Chiến tranh bên cạnh tình yêu

Huy Văn Trương

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 18 Mar 2025

Nhà tù hình chữ S.

Tập 3

Phần 10
Trừ khi mình có cánh

Sáng tinh mơ tôi giật mình thức giấc, không phải vì tiếng kẻng khủng bố man rợ, gõ liên hồi như muốn chọc thủng lỗ tai của tù nhân, mà là tiếng khóc của con. Tôi đưa tay qua bên cạnh, không tìm thấy vợ. Đang bối rối, không biết làm sao dỗ cho con bé ngủ tiếp, tôi đã thấy Cúc xuất hiện nơi cửa với chai sữa trên tay. Chỉ một thoáng sau, Cúc đã gọn gàng và lanh lẹ vừa cho con bú vừa nói với tôi.

-Gần tám giờ rồi, bên ngoài trời khá đẹp lại có nắng ấm, lát nữa mình ăn sáng trên sân thượng, uống cà phê ngắm cảnh Đà Lạt, tiện thể cho con phơi nắng luôn.

-Em muốn sao cũng được, mới mấy ngày trước, anh chỉ mơ một chén cơm đầy mà không được. Hôm nay có diễm phúc ngồi bên vợ con, uống cà phê ăn sáng, anh không dám đòi hỏi gì hơn đâu.

Sở dĩ tôi nói với Cúc như vậy, bởi vì tôi không tin được rằng, chỉ cần một bước, người ta có thể từ địa ngục lên đến thiên đàng. Ở trong tù tôi đã nhiều lần nằm mơ, thấy mình được về xum họp với vợ con, để rồi khi tỉnh giấc lại bàng hoàng tiếc nuối. Đối với tôi “Những gì tốt lành quá sức tưởng tượng, thường chỉ có trong mộng mà thôi”. Tôi hỏi Cúc.

-Anh đang nằm mơ phải không em?

Cúc cho con bú, miệng nói với tôi.

-Không có đâu, nhưng anh phải mau mau đi rửa mặt, chị Hai sắp mang thức ăn sáng lên rồi đó.

-Đồng ý, em bồng con lên sân thượng trước đi, anh sẽ lên liền lập tức.

Miệng thì nói vậy nhưng phải mười phút sau tôi mới lên đến sân thượng. Cúc đang ngồi mơ màng nhìn về phía Bắc, nơi có đỉnh núi Bà mù mờ trong mây, con bé nằm trong cái giường nhỏ xíu bên cạnh. Nhìn vào cái bàn trống, nghĩ đến chuyện ăn sáng, không biết tại sao tôi lại nhớ đến quán cà phê chị Huệ ở đường Phan Bội Châu. Tôi vịn hai tay vào hai vai của Cúc.

-Ước gì mình có hai khúc bánh mì chả và hai ly cà phê nóng, thì còn gì tuyệt diệu hơn.

Có thể vì quá vui, Cúc vòng hai tay, cúi đầu trịnh trọng như đang đóng phim Tàu.

-Bẩm hoàng thượng, ở trong tù cải tạo, mỗi buổi sáng hoàng thượng ăn gì thần thiếp không biết. Riêng ở trong nhà này, ngài khỏi cần ao ước làm gì cho mệt, thần thiếp đã dặn chị Hai làm theo ý của hoàng thượng rồi.

Tôi ngạc nhiên hỏi Cúc.

-Sao em biết anh muốn ăn bánh mì chả.

Cúc nhắc tôi.

-Lần đầu tiên gặp anh, tụi mình ăn sáng ở quán cà phê chị Huệ ở đường Phan Bội Châu. Anh có nhớ là anh đã gọi cho em món gì không?

Tôi suy nghĩ một lúc rồi trả lời.

-Có.

Cúc nói tiếp.

-Sau đó anh bỏ em ngồi một mình trong quán, chuyện đó khiến em nhớ suốt đời. Khi anh rời khỏi quán, vì tò mò em hỏi chị Huệ và biết được thói quen của anh khi tới quán.

Tôi không ngờ những chuyện nhỏ nhặt ngày xưa của mình, Cúc lại nhớ kỹ như vậy. Muốn Cúc hiểu rõ mình hơn, tôi nói.

-Hồi đó, anh thường ăn bánh mì chả vì nó rẻ, vừa với túi tiền của mình. Nếu được chọn lựa, dại gì anh không lấy tô phở tái, chín, nạm, gầu, gân, nóng hổi, thơm ngon đầy chất bổ dưỡng.

Chị Hai bưng hai phần ăn sáng đến, đặt lên bàn rồi nói.

-Tôi bồng em bé xuống nhà chơi với ông bà.

Cúc vội vàng lên tiếng.

-Chị xuống ăn sáng với ba má tôi đi, để em bé đó, tôi muốn cho nó tắm nắng chút xíu.

Hai đứa tôi ngồi thưởng thức ly cà phê sữa nóng, thơm lừng. Trong cái không gian bao la tĩnh mịch, với bầu không khí mát mẻ trong lành, Cúc với giọng nói tràn đầy hạnh phúc.

-Theo em biết, có thể có đến bảy, tám chục ngàn sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa đi tù cải tạo, tất cả đều bặt âm vô tín. Em không bao giờ ngờ, anh lại được phóng thích sớm như vậy. Anh biết có bao nhiêu người về cùng một lượt với anh không? Và tại sao anh lại được thả?

Lúng túng một chút, tôi nói.

-Chuyện anh được về có chút nghi vấn, mà chính anh cũng không biết thì làm sao anh nói cho em hiểu được.

Nói xong tôi ngồi thừ người suy nghĩ một hồi lâu, sau cùng tôi nói với Cúc.

-Anh sẽ kể lại cho em nghe thật chi ly, rành rọt từng chi tiết nhỏ, từ ngày đầu tiên, khi anh bắt đầu trình diện học tập cải tạo cho đến ngày về. Hy vọng với cái nhìn khách quan, em có thể giải thích chuyện tại sao anh được thả về sớm như vậy.

Tôi hớp một ngụm cà phê, cắn một miếng bánh mì, rồi bắt đầu câu chuyện.

-Anh gặp ông Năm bánh xèo tại Ủy ban Quân quản thành phố Đà Lạt, ông ta ngồi ngay trong văn phòng tiếp nhận sĩ quan Ngụy đi trình diện học tập cải tạo. Tên của ông Năm là Trần Chiến….., ông ta cho anh tấm hình màu chụp anh với ông ấy trước năm 1975 ….

Cúc ngồi đối diện với tôi, hai tay chống cằm, chăm chú lắng nghe.

Khi tôi kể đến đoạn, gã bộ đội tất lấy cả tiền bạc và năm trăm đô la cùng với cái đồng hồ của tôi. Cúc la lên.

-Sao kỳ vậy, em còn nhớ, em nhét dưới đáy lon gô đựng thịt ruốc đúng một ngàn đô la lận mà.

Tôi lật đật tiếp lời Cúc.

-Đúng, đúng, một ngàn đô, nhưng trước đó anh quên kể cho em nghe, là anh đã chia cho Long công tử bạn của anh năm trăm đô, anh chỉ còn giữ năm trăm thôi…..

Sau khi đã nghe đầy đủ, trọn vẹn câu chuyện ở trong tù mà tôi kể. Cúc ngồi thừ người ra như suy nghĩ, cuối cùng nàng nói.

-Em có thể đoan chắc một trăm phần trăm, anh được thả về là do báo cáo của tên Việt cộng đã đánh anh ở ban chỉ huy trại. Sau khi đã lấy hết tiền và được anh ký giấy xác nhận vật dụng của anh chỉ có một cái mền và một cái mùng. Nó đã báo cáo anh có ông cậu là Bí thư tỉnh ủy, giống như anh đã khai trong bản tự khai lý lịch. Hồ sơ của anh đã được thông qua mà không cần xác minh. Vì nếu tụi nó trực tiếp hỏi ông Năm bánh xèo, câu trả lời của ông ta sẽ là “không”. Như vậy lòi ra chuyện anh khai gian lý lịch, với cái tội đó anh sẽ là người cuối cùng bước chân ra khỏi trại tù, nói gì đến chuyện được về sớm.Và vì hồ sơ của anh tới chậm, nên tên của anh nằm trong danh sách bổ túc, gồm có mười bảy người.

Cúc ngồi trầm ngâm một lúc, hình như thấy tôi vẫn còn lo lắng, nàng trấn an tôi.

-Anh yên tâm, chuyện gì qua, nó đã qua rồi. Không có lý do gì thả anh về xong, tụi Việt cộng mới đi làm chuyện xác minh giấy tờ, để rồi sau đó lại cho người đi bắt anh trở lại.

Nghe Cúc lý luận mạch lạc, vững chắc, khiến tôi hoàn toàn tin tưởng. Chuyện đơn giản như một với một là hai, vậy mà cả tuần rồi tôi không hiểu, cứ thắc mắc hoài.

Trong lòng thanh thản, tôi hớp một ngụm cà phê, rồi giục Cúc.

-Em ăn đi, còn chờ gì nữa.

Cúc cầm miếng bánh mì lên rồi nói với tôi.

-Chuyện ở trong tù của anh, em đã hiểu khá rõ. Bây giờ đến chuyện ở bên ngoài, có nhiều việc mà anh cần phải biết. Trước hết em sẽ nói về số tiền mình hiện có, nếu không nắm chắc chuyện tài chánh trong nhà, anh lại dè sẻn, tiết kiệm không đúng chỗ. Giống như ngày đi học tập, khi biết anh chỉ đem theo có hai ngàn tiền Việt Nam Cộng Hòa, chuyện đó khiến em lo lắng cho đến khi được thăm nuôi, đưa được tiền cho anh, em mới yên tâm. Hiện tại tiền bạc mình không thiếu, số vàng và đô la em hiện giữ, gia đình mình tiêu xài vài chục năm không hết, chưa kể túi hột xoàn mà em cất trong xách tay, mỗi hột trị giá vài chục cây vàng. Tuy vậy chuyện quan trọng nhất vẫn là trương mục ngân hàng ở ngoại quốc đứng tên em. Chuyện này chỉ có em và anh biết thôi. Và, mục đích cuối cùng của mình là phải tìm cách đặt chân đến bến bờ tự do.

Nghe Cúc nói mà tôi bần thần cả người. Tôi biết trước giải phóng gia đình Cúc giàu có nức tiếng ở Sài Gòn, điều tôi không ngờ mức độ giàu của vợ mình lại kinh khủng như vậy, thảo nào, khi tôi còn ở trong tù Cúc gởi cho tôi một ngàn đô la mà coi nhẹ như hột bụi.

Thấy tôi ngồi im lặng, Cúc nói tiếp.

-Chuyện tiền bạc anh đã hiểu rõ, bây giờ em nói đến cuộc sống hiện tại. Anh đi tù được vài tháng, em đã mua một miếng đất trồng bắp sú ở Đa Thiện, mua đất để khai báo với Việt cộng là mình có đất sản xuất, nếu không sẽ bị lùa đi kinh tế mới. Miếng đất nằm cách Viện đại học Đà Lạt của mình khoảng hơn một cây số, có diện tích là ba ngàn mét vuông, người dân ở Đa Thiện gọi là ba sào. Chủ đất phải bán bớt vì miếng đất của ông ta lớn hơn một mẫu. Có lẽ ông ta sợ chuyện cải cách rộng đất ở ngoài Bắc lại tái diễn ở Miền Nam, cũng có thể ông ta sợ nay mai đất đai sẽ phải vô hợp tác xã nông nghiệp, cho nên ông ta bán bớt đi, kiếm chút tiền dằn túi cho chắc, chỉ chừa lại đúng một mẫu đất cho cả gia đình ông ta. Giấy tờ bán đất em đã đem ra cho cái đám quan chức, gọi là chính quyền Cách mạng ở Đa Thiện chứng thực và hoàn toàn hợp lệ. Nhờ miếng đất đó, mà gia đình mình không thuộc diện phải đi kinh tế mới. Anh biết không, Tà Nung là vùng kinh tế mới của Đà Lạt, nó nằm sâu trong núi, cách phi trường Cam Ly khoảng mười cây số đường rừng. Hình như Việt cộng còn lập thêm vùng kinh tế thứ hai ở Đinh Văn, nằm cách Thanh Bình, La Ba, đâu khoảng hai chục cây số nữa, trên đường đi Ban Mê Thuột. Chuyện này em không rõ lắm, chỉ nghe đồn thôi.

Nghe đến đây, tôi có chút thắc mắc nên hỏi Cúc.

-Lúc đó em đang có bầu, làm thế nào em có thể chu toàn mọi công việc, nhất là việc trồng trọt bắp sú, cần người phụ giúp.

-Anh nói đúng, em cần người giúp, đúng ra là em cần một người thân tín, có thể tin cậy được. Người đầu tiên em nghĩ đến là chị Hai. Ngày xưa, tuy chị là người giúp việc trong nhà, nhưng em coi như chị bởi vì chị là người thật thà, trung hậu, lại tứ cố vô thân. Ngày mà anh đưa em từ Đà Lạt về Sài Gòn bằng phi cơ C130 ở phi trường Cam Ly, khi biết cả nhà sẽ đi Mỹ, em cho chị Hai một số tiền, đủ mua một căn nhà bên Tân Định theo ý của chị. Khi mua miếng đất ở Đa Thiện xong, em về Sài Gòn, đưa chị Hai lên sống với gia đình mình.

Tôi ngắt lời Cúc.

-Dù có chị Hai giúp, em làm sao có thể cáng đáng công việc của một người nông dân?

Cúc cười vui vẻ.

-Chỗ này em muốn nói cho anh rõ, tuy mang tiếng là người làm vườn trồng bắp sú, nhưng hầu như tất cả mọi việc nặng nhọc như xới đất, lên luống, làm cỏ, bón phân, tưới nước, em đều mướn người phụ giúp. Sau năm 1975, khi anh đã đi học tập rồi, toàn bộ những gia đình nông dân trồng rau cải ở Đà Lạt, đều phải sống bám vào mảnh đất của họ. Nếu không tiếp tục làm vườn, họ sẽ bị chết đói. Nhà nước Việt cộng kiểm soát hầu hết những gì liên quan đến việc sản xuất rau cải. Họ bán cho nông dân một số lượng nhỏ phân bón, xăng dầu, chỉ bằng một phần ba nhu cầu nông dân cần dùng. Người dân khi làm vườn, họ phải mua thêm  hai phần ba hạt giống, phân xác cá mòi, phân hóa học, thuốc trừ sâu, xăng dầu chạy máy tưới cây với giá chợ đen. Sau ba, bốn tháng làm việc đầu tắt mặt tối, đến mùa thu hoạch, ông nhà nước nhảy vô thu mua tất cả nông sản của nông dân với giá rẻ mạt. Nông dân bị chèn ép dã man tàn bạo như vậy, thiếu ăn, thiếu mặc là chuyện không thể tránh được. Đói thì đầu gối phải bò, người nông dân đành đi làm thuê, cuốc mướn, tìm thêm chút thu nhập để sống qua ngày. Em đã mướn họ làm, và trả công cho họ cao hơn những nơi khác.

Tôi hỏi.

-Làm như vậy em không sợ bị phường khóm cho mình là địa chủ, cường hào ác bá, bóc lột sức lao động của người dân hay sao?

-Anh đừng lo quá như vậy, chính ông tổ trưởng và tổ phó trong tổ sản xuất của vườn mình ở Đa Thiện, vẫn thường vui vẻ xin làm mướn cho mình với danh nghĩa là vần công, đổi công. Người dân trong chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa dùng mấy chữ này để thay thế cho chữ làm mướn. Giống như những người dân ở Đa Thiện, em cũng làm vườn nhưng không cần tiền, em làm vườn với mục đích khác. Trồng trọt như vậy, lỗ lã là cái chắc rồi, tuy nhiên sau những vụ mùa, mình khai với tổ dân phố đã bán cho Nông hội của nhà nước, lúc thì mười tấn, khi thì mười lăm tấn bắp sú, chuyện này đủ bảo đảm cho gia đình mình không bị ép phải đi kinh tế mới.

Cúc ngưng nói chuyện, đưa tay nựng con, thấy vậy tôi bồng con lên định hun vào đôi má phúng phính của nó, con bé hé mở mắt nhìn tôi vài giây rồi khóc ré lên. Cúc vội vàng ôm lấy con rồi nói.

-Cái ông này mặt mày dữ quá, làm con sợ phải không?

Dứt lời Cúc quay sang tôi.

-Thấy anh lạ nên con nó khóc. Hôm qua gặp anh em còn không nhận ra. Em nói như vậy để cho anh biết rằng chỉ hơn một năm ở tù, gương mặt của anh đã biến đổi nhiều như thế nào.

Tôi nói với Cúc.

-Hình dáng của anh có thay đổi, xấu xí đến đâu anh cũng không quan tâm. Chuyện anh muốn nói là sự đổi thay của xã hội Việt Nam dưới sự cai trị của Cộng sản. Tù nhân trong tù, phần thể xác thì bị hành hạ, ngày ngày phải đi làm lao động khổ sai, cơm không đủ ăn, áo không có mà mặc, còn phần tinh thần thì bị gán cho hai chữ Ngụy quân, có tội với nhân dân, phản bội Tổ Quốc, sống dưới sự kiểm soát của quản giáo và vệ binh. Chuyện tưởng chỉ có trong tù, nào ngờ người dân sống ngoài trại tù cũng khổ như vậy, cũng tối ngày đầu tắt mặt tối, lam lũ kiếm miếng ăn, rau cải trồng được thì bị nhà nước thu mua. Đời sống tinh thần thì bị tổ trưởng, tổ phó, tổ phó an ninh cùng công an khu vực áp bức, đè nén, nay bắt đi thủy lợi, mai cướp nhà đuổi đi kinh tế mới. Xét như vậy thì người dân sống dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa có khác gì ở trong tù đâu.

Cúc tiếp lời tôi.

-Có khác mà anh không thấy thôi, nhà tù dùng để nhốt dân, nó to lớn hơn cái tù giam sĩ quan Ngụy. Nói một cách đơn giản nó là cái nhà tù bao trùm lên tất cả dải đất hình chữ S. Khác nhau là ở chỗ đó.

Tôi hớp một ngụm cà phê rồi nói tiếp với Cúc.

-Em nói đúng, mục đích cuối cùng của mình là phải đem con lánh xa Cộng sản, tránh xa cái Xã Hội Chủ Nghĩa man rợ này, càng sớm càng tốt. Nhưng mà hiện tại cả gia đình mình kẹt trên cái đỉnh núi này, làm sao trốn được.

Tôi nhìn Cúc rồi chắt lưỡi.

-Trừ khi mình có cánh.

Đại tướng Colin Powell binh nghiệp & chính trường

baotreonline.com

Đinh Yên Thảo

October 21st, 2021

Đầu tuần này, Đại tướng Colin Powell, cựu Ngoại trưởng Hoa Kỳ thời tổng thống George W. Bush đã qua đời vì những biến chứng từ Covid dù ông đã chích ngừa, hưởng thọ 84 tuổi. Là con trai của một gia đình di dân từ Jamaica, Powell trở thành một đại tướng 4 sao trong quân lực Hoa Kỳ và trở thành Ngoại trưởng là một thành công tột bực. Chuyên mục tuần này xin giới thiệu sơ lược cùng các bạn về cuộc đời và sự nghiệp của tướng Powell trước sự ra đi của ông.

Trong cuốn sách “Tiểu sử và những cuộc phỏng vấn Colin Powell, tướng Powell kể lại rằng, “Khoảng sáu tháng sau khi vào đại học tôi khám phá được điều mà tôi thích, đó là ROTC, Quân đoàn Huấn luyện Sĩ quan Trừ bị trong quân đội. Và tôi không chỉ thích nó, mà tôi còn khá giỏi. Ðó là điều các bạn thực sự phải tìm kiếm trong cuộc đời mình, điều gì đó mà các bạn thích và nghĩ rằng mình giỏi. Nếu các bạn có thể kết hợp hai điều đó lại với nhau, thì bạn đang đi đúng hướng và chỉ cần dồn sức cho nó”. Ðó là điều mà Powell đã làm và theo đuổi để từ một Thiếu Úy Trung Ðội trưởng sau khi tốt nghiệp đại học New York và các khóa huấn luyện quân sự, ông đã trở thành một trong những người Mỹ gốc Phi đạt đến cấp bậc cao nhất trong quân đội lẫn trong chính phủ.

Tướng Powell sinh năm 1937 tại New York trong một gia đình di dân lao động từ Jamaica. Cha ông là một nhân viên giao nhận hàng hóa và mẹ là thợ may, những người có nguồn gốc là Châu Phi lẫn Tô Cách Lan (Scotland).Tốt nghiệp đại học năm 1958, ông đã đi theo con đường quân nghiệp trong suốt 35 năm như nói trên.

Tiểu đoàn trưởng QLVNCH, Đại úy Võ Công Hiếu và cố vấn Mỹ Colin Powell thăm những đứa trẻ của một buôn làng ở Thung lũng A Shau năm 1963. Courtesy Colin Powell

Sau những lần đồn trú trong và ngoài nước, năm 1962 tướng Powell là một trong số 16 ngàn cố vấn Hoa Kỳ được Tổng Thống Kennedy cử sang Việt Nam để giúp chính phủ miền Nam Việt Nam, cũng cùng lúc ông lập gia đình với bà Alma Vivian Johnson, người vợ đã chung sống với ông gần tròn 60 năm qua. Một năm sau, năm 1963, Powell bị thương do dính bẫy chông trong một cuộc hành quân tại biên giới Việt Nam và Lào. Năm 1968, ông lại được thuyên chuyển sang chiến trường Việt Nam lần thứ nhì với cấp bậc đã là Thiếu Tá trong nhiệm vụ điều tra vụ thảm sát Mỹ Lai mà ông đã bác bỏ các cáo buộc lên lực lượng quân đội Mỹ và báo cáo rằng mối quan hệ giữa lính Mỹ và người dân Việt Nam là tốt đẹp. Tuy nhiên trong chuyến phục vụ lần thứ nhì tại Việt Nam, Powell cũng lại bị thương trong một vụ rơi trực thăng và giải cứu 3 đồng đội mình ra khỏi chiếc trực thăng đang bốc cháy. Ông đã nhận được 11 huân chương chiến công trong hai lần phục vụ tại chiến trường Việt Nam.

Trong chuyến công tác Việt Nam lần thứ hai, Thiếu tá Colin Powell sau một vụ tai nạn trực thăng vào tháng 11 năm 1968. Courtesy Colin Powell

Sau khi trở lại Mỹ, Powell đã tham gia các khóa học dân sự và huấn luyện quân sự cho con đường thăng tiến sự nghiệp của mình. Năm 1971, ông tốt nghiệp cao học quản trị thương mại MBA tại George Washington University, được nhận vào chương trình huấn luyện lãnh đạo của Bạch Ốc trong hai năm 1972-1973 và được thuyên chuyển sang Nam Hàn. Trở về Mỹ và làm việc tại Ngũ Giác Ðài, ông tiếp tục tham gia khóa huấn luyện tại Học Viện Quân Sự trong khoảng thời gian 1975-1976, một kế hoạch huấn luyện những sĩ quan cao cấp cho quân đội Hoa Kỳ trong tương lai. Ðược thăng cấp Thiếu tướng, ông trở thành phụ tá quân sự cao cấp cho Bộ trưởng Quốc phòng Caspar Weinberger dưới thời Tổng Thống Ronald Reagan.

Tướng Colin Powell và Norman Schwarzkopf tại một cuộc họp báo trong Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất. (Wikimedia Commons)

Năm 1987, Powell trở thành một cố vấn an ninh quốc gia và đảm nhiệm trong suốt nhiệm kỳ của Tổng Thống Reagan. Ông là người được xem là chịu trách nhiệm các vấn đề chung và chính sách của TT Reagan với tổng thống Liên Xô lúc bấy giờ là Gorbachev. Năm 1989, sau khi Tổng Thống George H. W. Bush đắc cử, ông được vinh thăng Ðại tướng và bổ nhiệm ông làm Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân lúc 52 tuổi. Ðây là chức vụ quân sự cao nhất trong Bộ Quốc phòng và tướng Powell là sĩ quan người Mỹ gốc Phi đầu tiên và trẻ tuổi nhất từng đảm nhiệm chức vụ này. Tướng Powell đã trở thành một nhân vật quốc gia và tâm điểm trong cuộc chiến Vùng Vịnh lần thứ nhất qua các chiến dịch Lá chắn Sa mạc (Desert Shield) và Bão táp Sa mạc (Desert Storm) tại Iraq. Với tư cách là nhà chiến lược quân sự chính, ông đã phát triển “Học thuyết Powell”, một chiến thuật quân sự chủ trương là sử dụng lực lượng áp đảo để tối đa hóa sự thành công và giảm thiểu thương vong. Tướng Powell xuất ngũ năm 1993, sau vài tháng tiếp tục là Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân sau khi Tổng Thống Bill Clinton đắc cử.

Ngoại trưởng Colin Powell tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc – nguồn The Intercept.com

Năm 2000, tướng Powell gia nhập chính trường khi Tổng thống George W. Bush bổ nhiệm ông làm Ngoại trưởng Hoa Kỳ và được Thượng viện Hoa Kỳ chuẩn thuận tuyệt đối. Vào thời điểm đó, đây cũng là chức vụ cao nhất mà một người Mỹ gốc Phi từng nắm giữ trong chính phủ dân sự tại Mỹ. Trong nhiệm kỳ của mình, dù không còn trong quân đội nhưng với vai trò Ngoại trưởng, Powell đã bị xem là chịu một phần trách nhiệm trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhì vào Iraq năm 2003 vì tin vào các tin tức tình báo thiếu chính xác, dù thoạt đầu ông hoài nghi về cuộc tấn công Iraq và lật đổ Saddam Hussein của Tổng thống Bush là giải pháp tốt nhất.

Là một người Cộng Hòa ôn hòa và những năm cuối đời đối diện với ung thư, ông xem mình như một người độc lập. Tướng Colin Powell được sự ủng hộ từ cả hai đảng chính trị tại Mỹ nhờ sự tận tụy phục vụ quốc gia cùng quan điểm ôn hòa, đặt lợi ích quốc gia lên cao nhất. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn trên truyền hình hồi đầu năm nay, ông bảo rằng, “Tôi chỉ là một công dân bỏ phiếu cho người Cộng Hòa, cho người Dân Chủ. Trong suốt cả sự nghiệp và ngay cả lúc này, tôi chỉ nhìn đến quốc gia của tôi chứ không quan tâm đến vấn đề đảng phái”.

ĐYT

(Source: Biography.com)

Chiếc bàn tròn khăn trắng với chiếc ghế úp

baotreonline.com

Đinh Yên Thảo

November 4th, 2021

Post by Sơn râu 17 Mar 2025

Hàng trăm quân nhân gốc Việt còn đang hiện dịch hay đã xuất ngũ trong hầu hết các binh chủng quân lực Hoa Kỳ và gia đình đã về Dallas để cùng tham dự cuộc họp mặt lần đầu tiên được tổ chức tại khu vực Dallas, Texas. Đây là những thành viên của Hội Quân Nhân Mỹ gốc Việt VAUSA (Vietnamese American Uniformed Services Association) được thành lập từ năm 2007, quy tụ trên một ngàn hội viên đang phục vụ hay sinh sống khắp nước Mỹ và một phần của thế giới.

Chiếc bàn tiệc dành cho các chiến hữu đã hy sinh. Photo: Tony Long 

Quan khách tham dự đêm Gala 2021 mang chủ đề Chinh Phục Biên Giới Mới (Conquering The New Frontiers) của VAUSA được tổ chức tại khách sạn Marriott khu vực Las Colinas vào tối Thứ Bảy ngày 30 tháng 10 năm 2021 vừa qua có lẽ đã chia sẻ chung niềm xúc động lẫn tự hào khi nhìn thấy một giới trẻ gốc Việt không chỉ thăng tiến vượt bậc trong quân lực Hoa Kỳ, mà còn thay mặt cộng đồng gốc Việt báo đáp xứng đáng cho quốc gia thứ nhì của mình.

Thiếu Tướng Châu Lập Thể Flora trao hoa cho gia đình Quân Nhân. Photo: tony Long

Và không chỉ bởi với sự hiện diện của những vị tướng gốc Việt như Lương Xuân Việt và Châu Lập Thể với vài chục năm quân ngũ mà hàng chục sĩ quan cấp tá trẻ tuổi vẫn đang phục vụ và hứa hẹn nhiều sự thăng tiến trong tương lai. Họ khiêm cung, thân thiện và vui vẻ, dù đang nắm giữ những vị trí quan trọng trong quân lực Hoa Kỳ. Mà còn những nghi thức cầu nguyện, nâng ly chúc mừng, những chia sẻ tâm tình trong hành trình và lý tưởng phục vụ quốc gia của người lính gốc Việt. Là nghi thức chia tay đồng đội xuất ngũ…

Toán Quân Kỳ Photo: Tony Long

Nhưng điều gây nỗi xúc động lớn nhất có lẽ không riêng tôi và lần đầu tiên được biết đến và tham dự. Ðó là nghi thức trang trọng khi bày chiếc bàn phủ khăn trắng với một chiếc ghế úp dành cho những đồng đội, mà những người lính gọi họ  là “huynh đệ” của mình đã bị bắt làm tù binh hay mất tích trong chiến tranh (POW/MIA) đã vắng mặt trong bữa ăn hay tiệc Gala như vậy.  Lời dẫn giải của người sĩ quan mang đến cho vài trăm quan khách tham dự hiểu hơn về nghi thức đầy ý nghĩa và tình huynh đệ của người lính ra sao.

Nghi thức pha rượu tượng trưng cho tình đoàn kết. Photo: tony Long

Ðó là chiếc bàn tròn tượng trưng cho sự quan tâm và khắc ghi mãi mãi đến những đồng đội đã nằm xuống hay mất tích. Khăn màu trắng là sự tinh khiết cho ý chí của họ đã đáp lời sông núi. Một đóa hồng đỏ tượng trưng cho máu người lính đã đổ xuống và để nhắc nhở người thân, đồng đội về niềm hy vọng ngày trở về của những người đã mất tích hay đang là tù binh. Bình hoa gắn thêm chiếc nơ nhỏ là sự cam kết, là quyết tâm tìm kiếm hay giải cứu đồng đội. Một lát chanh mỏng nói về số phận cay đắng của họ và dăm hạt muối là những giọt lệ của người thân yêu, gia đình đang ngóng trông. Chiếc khăn ăn màu đen tượng trưng cho tình trạng cô đơn, thiếu thốn và nghiệt ngã số phận của họ. Chiếc ly úp xuống vì họ không may mắn có mặt để cụng ly cùng chúng ta trong bữa tiệc. Ngọn nến thắp sáng niềm hy vọng, cho ánh sáng soi đường họ trở về. Và cuối cùng, là một và chỉ một chiếc ghế úp lại, tượng trưng cho mỗi và tất cả đồng đội đã bị vắng mặt như vậy, nó sẽ ở đó và sẽ luôn dành cho đến ngày họ bình an trở về. Bởi họ là huynh đệ, là những người sẽ không bao giờ bị quên lãng.

Thiếu Tướng Châu Lập Thể và Đại Tá MiMi Phan (hàng trươc) đặt vòng hoa tại Tượng đài chiến sĩ ở Arlington sáng ngày 30/11/2021 Photo: Tony Long

Tôi cảm động và cảm thấy may mắn khi được nghe và biết đến nghi thức này của những người lính Mỹ về tình đồng đội và sự hy sinh cao cả của họ.  Về những người lính Mỹ gốc Việt nói riêng đã nằm xuống. Ðể biết tri ân người lính và cảm tạ về những gì mà họ đã hy sinh và phục vụ để những người dân như chúng ta được an bình thụ hưởng.

Mọi người thưởng thức bữa ăn tối thịnh soạn của khách sạn Marriott. Photo: Tony Long

Có lẽ không chỉ trong tháng 11 có ngày lễ Tạ Ơn đang đến, mà nó là điều sẽ còn ở lại trong đời sống của riêng tôi và mỗi chúng ta trong mọi ngày.

Chụp hình kỷ niệm Đại Hội Toàn Quốc Quân Nhân Hoa Kỳ Gốc Việt 2021. Photo: Tony Long

ĐYT

Alain Delon từ lêu lổng thành tài tử thế giới

baotreonline.com

Đinh Yên Thảo

August 23rd, 2024

Post by Sơn râu 17 Mar 2025

Alain Delon đón sinh nhật thứ 20 của mình trong tù. Tại Sài Gòn. Bốn năm phục vụ trong Hải quân Pháp tại Đông Dương, chính xác hơn là tại Việt Nam, ông ở tù hết 11 tháng trong vài vụ vô kỷ luật khác nhau.

Đây là thời gian ông bắt đầu chiêm nghiệm và làm lại cuộc đời để trở thành một trong những nam tài tử Pháp nổi tiếng nhất thế giới.

Sinh năm 1935 tại ngoại ô Paris, năm lên 4 tuổi, cha mẹ ông ly dị và ông được một gia đình nhận làm con nuôi. Đây là vết sẹo tuổi thơ đầu tiên của Alain Delon. Để rồi sau này được luân phiên về lại với cha và mẹ ruột đã lập gia đình riêng, Alain Delon lớn lên trong sự ngỗ nghịch, nổi loạn vì thiếu sự chăm sóc và yêu thương của cha mẹ từ nhỏ.

Alain Delon tại Sài Gòn vào khoảng năm 1954-1955 và bích chương quảng cáo phim của ông chiếu tại rạp Rex Sài Gòn vào năm 1974.

Đánh lộn, trốn học, trộm cắp, bia rượu, thậm chí cả băng đảng… đó là tuổi thiếu niên của Alain Delon. Năm 17 tuổi, ông tình nguyện nhập ngũ và được đưa sang Việt Nam. Ông tham dự trận Điện Biên Phủ và sau đó được đưa về đóng tại Sài Gòn, cho đến ngày bị tù và trục xuất khỏi quân ngũ, về lại Pháp.

Alain Delon trong phim Lost Command về Điện Biên Phủ

Đẹp trai, nam tính cộng thêm kinh nghiệm băng đảng lẫn súng đạn, quân đội, Alain Delon được mệnh danh là “Brigitte Bardot cánh đàn ông”, vì Brigitte Bardot lớn hơn ông một tuổi và đã nổi tiếng là một nữ minh tinh quyến rũ nhất của Pháp khi Alain Delon bước vào làng điện ảnh.

Alain Delon, biểu tượng sex và ngôi sao lớn của Điện ảnh Pháp. nguồn ansa

Bộ phim đầu tiên của Alain Delon là một phim về băng đảng ông được tham gia vào năm 1957 và bắt đầu dẫn ông vào sự nghiệp điện ảnh. Câu chuyện còn lại là gần cả trăm phim lớn nhỏ, đưa tên tuổi ông trở thành một biểu tượng lừng lẫy của điện ảnh Pháp và vượt ra khỏi biên giới nước Pháp từ thập niên 60s. Khán giả yêu thích Alain Delon không chỉ vì nét điển trai của ông mà phong thái lịch lãm, sức cuốn hút đầy ma lực qua những vai diễn của ông.

Dalida và Alain Delon trong album Paroles, Paroles

Báo chí thế giới tuần rồi đăng tin Alain Delon vừa qua đời ở tuổi 88 sau vài năm bệnh tật. Ngôi sao điện ảnh thế giới cuối cùng đã giã từ người hâm mộ, để lại vô số vai diễn và những bộ phim để đời của ông.

Ông Alain Delon nhận giải Cành Cọ Vàng danh dự ở tuổi 83, tại Liên hoan phim Cannes 2019. Ảnh: Reuters

Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron viết phân ưu trên mạng Twitter cũ ngay sau khi nhận được tin ông qua đời rằng, “Alain Delon đã đóng những vai diễn “huyền thoại” và khiến cả thế giới phải mơ ước. Phim tình cảm, phim đại chúng cho đến phim điệp viên, Alain còn hơn cả một ngôi sao điện ảnh mà ông còn là một tượng đài của nước Pháp”. Còn Brigitte Bardot thì viết rằng, “sự ra đi của Alain Delon là  khoảng trống lớn mà không có gì và không ai có thể thay thế”.

Câu chuyện của Alain Delon đã có thể khác đi nhưng những thay đổi ở tuổi 20 đã đưa ông trở thành một tên tuổi thế giới, đặc biệt là với người hâm mộ điện ảnh Việt Nam của một thời quá vãng.

Đại sứ Ukraine tại Pháp Vadym Omelchenko trao tặng nam tài tử người Pháp Alain Delon Huân chương Công trạng vì Ukraine.nguồn odessa journal.com

ĐYT

Chiến tranh bên cạnh tình yêu

Huy Văn Trương

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 17 Mar 20254

Tập 3

Phần 9
Bữa cơm đoàn tụ

Đêm đầu tiên sau khi ra khỏi tù, tôi đi lang thang ở bến xe đò Phan Rang, đi để hít thở bầu không khí tự do, hết rồi chuyện phải ngồi họp tổ nghe đọc kiểm điểm, không cần phải đi ngủ sớm lấy sức mai còn đi làm lao động, muốn làm gì cũng được, muốn đi đâu cũng xong. Hôm qua còn ở trong tù, hôm nay đã thong dong ở bên ngoài, tự do đến với mình quá bất ngờ, khiến tôi cứ ngỡ là mình đang sống trong mơ, đi mà cứ tưởng như chân không chạm đất. Loanh quanh một hồi, tôi đưa mắt nhìn quanh rồi dừng lại nơi cái vỉa hè rộng khoảng một thước, bên hông một căn nhà. Đây đúng là một chỗ ngủ lý tưởng, quá sức rộng rãi, sạch sẽ, đối với một tù nhân vốn ăn chay nằm đất đã quen. Không một chút chần chừ, tôi quăng hai cái bao xuống đất làm gối, nằm gác chân lên cẳng, thong thả ngắm bầu trời Phan Rang đang từ từ tối dần.

Lơ tơ mơ một lúc, tôi cũng chìm vào giấc ngủ lúc nào không biết. Giữa khuya trong bầu không khí im vắng của bến xe, tôi chợt giật mình tỉnh giấc, một nửa mảnh trăng vàng lấp ló sau mái hiên nhà, chiếu ánh sáng vàng nhạt vào chỗ tôi nằm. Tiếng của một con muỗi đói kêu vo ve bên tai, khiến tôi nhớ đến cái đêm tôi và Cúc ngủ ở bậc cấp của một căn nhà, nơi bến xe Pétrus Ký ở Sài Gòn. Đêm nay cũng ăn bờ ngủ bụi, nhưng cái khác biệt là tôi ngủ một mình, không phải thức quạt muỗi cho vợ. Một cơn gió đêm mang theo chút hơi lạnh khiến tôi rùng mình, rồi vội vàng lôi cái mền ra khỏi bao cát đắp qua người, chụp cái mùng lên đầu, tiếp tục giấc ngủ dở dang.

Buổi sáng, tôi thức dậy khi trời đã sáng tỏ, không có tiếng kẻng ma quái đàn áp cái lỗ tai của mình, không cần phải nhai vội miếng bột mì luộc rồi đi lao động. Tôi nằm phè cánh nhạn, nhìn mây trôi lờ lửng mà cảm thấy đã đời quá chừng. Cho đến khi có vài chiếc xe đò chạy vào bến, lúc bấy giờ tôi mới chịu cuốn mùng mền, nhét vào hai cái bao cát khoát lên vai rồi đi về phía cầu tiêu công cộng của bến xe. Mở vòi nước, đưa tay hứng lấy một vốc rửa mặt, sau khi đã giải quyết mọi vấn đề vệ sinh, tôi trở lại cái băng ghế gỗ hôm qua, mò trong bao cát lấy ra cái bánh ú. Tôi tà tà thưởng thức buổi ăn sáng, mắt ngắm nhìn sinh hoạt nhộn nhịp của bến xe, cuộc sống người dân sau hơn một năm giải phóng chừng như chậm hơn xưa nhiều. Mặt trời lên khá cao, chiếc xe đò cà tàng chở tôi lên Đà Lạt mới bắt đầu rời bến. Tiếng máy xe gầm gừ như nghẹt thở, phun ra từng cụm khói đen ngòm, xe chạy một cách mệt nhọc trên con đường lỗ chỗ ổ gà. Đến đèo Ngoạn Mục, lúc này chiếc xe không chạy nữa mà là bò, nó bò chậm đến độ một ông già ngồi trong xe hỏi anh tài xế.

-Có cần tụi tôi xuống đẩy phụ không?

Anh tài xế quay nhìn hành khách ngồi trong xe với nụ cười méo xệch. Anh ta nói.

-Bà con thông cảm, bọn Ngụy chạy đi, tụi nó bỏ xe lại nhưng quên để lại phụ tùng thay thế. Xe hư chúng tôi phải khắc phục, nhặt nhạnh chắp vá, lượm chỗ này đắp chỗ khác, xe còn chạy được là may lắm rồi, vài tháng nữa chắc là phải đi bộ thôi.

Ba giờ chiều xe đến Đà Lạt, cập bến nơi cây xăng gần ấp Ánh Sáng, tôi khoát hai cái bao cát lên vai, bước vội về nhà. Khi ngang qua khu Hòa Bình, tôi chợt thấy cái vắng vẻ, buồn thảm của Đà Lạt. Thành phố nơi tôi ở mới có hơn một năm mà nó đã già đi thấy rõ, hầu hết những tiệm buôn chung quanh khu Hòa Bình đều đóng cửa, một vài chiếc xe hơi, dăm ba chiếc xe gắn máy di chuyển trên đường phố, lác đác vài người dân áo quần lam lũ, họ đi trong im lặng như những bóng ma. Hóa ra cuộc sống của người dân Đà Lạt, sau hơn một năm giải phóng nếu đem so sánh với tù cải tạo, có khá hơn thì cũng một chín, một mười mà thôi.

Tôi men theo hè phố, đi xuống hết con dốc Minh Mạng, tên mới là Trương Công Định, căn nhà của ba tôi đã hiện ra. Đứng trước nhà, định đưa tay gõ cửa, tôi hơi ngạc nhiên khi thấy cửa hé mở, không có khóa. Vì muốn tạo một chút vui mừng bất ngờ cho mọi người nhất là Cúc, tôi đẩy cửa bước vào. Người đầu tiên tôi gặp là chị Hai, ngồi bên một cái nia với mớ gạo trải đều ở bên trên, tôi không biết chị đang nhặt thóc hay sạn. Chị Hai ngẩn mặt, mở to mắt nhìn chằm chặp lấy tôi, rồi hỏi với giọng lạnh lùng.

-Ông tìm ai?

Tôi nói.

-Chị Hai quên tôi rồi sao? Tôi là Quân, chồng của Cúc.

Sau một thoáng sửng sờ, chị kêu to.

-Cô ơi….cô.

Tiếng nói của Cúc vọng lên từ nhà bếp.

-Chị làm gì mà la như cháy nhà vậy.

Cùng lúc ấy Cúc xuất hiện nơi cánh cửa ngăn nhà bếp với phòng khách, tay bưng một cái dĩa. Cúc nhìn tôi với ánh mắt xa lạ rồi nói với chị Hai.

-Chị xúc cho ông ấy chén gạo, nhớ cho ông ta thêm mấy đồng bạc lẻ nữa.

Quá ngạc nhiên vì thái độ kỳ lạ của vợ, chưa kịp tìm hiểu tại sao, tôi đã nghe tiếng vỡ tan tành của cái dĩa khi chạm nền nhà, âm thanh của nó vang vọng khắp căn phòng. Cùng lúc ấy Cúc chạy nhanh đến ôm lấy tôi.

-Anh phải không? Thoạt nhìn em cứ tưởng là người… người..

Tôi tiếp lời vợ.

-Ăn xin phải không?

Cúc gật đầu, vòng tay từ từ xiết chặt lấy tôi, trong khi nước mắt của nàng đã bắt đầu tuôn tràn, Cúc khóc ngon lành, khóc say sưa. Tiếng khóc nức nở nghẹn ngào của Cúc mỗi lúc một lớn hơn, làm tôi nhớ lại chuyện năm xưa. Hồi đó tại căn nhà có hai cây vú sữa ở đường Nguyễn Minh Chiếu Sài Gòn, Dung đã ôm tôi khóc ngon lành khi nói đến cái chết của Biên. Một cảm giác sợ hãi, lạnh buốt, chạy dọc theo sống lưng, rồi lan tỏa khắp thân mình, tôi hỏi Cúc, giọng nói không được bình tỉnh cho lắm.

-Ba hay má mất rồi phải không?

Cúc lắc đầu, cái lắc đầu khiến tôi sợ hơn nên vội hỏi.

-Hay là, con của mình đã chết rồi?

Cúc lại tiếp tục lắc đầu.

-Anh đừng có nói bậy.

Lo âu, sợ hãi đã bớt đi nhiều tôi mừng thầm trong bụng, hỏi tiếp.

-Còn thằng Tý với con Quyên?

Cúc khóc nhỏ lại.

-Tụi nó đi họp đoàn thể gì đó, chưa về.

Đến đây tôi đã hoàn toàn yên tâm. Đưa tay nâng cằm của Cúc lên, nói nhỏ.

-Anh về, lẽ ra em phải mừng, tại sao lại khóc? Em làm anh sợ mất hồn.

Cúc nói với tôi, giọng đầy nước mắt.

-Tội nghiệp cho anh quá chừng, nhìn anh tiều tụy, bệ rạc, giống hệt như mấy người vô gia cư thường hay lang thang ngoài chợ. Bất ngờ thấy chồng mình thân tàn ma dại như vậy, không khóc sao được. Ở trong đó khổ lắm phải không anh?

Tôi đùa với Cúc.

-Cũng không khổ lắm đâu, sức người có thể chịu được.

-Đói lắm phải không?

Tôi trả lời.

-Cũng có đói, nhưng mà sức người có thể chịu được.

Cúc vùng vằng, trong khi nước mắt vẫn lưng tròng.

-Anh nói chuyện cứ như là đùa giỡn, nếu không khổ cực, không đói khát, tại sao anh ốm đi nhiều như vậy, lại nữa quần áo lành lặn đâu hết rồi mà anh ăn bận cứ như…như..

Tôi nói.

-Ăn mày phải không? Anh giống ai thì em cứ nói, đừng có ngại. Em biết không, gần ba tháng rồi anh chỉ có một bộ đồ duy nhất mặc trên người. Mỗi tuần một lần khi đi tắm ở Sông Lũy, anh giặt quần áo xong vắt cho khô rồi bận lại, giặt riết bộ đồ mòn đi, mõng dánh như tờ giấy quyến, chạm mạnh tay nó có thể rách toạc ra lúc nào không biết.

Cúc nhìn xuống chân của tôi rồi hỏi.

-Anh mang cái gì vậy? Trông giống như cục gạch.

Tôi khoe với Cúc.

-Đây là đôi guốc gỗ do anh tự đóng lấy đó em, nó bền hết biết, anh mang cả mấy tháng rồi mà chưa hư.

Cúc lại hỏi tôi.

-Kỳ thăm nuôi em có đem khá nhiều thực phẩm cũng như tiền bạc cho anh, chừng đó không đủ để anh dùng hay sao? Còn quần áo của anh đâu hết rồi, tại sao anh chỉ còn một bộ đồ bận trên người?

Tôi vuốt tóc vợ rồi nói.

-Khi nào rảnh rỗi, có nhiều thì giờ anh sẽ kể cho em nghe chuyện ở trong tù. Bây giờ anh đói lắm rồi, nhà còn cơm nguội không? Cho anh một chén rưỡi.

Cúc thắc mắc hỏi tôi.

-Tại sao phải một chén rưỡi? -Đó là tiêu chuẩn một bữa ăn cho tù cải tạo, anh ăn như vậy cả năm rồi nên quen miệng mà nói vậy thôi.

Dứt lời, tôi cười đùa với Cúc.

-Nếu nhà có dư cơm thì cho anh hai chén cũng được.

Cúc nói.

-Nhà hết cơm nguội rồi, anh đợi chị Hai nấu cơm nóng cho anh ăn, được không? Chỉ đợi một chút thôi mà cưng.

Tôi than với Cúc.

-Chiều hôm qua, anh ăn một cái bánh ú nhỏ hơn cái nắm tay, sáng nay cũng ăn một cái bánh ú nữa, rồi nhịn đói đến bây giờ. Em coi trong nhà có củ khoai hay trái bắp nào không, anh phải ăn liền lập tức mới được. Nếu không có gì bỏ bụng, anh sẽ bị xỉu vì đói.

Thấy tôi đòi ăn mà như sắp chết đến nơi, Cúc nói với chị Hai.

-Chị chạy qua tiệm ăn trước nhà, mua cho cậu tô mì hoành thánh.

Nghe Cúc nói, tôi ngạc nhiên thực sự, bèn hỏi Cúc.

-Xã Hội Chủ Nghĩa cả năm rồi, tiệm ăn còn được buôn bán hay sao? Gạo đâu mà nấu cơm? Ai có tiền mà ăn?

Cúc giải thích.

-Gạo chợ đen, mì chợ đen, thịt chợ đen, thứ gì cũng chợ đen, chủ tiệm ăn chỉ muốn bán cầm chừng, sống tạm qua ngày. Chờ đợi coi tình hình biến chuyển như thế nào.

Nói đến đây Cúc chợt nhăn mặt, đưa tay lên giả bộ như bịt mũi.

-Em nói anh đừng có giận, áo quần của anh bốc mùi hôi quá sức. Trong khi chờ đợi mì, anh đi tắm rồi thay quần áo sạch sẽ. Sau đó mình lên lầu thăm con.

-Đi liền, anh muốn gặp con ngay bây giờ. Em biết không suốt thời gian ở trong tù, lúc nào anh cũng mơ ước được thấy mặt con, chỉ mong được ôm nó vào lòng. Mà nè con mình là trai hay gái.

-Con gái, nhưng anh phải đi tắm trước đã.

Nói xong Cúc nhìn tôi, hỏi tiếp.

-Anh mang cái gì trong hai cái bao cát vậy?

-Một cái mùng và một cái mền.

-Có gì quan trọng trong bao cát không?

-Không, chỉ có tờ giấy phóng thích của Tổng trại 8 tù binh là quan trọng, cái bằng tốt nghiệp này anh cất rất kỹ trong túi quần.

Cúc nói với tôi.

-Như vậy thì dễ dàng rồi, quần áo, guốc dép, mùng mền của anh, tất cả em sẽ dồn vô một cái bao rồi đem đi đốt.

Tôi than thở với Cúc.

-Phí của trời, biết vậy mấy hôm trước anh chịu hy sinh cho muỗi chích một hai đêm, đem mùng mền này cho bạn tù của anh. Trong đó thiếu thốn đủ mọi thứ, vớ được cái mền chắc họ mừng lắm.

Cúc giục tôi.

-Anh đi tắm đi, tắm xong xuống ăn mì là vừa.

Sau khi trút bỏ bụi tù, tôi ngồi vào bàn ăn.

Cúc đến ngồi đối diện với tôi, tay bồng con, chăm chú nhìn tôi ăn mì.

-Anh à, chỉ nên ăn một tô mì thôi, nếu anh ăn nhiều quá, bao tử chưa quen với thịt mỡ, có thể bị trúng thực.

Tôi gật đầu đồng ý rồi nói sang chuyện khác.

-Anh muốn bồng con một chút, sau đó mới ăn mì.

Tôi đọc được cái vui sướng trong đôi mắt của Cúc.

-Ăn cho xong rồi anh muốn bồng con bao lâu cũng được.

Tôi vừa chậm rãi thưởng thức tô mì, vừa nghe vợ nói về chuyện tôi sẽ phải làm gì trong những ngày sắp tới.

-Ngày mai em sẽ dẫn anh qua gặp tổ trưởng dân phố, tổ phó và tổ phó an ninh, cả ba người này đều là đàn bà. Anh có biết không, bà tổ trưởng trước ngày giải phóng là nội trợ, bà tổ phó là thợ may, bà tổ phó an ninh bán cá. Nhiệm vụ của ba bà là lo tất cả mọi chuyện trong tổ dân phố của mình, trông coi chừng ba chục gia đình. Họ thay mặt cho nhà nước, truyền lệnh xuống cho dân như họp hội hàng tuần, đốc thúc dân đi làm thủy lợi, làm lao động Xã Hội Chủ Nghĩa, vận động dân đi vùng kinh tế mới. Phụ tá của ba bà có một ông thư ký của tổ, đặc biệt ông thư ký của tổ mình trước năm 75, có bằng Cao học làm phụ khảo ở trên Viện đại học Đà Lạt.

Nói đến đây Cúc cười.

-Đất nước ta đang xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa, bằng Cao học của Ngụy không có giá trị, họ cho ông ta làm thư ký như một đặc ân, vì làm thư ký tổ dân phố sẽ được miễn công tác xã hội.

Tôi hỏi Cúc.

-Ông thư ký của tổ mình tên là Tú, phải không?

-Sao anh biết

-Tốt nghiệp Cao học rồi ở lại làm phụ khảo, trên Viện chỉ có một người, thằng đó học trung học với anh. Đậu tú tài hai, nó tiếp tục lên đại học vì được hoãn dịch với lý do gia cảnh. Sau sáu năm dùi mài kinh sử, hè năm 1973 nó xong Cao học, rồi ở lại Viện đại học làm phụ khảo.

Cúc nghe tôi nói xong, mới tiếp tục câu chuyện.

-Gia đình mình cũng như tất cả mọi người trong tổ, đều phải chịu sự giám sát chặt chẽ của bốn người đó.

Nói xong Cúc hấp tấp.

-Quên đi chớ, còn ông công an khu vực nữa, như vậy là năm người tất cả.

Tôi lấy tờ giấy phóng thích của Tổng trại 8 tù binh, để lên bàn rồi nói với Cúc.

-Câu chót trong tờ giấy này có ghi, anh sẽ bị quản chế , bị giám sát tại địa phương trong thời hạn là một năm. Sau đó có được giải chế hay không còn tùy nhiều điều kiện.

Cúc trấn an tôi.

-Anh đừng có lo, tổ trưởng, tổ phó, tổ phó an ninh, em lo lót hết rồi. Lễ lạc, Tết nhất, em đều kín đáo quà cáp, biếu xén riêng cho họ. Ba người đều vui vẻ nhận quà. Và với gia đình mình, họ làm việc với một mắt nhắm, một mắt mở. Riêng ông thư ký thì giả câm, giả điếc, cố gắng tìm đường sống trong chỗ chết. Ông này mình khỏi cần lo, vì ông ta là thiên lôi trời sai đâu đánh đó. Chỉ còn gã công an khu vực mới chuyển đến là em chưa biếu xén gì cho hắn. Lúc nãy em đã dặn chị Hai mua vài cây thuốc lá rồi, thuốc Mỹ thì không còn, nên phải mua thuốc Sài Gòn Giải phóng, đây là thuốc lá đắt tiền nhất, để sẵn đó. Khi gã công an khu vực đến dò xét nhà mình, với lý do là thăm hỏi bà con, anh hãy kín đáo đưa cho hắn một cây thuốc lá. Chỉ lần đầu tiên ra mắt hắn thôi, những lần sau cho hắn một, hai gói là được rồi.

Bị ám ảnh trong tù, tôi lo lắng hỏi Cúc.

-Nếu hắn không nhận, lại bắt bỏ tù anh thì sao?

Cúc trấn an tôi.

-Anh như con chim bị tên, mới thấy cành cây cong đã sợ rồi. Trước mặt mọi người, gã công an nào cũng cố chứng tỏ mình là người đứng đắn, trong sạch, sống đạo đức theo gương Bác Hồ, nhưng sau lưng, bác cháu nhà nó hút thuốc lá ngoại quốc, ăn tạp như heo.

Thấy tôi đã ăn xong, Cúc đứng lên đưa con cho tôi bồng, rồi nói.

-Mọi chuyện ứng xử, khi phải sống trong một tổ dân phố dưới chế độ cai trị của Cộng sản, anh đã hiểu sơ qua rồi. Giờ thì anh thoải mái chơi với con, em phụ chị Hai nấu cơm.

Tôi ghẹo Cúc.

-Con gái rượu của ông trùm nhà cửa Sài Gòn mà cũng biết nấu ăn sao? Anh tưởng em chỉ biết nấu chút xôi hay chén cháo thôi.

-Anh đừng có coi thường em, mỗi lần từ Đà Lạt về Sài Gòn thăm nhà, ba chỉ thích em nấu cơm cho ổng ăn thôi.

Buổi tối cả nhà ăn cơm tối trên lầu hai. Nhìn cha mẹ, vợ con cùng hai đứa em xum họp đầy đủ quanh bàn ăn, thừa lúc mọi người đều ăn uống ngon lành, cười nói huyên thuyên, tôi hỏi Cúc.

-Tại sao mình không ăn cơm ở nhà bếp mà phải dọn lên lầu.

Cúc từ tốn nói cho tôi nghe.

-Sau khi anh đi tù cải tạo, ở Đà Lạt, nhà của dân ban ngày không được khóa cửa vì tổ trưởng, tổ phó và công an khu vực, có thể ghé thăm bất cứ lúc nào mà không cần phải gõ cửa. Họ thản nhiên mở nắp nồi cơm, coi mình có ăn độn hay không, dở nắp nồi khác xem ăn thịt hay cá, nhiều hay ít. Gặp hôm nhà nào ăn cơm không độn, sẽ được tổ trưởng khen “Hôm nay nhà mình chắc có cúng giỗ hay sao mà nấu toàn cơm trắng thế này”. Chủ nhà nghe lời khen, sẽ tự biết đó là một lời cảnh cáo của tổ trưởng “Tôi biết rồi đó, liệu mà giữ hồn”.

Hôm nay nhà mình có đủ thịt gà, thịt heo, tôm cá, nên em phải dọn lên đây để tránh họ dòm ngó.

Tôi nói.

-Mình quen với họ mà.

Cúc nhắc tôi.

-Em nói đối với nhà mình, họ nhắm một mắt, mở một mắt, nhưng phần mình cũng phải kín đáo một chút, đừng lộ liễu quá khiến họ khó làm việc.

Ba tôi khen Cúc.

-Vợ con nó nói đúng đó, mình phải cẩn thận thì tốt hơn.

Má tôi là người vui nhất trong nhà, bà nói.

-Từ lúc con đi học tập, ngày nào má cũng đọc kinh, cầu xin Trời Phật phù hộ cho con mau được trở về. Hôm nay lời cầu xin của má đã ứng nghiệm, sáng mai má sẽ mua nhang đèn, hoa quả, xuống chùa Sư Nữ cúng tạ ơn. Con có muốn đi với má không?

Tôi phải giải thích cho bà hiểu.

-Con đang bị quản chế, đi đâu dù xa hay gần đều phải xin phép tổ trưởng và công an khu vực. Hơn nữa, ngày mai con phải lên trình diện công an khu vực, làm mọi thủ tục của một tù cải tạo bị quản chế.

Thằng Tý với con Quyên, ngồi dựa ngửa ra ghế than trời.

-No quá chị ơi, ước gì ngày nào cũng được ăn như vậy.

Bữa cơm đoàn tụ chấm dứt trong bầu không khí vui tươi, thoải mái. Tôi thấy được sự sung sướng hiện lên rõ rệt trên nét mặt của tất cả mọi người trong gia đình. Từ đầu bữa ăn cho đến giờ chị Hai chỉ im lặng ăn cơm, bất ngờ chị nhìn tôi rồi hỏi.

-Ngày mai cậu muốn ăn gì? Nói trước để tôi còn lo đi chợ.

Tôi cố tình đùa với chị.

-Không cần gì đâu, ở trong tù tôi ăn cơm với muối quen rồi, chị cho tôi một chén rưỡi cơm nguội là đủ rồi.

Chị Hai cười vui vẻ.

-Cơm thì chừng đó thôi nhưng phải có thêm con gà quay nữa phải không?

Cúc tiếp lời chị Hai.

-Chị nhớ mua hai con gà thì mới đủ cho cả nhà ăn.

Cơm nước xong xuôi, mọi người đều trở về phòng riêng của mình, tôi và Cúc bồng con đi lên lầu ba, đến chân cầu thang tôi nói với Cúc.

-Để anh cõng em lên lầu.

Cúc cảnh báo tôi.

-Nói nhỏ một chút, ba má la cho coi. Bây giờ anh bồng con giùm, em phải đi pha sữa cho nó, sau đó còn phải qua nhà bà tổ trưởng, khai báo chuyện anh mới được Cách mạng khoan hồng cho về đoàn tụ với gia đình. Nếu không khai báo, tối nay công an khu vực xét nhà, thấy anh cư ngụ bất hợp pháp, họ lại bắt anh bỏ tù nữa bây giờ.

Tôi bồng con đi lên lầu, chân bước mà bên tai vẫn còn nghe văng vẳng tiếng nói của ông Thiếu tá trưởng trại cải tạo. “Về trình diện địa phương, họ nói gì kệ họ, chớ có cãi lại, nó sẽ bỏ tù các anh đó.”

Chiến tranh bên cạnh tình yêu

Huy Văn Trương

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 17 Mar 2025

Nhà tù hình chữ S

Tập 3

Phần 8
Bát cơm Phiếu mẫu

Tháng sáu, Việt Nam đã vào mùa mưa, khu rừng Sông Lũy nơi chúng tôi đang ở, cứ năm ba ngày lại bị một trận mưa lớn. Nhà ở đang được tù nhân làm dở dang, chỉ có hai căn của cán bộ quản giáo và vệ binh là đã làm xong. Riêng phần tù nhân thì đầu đội trời, chân đạp đất, một miếng ny lông nhỏ để che thân cũng không có, nói gì đến áo mưa. Mấy trăm thằng tù ướt như chuột, lạnh run người, suốt đêm ngủ ngồi chỉ mong sao cho trời mau sáng, kiếm chút ánh mặt trời mà sưởi ấm.

Hai tuần lễ sống trong cảnh màn trời chiếu đất rồi cũng qua mau, cuối cùng nhà ở cũng hoàn tất, tù nhân nằm ngủ xếp cá hộp, mỗi người có khoảng sáu tấc bề ngang, không chật mà cũng không rộng, điều sung sướng nhất của tù nhân là từ nay không còn lo cái cảnh phải ngồi bó gối suốt đêm, nghe mưa rơi mà nhớ nhà, để rồi chợt thấy sao nước mưa lại có vị mặn. Khi chỗ ở đã ổn định, tất cả tù nhân được nhận công tác mới, trồng bông vải ở nông trường Sông Lũy nằm cách xa chỗ tù nhân đang ở khoảng ba cây số. Nông trường là một khu đất hình chữ nhật khá bằng phẳng, rộng mênh mông bát ngát, diện tích có đến vài trăm mẫu như không, bề ngang của nó ước chừng non một cây số, bề dài khoảng hai cây. Tôi nghĩ trong đầu, hôm nào có dịp tôi sẽ đi đếm bước chân để đo thử. Khu đất đã được xe máy cày ủi sơ qua, cho nên vẫn còn nhiều chỗ chưa được hoàn tất. Với một số nhân lực khổng lồ, hơn ba trăm tù nhân kẻ xúc người đào, sau gần một tuần mới dọn xong cỏ rác. Khi đất đã sẵn sàng, tiếp theo là việc gieo hột bông vải. Một người tù đi trước, dùng cuốc đào một cái lỗ nhỏ, tù nhân đi sau vai mang một cái bị đựng hột giống, thả vào đó chừng hai tới ba hột bông rồi dùng chân lấp lại. Chuyện đơn giản như vậy nhưng tù nhân cũng được học tập cách trồng bông vải hết nửa ngày. Gieo hạt xong là đến chuyện đi khắp nông trường, chỗ nào bị úng thủy thì phải khai mương thoát nước. Đất hoang gặp mưa nhiều, cỏ dại mọc mạnh hơn cây bông vải, tù nhân lại vác cuốc đi dọn cỏ. Chỉ tội cho tù nhân là những cây cuốc do lò rèn của tù nhân tự chế còn vụng về, thô sơ nên lưỡi cuốc không được bén cho lắm, cuốc đổ mồ hôi mà cỏ vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt. Hai tuần sau đó, cây bông vải đã mọc cao hơn mặt đất chừng một gang tay. Bất ngờ có lệnh cho tù nhân tập họp để nghe quản giáo nói chuyện. Mặt của anh quản giáo đỏ kè như người say rượu, anh ta nói với giọng nói đầy giận dữ, tưởng chừng như muốn ăn tươi nuốt sống được cái đám tù nhân khó dạy này.

-Các anh là thành phần có tội với nhân dân, với Tổ quốc, thay vì đem xử bắn, Cách mạng đã cho các anh cơ hội học tập cải tạo để trở thành con người mới, con người Xã Hội Chủ Nghĩa. Nuôi các anh tốn không biết bao nhiêu là cơm gạo. Hôm nay cho các anh đi làm lao động, đóng góp công sức xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa, thì các anh lại trở thành những kẻ phá hoại.

Tù nhân ngồi im phăng phắc nghe quản giáo nói chuyện mà không hiểu tại sao ông ta lại giận quá sức như vậy. Nhìn những gương mặt ngơ ngác của tù nhân, anh quản giáo nói tiếp.

-Đã cho các anh học tập cách gieo hột giống rồi, mỗi lỗ chỉ bỏ vào hai tới ba hột, vậy mà có rất nhiều lỗ mọc lên đến năm sáu chục cây bông vải. Chúng tôi đang điều tra, tìm cho ra những kẻ phá hoại này. Bây giờ các anh phải ra nông trường. Đi kiểm soát lại những lỗ nào có quá nhiều cây, các anh phải nhổ bỏ chỉ chừa lại đúng ba cây mà thôi.

Tôi nhìn gương mặt của anh quản giáo rồi nghĩ thầm. Tưởng chuyện gì quan trọng như là tù nhân cướp súng trốn trại, bắn nhau với bộ đội, hoặc tệ lắm là chửi rủa, chống đối Cách mạng nên quản giáo tức giận cũng phải. Đàng này tù chỉ làm hao hụt một mớ hột giống bông vải, chuyện nhỏ chút xíu mà cũng um xùm. Theo lệnh quản giáo, ba trăm tù nhân đi ra nông trường, chỉ một thoáng là mọi việc đã làm đúng theo ý ông ta.

Liên tiếp mấy tuần sau đó, bất kể nắng mưa, tù nhân đi nông trường chỉ làm cỏ và rải phân. Cây bông vải được chăm sóc cẩn thận, lại thêm mưa thuận gió hòa nên lớn nhanh như thổi. Mỗi lần ra nông trường là mỗi lần thấy đổi khác, màu xanh của cây bông vải giờ đây đã phủ kín khắp vài trăm mẫu đất. Công việc đang tiến triển tốt đẹp, ngày 29 tháng 8 tù nhân lại nhận được lệnh chuyển trại. Đang giữa mùa mưa, nghe chuyện đổi chỗ ở, mọi người đều nản chí và tin rằng chuyện ở nông trường Sông Lũy đã xong, bây giờ sẽ đi đến một nông trường khác, lại tiếp tục chặt cây, đốn nứa, cắt tranh làm nhà, lại phá rừng để trồng trọt. Nội cái chuyện làm nhà để ở trong mùa mưa cũng khiến tù nhân xuống tinh thần, nói gì đến chuyện lao động sản xuất. Nhưng mà lệnh là lệnh, đám tù nhân lại lo thu dọn đồ đạt rồi tay xách nách mang, gồng gánh dẫn nhau di chuyển đến chỗ ở mới. Cho đến chiều ngày hôm ấy, tù nhân được đưa đến gần trại tù cũ ở Sông Mao, cái trại tù đặc biệt có hàng rào vỉ sắt PSP bao quanh, chúng tôi được ở trong một căn nhà tiền chế rộng mênh mông giống như Đại giảng đường của Trường Bộ Binh Thủ Đức. Căn nhà nằm bên ngoài hàng rào vỉ sắt PSP, cách biệt hoàn toàn với trại tù cũ. Tôi không biết ngày xưa Trung đoàn 44 của Sư đoàn 23 Bộ binh, dùng căn nhà tiền chế này để làm gì, rạp hát chiếu phim cho lính coi? Hơn ba trăm tù binh ở trong căn nhà tiền chế mà chỉ chiếm có gần phân nửa diện tích, phần còn lại bỏ trống không. Tối đến chúng tôi ngủ trên sàn xi măng, trên trần nhà bốn ngọn đèn nê ông sáng chói, mỗi ngọn cách nhau độ chục thước. Hơn một năm rồi, khi mặt trời lặn là chúng tôi bắt đầu sống trong bóng tối, riết rồi thành quen, hôm nay là lần đầu tiên tôi thấy lại ánh đèn nê ông, dù chỉ có bốn ngọn đèn trong một căn phòng rộng lớn, nhưng sao tôi vẫn thấy sáng choang, thấy từng vết trầy xướt trên cột nhà, từng cái lỗ thủng trên vách, từng hàng chữ nho nhỏ viết bậy trên tường. Mười giờ đêm, máy đèn ngưng chạy cả căn phòng chìm trong bóng tối, tôi nằm yên không ngủ được, băn khoăn, thắc mắc, không hiểu tại sao họ không đưa chúng tôi đến một khu rừng khác mà lại đem chúng tôi về đây để làm gì? Tôi mở mắt nhìn lên trần, nghĩ về vợ con, cha mẹ, mấy đứa em cho đến khi tiếng ngáy của anh bạn tù bên cạnh vang lên đều đều, cũng là lúc tôi chìm vào giấc ngủ. Buổi sáng tôi thức dậy khi tiếng kẻng từ trại tù cũ, cách xa khoảng vài trăm mét vang vọng đến, vì cách nhau khá xa nên tiếng kẻng chỉ vừa đủ nghe, không man rợ, không hung tợn như khi mình ngủ gần bên nó. Trưa đến một ông Việt cộng lạ mặt xuất hiện, ông ta tự giới thiệu.

-Tôi tên là Tâm, có nhiệm vụ nuôi ăn các anh, yêu cầu tất cả hãy theo tôi.

Nói xong, ông ta dẫn tù nhân đi qua một căn nhà tiền chế nhỏ và cũ kỹ hơn căn nhà mà chúng tôi đang ở. Vừa bước chân vào phòng, không ai bảo ai, mọi người đều khựng lại vài giây rồi mới tiếp tục cất bước. Trước mặt của tôi là hai dãy bàn dài, trên đó chén đũa đã sẵn sàng, cứ bốn cái chén lại có thêm một cái dĩa nhỏ đựng bốn cục kẹo và bốn điếu thuốc lá. Cách dọn bàn ăn giống hệt như ngày xưa khi tôi còn ở Trường Bộ Binh Thủ Đức, KBC 4100. Cái khác biệt duy nhất là dĩa kẹo thay cho bình trà đá. Thời đó sinh viên sĩ quan chúng tôi gọi đùa với tính cách giễu cợt, KBC bốn thằng một ca rê, hay là KBC bốn thằng một mâm cũng được. Hiện tại chúng tôi là tù nhân chứ đâu phải là sinh viên sĩ quan, cả năm rồi tù nhân ngồi bệt dưới đất mà ăn cơm, có bao giờ thấy bàn ghế đâu. Hôm nay nếu ăn cơm mà ngồi vào bàn, tôi nghĩ rằng tất cả bọn tù chúng tôi đều tưởng rằng mình nằm mơ.

Ông Tâm nói với chúng tôi.

-Kể từ hôm nay, khi đến giờ ăn, các anh sẽ được thông báo qua đây để dùng cơm.

Nói xong, thấy mọi người cứ đứng yên như ông phỗng đá, ông ta thúc giục.

-Các anh cứ tự nhiên, bốn người ngồi vào một mâm, lát nữa cơm và thức ăn sẽ được mang lên.

Cai tù mà bưng cơm cho tù nhân thì bố ai mà dám tin, một vài anh tù nhè nhẹ ngồi vào bàn, rồi thì tất cả mọi người lần lượt làm theo. Thừa lúc mọi người ồn ào lo chọn chỗ, một anh bạn tù ngồi đối diện với tôi nói nhỏ với anh bạn đội nón xanh, ngồi kế bên tôi.

-Tao cá với mày, lát nữa sẽ có phái đoàn báo chí ngoại quốc từ Âu châu đến thăm viếng và phỏng vấn tụi mình.

Ông bạn đội nón xanh hỏi lại.

-Sao mày biết?

-Việt cộng làm việc gì cũng có tính toán cả rồi, sở dĩ tụi mình được đem ra đóng phim, vì hầu hết hơn ba trăm tù nhân ở đây không nhiều thì ít đều có liên quan đến gia đình Cách mạng. Nếu không liên quan thì cũng thuộc thành phần gọi là dễ dạy bảo, không chống đối. Mày thấy tao nói có đúng không?

Trước cái lối lý luận chặt chẽ, chắc như đinh đóng cột, anh bạn tù đội nón xanh gật đầu.

-Đồng ý.

Cơm được dọn lên, thức ăn gồm có một tô canh và một dĩa cá kho, tù nhân sau khi ăn chén rưỡi cơm, chút cơm dư lại được chia đều cho mọi người. Đây là một bữa ăn mà tôi cho là khá thịnh soạn và trang trọng nhất, kể từ ngày bước chân vào tù. Thịnh soạn vì tô canh rau muống nấu với tôm khô, dĩa cá kho với hai con cá mòi to bằng bàn tay thơm lừng như mời gọi, trang trọng vì có đủ bàn ghế. Cơm nước xong xuôi, tù nhân thong thả thưởng thức chút ngọt của cục kẹo, rồi ung dung hút một điếu thuốc, thả khói bay đầy phòng.

Cách chỗ tôi ngồi vài bước, một giọng nói nghe cứ như đùa vang lên.

-Tù cải tạo mà ngày nào cũng ăn uống như thế này, chắc tao phải xin học lâu thêm chút nữa.

Một anh bạn có máu khôi hài nói nhỏ.

-Sau bữa cơm ân huệ, quá sức là đầy đủ, tao đã sẵn sàng ra pháp trường.

Anh bạn có cái nón xanh ngồi kế bên tôi, hỏi người tù đối diện.

-Mày nói có phái đoàn ngoại quốc đến viếng thăm, sao giờ này chưa thấy.

Anh bạn ngồi đối diện với tôi gằn giọng.

-Mày cứ đợi đó đi, có thể chiều nay hay ngày mai không chừng.

Ba ngày trôi qua trong yến tiệc linh đình mà không có phái đoàn nào tới thăm cả, trưa ngày 1 tháng 9, chúng tôi được tập họp để nghe quản giáo nói chuyện.

Anh quản giáo với gương mặt vui vẻ, tươi cười nói.

-Ngày mai ba trăm mười bảy anh đang ở trại này sẽ được cho về đoàn tụ với gia đình. Lát nữa các anh sẽ được lãnh giấy ra trại cũng như gạo và tiền xe đi đường.

Một tù nhân giơ tay lên trời.

-Thưa anh tôi xin được hỏi.

Quản giáo chỉ anh ta.

-Hỏi gì?

-Thưa anh, lãnh giấy tờ xong, đi về liền được không?

Quản giáo cười thoải mái.

-Trong giấy tờ đề ngày 2 tháng 9, anh nào đi ra trước là phạm tội trốn trại, hình phạt như thế nào thì các anh đã biết rồi. Gắng thêm chút nữa đi, các anh đã về tới đích rồi mà.

Một tù nhân khác nói to.

-Thưa anh.

Quản giáo nói.

-Anh hỏi gì?

-Thưa anh, qua khỏi mười hai giờ khuya là đã qua ngày hai tháng chín rồi. Lúc đó, tôi đi ra khỏi trại được không?

-Theo nguyên tắc thì được, nhưng mà ban đêm lính canh thấy anh đi gần hàng rào, họ sẽ bắn ngay. Anh muốn đi thì cứ đi.

Tôi được lãnh khoảng 4 kí gạo và 12 đồng, đó là thực phẩm và tiền xe cho mấy ngày đi đường về lại quê cũ. Ngồi một mình trong góc phòng, nghĩ đến chuyện ngày mai tôi sẽ được thả ra khỏi tù, rồi nhớ lại những bữa ăn huy hoàng trong mấy ngày qua, đột nhiên hình ảnh Trung úy Lợi và Sơn Fulro đói ăn thiếu mặc, hiện ra rõ mồn một trong đầu. Cảm thông được hoàn cảnh khốn khó của bạn, tôi muốn tìm cách nào để có thể chia sẻ chút thực phẩm và tiền bạc cho hai người bạn của mình. Suy nghĩ hoài, cuối cùng tôi cũng tìm được cách giúp Sơn Fulro và Lợi. Thường thì khoảng 5 giờ chiều là tù nhân đi lao động ngoài trại trở về, mới 4 giờ rưỡi tôi đã ôm 4 kí gạo đựng trong hai cái bao cát nhỏ, lấy sẵn 6 đồng để một bên túi áo đi đến gần cổng trại B trung úy rồi ngồi đợi . Cẩn thận hơn, tôi ngồi cách xa cổng khoảng hai trăm mét. Sở dĩ tôi đưa cho Sơn Fulro và Trung úy Lợi 4 kí gạo với 6 đồng, chỉ giữ lại cho mình 6 đồng vì tôi biết, khi ra khỏi trại tôi còn có thể xoay sở được. Trong khi Sơn Fulro và Trung úy Lợi còn ở lại trong trại tù, giống như bị trói tay, bịt mắt, cột chân, không cách gì kiếm được một hột gạo, nói gì đến chén cơm. Mới chừng hút xong điếu thuốc, tôi đã thấy đoàn tù trở về. Sơn Fulro không cần tìm cũng thấy vì hắn là thằng cao nhất trong hàng. Nhìn trước nhìn sau không thấy cảnh vệ, tôi nhập vô đoàn, đi chầm chậm chờ khi Sơn Fulro đến gần, tôi lẹ làng trao gạo và tiền cho hắn, rồi nói.

-Của mày và Trung úy Lợi.

Nói xong, tôi tách đoàn đi về phía căn nhà tiền chế mà không kịp nghe Sơn nói gì hết. Trong lòng vui mừng vì liều mạng làm được một công việc khá nguy hiểm và đã thành công, tôi vừa đi vừa huýt sáo bản nhạc.

Cờ bay. Cờ bay oai hùng trên thành phố thân yêu,
Vừa chiếm lại đêm qua bằng máu…

Tối hôm 1 tháng 9, đám tù chúng tôi đi ngủ sớm, lấy sức để ngày mai ra về. Không biết hôm nay là ngày mấy của âm lịch mà bầu trời tối mò, đầy mây đen, trăng sao lặn đâu mất, thỉnh thoảng lại có vài tia chớp xé toạc màn đêm, liền sau đó là nhiều tiếng sấm vang dội ở cuối chân trời. Khoảng ba bốn giờ sáng, một trận mưa lớn đổ xuống, kéo dài cho đến khi trời sáng tỏ mà cơn mưa vẫn chưa chịu dứt. Mấy trăm tù nhân đã sẵn sàng ra về, nhưng vì mưa quá lớn nên đành ở trong nhà để núp mưa. Họ nhìn nhau như dò hỏi, rồi lại chờ. Khi cơn mưa vừa tạm ngớt hột, một vài người đội mưa hùng dũng dứt khoát ra đi, nhiều người vì quá nóng lòng nên cũng vội vàng đi theo. Tôi và một số người chờ thêm khoảng nửa giờ nữa thì cơn mưa gần như tạnh hẳn, lúc bấy giờ bọn tôi mới ra về. Cái cổng chúng tôi đi ra không có bảo vệ canh giữ, nhưng hôm nay đã thấy ông Thiếu tá trưởng trại đứng đó tự bao giờ. Điểm đặc biệt là ông Thiếu tá này lai Tây, đó là điều duy nhất tôi biết về ông ta. Ông thiếu tá vui cười bắt tay từng người tù và nhắc đi nhắc lại chỉ một câu nói.

-Hãy quên hết những gì các anh đã học được trong trại, về trình diện địa phương, mấy ông chủ tịch xã ấp hay công an phường, nói gì thì kệ họ, nhớ vâng dạ, chớ có cãi lại nó sẽ bỏ tù các anh đó.

Tôi là thằng chót cùng bước ra khỏi trại, tai vẫn còn nghe ông Thiếu tá trưởng trại nhắc lại câu nói trên. Đó là câu nói duy nhất có giá trị, mà tôi đã học được trong hơn một năm hai tháng học tập cải tạo, ở Tổng trại 8 tù binh Sông Mao.

Tin hay không, khi tôi bước ra khỏi cổng trại tù, không thấy bóng dáng một người tù cải tạo nào cả, họ biến mất, biến sạch sẽ không để lại một chút dấu vết gì. Một mình đứng giữa trời đất bao la, tôi nhìn quanh không biết đường nào mà đi. Trước mặt tôi độ trăm thước, dưới một gốc cây được che bởi một miếng ny lông màu xanh đậm to thật to, vài người dân địa phương ngồi vây quanh một cái bàn. Khi tới gần, tôi tò mò muốn biết họ đang ăn cái gì. Cơm tấm? mì quảng? bún bò? Mỗi người một tô vừa ăn vừa húp xì xụp. Tôi biết trong túi của tôi còn 6 đồng, đó là những đồng tiền mà tôi sẽ dùng để đi xe đò về Đà Lạt. Thấy tôi, người đàn bà bán hàng mời.

-Ăn bún cá đi cậu.

Vừa nói xong, bà liền nói tiếp.

-Ủa, mà cậu là tù cải tạo mới được thả về, phải không?

Tôi nói.

-Dạ phải.

Bà bán bún nói mà như quở tôi.

-Lúc nãy, trời hãy còn mưa mà người ta đã đi mất đất rồi, tại sao giờ này cậu mới ra?

Tôi đang lúng túng chưa biết trả lời như thế nào, bà bán bún lại nói.

-Ngồi xuống ăn đi, tù ăn khỏi trả tiền.

Nói xong bà ta lanh lẹ làm một tô bún, khói còn bốc lên nghi ngút, đưa cho tôi.

-Ăn đi, ăn cho no rồi đi về, mà nhà của cậu ở đâu?

-Thưa bà, Đà Lạt.

-Khá xa đó, phải tốn hai ngày xe, từ đây đến Phan Rang ngủ lại một đêm, ngày hôm sau mới đi từ Phan Rang lên Đà Lạt.

Thấy tôi chăm chú lắng nghe với nét mặt lo âu, bà bán bún nói tiếp.

-Cậu yên tâm, lát nữa thằng con tui đem bún tới đây, tôi sẽ biểu nó chở cậu ra bến xe đò ở Chợ Lầu. Từ đây đến đó gần năm cây số chớ không ít đâu.

Tôi cảm ơn bà bán bún rồi bắt đầu ăn. Cọng bún mềm và dai, miếng cá ngọt, chả cá giòn, nước lèo béo ngậy, ớt cay, rau sống thơm, chỉ một thoáng là tôi ăn hết tô bún, bưng cái tô húp sạch không còn một giọt nước. Bụng hãy còn đói, muốn ăn thêm tô nữa nhưng ngượng trong lòng không dám hỏi. Tôi nói dối với bà bán bún.

-Ở tù nhịn ăn quen rồi, mới ăn có tô bún của dì mà đã thấy no cành hông. Cảm ơn dì.

Tôi được chở đến bến xe đò đi Phan Rang, bến xe vắng hoe như chùa bà Đanh, chỉ còn duy nhất một chiếc xe khách Renault Goelette cà tàng sắp sửa chạy, hình như chiếc xe này được nhập cảng vào Việt Nam từ thời Đệ nhất Cộng hòa. Sở dĩ tôi biết rõ hiệu xe là Renault Goelette vì ở Đà Lạt, người ta dùng loại xe này để chở khách từ chợ Đà Lạt đến Chi Lăng. Bến xe Chi Lăng nằm gần cổng Lý Thường Kiệt của Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Ngày xưa, thỉnh thoảng tôi vẫn đi làm bằng loại xe đò này.

Anh lơ xe cỡ chừng mười tám tuổi, nhìn tôi từ đầu đến chân như đánh giá khách hàng, rồi hỏi với giọng cộc lốc.

-Có tiền không?

Tôi nhanh nhẹn trả lời.

-Có.

-Ngồi trên mui, chịu không?

-Chịu.

-Sáu đồng.

Tôi nghe mà muốn lùng bùng hai cái lỗ tai, rồi than thành tiếng.

-Sáu đồng, như vậy tôi đâu còn đủ tiền đi Đà Lạt.

Vừa than xong tôi nói với anh lơ xe.

-Ba đồng được không?

Anh lơ xe cười sằng sặc rồi lớn tiếng.

-Giỡn hoài cha nội, từ đây đến Phan Rang mà trả ba đồng, chỉ vừa đủ tiền đóng hụi chết cho công an, chạy với giá đó bọn tôi chỉ có nước húp cháo rùa.

Một ông khách ngồi trên xe, nghe anh lơ to tiếng bèn nói.

-Lấy ba đồng của anh ấy đi, tôi sẽ bù thêm ba đồng còn thiếu cho.

Tôi leo lên mui xe, ngồi chung với mấy con heo con cùng với bầy gà vịt bị nhốt trong mấy cái giỏ tre, rồi tự an ủi mình “Tù với heo gà vịt cũng như nhau thôi mà”, miễn sao đi tới nơi về tới chốn là được rồi. Xe chạy được một lúc bỗng nhiên ngừng lại, giọng anh lơ xe gọi tôi.

-Cái ông gì ngồi trên mui xe đó, có phải là tù cải tạo mới được thả ra sáng nay không?

Tôi nói.

-Phải.

-Vậy mà sao ông không nói, may nhờ có ông khách đây nhắc tụi tôi mới biết, xuống đây ngồi đi.

Tôi đặt chân lên cái thang bằng sắt, được hàn vào ở cuối xe bên trái, bám theo đó mà xuống. Anh lơ xe nhường cho tôi chỗ ngồi của anh ta ở cuối băng ghế, còn anh ta đứng nơi bậc cấp bằng gỗ, một tay bám lấy cái thang, một tay đập ầm ầm vào thân xe, miệng la to như cháy nhà.

-Tới luôn bác tài.

Chiếc xe từ từ lăn bánh, bò chầm chậm về phía trước. Anh lơ xe hỏi nhỏ tôi, giọng tò mò nhưng đầy thân mật.

-Cấp bậc?

-Trung úy.

-Đơn vị?

-Trường Võ Bị Đà Lạt.

Anh lơ xe xuýt xoa.

-Sĩ quan Đà Lạt, ngầu dữ há. Ở trong tù chắc trung úy chịu nhiều cực khổ cũng như đói rét phải không?

Nghe anh lơ xe hỏi, đột nhiên tôi nhớ đến người đàn bà đã cho tôi chén cơm với con cá nục. Hôm nay tôi được thả về, trong khi ông thiếu tá con rể của bà hãy còn ở tận Miền Bắc, nghìn trùng xa cách. Không biết sao, tự nhiên tôi quay nhìn về hướng Sông Mao mà nước mắt lưng tròng.

Anh lơ xe ghé miệng vào sát tai tôi, anh ta nói mà như là tâm sự với người bạn hiền.

-Sao trung úy khóc vậy?

Tôi nói.

-Ở trong tù đói liên miên, mấy tháng trước khi đi gánh tranh ở Lương Sơn, tôi được một người đàn bà cho chén cơm, chuyện đó khiến tôi chợt nhớ đến “bát cơm Phiếu mẫu”. Không biết bao giờ mới gặp lại bà ta để đền ơn, tôi khóc vì thương cho hoàn cảnh của bà.

Xe đến Phan Rang, anh lơ xe kín đáo đưa lại cho tôi ba đồng, thêm hai cái bánh ú, rồi nói.

-Húp cháo rùa thì cũng chịu thôi, nỡ lòng nào mà lấy tiền của tù cải tạo.

Tôi nghe anh lơ xe nói, mà cứ ngỡ như là nghe một tay anh hùng hảo hán Lương Sơn Bạc nào đó, đã đầu thai lầm thế kỷ, lầm luôn đất nước.

Vừa bước xuống xe tôi chạy vội đến phòng vé, mua một vé xe đi Đà Lạt vào sáng hôm sau. Xong xuôi mọi chuyện, tôi nhìn quanh tìm chỗ ngủ. Ngủ bờ, ngủ bụi, ngủ ngoài rừng, ngủ dưới mưa cả tuần lễ tôi còn chưa sợ, sá gì một chỗ ngủ nơi bến xe, giờ đây mùng mền đã có sẵn, một mái hiên nhà cũng đã tốt lắm rồi, lo làm gì cho mệt thân. Tôi ngồi xuống một cái băng ghế gỗ cũ kỹ, ọp ẹp, như muốn sụm xuống bất cứ lúc nào. Bụng đã bắt đầu xót, tôi lột cái bánh ú ăn cho đỡ đói, cái còn lại để dành ngày mai. Vừa ăn tôi vừa nhìn lên bầu trời hiu quạnh, từ xa tôi thấy một người đàn ông đang thong thả đi đến chỗ tôi ngồi. Khi ông ta đến gần, tôi mới nhận ra đó là người đàn ông đã trả cho tôi ba đồng tiền xe lúc sáng. Ông ta cười với tôi, nụ cười hiền hòa như muốn bắt chuyện.

Tôi tìm ông mãi mà không thấy, nào ngờ ông lại ngồi ở đây.

-Thưa có việc gì không?

-Chẳng có việc gì quan trọng, tôi chỉ muốn hỏi, ông có muốn nghe anh lơ xe nói gì về ông không?

Ai lại không tò mò, đương nhiên là tôi muốn nghe người khác nói gì về mình. Tôi trả lời.

-Dạ muốn lắm chứ. Anh ấy nói gì vậy?

Người đàn ông tằng hắng lấy giọng.

-Chuyện như thế này, anh lơ xe tâm sự với tôi “Bác à, tội nghiệp cho cái anh chàng trung úy ở tù vừa mới được thả về, chắc là do bị hành hạ, đánh đập, bỏ đói nên chưa đến ba mươi tuổi mà đã lẫn rồi. Tôi dám nói với bác như vậy vì lúc ngồi trên xe, tôi thấy anh trung úy cứ nhìn về hướng Sông Mao mà khóc. Anh ta nói là thương nhớ cái bà kiểu mẫu nào đó đã cho anh bát cơm”. Cuối cùng anh lơ xe nói với tôi mà như là có ý trách trung úy “Được thả về, vợ con, cha mẹ, anh em, không thương nhớ mà lại đi khóc thương một bà phiếu mẫu đã cho mình bát cơm. Người như vậy phải nói là lẫn rồi, nếu ổng không lẫn hả, tui thề sẽ bỏ nghề làm lơ xe đò cho mà coi”.

Có những điều khó quên

hung-viet.org

Huy Phương

10 Tháng Hai 2014

Post by Sơn râu 16 Mar 2025

Trong đời sống của chúng ta có những chuyện xảy ra đã lâu, từ vài ba mươi năm qua, những vẫn lẩn khuất đâu đó trong tiềm thức, để một lúc nào đó gợi lại trong trí nhớ hay hiện ra trong giấc mộng. Chúng ta thường không nhớ đến những ngày hạnh phúc, những niềm vui mà những đau khổ, phiền muộn, đắng cay trong đời sống vẫn còn theo đuổi chúng ta cho đến tận cuối cuộc đời.

Đêm hôm qua trong giấc mơ vào lúc gần sáng, tôi thấy tôi đang ở trong nhà tù cộng sản với niềm vô vọng không biết ngày nào mới được thả về.

Cảnh trại tù cải tạo ở Việt Nam trong phim “Vượt Sóng” của đạo diễn Hàm Trần. (Hình chụp qua YouTube)

Thức giấc, giữa không khí yên lặng và an lạc giữa gia đình, ở một xứ tự do, cách xa cái trại tù năm xưa hàng nghìn dặm, đáng lẽ tôi phải thấy mừng vừa thoát ra khỏi cơn ác mộng, mà trái lại cái cảm giác buồn bã từ đó cứ vương vấn trong lòng tôi cho đến lúc trời bừng sáng. Tôi, một người tù lưu lạc xứ người như trăm nghìn người bạn tù khác, chắc hẳn không thể nào thoát ra nổi những ám ảnh như thế trong nhiều năm hay suốt cả cuộc đời mình.

Có điều là sau bao nhiêu năm tù đày và cả cái đất nước tôi đã sống nhiều năm khi ra tù đã mang lại cho tôi nỗi ghê sợ và căm ghét chế độ cộng sản như thế nào, nhưng nếu nói tìm lại một khuôn mặt quản giáo coi tù hay vệ binh nào đã để lại cái ấn tượng khổ đau cho tôi trong suốt những năm tù, thì tôi không tìm ra. Tôi biết họ là những con người cộng sản, xem chúng tôi là kẻ thù, sẵn sàng trấn áp, đe dọa, thậm chí muốn giết chúng tôi, nếu có dịp, vì họ đứng về phía bên kia chiến tuyến, được huấn luyện và tẩy não cho rằng chúng tôi là kẻ thù của họ. Họ là một đám đông như đám đông của chúng tôi, sẵn sàng bắn vào nhau không thương tiếc ở ngoài trận địa, và bây giờ chúng tôi là những người thất trận, phải chịu sự giày xéo, trả thù của những người thắng trận man rợ.

Có điều tôi thấy rằng, những viên đạn bắn thẳng ngoài mặt trận hay cả những hỏa tiễn, đạn đại bác nổ chụp lên đầu quả không nguy hiểm và đau đớn như một lát dao găm đâm vào hông trong tư thế rất gần, hay một viên đạn bắn từ sau lưng của những người không phải là thù mà mang danh nghĩa là bạn, nói rõ, mỹ miều hơn là với danh xưng chiến hữu, đồng đội.

Trong những tháng đầu tiên ở trại tập trung, một ông sĩ quan cùng ngành, cùng đơn vị với tôi, vì nghĩ rằng mình là gia đình “cách mạng,” vì ông có một người chị dâu là đại sứ của “Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” tại Tiệp Khắc nên đã sẵn sàng làm mật báo viên báo cáo lên quản giáo những tư tưởng, hàng động của anh em trong đội. Vào những ngày cuối năm 1975, chưa có chuyện trốn trại, chưa có âm mưu bạo loạn trong nhà tù, nên những chuyện báo cáo chỉ mơ hồ về tư tưởng “không an tâm,” “lơ là lao động,” hay “nhớ nhà.” Chính những buổi lên lớp, qua lời răn đe của quản giáo, chúng tôi biết rõ những cai tù này đã được ai báo cáo. Những lúc nằm gần nhau, cám cảnh xót xa đời tù “một lứa,” với một thằng bạn ngang cấp bậc, cùng chung một đơn vị, còn gì để giấu nhau!

Ra đến đất Bắc, trong thời gian tù miền Nam được các đơn vị quân đội Bắc Việt quản chế, cuộc sống tuy kham khổ nhưng chưa bị đày đọa, gông cùm, sắt máu như khi các trại tù binh miền Nam được chuyển qua cho Bộ Nội Vụ, sau này gọi là Bộ Công An. Dạ dày người tù càng teo tắt thì trí óc càng bị căng thẳng vì những buổi “ngồi đồng” nội bộ, dưới sự giám sát ẩn mặt của những quản giáo, và chủ trì bởi những đội trưởng tín cẩn được cắt đặt bởi cai tù. Chúng tôi đấu tố nhau thẳng tay nhau, anh này lười lao động, người kia lề mề, phát ngôn bừa bãi. Cả một đám “chiến hữu” hầm hè, tưởng như có thể ăn tươi nuốt sống nhau vì một vài lạng sắn ngô để lấy phần từ người khác 13 lạng dồn sang cho anh kia lao động xuất sắc được 17 lạng. Đội trưởng và phó đội trưởng kế hoạch, một anh ngồi mát, một anh cầm thước đi đo đạc, xem đồng đội ngày xưa như những người tù thực sự và họ đang là người coi tù. Quản giáo, vệ binh, không cần phải ra tay khống chế tù nhân phải làm đạt chỉ tiêu, nạt nộ hay hăm dọa, thay vào đó đã có đội trưởng, đội phó, thi đua làm thay cho cai tù.

Những người này trước ngày 30 Tháng Tư, 1975, là chiến hữu, đồng đội, sau ngày thất trận cũng mang thân phận những người tù lưu xứ, cùng xuống tàu Sông Hương ra Bắc, tối cũng phải bị lùa vào “chuồng,” nhưng được đặc ân khỏi cầm cuốc cầm rựa, mang ảo tưởng “lao động tốt,” có công với “Cách Mạng” hẳn “được về đoàn tụ với gia đình sớm” như câu kinh nhật tụng mà cai tù ra rả bên tai chúng tôi mỗi ngày. Về sau, khi người tù sắp chết đói thì Cộng Sản ban phát chính sách cho gửi quà, người tù bình thường được một phiếu quà, nhưng bị đội trưởng báo cáo, người tù sẽ mất phiếu quà và đương nhiên những phiếu quà này được chuyển sang cho những người có công “khuyển mã.”

Hơn 35 năm trôi qua, tôi chưa quên được hình ảnh người đội trưởng, một đại úy cùng ngành phục vụ tại trường CTCT Đà Lạt, đã từ chối không cho tôi khai bệnh, mặc dù suốt đêm qua, tôi đã kiệt lực, sốt vì đuối sức. Đội phó kế hoạch, là người đi đo đạc, tiếp thu “thành quả lao động” của người tù (hay bạn tù), một cựu đại úy Hải Quân, thì chiều hôm qua đã “nặng mặt” với tôi, vì hố sắn đào không sâu, chưa đạt chỉ tiêu và anh cho biết những kết quả này sẽ được báo cáo lên trưởng trại. Mỗi hố sắn phải có mỗi chiều 8 tấc, sâu 6 tấc. Đào hố xong, phải ủ phân xanh xuống và sau đó mới gài hòm sắn lên. Đất xung quanh trại tù Bắc Thái là đất đồi đầy sỏi đá, một nhát cuốc bổ xuống, chạm phải một viên đá, cuốc bật nẩy lên, toàn thân ốm yếu của người tù rung động như bị điện giật, thân thể như tê dại. Người tù đi từ Hoàng Liên Sơn về Bắc Thái, sau bốn năm, đã bắt đầu trơ xương vì đói và làm việc quá sức. Chính vì chế độ hà khắc này, mà một số đội trưởng, thi đua, được thêm quyền lực hay họ nghĩ là được trao quyền lực.

Tôi đã đau lòng chứng kiến ít nhất là hai lần, một ở Bắc Thái và một ở Nghệ Tĩnh, một đội trưởng, cựu trung tá, đá vào bụng một người bạn đại úy phường trưởng, vì cho rằng anh này mang một giỏ khoai không đầy, trước sự chứng kiến im lặng, thỏa thuê của người quản giáo có mặt. Một đội trưởng, thiếu tá tiểu đoàn trưởng khác, đã đánh vào mặt một đồng đội, đồng cấp bậc ngày xưa của mình với lý do là anh này đã “cuốc dối” nghĩa là cuốc lát này lấp lên chỗ đất chưa cuốc. Chính người đội trưởng mẫn cán này cũng đã ra lệnh cho tôi hoàn thành những vồng khoai chưa xong, khi đã có lệnh “thu dụng cụ” (nghĩa là xong buổi lao động) trong khi cả đội đang tập họp chờ đi xuống suối tắm táp, vì làm chưa xong thì chưa được nghỉ! Mỉa mai thay, chính người vệ binh lại ra lệnh cho tôi: “Anh kia, nghỉ đi, vào tập họp!”

Chính vì cái ảo tưởng rồ dại làm tốt được về, mà ở trại tù Bắc Thái, một sĩ quan cao cấp BĐQ đã phải tự vẫn vì không chịu nổi cảnh áp bức, chì chiết của người đội trưởng. Dù họ có sám hối, ăn năn thì những vết dơ đó trong hàng ngũ của chúng ta cũng không bao giờ gột rửa được.

Trong cuốn hồi ký tù “cải tạo” Trại Đá Bàn của Nguyễn Thanh Ty, tác giả đã kể lại câu chuyện có hai người tù trốn chạy, vệ binh chạy bắn theo nhưng vụng về không trúng. Một người tù, “bạn của chúng ta,” hiến kế, bèn la lên: “Quỳ xuống! Dùng thế bắn quỳ!” Kết quả là người tù chạy trốn bị bắn chết. Tôi không biết về sau, “người hiến kế” có được kẻ thù thưởng một lạng thịt tươi nào không, nhưng nếu anh còn chút lương tri của con người, hẳn những giọt máu của đồng đội này sẽ ám ảnh anh suốt đời.

Cũng như Bùi Đình Thi ở trại tù Nam Hà, những cựu sĩ quan đã có tội hành hạ anh em chiến hữu trong những trại tù khắc nghiệt của cộng sản, cuối cùng cũng “lọt lưới” lên máy bay đến Mỹ tị nạn cùng với chúng ta.

Có một điều, chống kẻ thù trước mặt thì dễ, nhưng cảnh giác với bạn bè sau lưng khó hơn. Có khi họ chung một màu áo, một tổ chức, và thường là “đồng” như đồng bào, đồng hương, đồng chí… và có lẽ chúng ta cũng chưa quên bài học đồng minh.

Nhiều lúc vô tình, tôi gặp những anh “đội trưởng” đâm vào lưng chiến hữu mà tôi đã kể ở trên, ở một quán cà phê đông người nào đó ở trên đất Mỹ. Phần đông, hình như họ đã quên những gì họ đã làm hay họ giả vờ quên, nhưng với tôi thì không, tôi không bao giờ quên họ, mặc dù thường tôi vẫn bào chữa cho họ, cho rằng chẳng qua vì họ quá yếu đuối. Cả một quá khứ đau đớn hiện ra với tất cả tên tuổi và hình ảnh của những nạn nhân là những bạn tù của tôi. Có lẽ đó là một khuyết điểm của cá nhân tôi, nhưng ở đời, “tiết trực” thì dễ nhưng “tâm hư” mới là khó. Người ta nói nhiều điều có thể tha thứ, nhưng không thể quên.

Nếu quên được thì tôi đã không bao giờ có những giấc mơ thấy mình đang còn ở trong trại tù, như cơn ác mộng đêm qua.

Huy Phương

Chuyến tàu đời

hung-viet.org

7 Tháng Tư 2012

Huy Phương

Post by Sơn râu 16 Mar 2025

Thời gian còn ở bậc tiểu học, chúng tôi đã thuộc lòng bài “Những Chuyến Tàu” của thi sĩ Tế Hanh và dù ngây thơ chưa biết gì về cuộc sống, cũng vướng víu theo cảm xúc của người thi sĩ này để “tôi thấy tôi thương những chuyến tàu,” và bỗng dưng tâm hồn bị những “nỗi đau xa” ám ảnh.

Lớn lên được biết thêm người ta ví cuộc đời này như một chuyến tàu chạy trên đường sắt, và như mỗi giai đoạn của cuộc đời, con tàu sẽ dừng lại ở mỗi sân ga, mà trên chuyến tàu này, nỗi buồn thường nhiều hơn chuyện vui.

Một này nào đó khi chúng ta sinh ra đời, cất tiếng khóc đầu tiên, như người bước lên một toa tàu đang dừng lại ga. Lên tàu, chúng ta gặp được nhiều người đã có mặt sẵn, trong gia đình đó là mẹ cha, các anh chị ra đời trước, hay bà con, lối xóm bạn bè. Trên toa tàu có những người ruột thịt thân quen, bạn bè cùng trang lứa, nhưng cũng có những người xa lạ, cùng đi chung một đoạn đường. Họ có chung với chúng ta một không gian là toa tàu đang chạy và thời gian là đoạn đường giữa nhà ga này đến nhà ga kế tiếp.

Rồi con tàu rời sân ga ra đi, chạy qua những nhịp cầu, những bến nước, những cánh đồng, qua những ngày mưa nắng, như những niềm vui, nỗi buồn trong từng giai đoạn cuộc sống. Lúc con tàu đừng lại một ga khác, trong gia đình chúng ta có thêm những đứa em, trong trường học chúng ta có thêm bạn bè và trong cuộc đời có thêm một người yêu mến thề nguyện, hứa đi chung với chúng ta suốt trong cuộc hành trình. Đó là những cuộc gặp gỡ tình cờ của định mệnh, trong toa tàu có thêm một người và một gia đình khác, có khi xa lạ chưa hề quen biết bước lên, trở thành người bạn đồng hành của chúng ta. Đó là người vợ hay người chồng mà chúng ta hứa kết hợp trọn đời, nhưng có một điều mà chúng ta khó biết trước, là rồi ra, cả hai người đều không thể nào cùng xuống một sân ga.

Cũng có người xem cuộc hành trình là một gánh nặng, cũng có người xem đó là cuộc rong chơi. Cũng có người mới gặp gỡ trong giây lát rồi, bỗng dưng ra đi biền biệt, như người khách đi tàu xuống một sân ga nào đó mà chúng ta không hề hay biết.

Có ai đi một chuyến tàu dài ngày mà không có một người bạn đồng hành để chuyện trò hay một người để cho chúng ta ngưỡng phục và yêu mến, và mỗi người trong chúng ta ai cũng phải có một người bạn như thế. Họ có thể đi với chúng ta qua nhiều ga, hay bất chợt xuống một ga nào đó để lại những niềm luyến tiếc cho riêng chúng ta, mà cho cả những người hiện diện trong toa tàu. Chúng ta cũng vậy, làm thế nào để khi chúng ta xuống một ga nào đó trên đường tàu mà không ai tiễn chúng ta bằng những chiếc dép hay bằng những lời nguyền rủa ném theo.

Chuyến tàu đời là chuyến tàu đi một chiều không có lần trở lại. Những nhà ga chúng ta đã ghé qua, dù vui buồn cũng chỉ một lần, khi con tàu đã kéo còi đi về phía trước, không bao giờ để cho chúng ta có cơ hội trở lại những nhà ga cũ, nói ví von là chúng ta không thể nào tắm lại trong dòng sông xưa. Đó là những nhà ga của tuổi thơ dịu dàng, đó cũng có thể là những nhà ga của muộn phiền đau đớn, đó có thể là những nhà ga đem lại cho chúng ta niềm vui hạnh ngộ mà cũng là những nhà ga của xót xa cách biệt mà chúng ta đã để lại ở đó những người thân yêu, mà giờ đây vui buồn “chở mấy toa đầy nặng khổ đau.” Con tàu đời đã dừng lại hàng trăm nhà ga, mỗi nơi ghi nhận thêm những nỗi chia xa. Những người khách mới lên tàu thì xa lạ, chúng ta chưa hề quen biết, nhưng bạn bè và những người thân yêu của chúng ta lại lần lượt từ giã chúng ta, xuống ga. Có những buổi sáng mai thức giấc mới thấy trong toa vắng bóng một người quen, vì đêm qua, họ đã xuống tàu, mà trong cơn say ngủ chúng ta không hề hay biết.

Tuổi già rồi sẽ đến như con tàu sẽ dừng lại ở những nhà ga cuối cùng nào đó của riêng ta. Tiếng bánh sắt nghiến trên đường ray mỗi lúc mỗi nặng nề, làn khói tàu theo gió vật vã, phì phào như nghẹn ngào hơi thở và tiếng còi tàu rền rĩ vang xa. Bạn bè mỗi lúc rời toa tàu càng đông, mới hôm qua cười cười nói nói đó, hôm nay đã khuất dạng, tan biến trong không gian, ẩn hiện trong niềm nhớ, nỗi quên của mọi người. Và con tàu vẫn hăm hở, băng băng, vô tư nuốt quãng đường dài, hết ga này rồi đến ga kia, từ một ga nhỏ heo hút, tăm tối ở một ven rừng nào đó, rồi đến ga lớn trong vùng đô thị đầy ánh sáng, và… ga nào là ga cuối cùng của tôi?

Mọi người, không trừ ai, trước hay sau đều phải xuống ga.

Tiếng còi tàu đã cất lên, con tàu giảm tốc độ, thở những hơi thở dài, chậm rãi vào ga.

Nào, có ai dưới ga kia, chờ đợi tôi. Nào có ai trên toa tàu này đưa tiễn, bịn rịn cầm lấy tay tôi hay không? Tôi sắp xuống ga rồi, quy luật của chuyến tàu là chỉ có thể xuống một mình và không thể mang một thứ hành lý nào theo.

Xin vẫy tay chào người ở lại, và xin bạn bè, thân thuộc, quen biết hay xa lạ, xuống ở những ga sau.

Biết đâu, ở một nơi nào đó, chúng ta sẽ gặp lại nhau!

Huy Phương

Bài tháng Tư

hung-viet.org

16 Tháng Tư 2012

Thơ Huy Phương

Post by Sơn râu 16 Mar 2025

Lũ chúng ta, ván cờ dở cuộc

Tướng bỏ thành, phá tượng, buông xe

Ta thân tốt chân trời góc bể

Nỗi qua sông chẳng hẹn ngày về.

Thuở đứt gánh tóc còn xanh mướt

Giờ nhìn nhau, bạc trắng phơ phơ

Hai mươi năm đốt đời trai trẻ

Buổi sa cơ, lỡ một thế cờ.

Mỗi nghìn đêm còn đau giấc mộng

Mỗi sáng nhìn đất nước khuất xa

Thân tráng sĩ – sức tàn lực kiệt

Mộng thời trai như bóng mây qua.

Những hố bom ngày xưa đã lấp

Biển muôn trùng xanh những nương dâu

Chiến trường xưa đã mờ dấu tích

Sao lòng ta nặng vết hằn đau.

Người lính già tuổi chiều bóng xế

Chẳng còn xưa, chẳng có mai sau

Những tháng ngày sầu niềm đất khách

Vết thương lành, vết sẹo còn đau.

Ôi tháng tư, đốt lò hương cũ

Khóc người xưa, nhỏ lệ cho ta

Người đã khuất – còn nguyên khí phách

Ta sống còn – tháng đoạn, ngày qua.

Huy Phương 4/04

Runway 33 at Reagan-National Airport

dongsongcu.wordpress.com

Herky460

Posted on February 19, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 15 Mar 2025

Ảnh minh hoạ của aol.com

Về vụ tai nạn Phi-cơ đã xãy ra tại Phi-trường Reagan-National tuần qua, có liên quan đến Phi-đạo 33.

Nay tôi xin post lại bài viết của tôi về phi-dạo 33 mà cá nhân tôi đã đáp 34 năm trước (Phần thứ 2 của bài viết này)

(Nguyên bản bài viết bài này, tôi viết bằng Anh ngữ cho các bạn trẻ thuộc thế hệ tỵ nạn thứ hai hiện đang bay cho các hảng hang-không dân sự trên đất Mỹ này. Bài này do AI dịch ra tiếng Việt.)

***

Một số bạn đã hỏi tôi trong cuộc đời làm phi-công, có bao giờ tôi đã từng đáp lần nào tệ hại nhứt chưa ? Dĩ nhiên là phải có chớ sao không!

Hôm nay, ngày 24 tháng 1 năm 2006 khi tôi viết bài này, đánh dấu 35 năm kể từ ngày lần đầu tiên tôi thực hiện một cú hạ rất tệ hại khi bắt đầu vào nghiêp lái máy bay vận tải trong Không- Quân Việt-Nam Cộng-Hòa

Tháng 1 năm 1971. Khi tôi mới trở về từ Mỹ sau 1 năm đào tạo để trở thành một phi-công vận tải. Bộ tư-lệnh Không-Quân Việt-Nam Cộng-hòa (VNAF) đã ngay lập tức gởi nhóm của chúng tôi gồm 8 Trưởng-phi-cơ và 8 hoa-tiêu-phó đến căn cứ không quân Phang-Rang để bắt đầu thực tập những phi vụ hành quân nội địa (in-Country Training), chung với các Pilot của Không-quân Hoa Kỳ trên vận tải cơ C-123K mà Không-quân Việt-Nam Cộng-Hòa sẽ được bàn giao lại vào tháng 4/1971 qua chương trình Việt-Nam-hóa.

Sơ lượt về Vận-tải-cơ C123K: Loại phi-cơ cánh quạt 2 động cơ có gắn thêm hai máy phải lực nhỏ bên ngoài máy nổ. Trọng lượng cất cánh tối đa của máy bay này là 60.000LBS, với 2 động cơ cánh quạt dùng xăng quân đội loại 115/145 Octane, 16 xi-lanh, R2800 và 2 động cơ phản lực nhỏ (J-85 với sức đẩy là 2.850 lbs), tương tự như loại máy phản-lực được sử dụng trên phản- lực oanh tạc A-37, nhưng được thiết kế lại để cũng dùng chung nhiên liệu 115/145 . Hai động cơ phản lực nhỏ được sử dụng để hỗ trợ cho khoảng cách cất cánh ngắn hơn và đạt được cao độ cao nhanh hơn trong thời gian rất ngắn để tránh hỏa lực dưới đất. Chúng cũng được sử dụng như một lực đẩy thay thế nếu động cơ cánh quạt bị ngưng hoạt động. C-123K cồng kềnh và xấu xí, nhưng rất phù hợp với các phi đạo ngắn trong chiến tranh Việt Nam (2,000 feet). 8 vị Trưởng- phi-cơ này đều mang cấp bậc Trung-úy tất cả đều có kinh nghiệm trên phi-cơ C-47 và AC-47. Đối với phần còn lại của chúng tôi 8 hoa-tiêu-phó (Co-pilot), đều hoàn toàn là những “em mới” với tổng số giờ bay khoảng 200+ giờ sau 1 năm huấn luyện tại Mỹ.

Ảnh minh hoạ của wikimedia.org

Tôi được chỉ định bay cùng Trung-úy Minh (“Minh Điên” khóa 65A chung khóa với Trần-thế-Vinh và Lý-Tống) và Huấn luyện viên Hoa Kỳ của chúng tôi là Đại úy John Mastronardi. Chúng tôi thay phiên bay trên mỗi chuyến bay. Trung-úy Minh trưởng-phi-cơ ngồi ghế trái và ghế phải là huấn-luyện-viên Đại-úy Mastronardi. Khi đến lượt của tôi, tôi ngồi ở ghế bên phải và thực hiện nhiệm vụ của một hoa-tiêu-phó (co-pilot). Trong suốt quá trình huấn luyện bay, tôi đã nhiều lần đáp rất ngon lành, điều này tạo ra một mức độ tin tưởng cho Đại-úy Mastronardi.

Một ngày đẹp trời của chiều chủ nhật, ngày 24 tháng 1 năm 1971 (thời giang này, một số bạn chưa được sinh ra hoặc còn rất trẻ …), chúng tôi có nhiệm vụ chở 60 đầu đạn 175 ly cho pháo binh Hoa kỳ, từ Căn cứ Không-quân Biên-hòa để tái cung cấp một căn cứ hỏa lực của Mỹ nằm về phía bắc tỉnh Phước-Long gần biên giới Campuchia. Vì phi-vụ chuyên chở nguyên liệu nổ cao, (Hi-explosive) nên phi-cơ phải di chuyển (taxi) vào khu vực gọi là “Hot cargo”/ khu hàng hóa hoặc khu vực chứa chất nổ được cách ly, để có khoảng cách an toàn cho phi-trường. Đây là chặng thứ 3 trong ngày và chúng tôi phải đáp xuống một phi-đạo đất ngắn ở trên sườn đồi nhỏ hẻo lánh gần biên giới Miên-Việt có tên là “Djamap dirt-strip” (Bùi gia Mập). Phi-đạo bằng đất này chỉ có thể được sử dụng tốt trong mùa khô. Phi-đạo nằm theo hướng 03/21 và dài khoảng 3.000 bộ, nằm chơ vơ trên đỉnh đồi ở độ cao 1.620 bộ cách mặt biển, và chúng tôi chỉ có thể hạ cánh hướng phi đạo 03 vì cuối đầu phi-đạo 03 là triền núi nên phải quay lại và cất cánh hướng phi đạo 21. Phi-hành-đoàn trên loại máy bay này bao gồm 4 gười: Trưởng-phi-cơ, hoa-tiêu-phó, cơ-phi và áp tải. Đối với chuyến bay huấn luyện này, gồm 1 huấn-luyện-viên + 1 cơ-phi và 1 áp tải người Mỹ , cùng chúng tôi 4 Phi-hành-đoàn học viên Việt Nam tạo thành một phi-hành-đoàn tổng cộng 7 người. Sau khi 80 đầu đạn được chuyển lên phi-cơ, chúng tôi được gom lại để nghe vị trưởng-phi-cơ thuyết trình về an-phi trước mỗi lần cất cánh. Đối với hoạt động bay đường đáp sân ngắn này theo sách vở, với tư cách là phi công phụ, tôi không được phép hạ cánh trên bất kỳ phi đạo nào ngắn hơn 3.000 feet. Trung úy Minh đáng lẽ sẽ bay chuyến bay này, nhưng huấn luyện viên Mastronardi giữ tôi ngồi ghế phải, và nói nè Thiếu úy Khiêm, tôi nghỉ you có đủ khả năng để đáp ở phi-trường Djamap.!

Là một phi công trẻ không có nhiều kinh nghiệm bay, tôi không biết sự khác biệt giữa việc đáp ở phi-đạo dài hay ngắn. Tất cả những gì tôi từng làm là chỉ hạ cánh trên một phi đạo xuất hiện trước mặt tôi mà thôi. Vì là bay vào vùng nguy hiểm (Hot), để tránh bị bắn, chúng tôi không thể vào và hạ cánh bình thường như như bất kỳ phi trường nào khác. Chúng tôi vào vùng thật cao trên phi trường này và bay xoắn ốc xuống thấp cho đến khoảng 2.000 bộ (nghĩa là chỉ khoảng 400 bộ cách mặt đất), khi còn cách 1 dặm ở cuối ph-đạo 03, tôi hạ cánh cản tối đa(Full Flaps) cắm đầu vào cuối phi-đạo 03, xử dụng công xuất của hai máy cánh quạt trung bình để khi duy trì một tốc độ bay lúc cận tiến là 78 Knots trong suốt giai đoạn cuối. Tôi đã rất phấn khích khi thực hiện kiểu tiếp cận này và duy trì chính xác 78 Knots trên mặt đồng hồ tốc độ đúng như sách vở. Trên hệ thống interphone , tôi nghe Đại-úy Mastronardi nói : quá đẹp Khiêm!. Về mặt chiến thuật, chúng tôi gọi loại hạ cánh này là thủ tục hạ cánh có tên là “Assault landing” được sử dụng ở bất kỳ phi trường vùng nguy hiểm nào, với cách tiếp cận cuối cùng cao hơn cách đáp thông thường. Tôi đã thực hành kiểu đáp tiếp cận (assault landing) này nhiều lần trên các phi đạo dài trong quá trình huấn luyện ban đầu của tôi ở Mỹ (tại căn cứ không quân Lockboune, Columbus Ohio từ tháng 11 năm 1970).

Nếu là dân bay, một số bạn đã biết, nếu bạn vào cận tiến (final approach) tốc độ và góc độ hoàn hảo, bạn sẽ đáp hoàn hảo. Nhưng đã không xảy ra trong trường hợp này! Khi máy bay còn khoảng 20 feet trên mặt phi đạo, vì không có kinh nghiệm nên tôi đã cúp ga thật nhanh! Điều này gây ra một tỷ lệ sink (chìm) quá mức cho cách hạ cánh này. Tôi chỉ nghe Đại úy Mastronardi hét lên trong hệ thống liên lạc: No Khiêm! Quá trể, máy bay chạm xuống rất mạnh nhưng vì không có kinh nghiệm tôi vẫn không biết chuyện gì đã xảy ra. Khung phòng nơi chứa bánh đáp bên trái bị bể , bể luôn bên trong thân phi-cơ nên kéo theo đất màu đỏ trên mặt phi đạo bắn thẳng vào phòng lái (C-123k quân sự không có cửa phòng lái). Tụi tôi không thể nhìn thấy bất cứ cái gì trước mặt, ngoại trừ một ánh sáng mờ màu cam của đèn Anti-skid (Đèn báo chống trượt) phát sáng trong bụi đỏ dầy đặc bên trong phòng lái. Phi-cơ lúc đó đã chuyển hướng về phía bên trái, sắp sửa văng xuống triền núi ! Đạ-úy Mastronardi nhanh chóng dùng xoải ngược (revert) của động cơ bên phải, đưa máy bay trở vào phi-đạo với 2/3 phần còn lại của phi đạo đất đỏ này. Động cơ bên trái bị chạm đất khi bánh xe bên trái sụp xuống vì máy bay nghiêng sang trái và điều đó khiến cánh quạt bên trái đụng vào gò đất phía trái phi đạo , uốn cong 3 đầu cánh quạt,động cơ bên trái tắt ngay tức khắc. Động cơ phản lực bên trái cũng bị hư do đất cát đã chui vào đó, nhưng nó tự động tắt khi động cơ cánh quạt được cho vào xoải ngượt (Reverted).

Tất cả chúng tôi đã chui ra khỏi máy bay an toàn, riêng Đại-úy Mastronardi và tôi từ trên phòng lái chui ra trông giống như 2 thằng mọi da đỏ vì tóc tai mặt mũi và bộ đồ bay của chúng tôi từ đầu tới chân đều phủ đầy bụi đỏ. Nếu lúc đó Đại-úy Mastronardi không nhanh chóng đưa máy bay dừng lại, toàn bộ máy bay có thể đã văng ra cỏ và chạy khỏi dải đất rơi vài trăm thước và nổ tung bên dưới sườn đồi! Thì tụi tôi xem như đã tiêu diêu nơi miền cực lạc rồi! (Chúng tôi đang mang 60 đầu đạn pháo binh 175 ly trong khoang chở hang hóa như tôi đã đề cập trong phần trước.). Do đó tôi sẽ không còn ngồi đây để mà viết lại câu chuyện này. (Tui nổ có ba tăng mà!)

Sau tai nạn đó, Đại úy Mastronardi không còn làm huấn luyện viên cho Phi công VNAF, tuy nhiên ông vẫn làm huấn luyện viên cho các Phi công Mỹ mới đến VN sau đó. Trên báo cáo an phi (safety report), Đại-úy Mastronardi đã khai rằng rằng ông đã hạ cánh tại Djamap dirt-Strip và chịu trách nhiệm 100%. Về tai nạn này.

Tháng 4/1975, tôi đến Mỹ như bao nhiêu người người tỵ nạn khác cùng với vợ và 2 con của tôi (con gái tôi 2 tuổi và trai 5 tháng tuổi). Sau khi ra khỏi trại tỵ nạn tại Camp Pendleton. Gia đình tôi tạm thời định cư tại thành phố Al Cajon phía đông San Diego. Captain Mastronardi không biết bằng cách nào đó đã tìm được địa chỉ của tôi và gửi cho tôi một ngân phiếu 500$! Tôi đã bị sốc, bạn có biết 500 đô la trị giá bao nhiêu trong năm 1975 không? (Lúc đó bạn có thể thuê một một phi-cơ 1 động cơ với giá 9 đô la và chi 6 đô la cho 1 huấn luyện viên!).

Tôi biết rằng ông ta chỉ là một cơ-phi trên Boeing 727 cho Delta Airlines không quá 3 năm và ổng không được trả nhiều tiền khi bắt đầu với bất kỳ hãng hàng không nào.( Khi tôi mới vào Airline bên Mỹ này tôi cũng phải làm cơ-phi trên Boeing-727 4 năm) Khi ông gửi cho tôi 500 đô la, nó đã làm tôi quá xúc động, sao tình Thầy trò nắn ngủi mà lại sâu đậm quá như vầy!. Sau đó ông nói với tôi rằng ông phải làm cơ-phi cho Delta Airlines trên Boeing 727 trong 10 năm trước khi ông có thể được nâng cấp lên ghế Co-Pilot. Vào giữa năm 80 khi ông nghe tôi được mướn vào Hãng hàng không Piedmont, (sau này sáp nhập với US-Airways và bây giờ là American Airlines) và chỉ 4 năm sau tôi leo lên ghế co-pilot, ổng nói không thể tin vào điều đó. Ổng nói rằng tôi sẽ ngồi ghế cơ-phi ít nhất 5 năm nữa. Ngành hàng không đã thay đổi và tôi may mắn được nâng cấp nhanh như vậy. Captain Mastronardi đã nghỉ hưu năm 2002 là Captain trên loại Phi-cơ L-1011. Gia đình ông sống ở Atlanta và chúng tôi vẫn giữ liên lạc thường xuyên với nhau. (Ông mất năm 2016, hưởng thọ 74 tuổi, trước khi ông mất ông có nói người con gái lớn tên Lia gọi cho tôi biết, khi tôi gọi lại thì vợ là bà Jean nói Jack đã hôn mê cách đây 1 giờ !!!)

Sau tai nạn trong quá trình huấn luyện cho đến khi tôi được chuyển qua C-130A vào tháng 12 năm 1972, tôi chưa đáp lần nào tệ lậu trên C-123K hoặc C-130A. Nhưng hầu như tất cả những cái đáp, đã đáp rất êm như đáp trên lụa!!?? (cho phép tôi tự quảng cáo (Nổ) về bản thân mình; tự khen ngợi bản than để tự làm cho tôi thỏa mãn cái “Tôi” bự chảng của mình..Mèo khen mèo dài đuôi . OK không quý đọc giả khó tính!).

******

Phần trên là chiện đời xưa, còn chiện đời nay sau 29 năm bay ở xứ Mỹ dãy chết này, từ lái máy bay nhỏ đến máy bay phản lực lớn tôi đã từng đáp lần nào thiệt là tệ hại chưa? Câu trả lời là Có chớ sao không có. (Thành thật khai báo sau đây.)

Ngày 30 tháng 1 năm 1991 (hai mươi năm sau lần đáp ở Djamap) Tôi đang bay trên chiếc Boeing 737-400, sau khi rời Raleigh NC, chúng tôi bay đến phi trường Washington-National (lúc đó phi- trường này chưa đổi tên thành phi-trường Ronald-Reagan). Thời tiết ngày hôm đó thật lý tưởng để đi bay. Tụi tôi bay đến từ phía nam của phi đạo 36.(Bây giờ là phi-đạo 01, vì từ trường của trái đất thay đổi) Khoảng 5 dặm từ cuối phi đạo 36, đài kiểm soát không lưu cho tụi tôi đáp thẳng vào phi-đạo 36, đồng thời họ cũng cho chiếc DC-9 của hảng North-West cất cánh. Nhưng không biết lý do gì khiến chiếc DC-9 phải hủy bỏ cất cánh (Abord-Takeoff), đài Kiểm soát không lưu chỉ thị cho DC-9 rời phi-đạo ngay đường di chuyển trước mặt nhưng chiếc DC-9 đã chạy lố, khiến chúng tôi phải chuẩn bị làm lại vòng bay khác (go around). Tụi tôi vẫn còn cách phi đạo 36 khoảng 3 dặm. Đài kiểm soát không lưu hỏi tụi tôi rằng liệu chúng tôi có chấp nhận bay qua vòng qua bên phải và đáp ở phi-đạo 33 được không thay vì phải làm vòng bay khác.? Phi-đạo 33 ngắn hơn nhưng vẫn xử dụng an toàn cho 737 (Thông thường phi đạo này chỉ dùng cho các loại comuter phi-cơ hành khách loại nhỏ.) Chúng tôi chấp nhận dùng phi đạo 33 và với bánh đáp và cánh cản (Flaps) vẫn còn, tôi quẹo qua phải trên sông Potomac về phía đông, sau đó tôi quẹo trái hướng tây bắc để chỉnh cho ngay vào phi đạo 33. Tôi chưa bao giờ hạ cánh trên phi đạo này lần nào. Với phi đạo ngắn hơn và con sông Potomac ở đầu này , đầu kia là tòa nhà Lầu năm góc (Pentagon) nằm ở cuối đầu kia không xa, nếu phải làm vòng bay khác (go around) cho phi-đạo 33 này có phần nghiêm ngặt và khó khăn hơn cho phi đạo 36 hay 18.

Tôi cảm thấy như mình sắp hạ cánh trên một Hàng không mẫu hạm. Với bánh đáp và cánh cản tối hạ đa (Full Flaps) tôi cố gắn giữ tốc độ như computer trên phi cơ đưa ra, tôi đã cố gắng chạm bánh vào con số của phi-đạo này, chỉ cách cuối đầu phi-đạo 500 feet thay vì chạm bánh trên vạch trắng lớn 1.000 feet như bình thường. Vì cánh cản đã ra tối đa (Full Flaps) nên tốc độ cận tiến thấp hơn bình thường và tôi đã tập trung vào con số 33 đến nỗi tôi để tốc độ cận tiến giảm mất 5 knots dưới mức mục tiêu mà tôi không biết. Với 87 hành khách ngồi trên chiếc 737-400 phi- cơ đã rớt thẳng xuống mặt phi đạo ngay trên con số 33: 2 bánh xe chính và bánh mũi chạm xuống cùng một lúc, giống như một máy bay phản lực của Hải quân hạ cánh trên boong của Hàng không mẫu hạm vậy!!. Thông thường khi bạn hạ cánh một chiếc máy bay phản lực lớn và nặng trên một cú chạm mạnh với 2 bánh chính và bánh xe mũi vẫn còn trên không, ngồi trong buồng lái bạn cảm thấy chỉ là chạm bánh hơi nặng thôi. Nhưng khi cả 3 bánh cùng chạm đất cùng một lúc như thế này, tôi cảm thấy đây là một cú đáp quá mạnh cho hành khách. Tôi rất bối rối và cảm thấy xấu hổ tột cùng. Đây là lần duy nhất tôi nhớ rằng tôi đã thực hiện một cái hạ cánh quá tồi tệ nhứt trong suốt sự nghiệp làm phi-công hàng không dân sự tại xứ dãy chết này. (Đó cũng là lần duy nhất tôi ghi vào sổ giờ bay cá nhân của mình bằng mực đỏ RED. (Very Bad Landing, phải từ chức hãng hàng không và gia nhập Hải quân, nếu họ chịu nhân tui!?). Sau khi hạ cánh, tụi tôi không nói gì với nhau cả.

Tôi bước ra khỏi chỗ ngồi và đứng trước cửa phòng lái để chào lời tạm biệt và cảm ơn hành khách như thường lệ, một số hành khách mỉm cười với tôi, những người khác ném cho tôi một cái nhìn bẩn thỉu nghiêm khắc (Stern and dirty look!). Có người hỏi tôi: Hồi nãy ai đáp dậy? Tôi không nói tiếng nào nhưng chỉ ngón tay cái ngược ra sau lưng, chỉ vô phòng lái cho thằng pilot Mỹ còn đang ngồi trong đó!!!!

Đây là một số câu chiện ngắn về cuộc đời bay bổng mà tôi muốn chia sẻ với quý bạn trên diễn đàn này. Tôi chưa bao giờ kể những câu chuyện này với bất cứ ai, kể cả các thành viên trong gia đình tôi hoặc đăng trên trang web của VNAF.

Tôi mong ước rằng tất cả các bạn là một thế hệ trẻ sẽ đạt được mục tiêu của mình trong ngành hàng không và trở thành những phi-công hàng không lái những chiếc máy bay phản lực lớn và hiện đại và có một tương lai tươi sáng .

Chúc các bạn vui vẻ với nghiêp bay.

Captain Pham.

US Airways/American Airlines

Dayton Ohio Jan. 2006

(Tôi official retired from American Airline cuối tháng 12/2006 sau 20 năm bay cho hảng này, trước đó bay Boeing 727 cho hảng UPS 3 năm, 6 năm bay cho hảng nhỏ 2 động cơ.)

Bổ túc bài viết lần trước. (Những Cú đáp tệ hại nhứt trong đời tôi!) (Hard Landing)

Tôi không tính viết phần này vì kỳ đó sợ bị quê!

Chẳng là sau khi mọi việc coi như tạm yên thì có một ông lính Mỹ lấy máy polaroid chụp cho tôi 2 tấm hình mà tôi đã post ở phần trên, sau khi tôi đã phủi tất cả bụi và đất đỏ trên đầu cổ quần áo. Hồi đó mới có 23 tuổi nên xem còn trẻ như con nít. Tụi tôi phải đứng chờ C-7 Caribu của Army từ Biên hoà bay lên đón về Tân Sơn nhứt.

Captain Mastronardi dặn tụi tôi đừng khai báo gì hết, để ông sẽ làm tường trình. Khi C-7 đến rước phi hành đoàn của họ chỉ có 3 người. Tụi tôi 7 mạng leo lên C-7 khi 2 máy vẫn còn nổ. Sau khi cất cánh C-7 không bay về Sàigòn liền mà bay vòng xoắc ốc trong phạm vi phi trường để lấy cao độ. Trong khi C-7 lấy cao độ tôi lủi thủi một mình đi ra phía sau, ai cũng ngồi gần đằng trước phần tôi đứng phía sau nhìn xuống chiếc C-123K nằm lẽ loi trên phi-đạo đất đỏ, lòng tôi nhói lên và tôi đã khóc như một đứa con nít bị ai giựt mất đồ chơi… Captain Mastronardi nhìn thấy tôi khóc, ổng chạy xuống vỗ về: Khiêm! Everything will be all right, don’t feel bad!

Nửa giờ sau tụi tôi đến TSN. Chuyện đầu tiên là xe van màu xanh của USAF đến chở tụi tôi đến bệnh xá KQ Mỹ để lấy máu (xem có tên nào say rượu hay có cần sa ma túy trong máu không. Đó là chuyện thông thường của KQ làm mỗi khi có tai nạn) sau đó được cho về nhà, đi xe ôm về nhà mà lòng tôi buồn rười rượi. Về đến nhà ba má tôi hỏi ủa sao con đang học ngoài Phan rang mà bửa nay lại về nhà, ừ mà đầu cổ quần áo con sao dơ quá vậy? Tôi chỉ nói bửa nay tụi con đáp ở phi trường bằng đất đỏ chớ tôi không dám nói tại con mới đập tàu bay.!

Sáng hôm sau trở lên Phi trường TSN được C-130E của USAF chở ra lại Phan rang và vào ngay văn phòng an-phi để được các (flight safety officer) sỹ quan an-phi Mỹ phỏng vấn.

Ngày sau tụi tôi vẫn tiếp tục đi bay hành quân huấn luyện như thường lệ, nhưng bay với Thầy mới là Thiếu-tá Kongkling, ông này dân Texas ở San Antonio nên nói giọng cao bồi Texas đăc sệt.

Tháng sau tất cả đều xong khoá huấn luyện về lại Sàigòn để bay C-123K của VNAF tất cả phi-cơ đều đã được sơn cờ và phù hiệu của Không Quân Việt Nam Cộng Hoà. Với số hiệu từ HA đến HP thuộc phi-đoàn 421 đầu tiên, vị chi là 16 chiếc lúc ban đầu, nhưng các Trưởng phi cơ người Mỹ vẫn bay kèm tụi tôi thêm một tháng nửa rồi khi các phi-công các khoá sau lần lượt từ Phan Rang về, tụi tôi đươc thả bay solo không còn pilot Mỹ đi theo kèm nửa.

Kỷ niệm lần đâu tiên khi 2 chiếc C-123K của KQ Việt Nam sơn cờ Việt Nam và phù hiệu mới tinh ra đáp ngoài Đà Nẵng. Lúc đó tụi tôi bên Mỹ mới về được mấy tháng nên vẫn còn thư sinh trắng trẻo (và đẹp trai nửa!!!??)

Hai Thiếu-úy co-pilot bước vô trạm hàng không lần đầu ai cũng dòm ngó nên tụi tôi hãnh diện lắm…lần đầu tiên được bước vào trạm hàng không Đà Nẵng… Nhưng đi được một khoảng lại nghe mấy bà già trầu ngồi tụm ba tụm bốn nói giọng Nam và chút nửa sẽ là hành khách đi về Sài gòn trên chuyến bay của tụi tôi. Nghe mấy bả nói với nhau: chèn đét ơi bộ Không Quân hết người rồi sao mà bắt mấy thằng con nít này lái máy bai !!! (Nguyên văn… Nhớ tới già…là nhớ tới bây giờ đó, vì bây giờ tụi tôi đều đã là ông Nội ông Ngoại và đã 7 bó + rồi còn gì …)

* cái này là extra. Sáng sớm hôm nay nhận được e-mail của một bà chị quen bên Houston. Sau khi bả đoc bài này bả viết cho tôi như sau: Nghe cậu chở đạn hồi xưa nên giờ cậu nổ nghe đinh tai nhức óc luôn, không thua gì mấy ông lính pháo-binh hồi đó!. Mà cậu cũng nên đổi họ Đổ thì nghe oai phong vô cùng… 2 lần đáp thiệt hãi hùng thất sắc vậy mà còn dám chỉ tay “đổ” tội cho 2 “thằng Mỹ” bạn vàng nửa!

Tui đọc mà cười muốn rụng răng luôn!