Hình ảnh một vị sư già: Thượng Tọa Thích Quảng Long (Thích Thanh Long)

phamtinanninh.com

Phạm Tín An Ninh    

August 20, 2026    

Post by Sơn râu 23 Aug 2026

Mùa Hè năm ấy có lẽ là một mùa Hè nóng bức oi ả nhất của thập niên tám mươi tại miền Bắc.

Trại giam Ba Sao, Nam Hà thuộc tỉnh Hà Nam Ninh như nằm yên dưới sức nóng như thiêu đốt, ngay cả về đêm cái nóng như vẫn còn âm ỉ, mọi thứ như tỏa ra hơi nóng – những bức tường, những sàn lót gạch hung hung đỏ, cái sân tráng xi măng trước mặt, ngay cả cái ván lót trên sàn nằm cũng toát ra hơi nóng.

Những người tù nhân chính trị chế độ cũ như trong một lò ngục tối trên trần gian, ban ngày thì lao động khổ sai đổ mồ hôi không phải đổi lấy bát cơm mà đổi lấy ít thức ăn độn như khoai hay sắn hay bo bo mà vẫn không đủ no, ban đêm thì cố dỗ giấc ngủ trong cái nóng như nung, như đốt ấy trong cái nhà…nằm xếp hai từng như cá đóng hộp trong buồng giam.

Mồ hôi lại đổ ra cho đến khi mệt lả người đi thì giấc ngủ chập chờn mới đến.

Cái nóng kinh người đã kéo dài cả tháng nay và đồng ruộng đã nứt nẻ, các em bé chăn trâu mà Trung và các bạn gặp trên đường đi lao động cũng môi khô và chui vào các bụi cây trú nắng.

Các giếng nước cũng từ từ khô cạn đưa đến nạn thiếu nước trầm trọng cho cả dân chúng những làng bên ngoài lẫn những người tù khốn khổ trong trại.

Buổi trưa hôm đó cũng như mọi ngày sau khi lao động về, ăn xong phần ăn trưa ít ỏi, các người tù cố nằm giỗ giấc ngủ ngắn để lấy sức lao động buổi chiều thì thấy một vị sư già đang ngồi ngoài sân nắng trong thế kiết già cả nửa tiếng đồng hồ và mặt ngước nhìn thẳng lên trời. Những khi hạn hán thì thầy vẫn cầu nguyện như thế và sau đó chiều tối hay trước nửa đêm thể nào mưa giông cũng kéo đến.

Đêm nay cũng thế, Trung cố giỗ giấc ngủ để mà mai còn sức trả cái nợ lao động nhưng không làm sao nhắm mắt được, mồ hôi trên người cứ nhỏ từng giọt như làm cho sức khỏe của anh cạn dần đi theo đêm.

Anh nhớ tới thằng bạn thân nằm bên cạnh nói với anh hồi chiều rằng chỉ ước ao ông Trời cho một trận mưa…

Chứ đã ở tù cả chục năm rồi cũng chẳng mơ ước xa xôi gì ngày trở về nữa.

Thế rồi, như một phép lạ những làn gió mát từ đâu từ từ thổi đến, len lỏi vào những khung cửa sổ, luồng dưới những cánh cửa buồng giam và từ xa xa vài lằn chớp nhoáng lên bên trời. Chẳng bao lâu sau thì những giọt mưa, ôi những giọt mưa cam lồ của Trời ban xuống như thêm sức mạnh cho những người tù biệt xứ lưu đày.

Các phòng giam không ai bảo ai đều thức dậy và tung mùng ra để được hít thở những giây phút mát rượi của làn gió lùa vào trại giam.

Vô tình Trung nhìn xuống nơi vị sư già giam cùng phòng với anh, thầy vẫn như còn đang ngồi thiền trong mùng, mặt quay vào tường trong thế kiết già.

Trung chợt hiểu và các bạn anh cũng hiểu rằng chính nhờ thầy cầu nguyện mà đã có trận mưa đêm nay.

Vị sư già đó chính là:

Trung Tá Quyền Giám Đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo của QLVNCH – Thượng Tọa Thích Quảng Long.

Một người tù xuất chúng đã làm cho kẻ thù phải cúi đầu kính nể.

Giang sơn của thầy cũng là một tấm chiếu, hai bộ quần áo tù, và một cái mền đỏ Trung Quốc như mọi người và nằm một dãy với các Đại Đức Tuyên Úy khác.

Anh nhớ đến thầy Khuê, một vị Tuyên Úy Phật Giáo và Tam Đẳng Huyền Đai Nhu Đạo võ đường Quang Trung, một vị Đại Đức mà anh rất mến thương và kính trọng, đã từng nói với anh rằng nếu nói về đạo Phật, về sự tu hành thì hãy lấy Thầy Long mà làm gương; đừng vì một vài vị Tuyên Úy đã không nghiêm giữ được giới răn mà hiểu lầm về đạo Phật mà mất đi niềm tin.

Anh nhớ lại câu chuyện lúc mới bước chân vào trại giam Long Thành sau khi Sài Gòn sụp đổ và hầu như mọi người đều không biết bấu víu vào đâu, niềm tin vào các tôn giáo cũng bị lung lay…

Thì một sự việc đã xảy ra làm mọi người đều kính trọng thầy.

Nhất là khi biết hai tòa Đại sứ bạn đã đến đón thầy đi di tản trước đó…

Nhưng thầy đã khẳng khái chối từ và thanh thản bước chân vào trại giam.

Trong thời gian mới bị giam giữ, một hôm thầy được gọi ra làm việc để gặp hai vị sư quốc doanh là Thượng Tọa Thích Minh… và Thích Thiện… Hai vị này ra sức thuyết phục và chiêu dụ thầy để thầy ủng hộ phong trào “Phật giáo yêu nước”, và nói sẽ bảo lãnh cho thầy ra khỏi tù ngay để nhờ thầy góp công góp sức xây dựng phong trào Phật Giáo Yêu Nước này.

Hai vị sư này chính là người mà Cảnh Sát Đặc Biệt thuộc lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia đã bắt giam trước năm 1975 vì hoạt động cho Cộng Sản. Thích Minh … đã bị đày ra Côn Đảo, còn Thích Thiện … thì thường được gọi là Ôn TĐ.

Sau đó chính Thượng Tọa Thích Quảng Long là người đã đứng ra bảo lãnh cho họ ra khỏi tù để ăn năn hối cải mà trở về lại con đường tu hành vì họ đã bị lộ hình tích.

Không ngờ ông trời trớ trêu để có ngày họ lại đến trại Long Thành và đối đầu với thầy trong hoàn cảnh đặc biệt này của đất nước.

Thầy nhìn hai vị sư quốc doanh kia và từ tốn chậm rãi nhưng thật cương quyết thầy nói:

“Các ông đã dựng nên cái phong trào “Phật Giáo yêu nước” ấy thì các ông cứ tiếp tục công việc mà các ông đã làm, còn tôi là một Tuyên Úy trong quân đội và tôi sẽ theo chân các Phật tử trong các trại giam, họ đi đến đâu thì tôi cũng sẽ đi đến đấy với họ cho tới cùng. Thôi các ông về đi”.

Và sau đó thầy chấp nhận việc chuyển trại ra Bắc mở đầu cho một quãng đời biệt xứ lưu đày.

Những ai có may mắn gặp thầy trong trại giam thầy đều kính trọng vị sư già này, người mà lúc nào cũng như mỉm cười, hòa nhã, giản dị, khiêm tốn và giúp đỡ tất cả mọi tù nhân mỗi khi thầy có phương tiện.

Năm 1976, thầy cùng một số Tuyên Úy chuyển trại từ Nam ra Bắc và bị giam giữ tại trại 1 Sơn La hay còn gọi là trại Mường Thái là nơi mà trước kia Pháp đã từng giam giữ những tù nhân bị án lưu đày.

Năm sau thì thầy có tên trong số những tù nhân di chuyển về trại Yên Hạ, trại giam này nằm dưới thung lũng và bao vây chung quanh bởi những dãy núi đá vôi, thuộc huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

Trại Yên Hạ là nơi chuyên giam giữ những tử tội hình sự cướp của giết người mà đã được nhà nước “khoan hồng” tha cho tội chết.

Chỉ hơn một năm sau thì các tù nhân này dần dần kiệt sức vì lao động khổ sai, thiếu dinh dưỡng, thiếu ăn nhất là thiếu chất mỡ và đường, và vì khí độc từ dãy núi đá vôi phả vào từ chung quanh.

Bởi thế chỉ sau một thời gian ngắn chuyển trại từ trong Nam ra ngoài Bắc, ai nấy đều gầy như bộ xương còn biết đi. Khi đi lao động hay đi trở về trại, người ta chỉ thấy những bộ quần áo tù phấp phới bay mà chẳng thấy da thịt đâu.

Thế rồi sau bốn năm trời giam cầm và lưu đày, một số những người tù lần đầu tiên được nhận một gói nhỏ tiếp tế cực kỳ quí giá từ gia đình trong Nam gửi ra, một số khác thì vẫn chưa nối lại được sợi dây với gia đình trong Nam.

Trong gói nhỏ mà các Phật tử gởi cho thầy Long có 15 cục đường móng trâu, lúc đó ai mà có được 5 cục đường như thế thì đã là thần tiên rồi, nhưng thầy từ từ đem ra phân phát hết 15 cục đường quí giá đó cho những người cùng phòng.

Ưu tiên những tù nhân nào mà đã kiệt lực thì được một cục, những người đau ốm khác thì mỗi người được nửa cục mà thôi, còn riêng thầy thì không có một miếng đường nào hết.

Những người tù này khi nhận được cục đường từ tay thầy phân phát đã không cầm được nước mắt trước tấm lòng vị tha, quảng đại vô biên của một vị sư mà tâm đã định và huệ đã ngời sáng.

Thầy cũng không thoát được những vụ hỏi cung, một hình thức tra tấn tinh thần những người tù khốn khó này trong trại giam.

Một tên cán bộ từ Hà Nội vào với mái tóc hoa râm có vẻ là một viên chức cao cấp thuộc Bộ Nội Vụ đã hỏi cung thầy trong ba ngày liên tiếp.

Hắn vứt cho thầy tờ giấy để tối về khai báo những tội lỗi đã chống đảng, nhà nước và nhân dân trước kia khi hoạt động ở Sài Gòn cho Nha Tuyên Úy Phật Giáo của chế độ Việt Nam Cộng Hòa.

Sáng hôm sau, khi kêu ra làm việc tiếp tục, thầy đã nộp bản khai báo cho hắn, vừa xem xong thì hắn đùng đùng nổi giận ném tờ khai xuống bàn và quát tháo:

“Anh khai báo thế này hả?

Tại sao anh lại chép Chú Đại Bi vào đây? anh muốn tù rục xương ra không?”.

Vẫn thái độ bình tĩnh và từ tốn của một vị cao tăng thầy chậm rãi trả lời:

“Thì đây chính là những gì mà tôi đã làm và đã tụng niệm khi xưa, có thế thôi!”.

Hắn với vẻ mặt hầm hầm liệng cho thầy một tờ giấy khác để khai báo lại một cách thành khẩn để được sớm khoan hồng.

Sáng ngày hôm sau, thầy nộp cho hắn một tờ thứ hai và trên tờ đó thầy chép lại thật nắn nót bài Kinh Bát Nhã.

Đến đây thì hắn nổi điên lên và mạt sát thầy thậm tệ và đe dọa rằng thầy sẽ tù mọt gông và đừng mong sẽ được hưởng lượng khoan hồng.

Thầy ung dung trả lời rằng:

“Các ông cứ việc giam giữ tôi bao lâu cũng được, tôi chỉ xin các ông hãy thả hết những người tù chính trị chế độ cũ mà các ông đang giam giữ mà thôi”.

Từ đó đến sau, chúng ít khi kêu thầy ra hỏi cung nữa cho đến mãi năm 87, trước khi có một đợt thả lớn tại trại Ba Sao Nam Hà thì trong các vị Tuyên Úy bị hỏi cung có tên thầy.

Nhưng đặc biệt lần này chúng gọi thầy bằng Thầy chứ không gọi là anh như trước nữa, tuy nhiên chúng vẫn dụ dỗ thầy nhận tội để được khoan hồng. Thầy trả lời rằng các ông cứ thả hết các ông đại đức tuyên úy ra đi vì họ chẳng có tội lỗi gì hết tất cả đều do tôi và họ đều làm theo chỉ thị của tôi hết, muốn gì thì cứ giữ tôi ở lại đến bao lâu cũng được.

Chúng đành chào thua và chỉ vài tháng sau thì thầy có tên trong danh sách được thả ra khỏi trại cùng với tất cả các đại đức và những vị mục sư linh mục khác trong các Nha Tuyên Úy quân đội.

Thầy ở tù mười hai năm, một năm trong Nam và mười một năm lưu đày trong những trại giam được dựng lên nơi rừng thiêng núi độc miền Bắc.

Về miền Nam, thầy trở lại chùa Giác Ngạn trên đường Trương Minh Ký cũ ở Sài Gòn để lại lo Phật sự, cúng kiến giúp đỡ các gia đình Phật tử.

Khi đi đâu tụng kinh thầy vẫn đơn sơ trong chiếc áo nâu sòng và phe phẩy chiếc quạt đã sờn rách và môi luôn nở nụ cười hiền hậu giống như một ông già nhà quê chất phát hiền lành.

Chùa Vĩnh Nghiêm có mời thầy ra nhưng thầy vẫn ở lại Giác Ngạn – ngôi chùa mà thầy góp công xây dựng lên và trụ trì cho tới khi mất nước – cho tới khi thầy viên tịch vài năm sau đó.

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.

(Vũ Ánh – Oakland, CA)

Xin tha cho ông Mạnh Thường Quân

vietmessenger.com

Huy Phương

Đời Đông Châu, nước Tề có Tướng Quốc Mạnh Thường Quân là người chiêu hiền đãi sĩ, tân khách theo về đông như chợ. Khách chia làm ba đẳng: Thượng đẳng là “đại xá” là thượng khách có thể dùng được, trung đẳng là “hạnh xá” bữa cơm có chất tươi mà không được đi xa mã, hạ đẳng là “truyền xá” cho có cơm trắng ba bữa mà không có cá thịt.

Lúc ấy có Phùng Hoan, người nước Tề mặc áo rách, đi dép cỏ tìm đến xin vào ra mắt Mạnh Thường Quân. Họ Mạnh cho xếp Phùng Hoan vào hạng truyền xá, từ đó Phùng Hoan thường vỗ gươm hát đòi bỏ đi vì hạng này chỉ có cơm muối mè và canh không người lái, lên tới bậc trung đẳng lại hát đòi Lexus vì đi bộ mỏi cẳng. Mạnh Thường Quân cho đây là bậc hiền tài đãi Phùng Hoan tới bậc thượng đẳng. Lúc nhà Mạnh Thường Quân, tiền bạc chỉ còn đủ dùng trong một tháng, họ Mạnh mới nghĩ đến việc nhờ người đến ấp Tiết đòi nợ giúp mình. Người đại xá trưởng đề cử Phùng Hoan và cho rằng Hoan chưa tỏ ra là người tài giỏi gì nhưng vốn tính thật thà có thể dùng được. Dân ấp Tiết hầu hết đều là con nợ của Mạnh Thường Quân, nghe Phùng Hoan đến nói việc đòi nợ, đem nộp trả có hơn mười vạn đồng. Phùng Hoan lấy số tiền này mua rượu, thịt, rao yết nhà nào có nợ chưa trả hãy đem giấy nợ đến công đường. Những nhà nghèo không thể trả nổi nợ, Phùng Hoan cho đem đốt hết giấy nợ, thảy đều quỳ lạy hoan hô, mang ơn đức của Mạnh Thường Quân. Mạnh Thường Quân nghe tin quá giận, đòi Phùng Hoan về, Phùng Hoan báo tin cho họ Mạnh biết không những chỉ thu được nợ mà còn thu cả đức cho Mạnh Thường Quân nữa. Mạnh Thường Quân giận lắm nhưng không nói gì chỉ lạy tạ ơn Phùng Hoan.

Ít lâu sau vua Tề nghe lời gièm pha, thu tướng ấn, đày Mạnh Thường Quân về đất Tiết, tân khách thấy Mạnh Thường Quân hết thời, bỏ đi cả, chỉ có Phùng Hoan vẫn theo hầu bên cạnh. Về đến đất Tiết, dân chúng mang ơn đức của họ Mạnh, trăm họ già trẻ dắt nhau ra chào đón, dâng rượu thịt, hỏi han sức khỏe, lúc bây giờ Mạnh Thường Quân mới quay sang cám ơn họ Phùng, mới biết mua đức là như vậy.

Ngày nay, nói tới Mạnh Thường Quân là nói tới người trọng nghĩa khinh tài, có lòng nhân, luôn luôn giúp đỡ người khác, nhất là những kẻ khó khăn không gặp thời. Người đời nay, thường là “Hán(g) rộng”, thằng đểu giả thì gọi là Sở Khanh theo tích Kiều, người nóng giận thì gọi là Trương Phi theo điển Tam Quốc, anh chàng nào mới móc hầu bao cho năm ba đồng thì đã gọi là Mạnh Thường Quân. Gọi thằng Sở Khanh thì được, gọi chàng nóng nảy cũng chẳng sao, nhưng gọi tên ông Mạnh Thường Quân trong những vụ linh tinh thì quả là tội nghiệp cho danh thơm của ông Mạnh Thường Quân bên Tàu, lừng danh tới mấy nước. Có người giúp hội Cổ Nhạc $20.00 cũng được gọi là Mạnh Thường Quân, giúp thương phế binh $10.00 cũng Mạnh Thường Quân.

Chúng ta không căn cứ vào số tiền vì “của ít lòng nhiều”, tấm lòng nhân ái mới đáng quí, nhưng thường thường chúng ta hay lạm dụng danh từ, thích “dao to búa lớn”, tâng bốc quá đáng. Nếu trong một buổi trình diễn văn nghệ và sau đó bán băng nhạc, nhiều người đến mua băng và xin chữ ký của ca sĩ hay nhạc sĩ, đó là “thuận mưa vừa bán” không có gì phải cám ơn các vị “Mạnh Thường Quân”. Hồi anh em cựu tù nhân mới đến định cư trên đất Mỹ, những buổi nhóm họp đều có nhiều vị “Mạnh Thường Quân” đến cho một hai trăm đô la, nhưng lại yêu cầu ban tổ chức cho đăng đàn, ôm máy vi âm nói hằng giờ không dứt về cái tôi cái ta, hay đảng ta, đảng tôi thật là tội nghiệp cho lỗ tai mới tới đang còn dật dờ giữa ngày và đêm, đang còn bỡ ngỡ giữa xứ lạ quê người.

Trong khi tiếng Việt chúng ta quá giàu có thể chọn những tiếng rất thích ứng cho những trường hợp có người mở hầu bao giúp đỡ chút đỉnh thể hiện lòng tốt (hảo tâm), hay giúp phương tiện cho các hội đoàn, tổ chức trong những việc này việc nọ, chúng ta có thể dùng chữ “ân nhân”, “những vị hảo tâm”, hay khá hơn là “những tấm lòng vàng” cũng là quá đủ rồi.

Xin tha cho Ông Mạnh Thường Quân.

Samurai! Những trận không chiến dữ dội nhất lịch sử Thái Bình Dương

vietmessenger.com

Tủ sách Khoa Học Nhân Văn

Lê Thanh Hoàng Dân

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Post by Sơn râu 22 Aug 2026

Martin Caidin

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

Trẻ Xuất Bản 1974

Ðầu tháng Tư, 30 phi công trong nhóm chúng tôi, thuộc Không đoàn Ðài Nam, được thuyên chuyển đến một căn cứ mới vừa đánh chiếm ở Lae, nằm trên bờ biển phía Ðông New Guinea, chỉ cách quân cảng Úc Port Moresby 300 cây số. Ðại tá Masahisa Saito trách nhiệm căn cứ mới này.

Vào ngày 8 tháng 4-1942, với 8 phi công khác, tôi bay đến Lae. Khi bay quần trên phi trường, tôi không nhìn thấy đâu là nhà chứa phi cơ, cơ xưởng bảo trì, đài kiểm soát. Tất cả chỉ là một đường băng nhỏ bé, dơ bẩn, và giống như sàn đáp trên một chiếc hàng không mẫu hạm. Ba mặt của phi đạo bao quanh bởi dãy núi chớn chở của bán đảo Papua. Mặt thứ tư, tức mặt tôi đang tiến đến, là đại dương bao la. Hai mươi mốt phi công khác đã đến đây trước, đứng chờ chúng tôi ở cuối phi đạo. Honda và Yonekawa, hai đồng đội bên cánh của tôi ở mặt trận Java, đón tiếp nồng hậu: “Chào mừng anh đến Lae! Sakai! Căn cứ lộng lẫy nhất thế giới vui sướng tiếp nhận các anh!” Tôi nhìn cả hai, hồ nghi. Theo thói quen, họ bỡn cợt thích thú. Tôi thán phục óc hài hước của họ trong ổ chuột đầy bùn ở chốn tận cùng thế giới này. Phi đạo dài chưa đến 900 thước, chạy từ góc phải của sườn núi xuống tận mé biển. Ngay cạnh bãi biển là một phân xưởng sửa chữa nhỏ, lỗ chỗ đạn và đầy mảnh bom. Ba vận tải cơ Úc nằm bừa bãi bên trong, và dụng cụ bị phá hủy rải rác khắp nơi. Ðây là vết tích do phi cơ chúng tôi gây ra trong cuộc đổ bộ một tháng trước đây. Phi trường Lae được Úc thiết lập sát núi để không vận đồ tiếp tế và quặng vàng lấy được ở mỏ Kokoda, nằm sâu bên trong dãy Owen-Stanley. Vì không cách chi vào đến mỏ bằng đường bộ, do phải băng qua rừng núi ẩm thấp với nhiều vực sâu. Máy bay là phương tiện duy nhứt giúp tải vàng ra.

Hải cảng ở đây cũng hoang tàn không kém sân bay. Một chiếc tàu buôn 500 tấn của Úc nằm gí trong bùn, gần cầu tàu, chỉ có cột buồm ló lên khỏi mặt nước đặc sệt đục lờ lợ. Tôi nhận thấy phi trường Lae còn tồi tệ hơn phi trường Rabaul hoặc ngay cả những phi trường tiền phương ở Trung Hoa. Tuy nhiên không có gì có thể cầm nỗi vui sướng của Trung sĩ Honda. “Tin đi, Saburo! Anh đang ở vùng đất săn tuyệt vời nhất trên trái đất! Ðừng chú ý đến rừng rậm và dáng dấp sơ sài của căn cứ. Tôi nói thực, không nơi nào bằng chốn này, giúp chúng ta ghi thêm bàn thắng vì máy bay địch ở đây rất đông!”

Honda cười tươi rói. Hắn nói với giọng nghiêm trang không đùa bỡn. Honda hài lòng thực sự, hắn kể lại các hoạt động của những ngày trước khi chúng tôi đến. Vào ngày 5 tháng 4-1942, 4 chiếc Zéro cất cánh từ Lae, hộ tống 7 oanh tạc cơ Betty tấn công quân cảng Moresby và bắn rơi 2 chiến đấu cơ địch. Ðổi lại, một chiếc Zéro bị mất. Vào ngày kế đó, cùng một số Zéro đó cất cánh, nhưng lần này bắn rơi đến 5 phi cơ địch. Ngày hôm sau, 7 tháng 4, hai chiếc Zéro nghinh chiến 3 oanh tạc cơ địch trên không phận Salamaua và rượt theo bắn rơi hai chiếc. Các xạ thủ địch hạ một chiếc Zéro của chúng tôi. Quả là hào hứng!

Ðối với Honda, phi vụ là quan trọng nhứt trong cuộc sống. Kể cả phải sống trong hang chuột, miễn sao có thể bay và bắn. Chiều hôm đó, chúng tôi tập họp trong Bộ chỉ huy Phi đoàn để nghe thuyết trình. Tôi sử dụng mấy tiếng “Bộ chỉ huy” có vẻ hơi lớn lối để chỉ một căn nhà không có vách tường. Vách, màn che và mấy cánh cửa đều bằng chiếu. Căn phòng chỉ vừa đủ để nhét 30 phi công, chính giữa là chiếc bàn to lớn, đơn sơ, làm bằng cây thông. Vài cây đèn cầy và một cây đèn dầu soi sáng căn phòng. Ðiện thoại chạy bằng pin.

Sau khi nghe Ðại tá Saito thuyết trình, chúng tôi về chỗ ở. Trên đường đi, Trung sĩ Yonekawa chỉ cho tôi những cơ sở của căn cứ. Có tổng cộng 3 chiếc xe hơi, 1 chiếc Ford rỉ sét, 1 xe vận tải cũ nát và 1 xe bồn chứa xăng… Ba món đồ cổ ấy là tất cả phương tiện “nặng” của Lae. Không có lấy một nhà chứa máy bay. Cũng không có đài kiểm soát không lưu. Nỗi thất vọng sâu xa của tôi không hề làm giảm nét mặt rạng rỡ của Honda và Yonekawa. Honda vác túi ba-lô cho tôi, vừa đi vừa hát, trong lúc Yonekawa tiếp tục giảng giải: Có hai trăm thủy binh đảm trách các vị trí phòng không tọa lạc phía bên kia phi đạo. Ðó là lực lượng trú phòng cho cả nơi này, cộng thêm 200 cơ khí viên với nhân viên bảo trì và 30 phi công.

Trong suốt thời gian chúng tôi ở đây và cho đến khi Lae bị Ðồng Minh tái chiếm vào năm 1943, không một dự tính nào nhằm cải thiện tiện nghi cho chúng tôi, và cũng không có lực lượng tăng viện nào khác được đưa đến. Chỗ ở của chúng tôi và sĩ quan không khác gì nhau. Chỉ huy trưởng căn cứ, chỉ huy phó và một phụ tá ở chung trong một căn nhà nhỏ nối liền với cư xá sĩ quan. Trong khi căn cứ Rabaul mướn một số dân địa phương làm tạp dịch, ở căn cứ Lae không có chuyện này. Làng gần nhứt cách đây hai dặm. Không thể bắt dân làng phơi lưng dưới họng súng của phi cơ địch đến tấn công hầu như mỗi ngày.

23 hạ sĩ quan phi công cư trú trong một doanh trại rộng 6 thước và dài 10 thước. Chính giữa là một mặt phản lớn dùng làm bàn tiện ích cho mọi chuyện, từ cơm nước cho đến đọc sách và viết thơ. Chung quanh là những dãy giường từng chồng chất. Vài ngọn bạch lạp cho ánh sáng leo lét vào ban đêm. Tòa nhà xây cất theo kiểu nhà sàn nhiệt đới với sàn gỗ cao 1 thước rưỡi trên mặt đất ẩm ướt. Một cầu thang lung lay để leo lên. Phía sau là bồn trữ nước. Chúng tôi cấp tốc cưa một phuy xăng rỗng để làm buồng tắm. Như thế, ít nhất chúng tôi cũng cần kiệm theo đúng cung cách tiết chế truyền thống của quốc gia. Các hộp sắt đựng xăng trong cánh máy bay cũng giúp chúng tôi tân tạo thành tô chén và nồi niêu dã chiến. Chúng tôi hoàn toàn thiếu mọi vật dụng.

Một tà lọt phụ trách hỏa đầu quân. Một nhiệm vụ khó khăn vì phải chuẩn bị 70 suất ăn cho ba buổi sáng, trưa, chiều vào mỗi ngày. Chuyện giặt giũ thì mỗi người tự lo lấy. Cho đến những tuần lễ chót cùng khi chúng tôi ở Lae, ngay cả với cường độ không chiến khốc liệt, tất cả các phi công đều tâm niệm giặt quần áo và đồ lót của mình hàng ngày. Chúng tôi chấp nhận sinh sống dưới đáy phuy hèn mọn nhưng không ai muốn mình trở nên cáu bẩn.

Cạnh dãy phụ tùng tái chế, chúng tôi đào một hầm trú bom. Mỗi khi máy bay địch xuất hiện bất thình lình, căn hầm khiêm nhường ấy vụt chen chúc đủ hạng người chạy vội vàng từ khắp nơi, từ nhà ngủ, nhà tắm, thậm chí nhà xí để chui xuống trú ẩn!

Doanh trại chúng tôi nằm cách phi đạo 500 thước về phía Ðông và để ra sân bay, chúng tôi phải cuốc bộ hoặc chạy khi khẩn cấp. Chỉ có các phi công được chỉ định trực chiến, phải cất cánh tức thời khi có báo động là có xe đưa rước. Là chiếc Ford cũ mèm có ống pô bể kêu inh ỏi!

Cư xá sĩ quan nằm phía Ðông Bắc sân bay, cùng khoảng cách và cùng một kiểu nhà sàn không khác mấy với doanh trại chúng tôi. Tiện nghi duy nhất, so với phía hạ sĩ quan, là cấp số sĩ quan không quá mười người nên rộng rãi hơn. Riêng chỉ huy trưởng căn cứ, chỉ huy phó và trưởng ban quân thư thì trú trong một căn nhỏ sát bên cư xá sĩ quan.

Ðó là căn cứ Lae, tiền đồn của Hải quân Hoàng gia Nhựt. Ðiều kiện sống không có gì mỹ mãn. Thức ăn tồi tệ, công việc hàng ngày nặng nhọc và đơn điệu. Chúng tôi không có câu lạc bộ quân đội, không có bất cứ một giải trí nào khác. Ðàn bà? Ở Lae, mọi người đều hỏi: “Ðàn bà là sinh vật ra sao?”

Tuy nhiên, tinh thần của chúng tôi rất cao. Chắc chắn chúng tôi thiếu tiện nghi và vật chất, ngay cả một số tiện nghi thiết yếu nhứt, trong đời sống hàng ngày, nhưng chúng tôi không lấy đó làm phàn nàn. Chúng tôi không có một đòi hỏi riêng tư nào ngoài đòi hỏi được chiến đấu. Phi công ở Lae không giống như phi công ở những căn cứ khác. Mỗi chúng tôi đều là thành phần chọn lọc của Không lực Hải quân. Các sĩ quan của chúng tôi cũng được chọn trong số những người “chỉ thích ấn tay vào cò súng” trên một chiếc Zéro.

Vào ngày 11 tháng 4, tôi va chạm trở lại với thực tế chiến trường. Một ngày may mắn, vì tôi hạ 2 máy bay địch trong cùng một ngày. Sau gần hai tháng bắt buộc nằm lì trên mặt đất, được bay trở lại làm tôi phấn kích. Ngày hôm trước, 10 tháng 4, tôi không được sắp xếp ứng chiến nên phải ở lại mặt đất trong khi những phi công khác vui hưởng một ngày chiến đấu. Sáu chiếc Zéro hộ tống bảy oanh tạc cơ Betty bay đến Moresby, đã bắn rơi hai oanh tạc cơ địch đang cố cất cánh để rời phi trường ở đó. Cùng ngày, ba chiếc Zéro khác cũng trực chỉ Salamaua và bắn rơi một oanh tạc cơ địch, cùng gây hư hại cho nhiều chiếc khác.

Phi vụ của tôi vào ngày 11 là một phi vụ thám thính. Cùng với 8 chiến đấu cơ Zéro khác mới vừa đến Lae, chúng tôi cất cánh và bay thành nhóm theo đội hình chữ V hướng về Port Moresby. Sau đó, dãy núi Owen-Stanley sừng sững trước mặt chúng tôi, cao hơn mặt biển 4,000 thước. Mặc dù dãy núi cao chớn chở như vậy, trên đỉnh không có một đám mây nào vướng vất, và dốc thẳng đứng giống như những bức tường vĩ đại mọc đầy cây cối. Không một vết tuyết.

Bay cao độ 5,000 thước, chúng tôi vượt ngang qua đỉnh núi và lập tức bước vào một thế giới mới: thế giới của địch quân. Không một chiếc tàu nào neo trên mặt đại dương xanh sẫm của biển San Hô. Nước biển nhìn như một mặt bàn đá cẩm thạch dài ra đến tận chân trời. Sườn núi ít thẳng đứng hơn phía chúng tôi đến. Ngoại trừ khác biệt ấy, thiên nhiên không khác lắm.

Bốn mươi phút sau khi cất cánh từ Lae, căn cứ Moresby đã nằm phía dưới chúng tôi. Tôi có thể nhìn thấy nhiều phi cơ đủ loại trên mặt đất. Nhân viên địch chạy tán loạn vào các hầm trú ẩn. Súng phòng không im tiếng vì dĩ nhiên chúng tôi bay quá tầm hoả lực cao xạ của đối phương. Chúng tôi có thể đạt được kết quả nếu tấn công ngay vào các phi cơ đậu trên mặt đất. Nhưng theo chỉ thị, đây chỉ là một phi vụ thám thính, ngoại trừ không chiến chúng tôi không được phép tấn kích.

Chúng tôi lướt qua Moresby và vòng ra biển San Hô sau đó quay lại lối cũ một lần nữa, lướt ngang qua căn cứ địch. Chúng tôi ngạc nhiên khi nhận thấy hình như các xạ thủ cao xạ và phi công địch không hay biết có sự hiện diện của chúng tôi, nên họ không đưa ra một kháng cự nào.

Chúng tôi lướt qua phi trường. Lần này mặt trời ập đến từ phía sau lưng. Lúc bay thật chậm, chúng tôi phát hiện bốn chiến đấu cơ P39, loại Airacobra mà tôi gặp lần đầu tiên. Bốn phi cơ này hầu như bay cách ngay phía trước chúng tôi 3 dặm, và đang tiến thẳng đến, nhưng chúng tôi không hiểu có bị phát hiện hay chưa. Tôi quăng bình xăng phụ và tăng gia tốc, với hai đồng đội bay sát cánh. Tôi lướt dọc theo phi cơ chỉ huy, báo hiệu cho Ðại úy Sasai biết sự phát hiện địch của mình và yêu cầu che cho chúng tôi tấn công. Ông nắm tay đưa về phía trước. “Tiến! Chúng tôi sẽ che cho anh.” Tuy nhiên chưa thấy động tĩnh của mấy chiếc Airacobra. May mắn cho chúng tôi, lúc ấy mặt trời chiếu thẳng vô phi cơ địch nên các phi công Mỹ không nhìn thấy chúng tôi bay đến. Phi cơ địch chia làm hai cặp, bay trước và bay sau, cách khoảng 300 thước.

Tôi để Honda bay phía sau và trên tôi, trong khi Yonekawa ít kinh nghiệm hơn bay ngay phía dưới tôi. Bây giờ, chúng tôi chỉ còn cách phi cơ địch 500 thước, chếch về bên trái một chút. Chúng tôi sẵn sàng đánh trong vài giây nữa. Nếu phi công địch vẫn bị mặt trời làm cho mù loà, chúng tôi có thể hạ gục họ trước khi họ kịp nhận ra chúng tôi. Thay vì tiến sát lại và chúi xuống để tấn công, chúng tôi hạ thấp rồi xoay trở lại thật ngặt. Honda và Yonekawa theo sát tôi bên cánh.

Hai chiến đấu cơ địch bay sau chót bây giờ ở ngay trên đầu tôi, vẫn không biết có sự hiện diện của chúng tôi. Tôi nâng khoảng cách gần lại, rồi còn chừng 50 thước, tôi nghiêng thân và bấm cò đại bác, quy tất cả hoả lực vào thân phi cơ địch. Những mảnh kim khí vỡ ra, bể tan và bay túa trên không, một dòng khói và lửa kéo thành vệt dài về phía sau.

Tôi quay các họng súng về phía chiếc P39 thứ nhì. Một lần nữa, những viên đạn soi thủng thân phi cơ, nổ bên trong và xé chiếc phi cơ thành từng mảnh. Cả hai chiếc P39 cùng rớt thẳng đứng, ngay tràng đạn đầu.

Tôi lướt ra ngoài và xoay ngay lại, chuẩn bị khai hoả trực tiếp vào hai chiếc P39 dẫn đầu. Nhưng trận đánh đã kết thúc! Cả hai chiếc P39 còn lại lảo đảo chúi xuống mặt đất, kéo dài hai vệt lửa với khói dày đặc. Phi tuần Zéro theo sau tôi đã mau tay hơn tôi tưởng. Tôi nhìn thấy chiếc Zéro của Hiroyoshi Nishizawa đang lấy đà vượt lên. Chiếc Zéro  thứ hai hạ đối thủ với chỉ một viên đại bác, do Toshio Ota lái, vừa lấy lại thăng bằng sau khi lướt thẳng lên để trở lại đội hình như cũ. Nhanh nhẹn và khéo léo.

Không ngờ trận đánh chấm dứt chỉ trong vòng năm giây, với bốn chiếc Airacobra trở thành bốn mảnh vụn trên mặt đất phía dưới kia. Ðiều đáng ghi nhận là cả hai đồng đội vừa ghi điểm của tôi: Nishizawa, 23 tuổi và Ota chỉ mới 20 tuổi. Như đã nói trước đây, các phi công ở Lae đều là thành phần chọn lọc. Ðể được lựa chọn, tài năng phi hành của họ phải vượt bực. Ða số chúng tôi đều là phi công kỳ cựu. Nishizawa và Ota chỉ là những người chân ướt chân ráo, cần phải học hỏi thêm nhiều, tuy nhiên họ sớm trở thành những phi công hàng đầu của phi đoàn Lae, hạ trên nhiều mươi phi cơ địch. Chúng tôi thường bay chung với nhau, và được các phi công khác gọi là “Bộ ba quét sạch”.

Ðối với tôi, Nishizawa và Ota có năng khiếu thiên bẩm. Cả hai không lái máy bay mà sống với phi cơ của họ, giống như chính thân thể của họ đã nhập một với khối kim loại, làm thành một tập hợp cơ khí vừa biết suy nghĩ. Cả hai sẽ thành những phi công tài ba lập nhiều chiến công của Nhựt Bản. Với họ, đời sống chỉ có ý nghĩa một khi có những phi vụ và mọi thứ phải phục vụ cho không chiến. Tài năng của cả hai sẽ giúp cho họ trở nên dũng mãnh ngay cả sau này khi phải đối đầu với những khu trục cơ tối tân hơn của kẻ thù, như chúng tôi sẽ chạm trán, họ vẫn đủ sức chiến thắng cho dù địch thủ đông hơn.

Hiroyoshi Nishizawa nhanh chóng trở nên Sát tinh tài giỏi nhứt, tuy hắn không có dáng vẻ anh hùng. Nhìn hắn, cảm giác đầu tiên là chừng như hắn vừa rời khỏi giường bịnh. So với dân Nhựt, chiều cao của hắn là quá khổ, 1 thước 75, nhưng hắn lại gầy đét vì chỉ cân nặng 64 ký. Ba sườn hắn lòi ra ngoài và rất thường xuyên hắn hay bị các chứng biểu bì nhiệt đới với sốt rét hành. Hầu như lúc nào gương mặt hắn cũng xanh tái. Mặc dầu được các đồng đội tôn sùng nhưng Nishizawa lại ít bạn thân. Hắn ẩn núp sau lớp vỏ kín đáo lạnh lùng gần như không cho ai xâm nhập. Hắn có thể không nói một câu nào trong nhiều ngày liền và cũng không màng đối đáp với những ai mở lời thăm hỏi, cho dù là những người sống ngay cạnh cùng bay với hắn. Chúng tôi đành chấp nhận nhìn hắn đi lững thững đơn độc, im lặng xa xăm như một kẻ chịu ruồng rẫy đang mất hút vào trong khoảng sâu tối riêng rẽ của mình, tuy ngoài đời hắn được tôn thờ như một thần tượng. Nishizawa là một phi công toàn phần, hắn chỉ sống và thở để bay bổng và cất cánh vì hai lý do: chiếm hữu lấy cảm giác vui sướng kỳ lạ khi du hành lên vương quốc của những vì sao và thỏa mãn đam mê không chiến. Ngay khi bay lên khỏi mặt đất, cá tánh lãnh đạm kỳ quặc của hắn biến đổi tức thì. Sự im lặng khép kín, xem thường đồng loại của hắn biến hóa như đêm vụt trở thành ngày. Với các phi công bay chung phi tuần, hắn trở thành “Ác quỷ”.  Trên không, những quyết định của hắn khó dự báo. Hắn trở nên một thi sĩ tài hoa, một thiên tài biết khởi động cỗ máy như một món đồ chơi; chỉ cần hắn vuốt nhẹ cần lái. Tôi chưa từng thấy một phi công nào bay lượn như Nishizawa. Nhịp điệu đáng kinh ngạc của hắn, vừa chính xác, hoàn toàn bất ngờ và vừa gây sợ hãi cho ai chiêm ngưỡng. Ðôi khi hắn thực hiện những pha lộn nhào không thể tin vào mắt. Một loài chim ưng thật sự mà không bất kỳ loài chim trời nào có thể bắt chước.

Thị giác của hắn cũng thực phi thường. Trong lúc mọi chúng tôi chỉ thấy bầu trời trống rỗng, Nishizawa, với trực quan siêu phàm nhận ra những chấm đen xa tít là phi cơ địch. Trong suốt binh nghiệp Nishizawa chưa từng để bị tấn công bất ngờ lần nào. Hắn xứng với danh “Ác quỷ”. Một Satan vạn năng giữa trời mây xanh ngắt, làm cho những phi công khác, kể cả tôi, phải ao ước thèm muốn thiên bẩm của hắn.

Toshio Ota ngược lại, là phản đề sống động của Nishizawa. Trẻ trung, sáng láng và vui nhộn, hắn luôn sẵn sàng tham gia các trò chơi của nhóm; bỡn cợt phá bĩnh nhưng vẫn chu đáo trợ giúp những ai cần đến hắn, trên không cũng như dưới đất. Cao to và cân nặng hơn tôi, Ota chưa nhiều kinh nghiệm trận mạc khi mới đến Lae và mặc dù sự phấn chấn với dáng dấp tương phản hẳn với Nishizawa, tài năng phi hành của Ota nhanh chóng được trọng dụng. Mỗi khi phi đoàn trưởng xuất kích, hắn luôn được chọn làm phi công bảo vệ bên cánh.

Ota không giống hình ảnh những anh hùng cổ điển. Cười đùa dễ dãi, kết bạn nhanh chóng… Hào quang của một vị thần sớm được sùng bái không đi với hắn. Tôi chắc mẩm chốn thích hợp cho hắn phải là những tửu lầu sang cả về đêm thay vì căn cứ Lae khốn khổ! Tuy nhiên, sự thân mật với các đồng đội không ngăn Ota được toàn phi đoàn nể phục, nhờ vào tài không chiến ngoại hạng của hắn. Ngay cả những phi công thô ráp như Trung sĩ Honda cũng kính trọng Ota, trong lúc Honda và Yonekawa đều cùng e dè và hay tìm cách né “Ác quỷ”.

Chiến hữu

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

January 5th, 2023

Post by Sơn râu 22 Aug 2026

Hình nguồn corbis 

Từ cuộc chiến Việt Nam, cuối cùng thì người lính cũng trở lại được quê nhà. Từ San Francisco, anh gọi điện về cho song thân mình. ‘Má ơi! Ba ơi! Con đã về tới rồi. Nhưng con xin Ba Má một điều: “Con có một người đồng đội; con muốn đưa nó về nhà mình!’. Ba má anh trả lời: ‘Ðược! Con à!’ Người con tiếp tục: ‘Nhưng con có cái này phải nói cho Ba Má biết trước. Nó bị thương rất nặng. Lúc hành quân, nó giẫm phải mìn. Mìn nổ cắt mất của nó một cái chân và một cánh tay!’ Quay về nước, nó không biết phải đi đâu mà ở. Con muốn nó về sống với gia đình mình!’ ‘Nè con! Ba Má rất đau buồn khi biết chuyện này! Nhưng chắc con không hiểu được là yêu cầu của con có quá đáng lắm không? Chúng ta có cuộc đời của chúng ta quen sống. Bây giờ con mang về một người bạn chiến đấu thương tật nặng nề như thế là vô tình con mang cả một gánh nặng đặt lên vai cả gia đình mình. Ðừng để gánh nặng quá sức đó chen vào làm u ám cuộc sống của chúng ta! Ba Má nghĩ con nên về nhà và hãy quên người bạn đó đi. Tự cậu ấy sẽ tìm được cách sống mà! Lo lắng mà chi?!’

Nghe tới đây, người lính cắt ngang cuộc gọi và gác máy. Gia đình không nghe được thêm tin tức gì của anh nữa. Vài ngày sau, Cảnh Sát thành phố San Francisco gọi cho Ba Má anh và báo rằng anh đã nhảy lầu tự sát!

Ba Má anh hết sức đau buồn, vội vã đáp chuyến bay lên San Fancisco và được Cảnh Sát đưa đến nhà xác bệnh viện thành phố để nhận xác con mình. Ba Má anh nhận ra anh ngay. Và trong nỗi ngạc nhiên đến kinh hoàng hiện lên ánh mắt: Người con yêu quý của họ chỉ còn lại mỗi một chân và mỗi một cánh tay!

Vâng! như người lính trẻ đó như lời thơ của Linh Phương. Là tử sĩ: “Anh trở về, có khi là hòm gỗ cài hoa, Anh trở về trên chiếc băng ca. Trên trực thăng sơn màu tang trắng.” Là thương binh, đã gởi một phần thân thể ở chiến trường. “Anh trở về anh trở về trên đôi nạng gỗ. Anh trở về, anh trở về bại tướng cụt chân”.

Chỉ có tình chiến hữu vào sanh ra tử với nhau là còn ở lại. Nên có chuyện rằng: “Vừa nhô đầu lên một chút khỏi giao thông hào, để quan sát địch quân thì anh binh nhì thấy tim mình như bị ai siết vào, đau nhói. Trước mắt mình, thằng bạn thân cùng chiến đấu lâu nay, vọt khỏi giao thông hào, thét xung phong chạy tới rồi trúng đạn, ngã vật xuống. Tiếng đạn của địch quân vẫn rít qua đầu.

Người lính xin với viên Trung úy, đại đội trưởng, cho anh bò lên kéo xác bạn mình. ‘Tùy mầy! Nhưng tao nghĩ không làm được gì đâu! Chắc nó chết rồi! Tụi nó bắn rát quá mà mày bò lên thì nguy hiểm lắm! Chết như chơi!’

Người lính không quan tâm đến lời khuyên của viên Trung úy. Anh bò lên khỏi giao thông hào và trườn lên về phía trước. Súng vẫn nổ liên hồi. Kỳ diệu thay, anh đến được xác bạn, vác vội lên vai, chạy thiệt nhanh trở lại. Cả hai thân người cùng ngã nhào xuống rãnh.  Tiếng đạn vẫn réo trên đầu!

Viên Trung úy cúi nhìn, xem xét lại vết thương trí mạng. Máu loang cả màu áo trận của người lính vừa ngã xuống. Ông nói với anh binh nhì: ‘Thấy chưa! Tao đã nói rồi: Không đáng liều lĩnh như vậy. Nó chết rồi! Mà mầy cũng xém đi luôn!’ Người lính trả lời: ‘Ðáng liều lĩnh lắm chứ ông thầy!’ Viên Trung úy nói: ‘Ðáng cái gì? Bề nào thì nó cũng đã chết!’ ‘Không! Khi em bò lên, nó còn đang hấp hối!’ Nó nói với em rằng: ‘Tao biết mầy không bao giờ chịu bỏ tao đâu!’

Rồi tình chiến hữu đó bàng bạc suốt chiều dài cuộc chiến khốc liệt của Miền Nam chống lại Bắc quân. Ngày 12, tháng 4, mùa Hè 1972, tại cao điểm Charlie, Kontum, hầm chỉ huy Tiểu đoàn 11 Dù bị trúng đạn. Trung tá Nguyễn Ðình Bảo tử trận. Xế chiều ngày 13, giao tranh tiếp diễn suốt đêm. Thế cùng, lực kiệt, không lương thực thuốc men, không tiếp tế, không tản thương, tiểu đoàn 11 Dù buộc phải triệt thoái vào lúc xế chiều hôm sau.

Tướng Nguyễn Khoa Nam

Chiếc trực thăng võ trang cuối cùng lao vào lửa đạn của quân thù để bốc bộ chỉ huy. Thiếu tá John J. Duffy, cố vấn cho Tiểu đoàn 11 Dù nói: “Mấy chuyến trực thăng di tản vừa rồi, phi công Mỹ muốn tôi được bốc đầu tiên. Nhưng tôi không bỏ các anh, những chiến hữu đúng nghĩa nhất mà tôi chưa hề gặp trong cả đời chinh chiến. Tôi biết rõ, nếu tôi đi đợt đầu thì chắc khó hy vọng có máy bay trở lại bốc nốt các anh!”.

Mãi tới 50 năm sau, mùng 5, tháng Bảy, năm 2022, Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden mới trao tặng Medal of Honor, Huân chương cao quý nhất cho Thiếu tá John J. Duffy.

Tình chiến hữu là lính không bỏ lính, quan không bỏ quan. Tướng không bỏ lính của mình. Theo Y sĩ Trung tá Hoàng Như Tùng, Chỉ huy trưởng Quân y viện Phan Thanh Giản Cần Thơ thuật lại: 5 giờ 30 phút, chiều 30 tháng Tư, năm 1975, Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, quân phục tác chiến đến bảo: “Anh đưa tôi đi thăm anh em thương binh.” “Ông thăm không sót một ai”.

Khoảng 6 giờ sáng hôm sau, Tướng Nguyễn Khoa Nam đã tuẫn tiết bằng súng lục Browning. Xe hồng thập tự rước xác Thiếu tướng về khâm liệm. Di vật của người chỉ có: Một thẻ bài, một khẩu súng lục Browning 7.2 mm, một cuốn kinh Phật nhỏ đựng trong một túi nylon.

Năm 1867, Kinh lược sứ 3 tỉnh miền Tây Phan Thanh Giản đã tự vận vì không bảo vệ được thành. Năm 1975, chiều 30, tháng Tư, 1975, Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam đi thăm thương binh tại Quân y viện Phan Thanh Giản. Sáng hôm sau, 1 tháng 5, ông đã là một tử sĩ. Anh linh của ông đi thăm các chiến hữu đã nằm xuống tại Nghĩa trang Quân đội Cần Thơ.

Thi hào Victor Hugo có viết “Les morts sont des invisibles mais non des absents.” “Người chết là vô hình nhưng không vắng mặt.” Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân đoàn IV kiêm vùng IV chiến thuật không bao giờ vắng mặt!

ĐXT

Chiêm bao

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 15/11/2015  

Post by Sơn râu 22 Aug 2026

Đêm qua tôi mơ thấy John Lennon ngồi bên đàn piano hát bài “Imagine” bất hủ. Đêm qua tôi thấy trong mộng Haruki Murakami đứng ở Chidorigafuchi phía đông bắc hoàng thành ngắm hoa anh đào tuyệt sắc Tokyo. Nhà văn nói: “Tôi mơ mộng. Đôi khi tôi nghĩ, chỉ duy đó là việc làm chính đáng”.

Đêm qua trong giấc ngủ tôi thấy con rùa già xanh rêu dưới hồ Hoàn Kiếm ngậm cây violin gãy gập nổi lên “giao hàng” cho khổ chủ. Ông cụ 70 tuổi cổ lai hy râu tóc bạc phơ hằn vẻ chịu đựng câm nín với ngón tay bị bẻ gãy run thân bên hồ nhiều gió chướng. Cụ Tạ Trí Hải ơi, nếu không góp tiếng đàn nghẹn ứ trong cuộc biểu tình thì e tiền không mất tật không mang, cụ nhỉ? Rùa xúc cảm thương ông, lịch sử không tái diễn lần thứ hai nên ta đặt tên giờ này: Hồ Hoàn Nhạc. Hay hồ Hoàn Đàn? Có thơ mộng chăng? Nhạc cụ kia có khi mà biến thân thành súng AK-47 chứ kiếm cung mà thấm béo gì, cụ nhỉ? Xưa rồi Diễm!
Một ông luật sư cũng mang tên Hải, non tuổi hơn, độ chừng nghi bất hoặc hay tri thiên mệnh gì đó đã trần tình: “Công an đối xử với các luật sư như chó như mèo như lợn như súc vật”. Ôi chao, tiếng nói của con người cất lên sao nghe luống những ngậm ngùi! Trước đây sơ ý để xe cọ quẹt vào nhau đã mang hung khí ra chơi nhau, huyết lệ tuôn tràn. Giờ này “nái xe” mà để khoắn bụi đường lên thì ông đấm cho vỡ mặt, nhớ? Chả lôi thôi gì cả!

Vụ việc mang vào cuộc họp báo mổ xẻ hòng làm cho ra nhẽ, công an bảo: Cái này do bọn côn đồ hành xử, chúng tớ đéo biết. Mơ thấy bên phía côn đồ các đàn anh giang hồ cũng nhóm họp điều trần: Oan cho bọn ta quá, bao thói hư tật xấu đều đổ riết lên đầu bọn có số má như chúng ta cả, chịu đời chi thấu. Vậy thì thù này phải trả, hãy xuống núi phen này, đè bọn chuyên ngậm máu phun người mà đánh trả chúng nó một trận cho thật đường hoàng để lấy lại công đạo. Hỡi giai cấp bị bóc lột, hãy đoàn kết lại.

Ở đâu có áp bức ở đấy có đấu tranh. Mẹ rượt. Lê Nin từng ngôn thế.

Gần về sáng tôi thấy chập choạng khuôn mặt cương nghị của bà Aung San Suu Kyi và câu nói của người đầy bản lãnh: “Nhà tù thực sự là nỗi sợ hãi, tự do chỉ thực sự có khi thoát khỏi nỗi sợ kia”. Ôi ngọn gió lành đã vừa thổi qua ở Miến Điện, nực nội kéo dài tới 53 năm bị xoá tan thôi bao trùm. Loài người tiến bộ trên trái đất chia sẻ nỗi hân hoan cùng họ khi nền tự do dân chủ vừa thành tựu trên xứ sở ấy. Và cộng đồng văn minh không quên ngó về Việt Nam để nói một câu nghe xé lòng: Phải tới năm 2069 xứ sở đầy huyền thoại con rồng cháu tiên mới đuổi kịp Thái Lan. Hiện tại thì bằng với Cam-bốt và thua anh Lào một ngấc. Một khu vực đìu hiu nhược tiểu quanh vùng thôi còn anh láng giềng nào mà mang ra so sánh được mất hơn thua? Này các anh đầu xỏ quốc tế, các anh vin vào cớ gì để xếp chúng tôi đứng gần cuối bảng sắp hạng trên thế giới? Ép dầu ép mỡ ai nỡ ép Việt Nam?

“Chiêm bao thấy gái về nằm
Tỉnh ra thấy gái không nằm nữa ru
”.

Không. Tôi chẳng chiêm bao mơ mòng thấy gái như nhà thơ Bùi Giáng. Tôi chỉ thấy máu me bạo lực du côn mất dạy ngược ngạo vô đạo tiểu nhân. Những bạc ác vẫn luân phiên tiếp diễn lộng hành trên xứ sở có lắm tiến sĩ. Học cho lắm tắm cũng ở truồng! Anh dùng học vị ấy để gióng lên một tiếng nói, có đặng chăng? Hay bằng cấp kia là lãnh đạo họ ban cho và chúng tớ phải biết ngậm bồ hòn làm ngọt? Chúng tớ đã quen tất tần tật những dối trá giả mạo. Không sao đâu, chuyện nhỏ thôi mà!

Không rùm beng, tôi mơ mộng về một bình minh có chuông đồng hồ réo gọi thức tỉnh, để mấy chục triệu con dân bừng con mắt đồng loạt cùng xuống đường. Trộm vía John Lennon tôi đạo một đoạn ca từ trong Imagine: Hãy thử tưởng tượng đất nước thôi còn đảng Cộng sản ngự trị, những cột điện sẽ vui chân về lại đất cũ sáng soi ở mọi nẻo đường. “Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa*”. Bạn có thể nói tôi mơ mộng, nhưng tôi chẳng hề đơn côi khi thêu dệt. I’m not the only one.

Hồ Đình Nghiêm

(*) Thơ Quang Dũng trong bài Đôi Mắt Người Sơn Tây:

… bao giờ tôi gặp em lần nữa
ngày ấy thanh bình chắc nở hoa
đã hết sắc mầu chinh chiến cũ
còn có bao giờ em nhớ ta.

Đại uý Kevin Tran (gốc Việt), Kỹ sư thử nghiệm tác chiến quỹ đạo, Phi đoàn 3 thử nghiệm và đánh giá, Lực lượng Không gian Hoa Kỳ

dongsongcu.wordpress.com

Posted on August 21, 2026 by dongsongcu

21/08/2026

Nguyễn Quân

Post by Sơn râu 22 Aug 2026

Đại uý Kevin Tran, Lực lượng Không gian Hoa Kỳ (hình của linkedin.com).

Đại uý Kevin Tran là Kỹ sư thử nghiệm tác chiến quỹ đạo của Phi đoàn 3 thử nghiệm và đánh giá (3 TES) thuộc Lực lượng Không gian Hoa Kỳ (USSF). Ông chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn, an ninh và kết quả của các cuộc thử nghiệm tác chiến quỹ đạo, bao gồm lập kế hoạch và chỉ huy việc thực hiện trực tiếp các hoạt động thử nghiệm, cũng như tường trình sau nhiệm vụ ghi lại kết quả thử nghiệm, hỗ trợ cho các nỗ lực của Lực lượng thử nghiệm tích hợp chiến tranh quỹ đạo (OW-ITF).

Phi đoàn 3 thử nghiệm và đánh giá (3 TES) trước đây là Phi đoàn 3 thí nghiệm không gian (3 SES), là một đơn vị thử nghiệm và đánh giá không gian của Lực lượng Không gian Hoa Kỳ, đặt tại căn cứ Lực lượng Không gian Schriever ở Colorado. Là một phần của Không quân Hoa Kỳ, phi đoàn này được mô tả vào năm 2008 là tổ chức hàng đầu của Bộ tư lệnh không gian (AFSPC) về các cuộc phi diễn, tiên phong và thí nghiệm trên không gian. Đơn vị này xác định các khái niệm về việc sử dụng, đào tạo, giáo dục và các kỹ năng kỹ thuật cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ của AFSPC trong tương lai được lựa chọn. Phi đoàn 3 SES sẽ phát triển một đội ngũ nòng cốt gồm các chuyên gia không gian để đóng vai trò là chuyên gia về chủ đề cho tất cả các nỗ lực dựa trên không gian của AFSPC trong tương lai, chứng minh tính hữu ích hoạt động của các cuộc phi diễn được lựa chọn và áp dụng các bài học kinh nghiệm từ các cuộc phi diễn và tiên phong để sử dụng trong các sáng kiến ​​​​trong tương lai.

Huy hiệu Lực lượng không gian Hoa Kỳ của en.wikipedia.org

Lực lượng Không gian Hoa Kỳ (USSF) là quân chủng tác chiến không gian của Quân đội Hoa Kỳ, và là một trong tám Lực lượng đồng phục của Quốc Gia này. Được thành lập lần đầu vào ngày 1 tháng 9 năm 1982 với danh xưng là Bộ tư lệnh vũ trụ Không quân. Ngày 20 tháng 12 năm 2019, Lực lượng Không gian được tách ra thành một Quân chủng độc lập với việc ký kết đạo luật Không gian Hoa Kỳ, một phần của đạo luật ủy quyền Quốc phòng Quốc gia năm 2020. Lực lượng Không gian Hoa Kỳ được tổ chức thành một Quân chủng trong Bộ Không quân, một trong ba Bộ quân sự thuộc Bộ Quốc phòng. Bộ trưởng Không quân là người đứng đầu Lực lượng Không gian do Tổng thống bổ nhiệm và Thượng viện xác nhận, và tường trình trực tiếp với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đây là lực lượng quân sự nhỏ nhất trực thuộc Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ.

Đại uý Kevin Tran thụ huấn Chương trình Sĩ quan Không quân trừ bị (Air Force ROTC program) tại Đại học University of Texas at Arlington, và tốt nghiệp năm 2020. Nhiệm vụ đầu tiên trong binh nghiệp của một Sĩ quan trẻ, Thiếu uý Kevin Tran được chỉ đinh làm Phó phi hành đoàn, Chương trình dự báo không gian nước ngoài, Trung tâm tình báo không gian và hàng không Quốc Gia (NASIC) tại Dayton, Ohio, Hoa Kỳ từ tháng 4 năm 2021 dến tháng 10 năm 2021. Ông chỉ huy một Phi hành đoàn gồm 37 Quân nhân và Nhân viên dân sự, chịu trách nhiệm hiện đại hóa sở hạ tầng CNTT trị giá 110.000 đô la

Nhiệm vụ tiếp theo, Đại uý Kevin Tran được bổ nhiệm làm Kỹ sư đổi mới dự án Arc, Lực lượng không gian Hoa Kỳ tại Cape Canaveral, Florida, từ tháng 4 năm 2022 đến tháng 9 năm 2022. Ông hỗ trợ đổi mới trong toàn bộ chương trình phóng Phi thuyền Delta 45, và hoạt động phóng phi thuyền với tư cách là thành viên của dự án Arc, cung cấp các giải pháp công nghệ vượt trội cho hơn 9 tổ chức thuộc Bộ Không quân Hoa Kỳ. Ông đã thiết kế kiến ​​trúc cho một không gian cộng tác ảo tổng hợp 28 nguồn dữ liệu nhiệm vụ vào một hệ thống đều khiển cho 1 người điều khiển duy nhất, giúp tối ưu hóa hoạt động phóng và bảo vệ hệ thống dàn phóng trị giá 20 tỷ đô la. Ông cũng đã thiết kế và khai triển một giải pháp cho 2 phi đoàn, giúp tiết kiệm 300.000 đô la chi phí bảo trì mỗi năm, dẫn đến việc ông được chọn vào vòng tứ kết trong một cuộc thi đổi mới cấp Lực lượng Không gian Hoa Kỳ,

Đại uý Kevin Tran tuyên thệ trong buổi lễ thăng cấp Đại uý vào tháng 8 năm 2025 (hình của linkedin.com).

Từ tháng 4 năm 2023 đến tháng 10 năm 2023, Trung uý Kevin Tran được bổ nhiệm làm Sĩ quan danh dự nghi lễ của Lực lượng Không gian Hoa Kỳ tại Dayton, Ohio. Ông đã thực hiện 141 nghi lễ, tang lễ quân sự và các nghi thức đặc biệt, di chuyển hơn 30.000 dặm trên khu vực rộng 210.000 dặm vuông với tư cách là thành viên của toán quân danh dự tại Căn cứ Không quân Wright-Patterson.

Từ tháng 12 năm 2020 đến tháng 12 năm 2023, Trung uý Kevin Tran được bổ nhiệm vị trí Kỹ sư dàn phóng phi thuyền không gian, Trung tâm tình báo không gian Quốc gia tại Dayton, Ohio. Ông đã phát triển các mô hình hiệu suất toán học cho các phương tiện phóng Phi thuyền không gian nước ngoài bằng MATLAB và sử dụng phần mềm Systems Tool Kit để tạo ra các quỹ đạo tiềm năng mô phỏng. Ông đã xuất bản tổng cộng tám tường trình kỹ thuật tình báo không gian nêu bật các khả năng kỹ thuật phóng Phi thuyền không gian nước ngoài quan trọng cho nhiều tổ chức thuộc Bộ Quốc phòng. Ông cũng đã dẫn đầu việc phát triển và khai triển một số công cụ phần mềm phóng tàu vũ trụ trị giá 1 triệu đô la.

Từ tháng 1 năm 2024 đến tháng 12 năm 2024, Trung uý Kevin Tran được chọn thụ huấn tại Trường Phi công thử nghiệm Không quân Hoa Kỳ (USAF TPS) tại Edwards, California. Khóa học thử nghiệm Không gian (STC) của Trường cung cấp cho Sinh viên Sĩ quan chương trình giáo dục chuyên biệt bao gồm lập kế hoạch thử nghiệm, thực hiện thử nghiệm, phân tích và tường trình. Ngoài các kiến ​​thức cơ bản về thử nghiệm, Sinh viên Sĩ quan còn được hướng dẫn và có kinh nghiệm thực tế về các hệ thống nhiệm vụ của Hoả tiễn không gian, chẳng hạn như quang điện tử và radar, cũng như các chủ đề khoa học chuyên ngành như cơ học quỹ đạo và môi trường không gian.

Từ tháng 12 năm 2024 đến nay, Đại uý Kevin Tran được bổ nhiệm làm Kỹ sư thử nghiệm tác chiến quỹ đạo của Phi đoàn 3 thử nghiệm và đánh giá (3 TES) thuộc Lực lượng Không gian Hoa Kỳ (USSF).

Đại uý Kevin Trần tốt nghiệp Văn bằng Cử nhân kỹ thuật hàng không và du hành vũ trụ (ưu hạng, điểm: 3.5/4.0, tại Đại học Texas, Arlington, năm 2020; và Văn bằng hậu Đại học kỹ thuật thử nghiệm không gian tại Trường thử nghiệm Phi công Không quân Hoa Kỳ năm 2024.

Sĩ quan gốc Việt phục vụ trong Lực lượng không gian Hoa Kỳ còn rất khiêm tốn, không nhiều như Sĩ quan gốc Việt phục vụ trong các Quân chủng Hải, Lục, Không quân, Thuỷ quân lục chiến, Tuần duyên Hoa Kỳ (USCG) và Đoàn y tế công cộng Hoa Kỳ (USPHS). Theo tài liệu từ afpc.af.mil/Promotion/Officer-Promotions và congress.gov thì Sĩ quan gốc Việt phục trong Lực luợng Không gian hiện nay gồm có**: 2 Đại tá (1 hồi hưu), khoảng 10 Trung tá, 30 Thiếu tá và trên 50 Đại uý. Có một số Sĩ quan gốc Việt từ Không quân được chuyển sang phục vụ Lực lượng không gian.

Nguồn: linkedin.com; wikimedia.org; bienxua-Trung tá Lực lượng Không gian Hoa Kỳ Nguyen John Vu (gốc Việt), được đề cử thăng cấp Đại tá năm 2024.

Trăm năm nghĩa tình

phamtinanninh.com

Phạm Tín An Ninh

August 8, 2026   

Post by Sơn râu 22 Aug 2026

Anh chị Võ Hương An & Nguyễn Thị Minh Lệ

– by Vũ Thế Thành

Ông Võ Hương An thời sinh viên, dám tán tỉnh con gái thầy giáo. Chuyện tưởng khó mà lại thành, đúng như câu ca dao Nam Bộ: “Ai ai cũng tưởng bậu hiền, cắn cơm không bể, cắn tiền bể hai”.

Ông thầy thuộc hàng “thứ dữ”, chứ không xoàng. Đó là giáo sư Nguyễn Đình Hàm, hiệu trưởng Quốc Học Huế những năm cuối thập niên 50. Trước đó ông từng làm quan triều Nguyễn, đeo bài ngà hẳn hòi chứ không phải cấp thơ lại. Sau chức hiệu trưởng thầy Hàm làm Chánh sự vụ thuộc Bộ Tài Chính.

Ông thầy có hai cô con gái cũng theo học tại Quốc Học. Thuở đó, con gái học tới đệ nhị cấp đếm đầu ngón tay. Hoa lạc giữa rừng gươm nên là đối tượng cạnh tranh của đám học trò. Trường Quốc Học Huế được xem là trường đào tạo tinh hoa cho cả miền Trung.

Theo lời thú nhận của ông Võ Hương An, việc học chỉ trên trung bình một chút, coi như không có cửa cạnh tranh với các đồng môn nặng ký.

Khi vào Đại học Sư phạm ban Khoa học (Toán – Lý- Hóa), ông lại tái ngộ GS Nguyễn Đình Hàm khi học môn Luân lý chức nghiệp. Bà Minh Lệ, con gái thầy Hàm cũng theo học tại ĐHSP. Nếu nàng đem Toán học ra “gieo cầu” thì ông thua chắc. Ông phân trần với tôi, không phải là tán tỉnh, mà là chơi chung một nhóm hồi đại học, rồi mưa dần thấm lâu. Hai người nên duyên vợ chồng năm 1967. Đúng là cắn cơm không bể, nhưng cắn tiền lại bể hai…

Tốt nghiệp ĐHSP, ông được bổ nhiệm về trường trung học Hàm Nghi, nằm trong khuôn viên của Quốc Tử Giám. Lúc đó trường thừa người dạy Lý Hóa, mà thiếu Sử- Địa, nên Võ Hương An đành lấp vào chỗ thiếu. Không ngờ môn Sử sau này lại trở thành cái nghiệp với ông suốt đời.

Cung đình Huế thì lắm chuyện thâm cung bí sử, tin đồn rỉ tai, tam sao thất bổn nhiều hơn chính sử. Tôi đọc mấy sách loại này như đọc tiểu thuyết vì suy diễn nhiều hơn suy luận. Nhưng có một tác giả viết về chuyện cung đình khiến tôi phải… nể. Đó là ông Võ Hương An

Cha ông Võ Hương An là thị vệ trải hai đời vua Khải Định và Bảo Đại. Chức vụ cuối cùng là Nhất đẳng thị vệ. Thuở nhỏ ông Võ Hương An vẫn hóng chuyện cha ông nói chuyện với khách, thỉnh thoảng theo cha vào cung cấm. Chưa kể nghe mệ nội, mệ ngoại đi chợ về tán chuyện đàn bà cung cấm. Lớn lên, ông trao đổi trực tiếp với cha nhiều hơn về thời cha ông làm thị vệ. Thị vệ là chức quan theo sát nhà vua, truyền ý chỉ của vua. Không phải tất cả những gì cha nói, ông Võ Hương An đều tin ngay. Có những thông tin ông kiểm chứng và lật ngược lại. Cách làm việc khoa học của ông khiến bài viết có độ tin cậy cao.

Tôi và ông Võ Hương An quen nhau đã hơn mười năm, qua những bài báo của nhau. Ông biết tôi qua các bài an toàn thực phẩm đăng ở báo online khoahocnet ở nước ngoài. Tôi phục ông qua các bài viết về cung đình Huế với sự cẩn trọng.

Thỉnh thoảng mail qua mail lại, tặng sách cho nhau. Ông nói, ông tốt nghiệp ĐHSP Huế, môn Lý Hóa. Tự hỏi, sao ông lại viết về oral history (lịch sử truyền khẩu) rất thuyết phục và đúng phương pháp như thế? Tôi thắc mắc hoài. Sau này mới biết, ông học thêm và tốt nghiệp Cao học Sử năm 1974, với thesis “Lịch sử Đà Nẵng 1306-1950”. Hèn gì!

Trở lại với chuyện “cắn tiền bể hai”. Cô giáo Minh Lệ cũng được bổ nhiệm về trường Hàm Nghi, và dạy môn Toán. Ông Võ Hương An thì cứ từ từ với công việc “trái ngành” như thế, dạy Sử Địa, rồi lên làm giám học. Có thời làm quyền Hiệu trưởng. Như vậy, ở trường ông là sếp của bà. Về nhà chắc vị trí đảo ngược. Sau này ông Võ Hương An làm việc ở Đà Nẵng, cô giáo Minh Lệ cũng theo chồng về đây, dạy học tại trường Phan Chu Trinh, Đà Nẵng.

Sau năm 1975, ông Võ Hương An phải đi tù cải tạo 7 năm. Tôi thắc mắc, đi dạy Lý-Hóa, hay Sử đâu có gì mà phải đi tù 7 năm. Sau này mới biết, ông làm thanh tra Giám sát Viện VNCH. Giám sát viện có quyền thanh tra, điều tra các chức vụ cao cấp nhất của Hành pháp, Tư pháp và Lập pháp.

Sau khi ra tù, ông làm đủ nghề, ai mướn gì làm nấy. Khi qua Mỹ theo diện H.O. ông làm công nhân hãng xưởng cho đến khi về hưu.

Nơi xứ người, ông Võ Hương An viết tùy bút kể lại nhóm ông đã nấu mì Quảng trong tù thế nào (tôi có đề cập tới tô mì Quảng thần thánh của ông trong sách “Ẩm thực ven đường – Huế”, xb 2024). Đôi lúc nhớ lại tô mì Quảng trong tù, ông Võ Hương An nhờ vợ nấu lại món mì Quảng thời hoang sơ, mà với ông, ngon nhất trần đời. Các bà vợ Huế có thể “độc tài toàn trị” với chồng, nhưng vụ bếp núc, nhất là những món ăn dịp giỗ kỵ không bao giờ để chồng nhúng tay. Đó là sĩ diện của mấy bả. Bà Minh Lệ nghe ông nhờ nấu, chỉ cười “… Chừ mà nấu kiểu đó, anh phải ráng ăn cho hết, vì không ma nào ăn mô”.

Ở Mỹ, ông Võ Hương An viết nhiều sách khảo cứu: Huế của một thời, Vua Khải Định – hình ảnh và sự kiện, Từ điển nhà Nguyễn, Lịch sử Đà Nẵng, Chân dung H.O,… Trong đó, tôi đánh giá cao nhất là sách “Huế của một thời”. Đặc biệt là sách “Vua Khải Định” đã giải mã nhiều câu chuyện oral history, vì không phải nhà sử học nào cũng có cơ may cọ sát với nhân chứng cung đình như ông.

Còn bà Minh Lệ thì sao? Qua Mỹ bà không có cơ hội quay lại nghề dạy toán. Phải làm những chuyện lặt vặt. Sau này ông viết lách cho đỡ buồn, bà biên tập các bài viết cho ông – công việc tỉ mỉ lặng lẽ sau lưng những biên khảo rất giá trị của chồng.

Vài năm sau này, ông nói với tôi, vợ ông bị Alzheimer. Người cả đời từng sống với những con số, rồi lại tỉ mỉ biên tập sách cho chồng. Vậy mà ký ức cũng dần lãng quên thế sao? Bạn bè tôi trong nước, vài người có cha mẹ bị Alzheimer, nên tôi biết chăm sóc họ vất vả thế nào. Ở nước ngoài, nhiều gia đình lựa chọn viện dưỡng lão vì điều kiện chăm sóc người bệnh tốt hơn, rồi hàng tuần vào thăm cha mẹ.

Nhưng ông Võ Hương An lại chọn cách khác. Ông tự tay chăm sóc vợ ở nhà, với những công việc osin không tên, đếm sao cho hết! Ông thường trả lời thư tôi muộn, rồi kín đáo giải thích “… nhờ hai ngày cuối tuần, có con cái về phụ coi mẹ nó nên tôi có chút thời gian đọc mail và trả lời”.

Ông Võ Hương An tên thật là Võ Văn Dật. Võ Hương An là bút hiệu khi viết những sách biên khảo. Ông nói, chánh quán của ông ở làng An Ninh Hạ, huyện Hương Trà – Ghép lại thành Hương An để nhớ quê.

Bà Võ Văn Dật, nhũ danh Nguyễn Thị Minh Lệ, giáo sư Toán trường Hàm Nghi (Huế) và Phan Chu Trinh (Đà Nẵng) đã mãn phần ngày 01/07/2026 tại San Jose.

Bạn tôi có người là học trò cô Minh Lệ ở trường Hàm Nghi đã đến thắp nhang tưởng niệm cô giáo cũ. Tôi nhắn, thắp giùm tôi nén nhang.

Ông Võ Hương An năm nay đã vào tuổi U 100. Chỉ mới vài tháng trước ông vẫn lặng lẽ chăm sóc người vợ không còn nhớ mình là ai. Tình đưa họ đến với nhau, Nghĩa làm họ gắn chặt nhau. Chẳng phải là trăm năm nghĩa tình đấy sao!

Vũ Thế Thành

(hình riêng tư trong bài được post với sự đồng ý của ông Võ Hương An)

(FB Vũ Thế Thành)

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by6 Sơn râu 22 Aug 2026

 Thứ sáu tuần trước khi đi từ một ngôi chợ (xa vùng Little Saigon) ra chỗ đậu xe, đằng xa tôi trông thấy một người Mỹ già đang nhét một mẩu giấy trắng vào chỗ tay cầm mở cửa xe của tôi. Sau khi làm công việc ấy, ông ta lên chiếc xe đậu bên cạnh xe tôi và lái đi. Mảnh giấy ấy nguệch ngoạc những dòng chữ như sau:

“Ở bánh xe trước bên phải xe ông, có một cái đinh” (Your car right side front tire niel) Một câu tiếng Anh không văn phạm và chữ “neil” viết sai kèm theo một hình vẽ chỉ rõ bánh xe bị đinh. Thật là một người Mỹ tội nghiệp. Tôi kiểm soát lại bánh xe của tôi thì đúng như vậy, tuy nhiên cái đinh đâm vào có lẽ không dài lắm, nên bánh xe vẫn còn đầy hơi. Tôi liền đem xe đến tiệm bán vỏ xe, nhờ họ nhổ cái đinh ra và vá bánh xe lại cho tôi. Theo dự định ngày mai thứ bảy, tôi sẽ lái cái xe này, chở cả gia đình lên San José có việc và nếu không có lòng tốt của ông già người Mỹ, chắc chắn không bao giờ tôi thấy đựợc cái đinh đâm sát vào bánh xe của tôi và cũng có thể chiếc xe của tôi phải bẹp lốp trên đoạn đường dài 375 dặm ấy. Ở vùng này, đôi khi ta bắt gặp một nguời Mỹ chạy sát kèm theo xe chúng ta để ra dấu cho ta biết là cái nắp bình xăng chưa đậy hay là cái cửa xe chưa đóng kỹ. Việc chạy ngang hàng với một cái xe khác trong một đường phố tấp nập như vùng Bolsa quả là một điều nguy hiểm, nhưng có người vẫn làm vì họ quan tâm tới người khác. Nếu như bạn trông thấy chiếc xe hơi của người đậu bên cạnh xe bạn bị một cái đinh đâm vào, bạn có hành động như cái ông Mỹ già ít học kia không? Tôi nghĩ có lẽ là không. Thứ nhất, bạn ít quan tâm tới người khác, cái xe họ có bị đinh ghim vào hay không đâu phải là việc của mình, thứ hai biết đâu chỉ cho họ, họ lại nghĩ rằng chính mình để cái đinh vào đó. Người ta thường hay né tránh những sự việc như trên, miễn sao cho mình yên thân là được.

Một người Mỹ chạy ngoài đường trông thấy một cái xe đã hết hạn đăng bộ, hay thấy một người say ruợu đang lái xe quờ quạng, có thể họ gọi ngay cảnh sát để thông báo những việc này. Hoặc có thể như người hàng xóm của bà Bích Câu ở San Jose đã gọi cảnh sát khi nghe thấy tiếng ồn ào cãi vã ở trong nhà bà và đã đưa đến cái chết không đáng của bà Bích Câu. Chúng ta phải xác nhận rằng cái chết đó không phải do bà hàng xóm mà do cảnh sát. Không phải họ lắm điều lắm chuyện, nhưng chính là vì dân bản xứ tôn trọng an ninh của láng giềng, hàng xóm và của cộng đồng. Chúng ta thì khác, ai làm gì cũng mặc kệ, miễn đừng có đụng tới quyền lợi của mình. Vì vậy mà việc có tổ chức gian lận medi-care đã xẩy ra lâu nay, đưa người già đi khám bệnh rồi tính tiền cho chính phủ liên bang, thì chúng ta cũng thấy đó là tiền của chính phủ Mỹ, đâu có ăn nhằm gì tới mình mà phải có phản ứng.

Chúng ta cũng không hay dám đứng ra làm nhân chứng để cho những kẻ gian ngưng gian lận, hay ít ra cũng để cho nước Mỹ biết chúng ta không muốn làm người đồng lõa. Vì những di hại về sau này, chính chúng ta sẽ là nạn nhân trực tiếp và là những người thiệt thòi đầu tiên. Đó là cái cảnh giữa chợ đời, thấy thằng móc túi người khác mà không dám hô hoán lên, vì đó cái túi bị móc không phải là cái túi của mình, hoặc giả sợ khi hô hoán lên, biết đâu người ta lại nghĩ lầm mình là thằng móc túi. Thôi thì cứ sống chết mặc bay, ta chỉ muốn yên thân thôi. Một sự nhịn, chín sự lành, thậm chí mổ lầm, chữa bệnh lầm ngay mình là nạn nhân, cũng im tiếng, không dám lên tiếng hoặc kiện bọng, cho nên chúng ta, càng ngày càng bị coi thường và những kẻ gian càng ngày càng lộng hành, coi rẻ đồng bào, đồng hương.

Samurai! Những trận không chiến dữ dội nhất lịch sử Thái Bình Dương

vietmessenger.com

Tủ sách Khoa Học Nhân Văn

Lê Thanh Hoàng Dân Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Post by Sơn râu 21 Aug 2026

Martin Caidin

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

Trẻ Xuất Bản 1974

Ðầu tháng 3 năm 1942, 150 phi công của Không đoàn Ðài Nam trú đóng rải rác trong một khu vực rộng lớn ở Phi Luật Tân và Nam-Dương được tập trung về Bali, phía Ðông Java. Việc chiếm giữ toàn thể xứ Nam-Dương hình như không còn xa nữa. Một đại đội bộ binh Nhựt là lực lượng trấn đóng cả hòn đảo Bali. Nói “chiếm đóng” không mấy thích hợp vì dân bản xứ tỏ ra thân thiện với chúng tôi. Bali giống như một thiên đường với khí hậu tuyệt diệu cùng cảnh sắc tươi đẹp. Tôi chưa từng thấy một nơi nào như vậy ở Thái Bình Dương. Cây cối xanh ngắt vây lấy sân bay và chúng tôi thích thú tìm ra nhiều nguồn suối nước nóng. Thời gian này ít phi vụ nên mỗi chúng tôi tận hưởng những thú vui cá nhân cho riêng mình.

Một buổi trưa, đang trong câu lạc bộ chúng tôi bỗng nghe vang lên tiếng cánh quạt của một phi cơ lớn, có vẻ như đang đến gần phi đạo. Một phi công đang đứng sát cửa sổ, quay lại, trợn mắt la lớn: “Báo động! Oanh tạc cơ B17!” Chúng tôi liền nhào ra ngoài và bàng hoàng. Không sai chút nào. Ðúng là một pháo đài bay B17 khổng lồ đã thả bánh xe, bật liếp thắng, giảm tốc độ và bắt đầu hạ cánh. Tôi dụi mắt vì quang cảnh thực khó tin. Chiếc B17 đến từ đâu? Một khoảnh khắc sau, chiếc máy bay 4 động cơ to đùng đã chạm đất. Các bánh xe tung xốc lên với tiếng phanh rít chói tai. Cả nhóm chúng tôi đồng loạt nhảy xổ đến, cực kích động vì sắp có thể khảo sát tường tận mọi chi tiết của chiếc máy bay bất ngờ rơi vào tay.

Một tràng đại liên nổ vang khi đó, khiến chúng tôi phải nằm bẹp gí xuống đất. Ðơn vị phòng không Nhựt đang khai hỏa! Chiếc B17 chưa hoàn toàn bị bắt sống. Phi công địch đáp nhầm căn cứ và một tên đần đã cho cao xạ bắn liên thanh trước khi máy bay địch dừng hẳn. Khẩu trọng liên chưa kịp nhả hết băng đạn thì 4 động cơ đã rú lên như sấm. Phi công địch xả hết tốc lực, chiếc máy bay tăng gia tốc làm tung mù bụi rồi bất thình lình nhấc bổng lên không và biến mất trong mây.

Chúng tôi đứng như trời trồng, chua chát và choáng váng như vừa bị đấm. Ông trời vừa ban tặng cho chúng tôi một pháo đài bay mới tinh, vậy mà một tay xạ thủ đại xuẩn ngốc đã quá nóng nảy cướp đi may mắn kỳ diệu này! Nhiều kẻ nóng tính trong chúng tôi, không còn kềm chế được nữa, hét vang: “Ð.M, mấy thằng chó đẻ bắn cái gì vậy?” Sự giận dữ này là do lúc ấy tất cả các phi công chúng tôi đều xem loại pháo đài bay này là con mồi quý giá nhứt.

“Ai chó đẻ?” Một trung sĩ của cánh cao xạ bất bình, tiến ra. Viên trung sĩ gầm lên: “Chuyện gì? Ðây là phi cơ địch. Mệnh lệnh là bắn hạ máy bay địch chứ không tiếp đón bằng nghi lễ!”

Chúng tôi đã phải ngăn những đồng đội quá phẫn uất, đã muốn chém đứt đôi viên trung sĩ ngay tại chỗ. Một trung úy đội trưởng Phân đội Phòng không chạy đến. Sau khi nghe chuyện, viên trung úy cúi gập lưng xin lỗi với đầy lúng túng…

Tuần lễ trôi qua, sự căng thẳng giữa phi công hải quân và binh sĩ phòng thủ gia tăng mạnh mẽ. Chúng tôi không có phi vụ chiến đấu nào trong giai đoạn này, do đó chúng tôi dễ sanh ra bực bội. Tình trạng này bùng vỡ vào một đêm khi Trung sĩ Honda đánh nhau với hai binh sĩ bộ binh. Tôi can Honda, nhưng vô ích. Thêm nhiều binh sĩ khác ùa vào, Honda bất chấp. Vừa lúc ấy viên trung úy bộ binh hôm trước bước ra can thiệp, đuổi lính của ông ta về doanh trại. Không nói một lời nào với chúng tôi, nhưng tôi nghe ông ta chửi rủa: “Ðồ ngu, các anh ở đây là để đánh với địch quân, không phải với người cùng quê hương xứ sở. Những phi công này, mỗi người đều là một Samurai, họ không thích làm gì khác hơn là đánh nhau.”

Sáng hôm sau viên trung úy bước vô câu lạc bộ. Trái với dự đoán của chúng tôi, ông ta mỉm cười nói: “Thưa quý vị, tôi hân hạnh báo tin cho quý vị biết quân phòng ngự ở Bandung đã túm được một chiếc B17 còn nguyên vẹn, có thể bay được.”

Chúng tôi ồ lên vui vẻ: Một chiếc B17 có thể bay được! Viên trung úy khoát tay: “Không may, Ðông-Kinh đã ra lịnh gởi chiếc oanh tạc cơ này về Nhựt lập tức. Tin tức này tôi chỉ nhận được ngay khi chiếc B17 cất cánh bay về quê nhà vào sáng nay.”

Tiếng càu nhàu thất vọng trổi lên khi mọi người nghe tin cuối cùng này. Viên trung úy vội vã nói: “Tuy nhiên tôi bảo đảm với quý vị là tôi sẽ cung cấp cho quý vị tin tức càng nhiều càng tốt về chiếc phi cơ bị bắt giữ này.”

Chúng tôi không chút ảo tưởng nào; sẽ không bao giờ chúng tôi còn biết tin về chiếc B17 bị bắt sống; giữa Hải quân và Lục quân, bàn tay trái không khi nào biết bàn tay mặt làm gì!

Một tuần lễ trôi qua, chúng tôi vẫn ở trên mặt đất. Ngay cả không khí yên bình ở Bali cũng đè nặng lên chúng tôi. Nếu ở hoàn cảnh khác, có lẽ chúng tôi sẽ vui sướng hưởng sự nhàn rỗi này nhưng chúng tôi đến đây là để chiến đấu. Nhiều năm nay chúng tôi đâu làm gì khác hơn là học hỏi chiến tranh, tất cả những gì chúng tôi muốn là được trả về không trung. Thế rồi một buổi sáng, một phi công chạy ùa vô chỗ ở của chúng tôi với tin giựt gân. Thật là choáng! Ðó là tin đồn, hình như chúng tôi sắp được gởi trở về Nhựt! Mọi người bắt đầu tính sổ thời gian ở hải ngoại của mình. Tôi tin, cũng như những người khác, một khi về đến quê hương thế nào tôi cũng sẽ được nghỉ phép. Tôi rời Nhựt Bản tháng 5 năm 1938, và ngoài một năm nằm điều trị các vết thương, tính ra tôi đã ở nước ngoài được 35 tháng. Khi nghĩ sẽ được gặp lại gia đình, nỗi nhớ nhà trong tôi bỗng nhiên thống thiết. Tôi dành hết thì giờ vào mỗi buổi chiều để đọc thơ của má tôi và của Fujiko. Họ viết dài dòng về buổi lễ tưng bừng ở quê hương khi Tân Gia Ba rơi vào tay Nhựt, và những buổi lễ chào mừng các chiến thắng liên tục khác của chúng tôi. Cả nước phấn khích với những cuộc chinh phục vũ bão của các lực lượng Nhựt Bản, nhứt là những thắng trận trên không. Tôi mơ ước được gặp lại Fujiko, một cô gái đẹp nhứt trong đời tôi. Với mơ tưởng, nghĩ rằng nàng sẽ trở thành vợ của mình, và tôi cảm thấy chan hòa hạnh phúc.

Tin đồn biến thành sự thật. Vào ngày 12 tháng 3, Thiếu tá phi công hải quân Tadashi Nakajima từ Nhựt đến, và cho biết ông sẽ thay thế Ðại úy Eijo Shingo trong chức vụ chỉ huy trưởng phi đoàn. “Ðại úy Shingo được hoán chuyển cùng với một số phi công.” Nakajima nói, “…bây giờ tôi sẽ đọc danh sách những phi công được lịnh trở về Nhựt.”

Mọi người im phăng phắc khi ông bắt đầu đọc. Người đầu tiên không phải là tôi, như tôi đã hy vọng. Người thứ hai cũng không phải. Người thứ ba cũng không. Tôi mất hết tin tưởng khi vị thiếu tá đọc qua hơn 70 tên. Tên tôi không có. Xúc động. Tôi không biết tại sao tên tôi lại bị loại ra khỏi danh sách, trong khi tôi ở nước ngoài lâu hơn mọi người khác.

Sau đó, tôi bước đến vị chỉ huy trưởng và hỏi: “Thưa thiếu tá, tôi biết tên tôi không nằm trong số những phi công về quê hương. Xin phép thiếu tá, thiếu tá có thể cho tôi biết lý do tại sao không? Tôi không tin rằng tôi…”

Thiếu tá Nakajima khoát tay chận lời tôi, mỉm cười: “Không, anh không về xứ với những người khác. Tôi cần anh đi với tôi, Sakai. Chúng ta sẽ đến một căn cứ không quân mới, nơi tốt nhất để đương đầu với đối phương. Ðó là Rabaul, ở New Britain. Từ lâu tôi đã để ý, anh là phi công tài ba nhứt của phi đoàn này, và anh sẽ bay chung với tôi. Hãy để cho mấy người khác đi bảo vệ quê hương, còn chúng ta tấn công Úc châu.”

Câu chuyện kết thúc. Dưới hệ thống chỉ huy của hải quân, tôi không dám hó hé gì nhiều hơn với vị chỉ huy trưởng. Tôi trở về doanh trại, buồn bã, vô vọng gặp lại gia đình và Fujiko. Phải rất lâu sau này tôi mới biết chính nhờ sự ưu ái mà Thiếu tá Nakajima dành cho mình, tôi mới còn sống sót. Tất cả những người về xứ đều được thuyên chuyển đến Hạm đội Hỗn hợp Ðặc nhiệm tham gia trận Midway ba tháng sau đó. Hạm đội này đã bị đối phương đánh tan vào ngày 5 tháng 6-1942. Cả 4 hàng không mẫu hạm Akagi, Kaga, Soryu, Hiryu của chúng tôi đều bị đánh đắm. Nhựt Bản mất 248 máy bay, hầu hết những phi công rời khỏi Bali khi ấy đều thiệt mạng.

Nhiều tuần lễ kế tiếp, tôi sống trong tình trạng tinh thần tồi tệ chưa từng thấy. Tôi cảm thấy đau yếu, chán nản và tuyệt vọng.

Nhiệm sở kế đó của chúng tôi, Rabaul, cách phía Ðông Bali 2,500 dặm là trên 4,000 km. Khoảng cách quá xa đối với sức bay của loại chiến đấu cơ Zéro mà tầm bay không thể quá 3,150 cây số. Thay vì di chuyển nhóm phi công chúng tôi bằng vận tải cơ hoặc thủy phi cơ, hay là bằng chiến hạm có tốc lực mau, chúng tôi đã khủng khiếp khi nhận thấy bị lùa như bầy súc vật xuống một chiếc tàu buôn nhỏ bé, cũ kỹ và suy nhược. Hơn 80 đứa chúng tôi được nhét vô chiếc tàu hôi hám, chạy khập khiễng trên mặt nước với tốc độ 12 hải lý một giờ này. “Lực lượng” bảo vệ chúng tôi chỉ đơn độc một chiếc tàu săn tiềm thủy đĩnh nhỏ bé 1,000 tấn.

Chưa bao giờ tôi cảm thấy phơi lưng trước kẻ thù bằng lúc tôi ngồi trên chiếc tàu đáng sợ đó. Chúng tôi không thể hiểu nổi ý nghĩ của giới chỉ huy cao cấp trong việc này như thế nào. Chỉ cần một trái thủy lôi phóng đi từ một chiếc tiềm thủy đĩnh núp lén hoặc 1 trái bom 500 cân thả xuống từ một chiếc oanh tạc cơ, chiếc tàu mỏng manh này sẽ tan thành hàng ngàn mảnh. Một việc không thể tin, nhưng mà có vẻ thật, rằng các vị chỉ huy của chúng tôi muốn thí mạng phân nửa số phi công chiến đấu của phi đoàn Java, đặc biệt là những phi công kinh nghiệm nhứt, bằng một cuộc hải hành khủng khiếp như thế. Bất mãn và rầu rĩ, tôi đâm ra xuống tinh thần và nhuốm bịnh. Tôi nằm mẹp trên giường nhỏ dưới gầm tàu trong suốt hầu hết chuyến đi hai tuần lễ từ Bali đến Rabaul.

Cuộc hải hành đầy gian nan vất vả. Trời oi bức không thể chịu đựng nổi. Suốt cả tuần không ai khô ráo. Mồ hôi cứ đổ ra như tắm. Mọi phi công đều lâm bịnh. Sau khi vượt qua đảo Timor từng thuộc Bồ Ðào Nha, do lực lượng của chúng tôi chiếm giữ, chiếc tàu hộ tống quay trở về. Bấy giờ bịnh của tôi trở nên trầm trọng. Nhiều khi tôi cảm thấy đang hấp hối. Nhưng ngay cả sự khốn khổ tồi tệ nhứt, cũng có phần thưởng của nó. Ở bên cạnh tôi suốt chuyến đi là một đại úy trẻ tuổi, vừa được bổ nhiệm chỉ huy phi đội của tôi. Ðại úy Junichi Sasai là một trong những người nổi bật nhất mà tôi đã gặp từ trước tới nay. Xuất thân từ Hàn Lâm viện Hải quân Nhựt Bản, giữa ông ta và hạ sĩ quan hiển nhiên là có một sự ngăn cách. Theo hệ thống quân giai nghiêm ngặt của Hải quân, ngay cả khi chúng tôi hấp hối đi nữa, ông ta cũng không cần phải bước vô hầm tàu hôi hám này. Tuy nhiên Sasai lại khác hẳn. Ông không chú ý đến “lề luật bất thành văn” của Hải quân, theo đó, sĩ quan không được thân mật với thuộc cấp. Trong lúc mê sảng tôi la hét, mình mẩy ướt đẫm mồ hôi, hầm tàu chật hẹp xông lên mùi hôi hám khó chịu, Sasai vẫn ngồi bên cạnh giường, tận tâm chăm sóc tôi. Sự ưu ái của ông đã khiến bịnh tôi dần dần bình phục.

Cuối cùng, chiếc tàu lướt vô hải cảng Rabaul, hải cảng chánh của quần đảo New Britain. Tôi nặng nhọc lê thân xuống cầu thang, bước lên bến tàu. Tôi không tin những gì đã nhìn thấy. Nếu Bali là một thiên đường, Rabaul là một địa ngục thực sự. Chúng tôi có một phi đạo nhỏ hẹp và lấm bụi để sử dụng. Ðó là một phi đạo tồi nhứt mà tôi chưa từng thấy ở bất cứ nơi nào. Ngay phía sau phi đạo khốn khổ này là một ngọn núi lửa đầy doạ nạt, vươn cao 700 bộ (200m) trên bầu trời. Cứ một vài phút mặt đất lại rung chuyển và núi lửa gầm lên hồi lâu rồi phun khói dày đặc, lẫn lộn hợp chất phún thạch. Xa hơn nữa là một dãy núi màu xanh mét, trần trụi bóng cây.

Ngay khi xuống tàu, nhóm phi công di chuyển ngay đến sân bay. Trên con đường lấm bụi, chân chúng tôi ngập sâu trong đá bọt và tro than do núi lửa phun ra. Sân bay hoang phế. Bụi và tro dâng cao trong không khí. Hơi thở ngột ngạt vì khí quyển đặc quánh. Những tiếng càu nhàu đầy thất vọng khi các phi công nhận thấy nhiều chiến đấu cơ Claude, bộ phận hạ cánh cố định và buồng lái lộ thiên cổ lỗ nằm giữa bãi đậu.

Tất cả những thứ đó quá nhiều đối với tôi. Tôi phát đau trở lại và ngã quỵ xuống. Ðại úy Sasai đưa tôi vô một bịnh xá chưa hoàn tất, nằm trên một ngọn đồi, cạnh sân bay.

Tôi khám phá sáng hôm sau là Rabaul không phải là một căn cứ tiền tiêu xa xăm hoang vu như tôi đã nghĩ. Mà ngược lại, chính là một trạm trung chuyển quan trọng sẽ ở ngay trung tâm điểm của cuộc chiến phía Nam Thái Bình Dương. Rabaul cách những vị trí tiền phương của Liên quân Úc-Hoa Kỳ không xa. Chúng tôi sẽ nhanh chóng lao vào một trận chiến mới.

Sáng hôm sau nữa, tiếng còi báo động không tập lôi tôi ra khỏi giấc ngủ thiêm thiếp. Qua cửa sổ tôi nhìn thấy 12 chiếc Marauder, oanh tạc cơ hai máy B26, sà thấp trên hải cảng thả nhiều trái bom ngay xuống chiếc Komaki Maru, là chiếc tàu buôn chở chúng tôi từ Bali đến đây. Thủy thủ đoàn chạy tán loạn lên bến tàu và nhảy xuống nước. Trong một vài phút chiếc tàu bốc cháy và chìm dần. Các oanh tạc cơ mang huy hiệu của Úc Ðại Lợi, bấy giờ quay sang tấn công sân bay và các phi cơ đậu trên đó. Các oanh tạc cơ Marauder quay lại ba ngày liên tiếp, xạ kích tất cả những gì di động trên mặt đất. Các cuộc tấn công là những liều thuốc tốt nhất đối với tôi. Tôi xin bác sĩ cho tôi xuất viện ngay lập tức. Tôi muốn đặt đôi tay ngứa ngáy của mình lên cần kiểm soát của một chiếc Zéro trở lại. Vị bác sĩ cười: “Ở đây thêm vài bữa nữa, Sakai. Anh xuất viện để làm gì bây giờ? Không có một chiếc phi cơ nào còn khiển dụng cho anh bay đâu. Khi nào nhận thêm máy bay mới, tôi sẽ cho anh xuất viện.”

Bốn ngày sau, gần bình phục hẳn, tôi rời bệnh viện. Với 19 phi công khác, tôi leo lên một thủy phi cơ 4 máy vừa bay đến vào buổi sáng hôm đó. Chúng tôi sẽ sớm được bay trở lại vì chiếc thủy phi cơ này cất cánh từ hàng không mẫu hạm Kasuga (Ðại Ưng), chiếc tàu có nhiệm vụ chở 25 chiến đấu cơ Zéro mới cho phi đoàn của chúng tôi. Nhưng các cuộc không thám và oanh tạc liên tục của đối phương đã ngăn trở Kasuga chạy vô Rabaul. Chiếc tàu phải đậu ở gần đảo Buka, cách xa đây 200 dặm (370km), và cho thủy phi cơ chở chúng tôi đến đó nhận máy bay.

Hai giờ sau chúng tôi trở về Rabaul, cười đùa như bọn học trò với 25 chiến đấu cơ mới tinh, tất cả đều được võ trang và sẵn sàng lâm trận. Tuy nhiên, một phi cơ thám thính của địch quân đã nhìn thấy các chiến đấu cơ mới của chúng tôi và nó biến mất trước khi chúng tôi kịp cất cánh.

Rabaul trở nên yên tĩnh, ngoại trừ những cơn mưa tro phún thạch không lúc nào giảm bớt của ngọn núi lửa. Nhiều tuần lễ kế đó, các chiến đấu cơ và oanh tạc cơ Nhựt không ngớt được đưa đến Rabaul. Chúng tôi gom góp năng lực mới cho cuộc tấn công đang xúc tiến, nhằm chống lại Úc Ðại Lợi và hải cảng Moresby. Các kế hoạch của Nhựt Bản, như chúng tôi được nói cho biết, là đánh chiếm toàn khắp vùng Papua New Guinea. Nhưng trước tiên phải khống chế bầu trời bên trên biển Bismarck và biển Solomon.

Đoàn Văn Xường

Kiều Công Cự

Post by Sơn râu 21 Aug 2026

Sinh năm 1942 tại Quảng Nam. Gia nhập Khóa 22 (1965-1967), Trường Võ bị Quốc gia Việt Nam. Chọn Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến khi ra Trường và ở Tiểu đoàn 2, và Tiểu Đoàn 9 từ 22/12/67 đến 30/4/75. Đi tù VC từ 24/6/75 đến 1/4/85. Cùng Gia đình định cư tại Mỹ theo Chương trình HO 22 (22/11/1993). Đã qua tuổi về hưu nhưng vẫn còn đi làm. Rất mong ước có đủ sức khỏe, và đam mê để tiếp tục viết, và dịch những sách Quân sử VNCH.

* * *

Trong Tập san BĐQ số 29, phát hành tháng 5/2010, ở trang 64, có bài thơ “Em, Anh và Cuộc chiến” của Tịnh Nhiên, đã làm tôi xúc động. Bởi vì Đoàn văn Xường là người bạn cùng Khóa cuả tôi mà người con gái này đã quen, đã biết và nhớ rất rõ về cấp bực, chức vụ, đơn vị, và KBC của bạn tôi:

…Gặp được Em, cô bé mới lên mười
Đôi mắt thơ ngây má phúng duyên cười
Trong nhung lụa, em như công chúa nhỏ
Nào ai biết cuộc đời sẽ thay đổi

Rồi một hôm, cao nguyên kéo cờ rũ
Cha cô bé đã nằm xuống cho Cao nguyên
Thương cô bé vành khăn tang khi tuổi vẫn còn thơ…

Gia đình tang thương, đất nước cũng bi thảm:

…Ngày cuối tháng tư
Lệnh ban ra, bỏ súng, đầu hàng
Nước mắt tuôn rơi tim như đã nghẹn lời..
Và như thế anh lên đường cải tạo.

Để rồi cuối cùng:

“Em bặt tin Anh mãi đến giờ
Rời quê hương qua được xứ Tự Do
Vẫn luôn ngóng tin Anh từ đó

Nhiều nguồn tin nghe nói Anh đã
Thân xác gởi nơi núi rừng Nghệ Tĩnh
Cô bé ngày xưa vẫn,
Luôn nhớ mãi về Anh…

Đó cũng là niềm cảm xúc để tôi được viết những dòng này như “những thông báo” một đôi điều mà tôi biết về Bạn tôi, Đoàn văn Xường.

Xường sinh ngày 12/5/1945 tại Long Đức, Trà Vinh trong gia đình gồm có 2 anh trai và một chị gái. Xường là con Út trong nên được các Anh chị cưng chiều và thương yêu. Ba mẹ đã mất sau cái chết đau thương của Xường trong ngục tù CS. Một người anh của Xường hiện còn sống tại Long Đức, Trà Vinh. Người chị gái rất thân thiết với Xường đang định cư tại Thụy Điển. Hồi nhỏ theo học Trường Trung học bán công Trần Trung Tiên, thị xã Trà Vinh. Sau khi đậu Tú tài 2, lên Sài gòn theo học Đại học Khoa học Sài gòn. Năm 73, khi đơn vị ở gần Sài gòn còn ghi danh Trường Luật. Là một học sinh xuất sắc, một người lúc nào cũng vui vẻ lạc quan và tánh hay giúp đỡ mọi người

Đến 30/4/1975, vẫn còn độc thân mặc dầu gia đình thúc giục, Xường chỉ nói: “Thân lính tráng sống nay chết mai, sợ làm khổ vợ cSVSQ Đoàn văn Xường, 1967on…” Tánh tình khá kín đáo, nhưng hình như có một lần Xường có nói về một người con gái mà Xường đã quen khi cô bé… còn là công chúa nhỏ… và thương cô bé vành khăn tang khi tuổi còn thơ… Cô gái đó vẫn còn giữ liên lạc khi Xường đã vào tù từ những lá thư viết về từ HT 7590, L16, K1.., một thư nữa, rồi sau đó bặt luôn.

Trên đường ra Bắc:

Tôi không nhớ chính xác cái ngày chúng tôi bị đưa xuống tàu chuyển ra bắc, chỉ nhớ vào khoảng tháng 5/77, ba tháng sau tết Đinh Tỵ (2/77), cái ngày vợ tôi đưa hai con lên thăm gặp tại trại Tân Hiệp, Biên Hòa (tức là Trại giam tù binh phiến cộng cũ). Địa điểm tập trung thì rất quen thuộc, từ trại đoàn xe chạy về hướng Biên Hòa, thẳng ra xa lộ rồi đổ về hướng nam, đến cầu Sài gòn quẹo trái đi vào bến Tân cảng (New Port), một địa điểm bốc dỡ tiếp liệu, đạn dược của quân đội Mỹ trước khi được chuyển về căn cứ Long Bình. Phương tiện chuyên chở là những chiếc tàu chở gạo hay chở hàng mà chúng chiếm được ở bên kho 5 Khánh Hội. Lòng tàu dài khoảng 25m, rộng 10m và cao 5m. Thời gian xuống tàu vào sau nửa đêm. Chúng dùng một cái thang để đưa người xuống bên dưới. Đến người cuối cùng thì chúng kéo thang lên. Chỉ có một cái lổ thông hơi duy nhất ở ngay phía trên được đậy lại bằng một cái lưới mắt cáo. Tôi không biết bao nhiêu người bị nhét vào đây nhưng dứt khoát là không thể nằm hoặc ngồi thoải mái được. Không khí ngột ngạt, khó thở. Cũng may vào ban đêm khí trời còn lành lạnh.

Rồi cái bửng mắt cáo lại được mở lên, cái thang được thòng xuống để chúng nhét thêm hai người. Hai người này hành lý nhẹ tơn. Chỉ có cái ba lô lép xẹp mang phía sau lưng. Thế nhưng anh chàng đi đầu vừa đi vừa nhún nhảy làm cho vài người la lên sợ cái thang gỗ sẽ gảy đến nơi. Nhưng anh chàng lại nở một nụ cười “bất cần”. Chính cái nụ cười này làm tôi thấy ngờ ngợ, hình như mình có gặp anh chàng này ở đâu rồi. Rồi tôi buột miệng kêu lên: “Ê Xường, Đoàn văn Xường!” Anh chàng hướng về nơi có người vừa gọi tên mình. Dĩ nhiên không nhận ra trong cái ánh sáng lờ mờ này. Tôi đứng thẳng người dậy, gọi tiếp: “Kiều công Cự nè, lại đây!” Tôi đang ở trong cái xó trong cùng của khoang tàu, nơi để thùng cho tù đi tiểu và đại tiện. Có lẽ nhờ thế mà còn trống vài chỗ. Nhiều người bạn đang đứng dạt ra cho Xường và người bạn đồng hành đi tới chỗ của tôi. Tôi hơi ngạc nhiên chuyến này ra bắc mà hai anh chàng không mang theo cái gì hết trơn. Xường nói ngay:

– Hôm chuyển lên Long Giao được vài ngày thì tao với thằng Thắng, Bùi quang Thắng -Đại úy BĐQ, dọt liền. Ra khỏi trại ngon ơ. Định dọt lẹ ra đường đón xe lam về Sài gòn không ngờ gặp mấy thằng du kích… Tụi nó dữ quá, chúng nó trói lại và đem trả lại cho trại. Mấy thằng bộ đội đập cho một trận tưỡng tiêu rồi… Tao bị chúng đem nhốt vào trong conex cho đến bây giờ. Ra ngoài bắc coi bộ yên yên là tao dông. Nhất định không ở với tụi này. Chết thì bỏ. Cứ coi như mình đã… “anh dũng đền nợ nước” rồi…

Cả hai người bị nhốt, bị đánh đập hằng ngày, bị còng tay xích chân hơn một năm, bằng cái thời gian mà chúng tôi từ trại Long Giao về Tân Hiệp, thân thể chỉ còn da bọc xương, nhưng tinh thần vẫn còn cứng cõi, nụ cười vẫn chưa tắt. Xường hỏi tôi:

– Mày có gì cho hai đứa tau ăn đi! Đói quá…

– Dĩ nhiên là có rồi. Nhìn hai người bạn ngồi ăn mà ứa nước mắt. Có bao giờ con người bị đẩy vào tình trạng đói khổ cùng cực như thế này đâu. Đúng là thời đại của “ ma vương quỉ dữ” mà. Hồi ở trong Trường những ngày đi học chung ỡ bãi tập, sân bắn có biết nhau nhưng không thân lắm vì Xường ở Đại đội F (Tiểu đoàn 2), còn tôi ở Đại đội D (Tiểu đoàn 1).

Tháng 12/1967 ra Trường, Xường là một trong 10 người được ưu tiên chọn về Lực lượng đặc biệt cùng với Trương văn Út, Đặng thiện Chẩn, Huỳnh văn Tiểng, Huỳnh trung Chân, Quách cơ Bình, Đặng văn Lợi, Trần văn Ni, Nguyễn phúc Sinh, Nguyễn xã Tắc, trong đó có một nửa (5 thằng) đã chết… còn tôi thì về TQLC, một binh chủng “sống hùng, sống mạnh nhưng sống không lâu..” Thế nhưng hai đứa vẫn sống nhăn… răng để đến ngày 30/4 để cùng nhau “tình nguyện” vào tù CS ở cái tuổi 30 sung sức nhất “tam thập nhi lập”… Thật là dzô diêng (vô duyên), nói theo cái giọng điệu của người miền Nam.

Đoàn tàu bắt đầu rời bến vào khoảng 3, 4 giờ sáng. Chúng tôi ngồi trò chuyện cho đến sáng. Những tia sáng đầu tiên chiếu xuống mờ nhạt, nghiêng nghiêng theo hướng tây bắc -đông nam. Chắc tàu còn đang chạy trên sông Lòng Tảo, Sài gòn. Không ai có ảo tưởng là con tàu sẽ xuôi về hướng nam khi ra biển nhưng cũng có tiếng nói đùa:

– Chúng đem mình ra nhốt ở chuồng cọp Côn đảo đây…

Rồi chúng mở cái bửng. Ánh nắng ban mai ùa vào chan hòa cùng với làn khí lạnh buổi sáng. Chúng thòng dây đưa thùng nước lạnh, và mì gói xuống để anh em chia nhau. Nhưng cái thùng phân, và nước tiểu ở góc phòng chúng không chịu kéo lên mặc dù đã gần đầy. Chúng tôi yêu cầu nhiều lần nhưng chúng lờ đi. (Ít nhất đó cũng là một sự trả thù trong cái đầu óc bé nhỏ của bọn chúng). Nắng càng lên cao càng nóng hầm hập. Mùi hôi thối bốc lên nồng nặc. Đã có người ngất xỉu. Đến ngày thứ hai đã có người chết. Chúng tôi yêu cầu đưa lên nhưng chúng bảo chờ lịnh.

Hình như chẳng ai biết một cách rõ ràng lý lịch của người chết, hay cũng chẳng ai muốn nhắc lại về người bạn xấu số. Như thế này cũng yên rồi. Anh ấy sẽ được nằm lại ở miền Nam, hay thủy táng tại một vùng biển mà anh đã chiến đấu với một tấm lòng không hận thù, và sắt máu như những người CS. Chúng tôi ngồi bó gối. Chỉ có cái xác chết là được nằm thoải mái, được anh em quấn gọn trong những bộ quần áo mang theo. Trong Kinh thánh có nói, địa ngục là nơi có nghiến răng, và khóc lóc. Còn ở đây thì có khốn nạn, và căm hận khôn cùng. Tôi cố nhủ lòng mình hãy bình yên, và lắng xuống… nhưng quả thật điều này không phải dễ dàng. Cũng chẳng dám ăn uống. Chỉ sợ khi thức ăn vào thì cái cái ruột già tống ra. Lại phải làm cái công việc hôi hám dễ bị chúng chửi nhất. Chỉ có Xường và Thắng cứ ăn uống tỉnh bơ, lại còn nói:

– Tụi tao bị nhốt trong conex rồi dưới hầm, ỉa đái tại chỗ. Hửi cứt cả năm quen rồi. Mọi việc cứ… tùy cơ ứng biến. Phải biết sáng tạo cách mạng chứ. Hôm nó kêu ra còng tay dẫn đi, tao tưởng nó đem đi bắn. Không ngờ nó đưa lên xe bít bùng rồi chở lên đây… Ít nhất trong cái địa ngục này cũng còn ngọ nguậy được. Chứ còn ở dưới cái hầm a tỳ đó thì ngồi cũng không được, nằm cũng không được, thậm chí muốn đập đầu tự tử cũng không được…

Bùi quang Thắng, anh chàng có nước da bờn bợt như con thằn lằn, cũng thêm vào:

– Chúng nó xài cái cùm, cái gông như còn sót lại từ thời trung cổ…

– Thế mày ớn chưa? Tôi hỏi Xường.

Xường trả lời ngay, không suy nghĩ một giây:

– Ớn mẹ gì. Có dịp là tau tung cánh đại bàng.

“Tung cánh Đại bàng”, tôi cười lớn khi nghe Xường nói 4 tiếng đó. Cái mặt nó còn vênh vênh đáng ghét. Tôi không có cái hào hứng như Xường nhưng tôi hoàn toàn đồng tình với nó.

Xường đã giữ đúng ý định đó. Xường đã không chấp nhận chế độ nên đã tìm mọi cách để bỏ đi. Xường là loại người chung thủy với Quê hương, và kiên định với Lý Tưởng của mình. Trong quyển Lưu Niệm của Khóa 22, Xường có ghi: “Thích đó đây nên vào Quân đội: Thấy hợp. Nhận xét: Quân đội đã đào tạo chúng ta thành những người có trách nhiệm và cương quyết”.

Theo lời kể lại của Nguyễn ngọc Khoan (Khoan em), người bạn cùng khoá, cùng Binh chủng Biệt động quân: Cho đến ngày 30/4/75 Xường vẫn còn là một anh chàng “độc thân vui tính” và chỉ yêu một người con gái mà Xường đã gặp năm cô nàng mới lên 10 tuổi.

Anh chàng thi sĩ Nguyên Sa còn kém hơn Xường một bực khi yêu một cô gái đã 13, nhưng vẫn còn mắc cỡ:

“Em dấu đi những nỗi lòng vỡ rạn…
Anh cũng thề dấu hết gió mưa đi..
Bao nhiêu ánh đèn rũ rượi tái tê,
Những ngỏ vắng, những đêm sâu anh dấu hết…

Tàu chạy được 4 ngày 5 đêm thì đến Hải phòng vào buổi chiều. Nhưng phải đợi đến tối mịt chúng tôi mới được đưa ra khỏi tàu. Hai cái chân tê cứng. Cả người ê ẩm. Tôi được Xường và Thắng san sẻ bớt gánh nặng hành lý nên cũng đỡ vất vả. Chúng tôi bị quáng mắt vì những ánh đèn pha chĩa thẳng vào. Có quá nhiều bọn công an áo vàng và chó dữ, bộ đội, du kích dàn chào cái đám người mệt mõi rã rời này. Chỉ có một điều khoan khoái là cái bọng đái căng cứng “được giải phóng”. Mọi người được lảnh một nắm cơm trong lá chuối, một con cá khô mặn, và một trái dưa leo nhỏ. Chưa bao giờ có được một bữa ngon miệng. Nhưng nếu được hai, ba phần như thế thì chắc cái bao tử “phấn khởi, hồ hởi” hơn. Mấy ả du kích mang súng CKC, khiêng những thùng nước lạnh và luôn miệng phát loa:

– Chào mừng các Anh đến đất nước “xã hội chủ nghĩa” (xạo hết chỗ nói).

Cái đất nước này là của bọn chúng. Chúng tôi là những người lạ đến từ miền xa.

Tôi lợi dụng lúc này để duỗi thẳng hai chân rồi ngã người trên bãi cỏ, đầu kê lên cái ba lô nhỏ nhìn lên bầu trời đầy sao. Không khí ban đêm thật là mát lạnh. Ước chi được ngủ một giấc trong cái yên bình hiếm có này. Xường cũng nằm xuống bên tôi. Tôi nghe có tiếng ngáy… nhè nhẹ. Nó đã ngủ thật lẹ. Nhưng tiếng sủa của mấy con chó, tiếng còi của đám bộ đội ra lịnh cho chúng tôi di chuyển về phía trước. Một đoàn tàu như con quái vật đen đủi, đang khò khè phun khói. Những tàn lửa bừng sáng trong đêm tối rồi tan biến trong không gian. Chúng tôi bị đẩy lên, nhồi nhét trong những toa tàu, dùng để chở súc vật, vẫn còn rơm rạ, phân khô và than bụi. Chắc nhà thơ Tô Thùy Yên cũng có mặt trên những con tàu này nên đã ghi lại những câu thơ sau đây:

Ngồi đây giữa những phân cùng bụi,
Trong chuyển dời xô xác bạo tàn,
Ta trở thành than, thành súc vật.
Tiếng người e cũng đã quên ngang.

Đêm tối mịt mùng. Có những tia sáng chiếu vào thoảng hoặc qua những lỗ thủng. Tôi cũng nhận ra cái anh chàng Bắc kỳ già Nguyễn văn Long, Đại úy Phân chi khu trưởng ở Phường 13 quận 10. Anh chàng chăm chú nhìn ra bên ngoài qua cái khe hở của thân tàu, và cho tôi biết, đoàn tàu đã đi qua Uông bí, Đông Triều, Vĩnh Yên, Việt trì,… Đến khoảng trưa thì tàu dừng lại ở Phú thọ, nhưng không phải nhà ga mà là nơi gặp gỡ con đường sắt và con đường nhựa cũ kỷ. Chúng tôi rời tàu, theo con đường thoai thoải dẫn xuống bến phà sông Thao để qua tả ngạn sông Hồng.

Buổi trưa tháng Năm, trời nắng như đổ lửa. Đám tù mệt mỏi, bẩn thỉu, lếch thếch, gồng gánh men theo hai bên đường thoai thoải xuống bờ sông. Dân từ những căn nhà hai bên đường túa ra nhìn chúng tôi như những con vật thời tiền sử. Họ chỉ chỏ rồi lớn tiếng chửi rủa. Tại một khoảng đường hẹp, có giăng ngang một tấm biểu ngữ màu đỏ như máu ghi những dòng chữ màu vàng. Tôi chưa kịp đọc thì đã có những tiếng hò hét kích động từ một cái loa cầm tay:

– Giết chết bọn “ngụy ác ôn”.

– Ném đá chúng đi..

Những cục đá ném ra càng lúc càng nhiều. Đám tù chúng tôi đa số bỏ hết đồ đạc để chạy. Những người già yếu không chạy kịp vấp té nằm sóng soài tại chỗ. Họ bị những cục đá đầy ác ý ném vào đầu, vào người. Máu đã đổ ra. Lúc đầu bọn vệ binh áp giải đưa mắt nhìn thích thú đồng lõa. Sau đó chúng mới bắn chỉ thiên can thiệp và đẩy lui đám dân về sau như một bầy lang sói đang ngửi thấy mùi máu tanh. Xét cho cùng đây là một việc làm có tổ chức nằm trong chính sách “bạo lực cách mạng” nhằm khủng bố tinh thần của các tù nhân.

Lần đầu tiên trong đời tôi biết thế nào là kinh hoàng, thế nào là căm thù và hèn hạ. Đó không phải là những hành động bộc phát của người dân mà nằm trong đường lối và chủ trương của một lý thuyết độc ác và dã man của bọn cộng sản. Thật là đáng buồn cho những người cùng máu đỏ da vàng mà đối xử với nhau như những con người mất hết nhân tính. Chủ nghĩa CS như một con quái vật ghê tởm của thời đại. Những tên cuồng sát Lenin, Stalin, Mao trạch Đông, Hồ chí Minh đã xây dựng sự nghiệp của chúng trên bao xác người và gây nên bao cảnh thảm sát cho nhân loại. Thế mà bọn chúng vẫn chưa bị đem ra mà luận tội, vẫn còn có một số người đui mù tung hô. Hình hảnh của tên cáo già HCM vẫn còn ngự trị tại một nước VN khốn khổ.

Đất nước VN chúng ta không có may mắn. Nếu không có HCM và bè lũ đồ tể miền bắc thì đâu có cái cảnh máu đổ và ô nhục ngày hôm nay. Qua khỏi bến phà thì chiều tối chúng tôi được lịnh dừng lại bên đường và dồn lên ở một ngọn đồi trọc để ngũ đêm. Xường rất bực bội cái cảnh vừa xảy ra và nói lên những lời hằn học. Tôi bảo Xường giữ bình tĩnh, cứ coi thái độ kế tiếp của bọn chúng rồi phản ứng.

Trại Bản Kéo, Hoàng liên Sơn:

Sáng hôm sau khi mặt trời vừa lên, một đoàn xe molotova chờ sẳn ở bên đường. Xường kéo tôi và vài người bạn nữa cùng lên xe, xuất phát từ Lâm Thao, qua Yên Lập, Ba Khe rồi đến Bản Kéo thuộc quận Văn Chấn (Nghĩa Lộ) tỉnh Hoàng Liên Sơn. Những con đường loang lổ, không được sửa chữa từ nhiều năm nay. Những sạn đạo càng lúc càng lên cao, len lỏi những dãy đồi khô khan cằn cỗi. Buổi chiều sương xuống mù mịt, không khí nghe nặng nề khó thở. Đúng đây là vùng lam sơn chướng khí. Nghĩ cho cùng chúng ta mới thấy cái thâm độc và dã tâm của đám lãnh đạo Hà nội: “Đối với những người của chế độ cũ là những thành phần đối kháng cần phải bị tiêu diệt dưới mọi hình thức.” Ở đây rừng rú cũng độc địa như con người.

Rồi xuống xe, theo con đường đèo vào một cái trại trong vùng thung lũng có những ngọn núi bao quanh. Những dãy nhà bằng tre nứa và cây rừng còn đang dang dở. Dấu vết để lại cho biết, họ là những người ra đây trước, cũng là những người phe ta thôi. Họ mới được chuyển đến một nơi khác trước khi chúng tôi đến đây không lâu. Họ còn để lại tên họ cấp bực, và binh chủng. Tôi không thấy một người nào quen hết. Để bù lại chúng tôi có những người bạn cùng khóa như Phạm văn Hải (Dù), Trần thanh Chương (Dù), Cao phát Minh (Quân báo) cùng với Xường và tôi. Ít nhất cũng có 5 người bạn cùng khóa có thể tin cậy và tâm sự được. Những người bạn cũ đi từ trại Hốc Môn (thành Ông năm) như Đào kim Trọng (Dù), Nguyễn phú Tài (Pháo binh), Phan xuân Vũ (Bộ binh).

Cũng có vài nhân vật khá độc đáo như TDC, là em ruột của Trần đông A (Quân Y Dù), một người sẳn sàng hợp tác với chế độ CS. Chủ bị bắt và được trao trả tù binh năm 1973 tại sông Thạch Hản (Quảng Trị) nên có nhiều kinh nghiệm học tập, thảo luận của VC. Hắn là “một cái máy phát biểu” trong những lần thảo luận. Còn TTĐ (chúng tôi thường gọi là Tôn thất Từng Tưng) là một người đã khóc trong một buổi “tổng kiểm thảo”, vì hối hận đã sinh ra trong một gia đình phong kiến và mang dòng họ hoàng tộc. Và người Đội trưởng là Phan Huy Bách, Đại úy phi công F5A, con của cựu Thủ tướng Phan huy Quát, đã chết ở trại giam Chí Hòa, Sài gòn. Bách là một người mẩu mực trong đời sống, mặc dầu đang sống trong khung cảnh nhà tù CS. Nhận lãnh công việc được giao một cách nghiêm chỉnh, và phân phối cho anh em một cách đứng đắn, và nhất là không bao giờ báo cáo hay có ý hại anh em. Tôi nghĩ Bách là một người tốt. Bách cùng gia đình hiện định cư tại Australia.

Chúng tôi được giao 3 công việc chính:

– Nhóm thứ nhất vào rừng chặt giang, tre, nứa theo những chỉ tiêu được giao.
          – Nhóm thứ hai chặt cây làm cột để tiếp tục làm những căn nhà ở (lán), và làm những hàng rào bao quanh trại giam.
          – Nhóm thứ ba phá rừng, đốn cây, làm cỏ để trồng khoai mì, và đào ao nuôi cá.

Tháng Năm mặt trời như thiêu đốt, những chỉ tiêu được giao không phải dễ dàng cho một số người, nhất là những người già. Có một khuôn mặt khá quen thuộc làm tôi nhớ hoài. Đó là Trung tá Nguyễn thượng Thọ, tức là nhà văn Lê huy Linh Vũ, cục trưởng Cục điện ảnh quân đội thuộc Tổng cục Chiến tranh chính trị. Năm 1966, khi chúng tôi đang học năm thứ nhất của Khóa 22 tại Trường Vỏ bị Đà lạt thì ông hướng dẫn một nhóm quay phim lên thực hiện một cuốn phim tài liệu về đời sống của một Sinh viên sĩ quan do SVSQ Phạm ngọc Đăng và người đẹp Hồng Quế, thơ ký của Tòa thị chánh Đà lạt đóng vai chính. Ông đang ngồi chẻ những sợi lạt, chiếc điếu cày để gần bên, khuôn mặt xa vắng và buồn hiu. Ôi thế sự tang thương, chuyện đời thay đổi. Ai có ngờ đâu cảnh ngộ ngày hôm nay. Người đẹp Hồng Quế cũng đã vội vàng ra đi không muốn để cho người đời được nhìn những vết chân chim nơi cuối mắt. Đúng là:

Giai nhân tự cổ như danh tướng,
Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu.

Khoảng hơn một tháng sau có một vụ trốn trại đầu tiên của Đ/U Nguyễn văn Long. Anh đi được 3 ngày, và bị dân địa phương bắt giữ và thông báo về cho trại. Có 4 người được chỉ định ra đưa Long về trại trong đó có tôi, và Xường. Khi ra đến nơi thì thấy đó là một cái xác bê bết những máu đã khô đen. Những người dân ở đây người nào cũng đằng đằng sát khí. Họ cầm gậy gộc định cản lại không cho chúng tôi khiêng xác về. Tôi nghĩ ngay đây cũng là một màn trình diễn có tổ chức để dằn mặt những người tù. Chúng tôi lại một phen bị đem ra biêu riếu, và chửi rủa thậm tệ. Hai cái lỗ tai phải nghe mà lòng thì cay đắng vô cùng.

Cuối cùng cái xác cũng được khiêng về chôn dưới một cái hố đào cạn, và một chiếc mền lấy trong ba lô quần áo của Long quấn lại. Không có mộ bia, chỉ có một vài cục đá dằn lên ở đầu huyệt. “Thôi hãy nằm ngũ bình yên nghe Long.” Một người lính đã sống một đời hào hùng, đã nằm xuống ở một nơi hiu quạnh bên sườn một cái đồi vô danh. Anh đã về lại quê hương của mình với nỗi niềm cay đắng xót xa. Chắc chắn là gia đình sẽ không được thông báo. Tôi nói với Xường phải cẩn thận, ở đây trốn trại không thoát được đâu. Rừng núi ở đây cũng độc ác như con người. Những người bạn cùng khóa cũng nhắc nhở Xường điều này.

Rồi mùa hè qua đi, mùa thu chẳng thấy một chút gió heo may, chỉ có mùa đông đầy hăm dọa kéo đến. Nghe nói trên đỉnh Fan si pan thuộc dãy Hoàng liên Sơn có tuyết. Còn ở đây những ngày nào lạnh xuống đến 3 độ C. Chúng tôi mới được nghỉ, nhưng vẫn thích đi làm hơn vì trời lạnh đi dọc theo những con suối vớt được những con cá nhỏ, đang dẫy dụa, hoặc phơi mình lên trên mặt nước. Đúng là cái lạnh, cái đói đã đồng lõa hành hạ con người một cách tàn nhẫn. Cái cảnh đói rét lần đầu tiên trong đời. Xường ở lán khác nhưng vẫn thường qua chuyện trò với những bạn đồng khóa bên bếp lửa được phép nhóm lên ở giữa nhà.

Trại 9, liên trại 1 Yên bái:

Cuối tháng 4/78, chúng tôi được chuyển về Trại 9 thuộc liên trại 1 (Yên Bái). Vùng này núi non hiểm trở, và là địa bàn chống Pháp của Ông Hoàng Hoa Thám, có biệt danh là Con hùm Yên thế. Đây cũng là nơi hoạt động của Việt Nam Quốc Dân Đảng do Nguyễn Thái Học cầm đầu, và cũng là nơi mà 13 vị anh hùng dân tộc đã bị đưa lên đoạn đầu đài. Dân ở đây đa số là người Mường ở vùng bằng phẳng, và người Mèo ở lưng chừng những ngọn núi cao. Cũng có một số người Việt. Họ cho biết trước đây họ là những công nhân viên chức, hay quân đội của Pháp.

Tất cả đều không muốn, hay không có điều kiện để di cư vào Nam sau Hiệp định Genève 1954 nên đã bị bắt, và đưa lên chỉ định cư trú tại đây. Những người này rất thông cảm với chúng tôi. Họ bảo “các anh đừng bao giờ nghe lời bọn chúng mà đưa gia đình ra đây. Thà các Anh chết nơi này còn hơn”. Đây là thời gian mà chúng tôi xuống tinh thần nhiều nhất. Trong lúc đó ở Sài gòn chúng cho thân nhân những người tù ở ngoài bắc được lên tòa Đô chánh để làm đơn bảo lãnh. Chúng tôi nhận được những gói quà 3 Kg, và những cái thơ “động viên” như thế. Đúng là những đòn phép lọc lừa gian manh của bọn VC.

Vùng này cũng có nhiều đồi trà, và một vài nhà máy sấy trà. Tôi thích được đi dẫy cỏ trà. Ít nhất cũng hái được những những nụ trà nhai nhỏ rồi uống những ngụm nước vào, nó có cái hậu rất ngọt. Cũng dỗ dành được phần nào cái bao tử trống trãi buổi sáng. Trà vị đắng nhưng uống nước vào chuyển thành vị ngọt dễ chịu. Có một lần tôi đãi cái bao tử một chầu bằng những đọt trà và một lon gu-gô nước lạnh. Kết quả tôi bị say trà, còn kinh khủng hơn say rượu hay say thuốc lào. Từ đó thấy trà đâu là tôi sợ tới đó. Nhiều khi cũng đi làm chung với những cô gái đi hái trà vào buổi sáng. Họ thường mặc quần áo lao động, mang giày vải và đội nón tai bèo, phía sau mang những cái gùi như những người Thượng ở vùng Kontum, Pleiku. Họ rất sợ những con vắt chui vào háng nên thường quấn bên ngoài một cái xà cạp dầy. Vừa làm vừa nói chuyện, phần nhiều là những câu chuyện tào lao, tục tĩu mà họ cố tình cho bọn tôi nghe. Xuất thân của họ cũng là những tù hình sự, trộm cắp hay đĩ điếm bị bắt từ Hà nội, Hải phòng đưa lên đây để “cải tạo lao động”. Thật khác với câu chuyện Bà Chúa chè Đặng thị Huệ của nhà văn Nguyễn triệu Luật.

Ngày quốc khánh 2/9/78 của bọn chúng, chúng tôi được nghỉ ở nhà và được “ăn tươi”, nghĩa là được ăn một chén cơm tươi và mấy lát thịt trâu. Con trâu già của trại “không lao động được nữa” nên được một phát súng ân huệ, và được đem ra đãi tù trong một cái ngày lễ lớn nhất của bọn chúng. Nhưng một điều quan trọng đối với chúng tôi là được đón nghe một lời phát biểu của Phạm văn Đồng, thủ tướng VC, về tình trạng hiện tại của chúng tôi khi đề cập đến những người thuộc chế độ cũ hiện bị giam giữ với cái án “tập trung cải tạo”, vẫn còn rất mập mờ và xa lạ. Năm đó, Đồng đã nói: “Đối với những “ngụy quân” và “ngụy quyền” (Ai là “nguỵ”? Bọn Cộng Sản, hay chúng ta?) là những người có “nhiều nợ máu” (Ai mang nhiều nợ máu? Bọn Cộng Sản hay chúng ta?) với nhân dân. Đáng lẽ phải đem ra bắn bỏ. Nhưng đảng và nhà nước khoan hồng để cho chúng “cải tạo lâu dài”.”

Tất cả đều rất bất mãn, và thất vọng. Tất cả những lời nói và việc làm của bọn chúng đều là những đòn phép tráo trở, gian manh. Nhiều người xuống tinh thần thấy rõ. Nhất là những người ở lứa tuổi trên 50. Trung tá Vinh, cựu Chỉ huy trưởng TTHL Nhảy Dù đã chết những ngày sau đó. Tôi cũng bị một cơn bịnh hiểm nghèo. Bịnh kiết lỵ, đi cầu cả ngày đêm, gần như kiệt sức. Thật ra bịnh này chỉ một vài viên trụ sinh là dứt. Nhưng làm gì mà có, bao nhiêu thuốc men đem theo đã bị bọn chúng tịch thu hết rồi. Trạm xá chỉ cho vài viên Xuyên tâm liên trị bách bịnh. Bạn bè rất lo lắng, nhất là Đoàn văn Xường, và Trần thanh Chương. Hai đứa đi tìm những trái khế chua cho tôi ăn. Chương xuống nhà bếp xin được một ít cơm cháy rang lên thành than rồi đâm nhỏ như những viên thuốc Charcol trị tiêu chảy.

Tôi nằm liệt giường gần mười ngày sau mới hồi tỉnh. Ngày thứ 11, chúng bắt đi làm. Chân tay còn run rẩy nhưng tôi cũng cố gắng đi theo bạn bè. Hôm đó phát cỏ trên đồi, ánh nắng chói chan làm tôi chóng mặt quay vòng. Tôi ngã xuống bất tỉnh. Bạn bè khiêng về trại. Lần này chính tôi cũng xuống tinh thần. Nhưng nghĩ lại chết như thế này thì nhục quá. Bao năm chiến đấu, bao lần máu đã đổ ra, tôi vẫn sống vững mạnh. Không lẽ chết tủi nhục trong nhà tù VC hay sao? Tôi không muốn “mô đất lạ chôn vùi thân bách chiến” chút nào hết. Không thể chết một cách lãng xẹt như thế này. Phải sống chứ! Yếu tố tinh thần rất quan trọng. Tôi đã đứng dậy nên không còn nằm xuống nữa. Tôi đã quyết định bước đi nên không còn rơi rớt dọc đường. Trong hoàn cảnh này yếu tố bạn bè rất quan trọng. Một tháng sau tôi hồi phục. Đó cũng là lúc chúng tôi phải chia tay nhau.

Chuyển trại.

Tình tình bang giao giữa 2 nước “cộng sản anh em Trung cộng, và VC như môi hở răng lạnh”. Đã bắt đầu căng thẳng khi Bộ chính trị VC ra lịnh cho Lê đức Anh xua quân qua Campuchia làm “nghĩa vụ quốc tế” lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt, Iêng Sary, là đàn em của Trung cộng. Hoa quốc Phong hiện đang là chủ tịch đảng, chủ tịch nước bị đem ra bêu riếu là con tư sinh của Mao trạch Đông. Một cuộc chiến tranh của những người cùng thờ Karl Marc, và Lenine chắc chắn sẽ xảy ra. Những trại tù phía bắc được chuyển về phía nam. Nguyễn phúc Sinh, Cao phát Minh, Phạm văn Hải và tôi được chuyển về trại Nam Hà (Ba Sao- Đầm Đùn), Phạm ngọc Đăng, Trần đình Ấn về trại Lý bá Sơ (Thanh Hóa), còn Đoàn văn Xường, Trần thanh Chương, Nguyễn ngọc Khoan… chuyển xa hơn về phía nam ở trại Thanh Chương (Ngệ An), gần sát biên giới Lào, ở đầu của đoạn đường mòn HCM… Hôm đi, mỗi người được phát một nắm cơm độn khoai lang và một miếng da trâu luộc lông cạo chưa sạch nhưng nhất định không bỏ vì đó là “chất tươi”. Di chuyển bằng xe lửa và xe tải. Hai người một còng tay nhau. Đó là thủ tục.

Trước đây, cuộc chiến VN được nằm trong kế hoạch nhuộm đỏ vùng đông nam Á theo vết dầu loang của khối CS nên cộng sản Bắc việt (CSBV) được sự yểm trợ một cách tích cực của Liên sô, các nước CS đông Âu và Trung cộng. Năm 1959 có sự xung đột biên giới giữa Liên sô và Trung cộng. Căng thẳng đã xảy ra ở hai nước CS, tuy không phải tuyên bố đoạn giao nhưng đã có tình trạng lạnh nhạt và bất thân thiện về mặt ngoại giao. HCM đã dùng thủ đoạn đu dây để nhận được viện trợ vũ khí, và trang bị của Liên sô, và nhận sự bảo vệ an ninh miền Bắc với nhiều sư đoàn bộ binh, phòng không, công binh… của Trung cộng đang hiện diện tại đây. Cũng trong thời gian này, Mao trạch Đông mở cuộc thanh trừng đẩm máu với cuộc “Cách mạng Văn hóa” do Giang Thanh với bè lũ 4 tên cầm đầu chỉ huy đám Hồng vệ binh Cộng Sản Trung Hoa, tàn sát từ thượng tầng kiến trúc đến hạ tầng cơ sở. Những nhân vật khá nổi danh như Lưu thiếu Kỳ, Lâm Bưu, Bành đức Hoài kể cả vợ chồng Đặng tiểu Bình, tuy không bị đấu tố đến chết nhưng cũng bị đưa ra nông trường cải tạo khổ sai. Mao đã chết ngày 9/9/1976. Một thế lực mới lên nắm quyền với Hoa quốc Phong là con tư sinh của MTĐ. Nhưng rồi Hoa cũng bị lật đổ và giao quyền cho Đặng tiểu Bình.

Ở VN thì sau khi ký kết Hiệp định ngưng bắc 27/1/73, lợi dụng Hoa kỳ bước ra ngoài vòng chiến, CSBV đã tiếp tục một cách mạnh mẽ công cuộc xâm chiến miền Nam dẫn đến ngày 30/4/1975. Tập đoàn Lê Duẫn, Lê đức Thọ đã nghiêng hẳn về phía Liên sô gây nên một sự tức giận cho Trung cộng. Đặng tiểu Bình hăm dọa sẽ cho VC một bài học đồng thời đòi lại những viện trợ không hoàn lại trước đây. VC đã vơ vét hết lúa gạo miền Nam để trả nợ, nhưng một cuộc chiến ở 6 tỉnh phía bắc không thể tránh được. Bọn chúng đã cho chuyển những trại tù sát ở phía bắc, và phía tây xuôi về miền nam như Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh và Hà nam Ninh… Các trại tù được giao từ quân đội quản lý qua công an. Đây cũng là thời gian te tua nhất và có quá nhiều người đã chết. Trại 6 (Thanh Chương – Nghệ an):

Trước hết xin được xác định vị trí của trại 6 Thanh Chương, Nghệ an.

Phần này do anh Đặng minh Tân, anh em cô cậu với Đ/U Nguyễn văn Xuyên, người cùng vượt trại chung với Xường, hiện đang sống tại Hà nội VN, chị Nguyễn thị Kim Thoa, vợ anh Xuyên, hiện đang sống tại Westminster, California, cho tôi số phone để gọi anh Tân. Người thứ hai biết rất rõ điạ điểm này là anh Lê tấn Đại, Khóa 14 Thủ Đức, trước 1975 là quận trưởng Đức Phong (Phước Long), là anh ruột của người bạn đồng khóa Lê tấn Hớn, hiện cùng định cư tại thành phố Tampa, Florida.

Theo anh Tân thì mỗi lần chị Thoa từ trong Nam (ngã ba Ông Tạ, Sài gòn) ra thăm nuôi đều được anh đưa đi vì anh thông thuộc đường sá ngoài bắc hơn. Anh đã đưa chị Thoa đi ngược lại từ Hà nội về Vinh (Hà Tĩnh) khoảng 300 Km, rồi đi xe đò lên ngã 5 Đô Lương (thị trấn Dùng) nơi hội tụ của những liên tỉnh lộ 7, 46, và 15. Từ đây theo tỉnh lộ số 7 đi về hướng tây bắc. Con đường chạy dọc theo con sông Cả bằng nhiều phương tiện như xe thồ, xe đạp, xe bò hoặc nhờ dân địa phương gánh vác, rất là gian nan và vất vả. Khu này lèo tèo vài xóm dân.

Còn trại 6 Thanh Chương thì được anh Đại mô tả là một trại rất kiên cố. Trước đây là nơi giam giữ những nhân viên hành chánh và quân đội làm việc với Pháp được VC đưa về đây. Điều này nhắc chúng ta nhớ lại một trong 6 nguyên lý hành động của Lenin mà Trung cộng và VC đã áp dụng là: “Đối với những người thuộc chế độ cũ (Sa hoàng, Tưởng giới Thạch, Pháp hay VNCH) thì hãy đưa chúng từ trại cải tạo này đến trại cải tạo khác và cuối cùng đến Siberie.” (Nghĩa là đến tử lộ). Sau này CS Đông Đức đã giúp xây lại nên rất chắc chắn. “Trại có 10 dãy nhà đá dành cho 2 thành phần tù nhân cư trú: tù chính trị (còn được gọi là Tù Z), và tù hình sự.

Mỗi dãy nhà đều được xây bằng đá xanh trát xi măng, lợp tôn, ngăn cách nhau bởi những bức tường cũng xây bằng đá xanh, trát xi măng, cao khoảng 3 thước. Nhà đá chỉ có một cửa ra vào bằng sắt, được mở vào buổi sáng và đóng lại vào buổi chiều sau khi điểm danh và kiểm tra nhân số của từng đội lao động “cư trú” trong nhà. Toàn trại giam được bao bọc bởi một bức tường cao vời vợi, cũng được xây bằng đá xanh và trên cao chót vót còn có một lớp kẽm gai. Nếu đứng ở ngoài mà nhìn bao quát trại này thì nó giống như một lâu đài màu xám xịt khá kiên cố của một nước nào đó bên trời Âu, được xây dựng vào thời Trung cổ. Ngoài ra còn 2 căn nhà đá khác được xây dựng rất đặc biệt gọi là “khu biệt giam”. (Nguyễn Chí Mẫn)

Một thời gian sau số tù nhân (cả chính trị và hình sự) tăng dần lên. Để giải quyết, chúng cho xây dựng một trại mới cách trại cũ khoảng 3 Km về phía tây với vật liệu rất sơ sài bằng những cây gỗ và tre nứa tại địa phương. Xường và Chương được đưa vào trại này, còn Khoan vẫn còn ở trại cũ.

Vượt trại giam:

Theo lời kể lại của người bạn cùng khóa (Chương) thì khi về đây, cái ý định vượt trại của Xường còn mạnh mẽ hơn nhiều. “Nó bắt đầu móc nối với những người cùng ý hướng.” Nguyễn ngọc Khoan rất muốn đi với Xường, còn Chương thì bị một cơn bịnh kiết lỵ quật ngã. Lúc này cuộc chiến ở 6 tỉnh phía bắc gồm Cao Bằng, Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn và Lai Châu đã xảy ra. Đặng tiểu Bình chỉ muốn phá nát cái “huyền thoại hang Bắc Pó” thuộc bản Giới (Hà Giang), và dạy cho CSBV một bài học chứ không muốn kéo dài chiến tranh. Nhưng đất nước rơi vào tình trạng thiếu thốn lúa gạo một cách nghiêm trọng, đến nỗi Phạm văn Đồng phải sang Ấn độ xin viện trợ Bo bo là thức ăn của ngựa về nuôi dân. Còn tù thì te tua nhiều hơn nữa.

Đã có quá nhiều người chết trong thời gian này. Chúng phải cho phép gia đình gởi quà 3Kg và lần lượt bắt buộc gia đình phải đi thăm nuôi tù. Các bà vợ của Khoan, Chương, Xuyên và cả bà chị của Xường là Đoàn thị Nhãn, khi nhận được thư của Xường cũng đã vội vàng ra thăm em. Có một dụng cụ mà Xường rất mong được gia đình cung cấp mà không thể thực hiện được là cái địa bàn dùng để định hướng di chuyển. Nhưng kế hoạch vượt trại vẫn được xúc tiến. Trần thanh Chương sau cơn bịnh, sức khỏe sa sút rất nhiều nên được giao công việc chăn giữ một con trâu. Nhờ vậy mà Chương đem ra khỏi trại và cất giấu tại một địa điểm do Xường chỉ định những thực phẩm khô, và những thức ăn mặn cùng những vật dụng cần thiết khác.

Toán vượt trại của Xường gồm có 4 người: Nguyễn văn Xuyên (Đ/U Sư đoàn 18 BB), Trương tài Năng (Đ/U Không quân), Lê văn Ngọc (Đ/U Không quân) và Đoàn văn Xường (Đ/U BĐQ). Họ vượt trại ban ngày lúc đang đi lao động. Thật là một hành động khá táo bạo, bất ngờ và có tính toán. Dưới đây là lộ trình di chuyển về phía tây và đích đến là bờ tây của sông Mekong trên biên giới Thái Lan. Đoạn đường quá dài, phải băng qua hết bề ngang của nước Lào. Tháng 1 năm 8, có đợt chuyển trại thứ 2 từ trại Nam Hà về miền Nam. Trong đợt này cả 4 trại Nam Hà A+B+C và trại Mễ khoảng 400 người. Cao phát Minh và Nguyễn phúc Sinh vẫn còn ở lại vì là thành phần An ninh và Quân báo. Phạm văn Hải từ trại Mễ được về vì lý do bịnh. Chỉ có một mình tôi đi chuyến này.

Tất cả được xe tải chở ra thị trấn Phủ Lý, Nam Định và dừng lại ở ga Bình Lục, từ đây lên một con tàu chở tù về Nam. Lần này chúng tôi ra đi trong một tâm trạng rất vui mừng, nhất là khi con tàu qua khỏi cầu Hiền Lương để tiến vào địa phận tỉnh Quảng Trị. Đây mới thật là vùng đất mà chúng tôi phải đổ máu ra để bảo vệ nhưng đáng tiếc mọi việc đã đi ra ngoài tầm tay với của những người lính miền Nam, để ngày hôm nay trở về lại vùng đất của mình với hai tay bị còng chặt. Khi đoàn tàu dừng lại ở ga Diêu Trì (Bình Định) thì có 200 người ở những toa tàu phía sau được đưa lên một đoàn xe tải theo Quốc lộ 19 về trại Gia Trung thuộc tỉnh Pleiku (bây giờ chúng đổi lại là Gia Lai). Còn chúng tôi tiếp tục qua các nhà ga Văn Canh, Vạn Giã, Tuy Hòa, Diên Khánh, Ba Ngòi, Cà ná, Mường Mán và cuối cùng dừng lại ở Gia Ray (Xuân Lộc), và lên xe về trại Z30 D còn gọi là trại Hàm Tân trong khu vực Căn cứ 5 của quân đội Đồng Minh trước đây, cách Quốc lộ 1 khoảng hơn 3 Km.Lộ Trình Vượt Trại

Về đây khí thế đấu tranh của anh em Nam Hà còn rất mạnh cho nên sau một lần nổi dậy chống đối đám cán bộ trại mà chúng tôi vẫn gọi là chèo, “14 con ma” trong đó có tôi được đưa về biệt giam tại trại Chí Hòa ngay tại trung tâm Sài gòn, cách căn nhà của vợ con tôi đang ở có khoảng 200m. Đó là buổi trưa ngày 30 Tết Tân Dậu (2/81). Thế cũng là vui rồi mặc dầu sống một thân một mình trong khu xà lim ED thuộc lầu 2. Cho đến tháng 5/82, tôi bị chuyển ra trại trừng giới A 20 (Xuân Phước – Phú Khánh). Ở đây, tôi gặp lại Đ/U Nguyễn văn Xuyên, người cùng vượt trại với Xường, và còn sống sót đã kể lại câu chuyện vượt trại của họ nhất là tài tổ chức, khả năng chịu đựng và thái độ anh hùng của Đoàn văn Xường trước kẻ thù. Xường đã can đảm và chịu nhận tất cả kể cả cái chết cho mình:

“Anh biết đó, chuyến đi quá nguy hiểm, và liều lĩnh như người ta vẫn thường nói là đi tìm cái sống trong cái chết, vì phải vượt qua bề ngang của nước Lào hơn 1.000 cây số trong vùng đất địch (Pathet Lào) để đến biên giới Thái Lan. Không có địa bàn, và bản đồ mà chỉ dựa vào hướng tây của mặt trời. Không đi trên đường mòn hay đường lộ mà phải lẩn trốn trong những rừng cây, giữa những bản làng của người Lào. Lào bây giờ là một nước CS. Lính Pathet Lào có mặt ở nhiều nơi. Thế mà anh em chúng tôi đã vượt được một đoạn đường khá xa trong vòng một tháng trời cho đến khi bị phát hiện và bắt giữ. Pathet Lào đã đưa 4 anh em tôi về đồn biên phòng 57 ở Nghệ An. Từ đây về đến trại là đoạn đường chúng tôi bị hành hạ và đánh đập nhiều nhất. Trương tài Năng, Lê văn Ngọc bị đánh thê thảm, tôi cũng thế. Còn Xường thì tỏ ra bất cần, nhiều khi có thái độ khinh bỉ tụi nó, nhất là khi thấy anh em bị hành hạ nhiều quá thì Xường đã tự nhận là một người đứng ra tổ chức cuộc vượt trại này. Đó cũng lý do để bọn chúng trút mọi sự độc ác dã man lên người của Xường. Một tên vệ binh đã bắn vào hai chân của Xường và hét lên: Để coi mày còn tổ chức trốn trại nữa hay không? Tuy không trúng vào xương chân nhưng máu ra rất nhiều và Xường đã ngã quỵ xuống đất và không còn gượng dậy được nữa.

Sau đó bọn chúng đưa 3 anh em chúng tôi về khu biệt giam của trại K6, Nghệ An giam riêng từng người không cho liên lạc với nhau. Hằng ngày tại nhà kỷ luật chúng thay phiên đánh đập chúng tôi một cách không thương tiếc. Chúng tôi không có cách nào chống đở, hay tự vệ được. Đã nhiều lần Xường lên tiếng chửi rủa bọn chúng, và thách tụi nó bắn chết. Ở bên ngoài anh em có tiếp tế một ít trụ sinh cho Xường nhưng Xường đã kiệt sức, vì Xường đã nhịn ăn, hay không thể ăn được. Sức khỏe mỏi mòn, Xường dần dần đi vào cái chết trong yên lặng, và kiên cường. Tôi không nhớ chính xác ngày nào, nhưng tôi biết là Xường đã chết. Xác Xường được chôn ở một ngọn đồi cách trại khoảng hơn một Km. Còn tôi sau đó được đưa ra khu tập thể, được người nhà thăm nuôi và được đưa về Nam… trại này…”

Xuyên được ra trại cùng ngày với tôi (4/1/85) và về sống với gia đình tại Ngã 3 Ông Tạ, quận 10, Sài gòn. Vì mãi lo bận rộn mưu sinh nên chúng tôi ít có dịp gặp nhau. Năm 97, tôi có gặp lại Xuyên tại Sở Xã hội thuộc Orange County, California. Xuyên cho biết gia đình gồm vợ, và 3 con đã sang định cư tại thành phố Westminster, theo chương trình HO từ năm 1991. Xuyên hiện đang đứng bán tại tiệm sách Thăng Long ở Los Angeles. Tôi chưa kịp hỏi thăm đôi điều thì Xuyên đã xong việc và ra về. Tháng 8/10, khi có ý định viết về cuộc vượt trại giam của Xường tôi có phone lại hỏi Xuyên nhưng chị Nguyễn thị Kim Thoa, vợ Xuyên cho biết Xuyên đã mất từ năm 2001 vì bịnh ung thư gan. Còn 2 anh Trương tài Năng và Lê văn Ngọc nghe nói cũng đang ở Nam Cali. Tôi rất mong có một dịp nào đó gặp được một hay cả hai anh để hỏi rõ ràng hơn về chuyến vượt trại của các Anh.

Đó là tất cả những gì tôi biết được về bạn tôi Đoàn văn Xường.

Còn toán anh Đại gồm có 3 người:

– Lê tấn Đại, Khóa 14 Thủ Đức, Thiếu tá, nguyên quận trưởng Đức Phong (Bình Long).
          – Lê Thơm, Khóa 8 Thủ Đức, Thiếu tá, nguyên quận trưởng Chợ Lách (Vĩnh Long).
          – Nguyễn quốc Khánh, Khóa 17 Thủ Đức, Thiếu tá, Thiết đoàn 16 Kỵ binh.

Toán này ở trong những căn nhà đá khá kiên cố ở trại chính K6, nhưng nhờ họ đã chuẩn bị từ lâu và xử dụng được một cái cưa sắt nhỏ để cưa những chắn song ở căn nhà vệ sinh. Nhờ mưu trí và liều lĩnh anh Đại đã ở được ngoài trại. Mặc dầu toàn bộ trại đã được báo động nhưng đó cũng là điều may mắn vì bọn VC chia nhau đi về phía tây để lục tìm toán của Xường mà bọn chúng không ngờ toán của anh Đại đang đi phía sau chúng.

Toán này cũng vượt trại ngay đêm đó.

Vì ở đây hơn một năm rồi và có chủ ý nên họ đã nghiên cứu lộ trình đầy đủ. Nhờ vậy mà họ đã vượt qua đèo Mường Xén, vượt qua biên giới và tiến vào lảnh thổ Lào, nhắm hướng tây mà đi. Anh Lê tấn Đại kể tiếp cho tôi nghe: “Vì bọn công an VC không thể vượt sâu hơn vào lảnh thổ Lào nên bọn anh đã vượt lên và tiếp tục con đường của mình. Anh cho biết dọc theo biên giới Lào, CSBV đã thành lập những ngôi làng để chỉ định cư trú những thành phần mà chúng gọi là “B quay” nghĩa là những bộ đội, dân công hay thanh niên xung phong không chịu tiếp tục con đường vào nam hay không chịu chiến đấu mà tìm cách tránh né. Chúng đưa những thành phần này kể cả gia đình của họ cư trú tại đây, và không được quay lại làng xóm cũ. Chúng coi những người này như là những tội phạm. Đó là chính sách vô cùng độc ác và dã man của bọn chúng. Cho nên ta không lạ gì bộ đội của chúng luôn luôn bị lùa vào chỗ chết trong những trận đánh biển người mà không dám có một phản ứng nào, hoặc những xạ thủ đại liên bị xích chặt vào súng… Đúng là cái chế độ quá sắt máu, quá coi rẻ sinh mạng của con người với phương châm “mọi phương tiện đều được phục vụ cho mục đích.”

Anh Nguyễn quốc Khánh đã kể tiếp như sau: “Toán 3 người của tôi bị lọt vào ổ phục kích của Pathet Lào khi đang tìm cách băng qua con sông Giăng, cách biên giới Lào – Việt khoảng 20 Km. Chưa có ai bị bắt cả nhưng phải tự động phân tán, tự động thoát hiểm mưu sinh. Hai ông “Quận trưởng” (Thơm và Đại) tiếp tục chạy, và đã bị bắt trong khoảng 10 ngày sau đó tại một con suối nhỏ. Còn tôi làm “người hùng cô đơn” băng rừng vượt núi dưới sự rượt đuổi theo của đám Lào cộng. Khi bắt đầu đổ dốc xuống vùng đồng bằng tưởng là thoát được rồi thì tôi bị chúng bắt, và giao cho công an biên phòng của VC.”

Anh Lê tấn Đại và người em là Lê tấn Hớn cùng gia đình đang định cư tại Tampa, Florida. Anh Nguyễn quốc Khánh cũng đang định cư tại Sacramento, thủ phủ tiểu bang California. Cả hai Anh đã kể lại cho tôi nghe những diễn tiến kể trên.

Anh Khánh cũng nhắc lại cái chết của Anh Lê Thơm đúng như lời kể của Anh Nguyễn Chí Mẫn trong “Vượt ngục và Biệt giam”: “Anh Thơm, tạng người đã ốm o còm cõi lại bị đánh đập liên tục, bị bỏ đói… Đến ngày lễ lớn của bọn chúng (2/9/80), chúng cho mang vào một tô cơm chan đầy nước mỡ. Anh Thơm ăn vào bị tuôn ruột mà chết. Đó là một cung cách giết người của CS. Còn tôi cũng chẳng còn hơi sức nào, thoi thóp chờ chết. Chúng ra lịnh cho anh Kh.., lúc đó là Trưởng trạm xá trong trại tù, trước sự có mặt của tên cai tù là Thượng sĩ Lý, xác nhận là tôi đã chết rồi và khiêng ra ngoài đợi đem hòm vào là đi chôn. Buổi sáng lúc đem hòm vào thì tôi đã sống lại từ hôm trước (đúng là “người về từ cõi chết”). Tôi không bị chôn sống là nhờ anh em sau khi điểm danh các phòng đến nhìn mặt tôi lần cuối. Họ phát giác ra là tôi còn sống, nhờ vậy mà tôi không bị chôn sống. Còn anh Lê Thơm thì chắc chắn đã chết. Điều này đã được anh Nguyễn chí Mẫn ở chung phòng kiên giam với anh Thơm xác nhận. Anh Mẫn hiện đang định cư tại Australia.

Tôi có nhờ anh Trần văn Khiết, Khóa 21 Đà Lạt, Trung đoàn phó Trung đoàn 33 thuộc Sư đoàn 21, cho số phone của anh Trương Phúc, khóa 20 Đà Lạt, là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 63 tân lập thuộc Sư đoàn 21 BB, lúc bấy giờ làm “Trật tự” cho trại K6, Thanh Chương xác nhận là anh biết chắc Lê Thơm đã chết. Nhưng đáng tiếc là tôi muốn được anh xác nhận về trường hợp của Đoàn văn Xường là đàn em của Anh thì Anh chỉ nói là mình không còn nhớ rõ lắm. Có lẽ Xường đã chết trước Lê Thơm và cũng được chôn ở một nơi gần đó.

Nguyễn ngọc Khoan vẫn còn ở K6 khi những người vượt trại trong toán của Xường được đưa về đây. Anh em tìm cách gom những thuốc trụ sinh để đưa vào cho Xường nhưng kết quả cũng chẳng được bao nhiêu. Nếu chúng ta đọc những quyển sách nói về hậu quả của những toán vượt trại như: TÔI PHẢI SỐNG (Linh mục Nguyễn hửu Lễ), VƯỢT TRẠI GIAM (Trần Cảnh), …, chúng ta mới thấy hết được cái ý định tiêu diệt của bọn thú người VC.

Khi Khoan, và Chương được chuyển về Nam ở trại Z30C Xuân Lộc vào khoảng tháng 8/80 thì nghe được tin của những người về sau cho biết Xường đã chết. Đó là điều chính xác. Khoan đang định cư tại Houston, Texas, và Chương đang ở tại Tampa, Florida.

Tôi cũng xin được cám ơn cô Đặng Tuệ Tâm, hiện đang định cư tại thành phố Fremont, California, đã cung cấp cho tôi bài viết của Anh Nguyễn Chí Mẫn (VƯỢT NGỤC VÀ BIỆT GIAM) và những tình cảm đặc biệt mà gia đình của cô là Cố Đại tá Đặng hửu Hồng, tỉnh trưởng tỉnh Quảng Đức, đã kể lại cho tôi nghe mối thân tình của Gia đình với bạn tôi. Về những gì đậm đà nhất, sâu kín nhất đã được thể hiện qua bài thơ mà cô em gái kế Tinh Nhiên đã ghi lại mà tôi cũng không tiện nêu ra ở đây, nhưng thật sự bài thơ đã làm cho tôi rất xúc động.

Cô Tâm cũng thường xuyên liên lạc với chị Nhãn, và rất quan tâm đến việc dự định bốc mộ của Xường từ Thanh Chương về lại quê nhà ở Trà Vinh. Tôi cũng đọc được trong trang Web: http://www.tinhdongdoi.com về Returning Casualty là một chương trình của Hội Vietnamese American Foundation nhằm tìm kiếm, và cải táng hài cốt những người tù “cải tạo” mà Anh Nguyễn đạt Thành là Chủ tịch. Cựu SVSQ Cao văn Thi, Khóa 25 Đà Lạt, cũng đang ở trong toán tìm kiếm, và cải táng thi hài của những tử sĩ VNCH. Tôi rất mong chị Nhãn và cô Tâm có được những thông tin từ những Hội đoàn và cá nhân này.

Lời cuối:

Tiện đây tôi cũng xin được ghi lại những Sĩ quan Khóa 22 Trường Vỏ bị Quốc gia VN đã vượt trại thành công, còn sống sót, hay đã chết trong những khu biệt giam của VC:

– Trương văn Út (Út Bạch Lan) (E22): Ra trường tháng 12/67, tình nguyện về Lực lượng đặc biệt sau đó đưa một Đại đội về thành lập Đại đội 2 Trinh Sát của Lử đoàn 2 Dù. Trình diện tại Sài gòn, sau khi lên trại Long Giao được 3 ngày thì vượt trại cùng với Đ/U Nguyễn văn Tỷ (Đại đội trưởng Trinh sát SĐ18/BB), Đ/U Nguyễn văn Châu (TĐT/ ĐPQ/ Bà Rịa) và Đ/U Nguyễn đăng Khánh. Đến ngã 3 Dầu Giây, ra ga Bàu Cá, lên xe lửa về Sài gòn. Vào rừng tham gia những phong trào phục quốc cho đến năm 1982. Vượt biên, hiện cùng gia đình định cư tại Houston, Texas.

– Nguyễn hửu Thức (C22): Ra trường tháng 12/69, về SĐ18/BB, làm Sĩ quan Tùy viên cho Thiếu tướng Lâm quang Thơ, Tư lịnh Sư Đoàn, sau đó về làm Sĩ quan cán bộ tại Trường Vỏ bị Đà lạt. Trình diện tại Sài gòn, bị đưa lên Ka Tum, Tây Ninh. Tổ chức vượt trại cùng với một Niên trưởng Khóa 18, và một Giáo sư Văn hóa vụ băng qua biên giới Campuchia. Được ghi nhận là mất tích.

– Huỳnh hữu Đức (A22): Ra trường tháng 12/69, tình nguyện về Tiểu đoàn 6 Dù. Trình diện ở Sài gòn, bị đưa lên Ka Tum, Tây Ninh. Cùng trại với người bạn đồng khóa là Huỳnh văn Đức (TĐ5/TQLC). Vượt trại qua đường Campuchia. Được ghi nhận là mất tích. Hiện vợ là Trần thị Nê, và con đang ở tại Cao Lãnh, Đồng Tháp.

– Vỏ văn Xương (E22): Ra trường tháng 12/67, tình nguyện về SĐ/TQLC, Tiểu đoàn 6 (Thần Ưng cảm tử). Tham dự hầu hết các cuộc hành quân tại miền Nam như trận Mậu thân (1968), càn quét các mật khu Hố Bò, Bời Lời, chiến khu D (1969), Hành quân vượt biên sang Campuchia (1970), Hành quân Lam Sơn 719 và nổi tiếng trong trận tái chiếm thành phố Quảng trị và cổ thành Đinh công Tráng năm 1972 trong trách nhiệm Đại đội trưởng ĐĐ2 thuộc Tiểu đoàn 7/TQLC. Sau trận chiến mùa hè đỏ lửa 1972, được thuyên chuyển về Tiểu khu Châu Đốc. Đi tù, và không chấp nhận sống chung với VC nên Anh đã vượt trại vượt, bị bắt lại và chấp nhận cái chết trong nhà biệt giam.http://www.bietdongquan.com/baochi/munau/so31/images31/huynhhuuduc.jpg

– Trần Cảnh (A 22): Ra trường tháng 12/69, tình nguyện về Thiết đoàn 17 Kỵ binh đóng ở Quảng Trị. Là một cựu Thiếu sinh quân (1960) nên tinh thần chiến đấu rất cao. Cấp bực sau cùng là Đại úy và chức vụ là Chi đoàn trưởng Chi đoàn 2/17 thuộc Thiết đoàn 17, Lữ đoàn 1 Kỵ binh.

Kẹt lại ở Đà nẳng, trình diện Ủy ban quân quản Đà nẳng ngày 4/4/75. Tháng 7/75 chuyển lên trại Kỳ Sơn, Tam Kỳ. Vượt trại ngày 13/3/77 cùng với Đ/U Trương hửu Thục (Liên đoàn Biệt kích 81 Dù), Đ/U Phan thanh Tùng (Chi đoàn trưởng 2/20 Chiến xa) Đ/U Lê thanh Thám (Quân Cảnh), Đ/U Nguyễn quang Thuyết (Tiểu khu Thừa Thiên). Hai mươi ngày sau cả toán bị phục kích. Tùng bị bắn chết, Thám, Thuyết bị thương. Thục và Cảnh sau đó cũng bị bắt đưa về trại cũ ở Kỳ Sơn. Ngày 6/6/84 ra tù và đến Hoa kỳ ngày 15/7/92 theo chương trình HO 13. Hiện cùng gia đình ở tại thành phố Indianapolis, tiểu bang Indiana.

Ngoài ra cũng có 3 Đại úy Lương thanh Thủy (H22), Nguyễn văn Tưng (D22), và Lê văn Lượng (C22) đã vượt biên và chết trên biển Đông. Con gái và vợ của Lượng hiện định cư tại Nhật bản.

(Bài viết còn nhiều thiếu sót và sai sót cần điều chỉnh và bổ sung, xin gọi về cho Cự ở số (714) 300.4026 . Cám ơn)

*Ghi chú: Khóa 22 là một Khóa đặc biệt trong 31 Khóa của Trường Vỏ bị Quốc Gia (Đà Lạt). Qua năm thứ hai được chia ra làm 2: 173 SVSQ theo học 2 năm (1965-1967), và 92 SVSQ theo học 4 năm (1965- 1969).

Viết tại Anaheim ngày 10/10/10