Chiến tranh bên cạnh, tình yêu

baovecovang2012.wordpress.com

Huy Van Truong

Posted on December 6, 2023 by Lê Thy

Post by Sơn râu 22 Mar 2025

5. Chương 39
Công dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Mới có ba năm giải phóng mà không biết Việt Cộng đánh tư sản mại bản mấy đợt rồi. Theo tôi nghĩ đối với Việt Cộng, khi mà người dân Miền Nam còn có tiền thì còn đánh, cướp cho hết mới thôi. Sau ngày bị đánh tư sản, gia đình của tôi rớt xuống bậc thang cuối cùng của nghèo nàn, đói rách. Trước đây vì dư dả tiền bạc, chúng tôi sống cách biệt, rất ít khi quan tâm đến đời sống kinh tế của mọi người chung quanh mình, biết người ta ăn cơm độn bo bo, biết để mà biết không có gì phải bận tâm. Bây giờ thì chúng tôi cũng giống như tất cả người dân Miền Nam, cũng chạy ăn từng bữa. Dân Miền Bắc tôi không nói tới, vì họ đã bị chuyện cải cách ruộng đất, bỏ đói từ năm 1954 rồi. Từ đó tôi biết rõ hơn về nguồn lương thực cung cấp cho dân chúng. Người dân đói hay no, tùy thuộc vào số thực phẩm do nhà nước phân phối. Theo quy định từng địa phương, mỗi tháng người dân sẽ được mua 16 kí lương thực, có tháng chỉ còn 13 kí, trong đó bao gồm gạo, bo bo, bột mì, một đôi khi có cả khoai mì xắt lát. Đường, muối, nước mắm hay vải vóc bán cho người dân cũng thất thường như trời có khi mưa khi nắng, khi nóng khi lạnh. Nói chung nhà nước bán thứ gì thì dân nhờ thứ ấy.

Tôi và Cúc vì làm vườn, canh tác ngoài Đa Thiện nên có sổ lương thực, được sống ở thành phố không phải đi kinh tế mới. Có một điều hết sức là may mắn cho gia đình tôi, là trong đợt đánh tư sản mại bản vừa qua, đám sai nha quan lại của triều đình Cộng Sản, đã quên mất cái máy bơm nước hiệu Yanmar ở vườn trồng rau ngoài Đa Thiện của tôi. Và đó là tài sản quý giá nhất mà tôi và Cúc còn có được.

Hồi mới học tập cải tạo về, tôi làm vườn kiểu tài tử, hàng ngày tôi ra vườn chỉ làm có một việc duy nhất là tưới cây, tưới cho có lệ với mục đích là xin chữ ký vào sổ. Cuối tuần khi đọc kiểm điểm trước tổ dân phố, tôi khai báo rằng mình có lao động sản xuất, tạo ra của cải vật chất. Khác với tôi, người dân trồng rau ngoài Đa Thiện, họ làm việc đầu tắt mặt tối, suốt ngày dãi nắng dầm mưa, chăm lo từng chút cho luống rau, tính toán từng bao phân cá, từng giọt nước, từng hột phân hóa học như U rê và Ka li. Vậy mà cũng có mùa họ bị thất thu, tiền bán rau không đủ chi phí cho tiền mua cây giống, phân bón, thuốc trừ sâu.

Trước đây khi còn dư dả tiền bạc, cứ sau một vụ mùa Cúc phải bỏ ra một số tiền lớn để bù lỗ. Công ty quốc doanh của Cộng Sản lập ra cũng vậy, gần như một trăm phần trăm đều làm ăn lỗ lã vì tham nhũng. Chuyện không có gì phải ồn ào, nhà nước sẽ lấy tiền thuế của người dân bù vào như họ đã làm từ bao nhiêu năm nay. Hai trường hợp làm ăn giống nhau, với gia đình tôi, nguồn vốn cung cấp đã bị mất sau vụ vợ tôi thuộc thành phần bị đánh tư sản mại bản. Muốn sống còn, tôi và Cúc phải đem hết sức mình ra làm việc, phải siêng năng cần mẫn, như những người dân làm vườn ở Đa Thiện, với hy vọng sẽ sống được nhờ vào mảnh vườn này. Hoài công vô ích, cho dù chúng tôi có cố gắng đến đâu, có làm việc khổ cực như thế nào, thì kết quả vẫn là thua lỗ. Mùa nào cũng vậy, may mắn lắm thì huề vốn, chỉ lỗ công, còn thường thì thất điên bát đảo, cất đầu không nổi.

Những lúc sau này khi đang làm vườn, tôi và Cúc thường gặp dăm ba người thanh niên với giọng nói của dân Sài Gòn hoặc Vùng 4. Những người này đi lang thang từ vườn nhà này sang vườn nhà khác, dò la, hỏi mua lại máy bơm nước chạy dầu cặn. Đối với nhà vườn, máy bơm giống như trái tim, dùng để bơm máu đi nuôi cơ thể của con người. Nhà vườn không có máy bơm nước, chẳng khác gì con người không có trái tim. Do đó những người tìm mua máy bơm nước sẽ có rất ít hy vọng, hay nói đúng ra là mò kim đáy biển. Một hôm tôi đang bận bịu tưới rau, bất chợt có một anh thanh niên áo quần bảnh bao lân la đến làm quen, và xin chỉ cho anh ta quanh đây có ai dư máy bơm nước muốn bán. Vì muốn tìm hiểu nguyên nhân tại sao người ta tìm mua máy bơm nước, tôi gạ chuyện với anh thanh niên.

-Anh là người Miền Tây?

Do dự một chút, anh ta trả lời.

-Tôi là dân tạm trú ở Sài Gòn.

-Tại sao anh phải cất công, lặn lội lên tuốt trên núi này để mua mấy cái máy đó làm gì? Sài Gòn chán vạn gì, sao không mua?

Anh thanh niên cười thoải mái.

-Tôi đâu có rảnh, đi ba trăm cây số lên cái xứ Đà Lạt này để mua máy, lý do rất đơn giản là bạn bè của tôi đã săn lùng khắp cả Sài Gòn rồi, kiếm đỏ con mắt cũng không thấy một cái máy chạy bằng dầu cặn.

Tôi nói đùa với anh ta.

-Trời đất, quý vậy sao? Tôi có cái máy bơm Yanmar, đang dùng tưới rau đây nè. Nếu muốn mua, anh trả được bao nhiêu?

Đôi mắt của anh thanh niên vụt sáng rực lên.

-Cho tôi coi được không?

Tôi chỉ cái nhà nhỏ xíu bằng gỗ, dùng để che cái máy bơm gần hồ nước.

-Anh xuống đó mà coi.

Tôi chưa kịp dứt lời, anh thanh niên đã ba chưn bốn cẳng, phóng như bay.

Để mặc anh thanh niên muốn làm gì tùy ý, tôi tiếp tục công việc của mình. Chưa tưới xong mấy luống khoai tây, anh thanh niên đã trở lại với gương mặt tươi rói.

-Nói thiệt nghe, quá dữ luôn, một cái Yanmar F10 CE, thứ này thuộc loại hàng xịn à nghe.

Tôi cười thầm trong bụng, rồi hỏi.

-Anh nói như vậy, không sợ tôi tăng giá hay sao?

Anh thanh niên cười hô hố.

-Yên chí đi, tôi mà cho giá anh bạn nghe xong sẽ gật đầu cái rụp, không có đắn đo hay suy nghĩ một, hai gì hết. Nói nghe nè, Yanmar F5 tới F9 tôi gặp cũng nhiều, hơi cũ, giá của nó là một cây hay hơn chút đỉnh. Riêng cái F10 này quá ngầu lại còn quá mới, tôi ưu ái cho nó hai cây.

Vì không có chủ tâm bán máy bơm, tôi đùa với anh ta.

-Có hai cây thôi sao? Ít quá vậy.

Anh thanh niên trợn tròn đôi mắt.

-Trời đất, nè anh bạn chắc anh lo làm ăn quá nên không biết xã hội đổi thay như thế nào. Một căn nhà trong cư xá Thanh Đa, lô chữ, tầng trệt ở Sài Gòn chỉ có một cây thôi, lên tầng hai, ba, bốn, mỗi tầng bớt một chỉ. Cái máy Yanmar F10 của anh bạn đổi lấy hai căn nhà ở Thanh Đa. Vậy mà anh bạn còn chê ít hả?

Tôi hỏi anh ta.

-Tôi tưởng chỉ có nhà ở Đà Lạt mới mất giá, ai ngờ ở Sài Gòn cũng vậy sao?

Gã thanh niên cười ra vẻ khoái chí.

-Nói thiệt luôn nghe, liên tiếp mấy năm nay dân Sài Gòn bị lùa đi kinh tế mới cũng khá bộn, gần đây người ta rủ nhau đi vượt biên hà rầm, nhà bỏ trống rất nhiều nên mới xuống giá.

-Anh nói nhà rớt giá nghe rất có lý, vậy còn cái máy bơm nước Yanmar này, tại sao lại lên giá?

Anh thanh niên cười hề hề.

-Hổng biết thiệt sao? Hay là bạn giả ngộ.

-Tôi không biết thiệt mà.

Giữa vườn rau chỉ có hai người, anh thanh niên nhìn quanh như sợ có người khác nghe được chuyện mình nói, anh ta lấy tay che miệng rồi kề sát tai của tôi.

-Máy dầu cặn Yanmar, gắn vô tàu để vượt biên, hiện tại được ưa chuộng nhất. Hút hàng là phải rồi.

Mọi thắc mắc mấy tháng nay, về chuyện người ta lùng sục khắp các vườn rau ở Đà Lạt mua máy bơm nước chạy dầu cặn, đã được trả lời thỏa đáng. Tôi nhìn anh thanh niên.

-Anh đưa giá bao nhiêu tôi cũng không bán, mà chỉ muốn trao đổi thôi. Vợ chồng tôi và đứa con gái hơn hai tuổi, ba chỗ ngồi trên tàu vượt biên, đổi lấy cái Yanmar F10 này.

Gã thanh niên gãi đầu bứt tóc.

-Tôi mua máy này đem về Sài Gòn, bán lại kiếm chút lời. Người mua phải chở tuốt xuống đâu Rạch Giá, Cà Mau, gắn vô chiếc tàu nào đó. Ai mà biết được chủ tàu mặt tròn mặt méo ra sao. Điều kiện của anh bạn đưa ra, tôi cũng chịu thua luôn.

Tôi an ủi anh thanh niên.

-Anh cứ giữ chuyện này trong bụng, biết đâu gặp mối, có người chịu thì anh đến đây gặp tôi.

Anh thanh niên chào tôi rồi đi mà lòng chừng như bịn rịn, không nỡ rời cái máy bơm.

Thấy vậy, tôi nói vói theo.

-Nếu tôi đổi ý, muốn bán máy thì gặp anh ở đâu?

Không thèm quay nhìn tôi, anh thanh niên to giọng.

-Về chợ trời Nguyễn Thông ở Sài Gòn, hỏi thằng Vinh máy nổ thì ai cũng biết.

Trong bữa cơm chiều ngày hôm ấy, tôi nói với Cúc về tin tức của người dân Sài Gòn, rủ nhau vượt biên như đi trẩy hội, cùng với chuyện giá trị cái máy bơm hiệu Yanmar ở ngoài vườn có giá là hai lượng vàng.

Cúc phân tích với tôi.

-Trước đây khi còn có tiền, cả anh và em đều đánh giá thấp bọn Cộng Sản. Em cứ đinh ninh rằng, mình bỏ Sài Gòn lên ẩn núp ở Đà Lạt là tạm yên thân rồi. Em đã quá chủ quan nên tất cả tiền bạc đều bị cướp sạch sẽ, giờ thì một xu dính túi cũng không có. Gia tài của mình giờ đây nếu còn chỉ là cái máy bơm đang dùng ở ngoài vườn. Chậm hay mau gì mình cũng phải vượt biên thôi, tuy nhiên anh với em phải soạn thảo kế hoạch thật tỉ mỉ, không được có bất cứ sai sót, lỗi lầm, cho dù là một lỗi nhỏ nhặt nhất.

Tôi đưa ý kiến.

-Nếu vượt biên, chuyện đầu tiên mình phải làm là dọn về ở Sài Gòn hay bất cứ tỉnh nào ở ven biển.

Cúc nói.

-Những tỉnh thành ven biển mình không có nhà, không có người quen. Em sẽ hỏi chị Hai về căn nhà của chị ở Tân Định Sài Gòn, mình sẽ bán cái máy bơm, dùng số tiền đó để chạy sổ hộ khẩu nhập chung với chị Hai ở Tân Định, còn dư bao nhiêu tiền dành ưu tiên cho chuyện vượt biên, cơm nước sinh sống hàng ngày mình phải tự làm để nuôi thân. Anh thấy được không?

Tôi gật đầu.

-Được quá đi chớ, chỉ sợ khổ cho em và con thôi. Anh thì dù gì cũng có được cái bằng “Tù cải tạo” cái bằng này chứng nhận người tốt nghiệp có khả năng nhịn đói, chịu nhục, giỏi nhất nhì trên thế giới.

Cúc cười với vẻ thích thú.

-Anh đừng có mừng, trong thời gian anh ở tù thì người dân Việt Nam cũng đang ở trong cái nhà tù lớn. Hai cái nhà tù cũng không có khác nhau bao nhiêu đâu.

Thấy Cúc vui vẻ, tôi ôm Cúc rồi nói.

-Em có nhớ là hồi xưa, tụi mình đi tắm biển ở Vũng Tàu hay không.

Cúc cười e thẹn.

-Nhớ chớ sao không.

Tôi nói với Cúc.

-Anh muốn hỏi em một câu, chỉ một câu thôi. Em có biết là em có một thân hình đẹp, có thể đi thi hoa hậu được không?

Cúc hơi đỏ mặt rồi nói.

-Biết, đó là lý do mà em kéo anh đi Vũng Tàu, chỉ với mục đích là khoe thân thể tuyệt đẹp của mình. Có điều em không ngờ và hơi thất vọng là anh ngó lơ, không thèm nhìn em trong bộ bikini, khi em từ dưới biển đi lên. Tự ái của một người con gái biết mình có một thân hình đẹp, khiến em nghĩ thầm, cái gã con trai mắc dịch này bày đặt làm cao, chắc hắn tưởng cái lon trung úy của Trường Võ Bị Đà Lạt là ngon lắm, cho nên gương mặt cứ khinh khỉnh coi phát ghét. Đã vậy còn làm bộ như là đứng đắn lắm.

Đang nói Cúc chợt đổi giọng.

-Anh có biết không, cũng tại cái ghét đó mà sau này, vài tuần không gặp anh là em thấy nhớ. Từ nhớ đến yêu, trong tâm hồn chỉ là một khoảng cách không lấy gì làm xa cho lắm.

Mãi cho đến ngày hôm đó, tôi mới biết được tâm sự giấu kín trong lòng của Cúc.

Tôi cười, thú tội với vợ.

-Anh đâu phải là Lục vân Tiên, để nói với Kiều nguyệt Nga

Khoan khoan ngồi đó chớ ra.

Nàng là phận gái, ta là phận trai.

Em biết không, trong bụng thì anh thích ngắm nhìn thân thể của em trong bộ áo tắm, nó có một hấp lực mạnh như sức hút của một thỏi nam châm, khiến đầu óc của anh lúc bấy giờ chỉ toàn là ý tưởng đen tối, bắt anh phải ngoảnh mặt làm ngơ không dám nhìn.

Gương mặt của Cúc lộ vẻ bằng lòng.

-Vậy mà hồi đó em cứ ngỡ là anh bị bệnh lãnh cảm.

-Anh đâu phải là gỗ đá, có điều anh không hiểu em đã tập luyện như thế nào mà có được thân hình đẹp tuyệt vời như vậy.

Cúc giải thích.

-Chỉ là trời sinh mà thôi, em chẳng có tập tành gì cả, suốt ngày chỉ bơi lội trong hồ bơi ở nhà. Thực lòng mà nói, em rất thích đi tắm ở hồ bơi công cộng, vì mỗi khi thấy em mặc đồ tắm đi ngang, bọn thanh niên choi choi vẫn thường huýt sáo vang trời. Tiếng huýt sáo làm em ngượng đỏ mặt nhưng trong lòng lại vui sướng, tuy vậy em rất ít khi đi bơi ở những hồ bơi công cộng, vì nước ở đó không được sạch sẽ như nước hồ bơi ở nhà. Còn một điều quan trọng nữa mà anh không biết đâu, em là một trong bốn nữ lực sĩ bơi lội của Việt Nam Cộng Hòa tham dự Đông Nam Á Vận Hội, trong bộ môn nhào lộn trên tấm ván nhún. Vì bơi lội thường xuyên như vậy, nên thân thể của em nẩy nở đều đặn, chỉ có vậy thôi.

Tháng 9 năm 1978, tôi được đưa ra tổ dân phố lần thứ hai để duyệt xét xin giải chế. Nhờ cái đồng hồ Seiko mà tôi lo lót cho tên công an khu vực từ năm trước, mọi việc đều tiến hành êm đẹp. Cuối cùng để kết thúc buổi họp, tên công an khu vực với giọng nói rõ ràng.

-Trước mặt đồng bào, anh Nguyễn trọng Quân, trung úy Ngụy quân đã được tập trung học tập cải tạo và nhà nước khoan hồng cho về. Hôm nay sau khi giải chế, anh chính thức trở thành một công dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc, được hưởng đầy đủ mọi quyền lợi theo hiến pháp quy định.

Tôi cảm ơn nhà nước và Đảng Cộng Sản mà trong bụng chỉ muốn nói. Từ giờ trở đi, tôi thoát được cái nạn bốn chữ ký một ngày, có thể xin phép đi Sài Gòn để tìm đường vượt biên. Chuyện làm công dân của cái nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tôi xin nhường cho các đảng viên Đảng Cộng Sản và gia đình họ. Tôi cũng tin rằng tất cả người dân của hai miền, Nam và Bắc Việt Nam đều sẵn sàng từ chối cái quyền công dân này. Bằng chứng là năm 1954 hơn một triệu người dân Miền Bắc di cư vào Nam, sau tháng 4 năm 1975, hàng triệu triệu người dân Việt Nam tìm đường vượt biên, không biết cho đến khi nào mới chấm dứt. Riêng cá nhân tôi, tôi thà chết trên biển cả, đem tấm thân này làm mồi cho cá, quyết không làm công dân của một nước, mà trong đó mạng sống của con người bị xem nhẹ như cỏ rác, nhân phẩm của con người bị chà đạp còn tệ hơn súc vật.

Chiến tranh bên cạnh, tình yêu

baovecovang2012.wordpress.com

Huy Van Truong

Posted on December 6, 2023 by Lê Thy

Post by Sơn râu 22 Mar 2025

4. Chương 38
Gia Tĩnh Minh Thế Tông.

Đang ngon giấc, tôi giật mình thức dậy vì tiếng đập cửa ầm ầm từ dưới nhà vọng lên. Tôi đoán rằng phải có nhiều cánh tay cùng đập một lần vào cửa thì âm thanh hung hãn, dồn dập, gấp rút của nó, mới có thể vang xa từ tầng một lên đến tầng ba, nơi tôi đang ngủ.

Tung mền ngồi dậy nhìn quanh, tôi thấy Cúc đang ôm chặt con vào lòng, con bé hình như sợ hãi quá sức nên im thin thít. Riêng tôi thực lòng mà nói, tôi sợ đến són đái trong quần.

Từ ngày được thả về với gia đình cho đến hôm nay cũng đã gần hai năm rồi, thỉnh thoảng trong giấc ngủ, tôi lại mơ thấy công an đập cửa nhà rồi bắt tôi nhốt vào trại cải tạo. Với những cơn ác mộng như vậy, tôi thường thấy mình bị giam giữ khi thì năm năm, khi thì mười năm, cũng có khi không có ngày về, bị nhốt hoài nhốt mãi giữa những hàng rào vỉ sắt PSP đen đủi xám xịt, tuy không có cảnh bom rơi đạn nổ, không có bắn giết chết chóc, chỉ toàn là kê khai lý lịch cá nhân, thành khẩn khai báo tội lỗi, đọc kiểm điểm hàng đêm trước tổ, chỉ chừng đó thôi nhưng nó làm cho con người sợ hãi đến bỏ ăn mất ngủ, và một đều ghê rợn nhất không bao giờ thay đổi là câu nói của quản giáo “Sĩ quan Ngụy phản quốc như các anh, không bị xử bắn, chỉ cho đi ở tù là may mắn lắm rồi”. Chỉ có chừng đó sự kiện, tái đi diễn lại từ ngày này qua ngày khác, và lần nào cũng vậy, khi thức dậy là toàn thân của tôi mồ hôi đã ướt dầm hết cái áo lót.

Những cơn mộng dữ theo đuổi tôi, lâu dần khiến tôi có phản xạ tự nhiên như khi thấy nguy hiểm, sẽ tìm đường chạy thoát thân. Không hiểu tại sao đêm nay, khi nghe tiếng đập cửa, sự sợ hãi lại khiến tôi ngồi chết lặng, bất động một chỗ đến vài phút mà không biết phải làm gì. Có thể mặt mày của tôi đã trở nên xanh lè, cắt không còn giọt máu, cho nên Cúc trấn an tôi.

-Không có gì đâu anh, đừng có sợ.

Tôi chưa kịp hoàn hồn thì ầm một tiếng, cánh cửa phòng ngủ của vợ chồng tôi bung ra. Bốn, năm người, mặc thường phục với áo sơ mi xam xám, quần vải màu bộ đội, chân mang dép nhựa. Một điều đặc biệt là tất cả những người này đều có một gương mặt lạnh như tiền, và đôi mắt sắt như dao. Một người trong bọn vai mang sắc cốt, đầu đội nón cối, tay cầm tờ giấy dõng dạc hỏi.

-Ai là Nguyễn thị Cúc.

-Thưa tôi đây.

Nhìn chăm chăm vào mặt Cúc, gã đội nón cối gặng hỏi.

-Chị là Nguyễn thị Cúc?

-Thưa phải.

-Tên tư sản mại bản Nguyễn văn Bảy, là gì của chị?

-Ông ấy là ba của tôi.

-Hắn ở đâu rồi?

-Dạ, đang ở bên Mỹ.

Đưa tay chỉ vào tôi, gã hỏi.

-Còn cái anh ngồi đó là ai?

-Thưa là chồng tôi.

Nhìn quanh khắp căn phòng, gã to giọng.

-Còn ai ở trong phòng này nữa không?

Cúc xẳng giọng.

-Còn con gái của tôi.

Cúi đầu ghi ghi chép chép vào tờ giấy một lúc, gã đội nón cối nói to.

-Chúng tôi có lệnh ở trên lục soát căn nhà này.

Nói xong, gã chỉ vào phòng tắm.

-Yêu cầu hai người đi vào phòng đó ngay lập tức, đem luôn đứa bé vào.

Cúc hỏi với giọng bực tức.

-Các ông là ai? Giữa đêm khuya ngang nhiên vô nhà của tôi rồi đòi nhốt chúng tôi vào phòng tắm.

Gương mặt của gã đội nón cối lộ vẻ giận dữ, đôi mắt của hắn long lên sòng sọc như muốn ăn tươi nuốt sống người đối diện.

-Chúng tôi là ai hả? Chị sẽ được cho biết sau. Bây giờ, chị có thi hành lệnh hay không thì nói.

Nhìn gương mặt đầy sát khí của gã, tôi nháy mắt với Cúc rồi riu ríu dẫn Cúc và con đi vào phòng tắm. Mới được vài phút, bất chợt có hai tên Việt Cộng trẻ tuổi vào dẫn chúng tôi ra, họ đưa chúng tôi lên sân thượng, một người chỉ tay về phía trước rồi nói.

-Hai người đến cuối sân, rồi ở đó.

Nói xong hai tên Việt Cộng kéo ghế ngồi chận đường, không cho chúng tôi di chuyển đi đâu hết.

Tôi ngẩng đầu nhìn lên trời cao, bầu trời không còn tối đen như mực mà đã chuyển sang màu xám trắng, tôi ước chừng giờ này chắc đã hơn năm giờ sáng.

Khi mặt trời bắt đầu mọc ở phương đông, tỏa ánh sáng ấm áp xuống sân thượng nơi tụi tôi đang ngồi. Cúc nói với hai tên Việt Cộng đang canh giữ chúng tôi.

-Các anh phải cho chúng tôi đi vệ sinh và làm thức ăn sáng, con tôi đói rồi.

Một trong hai tên Việt Cộng nhìn đồng hồ.

-Chị đợi đấy, tôi còn phải xin lệnh trên.

Vừa dứt lời, hắn quay sang nói nhỏ với đồng chí của hắn rồi quay lưng bước đi xuống nhà. Chừng 15 phút sau tên Việt Cộng lúc nãy trở lại. Hắn chỉ vào Cúc rồi nói.

-Chị dẫn con đi theo tôi.

Quay sang tôi.

-Anh không được đi đâu hết, ở lại đây cho đến khi chị này và con bé trở lại, lúc bấy giờ anh mới được đi.

Loay hoay như vậy mất hơn cả 20 phút, cuối cùng chuyện vệ sinh cá nhân buổi sáng của chúng tôi, cũng giải quyết xong xuôi. Hai tên Việt Cộng canh gác chúng tôi trở lại nơi ghế ngồi, họ thi hành nhiệm vụ một cách nghiêm chỉnh, không chút lơ là.

Tôi và Cúc ngồi ở cuối sân thượng, cách hai tên Việt Cộng một khoảng khá xa. Chúng tôi chuyện trò với nhau, chỉ nói nhỏ nên không sợ họ nghe được. Cúc hỏi tôi.

-Lúc nãy anh xuống dưới nhà, có thấy ba má và mọi người ở đâu không?

Tôi than với Cúc.

-Tên Việt Cộng nói giọng Miền Trung, áp giải anh đi, hắn đưa anh tới thẳng phòng tắm, rồi đứng ngay cửa chờ đợi. Mới được vài phút là hắn lại hối anh mau trở về. Bị canh giữ nghiêm ngặt nên anh không thấy và không biết gì cả.

Cúc nói với tôi.

-Em và con cũng bị y như vậy.

Đến lúc này, Cúc nói mà như là thì thầm.

-Anh à, tất cả vàng bạc, tài sản của mình em đều để trong cái xách tay của em. Hai mươi lăm lượng vàng Kim Thành nặng gần một kí, mười xấp tiền giấy một trăm đô la, mỗi xấp là mười ngàn, tổng cộng là một trăm ngàn đô.

Vừa dứt lời, Cúc đã vội vàng đính chánh.

-Không phải một trăm, thực ra số tiền đó chỉ còn chín mươi chín ngàn mà thôi. Vì mấy năm trước, em đã lấy ra một ngàn gởi cho anh. Quan trọng nhất là cái túi đựng hột xoàn, em cũng để trong xách tay luôn.

Vốn đã biết rõ tình trạng tài chánh của gia đình nhưng tôi vẫn đinh ninh là để tiền trong nhà của ba tôi là an toàn nhất, nên tôi rất an tâm, không có ý kiến gì với Cúc. Hôm nay, đứng trước tình trạng của cải mất trắng không còn một xu nào, tôi mới biết là cả tôi và Cúc đều sai lầm. Câu nói “Không bao giờ để tất cả trứng vào một cái giỏ” hiện ra trong đầu.

Tôi nhìn Cúc mà lòng đầy lo âu.

-Anh tin rằng, nếu họ lục soát trong nhà, tất cả tài sản của mình không cánh mà bay mất rồi.

Thay vì buồn bực, Cúc lại an ủi tôi.

-Anh à, mình phải bình tĩnh để đối phó với mọi tình huống khó khăn.

Khoảng 9 giờ sáng, tên Việt Cộng đầu đội nón cối với cái sắc cốt đeo bên hông lúc sáng xuất hiện, tay ôm một mớ giấy trắng. Hắn đưa giấy bút cho Cúc và tôi rồi nói.

-Chị Nguyễn thị Cúc và anh đây, hai người phải khai lý lịch cá nhân, khai báo đầy đủ quá trình hoạt động trong suốt thời gian sống dưới chế độ Mỹ Ngụy. Riêng chị Cúc, chị phải viết cho rõ có bao nhiêu nhà cửa ở thành phố Hồ chí Minh của tên tư sản mại bản Nguyễn văn Bảy và nhà riêng của chị, không được bỏ sót, cho dù là một căn nhà nhỏ.

Cúc nói với tên đội nón cối.

-Tôi muốn gặp người chỉ huy của các anh.

-Chị cần gì?

-Chúng tôi bị bỏ đói từ sáng đến giờ, con tôi chỉ mới hơn hai tuổi, nó cần có sữa và phải được ăn uống đầy đủ.

Gã đội nón cối nhìn con gái tôi.

-Chị cần gì nữa không?

Cúc nói.

-Cho tôi đi lấy một ít thực phẩm của con nít.

Gã đội nón cối lắc đầu.

-Chuyện này thì không thể được, chị và chồng chị bị cách ly, không được liên hệ với bất cứ một ai.

Nói xong gã quay lưng bước đi.

Tôi và Cúc lại phải ngồi đó chờ đợi. Khoảng nửa giờ sau mới thấy gã đội nón cối trở lại, hắn đặt cái giỏ xách xuống bàn, lấy ra bốn ổ bánh mì nhỏ, một chai nước lạnh, hai cái ly và một lon sữa đặc có đường kèm theo cái khui đồ hộp. Mấy thứ thực phẩm này, tôi biết hắn lấy dưới nhà bếp của tôi, trừ mấy ổ bánh mì.

Gã đội nón cối nói.

-Đây là phần ăn trưa và tối của gia đình chị. Theo đây, tôi cũng yêu cầu chị và chồng của chị phải khai lý lịch cho đầy đủ chi tiết. Khoảng ba giờ chiều, tôi sẽ trở lại để thu bản tự khai của hai người.

Nói xong gã đội nón cối quay lưng bước đi, mới được hai bước bất chợt như nhớ ra điều gì, hắn xoay người lại.

-Có một điều quan trọng mà tôi muốn nói thêm, vàng bạc, đá quý hay đô la, là những thứ quốc cấm, đế quốc Mỹ dùng nó để trả lương cho bọn tình báo CIA mà bọn chúng gài lại. Nếu có những thứ trên, chị phải thành thật khai báo với cách mạng.

Sau một thoáng bối rối, Cúc trả lời.

-Tôi không có gì cả, ngoại trừ mấy trăm đồng của nhà nước Việt Nam.

Gã đội nón cối cười thoải mái.

-Chị không có vàng bạc, đá quý, đô la. Đúng không?

Cúc đáp.

-Đúng.

-Chị nhớ ghi rõ điều này vào tờ khai, tội lỗi của gia đình chị, một gia đình tư sản mại bản, nặng hay nhẹ là ở mục này.

Dường như thấy đã dặn dò chúng tôi đầy đủ mọi chuyện, gã đội nón cối vội vã bước nhanh như chạy, rồi biến mất sau cầu thang ở đầu sân.

Cúc cầm chai nước, đưa đến trước mặt hai tên Việt Cộng canh chúng tôi.

-Tôi muốn nấu chút nước sôi pha sữa cho con.

Tên Việt Cộng lắc đầu nguầy nguậy.

-Muốn làm bất cứ chuyện gì, chị phải hỏi ông cán bộ lúc nãy, chúng tôi không biết gì hết, chỉ có nhiệm vụ canh giữ hai người.

Tôi biết nấu nước sôi chỉ là cái cớ, Cúc muốn đi xuống nhà để dò la tin tức, tìm hiểu thêm chuyện gì đã xảy ra cho cả gia đình. Gặp hai ông thiên lôi đứng canh cửa, nên Cúc đành chiụ thua.

Cúc cho con ăn bánh mì chấm với sữa đặc, tội nghiệp con bé đói bụng nên ăn uống ngon lành.

Tôi lấy tờ giấy và bắt đầu viết bản tự khai lý lịch cá nhân. Với tù cải tạo, khai lý lịch là nghề của chàng, tôi viết một mạch những chi tiết cá nhân mà tôi đã thuộc lòng, đã khai đi khai lại hàng vài chục lần ở trong tù. Trong vòng nửa giờ, bản tự khai lý lịch cá nhân của tôi đã hoàn tất. Tôi quay sang giữ con để Cúc rảnh tay viết bản tự khai, đồng thời nhắc nhở Cúc.

-Em có biết không, giọng điệu của tên Việt Cộng đội nón cối này, giống hệt như tên Việt Cộng tra tấn anh ở trong tù. Tiền bạc của mình hắn đã lấy hết sau đó hăm dọa, ép buộc mình phải ký vào bản tự khai, xác nhận là không có đồng xu cắc bạc nào hết. Hình như, anh đã kể chuyện này cho em nghe rồi phải không?

Cúc gật đầu.

-Em có nghe rồi.

Tôi nói với giọng rầu rầu.

-Qua bài học kinh nghiệm ở trong tù, anh biết chắc chắn một điều, tất cả đô la, hột xoàn, vàng bạc, của mình đã bị bọn nó cướp mất rồi.

Nhìn gương mặt buồn buồn của Cúc, đột nhiên tôi cảm thấy xót xa trong lòng rồi yên lặng không muốn nói gì. Hai đứa xé miếng bánh mì rồi gắng gượng nhai cho đỡ đói, tôi nói xé mà không nói bẻ vì ổ bánh mì cũ, dai nhách như miếng giẻ.

Ba giờ chiều, gã đội nón cối trở lại. Sau khi thu hai bản lý lịch cá nhân của tôi và Cúc, hắn chìa ra một tờ giấy đã viết sẵn.

-Đây là giấy xác nhận, chị Nguyễn thị Cúc không có vàng bạc, đá quý và đô la. Chị hãy đề ngày tháng vào rồi ký tên ở bên dưới.

Cúc cầm tờ giấy, đọc sơ qua rồi lặng lẽ ký tên, tay ký mà gương mặt lộ vẻ phẫn uất tột cùng. Khi đưa tờ giấy cho gã bộ đội, Cúc nhìn hắn với đôi mắt hung dữ của một con thú khi bị dồn tới chỗ chết.

Gã đội nón cối với giọng nói đầy bực tức.

-Thành phần tư sản mại bản như chị phải vui mừng, vì đã được nhà nước khoan hồng, không bắt đi cải tạo. Tại sao chị lại cau có như vậy?

Cúc nói.

-Ông lầm rồi, tôi không cau mà cũng không có gì hết.

Gã đội nón cối nhìn tờ giấy với chữ ký của Cúc, rồi cười thoải mái.

-Chị làm việc rất tốt, tôi sẽ đề nghị với ở trên giúp đỡ gia đình chị. Tối nay hai người phải ngủ tại chỗ này, ngày mai tôi tin rằng công việc kiểm kê sẽ hoàn tất, lúc bấy giờ chị được trả tự do. Bây giờ tôi xuống phòng của chị, lấy mùng mền giúp cho hai người.

Gia đình nhỏ của tôi, trải qua một đêm dài nơi cuối sân thượng. Cũng may Đà Lạt đang vào mùa hè, chúng tôi lại có đủ mùng mền nên không bị lạnh, mặc dù phải ngủ ngoài trời.

Hai tên Việt Cộng canh gác chúng tôi nằm ngủ ở đầu sân thượng gần cầu thang. Mỗi khi chúng tôi muốn đi tiểu, đều phải xin phép và sau đó được họ đưa đi. Suốt đêm trong giấc ngủ, thỉnh thoảng tôi lại nghe nhiều tiếng búa đập chan chát từ dưới nhà vọng lên.

Tôi khều vai Cúc.

-Em à, hình như cái đám Việt Cộng này muốn phá nhà mình hay sao. Anh nghe có nhiều tiếng búa nện xuống sàn nhà.

Cúc với giọng ngái ngủ.

-Em có nghe gì đâu, mà kệ họ muốn phá gì cũng được. Của cải mất sạch em còn chưa lo, thì sá gì cái nhà nho nhỏ này.

Cuối cùng tôi đành nghe theo lời Cúc, nhắm mắt dỗ giấc ngủ.

Quá sức mệt mỏi vì đầu óc căng thẳng suốt ngày, tôi đánh một giấc ngon lành cho đến khi trời đã sáng tỏ.

Khi tôi và Cúc thức dậy, hai tên Việt Cộng canh giữ chúng tôi đã biến đi đâu mất tự lúc nào. Không có người gác, chúng tôi lần mò đi xuống lầu ba. Mới nhìn thấy phòng ngủ của mình, tôi tưởng mình bị hoa mắt. Đồ đạc trong phòng ngổn ngang, bừa bộn, như là nhà hoang, ghế gãy, chân bàn xiêu vẹo, tủ mất cửa, bên trong trơ trọi, trống trơn không còn một thứ gì. Quần áo của tôi và Cúc biến mất, chỉ còn sót lại vài bộ quăng dưới sàn nhà, mấy tấm nệm trên gường ngủ bị rạch nát lòi cả bông trắng bên trong, tường và sàn nhà loang lổ vết đục đẽo. Tôi suy nghĩ mãi mà không biết tại sao những người kiểm kê nhà của tôi, phải đục phá như vậy. Cuối cùng sau khi suy nghĩ cặn kẽ, tôi tin rằng họ làm như vậy chỉ với mục đích là tìm vàng và đô la cất giấu trong đó mà thôi.

Trong tự điển của Việt Nam Cộng Hòa, chữ đục tường khoét vách dùng để chỉ những người thuộc thành phần đầu trộm đuôi cướp. Hôm nay năm 1978, sau ba năm Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, những người đục tường khoét vách nhà tôi tự xưng là kiểm kê, đánh tư sản mại bản, đợt hai hay đợt ba gì đó, tôi hoàn toàn không biết. Nếu đem so sánh hai vế kể trên thì nhà nước kiểm kê, đánh tư sản mại bản, đồng nghĩa với bọn đầu trộm đuôi cướp.

Nóng lòng, muốn biết chuyện gì xảy ra với ba má tôi, chúng tôi vội vàng đi xuống thang lầu.

Lầu hai vắng ngắt, không một bóng người, phòng ngủ của ba má tôi và hai đứa em cũng tan hoang như nhà vô chủ, tường, sàn nhà loang lổ dấu vết đục cắt đào bới.

Không thể chần chờ, tôi chạy nhanh xuống tầng trệt, nơi phòng khách bức tường che cái tủ rượu đã bị phá sập, hơn một trăm chai rượu với cái tủ đã bị đem đi đâu mất. Ba má tôi và chị Hai đang ngồi nơi phòng khách. Khi thấy Cúc, ba tôi vội đứng lên ôm lấy đứa con dâu. Đây là hành động hơi khác thường của ba tôi, bởi vì từ xưa đến giờ, chưa bao giờ tôi thấy ông biểu lộ tình thương yêu con dâu bằng hành động ôm Cúc như vậy. Trên gương mặt nhăn nheo già nua của ông, hai hàng nước mắt lăn dài xuống má. Ông nói mà tiếng được tiếng mất.

-Con.. Con có..sao không?

Hình như những giọt nước mắt của ba tôi đã làm Cúc nao lòng. Với giọng nói như nấc nghẹn trong cổ. Cúc nói.

-Dạ con không sao hết.

Cũng cùng lúc ấy, hình như sự chịu đựng khổ đau đã lên đến mức cuối cùng, như một giọt nước tràn ly, Cúc ôm ba tôi khóc như mưa.

Tôi nghĩ rằng bao nhiêu là oan khiên, uất hận, chất chứa trong lòng từ hôm qua đến giờ, được dịp bùng phát, cho nên Cúc mới khóc ngon lành như vậy.

Tôi ôm lấy Cúc vỗ về.

-Nín đi em.

Cúc nói qua nước mắt. -Ngày xưa, ba có kể cho em nghe một chuyện xảy ra ở ngoài xứ của mình, khi ông dắt trâu trên con đường làng. Chính ba đã chứng kiến cảnh một con gà mái xù lông, xòe cánh, với mục đích bảo vệ đàn con quyết không cho diều hâu bắt con của mình, cho dù chính bản thân của con gà mẹ cũng có thể là con mồi của diều hâu. Trước sự đề cao cảnh giác, sẽ chống cự mãnh liệt đến cùng của gà mẹ, con diều hâu đành bỏ cuộc bay đi. Kể xong chuyện ba nói với em “Trước mặt kẻ thù cho dù họ có mạnh đến đâu, nguy hiểm đến mức nào, con phải can đảm dùng tất cả sức lực của mình để chống lại. Nếu có thắng được mình, kẻ thù cũng phải trả một giá tương xứng.” Hôm nay nhớ lời dặn của ba, em đã tỏ thái độ chống đối của mình. Trước mặt tên Việt Cộng, em phải dùng tất cả can đảm mà mình có để không khóc trước mặt kẻ thù. Nhưng mà bây giờ thì em có quyền khóc, vì tất cả gia tài của mình đã bị những người nhân danh chính quyền ăn cướp một cách trắng trợn, dã man, tàn bạo, rừng rú, hơn cả những bọn thổ phỉ ở trên núi .

Má tôi và chị Hai nhìn thấy cảnh mũi lòng trước mặt, cả hai cũng ôm nhau khóc theo, tiếng khóc của họ không chừng còn to hơn tiếng khóc của ba tôi và Cúc. Đứng trước cảnh bi lụy như vậy, tôi phải quay mặt rồi đi ra trước nhà. Nếu nấn ná ở đây lâu hơn chút nữa, tôi biết mình sẽ khóc theo. Đến lúc này tôi mới giật mình, chiếc xe Honda của tôi vẫn thường dựng ở đây, không còn nữa. Trong tận cùng của tuyệt vọng, tôi ngồi bệt xuống đất, dựa lưng vào tường, đầu óc như tê dại đi khiến tôi không còn muốn sống với thực tại.

Những gì vừa mới xảy ra cho gia đình tôi, nhắc tôi nhớ đến mấy câu thơ trong truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du.

Đồ tế nhuyễn của riêng tây

Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham.

Gì chứ truyện Kiều thì người Việt Nam hầu như ai cũng biết. Nói gì đâu cho xa, má tôi là một người đàn bà nhà quê, chỉ biết dăm ba chữ quốc ngữ đủ để viết tên mình, vậy mà bà cũng thuộc làu nhiều đoạn trong truyện Kiều.

Ngày xửa ngày xưa, xưa lắm rồi, vào đời Gia Tĩnh triều Minh bên Tàu, thời buổi phong kiến, vua chúa quan lại, có toàn quyền sinh sát trong tay, nhưng khi muốn cướp tài sản của nhà viên ngoại họ Vương, mấy ông tham quan thời bấy giờ, vẫn phải tìm một cái cớ, dựa vào lời khai man của thằng bán tơ để mà hành xử.

Hôm nay, mặc dầu đã gần cuối thế kỷ thứ 20, lúc mà con người đã đặt chân lên mặt trăng từ lâu rồi, thì ở cái nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Đảng Cộng Sản ăn cướp giữa ban ngày, mà không cần dựa vào lời man khai của một ai. Nhà nước, chỉ cần gắn cho một người nào đó bốn chữ “Tư sản mại bản” là có quyền cho sai nha đến dọn sạch của cải vật chất trong nhà người đó.

Nhan sắc

vietmessenger.com

Dương Nghiễm Mậu.

Post by Sơn râu 20 Mar 2025

Hình ảnh trong bài: Sưu tập trên Net và bookmark by Sơn râu

Tháng tám, mùa Thu năm Dậu, binh lửa khắp bốn phương, Hà Đô rực cháy ta lánh mình về ở Thạch Quận, nơi ấy núi đồi trùng điệp, khí lạnh căm căm. Nhân khi thong thả, có kẻ cho mượn một cuốn văn vần rách nát đọc giải khuây. Câu chuyện đời nàng họ Vương đã muôn phần éo le oan trái thời nhiễu nhương tao loạn, thật đau lòng rơi lụy; lại thêm lời thơ như ngọc chuốt, ta tuổi còn thơ cầm nước mắt không đang. Đến như Từ Hải đường đường một đấng mà cũng sa cơ làm ta xót xa tấc dạ.

Ta hỏi: Áng văn của ai mà trác tuyệt. Đồ trẻ ranh miệng còn hôi sữa biết gì mà nói, tuổi mày còn chưa được phép đọc nửa kể gì đàm luận, khúc Đoạn Trường Tân Thanh này là của Tố Như Tiên Sinh viết ra đã hơn một trăm năm. Từ buổi ấy ta lấy sách đó nằm lòng đọc đi đọc lại đến nỗi nhập tâm. Bao nhiêu dâu bể sống lên trong buổi nhiễu nhương bức rứt, đứng ngồi không yên, cảnh tang thương diễn ra như giấc mộng, tuồng đời lắm cảnh nhố nhăng khiến ta mỗi ngày một thêm yêu tay giang hồ Từ Hải, lòng những không yên tự hỏi: đời người anh hùng quả vậy chăng? Một đêm kia, ta đang đọc sách bên đèn trên lầu vọng nguyệt bỗng thấy một người oai phong lững lững vén màn đẩy cửa, đi vào ngồi xuống tràng kỷ đối diện với ta, xưng tên là Từ Hải. Vừa mừng  vừa lo, không biết mình tỉnh hay mê? Ta hỏi: Ông còn sống sao? Từ đáp: Ta vẫn còn sống, cảm vì thanh khí nên mạo muội đến hầu chuyện, uống với nhau chén rượu nhạt, hát với nhau một vài câu, chắc tiên sinh cũng chả chấp gì mà không cùng nhau vui ít phút nhất nửa ta cũng muốn kể lại cùng tiên sinh một vài sự thực của đời kẻ giang hồ này… Ôi câu chuyện ngày nào còn thảng thốt như một giấc chiêm bao, thực giả, giả thực nhiều lúc củng làm ta choáng váng chẳng biết ra sao. Khi tỉnh dậy ta vẫn còn nghe như tiếng ai trầm buồn bóng ai thấp thoáng, tiếng cười giọng nói như còn phảng phất. Từ đó đến nay câu chuyện vẫn còn in trong dạ đã nhiều phen cầm bút viết ra, nhưng giấy bút vẫn chừng như nguội lạnh, bao đêm trường thao thức nhiều khi muốn đoạn tuyệt với bút nghiên.

Giấy mực còn có nghĩa gì nửa? chữ nghĩa thánh hiền mà làm chi? Đêm qua ta lại thấy Từ Hải về đứng bên thư án hỏi: Tiên sinh còn nhớ kẻ hèn này không? Ta nói: Còn nhớ, quên sao được… Từ Hải trừng mắt nhìn ta: Sao tiên sinh không vứt bỏ bút, đốt bỏ sách mà cầm lấy một con chủy thủ? Ta buồn rầu: Con chủy thủ từ chàng Kinh Kha đến nay đã thất truyền, còn chăng là những con chủy thủ giả trong giới lục lâm. Từ Hải quát lên: Tiên sinh không còn một mũi nhọn nào khác sao? Ta lặng đi, đến khi nhìn lên thì không còn thấy Từ đâu nửa.

Đêm nay nằm nghe tiếng súng vẳng đưa vào kinh thành, trời đất u ám, ta nghe như tiếng quát của Từ Hải còn vang dậy. Ta thấy cần phải trả cho xong một món nợ nên ngồi vào thư án, thắp ngọn bạch lạp mà viết lại câu chuyện đời của Từ Hải này, một là để gởi cho vong linh của Từ Hải. Sau là để tạ ơn với Nguyễn Du tiên sinh đã cho một kẻ sống 200 năm sau được gặp một tay giang hồ cự phách.

Từ Hải dời bến lên tìm tửu điếm. Trời nhá nhem tối qua mấy con đường trong phủ vẫn không thấy một tửu điếm nào, mải cho tới cửa đông thành mới thấy mợt quán rượu lớn ngoài cửa có treo đèn lồng liền bước vào gọi rượu, chủ quán ngó vào mặt Từ Hải rồi từ chối:

_Ở đây không bán rượu anh sang cửa Bắc mà uống.

_Sao cửa tiệm bán rượu mà không bán rượu là thế nào. Nhà ngươi sợ ta không có tiền sao?

Vừa khi đó có hai người khách bước vào quán kêu rượu, chủ quán bỏ Từ Hải chạy vào kêu kẻ hầu mang rượu ra. Trông hai người kia có vẽ sang trọng hơn. Từ Hải đập bàn hét lớn:

_Tụi bay khinh ta không đáng uống rượu sao?

_Có lẽ anh ở xa mới tới nên không biết rằng nơi đây chỉ bán rượu cho các quan mà thôi. Anh sang cửa Bắc uống với tụi phu phen và lái buôn ở bên đó thì hơn.

Từ Hải nghe nói máu giận trào hông nhào tới thoi tên chủ quán một cái nhào vô tường té xỉu. Hai người khách ở bàn trong đứng dậy. Người cao lớn tiến ra chưa kịp nói nửa lời đã bị Từ hải đá chúi ngả vào gầm bàn. Người khách còn lại ra vẽ văn nhân đứng ở phía bên kia bàn nói ra:

_Nhà ngươi sao dám phạm vào quan Thái Úy, muốn chết hay sao?

_Thái gì, có thái thịt, mi muốn ta thái nó ra từng miếng mà nhậu nhẹt chơi không. Mi muốn sống hãy ngồi xuống, ngồi xuống, ta ra lệnh.

Người khách run sợ ngồi im. Từ Hải tới vực tên kia dậy rồi đặt ngồi trên ghế cùng tên chủ quán.

_Quán này dành cho các quan mà, toàn quan lớn cả, thằng thuyền chài này xin làm một tên lính hầu rượu cho phải phép. Tửu bảo đâu mang rượu ra đây.

Lũ hầu run sợ mang rượu ra, Từ Hải cầm cả vò đổ lên đầu tên Thái Úy và chủ quán.

_Uống đi mời các quan…ngàn năm một thưở kẻ hèn mọn du côn này mới có cơ hội để hầu rượu quý quan. À, quan lớn, mời quan lớn.

Người khách ngồi im như đã chết. Từ Hải đẩy một vò rượu qua nhưng khách vẫn ngồi im.

_Sao quan lớn, hay ngài không muốn dùng thứ rượu này. Tửu bảo hãy cho ta thứ rượu tăm Sơn đông ra đây, hãy hâm thật nóng. Tửu bảo mang rượu ra. Từ Hải mở vò ngửi ngửi rồi nhấc lên tu một hơi. Một hơi rượu làm Từ Hải tỉnh táo, Từ đưa tay quệt áo ngang miệng nhìn người khách vẫn ngồi im.

_Quan lớn, nhậu đi quan lớn, mấy khi tên cu ly này mới được hầu rượu quan lớn! Tửu bảo cho ta nửa con heo béo ra đây.

_Dạ thưa không có heo.

_Có thịt người không?

_Dạ… dạ…

Từ Hải hít mũi đánh hơi rồi xô ghế đứng lên đi thẳng xuống nhà bếp. Từ thấy có mấy đảnh thịt treo liền vớ lấy.

_Cái gì đây tụi bây?

_Dạ thịt cầy

_Thịt cầy thì tao không ăn được sao? Hay thịt cầy chỉ dành cho các quan lớn quan nhỏ nhà mày?

Từ Hải mang mấy đảnh thịt lên vừa ngoạm vừa uống rượu. Tên Thái Úy và chủ quán đã ngúc ngoắc cái đầu. Người khách vẫn ngồi im.

_A ha, quan lớn chê rượu Sơn đông à. Vậy thì có một thứ rượu chính hiệu Việt đông đây, kẻ hèn xin cam đoan là rượu tốt để dâng lên ngài dùng thử.

Vừa nói Từ Hải vừa đứng lên hai chiếc ghế giang chân tụt quần ra và lấy chiếc bát cầm ở tay mà đái vào. Xong xuôi Từ Hải bước vào giữ đầu người khách mà đổ vào miệng. Hắn kêu ằng ặc như một con heo bị chọc tiết. Kẻ trong quán ngó ra xanh mặt. Ăn uống no say Từ Hải đứng dậy kêu tửu bảo:

_Lúc các quan lớn trở dậy chúng bây nói lại rằng: Từ Hải, một tên chèo thuyền du côn ở bến Việt đông rất mong được hội ngộ quý quan…

Từ Hải chếnh choáng hơn men trở về bến miệng lảm nhãm văng tục. Lủ tửu bảo kinh hồn đứng ngó nhau, bởi cái tên Từ Hải làm họ rụng rời. Ở cái đất Việt đông này cái tên Từ Hải ai là chẳng nghe đến một hai lần bởi những hành tung của Từ Hải. Từ là một con người thuyền chài dưới bến, có võ nghệ, người đen đủi xấu xí, nhưng xử sự là một tay anh chị hào phóng. Hồi chưa có Từ Hải ở phủ Việt đông bọn du thủ du thực lưu manh phá phách thật khổ sở, chúng làm đủ mọi việc nhơ bẩn. Một tay Từ Hải đã làm cho bọn này khiếp sợ, kẻ thì bỏ đi tìm đất khác kiếm ăn, kẻ cải tà quy chánh làm đàn em Từ Hải, cho nên người ta gọi Từ Hải là “trùm du côn”. Từ Hải thấy chuyện gì chương tai gai mắt là chẳng bỏ qua giúp kẻ yếu trừ kẻ mạnh, lấy của kẻ giàu bất chính cho kẻ nghèo chẳng bao giờ thu cho mình một chút lợi nhỏ quanh năm đóng một chiếc khố rách. Bởi thế ai cũng kính nể, mến chuộng. Từ chỉ vui với đàn em và nghề chài lưới nể ai mời mọc trả ơn chàng thì nhận uống một bữa rượu suông cho say mà lấy làm thích. Uống rượu ngà ngà Từ Hải huyên thuyên hát và gảy đàn như một tài tử  nhàn du hạnh phúc. Viên quan ở đó có ý mến cho gọi đến sung vào lính. Từ Hải làm ngơ và từ chối: “Thưa quan lớn con chỉ là con nhà thuyền chài” Nhưng cũng vì những hành tung của Từ Hải mà bọn quyền thế thù ghét đã nhiều phen định hãm hại.

Chẳng bao lâu viên quan cai trị cũ bị đổi. Viên quan mới hống hách thêm vào bọn sai nha quấy phá. Những chuyện đo nhiều phen làm Từ Hải tím mặt bầm gan. Rồi bổng đâu có một tin sét đánh tới tai dân chài: Viên quan ra lịnh trưng dụng tất cả thuyền bè để chở đá về Bắc kinh xây dựng hoàng cung. Đó cũng là vì viên quan muốn lập công với triều đình. Lệnh vừa ban ra dân chài lo sợ cho đời sống. Họ chỉ còn biết nhìn nhau khóc. Lời ta thán kêu ca tưởng thấu tới trời. Từ Hải liền tụ tập mọi người kéo tới cửa phủ để kêu xin. Nhưng cửa phủ đóng kín, lính canh nghiêm ngặt không cho vào. Chẳng những thế lính canh còn được lệnh đánh đuổi lũ dân đen. Những ngọn roi đã quất xuống. Từ Hải cáu giận quát lên:

_Sao lại thế được không có dân chúng bây làm quan với ai? Chúng bây muốn chết không có đất chôn phỏng?

Từ Hải liền trở về. Đêm hôm đó liền tụ họp mọi người lại tìm cách đối phó. Từ Hải bàn cùng mọi người xem phải làm thế nào. Nhưng rồi chẳng biết phải làm sao.

_Tại sao chúng ta lại phải chịu mãi sự bất công? Chúng ta đâu phải súc vật để chúng nó làm sao nên vậy. Bà con cô bác nghĩ xem. Tôi chỉ muốn bằm cho chúng nó mấy nhát rồi ra sao thì ra.

_Nhưng sức chúng ta yếu.

_Không, chúng ta không yếu nếu chúng ta hợp sức với nhau. Tại sao chúng ta lại không chống cự?

_Anh định rủ bà con làm loạn hay sao?

_Làm loạn là thế nào? Ai lại không muốn yên ổn làm ăn? Nhưng bây giờ người ta có cho mình sống như thế không? Sưu cao thuế nặng, nay mai việc khác ăn không ngon, ngủ không yên. Kẻ trên không đoái đến dân chỉ lo thụ hưởng, chất chứa bạc vàng, xây dinh thự, đàn ca hát xướng. Kẻ dưới cậy quyền hà hiếp dân chúng. Miếng ngon của lạ bị cướp, vải lụa bị thu không còn mảnh khố che thân. Gái đẹp bị mang đi rồi thải ra cho làm đĩ… Bao nhiêu việc đó ai không thấy, có mắt tai để đâu mà không biết. Vậy thì ai làm loạn? Thời như thế này đã chẳng phải là loạn hay sao? Chúng ta không muốn loạn, không làm loạn mà chỉ muốn hành động để được sống yên…Nay chúng ta chỉ còn mấy mảnh thuyền nát, gạo không còn một hột, tiền không còn một trinh, sống chỉ nhờ vào cái thuyền, nay lại trưng dụng để đi chở gạch xây nhà cho quan ở, như vậy thì khác nào chúng giết dân chài. Chúng ta bị chăt cụt tay chân… Lẽ thiệt hơn như thế tôi nói để bà con cô bác hay. Chẳng lẽ lại ngồi nhìn nhau mà chờ chết hay sao?

_Nhưng nếu chúng ta không chống nổi triều đình?

_Sao lại không? Chưa hành động mà đã sợ thất bại là làm sao? Chẳng qua ở đời này ai cũng một lần chết. Như vậy chọn cách chết nào tốt đẹp cho cuộc sống thì thôi chớ. Được thì sống, thua thì chết là lẽ thường tình…Ai theo tôi?

Câu hỏi cuối cùng đầy vẻ quyết liệt làm cho mọi người im lặng. Cả một vùng bến nước đắm vào nỗi hoang mang lo lắng. Những chiếc thuyền đứng im, người ta chỉ nghe thấy những tàn đuốc rơi xuống mặt nước sèo sèo. Từ Hải đưa mắt nhìn vào hơn hai trăm chiếc ghe chài châu đầu vào nhau thành một vòng tròn. Trong nền đêm ánh đuốc soi chập chờn vào những khuôn mặt đen bóng khắc khổ. Những mái tóc bạc chen vào những mái tóc xanh. Những con mắt tư lự, đôi môi ním lại uất ức. Họ đã đồng thanh theo Từ Hải. Sau khi các thuyền bè đã tản ra Từ Hải tụ anh em lại bàn tính mọi việc. Sáng hôm sau Từ Hải loan báo cho dân chài biết hết, trưa mọi người sẽ rời bỏ bến kéo đi, đám thanh niên lựa lấy những chiêc thuyền tốt giữ lại còn bao nhiêu dồn lại một chổ rồi phóng hỏa đốt hết, lửa cháy rực trời cả bến Việt Đông, dân phủ náo loạn kéo xem. Quan Phủ nghe tin mang lính ra thì chỉ nhìn thấy những mảnh ván trôi lều bều trên mặt nước, dưới bến không còn một chiếc thuyền liền bắt người tra khảo nhưng chẳng ai cung khai điều gì. Tức giận viên phủ quan sai chém đầu mười kẻ bêu xác trên cửa thành và tuyên cáo lùng bắt đám dân chài nhưng họ đều đã đi mất tăm. Từ Hải dẫn đàn thuyền ẩn vào khu rừng lau ở giáp phủ Việt Đông với Uyển thành. Sau biến cố ở Việt đông viên quan vội vàng viết biểu về triều. Minh Thế Tổ lúc đó đang tin dùng lũ hoạn quan. Bao nhiêu quyền bính ở cả trong tay bọn dua nịnh nên kỷ cương nát bét. Giặc giả nổi lên tứ tung không làm sao đánh dẹp được. Dù vậy việc ở Việt đông lại được chú ý vì công việc xây dựng một hành cung trở thành quan trọng. Nhưng khi quân đội tới nơi củng chẳng có ai mà đánh ngoài việc cướp bóc, hãm hiếp, đốt nhà.. dân chúng thêm phần cực khổ, thanh niên phẫn uất bỏ đi theo Từ Hải thêm đông. Ngày thao luyện võ nghệ. Đêm đêm giong thuyền đón chặn những thuyền buôn lấy lương thực, đón bắt những lính tuần, cướp phá những kẻ quyền thế giàu có, cùng những tên quan hà hiếp dân lành. Tiếng tăm Từ Hải mỗi ngày một vang động khắp cả vùng Sơn đông. Nghe đến tên Từ Hải bọn quan lại đều run sợ. Chẳng bao lâu Từ Hải đã chiếm được một vùng ven biển làm bản doanh, thanh thế mỗi lúc một lừng lẫy. Những kẻ bất mãn với triều đình, những kẻ bị hàm oan, những kẻ có máu thảo khấu cùng tìm về tụ tập dưới trướng Từ Hải trong số có bọn thảo khấu Vương Trực ở Giang Nam, bọn Tứ Quái ở Thiểm Tây, bọn Từ Văn Trường ở Sơn Âm và nhiều thanh niên có máu giang hồ hảo hớn ưa chuyện phiêu lưu cứu khốn phò nguy khác.

Với lòng ngay thẳng thái độ khảng khái kiên cường Từ Hải đã nêu cao ngọn cờ đại nghĩa trước đám dân đã chán ghét một triều đình bất lực thối nát nên mỗi lúc ngã theo một thêm đông. Lòng người như thác lũ cuộn lên tưởng như có thể cuốn đi tất cả những gì đang ngăn chặn, ngăn cản, đè nén trên cuộc sống, Nhưng vì giòng nước không chảy về một phía mà đổ về nhiều đám giặc nhỏ, chia thiên hạ ra từng khu vực  mỗi kẻ hùng cứ một phương, xưng hùng xưng bá, tình cảnh nhiễu nhương thật không thể nào tả xiết. Nổi lên ở Việt đông, dần dần Từ Hải xua quân xuống miền Nam tung hoành như giữa chốn không người; chẳng bao lâu chiếm cả vùng duyên hải. Đại quân kéo xuống chiếm Lâm Thanh, Châu Thường và đóng tại đó, thế quân như thế chẻ tre. Các thành Vô Tích, Hàng Châu, Châu Thai bị đe dọa, chỉ mới nghe tiếng Từ Hải nhiều tên quan đã bỏ thành trốn hoặc sửa soạn đầu hàng. Dự định đánh một trận lớn để gây thanh thế Từ hải quyết định hạ trại, đóng quân thao dượt binh mã, chiêu nạp thêm quân lính rồi một mình cùng mấy kẻ hầu cận cải dạng xuống phương nam xem tình hình, trong đám có Từ Nguyệt Minh người ở Sơn Âm hiệu là Văn Trường trước vốn là thượng khách của Hồ Tôn Hiến. Từ Văn Trường là kẻ có học, văn hay chữ tốt, không sách gì là không đọc, tiếng tăm lừng lẫy trong thiên hạ, nhưng thiếu bè cánh, không được trọng dụng nên sinh ra bất mãn, du sơn du thủy. Cái học không được đặt đúng chổ khiến cho Văn Trường thành kẻ trụy lạc, chỉ lấy thú vui rượu chè đĩ điếm làm hứng cho văn chương.

Khi trước Văn Trường đã từng đến mua vui ở Hàng Châu, thủ phủ có hàng mấy ngàn nhà điếm, chính ở đó Văn Trường đã chứng kiến chuyện viên Thái Thú Hàng Châu là Liễu Tuyên Giáo vì không ưa những kẻ xuất gia thờ Phật nên rắp tâm dùng bọn gái điếm cám dỗ khiến nhiều nhà tu phá giới. Đến lúc sau Thái Thú Liễu Tôn Giáo bị đổi đi. Trương Nguyên Biện đến thay thế, chính người này đã tiến cử Văn Trường với Hồ Tôn Hiến. Thái thú Trương Nguyên Biện ghét bọn gái điếm nên tìm cách đuổi đi hoặc giết những gái điếm trước kia trong viện Hồng Liên theo Liễu Tôn Giáo hại nhà chùa đều bị Trương Nguyên Biện giết hết con số lên đến hàng mấy ngàn người. Vì có chút cảm tình với nàng Vương Thúy Kiều nên Văn Trường đã xin cho nàng thoát nạn ấy. Do chuyện cũ Văn Trường đã đề nghị với Từ Hải ghé vào Hàng châu để nhân cơ hội gặp lại người xưa và để ăn chơi thỏa thích ít ngày, sau những gian nan khổ sở thiếu rượu, đàn bà, ca hát. Trên chiếc thuyền xuôi gió Văn Trường nói với Từ Hải:

_Tôi nghĩ rằng đã đến lúc tướng quân phải xưng đế hiệu để lấy danh nghĩa cho dân chúng theo. Chứ chẳng lẽ mãi mãi chúng ta chỉ là một phường cướp biển.

_Ông muốn được làm quan lắm sao? Ngó bộ mình làm như thế này không có chính nghĩa sao? Ta thấy ta chẳng xứng để mà xưng đế, làm một tên thuyền chài mà sánh với những Lưu Bị, Lưu Bang e không chính danh? Và có lẻ ta chỉ hợp được là một tên du côn rong chơi? Thực tình ta đâu có muốn làm chuyện này, làm một đế vương có gì là sướng nhỉ, không may lúc sống có thể bị chặt đầu, khi chết bị quật mồ. Làm một người dân thường ở vào buổi thái bình yên trị ta cho là hạnh phúc hơn hết. Không đành được sinh vào thời rối loạn thân chẳng yên mà ta phải hành động. Ta ước sao bây giờ có kẻ tài đức, thu thiên hạ về một mối mang lại đời sống yên ấm thái bình, ta chẳng tiếc gì mà không mang thân làm kẻ xách dép, cầm roi theo hầu. Ông có thấy lúc này dời bỏ được chốn ba quân, ta thảnh thơi vui sướng biết là bao nhiêu. Bây giờ ông hãy ngâm vịnh đi quên những việc chúng ta đang làm. Suốt đời, khi ăn, khi ngủ, lúc chơi bời mà cứ phải đóng vai tướng quân quả thật ta chẳng ham. Được làm ông trời mà phải bỏ rượu, bỏ hát, đàn địch, xa bạn bè, bỏ đàn bà thì ta cũng chẳng làm. “Bán khiên cung kiếm, nhất trạo giang sơn” ta hiểu vì sao Hoàng Sào chỉ là giặc Hoàng Sào mà không là hoàng đế Hoàng Sào. Lưu Bang chỉ là một tên xã trưởng tầm thường. Lưu Bị chỉ là một tên dệt chiếu, tôi nghĩ làm nên nghiệp đế đâu có khó gì, trong lúc tướng quân có binh hùng tướng mạnh lại ở lúc xã hội rối ren, triều đình mất cả chính nghĩa…

_Thôi, ông đừng khuyên ta chuyện đó. Bây giờ chúng ta ở đây, chung đụng với nhau, còn thương yêu dân chúng, còn quý mến bạn bè. Ta sợ khi làm vua rồi ta chẳng còn được cùng ông suôi thuyền mà đi tìm gái như thế này. Địa vị, quyền bính, vinh hoa sẽ làm cho chúng ta quên hết. Ta sẽ thành một hôn quân, ông sẽ thành nịnh thần tham nhũng và thật mệt cho dân chúng lại phải nổi lên mà lật đổ chúng ta…Ông đọc sách thánh hiền nhiều hơn ta sao chẳng biết chuyện đó, những chuyện liên tiếp xảy ra trong lịch sử. Văn Trường nghe Từ Hải nói trong bụng không vui. Vì ý Văn Trường trong lúc theo về với Từ đâu chỉ muốn làm một tên giặc biển, mộng của ông đặt vào lúc lập được triều đình làm một quan đại phu.

Từ Hải uống hết vò rượu này sang vò rượu khác, chàng lấy ra cây đàn vừa gảy vừa cất tiếng hát, trong giây lát chàng đã biến từ một tên tướng vũ dũng thành một nghệ sĩ say sưa trong cõi mộng. Lúc sau Từ hỏi Văn Trường:

_Ông ăn chơi lọc lõi đã nhiều vậy ở đất Hàng châu này có chổ nào đáng là đệ nhất lầu xanh?

_Xưa kia, viện Hồng Liên là đáng kể, nơi đó có một nàng ca kỹ tên Vương Thúy Kiều đáng được tôn là nữ hoàng. Tôi đã biết hàng vạn gái chơi ở Hàng châu này nhưng chưa thấy ai có thể sánh được với nàng. Khách giang hồ, tài tử sành điệu đã nhiều kẻ chết. Nay không hiểu nàng có còn ở đó chăng?

_Trong đám làng chơi lại có kẻ như thế được sao?

_Tôi nghe kể lại nàng vốn là con một nhà gia giáo, khốn nổi lúc gặp gia biến cha bị hàm oan, khiến nàng phải bán mình chuộc tội và số mệnh đưa nàng vào chốn thanh lâu. Nàng có hương sắc mặn mà, nghề chơi lão luyện, cầm kỳ thi họa đều trác tuyệt, quả tôi chưa gặp ai như thế.

_Ông dám chắc như vậy?

_Hẳn ý tướng quân vẫn ngờ về những gái làng chơi tầm thường vì hư thân mất nết đàng điếm mà dấn thân vào thường tìm lý do bào chữa, tự vẽ ra một quá khứ để lừa mình, lừa người. Quả nàng họ Vương không thuộc hạng đó, chẳng phải ai nàng cũng tiếp, mà được tiếp ít ai đã được ân cần. Chính tôi đây vẫn chưa được gần nàng. Tôi chỉ mong sao trong đời được một lần uống rượu trên người nàng.

_Nghe ông nói ta thấy ham quá. Tới nơi mong cho chúng ta có thể gặp được.

Sau quãng đường dài Từ Hải cho mấy tên bộ hạ phân tán đi thám thính còn chàng và Văn Trường thì đi kiếm nàng họ Vương. Là một dân thuyền chài rồi lại bôn ba mấy năm liền chưa biết những thú ăn chơi của bọn giàu sang quyền thế nên Từ Hải không khỏi ngạc nhiên bàng hoàng giữa thủ phủ Hàng châu, liên tiếp nhau những cao lâu tửu điếm, trà đình, những nhà chứa xây cất nguy nga như cung điện kể cả hàng mấy ngàn giai nhân tài tử, quần áo nhung lụa, lên xe xuống ngựa nhộn nhịp không thể đếm xiết. hàng châu trong những năm cuối đời Minh là một kinh đô văn hóa và truỵ lạc. Bọn văn nhân tài tử bốn bề tụ về ngâm vịnh, trên vách tường, bàn ăn ghế ngồi hiên nhà chốn lầu xanh chi chít những bài ngâm vịnh mang đủ mọi tên tuổi ca ngợi những đóa hoa biết nói hoặc suy tụng lạc thú. Những kẻ nhiều tiền, những viên chức cao cấp lâu lâu lại giả dạng tới chẳng thiếu mặt một ai. Họ bòn mót của dân bằng hà hiếp, hối lộ, thụt két, đến kẻ gian thương cho vay cắt cổ…cuối cùng lại mang tiền đó đến Hàng châu mà thiêu trong cuộc vui thâu đêm suốt sáng. Vì thế con gái nhà lành trong thiên hạ hoa mắt vì ăn chơi kéo nhau đến Hàng châu làm đĩ mỗi lúc một đông, nghề nghiệp nhàn hạ, lại được ăn ngon mặc đẹp, có kẻ phúc mai bỗng một sáng một chiều trở thành mệnh phụ. Làm đĩ quả là nghề đi buôn không mất vốn mà dễ được giàu to bởi hoàn cảnh nhiễu nhương suy đồi tạo thành.


Tìm kiếm hỏi thăm mãi sau Văn Trường và Từ Hải mới thấy được nơi ở của Kiều. Nàng ở một căn lầu nhỏ nhưng tráng lệ nguy nga trong một khu rộng lớn với nhiều nhà khác nhưng thuộc hạng rẽ tiền. Nhận được mặt ân nhân Kiều vô cùng mừng rỡ rước lên lầu. Từ Hải lại trút ra một số bạc lớn nên mụ chủ chứa chỉ biết cuống cuồng ra lệnh sửa soạn tiệc rượu để cung phụng vì gặp một món khách sộp. Vừa gặp mặt Kiều, Từ Hải đã say đắm. Thấy Từ đã hợp ý Văn Trường rút lui xuống nhà đi kiếm gái khác để cho Từ Hải và Kiều mặc tình mây mưa. Lâu ngày không gần đàn bà nên Từ háo hức như trâu bò được ngày phá dỗ, còn nàng Kiều cũng thấy sung sướng vì gặp một người con trai không phải nhà nghề giở những trò kinh tởm hành hạ nàng. Sau những phút say mê Từ bắt đầu tâm sự với Kiều, trong thâm tâm chàng nảy ra niềm trắc ẩn, thương yêu. Sao một người con gái như nàng mà phải đày đọa như vậy cùng với mấy ngàn con gái khác ở đất Hàng châu này. Trong số đó chắc cũng có kẻ hư hỏng còn thì ai không muốn có tấm chồng, một bầy con và một đời sống lương thiện. Cũng như chàng, cả những kẻ theo chàng ai không muốn được sống yên ấm trong một mái nhà. Hoàn cảnh khắc nghiệt và một nền cai trị hư hỏng như bầu khí độc đã làm tiêu ma bao nhiêu con người. Từ Hải nói cho Kiều nghe đời sống của mình, chàng kết luận:

_Thiên hạ bảo anh là du côn, du kề và bây giờ là một tên giặc biển. Trong phòng này, trên giường này, trước mặt em chắc đã có những tên đại phu, những thằng đại tướng, những phường khoa bảng, những kẻ đầy chức tước quân công, bằng cấp, quỳ gối khom lưng năn nỉ em . Như vậy em có buồn vì anh chỉ là một tên du côn, giặc biển không?

_Em cũng muốn làm du côn làm giặc như anh vậy. Em khoái du côn lắm, du côn là chơi gậy, chơi gậy thì tốt không nham hiểm, lươn lẹo độc ác. Chẳng qua em giờ là một con đĩ, đĩ với du côn như nhau. Phải không anh?

_A, hay lắm không ngờ anh lại gặp được tri âm. Ừ nhỉ, tại sao du côn, đĩ không phải là những kẻ đáng giá hơn hết ở vào thời buổi này. Tại sao mình không thể lập một “triều đình du côn”. Anh là hoàng đế, em là hoàng hậu du côn?

_Anh có say không đó?

_Không, anh mà say thì anh đã mất đầu lâu rồi. Đi làm loạn thì không được say, vì anh say thì bộ hạ biết còn trông vào ai?

_Anh là tướng lớn vậy sao?

_Có đứa nó còn xui anh xưng đế hiệu nửa.

_Trời ơi, như vậy thì em có muốn làm vợ anh cũng chẳng được, một hoàng đế, một vị tướng quân mà lấy vợ là một gái điếm thì còn thể thống gì nửa?

_Trời ơi, em tưởng chứ, bọn nó điếm đến mấy lần, điếm mà không nhận là điếm. Tiên nhân chúng nó, điếm từ trong triều đình điếm ra. Vua đĩ, quan đĩ, tướng đĩ, cho nên thời mói loạn, dân mới khổ. Em mới thế này, anh mới thế này chứ. Như vậy làm điếm như em biết phân biệt người, biết kẻ tri âm, cũng như anh làm du côn, làm giặc mà còn bằng vạn bọn nó.

_Chết chết, anh say thật rồi đó.

_Anh không say, nhưng lòng anh như lửa đốt. Đâu anh muốn thế này, đâu em muốn thế này. Anh chỉ muốn có một chiếc thuyền, một cây đàn… Những kẻ bỏ nhà theo anh đâu muốn làm giặc. Quả anh bây giờ chỉ muốn đốt bỏ căn nhà này, hỏa thiêu cả thành Hàng châu giải thoát cho bao kẻ phải chịu kiếp khốn khổ, đem thân hầu hạ bọn người giàu có quền thế bất nhân trong thiên hạ. Chắc em cũng muốn như thế?

Giọng Từ hải như thét lên có lúc như tiếng thép chạm nhau, có lúc quằn quại  như cơn lốc, có lúc ồ ạt như sóng dữ, rồi trầm xuống xúc cảm thân yêu. Bao nhiêu năm lăn lóc trong đời nay Kiều mới gặp được một kẻ như thế. Nàng xúc động ứa nước mắt. Nàng như con chim bị nhốt chỉ muốn tháo cũi sổ lồng mà bay lên trời xanh. Chung sống với nhau Từ Hải và Kiều mỗi lúc thêm quyến luyến như chẳng muốn rời. Từ Hải bỏ tiền chuộc Kiều khỏi chốn lầu xanh và cùng nàng trở về chốn ba quân phong làm phu nhân, mở tiệc ăn mừng ba ngày ba đêm.

Vui chơi ít ngày thỏa thích rồi Từ chỉnh đốn quân mã xuống hạ thành Châu thương, Lâm thanh dễ như trở bàn tay. Quân sĩ triều đình phần bỏ chạy như vịt, phần quy hàng. Từ liền kéo quân xuống vây Hàng châu. Văn Trường vốn nhơ ơn cũ của Thái thú Trương Nguyên Biện nên xin vời Từ vào thành thuyết phục Nguyên Biện ra hàng. Từ Hải còn ngần ngừ, Văn Trường liền nói:

_Tôi theo tướng quân đã lâu, ân huệ được hưỡng đã nhiều vậy nay xin cho tôi trước là được lập một chút công mọn, sau là tôi trả ơn cho một người bạn cũ đã giúp đỡ thưở hàn vi. Vả tướng quân cũng không muốn việc đâm chém, trong lúc lửa đạn biết bao kẻ vô tội phải vong thân.

Từ nghe phải liền cho Văn Trường vào thành thuyết Trương Nguyên Biện. Được tin báo có Văn Trường xin vào thành Nguyên Biện ra lệnh cho lính mở cửa mời vào rồi bước xuống thềm. Thấy Văn Trường, Nguyên Biện vội vái chào rồi nói:

_Không ngờ lại được hội ngộ cố nhân ở hoàn cảnh này, tôi nghe nói tiên sinh ở hàng ngũ của loạn quân nhưng không tin, chắc tiên sinh đến đây để giúp tôi cùng giữ thành và dẹp giặc, như vậy thì làm gì chúng ta chẳng thắng.

Văn Trường bị chăn họng trước không  biết nói sao, rốt rồi phải làm nước bài bây:

_Quả đúng như người ta đã nói với tiên sinh, hiện tôi ở dưới trướng Từ Hải. nay thấy  thành bị vây khốn nên xin vào đây gặp tiên sinh mang điều lợi hại mà bàn luận.

_Chết nổi sao tiên sinh lại có thể làm thế được. Như vậy chắc là tiên sinh vào đây thuyết phục tôi hàng giặc mưu phản lại triều đình mà tôi đã gội ơn mưa móc?

_Tôi vẫn biết tiên sinh có mắt thấy được người nên xưa kia đã tiến cử tôi với Hồ Tôn Hiến. Tôi tưởng đã có chổ dung thân mang chút tài mọn phò vua giúp nước. Nhưng triều đình nay không còn xứng chổ triều đình nửa. Sự hưng vong lẽ biến dịch là điều phải đến, phải có không ai cưỡng được. Từ Hải dấy binh cứu dân dựa vào lòng người nên đi đến đâu thâu được nhân tâm đến đó. Xưa kia Hán Cao Tổ chém rắn dấy nghiệp chỉ là tên xã trưởng, diệt được nhà Tần cũng chẳng phải là giặc sao! Tôi thiết nghĩ giặc hay không giặc chẳng thể đứng ở một phía triều đình mà định được. Tôi vào đây trước là tình bạn cũ sau là lẽ thiệt hơn, rốt là sinh mạng của binh sĩ và lê dân mong tiên sinh nghĩ lại để chúng ta cùng giúp Từ Hải mà lập nên nghiệp lớn, mang thái bình lại cho thiên hạ.

_Ý tôi đã quyết sinh ra tôi chỉ thờ một chúa. Kẻ sĩ học chữ thánh hiền trước phải lấy đạo trung làm trọng, sao lại có thể nay theo kẻ này mai theo kẻ khác mong vinh thân phì gia, như vậy chẳng phải là phường cầm thú hay sao?

_Tôi đọc sách thấy Hoài Âm Hầu bỏ Sở Bá Vương mà theo Hán. Công tử Củ chết, Thiệu Hốt chết theo mà Quản Di Ngô chịu ở tù về phò công tử Tiểu Bạch… Như vậy có phải là bất trung đâu. Người quân tử không vì tiết nhỏ mà bỏ việc lớn. Nay triều đình thối nát, quan lại hư hèn, kỷ cương không còn nửa, như vậy mà tiên sinh vẫn khư khư cố chấp với chữ trung hạn hẹp ngồi yên mà nhìn được sao?

_Trước tiên sinh ở dưới trướng Hồ Tôn Hiến có viết biểu Bạch Lộc dâng vua, tôi còn nhớ những lời xưng tụng của tiên sinh. Mới từ đó đến nay mà tiên sinh đã thay đổi được sao. Tôi e vậy mà thiên hạ không khỏi chê cười mà sử sách cũng còn lời quở trách. Tôi hỏi thật tiên sinh có phải cái mộng ước của tiên sinh chỉ là muốn được ngôi cao bổng hậu, chẳng phân biệt trắng đen phải quấy? Tiên sinh không coi hạnh của kẻ sĩ là trọng sao? Tôi mong tiên sinh có thể chết cho Từ Hải được, cũng như tôi, giữ được thành thắng được giặc thì nhất, không thà chết chịu tội bất tài. Xin tiên sinh đùng bắt tôi nghe những lời bất trung vô sĩ nửa.

Văn Trường ngượng mặt biết không thể thuyết được Trương Nguyên Biện nên cáo lui ra khỏi thành.

Nguyên Biện không chịu hàng, Từ Hải kéo quân lên vây sát thành rồi vác đao ra trước trận kêu Trương Nguyên Biện ra quyết đấu. Trương Nguyên Biện cũng dàn quân rồi ra trước trận chỉ gươm vào mặt Từ Hải mà mắng:

_Thằng giặc lùn kia muốn sống mà xuống ngựa đầu hàng ta sẽ tha chết cho. Trước ta đã định mang quân đi hỏi tội bọn bây về việc cướp bóc dấy loạn, bây giờ bọn bây lại dẫn xác đến đây quả là đến số.

Từ Hải chẳng nói chẳng rằng thúc ngựa vọt tới chổ Nguyên Biện nhưng thoắt cái đã có một viên tướng trẻ xông ra. Từ giật ngựa đứng lại nhìn tên tướng  mặt còn non choẹt… Từ Hải  bật cười hỏi:

_Mày là ai vậy thằng nhỏ? Múa may với ta làm gì cho phí sức, hãy dẹp ra cho ta bắt thằng già kia.

_Mày đừng hỗn láo với chủ tướng của ta mày thử xem có đủ sức để thắng nổi một tên bộ tướng này chăng?

_Thôi mà nhỏ, mày cũng là tướng nửa, nhưng ta có coi ngay cả cái thằng phong tướng cho mày ra cái gì đâu.

_Không nói gì hết, ta với mày kẻ sống người chết.

Hắn xông vào khiến Từ Hải phải kháng cự, qua mấy hiệp Từ Hải dừng lại, lui ra:

_Này nhỏ, quả mày muốn chết sao? Nhưng dù sao tao cũng muốn hỏi mày xem mày cũng là thằng khá mà sao mày lại đi làm tướng cho cái bọn triều đình khốn nạn kia. Mày làm tướng để bảo vệ cái gì?  Bảo vệ bọn vua quan? Bảo vệ cái tổ điếm Hàng châu này? Chẳng lẽ mày là một thằng đốn mạt vậy sao? Mày nên theo tao đi.

_Phường giặc cỏ đừng nhiều lời, thà chết, chứ tao không theo mày.

_Sống không biết sống sao cho đáng sống, chết không biết chọn cái chết cho đáng chết. Thế mà cũng đòi làm tướng.

Viên tướng trẻ như con gà sống tơ, mặt đỏ rần xông vào làm Từ Hải tức giận khoa đao nhẹ một đường nhanh như chớp chiếc đầu viên tường đã lìa khỏi cổ. Từ Hải vẫy quân tiến lên, chàng thì xông vào chém Trương Nguyên Biện một nhát chẻ người làm hai mãnh chết thê thảm. Quân triều đình tan vỡ trước sức ồ ạt của quân Từ Hải. Dân chúng mở cửa thành cho quân Từ kéo vào.

Vào được Hàng châu nghiễm nhiên Từ đã chiếm được cả một vùng rộng lớn. Từ ra lệnh nghiêm cấm quân sĩ không được cướp bóc, ăn trộm. Chàng bắt hết các chủ chứa điếm giết đi bao nhiêu gái chơi được tự do chọn nghề sinh sống, kẻ nào muốn lấy chồng thì Từ mang gả cho lính mình rồi chia đất hoang cho khai thác lập nghiệp, các nơi ăn chơi được biến thành nhà ở, trường học. Chính sách của Từ đưa dân chúng đến cảnh an cư lạc nghiệp, sau bao nhiêu năm họ phải sống cảnh khôn khổ, đen tối. Nhưng cũng từ đó dưới trướng Từ Hải trong đám bộ hạ, những hoang phí, ăn chơi cờ bạc đã diễn ra cũng chẳng khác gì cuộc sống ở nơi triều đình. Mới đầu Từ còn ngăn cấm nhưng sau cũng nhạt dần vì tự nghĩ xưa kia họ đã khổ sở thôi để cho họ hưởng  một chút. Rồi những xung đột, ghen tỵ, tranh dành đưa đến cho Từ Hải phải giải quyết khiến cho Từ nhiều lúc mất vui. Bọn võ tướng đã lười biếng thao luyện, bọn văn quan đã chẳng còn dùng ngòi bút kích động lòng quân, viết thư hộ cho binh sĩ gửi về thăm vợ mà dùng ngòi bút vào ngâm vịnh tâng bốc Từ Hải nào là anh tài cái thế, anh hùng bậc nhất thiên hạ, cứu dân, cứu nước sáng như mặt trăng, mặt trời, nghe qua đọc lướt Từ Hải cũng phải ngượng thẹn. Đến độ họ còn lớn tiếng ngâm vịnh, chúc tụng cả sự lành bệnh của nàng Kiều sau một lần đẻ non.

Nàng Kiều dựa vào thế chồng đền ân báo oán những chuyện nhỏ nhặt. Xin xỏ cho kẻ hầu hạ dưới tay những ân huệ chức tước không đáng được hưởng. Từ vì nể vợ mà phải ưng cho. Nhiều đêm Từ thoát ra được cuộc sống nhàm chán chung quanh giả dạng làm người dân thường mà rong chơi ngoài phố la cà vào những chốn giải trí bình dân mua vui, hoặc chàng trốn lên một góc thành cao mang theo cây đàn bầu rượu hưởng thú tịch mịch trong đêm vắng của trời sao và cái bát ngát mênh mông của vũ trụ. Những lúc đó Từ nhớ tiếc thưở ấu thời nơi bến Việt đông, vài ba người bạn bồng bền trên chiếc thuyền nhỏ thả mình đám chìm trong cái bát ngát vô bờ của biển khơi trong xanh. Chàng nhớ tiếc cuộc sống bình thường nhưng hào sảng trong sáng ấy. cái cuộc sống không biết đến những nhung lụa, rượu ngon, gái đẹp, quyền bính, đầy những tranh dành dục vọng. Cái cuộc sống hòa điệu với người và với vũ trụ không phải quây cuồng chém giết… Nhưng bây giờ chàng chẳng thể làm vậy được nửa. Từ Hải nổi lên từ phía bắc trên bán đảo Liêu đông rồi kéo mãi xuống tận Triết giang thế quân mỗi lúc mỗi một thêm mạnh, liên tiếp những thành trì bị hạ, những toán quân được phái đến đánh dẹp đều thua; một là vì quân của triều đình ô hợp không có nhuệ khí lại ở dưới những tên tướng vô mưu, bất tài; hai là thế giặc dựa vào dân chúng mà kháng cự cho nên năm sáu năm liền quân Từ Hải làm chủ dọc cả vùng bờ biển, trong tay giữ hơn mười thành. Thế giặc quá lớn, sự khuynh đảo đe dọa cả nền cai trị của nhà Minh khiến cho triều đình lo âu. Nhưng khốn nổi không ai dám lãnh việc đánh dẹp cùng tinh thần hư hèn cầu an. Sau chót vua phải sai triệu Hồ Tôn Hiến ở Giang nam về cho thống xuất đại quân xuống đánh. Hồ Tôn Hiến chỉnh đốn quân mã ngày đêm kéo xuống đóng quân ở phía bắc sông Tiền đường đối diện với Nam thành là bản doanh của Từ Hải. Biết thế quân của Từ Hải mạnh nếu đường hoàng dùng sức mà đánh thì phần thắng không thấy nên Hồ Tôn Hiến cho đóng trại kiên cố và án binh bất động. Hà Tôn Tiến cho quân sĩ trà trộn vào dân chúng loan truyền rằng Hồ Tôn Hiến không muốn gây cảnh chiến tranh, chỉ muốn có hòa bình cho dân chúng nên muốn Từ Hải về cộng tác với ông mà giúp triều đình, tất cả mọi người sẽ được hưởng quyền lợi xứng đáng chẳng ai có tội mà cũng chẳng ai có công.

Một mặt Hồ cho kẻ lén lút mang dâng cho Vương Thúy Kiều những vàng lụa kim cương và vô số những bảo vật, đồng thời cũng viết mật thư cho Từ Văn Trường hứa hẹn những chức tước. địa vị kèm theo với nhiều phẩm vật nhờ Văn Trường thuyết Từ Hải giải giới. Nhiều kẻ dưới trướng họ Hồ hoài nghi về chiến thuật, Hồ cười mà quả quyết:

_Từ Hải không phải là một kẻ nuôi chí lớn làm bá chủ thiên hạ, xuất thân từ đám dân chài thất học không có được con mắt nhìn xa thấy rộng, chẳng qua nắm được ưu thế là vì nền cai trị hạ tầng của triều đình hư nát, lăm tệ đoan, quan lại chỉ lo vơ vét tiền của, không chăm lo dân, đó là cái thời thuận tiện cho Từ Hải. Bắt nguồn từ những bất mãn ấy dấy loạn thu phục nhân tâm gom góp những kẻ có chí vũng vẫy mà lại cứu khốn cho dân chúng là có được cái thế. Có thời có thế nhưng Từ hành động vì tình cảm mà không có ý thức. Nay ta phao truyền sự hòa bình là làm cho dân chúng giảm đi sự hiếu chiến, họ không muốn loạn để cho cơ nghiệp tan tành. Bọn bộ hạ của Từ Hải này kẻ nào cũng có của cải yên vui tất không muốn chiến đấu phiêu lưu, rồi tất Từ Hải nghe vợ, nghe bộ hạ nói ra nói vào mà nản chí, tình cảm bị lung lạc lúc đó thật lấy đầu hắn có khác chi lấy chút vật mọn trong túi áo, mất chủ tướng rồi bọn kia sẽ tan rã. Ta chẳng mất công gì mà dẹp được chúng.

_Nhưng nó lú thì có chú nó khôn, còn bọn quân sư của Từ?

_Ta biết rõ cái bọn đó, các ông cứ tin ta đi. Những tên như Từ Văn Trường trước kia ở dưới tay nên ta đã rõ. Những kẻ đó cũng nhiều kẻ có tài nhưng không có đức, không có chí, theo Từ là vì bất mãn muốn có địa vị. Theo Từ mà vẫn khinh Từ không có học nên không thể cùng Từ giúp Từ lập nên nghiệp lớn. Bọn chúng lại hay suy luận loanh quanh. Nay ta mang mồi mà nhử, chúng tất sẽ ăn. Cái bọn đó cứ mang địa vị, vàng bạc ra mà nhử thì mua được hết. Kẻ sĩ ở vào buổi suy vong thời nào cũng vậy. Cho nên ta tin chắc Từ Hải sẽ ra hàng.

Sau khi đã bủa lưới Hồ Tôn Hiến mới gửi thư dụ hàng sai quân vào thành dâng cho Từ Hải. Từ Hải liền cho triệu tập bộ hạ bàn luận. Họ bàn tán om sòm, những câu: hàng rồi bị giết không, có bị trả thù không, mình sẽ được chức gì, có được giữ lại của cải của mình không. Đánh Hồ có thắng không, nếu thua thì làm sao? Đám bộ hạ bàn tán lăng nhăng chẳng đi tới đâu, Từ Hải bực mình phải quát lên:

_Ta chỉ có một câu hỏi cần trả lời: hòa hay chiến? không có vì sao, tại sao. Câu hỏi đặt ra chỉ có vài kẻ kêu đòi chiến, còn thì đều im lặng ra vẽ suy nghĩ. Từ Hải buồn rầu nhìn họ vì chỉ có một thời gian ngắn mà đám bộ hạ đã thay đổi gần hết. Xưa kia họ hăng hái, họ xông lên, đòi giết cho hết bọn quan lại hại dân đòi lập một đời sống mới coi thường cái chết…thì nay họ đã suy nghĩ, họ muốn đứng lại ở cái địa vị cai trị của họ, không còn muốn xông pha phiêu lưu nửa. Từ nhìn bộ hạ mà nói:

_Ta họp các ông lại đây là để cùng ta quyết định, ta cho chuyện này là hệ trọng lắm. Cơ nghiệp dựng lên chẳng có gì to tát là công của mọi người chung sức mà có được, khi khổ có nhau, khi sướng có nhau. Riêng với ý ta, ta không hàng, ít ra chúng ta cũng còn được giữ như thế này lâu lắm, đó là chưa nói tới việc lớn hơn. Chúng ta đang được sống tự do vùng vẫy chẳng có gì ép buộc mình, vậy tại sao chúng ta lại hàng, lại bó thân về cái triều đình  ta đã chống đối. Chúng ta có chịu được cái đời sống gò bó vào luồn ra cuối ở giữa những kẻ xa lạ kia không? Thật ta chẳng ham gì một địa vị công hầu khanh tướng như thế. Đó là nói ở cái thế mà họ thực tình, nếu họ tráo trở chúng ta còn là tướng nửa không khi đã hết quân? Ta sợ khi đó chúng ta hối cũng không kịp nửa. Nói xong Từ đứng lên:
_Chúng ta hãy giải tán để ai nấy suy nghĩ rồi mai chúng ta sẽ quyết định.

Từ rời sảnh đường vào phòng riêng thì gặp Kiều đã ngồi ở đó, hỏi:

_Tướng quân đã quyết định như thế nào?

_Chưa quyết định gì cả.

Từ ngồi nói cho Kiều nghe tinh thần của bộ hạ dáng băn khoăn buồn buồn. Trong thâm tâm Kiều từ hôm nhận được vàng bạc châu báu những lời hứa hẹn của Hồ Tôn Hiến đã có ý khuyên chồng giải binh, nhưng vẫn sợ thêm vào đó sự phân vân lựa chọn. Sau chót cái ý nghĩ được yên thân sum họp với gia đình đã thắng thế. Biết ý Từ chưa quyết, Kiều liền nói vào:

_Từ ngày được về hầu hạ tướng quân thật thiếp như kẻ được mang từ cõi chết ra cõi sống, nhưng chứng kiến cảnh binh đao thật nhiều khi thiếp lo sợ cho tính mệnh tướng quân. Nay triều đình đã biết đến tướng quân mà xin hòa, chức tước địa vị đợi sẳn tại sao tướng quân lại từ chối, với ý thiếp, được sống yên ổn vẫn hơn chứ nếu như ngày nay rồi nếu chẳng may lúc mình thua thì còn chi? Thân tướng quân đã vậy, còn thân thiếp ra sao? Tại sao tướng quân lại không chấp nhận sự bình thường, nhận bổng lộc cho thiếp được nở mày, nở mặt, được xum họp với cha mẹ và chúng ta có một đời sống yên vui lâu dài. Ở đây sung sướng nhưng mãi mãi vẫn mang danh phường giặc cỏ.

Tử Hải bị Kiều thuyết chàng phân vân, tình cảm bị chế ngự nên hôm sau họp bộ hạ Từ quyết định nghị hòa. Chẳng mấy chốc tin đình chiến giải binh loan truyền trong dân chúng. Một vài kẻ chủ chiến mang gia đình dời đi, còn lại thì binh sĩ trễ biếng chẳng còn nghĩ đến chuyện đánh nhau nửa. Từ Hải phúc đáp thư cho Hồ Tôn Hiến định ngày thúc giáp rồi cho quân sĩ vui chơi. Hồ Tôn Hiến vui mừng rồi sắp sẳn mưu kế chờ cho Từ ra hàng.

****

Từ đứng lên vươn vai vẽ mệt nhọc, Kiều ngồi dưới thềm ngữa mặt lên hỏi:

_Tướng quân đi đâu đêm vui chưa hết nửa cuộc.

Từ im lặng, vuốt áo ra khỏi sảnh đường. Tiếng đàn hát vẫn còn quấn quýt chạy theo. Đêm đã khuya cảnh tịch mịch trùm xuống khu thành, chỉ còn đêm nay nửa mai thành này sẽ chẳng còn ở trong tay. Một thân vùng vẫy dọc ngang làm vua một còn mà chỉ còn làm một tên quan ngày ngày cuối lưng nới thềm rồng bệ ngọc. Giây phút Từ thấy bâng khuâng, buồn như sắp mất đi một cái gì lớn lắm..chắc chẳng bao giờ chàng lấy lại được nửa. Một mình Từ dạo qua những nơi quen thuộc quân lính đều đã ngủ say chỉ còn một vài tên lính canh đi lại dáng uể oải mệt nhọc, Từ qua kho lương xuống chuồng ngựa.. rồi theo bậc thang leo lên mặt thành. Đêm bao la chụp xuống cả một vùng đồi núi, trong thành đêm nay nhiều ánh đèn hơn mọi đêm, trại quân của Hồ Tôn Hiến đã rút hẳn ra ngoài xa, chừng như đang mở hội ăn mừng. Từ bước thảnh thơi, thở hít không khí gây lạnh không phải là thi sĩ để có thể làm một bài thơ tức cảnh, Từ thấy tiếc làm sao. Tiếng trống canh rời rạc, một vài trạm chừng như lính đã ngủ hay bỏ về nhà với vợ con không thấy điểm trống. Giá như lúc khác đã có kẻ phải rơi đầu, nhưng đêm nay không cần thiết nửa. May này…bất chợt Từ thở dài..

_Thưa tướng quân, tướng quân chưa đi nghỉ?

Từ giật mình quay lại, rời đưa mắt nhìn ra xa.

_Nếu tiểu tốt không lầm vì tướng quân đang buồn vì sớm mai này tướng quân ra hàng giặc?

_Hàng giặc, sao lại là hàng giặc? Ngươi là ai?

_Tiểu tốt lài ai? Thưa tướng quân tiểu tốt là bộ hạ của tướng quân, kẻ đã nghĩ triều đình là giặc, tướng quân là bậc đế vương. Thế mà mai này khi mặt trời lên bậc đế vương đó sẽ dẫn tất cả đoàn quân dưới trướng này ra khỏi thành, quỳ gối khom lưng nhận giặc là minh chúa để nguyện trung thành tận tụy suốt đời… Thưa tướng quân, có phải vì thế mà tướng quân buồn?

_Buồn, ta không hiểu ý nhà ngươi.

_Có lẽ tướng quân cố ý không hiểu đó thôi…đáng buồn lắm chứ…

Từ bâng khuâng, tiếng nói của người đối diện như xoáy vào trong tâm tư của mình. Nhưng ít nhất cũng có người hiểu được rằng Từ buồn. Tự nhiên Từ lấy được sự thân mật dễ chịu. Ngay sau đó một cảm giác ớn lạnh chạy khắp người Từ. Thôi thế là không còn gì nửa. Mai này sẽ chỉ còn lại hai bàn tay trắng và một thái độ chịu thua, thái độ chấp nhận, thái độ đầu hàng.

_Sao ngươi lại nói với ta như vậy. Ta buồn thật sao?

Từ quay lại nhìn người đối diện với mình chờ đợi. Người thanh niên nỉm cười dáng ngạo mạn lì lợm. Anh ta vào khoản trên hai mươi, khỏe mạnh, nước da ngăm đen tóc búi ngược, y phục một tên cận vệ. Từ cố gắng để nhớ xem có phải người đối diện mình là một tên cận vệ hay không. Thanh niên xoay người chống tay lên mặt thành nhìn ra bãi cỏ phía trước.

_Tiểu tốt biết tướng quân buồn. Buồn thật hay không điều đó tướng quân tự biết.

_Bây gờ ta cũng chẳng còn là tướng quân gì nửa. Anh cũng chẳng còn là tiểu tốt nửa. Mình thua rồi.

Thanh niên xoay phắt người lại  đứng thẳng. Trong ánh sáng mập mờ Từ chừng như thấy khuôn mặt kẻ đối diện thay đổi, mặt nghiêm lại, mắt mở lớn, đôi mày rậm dướn lên vẽ dữ dằn.

_Sao lại thua, mình đâu có thua.

Từ huýt người ngồi lên tường thành, hơi cúi đôi vai lớn, ngước mặt lên:

_Đó là sự thật. Anh có lấy làm buồn không?

_Nói không là dối lòng mình. Nhưng tôi không lấy đó làm thất vọng. Tôi còn trẻ..Tướng quân có thấy là tôi còn trẻ không? Từ gật gật đầu:

_Đúng anh còn trẻ, như vậy có phải ta già rồi không?

_Tướng quân cũng còn trẻ

_Thôi, anh đừng gọi ta là tướng quân nửa, còn quân đâu nửa mà tướng. Ta cũng chỉ như anh. Ta đâu còn như hồi xưa. Phải không?

_Cũng vẫn như hồi xưa. Cũng có thể làm lại như ngày xưa..

_Ngày xưa. Anh đừng nói đến làm chi nửa..

_Sao lại vậy. Chỉ có ngày xưa..Cũng chính cái ngày xưa đó mà tôi gặp được tướng quân, đã hào hùng và bây giờ..

_Thất vọng?

_Tướng quân có biết, nhưng mà thôi…

_Biết sao, anh hãy nói ta nghe, anh hãy coi ta như một người bạn…Ai hiểu được ta, có lẽ chỉ có anh? Mà sao ta trông anh cũng buồn vậy?

_Tôi nhớ lại lúc còn sống tại quê nhà ở Giang nam nghe tin tướng quân nổi dậy đốt thuyền bè chống quan lại. Tôi đã lặn lội từ đó lên Việt đông. Tự xung vào làm sĩ tốt…Tướng quân còn nhớ những gày đó

_Nhớ, mới như vừa xảy ra mà đã năm sáu năm trời rồi còn gì. Dấy lên với hai bàn tay không với những tấm lòng hào hiệp…Mà này sao ta không bao giờ được gặp anh?

_Có chứ, nhưng chắc tướng quân quên, làm sao để tướng quân nhận từng người trong nghìn vạn quân tướng..

Người thanh niên buồn bã:

_Trong nghìn vạn quân tướng ấy đã có bao nhiêu người ngã xuống chiến trường, trải thây trên con đường hành quân, những người xông pha ở Việt đông, Triết giang, hạ năm thành ở cõi Nam, cướp Châu thai, lấy Vô tích, chiếm Lâm truy để cho tới lúc tướng quân có một giang sơn như ngày nay, có thành quách như hiện nay… Và tôi đã sống sót để mai này chứng kiến cái công lao của  những ngày gây dựng không còn nửa..

_Thôi anh đừng nhắc chuyện đó ta đã thua rồi. Anh có tiếc công, tiếc sức đã theo ta không. Anh có cho rằng ta đã phản bội lòng tin cậy của anh, của các bạn đã theo ta không?

Câu hỏi của Từ dội đi, tiếng trống canh rời rã. Từ bước đi loanh quanh. Giọng người thanh niên mơ hồ:

_Lúc sống tại quê nhà cha tôi nói: bây giờ là thời loạn. Kỷ cương của nước không còn nửa, lòng người ly tán kẻ sĩ mất truyền thống trở thành hèn hạ, con còn dùng bút nghiên làm gì nửa, ta muốn thấy con hành động như một tên du côn còn hơn. Câu chuyện ấy vẫn còn làm cho tôi băn khoăn suy nghĩ. Không có thời loạn mà chỉ có lòng người loạn. Cha tôi cũng là kẻ khoa cử nhưng từ chối công danh sự nghiệp cha tôi nhận làm một kẻ câm điếc đui mù, ngoảnh mặt đi với cuộc sống mà lại muốn con như một tên thảo khấu du côn. Cha tôi cũng loạn sao? Cha tôi bảo kỷ cương không còn, trật tự bị phá hủy, sách vỡ thánh hiền đã lu mờ còn đâu kẻ sĩ với tinh thần hào hiệp. Lòng người đã phụ với trời, kiến văn chỉ làm người ta đê hèn, bần tiện đi. Kẻ có học dùng sở học vào đường bất chánh, như vậy thất học còn hơn vì thất học không phải nhiễm độc bởi những cặn bã của tư tưởng thì với lương tâm may ra còn sống được ngay thẳng. Làm thằng du côn có chí thì cứu được đời…Tôi đã ngẫm lại và thấy có phần đúng. Trong xã hội tôi không còn thấy ai là kẻ sĩ nửa. Bọn thư sinh mặt trắng đi vào con đường tư danh, hư lợi..Có nghĩa thời loạn còn kéo dài lâu lắm. Giữa lúc ấy nghe tên Từ Hải, một tên con nhà thuyền chài vô học dấy lên, lòng người ngã theo, tôi nghĩ cha tôi đã đúng và tôi vứt bút nghiên đi theo một tên du côn.

_Một tên du côn. Anh đi theo một tên du côn mà anh nghĩ còn phải. Bây giờ anh có hối hận không?

_Không, tôi không hề hối hận.

_Tại anh kiêu ngạo không chịu nhận.

_Không phải tôi kiêu ngạo mà tôi không nhận.

_Hay anh cho định mệnh lịch sử nó phải thế?

_Không, không bao giờ tôi lấy một thứ số phận, một thứ định mệnh nào để trốn chạy. Chính là tại tôi tại tướng quân, tôi muốn hỏi tướng quân: tướng quân đâu muốn ép thân thuần phục, đâu tướng quân có kính nể Kiều, đâu tướng quân có nghe lời bàn của bọn hèn nhát, chủ hòa.

_Sao anh lại cho rằng ta không kính nể nàng Kiều, không kính nể mà sao ta có thể cưới nàng làm vợ. Anh nghĩ nàng là một con điếm sao? Nếu quả vậy thì anh đã nhầm, anh đã cho rằng du côn còn khá thì với ta ngày nay trong giới đàn bà chỉ có bọn làm điếm là khá. Du côn dám nhận là du côn, làm điếm dám nhận là làm điếm, còn ai hơn nửa. Cả thiên hạ làm điếm mà không dám nhận là điếm. Như vậy ai được quyền khinh nàng Kiều. Ta chẳng sợ gì mà không nói với anh. Ta kính nể con điếm là vợ ta đó. Còn cái bọn ở chung quanh ta, cái bọn Từ Văn Trường, cái bọn văn hay chữ tốt, khoa bảng ta đâu có coi bằng một con ngựa ta nuôi. Bọn họ đâu sánh được nàng Kiều. Ta nuôi bọn nó để bọn nó nịnh bợ, ca tụng, su phụ ta. Ai cũng muốn có kẻ nịnh bợ mình, muốn có kẻ đóng kịch làm hề cho mình coi…Bọn nó theo ta chẳng phải như anh, như quân sĩ của ta. Bọn nó theo ta vì chúng không được làm đầy tớ yêu của chủ chúng như Hồ Tôn Hiến chẳng hạn.

Chúng bất mãn bỏ đi và bây giờ anh thấy đó, chúng muốn ta hàng thuận để chúng được sống yên ấm  với nhung lụa, địa vị…Bọn nó không theo đuổi một lý tưởng và sống chết với nó, bọn nó nay theo thằng này mai theo thằng khác, cứ bỏ tiền ra là mua được hết. Bọn nó làm ô danh kẻ sĩ. Loạn cũng vì bọn nó. Bọn chó phản chủ và chúng mãi mãi như thế. Với ta khi nào không được ân huệ nửa, bọn nó sẽ phản lại. Ta đã thua, ta chịu quy hàng chẳng phải vì ta đã nghe theo những vợ, những quần thần. Ta chịu thua, chịu hàng bởi vì bọn chúng không có được cái chí lớn như ta nghĩ. Ta còn lại một mình, ta hàng, ta chịu thua vì ta thất vọng, ta buồn bã. Bọn họ nghĩ giờ đã có thế lực, địa vị, mục đích đã đạt rồi còn khổ sở làm chi nửa. Họ muốn đóng lại cho đúng vai trò những kẻ mà trước đây họ chống đối. bọn họ cũng muốn trở thành quan lại, bốc lột, cũng muốn xe ngựa, áo quần, địa vị…

_Không, không thể như thế được.

_Ta không muốn chính những kẻ theo ta sẽ giết ta. Ta cũng chỉ là một tên du côn, một tên du côn về già, một tên du côn hết thời. Ta tiếc rằng sao không giữ mình là một tên du côn ở đất Việt đông. Ta nghĩ tới mai này ta phải khúm núm với cân đai bố tử ra vào chốn triều đình, rúc ngồi với bọn quan lại, nào thưa nào gởi mà sao ta muốn chết quá, hãy vứt bỏ hết đi…Sống đời một tên du côn với mảnh khố rách còn sung sướng hơn nhiều…Mai này anh có chịu ra quy hàng nhận lã nh bổng lộc của triều đình ban cho không?

_Không canh ba đêm nay tôi sẽ mạo muội tướng quân mà trốn đi

_Anh không muốn được hưởng phú quý vinh hoa với ta sao?

_Tôi còn đầy đủ điều kiện để làm một thằng du côn. Chốn công quyền không phải nơi tôi lui tới. Tướng quân sắp từ chức một tên du côn rồi sao?

_Anh cho làm du côn là cao quý lắm sao?

_Thời nay địa vị du côn cao quý lắm không có gì so với hắn được như đã thưa với tướng quân.

_Anh có bằng lòng cho ta cùng trốn đi làm du côn trở lại được không?

_Tại sao không?

Tên bộ tướng xách chiếc đầu đầm đìa máu tươi chạy hộc tốc đến bên Hồ Tôn Hiến lưỡi gươm còn vấy máu chảy chan hòa xuống đốc kiếm, hắn giơ chiếc đầu lên và nói:

_Thưa tướng quân, tôi xem đầu này không phải là đầu Từ Hải

_Không phải Từ Hải? Tại sao?

_Hắn mang râu giả.

Vừa nói tên bộ tướng vữa gỡ bộ râu quai nón nơi chiếc đầu. Tôn Hiến đứng ngây như một pho tượng gỗ mắt trợn ngược. tên tướng nói tiếp:

_Lợi dụng đêm tối, Từ dã trốn đi

_Nàng Kiều đâu?

_Nàng đang khóc bên xác chết không đầu.
_Quân sĩ của Từ?

_Đã hoàn toàn quy hàng. Một số nhỏ vứt khí giới, cởi quân trang bỏ trốn làm thường dân.

_Từ trốn đi một mình.

_Có lẽ chỉ đem theo một vài tên tâm phúc.

_Còn Từ Văn Trường không?

_Còn đầy đủ bọn hầu cận không thiếu một tên nào. Họ đang chờ vào phục lịnh tướng quân.

Hồ Tôn Hiến lặng im, bỗng hắn nỉm cười:

_Từ còn sống nhưng cũng coi như Từ đã chết. Hãy dán râu vào cho hắn, sóc lên đầu giáo trương cao cho quân sĩ an lòng rồi cho chôn đi. Một mình hắn còn sống cũng không làm được gì. Tướng không có quân không còn là tướng nửa. Một Từ Hải còn sống sẽ là một “Từ Hải giả”.

Tên bộ tướng tuân lệnh, phóng mình lên ngựa, sóc chiếc đầu vấy máu lên đầu ngọn thương, giơ lên cao chạy ra giữa trận nói lớn:

_Bớ loạn quân. Từ Hải đã bị chặt đầu theo vương lệnh. Hồ tướng quân tha chết cho bọn bây. Tất cả hãy bỏ khí giới quy hàng sẽ được toàn tính mạng: và ân xá cho trở về làm ăn, ai muốn đầu quân sẽ được thu nạp..Trên bãi chiến chỉ còn vài tốp nhỏ đang giao tranh một cách uể oải, thấy chủ tướng đã chết quân Từ tìm cách tháo lui hoặc đầu hàng, trên mặt thành vài ngọn cờ nghiêng ngã. Khắp nơi khí giới ngổn ngang cùng xác chết, kẻ bị thương kêu khóc vang trời. Khói súng phảng phất mùi khét mấy đám cháy ngọn lửa vẫn hung hãn như muốn bùng to, đám lương dân từ trong thành chạy ra ùn ùn tán loạn, kêu khóc thảm thiết, bọn lính nhân cơ hội hè nhau cướp giật. Tiếng kêu khóc van xin tưởng thấu tới trời xanh. Trong trướng Hồ Tôn Hiến cười khà khà đắc ý chợt thấy có năm ba người đi vào thì chăm chú nhìn, rồi bước xuống thêm, nỉm cười thi lễ:

_Kìa Thanh Đằng tiên sinh đã lại, kẻ hèn đang mong chờ tiên sinh. Từ Văn Trường cùng mấy bộ hạ của Từ Hải đều vòng tay thi lễ rồi tiến vào phân ngôi chủ khách và hàn huyên. Bây giờ kể tiếp chuyện nàng Vương Thúy Kiều. Sau cuộc vui cuối cùng của đêm trước khi ra hàng, nàng trở về phòng thấy bứt rứt không nguôi vì thấy thái độ của Từ Hải đầy vẽ băn khoăn lo lắng và buồn bã khi bỏ dỡ cuộc vui ra ngoài, nàng ngầm hiểu phần nào tâm trạng của Từ. Bao nhiêu năm trời vùng vẫy một cõi giang sơn, nay đây mai đó với hai bàn tay không dựng một cơ nghiệp; ra vào chốn trận địa như chổ không người, dọc ngang chẳng còn biết có ai. Cũng như ai một phương hùng cứ, triều đình một cõi đủ văn võ bá quan. Nàng Kiều đã lấy làm hãnh diện trước những danh quan danh tướng như Từ Văn Trường, cả cái bọn khoa bảng chữ tốt văn hay ấy cũng một điều thưa, hai điều bẩm. Nếu như lúc ở Vô Tích, Lâm Truy, Hàng Châu chẳng cần tới hạng người đó cũng đủ làm xấu nàng, vứt tiền vào những tú bà, bạc hạnh để được hành hạ thân thể nàng cho chán rồi nhổ nước miếng vào mặt nàng gọi là con đĩ. Bây giờ con đĩ ấy đã là vợ của Từ Hải, một hoàng hậu chưa có ngôi và đủ để cho bọn kia cúi đầu vâng lịnh, khen nịnh, tâng bốc..Nghĩ thế nàng thấy lòng mình thắt lại và hiểu Từ buồn hơn nàng biết chừng nào.

Từ một kẻ cầm đầu thành một kẻ tuân lệnh, khúm núm, chung đụng với kẻ mà mình kinh tởm gớm ghiếc, những bọn quan không ra quan, tướng không ra tướng, danh vọng, địa vị chẳng do tài đức lập nên mà do tiền bạc mua bán, do nịnh bợ, phe cánh, bè đảng tạo thành. Từ một cuộc sống vùng vẫy tự do lại phải khép mình vào những lề thói, tập tục chỉ là cái vỏ che đậy những bẩn thỉu giả trá của một triều đình mục nát vua không ra vua, quan không ra quan, của một xã hội đồi trụy không trật tự, không sinh khí, đầy tồi bại, hủ lậu, vô liêm, lẫn trốn trong cái vỏ luân lý đạo đức hào nhoáng như lớp sơn trên thân gỗ mục, mọt rỗng. Kiều nghĩ quanh nghĩ quẩn và thấy hối hận, nhưng ngay sau đó Kiều lại tìm những lý do an ủi để chấp nhận: nàng sẽ chính thức là một phu nhân, vợ một viên quan của triều đình, không còn là vợ một tên tướng cướp, vợ một tên quan được khắp cả thiên hạ công nhận sẽ không còn phải nay đây mai đó trôi nổi bất trắc và số phận sẽ ra sao vào một ngày kia khi quân Từ bị đánh tan? Nàng sẽ về gặp lại cha mẹ, Kim Trọng, về quê mở mặt, mở mày với làng xóm bà con.

Nàng không muốn phiêu lưu nửa, nàng muốn được sống tầm thường trong thái bình an lạc không còn phải run sợ trước cái bất trắc đe dọa, đau lòng trước cảnh chém giết binh lửa mà đã bao lâu nay nàng phải chứng kiến. Kiều trằn trọc với những ý nghĩ đâu đâu khiến nàng không sao nhắm mắt được, mãi đến khuya nàng mới thấy Từ trở vào phòng và lên giường vui vẽ nói vài câu chuyện rồi nằm im như ngủ. Sớm hôm sau khi Kiều thức dậy thì đã không còn thấy Từ Hải, hỏi bọn thị nữ thì nói Từ xuống trại binh sửa soạn quân mã và dặn lại Kiều ở lại trong dinh chờ Từ ra ngoài gặp Hồ Tôn Hiến xong sẽ vào đón. Nhưng giữa lúc đang trông đợi, bỗng nghe tiếng súng nổ vang rền, tiếng la dậy đất, Kiều kinh hoàng ra mặt thành ngó xuống thì thấy quân Từ đã rơi vào ổ phục kích của địch. Nàng kêu lên trước sự gian trá, giữa trận chiến nàng đau lòng nhìn đoàn quân bách chiến bách thắng tan rã và trong khói đạn mờ mịt nàng thấy bóng Từ Hải ngã xuống ngựa. Giữa cơn náo loạn, nàng bỏ chạy ra xông vào giữa trận tơi bời tên đạn, giáo mác. Dưới chân con hồng mã với  bộ giáp điều, Kiều nhận ra Từ Hải với cái xác không đầu nàng ôm lấy  kêu khóc và ngất đi. Kiều tỉnh dậy giữa tiếng ồn ào huyên náo nàng nghe thấy nhiều tiếng nói khác nhau, trong đó có tiếng nói êm ái của Từ Văn Trường:

_Phu nhân đã tỉnh rồi.

_Tỉnh thật không, người đẹp như vậy mà chết thật đáng tiếc.

Kiều mở mắt và ngồi dậy nàng thấy mình đang ở trong một gian phòng tráng lệ tràn đầy ánh sáng. Không phải là nơi trận tiền. Nàng cố nhớ lại cảnh hãi hùng thoảng qua như một giấc chiêm bao. Nàng định thần nhìn kỹ, xung quanh nàng đầy đủ những tên hầu cận, những thị vệ. Ta vẫn còn ở trong cảnh cũ sao? Nhưng đến lúc nhìn thấy ngoài cửa phòng Hồ Tôn Hiến đang ngồi ngất ngưỡng uống rượu và tiếng đàn tiếng hát thì nàng đã rõ thực tế. Nàng òa lên khóc: Thôi rồi chính ta đã giết chàng, bây giờ còn mặt mũi nào ngồi đây? Nàng kêu gào, la hét và khóc khiến cho những người cũ dưới trướng Từ cũng phải rơi lệ.

_Thưa phu nhân đằng nào thì tướng quân cũng đã không còn nửa, phu nhân có làm sao thì Từ tướng quân cũng không sống lại được mà phu nhân thì phải sống, còn cha mẹ anh em. Kiều tỉnh lại, la lên phẫn nộ:

_Phu nhân! Phu nhân! Ta không còn là phu nhân gì nửa, phải rồi không làm sao cho chàng sống lại chính là ta đã giết chàng và chính chúng bay đã giết tướng quân của chúng bay. Có phải chính chúng bay đã được  bổng lộc, ân huệ đã chia ngọt xẻ bùi với Từ và ngày nay chúng bay ngồi đây chờ đợi ân huệ khác. Chúng bay cũng là văn quan, cũng là võ tướng, cũng là hầu cận thế mà ngày nay nhìn Từ chết mà chúng bay lại ngồi đây để chung sống với bọn bất tín, bọn phản trắc, bất lương..ôi bọn bay lại có thể sống như vậy được sao? Ta không là phu nhân, phu phen gì nửa. Ta chỉ là một kẻ giết chồng và ta khinh bọn bay còn ngồi đây làm chi, bọn chó phụ nghĩa, bọn bay hãy bước đi cho khuất mắt ta.

_Thưa phu nhân đâu chúng tôi muốn ra hàng và đâu ngờ là ta bị lừa.

_Thôi bọn bay đừng tìm cách bào chữa. Tao không muốn nghe cái giọng ấy nữa, cái giọng hèn nhát không đáng là quân sĩ của Từ Hải, những kẻ đã sống hiên ngang và chết khí phách. Những kẻ không phản trắc, không sợ kẻ mạnh bất chánh, không vì sự yên thân, đời sống nhung lụa mà quên việc nghĩa. Bọn bay không lấy thế này làm nhục sao? Bọn bay không biết chọn lúc nào phải sống, lúc nào phải chết sao?

Kiều gào lên như một kẻ điên cuồng, lũ bộ hạ chỉ biết cúi đầu ngồi nghe, bỗng một tên bộ tướng đứng lên:
_Lời của phu nhân làm cho kẻ hèn này hổ thẹn. Quả Từ tướng quân đã không xấu hổ với một người vợ như phu nhân.  Vậy xin có chút lòng này tạ ơn người đã khuất.

Nói dứt lời tên bộ tướng rút đoản kiếm đâm vào bụng, lưỡi kiếm xuyên qua người, hắn quỳ xuống, hai tay còn giữ lấy đốc kiếm nơi bụng và cúi đầu hướng về nàng Kiều. Hắn gục xuống như một pho tượng, trong phút chốc máu chảy loang trên mặt đất. Tiếng khóc của Kiều nỉ non bứt rứt. Lúc đó Hồ Tôn Hiến bước vào chứng kiến cảnh tượng mà run lên cầm cập, nhưng Hồ cố trấn tĩnh kêu bọn thị vệ vào vực nàng Kiều ra ngoài cho chôn cất kẻ chết rồi lên tiếng an ủi những bề tôi cũ của Từ, Hồ sợ bọn họ bị kích động, phẫn uất gây chuyện chẳng lành. Nàng Kiều bị mang ra nơi sảnh đường, buổi tiệc khao quân đang vào lúc hào hứng  Hồ Tôn Hiến ngồi nơi bàn tiệc sai quân dâng chén bát và rót rượu mời Kiều. Hồ cầm ly rượu trên tay giơ lên:

_Mời nàng nâng ly cùng uống với ta gọi là vui đã cùng nhau lập nên công trạng này. Ta  nghĩ thành ta thu được một phần nhờ công của nàng vậy nay nếu nàng muốn xin điều gì, bất cứ điều gì ta cũng cho gọi là một chút phần thưởng.

_Phận tôi chẳng có gì để xin. Ông cho việc tôi giết chồng là công sao?

_Không ta đâu nói vậy, ta thật áy náy nhưng ta nghĩ, ta làm như vậy vì nhân dân, vì triều đình. Nàng nghĩ xem nàng thích cảnh chém giết tao loạn sao? Tất nhiên nàng phải chịu thiệt thòi thay cho những thiệt thòi lớn hơn của bao kẻ khác.

_Ông thật không xứng là tướng quân. Chỉ vì tôi là một con đàn bà nhẹ dạ như bao nhiêu người khác, tôi đã bị lừa giết chồng mà không biết. Không, tôi không muốn biết thiệt thòi của kẻ khác, có ai biết thiệt thòi cho tôi không. Chồng tôi chừng như đã rõ điều này nên chàng đâu muốn ra hàng, mang tấm thân cương cường khí phách về uốn lưng nơi triều đình.  Chàng chẳng bao giờ hành động như các ông, cảnh chém giết có diễn ra cũng chỉ bởi chồng tôi muốn đa số dân chúng không còn bị áp bức, bốc lột đè nén, thoát được cảnh lầm than dở sống dở chết dưới quyền cai trị của các ông. Từ lúc còn là tên cướp bể nhỏ nhoi, chồng tôi chỉ biết lấy của kẻ giàu bất chính cho kẻ nghèo, giết bọn sâu dân mọt nước, bao nhiêu năm vùng vẫy chí lấy cái lương tâm mình mà làm điều hay, tránh điều dở. Nghĩ lại tôi biết tôi nhầm khi khuyên chàng ra hàng, tôi cũng muốn được yên thân, cũng muốn tránh cảnh tang thương giết chóc. Ai ngờ cũng vì vậy mà tôi mắc tiếng giết chồng không dao và thân tôi dang dở. ôi như vậy mà ông còn muốn đền công cho tôi nửa…

_Thôi nàng đừng làm giảm cuộc vui của ta, nàng sẽ được đền bù xứng đáng. Nàng hãy vui lên một chút cho ta hài lòng…

Hồ cười lên hô hố, uống liên tiếp từng bát rượu lớn, bọn quân sĩ chung quanh vừa ăn uống vừa ca hát nhảy múa. Nàng Kiều khóc khô nước mắt và tưởng mình như đang ngồi trong một lò lửa chịu cực hình. Tại sao không chọn cái chết cho xong? Nàng nghĩ đến cha mẹ và Kim Trọng khiến lòng lại thổn thức. Hồ Tôn Hiến chợt cất tiếng:

_Xưa ta nghe nàng là một tay danh cầm trong thiên hạ, nay giữa cuộc vui ta muốn được nàng cho nghe một khúc.

Kiều đáp:

_Xưa kia cũng bởi tiếng đàn vận vào người khiên cho thân này trôi nổi nên từ đó thề không cầm đến cây đàn nửa.

Hồ Tôn Hiến vẫn nài ép.

_Mấy khi có được cơ hội như thế này nàng lại không thể gảy một khúc hồi sinh cho đời nàng sao.

_Ông nghĩ tôi giết được chồng là vui sướng lắm sao? Tôi vốn là con đĩ đâu có được cái vui sướng của những kẻ chính chuyên khi giết được chồng xin ông tha cho mà đừng ép tôi làm việc bất nghĩa phụ tình đó.

Hồ Tôn Hiến vẫn không buông tha, sai kẻ hầu mang đàn ra để trước mặt bàn, nàng Kiều cầm lấy mà nói:

_Tôi đã thưa cùng ông đến cạn lời mà ông vẫn bắt tôi làm việc bất nhẫn ông giết được chồng tôi bởi một mưu mô sảo quyệt còn chưa đủ hả, lại còn muốn vợ của kẻ chết chưa nguội xác kia gảy đàn mua vui. Sao tâm địa của ông nham hiểm, bất lương, độc ác đến vậy. Thân tôi dù chết tôi cũng chẳng thể làm được chuyện đó.

Nói xong Kiều cầm cây đàn đạp xuống đất cho tan ra, rồi đứng dậy bỏ chạy như một con ngựa điên.

*****

Sau đêm bỏ thành trốn đi, dứt bỏ những vinh hoa phú quý của một cuộc sống bình thường chẳng ai ngờ Từ đã thoát chết. Chàng thanh niên bảo:

_Nó tưởng lừa mình được, ai ngờ mình lừa được nó.

Hai người bạn dành những ngày đầu tiên để ăn chơi, ngao du trong cuộc sống tự do, nghĩ đến những ngày cũ không khỏi làm cho Từ nhiều lúc chạnh lòng nhớ tiếc, trong những đêm nơi quán trọ dọc đường nghĩ đến Kiều khiến chàng rơi lệ. Chàng đã mất tất cả và bây giờ phải làm lại tất cả. Sau một thời gian hai người bạn bắt đầu công việc kết nạp kẻ đồng chí, những kết nạp khó khăn hơn vì Từ không muốn chỉ có một đoàn quân ô hợp. Chẳng bao lâu thế lực của Từ một lớn dần. Một ngày kia Từ bàn với người bạn ý muốn về đón nàng Kiều vì chàng đã được tin sau khi tự vẫn được cứu thoát đã trở về sống với gia đình. Người bạn có vẽ phân vân, Từ nói:

_Ở trên đời này ngoài huynh ra tôi có mình nàng là hiểu và thương tôi, tôi hiểu sự phân vân của huynh nhưng tôi có thể đoan chắc việc riêng của tôi sẽ chẳng hại gì tới việc chung mà chúng ta đang gây dựng. nàng còn hơn một người thường, từ lúc nghe tin nàng tự vẫn để giữ trọn nghĩa thật không lúc nào tôi quên được nàng. Người bạn thở dài không nói, lặng lẽ thu xếp hành lý, giao công việc rồi cùng Từ dong thuyền tìm về quê nàng Kiều. Sau thất bại của cuộc nổi dậy tại miền duyên hải của Từ Hải đã làm cho người dân nhỏ lệ khóc thầm, một tương lai hé ra chưa đước bao lâu đã bị dập tắt. Đã mất tự do họ lại còn bị quan quân triều đình trở về hành hạ hơn hồi trước chừng như để trả thù những ngày họ được sống sung sướng dưới sự bảo vệ của Từ Hải. Đâu đâu người ta cũng nghe thấy những lời ta thán oán hận Hồ Tôn Hiến, nhiều người dân đã bỏ xứ ra đi đến những nơi xa lạ làm ăn hòng thoát bớt cảnh đè nén áp bức. họ truyền tai nhau kể lại cái chết của Từ Hải, cái đê tiện của Hồ Tôn Hiến. Họ ngậm ngùi cho số phận của nàng Kiều vì không chịu đựng được phải gieo mình xuống sông Tiền đường lấy cái chết mà giữ tiết với chồng.

Miết rồi những lời kể mỗi lúc sai lạc đi vô vàn những huyền thoại chung quanh Từ Hải và Vương Thúy Kiều. Nhiều văn nhân thi sĩ cũng từ hứng khởi của cuộc nổi dậy mà sáng tác ra những áng văn chương được dân chúng truyền tụng ngâm nga. Họ luôn nhắc nhở đến Từ Hải như một anh hùng cứu thế nhưng số trời đã định buộc dân chúng còn phải lầm than khổ sở. Có kẻ đã dựa vào sấm ký vào những lời tiên tri để tìm cách giải nghĩa cho dân chúng rằng: họ đang ở vào thời mạt pháp. Cách giải thích mù mờ đã chẳng giúp gì cho lòng tin của dân chúng mà làm cho họ chán nản, không phấn đấu, đi tìm an ủi nơi tín ngưỡng, do đó nhiều ma giáo xuất hiện làm những chuyện bậy bạ khiến cho xã hội càng thêm tao loạn suy vong.

Nàng Kiều trong những giây phút kinh hoàng đã không còn giữ được bình tĩnh nàng chỉ còn nhìn thấy cái chết là hợp lý nên đã lao đầu xuống sông tự vẫn, mượn cái chết rửa sạch kiếp người, nhưng số nàng chưa trọn, quân sĩ Hồ Tôn Hiến đã vớt được nàng lên, mủi lòng thương cũng có, phần nể sợ cũng nhiều nên Hồ đã cho nàng chọn lựa cuộc sống, nàng đã vào ngụ tạm nơi một ngôi chùa dưỡng bệnh trước khi trở về quê, dứt cuộc sống trần tục mà lập một ngôi chùa nhỏ sớm tối lấy kinh kệ làm khuây.

Nhưng nào nàng có được yên với sắc đẹp của nàng nên bọn đàn ông chung quanh đứa nào củng chỉ định ăn sống nuốt tươi. Những cái nhìn như hãm hiếp nàng. Sau hôm được cứu sống ít ngày, một đêm kia nàng đang thiếp ngủ thì bỗng giật mình vì có một kẻ vận áo nhà sư xông vào giường mà ôm lấy nàng định hãm hiếp, nàng định la lên cầu cứu và kháng cự, may nhờ ngôi chùa nàng đang tạm trú ở sát ngay trại quân của Hồ Tôn Hiến nên nghe tiếng kêu liền báo động, biết không yên kẻ gian vội vã tẩu thoát. Sớm hôm sau Hồ Tôn Hiến bắt nàng tới hỏi xem kẻ kia là ai để trị tội vì trong thâm tâm Hồ vẫn thèm khát Kiều mà không dám, nên nổi máu ghen với kẻ lạ mặt. Kiều cứ tình thực mà khai là thấy một ông sư nhưng vì đêm tối nên nhận không được rõ. Hồ Tôn Hiến liền bắt tất cả các sư đang trụ trì trong ngôi chùa ra cho Kiều nhận diện, Kiều một mực nói không rõ ai nhưng Hồ không chịu còn bảo: nếu không nhận ra người nào thì sẽ giết hết mấy vị sư vì làm nhớp cửa Thiền. Hồ hỏi các ông xem ai làm điều bậy bạ thì hãy nhận, nhưng ai cũng nói không. Hồ liền sai mang ra chém cả. Kiều đành liều chỉ đại một người. Nhưng ngay đó một chuyện xảy ra giải cái oan cho nhà chùa. Nguyên kẻ làm bậy là Từ Văn Trường đã giả dạng nhà sư tưởng có thể che mắt được. Ai ngờ quả báo, buổi tối đó sau cái chết oan của vị sư Từ Văn Trường trở về nhà thì bỗng nhìn thấy trên giường một ông sư đang giao hoan cùng vợ, hai thân thể trần truồng lung linh trước mắt, cơn giận bốc lên Từ rút gươm xông vào đâm, nhưng lúc nhìn ra hóa chỉ có mỗi vợ mình rãy chết trên vũng máu. Vì giết người Từ bị bắt dù là kẻ có công ở dưới trướng nhưng Hồ Tôn Hiến cũng không thể vì tình mà tha được, nhất là sau khi Từ Văn Trường đã khai ra cái chuyện đội lốt nhà sư kia. Bị nhốt Từ Văn Trường phát điên, phá nhà ngục chạy về đốt nhà rồi nhảy vào lửa mà chết. Câu chuyện đã làm náo động dư luận. Kiều những khóc thầm vì phải chứng kiến nhiều cảnh đau thương oan trái do đó nàng đã quyết chọn đường tu để mong sám hối tội lỗi lãng quên cuộc đời.

Dời khỏi ngôi chùa trở về quê Kiều muốn quên ngày cũ, nhưng tới nhà Kim Trọng lại đòi nối lại tình xưa, có lẽ chẳng phải vì lời thề thốt nhưng bởi nhan sắc mặn mà và cái thân thể khêu gợi của nàng Kiều, về phía Thúy Vân thì ghen tương sợ chị cướp mất chồng sẽ mất phần nào sự mặn nồng tình ái. Kiều ở vào hoàn cảnh dở khóc dở cười chỉ còn biết than thân trách phận. Nàng nhất định dứt đường tình ái ra nơi am vắng nhưng Kim Trọng đã chẳng buông tha, một mực ép nàng muốn cho cửa am thành nơi dơ bẩn, Kiều chẳng dám nói lớn sợ vỡ ra thì xấu chàng hổ thiếp chỉ tìm cách lẩn tránh. Nàng Thúy Vân cùng cha mẹ biết chuyện chỉ đành chép miệng thở dài.

Một đêm kia kinh kệ vừa xong, đóng cửa am cẩn thận rồi đi nằm, giấc ngủ chưa đến bỗng nghe tiếng gỏ cửa, nàng thất kinh cố ý nằm im, nhưng nghe tiếng gõ mỗi lúc một lớn, sợ kinh động khiến người ngoài biết nàng đành phải ra.

_Em lạy anh, hãy buông tha cho em được yên thân, em đâu còn trinh trắng nửa, hãy để cho em giữ lại một chút lòng này với anh. Anh đừng ép để em phải lấy cái chết mà giữ mình.

Tiếng gỏ im Kiều lắng nghe có tiếng bàn tán, khiến nàng run sợ chợt có tiếng quen quen hỏi:

_Có phải nàng Kiều đó không?

Kiều cố moi óc nhớ xem giọng ai, tiếng nói tiếp theo:

_Anh đây, anh Từ Hải mở cửa cho anh, anh về đón em đây.

Nghe xong Kiều muốn ngất xỉu, nàng run rẫy quỳ xuống:

_Từ tướng quân, sống khôn thác thiêng, em biết em đã giết tướng quân, xin tướng quân tha cho..

_Anh còn sống mà, anh chưa chết đâu, em hãy mở cửa ra.

_Không anh chết rồi, em thấy rõ anh chết rồi, anh có linh anh hãy độ cho em.

_Khổ quá, anh còn sống nhăn, em hãy mở cửa ra xem.

Rồi một tiếng lạ khác:

_Từ tướng quân vẫn còn sống, phu nhân cứ mở cửa đừng sợ.

Sau một lúc trấn tĩnh, Kiều đánh liều mở cửa, trước mặt nàng rõ là Từ Hải và một người khác, Kiều kêu lên:

_Em đang mơ hay tỉnh đây.

_Em đang tỉnh

Từ Hải cầm lấy tay nàng:

_Em hãy lại đây.

Kiều hoảng rút vội tay nhưng không kịp nửa  và nàng nhận rõ đúng là Từ Hải. Nàng ôm choàng lấy Từ nỗi vui khôn xiết. Từ kể lại chuyện trá hàng cho Kiều nghe và Kiều kể những gian truân từ bấy đến nay, hai bên cùng ứa lệ chan hòa. Kiều oán trách:

_Sao anh trốn đi mà không cho em theo?

_Vì anh tưởng em muốn vinh hoa phú quý thì để em hưởng ai ngờ như ngày nay.

Chợt Từ hỏi:
_Vừa xong em tưởng anh là ai vậy?

Ngập ngừng một lúc nàng mới nói được:

_Em tưởng chàng Kim vì chàng Kim vẫn còn muốn em.

_Thằng khốn khiếp, cái bọn nho sĩ dâm loạn, nó muốn người ta ai cũng là đĩ mãi, người ta vào chùa rồi nó muốn người ta làm đĩ nửa. Thôi em hãy cở bỏ cái áo đó rồi theo anh, anh không muốn em phải sống khổ sở thế này. Chúng ta phải gây dựng lại.  Ngay đêm đó Kiều cùng Từ Hải và người bạn xuống thuyền ra đi.

Những năm về sau từ miền duyên hải Việt đông mãi tới Giang nam nhiều vụ dấy loạn nổi lên. Người ta bàn tán về  một đám giặc lùn nhận là Từ Hải, kẻ nói dư đảng, kẻ nói là bọn mạo danh, nhưng có kẻ cả quyết rằng chính mắt đã nhìn thấy Từ Hải . Trong dân gian kẻ nói thế này người nói thế khác thực giả chẳng biết đâu mà phân biệt.

Có điều những vụ nổi dậy đã làm cho triều đình lo âu và người dân bị đàn áp ngóng chờ loạn lạc hy vọng một đổi đời sẽ đến, cái hy vọng mà xưa kia trong một thời gian ngắn ngủi Từ Hải đã mang đến cho họ..

(1963-1965)

Nhan Sắc

vietmessenger.com

Dương Nghiễm Mậu

Văn Xã xuất bản 1969

Post by Sơn râu 20 Mar 2025

Nhan Sắc

Cụ Tú Hà chống tay lên chồng gối xếp, cụ đẩy chiếc điếu bát ra xa, nhấc bình trà nhỏ chiết vào chén hạt mít rồi đưa lên môi nhấp một chút. Khóa Nhâm ngồi khúm núm lặng nhìn xuống mặt sập không dám ngó lên. Cụ Tú để chén xuống khay, cầm tập cổ thi lên tay. Cụ ngừng lại một chút khẽ đưa mắt nhìn sang người trưởng nam:

– Thầy không ép con gì chuyện này. Từ hồi thầy và cụ Cử còn là bạn học với nhau đã hứa như thế, ngày đó thầy chưa lấy đẻ con kia. Bây giờ người ta hiển đạt còn nhớ tới lời hứa là quí lắm. Vả lại con cũng lớn tuổi rồi. Tam thập nhi lập, thầy, muốn có đứa cháu bế cho vui tuổi già. Thứ nhất trẻ khóc, thứ nhì trẻ học… Đấy con nghĩ xem…

Giọng cụ Tú ôn tồn dịu dàng. Khóa Nhâm bần thần không biết trả lời sao. Nghe lời cha thì trong lòng không vui, cưỡng lại lời cha Khóa Nhâm áy náy, nhất nữa chưa bao giờ người trưởng nam này làm vậy. Nhưng Khóa Nhâm vẫn chưa muốn lập gia đình.

– Thầy thư thả cho con nghĩ lại.

Anh khóa nói xong xin phép cha ra ngoài. Anh bước xuống sân gạch ngó lên nền trời xanh trong cao vút lấp lánh sao, anh thở ra một cách khoan khoái. Anh trở về thư phòng đốt đèn đọc sách. Cho gần tới sáng cụ Tú nhìn xuống vẫn thấy đèn sáng trong phòng người trưởng nam. Đêm đó anh khóa không sao chợp mắt được.

Trong thôn Trúc này người ta đã nhiều lần bàn tán về người con cả cụ Tú. Anh Khóa là người hay chữ có tiếng bậc nhất ở trấn Sơn. Khóa thi hương trước đây anh là người được cụ Đốc tin tưởng thế nào Khóa Nhâm cũng mang về cho làng Trúc mạt ra cũng là cái cử nhân, nhưng không hiểu sao, anh Khóa lều chõng lên vai giữa đường lại trở về không xuống trường Nam ứng thí, lúc con trở về cụ Tú đã không khỏi ngạc nhiên, anh Khóa nói một cách mơ hồ rằng đến giữa đường thấy người khó chịu nên không đi nữa:

– Thưa, thầy để khóa sau cũng được, con tưởng chưa muộn gì.

Sau đó trong thôn một người con gái gieo mình xuống giếng tự vận. Phong thanh đồn người thôn nữ thất vọng vì anh Khóa đã bỏ lỡ khoa thi. Người thôn nữ là một trang tài sắc đã làm nhiều thư sinh mê mệt nhưng chẳng ai lọt mắt, cô đã mê anh Khóa và chừng như đã tự đính ước nếu anh Khóa thi đỗ trở về nàng sẽ xin theo hầu. Các bạn đồng song kháo nhau: Khóa Nhâm sợ phải lấy người thôn nữ nên làm cho nàng thất vọng, vì cái bằng cử nhân anh Khóa đã như bỏ trong túi áo rồi. Sau chuyện này cụ Tú có cật vấn con, anh Khóa một mực kêu không biết: vả họ để ý đến con thì làm sao con hiểu được. Với tính trang nghiêm mực thước, thái độ đường hoàng của anh Khóa chẳng ai nghĩ rằng anh có điều gì hư hỏng. Vả ai là con gái ở trấn Sơn này lại không mê anh, các bạn trong một phút cao hứng nào hỏi anh Khóa về chuyện tình ái, anh nghiêm trang đáp:

– Mình còn trẻ, vả tôi chưa thấy ai là người để cho tôi phải để mắt đến. Một vẻ đẹp thật khó biết chừng nào!

Nghe nói thế có người cho anh gàn. Có người cho anh ái nam ái nữ. Có người biết truyện cụ Tú đính ước với cụ Cử làng bên thì cho anh Khóa làm cao để lấy con cụ Cử hiện thời đang làm án sát dưới hạt Sơn Nam Hạ. Khi nhắc tới đó anh Khóa chỉ lắc đầu:

– Đó là chuyện thời xưa rồi, hồi cụ Cử còn hàn vi, nay nhà người ta làm quan, thầy tôi nghèo ai còn nhớ đến chuyện ấy. Nhưng đến khi nghe cha nói tới chuyện đó anh Khóa lại càng thấy khó nghĩ. Suốt một đêm thức trắng sáng hôm sau trong tuần trà buổi sớm mai anh Khóa đã thưa với cha già:

– Con chưa hiển đạt nên việc lập gia đình con vẫn cho là còn sớm. Cụ Cử có thương con nhưng tiểu thư sợ không vui lòng phải làm vợ một anh Khóa nghèo.

Cụ Tú biết ý con muốn từ chối nên kiếm cớ ra như vậy. Cụ lặng im uống trà trầm ngâm. Cụ nhìn con: với đôi mắt sâu trũng, đôi lông mày lưỡi mác. Cụ Tú như thấy một phần nào những ý nghĩ của con, lá số tử vi cụ Tú đã lấy đi lấy lại nhiều lần cụ vẫn thấy người con mình khác tính cụ, nó sẽ là một người bay nhảy xông xáo với lòng dũng mãnh, ý chỉ cương cường lộ ra đôi mắt như lò lửa và gò má cao khắc khổ kia. Cụ còn thấy tính con lộ ra trong văn bài, những nét chữ ngang dọc mạnh mẽ như nhát chém, giọng văn cuồng nhiệt nhiều khi phá cả luật cách. Nhìn con cụ Tú càng lo ngại, cụ muốn con lập gia đình cho vướng vít như thế cụ đỡ lo hơn. Trong dòng họ, cụ Tú vẫn lấy làm hãnh diện đã có một cụ tổ thờ nhà Lê trung thành cầm nghiên mực đập vào mặt Mạc Đăng Dung.

Tuần trà buổi sớm mai vẫn lặng lờ trong sương sớm gây lạnh. Anh Khóa quạt khẽ chiếc hỏa lò cho than hồng chút nữa. Cụ Tú hỏi:

– Con có biết con cụ Cử chưa? Cô ấy đẹp và học cũng giỏi lắm, xuất khẩu thành thi, nét bút bay bướm tài hoa. Có được con như thế thật phúc lắm…

– Có, con có thấy nhân dịp lên mừng thọ cụ Cử năm rồi. Đó là một trang tài sắc, nhưng không có một vẻ đẹp…

– Một vẻ đẹp?

– Vâng, thưa thầy, một vẻ đẹp như con nghĩ.

– Vậy, con đã thấy ai là người có một vẻ đẹp như ý con?

– Chưa, con chưa thấy ai là một người đẹp cả. Những vẻ đẹp người ta thấy chỉ là cái vẻ đẹp phàm tục tầm thường, cái vẻ nhàm chán của son phấn điểm trang hào nhoáng đánh lừa con mắt của trần gian. Con nghĩ, có những vẻ đẹp siêu phàm, vẻ đẹp làm cho người thấy nó tan đi vào khát vọng và quên cả thân thể nặng nề… một cái nhan sắc hàm chứa, kết tụ lý tưởng của kẻ nam nhi chắc phải khó mới tìm thấy được…

Cụ Tú ngẩn ngơ nghe con nói một cách say sưa. Thật tình cụ không làm sao hiểu thấu. Nhưng cụ Tú cũng vẫn nghi ngờ: hay là nó đã có tình ý với ai.

Ngày tháng trôi qua, mùa xuân năm đó anh Khóa Nhâm xin phép cha đi dự hội mùa xuân ở Kinh kỳ, nơi mà anh đã nghe nói đến những giai nhân tài tử của đất phồn hoa mượn tiết xuân đề tìm khách đông sàng, cùng các bạn tới nơi chưa tàn nửa cuộc vui anh Khóa đã chán nản đóng cửa phòng trọ uống hết bình rượu này sang bình rượu khác. Có người hỏi về giai nhân tài tử, anh Khóa nghiêm nét mặt nói một cách tàn nhẫn:

– Làm gì có người đẹp ở nơi phồn hoa đô hội này, có chăng là một lũ tầm thường, phường hát xướng, đào ca cả mà thôi. Họ chỉ xứng để làm nàng hầu, tôi tớ cho bọn quan lại, quyền thế và lái buôn. Kẻ nam nhi mà còn thấy đó là đẹp sao?

Lời nói đó lọt tai một nhà quyền quí nọ, với bốn đứa con gái ế chồng, lấy làm mất sĩ diện nên thuê tụi du thủ dụ thực tới vây nhà trọ định làm nhục anh Khóa, may sao có người bạn biết báo cho anh Khóa hay, anh vội vàng xách khăn gói giữa canh ba trổ mái nhà thuê cáng về Sơn thề không trở lại nữa.

Tới nhà anh Khóa đóng cửa thư phòng không bước ra khỏi cửa. Ngày ngày cụ Tú nghe tiếng con ngâm thơ Đỗ Phủ, giọng ấm ức nghẹn ngào. Khóa thi năm đó đã rao, cụ Tú hỏi con chuyện lều chõng. Anh Khóa buồn rầu:

– Thưa cha, con không nghĩ đến chuyện đó nữa, năm rồi ở kinh kỳ con đã nhìn tận mắt bao cảnh đồi trụy nhơ nhớp, tai đã nghe bao chuyện lố lăng. Chốn trường thi nay đã thành nơi buôn quan bán tước. Kẻ sĩ mỗi ngày một bỏ xa đạo thánh hiền, dân tình khổ cực khắp nơi, loạn lạc không ngớt cho nên con không còn thiết gì đến công danh, một cái hư danh phỏng có ích gì. Xin thầy hiểu cho con. Con lấy làm tiếc rằng tại sao con lại sinh ở một thời vua không ra vua, quan không ra quan, người không ra người này. Bao nhiêu chữ nghĩa con được học của thầy chắc không phải chỉ để đi thi, đội mũ, mặc áo có cân đai bố tử, làm quan hưởng bổng lộc. Chữ nghĩa của thánh hiền là để cho con làm một kẻ sĩ, nếu không cũng là một tài tử đi tìm một giai nhân xứng mặt giai nhân…

Sau đó anh Khóa sống âm thầm phụng dưỡng cha già đêm đêm đọc sách, tuyệt không giao du với bên ngoài. Cho đến một hôm cụ Tú thấy người trưởng nam biệt tích. Anh Khóa đã bỏ nhà ra đi không nói nửa lời. Cụ Tú thở dài im lặng.

Ba ngày sau khi Cao Bá Quát bị bắt cùng với dư đảng  “Giặc châu chấu”, cụ Tú thấy anh Khóa Nhâm trở về vào lúc trời nhá nhem. Cụ Tú không dám hỏi con một tiếng. Anh Khóa lặng im. Người con dân trấn Sơn nhìn nhau sau một cơn biến động. Những phấn khởi, xáo động buổi đầu đã chuyển sang những lo âu sợ sệt. Cái tương lai sáng sủa của ông Quát khích động ngày nào đã tan biến, mọi người thở dài như than tiếc cho nhà Lê đã không còn cơ hưng thịnh lên được. Ngày xử trảm ba họ nhà Cao Bá Quát bầu trời trấn Sơn như nhuộm một màu thê lương tang tóc. Kẻ già, người trẻ cúi đầu rơi lệ cho một cuộc vùng vẫy không thành. Anh Khóa Nhâm cả ngày ngồi bất động trên tràng kỷ như kẻ chịu nhục hình xẻo da cắt thịt, mối lo âu làm mái tóc bạc phơ. Mấy người bạn đồng song nghe tin anh Khóa trở về lại thăm, để tránh sự nghi kỵ anh đành mở cửa tiếp bạn, cố gượng làm vui, cười nói vồn vã. Có người hỏi:

– Vậy chứ anh bỏ nhà đi từ đó đến nay là tại sao vậy? Người ta bảo anh trốn lấy vợ phải không?

– Sao lấy vợ mà lại trốn là thế nào?

– Thế anh đi đâu?

– Đi tìm một giai nhân…

– Tôi không thể tin được. Tiểu thư con quan án sát không phải một trang tài sắc hay sao?

– Nhưng thế nào là giai nhân nhỉ?

Câu nói của anh Khóa trầm xuống, anh cúi đầu tư lự. Bạn bè lặng im không biết trả lời ra sao. Thế nào là một giai nhân? Thật chưa ai nghĩ đến điều đó để trả lời. Trông anh Khóa lúc đó chừng như không phải là một người thường nữa mà như một đạo sĩ đã thoát trần:

– Các anh có thấy tóc tôi đã bạc rồi không? Hơn ba mươi tuổi, bỏ làng đi hai năm mà tôi tưởng gần hết cả đời người. Sống hai năm để hiểu rằng ba mươi năm kia mình đã phí như thế nào. Như các anh, các anh phải thấy là đáng hối hận… Sinh ra làm trai để làm gì? Để làm việc lớn? Để gặp giai nhân? Để thấu đạo lý? Cái ý nghĩa của đời người là thế nào? Tôi mãn nguyện một phần là đã thấy giai nhân, đã thấy một phần ý nghĩa của đời người… Sinh làm trai lại do dó ở trong lũy tre, vùi đầu vào trang sách nát, mờ mắt bởi những giả tạo quanh quẩn… rồi chết đi, như vậy thì có hơn chi lũ đàn bà con trẻ quanh quẩn nơi xó bếp, góc nhà, có hơn chi loài cầm thú yên với số phận cỏn con…

Anh Khóa nói một cách say sưa làm người nghe như bị dắt vào một thế giới khác, bạn hữu thấy thua kém anh quá, một người bỗng hỏi:

– Anh không biết gì về chuyện cử Quát? Làm việc lớn là để bị tru di ba họ sao?

Anh Khóa rợn người, cảm giác một lưỡi gươm vô hình vừa đưa ngang cổ.

– Hắn là một cuồng sĩ. Không hành động như thế được. Làm việc lớn đâu phải là làm loạn. Tôi đã nói mà, bây giờ là thời tìm gặp giai nhân. Tôi muốn nói về giai nhân tôi đã gặp cho các anh nghe… nhưng thật khó quá…

– Không có ai để so sánh được sao?

– Nếu có một người thứ hai để so sánh thì đó không còn là một giai nhân nữa… Chúng ta cũng không có ngôn ngữ để diễn tả. Đó là một vẻ đẹp của trời đất. Tóc như mây trời, da như sương mù ngưng đọng… Cũng không phải như thế nữa… Không thể nói ra, không thể tả lại. Phải gặp mới biết thế nào là vẻ đẹp…

Tới đó anh khóa thôi không nói gì nữa. Bạn hữu đứng dậy xốc áo sửa khăn ra về. Nửa đêm hôm đó cụ Tú vào đối diện người trưởng nam:

– Con có dự gì vào chuyện Cao Bá Quát không? Con nói thật cho thầy yên lòng?

Khóa Nhâm nhìn vào đôi mắt nghiêm khắc của cha già:

– Thưa cha không. Con chỉ là một tài tử. Con đã thất hiếu ra đi vì một vẻ đẹp…

Cụ Tú không hỏi thêm gì trở ra ngay. Cân chuyện của Khóa Nhâm qua tai bạn hữu loan truyền ra ngoài, ai cũng cho anh là một kẻ đa tình háo sắc, gàn dở. Bỏ cả công danh sự nghiệp đi theo đuổi một người đẹp đến bạc đầu cũng không nên cơm cháo gì. Câu truyện đó qua dư luận dần dần sai lạc để trở thành hài hước, nhờ vậy chẳng ai còn thắc mắc đến những hành tung của anh. Nhưng một người bạn, buổi sáng kia tìm gặp anh Khóa:

– Anh nói phải, tôi tin là có giai nhân. Anh cho tôi biết tên để tôi đi tìm gặp người đó.

– Không phải dễ, anh phải lấy cả cái tâm thành của anh ra may mới gặp được. Anh phải coi cuộc tìm kiếm như một cuộc hành hương tìm đạo, bởi nó ở ngoài lẽ thường. Liệu anh có đủ cái tâm thành ấy không? 

– Tôi có đủ.

– Nếu anh không gặp thì sao? Tôi sợ khó khăn cho anh lắm. Những khó khăn tôi đã gặp thật nói ra không được.

– Tôi tin là có, nhưng có gặp hay không là ở tôi… Tên người đó?

Khóa Nhâm buồn rầu cầm tay người bạn trẻ không biết nói sao, anh nói nhỏ, xa, mơ hồ như trong giấc chiêm bao… Người bạn trẻ nghe xong từ tạ lên đường, tự nguyện không gặp giai nhân sẽ chẳng trở về. Không bao lâu Khóa Nhâm lâm trọng bệnh người xanh như tàu lá. Sự sống chỉ còn nơi hai con mắt triền miên trong những cơn mê sảng. Nhưng vào những đêm khuya giữa cơn mê sảng, cụ Tú nghe con gọi lập đi lập lại nhiều lần tên một người nào đó. Cụ Tú cho là con đau tương tư vì xa người tình. Cụ gặng hỏi nhưng anh Khóa chỉ lắc đầu và khóc cho đến nỗi chảy máu cả hai con mắt rồi chết. Cụ Tú thương con cho nhập quan quàn lại trong nhà, báo tin cho bè bạn của Khóa Nhâm được biết.

Ngày đưa đám, bạn hữu của Khóa Nhâm đều đủ mặt. Ngoài những kẻ quen biết còn rất nhiều người lạ. Trước mặt cụ Tú ai cũng tự giới thiệu là bạn của Nhâm, mặt mày họ gớm ghiếc, trông nhiều kẻ không phải là người có học. Đặc biệt trong đám khách lạ có một người to lớn, vạm vỡ, mặt đen, lông mày rậm nói là ở Cao Bằng vừa xuống có ý thăm anh Khóa, không ngờ anh Khóa đã ra người thiên cổ thì vẻ tiếc hận buồn rầu lộ ra nét mặt. Người khách nói:

– Thế là công việc lỡ cả…

Cụ Tú sinh nghi liền hỏi tại sao. Người khách thưa:

– Chúng con có hẹn sẽ uống với nhau một bữa rượu cho say túy lúy. Tiếc rằng không kịp…

Chiều hôm đó quan tài anh Khóa được bạn hữu chuyển ra sườn đồi an táng. Vừa hạ huyệt xong thì tiếng người ngựa ở đâu huyện náo tứ phía. Quân lính triều đình vây khắp cả chung quanh. Mọi người xôn xao không hiểu chuyện gì. Gươm đã tuốt trần, giáo mác dựng đứng, ai nấy lo âu. Cụ Tú vội ra, một viên tưởng phóng ngựa tới.

– Bản chức được lệnh truy bắt một người…

– Thưa cho biết tên.

– Một người vừa ở xa tới.

– Tên gì?

– Một dư đảng Cao Bá Quát.

Cụ Tú run rẫy suýt ngã. Đám bạn hữu của Khóa Nhâm đưa mắt nhìn nhau sửng sốt. Im lặng bao quanh nặng nề nỗi hoang mang lo lắng.

– Tôi là người ông tìm kiếm.

Từ giữa đám đông tiếng nói cất lên như một mũi tên nhọn bay cao, đám người rẽ ra. Cụ Tú nhìn thấy chính đó là người khách ở Cao Bằng. Người đó tiến lên nét mặt cương cường dũng mãnh, dáng đi khỏe mạnh. Mọi người trố mắt ngạc nhiên. Viên tướng xuống ngựa đứng trước mặt người đó. Nhanh như chớp người kia đã đâm vào bụng lưỡi đoản kiếm và ngã sấp xuống, mũi kiếm xuyên lên lưng, máu vọt cao như những lưỡi kiếm lửa…”

Người sau có bài hát rằng: nên ra tay kiếm tay cờ, không nên thì cũng chẳng nhờ cậy ai…

(1963)

Tiễn Em Rời K18

batkhuat.net

Phan Văn Hưng/Nam Dao

Post by Sơn râu 20 Mar 2025

Em về đi, thôi đừng lên thăm trại K18.                                                                                                                                    Anh ngoài đây như chết thật rồi,

Đừng xót thương đời một tên tù K18

Nhắn mẹ rằng anh vẫn nhớ đến me.

Về đi em, đừng lên thăm nữa em ơi,

Còn thương nhau thì xin sống nuôi con,

Đừng đến nữa, van em đừng đến em ơi,

Đường gian lao, vùi mạng dốc Ô Ba.

Anh ở lại, giam đời mình trong trại K18,

Chồng Lồ Ô liệm kín đời người,

Nhà Cách Ly, chờ chôn người tù K18,

Chết vội vàng, manh áo rách bó thây.

Về đi em, đừng thăm nữa em ơi,

Gặp nhau thêm, càng đau đớn cho nhau

Đừng khóc nữa, van em đừng khóc nữa em ơi,

Tình đôi ta đành hẹn lại kiếp sau.

Em trở về, với cuộc đời cô phụ trông mòn mắt,

Nơi chồng đi, không có ngày về,

Đời nát tan chờ mong người tù K18,

Sống dật dờ năm tháng úa héo tàn,

Giờ chia ly, lòng ta trăm mối đau thương,

Ngoảnh trông theo, nào em quá xa ta,

Còn nước mắt, tuôn rơi nào tiễn chân em,

Đành xa nhau chờ hẹn lại kiếp sau.

Về đi em, đừng thăm nữa em ơi,

Gặp nhau thêm, càng đau đớn cho nhau

Đừng khóc nữa, van em đừng khóc nữa em ơi,

Tình đôi ta đành hẹn lại kiếp sau.

Người đàn bà đẹp nhất thị trấn

vanviet.info

Posted on 26 Tháng Hai, 2025

Charles Bukowski

T.Vấn chuyển ngữ

Post by Sơn râu 20 Mar 2025

Women with Glass of Wine (1949) – Tranh: Zygmunt Bukowski* (1923–2006)

Nguồn: Edinburgh College of Art (University of Edinburgh)

Trong số năm chị em, Cass là người trẻ nhất và đẹp nhất. Và cô cũng là cô gái xinh đẹp nhất thị trấn. Mang trong mình một nửa dòng máu của bộ tộc da đỏ, với thân hình mềm mại một cách lạ kỳ, trông uốn éo yểu điệu nhưng cũng sẵn sàng bốc lửa khiến bao cặp mắt cứ dán vào đó không rời. Nàng là hiện thân của lửa ở thể lỏng, như một linh hồn bị kẹt trong một hình hài không đủ sức để cho nàng làm nơi trú ngụ. Mái tóc nàng dài, đen nhánh và mượt mà như lụa, lúc nào cũng chuyển động, lượn quanh như thân thể của nàng. Nàng luôn ở trong trạng thái tinh thần hoặc là rất cao hoặc rất thấp. Với Cass, không có gì mang tính cách trung dung. Có người bảo cô nàng điên khùng. Mấy kẻ ngu đần hay nhận xét như thế. Những kẻ đần độn thì làm sao mà hiểu được Cass. Đối với lũ đàn ông, nàng đơn giản chỉ là một cái máy làm tình. Vì thế, họ chẳng bận tâm nàng điên hay nàng khùng. Lúc nào Cass cũng nhảy múa, lả lơi, hôn hít đám đàn ông, nhưng cũng đôi khi đến lúc lẽ ra phải để chuyện ấy xảy ra thì nàng lại tìm cách thoái thác, tránh né bọn đàn ông đang lên cơn rượn đực.

Các chị nàng cho rằng nàng đã lạm dụng sắc đẹp của mình và quá vô tâm không chịu suy nghĩ trước khi làm việc gì, nhưng Cass có đủ suy nghĩ và đủ tâm cho việc mình làm; nàng vẽ, múa, hát, nặn hình bằng đất sét, và khi gặp người bị tổn thương tinh thần hay thể xác, nàng đều bày tỏ sự đồng cảm chân thực tận đáy lòng và sẵn sàng chia sẻ. Chẳng qua là nàng có lối suy nghĩ khác hẳn, không hề mang tính thực dụng. Các chị nàng ghen tức chỉ vì nàng đã thu hút những người đàn ông của họ, họ giận dữ vì cho rằng nàng đã không biết lợi dụng lũ đàn ông ấy. Nàng luôn có thói quen tỏ ra dịu dàng, tử tế hơn với những người đàn ông xấu xí. Còn những gã đàn ông gọi là đẹp trai thì nàng lại không thích – cho rằng họ “Chết nhát. nhạt thếch! Bọn này chỉ biết khoe khoang cái vẻ ngoài điển trai, vểnh ra vành tai xinh xắn, chu lên sống mũi cân đối… Tất cả chỉ là cái mẽ bên ngoài, còn bên trong thì rỗng tuếch…”. Tính khí nàng có vẻ như gần với sự điên rồ; vì vậy, có kẻ bảo tính tình Cass điên điên rồ rồ.

Cha nàng chết vì chứng nghiện rượu, sau đó mẹ nàng cũng bỏ rơi chị em nàng. Một người họ hàng đã đem mấy chị em đến trao cho một tu viện. Nơi cư ngụ mới này chẳng vui vẻ gì hơn, nhất là với Cass. Mấy chị nàng lúc nào cũng tỏ ra ganh tị với nàng và họ cãi nhau chí chóe suốt ngày. Cánh tay trái của Cass vẫn còn những vết sẹo dao lam cứa vào trong lúc phải tự vệ từ hai trận đánh nhau với các chị của mình. Trên má trái của Cass còn có một vết sẹo không cách nào tẩy xóa được, nhưng có vẻ như vết sẹo ấy làm nổi bật thêm vẻ đẹp khuôn mặt nàng hơn là làm cho nó xấu đi.

Tôi gặp Cass tại quán rượu Cực Tây sau khi nàng được ra khỏi tu viện mấy ngày. Là người nhỏ nhất trong năm chị em, nên nàng là người cuối cùng được cho ra khỏi tu viện. Một cách hết sức tự nhiên, Cass đến ngồi bên cạnh tôi. Cũng có thể do tôi là thằng đàn ông xấu xí nhất thị trấn nên việc Cass đến với tôi là đúng với tính khí của nàng.

“Uống chứ?”, tôi hỏi nàng.

“Hẳn rồi, sao lại không chứ?”

Tôi chẳng nghĩ có điều gì bất thường trong câu chuyện của chúng tôi vào tối hôm ấy, đơn giản chỉ là cảm giác mà sự có mặt của Cass mang lại. Nàng đã chọn tôi để ngồi xuống, sự việc chẳng có gì khác hơn điều đơn giản đó. Không ai áp lực ai. Cass thích thức uống của mình và đêm ấy nàng uống khá nhiều. Trông nàng có vẻ chưa đủ tuổi uống rượu nhưng quán vẫn cứ mang rượu ra phục vụ nàng. Cũng có thể nàng đã sử dụng thẻ tùy thân giả mạo chẳng hạn. Tôi không biết. Dù sao, mỗi khi nàng đi vào nhà vệ sinh rồi khi ra vẫn ngồi lại cạnh tôi làm tôi cảm thấy tự hào. Cass không chỉ là người đàn bà đẹp nhất thị trấn mà còn là người đẹp nhất trong số những người đàn bà mà tôi đã được gặp. Một lúc, tôi vòng tay ôm ngang eo ếch Cass và hôn nàng.

“Anh có nghĩ là em đẹp không?”, nàng hỏi.

“Có chứ, tất nhiên là em đẹp lắm, nhưng còn một cái gì khác nữa… không chỉ vẻ đẹp bên ngoài…”

“Người ta luôn buộc tội em là xinh đẹp. Anh có thực sự nghĩ em xinh đẹp không?”

“Xinh đẹp không phải là chữ chính xác để diễn tả, nói thế là chưa công bằng với em.”

Cass thò tay vào túi xách của nàng. Tôi tưởng nàng đang lục tìm chiếc khăn tay. Nhưng tay nàng cầm một chiếc kim dài dùng cài mũ vào tóc. Trước khi tôi hiểu chuyện gì đang xẩy ra để kịp thời ngăn cản thì nàng đã đâm cây kim ngang qua mũi mình, phần thịt ngay trên hai lỗ mũi. Tôi cảm thấy choáng váng, sợ hãi.

Cass thản nhiên nhìn tôi, cười, “Bây giờ anh có còn nghĩ em xinh đẹp nữa không? Ý kiến anh thế nào, hả?”

Tôi rút cây kim ra khỏi mũi nàng và dùng khăn tay của mình chặn chỗ máu chảy ra. Nhiều người khác, kể cả anh chàng pha chế ở quầy rượu, nhìn thấy sự việc từ đầu đến cuối. Anh chàng này bèn bước đến:

“Này, cô nhỏ,” anh ta bảo Cass, “cô làm thêm một lần nữa thì sẽ bị mời ra khỏi đây ngay đấy. Chúng tôi không cần cô diễn trò ở đây.”

“Được rồi, tiên sư anh!” Nàng trả lời.

Người pha rượu quay qua tôi, bảo:

“Anh nên kiểm soát cô ta kỹ hơn!”

“Cô ấy sẽ ổn mà,” tôi đáp.

“Mũi của em mà,” Cass phân bua, “Em có quyền làm gì thì làm với cái mũi của em chứ.”

“Không,” tôi bảo, “Em làm anh đau.”

“Ý anh muốn nói anh cảm thấy đau khi em đâm kim vào mũi của em?”

“Đúng vậy, anh đau lắm. Anh nói thật.”

“Thôi được rồi, em sẽ không làm thế nữa đâu. Vui lên nào!”

Cass hôn tôi, vừa hôn vừa cười toe toét và tay nàng cầm chiếc khăn tay chặn máu trên mũi. Khi quán đóng cửa, chúng tôi về chỗ tôi trọ. Tôi vẫn còn ít bia nên chúng tôi tiếp tục ngồi chuyện trò. Chỉ đến lúc đó tôi mới nhận ra Cass là một người thực sự tử tế và biết quan tâm đến kẻ khác. Nàng đã cho đi mà không hề biết mình đã làm điều đó. Cùng lúc, có vẻ như nàng lại bị rơi vào một thế giới hoang dã, với những khoảnh khắc rời rạc chẳng một chút liên hệ gì với nhau. Một thứ tâm thần phân liệt chăng? Nhưng là một trạng thái của tâm linh bay bổng và đẹp tuyệt vời. Có lẽ, sẽ có một gã đàn ông nào đó, một điều gì đó, hủy hoại nàng mãi mãi. Tôi hy vọng kẻ đó sẽ không phải là tôi.

Chúng tôi lên giường. Sau khi tôi tắt đèn, Cass hỏi: “Anh muốn ấy lúc nào? Bây giờ hay sáng mai?”

“Sáng mai,” tôi đáp, rồi quay lưng ngủ.

Buổi sáng hôm sau, tôi thức dậy đi pha hai ly cà phê rồi mang đến giường cho nàng một ly.

Cass cười. “Anh là người đầu tiên mà em gặp đã từ chối ấy ban đêm.”

“Chẳng có gì quan trọng,” tôi đáp, “mình cũng không nhất thiết phải làm chuyện ấy đâu.”

“Không được, đợi em một chút, em muốn ấy ngay bây giờ. Để em đi trang điểm lại chút đỉnh nhé.”

Cass đi vào phòng tắm. Một lúc sau, bước ra, trông nàng thiệt hết sẩy, mái tóc dài lấp lánh, môi và mắt nàng lấp lánh, cô bé của nàng lấp lánh… Nàng phô bày thân thể của mình một cách hết sức thanh nhã, trầm tĩnh, như thể đó là một điều tốt lành phải làm. Rồi nàng chui vào chăn.

“Anh yêu, vào với em nào!”

Tôi nhiệt tình hưởng ứng.

Nàng hôn tôi với tất cả sự phóng đãng ngọt ngào nhưng không một chút vội vã. Hai bàn tay tôi chạy khắp thân thể nàng, tóc nàng. Rồi tôi bắt đầu leo lên dốc. Cảm giác nóng và bó thít. Rất chậm rãi, tôi thả người nhấp nhô, với mong muốn kéo dài càng lâu chừng nào càng tốt chừng nấy. Mắt nàng nhìn thẳng vào mắt tôi.

“Tên em là gì?”, tôi hỏi.

“Biết tên em hay không biết tên em thì có cái quái gì khác biệt đâu chứ!”, nàng đáp.

Tôi cười rồi tiếp tục cuộc chơi. Sau đó, nàng mặc quần áo rồi tôi đưa nàng trở lại quán rượu đêm trước. Tôi cảm thấy thật khó để quên nàng. Hôm ấy, tôi nghỉ làm và ngủ cho đến 2 giờ trưa. Thức dậy, tôi ngồi đọc báo. Lúc tôi đang nằm trong bồn tắm thì Cass đến, trên tay cầm một chiếc lá thật to – chiếc lá tai voi.

“Em biết anh đang tắm,” nàng bảo, “nên em mang cho anh cái lá to như thế này để anh che cái đó đấy, con người của thiên nhiên ạ!”

Rồi nàng ném chiếc lá vào bồn tắm cho tôi.

“Làm cách nào mà em biết anh đang nằm trong bồn tắm?”

“Em biết mà.”

Hầu như mỗi ngày, Cass đều xuất hiện khi tôi đang ở trong bồn tắm. Thời điểm có thể khác biệt mỗi ngày nhưng ít khi nào nàng lỡ dịp, cùng với chiếc lá tai voi. Và rồi sau đó chúng tôi làm tình.

Cứ một hay hai đêm gì đó, nàng lại điện thoại cho tôi nhờ lãnh nàng ra khỏi bót cảnh sát vì tội say sưa và ẩu đả.

“Mấy cái thằng chó đẻ này,” nàng kể, “chúng nó tưởng hễ cứ bao cho mình được mấy ly rượu là chúng có quyền thọc tay vào quần mình.”

“Một khi em nhận ly rượu từ tay người ta là em đã tự gây rắc rối cho mình rồi.”

“Em tưởng họ thích em, chứ đâu phải thân xác của em?”

“Anh thích cả em lẫn thân xác của em. Dù vậy, anh không tin phần lớn bọn đàn ông sẽ nhìn thấy gì khác ngoài thân xác của em.”

Tôi rời thị trấn, lang thang vô định một thời gian khoảng sáu tháng, rồi trở về. Tôi không bao giờ quên Cass nhưng vì chúng tôi có vài lần cãi cọ không đâu nên tôi nghĩ chúng tôi cũng nên chia tay để ai nấy sống cuộc sống riêng của mình. Khi quay trở lại, tôi đinh ninh Cass không còn ở thị trấn này nữa. Nhưng khi ngồi trong quán Cực Tây được chừng 30 phút thì thấy Cass bước vào. Nàng đến ngồi xuống cạnh tôi.

“Đồ chết tiệt! Anh lại quay về hử?”

Tôi gọi cho nàng một ly rượu. Rồi quay qua quan sát người cũ. Cass mặc một chiếc đầm cổ cao. Trước đây tôi chưa thấy nàng mặc kiểu áo này bao giờ. Và ở dưới mỗi mí mắt là một chiếc kim có đầu bằng thủy tinh ghim vào. Nhìn vào chỉ thấy cái đầu kim làm bằng thủy tinh, còn nguyên cây kim thì nằm dưới da mặt nàng.”

“Đồ quỷ tha ma bắt kia, vẫn cứ tìm mọi cách để hủy hoại nhan sắc của mình phải không?”

“Đồ ngốc, đó là mốt đấy!”

“Thiệt điên rồ hết biết!”

“Em nhớ anh quá thể,” nàng bảo.

“Em có đang cặp với ai khác không?”

“Không, chẳng có ai hết. Chỉ mình anh thôi. Nhưng hiện tại thì em đang rất cần tiền. 10 đô la một lần tiếp. Nhưng với anh thì khỏi phải trả.”

“Lôi phứt mấy cái kim đó ra đi!”

“Không, đó là mốt.”

“Nhìn thấy chúng anh không cảm thấy thoải mái chút nào.”

“Anh nói thật không?”

“Con bà nó, thật chứ giỡn à!”

Cass từ từ rút hai cây kim ra rồi bỏ chúng vào trong túi xách.

“Sao em cứ phải hành hạ sắc đẹp của mình?” tôi hỏi, “Sao em không cố thử sống với nó, để cho nó yên?”

“Bởi vì người ta nghĩ rằng em chỉ có sắc đẹp thôi. Nhan sắc một người chẳng là gì hết, nó không ở mãi với người ấy. Anh không nhận ra được anh là một người may mắn biết là dường nào khi anh có khuôn mặt xấu xí hay sao? Nếu người ta thích anh, anh biết sự ưa thích ấy là vì một cái gì khác trong anh, phải không?”

“Được rồi,” tôi nói, “Anh là người may mắn.”

“Em không nói anh là người xấu xí. Người ta nghĩ anh là người xấu xí. Anh có một khuôn mặt rất lôi cuốn.”

“Cám ơn em!”

Chúng tôi gọi thêm rượu.

“Hiện anh đang làm gì?”, nàng hỏi.

“Không làm gì hết. Anh không thể đụng tay vào bất cứ việc gì. Chẳng có chút hứng thú nào.”

“Em cũng vậy. Nếu là đàn bà, anh có thể bán trôn để kiếm tiền.”

“Anh không nghĩ mình chịu đựng được sự gần gũi thân xác với những người lạ không một chút tình cảm yêu thương. Làm thế thì quá mệt mỏi em ạ.”

“Anh nói đúng. Rất mệt mỏi. Mọi thứ đều mệt mỏi.”

Chúng tôi cùng nhau rời khỏi quán. Mọi người trên đường phố vẫn không thể rời mắt khỏi Cass. Nàng vẫn là một phụ nữ tuyệt đẹp, có lẽ đẹp nhất từ trước tới bây giờ.

Chúng tôi về đến phòng. Tôi mở một chai vang và tiếp tục chuyện vãn. Giữa tôi và Cass, câu chuyện lúc nào cũng nổ ra dễ dàng. Nàng huyên thuyên một hồi, tôi chỉ lắng nghe. Rồi tới phiên nàng nghe tôi nói. Những mẩu đối thoại trôi chảy không một chút e dè, ngắc ngứ. Có vẻ như chúng tôi đang cùng nhau khám phá ra những bí mật của đời sống. Khi phát hiện ra được một điều mới mẻ hay ho, Cass cười nụ cười của riêng nàng. Và chỉ có Cass mới có được nụ cười sảng khoái như vậy. Đó là niềm vui đến từ một ngọn lửa ấm áp. Trong khi nói chuyện, chúng tôi hôn nhau, ngồi sát vào nhau gần hơn. Rồi đến một lúc chúng tôi mệt mỏi và quyết định lên giường. Lúc đó, Cass cởi chiếc áo đầm cao cổ đang mặc ra và tôi đã nhìn thấy – cái sẹo xấu xí in dấu những đường khâu lởm chởm như răng cưa trên cổ nàng. Vết sẹo khá lớn và lồi hẳn lên.

“Đồ quỷ tha ma bắt kia, con đàn bà kia!” từ giường tôi nói, “Đồ quỷ tha ma bắt, em đã làm gì vậy hả?”

“Một đêm, em thử dùng cái chai vỡ cứa cổ mình. Vậy là anh không còn thích em nữa phải không? Em có còn xinh đẹp nữa không?”

Tôi kéo nàng ngả xuống giường và hôn nàng. Nàng đẩy tôi ra và cười lớn, “Có thằng nó trả trước cho em 10 đô la rồi, đến khi em cởi áo ra thì nó mất hứng bỏ đi. Em vẫn giữ 10 đồng. Mắc cười không chứ!”

“Ừ, mắc cười thật!”, tôi đáp, “Anh không nhịn được cười… Cass, con chó cái đáng yêu kia, anh yêu em… nhưng phải ngưng ngay chuyện tự hủy hoại thân xác mình; em là người phụ nữ sinh động nhất mà anh biết đó.”

Chúng tôi lại hôn nhau. Cass thổn thức khóc, nhưng không gây ra một âm thanh nào hết. Tôi cảm thấy những giọt lệ từ đôi mắt nàng. Mái tóc đen buông dài sau lưng tôi như một lá cờ lệnh của thần chết. Chúng tôi ôm nhau, từ tốn và ủ rũ làm tình nhưng là một cuộc ân ái không kém phần tuyệt vời.

Buổi sáng, Cass thức dậy trước chuẩn bị điểm tâm. Nàng trông có vẻ hạnh phúc và an lạc. Nàng còn hát nữa. Tôi nán lại trên giường, tự nhấm nháp cơn hạnh phúc của Cass. Cuối cùng, nàng bước đến giường, lay tôi dậy, “Dậy thôi, đồ chết tiệt! Dậy đi vã ít nước lạnh lên mặt, lên thằng nhỏ của anh rồi còn ra thưởng thức đại tiệc.”

Hôm đó, tôi đưa nàng ra biển. Vì là một ngày thường trong tuần và cũng chưa phải mùa hè nên bãi biển vắng tanh vắng ngắt. Đám vô công rồi nghề ăn mặc rách rưới nằm ngủ trên những bãi cỏ sát bờ biển. Một số ngồi trên các băng đá chia nhau một chai rượu độc nhất. Lũ mòng biển bay lượn vòng vòng, chẳng để làm gì nhưng khiến người ngồi đó chỉ để nhìn biển bị chia trí. Mấy bà già khoảng 70 tuổi, 80 tuổi chụm lại với nhau trên băng đá bàn chuyện làm sao thanh toán được mớ bất động sản để lại từ những ông chồng chết rũ từ lâu vì ăn chơi phóng đãng và cả vì sự ngu xuẩn của việc tìm cách níu kéo sự sống. Phảng phất chung quanh tất cả những người hiện diện trên biển hôm ấy, có một không khí an bình lan tỏa. Chúng tôi dạo chơi, nằm duỗi người trên cỏ và không ai nói gì nhiều. Đơn giản là vì chỉ ở bên cạnh nhau thôi chúng tôi đã cảm thấy thỏa mãn. Tôi mua hai cái bánh sandwiches, một ít khoai tây chiên và thức uống rồi ngồi bệt trên cát ăn uống. Ăn xong, tôi ôm Cass ngủ ngon lành độ chừng một tiếng. Thức dậy, tôi có cảm giác “đã” hơn cả làm tình. Dường như chúng tôi đã được hóa lỏng và đan quyện vào nhau không một chút gượng ép, cố gắng. Sau đó, chúng tôi lên xe về lại chỗ tôi ở. Tôi lo chuẩn bị nấu bữa ăn chiều. Ăn cơm xong, tôi đề nghị với Cass hay là chúng mình xáp lại góp gạo thổi cơm chung. Nghe xong, Cass không nói gì, chỉ lẳng lặng nhìn tôi một lúc lâu rồi chậm rãi đáp gọn lỏn “Không”. Tôi ra lấy xe đưa nàng về quán, mua cho nàng một ly rượu rồi đi về. Ngày kế tiếp, tôi tìm được việc làm đóng gói ở một xí nghiệp trong thị trấn. Suốt cả tuần sau đó, tôi phải đi làm. Tôi quá mệt mỏi vì công việc nhưng tối thứ sáu tuần đó, tôi vẫn ra quán Cực Tây uống rượu. Tôi ngồi và chờ cho Cass xuất hiện. Hàng giờ trôi qua vẫn không thấy nàng. Sau khi tôi đã ngà ngà say, người pha rượu ở quầy chạy đến nói với tôi, “Chia buồn với anh về người bạn gái của anh nhé!

“Cái gì vậy?”, tôi hỏi lại.

“Ồ, xin lỗi anh. Anh không biết gì hết à?”

“Không”

“Tự tử. Mới chôn cất hôm qua.”

“Chôn cất?”, tôi hỏi. Tôi có cảm tưởng nàng sẽ bước qua cái cửa kia để đến ngồi bên tôi bất cứ lúc nào mà. Làm sao mà bảo nàng đã chết rồi cho được chứ?

“Mấy người chị của cô ấy đã lo việc chôn cất.”

“Tự tử à? Anh vui lòng nói rõ thêm cho tôi biết được không?”

“Cô ấy tự cắt đứt cổ họng mình.”

“À ra thế. Cho tôi một ly nữa nghe.”

Tôi cứ ngồi uống cho đến giờ quán đóng cửa. Cass là cô gái xinh đẹp nhất trong năm chị em gái, là cô gái xinh đẹp nhất của thị trấn. Tôi xoay sở lái xe về tới phòng, đầu cứ mải suy nghĩ, lẽ ra tôi nên khăng khăng yêu cầu nàng đến ở chung với tôi thay vì chấp nhận một tiếng “Không” cụt ngủn. Tất cả những gì ở nàng đều cho thấy là nàng rất quan tâm, rất yêu đời. Tôi đã quá hời hợt, vô tâm, lười biếng, quá dửng dưng với mọi chuyện. Tôi đáng để chết cái chết của mình cả cái chết của nàng. Tôi là một con chó. Không được, sao lại đổ lỗi lên đầu mấy con chó? Tôi đứng dậy, lục tìm một chai vang, mở nắp và tu ừng ực.

Cass, cô gái xinh đẹp nhất thị trấn đã chết ở tuổi 20.

Bên ngoài, có ai đó nhấn kèn xe. Âm thanh rất lớn và kéo dài. Tôi đặt chai rượu xuống, hét to: “Quỷ tha ma bắt mày đi, đồ chó đẻ, câm mồm ngay!”

Đêm vẫn cứ dài thêm và tôi đành bất lực, chẳng biết sẽ làm gì.

Nguyên tác: THE MOST BEAUTIFUL WOMAN IN TOWN, Trích trong tập truyện ngắn The Most Beautiful Woman in Town & Other Stories của Charles Bukowski do nhà xuất bản City Lights Books ấn hành (1988).

*Zygmunt Bukowski, họa sĩ người Ba Lan không có liên hệ gì tới Charles Bukowski, nhà văn.

Elon Musk và cưa máy

dongsongcu.wordpress.com

Posted on March 13, 2025 by dongsongcu

Bông Lau

Post by Sơn râu 20 Mar 2025

Cách đây mấy hôm mình đón coi Tổng Thống (TT) Trump đọc diễn văn trước lưỡng đảng ở Quốc Hội.

Đang chăm chú nghe, đến đoạn ông Trump nói chính phủ Hoa Kỳ đã tìm ra sự gian lận ở cơ quan lo về an sinh xã hội. Có mấy chục triệu người (không nhớ con số chính xác) trên 100 tuổi vẫn còn nhận tiền trợ cấp chính phủ. Có mấy triệu trên 160 tuổi, có một người 300 tuổi v.v… Tổng Thống Trump mỉa mai người dân Mỹ sống lâu vì khỏe mạnh, và nhiều người cười rộ thích chí. Có lẽ đây là báo cáo của ông Elon Musk.

Xạ thủ đã không cười rộ mà im lặng tắt TV rồi đi ngủ để lấy sức đi cày sáng hôm sau kiếm cơm. Mình không thể tiêu hóa các lời kết án mà không có bằng chứng. Hy zọng Tổng Thống Trump sớm công bố chi tiết các khám phá bằng các bản sao copy hồ sơ gian lận cho lưỡng đảng Quốc Hội duyệt xét, và đề cử một ủy ban độc lập điều tra và truy tố để coi ai là thủ phạm. Khi đó xạ thủ sẽ tin và chân thành cám ơn Tổng Thống.

Mình nói rất nhiều lần trên Facebook rồi. Xạ thủ không phải là tín đồ của thuyết âm mưu. Cho dù thuyết đó đến từ đảng Cộng Hòa hay Dân Chủ.

Hiện nay quân đội và nhân viên Liên Bang ngấm ngầm bất mãn nhưng không nói ra. Nhiều người trước đây đã ủng hộ bầu cho TT Trump. Hình ảnh ông Elon Musk cầm cưa máy múa may đòi cắt bỏ bộ máy chính quyền làm nhiều người bị phản cảm. Làm bộ máy rườm rà quan lại của chính quyền nhỏ hơn và hiệu năng hơn là cần thiết. Nhưng ông Elon Musk không làm điều đó mà đang phá hủy một cơ cấu phục vụ cho quốc gia và cho người dân Mỹ.

Mấy hôm nay báo chí loan tin rầm rộ là đang có sự chống đối nảy lửa của các Bộ Trưởng với ông Elon Musk. Đặc biệt là lời qua tiếng lại của Ngoại trưởng Marco Rubio với Elon Musk. Nghe nói TT Trump binh vực Ngoại trưởng Rubio, nhưng khi họp báo bị ký giả đặt câu hỏi về sự xung đột cãi vã thì TT Trump phủ nhận nói hỏng có choảng nhau (clashed) gì ráo.

Bản chất của Ngoại trưởng Marco Rubio là không cuồng chủ thuyết MAGA. Ông Rubio có một quá trình chống Nga, vì quê hương của ông là Cuba đã bị cộng sản Liên Xô giúp Fidel Castro nhuộm đỏ hòn đảo xinh đẹp này. Ông là gốc tị nạn cộng sản như bao con dân Việt Nam Cộng Hòa khác, nên ông theo chủ thuyết Reagan là Hoa Kỳ phải bung ra giúp các dân tộc bất hạnh đấu tranh chống cộng sản và độc tài. Ngoại trưởng Marco Rubio cũng đã từng nhiệt tình ủng hộ Ukraine chiến đấu chống Nga.

Nhưng sau vụ TT Volodymyr Zelensky cãi vã ở Tòa Bạch Ốc mấy tuần trước, Rubio thay đổi thái độ, lạnh lùng nói như cái máy lên án TT Zelensky, làm nhiều người trước đây ngưỡng mộ ông nay thất vọng và ngao ngán. Và không ai biết bên trong nội các của TT Donald Trump có những bất hòa như thế nào.

Có thể ông Rubio phải đóng kịch nói hùa theo để khỏi bị sa thải như trường hợp Ngoại trưởng Rex Tillerson (2017-2018) dưới nhiệm kỳ 1 của TT Trump. Ngoại trưởng Rex Tillerson được TT Trump bổ nhiệm, nhưng chỉ một thời gian ngắn sau ông bị cô lập. Ngoại trưởng Rex Tillerson có phát biểu nói TT Trump “dốt”. Sau đó ông đã bị cách chức đuổi về vườn.

Ngoại trưởng Marco Rubio chỉ mới nhậm chức mới hơn một tháng nên chưa muốn nổ sảng để bị đuổi như ông Rex Tillerson chăng? Rex Tillerson là một Hướng Đạo Sinh có bằng Eagle Scout cao quý nhứt, nên là con người khẳng khái danh dự. Còn Ngoại trưởng Marco Rubio là một thượng nghị sĩ, là một cựu ứng viên Tổng Thống có nhiều kinh nghiệm thương đau với cựu ứng cử viên TT Donald Trump nên ông khôn hơn, biết luồn lách để sống sót.

Nên khi báo chí loan tin Ngoại trưởng Rubio nổ lớn với ông Elon Musk là điều dễ hiểu thôi. Marco Rubio là Ngoại Trưởng Hoa Kỳ có nhiệm vụ xây dựng mối quan hệ ngoại giao với thế giới. Nhiệm vụ này mâu thuẫn, đi ngược lại chủ thuyết MAGA là co cụm bỏ mặc thế giới bỏ rơi đồng minh của mình.

USAID là cơ quan chi nhánh của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. USAID có hàng ngàn chương trình viện trợ cho nhiều quốc gia nghèo trên thế giới. Ngày xưa thời Việt Nam Cộng Hòa, nhiều người vẫn còn nhớ những bao “gạo Mỹ” viện trợ có dấu hai bàn tay bắt nhau của cơ quan USAID. Nhiều nhân viên USAID đi vào các vùng quê miền Nam để giúp đỡ nông dân Việt Nam. Có một số nhân viên USAID bị Vi Xi bắt vì tưởng lầm là CIA. USAID là hình ảnh nhân đạo độ lượng và hào hiệp của người Mỹ, nhưng MAGA không chấp nhận những điều đó và dùng những dữ kiện tiêu cực riêng rẽ để triệt hạ USAID.

Ngoại trưởng Marco Rubio có lẽ đã không vui, nhưng nhẫn nhục nhìn USAID bốc hơi dưới bàn tay sát thủ của Elon Musk. Nhưng hiện nay nhiều Bộ trưởng đã bắt đầu phản công chống lại ông Elon Musk. Họ chống vì nhân viên liên bang bị khủng bố mất tinh thần mất sự hăng say để phục vụ quốc gia. Họ chống vì quần chúng Mỹ bắt đầu phẫn nộ vì hệ thống chính quyền liên bang tê liệt không phục vụ họ hữu hiệu như lúc trước.

Sean Duffy là Bộ Trưởng Giao Thông được TT Trump đề cử. Sean Duffy từng là dân biểu Cộng Hòa ở Wisconsin và cũng từng giữ chức Luật sư chính phủ của hệ thống Liên Bang.

Bộ trưởng Sean Duffy tức giận phản đối khi Elon Musk tìm cách sa thải nhân viên của FAA (Cơ quan Hàng không Liên Bang – Federal Aviation Administration) của mình. Sean Duffy nói “Tôi đang có nhiều tai nạn máy bay, thì giờ họ muốn sa thải nhân viên đài không lưu”. Thì ra chính Elon Musk đã đưa tin vịt cho TT Trump là FAA có nhiều người da màu. Nhân cơ hội một chiếc trực thăng Black Hawk đụng vào chiếc máy bay hàng không của American Airline ở Washington DC làm tất cả mọi người tử nạn. Khi đó TT Trump có tuyên bố tào lao và đổ thừa cho FAA và muốn tế thần cơ quan này.

Mình không biết các cơ quan liên bang khác như thế nào mà ông Elon Musk muốn tiêu diệt. Nhưng chắc chắn FAA là một cơ quan rất hữu ích cho quốc gia. Bởi vì xạ thủ là một phi công.

Những khi đi bay bất cứ lúc nào, 24/7 cho dù thời tiết xấu mây mù bão tố. Mình luôn luôn có một bản ghi các tần số của ATC (air traffic control – đài không lưu) cột chặt nơi đùi, và một cái đèn pin ánh sáng đỏ gắn trên đầu để đọc các tần số. Khi bay đơn độc trong không gian mờ mịt đêm khuya, chỉ cần bấm nút máy vô tuyến gọi đài không lưu là ngay tức khắc nghe một nhân viên không lưu trả lời làm mình cảm thấy an lòng. Xạ thủ nhờ họ theo dõi máy bay mình trên màn ảnh radar, nhờ họ coi phía trước có mây mù hay không và độ dày của lớp mây v.v… (phi cụ hiện nay tối tân hơn, phi công có thể thấy chi tiết của mây trên màn ảnh của máy bay).

Có một lần đáp xuống một phi trường lúc tối khuya và hấp tấp phải cất cánh đi liền nên quên báo cáo cho ATC là đã đáp ở phi trường đó. Đài không lưu khi không nghe báo cáo nên họ đã gọi điện thoại tới phi trường đó hỏi quý vị có thấy chiếc máy bay số ### đã đáp ở đó chưa. Phi trường xác nhận có thấy chiếc ### đáp nhưng xin đi ngay chớ hỏng vào phi cảng. Nếu phi trường đó nói hỏng thấy chiếc ### nào tới đây cả thì ngay lập tức ATC sẽ báo động và bắt đầu một cuộc tìm kiếm chiếc ### đã mất tích trên tuyến bay đó.

Nhân viên đài không lưu làm việc cẩn thận như thế đó. Qua tần số vô tuyến xạ thủ nghe họ nói tiếng Anh lưu loát không nói ngọng như một số người thiểu số. Cho nên chụp mũ nói FAA không có khả năng vì thuê người da màu là thuyết âm mưu đầy kỳ thị và ác ý.

FAA điều hành các đài không lưu trên khắp lục địa Hoa Kỳ để giữ an toàn cho các máy bay và hành khách. Huấn luyện đào tạo nhân viên đài không lưu không dễ và đòi hỏi thời gian. Sa thải họ thì lấy đâu ra người để thay thế ngay được. Mỗi nhân viên ATC phải theo dõi hướng dẫn cả chục chiếc máy bay. Giờ nếu đuổi việc họ thì những nhân viên còn lại sẽ phải theo dõi mấy chục chiếc máy bay thì tai nạn sẽ xảy ra thường xuyên hơn. Chỉ có đám cuồng MAGA mới lú lẫn làm chuyện tào lao này.

FAA không những chỉ có đài không lưu. Máy bay mỗi năm định kỳ phải có chuyên viên cơ khí FAA khám xét mở tung máy bay ra để thay thế các bộ phận cũ. Nhiều khi thấy còn mới nhưng hết hạn thì phải thay, nếu hỏng thay thì sẽ không được cấp giấy phép bay.

Phi công thì định kỳ 6 tháng, một năm, tùy loại phi công, phải đi khám sức khỏe với một bác sĩ của FAA để coi còn đủ tiêu chuẩn bay hay không. Xạ thủ đi Trung Đông về mắt nhìn xa vẫn tốt nhưng nhìn gần (cận thị) thì có vẻ hơi suy giảm, có lẽ vì thức khuya chong mắt nhìn vào màn ảnh computer nhiều quá. Đi khám bác sĩ FAA thì không đọc được các hàng chữ chút xíu như hột cát, nên cha bác sĩ FAA đuổi về, nói đi khám mắt đeo kiếng quay trở lại khám. Nếu đọc được và qua được các mục khác thì mới cho giấy phép bay. Còn giờ thì chỉ được làm hành khách mà thôi.

Đó là về phi hành (FAA). Còn tàu thủy, xe lửa, xe cộ trên đường xá nữa. Bộ Giao Thông lo về hàng ngàn vấn đề của giao thông ở lục địa Hoa Kỳ. Và đó chỉ là một Bộ tương đối nhỏ, không nổi tiếng và mạnh như Bộ Ngoại Giao và Bộ Quốc Phòng. Cái đám điên khùng MAGA nhào vô tàn sát vì nghĩ rằng sẽ tiết kiệm được một số tiền. Nhưng trên đường dài dân Mỹ sẽ thấy họ sẽ không được bảo vệ nữa.

Tương tự trong cộng đồng thế giới, nước Mỹ sẽ đơn độc một mình không có đồng minh nhảy vào giúp quánh tiêu diệt khủng bố. Các nơi du lịch sẽ đóng cửa vì nhân viên bảo vệ công viên quốc gia đã bị sa thải. Cựu chiến binh trở về thương tật và tuổi già sẽ không được giúp, vì hàng ngàn nhân viên Bộ Cựu Chiến Binh đã bị sa thải.

TT Trump và Elon Musk là tỉ phú, là nhà kinh doanh mua bán địa ốc và chế tạo hỏa tiễn xe hơi v.v…Họ có thể thành công trong lãnh vực kiếm tiền, nhưng họ sống trong ốc đảo tiện nghi và chưa có kinh nghiệm, hay đúng ra là chưa hiểu yếu tố con người bằng các ông Bộ trưởng – vốn là những nhà lập pháp phải thường nghe các nguyện vọng của người dân, và điều quan trọng là họ hiểu luật và Hiến Pháp Hoa Kỳ hơn.

Bởi vậy không lạ khi thấy các ông Bộ Trưởng chống đối một nhân vật chưa có kinh nghiệm điều hành quốc gia là gì, mà đứng cầm cưa máy múa may đòi hủy diệt hệ thống liên bang đã được xây dựng trăm năm nay. Hiện tượng chống đối này là điều lạc quan, vì một số Bộ Trưởng dù là Cộng Hòa do TT Trump tiến cử, nhưng họ đã không mù lòa a dua bầy đàn nâng bi hùa theo một chính sách cực đoan tào lao. Xin nghiêng mình chào kính sự liêm sỉ của các quý vị ấy.

Chiến tranh bên cạnh, tình yêu

baovecovang2012.wordpress.com

Huy Van Truong

Posted on December 6, 2023 by Lê Thy

Post by Sơn râu 20 Mar 2025

Tập 4

Boat people

Chương 37

Đất nước mang mặt nạ

Sau hơn một năm học tập cải tạo tại Tổng trại 8 tù binh Sông Mao, tôi được Cộng Sản cho về đoàn tụ với gia đình, kèm theo cái án quản chế một năm ghi ở cuối tờ giấy phóng thích.Với cái án này, cuộc sống hàng ngày của tôi bị gò bó trong một khuôn khổ nhất định, nó chật hẹp, tù túng đến nghẹt thở, nhiều lúc tôi có cảm tưởng như mình đang bị bó tay, cột chân rồi nhốt trong một cái cũi. Suốt mấy tuần lễ đầu tôi sống loay hoay trong cái vòng lẩn quẩn, với số tiền mà vợ tôi đang có trong tay, thừa sức bảo đảm cho gia đình tôi có một cuộc sống an nhàn, mà không cần phải làm gì cả. Tuy nhiên theo lý thuyết của Cộng Sản, Xã Hội Chủ Nghĩa là một xã hội không có chuyện ngồi mát ăn bát vàng, những gia đình nào không trực tiếp lao động sản xuất đều bị đưa đi tái định cư tại vùng kinh tế mới. Ba chữ kinh tế mới là một cách nói để lừa dân, mà thực chất là chính sách đem con bỏ chợ của Cộng Sản, quăng người ta vào những nơi rừng thiêng nước độc, rồi bỏ mặc trong đó. Người dân nếu có bị đói rét, bệnh tật hay đau yếu, thì phải gắng mà tự lo liệu lấy thân, không phải là chuyện của nhà nước.

Muốn được sống tại thành phố, tôi chỉ còn một con đường duy nhất là ngày ngày phải đi lao động sản xuất lại mảnh vườn của mình ở Đa Thiện. Vào khoảng cuối năm 1976, tôi nghe phong phanh đâu đó, người dân trong chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa được chia ra làm 13 hay 16 bậc. Sĩ quan Ngụy cải tạo trở về chưa có quyền công dân nên không có tên trong bản phân chia giai cấp nói trên.

Biết mình hết đường vùng vẫy, tôi sống im lặng nhẫn nhục cho qua ngày đoạn tháng, sống như một cái bóng mờ, đứng bên lề xã hội, cho dù đó là một cái xã hội man rợ của thời trung cổ. Tôi sống mà lúc nào cũng phải tuân theo đúng mọi luật lệ khắt khe, nghiệt ngã, của công an khu vực và sự kềm kẹp vô lý của bộ ba tổ trưởng dân phố, tổ phó, tổ phó an ninh.

Mới có hơn một năm sống dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, tôi thấy được một điều, tất cả mọi người từ dân đen cho đến ông Tổng Bí Thư của Đảng Cộng Sản, Chủ Tịch nước, Thủ Tướng, tất cả đều phải mang mặt nạ. Có hàng trăm loại mặt nạ khác nhau, Ngài Tổng Bí Thư chẳng hạn, ông là người buôn dân hại nước nhưng khi xuất hiện trước công chúng, ông ta mang cái mặt nạ “Thanh liêm đạo đức”. Ngài Thủ Tướng lẳng lặng bán nước cho Tàu cộng, nhưng khi nói chuyện với mọi người, Ngài mang cái mặt nạ “Vì dân vì nước.” Ở một đất nước mà chính quyền cai trị dân dựa trên căn bản lừa dối, người dân của nước đó muốn sống còn, họ phải ăn gian nói dối với chính quyền thôi. Theo gương các vị lãnh tụ, cá nhân tôi ngay cửa ra vào nhà, tôi treo một cái bị rồi tưởng tượng trong đó có một mớ mặt nạ. Khi bước chân ra khỏi nhà, tôi đeo cái bị vào cổ rồi tự hỏi mình “Hôm nay mình đi đâu? Gặp ai? Làm gì?” Nếu đi gặp bà tổ trưởng, tôi đeo cái mặt nạ “Quỵ lụy xin xỏ”. Nếu đi gặp công an khu vực, công an phường, tôi đeo cái mặt nạ “Gọi dạ bảo vâng”. Bài học quý giá ở trong tù cải tạo còn đó, nhiều vị sĩ quan tánh tình cương trực, thẳng thắn, nhất định không chịu khuất phục trước sự tuyên truyền dối trá, lừa đảo của Việt Cộng, không chịu đeo mặt nạ. Họ đã chống đối, phản kháng, tìm cách vượt ngục, hình phạt dành cho họ là bỏ đói, hành hạ tra tấn dã man cho đến chết và sau đó là một phát súng ân huệ.

Một ngày trong đời sống quản chế của tôi xem ra chẳng có gì đáng nói, nó đều đặn, trầm lặng, như tiếng nước suối chảy róc rách trên nguồn. Sau một ngày tiếp xúc với xã hội bên ngoài, khi về đến nhà tôi cất mấy cái mặt nạ vào túi, treo lên cây đinh nơi cửa để ngày mai dùng lại.

Ở trong nhà với cha mẹ, vợ con, anh em, tôi không đeo mặt nạ, lúc bấy giờ tôi mới trở lại chính là tôi. Buổi sáng thức dậy, tôi rủng ra rủng rỉnh ngồi ăn sáng với vợ, chơi đùa với con. Thức ăn sáng của chúng tôi thường thì có bánh mì thịt hoặc trứng ốp la, khi thì bún bò do vợ tôi nấu, sau đó tôi ung dung nhấp từng ngụm cà phê sữa béo ngọt, thơm lừng. Sau bữa ăn sáng đầy đủ chất dinh dưỡng, tôi mang cái mặt nạ vào rồi đi qua gõ cửa nhà bà tổ trưởng, xin chữ ký cho phép đi làm lao động ở vườn rau tại Đa Thiện. Nhìn cái bản mặt đầy đau khổ của tôi, bà tổ trưởng vui vẻ ký vào sổ như là đã ban phát ân huệ cho một tên tiện dân nghèo đói, khốn khó.

8 giờ sáng, tôi đi ra Đa Thiện làm vườn, làm lao động để tạo ra của cải vật chất theo đúng chủ trương, đường lối, chính sách, của Đảng và nhà nước. Chiếc xe Honda mà tôi mua đâu khoảng năm 1973 hãy còn khá mới, được lau chùi sạch sẽ để ở nhà làm cảnh. Sĩ quan Ngụy vừa mới ở tù về, đang bị quản chế mà cỡi Honda đi làm vườn, khác nào cái gai nhọn đâm vô mắt tên công an khu vực. Để được an thân, tôi chọn cách dùng chiếc xe đạp cà tàng đi làm và coi đó là phương tiện di chuyển hợp lý nhất.

Từ nhà tôi tới vườn, đường dài khoảng chừng 4 cây số, tôi vừa đạp xe vừa mơ màng nghĩ đến một ngày nào đó vượt biên thành công đến được nước Mỹ. Mơ mơ mộng mộng tôi đã đạp xe đến vườn lúc nào không hay. Tại vườn, việc đầu tiên là tôi đi tìm ông tổ phó an ninh để xin chữ ký là đã đến nơi làm việc. Lúc này nắng đã lên khá cao, tỏa ánh sáng chói lòa xuống cả một vùng thung lũng đầy những vườn rau xanh ngắt. Mọi người dân làm vườn ở đây đều thức dậy từ tờ mờ sáng, đã tưới tắm xong xuôi khu vườn của họ. Riêng tôi cho tới lúc này, mới từ tốn quay cái máy bơm nước chạy bằng dầu cặn hiệu Yanmar, tưới nước cho mấy ngàn cây bắp sú của mình. Vì tưới nước trái giờ như vậy nên rau tôi trồng không được xanh tươi, tốt đẹp, như những vườn rau chung quanh. Hàng ngày tôi chỉ làm có mỗi một việc là tưới cây, những chuyện nặng nhọc khác như cuốc lật đất, bón phân cá, dọn cỏ, xịt thuốc trừ sâu, Cúc đã thuê người chăm lo.

Trưa đến, tôi đi vào trong căn nhà nhỏ với diện tích chừng 20 mét vuông, căn nhà này Cúc thuê người dựng tạm lên ở cuối vườn, gần cái máy bơm nước, dùng để nghỉ ngơi và có chỗ ăn trưa. Sau khi rửa tay chân sạch sẽ, tôi soạn cái gà men cơm để lên bàn, Cúc đã làm sẵn cho tôi cơm canh, thịt cá, thức ăn phải nói là quá dư thừa cho một người. Tôi cắm cái bếp điện hâm nóng thức ăn. Bị ám ảnh suốt cả năm với cái đói ở trong tù, tôi xới một chén cơm trắng đầy vun, gắp miếng thịt kho trứng béo ngậy, rồi nhai chầm chậm. Tôi nhai hoài nhai mãi mà không nuốt được miếng cơm vì hình ảnh đói khát của Sơn Fulro, Trung úy Lợi và những người bạn tù cứ lẩn quẩn trong đầu, khiến tôi thấy mình như mắc nghẹn trong cổ. Cuối cùng tôi phải húp một miếng canh, nước canh cuốn trôi đi hình ảnh trại tù cải tạo, với những đói khát, nhọc nhằn mất hút trong trí nhớ. Xong bữa ăn trưa, tôi nấu nước sôi pha một ly trà, thong thả thưởng thức cái hương vị đậm đà của trà cũng như cái hậu ngòn ngọt của nó, rồi đánh một giấc thoải mái cho đến 2 hay 3 giờ chiều. Giờ này là giờ tôi phải đi tìm ông tổ phó an ninh để xin chữ ký. Để trễ hơn lỡ ông ta bận việc đi đâu mất, mình phải đợi tới khuya. Nói như vậy chứ nếu có việc, ông tổ phó thường ký cho tôi một lần hai chữ ký. Buổi chiều khi về đến nhà, tôi lại lò dò qua nhà bà tổ trưởng xin chữ ký và báo cáo mọi việc tôi đã làm trong ngày. Chuyện sau cùng là tôi kiểm soát lại, mình đã xin đầy đủ bốn chữ ký hay chưa. Những công việc này, tôi lập đi lập lại hàng ngày đều đặn như tiếng kêu tíc tắc, êm ái, của một cái đồng hồ Thụy Sĩ.

Một tuần làm việc qua đi, cuối tuần tôi lại chuẩn bị sẵn sàng một gà men cơm, trong đó cơm thì ít nhưng khoai mì và bo bo thì nhiều, cộng thêm một gói muối đậu, một chai nước lạnh, đi làm lao động không công, góp sức xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa, theo lệnh của công an khu vực và tổ trưởng dân phố. Cách vài tuần lại có một lần đi làm lao động xa nhà, dưới sự hướng dẫn của cán bộ Phường, tôi cùng tất cả sĩ quan Ngụy đang bị quản chế tại thành phố Đà Lạt, khăn gói quả mướp, gạo, mắm, muối, lội bộ vào khu kinh tế mới Tà Nung cách Đà Lạt khoảng hơn 10 cây số đường rừng. Tại đây, suốt hai ngày thứ bảy và chủ nhật, chúng tôi khai hoang, phát cỏ, trồng khoai lang và khoai mì. Sĩ quan Ngụy bị quản chế như chúng tôi, mang cơm nhà đi lao động sản xuất, đến khi thu hoạch mùa màng sẽ do nhà nước quản lý, đó là chân lý của Xã Hội Chủ Nghĩa và chân lý đó không bao giờ thay đổi.

Tôi thi hành lệnh quản chế nghiêm chỉnh, không một chút sai sót với hy vọng sẽ được giải chế, chấm dứt chuyện một ngày phải lặn lội đi xin cho đủ bốn chữ ký. Và điều quan trọng nhất mà tôi mong đợi là khi được giải chế, mình có thể lên Phường, xin công an tờ giấy phép đi ra khỏi tỉnh. Tuy nhiên, nếu xin phép đi xuống những thành phố ở vùng duyên hải, chuyện cấp phép sẽ khó khăn hơn nhiều. Lý do thì mọi người đều hiểu rõ.

Một năm trôi qua lẹ như cái chớp mắt, mới đó mà đã đến ngày tôi được giải chế. Tối hôm ấy, tôi ăn mặc chỉnh tề đứng trước mặt mấy chục gia đình trong tổ dân phố, trên bục cao là bàn chủ tọa đoàn gồm có công an khu vực, bộ ba tam đầu chế, thư ký. Sau khi ho nhẹ vài tiếng để lấy giọng, tôi đọc to tờ tổng kết thành tích lao động cùng những công tác Xã Hội Chủ Nghĩa, mà tôi đã làm trong suốt một năm vừa qua. Khi tôi vừa dứt lời, mọi người trong tổ dân phố xì xào bàn tán xôn xao, một vài giọng nói vang lên “Cho giải chế là phải, hành hạ người ta cả năm cũng đủ rồi”.

Tôi chưa kịp vui mừng, đã thấy tên công an khu vực đứng lên, hắn đưa tay ra dấu cho mọi người hãy giữ im lặng. Tên công an đảo mắt nhìn quanh, khi thấy mọi người đều đồng lòng ủng hộ thằng sĩ quan Ngụy ác ôn, gương mặt của hắn bỗng trở nên lầm lì. Giận cá chém thớt, tên công an khu vực bèn ưu ái tặng thêm cho tôi một năm quản chế nữa, lý do hắn ta đưa ra rất giản dị “Một năm qua, đương sự tuy có chấp hành nghiêm chỉnh mọi chỉ thị của nhà nước, lao động tốt nhưng về mặt tư tưởng thì không có chút tiến bộ nào. Bác Hồ có nói, Xã Hội Chủ Nghĩa của chúng ta cần người hồng hơn chuyên”.

Khi nghe tên công an tuyên bố như trên, tôi tự phản tỉnh, phân tích phần nội tâm của mình. Cho đến ngày hôm nay, tôi chỉ mới sống dưới chế độ cai trị của Cộng Sản được hơn hai năm, trong đó có một năm hai tháng là ở tù cải tạo, một năm quản chế tại địa phương. Với một khoảng thời gian ngắn ngủi như vậy, đầu óc của tôi chưa kịp thấm nhuần tư tưởng cũng như đạo đức cách mạng, thì làm sao tôi có thể chấp nhận ngày 30 tháng tư, là ngày giải phóng. Với tôi cho đến ngày nhắm mắt lìa đời, 30 tháng tư là ngày Đảng Cộng Sản đã dùng bạo lực để cướp Miền Nam Việt Nam, đặt cả nước Việt Nam dưới sự cai trị độc tài của một cái đảng không khác gì bọn thổ phỉ. Vì suy nghĩ như vậy nên tôi phải công nhận rằng, tên công an khu vực nói đúng một trăm phần trăm tư tưởng trong đầu của tôi. Hơn ai hết, tên công an này biết rõ tôi và mọi người dân đều mặc áo giấy, mang mặt nạ, chuyện lột mặt nạ của tôi, quá dễ dàng đối với hắn. Tâm phục khẩu phục, tôi vui vẻ ôm thêm một năm quản chế nữa.

Biết tôi không được giải chế, gương mặt của Cúc buồn thấy rõ rồi nói với tôi.

-Anh à, họ cứ cột chân của anh như vậy thì làm sao mình có thể về Sài Gòn, tìm đường vượt biên. Hôm qua em nghe đài BBC, có một gia đình gồm mười tám người đi trên một chiếc ghe nhỏ, vượt biển đến Úc Châu xin tỵ nạn chính trị.

Tôi an ủi Cúc.

-Hãy gắng chờ đi em, hy vọng năm tới anh sẽ được giải chế, lúc bấy giờ mình hãy tính.

Cúc bàn với tôi.

-Em đang tính chuyện sẽ dùng tiền lo lót, để tên công an khu vực giải chế cho anh. Không biết em tính như vậy có được không?

Tôi hăng hái trả lời Cúc.

-Được quá đi chớ, nhưng mà mình phải tuyệt đối cẩn thận, đừng có để chuyện tiền mất tật mang thì không tốt chút nào.

Chần chừ một lúc, Cúc cho tôi biết kế hoạch mà chúng tôi phải làm trong những ngày sắp tới. Trước hết, phải tăng phần lo lót quà tặng cho bộ ba tam đầu chế, sau đó mình sẽ gặp riêng tên công an khu vực, giúi cho hắn một cái đồng hồ hoặc một cái radio với điều kiện là năm tới, hắn phải đồng ý giải chế cho anh.

Sợ tôi không hiểu hết ý của mình, Cúc nói.

-Thực ra tên công an khu vực muốn bao nhiêu tiền, mình đều có thể cho nó được. Vì việc giải chế cho một sĩ quan Ngụy, tất cả đều do công an khu vực quyết định, nhưng nếu mình đưa quá nhiều tiền, hắn sẽ đâm ra ngờ vực, tìm hiểu về nguồn tài chánh của mình.

Tôi góp ý với Cúc.

-Em nói đúng, suốt năm qua cứ một, hai tuần, anh đưa cho tên công an khu vực một gói thuốc lá, đút lót kiểu như vậy đúng là không đủ nhét kẽ răng của con cọp, của một tên công an khu vực, có toàn quyền sinh sát trong tay. Đúng không?

Cúc gật đầu.

-Đúng vậy tụi mình ngu thiệt. Nếu mình lo lót nhiều từ năm ngoái, biết đâu anh đã được giải chế rồi.

Không được giải chế, tôi lại tà tà đạp xe đi làm vườn mà thực chất là đi xin chữ ký, chứng minh mình có làm việc. Xét ra việc tôi bị quản chế, không ít thì nhiều cũng giúp cho bà tổ trưởng, tổ phó, tổ phó an ninh cũng như tên công an khu vực, có thêm chút bận rộn, thêm công ăn việc làm.

Khoảng một tháng sau đó, theo đúng kế hoạch, vào một buổi tối nhân dịp tên công an khu vực đi thăm hỏi người dân trong tổ dân phố, mà thực chất là đi kiểm soát an ninh, tôi trịnh trọng mời hắn nán lại nhà một chút, uống ly trà rồi hãy về.

Thấy tên công an chừng như vẫn còn do dự, tôi vội nói.

-Thưa anh, vợ chồng tôi có chút quà mọn tặng anh, để cảm ơn lòng tốt mà anh đã dành cho gia đình chúng tôi.

Nghe tôi nói, tên công an đặt cái sắc cốt lên chiếc ghế sofa sau đó y khoan thai ngồi xuống.

-Có chuyện gì anh cứ nói đi.

Tôi thong thả rót nước trà vào ly, đợi cho hắn uống một hơi rồi mới nói.

-Chẳng giấu gì anh, vợ chồng tôi mang ơn anh rất nhiều, không biết lấy gì mà đền đáp.

Vừa nói tôi vừa lấy gói quà nhỏ, đựng cái đồng hồ Seiko 5 đưa cho anh ta.

-Chút quà mọn xin anh vui lòng nhận cho, tiện thể lần tới xin anh nới tay “giơ cao đánh khẽ” giúp cho tôi được giải chế.

Liếc mắt nhìn quanh, khi không thấy ai, tên công an khu vực lẹ làng nhét cái hộp quà vào sắc cốt rồi hấp tấp ra về.

Những tuần lễ sau đó, khi tôi đọc kiểm điểm hàng tuần trước tổ dân phố, thái độ của tên công an khu vực hoàn toàn đổi khác. Hắn khen ngợi tôi hết lời, nào là có tiến bộ nhanh chóng về mặt tư tưởng, đáng được biểu dương trước tổ, sau đó hắn khuyên mọi người hãy coi tôi như là một tấm gương trong việc lao động sản xuất.

Con đường giải chế của tôi đã được khai thông, tôi chỉ còn chờ kết quả.

Chiến tranh bên cạnh, tình yêu

baovecovang2012.wordpress.com

Huy Van Truong

Posted on December 6, 2023 by Lê Thy

Post by Sơn râu 20 Mar 2025

Tập 4

Boat people

Chương 36

Ra cầu Ái Tử, lên núi Vọng Phu

Đã hơn 9 giờ sáng rồi, lúc bấy giờ tôi mới đi qua nhà bà tổ trưởng, tay ôm cuốn sổ “nhật ký đời tôi” mà trong người hãy còn bần thần ngầy ngật vì men rượu.

Vừa thấy tôi bà tổ trưởng đã cao giọng dạy dỗ.

-Sao hôm nay cậu đi làm trễ quá vậy?

Tôi nói với bà tổ trưởng mà cứ như là cuội nói.

-Thưa bà, tối hôm qua nhà còn mấy củ khoai đã bị thiu, nghĩ đến công lao khó nhọc của nhân dân khi trồng được củ khoai, vất đi thì tiếc cho nên tôi ăn hết luôn, ăn sạch sẽ. Sau đó suốt đêm tôi bị đi tiêu chảy liên tục cả chục lần, cho đến bây giờ mới tạm bớt. Tôi qua đây xin phép bà cho nghỉ ở nhà, mai hay mốt hết bịnh tôi sẽ đi làm lại.

Bà tổ trưởng nói với giọng lạnh lùng.

-Muốn nghỉ bệnh, phải có giấy chứng nhận của phòng y tế khu phố. Cậu đem cuốn sổ sinh hoạt của cậu lên phòng y tế ở đầu đường Phan đình Phùng, xin xác nhận đau ốm rồi đem về đây, tôi sẽ cho phép cậu nghỉ dưỡng bệnh.

Tôi vâng vâng dạ dạ rồi quay người đi. Khi đi được một đoạn khá xa, biết là bà tổ trưởng không nghe gì được, lúc bấy giờ tôi mới dám buông tiếng chửi thề cho đỡ tức.

-Mẹ bố, cái thời chết giẫm.

Tôi đạp xe đến phòng y tế của Phường, trước năm 75 đây là phòng mạch tư của một bác sĩ Việt Nam Cộng Hòa. Trong phòng có hai người đàn bà bận áo choàng trắng đang làm việc. Tôi lấy số thứ tự rồi ra ngồi ngoài sân chờ đợi đến phiên mình.

Hai giờ sau, tôi được kêu vào phòng để khám bịnh. Người đàn bà trẻ mà tôi đoán là bác sĩ, đưa cho tôi tấm giấy màu vàng úa, loại giấy được tái sinh không biết là lần thứ mấy. Bà ta nói.

-Ông điền tên họ, ngày sinh tháng đẻ, nghề nghiệp và địa chỉ.

Tôi vâng dạ, mau lẹ điền giấy tờ.

Người đàn bà đọc tờ giấy rồi hỏi, câu hỏi xưa như trái đất mà nhiều người đã hỏi tôi.

-Sĩ quan Ngụy còn đang học tập cải tạo ở đâu tận Miền Bắc, tại sao ông được về sớm như vậy.

Tôi ngần ngừ một chút rồi mới nói, giọng nói nửa đùa nửa thật.

-Thưa cô, có thể là tôi có bà con theo Cách mạng.

Người đàn bà nhẹ giọng.

-Tôi là y tá Ngụy, được nhà nước lưu dung cho ở lại làm việc, lát nữa ông sẽ được bác sĩ khám bịnh.

Cô y tá nhìn vào phòng trong rồi nói.

-Nghe nói bà bác sĩ học nghề băng bó vết thương cho bịnh nhân trong mật khu, sau hơn chục năm hành nghề chăm sóc thương binh ngoài mặt trận, bà được cho lên làm bác sĩ, còn phần ngoại hình của bà thì… Tôi nói trước để cho ông biết mà chuẩn bị tinh thần.

Đúng như cô y tá lưu ý, tôi không dám nói gì về bề ngoài của bà bác sĩ, vì sợ không một ai tin những gì mà tôi nói về bà ta.

Bà bác sĩ, chỉ tôi ngồi xuống cái ghế rồi hỏi.

-Đau gì?

-Thưa bác sĩ, tôi bị đau bụng tiêu chảy.

Bà bác sĩ nhăn mặt.

-Iả chảy thì nói là ỉa chảy, ở đó mà tiêu với không tiêu. Bị hồi nào?

-Thưa bác sĩ, từ tối hôm qua.

-Đi ỉa nhiều không?

-Dạ thưa hơn mười lần.

-Cứt lỏng phải không?

-Dạ phải.

Tôi trả lời mà trong lòng nghĩ thầm, tiêu chảy mà cứt đặc sao được.

Bà bác sĩ gắn dây ống nghe vào hai tai, tay cầm cái mặt nghe hình tròn úp vào ngực của tôi, sau khi di chuyển vài lần, đầu nghiêng qua nghiêng lại, bà nói.

-Bịnh nhẹ thôi, không có gì phải lo. Hôm qua ăn rau sống tưới phân bắc mà không chịu rửa cho sạch chứ gì?

-Dạ, sao bác sĩ biết?

-Tôi là bác sĩ nên phải biết. Hồi còn ở trong mật khu tôi chữa bịnh này rất thường. Nhà ông có trồng ổi không?

Tôi nghe nhưng không hiểu, tại sao bà bác sĩ lại hỏi như vậy.

-Thưa bác sĩ, không có.

-Đi tìm nhà nào có trồng cây ổi, xin một mớ lá, nấu lên rồi uống sẽ cầm được ỉa chảy.

Từ đầu đến giờ, tôi đóng kịch là một bịnh nhân bị tiêu chảy, nên giả vờ lo lắng hỏi.

-Thưa bác sĩ, có cần sắc ba chén còn tám phân hay không?

Bà bác sĩ nói.

-Cái này là thuốc Nam, thuốc gia truyền từ ông bà để lại, đâu có phải là thuốc Bắc mà phải sắc cho cạn.

-Xin bác sĩ cho tôi một cái toa, để mua thuốc chữa bịnh ỉa chảy.

-Làm gì có nhà thuốc tây mà mua, uống nước lá ổi là được rồi.

Tôi cảm ơn bà bác sĩ, rồi đưa cuốn sổ sinh hoạt hàng ngày của tôi cho bà.

-Nhờ bác sĩ ký vào đây, cho tôi được nghỉ phép vài ngày, đợi khi hết bịnh tôi sẽ đi làm việc lại.

Bà bác sĩ cầm cuốn sổ lật qua rồi lật lại, sau một hồi cố gắng rặn được vài chữ “Sổ sinh hoạt”. Bà chắt lưỡi.

-Chuyện giấy tờ đem ra ngoài, con y tá nó làm cho.

Tôi cầm cuốn sổ, cảm ơn bà bác sĩ rồi đi ra, bên tai còn nghe tiếng càu nhàu “Cái lũ Ngụy này, đứa nào cũng mắc cái bịnh cảm ơn”.

Trên đường về nhà, tôi vừa đạp xe vừa nghĩ đến chuyện phải sống suốt đời trong một xã hội, khi đau ốm đến bệnh viện được một bà bác sĩ chưa chắc đã học xong bậc tiểu học, miệng nhai trầu, tai đeo ống nghe, khám cho bịnh nhân. Cũng trong lúc đó có hàng trăm, hàng ngàn ông bác sĩ tốt nghiệp Y khoa đại học bị lùa vô những cái nhà tù tận trong rừng sâu núi thẳm gọi là trại cải tạo, sáng trưa chiều tối đốn tre, chặt củi, cuốc đất trồng khoai. Tự nhiên, tôi có cảm tưởng là mình đang bị ỉa chảy trong quần.

Liên tiếp ba ngày, tôi nằm nghỉ thoải mái ở trong nhà. Buổi sáng tôi ngồi trên sân thượng ăn sáng với vợ con, uống cà phê, nhìn đỉnh núi Lâm Viên mù mờ trong sương mà lòng thảnh thơi nhẹ nhõm. Được sống sung sướng, bỗng dưng tôi nhớ đến bạn bè, nhớ Long công tử, Nhân đầu bạc, không biết giờ này tụi nó ở đâu.

Hai giờ chiều, tôi ôm cuốn sổ sinh hoạt hàng ngày đi qua nhà bà tổ trưởng.

-Thưa bà, bịnh của tôi đã thuyên giảm khá nhiều, ngày mai tôi sẽ đi làm, còn lại buổi chiều hôm nay xin bà cho tôi được đi ciné.

Phải mất một lúc chần chờ, lưỡng lự, bà tổ trưởng mới gật đầu. Với giọng nói của một con vẹt Cách mạng 30, bà ta lên giọng dạy dỗ.

-Sĩ quan Ngụy như cậu phải coi phim “Thép đã tôi thế đấy” của Liên Xô, đang chiếu ở rạp ciné Hòa Bình. Coi để biết con người Cộng Sản “Ba veo cót sa gin” đã được tôi luyện như thế nào, lấy đó mà làm gương.

Tôi cảm ơn bà tổ trưởng đã chỉ dạy. Ở trong tù, tôi đã được cán bộ quản giáo ca ngợi về cái tên Ba veo này nhiều rồi, nghe nhiều đến độ bị iả chảy luôn.

Sau khi nói với vợ là mình sẽ đi thăm má của một người bạn, tôi thả bộ dọc theo con dốc Minh Mạng lên khu Hòa Bình. Thay vì mua vé vào coi ciné, coi phim anh “Ba veo cót sa gin” ngu xuẩn nào đó của Liên Xô, có đầu mà không có óc, một anh Việt Nam lấy thân mình chèn pháo, thì anh Liên Xô lại chui đầu vào lò lửa Cộng Sản để tôi luyện cho thành thép. Tôi quẹo qua đường Hàm Nghi, đi quá nhà thờ Tin Lành một đoạn khá xa, tìm tới căn nhà của Nhân đầu bạc, nằm phía bên trái thấp hơn mặt đường một chút.

Dễ chừng cả chục năm rồi tôi mới gặp lại má của Nhân, bà cụ già đi thấy rõ trong bộ bà ba rộng thùng thình, bạc màu thời gian. Nhìn tôi một hồi lâu, bà hỏi.

-Có phải con là thằng cục bột không?

Tôi quá mừng vì bà còn nhận ra tôi.

-Dạ thưa bác đúng, con là thằng cục bột đây.

Nói xong, tôi cầm tay bà.

-Bác có khỏe không?

-Mày nhìn bác là biết rồi, khỏe sao được khi thằng Nhân còn ở tù mãi tận đâu đâu. Nó về là bác khỏe ngay.

Tôi mau mắn hỏi bà.

-Nhân học tập cải tạo ở đâu vậy bác? Theo con biết, sĩ quan Ngụy ở mấy tỉnh Tuyên Đức, Lâm Đồng, Phan Rang, Phan Thiết, Bình Tuy, đều bị lùa vô trại tù Sông Mao. Ở đó con tìm hoài mà không thấy Nhân, nên cứ nghĩ là nó đã đi Mỹ vào tháng tư năm bảy lăm rồi.

Má của Nhân thở dài.

-Đi đâu mà đi, được đi Mỹ đã là phước, thằng Nhân còn đang học tập cải tạo. Mà nè, ở Đà Lạt này bác chưa thấy một ông sĩ quan nào đi tù được thả về. Sao con về sớm vậy?

Tôi không biết phải trả lời như thế nào về câu hỏi của bà, chục người gặp tôi thì cả chục đều hỏi như vậy. Không muốn giải thích dài dòng về chuyện này, tôi đưa tay gãi đầu.

-Thưa bác, khó mà biết được mấy ông Việt Cộng dựa theo tiêu chuẩn nào để thả người. Theo sự suy đoán của con thì những sĩ quan được cho về sớm, đa số thuộc thành phần có bà con theo mấy ổng. Và những ông sĩ quan ngày trước khi còn là lính Việt Nam Cộng Hòa không liên quan đến ngành Chiến Tranh Chính Trị, Tình báo, Quân báo…Đại khái là như vậy. Có thể con là lính văn phòng, làm ở Trường Võ Bị Đà Lạt, nên được cho về sớm.

Tôi ngưng nói, nhìn má của Nhân một lúc rồi mới hỏi.

-Thưa bác, hôm nay con đến đây trước là thăm bác, sau đó là hỏi về tình trạng của Nhân.

Má của Nhân đầu bạc với nét mặt rầu rầu.

-Chuyện có hơi dài dòng, con vô nhà ngồi uống miếng nước, từ từ bác sẽ kể cho con nghe rõ ràng mọi chuyện.

Tôi theo chân má của Nhân đi vào nhà, nhìn dáng người ốm yếu của bà đi xiên qua xẹo lại như muốn té, tôi đỡ lấy cánh tay của bà rồi giữ chặt. Cánh tay của bà chỉ có xương là xương, tự nhiên trong lòng tôi bỗng xót xa, thương cho hoàn cảnh neo đơn của một bà mẹ già, sống một mình trong căn nhà khá là to lớn mòn mỏi đợi chờ con.

Ngồi xuống ghế sofa nơi phòng khách, chỉ chiếc ghế bên cạnh, ra dấu cho tôi ngồi xuống, má của Nhân rót cho tôi ly nước lọc rồi từ tốn nói.

-Đầu tháng tư năm ngoái, khi người dân Đà Lạt ùn ùn kéo nhau di tản về Sài Gòn, thành phố Đà Lạt như là cái thành phố ma. Bác ở lại đây, lý do khiến bác không đi là vì không bà con, không thân nhân ở Sài Gòn, hơn nữa gia tài của bác như là nhà cửa với bao nhiêu là hàng hóa, vải vóc, một đời tốn công xây dựng, bỏ đi không đành. Một tháng sau, khi mà loa phát thanh của Việt Cộng loan báo là Sài Gòn đã đầu hàng, bác rất vui mừng vì tin rằng hết chiến tranh rồi, mẹ con sẽ được đoàn tụ.

Má của Nhân đầu bạc ngưng nói, bà thong thả nhấp một hớp nước rồi than thở.

-Bác chờ đợi với hy vọng chỉ năm mười ngày nữa, sẽ gặp lại thằng Nhân con của bác. Bác chờ một tháng, hai tháng, rồi ba tháng, hy vọng gặp lại con của mình cứ như ngọn đèn dầu mỗi ngày một cạn, nhiều lúc bác tưởng như hy vọng đã tắt mất. Trong những lúc tuyệt vọng, bác tự lừa dối mình, tự an ủi mình, chắc thằng Nhân đã đi Mỹ rồi, và vì hai nước cách xa ngàn dặm lại là kẻ thù của nhau, nên nó chưa viết thư cho bác được. Bác biết rõ thằng Nhân tuy cứng đầu, nghịch ngợm, ưa phá phách nhưng nó là một đứa con có hiếu. Nếu không đi Mỹ thì nó đã về lại Đà Lạt để gặp mẹ của nó rồi. Khi mà sự chờ đợi của bác đã đến chỗ tuyệt vọng thì bác nhận được tin của thằng Nhân, do một cô gái đưa tới.

Má của Nhân làm một cử chỉ như mệt mỏi.

-Chuyện nói ra đây bác còn không tin, thì làm sao con tin cho được. Phải không? Một buổi chiều nọ, đâu khoảng giữa tháng chín năm ngoái, lúc bác đang còn ăn dở bữa cơm thì có tiếng gõ cửa. Tiếng gõ nhè nhẹ, rụt rè, gõ cửa mà như không dám gõ. Bác lớn tiếng hỏi “Ai đó?” Một giọng nói dịu dàng trả lời “Thưa bác, con” Khi cánh cửa được mở ra, trước mặt bác là một con bé mặt mày sáng sủa xinh xắn, trông thật dễ thương, trên tay cầm một bức thư “Thưa, bác có phải là mẹ của anh Nhân không? Anh Nhân nói con đưa bức thư này cho bác”.

Đang kể chuyện xưa, đôi mắt của má Nhân đầu bạc chợt sáng rực lên, bà tươi cười nói với tôi.

-Con có biết không, bác như người sắp chết đuối mà chụp được cái phao. Có thư của thằng Nhân, có nghĩa là nó còn sống. Không câu nệ, bác nắm tay con bé lôi tuốt vô nhà. Vì quá nóng lòng cho nên bác vừa đi vừa hỏi con bé về tin tức của thằng Nhân. Trái với cái hấp tấp của bác muốn biết mọi chuyện ngay lập tức, con bé rụt rè đưa bức thư. Không thể nói gì hơn, bác ngồi xuống ghế sofa.

Má của Nhân đưa tay vỗ vào thành ghế.

-Bác ngồi xuống cái ghế này nè, rồi mới từ từ đọc thư của thằng Nhân. Bức thư viết ngày hai bốn tháng sáu năm bảy lăm. Thư viết ngắn gọn, hình như được viết trong úc vội vàng. Trong thư nó hỏi thăm sức khỏe của bác, và nói rằng nó phải đi trình diện học tập mười ngày tại Sài Gòn. Nhân cũng nhắn với bác một điều quan trọng, người con gái cầm bức thư này là vợ của nó. Đọc xong bức thư, tâm trạng của bác lúc bấy giờ rối bời như mớ bòng bong. Mừng vì có được đứa con dâu, buồn vì không biết thằng con đang học tập cải tạo ở đâu. Bác nhìn lên, con bé vẫn còn đứng đó, lúc này bác mới nhớ ra là mình thật là vô ý, quên nói cho con bé ngồi.

Tôi đang chăm chú nghe má của Nhân đầu bạc nói chuyện, bất chợt có tiếng mở cửa rồi một người con gái xuất hiện với cái bị giấy trên tay.

-Má nè, con mua cho má…

Tôi nhìn người con gái với cái nhìn đầy ngạc nhiên, cô bạn cùng lớp với tôi tên Vân trên Viện Đại Học, là người con gái mà má Nhân đang nói đến. Quá vui mừng vì biết Nhân đã lấy Vân, tôi nói.

-Chào chị Vân.

Khi thấy tôi, với đôi mắt tròn xoe đầy kinh ngạc, Vân hỏi.

-Anh Quân tới đây hồi nào?

Hỏi để mà hỏi, không đợi tôi trả lời, Vân quay sang má của Nhân.

-Má cũng biết anh Quân nữa sao? Có tin tức của anh Nhân hả Má?

Má của Nhân nói với Vân.

-Cái thằng cục bột này là bạn của thằng Nhân từ hồi nhỏ, nó mới học tập cải tạo về, đến đây thăm má, tiện thể nó hỏi thăm tin tức của thằng Nhân. Ủa… mà tụi bây cũng biết nhau nữa sao?

Vân nhanh nhẩu trả lời.

-Dạ, tụi con học cùng lớp ở Viện Đại Học Đà Lạt. Đâu khoảng cuối năm bảy hai, con và anh Quân tình cờ gặp anh Nhân ở cà phê Hạnh Tâm.

Với gương mặt đầy bẽn lẽn, Vân nói với má Nhân.

-Lần đầu tiên gặp chồng con, má biết không, con thương ảnh liền.

Má của Nhân với nụ cười đầy vẻ thích thú.

-Cái thằng đó có gì mà con thương, nó chỉ được cái lông bông lêu bêu là giỏi.

Vân cười.

-Tại má không để ý, bụt chùa nhà không thiêng, nên má mới nói như vậy. Một ông trung úy Thủy Quân Lục Chiến với gương mặt dày dạn nắng mưa, lại thêm cái tính khí hào hùng, coi trời bằng vung. Bị thương nơi chân, anh Nhân không nói mình bị thương mà xắn cái ống quần rằn ri lên, chỉ vào vết thương còn quấn băng trắng rồi nói “Cổ Thành Quảng Trị”. Cái hành động đem nguyên một ngôi thành cổ đặt lên vết thương của mình, dưới mắt của con, nếu đem so với người hùng Từ Hải, thì chưa biết ai mới là anh hùng.

Má của Nhân ngắt lời Vân.

-Mày chỉ được cái mê chồng, trước mặt khách mà cứ bô bô cái miệng. Má đang nói cho thằng Quân nghe về chuyện con với chồng con ở Sài Gòn, sau đó chỉ một mình con về đây. Con hãy kể cho Quân nghe về chuyện chồng của con đi học tập như thế nào. Má đâu có biết nhiều về Sài Gòn, sợ nói không được rõ ràng.

Vân ngồi xuống bên cạnh má của Nhân, nắm tay bà rồi bắt đầu câu chuyện.

-Vào khoảng hai mươi tám tháng tư, năm bảy lăm, anh Nhân tới sạp vải của dì Yến trong chợ Bến Thành tìm em với bộ quân phục Thủy Quân Lục Chiến, súng đạn đầy người. Tụi em mới nói với nhau được vài câu thì hai người lính của anh Nhân từ ngoài chạy vào “Ông thầy, mình phải đi gấp, đại bàng cần gặp ông, xe jeep đang đợi bên ngoài”. Em chỉ kịp đưa cho anh Nhân địa chỉ của nhà dì Yến ở Sài Gòn, với lời nhắn “Em đợi anh ở nhà dì”. Ba giờ chiều ngày ba mươi tháng tư, anh Nhân tới nhà dì Yến tìm em. Trên người anh chỉ mặc có cái áo may ô màu nhà binh và một cái quần dài rằn ri của Thủy Quân Lục Chiến, tệ hơn nữa là đi chân đất, không có lấy đôi dép mà mang. Em phải lấy bộ đồ dân sự của ông dượng đưa cho anh Nhân mặc tạm.

Má của Nhân hỏi.

-Tại sao thằng Nhân phải ăn mặc như vậy?

Vân trả lời.

-Má ở Đà Lạt nên không biết đâu, đang đánh nhau bỗng dưng nghe lệnh của Tổng Thống kêu gọi trên đài phát thanh, quân nhân của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa hãy buông súng đầu hàng, chờ bàn giao. Sau đó là hình ảnh thê thảm của Sài Gòn với một đạo quân rã ngũ, súng đạn quần áo lính vứt lăn lóc đầy đường, trong khi dân chúng kẻ xuôi người ngược, chạy mà không biết chạy đi đâu. Ba mươi tháng tư, Sài Gòn hổn loạn như vậy đó.

Vân quay qua nói với tôi.

-Mấy ngày sau đó, em chở anh Nhân đi đăng ký theo lệnh của chính quyền mới. Anh Nhân đi vào Trường trung học Gia Long ở đường Phan Thanh Giản, chừng một giờ sau đi ra với tấm giấy to bằng bàn tay chứng nhận đã trình diện, được cho về địa phương chờ lệnh mới. Anh Nhân không muốn về Đà Lạt, với lý luận là ở Sài Gòn xô bồ phức tạp, dầu gì cũng dễ thở hơn cái xứ Đà Lạt nhỏ bé. Lính Thủy Quân Lục Chiến như anh khó mà an thân với đám du kích địa phương, đám Việt Cộng nằm vùng. Mấy ngày sau đó, tụi em tổ chức đám cưới mà chủ hôn là dì Yến, quan khách là mấy người hàng xóm của dì.

Vân quay người ôm má của Nhân.

-Tụi con lấy nhau mà không hỏi ý kiến của má, vì tình hình lúc bấy giờ không cho phép. Ngày hai mươi bốn tháng sáu năm bảy lăm, anh Nhân theo lệnh gọi trình diện học tập mười ngày. Trước khi đi anh viết một bức thư gởi cho má, xin má tha lỗi cũng như xin má nhận con là con dâu.

Tôi hỏi Vân.

-Từ năm ngoái tới giờ, chị có nhận tin tức gì của Nhân không?

Vân suy nghĩ một lúc rồi mới trả lời.

-Tháng ba vừa rồi, em và má có đi thăm nuôi anh Nhân ở Long Khánh, trong lần thăm nuôi đó, anh Nhân cho biết là ngay đêm trình diện ở Trường nữ trung học Gia Long, anh cùng các bạn tù bị đưa lên Trảng Lớn, nhốt ở đó đâu hơn ba tháng, sau đó được chuyển trại về Long Khánh và ở trại đó cho đến khi được thăm nuôi. Sau lần em và má gặp anh Nhân ở Long Khánh cho đến bây giờ thì hoàn toàn bặt tin, không biết anh Nhân còn ở đó hay đã chuyển đi trại tù khác rồi.

Thấy không còn gì phải nói, tôi xin phép má của Nhân đầu bạc và Vân rồi ra về. Tiễn tôi ra cửa, cả hai người đứng nhìn theo mà không chịu vào nhà. Hình ảnh của hai người đàn bà, một già một trẻ tựa cửa, một trông ngóng con, một chờ đợi chồng đang học tập cải tạo không biết khi nào mới về, trông thật não lòng.

Buổi chiều mùa thu Đà Lạt mang chút gió vàng lành lạnh, mây xám giăng mờ khắp nẻo, tôi đi trong tiếng chuông thu không từ chùa Linh Sơn nương theo gió vang vọng đến bên tai. Tiếng chuông trầm trầm lắng đọng nghe sao mà rầu đến não ruột. Đột nhiên bài hát “Lối về đất mẹ” mà tôi đã được nghe một nam ca sĩ nổi danh gốc ở Quảng Trị, hát bài này nhiều lần trong quá khứ “Mẹ thương con ra cầu Ái Tử, vợ trông chồng lên núi Vọng Phu ..”. Câu hát với lối chơi chữ nghe như câu ca dao nhẹ nhàng, êm đềm, thêm giọng ca trầm ấm của ông ca sĩ nghe sao mà buồn thấm thía, thấm tận đến xương tủy.

Nhan Sắc

vietmessenger.com

Dương Nghiễm Mậu

Văn Xã xuất bản 1969

Post by Sơn râu 19 Mar 2025

2. Một Người Lên Núi

Người áo lam xoay mình bỏ chân xuống khỏi tảng đá đứng lên, người áo gụ thong thả bỏ những quân cờ vào trong chiếc túi vải, nét mặt thản nhiên:

– Sao hôm nay không thấy Nguyễn lão lên núi hay là hai vị đã dời khỏi. Tin của Vương tiên sinh cũng không thấy.

– Tôi nghe tin Vương tiên sinh đã vào kinh, đức vua giáng chỉ đòi vào, không biết việc chi, có thể Vương tiền sinh sẽ được giao phó một trọng trách, trong triều đang thiếu người. Nhưng tôi chắc Vương tiên sinh không nhận.

– Đây đâu phải là lần đầu, nhưng sợ lần này tiên sinh không thoái thác được nữa, như Nguyễn lão đó, bao nhiêu lần cáo bệnh, nhận rồi thôi mà nào đức vua có cho. Trông bề mặt thì tưởng chiêu hiền đãi sĩ lắm nhưng chính là muốn tránh, sợ một mưu đồ gì, ai chẳng biết trước đây Nguyễn lão đã từng chiêu binh mãi mã quy tụ anh hùng.

Người áo gụ bỏ chiếc túi vào trong một cái túi lớn đeo lên vai đứng lên chậm chạp. Người áo lam cầm chiếc gậy trúc chỉ về phía mặt trời lặn:

– Cảnh thật kỳ thú, tạo vật muôn hình ngàn vẻ, bao nhiêu buổi chiều đứng trên núi này nhìn cảnh vật tôi chưa thấy cảnh trời hôm nào giống hôm nào; mỗi lúc một khác, biến chuyển khôn cùng, không họa sĩ nào có thể làm được công việc ấy. Ông thấy không, núi tím, mây đỏ, sương chiều nhuộm hồng lên cảnh vật…

– Thôi mình xuống núi, trời cũng sắp tối, có lẽ ông lên đây cũng chưa lâu, gần hai mươi năm nay rồi tôi không lạ với cảnh đó nữa, lúc ông còn ở ngoài Sơn Nam Hạ tôi đã nói với ông đó, quanh quẩn ở dưới đó với những bụi bặm đâu phải là một cuộc đời đáng sống, trời đất dành cho ta bao nhiêu lạc thú mà chỉ tại ta không biết hưởng mà thôi, lên đây rồi tôi có bao giờ muốn trở xuống nữa đâu. Chỉ tội cho Vương tiên sinh muốn ở đây cũng không được, không vâng chỉ vào triều thì gia đình không yên, tôi chắc có đứa nào nó lại bẩm tấu gì đó, tôi sợ một hôm nào họ lại tìm mình, tôi không để cho họ tìm được, tôi đi luôn là hết, ý ông thế nào?

– Ông thì có thể đi luôn nhưng Vương tiên sinh không thể làm vậy, đâu phải chỉ một thân một mình như ông, Vương tiên sinh còn mẹ già, em dại. Làm sao để bỏ đi trong hoàn cảnh đó, rồi những người thân ấy có được yên thân hay không? Hôm trước đây Vương tiên sinh có thở dài với tôi: đâu phải ai cũng có thể lựa chọn sống được hoàn toàn theo ý mình.

Hai người lửng thửng xuống núi, giọng người ảo lam trầm mặc:

– Thiên lý ly gia lữ mộng tri,

Dạ tú vinh hoa thân ngoại huyễn

Triều vân danh lợi nhãn tiền phi 1

. ………

Cảnh hoàng hôn đượm một vẻ gì huyền bí, những ngọn núi thẫm, những lùm cây mờ mờ trong ánh sáng yếu ớt của những tia nắng cuối cùng còn sót lại. Mặt trời đỏ ối chỉ còn lại một chút leo trên viền một ngọn núi xa ở đó màu trời như một miếng huyết tươi. Trong con đường xuống núi nhỏ hẹp, những ghềnh đá cheo leo, những tàn cây che rậm rạp, hai bóng người mờ mờ lúc ẩn lúc hiện như bóng những đạo sĩ trên con đường tới một cõi bồng lai.

Trong không khí im lặng chỉ chốc chốc một vài tiếng chim rừng rời rạc vang lên tưởng như chốn rừng núi này đã xa rời hẳn với cuộc đời. Có lúc ngưới áo lam ghé lại trong giây lát bên những khóm hoa rừng, những loài hoa lạ không tên gọi như để thưởng thức hương thơm ngọt ngào hoang dã của nó, có lúc tiếng ngâm thơ sang sảng vang lên trong không khí tịch mịch cô liêu. Hai người xuống hết con đường núi, họ lẫn hẳn vào trong khu rừng cây và sau đó họ tới một con suối nhỏ, cả hai người không nói với nhau nhưng cùng dừng lại, họ cởi bỏ quần áo rồi lội xuống dòng suối mà tắm trước khi qua bên kia trên con đường trở về. Người áo lam nói:

– Chúng ta ghé lại nhà Nguyễn lão chơi, câu thơ hôm trước đây mà Nguyễn lão nói với tôi quả là nó không được chỉnh, thực nó vẫn còn bịn rịn với đời sống nhiều quá, mình vẫn có ý chạy khỏi đời sống chứ chưa phải là người vượt thoát ra khỏi nó. Ý của Nguyễn lão khiến tôi nhận ra tôi rõ hơn.

– Tôi cũng muốn ghé lại nghe tin của Vương tiên sinh. Biết đâu chúng ta không gặp một số cố nhân. Mấy hôm nay không gặp Nguyễn lão có khi một tri âm nào mới tới với những canh rượu không tàn cũng nên.

Hai bóng người bắt đầu đi vào giữa những ruộng rẫy rồi tới một khu trại với những cây lớn vây quanh, trong một căn nhà nhỏ cùng với những căn nhà khác vây lấy nhau hai người đã nhìn thấy ánh lửa.

Người áo gụ nói:

– Đúng là Nguyễn lão có tri kỷ.

Người áo lam mỉm cười:

– Chúng ta lại được một chầu rượu túy lúy.

Hai người vượt qua cửa tre vào trong sân nhà. Nơi hiên rộng của nhà khách, trên một chiếc chõng tre có ba người đang ngồi bên một mâm rượu. Tiếng Nguyễn lão vang lên.

– Hay quá, không ngờ lại có tri âm đến nữa.

– Nghe thiên hạ đồn nơi đây có những người đang mưu đồ nên ghé lại…

Những tiếng cười hòa lẫn với nhau:

– Chúng tôi đang mưu đồ xem làm cách nào mà thanh toán được hết những bình rượu cúc từ miền ngoài gửi vào đây.

Sau khi chào hỏi, giới thiệu, phân ngôi chủ khách cả năm người ngồi xuống tiếp tục cuộc rượu, Nguyễn lão nói:

– Hai bạn tôi đây đều từ ngoài trấn Sơn vào. Cao huynh trước làm giáo thọ, còn Đặng huynh lấy chuyện phiêu lưu thiên hạ làm thú. Cả hai nghe nói vùng Hồng Lĩnh có lắm cảnh đẹp nên vào chơi cho biết nước non mình. Hai huynh vừa ở trên núi xuống?

– Vâng, sao mấy hôm không thấy Nguyễn lão lên núi.

– Chiều nay chúng tôi tới bờ suối rồi trở về.

– Có tin gì của Vương tiên sinh không ạ?

– Không, tôi nghe nói Vương tiên sinh đã vào đến Kinh bình yên, chắc phen này Vương tiên sinh phải nhận công việc gì đó do đức vua giao phó. Không nhận cũng không được dù đó chỉ là một hư vị. Quả đức vua chưa tin những kẻ sĩ đàng ngoài, đã như thế thì công việc triều chính còn nhiều nghi kỵ lắm.

Người họ Cao bỏ ly rượu xuống nói:

– Làm thế nào được trong lúc triều đình biết rằng kẻ Đàng Ngoài còn tưởng nhớ nhà Lê và không phục tòng triều đình như đức vua mong muốn. Bao nhiêu dấy loạn từ bấy đến nay…

Người họ Đặng nói:

– Chúng ta để ý đến chuyện đó làm gì cho mất cả vui trong một bữa rượu hiếm có như thế này.

Người áo gụ nói:

– Núi rừng mỗi lúc một thưa bạn, có lẽ tới lúc cả một vùng cây cỏ đáng yêu, núi non hùng vĩ chỉ còn một mình tôi thơ thẩn chẳng còn bạn để chơi một ván cờ, nghe một khúc hát…

Người họ Đặng cướp lời:

– Huynh đừng lo, nếu không còn ai đệ xin được ở đây làm bạn cùng huynh, chỉ sợ huynh không chịu thôi.

– Sao lại không?

Nguyễn lão như chợt nhớ điều gì, liền hỏi:

– Hôm nay hai vị có thấy ai lên núi không?

Người áo gụ nói:

– Có, giữa lúc tôi lên núi thì gặp một người trung niên cùng lên, người đó cúi đầu chào tôi, tôi đáp lễ, tôi cố moi óc xem đã gặp bao giờ không nhưng tuyệt nhiên không nhớ chút gì, chừng như một người ở xa mới tới, không phải người trong vùng này. Khi tôi bắt đầu leo con đường núi thì thấy hắn đi xuống, hắn cúi chào tôi, tôi ngạc nhiên vì đang mãi nghĩ, tôi thấy hắn mỉm cười kín đáo. Hắn mặc một chiếc áo màu lam như của tôi nhưng hai vai đã bạc, hắn đeo một cái túi lớn, trông hắn khoảng ba mươi gì đó.

– Chính là người chúng tôi đã gặp, chúng tôi gặp bên bờ suối, lúc chúng tôi tới nơi thì hắn đang ngồi trên một tảng đá, hai chân bỏ xuống nước nghịch ngợm một cách thích thủ, mới đầu tôi tưởng bác tiều phu, nhưng nhìn lại tôi thấy không phải là người tiều phu tôi vẫn gặp, hắn không mang đồ nghề của một người đốn củi trong rừng, trông hắn như một thư sinh.

Người họ Cao nhăn mày rồi nói với một giọng cứng:

– Một thư sinh! Nói một thư sinh thì không đúng, tôi trông đó là một tráng sĩ, đúng là một tráng sĩ đã từng trải gió sương, từng quen với gian nguy hiểm nghèo, trông mặt ấy tôi thấy không phải là một thư sinh mặt trắng chỉ vùi đầu vào đèn sách, nhai đi nhai lại những tiếng chi hồ giả dã. Không, hắn không thể là một thư sinh.

Người áo lam chăm chú nhìn người họ Cao, nét mặt, khóe nhìn, đôi mắt xếch, vầng trán rộng những nếp nhăn, tiếng nói đanh thép:

– Nhưng chắc chắn là một người có học.

– Vâng, một người có học và đã vượt ra khỏi những gì ở nơi trường ốc lúng túng ngượng ngập. Hắn có cái dáng dấp của một người đã lớn, đã vượt ra, đã vùng vẫy, đã nghĩ và biết mình đang sống như thế nào, đang đi tới đâu, đang muốn gì. Hắn có cái vững chãi tự tin, có cái nền nếp phóng khoáng. Trông hắn còn trẻ nhưng đã già trước tuổi, đó là những người thuộc hạng khiến ta không biết rõ được tuổi thật của hắn…

Người họ Cao trầm xuống trong dáng suy nghĩ. Người áo gụ nói:

– Trông hắn cũng tiên phong đạo cốt lắm đấy chứ, tôi thấy dáng hắn đi như một đạo sĩ thân thiết với thiên nhiên, cái vẻ thong dong của hắn tưởng như một kẻ đã thoát khỏi tất cả, đã quên đời, tôi nghĩ hắn là một đồ đệ của Trang Lão đi trốn đời.

Người họ Đặng cướp lời vẻ hồ nghi.

– Trông hắn còn trẻ như vậy mà đã chán đời sao?

– Chán đời đâu phải dành riêng cho những người già, mà sao lại gọi là chán đời được. Chán đời tức là còn ham đời mà ham không được, phải nói là hắn thoát khỏi, hắn vượt ra được. Ngay cho đến Trang Lão cũng chẳng ai là chán đời cả, họ vui sống…

Người họ Cao nhìn Nguyễn lão:

– Từ nãy tới giờ chúng ta chưa thấy Nguyễn lão nói gì về người này, chẳng hay theo Nguyễn lão thì hắn là người ra sao?

Từ đầu tới giờ Nguyễn lão thu mình ngồi dựa lưng vào trong vách nhà lắng nghe câu chuyện giữa mọi người, Nguyễn lão với lấy ly rượu hớp một chút, nhìn người họ Cao:

– Như tôi đã nói, tôi gặp hắn ngồi bên bờ suối, thấy tôi hắn vội vã đứng dậy cúi chào, lúc đó chúng tôi sắp xuống suối tắm, quần áo không được chỉnh tề, tôi nói xin lỗi tráng sĩ, chúng tôi tưởng nơi này là giang sơn của những người như chúng tôi, không ngờ lại gặp khách nơi đây xin thứ lỗi cho. Hắn nói xin lão trượng thứ lỗi, lão trượng cứ tự nhiên. Tôi nói chúng ta cùng xuống tắm, dòng suối này tốt lắm, ngày nào chúng tôi cũng tới đây tắm. Hắn nghe nói thì thích lắm, hắn cởi quần áo rồi lao mình xuống dòng nước, hắn vùng vẫy với vẻ thỏa thích trong khi chúng tòi tắm một cách im lặng. Hắn nói đã tắm nhiều dòng suối mà chưa thấy con suối nào có nước trong mát như ở đây, có lúc hắn bơi lên tận mãi phía trên, có lúc hắn lặn xuống mất tăm rất lâu. Tôi trông hắn không khác chi tôi hồi nhỏ tuổi nô đùa cùng với những mục đồng.

Hắn nói hắn đã đi nhiều mà chưa thấy đâu núi non hùng vĩ như ở đây, mắt hắn có lúc sáng lên có lúc sẫm lại bất chợt, tiếng cười có lúc vang lên hồn nhiên trong sáng, có lúc tôi chỉ thấy hắn nhếch miệng trễ biếng mệt nhọc vẻ ngạo mạn khinh đời. Tôi định hỏi xem hắn ở đâu tới, tới đây làm gì và sau đó đi đâu, nhưng hắn không lúc nào ngừng lại, không lúc nào để cho người khác có cơ hội hỏi hắn.

Người áo lam nói:

– Trông hắn tôi nghĩ hắn phải là con một gia đình có nền nếp, có học chữ thánh hiền nhưng chắc không yên với những gì hắn có nên lấy phiêu lưu làm thú, lấy núi non làm bạn. Giữa thời buổi nhiễu nhương này những kẻ có học lựa chọn con đường ấy không ít. Nhưng dù vậy trong lòng hắn vẫn không hết suy tư lo nghĩ…

Người họ Đặng giọng mỉa mai:

– Biết đâu đó chỉ là một kẻ thất chí trên đường công danh sự nghiệp đi tìm sự lãng quên, hay một kẻ đã ngày đêm vùi mình vào những cuộc vui thâu đêm suốt sáng, cho tới một lúc không tìm thấy gì nữa trong chốn bùn nhơ… Trước đây tôi ra Thăng Long, trông cảnh tượng mà buồn, nơi ngàn năm văn vật nay còn đâu nữa, chừng như những tao nhân mặc khách, những kẻ sĩ nền nếp không còn nữa mà chỉ còn lại những con nhà hư hỏng, hoặc là những con nhà khoa bảng đã suy tàn không giữ được gia phong, hoặc là con những kẻ buôn bán quê mùa, cũng đi học đấy nhưng không biết thế nào là đạo thánh hiền nữa, chúng ăn chơi trác táng biến nơi cố đô thành một nơi du hí… Nhìn cảnh đó tôi không khỏi đau lòng… Tôi nghĩ hắn là một kẻ trong đám đó, một hôm nào nhìn thấy mình, muốn làm một cái gì, nhưng hắn hiểu rằng hắn chỉ là một hạt cát, hắn không thể trở lại đời sống mà hắn đã chán ngán, nhưng hắn cũng bất lực, và không làm gì khác hơn là khăn gói lên vai…

Nguyễn lão nói:

– Hắn là người đàng ngoài, nhưng hắn khăn gói lên vai để làm gì, mà tại sao hắn tới đây?

– Hắn đi đây đi đó cho nguôi ngoa.

– Tôi không tin thế. Lúc hắn lấy quần áo sang bên suối tôi thấy như có một cây gươm bỏ trong một cái bao, tôi hỏi chừng như tiên sinh biết thổi ống tiêu, hắn nhìn tôi dò xét rồi nói tôi không biết thổi ống tiêu, chắc tiên sinh thích âm nhạc lắm, tôi chỉ vào bao của hắn nói, tại tôi trông cái kia như ống tiêu nên hỏi, hắn cười kín đáo không trả lời. Biết đâu hắn lại không đến đây trong mưu đồ nào đó, tôi không thấy ở hắn một dấu hiệu gì rằng hắn là một kẻ trốn đời, một kẻ phiêu, du, một kẻ đã không còn cho mình ở lại với đời sống nữa.

– Biết đâu hắn không là quân đạo tặc, hắn trốn đến đây để thoát khỏi sự lùng bắt của quan quân, thiếu gì những kẻ bất lương cùng đường vào núi tìm nơi ẩn dật chờ thời, nếp áo đạo sĩ nhiều khi chỉ để che đi cái tướng ăn cướp của họ.

– Tôi tin hắn không thể thuộc hạng người đỏ. Vả tình cảnh xã hội mình, những kẻ ăn cướp ban ngày, thiếu gì, chúng nó ăn trộm, lấy của giết người ngay giữa chợ mà nào có ai dám động đến, trong tình cảnh như thế thì cần gì phải trốn cho mất công. Bọn ăn cướp sống sung sướng đã quen hắn không làm ăn được ở nơi này thì tới nơi khác làm ăn chứ đời nào lại vào chốn thâm sơn cùng cốc thế này làm gì, hắn vào để ăn cướp bọn mình, hay ngoạm đá mà sống. Trông phong thái hắn không phải là quân trộm cướp được.

– Như vậy tức Cao huynh nghĩ hắn vào đây để mưu đồ việc lớn chăng? Hắn mưu đồ việc lớn mà sao chỉ có một mình, muốn mưu đồ việc lớn không thể một mình hắn mà làm được, có chăng nữa thì hắn cũng chỉ là một kẻ thất chí đi nuôi dưỡng lòng tự ái của hắn. Vả muốn mưu đồ việc lớn phải là kẻ hành động giữa chốn đông người…

Nguyễn lão thấy không khí trong tiệc rượu đã có phần căng thẳng mất vui về câu chuyện người lạ, mỗi người một ý chẳng ai chịu ai là đúng:

– Xin các vị hãy cạn chén, câu chuyện đó nào đáng gì mà lại để cho mất vui. Có thể hắn là một kẻ chán đời, một người thất chí, một kẻ có chi lớn, một tên trộm cướp, một kẻ thoát tục và biết đâu hắn chẳng hề ở trong những trường hợp đó? Hắn chỉ là một người bình thường chẳng hạn, chỉ hắn là biết hắn, mình bàn luận làm gì cho nhọc công. Có điều chúng ta biết chắc rằng hẳn đã vào núi, đã gặp chúng ta…

Nguyễn lão ngừng lại và kêu gia nhân mang thêm rượu, bốn người khách đều im lặng. Chủ nhân nói:

– Chắc giờ này hắn vẫn còn trong núi, giá có hắn ở đây cùng uống rượu với bọn mình thì hẳn là vui. Trong đó bây giờ sương đã xuống, gió đã lạnh…

(1964)

——————————–

1          thơ Nguyễn Du