Nhan Sắc

vietmessenger.com

Dương Nghiễm Mậu

Văn Xã xuất bản 1969

Post by Sơn râu 19 Mar 2025

  1. Người Tình Của Trương Quỳnh Như

Hai người bạn ôm chầm lấy nhau không thốt được lời nào, mãi sau Phạm Thái mới cầm lấy tay người bạn trẻ mời ngồi xuống ghế đối diện với mình.

– Đệ ở đâu mà lại lạc tới đây? Thật còn gì vui bằng được uống với nhau một bữa rượu cho thật say, đã bao nhiêu ngày trời ta chỉ uống một mình, nói một mình, vui một mình. – Nhân mới tới vùng Dục Thủy này có chút việc, nghe thiên hạ đồn về một tay cuồng sỹ không lúc nào hết say, hai chân lảo đảo với bình rượu trên vai hát vui giữa chợ búa thì đệ nghĩ ngay đó là huynh nên tới tìm, quả không có sai. Mà huynh không sợ cho thân mình sao?

– Sợ gì?

– Quan quân.

Phạm Thái cười ngặt nghẽo vẻ khoái trá:

– Ai mà còn để ý gì tới tên cuồng sỹ không lúc nào ngớt cơn say, đâu còn là Phạm Thái hay Phổ-Chiêu Thiền Sư nữa mà quan quân phải nhọc lòng, ta nay chỉ là một thằng say giữa chợ, một tên Chiêu Lỳ mà thôi, đệ khỏi phải lo, chúng ta cứ say đi, quên hết mọi chuyện trên trần gian này.

Phạm Thái bưng bát rượu lớn uống một hơi, bỏ bát xuống lấy tay áo quệt ngang qua miệng rồi sang sảng ngâm lên:

– Sống ở dương gian đánh chén nhè

Chết về âm phủ cắp kè kè

Diêm vương phán hỏi rằng chi đó. Be!

Người bạn đưa mắt nhìn chứng quanh tửu quán với vẻ lo âu. Trong quán rượu vắng vẻ, mãi nơi cuối nhà có hai ông già đang nhấm nháp ly rượu nhỏ và nói chuyện thầm thì, người chủ quán tự lự mãi nơi chiếc ghế để gần cửa vào nhà trong. Buổi chiều chạng vạng đang xuống trên dòng sông trước mặt, những cơn gió nhẹ làm lay động cành cây thấp la đà ngoài hiên quán. Buổi chiều làm cảnh vật bên kia dòng sông đượm vẻ quạnh hiu, những ngọn đồi nối nhau tới mãi khu rừng cây nhòa đi mãi ở phía xa, sau nó là những ngọn núi xanh đen. Con ngựa buộc ngoài góc cây lớn đứng im vẻ mệt nhọc. Tiếng Phạm Thái:

– Sao đệ có thấy là hay tuyệt không?

Người bạn trẻ mỉm cười:

– Có thực huynh đã quên hẳn những ngày cũ?

– Quên! Sao lại quên. Vua Ngô có ba mươi sáu tàn vàng, chết xuống âm phủ chẳng mang được gì. Đệ có thấy vậy không. Bao nhiêu chuyện đó đều như một giấc chiêm bao. Quên những ngày cũ thì không. Nào khi theo nghiêm phụ trong công cuộc khôi phục nhà Lê, khi ẩn ở Tiêu Sơn, khi lên Lạng Sơn với Trương đăng Thụ, khi xuống Thanh Nê, tôi không hề quên, nhưng bây giờ thời gian đã đổi khác, tôi không còn thấy những lý do của ngày cũ nữa, bao nhiêu biến động từ bấy đến nay chắc đệ cũng biết.

Phạm Thái trầm hẳn xuống như hồi tưởng lại những chuyện đã xảy ra, những trôi nổi, vùng vẫy, những gian nguy hiểm nghèo, những hào hùng phấn khởi bên những đồng chí đầy tâm huyết không chùn bước trước gian nan. Người bạn trẻ tư lự nhìn vầng trán rộng, đôi mắt cương nghị đầy sức mạnh của Phạm Thái, vẫn là con người ngày nào, tiếng nói sang sảng, tiếng cười ngạo nghễ như giữa chốn không người, nhưng hôm nay con người hăng hái ngày cũ đã trầm xuống ưu tư, đã trầm xuống chín chắn, đã trầm xuống thu mình lại trong một cách thế khác hẳn.

Hơn ba mươi tuổi mà những nếp nhăn trên vầng trán đã chồng chất xô trũng đôi mắt sâu xuống những bóng tối, nước da đen nắng gió, trong giọng nói đã nhuốm một vẻ gì buông trôi phó mặc nhưng vẫn không dấu được chua chát, đắng cay; những chua chát đắng cay của một người đã thất bại, bỏ cuộc, lựa chọn một cách thế khác nhưng vẫn hoài tưởng những ngày đã qua? Quên những ngày cũ thì không, đúng thế, làm sao người ta quên những gì người ta đã sống, say mê với nó?

– Dời khỏi Lạng Sơn không được lâu đệ nghe tin Thanh Xuyên Hầu qua đời lòng những băn khoăn không biết hiền huynh đã tới đâu. Quả thật trời không giúp chúng ta. Sao Thanh Xuyên Hầu lại qua đời một cách dễ dàng như thế. Tôi bồn chồn không yên tâm. Đệ dời Thăng Long xuống Thanh Nê thì đám táng đã xong, hiền huynh cũng đã dời khỏi đó, hỏi tin không biết đi đâu. Đệ lại trở về Sơn Trấn nghe ngóng tin tức, cũng có lúc xuống Thăng Long, qua Kinh Bắc nhưng tuyệt nhiên không được tin tức gì. Đệ vẫn tự hỏi: “Hay huynh đã dời khỏi con đường mà ngày trước huynh đã nói với đệ?”

– Không, cho tới bây giờ con đường tôi đi vẫn không thay đổi, có chăng là nó ở một chặng đường khác. Lúc gặp đệ là lúc tôi đang đau buồn vì cái chết của người anh cả. Tôi đã nhìn thấy cái đầu của Nguyễn Đoàn bị chém lìa khỏi cổ, như nghiêm phụ tôi khi xưa đã bị chết. Ai còn là người mà không căm gan tím mật vì những cảnh đau thương. Hai cái tang chồng chất. Ngày mai mình mơ tưởng vẫn còn mờ mịt, nhưng tôi không nản trước những chông gai, vẫn muốn phóng mình lên, trước là trả cái ơn nhà Lê đã bao nhiêu năm đãi ngộ sủng ái cha chú mình, bỗng lộc trong bao nhiêu năm mình đã được hưởng, sau là trả thù cho cha, trả thù cho bạn, rốt là mong mở ra một triều đại mới, khôi phục lại một đời sống thái bình thịnh trị. Con đường ấy không phải của riêng tôi, đó là con đường của những ai đã chịu ơn nhà Lê, những ai học chữ thánh hiền, chôn chặt trong lòng sáu chữ: trung thần bất sự nhị quân…

Phải rồi, không có một ai còn bầu máu nóng trong người mà không theo con đường hành động đó. Chúng ta đều mong muốn khôi phục lại nhà Lê như thuở ban đầu…

Phạm Thái ngừng lại, giót thêm rượu, dáng ngồi đã có vẻ ngả nghiêng, trong giọng nói ngùi ngùi hoài tưởng.

– Chúng ta đã gặp nhau và nói với nhau những điều ấy, tôi nhớ những điều ấy, những điều như khắc trên đá không bao giờ phai và chỉ mất đi khi thân này tan vào cỏ cây, thấm vào lòng đất nhưng hồn vẫn mang nặng. Chúng ta cũng nói đến tình cảnh những kẻ sỹ đã ăn lộc nhà Lê, những kẻ vẫn tự nhận mình là trung thần có học và hành động như phường hèn nhát, tham sinh úy tử, chúng ta đã nói đến cảnh suy tàn của rừng Nho một thời tao loạn, kỷ cương rã tan. Nhớ lại ngày nào tôi ngang qua Thăng Long được đọc bài Tụng Tây hồ phú của Chương Lĩnh Hầu Hữu Hộ Lượng mà máu dồn lên mặt rồi cầm bút mà thảo bài Chiến tụng, Chương Lĩnh Hầu chỉ là bằng chứng cho một lớp nho thần lấy chữ tùy thời làm cách xử thế. Không, không thể như thế được… Chắc đệ còn nhớ bài phú ấy?

Người bạn trẻ tươi cười:

– Quên gì được, đệ còn nhớ cả lời tiểu dẫn: « Năm Canh thân mùa hạ, ta đến chơi với bạn ở Tràng An nghe bạn ngâm bài Tụng Tây Hồ Phú. Hỏi ai làm bài ấy mà hay thế. Bạn rằng: Chương Lĩnh Hầu Hữu Hộ Lượng làm ra – Ta rằng: Chao ôi! Hữu Hộ Lượng à! Xưa kia hắn làm tôi triều Lê, nay ra làm ngụy, lại còn tụng Tây Hồ mà chẳng thẹn mặt! Ghét đứa nịnh làm sao!…”

Phạm Thái tư lự lắng nghe tưởng như sống lại những ngày nào trong quá khứ. Những ngày lang thang trong Kinh thành ngắm nhìn những đổi dời, những suy tàn khắc khoải, đau lòng trước những đổi thay, những kẻ xưa kia làm tôi nhà Lê nay đã làm tôi cho Tây Sơn không chút ngượng ngùng, một ít người còn giữ cho mình một chút trong sạch thì ẩn dật vì thấy mình bất lực trong cuộc mưu đồ khôi phục lại giang sơn cũ. Với bao nhiêu năm yên bình sống trong nhung lụa, trọng vọng, kẻ sỹ đã đánh mất đi cái hào khí của những kẻ giúp vua dựng nước, còn chăng những kẻ chỉ biết xướng vịnh, lấy việc đẽo gọt câu thơ bài phú làm chính; cái học từ chương đã đưa đến một triều đình những kẻ bất tài vô tướng, khi hữu sự chỉ biết khoanh tay đứng nhìn, may ra thốt được vài lời ta thán, chỉ ta thán mà không bao giờ hành động, đó là thực chất của người có học những thời suy vong, những suy vong kéo theo cả nền tảng một xã hội.

Xã hội không suy vong sao được khi những hướng dẫn tinh thần không còn nữa, khi ngọn đuốc tinh thần không còn cháy sáng rỡ ràng những giá trị cần bảo vệ, những giá trị cần duy trì, và những tiến bộ thiết thân…

– Những vụ nổi lên phất cao ngọn cờ phục hưng cô đơn nghiêng ngả trong một xã hội ngơ ngác… Tôi hiểu vì sao nghiêm phụ thất bại, tôi hiểu vì sao Nguyễn Đoàn đã thất bại. Những kẻ tiên phong không còn tin tưởng sắt đá vào con đường của mình, không mang được tin tưởng tới với dân chúng đã chán ngán một trật tự tàn tệ vì chính ngay những kẻ trực tiếp cai trị họ không đóng được vai trò cha mẹ dân, không còn kẻ thực học, hành động nghiêm chỉnh với nghĩa sách, không tìm thấy ý nghĩa linh động biến hóa của phép tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Thời của Thầy Khổng không phải là thời chúng ta đang sống, điều này chắc hiền đệ cũng hiểu. Kẻ sỹ đâu phải chỉ thuộc tứ thư ngũ kinh, thông thạo những luật tắc của thơ phú, lấy việc trau chuốt cốt cách làm chính? Kẻ có học là để hành động không nhầm lẫn. Bao nhiêu nổi dậy đã thất bại, một số kẻ tòng vong ôm lấy khối cô trung làm chiếc mộc che thân, còn lại những những kẻ khiếp nhược, tùy thời lấy an thân làm trọng… Trong hoàn cảnh đó làm sao cho những kẻ có chút tâm huyết không khỏi đau lòng. Tôi hiểu hiền đệ…

Men rượu đã làm người bạn trẻ thấy mạch máu mình nóng lên, chàng đứng dậy bỏ chiếc áo ngoài rũ mạnh, bụi đường bay tung, Phạm Thái trật bỏ khăn vắt lên vai, vẫn đôi vai gầy yếu nhỏ bé, vẫn búi tóc nhưng chừng như đã có sợi hoa râm, Phạm Thái kêu chủ nhân lấy thêm rượu nữa:

– Nguyễn Đoàn mất đi nhưng tôi vẫn tin tưởng mình sẽ còn cơ hội để bắt đầu lại như tôi đã nói với hiền đệ khi chia tay. Đất Lạng có thể làm chốn khởi quân tốt, tôi liên lạc với những hào kiệt trong thiên hạ, giao du với những kẻ tâm huyết lo toan mưu sự, nhưng mưu sự tại nhân thành sự tại thiên, bao nhiêu dự định đều phải bỏ dở, tôi xuống Thanh Nê ẩn náu, lấy việc dạy học làm vui để che mắt thế gian trong khi chờ đợi, rồi sau lên Tiêu Sơn với những người bạn…

– Những công việc ở Tiêu Sơn ra sao mà hiền huynh lại dời khỏi nó. Lúc nghe thanh thế đệ đã sửa soạn hành lý cùng với những bạn hữu để lên đường thì nghe tin triều đình đã dẹp tan…

– Dẹp tan, người ta nói sai, có gì để dẹp ở đó ngoài một nơi thờ tự. Có chăng là những hiệp sĩ ẩn hiện trong vùng Tiêu Sơn đã làm cho quan quân phải một phen khổ sở lo âu, mất ăn mất ngủ. Chúng tôi muốn làm một cái gì nhưng không thành, nương náu nơi cửa thiền, mượn áo của kẻ xuất gia mà hành động khiến tôi vẫn lấy làm áy náy. Tại sao mình không thể hành động một cách quang minh chính trực. Chỉ mượn cửa Thiền làm nơi nương náu thì được chứ dùng nó làm nơi hùng cứ thì không. Vì dùng nó thì chính công việc của mình đã mất đi một phần chính nghĩa. Trong thời gian này tôi đã có thời gian để suy ngẫm, học đạo của Thích Ca, tôi cũng đã có lúc say mê nó. Tôi hiểu phần nào cái lẽ vô thường của kiếp sống. Đạo Thích Ca trong cùng độ là con đường giải thoát. Khi còn trẻ tôi không chối được những trách nhiệm tôi phải gánh vác và khi đó tôi nghe theo một lời kêu gọi… Tôi đã hành động không ngại gian nguy, không sờn lòng, không nản chí, hàng ngũ mỗi lúc một mạnh, nhưng tôi vẫn chưa thấy ngày mai tôi mơ ước. Trong những lúc lắng mình xuống, nhìn lại đoạn đường đã qua tôi thấy mình đã đánh mất đi cả tuổi trẻ của mình. Tôi chưa đủ ba mươi tuổi để lập thân, chưa tránh được cho mình khỏi bị mê hoặc chứ nói gì đến tri thiên mệnh… Xuống Thanh Nê tôi đắm mình lại đó, phải rồi, tôi chưa được sống như đáng ra tôi phải được sống, có khi chính cả hiền đệ nữa, chúng ta chưa được sống đầy đủ. Đằng nào thì Tất Đạt Đa cũng hiểu thế nào là đời sống gia đình, biết thế nào là vinh hoa phú quý, thấy thế nào sinh, bệnh, lão, tử…

Phạm Thái nói như không muốn dừng lại, những bát rượu liên tiếp cạn, men rượu mỗi lúc làm tăng thêm vẻ ngất ngưởng coi thường đời sống.

– Tôi không còn nhớ rõ tại sao mình đã hành động như thế, và tại sao đó lại là một câu chuyện bi thảm… Cái gì cũng dở dang, nửa đường… Có phải tôi ngả lòng, hay bản chất tôi chỉ là tên lãng tử?

– Đệ có được đọc bài Sơ Kính Tân Trang, đệ ngạc nhiên lắm, có người đọc xong nói với đệ chí lớn trong thiên hạ không đựng đầy đôi mắt mỹ nhân.

Phạm Thái cười ngất:

– Quả chí lớn trong thiên hạ không đựng đầy đôi mắt mỹ nhân. Nhưng có lẽ cũng không hẳn là vậy. Chắc đệ cũng có lúc khinh tôi, và hỏi tại sao tôi lại dời khỏi con đường hành động? Không một kẻ nào sinh ra chỉ để hành động hay tự bắt mình phải đi mãi trên một con đường hẹp, phải chết sống với một điều đã có sẵn, nếu hắn chấp nhận vậy thì còn gì là đời sống nữa. Điều quan trọng là đời sống của hắn, hắn sống sao cho có một đời sống đáng sống. Hắn không thể dừng lại ở chỗ trống không, hắn phải tiếp tục tìm kiếm, tìm kiếm cho tới lúc hắn không còn sức tìm kiếm gì nữa. Tôi hành động, vùng vẫy vì khi đó tôi thấy hành động vùng vẫy là ý nghĩa cuộc sống. Tôi yêu say đắm không còn muốn vùng vẫy vì lúc đó tôi thấy hành động vô nghĩa… Và bây giờ tôi thấy làm một kẻ giang hồ với túi thơ bầu rượu là đáng nhất thì tôi chọn. Có thể một lúc nào đó tôi không còn thấy nó có ý nghĩa như hiện nay. Tôi trung thành với tôi, trong cuộc hành trình đó tôi không thấy gì là vô lý cả…

– Huynh ân hận về những ngày vùng vẫy sao?

– Không, tôi không hề ân hận, nhưng tôi biết hoàn cảnh đã đổi thay. Nhà Lê đã hết. Chúng ta không nên níu nó lại nữa. Bánh xe chuyển, chúng ta không nên ngăn nó lại một cách vô ích. Đó là điều khiến tôi dời khỏi con đường hành động. Và tất nhiên tôi muốn thu xếp cho tôi một đời sống nhỏ bé riêng tư… Nhưng tôi đã thất bại, Quỳnh Như đã chết. Phải rồi, Quỳnh Như đã chết, nhưng hình ảnh nàng còn sống trong lòng tôi… Tôi vẫn không quên những ngày đầm ấm ở Thanh Nê, những giây phút đắm say tưởng như kéo dài muôn ngàn năm… Chắc hiền đệ đã thất vọng vì tôi?

– Từ bấy đến nay, những điều hiền huynh nói với đệ buổi chia tay vẫn không phai nhòa. Hiền huynh thử nghĩ lại xem, chúng ta có thể ngồi yên, ngao du sơn thủy mà nhìn ngắm đời sống? Đệ vẫn thấy phải hành động. Đệ tới đây tìm hiền huynh cũng không ngoài mục đích ấy.

– Rất đa tạ hiền đệ đã dành cho tôi nhiều cảm tình, nhưng tôi đã nghĩ kỹ rồi… Lúc còn cặm cụi với sách đèn, khi nhìn cơ đồ nhà Lê sụp đổ, thế nước ngả nghiêng, rồi khi dấn mình vào hành động, lúc nương mình nơi cửa Thiền, khi… Tôi đã không lúc nào ngừng nghỉ đi tìm ý nghĩa của cuộc sống. Phải sống. Sống không phải là nương theo những điều đã được định sẵn. Sống là tìm kiếm, lựa chọn, đương đầu… Hơn ba mươi tuổi trong đời mình tôi chưa hề ân hận, hối tiếc… Nếu đệ thấy những điều đệ vừa nói là ý nghĩa đời sống của đệ thì đệ cử sống với nó. Còn tôi, tôi đã chọn cho tôi, như hiền đệ thấy: túi thơ, bầu rượu, trăng, nước, trời mây, sông biển… Tôi đã căm hờn, uất hận, đã vùng vẫy, đã đau buồn, đã yêu, đã vui chơi thỏa thích, bây giờ cỏ cây là bạn… rồi một hôm nào lạc chân không bao giờ trở lại nữa… Thôi nói gì tới những chuyện đó nữa, còn rượu đây chúng ta hãy cùng say… Cuộc đời có khác chi một giấc chiêm bao…

Sáng mờ sương hôm sau, khi ra khỏi cơn say và thức dậy Phạm Thái không còn thấy người bạn trẻ, chỉ còn lại ngoài sân dấu chân ngựa đi về hướng mặt trời mọc…

(1965)

Quảng Trị dậy sóng và cờ ta bay

dongsongcu.wordpress.com

KB Phạm Hữu Phước

Posted on September 15, 2024 by dongsongcu

Post by Sơn râu 19 Mar 2025

Ảnh minh hoạ

Phần 2

Chiến Dịch Lôi Phong

Trong cuộc hành quân phối hợp tái chiếm Quảng Trị này, Trung-tướng Ngô Quang Trưởng từ Quân Khu IV ra thay thế Trung-tướng Hoàng Xuân Lãm trực tiếp chỉ huy, soạn thảo kế hoạch hành quân cùng Chuẩn-tướng Bùi Thế Lân, Tư lệnh Sư-đoàn TQLC và các cấp chỉ huy khác của các Binh chủng trong QLVNCH…Trong buổi họp tham mưu đầu tiên của Thiết-đoàn 20CX, tân Thiết-đoàn trưởng Trung-tá Nguyễn Văn Tá, ưu tiên thành lập lại Chi-đoàn 1/20 CX do Đại-úy Đặng Hữu Xứng làm Chi-đoàn trưởng, rồi mới đến Chi-đoàn 2/20 CX của tôi, cuối cùng là Chi-đoàn 3/20 CX do Đại-úy Đoàn Chí Sanh chịu trách nhiệm.

Sau buổi họp, Trung-tá Thiết-đoàn trưởng nói riêng cho tôi biết, Trung-tướng Ngô Quang Trưởng không đồng ý để một Trung-úy làm Chi-đoàn trưởng chiến xa M48A3, nên tôi vẫn tiếp tục tái chỉnh trang Chi-đoàn, cho đến khi có người khác đến thay. Tái trang bị và huấn luyện xong, các đơn vị Nhảy dù, TQLC, BĐQ, ĐPQ cùng Chi-đoàn 1/20 CX, Chi-đoàn M113 Thiết Kỵ, xuất quân qua cầu phao sông Mỹ Chánh, cầu này đã bị Công Binh ta giật sập sau khi thành lập phòng tuyến, tiến lên tái chiếm Quảng Trị. Chi-đoàn 2/20 CX bắt đầu nhận xe và những binh sĩ của Chi-đoàn vừa trở về lại đơn vị, Thiếu-úy Bùi Thám, Thiếu-úy Nguyễn văn Quảng, Thiếu-úy Nguyễn văn Thuận làm Chi-đội trưởng và Trung-sĩ nhất Phan Ngọc Tuấn làm Hạ-sĩ quan ban 3 cho Chi-đoàn. Sau khi trang bị xong, Chi-đoàn lấy biểu xích số 0 cho đại bác, thực tập lại tác xạ, thao dợt hành quân dã trại tại phía tây căn cứ Dạ Lê, Huế. Trong lúc Chi-đoàn thực tập tác xạ ngoài bãi bắn, trực thăng của Trung-tướng Ngô Quang Trưởng cùng một Tướng Cố-vấn Mỹ đáp xuống xem xét. Sau khi trình diện và trả lời nhiều câu hỏi, tôi được chỉ thị lên chiến xa cùng Tướng Trưởng và Tướng Mỹ xem tôi bắn di động. Tôi cho nổ máy xe bắt đầu di chuyển rồi làm đủ mọi thao tác như ra lệnh nạp đạn, hướng súng về mục tiêu và đo tầm xa, đột nhiên trời đổ cơn mưa rào trắng xóa không còn nhìn thấy gì nữa, tôi ước chừng mà bắn đại vì đạn đã lên nòng, theo đúng chiến thuật là phải bắn trước không cho địch quân trở tay kịp. Thật kỳ lạ, vừa bắn xong thì trời cũng bắt đầu tạnh, bầu trời quang đãng trở lại và Tướng Trưởng nói với tôi một câu “không được chính xác lắm”. Vì có tướng Mỹ ở đó nên nên tôi trả lời bằng tiếng Mỹ thay vì tiếng Việt” Trời mưa nhiều quá nên tôi không thấy được mục tiêu thưa Trung-tướng” (It rain too much so I can not see the target, Sir). Chúng tôi xuống xe và chào tiễn hai người lên trực thăng rồi tiếp tục huấn luyện. Khi Chi-đoàn 1/20 CX cùng các đơn vị tham chiến đã chiếm xong quận Hải Lăng, Chi-đoàn 2/20 CX cũng đã sẵn sàng. Đến ngày lên đường vẫn chưa thấy ai đến thay thế cả, tôi hướng dẫn Chi-đoàn qua sông Mỹ Chánh, phối hợp hành quân cùng với đơn vị Dù, giữ vùng núi phía Tây quận Hải Lăng, bên trái Quốc lộ 1, ngăn không cho VC chận đường tiếp tế của ta. Với tình hình hiện tại, tôi không dùng chiến thuật chiếm giữ cao điểm nữa, khi di chuyển hay đóng quân đều dựa theo triền đồi, các cao điểm đều dành cho đơn vị Dù đảm nhận. Tiến quân đến đâu thì địch quân pháo theo đến đó. Vì có kinh nghiệm bị AT3 phá vỡ̃ phòng tuyến Đông Hà – Ái Tử nên khi tiến quân, Chi-đoàn đều dựa theo triền đồi. Nhờ thế mà pháo 130 ly và hỏa tiễn 122 ly của VC bay qua đầu, rớt trên triền đồi kế bên không hề hấn gì đến Chi-đoàn. Thấy dùng pháo không có kết quả, chúng cho chôn mìn chống chiến xa khắp nơi theo trục tiến quân làm hai xe cán mìn đứt xích. Để tránh mìn, tôi ra lệnh Chi-đoàn tiến theo đường xích của xe trước. Chi-đoàn 1/20 CX cùng Tiểu-đoàn 11 Dù của Thiếu-tá Lê Văn Mể tiếp tục tiến đánh chiếm La Vang và Chi-khu Mai Lĩnh. Trong trận này Trung-úy Hoàng Ngọc Hùng khóa 22B, Võ Bị Đại-đội trưởng 112 Dù đã tử trận và Chuẩn-úy Bùi Quốc Thái, Chi-đội phó 3/1 CX của Thiếu-úy Đặng Văn Quang bị phỏng nặng, vì trúng hỏa tiễn điều khiển AT3. Nhất quyết phải tiến chiếm cho bằng được đến cầu Quảng Trị, Chi-đội 3/1CX của Thiếu-úy Đặng Văn Quang, phối hợp cùng 2 Đại-đội của Tiểu-đoàn 9 TQLC, lợi dụng thời tiết sương mù buổi sáng, đã chớp nhoáng đánh chiếm lại bệnh viện Quảng Trị và trường Trung học Bồ Đề một cách dễ dàng. Thế là đoạn đường trên QL1 từ Hồ Đắc Hanh đến cầu QT đã được khai thông. Chi-đoàn 1/20 CX bàn giao lại địa bàn trên cho Chi-đoàn 2/20 CX về căn cứ Hòa Mỹ, quận Phong Điền, để tu bổ, bảo trì và dưỡng quân. Bấy giờ Chi-đoàn 2/20 CX vừa tăng phái cho Dù vừa tăng phái cho TQLC. Chi-đội Thiếu-úy Bùi Thám đi với Tiểu-đoàn 5 Dù của Thiếu-tá Bùi Quyền, chiếm giữ bên trái Quốc lộ 1, tiến về Động Ông Đô. Chi-đội Thiếu-úy Nguyễn văn Thuận giữ bệnh viện QT, Chi-đội Thiếu-úy Nguyễn văn Quảng đóng dọc theo bờ sông Thạch Hãn cùng với Tiểu-đoàn 9 TQLC, đánh chiếm từng căn nhà tiến về trung tâm thành phố.

Ảnh minh hoạ

Chi-đoàn 3/20 CX cũng đã thao dợt xong, xuất quân đi với Tiểu-đoàn 11 Dù, đánh chiếm doanh trại Tích Tường (hậu cứ Thiết-đoàn 11 cũ) và các vùng lân cận. Vì lý do sức khỏe, Đại-úy Đoàn Chí Sanh rời Chi-đoàn 3/20 CX, Thiếu-tá Trương Quang Thương ra thay, rồi giao lại cho Đại-úy Lê Bá Nam từ Thiết-đoàn 7 thuyên chuyển qua, giữ chức vụ Chi-đoàn trưởng 3/20 CX tại mặt trận La Vang – Tích Tường. Bấy giờ Chi-đoàn 2/20 CX tăng phái hẳn cho TQLC, Chi-đội của Thiếu-úy Bùi Thám rời Tiểu-đoàn 5 Dù, tăng phái cho Tiểu-đoàn 6 TQLC (Thần Ứng) của Thiếu tá Đổ Hữu Tùng, từ bến xe đò hướng Nam Quảng Trị, tiến đến Cổ Thành Đinh Công Tráng. Các chiến sĩ TQLC phối hợp cùng chiến xa, đánh chiếm từng căn nhà, tiến dần đến Cổ Thành. Đến giữa tháng 8/72 TQLC đã tiến gần đến trung tâm thành phố. Bộ Chỉ huy Tiểu-đoàn 8 TQLC ( Ó Biển ) của Thiếu-tá Nguyễn Văn Phán và Chi-đoàn 2/20 CX của tôi, đóng trên đồi thông bên trái Quốc lộ 1 gần ngã ba Long Hưng. Khi hai chiếc chiến xa M48A3 của Thiếu-úy Thuận giữ bệnh viện Quảng Trị, chạy trên quốc lộ 1 về chỗ của tôi, để nhận tiếp tế thì bị VC phục kích trên QL1 bắn B40 trượt bên hông trên dàn xích, nên không thủng vào trong. Tôi đến gặp Thiếu-tá Phán, để biết ai giữ đoạn đường trên, mà xe mình về bị bắn. Ngồi nghe máy cùng Thiếu-tá Phán hỏi Lữ-đoàn, để xác định đơn vị nào chịu trách nhiệm giữ khu vực đó. Tôi xin phép nhắc lại một đoạn đối thoại giữa Đại-tá Nguyễn Thế Lương, Lữ-đoàn trưởng 369 TQLC và Thiếu-tá Hồ Quang Lịch, nghe cũng vui vui, nên đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ mãi:

– Lịch à! Bộ em sống với VC hả Lịch?

Thiếu-tá Lịch đáp:

– Dạ! Đâu có anh, em bàn giao lại cho ĐPQ rồi mà.

Đại-tá Lương nói tiếp:

– Vậy em biết phải làm như thế nào rồi chứ.

Thiếu-tá Lịch trả lời:

– Dạ, anh để em lo.

Nghe vậy tôi nói với Thiếu-tá Phán:

– Anh cho một Đại-đội giữ hai bên hông xe, tôi sẽ đánh lấy lại đoạn đường đó, xe của Chi-đoàn tôi bị bắn mà.

Chỉ còn lại Phân-đội chỉ huy, nên tôi lên chiến xa, phối hợp đi cùng một Trung-đội bảo vệ tiến ra đường. Vừa đến khúc quẹo hướng về cầu Quảng Trị, thấy rất nhiều toán VC đang đứng bên ngoài canh gác, chạy đi núp sau các đống gạch do các nhà bị sập cách xe tôi hơn 100m, tôi dừng xe và nhắm vào chỗ chúng núp đầu tiên khai hỏa , bụi cát bay mịt mù, đống gạch vẫn trơ trơ, phát đạn thứ hai điều chỉnh nổ chậm, vẫn không hề hấn gì, tôi đổi qua đạn chống chiến xa. “Đùng” không có cát bụi văng ra, chỉ thấy lửa phụt ra phía sau đống gạch, tên VC còn sống sót phóng ra ngoài bỏ chạy. Biết chỉ có đạn chống chiến xa mới trị nổi những đống gạch đá, cứ thế tôi bắn từ chỗ VC núp nầy đến chỗ núp khác, cuối cùng chúng tôi cũng giải tỏa lại được đoạn đường đó, không có một tổn thất nào, lại còn thu được nhiều chiến lợi phẩm.

Ảnh minh hoạ

Đầu tháng 9/1972 vào một buổi trưa trời nắng nóng, tôi ngồi trong xe M113, cửa sau mở, không hiểu vì sao, nhưng có lẽ vì tôi còn nặng nợ với núi sông, nên khiến tôi cầm áo giáp lên che ngực khi nghe hai tiếng đề-ba (départ) “cạch, cạch” của súng cối 82 ly. Một trái nổ trên mô đất phía sau, cách xe chừng một thước, vì quá gần nên mảnh đạn tạt lên chưa cao, chỉ từ áo giáp trở xuống, nhiều mảnh ghim vào chân, đùi, mông, một mảnh xuyên qua áo giáp vào gần tới phổi, tuy các vết thương không nặng lắm, nhưng cũng phải rời mặt trận về bệnh viện Nguyễn Tri Phương (Huế). Thiếu-tá Trương Quang Thương ra thay tôi, tiếp tục cùng TQLC tiến chiếm Cổ Thành. Tại bệnh viện sau kiểm tra băng bó các vết thương, Trung-tướng Ngô Quang Trưởng đã đến tại giường bệnh hỏi thăm sức khỏe, tình hình chiến sự tại Quảng Trị. Ông hỏi tôi

– TQLC chiến đấu như thế nào?

Tôi trả lời:

– Các đơn vị TQLC đánh được lắm

Trung-tướng Trưởng mỉm cười bắt tay tôi ra về. Hôm sau Thiếu-tá Hoàng Kiều, Thiết-đoàn phó 20CX đến thăm, tôi kể lại những gì Trung-tướng Trưởng đã hỏi, Thiếu-tá Hoàng Kiều nói:

– Bộ mày không biết ổng thuộc Binh chủng Nhảy Dù hay sao, mày lại khen TQLC!

Tôi trả lời:

– Em đâu có đánh chung cùng Nhảy Dù đâu mà em nói

Khi vết thương đã lành, tôi trở lại đơn vị thì Tiểu-đoàn 6 TQLC Thần Ứng đã cắm cờ trên Cổ Thành Quảng Trị và bắt được nhiều tù binh VC vào ngày 16/9/1972.

Cuộc chiến tạm yên và mùa hè năm đó đã trở thành một trong ba sự kiện quan trọng của quân lực VNCH và Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã đặt tên cho 3 trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa 1972:

• Bình Long Anh Dũng

• Kontum Kiêu Hùng

• Trị Thiên Vùng Dậy

Đó là tất cả diễn tiến của mùa hè 1972, một mùa hè rực lửa tại Quảng Trị mà tôi đã tham dự, chứng kiến trong đời quân ngũ. Còn mặt trận phía Tây Huế, các chiến sĩ Sư-đoàn 1 BB và Thiết-đoàn 7 KB cũng đã đánh chiếm lại được căn cứ Bastongne. Tuy chỉ trong vài tháng ngắn ngủi, nhưng cũng nói lên được sự kiên cường, dũng cảm của những người lính VNCH.

Họ là những anh hùng không tên tuổi

Sống âm thầm trong bóng tối mênh mông

Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh

Nhưng can đảm và tận tình giúp nước …

Sau khi xuất viện và nghỉ phép tôi trở lại đơn vị thì cuộc chiến đã không còn ác liệt, chỉ còn những trận đánh lẻ tẻ ở Bích La thôn, và các thôn dọc theo sông Thạch Hãn. Thành phố Quảng Trị bây giờ là một thành phố hoang tàn đổ nát, không còn những quán càfê nhạc, phố xá vắng hẳn những tà áo dài màu trắng tinh khôi của nữ sinh trường Trung học Nguyễn Hoàng, trường Bồ Đề, líu lo như chim sau giờ tan học. Nhớ những dãy nhà khang trang trên đường Trần Hưng Đạo, trên đường Quang Trung và nhớ nhiều lắm những kỷ niệm ngày xưa, nhất là khi vừa đặt chân lên thị xã Đông Hà năm 1968 cùng các bạn đi chơi loanh quanh trong chợ, vừa đi vừa mút nước đá nhận, trong khí trời nóng bức bởi những cơn gió Lào khô khốc, tai nghe các cô em bán hàng cười ríu rít, nói một tràng mà mình cứ tưởng như mình là người ngoại quốc. Ôi! Đông Hà, Ôi! Quảng Trị của ta ngày xưa, nay chỉ còn lại trong ký ức. Buồn, buồn lắm!

Trở về lại thực tại, ba Chi-đoàn thay phiên nhau tăng phái cho Nhảy Dù trên đồi núi phía Tây và TQLC tại các làng xã phía đông như Hội Yên, Gia Đẳng, Mỹ Thủy… Ngày 25/1/73 quân ta được lệnh phải tái chiếm lại Cửa Việt, đã bị VC chiếm giữ khi quân ta rút khỏi Quảng Trị, trước ngày ký hiệp định Paris 28/1/1973, gồm các đơn vị Lữ-đoàn 147 TQLC, Chi-đoàn 1/20 CX, Chi-đoàn 3/20 CX, Chi-đoàn 2/17 Thiết Kỵ, Chi-đoàn 2/20 CX trừ bị tại quận Hải Lăng. Quân ta đã chiếm lại cách Cửa Việt chừng 100m, cắm cờ VNCH trên vùng đất đã lấy lại được, trước giờ 8 giờ sáng ngày 28/1/1973 như theo hiệp định Paris. Nhưng VC đã bất chấp hiệp định đình chiến, vài ngày sau đó đã tấn công và đẩy lui quân ta chiếm lại Cửa Việt.

Yên bình trở lại, nhiệm vụ các Chi-đoàn vẫn thay phiên tăng phái cho Dù và TQLC. Tại Mỹ Thủy tôi thường đến Trung tâm hành quân của Thiết-đoàn 18 Kỵ-binh để nghe Đại-úy Nguyễn Tẩn, Ban 3 Thiết-đoàn, thuyết trình về tình hình trong vùng và huấn luyện Nhị thức Bộ binh – Thiết Giáp cho TQLC. Một hôm đang huấn luyện, Trung-tướng Ngô Quang Trưởng cùng Thiếu-tá Hoàng Kiều Thiết-đoàn phó, đáp trực thăng xuống để thị sát. Trong lúc Trung-tướng đang trò chuyện, một binh sĩ TQLC đang thực tập xoay nòng súng đại bác về phía Trung-tướng, tôi hét lớn ra lệnh quay súng về hướng khác, Trung-tướng cười, trò chuyện một lúc, hai người lên trực thăng ra về. Qua hôm sau Thiếu-tá Kiều đến động viên đơn vị và nói cùng tôi:

– Chỉ có mày Trung-tướng mới cười mà thôi.

Không hiểu tại sao tôi được Trung-tướng chiếu cố, quan tâm đến ba lần, có lẽ vì không yên tâm để tôi đảm nhiệm chức vụ Chi-đoàn trưởng chiến xa M48A3 chăng? Đến tháng 6/1974 tôi bàn giao đơn vị lại cho Đại-úy Phan Thanh Tùng lên đường đi học khóa Trung cấp Thiết Giáp. Mãn khóa học, trở lại đơn vị làm trưởng ban truyền tin của Thiết-đoàn. Đầu năm 1975 Chi-đoàn 2/20 CX của Đại-úy Tùng, đánh tan Đại-đội VC tại xã Triều Dương, Vĩnh Nậy bắt sống nhiều tù binh. Đây là chiến thắng cuối cùng của Thiết-đoàn 20 CX trước khi tan hàng.

Khi Trung-tá Phan Công Tuấn, Thiết-đoàn trưởng 20 CX cùng các đơn vị TQLC trấn giữ vùng hỏa tuyến được lệnh rút bỏ Quảng Trị về Đà Nẳng vào tháng 3/1975, rồi bỏ Quân Khu I và Quân khu II một cách tức tưởi, đau đớn để cho quân đội Bắc Việt chiếm đóng dễ dàng. Đau lòng thay cho những chiến sĩ VNCH đã hy sinh xương máu để bảo vệ quê hương yêu dấu.

Tháng Ba năm 1975

Thiết-đoàn 20 CX đang đóng quân tại Phong Điền, tỉnh Quảng Trị, Trung-tá Phan Công Tuấn, Thiết-đoàn Trưởng, được lệnh đưa Thiết-đoàn rút về Đà Nẳng. Thiếu-tá Minh Thiết-đoàn phó, cùng tôi là Trưởng ban Truyền tin, phụ trách phá kho đạn tại Phong Lộc rồi mới đi sau. Xong việc chúng tôi về Huế. Đến cầu Bạch Hổ, được lệnh dừng lại chờ nhận tiếp tế. Thiếu-tá Minh về nhà, còn tôi ở lại cùng vài anh em binh sĩ. Đến trưa hôm sau, được lệnh chạy về cửa biển Thuận An. Đến nơi thấy tất cả chiến xa M48A3 và M113 đậu tại căn cứ Hải quân, nhưng vắng hoe không còn ai cả. Cuối cùng chúng tôi lục lạo trong căn cứ, tìm thấy một máy đuôi tôm còn xử dụng được, lấy những thùng xăng trống và đà gỗ, kết làm bè để về Đà Nẳng. Đang lay hoay làm bè thì Trung-sĩ Nguyễn Điền, Trưởng xa, thuộc Chi-đoàn 2/20 CX đi đến cùng vợ đang mang bầu. Tôi hỏi:

– Sao em còn ở đây?

Điền trả lời:

– Em về nhà đưa vợ cùng đi luôn.

Chưa ra đến cửa biển thì bị pháo, nhưng đạn chỉ rơi rớt chung quanh. Vừa lúc đó một chiếc LCM (loại tàu chở quân đỗ bộ) chạy đến, cho chúng tôi lên rồi chạy về Đà Nẳng. Lên bờ, anh em binh sĩ có gia đình đều đi hết, chỉ có tôi là người miền Nam, nên lang thang không biết đi đâu. Thấy trong thành phố dân chúng nhốn nháo, tôi rất hoang mang, cuối cùng quyết định qua bãi biển Sơn Trà, hy vọng sẽ có tàu Hải Quân để về Saigon. Đêm đó căn cứ Hải Quân bị pháo dữ dội, đến sáng tôi chưa biết đi đâu. Thời may có một Chi-đội M 113 từ trong căn cứ đi ra. Họ đưa tôi đến Non Nước, để bảo vệ Bộ Tư lệnh TQLC. Đến đây tôi gặp Chi-đoàn 3/20 CX M48 do Thiếu-tá Đặng Hữu Xứng chỉ huy, cũng đang bố trí tại đó. Ngồi bàn về tình hình đen tối hiện tại. Đến trưa thì có một chiến hạm đến đậu ngoài xa, cách bờ chừng 200m. Anh Xứng dục tôi lội ra tàu mau lên, còn ảnh thì ở lại để lo cho gia đình. Tôi cởi giày, lấy thùng đạn làm phao rồi bơi ra tàu. Một lát Trung-úy Bùi Thám lên tàu cùng vài binh sĩ nữa. Vớt thêm chừng 200 binh sĩ TQLC, tàu ra khơi chở chúng tôi về Cam Ranh. Lên bờ đi chân không trên cát nóng không chịu nổi, phải dùng quần bó hai bàn chân để đi. Ra Quốc lộ 1, đón xe lam về Phan Rang, đến các làng chài hy vọng mua vé ghe đi về Vũng Tàu, nhưng không có ghe nào đi vì biển động. Về lại Nha Trang, thấy lộn xộn quá đành phải trở lại Phan Rang chờ ghe. Chờ một hai ngày vẫn không thấy hy vọng gì, nên đi ra Quốc lộ, mong đón được xe đò. May sao có chiếc xe hàng chở gia đình, cho tôi và Tr/úy Bùi Thám quá giang. Về đến Bình Tuy thì dừng lại vì phía trước quân ta đang chiến đấu với VC. Tôi và Thám đi về hướng biển, đến làng đánh cá mua được vé về Long Hải. Lên bờ Quân Cảnh cho biết, Thiết Giáp đang tập trung tại căn cứ Long Bình. Hai anh em về nhà tôi, nghỉ một đêm cho lại sức rồi đến Long Bình trình diện. Anh em Thiết Giáp từ Quân khu I và II về đây rất đông. Chưa có nhiệm vụ gì, nên chúng tôi sáng đến, chiều về nhà, thỉnh thoảng chúng tôi qua hậu cứ Sư-đoàn 18 ăn trưa.

Vào khoảng giữa tháng 4/75, tôi được lệnh của Đại-tá Nguyễn Xuân Hường, Tư Lệnh Lữ-đoàn 1 KB, thành lập lại Chi-đoàn 2/11 Thiết Kỵ trực thuộc Quân Đoàn III, có nhiệm vụ phòng thủ Biên Hòa. Ban ngày bố trí tại núi Bửu Long, đêm giữ phi trường Biên Hòa. Ngày 26/4/75 Quân Đoàn chỉ thị cho tôi dẫn Chi-đoàn ra Bà Rịa, tăng phái cho TQLC. Vừa đến ngã ba Long Bình hướng về Bà Rịa, dân chúng chạy loạn cho hay, quân ta đang đánh nhau với VC tại Long Thành. Tôi gọi máy cho Quân Đoàn xin chỉ thị, được lệnh quay về tăng phái cho Tiểu-đoàn 7 Dù của Thiếu-tá Nguyễn Lô đang giữ Biên Hòa. Sau đó được lệnh cho hai Chi-đội, tăng phái cho Tiểu-đoàn 5 Dù của Thiếu-tá Võ Trọng Em giữ cầu Biên Hòa, còn tôi và thành phần còn lại cùng Tiểu-đoàn 7 giữ phi trường. Đêm 29/4 với hai cây đại bác 106 ly không giật, Chi-đội của Trung-úy Nguyễn Văn Hiệp Chi-đoàn phó, đã bắn hạ hai chiến xa địch bên kia sông Đồng Nai. Đây là chiến tích cuối cùng của Chi-đoàn 2/11 Thiết Kỵ.

Sáng ngày 30/4/75, Tiểu-đoàn 7 Dù cùng Chi-đoàn trừ của tôi, rút từ Biên Hòa về đến Hàng Xanh, thì nghe lệnh buông súng của Tổng Thống Dương Văn Minh. Vận nước đến đây là hết, chia tay nhau mổi người đi một nẻo, không chỉ riêng tôi mà hầu như tất cả những người dân miền Nam đều hoang mang, chưa biết ngày mai sẽ ra sao đây!

Tháng Tư nghiêng ngã Sơn Hà

Triệu người khóc hận can qua ngất trời

Tờ lịch rơi những đầy vơi

Lật trang sử mới? Ngàn đời không quên

(Thơ:  Như Thương

Chủ đề: Quê Hương và Quốc Hận

Đời Tù: Buồn – Vui – Khổ Ải

Cùng với những chiến hữu, tôi đi trình diện vào sáng ngày 23/6/75. Sau khi từ giã vợ con đi đến trường Trung học Lê Văn Duyệt tại Gia Định, để “học tập 10 ngày” như thông cáo của Ủy ban quân quản Saigon-Gia Định. Anh em đến trình diện mỗi lúc một đông. Đến tối ngày hôm sau, tất cả được đưa đến trại tập trung tại Long Giao, “để tạo điều kiện cho việc học tập cải tạo mau sớm trở thành con người mới xã hội chủ nghĩa” như bọn quân quản VC thông báo. Trại Long Giao thật rộng lớn, chia ra nhiều khu bằng kẽm gai, mỗi khu có khoảng bốn năm nhà tiền chế, tôi ở khu nhà gần cổng trại. Mỗi nhà là một đội khoảng 50 người, chia thành bốn tổ nằm ngủ dưới đất. Ngày ngày chúng tôi chờ đợi được “học tập” cho xong, để về với gia đình. Thế nhưng đã một tháng qua, mà không thấy động tĩnh gì, bấy giờ mới biết mình bị bọn VC lừa, đang bị giam lỏng trở thành tù cải tạo.

Một buỗi sáng như thường lệ, chúng tôi được tập họp đưa đến hội trường khai giảng lớp học. Bài học đầu tiên về lịch sử, chúng tôi đã học từ khi còn bé là nước Việt Nam có 4.000 ngàn năm văn hiến, từ Ải Nam Quan đến mũi Cà mau. Bài học thứ hai là kê khai lý lịch “ba đời” và tội lỗi của mình. Khoảng ba tháng sau chúng tôi được viết thư về thăm gia đình, báo tin cho phép gởi quà mỗi người 3kg. Tôi vừa mừng nhưng cũng vừa lo, thế này thì có lẽ còn lâu mới về, theo như tiêu chuẩn đánh giá của khẩu hiệu ” học tập tốt – lao động tốt “. Để giết thời giờ cũng như cho qua ngày, chúng tôi tìm bất cứ thứ gì, có thể làm thành những vật kỷ niệm, cho ngày mai nếu được thả. Bạn Trương Kim Anh nhận công việc đào giếng, cho khu vực chỗ chúng tôi ở. Một hôm đang đào bỗng anh bị co rút bắp thịt chân gần như bại liệt, đi đứng khó khăn, đây là tai nạn đầu tiên trong tù, hiện nay anh đang ở San Jose California. Thời tiết bắt đầu lạnh, tôi tìm những bao cát bằng vải giặt sạch, may thành áo ấm, chuẩn bị cho một cuộc hành trình có thể là dài hạn.

Bỗng một hôm cả trại được tin sẽ xét xử một người, đó là Đại-úy Lê Đức Thịnh phòng Quân Báo, can tội lén lút gửi thư liên lạc với gia đình, tìm cách trốn trại chống đối, đánh phá cách mạng. Tòa tuyên án “Tử hình”. Đây có thể là vụ án đầu tiên, anh Thịnh là con cờ thí để răn đe mọi người. Đến khoảng tháng 6/1976, anh em chúng tôi bị đưa ra Miền Bắc bằng tàu Sông Hương, cập bến Hải Phòng rồi cùng các anh em lên xe lửa. Chia ra từng nhóm chen chúc nhau trong những toa chở hàng, chở súc vật đến Yên Bái. Dọc đường bị dân chúng chửi rủa, ném đá, nhưng vẫn phải thản nhiên mà chịu đựng …Rồi từng tốp 30 người, lên xe Molotova chạy lòng vòng trong núi, đưa đến một nơi có chừng vài chục nóc nhà. Xuống xe tập trung lại, được vài anh bộ đội còn trẻ, dẫn đi theo con đường đất rộng chừng 2 mét dưới chân núi. Đi khoảng chừng hai cây số, thì đến mấy dãy nhà mái lợp bằng tre nứa, chưa có vách, ở gần một hồ nước rộng lớn. Đến khi có khoảng chừng 200 người, bọn quản giáo VC cho biết đây là trại 7. Họ chia nhóm chúng tôi thành nhiều đội, mỗi đội ở một nhà. Sau vài ngày nghỉ ngơi, đội tôi chia thành 4 tổ, mỗi tổ 12 người và tự bầu lên đội trưởng, tổ trưởng. Bây giờ chúng tôi phải lao động khổ sai như đi lấy gỗ, lấy nứa, lấy luồng (một loại tre, thân to đường kính gần 2 tấc, dài trên 12 thước.) đóng gạch, làm đường, trồng sắn (khoai mì ), bắp.v.v.. Những ngày đầu cả trại được phân công mỗi đội đi lấy cây để dựng cột, nứa thì chặt khúc dài khoảng 5 tấc đập dẹp, kết thành tấm dài độ 6 tấc để lợp mái, làm vách, luồng phải dài hơn 12m để làm đòn dong… Nghĩa là dựng trại, làm sạp nằm, làm hàng rào bao chung quanh, chỉ chừa một cửa ra vào mà thôi. Nhà của cán bộ ở trên đồi cao hơn cách xa trại chừng 20m.

Dần dần chúng tôi biết trại 7 thuộc Liên trại 4, xã Cẫm Nhân, cạnh hồ Thác Bà, tỉnh Hoàng Liên Sơn nhờ hàng tháng trại chọn ra một tổ, đi ra hợp tác xã ở Cẫm Nhân để lãnh lương thực. Các trại khác cũng đến, gặp nhau tôi hỏi thăm, mới biết Liên trại 4 có 9 trại. Thời gian ở đây có nhiều anh em đã nằm xuống vì bệnh, vì kiệt sức hoặc bị tai nạn như anh Nguyễn văn Cử trại 7 bị chết đuối sau khi lấy xong nứa ở voi đất giữa hồ vì không muốn đi về vòng theo núi nên bơi tắt ngang qua hồ Thác Bà để về trại…Tôi cũng có nghe nhiều anh em ở trại khác vì kiếm thực phẩm ăn bị trúng độc chết.

Vài tháng sau đội tôi được chọn đi làm gạch, tách ra khỏi trại 7 ở riêng biệt. Tổ tôi thì đóng gạch, còn các tổ khác đi rừng lấy củi về đốt lò nung gạch. Anh em đi lấy củi dài một thước chỉ tiêu 3 người một thước khối/ngày. Tuy có vất vả nhưng có cơ hội cải thiện (tìm thức ăn). Một buổi tối cả đội bị tập trung ngoài sân để đấu tố anh Dương Viết Đang về tội âm mưu “ám sát cán bộ” do bọn “ăng-ten” báo cáo. Bốn đêm liên tiếp phát biểu, tra hỏi mà không truy ra được chứng cứ nào để buộc tội nên quản giáo tên Xe đành cảnh cáo toàn đội. Rồi lại xảy ra thêm một chuyện nữa trên cây gỗ chặt đem về có khắc hai chữ “Nợ Máu” khiến cho đội lại một phen điêu đứng, nhưng vẫn không tìm ra thủ phạm. (Mãi đến khi định cư tại Mỹ anh Phạm Hoàng mới tiết lộ là do chính mình khắc) Đến khi gạch ra lò, cả đội phải gánh gạch về trại 7 để chuyển đi nơi khác. Chỉ tiêu mỗi người là 20 viên trên đoạn đường dài lên dốc, xuống dốc gần hai cây số, một ngày bốn lượt đi về. Một lần vì mệt quá, anh Vĩnh Tham bảo tôi dừng lại để nghỉ chân. Tôi nói cán bộ Hậu khó lắm, không ngờ cán bộ Hậu đi phía sau nghe được, bèn cho cả tổ dừng lại lên lớp một hồi rồi hỏi trước kia tôi làm gì, tôi trả lời là đi đánh giặc, cán bộ Hậu giận dữ nói “bọn bây mới là giặc, là lính đánh thuê, là tay sai của Mỹ…” Tôi cắn răng, hai bàn tay nắm chặt, tức muốn chết mà vẫn cố nén trong lòng. Lên mặt kẻ cả dạy đời một chập rồi ra lệnh cho tiếp tục đi. Chiều về khi hết giờ làm, cán bộ Hậu dẫn tôi vào lò gạch cùng 3 cán bộ khác là Dương, Tiến và Nhâm cùng đánh. Tôi đành phải cố che phần ngực để tránh bị nội thương. Đến lúc chúng cảm thấy hả giận mới dừng tay cho ra về mà trong lòng tôi đầy uất hận. Người kế tiếp tôi là anh Phạm Đức Phong (biệt danh u dương phong) về tội mà cán bộ cho là “lười lao động”, anh hiện đang ở San Jose California. Một hôm sau buổi ăn tối, anh Nguyễn văn Đại và anh Nguyễn Minh Nhựt lăn lộn kêu đau bụng. Hỏi ra thì mới biết hai anh ăn một trái tựa như trái măng cụt. Biết bị trúng độc, anh em lấy đọt rau lang đâm lấy nước cho uống mới cứu được.

Khi làm đủ chỉ tiêu gạch cho trại, đội tôi được chuyển ra xã Cẩm Nhân làm đường đi cho xã. Lúc mới đến thì dân chúng nơi này (phần đông là người Dao, người Tày, còn người kinh thì ít hơn) rất ghét chúng tôi, vì được tuyên truyền cho rằng chúng tôi là bọn ác ôn, không nên đến gần hoặc nói chuyện. Dần dần thấy chúng tôi không giống như những gì đã được tuyên truyền trước kia, nên đã thay đổi thái độ, thường hay lén lút giúp đỡ chúng tôi như để nước chè (trà), khoai lang, sắn ở bên đường. Một hôm tôi đang chặt nứa trên núi thì gặp một cô gái nhìn rất dễ thương người dân tộc đang đi lấy măng tre gần đó, tự nhiên tôi thấy có chút rung động nên sửa lời bài “Còn Một Chút Gì Để Nhớ “ thơ Vũ Hữu Định, nhạc Phạm Duy, bản nhạc tôi rất ưa thích rồi cất tiếng nghêu ngao vài câu : “Em Cẩm Nhân má đỏ môi hồng, ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông, nên tóc em ướt và mắt em ướt nên em mềm như mây chiều trong “…Liếc thấy cô gái bẽn lẻn, hồng hồng đôi má thêm xinh xinh làm sao, lòng tôi cảm thấy vui vui, vì cũng còn chút gì để nhớ tại xã Cẩm Nhân này.

Một lần kia cùng vài anh em lên rừng bẻ măng cho đội bồ̀i dưỡng, chúng tôi gặp cả một đồi ớt trái chín đỏ, tôi cùng nhiều anh em khác hái đầy cả túi xách và pha trò, “ớt là gia vị mà nay trở thành thực phẩm “. Thường thì mỗi khi đi lao động về tôi hay đi ngang xóm nhà dân để nhổ những cây ngò gai, hái rau kinh giới ven bờ các lạch nước đem về ăn, gặp một anh người Tầy cho biết chúng tôi sắp chuyển trại. Về rỉ tai cho anh em nghe thì đúng như vậy, vài hôm sau đội chúng tôi được chuyển đến trại 4, để chuẩn bị cùng các anh em trại khác ra đi.

Chúng tôi được đưa về trại giam Vĩnh Quang thuộc tỉnh Vĩnh Phú do công an quản thúc. Đến đây chúng tôi mới biết chiến tranh giữa Việt Nam và Trung Quốc vừa bùng nổ. Vĩnh Quang có hai trại là A và B. Chúng tôi ở trại A. Tại đây có ba dãy nhà hình chữ U xây tường lợp ngói, bao quanh bằng tường gạch cao chừng 4m, chứa 15 đội, tôi ở đội 15. Thời gian sau tôi mới biết tại đây cũng có Đại-tá Lý Bá Phẩm, Tỉnh Trưởng Khánh Hòa (Nha Trang) và nhiều anh em trở về từ tàu Việt Nam Thương Tín. Trong số đó có anh Vũ Toàn trong ban đại diện đòi giải quyết nguyện vọng trở về lại VN.

Cũng như tất cả những trại giam khác, sáng họ mở khóa cửa phòng điểm danh, xong cho chúng tôi ra ngoài trại đi lao động. Tối vào phòng, khóa cửa lại bên ngoài. Các cán bộ công an thay nhau đi tuần tra vòng vòng bên ngoài. Lâu dần rồi cũng quen, không còn ai bận tâm nghĩ đến ngày về.

Đội 15 chúng tôi phụ trách trồng trọt, cày ruộng, đi làm thông tầm, sáng đi, chiều mới về trại, nên việc cải thiện nấu nướng cũng dễ dàng và thoải mái hơn. Thực phẩm tươi sống thiên nhiên rất nhiều mùa nào cũng có. Mùa cày thì ăn nhái, đến mùa gặt lúa thì ăn con muỗm (giống như cào cào, châu chấu), nướng mùi thơm như tôm nướng nhưng cũng phải bắt lén lút, đào vét mương thì ăn cá v.v… Tôi ở tổ cày ruộng nên thường hay bắt những con cá bảy chầu (một loại cá lia thia) về nuôi chơi cho đỡ buồn vào những ngày nghỉ cuối tuần. Một hôm tình cờ tôi gặp lại anh Trần Hữu Thành, Thiết-đoàn trưởng Thiết-đoàn 9 Kỵ-binh qua đội tôi tìm người quen. Ngồi nhắc lại những kỷ niệm ngày trước lúc anh còn ở Thiết-đoàn 11 Kỵ-binh xiết bao ngậm ngùi. Từ đó hai anh em có gì cũng chia sớt cùng nhau, cho đến ngày chuyển trại mỗi người mỗi ngã. Có một chuyện tình rất cảm động là cô giáo Tha dạy học trường làng, thường đi ngang qua đội 15 và đội 7 cũng làm thông tầm rồi gặp anh Trạch. Tình yêu vốn không biên giới, đã nảy nở giữa cô giáo và người tù không bản án.

Như những trại giam khác, tiêu chuẩn ăn vẫn là khoai lang, khoai mì. Các dịp lễ lớn mới được một chén cơm, một miếng thịt heo bằng hai ngón tay. Vào dịp Tết thì mỗi người được hai cái bánh chưng, su hào và rau cải do đội rau xanh cung cấp. Tuy đội chúng tôi đi làm thông tầm có cải thiện thêm chút ít chất đạm, nhưng cơ thể vẫn thiếu dinh dưỡng, vẫn đòi hỏi. Vì ăn không được no, thèm đủ thứ nên mỗi tối trước khi ngủ chúng tôi đứa nào cũng chiên, xào, nấu những món ăn có thể ngày xưa là đạm bạc mà lúc này lại là “cao lương mỹ vị” để cùng nhau ăn hàm thụ, cho đã cái bụng lép xẹp. Đêm nào cũng nấu món này món kia, riết rồi ăn tưởng tượng hoài cũng chán, nên cũng có lúc thay đổi khẩu vị, bằng cách lén lút hát khe khẽ cho nhau nghe, những bài nhạc lính như “Anh không chết đâu em, Người ở lại Charlie, Rừng lá thấp, Trên bốn vùng chiến thuật…v.v. “Không ngờ lúc chúng tôi đang hát thì anh công an đi tuần tra nghe được, lại hưởng ứng bảo chúng tôi hát bài  “Xuân này con không về ” vì anh rất thích bài này.

Đôi lúc chúng tôi kể cho nhau nghe một thời oanh liệt, những trận chiến có lúc thắng lúc thua, mà có thua thì vẫn thua trong danh dự. Cũng có lúc mừng vì thoát chết trong gang tấc, cho là nhờ phước đức ông bà, mục đích là để bớt suy nghĩ về ngày mai mù mịt của mình.

Anh Đặng Vũ Chương kể tại mặt trận An Lộc năm 1972, Tiểu-đoàn 3 của Thiếu-tá Nguyễn Phúc Sông Hương, thuộc Trung-đoàn 48 của Đại-tá Trần Bá Thành, Sư-đoàn 18 BB do Thiếu Tướng Lê Minh Đảo chỉ huy, tái chiếm lại Đồi Gió khó khăn như thế nào.

Thích nhất là nghe anh Phan Cảnh Cho (ND), kể những trận đánh ở Hạ Lào năm 1971, vượt thoát khỏi vòng vây VC trong đêm tối, hay Đại-úy Nguyễn Văn Đương chiến đấu anh dũng và dành riêng cho mình viên đạn cuối cùng. Đại-tá Nguyễn Văn Thọ, Lữ-đoàn Trưởng Lữ-đoàn 3 Dù, bị bắt tại Căn Cứ Hỏa Lực 31 sau khi bị VC tràn ngập.

Tiếp lời của Cho, tôi kể Chi-đoàn 1/11 Chiến Xa đi giải tỏa đồi 30, căn cứ hỏa lực của Dù, Chi-đội của Thiếu-úy Đáng trở về an toàn, và trên đường triệt thoái tôi cùng anh em Nhảy Dù (ND), bắn ngăn chận các đợt xung phong truy kích của VC bằng đạn chài, Binh nhất Bùi Rọ ngồi cạnh tôi trên chiến xa M41 bắn M79, bị tử thương và Trung-úy Cái Hữu Côn, Đại-đội trưởng 83 Dù tăng phái cho Chi-đoàn 1/11 chiến xa cũng hy sinh. Biết không thể rút theo Quốc Lộ 9 vì VC đóng chốt trên các đỉnh núi, hay ở các con suối cắt ngang qua đường, Đại-tá Nguyễn Trọng Luật Lữ-đoàn Trưởng Lữ-đoàn 1 KB, hướng dẫn đoàn xe Thiết Giáp cùng Tiểu-đoàn 8 ND rút theo đường mòn, vượt sông Tchepon về Lao Bảo an toàn.

Anh Cho kể tiếp mặt trận Kontum năm 72, Lữ-đoàn 2 Dù vất vả chiến đấu, trước trận địa pháo và xung phong của địch tại căn cứ Charlie, Trung-tá Nguyễn Đình Bảo, Tiểu-đoàn trưởng Tiểu-đoàn 11 Dù, đã tử trận vì trúng pháo 130 ly, Trung-úy Nguyễn Văn Thinh, Đại-đội trưởng 111 tử trận, Đại-đội 114 của anh Cho bị VC tràn ngập, anh Hoàng Ngọc Hùng khóa 22B Võ Bị Đại-đội trưởng 112 cùng anh Cho bị bắt rồi cả hai trốn thoát vài ngày sau đó.

Tôi nói tiếp cũng tại mặt trận Tân Cảnh, Đại-úy Trần Châu Giang khóa 22B Võ Bị, Chi-đoàn trưởng Chi-đoàn Bạch Mã 1/14 chiến xa M41, cũng bị bắt làm tù binh và được trao trả năm 73.

Anh Dương Viết Đang lái máy bay L19 thám sát vùng hỏa tuyến kể, khi bay quan sát thấy xe ủi đất của VC làm đường hầm hố ra sao, còn anh Phan Công Ý thì thường ngâm bài thơ “Hổ nhớ rừng” cho chúng tôi nghe, như để nói lên tâm tư của mình v.v.

Nói chung thì thằng nào cũng có những chiến tích hào hùng hay bi thương để kể, những nỗi buồn khi có một chiến hữu đã hy sinh, những chuyện tình lãng mạn.v.v…

Nhiều đứa ngồi nghe nói sao cứ kể toàn chuyện thua không vậy, anh Cho nói thắng thì đâu có gì để nói, thua mới có chuyện như vượt thoát để kể chư. Rồi anh cười xòa nói nhỏ, trước là tưởng niệm các anh em đã hy sinh, sau là để bọn công an đi tuần không làm khó dễ tụi mình.

Có những lúc tôi chỉ im lặng để nghe, để buồn cho những gì mình đã trải qua. Tụi nó đòi hỏi phải kể tiếp thì tôi cũng kể, mà kể thì cũng chỉ kể những mẫu chuyện vui vui, những khi được về ngồi ăn uống, nghe nhạc tại Quảng Trị, còn những chuyện buồn khác ở vùng địa đầu giới tuyến như Chuẩn úy Nguyễn văn Chiến Chi-đội phó, Chi-đội 2/2/11 Thiết Kỵ của tôi, đã hy sinh và nhiều bạn cùng khóa như Đỗ Đình Du và Võ Văn Kiệt bị thương tại Gio Linh phải giải ngũ , tôi dấu kín vì càng nhắc càng thêm buồn. Riết rồi cũng không còn chuyện gì để kể nên cũng phải thuật lại các trận đánh mình đã trải qua tại Gio Linh, tại Trung Lương, tại căn cứ Carroll, bắn hạ chiến xa địch, tái chiếm Cổ Thành v.v… Vậy là tụi nó chuyền miệng từ thằng này sang thằng khác cho nên cứ phải kể đi kể lại hoài theo yêu cầu vào cuối tuần vì tụi nó cho đó là chuyện đáng xấu hổ chưa từng thấy trong cuộc chiến như tại căn cứ Carroll (tức căn cứ Tâm Lâm) . Mọi điều thắc mắc, nghi vấn về chuyện căn cứ Carroll thất thủ thì tôi để cho tụi nó tự suy luận, đánh giá. Tôi không có ý kiến mặc dù tôi là nhân chứng sống.

Đến khi trại cho viết thư báo cùng gia đình được phép thăm nuôi, thì toàn trại đều phấn khởi. Cuộc sống trong trại nhộn nhịp hơn, vui vẻ hơn. Đến Tết nguyên đán năm 1981, trại A và B được phép tổ chức văn nghệ ngoài trời. Anh Vũ Cao Hiến khóa 24 Võ Bị lên hát một bài mà anh em ai cũng mũi lòng: “Chờ anh em nhé… dù tháng năm kéo dài ngày về… dù nắng mưa cách trở đường về… thì vẫn chờ anh đợi anh em nhé…” Khoảng giữa năm 1980 chúng tôi được trại cho phép gửi thơ, báo tin cùng gia đình được phép gởi quà mỗi gói 5kg và thăm nuôi. Vợ cùng đứa con trai cũng cố gắng lặn lội ra thăm tôi được một lần vào năm 1981 sau bao nhiêu năm xa cách, dù chỉ có một tiếng đồng hồ bên nhau nhưng cũng đủ thỏa lòng mong nhớ. Trước khi chia tay vợ tôi cũng theo yêu cầu của trại “phải động viên tôi” ráng nói lớn, như cố tình sợ anh cán bộ ngồi đó không nghe một câu mà chúng tôi đã từng nghe đi nghe lại suốt mấy năm qua: “anh cố gắng học tập cải tạo tốt, để sớm được nhà nước khoan hồng, tha về sum họp với gia đình”.

Những tin tức gia đình mang đến như sắp được tha về đoàn tụ, như Mỹ điều đình mua anh em cải tạo mỗi người 2.000 đôla. v.v. Tuy không biết thật hư như thế nào, nhưng cũng mang đến cho anh em nhiều hy vọng. Cũng có vài đợt tha về một số rất ít, cũng làm anh em càng hy vọng cho mình hơn. Cuối tuần anh em có quà thường nấu ăn, anh Điển hái lá giang về cho hai anh Tuấn và Soạn nấu với mì gói cùng ăn với nhau. Không ngờ anh Điển hái nhầm lá ngón, một loại lá độc mà không biết. Anh Điển bận đánh mạc chược, nên anh Soạn và anh Tuấn ăn trước thì bị trúng độc, anh Soạn chết còn anh Tuấn được cứu sống. Cả trại thầm cầu nguyện cho linh hồn anh sớm được siêu thoát.

Một buổi sáng anh trật tự trại đi thông báo, tất cả tập họp giữa sân để trại trưởng nói chuyện. Cả trại bàn tán xôn xao, cuối cùng được biết là…. chuyển trại về Nam, tuy chưa biết về đâu, nhưng mừng trước cái đã. Sau khi đọc tên ra đi, một số gần 100 người còn ở lại, đội 15 có tôi, Đang và vài người nữa. Tất cả dồn lại ở hai phòng. Hai ngày sau tù hình sự được đưa về trám các phòng còn lại. Thì ra tôi và anh Đang ở lại canh tác cho xong vụ mùa. Trong số những người còn ở lại gồm chung cả trại A và B, nên đêm đêm chúng tôi ngồi nghe anh Hiến hát những bản tình ca buồn, chia ly, trắc trở như:

Trách Người Đi:

“Sương lam tuôn rơi hắt hiu trên hàng thông xám reo vi vu, khiến xui bao nhiêu nhớ nhung tràn lòng ước mơ, người đi phương xa đâu ngờ, miền quê ai đang mong chờ, đau đớn xót thầm từ ngày biệt ly…”

Hẹn Hò:

“Một người ngồi bên kia sông im nghe nước chảy về đâu, một người ngồi đây trông hoa trôi theo nước chảy phương nào, trời thì mưa rơi mưa rơi không ngưng suối tuôn niềm đau, người thì hẹn nhau sang sông mong cho chóng tạnh mùa ngâu, cuộc đời làm đôi bên yêu nhau cách một biển sâu, hẹn hò tàn thu sang xuân bên nhau biết thuở ban đầu…”

Rồi đến bài Động hoa vàng:

“…Chim ơi chết dưới cội hoa, tiếng kêu rơi rụng giữa giang hà, mai ta chết dưới cội đào, khóc ta xin nhỏ lệ vào thiên thu…”

Chúng tôi ngồi nghe mà mỗi người mang trong lòng một tâm sự riêng. Rồi vụ mùa cũng xong, chúng tôi được đưa lên xe Molotova chuyển đi không biết đến nơi nào. Vì là một sự kiện quan trọng, nên tôi nhớ mãi . Chúng tôi được chuyển đi, hai người chung một cái còng trên mấy chiếc xe Molotova. Xe chạy, chạy mãi qua một thành phố cũng nhộn nhịp, lại thêm một sự kiện nữa làm chúng tôi ngỡ ngàng là dân chúng hoan hô chúc mừng, quăng bánh và trái cây lên cho chúng tôi. Nhiều người chạy xe Honda theo hỏi chúng tôi có thân nhân ở đây hay không, để báo tin dùm cho, thật là cảm động. Tôi nhớ lại ngày trước lúc đến miền Bắc thì bị ném đá, ngày nay thì được ném thức ăn, đúng là vật đổi sao dời! Qua cơn xúc động bồi hồi, xe tiếp tục đi đến trại giam rộng lớn đẹp đẽ khang trang, đó là trại Ba Sao thuộc tỉnh Hà Nam Ninh.

Xuống xe tập họp điểm danh, nhìn quanh tôi thấy trên bảng liệt kê danh sách các mặt hàng được mua có cả các loại rượu, ai cũng thắc mắc rằng trại tù mà sao lại được mua đủ thứ ? Buổi tối đầu tiên nhiều người được mua và ăn uống thả dàn, vì nhờ các người ở trước đưa tiền cho cán bộ mua dùm. Sáng hôm sau trong khi tập họp, thấy cán bộ đến đưa cho anh trực trại ghi tên và nhận tiền những ai mua thịt heo, và nhiều thứ khác.

Tôi và Đang có tên về phân trại C đảm nhiệm cày cho vụ mùa Đông Xuân. Mùa đông năm nầy sao mà lạnh dữ quá, ốc bươu nổi đầy trên mặt ao, tôi cũng rán chịu lạnh lội xuống vớt để chiều về ăn. Xuân lại về, anh em trong trại rộn ràng chuẩn bị, tôi bán bộ đồ của vợ gởi cho, để cùng anh Đang mua thịt, bánh, mứt cùng nhau ăn Tết lớn. Qua Tết âm lịch năm 1983, tôi và Đang cùng nhiều người khác được thả. Trước khi rời trại, chúng tôi được ở lại tại trại chính, tức trại A vài ngày chờ làm thủ tục. Tôi đi lòng vòng qua các phòng, gặp nhiều cấp chỉ huy trong Binh chủng Thiết Giáp của tôi như Đại-tá Trần Tín, Trung-tá Bùi Thế Dung…và được biết có nhiều chính khách lãnh đạo khác trong chính quyền VNCH, cũng bị giam giữ tại đây. Trò chuyện một lúc tôi mới biết, đây là trại mẫu dành cho những quan khách nước ngoài đến tham quan, nên mới được ưu đãi như vậy.

Mỗi người được cấp giấy ra trại và 13 đồng để đi đường. Sau đó được cán bộ trại đưa chúng tôi đến ga Hàng Cỏ. Tất cả ngồi chung một toa riêng biệt, có người xuống dọc đường, còn tôi về đến ga cầu Bình Lợi. Về đến nhà ai cũng mừng rơi nước mắt, hai đứa con trố mắt nhìn tôi ngạc nhiên, lạ lẫm. Thằng con trai nay đã lên mười, đứa con gái vừa lên tám. Ngồi ôm hôn hai đứa mà lòng bồi hồi xúc động, vợ tôi lại khóc nói không nên lời. Đêm đến nằm bên nhau kể lể, tâm sự nói hoài cũng không hết, về những khó khăn từ khi tôi ra đi, cứ thổn thức cứ khóc thút thít hoài.

Được thả thì vui với vợ con, nhưng lại có những khó khăn khác như bị “quản chế ” và tìm việc làm. Cha mẹ cũng khó khăn không giúp gì được, cũng may nhờ đứa em gái xin cho vào làm ở cơ sở tư nhân nhỏ, sản xuất nhựa nylon tái sinh. Nhiều anh em khác không được may mắn như vậy, chạy đôn chạy đáo kiếm cơm hàng ngày, làm đủ mọi công việc. Nhờ còn bằng lái trước 75, tôi lái xe tải chở hàng cho cơ sở khô bò Tuyền Ký, cho đến ngày nộp hồ sơ xin định cư tại Mỹ theo diện HO 23. Vì còn mảnh đạn gần phổi nên phải ở lại thêm 6 tháng để uống thuốc.

Lời Cuối:

Chúng ta ai cũng có nhiều kỷ niệm buồn vui lẫn lộn, những kỷ niệm trong thời còn thơ ấu, thời còn học sinh, một thời làm lính chiến, một thời đi tù cải tạo. Nhiều lắm, làm sao mà kể cho hết. Cho nên có những chuyện mà mình muốn quên, nhưng không bao giờ quên được, nó cứ quay đi quay lại, không phải do ta, mà là tại tác động từ bên ngoài, khiến ta không thể bôi xóa được nhất là khi gặp lại các anh em cùng sống chung trong trại cải tạo.

Khi định cư tại Mỹ, gặp lại các bạn tù Đội 15 Vĩnh Quang tại Westminster, Orange County, California. Những chuyện kể lúc còn ở trong trại Vĩnh Quang cũng được yêu cầu kể lại trong những lúc uống café, hay trong những buổi họp mặt cùng với những người bạn mới, họ cũng muốn nghe về chuyện căn cứ Carroll đầu hàng giặc cộng. Cho nên muốn quên đi mà không thể nào quên. Nhân Đại Hội Thiết Giáp Toàn Thế Giới được tổ chức vào ngày 25 và 26 tháng 6 năm 2023 tại Little Saigon. Tôi viết lại khúc đời chiến đấu và tù tội để lại cho thế hệ sau biết được những vinh quang, gian khổ và cay đắng của một thế hệ được sinh ra và đã trưởng thành trong khói lửa với nhiệm vụ Bảo Quốc An Dân trong ba tín niệm:

Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm

KB Phạm Hữu Phước

6/2023

(nguồn: KB NguySaigon gởi BVCV)

SAO MAI 09

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on March 16, 2025 by Lê Thy

Phạm Tín An Ninh

(tặng bạn tôi, Truờng Sơn Lê Xuân Nhị)

Post by Sơn râu 19 Mar 2025

Nghe danh anh đã lâu, cũng đã từng gặp anh một lần ở New Orleans ngay sau khi cơn bão Katrina không thể bứng anh ra khỏi vùng đất cái nôi nhạc Jazz này, nhưng lúc ấy có lẽ vì đang là người nổi tiếng, bạn bè vây quanh, nên anh chẳng nhớ tôi là ai, một gã trời ơi nào từ tận Bắc Âu đến chào, bắt tay và xin chụp với anh một tấm hình.

Quan Dương- PTAN- TS Lê Xuân Nhị

(New Orleans 2008)

Bị tù đày khốn khổ hơn tám năm. Ra tù lại càng đau lòng hơn khi thấy vợ con nheo nhóc, và cả miền Nam như trong địa ngục, tôi có cảm giác lạc loài ngay trên chính quê hương mình, nên cùng vợ con và một số bạn tù tổ chức vượt biên. Nhờ một chiếc tàu chở dầu của Vương quốc NaUy cứu vớt trên biển Đông, trước khi cơn bão lớn ập xuống. Với ân tình này, chúng tôi chọn đất nước Bắc Âu xa xăm băng giá nhưng đầy ắp tình người này để gởi phần đời còn lại của mình và vun đắp tương lai cho mấy đứa con. Sau khi tạm ổn định đời sống và việc học hành cho các con, tôi bắt đầu hồi tưởng quá khứ, tìm đọc những tác phẩm, bài viết của những người đi trước, đặc biêt những tác giả gốc lính và tất nhiên viết về lính, đời lính, với những thăng trầm, vinh nhục cùng những hệ lụy đớn đau sau ngày tan đàn xẻ nghé.

Trong một vài tác giả yêu thích, tôi đặc biệt say mê những câu chuyện của một nhà văn có cái bút danh khá dài, luôn đi cùng tên họ trong khai sanh, Trường Sơn Lê Xuân Nhị, bởi phong cách viết rất “lính” của anh. Bộc trực, khí khái, máu lửa, lãng mạn, và phảng phất chất phong trần, ba gai của lính, nhưng lại đầy ắp nhân bản, nghĩa tình. Đọc một bài viết của anh, có khi đang cười khoái chí, nhưng ngay sau đó lại nhạt nhòa nước mắt! Đặc biệt hầu hết trong những câu chuyện đều có bóng dáng của những địa danh quen thuộc một thời mà đơn vị tôi từng có mặt trong nhiều cuộc hành quân, và tất nhiên có những đồng đội, huynh đệ của tôi đã nằm lại vĩnh viện tại các nơi này: Dak Song, Dak Pét, Pleime, Bu Prang, Quảng Đức, An Khê, Chư Pao, Hàm Rồng, Kontum, Dakto, Tân Cảnh. Vì vậy càng đọc tôi lại càng thấy gần gũi với anh hơn.

Đọc tiểu sử tác giả, biết anh sinh ra và lớn lên ở thành phố Ban Mê Thuột, nơi đại đơn vị của tôi đặt bản doanh, nên khi ấy dù có phải hành quân xa ở đâu, thi thoảng bọn tôi cũng ghé về đây nhìn “Bụi Mù Trời” để thấy đời “Buồn Muôn Thuở”. Anh là phi công của Phi đoàn Quan Sát 114, thuộc Sư Đoàn 2 KQ, đồn trú tại phi trường Nha Trang, một thành phố an bình thơ mộng nằm bên bờ biển xanh gió reo song vỗ, nhưng hằng ngày vẫn bay yểm trợ cho đơn vị tôi trong các cuộc hành quân trên khắp Vùng 2, đặc biệt tại chiến trường khốc liệt Kontum trong những năm 1972-1973 ngập tràn khói lửa. Lúc ấy có lẽ anh cũng vừa mới ra trường để bắt đầu cuộc đời bay bổng. Và trong giai đoạn này, chắc chắn mỗi ngày anh đều phải bay trên đầu giặc, trước cả một rừng hỏa tiễn phòng không tối tân, ác liệt của kẻ thù.

Ngày 24.4.1972, ngay sau khi Bộ Tư Lệnh Hành Quân của Sư Đoàn 22.BB tại Tân Cảnh bị Công quân tràn ngập, Đại Tá Lê Đức Đạt, vị tư lệnh hào hùng đã từ chối lời mời lên trực thăng để vượt thoát cùng với cố vấn Mỹ, ở lại cùng chiến đấu và hy sinh với quân sĩ dưới quyến, Sư Đoàn 23.BB (-) của chúng tôi từ Ban Mê Thuột nhận lệnh di chuyển khẩn cấp lên Kontum để kịp ngăn chặn hơn ba sư đoàn của Mặt Trận B3 do Tướng CS Hoàng Minh Thảo chỉ huy, tràn xuống chiếm Kontum nhằm làm bàn đạp uy hiếp  Pleiku, nơi đặt bản doanh của Quân Đoàn II. Riêng đơn vị tôi, Trung Đoàn 44BB, đã có mặt tại An Khê từ đầu năm 1972, đặt dưới quyền điều động trực tiếp của BTL Quân Đoàn, để thay thế một lữ đoàn thuộc SĐ101 Không Kỵ Hoa Kỳ vừa rút quân về nước, đảm trách một vùng hành quân thay cho Sư Đoàn 22BB đã di chuyển lên mặt trận Tân Cảnh, và làm lực lượng trừ bị cho Quân Đoàn. Ngày 14.5,1972 chúng tôi nhận lệnh rời An Khê di chuyển đến phi trường Cù Hanh, Pleiku để được không vận lên Kontum, tái hợp với Sư Đoàn. Khi các phi cơ C-130 chuyển quân đáp xuống phi trường Kontum lúc nửa đêm, thành phố tối đen và đang bị pháo kích dữ dội, vài phi cơ tại phi trường bị trúng đạn còn đang nghi ngút khói, chúng tôi nhận lệnh tức tốc lên đảm trách tuyền Tây Bắc, cách trung tâm thành phố khoảng 7 cây số, thay cho một Liên Đoàn BĐQ cùng một đơn vị của Tiểu khu Kontum.

Đào hầm hố, củng cố hệ thống thủ chưa xong thì khoảng 5 giờ sáng, Sư Đoàn 320 CS tung hai trung đoàn bộ chiến 48 và 64 được dẫn đầu bởi một tiểu đoàn xe tăng T-54, tấn công vào phòng tuyến. Chúng không ngờ có một đơn vị thiện chiến mới toanh từ vùng Duyên Hải vừa mới đến, đã đánh tan bọn chúng bằng một trận hào hùng. Bắn cháy 7 xe tăng T-54 và bắt sống một chiếc, khoảng 100 xác bỏ lại, số còn lại bỏ chạy tháo lui, bị các chiến đấu cơ của Sư Đoàn 6 KQ truy kích, tiêu diệt. Sau đó chỉ 10 ngày. chúng tăng cường thêm Sư Đoàn 2 và một sư đoàn tân lập (sau này là F-10) xâm nhập từ Lào mở cuộc tấn công vào thành phố. Và lần này, chúng cũng lại đụng độ với lực lương Trung Đoàn 44 chúng tôi mới vừa rời tuyến Tây Bắc về phòng thủ vòng đai thành phố, theo kế hoạch hoán đổi dưỡng quân. Cuộc chiến lần này cũng ác liệt không kém, khi đich lợi dụng sự phòng thủ sơ hở của lực lượng Địa Phương Quân Tiểu Khu, đã đưa cả một lực lượng đặc công và xe tăng đánh vào Bênh Viện 2 Dã Chiến, chỉ cách TTHQ của BCH Trung Đoàn 44 một hàng rào phòng thủ. Quân Đoàn đã điều động tối đa các phi đoàn Quan Sát yểm trợ cho trận chiến này. Chúng tôi lại tao nên chiến thắng vẻ vang, thêm 8 tăng T-54 và T-59 bị bắn cháy kể cả tên chỉ huy, và một số địch buông súng đầu hàng, xin được hồi chánh. Mọi ý đồ của địch đã bị bẻ gãy.

Tôi vẫn còn nhớ, trong một trận chiến khá ác liệt, Cộng quân tung cả một trung đoàn nhằm tiêu diệt một đơn vị của chúng tôi. Trong thời khắc nguy khốn nhất, tôi nghe tiếng gọi trên tần số Không Lục:

 – Ninh Kiều, Sao Mai 09 gọi!

 – Ninh Kiều nghe bạn 5/5!

 – Bạn lệnh cho đứa con của bạn cho tôi xin một nàng Thúy Kiều, màu áo gì cũng được (1)

 – Nhận 5! Màu tím!

 – Tôi đang ở trên đầu đứa con của bạn. Bọn vịt con rất đông, một số đang bao vây, một số khác đang tiến gần đến vị trí con của bạn. Tôi đã gọi 2 phi tuần yểm trợ cho bạn, đang trên đường đến mục tiêu! (2)

– Đã nhận ra bạn. Một đứa con khác của tôi đang ở hướng 10 giờ của bạn. Phòng không chung quanh rất nhiều, bạn cẩn thận. Tôi sẽ bảo các đứa con liên lạc trực tiếp với bạn để tránh ngộ nhận.

– Yên chí! tôi đ… sợ bọn vịt con này! Tôi sẽ ở chơi với các đứa con của bạn cho tới khi nào hết nước, và sẽ gọi Sao Mai kế tiếp lên vùng ngay. (3)

Hai phi tuần AD-6 đánh theo hướng dẫn của Sao Mai 09, khi người phi công tài hoa này đã bắn hai quả đạn khói chính xác ở hai địa điểm khác nhau, làm địch không kịp trở tay, nên bị thương vong nặng nề, phải bỏ chạy. Anh gọi tiếp 2 phi tuần khác, túc trực tại phi trường Pleiku, bay lên truy kích tiêu diệt cả hai tiểu đoàn địch.

Từ Trung Tâm Không Trợ Sư Đoàn, ông tư lệnh theo dõi và lên tiếng ca ngợi:

– Tuyệt vời lắm Sao Mai 09. Sẽ có thuởng cho bạn!

Tiếng la hét, chửi thề trong nỗi vui mừng của chàng phi công trẻ lại vang lên trên tần số Không Lục, chẳng cần biết người đang đối thoại với mình là ông tướng một sao, tư lệnh chiến trường! Trong không khí căn thẳng, ngột ngạt chúng tôi cũng phải phì cười!

Phi đoàn trưởng Phi Đoàn 114 khi ấy là Thiếu Tá Nguyễn Xuân Tám, bạn cùng khóa 17 Võ Bị với anh Trung Đoàn Phó nổi tiếng với danh hiệu Bá Hòa (sau đó là Trung Đoàn Trưởng) của tôi. Hỏi ra mới biết Sao Mai 09 hôm ấy là một ông Thiếu úy trẻ măng, gốc Ban Mê Thuột, nơi đặt bản doanh của đại đơn vị chúng tôi. Chúng tôi còn được biết thêm là ông “quan một” Không Quân này vốn con nhà “quí tộc”, bởi ông cụ từng là dân biểu thời Đệ 1 Công Hòa, nhưng vì đã trót sinh ra bất phùng thời, và lớn lên ngay giữa một thành phố lính, ngày nghe tiếng súng, đêm thì cả bầu trời thắp sáng hỏa châu và nhà nào cũng vang vang những khúc ca tình lính, nên chàng trai vừa có tâm hồn nghệ sĩ lại vừa có máu giang hồ tráng sĩ, mới tròn 18 tuổi đã tình nguyện “ đi vào quân đội mà lòng chưa hề yêu ai”(?)

Chàng là một phi công có tài, ra trường chưa nhuốm mùi sương gió, mà bay bổng thì không hề thua ai. Nhưng có lẽ vì quên mất mấy câu trong truyện Kiều của cụ Nguyễn Du “chữ tài liền với chữ tai một vần”, nên mỗi lần hứng chí là lén xách máy bay ra nhào lộn biều diễn đủ kiểu ngoạn mục, nhưng ngoài sách vở và phi lệnh, khi ngứa mắt bọn VC dưới đất thì nhào xuống trêu chọc, rồi bắn quả roket rất chính xác chỉ điểm cho khu trục oanh kích, mà chẳng cần biết SA-7 hay phòng không bọn nó giấu ở đâu. Vì vậy các đơn vị bộ binh thì “mê” anh ta, nhưng ông Phi Đoàn Trưởng 114 thì rất nhức đầu, nên mấy lần đã phải lái xe gởi anh ta vào đồn Quân Cảnh nghỉ mát, nhưng rồi lại đích thân đón chàng ta ra sớm và xé mấy tờ lệnh phạt đã ký sẵn để trên bàn.

Coi bộ chẳng biết sợ trời đất là gì, nhưng chàng ta có trái tim nhân hậu, hết lòng với Tổ Quốc và chí tình, yêu thương đồng đội chiến đấu dưới cánh máy bay của mình. Một lần bay thám sát, yểm trơ cho một đơn vị Địa phương quân bị Cộng quân tràn ngập tại một tiền đồn ở Cao nguyên, vị đồn trưởng yêu cầu cho đánh bom ngay trên đầu mình để tiêu diệt địch, anh đã bật khóc khi gọi oanh tạc cơ và cúi đầu, nghiêng cánh chào vĩnh biệt những người đồng đội kiêu hùng trong hai hàng nước mắt!

Một lần tăng phái cho Quảng Đức, trong một ngày nghỉ, không tới phiên mình, nhưng anh đã gật đầu nhận lời bay cùng với một sĩ quan Biệt Kích để đi tìm, hướng dẫn, yểm trợ cho một toán Lôi Hổ bị Cộng quân truy đuổi trong rừng. Biết nếu có qua được nguy hiểm thì chắc chắn cũng sẽ bị phạt, nhưng chàng ta lại mãn nguyện khi đã hoàn thành một sứ mạng cần thiết để cứu nguy đồng đội. Và đúng là anh bị ông Phi Đoàn Trưởng gọi về trình diện. Ông bảo “tôi bắt buộc phải phạt anh, nhưng tôi rất phục anh, bởi vì nếu trường hợp là tôi, tôi cũng sẽ làm như thế!”. Thật đúng với tinh thần Không Quân: “Không bỏ anh em, không bỏ bạn bè!”

Một hôm, nghe tin bào đệ của anh tử trận tại phía Bắc Võ Định Kontum, chúng tôi rất đỗi bất ngờ và đau đớn, vì người em trai của anh lại là một HSQ rất gan dạ thuộc đơn vị chúng tôi: TS1 Lê Xuân Bích. Anh thuộc toán thám báo, đã ngã xuống trong một cuộc đột kích rất hào hùng vào vị trí của một đơn vị địch. Sau này tôi trách anh ta, sao không nói trước với chúng tôi một tiếng. Vả lại ông sếp của anh lại là bạn cùng khóa với ông Trung Đoàn Trưởng của tôi. Chuyện dễ thôi mà! Anh buồn lắm, khi bị ông già giận bảo “mày bay bổng cả ngày, chỉ có mỗi thằng em mà không lo cho nó.” Nhưng rồi anh lại hạ giọng “Tính của tớ khó nói lời nhờ vả lắm, hơn nữa trót sinh ra thời chinh chiến thì chuyện sống chết cũng là lẽ thường tinh!”

Nói thế, chứ chúng tôi biết là trong lòng anh đang có một vết thương không bao giờ lành được, nhất là đứa em trai có đầy ắp những kỷ niệm tuổi thơ với anh, đã nằm lại đâu đó trong núi rừng xa tít mịt mờ, nhưng trong trái tim anh luôn có một nấm mồ đẹp đẽ nhất dành cho thằng em thương quý của mình.

Mùa Hè 2021, tôi đến tham dự một buổi ra mắt sách của người bạn, Nhà văn/Nhạc sĩ Huỳnh Công Ánh, từng là Đại Đội Trưởng Trinh Sát nổi tiếng của của Sư Đoàn 22 BB, được tổ chức tại Nam California. Khi nghe người MC giới thiệu tên tôi, một vị khách mời từ hàng ghế đầu bước xuống phía dưới bắt tay tôi và giới thiệu mình là Trường Sơn Lê Xuân Nhị. Tôi bất ngờ nhưng nhận ra anh ngay, và ngạc nhiên vì thấy anh khá tiều tụy với cái đầu cạo trọc. Tôi cảm động khi anh tỏ ra rất thân tình và hẹn phải sớm gặp nhau để cùng nhậu một chầu mừng cuộc trùng phùng cho kịp trước khi anh phải bỏ lại bạn bè. Thấy tôi tròn mắt, anh cười, bảo “ung thư tới thời kỳ cuối!”

Cũng như ngày xưa, khi bay trên đầu địch, trước những họng súng phòng không dày đặc, anh vẫn đùa cợt tỉnh bơ. Chưa kịp hẹn nhau, thì hai ngày sau, bất ngờ có anh Huỳnh Văn Phú, nhà văn rất dễ thương của TQLC, ghé Bolsa thăm tôi cùng một số bạn bè. Tôi hú một số anh em thân tình cùng anh Phú và báo cho Trường Sơn Lê Xuân Nhị, hẹn gặp tại một quán ăn ở Fountain Valley. Chưa lái xe được, nên bà xã đưa chàng ta đến, xách theo hai chai Red Wine và một chai XO. Đứng nghiêm đưa tay lên chào mọi người, tự xưng mình là thằng út. Trong số các ông anh hôm ấy có Trung tá Võ Ý, nhà thơ Bắc Đẩu của Không quân, cựu Phi Đoàn Trưởng Phi Đoàn Quan Sát 118, Pleiku, là bạn cùng Khóa, thân thiết với anh Phi Đoàn Trưởng 114 Sao Mai của Trường Sơn Lê Xuân Nhị.

Vậy rồi, đột nhiên bạn ta khỏe ra. Lại hú bạn bè đến uống rượu tiêu sầu và bù khú chuyện ngày xưa. Gặp anh, tôi cười bảo, ngày xưa SA-7, 12 ly 7 phòng không dày đặc mà bạn chẳng coi ra chi, huống hồ bây giờ mấy cái con vi khuẩn tí ti, thì có sá gì với bạn phải không? Cứ uống và vui lên đi, chiều hôm tối rồi! Anh ta cười tít cả mắt. Cứ vài hôm là anh hú bạn bè, tụ tập ở nhà anh, một phòng rộng lớn phía sau, trong khu Anaheim. Bà xã anh chiêu đãi nhiều món ăn ngon, còn rượu thì đủ thứ. Anh ôm vai người này, bắt tay người khác, như sợ thời gian với bạn bè chẳng còn lại bao nhiêu. Ai cũng yêu quí, xem anh như anh em, một người bạn dễ thương, khí khái, nghĩa tình.

(Bạn bè khắp nơi đến thăm anh.

Trong này có KQ Võ Ý, KQ Phạm Tương Như, ND Út Bạch Lan – BCD Phạm Châu Tài, LLĐB Mai Bá Trác– QB Trạch Gầm

Điều làm tôi cảm động hơn, là ngay giữa tư gia, anh trịnh trọng trưng lá hiệu kỳ lớn của Sư Đoàn 23 BB. Đơn vị mà tôi đã hơn 10 năm phục vụ, và có biết bao đồng đội hy sinh, còn anh thì suốt cả một thời làm phi công, đã luôn ở trên vùng trời để yểm trợ chúng tôi. Và đặc biệt nhất là bào đệ của anh, TS1 Lê Xuân Bích, người em yêu quý mà anh cùng có nhiều kỷ niệm tuổi thơ, đã hào hùng nằm xuống vào mùa Hè 1972 tại chiến trường Kontum, máu hồng tô thắm cho lá hiệu kỳ này.

Phạm Tín An Ninh – Trường Sơn Lê Xuân Nhị (2022)

Mới đây, bệnh lại tái phát, anh buồn lắm khi không thể đến chung vui buổi tiệc họp mặt “Đời Ghét… Đời Thương” của người bạn làm thơ thân thiết Trạch Gầm.  Thiếu anh, rượu XO không còn hương vị nồng nàn và dư âm của những bản nhạc lính dù được hát bởi chính các nàng ca sĩ của lính một thời, Phương Hồng Quế, Trang Thanh Lan cũng chưa đủ làm ấm lòng bè bạn.

Xin được cám ơn và ca ngợi anh, một người lính, một phi công trẻ hào hùng, một nhà văn, một người cầm bút khí khái, nghĩa tình, bạn bè ai cũng yêu thương, mến mộ. Cầu chúc sức khỏe anh ngày một tốt hơn để chia sẻ kỷ niệm, yêu thương cùng bạn bè và ý nghĩa cuộc đời bay bổng, thăng trầm cùng với tha nhân.

Little Saigon, 20.1.2025

Phạm Tín An Ninh

(người bạn lính Sư Đoàn 23BB)

Chú thích: (các ám danh đàm thoại)

(1)  nàng Thúy Kiều = trái khói màu

(2) vịt con = việt cộng

(3) lấy nước = lấy xăng

Ba Mươi Tháng Tư Thế Võ Lật Bánh Tráng

damau.org

Cung Tích Biền

Post 30.04.2021

Post by Sơn râu 19 Mar 2025

1.

Biến cố Ba mươi tháng Tư 1975 là một cuộc trần ai, Lật bánh tráng. Một này lật úp trọn vẹn. Một kia lật ngửa, trần trụi, phô bày toàn thể cái Không-thể-giấu-giếm, của nó.

Có người nói rằng, “Cuộc chiến Bắc Nam chấm dứt, kẻ thắng người thua đều là kẻ bại trận.” Nói vậy e không đúng lúc, ra cái điều ngụy quân tử; nhất là câu phát ngôn ấy của người bên “Hốt hết nhà cửa tiền vàng của người thua trận; đốt trụi sách vở; lùa người đưa vào trại tù; triệt tiêu cái tình huynh đệ Bắc-Nam; không một tỏ ra cao thượng nào tìm thấy, nơi kẻ gọi rằng chiến thắng.”

Một cuộc thắng thông qua thuần vũ lực, không có lương tri nhân nghĩa nào có quyền chen vô can ngăn được; chỉ bằng áp đảo, xua cả thiếu niên ra trận, lót đường trùng trùng xương cốt xuôi dãy Trường Sơn; không thể ngay tức thì, ngày hôm trước xưng anh hùng, cờ xí mừng đại chiến thắng, chiều hôm sau nhún mình, trở bộ quân tử tàu, nói ngược lại mình cũng là kẻ bại trận; dù là câu nói ví von, hay ẩn dụ.

Một cuộc xương máu hai mươi năm, “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn / vùi con đỏ xuống hầm sâu tai vạ” [*] không thể phán một câu là xong nợ, huề trất. Như cá độ bóng đá, tao với mày bắt tay, ra quán nhậu mần vài chai bia corona.

Ngay đó, chỗ “Tình nghĩa Bắc Nam”, lại một cuộc thua trận. Cũng chẳng thể nói càn, “Đù má, Tao thua hồi nào?” Nhận mình bại trận, cũng là một sòng phẳng, lương thiện; để rồi, sau đó, càng thương yêu nhau hơn, đùm bọc nhau, cùng chung chia nỗi đau định mệnh, cùng nhau tìm con đường Phục quốc.

Bất cứ một sự biện hộ nào, khi một vị Tổng thống đương nhiệm tuyên bố đầu hàng, bàn giao chính quyền cho kẻ thù địch, bằng văn bản, qua lệnh truyền trên đài phát thanh quốc gia rõ ràng, là thua.

Một trận sống mái đã minh định.

Chỉ duy một điều: Thời gian là quan tòa phán xét, Cái-này-sẽ-còn, Cái-kia-phải-mất-đi.

2.

Sau khi chiếm gọn Miền Nam, khi đã xếp một phần vũ khi vào kho, xe tăng không còn phải ra trận; nhìn lên trời xanh thấy con cò bay thay máy bay Mỹ, thấy bờ giậu quê có cái hoa đỏ thắm tươi, không phải máu vết thương người, là lúc thần hồn đã tỉnh tại đôi khi. Thể thái bão hòa này là một báo hiệu mới. Nó xua đuổi một tổng thể đến chỗ rùng mình, cần thiết một Thành-tâm-Nhìn-lại. Khi bước đi giữa Sàigòn, thấy rõ Miền Nam trước mắt, mới chợt tỉnh. Ngồi cùng nhau Đo-Đếm lại đời mình.

“Đếm, là diệu tưởng; đo, là nghi tâm.” [2]

Cuộc Đo Đếm này không ngắn ngủi. Nó dài suốt nhiều thập kỷ về sau, khi tương tàn tạm nguôi ngoai. Dài, cái hữu hình, đo đếm được bằng gang tay, tấc thước, số lượng; cả đến cái dài thăm thẳm, của tấc lòng, cái bi kịch làm một con người, một thời.

Cầm cái chân gỗ tra vào chỗ đầu gối, cầm con mắt nhựa ấn vào chỗ cái lỗ mắt trống hoác con mắt thịt nay không còn, mới là lúc ngậm ngùi. Ngậm ngùi nhìn lại. Thổn thức biết ra. Hòn bom trái đạn không là “món” duy nhất giải quyết mọi sự đời. Hãy còn những giải pháp nhân nghĩa, hòa bình, để thống nhất đất nước. Một ít “nhân dân” khác, sâu sắc hơn, đã chạm một thức tỉnh, một tâm linh nhắc nhở, “Chừng bao nhiêu năm qua, mình đã giết lầm một con người. Người đó e là chính mình.”

Những “quả tim thép” đã bắt đầu nhũn ra. Những “cá thể” vô danh trong một tập thể bấy nay, bỗng tự tách riêng/mỗi, để hiểu rằng, “Dù muộn màng, trễ nãi, mình phải cố, “Sống sao cho ra kiếp sống một con người.”

Bằng lòng một con người tầm thường, như cỏ lau trong bờ lau, như lá trong triệu lá của rừng. Là, sống cùng vợ con. Lo sao cho gia đình nhỏ bé đủ cơm ăn áo mặc, con cái được giáo dục đầy đủ, cái thường nhật là hạnh phúc, niềm vui, sự an toàn; tôn trọng, thương yêu lẫn nhau. Mỗi con người phải hiểu trách nhiệm và quyền lợi của giới hạn riêng/ mỗi.

Bấy nay chúng ta “say” bởi một loại thuốc an-thần-tư-tưởng. Bị đẩy tới chỗ mù lòa trong tư thế chọn lựa.

Trong một thực tế hối hả, đần độn, có không ít chúng ta, mỗi con người, một thời, đã trỗi dậy những giấc mơ. Mơ, và Mong. Mơ làm anh hùng, và mong được chết anh hùng. Muốn được tôn vinh, ta phải là một khối gỗ lấp cái lỗ châu mai, là một khối đá nằm chặn khẩu pháo không bị trượt ngược xuống sườn đồi; mơ nóng sốt, cao trào, mơ cực kỳ “phấn khởi.” Xương máu cha mẹ cho ta tựa gỗ rừng, xăng nhớt.

3.

Ra đi từ một thôn làng Xứ Bắc quạnh quẽ, đường quê bụi mù, buồn hiu vì cây cành trơ trụi què quặt bởi bom đạn Mỹ; mái tranh quê chỉ còn những mẹ già, những người vợ vắng chồng, những con thơ năm năm, mười năm mong ngóng cha từ chiến trường Miền Nam trở lại; biết bao thương yêu; biết bao nước mắt không ranh giới giữa tạm biệt với vĩnh biệt, buổi tiễn đưa.

Hôm nay bước đi trên đất Miền Nam. Đúng là, “Bước đi một bước day day lại dừng.” [3]

Lạ lùng, bước đi trên đất quân thù, mà luôn khắc khoải. Một ánh lửa từ đường hầm lương tri soi tỏ. Cần thiết phải bình tâm so sánh Cái-Đang-nhìn-thấy-thực-tế trên đất quân thù Miền-Nam-hôm-nay, và/với, Cái-chân-dung-Miền-Nam đã được vẽ ra, được truyền bá, trước đây, trên xứ Bắc.

Mối hận thù ngút ngàn khói lửa đã dần dà chuyển sang một tâm thức rõ/khác. Tạ ơn đời, đây là lúc cho tôi xa khuất một quá-khứ-nhiễm-độc, để cần thiết hòa mình với Những-tháng-ngày-sẽ-tới. Chạm mặt Miền Nam là chạm mặt một đầu đời. Một bình minh mới cho cuộc Phục sinh, Tái dựng.

Một nhà văn trẻ [4] trong đoàn quân xâm lược Miền Nam, năm 1975 anh vừa ngoài hai mươi tuổi, đã nói thật lòng qua một bài viết có tựa đề, “Sàigòn đã giải phóng tôi.” Chỗ tài tình của anh là anh viết về những sự việc nhỏ nhoi, cây viết bút bi, chuyến xe đò từ miền Nam lần đầu tiên chạy ra xứ Bắc, cái cảm giác đầu tiên, cực là bỡ ngỡ khi nhìn thấy Sàigòn, lúc gặp gỡ con người Miền Nam ấm áp tình người.

Một nhà văn nữ [5], trong đoàn quân thắng trận, đã ngồi gục xuống ngay lề đường Sàigòn, và, bật khóc. Một buổi sáng của 1975. Một buổi sáng của Sàigòn rực màu đỏ, đỏ khắp phố phường cờ. Sàigòn hóa đỏ phều phào, như đang bị cắt tiết.

Chị nức nở khóc. Trái tim chị tan nát, vì bị đánh lừa, bàng hoàng nhận ra một sự thật, “Miền Nam không là cái hình hài tan nát khốn cùng dưới gót dày quân xâm lược. Sàigòn không đói ăn, người Miền Bắc phải mang theo từng lon gạo vào Nam tiếp cứu. Miền Nam không là nơi chốn chán đời sa đọa; trai trẻ mười thằng chín thằng xì ke ma túy; gái tơ mười đứa, may ra còn một đứa không mần đĩ. Cái biểu trưng cao khiết nhất của Sàigòn, là chị nhìn thấy những sách vở, những văn minh văn hóa, tư tưởng nhân loại được tự do in ấn, tự do phổ biến.”

Đi qua những ngày hòa bình đầy trắc ẩn, qua một bài viết, chị nhắc lại hoàn cảnh Trường Sơn. Đoàn nữ binh của chị, không kể đến những thiếu thốn khổ đau, cái ác độc là nhiều ngày liền không nước tắm, thậm chí không giọt nước rửa ráy. “Cả một núi rừng thối mùi máu kinh nguyệt.”

Tôi nghe tôi hiểu. Chị đã đi chung nắng với Sàigòn.

Tôi nghe vi vu cái Lẽ Thường, nó báo rằng:

Máu nào cũng là máu thôi.

Máu của người.

Máu cờ.

Máu của lịch sử kinh qua.

Nhất thiết phải cần một cuộc tắm gội.

4.

Vì dồn toàn lực, nhân tài vật, cho cuộc chiến. Xua đi. Và, xua tất cả. Ta-cùng-đi. Miền Bắc đã trở nên một khoảng trống số phận. Cảnh vật tiêu sơ, xã hội con người bần cùng cạn kiệt nguồn sống; tranh nhau từng một nửa bước trước cửa hàng lương thực; không còn ai có thể mang an ủi tới cùng ai. Hạnh phúc xiết bao khi cha vào Nam trở về, cho con cái một cây viết bút bi, một tập vở giấy trắng tinh, từ bao nhiêu năm chúng chưa hề thấy. Tặng cho mẹ một chiếc áo ấm, tặng vợ một nồi cơm điện. Vui xiết bao khi cả nhà ngồi quanh nhau một chiếc quạt máy hiệu Sony, quay vù vù êm dịu.

Những vật dụng tầm thường ấy, buổi đầu rải rác xuất hiện đôi nơi trên xứ Bắc, đã mở ra một cuộc Trở-giấc. Một thức tỉnh mờ sương, còn phảng phất, chen lấn những gì không có thật trong giấc mơ vừa tàn, đêm qua.

Tiếng xe gắn máy, từ-Sàigòn-vừa-ra-tới, ai-đã-mang-về, vừa thoáng qua trên quãng phố khuya lạnh căm, nơi bấy nay chỉ thỉnh thoảng một chiếc Volga của một vị ủy viên lạnh lùng chạy vút qua. Đêm Thủ đô, cuộc chiến đã ngừng nhưng ám ảnh của tang thương hoạn nạn còn dài dặc, mông lung trong tiếng gió khuya. Lịch sử chuyển mình, từ ánh lửa hồng đêm đầu tiên khởi chiến chống Pháp; từ những chiều hoang tàn một khu phố nằm dưới làn bom B52 Mỹ, tro khói chiều, lửa cháy qua đêm. Đêm nay, 1975, một đêm mùa đông Hà Nội, bỗng ai đó mở nghe một bài nhạc của một nhạc sĩ Miền Nam Cộng Hòa. Tiếng hát ngọt ngào tha thiết, lời ca lạ lẫm, nhưng tâm sự chan hòa; rộng trải tự do, thăm thẳm tình người; chừng bao la một thổn thức cháy lòng.

Những động tĩnh đầu tiên ấy, bỗng trở nên những tín hiệu nhiệm mầu, báo tin rằng “Ở đâu đó có một Miền Cứu rỗi!”

Lần lượt một người, rồi người người vào Nam. Thấy tận mắt, sờ tận tay. Của cải mang về. Người có bà con trong Nam thì được nhiều quà biếu, những đồng hồ, radio, cassette, áo quần, giày dép, thức ăn đồ hộp, mền mùng, cả xe gắn máy, tủ lạnh, ti vi. Món gì ngoài ấy chúng tôi cũng thiếu cả.

Người Miền Nam, cái thần hồn thì nát tan vì cú knock out bại trận, nhưng cái tình người thì mở rộng chia sẻ giúp người. Bác Tám hưu trí, anh Sáu cán bộ giờ đây khòm lưng chống gậy chờ hui nhị tì, hẳn còn nhớ những ngày Miền Nam sau tháng Tư, 1975 năm ấy.

Sàigòn, và khắp các phố thị Miền Nam, là tràn ngập chợ trời. Hè phố, hàng hiên, bãi cỏ công viên đều biến ra chợ trời. Để Ông Trời chứng giám. Bày bán hàng vạn thứ, giá rẻ mạt. Bán tống tháo. Bỏ của chạy lấy người. Bán vét sạch trong nhà, từ bộ áo vét tới bộ lư đồng trên bàn thờ, kiếm chút tiền mua khoai gạo sống qua ngày. Chợ trời, có mặt đủ thứ/loại hàng, thượng vàng hạ cám; từ cái máy xay tiêu, cái lò nướng thịt chỗ bếp, đến những dàn máy hát tân tiến nhất vừa mới nhập nội đầu năm 1975; vô vàn những món quý giá, từ lâu vốn nằm trong những gia đình quyền quý, nay ra hè phố công viên; những bộ trường kỷ danh mộc cẩn xa cừ Nhị thập tứ hiếu; những món đồ cổ đời nhà Tống nhà Thanh, hàng Nội phủ; cả những tác phẩm nghệ thuật, những vật dụng, kỷ niệm, có từ thời Tây thuộc thế kỷ thứ mười chín trên đất Nam Kỳ…

Tha hồ lấy không. Tha hồ mua sắm.

5.

Nếp sống văn minh văn hóa, đời sống giàu sang thân thiện của người Miền Nam, ắt phải có một tầm ảnh hưởng đối với những ai đang trong những số phận đen tối, không may.

Con đường “dẫn độ” một người từ buổi nan nguy nghèo khó tới chỗ được “ngự” an toàn trong một ngôi biệt thự sang trọng, cũng lắm điều thú vị, đáng tỉ tê. Đây là cái tiến trình cần phải có của nhu cầu sống, nhưng xem ra khá hài hước.

Khi đói cơm, chỉ cần ăn để sao cho đầy bụng. Có khi đứng, khi bò lom khom, bốc mà ăn. Khi đã no, thì ăn làm sao cho Đủ. Bột, đạm, đường, rau xanh, vitamin, sao cho đề huề âm dương. Đủ rồi, ăn sao cho Sang. Chén đũa nĩa, khăn bàn, phòng ăn, sao là thẩm mỹ, bình hoa trên bàn, bức tranh trên bờ tường, nhạc trám cái lỗ tai.

Sang rồi, phải ăn sao cho Đẹp. Ngồi chùm hum mà “tranh thủ đớp” là không được. Ngồi vào bàn, đôi mắt cứ chăm chăm món thịt cá, để “cải thiện” thì quê lắm. Sang, đẹp, là biết cách cụng ly, biết nhắm loại rượu nào, nụ cười trên môi nhiều hơn tay “triển khai gắp.” Mồm nhai ít hơn, để lưỡi thanh thản những câu chuyện trò thi vị. Rồi thì phải kiếm chác chút đỉnh kiến thức, để nói về nhạc Beethoven, triết lý Jean Paul Sartre.

Dần dà những gì có hơi hám Sàigòn, cửa tiệm, quán ăn, mang tên Sàigòn, các đoàn hát từ Sàigòn ra, là ăn khách. Những hàng hóa từ trong Nam mang về, là sắc màu, “hoành tráng”, “chất lượng cao”, tiêu biểu cho văn minh, hiện đại. Bánh mì, áo dài, cà phê, tranh ảnh. tiểu thuyết, ca nhạc, cách đi, dáng đứng, mốt thời trang, màu sơn, cách thiết trí trong nhà, phòng ngủ có chân dung các nghệ sĩ “tư bản”, cách chơi hoa kiểng, chim chóc, vv và vv…

Có những cái xem như lỗi thời tại Miền Nam, nay nó vì thời thế, được mang “ra ngoải”, bỗng trở nên là một thứ mới mẻ, thời thượng.

Ngay dòng nhạc boléro, nó được sáng tác từ những nhạc sĩ tài hoa, tiêu biểu là Trần Thiện Thanh, nhưng tại Miền Nam nó đã trót mang cái tên “nhạc máy nước”, “nhạc sến.” Hôm nay nó sống lại mãnh liệt, là tiếng nói tâm tình thật lòng, là ngôn ngữ thời đại, nó được đón nhận, rất mực hân hoan thưởng ngoạn khắp Miền Bắc.

Những ca sĩ Miền Nam, rất đáng yêu quý, thuộc hàng lão ông lão bà; nay đã “yêu kiều”, từ hải ngoại trở về cất tiếng hát. Giá vé cao ngất lưng trời; “người xem tớ cũng xem”, dù ca sĩ Chế Linh thân yêu đứng tít mù xa trên sân khấu, như …chai coca cola.

Tiến trình này là một đảo ngược, mang tính hài hước, tiêu phí sự truy tìm quá khứ. Những cái đáng “khuất mặt” hôm nay trở ra sáng trưng, có đầy đủ yếu tính để chinh phục các thành phần cần thiết “mong được đồng hóa.”

6.

“Bị Miền Nam đồng hóa ngược!” Đây là cuộc dâu bể tự phát; rất đương nhiên phải xảy ra. Sự tự thân thay đổi, tự thấy ra cái nhu cầu mình cần thiết phải đi theo, ấy thôi. Cũng là một hảo ý, tỏ rõ tiến bộ đi tìm một đời sống hạnh phúc, thân thiện, văn minh hơn.

Biết làm sao được, những gì, dù tối thiểu, về vật chất lẫn tinh thần, chúng tôi cần, Miền Nam đều có cả. Lại mới mẻ, gọn nhẹ, hiện đại, hữu dụng, ngoài cả ước mơ chúng tôi cần có. Nguồn cung cấp từ Miền Nam cho chúng tôi lại cái giá quá hời, vì chúng tôi “Kẻ Bề trên.”

Về chỗ văn hóa văn minh, chỗ tâm linh tín ngưỡng, cái đạo lý làm người, chúng tôi cũng thấy ngay. Trong gia đình “bọn ngụy quân ngụy quyền”, con trẻ rất hiền hòa lễ phép dễ dạy, ông bà được kính trọng nuôi dưỡng tận tình; đường phố “bị đế quốc Mỹ chiếm đóng ấy” người người nhường nhau từng lối đi, dừng xe mình để xe tang ưu tiên đi qua; làm những điều rất ư “phí phạm” như dừng lại, gỡ nón, nghiêng người chào vĩnh biệt kẻ nằm trong áo quan. Xã hội của bọn “bại trận” ấy có một nền tự do rộng rãi, một nền giáo dục rất nhân bản, một nền công lý phân minh giữa tư pháp và hành pháp.

Thiệt là rồi đời. Tự thuở nào không biết, nhìn lại nhà cửa, phương tiện đi lại, mọi sinh hoạt xã hội, từ cách trang trí trong nhà, quần áo mặc trên người, đường phố, quán xá, tới bữa ni, tức là bây chừ, chúng tôi y chang Miền Nam. Hà Nội hôm nay lột xác phần nào, để sao cho giống một Sàigòn trước 1975. Tới nay, Sàigòn vẫn Sàigòn. Sàigòn bị Hà-Nội-hóa là chuyện chưa hề xảy ra.

Bốn mươi lăm năm trôi qua, cuộc Miền-Nam-hóa, tự-đồng-hóa đang là một lan rộng, toàn thể, không thể kiểm soát được. Không thể đảo ngược, vì nó là một nhu cầu “sống còn” của đời sống mỗi con người. Đây là một diễn biến có thực tế minh biện.

Nền kinh tế chỉ huy đã sụp đổ, thay là kinh tế thị trường Miền Nam vốn có từ trước. Hệ thống Hợp tác xã tan rã, trả quyền sinh hoạt, làm ăn cho tư nhân. Văn hóa Miền Nam được dần dà phục hồi. Những gì bị đả phá đánh đổ trước kia nay được truy phục, tôn vinh. Những danh nhân văn hóa, nhà yêu nước, trước kia bị bôi vôi hạ nhục, gọi là bán nước hại dân, nay được trân trọng phục hồi danh dự. Phần lớn tác phẩm trước kia được liệt vào danh sách tiêu hủy, nay được lần lượt trân trọng in lại. Người đọc đã buông bỏ, xa lìa những “loài” văn chương nghệ thuật minh họa, nịnh bợ. Tiếng hát át tiếng bom đã là những tiếng-thét-một-thời, nay đã có dòng suối mát âm nhạc lời ca, từ Miền Nam phong tỏa. Nữ sinh đi học bận áo dài, ta nhớ thuở nữ sinh Đồng Khánh, Trưng Vương một thời Cộng Hòa. Học trò biết vòng tay kính trọng thầy cô, không xưng “tôi” gọi thầy cô là “anh chị.” Trong nhà có cái bàn thờ ông bà tổ tiên, không phải dẹp đi, thòi ra cái chân-dung-râu-ria. Đám cưới, đôi nam nữ biết lạy bái tạ ơn ông bà [Lễ gia tiên], không phải tuyên thệ chỗ “hôn trường”, rồi ôm nhau cà rỡn…. Nói túm cái vành đai, tất cả lề thói, tập tục, phong hóa, tương tác xã hội, sinh hoạt đời thường, có từ thời Cộng Hòa, nay được tôn trọng, và lưu giữ; cả Miền Bắc đã phục hồi mọi sự.

7.

Rõ ràng là như thế, hơn bốn thập kỷ trôi qua, có sự thể trái cựa, Kẻ chiếm đóng bị bên bị trị đồng hóa ngược một cách triệt để.

Một kết luận đã có bấy nay, “1975 Miền Bắc thắng Miền Nam bằng súng đạn, hôm nay Miền Nam thắng ngược lại một cách toàn diện, qua con đường văn hóa, đạo lý.”

Tôi tôn trọng mọi nhận định, phát biểu.

Riêng tôi, tôi không nghĩ như thế. Ngoài cái cách tiếp cận Miền Nam thô bạo, ăn cướp cạn theo cái thế của bọn chiến thắng, hãy còn một đại bộ phận khác, chúng ta phải có một cái nhìn công bình hơn.

Đó là một đại bộ phận quần chúng Miền Bắc, rất đáng trân trọng và thương yêu, họ là nhân danh chiến thắng, nhưng cũng chính là nạn nhân. Chính họ, sau 1975, đã mau chóng và sòng phẳng, chuyển đổi tâm thức, một thái độ trực diện với hiện tình Miền Nam, để tự nâng cao đời sống của mình; tự thoát ra nghèo khó kiệt quệ, tự bức thoát khỏi những lạc hậu, tối tăm, lừa mị bấy nay, để đến chỗ hạnh phúc hơn, tiếp cận cái văn hóa văn minh, trở về với nguồn đạo lý, phẩm giá giống nòi vốn có; tiến trình ấy là một Con-Đường-ánh-sáng.

Nếu cứ cho rằng sự đồng hóa ngược này là một trận thắng, theo tôi, Miền Nam không cần Cuộc thắng trận này. Miền Nam, tấm gương soi. Soi cái mặt của mình. Thấy chỗ nào không sạch thì mau chóng rửa. Cái mũi cong queo thì đi Mỹ viện. Cái da thâm đen thì cần mỹ phẩm. Chuyện của người, không phải nhiệm vụ của gương.

Miền Nam không ra công đổ mồ hôi, mưu cầu Cuộc thắng trận này. Đó là một diễn trình tự nhiên, ai đó muốn hướng thượng thì bước chân vào. Lòng người rộng thoáng. Mừng, khi một ai đó có một đời sống hạnh phúc, khi cả nước đã quân bình, nhịp điệu hài hòa Bắc Nam.

Chuyện ác quỷ còn chờn vờn, chỗ thượng tầng của Hôm nay, là việc của tương lai, lịch sử sẽ tính sổ.

Cung Tích Biền.

Biệt Cốc, Midway City, tháng Tư, 2020.

Ghi chú:

[1] Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi

[2] Bùi Giáng

[3] Chinh phụ ngâm – Đoàn thị Điểm.

[4] Nguyễn Quang Lập.

[5] Dương Thu Hương

Chiến tranh bên cạnh tình yêu

baovecovang2012.wordpress.com

Huy Van Truong

Posted on December 6, 2023 by Lê Thy

Post by Sơn râu 19 Mar 2025

Nhà tù hình chữ S

Tập 4 – Boat people

Chương 35
Uống rượu tiêu sầu

Tôi và Cúc đứng nép vào một bên cửa, tiễn đưa ông Năm bánh xèo ra về. Chờ cho đến khi thân hình khá to lớn của ông ta mất hút trong bóng đêm dày đặc, lúc bấy giờ hai đứa mới đóng cửa trở vào nhà.

Dưới ánh sáng của ngọn đèn neon, nhìn gương mặt của Cúc tươi cười hớn hở, tôi ngạc nhiên hỏi:

-Vừa bị ép buộc ký giấy tờ bán căn biệt thự nguy nga đồ sộ, tọa lạc trên một lô đất rộng cả mẫu mà không có được đồng xu hay cắc bạc nào, sao em lại vui quá như vậy.

Cúc chậm rãi hỏi tôi.

-Nếu anh phải chọn giữa chuyện Việt Cộng bắt em bỏ tù mà không cho biết đến khi nào mới thả, và chuyện họ lấy căn nhà mà mình đang ở, thì anh sẽ chọn điều nào?

Tôi hiểu Cúc muốn nói gì rồi nên đáp.

-Dĩ nhiên là phải lấy của che thân, cúng cho họ căn nhà.

Cúc ôm chặt lấy tôi.

-Em cũng vậy thôi, bỏ căn biệt thự để có anh là chuyện em phải làm.

Đang nói chuyện, Cúc chợt nhỏ giọng lại như muốn tâm sự với tôi.

Advertisement

-Anh biết không, suốt mấy ngày qua em sống trong lo âu, sợ hãi, vì tin rằng chuyện anh khai gian lý lịch trong trại cải tạo, trước sau gì cũng bị Cộng Sản phát hiện. Lúc bấy giờ họ sẽ bắt anh bỏ tù lại, lần này sẽ không có ngày về.

Tôi nhắc Cúc.

-Mới mấy ngày trước đây em khẳng định với anh là, Việt Cộng đã không cho người đi xác minh lời khai của anh trong trại tù cải tạo nên mới thả anh về. Tại sao hôm nay, em lại nói khác đi như vậy. Em có tự mâu thuẫn với mình hay không?

Cúc với nụ cười rạng rỡ trên môi.

-Trước đây em chỉ muốn anh được an lòng, nên em tự lừa dối mình mà nói với anh như vậy. Hôm nay, sau khi nghe ông Năm đồng ý đánh đổi tự do của anh để lấy căn biệt thự, em mới biết chắc một điều, tạm thời anh đã thoát khỏi cái tội man khai lý lịch. Em mừng là vì vậy.

Ngập ngừng một chút, Cúc nói tiếp.

-Anh thử nghĩ coi, sau tháng 4 năm 75, mấy chục tòa nhà cao tầng của ba ở Sài Gòn đã bị Đảng Cộng Sản Việt Nam ăn cướp giữa ban ngày. Còn căn biệt thự ở đường Công Lý, nơi mà anh với em đang ở cũng bị họ đem cả chục chiếc xe tăng, trên đó có hàng trăm bộ đội Cộng Sản trang bị súng AK, B40, tràn vô nhà mình đuổi anh và em ra khỏi nhà. Chuyện này chính anh đã chứng kiến. Mất chừng đó nhà cửa, em không một chút tiếc thương thì sá gì căn biệt thự ở Đà Lạt. Hơn nữa, năm ngoái khi anh và em về tới Đà Lạt, em vẫn đinh ninh rằng ngôi biệt thự này đã bị Cộng Sản lấy mất rồi.

Vui vì thấy vợ thương yêu và lo lắng cho mình, tôi đi tới cái tủ rượu nằm khuất sau một bức tường nơi phòng khách, chọn một chai. Ba tôi không phải là đệ tử của thần lưu linh, thế nhưng cái tủ rượu của ông phải nói là thuộc vào hạng hiếm có ở Việt Nam. Tủ được đóng bằng loại gỗ tốt, to lớn, bề thế, đứng choán cả một góc phòng, bên trong với hàng trăm chai rượu quý của những hãng sản xuất rượu nổi danh trên thế giới. Dân nghiện chỉ cần nhìn thấy cái tủ rượu của nhà tôi, sẽ nghĩ ngay ba tôi là một tay uống rượu như hũ chìm.

Sở dĩ có chuyện ngược đời như vậy, vì thực ra cái tủ rượu của nhà tôi là do bác Bảy, ông ba vợ của tôi đưa từ Sài Gòn lên. Bác Bảy muốn có riêng một tủ rượu để ở nhà ba tôi, phòng khi ông lên Đà Lạt thăm người bạn cố tri cũng là ông sui, bác có sẵn rượu để uống. Đầu dây mối nhợ là như vậy.

Đưa chai Johnnie Walker nhãn đen lên cao, tôi nói.

-Tối nay vợ chồng mình, mỗi đứa phải cưa dăm ba ly mừng ngày vui.

Cúc nhìn tôi với đôi mắt đầy vẻ ngạc nhiên.

-Chưa bao giờ em thấy anh chạm tay vào ly rượu, nói gì đến chuyện uống vài ly.

Tôi cười vui vẻ.

-Ngày xưa, lần đầu tiên đưa em về Sài Gòn gặp bác Bảy, trong bữa cơm tối, ông bắt anh phải uống rượu với ông.

Cúc chỉnh tôi.

-Anh phải gọi là ba, không còn là bác Bảy nữa đâu.

Tôi gật đầu nói lia lịa.

-Phải, phải… ba. Tối hôm đó anh uống với ba vài ly Martell, ngồi nghe ông tâm sự. Cũng nhờ uống chút rượu mạnh, máu trong người của anh hình như luân lưu mau hơn, nên anh đánh một giấc ngon lành cho đến sáng. Hôm nay, anh cảm thấy thảnh thơi, nhẹ nhõm trong lòng, nhất là thấy em sung sướng như vậy nên anh muốn uống chút rượu mừng.

Cúc gật đầu tỏ vẻ đồng ý.

-Nhà không có gì làm mồi nhậu, hay là để em vô nhà bếp rang một ít đậu phụng.

Chưa dứt lời, Cúc đã lấy chai Johnnie Walker trên tay tôi đặt vào tủ, rồi đưa cho tôi chai Martell Cordon Bleu.

-Uống thứ này đằm hơn anh à, không có bị xóc như Johnnie Walker.

Tôi tròn mắt ngó vợ.

-Thiệt không? Sao em biết? Đừng có nói mò nghe.

Cúc từ tốn giải thích.

-Chuyện có hơi dài, em sẽ cố gắng nói gọn lại cho anh nghe. Như anh đã biết, ba của em là một ông già nhà quê, thuở nhỏ vì nhà nghèo, không được học hành nên phải đi chăn trâu, chăn bò, kiếm sống. Từ bé cho đến lúc bước chân vào Sài Gòn, ba của em có biết uống rượu bao giờ đâu. Đến khi gặp ông ngoại, ba mới tập tành chuyện rượu chè. Dĩ nhiên lúc đó ông chỉ uống toàn là rượu đế Việt Nam. Sau này khi giàu có lên rồi, vì công việc thường hay đi đây đi đó, giao thiệp với nhiều người thuộc đủ mọi tầng lớp trong xã hội, lúc bấy giờ ông mới uống rượu ngoại quốc. Chuyện đời, “Phú quý sinh lễ nghĩa” ba quay sang uống những loại rượu quý hiếm. Ở đây có một chuyện trở ngại là ba đọc tiếng Việt còn vấp váp nói gì đến chuyện tiếng Anh, tiếng Tây.

Tôi cướp lời Cúc.

-Như vậy thì làm sao ba biết phân biệt được các chai rượu danh tiếng trên thế giới.

Cúc trả lời tôi.

-Em chớ còn ai nữa, lúc bấy giờ em đang học đệ nhị, đệ nhất bậc trung học. Vì muốn giúp ba nên em phải coi những cuốn sách chuyên nói về rượu, tìm tòi nghiên cứu những loại rượu ngọai quốc nào ngon, loại nào quý hiếm, em sẽ đặt mua. Em mua đủ loại rượu cho ba, từ Whiskey của Mỹ qua Whisky của Scottland, của Ireland rồi Martell của Pháp.

Đang nói Cúc đột ngột dừng ngang.

-Đố anh biết cái hầm rượu của ba ở căn nhà đường Công Lý, có bao nhiêu chai?

-Cũng cả trăm chai, như cái tủ rượu này.

Cúc cười ra vẻ thích thú.

-Nó gấp mười lần đó anh.

Tôi than.

-Như vậy, ba uống cho tới khi nào mới hết.

-Anh hơi đâu mà lo cho mệt, ba uống rượu bằng con mắt. Chính em nhìn cái hầm rượu của ba, chưa uống mà đã say rồi.

Như chợt nhớ ra điều gì, Cúc hỏi tôi.

-Ngày xưa ở Trường Võ Bị Đà Lạt, lương trung úy độc thân của anh, bao nhiêu một tháng?

Tôi trả lời Cúc.

-Hơn hai mươi lăm ngàn một chút.

-Chưa đủ để ba mua một chai rượu.

Hình như tôi đã nghe câu nói này ở đâu đó trong quá khứ. Sau một hồi suy nghĩ, tôi chợt nhớ ra rồi cười thích thú.

-Đúng là cha nào con nấy. Em có biết, ba đã từng nói với anh “Lương tháng của con, không đủ cho con Cúc mua một bộ đồ.”

Cúc hỏi tôi.

-Ba nói với anh như vậy sao?

-Đúng.

-Vậy mà em cứ tưởng ông không biết gì về em. Mà thôi để em kể tiếp cho anh nghe, trong hầm rượu của nhà có rất nhiều rượu quý nhưng ba chỉ thích Marttell Cordon Bleu. Đây là loại rượu được làm bằng nho, trồng ở vùng Cognac của Pháp, đóng trong những thùng gỗ Sồi rồi ủ ít nhất là hai, ba năm. Vì vậy loại rượu này nó thơm mùi đặc biệt của gỗ Sồi, không lẫn vào đâu được.

Tôi lắc đầu.

-Nghe em nói, anh cứ như vịt nghe sấm.

Cúc đưa tay chận miệng tôi.

-Nếu không biết, thì anh hãy cố nghe cho hết câu chuyện. Hồi đó em vẫn thường uống rượu với ba, mua rượu cho ba, nên em rất rành, loại rượu nào ngon, loại nào quý, loại nào đắt, loại nào rẻ. Còn ba gọi em là con gái rượu của ông, hiểu theo cả hai nghĩa, là con gái cưng và con gái chuyên lo việc mua rượu ngon cho ba. Giờ thì anh đã hiểu rõ, tại sao em rất sành sỏi về các loại rượu. Anh cứ yên tâm, đem rượu lên sân thượng trước đi, em phải dặn dò chị Hai coi con rồi sẽ lên sau.

Đặt chai rượu và hai cái ly thủy tinh trong suốt xuống cái bàn gỗ trên sân thượng, tôi ngẩng mặt nhìn trời, trăng đêm nay đã khá tròn, chắc còn vài ngày nữa là đến rằm tháng Tám. Trong cái im vắng sâu thẳm của đêm dài, tôi rót rượu vào hai cái ly, mùi thơm của loại rượu được sản xuất tại Pháp thoảng trong không khí, xông thẳng vào mũi. Chưa uống giọt rượu nào mà tôi đã cảm thấy lòng lâng lâng nhẹ nhõm. Tôi nâng ly ực một hơi, một dòng nước lành lạnh chảy tràn qua cổ họng, theo sau là một luồng hơi ấm lan tỏa khắp người. Cùng lúc ấy, Cúc xuất hiện nơi cuối sân, tay bưng một cái tô mà tôi đoán là đậu phụng rang, tay kia xách một chai nước khoáng hiệu Perrier. Đi đến ngồi bên tôi, Cúc nói.

-Ba vẫn thường uống rượu mạnh pha với Perrier.

Tôi nói.

-Anh hoàn toàn mù tịt về rượu, em nói cách pha chế rượu với anh, khác nào đàn khảy tai trâu.

Cúc nâng chai Perrier rót vào hai ly rượu, bưng lên lắc nhẹ rồi thản nhiên uống một hơi.

Tôi nhắc chừng Cúc.

-Em uống từ từ, vừa vừa thôi, không khéo lại say bây giờ.

Cúc trấn an tôi.

-Anh đừng có lo, ngày xưa lúc chưa giận ba, thỉnh thoảng em vẫn thường cụng ly với ông, cha con mà như là bạn, cũng chén thù chén tạc, cho nên tửu lượng của em cũng thuộc hạng kha khá.

Tôi thố lộ tâm tình với Cúc.

-Chuyện mà em thường uống rượu với ba, anh hoàn toàn không biết. Nếu như vậy, không chừng em uống rượu còn khá hơn anh.

Nói xong, tôi cụng ly với Cúc rồi hớp một ngụm. Chỉ một vài phút sau, hơi ấm của rượu chừng như đã luân lưu khá mau trong cơ thể. Rượu vào lời ra, tôi nói với Cúc, câu nói nghe qua tưởng như vô thưởng vô phạt. Tôi không ngờ, với Cúc câu nói lại quan trọng vô cùng.

-Không biết, giờ này ba ở đâu? Đang làm gì?

Cúc nhìn tôi với ánh mắt buồn như muốn khóc.

-Có chuyện này em muốn nói với anh, tháng ba năm bảy lăm, khi theo anh tới phi trường Cam Ly để về Sài Gòn, trên chiếc phi cơ C130 do anh Ly bạn của anh lái. Vừa về đến nhà, gặp ba chưa kịp chào hỏi ông đã giận dữ mắng cho em một trận nên thân. Sau đó ba nói với em, nguyên văn như thế này “Tại sao con đi về chỉ một mình, mà không lôi đầu cái thằng ngu đó về đây cho ba. Có cơ hội đi Mỹ với vợ lại không chịu, cứ khư khư ôm cái Trường Võ Bị đó mà làm gì. Đã vậy lại còn bày đặt nói chuyện đào ngũ với không đào ngũ.”

Cúc ngưng nói, uống một ngụm rượu.

-Em biết vì giận nên ba mới nói như vậy, chứ thật lòng ông rất thương anh. Anh có biết vì sao em dám nói như vậy không?

Tôi trả lời Cúc.

-Quả thật, anh không biết.

Cúc nhỏ giọng.

-Sau khi la em xong, ba đi tới đi lui trong phòng khách mà như là gà mắc đẻ, gương mặt đầy vẻ bực tức, miệng thì lẩm bẩm những gì em không rõ. Cuối cùng, ông nhắc điện thoại hấp ta hấp tấp quay số. Sau chừng mười phút chuyện trò ba cúp máy, quay sang nói vói em “Ba vừa điện thoại tới nhà riêng của ông Đại tá, bạn ba, ông này là Tham Mưu Trưởng Trường Võ Bị Đà Lạt, với ý định nhờ ông ấy can thiệp cho thằng chồng ngu dốt, đần độn của con, được đi phép về Sài Gòn một cách hợp pháp. Tiếc rằng ông ấy đã thuyên chuyển đi đơn vị khác rồi, nên không giúp gì được.” Nói xong ba đưa hai tay lên trời, nhìn em với đôi mắt đầy tuyệt vọng “Sức người có hạn, ba chỉ lo được đến đó mà thôi.”

Nghe Cúc kể lại chuyện xưa, tự dưng tôi cảm thấy xốn xang trong lòng, thương ông ba vợ của mình quá chừng, rồi buột miệng nói.

-Tội nghiệp cho ba.

Cúc ngồi xích lại gần, rồi tựa đầu lên vai của tôi, trong ánh trăng mờ mờ lành lạnh của đêm đen, bất chợt tôi cảm được từng giọt, rồi từng giọt nước mắt âm ấm của Cúc rơi nhẹ trên vai, chen lẩn với giọng nói ngập ngừng thổn thức.

-Em nhớ ba quá anh à.

Tôi ôm chặt lấy Cúc như muốn truyền chút hơi ấm cho nàng.

-Anh cũng vậy.

Nói xong tôi đưa tay tìm ly rượu.

-Anh đã vô tình chạm vào nỗi buồn của em, tụi mình uống cạn ly này đi, biết đâu nhờ hơi rượu sẽ làm giảm bớt đi cái buồn mà em đang mang nặng trong lòng.

Cúc gật đầu.

Tôi và Cúc uống cạn ly đầy rồi rót đầy ly cạn. Tôi tưởng rằng uống rượu để tiêu sầu, ai ngờ cạn ly Cognac, mối sầu đầy thêm. Xong ly thứ hai, đến ly thứ ba, nhìn lại đêm hãy còn dài, chai rượu mới vơi đi một nửa mà tôi đã thấy trời đất như quay cuồng, lảo đảo, choáng váng mặt mày. Không biết bằng cách nào, tôi đã mò về đến phòng ngủ của mình, đánh một giấc cò bay thẳng cánh cho đến khi mặt trời đã lên khá cao, tôi mới giật mình thức giấc.

Chiến tranh bên cạnh tình yêu

Huy Văn Trương

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 19 Mar 2025

Nhà tù hình chữ S

Tập 3

Phần 12
Bánh ít đi, bánh quy lại.

Tôi dẫn Cúc lang thang quanh khu phố Hòa Bình, ngắm phố phường, tận hưởng chút không khí tự do của ngày xưa còn rơi rớt lại đâu đây.

Khi tôi và Cúc về đến nhà nắng chiều cũng sắp tắt, một việc mà tôi không bao giờ ngờ tới đã xảy ra. Ông Năm bánh xèo đang ngồi chễm chệ trong phòng khách của nhà tôi, miệng phì phèo điếu thuốc lá. Không phải một mình tôi, mà tôi biết cả Cúc cũng xanh mặt. Tôi nói với mình, cho dù chuyện có nguy hiểm đến đâu, cũng phải bình tĩnh mà đối phó, không được sợ hãi. Tôi đưa mắt nhìn quanh, chỉ có một mình ông Năm, không có bất cứ tên công an nào đi theo, có nghĩa là ông đến nhà tôi không phải với ý định bắt người. Và chuyện tôi khai gian ở trại cải tạo, ông Năm vẫn chưa biết.

Lấy hết can đảm, giống như một tay võ sĩ thét lên tiếng Kiai, trước khi nhảy vào tử chiến với địch quân, tôi nói lớn với mục đích là đánh tan nỗi sợ hãi trong lòng của mình.

-Chào ông Năm, ông khỏe không?

Ông Năm tươi cười nhìn tôi.

-Chúc mừng trung úy đã được cho về.

Tôi nghe chữ trung úy từ miệng ông Năm, mà cảm thấy không được yên tâm cho lắm.

-Thưa ông Năm, xin ông đừng gọi tôi là trung úy, có được không?

Ông Năm không trả lời tôi mà nói với Cúc, giọng nói giống như ông ta là chủ nhà.

-Cô ngồi xuống đây, tôi có chuyện muốn nói với cô và cậu Quân. Mà nè, ba má chồng cô có nhà không?

Cúc nói nhỏ.

-Ba má tôi thường hay đi chùa, chắc không có ở nhà đâu. Hơn nữa , tôi và chồng tôi đi làm vườn trồng bắp sú tại Đa Thiện mới trở về, nên không biết.

Ông Năm nói.

-Tôi thấy trong nhà chỉ có một chị gái đang bồng em bé, ngoài ra chẳng có ai.

Thấy mọi chuyện có vẻ êm xuôi, tôi nói với ông Năm.

-Thưa, ông ghé nhà có chuyện gì không?

Ông Năm gật gù cái đầu với mớ tóc muối tiêu lòa xòa trên trán.

-Có chớ, chuyện khá hay nên tôi mới ghé đây, mà trong nhà có chỗ nào yên tĩnh, riêng tư để nói chuyện không? Ngồi ở đây,“tai vách mạch dừng”, không tốt.

Cúc tần ngần một chút rồi nói.

-Thưa ông, trên sân thượng êm vắng, có thể nói chuyện được.

-Thế thì tốt, nào chúng ta đi lên.

Nghe câu nói của ông Năm, tôi cứ tưởng mình đang nói chuyện với một tay cán bộ từ miền Bắc vào, chứ không phải một cán bộ nằm vùng.

Ngồi dựa ngửa vào cái ghế trên sân thượng, ông Năm hỏi Cúc.

-Nhà có cà phê không?

-Dạ có.

-Cho tôi một ly cà phê sữa nóng, ít sữa thôi.

Quay sang tôi, ông mời.

-Cậu Quân uống một ly cho vui, lâu lắm rồi kể từ ngày tôi tặng cậu tấm hình, cho đến hôm nay mới có dịp tâm sự cùng cậu.

Thực lòng mà nói, càng nói chuyện với ông Năm tôi càng sợ, không biết ông ta đang có âm mưu gì để hại mình đây. Nhưng mà chuyện hại người cũng không đúng, vì ông chỉ cần chụp cho tôi cái mũ, thằng Ngụy phản động, một tờ truyền đơn viết tay nhét vào kẹt cửa nhà tôi, với nội dung chống phá Cách mạng là ông có thể đem xử bắn tôi rồi, cần gì phải bày mưu tính kế làm gì cho mệt thân. Đàng này ông Năm nói chuyện với tôi, giống như hai người quen biết nhau lâu ngày mới gặp.

Tôi nói với Cúc.

-Tiện thể, cho anh một ly cà phê sữa luôn.

Khi Cúc đã khuất sau cánh cửa.

Ông Năm ngửa mặt nhìn trời rồi nói.

-Trong trại cải tạo, cậu Quân sống như thế nào?

-Thưa ông, mọi chuyện đều tốt đẹp.

-Cứ nói thật đi, không cần gì phải che giấu.

Tôi hơi e ngại nên rụt rè.

-Thưa ông, có hơi đói, thèm ăn.

-Chuyện ấy thì tôi biết, còn gì nữa không?

-Thưa, mọi chuyện đều bình thường.

Sau đó tôi kể thêm cho ông Năm nghe mấy ngày cuối cùng trong trại cải tạo, hơn ba trăm người sống cách ly trước khi về, được cho ăn uống đàng hoàng đầy đủ.

Ông Năm nói với tôi.

-Tôi nói như thế này thì cậu hiểu ngay, ví dụ có ba ngàn tù cải tạo, nuôi ăn mỗi ngày mất hết ba ngàn đồng, như vậy một ngày tốn một đồng cho một tù nhân. Ba trăm người sắp được thả về, ăn một ngày ba đồng, có nghĩa là hết chín trăm đồng. Số tiền còn lại là hai ngàn mốt, đem chia đều cho hai ngàn bảy trăm người. Tiền ăn của mỗi người chỉ còn lại chừng tám chục xu mỗi ngày. Người này no thì người khác phải đói, chuyện chỉ có vậy.

Cúc bưng lên một cái khay với hai ly cà phê, đặt xuống trước mặt ông Năm rồi xin phép đi xuống nhà, ông Năm khoát tay.

-Cô phải ngồi lại đây, tôi có chút chuyện muốn nói với hai người.

Cúc ngồi xuống bên cạnh tôi, dáng như chờ đợi.

Ông Năm với giọng cởi mở.

-Cậu Quân sinh ở Đà Lạt?

-Dạ phải.

-Tôi cũng vậy, nhưng tuổi của tôi hơn cậu nhiều. Tôi sinh cùng năm với nhà máy đèn Đà Lạt, nói như vậy là cậu biết rồi chứ gì?

-Dạ biết, một ngàn chín trăm hai mươi tám.

-Đúng, đó là năm vừa xây xong nhà máy đèn mới, còn cái cũ đã có từ chục năm trước rồi. Khi tôi được mười tuổi, thành phố Đà Lạt lúc bấy giờ hãy còn hoang sơ, dân cư thưa thớt, đứng một ngày mới thấy một chiếc xe hơi chạy qua, vậy mà đã có rất nhiều công trình xây cất đồ sộ vào thời đó, những công trình  này kéo dài năm, bảy năm mới xong. Một Dinh tỉnh trưởng trên đỉnh đồi cao cách chợ Đà Lạt vài trăm mét, khách sạn Palace, Lycée Yersin, Nhà Thủy Tạ, Nhà thờ con gà. Chỉ riêng năm một nghìn chín trăm ba mươi tám, chợ Đà Lạt và Nhà ga xe lửa được khánh thành.

Ông Năm ngưng nói, uống một ngụm cà phê rồi hỏi Cúc.

-Quá bảy giờ rồi, khách đến nhà mà cô không mời ăn tối hay sao?

Gương mặt Cúc lộ vẻ bối rối thấy rõ.

-Thưa ông, nhà chỉ có cơm độn bắp với cá kho. Chỉ sợ ông chê nên không dám.

Ông Năm chắt lưỡi.

-Gì cũng được mà. Có ăn là tốt rồi.

Cúc đứng lên rồi nói.

-Xin ông đợi cho một chút, tôi sẽ đem cơm lên đây ngay.

Ông Năm tươi cười.

-Cô cứ từ từ, không có gì gấp.

Quay sang tôi, ông Năm tiếp.

-Cậu Quân có biết Ga xe lửa Đà Lạt, do ai xây cất không?

-Hình như do một kiến trúc sư người Pháp thì phải.

Ông Năm gật gù.

-Kể ra, cậu cũng khá rành về Đà Lạt, nhưng mà Kiến trúc sư Paul Moncet chỉ là người vẽ kiểu, nhà thầu xây dựng ga Đà Lạt là ông Võ Đình Dung. Ông này có cái ga ra và miếng đất rộng đến cả chục ngàn mét vuông, nằm giáp ba mặt đường, Phan Đình Phùng, Hải Thượng và Hai Bà Trưng, chưa kể hàng chục căn nhà ở khu phố Hòa Bình.

Ông Năm ngưng câu chuyện, thong thả mồi một điếu thuốc rồi mới nói tiếp.

-Còn ngôi chợ Đà Lạt, được gọi là chợ Cây, vì vật liệu xây cất chợ toàn bằng cây. Hình như năm một ngàn chín trăm ba mươi mốt ngôi chợ này bị cháy, năm đó tôi mới có ba tuổi nên chưa biết gì. Mấy năm sau người Pháp mới cho xây lại ngôi chợ bằng xi măng. Chợ tuy không to lớn bề thế như Ga xe lửa Đà Lạt, nhưng nó có nhiều điểm độc đáo riêng của nó. Cậu sanh đẻ ở đây, chắc cậu biết chớ.

-Thưa ông Năm, vào khoảng năm 1958, lúc đó tôi được chín, mười tuổi khi có dịp vào trong chợ, tôi thường say mê nhìn lên trần. Trên đó có hàng chục cây đà khổng lồ cong vòng hình bán nguyệt, nối từ hông trái sang hông phải, đỡ lấy mái chợ, làm cho không gian trong chợ trở nên rộng rãi thoáng mát. Thuở ấy với một trí óc non nớt, tôi không hiểu bằng cách nào, con người có thể làm được những chuyện kinh khủng như vậy.

Không quan tâm tới những gì tôi nói, ông Năm hỏi.

-Cậu có nhìn thấy cái huy hiệu hình tròn trước chợ, với đôi trai gái người Lạch và hàng chữ La Tinh không?

-Thưa ông Năm, không những thấy mà tôi còn biết được ý nghĩa của mấy chữ La Tinh đó, nó được dịch sang tiếng Việt là “Cho người này niềm vui, cho người khác sức khỏe, hay mát lạnh.”

Ông Năm hỏi gặng.

-Cậu chỉ thấy vậy thôi sao?

-Dạ chỉ biết có vậy.

-Cậu thử lấy năm chữ đầu của mấy chữ La Tinh đó ghép lại, có phải là chữ DA LAT hay không?

Quá bất ngờ và thích thú về chuyện ông Năm nói, tôi vỗ tay vào đùi cái đốp.

-Ông Năm nè, vậy mà mấy chục năm rồi tôi có mắt mà như mù, chỉ vì mãi tìm hiểu ý nghĩa của mấy chữ La Tinh mà quên mất chuyện người Pháp chơi chữ.

Nhìn tôi với đôi mắt dò xét, ông Năm nói.

-Nếu vậy tôi còn có chuyện này để hỏi. Cậu có biết tên cũ của nhà hàng Thủy Tạ là gì không?

Tôi nhanh nhẩu.

-Thưa ông, La Grenouillère.

-Tai sao là tên đó, mà không phải là một cái tên khác?

Tôi hơi ngập ngừng một chút rồi mới trả lời.

-Thưa ông Năm, hồi còn học ở trung học, Pháp văn là sinh ngữ phụ của tôi, cho nên tôi không rành tiếng Pháp cho lắm. Theo tôi được biết La Grenouillère là hồ ếch, hầm ếch hay là cái đầm ếch gì đó, mà cũng có thể Nhà Thủy Tạ giống như cái hàm ếch, cho nên người ta đặt tên là La Grenouillère.

Ông Năm lim dim đôi mắt.

-Tụi Pháp nó sâu sắc lắm, không có hời hợt như vậy đâu. Hồi xưa lâu lắm rồi, một ông thầy người Pháp của tôi kể lại rằng, vào thập niên 1860, trên sông Seine về phía tây của Paris khoảng chừng hơn mười cây số, có một cái nhà hàng nổi, một câu lạc bộ thể thao tên là La Grenouillère . Đây là nơi tụ họp của những người giàu có thuộc giai cấp trung lưu của Paris thời bấy giờ. Những người này thường đến câu lạc bộ này để chèo thuyền, bơi lội, và coi đó là thánh địa của họ. Cùng khoảng thời gian trên vào năm 1869, có hai họa sĩ lừng danh của Pháp là Claude Monet và Pierre Auguste Renoir, hai ông họa sĩ này mỗi ông vẽ một bức tranh về nhà hàng nổi La Grenouillère, những bức họa này còn lưu lại cho đến bây giờ. Sáu, bảy chục năm sau, một trong số con cháu của những người trong câu lạc bộ đó đặt chân đến Đà Lạt. Khi xây xong một nơi để chèo thuyền và bơi lội trên Hồ Xuân Hương, vì nhớ về Paris, nhớ quê hương mến yêu của cha ông họ, nay đã nghìn trùng xa cách nên mới lấy tên của nhà hàng nổi, câu lạc bộ thể thao đó, đặt tên cho nhà hàng Thủy Tạ ở Đà Lạt, và cái tên La Grenouillère ra đời từ đó.

Nghe ông Năm kể chuyện, tự nhiên tôi nổi gai ốc cùng mình, bấy lâu nay tôi cứ nghĩ ông ta là một tên Việt cộng thất học nằm vùng, chỉ biết đổ bánh xèo kiếm sống. Nào ngờ khi nghe ông phát âm chữ La Grenouillère đúng giọng Pháp, rồi đến tên của các họa sĩ mà tôi chưa hề biết, tôi đâm ra sợ ông ta hơn. Tôi đang đối diện với một nhân vật kỳ bí, ông ta có thể biết rành rẽ về tôi, trong khi tôi hoàn toàn mù tịt không biết gì về ông ta.

Thấy tôi ngồi im, ông Năm tiếp.

-Cậu ngạc nhiên lắm phải không? Tôi học Trường Lycée Yersin từ cái thuở còn sơ khai, được vài năm thì bị đuổi vì tội đánh lộn với lũ Tây con, và cái tội nặng nhất là chửi lộn với mấy ông thầy giáo người Pháp, mấy ông luôn chứ không phải một ông đâu. Thời bấy giờ mà bỏ học, chống Pháp, đứng bên lề của xã hội, tôi dễ dàng trở thành người của Việt Minh.

Cúc bưng lên một mâm cơm, đặt xuống bàn rồi nói.

-Tôi phải nấu cơm trắng cho ông ăn, ai lại mời khách cơm độn bao giờ.

Nghe Cúc nói, tôi biết vợ mình không nói thật. Vợ chồng tôi ngồi đối diện với ông Năm để trò chuyện.

Ông Năm lên tiếng.

-Lúc nãy, tôi chưa nói đến chuyện xây cất Nha địa dư, cũng như Dinh một, Dinh hai, Dinh ba. Nhà thầu xây dựng Nha địa dư là ông Nguyễn Văn Tiếng. Người dân Đà Lạt gọi ông ta là Xu Tiếng, theo tôi nghĩ, chữ xu lẽ ra phải viết là su mới đúng, vì trước đó ông là giám thị một công trường xây dựng. Chữ su bắt nguồn từ chữ Surveillant trong tiếng Pháp. Năm 1943 ông Xu Tiếng hoàn tất công trình xây cất Nha địa dư. Năm 1948 ông mở xưởng cưa Thiện Nghĩa ở gần ngã ba chùa Linh Sơn.

Vừa nói ông Năm vừa vói tay cầm cái muỗng nhựa, xới cơm vào chén.

-Cậu nghe tôi nói vắn tắt về Nha địa dư như vậy, có đúng không?

Tôi nói.

-Thưa ông Năm, những gì ông nói về hai nhà thầu khoán lừng danh của Đà Lạt là ông Võ Đình Dung người thầu xây cất Nhà ga xe lửa, và ông Nguyễn Văn Tiếng là nhà thầu xây dựng Nha địa dư, đều đúng hết, chỉ thiếu sót một chút, mà chút xíu đó lại là rất quan trọng.

Ông Năm hất hàm.

-Tôi nói thiếu cái gì?

-Thưa ông, cả hai người mà ông vừa nói đến đều giàu có, và tấm lòng nhân hậu, thương người nghèo khổ của họ thì không một người dân Đà Lạt nào mà không biết.

Ông Năm ngồi im lặng một lúc.

-Cậu có biết tại sao hôm nay, tôi lại kể cho cậu nghe về những công trình xây cất mà người Pháp để lại ở Đà Lạt không?

-Không, thưa ông.

Ông Năm lấy giọng.

-Cậu Quân và cô hãy nghe cho kỹ, những công trình vĩ đại nói trên, mỗi cái đều có một sắc thái đặc biệt của nó, và hiện tại thì tất cả đã được tiếp quản, đặt dưới sự quản lý của nhà nước. Người ta thường nói “Đất có thổ công, sông có hà bá”. Tôi là thổ công của Đà Lạt này, khó có ai rành rẽ về đất đai, nhà cửa, ở đây bằng tôi.

Đang nói chuyện, bất chợt ông Năm nhìn thẳng vào mắt Cúc rồi nói với giọng nhẹ hơn.

-Cô Cúc nè, cô có biết căn biệt thự đồ sộ của cô, với diện tích đất lên đến cả mẫu tây nằm ở đường Nguyễn Tri Phương vẫn còn nguyên không?

Cúc nói.

-Thưa ông, tôi tưởng nhà nước đã tịch thu căn nhà đó của tôi từ lâu rồi.

-Chưa đâu, và đó là lý do mà hôm nay tôi nói chuyện với cô cậu. Thay vì ký giấy tờ giao căn biệt thự nói trên cho nhà nước, tôi muốn cô và cậu ký giấy bán căn nhà đó cho tôi. Thực sự cô và cậu chỉ ký vào giấy tờ bán nhà mà thôi, còn tên người mua và ngày tháng mua bán, tôi sẽ điền vào sau.

Cúc với giọng cứng rắn.

-Nếu nhà nước muốn tịch thu thì cứ làm, nhưng biểu chúng tôi ký vào giấy tờ thì tôi không ký.

Ông Năm vẫn dịu dàng.

-Nếu cô nói vậy thì tôi cần phải hỏi chồng cô vài câu.

Đưa mắt nhìn tôi ông Năm nói, giọng nói mạnh và chắc.

-Cậu Quân à, tôi không phải là “Bí thư tỉnh ủy” như cậu đã khai trong trại cải tạo đâu.

Khi nghe ông Năm nhắc đến bốn chữ này, hình ảnh trại tù cải tạo với hàng rào vỉ sắt PSP xám xịt bao quanh, khiến tôi chết lặng đi vài giây, cùng lúc ấy tôi cảm nhận được từng giọt máu lành lạnh chạy khắp cả thân mình. Cả một thế giới trước mặt tôi bỗng dưng sụp đổ tan tành. Tôi sợ đến nỗi tưởng mình chết ngồi trên ghế.

Ông Năm nói.

-Hãy bình tĩnh, không có gì mà cậu phải sợ đến xanh cả mặt. Tôi tuy không phải là Bí thư tỉnh ủy nhưng tôi đã xác nhận, tôi là cậu của Trung úy Nguyễn Trọng Quân. Không biết cậu còn nhớ không, khi được thả về, tên của cậu nằm trong danh sách bổ túc, đó là do sự bảo lãnh của tôi. Người làm Cách mạng mà có liên hệ với sĩ quan Ngụy khác nào dây với hủi, tôi đã chịu hy sinh giúp cậu, thì phải có gì đền bù cho tôi chớ.

Quay sang nhìn Cúc, ông Năm nói.

-Người ta thường nói “Bánh ít đi, bánh quy lại”. Tôi đã tặng cô một cái bánh ít, giờ thì tôi đang đợi cái bánh quy của cô đây…

Cúc với giọng nói run run.

-Ông Năm đưa giấy tờ đây, tôi xin ký vào ngay.

-Không chỉ một mình cô đâu, phải cả hai người mới được.

Nói xong, ông Năm lấy trong xách cốp một mớ giấy tờ trao cho Cúc. Việc làm này của ông Năm, cho tôi biết ông đã sắp xếp mọi chuyện từ lâu.

Trong khi tôi và Cúc chăm chú ký vào giấy tờ mua bán nhà, ông Năm vui vẻ ăn cơm, ông nói mà miệng còn đầy cơm.

-Chỉ có cơm với cá kho, nhưng mà đây là bữa ăn có thể nói là ngon nhất mà tôi có được, kể từ sau ngày giải phóng. Cảm ơn cô cậu.

Cẩn thận xếp giấy tờ vào xách cốp, trước khi ra về, ông Năm nói mà như tâm sự với tôi và Cúc.

-Cô với cậu đều là người có chút học thức, tôi nói ít hai người phải hiểu nhiều. Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam của tôi, giống như một trái chanh đã bị vắt hết nước, giai đoạn sắp tới là họ sẽ vất chúng tôi vô thùng rác. Cúc cung tận tụy như chúng tôi còn bị bạc đãi, cậu đã có một thời từng cầm súng chống lại họ, mối huyết hải thâm thù này, đời nào họ chịu bỏ qua. Cô với cậu hãy liệu mà xa chạy cao bay, tìm con đường sống trong cái chết, biết đâu sẽ thoát nạn. Sĩ quan Ngụy như cậu, không thể nào sống chung với Cộng sản được đâu.

Huy Văn Trương

Khu chợ An Đông

baotreonline.com

Trang Nguyên

Post on December 15th, 2023

Post by Sơn râu 18 Mar 2025

Phía mặt sau chợ An Đông thập niên 1960 (nguồn: Manhhaiflickr)  

Chợ An Đông và khu chung cư bao quanh được xây cất vào năm 1954. Đa phần người mua nhà là dân di cư miền Bắc, theo hợp đồng thời hạn 20 năm. Có nghĩa là đến năm 1974, chủ nhà hết quyền sở hữu.

Chung cư An Đông

Năm 1977 tôi có dịp ghé qua chợ An Đông vài lần. Nhà thằng bạn học nằm ngay góc tầng trệt của khu chung cư phía cửa sau chợ trên đường Yết Kiêu. Bên kia đường là hồ bơi An Đông không còn hoạt động. Toàn bộ khu vực này nằm ở giữa hai đại lộ Hùng Vương có con đường sắt chạy song song ở phía bắc và đại lộ Hồng Bàng ở phía nam; tiếp giáp 2 mạn đông, tây là hai con đường nhỏ Yết Kiêu và Nguyễn Duy Dương. Chung cư An Đông gồm 4 khu 3 tầng, mỗi khu hình chữ L, bao  bọc lấy chợ nằm ở chính giữa, tổng cộng gồm khoảng 4, 5  trăm đơn vị gia cư.

Có được một chỗ ở ngon lành và phía trước hành lang trở thành cái vựa bán trứng gà trứng vịt của gia đình trong thời buổi kinh tế khó khăn, vậy mà thằng bạn lại than ngắn thở dài: “sống ở đây ồn ào lại còn chật chội”. Nhà ngay chợ búa không ồn mới lạ. Hồi trước đám anh em còn nhỏ, chẳng ai thèm để ý đến chuyện nhà cửa chật chội, nằm sắp lớp cá mòi ngủ chung mùng thấy thật là vui. Khi đó, gia đình bạn buôn bán thêm nhiều mặt hàng. Nghe bạn kể cá khô treo lủng lẳng đầy nhà, trứng chứa từng sọt cần xé to nhỏ đủ loại, nhất là trứng muối bọc tro đen thui bán chạy lắm. Người Hoa khoái ăn trứng muối còn người Việt thích trứng lạt, thành ra mặt hàng này lúc nào cũng đông khách. “Hồi đầu năm 1975, ông bà già gom góp vàng định mua thêm căn chung cư kế bên, nhưng giấy tờ nhà có tranh chấp do vợ chồng ly hôn nên chuyện bất thành. Thế là cái gác lửng phải phân chia thành giường tầng 3 góc mới đủ chỗ ngủ cho đám con đông nhà chật”.

Bạn kể: “Chuyện mua nhà đang bị tranh chấp làm thủ tục thật nhiêu khê. Nhưng đây đâu phải là lần đầu. Năm 1974, một vụ kiện giữa chủ mấy trăm căn nhà ở chung cư An Đông với chủ đầu tư bất động sản Huỳnh Siêu (nghe đâu là con cháu của dòng họ Hui Bon Hoa đang quản lý cả mấy chục ngàn nhà ở và chung cư ở Sài Gòn Chợ Lớn), làm tốn giấy mực báo chí. Lý do là theo khế ước mua bán, ông Huỳnh Siêu thu hồi những căn nhà có hợp đồng thuê mướn dài hạn trong 20 năm. Chung cư An Đông và cũng nhiều chung cư khác ở Chợ Lớn có 2 dạng khế ước. Một mua đứt, hai thuê dài hạn và tái ký hợp đồng sau khi hết hạn. Vụ kiện tụng kéo dài đến năm 1975 thì đứt bóng”.

Thật ra, vào thời gian sau 1975, có vài người kêu bán mấy căn nhà quanh chợ nhưng gia đình ngại mua vì chỉ giao giấy tờ viết tay. Nhà lúc ấy rẻ rề vì mấy nhà đó dường như có kế hoạch vượt biên. Mua rồi sau này lỡ không làm được giấy chủ quyền thì kẹt.

Trở lại chuyện nhà của thằng bạn. Không biết hồi đó chính quyền nghĩ sao lại cho phép cất chung cư có diện tích như cái hộp quẹt. Chắc người ta nghĩ “ăn thì nhiều chứ ở bao nhiêu”. Nhà rộng lắm thì có thêm gác lửng. Gia đình nào cũng đông con, sống chật chội, vậy mà mấy nhà tầng trên còn phải dắt chiếc xe đạp, đẩy xe gắn máy lên tận tới lầu 3. Mỗi lần lên xuống thật phiền phức. Khách đến nhà chơi phải tìm chỗ gởi xe, rồi len lỏi giữa rừng thúng mẹt bán buôn né bên này đụng bên kia mới đến được nhà. Nhà tầng dưới của thằng bạn, phía trước Ba nó gắn thêm cái trụ sắt để khách mua hàng hay khách đến nhà dùng dây xích khoá chiếc xe gắn máy hay chiếc xe đạp vào cây cột. Trong lúc ngồi nói chuyện bù khú với nhau ở góc gác lửng, thỉnh thoảng nó đứng dậy, nhìn chồm qua ngó xuống cửa sổ trước hiên nhà xem con ngựa sắt của tôi còn đứng yên ở đó không. Bạn cảnh giác, có khoá vẫn mất như thường, ở đây trộm đạo như rươi.

Phái đoàn của chính phủ, phó TT. Nguyễn Cao Kỳ đi thăm chợ An Đông (Nguồn: Manhhaiflickr)

Chợ An Đông

Tôi thì chẳng màng đến chuyện chiếc xe đạp có thể “bốc hơi” trong giây lát. Nhà nằm ngay vị trí góc đường nhìn qua lam gió thấy rõ khối kiến trúc tiền chế của ngôi chợ đổ bóng lên dãy sạp bán gà vịt cá mắm phủ đầy dù vải đủ màu trông như một bức tranh lập thể, góc cạnh sáng tối dưới bóng nắng bật lên thật là sinh động. Hầu như từ thời điểm đầu thập niên 1950, kiểu kiến trúc chợ búa bước sang một hình thái mới, không còn kiểu cách cầu kỳ của kiến trúc Châu Âu hay phảng phất đường nét Á Ðông kết hợp nữa. Kiểu xây dựng tiền chế thi công nhanh, dễ tháo dỡ và không làm ảnh hưởng tới những công trình lân cận.

Chợ Hoà Hưng nơi tôi cư ngụ cũng vậy, có thiết kế khung sườn tương tự. Chỉ có điều, chợ An Ðông là một khối hình chữ nhật nhìn thoạt trông rộng hơn ngôi chợ nơi tôi ở. Tôi nghĩ còn vài ba ngôi chợ nữa có kiểu dáng thiết kế tiền chế như thế này đâu đó trên đất Sài Gòn. Kiến trúc chợ kiểu này được xây dựng một loạt nhiều nơi để đáp ứng nhanh nhu cầu chợ búa của dân chúng thành phố trong thời kỳ phát triển dân cư di tản từ thôn quê lên thị thành sinh sống, cộng thêm gần triệu người Bắc di cư vào Nam chọn nơi trú ngụ Sài Gòn là điểm đến chính. Theo thống kê dân số năm 1945 Sài Gòn có khoảng nửa triệu người nhưng 10 năm sau đó, con số này tăng lên gần hai triệu.

Bạn kể chuyện gia đình. Bố là người Hà Nội gốc theo gia đình di cư vào Nam ban đầu ở tạm gần khu trường đua Phú Thọ, làm công giao nước đá cây cho ông ngoại khi đó có tiệm tạp hoá bán đủ thứ ở đầu hẻm đường Nguyễn Duy Dương bên kia chợ An Ðông. Thấy anh thanh niên điềm đạm, hiền hậu lại siêng năng nên ông ngoại ưng thuận gả cho người con gái lớn ham thích buôn bán ở chợ. Hai người ra riêng sắm căn nhà tầng dưới làm chỗ mua bán. Hồi trước 1954, chung cư này xây xong chỉ có một số ít người Việt gốc Hoa đến đây mua tầng dưới để ở và làm ăn buôn bán. Nhà chung cư giá rẻ nhưng không hấp dẫn cư dân đến định cư vì ai đời xây chung cư lại bao quanh một cái chợ giáp mặt bốn hướng. Ồn ào, ngõ ngách chật hẹp ra vô khó khăn. Chợ An Ðông xưa kia còn chưa xây mới nhưng lúc đó đã được dân chúng xem là một trong các ngôi chợ sầm uất nhất thuộc khu vực Chợ Lớn, có đường xe lửa đi Mỹ Tho, xe điện ngược ra Sài Gòn.

Khu chợ An Đông lộ thiên phía giáp với các chung cư (Nguồn: Manhhaiflickr)

Khu “giao thoa” của người Hoa và người Việt

Người Việt về đây cư ngụ nhiều lắm, sống xen kẽ với người Hoa vì vùng này dễ làm ăn mua bán. Người Hoa đa phần là người cố cựu sống rải rác không tập trung như tại trung tâm Ðồng Khánh vào thuở Sài Gòn – Chợ Lớn còn là hai thủ phủ riêng biệt. Mãi đến đầu thập niên 1930, hai thành phố mới sát nhập làm một. Khu vực An Ðông được xem như khu giáp ranh giữa hai thành phố, dân cư từ các tỉnh đổ về định cư ngày càng nhiều và sau đó người Bắc di cư vào Nam tìm đến. Vào khoảng thời gian này, khu vực quanh Chợ An Ðông vẫn còn lưa thưa ao trũng, mồ mả vô chủ rải rác đó đây.

Góc bán gà vịt bên hông chợ (Nguồn: Internet)

Ông Ngoại thằng bạn tuy là người Hoa Chợ Lớn cố cựu 3 đời nhưng nói tiếng Việt sành sỏi nên Mẹ của nó cũng nói tiếng Việt ngon ơ đâu có thua gì người cha. Thằng bạn kể chuyện hồi nhỏ, mấy đứa đánh giày không biết từ đâu kéo cả đám sang khu chung cư Mỹ thuê ngay góc hồ bơi làm ăn. “Tụi nó thường chọc ghẹo mấy đứa nhỏ con người Hoa sống quanh khu chợ. Có lần tao nói tụi bây đừng ỷ đông ăn hiếp con nít. Tụi nó giả giọng “tào lao” chửi bới đòi đánh chết cha tao (chắc thấy cái mặt của tao giống Ba Tàu). “Tả lị sị, hằm tắc xả, xả cái lỗ mũi”. Tao tức quá vung chân đạp trúng một thằng té sấp, ai ngờ cái lỗ mũi của nó ăn trầu. Tao bỏ chạy, lủi tuốt vào chợ, tụi nó ví theo nhưng làm sao nắm được cái chân của dân chợ chính cống”.

Nói chuyện khơi khơi một hồi cũng chán, thằng bạn đứng dậy bảo ra quán Siu Siu kiếm cái gì lót bụng. Ngồi ở đây vừa ngộp vừa nóng chảy mỡ. Trong khi chờ thưởng thức đĩa cơm gà ngon cỡ nào mà mấy ông lớn tuổi xóm tôi thường hay ca tụng mỗi khi đi chợ An Ðông. Thằng bạn chỉ ông già người Hoa đầu tóc bạc trắng rối bời, quần áo lấm lem bùn đất, đứng tựa vách tường miệng lẩm bẩm như đọc thần chú. “Ông từng là chủ quán cơm gà Siu Siu”. Chuyện đánh tư sản mấy năm trước, ông mất 3 căn nhà lầu mở quán cơm gà trên đường Nguyễn Duy Dương. Sau đó theo tàu vượt biên. Tàu bị đắm, tất cả mọi người trong chuyến đi đều chết hết. Riêng ông ôm miếng ván trôi dạt vào bờ. Bị bắt, trả về nhốt ở quận 5. Một thời gian sau, ông được tha. Và cũng từ đó, ông trở nên điên điên khùng khùng. Còn cái quán mình đang ngồi là của người bà con xa của ông Siu Siu.

TN

Cô bé tên Tròn ngày đó…

thoibao.com

Phan Hạnh

Post on 30/07/2019

Post by Sơn râu 18 Mar 2025

Bìa tạp chí LIFE ngày 8, tháng 11 năm 1968 với hàng chữ nhỏ “Nguyen Thi Tron, 12, caught in the war, watches her new wooden leg being made” (Larry Burrows–LIFE Magazine

Larry Burrows là một phóng viên nhiếp ảnh của  tạp chí LIFE dày dạn kinh nghiệm trong cuộc chiến Việt Nam. Ông đã bắt đầu có mặt và làm việc trên xứ sở này kể từ năm 1962. Ông đi theo các đơn vị quân đội Hoa Kỳ trong các cuộc hành quân trực thăng vận để ghi nhận hình ảnh phóng sự sốt dẻo cho tạp chí LIFE. Ông từng chứng kiến những trận đánh dữ dội kinh hoàng, những hành động dũng cảm, những giây phút tuyệt vọng. Mặc dù phần lớn những bức ảnh hay nhất của ông được chụp tại chiến trường, nhưng điều làm cho ông bị ám ảnh nhất chính là những chấn thương mà người dân Việt Nam vô tội phải đành gánh chịu trong im lặng bởi hậu quả chiến tranh. Từ đó, ông đem lòng thương cảm họ.
Một trong số những nạn nhân chiến tranh ông tình cờ gặp là cô bé tên Nguyễn thị Tròn 12 tuổi. Đó quả là định mệnh. Ông Burrows kể rằng trong suốt thời gian 6 năm ở Sài Gòn, ông thả bộ qua các đường phố không biết bao nhiêu lần. Thế rồi năm 1968, một hôm khi đi bộ ngang khuôn viên Hội Hồng Thập Tự, ông nhìn thấy hai đứa bé chơi xích đu, một đứa ngồi, một đứa đẩy. Đi gần lại bên ngoài hàng rào, ông nhìn kỹ hơn thì thấy hai thân hình bé nhỏ lắc lư, nhưng cả hai đứa đều bị cụt mất một chân, và đứa đứng đẩy chiếc xích đu là Tròn.
Tròn bị cụt chân phải chỉ mấy tháng trước đó vào tháng 10 năm 1967. Cô bé quê có tính tò mò Nguyễn thị Tròn đội nón lá rời nhà đi lang thang vào rừng kiếm củi, một vùng thuộc mật khu Dương Minh Châu của Việt Cộng và được quy định là vùng oanh kích tự do. Một trực thăng võ trang của quân đội Mỹ bay ngang, xạ thủ đại liên trông thấy chiếc nón lá di động liền lia ngay một tràng. Tròn bị trúng đạn ở chân phải dưới đầu gối, phải cưa.

Tự nhận mình là người có bản tính phiêu lưu mạo hiểm, Larry Burrows quan niệm việc Hoa Kỳ hỗ trợ cho Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu chống cộng sản miền Bắc là hợp đạo đức. Cách làm việc tỉ mỉ cẩn trọng yêu nghề của ông đã ghi lại được những bức ảnh gây ấn tượng chấn động của cuộc chiến. Nhưng Burrows cũng biết toàn bộ câu chuyện về cuộc chiến kinh hoàng đó không thể được tìm thấy trong một hố cá nhân sũng nước đỏ quạch của miền cao nguyên trong mùa mưa, và hàng trăm trận giao tranh khiêm tốn diễn ra lẻ tẻ và hàng ngàn nạn nhân khốn khổ.
Đứa bé cụt chân hồn nhiên vui đùa kia gợi cho ông một sự chú ý đặc biệt. Ông muốn biết câu chuyện. Thế là ông cùng với người thông dịch vào gặp Tròn để hỏi chuyện. Nghe Tròn kể xong, Burrows tỏ vẻ xúc động. Ông nghĩ nếu ông có thể diễn đạt được sự mất mát đau khổ qua đôi mắt của Tròn thì điều đó cũng nói lên những mất mát to lớn của người dân Việt Nam phải chịu trong 25 năm qua. Khoảng một tháng sau, phóng viên nhiếp ảnh 41 tuổi Larry Burrows tìm đường đến ấp An Điền nghèo xơ xác thuộc quận Bến Cát, tỉnh Bình Dương, cách khoảng 40km về phía bắc của Sài Gòn. Và thế là một tình bạn không tưởng bắt đầu giữa một trong những phóng viên từng trải nhất trong cuộc chiến Việt Nam và một đứa trẻ bị thương tật vì chiến tranh.

Kể từ đó, Larry Burrows đến thăm gia đình Tròn nhiều lần trong năm 1968, theo dõi và ghi chép lại từng bước và từng giai đoạn phục hồi chức năng của Tròn: lắp chân giả sơ khởi, tập đi bộ và tập cưỡi xe đạp, trở lại trường học và làm việc phụ giúp cha mẹ, lựa rau bên cạnh căn chòi xiêu vẹo của gia đình được dựng tạm bợ bằng những tấm nhôm hay ván mỏng, những tấm bìa giấy cứng, và mái tôn.

Phóng sự bằng hình của Larry Burrows in trong số  tạp chí LIFE đó dài hơn 12 trang với lời chú thích của chính ông. Với tấm hình chụp lúc Tròn được đo cái chân cụt để làm khuôn chân giả, Larry viết lời chú thích: “Thử chiếc chân gỗ lần đầu tiên, Tròn tỏ vẻ sợ. Em dựa đầu vào một cây cột khi người thợ tạo một cái chân gỗ cho em và ngồi xuống để người thợ đặt một khuôn thạch cao vào cái chân cụt của em. Xong Tròn chống đôi nạng đứng lên và cố giữ thăng bằng; em cắn môi dưới lại để lấy can đảm khi phải rời đôi nạng để đi với cái chân giả lần đầu. Tôi sẽ không bao giờ quên khoảnh khắc đó. Những giọt nước mắt lăn ra trên má tôi; tôi chớp nhanh để khỏi bỏ lỡ dịp nhìn thấy niềm vui và sự phấn khích của em.”

Có rất nhiều hình ảnh trong Chiến tranh Việt Nam gây được tác động mạnh. Một trong những hình có ảnh hưởng lâu dài nhất được công nhận trên toàn cầu trong thế kỷ 20 là tấm ảnh phóng viên Nick Út chụp bé Phan Thị Kim Phúc 9 tuổi chạy khỏa thân trên quốc lộ 1 ở Trảng Bàng vì bị phỏng bởi bom napalm. Tấm ảnh lịch sử này đã mang lại cho Nick Út giải thưởng Pulitzer năm 1972. Nơi Tròn bị trúng đạn khi đi mót củi cũng chỉ cách nơi Kim Phúc bị phỏng bom không đầy mười dặm. Kim Phúc được cả thế giới chú ý và biết đến. May mắn hơn, vào năm 1992, Kim Phúc và chồng được bảo lãnh tị nạn chính trị ở Canada, trở thành một người mẹ, một đại sứ thiện chí của Liên Hiệp Quốc và một nhà hoạt động nêu bật cảnh ngộ của những đứa trẻ bị ảnh hưởng bởi chiến tranh. Trong khi đó, Nguyễn thị Tròn, đứa bé gái trong những bức ảnh của Larry Burrows thì số phận ra sao? Để trả lời cho câu hỏi này, ký giả Gary Michael Jones của báo TIME lên đường đi Việt Nam tìm Nguyễn thị Tròn.

Nguyễn Thị Tròn đang dùng chiếc máy may mới, món quà quý giá do phóng viên nhiếp ảnh tạp chí LIFE Larry Burrows tặng năm 1969. (Larry Burrows—The LIFE Picture Collection/Getty images)

Gary kể, một hôm, từ Sài Gòn anh thuê xe đi về hướng đông bắc, ba giờ lái xe ngang qua Củ Chi, nơi có mạng lưới ngầm các đường hầm ẩn dùng làm căn cứ hoạt động của du kích Việt Cộng trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân năm 1968. Lộ trình cũng ngang qua một bệnh viện của quân đội Hoa Kỳ, nơi mà Tròn được đưa đến cứu chữa sau khi em bị bắn gãy chân.
Điểm đến của Gary là xã Suối Đá thuộc huyện Dương Minh Châu tỉnh Tây Ninh, giáp biên giới phía nam của Campuchia. Vùng đất ở đây khô cằn cháy nắng, bằng phẳng và là vùng quê nông thôn trồng cao su, mía, đậu phộng, bắp, v.v. Rời quốc lộ 1, xe chạy khoảng một km xuống một con đường nện đất đỏ là đến nơi Tròn cư ngụ, một ngôi nhà nhỏ bằng gỗ, gạch và bê tông. Ngôi nhà ở vừa là một quán chạp phô nhỏ với hàng hóa thưa thớt chất trên kệ gồm một số bánh kẹo, khoai tây chiên, các loại thuốc căn bản, văn phòng phẩm và nhu yếu phẩm hàng ngày.
Ngoài việc trông coi tiệm hàng xén, Tròn còn may vá, một công việc dính liền với cuộc đời. Có lẽ Tròn không muốn quên kỷ niệm với vị ân nhân mà Tròn luôn yêu kính tên Larry Burrows, người đã mua và đem đến tận nhà tặng cho Tròn một chiếc máy may đạp chân hiệu Singer năm 1968. Chiếc máy may đó Tròn dùng cho đến khi không còn có thể tìm đâu ra phụ tùng thay thế nữa vì nó đã bị ngưng sản xuất. Chiếc máy may mà Tròn dùng hiện giờ là loại mới, chạy bằng điện, được đặt ngay sau tấm cửa liếp hướng ra mặt đường.

Tròn, cô bé 12 tuổi có hình trên bìa  tạp chí LIFE năm xưa bây giờ đã là một phụ nữ luống tuổi với tia nhìn vời vợi xa xăm như hồi tưởng dĩ vãng. Bà ngồi ở một cái bàn làm bằng xi măng phía trước tiệm dưới bóng râm của một cây đa. Từ các nhánh cây đa vọng xuống tiếng gọi hè của những con ve sầu, trong khi dưới gốc cây, mấy con gà bươi loanh quanh các rễ bò ngoằn nghèo nổi u trên nền đất, làm cho nền nhà thấm nước vào mỗi mùa mưa.
Ở tuổi 62, Tròn có dáng vóc thon thả, mái tóc đen lượn sóng của bà chỉ chớm điểm bạc, được buộc thành đuôi ngựa. Bà mặc quần ống rộng màu đen và áo cánh ngắn tay in hoa, một loại y phục rất thực dụng và phổ thông của phụ nữ miền quê Việt Nam. Không lập gia đình, bà sống với Chi, cô cháu gái 30 tuổi năng động có gương mặt và nụ cười tỏa sáng dưới chiếc nón lá. Chi là người đã vui vẻ chào và đãi khách đến viếng thăm bằng nước dừa tươi mát lạnh.
Tròn nhẫn nại kể cho khách nghe chuyện đời mình. Thuở nhỏ, Tròn sống với cha mẹ, một người chị, một người em gái và một đứa em trai trong khu Tam Giác Sắt, một phạm vi rộng 120 dặm vuông được biết đến trong cuộc chiến là một mật khu an toàn của Việt Cộng. Cách Sài Gòn khoảng 25 dặm về phía bắc, vị trí chiến lược quan trọng của khu Tam Giác Sắt khiến cho nơi đây thường xảy ra nhiều trận đánh,hậu quả là các thôn xóm dân cư bị phá hủy. Gia đình Tròn phải di tản đến xã An Điền, gần một căn cứ quân sự thuộc quân đội quốc gia tại Lai Khê và cũng là tổng hành dinh của Sư đoàn 1 Bộ binh Hoa Kỳ. Bằng một giọng nói trầm thấp như thầm thì và bằng những cử chỉ chậm chạp như đo lường tính toán, Tròn kể: “Gia đình tôi rất nghèo. Mỗi ngày cha tôi đi rừng kiếm củi để bán trong làng. Mẹ tôi thì làm thuê, bất cứ ai thuê làm việc gì thì mẹ tôi làm việc ấy. Chúng tôi sống qua ngày. Mặc dù các làng trong khu vực nằm dưới sự kiểm soát của phe Quốc Gia vào ban ngày, tình hình kém an ninh sau khi trời tối vì Việt Cộng di chuyển xâm nhập trà trộn trong dân, dễ gây ra sự nhầm lẫn. Trong vùng đó có hai khu vực. Khu giải phóng thuộc về Cộng Sản, khu Quốc Gia, do Việt Nam Cộng Hòa kiểm soát. Người dân phân chia theo hai phe. Một ngày nọ, lính Quốc Gia cho biết chúng tôi có thể đi vào vùng giải phóng để gặp người thân. Thế là tôi cùng hai đứa bạn vào rừng kiếm củi. Một đứa bạn đi xe đạp, tôi và đứa kia lót tót chạy theo sau. Vừa đi được một lúc thì tôi nghe tiếng một bà nào đó la ‘Trực thăng tới! Chạy mau đi!’ Thế là chúng tôi chạy quay trở lại. Đang chạy định kiếm gốc cây để núp thì tôi bị bắn trúng chân nên quỵ xuống. Một đứa bạn bị bắn trúng bụng, nhưng sau đó cũng được bệnh viện Mỹ chữa lành.”  Tạp chí LIFE có tường thuật rằng lúc đó có một người đàn ông đang gom chất củi lên một chiếc xe bò thì bị trúng đạn bắn từ trực thăng và đã chết.
Trong khi mẹ của Tròn là cụ bà Nguyễn thị Xuân 87 tuổi nằm đong đưa trên chiếc võng giăng gần đó, Tròn tiếp tục kể: “Lúc đầu tôi không cảm giác đau, chỉ cảm giác cái chân bị tê. Do sống trong vùng xôi đậu bị Việt Cộng tuyên truyền là người Mỹ tàn ác lắm, tôi cố đứng lên để chạy tiếp nhưng không được. Chân tôi lặc lìa không cử động được nữa rồi. Tôi sợ quá nên kêu ‘Má ơi Má’ và khóc òa lên. Trực thăng Mỹ có lẽ biết là họ đã bắn lầm cho nên họ đáp xuống đất, bồng chúng tôi lên trực thăng và chở tới bệnh viện. Tới lúc đó tôi mới cảm thấy đau, đau lắm. Tôi không biết làm sao cho hết đau nên tôi đá vào người lính Mỹ đang chăm sóc tôi.”
Hay tin, mẹ Tròn vội vã chạy đến khu cấm tìm con, thấy vết máu khô nên biết rằng đám trẻ bị bắn, biết đâu đã chết. Bà đến căn cứ quân đội Hoa Kỳ, nói chuyện với người thông dịch ở đó để xin giúp bà tìm con. Khuôn mặt da nhăn nheo của bà Xuân, mẹ Tròn, trở nên sống động khi kể chuyện, trong khi Tròn lắng nghe và rưng rưng nước mắt rồi quay mặt đi để che giấu nỗi buồn. Bà Xuân kể: “Họ (nhân viên trong căn cứ Mỹ ở Lai Khê) gọi hỏi khắp nơi thuộc căn cứ mà không tìm thấy tên con tôi. Nhưng họ nói có một bệnh viện mà họ chưa kiểm tra tại Củ Chi, bệnh viện quân đội Mỹ.”
Tròn kể, cố gắng nhớ lại những sự việc đã xảy ra đúng 50 năm trước: “Ở đó, tôi chỉ có một mình. Nhiều người đến hỏi tôi là ai, tới khu vực đó để làm gì. Tôi cố gắng trả lời dù tôi rất đau. Tôi chỉ muốn cơn đau chấm dứt ngay đi, nhưng họ cứ thẩm vấn tôi.”
Sau đó, khi tỉnh dậy trên giường bệnh và thấy khúc chân phải của mình đã biến đâu mất, Tròn khóc sướt mướt. Cụ Xuân nói: “Nó buồn lắm, tuyệt vọng, cứ khóc hoài. Nó nói thân phận nó nghèo hèn mà lại cụt chân thì cuộc đời tương lai sẽ ra sao. Tôi dỗ dành an ủi nó, hứa sẽ luôn luôn ở bên cạnh lo lắng cho nó.”

Nguyễn Thị Tròn ngồi trước máy may trong tiệm bán hàng xén nhỏ của mình ở xã Suối Đá thuộc huyện Dương Minh Châu tỉnh Tây Ninh năm 2017. (Gary Michael Jones)

Gary Jones kể: “Tròn lấy đưa cho chúng tôi xem một số những bức ảnh trong bài phóng sự của Larry Burrows đăng trên  tạp chí LIFE. Trong số đó có một tấm cho thấy Tròn đang đùa vui với đám bạn, Tròn đóng vai trò của một người hề để che giấu nỗi buồn. Tấm hình có lời chú thích, ‘Cũng như đất nước của em, khi chiến tranh đã kết thúc, Tròn không bao giờ còn giống như trước nữa. Em phải cố làm những điều tốt nhất với thân thể khuyết tật của em. Ngay cả khi em chơi nhảy cò cò và bị mất thăng bằng té ngã, em cũng biến nó thành một trò đùa giễu cợt.’
Nhưng Tròn không thể đóng kịch mãi để lừa gạt chính mình nên đôi khi Tròn để cho nỗi buồn xuất hiện như một lối thoát tự nhiên của cảm xúc. Tròn nói: “Tôi sẽ ở với mẹ tôi cho đến ngày bà qua đời. Tôi chỉ có một chân. Tôi không thể làm gì hơn.” Khuyết tật, Tròn không dám nghĩ đến chuyện lập gia đình, có chồng, có con.
Mặc dù Tròn gọi Larry Burrows là người cha Mỹ kính yêu (với những trẻ em Việt Nam chưa hiểu biết xa xôi, tất cả người da trắng đơn giản đều được xem là người Mỹ), nhưng Burrows là người Anh, chào đời ở London vào năm 1926 với cái tên chính thức ghi trong giấy khai sinh là Henry (“Harry”) Frank Leslie Burrows. Harry rời trường lúc 16 tuổi để theo đuổi niềm đam mê nhiếp ảnh. Sau khi làm việc trong phòng tối cho tòa soạn báo Daily Express và công ty nhiếp ảnh Keystone, Harry gia nhập văn phòng tạp chí LIFE ở London với tư cách là một cậu bé để sai vặt kiêm người học việc. Burrows được mọi người gọi là Larry để tránh nhầm lẫn với một người khác tên Harry trong văn phòng. Thế là kể từ đó, Burrows đi vào con đường sự nghiệp với tên Larry Burrows.

Ngày càng thành thạo với chiếc máy ảnh cùng với tính mạo hiểm, Larry Burrows hăng hái đi chụp ảnh mọi thứ mọi nơi, từ cuộc khủng hoảng kinh đào Suez, theo chụp mọi sinh hoạt của minh tinh màn bạc Pháp Brigitte Bardot khi Bardot sang thăm London, theo sát Ernest Hemingway trong chuyến đi Tây Ban Nha tham dự những người đấu bò vĩ đại nhất. Và năm 1962, Burrows đặt chân đến Sài Gòn. Mặc dù văn phòng tạp chí LIFE đặt trụ sở ở Hồng Kông thường cử các phóng viên nhiếp ảnh đi công tác luân phiên ở nhiều nơi khác nhau, bao gồm cả Thế vận hội Tokyo 1964, nhưng Larry Burrows đã trao con tim của mình cho Việt Nam mất rồi.

Cao, gầy, với mái tóc sẫm màu và cặp kính dày (bị quân đội Anh chê vì thị lực kém), ông trông một phần giống thần tượng điện ảnh Hollywood, một phần giống người khùng vì luôn luôn thích mày mò táy máy với đủ loại máy ảnh. Tuy là một người cô độc, nhưng với tuổi đời từng trải, danh tiếng về sự gan dạ liều lĩnh, phong thái lịch lãm, Larry Burrows trở thành một vai trò người cha đối với các nhiếp ảnh gia trẻ tuổi làm việc chung trên chiến trường Việt Nam.

Tròn nói gặp gỡ và quen biết ông Burrows là khoảnh khắc quan trọng nhất trong cuộc đời của Tròn. Ông đã thu xếp thời gian bận rộn để đến thăm Tròn mỗi tháng hoặc hai tháng. Với nét u sầu tan biến trên khuôn mặt, Tròn nói: “Ngay bây giờ, tôi vẫn có thể nhìn thấy hình ảnh của ông hiện ra rất rõ trong tâm trí tôi. Mỗi khi gặp tôi, ông mừng rỡ gọi tên tôi và bắt tay tôi. Tôi nhớ ông mặc loại áo khoác đặc biệtvới nhiều túi mà các phóng viên hay mặc. Tôi còn nhớ ông có mấy cái áo như vậy lận. Ông nói chuyện rất vui, luôn pha trò cho tôi cười và quên buồn. Lần nào đến thăm, ông cũng mang quà cho tôi và gia đình cha mẹ tôi. Nhận thấy gia đình tôi nghèo ở căn chòi xập xệ quá, ông mua vật liệu để xây dựng lại, mua tôn để sửa mái nhà bị dột.”

Larry Burrows có một đứa con gái tên Deborah, cũng bằng tuổi Tròn. Có lẽ khi nghĩ đến con đang sống đầy đủ trên một đất nước an bình, ông cảm thương cho hoàn cảnh của Tròn hơn nên ông giúp đỡ. Ông tiếp tục giữ sự liên lạc và giúp đỡ gia đình Tròn cho đến năm 1971 thì bặt tin luôn. Năm sau, vì công ăn việc làm, cha mẹ Tròn di chuyển cả gia đình về ấp Suối Đá thuộc huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Trên đường di chuyển, lính của trạm kiểm soát nghi chiếc máy may mà ông Burrows tặng cho Tròn là hàng ăn cắp và dọa tịch thu. Mẹ của Tròn phải lên Sài Gòn tìm đến văn phòng của  tạp chí LIFE để định gặp ông Burrows và nhờ ông chứng nhận chủ quyền của chiếc máy may. Nhưng nhân viên ở đó báo tin cho bà biết là ông đã tử nạn máy bay.

Chiếc trực thăng chở một số các phóng viên nhiếp ảnh đến mặt trận Hạ Lào trong cuộc Hành Quân Lam Sơn 719 đã trúng đạn Cộng quân và rớt ngày 10 tháng 2 năm 1971. Larry Burrows, 44 tuổi, tử nạn cùng với các phóng viên quốc tế khác là Henri Huet của AP (Associated Press), Kent Potter của UPI (United Press International) và Keisaburo Shimamoto, một phóng viên cộng tác tự do cho báo Newsweek.

Hai năm sau khi người cha tinh thần mất, đến lượt người cha ruột của Tròn cũng qua đời sau một cơn bạo bịnh mà không có tiền chữa trị. Tròn đưa những ngón tay rờ hai tấm ảnh bọc nhựa của hai người cha kính yêu của mình. Hai hàng nước mắt tuôn rơi trên gương mặt buồn thảm, Tròn nghẹn ngào: “Tại sao họ phải chết?”

Phan Hạnh
(Theo TIME ngày 12-7-2017.)


Circula Quay – Hoàng hôn

vietmessenger.com

Phùng Nguyễn

Tháng 10/1997

Post by Sơn râu 18 Mar 2025

Tóc em dài sợi nhớ
Tình em như hơi sương
Yêu em người có biết
Rồi ra cũng đoạn trường?


NĐP

Khi người đàn ông trở lại chốn này, hơn một năm trời đã trôi qua. Sẽ không có ai tiếp đón anh ở phi cảng, điều này hiển nhiên rồi. Không ai biết anh đến đây, mà cũng chẳng có ai để anh thông báo! Thực ra thì có một người, nhưng đã lâu rồi anh không còn liên lạc nữa.
Bây giờ là cuối mùa Xuân ở đây. Lần trước anh đến vào cuối mùa Đông, trời gây gây lạnh, nhưng trong lòng thì ấm áp. Cho đến bây giờ anh vẫn còn thắc mắc không hiểu tại làm sao lúc đó anh lại không nhìn thấy cô trong đám người đứng ngồi lố nhố chờ đón thân nhân bạn bè của mình. Anh đã đứng lớ ngớ một lúc, không biết sẽ phải làm gì cho đến khi hai bàn tay mát lạnh bịt lấy đôi mắt anh từ phía sau và thân hình mềm mại của cô áp sát vào lưng anh cùng với tiếng thì thào bên tai, ” Em nhớ anh quá chừng!” Sẽ không có bàn tay ngày nào, giọng nói ngày nào, cơ thể mềm mại ngày nào vây phủ lấy anh ở trạm vãng lai hôm nay.
Anh ngồi trong lòng chiếc taxi màu trắng có những đường viền màu xanh lá cây sặc sỡ nhìn ra ngoài. Lần trước cô đưa anh ra khỏi phi trường cũng bằng con đường này. Đó là lần đầu tiên anh ngồi ở chiếc ghế bên trái đàng trước mà không phải cầm lái. Ở đây, tay lái nằm phía bên phải, và đơn vị đo tốc độ không tính bằng dặm mà bằng cây số giờ. Xe chạy khá nhanh trên con đường hẹp hai chiều, và ở nhiều giao lộ, những ” bùng binh” hình tròn nhỏ xíu thay thế cho hệ thống đèn xanh đỏ. Anh còn nhớ hồi đó cô vừa lái xe vừa luôn miệng giải thích cho anh cảnh vật bên đường. Căn nhà có cấu trúc giống như chiếc dĩa bay mà chiếc taxi vừa bỏ lại đàng sau cũng có trong câu chuyện của cô, anh còn nhớ như in! Có điều gì liên quan đến cô mà anh quên được đâu!
Chiếc taxi dừng lại ở khu phố Bankstown. Anh tìm thấy tiệm phở không chút khó khăn. Lần trước hai người đã ghé vào đây trên đường từ phi trường về căn apartment khiêm tốn của cô. Cô đã cười ngắt nghẻo khi anh than phiền tô phở nhỏ gì mà … to quá vậy! Vậy mà hai người đã trở lại tiệm phở này mấy lần. Lần sau cùng là buổi sáng cô đưa anh ra phi trường để về lại nơi anh đã đến. Anh chọn chiếc bàn nhỏ ở gần cửa sổ, ngồi quay mặt ra đường, gọi một tô phở và chén nước tiết. Tô phở nhỏ … vẫn to tướng như ngày nào đang tỏa mùi thơm. Anh cúi xuống, hít vào thực mạnh. Làn hơi nước từ tô phở bám vào cặp mắt kiếng, làm thành màn sương mù khiến anh không còn nhìn thấy gì hết. Anh cứ để yên như thế, chờ đợi làn hơi nước chậm chạp tan đi, và mong muốn một điều vô cùng kỳ diệu sẽ xày đến! Biết đâu cô sẽ hiện ra trước mặt anh, mái tóc dài phủ bờ vai, nghiêng người về phía trước vắt chanh vào tô phở của anh, môi cong cong nụ cười vẫn làm anh xao xuyến! Khung kiếng cửa sổ trước mặt trống trơn, và anh một mình với những cọng phở buồn thiu!
Anh lang thang ở khu Darling Harbor gần hết buổi chiều. Từ chỗ anh ngồi với ly cà phê latte thơm lừng ở chiếc bàn đặt ngoài sân quán cà phê của bến cảng, anh có thể nhìn thấy tấm biển quảng cáo của rạp chiếu bóng IMAX trên đó hàng chữ xanh đỏ ” màn ảnh ba chiều lớn nhất thế giới” chớp tắt liên hồi. Trước mặt anh là con vịnh nhỏ xíu màu xanh lơ, bao bọc bởi những tòa nhà cao, những chiếc cầu, và những con đường đầy bóng cây. Phía bên trái, cùng dãy với tiệm cà phê anh đang ngồi, là khu thương xá dành cho du khách, nơi lần trước anh đã cùng cô la cà chọn lựa những món đồ nho nhỏ mang dấu ấn nghệ thuật của sắc dân Aborigine. Và đàng kia là chiếc tàu thủy được cải biến thành nhà hàng nổi, nằm khiêm nhường bên dưới chiếc cầu rộng dành cho người đi bộ bắc ngang con vịnh. Cao hơn nữa là chặng đường rầy mảnh mai dành cho những chuyến monorail vẽ một đường thanh thoát lên toàn cảnh. Hôm đó trời mưa lất phất khi hai người leo lên chiếc monorail đi một vòng thành phố. Những con đường, những hàng cây, những tòa nhà chạy giật lùi về phía sau, và cô quay mặt thẹn thùng khi ống kính của chiếc máy thu hình trên tay anh rời khung cửa kiếng bám đầy những hạt mưa để hướng về phía cô.
Trời đã về chiều khi anh bước ra khỏi quán cà phê lộ thiên trên bờ con vịnh nhỏ. Anh dự định sẽ thả bộ về khu trung tâm thành phố. Trước hết anh sẽ vào thương xá Center Point, lang thang ở khu bán thức ăn, hít thở lại mùi thơm của các món ăn mang hương vị đặc thù của những vùng đất xa xăm trên thế giới, từ Cận Đông, từ châu Mỹ La Tinh, từ châu Aạu, châu Á. Có thể anh sẽ ăn một chút gì đó, một ổ bánh mì với miếng thịt muối hồng hào và những thanh dưa chuột tươi mát. Nếu có cô cùng đi, chắc anh sẽ chọn cho cô món bánh mì kẹp thịt cừu thái mỏng mà cô rất ưa thích, và anh sẽ đưa cô đến một chiếc bàn trống gần đó, vừa gặm bánh mì vừa nghe cô nói huyên thiên. Sau đó anh sẽ đến cái góc phố đối diện trạm xe lửa Saint James, hy vọng anh chàng nghệ sĩ rong với chiếc saxo bóng loáng vẫn còn hành nghề ở đó. Lần trước anh và cô đã dừng lại ở đây, và anh đã làm cô tròn mắt thán phục khi tờ giấy bạc màu xanh từ bàn tay anh chao đảo trong không khí và rơi gọn gàng trong chiếa hộp vuông chứa đầy những đồng tiền kim loại óng ánh màu bạc. Và cái flash trên chiếc máy ảnh trong tay cô lóe lên bắt lấy nụ cười rạng rỡ của anh và anh chàng thổi kèn rong. Và những thanh âm hân hoan của một bản nhạc Nam Mỹ quen thuộc để tiễn chân anh và ” cô vợ xinh đẹp” lúc hai người băng qua đường hướng về phía trạm xe lửa.
Người thổi kèn rong đã không còn ở đó. Anh đứng ngơ ngác ở góc phố rộn rịp người qua kẻ lại, buồn rầu nhìn cái hành lang hun hút dẫn vào trạm xe lửa Saint James ở bên kia đường. Anh chẳng nên vào đó làm gì. Anh sẽ lạc lối mất thôi! Tốt hơn anh nên đón chuyến xe buýt ở một trạm gần đó. Anh có thể hỏi người ta để biết chắc là mình đi đúng lộ trình và đến nơi kịp lúc. Ít nhất cũng phải mất khoảng nửa tiếng để anh tới được địa điểm hành lễ. Anh phải có mặt ở buổi lễ quan trọng đêm nay, như đã hứa. Một lời hứa đã cũ, đã không còn cần thiết cho bất cứ ai, ngoại trừ chính anh. Anh cần một lý do cho chuyến viễn du, không phải vậy hay sao? Anh vỗ vỗ vào túi quần bên trái, yên tâm nhận ra chiếc ống dòm Bushnell nhỏ xíu vẫn nằm cồm cộm ở đó.
Cô đến đây từ sớm, lúc khuôn viên trường Đại Học còn thưa người. Cô đi lãnh bộ lễ phục ra trường rồi lang thang trong khuôn viên Đại Học, ngắm nghía khu mặt tiền ngôi trường cổ kính màu gạch rêu phong và khu thư viện với lối kiến trúc mới mẻ. Ngày mai nơi này sẽ trở thành kỷ niệm. Sẽ có những kỷ niệm mà cô muốn ôm ấp mãi. Có những kỷ niệm mà cô muốn quên đi. Và có những điều tưởng chừng như đã quên đi.
Một chút nữa đây cô sẽ khoác lên người bộ lễ phục màu đen rộng thùng thình, sẽ gắn lên đầu chiếc nón vuông vức có sợi tua vàng óng ánh, sẽ ngồi vào hàng ghế dành cho đám sinh viên tốt nghiệp, hồi hộp chờ nghe tên mình được xướng lên trong những chiếc loa phóng thanh đặt chung quanh cái sảnh đường mênh mông của viện Đại Học. Rồi cô sẽ lính quýnh trên những bậc tam cấp để bước vào vùng ánh sáng chói chang, nơi các chức sắc của viện trong bộ lễ phục rườm rà và trang trọng đang chờ đợi. Những chiếc máy quay phim, những ống kính máy chụp hình sẽ hướng về phía cô, và những tia chớp từ những ngọn flash sẽ lóe lên. Và những tiếng vỗ tay, những tiếng huýt sáo vang lên từ những hàng ghế dưới khu khán giả sẽ làm bước chân cô vướng víu trên đường trở lại chỗ ngồi. Và trong tay cô là tờ giấy chi chít những con dấu xanh đỏ và những chữ ký ngoẳn ngoèo, bằng chứng của một thành tựu.
Khi buổi lễ kết thúc, cô theo chân mọi người trong gia đình len lỏi qua vòm cổng hình cung bước ra ngoài chiếc sân cỏ mênh mông ở mặt tiền của ngôi trường. Ở đó, đám sinh viên mới ra trường và thân nhân của họ đang tụm năm tụm ba trò chuyệạn vang rân. AÔnh đèn flash từ những chiếc máy chụp hình lóe lên liên tục. Cô đưa tay sửa lại sợi tua vàng trên chiếc nón vuông rồi đứng sát vào người bạn trai của mình, cười thật duyên dáng vào ống kính chiếc máy chụp hình trên tay người anh của cô. AÔnh đèn flash lại lóe lên như một tia chớp rực rỡ, làm rực sáng khuôn mặt tươi cười của hai người. Cô cười thẹn thùng khi bà chị dâu lớn tiếng khen hai người trông thật đẹp đôi! Bỗng dưng, nụ cười trên môi cô vụt tắt. Người cô lạnh toát, đôi mắt mở to quay lại thật nhanh nhìn qua vai người bạn trai tìm kiếm. Có ai đó vừa gọi tên cô. Tiếng gọi dịu dàng, tha thiết, và … vô cùng thân quen! Một anh chàng cao lớn đứng án ngữ tầm mắt làm cô chẳng nhìn thấy gì phía đàng sau anh ta. Chắc mình nghe lầm, cô nghĩ thầm. Không có ai biết được cái tên này của cô, ngoại trừ một người. Mà người ấy thì không có ở đây. Nhất đinh không! Người bạn trai nắm chặt bàn tay run rẩy của cô, hỏi với vẻ quan tâm, ” Em có sao không? Chắc em mệt lắm rồi, hay là mình về đi thôi.” Cô quay lại nhìn anh, cố làm ra vẻ bình thản, trả lời, ” Em không sao.” Và để chứng minh, cô tặng anh một nụ cười thật tươi! Cả nhà kéo nhau ra về. Còn phải kéo đến nhà ông anh lớn để dự buổi tiệc do anh ấy khoản đãi cô em gái cưng vừa mới tiểu đăng khoa nữa chứ. Trên đường ra bãi đậu xe, cô trở nên trầm lặng hẳn đi. Cô biết rõ cái tiếng gọi mà cô vừa nghe chỉ là một ảo giác. Nhưng tại sao nó lại đến với cô ngay vào lúc này, khi mà mọi việc đều như hoàn hảo? Cô vừa tốt nghiệp từ một trường Đại Học danh tiếng nhất nước, cô có một người bạn trai được lòng tất cả mọi thành viên của gia đình, và mọi người, kể cả chính cô, đều vô cùng yên tâm về một tương lai đầy hứa hẹn đang chờ đón cô. Vậy mà chỉ cần một thanh âm đến từ một nơi chốn rất mơ hồ đã dậy lên trong cô niềm xao xuyến. Nỗi bất an đã như con gấu ngoan ngoãn thu móng vuốt trong giấc Đông miên dằng dặc chợt cựa mình thức giấc. Cô lại xoay qua cười duyên với người bạn trai, cố dìm xuống cái cảm giác nhoi nhói đang dâng lên trong lòng.
Toa tàu khá vắng vẻ. Cô ngồi cạnh cửa sổ, đưa mắt nhìn ra ngoài. Cô lên tàu ở Canleyvale thay vì Cabramatta, mặc dù trước đó cô đã lang thang ở khu phố Việt Nam này khá lâu. Ở đây vắng hơn, dễ tìm chỗ đậu xe, cô tự bào chữa. Năm ngoái cô cũng lên tàu tại trạm này, cùng với anh ấy! Hai người đã chọn ngồi ở chiếc băng ghế cạnh cửa sổ như nơi cô đang ngồi bây giờ. Anh hỏi cô đủ thứ chuyện, từ những ngôi nhà gạch màu đỏ đang chạy giật lùi về phía sau cho đến những địa danh mà anh mới nghe thấy lần đầu. Cô tựa đầu lên vai anh suốt cuộc hành trình, thỉnh thoảng cười khúc khích vì những nhận xét ngộ nghĩnh của anh về người ngợm cảnh vật của thành phố cô đang cư ngụ. Cô nhớ rất rõ cái cảm giác êm đềm khi má cô tựa trên bờ vai anh ấm áp, chiếc hôn nhẹ nhàng trên tóc, và bàn tay anh dịu dàng bóp khẽ cánh tay cô. Đêm qua cô nằm thao thức thật lâu trên giường. Buổi tiệc mừng cô ở nhà người anh cả thật vui, cô đã cười nói thật nhiều. Nhưng nỗi bất an vẫn theo đuổi, rình rập cô suốt buổi, và theo cô vào giường ngủ. Rồi bỗng dưng cô chợt hiểu ra! Anh đã có lần hứa sẽ đến chung vui cùng cô ngày cô ra trường. ” Anh sẽ đến, ngay cả chỉ để trốn vào một góc khuất tối tăm nào đó nhìn trộm nhỏ đang hân hoan bước lên khán đài nhận văn bằng, nhỏ dễ thương của anh!” ” Bởi vì anh muốn nhìn tận mắt xem nhỏ giống .. cái gì trong bộ áo thụng đen và chiếc nón vuông vức đó!” Anh cười ha hả tiếp lời. Cô cũng cười, không hề thắc mắc về cái lý do tại sao mà anh sẽ phải trốn vào một góc để nhìn trộm cô. Chắc anh sẽ làm vậy nếu anh đã đến dự cuộc lễ đêm qua. Nhưng anh đã không đến, cô biết chắc. Anh còn đến để làm gì nữa chứ? Cái tiếng gọi ” nhỏ dễ thương” vang lên bên tai cô hồi đêm qua chỉ là tiếng kêu thảng thốt của một ước vọng thầm kín mà cô đã cố chôn vùi trong những tháng ngày qua, từ lúc anh và cô chia tay. Nhất định là vậy.
Cô ra khỏi nhà ga Circular Quay, bước chậm rãi trên lề đường rộng thênh thang rồi rẽ trái. Cô đã dự định đi lại con đường mà anh và cô đã đi qua lần trước, dừng lại ở những nơi họ đã dừng lại, và sống thêm một lần nữa cái quá khứ tưởng đã vùi sâu cùng ngày tháng. Rồi sẽ rũ bỏ hết, trở về với những gì cô đang nắm chắc trong tay. Chân cô chùng lại trước tiệm ăn mang bảng hiệu Oyster Bar. Chiếc bàn nhỏ hình tròn cạnh mé nước còn trống. Ở đó người ta có thể nhìn thấy rất rõ nhịp cầu vòng cung màu đen của Harbor Bridge bắc ngang cửa vịnh. Và những chiếc tàu chở du khách tham quan những vùng biển lân cận ra vào tấp nập. Và anh thì cứ khen lấy khen để món nghêu xào thịt bầm cô gọi. Anh vốn khéo nịnh mà!
Cô không dừng lâu ở Opera House, cái hí viện nổi tiếng thế giới nhờ vào lối kiến trúc rất lạ mắt. Cô sẽ trở lại khu này trên đường về. Cô muốn ghé thăm Botanic Garden nằm đối diện khu nhà hát. Ở đó, anh và cô đã ngồi bên nhau thực lâu trên bãi cỏ xanh, dưới bóng mát của tàng cây xum xuê, ngắm những bông hoa tím lay động trong gió chiều. Xa hơn nữa dưới kia là mặt biển loáng nắng, những chiếc thuyền buồm căng gió, và anh với giấc mơ thảo khấu. Cô đã cười ngất khi anh bảo anh muốn cướp chiếc thuyến buồm, kéo lên lá cờ sọ người xương chéo vào bắt cóc ” nhỏ dễ thương.” ” Để làm chi vậy?” Cô hỏi. ” Thì để tấn phong nhỏ làm … nữ tặc chớ chi!” Có khi đó cũng là một giải pháp, cô đã nghĩ. Không có ai trong gia đình cô hài lòng với mối quan hệ tình cảm giữa cô và anh. Không ai tin rằng anh có thể mang đến cho cô hạnh phúc. Nhưng cô thì lại cảm thấy hạnh phúc quá đỗi. Nhất là những lúc được bên nhau như thế. Những giây phút vô cùng hiếm hoi. Anh chẳng bao giờ ở được lâu với cô. Những hệ lụy từ quá khứ cứ bám lấy anh như những sợi xích oan nghiệt, kéo giật lấy anh ra khỏi tay cô. Nếu anh có thể trở thành tên cướp biển, cướp lấy cô đưa cô đến một nơi chốn xa xôi nào đó ở cùng trời cuối đất, cắt đứt với mọi ràng buộc trói trăn thì hay biết chừng nào!
Cô đứng dậy. Cặp chim nhỏ màu đen vẫn kiếm ăn gần đó giương mát nhìn cô kêu líu ríu rồi vỗ cánh bay lên tàng cây bên cạnh. Cô nhìn theo, bắt gặp cái tháp tròn màu vàng kim lấp ló phía trên những tàng lá xanh ngắt. Đó là tháp Center Point. Cô đã đưa anh đến đó một lần. Và tiếc mãi đã không thể cùng anh ngắm toàn cảnh thành phố từ trên cao. Zero visibility, cô gái ở quầy vé giải thích. Hôm đó trời mưa khá lớn, và sương mù đã bao phủ khu trung tâm của thành phố. Ông trời biết mình sắp phải chia tay nên nhỏ lệ đó, anh khôi hài. Ngày hôm sau anh sẽ rời thành phố để trở vdà với công việc của anh. Và cô thì chỉ còn được gần anh có một đêm nữa, rồi không biết bao giờ mới gặp lại. Không bao giờ, cô nghĩ thầm.
Sau cuộc chia tay đầy nước mắt ở phi trường ngày hôm sau, họ đã chia tay một lần nữa, vĩnh viễn. Trong bức thư gởi cho cô không lâu sau đó, anh nói về cái tâm hồn ” mong manh như sợi tơ trời” của cô, ” run rẫy không ngưng nghỉ vì những cơn gió không đâu,” mãi ray rứt với những ” băn khoăn không duyên cớ ” khiến anh cảm thấy mình vô cùng khổ sở vì ” rõ ràng tình yêu anh dành cho nhỏ đã không có đủ tính thuyết phục để giúp nhỏ vững tin ở tương lai của chúng ta.” Anh nói về tính kiêu ngạo đáng ghét của chính mình mà anh đã sử dụng như là một thứ vũ khí hiệu nghiệm để chống chỏi với những bất trắc của đời sống nay đã ” méo mó, biến dạng đến độ không còn nhận ra được” chỉ vì cái cảm giác bất lực trước những dằn vặt mà cô đã phải gánh chịu bấy lâu nay. Anh ” hào phóng” nhận lãnh mọi ” sai lầm” trong mối quan hệ giữa hai người, và anh mong cô tha thứ. ” Anh thực lòng muốn mang đến cho em niềm vui, và anh đã thất bại,” anh kết luận. Không có câu nào nhắc đến lời hứa sẽ đến dự buổi lễ ra trường của cô vào cuối năm tới!
Cơn giận tưởng đã lắng xuống từ lâu bỗng lại dâng lên cứ như cô mới vừa nhận được bức thư của anh ngày hôm qua. Anh thực là độc ác! Thuở yêu anh, cô như con chim non mới cất cánh lần đầu đã rơi ngay vào cơn bão tố! Mối tình của cô và anh đã chịu sóng gió ngay từ buổi đầu, và chỉ để cho nó có cơ may sống sót, cô đã chịu đựng rất nhiều phiền não. Cô mãi lo sợ về cái chung cuộc buồn thảm của cuộc tình mà cô đã hân hoan bước vào với trái tim say đắm. Cô chỉ cảm thấy vừng tâm khi có anh bên cạnh, mà anh thì họa hoằn mới đến cùng cô. Lẽ nào anh không biết cô luôn xem anh là chỗ dựa tinh thần của cô hay sao? Đâu rồi sự từng trải, cảm thông và độ lượng mà cô vẫn kỳ vọng ở anh? Và nếu anh đã yêu cô nhiều như anh đã nói thì tại sao cái tính ” tự phụ đáng ghét” của anh vẫn còn đóng một vai trò trọng yếu trong đời sống của anh như vậy? Cô chưa hề nói gì với anh về những suy nghĩ của mình sau đó. Cô lặng lẽ quay về với trường lớp, với nỗi buồn không muốn chia sẻ cùng ai. Và cô thấy mình lớn ra cùng với nỗi giận hờn ngày mỗi nhạt đi. Cô không còn là cô gái yếu đuối mãi lo sợỳ những điều không đâu, mãi chịu thiệt thòi vì nỗi e ngại sẽ làm buồn lòng người khác. Trong số những người vẫn đeo đuổi mình, cô đã bình tĩnh chọn lấy một. Và cô đã cảm thấy yên tâm với cuộc tình mới, nếu có thể gọi đó là một cuộc tình! Chắc anh sẽ không đồng ý, tình yêu khác hôn nhân có mỗi một điều, khả năng lựa chọn, anh vẫn thường tuyên bố. Mặc kệ anh với cái tính kiêu ngạo đáng ghét của anh! Vậy mà mỗi buổi sáng cô đối diện tấm gương soi chải tóc, những sợi tóc cứ dài mãi ra như một ước hẹn đã trễ tràng. Em có còn nuôi tóc, cho người dài ước mơ? ” Em sẽ nuôi tóc dài cho đến khi nào em hết thương anh,” cô nhớ mình đã trả lời anh như vậy. Cho đến mới đây, cô vẫn nghĩ chỉ vì mái tóc dài thích hợp với khuôn mặt của cô hơn.
Cô bước xuống con dốc nhỏ dẫn ra khỏi khu công viên. Trước mặt cô là con đường nhỏ chạy dọc theo bờ vịnh. Cô đứng tựa vào bức tường xi măng thấp ngăn con đường và bờ nước, nhìn về phía hí viện. Mặt trời đã xuống thấp, trông như cái dĩa tròn chói lọi gắn trên nóc tòa nhà có những chiếc mái hình vỏ sò úp lại. Cơn gió chiều lành lạnh từ ngoài vịnh thổi vào làm bay tung những sợi tóc dài. Cô đưa tay vuốt tóc, nghĩ thầm ngày mai mình sẽ đi cắt tóc. Cắt thật ngắn. Và trút bỏ hết. Sẽ chỉ còn lại nỗi bình an tìm thấy được sau bao ngày tháng. Cô bước những bước chậm rãi hướng về phía trạm xe lửa Circular Quay. Những đứa bé mặc đồng phục đã thôi đùa giỡn ồn ào trên bãi cỏ phía trước Botanic Garden. Cô băng ngang qua mặt người thổi kèn dạo, chiếc kèn đồng sáng loáng lấp lánh trong hoàng hôn, Tiếng kèn bỗng trỗi lên, rộn ràng âm hưởng vùng Nam Mỹ. Cô dừng bước, quan sát người thổi kèn, và chợt nhớ ra đã từng gặp ông ta ở một góc phố cạnh khu thương xá David Jones. Lúc đó ông đã thổi tặng cô bản nhạc này vào lúc cô sửa soạn băng qua đường để vào trạm xe lửa Saint James. Hôm ấy cô không đi một mình như hiện giờ. Cô bước đến gần, định bụng sẽ bỏ vào chiếc hộp giấy mấy đồng tiền lẻ sau khi bản nhạc chấm dứt. Dù sao ông cũng đã có lần khen cô xinh đẹp!
Đúng vào lúc cô đang lúi húi mở chiếc xách tay tìm tiền lẻ, tờ giấy bạc màu xanh lá cây hiện ra trước mắt cô, chao đảo trong không khí, rồi đậu xuống nhẹ nhàng trên những đồng xu màu bạc trong chiếc hộp giấy hình vuông như trò quỷ thuật! Trong một vài giây, người cô như đóng băng. Cuối cùng rồi cô cũng xoay người lại được. Anh đứng im sững trước mặt cô, khuôn mặt tiều tụy và nụ cười hân hoan pha chút bối rối. Cũng phải một thế kỷ trôi qua trước khi cô nhìn thấy cánh tay mặt của anh đưa ra phía trước trong một động tác chậm chạp nhưng dứt khoát, bàn tay mở rộng mời mọc. Cô đứng chết trân,run rẩy như chiếc lá trước gió, đầu óc rối tung, miệng há ra như con cá ngộp nước đang cố ngoi lên hớp không khí. Trong đôi tai lùng bùng của cô lại vang lên tiếng gọi dịu dàng cái tên đêm qua, cái tên chỉ có mỗi hai người biết.
Người thổi kèn rong nín thở chờ đợi. Những âm thanh hoặc rộn rã hân hoan hoặc u buồn thất vọng sắp phát ra từ chiếc kèn đồng sẽ được quyết định bởi cô gái Đông phương tóc dài như giòng suối đen tuyền và bờ vai run rẩy đang đứng quay lưng lại phía ông. Ông khẽ xoay chiếc kèn đồng trong tay, ngửa người về phía sau trong tư thế chuẩn bị. Giọt nắng cuối cùng của buổi chiều rơi xuống trên vành loa tròn bóng loáng của chiếc kèn đồng, phản chiếu lên đôi mắt của người khách phương xa, làm sáng lên một trời nhớ thương khắc khoải.


tháng mười 97

Chiến tranh bên cạnh tình yêu

Huy Văn Trương

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 18 Mar 2025

Nhà tù nhình chữ S

Tập 3

Phần 11
Văn hóa Nhân Bản.

Bữa ăn sáng của chúng tôi chấm đứt, khi mặt trời đã lên cao. Cúc nói.

-Bây giờ em sẽ đưa anh đi trình diện bà tổ trưởng dân phố.

Tôi cười đùa.

-Em dùng chữ làm anh nhớ lại chuyện ngày xưa, khi mới tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức, sau đó về trình diện Trung tá trưởng phòng nhân viên Trường Võ Bị Đà Lạt.

Cúc chậm rãi nói.

-Giải phóng rồi, hiện tại giai cấp nông dân, công nhân, đang làm chủ đất nước. Tin em đi, ông Trung tá Ngụy Trưởng phòng của anh, cho dù trước kia có tốt nghiệp Cao học hay Tiến sĩ ở Hoa Kỳ, hôm nay nếu học tập tốt, được thả về sớm, cũng phải chịu sự giám sát của bà tổ trưởng dân phố, phải trình diện bà ta như thường.

Nhà bà tổ trưởng cách nhà tôi có mấy căn, mới đi ba bước đã tới. Bà tổ trưởng đang ngồi vo gạo, khi thấy tôi và Cúc, bà nói.

-Cô cậu ngồi chơi, chờ tôi bắt nồi cơm lên bếp, chỉ chút xíu thôi.

Nói xong bà ngoắt một đứa bé, hình như là con của bà tới gần, nói nhỏ vào tai nó. Đứa bé gật đầu rồi quay lưng đi.

Một chút xíu của bà tổ trưởng, vậy mà cũng hơn mười lăm phút dài cổ chờ đợi của tôi. Hình như muốn chứng tỏ mình là nhân vật quan trọng, nên bà tổ trưởng cứ nhẫn nha vo gạo, từ tốn chẻ một đống củi đủ dùng cho vài ngày, nhen bếp lửa, chậm rãi bắt nồi cơm lên. Xong xuôi mọi việc bà mới quay sang nói chuyện với chúng tôi. Cũng cùng lúc ấy hai người đàn bà lạ mặt bước vào. Thấy họ, bà tổ trưởng vội giới thiệu với tôi.

-Đây là bà tổ phó và bà tổ phó an ninh.

Theo sự giải thích của bà tổ trưởng, tôi biết thêm về nhiệm vụ và trách nhiệm của từng người. Công việc của bà tổ phó an ninh coi vậy mà quan trọng nhất, bà ta phải tốn nhiều công sức truy tìm và phát hiện những phần tử phản động, chống đối Cách mạng, còn chưa ra đầu thú. Sĩ quan Ngụy như tôi, sau khi được trả tự do về lại địa phương, sẽ do bà tổ phó an ninh quản lý. Đến đây, bà tổ phó an ninh mới lên tiếng với tôi.

-Trong thời gian quản chế tại địa phương, cậu phải tuân hành theo tất cả những điều lệ mà ở trên đưa xuống. Cậu phải có một cuốn tập khoảng một trăm trang để ghi chép những công việc làm từng ngày, mỗi buổi sáng vào lúc bảy giờ, đem tập vở qua nhà tổ trưởng xin chữ ký đi làm lao động. Khi đến nơi làm, phải xin chữ ký của tổ trưởng nơi đó, lúc về phải có chữ ký cho phép về. Khi đến nhà phải đem sổ qua tổ trưởng ký xác nhận đã trở về. Nói một cách gọn gàng dễ hiểu, là một ngày cậu cần ký vào sổ bốn lần. Một tuần, cậu phải viết bản tự khai, nói rõ ràng là đã làm gì trong tuần, cuối tuần đọc bản kiểm điểm trước tổ dân phố, sau đó đem nộp cho công an khu vực. Một tháng một lần, trình diện và đọc bản kiểm điểm với công an khu vực.

Cuối cùng bà tổ phó an ninh hỏi tôi, giọng nói như là mẹ dạy con.

-Cậu đã nhớ rõ chưa?

Tôi lật đật đáp.

-Thưa bà rõ.

Sau khi đã lên lớp, dạy dỗ tôi đủ mọi điều, cả ba bà sếp đều hứa là sẽ hết lòng giúp đỡ tôi trong thời gian quản chế.

Dĩ nhiên tôi phải cảm ơn tấm lòng tốt của ba người, xin hứa sẽ thi hành đúng mọi lời chỉ dạy.

Xong chuyện ra mắt bộ ba tam đầu chế, Cúc dẫn tôi đi trình diện công an khu vực ở phường. Gã công an khu vực của tôi, mặt mày non choẹt, trong bộ quân phục màu vàng pha chút hồng nhạt, dạy cho tôi một mớ luật lệ mà tôi phải tuân thủ trong thời gian bị quản chế. Sau nhiều lần vặn hỏi, biết tôi đã thông suốt mọi chuyện, gã công an khu vực nói.

-Còn nữa, ngoài việc phải chấp hành tốt mọi quy định khi bị quản chế, anh còn có bổn phận phải báo cáo với chính quyền Cách mạng, khi biết được những ai còn lẩn trốn, chưa chịu trình diện học tập, hoặc những tổ chức phản động của Ngụy còn cài lại. Nhớ chưa?

Tôi lẹ lẹ nói.

-Nhớ.

Hình như thấy tôi thuộc dạng dễ dạy, gã công an khu vực bèn phán một câu đầy ân huệ.

-Buổi làm việc hôm nay đến đây đã tạm đủ, cho phép anh về nhà nghỉ ngơi.

Bước chân ra khỏi phường, tôi biết rằng mình đã hoàn tất mọi thủ tục của một sĩ quan Ngụy bị quản chế, sau khi học tập cải tạo được thả về.

Trong lòng nhẹ nhàng, thoải mái, tôi cười với Cúc.

-Quán cà phê của chị Huệ ở đường Phan Bội Châu, có còn không em?

-Vẫn còn, mà anh hỏi làm gì vậy?

-Tụi mình tới đó làm một ly cà phê để nhớ lại những ngày xưa yêu dấu, nhớ ngày đầu tiên anh dẫn đào đi cà phê.

Cúc cười với vẻ mặt tràn đầy sung sướng.

-Kể ra ngày xưa em cũng khá là dễ tính, vô quán cà phê với kép mà ngồi ghế đẩu, uống cà phê trong cái ly xây chừng, gặm bánh mì. Thực lòng mà nói, với khung cảnh quá bình dân của quán tuy có hơi xa lạ với em, nhưng mà… nhưng mà… em nhớ hoài.

Khi thấy tôi chị Huệ cười, vẫn là nụ cười của ngày xưa đầy vui vẻ, thân thiện.

-Trung úy mới học tập về. Ủa mà sao về sớm dữ vậy. Chưa thấy ai được thả hết mà.

Tôi than với chị Huệ.

-Bộ chị muốn em ở tù mút chỉ cần câu máy hay sao. Mà nè, chị đừng có gọi em là trung úy, tụi nó bỏ tù em nữa bây giờ.

Tôi quay sang Cúc, miệng nói với chị Huệ.

-Đây là vợ em, chị nhớ Cúc không?

Chị Huệ lắc đầu, nói mà như ghẹo Cúc.

-Mấy cô khác thì tôi nhớ.

Tôi nói với chị Huệ.

-Em được thả về mới có ba ngày, người đầu tiên mà em đến thăm là chị, nói như vậy để chị biết là em quý chị như thế nào.

Vừa dứt lời, không để cho chị Huệ nói lên ý kiến của chị, tôi vội tiếp.

-Cho em hai ly cà phê sữa nóng, thêm một cái hộp quẹt.

-Hút thuốc hả?

-Dạ không, để chị đốt nhà em luôn cho tiện đó mà.

Quán của chị Huệ bàn ghế thấp lè tè, ghế đẩu nhỏ xíu, cà phê túi vải. Quán cà phê bình dân đến mức khó có cái quán nào bình dân hơn. Tôi hỏi chị Huệ.

-Sao vắng khách quá vậy chị?

-Trưa rồi nên ít người uống cà phê, hơn nữa…thời buổi khó khăn, kiếm được đồng tiền cũng hơi khó.

Tôi và Cúc chọn một cái bàn bên ngoài quán, nhìn ra đường Phan Bội Châu. Đường phố vắng hoe, người đâu không thấy, chỉ thấy dăm ba chiếc lá vàng khô không biết từ đâu lạc lõng tới đây. Mấy chiếc lá theo từng cơn gió nhẹ, đuổi nhau chạy trên lề đường phát ra tiếng kêu xào xạc nho nhỏ, tựa như tiếng thở dài buồn bã của buổi trưa hè Đà Lạt. Tôi ngồi đó mà lòng chừng như trống rỗng, đưa mắt nhìn về hướng khu Hòa Bình. Một người đàn bà quần áo lam lũ đang đi về phía chúng tôi, theo sau là người đàn ông áo vá vai, quần sờn rách, chân mang dép râu, vai gánh hai cái bao may bằng vải xám, cột túm miệng.

Tôi nói với Cúc.

-Giải phóng rồi vợ lên làm chủ, anh chồng coi bộ hơi mệt.

Cúc nhìn họ một lúc rồi nói.

-Không phải là vợ chồng đâu, ông đi sau là người gánh thuê. Mấy tháng gần đây, em biết dưới chợ có một chỗ xay bắp thành bột, những người gánh thuê thường đứng ở đó, họ gánh bột bắp về nhà cho những ai mướn họ.

Tôi thắc mắc hỏi Cúc.

-Nếu không có xăng để chạy Honda thì dùng xe đạp để thồ cũng được vậy, tại sao phải gánh.

Cúc nói mà như than giùm cho họ.

-Anh tưởng xe đạp rẻ lắm sao, thời buổi này người dân cơm không có ăn, áo không có mặc, lấy tiền đâu ra mà mua xe đạp.

Khi hai người nọ đi qua trước quán, tôi nhìn người đàn ông đang còng lưng gánh hai cái bị, trong đó có thể là bột bắp. Nhìn gương mặt thông thái của ông ta với cặp kính cận, thêm thân hình dong dỏng cao, một tia chớp chợt lóe sáng trong đầu của tôi. Bỗng dưng tôi cảm thấy xốn xang trong lòng, cả một quá khứ xa xưa tưởng chừng đã chìm sâu vào dĩ vãng, nay đột nhiên lũ lượt kéo về. Đúng là thầy Hạnh của tôi rồi. Năm tôi học đệ lục, thầy dạy Anh văn cho lớp tôi. Năm tôi học đệ nhất ông là thầy dạy Anh văn của tôi thêm một năm nữa. Cuối năm đó, tôi đậu tú tài hai, tuy đã đậu phần thi viết nhưng vẫn còn một cửa ải chót cùng phải vượt qua, đó  là phần thi vấn đáp môn Anh văn.

Thầy Hạnh là giáo sư trực tiếp khảo bài tôi. Sau chừng dăm ba phút đọc một đoạn văn mà thầy chỉ định trong sách, tiếp theo đó là phần hạch hỏi bằng tiếng Anh, cuối cùng thầy nhỏ giọng chỉ đủ cho tôi nghe hai chữ “Very good”. Hai chữ này gián tiếp nói cho tôi biết là mình đã đậu. Và đó là lần cuối cùng tôi gặp thầy.

-Anh làm gì mà ngồi thừ người ra vậy?

Giọng nói của Cúc kéo tôi về với thực tại. Tôi nói với Cúc, giọng không được vui.

-Em biết người đàn ông gánh thuê đó là ai không?

-Ai vậy anh?

-Thầy dạy Anh văn của anh, thời anh còn học Trung học Trần Hưng Đạo. Ông đã từng du học ở Anh mấy năm, không biết tại sao lại ra nông nỗi này.

Cúc nói.

-Anh ở tù hơn một năm, trong thời gian đó có nhiều đổi thay ở bên ngoài mà anh không biết. Bây giờ ở Việt Nam người ta học tiếng Liên Xô, tiếng Tàu, Anh ngữ là ngôn ngữ chết. Những bậc trí thức khoa bảng đã từng du học bên Anh, bên Mỹ, đều bị liệt vào thành phần do CIA Mỹ gài lại. Thân phận của họ cũng giống như sĩ quan Ngụy, còn được nhà nước cho đi gánh thuê, vác mướn như thầy của anh, là may mắn lắm rồi.

Cúc nhìn quanh rồi nhắc tôi.

-Uống cà phê đi anh, mình còn phải đi về. Em biết anh muốn gì rồi, mai em sẽ có cách giúp cho thầy của anh.

Tôi hơi ngạc nhiên.

-Anh có cảm tưởng là em đi guốc trong bụng anh.

Cúc mỉm cười.

-Nhìn gương mặt buồn buồn của anh khi nói về ông thầy là em biết rồi.

-Anh muốn giúp thầy anh chút tiền.

-Đừng có hành động điên rồ, ông ấy dám đem thân làm thuê, gánh mướn, thì ông cũng dám cho anh vài cái bạt tai. Anh không nhớ câu “Sĩ khả lục, bất khả nhục” hay sao.

Cúc trả tiền cà phê rồi nắm tay tôi kéo đi.

-Ngày mai tụi mình xuống chợ, chỗ máy xay bắp gặp thầy. Anh cứ yên tâm, chỉ cần nói cho em biết thầy của anh tên gì, mọi chuyện còn lại để em lo.

Tôi bưng ly cà phê nốc một hơi. Mới ở tù ra, cà phê sữa túi vải vẫn còn thơm lừng, ngọt lịm.

Trước khi rời khỏi quán, tôi nói to với chị Huệ, tiếng nói xuất phát tự đáy lòng.

-Cà phê ngon quá sá. Một ngày sống trong xã hội dân sự, trôi qua trong an lành.

Buổi sáng, tôi và Cúc ở nhà ăn sáng cho đến gần tám giờ mới xong, sau đó tôi đi qua nhà bà tổ trưởng đưa cuốn sổ “nhật ký đời tôi” dày một trăm trang cho bà tổ trưởng, xin phép bà cho đi làm lao động. Khi có chữ ký rồi, tôi và Cúc dẫn chiếc xe đạp của thằng Tý ra khỏi nhà. Hôm nay tôi chở vợ đi làm vườn ở ngoài Đa Thiện. Trước khi đi, với tính lo xa, tôi hỏi Cúc.

-Để con ở nhà với chị Hai có sao không? Anh thực lòng không an tâm chút nào.

Cúc trấn an tôi.

-Anh đừng quá lo lắng, chị Hai là người rất cẩn thận, chị chăm sóc con bé còn tốt hơn em nữa. Hôm nay mình chỉ ra thăm vườn để cho anh biết mặt ông tổ trưởng và tổ phó an ninh là sếp mới của anh, nơi anh làm lao động. Còn tất cả mọi chuyện ngoài vườn đã có người lo hết rồi. Mai mốt anh ra vườn, chỉ cốt để lấy chữ ký của hai ông sếp mà thôi.

Tôi đạp xe chở Cúc dọc theo đường Phan Đình Phùng, đến ngã ba chùa, chúng tôi đẩy xe lên con dốc dài và cao cho đến tận cổng trường Bùi Thị Xuân. Bắt đầu từ đây là xuống dốc cho đến ngã năm Viện đại học. Xe đang chạy ngon trớn, bất ngờ Cúc vỗ nhẹ vào lưng tôi.

-Tụi mình đi làm vườn chớ không phải đi học đâu, anh nhớ rẽ trái theo hướng Đa Thiện, rồi chạy thêm khoảng hơn một cây số, bên phải có con đường đất, xuống dốc khoảng một cây số nữa là tới vườn của mình.

Tôi đứng nhìn mảnh vườn mà lòng ngao ngán, cỏ dại mọc đầy lối đi giữa hai luống rau, có nơi cỏ còn tốt hơn cây bắp sú. Gì chớ chuyện làm cỏ là nghề của tù cải tạo, với hơn một năm kinh nghiệm trong nghề, tôi hăng hái nói với Cúc.

-Kể từ ngày mai, anh sẽ bắt đầu dọn sạch cỏ trong vườn.

Cúc nhỏ nhẹ nói với tôi.

-Anh à, mục đích của mình là trốn chạy, mục tiêu của mình nằm bên kia bờ Thái Bình Dương. Mảnh vườn này chỉ là tấm bình phong che chở cho gia đình mình trong cơn bão dữ mà thôi. Cỏ dại nhiều hay ít không thành vấn đề.

-Em nói đúng, nhưng mà đã ra đến đây rồi thì em cũng để cho anh lăn lóc bụi đời với cây cỏ cho có vẻ nông dân chút xíu.

-Theo em nghĩ thì anh nên tìm một anh thợ máy, chuyên về động cơ nổ để học nghề. Nay mai giữa trùng dương bao la bát ngát, con tàu chở mình có bị trục trặc về máy móc, mình còn biết đường mà xoay xở.

Tôi đồng ý với Cúc, không nói thêm gì nữa.

Cúc dẫn tôi tới nhà của ông tổ phó an ninh để xin chữ ký vào sổ nhật ký của tôi. Vừa gặp ông ta, Cúc vội nói.

-Ngày mai, nhờ ông làm bớt cỏ trong vườn giúp tôi, tiền đổi công, vần công bao nhiêu cứ cho tôi biết, tôi sẽ trả đầy đủ.

Nghe Cúc nói chuyện, tôi cười thầm trong bụng, đã gọi là đổi công mà trả bằng tiền, thì ra trong Xã Hội Chủ Nghĩa người ta luồn lách, tránh chữ làm thuê, cuốc mướn.

Ông tổ phó an ninh tươi cười nói với Cúc.

-Cô khỏi lo, tôi sẽ dọn cỏ sạch sẽ.

Cúc chỉ tôi rồi nói.

-Xin giới thiệu với ông tổ phó an ninh, đây là chồng của tôi học tập cải tạo vừa được nhà nước cho về, hiện còn đang bị quản chế. Sau này, mọi thứ giấy tờ chứng thực của chồng tôi khi đi làm vườn ở đây, xin ông tổ phó giúp đỡ cho.

-Cô yên chí, có qua có lại, tôi sẽ hết lòng giúp cô.

Thấy ông tổ phó cũng thuộc hạng dễ tính, tôi lên tiếng.

-Thưa ông tổ phó, ở Đa Thiện ông có biết trung úy Ngụy tên Hoàng, đi học tập cải tạo và được nhà nước khoan hồng cho về cách đây mấy tháng trước không?

-Có phải cái ông bị cắt cổ, thọc cái ống nhựa vô để thở, đúng không?

Tôi mừng rỡ.

-Dạ đúng rồi.

Giống như bị chạm trúng chỗ ngứa, ông tổ phó an ninh xổ ra một tràng.

-Kể ra mấy tay bác sĩ Ngụy cũng giỏi thiệt, ở trong tù không có dụng cụ, không thuốc men, mà dám làm chuyện động trời như vậy, tôi cũng xin cúi đầu bái phục. Mà cậu hỏi ông Hoàng làm gì?

Sợ ông tổ phó an ninh nghi ngờ, hai tên tù Ngụy khi được thả về là tìm cách liên lạc móc nối với nhau để chống đối Cách mạng, tôi mau lẹ phân trần.

-Thưa ông, ngày xưa tôi học ngang lớp với anh Hoàng ở trường trung học Trần Hưng Đạo Đà Lạt. Tôi chỉ muốn thăm anh ấy thôi.

-Vậy hả, tôi là tổ phó an ninh, tất cả dân ở Đa Thiện này, từ làng trên cho tới xóm dưới, đều như nằm trong lòng tay của tôi. Muốn tới nhà anh Hoàng phải không? Cậu trở ngược ra đường cái, quẹo phải đi thêm một đỗi nữa tới con đường đất. Hỏi nhà anh Hoàng thì ai cũng biết.

Gặp lại anh Hoàng mà lòng không được vui, tôi biết mặc dù được gia đình chăm sóc đầy đủ suốt mấy tháng trường, nhưng sắc diện của anh vẫn vậy, vẫn ốm như ngày còn ở trong tù. Cái khác biệt duy nhất là vết mổ nơi cổ nay đã liền da, một vết sẹo không được đẹp cho mấy nằm ngay nơi cổ.

Tôi hỏi anh Hoàng.

-Khỏe không bạn?

Anh nhìn tôi với đôi mắt buồn bã, rồi quay người vào trong nhà. Anh dùng tay phải làm dấu hiệu như đang viết, thì ra anh Hoàng đã bị câm và cũng có thể điếc, sau lần giải phẩu cổ ở trong tù và không được chuyển đến bịnh viện cứu chữa. Vợ anh Hoàng, tôi đoán vậy, đem đến cho anh một tờ giấy và cây bút. Sau một hồi hí hoáy viết, anh Hoàng trao tờ giấy cho tôi. Nhìn nét chữ nguệch ngoạc không được ngay hàng thẳng lối. Tôi biết, anh bạn tôi tệ lắm cũng có hai cái bằng tú tài, không thể nào lại viết chữ như gà bươi, quạ mổ, trừ trường hợp anh bị khủng hoảng tâm lý, gây chấn động đến tinh thần. Sau và phút bút đàm với anh Hoàng, tôi cáo biệt ra về, không quên viết xuống tờ giấy mấy chữ sáo rỗng “Chúc bạn và gia đình luôn mạnh khỏe”. Tôi nói sáo rỗng vì biết rằng anh sẽ không còn sống được bao lâu nữa mà vẫn viết “chúc anh mạnh khỏe”. Thực vậy, chỉ vài tháng sau đó, tôi nhận được tin anh Hoàng đã từ giã cõi đời. Tôi biết anh ra đi trong sự đau đớn xót thương vô bờ bến của vợ con.

Trên đường về, khi Cúc đang dẫn chiếc xe đạp lên dốc, tôi lấy tờ bút đàm với anh Hoàng ra, xé bỏ những câu thăm hỏi, chuyện trò. Riêng có một hàng chữ tôi bắt buộc phải nuốt luôn vào bụng, bởi vì với hàng chữ này, tôi và anh Hoàng sẽ bị bắt vô tù cải tạo lại, thậm chí còn có thể xử bắn vì cái tội chống phá Cách mạng. Cúc thấy tôi nuốt mảnh giấy bèn hỏi.

-Tại sao anh phải nuốt tờ giấy vậy?

Tôi vói tay dẫn xe cho Cúc.

-Em muốn biết phải không? Nghe xong đừng có sợ, mấy chữ mà anh nuốt vào bụng là “Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm”. Chuyện gì khác thì anh không rõ nhưng anh biết chắc một điều, anh Hoàng là một người can đảm có thừa, cương nghị và cứng rắn như một thỏi sắt.

-Tại sao anh nói vậy?

-Em nghĩ như thế nào, nếu tấm giấy đó lọt vào tay mấy tên Công An Cộng sản

Cúc với vẻ mặt lo âu.

-Anh đừng nói với em những chuyện như vậy nữa, em sợ lắm. Bây giờ mình có chuyện khác quan trọng không kém, cần phải làm.

-Chuyện gì vậy em?

-Gần một giờ rồi, anh chở em xuống chợ ăn trưa, lâu lâu mình ăn cơm bình dân một bữa, được không?

Tôi gật đầu.

-Được quá đi chớ, gì chớ chở vợ đi ăn thì anh đồng ý cả hai tay.

Tôi và Cúc mỗi người ngồi trên một cái đòn bé tí xíu, bên cạnh gánh cơm bên hông chợ.

Cúc nói với tôi.

-Sau giải phóng, nhiều gánh hàng rong xuất hiện khắp nơi, nhất là ở quanh chợ, mình ăn cơm nghe anh.

Tôi nói nhỏ vào tai Cúc mà trong lòng đầy hãnh diện.

-Em nên nhớ hơn một năm trường ở trong tù, mỗi bữa ăn của anh chỉ là một chén rưỡi cơm, ăn với muối. Giờ đây nếu được ăn cơm chan nước mắm đã là hạnh phúc lắm rồi.

Chị bán cơm đưa cho Cúc và tôi mỗi người một dĩa cơm tấm. Mới nhìn dĩa cơm tôi đã nuốt nước miếng ừng ực, cơm trắng với bốn năm lát dưa leo rải đều trên mặt, một ít bì xắt sợi nhỏ, thêm một miếng thịt heo nướng cỡ hai ngón tay, đặc biệt là chén nước mắm ngọt với những miếng ớt mong mỏng, đỏ tươi. Tôi ăn cơm mà không thấy ngon, vì đầu óc cứ lởn vởn hình ảnh mấy người bạn tù ốm đói. Cơm nước xong xuôi, sau khi trả tiền Cúc chỉ cho tôi người đàn ông với cặp kính cận trên mặt, đang đứng lớ ngớ bên kia đường, trước chỗ máy xay bắp.

-Phải thầy của anh đó không?

Tôi gật đầu.

Cúc hỏi.

-Thầy tên gì?

-Hạnh.

Cúc dặn tôi.

-Anh đi theo em, nhớ đừng nói gì hết.

Tôi lại gật đầu.

Cúc dẫn xe đạp, đi đến bên người đàn ông.

-Thưa thầy, có phải thầy là thầy Hạnh, ngày xưa dạy Anh văn ở trường Trung học Trần Hưng Đạo không?

Vẻ lúng túng hiện rõ trên khuôn mặt già nua, khắc khổ, sau một thoáng do dự, thầy nói.

-Dạ phải, tại sao cô biết tên tôi?

Cúc nói liền.

-Có một anh học trò cũ của thầy, nhờ con trao lại cho thầy chiếc xe đạp này, tuy nó hơi cũ, trầy xước tróc sơn nhưng đây là chiếc xe hiệu Peugeot của Pháp. Nó bền chắc và đắt giá gấp chục lần chiếc xe đạp sản xuất trong nước. Nếu thầy dùng chiếc xe này mà thồ hàng trăm kí gạo, con bảo đảm với thầy muôn đời không sợ hư.

Thầy Hạnh nhìn chiếc xe đạp với cặp mắt sáng rỡ sau cặp kính cận. Đưa tay sờ nắn cái tay lái, lắc qua, lắc lại, một lúc sau thầy nói.

-Tôi biết đây là một chiếc xe đạp tốt, tôi thích nó lắm, nhưng mà, thưa cô… tôi không dám nhận đâu.

Cúc hỏi với giọng đầy vẻ ngạc nhiên.

-Thầy có thể nói cho con biết, nguyên nhân tại sao thầy lại không nhận chiếc xe.

Thầy Hạnh vẫn với giọng nói điềm đạm.

-Chiếc xe quý giá như thế này mà đem cho tôi, cậu học trò của tôi lấy gì mà đi. Hơn nữa, nếu muốn cho tôi, cậu ấy phải có mặt để nhận lời cảm ơn của tôi chứ. Không có cậu học trò, chủ nhân của chiếc xe, tôi không nhận đâu.

Tôi đã đứng yên khá lâu, nghe đầy đủ những lời đối thoại giữa Cúc và thầy Hạnh. Biết không thể nào trốn được nữa, tôi bước lên.

-Thưa thầy con là Quân, học trò của thầy từ lúc con còn học đệ lục. Năm con thi tú tài hai, thầy là người trực tiếp khảo hạch thí sinh về phần thi vấn đáp môn Anh văn. Hôm qua, tình cờ thấy thầy gánh hai cái bị bột khá nặng, sẵn nhà còn dư chiếc xe đạp, vợ chồng con bàn với nhau đem tặng thầy. Hy vọng chiếc xe này sẽ giúp thầy bớt phần nào gian nan, khổ cực.

Thầy Hạnh nói.

-Từ đầu tôi đã ngờ cậu chính là người muốn cho tôi chiếc xe, nhưng tại sau cậu lại giấu mặt.

-Thưa thầy, con nói nếu có gì không phải xin thầy tha thứ. Con sợ thầy mắc cỡ với học trò cũ, khi phải đi làm những việc thấp hèn, nặng nhọc bằng tay chân để mưu sinh.

Thầy Hạnh cười, nụ cười đầy kiêu hãnh.

-Tôi có thừa can đảm đem thân làm thuê gánh mướn, kiếm tiền nuôi sống bản thân và gia đình, mà không một chút hổ thẹn với lương tâm. Miễn sao đồng tiền mà tôi kiếm được phải trong sạch là tôi làm. Cậu còn thắc mắc gì về chuyện này nữa không?

Tôi đưa chiếc xe đạp cho thầy Hạnh.

-Thưa thầy con đã hiểu rõ lòng của thầy, bây giờ chắc thầy chịu nhận chiếc xe này rồi phải không?

Thầy Hạnh không nói gì, chỉ gật đầu.

Cúc lấy tờ hóa đơn mua xe đạp trong xách tay, trao cho thầy.

-Đây là giấy tờ xe, xin thầy giữ lấy.

Tôi và Cúc chào thầy rồi ra về. Trên đường đi tôi nắm tay Cúc mà lòng sung sướng, nghĩ về chị Huệ, một người bán cà phê túi vải tuy nghèo nhưng hiền từ, thật thà, một ông trung úy Ngụy tên Hoàng cho đến lúc sắp chết vẫn cố viết xuống giấy mấy chữ “Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm”, một ông thầy dạy Anh văn, từng du học bên Anh, đã hiên ngang gánh thuê vác mướn để kiếm tiền mưu sinh. Những người này đã đại diện cho một nền Văn hóa Nhân bản của Việt Nam Cộng Hòa. Tháng 4 năm 1975, Cộng sản cướp được miền Nam. Với sự suy nghĩ thiển cận của những người quen sống ở trên cây, lấy cuộc sống hái lượm làm nền tảng, chỉ thấy được giá trị của cuộc sống vật chất như đất đai, nhà cửa, xe cộ, nên họ chỉ lo chở về miền Bắc nào là xe hơi, Honda hai bánh, ti vi, tủ lạnh, quạt máy, mà quên đi khía cạnh tinh thần, quên mất cái gia tài đồ sộ và quý giá nhất của Việt Nam Cộng Hòa là nền Văn hóa Nhân bản. Việc làm này không chóng thì chầy sẽ đưa Đảng Cộng sản Việt Nam và bè lũ tay sai của họ đến chỗ diệt vong.

Con người đã có mặt trên trái đất hàng triệu năm, dân tộc Việt Nam với bề dày của bốn ngàn năm văn hiến, so với một trăm năm hay hơn thế nữa dưới ách đô hộ của Cộng sản, thì khoảng thời gian này chỉ là một giấc ngủ đầy ác mộng mà thôi.