This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Tuần trước tôi vừa đọc tin một người đàn bà ở Liverpool, Anh Quốc, Amanda Monti 24 tuổi, có một cuộc đấu khẩu với người bạn trai, Geoffrey Jones, 27 tuổi về vấn đề quan hệ chăn gối, đã dùng móng tay xé nát bì nang ngọc hoàn của người tình. Điều ghê gớm là người đàn bà này, để phi tang, đã bỏ vào miệng cố nuốt hai viên ngọc hoàn này, nhưng đã bị nôn tháo ra. Chuyện này đã làm cho người ta sởn tóc gáy và ghê tởm. Người ta tưởng tượng ra là bàn tay người đàn bà phải có những móng nhọn sắc như móng chim ưng và trong lòng phải có một quyết tâm cao mới hoàn tất được công việc này, vì các bạn thử tưởng tượng chúng ta muốn xé một miếng da đỏ sần sùi, lòng thòng dưới cổ một con gà tây bằng tay không, là khó khăn biết dường nào. Cô Monti bị hai năm tù giam và người bạn trai trở thành “hoạn quan” suốt đời, vì cuộc giải phẫu bất thành.
Câu chuyện kinh hoàng chưa phai trong trí nhớ thì báo chí lại đưa tin về hành động của một người đàn bà khác, đau đớn thay, lần này lại là một người đàn bà Việt Nam, vì người viết bài này cũng như hằng nghìn người viết lách khác đã từng ca ngời người đàn bà Việt Nam là người đàn bà công dung ngôn hạnh, hiền lành, chịu đựng, hy sinh và có tâm hồn đẹp đẽ hơn bất cứ người đàn bà nào có mặt trên trái đất này. Cô Kim Trần, 35 tuổi ở tận thủ đô giá lạnh Anchorage của tiểu bang Alaska đã dang tay cắt đứt chim chàng và thản nhiên vứt vào bồn cầu; xả nước. Nghe nói hai đằng có một cuộc gây gổ lời qua tiếng lại, sau đó họ thỏa thuận làm tình và chàng thuận cho nàng trói tay mình vào thanh cửa sổ trên đầu giường, chắc là muốn bắt chước trong phim ảnh Mỹ. Thay vì làm tình, nàng dùng dao cắt chim của chàng vứt vào bồn cầu, nhưng lại mở trói và chở người tình tới bệnh viện để cấp cứu ngay sau đó. Cảnh sát đã hiệp cùng công ty nước phá vỡ bàn cầu, truy tìm vưu vật để trả “cái của Cesear về lại cho Cesar”, và việc ráp nối, theo bác sĩ giải phẫu Sarah Troxel ở Anchorage, cũng dễ dàng như nối lại một ngón tay đã đứt lìa.
Chuyện này khiến chúng ta nhớ lại một trường hợp nổi tiếng khác ở Virginia năm 1993 khi nàng Lorena Bobbitt xẻo “của nợ” người chồng và vứt ra đường. Hai vợ chồng này đã có nhiều mâu thuẫn và căng thẳng trong đời sống, ông chồng là tay rượu chè va hay hành hạ vợ. Một tối, sau khi đã say sưa, John Bobbitt trở về nhà ở Manassas, đòi hỏi làm tình với vợ. Bực mình từ lâu, cô Lorena lấy cớ xuống bếp uống một ly nước, thay vì cầm ly nước, cô đã xách con dao lên phòng ngủ, giật phăng tấm chăn đắp trên mình chồng và cắt đứt bộ phận sinh dục của anh này. Bỏ mặc ông chồng quằn quại trên giường, Lorena nắm chặt cái “của nợ” trong tay, trong cơn hoảng loạn cô đã lái xe đi và liệng nó qua cửa xe. Sau khi hoàn hồn, cô đã gọi cảnh sát cho biết sự việc đã xẩy ra. Cảnh sát đưa John đi cấp cứu và khẩn cấp truy tìm bộ phận của anh. Các bác sĩ đã bỏ ra 9 tiếng đồng hồ để nối lại “đường to” cho John Bobbitt và đã thành công mỹ mãn. Trong phiên tòa vào tháng 2-1994, cô vợ Lorena đã được trắng án, và vụ này đã thu hút được con số kỷ lục 60% dân chúng Mỹ theo dõi.
Cách đây vài năm, ở Houston- Texas, một phu nhân khi thấy đức ông chồng của mình “ăn chè” với đào trong khách sạn sang trọng bước ra, đã dùng chiếc Mercedes của mình cán ngay ông chồng ngã xuống và chà đi xát lại tới năm bảy lần cho hả giận. Thảm kịch này đã được một người qua đường thu vào ống kính trước là cung cấp tài liệu cho tòa án, sau nữa là dành cho “Viện Bảo Tàng phái … yếu”.
Nói chuyện Việt Nam những người cao tuổi ở Saigon hẳn đều chưa quên vụ Cô Quờn đốt chồng đã được nhạc sĩ Trần Văn Trạch đưa vào một bài hát của ông. Ở Hà Nội,vào cuối thập niên 30, vụ án ông Huyện Trường đã được viết thành kịch bản, hát chèo. Nguyên ông Huyện Trường là con nhà nho thanh bạch, được cô Cúc là gái nhà nghèo tần tảo, buôn bán nuôi cho ăn học, nhưng khi đỗ tri huyện lại phụ bạc đi cưới vợ con nhà giàu, bị cô này chém nát người bằng ba mươi sáu nhát dao thái thịt. Tất cả cũng đều do một chữ “ghen” đã có xưa nay, nói văn chương là “máu Hoạn Thư”; thâm trầm mưu chước thì “làm cho, cho mệt, cho mê; làm cho đau đớn, ê chề, cho coi … “, nóng nảy nhất thời thì “bất bình nổi trận đùng đùng sấm vang”, cái gì cũng cắt, cũng chặt, cũng đốt cho “biết tay bà”.
Chỉ nội hai vụ trên đây thôi, chúng ta đã thấy đàn bà … ghê thật. Họ dám làm những việc mà giới đàn ông tuy lâu nay vẫn mang tiếng hùng hùng hổ hổ, nhưng thuê tiền cũng không dám làm. Và những ai thường mạnh miệng gọi đàn bà là phái … yếu thì cũng nên nằm vắt tay lên trán mà ngẫm lại, vì yếu thể xác hay yếu bóng vía thì không thể nào làm những chuyện tày trời như thế. Dù với động lực nào đi nữa thì chúng ta, kẻ nam nhi vẫn thường cho mình là phái mạnh cũng phải nép bên vệ đường mà nhường bước, vì chúng ta, giới đàn ông, sách sử chưa ghi được một biến cố tương tự nào do đàn ông làm nên cho ra hồn. Nghe nói con Bọ Ngựa cái, sau mỗi lần làm tình xong là xơi tái ngay con đực, nếu so sánh tai tiếng như chuyện con Yêu Râu Xanh trong chuyện cổ cũng chưa có tàn bạo bằng. Lại nói thêm, về thể chất, người đàn ông nếu so cùng với tuổi một người đàn bà, theo tính toán của các nhà khoa học thì phải từ giã cõi đời này sớm hơn quí bà tới sáu năm. Thông thường quí Ông lấy vợ trẻ hơn mình từ hai tới mười hai tuổi thì phải tính bằng công thức 6 + x. Trong mọi nursing home số quí ông “thân bại danh liệt, xếp giáo quy bàng” nhiều hơn số phụ nữ gấp đôi, trên ở chỗ trang 8 trang 10 của các tờ nhật báo, chúng ta thường thấy quí Bà là quả phụ nhiều hơn là quí Ông chết vợ.
Sự yếu đuối về tinh thần thấy rõ rệt ở chỗ Quí Bà vẫn còn sống vui, sống khỏe nhờ bổn phận với con cháu, với chùa, nhà thờ sau khi các Ông ra đi, trái lại ít thấy người đàn ông sống thọ sau khi người vợ từ giã cõi đời ô trọc này khi thiếu sự săn sóc, lo lắng hằng ngày của người phối ngẫu.
Một người bạn tôi đã làm sự khảo sát này trong một buổi chiều lang thang trong nghĩa trang, bên những mộ bia vợ chồng nằm cạnh nhau, và đã có một kết luận nếu bà ra đi trước thì chắc chắn cách đó không lâu, ông cũng đi theo Bà. Chưa tin, xin các bạn hãy nhìn chung quanh và làm nhẩm một con toán xem sao. Còn như đàn ông vẫn thường khoe khoang cái “sức mạnh” của giới mình, cho rằng khi đầu gối còn cắt ra máu thì vẫn còn thói “hung hăng”, theo quí Bà, chuyện đó là …đồ bỏ.
Với tâm trạng đen tối, tôi quay về căn cứ Omura thuộc thủ phủ Nagasaki. Cuộc không kích tàn phá phi trường Hán Khẩu làm mất đi một số đồng đội, cái chết của Mikiko, và các vết thương của tôi, tất cả khiến tôi rủn chí. Hơn nữa, mặc dù căn cứ gần sát bên nhà, tôi không được phép về thăm gia đình cho đến khi các vết thương của mình hoàn toàn lành lặn.
Trước tiên tôi đến gặp vị Chỉ huy trưởng căn cứ với tất cả sự e dè. Khi tôi được chỉ định về phục vụ tại căn cứ này vào năm trước đây, thái độ khinh bỉ không thiện cảm của ông đối với tất cả các phi công mới ra trường thật đáng buồn. Thái độ ấy làm tôi lo âu. Nhưng tôi đã kinh ngạc xiết bao khi vị chỉ huy mỉm cười rạng rỡ lúc tôi đứng nghiêm trước bàn giấy của ông. Ông nhìn tôi trong giây lát, ngắm nhìn bộ quân phục, mặt mày, và đôi mắt của tôi đang nhìn thẳng về phía trước. Dần dà tôi hiểu thái độ hiện thời của ông. Tin tức về việc tôi đơn độc chống lại 12 phóng pháo cơ địch, mặc dù kết quả không rõ ràng đã bay trước bước chân tôi trở về Nhựt Bản. Thái độ khinh thường trước đây của ông đã chuyển hướng, vị chỉ huy báo cho tôi biết, tôi có thể nghỉ ngơi nhàn nhã ở Omura và trong thời gian này tôi sẽ khỏi phải thi hành một công tác nào cả. Việc này thật đáng kinh ngạc. Những tay lính mới chưa hề được đối xử như thế bao giờ.
Xuống phòng ăn, tôi biết các phi vụ ở Trung Hoa của tôi, với việc hạ 1 chiến đấu cơ và tấn công 12 phóng pháo cơ địch, được thêm mắm giặm muối rất nhiều khiến tôi trở thành một vị anh hùng nho nhỏ đối với các phi công ở đây. Họ bao lấy tôi, nôn nóng nghe câu chuyện không chiến trên lục địa Trung Hoa. Suốt một tuần lễ, tôi ăn ngủ thoả thích và nhìn các phi công khác thực tập các phi vụ huấn luyện của họ. Sau đó, tôi nhận được lá thơ của cô gái tôi chưa từng quen biết tên là Fujiko Niori. Nàng viết: “Tôi là chị của Mikiko, và tôi muốn nhân cơ hội này để chân thành cảm ơn bức thơ của anh đã gởi cho má tôi, cùng những lời lẽ tử tế và lưu tâm mà anh đã dành cho em gái của tôi. Bức thơ của anh là một tia nắng ấm chiếu rọi vào nỗi tuyệt vọng đang trùm lấp gia đình tôi sau cái chết của Mikiko. Tất cả chúng tôi đều than van rằng Mikiko đã rời bỏ chúng tôi trong lúc nó đang hạnh phúc nhất, tôi không hổ thẹn để nói với anh như vậy.
Tôi phải thú nhận, trước khi nhận thơ của anh, tôi luôn mang cảm tưởng rằng tất cả các phi công chiến đấu chỉ thích đánh nhau, họ thiếu tình cảm và sự xúc động. Dĩ nhiên, bức thơ của anh đã làm tôi thay đổi ý kiến. Tôi thành thật ước muốn được kết bạn với anh, nếu anh cho phép, nhứt là nhân danh em gái của tôi. Nỗi vui mừng của tôi sẽ trọn vẹn nếu anh phúc đáp bức thơ này.” Trong phong bì kèm theo một tấm hình của Fujiko. Cô gái 18 tuổi này còn đẹp hơn cô em nàng. Tôi lập tức viết thơ trả lời. Nói cho nàng biết tôi chỉ bị thương nhẹ ở Trung Hoa và hiện thời đã trở về Nhựt để chữa trị cho lành hẳn. Tôi nói với nàng theo lời các bác sĩ cho biết, tôi sẽ sớm được bay trở lại và, ngay khi bình phục, tôi hy vọng sẽ gặp mặt nàng.
Bức thơ thứ nhì Fujiko kể cho tôi nghe nhiều về đời sống của nàng và những việc xảy ra hàng ngày trong thành phố Tokushima trên đảo Shikoku. Tháng kế đó, ít việc ở căn cứ, nên tôi bỏ nhiều thì giờ viết thơ cho Fujiko và đọc đi đọc lại những bức thơ nàng đã gởi cho tôi.
Vào tháng 11 năm 1939, tôi nhận được 24 giờ phép đầu tiên trong năm. Với các vết thương đã hoàn toàn bình phục, tôi nôn nóng trở về nhà. Từ Omura về nhà tôi không quá 1 giờ xe lửa. Mùa gặt đã qua rồi, đồng ruộng quạnh hiu khi mùa Ðông đến, nhưng quang cảnh này không làm tôi chú ý mấy. So với quang cảnh lục địa Trung Hoa đầy buồn chán, tỉnh nhà của tôi không khác nào một vườn hoa và khi xe lửa hướng về ngôi làng, tôi ngắm nhìn dãy núi Kyushu vươn cao trên bầu trời, với màu xanh thẳm của những cánh rừng dày bịt, những dòng suối sáng lóng lánh dưới ánh nắng ban trưa. Khi bước xuống con đường dẫn vô ngôi nhà nhỏ bé, cũ kỹ, tôi không còn tin vào đôi mắt của mình nữa. Một đám đông đang tụ họp trong sân, đứng tràn ra ngoài đường, cùng cất tiếng chào mừng tôi. Tôi ngạc nhiên khi thấy má tôi cùng đi với xã trưởng và nhiều viên chức khác trong làng bước ra đón tôi. Vị xã trưởng cất cao giọng: “Mừng anh trở về, Saburo, vị anh hùng của ngôi làng nghèo khó của chúng ta!”. Tôi bẽn lẽn, tôi chưa bao giờ mơ tưởng sự việc như vầy có thể xảy ra. Tôi ấp úng mãi mới nói cho vị xã trưởng biết tôi không có gì gọi là anh hùng cả, tôi chỉ là một hạ sĩ quan bắn rơi được 1 chiến đấu cơ duy nhứt của địch. Ông ta ngắt lời: “Tánh khiêm nhường rất tốt, nhưng tất cả chúng tôi đều biết anh đoạt được cái đồng hồ bằng bạc của Thiên hoàng ở trường phi công hải quân và điều này có nghĩa là anh được chọn làm phi công nhiều hứa hẹn nhứt của đất nước chúng ta!” Tôi lặng yên. Những hình ảnh của 5 năm về trước chiếu rọi lại trong trí tôi, lúc tôi bước xuống cùng con đường này, với tâm trạng của một kẻ gây tủi nhục cho gia đình làng xã, với những bạn bè hồi còn để chỏm quay mặt ngượng ngùng. Nếu những người này biết tôi đã vụng về, hầu như chết sững trong buồng lái phi cơ khi đụng trận lần đầu tiên ra sao, hoặc nếu họ biết hành vi của tôi khiến cho vị đại úy phi đoàn trưởng phẫn nộ đến nỗi tức nghẹn không thốt ra lời như thế nào..! Và hiện thời… những tiếp đón long trọng này! Thật là quá mức!
Sau đó, một con heo to tướng được quay ngay trong sân. Hàng đống thức ăn, rượu sakê và rượu nếp. Tôi vẫn còn đứng ngơ ngác trước quang cảnh đón tiếp không ngờ này cho đến khi má tôi gọi lại bên cạnh khẽ nói: “Tất cả mọi người đều tốt với con. Các thức ăn này do họ góp lại để mừng ngày trở về của con. Ðừng nhăn mày nhíu mặt nữa. Hãy vui lên.” Mọi người đều muốn nghe đủ chuyện ở Trung Hoa và thường ngắt lời tôi để hỏi rõ nhiều chi tiết liên quan đến trận không chiến và việc tôi đã tấn công nhóm phóng pháo cơ địch ra sao. Ai ai cũng tỏ vẻ kính nể. Ðôi mắt má tôi sáng long lanh, trong niềm hãnh diện. Ba anh chị tôi, mặc quần áo mới, ngồi mỉm cười, mặt mày rạng rỡ! Khi thực khách ra về, tôi sớm tìm hiểu và biết gia đình tôi vẫn nghèo khổ, như lúc tôi bước chân vô hải quân. Má tôi trấn an tôi, cho biết cả làng giúp đỡ gia đình tôi rất nhiều và khó kiếm ra hàng xóm tử tế bằng.
Trong thời gian ở Trung Hoa, tôi đã gởi hơn phân nửa tiền lương về nhà, vì tiền bạc bên ấy không tiêu dùng nhiều. Tôi không bao giờ uống rượu và quả thật tôi không giao du với bất cứ cô gái nào. “Saburo,” má tôi tiếp, “cả nhà cám ơn con đã gởi đều đặn hết số lương của con về. Nhưng hiện thời má không muốn con gởi nữa. Con phải để dành mà tiêu dùng, đã đến lúc con phải nghĩ đến con, và bắt đầu dành dụm để một ngày nào đó còn lập gia đình.” Tôi phản đối mạnh mẽ. Tôi có dành dụm chút ít tiền, nhưng không hề dự định gì vào những năm sắp tới. Nhưng bỗng nhiên tôi nhớ đến Fujiko. Tôi hiểu rõ, nếu tôi vẫn ở trong làng này thay vì gia nhập hải quân để trở thành một phi công, gia thế của nàng sẽ không cho phép nàng giao du với tôi.
Trở về Omura, vị Chỉ huy trưởng trả lại nghiệp bay cho tôi, và tôi bắt đầu thực hiện một loạt phi vụ tập luyện để lấy lại phong độ. Ðầu tuần lễ thứ hai của tháng Giêng năm 1940, tôi nhìn thấy tên tôi trên bảng thông cáo. Theo đó, tôi được chọn với nhiều phi công khác để bay biểu diễn trên thành phố kỹ nghệ rộng lớn Osaka vào ngày 11 tháng 1 năm 1940, ngày quốc khánh của chúng tôi.
Tôi vội vã gởi thơ cho Fujiko, báo cho nàng biết chuyến đi của tôi. Trong thơ phúc đáp, nàng hỏi tôi sẽ ở đâu tại Osaka, vì “ba má và tôi muốn gặp anh tại Osaka vào ngày này.” Cả gia đình này đều có mặt! Quả thật đó là một danh dự đối với tôi. Muốn đi, gia đình nàng phải mất trọn một ngày từ Tokushima xuyên qua biển Nhựt Bản để đến Osaka.
Phi vụ biểu diễn không có gì khó khăn. Quá trưa hôm đó, sau khi phi vụ hoàn tất, chúng tôi vô ngụ trong một khách sạn ở Osaka. Khi tôi đang cạo râu và thay bộ quân phục mới, một trong những hạ sĩ quan chạy ùa vô phòng hả họng rống lên:
“Phi công Sakai! Mau lên! Vị hôn thê của anh đang chờ gặp anh dưới lầu!”
Mọi người cười ồ. Tôi đỏ mặt và vội vã đi ra ngoài.
Fujiko đang bối rối. Tôi ngừng lại trên thang lầu và nhìn nàng. Trong chiếc Kimono khép nép xinh xắn, Fujiko cùng với cha mẹ đứng chờ tôi ngoài hành lang. Tôi khom mình chào họ.
Ðêm đó tôi được gia đình Fujiko mời ăn cơm tại một trong những nhà hàng danh tiếng nhất ở Osaka. Tôi chưa bao giờ đặt chân vô một nhà hàng như vậy trước đây. Song thân của Fujiko thật phi thường đối với tôi. Cả hai đã làm mọi cách để tạo cho tôi sự thoải mái. Nhưng tôi không tránh khỏi ké né, vì hiển nhiên tôi nghĩ mình đang bị xăm xoi, ngắm nghía như một chàng rể tương lai của họ. Ðiều làm tôi rụt rè hơn nữa khi tôi biết được gia đình Niori là một trong những gia đình tiếng tăm nhứt ở Nhựt Bản, xuất thân từ một giòng họ Samurai xuất sắc trong xứ, và thân phụ của Fujiko hiện thời là giáo sư đại học, một địa vị đầy danh vọng thời ấy. Trong bữa ăn, tôi đã từ chối ly sakê do ông Niori tự tay rót cho tôi. Ông cười và thúc giục tôi uống mãi, cuối cùng tôi phải nói cho ông biết tôi không uống rượu, vì tôi là một phi công chiến đấu. Câu đáp của tôi rõ ràng đã làm cho cả gia đình nàng hài lòng.
Ðêm hết quá mau và những lời từ giã được trao đổi, tuy nhiên lời cầu hôn của tôi chưa thốt ra. Trở về Omura, tôi vùi đầu trong công việc huấn luyện bổ túc từ sáng sớm cho đến tối mịt. Mùa Xuân lướt qua rồi mùa Hạ đến và đi. Tôi vẫn ở Omura, vẫn miệt mài với chương trình huấn luyện. Những gì làm cho tinh thần tôi phấn chấn chính là những bức thơ đều đặn của Fujiko. Những bức thơ dâng niềm hy vọng và mộng mơ trong tôi. Nhưng tôi trở nên nôn nao. Nhiều bức thơ tôi nhận được từ mấy người bạn phi công vẫn còn bay ở Trung Hoa kể lại những chiến công mà họ đã gặt hái được từ tuần này qua tuần khác. Hầu hết mấy người bạn này đều đã hạ trên 10 phi cơ địch, gây thất điên bát đảo cho kẻ thù trên không phận Trung Hoa. Tin lành sau cùng cũng đến, tôi được lịnh thuyên chuyển đến căn cứ không quân Cao Hùng (Kaohsiung) ở Ðài Loan. Từ Trung Hoa trở về nước đúng 1 năm, và bây giờ tôi lại được gần gũi với cuộc chiến. Hiện thời Cao Hùng trở thành căn cứ không quân hải ngoại chánh yếu của Nhựt Bản, và sự thuyên chuyển này có nghĩa là tôi sẽ lâm trận ngay sau đó.
Trước khi lên đường tôi đi mua ngay một vật mà tôi đã ao ước suốt năm nay. Ðó là chiếc máy chụp hình hiệu Leica, thấu kính 2.0 Sonar, lúc đó được xem là máy chụp hình tốt nhất thế giới. Giá chiếc máy này hơn 3 tháng lương, và tôi đã vét hết số tiền dành dụm. Các chiến đấu cơ của chúng tôi không được trang bị loại máy chụp hình tự động như máy bay Mỹ, và chiếc máy Leica thích hợp để chụp không ảnh từ phòng lái.
Ðến Cao Hùng, tôi sững sốt tột cùng. Trên phi đạo, tôi nhìn thấy nhiều chiến đấu cơ loại mới, xa lạ, khác hẳn loại 96 Claude. Ðây là loại chiến đấu cơ Zéro Mitsubishi A6M vừa chế tạo, trơn bóng và tối tân. Chiếc máy bay đã gây cho tôi sự thích thú chưa từng thấy. Phòng lái của loại phi cơ này có nắp che, động cơ cực mạnh và bộ phận hạ cánh có thể rút vào thân. Thay vì chỉ có 2 khẩu đại liên hạng nhẹ như loại 96 Claude, loại chiến đấu cơ Zéro được trang bị đến 2 đại liên 7 ly 7 và 2 đại bác tự động 20 ly.
Chưa hết. Vận tốc và tầm hoạt động của chiếc Zéro gần gấp đôi chiếc Claude. Các cơ phận điều khiển tuyệt hảo, chỉ cần ấn nhẹ cần là lập tức động cơ phản ứng tức thì. Ðộ nhạy của chiếc Zéro vượt lên trên tất cả các loại máy bay tôi từng lái. Chiếc Zéro đáp ứng giấc mơ của mọi phi công, làm chúng tôi thêm nôn nóng thử nghiệm nó trong không chiến.
Chúng tôi mang ra thử lần đầu tiên trong cuộc xâm chiếm Ðông Dương thuộc Pháp. Nhiệm vụ là bao che cho các đơn vị lục quân đánh chiếm những vị trí then chốt trên mặt đất. Ðiều này có nghĩa là phải bay không ngừng nghỉ suốt 800 hải lý (1,482 km) từ Cao Hùng đến đảo Hải Nam. Ðó là một khoảng cách không thể nuốt trôi đối với các loại chiến đấu cơ trước đây, nhứt là phi trình phần lớn trên mặt đại dương. So với Claude tầm ngắn, chiếc Zéro như một kỳ quan đối với chúng tôi.
Tuy nhiên, khi tiến vô Ðông Dương chúng tôi không gặp một sự chống đối nào ngoại trừ một vài cuộc đụng độ nhỏ sát biên giới, gây ra bởi một số đơn vị Pháp không kịp thông báo. Cuộc xâm chiếm xúc tiến một cách “hoà dịu” sau thoả hiệp với chính quyền Bảo hộ, tránh được sự lan rộng của chiến tranh.
Tôi vẫn chưa nếm mùi chiến đấu với loại khu trục cơ Zéro cho đến khi được bổ nhiệm trở lại ở Liên Phi đoàn Hán Khẩu vào tháng 5-1941. Tôi nhận thấy phi công địch mất hẳn tinh thần chiến đấu. Sự hùng hổ của phi công Nga-Sô trong trận không chiến đầu tiên của tôi không còn nhìn thấy ở đối phương nữa. Các phi công địch tìm mọi cách để tránh né chúng tôi, và họ chỉ chấp nhận đụng độ khi nào chiếm được ưu thế, lao từ trên mây xuống đánh úp chúng tôi. Thái độ co đầu rụt cổ này bắt buộc chúng tôi càng lúc càng tiến sâu vô nội địa, dồn họ vào thế phải chấp nhận đánh nhau.
Tôi được chỉ định một nhiệm vụ như vậy vào ngày 11 tháng 8 năm 1941, với mục đích ép buộc đối phương lâm trận. Ðó là một phi vụ 1,500 km bay không ngừng nghỉ từ Nghi Xương (Ichang) tỉnh Hồ Bắc đến Thành Ðô (Chengtu) tỉnh Tứ Xuyên (Sichuan).
Khu vực này quen thuộc, phía trên Nghi Xương, bấy giờ nằm trong tay địch quân, mà tôi đã từng đối đầu với 12 phóng pháo cơ Nga-Sô trước đây. Trong phi vụ xâm nhập này, chúng tôi có thêm nhiệm vụ hộ tống 7 oanh tạc cơ loại Mitsubishi G4M hai máy, phía Mỹ gọi là Betty. Quá nửa đêm, các oanh tạc cơ cất cánh từ Hán Khẩu và được chúng tôi hộ tống đến Nghi Xương. Sau đó, chúng tôi tiếp tục hướng đến phi trường Thành Quan (Wenkiang). Chúng tôi ở trên mục tiêu trước bình minh và bay quần chầm chậm chờ ngày lên hẳn. Chúng tôi nhìn chiếc Zéro dẫn đầu, nghiêng cánh và chúi xuống. Ðó là ám hiệu khai hoả. Từng chiếc một, chúng tôi túa xuống phi trường địch, nơi tôi nhìn thấy nhiều chiến đấu cơ Nga-Sô chạy trên phi đạo, chuẩn bị cất cánh. Nhân viên dưới đất chạy túa mọi nơi, hướng đến hầm trú ẩn. Tôi sà thật thấp, lướt đến phía sau một chiến đấu cơ Polikarpov I-16 của địch vừa cất đầu lên khỏi mặt đất. Ðó là một mục tiêu ngon ăn, và chỉ một viên đại bác tầm ngắn đã biến chiếc phi cơ thành cây đuốc. Tôi xẹt ngang qua phi đạo, đảo sang phải thật ngặt và vượt thẳng lên để quành lại kiếm ăn nữa. Súng phòng không địch vây tôi mọi mặt, nhưng tốc lực của chiếc Zéro mau không thể tưởng, khiến xạ thủ địch bó tay. Nhiều chiếc Zéro khác bổ nhào xuống, cày nát sân bay. Một số chiến đấu cơ Nga phát hoả hoặc vỡ tan. Tôi lại đâm đầu xuống để chụp một chiếc phi cơ khác trong tầm ngắm. Một viên đại bác thứ hai, rồi là trái cầu lửa hình nấm phồng lên. Không còn gì để xạ kích nữa. Cuộc tấn công của chúng tôi đã dọn sạch phi cơ địch trên phi đạo, không một chiếc nào ngốc đầu lên nổi. Ða số bốc cháy hoặc nổ tung. Trở lên cao 7000 bộ (2100m), chúng tôi nhận thấy nhiều nhà chứa phi cơ và các cơ sở bao trùm trong lửa đỏ. Nhiệm vụ trơn tru từ đầu đến cuối. Chúng tôi thất vọng vì thiếu màn đánh nhau trên không, nên tiếp tục đảo vòng, hy vọng các cột khói sẽ lôi cuốn phi cơ địch từ nơi khác.
Thình lình 3 chiếc Zéro tách khỏi đội hình và chúi xuống. Xa xa phía dưới, tôi nhìn thấy một phi cơ cánh đôi sơn màu sáng chói đang bay sà sát mặt đất. Trong nháy mắt 3 chiến đấu cơ Nhựt nhảy xổ vào phi cơ địch, tung ra hàng loạt đạn đại liên và đại bác nhưng không có kết quả, vì viên phi công địch lộn nhào tránh né tài tình. Cả 3 chiến đấu cơ Nhựt bay vượt qua chiếc phi cơ cánh đôi. Bây giờ đến lượt tôi. Tôi chúi xuống và tìm cách cho phi cơ địch vào tầm súng, tôi siết cò. Phi cơ địch đảo thật ngặt về phía trái và thoát khỏi. Một chiếc Zéro khác nhập cuộc, và cả 5 chúng tôi hùa nhau đuổi bắt chiếc phi cơ quỷ quái đó. Tài tránh né của phi công địch quả đáng bực thầy. Chiếc phi cơ cánh đôi như hồn ma bóng quế. Nó lộn nhào, rơi xuống theo hình trôn ốc, xoáy vượt lên cao và xoay ngang xoay dọc tài tình đến nỗi khó thể tin vào mắt. Chúng tôi không thể nào nhắm chiếc phi cơ ấy một cách chính xác.
Sau đó, bất ngờ chúng tôi bay đến gần đỉnh của một ngọn đồi thấp phía Tây Thành Ðô. Viên phi công địch thay vì tránh né, đã bay vượt lên ngọn đồi, và khi vượt lên hắn xoay vòng chậm chạp. Ðó là một lỗi lầm chết người mà không phi công nào dám để mắc phải. Bụng hắn loé sáng trước mắt tôi, và những viên đạn đại bác của tôi xé rách, xuyên thấu tận buồng lái. Ðang lúc chiếc phi cơ cánh đôi rơi xuống như một chiếc chong chóng thì một chiến đấu cơ Zéro khác bồi thêm một loạt đạn vô ích vào thân xác chết. Nó chạm vô sườn đồi và nổ tung.
Tôi ghi hai điểm, và đây là chiến thắng đầu tiên với chiếc Zéro.
Ðó là phi vụ chiến đấu cuối cùng của chúng tôi ở mặt trận Trung Hoa. Không lâu sau đó chúng tôi nới tầm hoạt động lên Vận Thành (Yungcheung), là một thị trấn nhỏ ở mãi tận sông Hoàng Hà. Suốt nhiều tuần lễ, các phi vụ tuần thám của chúng tôi thất bại trong việc khám phá ra phi cơ địch. Ðầu tháng chín, các phi công phải trở về Hán Khẩu, nơi phó đô đốc Eikichi Katagiri, tư lịnh Không Hải đoàn Nhựt (1) ở Trung Hoa, bất ngờ xuất hiện. Vị phó đô đốc cho biết tất cả chúng tôi sẽ thuyên chuyển về Ðài Loan, ở đó chúng tôi sẽ lĩnh một sứ mạng quan trọng nhứt. Ông không tiết lộ nhưng tất cả chúng tôi đều biết rõ Nhựt Bản sắp khai chiến với các cường quốc phương Tây.
Giữa tháng chín, chúng tôi quay về Ðài Loan. Sau đó, toàn thể 150 phi công chiến đấu cơ với con số phi công oanh tạc cơ tương đương di chuyển từ Cao Hùng đến Ðài Nam để gia nhập Tân Không đoàn Ðài Nam (Tainan).
Có những mất mát nhìn thấy được. Một lá cờ. Một doanh trại. Một khẩu súng. Một quân phục.
Nhưng có những mất mát không ai nhìn thấy. Đó là ngày một người lính đánh mất tên gọi của chính mình.
Ông tên Minh. Năm 1975, ông ba mươi hai tuổi. Cấp bậc đại úy. Mười bốn năm quân ngũ. Ông thuộc lòng từng điều lệnh, từng nghi thức chào cờ, từng tiếng kèn báo thức mỗi buổi sáng.
Đời ông được đo bằng những lần đổi đơn vị, những cuộc hành quân và những người đồng đội đã nằm xuống. Ông chưa từng nghĩ sẽ có một ngày mình phải sống mà không còn là một người lính.
Thế nhưng ngày ấy đã đến.
Ông cởi chiếc áo trận. Tháo khẩu súng. Rồi tháo luôn hai chiếc lon trên vai. Đôi bàn tay run đến mức không gỡ nổi chiếc ghim cài. Ông ngồi rất lâu. Nhìn hai chiếc lon nằm lặng lẽ trong lòng bàn tay.
Lần đầu tiên trong đời, ông cảm thấy mình trống rỗng.
Những năm cải tạo đi qua.
Ngày trở về, đứa con trai út nhìn ông bằng ánh mắt xa lạ.
Nó chỉ nhớ người cha trong tấm ảnh cũ. Còn người đàn ông gầy gò đứng trước cửa hôm ấy giống một người khách hơn.
Ông ôm con. Nó ôm lại. Nhưng giữa hai cha con có gần mười năm mà không cái ôm nào lấp đầy được.
Sang Mỹ. Ông làm đủ nghề.
Rửa chén. Quét kho. Đẩy xe hàng.
Mỗi sáng, ông mặc đồng phục công nhân. Chiếc bảng tên bằng nhựa cài trước ngực. Dòng chữ “MINH”.
Không có đơn vị.
Không có quân số.
Chỉ còn một cái tên. Có lần, người quản lý trẻ hơn con ông mấy tuổi lớn tiếng trách vì ông làm chậm.
Ông chỉ im lặng.
Một người bạn hỏi:
– Sao anh không cãi?
Ông cười.
– Ngày xưa tôi từng ra lệnh cho cả đại đội. Bây giờ cãi một cậu bé để làm gì?
Đó không phải là cam chịu Đó là sự bình thản của một người đã đi qua những điều lớn hơn rất nhiều.
Một buổi chiều cuối thu. Ông lên gác lấy chiếc hộp gỗ cũ.
Bên trong chỉ có vài tấm hình.
Một huy hiệu. Và đôi lon bạc đã ngả màu. Ông đặt chúng lên bàn.
Advertisement
Rồi soi gương. Trong gương là một ông già tóc bạc. Ông nhìn thật lâu. Rồi khẽ hỏi:
“Tôi là ai?”
Không còn quân đội.
Không còn cấp bậc.
Không còn những người lính gọi mình là “đại úy”.
Vậy mình là ai? Căn phòng im lặng.
Ngoài sân, lũ cháu đang cười đùa bằng tiếng Anh.
Chúng không biết nhiều về chiến tranh. Cũng chưa từng thấy ông mặc quân phục.
Nhưng bỗng đứa cháu gái chạy vào. Nó ôm lấy ông.
– Grandpa, ba nói ông là người hùng.
Ông bật cười.
– Không. Ông chỉ là một người lính.
Con bé hỏi tiếp:
– Người lính là gì hả ông?
Ông nhìn ra khoảng trời xanh ngoài cửa sổ. Chậm rãi đáp:
– Là người làm điều mình tin là đúng, ngay cả khi phải trả giá.
Con bé chưa hiểu hết. Nhưng nó gật đầu.
Ôm ông chặt hơn. Đúng lúc ấy, ông bỗng tìm được câu trả lời mà mình đã kiếm suốt hơn năm mươi năm.
Ông không phải là hai chiếc lon. Ông không phải quân phục. Cũng không phải chức vụ. Tất cả những thứ ấy chỉ là dấu hiệu của một thời.
Điều còn lại mới là con người thật.
Là danh dự.
Là lời thề.
Là tình đồng đội.
Là lòng yêu quê hương chưa bao giờ tắt.
Chiếc lon có thể tháo khỏi vai. Nhưng không ai gỡ được nó khỏi trái tim.
Ông cẩn thận đặt đôi lon trở lại chiếc hộp. Khép nắp. Mỉm cười. Bước ra sân. Nắng chiều phủ lên mái tóc bạc. Đứa cháu nắm lấy bàn tay đầy vết chai của ông. Bàn tay ấy không còn cầm súng. Nhưng vẫn đủ vững để dắt cháu đi.
Và ông hiểu rằng, cuộc đời đã lấy đi của mình rất nhiều.
Nhưng vẫn để lại điều quý giá nhất. Đó là được sống đến cuối đời mà không hổ thẹn với lời thề của một người lính.
Vì có những cấp bậc chỉ tồn tại trên quân phục. Nhưng cũng có một cấp bậc không cần đeo trên vai. Đó là cấp bậc của danh dự.
Và người giữ được danh dự ấy… Dẫu quân đội không còn, dẫu mái đầu đã bạc, dẫu tên mình không còn được gọi trong quân ngũ…
Đại uý Eric Pham, Phi công Không quân Hoa Kỳ vừa được Hội đồng thăng cấp Sĩ quan Không quân chọn đề cử thăng cấp Thiếu tá cho tài khoá năm 2026 (CY26A), theo thông báo của Trung tâm nhân sự Không quân (Air Force’s Personnel Center), ngày 17 tháng 7 năm 2026. Trong bản danh sách đề cử thăng cấp còn có một số nam, nữ Đại uý gốc Việt khác bao gồm: DUONG MARTINEZ, AMANDA M; HUYNH, NGOCANH CHU; LAM, RYAN N; LUONG, JENNIFER HONG DIEM; NGUYEN, ALICIA ELIZABETH; NGUYEN, JONATHAN P; NGUYEN, LIANNE M; TRAN, BRYANT. Danh sách đề cử thăng cấp đã được chuyển đến Uỷ ban quân vụ Thượng viên (Committee on Armed Services) nhận được ngày 7 tháng 8 năm 2026.
Đại uý Eric Pham hiện là Phi công huấn luyện trong chương trình huấn luyện Phi công phản lực cho Không quân các Quốc Gia Liên hợp Euro-NATO. Chương trình huấn luyện Phi công đa Quốc gia này, với sự tham dự của 14 Không quân của các Quốc gia trong Khối NATO, mang đến cơ hội tuyệt vời để đóng góp vào việc phát triển các Phi công chiến đấu cơ đẳng cấp trên thế giới. Các năng lực chính yếu bao gồm hướng dẫn chỉ huy, năng lực tổ chức và nhận thức tình huống. Trong chương trình đào tạo Phi công phản lực chung Euro-NATO (ENJJPT), Đại uý Eric Pham cộng tác hàng ngày với các học viên và đồng nghiệp Quốc tế để cung cấp chương trình huấn luyện phi công xuất sắc, bằng cách thúc đẩy tinh thần đồng đội và hợp tác, hướng đến việc tăng cường năng lực phòng thủ toàn cầu và trang bị cho thế hệ Phi công chiến đấu NATO tiếp theo, phương pháp tiếp cận, phù hợp với sứ mạng xuất sắc và cam kết đối với an ninh toàn cầu của chương trình, mang đến sự kết hợp độc đáo giữa năng lực chỉ huy, quản lý và chuyên môn phi hành.
Thiếu uý Eric Pham (hình của OK-943rd AFJROTC Alumni Association).
Đại uý Eric Pham thụ huấn Chương trình Sĩ quan Không quân trừ bị (AFJROTC) tại Đại học Oklahoma (University of Oklahoma) và tốt nghiệp năm 2016. Sau khi ra trường, Thiếu uý Eric Pham được tuyển chọn thụ huấn ngành Phi công, ông bay loại Phi cơ vận tải C-17 Globemaster III thuộc Phi đoàn vận tải viễn chinh 816 tại căn cứ Không quân Al Udeid. Ông được đào tạo trở thành Phi công huấn luyện Phi cơ vận tải C-17 Globemaster III.
Từ tháng 4 năm 2023, Đại uý Eric Pham được bổ nhiệm làm Phi công huấn luyện Phi cơ T-6 tại Wichita Falls, Texas, Hoa Kỳ. Ông là Giảng viên huấn luyện Phi công của chương trình huấn luyện Phi công đa Quốc gia duy nhất trên thế giới được thành lập để đào tạo Phi công chiến đấu cơ cho Khối NATO. ông làm việc với Không quân 14 Quốc gia tham gia và bay cùng các học viên Quốc tế hàng ngày để đào tạo họ trở thành Phi công chiến đấu xuất sắc.
Đại uý Eric Pham (hình của Trung sĩ Joseph Pick, dvidshub.net).
Đại uý Eric Pham tốt nghiệp Đại học Oklahoma với Văn bằng Cử nhân quản trị kinh doanh chuyên ngành tài chánh năm 2016, và Văn bằng Cao học quản lý tại Đại học Illinois Urbana-Champaign năm 2025.
Sĩ quan Không quân Hoa Kỳ gốc Việt mang cấp Thiếu tá đang phục vụ các ngành trong Quân chủng Không quân ngoài tân Thiếu tá Eric Pham còn có hơn 160 vị (không tính những vị được thăng cấp Trung tá và đã hồi hưu), một số vị được ghi nhận bao gồm: Thiếu tá Andrew Dang là Phi công phi cơ oanh tạc chiến lược tàng hình B-2 Spirit; Thiếu tá Khoa Huỳnh, Phi công thử nghiệm; Thiếu tá Allan Pham, Phi công phi cơ C-130J; Thiếu tá Khiem Nguyen, Nha sĩ phi hành; Thiếu tá Chau Tran, Chi huy trưởng Phi đoàn 97 an ninh phòng thủ căn cứ không quân Altus Air Force Base; Thiếu tá Vu Q. Nguyen, Trưởng ban nhạc Không quân Vệ binh Quốc gia vùng bờ biến Tây, Quần đảo Channel, Port Hueneme, California; Thiếu tá Dalton Nguyen, Trưởng Phòng truyền thông Đệ Nhất Không Lực Hoa Kỳ (1st Air Force); Nữ Thiếu tá Linh Dan Trinh, Sĩ quan phi hành; Nũ Thiếu tá Ashleigh Nguyen, Luật sư Quân pháp Không quân; Nữ Thiếu tá Lynn Nguyen, Điều dưởng phi hành, Phi đoàn 18 Quân y; Nữ Thiếu tá Tina Nguyen, Bác sĩ phi hành Không đoàn 104; Nữ Thiếu tá Thoa Phạm, Chỉ huy trưởng Phi đoàn 49 chẩn đoán và trị liệu; Nữ Thiếu tá Anh Ison, Dược sĩ trưởng Liên đoàn 28 Quân y; Nữ Thiếu tá Jessica Pham; Nữ Thiếu tá Fiona M. Pham; Nữ Thiếu tá Linda Kim Nguyen; nữ Thiếu tá Caroline H. Nguyen; Nữ Thiếu tá Cecilia T. Nguyen; Nữ Thiếu tá Thuy Trang Thu Lam; Nữ Thiếu ta Diana P. T. Le; Nữ Thiếu tá BaoHan Huynh; Nữ Thiếu tá Augustine D. Tran; Nữ Thiếu tá Lyndney U. Vu, và còn rất nhiều nam, nữ Thiếu tá Không quân gốc Việt chưa cập nhật hết được.
Chúc tân Thiếu tá Eric Phạm thăng tiến binh nghiệp.
Chú thích: Họ và tên Việt, H Phạm.
Nguồn: OK-943rd AFJROTC Alumni Association; ou.edu/rotc; alamy.com; linkedin.com; bienxua-Những Sĩ quan Phi công Không quân Hoa Kỳ gốc Việt.
Đây là lần thứ nhất tôi ăn Tết ở nhà quê, sau… không biết sau bao nhiêu năm rời khỏi nơi chôn nhau cắt rốn. Ðiểm lại hành trình cuộc đời, chắc nhiều bạn ở nước ngoài cũng như tôi, đón Tết ở nhiều nơi quá, không nhớ hết. Cái “thế hệ thứ nhất” tức là gồm những người đã có tuổi, nay còn ở nước ngoài, không thể nào không trải qua những ngày tháng “lênh đênh” ở một vùng nào đó xa quê hương. Còn những người thuộc “thế hệ thứ hai, thứ ba” có lẽ đỡ long đong hơn, nhưng cũng không tránh khỏi cuộc sống nay nơi này mai nơi khác ở những tiểu bang, những tỉnh, những thành phố khác nhau.
Cảm giác đón Tết “tha hương” hầu như ai cũng có, chẳng ít thì nhiều, nhưng mỗi nơi mỗi khác. Song để nhớ lại những ngày thơ ấu sống trong không khí ấm cúng cùng với gia đình vẫn mang đến cảm giác ngậm ngùi, bâng khuâng hơn cả.
Tìm lại chút không khí Tết xưa không dễ dàng chút nào bởi phong tục tập quán mỗi nơi mỗi khác. Mỗi vùng, có khi chỉ từ làng này sang làng khác, đã có những tục lệ khác nhau. Mỗi tục lệ có những nét đặc trưng riêng và chính nó làm thành sợi dây vô hình gắn kết tâm hồn của những người đồng hương với nhau hơn. Vì thế nên ở đâu cũng có đoàn, có hội ái hữu của tỉnh này tỉnh kia.
Tuy vậy, người Việt Nam chúng ta vẫn có những tập tục chung, ở bất kỳ nơi nào cũng như nhau. Cái linh hồn của Ðêm Giao Thừa ở đâu và bao giờ cũng mang ý nghĩa thiêng liêng, trang trọng và gợi lên tình cảm của sự đoàn tụ, của tình quê hương dân tộc. Bởi thế nên có những người lam lũ vất vả quanh năm, đến gần ngày 30 Tết vẫn bằng mọi cách, tìm về với gia đình. Bà con Việt kiều ở nước ngoài cũng nhân dịp này trở lại thăm quê hương. Có người phải thu xếp vài ba năm mới trở lại VN được. Họ không chỉ ở thành phố mà hầu hết tìm về quê nội, quê ngoại để được hưởng cái Tết ở chính nơi mình đã sinh ra với những kỷ niệm cũ và để cho cái “thế hệ thứ hai thứ ba” biết thế nào mới đúng là cái Tết Việt Nam.
Cái phong bao lì xì nhỏ nhắn, đỏ chót, đã ăn sâu vào ký ức không thể nào quên. Và những giây phút sung sướng được cầm phong bao ấy sao mà sảng khoái đến thế. Dù bao nhiêu năm rồi mà vẫn muốn được sống lại với những giây phút thần tiên ấy. Người Việt Nam chúng ta ở đâu cũng vậy. Chẳng có gì khác, chẳng có gì thay đổi được. Chỉ vài nét đơn sơ thế thôi đủ nói lên tất cả.
Cho nên ngày Tết đối với chúng ta, cho dù trải qua trăm ngàn thăng trầm, vẫn là những ngày quan trọng trong cuộc sống.
Về Quê Ăn Tết
Năm nay tôi mới có điều kiện để tìm về ăn Tết ở nhà quê. Tôi cho rằng đó là một sự may mắn lắm. Những năm trước, có muốn về quê cũng chẳng được vì có chỗ nào đâu mà về? Cứ ro ró trong cái căn phòng chung cư rộng không quá 4m, dài không quá 8m. Ðêm 30 và ngày Mùng Một cúng ông bà gia tiên, không thể bỏ đi được, rồi còn họ hàng, bà con, anh em đến chúc Tết, ba ngày Tết cứ như sống trong cái rọ.
Rồi chạy đi chạy lại, chúc qua chúc lại, từ Sài Gòn nhẩy xuống Gò Vấp, từ Gò Vấp nhảy tuốt vào Chợ Lớn, cứ như con thoi. Ðường sá chen chúc, mồ hôi nhễ nhại, cơm chẳng buồn ăn. Người ta nói “đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, nhưng thực ra ba ngày Tết ăn gì cũng chẳng thấy ngon. Chỉ có mỗi cái thú làm mọi “thủ tục” cho nhanh rồi ngồi vào một bàn mạt chược xoa với bạn bè cho hết Tết. Hầu như trong dịp Tết, kể cả những ông bà không có máu cờ bạc cũng ngồi vào một bàn bài “lấy hên đầu năm” chung vui với lũ trẻ. Cũng chính bởi “thông lệ” này lâu ngày biến thành các sòng cờ bạc giữa đường phố, không phải từ ngày Tết mà từ những ngày trước Tết và còn kéo dài cho hết tháng giêng, tháng hai.
Tháng Giêng Là Tháng Ăn Chơi, Tháng Hai Cờ Bạc, Tháng Ba Rượu Chè…
Các cụ đã “dạy” thế nên vào dịp đó mấy thầy cảnh sát cũng dễ dãi, nhắm mắt bỏ qua cho bà con vui chơi. Méo mặt, cháy túi cũng vì cờ bạc ngày Tết, nó là một cái cớ để các ông lăn lộn trong những sòng bài.
Nếu là người thành phố, chắc hẳn ai cũng có dịp chứng kiến những sòng bài ở đầu đường, trong những xó kẹt building, gầm cầu thang chung cư… những người lao động nghèo khó túm tụm đánh bài. Nhìn họ say sưa sát phạt, không ai không động lòng thương hại, có đồng nào chui hết vào sòng bài bạc, rồi vợ con họ sẽ lấy gì mà sống? Biết bao gia đình nheo nhóc đói khổ, lủng củng, thậm chí tan vỡ sau những ngày Tết như thế.
Từ nhiều năm nay tục lệ đốt pháo không còn nữa.
Nó làm mất đi một nét truyền thống nhưng quả thật là một điều đáng mừng.
Tôi nhớ những năm 1987-1990 khi còn ở chung cư, mỗi lần giao thừa đến là mỗi lần tưởng có thể chết ngộp vì khói. Khói và mùi thuốc pháo đặc kín, những ông già phải nhanh chân chạy ra đứng thở ở công viên cho đến hết giao thừa mới dám mò về. Nó cũng gây ra nhiều tai nạn. Tôi rất tiếc không còn được nghe tiếng pháo Tết, nhưng đó là một việc đáng làm.
Nhưng dù thế nào thì đó vẫn là những hình ảnh thật nhất, sống động nhất của những ngày Tết ở thành phố.
Năm nay, tôi rời Sài Gòn vào trưa ngày 28 Tết để trở lại vùng quê mà tôi đã chọn. Vào ngày này, tôi cứ nghĩ xe đò sẽ chật cứng, nhưng trái lại nó lại rộng rãi, thừa khá nhiều chỗ. Lúc này tôi mới biết vào những ngày giáp Tết, người dân ở đây không còn đi lên thành phố buôn bán gì nữa. Chỉ còn lại lác đác một số người về quê ăn Tết. Có lẽ đây là sự khác biệt giữa miền Tây và miền Ðông của Nam bộ. Nhưng trên quốc lộ 13 thì xe cộ đông hơn ngày thường. Cái tất bật của ngày Tết như đã bắt đầu từ đây.
Người… “Trăm Năm Cũ” Bây Giờ Là Đây
Chiều 29 Tết, một người làm vườn cho nhà hàng xóm, cạnh nhà tôi, hấp tấp dắt chiếc xe ra cổng. Có điều lạ là chiếc xe gắn máy tuy cũ mèm song tất nhiên là còn đi được như bao nhiêu chiếc xe từ đời “tam quốc” nào đó mà tôi nhìn thấy ở vùng này, vẫn phom phom trên mọi nẻo đường, vậy mà anh ta lại dắt xe leo lên con dốc cổng.
Thì ra xe anh bị xẹp lốp. Mà từ đây phải đi gần một cây số ra đến cái chợ chồm hổm đầu đường quốc lộ mới có người vá xe. Anh ta nhìn tôi lắc đầu:
– Sửa được cái máy cho nó nổ thì bây giờ đến cái lốp.
Cái này thì chịu.
Nhìn anh mồ hôi nhễ nhại, tôi mời anh vào nhà uống nước. Anh dựng xe trước cổng, vui vẻ vào nhà. Anh nhìn mấy bức ảnh treo trên tường rồi bất ngờ hỏi:
– Hồi này cụ Mạnh Ðan còn khỏe không, ông?
– Cụ khỏe lắm, tôi không nhớ chính xác tuổi cụ nhưng chắc chắn là trên 80.
Và tôi nhìn người đàn ông có vẻ phong trần này, ướm lời:
– Ông cũng biết cụ Mạnh Ðan sao? Người đàn ông thoáng một nụ cười:
– Tôi cũng là dân “Sài Gòn cũ” mà. Ba mươi năm trước, thỉnh thoảng tôi cũng gặp cụ.
Gặp dân Sài Gòn cũ, tôi mừng rơn:
– Hồi ở Sài Gòn anh làm gì?
– Em làm thợ sắp chữ. Tôi càng thú vị hơn:
– Té ra mình cùng một nghề với nhau đấy.
– Em cũng có nghe nói anh trước kia anh là nhà báo? Em không biết anh tên gì, nhưng quả là thấy quen quen.
– Tên tuổi chẳng có gì quan trọng. Anh làm thợ sắp chữ ở nhà in nào?
– Em thường xuyên sắp chữ cho báo Màn Ảnh của ông Mai Châu. Rồi có sắp chữ thêm cho mấy tờ báo Trắng Ðen, Sóng Thần, Chính Luận nữa. Ông Mai Châu thế nào rồi?
– Tôi chỉ nghe tin ông ấy mất lâu rồi, còn bà ấy tôi cũng không gặp.
Người đàn ông kể một loạt những cái tên con ông Mai Châu, cậu Tuấn, cô Phượng… và một loạt ông bà chủ báo và những người “sếp typo”. Dường như ông muốn chứng minh rằng ông là người Sài Gòn cũ thật hoặc lâu không được nhắc đến tên những người ấy. Ở nơi này thì kể với ai ở đây, được dịp, ông kể ra cho hả.
Sau đó ông nói về những đường phố, nơi có các tòa báo hàng ngày và hàng tuần trước năm 75. Ðường Phạm Ngũ Lão, Bùi Viện, Võ Tánh… Ông hỏi:
– Bây giờ nó thế nào?
– Bây giờ khác hết rồi. Con đường trước kia nhiều tòa báo, bây giờ là Phố Tây Ba Lô, toàn khách sạn, nhà ngủ, dịch vụ du lịch và đủ thứ dịch vụ miễn là kiếm được đô-la của bất cứ khách du lịch nào dù là dân du lịch rách.
Người đàn ông thở dài:
– Ba mươi năm rồi, em chưa có dịp trở lại Sài Gòn. Hồi làm thợ sắp chữ, em mới 18 tuổi. Ðược làm thợ sắp chữ, khỏi đi lính, mấy ông chủ báo bảo lãnh hết. Thế nên cả 3 anh em nhà em đều làm thợ sắp chữ. Sau này “giải phóng”, tụi em cũng được… giải phóng luôn khỏi cái nghề sắp chữ, đâm ra thất nghiệp.
Anh ta cười, nụ cười… méo mó:
– Nhưng nhà nước nuôi.
Tôi tròn mắt, song chợt nhớ ra hoàn cảnh của mình nên hỏi ngay:
– Nhà nước nuôi nghĩa là anh cũng bị đi “cải tạo”? Anh ta xua tay:
– Chết, ông đừng đùa chứ. Em ngán cái thứ đó lắm. Nghe hết cả hồn. Hồi mới, tụi em chưa hiểu nghĩa “cải tạo” là gì, sau này mấy ông ở ngoài Bắc vào giảng nghĩa cho, tụi em cứ nghe đến hai chữ đó là hồn vía lên mây.
– Thế nhà nước nuôi anh theo kiểu nào?
– Là đi vùng kinh tế mới. Phát cho gạo ăn 6 tháng và một số tiền, rồi lên vùng rừng núi làm “kinh tế” gia đình. Ðược phát cái nhà, không có vách, chỉ có 6 tấm tôn.
Anh bật người ra và cười:
– Hồi đó em chẳng biết làm gì với cái cảnh rừng rú, đất đỏ hoang vu này. Ðẻ ra đã là dân thành phố, không biết cầm cái cuốc. Nên sau 6 tháng, lại thất nghiệp, mà lần này thất nghiệp nặng hơn, ở một vùng xa lạ chẳng biết nương nhờ vào ai. Từ lúc đó bắt đầu cuộc đời làm mướn cho đến bây giờ.
Tôi biết khá rõ về những người làm mướn cho những nhà vườn ở đây. Nhân công thật rẻ, làm từ sáng đến tối, chỉ có 30 ngàn một ngày, phải mang cơm đi ăn, nếu chủ nuôi cơm thì chỉ còn 25 ngàn hoặc có khi không có việc thì 20 ngàn cũng phải làm. Làm bất cứ việc gì chủ vườn cần. Vét mương, đào giếng, cuốc đất, trồng cây… hầm bà làng, đủ thứ việc. Ngoại trừ một số thợ có chút nghề chuyên môn như làm nhà, làm điện, có “cánh” có “nhóm” thì đồng lương cao hơn chút đỉnh.
Anh lắc đầu:
– Hồi xưa làm thợ sắp chữ thì đồng lương nuôi cả nhà. Mỗi ngày 5 ngàn thôi, lãnh lương hàng tuần, mọi thứ đều rẻ. Bây giờ làm không đủ nuôi vợ con, nhà có bao nhiêu người đến tuổi động đậy được chân tay là phải làm hết. Ðứa con lên 10 là lao động rồi. Vợ cũng phải làm, thế mà gặp lúc ít việc cũng túng thiếu mờ mịt.
Ngày Xưa Thức Dậy
Nói chuyện lan man, anh kể về cuộc đời mình:
– Hồi ở Sài Gòn, em cũng có vợ rồi đấy chứ. Vợ em là thợ sắp giấy, em là thợ sắp chữ, đẹp đôi lắm. Cô ấy xinh xắn, đẹp người đẹp nết, anh nào cũng muốn tòm tem, nhưng cô ấy lại chịu em. Thế là chúng em lấy nhau, nhà bố mẹ em ở bên bến Phạm Thế Hiển, bên kia cầu chữ Y. Sáng sáng đèo nhau trên chiếc xe gắn máy đi làm, chiều dắt nhau về tổ ấm, tình lắm. Nhưng đến khi lên vùng kinh tế mới thì cô ấy chịu không nổi. Không có việc làm, lại còn sinh bệnh tật, cô ấy trở lại Sài Gòn rồi không bao giờ lên nữa.
– Thế lúc đó đã có cháu nào chưa?
– Rất may là chưa. Nếu có một đứa con thì may ra giữ chân cô ấy lại chốn này được.
Ðôi mắt người đàn ông mờ đi dưới ánh đèn. Rồi anh ta tặc lưỡi, buồn rầu:
– Nhưng như thế cũng may cho cô ấy. Chứ ở đây chịu cái cảnh này với em suốt 30 năm nay thì tội nghiệp cho cô ấy quá. Chẳng biết hồi sau này cô ấy thế nào.
Nhìn anh thoáng một chút mơ mộng, tôi nghĩ anh còn nặng tình với người vợ cũ lắm. Nếu không có cái vụ “kinh tế mới” chắc vợ chồng anh còn sống với nhau cho đến bây giờ. Anh lại trầm ngâm:
– Ðôi lúc em cũng muốn ghé về Sài Gòn hỏi thăm tin tức xem sao, nhưng nghĩ đi nghĩ lại, để cho nhau yên có lẽ tốt hơn. Vả lại cũng chẳng có tiền mà về. Ăn ở vào đâu? Thế nên ba mươi năm, em cứ ở chỗ này. Còn anh, sao anh lại về đây?
– Tôi kiếm một chỗ yên tĩnh dưỡng già.
Lúc này chúng tôi đã có vẻ thân mật hơn nên xưng hô bằng anh em cho gần.
Anh lại chợt nhớ ra một người nào đó trong số những người làm báo trước kia, anh hỏi về các ông Mai Thảo, Thanh Nam, Hoài Ðiệp Tử, Ngọc Hoài Phương, bà Trùng Dương, ông Thanh Thương Hoàng… rồi nhảy sang mấy ông chủ nhà in, ông Hợi, cô… gì làm thư ký cho nhà in bên cạnh báo Tiếng Vang của ông Tổng Cóc, có cậu con trai đeo kính cận hay ra tòa báo ngồi với mẹ… Chẳng hiểu các ông ấy bây giờ ra sao?
Anh cũng có nhắc đến tên tôi và vẫn không hề biết người đang ngồi với anh là ai, tôi cứ mặc cho anh kể. Ở những chốn xa xôi này, chẳng mấy khi người ta được kể về những người quen biết xưa kia. Ðó cũng là một thứ nhu cầu thầm lặng, chỉ khi nào nó đến mới biết là nó thú vị như thế nào. Có lẽ nó cũng thấm và say như men rượu. Tôi càng xúc động hơn khi người đó lại là một người nghèo khổ, nay đã có tuổi nhưng hầu như chưa bao giờ quên cái “ngày xưa” của mình, mọi thứ như đã trôi vào tiềm thức, nó đột ngột thức dậy với tất cả tình yêu thương lâu ngày đã chìm lấp kín vì khổ cực, gian nan. Càng nhìn kỹ, càng thấy người đàn ông có cái bề ngoài rất tiều tụy, song khuôn mặt vẫn mang chút hình ảnh nào đó của một người con trai thành thị.
Tôi hỏi tiếp:
– Còn chị ấy bây giờ anh gặp hồi nào? Là dân ở đây à?
– Bà ấy cũng là dân “kinh tế mới.” Nghèo nàn cực khổ cùng nhau nên dễ thông cảm và hiểu nhau hơn. Chúng em có 3 đứa con rồi đấy. Nhưng cũng như bố thôi, đi làm công, làm mướn cho người ta kiếm ăn.
– Tết này các con anh về sum họp với anh chị đông đủ không?
Anh lắc đầu:
– Chẳng bao giờ có Tết cả anh ạ. Tết lại là những ngày chúng em sợ nhất. Chẳng ai mướn làm việc gì. Ai cũng nghỉ Tết, họ chỉ quên một điều là chúng em nghỉ Tết thì cũng nghỉ ăn luôn. Phải dành dụm từ cả tháng trước.
Tôi không thể nào ngờ 30 năm rồi mà cuộc sống của anh vẫn chẳng thay đổi được gì. Tôi mời anh ở lại dùng bữa cơm với chúng tôi, nhưng anh từ chối:
– Em phải về kẻo bà xã em mong. Từ bao năm nay, em đi đâu giờ này cũng phải về. No đói có nhau.
Từ giã tôi ra về, anh cặm cụi dắt chiếc xe gắn máy cũ rích ra cổng. Bóng anh đổ xuống dưới ánh đèn cùng với những bóng lá dừa trải dài bên con đường vắng tanh, lạnh ngắt. Tôi hỏi tên và hỏi nhà, hứa sẽ đến thăm anh vào những ngày Tết sắp đến.
Lửng Lơ Ngày Ba Mươi
Buổi sáng ba mươi, tôi tà tà đi chiếc xe gắn máy leo lên dốc đi thăm cái chợ Tết của thị trấn Lộc Ninh nhỏ bé này. Khu chợ nằm dưới con dốc dài, như thu gọn trong một thung lũng khá sâu.
Ngay từ đầu dốc là bến xe ôm và cũng là chợ hoa của thị trấn. Hàng hoa cúc, hoa mai cùng với vài chậu quất bày rải rác theo lối đi. Giá hoa ở đây rất rẻ và những cây hoa Tết cũng chỉ là loại tầm thường, không thể kiếm được một chậu hoa quý. Mặc dầu ở đây toàn là những nhà vườn song chưa ai trồng hoa quý để bán. Họ trồng hoa ở nhà nên thường không cần mua. Chỉ có vài nhà có cửa hiệu buôn ngoài phố mới cần đến những loại hoa chợ này. Vài ba chục một cây mai hoặc một chậu cúc đại đóa vàng rực, tươi tắn. Vậy mà cũng vắng khách. Vài chiếc xe đạp chở những chiếc bong bóng ăn dỗ tiền trẻ con, bay lơ lửng trên bầu trời đầy nắng coi cũng vui mắt và cũng đủ làm thành không khí Tết ở cái chốn quê mùa được bao bọc bởi những con dốc và những vườn cây này. Cuộc sống của những người dân ở đây cũng đang lửng lơ như những chiếc bong bóng. Kể từ khi cây tiêu không mang lại lợi tức nữa, có nhiều nhà đã phá vườn tiêu, mỗi nhà chừng vài ba mẫu, song chưa biết trồng gì. Một số nhà khác lại chưa dám phá tiêu, cứ phải để đó chờ thời mà chẳng biết bao giờ cái “thời” ấy mới đến. Họ lúng túng xoay xở mà chẳng biết đi đường nào. Cũng chẳng ai khuyên họ phải làm cái gì, trồng cái gì, cứ mạnh ai nấy đợi, mạnh ai nấy sống. Những khu vườn đất đỏ trù phú cứ như sống tạm với đủ những loại cây ăn trái, những loài hoa mà chẳng có mục đích gì rõ rệt cho kinh doanh. Bởi vậy những nhà vườn cứ như đang đi lang thang trên khu vườn của chính mình.
Những cậu con trai và những cô con gái đến tuổi lớn khôn, thường phải đi kiếm việc ở thành phố. Giờ này họ mới lác đác từ những chuyến xe đò trở về ăn Tết. Người nào cũng chỉ có một chiếc ba lô mang chút quà rất nhỏ cho gia đình. Thị trấn không phát triển được cũng vì thế.
Nỗi ước ao của họ chỉ giản dị là có một khu công nghiệp nào đó ở gần thị trấn này hoặc ở Bình Long cũng được, để có nơi chốn làm việc cho con em mình, đời sống sung túc hơn, từ đó thị trấn sẽ có cơ hội phát triển mạnh chứ không èo uột như hiện nay.
Ngày hôm sau, Mùng Một Tết, đi trên đường phố vắng vẻ hơn ngày thường, nó mang một vẻ ngơ ngác kỳ lạ. Tuy vậy, một vài người đi chúc Tết sớm, cũng quần áo chỉnh tề, những cái áo còn thấy rõ nguyên nếp gấp, đôi khi còn nguyên nếp nhăn, dường như họ cũng chẳng cần chú ý đến sự là ủi, chỉ cần có bộ cánh tươm tất là đủ rồi. Trên thị trấn cũng có một vài cặp nam nữ thanh niên ăn diện theo lối tỉnh thành đi trên vài chiếc xe kiểu cách, cũng “tóc vàng, tóc đỏ hoe hoe” nhởn nhơ, lượn đi lượn lại cho ra vẻ ngày xuân. Vài cửa hàng dăng hàng chữ “Chúc Mừng Năm Mới”, thứ băng-rôn năm nào cũng có thể mang ra xài lại được. Các bà chủ xênh xang áo quần hàng “hiệu”, nhưng chỉ quanh quẩn trước cửa hàng. Các ông chủ rủ nhau đi chúc Tết thành từng đoàn chứ không đi lẻ tẻ như ở thành phố, nhưng tìm mãi cũng không ra một bộ complet. Làm như ở đây người ta “cấm mặc complet” và cũng chẳng có một chiếc cravate. Năm thì mười họa mới thấy một ông đi “giày Tây”. Dép vẫn là thứ “ngôn ngữ đi bộ” thông dụng nhất mọi lúc mọi nơi. Nắng bắt đầu lên cao cũng là lúc thị trấn vui vẻ nhất. Vài hàng cà phê vẫn mở cửa song chỉ lèo tèo vài đám khách.
Người Đồng Hương.
Trở lại xóm tôi, con đường nhựa cong queo vẫn vắng vẻ như chẳng có gì đổi khác. Các hội đoàn cũng đi chúc Tết thành từng nhóm, mỗi nhóm năm ba người. Nhóm của cựu chiến binh, nhóm của hội phụ nữ, nhóm của hội phụ lão. Nói cười râm ran.
Ðó là không khí của ngày Tết đường làng.
Về đến nhà, tôi đã thấy ngay một ông ngồi chờ sẵn. Ông tự giới thiệu là người cùng quê với tôi, dân Thái Bình. Quả là dân ở đây nhanh nhạy thật, không hiểu sao họ biết tôi là dân “Thái lọ”, nhưng không biết huyện.
Tôi nói là dân huyện Quỳnh Côi, nhưng ông ta “đính chính” ngay: bây giờ là huyện Quỳnh Phụ – tức là hai huyện Quỳnh Côi – Phụ Dực xưa ghép lại làm một.
Tôi biết ngay ông là người từ đâu tới và vào Nam từ năm nào. Ông ta còn khá trẻ, trẻ hơn tôi chừng chục tuổi. Ông là hàng xóm phía sau nhà tôi, cách một con suối, mùa này nước cạn nên ông lội qua suối sang thăm. Ông theo bố vào Nam ngay từ đầu những năm 80, làm việc ở đây một thời gian rồi ở luôn chứ không về Bắc.
Ông thành thật tâm sự với người đồng hương:
– “Ðất lành chim đậu”, ở đây dễ làm ăn hơn chứ về Bắc làm sao có được một mẫu vườn như ở đây được.
Hàng ngày tôi vẫn nhìn sang vườn nhà ông, mùa này ông trồng cải, vừa để ăn, vừa bán. Nhưng công việc chính của ông lại ở trong rẫy, trồng đủ thứ kiếm ra tiền kể cả tỏi, ớt, cà tím, cà chua.
Sau khi ông ra về, mấy ông bà hàng xóm lân bang “tả hữu” cũng lại đến thăm. Họ thân thiện nhưng săm soi xem nhà cửa, vườn tược của tôi như thế nào. Họ chỉ dẫn cho tôi đủ cách tưới nước làm vườn. Mỗi nơi có một “bí quyết” riêng, tùy theo thổ nhưỡng và tình hình thời tiết. Họ cũng cho tôi biết thêm về phong tục tập quán ở đây.
Những ông hàng xóm thường bao giờ cũng có cái tên là ông Hai hoặc ông Ba, ông Tư. Ông Hai Thạnh, ông ba Xê, ông Tư Hoàn, bà năm Bình bán thịt heo… Tôi chưa có tên nên người ta gọi nhà tôi là nhà bà Hai Ngân. Và cái xóm tôi cũng được người ta gọi là xóm Hai Sơn. Cứ gọi thế ai cũng biết, kể cả người ở thị trấn. Ðấy là cái địa chỉ nếu có ai muốn kiếm nhà tôi ở nơi này.
Buổi tối có cái Hội Hoa Xuân ở công viên được gọi là công viên Văn Hóa huyện, lối đi vào thị trấn. Nó cũng chiếm một khoảng đất rất rộng và “hùng vĩ” lắm. Nhưng có những khoảng sân gạch lớn, có lẽ người ta sử dụng nó cho những buổi mít tinh biểu tình nhiều hơn những mục đích văn hóa khác. Ở hầu hết các vùng thôn quê, cái gì nghèo thì được chứ những công viên, trụ sở ủy ban thì phải “hoành tráng” cho ra vẻ bề thế. Ít ra là cái bề ngoài.
Hội hoa xuân chính là nơi tập hợp của mọi lớp người, nhưng nó chỉ mở cửa vào buổi tối. Trong cái không khí se lạnh của vùng rừng núi nhấp nhô, “trai thanh gái lịch” đều tụ về đây vui chơi. Những trò chơi nửa dân gian, nửa giải trí, có vài chục gian hàng bán vài thứ đồ giải khát, bánh mứt lơ mơ. Vài tay chụp hình dạo khá đắt khách. Có những gia đình đứng dưới những cây hoa đồ sộ và có cả những cặp “tình nhân nhà vườn” đỏ mặt đứng bên nhau chụp tấm hình dưới gốc anh đào cho tình tứ ướt át. Những tấm pa nô quảng cáo tối mùng 5 Tết sẽ có “văn nghệ” giúp vui, có cả những “danh ca” từ Sài Gòn về “biểu diễn”.
Quả nhiên, tối mùng 5 Tết, tôi ghé qua hội chợ, chiếc loa phóng thanh oang oang giới thiệu tên những danh ca như Cao Sơn, Ưng Hoàng Phúc, TVT hay TTV gì đó và “đặc biệt có danh ca hải ngoại Giao Linh”. Trời đất! Tôi không ngờ ở nơi hoang dã này lại được hân hạnh đón “danh ca hải ngọại” về biểu diễn. Bộ Cali và Sài Gòn hết chỗ kiếm “cát sê” rồi sao? Giá vé chỉ có 40 ngàn nhưng đã hơn 7 giờ tối mà trước rạp còn vắng ngơ vắng ngác. Chỉ có trò đu quay cho mấy đứa con nít là đông.
Ký Ức Vàng Son Của Người Thợ Sắp Chữ
Ngày mùng 2 Tết chúng tôi đến thăm nhà anh bạn sắp chữ như đã hẹn trước. Anh là Lê Văn Một ở xã Lộc Hưng, cách nơi tôi ở chừng ba cây số.
Theo đường anh đã chỉ dẫn, chúng tôi phải mò mẫm mãi mới hỏi thăm được đường đến nhà anh. Từ quốc lộ rẽ vào một con đường bờ ruộng rộng không quá 1 mét, chỉ đủ đi được chiếc xe gắn máy. Gặp chiếc xe đạp đi ngược đường cũng khó tránh.
Nhà cửa thưa thớt, cái xóm này bày ra một khung cảnh nghèo nàn, không thể tìm ra cái Tết nào trong những gian nhà này ngoài các lá cờ treo lủng lẳng trước gió. Ðến ngay cả gió cũng lười, chẳng buồn rung cây.
Vòng vèo qua mấy con đường mòn với những cành cây vươn dài ra giữa đường mới thấy vài căn nhà lụp sụp, mấy đứa trẻ đứng tròn mắt nhìn khách lạ. Chúng cũng nhem nhuốc như ngày thường, chẳng biết gì là Tết. Có lẽ cả đời chúng cũng chưa bao giờ được biết đến cái phong bao “lì xì” đỏ hay xanh.
Nhà anh Một đứng chơ vơ giữa một khu đất hẹp. Nó được dựng lên từ bao giờ, không ai đoán được số tuổi, và được “lắp ghép” bằng đủ mọi thứ: gỗ cũ, gỗ mới, tôn, ni lông, giấy bồi, bao xi măng… Kiếm được cái gì che chỗ nào được thì cứ che. Gần Tết anh mua được vài thước ni-lông xanh, “trang hoàng” lại mấy cái cửa chính, cửa sổ cho ra vẻ mùa xuân. Vợ anh và mấy đứa con vẫn cặm cụi ngoài vườn, lo cho con bò mới đẻ được một con bê hơn là lo cho Tết. Ðó là tất cả gia tài nhà anh sau 30 năm đi vùng kinh tế mới. Anh cho biết:
– Ðất này chẳng trồng được bất cứ thứ gì. Sỏi đá khô cằn suốt bốn mùa, mưa thì lầy lội, nắng thì khô cạn, trồng gì chết nấy. Cho nên chúng tôi cứ thất bại từ mùa này sang mùa khác. Bây giờ chỉ còn biết đi làm mướn, mượn tiền của quỹ xóa đói giảm nghèo, mua được con bò làm vốn từ mấy năm nay. Ðợt trước nó đẻ được con bê thì phải mang bán lấy tiền sửa nhà, chữa bệnh cho con. Ðợt này con bê chắc cũng sắp phải bán lấy tiền ăn, tiền thuốc suốt mùa mưa sắp tới. Mùa nắng còn có người mướn đào giếng làm vườn, chứ đầu mùa mưa, họ chỉ mướn xịt thuốc diệt cỏ rồi thôi. Mà đi xịt thuốc diệt cỏ hại người lắm, xịt xong nhà chủ “bồi dưỡng” cho thêm hộp sữa vài ngàn đồng. Biết rằng có hại nhưng vẫn cứ phải làm. Bao giờ ốm thì lại bỏ tiền nhà ra mà chữa bệnh. Nhà anh không đủ chỗ cho hai người ngồi, chúng tôi ngồi ngay ngoài trái nhà đầu hiên, nắng chiều dọi vào chói chang. Anh thợ sắp chữ lại tiếp tục nói về cái thời xa xưa của mình, lại tiếp tục thăm hỏi về những “ông nhà văn nhà báo” mà anh chỉ biết chứ không hề quen, những ông bà chủ, cô chủ nhà in. Những con đường “tòa báo”, những thay đổi của Sài Gòn mà 30 năm chưa thể quay trở lại một lần.
Nhân dịp đầu xuân, tôi xin chuyển lời thăm hỏi này của anh Một đến các bạn và cho tất cả những “người Sài Gòn cũ của anh Một.” Nếu các bạn có viết thư thăm hỏi cũng khó mà đến được. Tuy vậy vẫn có thể gửi “cầu may” cho ông Lê Văn Một, xã Lộc Hưng, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.
Mùa xuân đầu tiên của tôi ở vùng quê năm nay, đó là điều khiến tôi xúc động hơn cả.
Tiếng Việt mình có biết bao nhiêu là chữ để chỉ mỗi một con gà. Sơ sơ một đống như: gà trống, gà mái, gà già, gà tơ, gà con, gà mới ra ràng…
Còn nói về cái thói trăng hoa, bay bướm, lăng nhăng bỏ mặc vợ, con; hoặc lẳng lơ phớt lờ thằng chồng đang nằm chèo queo trên chõng, đèn đêm đối bóng, đợi em đi ‘ngựa’ xong, em về. Cái thói đó của thằng chồng gọi là ‘mèo mả’; của con vợ gọi là ‘gà đồng’.
Già rồi, hết xí quách, cái thói trăng hoa ‘mèo mả gà đồng’ tui hết khoái. Giờ rụng răng hết ráo, tui khoái nhứt là cháo gà, gà xé phay. Mấy đứa cháu nội của tui, đẻ ở Úc, tụi nó khoái gà KFC (Kentucky fried chicken). KFC, gà công nghiệp nuôi chuồng, thịt bở rẹt, lăn bột chiên ngập trong dầu ô liu; ăn dở ẹc mà khoái cái gì hổng biết?
Nhớ hồi xưa, học cuốn Let’s learn English, lớp đệ thất, đệ lục, thầy tui dạy chỉ một tiếng gà duy nhứt là ‘chicken’. Qua Úc gần 30 năm, tui học thêm cả đống chữ chỉ con gà. Như: Hen, gà mái; Rooster, gà trống; Turkey, gà lôi ăn lễ Tạ Ơn, (Thanksgiving).
Trong số đó, tui khoái nhứt chữ ‘chick!’ (gà tơ). Gà tơ xào với mướp già, Vợ 20 tuổi, chồng đà 60. Ra đường chị giễu, em cười. Rằng hai ông cháu kết đôi vợ chồng. Đêm nằm tưởng cái gối bông. Giật mình gối phải râu chồng nằm bên. Sụt sùi tủi phận hờn duyên. Oán cha trách mẹ tham tiền bán con.
Mấy thằng Úc cũng khoái ‘chick’ lắm đó. Tụi nó bị mấy em thưa tội quấy nhiễu tình dục ( tiếng Úc là sexual harassment) hoài hè. Già không bỏ, nhỏ không tha, cũng ‘dê húc càn’. ‘Dê Húc Càn’, viết tắt là DHC, là bút hiệu của ký giả Dương Hùng Cường. Như Trịnh Công Sơn, mà bà con quốc gia diễn dịch: ‘TCS’ là Thằng Cộng Sản.
Bà con quốc gia mình giận sôi máu sùng sục, muốn bể nồi súp de khi nghe: “Tôi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn rất vui mừng và cảm động gặp và nói chuyện với tất cả các anh em văn nghệ sĩ ở Miền Nam Việt Nam này. Hôm nay là cái ngày mơ ước của tất cả chúng ta, đó là ngày mà chúng ta giải phóng hoàn toàn tất cả đất nước Việt Nam này. Cũng như những điều mơ ước của các bạn bấy lâu là độc lập, tự do và thống nhất thì hôm nay chúng ta đã đạt được tất cả những kết quả đó.
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn chụp ảnh lưu niệm với các học viên khóa 2 Trường Viết văn Nguyễn Du năm 1985 (ảnh tư liệu).
Tôi yêu cầu các văn nghệ sĩ cách mạng Miền Nam Việt Nam hợp tác chặt chẽ với Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam. Những kẻ đã ra đi chúng ta xem như là đã phản bội đất nước. Chúng ta là người Việt Nam. Đất nước này đất nước Việt Nam. Chúng ta ở trên đất nước chúng ta. Chính phủ Cách mạng Lâm thời sẽ đến đây với thái độ hoà giải tốt đẹp. Các bạn không có lý do gì sợ hãi để phải ra đi cả.
Đây là cơ hội đẹp đẽ và duy nhất để đất nước Việt Nam thống nhất và độc lập. Thống nhất và độc lập là những điều chúng ta mơ ước từ mấy chục năm nay.
Tranh Bảo Huân
Tôi xin tất cả các bạn, thân hữu cũng như những người chưa quen với tôi xin ở lại và chúng ta kết hợp chặt chẽ với Ủy ban Cách mạng Lâm thời để góp tiếng nói xây dựng đất Miền Nam Việt Nam này. Gặp tất cả anh em ở trong Ủy ban Cách mạng Lâm thời. Hiện tại chúng tôi đang ở tại đài phát thanh Sài Gòn và tôi mong các bạn chuẩn bị sẵn sàng để đến đây góp tiếng nói, lên tiếng để tất cả mọi người đều yên tâm. Và tôi xin tất cả các anh em sinh viên học sinh của Miền Nam Việt Nam này hãy yên ổn kết hợp lại với nhau, khóm phường đều kết hợp chặt chẽ chuẩn bị để đón chờ Ủy ban Cách mạng Lâm thời đến bla…bla.
Bà con mình lấy làm tiếc: ‘Biết vậy hồi xưa tao bóp mũi nó cho rồi!’
Hồi sau tháng Tư, 1975, tui chăn trâu. Qua Úc, tui cũng không học hành gì. Trường học tiếng Anh của tui là quán bán beer mà Úc nó kêu là ‘pub’ (public house). Trong khi Mỹ nó gọi là bar hoặc ‘snack bar’. Mình đi ‘bar’ nhậu sừng sừng rồi về ‘sờ nách’. Nên con ‘chick’, đúng ra là con gà mái của tui, từng trăng trối với tui là: “Nếu em chết trước, anh hãy thiêu em rồi đem tro cốt rải trước cửa pub vì ngày nào em cũng muốn gặp mặt anh yêu”
Ban đầu, ‘chick’, tiếng tượng thanh, tiếng lóng của mấy thằng Anh, ám chỉ em hơ hớ tuổi xuân, là chim non để mình săn bắt. Tui từng ngu bắt chước thằng Úc gọi con nhỏ làm chung sở là ‘chick’. Nó vả tui một cái thiếu điều sút hàm răng giả. Thằng Úc, bạn tui, cười he he, rất đểu: “Nói sau lưng nó thì được. Kêu ngay trước mặt, là tự thú trước bình minh: chú mầy không phải là một ‘gentleman’. Chú mầy là thằng đứng bến, thằng đá cá lăn dưa ở chợ Cầu Ông Lãnh. Ý nó nói rằng: ‘chick’có hơi hơi bất lịch sự, Nhưng những thằng Úc khác lại cho rằng kêu ghệ (girl) ‘chick’ chẳng nhằm nhò gì. Vui thôi mà!
Quê mình cũng có một câu đối về gà hay lắm: “Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh. Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân”. Câu này khen đàn ông, con trai Cao Lãnh đi đánh lộn là dách lầu, là số một. Còn gái Nha Mân đẹp ‘nghiêng thùng đổ nước’ (Nhất cố khuynh nhân thành. Tái cố khuynh nhân quốc.)
Nhưng có một ông Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay co, tuốt ngoài Trung, ra vẻ trên thông thiên văn dưới tường địa lý, cà khịa tui như vầy: “Gà ở câu trên là gà nòi để đá chứ đâu phải ám chỉ chị em ta ?”
Cái thằng hỗn láo dám gọi mấy em quê mình là ‘chị em ta’. Nổi quạu, bốc hoả phừng phừng lên, mặt đỏ ké, tui cự lại: ‘Ông bà mình viết ra là có nghĩ lung lắm. Thế nên khi đọc mình ráng nghĩ cho nó sâu. Hai câu này nó đối; nó nói về cái phẩm chất của trai Cao Lãnh và gái Nha Mân: ‘Trai tài gái sắc!’ Sao ông lại dám xỏ xiên, dè bỉu? Thiển nghĩ ông không nên dùng chữ ‘chị em ta’ vì tui e rằng làm vậy không được lễ phép lắm!
Chết mầy chưa! Đừng có hỗn với mấy con ‘chick’ quê tao nhá cu!
Hình như Rilke, một nhà thơ người Tiệp, từng nói lời cực đoan: “Tôi van bạn chớ làm thơ, ngoại trừ trường hợp thiếu nó, bạn sẽ chết”. Cũng chính ông người “lạc hậu” kia viết ra câu: “Ở đâu có nguy hiểm, ở đó có cứu rỗi”.
Trước, tôi có làm dăm ba bài thơ. Nay, tôi bị đẩy lên sống ở vùng kinh tế mới. Tôi van bạn đừng dại lên đây, ngoại trừ ở thành phố người ta sắp giết bạn. Kinh tế mới là gì? Đó là cụm chữ tôi không tài nào hiểu được! Một sườn đồi tiếp giáp với Trường Sơn, bên dưới là bình nguyên lắm cây cỏ hoang dại mọc dài theo con suối thỉnh thoảng có bóng người Thượng chẳng biết từ đâu tới gánh nước, gùi con sau lưng xuống tắm hoặc giặt giũ chăn màn. Với phương tiện thô sơ, hơn hai trăm mạng người sẽ “cải tạo” cái gai góc kia, biến nó thành bình địa để bắt đầu xây nhà dựng cửa khai hoang lập ấp. Tôi là một trong sĩ số hai trăm đứa cần cù lao động, đặt dấu chân người đầu tiên ở chốn đèo heo hút gió, cách thành phố cũ 40 cây số đường chim bay. Mệt chết bỏ, thở không ra hơi. Thơ thẩn cũng bỏ tôi, đi mất biệt. Thật là chim kêu vượn hú biết nhà má đâu!
Một người có kinh nghiệm đi rừng truyền đạt “lời hay lẽ phải”: Bạn bị rắn cắn nơi nào, gần nơi đó luôn có thứ lá cây để sơ cứu chận độc. Ông ta kết luận: Trời hay ở chỗ ấy! Sinh cái này phải đẻ thêm thứ kia. Tôi nhìn ông ta, lời ông nào khác gì lời “ấm ớ” của Rilke. Và một ngày, ông trời đã không có mắt, tôi sơ ý bị rắn cắn ở dưới bắp chân, cây cỏ um tùm biết tìm đâu ra thảo dược. Buộc chặt một sợi dây vào đùi, ngăn máu chảy về tim, mặt xanh lè được hai người tốt bụng khiêng ra khỏi hiện trường, báo cáo mấy vị có thẩm quyền xin được chở xuống trạm xá nằm ngoài quốc lộ. Ở đó có hai người y tá, một bác sĩ chuyên chữa những bệnh kiết lỵ sốt rét hoặc gãy tay cụt giò. Tôi được một cô gái đích thân nặn máu độc ra, bôi thuốc khử trùng và cho uống hai viên thuốc, hy vọng không phải là Xuyên Tâm Liên. Cô dìu tôi nằm xuống cái giường tre ọp ẹp: Chừng nào thấy chóng mặt, hoa mắt hoặc nghe tim đau thì nhớ gọi tôi. Cô đắp cho trán tôi một vuông vải ướt, mát; rồi quay lưng đi mài một con dao nhỏ, xoèn xoẹt chẳng biết để làm gì. Tôi van cô chớ giải phẫu chân tôi, ngoại trừ thiếu vết dao cắt, tôi sẽ chết vì rắn.
Tôi không đau tim, may phước chẳng ấm đầu chóng mặt nhưng “bồi dưỡng” thức gì vào cũng nhợn nôn. Nhác ăn nhác chơi. Chỗ rắn cắn tím bầm, sưng tấy. Cô y tá nhìn, xem chừng muốn buồn tay động dao động kéo. Ngày mai mới có bác sĩ chuyên khoa từ bệnh viện đến thăm, không ấy tôi cho anh thử dùng phương thuốc Nam. Lần này thay vì mài dao cô ra sau nhà chổng mông ngồi thổi lửa. Một cái nồi đất bắt lên, lởm chởm những cọng lá sắc đâm tua tủa ngâm thân chờ héo úa. Hẳn là nó rất đắng, tôi đồ vậy. Thuốc đắng đả tật. Tôi thử nhẫm tính xem đã mấy hôm rồi tôi thiếu vắng cà phê. Lòng tương tư vô hạn hình ảnh cái nồi ngồi trên cái cốc. Lý lịch tôi mang thân phận tiểu tư sản, một đứa như thế vẫn thèm khát vu vơ những thứ xa rời hiện thực. Những bài thơ viết chùng vụng cũng chở đầy thứ tâm cảm được voi đòi tiên, đứng núi nầy trông núi nọ để chung cuộc là tiếng thở dài đánh sượt, dài miên man. Nếu vắng nỗi buồn, tôi van bạn chớ làm thơ!
Dẫu sao tôi nên cảm ơn con rắn vằn vện đã cho tôi “biết thế nào là lễ độ” khi vô cớ tới làm động hang ổ nó. Từ nơi hoang vu giờ đây được dưỡng thương bên quốc lộ nghe tiếng xe đò quen thuộc gầm rú lừ đừ đi ngang qua cùng khói xanh vương vấn nơi khung cửa. Nói dị đoan rằng vì tôi tuổi Tỵ nên đồng loại không nở ra tay ác độc. Tao cắn mày để cho mày có cơ hội được chây lười lao động, và nghĩ mà xem cô y tá ấy chẳng phải thuộc loại mát tay. Tha hồ cho mày câu giờ kiếm cớ gạ chuyện với cô. Bệnh nhân đa phần đều ông già bà lão, đa số đều không ngớt rên la. Tiếp xúc với họ thêm oải, đời mất vui. Mấy khi bệnh xá mới có con bệnh lạ kỳ như mày “nhập viện”. Thanh niên trai tráng đã đành, hắn còn biết pha trò nữa cơ. Có duyên tệ! Hay han hỏi, hay động viên tinh thần và thi thoảng hắn biết giả bộ nắm tay, xem chừng tình trong như đã mặt ngoài còn e. Mong bác sĩ chưa vội tới, ngày mai trời vẫn tối, chiếc giường vừa buông mùng ngăn muỗi rừng và không biết ca trực của mình có nên kéo dài vượt khỏi mức quy định. Tờ giấy hồ sơ bệnh lý của hắn ghi tên Tâm, mình cũng đã hé lộ tôi tên Đoan. Trao đổi thêm mới hay hắn từng làm thợ nề, thợ mộc, chạy xe ôm và một thứ nghề không chính đáng: Biết làm thơ. Eo ôi, giời ạ! Chảnh đến thế thì thôi! Tâm bảo: Thế nào cũng có lúc mang tặng Đoan một bài thơ, người đã ra tay tế độ vực tôi kinh qua cánh cổng của thần chết. Háo hức lắm cơ, nghe thế bảo sao không làm ngày chẳng đủ tranh thủ làm đêm. Ngẫm kỹ đi mà xem, tất cả những vần thơ đăng báo đều xưng tụng anh hùng, ca ngợi thủ trưởng, đề cao những bà mẹ liệt sĩ chớ nào có ai để tâm “phải lòng” tới hạng người y tá đâu nhỉ? Mà y tá vô danh ở chốn sơn cùng thuỷ tận!
Hạnh phúc thường mong manh. Không ai bị rắn độc cắn mà phải nằm viện ba ngày cả, ngoại trừ bị chằn ăn trăn quấn. Bác sĩ vừa lộ hình vừa tuyên bố. Ông rảy một ít bột trắng lên vết thương mưng mủ, viết một tờ giấy trao tay tôi, ký nhận rằng nạn nhân được phép nghỉ lao động nặng ít hôm, gói hai viên thuốc vào ô giấy báo vừa xé nhỏ: Chừng nào sốt hẳn uống. Ông xua tay như đuổi ruồi, yên tâm đi nhé, hồi nào có xe vào lấy củi thì quá giang họ cho đỡ nhọc thân. Đoan kiếm đâu ra một thân cây tre gầy guộc: Này, nắm lấy nó mà vượt suối băng ngàn. Tôi cầm tay Đoan: Để tôi vào lại chỗ cũ chọc cho rắn cắn và như thế đôi ta lại gặp nhau. Sưng tấy cả hai chân cũng cố lết ra đường lộ. Đoan la: Đồ quỉ nà, bộ hết cách chơi rồi sao? Giả bộ ngộ độc thực phẩm để ra xin thuốc không được sao?
Hút vừa xong điếu thuốc thì xe củi trờ tới. Đoan không mặn mà săn chắc như kiểu sơn nữ, hơi thô thiển hơi quê mùa nhưng trong tôi thấp thoáng ló ra một đôi câu thơ. Kinh tế mới và lung lay thứ tình cảm đầy gió chướng giữa đồng không mông quạnh. Đời này vốn thiếu hụt lắm thứ, hãy thử kiếm ra một chút vui vầy đặng kinh qua. Tôi được gã tài xế ra dấu cho lên ngồi ghế cạnh ông ta. Người ông có dáng vẻ một cây xương rồng không bao giờ được tưới nước. Gai góc, đen đúa, khô đét, nhiều góc cạnh. Trời sinh ông ra để bầu bạn với đường trường, với nắng nôi, với gió bụi, với chiếc xe mãi gầm rú ho hen. Chú em đã từng thấy qua cây quế chưa? Đi quàng xiên trong ấy thế nào cũng có khi bắt gặp trầm. Hai thứ đó chú em nhớ để dành, thu ém riêng một chỗ khuất, có bao nhiêu tôi thầu bấy nhiêu và rồi đời chú em sẽ đổi khác. Một đứa vô sản không có quyền ăn nói, nhưng khi chú em chất đầy túi…hề hề rời khỏi núi để đi mua tiên mấy hồi! Tôi thưa thật là vừa bị rắn cắn, không biết mặt ngang mặt dọc hình thù chiếc lá trị nọc rắn để đắp vào dấu răng. Một tay ngang dưới phố lên, lạc vào rừng bạt ngàn cổ thụ làm sao biết ngậm ngãi tìm trầm! Bác tài nhấn chân ga vượt qua con dốc đầy sỏi đá: Khỏi lo, tôi có sẵn cuốn bí kíp võ công đây. Ông moi túi áo ra tờ giấy gấp làm bốn có vẽ hình thù và những đặc điểm để nhận diện. Thứ bí kíp ấy như được xé rời từ một cuốn sách dạy cách tồn vong khi bạn lạc vào rừng sâu, thứ này ngon chứa nhiều chất kháng sinh, thứ kia độc ăn vào sẽ mắt trợn môi trề. Tôi đón nhận, cất trong ví đựng giấy tờ tuỳ thân và gửi tới ông nụ cười thật tươi để thế một thoả thuận ngầm. Tôi van bạn nên mạo hiểm, ngoại trừ trường hợp bạn muốn chết không chiếu bó thây.
Cạp nong hay hổ mang gì đó quả có vị tình, vết cắn thôi sưng kiểu dị hình dị tướng, da thịt chỉ còn lưu lại một khoanh màu vàng bọc lấy hai vết đỏ cầu chứng. Điều này có nghĩa là tôi chuẩn bị đeo đồ nghề đi phạt cỏ đốn cây. Chưa gì đã có bọn người lập ra đội xây dựng kiến trúc đòi vẽ hoạ đồ. Họ đào móng đóng cọc khu A khu B khu C các thứ. Khu D nằm sát bờ suối tạm thời dùng làm nhà bếp tập thể. Vì ham nghe lời xúi giục của bác tài nên tôi chăm lao động giấn liều đi xa mà quên bài giả bộ ngộ độc để chính đáng ra bệnh xá mân mê tay Đoan nói trăng nói cuội. Trăng bên bờ suối đẹp kiểu hư ảo, giá mà có Đoan đứng tắm thì tôi sẽ làm được bài thơ vẽ cảnh đào nguyên. Thiên thai có hai ông cọp ngồi nhai thịt người lai rai. Chừa lỗ tai để ngày mai khoan thai nhử con nai. Này gái chiếc này trai đơn hãy mau khai. Chớ lạc sai. Nhớ dòm chừng ông cai.
Sau hơn tháng vật lộn bắt sỏi đá phải thành cơm, khu kinh tế mới bắt đầu khởi sắc. Mái tranh vách đất, nhà gỗ nhà sàn tuỳ tiện chen vai, đồi sắn nương khoai cứ thế mà đào bới tự túc tự cường. Chỉ thị ở trên ban xuống: Bắt trời làm mưa, biểu đất làm lúa. Xin bà con hãy vô tư. Tôi van bạn đừng hiểu, ngoại trừ bạn muốn tắt thở vì sự nhạy cảm. Cứ trơ như đá và hồn nhiên như hòn cuội nằm dưới suối mặc cho nước chảy đá mòn. Những từ ngữ mà lãnh đạo thốt ra đều chung một bài bản sáo mòn, thấp kém hơn chữ dùng của thường dân và trong cuốn từ điển dồi dào mang đầy tính sáng tạo ấy tôi yêu hai chữ: Trúng mánh. Cuộc hành quân đầu tiên đã mang tới thắng lợi vẻ vang thần thánh. Tôi “giao lưu” với bác tài xế xe củi, môi hở răng lạnh và bác ấy thanh thoả hợp đồng theo phong cách đậm đà của tình đồng chí. Ở đâu có đói khát, ở đó có lòng tham. Ở đâu có rừng vàng ở đó có lâm tặc.
Không thể kiếm cớ chạy về thành phố mua tiên, tôi tìm cơ hội để đổ thân ra quốc lộ tìm gặp Đoan. Tôi trao tay món quà thủ công “tự biên tự diễn”, chiếc kẹp tóc làm bằng loại gỗ thơm, và cũng chính tay tôi đính nó vào đầu tóc chẳng mượt mà của người y tá chây lười việc điểm trang. Đoan cảm động khi nghe tôi bảo, thay vì ngồi nhớ Đoan để dệt vần điệu thơ ca tôi ra công trong tuần lễ để hoàn tất tác phẩm này. Hèn gì lâu nay ra tựa cửa chẳng trông thấy một người bị ngộ độc thực phẩm quờ quạng bước vào. Người Đoan run lên khi tôi ôm cô vào lòng, mắt Đoan nhắm lại để hé môi chờ đợi một nụ hôn. Ngộ độc thực phẩm là chuyện nhỏ, sao sánh được ngộ độc vì nhớ thương. Phía sau bệnh xá, chỗ khuất lấp có trồng hai bụi môn. Trong bệnh xá có người nằm rên vì chứng đau bao tử vì vậy y tá bỏ mặc mọi thứ, nắm tay tôi dại khờ tìm nơi vắng vẻ. Nếu Đoan là Nguyệt Nga thì tôi hơn Vân Tiên vạn lần. Cỏ ngứa, muỗi cắn hoặc ruồi bu kiến đậu, hoặc những âm mưu thâm độc khác đều không gây trở ngại cho hai kẻ đang thích chơi trò lấn đất dành dân, ưa mở rộng địa đạo hối chú du kích vào phục sẵn chờ phút khai hoả. Những nước theo xã hội chủ nghĩa thường có đông dân số, giản dị vì họ không có thứ gì để giải trí cả. Niềm vui duy nhất là nam nữ cứ bu như sam, nhưng nói cho ngay vì Đoan là y tá nên cô có sẵn cả tủ thuốc ngừa thai. Đoan không dại nằm thắp sáng cái sướng trong phút giây để rồi ngồi nguyền rủa nỗi đau theo tháng ngày. Em nói thật đấy, cơ quan mà biết được thì họ khai trừ em, họ bêu rếu em, họ bắt em làm bảng kiểm điểm, đày đoạ em, mắng nhiếc em nào là có chuyên mà không có hồng, nhân thân xấu, chẳng xứng đáng làm con người mới để thích nghi với chế độ ưu việt. Tôi nhìn giọt nước mắt ứa ra trên khuôn mặt mờ tối của Đoan. Sao Đoan khóc? Vì em đang hạnh phúc, chưa bao giờ em hưởng được thứ bồi dưỡng lạ lùng như phút giây qua. Em ghi cho anh một cái lịch nhé, những giờ giấc thuận tiện để chúng ta cùng ăn nằm bên nhau. Tâm có thương em không? Còn phải hỏi, Đoan là con rắn đáng yêu nhất mà anh gặp phải, anh tự nguyện giao mạng cho Đoan cắn, như vừa cắn vết dịu dàng. Thôi đi ông tướng, vừa làm rắn bò đi lung tung còn đổ thừa cho người ta.
Trước khi chia tay, tôi vụng trộm ngó Đoan ngồi bên lu nước múc từng gáo tự sơ cứu làm hạ nhiệt. Tôi trao cho Đoan một xấp tiền. Cái gì đây? Bồi thường thiệt hại, hồi nãy lỡ làm hỏng cái quần lót của Đoan. Có thích em làm vệ sinh cho anh không? Không, anh vào tắm suối. Đoan hôn tôi đắm đuối, hụt hơi. Và tôi chẳng ngờ được, đó là trang cuối cùng của chuyện tình vắn số của chúng tôi. Vĩnh viễn tôi không còn nhìn thấy Đoan. Cũng như chiếc xe chở củi chở gỗ về thành phố người ta đã thay ông tài xế khác.
Tôi bị bắt vì tội phá hại tài sản của nhà nước. Cán bộ đã vào lán tôi ở, moi được bọc tiền làm tang chứng vật chứng chuyện móc ngoặc với thành phần bất hảo, bán và tiêu thụ trầm, quế. Họ cũng tìm đọc những bài thơ tôi giấu dưới chiếu, quy chụp rằng lời lẽ quá sức phản động, dựng chuyện lầm than đói khổ để nói xấu chế độ. “Đau khổ chi bằng mất tự do, đến buồn đi ỉa cũng không cho”. Đấy, mày nàm thơ kiểu đấy thì phải chóng nhập kho thôi con ạ! Thưa các cán bộ, tài sức tôi đâu đủ để viết được lời bi thảm đó. Thơ ấy là của Hồ chủ tịch đấy ạ! Một đứa hùng hổ đến sát bên tôi. Láo lếu! Tay hắn nắm dùi cui, nháng một cái tôi chẳng còn trông thấy gì cả. Đất trời đều sập tối. Tôi van bạn đừng làm thơ vẽ cảnh hiện thực, và tránh xa việc trích dẫn những “lời hay ý đẹp” của lãnh tụ. Bạn sẽ chết chắc ngoại trừ bạn là đàn em của Phù Đổng Thiên Vương thanh thản cỡi ngựa sắt về trời vui thú điền viên.
Tôi gặp và quen anh trong một trường hợp khá bất ngờ, có thể nói là hơi kỳ cục. Vợ chồng tôi đến thăm và ở lại nhà cô con gái út hai tuần. Cháu vừa mua được căn condo trong một khu nhà mới xây ở thành phố Anaheim, cách Khu Disneyland chỉ một con đường. Đêm nào, bọn tôi cũng ra balcon ngắm pháo hoa được liên tục bắn lên từ khu giải trí nổi danh này. Căn nhà nhỏ khá xinh và ở trong một khu an toàn, cô con gái út rất thích. Nhưng chỉ sau vài hôm, cứ đến một hai giờ khuya thì cả nhà phải thức giấc, bởi tiếng lục đục ở căn nhà tầng trên. Âm thanh của một vật cứng nào đó gõ xuống nền nhà. Không đều đặn, năm ba phút một lần, dù nhẹ nhưng cũng đủ làm buốt trong đầu.
Sáng hôm sau, cô con gái nhờ tôi lên nói chuyện với chủ nhà, yêu cầu chấm dứt các tiếng gõ khó chịu vào giữa khuya ấy, để chúng tôi không bị mất ngủ, đặc biệt cô con gái phải đi làm khá sớm.
Sau hai lần bấm chuông, một người đàn ông mở hé cửa, gật đầu chào. Rất may, lại là một đồng hương. Chưa nói chuyện với chủ nhà, nhưng tôi đã thoáng hiểu được nguyên nhân gây ra tiếng động. Ông ta chống hai cây nạng gỗ. Mọi bực tức trong tôi bỗng dưng biến mất, những lời “cảnh cáo” tôi dự định sẽ nghiêm mặt nói với ông cũng tan biến theo. Tôi lễ phép chào ông, bảo là tôi ở tầng dưới, muốn đến thăm và làm quen với người đồng hương láng giềng. Ông nở nụ cười, làm rạng rỡ phần nào khuôn mặt khắc khổ, đã có nhiều vết nhăn, một phần được che phủ bới mái tóc dài bạc trắng. Ông mở rộng cửa mời tôi vào nhà. Tôi hơi khó chịu với mùi khói thuốc lá và cả mùi rượu.
_ Anh ở đây một mình? Câu đầu tiên tôi hỏi.
– Vâng, thỉnh thoảng có cô con gái đến thăm. Cháu ở trên Riverside, cách đây khoảng gần một giờ lái xe.
Căn nhà nhỏ một phòng ngủ, phòng khách chưng bày đơn giản. Điều làm tôi chú ý là hai tấm ảnh treo trên vách, phía sau bàn ăn. Một tấm là chân dung của một người lính, tấm kia là ảnh gia đình. Thấy tôi chăm chú nhìn, anh cười, bảo là ảnh của anh và vợ con anh lúc xưa. Anh chống nạng đứng lên, như có ý mời tôi đến xem.
Tôi tròn mắt ngạc nhiên, tấm ảnh chân dung là một sĩ quan trẻ, mang cấp bậc thiếu tá, trông khá đẹp trai, phảng phất nét hào hùng. Trên ngực mang khá nhiều huy chương. Tấm ảnh kia anh chụp với người vợ xinh đẹp và hai đứa con kháu khỉnh. Lòng tôi bỗng chùng xuống, như vừa chạm vào một vết thương cũ. Tôi bất giác quay người lại, đứng nghiêm đưa tay chào:
– Xin chào niên trưởng!
Anh tròn mắt bất ngờ, rồi đưa tay ra bắt tay tôi. Sau này, tôi được biết tấm ảnh chân dung này anh chụp sau khi được thăng cấp thiếu tá tại măt trận Quảng Trị tháng 10 năm 1971, khi anh đang là tiểu đoàn phó, thay vị tiểu đoàn trưởng bị trọng thương, chỉ huy đơn vị phá vòng vây địch, tạo một chiến thắng lẫy lừng.
Chúng tôi trở nên đôi bạn thân thiết kể từ hôm ấy. Hình như giữa chúng tôi có điều gì đó cùng “tần số” với nhau. Trước đây anh sống rất âm thầm, khép kín, không muốn gặp gỡ tiếp xúc một ai, kể cả những người quen biết cũ. Sau này, cứ mỗi lần đến nhà cô con gái tôi đều ghé thăm anh, mang theo cho anh một ít nem chua Ninh Hòa mà anh rất thích. Anh say sưa kể cho tôi nghe một thời hào hùng trong binh nghiệp. Anh nức nở khi nhắc tới những vị đàn anh, những đồng đội hào hùng đã phải hy sinh oan khiên tức tưởi, đặc biệt trong trận chiến Hạ Lào- Lam Sơn 719. Người được anh nhắc đến nhiều nhất, ngưỡng phục và thương tiếc nhất là Cố Đại Tá Lê Huấn, một vị tiểu đoàn trưởng trẻ tuổi nổi danh, tốt nghiệp Khóa 18 VBĐL mà có một thời anh được phục vụ dưới quyền.
Anh bảo tôi vào phòng ngủ để anh cho xem một kỷ vật. Anh bật đèn lên tôi ngạc nhiên khi thấy một bộ quân phục. Nhìn kỹ, tôi nhận ra đây là một bộ quân phục tác chiến đã cũ, có những vết sờn rách, được giặt ủi cẩn thận và treo trong một cái tủ kính nhỏ. Loại tủ để chưng bày. Anh mở cửa tủ và cẩn thận lấy bộ quân phục, ôm vào người một cách trang trọng. Đôi mắt mơ màng như đang tìm về một quá khứ xa xăm nào đó. Anh thốt ra môt giọng trầm buồn. Dường như là để nói với chính anh hơn là với tôi, người đang đứng ngay trước mặt anh:
– Đây là bộ đồ trận của anh ấy, anh Lê Huấn.
Sau chiến thắng lẫy lừng tại Căn Cứ O’Relly, khi tiểu đoàn anh dưới tài chỉ huy tài ba của Trung Tá Lê Huấn đã đánh tan một lực lượng địch cấp trung đoàn của Sư Đoàn 304 BV, tháng 8/1970 tiểu đoàn lại đánh một trận khốc liệt với một đại đơn vị khác cũng của Sư Đoàn 304 BV này tại Hải Lăng, Quảng Trị. Khi ấy anh đang là đại đội trưởng thâm niên nhất của tiểu đoàn. Cả hơn một trung đoàn địch, sau nhiều đợt tiền pháo kinh hoàng đã đồng loạt xung phong nhằm tràn ngập vị trí đóng quân của tiểu đoàn 4/1. Trung Tá Lê Huấn rời khỏi hầm chỉ huy, đích thân điều động đơn vị quyết chiến trước một cuộc thư hùng sinh tử. Từng đợt địch quân bị đốn ngã ngay trước giao thông hào, nhưng bọn chúng như là những con thiêu thân lao vào lửa, lớp này ngã lớp khác lại xông tới. Nhờ sự chiến đấu kiên cường của đơn vị anh, và đặc biệt dưới sự chỉ huy tài tình và gan dạ của vị tiểu đoàn trưởng lừng danh, đã ngăn chặn, tiêu hao và cầm chân địch trước khi được những phi vụ không yểm, đánh trên đầu địch. Những trận không kích gây thiệt hại nặng nề cho địch nhưng cũng làm bị thương một số binh sĩ của đơn vị, vì khoảng cách giữa ta và địch quá gần. Anh là một trong những người bị trọng thương hôm ấy. Trời tối và mưa lớn, lưới phòng không dày đặc, không tản thương được, Anh Lê Huấn ra lệnh ban quân y mang anh vào nằm trong hầm chiến đấu của anh Huấn để được tương đối an toàn và băng bó chữa trị cấp thời. Thấy máu và bụi bặm thắm đầy bộ chiến y ướt đẫm nước mưa của anh, vị tiểu đoàn trưởng bảo người lính cận vệ lấy bộ áo quần trong ba-lô của mình mang đến thay cho anh. Khi tản thương về Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương, nhiều bác sĩ cứ tưởng anh là Trung Tá Lê Huấn, bởi bảng tên và cả cái lon trung tá còn nguyên trên ngực và cổ áo.
Vết thương chưa lành, nằm trong Quân Y Viện mà lòng anh rất nôn nao khi biết tin đơn vị tham dự cuộc hành quân Lam Sơn 719. Một kế hoạch qui mô với sự tham chiến của hầu hết các đơn vị chiến đấu thuộc Vùng I: Sư Đoàn 1BB, các đơn vị Thiết Giáp, Biệt Động Quân, cùng với các Lữ Đoàn Nhảy Dù và TQLC. Anh khao khát được có mặt cùng đơn vị trong trận chiến đặc biệt này, nhưng vết thương ở chân phải là trở ngại chính để bắt anh phải nằm lại ở đây.
Anh theo dõi từng ngày từ khi cuộc hành quân bắt đầu. Các tin tức không vui từ chiến trường, những tổn thất nặng nề của quân ta sau khi các căn cứ 31, 30 lần lượt thất thủ. Đại Tá Thọ, Lữ Đoàn Trưởng Nhảy Dù cùng nhiều cấp chỉ huy của ta bị lọt vào tay giặc. Một số phải tự sát để giữ tròn khí tiết. Từ các kế hoạch hành quân tồi tệ mà địch quân gần như biết trước để chuẩn bị trận địa đến việc thiếu thống nhất ở các cấp chỉ huy đã góp phần cho sự thảm bại. Điều đau đớn nhất đã làm tim anh thắt lại khi nghe tin Tiểu Đoàn 4/1 của anh nhận lãnh trách nhiệm nặng nề, làm lực lượng chặn hậu để cho Trung Đoàn rút lui khỏi căn cứ Lolo trong tình trạng bị bao vây nguy khốn. Anh bật khóc khi nghe tin Trung Tá Lê Huấn, vị tiểu đoàn trưởng trẻ tuổi tài năng đã lẫm liệt hy sinh, và cả tiểu đoàn chỉ còn 32 binh sĩ sống sót trở về! Anh nghĩ từ nay sẽ vĩnh viễn không còn gặp lại người chỉ huy mà anh ngưỡng phục và hằng mong được tiếp tục phục vụ dưới quyền. Anh nhớ tới bộ quân phục mà Trung Tá Lê Huấn đã đưa cho anh thay khi anh bị trọng thương cách đây vài tháng, anh còn chưa kịp trả lại, và bây giờ thì không còn có cơ hội để trả lại cho khổ chủ. Anh quyết định giữ lấy bộ quân phục này như một kỷ vật thiêng liêng trong cuộc đời mình. Và sau đó dù phải trải qua bao nhiêu thăng trầm, khốn khổ, nhất là sau ngày nước mất nhà tan, anh vẫn luôn trân trọng bộ quân phục mà anh nghĩ có mang hồn thiêng của anh Lê Huấn và của cả những đồng đội đã hy sinh.
Sau khi xuất viện, anh được bổ sung đến một trung đoàn khác giữ chức vụ tiểu đoàn phó. Tháng 10/ 1971 anh thăng cấp Thiếu tá tại mặt trận. Cuối năm anh lên nắm tiểu đoàn thay thế vị tiểu đoàn trưởng bị thương, sau đó được theo học khóa quân chánh. Một thời gian sau, vết thương cũ ở chân phải tái phát. Sau khi chữa trị anh đi khập khiễng. Hội Đồng Giám Định Y Khoa xếp anh vào loại 2, không chiến đấu được. Được đề nghị bổ sung về Phòng 3 Quân Đoàn, nhưng anh xin đi làm chi khu phó cho anh tiểu đoàn trưởng cũ, bây giờ là quận trưởng của một quận miền núi. Quận lỵ là một tiền đồn chiến lược, nằm tại một vị trí trọng yếu khống chế cả con đường tiếp liệu của Cộng quân, nên bọn chúng tìm mọi cách để san bằng. Gần cuối năm 1974, Cộng quân mở nhiều đợt tấn công biển người nhằm chiếm quận lỵ, vị quận trưởng bị thương nặng. anh đã phối hợp với các đơn vị bạn tăng cường, trực tiếp chỉ huy điều động cuộc phản công rất oanh liệt giữ vững được phòng tuyến qua nhiều cuộc tấn công qui mô của địch. Nhưng tổn thất của ta khá nặng và đạn dược dần dà cạn kiệt, trong lúc Cộng quân luôn được tăng cường, cuối cùng anh phải mở đường máu, rút lui trước khi căn cứ bị địch quân tràn ngập. Anh bị thương nặng ở chân, điều kỳ lạ là ngay tại vết thương cũ. Nhờ kinh nghiệm chiến trường và hai người lính nghĩa quân rất trung thành và khôn ngoan giúp đỡ, thay phiên cõng anh thoát khỏi vòng vây truy lùng của địch. Anh được đề nghị thăng cấp đặc cách lên trung tá, nhưng sau đó bị cưa mất chân phải. Nỗi đau đớn vì phải mất đi một phần thân thể chưa nguôi, thì cái đau đớn tột cùng cũng vừa ập đến: Tháng 3/75, cả Vùng I bỗng chốc lọt vào tay Cộng sản, Sư Đoàn 1BB, đơn vị nổi danh mà anh luôn hãnh diện phục vụ trong gần cả một đời binh nghiệp cũng tan tành, rồi cả miền Nam mất vào tay giặc. Những đồng đội từng chiến đấu, một thời sống chết cùng anh bỗng dưng tan tác như chỉ sau một cơn ác mộng.
Mất một cái chân, nhưng anh vẫn bị tù đày nghiệt ngã trên bảy năm trong nhiều trại tù của bọn Cộng sản man rợ. Ra khỏi tù anh lại mất cả gia đình. Người vợ xinh đẹp ngày nào đã gởi đứa con gái lớn, năm tuổi, cho bà nội già, bồng theo đứa con trai ba tuổi, lẳng lặng sang sông về một nơi nào đó. Gia tài một đời binh nghiệp của anh giờ chỉ còn mỗi một bộ đồ trận, chiến y của người chỉ huy mà anh từng kính yêu đã hy sinh. Trước khi vào tù, anh căn dặn mẹ anh phải giữ kỹ bộ quân phục này cho anh với bất cứ giá nào, bởi đó là một kỷ vật quý giá nhất còn lại của đời anh. Theo đề nghị của mẹ, anh đồng ý cho bà tháo ra và đốt đi cái bảng tên và cấp bậc may trên áo.
Có lẽ từ lâu lắm mới có người chăm chú ngồi nghe, nên anh say sưa kể cuộc đời mình. Đôi lúc sụt sùi, nước mắt tưởng đã khô cằn, bỗng ràn rụa trên khuôn mặt khắc khổ già nua, và từng giọt rơi xuống bộ quân phục anh đang ôm ấp trong lòng mình.
– Sau này anh có dịp nào gặp lại chị nhà và đứa con trai? Tôi hỏi.
– Bà đã có chồng khác từ lâu rồi, đang sống ở Âu Châu. Tôi buồn nhưng không trách. Ngại đụng chạm tới hạnh phúc riêng của bà, và cả vết đau trong lòng mình nên không muốn liên lạc. Còn đứa con trai có sang thăm tôi hai lần, nhưng cháu vẫn nhìn tôi xa lạ lắm. Cũng phải thôi, vì khi tôi vào tù thì cháu chỉ mới lên ba, trong ký ức của cháu có lưu lại một chút hình ảnh gì của tôi đâu. Riêng con gái tôi có sang thăm mẹ và em cháu vài lần.
Nói dứt câu, anh cúi xuống như muốn giấu riêng nỗi xúc động.
– Anh có thường cảm thấy cô đơn và tiếc nuối những ngày xưa?
– Cũng có chứ, nhưng lâu rồi thành quen và gần như không còn muốn nhớ tới nhiều chuyện cũ.
Tôi đưa tay nắm chặt bàn tay anh thay cho một lời an ủi khó nói thành lời. Bỗng anh ngước lên, mở to đôi mắt:
-Điều buồn của tôi bây giờ là thấy một số trong đám anh em mình mất đi khá nhiều sĩ khí, có thằng còn khốn kiếp đã vì chút lợi lộc nhỏ nhen mà chạy hùa theo giặc, nịnh bợ thô bỉ, quên mình từng hãnh diện là sĩ quan của những binh chủng hào hùng. Nhìn bọn chúng múa may khóc lóc làm trò trước mặt bọn cộng sản mà tôi muốn buồn nôn!
Tôi cười:
-A nh bận tâm tới những kẻ ấy làm gì. Trong tập thể nào lại không có những con sâu, tồi tệ, bán rẻ linh hồn. Cũng có thể là những thằng khùng. Nhưng đó cũng chỉ là vài trường hợp cá biệt. Cũng như nước Mỹ vừa có tên phản quốc Edward Snowden, đang trốn ở Nga-Sô. Theo tôi, đại đa số anh em mình vẫn còn giữ được tấm lòng, tình huynh đệ và trách nhiệm với quê hương đất nước chứ!
Bỗng đôi mắt anh sáng lên:
– Điều vui và an ủi tôi nhiều nhất là các tổ chức gây quỹ giúp anh em thương phế binh sống khốn khổ ở quê nhà. Đặc biệt là các buổi Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh thành công tốt đẹp. Thấy anh em nhà binh mình cùng bà con tham gia hưởng ứng nhiệt tình, tôi mừng và cảm động lắm. Ở bên nhà các cha thuộc Dòng Chúa Cứu Thế Sài gòn cũng đã can đảm, hết lòng an ủi và làm sống dậy niềm tự hào của những anh em thương binh bất hạnh, tôi cảm phục vô cùng. Có bao nhiêu tiền dành dụm tôi đều nhờ cô con gái gởi về phụ với các cha.
Tôi cười, biểu lộ sự đồng tình. Định nói thêm đôi điều để khoe về những đóng góp phần mình, bỗng nghe anh hỏi:
-Bạn ở Âu Châu, sang Mỹ một thời gian, chắc đã thấy trong đám anh em mình bây giờ cũng nhiều người bon chen danh lợi. Mà tội nghiệp thay toàn chỉ là danh hão! Nhiều ông tướng ông tá có danh thời trước, sang đây lại đầu quân làm tướng phường tuồng cho mấy cái chính phủ tự xưng tự diễn như đám hát chèo. Có ông giành hội này, bám tổ chức kia. Thấy mà phát ngượng! Trong đó có cả những ông ngày xưa từng là cấp chỉ huy của mình. Ngán ngẫm thật. Giấy rách mà cũng chẳng còn cái lề nào để mà giữ nữa!
Tôi cười. Chưa kịp nói một lời an ủi, bỗng thấy anh sa sầm nét mặt:
– Điều buồn nhất là thiên hạ lạm dụng bộ quân phục một cách đến lố bịch. Đám cưới, sinh nhật, tiệc tùng nhảy nhót mà cũng có người mặc quân phục. Có lần tôi thấy một ông mặc quân phục, mang cả lon lá và đầy huy chương lên truyền hình để quảng cáo thuốc cho một ông thầy thuốc Nam tự nhận mình là bác sĩ! Tôi xấu hổ và giận đến tím cả mặt. Tối hôm ấy, tôi ôm bộ quân phục này của anh Lê Huấn mà thấy lòng xót xa vô hạn.
Nhớ lại một câu chuyện liên quan tới bộ quân phục đã xảy ra tại đất nước Na-Uy, nơi gia đình tôi đang định cư, tôi kể cho anh nghe:
– Tháng 11 năm 2004, bà Kristin Krohn Devold, Bộ Trưởng Quốc Phòng Na-Uy, đến viếng thăm binh sĩ thuộc các đơn vị quân đội Na-Uy tham chiến tại Afghanistan trong lực lượng NATO. Bà được ca ngợi là một nữ bộ trưởng can đảm đã đến thăm binh sĩ khi chiến trường đang ác liệt nhất. Nhưng sau khi tin tức và hình ảnh về chuyến viếng thăm này được chiếu trên đài truyền hình quốc gia Na- Uy (NRK), bà bị nhiều sĩ quan và binh sĩ Na-Uy phàn nàn, phản đối khi thấy bà mặc quân phục từ một chiếc trực thăng bước xuống thăm một đơn vị tác chiến Na- Uy, và cả khi được Thủ Tướng Afghanistan, Hamid Kazai tiếp đón tại thủ phủ Kabul. Báo chí cũng góp phần tranh luận và tỏ ra bất bình về sự kiện này. Hầu hết cho rằng bà chưa hề ở trong quân đội, nên không được phép sử dụng quân phục, dù trong bất cứ chức vụ hay hoàn cảnh nào. Những quân nhân cho rằng bộ quân phục còn có tính thiêng liêng, bởi nhiều chiến binh đã hy sinh trong bộ quân phục này. Mặc dù bà và một số cơ quan chính phủ lên tiếng biện minh, viện lý do vì sự an toàn cho bà trong một hoàn cảnh đặc biệt, nhưng vẫn không được chấp nhận. Cuối cùng bà phải bắt buộc lên tiếng chính thức xin lỗi quân đội và cả dân chúng Na-Uy về điều này.
Nghe tôi kể xong, anh đưa bộ quân phục đang cầm trong tay lên như để khẳng định một điều gì.
– Đúng như thế, bộ quân phục đối với tôi luôn là một kỷ niệm thiêng liêng. Có biết bao đồng đội của tôi hy sinh đã được liệm với bộ quân phục thấm đẫm máu đào của họ. Xin đừng lạm dụng và làm đau lòng họ.
Sau lần gặp gỡ đầu tiên này, tôi còn đến thăm anh một vài lần nữa, và bảo cô con gái: “bác ấy là người tốt, một sĩ quan đáng kính, con nên thường thăm nom và giúp đỡ bác những điều cần thiết”. Hôm đến chào từ giã anh để trở về lại Na Uy, tôi mang biếu anh hai chai rượu đỏ loại tốt. Tôi khuyên anh, khi nào buồn thì uống vài cốc cho nguôi ngoai, không nên uống nhiều rượu mạnh và hút thuốc lá, có hại cho sức khỏe. Anh nở nụ cười, nhưng bỗng trở nên buồn bã:
– Anh đi rồi, tôi lại cô đơn, chẳng còn ai tâm sự.
Hôm đó, tôi ở lại với anh tới hơn một giờ khuya. Chống gậy tiễn tôi ra cửa, anh bắt tay từ giã nhưng giữ khá lâu, không muốn tôi đi. Tôi cười, bảo nhỏ:
-Anh cố dỗ giấc ngủ, đừng thức dậy nửa đêm, uống rượu chống nạn đi quanh nhà. Bọn tôi ở tầng dưới cũng mất ngủ với anh luôn.
Anh gật đầu, cười thông cảm.
Sáu tháng sau, khi trở lại Mỹ, tôi liền đến thăm anh. Bấm chuông mấy lần không ai mở. Tôi không còn nghe tiếng động của đôi nạng gỗ gõ xuống nền nhà như mọi khi. Buổi chiều, cô con gái đi làm về, cho tôi biết là anh ấy bị ung thư gan ở thời kỳ cuối. Con gái của anh đã đưa anh vào bệnh viện Fountain Valley từ tuần trước. Tôi lái xe xuống ngay bệnh viện. Anh nằm bất động. Khi tay tôi chạm vào anh, anh mở hé mắt nhìn tôi và miệng cố nở nụ cười, méo mó. Thấy anh cười mà tôi muốn khóc. Trông anh tiều tụy và hốc hác quá. Nhưng anh rất bình tĩnh, như ngày xưa khi đối diện trước quân thù. Anh muốn ngồi dậy, nhưng không còn đủ sức. Tôi ngồi bên cạnh, đưa tay xoa trên ngực anh, bảo anh cứ nằm nghỉ.
– Bác sĩ bảo tôi không còn nhiều thời gian nữa, ngày mai phải xuất viện về nhà để gia đình lo hậu sự – Anh nói bằng một giọng thì thào, yếu ớt.
Khi nhắc đến hai chữ gia đình, anh lại cười, chua chát:
– Lại gia đình…!
Hiều ý anh, tôi nói đùa cho anh vui:
– Phải nói là đại gia đình, vì ngoài cô con gái ra, anh còn có chúng tôi nữa. Cứ yên tâm mà đi. Nhớ dọn sẵn một bãi đáp cho ngon lành, chờ tôi đáp xuống sau anh nghe.
Chiều hôm sau anh được xe bệnh viên đưa về nhà. Cô con gái túc trực bên anh. Tôi cũng luôn có mặt. Anh ngỏ ý muốn uống với tôi một ly rượu đỏ. Cô con gái ngần ngừ, nhưng thấy tôi ra dấu gật đầu, cô rót hai ly rượu, một ly mời tôi và một ly cô cầm đưa vào miệng cha cô. Cuối cùng chúng tôi cũng cạn ly. Không ngờ đó là ly rượu từ biệt. Tôi bỗng nhớ tới lời của một bài ca cũ : “bạn ơi, quan hà xin cạn chén ly bôi, ngày mai tôi đã… đã đi xa rồi…”
Khuya hôm đó anh trút hơi thở cuối cùng. Cô con gái cho biết anh ra đi rất yên ả. Không trăng trối một lời gì. Chỉ để lại một mảnh giấy nhỏ với vài chữ ngoằn nghèo: “Nhớ liệm ba bằng bộ quân phục trong tủ kính, nghe con”.
Đám tang thật đơn giản theo ý muốn của anh. Mấy lần anh dặn dò cô con gái không được đăng cáo phó hay báo tin cho ai biết. Tại nhà quàn, ngoài cô con gái của anh và cậu bạn trai người Mỹ, chỉ có vợ chồng tôi cùng cô con gái út. Một nhà sư già tụng một thời kinh trước khi đậy nắp quan tài. Tôi đứng nghiêm đưa tay lên chào anh. Anh nằm uy nghiêm trong bộ quân phục, khuôn mặt ánh lên nét hào hùng. Tôi có cảm giác như anh vừa chết tại chiến trường. Không có bất cứ một nghi lễ nào, nhưng tai tôi như đang văng vẳng tiếng kèn truy điệu và khúc nhạc Chiêu Hồn Tử Sĩ.
Đứng nghiêm chào anh một lần nữa, khi quan tài đưa vào lò thiêu. Mọi thứ đều trở về với cát bụi. Lòng tôi bỗng rộn lên một niềm vui bất chợt, khi nghĩ anh sắp được gặp lại anh Lê Huấn và những đồng đội cũ, những chiến sĩ đích thực đã rất xứng đáng với bộ quân phục oai phong của QLVNCH. Họ đã tạo cho bộ chiến y một điều gì đó rất thiêng liêng.
Việc một dược sĩ trong cộng đồng Việt Nam chúng ta bị còng tay ra tòa lãnh 65 tháng tù vì gian lận y tế không còn là một tin “kinh thiên động địa” làm bàng hoàng những người Việt ở Quận Cam nữa. Những chuyện tương tự đã xẩy ra vào khoảng năm 1983 ở ngay đất Bolsa khi hàng loạt bác sĩ, dược sĩ bị truy tố tội mua bán thẻ y tế của bệnh nhân và mới đây thôi, năm 2005, chủ nhân một cơ sở cung cấp dụng cụ y khoa, sữa Ensure cho người già đã bị bắt vì gian lận quỹ y tế hàng triệu đô la. Chúng ta không ngạc nhiên là vì hằng ngày, những vị cao niên ở đây đã là nạn nhân và biết rõ cái thẻ medicare, medical bị lạm dụng, thao túng mà nhiều người vẫn quan niệm “một sự nhịn chín sự lành”, hay cho rằng thâm lạm là thâm lạm tiền của Mỹ không có “ăn nhậu” gì tới cá nhân mình. Bây giờ, những vụ gian lận này lần lượt được đưa ra ánh sáng thì cũng là một chuyện đương nhiên mà thôi. Phải nói rằng sẽ còn những tay khoa bảng đã thề thốt trước ông tổ Hippocrates, những con buôn cung cấp dịch vụ y tế nữa sẽ ra tòa trong những ngày tới. Căn cứ vào tội trạng mà công tố đã kết án những tội đồ này thì có những tội đồ khác cũng mang những tội tương tự nhưng chưa được phát giác hay đã phát giác mà chưa có trát tòa án và xe cảnh sát tới nhà. Vụ một công ty cung cấp sữa, xe lăn vừa bị câu lưu không phải là một công ty duy nhất có tội, vì còn nhiều công ty khác đã có những hành động phạm pháp tương tự, chắc chắn sẽ có ngày đền tội, mặc dầu cơ sở họ đã đóng cửa, chủ nhân đã ẩn trốn nhưng làm sao hủy bỏ được tất cả bằng chứng và nhân chứng hiện đang hiện diện ở quận Cam này. Vụ một bác sĩ tính tiền sửa sắc đẹp bằng cách “charge” vào thẻ bảo hiểm y tế bằng những bệnh không có thật, không là một vụ duy nhất và cuối cùng bị phát giác.
Sở dĩ người viết bài này dám nhắc tới những vụ việc mà không sợ sai lầm vì chính mình cũng là nạn nhân của những vụ medicare fraud:
– Nhiều bạn già trong đó có tôi được một trung tâm “medical supply” chở đi khám bệnh tại một trung tâm y tế ở thành phố Los Angeles, sảu đó về nhà nhận được thông báo của cơ quan medicare cho biết là họ đã tính hơn $6,000 về những thử nghiệm không bao giờ có kết quả vì những thử nghiệm này không bao giờ có thật.
– Sau khi được dẫn đi “bán” cho những vụ thử nghiệm “ma”, trung tâm này đã cung cấp cho mỗi người khoảng 80 hộp sữa dinh dưỡng (ensure), nhưng trong phiếu tính tiền với cơ quan medicare đã tính tới 420 hộp cộng với 30 dụng cụ để bơm sữa vào miệng dành cho những người già không còn ăn uống được. (tính gấp 5 lần trị giá và thêm một số dụng cụ ma).
– Cơ quan Medicare năm ngoái đã thông báo cho người viết bài này rằng vào một ngày đẹp trời nọ, một ông bác sĩ Bolsa đã gởi một bill tính tiền đến cơ quan này với một số tiền lên đến $3,000 về một dịch vụ mà bệnh nhân cũng là nạn nhân vào ngày giờ đó không bao giờ bước chân tới phòng mạch của vị bác sĩ này. (Ông bác sĩ đã tìm một công việc đắt tiền nhất trong các dịch vụ để tính tiền.) Cảm giác đầu tiên của tôi là bàng hoàng, tức giận (lên máu), sau đó đâm ra phiền muộn (trầm uất)- vụ này mà đi kiện chắc cũng có chút tiền-, vì không ngờ người ta lại có thể vô lương tâm đến độ không cần liêm sỉ vì đồng tiền như vậy. Nhiều người khuyên tôi nên chất vấn thẳng những cơ quan đã tính tiền hoặc vị bác sĩ này nhưng tôi cảm thấy vô ích, vì không đủ can đảm đối diện với những vị này, vả lại đến phòng mạch, nói năng không khéo lại bị gọi cảnh sát còng tay về tội lăng nhục hay hăm dọa. Tôi hỏi ý kiến một vài người bạn cũng thuộc loại cao niên về việc này, họ khuyên tôi:
– Tiền này là tiền của Mỹ, đâu có thiệt thòi gì cho mình.
– Dính vào những chuyện này nhức đầu lắm.
Tôi xét nghĩ sang đây ăn nhờ ở đậu, mang ơn đùm bọc của Mỹ lại “đồng lõa” để cho các vị khoa bảng này đục khoét quỹ y tế xã hội, và theo lời kêu gọi của lương tâm, tôi đã gởi toàn bộ hồ sơ gian lận này cho “Office of Inspection General” P.O. Box 23489 Washington DC.20026 và cơ quan này cho một số thứ tự và hứa sẽ chuyển sang cơ quan CMS (Centers for Medicare and Medicaid Services). Họ cũng cho biết thường thường hồ sơ sẽ được cứu xét nhanh lắm là trong vòng 6 tháng.
Nhưng sáu tháng đã trôi qua, buộc lòng tôi phải chuyển hồ sơ này đến cơ quan “Medi Care Fraud” của cơ quan điều tra liên bang (FBI) có văn phòng tại thành phố Santa Ana để nhờ điều tra và sau đó đã có một cuộc gặp gỡ, phỏng vấn, vì chúng không thể dùng hồ sơ gồm tên tuổi và số an ninh xã hội của tôi, một người đang thụ hưởng chương trình medicare để đòi chính phủ phải trả những số tiền gian lận vô lý như thế.
Chúng ta cũng biết những tay gian lận y tế này không phải là những người thất học, nghèo khó mà trái lại là những tay khoa bảng, có nhà bạc triệu, có xe hơi đắt tiền, có tài sản của chìm của nổi. Họ sang đây được ăn học, sống nhờ những người Việt đồng hương, nhưng lòng tham đã làm họ mờ mắt. Việc phanh phui và đưa ra tòa những tên tội phạm như thế quá chậm vì bọn ăn cắp quá đông mà nhân viên chính phủ dùng cho việc điều tra quá ít. Trước những vụ việc như trên:
– Chúng ta mong gì lớp trí thức khoa bảng về những chiêu bài “phục vụ đồng hương”, “phục vụ cộng đồng” qua những lời chúc tụng hoa mỹ, tốt đẹp ngày tốt nghiệp hay khai trương cơ sở trên báo chí?
– Đất nước chúng ta hy vọng gì ở hải ngoại với những “chất xám” như vậy để đem dân chủ tự do cho đồng bào.
– Lớp con cháu chúng ta mong mỏi gì nơi thế hệ cha ông chỉ biết đồng tiền mà không hề có chút lương tâm chức nghiệp và chút liêm sỉ của con người tử tế.
– Nước Mỹ hy vọng gì về những đóng góp của lớp di dân để xây dựng đất nước này và chúng ta mong gì được các sắc dân khác ở trên nước Mỹ nhìn chúng ta bằng đôi mắt thiện cảm?
Tôi với Bậu mấy mươi năm quen biết chỉ nói với nhau những chuyện nhỏ, vui về những nơi mà không còn mấy ai nhắc tới: Gò Dầu Hạ , Vên Vên… Nhưng nay phải viết lá thư mang vẻ “nghiêm trọng” nầy vì có liên quan đến một vấn đề chung: Nghị quyết 23 của Trung ương đảng cộng sản đề cập đến thành phần Người Việt ở nước ngoài trong đó có bậu, có tôi và rất đông Người Việt Nam Tỵ Nạn Cộng Sản sau 30/4/1975; và cũng có liên quan đến số đông người Việt không (muốn) ở lại trong nước, đã ra hải ngoại bởi nhiều lý do – Những người mang căn cước nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa VN. Nhưng thư nầy chỉ nói rõ về thành phần thứ nhất: Thế hệ Người Việt không chấp nhận chế độ cộng sản hiện hành ở trong nước và con cháu của họ (thế hệ Người Việt Thứ 2, thứ 3)
I.
Nghị quyết Trung Ương Đảng CS/Đảng CSVN là gì? Phải xác định ngay “Nghị Quyết TƯĐCSVN” không là: 11/Một quyết định có tính cưỡng chế do một ban, nhóm đại biểu thuộc một bộ phận lập pháp ban hành trong nội bộ (Không cần phê chuẩn đồng thuận của nhóm đối lập); 12/Một biện pháp bắt buộc thuộc một tổ chức hành chánh, tài chánh, xã hội ban hành để điều hành hoạt động chung cho có hiệu quả tốt, năng suất cao; 13/Một phản ứng sinh hóa sau khi đã phối hợp các yếu tố, điều kiện cần và đủ.
Hoàn toàn không phải như trên, bởi “Nghị Quyết TƯĐCSVN” không là: 14/Một Hiến Ước/Hiến Chế/Hiến Chương/Công Ước/Sắc Luật do một cơ quan Pháp Lý cao nhất (của tổ chức quốc tế, quốc gia) ban hành, áp dụng – Act; 15/Không là một Điều Luật/Law; Dự Luật/Bill mà tổ chức quốc hội cả nước Âu Mỹ áp dụng, thực hiện; 16/Không là Sắc, Dụ của triều đình phong kiến hằng có trong lịch sử thế giới.
II.
Vậy Nghị quyết Trung Ương Đảng CS/Đảng CSVNi/Hà Nội là gì? Đấy là một tập hợp những điều khoản mang tính chất: Vô Đạo Lý-Phi Nhân Tính-Cưỡng ép Lịch Sử-Bất chấp Pháp Lý lẫn Luận Lý. Bài viết chứng minh:
21/ Hội nghị Trung ương lần thứ 15 diễn ra từ 12 đến 22/01/1959 tại Hà Nội dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhằm đánh giá tình hình miền Nam từ 1954-1958 và xác định nhiệm vụ chiến lược cho cách mạng miền Nam. Hội nghị đề ra: Nghị Quyết 15 khẳng định con đường cách mạng bạo lực để giải phóng miền Nam … để đạt được mục tiêu thống nhất đất nước.
Nghị quyết không chỉ là chữ và khẩu hiệu suông mà được thực hiện với mỗi lóng xương, bãi máu, nghĩa trang Người Lính Miền Bắc trãi dặm dài theo chặng đường Trường Sơn xẻ dọc để vào Nam cứu nước!
22/Để đạt được mục tiêu của Nghị Quyết 15, Hà Nội tăng cường một nghị quyết mới: Ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris được ký kết.. Theotriệu tập của Bộ Chính Trị đứng đầu là Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn, một đoàn lãnh đạo cấp cao của Trung ương Cục Miền Nam đã có chuyến ra Bắc bí mật vào dịp tháng 4/1973 để bàn kế hoạch hệ trọng cho một Việt Nam thống nhất. Cơ quan tham mưu của Ðảng nghiên cứu, soạn thảo và ban hành văn kiện Nghị Quyết 21 Tháng 10/1973. Nghị quyết nhất trí: “Con đường cách mạng của Miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công, thực hiện thắng lợi vĩ đại cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước…
III.
Qua hai nghị quyết kể trên, chúng ta hẵn thấy ra chiến tranh VN đã khởi động với a lần thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (20/12/1960), là hậu quả, hệ quả của Nghị Quyết 15 (Tháng 1/1959); và lần mở đầu cuộc tổng tấn công vào Ban Mê Thuộc ngày 10/3/1975 theo kế hoạch 275 để dẫn tới Ngày 30 Tháng 4/1975 tại Sàigòn chỉ là kết quảtất nhiên của con đường bạo lực cách mạng chống Mỹ cứu nước của NQ 21. Cho dù 152 quân nhân Mỹ cuối cùng đã rời VN trong ngày 27 Tháng 3/1973 – Bản thân người viết và viên Thiếu tá Bùi Tín đứng đếm từng lính Mỹ lên máy bay – Không 30 Tháng 4 thì cũng (sẽ) có tháng 5 hay tháng 6; không 1975 thì 1976 vậy. Hai Nghị Quyết 15 và 21 kể trên có kéo dài theo vài tháng, một hai năm vẫn phải thực hiện cho đúng tinh thần và nội dung nghị quyết trung ương đảng đã đề ra. Mấy ai nơi Miền Nam, ở Dinh Độc Lập, Tòa Đại Sứ Mỹ tại Sàigòn có một lần để mắt tới những hàng chữ trong hai nghị quyết 15 và 21.
Nay, qua hơn nửa thế kỷ, Nghị quyết số 23-NQ/TW ban hành Ngày 2/8/2026 mục tiêu chiến lược của Đảng CSVN cũng không có gì khác – Khácchăng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thay mặt Bộ Chính trị ấn ký ban hành nghị quyết cốt để chỉ đạo công tác người Việt Nam ở nước ngoài thay thế con đường bạo lực cách mạng chống Mỹ cứu nước của hai Nghị Quyết 15 và 21 thượng dẫn, và sau hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, 26/3/2004. Phải, mục tiêu của nghị quyết trung ương đảng CSVN trước sau chỉ là vậy, cũng bởi nghị quyết trung ương đảng CHỈ để (áp dụng) cho đảng viên cộng sản VN mà thành phần gọi là “Người Việt Nam ở nước ngoài” chỉ là ĐỐI TƯỢNG CÔNG TÁC. Coi chừng, NQ 23 nầy thật sự nhắm tới du học sinh, lực lượng xuất khẩu lao động, kết hôn với ngoại kiều, đi du lịch (không chịu về nước). Thành phần gọi là “bọn phản động tay sai Mỹ Ngụy, phản bội tổ quốc, trốn ra khỏi nướcsau 30/4/1975”, tiếp biến thành “Khúc ruột ngàn dặm/Bộ phận không thể tách rời của Đại Gia Đình Dân Tộc Việt Nam” không ăn nhằm gì với nghị quyết trung ương đảng nầy. Cứ thử về VN như “Việt kiều yêu nước” Trần Trường thì biết ngay.
Kết từ:
Bậu thân,
Tự nhiên tôi với bậu dính vô câu chuyện trời ơi mà thật lòng hoàn toàn không muốn! Nhưng do bậu đã trãi lòng cầu mong cái nghị quyết mà TBT Lâm ấn ký trở thành khúc quành của một dòng sông định mệnh tốt lành cho Người Việt Hải Ngoại quay về. Không những viết bài văn mà bậu còn làm những lời thơ thắm thiết… Tôi muốn viết…Tôi viết vì tin rằng dân tộc sẽ có ngày vinh quang… Tôi sẽ về như một đứa con của Mẹ… Bởi vì tôi đang nghe tiếng gọi. Tiếng gọi của Mẹ quê hương. Đến đây, tôi cần nhắc lại lá thư Email gởi bậu Ngày 11 Tháng 8:”.. Bậu với tôi bằng tuổi, dân Miền Nam dưới Vĩ Tuyến 17, cùng viết báo, làm văn… bậu “bảnh” hơn tôi nhiều điều… Nhưng chắc chắn bậu KHÔNG THẤM ĐAU BỞI ĐÒN CS nên (tôi) có kết luận: TÔI KHÔNG NGHE RA ĐIỀU GÌ CẢ TỪ MỘT NHÂN SỰ TÊN GỌI LÀ TÔ LÂM. KHÔNG BAO GIỜ.
Vâng, tôi đã viết như thế và thư nầy tôi muốn nhắc lại thêm một lần: Nhân sự gọi là TBT/T.Lâm và Bộ Chính Trị của ĐCSVN nơi Hà Nội là người và tổ chức đã biến danh, biến tính Sài Gòn thành một thành phố biển với Vũng Tàu; Thành Phố Cao Nguyên Ban Mê Thuột/Tỉnh Daklack thành tỉnh miền biển Phú Yên; ủi sạch ngoại ô văn hóa lịch sử ngàn năm của Thăng Long/Hà Nội để xây “đô thị văn minh”… Nhân sự BCT/ĐCSVN điễn hình với Cựu thủ tướng Phạm Minh Chính, Bộ trưởng công an Tô Lâm trong lần viếng thăm Mỹ (5/2022) đã có lời chân thật: “Mẹ…Đếch sợ!!” Vâng, họ đã nói rõ như thế tại hành lang Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ! Thế nên, khi đọc bài viết, lời thơ cầu mong tha thiết trở về quê hương của bậu họ cũng sẽ nói: ”… Mẹ… Ông đếch cần chúng về hay không về!”. Tôi không khôi hài, tiếu lâm hóa một vấn đề chính trị tâm lý nghiệm trọng (Về/Không về), cũng không thông tục hóa lời nói, thái độ chính trị của thành phần lãnh đạo cấp cao (nhất) của ĐCSVN, nhưng do tôi đã là chứng nhân, nạn nhân, ngoại (thứ) dân của chế độ CS từ 1950, 1960, 1970… 1972, 1975 và tại hôm nay – Tôi thấm đau của đòn cộng sản hơn bậu – Thật là như vậy nên không thể nói khác.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.