ánh tà dương lộng lẫy, để lại một vùng ánh sáng yếu ớt sau ngọn đồi. Tiếng sấm xa xa dội lại vu vơ. Những đám mây đen ùn ùn kéo tới. Mặt trời thực sự biến mất.

Nhưng dấu hiệu báo cơn mưa chỉ diễn ra trong chốc lát, có lẻ mưa một nơi nào đó. Trời mây trở lại yên tĩnh, trống trải, hoang vu. Những con chim én như những nốt nhạc lẻ loi trên mấy hàng dây điện, bỗng vụt bay lên không. Chúng chao lượn vài vòng rồi rủ nhau bay về bên kia nghĩa trang, lúc nầy trông như bức tường thành ngăn cách hai thế giới. Một cõi âm đấy bí ẩn và một cõi trần u uất sắp vùi vào bóng tối của đêm đen gần kề.

Ngôi Ðền Tử Sĩ, ngọn tháp Nghĩa Dũng Ðài, Vành Khăn Tang, rừng bia mộ, những con đường đất đỏ còn đó. Nghĩa trang vẫn còn đó, dù trong hoang tàn.

Những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã nằm xuống, nhưng mãi mãi vẫn sống trong tim những người Việt Nam hằng yêu thương đất nước và giống nòi.

Virginia
Chu Lynh

Nguồn: https://hoiquanphidung.com/showthread.php?14793

Sài Gòn-Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 19 Aug 2026

Nhiều người đã biết Trần Thiện Thanh có hai tên: một tên thật cho sáng tác nhạc và một biệt danh Nhật Trường là ca sĩ khi đứng trên sân khấu. Bạn bè thường gọi anh là Nhật Trường, chứ ít ai gọi tên “cúng cơm”.

Trong số ca khúc của anh có Chân Trời Tím, anh làm ngay sau khi đọc truyện dài đó của tôi. Tôi nhớ không lầm thì người đầu tiên hát bài này là nữ danh ca Minh Hiếu và đó cũng là ca khúc thành công nhất của cô. Tôi cũng nhớ rất rõ là hồi đó, những năm 1966-1967, mỗi khi tôi đi cùng các bạn lên vũ trường Paramount hoặc Ðại Nam của ông chủ Tú Vopco thì Minh Hiếu thường hát bài này. Nhật Trường còn cẩn thận ghi thêm cả một đoạn tôi đề ngay trang đầu cuốn Chân Trời Tím và Minh Hiếu không bao giờ quên đọc lại giữa ca khúc như lời nhắn gửi cho cuộc tình không bao giờ đến đích:

“Anh yêu những chân trời tím; màu tím thắm thiết của yêu thương, của hai đứa chúng mình đi vào tình yêu, đi vào kỷ niệm. Anh sẽ đưa em tới đó, anh sẽ sống bên em như màu tím và chân trời, nhưng anh biết không bao giờ chúng mình tới đó”.

Nghe như tiếng thở dài của những người yêu nhau nhưng lại biết tất cả chỉ là vô vọng. Họ gặp nhau quá muộn hoặc… có hàng ngàn lý do để không bao giờ được ở bên nhau. Một thời bản nhạc đó đã vẫy vùng trong làng ca nhạc của miền Nam Việt Nam. Nhưng có nhiều người hỏi tại sao một bản nhạc hay như thế lại không phải là nhạc chính cho phim. Vì Trần Thiện Thanh không bán ca khúc cho hãng phim hay vì một lý do nào khác?

Chuyện Tréo Ngoe

Khi Trần Thiện Thanh cho trình làng bản nhạc đó thì chưa bao giờ chúng tôi nghĩ đến chuyện làm phim Chân Trời Tím. Một hai năm sau, hãng phim Liên Ảnh mới được tổng giám đốc Quốc Phong tập hợp lại để làm phim. Bản nhạc của Trần Thiện Thanh ra đời từ mấy năm nên đã thành cũ. Trong khi Liên Ảnh có tới 7 ông chủ hãng, mỗi người một ý, nhiều ông muốn có một bản nhạc mới cho cuốn phim CinemaScope đầu tiên ở Việt Nam. Vì thế họ quyết định nhờ Phạm Ðình Chương làm nhạc chính cho phim. Bởi vậy mới có chuyện tréo ngoe là bản nhạc Chân Trời Tím không phải là nhạc chính cho phim, thay vào đó là Nửa Hồn Thương Đau của Phạm Ðình Chương với câu mở đầu “nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt, chỉ thấy lòng nhớ thương chất ngất…”

Tôi cho rằng Hoài Bắc cũng gửi tâm sự thật sâu kín nhất của mình vào ca khúc đó.

Với tôi, cả hai bản nhạc đều có giá trị rất riêng nhưng cùng một tâm sự và đều xứng đáng là nhạc chính của phim. Tuy nhiên, nếu tôi có toàn quyền chọn ca khúc cho phim thì tôi chọn Chân Trời Tím của Trần Thiện Thanh và người trình bày ca khúc là Minh Hiếu. Bởi dù sao bản nhạc đó cũng đánh dấu thời kỳ ra mắt của cuốn truyện đã góp phần vào việc làm cho cuốn truyện được nhiều người biết đến và nhắc đến hơn. Nhưng tôi không có quyền hành gì trong việc lựa chọn này. Tất nhiên nói thế không phải không thích nhạc Phạm Ðình Chương mà thật ra tôi “mê” nhạc của Chương hơn cả nhiều ca khúc tiền chiến khác. Trong đó tôi mê bài anh phổ nhạc thơ Ðinh Hùng: “Chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng, có người con gái đẹp như trăng. Tóc xanh ủ bóng dừa hoang dại, âu yếm nhìn tôi không nói năng…”

Còn nhạc Trần Thiện Thanh tôi lại thích Khi Người Yêu Tôi Khóc. Lần đầu nghe bản nhạc này xong, tôi gặp Nhật Trường bèn gật gù ngay: “Bản nhạc của ông làm tôi buồn suốt buổi tối hôm qua đấy”. Nhật Trường thủ thỉ: “Tôi còn buồn hơn ông”. Suy nghĩ một chút, anh “tổng kết” những cuộc tình: “Cái số tôi cứ đụng yêu là muộn ông ạ”. Tôi “triết lý vụn”: “Yêu muộn cũng có cái thú của yêu muộn chứ, ông tưởng cứ yêu sớm là hạnh phúc cả hay sao”. Nhật Trường nhún vai: “Nhưng dù sao cũng đỡ vất vả, chứ tôi thấy cái thân tôi mỗi lần hẹn hò là một lần phải bày binh bố trận như sắp ra chiến trường. Chiến thuật chiến lược phải tinh thông. Hồi hộp lắm”. Tôi hiểu Nhật Trường muốn ám chỉ điều gì. Tôi nháy mắt móc lò: “Suy cho cùng thì đôi khi chính anh cứ tìm lối đoạn trường mà đi”. Còn tôi, tôi thích phóng xe giữa xa lộ. Vì thế nên có ông bảo tôi “nhiều tàu”, chứ nếu các ông ấy cứ đàng hoàng dắt tay nhau đi giữa phố, phóng xe ra xa lộ cho mọi người cùng nhìn giữa thanh thiên bạch nhật, đừng có “múa võ trong bóng đêm” hay nói như nhà văn Tạ Quang Khôi là những anh chuyên đi “lái ké”, chưa biết chừng có ông còn “nhiều tàu” gấp hai tôi.

Sự Cảm Thông

Khi tôi về làm tại Ðài Phát thanh Quân Ðội, Nhật Trường làm tại Phòng Văn Nghệ Cục Tâm Lý Chiến. Tôi gặp anh để ngỏ ý xin anh về ban nhạc của Ðài Phát Thanh cho đúng với khả năng của anh, nhưng anh từ chối với lý do “làm ở phòng Văn Nghệ dễ chịu hơn, giờ giấc không trói buộc”. Sau đó anh nhỏ nhẹ nói tiếp: “Thật ra ông mới về nên chưa biết chứ ở bên Ðài nhiều chuyện phức tạp lắm. Mà tôi thì không muốn dây dưa, không muốn cạnh tranh với ai cả”.

Tôi thông cảm ngay bởi hồi đó Phòng Văn Nghệ của Cục Tâm Lý Chiến chiếm một gian nhỏ sát với Ðài Quân Ðội. Công việc của nhân viên có phần nhàn nhã hơn, không cứng nhắc và đôi khi xô bồ tấp nập như không khí hàng ngày của đài phát thanh. Tuy vậy tôi và Nhật Trường vẫn có nhiều dịp gặp nhau. Mỗi khi anh có một bản nhạc nào mới, anh thường sang khoe với tôi và tôi cũng có nhiều vấn đề về nhạc của Ðài cần có ý kiến của anh. Dù không hay đi ăn, đi chơi với nhau, nhưng tình cảm vẫn gần gụi.

Tôi nhớ vào một đêm rằm Trung Thu, xe tôi bị hư, Nhật Trường phải trực ngoài cổng cơ quan nên tôi mượn xe anh đi. Giữa đường, xe cũng hư nốt. Thế là nguyên một đêm Trung Thu tôi phải sửa luôn một lúc hai cái xe.

Một Người Thầm Lặng

Có một thời kỳ Nhật Trường “được” biệt phái lên Quân Đoàn 2 ở Pleiku. Anh lẳng lặng đi không nói với ai nửa lời dù biết “đi là chết ở trong lòng một ít”. Khi tôi biết thì mọi chuyện đã muộn. Đến nay tôi vẫn còn ân hận vì điều này. Nhưng bản tính Nhật Trường là như thế. Anh không bao giờ nhờ vả ai, không cần ai giúp mình bất kể về phương diện nào.

Khi tôi ở “trại cải tạo” ra, năm 1987, Nhật Trường vẫn ở Sài Gòn. Anh nhắn vài người bạn và cho tôi số điện thoại nhà anh. Hồi đó dân Sài Gòn có điện thoại là bảnh rồi. Tôi điện thoại cho Nhật Trường. Anh cho biết đang ở bên Bến Phạm Thế Hiển và ngỏ ý đón tôi sang chơi. Nhưng tôi quá bận rộn vì mưu sinh nên chưa có thì giờ sang chơi với anh được. Lần thứ hai anh nói: “Tôi nhớ Chân Trời Tím lắm”. Chúng tôi cùng hiểu anh nhớ những gì, không hẳn là chỉ có thế, còn cả một quãng đời chúng tôi sống cùng nhau. Lần sau cùng anh điện thoại cho tôi, không nói là mình đi Mỹ, chỉ có vẻ ngập ngừng rồi bùi ngùi: “Có lẽ còn lâu tôi mới gặp được ông, tôi về quê sống ông ạ”. Tôi hỏi lại: “Nghe nói ông sống dễ chịu lắm mà”. Nhật Trường buồn bã: “Chỉ là cái bề ngoài thôi, bây giờ thì chịu hết nổi rồi. Tôi về quê cho khỏe, ông cứ biết thế thôi”.

Ừ thì biết thế, anh em lúc này mỗi người một hoàn cảnh riêng, làm sao biết đằng sau cuộc sống là những gì. Song tôi vẫn nghĩ là anh về Phan Thiết vì từ lâu tôi nghe nói “quê hương bản quán” của anh là xứ sản xuất ra nước mắm nổi tiếng này. Phải một thời gian sau tôi mới biết là anh đi Mỹ.

Bẵng đi một thời gian dài, tôi không được tin tức của Nhật Trường và trong những CD “nhạc hải ngoại” bày bán ở Việt Nam cũng ít thấy anh xuất hiện.

Nay thì được tin anh đã vĩnh viễn ra đi. Tin buồn ấy đến với tôi quá muộn và cũng chưa có gì là chắc chắn.

Tôi điện thoại hỏi Trần Thiện Hiệp đang ở Thủ Ðức. Từ lâu tôi cứ yên trí Hiệp là anh ruột của Trần Thiện Thanh.

Hiệp xác nhận tin đó và cho biết thêm ngày 19-5 ở Mỹ mới làm lễ hỏa thiêu rồi sẽ đưa tro cốt về Lâm Ðồng. Khi tôi viết bài này, ngày 22-5, Trần Thiện Thanh vẫn chưa trở lại với quê hương. Lúc này tôi mới biết thêm Hiệp chỉ là anh em thúc bá của Nhật Trường.

Hiện bà mẹ Trần Thiện Thanh đã ngoài 80, vẫn còn sống ở Lâm Ðồng bên cạnh nhà cô em gái anh là Như Thủy. Căn nhà đó do chính Nhật Trường làm ra từ thời xưa, đối diện với sở Nông Lâm Súc ngay đại lộ. Họ hàng nhà Trần Thiện hiện đã tề tựu đông đủ để chờ đón người con trở về đất mẹ.

Trần Thiện Hiệp kể lại về người em của mình: “Nó đào hoa từ nhỏ đấy, ông ạ. Ngày xưa tôi với nó sống chung và học chung. Nhưng nó chỉ mê đàn địch suốt ngày. Ðến nỗi ông chú tôi nện nó một trận vỡ bung cả cái thùng đàn guitar. Sau này, anh em mỗi người một chí hướng, nhưng rồi cũng gặp nhau ở cái duyên thơ nhạc. Nó phổ nhạc bài thơ “độc hành” của tôi và làm trong cassette đầu tiên khi đặt chân đến đất Mỹ. Gần đây nghe tin nó bệnh nhưng không ngờ nó “đi” nhanh thế”.

Chúng tôi cùng bùi ngùi nhớ hình ảnh một nghệ sĩ hiền hậu, có cuộc sống gần như lặng lẽ, nhưng có những đợt sóng ngầm và đời sống nội tâm khá dữ dội. Tôi nghĩ đến bà mẹ già giờ này vẫn mong ngóng đón đưa con trở về, ngoan ngoãn, yên lặng, nằm lại trong vòng tay mẹ như tuổi ấu thơ, không bao giờ đi nữa.

(Sài Gòn 22-5-2005)