Bộ Đồ Lòng

songthao.com

Post 4/2025

Post by Sơn râu 20 May 2025

Bộ đồ lòng dĩ nhiên gồm có…lòng. Nhưng lòng lại chia ra nhiều loại: lòng non, phèo, lòng già, khố linh. Khố linh là phần cuối của lòng già, ăn rất giòn, béo vì có lớp mỡ bên trong. Đó là điểm cộng của khố linh. Điểm trừ là khố linh rất hôi, có lẽ đây là lý do có chữ “khố” nằm vùng ở đây. Bàn ngang một chút: lòng còn chỉ “lòng dạ”, một từ không dính dáng chi tới chuyện ngon hay dở. Nghĩa bóng của “lòng dạ” chỉ liên quan tới con người, còn bò heo gà thì chỉ có một nghĩa. Ngoài lòng, bộ đồ lòng còn bao gồm tim, gan, bao tử, dồi trường. Dồi trường chỉ có ở heo nái. Tùy theo tuổi heo, dồi trường to hay nhỏ. Loại ngon nhất là dồi trường của heo nái đẻ hai hoặc ba lứa. Nhưng ít thực khách biết chuyện này nên cứ đòi dồi trường to, vừa đắt vừa không ngon.

Đĩa lòng heo.

Tôi thuộc loại thích ăn bộ đồ lòng nên viết tới đây đã thấy tốn nước miếng, nhưng ráng nuốt cho thông cái họng để viết tiếp. Kỳ lạ, họng cũng được coi như bộ đồ lòng. Không phải vì thịt vách ngăn cuống họng có vị giòn tan và ngọt mà vì họng được băm nhỏ làm tiết canh cho có chất sụn giòn giòn sừn sựt.

Một quán tiết canh lòng lợn tại Hà Nội ngày nay (Hình: Tiến Chỉnh, 04/2025).

Tiết canh là một món ăn chơi tuyệt diệu. Có tí đế hay whisky vào còn tuyệt diệu hơn nữa. Khi xưa, lúc còn ở Việt Nam, tôi là fan của tiết canh. Nhân tiết canh gồm bộ đồ lòng nhưng không dùng gan. Dùng hành nướng, rau mùi, húng, lá chanh, ớt, băm nhỏ và trộn lẫn với nhau. Tiết được hãm với nước mắm hoặc chanh, muối và nước đun sôi để nguội. Khi tiết canh đã đông mới cắt gan thành lát nhỏ rắc lên trên. Fan của tiết canh như tôi bây giờ nhìn tiết canh làm lơ vì cái tội của khoa học. Các chuyên viên y tế vạch tội tiết canh một cách rất tận tình. Nó gây ra bệnh giun sán, nhiễm liên cầu khuẩn lợn, gây ra ngộ độc có thể dẫn đến tử vong. Một trong những nguyên nhân là khi cắt tiết heo gà vịt người ta không phân biệt được máu đỏ và máu đen, cứ lấy tuốt. Máu đen là chất thải độc của con vật. Nghe dọa như vậy, cái miệng teo lại liền. Chẳng nên phiêu lưu rước bệnh vào người. Mấy anh tây thấy tiết canh rùng mình chạy có cờ. Mấy anh mũi lõ này mải chạy mà quên lịch sử đớp hít của chính mấy anh.

Tiết canh.

Tại Pháp cũng có món tiết canh có tên là “sanquette”. Tại các miền quê, người Pháp giết ngỗng, gan, gà, vịt, dê, cừu, thỏ bằng cách kẹp chặt hai chân sau, đập đầu, móc mắt, cắt tiết rồi cạo lông. Tôi không rõ dân Pháp làm tiết canh như thế nào, có như dân mít ta không, nhưng họ cho đó là món ăn ngon và bổ nhất trên cõi đời này. Tiết canh đã được liệt kê trong cuốn “Grand Livre de Cuisine Bistrot” của đầu bếp trứ danh Alain Ducasse.

Cảnh cắt tiết ngỗng của nông dân Pháp

Sẵn đang nói chuyện bên Tây, nói về chuyện…dồi Tây coi nó khác dồi ta ra sao. Tây có món dồi huyết (boudin noire). Không chỉ ở Pháp mà ở Ý, Thụy Sĩ, Bỉ, Anh, Tây Ban Nha, Nga, Romania đều khoái hết. Dồi chỉ nhồi toàn huyết coi bộ thiếu sáng tạo. Chưa bao giờ thử mà tôi thấy chẳng có chi hấp dẫn. Chi chứ dồi ở Việt Nam nhất định nhiều phần hấp dẫn hơn. Mỗi loại dồi có nhồi nhét những thứ khác nhau bên trong.

Dồi huyết (boudin noir) của Pháp.

Nói ra thì có nhiều người phản bác nhưng nói tới dồi không thể không nói tới chuyện dồi chó.  Sống trên đời ăn miếng dồi chó / Chết xuống âm phủ hỏi có hay không? Dân gian đã bàn tới chuyện món ăn xuyên âm dương như vậy hỏi có thể bỏ qua được không? Chắc là không! Dồi được làm bằng lòng non. Lộn trái cỗ lòng, làm thật sạch, sát muối rồi rửa kỹ cho hết mùi hôi. Nhân dồi gồm đậu phọng rang, đậu xanh đãi vỏ đồ chín giã mịn, mỡ màng tang băm nhỏ, búp dâu non thái như thái thuốc lào, hành răm thái nhỏ, tiết đọng, hạt tiêu trộn đều. Nhồi xong mang luộc hoặc hấp chín đều. Vớt ra, quấn khúc dồi đã chín vào một khúc tre, nướng trên than hoa đỏ rực tới khi vỏ dồi vàng rộm nhưng không cháy, dồi không bị nứt. Dồi ăn với nước chấm được chế riêng từ lục phủ ngũ tạng của con cầy: cuống họng, phổi, tụy, thận, thực quản, ruột già làm sạch. Xào tất cả với khế chua cho tới khi chín tới, cho thêm mẻ vào, đảo đều, nấu tiếp tới khi được thì bắc ra, cho thêm vào vài lát ớt và lá chanh. Ăn với húng chó, rau mùi già và…ba xí đế! Ngon như thế nào, phải viện tới ông nhà văn sành ăn Vũ Bằng tả tình tả cảnh. “Đã định không nói, nhưng không nói không chịu được. Ờ mà nếu ca tụng thịt cầy mà mang tiếng là thiếu văn minh thì mình cũng đành chịu cái tiếng thiếu văn minh vậy, chớ nói đến miếng ngon Hà Nội mà không nói đến thịt cầy, người ta quả là thấy thiếu thốn rất nhiều. Chỉ thiếu có một người, vũ trụ bao la hiu quạnh… huống chi lại thiếu thịt cầy thì còn vui sống làm sao? Nhắm một miếng dồi, lại đưa cay một tợp rượu, rồi khẽ lấy hai ngón tay nhón một ngọn rau húng điểm vào một vị hăng hăng, man mát cho tất cả cái bùi, cái béo, cái cay, cái mát, cái hăng quyện lấy nhau, anh sẽ nói với tôi cảm tưởng của anh ra thế nào… Quả vậy, nếu sau này, người ta chết xuống âm phủ mà không có dồi chó để ăn thì âu cũng là một mối hận thiên thu mà ta cần phải đề phòng ngay tự giờ. Óc chó có tiếng là ngon, nhưng có ý vị, càng ăn càng thấy ngon thì chính là dồi chó. Sao mà lại có những người có óc vĩ đại lại đi nghĩ ra được cách làm một cái thứ dồi ngon lạ ngon lùng đến thế, một tổ hợp tiết tấu đến như thế, hở Trời? Gắp một miếng chấm muối chanh, rồi đưa cay một hơi rượu, ta thấy tất cả tiết, sụn, lá thơm và đậu xanh ở trong miếng dồi nâng đỡ nhau, đoàn kết nhau thành một khối bất khả chia lìa, không những thấy ngon lành cho khẩu cái mà thôi, nhưng lại còn làm cho ta mát gan nở ruột vì cái đẹp tinh thần do sự nhất trí tạo thành”.

Thái bình quê lúa//Dồi chó rán nóng vừa thổi vừa ăn

Dồi chó.

Sống trên đời ăn miếng dồi chó…. – S.U.S – Intelligence …

Lòng dồi chó.

Dồi heo lại là một trường phái khác. Trường phái này mang tính chia rẽ Bắc Nam. Người Nam dùng ruột non, trừ dân Tây Ninh xé rào dùng ruột già như người Bắc. Dồi Nam được nhồi bằng thịt vai xắt hạt lựu, huyết chín, đậu xanh, hạt tiêu rang vàng đập giập, rau răm, rau húng quế xắt nhỏ. Dồi được hấp chín rồi chiên vàng. Người Bắc dùng ruột già tuốt bằng nước gạo. Nhân gồm sụn, cổ họng, mỡ sa, ba chỉ, rau răm băm nhuyễn, hành hoa xắt nhỏ, đậu xanh rang, lá xương sông, nước cốt riềng, sả, tiết đông. Dồi Bắc được luộc chứ không nướng. Dồi dùng với nước chấm gồm mắm tôm đánh sủi bọt với rượu trắng, nước cốt chanh, ớt xắt lát, chút mỡ nước và đường. Rau ăn kèm gồm húng chó, húng quế, rau thơm, rau ngò, tương tự như khi ăn tiết canh.

Tận dụng bộ đồ lòng kỹ nhất phải nói tới phá lấu. Phá lấu dùng hầu hết các phần của bộ đồ lòng. Nhắc tới phá lấu, những người thuộc thế hệ trẻ trước khi Sài Gòn đổi chủ chắc phải thở dài. Như lời một bản nhạc, “nhớ ơi là nhớ, nhớ bất tận”, nhớ nẫu lòng nẫu ruột. Nhưng phá lấu không phải là món của Sài Gòn mà là của người Triều Châu, vùng Quảng Đông bên Tàu. “Lấu” tiếng Tiều có nghĩa là ướp các gia vị cay. “Phá”  nghĩa là thịt động vật. Người Tiều thường làm phá lấu trong những ngày giỗ chạp, cúng kiếng. Lễ vật của những dịp này là nguyên con heo. Thường thì không dùng hết nên họ đem các bộ phận của thịt heo tẩm ướp thành phá lấu dùng lâu dài trong những ngày sau đó. Lưỡi, tai, ruột, bao tử được ướp bằng hỗn hợp quế, hồi, bát giác hồi hương, ngũ vị hương cùng một số vị thuốc bắc. Phá lấu được nấu chậm trong nhiều tiếng đồng hồ, có khi nấu cả ngày mới xong. Nồi phá lấu của người Tiều nhiều khi được để quanh năm suốt tháng trên bếp lửa, hết nước lại châm vào với nước thêm tí muối là có thể ăn dần trong cả năm. Phá lấu Quảng Đông của người Tiều du nhập vào Sài Gòn đã được thay đổi theo sở thích của người dân miền Nam Việt Nam. Tác giả An Lê đã viết trên báo Lao Động ra ngày Chủ Nhật 13/4/2025 vừa qua như sau: “Những ghi chép về nghệ thuật ẩm thực vùng Triều Châu (Quảng Đông, Trung Quốc), cho chúng ta biết phá lấu thường dùng thịt gà, thịt thỏ, thịt bò, thịt heo cắt vuông rồi ướp kỹ và nấu chậm đến khi thành phẩm. Nhưng phá lấu ở Sài Gòn, rất ít dùng thịt, có chăng chỉ là phần thịt thủ của heo gồm mũi, tai, lưỡi và chủ yếu vẫn là nội tạng bò, heo. Đó là bởi phá lấu gặp thói quen thích ăn nội tạng heo và tục lệ cúng đầu heo của người Nam Bộ. Bởi ở thời kỳ đầu của vùng đất phương Nam, con trâu, con bò vẫn là “đầu cơ nghiệp” của việc nông nghiệp, thế nên, người dân chỉ thường giết heo để cúng tế và ăn thịt hơn là dùng trâu, bò. Do đó, đã có một sự chuyển biến về mặt nguyên liệu chế biến, chuyển từ các loại thịt sang nội tạng của heo, thịt đầu heo. Chỉ đến khi trâu, bò được coi như thực phẩm thông thường, người ta mới nấu phá lấu bằng nội tạng bò vì nhiều hơn, rẻ hơn nội tạng heo và gia cầm. Một hương vị chỉ có ở ẩm thực Nam Bộ cũng đã xuất hiện trong món phá lấu là nước cốt dừa, tạo ra hương vị thơm béo, ngầy ngậy rất lôi cuốn. Như thế, chúng ta đã nhìn thấy hành trình hòa hợp một phương thức nấu ăn người Tiều với nguyên liệu của bản địa để tạo nên món phá lấu Sài Gòn vô cùng đặc biệt”.

Mâm phá lấu

Những người trẻ trước năm 1975 chắc không ai không biết mâm phá lấu của ông Tàu già nằm giữa những xe gỏi đu đủ khô bò và đồ ăn vặt khác gần xe nước mía Viễn Đông. Hồi đó tôi là khách hàng thường trực nhưng chỉ nhìn thấy mâm phá lấu chứ không nhìn kỹ ông Tàu già, huống chi tên tuổi quê quán của ông. Tới bây giờ, ngàn trùng xa cách, tuổi tác không còn như xưa, tôi mới biết được “lý lịch” ông. Ông tên Lưu Đặng, người  gốc Quảng Đông sinh sống ở Campuchia. Năm 1970, Lon Nol ra lệnh “cáp duồn” người Việt, ông mới chạy qua Sài Gòn lánh nạn và mưu sinh bằng nghề gia truyền là món phá lấu khìa. Phụ ông có cô con gái nhỏ tên Lưu Kim Sanh, khoảng chục tuổi, chạy lăng xăng bán phụ với cha. Ông Lưu Đặng nay đã ra người thiên cổ, cô bé nhỏ nhít năm xưa nay thay nghề cha, vẫn ôm mâm phá lấu ngay chỗ cha cô đứng từ năm 1970 tới 1990. Xưa cũng như nay, mâm phá lấu của bà Sanh, nay đã cỡ trên 60 tuổi, gồm có lòng heo, bao tử, thú linh, dồi, phèo, gan, chả và ruột vịt. Nước chấm là tương đen. Bà Sanh hồi tưởng: ““Hồi đó 9 tuổi là tui theo ba đi bán phá lấu dạo rồi. Ổng bán từ thời còn thanh niên. Khu này thời trước 1975 là một dãy xe bán đồ ăn vặt dạo. Nào là khô bò đu đủ, phá lấu, nước mía… Có ông già kia có quán tên “Nước mía Viễn Đông”, thế là mọi người đặt tên cho dãy ăn vặt khu chợ Cũ này theo quán ổng luôn. Nghe cũng hay hay”. Có lẽ bà Sanh nhớ lộn. Xe nước mía Viễn Đông nằm một phần trong nhà là  một cơ ngơi hái ra tiền. Cách đây vài năm, tôi có gặp bà chủ của cơ ngơi này, hiện sinh sống tại Montreal, có nhắc tới những ngày bà đếm tiền tới mỏi tay.

Khu Viễn Đông trước 1975.  

Trong hồi ức của một người Sài Gòn xưa, tôi đọc được một đoạn viết như sau.  “Ngược dòng thời gian những năm 70 thế kỷ trước, nam nữ thanh niên chiều cuối tuần, dung dăng dung dẻ dạo phố Sài Gòn thế nào cũng ghé góc đường Pasteur-Lê Lợi dừng xe uống ly nước mía. Trước tiệm nước luôn có mấy mâm phá lấu lòng heo, lòng gà, lòng vịt. Mỗi miếng lòng riêng lẻ được ghim sẵn một cây tăm, ăn bao nhiêu đếm tăm tính tiền bấy nhiêu. Ăn phá lấu kiểu này là ăn kiểng, ăn làm duyên.”

Những người muôn năm cũ, dù lưu lạc tại phương trời nào, vẫn nhớ tới góc đường ăn uống huyền thoại Lê Lợi-Pasteur này. Bà Sanh kể: “Có ông khách xưa định cư ở Pháp rồi mà mỗi lần về ăn cả chục dĩa phá lấu, gần 500.000 đồng. Ổng nói đi lâu mỗi lần về là nhớ mùi ruột vịt, thèm phá lấu chấm tương đen đến ứa nước miếng. Bán cho khách vậy thấy đã lắm”.

Người đi xa đã như vậy, người còn ở lại có thể vẫn còn thấy góc đường thần thoại này nhưng không còn được cái không khí xưa. Nhà văn Đỗ Duy Ngọc, vẫn bám trụ Sài Gòn, trong cuốn “Ăn Mà Không Chơi”, đã nhớ: “Trên khay để đầy phá lấu nhiều màu, toàn những màu sẫm là lòng heo, dồi trường, tim, lưỡi, lá sách, bao tử, gan, ruột non, phèo, phổi. Nói chung là toàn bộ đồ lòng của con heo lại thêm lòng gà đầy đủ gan, tim, ruột lòng thòng xoắn xoắn. Miếng phá lấu được cắt nhỏ lủm một miếng chưa đầy miệng, cắm một cây tăm. Trên khay còn có tương đen, tương đỏ. Khách lái xe xuôi đường Pasteur, thắng xe ghé lại, thích gì ăn nấy, cây tăm khi đã bỏ miếng phá lấu vào miệng thì chú Ba Tàu lại ghim một cây tăm khác vào cổ tay của ông, có sợi cao su buộc ngang. Khách ăn xong chú Ba căn cứ vào số tăm trên tay mà tính tiền. Miếng phá lấu ở đấy bây giờ nhớ lại thấy ngon lạ lùng. Miếng lá sách có gai như miếng khăn lông nhai sần sật, miếng ruột non, ruột già beo béo, miếng gan bùi bùi, miếng lưỡi, miếng phèo hơi dai càng nhai càng ngọt mùi… Gần nửa thế kỷ rồi, nhắc lại món phá lấu ở địa chỉ ấy bỗng dưng trên đầu lưỡi phảng phất cái mùi ngũ vị hương, cái mùi húng lìu, nước tương hòa lẫn vị béo, dai, bùi của phá lấu năm xưa. Nhắc để gậm nhấm kỷ niệm của một thời chở cô bạn gái ghé vào đây, hoặc đi với mấy thằng bạn, chấm chấm, nhai nhai sao đời nghèo mà vui thế”.

Người đi xa, người ở gần, dù đã bao dâu bể, vẫn một lòng với khu Lê Lợi-Pasteur. Nỗi nhờ thành thơ. Như những vần thơ nhớ của Bác sĩ Lê Văn Lân:

Anh ơi, “Nước mía Viễn đông”

Hai ly chưa đã, mát lòng em luôn

Thêm đĩa bò bía chấm tương

Ăn kèm phá lấu, em thương anh nhiều.

04/2025

Bà Chúa Hòn

vietmessneger.com

Sơn Nam

Kỷ Nguyên xuất bản 1969

Post by Sơn râu 20 May 2025

Chương 3

Ông Tư Thính phập phồng khi hay tin Chúa Hòn sắp đến viếng nhà. Ông gọi đứa con gái thân yêu:

– Huôi ơi! Mau quét dọn nhà cửa.

Mười mấy năm trôi qua khiến Huôi trở nên mạnh khỏe, thêm tươi đẹp. Hôm nào, cô còn là đứa bé ranh mãnh nghèo nàn, suốt ngày quanh quẩn trước sân. Giờ đây, cô nổi danh là hoa khôi trong vùng, dáng điệu khoan thai. Bọn trai làng không thích cô lắm. Họ bảo rằng cô quá kiêu căng.

Ông Tư Thính đội nón lên, nói với lại:

– Lát nữa ba về. Con ở nhà, đừng đi vắng!

Đóan chừng có chuyện quan trọng sắp xảy ra, cô Huôi hỏi:

– Thưa ba, hôm nay khách nào tới nhà?

Ông Tư Thính giựt mình, kiêu hãnh vô cùng vì rõ ràng con gái ông có thiên tư, biết đóan xa, gần đúng sự việc. Phải chăng tương lai nó sẽ rạng rỡ, sau cuộc viếng thăm nầy? Ông trả lời nhanh:

– Một ông khách quan trọng.

– Nếu khách tới, con trả lời sao?

– Con chớ lo xa. Ba về bây giờ.

Lập tức, ông Tư Thính đến gặp ông đạo Đất trong thảo am. Ông đạo ung dung uống rươu. Cái tật uống rượu nầy bị dân chúng chê trách nhưng ông đạo trả lời bình thản rằng rượu do nếp sinh ra, nếp do đất sanh ra. Uống rượu thì thích hợp với ý nghĩa “Đất” do ông đề xướng.

Uống quá nhiều rượu, ông đạo Đất ngả lăn trên giường. Khi thấy Tư Thính đến, ông đạo lồm cồm ngồi dậy rót thêm rượu nữa.

– Ủa! Sao trở lại đây? Lo dọn dẹp nhà cửa cho mau. Tôi nói ông Chúa Hòn sắp tới: Đừng để trễ.

Ông Tư Thính hỏi:

– Nếu ông Chúa Hòn tới, tôi ăn nói chuyện gì cho hợp tình hợp cảnh? Chắng lẽ tôi khoe đứa con gái đẹp rồi năn nỉ ông Chúa để dâng cho ông?

Ông đạo Đất cười dòn:

– Con Huôi đã tới lúc trở thành bà Chúa rồi. Rốt cuộc tất cả mọi người đều theo cái đạo lớn, do Đất sắp đặt trước. Đất sanh ra bụi quỳnh hoa. Đất nuôi dưỡng con mãng xà vương hồi năm xưa. Ông Tư thấy tôi là thánh sống không! Mười mấy năm trước, rắn quấn con Huôi, tôi nói là điềm tốt. Bây giờ là sự việc bày ra nhãn tiền.

Ông Tư Thính vẫn thắc mắc:

– Hồi sáng, không hiểu ông già Chót nói gì với ông Chúa?

– Tôi gặp ông già Chót rồi, ổng nói chuyện bụi bông quỳnh hoa, nhờ vậy mà lát nữa ông Chúa tới. Nay mai, nếu cô Huôi trở thành bà Chúa thì nên nhớ khen thưởng ông già Chót. Ổng lên núi rồi. Ông Tư cứ trả lời bình tĩnh, rồi có quới nhơn giúp đỡ. Hàng chục người đang sẵn sàng nịnh bợ ông.

– Phải chi ông tới nhà tôi để trả lời khi ông Chúa Hòn hỏi những câu ngặt nghèo, thí dụ như tại sao bông nở mười nụ một lần.

Ông đạo Đất cau mày:.

– Tôi lại đó là hư chuyện, vì ông Chúa Hòn nghi ngờ rằng đây là viêc giả tạo, sắp đặt từ trước. Khi nào cần thì ông Chúa Hòn phải tới cái cốc nầy hoặc mời tôi. Ông cứ về. Đừng lo gì hết.

Khi về tới nhà, ông Tư Thính gặp hai người lực lưỡng đứng trước sân. Ông biết ngay đó là bọn hộ vệ, nên hỏi giả vờ:

– Chào mấy cậu! Chắc là ông Chúa Hòn…

– Phải vậy đó. Nhưng mà ông đừng lo xa.

– Ông Chúa tới, tôi phải lo rượu thịt, trà tươi để đón rước. Rủi bề gì ổng giận, năm sau cha con tôi không có đất cày cấy. Nhà nghèo, mấy cậu hiểu, châm chế giùm.

Ông Tư Thính đến sân, nhòm lại kỹ bụi quỳnh hoa. Đôi ba chục lá dài, xanh tươi như lưỡi kiếm vươn lên. Ồng đếm kỹ tất cả đúng mười nụ còn búp, nhứt định là đêm nay hoa nở rộ một lượt. Ông gọi:

– Huôi ơi! Lát nữa ông Chúa Hòn đến, con nên chào hỏi lễ phép. Ông dạy điều gì, con nên vâng lời, cúi đầu vui vẻ. Thời vận đã tới. Nhờ Trời Phật, năm nay gia đình mình gặp may mắn, ba được khỏe thân mà con thì hiển vinh.

Cô Huôi nói giọng kiêu hãnh:

– Con ăn mặc như vầy được không? Chưng diện quá mức, mặc quần áo mới thì không ích lợi gì, người ta cho rằng gia đình mình cầu cạnh.

“Đúng là, câu nói của một… bà lớn’’. Ông Tư Thính tin tưởng rằng nhan sắc đứa con gái thân yêu sẽ làm hài lòng, nếu không làm chóa mắt ông Chúa Hòn.

Ông căn dặn thêm:

– Lát nữa, con nên nói thật ít cho thiên hạ nể nang.

Cô Huôi liếc ra sân, nói khẽ với cha:

– Họ tới rồi kìa. Cha đừng lo. Con không nói bất cứ tiếng nào hết, như vậy họ mới kính trọng.

Ông Chúa Hòn lên bờ nhanh nhẹn, trong khi ông Bá Vạn chậm chạp hơn, đưa tay cho tên hộ vệ níu mạnh. Ông Chúa Hòn hỏi:

– Đây hả? Bụi quỳnh hoa ở đâu? Chủ nhà là ai? Tối nay bông quỳnh hoa nở thì còn gì may mắn cho bằng.

Đứng trước thềm nhà, ông Tư Thính chắp tay, nghe rõ lời ông Chúa Hòn nhưng Tư Thính dành quyền trả lời cho bọn hộ vệ. Bá Vạn đến gần Tư Thính, nói khẽ:

– Tôi giúp ông phen nầy. Nên chiều chuộng ông Chúa Hòn bằng mọi cách. Ra sân mà nói chuyện. Hôm nay, ông Chúa vui lắm.

Tư Thính cúi đầu thật sâu:

– Mấy thuở ông tới, nhà nghèo không tiếp đãi trọng thể, xin ông tha thứ cho. Bụi bông nầy do con gái tôi trồng nở được mười nụ. Thật may mắn cho tôi, ông Chúa đến đúng lúc.

Ông Chúa Hòn liếc sơ bụi quỳnh hoa, thấy hàng chục nụ đeo lủng lẳng, từ nách lá nẩy ra: Nhưng ông muốn tò mò để hiểu việc khác:

– Hoa nở rộ như vầy, mười năm chưa ắt có một lần. Hoa do con gái chú trồng. Cô đó đâu rồi?

– Dạ, con nhà nghèo nên nãy giờ chưa dám trình diện với ông. Xin mời ông vô nhà.

Bá Vạn kéo cái ghế, phủi bụi đôi ba lần rồi kính cẩn.

– Mời ông Chúa.

Trong khi đó, Tư Thính chạy vào nhà trong. Cô Huôi vẫn bình thản lụm củi vào bếp, lo bữa cơm chiều. Tư Thính nói:

– Huôi! Ra chào ông Chúa.

Cô Huôi đáp:

– Ba ra trước, con ra sau.

Ông Chúa Hòn hơi nóng nảy nhưng còn giữ chút thể diện, ông ra lịnh cho bọn hộ vệ:

– Đem rượu với đồ ăn lên đây! Uống rượu mà xem hoa nở thì còn gì cho bằng.

Cô Huôi bước chậm rãi, ông Bá Vạn thấy trước, lấy làm đắc ý vì gương mặt cô gái trẻ nầy vừa đẹp, vừa kiêu hãnh. Nếu cô Huôi được về với ông Chúa Hòn thì Bá Vạn sẽ thêm vây cánh, ăn thua với cậu Hai Điền và bà chánh thất. Bá Vạn lên tiếng:

– Thưa ông, con gái Tư Thính đây.

Ông Chúa Hòn sửng sốt, há miệng. Dè đâu ở chốn quê mùa hẻo lánh nầy lại có người đẹp tuyệt trần vóc đáng cao ráo, nước da trắng mịn, trán cao, môi đỏ như thoa son, hai tay thật dài, gần chấm đầu gối. Ông nói:

– Tuyệt đẹp. Tên gì?

Cô Huôi liếc về phía Tư Thính:

– Thưa ba…

Tư Thính đáp:

– Thưa ông, nó tên Huôi, mười bảy tuổi, mẹ nó mất sớm. Nó trồng bụi quỳnh hoa nầy mười năm rồi, hồi nó mới được bảy tuổi. Đây là lần đầu tiên mà bụi quỳnh hoa nở.

– Lại gần đây!

Cô Huôi đến gần ông Chúa Hòn. Ông ngây ngất, dường như mùi thơm của da thịt cô gái bay ra thoang thoảng. Nếu vắng người thì ông ta đã ôm ghì miếng mồi ngon ấy vào lòng. Nhưng đây là nơi đông người, ông muốn kiên nhẫn chờ đợi. Ông muốn tìm nơi người đẹp một nguồn sinh lực mới để bù trừ vào những điều xui xẻo đã xảy ra liên tiếp.

– Đẹp lắm!

Cô Huôi hiểu ngầm rằng ông Chúa Hòn đã bị chinh phục. Cô nhìn thẳng vào ông Chúa Hòn không chớp mắt. Và ông Chúa đã cúi mặt xuống như e thẹn.

Tất cả chi tiết đều được Tư Thính và Bá Vạn thấy rõ, hiểu rõ. Như thế là họ thành công được chín phần mười.

Ông Chúa Hòn muốn thay đổi không khí nên đứng dậy:

– Ta ra xem hoa trước khi nó nở.

Rồi ông nói tiếp như yêu cầu cô Huôi:

– Ra đây cho vui. Tánh ta dễ dãi lắm.

Bá Vạn ra sân, đến gần bụi bông. Nhưng ông ta lại chạy trở vô nhà, đem cái ghế ra, để xuống:

– Xin mời ông Chúa ngồi!

Ông Chúa Hòn nào thiết gì đến bụi hoa nữa. Hình ảnh người đẹp cứ chập chờn, ông day qua day lại như sợ cô Huôi đi mất. Cô Huôi đứng yên, oai vệ vô cùng, ông Chúa nói:

– Cô gái ngồi ghế. Gái đẹp ngồi gần hoa đẹp, còn gì hơn!

Bá Vạn lại lính quýnh, chạy vô nhà đem cái ghế thứ nhì ra cho ông Chúa Hòn ngồi. Để tăng thêm phần long trọng cho buổi chiều nhiều ý nghĩa nầy, Tư Thính đi vòng ra sau hè, múc một thùng nước lạnh. Ông đem ra, để gần đứa con gái rồi nói với ông Chúa Hòn:

– Xin phép ông cho tôi tưới bụi quỳnh hoa để đêm nay nó nở đều, để nó thơm tho hơn.

Ông Chúa cười hề hề:

– Cô gái tên gì? Ta nghe tên cô là Huôi, Huôi là hoa, nói theo tiếng Triều Châu. Người đẹp tên Hoa tưới đóa hoa đẹp thì mới thích ý ta.

Lần nầy, cô Huôi vẫn im lặng, trên môi nở nụ cười kín đáo. Dụng ý của cô là dò xét cho biết ông Chúa si mê đến mức nào.

Đúng như dự đóan của cô, ông Chúa Hòn đứng dậy, đến gần thùng nước:

– Vậy thì ta tưới trước. Chắc cô gái muốn giữ lễ phép.

Hai tên hộ vệ khúm núm nâng cái thùng bằng cây và trao cho ông Chúa cái gáo dừa. Ông múc một gáo đầy, tưới ngay gốc bụi quỳnh hoa, tưới thật chậm với nụ cười tươi rói.

Nãy giờ, Tư Thính phập phồng vô cùng, lỡ con gái ông nói ra điều gì quá đáng thì tình cảm ông Chúa sẽ bị sứt mẻ. Bá Vạn tin rằng cô Huôi đã làm đẹp lòng ông Chúa, nếu cô được chọn làm vợ thứ thì rồi đây kế hoạch sẽ thành công, Bá Vạn lần lượt giết ông Chúa Hòn rồi giết cậu Hai Điện. Cô Huôi mặc nhiên là nhân vật quan trọng nhất. Bà chánh thất, mẹ ruột cậu Hai Điền là chướng ngại không đáng kể. Con chết rồi thì mẹ đâu còn thế lực. Vả lại, bọn hộ vệ chưa ắt còn trung thành với bà ta.

Bá Vạn gây cảm tình và lập công với Tư Thính:

– Chú Tư thấy chưa? Ông Chúa tưới bụi hoa, tưới chậm rãi. Lần đầu tiên trong đời, ông chịu làm công việc tầm thường đó. Tôi cầu mong cho cô Huôi gặp nhiều may mắn. Sau nầy, nếu cô Huôi trở thành người quyền thế, chú Tư đừng quên lão già Bá Vạn nầy.

Tư Thính đáp với lòng thành thật:

– Làm cha, ai không muốn cho con cái nên danh phận. Dám mong ông giúp giùm. Cháu gái còn khờ khạo lắm. Ơn ông tôi nào dám quên. Tôi chỉ muốn có ngôi nhà nhỏ, sống rảnh rang dưỡng già, khỏi vất vả cày bừa.

Như vậy là Tư Thính chẳng muốn theo đứa con gái để rút rỉa tiền bạc hoặc gia tài ông Chúa Hòn để lại, Bá Vạn thầm mừng:

– Dịp may đã đến…

Nhớ đến ông đạo Đất, người dàn cảnh tài tình của cuộc gặp gỡ nầy, Tư Thính gợi ý:

– Ông đạo Đất giúp gia đình tôi. Hồi mười năm trước ông đóan được vận mệnh con Huôi…

Bá Vạn sáng mắt lên. Đã từng phục vụ ông Chúa Hòn nhiều năm, Bá Vạn hiểu tâm lý đám bần dân. Đa số đều ham tiền bạc, ruộng đất, danh vọng trong làng xóm. Ông đạo Đất phải là kẻ ham danh vọng, ham hơn ai hết.

– Ông đạo Đất ở gần đây không? Tôi muốn tới thăm với ông Chúa Hòn.

Tư Thính chưa trả lời kịp thì giựt mình, vì ông Chúa Hòn cười lên sặc sụa:

– Mỹ nhân cứ tưới bụi hoa nầy cho nó mau nở. Tưới bằng rượu được không? Đem ra đây vài bầu ruợu quý. Ta uống cho say sưa.

Cô Huôi nâng bầu rượu, tưới xuống theo lời thỉnh cầu của ông Chúa Hòn. Ông Chúa khen ngợi:

– Bàn tay yểu điệu quá. Lát nữa, cô ăn cơm với ta. Cô chưa ăn cơm mà!

Bá Vạn đánh trúng vào tâm lý của ông Chúa Hòn:

– Nhà chật chội, xung quanh còn nhiều kẻ tò mò, nên tìm chỗ nào yên ấm hơn, theo ý tôi thì nên bày tiệc ở dưới ghe hầu!

Ông Chúa Hòn quên tất cả những xui xẻo trong mấy ngày qua, ông muốn làm lại cuộc đời mới, sống những phút tươi trẻ, cuồng bạo:

– Phải rồi. Lát nữa, cô gái xuống ghe với ta..

Cô Huôi e thẹn, từ chối nhiều lần:

– Dạ, không dám.

Tư Thính nói khẽ:

– Con nên làm vừa lòng ông Chúa. Hàng ngàn cô gái ao ước được may mắn như con, vậy mà Trời Phật không giúp họ. Nãy giờ, con nói ít là phải. Đã đến lúc con nô đùa… cho tự nhiên để trở thành bà Chúa Hòn. Không khó đâu. Ông Bá Vạn hứa giúp đỡ gia đình ta.

Ông Chúa Hòn xuống chiếc ghe hầu. Cô Huôi bước chậm rãi theo sau, trong lúc trời sụp tối. Cô đến mũi ghe, nũng nịu:

– Chờ hoa nở rồi hãy uống rượu.

– Khuya nay, hoa mới nở. Trước khi hoa nở thì cô xuống đây cho vui. Cô là đóa hoa hiếm có, một đóa trị giá bằng mười đóa.

Bọn hộ vệ đốt hai ngọn đèn sáp, bày rượu thịt ra rồi từ từ rút lui lên bờ. Chúng hiểu ngầm rằng ông Chúa Hòn muốn đùa giỡn với cô gái nõn nà. Uống rượu vào thật say, ông sẽ hóa ra con thú dữ. Nếu thấy ai thấp thoáng đứng gần, ổng trừng phạt gắt gao. Chưa chi ông đã đổ rượu vào ngực người đẹp. Cô Huôi cứ van nài:

– Lạnh lắm. Em chưa quen uống rượu.

Lập tức, ông Chúa Hòn mở cái tráp nhỏ, đem ra gói giấy đỏ. Cô Huôi trố mắt nhìn:

– Thưa ông…

– Nàng đừng ngại, đây là loại thuốc quý dành riêng cho ta với nàng. Nhân sâm, nàng xem kỹ. Nàng ngậm trong miệng, thủng thẳng hãy nhai nhỏ. Thuốc trường sinh mà. Nhờ đó mà nàng luôn luôn trẻ đẹp, thức suốt đêm không mệt, uống rượu nhiều không biết say. Đói thì ăn. Mệt thì nằm xuống…

Để cho cô Huôi được yên tâm, ông Chúa Hòn đẩy cánh cửa nhỏ bên hông chiếc ghe, gọi to.

– Bá Vạn đâu?

Bá Vạn chạy đến gần, chắp tay thưa:

– Ông Chúa dạy điều gì?

– Chừng nào hoa quỳnh gần nở hãy gọi ta. Ta đang vui dưới nầy. Bảo bọn hộ vệ đứng xa. Người đẹp còn e thẹn…

Bá Vạn và Tư Thính đứng trên sân nhìn về chiếc ghe hầu. Ông Chúa Hòn cười dòn từng chập. Tư Thính hỏi:

– Rồi con gái tôi sẽ về ở với ông Chúa? Tôi sợ nửa chừng, ông đuổi con tôi về, uổng đời con gái.

– Tôi hứa là có. Chú Tư biết không! Xưa nay ông Chúa gặp nhiều cô gái đẹp nhưng chưa bao giờ si mê như vậy. Dầu gì đi nữa ông ta cũng giữ thể diện, không muốn cho người đời hiểu rằng ông ta háo sắc. Hôm nay quả thật ông ta bị nhan sắc lôi cuốn.

Tư Thính vẫn chưa yên tâm:

– Ông Chúa tin thời vận, tin điềm may rủi hay không?

Bá Vạn hỏi:

– Ông đạo Đất mà chú nói lúc nãy ở gần hay xa?

– Gần lắm! Để tôi mời lại đây. Nhưng làm thế nào cho ông Chúa tin ông đạo Đất?

Bá Vạn cười dòn:

– Thế gian nầy, chưa ai mê tín dị đoan bằng ông Chúa Hòn. Tôi tìm cách nói khéo để ông Chúa đích thân tới gặp ông đạo Đất. Ông đạo tới đây là hư mọi việc. Chú sao khờ khạo quá!

Tư Thính chạy nhanh đến cốc, đánh thức ông đạo Đất.

– Ông ơi! Rảnh chưa? Nên thức tới khuya để chờ ông Chúa Hòn. Ông Bá Vạn đồng ý rồi. Nếu ổng chưa tới, ông ráng coi giùm một quẻ. Hôm qua, ông Chúa gặp chuyện xui xẻo như thiên hạ đồn đãi, ông nghe chớ?

– Miễu bà Chúa Xứ bị cháy. Cô gái lên xác bị trăn quấn mất xác.

Tư Thính nói khẽ:

– Lúc coi quẻ, ông cứ nói rằng… nếu ông Chúa Hòn chọn con Huôi làm thứ thất, thì tương lai ông được bảo đảm, bao nhiêu điều xui xẻo đều tan mất.

Ông đạo Đất vẫn nằm dài, nói giọng nhừa nhựa:

– Đừng lo. Tôi sẽ nói nhiều chuyện lạ lùng hơn nữa. Miễn là chú Tư làm cách nào khuyên nhủ con Huôi. Nó là gái tơ, nhiều khi bực bội khi sống với chồng già. Rồi đây, khi ông Chúa Hòn mãn phần, nó tha hồ tìm người chồng khác đẹp đẽ, trẻ trung hơn. Đẹp như nó, có thêm tiền bạc trong tay thì mặc sức lựa chọn. Miễn là nó đừng quên tôi.

Để chứng tỏ rằng mình sành tâm lý, Tư Thính chống tay nói nghiêm nghị:.

– Công việc được trôi chảy tới ngày giờ nầy là nhờ ông sắp xếp khéo léo. Con Huôi sẽ cúng cho ông một kiễng chùa tốt đẹp, sơn son thiếp vàng…

Như không màng đến lợi danh, ông đạo Đất nói qua chuyện khác:

– Con Huôi… xuống ghe ông Chúa Hòn chưa?

– Nó xuống từ nãy giờ. Chắc là ông Chúa Hòn thích ý.

– Vậy là điều may mắn. Ông Chúa ít khi nào nóng nảy như vậy. Thôi, chú Tư cứ về nhà, để mặc tôi. Lát nữa, tôi ngủ một giấc, giả vờ như bất chấp thế sự. Làm như vậy, ông Chúa mới thán phục và tin lời lôi.

Khi Tư Thính trở lại nhà thì ông Bá Vạn ngồi sẵn trước sân, nhìn kỹ bụi quỳnh hoa. Bá Vạn giựt mình day lại:

– Xong chưa? Nãy giờ tôi chờ ông. Ông coi kỹ, dường như nó gần nở rồi. Làm gì mà lâu vậy?

Sau khi nghe rõ những gì đã bàn bạc tại cốc ông đạo Đất, Bá Vạn gật gù:

– Ông đạo nầy tài tình thiệt. Chú Tư coi kỹ. So với lúc ban chiều thì mấy nụ quỳnh hoa to lớn gấp đôi. Cuống bông như kéo dài ra, mọc từ nách lá, mỗi lá dày và dài ăn rễ vào đất, giống như lá thơm, lá xương rồng. Búp hoa căng đầy, lớn bằng ngón chân cái, bốn cái lá dài màu xanh bao học chung quanh, mấy cánh hoa trắng còn gom lại, he hé.

Mấy tên hộ vệ xúm lại gần, có đứa thử đưa tay ra để rờ mó nụ hoa. Ông Bá Vạn nói gắt:

– Tụi bây muốn chết sao chớ! Quỳnh hoa nầy dành riêng cho ông Chúa thưởng thức.

Tư Thính bèn giải thích để xoa dịu lòng tự ái của bọn hộ vệ. Dầu sao đi nữa, giờ phút nầy chú là bần dân, không quyền hạn gì, trong khi bọn hộ vệ được ông Chúa Hòn tin cậy hơn:

– Quỳnh Hoa khó trồng lắm, mấy chú à.. Hễ rờ mó thì nó chai, nở không lớn, không tròn. Hôm nay ông Chúa muốn gặp chuyện hên. Rủi trong mười bông mà có một bông lép thì ổng giận.

Bá Vạn thúc giục:

– Gần nở rồi

Chú Tư Thính đáp:

– Chưa đâu, mấy lá dài màu xanh chưa hé ra thì mấy cánh trắng ở trong còn cuốn tròn. Để cho ông vui say.

Bá Vạn lầm bầm, khoát tay để ra lịnh cho bọn hộ vệ ra xa, đừng nghe lóm được cơ mưu:

– Chú Tư ơi! Bọn đàn ông mau chán bất cứ món ngon nào. Nên mời ông Chúa lên đây xem hoa nở. Rủi hoa nở quá thì sao? Ông Chúa sẽ bực tức, nhưng cô Huôi còn đó. Vì bực tức nên ổng sẽ mời cô Huôi về nhà, càng gần gũi, ổng càng thấy nhiều nét đẹp kín đáo khác.

– Vậy thì ông Bá Vạn cứ ra lịnh. Tôi nào có quyền hạn gì mà sai khiến bọn hộ vệ.

Bá Vạn nhìn xuống con rạch. Chiếc ghe hầu còn đó, ánh đèn bên trong chiếu leo lét, nước chảy hơi mạnh, chiếc ghe nghiêng qua nghiêng lại chòng chành. Cửa mui sau lái vụt mở. Ông Chúa Hòn chun ra, hát nghêu ngao không đúng bài bản nào cả:

– Anh hùng tử …ư ư…khí hùng nào tử…ử!

Bá Vạn mừng thầm vì rõ ràng ông Chúa Hòn gần đến ngày chết bất đắc kỳ tử, “cô hồn” xúi giục ông ta nhắc nhở mấy tiếng “tử” chớ gì! Bá Vạn ra lịnh cho bọn hộ vệ:

– Tụi bây mời ông Chúa lên bờ, bông quỳnh hoa gần nở rồi!

– Ổng say rượu, tôi không dám mời, ông tới mời dễ hơn.

Lập tức, Bá Vạn đến bờ rạch, đứng cách xa ông Chúa Hòn chừng năm bảy bước, ấy thế mà ông Chúa như không trông thấy gì cả. Miệng ông Chúa phun phèo phèo như say rượu, buồn nôn. Ông Chúa đến lái ghe, nhổ cây sào. Lần thứ nhứt, nhổ không xong, ông hơi giận:

– Mầy là cây sào! Cây sào là…cao sầy.

Rồi ông hè hụi, khom lưng nhổ lần thứ nhì. Cây sào tuột lên. Vì dùng quá nhiều sức lực nên ông Chúa tự kềm chế không kịp, suýt té xuống rạch. Chiếc ghe lại chòng chành, suýt chìm. Từ trong mui, cô Huôi kêu la:

– Cho tôi lên bờ, dưới nầy nực lắm.

Ông Chúa Hòn đáp:

– Nực hả! Đó là vì say ruợu, say tình. Bởi vậy, ta nhổ sào, cho chiếc ghe nầy trôi tới chốn….bồng lai tiên cảnh. Bồng lai tiên cảnh giống như …tiên cảnh bồng lai, nói tới nói lui cũng vậy thôi. Phải không ái khanh! Nãy giờ ta mới đi một chặng đường, còn nhiều chặng nữa, thơm tho kỳ lạ hơn. Chưa tới tiên cảnh mà! Ừ, tiên cảnh như cảnh tiên…

Bọn hộ vệ lắc đầu vì nếu can gián thì sẽ bị ông Chúa quở mắng. Bá Vạn nhìn cô Huôi rồi làm dấu hiệu, chỉ tay về phía bụi quỳnh hoa. Trong lúc chiếc thuyền trôi nhanh về phía vàm rạch, cô Huôi nói to:

– Ông ơi! Em muốn điều nầy.

Ông Chúa Hòn hỏi:

– Điều gì? Miễn là tới chốn bồng lai tiên cảnh, hôm nay ta uống rượu nhiều mà cớ sao ta không say.

Cô Huôi đáp:

– Em đưa ông tới chốn bồng lai tiên cảnh, hoa nở thơm tho, ngàn năm mới có một lần. Bụi quỳnh hoa gần nở rộ rồi.

– Em là nụ quỳnh hoa muôn màu muôn sắc…

– Nhưng bụi bông đó quý lắm, do em chăm sóc từ mấy năm nay. Ông lên bờ với em, xem hoa rồi hãy trở xuống ghe nầy. À, làm sao lên bây giờ?

Bá Vạn lên tiếng kịp thời:

– Hộ vệ đâu? Tụi bây lội xuống rạch, kéo chiếc ghe vô bờ rồi câu tay lại làm cái kiệu rước ông Chúa xem hoa.

Cô Huôi nói chêm vào:

– Ông lên trước, em lên theo ông.

Lúc ban đầu, ông Chúa Hòn ra lịnh đốt đuốc để xem hoa. Nhưng ông Bá Vạn đã nịnh bợ khéo léo khuyên bọn hộ vệ nên đốt một ngọn đuốc mà thôi. Ánh đuốc và hơi lửa có thể làm cho hoa quỳnh nở quá nhanh, mất đẹp. Ông Chúa Hòn gật gù.

– Nở nhanh thì không đẹp, phải không cô em? Sao cô em chưa trả lời! Cô em là đóa hoa nở, càng nở càng đẹp.

Hai cái ghế nhỏ được nhắc tới, sát bụi bông. Gió thổi rì rào, mấy nhánh hoa đong đưa, mỗi nụ trắng chiếu ngời như một viên bạch ngọc. Như còn quyến luyến hương vị tình yêu, ông Chúa nói:

– Đem rượu cho ta. Ta uống rượu, ngồi trên chiếc chiếu dưới đất là sung sướng rồi. Thưởng hoa mà ngồi trên cao thì không thích. Cô em rót rượu cho ta uống thêm, ngồi bên cạnh ta.

Uống xong bầu rượu, ông Chúa Hòn bèn nằm lăn. Cô Huôi cau mày, ngồi bên cạnh. Ông Chúa lẩm bẩm:

– Cô em không nằm thì ta nằm “dựa đất” một mình vậy. Chà, hoa nở đẹp quá. Mấy người thấy chưa?

Cả bọn hộ vệ đến bao vây bụi hoa. Lá quỳnh hoa nghiêng xuống từ từ, dường như trong phút giây thần diệu ấy, tất cả tinh hoa của trời đất, bao nhiêu gió trăng, bao nhiêu sương tuyết đều gom lại làm cho nụ hoa nặng thêm. Ai nấy há miệng, ngạc nhiên. Năm cánh hoa từ từ nở tung ra, mùi thơm bay ngào ngạt, cánh hoa màu trắng tuyết. Khi nở được hơn phân nửa, mấy cánh như ngừng cử động trong giây phút, để hé mấy cọng nhụy vàng. Sau phút giây ấy, mấy cánh hoa chuyển mình, nở toé ra thật nhanh, như bàn tay xoè ra.

Tất cả đều buột miệng:

– Ồ! Trời đất có nhiều chuyện lạ…

Một tên hộ vệ nói:

– Hồi nhỏ tới từng tuổi nầy, tôi mới thấy quỳnh hoa nở lần đầu tiên trong đời. Thơm quá, để tôi hửi thử!

Trong khi ấy, ông Chúa ghì mạnh cho cô Huôi nghiêng mình xuống:

– Nàng là một đóa quỳnh hoa, là mười đóa quỳnh hoa.

Bá Vạn và Tư Thính nhìn nhau. Khi hoa nở là hết chuyện mầu nhiệm rồi. Nếu không thực hiện kế hoạch thì lát nữa ông ta sẽ xuống chiếc ghe hầu để bày trò ân ái. Bởi vậy Bá Vạn nói to:

– Thằng hộ vệ kia! Đừng hỗn láo. Ai dạy mầy lại gần? Đây là điềm may mắn của riêng ông Chúa. Muốn ăn đòn sao chớ? Ai dạy mầy phạm thượng…

Ông Chúa Hòn trợn mắt:

– Cái gì vậy Bá Vạn? Đứa nào phạm thượng?

Bá Vạn day qua tên hộ vệ, nói khẽ:

– Mầy ráng chịu nhục, sau nầy tao khen thưởng.

Rồi Bá Vạn quơ tay, tát mạnh vào mặt tên hộ vệ:

– Đi chỗ khác! Mầy ở đây làm xui xẻo.

Ông Chúa Hòn vẫn còn bị ám ảnh về chuyện hai con cò trắng vào nhà và chuyện cô gái lên xác, nên quát to:

– Bá Vạn! Tha tội cho nó đi. Mười nụ hoa nở một lượt là điềm may mắn của ta!

Dịp may để Bá Vạn bắt đầu dàn một cảnh khác:

– Thưa ông, bụi hoa quý báu nầy do chú Tư Thính làm chủ. Nên hỏi chú Tư là người có may may mắn hơn thiên hạ trong xóm nầy…

– Chú Tư! Theo ý chú là ta gặp dịp hoa nở hôm nay là điềm may mắn chớ? Cơ nghiệp ta sẽ vững bền chừng mấy ngàn năm?

Tư Thính đáp:

– Thưa ông, tôi là kẻ quê mùa tới đây lập nghiệp. Hễ gặp điềm lạ thì tôi nhờ ông đạo Đất bàn giải giùm. Ông đạo là người kỳ tài.

– Đạo Đất! Cái tên nghe ngộ quá.

Rồi ông Chúa hỏi cô Huôi:

– Đạo Đất là ông đạo như thế nào vậy em?

Cô Huôi đáp:

– Dạ, ông đạo đó chẳng màng tiền bạc danh vọng gì hết, cứ nằm trên đất mà ngủ, bất chấp giường chiếu. Xưa kia mấy nhánh quỳnh hoa nầy do ổng cho, em đem về trồng.

– Vậy thì ta đến gặp ông đạo Đất. Gần hay xa? Trong vùng nầy thiếu gì nhân tài, vậy mà ta không biết. Bá Vạn tệ quá! Đưa ta tới đó. Đi bộ hay đi ghe?

Mười cây đuốc cháy sáng rực dẫn đường. Qua vài đoạn sình lầy, Tư Thính lên tiếng trước, bọn hộ vệ ngỏ ý cõng ông Chúa lên vai. Nhưng vì quá say nên ông phản đối:

– Để ta đi cực nhọc. Có cực nhọc mới được trời chứng giám, phải không Bá Vạn! Gần tới chưa cô em?

Giọng cô Huôi ngọt ngào hơn bao giờ hết. Cô hiểu dụng ý của cha và của Bá Vạn. Ông đạo Đất là người quen thân, nhứt định phen nầy sẽ giúp cô lên địa vị bà Chúa, mặc dầu cô là kẻ đến sau.

– Dạ, gần tới rồi. Dưới bóng cây. Chỗ thắp đèn lù mù đó.

Lúc cao hứng, ông Chúa Hòn đáp:

– Đất thì sáng lai rai. Đó là ánh sáng ngôi sao của ta và của cô em, chớ đâu phải ánh đèn.

Nãy giờ ông đạo Đất uống trà mà chờ đợi với giấc mơ tốt đẹp. Nếu cô Huôi trở thành bà Chuá thì nhứt định ông sẽ được ngôi chùa sơn son thếp vàng. Chờ quá lâu, ông ngồi dựa lưng vào vách. Khi nghe tiếng rầm rộ và thấy ánh đuốc chập chờn từ xa, ông bèn rửa mặt, thắp bốn cây nhang ở giữa nền cốc.

Bá Vạn nói, cố ý báo tin cho ông đạo biết trước:

– Thưa ông, tới rồi!

Ông Chúa Hòn hỏi:

– Sao ta chẳng thấy sư sãi nào đón tiếp?

– Dạ, ông đạo Đất chẳng bao giờ thâu nạp đệ tử, bởi vậy ổng nghèo, ai cũng khen là có đức. Chắc là ổng ngủ.

Để tăng phần huyền bí, ông đạo nằm dài trên nền đất, hai tay buông xuôi, thở đều đều. Hai cây đuốc do bọn hộ vệ mang theo được đem vào cốc. Ông đạo vẫn giả vờ ngủ, ngáy pho pho.

Ông Chúa Hòn im lặng, ngắm nhìn ông đạo Đất. Đúng là kẻ bất chấp thế sự, ngạo mạn và có nếp sống kỳ lạ. Bởi vậy khi thấy Bá Vạn nghiêng mình đánh thức thì ông Chúa ra lịnh:

– Để ổng ngủ. Thế nào ổng cũng thức.

Ông đạo Đất đã nghe và đã thấy mọi việc. Chờ khi ai nấy yên lặng, ông bèn nói khá to, như trong mơ:

– Vui rồi! Hết cơn bĩ cực đến hồi thới lai.

Ông Chúa Hòn nghiêng tai như để nghe tiếng. Ông đạo Đất bèn nói vu vơ, mắt nửa mở nửa nhắm:

– Trời sáng rồi. Mặt trời mọc.

Rồi ông mở to đôi mắt, lồm cồm ngồi dậy:

– Xin chào vị quý nhơn! Xin chào ông Chúa! Nãy giờ ông đến mà tôi không thức kịp để tiếp rước.

Bá Vạn lên tiếng:

– Ông Chúa muốn xem một quẻ. Đừng để ông Chúa chờ đợi lâu. Hôm nay, ở nhà Tư Thính, bụi quỳnh hoa nở mười bông một lượt, ấy là điềm gì?

Ông đạo Đất chắp tay xá về bốn cây nhang mà nói:

– Tôi ăn ngay nói thẳng, rủi sơ sót điều gì, ông Chúa sẵn sàng hỉ xả không?

Ông Chúa Hòn hơi nóng ruột:

– Cứ nói, hôm nay ta vui vẻ vô cùng, muốn ban bao nhiêu tiền, ta vẫn sẵn sàng. Ta còn sống bao nhiêu năm nữa? Phong thủy vùng Hòn Chông nơi ta cư ngụ có gì thay đổi không?

Để chứng tỏ rằng mình là người làm việc cẩn thận, không nịnh bợ và có lương tâm, ông đạo Đất nói khẽ:

– Thưa ông, nên mời cô Huôi ra ngoài…

– À! Vậy mới đúng điệu. Nãy giờ tôi quên. Nơi trang nghiêm như vầy mà có đàn bà con gái tới thì mất tinh khiết. Nàng ơi! Nàng ra mà đợi ta.

Vì không hiểu rõ thủ đoạn của ông đạo Đất nên cô Huôi hơi phật ý. Bá Vạn và Tư Thính bèn khoát tay, ngầm khuyên cô đừng phản đối. Bấy giờ ông đạo Đất mở cái hộp nhỏ, đem ra một cây đèn sáp, đốt lên.

Tay ông đạo nâng cây đèn, đưa sát vào mặt ông Chúa Hòn rồi lẩm bẩm:

– Xin lỗi ông, nhiều điềm xui xẻo xảy ra…

Ông Chúa Hòn nói nhanh:

– Đúng lắm.

Ông đạo Đất nói:

– Nhưng hãy còn vài chuyện sắp tới. Điềm xui từ trên cao xảy ra, phải không?

Câu nói mơ hồ và bí hiểm ấy khiến ông Chúa Hòn day lại phía Bá Vạn. Bá Vạn phải tinh ý lắm mới giải thích được cho ăn khớp với dụng ý của ông đạo Đất:

– Thưa ông, ông đạo nói đúng.

– Cái gì mà đúng? Từ trên cao là như thế nào?

Bá Vạn đáp:

– Nên hỏi ông đạo kỹ hơn.

Ông đạo Đất lại từ chối:

– Tôi nằm một chỗ, chưa bao giờ rời khỏi cốc. Chuyện đời mơ màng quá, thấy đâu tôi nói đó, biểu tôi nói rõ thì không được. Tôi biết cái may cái rủi từ đâu. Tài tôi chỉ vậy thôi..

Ông Chúa Hòn cau mày, nhớ đến hai con cò bay đáp xuống sân rồi chạy vào nhà nên hỏi:

-Bá Vạn! Chắc là đúng. Chuyện con cò vô nhà.

Bá Vạn lấy tay che miệng:

– Ông đừng nói lớn. Ông đạo nầy giỏi thật. Cô gái lên xác miễu bà Chúa Xứ và con rắn …đều ở trên núi cao. Đúng là tai hoạ từ trên cao giáng xuống.

Ông Chúa Hòn gật đầu trong khi ông đạo Đất lim dim đôi mắt, thỉnh thoảng đưa ngọn đèn sáp lên cao quơ qua quơ lại như tìm vật gì phía bên kia nóc nhà, tận trăng sao mờ mịt. Hơi nóng của ngọn đèn khiến ông Chúa đổ mồ hôi, từng giọt chảy dài trên trán. Ấy thế mà ông vẫn không than phiền. Hồi lâu, ông hỏi:

– Tai họa từ trên cao, vậy thì làm cách nào để ngừa được? Còn bao nhiêu tai họa nữa?

Ông đạo Đất hạ ngọn đèn, lẩm bẩm:

– Còn vài chuyện vụn vặt không đáng kể. Nhưng mà xem quẻ là để tìm cách thay đổi thời thế. Thí dụ như gặp nước ngược thì ta nên chạy buồm, nếu gió thổi xuôi. Tai họa từ trên cao giáng xuống thì ta dùng cái may mắn, cái phước đức từ dưới đất nẩy lên mà sửa trị.

– Hay lắm!

Đột nhiên, ông Chúa Hòn vỗ tay bôm bốp rồi phát biểu thao thao bất tuyệt như để bộc lộ sự thông minh của mình:

– Cô Huôi, tên chữ là Hoa, một đóa hoa từ dưới đất nẩy lên. Bụi quỳnh hoa mà ta ngắm lúc nãy cũng là của đất. Dùng cái may mắn của đất để sửa cái rủi ro từ trên trời. Phải không Bá Vạn?

Ông đạo Đất hỏi:

– Cô Huôi đâu rồi?

Ông Chúa Hòn đáp:

– Ở ngoài sân, cho phép cô Huôi vô đây để xem một quẻ chớ?

– Đuổi cô Huôi ra xa đừng cho cổ rình nghe. Nầy chú Tư Thính, nếu tôi không quên thì năm xưa, hồi nhỏ cô Huôi ngồi ngoài ruộng, trên đất…

Ông Chúa Hòn hỏi:

– Chuyện gì vậy?

Tư Thính mới kể lể đầu đuôi chuyện cô Huôi bị rắn quấn, lúc ngồi bên gốc cây thị, ngoài ruộng. Bao nhiêu chi tiết khiến ông Chúa Hòn hài lòng, tin tưởng vào tương lai:

– Vậy thì ta đem cô Huôi về Hòn Chông, phong cho một chức vụ đặc biệt. Ta không may mắn, cô là người may mắn, hai người mà sống gần nhau thì vạn sự như ý, lấy điều may mắn mà ngăn ngừa điều rủi. Nhưng có điều gì khác không?

– Lúc nầy ở Hòn Chông không tốt vì…Hòn Chông là nơi cao, gần trời. Nếu rảnh rang, xin ông đi du lịch đó đây, nơi đồng bằng sình lầy hoặc ra biển, nơi thấp. Tóm lại nên tránh những gì ở trên cao!

Nói dứt lời, ông đạo thổi mạnh cho đèn tắt. Ông Chúa vỗ trán, đòi uống rượu, đòi xuống chiếc ghe hầu để an ủi cô Huôi. Cô giả vờ khóc lóc:

– Nãy giờ, ai cũng được ở trong cốc, tôi có tội gì mà đuổi ra ngoài sân…

– Ta ban thưởng vàng bạc, châu báu. Nàng đừng lo. Nàng theo ta về Hòn Chông rồi vài ngày nữa thì ngao du đây đó…tránh chuyện ở…trên cao, phải không Bá Vạn?

Sau khi ông Chúa Hòn ra khỏi cốc, Bá Vạn hơi bực dọc nên tìm lý do cho ông đạo Đất đi theo đến nhà Tư Thính. Bá Vạn nói to để ông Chúa đừng nghi ngờ:

– Nên tiễn đưa tới bến, lâu lâu ông Chúa viếng thăm cốc một lần.

Ông đạo Đất chống gậy, lững thững theo sau, Bá Vạn hơi phàn nàn:

– Ông Chúa tin dị đoan. Bày cái chuyện ngao du làm chi vậy?

Ông đạo Đất dừng chân, chờ khi bọn hộ vệ và Tư Thính đi thật xa rồi mới nói:

– Ông Bá tính việc lớn, việc ấy nên xảy ra ở xa. Làm việc lớn trước mắt thiên hạ thì khó.

“Việc lớn” được Bá Vạn hiểu ngầm là ám sát ông Chúa Hòn để đưa cô Huôi và thằng Cẩu lên địa vị thay thế. Bá Vạn vẫn chưa có kế hoạch nào cụ thể cả, nên hỏi dò:

– Tôi định cho ổng…ăn uống.

Ông đạo Đất nói:

– Bày cho ổng đi săn heo rừng rồi xảy ra tai nạn gì đó, giữa rừng tràm sình lầy. Cậu Hai Điền thích đi săn bắn nên khi ông Chúa đòi đi săn thì cậu sẵn sàng. Hai cha con đi săn một lượt, ở nơi nào hẻo lánh. Ông có thể ra tay, miễn là mua chuộc được bọn hộ vệ.

Cải tạo nửa mùa-Vượt biên tài tử

Nguyễn Hữu Thiện

Post by Sơn râu 20 May 2025

Phần 5

Chương 4 – Đồng Ban
Đầu năm 1977, ở Trảng Lớn có đợt chuyển trại quy mô, tôi và phần lớn bạn tù cùng L được đưa tới trại cải tạo Đồng Ban, cũng nằm trong tỉnh Tây Ninh, cách Trảng Lớn khoảng 25 cây số về hướng bắc.
Xin mở một dấu ngoặc để viết về các trại cải tạo nằm trong tỉnh Tây Ninh – tỉnh được ghi nhận có nhiều trại cải tạo, nhiều vùng kinh tế mới nhất sau năm 1975.
Tây Ninh nằm về hướng bắc tây bắc Sài Gòn, với toàn bộ biên giới phía bắc và phía tây giáp Căm-bốt. Về hành chánh, ngày nay Tây Ninh gồm thị xã Tây Ninh và 8 huyện. Nếu lấy núi Bà Đen nằm ở giữa tỉnh, cách thị xã gần 10 cây số, làm chuẩn thì hai huyện ở phía bắc là Tân Biên và Tân Châu chiếm tới phân nửa lãnh thổ.
Đây là vùng tranh chấp quyết liệt giữa hai phe quốc-cộng trong cuộc chiến trước 1975, với những mật khu khét tiếng như Dương Minh Châu, và dĩ nhiên không thể không nói tới “cục R”, cơ quan đầu não của xứ ủy Nam Bộ và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, nằm ở huyện Tân Biên, sát biên giới Căm-bốt. Vì bị ăn bom B-52 thường xuyên cho nên trước năm 1975, diện tích gần 2000 cây số vuông của Tân Biên và Tân Châu hầu như không có bóng người. Nhưng sau 1975, nơi đây lại trở thành vùng đất lý tưởng (?) để thiết lập các khu kinh tế mới cho những người dân bị đuổi khỏi thành phố, các trại cải tạo cho sĩ quan miền Nam cũng như tù hình sự, và sau này, cả người vượt biên bị bắt.
Vào thời gian cao điểm, ở Tây Ninh có tới 14 ấp kinh tế mới với khoảng 50,000 dân và gần 10 trại cải tạo. Riêng trại cải tạo để nhốt các sĩ quan của chế độ cũ thì ngoài Trảng Lớn (nằm gần thị xã Tây Ninh), tôi được biết có những trại chính sau đây:
– Đồng Ban, nằm trong huyện Tân Châu, cách thị xã Tây Ninh khoảng 20 cây số về hướng bắc.
– Cà Tum (Kà Tum), cũng nằm trong huyện Tân Châu, cách Đồng Ban khoảng 15 cây số về hướng bắc, gần biên giới Việt – Miên.
– Cây Cầy và Bàu Cỏ ở huyện Tân Biên.
– Xa Mát, ở phía bắc Tân Biên, sát biên giới.

Bản đồ tỉnh Tây Ninh ngày nay. Đồng Ban nằm trên tỉnh lộ 785, khoảng giữa đường Tây Ninh – Cà Tum
Như thông lệ, những chiếc molotova chở chúng tôi vẫn bị bít bùng, nhưng vì là ban ngày, một số anh em nhìn qua khe hở đã thấy nhà cửa trong thị xã, rồi núi Bà Đen, cho biết chúng tôi đang bị đưa lên hướng bắc. Càng rời xa thị xã, đường đi càng trở nên gập nghềnh, có những lúc gặp ổ gà, chiếc molotova nặng hàng chục tấn như muốn tung lên… Bụi đất mù mịt cuốn hút vào trong xe khiến nhiều anh em ho sặc sụa.
Như vậy, đây là một trong những con tỉnh lộ chạy lên vùng biên giới Việt – Miên, suy ra chúng tôi sẽ không bị đưa đi xa lắm, bởi chẳng lẽ lại đưa tù cải tạo sang Căm-bốt?
Nhưng dù bị đưa đi đâu, một khi không đi về phương nam có nghĩa là chúng tôi sẽ không bị đưa về Sài Gòn để từ đó đi ra miền Trung, hoặc tệ hại hơn, đáp những chuyến tàu lửa thống nhất hoặc lên HQ-405, HQ-501 để ra Bắc!
Chúng tôi đoán không sai, sau khi tới một khu kinh tế mới ở Đồng Ban, đoàn xe rẽ trái, đi khoảng một cây số, vào một khu trại cải tạo bỏ trống; tôi được đưa vào T2, thuộc L2, tức liên trại cải tạo 2 ở Đồng Ban.
Khác với những trại cải tạo tôi đã ở qua, hàng rào trại ở đây khá sơ sài. Bên kia con đường mòn là nương rẫy của dân kinh tế mới, bên này là một hàng rào cao khoảng 2 mét làm bằng cây rừng cỡ 2, 3 ngón tay. Qua cái cổng có vệ binh canh gác là khu nhà của ban chỉ huy trại và đơn vị bộ đội trực thuộc, vào sâu thêm vài trăm mét là các dãy nhà dành cho tù cải tạo. Sau lưng trại là rừng già; mặt sau và hai bên hông trại cũng có hàng rào bằng cây giống hàng rào ở phía trước; mặt sau cũng có một cái cổng nhưng không có vệ binh gác.
Về “cơ ngơi” thì đang ở nhà tôn vách ván ở Trảng Lớn nay phải ở nhà tranh vách đất quả là một sự “xuống cấp”, thêm vào đó khung cảnh hoang vắng tiêu điều càng khiến lòng người thêm ngao ngán, ít nhất cũng là với những anh em tù cải tạo ở Trảng Lớn chưa từng nếm mùi Phú Quốc.
Nhưng những gì xảy ra sau đó đã cho thấy thời gian vài tháng ngắn ngủi ở Đồng Ban lại là những ngày thần tiên nhất trong cuộc đời cải tạo của những người may mắn được lọt vào L2, T2.

* * *
Trước hết nói về “khung”, tức ban chỉ huy trại, viên thủ trưởng là một tay đại úy Bắc kỳ khá lớn tuổi mà đa số chúng tôi chưa kịp biết tên thì ông ta được thuyên chuyển đi nơi khác. Hai đặc điểm nổi bật nơi viên đại úy này là ông ta có một cái răng vàng, và mỗi lần “đăng đàn” trước mấy trăm tù cải tạo, ông ta luôn luôn nhắc tới thất bại của QLVNCH trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 ở Hạ Lào, nơi đơn vị của ông ta đã góp phần chiến đấu. Riết rồi chúng tôi gọi ông ta là “Lam Sơn 719”.
Sau khi “Lam Sơn 719” đổi đi, viên trại phó – Thượng úy Phùng Xuân Nghĩa – lên thay. Dĩ nhiên, ông Nghĩa cũng là dân Bắc kỳ răng đen mã tấu 100%, nhưng hình như đầu óc của ông ta không hề bị nhuộm đỏ, ông ta chưa bao giờ mở miệng chửi rủa “Mỹ Ngụy” hay tỏ thái độ hận thù với tù cải tạo. Tôi sẽ có nhiều cơ hội trở lại với nhân vật đặc biệt này.
Viên sĩ quan xuất hiện thường xuyên nhất là Chuẩn úy Đạt, chính trị viên của T2; dĩ nhiên cũng Bắc kỳ. Anh ta quả không hổ danh là một “chính trị viên”, đầu óc sắt máu, mở miệng ra là lên án “tội ác Mỹ – Ngụy”, hằn học ra mặt với tù cải tạo.
Chuẩn úy Đạt nuôi một con chó con mà anh ta đặt tên là “Ních-xơn” (cựu TT Mỹ Richard Nixon), người đã ra lệnh cho B-52 oanh tạc Hà Nội 12 ngày đêm vào cuối năm 1972; từ đó một số anh em đoán có lẽ vợ con hay cha mẹ anh em của anh ta đã bị chết vì bom của phi cơ Mỹ trong đợt oanh tạc này, cho nên anh ta mới hận thù tới mức ấy!
Cũng cần viết thêm là tuy chỉ mang cấp bậc chuẩn úy (leo từ hàng binh lên) nhưng vì là chính trị viên của đơn vị, tức là người thay mặt Đảng, mỗi lần đơn vị (bộ đội) học tập chính trị, tay Đạt này là người chủ trì chứ không phải “Lam Sơn 719” hay Thượng úy Phùng Xuân Nghĩa!
Về phần đám vệ binh (bộ đội) có nhiệm vụ hướng dẫn, canh chừng tù cải tạo khi đi lạo động cũng đều là người miền Bắc. Vì hầu hết còn rất trẻ, mặt búng ra sữa, lại không phải thành phần “vượt Trường Sơn”, không có một chút ý niệm nào về cuộc chiến vừa qua, nên đám này cũng không có thái độ hống hách hoặc hận thù với chúng tôi. Trừ hai tay đặc biệt.
Tay thứ nhất được chúng tôi đặt biệt hiệu “Bế-bi-lắc” (sữa Babylac), mặt mũi trắng trẻo, bụ bẫm, trông khá dễ thương nếu như hắn ta đừng mở miệng “lên lớp”!
Trình độ i-tờ nhưng hắn ta lại “thuộc bài” của đám quản giáo như một con vẹt. Khi chúng tôi phải vào rừng làm công tác nặng thì còn đỡ, nhưng nếu đi cuốc rẫy thì mười lần đủ mười, hắn sẽ bắt tù cải tạo xếp hàng ngang, đứng nghe hắn “lên lớp” trước khi lao động. Nào là “nao động nà vinh quang”, nào là “các anh sĩ quan Ngụy nà thành phần ăn chên ngồi chốc, chỉ biết diệu ngon gái đẹp”, nào là “các anh phải từ bỏ cái thói chây nười, tự giác phấn đấu, tích cực nao động để trở thành người công dân nương thiện”, v.v…Thực ra, nếu những lời lẽ ấy thốt ra từ miệng một tay quản giáo, chúng tôi đã bỏ ngoài tai, nhưng đây lại là một thằng oắt con miệng còn hôi sữa cho nên chúng tôi vô cùng khó chịu!
Tay thứ hai chúng tôi lén đặt biệt hiệu là “Bia lên” bởi nhìn mặt hắn người ta sẽ liên tưởng ngay tới cái bia vẽ cái đầu “Việt Cộng đội nón cối” để tập bắn ở các quân trường!
Còn nhớ ngày ấy tại xạ trường, khi các khóa sinh tiến tới trước mỗi thềm bắn, huấn luyện viên lại hô “Bia lên!”, sau một khoảng thời gian ấn định (đủ để khóa sinh nhắm bắn) thì hô “Bia xuống!”
Nhưng tù cải tạo ghét “Bia lên” không phải vì cái bản mặt xấu xí của hắn mà vì sự hung hãn, thô lỗ cũng như cái máu điên của hắn mỗi khi dắt tù đi lao động…
Kế tiếp nói về thành phần tù cải tạo, T2 của tôi có khoảng phân nửa là trung úy, thiếu úy cùng T với tôi ở Trảng Lớn, nửa còn lại là trung úy, thiếu úy cũng từ Trảng Lớn nhưng khác T.
Tóm lại, theo cách đánh giá của “cách mạng”, tù cải tạo được đưa tới Đồng Ban thuộc hai thành phần “nhẹ tội” nhất, tức là thuộc Nhóm 3, Nhóm 4 mà tôi đã đề cập tới trong bài viết kỳ trước. Riêng ở T2, chỉ có hai trung úy Không Quân, một hoa tiêu quan sát, một hoa tiêu trực thăng; và một trung úy CTCT “trúng số” là tôi!
Ở Đồng Ban, các T được chia ra thành từng đội, mỗi đội khoảng 50 mạng; đội cũng được chia thành từng tổ nhưng thường chỉ để lãnh thực phẩm, còn lao động thì luôn luôn đi thành từng đội. Về các “chức sắc” cải tạo thì hầu hết các tay đội trưởng đều thuộc thành phần trung úy trẻ, được anh em tin tưởng, thông cảm hợp tác, chỉ trừ đội trưởng tăng gia là một tay thiếu úy già “tiến bộ” hết mình, làm ăng-ten công khai, và lẽ dĩ nhiên bị anh em ghét cay ghét đắng.
Riêng đội trưởng của tôi trong thời gian đầu cũng một ông thiếu úy già nhưng ra vẻ rất khôn ngoan, miệng lưỡi và biết điều, vừa biết cách làm hài lòng cán bộ vừa châm chước, hoặc giả bộ làm ngơ để anh em cải tạo được dễ thở.
Về bạn tù của tôi, ngoài những anh em cấp thiếu úy cùng khối ở Trảng Lớn – những người vẫn tiếp tục gọi tôi là “Anh Sáu” – trong đó có Hoàng (đờn bass), tôi còn được tái ngộ với Hiếu “đờn” của Thành Ông Năm ngày nào.
Ngoài ra, tôi còn có một số bạn tù mới, trong đó có một trung úy hoa tiêu quan sát, ba chàng thiếu úy trẻ mới tốt nghiệp Khóa 4 Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt thì tan hàng, và đặc biệt là Hùng “sùi”, tay thiếu úy Nhảy dù mà hễ bước ra khỏi cửa lại đội lên đầu cái mũ bê-rê đỏ (dĩ nhiên đã tháo gỡ huy hiệu Nhảy dù).
“Không… lao động là vinh quang”
Một trong những khẩu hiệu quái đản, phi lý tới nực cười dưới chế độ cộng sản Việt Nam là “lao động là vinh quang”. Bởi nếu quả thực lao động là vinh quang thì Đảng và nhà nước đã chẳng nhốt các sĩ quan của chế độ cũ – vốn “có nhiều nợ máu với cách mạng, với nhân dân” – vào các trại cải tạo để được hưởng… vinh quang! Nhưng ngày ấy ở trong các trại cải tạo, quản giáo là cha mẹ, họ bảo “lao động là vinh quang” thì tù cải tạo cũng phải lao động cật lực để đạt cho được vinh quang ấy.
Về sau, một số cán bộ quản giáo ra vẻ hiểu biết và có lẽ cũng nhận ra tính cách “khó hiểu” của khẩu hiệu, đã “khai trí” cho chúng tôi đại khái như sau: lao động để làm ra của cải vật chất để không phải ăn bám vào xã hội, như vậy là… vinh quang!
Nhưng kể cả trường hợp chấp nhận định nghĩa ấy, tù cải tạo ở T2 nói riêng, L2 (Đồng Ban) nói chung, cũng không được hưởng một chút “vinh quang” nào!
Nguyên nhân: chúng tôi không có “cơ sở vật chất” và “tài nguyên thiên nhiên” để thực thi khẩu hiệu trên. Viết một cách cụ thể hơn, chúng tôi không có đất để canh tác, thu hoạch ngũ cốc, hoa mầu như anh em tù cải tạo ở Cây Cầy, cũng không có rừng để đốn củi làm giàu cho nhà nước (và cán bộ) như anh em ở Cà Tum.
Trước hết nói về việc không có đất canh tác. Thật ra cũng có đất đấy, nhưng là đất “chó ăn đá gà ăn sỏi”!
Sau này có cơ hội tìm hiểu, tôi được biết trước kia vào thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, người ta đã đưa một số đồng bào miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 lên đây để khai phá, nhưng kể cả những người Bắc di cư có tiếng là cần cù, chịu thương chịu khó ấy cũng sống không nổi phải bỏ đi, trong đó có những người về định cư tại giáo xứ Cao Xá ở Châu Thành, gần thị xã Tây Ninh.
Tới khi cuộc chiến trở nên sôi động, vùng Đồng Ban hầu như không còn một người dân nào sinh sống. Khi đám tù cải tạo chúng tôi tới đây vào đầu năm 1977, có khoảng vài ngàn người dân đã… an cư (?) nhưng chưa lạc nghiệp!

Đó là những người dân Sài Gòn bị bắt đi kinh tế mới sau hai đợt đánh tư sản.

Một gia đình vừa bị cưỡng bách tới vùng kinh tế mới
Cho tới nay, những lời ông Tổng bí thư Đảng xuất thân “hoạn lợn” Đỗ Mười tuyên bố khi ban hành Quyết định “cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh tại thành phố Hồ Chí Minh”, vẫn còn khiến người dân miền Nam phải rùng mình, ớn lạnh:
“Từ sau giải phóng chúng ta đã thực hiện X-1, tập trung bọn ngụy quân, ngụy quyền học tập cải tạo. Đã thực hiện X-2 đánh bọn tư sản mại bản. Bây giờ chiến dịch X-3, quyết liệt nhất, nhằm tiêu diệt tận gốc rễ chủ nghĩa tư bản, tay sai đế quốc Mỹ… Đánh rắn phải đánh dập đầu, ta đã đánh dập đầu rồi, nhưng con rắn tư bản đánh dập đầu nó chưa chết, cái đuôi nó còn nguy hiểm hơn cái đầu. Không giần cho nát cái đuôi của nó, thì nó vẫn tác oai tác quái phá chúng ta… Cho nên chúng ta phải róc thịt chúng ra. Bắt chúng lao động sản xuất, tự làm lấy mà ăn. Phải biết cày ruộng, cấy lúa, trồng ngô. Đất hoang còn nhiều, bắt chúng đổ mồ hôi sôi nước mắt kiếm miếng ăn…”.
Thế nhưng tù cải tạo ở Đồng Ban không có ruộng để cày, để cấy lúa; trồng ngô thì không ra bắp, trồng khoai sắn thì củ chỉ bằng ngón tay! Xin được chi tiết một chút về vùng đất “chó ăn đá gà ăn sỏi” của tù cải tạo Đồng Ban. Đi từ thị xã Tây Ninh theo hướng nam – bắc, tới Đồng Ban người ta thấy đất phía bên mặt ra vẻ còn có chút màu mỡ, có lẽ vì là đất thấp và phía bên trong có một con sông.
Ngay sau 1975, hàng ngàn Việt kiều sống phía bên kia biên giới Việt – Miên, vốn theo cộng sản từ ba đời, đã được “cách mạng” đưa về định cư tại vùng đất này. Nhưng cả đến vùng đất “màu mỡ” ấy cũng chỉ trồng được khoai, sắn, (chủ yếu là khoai mì) thì nói gì tới đất ở phía bên trái dành cho dân đi kinh tế mới. Càng vào sâu, đất càng khô cằn, và tới khu vực của cải tạo thì đã trở nên cứng như đá, cứ khoảng vài mét lại có một cái gò mối. Ngay trong buổi lao động đầu tiên, khi cuốc đám đất nằm giữa khu nhà của cải tạo và ban chỉ huy trại, chúng tôi đã bị dội vì độ cứng của mặt đất.
Thấy thế, Bế-bi-lắc – tên vệ binh mặt búng ra sữa đã nói tới ở trên – lớn tiếng “lên lớp”:
– Các anh nàm chơi bời như thế nấy gì mà ăn. Phải dơ cuốc cao nên khỏi đầu thì mới gọi nà nao động tích cực chứ!”
Thấy hắn cứ lải nhải mãi, Hùng sùi – tay thiếu úy Dù đội bê-rê đỏ – vốn cao lớn khỏe mạnh, đưa cái cuốc lên khỏi đầu rồi dùng hết sức bình sinh bổ xuống một mô đất cứng như bê-tông: cái cán cuốc gẫy đôi!…
Được mấy ngày, số cuốc bị gãy cán, bị sút mối hàn đã lên tới khoảng 1/3.
Vì vào thời gian đầu tất cả tù cải tạo đều được tập trung vào công tác cuốc rẫy trồng khoai mì, số lượng cuốc không đủ cho mỗi đầu người nên nhiều khi hai người mới có một cái cuốc để thay phiên nhau. Vì thế, cứ một cái cuốc trở nên bất khiển dụng thì lại có hai tay cải tạo mất… vinh quang!
Tình hình trở nên tệ hại đến nỗi sau đó có lệnh không được phá các gò mối nữa; có lẽ đám quản giáo cũng đoán biết âm mưu cố tình phá hoại “dụng cụ sản xuất” của tù cải tạo. Về sau, một tổ rèn được thành lập, trực thuộc đội tăng gia, nhưng cũng chỉ rèn được dao để đốn cây rừng mà thôi!
Vì thế, thành quả lao động của T2 chúng tôi, từ ngày đặt chân đến cho tới khi rời Đồng Ban hơn nửa năm sau đó, chỉ là vài héc-ta khoai mì, khoai lang mà không biết sau này khi chúng tôi đi rồi, dân kinh tế mới có bõ công đào lấy củ hay không.
Bởi vì trong những lần đi chặt le ở phía bên kia đường lộ, tức phần đất dành cho thành phần Việt kiều thân cộng hồi hương, chúng tôi thấy những củ khoai lang của phần đất “màu mỡ” này mà họ thu hoạch cũng chỉ bằng ngón chân cái, và những củ khoai mì khẳng khiu xơ nhiều hơn bột, thì nói gì tới khoai sắn do cải tạo trồng ở những khu đất gò mối!
Riêng tôi bỗng nhớ tới câu thơ của Hoàng Trung Thông – Viện trưởng Viện Văn học, Hà Nội – được một văn nô của chế độ xưng tụng là “câu thơ hay nhất của một gương mặt thơ tiêu biểu có vị trí đại diện cho nền thơ cách mạng của nước Việt Nam mới”, được đám quản giáo, giáo viên nhai đi nhai lại cả nghìn lần:
Bàn tay làm nên tất cả
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm!

Tiên sư các anh, thành khoai lang khoai mì còn không xong, nói gì tới thành “cơm”!

* * *
Tới đây viết về rừng Đồng Ban, khu rừng nhiệt đới đẹp tuyệt vời nhưng lại không “làm ra tiền” cho ban chỉ huy trại nói riêng, cho chế độ nói chung. Rừng Đồng Ban vốn là rừng già với những cây cổ thụ thật lớn, xen lẫn với cây nhỏ đủ loại mọc chi chít. Về sau, khi đám cán bộ cao cấp đã biết cách khai thác “rừng vàng biển bạc” của đất nước để kiếm tiền đút túi, thì những khu rừng cổ thụ này trở nên nguồn lợi vô song, nhưng vào thời gian chúng tôi còn ở Đồng Ban thì cán bộ lớn bé chưa đủ khả năng khai thác gỗ mà chỉ biết khai thác củi. Còn nhớ trong những năm miền Nam mới được “hoàn toàn giải phóng”, chưa bao giờ thành ngữ “gạo châu củi quế” trong ngôn ngữ của người Việt lại trở nên hiện thực đến như thế: gạo thì ưu tiên xuất khẩu để trả nợ các nước xã hội chủ nghĩa anh em, củi thì trở thành nguồn nhiên liệu chính yếu bởi điện bị cúp thường xuyên, dầu hôi không còn được nhập cảng, than trở thành xa xỉ phẩm. Nhưng cho dù người người buôn củi, nhà nhà buôn củi, không phải nơi nào cũng có củi để bán, và không phải ai cũng có khả năng mua, cho nên nhiều người dân Sài Gòn đã phải sử dụng bàn ghế cũ, hoặc bất cứ thứ gì có thể đốt được để nấu bếp!
Bắt mạch được nhu cầu củi ở Sài Gòn, đám lãnh đạo trung ương đã chỉ thị cho các trại cải tạo ở gần Sài Gòn mà lại có rừng để khai thác phải bắt tù cải tạo vào rừng cưa củi để làm giàu cho nhà nước và cán bộ.
Trong số các trại ở Tây Ninh thì Cà Tum – cách Đồng Ban khoảng 15 cây số về hướng bắc – với những khu rừng nằm dọc theo biên giới Việt-Miên, là nơi lý tưởng nhất để khai thác củi. Chính vì thế, trong đợt chuyển tại thứ nhất ở Long Giao (1976), trong khi những thành phần “nặng tội” bị đưa ra bắc thì thành phần “nhẹ tội” được đưa lên Cà Tum để tăng cường lực lượng lao động.
Theo những gì tôi được nghe kể lại sau này thì đơn vị “quân đội nhân dân” ở Cà Tum cũng xiết tù cải tạo không thua gì đám cai tù ở Phú Quốc trước đây.
Nguyên nhân thứ nhất vì Ca Tum nằm sát biên giới Việt – Miên, bọn họ sợ tù cải tạo trốn trại nên kiểm soát rất gắt gao. Nguyên nhân thứ hai: vì nguồn lợi do bán củi để lấy tiền bỏ túi (ngoài tiêu chuẩn phải nộp cho nhà nước), bọn họ đã bóc lột sức lạo động của tù cải tạo tới mức tối đa!
Đó cũng là những gì tôi sẽ phải trải qua khi được đưa lên Tống Lê Chân trong giai đoạn cải tạo sau cùng.
Trở lại với trại cải tạo Đồng Ban, không có đất để biến “sỏi đá thành cơm”, không có cây rừng để cưa thành củi, cuộc sống tù tội của anh em cải tạo ở T2 trở nên tà tà, thoải mái tới mức khó tin!
Tà tà bởi sau khoảng một tháng cuốc đất trồng khoai mì, công tác lao động của chúng tôi chỉ là vào rừng đốn cây về làm nhà cửa, lấy dây mây nộp cho bán bộ, tới các trảng tranh để cắt tranh, sang phía bên kia đường lộ để chặt le…
[Le: thuộc họ tre nứa, thân dẻo không có gai, chịu được nắng mưa… thường được sử dụng để làm giàn trồng dưa leo, khổ qua, mướp…, hoặc trong việc xây dựng. Rừng le thiên nhiên là một trong những nguồn lợi của Tây Ninh]
Thoải mái bởi ở T2, đa số cán bộ quản giáo trên “khung” đều dễ dãi, và ít ra cũng còn chút tình người; trừ Chuẩn úy Đạt, tay chính trị viên sắt máu đã nhắc tới ở một đoạn trên.
Đám vệ binh có nhiệm vụ đưa tù cải tạo đi lao động thì “Bế-bi-lắc” cũng bớt lên mặt “cán bộ”, còn “Bia lên” thì đã được đưa về toán gác cổng sau vụ hắn đòi bắn Hùng sùi.
Sự việc xảy ra như sau:
Hôm đó đội tôi được “Bia lên” và một tay vệ binh khác đưa ra bìa rừng phía bên ngoài cổng sau để chặt cây khai quang làm rẫy. Tới lúc nghỉ giải lao, chưa kịp ngồi nóng đít thì “Bia lên” đã ra lệnh cho mọi người đứng dậy tiếp tục lao động. Hùng “sùi” lúc đó vừa nhét bi thuốc lào vào cái điếu cày, vẫn thản nhiên ngồi tựa gốc cây, đốt thuốc và rít một hơi dài. Khi “Bia lên” tiến lại gần ra lệnh cho Hùng sùi đứng lên, chàng thiếu úy Dù vẫn tiếp tục ngồi, mắt lim dim mơ màng, khoan khoái phà khói thuốc như không cần biết đến những gì đang diễn ra quanh mình.
“Bia lên” điên tiết, vừa quát tháo sùi bọi mép vừa lên đạn khẩu AK, chĩa họng súng xuống chỗ Hùng sùi đang ngồi, dọa bắn. Anh em tù cải tạo ai nấy đều xanh mặt vì thấy hắn đã nổi điên… May mà tay vệ binh còn lại đã kịp chạy tới trước mặt hắn để ngăn cản, “Bia lên” không làm gì được bèn chĩa súng lên trời bóp cò cho hả giận!
Tiếng AK dòn dã vang vọng khắp khu rừng, nhưng sắc mặt của Hùng sùi không hề thay đổi!
Chỉ mấy phút sau, chuẩn úy Đạt từ trên “khung” chạy tới nơi hỏi đầu đuôi, cảnh cáo Hùng sùi mấy câu cho “Bia lên” hạ cơn giận giữ rồi đưa y về trại.
Chiều hôm đó, Hùng sùi phải lên “khung” viết bản tự kiểm điểm; bù lại cũng từ đó, “Bia lên” được phân công gác cổng!
Theo tôi nhận xét, sự hung hãn và máu điên của “Bia lên” là một trường hợp khá đặc biệt, bởi qua kinh nghiệm ở Phú Quốc, Đồng Ban và các trại cải tạo kế tiếp, tôi nhận ra rằng cung cách, thái độ của đám vệ binh đối với tù cải tạo chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của ban chỉ huy trại, nhất là tay thủ trưởng.
Ở Đồng Ban, T2 của chúng tôi ở ngay bên cạnh T1, chỉ cách nhau một hàng rào bằng cây. Khi vào rừng lao động, hai T đều đi ra bằng cổng sau và sử dụng chung một con đường mòn dài khoảng một cây số trước khi đi vào những khu rừng khác nhau.
Có những lần hai toán lao động của hai T đi cách nhau chưa tới 100 mét, nghe tiếng quát tháo nạt nộ của đám vệ binh T1, chúng tôi thấy thương tội anh em tù bên đó quá. Sau này, khi đã được tự do đi vào khu rừng phía sau trại, chúng tôi có lần “đụng” đám vệ binh T1 dắt chó đi tuần tiễu trong rừng và suýt bị chúng bắt; từ đó về sau chúng tôi bảo nhau tránh xa khu rừng phía sau T1.
Một tên trong đám vệ binh T1 này về sau đã bắn chết một tù cải tạo!
Hỏi ra mới biết thủ trưởng của T1 là một tay cực kỳ sắt máu, mỗi lần lên lớp răn đe tù cải tạo về hậu quả của việc trốn trại, luôn luôn chỉ có một câu nghe ớn lạnh:
– Các anh nên nhớ, cách mạng đã khoan hồng tha tội chết, đưa các anh vào đây học tập cải tạo để trở thành người công dân lương thiện, nhưng nếu các anh ngoan cố chống đối, âm mưu trốn trại thì cách mạng cũng chẳng tiếc gì mấy viên đạn đâu! Đám vệ binh đã được lệnh cả rồi!
Những kế hoạch vượt thoát
Trong suốt thời gian bị tù cải tạo, có lẽ chỉ ở Suối Máu tôi không nghe anh em bàn chuyện trốn trại, bởi vì từ cuối năm 1978 Suối Máu đã được bàn giao cho công an, vô phương đào thoát, còn ở tất cả các trại khác, luôn luôn có những kế hoạch vượt thoát.
Riêng Đồng Ban có thể xem là trại cải tạo lý tưởng nhất để… trốn trại. Do địa thế, vị trí của trại Đồng Ban, có hai cách trốn trại ngược chiều nhau: băng rừng trốn sang Căm-bốt, và giả dạng thường dân trốn về Sài Gòn. Trước hết viết về băng rừng trốn sang Căm-bốt. Như đã viết ở phần trên, sau lưng T1, T2, T3 của L2 là một con đường mòn dài hơn một cây số, theo hướng nam bắc. Hết con đường mòn tới ngã ba là một con đường lớn theo hướng đông tây, nhưng vì mấy chục năm không có xe cộ qua lại cho nên đã biến thành một dãy rừng chồi bất tận với một con đường mòn chạy song song ở phía bên trái.
Con đường mòn này có từ thời chưa xảy ra những đợt “cáp duồn” quy mô dưới thời Lon Nol (1970), được Việt kiều sống ở Căm-bốt sử dụng đi đi về về, nhưng tới năm 1975, sau khi CSVN cho hồi hương Việt kiều thì biên giới đóng cửa, bởi tuy cùng là anh em cộng sản “môi hở răng lạnh” nhưng nay CSVN theo Liên Xô còn Khmer Đỏ theo Trung Cộng.
Qua dò hỏi Việt kiều hồi hương trong những lần đi lao động, chúng tôi ước đoán con đường này dài khoảng từ 12 tới 15 cây số; cũng theo lời họ, gần tới biên giới có một đồn công an biên phòng.
Thời gian này (đầu năm 1977), khoảng 2 tháng sau khi tới Đồng Ban, tù cải tạo ở L2 đã được thả lỏng tới mức khó tin, nhất là T2.
Từ Thứ Hai tới Thứ Bảy, chúng tôi chỉ phải lao động một buổi, hoặc được giao khoán. Lao động một buổi gồm cuốc rẫy, làm cỏ mấy héc-ta khoai mì, đi chặt le ở phía bên kia đường lộ…; trong số các công tác này, chỉ khi đi chặt le mới có vệ binh đi theo.
Còn vào rừng lấy dây mây, cưa cây làm nhà, cắt tranh về để lợp, trét vách đất, hoặc công tác dọn dẹp trên “khung”…, đều được giao khoán, làm xong sớm nghỉ sớm.
Thời gian đầu, tất cả mọi chuyến đi lao động bằng cổng sau (vào rừng, đi cắt tranh…) đều có hai tay vệ binh đi theo canh chừng, tới bìa rừng hoặc trảng tranh, chúng tôi mới được tự do. Nhưng về sau, khi chúng tôi đã thuộc lòng đường đi nước bước, biết giới hạn khu vực dành cho cải tạo (không xa quá 3, 4 cây số) thì không còn vệ binh đi theo nữa. Lơi dụng việc được tự do, một số anh em, có hay không có ý định trốn trại, trong đó có tôi đã thử đi thêm vài cây số nữa để tìm hiểu. Tới khi tù cải tạo ở Đồng Ban được cho ăn bột mì thì, nếu muốn, chúng tôi có cả một ngày Chủ Nhật để thám hiểm lộ trình đi sang Căm-bốt.
Đầu đuôi là không hiểu vì Liên Xô viện trợ bột mì nhiều quá (?), dân Sài Gòn ăn không hết, hay vì người Việt không quen sử dụng bột mì cho bữa ăn chính mà trong mấy tháng đầu năm 1977, tù cải tạo ở Đồng Ban được (bị) cấp phát bột mì thay cho gạo và bo-bo (cao lương).
Vì hậu cần phát bột mì nhưng không phát bột nổi (men bánh), đám anh nuôi (cải tạo) đã phải nhồi bột từ tối hôm trước mà qua ngày hôm sau ổ bánh mì cho mỗi đầu người khi chưa nướng thì bằng ngón chân cái, nướng chín rồi cũng chỉ bằng quả cà dái dê (dê VN chứ không phải dê ở Úc hay Tân-tây-lan).
Cho nên vào ngày Chủ Nhật, hầu như tổ nào cũng lãnh bột sống về cùng nhau chế biến thành bánh canh, bánh bao, bánh bông-lan, bánh hấp (những miếng bột mỏng được hấp chín to bằng bàn tay)… Vì thế, không có mục lãnh cơm trưa cơm chiều, và việc điểm danh, báo cáo “quân số” hai lần trong ngày Chủ Nhật cũng được du di chỉ còn một lần vào buổi tối.
Vì thế, 7, 8 giờ sáng là “toán thám hiểm” đã có thể lên đường, muốn đi tới giờ nào thì đi, miễn sao phải trở về trại trước giờ cơm chiều.
Chuyến thám hiểm thứ nhất gồm bốn anh em tù cải tạo, trong đó có tôi và Hùng sùi. Chúng tôi đã bàn thảo với nhau trước nếu gặp các toán vệ binh đi tuần tiễu (rất hiếm vào ngày Chủ Nhật) thì sẽ nói là vào rừng kiếm dây mây về đan giỏ.
Cũng nên biết trong rừng già Đồng Ban, phía bên mặt con đường mòn đi về phía biên giới, có những gốc dây mây già rất hiếm quý, có khi leo lên tới ngọn cây cao hơn chục mét.
Sau khi đi theo con đường mòn được khoảng 3, 4 cây số, tức là tới giới hạn lao động của tù cải tạo mà không thấy một bóng người, chúng tôi dừng lại vừa ăn uống vừa bàn thảo: tiếp tục đi hay quay trở về, và nếu tiếp tục đi thì vẫn sử dụng con đường mòn hay vào trong ven rừng mà đi. Cuối cùng, cả bốn người đồng ý sẽ men theo ven rừng đi tiếp độ một cây số nữa để thăm dò.
Sau khi tiếp tục đi, chúng tôi vẫn không thấy một toán vệ binh nào trên đường mòn; và tới chiều trở về trại an toàn. Chuyến thám hiểm thứ hai có thêm mấy anh em nữa nhưng không có tôi, bởi sau khi suy nghĩ đắn đo, tôi đã dứt khoát nếu trốn tôi sẽ theo cách thứ hai: giả dạng thường dân trốn về Sài Gòn.
Nguyên nhân chính khiến tôi không chọn cách thứ nhất (băng rừng trốn sang Căm-bốt) không phải vì sợ Khmer Đỏ mà sợ rừng già.
Thời gian này, đầu năm 1977, tuy CSVN và Khmer Đỏ đã ra mặt thù nghịch, và đã xảy ra những trận giao tranh nhỏ ở biên giới hai nước, nhưng nhà cầm quyền CSVN vẫn ra sức bưng bít, vì hai nguyên nhân:
(1) Sợ bị quê mặt vì mới đây đã trải thảm đỏ đón tiếp Pol Pot, “một học trò cũ của bác Hồ”, tại Hà Nội.
(2) Sợ dân chúng hoang mang.
[Cũng có một số người đưa ra nguyên nhân thứ ba: CSVN cố tình “đợi” Khmer Đỏ vượt qua biên giới tàn sát thường dân VN để lấy cớ xâm lược Căm-bốt. Vì thế, khi bọn chúng đem quân tràn sang xã Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang vào ngày 18/4/1978, chiếm đóng suốt 12 ngày, tàn sát toàn bộ dân cư (3.160 người chỉ có 3 người sống sót) rồi rút về, Quân Đội Nhân Dân VN “anh hùng” mới tới nơi]
Vì thế vào thời gian này (năm 1977) tù cải tạo có ý định vượt thoát sang Căm-bốt rồi từ đó đi sang Thái-lan không một ai được biết nếu gặp Khmer Đỏ thì coi như đời tàn – bởi chúng thù ghét tất cả mọi người Việt, không cần biết thuộc phe nào, thấy là chúng bắn ngay chứ không bắt sống!
* * *
Tôi sợ rừng già Đồng Ban bởi có lần tôi đã bị lạc trong đó vì không nhớ đường ra!
Nguyên trong một buổi đi lấy mây, nghe anh em cải tạo ở T3 cho biết khu rừng phía bên mặt con đường mòn có nhiều dây mây, tôi và Hoàng (đờn bass) quyết định vào để tìm.
Đây là lần đầu tiên tôi và Hoàng đi vào khu rừng phía bên mặt con đường mòn; trước đó chúng tôi chỉ quanh quẩn ở khu rừng phía bên trái.
Càng vào sâu, tôi càng bị thu hút bởi cảnh trí đẹp lạ lùng của khu rừng mây. Những dây mây xanh ngắt mọc thành dàn trên những gốc cổ thụ cao vút, trên thân dương xỉ mọc chi chít cùng với những khóm phong lan tỏa hương thơm thoang thoảng dịu dàng.
Trong cái tĩnh lặng tuyệt đối của khu rừng, tôi như quên đi thân tù cải tạo để chỉ còn biết thưởng thức phong cảnh tuyệt đẹp và sự kỳ diệu của thiên nhiên… cho tới khi giật mình vì đã vào quá sâu, mất phương hướng.
Tôi vội vàng chặt hai gốc mây, kéo xuống được khoảng 20 mét, cuốn lại vào xỏ vào vai rồi tìm đường ra. Nhìn lên chỉ thấy lá mây, những tàng cây loáng thoáng chút nền trời xanh, không một tia nắng, tôi hoang mang, bấn loạn một hồi, sau đó cố trấn tĩnh để tìm cách thoát ra khỏi khu rừng mây.
Tôi xuất thân Trường Bộ Binh Thủ Đức, nơi bốn chữ “Cư An Tư Nguy” trên huy hiệu của trường đã được chế thành… “Cứ Ăn Cứ Ngủ” thì khả năng mưu sinh thoát hiểm chỉ là một số không to tướng; hơn nữa, trong những buổi thực tập di hành đêm ngày ấy ít ra chúng tôi cũng có được cái địa bàn cầm tay…
Giờ đây tôi chỉ có hai lựa chọn: đi cầu may về một hướng nào đó, hoặc trèo lên ngọn cây để tìm hướng mặt trời. Nhìn những gốc cổ thụ 2, 3 người ôm, tôi lắc đầu, quyết định… cầu may. Nếu không xong, tôi sẽ tìm cách chế ra một quả lắc cảm xạ học mà Thành cận đã truyền thụ cho ở Thành Ông Năm, để tìm phương hướng.
Tôi đoán có lẽ mình đã vào sâu khoảng 200 mét là tối đa, vì thế tôi lấy con dao đi rừng làm dấu vị trí đang đứng, rồi vừa đi vừa làm dấu trên các thân cây để nếu không tìm được đường ra thì sẽ trở lại vị trí cũ để lấy một hướng khác. Cùng lắm thì tới lần thứ tư cũng phải tìm được lối ra – tôi tự trấn an mình!
Khi đã đi được khoảng cách mà tôi ước đoán là 200 mét mà trước mặt vẫn là rừng mây đặc kín, tôi đang tính quay trở lại thì một ý tưởng ngộ nghĩnh chợt đến trong đầu: tại sao mình không thử bắt chước Tặc-dăng (Tarzan)? Rồi tôi lấy hai bàn tay bụm lại trước miệng và… hú!
Không ngờ cái trò chơi trẻ con hồi còn bé sau khi xem phim “Tặc-dăng – chúa rể rừng xanh”, mấy chục năm sau ứng dụng lại đạt kết quả tốt đẹp: sau khi hú ba lần, tôi bỗng nghe có tiếng hú vọng lại; để cho chắc ăn, tôi hú thêm một lần nữa và lại nghe tiếng hú đáp trả. Tôi định hướng rồi đi về… sinh lộ.
Khoảng 10 phút sau tôi đã ra tới bìa rừng, nơi Hoàng đang đứng đợi…

* * *
Trong khi băng rừng trốn sang Căm-bốt cần nhất là khả năng mưu sinh thoát hiểm thì giả dạng thường dân trốn về Sài Gòn lại cần có sự may mắn. Chúng tôi nghĩ ra cách trốn trại này sau những lần đi chặt le ở phía bên kia đường lộ.
Từ cổng trại phía trước, đi ra khoảng một cây số thì tới đường lộ, quẹo trái đi khoảng một cây số nữa thì rẽ phải, đi qua phần đất dành cho thành phần Việt kiều thân cộng hồi hương thì tới rừng le.
Thời gian đầu, dưới sự canh chừng nghiêm ngặt, chặt chẽ của đám vệ binh, tù cải tạo tuyệt đối không được tiếp xúc với dân chúng, kể cả thành phần Việt kiều hồi hương, nhưng dần dần lệnh này được nới lỏng, cho tới lúc không còn tay vệ binh nào theo chúng tôi vào tận rừng le nữa, mà ngồi chờ ở cái quán ngoài đường lộ hoặc vào những nhà dân có con gái chưa chồng tìm cách tán tỉnh (nhưng chưa bao giờ đạt “hiệu quả”).
Dân kinh tế mới ghét bộ đội thì chẳng nói làm gì, bởi đó là điều quá dễ hiểu, nhưng cả đến Việt kiều hồi hương cũng ghét nón cối mới là chuyện lạ.
Hỏi ra mới biết đây là những người dân miền Nam trước kia từng sống chết với Mặt Trận Giải Phóng, từng làm bia đỡ đạn trong các cuộc hành quân tảo thanh của QLVNCH, từng làm dân công thồ lương tải đạn cho đoàn quân xâm lược của miền Bắc đặt căn cứ trên lãnh thổ Căm-bốt, tóm lại là có công đầu với cách mạng, vậy mà sau khi đất nước được hoàn toàn giải phóng, hồi hương thì bị bắt định cư ở vùng đất chó ăn đá gà ăn sỏi này!
Cả một xã trải dài mấy cây số không hề có trạm xá, trường học thì nói gì tới “cửa hàng bách hóa”… Thậm chí cả đến “quyền công dân” họ cũng không được hưởng đầy đủ, không được cấp giấy phép đi ra khỏi tỉnh Tây Ninh nếu không có họ hàng thân thuộc ở nơi khác với địa chỉ rõ ràng…
Trong đám Việt kiều hồi hương ấy có một phụ nữ trên dưới 50, nghĩa là đáng tuổi mẹ của đám trung úy thiếu úy chúng tôi lúc bấy giờ. Bà ta bày trước thềm nhà mấy củ khoai mì, mớ khoai lang sống, mấy trái đu đủ xanh để bán cho tù cải tạo.
Khi không còn vệ binh đi theo canh chừng, chúng tôi thường dừng lại mua, đôi khi trò truyện và được biết bà là người cực kỳ bất mãn với chế độ. Bà có hai cô con gái chưa chồng hiện đang làm lao động ở nông trường tập thể, đôi khi hai ba tuần mới về nhà một lần. Một hôm, có lẽ vì thấy nhà cửa trống vắng, một anh bạn tù cải tạo “vô duyên” của tôi hỏi đùa sao bà không gả cho bộ đội để có cháu cho vui cửa vui nhà, lập tức mặt bà đanh lại, rồi buột miệng:
– Tui nói thiệt chớ, có con gái thà để cho chó chơi chớ không gả cho bộ đội!
Anh bạn cải tạo nín khe; riêng tôi hết sức kinh ngạc và cảm thấy bất nhẫn vô cùng. Kinh ngạc trước mức độ bất mãn tận cùng của một trong số những người dân từng được chế độ xưng tụng là “có công với cách mạng”, bất nhẫn vì thấy một bà mẹ VN phải thốt ra một câu quá đỗi thô tục!

* * *

Còn cái “quán bên đường” thì nằm ngoài đường lộ, mãi sau này chúng tôi mới biết “chủ nhân” là một cựu hạ sĩ quan Không Quân bị bắt đi kinh tế mới. Gọi là “quán” chứ thực ra đây chỉ là một cái lều tranh không vách, treo vài nải chuối, thêm mấy bịch thuốc rê, hai ba cái keo đựng đường thẻ, kẹo dừa…, được giao cho cô gái nhỡ trông coi, còn vợ chồng ông và bầy con còn lại thì phải “lao động vinh quang” ở khu rẫy sau nhà.
Qua những lần dừng chân ở quán, tìm hiểu về đường đi nước bước và phương tiện vận chuyển từ đây ra Tây Ninh, chúng tôi được biết mỗi ngày có một chuyến “xe than” chạy từ Cà Tum ra Tây Ninh hoặc Trảng Bàng, giờ giấc xe tới Đồng Ban rất thất thường, khi thì 10 giờ sáng, có lúc 12 giờ trưa, tùy theo xe có bị hư dọc đường hay không.
“Xe than” nói tới ở đây không phải là “xe vận tải chở than” mà là “xe đò chạy bằng than”, một phương tiện vận chuyển độc đáo tại miền Nam sau năm 1975. (xem Chú Thích)
Về sự hiện của công an trong vùng thì chỉ có mấy mống “bò vàng” ở trụ sở công an xã, hầu như không bao giờ xuất hiện tại vùng kinh tế mới vì ở đây làm gì có “đối tượng” để kiếm ăn. Riêng bộ đội thì ngoài đám vệ binh canh chừng tù cải tạo, họa hoằn mới có mấy tay bộ đội đào ngũ lén vào rẫy của dân để đào trộm khoai sắn.
Như vậy, anh em tù cải tạo nào muốn trốn trại về Sài Gòn, chỉ cần gia đình khi lên thăm nuôi đem theo một bộ quần áo tương đối lành lặn và một cái giấy phép đi đường (giấy giả hoặc giấy thật do công an phường bán lén với “giá phải chăng”).
Sau đó, lợi dụng lúc đi chặt le, tới khi vắng bóng bọn vệ binh thì lỉnh vào vườn mì rồi ra gần đường lộ núp, đợi xe than đi ra Tây Ninh hoặc Trảng Bàng, từ đó đi xe đò về Sài Gòn. Nếu không bị công an ở các trạm kiểm soát nghi ngờ bắt giữ, coi như thoát.
Cả hai cách trốn trại “ngược chiều” nói trên – băng rừng trốn sang Căm-bốt và giả dạng thường dân trốn về Sài Gòn – về sau đã được một số em anh tù cải tạo ở T2 thực hiện.
Lá cờ máu và tình người
Không hiểu anh em tù cải tạo gốc gác Trảng Lớn không bị ra Phú Quốc thì sao, phần tôi lần đầu tiên phải chào lá cờ đỏ sao vàng xảy ra tại Đồng Ban. Hôm đó là ngày 3/2/1977, khoảng 8 giờ sáng, tất cả tù cải tạo trong T2 được lệnh xếp hàng đi ra sân banh dự lễ kỷ niệm “ngày thành lập đảng CSVN quang vinh”.
Lúc đó tôi mới để ý tới cái cột cờ khá cao mà cán bộ trại đã bắt tù cải tạo dựng lên từ hồi nào, giờ đây đang phất phới một lá cờ đỏ sao vàng thật lớn.
Vẫn biết lá cờ của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam đã biến mất sau khi quốc hội CSVN khai tử tổ chức bù nhìn này vào ngày 24/6/1976 – khoảng thời gian tôi đang ở Phú Quốc – nhưng từ đó tới nay, tôi chưa lần nào phải đứng nghiêm chỉnh dưới lá cờ máu của cộng sản Bắc Việt ngạo nghễ tung bay trên đầu như một sự thách thức.
Mặc cho “Lam Sơn 719” tràng giang đại hải ca tụng công sức của cái đảng chết tiệt của ông ta, tôi chỉ biết cúi đầu tủi nhục, nước mắt như muốn trào ra, nhớ lại những buổi chào cờ vàng ba sọc đỏ tại đơn vị mà Khối Chiến Tranh Chính Trị của chúng tôi chịu trách nhiệm phần nghi lễ, cứ ngỡ như mình đang trải qua một cơn ác mộng: miền Nam thân yêu đã bị mất vào tay cộng sản Bắc Việt thật rồi!
Từ buổi sáng hôm ấy, 3/2/1977, tôi mới thực sự bị dị ứng với lá cờ đỏ sao vàng – dị ứng suốt một đời. Không chỉ dị ứng mà còn bị ám ảnh cả trong giấc ngủ.
Trong Lời Nói Đầu của của thiên hồi ký này, tôi đã viết trong hơn 40 năm qua, thỉnh thoảng ban đêm tôi vẫn còn có những cơn ác mộng về ngày 30 tháng Tư 1975, về thời gian ở tù cải tạo, về chuyến vượt biển tìm tự do…
Trong những cơn ác mộng về thời gian ở tù cải tạo ấy thường bao giờ cũng có buổi chào cờ đỏ sao vàng nói trên. Chính vì thế, dù bố mẹ còn sống ở Việt Nam, sau khi vượt thoát tới bến bờ tự do, tôi đã thề sẽ không bao giờ trở lại một khi trên quê hương còn bóng cờ đỏ.

* * *

Tuy nhiên, nếu không kể buổi chào cờ đỏ sao vàng sáng 3/2/1977, thời gian nửa năm ở T2 Đồng Ban phải được xem là những ngày “thần tiên” nhất trong cuộc đời cải tạo, ít ra cũng là với những người tù cải tạo an phận như tôi. Viết một cách chi tiết thì trong khoảng hai tháng đầu, bầu không khí cũng khá ngột ngạt căng thẳng, vì sự dòm ngó, hạch sách của tay chính trị viên (Chuẩn úy Đạt), thái độ hung hăng của tay vệ binh biệt hiệu “Bia lên”, đồng thời cũng vì anh em tù cải tạo – tới từ nhiều T khác nhau ở Trảng Lớn – chưa có đủ thời gian để tìm hiểu, tin nhau, thân nhau.
Nhưng sau khi T2 có biên chế thì sinh hoạt trở nên thoái mái, bầu không khí trở nên dễ thở hơn rất nhiều.
Tôi ở đội của Cường, một trung úy Không Quân xuất thân Khóa 4/68, nguyên hoa tiêu quan sát thuộc Phi Đoàn 120 (Đà Nẵng). Gốc Nam Kỳ, con nhà giàu đẹp trai lại đi lính tàu bay, dĩ nhiên tứ đổ tường anh biết đủ, nhưng tất cả đều dừng lại ở một giới hạn nào đó, cho nên có thể gọi anh là một “tay chơi nhà lành”!
Cường ăn nói từ tốn nhỏ nhẹ nhưng có sức thuyết phục, với cả đám cán bộ trên “khung” lẫn anh em tù cải tạo, cho nên đám cán bộ không có gì phải phàn nàn mà anh em thì được thoải mái.
Thoải mái tới mức khó tin. Chẳng hạn việc được tự do vào rừng lấy dây mây, chặt cây, tìm phong lan, kiếm lá sương sâm…, hoặc đàn hát nhạc vàng thoải mái, miễn là chấm dứt khi có tiếng kẻng báo giờ đi ngủ.
Cùng thời gian, ban chỉ huy trại có thêm một cán bộ quản giáo là Trung úy Vầy, người đảm trách công tác lao động của T2. Sau này hồi tưởng lại, hình ảnh Trung úy Vầy trong đầu óc không ít anh em cùng đội với tôi là hình ảnh một “người anh bên kia chiến tuyến” hơn là một sĩ quan coi tù!
Ngay trong lần đầu tiên được tiếp xúc với Trung úy Vầy, tôi đã liên tưởng tới nam nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết Trống Mái của Khái Hưng cũng có cái tên bắt đầu bằng chữ V: Vọi. Có khác chăng là anh Vầy ra vẻ nhà quê và cù lần hơn chàng Vọi trong truyện.
Anh Vầy vào khoảng 40 tuổi, tức là khôn lớn trước khi Việt Minh tiếp thu Hà Nội, cho nên dù quê mùa, ít học, cũng không đến nỗi phát âm chữ “l” thành chữ “n” như đa số đám trẻ sau này.
Có thể viết mà không sợ quá lời: trong gần 6 năm bị đi cải tạo và kể cả sau khi ra tù, tôi chưa thấy một sĩ quan miền Bắc nào hiền lành, chất phác như anh.
Nhưng hiền lành, chất phác nơi anh không có nghĩa là thiếu sự hiểu biết; chỉ có điều anh chậm chạp và ít nói, và ra vẻ anh thích nghe chúng tôi kể chuyện đường đời và cuộc sống ở miền Nam trước năm 75 hơn là nói về bản thân anh, về cuộc chiến huynh đệ tương tàn, về “thiên đường xã hội chủ nghĩa” ở miền Bắc…
Vào thời gian này ở T2, tù cải tạo thường chỉ còn lao động buổi sáng, cho nên cứ khoảng hai, ba giờ chiều, anh Vầy lại xuống đội tôi chơi, ngồi ở cái bàn dã chiến ngoài hàng hiên, vừa trò chuyện vừa uống cà-phê, uống trà do chúng tôi “chiêu đãi”. Đôi khi anh cũng kín đáo đóng góp một bịch cà-phê, hay trăm gram đường.
Viết về anh Vầy cũng phải đề cao công sức của Sơn “lồ”, tay đội phó tuy chỉ mang cấp bậc thiếu úy, mặt búng ra sữa nhưng sạn trong đầu lại nhiều hơn ai hết!
Sơn lồ gốc Nam kỳ, xuất thân là dân “cậu” (tía làm lớn bên Cảnh Sát Quốc Gia), ngày còn ở Trảng Lớn cũng như sau này lên Đồng Ban được gia đình gửi quà đều đều, nên được Cường (đội trưởng) trao nhiệm vụ pha cà-phê. Hết cà-phê của nhóm, Sơn vận động những anh em cải tạo khác, người góp cà-phê kẻ cho đường cát trắng để hắn chiêu đãi anh Vầy.
Khi nguồn cà-phê sắp cạn mà chưa có thăm nuôi, hoặc gia đình chưa kịp gửi quà, hắn lấy bã cà-phê “sái nhất” đem phơi khô rồi bỏ vào chảo rang lại, pha lẫn với cà-phê “gin” để đãi khách!
Sau một thời gian ngắn, anh Vầy đã coi đám tù cải tạo chúng tôi – đại đa số là trung úy thiếu úy trẻ – như những người em; và khi anh khuyên chúng tôi không nên trốn trại mà hãy cố chờ ngày về xum họp với gia đình, chúng tôi biết anh khuyên thật lòng!
Bên cạnh “quan hệ hữu nghị” với nhóm chúng tôi, việc anh Vầy về T2 còn có cái lợi chung cho anh em tù cải tạo là Chuẩn úy Đạt, tay chính trị viên sắt máu, không còn thường xuyên xuống các Đội để diệu võ dương oai, dòm ngó, hạch sách nữa, và khi vào rừng để đốn củi, chặt cây, tìm dây mây…, tức là khi đi lao động bằng cổng sau, chúng tôi được hoàn toàn “tự giác”, không còn vệ binh đi theo.
* * *
Viết ra có thể bị một số người cho là phóng đại, nhưng sự thật là vào khoảng thời gian sau này ở T2, nhân vật bị anh em cải tạo ghét nhất không phải là người bên kia chiến tuyến mà thuộc “phe ta”: Tư “răng vàng”, tay thiếu úy già giữ chức đội trưởng tăng gia.
Những tù cải tạo thuộc Đội tăng gia không ở chung với anh em trong dãy nhà của các đội mà ở riêng trong một gian nhà phía sau vườn rau, nhưng Tư răng vàng lại hay mò lên các đội, bề ngoài là quan hệ với đám bạn già nhưng thực chất là để dòm ngó, báo cáo lên khung những sinh hoạt trái với nội quy, những cá nhân thiếu tiến bộ, phát ngôn bừa bãi…, viết ngắn gọn là làm ăng-ten!
Bên cạnh việc làm ăng-ten, Tư răng vàng rất có thớ với đám cán bộ trên khung nhờ sự tận tụy, tài quán xuyến, óc phát triển của ông ta: ngoài tổ canh tác cung cấp rau xanh cho cả T2, ông ta còn lập thêm tổ chăn nuôi để nuôi heo và tổ rèn để rèn dao đi rừng.
Trong khi tổ chăn nuôi và tổ rèn chẳng ảnh hưởng gì tới anh em tù cải tạo thì tổ canh tác lại gây bất mãn trầm trọng. Nguyên nhân rất dễ hiểu: tù cải tạo chỉ được ăn rau muống “hạng nhì”, từ các luống rau bón bằng phân bắc (phân người), còn rau muống “hạng nhất”, bón bằng nước tiểu cùng với bầu, bí, mướp… thì dành riêng cho trên “khung”. Anh em cải tạo đã nhiều lần phản ảnh tình trạng bị đau bụng vì ăn rau muống mất vệ sinh nhưng cũng chẳng ăn thua gì!

(ảnh minh hoạ)
Để trả thù, vào một buổi tối không trăng sao, một anh em cải tạo nào đó đã lẻn xuống khu trồng bầu, bí, mướp của đội tăng gia, lấy con dao thật bén cắt đứt một loạt hơn một chục gốc bầu bí mướp dọc theo con đường đi ra cổng sau.
Sáng hôm sau, mặt trời lên làm héo lá, Tư răng vàng mới khám phá ra. Từ đó, ông ta không dám đi ngủ theo kẻng mà thức thật khuya để canh chừng. Và vào một buổi tối nọ, ông ta đã gặp hai người khách không mời: hai tay bộ đội đào ngũ đói quá lần mò về kiếm ăn.
Sau này, qua lời kể lại của dân chúng, chúng tôi được biết ở Đồng Ban có mấy tay bộ đội Bắc kỳ con nít ranh đào ngũ để sống giang hồ nhưng vẫn quanh quẩn trong vùng, thỉnh thoảng lẻn vào rẫy của dân để đào trộm khoai sắn.
Khi được hai tay bộ đội cho biết sự thật và năn nỉ xin cái gì bỏ bụng, Tư răng vàng nói họ ra chờ ở lò rèn cách đó khoảng 50 mét, rồi âm thầm lên “khung” báo cáo sự việc. Chuẩn úy Đạt liền dắt mấy tay vệ binh xách súng xuống nhưng hai tay bộ đội đào ngũ thấy nghe tiếng động vội vã bỏ chạy thoát thân…
Lúc đó vào khoảng 10, 11 giờ khuya, tù cải tạo đa số đã ngủ, bỗng nghe có tiếng quát tháo và mấy tràng súng AK nổ dòn dã mà không biết chuyện gì xảy ra, chỉ sợ có anh em nào trốn trại bị phát giác. Sáng hôm sau mới biết đầu đuôi sự việc.
Về sau tôi được nghe kể lại khi hai tay bộ đội đào ngũ bỏ chạy khỏi lò rèn, Chuẩn úy Đạt vừa sử dụng khẩu K-54 của y vừa ra lệnh cho đám vệ binh bắn theo, nhưng cả đám đã chếch họng súng lên cao mà bắn, bởi họ không muốn giết các cựu đồng đội.
Sau vụ nổ súng này, không nghe ai còn nói tới hai tay bộ đội đào ngũ, riêng anh em cải tạo ở T2 càng thêm ghê tởm, xa lánh Tư răng vàng…
* * *

Khoảng bốn tháng sau khi tới Đồng Ban, tù cải được gia đình thăm nuôi.
Trước đó hơn một tháng chúng tôi đã được ban chỉ huy trại chỉ thị viết thư thông báo cho gia đình. Trong thời gian hơn một tháng ấy, đã xảy ra một chuyện đáng buồn và một chuyện… khá tức cười.
Chuyện đáng buồn là cái chết lãng xẹt của X (tôi không nhớ tên), một tù cải tạo cấp trung úy thuộc T3; anh em các T khác chỉ nghe kể lại chứ không được chứng kiến tận mắt.
Nguyên vào thời gian này, bộ chỉ huy trung đoàn (L2) vừa khởi công xây dựng một “hội trường” khá lớn, lợp tranh, không có vách, để sử dụng trong những buổi học tập cho cả L.
Dĩ nhiên, cả “kiến trúc sư” lẫn nhân công đều là tù cải tạo. Để có một bề ngang hơn 20 mét, hội trường được thiết kế với hai hàng cột chính nằm phía bên trong như thường thấy trong các ngôi thánh đường cổ kính.
Thế rồi trong lúc đang dựng các khung cột + đà ngang lên, do mất thăng bằng, một khung đã bị đổ xuống, đè lên một số anh em cải tạo đang có nhiệm vụ chống khung lên, riêng X bị cái cột chính đè ngang thân người với sức nặng của cả dàn cột + đà, lục phủ ngũ tạng bị dập nát, khoảng nửa tiếng đồng hồ sau thì tắt thở.
Điều mỉa mai tới mức khôi hài là trong suốt mấy tháng sau đó, trước khi L2 chuyển trại đi nơi khác, tù cải tạo chỉ lên cái hội trường “vĩ đại” này để học tập hai buổi.
Ngồi trong hội trường, một số anh em nhìn hàng cột đường kính nửa mét đã không tiếc lời oán trách ông “kiến trúc sư” cải tạo chỉ vì muốn lập công, lấy tiếng mà người bạn tù sấu số X bị thiệt mạng!

* * *
Còn chuyện tức cười thì liên quan tới hà thủ ô. Trong một kỳ tới, tôi sẽ viết tới nơi tới chốn về “huyền thoại hà thủ ô”, còn kỳ này chỉ viết về những gì đã xảy ra cho một anh bạn tù của chúng tôi.
Nguyên sau hơn hai năm sống thiếu thốn trong các trại cải tạo, người nào cũng bị suy dinh dưỡng, tuy nhiên tùy cơ thể mỗi người mà tình trạng suy dinh dưỡng ấy được thể hiện qua những triệu chứng khác nhau: phù thũng, ghẻ chốc, mờ mắt, sưng nướu răng, bạc tóc…
Trong đội tôi, hai bạn tù bị nặng nhất đều vào tuổi trung niiên. Người thứ nhất là anh Thiên bị mờ mắt ngay từ ngày còn ở Trảng Lớn, lên Đồng Ban gần như bị mù. Có lần nói chuyện với tôi, nước mắt anh tự dưng trào ra; có lẽ anh lo sợ bị mù vĩnh viễn.
Tới khi có lệnh thăm nuôi, theo sự chỉ dẫn của một tù cải tạo dược sĩ quân y, anh Thiên đã viết thư về căn dặn vợ con cố tìm mua cho anh một hộp đa sinh tố (multivitamin) để hy vọng mắt anh sẽ bớt mờ.
Thời gian này, việc những người đi năm 1975 gửi quà về cho thân nhân trong nước còn hiếm họa, thành thử tìm mua một hộp đa sinh tố cũng không dễ dàng gì. Tìm không được, cuối cùng gia đình phải ra chợ trời mua một lọ multivitamin 100 viên của quân đội Mỹ trước đây. Vậy mà những viên đa sinh tố của “đế quốc Mỹ” đã quá hạn sử dụng cả mấy năm lại giúp anh Thiên phục hồi thị lực tới 90%!
Người thứ hai là anh Đ, một trung úy Địa phương quân có cô vợ rất trẻ. Bình thường nhìn vào đã thấy một sự thiếu cân xứng về tuổi tác, huống chi gần đây tóc anh còn bắt đầu bị bạc. Nghe nói hà thủ ô có công dụng làm tóc bạc trở thành… tóc đen, anh đã tìm hà thủ ô đào đem về nấu nước uống.
Công việc này được anh làm một cách lén lút sau khi anh em đã đi ngủ để khỏi bị cười nhạo (nhưng trên thực tế ai cũng biết, chỉ không nói ra mà thôi). Những ai từng uống thử hà thủ ô hẳn phải biết nó đắng tới mức nào, huống chi ở đây anh Đ còn theo đúng sách vở “thắt lát phơi khô, sao vàng hạ thổ, 3 chén sắc còn 8 phân” thì với cái độ đậm đặc ấy nó còn đắng tới mức nào! Nhưng nghĩ tới ngày thăm nuôi được gặp lại cô vợ trẻ, anh nhắm mắt uống!
Nhưng trời đã… phụ lòng người!
Vì sự đau khổ tận cùng về cả tinh thần lẫn thể xác mỗi khi nâng chén thuốc đắng lên uống, một vài tuần sau tóc anh Đ chẳng những đã không hết bạc mà còn bắt đầu… rụng bớt! Sau đó, nghe lời khuyên can của mọi người, anh ngưng uống hà thủ ô nhưng cũng đã quá muộn: tới ngày thăm nuôi, tóc anh chỉ còn hơn phân nửa.
Có điều an ủi là theo “báo cáo” của các anh em được thăm nuôi cùng lúc với anh Đ, cuộc hạnh ngộ giữa anh và cô vợ trẻ đã diễn ra khá tốt đẹp, nếu không muốn nói là rất tình tứ!
CHÚ THÍCH:
Xe than: Với những người sinh sau đẻ muộn như tôi, “xe than”, tức “xe đò chạy than” là một sáng kiến “khắc phục” của người dân miền Nam sau năm 1975, nhưng theo nhà văn Sơn Nam, một tay bút kỳ cựu của Nam bộ, xe than đã hiện diện từ thời Đệ nhị Thế chiến, sau khi Nhật chiếm miền Nam VN và xăng dầu trở nên khan hiếm.
Ông kể lại:
“Xe ô tô chở khách phải dùng “ga”, hiểu là than củi tràm, bỏ vào cái thùng tròn đặt bên hông xe phía sau. Trước khi cho xe nổ máy thì quạt cho than tràm cháy, hơi ga ấy bị đốt, gây sức ép cho máy xe chạy, gọi “Autogène”, theo mô hình của Kỹ sư Thịnh Hưng Ngẫu chế tạo ở Sài Gòn.”
Tuy nhiên, qua tham khảo một số nguồn tài liệu, chúng tôi được biết sáng kiến sử dụng than củi để chạy xe đã được ứng dụng tại Âu châu từ đầu Đệ nhị Thế chiến, suy ra kỹ sư Thịnh Hưng Ngẫu mà Sơn Nam nhắc tới chỉ là người có công cải biến và ứng dụng tại Việt Nam.
Hiện nay, tại Cộng Hòa Nhân Dân Triều Tiên, tức Bắc Hàn, đa số xe vận tải của các nông trường và một số xe của quân đội vẫn tiếp tục chạy bằng than.

Một trong những chiếc xe chạy bằng than đầu tiên ở Đức (1940)

Một xe vận tải chạy bằng than củi tại Bắc Hàn

Về xe đò chạy than ở miền Nam VN sau năm 1975, sau đây chúng tôi xin trích đăng một số đoạn trong hai bài viết hiện được phổ biến trên Internet.

Hoài niệm xe đò (tác giả TN):
Hình ảnh chiếc xe đò nhỏ chạy bằng than đốt trong cái thùng phía sau xe được lặp lại từ năm 1975 đến 1985, chắc người Sài Gòn tuổi trung niên trở lên đều biết rõ. Tôi từng đi loại xe sử dụng nhiên liệu này, mỗi lần chui vào cửa xe phía sau là đều phải cẩn thận với cái thùng than cháy nóng được treo dính ở đuôi xe. Thường thì người ta chỉ cải tiến xe đò lỡ – tức là loại xe Renault cũ xì từ giữa thập niên 50. Tuy giới lái xe gọi đó là xe đò hỏa tiễn nhưng nó chạy chậm hơn xe chạy xăng hoặc dầu. Có lúc xe chạy ì à ì ạch khi than cháy không hết, lơ xe phải dùng thanh sắt mở lò đốt cời than. Hoặc thỉnh thoảng gặp đường vồng xóc, than văng ra khỏi cửa thông không khí, rớt xuống đường cháy đỏ rực. Vô phúc cho chiếc xe đạp nào chạy phía sau tránh không kịp, cán phải cháy lốp xe.

Sáng tạo thời bao cấp: Xe đò chạy bằng… than!
(website hinhanhvietnam.com):
Chính sách tập trung quản lý các nguồn nhiên liệu và độc quyền xuất nhập khẩu vào tay nhà nước đã làm cho tình trạng khan hiếm xăng dầu trở nên nghiêm trọng. Từ năm 1976, một phần xe cộ bắt đầu bị xếp xó vì không có nhiên liệu hoặc không có phụ tùng thay thế.
Những nhà trí thức lúc đó đã hướng dẫn áp dụng nhiều sáng kiến trong sản xuất, phục vụ đời sống của người dân. Sáng kiến đáng chú ý nhất là việc “độ chế thành công” xe ô tô chạy bằng than củi. “Bộ phận lò hơi” của xe ô tô chạy than củi có thể sử dụng cho các loại máy bơm nước, máy tàu, máy điện…
Hãy nhìn cái thùng đặt sau xe được làm bằng sắt, có đường kính 40 đến 50cm cao bằng 2 cái thùng “phuy”, treo đứng sau đuôi xe. Tên gọi là xe hỏa tiễn, do đeo cái bình đốt than phía sau… Bên trong thùng này chứa than củi được đốt cho cháy trong điều kiện thiếu không khí để tạo ra một loại khí ga cháy được. Khí này chạy qua 1 bầu lọc thô sơ rồi được hút vào xy-lanh, sau khi xe đã nổ máy với xăng.
Từ khi bỏ than củi vô thùng, nung nóng lên cho tới lúc bốc ra khí ga mất khoảng 1 giờ.
Do than phải cháy trong điều kiện thiếu không khí nên có xu hướng tắt dần. Sau một quãng đường, anh lơ xe phải dùng một que sắt dài khều than, chọc tro… cho than cháy tiếp. Than vụn cùng tro rơi vãi dọc đường xe chạy…, ai chạy xe máy mà bị nó tặng vài cục than đỏ rực trước mặt thì …phải biết!





Cái gì Việt-Nam bố cũng rinh về

baovecovang2012.wordpress.com

thầy vẽ

Posted on Jan 25, 2013 by Lê Thy
Post by Sơn râu 19 May 2025

Khi còn trẻ, không bao giờ tôi dám nghĩ là có một ngày nào đó tôi sẽ sưu tầm cổ vật Việt Nam. Đó là một thú vui mà tôi vẫn nghĩ chỉ dành cho những tay con buôn, những gia đình giàu có, có truyền thống tự bao đời, hay chỉ về tay các chuyên viên khảo cổ của bảo tàng viện…

Trước 75 ở Sàigòn, vỏn vẹn chỉ có một lần duy nhất tôi lấy thì giờ đi thăm Viện Bảo Tàng ở vườn Tao Đàn mà trong tiềm thức của tôi chỉ còn giữ lại một nuối tiếc là ít tranh vẽ để tôi chiêm ngưỡng buổi hôm đó. Lúc ấy tôi chỉ là một anh công chức quèn của bộ Thông Tin, kiêm thêm nghề thợ vẽ, và thầy dạy vẽ cho trẻ em.

Trang Điểm
Mai Trung Thứ (1906-1980)

Di cư một mình đi theo các cha cố đạo, vào Nam năm 54, gia đình thì không còn mà tiền tài danh vọng cũng không, một xu chữ Nôm, chữ Nho, chữ Hán cũng mù tịt, thì cổ vật văn hóa của đất nước quả là quá xa tầm tay hèn mọn của tôi. Tôi chỉ biết chiêm ngưỡng và tự nhủ ‘Bốn ngàn năm Văn hiến’ của đất nước …

Đến khi đi tỵ nạn định cư tại Pháp, những năm đầu chật vật kiếm sống, gà trống nuôi con trong căn gác trọ chật hẹp của quận 5, thành phố Paris, có bao giờ tôi dám mơ tưởng đến cổ vật hay thòm thèm muốn múa cọ trên giá vẽ. Nhưng số Trời định sao thì chuyện gì phải đến sẽ đến.

« Bố ơi, tối nay mình ăn mì gói nhịn cơm nhá? » con Lan con gái tôi vừa nói vừa thở hổn hển khi trèo lên đến tầng 6 nơi người chủ cho thuê gác trọ mà ngày xưa họ dành cho người hầu, « Con tiêu bén mất tiền chợ tuần này rồi! »

Suối Tóc
Mai Trung Thứ (1906-1980)

Tôi chưa kịp hỏi han ‘tội tình’ thì nó đã gỡ gói giấy bản ra trước mặt tôi rồi nói một hơi không ngừng: « Bố ơi, đầu chợ Mouffetard có ông bán đồ cũ (brocanteur), nào là khung, tranh, bưu thiệp cổ…Con đứng mò mẫm xem bưu thiệp thời Đông Dương…thì tự nhiên đâu rớt ra hai tấm tranh này, vì nó bé như bưu thiệp vậy! Thấy con thòm thèm mà chợ sắp đóng nên ông già chịu để rẻ cho con cả cặp một trăm quan! Thế là tiêu hết tiền chợ… thôi chợ cũng đóng cả rồi…»

Lúc ấy, năm 79, chân ướt chân ráo vừa sang Pháp, một trăm quan (15$) đối với cha con tôi là to lắm. Nhưng khi thấy mắt con tôi sáng long lanh nhìn hai tấm tranh lụa lót giấy bìa, nó thủ thỉ « Bố xem có giống Mẹ không này… », con bé biết đúng điểm tâm lý của tôi, tôi không la nó được. Tôi còn nhìn mân mê hai bức tranh lụa, mỗi bức vẽ người thiếu nữ đang trang điểm thật dịu dàng duyên dáng. Lúc ấy tôi nào biết ai là tác giả của hai bức tranh. Nên giá trị của bức tranh chỉ tương xứng với cảm giác rung động, và những kỷ niệm nó gợi đến cho người thưởng thức. Tôi ngâm nga bài ‘Suối Tóc’ của Văn Phụng mà ngày xưa vợ tôi rất thích. « Để cuối tuần mình đi tìm cặp khung rồi treo lên cho đẹp. », tôi nói để nén xuống sự xúc động trong lòng tôi, nhớ người vợ hiền xấu số đã qua đời trên biển cả… Không thấy tôi cằn nhằn, con Lan thở phào nhẹ nhõm. Tối hôm ấy mì gói thú vị làm sao. Cha con tôi có ngờ đâu nó đã đánh dấu bước đầu tiên của cuộc hành trình hai cha con tôi và cổ vật Việt Nam.

Nhớ lời ông già bán đồ cũ chỉ con Lan buổi đầu « Cái gì chứ di tích của Việt Nam, người Pháp mang về nhiều lắm, muốn sưu tầm thì đi lùng bên Pháp này chẳng thiếu gì. » Rồi cứ thế, có đồng nào dành giụm, có giây phút nào rảnh rỗi, cha con tôi lại đi lùng trái phải, tỉnh nào cũng mò, chợ nào cũng lục, gặp ai cũng hỏi. Nhịn ăn, nhịn mặc thì được chứ không nhịn ‘đi mò’ được. Rồi như thể là số Trời đã định, không phải người tìm đến vật mà nhiều khi vật tìm đến người, như là cái duyên vậy. Thấm thoát hơn ba mươi năm lưu lạc nơi xứ người, cha con tôi chưa trở về nước một lần nào, nhưng tôi mong thầm đáp lại một phần nào ước mơ của con gái tôi là tạo lại nơi này hình ảnh nước nhà đã mất. Tôi thương con, biết nó nhớ nhà lắm, mà tôi nhất định không bao giờ trở về khi cộng sản còn giày phá đất nước. Thù nhà, tôi hận cộng sản từ Cải cách ruộng đất đã tàn phá làng tôi chỉ vì là làng công giáo, tôi đi di cư mà không biết cha mẹ tôi sống còn hay đã chết, đến những năm trong trại cải tạo, và sau cùng vượt biên đã tước lấy đời người vợ yêu dấu…làm sao quay gót trở về được, dù luyến tiếc quê hương tôi cũng bao lần day dứt nhớ…

Lư sắt ( ˜100 tCL )    Thanh-HóaCon Lan ăn học xong là lăn lộn đi làm bở hơi tai. Chúa thương nó làm nên nhanh chóng cho tôi bỏ nghề chạy bàn trong quán ăn Đào Viên để chỉ còn lai rai nhận việc thông dịch kiếm chút cháo. Còn để dành hết thời giờ vào « cái gì Việt-Nam bố cũng rinh về ». Những năm tháng ấy, chẳng có internet, chẳng có ebay, chỉ phải mò mẫm đọc sách về khảo cổ ở VN của Pháp, chỉ có miệng truyền miệng, rồi người này giới thiệu đến người kia, và đi mua đấu giá, hay mua chợ trời trên khắp nước Pháp. Ngay tại quán Đào Viên tôi được gặp gỡ bao người giúp đỡ móc nối, nào là Hội cựu học sinh trường Albert Sarrault Hà-Nội, nào là các văn hào, nghệ sĩ, họa sĩ, từ lớp người đi trước (khi đất nước chia đôi), đến những đồng hương tỵ nạn như tôi, và ngay cả những người chạy trốn cộng sản đi từ miền Bắc sau này!

Lư sắt (100 tCL) Thanh-Hóa

Trống đồng văn hóa Đông-Sơn    (500-100 tCL ) loại Heiger I B2 – Thanh HóaVà như thế, cha con tôi tích trữ từ từ, mua lại của ngừơi Pháp rất nhiều, của bạn bè hay người quen nhường lại cũng có. Từ hai tấm tranh lụa của bước đầu, bao nhiêu bức tranh kế tiếp, lụa, sơn dầu, vẽ mực, phấn hay sơn mài, từ đầu thế kỷ XX về sau. Lịch sử tranh họa trước thế kỷ XX tiếc thay không có gì lưu trữ lại. Nhưng ngược lại các cổ vật bằng đá, gỗ, đồng, sắt, vàng, nhũ thạch, thủy tinh, cùng các đồ đất, gốm, sứ, sành thì tôi tìm ra đủ loại từ thời Hòa Bình, Đông Sơn, Hán Việt, hay thời Sa Huỳnh, Chiêm La, từ di tích Phú Nam (còn gọi là Óc Eo) đến di tích Chàm…và qua các thời đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn…

Trống đồng văn hóa Đông-Sơn (500-100 tCL) loại Heiger I B2 – Thanh Hóa

Qua quá trình sưu tầm đồ cổ, tôi đã mãn nguyện nhận thấy sự khác biệt rõ ràng của văn hóa nguyên thủy của người Việt đối với văn hóa Hán, ngay cả dưới Bắc thuộc, thời đại Hán Việt. Tôi học hỏi được một cách thú vị qua sách vở nghiên cứu quốc tế rằng chính người Bách Việt (mà Văn Lang là mạnh nhất) đã dạy người Hán làm ruộng trồng lúa nước khi người Hán chỉ biết trồng lúa mì; rằng dưới Bắc-thuộc người Hán cướp lấy hết đồ sắt và cấm người Việt không được có đồ sắt, chứ không phải người Việt không biết làm ra sắt mà chỉ biết làm đồ đồng mà thôi… (như cái Lư sắt rất hiếm thời Đông-Sơn trễ trước Hán Việt mà tôi mua lại của một người Pháp).

Tôi không phải là khảo cổ gia, cũng chẳng phải là sử gia. Cha con tôi chỉ tình cờ lâm vào cái bệnh đam mê lưu trữ lại những di tích của đất nước, quyết không để thất lạc đi. Rồi gần đây tôi có mộng lập một Bảo Tàng Viện Cổ Vật Mỹ-Thuật Việt-Nam Tự-Do trên mạng, hầu mang lại thưởng thức cho người Việt bốn phương… Nhưng tuổi đời không cho phép nên ước muốn này sẽ chỉ là một giấc mơ chăng?

Bây giờ tôi không còn sức sưu tầm nữa, nghĩ bụng sưu tập của cha con tôi cũng đã tạm đủ, nhà thì không còn chỗ trưng mà tường thì không đủ chỗ treo. Trên năm trăm món lớn nhỏ, cồng kềnh như những trống đồng Đông-Sơn, hay nhỏ bé như hạt chuỗi thời Giao-Chỉ… Quý giá cũng có mà lượm lặt cũng có. Trên bảy mươi bức tranh, từ các bậc thầy như cụ Nguyễn Phan-Chánh (1892-1984) cho đến những họa sĩ ít được tiếng… Tất cả những gì liên hệ đến lịch sử nghệ thuật của Việt-Nam, về Việt-Nam, đối với tôi đều đáng quý. Nhưng trong cả bộ sưu tầm này, hẳn nhiên là có những thứ mà tôi yêu chuộng đặc biệt, không phải vì nó có giá trị trên thị trường mà vì nó có ý nghĩa tình cảm riêng biệt đối với tôi qua hai cơ duyên đã cho tôi tri-ngộ cùng hai họa sĩ bậc thầy đáng quý. Xin thuật lại sau đây để chia sẻ cùng người đọc.

Thiếu nữ bên hoa phù dung (1974)
Nguyễn Gia Trí (1908-1993)

Họa sĩ Nguyễn Gia Trí (1908-1993):

Khi xưa ở Sài-gòn, tôi có nghe nói đến tên Họa sĩ Nguyễn Gia Trí, ông rất nổi tiếng về sơn mài. Ông tốt nghiệp trường Cao-đẳng Mỹ-thuật Đông-Dương ở Hà-Nội. Tôi nhớ mãi lần đầu tiên được đối diện với ông ở Sài-gòn thật tình cờ. Năm ấy là năm 71. Hôm ấy, tôi đến dạy vẽ các cháu con anh bs Tuyến như những cuối tuần khác. Nhưng chưa thấy mặt học trò tôi đâu thì tôi đứng trong phòng khách đợi nên có dịp chiêm ngưỡng một bức tranh sơn dầu khá lớn (̴ 1mx1,2m kể cả khung), vẽ cảnh ‘Ba Vua đến hang lừa’ với chữ viết ‘In Excelcis Deo’ trên sơn vàng nhũ phía trên, thật là đẹp vì không giống tất cả những tranh khác tôi đã từng thấy trong sách đạo. Tôi đang đứng thơ thẩn nhìn thì có giọng người nói sau lưng tôi: « Anh cũng đến gặp anh Tuyến à?» Tôi giật mình quay lại, thấy người lớn tuổi, tôi thưa « Dạ thưa ông, đến dạy các cháu học vẽ mà chưa thấy mặt đứa nào cả, nên đứng chiêm ngưỡng bức tranh này trong khi đợi. » Ông ta cười nói « Anh thấy thế nào? Tôi vẽ cho Dinh Độc-Lập ngày xưa đấy, mà trong dinh lúc ấy có vẻ chê vì tôi vẽ kiểu mới hơi ‘déstructuré’, không ‘classique’ đủ! Bực mình quá tôi tặng luôn ông Tuyến. Chú ấy đi đâu chưa về à? ». Thấy tôi ngơ ngác, ông Trí tiếp «Tôi là Nguyễn Gia Trí, tạt sang thăm ông Tuyến trò chuyện. Anh có dịp bữa nào ghé sang xưởng sơn mài tôi nhé! » Nói thế rồi ông xoay lưng đi về. Lòng tôi bồi hồi vì tình cờ được gặp được bậc thầy. Mấy tháng sau, hỏi dò ra được địa chỉ xưởng vẽ của ông ở đường Cách Mạng, tôi đánh bạo tìm đến. Rồi từ đó, ông chỉ dạy tôi như một người thầy, cho tôi tiếp tay vào mài sơn trong nhiều tác phẩm mà ông nói là ngoại quốc họ đặt. Nhiều người phụ việc cho thầy lắm, họ chuyên tay làm cho thầy Trí từ bao giờ, tôi chỉ như một anh tập sự thỉnh thoảng đến thêm một tay mài sơn hay đập vỏ trứng…Thầy Trí vẽ nhiều tranh một lúc, vì sơn mài cứ mài đi mài lại, sơn lên lại phải đợi cho khô, không biết mấy chục lớp sơn…mỗi bức tranh phải ít nhiều trên 6 tháng đến cả năm.

Thế mà có một bức thu hút tôi lạ kỳ. Phải chăng đây lại là duyên số? Hỏi thì thầy mới giải nghĩa « Bức này là ‘Thiếu nữ bên hoa phù dung’, tôi đã vẽ một lần ở Hà-Nội năm 44, nay vẽ lại cho người bên Pháp đặt, còn gọi là ‘Jeunes filles aux hibiscus’. Hibiscus gọi là phù dung nghe hay hơn là dâm bụt! » Nói rồi thầy cười giòn tan…Năm 74, bức tranh hoàn tất, 4 biển lìa nhau, còn gọi là quadryptique, thầy gửi đi sang Pháp. Sau 75, thầy gần như không làm việc nữa vì thiếu vật liệu và sống đơn sơ cho đến khi từ trần. Tôi không được tin gì cho mãi đến năm 90 thì tôi gặp lại ls Minh (con ông Nguyễn Văn Bửu) ở quán Đào-Viên, ông trao tôi đọc quyển hồi ký của thầy, trong đó thầy thuật lại chuyện bức tranh ‘Ba Vua (1960)’ mà tôi chiêm ngưỡng ngày nào tại nhà của bs Tuyến. Trong hồi ký, thầy Trí chỉ nói là đã cho bức tranh cho một người bạn trẻ là một bác sĩ mà không nói ra tên vì sợ chính quyền cộng-sản xoi mói. Sau này, người ta đồn sai nhầm rằng bức tranh theo gia đình ông bác sĩ sang Pháp, rồi lại trở về nước và bị bán đi. (Riêng tôi thì tôi được biết là gia đình bs Tuyến đi tỵ-nạn ở Anh-quốc năm 75 tay không. Khi bộ đội vào chiếm nhà ai giữ lấy bức tranh ấy rồi bán đi, gia đình bs Tuyến, các học trò của tôi, không biết gì cả…’Miễn mấy anh bộ đội không đem ra đốt làm củi là mừng lắm rồi’ …) Cũng trong dịp gặp gỡ đó, ls Minh cũng nhường lại cho tôi hai bức phác thảo của thầy Trí mà tôi quý vô cùng. Thế rồi, một ngày đó tôi đi lùng ở Marseille qua lời giới thiệu của người quen, tôi không ngờ đã tìm lại được bức ‘Thiếu nữ bên hoa phù dung (1974)’. Ngày nay, mỗi lúc nhìn tấm sơn mài này, bao kỷ niệm với thầy Trí lại trở về với tôi. Lòng khâm mộ người thầy khả kính vẫn nguyên vẹn. Nhưng tôi chỉ biết thầy Trí qua phương diện một họa sĩ đại tài mà đời đã cho phép tôi được theo phụ trong một thời gian quá ngắn. Tôi nào ngờ đâu, tôi phải đợi đến 25 năm sau để tìm hiểu thêm về cuộc đời chính trị của một người yêu nước như thầy Trí, khi tôi đến gặp họa sĩ Võ Lăng năm 2000.

Họa sĩ Võ Lăng (1921-2005):

Từ mới lên năm, tôi bị polio nên đi tập tễnh chân cao chân thấp. Ở lại làng sẽ không lo ruộng nương được nên ông Cụ tôi xin cho tôi theo các Cha đi học ở Phát Diệm. Cho đến giờ thỉnh thoảng tôi vẫn đau nhức xương. Một hôm tôi được giới thiệu đến thăm một bác sĩ người Pháp chuyên về bệnh xương tủy. Khi tôi đến ngồi trước mặt bàn giấy của ông, tôi chỉ bị thu hút bởi một bức tranh sơn dầu treo sau lưng ông. Cảnh vẽ Venise, nhìn kỹ chữ ký là Volang, thì nghĩ có thể là người Pháp. Nhưng không hiểu tại sao, tôi lại quên cả đau mà lại hỏi ông bác sĩ về người vẽ. Ông ấy cười nói “Đồng hưong với ông đấy! Họa sĩ Võ Lăng là bệnh nhân của tôi. Tôi chữa cả cho vợ ông ta. Con gái ông ấy cũng là bác sĩ cùng khóa với tôi nhưng không cùng chuyên môn. Bên buồng bên cạnh này, tôi cho ông xem những bức tranh khác mà họa sĩ Võ Lăng vẽ cho tôi và vợ tôi! » Sau khi khám bệnh cho tôi, trò chuyện thật lâu về ông Võ Lăng, ông bác sĩ Pháp gọi điện thoại đến ông Võ Lăng để xin cho tôi được đến thăm. Khi tôi ghé lại gác vẽ (atelier) của ông Võ Lăng, ở quận 15, cuối một khu vườn thật thần tiên mà ngoài mặt đường không thể ngờ che khuất sau cánh cổng. Ngày ấy ông đã trên tám mươi nhưng còn phong độ lắm. Kể qua loa lý lịch của tôi cho ông nghe là cảm thấy gần gủi với ông ngay. Ông cho tôi xem gác vẽ của ông, cả trăm bức tranh, mà tôi chỉ mê mẩn nhìn những bức tranh vẽ về Việt-Nam lúc đầu đời của ông. Sau lần gặp gỡ này, mỗi lần ông có mặt tại Paris, là tôi lại lên hầu chuyện ông…

Ông Võ Lăng là em trai của cụ Võ Văn Hải (xưa là Chánh văn phòng của TT Ngô Đình Diệm), sinh trưởng ở Huế, sau ra Hà-Nội học trường Cao-đẳng Mỹ-thuật Đông-Dương. Theo như lời ông thuật lại

Chị Em (1936)
Trần Bình Lộc (1914-1941)

« Mình chỉ thích vẽ thôi, dạo mới ra Hà-Nội thì mình còn trẻ con quá, chẳng biết gì. Nhưng ở Hà-Nội lúc bấy giờ, các đàn anh đi trước cùng trường, nào là Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Tường Lân, Nguyễn Gia Trí, Trần Bình Lộc…ai cũng có máu ‘làm cách mạng’ cả…Thời buổi ấy là như vậy. Dù họ lớn tuổi hơn tôi nhiều và đã hoạt động vào tù ra khám vì chống Tây, khi tôi hãy còn đi học. Tôi đi theo họ vì phục họ lắm. Tôi gần nhất lúc bấy giờ là với anh Trí và anh Lộc. Khi anh Lộc bị Việt-Minh giết năm 41, tội lắm mới 27 tuổi đầu, tôi ấm ức lắm vì biết anh Lộc là người yêu nước nhưng bị Việt-Minh gán tội theo Tây. Năm 43, anh Trí được thả ra khỏi tù của Pháp ở Sơn-La, cùng với các anh Nhất-Linh, Hoàng-Đạo thì năm ấy tôi còn đoạt được giải hội họa Đông Dương. Các anh lớn đều đi theo VN Quốc Dân Đảng và cứ hồi hộp sợ bị Việt-Minh thủ tiêu. Thế nên tôi chẳng vào đảng nào cả, và vì gốc Huế nên lúc bấy giờ anh Hải với tôi còn tôn trọng Bảo Hoàng. Đến 45 thì tụi Việt-Minh nó càng ngày càng giết người Quốc Dân Đảng quá thể. Anh Trí rủ tôi đi trốn sang Tàu, chẳng hiểu gì tôi cũng đi theo! Thế là hai anh em trèo đèo lội suối lên tận Lạng Sơn, kiếm đường sang Tàu, chủ đích là đi sang Hương Cảng. Đây là bức hình tôi vẽ Ải Nam-Quan nhìn từ Đồng-Đa, chú cứ cầm về làm kỷ niệm của tôi. Tôi còn nhớ khi chèo thuyền với anh Trí sang Hương Cảng, lên bờ tôi cởi áo ngoài ra cho anh Trí mặc vì trời lạnh quá mà trên người anh ấy chiếc áo sơ-mi không đủ ấm. Sang HK tôi có vẽ nhiều lắm, bán đi để kiếm ăn với các anh em lúc ấy. Đến 49 tôi sang Pháp, các anh ở lại rổi trở về nước cả… Dưới thời ông Diệm, anh Hải tôi làm chef de cabinet cho ông Cụ. Có một dạo cử tôi được đi làm tùy viên văn hoá ở Washington. Lúc ấy tôi bay nhẩy phải biết! Bạn tôi nào là Gene Kelly, Fred Astaire và Burt Lancaster…Họ có tranh của tôi nhiều lắm, Otto Preminger cũng mua tranh của tôi nữa. Sau khi Cụ Diệm bị đảo chánh, tôi năn nỉ anh Hải sang Pháp mà ông ấy không chịu. Thế mới khổ, sau 75, Việt-Cộng nó bắt anh ấy đi tù cải tạo, rồi chết trong tù…Tôi về chôn anh tôi, năm 89…Thương lắm cơ anh ơi, chúng nó trao lại xác anh tôi, người da bọc xương, trói chặt hai tay, hai chân như trói lợn, trong cái két gỗ ! Tôi khổ tâm lắm…tụi chúng nó dã man quá…Thú thực với anh, cho đến ngày giờ đó tôi mới thấm nhuần được tư tưởng đấu tranh của các đàn anh ngày xưa !…Cộng-sản còn ác hơn Tây cả vạn lần !… Bao nhiêu người chống Pháp mà chúng nó thủ tiêu hay chỉ điểm cho Pháp bắt?!? Sau đó mấy năm thì tôi nghe tin anh Trí mất! Thôi thế là tôi mất cả hai ông anh lớn rồi! »…

Một tuần trước khi ông Võ-Lăng qua đời năm 2005, ông còn ngồi tâm sự với tôi ở quán ăn Ấn-Độ bên kia đường gác vẽ. Ông ra đi lặng lẽ trong giấc ngủ…Đến phiên tôi mất đi một người anh lớn…

Ải Nam-Quan (1946)
Võ Lăng (1921-2005)

Ngày hôm nay, ngồi ôn lại những lời tri kỷ, nhìn bức tranh ‘Ải Nam-Quan (1946)’, lòng tôi quặn đau, tôi chua chát hỏi thầm: « Các anh mà biết ngày hôm nay cha con thằng Hồ Chí Minh đem cúng đất, cúng biển cho Tàu…Ải Nam-Quan không còn thuộc về nước mình nữa…các Anh ơi! »

Thầy Vẽ
22/08/11.
Mến tặng mythanh.

Obama giết Osama: 10 năm săn thủ phạm 11- 9

damau.org

Đinh Từ Thức

Post 11.09.2011

Post by Sơn râu 19 May 2025

Lời Giới Thiệu của Tác Giả:

Vụ tấn công giết gần ba ngàn người ngay trên đất Mỹ ngày 11 tháng 9, 2001 được coi quan trọng ngang tầm vụ tấn công vào Pearl Harbor cuối năm 1941. Mỹ chỉ mất gần bốn năm để tóm cổ Thủ tướng Nhật Tojo Hideki, và ba năm xét xử trước khi treo cổ ông ta. Nhưng đã mất tới mười năm để hạ sát Osama bin-Laden.

Một tuần sau vụ 11 tháng 9, tới thăm Ngũ giác đài ngày 17 tháng 9, Tổng Thống George Bush tuyên bố: “Tất cả những gì tôi có thể nói là Osama bin-Laden là nghi phạm chính”. Ông nói, “Tôi muốn công lý. Như cáo thị ở miền Tây từng niêm yết: Cần bắt, sống hay chết”.

Cuộc săn lùng thật ra đã bắt đầu trước 11 tháng 9, 2001, khi bin-Laden chính thức tuyên bố mở đầu cuộc thánh chiến chống lại Hoa Kỳ từ năm 1996. Nhưng cuộc săn bắt chỉ thực sự khẩn trương từ sau vụ 11 tháng 9.

Bài này đã được viết lại, và dịch lại, dựa theo nhiều tài liệu đã công bố trên Washington Post, New York Times, Reuters, nhất là các bài “The Hunt” trên Wasington Post ngày 6 tháng 5, 2011, của Peter Finn, Ian Shapira, và Marc Fisher, bài “Top Secret America: STEALTH MISSIONS” của Dana Priest và William M. Arkin, cũng trên Washington Post ngày 4 tháng 9, 2011, và đặc biệt là bài “Getting Bin Laden” trên tạp chí New Yorker ngày 8 tháng 8, 2011, của Nicholas Schmidle. Các tác giả bài The Hunt đã viết dựa trên các cuộc phỏng vấn trên 20 giới chức cao cấp về chính trị, quân sự và tình báo từ các chính quyền Clinton, Bush và Obama. Riêng bài báo của Schmidle đã được coi như một “coup” ngoạn mục trong làng báo, với nội dung rất phong phú, gồm những chi tiết chưa hề được tiết lộ trước đó.

Ngoài lời tuyên bố sẽ bắt bin Laden đền tội trước công lý dù sống hay chết, ông Bush còn đe dọa những ai giúp đỡ hay chứa chấp thủ phạm cũng sẽ bị trừng phạt. Chế độ Taliban của Afghanistan đã chứa chấp bin Laden, không chịu nộp trùm khủng bố này theo lời yêu cầu của Washington, nên Hoa Kỳ và đồng minh đã đổ bộ Afghanistan từ ngày 7 tháng 10, 2001.

Cùng ngày 17 tháng 9, 2001, ngoài lời tuyên bố Osama bin Laden là thủ phạm chính, Tổng thống George Bush còn chỉ thị cho CIA được quyền bắt hay giết các nghi phạm khủng bố. Cuộc đột kích hạ sát bin Laden đêm 1 tháng 5, 2011, trên căn bản pháp lý, dựa vào chỉ thị còn hiệu lực này.

Dư luận đã từng được nghe nhiều về những hành tung bí mật của CIA, và khả năng phi thường của “Người Nhái” (SEAL = Sea, Air and Land), nhưng trong mười năm qua, một cơ quan cực kỳ bí mật của Mỹ chuyên về chống khủng bố, bao trùm cả CIA và SEAL, bà Bộ Chỉ huy hỗn hợp các chiến dịch đặc biệt (JSOC = Joint Special Operations Command). Chính cơ quan này đã phụ trách việc săn bin Laden. JSOC được mô tả như môt thế lực đen, ra lệnh hành động, nhưng không thể nhìn thấy. Được thành lập vào năm 1980, khởi đầu chỉ gồm một toán nhỏ, và chuyến ra quân đầu tiên để cứu các con tin Hoa Kỳ tại Đại Sứ Quán Mỹ ở Tehran đã gặp thất bại nặng nề, vì hai trực thăng đụng nhau, chẳng cứu được ai, còn thiệt mạng tám người trong nhóm đi cứu. Nhưng trong mười năm qua, nhân số của tổ chức này đã tăng gấp mười lần, với địa bàn hoạt động và quyền hành rộng rãi, cũng như cực kỳ bí mật. Khi các thành viên của nhóm ưu tú này hạ sát bin Laden ở Pakistan vào tháng Năm vừa qua, cấp chỉ huy JSOC đã ăn mừng, không phải chỉ do sứ mạng thành công, mà còn vì rất ít người biết có tổ chức này, đặt bản doanh tại Fayetteville, NC.

Tiền mặt là vũ khí

Mỹ bắt đầu cuộc chiến Afghanistan chỉ bốn tuần sau 11 tháng 9, với rất nhiều khó khăn, vì quá xa lạ, và thiếu người thông hiểu ngôn ngữ cũng như lịch sử và phong tục tập quán Afghanistan. Nhất là tại một nơi vẫn còn trong tình trạng bộ lạc. Công tác đầu tiên là phải tìm ra những ai là tù trưởng có thế lực, gặp họ, và khi gặp, phải mang theo quà. Thông điệp đưa ra: “Chúng tôi là bạn của quý vị, là bạn của mọi người. Những ai tốt với chúng tôi, thì được nhận đô la Mỹ”.

Berntsen của CIA chỉ huy một nhóm với nhiệm vụ săn bin Laden, làm việc tại một nhà khách ở Kabul, chứa hàng triệu đô la tiền mặt, để trong những hộc bằng plastic, sẵn sàng chi bạc ngàn cho những ai đưa tin về nơi trú ẩn của bin Laden. Berntsen nói, có khi nhận được tám báo cáo cùng một lúc, cho biết bin Laden đang ở làng này, hay làng kia. Thật ra, chẳng ai biết rõ bin Laden đang ở đâu.

Sau này, theo tin mật do WikiLeaks tiết lộ, căn cứ vào lời khai của những nghi can khủng bố bị bắt, ngay sau ngày 11 tháng 9, bin Laden và nhân vật thứ nhì của Al Qaeda là Ayman al-Zawahiri vẫn đi lại bằng xe khắp Afghanistan, hành động như một nguyên thủ quốc gia lưu vong, tiếp các bộ hạ tại Afghanistan, cũng như từ ngoại quốc.

Đầu tháng 10, 2001, vào lúc Mỹ bắt đầu tấn công Afghanistan, bin Laden được một vị trưởng lão Afghanistan là Yunis Khalis mời về nương náu tại Jalalabad, gần vùng hầm hố hiểm trở Tora Bora. Khalis 82 tuổi, là một trong những nhà lãnh đạo quan trọng của Afghanistan, ông đã từng nhận được hàng chục triệu đô la võ khí do CIA cung cấp để chống Nga. Chính Khalis đã giới thiệu bin Laden với thủ lãnh Taliban là Mohammad Omar. Nhưng khi Mỹ bắt đầu tấn công Afghanistan, Khalis kêu gọi chống Mỹ.

Tới ngụ tại Jalalabad vào tháng 11, 2001, bin Laden cũng vung tiền ra cho các bộ tộc địa phương. Vô hình chung, CIA và bin Laden đã đánh nhau bằng tiền. Nhưng ngoài tiền, Mỹ còn có bom. Khi những cuộc ném bom gia tăng, bin Laden tới ẩn náu tại vùng núi hiểm trở Tora Bora. Tại đây, người của Berntsen đã kiếm ra dấu vết của bin Laden. Vào tháng 12, 2001, Mỹ sử dụng cả pháo đài bay B-52, và chiến đấu cơ F-15, mở cuộc tấn công liên tục kéo dài gần 60 giờ; ngoài ra, một trái bom khổng lồ (BLU-82), được thả xuống từ một phi cơ vận tải C-130, tàn phá một vùng rộng bằng năm sân túc cầu, giết nhiều chiến binh Qaeda, và Berntsen nghĩ rằng trong số có cả bin Laden. Nhưng sáu ngày sau, người của Berntsen nghe được tiếng bin Laden ra lệnh cho thuộc hạ của mình, qua máy radio trên người một tử sĩ Al Qaeda. Bin Laden đã chạy thoát vào sâu trong núi.

Việc hệ trọng không nên nhờ người ngoài

Trở về Kabul, Gary Berntsen đề nghị: muốn bắt bin Laden, oanh tạc bằng máy bay chưa đủ, mà cần phải có 800 biệt động quân mở cuộc lùng bắt, mới có thể thành công. Yêu cầu tấn công bằng bộ binh không được đáp ứng, vì khi đó, đã có dự tính dùng quân cho mặt trận Iraq.

Vẫn cố bám sát bin Laden, CIA đã tuyển được một người Afghanistan vào sâu trong núi, đem cho bin Laden và thuộc hạ thực phẩm và nước uống. Người này đã nhìn thấy bố con bin Laden, và trong cơn túng quẫn, bin Laden cũng không chê đồ ăn, nước uống.

Không đủ quân để tảo thanh vùng hiểm trở Tora Bora, một toán đặc nhiệm tinh nhuệ chọn lọc gồm 30 người thuộc lực lượng Delta, được trao nhiệm vụ đột kích nơi nghi là sào huyệt của bin Laden từ Pakistan, là phía sau ít được phòng thủ. Toán đặc nhệm phải mang theo bình dưỡng khí, vì phải vượt qua mỏm núi cao tới 14 ngàn bộ. Theo dự trù, cuộc đột kích này có sự phối hợp với quân của cả Pakistan và Afghanistan.

Theo lệnh trên, toán đặc nhiệm Delta ngừng tại phía biên giới thuộc Afghanistan để cho quân Afghanistan tiêu diệt bin Laden, trong khi quân Pakistan trấn giữ kín biên giới của mình. Nhưng theo vị thiếu tá chỉ huy toán đặc nhiệm (nay đã về hưu, viết sách với bút hiệu Dalton Fury), quân Afghanistan thiếu tinh nhuệ và sự hăng say chiến đấu, trong khi phía quân Pakistan đã lỗi hẹn, không có mặt. Ngày 10 tháng 12, 2001, được tin báo chỗ ở của bin Laden ở vùng Tora Bora, toán đặc nhiệm mở cuộc tấn công chớp nhoáng, nhưng khi thấy bị các đồng minh Afghanistan bỏ rơi đàng sau lằn ranh của địch quân, toán này phải ngừng tiến quân, bỏ ra hai giờ để cứu đồng đội. Cuộc tấn công bị hủy bỏ. Mùa Hè năm sau, người của Fury trở lại Tora Bora với một toán giảo nghiệm, đào 80 ngôi mộ chiến binh al-Qaeda, nhưng không tìm thấy ai mang dấu tích của bin Laden.

Toán săn bin Laden tiếp tục công tác. Tháng 12 ngăm 2002, họ mở một cuộc tấn công ban đêm vào Tora Bora, bắt được một người chăm sóc sức khỏe cho bin Laden. Người này nói bin Laden đã đi khỏi nơi này từ lâu. Kể từ đó, coi như bặt tin, trừ khi thỉnh thoảng bin Laden lại xuất hiện qua các đoạn băng video để tuyên truyền.

Theo các giới chức hàng đầu về tình báo, qua kinh nghiệm săn hụt bin Laden, Hoa Kỳ đã học được một bài học, là không nên nhờ người ngoài làm hộ chuyện quan trọng như giết bin Laden.

Mấy tháng sau Tora Bora, trong khuôn khổ chuẩn bị chiến tranh Iraq, chính quyền Bush rút bớt lực lượng đặc nhiệm và CIA từng được dùng để săn bin Laden ở Afghanistan. Ngay cả những máy bay không người lái (drones) vốn dùng để theo dõi những người qua lại ở vùng núi non hiểm trở tại Afghanistan cũng được dùng để chuẩn bị mặt trận Iraq. Trung tướng John Vines từng nói với Washington Post vào năm 2006 rằng: có lần, quân của ông chỉ còn cách nửa giờ là đuổi kịp bin Laden, ông xin máy bay không người lái theo dõi ba đường tẩu thoát. Nhưng chỉ có một máy bay sẵn sàng, những chiếc khác đã được gửi tới Iraq. Mục tiêu chạy thoát.

Bỏ đầu, tìm đuôi

Cuộc săn bin Laden không đem lại kết quả đã gây tranh cãi tại Washington, và đơn vị chuyên săn các mục tiêu quan trọng (HVT = High-Value Targets – bin Laden được coi là HVT-1) đã phải nghĩ tới cách săn theo đường lối mới: tìm đuôi để lần ra đầu. Bin Laden có thể trốn trong núi, có thể không, nhưng câu hỏi quan trọng không phải là “Bin Laden đang ở đâu?” mà là, “Bin Laden làm thế nào để thông tin?”

Kết quả thẩm vấn các nghi can khủng bố bị bắt cho biết bin Laden chỉ ra lệnh cho thuộc hạ mỗi tháng một lần, qua liên lạc viên. Điều này khiến các nhà phân tích và giới chức tình báo nhận thấy “cần phải biết rõ mạng lưới tổ chức và các liên lạc viên, để có thể tìm ra nơi trú ẩn của mục tiêu”.

Tại Bạch Ốc, do áp lực của dư luận về việc săn bin Laden quá chậm, ông Bush đã phải mở “chiến dịch Cannonball”, ra lệnh cho CIA “tràn ngập khu vực”, gia tăng nỗ lực săn đuổi tại Pakistan và Afghanistan, nhưng không đem lại kết quả nào.

Nhưng việc tìm hiểu mạng lưới tổ chức của al-Qaeda vẫn tiếp tục. Ngoài CIA, quân đội cũng tham dự cuộc săn bắt. Năm 2006, vơi tư cách chỉ huy của JSOC, Tướng McChrystal đã mở những cuộc hành quân săn bắt các lãnh tụ của al-Qaeda tại cả Iraq, Afghanistan và Yemen. Theo Tướng McChrystal “để đánh bại một mạng lưới quân địch, chúng ta cũng phải trở thành một mạng lưới”. Những tin tức tình báo được phổ biến cho mọi người tại chiến trường, thay vì chỉ gửi cho hệ thống chỉ huy. Video từ các máy bay không người lái không chỉ được gửi cho các nhà phân tích điều khiển các chuyến bay trinh sát, mà gửi cả cho các nhóm chiến đấu tại trận địa. Kết quả tăng lên rõ ràng.

Tại CIA, các nhà phân tích không chỉ tìm kiếm dấu vết nơi các hầm hố, mà còn cả trong sách vở và lời khai từ các cuộc thẩm vấn nghi phạm. Ví dụ, trong cuốn sách nổi tiếng “Growing up Bin Laden” do vợ bin Laden là Najwa và con trai là Omar viết rằng, bin-Laden đã từng có những căn nhà an toàn ở Kabul, vì ông ta nghĩ rằng Mỹ sẽ không bao giờ dội bom ở thành phố, vì sợ giết dân vô tội. Điều này khiến các nhà phân tích nghĩ rằng bin Laden có thể trốn ở thành phố.

Anh hùng thấm mệt

Cuộc săn bắt tiến triển quá chậm, trong khi áp lực của dư luận quá lớn, khiến giới hữu trách cảm thấy mệt mỏi. Một cựu viên chức từng làm việc tại Bạch Ốc thời ông Bush cho biết: “Chúng tôi đã không thể tìm thấy bin Laden sớm hơn. Bên ngoài, chúng tôi vẫn giữ vẻ khẩn trương, làm như cố gắng hết sức. Nhưng năng lực đã hao mòn. Cuộc săn bắt đã bị coi như vấn nạn hạng nhì. Hơn nữa, đó là thời gian cuộc chiến Iraq trong tình trạng tồi tệ nhất”.

Cùng với cuộc chiến Iraq, tình trạng căng thẳng với võ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên, đã đoạt sự chú ý hàng đầu của dư luận. Các giới chức cao cấp của chính quyền Bush không muốn đề cập tới cuộc săn bin Laden nữa. Trong mấy năm kế tiếp, cuộc săn bắt chỉ còn nhờ vào kết quả quan sát của máy bay trinh sát không người lái. Nhưng hy vọng vẫn chỉ là hy vọng. Vào khoảng năm năm sau cuộc săn bắt, vì thiếu những tin tức khả tín về bin Laden, Bạch Ốc của ông Bush, qua các tuyên bố chính thức, đã có chiều hướng giảm thiểu vai trò quan trọng của cá nhân bin Laden, và hướng dư luận về những đe dọa khác. Đầu năm 2009, Tổng Thống Bush con chấm dứt nhiệm kỳ, ra đi tay trắng, không bắt được bin Laden, sống hay chết.

Cuộc săn Osama sang tay Obama.

Một tháng trước cuộc bầu cử tháng 11 năm 2008, trong cuộc tranh luận chót với đối thủ John McCain tại Đại Học Belmont ở Nashville, một phụ nữ trong số khán thính giả hỏi ông Obama rằng, ông có theo đuổi cuộc săn bắt lãnh tụ Al Qaeda không, nếu bin Laden trong lãnh thổ Pakistan, và làm như vậy, liệu có xâm phạm lãnh thổ của đồng minh không? Ông Obama trả lời: “Nếu chúng ta thấy Osama bin Laden và chính quyền Pakistan không thể, hay không muốn bắt, thì tôi nghĩ rằng chúng ta phải hành động để bắt. Chúng ta sẽ giết bin Laden. Chúng ta sẽ đập tan Al Qaeda. Đó là ưu tiên lớn nhất cho an ninh quốc gia của chúng ta”. McCain cho đó là lời hứa hão.

Bốn tháng sau khi Obama làm chủ Bạch Ốc , Giám Đốc CIA Leon Panetta tường trình Obama về các chương trình và sáng kiến mới nhất trong cuộc săn bin Laden. Obama không mấy phấn khởi. Vào tháng Sáu, ông đã chỉ thị cho Panetta thảo ra một kế hoạch chi tiết, sử dụng mọi nỗ lực cần thiết để săn bin Laden. Obama cũng ra lệnh cho CIA tăng cường các vụ tấn công bí mật của máy bay không người lái. Trong năm đầu nhiệm kỳ Obama, các cuộc tấn công bằng hỏa tiễn trong nội địa Pakistan nhiều hơn tổng số tám năm nhiệm kỳ của ông Bush. Theo tin CBS tháng 7, 2009, chính Al Qaeda cũng thừa nhận “nhiều tư lệnh can trường đã bị bắt, và nhiều cơ sở bí mật đã bị bình địa”. Nhưng bin Laden vẫn biệt tăm.

Bà Chúa Hòn

vietmessneger.com

Sơn Nam

Kỷ Nguyên xuất bản 1969

Post by Sơn râu 19 May 2025

Chương 2

Mười lăm năm trôi qua.

Ông Thân Phước từ trần. Cậu Hai Minh trở thành ông Chúa Hòn. Mấy năm liên tiếp, vườn tiêu ở Hòn Chông được mùa, cậu Hai ăn xài như nước. Bọn thương gia ở Xiêm, ở Mã Lai ra vào tấp nập. Dân chúng không gọi cậu là cậu Hai nữa. Cậu mặc áo gấm, chiếc áo truyền tử lưu tôn từ mấy đời.

Tất cả tiền bạc, sổ sách chi thu của cậu Hai đều do ông Bá Vạn nắm giữ. Ông nầy là người Triều Châu lai Việt Nam, tuổi hơn 60. Hằng ngày ông Bá Vạn tiếp xúc với bọn thương gia và bọn tá điền mướn đất trồng tiêu. Khi cần dùng tiền bạc, cậu Hai nói một tiếng là ông xuất ra.

Sự tín nhiệm to lớn ấy sở dĩ có là do lòng ngay thẳng của chính ông Bá Vạn. Lúc hấp hối, ông Thần Phước gọi cậu Hai đến mà căn dặn:

– Bá Vạn là người giúp đỡ dòng họ mình lừ lâu đời. Ba chết đi, con trở thành ông Chúa Hòn thì cứ xem ông Bá Vạn là tể tướng.

Ngày giỗ ông Thần Phước năm ấy, ông Bá Vạn quỳ bên bàn thờ. Ông Chúa Hòn – tức là cậu Hai Minh- mặc áo gấm ngồi uống rượu, bên cạnh là cậu Hai Điền, đứa con mà cậu với bà chánh thất sanh ra.

Hai Điền năm ấy được 30 tuổi, tánh tình kiêu hãnh, thích săn heo rừng và thích ra các hải đảo mà ăn uống, giữa cảnh trời nước mênh mông. Cậu ngồi im lặng, bực dọc vì nghi lễ phiền phức.

Người bày nghi lễ ấy, chính là ông Bá Vạn.

Cậu hỏi:

– Ông Bá Vạn ơi! Tới giờ chưa?

Ông Bá Vạn xem cậu Hai Điền là trẻ con nên ung dung ra trước sân xem bóng nắng. Lúc sau ông trở vô, đến trước mặt ông Chúa Hòn mà thưa:

– Đến giờ thắp nhang, thưa ông.

Ông Chúa Hòn day lại:

– Để đó cho ta…

Nhưng ông Bá Vạn đã lanh lẹn đến cạnh bàn thờ, lấy ba cây nhang thật to, loại nhang trầm hương do mấy người thương gia từ Quảng Nam đem vào dâng tặng hồi năm ngoái. Ông Bá Vạn đốt nhang, cúi đầu trao cho Chúa Hòn.

Từ lâu rồi, cậu Hai Điền không ưa ông Bá Vạn vì ông nầy quá nịnh bợ. Cậu muốn, buổi lễ nầy chấm dứt nhanh chóng để còn thời giờ lên chót hòn săn heo rừng. Bọn gia nhân cho biết rằng mấy ngày qua, dân chúng sợ hãi vì con heo rừng ‘‘độc giác’’ từ Dương Hòa chạy lạc tới, con độc giác nầy đã đánh chết hai người thợ săn. Cậu muốn giết nó để rửa hận cho những người quá cố, đồng thời cũng là để biểu dương ‘‘khí tượng’’ của một ‘‘thái tử’’ trẻ tuổi. Cậu chép miệng, quỳ xuống phía sau cha.

Ông Chúa Hòn là cậu Hai Minh cầm ba cây nhang. Mọi người đều im phăng phắc vì giờ phút hành lễ đã đến. Ông Bá Vạn bỗng nhiên lại chắp tay xá ông Chúa Hòn rồi nói:

– Thưa ông, ông là ông Chúa trong vùng rộng lớn nầy, hàng vạn người từ bao đời rồi có cơm ăn áo mặc là nhờ công đức bao la trời biển của tiên nhân để lại.

Nghe tới đó, cậu Hai Điền thêm bực tức, nhưng vì nể oai quyền của cha và muốn giữ trật tự nên đành im lặng mà chửi rủa lầm thầm.

– Tao còn nhỏ, ba tao hiền lành. Bằng không thì tao đuổi mầy từ lâu. Ai dạy mầy cái thói nịnh bợ quá mức? Già nua lụm cụm rồi mà nết na không đàng hoàng. Cái gì mà công lao trời biển? Chi cho lắm mà ruồi nó bu….

Cậu day lại phía sau, nơi hàng trăm người đang quỳ, dài ra tới ngoài sân cỏ. Đó là những bô lão đã làm tá điền cho ông Thần Phước. Cậu nhăn mặt; bịt mũi như để phản đối ngầm ông Bá Vạn.

Trước bàn thờ, ông Chúa Hòn cầm ba cây nhang đưa lên ngang trán, khấn vái rồi hỏi:

– Bá Vạn! Xong chưa? Bây giờ ta cắm nhang vào lư nhang.

Ông Bá Vạn đáp:

– Gia đình tôi hưởng bổng lộc mấy đời của tiền nhân, vậy xin ông cho phép tôi ‘‘thỉnh’’ mấy cây nhang nầy, đem cắm vào lư nhang.

Cắm xong mấy cây nhang, ông Bá Vạn đứng khoanh tay. Ông Chúa Hòn hỏi:

– Lễ thành chưa?

‘‘Lễ thành’’ hoặc ‘‘lễ tất’’ là danh từ xưa, nghĩa là xong buổi lễ. Ông Bá Vạn nói, giọng run run:

– Thưa ông, bâv giờ buổi lễ mới bắt đầu.

– Ủa! Sao vậy? Thức ăn dọn lên từ nãy giờ. Chẳng lẽ ta đứng mãi mãi trước bàn thờ. Mọi khi, ta nhớ rằng người trưởng tộc như ta chỉ thắp nhang rồị… ngồi chờ cho tuần nhang cháy dứt.

Cậu Hai Điền lắng tai nghe ông Bá Vạn trả lời:

– Dạ, ông ngồi mà chứng kiến. Hôm nay, tôi có rước bọn học trò lễ ở đình Dương Hòa tới. Bọn nầy giỏi lắm, biết cách cúng kiếng theo lễ nghi… ở ngoài triều đình Huế.

Vì tò mò, vì thích được nịnh bợ nên ông Chúa Hòn gật đầu:

– Cứ gọi bọn nó vào đây cho ta xem. Cúng theo nghi lễ ở triều đình, phải lắm. Ta là Chúa Hòn. Cha ta trước kia cũng là ông chúa. Vua với chúa nào có khác gì đâu.

Ông Bá Vạn mừng rỡ vô cùng:

– Ông nói chí lý. Vua trị vì một nước. Chúa thì trị vì một vùng… giang sơn gấm vóc, như ông vua nhỏ.

Vì quỳ gối quá lâu hơi mỏi nên cậu Hai Điền cứ cựa quậy đôi chân. Cậu toan đứng dậy, chửi vào mặt Bá Vạn một câu cho hả giận, đại khái như: ‘‘Tao chán cái trò nịnh bợ’’. Nhưng ông Bá Vạn cứ trầm tĩnh, khoát tay về phía sau. Hai tên học trò lễ bước vào, mặc áo dài mầu vàng, đầu đội mão có sợi dây lòng thòng xuống nửa lưng. Hai tên gia nhân khiêng cái bàn nhỏ và cái chuông, để bên cạnh. Bá Vạn trình bày:

– Thưa ông, nếu ông cho phép thì tụi nó bắt đầu…

Tuy chưa hiểu những gì sắp xảy ra, ông Chúa Hòn vẫn gật đầu:

– Ta cho phép.

Tiếng chuông thứ nhứt gõ lên.

– ‘‘Boong…’’

Hai người học trò lên đến bàn, mỗi đứa bưng một chén cơm, nâng ngang trán rồi bước nhịp nhàng, nhún chân xuống, đá một chân rồi bước, rất chậm rãi. Hai cậu quỳ xuống, để hai chén cơm lên bàn thờ.

Ông Bá Vạn chắp tay:

– Xin ông chúa… hành lễ.

Ông Chúa Hòn trợn mắt:

– Hành… cái gì?

– Dạ, ông cầm đôi đũa nầy mà xẻ mở cơm trong chén rồi trộn lại..

Để khỏi mất thì giờ, ông Chúa Hòn làm theo lời dặn của ông Bá Vạn. Một tiếng chuông vang lên. Hai người học trò lễ nâng hai chén cơm, để trên bàn thờ bên cạnh lư nhang. Rồi lại một tiếng chuông khác, hai đứa đứng bưng hai dĩa thịt luộc quỳ xuống, ông Chúa Hòn cầm đũa trộn mấy miếng thịt…

Nghe tiếng chuông hơi nhàm ấy, cậu Hai Điền ngáp dài, lim dim đôi mắt. Chừng nghe hồi chuông liên tiếp, cậu đứng dậy trước hơn ai hết. Ông Chúa Hòn chắp tay xá bàn thờ rồi đi nhanh ra sân, mồ hôi ướt đẫm sau lưng. Ông Bá Vạn vuốt râu cười nói với hai đứa học trò lễ:

– Tụi bây làm coi được quá!

Cậu Hai bĩu môi khi chạm mặt ông Bá Vạn. Ông Bá Vạn chắp tay:

– Tôi mong sau nầy được theo chân cậu. Đời tôi thọ ơn gia đình cậu quá nhiều, như ơn trời biển.

Nhịn không được nữa, cậu Hai Điền quát to:

– Già rồi mà chưa nên nết. Tao ghét mấy thằng nịnh!

Ông Bá Vạn vẫn bình tĩnh:

– Tội nghiệp tôi mà cậu Hai. Ở đây đông đảo, tôi phạm lỗi gì, xin cậu rầy la lúc về nhà. Ăn thua với người già như tôi để làm gì?

Nhanh như chớp, cậu Hai Điền bước tới chụp cái tô đựng nước mắm, ném mạnh vào mặt ông Bá Vạn. Ông nầy né tránh không kịp nên mặt mày râu ria dính nước mắm. Như chưa hả cơn giận, cậu Hai ném cái tô đựng thịt kho vào ngực ông Bá Vạn. Hai cái tô rơi xuống gạch, bể nát.

Cử tọa nhốn nháo lên. Mấy ông bô lão không muốn dính líu đến cuộc tranh chấp nầy, chạy nhanh ra sân, mỗi người đi tản mác một hướng để khỏi làm nhân chứng. Ông Chúa Hòn hỏi:

– Chuyện gì vậy?

Ông Bá Vạn lấy tay vuốt mặt, trả lời:

– Thưa ông, không có gì hết.

Cậu Hai Điền hơi giựt mình, biết mình vừa làm một chuyện gây ra nhiều hậu quả tai hại. Trong khi đó, ông Bá Vạn ung dung đến bên hè, đứng lại gần lu nước, múc một gáo nhỏ rồi rửa mặt, rửa thật chậm.

Cậu Hai Điền ra khỏi cửa, đến nhà riêng ở gần phủ thờ. Đứa nữ tỳ lại gần ông Bá Vạn, nói khẽ:

– Để con về nhà, đem cái áo khác cho ông thay.

Ông Bá Vạn lắc đầu:

– Thây kệ tao!

Tên hộ vệ của ông Bá Vạn múc thêm gáo nước rồi yêu cầu:

– Ông cúi đầu xuống, tôi rửa trên tóc cho…

Vài người tò mò đứng ở góc sân nhìn cảnh tượng ấy. Tên hộ vệ quát to:

– Có gì lạ mà coi! Hồi nãy, cậu Hai say rượu. Đi chỗ khác, mấy người điếc sao chớ?

Như đau đớn tột độ, ông Bá Vạn ngồi xuống bên thềm phủ thờ. Đôi mắt ông đổ sao, lỗ tai lùng bùng. Hơn mười năm qua, chưa bao giờ ông bị hạ nhục giữa đám đông như thế. Cậu Hai Minh được dân chúng tôn là ông Chúa Hòn thì mặc nhiên ông Bá Vạn là bực tể tướng. Ông lo gìn giữ sản nghiệp cho cậu Hai, tại sao con ruột cậu Hai lại đành cư xử tàn nhẫn như thế, còn hơn là đối với bọn tôi đòi trong nhà.

Tên hộ vệ nói:

– Xin ông về, ở đây ích lợi gì!

Ngoài đường, người qua kẻ lại rộn rịp, đa số là bọn dân phu làm công trong vườn trồng hồ tiêu. Dường như ai nấy đều biết chuyện ông Bá Vạn bị tạt thịt kho và nước mắm vào đầu, vì cái tội nịnh bợ ông Chúa Hòn.

Họ liếc vào phủ thờ. Lúc ban đầu, ông Bá Vạn cúi mặt. Nhưng lát sau, ông ngẫng đầu lên:

– Ích lợi chớ. Tao ở đây cho thiên hạ thấy bằng cớ.

Nói đến đó, ông tự kềm chế lại. Tư tưởng ông đã đến lúc dứt khoát, từ nay trở đi ông có thái độ sẽ dứt khoát. Ông Chúa Hòn phải chết. Cậu Hai Điền, người thừa kế của ông Chúa Hòn, người tạt tô thịt kho và tô nước mắm, cũng phải chết. Trong phút giây, ông Bá Vạn nắm chặt hai bàn tay để tập trung sinh lực, mắt sáng lên. Tuổi ông già rồi, ông không thể chờ đợi… thời gian trả lời. Những cuộc âm mưu truất phế, tranh giành ngôi thứ trong truyện Tàu đời Đường, đời Tây Thái Hậu cứ hiện ra. Nhưng giết ông Chúa Hòn, giết cậu Hai Điền bằng cách nào cho khéo léo, cho dân chúng không phản đối? Bên cạnh ông Chúa và cậu Hai có hàng chục vệ sĩ tài ba và mạnh khỏe, ông Bá Vạn lẩm bẩm:

– Mình nên lấy độc trị độc…

Nghĩ vậy, ông đứng thẳng người, nói với tên hộ vệ:

– Đưa tao về. Mầy đi trước. Tao cứ ăn mặc dơ dáy như vầy cho thiên hạ thấy cái tội tày trời của cậu Hai Điền. Hôm nay tao xấu xí bao nhiêu thì ngày nào đó, tao sạch sẽ bấy nhiêu. Hôm nay tao khiếp nhược, ngày nào đó tao trở thành người anh hùng.

Tên hộ vệ can gián:

– Ra tới cổng rồi! Ông nên dè dặt lời nói.

Tên hộ vệ vừa sợ vừa mừng. Tài sản của ông Chúa Hòn đâu phải là ít, nào châu báu ngọc ngà, nào đất ruộng và vườn tiêu. Muốn đi tuần tra vùng đất bao la nầy, phải đi hai, ba ngày mới giáp vòng. Một khi ông Bá Vạn soán ngôi Chúa Hòn thì tên hộ vệ sẽ trở thành nhân vật quan trọng, một ông Bá Vạn thứ nhì.

Nhưng bao nhiêu nguy hiểm sẽ xẩy ra.

Ông Bá Vạn nói:

– Ai kia?

Tên hộ vệ giựt mình, nhòm qua bên kia đường. Bên quán nhỏ, cô Ngó đứng trang nghiêm, cầm trong tay năm bảy đóa hoa sen còn búp. Cô Ngó cúi đầu chào ông Bá Vạn. Đột nhiên mà ông Bá Vạn nảy ra một sáng kiến thần tình. Bấy lâu, cô Ngó được ông Chúa Hòn tưng tiu, nhưng cô buồn vì đứa con trai là thằng Ba Cẩu bị đuổi ra xa, nuôi tại nhà của ông ngoại nó là Mười Hấu ở núi Mo So. Nếu giết ông Chúa Hòn, ông Bá Vạn sẽ đưa Ba Cẩu lên thay thế, vì nó là con trai thứ nhì của ông Chúa.

Cậu trai thứ nhứt, kẻ thù của ông Bá Vạn sẽ bị giết dễ dàng. Cậu ta ưa đi săn heo rừng.

– Thời cơ đã tới!

Ông Bá Vạn mỉm cười, cúi đầu đáp lễ rồi đến bên kia đường. Cô Ngó lên tiếng trước:

– Ông Bá Vạn chưa về sao? Lễ giỗ đã tàn từ nãy giờ. Ủa! Sao lạ quá?

Rồi cô cau mày, nói khẽ với ông Bá Vạn:

– Thiên hạ tò mò.

Tên hộ vệ khoát tay. Mấy người trong quán hoảng sợ rút lui vào trong, đồng thời ông Bá Vạn và cô Ngó từ từ rảo bước. Cô Ngó giả vờ như chưa biết gì ráo nên hỏi dọ để thử phản ứng của ông Bá Vạn:

– Trên đầu ông, trên áo… còn dính cái gì?

Ông Bá Vạn muốn nhờ cô giúp một tay quan trọng trong kế hoạch truất phế sắp tới, nên trình bày vắn tắt:

– Tôi chưa dám hờn giận cậu Hai Điền. Cậu còn nhỏ mà bất chấp người có tuổi tác như tôi. Chắc cô nghe thiên hạ nói nhiều rồi.

– Tôi nghe nói nhưng chưa vội tin. Chừng gặp ông, tôi mới hiểu rằng cậu Hai cư xử quá đáng. Bởi vậy…

Ông Bá Vạn nín thinh, chờ nghe cô Ngó nói tiếp:

– Bởi vậy, tôi mừng vì thằng Cẩu, con tôi được nuôi nấng ở nơi quê mùa hẻo lánh. Nếu nó sống sung sướng như con trưởng nam thừa hưởng gia tài thì ai cấm cản nó làm chuyện phách lối.

– Cám ơn cô. Cô nghĩ tới tôi, tôi không quên ơn đó. Xin cô kín tiếng, nói chuyện lâu bất tiện.

Dứt lời, ông Bá Vạn bước chậm rãi về tư thất ở cách xa nhà ông Chúa Hòn gần mười công đất. Dọc đường, nhiều người đứng khép nép nhìn cái áo lem lấm với thái độ mỉa mai châm chọc. Mấy bệt nước mắm vẫn chưa khô. Vì bực dọc, bị hạ nhục lây nên tên hộ vệ nhiều phen nổi giận, quát mắng những kẻ tò mò. Ông Bá Vạn chỉ khuyên nhủ hắn:

– Đừng rầy rà họ. Họ được quyền chứng kiến sự nhục nhã của tao hôm nay. Chắc là họ nói lén, chê tao là thằng già nịnh bợ, khiếp nhược, hèn hạ. Dư luận thế gian, hơi đâu mà nghe. Họ ghét tao, họ khinh khi tao nhưng rồi đây họ sẽ sợ tao.

Khi đến nhà, ông Bá Vạn vào phòng cởi cái áo lem lấm hôi tanh ra. Đứa nữ tỳ đến gần, đón chiếc áo.

– Ông đưa cho con giặt sạch sẽ.

Ông Bá Vạn trợn mắt:

– Để đấy! Lấy cái tráp đằng kia cho tao. Phải để nguyên mùi vị hôi hám để sau nầy làm bằng cớ.

Rồi ông xếp cái áo thật kỹ, để gọn trong cái tráp, khóa lại:

– Tao gối đầu trên cái tráp nầy. Bây giờ, mi múc thau nước rửa đầu, chải tóc cho tao.

Lúc ngồi uống trà, ông Bá Vạn chợt thấy tên hô vệ bước vào:

– Thưa ông, ông Chúa Hòn nhắn gặp.

Ông Bá Vạn đáp:

– Tao đương buồn vì chuyện xẩy ra lúc nãy nên không tới được. Cứ trả lời như vậy. Ai tới đây nhắn tin, mời người đó vô đây.

Chừng gặp mặt đứa nữ tỳ, ông Bá Vạn nhận lời ngay, hứa đến gặp ông Chúa Hòn trong giây lát. Nữ tỳ nói khẽ:

– Thưa ông, ông Chúa Hòn đã biết cái tội vô lễ của cậu Hai. Ông hứa sẽ rầy la…

Khung cảnh vui vẻ trên giường của ông Chúa Hòn khiến ông Bá Vạn ngạc nhiên, ông Chúa cứ uống rượu, sau lưng có cô Ngó đứng quạt hầu. Cô Ngó liếc về ông Bá Vạn, gật đầu như khuyên nhủ ông đừng nóng nảy, ông Chúa Hòn reo lên:

– Bá Vạn tới rồi! Ngồi trên giường nầy cho thân mật hơn.

Giường là cái sạp đóng bằng cây cẩm lai, chân thấp, phía trên có đóng khung sơn son thếp vàng để giăng cái mùng bằng nhiễu đỏ.

Mùng đươc vén lên khéo léo. Ông Chúa Hòn vỗ vai Bá Vạn:

– Cứ ngồi. Ta mới sắm cái giường nầy, ông thấy sao?

– Dạ, đẹp lắm.

Ông Chứa Hòn ngồi ưỡn ngực, dựa hai tay trên hai cái gối vuông rồi nói chậm rãi:

– Tháng sau, ta tặng cho một cái giường như vầy. Đó là danh dự lớn của người thành công, thành danh.

– Dạ, tôi sắm một cái giường rồi.

– Nhưng chưa sơn son thếp vàng. Bấy lâu, ông giúp gia đình ta nhiều lắm mà ta chưa ban thưởng.

Câu nói ấy khiến ông Bá Vạn bớt giận phần nào. Chúa Hòn gọi ông bằng ông, đó là sự biệt đãi. Nhưng tại sao ông Chúa chưa đề cập tới chuyện cậu Hai Điền phải xin lỗi về cái tô thịt kho và cái tô nước mắm? Ông Chúa Hòn tiếp lời:

-Ta ngủ trên cái giường, viết chữ trên cái giường, uống trà trên cái giường. Nhiều người hút á phiện, đánh bài và khảy đàn trên cái giường, ngồi tại đó, nằm tại đó. Khi ta cỡi hạc qui tiên thì con cháu giành cái giường ấy mà thờ. Bởi vậy, về sau, gọi là cái giường thờ. Ta tặng cho một cái giường. Ta muốn ban thưởng bởi vì lúc nãy có điềm lạ quá.

– Dạ điềm gì?

– Hai con cò trắng từ đâu bay tới, chạy lững thững vô nhà. Theo ông thì đó là điềm lành hay điềm dữ?

Ônq Bá Vạn nghĩ kế hoạch giết hoặc truất phế ông Chúa Hòn rồi đem thằng Cẩu, con cô Ngó lên thay thế, đồng thời ông tìm cách giết luôn cậu Hai Điền để rửa hận! Dư luận sẽ tha thứ, vì chừng đó ông vẫn tiếp tục đóng vai trò quản gia cho thằng Cẩu, đứa con rơi của ông Chúa Hòn. Con cò giống như con hạc, ở đồi núi Hà Tiên làm sao con hạc sống được? Hạc vào nhà, đến tận giường ông Chúa Hòn là điềm cỡi hạc qui tiên, tức là chết. Phải chăng Trời Phật muốn giúp ông? Ông cau mày, chờ khi ông Chúa Hòn hỏi đến lần thứ ba:

– Điềm gì? Bá Vạn cứ nói thiệt?

– Dạ, sau lễ giỗ, hai con hạc vào nhà tức là vong linh tiên nhân xuống cõi trần để thăm con cái. Theo tôi hiểu đó là điềm tốt. Tiên nhân cỡi hạc xuống đây.

Ông Chúa Hòn vẫn thắc mắc:

– Đành vậy, nhưng mà ta hơi buồn. Con trưởng nam của ta thì ngỗ nghịch, thích săn heo rừng. Nó đi vắng rồi. Ta gọi ông đến để cùng nhau lên núi Đất, gần Hòn Me, nhờ thần linh chỉ dạy.

Ông Bá Vạn gật đầu:

– Bên đó, có ông đạo Đất xem quẻ giỏi lắm.

– Nhưng ông đạo Đất chỉ là người phàm. Ta muốn bà Chúa Xứ xem giùm một quẻ.

– Ông dạy thì tôi vâng lời.

Sáng hôm sau, hai chiếc ghe chở ông Chúa Hòn và bọn hộ vệ đến Hòn Me. Chuyến đi, ông Chúa Hòn qua ngang nhà Tư Thính và cô Huôi. Ông Bá Vạn nào chú ý đến gia đình đó, cứ thúc hối bọn hộ vệ chèo ghe thật nhanh đến sườn núi phía bờ biển. Hai tên hộ vệ lên trước để dọn đường. Miễu bà Chúa Xứ ở bên sườn Hòn Me, khá cao. Ông Bá Vạn nài nỉ:

– Ông Chúa ngồi đây mà chờ. Tôi cho xác bà hay trước để khỏi mất thời giờ.

Con đường quanh co, đầy sỏi gai, đôi khi phải trèo lên mấy tảng đá gồ ghề. Phải mệt nhọc lắm, ông mới đến miễu bà Chúa Xứ được. Miễu hiện ra với mái ngói đen đúa. ‘‘Xác bà’’ là cô gái chừng hai mươi tuổi, chưa chồng. Hay tin ông Chúa Hòn tới, ông lão giữ miễu hơi sợ sệt:

– Dạ, làm sao tôi đón rước được? Mọi năm cúng vía bà vào ngày mùng sáu tháng năm. Bây giờ, chỗ ngồi không sạch sẽ, trà rượu không có, tôi sợ ông Chúa Hòn phiền giận. Xin ông Bá dời lại ngày mai hoặc ngày mốt.

– Ông Chúa muốn thì đừng cãi. Dọn dẹp bàn thờ sạch sẽ, kéo ghế nào hơi lớn cho ông chúa ngồi là đủ rồi. Ông tới nhờ bà coi quẻ rồi về chớ đâu phải cúng kiếng.

Ông từ giữ miễu vẫn cau có:

– Cô Tư lên xác cuốc rẫy ở đằng kia, rủi cổ vắng nhà thì không ai thay thế được!

– Cứ gọi cô lên xác tới đây. Mua thêm nhang đèn, trà rượu. Tốn kém một, thời ông Chúa trả lại bằng mười. Già rồi mà ông còn khờ quá, đây là dịp kiếm thêm tiền để mua rượu đủ bốn, năm tháng.

Ngồi trên ghế chờ đợi hơi lâu, ông Chúa Hòn ra lịnh:

– Tụi bay đưa tao lên miễu! Nóng ruột quá.

Ồng Chúa Hòn đứng trước mũi ghe, hai tên hộ vệ bồng khéo léo đưa lên bờ. Bọn chúng muốn cõng ông lên sườn núi, ông nói to:

– Để tao đi một mình.

Một tên hộ vệ nói:

– Dạ trèo núi cực lắm, nào rắn rít, kiến vàng.

– Để tao đi một mình cho được phước.

Nhưng chưa được nửa đường, ông Chứa Hòn đành chịu thua:

– Cao quá, hễ leo tới cục đá trên kia thì tao đuối sức, rủi trợt té thì sanh bịnh. Nãy giờ, tao chứng minh lòng thành rồi. Tụi bay cõng tao lên. Cõng cho mau.

Đến trước sân miễu, ông Chúa Hòn mừng thầm vì ông Bá Vạn đứng sẵn để chào đón. Chúa Hòn hỏi:

– Xác bà tới chưa?

– Dạ, vì ông đến thình lình nên nãy giờ ông từ đi kiếm. Lát nữa về chứ gì. Mời ông ngồi nghỉ.

Ông Chúa Hòn tin rằng phen nầy xác bà sẽ đoán điềm hai con cò trắng vào nhà. Bấy lâu, ông Bá Vạn thích nịnh bợ nên căn dặn trước những gì mà xác bà phải nói cho ông hài lòng. Bá Vạn chưa tiếp xúc với xác bà. May quá.

Cô gái lên xác đã tới. Ông Chúa Hòn mừng rỡ và nói khéo với ông Bá Vạn:

– Lên xác cho mau. Hai con cò bay vô nhà tôi chắc là điều may mắn. Đừng nói cho người xác biết bất cứ chuyện gì.

Ông Bá Vạn vuốt râu cười:

– Gặp ông thì họ cứ nói dối để nịnh bợ. Bởi vậy hôm nay, ông đừng cho tiền trước. Nhang đèn, đã có ông từ giữ miễu lo rồi. Ông ngồi chờ.

Ông từ lấy miếng vải, lau chùi bàn thờ cho sạch sẽ. Trong khi đó ông Bá Vạn cố ý làm vừa lòng ông Chúa Hòn bằng cách gọi ba tên hộ vệ đến, khuyên chúng phải canh phòng bốn phía miễu, cấm ngặt không cho ai lại gần, nhứt là không cho tên hộ vệ nào khác đến tiếp xúc với cô gái lên xác, đề phòng trường hợp cô ta lên xác giả rồi nói những lời nịnh bợ.

Bọn nhạc công đã tới. Họ chắp tay chào ông Chúa Hòn rồi ngồi xuống, bắt đầu so giây đờn. Vùng nầy còn người Cao Miên nên chịu ít nhiều ảnh hưởng, tô điểm vài hương sắc kỳ lạ. Thay vì dùng kiểu trống cơm, trong ban nhạc cổ kiểu trống vỗ, hình tròn như cái gối. Thân trống làm bằng cây, mặt kia bịt miếng da dày.

Ông Chúa Hòn vẫn giữ thái độ kiêu hãnh:

– Chú kia! Trống còn tốt không?

Anh nhạc công trả lời:

– Thưa ông, kiểu trống Miên, bịt miệng da sấu. Xin ông cho phép tôi đốt lửa.

Ông Bá Vạn nói với ông từ:

– Làm gì thì làm. Đừng thúc hối cô gái lên xác. Cứ tự nhiên như vậy, chừng nào lên cũng được.

Bếp lửa cháy bừng bừng, trước bàn thờ bà Chúa Xứ. Anh nhạc công đến gần, lăn tròn cái trống rồi hơ cho miếng da sấu được nóng, ông Bá Vạn giải thích với ông Chúa Hòn:

– Da nóng thì tiếng trống mới dòn.

Ông từ ra trước sân, cắm ba cây nhang vào cái miễu nhỏ ở gốc cây dừa, lâm râm khấn vái rồi trở vô:

– Vỗ trống lên!

Anh nhạc công bèn cởi áo ra, trợn mắt, hai bàn tay vỗ mạnh vào miếng da sấu. Anh ta ngồi xếp bằng, thân trống nằm gọn trong lòng. Tiếng ‘‘tung tung’’ vang dội. Vài người trong xóm chạy tới, muốn đến gần miễu. Bọn hộ vệ xua đuổi:

– Muốn chết sao mà lại gần! Mấy người không thấy ông Chúa Hòn ngồi đó sao?

Thời khắc cứ trôi qua, ông từ giữ miễu đến gần ông Bá Vạn mà trình bày:

– Thưa ông, người lên xác còn tắm gội sạch sẽ để hôm nay…

Ông Chúa Hòn hơi bồn chồn:

– Tắm rửa gì lâu dữ vậy? Tắm ở đâu?

Ông Bá Vạn cau mày, trong khi ông từ bối rối:

– Thưa.. ở gần bờ suối. Tắm gần đây thì sợ ô uế, bà không về nhập xác.

– Coi một lần nữa rồi cho ta biết còn bao lâu mới lên xác được! Lâu quá rồi.

Chính ông Bá Vạn cũng hơi ngạc nhiên vì sự trể nải ấy. Thật ra việc tắm gội ấy chỉ là hình thức mà thôi. Nhiều cô gái lên xác tuy gọi là ‘‘đồng trinh’’ nhưng còn gì là trinh tiết. Các cô có tình nhân trong xóm, như trong trường hợp miễu bà Chúa Xứ nầy thì chàng trai vỗ trống nọ có thể là tình nhân của cô ta. Để làm vừa lòng ông Chúa Hòn, ông từ giữ miễu bèn thắp hai ngọn đèn sáng trên bàn thờ, thắp nắm nhang cắm vào lư rồi ra phía sau miễu.

Ông Chúa Hòn vốn tin dị đoan nên vẫn cằn nhằn:

– Hai con vô nhà tôi là phụng hoàng hay là con hạc? Điềm lạ quá.

Nhớ đến hai tô thịt kho và nước mắm mà cậu Hai Điền đã tạt lên mình, ông Bá Vạn gật đầu, nói giọng trầm trầm.

– Có lẽ là chuyện lạ. ‘‘Lạ’’ nhiều khi là may mắn…

– Hộ vệ đâu? – Ông Chúa nói gắt

Hai tên võ sĩ chạy đến khoanh tay chờ lịnh. Chúa Hòn như ray rứt, khó chịu, cứ trợn mắt nhìn xung quanh rồi quát to:

– Cái gì mà vỗ trống hoài! Đừng vỗ nữa.

Đột nhiên, ông từ giữ miễu chạy tới, mặt mày tái mét:

– Chết rồi! Ông ơi! Cứu cô xác!

Ông Bá Vạn đứng dậy, hỏi kỹ:

– Cô chết rồi à? Ai giết cô?

Ông Chúa Hòn nói:

– Chỗ nào? Hộ vệ đâu, theo tao. Bọn nào dám tới đây, tụi bây canh phòng như vậy đó hả?

Bọn nhạc công hoảng sợ, đứng dậy và trong lúc mất bình tĩnh, anh chàng vỗ trống quơ tay đụng nhằm ngọn đèn trên bàn thờ. Ngọn đèn ngã xuống, lửa bắt qua mớ chân nhang. Ông Chúa Hòn chạy ra sau miễu, hơn mười tên hộ vệ bao bọc chung quanh. Việc gì đã xẩy ra? Ông Bá Vạn cố gắng chạy theo, nài nỉ ông Chúa Hòn:

– Xin ông đừng tới bờ suối. Nếu kẻ gian bắt cô gái lên xác thì tôi… xé xác bọn nó. Ra ngoài đó nguy hiểm lắm.

Nhưng ông Chúa Hòn như say máu, như sợ sệt, như bị chạm tự ái:

– Đứa nào giết cô gái lên xác là đứa đó muốn xúc phạm tới tao! Quá lộng rồi sao chớ! Điềm gì vậy?

Đến bờ suối, ông Bá Vạn đứng tần ngần, mấy tảng đá bên bờ đều ướt mem, chứng tỏ rằng cô gái lên xác đã tắm gội tại đó và đã cựa quậy chống cự. Điều ngạc nhiên là hai tên hộ vệ đã mất dạng. Ông gọi to:

– Tụi bây đâu rồi?

Từ phía bụi rậm ở ngọn suối, có tiếng trả lời:

– Cứu tôi, cứu cô gái. Mau lên đây! Con rắn to lớn lắm.

Cả bọn đến nơi, dẫn đầu là ông Bá Vạn. Ông Chúa Hòn trố mắt, mặt mày tái mét:

– Chết rồi à! Con rắn đâu?

Cô gái lên xác đã tắt thở. Rõ ràng là con rắn hoặc con trăn đến quấn cô. Cô nằm đây, thân hình co quắp, chắc là xương sống bị gãy làm đôi. Hai tên hộ vệ thở hổn hển, tay cầm ngọn dao đỏ lòm, máu nhễu giọt lóng lánh ở mũi dao:

– Dạ, tụi tôi chặt được khúc đuôi con rắn…

Ông Chúa Hòn hỏi:

– Con rắn mất đuôi thì còn sống. Tụi bây không đem cái đầu rắn về cho tao thì ngày mai tao giết cả bọn!

Ông Bá Vạn van nài:

– Xin ông về nghỉ. Đây là chuyện thường lệ, rừng núi thiếu gì rắn độc, tắm ở bờ suối mà bị rắn hoặc trăn quấn, đâu có gì quan trọng…

Nhưng lời thuyết phục ấy không làm cho ông Chúa Hòn được yên tâm. Bọn hộ vệ la hoảng, đứng bao vây chung quanh:

– Cháy! Miễu bà Chúa Xứ cháy rồi!

Ông Bá Vạn ngại rằng sắp có chuyện bất lợi xảy ra nên mời ông Chúa Hòn xuống núi, về nhà lập tức. Tuy là độc tài, giàu tự tin, nhưng lần nầy ông Chúa Hòn đành ngoan ngoãn vâng lời ông Bá Vạn, để cho bọn hộ vệ cõng lên vai. Dân chúng ngơ ngác, xem việc miễu cháy là điềm ông Chúa Hòn sắp chết trong ngày rất gần.

Nằm dài trên chiếc ghe hầu, ông Chúa Hòn bắt đầu tỉnh táo khi bọn hộ vệ vừa chèo chống vừa báo cáo:

– Thưa ông, ngọn lửa đã tắt.

– Bá Vạn đâu? Ngồi gần ta cho ta vui. Tại sao ta cứ phập phồng, xung quanh ta có tiếng dậm chân rầm rập trên đất, như toán quân nào đông đảo lắm đang kéo tới? Mắt ta hơi mờ..

Bọn hộ vệ đưa chiếc ghe ra đến khoảng đồng trống, gió thổi hiu hiu. Lần hồi ông Chúa Hòn cảm thấy khoẻ khoắn, ngồi dậy dựa tay lên chiếc gối vuông:

– Dường như sắp xảy ra chuyện gì xui xẻo cho ta. Hai con cò vô nhà, rồi tới việc nầy. Cô gái lên xác nào có tội tình gì mà bỏ mạng? Ông xem sách tử vi nhiều, hãy bàn bạc thử cho ta nghe.

Tâm trí ông Bá Vạn hơi bối rối vì tình thế biến chuyển quá nhanh. Ông Chúa Hòn nếu chết bất ngờ thì cậụ Hai Điền thay thế. Cậu Hai Điền sẽ đuổi ông hoặc bày ra nhiều điều sĩ nhục khác, còn nặng nề hơn là tạt thịt kho và nước mắm.

Theo kế hoạch dự định thì ông Bá Vạn sẽ đem thằng Cẩu lên ‘‘ngôi’’ ông Chúa Hòn tương lai. Muốn sắp đặt cho ăn khớp nhịp nhàng thì cần một khoảng thời gian khá dài, ông Bá Vạn cần tiếp xúc vói Mười Hấu và thằng Cẩu. Năm nay Cẩu được 17 tuổi, chưa hiểu tánh tình ra sao. Lại còn bài toán gay go hơn. Đó là giết khéo léo cậu Hai Điền để có lý do chánh đáng mà đem thằng Cẩu lên thế.

Bọn hộ vệ của ông Chúa Hòn tuy đông đảo nhưng dễ mua chuộc. Ông sẽ cho chúng nó tiền bạc, nhà cửa, đa số đều do ông tiến cử, hễ ông nói đúng lý thì chúng nó nghe ngay.

Ông Chúa Hòn chết.

Vài ngày sau là cậu Hai Điền chết.

Lập tức, thằng Cẩu được tôn làm ông Chúa Hòn.

Ba giai đoạn ấy tuy rời nhưng dính liền nhau, trong vòng ba ngày. Nếu chuẩn bị non kém, ông Bá Vạn sẽ bị giết về tay cậu Hai Điền. Bởi vậy, ông Bá Vạn nói khẽ:

– Theo tôi thì trên đời nầy có nhiều điều xui xẻo, nhưng do sự tình cờ.

– Không đâu! Phải chăng bọn nhạc công vô lễ với bà Chúa Xứ?

Ông Bá Vạn gật gù lấy lệ:

– Ông nói có lý. Bà Chúa Xứ không ưa cái trống bịt da sấu ở dưới nước. Nhưng theo ý tôi thì có lẽ cô gái lên xác đã bị ô uế, bà nổi giận. Cô ta lén lút tình tự với cậu trai nào đó nên bà Xứ phạt. Tháng sau, tôi biểu ông từ giữ miễu chọn cô gái khác trinh bạch hơn.

Đến chiều, đoàn ghe về tới Hòn Chông. Khi lên bờ, ông Bá Vạn ra lịnh cho bọn hộ vệ không được đồn đãi về chuyện bất trắc đã xảy ra. Khi ông Chúa Hòn vào phòng nằm nghỉ, ông Bá Vạn về nhà riêng. Cậu Hai Điền đi săn mới về. Dưới sông, bọn thủ hạ hò hét ỏm tỏi vì uống rượu say mèm. Ông Bá Vạn ngồi trước cửa, trong bóng tối, để ngắm nghía khung cảnh.

Chiếc ghe chở cậu Hai trông thật quái dị. Trước mũi, sau lái đều có hai tên hộ vệ đứng thẳng người, cầm đuốc. Cậu Hai ngồi chễm chệ trên chiếc ghế nhỏ. Chiếc ghe lúc lắc qua lại mà cậu vẫn ngồi vững, tay nâng bầu rượu, ngực để trần.

Ổng Bá Vạn trù rủa lầm thầm:

– Nó mà làm ông Chứa Hòn thì ai mà chịu nổi! Nó bắt chước bộ điệu ông vua con, nhưng lại giống hệt một tên cường sơn thảo khấu.

Tiếng cậu Hai Điền vang lên lồng lộng:

– Con heo độc giác chưa tới số. Bữa nay, tao hơi say nên chưa giết được nó. Tao thề giết tất cả mấy con thú dữ ở Hòn Chông nầy. Tao là thần thánh, chưa bao giờ chịu thua loài súc vật. Nếu nó còn sống, đó vì là tao còn lòng nhơn đạo, phải không tụi bay?

Ban hộ vệ reo lên:

– Da, cậu nói phải!

Cậu Hai ngửa mặt nốc cạn bầu rượu, rồi quăng mạnh cái bầu lên sân nhà ông Bá Vạn. Ông Bá Vạn cúi đầu chua xót, vì dường như cậu Hai Điền cố ý so sánh ông với một loài thú. Cái bầu rượu không bể, lăn tròn rồi nằm sát gốc cây xoài.

Chờ khi đoàn ghe qua khỏi, ông Bá Vạn đứng dậy đến gốc cây mà lượm cái bầu, đưa lên mũi hửi. Lát sau, ông vào nhà, để cái bầu bên cạnh cái tráp, trên đầu nằm. Trong tráp, cái áo dính thịt kho và nước mắm còn đó, chưa giặt rửa.

Một người tá điền đến chào ông Chúa Hòn để trả nợ. Ông hỏi.

– Chú ở đâu tới? Nghe thiên hạ bàn tán gì về ta không?

Người nọ đáp:

– Dạ, từ Hòn Me giữa khoảng Hòn Me, và Hòn Đất. Con không nghe chuyện gì hết.

Câu trả lời ấy khiến ông Chúa Hòn vui vẻ và tươi tỉnh thêm lên. Như vậy là uy tín của ông chưa bị giảm sút thì vận ông còn đỏ. Ông hỏi thêm.

– Tại xóm chú mày, có gì vui không?

– Dạ, dân chúng làm ăn bình thường, ruộng nương tươi tốt, ai nấy đều mang ơn ông.

– Ta muốn cái gì vui, cái gì đặc biệt kìa!

Người nọ suy nghĩ mãi, chưa đóan được sở thích của ông Chúa. Chắc là ông ta muốn tìm gái đẹp. Nếu nói ra sớm, e phạm tội vô lễ. Trong xóm, mấy ngày rày thiên hạ bàn tán xôn xao về một chuyện nhỏ. Quỳnh hoa là loại cây ít khi trổ bông, bông trổ là điều may mắn cho gia chủ. Ấy thế mà trước nhà Tư Thính, bụi quỳnh hoa trổ một lượt bảy nụ nhỏ, bụi hoa ấy do cô Huôi chăm sóc, tưới nước hằng ngày. Cô Huôi là hoa khôi trong vùng.

Người tá điền bèn trả lời:

– Thưa ông, có bụi quỳnh hoa trổ ra một lượt bảy cái nụ

Ồng Chúa Hòn hơi giựt mình:

– Thiệt sao? Nụ nhỏ hay nụ to? Trổ chưa? Ta xem kịp không?

– Nếu ông tới trong ngày nay thì kịp.

– Ta tới bây giờ. Đừng đón rước long trọng, ta phiền lắm. Hôm nay, ta muốn ngắm đồng quê với núi non. Nếu vui thì ta chờ xem hoa nở.

Khi người khách ra về, ông Chúa Hòn lâp tức đến nhà ông Bá Vạn. Thấy ông Chúa Hòn đến thình lình với quần áo xuề xòa, ông Bá Vạn không được yên tâm; hay là cậu Hai Điền mét thót với ông Chúa để thanh toán ông? Nhưng nụ cười hiền hòa của ông Chúa đã làm cho ông Bá Vạn vững bụng. Ông Chúa ngồi xuống rồi khoát tay về phía hai tên hộ vệ:

– Tụi bây cứ về, đừng lo cho tao. Tao ở đây chơi. Lo sửa soạn chiếc ghe, đem theo rượu. Chừng nào muốn đi thì ta ra lịnh.

Ông Bá Vạn rót nước dâng cho Chúa Hòn. Ông Chúa nói khẽ:

– Lại có điềm mới lạ, khó hiểu. Bá Vạn giải thích giùm ta.

– Ông nói thử, từ sáng đến giờ, tôi ở nhà một mình.

Giọng nói của ông Chúa Hòn trở nên rắn rỏi, lạc quan:

– Đêm nay ta đi chơi, về phía Hòn Đất.

Hòn Đất và Hòn Me là hai vị trí gần nhau, khoảng giữa là cánh đồng khá phì nhiêu, dân chúng sống bằng nghề ruộng và nắn nồi đất. Ông Bá Vạn hơi e ngại:

– Hôm qua, ông tới miễu bà Chúa Xứ gặp chuyện rắc rối. Hôm nay, tốt hơn là đi nơi khác, xa miễu. Hay là ông được tin tức gì về cô gái xác?

Ông Chúa Hòn lắc đầu:

– Cô gái lên xác đã chết, miễu bà Chúa Xứ bị cháy, đó là chuyện cũ, xui xẻo. Nhưng bù đắp lại, ta gặp chuyện may mắn hơn, ở chỗ cách đó không xa, sát chân Hòn Đất. Nầy, Bá Vạn biết bông quỳnh hoa không?

Ngón tay ông Bá Vạn chỉ ra ngoài sân. Bụi quỳnh hoa mọc xanh um, từng lá to gắn liền xuống đất, xòe ra:

– Dạ, tôi trồng từ ba năm nay mà chưa thấy trổ bông lần nào cả. Năm ngoái, hòa thượng chùa Phước Vân mời tôi xem hoa nở, hoa đẹp lắm. Hòa thượng bảo rằng nhà ai có quỳnh hoa nở là điều may mắn. Hoa trắng mà to, thơm ngát, nở lúc ban đêm, đến hừng sáng tàn rụng. Ba năm, tôi chờ đợi mãi mà chưa thấy nụ nào.

– Bá Vạn nói sao? Quỳnh hoa nở là điềm may, hiếm có?

– Dạ, ai cũng nói vậy.

– Bá Vạn thấy một bụi quỳnh hoa trổ một lượt mười nụ không? Mười nụ hoa trổ trong một đêm. Đó là điềm gì?

– Dạ, đó là đại phước cho cả vùng nầy. Có thật hay không?

– Ở Hòn Đất, mau đi với ta để xem hoa nở. Hòn Me là nơi ta gặp chuyện xui xẻo với cô gái mất xác vì rắn độc, thì Hòn Đất là nơi mà ta gặp may mắn. Đời có vậy mới vui chớ.

Lát sau, bọn hộ vệ chèo chiếc thuyền nhỏ đi trước. Ông Chúa Hòn và Bá Vạn ngồi trong chiếc thuyền to theo sau. Mặt trời vừa xế. Phía chân trời, hàng chục cụm khói bốc lên. Đó là mấy cái sân đốt nồi đất. Lúc cao hứng, ông Chúa Hòn lẫm bẩm:

– Hòn Me, Hòn Đất, Hòn Chông đều là giang san của ta, phải không Bá Vạn!

Cải tạo nửa mùa-Vượt biên tài tử

Nguyễn Hữu Thiện

Post by Sơn râu 19 May 2025

Phần 4

Chương 3 – Trảng Lớn

Từ Vũng Tàu, chiếc dương vận hạm HQ-501 đưa chúng tôi về Tân Cảng. Sau này tôi được biết từ Tân Cảng, đoàn tù đã được hai đoàn xe molotova bít bùng chở đi hai hướng khác nhau: một chạy về hướng đông, lên trại tù Long Giao ở Xuân Lộc, một – trên đó có tôi – chạy lên hướng bắc, trở lại “đường xưa lối cũ”, nhưng tới Hốc Môn không quẹo vào Thành Ông Năm mà chạy thẳng lên Trảng Lớn ở tỉnh Tây Ninh.
Cũng mãi sau này tôi mới biết ngày ấy khi được đưa lên Trảng Lớn là tôi đã “trúng số” lần thứ hai trong cuộc đời cải tạo (xin được giải thích ở một phần sau).
Mặc dù không có những số liệu chính thức để so sánh, tôi tin rằng vào khoảng giữa năm 1976 ở miền Nam, sau khi tù cải tạo ở liên trại Long Giao (Xuân Lộc) bị phân tán, kẻ ra bắc, người đi những trại khác ở trong nam, thì Trảng Lớn là trại tù cải tạo lớn nhất, bởi vì ở đây có tới 5 “L”.
Vào thời gian các trại cải tạo mà tôi đã sống qua còn nằm dưới quyền sinh sát của Quân Đội Nhân Dân, đơn vị cấp cao nhất được gọi là “Đoàn”, tương đương sư đoàn, đôi khi được viết tắt là “E”. Mỗi đoàn có một “hòm thư” với bốn con số, tương tự KBC (khu bưu chính) của QLVNCH trước kia, chẳng hạn Trảng Lớn là “Hòm thư 7595”. Trong những năm sau này, nhiều bà vợ sĩ quan ở Sài Gòn chỉ cần dòm bốn con số ấy là có thể đoán biết chồng mình đang bị cải tạo ở nơi chốn nào!
Dưới “Đoàn” là “L”, tức trung đoàn, dưới L là “T” (tiểu đoàn), mỗi T gồm nhiều đội, hoặc khối, và sau cùng là tổ, từ 10 tới 15 người.
Cũng có những trại không chia thành “đội”, “khối” và thay vào đó là “nhà” (như ở Phú Quốc, Suối Máu…), hoặc “lán” (như ở Long Giao).
Sở dĩ Trảng Lớn có sức chứa tới cả chục nghìn tù cải tạo vì trước kia nơi đây là một căn cứ lớn của quân đội Hoa Kỳ, nằm về phía tây nam thành phố Tây Ninh, có cả một phi trường bằng vỉ sắt cho C-130 lên xuống. Sau khi Hoa Kỳ rút quân, căn cứ Trảng Lớn trở thành Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 25 BB của QLVNCH.
Sau khi cộng sản chiếm miền Nam, căn cứ Trảng Lớn trở thành một trại tù khổng lồ, tổng số tù cải tạo tại đây có lúc lên tới 13.000 người (con số của CSVN).
Tùy theo sự phân phối, có những T được ở trong những dãy nhà có sẵn và còn tương đối lành lặn, có những T phải ở trong những dãy nhà từng bị dân chúng làm thịt chỉ còn lại cái mái, hoặc khung sườn, nay được tu bổ, lại có những T ở những dãy nhà “mới tinh” do chính tù cải tạo dựng lên bằng vật liệu thu nhặt được trong căn cứ. Tôi nằm trong toán khoảng trên dưới 100 người được đưa vào một T ở phía trong cùng với những dãy nhà mới, nơi đã có vài trăm anh em tù cải tạo ở từ trước.
Cảm tưởng đầu tiên của tôi khi bước vào cổng hoàn toàn trái ngược với cái lần bước vào cổng trại ở Phú Quốc hơn nửa năm về trước, cũng là trại tù cải tạo mà sao ở đây không có vẻ hắc ám một chút nào cả. Có lẽ một phần vì chúng tôi được đưa tới Trảng Lớn giữa thanh thiên bạch nhật (khoảng 10, 11 giờ sáng) cho nên không có cảm giác lo sợ, hãi hùng như cái đêm bước vào cổng chằng chịt kẽm gai dưới ánh đèn pha đầy hăm dọa ở Phú Quốc. Nhưng quan trọng hơn cả chính là sự khác biệt về con người và cảnh vật.
Về con người của “phe địch”, từ lúc chúng tôi bước vào cổng trại, đã không còn đám vệ binh súng AK kè kè áp giải mà chỉ còn mấy tay quản giáo hướng dẫn chúng tôi vào sân, đọc tên từng người để giao cho các tay khối trưởng (tù cải tạo), không hề có một màn lên lớp hay khám xét vật tùy thân.
Về con người của “phe ta” thì tù cải tạo ở Trảng Lớn ai nấy đều tươi tỉnh, sạch sẽ, tươm tất, trắng trẻo, tuy không thể gọi là béo tốt nhưng cũng không có ai gầy dơ xương như đám tù Phú Quốc thảm não, hốc hác, đen đủi, xấu xa, bẩn thỉu…
Thành thử so sánh về cả mặt thể xác lẫn tinh thần, giữa đám tù cải tạo vừa từ “địa ngục” Phú Quốc về với tù cải tạo may mắn được ở “thiên đường” Trảng Lớn từ đầu mùa, có một sự tương phản tới mức phi lý!
Chính một anh bạn Thiếu úy sau khi trở nên thân thiết với tôi đã nhận xét: “Mấy cha ở Phú Quốc về trông khủng khiếp dễ sợ!”
Tính cách khủng khiếp ấy được thể hiện rõ rệt nhất nơi những anh em trước kia ở Trảng Lớn bị đưa đi Phú Quốc, rồi từ địa ngục Phú Quốc nay lại được đưa về thiên đường Trảng Lớn!
Có thể một số độc giả ngạc nhiên, thắc mắc trước việc bị đưa đi rồi lại được đưa về chốn cũ. Xin được giải thích hơi dài dòng như sau.
Sau 30-4-1975, các sĩ quan miền Nam trình diện học tập cải tạo ở Sài Gòn – Gia Định bị Ủy Ban Quân Quản thành Hồ phân loại thành bốn nhóm theo mức độ “ác ôn” và “nợ máu” với nhân dân, với cách mạng.

– Nhóm 1: gồm các sĩ quan từ cấp thiếu tá trở lên, bị liệt vào thành phần “ngụy quân cấp cao cực kỳ ác ôn”, là đối tượng bắt buộc phải đưa ra các trại cải tạo ở miền bắc.
[Trên thực tế, vì các trại ngoài bắc không đủ sức chứa, hoặc vì nguyên nhân nào đó, một số sĩ quan cấp Tá đã không bị đưa ra bắc]
– Nhóm 2: cấp trung úy của các binh chủng “thứ dữ” Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Lực Lượng Đặc Biệt, và hai ngành An Ninh Tình Báo, Chiến Tranh Chính Trị, là thành phần “ngụy quân cực kỳ ác ôn, có nhiều nợ máu”, là đối tượng ưu tiên 2 (sau Nhóm 1) bị đưa ra các trại cải tạo ở miền bắc.
– Nhóm 3: từ cấp trung úy trở xuống của hai quân chủng Không Quân, Hải Quân và các binh chủng Thiết Giáp, Pháo Binh, và thiếu úy Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Lực Lượng Đặc Biệt và hai ngành An Ninh Tình Báo, Chiến Tranh Chính Trị là “thành phần cực kỳ ác ôn”, học tập cải tạo ở trong Nam.
– Nhóm 4: từ cấp trung úy trở xuống của các binh chủng Bộ Binh, Địa Phương Quân, và Nghĩa Quân, là “thành phần ác ôn”, học tập cải tạo ở trong nam.
Riêng cấp đại úy nếu thuộc các binh chủng Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Lực Lượng Đặc Biệt, hai ngành An Ninh Tình Báo, Chiến Tranh Chính Trị thì bị xếp vào Nhóm 1 (bắt buộc phải đưa ra bắc), số đại úy còn lại được xếp vào Nhóm 2, tức là đối tượng ưu tiên 2 đưa ra bắc.
Cuối tháng 1 năm 1976, khi có yêu cầu đưa tù cải tạo ra Phú Quốc, trung ương đã ra chỉ thị lấy Nhóm 3, tức cấp thiếu úy Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Lực Lượng Đặc Biệt, An Ninh Tình Báo, Chiến Tranh Chính Trị và trung úy, thiếu úy Không Quân, Hải Quân, Thiết Giáp, Pháo Binh, là “thành phần cực kỳ ác ôn”.
Vì thế tại Trảng Lớn, một số trung úy (theo tôi nhớ, không có thiếu úy) thuộc Nhóm 3 đã bị đưa ra Phú Quốc.
[Còn những người thuộc Nhóm 2 – tức trung úy Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Lực Lượng Đặc Biệt, An Ninh Tình Báo, Chiến Tranh Chính Trị – thì ở lại chờ đi bắc]
Tuy nhiên trên thực tế, như một số anh em bị đi cải tạo có thể còn nhớ, chính sách, lệnh lạc của trung ương đưa xuống đôi khi được các trại thi hành một cách khá tùy tiện.
Chẳng hạn cùng thời gian nói trên ở Thành Ông Năm, bản thân tôi là một Trung úy Chiến Tranh Chính Trị, thuộc Nhóm 2, đáng lẽ phải ở lại chờ ngày bị đưa ra bắc (đợt 1) thì lại được đưa ra Phú Quốc cùng với Nhóm 3.
Ngược lại, anh chàng thiếu úy “babilac” An Đình Phương cùng tổ với tôi, vốn thuộc Nhóm 4 (nhẹ tội nhất) cũng bị đưa ra Phú Quốc, tức là đang từ thành phần “ác ôn” được nâng lên “cực kỳ ác ôn”!


* * *


Trở lại với thành phần trung úy ở Trảng Lớn bị đưa ra Phú Quốc rồi lại được đưa về Trảng Lớn, trong số này có những người được phân phối về “đơn vị” cũ, tức cái T mà họ đã ở trước khi bị đưa ra Phú Quốc!
Tôi tin rằng đây chỉ là một sự vô tình chứ không có sắp xếp của “cấp trên”. Nhưng cho dù chỉ là vô tình, việc những “thây ma biết đi” trở về chốn xưa đã có tác dụng mạnh mẽ trong việc răn đe đám cải tạo ở Trảng Lớn hơn bất cứ lời hăm dọa nào của cán bộ quản giáo!
Đó cũng là nguyên nhân chính đưa tới việc những anh em từ Phú Quốc về Trảng Lớn bị cô lập, xa lánh trong một tập thể lẽ ra phải đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau!
Tuy nhiên, sau khi tìm hiểu về cuộc sống ở “thiên đường” Trảng Lớn từ đầu mùa cải tạo, tôi cũng thông cảm phần nào với những anh em cải tạo “nhẹ tội” ấy.
Cũng cần nhấn mạnh, ở Trảng Lớn có 5 “L” khác nhau, cách áp dụng, thi hành “chính sách đối với ngụy quân” cũng có thể khác nhau, cho nên những gì tôi viết ra sau đây có thể chỉ chính xác với các T trong L của tôi mà thôi.
T tôi ở gồm ba, bốn dãy nhà mới, tuy xây dựng vá víu bằng đủ thứ vật liệu thu nhặt được – tôn cũ, ba-lết, vỉ sắt lỗ (PSP) của phi trường dã chiến, cột đèn bằng gỗ thông của Mỹ để lại… – nhưng cũng khá thoáng mát, sạch sẽ, với hai, ba hàng sạp gỗ, mỗi người được một khoảng giang sơn vừa đủ để trải cái chiếu đơn.
Bên ngoài các dãy nhà là một sân bóng chuyền và khu nhà bếp, cái giếng, chung quanh là các giàn bầu, mướp, một cái ao nhỏ để lấy nước tưới hoa màu, xa hơn là các luống rau muống.
Không hiểu vào thời gian đầu, sau 10 bài học chính trị, tù cải tạo cấp trung úy thiếu úy ở T này có phải tham gia lao động nặng hay không, chỉ biết từ khi có tù Phú Quốc về, ngoài các tổ chuyên môn như tổ nhà bếp (anh nuôi), tổ mộc, tổ rèn, tổ chăn nuôi…, anh em còn lại thỉnh thoảng mới bị bắt đi cắt tranh ngoài vòng đai căn cứ, còn thường nhật thì chỉ phải ra vườn, vừa chăm sóc mấy luống rau vừa tán dóc, đợi hết giờ lao động.
Vì không có nhiều đất, mỗi tổ chỉ có một luống rau muống dăm bảy mét vuông cho nên chỉ cần 30 phút làm cỏ, tưới nước là xong công tác, nhưng không được trở vào trong nhà.
Ở Trảng Lớn, ít nhất cũng là T của tôi, không có mục “cải thiện” (trồng, hoặc kiếm rau cỏ để ăn thêm) bởi không có đất và nhất là lệnh cấm lửa tuyệt đối, không được có bất cứ một ngọn lửa, hòn than nào bên ngoài nhà bếp…
Ăn cơm trưa xong, ngủ một giấc, rồi hoặc ra sân chơi bóng chuyền, hoặc đánh cờ tướng, hoặc tụ tập đàn địch (nhạc cách mạng, dĩ nhiên), tán dóc, hoặc thơ thẩn hóng mát ngoài vườn rau…
Sau bữa cơm chiều, ra giếng tắm rửa, họp tổ, rồi đi ngủ.
Thành thử, nói theo cách nói của người cộng sản, anh em tù cải tạo ở Trảng Lớn đã không có nhiều cơ hội, phương tiện để thực thi khẩu hiệu “Lao động là vinh quang”!
Bên cạnh đó không thể không nói tới sự nhân đạo (?) của nhà cầm quyền trại ở Trảng Lớn trong việc cho phép tù cải tạo viết thư và nhận quà của gia đình.
Trong khi đám tù Phú Quốc gốc Thành Ông Năm chúng tôi mới chỉ được viết một lá thư và nhận một gói quà nửa ký ở Thành Ông Năm, và trong 6 tháng ở Phú Quốc chỉ được viết và nhận một lá thư duy nhất, thì tù cải tạo ở Trảng Lớn được viết thư mỗi tháng một lần, và nhận quà của gia đình đều đều.
Vẫn biết thư viết về và thư gửi đi đều phải theo một khuôn mẫu nhất định – thư về thì báo cho gia đình biết mình vẫn khỏe mạnh, được “cách mạng” nuôi ăn đầy đủ, chăm sóc tử tế, và khuyên gia đình chấp hành nghiêm chỉnh chính sách đường lối của nhà nước, thư đi thì “động viên” chồng con cố gắng học tập tiến bộ để sớm trở về đoàn tụ với gia đình, góp phần xây dựng đất nước – nhưng ít ra cả người viết lẫn người nhận cũng được chút yên tâm, an ủi khi được đọc những dòng chữ của người thân, không cần biết nội dung thư viết những gì!
Trong khi những lá thư chứa đựng giá trị tinh thần thì các gói quà thể hiện giá trị vật chất. Những gói quà ấy, cùng với may mắn nếu gặp cán bộ tài vụ, hậu cần dễ dãi có thể gửi tiền (cộng thêm chút thù lao) nhờ họ mua giúp thứ này thứ khác ngoài chợ, đã khiến Trảng Lớn trở thành một “thiên đường cải tạo” đúng nghĩa.
Bên cạnh đó, đám cán bộ quản giáo ở Trảng Lớn, ít nhất cũng là ở T của tôi, rất ít khi vào các khối để diệu võ dương oai, hoặc dòm ngó, hạch sách. Trong mấy tháng ở Trảng Lớn, tôi chỉ biết tên một cán bộ duy nhất là Thiếu úy Mai, quản giáo của khối tôi.
Theo sự suy diễn của tôi, rất có thể vì sau giai đoạn học tập chính trị, Trảng Lớn chỉ còn là một trại tạm giam tù cải tạo, chờ đưa đi các nơi để lao động sản xuất, cho nên đám cán bộ quản giáo ở đây cũng tà tà!
Những nguyên nhân khách quan nói trên đã khiến đa số anh em tù cải tạo ở Trảng Lớn cố gắng “nín thở qua sông”, thậm chí có những người còn tìm mọi cách chứng tỏ mình đã “tiến bộ”, với hy vọng sớm được “cách mạng khoan hồng” cho về xum họp với gia đình!
Sau này, một số anh em ở Trảng Lớn liên tục từ đầu mùa kể với tôi rằng trước khi đám tù cải tạo ở Phú Quốc về, họ đã được quản giáo lên lớp phải cảnh giác khi quan hệ, bởi đây là những thành phần đã trải qua giai đoạn lao động, không nhận thức được “lao động là vinh quang” nên có thể “mang tư tưởng bất mãn, đầu óc phản động, phát ngôn bừa bãi”.Thành thật mà nói, đám quản giáo nhận xét cũng không sai mấy. Chính vì thế, tù Phú Quốc về Trảng Lớn thường bị đa số anh em trong khối nhìn với cặp mắt e dè, hạn chế quan hệ, ít nhất cũng là trong thời gian một vài tháng đầu.
Trong đám tù Phú Quốc bị anh em tìm cách “né” ấy, tôi đứng đầu sổ vì hai nguyên nhân: (1) trung úy ngành Chiến Tranh Chính Trị, (2) chúa phát ngôn bừa bãi, mỉa mai châm chọc cách mạng.
Tôi không biết trong đám tù Phú Quốc về đất liền có bao nhiêu trung úy CTCT được đưa lên Trảng Lớn, chỉ biết trong T này có một mình tôi.
Như đã viết ở trên, cấp trung úy của hai ngành CTCT, An Ninh Tình Báo, và các binh chủng Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Lực Lượng Đặc Biệt được xếp vào Nhóm 2, tức là thành phần “ngụy quân cực kỳ ác ôn, có nhiều nợ máu”, là đối tượng ưu tiên 2 đưa ra các trại cải tạo ở miền bắc, chỉ đứng sau Nhóm 1.
Đầu năm 1976, khi có lệnh của trung ương đưa một số tù cải tạo thuộc Nhóm 3, tức cấp trung úy, thiếu úy Không Quân, Hải Quân, Thiết Giáp, Pháo Binh ra Phú Quốc, chẳng hiểu đám cán bộ Đoàn 775 ở Thành Ông Năm làm ăn ra sao mà lại đưa cả một số trung úy CTCT – trong đó có tôi và Trần Ngọc Tự, vốn thuộc Nhóm 2 – ra Phú Quốc, trong khi đáng lẽ chúng tôi phải ở lại để lên Long Giao rồi sau đó đa số bị đưa ra bắc, như trường hợp của Nguyễn Văn Chúc, Khóa 2 Đại Học CTCT, bạn cùng tổ với tôi và Tự ở Thành Ông Năm.
Lúc bị gọi tên ở Thành Ông Năm, tôi và Tự ở khác toán, ra tới Phú Quốc lại ở khác trại, không hề biết tin tức của nhau cho nên cả hai thằng, thằng nào cũng tưởng chỉ có một mình mình số “ăn mày” nên mới bị đày ra đảo. Sau này mới biết khi quân Khmer Đỏ đánh đảo Thổ Châu, tù cải tạo ở Phú Quốc được đưa về đất liền, Tự đi Long Giao (để từ đó đi bắc với Nguyễn Văn Chúc), còn tôi đi Trảng Lớn thì cái số của tôi không “ăn mày” một chút nào cả, mà việc bị đưa ra Phú Quốc rồi sau đó lại được đưa về Trảng Lớn quả là chuyện “Tái ông thất mã”!

* * *


Trong hoàn cảnh bị anh em cải tạo “nhà lành” ở Trảng Lớn xa lánh, đám tù cải tạo gốc Phú Quốc chúng tôi chỉ biết tìm tới với nhau, sống thu mình như một sắc dân thiểu số. Riêng tôi, bạn tù từ Phú Quốc nay ở chung khối chỉ có hai người: An Đình Phương, chàng thiếu úy trẻ cùng tổ với tôi ở Thành Ông Năm trước đây, và Nguyễn ĐS, tay trung úy Nha Quân Pháp cũng cùng tổ với tôi và An Đình Phương ở Thành Ông Năm nhưng ra Phú Quốc ở khác trại.
Tôi vốn thân với An Đình Phương hơn Nguyễn ĐS, nhưng sau khi về Trảng Lớn, thay vì hồi phục, Phương ngày càng thêm suy sụp, cả về tinh thần lẫn thể xác, cứ nằm một chỗ và rất ít nói, cho nên tôi cũng không có hứng gần gũi, trò truyện. Về sau, tôi cứ ân hận mãi vì sự lơ là của mình…
Về phần Đức (Cống), tay Trung úy Pháo Binh bạn học cũ của tôi ở cùng trại Phú Quốc thì nay ở khối bên cạnh; thỉnh thoảng tôi lại xé rào (vi phạm nội quy) lẻn sang tán dóc, từ đó mới gặp được một vài tay hoa tiêu quan sát và trực thăng cấp trung úy.
Sau vài lần sang khối của Đức, tôi nhận ra bầu không khí ở đây khác hẳn khối của tôi: mọi người có vẻ thoải mái, không e dè nghi kỵ nhau, và nhất là “phát ngôn linh tinh” (chữ của quản giáo), châm biếm cách mạng một cách thoải mái!
Nguyên nhân chính đưa tới sự khác biệt này là thành phần tù cải tạo: khối của Đức đa số là đám trung úy trẻ, nhiều tay là dân tác chiến, điếc không sợ súng, trong khi khối của tôi đa số là thiếu úy trẻ nhưng lại do mấy ông thiếu úy già làm khối trưởng, tổ trưởng nên không khí rất ngột ngạt, khó thở!
Tôi không vơ đũa cả nắm nhưng “kinh nghiệm xương máu” trong những năm tháng cải tạo đã cho tôi thấy nhiều sĩ quan lớn tuổi, từ những ông thiếu úy xuất thân hàng binh sĩ ở Trảng Lớn cho tới các ông thiếu tá không phải dân tác chiến (không phải ra bắc) ở Suối Máu, thường có thái độ an phận, nhẫn nhục, cố gắng “nín thở qua sông” chờ ngày về xum họp với con cháu.
Nhưng nếu chỉ có thế cũng chẳng có gì đáng trách, đàng này một số ông thiếu úy già giữ chức khối trưởng, tổ trưởng ở Trảng Lớn đã ra sức lấy điểm cách mạng và đì đám cải tạo tối đa.
Ở Trảng Lớn vào thời gian này hầu như không có lao động nặng, cho nên “đì” ở đây chỉ là bắt ra vườn nhổ cỏ tưới rau đúng giờ giấc, lao động tích cực (!) và – quan trọng hơn – bị kiểm điểm trong các buổi họp tổ mỗi tối về hành động, lời ăn tiếng nói.
Tổ của tôi chỉ có một mình tôi cấp bậc trung úy, còn lại toàn là thiếu úy, tất cả đều còn trẻ trừ ông tổ trưởng, Thiếu úy T, đã có cháu nội cháu ngoại, được xem là người bị ghét thứ nhì trong khối, chỉ sau ông thiếu úy già khối trưởng!
Tới mức một tay thiếu úy trẻ trong tổ đã hăm dọa khi nào được thả sẽ tìm tới tận nhà ông Thiếu úy T để “hỏi thăm sức khỏe”.
Về phần tôi, chẳng phải tôi ngon lành hơn ai, mà có lẽ do cái “máu Phú Quốc”, trong các buổi họp tổ tôi đã thẳng thừng phê bình ông tổ trưởng về cung cách, thái độ đối với anh em trong tổ.
Để thủ thân, và cũng vì đôi khi có cán bộ quản giáo đứng phía sau theo dõi diễn tiến buổi họp, tôi thường sử dụng tối đa “từ cách mạng”, mở miệng ra là ca tụng chính sách khoan hồng nhân đạo của Đảng và nhà nước, quyết tâm học tập tiến bộ để trở thành người công dân lương thiện, góp phần xây dựng đất nước…, nhưng tất cả những gì tôi trình bày đều có mục đích quy kết ông thiếu úy tổ trưởng vào các “tội” quan liêu hống hách, trù dập, khủng bố tinh thần, khiến anh em hoang mang, không tin tưởng vào đường lối chính sách của cách mạng, và nhất là luôn luôn lo sợ bị tổ trưởng, khối trưởng báo cáo những tiêu cực của mình trong quá trình học tập cải tạo…
Mười lần như một, tôi đều mượn “lời vàng ngọc” của quản giáo để đi tới kết luận “các cải tạo viên phải giúp đỡ lẫn nhau cùng học tập tiến bộ chứ không chỉ tiến bộ một mình”!
Thành thật mà nói, khi tấn công Thiếu úy T, tôi cũng không được “lương thiện” cho lắm, mà có lúc cưỡng từ đoạt lý, có lúc cố tình chụp mũ, không ngoài mục đích hạ ông tổ trưởng.
Kết quả tốt đẹp không ngờ!… Bị cô lập, Thiếu úy T dần dần cảm thấy thấm và thay đổi quá sự mong đợi của mọi người. Ông không chỉ ngưng đì anh em mà còn trở nên hòa nhã, hiền lành, và – khó tin nhưng có thật – ông tìm cách thân thiện, gần gũi với tôi.
Dĩ nhiên, tôi cũng chẳng hẹp hòi gì, và cuối cùng tôi trở thành… tri kỷ để nghe ông tâm sự: đường đời, binh nghiệp, chuyện gia đình, đủ thứ chuyện, và thường được ông ưu ái mời vấn một điếu thuốc rê sau bữa cơm chiều… Một ngày nọ, ông nói với tôi:
– Tao thề với mày, tao chưa hề báo cáo một thằng nào trong tổ cả!
Tôi tin lời ông, và cảm thấy hơi ân hận vì trước đây đã “chơi” ông quá đáng. Qua kinh nghiệm này, từ đó về sau, tôi đã phải cẩn trọng, đắn đo hơn trong việc quy kết người này người kia làm tay sai, làm ăng-ten để hại anh em bạn tù. Bởi rất có thể họ xun xoe lấy điểm đám cán bộ chỉ vì chết nhát và an phận chứ không đến nỗi phản bội, đâm sau lưng anh em!
“Sáu Lèo về làng”
Tới đây xin viết về biểu hiệu “Sáu Lèo”.
Mọi sự bắt đầu từ cây đàn ghi-ta đóng ở Thành Ông Năm mà tôi đem về từ Phú Quốc. Vào thời điểm chúng tôi về Trảng Lớn, anh em tù cải tạo ở đây đã có thì giờ và phương tiện đóng những cây đàn ghi-ta gần giống như đàn thật, thùng đàn cũng có eo hình số 8, mặt đàn bằng ván ép đánh vẹc-ni, bộ khóa lên dây đàn bằng kim loại và dây đàn o-ri-gin do thân nhân gửi vào…
Vì thế, họ đặt cho cây đàn thô lậu, thùng đàn hình quan tài của tôi một cái tên vừa mỉa mai vừa khôi hài nhưng khá chính xác: cây đàn Tô-bia. “Tobia” nguyên là tên một nhà hòm nổi tiếng ở Sài Gòn trước năm 1975.
Nhưng cũng nhờ cây đàn Tô-bia mà tôi có cơ hội quan hệ với đám “văn nghệ sĩ” trong khối, và sau này nó đã trở nên đắc dụng khi trở thành cây đàn bass (bass guitar) của ban nhạc.
Số là Hoàng, một tay thiếu úy trước kia chơi bass trong một ban nhạc trẻ, đã khám phá ra ưu điểm cộng hưởng (acoustic resonance) của cây đàn Tô-bia và đề nghị tôi trao cho hắn sử dụng làm đàn bass.
Thời gian này, ít nhất cũng là ở Trảng Lớn, tù cải tạo chưa ai dám chơi nhạc vàng mà thường chỉ hòa tấu một vài bản “nhạc cách mạng” để che mắt quản giáo, còn phần lớn là chơi nhạc ngoại quốc không lời, trong đó có hai bản của “các nước xã hội chủ nghĩa anh em” là Guantanamera (tôi đã viết trong một kỳ trước) và Tình Ca Du Mục. (xem Phụ Lục)

* * *


Khoảng hai tháng sau ngày tù cải tạo Phú Quốc về Trảng Lớn, sự nghi kỵ, chia rẽ giữa dân Phú Quốc và dân Trảng Lớn đã giảm bớt khá nhiều. Riêng tôi còn có điểm với ông thiếu úy già khối trưởng nhờ mấy bài thơ con cóc ca tụng cách mạng được đưa lên “báo tường” của khối, cũng là tờ báo tường duy nhất của cả T.
Tôi biết ngày ấy có khá nhiều anh em tù cải tạo bất mãn vì cho rằng tôi là một thằng lấy điểm cách mạng; thậm chí gần 10 năm sau ở Úc, vẫn còn một anh bạn tù Trảng Lớn gốc Võ Bị Đà Lạt nghĩ như thế!
Thực ra, thâm ý của tôi khi đề cao những thành tích ba xạo (du kích dùng cung nỏ bắn rớt trực thăng…), những chuyện tề thiên (MiG đậu trên mây phục kích B-52…), những khoa trương lố bịch… qua những bài thơ con cóc tận dụng tối đa “từ cách mạng” ấy là để khôi hài, mỉa mai, châm biếm.
Tuy nhiên, trong khi hết lời ca tụng “cách mạng”, ra sức đả phá “đế quốc Mỹ”, tôi cũng tự đặt ra cho mình một giới hạn: không bao giờ nhục mạ “phe ta”, hoặc sử dụng mấy chữ “ngụy quân, ngụy quyền”!
Chính nhờ tài thơ văn (tạm gọi như thế), tôi được ông thiếu úy khối trưởng giao trách nhiệm thực hiện một vài tiết mục văn nghệ để tham gia cuộc thi đua mừng lễ “quốc khánh 2 tháng 9”.
Sau khi hội ý với nhau, anh em trong ban văn nghệ quyết định sẽ trình diễn hai tiết mục: một màn vũ và một vở kịch ngắn. Màn vũ do Th, một chàng thiếu úy CTCT tài hoa, “chủ bút” tờ báo tường của khối, đảm trách, còn vở kịch ngắn do tôi thực hiện.
Màn vũ do bốn “nữ vũ công” biểu diễn với nhạc nền là một ca khúc cách mạng. Để tạo sự bất ngờ cho khán giả, kể cả anh em trong khối, tiết mục này đã được giữ bí mật tối đa.
Còn vở kịch ngắn của tôi có tựa đề “Sáu Lèo về làng” do tôi thủ vai chính, nội dung kể về nhân vật Sáu Lèo, một tay thiếu úy đi cải tạo được thả về, bị dân quân xã bắt giữ vì nghi ngờ trốn trại, sau khi chứng minh mình đã học tập tiến bộ và được trả quyền công dân, đã được cả thôn đón mừng, trong đó có cô thôn nữ đã đợi chờ chàng từ bao năm…
Cốt truyện tầm thường, tẻ nhạt ấy được tôi thể hiện dưới hình thức hài kịch qua những màn đối thoại sặc mùi tuyên truyền khẩu hiệu, sử dụng từ cách mạng tối đa, và cường điệu tới mức phi lý, chẳng hạn cảnh ông bố vợ tương lai quê mùa, thất học lại có khả năng chất vấn Sáu Lèo về 10 bài học chính trị, ăn nói lưu loát còn hơn đám giáo viên thứ thiệt, hoặc cảnh bà mẹ của Sáu Lèo đòi nắn “chim” của thằng con trai độc nhất xem nó có bị “teo” (vì bị cách mạng cho uống thuốc teo) như tin đồn thất thiệt hay không…
Gần tới ngày trình diễn, tôi và Th quyết định gộp màn vũ và vở kịch thành một tiết mục duy nhất.
Buổi tối 1 tháng 9, 1976, dãy nhà của khối chúng tôi – vốn là dãy nhà rộng lớn nhất và có ba mặt sân – được gỡ bớt sạp ngủ lấy để chỗ dựng một sân khấu dã chiến và xếp một hàng ghế cho tay thủ trưởng và đám cán bộ quản giáo ngồi; các tấm vách, nếu có, đều được tháo gỡ để “khán giả” có thể theo dõi từ ngoài sân.
Tôi còn nhớ màn trình diễn của khối tôi là tiết mục thứ nhì; và đã được đại đa số khán giả tiên đoán sẽ đoạt giải nhất, mặc dù còn tới hai khối chưa trình diễn!
Ngay sau khi “mở màn”, khán giả đã vô cùng thích thú với màn vũ hấp dẫn của bốn cô “thôn nữ”!

Chính tôi cũng phải ngạc nhiên và phục anh bạn trẻ Th sát đất. Chẳng hiểu bằng cách nào đó, chỉ với bốn cái nón lá, Th đã biến bốn đực rựa thành bốn cô gái sexy – ngực tấn công mông phòng thủ – ưỡn ẹo một cách đầy khiêu khích, khiến đám khán giả tù cải tạo huýt gió um sùm!
Rồi tới màn đối đáp giữa Sáu Lèo và ông nhạc tương lai. Trong khi ông lão nông dân quê mùa ấy thao thao bất tuyệt về đường lối chính sách của cách mạng, về cuộc sống hạnh phúc ấm no dưới chế độ mới, “nhà nào cũng có đài, đổng, đạp…”, về viễn ảnh tươi sáng “mỗi nhà sẽ làm chủ một chiếc ô-tô như lời đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn đã tuyên bố”…, thì gã Sáu Lèo lại (cố tình) ấp a ấp úng, sử dụng từ cách mạng trật duột, tạo ra một sự tương phản nực cười…
Vừa làm trò hề diễu cợt cách mạng trên sân khấu, tôi vừa liếc mắt xuống quan sát, thấy đám cán bộ quản giáo cũng cười thoải mái, riêng viên Thượng úy thủ trưởng ra vẻ nghiêm chỉnh hơn, thỉnh thoảng mới nhếch mép.
Về phần ông thiếu úy già khối trưởng, thấy màn kịch được khán giả hoan hô nồng nhiệt, đã tin chắc màn thi đua của khối mình sẽ đoạt giải.
Ngày hôm sau, 2 tháng 9, trại mổ heo mừng ngày lễ lớn, mỗi khối được phân phối vài ký thịt để tù cải tạo ăn lấy hương lấy hoa. Ông khối trưởng dẫn các “anh nuôi” (tổ nhà bếp) đi mổ heo và lãnh thịt, khi trở về mặt mày không lấy gì làm hồ hởi phấn khởi cho lắm, hỏi ra mới biết “giải văn nghệ 2 tháng 9” đã về tay khối khác!
Mấy bữa sau, khi đi giao ban về (giao ban: gặp cán bộ để báo cáo và nhận chỉ thị), ông khối trưởng kể với tôi rằng trong lúc chỉ có hai người với nhau, ông nêu thắc mắc với Thiếu úy Mai, cán bộ quản giáo của khối, tại sao màn trình diễn của khối mình được hoan hô nhiều nhất mà lại không đọat giải, viên quản giáo trả lời:
– Các anh xỏ xiên châm biếm cách mạng, thủ trưởng chưa hỏi tội là còn may cho các anh đấy!
Dĩ nhiên, trong bụng thì khoái chí cười thầm nhưng ngoài miệng tôi ra sức phủ nhận cáo buộc này, nói với ông khối trưởng rằng chắc có tay nào ở khối khác “thoọc” đây!
Miệng thì nói thế nhưng trong lòng tôi cũng hơi lo, chuẩn bị tinh thần để nếu bị ban chỉ huy trại gọi lên “làm việc” thì đã có sẵn bài bản để chống đỡ.
Bài bản ấy tôi đã sử dụng một lần ở Phú Quốc và tỏ ra rất hiệu quả!

* * *


Ngày ấy, trong một buổi công tác sản xuất, làm cỏ đám rẫy trồng bắp phía sau dãy nhà của ban chỉ huy trại, tới giờ giải lao, Thiếu úy Tuấn, một trong những cán bộ quản giáo của khu trung úy thiếu úy, tới gần và nói nho nhỏ đủ để một mình tôi nghe: anh ta yêu cầu tôi vào lúc 3 giờ chiều ra ban chỉ huy trại để “làm việc” với cán bộ.
Tôi biết ngay có chuyện chẳng lành. Bởi vì một tù cải tạo mà được gọi lên “làm việc” thì một là được lọt vào mắt xanh của cán bộ trại để giao nhiệm vụ theo dõi, báo cáo những anh em “kém tiến bộ”, gọi nôm na là làm “ăng-ten”, hai là bản thân người đó bị ăng-ten báo cáo, nay bị kêu lên “kiểm điểm”.
Ngay từ ngày còn ở Thành Ông Năm tôi đã có tiếng là hay phát ngôn bừa bãi, châm biếm cách mạng, mà nếu tới tai cán bộ có thể bị gán cho cái mác “phản động”. Không biết bao lần Trần Ngọc Tự đã khuyên tôi thế này thế khác, nhưng tôi vẫn chứng nào tật nấy. Nay bị gọi lên “làm việc” thì chắc chắn là để bị kiểm điểm chứ không phải được lọt vào mắt xanh của cán bộ!
Quả thật không sai! Buổi chiều hôm ấy tại ban chỉ huy trại, tôi đã bị tay Thiếu úy Tuấn phủ đầu bằng cách kể ra một lô tội, nào là “xuyên tạc đường lối chính sách của đảng và nhà nước, nói xấu chế độ”, nào là “đã không chịu ăn năn hối cải còn tuyên truyền, xúi dục, khích động người khác chống lại cách mạng …”, rồi anh ta kết luận với một giọng đầy hăm dọa:
“Trước kia các anh có cả triệu quân, có đế quốc Mỹ đứng sau lưng mà vẫn thua cách mạng, giờ này không hiểu các anh còn mơ tưởng cái gì… Sĩ quan chiến tranh chính trị các anh là công cụ tuyên truyền của Mỹ Ngụy, đầu óc các anh đã bị chúng nhồi nhét tư tưởng phản động, khổng thể một sớm một chiều gột rửa, nhưng Đảng và nhà nước luôn luôn kiên trì, sẽ tiếp tục cải tạo các anh…, 5 năm, 10 năm, 15 năm…, cho tới khi nào các anh giác ngộ cách mạng, không còn tư tưởng chống đối nữa mới thôi…”
Nghe viên quản giáo hài tội, tôi biết có chối cũng vô ích, bèn nhìn nhận tất cả, nhưng thay vì xuất phát từ đầu óc phản động, tôi đổ tội cho bản tính khôi hài diễu cợt của mình. Để có thêm sức thuyết phục, tôi còn kể ra những vụ “rắc rối” với các cấp chỉ huy của tôi trong quân đội trước năm 1975, cũng chỉ vì cái tật châm biếm, phát ngôn bừa bãi của mình…
Chính vì tôi không chối cãi quanh co mà “nhận tội” cái một, viên thiếu úy quản giáo có vẻ hơi cụt hứng; anh ta cảnh cáo tôi thêm vài câu nữa rồi bắt viết tờ kiểm điểm, cam kết “không phát ngôn linh tinh, nghiêm chỉnh chấp hành nội quy trại, cố gắng học tập cải tạo, lao động tốt để trở thành người tiến bộ”, nếu tái phạm sẽ chịu mọi biện pháp kỷ luật…
Trở lại trại cải tạo Trảng Lớn, sau một tuần chờ đợi mà không thấy quản giáo gọi lên “làm việc”, tôi biết mình đã thoát nạn. Và để đề phòng việc bị ăng-ten báo cáo, tôi tự nhủ từ nay phải cố gắng giữ mồm giữ miệng.
Nhưng những anh em quen biết đâu có thấu hiểu sự tình, trong khi tôi cố tránh nhắc lại vở kịch “Sáu Lèo về làng” thì họ hầu như đã quên hẳn cái tên cúng cơm của tôi để chỉ còn gọi là “Sáu Lèo”, riêng đám thiếu úy trẻ thì cứ một điều “anh Sáu”, hai điều “anh Sáu”!
Sau này khi cả tôi và Trần Ngọc Tự đã ra tù, tôi càng thấy mình may mắn hơn khi được biết ngày ấy, ông bạn quý hóa của tôi sau khi về Long Giao đã bị đưa ra bắc cũng chỉ vì cái tội xỏ xiên cách mạng trong chương trình văn nghệ “mừng xuân thống nhất” vào dịp Tết năm đó.

* * *


Gần cuối năm 1976, tù cải tạo ở Trảng Lớn được thăm nuôi lần đầu tiên. Tôi được mẹ và bà xã lên thăm.
Lúc này đám tù Phú Quốc chúng tôi sau mấy tháng được “bồi dưỡng” (dù chỉ là ăn độn rau) và không phải lao động khổ sai, đã phương phi béo tốt trắng trẻo hẳn ra; có lần đám anh nuôi đem cái cân gạo về khối, tôi đu lên để cân thử thì thấy cũng được khoảng 53, 54 ký, tương đương với trước năm 1975!
Thực ra cái “béo tốt” nhờ ăn độn rau chỉ là “phồn vinh giả tạo”, “người khổng lồ chân đất sét” (từ của CSVN), nhưng đa số thân nhân lên thăm nuôi đâu có biết điều đó.
Thấy mẹ tôi tươi cười nắn nắn cánh tay của tôi vì thấy thằng trưởng nam cũng có da có thịt chứ không đến nỗi nào, tay Thiếu úy Mai đang đi tới đi lui trong phòng thăm nuôi liền dừng lại, hỏi mẹ tôi với giọng cởi mở:
– Sao, bác thấy cách mạng nuôi anh ấy thế nào?
– Cám ơn các anh, trông nó khỏe mạnh như vầy tôi cũng yên tâm. Chỉ mong sao nó sớm được về lo làm ăn nuôi vợ con…
– Bác cứ yên chí, khi nào anh ấy học tập tiến bộ thì cách mạng sẽ cho về thôi… Nói cho ngay thì anh Thiện đây các mặt đều tốt cả, chỉ phải cái tội lúc nào cũng đeo kính và hay châm biếm cách mạng thôi!
Sau đó, tay quản giáo còn ân cần hỏi chuyện mẹ tôi và vợ tôi về công việc làm ăn sinh sống một hồi rồi mới bỏ đi.
Nhận tiện cũng xin viết đôi dòng về sự dị ứng của đám cộng sản Bắc Việt trước những người tù cải tạo đeo kính cận thị. Có lẽ bọn họ cho rằng đeo kính là biểu hiện của giai cấp trí thức tiểu tư sản – giai cấp mà họ thường cay cú miệt thị “trí thức như các anh mà không giác ngộ cách mạng thì không giá trị bằng cục phân!”
Vì thế, để tránh bị nghe bọn họ xỉa xói, mỗi khi đi lao động, ra tới nơi chúng tôi thường cất cặp mắt kính vào trong túi áo để được yên thân.
Về thái độ tử tế của viên Thiếu úy Mai, dĩ nhiên phải có nguyên nhân của nó.
Nguyên anh ta là một người vừa đầu có sạn vừa có khả năng tiếp thu nhanh, nói nôm na là láu cá. Chỉ một thời gian ngắn sau khi cấp trung úy thiếu úy bị đi học tập cải tạo, anh ta đã biết cách mánh mung, làm tiền các gia đình có chồng con bị nhốt ở Trảng Lớn với những lời hứa hẹn hão huyền.
Sau khi tỏ thái độ cởi mở thân thiện với gia đình tôi, anh ta chỉ bỏ đi sau khi biết mẹ tôi ở tận Trảng Bom còn vợ tôi thì buôn bán ngoài chợ trời, ăn nhờ ở đậu bà ngoại ở Sài Gòn, không biết bị bắt đi kinh tế mới lúc nào, thì vàng bạc đâu mà đút lót chạy chọt!
[Mấy năm sau, khi đã về Suối Máu, tôi được một bạn tù gốc Trảng Lớn cho biết Thiếu úy Mai đã bị bắt sau khi các vụ anh ta lấy vàng của gia đình cải tạo (với lời hứa lo cho về sớm!) bị đổ bể]
Sau khi Thiếu úy Mai bỏ đi, mẹ tôi nhìn tôi cười tủm tỉm:
– Làm sao mà anh ta lại bảo là “cậu cả” châm biếm cách mạng?
Mẹ tôi chỉ hỏi cho có, chứ bà đi guốc trong bụng tôi. Thành thử tôi cũng chỉ tủm tỉm cười chứ không trả lời.
[Khi nào có dịp, tôi sẽ viết về mẹ tôi, một phụ nữ không được ăn học nhiều nhưng lập trường quốc gia và thành tích chống cộng vượt xa gã trưởng nam trung úy CTCT của bà]

* * *


Nếu không kể một hai tháng đầu bị anh em Trảng Lớn “kỳ thị”, với riêng tôi, thời gian nửa năm ở đây phải được xem là “những ngày nghỉ mát” trong cuộc đời cải tạo.
Nhưng bên cạnh đó, thời gian ở Trảng Lớn cũng để lại hai kỷ niệm buồn: hai người bạn trẻ của tôi, một bị cưa chân một về bên kia thế giới.
Người bị cưa chân là Sơn, một thiếu úy trẻ cùng đơn vị Bộ Chỉ Huy Kỹ Thuật & Tiếp Vận Không Quân (Biên hòa). Trước năm 1975 tôi không biết Sơn vì có tới cả trăm sĩ quan các cấp trong một đại đơn vị tương đương cấp Sư Đoàn, nhưng Sơn thì biết tôi bởi tôi là một trong hai sĩ quan có nhiệm vụ thuyết trình trong các buổi học tập CTCT.
Sơn gốc Nam kỳ, vui vẻ, lanh lẹ, hoạt bát, ở Trảng Lớn từ đầu mùa, thích chơi bóng chuyền chứ không đàn địch cho nên không ở trong nhóm bạn thân của tôi; tuy nhiên, vì là hai tù cải tạo duy nhất trong khối trước kia ở cùng đơn vị, chúng tôi thường trò truyện, hỏi han nhau, nhắc nhớ những kỷ niệm xưa…
Khoảng hơn một tháng sau khi tù cải tạo Phú Quốc được đưa về Trảng Lớn, trong một lần đi lao động hiếm hoi, tổ của Sơn được phân công cắt tranh ngoài vòng đai căn cứ. Mới khoảng 11 giờ, toán cắt tranh đã về trại, khá sớm hơn thường lệ.
Nghe tiếng anh em xôn xao, tôi tiến lại nghe thì được biết trong lúc cắt tranh, Sơn đạp trúng mìn, bị thương và được anh em khiêng tới bệnh xá.
Kinh nghiệm ở Phú Quốc cho tôi biết Sơn đạp phải mìn cóc, chứ nếu đạp phải “ba râu” thì đã tan xác rồi!
Như vậy chắc chắn Sơn sẽ bị cưa chân phía trên mắt cá. Nghĩ tới cảnh Sơn trở về trên đôi nạng gỗ, lòng tôi chùng xuống. Tôi và một vài anh em cùng tổ với Sơn xin lên bệnh xá thăm nhưng không được phép.
Cùng khoảng thời gian, An Đình Phương, chàng thiếu úy trẻ ở cùng tổ với tôi ở Thành Ông Năm trước đây, cùng ra Phú Quốc rồi về Trảng Lớn, đã kiệt lực, đi đứng phải vịn cột, hầu như không ăn uống gì nữa, nên được ban chỉ huy trại cho khiêng lên bệnh xá.
Trước khi Phương được đưa đi, tôi tiến tới bên cạnh cầm tay anh nói mấy lời khích lệ, nhưng Phương không còn đủ sức để trả lời, chỉ ngước mắt nhìn tôi – cái nhìn xa vắng lạ thường khiến tôi liên tưởng tới những điều tệ hại nhất.
Thật vậy, đó là lần cuối cùng chúng tôi nhìn thấy nhau bởi chỉ khoảng hai tuần sau, An Đình Phương đã vĩnh viễn ra đi tại bệnh xá.
Theo “tiêu chuẩn” quy định, tù cải tạo chết sẽ được bó chiếu chôn chứ không có hòm, nhưng vì anh em trong khối ra sức năn nỉ và cũng vì thời gian này tay Thiếu úy Mai đang tìm cách “thân thiện có ý đồ” với tù cải tạo trong khối, nên anh em trong tổ mộc được phép tự kiếm vật liệu để đóng một cái hòm cho An Đình Phương.
Nhưng kiếm đâu ra vật liệu? Cuối cùng anh em quyết định gỡ mấy miếng gỗ tương đối lành lặn nhất trên sạp ngủ. Kết quả, An Đình Phương cũng có được một cái hòm, cho dù vá víu và lũng nhiều lỗ thì cũng được tiếng là chết chôn có hòm chứ không phải chôn bó chiếu!
Nguyễn ĐS, trung úy Nha Quân Pháp cùng tổ với tôi và An Đình Phương ở Thành Ông Năm trước đây, là một trong những anh em được lên bệnh xá đưa Phương đi chôn.
Theo lời kể lại của Nguyễn ĐS, trước khi Phương được bỏ vào hòm, tay Thiếu úy Mai nói anh em tháo gỡ tư trang vàng bạc trên người chết để lập biên bản sau này giao lại cho gia đình, anh em đã chỉ gỡ cái đồng hồ đeo tay và sợi dây chuyền trên cổ, còn cái nhẫn cưới thì để Phương mang theo xuống mồ.

* * *


Khoảng một tháng sau, Sơn được đưa về khối. Tôi không dám ra sân đón Sơn bởi tôi sợ phải đối diện với hình ảnh “người về nay đã cụt chân” và cũng vì không biết phải nói gì với Sơn.
Đợi anh em dãn bớt, tôi mới tới chỗ Sơn nằm và giật mình khựng lại khi thấy anh bị cưa chân ở tận bên trên đầu gối.
Nguyên sau Sơn khi đạp phải mìn và được đưa tới bệnh xá, y sĩ (bộ đội) tiến hành cưa chân ở phía trên mắt cá. Cưa “sống” chứ không có thuốc mê, thuốc tê gì cả!
Trước đây khi còn ở Thành Ông Năm, tôi đã nghe kể một vị đại úy chui rào vượt thoát bị bắn trọng thương, đã được mổ “sống” tại bệnh xá. Có thể vì ở bệnh xá Thành Ông Năm không có thuốc mê, thuốc tê, cũng có thể vì vị đại úy bị bắn trong lúc “trốn trại” cho nên không được đối xử như tù cải tạo bình thường.
Nhưng cưa “sống” thì không ai có thể tưởng tượng nổi. Nghe Sơn kể lại việc anh bị cột cứng vào cái giường sắt để y sĩ cưa chân, tôi rùng mình!
Nhưng Sơn không chỉ bị cưa một lần!…
Cưa xong, vì không có trụ sinh, vết thương làm độc, cuối cùng lại phải cưa lần thứ hai, bên trên đầu gối; và lần này nếu lại bị làm độc nữa thì… theo ông bà! Cũng may, Sơn chưa tới số!
Nghe Sơn kể lại những diễn tiến kinh hoàng ấy một cách bình thản, tôi phục anh vô cùng.
Càng cảm phục hơn khi sau đó anh đã hòa nhập trở lại cuộc sống thường nhật trong khối, không một chút mặc cảm, không một lời oán trách số phận, chưa kể nhiều khi còn đem cái chân cụt của mình ra làm đề tài khôi hài!
Thực ra, ngay sau khi bị cưa chân, Sơn đã không muốn sống nữa, nhưng nhớ tới vợ con, anh quyết định phải sống, cho dù sống thừa, để mong có ngày được nhìn lại những người thân yêu. Nhưng tới khi bình phục, anh lại không chấp nhận sống thừa, mà thách thức số phận, ngẩng đầu ngạo nghễ với cao xanh…
Những diễn tiến lạc quan ấy đã khiến tôi được an ủi rất nhiều, và cảm thấy hoàn toàn yên tâm khi chúng tôi chia tay nhau vào cuối năm.
Để rồi trong những năm tháng cải tạo tiếp theo đó, mỗi khi đau khổ, tuyệt vọng, kể cả cái lần tử thần đã lảng vảng bên cạnh giường ở Sông Bé, tôi lại nhớ tới tấm gương phấn đấu của Sơn để có thêm sức mạnh.


PHỤ LỤC:
Tình Ca Du Mục

Tình Ca Du Mục là tựa đề phiên bản lời Việt của ca khúc Dorogoj Dlinnoyu (Con đường dài hun hút) của Nga. Trước khi ca khúc này trở nên nổi tiếng quốc tế vào năm 1968 qua phiên bản lời Anh Those Were The Days, đa số người cầm bút lẫn người thưởng thức đều cho đây là một bài hát dân gian Nga của một tác giả khuyết danh. Chỉ sau khi bức màn sắt được hé mở, các nhạc sử gia mới chứng minh được đây là một sáng tác của nhạc sĩ Boris Fomin với lời hát của thi sĩ Konstantin Podrevskii.
Có thể so sánh Boris Fomin (1900–1948) với Văn Cao của VN, có khác chăng là đoạn kết của nhà nhạc sĩ Nga bi thảm hơn nhiều: sau khi bị Đảng gạt sang bên lề, bạn bè xa lánh, Boris Fomin sống trong cô đơn đói khổ, và chết vì bệnh lao phổi vào tuổi 48!
Dorogoj Dlinnoyu được Boris Fomin viết vào khoảng năm 1917, 1918, với lời hát do chính ông đặt, nội dung nuối tiếc những ngày tháng cũ. Bản này được ông đề tặng cô bạn học Mania Nebolsina, sau trở thành người bạn đời của ông…
Nếu không kể lời hát mà chỉ xét về phần nhạc, Dorogoj Dlinnoyu có giai điệu và nhịp nhảy tương tự một vũ điệu hoang dại của dân du mục (gypsy) sống ở Nga.
Tới năm 1924, thi sĩ Konstantin Podrevskyi (1888-1930) đã dựa vào ý tưởng trong nguyên tác của Boris Fomin để đặt lời hát mới, phong phú và có giá trị văn chương cao hơn, cũng là lời hát được sử dụng hiện nay. Lời hát (mới) của Dorogoj Dlinnoyu diễn tả nỗi tiếc nhớ tuổi thanh xuân của một người khi nhìn về quá khứ.
Năm 1925, Dorogoj Dlinnoyu được thu đĩa lần đầu tiên, và sau đó theo đoàn lưu dân (những người chạy trốn chế độ cộng sản) ra nước ngoài. Với những con người phải biệt xứ ấy, lời hát của ca khúc hoài niệm quá khứ tươi đẹp này càng thêm thấm thía.
Trong khi đó tại Liên Xô, trong “cuộc đại khủng bố văn hóa” năm 1929, Dorogoj Dlinnoyu cùng một loạt bài tình ca của Boris Fomin đã bị cấm vì bị liệt vào hàng tác phẩm “phản cách mạng”!
Riêng thi sĩ Konstantin Podrevskyi, tác giả lời hát, thì ngoài việc toàn bộ các tác phẩm thi, văn, dịch thuật của ông bị cấm, còn bị khép vào tội trốn thuế, gia sản bị tịch thu; ông bị khủng hoảng tinh thần và chết vì trầm cảm vào tháng 2-1930.
Về phần Boris Fomin, tới khi xảy ra cuộc “chiến tranh vệ quốc” (Đệ Nhị Thế Chiến), đã được chế độ cộng sản “trọng dụng” để sáng tác những vở ca nhạc kịnh “yêu nước”, nhưng Dorogoj Dlinnoyu thì vẫn bị cấm hát. Vì thế, theo thời gian, ca khúc này cùng với tên tuổi tác giả đã chìm vào quên lãng.
[Sau khi Đệ Nhị Thế Chiến kết thúc, Boris Fomin bị thất sủng và qua đời năm 1948]
Trong khi tại hải ngoại, người Nga lưu vong cũng chẳng mấy ai biết, hoặc nhớ tên tác giả, cho nên về sau hầu như mọi người đều tin rằng Dorogoj Dlinnoyu là một ca khúc dân gian Nga của một tác giả khuyết danh.
Thời gian dần trôi, gần nửa thế kỷ sau, năm 1968, Dorogoj Dlinnoyu bỗng vụt nổi tiếng quốc tế, với lời hát bằng tiếng Anh, có tựa đề Those Were The Days, qua sự trình bày của nữ ca sĩ Tô-cách-lan Mary Hopkin.
Tác giả lời Anh Those Were The Days là nam ca nhạc sĩ du ca Eugene Raskin (1909-2004).
Eugene Raskin, thường được người Mỹ gọi tắt là “Gene Raskin”, có nguồn gốc di dân Nga, ra chào đời tại Nữu Ước. Ông tốt nghiệp ngành kiến trúc tại Đại học Columbia University rồi giảng dạy bán thời tại trường này trong suốt 40 năm (1936-1976). Song song, ông còn là một thi sĩ, văn sĩ, kịch tác gia, và ca nhạc sĩ du ca.
Sau khi được nghe bản Dorogoj Dlinnoyu lần đầu tiên vào cuối thập niên 1950 trong cuốn phim Anh em nhà Karamazov (The Brothers Karamazov) do hãng MGM của Mỹ thực hiện, Gene Raskin đã có ý định gửi gấm tâm tình của mình vào dòng nhạc.
Nguyên từ ngày còn là sinh viên, Gene Raskin thường lui tới quán rượu White Horse ở khu Greenwich Village, một địa danh có thể so sánh với “con đường Duy Tân, cây dài bóng mát” của Sài Gòn trước năm 1975.
Trong suốt 3, 4 chục năm lui tới quán này, Gene Raskin đã chứng kiến bao thế hệ sinh viên đến rồi đi, bỏ lại sau lưng biết bao kỷ niệm, để rồi một ngày nào đó có dịp trở lại chốn xưa, bỗng thấy quá khứ hiện về, nhìn lại mình: tuổi đời chồng chất bao nhọc nhằn, đắng cay mà tâm hồn thì vẫn ngây dại. Bởi trong tim, khát vọng của tuổi thanh xuân, ước mơ của một thời hoa mộng, vẫn mãi mãi còn đó.
Gene Raskin viết lời hát của Those Were The Days vào năm 1962, và cùng cô vợ Francesca thu đĩa; tuy nhiên vì “Gene & Francesca” chỉ là một đôi song ca tài tử cho nên Those Were The Days cũng chỉ được biết tới trong khuôn viên đại học và giới hát du ca ở Mỹ.
Phải đợi tới năm 1968, sau khi được Mary Hopkin, một “mầm non” gốc Tô-cách-lan do Paul McCartney (của ban The Beatles) khám phá, thu đĩa, Those Were The Days mới thực sự nổi tiếng quốc tế và làm mưa gió trên các bảng xếp hạng khắp năm châu.


Those Were The Days
(1)
Once upon a time there was a tavern
Where we used to raise a glass or two
Remember how we laughed away the hours
And dreamed of all the great things we would do
REFRAIN:
Those were the days my friend
We thought they’d never end
We’d sing and dance forever and a day
We’d live the life we choose
We’d fight and never lose
For we were young and sure to have our way.
La la la la…

(2)
Then the busy years went rushing by us
We lost our starry notions on the way
If by chance I’d see you in the tavern
We’d smile at one another and we’d say

REFRAIN:
Those were the days my friend
We thought they’d never end
We’d sing and dance forever and a day
We’d live the life we choose
We’d fight and never lose
Those were the days, oh yes those were the days
La la la la…

(3)
Just tonight I stood before the tavern
Nothing seemed the way it used to be
In the glass I saw a strange reflection
Was that lonely woman really me

REFRAIN:
Those were the days my friend
We thought they’d never end
We’d sing and dance forever and a day
We’d live the life we choose
We’d fight and never lose
Those were the days, oh yes those were the days
La la la la…

(4)
Through the door there came familiar laughter
I saw your face and heard you call my name
Oh my friend we’re older but no wiser
For in our hearts the dreams are still the same

REFRAIN:
Those were the days my friend
We thought they’d never end
We’d sing and dance forever and a day
We’d live the life we choose
We’d fight and never lose
Those were the days, oh yes those were the days
La la la la…


Chỉ sau khi Those Were The Days trở nên nổi tiếng quốc tế, lệnh cấm Dorogoj Dlinnoyu tại Liên Xô mới được dần dần nới lỏng.
Riêng tại miền nam Việt Nam trước năm 1975, Those Were The Days được giới trẻ yêu nhạc ngoại quốc biết tới qua làn sóng điện các đài phát thanh và đài truyền hình của Quân đội Hoa Kỳ.
Sau năm 1975, khi tất cả mọi ca khúc của miền Nam cũng như của các nước tư bản, không cần biết có lời hát bằng tiếng Việt hay tiếng ngoại quốc, bị chế độ mới cấm hát, một tác giả (khuyết danh) biết được gốc gác Nga của Those Were The Days, đã đặt lời Việt với tựa đề Tình Ca Du Mục và ghi chú “dân ca Nga” để hợp thức hóa một ca khúc “tư bản phương Tây” do Mary Hopkin thu đĩa vốn đã được giới trẻ miền Nam yêu chuộng từ năm 1968.
Sau đó, trước sự phổ biến của Tình Ca Du Mục , các nhà làm văn hóa ở miền Bắc mới đưa Dorogoj Dlinnoyu vào danh sách những ca khúc nổi tiếng của Nga (hiện đang đứng hạng 10 trong Top 10).

GHI CHÚ: Một số người trong nước tin rằng “tác giả khuyết danh” của Tình Ca Du Mục chính là ca nhạc sĩ du ca Trần Tiến, người đã soạn lời Việt cho ca khúc Pháp Donna Donna của Claude François. Tuy nhiên vì trong danh sách chính thức các ca khúc do ông đặt lời Việt không hề có Dorogoj Dlinnoyu, chúng tôi tạm thời ghi “khuyết danh”.

* Tài liệu tham khảo: Những ca khúc nhạc ngoại quốc lời Việt – HOÀI NAM, t-van.net

Bà Chúa Hòn

vietmessneger.com

Sơn Nam

Kỷ Nguyên xuất bản 1969

Post by Sơn râu 18 May 2025

Chương 1

HÀ TIÊN LÀ TỈNH XA XUÔI NHỨT của miền Nam thời xưa cũng như thời nay nếu ta lấy Huế hoặc Saigon làm tiêu chuẩn. Khác với vùng sình lầy mũi Cà Mau, Hà Tiên có khung cảnh khá ngoạn mục, trong đất liền là đồi núi trùng điệp, ngoài biển là năm bảy chu4c hải đảo lớn nhỏ, Hà Tiên còn là nơi ‘‘ba biên giới’’: Việt Nam, Cao Miên và vượt qua eo biển là đến Thái Lan. Mỗi ngọn đồi, mỗi hải đảo đều có một ông Chúa hay bà Chúa thống trị, khi chết, các ông bà này được tôn thờ trong miếu nhỏ, giống như trường hợp mấy ông Thành Hoàng. Lẽ dĩ nhiên các ông bà đều là người phàm mắt thịt, nhờ mưu mô, nhờ tài kinh doanh mà gây được thế lực với đám dân chúng ở xung quanh. Vài ông bà Chúa nếu còn sống đến năm nay chỉ độ non trăm tuổi, bởi vậy thành tích của họ còn được nhắc nhở tỉ mỉ với bao nhiêu tánh tốt và thói xấu.

Chúng tôi xin thuật lại những giai đoạn gay cấn và thơ mộng nhứt của bà chúa hòn Me, một ngọn đồi nhỏ dính vào đất liền sát mé biển phía Bắc chợ Rạch Giá. Trước kia, bà là con gái một nông dân nghèo tên là Tư Thính, có lẽ họ Huỳnh; Tư Thính cất căn nhà nhỏ ở chân đồi, giữa tư bề rừng rậm. Như đã nói, hòn Me xưa kia là hải đảo, đất phù sa lấn ra biển, nối hòn vào đất liền. Vùng chung quanh hòn quá ẩm thấp chịu ảnh hưởng nước mặn ngoài biển tràn vào nên cây cối mọc xơ rơ. Hằng năm, Tư Thính cày chừng một mẫu ruộng, kiếm chút ít lúa gạo đủ ăn trong gia đình.

Buổi chiều đầu mùa mưa, cảnh vật buồn bã làm sao! Ếch nhái kêu vang bên chòi, trong bóng tối chập chờn, xa lắm qua rặng cây tràm mới thấy vài ánh đèn. Ở trên hòn là đói, khó cày cấy trồng tỉa. Bởi vậy Tư Thính đến tận vùng sình lầy mà chịu đựng muỗi mòng.

– Ngày mai, cho con ra ruộng nghe ba!

Tư Thính day lại. Đứa con gái vừa lên tám tuổi bưng chén cơm đến gần. Chú vuốt tóc con, bùi ngùi thương xót. Mẹ nó mất hồi năm ngoái. Ngày nào cũng, vậy, trước khi ra ruộng, chú bới sẵn chén cơm, gắp khứa cá để trong cái dĩa nhỏ. Khi thức dậy, đứa con ăn cơm một mình rồi ra ngồi ở góc sân, trông ra ruộng. Chú từ chối khéo léo:

– Con ở nhà, ra ruộng nắng lắm.

Nhưng bé Huôi vịn vai chú, nói thật nhanh:

– Ngoài ruộng có cây thị, bóng mát.

Nghe qua, chú Tư Thính giựt mình. Đành rằng đến tám chín tuổi thì đứa bé có chút ít trí khôn, ghi nhớ những gì mà người lớn thường nói nhiều lần. Tại sao bé Huôi biết ở ngoài ruộng có một cây thị, cây ấy to lắm, ở xa nhà, bé Huôi chưa ra tới đó lần nào? Hồi năm ngoái trái thị sai quằn, chú với tay hái năm sáu trái đem về nhà cho bé Huôi, trái thị mầu vàng da láng tỏa ra mùi thơm kỳ diệu mà nhiều người cho rằng có thể quyến rủ ma quỉ hoặc thần thánh.

Chú Tư Thính hơi e ngại:

– Mùa nầy thị chưa có trái. Ra đó, làm sao con ngủ trưa?

Bé Huôi nói rành rọt như người lớn.

– Con đội nón, ngồi dựa vô gốc cây.

Vì không muốn quở mắng vô lý đứa con thân yêu, Tư Thính tìm cách từ chối:

– Bữa nào rảnh, ba cho con ra ruộng. Ngoài đó muỗi mòng, đủ thứ kiến lửa, kiến vàng. Lâu lâu, vài con rắn bò ra…

Bé Huôi cười dòn:

– Con đâu sợ rắn. Ba hứa lâu rồi. Ngày mai, con ra ruộng mới được. Ba không bồng con thì con đi một mình.

Gương mặt bé Huôi lúc bấy giờ trông thật dễ thương, mà cũng dễ sợ. Mắt nó sáng lên, hai tròng mắt đen lánh, hàm răng đều đặn, chói màu trắng ngà.

Tư Thính ngỡ rằng người khuất mặt đã thúc giục bé Huôi nói những câu quá khôn ngoan, dành riêng cho mấy đứa bé ít lắm là mười bốn, mười lăm tuổi. Chú đốt đèn lên. Bé Huôi nghiêm nét mặt, đôi môi ửng đỏ như tô son. Chú Tư Thính nhìn kỹ đứa con gái rồi tự trấn an: “Lớn lên, nó xinh đẹp nhứt làng nầy. Con nít khôn trước tuổi là sự thường”.

Bé Huôi ngáp dài:

– Con muốn đi ngủ, sáng mai con ra ngoài gốc cây thị để coi ba cày ruộng. Ngoài đó vui lắm.

Hôm sau, Tư Thính cố ý thức thật trể. Chú vác cày trên vai, cho đôi trâu đi trước, bé Huôi lững thững theo sau, đến gốc cây thị, nó ngồi xuống. Mặt trời lên cao, chưa chi, chú đã đổ mồ hôi lưng, bao nhiêu ý nghĩ đen tối hồi chiều hôm qua đều tan biến. Chú được yên tâm vì bé Huôi đã dựa lưng vào gốc cây thị. Nó nằm yên, như đã ngủ. Đôi trâu đi tới rồi đi lui, được ba rồi đến bốn, năm, sáu, bảy luống cày.

Trong khi đó, từ dưới hang sâu bên gốc cây thị, một con rắn hổ to tướng bò lên. Rắn quấn mình chung quanh bụng bé Huôi, quấn một vòng, hai vòng, ba vòng rồi đến bốn vòng. Sau rốt, rắn ngẫng cổ lên, cao khỏi đầu bé Huôi.

Rắn quơ đầu, hất mạnh cái nón lá trên đầu con bé rồi nghiêng cổ tới, im lìm.

Đột nhiên Tư Thính giựt mình. Đôi trâu đứng lại, không chịu bước tới. Chú quơ roi quất mạnh:

– Xe! Pháo!

Hai con trâu Xe và Pháo rống lên quậy chân sau xuống bùn. Cả hai day mặt về phía Tư Thính, mắt trợn tròn như giận dữ. Tư Thính hỏi:

– Điên rồi sao chớ? Cái gì?

Nhưng đôi trâu dường như nhìn xéo về gốc cây thị. Tư Thính chợt nhớ tới bé Huôi. Chú trố mắt:

– Trời ơi! Rắn quấn con tôi!

Rồi bỏ đôi trâu, chú cố gắng chạy đến gò đất. Chú lê lết như có sức mạnh nào níu đôi chân trở lại. Bé Huôi vẫn ngồi yên, con rắn hổ quá to, nào kém gì con trăn. Kỳ dị nhứt là cái đầu rắn, cái đầu vươn lên nghiêng tới như cố ý che nắng cho bé Huôi. Vì sợ con rắn nọ siết chặt khiến bé Huôi nghẹt thở hoặc gãy xương ngực, chú đành liều bước đến gần với dụng ý xua đuổi con rắn, nếu cần, chú sẵn sàng chịu chết thay con.

Con rắn nọ day mỏ về phía Tư Thính. Dưới ánh nắng tỏ rõ buổi trưa, chú thấy nó trợn mắt, mớ vảy lấp lánh như hàng trăm miếng kiếng màu xanh đậm.

Nó hạ cái đầu xuống rồi từ từ tháo ra. Trong lúc ấy, Bé Huôi vẫn ngồi xếp bằng, xuôi tay. Khi rắn tháo mình đến vòng chót, Tư Thính chẳng còn kiên nhẫn được nữa. Chú la lớn:

– Con ơi, chạy cho mau!

Nhưng Tư Thính không đủ can đảm và không còn đường nào để chạy. Nhanh như cơn gió lốc, con rắn to tướng nó phóng ngang mặt chú, như để chận đường. Chú té quị xuống bùn rồi lồm cồm đứng dậy, vuốt mặt. Bé Huôi từ từ cựa quậy:

– Ba! Sao ba té?

Chú mừng quýnh vì đứa con thân yêu vẫn mạnh khỏe và tỉnh táo. Để vững bụng hơn, chú hỏi đôi ba lượt:

– Con! Biết ba đây là ai không?

Tay chú véo mạnh vào lưng bé Huôi, miệng nói lia lia:

– Con có đau không? Con thức hay ngủ?

Bé từ từ đứng dậy, đôi môi đỏ thắm hé nụ cười:

– Ba nói, con tức cười quá…

Nhưng Tư Thính cứ tiếp tục mở nút áo đứa con gái, xem kỹ làn da. Bấy lâu chú nghe đồn đãi rằng rắn hổ có hơi độc từ trong miệng phun ra.

Bé Huôi nói:

– Đói bụng rồi, về nhà ba nấu cơm cho con ăn nghe ba.

Lập lức chú cõng đứa bé sau lưng, bước nhanh về căn chòi, hai con trâu rống lên, kéo mạnh cái cày vô chủ.

Mâm cơm dọn ra, chú ăn sơ sài vài miếng rồi tháo ách cho đôi trâu vào chuồng. Con rắn to tướng ấy là điềm lạ, chưa biết lành dữ thế nào. Chú muốn gặp ông đạo Đất ở trong cốc phía Đông hòn Me để nhờ giải đáp.

Bé Huôi lại đòi ngủ. Chú khuyên lơn:

– Con đi xóm với ba, nghe con?

– Con muốn ở nhà.

– Rủi con rắn tới đây thì ai cứu con? Ba cõng trên vai, con cứ ngủ. Phải con ở nhà thì nãy giờ ba cày xong công ruộng rồi. Từ rày về sau, con đừng đòi ra gốc cây thị nữa.

Bé Huôi trả lời:

– Hồi nãy đâu phải con rắn!

Cốc của ông đạo Đất hiện ra. Đó là cái chòi nhỏ bé lợp bằng tranh. Theo chữ nho, cốc là hang đá. Vùng Hòn Me thiếu những hang đá thiên nhiên. Đá xanh mọc nhô ra từng tảng lớn chỉ vừa cho đôi người ngồi núp mưa nắng mà thôi. Mùa mưa đến, nước chảy tuôn tràn, thỉnh thoảng mấy tảng đá sụp xuống, mang theo mấy giề đất sỏi. Mấy ông lên non tầm đạo vì không tìm được cái hang thiên tạo nên cất tạm căn chòi nhỏ bằng cây. Gọi cốc cho có vẻ huyền bí của một đạo sĩ tu tiên.

Ông đạo Đất gây được khá nhiều uy tín nhờ tài trị bịnh. Bất cứ bịnh nhân nào đến, ông cũng hốt cho một mớ đất để làm thuốc: bỏ cục đất trong một cái túi nhỏ, đeo dưới ngực để trị bịnh tà ma, đem cục đất nướng cho dòn rồi tán nhỏ, uống với nước nóng để trị bịnh ăn uống khó tiêu, đau bao tử. Gặp trường hợp trặc chân gãy tay, ông đạo vẫn dùng đất sét mà bó rịt vết thương.

Tư Thính giữ thái độ im lặng kính cẩn khi đến cốc. Ông đạo nằm dài trên nền đất, không trải chiếu đắp mền gì cả. Khi Tư Thính lên tiếng:

– Kinh chào thầy….

Ông đạo vẫn lim dim, hồi lâu mới chịu gật đầu. Bé Huôi nói khá to, phá rối sư yên tĩnh:

– Ở đây buồn quá, ba ơi! Con muốn về nhà.

Ông đạo Đất lồm cồm ngồi dậy, nhìn bé Huôi. Tư Thính bèn lên tiếng như để biện hộ cho đứa con:

– Nó còn nhỏ, thầy tha thứ cho. Mấy ngày rày nó nói bậy bạ, lại xảy ra vài điều lạ. Bởi vậy tôi tới đây nhờ thầy giúp giùm.

Sau khi sờ tay lên trán bé Huôi, ông Đạo nói:

– Cháu nó vui chơi nhưng mà cặp mắt hơi khác thường.

Không đợi Tư Thính trả lời, ông Đạo nói giọng bí mật:

– Chắc là vừa xẩy ra chuyện gì xúc phạm tới…đất!

‘‘Xúc phạm tới đất’’ là lời nói mà ông Đạo thốt ra trước tiên, khi gặp bất cứ bệnh nhân nào. Vì quá tin tưởng nên ai nấy đều nhìn nhận rằng ông nói đúng: đau bụng, trúng thực đều do sự ăn uống, thức ăn vẫn là cơm gạo, thịt cá, những món từ đất mọc lên, hoặc đứng trên đất, cảm mạo là do hơi đất ẩm ướt gây ra…

Tư Thính nói:

– Thầy ở trong cốc mà nói chuyện ngoài đời quá đúng. Vậy thì điềm lúc nãy tốt hay xấu đối với gia đình tôi? Con gái tôi sau nầy ra sao?

– Điềm gì? Cứ nói đầu đuôi tự sự. Tôi thấy nó… ngồi trên đất, thiệt là lạ lùng, chú nói trước, tôi nói sau.

– Dạ, nó ngồi trên mô đất cao, ỏ gốc cây thị ngoài ruộng. Tôi lo cày nên không chú ý, dè đâu…

Thế là Tư Thính thuật lại tất cả chi tiết với sự tưởng tượng khá dồi dào của chú. Chú cho rằng con rắn nọ to bằng cây cột nhà, vảy lấp lánh ngũ sắc, khi biến mất thì gió thổi rung chuyển mấy gốc cây cổ thụ. Lúc rắn quấn vào bé Huôi, gió như ngừng thổi, chim trên trời như ngừng bay và hai con trâu như chết đứng trên mặt đất.

Ông đạo Đất chắp tay xá bốn phía Đông, Tây, Nam, Bắc rồi nói:

– Mô Phật! Cháu bé ngồi trên đất gặp con rắn hổ đất. Tất cả đều là đất. Nhưng con rắn hổ đất to lớn ấy là thuộc vào loại phi thường, tên nó là gì chú biết không?

Tư Thính chắp tay thưa:

– Dạ… chắc là mãng xà vương!

Ông đạo lắc đầu:

– Đó là con rồng đất! Trên mặt đất nầy nó là vua. Vua của đất phù hộ, chầu chực cháu bé chẳng khác nào con rồng vàng chầu chực ông vua ở chốn đế đô. Rồng đất là vua của đất. Rồng đến tìm cháu bé, đó là điềm mai sau có ông vua ông chúa nào đó đến ra mắt. Rồng quấn chung quanh cháu bé để che chở phò hộ, đó là sau nầy cháu bé trở thành một bà hoàng, bà chúa. Chú nên vui mừng đi, ráng chịu cực chừng năm bảy năm nữa.

Tư Thính chắp tay lạy ông đạo Đất:

– Thiệt vậy hả ông? Trời Phật giúp tôi, làm sao tôi tạ ơn? Dè đâu con tôi tốt phước như vậy? Ông vua nào, ông chúa nào tới đây cưới con tôi?

– Ông chúa hòn hoặc ông chúa đảo, hoặc ông chúa tàu, tàu buôn Hải Nam. Tôi chưa biết rõ. Mai chiều, chú đưa cháu bé trở lại.

Nghĩ một lát, ông đạo hỏi:

– Cháu tên gì, năm nay mấy tuổi?

Bé Huôi cất tiếng sỗ sàng:

– Tên Huôi. Hỏi bao nhiêu tuổi để làm gì? Bộ tôi ngu dại phải không? Nãy giờ, tôi đâu làm điều gì sai quấy với thầy.

Ông đạo càng tin tưởng nơi tài đoán điềm giải mộng của mình. Lập tức ông khều Tư Thính ra sân mà nói khẽ:

– Thấy chưa? Nó là đứa khôn trước tuổi, ăn nói lanh lợi đâu thua gì người hai ba chục tuổi. Chú nên nuôi dưỡng tử tế. Nó có trí khôn, có nhan sắc. Tôi xem không lầm đâu. Năm bảy chục năm, con Rồng đất mới xuất hiện một lần. Rồng đất mà phò hộ che nắng che mưa cho con Huôi thì phải biết.

Tư Thính chắp tay xá ông đạo;

– Cám ơn ông, về sau nầy nếu may ra con tôi nên danh nên phận thì tôi chẳng bao giờ dám quên ơn lớn.

– Kìa!

Ngón tay ông đạo Đất chỉ ra ngoài sân. Lần nầy chú Tư Thính không khỏi kinh ngạc vì bé Huôi đứng xớ rớ bên bụi cây quỳnh hoa. Nó nâng niu từng lá dài rồi đột nhiên nói to:

– Cây gì mà trồng hoài không trổ bông?

Ông đạo giải thích:

– Cháu ơi! Nhiều khi đôi ba năm nó mới trổ một lần.

– Ông cho cháu vài lá, đem về trồng vài tháng thì nó trổ hàng chục cái bông cho ông coi.

Để chiều theo ý bé Huôi và để biết thêm về tương lai của đứa con gái kỳ lạ nọ, ông đạo Đất hái một lá dài trao cho Tư Thính.

Hai cha con lững thững về nhà theo con đường mòn sình lầy. Tư Thính nghe tim đập mạnh trong lồng ngực. Chú muốn kêu to:

– Con tôi trở thành bà chúa! Thiệt vậy sao? Trời đất xui khiến hay ma quỷ xúi giục? Nhiều đứa bé khôn ngoan nhưng chết yểu hoặc là trở thành điên khùng, lên đồng lên bóng.

Chú nắm tay con. Căn chòi hiện ra. Trong phút giây chú ngỡ là cung vàng điện ngọc. Chắc còn nhiều năm nữa bé Huôi mới trở thành bà chúa. Chừng đó chú già nua rồi. Chú chỉ muốn có căn nhà cao ráo để dưỡng già…

Hòn Chông là dẫy đồi thấp, sát mé biển vịnh Xiêm La. Dân chúng sống bằng nghề chài lưới ở mé biển nhưng nguồn lợi to nhứt vẫn là nghề trồng tiêu (hồ tiêu). Với mười lăm hay hai chục dây chăm bón kỹ lưỡng là một gia đình sống dễ dàng. Bao nhiêu đất tốt để trồng tiêu đều thuộc về ông Thần Phước cai quản, vì là người Triều Châu lai Cao Miên rồi lai Việt Nam nên tên ông được đọc là Xìn Phóc.

Mấy người kỳ lão ở địa phương, nhứt là người tá điền, đều kiêng nể, gọi ông là ông Chúa Hòn, ông vua nho nhỏ giàu có và sang trọng nhứt của vùng Hòn Chông. Với số vốn tích trữ từ mấy đời trước, ông thuê nhân công để khai thác mấy ngọn đồi ở vùng kế cận: núi Còm, núi Mo So.

Khi bán hồ tiêu cho bọn thương gia Mã Lai, ông chỉ lấy vàng, không dùng hình thức tiền bạc nào khác. Bọn gia nhân đồn đãi ông dùng số vàng ấy để trấn ếm một vài “linh huyệt” trên Hòn Chông, nơi có phủ thờ của tiên nhân – một người từ Triều Châu qua lập nghiệp ở Hà Tiên, theo chân họ Mạc vào thế kỷ thứ XVIII.

Năm được 86 tuổi, ông Thần Phước giao cho đứa con trai đầu lòng là cậu Hai Minh cai quản tài sản. Cậu Hai chưa được bốn mươi tuổi nhưng đã có một vợ chánh và hàng chục tì thiếp. Ở vùng hẻo lánh, thú vui duy nhất của cậu Hai vẫn là uống rượu và tìm gái đẹp. Vợ chánh sanh đứa con trai duy nhất là cậu Hai Điền. Ăn ở với khá đông tì thiếp từ mười năm qua, cậu Hai Minh không hài lòng cho lắm, vì chẳng nàng nào sanh được con trai.

Một buổi chiều, cậu Hai Minh ra lịnh cho gia nhân:

– Đưa tao qua núi Mo So.

Bọn gia nhân dạ rân lên, đem chiếu bông trải xuống chiếc ghe mui vuông sơn son thếp vàng. Bấy giờ là mùa hạn, sông rạch đều cạn ráo. Bọn gia nhân buộc bốn sợi dây luộc trước mũi và sau lái ghe, mỗi sợi dây chắc chắn ấy nối liền vào một con trâu đực to tướng, gọi là trâu cổ.

Đáy sông quá cạn phơi lớp bùn sình. Ấy thế, mà chiếc ghe vẫn lướt nhanh. Bốn đứa bé mặc áo xanh cỡi trên lưng trâu, quất roi thật mạnh.

Cậu Hai Minh nằm dài, dựa tay vào cái gối thêu:

– Chừng nầy, ở núi Mo So…mình làm cái gì cho vui?

Hai Ú trả lời:

– Dạ, chừng nầy con gái trong xóm tới bờ mới gánh nước và tắm…

– Hay quá!

Vừa cười, cậu Hai vừa vỗ tay lia lịa. Lát sau, cậu gật đầu nhòm Hai Ú:

– Mầy giỏi quá. Mầy chưa dở lần nào hết. Lát nữa tao tới đó bất ngờ. Mầy làm thế nào cho mấy cô gái cứ gánh nước tự nhiên, đừng chào đón.

– Thưa cậu, vậy thì tôi phải đi trước mới được.

– Họ biết trước thì mất vui. Phải tình cờ mới vui.

Hai Ú chắp tay thưa:

– Dạ, đón rước long trọng là chuyện dễ, đón rước tự nhiên là chuyện khó, cần sắp đặt trước. Không khéo mấy cô gái e lệ rồi hoảng chạy thì sao? Cậu cứ tin lời tôi.

Lập tức, Hai Ú đến trước mũi ghe, nhảy lên bờ rất nhẹ nhàng. Anh ta giành lấy một con trâu cổ, cởi sợi dây ra rồi quất mạnh cho trâu chạy nhanh đến núi Mo So. Vì chỉ có ba con trâu kéo nên chiếc ghe tiến chậm. Cậu Hai khen ngợi:

– Thằng Ú giỏi quá, nó biết lo trước lo sau. À! Cái gì mà chộn rộn ở chân núi?

Bọn gia nhân phía sau reo lên:

– Cậu Hai ơi, họ đốt đuốc…

Xóm nhỏ ở chân núi Mo So hiện ra, náo nhiệt như buổi chợ phiên. Khi đến chân núi, cậu Hai Minh gặp ngay Hai Ú. Anh ta cầm bó đuốc đứng sẵn:

– Thưa cậu, mời cậu đến bờ suối…

– Ủa! Tại sao xóm giềng im lặng quá vậy?

– Dạ, tôi ra lịnh cho ai nấy đóng cửa lại ngủ sớm để một mình cậu tới bờ suối, mặc tình nói chuyện với các cô. Tôi đã khuyên các cô cứ gánh nước tự nhiên. Các cô cười giỡn kìa! Cậu nghe không?

Trong phút giây, cậu Hai ngỡ mình sống trong khung cảnh thần tiên nơi thượng giới. Ánh đuốc rọi chập chờn vào vách đá hai bên con đường dốc.

Đêm mười bốn, trăng khá sáng tỏ.

Lúc cao hứng, cậu Hai Minh ra lịnh:

– Hai Ú cứ đi trước, thật xa. Tao đi dưới bóng trăng vui hơn. Cần gì qua bên Tàu mới hưởng được vui thú.

Nhưng Hai Ú như còn ngập ngừng. Anh ta khoát tay đôi ba lần như làm dấu hiệu riêng với người phía sau. Cậu Hai Minh chẳng mảy may chú ý đến chi tiết đó, cứ hỏi đồn dập:

– Tới chưa? Chà! Mấy cô cười nghe dòn quá. Còn ở phía sau, ai mà đông dữ vậy?

Hai Ú đáp:

– Cậu coi thử! Đó là mấy người khiêng rượu cho cậu uống.

– Thằng nầy giỏi thiệt.

Thật ra Hai Ú đã dàn cảnh khéo léo từ lúc nãy với Mười Hấu – người có khá nhiều quyền thế ở vùng núi Mo So. Mười Hấu rất tinh thông võ nghệ, con gái ông ta thuộc vào hàng đẹp nhứt trong vùng. Khi gặp Mười Hấu, Hai Ú đưa ra ý kiến:

– Ông Mười muốn làm giàu không? Đây là dịp may hiếm có. Cậu Hai Minh tới để tìm gái đẹp. Nếu ông Mười vui lòng, làm thế nào cho cậu Hai được thỏa mãn thì…

Mười Hấu nhớ đến đứa con gái tên là Ngó:

– Con gái tôi chắc hạp nhãn với cậu Hai Minh.

Hai Ú đáp:

– Cậu Hai chỉ thích như vậy thôi! Ông Xìn Phóc già khú rồi. Bây giờ, cậu Hai Minh là ông Chúa Hòn chớ còn ai đâu xa lạ.

Ngọn suối ở núi Mo So quá nhỏ hẹp. So với vùng cao nguvên thì đó là nơi dơ bẩn kém thơ mộng, nhưng ở chốn sình lầy nước mặn đồng chua thì quả là mạch nước tiên ngọt ngào và tinh khiết. Hai Ú dừng lại báo tin trước:

– Mấy cô nên vui vẻ… bởi vì cậu Hai thương mấy cô, chịu khó lặn lội tới đây. Cậu tới kìa. Đừng làm cho cậu giận. Ngày mai các cô sẽ được ban thưởng, mỗi cô ít nhất được một lượng vàng. Đó là chưa nói sau nầy hễ túng thiếu tiền bạc thì các cô tới gặp tôi, tôi nói giùm một tiếng với cậu Hai là xong.

Câu Hai Minh cười dòn:

– A ha ha! Đêm nay là đêm vui sướng nhất của đời tôi! Mấy cô cứ tự nhién, đẹp quá. Hai Ú đâu rồi? Đốt thêm vài ngọn đuốc.

Mười Hấu và đứa gia nhân để cần xé đựng hàng chục hũ rượu trên tảng đá rồi nói nhanh:

– Thưa cậu, tôi có đuốc…

Cậu Hai vỗ vai Mười Hấu:

– Chú ở đâu? Tôi nhớ gặp mặt vài lần rồi. Đuốc ở đâu? Đốt lên.

Ba ngọn đuốc cháy chập chờn. Trong đám thôn nữ rõ ràng cô Ngó là hoa khôi.

Nàng mặc áo ngắn tay, đứng bỡ ngỡ trong dòng suối, nước ngập lên tận gối. Ánh sáng chói chang làm nàng giựt mình:

– Ai làm chi vậy? Chỗ này… của người ta gánh nước.

Mười Hấu hơi e ngại, nói khéo cho con nghe:

– Ngó ơi! Cậu Hai tới thăm là vinh hạnh cho con. Con cứ vui cười.

Cậu Hai Minh hơi xúc động. Mấy tháng qua, cậu chỉ lân la với mấy nàng hầu thiếp ở trong phòng kín đáo, toàn là những cô gái ăn mặc sạch sẽ và ốm yếu mảnh khảnh. Cô Ngó đúng là một pho tượng, căng đầy nhựa sống. Cậu Hai cầm ngọn đuốc, đến gần. Cô lính quýnh, bước ra giữa dòng. Cậu vói tới, nắm tay cô mà kéo lại:

– Lên bờ cho vui. Tôi đã nói là cứ tự nhiên. Tôi tới đây để tìm cái… tự nhiên mà.

Cô Ngó mỉm cười, để lộ hai hàm răng đều đặn:

– Dạ, mắc cỡ lắm, cậu Hai! Mình mẩy ướt mem như vầy khó coi quá, thành ra vô lễ với cậu.

Hai Ú nói:

– Cô Ngó cứ lên bờ, ngồi bên tảng đá để nghe cậu Hai dạy việc.

Cậu Hai dìu người đẹp lên bờ, Mười Hấu bèn đem bầu rượu trao tận tay:

– Xin mời cậu…

– Ngon lắm! Ngon Iắm. Tôi uống rượu một mình coi sao được? Xưa nay vua đâu uống ruợu một mình. Vua uống thì các quan đại thần và hoàng hậu đều uống. Đem rượu ra, uống không hết thì đổ bỏ xuống dòng suối tiên nầy.

Hai ba cô gái gánh nước đứng gần cô Ngó cũng hưởng được chút ân huệ, nhưng làm sao các cô nuốt được thứ rượu đế quá cay, quá nồng! Hai Ú nhắc nhở từng chập:

– Cứ uống. Uống không nổi thì cứ làm bộ đưa lên môi.

Bầu rượu được cậu Hai đưa sát môi cô Ngó. Cô nhăn mặt liếc qua Mười Hấu như để hỏi ý kiến. Mười Hấu nói:

– Uống đi con. Cậu Hai đoái tưởng tới con đó.

Cậu Hai lim dim đôi mắt, một tay vuốt mái tóc người đẹp, một tay nghiêng bầu rượu. Rượu đổ tràn xuống ngực người đẹp. Cậu đưa tay ra phía sau:

– Rượu nữa! Rượu nữa! Cô tên gì? Uống rượu không được thì chắc là tắm bằng rượu được…

Cô Ngó ôm ngực van nài:

– Lạnh lắm… Cho tôi về.

– Tôi cho cô về… chiếc ghe của tôi. Hai Ú đâu rồi? Sửa soạn về. Nãy giờ tao cũng hơi lạnh. Muỗi cắn quá. Xứ nầy nhiều muỗi. Bây giờ cô Ngó cầm đuốc dẫn đường cho tôi xuống bến.

Hai Ú đi sát bên cô Ngó mà nói khẽ:

– Nên hầu hạ khéo léo cho cậu Hai vui. Tài sản của ông Chúa Hòn để lại cho cậu Hai, nghĩa là để cho cô. Cậu Hai nhiều khi khờ dại, cô nên hy sinh để cho cha mẹ và chòm xóm được nhờ.

Dân chúng hai bên đường ngồi nép mình bên cánh cửa mà trông ra. Họ vừa mừng vừa sợ. Nếu cô Ngó được cậu Hai đem về Hòn Chông làm tì thiếp thì cha cô là Mười Hấu trở nên hách dịch, ai chịu cho nổi.

Cô Ngó vào nhà, thay quần áo mới, trong khi cậu Hai Minh nằm trên ghe, thúc hối từng chập:

– Trốn rồi sao chớ! Muỗi cắn chết. Tụi bây lo cho tao chớ. Tao hơi mệt rồi đó. Đắp mền cho tao. Con nhỏ đó sao chưa xuống đây quạt muỗi cho tao!

Lát sau, chiếc ghe hầu trở về Hòn Chông, bốn con trâu kéo hì hục. Tội nghiệp cho mấy thằng bé cỡi trâu. Chúng nó ngủ gục từng chập, bị Hai Ú chửi rủa không ngớt mồm.

Cô Ngó ngồi bên gối của cậu Hai, cầm cây quạt lông mà phe phẩy, cậu Hai khen ngợi từng chập:

– Giỏi quá, khỏe quá! Quạt mạnh tay cho muỗi bay bớt thì ta mới ngủ được. Về Hòn Chông ít muỗi mòng hơn. Mỗi ngày, cô em cứ ở không mà quạt cho ta ngủ, khỏi gánh nước.

Cậu Hai Minh đến Hòn Chông vào lúc hừng sáng. Hai Ú cõng cậu lên nhà. Cô Ngó hơi sợ vì lần đầu tiên trong đời, cô bước vào căn nhà sang trọng, đúng ra là ba bốn căn nhà cất chung trong vòng rào kiên cố.

Năm sau cô Ngó hạ sanh một đứa con trai. Mấy nàng tì thiếp khác lấy làm bất mãn và ganh tị. Bà chánh thất lo ngại hơn ai cả, vì đứa bé nọ có thể tranh giành gia tài và ngôi vị với đứa con của bà. Bà đến gặp cậu Hai để cằn nhằn:

– Ông làm như vầy còn gì thể diện!

Cậu Hai đáp:

– Tôi là… ông Chúa Hòn. Ba tôi đã trao quyền hạn cho tôi. Hằng ngày, nếu không đùa giỡn thì tôi làm gì bây giờ? Tôi thích đi đó đi đây, lâu lâu uống rượu say một lần.

Bà chánh thất nói khẽ:

– Con Ngó là đứa mà tôi không ưa. Nó làm mất thể diện dòng họ.

– Trời ơi! Bà đừng vu cáo mà tội nghiệp nó. Nó là gái quê, là tì thiếp, hằng đêm cầm quạt đuổi muỗi cho tôi ngủ. Nhờ nó mà bà được rảnh rang, vả lại, hễ gặp bà là nó chắp tay xá…

– Nó sanh đứa con trai. Nó là con của thằng Mười Hấu quê mùa dốt nát ở núi Mo So. Mười Hấu trở thành… cha vợ của ông Chúa Hòn, thiên hạ đàm tiếu nhiều lắm rồi.

Cậu Hai bị chạm tự ái nên quát to:

– Bà đừng nói vậy. Muốn tôi đuổi con Ngó sao? Tôi chưa đuổi nó được trong năm nay, nhưng tôi hứa là vài năm nữa nó không còn ở nhà nầy.

– Nhưng thằng con của con Ngó! Nay mai nó tranh quyền hạn với con tôi thì sao? Ông nên suy nghĩ lại…

Câu nói ấy khiến cậu Hai Minh bâng khuâng. Lập tức, ông vào phòng riêng nằm dài, vỗ trán cho bớt nhức đầu. Nãy giờ, cô Ngó đã nghe ngóng được câu chuyện. Chờ khi cậu Hai ngồi dậy uống chén trà, cô mới than thở;

– Tội nghiệp em, nếu ở đây hoài, chắc có ngày em chết vì bà lớn. Tốt hơn, ông cho em bồng con về núi Mo So để rồi xin vô chùa, đi tu.

– Đâu được!

Đôi mắt đen huyền và làn da trắng mịn của cô Ngó khiến cậu Hai ngây ngất. Cậu vuốt ve cô nhưng cô ngồi lui ra, cầm cây quạt mà phe phẩy, cánh tay với tới. Những cảnh ghen tương giận hờn và tranh chấp quyền lợi đã xảy ra quá nhiều lần, nào riêng gì trong năm nay. Tin rằng thời gian trôi qua thì mọi việc đều tự dàn xếp êm thấm, cậu Hai uống thêm vài chén rượu rồi ngủ khò. Cô Ngó ngưng tay, không quạt nữa. Đến trưa, khi cậu mở mắt thức dậy thì cô lanh tay cầm cây quạt đứng thẳng người phía sau lưng. Đột nhiên cô buông tay. Cây quạt rơi xuống nền gạch, cán bằng ngà gây tiếng động vừa khô khan, vừa tức tối.

Cậu day lại.

Cô Ngó giả vờ như giựt mình, vội cúi mình lượm cây quạt đem lên, xem kỹ rồi run rẩy đến quì bên cạnh cậu Hai:

– Ông tha cho tôi. Cán quạt nứt bể rồi. Cây quạt nầy quý giá lắm.

Nói xong, nàng ngả người, quơ tay lên trời, kêu lên ú ớ mấy tiếng rồi nằm dài trên gạch. Cậu Hai đứng dậy quì bên cạnh đỡ nàng lên:

– Em! Sao vậy? Tôi ở đây thì em cứ ở đây. Tôi chưa nói điều gì mất lòng em mà. Làm vậy tôi buồn…

Cô mở mắt ra, nói khẽ:

– Em chưa đủ sức để hầu hạ ông, ông nên tìm người khác. Em đâu dám hờn giận ai. Chẳng qua là em thức quá nhiều. Nãy giờ, em đứng mà quạt không nghỉ tay. Mấy ngón tay tê cóng, phần thì hồi sáng đến giờ em chưa rảnh để ăn món gì ráo…

Lần đầu tiên trong đời, cậu Hai để rơi hai giọt nước mắt. Suốt đêm rồi, Ngó ngồi ngoài mùng mà quạt cho cậu được mát mẻ, đến canh ba, khi giật mình thức dậy, cậu vẫn thấy cô ngồi lì một chỗ, bảo đi ngủ thì cô trả lời rằng còn đủ sức quạt hầu. Rồi đến trưa nay, cô Ngó lại đứng quạt. Đúng là một cực hình mà cô chịu đựng không một lời than thở.

Cậu Hai nói:

– Mệt thì em lên giường tôi.

Cô Ngó lắc đầu:

– Em đâu dám. Rủị bà chánh thất bắt gặp, chắc em bị giết…

– Tôi gọi đứa khác vô đây để em nghỉ tay. Từ rày về sau, em khỏi làm công việc cực nhọc nầy.

– Thôi, cho em về mà nuôi con. Nó là con trai, em thương nó lắm.

Hai tiếng ‘‘con trai’’ khiến cậu Hai thêm kiêu hãnh. Đây là đứa con trai thứ nhì của cậu, phải nuôi nó bằng được để dự phòng trường hợp đứa con trai của bà vợ lớn chết thình lình. Cậu đáp:

– Em ở đây. Người chánh thất giận vì em có con trai, tôi biết. Bây giờ, em tìm cách gởi đứa con đó đi xa, đặt tên xấu xí. Hễ mang tên xấu thì làm sao nó trở về đây chia gia tài được?

Thế là hôm sau, mọi sự thắc mắc trong gia đình cậu Hai Minh đều được giải quyết êm ái. Đứa con mới sanh phải mang tên là thằng Cẩu – nghĩa là con chó. Mười Hấu được mời đến Hòn Chông để lãnh đứa cháu ngoại đem về, nuôi tại núi Mo So. Cậu Hai ban cho Mười Hấu mười lượng vàng. Cô Ngó bị đày xuống nhà bếp, lo cơm nước cho cậu Hai.

Cải tạo nửa mùa – Vượt biên tài tử

Nguyễn Hữu Thiện

Post by Sơn râu 18 May 2025

Phần 3

Chương 2 – Phú Quốc
Khi trời đã sáng tỏ, chiếc tàu há mồm chở tù cải tạo ra tới Vũng Tàu. Chúng tôi biết được nhờ những anh em tù xin phép lên thành tàu để đi tiểu tiện nhìn thấy Núi Lớn.
Cũng xin có đôi dòng về chiếc tàu há mồm mà sau đó chúng tôi được biết trước kia chính là Hải vận hạm HQ-405 “Tiền Giang” của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa.

Chiếc HQ-405 nguyên là tàu đổ bộ LSM-313 của Hải Quân Hoa Kỳ, thuộc loại LSM 1-class.

Mô hình một chiếc LSM (hình: Internet)
LSM là viết tắt của “Landing Ship Medium”, là loại tàu đổ bộ hạng trung, còn “1-class” để chỉ những chiếc LSM đợt 1, được đóng từ tháng 5-1944 tới tháng 5-1945, mang phiên hiệu từ LSM-1 tới LSM-500, để sử dụng trong các cuộc đổ bộ của quân Đồng Minh lên Âu châu, Thái Bình Dương trong Đệ Nhị Thế Chiến, và sau này trong Chiến tranh Triều Tiên.
Tới đầu thập niên 1960, những chiếc LSM 1-class còn lại của Hoa Kỳ hoặc bị phế thải, hoặc được viện trợ cho các nước đồng minh “nghèo”. Chiếc LSM-313 được viện trợ cho VNCH năm 1962, trở thành Hải vận hạm HQ-405 “Tiền Giang”.
Theo thông số kỹ thuật, chiếc LSM dài hơn 62 mét, rộng trên 10 mét, trọng tải 755 tấn, có khả năng chở 3 chiến xa hạng nặng, hoặc 5 chiến xa hạng trung, hay 6 xe lội nước, cùng với 50-60 binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến, vận tốc tối đa 22 km/h.
Tàu chỉ có một lớp sàn duy nhất ở dưới lòng tàu, phía trên có thể căng bạt che mưa nắng, như trong trường hợp chiếc HQ-405 khi chở chúng tôi, hai bên là thành tàu, phía trên có lối đi lại.
Ngồi dưới sàn nhìn lên, tôi thấy có khoảng một chục tên bộ đội cầm AK canh gác, theo dõi đoàn tù ở phía dưới. Tới khoảng gần trưa, bỗng thấy có hai người mặc quân phục Hải Quân VNCH, tuy không đầy đủ, thấp thoáng trên boong phía trước, một vài anh em bạn tù là sĩ quan Hải Quân làm bộ xin phép đi tiểu, lén hỏi chuyện thì được biết đó là những hạ sĩ quan, binh sĩ được chế độ mới lưu dụng, và qua đó chúng tôi mới biết đây là chiếc HQ-405.

Hải vận hạm HQ-405 “Tiền Giang” (hình chụp trước 1975)
Khi tàu bắt đầu ra khơi, tôi suy nghĩ nát óc nhưng cũng không thể đoán bọn cộng sản sẽ đem mấy trăm tù cải tạo này đi về đâu. Thời gian này, chúng tôi hoàn toàn chưa có một ý niệm nào về hệ thống các trại cải tạo của CSVN sau năm 1975, mà chỉ biết một địa danh duy nhất là Thành Ông Năm.
Rồi một nỗi lo sợ chợt thoáng qua trong đầu: hay là họ đem chúng tôi ra biển để thủ tiêu, quăng xác xuống biển cho cá mập ăn?! Sau này, có dịp tâm sự với nhau, tôi được biết vào lúc ấy cũng có khá nhiều anh em có cùng nỗi lo sợ như tôi…
Khi tàu bắt đầu lấy hướng nam thì biển trở nên thật xấu, chiếc HQ-405 trọng tải chỉ có vài trăm tấn nên lúc thì ngả nghiêng như muốn lật ngang, lúc nhồi lên chúi xuống theo từng đợt sóng, khiến đa số anh em tù cải tạo bị “ngất ngư con tàu đi”, ói mửa, nằm một đống… Riêng tôi không hề hấn gì; bởi xưa nay tôi không hề bị say xe hay say máy bay. Còn nhớ trước năm 1975, mỗi lần về Phước Long (Sông Bé) thăm nhà, quá giang C-7A Caribou mà gặp thời tiết xấu, trong lúc nhiều hành khách khác tả tơi thì tôi vẫn tỉnh bơ…
Xế chiều, chiếc HQ-405 vẫn tiếp tục trực chỉ hướng nam, một anh bạn Hải Quân ngồi gần tôi nhẩm tính rồi đoán mò rằng có thể chúng tôi bị đưa ra đảo Côn Sơn. Nghe cũng có lý, bởi trước 1975 Côn Sơn cũng là nơi VNCH nhốt tù.
Nhưng đợi mãi vẫn chẳng thấy tàu cập Côn Sơn, và sau khi trời tối mịt thì anh bạn Hải Quân cũng chịu thua, có muốn nhìn sao trời để đoán phương hướng cũng không được vì vướng cái bạt che ở phía trên.
Tới khoảng 10 giờ đêm, tàu mới cập bến và… há mồm. Chúng tôi được lệnh xếp hàng một lên bờ, đám cán bộ chờ sẵn đếm tù rồi phân ra từng toán 50 người, mỗi toán đi theo hai tay cán bộ, có bộ đội súng ống đi kèm.
Đi được vài chục mét, một người trong đoàn tù buột miệng:
– An Thới!
Một người khác hỏi lại:
– Ở đâu vậy?
– Đảo Phú Quốc… – rồi anh hạ giọng, ngậm ngùi – Hồi đó, đây là căn cứ hải quân của mình, có thời gian tôi đóng ở đây.
Sau khoảng một tiếng đồng hồ cuốc bộ, toán của tôi và mấy toán đi sau được lệnh dừng lại trước một cái cổng chằng chịt kẽm gai.
Rồi chúng tôi lần lượt bước vào dưới ánh đèn pha sáng rực và trước những cặp mắt đầy hận thù của cán bộ và bộ đội cộng sản Bắc Việt. Khi tôi đi ngang, thấy cây đàn trên vai, một tay cán bộ cười nhạt:
– Hừm, đem theo cả đàn nữa cơ à! Còn yêu đời thế nhỉ!
Nghe hắn nói, tôi lạnh người, mặc dù chưa biết tương lai của mình sẽ đen tối tới mức nào!
Khi tất cả đã vào bên trong trại, chúng tôi được lệnh ngồi xuống cái sân cát phía trước hội trường, rồi từng toán 50 người được lần lượt đưa vào những căn nhà tôn khung sắt, vách cũng bằng tôn, nền đất, mỗi bên vách có ba, bốn cửa sổ và ở hai đầu nhà có hai cửa ra vào.

Một trại tù ở Phú Quốc (hình chụp trước 1975)
Về sau chúng tôi được biết đây một trong mấy chục trại để giam giữ tù binh cộng sản trước năm 1973, do các đơn vị Quân Cảnh quản trị. Trại tôi ở có khoảng 15 căn nhà, một hội trường và một nhà bếp. Nằm đối diện với trại tù, phía bên kia đường là doanh trại của đơn vị coi tù.
Ngày trước, mỗi căn nhà chỉ chứa 25 tù binh cộng sản, mỗi người được một cái giường sắt; nay dồn 50 người vào thì không đủ chỗ trải chiếu (chiếu cá nhân được phát ở Thành Ông Năm), các mép chiếu phải gối đầu lên nhau, và mọi người phải nằm ngủ ngược đầu với hai người bên cạnh, bởi nếu tất cả nằm xuôi, vai người này sẽ đụng vai người kia.Nhưng trong đêm đầu tiên thì vì ai cũng mệt lả, chỉ cần được đặt lưng xuống nền nhà, nên chúng tôi nằm lộn xộn, chen chúc như hộp cá mòi.
Sáng hôm sau, thức dậy mới biết đám trung úy, thiếu úy chúng tôi không phải những tù nhân đầu tiên của trại tù này mà trước đó đã có các hạ sĩ quan Cảnh Sát Đặc Biệt.
Được biết ngày ấy, chỉ vài tuần lễ sau khi trình diện “học tập cải tạo”, thành phần này đã được đưa ra Phú Quốc. Riêng trong trại của chúng tôi, họ chiếm khoảng 1/3 tổng số tù cải tạo.
Nhận xét đầu tiên của tôi là các ông hạ sĩ quan này trông hết sức thảm não, người nào cũng đen đủi, gầy còm, ánh mắt lờ đờ như không còn sinh khí…
Khoảng 8 giờ sáng, đám sĩ quan cán bộ quản giáo đi vào từng nhà, “lên lớp” theo bài bản như con vẹt độ khoảng 15 phút rồi kêu gọi xem có ai tình nguyện làm “nhà trưởng”, không có người tình nguyện thì dòm mặt chỉ định. Nhà trưởng có nhiệm vụ nhận lệnh từ cán bộ để truyền đạt tới anh em tù cải tạo, và “phản ảnh” mọi sinh hoạt của nhà lên cán bộ.
Sau đó, chúng tôi được lệnh lên hội trường để “gửi” tư trang vàng bạc và học tập Nội quy trại.
“Tư trang vàng bạc” ở đây được họ định nghĩa là tất cả những thứ gì có thể tháo rời khỏi người (trừ nhẫn cưới), chẳng hạn đồng hồ, dây chuyền, lắc vàng (nhưng trên thực tế chẳng có ai dại dột tới mức đi cải tạo mà còn đeo lắc).
Tay cán bộ quản giáo giải thích: “Cách mạng chỉ giữ cho các anh, khi nào các anh được tha về, cách mạng sẽ giao lại!”
Sau này, khi đã trải qua dăm bảy trại, tôi được biết không phải trại nào cũng bắt tù cải tạo “gửi” tư trang vàng bạc, nhưng một khi bắt gửi thì từ Nam chí Bắc đều có cùng một thủ tục… quái đản: tù cải tạo giao tư trang vàng bạc cho cán bộ giữ, thay vì được cán bộ cấp biên nhận thì người đó lại phải ký vào cuốn sổ của cán bộ!
Xong thủ tục gửi tư trang vàng bạc, chúng tôi được học tập về nội quy của trại. Nhận xét một cách chung chung thì nội quy của trại cải tạo nào (thuộc trung ương chứ không phải địa phương) cũng giống nhau, có khác chăng chỉ là những chi tiết, chẳng hạn tuy ở cùng trại nhưng đám sĩ quan chúng tôi và các hạ sĩ quan cảnh sát tuyệt đối không được quan hệ với nhau, hoặc ban đêm cần “đi thăm lăng Bác” (ở gần hàng rào phía sau của trại) thì khi còn cách dãy cầu tiêu khoảng 10 mét, phải đứng lại, lớn tiếng xin phép tay bộ đội trên vọng gác, khi nào y trả lời mới được đi tiếp.
Về cung cách đối xử với tù cải tạo thì đám cán bộ quản giáo ở Phú Quốc lạnh lùng hơn các đồng nghiệp của họ ở Thành Ông Năm rất nhiều; đám vệ binh (bộ đội) thì lúc nào cũng đằng đằng sát khí, hận thù ra mặt.
Lúc đầu tôi cứ nghĩ vì ở Thành Ông Năm, chúng tôi chỉ là các cải tạo viên được học tập chính trị, còn ra Phú Quốc, chúng tôi là tù lao động khổ sai nên chính sách đối xử đương nhiên phải khắt khe hơn, sau này mới biết chỉ vì chúng tôi có “nợ máu” với đám bộ đội Phú Quốc.

* * *
Nguyên đơn vị coi tù cải tạo ở Phú Quốc trực thuộc một sư đoàn đóng ở Kiên Giang, trước kia là một trong những đơn vị chính quy Bắc Việt vượt vùng phi quân sự đánh chiếm Quảng Trị trong mùa Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, đã bị Thủy Quân Lục Chiến, Nhảy Dù, và phi pháo của VNCH đánh cho tanh banh.
Một tay cán bộ quản giáo ngày trước thuộc đơn vị pháo, có lần đã kể lại với chúng tôi về món nợ máu ấy như sau:
Trước khi vượt tuyến đánh chiếm Quảng Trị, đơn vị của anh ta được tăng cường những khẩu súng cối 82 ly mới tinh, nhưng chưa vào tới Đông Hà thì đã bị TQLC tiêu diệt hơn phân nửa phải rút tàn quân về Bắc, nhiều khẩu cối 82 ly mới bắn được vài viên đạn đã bị bỏ lại trận địa!
Sau khi rút quân về để bổ xung lực lượng, đơn vị pháo của anh ta lại được lệnh vào Quảng Trị, và lần này, trong lúc đang vượt sông Thạch Hãn thì trở thành những mục tiêu “ngon lành” cho phi cơ của Không Lực VNCH, mười phần thì tới sáu, bảy bỏ mạng trên dòng sông oan nghiệt.
[Sau này ra hải ngoại, được đọc trên Internet hồi ký chiến trường của một cấp chỉ huy CS Bắc Việt, tôi thấy khá giống lời kể của tay cán bộ quản giáo ở Phú Quốc. Điều đáng chú ý là cả hai đều phải nhìn nhận “lính dù và lính thủy đánh bộ của miền Nam đánh rất dữ tợn”]
* * *

Nhưng ít ra chúng tôi cũng được hưởng một tuần lễ “huy hoàng”, ăn Tết ta xong mới bắt đầu những tháng ngày khổ sai cơ cực.
Trước hết nói về ẩm thực: lần đầu tiên kể từ ngày trình diện học tập cải tạo, chúng tôi được ăn cá tươi, không phải chỉ ăn lấy hương lấy hoa như ở Thành Ông Năm mà ăn thỏa thích. Bữa cơm đầu tiên, cứ 10 tù cải tạo được một thau cơm và một thau cá, mà cá thì nhiều hơn cơm. Chuyện khó tin nhưng có thật!
Thấy đám “ma mới” chúng tôi ra vẻ “hồ hởi phấn khởi”, một ông hạ sĩ quan cảnh sát nói:
– Rồi mấy ông thầy sẽ ngán cá thèm cơm cho mà xem!
Nhưng lúc ấy, đám trung úy, thiếu úy chúng tôi không bao giờ có thể tưởng tượng việc này sẽ xảy ra trong tương lai. Bởi chúng tôi chỉ thèm “chất đạm” (protein).
Muốn biết chúng tôi thèm chất đạm tới mức nào phải trở lại với “chế độ ăn uống” ở Thành Ông Năm.
Không hiểu ngày ấy Đoàn 775 họ kiếm đâu ra gạo mà tù cải tạo chưa bao giờ thiếu cơm ăn, ít nhất cũng là cho tới tháng 1-1976, khi chúng tôi bị đưa ra Phú Quốc. Nhưng thức ăn thì có vấn đề. Trong mấy tháng đầu, mỗi tổ 10 người chỉ được một thau nước muối lõng bõng mấy miếng thịt heo bằng đầu ngón tay, hoặc vài con cá khô chất lượng cũng tương đương loại cá khô mà trước năm 1975 người ta lấy nấu cám heo; thỉnh thoảng có thêm một thau canh rau muống hoặc củ cải trắng nấu với muối.
Vài tháng sau, có lẽ do bắt mánh được với những tay bỏ mối đậu hũ ở chợ Hốc Môn, đám cán bộ hậu cần của khu trung úy, thiếu úy (không biết ở các khu khác thì sao) đã chỉ còn cho tù cải tạo ăn một món duy nhất: đậu hũ; một tháng may ra được ăn thịt, cá (ăn lấy hương lấy hoa) một, hai lần.
Nhưng tệ hại nhất phải là thời gian khoảng hơn một tháng sau cùng (ở Thành Ông Năm), không hiểu vì đám cán bộ hậu cần tẩu tán muối để bán cho dân hay vì một nguyên nhân khó hiểu nào đó mà lượng muối cung cấp cho cải tạo bị cắt bớt dần, cho tới khi hầu như chỉ còn là con số không!
Có sống trong cảnh này, người ta mới thấy được tầm quan trọng số một của muối trong lĩnh vực ẩm thực; không có muối không ai có thể nuốt được cơm. Một vài anh em từng đọc, hoặc nghe kể về cách làm muối của người Thượng ở vùng cao nguyên, cho biết cứ đốt cỏ tranh, ngâm than trong chậu nước, muối sẽ kết tụ ở dưới đáy. Nhưng ở trong Thành Ông Năm làm gì có nhiều cỏ tranh như ở các thảo nguyên hay nương rẫy để thử bắt chước người Thượng!
Trong hoàn cảnh ấy, tôi bỗng nhớ lại hồi học Vạn Vật lớp Đệ Nhất ban A có nói tới việc “tinh bột tạo ra đường”, theo đó nhai cơm trắng, nhai bánh mì một lúc sẽ thấy vị ngọt. Vậy nay không có muối ta ăn cơm với… đường! Tôi và một vài anh em cùng tổ nhai thử thì quả thật một lúc sau có vị ngọt, nhưng nó vẫn lạt lẽo thế nào ấy vì không có vị mặn. Rốt cuộc cũng chẳng có ai hưởng ứng!
Trong khi đó, một số anh em thấy cơm thừa nhiều quá, đổ đi mang tội bèn đem phơi khô. Đám cán bộ quản giáo thấy thế liền ra lệnh cấm, vì sợ tù cải tạo tích trữ lương khô để trốn trại!
Hậu quả, mỗi ngày chỉ tính đội của tôi thôi, đã phải đổ xuống hố rác mấy thau cơm trắng!…
Đang từ phải ăn cơm với đậu hũ lạt, nay ra Phú Quốc cứ 10 người được một thau cá kho (cá ngừ, hoặc cá nục, cá bạc má) thì còn gì sung sướng cho bằng!…
Rồi để chuẩn bị đón xuân (mà nhà nhạc sĩ Văn Cao cảm khái ca tụng là “Mùa Xuân Đầu Tiên” trong ca khúc cuối cùng của ông), mỗi tù cải tạo được nhà cầm quyền trại ưu ái phát cho hai gói thuốc thơm đầu lọc “Sài Gòn Giải Phóng”, nguyên là hiệu “Président” của nhà máy thuốc lá MIC trước kia…
Trong những ngày còn được “tự do chơi bời” ấy, tôi thường mò sang các nhà bên cạnh để xem có ai quen thì gặp An Đình Phương, chàng thiếu úy trẻ ở cùng tổ với tôi ở Thành Ông Năm, và đáng nói hơn cả là được gặp lại “Đức Cống”, Trung úy Pháo Binh, tay bạn học điếc không sợ súng từ năm Đệ Tam, cùng ở Phường 13 Phú Nhuận với tôi.
Còn về anh em ở cùng nhà thì tôi trở nên thân thiết với anh bạn Vương ĐT nằm bên cạnh, một phần vì anh gốc Nam Kỳ, lè phè, dễ tính, một phần vì anh cùng học Khóa 18 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang với hai thằng bạn lớp Đệ Nhị ban B của tôi trước kia, đều mang tên Phước: Huỳnh Hữu Phước, tức “Phước cao”, và Nguyễn Hữu Phước, tức “Phước đen”.
Người thứ hai là một ông anh Bắc Kỳ khá lớn tuổi hơn tôi, tên Thịnh, biệt hiệu “Thịnh thuốc lào”. Anh là người tù cải tạo đầu tiên hút thuốc lào mà tôi được biết. Ở Thành Ông Năm, anh chế một cái điếu cày bằng ống nhôm trái sáng và mang theo ra Phú Quốc cùng với một ít thuốc lào mà gia đình gửi theo gói quà nửa ký đầu tiên. Cứ sau mỗi bữa ăn, anh cho tôi nửa “bi”; nửa bi thôi nhưng cũng đủ tê mê, rần rần đến tận từng đầu ngón tay!
“Quần đảo ngục tù”

Sau Tết ta, với đám trung úy, thiếu úy vừa từ đất liền ra, kiếp tù khổ sai Phú Quốc mới thực sự bắt đầu.
Năm giờ sáng (nếu tôi nhớ không lầm), kẻng báo thức. Xếp hàng đi cầu tiêu, ra giếng rửa mặt, xuống nhà bếp lãnh mỗi người một ca nước đun sôi thay cho bữa ăn sáng…
Sáu giờ rưỡi, tập họp tại sân cát trước hội trường nghe cán bộ phân công lao động trong ngày.
Từ lúc chúng tôi ra Phú Quốc cho tới khi trở về đất liền, trại tôi có ba loại công tác lao động chính: (1) sản xuất, (2) xây dựng (3) cưa gỗ, đốn củi.
– Sản xuất là phá rẫy, cuốc đất, đào mương, trồng trọt, tưới nước, làm cỏ khu nương rẫy của trại.
– Xây dựng là dựng nhà, cắt tranh để lợp nhà, làm vách…
– Cưa gỗ, đốn củi là vào rừng cưa gỗ để bán cho dân làm lò than, hoặc đốn cây đưa về trại làm củi.
Tùy theo sự phân công của cán bộ quản giáo, công tác có thể thay đổi mỗi ngày.

* * *
Trước hết nói về sản xuất, đây là công việc nhẹ nhất; sau khi được phân công, toán này chỉ cần theo quản giáo băng qua đường lộ, đi bộ khoảng nửa cây số là tới khu rẫy phía sau dãy nhà của ban chỉ huy trại, chạy dài về hướng bờ biển phía tây của đảo.
Tuy là công tác nhẹ nhất nhưng lại gây khó chịu, bực bội, nhục nhã nhất, vì ngoài mấy tay cán bộ quản giáo còn có đám vệ binh (bộ đội) vắt mũi chưa sạch, ti toe diệu võ dương oai, thay phiên nhau “lên lớp” đám tù cải tạo với những bài bản giống hệt nhau, nào là “nao động nà vinh quang”, nào là “trước đây các anh chây nười, chỉ biết rượu ngon gái đẹp, nay phải học tập nao động để trở thành người hữu ích cho xã hội”, v.v…
Rất nhiều lần tôi đã nóng mặt khi thấy những tên oắt con này xỉ vả, nhục mạ mấy ông trung úy, thiếu úy già đáng tuổi bố của chúng, chỉ vì khi cuốc đất, họ không đủ sức dơ cái cuốc lên đủ cao theo yêu cầu!
Bên cạnh đó, khác với những trại chúng tôi ở sau này, nơi toán sản xuất thường lén đem về trại vài củ khoai, một nắm rau dại, mấy trái ớt, ít lá sương sâm…, ở Phú Quốc cấm ngặt đem bất cứ thứ gì vào trại, không cần biết ăn được hay không ăn được!
Nếu nghi ngờ, mấy tên bộ đội gác cổng còn bắt tù cải tạo cởi áo để chúng khám xét.
Nhưng dù sao chăng nữa, anh em nào ở trại tôi cũng đều mong muốn được phân công sản xuất, lý do chính là vì không phải đi bộ hàng chục cây số như toán cưa cây, đốn củi.

* * *
Tiếp theo, viết về toán “xây dựng”. Theo lời viên trại trưởng (có thể đương sự chỉ khoác lác) thì “trong tương lai, các anh sẽ góp phần vào kế hoạch biến Phú Quốc thành một trung tâm kinh tế hàng đầu của tỉnh Kiên Giang”, vì thế một số tù cải tạo nguyên là sĩ quan Công Binh đã được lựa chọn để làm nòng cốt.
Rất tiếc, cho tới khi chúng tôi được đưa về đất liền, “kế hoạch chiến lược” ấy vẫn chưa được khởi sự, cho nên nhiệm vụ chính của toán xây dựng chỉ là làm nhà, sửa nhà, cắt tranh để lợp nhà, che vách…
“Nhà” nói tới ở đây chủ yếu là những căn nhà trong các trại tù đã bị dân chúng vào làm thịt sau khi “đất nước được hoàn toàn giải phóng”.
Cũng xin viết sơ về vị trí khu trại tù cải tạo Phú Quốc, tức các trại giam tù binh cộng sản trước năm 1973. Từ An Thới ở cực nam đi về hướng bắc khoảng 2, 3 cây số thì tới các trại tù nằm ở phía bên mặt đường lộ. Qua khỏi khu vực trại tù khoảng 1, 2 cây số mới tới khu vực có dân cư thuộc xã Dương Tơ.
Sau Hiệp Định Paris 1973, tù binh cộng sản được trao trả thì các trại tù này bỏ trống nhưng vẫn có một đơn vị quân đội VNCH canh giữ. Sau 30 tháng 4, 1975, thừa nước đục thả câu, dân chúng tràn vào các trại tù gỡ tôn đem về. Tới khi bộ đội cộng sản tiếp thu khu vực này thì có tới phân nửa các trại tù ở phía bắc (gần khu dân cư) đã bị tanh banh, các dẫy nhà chỉ còn lại khung sắt, thỉnh thoảng mới còn cái mái tôn.
Vì thế đám tù cải tạo trung úy, thiếu úy chúng tôi phải dọn dẹp, sửa sang những chỗ bị phá hoại, và cắt tranh về lợp mái và làm vách che.
Qua tin tức nghe lóm từ đám cán bộ quản giáo, chúng tôi được biết khoảng giữa năm 1976, những trại tù này sẽ bắt đầu tiếp nhận tù cải tạo cấp đại úy và cấp tá từ đất liền. Khi ấy, Phú Quốc không chỉ trở thành trại tù cải tạo “kiểu mẫu” mà còn là trại tù lớn nhất nước.
* * *
Một buổi xế chiều, tôi đang cùng với toán sản xuất đắp luống trồng khoai ngoài rẫy của trại thì nghe một tiếng nổ thật lớn ở hướng đông, và thấy khói đen bốc lên bên ngoài hàng rào phía sau các trại tù. Anh em ai cũng hoang mang, nhưng không thể đoán biết chuyện gì đã xảy ra; một vài anh em là dân tác chiến cho biết tiếng nổ lớn như thế chắc chắn không phải lựu đạn mà là mìn!
Qua ngày hôm sau, nhờ những anh em đi rừng (toán đốn củi) thu thập tin tức về kể lại, chúng tôi được biết chiều hôm trước anh em của trại bên cạnh đang cắt tranh thì đạp phải một trái “mìn ba râu”, một người chết nát xác, ba người bị thương nặng.
Lần đầu tiên nghe tin tù cải tạo thiệt mạng trong lúc lao động, chúng tôi vô cùng xôn xao, ngậm ngùi, và lo sợ cho bản thân mình. Tối về, một số anh em hiểu biết ít nhiều về mìn bẫy, đã cảnh giác anh em bạn tù trong trường hợp phải đi cắt tranh.
Theo những anh em này, trước năm 1975, phía ngoài hàng rào một số căn cứ quân sự của VNCH và đồng minh thường gài mìn chống người (anti-personnel mines) để đề phòng VC xâm nhập căn cứ, và trong trường hợp của trại tù phiến cộng Phú Quốc, còn để ngăn ngừa tù binh trốn trại.
Mìn chống người của Mỹ gồm hai loại chính: “mìn ba râu” và “mìn cóc”.
Mìn ba râu có tên này là vì nó có ba sợi râu như ba cây đinh ở phía trên, đạp phải một trong ba sợi râu này thì trái mìn sẽ bay lên khoảng 1 m và khối thuốc nổ khoảng 1kg sẽ phóng ra hàng ngàn miểng thép. Còn mìn cóc chỉ lớn hơn hộp thịt ba lát (ration C) một chút, chứa khoảng 100g thuốc nổ, người nào đạp phải, nếu miểng không trúng chỗ hiểm ở vùng hạ thân thì thường chỉ bị nát một bàn chân, phải cưa phía trên mắt cá.
Mấy ngày sau, trại tôi có một toán bị phân công đi cắt tranh; trong toán này có một trong những anh em hiểu biết về mìn bẫy đã nhắc tới ở trên. Ra tới khu cắt tranh, cán bộ quản giáo ra lệnh cho mọi người tiến hành cắt tranh, mỗi người phải đủ hai bó “chất lượng” để gánh về.
Anh tù cải tạo “chuyên gia về mìn” tình nguyện đứng ra điều động công việc. Theo sự hướng dẫn, sắp xếp của anh, tất cả anh em tù cải tạo dàn thành hàng ngang, không ai đi trước không ai đi sau, mỗi người cách nhau khoảng 3m để lỡ đạp phải mìn ba râu thì cũng chỉ một mình người đó thiệt mạng.
Thật may mắn đã không có anh em nào của trại tôi đạp phải mìn, bởi vì sau nhiều năm đất cát bị nước mưa soi mòn, hầu hết những trái mìn này đã bị trồi lên, nếu chú ý có thể nhìn thấy. Ai thấy một trái mìn thì phải hô lên cho các anh em khác biết, và lấy một nhánh cây cắm ngay bên cạnh để đánh dấu.
Khoảng nửa tháng sau, khi tôi và anh em cùng nhà bị phân công đi cắt tranh lần đầu thì chỉ cần đi theo những con đường mòn quanh co nằm giữa những trái mìn đã được đánh dấu, để tới khu cỏ tranh ở xa hơn mà anh em tin là không có mìn. Nhưng nói gì thì nói, chúng tôi vẫn “rét”, khi cắt tranh chân nhích từng bước, mắt láo liên, và chắc hẳn ngoài tôi ra còn có nhiều anh em khác cũng thầm cầu nguyện khấn vái, xin Ơn Trên, ông bà phù hộ…
Cho tới khi chúng tôi bị đưa về đất liền, đã có thêm mấy trái mìn nữa nổ nhưng đều ở các trại khác, và vì liên lạc khó khăn, chúng tôi cũng không biết đích xác có thêm bao nhiêu anh em bị thiệt mạng, bao nhiêu anh em bị cưa chân.

* * *
Cuối cùng viết về công tác cưa gỗ, đốn củi – công việc được xem là “khổ sai” đúng nghĩa.
Thực ra, nhiều người dân lúc ấy vì sinh kế cũng phải lao động cực khổ như chúng tôi, hoặc có thể hơn, nhưng ít ra họ cũng được ăn no, hoặc có đói thì cũng không đến nỗi đói như chúng tôi.
Có thể viết, kể cả thời gian sau này bị cho ăn bo bo, ăn bắp khô, khoai mì phơi khô, chưa bao giờ chúng tôi đói cho bằng thời gian ăn cơm gạo trắng ở Phú Quốc!
Ở một đoạn trên, tôi có kể khi thấy đám trung úy, thiếu úy tỏ ra “hồ hởi phấn khởi” trước những “thau” cá cho một tổ 10 người, một ông hạ sĩ quan cảnh sát đã nói “Rồi mấy ông thầy sẽ ngán cá thèm cơm cho mà xem!”
Lúc ấy, vì quá thèm “chất đạm” sau mấy tháng ăn cơm với đậu hũ lạt, chúng tôi đã không hưởn để tâm tới câu nói của ông. Chỉ tới khi ăn Tết ta xong và phải lao động nặng, chúng tôi mới bắt đầu thấm.
Trước hết nói về tiêu chuẩn gạo dưới chế độ cộng sản Việt Nam lúc bấy giờ, tôi nhớ đại khái (theo lời đám cán bộ) tùy theo mức độ nặng nhẹ của công việc mà công nhân viên chức, sĩ quan, bộ đội được hưởng từ mức cao nhất là 21 ký xuống tới thấp nhất là 13 ký một tháng. Tù cải tạo dĩ nhiên hưởng mức thấp nhất.
Tuy nhiên, dù chỉ có 13 ký, trong thời gian sống ở Thành Ông Năm, không phải lao động nặng, chúng tôi cũng đủ ăn – mỗi ngày hai bữa, mỗi bữa gần ba chén cơm.
Nhưng ra Phú Quốc, lúc ban đầu mỗi bữa chưa được hai chén, về sau chỉ còn hơn một chén. Thoạt tiên chúng tôi nghi đám cán bộ hậu cần ăn bớt gạo của cải tạo để đem bán cho dân, sau này mới biết nếu có thì cũng chỉ là nguyên nhân phụ, còn nguyên nhân chính là gạo (viện trợ của Trung Cộng) quá cũ đã bị mục, hoặc bị mọt ăn.
Một bao tạ trước kia 100 ký nay chỉ còn 70, 80 ký (nhưng cán bộ hậu cần vẫn tính 100 ký), đem về trại vo hai nước chỉ 50, 60 ký, tới khi phát cơm, mỗi thau chỉ được hơn 10 chén cơm cho 10 đầu người!
Những ngày tháng cuối cùng ở Thành Ông Năm, chúng tôi đau khổ vì thiếu muối, tới khi ra Phú Quốc chúng tôi không chỉ đau khổ mà còn kiệt lực vì thiếu tinh bột.
Chuyện bên lề tôi kể lại dưới đây, đa số độc giả có thể cho là được thêu dệt với mục đích châm biếm, chỉ có những anh em tù cải tạo từng ở Phú Quốc mới tin là có thật, bởi nó xảy ra trước mắt anh em.
Đó là chuyện “ruồi cũng cần tinh bột”!
Ở Phú Quốc có rất nhiều ruồi; điều này cũng dễ hiểu bởi Phú Quốc nổi tiếng với nghề làm nước mắm. Thành thử mỗi khi chúng tôi lãnh cơm, cá để chia nhau, đám ruồi bu theo đen kịt.
Khổ nỗi cái việc chia chác cũng khá mất thì giờ. Để cho công bằng, tránh việc so bì, kèn cựa nhau đưa tới mất đoàn kết, anh em phải thay phiên nhau làm công việc này, một người phụ trách chia cơm, một người phụ trách chia cá (và thêm một người chia canh, trong trường hợp có thêm món rau muống, bí đỏ, củ cải trắng…).
Dĩ nhiên, khi tới phiên mình ai cũng cố gắng chia sao cho thật đều, thêm chén này bớt chén kia… trước sự tấn công như vũ bão của bầy ruồi. Nhưng lạ một điều, đa số những con ruồi này chỉ bu thau cơm chứ không thèm bu thau cá, khiến “Thịnh thuốc lào” có lần đã buột miệng chửi thề với giọng Bắc kỳ… đểu:
– Địt mẹ, cả đến ruồi dưới chế độ xã hội chủ nghĩa cũng thèm tinh bột!
Cũng may cho anh, lúc đó trong nhà của chúng tôi không có (hoặc chưa có) ăng-ten!

* * *
Đói như thế nhưng khi bị phân công, chúng tôi vẫn phải đi bộ 9, 10 cây số để cưa gỗ, đốn củi. Về sau rút kinh nghiệm, một số anh em đã nhịn phần cơm chiều, nhất là những bữa có thêm món canh, để dành chén cơm nguội sáng hôm sau lót dạ trước khi đi lao động.
Cũng xin có đôi dòng về lộ trình cưa gỗ, đốn củi ở Phú Quốc.
Từ hướng nam (An Thới) đi lên hướng bắc, qua khỏi khu vực trại tù thì tới một ngã ba, rẽ trái là đường đi ra bờ biển phía tây của đảo, đi thẳng là đường đi Dương Tơ, và cũng là đường đi Dương Đông, thị xã của Phú Quốc.
Trước khi tới Dương Tơ, có một lối rẽ vào con đường đất phía bên tay mặt, sau khi băng qua nhiều nương rẫy tới một sườn núi, là nơi toán cưa gỗ, đốn củi thỉnh thoảng phải thi hành những chuyến công tác đặc biệt: tìm và đào hà thủ ô về nộp cho cán bộ.
Khi bị phân công đi đốn củi, tới ngã ba, chúng tôi rẽ trái, đi thêm khoảng 2, 3 cây số thì tới một khu rừng thấp, có chỗ ngập nước, và đi vào phía bên trong để đốn củi. Cảnh sắc thiên nhiên ở đây đẹp tuyệt vời, đủ mọi loài kỳ hoa dị thảo, những cánh bướm muôn màu, tiếng chim hót líu lo… Nhưng chúng tôi không có thì giờ để thưởng thức cảnh vật, bởi phải lo cưa củi vác về cho kịp giờ cơm trưa.
Củi nói tới ở đây thường được cưa từ những cây gỗ lớn đã bị người dân khai thác từ đời nào, họ chỉ lấy thân cây, để lại ngọn và cành, chúng tôi cưa thành từng khúc để vác về làm củi cho nhà bếp; thỉnh thoảng cũng bắt gặp một vài đống củi đã cưa sẵn, dài khoảng hơn 1 mét, đường kính cỡ 30-40 cm, có lẽ do dân chúng khai thác trước kia rồi bỏ lại, nay trở thành củi “chùa”.
Nhưng trong khi không mất công cưa, những khúc củi này thường quá nặng, một người vác không nổi, hai người khiêng thì lại quá ngắn, cho nên anh em nào cũng chê, trừ một vài tay “lao động gương mẫu”.
Trên nguyên tắc, theo chỉ thị của trại thì không có quy định về kích thước của mỗi khúc củi, mà do chúng tôi “tự giác” tùy theo sức lực của từng cá nhân. Thế nhưng trên thực tế, khi anh em tù vác, khiêng củi ra tới mép rừng, đều bị tay cán bộ quản giáo đánh giá “chất lượng”, nhỏ quá (theo con mắt của y) cũng không được, củi mục cũng không được, thế là phải quay trở vào để kiếm khúc khác, cho tới khi nào tất cả mọi người “đạt tiêu chuẩn” thì cả toán mới được đi về.
Việc này tự nó đã gây mất đoàn kết trong nội bộ tù cải tạo: một số anh em “lè phè” vác khúc củi nhỏ tới mức chính chúng tôi cũng thấy coi không được một chút nào, thế là cả toán lại phải ngồi chờ trong khi ai cũng đói bụng, cũng muốn về sớm. Lại có một vài anh em “tự giác” quá mức, tức những tay “lao động gương mẫu” đã nhắc tới ở trên; họ vác những khúc củi “chùa” lớn gấp hai, gấp ba khúc củi của những anh em khác, nên được tay cán bộ quản giáo “biểu dương” và lấy đó làm chỉ tiêu để mọi người tuân theo!
Người “nổi tiếng” nhất, bị anh em ghét nhất trong số “lao động gương mẫu” nói trên là Trung úy Nguyễn TM, Khóa 18 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang.
Anh có một thân hình lực sĩ, mỗi lần nhìn anh vác khúc củi chần dần tôi lại liên tưởng tới pho tượng thần Atlas trong huyền thoại Hy-lạp vác vũ trụ trên vai!
Sở dĩ tôi nhắc tên anh trong số những tay “lao động gương mẫu” là vì sau này ở những trại kế tiếp, có thời gian ăn chung với nhau, tôi mới nhận ra anh là một người tính tình rộng lượng, kiến thức hơn người, tinh thần quốc gia, tinh thần chống cộng cao hơn ai hết, chỉ phải mỗi cái tội “tự giác” lao động từ bằng cho tới hơn chỉ tiêu đưa ra!
Tuy nhiên, đó là về sau này, còn lúc ở Phú Quốc, tuy không ghét Nguyễn TM như đa số anh em khác, mỉa mai gọi anh là Pavel – nhân vật chính trong cuốn “Thép đã tôi thế đấy” của Liên-Xô – tôi cũng không có cảm tình với anh.
Vác khúc củi lớn gấp hai, gấp ba khúc củi của những anh em khác chưa đủ, Nguyễn TM và mấy tay “lao động gương mẫu” còn đi nhanh, và đi một lèo về trại chứ không xin cán bộ cho nghỉ dọc đường.
Mỗi khi có anh em nào thực sự kiệt sức, chẳng hạn anh bạn Thiếu úy An Đình Phương yếu ớt cùng tổ với tôi ở Thành Ông Năm, tôi hoặc một anh em nào đó phải gắng sức vượt lên, nói cho Nguyễn TM biết có anh em sắp gục, anh mới chịu dừng chân xin cán bộ cho nghỉ dăm ba phút…
Thường thường, khi chúng tôi vác củi về tới trại thì mọi người đang chuẩn bị tập họp ngoài sân cát trước hội trường để lãnh cơm trưa, dưới sự giám sát của một tay quản giáo. Đặc biệt, cứ mỗi lần tới phiên tay quản giáo người Quảng Bình (tôi quên mất tên) thì chúng tôi lại được hắn lên lớp về cách ăn uống sao cho “có văn hóa”, khi lãnh cơm không được chen lấn giành giật…
Mười lần y như một, hắn đứng trên một khúc gỗ cao, mở đầu bằng một câu duy nhất:
– Các anh chú ý nghe tôi nói này, miếng ăn là miếng nhục, vì thế các anh phải…
Đứng dưới trời nắng chang chang, người mệt lả, bụng trống rỗng, nghe tay quản giáo lên lớp một cách mất dạy như thế, chúng tôi vừa giận sôi gan vừa tủi nhục. Về sau, chúng tôi nghĩ ra được một cách “trả đũa”: khi hắn nói tới chữ “nhục” thì cả bọn chúng tôi đồng loạt nói chữ “thịt” vừa đủ để nghe với nhau.
So với muôn vàn tủi nhục đắng cay trong các trại cải tạo, câu chuyện “miếng ăn là miếng nhục (thịt)” chỉ là chuyện nhỏ, nhưng không hiểu sao riêng tôi lại nhớ suốt đời.

* * *
Khi được phân công đi cưa gỗ, chúng tôi phải đi bộ xa hơn khi đi đốn củi, nhưng lại “nhẹ tội” hơn vì không phải vác về trại.
Theo lộ trình kể trên, chúng tôi đi qua xã Dương Tơ, tới chân núi để cưa gỗ. Sau khi hạ cây xuống, chúng tôi phải cưa thành từng khúc dài khoảng 1 m, rồi xếp thành từng đống vuông vức để tính thành mét khối, khi nào đủ chỉ tiêu mới được quản giáo dắt về trại.
Nghe nói, gỗ này sẽ được bán cho người dân làm lò than (?)
Chính qua những lần đầu tiên đi cưa gỗ, khi đi ngang xã Dương Tơ, chúng tôi mới trải nghiệm thực tế hoàn hoàn trái ngược với những gì đám giáo viên và quản giáo đã nhai đi nhai lại hàng trăm lần, theo đó, một trong những nguyên nhân chúng tôi “được cách mạng đưa đi học tập cải tạo” là vì đám “ngụy quân” chúng tôi bị dân chúng căm thù tận xương tuỷ, để chúng tôi ở ngoài xã hội rất có thể sẽ bị họ xin tí huyết!
Trong lần đi cắt gỗ đầu tiên, khi chúng tôi đi ngang qua khu dân cư, một số người dân đứng trước nhà đưa tay vẫy chào, có người còn nói những lời khích lệ, đồng thời có mấy trẻ em bán bánh kẹo, đường, thuốc hút chạy tới chào hàng nhưng bị đám vệ binh xách súng chạy tới ngăn cản, không cho tới gần đoàn tù cải tạo.
Nhưng những gì xảy ra khi chúng tôi trở về mới thực sự khiến chúng tôi cảm động: lần này không chỉ có vài trẻ em mà có tới hàng chục, trong đó những em đã khá lớn, bất thần từ hai bên đường xông vào đoàn tù, dúi những bịch kẹo, những túi thuốc rê vào tay chúng tôi, miệng nói “Cho các chú đó, không lấy tiền đâu”…
Đám quản giáo và vệ binh không kịp trở tay, tới lúc đuổi được các em đi chỗ khác thì một số tù cải tạo đã nhận được quà và đút vào túi. Tôi được một bịch kẹo dừa.
Nhưng những gì xảy ra sau đó cho thấy người dân miền Nam – ở đây thu hẹp là tù cải tạo và người dân Phú Quốc – vẫn phải “thua” đám cộng sản Bắc Việt!
Khi chúng tôi về tới trại, xếp hàng một đợi vệ binh mở cổng, tên quản giáo tiến lên đứng chắn trước cổng, cao giọng tuyên bố:
– Anh nào dấu trong người những thứ dân chúng đưa cho, phải tự giác lấy ra ngay để nộp cho trại. Dân chúng họ đang căm thù các anh, lỡ họ bỏ thuốc độc, các anh ăn vào, chết thì cách mạng trả lời ra sao với gia đình các anh… Nào, lấy ra hết… Anh nào ngoan cố sẽ bị kỷ luật!
“Bị kỷ luật” ở Phú Quốc có nghĩa là “bị biệt giam”. Nghe thế, chúng tôi biết không còn lựa chọn nào khác. Tôi lấy bịch kẹo dừa ra nộp mà cảm thấy xót xa, cho dù nó có thể không ngon bằng kẹo dừa Bến Tre thì cũng là tấm lòng của người dân miền Nam đối với những người lính cũ của họ!
Rút kinh nghiệm, qua ngày hôm sau ban chỉ huy trại đã tăng cường lực lượng vệ binh tới mức tối đa. Khi một vài em bé cố len lỏi đến gần, chúng tôi cám ơn, và tóm tắt cho các em biết những gì đã xảy ra, đừng tốn công tốn của vô ích…
Bỗng một phụ nữ đứng trước nhà lớn tiếng chửi:
– Mẹ, mấy ổng có làm gì mà hành hạ mấy ổng dữ vậy!
Nhân tiện, cũng xin kể thêm lần tôi và vài anh em may mắn được hưởng “lộc đám cưới” của dân.
Nguyên trong một lần đi đốn củi ở địa điểm đã nói tới ở trên (rẽ trái tại ngã ba), sau khi vào rừng, mấy anh em chúng tôi nổi hứng đi xa hơn về hướng tây để thám hiểm, khi vác củi trở ra đường lộ để đi về chỗ tập họp thì gặp một xe đò nhỏ chở một đám cưới chạy ngược chiều, xe chật kín nên nhiều người ngồi ở cả trên mui xe. Thấy chúng tôi, cả xe vẫy tay chào. Khi xe đã chạy qua được một đoạn, bỗng nghe tiếng mấy người ngồi trên mui xe gọi rồi ném xuống một gói bánh kẹo và hai bao thuốc lá. Thật bất ngờ, chúng tôi chỉ kịp đưa tay lên vẫy chào… Lẽ dĩ nhiên, thuốc lá chúng tôi dấu trong túi, còn bánh kẹo thì phải kín đáo thanh toán trước khi về tới trại.

* * *

Sau gần nửa năm thiếu ăn và lao động khổ sai ở Phú Quốc, đa số anh em tù cải tạo chúng tôi đã kiệt quệ, thể xác cũng như tinh thần.
Giờ đây, trông chúng tôi cũng giống y như mấy ông hạ sĩ quan mà trước kia tôi đã từng nhận xét “thảm não, đen đủi, gầy còm, ánh mắt lờ đờ như không còn sinh khí…”
Về thể xác, tôi không biết mặt mũi mình lúc đó hốc hác tới mức nào (bởi vì có bao giờ soi gương) nhưng chỉ cần nhìn khuôn mặt Nguyễn TM và An Đình Phương cũng đủ để tôi suy ra.
Một cách ngắn gọn, có thể viết khuôn mặt hai người lúc ấy trông giống khuôn mặt những người mắc bệnh biếng ăn (anorexia): hai mắt hõm sâu, hai má tóp lại, hai hàm răng nhô ra…, trông giống như cái đầu lâu bọc da.
Điểm khác nhau duy nhất giữa hai người là trong khi ánh mắt của Nguyễn TM vẫn còn tinh anh thì của An Đình Phương lờ đờ mệt mỏi, như thể không còn sinh khí.
Lần đầu tiên kể từ ngày bị bắt đi cải tạo, trong đầu tôi hiện ra câu hỏi: liệu anh em cải tạo chúng tôi rồi đây sẽ có người gục chết như những người dân Nga xấu số trong cuốn “Quần đảo Ngục tù” của Aleksandr Solzhenitsyn hay không?
Nếu câu trả lời là có, tôi sợ rằng An Đình Phương sẽ là một trong những người đầu tiên. Ngày ấy, chưa xảy ra cái chết của Karen Carpenter (1950 – 1983) trong đôi song ca anh em ruột Carpenters cho nên người ta chưa biết gì về bệnh biếng ăn; bệnh trầm cảm cũng chưa có trong sách vở, nhưng cứ mỗi lần nhìn An Đình Phương, tôi lại linh cảm tới chuyện không hay!
Về tinh thần, đa số anh em chúng tôi đã đánh mất nụ cười, đã quên rằng trên đời còn có những niềm vui.
Trong một kỳ trước, tôi viết:
“Nếu ở Sài Gòn, mỗi ngày Trịnh Công Sơn dễ dàng CHỌN một niềm vui tưởng tượng, thì trong Thành Ông Năm anh em tù cải tạo chúng tôi phải cố TÌM một nguồn vui có thật.”
Nhưng ở Phú Quốc thì “nguồn vui có thật” không có đã đành mà “niềm vui tưởng tượng” cũng không thể tìm được. Bởi chúng tôi đã chán nản, tuyệt vọng!
Thực ra, đôi khi vẫn có những tiếng cười nổi lên đấy, nhưng không phải tiếng cười thoải mái, thích thú, mà là tiếng cười châm biếm, cay đắng, chịu đựng.
Trong tình thế tuyệt vọng ấy, có tin đồn một số anh em Hải Quân đã bắt liên lạc được với thuộc cấp cũ hiện sinh sống ở Phú Quốc để nghiên cứu kế hoạch vượt thoát. Bằng đường biển, dĩ nhiên.
Tôi so sánh vị trí của đảo Phú Quốc với những gì trong cuốn truyện “Người tù khổ sai” (Papillon) và tin rằng một cuộc vượt thoát từ Phú Quốc sang vịnh Thái-lan ra vẻ thuận lợi hơn nhiều.

* * *
Nhưng tới khi những anh em Hải Quân nói trên đã có kế hoạch vượt thoát, và chúng tôi đang chuẩn bị chào đón các đàn anh cấp đại úy và cấp tá từ đất liền ra địa ngục Phú Quốc, thì xảy ra một biến cố khiến kế hoạch vượt thoát phải hủy bỏ, đồng thời CSVN cũng phải tạm ngưng kế hoạch “biến Phú Quốc thành một trung tâm kinh tế hàng đầu của tỉnh Kiên Giang”, đó là việc quân Khờ-me Đỏ lại tiến đánh đảo Thổ Châu.
Đảo Thổ Châu nằm về hướng tây tây nam Phú Quốc, cách xa bờ biển Căm-bốt cả trăm cây số mà Khờ-me Đỏ còn dám đánh, thì nói gì tới Phú Quốc, chỉ cách Krong Kampot có 25 cây số, trong khi xa Hà Tiên gần gấp năm lần!…
Và một khi chúng đánh Phú Quốc thì rất có thể mấy ngàn tù cải tạo sẽ nhân sẽ lúc rối loạn mà trốn trại hay nổi loạn. Vì thế, ngay sau khi được tin cấp báo, nhà cầm quyền cộng sản trung ương đã ra chỉ thị phải đưa tù cải tạo ở Phú Quốc về đất liền trong thời hạn ngắn nhất!
Tất cả những tin tức, diễn tiến nói trên về sau chúng tôi mới được biết, còn ngày ấy chúng tôi chỉ biết đùng một cái, có lệnh chuyển trại cho nên ai nấy đều hoang mang.
Buổi sáng hôm ấy, toàn bộ đám sĩ quan trong trại sau khi xếp hàng ngoài sân đã được thông báo hôm nay không có công tác, rồi vào hội trường nghe Ban chỉ huy trại thông báo lệnh sẵn sàng chuyển trại.
Sau phần thông báo tới phần kêu gọi tù cải tạo tình nguyện đi theo “khung” (tức đơn vị coi tù) về Kiên Giang.
Đứng trước hai lựa chọn, một là phó mình cho số mệnh, trung ương muốn đưa đi đâu thì đưa, hai là theo “khung” về Kiên Giang để tiếp tục nằm dưới quyền sinh sát của họ, tuyệt đại đa số sĩ quan cải tạo đã chấp nhận thà đánh bạc với số mệnh còn hơn tiếp tục sống dưới bàn tay của đám hung thần!
Cuối cùng, ban chỉ huy trại đã giải quyết bằng cách căn cứ vào bản tự khai “lý lịch trích ngang”, những ai sinh quán ở Vùng 4 (đồng bằng sông Cửu Long) bắt buộc phải đi theo họ!
[Những gì sẽ xảy ra cho những anh em “xấu số” này là chuyện khó tin nhưng có thật, tôi sẽ kể trong một kỳ tới]
* * *
Ngay buổi chiều hôm đó, những người đã “gửi” tư trang vàng bạc cho cách mạng “giữ” được hoàn trả trong một cái bao nylon có ghi tên họ. Trong số những anh em tôi quen biết chỉ có một người bị thất thoát: gửi sợi dây chuyền với cây thánh giá nay chỉ còn sợi dây chuyền, nhưng anh không muốn khiếu nại vì sợ… bị bắt ở lại để chờ giải quyết!
Ngày hôm sau, đám sĩ quan chúng tôi được lệnh ăn cơm chiều sớm hơn thường lệ, rồi điểm danh và rời trại vào khoảng 6 giờ chiều. Ra khỏi trại, chân bước về phương nam (An Thới), bỗng dưng tôi cảm thấy hơi choáng váng, không phải vì yếu mệt mà vì tôi như đang ở trong một giấc mơ… Định thần lại, tôi biết mình không mơ, mà tôi thật sự đang bỏ địa ngục Phú Quốc lại sau lưng…
Tới An Thới, chúng tôi thấy một chiếc tàu há mồm đã chờ sẵn, nhưng lớn hơn chiếc HQ-405 nhiều, đó chiếc dương vận hạm HQ-501 Đà Nẵng (sau này CSVN trong khi vẫn giữ phiên hiệu HQ-501, đã đổi tên thành Trần Khánh Dư, vốn trước kia là tên chiếc khu trục hạm HQ-4 của Hải Quân VNCH).

Chiếc HQ-501 trước kia là tàu đổ bộ USS Maricopa County, LST-938 của Hải Quân Hoa Kỳ.
LST là viết tắt của “Landing Ship, Tank”, loại tàu đổ bộ hạng nặng, trọng tải hơn 4000 tấn, phía dưới là hầm chứa chiến xa, phía trên là boong tàu để chở binh sĩ, có khả năng tiếp nhận phi cơ trực thăng.
Thấy chiếc dương vận hạm, anh em tù cải tạo gốc Hải Quân cho chúng tôi biết với trọng tải gần gấp 6 lần chiếc hải vận hạm HQ-405, chiếc HQ-501 bất chấp sóng to gió lớn, chạy rất đầm, rất êm.
Thế nhưng thay vì lên boong tàu, đoàn tù cải tạo lại được lệnh đi xuống hầm chứa chiến xa, cả ngàn người ngồi chen chúc nhau. Khi tàu kéo tấm bửng lên và đóng hai cánh cửa ở mũi tàu lại thì hầm tàu trở thành một cái hộp kín mít, với chút ánh đèn điện vàng khè.
Không khí dưới hầm càng lúc càng trở nên nóng bức và khó thở. Tàu chạy được hơn một tiếng đồng hồ thì ai nấy mồ hôi đầm đìa, phải cởi hết quần áo trừ cái quần xà-lỏn.
Khác với chuyến đi ra Phú Quốc trên chiếc HQ-405, tù cải tạo ngồi dưới sàn, phía trên là bộ đội canh gác, được nhìn thấy chút trời xanh, được hít thở không khí trong lành, trong chuyến trở về, ngồi dưới cái hầm kín mít của chiếc HQ-501, chúng tôi hoàn toàn bị cô lập, với thiên nhiên, với con người, anh em nào mắc tiểu tới mức không thể nín được, đã phải “xả nước” vào thành tàu.
Mấy anh em gốc Hải Quân chỉ cho chúng tôi thấy mấy cái quạt hút thật lớn ở phía trên nhưng không có cái nào chạy, không hiểu đã bị hư hết hay chỉ vì đám cán bộ cộng sản muốn hành hạ tối đa những kẻ thù bị sa cơ thất thế?!
Tới quá nửa đêm, một vài anh em không còn có thể chịu đựng được tình trạng ngộp thở nữa, hay viết một cách khoa học hơn, tình trạng thiếu oxy đã khiến não bộ con người không thể hoạt động bình thường, bắt đầu chửi rủa “Việt Cộng”. Cho tới nay, tôi vẫn còn nhớ như in hình ảnh một người bạn tù trần trùng trục, đứng ưỡn người nhìn lên boong tàu, vừa vỗ hai tay vào ngực mình vừa hét lớn:
– ĐM Việt Cộng! Tụi mày có ngon cứ bắn tao đi, tao chết sướng hơn… ĐM tụi bay…
Anh cứ lập đi lập lại câu chửi ấy nhưng không thấy bất cứ phản ứng nào từ phía quân thù, mặc dù, theo sự quan sát của tôi, luôn luôn có mấy tên vệ binh canh chừng sau mấy cái khung sắt ở hai bên thành tàu.
Trong những điều kiện tồi tệ cùng cực, dĩ nhiên không một anh em tù cải tạo nào có thể ngủ. Nhưng thật tình mà nói, có người nào ngủ hay có người nào chết, tôi cũng không thể biết bởi vì đa số đều nằm bất động như nhau!…
Khoảng trưa ngày hôm sau, chiếc HQ-501 thả neo, mở hai cánh cửa trước mũi, hạ bửng để tù cải tạo có thể ra phía trước tiểu tiện, và tôi lại nhìn thấy Núi Lớn: Vũng Tàu!









Quần đảo ngục tù

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Ngọc Thứ Lang, Ngọc Tú

Post by Sơn râu 18 May 2025

15. Quanh co quần đảo/Cuối/

Trong cuộc đời tù đày có hình thức di chuyển nào phóng khoáng cho bằng được đi riêng rẽ, có hộ tống đặc biệt? Nhiều thằng Zek từng đi đảo hay đính chính từ đảo này sang đảo khác gần như du khách đi tự do, nhưng dù sao vẫn tối thiểu số. Riêng phần tôi trước sau được 3 lần hộ tống đặc biệt. 
Phải là giới chức cao cấp mới có quyền chỉ định một vụ hộ tống đặc biệt. Xin đừng lầm với lệnh trưng tập đặc biệt. Đi trưng tập vẫn phải sinh hoạt chung một xe với đám đông, chịu chung luật đính chính như mọi người. Đến nơi mới được tách riêng để đãi ngộ đặc biệt, trong lúc di chuyển vẫn có thể gặp nhiều chuyện. 
Thí dụ như kỹ sư Ans Bernsthein đang nằm trong một trại Cải tạo mạn Bắc bị trưng tập đặc biệt xuống miền Nam sông Volga gia nhập phái đoàn Canh nông. Đi dọc đường cũng phải nghiến răng chịu đựng mọi sự hành hạ cực khổ, lính hộ tống chửi mắng đánh đập, chó bẹc-giê táp như ai! Xuống ga xép Zenzevatka bỗng có một ông giám thị ra đón, không xách súng mà còn tiếp đón lịch sự. Hắn vừa che miệng ngáp vừa nói: 
“Bây giờ tối rồi. Khuya nay ông ở tạm nhà tôi. Ông có thể đi dạo chơi quanh quanh ngoài phố sáng mai tôi sẽ đưa vô Trại.” 
Chao ôi, “ông có thể đi dạo chơi quanh quanh ngoài phố”. Còn gì sung sướng, bất ngờ bằng! Lãnh án đi đày 10 năm, cuộc đời kể như bỏ, suốt ngày chen chúc như chó trong toa xe tù Stolypin, sáng mai sẽ lại nhập Trại, ai dám ước ao đi dạo chơi quanh quanh? Ans Bernsthein hồi hộp bước ra ngoài mảnh vườn nho nhỏ xếp ga, lắng nghe đàn gà về chuồng kêu ríu rít, đứng ngó mấy bà bạn hàng nhà quê thu dọn những hũ bơ, những trái dưa còn ế mang về nhà. Hắn ngơ ngẩn thử cất bước coi sao, một bước, hai bước, ba bước, Hắn bước đi tới bước thứ 5 mới dám tin là không bị lính gác kêu giật ngược: “Ê thường kia, đứng lại!”. Mừng mừng tủi tủi Ans Bernsthein đưa tay sờ từng nhánh xương rồng ngoài hàng rào. 
Đi hộ tống đặc biệt là đặc biệt ngay từ đầu. Khỏi đi toa Stolypin, khỏi bẻ quặt tay sau lưng, khỏi ngồi bệt xuống đất đếm đầu, khỏi lột truồng ra xét. Lính hộ tống coi bộ nể vì, thân thiện. Có bắt buộc phải cảnh cáo theo thủ tục áp tải cũng chỉ nhẹ nhàng: 
“Ông bạn đừng chạy hoảng nghe? Buộc lòng tụi tôi phải nổ đấy! Tụi tôi thằng nào trong túi chẳng có súng sáu lên đạn sẵn? Tụi tôi phải dặn hờ trước vậy để ông bạn đi đứng cho tử tế, tự nhiên, đừng để bà con thấy đang bị áp giải.” 
Tôi đã được đãi ngộ tốt như thế đó! Vậy thì gây rối làm chi cho sứt mẻ mối liên hệ lưỡng lự giữa nhà nước và công dân? 
Phải nói là cuộc đời tù tội của tôi “lên hương” sau bữa ra sắp hàng trong toán thợ mộc. Coi, mới làm thợ có ít ngày mấy ngón tay quen cầm bào đục đã muốn co quắp, duỗi ra thấy ngượng nghịu rồi! Gã cặp rằng ban mộc kéo tôi sang một bên rỉ tai: “Anh bạn, in hình có lệnh của Bộ trưởng Nội vụ thì phải.” 
Tôi choáng người: Lệnh gì đây? Lúc tan hàng mấy gã Công vụ, có vai vế nhà lao bèn bu lấy tôi. Kẻ thì: “Chắc anh bị một củ nữa quá” nhưng mấy người khác nhất định: “Trả lại tự do”. Có lệnh Bộ trưởng Nội vụ, đồng chí Kruglov đâu phải chuyện chơi? Ngay tôi cũng chẳng biết mịnh sắp bị chồng thêm án, hay phóng thích nữa! Tôi quên khuấy vụ phái đoàn Trung ương tới Trại cỡ nửa năm trước chỉ thị lập hồ sơ kiểm tra. (Hồi đó chiến tranh vừa dứt, con dân quần đảo có lệnh kiểm tra hết. Trại nào cũng có chỉ thị xúc tiến gấp, nhưng đã hoàn thành thế nào được?) 
Hình như trong bảng lược giải cá nhân của từng thằng Zek mục quan trọng nhất là “nghề nghiệp, chuyên môn”. Thằng nào chẳng tính toán trong đầu, xét coi nghề gì có giá nhất trong Quần đảo là tương đại vào? Nào thợ hớt tóc, thợ may, thủ kho, thợ làm bánh, Riêng tôi, sau khi nhíu mày suy nghĩ một chút, thản nhiên điền vô ô trống: Vật lý nguyên tử. Sự thực tôi có nghề này bao giờ! Mớ kiến thức nguyên tử loanh quanh “những điều nghe thấy” ở Đại học từ thời tiền chiến. Tối đa trong đầu tôi cũng chỉ có năm bảy ký hiệu nguyên tử vớ vẩn, mấy phương trình loạc choạc. Nhưng tôi cứ khai bừa vật lý học nguyên tử, vì năm ấy mới là 1946 còn cần ban nguyên tử quá mà. Vả lại tôi có đặt nặng vấn đề kiểm tra lý lịch, hồ sơ quần đảo đâu? Tôi khai nghề nghiệp rồi quên liền. 
Bọn Zek tụi tôi thằng nào chẳng tin là giữa quần đảo ngục tù có những hòn đảo biệt lập vô cùng sung sướng? Chẳng hiểu những hòn đảo thần tiên đó có thực không hay chỉ là, những thiên đường trong huyền thoại. Đó là một sự thực chưa kiểm chứng nhưng cũng chưa bị ai cải chính bao giờ. Nó kín lắm, bí mật lắm. Có ai biết nó nằm đâu? Mà có biết, có ở cũng chẳng tiết lộ! Nội khoản thực phẩm ở đó cũng thiên đường. Sữa tươi, mật ngọt ê hề. Hột gà, kem tươi làm chuẩn. Chỗ ở sạch sẽ, thảnh thơi, ấm áp là cái chắc. Chẳng phải làm gì mệt nhọc. Chỉ hướng đầu óc về sự tìm tòi, phát minh – tất cả đều mật tối mật. 
Những lần di chuyển đặc biệt đó tôi có cảm giác lâng lâng rõ ràng mình phải là người cõi khác mà người trần mắt thịt làm sao nhận ra. Bọn họ thấy sao nổi nhưng mình, nhìn thấy hết, biết hết! Thực vậy, tôi như chìm đắm vào một biển cả tự do ở sân ga có dịp chen vai thích cánh với những người là người, thấy tấm bảng kế bên dù chẳng liên quan gì cũng cứ ngẩn ngơ ngó. Ngồi dựa lưng trên băng xe toa hành khách, tai tôi lắng nghe những mẩu chuyện vô nghĩa, vô duyên. Nào chuyện thằng chồng vũ phu, gã sở khanh bỏ nhà. Nào chuyện nàng dâu, chuyện mẹ chồng. Những đứa ở công ốc xài điện câu trộm ở hành lang mà bước vô nhà không thèm chùi chân. Những chuyện vu vơ ở sở ấy sở nọ. Có thằng có chỗ làm ngon hơn nhiều mà phân vân không muốn dọn nhà. Nồi niêu soong chảo bao nhiêu thứ bộ mỗi lúc dọn dễ lắm sao? 
Những mẩu chuyện dấm dớ lọt vào tai tôi hết. Nghe chịu không nổi, đúng là chuyện của những người trần mắt thịt, những đứa u mê bưng kín mắt, miệt mài chẳng biết gì hết. Sống như vậy mà tưởng đã là sống thiệt sao, hỡi ơi! Phải như thế này, phải như tôi mới gọi là sống. 
Giữa bọn họ và tôi là cả một vực thẳm. Ngồi gần nhau trong gang tấc nhưng tuyệt nhiên không thể hoà đồng, không thể đụng chạm, cười khóc cùng. Xét ra cùng ngồi đây nhưng tôi chỉ là một hồn ma, bọn họ là người, bọn họ có thực thể! 
Làm sao có thể truyền cảm với họ, cho họ biết họ thấy…? Bằng cách giao cảm, bằng huyễn ảnh, một giấc mơ chăng? Họ là người, đồng loại, đồng bào tôi đấy! Họ đang sống đấy! Này giữa đêm đen âm u, lặng ngắt những cánh cửa khám tử tù bật mở, có những con người bị nắm đâu, xách đi bắn bỏ. Giữa giây phút này, cũng đang ngồi xe lửa như thế này ở một đoạn đường nào đó, có những con người nuốt trộng mẩu cá khô, lưỡi rát bỏng thè ra liếm đôi môi khô. Có những con người cũng ngồi xe lửa giờ này đang ước gì được duỗi chân một lát cho sướng, đi cần được một cái cho thoả thuê. Này ở Orotukan đó, có những con người phải đợi hè về, cắm cúi đào lớp đất sâu 1 mét lúc ấy vừa rã băng mới chôn được những xác khô, những con người vừa ra đi trong mùa băng giá. Này phải chi được sống tự do để ngước nhìn trời xanh nắng chiếu, để uống một miếng nước hoặc được duỗi chân ra, đi lại không bị áp giải. 
Như vậy đó, chùi chân hay không chùi chân có nghĩa gì? Chuyện mẹ chồng, chuyện nàng dâu là cái gì? Mà sống trên đời này để làm cái gì đã nào? Mấy người muốn nghe không? Tôi sẽ kể ngay bây giờ. 
Tôi kể chớ. Tôi muốn nói đừng cắm cúi chạy theo tiền tài danh vọng. Bao nhiêu tâm sức trong mấy chục năm trời chỉ cần một đêm là mất sạch. Sao không vượt ra, đứng trên hẳn cuộc đời này, để hoạ không sợ, phúc chẳng màng? Xét cho cùng hoạ hay phúc thì cũng như nhau. Chẳng hoạ mãi bao giờ cũng như phúc chẳng thừa đến tràn trề. Cuộc đời nếu lạnh không chết cóng, bụng không biết đến đói khát là đủ. Chân tay còn nguyên vẹn, cử động và đi đứng được, lưng chưa gãy gập và mắt còn sáng tai còn tỏ là đủ. Không ao ước, không thèm thuồng để tự hành hạ mình. Hãy dụi mắt và làm mới con tim: trên đời này còn gì quý bằng những người có tình cảm với mình, chỉ mong cho mình khá? Với những người ấy đừng giận dữ, trách móc, làm buồn họ. Biết đâu chừng vừa sanh sự với nhau, là mình bị bắt và cử chỉ cuối cùng của mình sẽ vươn vấn họ suốt đời? 
Tôi muốn nhắn nhủ với họ như vậy nếu 2 ông hộ tống không gõ gõ báng súng sáu nhét trong túi. Tôi nhớ ra ngay nên ngồi yên lặng, ngồi đàng hoàng như hai người bạn đồng hành hai bên. 
Tôi đưa tay chùi mồ hôi trán, nhắm mắt lại rồi mở ra. Vẫn lù lù trước một mặt bọn người không bị áp giải. Không thấy lính canh. Tôi thấy tối đêm rồi nằm xà lim, đêm mai vẫn xà lim. Có bóng người lù lù, nhưng chỉ là gã soát vé đi kiểm soát. “Có chứ. Vé tôi đây.” 
Toa xe hôm ấy đông. Nhưng đông khách chớ không đông người nằm chui gầm ghế, người ngồi bó gối dưới sàn, người choán đường đi. Hai ông hộ tống dặn tôi ngồi đứng tự nhiên như mọi người. Tôi tự nhiên chớ sao? Rất tự nhiên tôi đứng bật dậy, mau mắn chạy tới chiếm chiếc ghế trống ngay sát cửa sổ. Tôi ngồi vào chỗ. Mấy ghế bên cạnh có người cả rồi. Hai ông hộ tống ngồi nguyên chỗ cũ, những cặp mắt âu yếm không rời tôi. 
Đến ga Perebory bỗng có một ghế trống trước mặt. Một ông hộ tống nhấp nhổm tính sáng choán chỗ nhưng không kịp. Nhanh như cắt một kẻ lạ mặt đã ào vô ngồi. Khuôn mặt hắn no tròn, áo khoác da cừu, khăn choàng cổ cũng lông cừu. Hắn còn xách theo chiếc rương gỗ, giản dị nhưng chắc chắn: đúng là sản phẩm của quần đảo! 
Có một chỗ ngồi rồi, hắn thở phào sung sướng. Đèn ca-bin sáng mờ mờ, mặt hắn đỏ rừng. Chắc lên xe vội vã lắm, lại nhậu khá say. Quả nhiên hắn lôi đâu ra một chai la-ve, giơ lên cho tôi coi và thân mật mời: “Có la-ve đây, làm một ly không, đồng chí?” 
Làm gì tôi chẳng biết hai ông bạn hộ tống ngồi ghế bên kia đang khó chịu dữ? Tôi đâu được phép uống rượu, bất cứ một thứ rượu gì. Nhưng họ lại căn dặn “phải xử sự, đi đứng sao cho thật tự nhiên” mà. Vậy tôi phải tự nhiên. Rượu có người mời, từ chối sao tiện? Tôi bèn gật đầu: “La-ve hả? Được lắm chớ.” 
(Chao ôi, la-ve! Cả một bài thơ tuyệt tác. Từ 3 năm nay tôi đâu có diễm phúc tợp một ngụm la-ve. Trời ơi, vô xà lim ngày mai tôi có quyền khoe ầm lên: “La-ve hả? Hôm qua vừa uống xong!”) 
Hắn rót ra một ly mời tôi. Tôi cầm lấy, làm một hơi dài, khoan khoái đến rùng mình! Lúc bấy giờ đã tối hẳn, trong toa xe đâu có đèn điện. Bao nhiêu năm chiến tranh mà. Chỉ có một mẩu đèn cầy nho nhỏ đặt trong cây đèn cổ lỗ treo ở cửa: mỗi ca-bin có hai hàng ghế ngồi châu đầu mà 4 ca-bin mới chia nhau một cây đèn cầy. Cho nên hắn ngồi ghế đối diện mà mặt mũi ra sao tôi chỉ thấy mờ mờ. Nếu tôi nói chuyện nho nhỏ đủ nghe thì ông bạn hộ tống muốn nghe lén cũng không nổi vì tiếng bánh xe nghiến xuống đường rầy rầm rập. Ông bạn la-ve coi bộ dễ tính quá, tôi đã tính chuyện nhờ vả. Trong túi tôi có sẵn 1 bưu thiếp, ghi sẵn địa chỉ gia đình. Nhờ hắn bỏ thùng thư giùm chắc được. Hắn làm gì chẳng hiểu hoàn cảnh tù tội, coi cái rương gỗ kia là biết liền. Chưa kịp mở lời hắn đã xuề xoà cho biết: 
“Gớm, hồi này khó khăn quá! Mãi mới có cái giấy đi phép thường niên. Mà hai năm chưa biết đến nghỉ phép là gì đấy! Thật không có ngành nào khổ sở khó khăn bằng!” 
“Ngành nào mà ghê thế?” 
“Ủa, không biết hả? Tôi An ninh Quân đội, MVD mà. Dân cầu vai xanh mà. Thấy cầu vai xanh bao giờ chưa?” 
Chết cha! Giản dị vậy mà tôi không đoán ra, Ga Perebory là trạm chánh đi vô Trại Vologag mà. Thấy chiếc rương đặc biệt quần đảo là tôi phải hiểu nó ở đâu ra, chủ nó thuộc hạng người nào rồi. Kỳ lạ, ca-bin xe một thằng Zek hai ông MVD hộ tống đã là nhiều. Giờ lại có thêm một MVD nữa. Quanh đây dám có một ông thứ tư và toa này cũng dám có một thằng đang được hộ tống như tôi. 
Ông bạn MVD đi nghỉ phép cứ cằn nhằn, phàn nàn luôn miệng. Cơ quan sao khó quá, hai năm trời mới biết đến tấm giấy nghỉ phép! Tự nhiên tôi thấy cần phải xỏ vô người khi không lãnh 10 năm chẳng về phép một lần thì không biết còn khổ đến chừng nào?. 
Nghe tôi đụng đến địa hạt cấm kỵ hắn vội nín khe. Mãi đến sáng hôm sau cũng không nói thêm một câu. Nãy giờ đèn mập mờ chắc hắn yên chí tôi cũng lính tráng gì đây, sơ-mi nhà binh, áo nửa nhà binh nửa dân sự mà. Nhưng thực sự tôi là cái gì thì biết đâu đấy. Dám Công an nhân dân lắm. Hay nhân viên Nội An đi truy nã bọn đào tẩu không chừng. Toa xe này là thứ đặc biệt, đâu phải ai lên ngồi cũng được. Có mặt tôi sờ sờ mà hắn dám chỉ trích, phàn nàn Cơ quanthì…. 
Lúc bấy giờ đèn cầy vừa tàn, bấc đèn còn cháy vớt. Trên ngăn để hành lý trống trơn có gã trẻ tuổi nằm từ hồi nào. Nghe bà con trò chuyện hắn cũng lên tiếng góp, vui vẻ kể chuyện chiến trường, những mẩu chuyện chẳng đặc sắc gì nhưng không có trong sách báo. Hắn ở một đơn vị Công binh chiến trường nên mắt thấy tai nghe những gì kể lại trung thực, không đánh bóng, không tô vẽ. Vì là chuyện thực nên bà con nghe chăm chú lắm. 
Phần tôi thiếu gì chuyện hay, chuyện lạ. Tôi cũng muốn kể lắm chớ. Nhưng thôi, nhắc làm chi những chuyện đã qua hẳn rồi. Đồng ý 4 năm chiến đấu thật nhưng tất cả đã tan biến hẳn. Ngay tôi cũng không ngờ có những chuyện như vậy đã xảy ra. Không muốn nhớ nữa. Hai năm quần đảo đã bôi xoá sạch, nào ký ức Chúa Trời, nào tình đồng đội tiền tuyến. Có còn gì đâu? 
Thì ra nằm Trại Cải tạo 2 năm vừa có dịp ở mấy giờ giữa khối người tự do tôi đã cảm thấy lạc lõng, câm nín. Muốn nói nhưng không nên lời, tay như bị trói buộc. Đây không phải đất sống của tôi nữa rồi. Tôi muốn trở về, trở về đất cũ, về quê hương tôi nơi Trại Cải tạo! 
Sáng ra tôi cố tình để quên tấm bưu thiếp ở ngăn hành lý bên trên. Thế nào chẳng có nhân viên Hoả xa lên quét dọn toa xe hàng ngày? Một mụ lao công nào đó chắc chắn sẽ lượm được nó và nếu còn là người, còn có lương tâm mụ sẽ nhặt lên, bỏ giùm vô thùng thư. 
Xe lửa dừng. Chúng tôi ra ga, ga miền Bắc Mạc Tư Khoa chớ xa lạ gì. Hai ông hộ tống đâu có biết đường phố thủ đô. Tôi lại phải làm hướng đạo. Đi, tụi mình đi xe điện hạng B. Xe điện thì bến xe ở chỗ giữa Công viên kia. Giờ này buổi sáng là giờ đi làm chuyến xe nào chẳng đông? Một ông hộ tống vội bước lên, tới cạnh mụ lái xe điện chìa tấm thẻ hành sự MVD ra. Chúng tôi lên toa xe trên, nghiễm nhiên có quyền đứng sừng sững làm như nghị viên thành phố vậy. Lại khỏi móc tui mua giấy xe nữa! Toa xe này có phải ai muốn lên cũng được đâu. Già cả, què cụt cũng phải xuống toa dưới, ráng mà chen chúc. 
Sắp tới ga xe điện Novoslobodskaya, chúng tôi chuẩn bị xuống. Quả thực đây là lần đầu tiên tôi được quan sát khám Butyrki từ phía ngoài. (Còn nằm khám này thì đã nằm đúng 4 lần, nhắm mắt cũng vẽ được bản đồ đầy đủ chi tiết!) 
Chao, không ngờ Byturki đồ sộ đến thế! Nó chiếm trọn hai khu phố liền, vách cao sừng sững. Cửa lớn đây kia, phải nói là thấy cánh cửa thép của nó kéo vẹt sang một bên là dân Mạc Tư Khoa nhiều anh rét! Nhưng tôi thì dễ quá: Rời bỏ vỉa hè tự do bên ngoài, tôi đi thẳng vô chòi canh trấn trước cửa lớn thản nhiên như đi về nhà mình vậy. Này phần ngoài cùng, mấy cánh cửa lớn gỗ chạm kia tôi còn lạ gì. Sau đó hẳn là mục kê khai và kiểm soát lý lịch. Ai chẳng phải quay mặt vô vách nghe câu hỏi quen thuộc: “Tên gì, họ gì, tên lót, năm sinh…” 
Tên tôi ư? Tôi là Hồn đi hoang ngoài vũ trụ. Xác thân bị buộc chặt rồi nhưng hồn thì bay bổng vô phương cầm giữ. 
Tôi biết chứ. Vô đây là thân xác sắp trải qua một đợt thủ tục nhập môn thường lệ, đúng thứ tự. Nào phòng tạm giam, nào khám xét, nào biên nhận vật dụng ký kho, rồi ghi danh vô sổ cái, rồi tắm người, rang quần áo. 
Xong ngần ấy cửa ải là vô tới xà lim. Căn phòng lớn, trần cánh cung, 2 đầu vòm cao tuốt (xà lim Byturki mà). Thế nào chẳng có hai cánh cửa mở rộng, một dãy dài bàn, hộc tủ, Đám người trong đó mặt nào chẳng khôn ngoan, săn đón, thân thiện? Có thằng mới vô thế nào chẳng có vụ tay bắt mặt mừng, giới thiệu hỏi han, rồi chuyện qua chuyện lại dứt không ra, quên cả buồn ngủ. 
Mấy chén, bát được phân phát. Chiếc nào chẳng dánh dấu rành rành BU-TYUR như nhau? Ra điều vật dụng sở hữu của BUtyrskaya TYURma, tức Khám đường Byturki, nhưng riêng với chúng tôi lại là Trung tâm săn sóc sức khoẻ đệ nhất hạng. Nó nằm sờ sờ ngay giữa lòng thủ đô mà tiếc thay mấy ông lớn bệ vệ, thừa mỡ không để ý. Muốn bớt đi ít nhiều ký mỡ dư họ bày đặt đi tới Kislovodsk để uốn mình đúng một tháng trời theo phương pháp khắc khổ: Ngày ngày đi bộ đường rừng, chống tay nâng lên hạ xuống tập cốt cho đổ mồ hôi. May ra bớt được từ hai tới ba kí lô mỡ tối đa. Phải chi vô Trung tâm săn sóc Byturki thì xong ngay! Chẳng cần tập luyện theo phương pháp gì, chỉ ngồi một chỗ và trong vỏn vẹn một tuần lễ là vị nào cam đoan cũng mất được 8 kí lô thịt sắp lên. 
Đó là phương pháp điều trị Byturki, từng thử thách đã nhiều và chưa bao giờ thất bại.°

Một trong những sự thực anh học được trong tù là thế giới quá nhỏ hẹp, nỏ hẹp quả. Quần đảo ngục tù thuộc hệ thống Gulag trải rộng khắp Liên bang Xô Viết thực nhưng thưa dân hơn nhiều, làm sao bằng nổi? Dân quần đảo được bao nhiêu? Chẳng ai biết con số chắc chắn nhưng cam đoan không lúc nào dưới 12 triệu con người, xét vì một kẻ về với đất là một kẻ sẽ được Bộ Máy đưa vô trạm ngay tức khắc 1. Trong 12 triệu tù thì tù chính trị tối đa chỉ chiếm một nửa tức 6 triệu người. 
6 triệu con người bị giam vì chính trị! Thụy Điển, Hy Lạp dân số cũng chỉ ngần ấy là cùng. Lạ một điều dân quần đảo đông thế mà thiếu gì người biết nhau. Nói tên ra là nhận quen liền. Chẳng hạn như trong xà lim khám tạm dọc đường, anh vừa đặt chân vô thì sau một hồi thăm hỏi gần xa kể như chắc chắn sẽ lòi ra một kẻ từng quen biết một vài bạn anh. 
Trường hợp Alexander D. mới lạ lùng. Nhốt cát-xô trên một năm, sau khi đi Sukhanovka bị đồng chí Ryumin đích thân tra tấn, nằm nhà thương ra, mới được tống vô loa Lubyanka. Vậy mà vừa vô xà lim, cho biết tên họ đã có một người chạy tới thân mật vỗ vai: 
“Chà, nghe đại danh đã lâu bây giờ mới gặp mặt.” 
Người lạ mặt vồn vã hỏi thăm và xưng danh F.. Với quá nhiều kinh nghiệm ở tù, Alexander thấy tốt hơn là né trước: 
“Ô hay, ông bạn là ai? Tôi nhớ chưa được gặp.” 
“Đúng chưa gặp! Nhưng quen thì có thể nói lâu rồi. Từ ngày…” 
“Ủa, từ ngày nào?” 
“Từ ngày tôi còn tự do, đọc báo thấy tên ông bạn! Alexander D. công dân Mỹ phải không? Ông bạn là người Mỹ hồi đó báo chí tư bản phản động cứ vu cáo bị Nga bắt cóc làm thông tấn xã Tass phải cải chánh mãi. Có phải Alexander D. đó không?” 
“Đúng là tôi!” 
Tôi chịu những lần có thêm một dân cũ nhập xà lim. Phải là dân cũ, những tay từng tù ngục quen, chớ chẳng phải một tay mơ vừa bị nắm cổ lần đầu, vô xà lim là rầu rĩ, xuống tinh thần chán chết! Chính tôi cũng còn khoái giây phút đầu tiên gia nhập xà lim mà. (Cũng may, nhờ Trời tôi không bị thêm lần nào nữa!) Miệng tươi cười, tay đưa lên chào chung: “À, anh em nhà cả!” 
Lần này tôi cũng cười cởi mở và chào như thường lệ, quăng ba lô ra sàn và có lời thăm hỏi: “Thế nào, các anh em? Một năm nay mới trở lại, Byturki có gì thay đổi, có gì lạ?” 
Thế là trò chuyện trao đổi. Có một tay xưng tên Suvorov, 58 tuổi. Nhìn qua thì gã có gì đặc biệt đâu? Để ý nhìn một hồi cũng vẫn không ra. Hắn nói từng nằm Krasnoyarsk, chung xà lim với Matkhotkin. 
“Ủa, Matkhotkin! Phi công chuyên bay đường Bắc cực?” 
“Đúng! Tên hắn được…” 
“… được đặt cho một hòn đảo trong Vịnh Taimyr. Cũng bị điều 58, khoản 10 đấy. Sau bị đưa đi Dudinka.” 
“Đúng rồi! Sao anh bạn biết?” 
Tuyệt quá! Vậy là lại biết thêm được ít chi tiết liên quan đến một nhân vật đặc biệt mà tôi chỉ nghe tên, chưa hề thấy mặt. Có lẽ không bao giờ! Nhưng cuộc đời của phi hành gia Matkhotkin thì tôi nghe kể đã nhiều. Bản án, đi đày của hắn là bản án một phần tư, tức ¼ thế kỷ, tức 25 năm, nhưng hòn đảo Matkhotkin chẳng thể vì vậy mà đổi tên được! Nó có trên bản đồ thế giới công nhận chớ đâu phải bản đồ của riêng quần đảo. 
Dĩ nhiên bị đi đày Matkhotkin cũng được hưởng chế độ Sharashka và lãnh công tác chuyên môn ở Bolshino. Nhưng bị kẹt giữ một đám kỹ sư hàng không, lại không được phép bay thì phi hành gia Matkhotkin sung sướng sao được? Hắn được tách ra, gia nhập nhóm Taganrog và bị kiểm soát gắt gao. Ở Rybinsk, tôi nghe nói hắn cố xin phép được bay thám hiểm ở miền Bắc cực. Sau nghe nói hắn được phép bay. Dĩ nhiên tôi đâu cần biết tin tức Matkhotkin làm chi, nhưng nghe lời là nhớ hết! Mười hôm sau tình cờ đi tắm cùng ca với một gã tên R. nghe đâu nằm bệnh xá Byturki đã nửa năm và sửa soạn đi Rybinsk. Không quen biết R. nhưng tôi sẵn sàng kể chuyện nên chỉ 3 hôm sau anh em ở Rybinsk chắc chắn sẽ hay tin Matkhokin đi Dudinka cũng như tôi đã về nằm Byturki rồi. Ở một cấm địa như Rybinsk còn nghe tin tức ở đâu nếu không có hệ thống truyền tin đặc biệt giữa bọn Zek? Có người đi về, có người kể người nhớ là đi đày xa xôi tới đâu cũng biết hết tin tức. 
Trong xà lim có một gã đẹp trai đeo kính gọng sừng và ưa đi quanh quẩn trong phòng nghêu ngao một bài ca Schbert bằng một giọng thổ dễ thương: “Và tuổi trẻ một lần nữa đè nặng lên tôi. Con đường đến huyệt còn xa biết mấy”. À, tôi nhớ ra rồi: gã đúng là Sergei Romanovich Tsaraphin! 
“Này ông bạn, Ông bạn ở ngành Sinh vật học phải không? Ở Bá Linh, không chịu hồi hương chớ gì?” 
“Ủa, sao biết?” 
“Biết chứ! Trái đất này nhỏ quá mà! Năm 1946 tôi từng gặp Nikolai Vladimirovich Timofeyev Ressovsky…”

Trong phút chốc những gì đã xảy ra năm 1946 hiện rành rành trước mắt tôi. Cũng khám Bykurki. Xà lim Byturki tương đối đỡ khổ nhưng riêng xà lim 75 mà tôi bị tống vô năm đó quả là hách nhất trong cuộc đời tù tội của tôi. Lúc bây giờ là tháng 7, tôi được “triệu” từ Trại về theo lệnh của đồng chí Bộ trưởng Nội vụ. Đến Byturki vào buổi trưa, cũng qua ngần ấy thủ tục “nhập môn” nhưng 11 giờ sau mới hoàn tất chỉ vì tù quá đông. Tôi vô xà lim là, vừa đúng 3 giờ sáng. 
Xà lim 75 có 2 vòm cao thì 2 ngọn đèn chiếu sáng quắc, người nằm xép lớp như cá mòi, mồ hôi nhễ nhại, hơi thở nặng nhọc vì hầm quá! Có hai cánh cửa sổ thì “đậy nút” kỹ cả hai, không khí không vào lọt nổi. Nóng quá, người nằm ngủ thiêm thiếp, nhưng đàn muỗi đói lại hoạt động hơn bao giờ hết: Tiếng muỗi bay vo ve nghe đến sợ! Nhiều người lấy khăn tay đắp kín mặt để trốn muỗi mà cũng để che bớt ánh sáng ngủ cho dễ. Có dễ đến 80 người căn phòng cổ lệ chỉ chứa 25 là tối đa. 
Thảo nào hơi người hầm hập đến như vậy! Xà lim nóng bức cỡ này thì người cũng dám chín nhừ nói gì đến những thứ ăn có thể thiu thối được. Bằng cớ là từ phía trong góc kẹt hơi cầu tiêu – phân cộng nước tiểu cộng đủ thứ uế tạp – xông ra nồng nặc, gắt gao. Nhìn chung quanh chỗ nào cũng người nằm ngổn ngang: 12 giờ đồng hồ liền chưa được nghỉ ngơi tôi đã thấm mệt cùng cực mà chưa tìm thấy một chỗ trống khả dĩ ngã lưng đỡ được. Nhưng kinh nghiệm nằm xà lim quá nhiều, không lẽ tôi không thu xếp được một khoảng trống, để khỏi phải đứng sừng sững hay ngồi co ro đợi giờ điểm danh sáng. 
May quá, có rồi! Xà lim Byturki nào chẳng có một cái bàn gỗ vừa dùng làm bàn vừa làm tủ đựng đồ? Nó nằm đây kia, ai đã di chuyển tuốt vo góc kẹt cầu tiêu. Dọn dẹp qua một chút, rồi đẩy nó qua một bên là tôi “xoay sở” được một diện tích vừa đủ ngả lưng! Dĩ nhiên nằm kế cầu tiêu chẳng thơm tho sạch sẽ gì nhưng trong phòng này mọi chỗ khác cũng chẳng hơn bao nhiêu. Chỉ phiền là nằm choán đường đi, ai muốn đi cầu là phải bước ngang người tôi. Khó chịu thực, nhưng giờ này bà con còn lo ngủ bằng chết! 
Chợp mắt chưa được bao lâu đã nghe khẩu lệnh: “Hết giới nghiêm! Thức dậy hết.” Cả xà lim khởi sự đụng đậy, dọn dẹp. Chiếc bàn được đẩy trả về vị trí cũ là giữa hai cửa sổ. 
Bà con lúc bấy giờ mới nhận diện “người mới”. Vài kẻ may mắn chạy tới thăm hỏi mà cũng để đánh giá tôi, dân mới hay Zek thâm niên. Chỉ trao đổi nhau vài ba câu chuyện là tôi đã phân tích xong: Xà lim này gồm 2 thành phần rõ! Một là đám dân mới đang chờ đợi đi trại Cải tạo lần thứ nhất. Hai là những tay Zek thâm niên đang luân lạc trong quần đảo được gọi về để chuẩn bị chia đi các trung tâm kỹ thuật để phục vụ nhà nước bằng khả năng chuyên môn. Lớp thứ hai rõ ràng toàn chuyên viên: Không Vật lý cũng Hoá học gia, không giáo sư Toán cũng kỹ sư hoạ kiểu, Biết vậy là tôi vững tinh thần chán! Ít nhất cũng không bị đồng chí Bộ trưởng kéo đầu về Byturki để dộng thêm bản án nữa. 
Đúng lúc đó có một gã trung niên, vóc người to lớn nhưng gầy trơ xương, sống mũi cao bước lại gần tôi bắt chuyện. Hắn nghiêm nghị nói: 
“Xin tự giới thiệu với ông bạn, Tôi là Giáo sư Timofeyev Ressovsky, đương kim Chủ tịch Hiệp hội Khoa học và Kỹ thuật của Xà lim 75 này. Hiệp hội chúng tôi theo thông lệ sáng sáng sinh hoạt nội bộ sau cử phát bánh, địa điểm là dưới chỗ cánh cửa sổ. Ông bạn có đề tài hay ho gì thuyết trình xin cứ việc tự tiện. Có thể cho biết qua chủ đề chăng?” 
Vẻ mặt, cung cách của Timofeyev Ressovsky cũng như danh xưng của Hiệp hội “đặc biệt” làm tôi chới với. Vả lại giữa lúc nóng bức thế này tôi lại kềnh càng “đóng” nguyên bộ đồ Bắc cực thì không lúng túng sao được? Mấy ngón tay tôi còn co quắp vì lạnh, bàn tay còn nứt nẻ nhiều chỗ mà. 
Ra mấy chữ Vật lý nguyên tử mà tôi quẹt bậy vô ô trống “Nghề nghiệp, chuyên môn” trên tấm thẻ kiểm tra hồi đó không ngờ có ép phê thế đấy! Chỉ vì nó hay nhờ có nó mà tôi có mặt được ở xà lim 75 này, với danh nghĩa ghê gớm của một, nhà bác học nguyên tử! 
Thôi thì đã lỡ “đi lạc” vào lãnh vực khoa học nguyên tử tôi đành phải sắm vai trò, bác học Vật lý chớ sao? Nếu Hiệp hội Khoa học Kỹ thuật xà lim 75 đã hạ cối mời đăng đàn thuyết trình một đề tài nằm trong phạm vi chuyên môn của mình là Vật lý nguyên tử thì tôi đành thuyết trình chớ sao? Nhưng tôi sẽ thuyết cái gì? Chủ đề nào? 
Lúng túng một lúc cũng phải có chủ đề thiệt. Chẳng là mới đây hồi còn nằm Trại, tình cờ tôi vớ được một tập sách nho nhỏ không hiểu từ đâu lọt vô. Tôi giữ lấy đọc trong hai đêm liền Bản Phúc trình Smyth, tài liệu chính thức của Bộ Quốc phòng Mỹ, phổ biến về trái bom nguyên tử đầu tiên. Hình như tập tài liệu mới được công bố vào mùa Xuân 1946. Đối với các hội viên của Hiệp hội thì đây nhất định phải là một đề tài mới, chưa ai được coi. Mang ra làm chủ đề thuyết trình để ra mắt anh em thì tuyệt vời! 
Quả nhiên về sau cử phát bánh mì sáng hôm đó, toàn thể hội viên (cỡ 10 mạng chứ mấy) hân hoan nhóm họp ở dưới khung cửa sổ bên trái xà lim 75 để nghe tôi “thuyết” chủ đề nòng cốt: Về trái bom A thứ nhất. Khỏi nói là tôi được chấp nhận làm hội viên thực thụ tức thì! Phúc trình Smyth dù sao tôi cũng còn nhớ và lỡ có quên ít chi tiết và chỉ hiểu lõm bõm một số chi tiết khác cũng chẳng sao. Đã có “đồng nghiệp” Timofeyev Ressovsky – nhân danh Chủ tịch Hiệp hội – đứng bên sẵn sàng bổ túc. Cũng nên ghi nhận là ông Chủ tịch đã nằm khám một năm và hoàn toàn mù tịt về bom nguyên tử. Vả lại tôi còn một vỏ bao thuốc lá và giấu được một mẩu viết chì. Tôi cứ việc thuyết, “đồng nghiệp” Nikolai Vladimirovich sẵn sàng dùng chúng thay bảng để rẽ ra 5, 7 cái đồ hình đồ biểu, để nối lời tôi giải thích tận đường những chi tiết kỹ thuật cần bổ túc. Phải nói là Nicolai đã trình bày và thuyết minh cụ thể và rành rẽ với một niềm tự tin, như chính hắn là một trong nhóm bác học Vật lý đã đẻ ra trái bom Alamos vậy!°

“Chủ tịch” Timofeyev Ressovsky là một mẫu người đặc biệt. Ngành chuyên môn của hắn là Sinh vật học và có thể coi như một trong những chuyên viên về truyền giống cừ nhất thế giới (ngay khi Timofeyev bị nhà nước Xô Viết cầm tù rồi, đồng nghiệp Zhebrak còn dám viết trên một tờ báo Gia Nã Đại, đặt Timofeyev lên trên bác học số 1 Lysenko. Vì cho rằng “Timofeyev mới đích thực nhà sinh vật học lớn nhất Nga Xô Viết, không phải Lysenko” nên năm 1948 chính Zhebrak cũng bị thanh trừng. Ngoài ra, nhiều sách giáo khoa Nga cũng ghi danh Timofeyev như một nhà Sinh vật học lớn của thời đại). 
Gặp Timofeyev Ressovsky, tôi có cảm tưởng cả con người hắn ta là tổng hợp của mọi thứ khoa học, quan điểm khoa học của hắn ôm đồm quá nhiều bộ môn chớ không chuyên biệt như các thế hệ khoa học gia sau này. 
Sự hăng say hiểu biết khoa học của Timofeyev dễ nể ở chỗ hắn vẫn ham hoạt động, sau một thời gian điều tra dài bị bỏ đói bỏ khát! Xét về gốc gác thì phía ngoại Timofeyev thuộc dòng giống đang suy tàn Kaluga ở vùng đồng bằng sông Ressa, phía nội là hậu duệ của Stepan Razin với dòng máu chắc nịch. Càng cứng đầu thì Timofeyev càng bị điều tra viên nặng tay, do đó hắn “lãnh đủ” hơn chúng tôi nhiều. 
Cuộc đời Timofeyev Ressovsky có thể gọi là lên hương kể từ 1922 khi nhà bác học Vogt gốc Đức (sáng lập viên Viện Não học Mạc Tư Khoa) yêu cầu chính quyền Xô Viết cử hai khoa học gia trẻ, lỗi lạc sang Đức để học tập dưới sự hướng dẫn của ông ta: Timofeyev đã được chọn cùng Tsarapkin. Hai mầm non bác học Nga được cử sang Bá Linh tu nghiệp, thời hạn công tác không hạn định. 
Do đó, sau khi tạo nhiều công trình khoa học đáng kể dưới sự hướng dẫn của Vogt, cả Timofeyev lẫn Tsarapkin đều không chịu về nước khi bị chính phủ Xô Viết triệu hồi năm 1937. 
Cả hai cùng gạt bỏ vấn đề chính trị và nhấn mạnh vì tinh thần phục vụ khoa học, họ không thể hồi hương để bỏ dở một công trình khảo cứu dài hạn theo đuổi từ 15 năm cũng như bỏ rơi đám hậu sinh đang được họ hướng dẫn trực tiếp. Dù không nói ra nhưng ai cũng hiểu là không chịu để nhà nước lợi dụng danh nghĩa bác học vào công tác tuyên truyền trên đầu hai người từ đó, dù họ ở lại Bá Linh chỉ để phục vụ khoa học thuần túy và vẫn tự coi như công dân Nga thành tâm yên nước. 
Năm 1945 Hồng quân tiến chiếm vùng Buch (ngoại ô Đông Bắc Bá Linh) nơi Timofeyev Ressovsky có một cơ sở thí nghiệm Sinh vật học đồ sộ. Chính hắn ta đã đưa cả Viện ra đón mừng hoan hô đoàn quân giải phóng tiếp xúc tốt đẹp cũng như được hứa hẹn Viện sẽ được duy trì, vẫn đặt dưới quyền của Timofeyev Ressovsky. 
Bỗng một hôm có phái đoàn thanh tra Xô Viết ghé thăm và ra lệnh: “Cơ sở này phải gỡ ra, đóng thùng gởi về Mạc Tư Khoa!”. Ngạc nhiên quá, Timofeyev cực lực phản động: “Đâu được. Đây là một Viện Thí nghiệm Sinh vật học, phải bao nhiêu năm mới dựng lên nổi. Sinh vật di chuyển sao được?”. Phái đoàn làm bộ ngạc nhiên: “Ủa, không được hả?”. Ngay sau đó Timofeyev và Tsarapkin bị bắt và dẫn giải về Mạc Tư Khoa. Cả hai cùng ngây thơ, cứ tưởng không có họ Viện Nghiên cứu Thí nghiệm Sinh vật chắc chắn không hoạt động được. Viện không hoạt động thì Viện đóng cửa, Đảng và nhà nước không quan tâm. Nằm trong Lubyanka hai nhà bác học lãnh 10 năm tù và riêng ông Chủ tịch Hiệp hội Khoa học Kỹ thuật nằm Byturki vẫn vững tin không làm gì sai lầm. 
Riêng phần tôi dù nằm chung xà lim 75 vẫn lấy làm sung sướng. Như nhà hiền triết Epicurus từng nói, ai từng trải qua một loạt những bất mãn trong đời thì có sống vô vị cũng tự lấy làm thoả nguyện chán. Ở trại tưởng như vĩnh viễn, ngày ngày cong lưng lao động 10 giờ đồng hồ dầm mưa dãi nắng và đói lạnh thì còn gì hạnh phúc bằng nằm duỗi dài ngủ cho hết ngày, khỏi phải làm mà ngày ngày 500 gam bánh mì 2 dĩa súp nóng khi lòng trâu lòng bò khi thì thịt cá voi!
Nằm ngủ thì xà lim đông nghẹt, còn chỗ nào khá hơn gầm sàn? Chỗ này quá thấp, có ai nghĩ tới ngủ chui ngủ rúc thế này? Muốn vô dĩ nhiên phải chui luồn thảy cái áo vô nhờ đứa nằm trước trải ra giùm rồi nằm sấp từ ngoài trườn mình vô! Nền xà lim tráng hắc ín dơ dáy, gầm sàn một tháng quét một lần chứa biết bao nhiêu bụi bậm rác rưởi, vụn bánh, thức ăn từ sàn trên rớt xuống. Như vậy một ngày chỉ được đi rửa chân tay đúng một lần, không có xà bông! 
Ngủ chui rúc, khốn khổ như vậy vẫn còn sướng. Miễn cứ úp mặt xuống, ngủ được lúc nào là đỡ phải hành hạ con tim lúc ấy, ngày tháng rồi cũng qua mau. Ngoài đời hoạt động liên miên thì ngủ 8 giờ một ngày cũng phí thì giờ nhưng trong xà lim còn thiếu thốn trăm bề, tuyệt vô hy vọng thì ước gì ngủ nổi 14 tiếng! 
Nằm xà lim 2 tháng tôi ngủ liên miên, ngủ bù lại hai năm trời thiếu ngủ. Đổi chỗ liên tiếp, từ gầm sàn lên sàn trên gần cửa sổ, từ sàn xuống nền nhà, Tôi còn ngủ nữa nếu không tham gia sinh hoạt với các anh em. Buổi sáng họp Hiệp hội, chơi cờ, đọc sách, những cuốn sách truyền tay nhau đọc, chẳng bao giờ ế khách. Còn giờ đi dạo ngoài trời, một ngày 20 phút chớ đâu phải ít, mưa to gió lớn cũng đi. 
Sung sướng nhất là những buổi trò chuyện với anh em. Có Andreyevich Semyonov, một trong những cha đẻ của đập nước và nhà máy thủy điện Dnieper, kỹ sư Karpov cựu tù binh, Có Viktor Kangan, nhà Vật lý học khôn ngoan, có Voloda Klempner nhạc sĩ, Có gã tiều phu và thợ săn ở Vyatka, thâm trầm như mặt hồ. Có giáo sĩ Yevgeny Ivanovich Divnich phái Chính thống, không lo giảng đạo mà động nói là vác biện chứng ra hạ hắn tơi bời nhưng một năm tù đã mở mắt tôi nhiều thứ, hết dám mạnh miệng nói bướng, cái gì cũng: “Nói láo! Tư bản bịa đặt trắng trợn!”. Bây giờ chỉ vì thấy nhiều nên lập trường của tôi đâm yếu hẳn lúc nào không hay. 
Xà lim còn nhiều bạn bè nữa chớ? Năm ấy mới là năm thứ hai, các đợt tù binh từ Âu Châu hồi hương tiếp tục vô khám, cùng các kiều bào hải ngoại từ Âu Châu về, từ Mãn châu sang. Nhờ bọn họ mới biết tình hình bên ngoài, tin tức những người quen biết. Do đó tôi mới hay tin Đại tá Yasevich đã bị xử bắn. 
Chao ôi, thế giới nhỏ hẹp, quanh đi quẩn lại tôi lại gặp ông già Đức ngày nào mà tôi nhất định bắt vác va-li. Hồi đó ông ta bệ vệ lịch sự biết mấy, giờ đây ốm đau coi như xác chết. Thấy tôi làm gì ông ta chẳng nhận ra? Ông ngó tôi cười coi bộ thú vị: “Không ngờ ta lại gặp nhau đây!”. Dĩ nhiên không chấp trách cái vụ bắt làm phu khuân vác ở mặt trận Đông Phổ. Ông ta lãnh án 10 năm song chắc chẳng sống nổi hết án. Ngoài ông ta, xà lim 75 cũng còn một dân Đức còn trẻ, lớn con, suốt ngày lì lì (hắn có biết một tiếng Nga nào đâu). Khốn nạn, trên người hắn có còn một cái gì là Đức? Bao nhiêu thứ không dính vào người thì bọn kên kên đã lột bằng hết, chỉ vứt lại cho bộ quần áo trận hạng bét. Hỏi ra hắn là một phi công lỗi lạc của Đức, từng tham chiến quá nhiều. Lần thứ nhất xung phong vào trận chiến giữa Bolivia và Paraquay, lần thứ hai đánh Tây Ban Nha, lần thứ ba đánh Balan, lần thứ tu đánh Ăng-lê, lần thứ năm sang Cyprus và lần thứ sáu chống Nga. Là phi công ưu tú của Đức thì đương nhiên hắn không chừa bắn phá, sát hại cả đàn bà con nít do đó phải là “phạm nhân trước chiến tranh”, lãnh án đi đày cộng thêm năm an trí. 
Trong xà lim cũng phải có tay dù tù tội vẫn trung kiên với nhà nước (như ông Công tố Kretov) để lớn họng chửi: 
“Bọn chó chết phản cách mạng tụi bây phải nắm đầu bằng hết là đúng quá còn gì? Thân xác tụi bây lịch sử sẽ nghiền nát làm phân bón!” 
Ức quá nhiều thằng nạt lại: 
“Còn mày nữa, chính thân xác mày cũng đến phân bón chớ hơn chó gì.” 
“Tao khác. Tao đâu có phản cách mạng. Tao oan, nhà nước chắc chắn-sẽ xét lại…” 
Thế là cả xà lim ồ lên một loạt chửi rủa để một gã tóc muối tiêu vốn là giáo sư Nga ngữ được dịp đứng phắt trên bục, xoạc chân giang tay ra làm như Đấng Christ: “Này, các con cái của ta, hãy thương yêu, hoà thuận cùng nhau, các con!” 
Đấng “Cứu thế” vừa rao giảng là cả xà lim lại quay sang phía hắn ó ré om sòm. Một thằng hét lớn: 
“Con cái mày ở rừng Bryansk kìa! Tụi tao cóc con cái thằng nào hết. Tụi tao là con cái quần đảo!” 
Hết cơm chiều là giờ cho ra ngoài làm vệ sinh rồi bóng đêm xuống ngoài khung cửa sổ hũ nút, mấy bóng điện trơ trụi trên trần nhà bật sáng. Xà lim có lệ ngày gây gổ, cãi nhau chán, nhưng đêm về lại thân thiết như không có gì xảy ra! Từ chiều tối trở đi là hết gây lộn, tranh luận om sòm. Không trình diễn ca nhạc giúp vui thì kể chuyện đời cho nhau nghe. Chuyện nước ngoài là đề tài anh em hoan nghênh nhất va cũng là sở trường của Timofeyev Ressovsky: Hắn kể hết tối này sang tối khác về các nước Ý, Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển. Bà con ở hải ngoại về thì kể chuyện nước Pháp, các xứ Balkoas, hết chuyện kiến trúc sư đại tài Le Corbusier đến chuyện tổ chức xã hội của loài ong, hay Gogol và tác phẩm. 
Buổi tối là lúc tiêu thụ nhiều thuốc lá nhất. Chỗ nào cũng có khói, khói bốc nghi ngút che kín như lớp sương mù. Khói phát sặc sụa vì không có lối thoát: Có hai cánh cửa sổ thì “đậy nút” kín cả hai còn gì? 
Lúc bấy giờ mới đến mục Thơ: Kostya, Kiula, một gã bằng tuổi tôi, mặt tròn cặp mắt xanh biếc hăng hái “đăng đàn” bằng cách nhảy lên trên bàn ngâm nga những bài thơ hắn vừa sáng tác trong tù 2. Giọng ngâm thơ của Kostya xúc động làm sao! Những bài thơ mang tựa đề Giỏ thăm nuôi đầu tiên, Bài thơ gửi vợ, Thơ cho con. Những bài thơ làm trong tù, đọc trong xà lim cho anh em nghe và do chính tác giả trình bày thì còn ai để ý nghe giọng ngâm của hắn cao hay thấp, thơ sai luật hay thất vận. Những bài thơ mang dòng máu của mọi con tim chất chứa nước mắt của những người vợ, nên nghe Kostya ngâm thơ cả xà lim khóc rưng rưng. 
Dĩ nhiên nằm xà lim 75 tôi cũng sáng tác ít bài thơ tù, cũng ngâm lớn những vần thơ Yesenin, những vần thơ không được chấp nhận nhưng chưa đến nỗi bị cấm phổ biến thời tiền chiến. Làm sao tôi quên nổi ánh mắt ngưỡng mộ, gần như ngơ ngẩn thất thần của chú Bubnov ngước lên, đeo dính từng vần. Bubnov cũng là tù binh Đức hồi hương sau khi bỏ học xung phong làm nghĩa vụ quân sự. Chao ôi, tuổi hắn còn quá trẻ lại không có ngành chuyên môn, đang nằm đây để chờ ngày đi nếm mùi trại Cải tạo thì chắc chắn sẽ bỏ thây ở quần đảo! Quần đảo đâu phải đất sống của tuổi trẻ hồn nhiên, trong sạch. Tôi nhìn Bubnov từ khuôn mặt, từ ánh mắt và không khỏi có cảm tưởng lớp tuổi này đang sa dần vào cõi chết vô phương cứu gỡ. Với bọn họ, xà lim 75 bất quá chỉ là một trạm dọc đường, một chỗ trú chân tạm để có dịp mở mắt nhìn đời, nhìn vào cả một thế giới đẹp xưa nay chưa hề thấy. Một niềm vui ngắn ngủi, dở dang vừa chớm biết là bước dần vào cõi chết. 
Khuya dần, cánh cửa nhỏ bật mở để ông giám thị chõ miệng vô hét: “Giờ ngủ”. Chao ôi, chính tôi cũng chưa bao giờ được sống những ngày trọn vẹn có ý nghĩa, những ngày chứa chan tình cảm như những ngày sống chung với anh em trong xà lim 75 mùa hè năm ấy! Kể cả những ngày trước chiến tranh và còn tự do, ngày ngày còn cắp sách đi đến hai trường Đại học vừa dạy học tư gia để kiếm sống và đêm về còn mài miệt viết không biết mỏi.

Còn Tsarapkin thì tình cờ tôi đã được nghe tin hắn qua một nhân vật đặc biệt, một chú bé vừa vặn 16 tuổi đầu mà mang bản án 5 năm, về tội “tuyên truyền chống nhà nước”. Tôi vừa nhắc nhẹ đến tên Deul thì Tsarapkin vội vã hỏi: 
“Ủa, anh bạn cũng biết chú Deul? Nó cùng chuyến xe với tụi tôi, đi đày Karaganda.” 
“Tôi còn nghe anh bạn được đề bạt công tác đặc biệt, phụ tá chuyên viên phòng thí nghiệm, phải không? Còn Timofeyev Ressovsky thì cứ bị đi công tác không chuyên môn hoài hoài.” 
“Đúng thế! Chỉ vì vậy mà kiệt sức, đuối dần. Bữa lên xe Stolypin đưa về Byturki này thì Timofeyev chỉ còn là một cái xác không hồn. Được gởi vô bệnh viện tức thời và được Đặc ban số 4 chiếu cố, săn sóc kỹ lắm 3. Thực đơn bổ béo, có cả kem tươi và rượu chát kia mà. Nhưng theo ý tôi có chăm sóc đến mấy chưa chắc hắn đã đứng dậy nổi!” 
“Dĩ nhiên Đặc ban 4 cũng phải vời tới anh bạn chớ?” 
“Đúng vậy. Sau 6 tháng nằm Karaganda, đặc ban có cho gọi tụi tôi lên để hỏi ý kiến liệu có thể khởi sự dựng lại Viện Khảo cứu Sinh vật học trên quê cha đất tổ.” 
“Vậy thì anh bạn đồng ý là cái chắc?” 
“Còn hỏi! Đã đến lúc tụi tôi nhận ra mình tinh lầm hồi đó. Vả lại họ đã tháo gỡ trọn cơ sở của Viện, đóng thùng gởi về đây không thiếu một món, khỏi cần đến tụi tôi.” 
“Ra MVD cũng phục vụ khoa học ghê gớm nhỉ! Nhưng bỏ chuyện đó đi. Bây giờ anh bạn cho nghe tiếp Schubert đi…” 
Không cần đợi tôi giục đến lượt thứ hai, Tsarapkin nhẹ nhàng cất tiếng ca một khúc của Schubert, bằng tiếng Đức. Vừa hát hắn vừa rầu rĩ ngước nhìn khung cửa sổ. Thấp thoáng phản chiếu trên cặp mắt kín của hắn là hình ảnh đặc biệt của khuôn cửa sổ Byturki: Phía dưới “đóng nút” bít bùng, phía trên trống trải.

°

Văn hào Tolstoi cho rằng chớ nên bắt tù đi lễ nhà thờ. Mấy thánh đường trong nhà giam nhỏ hẹp bỏ hết càng dư chỗ nhốt thêm ít tù. Chỉ việc cải sửa lại một chút cho thích hợp với công việc mới là xong! Riêng khám Byturki dẹp nhà thờ là có chỗ giam 2 ngàn tù. Tính trung bình một mạng vô nằm lại hai tuần lẽ thì một năm ít nhất cũng có tới 50 ngàn người vô xà lim mới, gốc nhà thờ cũ. 
Vì vô Byturki 4, 5 lần quá quen rồi, biết nằm xà lim nào là tôi khỏi chần chờ, đi phăng tới, đi nhanh hơn ông giám thị, khỏi cần đợi tù thúc hối. 
Tôi rảo bước về xà lim như một con ngựa đánh hơi ra ruộng lúa, khỏi cần đợi roi vụt, nhiều khi không buồn nhìn cả ngôi thánh đường vuông vắn sừng sững phía trên là toà lầu bát giác. Nó khác các khu Byturki ở chỗ cửa sổ không có “nút đậy” bít bùng mà chỉ đóng ván sơ sài, tạm bợ để khám tạm nhốt tù vừa thành án. Năm 1945 tôi đã được dịp nằm xà lim lầu 2 thánh đường cũ, sau khi Hội đồng An ninh tuyên án. Trên lầu bát giác xà lim tụi tôi chiếm trọn góc Đông Nam. 
Vì là khám tạm nên ở khu thánh đường mọi tiện nghi đều thua sút: Chúng tôi chỉ là con nuôi chớ chẳng phải con đẻ Byturki! Hai trăm người chen chúc nhau, không phương tiện giải trí (sách, bàn cờ) ngay mấy cái chén, muỗng sứt mẻ, nham nhở cũng thâu lại sau bữa ăn. Lỡ kêu tên ra xe đi đày không trả lại nhà tù thì sao? Kẹt nhất là thời gian thành án chuẩn bị đi đày gia đình lại hay cố gắng lần chót để gởi vô giỏ đồ thăm nuôi, phần nhiều là thực phẩm dự trữ được như mật ong, đường, sữa, thịt sấy. Không chén muỗng, bình đựng, ca nước thì lấy gì đựng đồ? Chỉ được phép gởi những món đồ bằng nhựa dẻo nhưng nhà tù không chỉ dẫn, gia đình không biết, bao nhiêu món đồ nhôm, sứ, thủy tinh đều bị trả lại hết. Trong khi đó người nằm xà lim tha hồ rên than: Bao nhiêu món ăn quý đáng lẽ để dành ăn dần được phải ngấu nghiến nuốt hết, nếu không bốc được bằng tay, túm vào mùi xoa, vạt áo hay dựng trong lòng nón! Giữa thủ đô Mạc Tư Khoa mà phải trữ thức ăn ban khai như vậy đã đau lòng. Các thầy chú giám thị còn hối thúc trút đồ như điên, làm như sợ trễ giờ xe! Có vậy họ mới bỏ liếm láp chỗ bắt buộc phải để dư lại chớ. 
Nằm xà lim thánh đường cái gì cũng có tính cách tạm thời, vì thực tế đây chỉ là một trạm dừng của những món hàng được gởi đi quần đảo. Chừng Krasnaya Presnya có chỗ trống là hàng háo sẽ được đưa đi tức thời. Tuy nhiên các con nuôi Byturki lại hơn con đẻ ở một “ưu đãi” duy nhất: Mỗi ngày có quyền thưởng thức ba tua cháo nóng, trà nóng, dù phải cử người đích thân xuống nhà bếp! Chẳng là các khu khác đều có thang máy, riêng khu Thánh đường 3 tầng lầu leo thang muốn đứt hơi cho nên các thầy chú dành cho tù quyền lo liệu lấy. Khiêng những vò lớn, nặng từ nhà bếp qua một cái sân rộng, leo 3 tầng lầu xét ra chẳng phải công tác nhẹ nhàng nhưng anh em nằm xà lim Thánh đường chẳng nề hà bao giờ, dù hầu hết đều yếu đau, mất sức. Vừa có đồ ăn nón vừa có dịp đi ra ngoài trời nghênh nóng cho đỡ buồn. 
Ngoài tính cách tạm bợ, xà lim thánh đường Byturki còn có tác dụng chuẩn bị tù vừa thành án, sửa soạn họ cho thích ưng với môi trường mới là khám tạm dọc đường và trại Cải tạo sau này. Nằm đây tù có dịp tự điều chỉnh con người để nhận ra rằng bản án vừa giáng xuống là bản án thật, chẳng trò chơi chút nào, và thân phận thằng tù nó đau khổ, nhục nhã cũng đành phải chấp nhận. Trong cuộc đời tù tội muốn đạt tới mức đó chẳng phải dễ! 
Đời sống tạm bợ ở đây còn nổi bật ở những di chuyển thường trực, tù đến tù đi hoài hoài bất kể ngày đêm, gần như lúc nào cũng có người đi lại ngoài hành lang và ở lối đi trong xà lim. Kết quả là luôn luôn có những mặt mới. Ở xà lim điều tra, tù giam gần nhau lâu ngày hoá quen thuộc, thân thiết như gia đình nhưng ở khu Thánh đường ít ai nằm cạnh ai đến quá 3 ngày. Tình cờ gặp một nhân vật là phải săn đón, hỏi chuyện ngay. Chần chờ là nhiều khi không bao giờ còn cơ hội gặp gỡ nữa. 
Tôi đã bỏ lỡ dịp tìm hiểu một nhân vật đặc biệt là thợ máy xe hơi Melvedev. Vừa gặp hắn tôi đã nhớ ngay ra vụ Hoàng đế Mikhail! Hắn cũng bị kẹt vì tòng phạm, một trong những người đầu tiên được nghe đọc bản “Tuyên cáo” của Hoàng đế mà không đi tố cáo. Tuy nhiên Melvedev chỉ bị một bản án nhẹ hều là 3 năm. Bản án quá nhẹ vì đụng điều 58 Hình Luật mà lại bị 5 năm còn kể như bản án con nít mà? Có lẽ nhà nước nhận thấy Hoàng đế Mikhail bất quá chỉ là một thằng điên nên mấy gã tòng phạm chỉ bị “giơ cao đánh khẽ” bề nào cũng thành phần lao động! Chưa kịp hỏi thêm Melvedev thì hắn đã bị kêu xách đồ đi. Trường hợp hắn có lẽ được trả lại tự do cũng nên vì năm ấy có tin Stalin xuống lệnh ân xá. 
Nằm cạnh tôi có ông già Schutzbunder người Áo bị kêu đi lẹ. Khốn nạn, dưới chế độ vô sản Xô Viết thì dân Áo lạc hậu đã có giá sẵn. Tối thiểu là 10 năm lao động cải tạo mà hầu hét chưa ở hết án đã bỏ thây trong quần đảo. 
Sau đó có một gã trẻ tuổi tóc đen láng, mắt lớn hiền dịu như mắt đàn bà, nhưng phải cái mũi quá lớn làm khuôn mặt mất cân xứng, trông như hình diễu vậy! Ngày đầu tiên gã nằm suốt ngày cạnh tôi, không hé răng. Ngày thứ hai mới xích lại gần để trút bầu tâm sự. Gã thủ thỉ: “Anh bạn thử đoán tôi là người nước nào?”. Tiếng Nga gã nói làu làu nhưng nghe kỹ mới biết có đá chút giọng ngoại quốc. Vậy chắc hẳn gã ở miền sơn cước hay dân Armenia? Gã cười bảo: 
“Anh bạn thấy chưa? Tôi giả làm dân miền Nam nước Nga thì ăn chắc! Chẳng ai ngờ thằng Yasha này. Tôi đi thâu nguyệt liễm cho Nghiệp đoàn và thấy mặt tôi là thiên hạ cười bò ra hết.” 
Đúng vậy, tôi ngó lại và thấy gã đúng là một thằng hề, trời sinh ra để làm hề! Người lùn một mẩu, cái mũi khổng lồ làm lệch cả mặt và miệng lúc nào cũng cười toe toét. Lúc ấy gã đột nhiên không cười nữa. Khuôn mặt đanh hẳn lại, cặp mắt nheo lại, gã ngó đăm đăm làm tôi giật bắn mình. Gã gằn giọng: 
“Anh bạn biết không? Tôi người Lỗ. Tôi là sĩ quan Quân báo Bộ Tổng Tham mưu, Trung úy ladimirescu!” 
Chà, vụ này kỳ quặc! Thứ gián điệp giả hay bị kết tội làm gián điệp thì tôi đã gặp cả trăm, nhưng thứ thiệt thì chưa bao giờ. Gián điệp thứ thiệt đâu phải dễ. Có dễ gì gặp được. 
Nhưng Vladimirescu không những là gián điệp thứ thiệt mà còn được đào tạo để làm gián điệp, vô trường hẳn hoi từ năm lên 6 tuổi! Gia đình gã gốc quý phái, từ năm lên 3 đã quyết định chọn cho con binh nghiệp kia mà? Ở trường gián điệp trực thuộc Bổng Tham mưu Lỗ, Vladimirescu đã chọn địa bàn hoạt động sở trường là Liên Xô, một “đất làm ăn” vô cùng khó khăn vì phản gián đặt tai mặt khắp chỗ, hoạt động gắt gao và không người nào tin người nào cả! 
Vì được đào luyện đặc biệt nhằm đối tượng Liên Xô xương xẩu nên gã đã hoạt động đắc lực ở Nikolayev nhiều năm trước chiến tranh và trong những công tác đạt được có thể kể vụ sắp đặt cho quân Lỗ tiến chiếm nguyên vẹn một xưởng đóng tàu. Sau đó Vladimirescu hết công tác ở Stalingrad đến Urals và dưới lốt đại diện Nghiệp đoàn gã đi thâu nguyệt liễm, ra vô tự do nhiều công xưởng và thực hiện nhiều cú táo bạo. Gã lấy làm hãnh diện về một cú lớn ở hậu cứ Liên Xô do sự điều động của một sĩ quan Quân đội báo Đức chịu trách nhiệm vùng Mạc Tư Khoa. Thông thường gián điệp hoạt động ở hậu tuyến địch ngoài phần “nghề nghiệp phổ thông” còn phải được huấn luyện chu đáo một ngành phá hoại đặc biệt. Vladimirescu chọn ngành phá hoại dù, nghĩa là chuyên môn cắt đứt phần nào dây bên trong của một chiếc dù. Gã được gởi đến Podolsk, nơi đây gián điệp Đức đã có tay trong làm đốc canh, hướng dẫn gã vào một kho chứa dù lớn, đã xếp và kiểm soát rồi. 
Vladimirescu đã lọt được vào kho dù Podolsk 8 giờ đồng hồ liền. Gã bắc thang trèo lên những đống dù sắp ngay hàng, giở ra từng chiếc nhưng không làm mất dấu để mở phía trong, dùng một thứ kéo đặc biệt cắt đứt 4 phần 5 sợi dây chính. Vì được chừa lại 1/5 nên dù cũng mở như thường, nhưng sẽ đứt ở lưng chừng. Gã đã ôm ấp công tác lớn từ bao lâu nên trong 8 giờ đã thanh toán được không dưới 2.000 chiếc dù. (Mắt gã sáng lên: “Một mình tôi từng tiêu diệt gọn một Sư đoàn Dù, nghe cha.”) 
Theo lời gã thì sa vào tay An ninh Xô Viết nằm Byturki 8 tháng Vladimirescu nhất định không chịu cung khai. Hỏi gã có bị tra tấn không thì gã lắc đầu: “Đời nào!”. (Thì ra chỉ đồng bào mới bị tra tấn! Đập chết đồng bào để cho bọn ngoại quốc ngán luôn, chớ gián điệp ngoại quốc bắt được là cả một kho vàng. Còn dùng để trao đổi “tù binh” được mà.) 
Sau đó để thuyết phục Vladimirescu, Sở Phản gián Xô Viết đưa cho coi tờ báo đăng tin Lỗ đã đầu hàng. “Biết gì khai đi, còn giữ bí mật tổ chức làm gì?”. Gã nín thinh. Thời buổi này làm giả một tờ báo để đánh lừa đâu có khó? Gã vẫn không chịu công khai, dù được dí tận mắt bản nhật lệnh của Bộ Tổng tham mưu Lỗ, chiếu văn kiện đầu hàng ra lệnh cho các sĩ quan an ninh, các gián điệp phải chấm dứt hoạt động và đầu hàng. Nhật lệnh cũng có thể ngụy tạo lắm chớ. Vladimirescu chỉ chịu cung khai hết khi được đem đối chứng với cấp trên trực tiếp của gã ở Bộ Tổng Tham mưu Lỗ. Lúc bấy giờ có lệnh trực tiếp, gã mới làm tờ khai công tác đầy đủ, không giấu giếm bất cứ một chi tiết nào. 
Do đó gã kể như chấm dứt sứ mạng chỉ còn nằm chờ ngày xử án và chẳng ngần ngại cho cả tôi biết phần nào sự thực. 
“Nhưng tôi chẳng bị ra Toà xét xử, chẳng thấy tuyên án gì hết! Nghề gián điệp là thế. Có chuyên môn thì còn sử dụng được.” 
“Anh bạn còn tính hành nghề nữa?” “Chớ sao? Gián điệp thì đến chết cũng vẫn là gián điệp.” 

“Nhưng anh bạn quên là đã tiết lộ công tác với tôi, anh bạn cháy rồi mà? Mình có thể còn gặp gỡ sau này.” 
“Ở đây là khác! Còn sau này, ở ngoài đời, giả thử tụi mình gặp nhau anh bạn không nhận ra tôi thì còn sống. Nhận ra là bắt buộc tôi phải thủ tiêu anh bạn gấp, hoặc kiềm chế buộc phải đi với tụi tôi.” 
Tôi ngó qua gã. Vladimirescu thản nhiên như không có chuyện, không muốn làm mất lòng thằng bạn đồng xà lim là tôi, dù phải khẳng định: “Tôi bắt buộc phải thủ tiêu anh bạn gấp!”. Nét mặt gã trơ trơ, tuyệt nhiên không xúc động hay lên mặt. Gã chấp nhận vụ thủ tiêu một cách giản dị, coi chuyện ắt phải xảy ra, không cần thắc mắc. Tôi chắc chắn gã thủ tiêu tôi dễ như chơi, hắn bỏ hay cắt cổ người thực sự chẳng phải vấn đề với gã. 
Týp người đặc biệt Vladimirescu đâu có phải dễ gặp. Tôi nhớ trong 11 năm tù đày chỉ được biết một mình gã là trường hợp duy nhất một gián điệp phe địch sa cơ. Đâu phải Cơ quan của ta đã vồ được thiếu gì gián điệp nhà nghề, cho đi tù vô khối như báo chí vẫn nhồi sọ lớp trẻ? Sự thực não nề là chỉ cần đưa mắt nhìn quanh xà lim Thánh đường Byturki cũng thấy rõ là ngược lại, đám thanh thiếu niên mới thực sự là “hàng hoá” chính của Cơ quan! Chiến tranh chấm dứt rồi, đâu cần đến chiến sĩ nữa. Nhà nước tha hồ quơ vô bất chiến sĩ thằng nào! Nghe nói khoảng 1944-1945 trong xà lim Lubyanka nằm lểu nghểu đảng viên “Đảng Dân chủ”, một đảng có quy chế đàng hoàng mà riêng đảng viên có chứng minh thư bị bắt hồi đó cũng tới 50 mạng. Lớn tuổi nhất nghe đâu là gã “Tổng thư ký” lúc bấy giờ mới học lớp 10 một trường Trung học Mạc Tư Khoa. 
Năm 1945 thành phần sinh viên nằm khám khá người nhiều, ai để ý làm chi? Riêng tôi gặp hoài lớp người trẻ tuổi, dù chính tôi cũng chẳng già gì! Sự đó làm tôi ngao ngán! Thằng bạn cùng chung vụ với tôi cũng như lớp người đồng tuổi, tụi tôi đã trải 4 năm chiến tranh trong khi ở hậu phương lớp trẻ lớn lên. Những năm còn học đại học chúng tôi có cái vinh dự lớp người tiền phong, thông minh nhất nước, nhất thế giới luôn. Giờ đây lớp người trẻ tuổi bỗng xuất hiện bên cạnh tụi tôi – tuổi trẻ cao ngạo, những khuôn mặt nhợt nhạt trong ngục tù đã vượt qua tụi tôi hồi nào không hay. Họ mới là những người tiền phong, tụi tôi sẵn sàng nhường chỗ. Bây giờ chính họ mới là những người đam mê học hỏi cũng như tranh luận. Họ đã tự chọn lấy một con đường đi xứng đáng và không hề thắc mắc hay hối tiếc đã chọn lầm. Chỉ nghĩ đến những con người đầy nhiệt tình, thông minh giờ đây bị đày đoạ trong ngục tù tôi cũng đủ rởn gai ốc. 
Có những khuôn mặt trẻ kiêu hãnh, hốc hác vì tù ngục bắt gặp trong Byturki khiến tôi phải nổi da gà. Làm sao quên nổi những con người như Boris Gammenov? Một tháng trước tôi phải xuống một xà lim bán bệnh xá. Vừa bước vô, chưa nhìn ra một chỗ nào nằm tạm được bỗng đụng đầu một thân hình thất thểu, trời mùa Hè mà run rẩy khoác tấm áo dạ nhà binh cũ mèm, thủng không biết bao nhiêu lỗ! Khuôn mặt xanh xao, tái mét, nhưng nét thông minh Do Thái vẫn không thể nhầm lẫn được. Boris Gammerov đấy! 
Sao trên đời lại có thể có một thằng ham tranh luận đến sỗ sàng như vậy? Mới trao đổi dăm câu chuyện, biết tên tuổi nhau là sẵn sàng cãi chính trị được rồi! Chuyện qua chuyện lại với tình hình thế giới, chuyện Tổng thống Rosevelt, không hiểu sao tôi chợt nhớ một câu kinh cầu nguyện của cố Tổng thống Mỹ mà các báo Nga vừa đăng, kèm theo một câu phê bình chủ quan: 
“Ôi chao, đúng là đạo đức giả!” 
Có vậy thôi. Vậy mà Boris nhăn mặt, trề môi, hỏi vặn lại: 
“Ủa, đạo đức giả là thế nào? Theo anh, cứ lãnh tụ lớn là không thể cầu nguyện, không thể tin tưởng Thượng Đế sao?”
Tôi thật không ngờ! Thế hệ sanh năm 1923 mà còn những thằng “duy tâm” cỡ này? Đáng lẽ tôi phải mạnh dạn đáp lời Boris ngay nhưng ở tù lâu đâm rụt rè, vả lại tôi chợt nhận ra bên trong con người chúng ta vẫn bàng bạc một cảm giác trong sạch, thanh cao, đứng hẳn ra ngoài mọi xác tín. Rõ ràng lời phê bình tôi vừa thốt ra chẳng phát xuất từ sự tin tưởng của mình mà do từ ngoài cấy vào. Đúng rồi, chính vì lẽ đó tôi không dám trả lời thẳng câu hỏi mà chất vấn ngược lại Boris: 
“Bộ anh tin tưởng Thượng Đế chắc?” 
“Lẽ cố nhiên.” 
Hắn đáp thật bình thản. Lẽ cố nhiên, lẽ cố nhiên. Đoàn Thanh niên Cộng sản đã nắm được hết, nhưng với điều kiện Công an Mật vụ phải đi kèm kìa! 
Boriss Gammerov là chiến sĩ chớ. Hắn còn là trung sĩ xuất sắc, trẻ măng trong một đơn vị lừng danh chết bỏ là đơn vị chống chiến xa. Hắn mang chiến thương ở phổi không lành nổi và thêm chứng lao phổi luôn nên được giải ngũ vì lý do sức khoẻ. Cởi bộ áo lính là trở lại ngưỡng cửa đại học ngay, Boris ghi danh ban Sinh vật, đại học đường Mạc Tư Khoa. Lập tức hắn bị giằng xé bởi một con người chiến sĩ từng phục vụ và một con người sinh viên khao khát sống và không điên đầu chút nào! 
Thế là chẳng ai rủ ai, chẳng có lệnh nào, một nhóm sinh viên cũng hình thành, quy tụ những thành phần có tư tưởng và thắc mắc về tương lai. Lập nhóm thì qua mặt sao nổi cặp mắt soi bói xưa nay của Cơ quan? Lập tức ba thằng trong nhóm được tuyển lựa để tống vào khám. 
(Năm 1937 thân phụ Gammerov đã bỏ mạng trong ngục thì giờ đây có hắn nối dõi. Hình như giữa lúc bị tra khảo Boris đã ung dung ngâm mấy bài thơ của hắn cho ông điều tra viên nghe chơi. Tôi hối tiếc không nhớ nổi một bài nào để cho in dưới hàng chữ này. Biết tìm đâu cho ra bây giờ?) 
Cũng là tình cờ trong vòng ít tháng tôi đã được gặp cả 3 người trong nhóm sinh viên này, sau Boriss Gammerov. Người thứ nhất là Vyacheslav Di, cũng ở xà lim Byturki. Sinh viên tranh đấu và bị bắt thì bao giờ chẳng có một cậu Vyacheslav? Hoạt động hăng tinh thần sắt đá lắm nhưng lọt vô phòng điều tra là mềm xèo tức thì! do đó cái phải lãnh bản án nhi đồng 5 năm và cậu Vyacherlav còn tin rằng trước sau ông bố thế lực cũng gỡ ra được. 
Cũng ở Byturki nhưng lúc đổi qua xà lim Thánh đường tôi mới gặp Georgi Ingal, già dặn, lớn tuổi nhất trong nhóm. Ở tuổi Georgi mà đã được đề bạt ra tranh cử một chân trong Hội Nhà văn Liên Xô là quá sớm và quá bảnh. Hắn viết thật mạnh dạn, bút pháp thật bén và xung sát. Phải chi đừng có “đi sai đường lối” thì văn nghiệp thanh công bảo đảm: Georgi Ingal gần hoàn thành một tiểu thuyết về Debussy kia mà. Dù có thành công sớm và tương lai tràn đầy hứa hẹn hắn cũng không chịu câm nín. Nhân dịp đưa đám ông thầy Yuri Tynyanov, học trò Geogri Ingal không ngần ngại đọc điếu văn, tố cáo Tynyanov là nạn nhân của một vụ thanh trừng, dù biết rằng nói ra là đi đày chắc! Hắn lãnh 8 năm. 
Tình cờ Gammerov cũng qua xà lim Thánh đường nên trước khi đi Krasnaya Presnya, tôi có dịp nhận định lập trường cả hai người. Phải nhìn nhận đó là cả một sự khó khăn đối với tôi vì hồi đó tôi còn mắc chứng bệnh chung của thời đại là không dám chấp nhận bất cứ một sự kiện gì mới, không dám thẩm định bất cứ một tư tưởng nào mới. Phải đợi coi nó bị Đảng dán nhãn hiệu nào rút ra từ đống nhãn hiệu cũ rích đã. Phải đợi coi nó bị liệt vào hạng “sản phẩm sao chép vụng về của tư bản thối nát”, hay “đề cao tư tưởng đồi trụy của bọn trí thức lạc hậu” cái đã! 
Tôi nhớ trong cuộc thảo luận Ingal và Gammerov tuyệt không đả kích Marx nhưng Tolstoi thì bị họ quay tơi bời, từ địa hạt tôn giáo trở đi. Chẳng hạn Tolstoi chối bỏ Giáo Hội? Tại sao ông ta không nhìn Giáo Hội ở vai trò tổ chức và siêu linh? Bài bác Kinh Thánh? Há chẳng biết khoa học tân tiến đâu có phủ nhận Thánh Kinh, kể cả đoạn mở đầu giải thích về nguồn gốc địa cầu? Tolstoi bác bỏ cơ chế nhà nước? Nhưng không nhà nước, hỗn loạn thì sao? Tolstoi chủ trương hồn thể hợp nhất trong đời sống con người, nhưng có cách nào đánh đồng thiên tài và khả năng? Khốn nạn, ông đại văn hào còn chối bỏ cả tư tưởng “nhân vật lịch sử vạn năng” mà chính Stalin là một điển hình cụ thể! 4Không còn gì mâu thuẫn bằng! 
Ngày đó Ingal và Gammerov đã ngâm thơ cho tôi nghe và yêu cầu tôi ngâm đáp lễ, nhưng tôi đâu đã có bài nào. Họ nói chuyện tiểu thuyết, bốc Pasternak lên tận mây xanh. Riêng tôi mới đọc qua cuốn Chị tôi nhưng không thú. Nó có giá trị nhưng quá cao, không thích hợp với đại chúng. Nghe mấy câu thơ của Trung úy Shmidt đọc trước toà, tôi lại cảm động và thấy đúng tâm sự quá chừng: 
Ba mươi năm ròng nuôi dưỡng 
Tình yêu đất nước quê hương 
Thà chết không đòi ân xá 
Van xin chúng bay tình thương. 
Đó cũng là bài thơ đồng điệu của Gammerov và Ingal: Chúng tao đâu thèm xin khoan hồng. Tù cứ tù, chúng tao hân hạnh nằm tù, chớ có chết hụt trong tù đâu mà sợ? (Chao ôi, có thằng nào nằm tù không đau khổ, chết dần chết mòn?). Mới có mấy tháng Ingal được tin mất vợ. Con vợ trẻ đã chính thức từ bỏ thằng chồng phản động! Cũng may là Gammerov hăng say làm cách mạng, chưa có người yêu!). Có nằm xà lim mới thấy Chân lý sụp đổ và khắc khoải, khao khát tự do, thương cho thân phận con người: Những thân hình nằm la liệt, chui rúc đây kia không phải con người, không phải đồng bào ta sao? 
“Con đường chúng ta đã đi ngang. Không cần xin bọn hay tha thứ.” 
Những người trẻ nằm xà lim vì chính trị năm ấy dĩ nhiên không thuộc đám đông bình thường mà họ đã tiến xa hơn hẳn một khoảng cách. Đám đông những người trẻ tuổi còn đang dối diện một tương lai phân hoá đến ngỡ ngàng mất hướng, chán nản, chấp nhận một cuộc sống dễ dàng. Có lẽ phải đôi lúc bấy giờ họ mới khởi sự lại cuộc hành trình gian khổ vươn lên tới đỉnh hai mươi năm nữa chắc? Nhóm người trẻ tuổi nằm tù năm 1945 quả đã nhảy vọt qua được hố sâu thụ động, ù lì để ngửng đầu lên ngạo nghễ, đối diện với cái chết. 
Nằm xà lim Thánh đường khám Byturki những con người trẻ tuổi vừa lãnh án, bị cô lập tất cả để sửa soạn lên đường đi đày đã làm một bài ca để cùng vụng về cất tiếng trước buổi hoàng hôn: 
Ngày ba lần xuống khiêng cháo nóng; 
Đêm đêm ta hát ta ca, 
Lấy sợi chỉ cây kim lén lút, 
Ta khâu vá hành trang đi đày. 
Ta còn thiết gì thân ta, 
Đặt chữ ký cho xong việc, 
Đợi đi đày Tây Bá Lợi Á 
Biết có ngày nào trở lại. 
Tiếng hát đi đầy của những người trẻ tuổi! Bây giờ tôi mới được nghe vì có bao giờ dám ngờ? Những lúc chúng tôi gian khổ ngoài chiến trường, chân lội xình bì bõm, núp mình xuống hố tránh đạn hay bắc ống nhòm nhìn sang trận tuyến địch thì ở quê nhà một lớp người trẻ tuổi đang lớn lên, bắt đầu xông xáo. Lớp người đó gan dạ cất bước về một ngả khác, một ngả mà chúng tôi không đủ tư cách, không dám xông xáo tới! Thế hệ mới đâu có như chúng tôi hồi đó? 
Thế hệ chúng tôi ở mặt trận về, những kẻ giã từ vũ khí ngực lủng lẳng huy chương và lấy làm vinh hạnh kể lại những mẩu chuyện chiến trường. Lớp người trẻ tuổi ngó chúng tôi lắc đầu thương hại: “Một đám ngu ngốc!” 
Tháng 11-1974

——————————–

1Căn cứ theo tài liệu Nicolaivsky và Dallin (khuynh hướng Dân xã thì tổng số tù đi đày các trại Cải tạo Liên Xô đã từ 15 tới 20 triệu).
2Sau khi tự do, nhiều lần tôi thư từ thăm hỏi Kostya Kiulanhg đều biệt vô âm tín. Tuyệt nhiên không có tin tức gì nên tôi chắc hắn không còn trên dương thế.
3Trong hệ thống tổ chức của MVD có một Ủy ban đặc biệt mệnh danh “Đặc ban số 4” chuyên trách sử dụng tù vào những công tác khoa học, thí nghiệm.
4Trước khi và trong những ngày tù đày, tôi vẫn nghĩ là chính con người vạn năng của Stalin đã dẫn đất nước Nga vào khúc quanh lịch sử tai hại. Đột nhiên và âm thầm lãnh tụ từ trần nhưng con thuyền quốc gia có thấy rẽ ngoặt sang ngã khác đâu? Dấu tích cá nhân Stalin lưu lại trong những công trình lịch sử chỉ thấy một sự nghi kỵ ngu muội, một chính sách độc tài và thần tượng hoá cá nhân. Chỉ còn ngần ấy thứ, ngoài ra Stalin hoàn toàn theo đúng đường lối truyền thống, đúng từng bước từng khúc quanh một!