This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Má về với ba khi còn rất trẻ. Ba, hai mươi tuổi. Má, mười tám tuổi. Má dứt sữa anh Nhiên không lâu thì có mang tôi. Tôi cách anh Nhiên hai tuổi. Người khác thường gọi anh mình bằng thứ : chẳng hạn anh hai, anh ba. Riêng tôi, tôi gọi anh mình bằng tên: anh Nhiên. Anh Nhiên là con đầu lòng, sức khỏe kém, quặt quòa quặt quẹo, nay đau, mai yếu, nay ấm đầu, mai sổ mũi. Bịnh hoạn rề rề làm anh nhỏ con, ốm nhom ốm nhách, nên đi chơi hoặc đi học thường hay bị những thằng, không biết thế nào là phải trái, xúm lại hiếp đáp. Một tối anh dẫn tôi đi xem truyền hình công cộng trong xóm, có thằng lớn con hơn giành chỗ, lấn tôi té xuống đất. Anh Nhiên tôi binh em, nhào vô ăn thua đủ. Tội nghiệp! anh Nhiên tôi nhỏ con, ốm yếu bị nó bự con, khỏe mạnh, đè gần chết. Tôi nóng mũi, binh anh mình, hốt một bụm cát vụt vô mặt nó. Thằng mắc dịch đó hét lên vì không thấy đường, lo lấy hai tay dụi mắt. Tôi thừa cơ nhảy vô đấm, đá tưng bừng, rồi hai anh em chạy tuốt về nhà. Bữa sau ba nó đến mắng vốn. Ba nó nói : hai anh em tôi ỷ đông đánh con ổng. Ba tôi chỉ giả lả cho qua chuyện. Sau đó ba tôi hỏi đầu đuôi gốc ngọn. Anh chỉ nói: “Con hổng muốn quánh nhau với nó. Mà hổng quánh hông được.”
Lớn lên, hai anh em cùng học chung trường Petrus Ký. Anh học trước tôi hai lớp. Không biết bao nhiêu lần anh bị buộc phải đánh nhau với mấy thằng bạn học hay ăn hiếp anh, tôi đều nhào vô ăn thua đủ, đến nỗi phải bị gọi lên văn phòng gặp thầy tổng giám thị. Thầy hỏi: “Sao hai anh em tụi bây quánh nó?” Tôi trả lời: “Tại nó ăn hiếp anh con”. Còn anh Nhiên tôi thì lại nói: “Con hổng muốn quánh nhau với nó. Con muốn yên thôi mà nó hổng cho yên. Hổng quánh hông được.”
Một chiều, tan học, từ trong lớp tôi tà tà ra nhà giữ xe đạp bên hông trường để anh Nhiên chở tôi về. Trận đánh lộn mới vừa tan. Cái thằng học cùng lớp với anh, cái thằng vừa mới đánh anh, đã chạy mất tiêu. Mấy thằng khác chỉ đứng nhìn, không nói, không can ngăn gì hết mà còn hò reo inh ỏi trong khi anh Nhiên tôi bị đánh chảy máu mũi và bị bầm tím một bên mắt. Tôi tức mình quá, vừa giận vừa thương anh, nên cự nự: “Sao anh không đợi tui ra rồi hãy quánh”
Anh trả lời: “Tao đâu muốn quánh nhau với nó. Tao chỉ muốn yên thôi mà nó hổng cho yên. Hổng quánh hông được.” Tôi xé một tờ giấy tập, vò cho nhầu, mềm, chậm máu mũi cho anh. Tôi giận mình sao lại tà tà ra trể. Tôi giận mấy thằng kia chỉ khoanh tay đứng nhìn, không làm gì hết, mà còn khoái chí đứng xem một đứa hung hăng, mạnh bạo bức hiếp một người yếu đuối, thế cô. Tôi giận luôn cả anh nên suốt đường về, tôi không thèm nói với anh lấy một câu. Về nhà má tôi nấu nước sôi, pha muối, thấm vảo hai miếng bông gòn, miếng thì lau máu mũi cho anh, miếng thì chậm lên con mắt bị bầm. Anh nằm trên chiếc đi-văng, nhìn lên trần nhà bằng một con mắt, có vẽ suy nghĩ lung lắm, rồi lẩm bẩm: “Mình hổng muốn quánh nhau với nó. Mà hổng quánh hông được.” Tôi thì đi tới, đi lui, hậm hực nói: “Lần sau anh đợi tui ra tới rồi hãy quánh. Anh với tui cho nó một trận để cho nó bỏ cái tật cà khịa.”
Năm sáu tám, khi anh đang học đệ nhứt, thì Tổng công kích Tết Mậu Thân bùng nổ. Hình ảnh con nít, bà già chết còng queo trong lửa đạn, nhà cửa tan hoang cháy làm anh xúc động. Anh trầm ngâm, ít nói hẳn đi. Tối ngày chỉ nghe anh lẩm bẩm: “Mình hổng muốn quánh nhau với nó. Mình chỉ muốn yên thôi mà nó hổng cho yên. Hổng quánh hông được.” Anh suy nghĩ gì lung lắm – phải làm một cái gì đó -. Một cái gì đó anh phảỉ làm là : bỏ học giữa chừng năm đệ nhứt, không thi tú tài hai và đăng lính. Năm năm sau, năm bảy ba, anh Nhiên tôi tử trận ở Quảng Trị. Xác anh được mang về Huế, bỏ vô hòm kẽm, cò chì, đưa lên máy bay chở về Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Ba má tôi nhận tin báo tử. Chỉ một đêm chờ sáng, lên nhận xác anh Nhiên mà tôi thấy ba, má tôi già háp, gầy sọm hẳn đi.
Anh Nhiên tôi chết trẻ, hai mươi ba tuổi, chưa lập gia đình, chưa vợ, chưa con. Vì không có vợ, con nên không có ai để chít cho anh một vành khăn tang trắng. Ngược lại, theo phong tục mà ông ngoại tôi biểu: trên đầu chiếc quan tài của anh Nhiên tôi có một vành khăn tang trắng dành cho anh để tang ba má. Trước giờ di quan, ông ngoại tôi cầm chiếc roi bằng nhánh cây dâu giá giá lên chiếc quan tài của anh giả bộ làm như đánh, để trị anh tội bất hiếu : chết trước khi ba má qua đời. Ba tôi đứng kế bên, đột nhiên dằn lấy chiếc roi dâu trong tay ông ngoại, bẻ làm hai quăng xuống đất, rồi nói: “ Thằng Nhiên, nó chết trận, nó đền nợ nước. Nó có tội gì đâu? mà ba lại đánh nó.”
Nghe ba tôi nói vậy, tôi không thể nào cầm được nước mắt. Tôi òa lên khóc.
Đôi vợ chồng bước vào phòng trưng bày tranh, đập vào mắt họ là bức thiếu nữ khoả thân mà trên người chỉ sót duy một chiếc lá che đậy hững hờ ở khu vực “rừng lá thấp”. Người vợ tỏ vẻ không thích, liền bỏ đi, quay lui vẫn thấy ông chồng đứng trân trối trước tấm tranh. Vợ hỏi: Anh còn chờ gì nữa? Chồng đáp: Anh chờ mùa thu.
Việt Nam hình như chỉ có hai mùa mưa nắng? Bậy nào, cũng đủ bốn mùa xôm tụ như ai kia. Và dung nhan mùa thu, hiện ra rõ nét nhất ở hai địa phận: Huế, Hà Nội. Thu Hà Nội năm nay có chiếc lá vàng hoành tráng mang tên Phan Huyền Thư. Nếu cảnh sắc mùa thu Hà Nội không gây được ấn tượng cho khách nhàn du thưởng lãm thì kẻ rách việc đi dã ngoại đã có ngay mục tiêu điền thế: Mùa Phan Huyền Thư. Mùa xao xác bao trận cuồng phong chợt dấy, mùa lá bàng rụng. Mùa trong áng văn nổi tiếng của Tự Lực Văn Đoàn: “Gió lên, lạy trời gió nổi lên…” Bạn hỏi: Rứa thì o Phan Huyền Thư có phải là vị lãnh đạo tuổi trẻ tài cao con ông cháu cha chỉ mới 30 tuổi đã vừa nắm giữ một bộ phận không nhỏ trong guồng máy cửa quyền? Mình xin “đạo” giọng nói ngọt ngào du dương của người thủ đô ngàn năm văn vật để thưa: Đéo phải, cái Thư nầy là thi sĩ ông ạ, kỹ sư tâm hồn chứ không đùa, nhớ. Trông mặt cũng xinh đáo để, nom ngây thơ vô số tội ra phết. Cô ấy vừa đoạt giải thưởng của Hội Nhà Văn Hà Nội nhờ vào tập thơ “Sẹo Độc Lập” đấy bố ạ! Không đùa đâu, chớ có tơ lơ mơ nhé.
Làm thơ hay mà nguyên cả hội đều công nhận để trao giải thưởng là lẽ thường, tại làm răng lại sinh chuyện làm náo động thiên cung? Bố ạ, bất bình thường nằm ở vấn nạn có anh nhà báo phát hiện cô đạo thơ, khuân hình hài bài “Buổi sáng” của bà Phan Ngọc Thường Đoan về tô son điểm phấn lại rồi gọi tên “Bạch lộ”. Thật là biết “ngạo với nhân gian một nụ cười”!
Bạn phán: Ở một nơi mà “chúng ăn không từ một thứ gì” thì “xơi” chỉ một bài thơ e chẳng nên xem đó là việc hệ trọng. Huống hồ xưa nay ta vẫn xem thơ văn là thứ rẻ như bèo, làm ra cốt để ngó thôi thứ bỏ mồm nào được đâu? Thấm béo gì, lãng phí cả sức lao động. Ai cũng ngôn như bác thì chả còn mọc ra bọn người sính thơ văn giỡn hoa ghẹo trăng, trăng Trung quốc tròn hơn trăng nước Mỹ, đồng hồ Liên-xô tốt hơn đồng hồ Thuỵ Sĩ. Khổ thế! Nhà cháu nói cho bác biết nhé, có người ngứa mồm bảo rằng: Sau nạn lâm tặc thì đến nạn đinh tặc, tới khuyển tặc, tới mông tặc và bi chừ thì chúng ta gặp thơ tặc.
Kẻ bị uýnh ngậm bồ hòn làm ngọt hay đương sự có đưa ra lời trần tình nào không? Nghe chúng bình loạn rằng bản tính của nạn nhân vốn cương cường, kẻ có bản lĩnh. Cô ấy bảo: Nhà cháu chỉ có mỗi tội, ấy là viết sau họ thôi. Phục cho cái Thư, cô ấy hồn nhiên tới bến. Nên thông cảm cho nhà thơ bạn à, đi sau bao giờ cũng bị thiệt thòi. Tôi đưa một ví dụ, tỉ như phở, hương vị nó, nguyên vật liệu tạo ra nó đa phần đều giống nhau, sao chẳng nghe hàng quán này hô hoán thằng phở bò kia “đạo” món phở của tớ? Thương hiệu phở nhà cháu ngon không kém phở mắng, phở chửi, phở quát, chỉ mỗi tội vì kinh doanh sau họ nên hơi bị ế, nhỉ?
Bạn trầm ngâm một đỗi rồi bất ngờ đưa ra câu hỏi: Việt Nam có hơn 24.000 tiến sĩ, vậy thì có mấy mươi ngàn đã đạo luận văn? Xời, sao ác với nhau thế, tớ đâu đoạt giải nobel toán học mà đưa ra thứ bổ đề hóc hiểm ấy? Tôi chẳng rành lãnh vực văn nghệ văn gừng nhưng cứ đưa ra nhận xét, ấy là nhan đề “Sẹo Độc Lập” của Phan Huyền Thư e có chứa vấn đề? Bố công tác ở cơ quan tuyên giáo à? Là an ninh văn hoá? Sao đâm méo mó nghề nghiệp thế. Độc lập tự do hạnh phúc thì cũng phải đánh đổi bao máu xương mới có được. Mỗi khi vết thương đã thành sẹo thì nên ăn mừng thành quả chứ? Ca cẩm nỗi gì? Nghe nó làm sao ấy, như danh xưng của một anh xã hội đen hoặc giả đó là hồ sơ chuyên án hình sự của công an hơn là nhãn dùng cho một thi tập. Đồng ý với bác, nhà cháu nghĩ đó cũng là cách tránh đụng hàng, dễ gây ấn tượng hòng khêu gợi trí tò mò của kẻ lơ là thơ văn nước nhà. Mở hàng phở mà lấy tên Thuỳ Mị hoặc phở Nết Na thì có chó mới vào kéo ghế, chúng sang sắp hàng bên phở quát phở mắng là phải đạo thôi.
Bạn hỏi: Chuyện bên tách trà xanh của chúng ta nãy giờ vẽ ra được hoạt cảnh gì? Theo trí tưởng của nhà cháu thì hội nhà văn Hà Nội vừa mở ra một phòng trưng bày tranh mà Phan Huyền Thư là bức thiếu nữ khoả thân giữ cho cơ thể mình vỏn vẹn một chiếc lá. Bá tánh vào ra, trông cho gió thổi lộng để lá rơi, để mãn nhãn. Khi ấy, không cứ là bọn đàn ông phàm phu tục tử thích ngắm, mà còn có khối bà sẽ chen chân để nghía xem mặt ngang mặt dọc nó lớn bé thế nào. Nó trân tráo bày hàng hay nó e lệ ngượng đỏ?
Tuần trà chấm dứt, đôi bạn sửa soạn chia tay thì tin giờ cuối ập về: Sau buổi họp khẩn tại Hà Nội mùa thu lá bay, những chức sắc quyền hành đã thống nhất đi tới giải pháp thu hồi giải thưởng Hội Nhà Văn Hà Nội đã trao cho tác giả Phan Huyền Thư. Lý do: Đạo thơ quá lộ liễu. Hai bài đặt cạnh ngó y như hai giọt nước.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, phó chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam nghe tin, lấy làm bức xúc: Thu hồi giải thưởng của Phan Huyền Thư là không hợp lý! Ông viện dẫn, vì cho đến giờ, tác phẩm của hai nhà thơ nữ kia (đều là hội viên hội nhà văn VN) chẳng rõ là ai đạo ai, chúng ta chưa nắm rõ vấn đề. Cuối cùng, mặt lộ vẻ buồn, ông phó chủ tịch bảo: Câu chuyện này là câu chuyện thật rất buồn và xấu hổ!
Hết thầm thà thậm thụt, phải diễn cảnh tạ từ, nhà cháu tức cảnh sinh tình, đưa tiễn bác ra cổng bằng câu thơ:
“Đến nay tôi hiểu thì tôi đã làm lỡ tình duyên cũ mất rồi”.
Bác trợn mắt: Mi nói hộ tấm lòng Phan Huyền Thư đó hở? Răng mi lại nhẫn tâm đi đạo thơ của TTKH rứa?
Bác tha cho nhà cháu nhờ, ngay cả tiêu đề “Chiếc lá cuối cùng” bên trên e cháu cũng lỡ thuổng từ một bài hát, hay một tuồng vọng cổ năm xưa. Vạch lưng làm gì cho gió luồn gai lạnh hở bác! Thu xao xác lá vàng buồn vương cây ngô đồng ngoài ấy. Bọn xấu mồm thời đại nào cũng nhiều, bác nhẩy? Ai xúi mà chúng đặt điều: Người Việt không biết nói chữ xin lỗi và tuyệt chẳng biết xấu hổ. May thay, ta có nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa gióng tiếng cải chính. Mong bác tâm thân an lạc. Ra về coi chừng xe đụng, nhớ?
Ðã từ lâu tôi vẫn đinh ninh “ai cũng có thể thay thế được, dù cho là thiên tài”. Nhưng nay thì tôi nghĩ khác: “Vừa có một người mất đi mà không ai thay thế được”. Ðó không phải ý kiến của riêng tôi mà là của hầu hết những người còn ở lại Sài Gòn tôi vừa gặp, kể cả người có tuổi, người trẻ tuổi, người thích đá banh hay không. Tôi nói thế hẳn bạn đã biết là nói về ai rồi. Không là Huyền Vũ thì không thể là ai khác trong phạm vi này.
Đến nay, nhiều bạn đã biết tin Huyền Vũ từ trần lúc 01 giờ 56 ngày 24-8-2005 tại Hampton, Virginia, Hoa Kỳ. Và chắc chắn đã có khá nhiều bài viết về ông. Nhưng người ở Sài Gòn thì chưa chắc đã có ai viết. Tuy nhiên, không vì thế mà tôi viết về ông. Tôi viết vì có một bổn phận thôi thúc phải viết, một tiếng nói của người hiện đang sống ở Sài Gòn tưởng nhớ và thương tiếc ông. Tôi không là đại diện cho ai cả, tôi viết với tính cách của một “fan” hâm mộ cùng với một số bạn bè tôi, với nỗi tiếc thương vô hạn.
Bóng Cây Đại Thụ Bao Trùm Lên Tất Cả
Huyền Vũ mất ở tuổi 90, ông hơn tôi gần hai chục tuổi. Tôi chưa bao giờ được là bạn ông, chỉ quen biết và là một người hâm mộ đúng nghĩa. Trước năm 1975, cái thời mà chúng tôi thường gặp nhau ở sân banh Cộng Hòa, ngồi trên hàng ghế ký giả, ông làm việc tường thuật gần chỗ chúng tôi. Nếu có gặp nhau chỉ vẫy tay chào là đủ. Tuy ông cũng tường thuật trực tiếp qua làn sóng điện phát thanh của Ðài Quân Ðội, nhưng thật ra Đài Quân Ðội chỉ “ké” Đài Sài Gòn. Ông là phát thanh viên chính thức của Đài Sài Gòn, còn gọi là Ðài Phát Thanh Quốc Gia, mỗi khi có trực tiếp đá banh, chúng tôi chỉ điện thoại sang yêu cầu Ðài Quốc Gia cho Ðài Quân Ðội “nhập sóng” là xong, tức là lúc đó “mình với ta tuy hai mà một”, nghe đài nào cũng như nhau, cũng là Huyền Vũ tường thuật. Còn có ai khác nữa đâu.
Hồi đó Đài Quân Đội chúng tôi đã có dự định “tuyển” một tay nói năng lưu loát, tường thuật cho ra vẻ ta đây có “giá” như Đài Sài Gòn. Nhưng qua thử nghiệm đều không tìm được ai làm xướng ngôn trực tiếp khả dĩ gần bằng chứ chưa nói đến bằng Huyền Vũ. Vì thế, chúng tôi đành “thua”.
Thêm một điều nữa cần nói là trong thời chiến, Đài Quân Ðội và Ðài Sài Gòn thường do người của quân đội chỉ huy, nhưng vẫn “cạnh tranh” rất thẳng thắn. Ðài nào cũng muốn có tin trước và tin hay. Ðó là lương tâm nghề nghiệp. Ngay cả khi bạn tôi là Nhất Tuấn hay ông Vũ Ðức Vinh làm “sếp” Đài Sài Gòn và tôi phục vụ ở Ðài Quân Ðội, chúng tôi cũng cạnh tranh gay gắt. Các phóng viên và biên tập viên hai đài này cũng vậy. Họ tuy là bạn của nhau, thậm chí là bạn thân, nhưng khi vào việc thì mỗi người theo một cách lấy tin, mỗi người đều có cách tường trình “đặc biệt.” Nếu không thế, đài nọ dựa vào đài kia, làm sao có chương trình hay phục vụ thính giả.
Nhưng khi Huyền Vũ tường thuật đá banh thì chúng tôi phải xin “cho nhập sóng” để quân nhân ở các đồn xa được nghe Huyền Vũ chứ không phải người khác.
Huyền Vũ đã trở thành một thứ không thể thiếu của tất cả các trận đá banh tại Sài Gòn trước năm 1975. Một trận đá banh mà không có Huyền Vũ tường thuật thì đó là một trận “tầm thường”. Tên ông gắn liền với giá trị của tất cả các trận banh. Người lính khắp các quân khu, ngay cả khi ở chiến trường, cũng mong ngóng chờ nghe tường thuật đá banh — tất nhiên là nghe Huyền Vũ tường thuật mới đúng là “vừa được nghe, vừa được xem đá banh”. Chúng tôi hiểu rõ điều này nên dù xin “tường thuật ké” các trận banh cũng sẵn sàng dẹp hết “tự ái” để làm. Trong khi về tin chiến trường, hay những tin đặc biệt, bao giờ chúng tôi cũng tường thuật với phóng viên của đài mình. Như thế đủ chứng tỏ giá của Huyền Vũ lớn lắm, cái bóng của ông như cây đại thụ bao trùm lên tất cả giá trị khác.
Ngôn Ngữ Huyền Vũ Không Thể Quên
Sau này, khi đã không còn ở quân đội, thỉnh thoảng ông vẫn ghé Đài Quân Ðội theo lời mời của ban chương trình để nói về một vấn đề thể thao hoặc tự đọc một bản tin thể thao nào đó. Ông vẫn còn tình cảm đậm đà với những quân nhân lúc nào cũng là thính giả trung thành của ông. Tôi chỉ được gặp ông vài lần và chỉ nói về các chuyện thông thường. Trong tôi, ông vẫn là một người anh, rất gần mà rất xa. Bởi tôi thường không gặp ông ở bất kỳ nơi chốn nào mà nhà báo hay đến, ngoài nhà hàng Thanh Thế là nơi các ký giả “gạo cội” của “làng thể thao Sài Gòn” hay ngồi, thì tôi lại ít lui tới. Lúc đó, ký giả Thạch Lê, nguyên là “sếp” của tôi, cũng là một ký giả thể thao tầm cỡ ngoài miền Trung, nhưng chưa thể so nổi với Huyền Vũ. Hầu như suốt thời gian sống ở Sài Gòn trước năm 1975, không có trận banh nào mà Thạch Lê không kéo tôi đi. Khi có trận banh ở sân Tao Ðàn và sau này là sân Cộng Hòa, Phòng Báo chí Cục Tâm Lý Chiến gần như ngưng làm việc, chỉ còn Huy Vân ngồi một mình cặm cụi với chồng bài vở. Sau khi đi xem đá banh về, Thạch Lê đến tòa báo ngồi viết tường thuật. Hôm nào ông dở chứng lười thì bảo tôi viết tường thuật “cho vui”. Tôi chỉ viết một hai bài đến nay không còn nhớ rõ, nhưng chữ nghĩa về tường thuật đá banh luôn phải “mượn” chữ của Huyền Vũ. Bởi các từ ông dùng rất hay khó có thể thay được. Ðến nay, sau hơn ba mươi năm mà tôi còn nhớ như in hai chữ “quả da” mà ông dùng thay cho trái banh và “mũi tên vàng Nguyễn Văn Tư bên cánh trái đang lao xuống… lao xuống, đi tới… tới nữa và… sút”. Tim tôi như muốn nhảy dựng lên do giọng nói truyền cảm kỳ lạ của ông. Khi nghe ông nói thì xúc động như thế, song khi viết theo lối của mình thì thấy nó… vô duyên thế nào ấy. Khó thể bắt chước lối tường thuật của ông, dù là trên chữ nghĩa.
Ông là một bậc thầy không ai bắt chước được.
Những Thính Giả Trung Thành Còn Ở Lại Sài Gòn
Tôi không lạm bàn thêm đến tài nghệ và uy tín cũng như cuộc sống của ông bởi tôi đã được đọc bài của Phạm Trần, Vũ Ðức Vinh, Nguyễn Thiên Ân — những nhà văn, nhà báo, theo tôi, “có đủ thẩm quyền” viết về Huyền Vũ vì từng biết về ông cả trước và sau năm 1975. Tôi chỉ xin nói về chuyện ở Sài Gòn khi được tin ông mất.
Vũ Ðức Vinh gửi “meo” báo tin và gửi bài viết về Huyền Vũ trước khi Huyền Vũ mất một ngày. Sở dĩ như thế vì có một đoạn trong bài, ông Vinh nhắc đến tôi và các buổi trực tiếp truyền hình đá banh tại Việt Nam. Ông vốn rất kỹ và cũng muốn biết thêm vài chi tiết nên hỏi cho “chắc ăn”. Bị hỏi bất ngờ nên tôi chưa có tài liệu gửi cho ông, nhất là về những cái tên của “chuyên viên tường thuật bóng đá” ở Việt Nam hiện nay. Bởi có tới năm, mười “chuyên viên” từ Hà Nội đến Sài Gòn và các đài địa phương nên tôi không thể nhớ hết và cũng chẳng có ai nổi trội nên tôi không để ý đến tên tuổi.Hôm sau, ngày 24-8, khi tôi còn ở Sài Gòn, được ông Vinh báo tin “đại lão ký giả Huyền Vũ đã ra đi”. Trưa hôm đó, tôi phải về Lộc Ninh. Lại nhận được “toàn văn” cáo phó và tiểu sử Huyền Vũ của anh Ðỗ Nghi, tổng thư ký Thời Báo ở Canada, và anh “gáy” tôi: “Chắc chắn anh sẽ viết bài cho kỳ sau phải không?”.
Lúc đó, tôi trả lời đã có bài của anh Vinh, tôi viết có thừa không?
Thêm nữa, tôi chỉ biết về ông rất ít vào những năm ở Sài Gòn, còn từ khi ông qua Mỹ thì tôi không biết gì thêm. Nhưng một ông chủ báo ở Mỹ lại “gáy” tiếp: “Người Sài Gòn thì phải có tiếng nói của Sài Gòn chứ”. Tôi nghĩ ông này đúng nên điện thoại về Sài Gòn, hỏi một người bạn có khá nhiều liên hệ với “cánh báo chí”, anh này trả lời chưa biết tin tức gì về Huyền Vũ ra đi. Hỏi thêm vài người nữa, cũng “chưa biết gì” về tin này.
Trịnh Cung: Một Thế Hệ Say Mê Huyền Vũ
Tôi điện thoại cho họa sĩ Trịnh Cung là một tay “ghiền” bóng đá. Vài lần ngồi với bạn bè, khi bàn về các trận bóng gần nhất, Trịnh Cung tỏ ra sắc sảo và hứng thú “bình luận”. Vừa nghe tôi báo tin, anh kêu lên:
– Trời ơi, ông ấy mất rồi sao?
Lặng đi một lát, anh mới nói được:
– Tôi nghe ông từ khi còn bé, đến giờ vẫn không thể nào quên. Ðúng là bây giờ vẫn chưa ai có thể “bén gót” được ông chứ đừng nói đến thay thế. Hồi đó còn là cậu học sinh trung học, không chỉ mình tôi mà cả một “thế hệ” học sinh ở Nha Trang như tôi đều “mê” ông.
Tất nhiên, tôi lợi dụng ngay cơ hội hỏi tiếp:
– Anh vừa nói “không ai thay thế được”, vậy chuyên viên bình luận bóng đá của các đài phát thanh truyền hình bây giờ ở Việt Nam thì sao?
Không úp mở, Trịnh Cung trả lời ngay:
– Làm sao mà bì được với Huyền Vũ. Có thể nói chưa ai có thể so được với ông.
– Bây giờ họ bình luận thế nào?
– Tôi chỉ xem và nghe ở truyền hình chứ không nghe truyền thanh. Hầu hết là lớp trẻ, họ “cà kê dê ngỗng” quá nhiều làm giảm “tiết tấu” một trận banh đang hào hứng. Họ la lên “hào hứng, sôi nổi” mà không thấy sôi nổi như trên sân banh. Vào thời chưa có truyền hình, ông Huyền Vũ chỉ có tiếng nói qua “làn sóng điện” chứ không có hình, vậy mà nghe ông, thính giả cứ thấy như đang được coi trận đấu thực thụ diễn ra từng pha bóng trước mặt mình. Ông thấy chưa, một sự khác biệt lớn lao đến thế đấy. Nghe ông ấy truyền thanh từng đường banh: “Đi tới trước khung thành rồi, Ngầu đang lừa banh, qua rồi… Há đựng đợi bên trong, đưa banh, Há bỏ cho Ngầu, Liêm ở phía sau sẵn sàng, cú sút như trái phá nhưng “quả da” đụng khung thành bật ra. Tam Lang lại được banh từ giữa sân, đưa dài lên, cú sút của Tư chéo góc… Dzô! Dzô! Dzô, tuyệt tác. Sân cỏ nổ tung! …Rồi Ðực, rồi Rạng với đường banh huê mỹ vặn chéo người cứu bàn thua trông thấy khiến khán giả choáng váng…” Ông ấy làm tôi ở nhà cũng choáng váng theo.
Ngừng một chút Trịnh Cung kể tiếp:
– Hồi ấy những đội banh như Ngôi Sao Gia Ðịnh, AJS và sau là Tổng Tham Mưu, Quan Thuế đấu với nhau. Rồi những Autobus Hồng Kông, Nam Hoa sang Việt Nam thi đấu, đó là những ngày hội lớn của Sài Gòn và của cả tụi học sinh trung học tỉnh lẻ như bọn tôi, bàn tán mấy ngày trước và sau trận đấu chưa dứt. Và “học” lại toàn những từ ngữ của ông Huyền Vũ.
– Vậy phải kể như ông ấy là một thiên tài.
– Ðúng thế. Một thiên tài trăm năm trước không có, trăm năm sau chắc cũng chưa thể có.
Chúng tôi hỉ hả cười vì nhận định đó và gác máy.
Ngay buổi chiều hôm đó, Trịnh Cung lại điện thoại cho tôi ngỏ ý muốn có bản Cáo Phó và tiểu sử Huyền Vũ.
Anh cho biết sẽ viết bài cho một tờ báo nào đó, có lẽ ở Sài Gòn và cần thêm một hai tấm hình gửi theo bài. Tôi chỉ có vài tấm hình của mấy người bạn từ Virginia gửi về, đúng ra phải giữ làm “bửu bối”, nhưng trường hợp này thì càng phổ biến bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Tôi nghĩ thế nên dù các hình mà tôi gửi theo đã được đăng rồi cũng xin được đăng lại để thêm một lần nữa nhớ về một thiên tài vừa khuất bóng.
Thầy Giáo Cũng Bỏ Học Nghe Huyền Vũ Tường Thuật
Người thứ hai mà tôi hỏi là Thái Phương, một nhà giáo và nhà văn. Tôi cứ nghĩ ông nhà giáo chắc biết ít về đá banh. Nhưng Thái Phương nói:
– Tôi ít xem đá banh, song rất mê ông Huyền Vũ ngay từ những ngày còn học đệ nhất Chu Văn An.
– Tức là khi nghe khi không?
– Vâng, chúi đầu vào học, thỉnh thoảng mới có thì giờ. Cứ đụng nghe là mê, là bỏ luôn buổi học. Tôi sợ “mê” ông ấy quá bỏ học lu bù, thi không đậu thì phải đòn. Mỗi lần nghe loáng thoáng ông ấy tường thuật qua cái radio nhà hàng xóm hoặc của một người bạn nào đó, tôi lại “trốn.” Nhưng anh ạ, trốn cũng không khỏi “ma lực” của cái giọng nói “quái đản” ấy. Cứ như “Học trò xứ Quảng ra thi. Thấy cô gái Huế bỏ đi không đành”. Tôi lại mon men đến nghe và nghe rồi là quên luôn sách vở.
– Thế thì ông mê Huyền Vũ còn hơn mê bà xã của ông hồi đó.
– Ấy, dù có thế thật thì xin anh cứ cho như mê bằng nhau đi cho nó vui cửa vui nhà.
Thái Phương vẫn có tiếng cười hồn nhiên chân thật của một anh “nhà giáo”. Anh tỏ vẻ tiếc nuối một tài năng có một không hai của Việt Nam. Anh lại ngẩn ngơ:
– Tiếc rằng sau này lớn lên, có thì giờ xem đá banh và nghe tường thuật thì ông Huyền Vũ không còn ở Sài Gòn nữa.
– Thì coi và nghe người bây giờ cũng được chứ sao. Thái Phương cười:
– Tất nhiên là cũng được, nhưng rất nhiều lần tôi nói với thằng con trai tôi là những trận này mà nghe ông Huyền Vũ “diễn tả” mới thật sướng tai. Có lần nghe ông tường thuật, bố suýt đá vào… mông “bà già” con đấy. Tôi tính kể cho nó nghe ông ấy tường thuật như thế nào mà không sao kể được. Nó… kỳ lạ quá, tôi cố gắng bắt chước, không bao giờ giống. Tuy vậy, thằng con tôi cũng hiểu được ông Huyền Vũ đôi phần.
– Cho thế hệ trẻ ngày nay biết được về ông Huyền Vũ là hay lắm rồi, anh đừng đòi hỏi gì hơn. Chính vì anh “ngắc ngứ” mà cậu con của anh sẽ hiểu bố nó tài giỏi thế mà không “diễn tả” được tài năng của Huyền Vũ thì ông ấy còn tài năng đến thế nào. Sự tưởng tượng đôi khi còn mạnh hơn những gì ông muốn cho con trai ông biết đấy. Nó sẽ còn sống mãi trong tâm tưởng của lớp trẻ bây giờ.
– Tôi cũng mong như thế. Anh đã làm được một việc đáng làm anh ạ.
Giáo Sư Trường Quốc Học Cũng Mê
Sau đó tôi gọi cho Lê Khắc Cầm, nhà nghiên cứu văn học hiện nay. Trước năm 1975, ông là giáo sư Anh văn của trường Quốc Học Huế. Tôi gọi “cầu âu” bởi nghĩ ông giáo đạo mạo này ít khi theo dõi đá banh, nhưng tôi
lại găp may một lần nữa. Ông Cầm sốt sắng trả lời ngay:
– Không nhiều lắm nhưng cũng đủ để biết ông Huyền Vũ là một nhà tường thuật tài danh. Bao nhiêu năm cũng không thể quên một con người như thế.
– Hồi này ông còn coi đá banh không?
– Ðôi khi xem truyền hình, không coi đá banh thì chẳng biết coi cái gì. Thế nên vẫn coi.
– Ông thấy các nhà bình luận thể thao thế nào?
– Tôi chỉ biết về những người bình luận “bóng đá” trên truyền hình thôi. Hiện có một số người trẻ, tôi chỉ nhớ đài truyền hình Hà Nội có Long Vũ, anh em Quang Tùng và Quang Huy, thường xuyên có tiếng nói ở các trận đấu quan trọng trong nước cũng như các trận của nước ngoài. Ở Sài Gòn có Lý Chánh, Anh Tuấn… Họ mua quyền phát sóng trực tiếp từ các kênh thể thao quốc tế và ngồi tường thuật bằng tiếng Việt. Ðôi khi họ bê nguyên con tiếng Anh ở các kênh như Star Sport.
– Theo ông thì người nào bình luận nổi nhất? Suy nghĩ một chút, ông Cầm dứt khoát:
– Nói cho đúng, họ sàn sàn nhau. Nếu cần đưa ra một so sánh tạm thời thì tôi thấy một bình luận viên của đài Ðồng Nai là khá hơn cả. Trong thời đại thông tin điện tử bùng nổ này, họ có lợi thế là có rất nhiều tư liệu trên net hoặc qua báo chí nước ngoài. Phần tài liệu của họ đầy đủ, kiến thức bao quát, nhưng họ xen vào các trận đấu quá nhiều làm giảm đi tính hấp dẫn của trận đấu đang diễn ra. Họ cho khán giả biết những cái chưa cần biết vội. Còn ông Huyền Vũ cho khán giả “thấy” cả những gì cần biết đang diễn ra. Ông Huyền Vũ nói năng lưu loát, tuôn trào như suối chảy thì bây giờ một vài người bình luận “ngắc ngứ, giật cục”, thường phải dừng lại để tìm chữ, tìm tên cầu thủ cho đúng, làm mất cái hứng của một trận đấu. Nếu sửa được những khuyết điểm này, họ sẽ khá hơn.
Ông Cầm suy nghĩ trước khi tiếp:
– Nghe một trận ông Huyền Vũ tường thuật có cảm tưởng như ngồi trên sân banh đã đành, ông còn truyền cho thính giả ngồi nhà cả cái “máu me” của các cầu thủ đang đi banh, lừa banh, bị thương hoặc chiến thắng và ngay cả khi thua trận. Ðôi khi, tôi cứ nghĩ là ông ấy đang đọc truyện trinh thám. Ngoài khả năng ra, ông ấy là một tài năng thiên phú đấy, ông ạ.
Tôi cũng nghĩ như ông Cầm. Bởi thiên tài có yếu tố thiên phú, tức là cái của “trời cho”, như một người con gái đẹp hay xấu là do “thiên định”. Muốn đẹp như Tây Thi cũng chẳng được mà muốn xấu như Chung Vô Diệm cũng chẳng xong. Thế nên, chất giọng trầm ấm của Huyền Vũ là của trời cho. Và ông Cầm kết luận giùm tôi:
– Không ai thay thế ông Huyền Vũ được.
Người Trẻ Tuổi Ở Đây Vẫn Còn Biết Ông Huyền Vũ
Khi tôi nói chuyện ông Huyền Vũ vừa tạ thế với vài người trẻ tuổi như Khôi Hạo, năm nay chừng hơn ba mươi tuổi, anh ta cũng biết, cũng nghe danh tiếng Huyền Vũ, dù chưa một lần được nghe ông tường thuật bóng đá. Mấy người bạn Khôi Hạo ở tuốt vùng quê này cũng thế. Có vẻ như lớp tuổi ngoài ba mươi ở Việt Nam vẫn biết đến ông, có lẽ do “dư âm” từ các bậc đàn anh kể lại. Nhưng lớp sau 30 chắc không còn biết gì về ông Huyền Vũ nữa. Tuy nhiên, các bài báo của những Phạm Trần, Vũ Ðức Vinh, Nguyễn Thiên Ân… và nhiều người khác nữa sẽ để lại hình ảnh và tiếng tăm của ông vang vọng mãi dù bất cứ ở đâu. Tôi cứ hy vọng đã là người Việt Nam thì phải biết và nhớ đến ông Huyền Vũ.
Nói như thế có lẽ là đủ cho tâm trạng của một người và không ít người hiện ở Sài Gòn tưởng nhớ đến ông Huyền Vũ với tất cả tấm lòng thương tiếc vô hạn.
(riêng tặng những người bạn lính bất hạnh của tôi)
Phạm Tín An Ninh
Đầu mùa hè, vợ chồng tôi đến thăm gia đình cô con gái và ở lại chơi khoảng một tháng. Vợ chồng cháu phải đi theo sở làm, một công ty lớn, di chuyển đến thành phố Las Vegas, và vừa mua được ngôi nhà ở vùng ngoại ô, với khu vườn khá rộng nằm bên bờ hồ Mead. Đây là thành phố du lịch có những sòng bài nổi tiếng. Tôi không hứng thú mấy với chuyện bài bạc, nên chỉ ghé lại các nơi này một vài lần cho biết. Hơn nữa, dù mùa hè chỉ mới bắt đầu, mà khí hậu đã nóng bức, tôi ngại ra ngoài, chỉ muốn nằm nhà nghỉ ngơi và đọc sách. Thỉnh thoảng ra vườn tưới cây hay xuống bờ hồ hóng mát và ngắm trời xanh.
Một hôm, trước khi đi làm, cô con gái đưa cho tôi cái chi phiếu, nhờ giao lại cho người làm vườn. Tiền trả cho ông hàng tháng. Cứ ngày thứ ba mỗi tuần là ông ghé lại làm việc ở khu này, cắt cỏ, tỉa cây và dọn dẹp, làm vệ sinh hồ tắm. Cô con gái còn bảo, bác ấy rất đàng hoàng tư cách, mọi người ở đây đều rất tin cậy và quí mến bác. Tuần trước, tôi cũng đã trông thấy ông đến làm việc trong vườn, nhưng vì ngoài trời khá nóng và đúng lúc đang mải mê đọc một cuốn sách, nên tôi chưa có dịp gặp ông.
Khi thấy ông gom dụng cụ bỏ lên xe, tôi nghĩ ông đã xong công việc, mở cửa bước ra chào, cám ơn và đưa cho ông cái chi phiếu, bảo cô con gái nhờ trao lại. Thấy trên mặt đầm đìa mồ hôi, tôi mời ông vào nhà uống với tôi một lon bia lạnh. Ông nhìn đồng hồ, đưa tay phủi ít bụi cỏ vướng trên áo quần, ngần ngừ, định từ chối. Tôi nắm tay ông kéo lại bộ ghế nhựa nằm dưới gốc một cây bơ phủ bóng, bảo: – Hay là mình ngồi ở đây để anh thoải mái hơn. Tôi chạy vào nhà lấy bia, nghe tiếng ông nói vọng theo: – Tôi chỉ uống với anh đúng một lon, để tí nữa còn phải lái xe đi Tôi mang bia và mấy cái nem chua ra. Chúng tôi vừa uống bia vừa nói chuyện. Đúng như lời cô con gái, ông là một người hiểu biết và có tư cách. Mái tóc bạc màu muối tiêu và khuôn mặt đượm buồn mang ít nhiều khắc khổ, đã không làm mất đi cái vầng trán cao, đôi mắt sáng, khuôn mặt biểu hiện một con người khí khái và nghị lực. Ngồi với nhau khoảng hơn mười phút, ông cám ơn và đứng dậy xin cáo từ vì còn phải sang làm vườn cho các nhà kế cận. Ông bắt tay tôi và hẹn thứ ba tuần sau ông sẽ đến sớm để tâm tình nhiều hơn. Dù chưa biết nhau nhiều, nhưng qua cái bắt tay, tôi có cảm giác là ông cũng có chút cảm tình, quí mến tôi.
Lần thứ hai gặp nhau, chúng tôi có nhiều thì giờ tâm tình và biết về nhau nhiều hơn. Chính điều này đã làm chúng tôi trở thành bạn, khá thân tình. Trước kia, anh phục vụ trong Binh chủng Lực Lượng Đặc Biêt. Sau khi binh chủng này giải thể anh được bổ sung cho một đơn vị Biệt Động Quân. Một năm sau anh được thăng cấp thiếu tá. Bị thương trong một cuộc hành quân qua Cam Bốt, anh được thuyên chuyển về một Tiểu Khu miền duyên hải Quân Khu 2, quê anh, và phục vụ ở đây cho đến ngày mất nước. Vợ của anh là cô giáo dạy ở trường tiểu học quận lỵ. Ngày anh vào tù vợ anh mang thai đứa con đầu lòng hơn năm tháng, và cũng không được “lưu dung” trong chế độ mới bởi ảnh hưởng lý lịch của chồng. Sau đó, những ngày cuối tuần rảnh rỗi, anh thướng hú tôi sang nhà anh chơi. Anh bảo:- Tôi thường ở nhà một mình, ông cứ sang đây, bọn mình nhậu thoải mái và kể chuyện xưa chơi. Căn nhà cũ nằm giữa khu vườn khá lớn có nhiều cây ăn trái, và những khóm hoa được anh cắt tỉa rất công phu. Có cả một hòn non bộ, nước chảy róc rách, trông rất yên ả, thơ mộng. Cùng độ tuổi với anh, nhưng tôi thua anh rất xa về chuyện cần cù với bàn tay khéo léo. Nhìn khu vườn nhà, tôi biết là anh đã bỏ ra rất nhiều thì giờ và công sức. Lần nào đến chơi, anh cũng làm cơm, nướng thịt và hai anh em uống cạn mấy lon bia. Có khi tôi phải ngủ một giấc, đến gần tối mới về nhà. Một lần, được tin anh bị bệnh, vợ tôi theo tôi đến thăm anh, giúp anh làm vài món ăn và dọn dẹp nhà cửa bếp núc. Mấy năm sau này, từ khi cô con gái sinh đứa con đầu lòng, vợ chồng tôi thường xuyên lên ở giúp cháu, nên thường gặp anh hơn và dần dà trở nên thân thiết như anh em. Quen biết đã khá lâu, nhiều lần đến nhà thăm và tâm tình với anh, nhưng chúng tôi chưa hề gặp vợ anh, chỉ biết chị ấy qua tấm ảnh gia đình treo trên vách, anh bảo chụp cách đây hơn mười năm, sau một thời gian định cư ở Mỹ. Trong ảnh, ngoài vợ chồng anh còn có ba đứa con, hai gái một trai.Chị là một người phụ nữ đẹp, trông có nét đài các. Một đôi lần tôi có hỏi, anh ngần ngừ, bảo là vợ anh thường đi làm xa, vắng nhà. Tôi nhớ có lần anh đã kể việc vợ chồng anh có mở một quán ăn ở đâu đó, sau một thời gian đến định cư ở vùng này. Nhìn tấm ảnh, tôi khen: – Trông ông bà rất đẹp đôi. Lúc trẻ chắc chị nhà là cô giáo hoa khôi của một trường nào đó.
Mấy cháu cũng đều rất dễ thương. Anh ngượng ngùng một tí, rồi làm tôi bất ngờ: – Đây là bà vợ thứ nhì và hai cháu lớn là con riêng của bà. Chỉ có thằng nhỏ nhất là con chung của bọn tôi. Tôi tò mò, không kịp giữ ý: – Chắc bà chị trước đã qua đời khi còn ở Việt nam? – Không, bà vẫn còn sống và đang ở trên Houston. Tôi vội vàng nói lời xin lỗi. Thấy tôi tròn mắt ngạc nhiên, anh giải thích: – Bà bỏ tôi sau hơn một năm vào tù, lấy một người đàn ông khác, sau đó dắt theo đứa con gái vượt biên từ năm 1979. Trầm ngâm giây lát, anh nói tiếp: – Và từ đó bà không hề liên lạc với tôi, mặc dù có vài lần tôi viết thư riêng nhờ người mang đến cho bà, để chỉ hỏi tin tức đứa con, nhưng không hề nhận được hồi âm. Bây giờ, nếu còn sống, đứa con gái của tôi cũng đã gần bốn mươi tuổi, nhưng chắc chắn nó không hề biết tôi là cha của nó. Tôi cố tìm một lời an ủi: – Với vợ con và niềm hạnh phúc mới sau này, chắc anh cũng đã nguôi được nỗi buồn? Anh cười: – Thực ra khi mới biết tin, dĩ nhiên tôi buồn lắm, nhưng rồi sau đó lại mừng cho mẹ con bà. Chứ nếu ở vậy mà chờ tôi, thì cuộc đời của mẹ con bà không biết sẽ ra sao? Lúc còn ở trong tù, đêm nào tôi cũng nằm cầu nguyện cho mẹ con bà được yên lành, hạnh phúc với gia đình và quê hương mới. Tiếc là khi ấy tôi không thể liên lạc được để nói lên điều này cho bà được yên lòng. – Tôi nghĩ điều đó chắc không còn cần thiết, bởi đã đối xử cạn tình với anh như vậy, chắc bà cũng chẳng có hối hận điều gì. Anh trầm ngâm: – Xem vậy chứ đàn bà cũng dễ xúc cảm, nặng lòng trắc ẩn lắm. Dù gì, tôi cũng thấy thương và tội nghiệp cho bà. Đến chơi khá nhiều lần, nhưng vợ chồng tôi chưa bao giờ gặp người vợ của anh bây giờ. Một hôm chúng tôi bất ngờ và vô cùng ngạc nhiên khi nghe anh tâm sự về bà: – Bà ấy rất ít khi có ở nhà. Bà sống ở các sòng bài. Khi nào không kiếm được tiền bà mới về đây, nhưng sau đó, khi có được đồng nào bà lại đi ngay. Trước kia, tôi bỏ ra tất cả tiền bạc dành dụm và vay mượn thêm của ngân hàng để sang lại cái tiệm ăn, cho bà làm chủ. Buôn bán cũng khá lắm, nhưng sau đó phải bán để trả nợ cho bà. Đồ đạc trong nhà này, cái gì còn bán được bà cũng đã bán hết, nên chẳng còn một thứ gì đáng giá. – Sao anh và các cháu không khuyên giải, can ngăn bà? Vợ tôi hỏi. – Cũng may, tôi đã cố gắng hết sức lo cho hai cháu đầu, con của bà được vào đại học. Cả hai đều học xa nhà, nên tôi tìm cách nói dối để các cháu yên lòng mà học hành, còn thằng con trai út, lúc ở với tôi còn nhỏ, nên chẳng chú tâm điều gì, cứ tưởng mẹ nó đi buôn bán làm ăn. Sau này, khi thấy cháu lớn khôn, không muốn ảnh hưởng đến chuyện học hành và tương lai của nó, tôi gởi cháu vô nội trú một trường Công giáo. Không thấy mẹ, lâu lâu cháu cũng hỏi thăm, không biết là cháu có biết gì không, nhưng chẳng thấy nó buồn hay thắc mắc điều gì. Tôi nghĩ có cho các cháu biết cũng vô ích, chỉ làm hại các cháu. Hơn nữa, khi đã lâm vào con đường cờ bạc rồi, cũng giống như thuốc phiện, khó mà quay lại được. – Đến bây giờ hai cháu lớn cũng chưa biết? Tôi hỏi anh. – Sau khi tốt nghiệp, hai cháu về nhà sống một thời gian chờ xin việc. Lúc ấy hai cháu mới biết. Năn nỉ, can ngăn, rồi làm dữ cũng đều vô ích. Sau này hai cháu có việc làm rồi lập gia đình, ra ở riêng. Khi hết tiền bà chạy đến xin, xin vợ không được bà xin cả chồng. Tội nghiệp hai thằng chồng đều là Mỹ hết. Cuối cùng tụi nó sợ quá, phải dọn nhà đi nơi khác và không cho bà biết. Sau này, thấy tôi quá khổ sở với bà, hai cháu rất giận mẹ, đề nghị rồi hối thúc tôi bỏ bà, chuyển đi nơi khác ở. Hai cháu thương tôi, lúc nào cũng xem tôi như cha ruột và luôn tỏ ra biết ơn tôi đã hết lòng lo lắng cho hai cháu. – Chắc anh không nghe theo hai cháu, nên bây giờ vẫn còn ở lại đây. Tôi hỏi Anh cười, thản nhiên như không có chuyện gì xảy ra: – Không được! Tôi bảo với hai cháu là ba còn nợ mẹ rất nhiều, mà dù có phải khổ sở, chịu đựng suốt cả đời vì mẹ con, cũng chưa trả hết được. Hơn nữa đã là vợ chồng, ba đâu có thể nhẫn tâm bỏ bà trong lúc bà bị sa lầy. Sau đó anh ngồi kể cho vợ chồng tôi nghe: – Bà là cứu tinh của tôi. Trước kia, có một thời nhà cha mẹ bà ở gần nhà tôi. Bà là con một của một gia đình giàu có. Khi ra tù, vợ con đã bỏ đi, tôi không có chỗ để ở, lại mang theo bệnh tật từ trong tù, nên chẳng làm được việc gì. Không hiểu sao lúc ấy bà lại cưu mang tôi, và can đảm lấy tôi làm chồng. Lúc ấy bà có tiền, làm chủ một vựa trái cây và buôn bán thuốc tây, cà phê. Lúc đầu, thấy tôi khổ sở, bà nhận tôi vào làm công và bảo dọn tới nhà bà ở vì căn nhà sau, có một phòng bỏ trống. Cả hơn nửa năm tôi mới khỏe lại và bắt đầu phụ giúp công việc buôn bán với bà. Nhưng bà chỉ giao cho tôi lo việc sổ sách. Bà thường lo lắng chăm sóc cho tôi, và cuối cùng tỏ tình với tôi. Khốn khổ hơn là có một tay cán bộ kiểm lâm CS từ miền Bắc chuyển vào, đã theo đuổi, tán tỉnh bà, thỉnh thoảng mang đến cho bà những bộ bàn ghế được đóng bằng gỗ quí, nhưng bà nhất quyết chối từ. Ban đầu hắn tưởng tôi là người làm công hay bà con trong nhà, nhưng sau này, khi biết bà đã lấy tôi, hắn tìm mọi cách hãm hại tôi. Bà bỏ tiền mua cả đám công an, nên tay kiểm lâm sợ, bỏ cuộc. Hơn nữa nghe nói hắn đã có vợ con ở ngoài Bắc. Có lần tôi hỏi, vì sao bà thương và lấy tôi khi tôi trong cảnh thân tàn ma dại. Bà cười, bảo là ngày xưa, lúc còn là cô con gái mới lớn lên bà đã thầm yêu tôi, bà thích lính chiến, nhất là bộ áo quần bông với cái bê-rê xanh của LLĐB, oai hùng lắm, nhưng tôi không để ý đến bà. Đúng vợ chồng là cái số. Sau này bà lấy một thương gia, nhưng ông mất sớm. Nhờ vậy, sau 75, bà còn giấu được một số vàng để bây giờ có vốn buôn bán nuôi con. Những lần chính quyền địa phương gọi tôi, diện tù “cải tạo” đang trong thời quản chế, đi làm công tác thủy lợi, bà đều thuê người đi làm thay. Sợ bọn chúng cưỡng bách tôi đi Vùng Kinh Tế Mới, bà làm hôn thú và dù rất khó khăn, bà cũng chạy cho tôi được vào chung hộ khẩu với gia đình bà. Với lòng biết ơn và quí mến, tôi đã hết lòng yêu thương bà và hai đứa con của bà. Tôi dạy kèm thêm, nên hai cháu đều là những học sinh giỏi của trường, luôn vâng lời, lễ phép dễ thương. Tôi xem hai cháu như con ruột của mình. Một năm sau, chúng tôi rất vui mừng khi có một đứa con chung, là thằng con trai, giống tôi như đúc. Tuy nhiên, cứ mỗi lần nhìn nó, tôi lại nhớ đến đứa con gái đầu lòng với người vợ trước. Từ lâu rồi tôi không liên lạc đươc, nên chẳng biết bây giờ nó ra sao. Chỉ mong ông trời thương, để có một ngày cha con được gặp lại. Anh ngừng câu chuyện ở đây, lim dim đôi mắt, nhưng ngay sau đó lại nở nụ cười. Tính anh như thế, tôi chưa khi nào thấy anh buồn điều gì lâu. Tôi thầm nghĩ, khi người ta chịu đựng quá nhiều thử thách trong cuộc đời, thì dường như buồn vui gì cũng như nhau thôi. Tôi cười theo anh, và nói đùa: – Không ngờ ngày xưa ông anh cũng đào hoa ghê. Đến bước đường cùng mà vẫn có người đẹp yêu tha thiết. Anh quay sang tôi cười, giải thích thêm: – Bọn mình là lính mà. Người lính lại càng không thể phụ ơn những người đã từng cưu mang, sống chết với mình. Cũng như anh em mình đâu có thể quên những đồng đội đã chết, đã hy sinh một phần thân thể vì mình, phải không? Tôi im lặng, không trả lời, chỉ thấy thương và càng quý trọng anh. Người lính chưa bao giờ bại trận, nhưng cuối cùng đã phải làm người thua cuộc. Qua bao nhiêu thử thách vẫn còn giữ được cái sĩ khí, lòng bao dung và nhân cách của mình. Những lần gặp tôi, trong các câu chuyện anh thường nói về chuyện lính. Anh kể cho tôi nghe những trận chiến mà anh đã từng tham dự. Từ lúc những buổi đầu trong các toán Delta, sau đó đóng đồn biên phòng, rồi sau này ra Biệt Động Quân, và cuối cùng là Địa Phương Quân. Anh say sưa kể từng chi tiết, địa danh, từng tên của những người lính đến các cấp chỉ huy. Trong lãnh vực này, trí nhớ của anh lại trở nên phi thường. Tất cả như nằm sẵn đâu đó trong lòng anh. Nhiều lần anh bảo với tôi là anh đã sống với nó, với cái quá khứ ấy. Anh còn ví von: “lúc trước ông nhà thơ Phùng Quán đã từng tâm sự là khi ngã nhờ vịn những câu thơ mà đứng dậy, còn với tôi thì đã bao lần thất chí, đã nhờ những hình ảnh quá khứ này để có thể đứng lên. Không có một thời làm lính, một thời trong chiến trận, chắc tôi đã quỵ ngã từ lâu rồi.”
Cuối cùng thì vợ chồng tôi cũng gặp được bà vợ bây giờ của anh. Mùa hè năm ngoái, anh làm đám cưới cho cậu con trai út. Đứa con chung duy nhất của hai người. Cô dâu lại là con của một người bạn HO của anh, mà tôi cũng quen biết, vì từng ở chung một trại tù ngoài Bắc. Anh nhờ vợ chồng tôi đi họ bên phía đàng trai, và phụ giúp anh sắp xếp công việc trong ngày hôn lễ. Ngày đám cưới, chúng tôi đến nhà anh sớm hơn giờ hẹn để phụ sắp xếp bàn thờ và lễ vật. Rất bất ngờ khi thấy có cả chị ra đón bọn tôi ngoài cửa. Có lẽ anh đã giới thiệu trước ít nhiều về vợ chồng tôi, nên chị nở nụ cười thật tươi chào đón và gọi đúng tên chúng tôi. Vợ chồng tôi khá ngạc nhiên, bởi chị khác hoàn toàn với hình ảnh người đàn bà mà chúng tôi tưởng tượng bấy lâu nay với không mấy cảm tình. Xinh đẹp, vui vẻ nói năng lưu loát, và dễ thân thiện. Chỉ có ốm hơn so với trong ảnh, và thoáng một chút mệt mỏi, bơ phờ. Buổi chiều, trong tiệc cưới, khi người MC giới thiệu gia đình nhà trai, anh chị cùng vợ chồng hai cô con gái bước lên sân khấu đứng bên cô dâu chú rể, cúi đầu chào khách. Tiếng vỗ tay của thực khách như thay cho lời hâm mộ một gia đình đẹp đẽ, hạnh phúc. Tôi bỗng thấy một chút xót xa, tiếc nuối trong lòng và thầm mong là biết đâu nhờ đám cưới của cậu con trai, mà chị sẽ trở về với con người cũ, để hai người còn có bên nhau trong hạnh phúc ở những năm tháng cuối đời.
Cuối tuần sau ngày đám cưới, anh đưa chị ghé đến chơi, mang biếu chúng tôi hai chai rượu và một hộp trà. Anh bảo là quà “lại quả” hôm đám cưới, anh chị chia cho chúng tôi để mừng cho hai cháu. Khi vợ tôi ngồi chỉ cho chị cách thức làm nem Ninh Hòa, mà chị rất thích, anh rủ tôi ra ngoài vườn, vui mừng bảo là chị ấy đã hồi tâm, vì sau ngày đám cưới thấy các con hạnh phúc vui vẻ, sau đó các cháu tâm tình khuyên giải bà, nên từ bỏ mọi thứ đam mê sai lầm để sống với tôi trong tuổi già, vợ chồng săn sóc hôm sớm có nhau. Anh hy vọng lần này bà đã thức tỉnh. Hơn nữa tuổi tác cũng đã nhiều, bà thấy sức khỏe sa sút thường hay mệt mỏi.Tôi nắm hai tay anh mừng rỡ, và nói vài lời, ngưỡng mộ sự bình tĩnh, chịu đựng và tấm lòng bao dung của anh. Tôi lấy trong túi áo ra bốn tờ vé số Power Ball vừa mới mua trưa nay. Đặc biệt số độc đắc xổ chiều nay, sẽ hơn ba mươi triệu Mỹ kim. Tôi chia cho anh ba tờ, bảo: – Hy vọng ông trời sẽ cho thêm anh chị điều may mắn. Anh cười: – Cám ơn bồ, nhưng thường là “phúc thì bất trùng lai, mà họa thì vô đơn chí!” Tiễn anh chị ra xe, bắt tay nhau trong tiếng cười rộn rã.
Khoảng ba tuần sau, anh gọi phone báo cho chúng tôi một tin không vui. Chị ấy đang nằm trong bệnh viện. Bác sĩ vừa khám phá chị bị ung thư vú trong thời kỳ cuối. Vì quá lâu, không khám bệnh, nên không phát hiện được, bây giờ đã di căn, không biết có cần giải phẫu hay không. Chúng tôi chạy lên bệnh viện thăm chị. Thấy chúng tôi, chị nở nụ cười, nhưng trông khá mệt mỏi, bơ phờ. Anh luôn bên cạnh, đút thức ăn, săn sóc an ủi chị. Anh bảo tối nào, theo yêu cầu của chị, anh cũng ngồi bên cạnh đọc các chuyện chiến trường, chuyện lính cho chị nghe. Bệnh viện quyết định không giải phẫu, chỉ cấp cho một số thuốc để đưa chị về nhà. Các cháu đều về thăm. Sống bên cạnh chồng cùng đầy đủ các con, chị vui và hạnh phúc lắm. Chúng tôi đến thăm, dù không được khỏe, nhưng chị rất tỉnh táo, nằm kể cho các con nghe về cuộc đời mình, ân hận đã có một thời sa ngã vào con đường bài bạc, làm khổ sở và xấu hổ gia đình. Chị cũng nắm chặt tay anh, nói rất yêu và biết ơn anh đã hết lòng lo lắng đùm bọc vợ con trong những năm tháng khó khăn, xin anh tha thứ về thời gian chị đã có lỗi lầm. Anh ngồi bên cạnh, cúi xuống hôn trên trán chị: – Lúc nào anh cũng yêu em, cầu xin ơn trên cho em sống khỏe mạnh để anh tiếp tục lo lắng, trả nợ cho em. Món nợ ân tình lớn lao, mà cả đời này anh cũng không thể trả hết được cho em. Nước mắt của chị ràn rụa trên đôi gò má hóp. Tôi thầm nghĩ đó là những giọt nước mắt của hạnh phúc. Cho dù có chút xót xa. Chị đã mất vào khuya hôm ấy. Theo lời anh kể lại, suốt đêm anh nằm với chị, ôm chị trong vòng tay rồi ngủ mê lúc nào không biết. Khi giật mình thức dậy thì chị đã ra đi tự lúc nào. Vợ chồng tôi có mặt trước khi đưa chị vào nhà quàn bệnh viện. Chị nằm như đang say ngủ, nét mặt bình yên, thanh thản. Và lần đầu tiên tôi nhìn thấy anh khóc.
HQ Đại uý Jake Dang, Phi công Hàng không mẩu hạm USS George H.W. Bush (CVN 77) – Ảnh của dvidshub.net.
Theo nguồn tin từ trang nhà Bộ chỉ huy nhân lực Hải quân (Navy Personnel Command) thông báo danh sách Hải quân (HQ) Đại úy* hiện dịch (Active duty) được Hội đồng thăng cấp Hải quân (PROMOTION SELECTION BOARD CONVENING ORDER) chọn đề cử thăng cấp HQ Thiếu tá* cho tài khóa YF-25. Trong số hàng trăm HQ Đại úy được đề cử thăng cấp HQ Thiếu tá năm nay, có 32 HQ Đại úy gốc Việt. Danh sách đề cử thăng cấp HQ Thiếu tá đang được chuyển đến Quốc hội, Uỷ ban Quân vụ Thượng viện xác nhận, bầu chọn.
Năm 2023, có 30 HQ Đại úy Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Thiếu tá, năm 2022, có 28 HQ Đại úy Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Thiếu tá.
HQ Đại uý Andrew Truong, Sĩ quan huấn luyện phi cơ VT-6 Shooters – Ảnh chụp khi còn mang cấp HQ Trung uý của linkedin.com.
Năm nay, 2024, có 10 HQ Đại úy ngành tác chiến Hải quân (Unrestricted Line Officers). 5 HQ Đại úy ngành yểm trợ tác chiến Hải quân (Restricted Line Officers) và 15 Đại úy ngành chuyên môn phục vụ Hải quân (Staff Corps Officers) gốc Việt được đề cử thăng cấp HQ Thiếu tá. Đặc biệt năm nay có một số HQ Đại uý các ngành tác chiến Hải quân, đó là HQ ĐạI uý Jake Dang, Sĩ quan phi công Hàng không mẩu hạm USS George H.W. Bush (CVN 77); HQ ĐạI uý Brandon Tran, Sĩ quan huấn luyện phi cơ T-45 Goshawk; HQ ĐạI uý Andrew Truong, Sĩ quan huấn luyện phi cơ VT-6 Shooters; HQ ĐạI uý John Nguyen, Sĩ quan tác chiến hạm đội; Nữ HQ ĐạI uý Tiffany Tran, Sĩ tác chiến hạm đội và HQ ĐạI uý Tinh Anh Chan, Sĩ quan tàu ngầm nguyên tử.
Danh sách 15 HQ Đại úy gốc Việt hiện dịch và trừ bị** ngành tác chiến Hải quân (Unrestricted Line officers) và ngành yểm trợ tác chiến Hải quân (Restricted Line Officers) được chọn đề cử thăng cấp Thiếu tá:
Hiện dịch: Dang Jake; Dinh Anthony Bao; Nguyen Kha Minh; Nguyen Thong John Tri; Tran Brandon Lee; Tran Tiffany; Truong Andrew; Tu Leigh Howard; Tinh Anh Chan.
Trừ bị: Dang Ben Duc; Dao Khai Duy; Nguyen Hoang; Doan Phu Vinh; Luong Henry My; Kieu Tina***.
Danh sách 16 HQ Đại úy gốc Việt hiện dịch và trừ bị** ngành chuyên môn ( Staff Corps Officers ) được đề cử thăng cấp HQ Thiếu tá:
Hiện dịch: Lam Alison; Lu Michelle My; Nguyen Huy Chau; Tran Jeremy Ducanh S; Thai Bidong; Truong Lydia C; Nguyen Long Kim; Nguyen Khanh Tran Nhat; Nguyen Michael; Ta Mary Linh; Do Jacinta Tu Tram Sy; Nguyen Vong Hy; Nguyen Ngoc Thi To; Do Duy Anvu.
Trừ bị: Tran Stephanie Quynh G; Lu Laura Y.
Nữ HQ ĐạI uý Tiffany Tran, Sĩ quan phòng tai, Tuần dương hạm USS Hué City (CG-66) – Ảnh chụp khi còn mang cấp HQ Thiếu uý của alamy.com.
Theo hệ thống thăng cấp Sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ ( Navy Officer Promotion System ), thì sau 3 năm mang cấp Đại úy, khoảng 80% Sĩ quan Đại úy sẽ được thăng cấp Thiếu tá, và sau 3 năm mang cấp Thiếu tá, khoảng 70% Sĩ quan Thiếu tá sẽ được thăng cấp Trung tá, theo tài liệu Defense Primer: Military Officers – updated June 4, 2024, ghi nhận: Hải quân Hoa Kỳ có 18245 Đại úy và 10485 Thiếu tá phục vụ hiện dịch toàn thời (Active Duty Military Officers).
HQ Đại uý Jeremy Tran, Bác sĩ Quân y Hải Quân – Ảnh của med.navy.mil.
Tóm lượt các ngành của Sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ:
Ngành Sĩ quan tác chiến (chủ lực) của Hải quân Hoa Kỳ (Line Officer) được chia ra thành hai ngành gồm: Sĩ quan tác chiến không giới hạn (Unrestricted Line Officers) và Sĩ quan yểm trợ tác chiến giới hạn (Restricted Line Officers).
-Sĩ quan ngành tác chiến Hải quân không giới hạn (Unrestricted Line Officers) có 4 ngành: Sĩ quan chiến hạm, Sĩ quan tiềm thủy đĩnh, Sĩ quan Hải quân không chiến (Không quân của Hải quân), Sĩ quan chiến tranh đặc biệt Hải quân (Lực lượng đặc biệt Hải quân). Những Sĩ quan chủ lực không giới hạn được quyền chỉ huy các tàu ngầm và chiến hạm, các Phi đoàn Không quân, và các đơn vị hành quân đặc biệt, tương tự như Sĩ quan ngành chỉ huy của Hải quân VNCH.
-Sĩ quan ngành yểm trợ tác chiến Hải quân giới hạn (Restricted Line Officers) gồm có các ngành: Sĩ quan tài nguyên nhân lực; Sĩ quan kỹ thuật cơ khí; Sĩ quan kỹ thuật hàng không; Sĩ quan bảo trì phi cơ; Sĩ quan công vụ (chiến tranh chính trị); Sĩ quan giao tế ngoại giao; Sĩ quan hải dương học; Sĩ quan chiến tranh mật mã; Sĩ quan truyền tin Hải quân; Sĩ quan chiến tranh an ninh mạng và Sĩ quan không gian hàng hải (Maritime Space Office).
-Sĩ quan ngành chuyên môn phục vụ hải quân (Staff Corps Officers) gồm có 8 ngành: Bác sĩ, Nha sĩ, Điều dưỡng và Chuyên viên y tế thuộc Bộ chỉ huy Quân y Hải quân; Sĩ quan Kỹ sư công chánh ( Công binh Hải quân ) và Sĩ quan tiếp liệu Hải quân thuộc Bộ chỉ huy tiếp vận Hải quân; Sĩ quan Luật sư Quân pháp và Sĩ quan Tuyên úy tôn giáo trực thuộc Bộ hải quân.
Theo tài liệu lưu trữ trên các trang nhà Navy Personnel Command và Congress.Gov thì có trên 140 HQ Thiếu tá gốc Việt đang phục vụ các ngành trong Hải quân Hoa Kỳ ( Không tính những vị đã về hưu. Năm nay có 10 HQ Thiếu tá được HQ thăng cấp Trung tá ).
Chúc 31 tân HQ Thiếu tá Hoa Kỳ gốc Việt thăng tiến hải nghiệp.
Cấp hiệu Thiếu tá ngành tác chiến Hải quân (Unrestricted Line officer) và ngành yểm trợ tác chiến Hải quân Hoa Kỳ (Restricted line officers) **** – Minh họa của military.com/navy/officer-ranks.military.com/navy/officer-ranks.
Chú thích: *Ghi theo cấp bậc HQ Đại uý Hoa Kỳ (Navy Lieutenant) và HQ Thiếu tá Hoa Kỳ (Navy Lieutenant Commander); **Ghi theo họ và tên 31 HQ Đại úy gốc Việt trên các bản danh sách, có một số HQ Đại úy mang họ và tên giống người Việt được đề cử thăng cấp Thiếu tá, nhưng không thể xác định được các vị này là gốc Hàn, Hoa hay Việt gốc Hoa?; ***Nữ HQ Đại uý Tina có tên trong danh sách đề cử thăng cấp HQ Thiếu tá tác chiến Hải quân hiện dịch, tài khoá YF-24 (FY-24 ACTIVE-DUTY NAVY LIEUTENANT COMMANDER LINE SELECTIONS) ngày 2 tháng 5 năm 2023, Nhưng theo thông báo danh sách đề cử thăng cấp HQ Thiếu tá tác chiến trừ bị, tài khoá YF-25, ngày 6 tháng 6 năm 2024, lại có tên nữ HQ Đại uý Tina Kieu?; ****Cấp hiệu Thiếu tá ngành chuyên môn phục vụ Hải quân (Staff Corps officers) không có ngôi sao như Thiếu tá ngành tác chiến Hải quân (Unrestricted Line officers) và ngành yểm trợ tác chiến Hải quân (Restricted line officers), thay thế cho ngôi sao là huy hiệu của ngành chuyên môn.
Nguyễn Quân
Nguồn: Navy Personnel Command; congress.gov; Defense Primer: Military Officers – CRS In Focus, updated June 4, 2024; military.com/navy/officer-ranks; en.wikipedia.org; public.navy.mil; dvidshub.net; linkedin.com; bienxua-30 Hải Quân Đại úy Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Thiếu tá năm 2023.
Tôi không nhớ vào dịp nào, ông Tony Lâm, nghị viên thành phố Westminster vào những năm trước, có kể cho tôi nghe một câu chuyện rất tếu, mà tôi tạm đặt tên là “Giỏ Cua Cộng Đồng”.
Câu chuyện ấy như sau: Có hai người đi câu cua bên bờ biển, ngồi gần nhau, một người Mỹ và một người Việt Nam. Giỏ cua của người Mỹ thì có nắp đậy và được cột rất chặt vì sợ cua bò ra, trái lại giỏ cua của anh Việt thì để tênh hênh không có nắp đậy. Anh chàng Mỹ rất ngạc nhiên, hỏi lý do thì người Việt bình thản trả lời rằng: “Cua của tôi không con nào bò lên tới miệng giỏ được, hễ con này bò gần tới thì những con kia trong giỏ cặp càng kéo xuống trở lại, như vậy chẳng con nào lên nổi, thì việc gì phải đậy nắp!”
Câu chuyện nghe rất thường mà muốn chảy nước mắt. Anh nào mà có làm được một tí gì trong cộng đồng thì thế nào cũng có vài ba anh xúm nhau lại chửi bới. Trong chúng ta hễ ai làm được việc gì thì cũng có năm ba người chê bai, dè bỉu; người nào thành công thì cũng có dư luận nói xấu hay xoi mói vào đời tư.
Hễ một người xây được thì có ba người tới đập đổ. Như vậy, không có ai giỏi bằng mình, thành công bằng mình, đạo đức bằng mình, nghĩa là thói đời có cái nhìn “mục hạ vô nhân” (dưới mắt ta chẳng có thằng nào đáng mặt con người cả!) Cho nên, chúng ta ít thấy người khen ngợi người khác, mà mở miệng ra là toàn thấy chê bai. Mới nói tới ông A., thì có người đã lên tiếng “Ôi cái thằng chả mà … .” Mới nghe thoáng tên bà B., thì có ai đó đã thọc vô
“Tao đâu có lạ gì cái con mẻ đó mà … .” Trong cuốn “Người Trung Quốc Xấu Xí”, ông nhà văn Bá Dương đã cho cái lối đó là “bản thân mình là đáng khen, còn những người khác đối với họ là cứt chó hết”. Trong tiếng Tàu, các thành ngữ kiểu: “Trí thức khinh nhau” (Văn nhân tương khinh), “Cùng nghề hay ghen nhau (Đồng hành tương kỵ), “Cùng tính thì hay khích bác nhau” (Đồng tính tương xích) … nhiều không sao kể xiết! Xưa kia mình cũng có một câu hát, hình như của ban AVT là “hai cô ca sĩ có khen nhau bao giờ”. Bây giờ thì chúng ta đã thấy loạn hơn, vị này chê vị kia, báo này chê báo nọ, nhà văn này chê nhà văn kia, hội đoàn này chê hội đoàn khác. Gần đây, ông Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh chê ông Nguyễn Cao Kỳ tới đất đen, thì một vị không quân nọ lại mạt sát lại Ông Vinh thậm tệ, cứ ăn miếng trả miếng như thế, cuối cùng ai cũng đưa cái lưng đầy ghẻ ra cho người khác nom thấy. Ông Nguyễn Khánh thì cho rằng sau khi ông Dương Văn Minh và ông Nguyễn Văn Thiệu đã về bên kia thế giới, thì chính ông là người lãnh đạo duy nhất còn lại, ông Nguyễn Cao Kỳ cũng cho ông là người lãnh đạo còn lại sau cùng (trong cái hàm ý đủ tư cách để “hầu” chuyện bên kia).
Ông Nguyễn Khánh cũng hé cho mọi người biết ông Kỳ là “đàn em” của ông mà ông đã hết lòng giúp đỡ. Trong trường hợp này, nếu có một nhân vật ngoại quốc đầy uy thế đến hỏi: “Theo ông ai là người có thể đại diện cho người Việt hải ngoại?” thì tôi chỉ có cách là chỉ vào ngực tôi là: “Đâu có ai xứng đáng hơn, chính tôi đây thưa ông!”
Những con cua ở trong cái giỏ tự do, con này có quyền bò lên miệng giỏ thì con cua khác cũng có quyền kéo cẳng xuống. Kết luận của bầy cua là: “Tao mà chưa bò lên được miệng giỏ, thì đố con nào bò lên được với tao!”
Vào thời điểm từ năm 1994 đến 2000, đồng hương tại Quận Cam còn tích cực quan tâm đến sinh hoạt cộng đồng, mỗi lần đầu phiếu con số cử tri lên đến hằng chục nghìn. Nhưng càng ngày vì quyền lợi riêng tư của cá nhân hay phe nhóm, chúng ta phải công nhận rằng sự chia rẽ, phân hóa đã bắt đầu trong các tổ chức, cộng đồng hay ái hữu của chúng ta ở hải ngoại.
Chúng tôi không muốn nêu ra đây những địa phương có tới ba hội cựu tù nhân chính trị, ba hội lính, hai hội ái hữu dưới những nhãn hiệu khác nhau dưới những cái tên khác nhau. Cuối cùng đồng hương ai cũng nản lòng, không muốn tham gia, tình nghĩa thì tràn đầy mà nhân sự thì nhiễu nhương, hội này chê hội kia, hội kia chửi hội nọ. Có những ban chấp hành đã hết nhiệm kỳ “phục vụ” của mình, nhất quyết “hy sinh” thêm vài nhiệm kỳ hay muốn ôm ghế trọn đời như Ông Bokassa bên Trung Phi hay ông Castro ở Cuba. Muốn làm được việc này họ sửa “hiến pháp” dùng luật rừng, nhất quyết không cho bầu lại. Nếu tình thế không cho phép họ chấp nhận làm một ban chấp hành song song, coi như họ cũng có quyền đại diện cho cộng đồng, một ăn một thua với ban chấp hành kia. Một năm nọ, một Hội Ái Hữu Trung Học tại Bolsa tổ chức cuộc họp mặt tất niên, ông Chủ Tịch muốn “dĩ hòa vi quí” nên mời luôn cả hai ông Chủ tịch Cộng Đồng cho đỡ mất lòng. Ông Đại Diện ông Chủ tịch Cộng Đồng này mới bước chân vô cửa đã hỏi ban tiếp tân: “Có mời Ông Chủ Tịch kia không.”
Ban tổ chức trả lới “Có”, thế là ông này mặt hầm hầm bước ra cửa, quày quả đi không thèm nói một lời. Ban Tổ Chức chạy theo níu áo năn nỉ hết lời, nhưng thà ông ghé quán phở ăn một tô (vì nói lỡ với vợ là đi dự tiệc), còn hơn là ngồi chung với thằng cha không đội trời chung kia. Đó là chỉ mới ông Đại Diện thôi, chứ đúng là ông Chủ Tịch thật thì Ban Tổ Chức còn và bị thù oán dài dài.
Nhiều năm sau chiến tranh, tôi có đọc quyển “Lịch Sử Những Cuộc Hành Quân của Hải quân Hoa Kỳ trong thời Ðệ Nhị Thế Chiến” của Ðề đốc Samuel Eliot Morison. Ðề đốc chứng tỏ là một sử gia có tài và nghiên cứu của ông đã cung cấp một sử liệu đồ sộ. Tuy nhiên, đáng tiếc là có một đoạn lịch sử đặc biệt liên quan đến cuộc chiến trong sách này ít dựa vào căn bản của sự thật. Tôi muốn nói đến mặt trận quần đảo Ðông Nam Dương thuộc Hoà Lan, mặt trận đã mang đến chiến thắng cho chúng tôi, nhứt là việc đánh chiếm pháo đài quan trọng Java. Theo quan điểm của Morison, sự chiến thắng của chúng tôi ở mặt trận này là “do đánh lén với sức mạnh, hơn là do sự tinh tế”. Một điều đáng lưu ý trong cuộc chiến bại của các hạm đội Ðồng Minh và Hoà Lan vào tháng 2 năm 1942, là không chỉ một mình Morison mà còn nhiều sử gia tăm tiếng khác của Hoa Kỳ cũng đều bỏ qua, không đề cập tới các chi tiết của trận không chiến lớn nhất Nam-Dương trong tài liệu của họ.
Qua vai trò một hạ sĩ quan phi công, dù đã tham dự trực tiếp vào trận đánh đó, cái nhìn của tôi dĩ nhiên sẽ có nhiều giới hạn hơn cái nhìn của những sử gia “ôm đồm” cả một cuộc chiến rộng lớn trong tay. Tuy nhiên, sự góp phần cá nhân của tôi vào mặt trận tháng 2 này có thể giúp soi sáng sự tìm hiểu những chi tiết liên quan đến cuộc chiến Thái Bình Dương.
Mặt trận Java kết thúc hẳn vào ngày 25 tháng 2 với sự chiến bại của các lực lượng trên biển của Ðồng Minh trong khu vực. Yếu tố quan trọng gây ra cuộc chiến bại này là các chiến hạm của Ðồng Minh thiếu sự bao che trên không, vì trước đó, vào ngày 19 tháng 2, các đơn vị không quân của họ đều bị tiêu diệt trong một cuộc không chiến dữ dội và lớn nhất ở Surabaya, với tổng số gần 80 chiến đấu cơ của cả hai phía tham dự. Nhưng không có bài tường thuật nào của người Mỹ về cuộc chiến, mà tôi đã từng đọc qua, đề cập đến trận không chiến này. Chính chiến thắng của các khu trục cơ Zéro đã chiếm lĩnh bầu trời, chứ không phải các cuộc ném bom của các oanh tạc cơ Nhựt, mới là thành tố quyết định.
Vào ngày 4 tháng 2-1942, tôi bay đến phi trường Balikpapan với nhiều phi công khác. Ngày hôm đó, tôi thực hiện các phi vụ tuần tiễu trong khu vực. Nhiệm vụ khó khăn, vì hoạt động không quân địch đã gia tăng mạnh mẽ. Báo cáo chính thức phía Nhựt ghi nhận thêm một chiến công của tôi ngày hôm ấy.
Tuần lễ kế đó, các phi cơ thám thính của chúng tôi báo cáo rằng địch quân đã tập trung trong khu vực Surabaya một số lượng chiến đấu cơ từ 50 đến 60 chiếc, loại Curtiss P36 Mohawk, Curtiss P40 và Brewster F2A Buffalo, nhằm chống lại cuộc đổ bộ lên Java của chúng tôi.
Bộ tư lệnh tối cao Nhựt ra lệnh cho tất cả các chiến đấu cơ khả dụng, đóng tại các căn cứ trên đất liền nằm trong khu vực mặt trận, tập trung về Balikpapan vừa mới chiếm giữ. Vào buổi sáng ngày 19 tháng 2-1942, 23 chiến đấu cơ Zéro thuộc các đơn vị không quân ở Cao Hùng và Ðài Nam đều cất cánh quy tụ về Surabaya.
Ðây là cơ hội đầu tiên, theo chúng tôi đoán biết, chúng tôi sẽ đối đầu với các loại chiến đấu cơ tối tân của địch. Chúng tôi phải bay 800 cây số liền để đến căn cứ Hòa Lan, nơi kẻ thù đang chờ đợi với số phi cơ áp đảo. Không một ai trong chúng tôi trông đợi một chiến thắng dễ dàng, như đã hoàn thành ở Phi. Tất cả những dự phòng đều được chuẩn bị. Mỗi phi công có một danh sách các hải đảo có thể đáp khẩn cấp với cấp cứu của tàu Nhựt. Các phi cơ thăm dò khí tượng bay trước chúng tôi nhằm thông báo cho chúng tôi biết những thay đổi của thời tiết sẽ ảnh hưởng đến trần mây. Một máy bay thám thính dẫn đầu hợp đoàn tấn công.
Khi bay vô không phận Surabaya vào lúc 11 giờ 30, trên cao 16,000 bộ (4,900m), chúng tôi đụng đầu với khoảng 50 chiến đấu cơ Ðồng Minh, đang bay ở cao độ 10,000 bộ (3,000m) và xoay vòng trên thành phố, ngược chiều kim đồng hồ, theo đội hình hàng dọc. Như vậy, lực lượng đối phương nhiều hơn gấp đôi chúng tôi. Máy bay địch chia ra làm 3 nhóm với từng phi đội tam giác. Chúng tôi nhả bình xăng phụ và đâm xuống, ngang hàng với địch thủ. Các chiến đấu cơ Ðồng Minh phá vỡ đội hình vòng tròn và gia tăng hết tốc lực lao về phía chúng tôi. Họ sẵn sàng và nôn nóng đánh nhau, khác xa các chiến đấu cơ Hoa Kỳ mà chúng tôi đã đối đầu ở phi trường Clark vào ngày 8 tháng 12-1941.
Không đầy một phút, hai bên đã dàn xong đội hình quy củ và bước vào một trận đấu ác liệt.
Nhìn thấy một chiếc P36 đang gầm thét xông đến, tôi liền nhích cánh lộn thật mau về phía trái chờ phản ứng của đối thủ. Ngu dại thay, đối thủ vẫn duy trì hướng bay cũ. Tôi lập tức xoay sang phải thật ngặt, lấy thăng bằng, và lướt thẳng vào đuôi của chiếc P36 với tên phi công đang sửng sốt.
Liếc nhìn lại phía sau thấy trống không, tôi thâu ngắn khoảng cách giữa tôi với viên phi công địch. Hắn lộn về bên trái, nhưng với một cái nhích nhẹ ở cần điều khiển, tôi theo sát đuôi hắn. Còn cách 50 thước, tôi thổi vừa đạn đại liên vừa đạn đại bác ra. Tức khắc, cánh phải của đối thủ long ra, bay trong không khí, rồi tới cánh bên trái cũng bị xé đứt. Xoáy như chong chóng, chiếc P36 chúi xuống vỡ tan dưới mặt đất cùng với viên phi công.
Tôi đảo một vòng thật rộng để vượt lên, và trở về đội hình chính. Có ít nhất 6 phi cơ đang rơi xuống như những bó đuốc. Bóng màu ô liu của một chiếc P36 đang xoay tít hướng về phía tôi. Tôi quay lại để chặn đầu, nhưng một chiếc Zéro khác đã vượt thẳng từ dưới lên, chụp chiếc P36 bằng một tràng đại bác, rồi lách ra như chớp trong khi chiếc phi cơ Hoà Lan nổ tung. Phía bên trái một chiếc P40 theo sát đuôi một chiếc Zéro đang tháo chạy. Tôi cấp tốc xoay lại nhằm chận đứng chiến đấu cơ địch. Nhưng hành động của tôi thừa thãi, chiếc Zéro đã quất ngược mũi lên, lộn nhào về phía sau, ở trên chiếc P40 một chút, rồi đạn đại liên và đại bác nện cùng lúc. Chiếc P40 biến thành cây đuốc.
Cách đó không xa, một chiếc P40 khác loé sáng, kéo một vệt lửa dài gấp 3 lần thân phi cơ, và một chiếc P36 lảo đảo như một chiếc lá rụng trên không, viên phi công đã gục chết trên tay lái. Phía dưới tôi một phi cơ dẫn đường không võ trang của chúng tôi đang bị 3 chiến đấu cơ của Hoà Lan rượt đuổi. Viên phi công Nhựt đang cuống cuồng lẫn trốn.
Một lần nữa, tôi lại lướt đến quá chậm. Một chiếc Zéro hùng hổ bổ nhào xuống và đạn đại bác của nó phá tung bồn chứa xăng của chiếc chiến đấu cơ Hoà Lan bay đầu tiên. Rồi vừa vượt lên chiếc Zéro vừa “đấm” vô bụng chiếc P36 thứ nhì, phi cơ địch đứt hẳn một bên cánh ngay khi chiếc thứ ba lộn vòng trở lại để chận đầu chiếc Zéro. Quá muộn, buồng lái của chiếc P36 này cũng ăn đạn và vỡ tan tức khắc. Chiếc Zéro lướt dọc theo phi cơ của tôi, viên phi công đưa tay vẫy vẫy và cười rạng rỡ rồi bay đi hộ tống chiếc phi cơ quan sát ra khỏi khu vực.
Một chiếc P36 tháo chạy, lướt ngang phía trên tôi. Tôi gia tăng tốc lực cấp tốc, vượt thẳng lên và ấn cò đại bác. Quá sớm! Áp lực của vòng xoáy để lấy lại thăng bằng của đối thủ đã làm lệch đường nhắm của tôi. Chiếc P36 lộn nhào nhiều vòng về phía trái và chúi thẳng xuống đất. Tôi cắt thẳng vào đường xuống của phi cơ địch và ấn cò súng. Một vệt khói màu đen kéo lê thật dài. Tôi bồi thêm hai viên đại bác 20 ly nữa, và lảng ra ngoài khi cuộn lửa đỏ bao trùm cả thân chiếc chiến đấu cơ Hoà Lan này.
Một chiếc Zéro với hai sọc xanh kẻ trên thân phi cơ lướt ngang qua cách 200 thước trước mặt tôi. Không dấu hiệu nào báo trước, chiếc Zéro nổ tung, lửa loà sáng. Trung úy Masao Asai, phi đội trưởng của chúng tôi thiệt mạng. Lúc đó tôi không hiểu lý do gây ra sự nổ tung này.
Trở lên cao độ 8,000 bộ (2,400m), tôi nhận thấy khoảng 20 chiến đấu cơ Zéro đang lượn vòng quanh trong đội hình tập họp. Một vài chiến đấu cơ Hoà Lan sống sót chỉ còn là mấy chấm đen ở xa. Trận đánh đã kết thúc, sáu phút sau khi phát khởi.
Thật kỳ lạ, với bầu trời không còn một chiếc phi cơ địch nào, các khẩu cao xạ của Hoà Lan vẫn im tiếng khi chúng tôi lượn vòng trên thành phố của họ, chờ đợi xem còn chiếc chiến đấu cơ Zéro nào truy đuổi địch trở về hay không.
Trong khi những chiến đấu cơ khác lượn vòng, tôi bay về phía trước, trên eo biển ngăn đôi Surabaya và đảo Madura… Nơi đây có một phi trường được ngụy trang cẩn thận. Tôi bay thật chậm, ghi toạ độ phi trường trên bản đồ, nằm ở mũi phía Tây Madura. Chưa ai báo cáo về phi trường bí mật này, tin tức của tôi chắc chắn sẽ được cơ quan tình báo đón nhận một cách hài lòng.
Khi bắt đầu bay lên cao để quày lại kết hợp với những chiến đấu cơ khác, tôi nhìn thấy một chiếc P36 bay phía dưới sà thấp trên thành phố. Mục tiêu ngon lành. Viên phi công địch bay nhởn nhơ, không biết tôi đang đến gần.
Sự nôn nóng của tôi làm mất cơ hội chiến thắng nhanh chóng. Cách tầm súng quá xa tôi đã vội vã bóp cò. Bị động, viên phi công Hoà Lan lập tức chúi mũi xuống, gia tăng hết tốc lực để tháo chạy. Chửi thề cho sự ngu dốt của mình, tôi cũng gia tăng tốc lực rượt theo.
Khả năng bay của chiến đấu cơ P36 kém hơn loại chiến đấu cơ Zéro của chúng tôi. Zéro mau lẹ hơn, nắm ưu thế về võ trang, và nhanh nhẹn khi nhào lộn hoặc vượt lên, nhưng lại rất yếu khi chúi xuống với tốc độ cao. Hơn nữa, tôi khai hoả quá sớm, cho phép chiếc P36 kéo dài khoảng cách giữa hai phi cơ đến 200 thước. Tôi không thể tiến gần thêm được. Nếu ở một độ cao hơn nữa, chiếc P36 chạy thoát dễ dàng bằng cách cứ bay chúi xuống. Nhưng lúc ấy mặt đất phía dưới đang dâng cao, bắt buộc viên phi công địch phải vượt lên. Bây giờ tôi có thể sử dụng ưu thế của chiếc Zéro.
Viên phi công Hoà Lan bay sà sát mặt đất theo hình chữ chi rất ngặt. Tôi cắt thẳng vào mỗi nét của chữ chi (giống như chữ Z), thâu hẹp khoảng cách lại. Hắn bay càng lúc càng thấp hơn, lách vào khoảng trống của cây cối và nhà cửa, vừa trốn chạy vừa hy vọng tôi bỏ cuộc vì thiếu nhiên liệu. Tôi hiểu điều này. Ðánh ván cuối cùng, tôi gia tăng tốc lực khẩn cấp ngay khi căn cứ Malang hiện ra trước tầm mắt. Cách 50 thước, tôi nhắm vào buồng lái của chiếc P36 và ấn cò súng. Ðại bác hết đạn nhưng hai tràng đại liên đã xé nát viên phi công. Chiếc chiến đấu cơ nhào xuống và vỡ tan trong một ruộng lúa. Tôi là phi công cuối cùng trở về kết hợp với những chiến đấu cơ khác đang bay quần trên cao độ 13,000 bộ (4,000m) cách phía Bắc Madura 20 dặm (30km).
Chúng tôi mất Trung úy Asai và 2 phi công khác. Trở về Balikpapan, theo báo cáo của các phi công Nhựt, có tất cả 40 chiến đấu cơ địch bị bắn hạ. Tôi luôn luôn trừ đi 30% báo cáo của bất kỳ nhóm phi công nào, sau một trận không chiến dữ dội, như trận không chiến vừa rồi chẳng hạn. Bởi lẽ, trong cảnh hỗn đấu, hai hoặc ba phi công có thể cùng xạ kích một chiếc phi cơ địch, và mỗi người đều cho rằng mình bắn hạ một chiếc. Tuy nhiên, lần này con số có vẻ ít sai sự thật, vì kể từ ngày đó chúng tôi hầu như không còn đụng độ với số lượng đông đảo các chiến đấu cơ Hoà Lan nữa. Ðồng thời, phi trường bí mật ở Madura bị oanh tạc, tiêu diệt hầu hết số phi cơ P40, Buffalo và Hurricane còn lại trên mặt đất của Ðồng Minh.
Ðêm nào chúng tôi cũng đều nghe đài phát thanh của địch quân cho biết 5 hay 6 chiến đấu cơ Nhựt bị bắn hạ trong ngày. Ðiều này sai sự thật, vì nhóm chúng tôi là nhóm duy nhất bay loại phi cơ Zéro trong khu vực, và con số thiệt hại lớn nhất của chúng tôi chỉ xảy ra vào hai ngày 19 và 20 tháng 2, với 6 phi cơ và phi công bị bắn hạ.
Và ngày 25, tám chiến đấu cơ Zéro được lịnh rời khỏi Balikpapan bay đến “dọn dẹp” căn cứ không quân Malang nơi mà cơ quan tình báo tin rằng có nhiều oanh tạc cơ của Ðồng Minh. Trên đường đến Malang, chúng tôi đụng đầu với một chiếc thủy phi cơ Hoà Lan, và tôi đã tách khỏi đội hình để nhận nó xuống đại dương.
Sau khi bay quần trên phi trường khoảng 6 phút, chúng tôi nhào xuống làm thịt ba chiếc B17 đang đậu trên mặt đất. Hoả lực phòng không của địch dữ dội, xoi thủng nhiều chiến đấu cơ của chúng tôi nhưng không lôi được chiếc nào xuống đất.
Nạn nhân kế, cũng là nạn nhân chính thức thứ mười ba của tôi, xuất hiện vào ngày cuối của tháng Hai.
Tôi tham dự vào một phi vụ gồm 12 chiến đấu cơ hộ tống 20 oanh tạc cơ Mitsubishi G4M Betty từ Macassar phía Tây Nam đảo Sulawesi đến tấn công cuộc di tản bắt buộc của Ðồng Minh ra khỏi đảo Tjilatjap (Ðông Nam Bandung). Chiến hạm của địch rời khỏi hải cảng trước khi chúng tôi đến. Các chiến đấu cơ chúng tôi quần chầm chậm trong khi các oanh tạc cơ ném bom vào những cơ sở của địch trên hải cảng. Cuộc không kích suôn sẻ và, sau khi hộ tống các oanh tạc cơ ra đến biển Java, chúng tôi quay lại Malang để lục lọi phi cơ địch.
May mắn đến với chúng tôi hôm ấy. Bốn chiến đấu cơ, thuộc loại mà tôi chưa từng đụng độ, bay quần trên không, gần một đám mây dầy đặc, ở cao độ 25,000 bộ (7,600m). Khi tiến đến gần, tôi nhận ra đó là loại chiến đấu cơ Brewster F2A Buffalo của Hoà Lan. Tôi không bao giờ hiểu nổi sự thiếu đề cao cảnh giác của mấy viên phi công Hoà Lan này, cho dù trước đó họ đã biết có sự hiện diện của chúng tôi.
Chúng tôi áp sát, và một chiếc Zéro đốt ngay một chiếc Buffalo với một quả đại bác. Tôi xông đến chiếc thứ nhì, lúc nó đang xoay thân. Ðúng là nó muốn nghinh chiến. Tôi cắt thẳng vòng xoay của chiếc phi cơ, mũi hơi chếch để bay lảng ra, cách địch thủ 200 thước, và bóp cò súng liên tục. Nhiều viên đại bác trúng đầu máy chiếc Buffalo và khói bốc ra cuồn cuộn trôi ngược về phía sau. Hình như viên phi công cũng bị trúng đạn, vì chiếc phi cơ lộn nhào chầm chậm nhiều vòng cho đến khi biến mất trong mây. Nó khó có thể tồn tại trước cơn nóng dữ dội trong những đám mây đó.
Nhiều tháng sau, chúng tôi chuyển hết căn cứ này đến căn cứ khác rồi trở về Phi Luật Tân, và thực hiện các phi vụ yểm trợ cho Lục quân lúc các hệ thống phòng thủ của Mc Arthur ở đảo Corregidor bị chọc thủng. Sau đó, đơn vị chúng tôi được chuyển đến đảo Bali ở Nam-Dương để chuẩn bị cho cuộc hành quân quan trọng kế tiếp về phía Nam.
Tôi không bao giờ hiểu nổi những phúc trình của người Mỹ về các trận không chiến vào khoảng thời gian này. Ðáng kinh ngạc hơn hết là một phúc trình của Ðại tá Jack Delmar Dale. Theo đó, phi đoàn chiến đấu cơ P40 của ông đã hạ 71 phi cơ Nhựt và ông chỉ thiệt mất 9 chiếc trong suốt 45 ngày chiến đấu ở Java. Ðây là một con số không thể tưởng tượng nổi, khi mà mất mát của chúng tôi vào giai đoạn này không hơn 10 chiếc Zéro.
Ðại tá Dale còn mô tả cả đội hình mà ông đã thiết lập khi chiến đấu, khiến cho chúng tôi nhìn 16 chiến đấu cơ của ông thành 48 chiếc. Ðó là đội hình chữ S phân tán. Trong tất cả những trận đụng độ giữa tôi với các chiến đấu cơ P40 của Hoa Kỳ, tôi chưa bao giờ thấy một đội hình nào như Ðại tá Dale mô tả.
Ðại tá Dale cũng đã phúc trình: “Một đêm tối chúng tôi có nghe đài phát thanh Ðông Kinh loan báo: nhiều trăm chiến đấu cơ P40 được tung ra tấn công đều khắp. Ðó là những chiến đấu cơ Curtiss Tomahawk loại mới, võ trang đến 6 đại bác.” Katsutaro Kamiya, phụ trách phần phát thanh Anh ngữ của đài Ðông Kinh, nói với tôi rằng không bao giờ có loại tin tức như vậy được loan đi, bởi lẽ giản dị là đài chỉ loan những tin tức chiến thắng của Nhựt mà thôi. Các phúc trình của Ðại tá Dale cũng ít dựa vào sự thật như phúc trình “đánh chìm” thiết giáp hạm Haruna của Ðại úy Kelly.
Nhớ xưa, những năm 70s, thầy và cô Beidler là giáo sư dạy Anh Văn tại trường Ðại Học Văn Khoa Cần Thơ. Nhà thầy cô, cất theo kiểu California, ở Khu Văn Hóa đầu đường Tự Ðức. Ở đó có một thư viện nhỏ, sách đa phần là tiếng Anh để sinh viên đến đọc hoặc dùng tài liệu tham khảo.
Và người viết lần đầu tiên biết đến O. Henry, Mark Twain… qua những tuyển tập truyện ngắn gọi là ‘Ladder books’ (Ladder nghĩa là thang). Những truyện nầy được viết với số từ vựng giới hạn theo bậc thang từ thấp lên cao! Bậc thang thấp nhứt một ngàn chữ, rồi lên bậc thang thứ hai, hai ngàn và cao nhứt là bậc thang thứ ba, ba ngàn chữ.)
Khi vốn từ đã được ba ngàn, tương đối đầy đủ, thì sinh viên sẽ tìm đọc nguyên tác ở Thư viện Hội Việt Mỹ Cần Thơ nằm trên đường Phan Ðình Phùng để cảm thụ được hết cái hay, cái đẹp của một tác phẩm nổi tiếng thuộc nền văn chương của đất nước Hoa Kỳ.
***
Sau nầy biết thêm chút đỉnh về sự tự do của đất nước Hoa Kỳ, tôi mới nghiệm ra rằng tự do không chỉ bó hẹp về chánh trị. Mà tự do có nghĩa rộng hơn rất nhiều.
Tự do sống, tự do yêu, tự do chọn nghề theo sở thích. Chính vì thích nên dành hết công sức của mình vô, làm rất nhiệt tâm, nhiệt tình nên nghề mới tinh diệu. Chọn nghề không hẳn vì Ba Má mình muốn thế cho nở mặt nở mày với lối xóm bà con. Chọn nghề không hẳn phải là Bác sĩ, Kỹ sư cho nó có danh, có lợi. Chọn nghề không hẳn vì: ‘Phi Cao đẳng bất thành phu phụ’. Chọn nghề không hẳn vì ‘Nhứt sĩ nhì nông. Hết gạo chạy rông nhứt nông nhì sĩ’. Chọn nghề không hẳn vì chén cơm manh áo như thường thấy ở đất nước đầy biến loạn của chúng ta.
Ðã thân nầy kể bỏ, quyết tâm theo đuổi nghề viết văn chừng một thế kỷ trước, nhà văn Hoa Kỳ ắt cũng nghèo đói thế thôi! Nhà văn của mình, trong và ngoài nước, ngay từ xưa rồi đến cả bây giờ cũng vậy, ngoại trừ một số rất ít sống được bằng ngòi bút của mình.
Nhưng là nhà văn, là nghệ sĩ, là dân chơi thì sợ gì mưa rơi. Chọn nghề văn là thân nầy kể bỏ. Nên việc nhà văn nghèo, không cưới được vợ như Tản Ðà hoặc như Arthur Miller bị Marilyn Monroe bỏ thì cũng chẳng có nhằm nhò gì hết ráo!
***
Mùa Giáng Sinh về, tôi lại nhớ O. Henry, một nhà văn sống một đời bất hạnh, một bi kịch! Vợ chết, mình phải đi tù chỉ vì một số tiền biển thủ không đáng là bao nhiêu, con phải vào Trại Mồ Côi.
Tháng Chạp lại về, đang ở tù thì làm gì có tiền mua cho đứa con gái còn bé bỏng của mình một món quà Giáng Sinh đơn sơ cho con mình khỏi tủi, O. Henry bèn cầm viết!
Tình phụ tử cao quý đó đã sản sinh cho chúng ta, những người đọc trên toàn thế giới, suốt cả trăm năm nay, những truyện ngắn về Mùa Giáng Sinh tuyệt tác của O. Henry!
***
O. Henry, tên thật là William Sydney Porter, sanh ngày 11, tháng Chín, năm 1862 tại Greensboro, North Carolina, Hoa Kỳ.
Mẹ mất vì bịnh lao nên ông mồ côi khi mới lên 3 tuổi. Về với Nội, ông chỉ học ở trường trung học Lindsey tới năm 15 tuổi rồi phải bước xuống cuộc đời mà kiếm sống.
Tháng Ba, năm 1882, khi bắt đầu có những cơn ho dai dẳng, sợ bị lao như Mẹ, ông chuyển về Texas, sống trong một trại chăn nuôi với hy vọng khí hậu ấm áp nơi đồng nội miền Nam Hoa Kỳ sẽ giúp ông vượt qua cơn bệnh.
Khi còn bé, rất ham đọc; đọc bất cứ cái gì mà ông có trong tay. Ðến Houston năm 1895, ông bắt đầu viết cho tờ Post (Bưu Ðiện). Tiền nhuận bút được một tháng 25 đô, một ngày kiếm chưa tới một đô la, lương trung bình lúc đó là 300 đô một năm!)
O. Henry yêu Athol Estes, 17 tuổi, con của một gia đình giàu có nhưng gia đình cô không chịu gả. Tháng Bảy, năm 1887, O. Henry và Athol trốn đi; trở thành vợ chồng. (Tháng Chín, năm 1889, họ có con gái đầu lòng, tên là Margaret Worth Porter.)
Năm 1896, làm nhân viên cho First National Bank ở thành phố Austin, Texas. bị tình nghi biển thủ 1,150 USD, ông bỏ trốn đến Honduras. Sáu tháng sau, nghe tin vợ mình đau nặng, hấp hối, ông quày quả trở về. Nhà cầm quyền đợi đến khi vợ ông qua đời mới đem ông ra xử tội biển thủ với bản án 5 năm tù giam.
Trong nhà tù ở thành phố Columbus, tiểu bang Ohio, O. Henry muốn mua quà Giáng Sinh cho con gái 9 tuổi Margaret đang ở trong Trại Mồ Côi, nhưng không có tiền nên gửi một truyện ngắn tới một tạp chí và được ông Chủ bút cho đăng ngay mà tác phẩm không bị sửa chữa bất cứ điều gì.
Mùa Hè năm 1901, ở tù đã hơn ba năm, O. Henry được trả tự do sớm nhờ hạnh kiểm tốt! Năm 1902, hàng tuần, O. Henry, theo hợp đồng, phải gửi cho tờ ‘The New York World Sunday Magazine’ một truyện ngắn. Tiền nhuận bút mỗi truyện là 100 đô la Mỹ, niềm mơ ước của bất cứ nhà văn Mỹ nào lúc bấy giờ.
Cả tòa soạn háo hức chờ đợi; ai cũng muốn được là người đầu tiên đọc tác phẩm mới của O. Henry!
***
Những tháng năm cùng quẫn O. Henry đã bỏ lại sau song sắt nhà giam. O. Henry danh tiếng giờ đây đã nổi như cồn. Tiền nhuận bút khá khẳm, nhưng vẫn không đủ xài vì tánh ông rất là hào phóng.
Cuộc hôn nhân thứ hai không hạnh phúc, O. Henry chìm trong men rượu! Ðến năm 1908, sức khỏe của ông sút giảm nhanh chóng. O.Henry lìa đời vào ngày mùng 5, tháng Sáu, năm 1910 tại New York trong sự cô độc, ở tuổi 48, vì xơ gan, vì tiểu đường và bị phì tim. O.Henry được chôn cất ở quê nhà North Carolina.
***
O. Henry mất cách đây hơn một thế kỷ mà ngày nay, mỗi mùa Ðông Bắc Mỹ, mùa Cúm, mùa sưng phổi lại về, chúng ta lại nhớ đến ông. Truyện ngắn của O. Henry thấm đẫm tình người. Mỗi truyện là một tuyên ngôn ‘nghệ thuật vị nhân sinh’.
Trong những truyện ngắn lừng danh đó phải kể đến tác phẩm: ‘The Last leaf’ ( Chiếc lá cuối cùng) xuất bản lần đầu vào năm 1907.
Chuyện rằng: “Sue và Johnsy là hai nữ họa sĩ trẻ sống trong Greenwich Village, Manhattan, thành phố New York, Hoa Kỳ. Behrman là một ông họa sĩ già sống cùng chúng cư. Suốt cả cuộc đời, Behrman khao khát tạo nên một kiệt tác nhưng chưa làm được.
Mùa Ðông năm ấy, Johnsy bị bệnh sưng phổi rất nặng. Bệnh tật khiến cô bị trầm cảm. Johnsy tuyệt vọng và nghĩ rằng khi chiếc lá cuối cùng trên cây Trường Xuân dưới sân nhà rụng xuống, cũng là lúc Johnsy lìa đời.
Sue, người bạn thân thiết cùng phòng hết lòng chạy chữa cho Johnsy. Nhưng vô ích, Johnsy vẫn âm thầm đếm từng chiếc lá Trường Xuân rụng xuống, chờ cho đến ngày tận tuyệt.
Biết được ý nghĩ bi quan đó của Johnsy, ông họa sĩ già Behrman cô đơn thức suốt canh thâu để vẽ một chiếc lá Trường Xuân ở trên tường. Chiếc lá giống y như thật. Chiếc lá cuối cùng đó như đang cố bám vào cây Trường Xuân để chống chọi lại mùa Ðông giông bão. Nó đã kiên cường chiến đấu mà không chịu bỏ cuộc, không rụng dù trong đêm qua Trời nổi cơn bão lớn. Ðiều đó làm Johnsy suy nghĩ lại, cô muốn được sống, muốn được sáng tạo.
Johnsy trở về từ cõi chết nhưng Behrman lại chết vì sưng phổi sau một đêm tạo ra kiệt tác chiếc lá để cứu sống Johnsy.
***
Chiều cuối năm quê người, năm tận tháng cùng ngày sắp hết, tôi lại nhớ O. Henry sống một cuộc đời bi kịch. Bi kịch đó như chiếc lá Trường Xuân, kiệt tác của người Họa sĩ già vẽ trên bức tường trong một tối đêm Ðông trời New York.
Chiếc lá Trường Xuân đó không thể nào rơi vào quên lãng của đời người. Cho dù mải mê mần văn đến nỗi tiền nhuận bút không đủ mua rượu uống. Ðôi khi bánh mì cũng không đủ để mà ăn. (Ðói bao giờ cũng viết văn hay hơn lúc no! Mần văn nghệ nó tréo cẳng ngỗng vậy đó.)
Xin cúi đầu ngưỡng mộ, xin lạy quý nhà văn ba lạy. Mỗi tác phẩm của các ông là một chiếc lá Trường Xuân dâng hiến mãi cho đời!
Ánh sáng không có nhiều trong nhà, có lẽ vì vườn cây đầy lá, vì mặt trời ngủ li bì suốt hai ba hôm. Tin tức khí tượng có loan là bão cấp 5 đang thổi qua vùng đất nào đó ở phiá bắc. Trời chẳng gió lộng chốn này, nhưng cau có âm u với từng đám mây chạy vội. Mùa xuân như bị cuốn hút lên cao, những tảng màu xám vung vẫy ở đó khiến chân dung thành phố gần như bị kéo về lại sự tiêu điều của mùa đông. Khi chạy xe thấy lạnh, ở tay cầm ghi-đông tê tái. Hai bàn tay xoa vào nhau, hắn ngồi trên ghế kê sát cửa; để nhìn chừng chiếc xe, bồn chồn ngó trời ái ngại một cơn mưa dội xuống bất ngờ. Căn nhà tù mù, đã vậy chủ nhân cố làm ra vẻ thần bí ngồi dấu mặt ở đâu đó sau tấm màn vải đỏ rủ che. Tự khuất lấp nghe vọng ra tiếng nói:
– Bây giờ cô đi bứt vào cho tôi một chiếc lá.
– Dạ… hái lá cây?
– Ừ, tùy ý lựa chọn, miễn đừng lượm lá rụng dưới đất.
Tấm màn vải đỏ lay động, khuôn mặt người đàn bà ngó tới hắn với đôi lông mày thoáng nhíu, ngờ vực. Dáng người gầy yếu, đi nhẹ như sợ làm kinh động những đồ vật chung quanh. Băng qua chỗ hắn ngồi, làm thinh bước ra sân, định vị được mục tiêu, đi lại bụi cây thấp, rậm rạp, xum xuê, đưa tay ngắt một chiếc lá “định mệnh”. Những ngón tay đẹp, hiểu theo nghĩa là bàn tay ấy như chẳng bao giờ biết lao động nặng là gì. Bứt rời một chiếc lá, việc đó nhẹ nhàng biết bao, vậy mà hắn thấy sự nhọc nhằn hiện hữu. Cổ tay ẩn hiện chiếc vòng ngọc xanh, áo màu đen thêu công phu những đóa hoa vàng sẫm, ngỡ như hoa từ bụi cây đang dụi mặt vào ngực người đàn bà. Bà mang tên Cẩm Chướng đứng không lâu, nhưng đủ sáng rỡ một góc nhìn tẻ nhạt. Hoa cẩm chướng cầm chiếc lá không tên bước vô, và rồi tấm màn đỏ phủ lấp, chôn chặt điều khó hiểu. Hắn thấy ngột ngạt, bước khỏi thềm nhìn mông lung. Xa nhất là ngọn đồi, cắm không đều những bia mộ xám, rối rắm mọc giữa triền cỏ xanh. Dáng một hai người mãi khom lưng đào cuốc lao động mãi mê. Trồng trọt, thu hoạch hoa màu hay đang cố sức làm đẹp “căn nhà” thân nhân hồn đã về bên kia núi? Dưới chân đồi là những ô vuông sồi trụt của đám ruộng ngập nước. Từ đó khai mở con đường đất loanh quanh chạy tuốt ra ngoài quốc lộ. Mơ hồ tiếng động cơ rót vào, cách khoảng. Thứ tiếng nghe rã rời, mau chìm khuất, lặng buồn. Những ngày cuối năm, không gian thường có những phút im sững như vậy, cực lòng. Hôm qua, một người khách lạ mặt cầm cành mai chưa nở hoa từ chợ bước ra đã vẫy gọi hắn. Khi chở đến nhà, ông ấy trả tiền cuốc xe rồi chúc “Năm mới, thắng lợi mới”. Như ông ấy vừa tan một phiên họp kiểm điểm từ cơ quan, chưa tiêu hóa xong những khẩu ngữ dành cho loài vẹt. Thắng lợi? Chữ ấy thật lạ lùng, e suốt đời chẳng thích hợp với hắn. Dung dị, bình thường, thân mật, quen thuộc biết mấy nếu nói: Năm mới phát tài nghe bạn!
– Thôi mình về.
Người đàn bà đã trở ra.
– Xong xuôi rồi sao? Có tốt không chị?
Người đàn bà lặng yên bước lại bên chiếc xe còn phả miên man chút hơi nóng ở bộ máy đen đúa. Chiếc khăn nhỏ mãi vày vò ở lòng bàn tay làm như chiếc lá đã để lại trên da thịt những giọt mủ rít rát. Xe chạy ra quốc lộ, đường đất mấp mô ở đây chưa thể có một êm ái của mặt nhựa hắc ín rải xuống nên hắn đón nhận một vòng tay từ sau buộc lòng ôm giữ bụng hắn. Mây mù trên núi và con đường đất đỏ bắt đầu đón nhận thưa thớt những hạt mưa.
– Bẻ cho chị bẹ lá chuối để che nhé?
– Thôi đừng, mưa có lớn đâu?
– Một chiếc lá mà cũng mang theo nó điều hên xui cho người hái sao?
– Không biết.
– Bà ấy nói với chị những gì?
– Toàn cả chuyện không may.
– Chiếc lá mà chị hái chắc là bị sâu ăn.
Người đàn bà cười. Lưng hắn có vùng hơi ấm bò lan man, qua làn vải áo.
– Đôi khi mình phải nên tin vào những chuyện xét thấy kỳ cục. Người đàn bà nói. Nhất là trong cái lúc mà sự tuyệt vọng đã giăng bủa bốn bề.
Xe leo dốc, hắn sang số và hắn nghe rõ tiếng nấc, nỗi oán than của chiếc xe già tuổi.
– Lạnh không?
– Đã quen rồi.
– Thật không?
– Thật. Có hôm chở khách từ ga về dưới cơn mưa tầm tả rơi. Bong bóng vỡ ra trên mặt đường lớn bằng những chén đựng cơm.
– Chẳng có áo mưa?
– Có, nhưng nhường cho khách.
– Sao hôm nay khách chẳng được mặc?
– Cái áo ấy đã rách, đã vá đến chỗ không còn có thể cứu chữa.
Khi nói, hắn nhìn thấy một cái quán, hắn giảm tốc độ và cho xe đổ xuôi theo vệ đường, tìm tới.
– Chi vậy?
– Mưa nặng hạt rồi, chỉ sợ chị bị thấm ướt.
– Bà thầy bói phán “cô sẽ ốm một trận thập tử nhất sinh” nhưng phải hai ba năm nữa kia.
Mưa ào ạt trút nước, như pháo kích trên mái tôn. Nếu không sớm vào có lẽ giờ này cả hai đều như chuột lột. Đó cũng là điều thích thú. Và được ngồi ấm cúng như phút này cũng là niềm hạnh phúc khác. Anh chị dùng chi? Người con gái từ góc tối bưng cây đèn dầu khá lớn đặt trên bàn gỗ. Cô giải thích. Không có điện, chắc ảnh hưởng mưa bão chi đó. Bánh ướt thịt nướng? Hắn ngó Cẩm Chướng. Tôi mời chị bữa nay nghe. Đôi mắt người đàn bà nhỏ lại, những nếp nhăn chạy dài ở đuôi mắt khi cười, thế cho một ưng thuận. Dưới bàn là ngọn đèn dầu, nhưng trên vũng màu vàng đục ấy hắn thấy được khoảng sáng trưng ánh điện kỳ lạ. Cảm tưởng không thực này có phải do người đàn bà từ Sài-gòn mang lại? Đem theo thứ không khí khác, làm xáo trộn những ngày tiêu điều của hắn ở Huế. Kề cận để hít thở, hắn choáng ngộp thứ nỗi niềm rất mới, rất lạ mặt.
– Anh Khiêm bây giờ ở đâu?
– Đâu đó ngoài Bắc, chẳng thể biết đích xác, không chừng là nơi đang hứng chịu thiên tai bão tố.
– Anh ấy ra sao?
– Có lẽ vẫn còn sống.
– Chưa một lần được thăm nuôi?
– Chị thấy đó, biết bao những khó khăn. Làm sao hơn được?
Hắn nói trong cúi mặt. Hắn thấy những ngón tay run của người đàn bà đang chậm rãi xếp vuông vức chiếc khăn tay. Miếng vải có nhiều vết ố và có lẽ nó chẳng tài nào được giặt sạch, tẩy rửa vệt nhơ. Hắn không biết người anh có buồn giận và trách cứ hắn? Người vợ của anh đã sang tới Mỹ sau đúng một năm chờ đợi ông chồng “có nợ máu” kia. Và hôm nay, người bạn học cũ của anh đã nhắc nhớ tới kẻ xấu số mãi còn khiếm diện dài lâu. Hắn lái câu chuyện thoát khỏi những phút giây trì nặng:
– Hồi nào thì chị chính thức bỏ đi?
– Đi đâu?
– Còn đâu khác. Không lẽ chị từ ngàn dặm ra đây tìm thầy bói để chỉ hỏi chuyện tình duyên gia đạo vớ vẫn?
Người đàn bà nheo mắt ngó hắn:
– Thời buổi này coi bộ làm thầy bói là dễ nhất, đúng không?
– Lái xe ôm nữa. Chị cần đi đâu sẽ có người đèo cõng tới nơi tới chốn, chỉ tiếc là không ai đi xe được trên mặt biển!
– Hai anh em thật có nhiều điểm giống nhau.
Hắn nghe người đàn bà nhận xét, không chắc điều ấy đúng đâu, bởi một đứa yếu đuối, dở hơi, luôn mang ảo tưởng và sống với những điều không có thật; những thằng người “lạc hậu” như vậy sẽ chết chắc khi ngày đầu chịu thúc thủ bước chân vào trại cải tạo.
– Thời tiết như thế này chỉ sợ không ổn!
– Cái gì chị?
– Về chuyến đi đó, thêm thấy bà ấy nói sẽ có lắm trắc trở lươn lẹo.
– Chị tin sao? Bây giờ có ai được sống bình thường suông sẻ đâu. Phải thường trực đối đầu với những tai ương hoạn nạn. Đã bảo làm thầy bói không khó mà.
– Đổi nghề đi, và nhớ trấn an cho nhiều những kẻ nhẹ dạ. Mà này, Lâm đã có người yêu chưa?
– Tạm xem như chưa có, một đứa hành nghề chạy xe ôm, công việc đó chẳng nhằm hứa hẹn được điều gì cả. Ngay cả bản mệnh của chính hắn. Chị hiểu không?
– Mặc cảm à?
– Không, cô ấy là một con người mới, hiểu theo chữ dùng của họ. Đối tượng của cô ấy phải là một cán bộ công nhân viên nhà nước có lý lịch tốt… Sao chị hỏi tới chuyện đó?
– Để biết. Và biết rồi sẽ dễ rũ Lâm cùng đi. Tệ quá, chẳng có cách gì làm cho cô bạn ấy mở mắt ra sao?
– Thấy mỏi mệt và chẳng hứng thú gì cả. Trên căn bản đã có khoảng cách, bên đỏ bên vàng. Làm gì thêm cũng đều là miễn cưỡng. Nếu được đi, chị có đòi hỏi điều kiện gì không?
– Dĩ nhiên là có, một tuồng kịch hơi khó diễn xuất.
Hắn nhìn ra thềm mưa, mơ màng. Chiếc xe ấy bán cũng được chút ít… Người đàn bà chận đứng: Có cách nào để chuyển số tiền đó cho anh Khiêm là tốt hơn cả. Thêm một chỗ ngồi trên ghe đó không phải là vấn đề nan giải.
Thức ăn dọn ra, họ cùng ăn một món giống nhau. Tuy chưa đồng hội đồng thuyền, nhưng nhỡ có đau bụng thì họ sẽ cùng gặp Tào Tháo một lần. Hắn cảm thấy ngon miệng, không do bởi thực phẩm, bởi đã quá lâu hắn mãi gầm đầu nhai nuốt qua loa trong đơn độc, vị giác sẽ xơ cứng đi; nó sẽ hoàn hồn sống lại hồi nào nó có chung kẻ đối ẩm, đối thực, đối tác, đối diện. Do vui miệng, khi ăn, hắn kể cho người đàn bà nghe lần hắn chở một người đàn ông đứng tuổi đi len lỏi trong thành phố vào đêm mất điện, khó khăn khi lần ra đích tới. Ngồi sau, ông ta phát biểu: Cậu biết không, rằng tôi không hiểu nhà nước tiết kiệm được bao nhiêu tiền cho mỗi đêm cắt điện, trong khi ấy sẽ có hàng trăm ngàn cặp tình nhân vợ chồng đồng lòng làm chuyện ấy trong bóng tối và năm sau xuất hiện thêm trăm ngàn cái miệng ăn réo khóc. Nhà nước lại đi tiết kiệm trong cái đường hầm hun hút không cách nào tìm thấy ánh sáng.
Người đàn bà gát đũa, lau miệng:
– Ông chuyên gia kinh tế đó không góp chất xám cho nhà nước kể cũng phí!
Hắn rùn vai: Biết đâu ông ta là cán bộ chuyên điều tra về dân số?
– Mưa tạnh rồi phải không? Mình về.
Hắn nghe lời, dành trả tiền rồi mượn cô chủ quán miếng giẻ để chùi khô ghế xe. Chiếc xe như bảo vật, là tài sản đơn lẻ và cũng có thể ví là người bạn chung tình duy nhất mà hắn có. Nếu được ra đi, như vậy cuộc đời lại bày thêm nỗi chia lìa, buộc hắn phải cắt bỏ dần dà những kỷ vật tưởng đã khô héo mọi giây mơ rễ má. Máy xe nổ, tiếng động cơ nửa trấn an nửa làm hắn nản lòng. Hắn từng chở một kẻ gặp nạn trên đường, chẳng thu tiền để mang khuôn mặt nhàu nát tới được bệnh viện cấp cứu. Hắn từng chở một bà đi đánh ghen và suýt chút nữa chứng kiến kẻ ăn vụng bị thiến mất của quý. Hắn từng đón ở bến xe đò người đàn ông xác xơ bồn chồn cảnh đoàn tụ sau hơn sáu năm tù tội. Hắn từng đưa một thiếu nữ tới sân ga và cầm số tiền ngập nước mắt của cô câm lặng trao như thế lời vĩnh biệt. Tựu trung, sau yên xe hắn đã thồ đi biết bao những tình huống oan nghiệt, đã đón đưa bao phần số của một phận người. Để giờ này hắn chở một người và kẻ ấy sẽ quyết định một lối đi cho chính bổn mạng hắn. Người ấy hỏi:
– Lâm có sợ chết không?
– Tùy thuộc vào từng hoàn cảnh, nhưng sắp giã từ năm cũ tại sao lại đi nói tới chuyện không may kia?
– Vậy thì Lâm sợ giả chết không?
– Chết mà còn làm bộ nữa sao? Kịch sĩ hả?
– Ừ, nằm yên trong quan tài, tim vẫn đập, tai vẫn nghe tiếng khóc nhân gian rộn ràng bên ngoài áo quan.
– Chị có mặc áo tang u sầu tiếc thương đi theo tới cuối đường?
– Dĩ nhiên, và sẽ có nhiều những diễn viên nghiệp dư phụ diễn.
– Tên xe thồ được đóng vai chính?
– Nếu Lâm không ngại, chẳng sợ dị đoan.
– Hết cách rồi sao?
– Hết, họ nói giả làm đám cưới thì hơn một lần bị lộ tẩy. Hôn lễ cử hành xong, ghe chưa kịp tới thì cô dâu chú rể đồng loạt bị áp giải hưởng hai năm trăng mật ở trong tù.
Xe thắng đứng trước một căn nhà cửa sắt kéo đóng im lìm lạnh ngắt. Trên tường vôi, cái bảng hiệu ngày cũ bị quét phủ mờ lớp sơn. Số nhà, tên đường cũng chung số phận, khó đọc ra. Như hằng lâu nó muốn chết đi, từ chối sự có mặt để mong những bàn tay đường đột tới gõ cửa sẽ hoài nghi nản lòng bỏ đi. Người đàn bà rời yên xe:
– Cho một ngày để quyết định, đêm mai sẽ đợi Lâm ở đây, khoảng tám giờ.
– Không vào nhà với chị được sao?
– Đừng, những người bà con ở trong đó cũng thuộc loại diễn viên ưa giả chết. Giả chết ở hình thức khác, họ mong hưởng được chút an lành tối thiểu, hiểu không?
– Còn cái áo quan thì sao?
– Đừng lo, rất vừa chiều dài của Lâm và sẽ cố làm cho thật tiện nghi.
Hắn ho khan: Thiệt là chưa thấy quan tài chưa đổ lệ! Người đàn bà đặt tay lên ghi-đông, phủ bao bàn tay lạnh giá của hắn và cười bằng đôi mắt chứa nhiều bóng tối. Hắn cảm nhận rõ hắn là một thây ma, thoi thóp được ít nhiều nhờ con mèo đen Cẩm Chướng vừa bất thần nhảy ngang qua thi thể.
– Lâm sẽ nằm trên một đống lương thực, hải bàn ống nhòm các thứ. Tóm lại là cái hòm kia sẽ ngụy trang sao cho người nằm trong không bị ngạt thở.
– Dracula của thế kỷ hiện đại hả? Bắt đầu thèm máu nóng rồi. Chị đi uống cà phê không?
– Chẳng dại cho Lâm hút máu đâu? Về ngủ đi.
– Quan tài nằm ở đâu mà biểu đi ngủ?
– Đồ quỷ!
– Chị không leo lại lên xe thì thằng tài tử đóng vai chính sẽ từ bỏ nhiệm sở.
– Biết dọa nữa à?
Người đàn bà véo vào tay hắn, vỡ ra những tiếng cười cố nén. Nghe theo lời, vòng tay ra trước bụng hắn để ôm. Vòng ngọc chạm vào hàng nút nhựa trên thân áo kêu vui tai.
– Lâm thấy liệu màn kịch đưa người về miền cực lạc đó có thành công không?
Đêm dịu dàng nhiều sắc xanh, có vẻ ngọt ngào sau cơn mưa. Hai hàng cây đứng rũ lá bên đường lao xao như một đầu tóc mới gội chờ hong khô. Ở trên đó có chiếc lá nào dành cho hắn sự may mắn? Hắn không việc gì phải tìm tới thầy bói bởi linh tính cho hắn hay, rồi mai đây hắn sẽ vĩnh viễn lìa xa thành phố này. Cái thành phố thân yêu đã lắm lúc cay nghiệt phản bội, gieo cho hắn một ý nghĩ đau lòng: Hắn chỉ là một kẻ trọ, qua đường, dừng chân. Và kẻ lữ thứ kia sẽ gầm đầu ra đi chẳng để lại một vấn vương. Tuyệt không vọng động!
(Đặc biệt tặng các bạn Thiết Đoàn 3/KB và tưởng niệm Trung Tá Trần Lý Hưng)
Đúng vào sáng ngày 30 Tết Nhâm Tý (1972) khi chuẩn bị cho buổi tiệc khao quân tất niên tại bản doanh Sông Mao, đơn vị tôi nhận lệnh phải di chuyển gấp lên An Khê để cùng Thiết Đoàn 3 Kỵ Binh tăng phái, thành lập một Chiến Đoàn Đặc Nhiệm, thay thế vị trí của một Lữ Đoàn thuộc Sư Đoàn 1 Không Kỵ Hoa Kỳ vừa rút quân về nước và làm lực lượng trừ bị ứng chiến cho Quân Đoàn. Thời điểm này, chúng tôi đã có một tiểu đoàn (1/44) ở An Khê, tăng phái cho Thiết Đoàn 3/KB từ hơn hai tháng trước.
Theo khẩu lệnh của Tướng Ngô Dzu, Tư Lệnh QĐ II, giai đoạn đầu, Chiến Đoàn phối họp với Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn, hành quân tảo thanh tiêu diệt các lực lượng địch nằm sâu dọc theo hai bên QL-19 và đảm trách giữ an ninh lộ trình con đường huyết mạch này từ chân Đèo An Khê đến Pleiku, để kịp thời cho các nhu cầu chuyển quân, tiếp tế lên chiến trường Pleiku và Kontum. Thời gian này Sư Đoàn 22/BB tại Bình Định đang bổ sung quân số quân dụng, chuẩn bị di chuyển lên Tân Cảnh để đối phó với tình hình đột biến. Một lực lượng lớn Cộng quân từ miền Bắc và Lào ào ạt xâm nhập qua biên giới, tăng cường cho Mặt Trận B-3 của Tướng CS Hoàng Minh Thảo, trong ý đồ đánh chiếm Tây Nguyên.
Ông còn nhắc nhở chúng tôi, những khúc quanh từ An Khê đến Đèo Mang Yang là đoạn đường đầy hiểm nguy, tử địa, mà trước kia, tháng 6 năm 1954, Lữ Đoàn 100 Cơ Động, gồm nhiều đơn vị thiện chiến của quân đội Pháp đã phải thảm bại gần như tan rã, khi bị một lực lượng Việt Minh phục kích. Vị Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng và rất nhiều sĩ quan đã bị bắt sống, gây chấn động cả Đông Dương và nước Pháp.
Buổi tiệc khao quân tất niên bị hủy bỏ, thực phẩm được nhanh chóng phân phát cho binh sĩ và trại gia binh. Chúng tôi rời bản doanh Sông Mao lúc 12 giờ trưa. Chi Đoàn 2/ 8 TK tăng phái hộ tống lực lượng bộ binh đến Đèo Cả, ranh giới tỉnh Phú Yên. Sau đó được lực lượng Thiết Kỵ của Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn mở đường và đón đơn vị chúng tôi từ Đèo Cả đến Đèo Cù Mông, Bình Định. Nghỉ đêm và đón giao thừa tại Vạn Giã, sáng hôm sau tiếp tục di chuyển. Chúng tôi đến căn cứ An Khê lúc 4 giờ chiều ngày mồng một Tết.
Bộ Chỉ Huy “Chiến Đoàn Đặc Nhiệm 44” được nhanh chóng thành hình. Trung Tá Trần Quang Tiến, Trung Đoàn Trưởng 44/BB là Chiến Đoàn Trưởng, Trung Tá Trần Lý Hưng, Thiết Đoàn Trưởng TĐ. 3/KB là Chiến Đoàn Phó. Cá nhân tôi đảm trách Trưởng Ban 3 Chiến Đoàn. Một toán liên lạc của Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn, do một vị Đại Tá chỉ huy, được đặt bên cạnh BCH Chiến Đoàn. Ngoài Thiết Đoàn 3/KB, Chi Khu An Túc và hai tiểu đoàn Địa Phương Quân của TK Bình Định cũng được đặt dưới quyền chỉ huy, điều động của Chiến Đoàn.
Chúng tôi rất vui khi được hành quân phối họp với Thiết Đoàn 3/KB, khi biết đơn vị Thiết Kỵ này được mang biệt danh “Thiên Mã”, là một trong bốn Trung Đoàn Thiết Giáp đầu tiên của Quân Lực, hậu thân của Trung Đoàn 3 Thám Thính, thành lập từ năm 1954 tại Bắc Việt, là một đơn vị Thiết Kỵ quá dạn dày trong chiến trận, và từng tạo nhiều chiến công hiển hách tại các chiến trường vang tiếng một thời: Pleime, Đức Cơ (1965), An Lão (1965) Bồng Sơn (1966), Trà Bá- Tết Mậu Thân tại Pleiku (1968) Dakto, Ben Het (1971). Khi ấy, Thiết Đoàn đã sáu lần được tuyên dương công trạng trước Quân Đội, nên tất cả các kỵ binh đều mang giây biểu chương màu Bảo Quốc Huân Chương (*). Đặc biệt năm 1970 được Tổng Thống Hoa Kỳ trao tặng Huy chương President Unit Citation.
Ba hôm sau, Chiến Đoàn được lệnh tổ chức một cuộc hành quân khẩn cấp, giải tỏa hai căn cứ cấp đại đội của Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn trú đóng, nằm trên Đèo An Khê, vừa bị một lực lượng Công quân khá hùng hậu bất ngờ tấn công và đang vây hãm. Nhờ công sự rất kiên cố, nên bọn chúng không thể chiếm được mà chỉ bao vây, gây thiệt hại cho quân sĩ trú phòng và tạo gián đoạn cho việc lưu thông trên QL 19. Hai căn cứ này nằm trong khu vực trách nhiệm của Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn. Sư Đoàn này đã phái một lực lượng tiếp ứng, nhưng bị phục kích, thiệt hại khá nặng. Lực lượng địch được uớc tính gồm hai tiểu đoàn và một đại đội đặc công của Sư Đoàn 3 Sao Vàng.
Nhờ hỏa lực hùng hậu và những kỵ binh dũng cảm trên các chiến xa M-113 của Thiết Đoàn 3/KB, cùng các phi công tài ba gan dạ thuộc Phi Đoàn Mãnh Sư 243 (Phù Cát), sau những kế hoạch nghi binh, tạo các bãi đáp giả, lừa địch rất hiệu quả, từng đại đội bộ binh được tuyển lựa ra các binh sĩ trẻ, trang bị nhẹ, đổ xuống, vừa khép vòng vây vừa ngăn chặn lực lượng tăng viện của địch. Đại Đội 44 Trinh Sát nổi danh thiện chiến, với hai toán Viễn Thám được trang bị mặt nạ chống hơi ngạt, chia làm hai cánh bất ngờ nhảy xuống ngay sau lưng địch, từng toán nhỏ lao vào tấn công bằng hơi cay, lựu đạn, và cả M-72, dưới sự yểm trợ chính xác hữu hiệu của các trực thăng võ trang, nhanh chóng tiêu diệt hai cái chốt chặn của địch ở hai bên dốc đèo, làm đầu cầu cho lực lượng Thiết Giáp có bộ binh tùng thiết, đồng loạt tấn công, nhanh chóng làm chủ chiến trường. Chỉ trong vòng hai tiếng đồng hồ, cả hai căn cứ đã được giải tỏa, địch quân tháo chạy, bị các đơn vị bao vây tiêu diệt, có mấy tên bị ta bắt sống. Chiến Đoàn đã ghi một chiến tích vẻ vang cho đầu năm mới.
Sáng hôm sau Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng, và Tưóng Tư Lệnh Lực Lượng Đại Hàn tại Việt Nam từ Sài gòn bất ngờ bay ra An Khê quan sát chiến trường và ngợi khen các đơn vị tham chiến. Vì lý do an ninh, không được báo trước, nên chỉ có vị Chiến Đoàn Trưởng, Chiến Đoàn Phó, Trung Tá Cố Vấn Mỹ,vị Đại Tá Đại Hàn, đại diện Sư Đoàn Mãnh Hổ và cá nhân tôi (tháp tùng) ra đón hai ông Tướng tại sân bay. Sau đó dùng hai trực thăng, cùng bay xuống viếng thăm BTL/Sư Đoàn Mãnh Hổ, tại Bình Định.
Ngày 24.4.72, Tân Cảnh thất thủ, khi BTL/SĐ22BB bị địch quân tràn ngập, Đại Tá Lê Đức Đạt, vị Tư Lệnh liêm sĩ và khí phách đã cùng đồng đội chiến đấu tới giây phút cuối cùng, và chấp nhận vùi thây nơi chiến địa, Trung Đoàn 44 chúng tôi có lệnh di chuyển khẩn cấp lên phi trường Cù Hanh, Pleiku để được không vận lên Kontum.
Chúng tôi ở An Khê chỉ gần ba tháng. Ba tháng cùng sinh hoạt và hành quân chung với Thiết Đoàn 3/KB. Nhưng từ vị Thiết Đoàn Trưởng đến tất cả các sĩ quan tham mưu và ở các Chi Đoàn đã để lại trong lòng chúng tôi sự kính mến vô bờ. Tôi nghĩ, có lẽ nhờ những đức tính của Trung Tá Trần Lý Hưng, một vị sĩ quan thâm niên, vốn xuất thân từ Trường Thiếu Sinh Quân với truyền thống“Nhân Trí Dũng”, nên đã tạo được một không khí thắm đẫm tình huynh đệ. Những kỵ binh ở Thiết Đoàn 3/KB đã rất may mắn, dù gian khổ hiểm nguy, nhưng được sống trong không khí thân tình, dễ thương đáng quý ấy, và đặc biệt có một cấp chỉ huy bình dị, hiền lành đức độ.
Cá nhân tôi chỉ là một sĩ quan của một đơn vị bạn, cùng hành quân hổn hợp, nhưng ông luôn dành cho những tình cảm gần gũi, thân tình, quí mến tôi như người anh đối với một đứa em trong gia đình. Mỗi đêm, ông đều rủ tôi cùng đi một vòng với ông, kiểm tra các vọng gác trong căn cứ khá rộng lớn này. Ông rất quan tâm việc phòng thủ, bởi hai tuần trước khi chúng tôi đến, một toán đặc công Việt Cộng hóa trang nấp dưới những cánh lục bình trôi theo con sông bên cạnh căn cứ, bất ngờ xâm nhập, tấn công chiếm một phần vị trí của Pháo Đội A/233 Pháo Binh, phá hoại một khầu 105 ly và làm thiệt mạng Đại úy Lê Hữu Chí, Pháo Đội Trưởng. Nhưng ngay tức khắc, bọn chúng đã bị lực lượng Thiết Giáp của Thiết Đoàn và Tiểu Đoàn 4/44 ( đã được tăng phái từ trước cho Thiết Đoàn) kịp thời phản công, bao vây tiêu diệt gần như toàn bộ, những tên còn sống đều bị bắt. Ông tỏ ra rất buồn về sự kiện này.
Là một sĩ quan có thâm niên quân vụ từ khi mới mười lăm tuổi đời ở Trường Thiếu Sinh Quân Đông Dương Vũng Tàu, rồi sau đó tốt nghiệp với cấp bậc thiếu úy từ Trường Võ bị Địa phương Nam Việt Vũng Tàu,(Nhạc sĩ Đại Tá Nguyễn Văn Đông thủ khoa khóa này), từng làm huấn luyện viên cho Trường Võ Khoa Thủ Đức và được tôi luyện trong Binh chủng Thiết Giáp hào hùng, Trung Tá Hưng là một cấp chỉ huy thao lược, tài đức vẹn toàn.
Ngay từ buổi gặp gỡ ban đầu, hình ảnh của ông đã in đậm nét trong lòng tôi, khi thấy ông đứng nghiêm đưa tay lên chào ông Trung Đoàn Trưởng của tôi theo đúng lễ nghi quân cách. Mặc dù cả hai đều mang cấp bậc trung tá, không biết vị nào thâm niên hơn, nhưng ông chào với danh nghĩa là một Chiến Đoàn Phó trình diện ông Chiến Đoàn Trưởng. Cử chỉ ấy đã làm cá nhân tôi và chắc chắn hầu hết các sĩ quan của đơn vị tôi thán phục .
Mỗi buổi chiều, khi không bận hành quân, ông đều gọi tôi đến nhà ông dùng cơm. Gia đình ông ở một căn nhà gỗ trong căn cứ, do đơn vị Hoa Kỳ giao lại. Trên sân thượng có mấy chậu hoa quỳnh. Ông có thú trồng hoa, nhưng chỉ duy nhất có hoa quỳnh, nên rất am tường về loại hoa nở về đêm, và sớm nở tối tàn này. Nhìn nụ hoa, ông biết khi nào, chính xác hơn là giờ khắc nào, hoa sẽ nở. Mỗi kỳ hoa nở, sau khi cùng đi kiểm soát việc phòng thủ trong căn cứ, ông rủ tôi ghé lại nhà ông uống rượu (thuốc) và chờ đến nửa khuya để xem hoa quỳnh nở. Ông rất thích thú và trân quý những giờ khắc khi nhìn một cánh hoa quỳnh bắt đầu nở và từ từ bung ra . Đời lính, với ông, ngoài đánh đấm, có lẽ đây là cái thú tiêu khiển duy nhất. Ông thường đem binh pháp trong Tam Quốc Chí phân tích cho tôi nghe, và bảo đó là những bài học rất hay để dụng binh. Một lần vợ tôi dẫn theo hai đứa con ra thăm, ông nhất quyết đón về ở chung nhà với ông và bảo vợ ông lo cơm nước. Tôi đi với vợ, tay xách theo hành lý, còn ông hai tay dắt hai đứa nhỏ, con tôi. Sau đó bọn nó cứ chạy theo đùa giỡn với ông. Hình ảnh đẹp đẽ ấy mãi in đậm trong lòng, tôi không thể nào quên được.
Vợ ông, chị Nguyễn Thị Công Nữ, rất bình dị hiền lành, không bao giờ xen vào công việc của chồng mình, và là một người nội trợ đảm đang. Tôi thích nhất là món cá kho tộ của chị làm. Chị vốn là một nữ sinh rất nhu mì ở Chợ Nhỏ, Vùng Tăng Nhơn Phú, Thủ Đức, nơi một thời chàng sĩ quan trẻ Trần Lý Hưng làm huấn luyện viên cho Trường Võ Khoa Thủ Đức và sau đó là Trường Thiết Giáp. Một mối tình đẹp xảy ra ở vùng đất hiền hòa nhưng rất nổi danh này, bởi có rất nhiều chàng trai trẻ, bỏ sách đèn hội tụ về đây để theo viêc kiếm cung, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ quê hương, đất nước.
Ngày chia tay để cùng đơn vị di chuyển lên chiến trường Kontum, ông Trung Đoàn Trưởng và tôi được Trung Tá Hưng mời đến ăn bữa cơm cuối cùng với ông. Lòng tôi thật buồn như sắp phải chia tay một người anh thân quí nhất. Trước giờ đơn vị tôi chuyển quân, ông đã đến tiễn đưa, bắt tay ôm lấy từng người trong anh em chúng tôi. Ai nấy đều lưu luyến cảm động. Tôi ôm ông mà giấu đi những giọt nước mắt. Nếu ai không từng là lính chiến, có thể không hiểu được những tình cảm đệ huynh của chúng tôi dạt dào như thế.
Chỉ một ngày sau khi rời An Khê đến Kontum, đơn vị chúng tôi đã tạo một chiến thắng lẫy lừng khi đánh tan một lực lượng chiến xa và bộ binh địch thuộc Sư Đoàn Thép 320 CS từ Tân Cảnh tràn xuống với ý đồ chiếm lấy Kontum. Lần đầu tiên tại chiến trường Quân Khu 2, chúng tôi bắn cháy sáu chiếc, và bắt sống ba chiến xa T-54 của địch. Tướng Nguyễn Văn Toàn, vừa nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn II, cũng đã rất xứng đáng là một vị tướng Kỵ Binh, khi đứng trên một M-113, đầu đội bê-rê đen, đến thăm chúng tôi, quan sát chiến trường đang còn đầy khói lửa, và gắn cấp bậc Đại tá vinh thăng cho vị Trung Đoàn Trưởng ngay tại mât trận. Và chúng tôi rất bất ngờ khi nghe tiếng Trung Tá Trần Lý Hưng tìm vào tần số đặc biệt của đơn vị gởi lời chúc mừng và khích lệ anh em. Trong cảnh dầu sôi lửa bỏng, nghĩa cử ấy đã làm chúng tôi cảm động. Nhưng chỉ sau đó vài tuần, chúng tôi lại được tin ông bị thương khi chỉ huy Thiết Đoàn bất ngờ đánh vào Tây Chư Pao. Để hoàn thành nhiệm vụ then chốt này, Thiết Đoàn 3/KB đã cùng BĐQ xuyên rừng dọc theo con đường bỏ hoang 14 bis, đánh vào sau lưng đơn vị cộng quân đang chế ngự đèo Chư Pao, bắt tay được với Đại đội 44 Trinh Sát của chúng tôi, và thành công phá vỡ tuyến bao vây phía Nam Kontum, giải tỏa Quốc Lộ 14, con đường huyết mạch từ Pleilu đến Kontum để cho các đoàn xe lên tiếp tế đạn dược và thực phẩm cho đơn vị chúng tôi.
Sáu tháng sau, tình hình Kontum tạm yên, khi các đơn vị địch bị thiệt hại nặng nề, cần phải có thời gian ẩn quân để tái bổ sung, Trung Đoàn chúng tôi đặc biệt được Tướng Tư Lênh Quân Đoàn cho về nghỉ dưỡng quân một tháng tại Đồi Đức Mẹ Pleiku, như là phần thưởng dành cho một đơn vị góp nhiều chiến công và xương máu nhất để tạo nên một “Kontum Kiêu Hùng”. Chúng tôi đã tìm đến thăm ông. Lúc này ông không còn ở Thiết Đoàn 3/KB mà vừa được chuyển về làm Chỉ Huy Trưởng Trường Thiếu Sinh Quân Pleiku (Cao Nguyên), nơi những em TSQ Kinh Thượng nối nghiệp ông để trở thành những cấp chỉ huy lỗi lạc sau này.Và với cương vị mới, ông càng xứng đáng là một vị “sư huynh” hết lòng dìu dắt, yêu thương em út, đem bao nhiêu kinh nghiệm chiến trường và cả tình “huynh đệ chi binh” tô đậm thêm nét son truyền thống “ Nhân Trí Dũng” của Thiếu Sinh Quân..
Gặp lại chúng tôi ông mừng rỡ, ôm lấy từng người. Nhưng mắt ông bỗng nhòa lệ, khi nhắc tên hai người bạn thân của chúng tôi đã hy sinh trên chiến trường Kontum. Thiếu Tá Võ Anh Tài và Thiếu Tá Đặng Trung Đức, hai anh tiểu đoàn trưởng mà ông hằng quí mến khi hành quân chung với Thiết Đoàn 3/KB ở An Khê. Điều làm chúng tôi bất ngờ và cảm động hơn, khi ông lấy từ trên bàn thờ Phật, đưa cho chúng tôi xem tờ giấy có ghi ngày tử trận của hai anh cùng với một số bạn bè và thuộc cấp của ông, và bảo là ông sẽ thắp hương cầu nguyện cho hai anh mỗi năm khi đến ngày này. Một nghĩa cử thật hiếm hoi của một cấp chỉ huy từ một đơn vị bạn mà chúng tôi may mắn được hành quân chung chỉ trong vòng ba tháng.
Trong thời gian chúng tôi ở An Khê, Thiết Đoàn 3/KB chỉ có 2 chi đoàn. Lúc ấy Chi Đoàn 1/3 CX biệt phái cho Quân Đoàn I, kể từ khi tham gia cuộc hành quân Lam Sơn 719 Hạ Lào.
Trong Thiết Đoàn, chúng tôi có dịp gặp Thiếu Tá Nguyễn Văn Đêm, Thiết Đoàn Phó. Anh là người ít nói, nhưng nổi tiếng về sự can đảm và tài điều quân từ khi còn là một Chi Đội Trưởng. Sau này anh về chỉ huy Thiết Đoàn 8/KB, trực thuộc Sư Đoàn 23 BB của chúng tôi. Sau các cuộc hành quân, chúng tôi cũng thường đi chơi chung hay ngồi tán gẫu với bạn Trương Gia Lương, một sĩ quan trẻ giữ chức vụ Trưởng Ban 3 Thiết Đoàn kiêm Chi Đoàn Trưởng 3/3, anh có nhiều khả năng và trình độ Anh ngữ, được Trung Tá Hưng tin cẩn, cùng các bạn Huỳnh Văn Mỹ, Nguyễn Văn Hội, Bùi Cán, anh Khôn, anh Phong và một vài bạn nữa mà vì thời gian quá lâu, tôi không còn nhớ tên. Người nào cũng gan dạ trên chiến trường và rất vui vẻ thân thiện trong tình anh em chiến hữu.
(Capt. Ferarra- Tr.úy Lương- Tr.Tá Hưng- 2/1972)
Từ ngày rời khỏi An Khê, chúng tôi không có dịp gặp lại những người bạn Kỵ Binh quý mến này. Nhưng sau đó, vào tháng 4/74, chúng tôi rất vui mừng biết được anh Huỳnh Văn Mỹ, khi ấy còn mang cấp bậc trung úy, đã chỉ huy Chi Đoàn 2/3 TK, làm nỗ lực chính trong một trận chiến nổi danh, đánh tan hơn một trung đoàn của Sư Đoàn 3 Sao Vàng CS, khi bọn chúng chuẩn bị tấn công với ý đồ chiếm lấy Căn cứ Không Quân Phù Cát, nhằm uy hiếp tỉnh Bình Định, lợi dụng lúc Sư Đoàn 22/BB, vừa mới hồi sinh sau trận Tân Cảnh, đang phải đối mặt với một lực lượng lớn Cộng quân tại chiến trường cam go Bắc Bình Định. Cuộc phản công đánh phủ đầu tuyệt vời này theo kế hoạch và dưới sự chỉ huy tài tình thao lược của “Mãnh Sư” Trung Tá Nguyễn Mạnh Tường. TK Phó/TK Bình Định, tạo một chiến tích lẫy lừng ghi đậm nét son trong quân sử VNCH.
Tháng 3/ 1975, trong cuộc di tản đẫm máu của Quân Đoàn II theo TL. 7B, đã kéo theo sự sụp đổ miền Nam, khi Lữ Đoàn II/KB bị Cộng quân bao vây, phục kích , gây thiệt hại nặng nề, Đại Tá Nguyễn Văn Đồng, Lữ Đoàn Trưởng bị bắt(?). Chỉ duy nhất Chi Đoàn 3/3 do Đại úy Nguyễn Văn Hội chỉ huy đã anh dũng chiến đấu và đưa toàn bộ chiến xa về tới Nha Trang, nơi tạm thời đặt BTL/QĐ II (di tản). Anh Hội đã rất xứng đáng khi được Tướng Tư Lệnh Phạm Văn Phú tiếp đón và gắn cấp bậc Thiếu Tá, tưởng thưởng công trạng thật xuất sắc của anh. Và có lẽ đó là người sĩ quan cuối cùng được thăng cấp thiếu tá vào giờ thứ 25 của cuộc chiến.
Riêng Trung Tá Trần Lý Hưng, khi bất ngờ nhận lệnh di tản, ông đã can thiệp xin cho các em Thiếu Sinh Quân được ưu tiên đi bằng máy bay, nhưng đến khi phi trường Cù Hanh gần như bị rối loạn, ông vẫn chưa nhận được một quyết định cụ thể nào. Ông tập trung tất cả các em lại và đau buồn báo tin “Pleiku di tản”, khuyên các em nên trở về với gia đình. Một số TSQ không có gia đình ở Pleiku, ông đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt các em, vượt qua bao hiểm nguy chết chóc, nên có vài nhóm nhỏ bị thất lạc, nhưng cuối cùng đã về đếnTrường TSQ/Vũng Tàu
Sau ngày tan đàn xẻ nghé, mỗi người trôi dạt một phương, nhưng đều mang theo cùng một nỗi lòng và thân phận. Riêng tôi thì lưu lạc tận vùng Bắc Âu xa xôi lạnh giá nên lại càng khó có cơ hội để được gặp lại những anh em đồng đôi cũ ở Thiết Đoàn 3/KB ngày nào, nhưng rồi tôi đã may mắn liên lạc được với Trung Tá Trần Lý Hưng, và các anh Trương Gia Lương, Huỳnh Văn Mỹ. Tôi rất cảm động, vì dù mỗi người vẫn phải còn mang những vết thương không lành được trong lòng, nhưng tất cả vẫn còn giữ đầy hào khí của những người lính chiến, và nặng tình huynh đệ.
Trung Tá Hưng, sau hơn 9 năm 6 tháng bị đày đọa trong các nhà tù CS, ông trở về sum họp gia đình vào khoảng gần cuối năm 1984. Ngày 22.10.1996 đến Mỹ theo chương trình HO-44 và định cư tại Houston, Texas cùng vợ và năm đứa con. Bảy cháu lớn có gia đình còn ở lại Việt Nam.
Được nói chuyện vài lần. Mặc dù sau này sức khỏe ông kém đi nhiều lắm, nhưng ông vẫn tâm tình khá lâu, có lúc ngậm ngùi, nhưng cũng có lúc tôi nghe được tiếng ông cười, dễ thương độ lượng như ngày nào. Ông nhắc lại thời trận mạc, nhắc tới đơn vị chúng tôi, ông vẫn còn nhớ tên từng người trong anh em chúng tôi, và dừng lại xót xa khi chúng tôi nhắc đến một người nào đã không còn trên cõi đời này nữa. Ồng còn cười đùa, mỗi lần tôi gọi ông là Trung Tá. Ông bảo,“bộ bạn không cho tôi được làm anh của bạn nữa hay sao?” Từ hôm ấy, tôi gọi ông bằng anh Hưng.
Đầu năm 2012, khi biết mình bị ung thư yết hầu trong thời kỳ không mấy hy vọng vào việc chữa trị, ông đã cùng bà về lại Việt Nam và ở lại đây gần một năm để vui cùng con cháu, mà ông nghĩ đó sẽ là cơ hội cuối cùng. Ông đã giấu tôi về căn bệnh hiểm nghèo.Tâm tình nhiều lần nhưng ông chỉ bảo là tuổi già nên hơi mệt. Tôi hẹn sẽ sang thăm ông vào mùa đông 2013, nhân một dịp đến Mỹ. Nhưng cuộc hẹn đó đã không thành. Ngày 2 tháng 7 năm ấy ông đã ra đi, để lại cho gia đình, bè bạn và tất cả những anh em đồng đội cũ lòng thương tiếc khôn nguôi.
Vẫn biết thế hệ những người lính ngày nào, giờ cũng đã đến lúc xếp hàng để chờ đến lượt mình trút bỏ, trả lại cho thế gian này một cuộc đời tạm bợ với đầy những vui buồn đắng cay, hào hùng vinh nhục; nhưng sự ra đi của những người như Trung Tá Trần Lý Hưng đã thêm một lần nữa xác tín lời một bài hát rất xưa mà Tướng Douglas MacArthur đã dùng trong bài diễn văn đọc trước Lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ, ngày ông rời quân ngũ: “Những người lính già sẽ không bao giờ chết mà chỉ mờ đi theo năm tháng – Old soldiers never die, they just fade aways.”
Xin tạm biệt Anh Trần Lý Hưng, một Kỵ Binh khả kính, mà em vẫn còn nợ Anh món nợ nghĩa tình. Hẹn gặp lại Anh ở một nơi không có bom đạn, chết chóc, hận thù, và cũng không còn nghe thấy tiếng xích sắt của những chiến xa M-113, M-41, M-48 và của cả những T-54,T-59!
Phạm Tín An Ninh (một người lính Bộ-Binh)
(*) Sau này Thiết Đoàn 3 KB đã tạo thêm các chiến tích lẫy lừng ở các trận chiến Nam Chư Pao, Đức Cơ (1972), Phù Cát (1974) và được thêm hai lần tuyên dương công trạng trước Quân Đội (tổng cộng: 8 lần), được mang giây biểu chương màu Tam Hợp.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.