This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Ông Tom Cook, cư dân tại tiểu bang Wisconsin, đã trúng lô độc đắc Powerball 22 triệu ngày 10/6 vừa qua. Chuyện này không thành tin. Xổ số mở hàng ngày, có người trúng tới cả trăm triệu. Ông Cook trúng 22 triệu thì ăn thua chi. Nhưng chuyện thành tin nóng khi ông chia đôi số tiền này với ông bạn Joe Feeney trong khi ông Feeney chẳng góp tiền mua chung tấm vé số. Tất cả chỉ vì một lời hứa. Năm 1992, hai ông bạn chí thân này bắt tay với nhau và hứa nếu một trong hai người trúng số Powerball thì sẽ chia cho người kia một nửa. Chuyện như đùa mà nay thành thật. Thực ra ông Cook có thể làm lơ một cách dễ dàng. Vì ông Feeney chẳng còn nhớ tới chuyện cũ xì từ 28 năm trước. Khi được ông Cook điện thoại báo tin, ông Feeney tưởng bạn giỡn. “Ông ấy gọi tôi và tôi trả lời ‘ông có giỡn với tôi không vậy?’”. Trả lời báo chí, ông Cook nói: “Lời hứa là lời hứa. Đã nói thì phải giữ lời”. Hai ông dắt tay nhau đi lãnh tiền trúng số. Họ chọn cách lãnh trọn gói một lần. Mỗi ông được 11 triệu đô. Sau khi trừ tiền thuế, mỗi người bỏ túi được 5 triệu 700 ngàn. Cũng đỡ cho hai ông già. Ông Feeney đã nghỉ hưu trước đó. Ông Cook cũng nghỉ sau khi trúng số.
Vợ chồng ông Tom Cook và vợ chồng ông Joe Feeney lãnh tiền.
Chuyện giữ lời hứa của ông Tom Cook là chuyện đáng phục. Thời buổi này mà còn một ông quân tử tàu như vậy khá hiếm. Có tìm ở bên tàu ngày nay chắc cũng không có. Nhưng chuyện tôi kể dưới đây li kỳ hơn nhiều.
Phil Seymour là một Trung Sĩ thuộc Đại Đội C, Tiểu Đoàn 1, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến 1 của Hoa Kỳ, đóng ở Đà Nẵng. Anh qua Việt Nam vào tháng 12 năm 1966. Đơn vị của anh đóng quân tại một hòn đảo nhỏ gần Hội An. Họ thường vào chơi nơi phố thị này. Khi đi chơi, anh luôn mang theo chú chó cưng được gài sau ba lô. Tên chú chó này là Boot, được anh giải cứu trong một cuộc hành quân trong rừng. Khi đó Boot còn chưa dứt sữa mẹ. Mỗi khi từ thuyền vào đất liền, các anh lính GI này thường được một đám con nít đứng đón để xin kẹo, bánh, đồ hộp và cả thuốc lá. Thường thì các anh lính trẻ này phân phát đầy đủ cho đám trẻ. Trong đám trẻ có một đứa tên Cam (có thể là Cầm hay Cẩm) luôn mặc bộ đồ ngủ màu xanh, đi chân đất. Cam không nhao nhao như đám con nít chung quanh mà luôn luôn đứng ở phía sau, cam phận.
Phil và Cam năm 1967
Lúc đầu Phil và bạn bè tưởng Cam nhút nhát, nhưng không phải. Em không xin mà luôn mang theo dừa, chuối, chanh để trao đổi. Đám lính Mỹ rất thích đứa bé…sòng phẳng này. Lúc đó Cam chỉ khoảng 9 tuổi. Có lần em mang một trái chuối tặng cho Phil. Phil rất cảm động. Khi anh được đi Thái Lan nghỉ phép, anh hỏi Cam muốn gì anh sẽ mua cho. Cam chẳng biết Thái Lan là cái xứ mô tê nào, tiếng Anh lại ba xí ba tú, cậu bé chỉ vào chiếc đồng hồ Phil đeo trên tay. Phil gật đầu.
Qua Thái Lan, Phil mải vui với các cô gái dễ dãi, với rượu nồng thịt béo, quên mất tiêu lời hứa mua chiếc đồng hồ cho Cam. Trở lại Hội An, Cam chạy ùa ra đón Phil với hy vọng có chiếc đồng hồ. Phil đành xin lỗi và hứa sẽ mua cho Cam sau. Nhưng đời lính chẳng biết mai này sẽ ra sao. Đơn vị của Phil phải rời Hội An ra vùng phi quân sự ngay sau đó. Đầu năm 1968, Phil được trở về Mỹ. Về nhà, anh vẫn khó chịu vì không thực hiện được lời hứa với cậu bé nghèo nơi đất khổ. Lời hứa vẫn canh cánh bên lòng trong khi anh nghĩ chắc tới chết cũng không thực hiện được.
Anh tại ngũ thêm 27 năm. Chịu khó học lấy được bằng Master về luật, Phil trở thành luật sư của bộ Quốc Phòng. Năm 1995, ông nghỉ hưu.
Ông thường cùng một nhóm bạn đi du lịch khắp nơi. Năm 2007, nhóm du lịch này dự tính tham gia một tour tới vùng Đông Nam Á, có ghé Hội An. Vợ ông, bà Lynne, thúc giục ông phải tham dự chuyến này để trở lại Hội An, tìm gặp Cam, thực hiện lời hứa từ bốn chục năm trước. Phil đồng ý tuy trong thâm tâm ông nghĩ chuyện tìm lại Cam như chuyện mò kim đáy biển. Tuy vậy, ông vẫn mua sẵn môt chiếc đồng hồ.
Tới Đà Nẵng, hướng dẫn viên của đoàn du lịch là một người Hà Nội nhưng quen biết nhiều người ở Hội An. Anh chàng này hứa sẽ liên lạc tìm Cam giùm ông. May là ông Phil còn giữ và mang theo trong người được mấy tấm hình chụp với Cam ngày xưa. Anh hướng dẫn viên cầm tấm hình đi hỏi thăm. Anh gần như trúng số khi gặp được một người em của Cam. Chỉ cần một cú điện thoại, Cam chạy vội tới khách sạn. Lúc này Cam không còn là một đứa trẻ 9 tuổi mà là một bác thợ mộc 49 tuổi. Anh hướng dẫn viên hỏi Cam có biết ông Mỹ này không. Cam nhận ra Phil liền. “Ổng thường cõng con chó nhỏ trên lưng”. Anh hướng dẫn viên hỏi thêm anh có còn nhớ lời hứa năm xưa không, Cam trả lời liền: “Có, lúc đó tui mới 9 tuổi, nói tiếng Mỹ bập bẹ, nên nghĩ rằng ổng không hiểu nên không mua đồng hồ cho tui thôi”. Ông Phil nói với Cam là không có sự hiểu lầm nào cả mà chỉ có sự thất hứa. Ông đeo chiếc đồng hồ cho Cam rồi hai người ôm nhau. Cam cảm động đến rơi nước mắt. Hôm sau, Cam mời vợ chồng ông Phil và anh hướng dẫn viên tới nhà dùng cơm. Bữa ăn do vợ của Cam là Nở và con gái 28 tuổi tên Vy của Cam nấu nướng. Vy mới lập gia đình. Được hỏi về ước muốn của Vy, cô chỉ ước được học Đại học như bốn người em trai. Là phận gái nên Vy không được học hành như các em. Vợ chồng Phil không ngần ngại chu cấp cho Vy vào Sài Gòn học Đại học. Cô đã đậu bằng Cử nhân vào năm 2012.
40 năm trước, 40 năm sau
Lynne và Vy, con gái Cam
Quá vui mừng, vợ chồng Phil đã qua Sài Gòn dự lễ tốt nghiệp của Vy. Họ cũng mua vé máy bay cho vợ chồng Cam vào Sài Gòn. Đó là lần đầu tiên vợ chồng Cam được đi máy bay! Anh không quên mang theo một số đồ ăn quê mùa Hội An để mở tiệc mừng tại nhà trọ của Vy. Vợ chồng Phil mừng Vy một cái microwave. Hiện Vy vẫn làm việc tại Sài Gòn và thường điện thoại liên lạc với vợ chồng Phil.
Nói về ly kỳ thì chuyện giữ lời hứa của anh GI Phil ăn đứt chuyện chia đôi tấm vé số của ông Cook. Nhưng chuyện giữ lời hứa thì không có thể so sánh hơn kém. Chuyện nào cũng quý cả.
Họ là những quân tử thứ thiệt, thuộc loại hiếm trên trái đất này. Lời hứa của họ như đinh đóng cột. Từ ngàn xưa người ta đã xưng tụng bằng những câu đã biến thành những bài học mà muốn thành người tử tế phải noi theo. Nhất nặc thiên kim, lời hứa giá ngàn vàng. Nhất ngôn cửu đỉnh, lời nói có sức nặng tựa chín chiếc đỉnh. Quân tử nhất ngôn, người quân tử chỉ nói một lời. Dân gian cũng có những câu như: Một lời nói dối, sám hối bảy ngày. Hoặc: Ăn ngay nói thật, mọi tật mọi lành.
Hứa trong thương trường trở thành chữ tín. Buôn bán với nhau người ta rất trọng chữ tín. Đã nói là phải giữ lời. Không lươn lẹo, không gian dối.
Tôi có chút kinh nghiệm về chữ tín này. Với một ông Tàu. Tàu Đài Loan. Khoảng chục năm trước, tôi được một anh bạn văn giới thiệu in sách ở Đài Loan. Vừa rẻ vừa đẹp. Anh cho tôi số điện thoại của nhà in bên đó. Tôi liên lạc và đồng ý giá cả. Ông nói tôi gửi bản lay-out bìa và ruột sách qua. Tôi hỏi chuyện đặt tiền cọc. Ông nói không cần, khi nào in xong lấy luôn một lúc. Tôi chưa bao giờ gặp ông. Hai người không biết tính tình và tư cách của nhau. Khi sách in xong, ông báo cho tôi biết. Tôi hỏi cách trả tiền. Ông gạt đi. Chừng nào ông gửi sách đã. Rồi ông gửi sách, gửi qua internet cho tôi đầy đủ giấy tờ để tôi có thể lãnh sách khi hàng tới Montreal. Sách gửi đường thủy thường mất cả tháng. Nhận được giấy tờ, tôi lại hỏi chuyện trả tiền. Ông bảo chừng nào tôi cầm được sách trên tay thì ông mới hoàn tất trách nhiệm, lúc đó ông mới nhận tiền. Dĩ nhiên tôi thuộc loại…quân tử nên rất sòng phẳng. Sau một vài lần in sách, tôi mới hỏi ông lỡ có người nhận sách rồi quên trả tiền thì sao. Ông cười hề hề: không có đâu!
Ông này có lẽ là con cháu thương nhân Thái Lâm đời nhà Thanh bên Tàu. Tôi có lần lân la hỏi họ của ông thì ông không phải họ Thái. Nhưng cần chi, họ gì cũng được, miễn là biết giữ chữ tín. Ông Thái Lâm quê ở Tô Châu là người rất trọng lời hứa và giữ chữ tín. Có một người bạn đem đến nhà gửi ông cả ngàn lượng vàng mà không cần bất kỳ giấy tờ chứng nhận nào. Ít lâu sau, người bạn lâm bệnh và qua đời. Ông Thái Lâm gọi người con của bạn tới nhận lại vàng. Anh con này không dám nhận vì cha anh không nói chi chuyện này và cũng không đưa cho anh bất cứ thứ giấy tờ chi.
Anh nói với ông Thái Lâm: “Làm sao có chuyện kỳ cục như thế này được. Cha tôi gửi một số vàng lớn như vậy mà không có một chứng nhận nào sao? Vả lại, khi sanh tiền, ông không nói chi với tôi chuyện này nên tôi không dám nhận”. Thái Lâm nghe xong, vừa cười vừa nói: “Biên lai nằm trong tâm ta chứ không nằm trên giấy. Đó là vì cha của con hiểu được ta nên mới không nói cho con về chuyện này!”.
Chuyện nghe ra như chuyện quốc văn giáo khoa thư, chỉ nằm trong sách giảng dạy ở nhà trường. Ngoài đời, người ta hứa và nuốt lời hứa như ăn chè đường. Quân tử nhất ngôn là quân tử dại / Quân tử nói đi nói lại là quân tử khôn. Nhan nhản quanh chúng ta đầy rẫy những quân tử khôn. Cứ hứa vung vít, sù mấy hồi! Y như “Con ma nhà họ Hứa”!
“Con ma nhà họ Hứa” là tiếng người ta thường dùng ngày nay để chỉ những người thất hứa. Nhiều người, nhất là các bạn trẻ, không biết từ đâu ra cụm từ gợi hình này. “Con Ma Nhà Họ Hứa” là tên một cuốn phim của đạo diễn Lê Hoàng Hoa, sản xuất vào những năm 1972-1973 tại Sài Gòn. Chuyện phim kinh dị này lấy bối cảnh ngôi nhà của chú Hỏa, tên đầy đủ là Hứa Bổn Hỏa, một người Hoa sang Việt Nam làm nghề buôn bán ve chai. Do tính cần cù ông đã trở thành một phú ông nức tiếng giầu có. Như vậy họ Hứa này là họ từ Trung Hoa di cư sang Việt Nam. Nhưng trớ trêu thay là ở Việt Nam cũng có họ Hứa. Và họ đã động lòng khi tên họ của dòng họ này được dùng để chỉ một tính cách bất minh. Ông Hứa Thu Huyền đã viết một bài thanh minh thanh nga cho dòng họ. Tôi xin trích một đoạn như sau: “Xin các vị hãy nhớ rằng, họ Hứa là dòng họ xuất hiện sớm ở Việt Nam, có đóng góp xứng đáng trong lịch sử dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước. Tất cả con cháu họ Hứa đều có truyền thống yêu nước bất khuất và từ gia đình có nền nếp gia phong, hiếu nghĩa, cần cù lao động… Chúng tôi không chấp nhận bất kỳ sự xúc phạm nào đối với dòng họ của mình. Chúng tôi kịch liệt phản đối những tư duy mang tính ám chỉ, kỳ thị, cho dù là vô tình hay hữu ý. Hiện nay, các thành viên thuộc họ Hứa Việt Nam đã có mặt và sinh sống trên mọi miền của đất nước, suốt từ Bắc vào Nam, từ miền xuôi đến miền ngược và cả ở các nước trên thế giới. Với sự kết nối, đoàn kết, tạo sức mạnh dòng tộc, hướng về cội nguồn, duy trì và phát huy những truyền thống tốt đẹp, tinh hoa của dòng họ, phụng sự tổ tiên… họ Hứa Việt Nam sẽ luôn tương trợ giúp đỡ nhau trong cuộc sống và chăm lo cho các thế hệ con cháu mai sau. Những giá trị tinh thần truyền thống mà dòng họ Hứa đang gây dựng chắc chắn sẽ được phát huy, góp phần tạo nền tảng tinh thần cho đời sống xã hội”.
Chúng ta quen miệng, coi câu nói như giỡn chơi, nhưng chuyện giỡn đã làm mất vui cả môt dòng họ. Bỏ được thói quen này đi là việc nên làm. Có làm được hay không lại là chuyện khác. Tôi vẫn nghe, vẫn đọc được trên các phương tiện truyền thông cụm từ này được các nhà truyền thông dùng như một sự “thông minh” mang chút nghịch ngợm. Chuyện này rất không vừa lòng ông Hứa Thu Huyền và các thành viên dòng họ Hứa. Nhưng muốn sửa đổi một thói quen cũng cần thời gian.
Thất hứa là chuyện xảy ra lu bù trong cuộc sống của chúng ta. Thành phần nghề nghiệp nào cũng có thể góp phần vào chuyện…ma mãnh này. Nhưng hầu như mọi người đều đồng ý với nhau: các chính khách là tổ sư thất hứa. Trước các cuộc bầu cử, chúng ta được các ứng cử viên cho ăn bánh vẽ tới no nê. Hứa đủ thứ nhưng khi đã ngự được vào chiếc ghế quyền uy, mọi lời hứa đều như nước đổ đầu vịt. Trơn tuồn tuột! Lá phiếu đã bỏ vào thùng phiếu, gạo đã trở thành cơm, chúng ta chỉ biết trơ mắt ếch nhìn các chính khách múa may quay cuồng, quên đi những lời hứa thời tranh cử.
Nhân dân thường là một đám đông ô hợp, bất lực. Nhưng tại Mễ Tây Cơ, nhân dân là một sức mạnh. Chính khách nào thất hứa coi như lãnh đủ.
Tháng 10 năm 2019, ông Thị Trường thành phố Las Margaritas, tiểu bang Chiapas, nằm ở miền Nam Mễ Tây Cơ, đã thất hứa sau khi đắc cử. Theo tường thuật của báo El Heraldo de Mexico thì một nhóm người trang bị gậy và đá đã bắt cóc ông Thị trưởng Jorge Luis Hernandez khi ông này đang ngồi làm việc tại văn phòng. Họ trói ông, cột vào phía sau một xe tải và kéo lê trên đường. Tội của ông là đã nuốt lời hứa, không thực hiện được những lời hứa hẹn khi tranh cử trong đó có việc tái thiết một con đường và cung cấp điện nước cho người dân. Cảnh sát đã giải cứu được ông ngay sau đó. Thương tích của ông không trầm trọng lắm.
Thị trưởng bị trói và kéo lê trên đường vì thất hứa – Ảnh 1.
Người biểu tình đã dùng gậy và đá để bắt cóc thị trưởng Jorge Luis Escandon Hernandez khỏi văn phòng. Hình: My News Ghana
Trước đó, tháng 8 năm 2019, tại thành phố San Andrés Puerto Rico, cũng thuộc tiểu bang Chiapas ở Mễ Tây Cơ, hai chính trị gia thất hứa cũng đã bị dân chúng hài tội. Họ không cột vào xe tải kéo lê trên đường phố nhưng bắt ông Thị Trưởng Javier Jimenez và một quan chúc khác tên Luis Ton phải mặc váy đàn bà đi diễu hành trên đường phố. Mặc váy đàn bà là một hình thức bị sỉ nhục. Tờ báo địa phương El Diario de Mexico cho biết hai ông này hứa khi tranh cử là sẽ dùng số tiền 158 ngàn đô để cải thiện hệ thống cung cấp nước cho thành phố. Khi đắc cử, họ đã xù lời hứa này. Hai ông “quân tử khôn” này đã phải thi hành hình phạt diễu phố trong bốn ngày liền. Dân chúng đứng hai bên đường giơ biểu ngữ và la ó khi họ đi ngang qua!
Thị trưởng Mexico bị ép mặc váy phụ nữ diễu phố vì thất hứa với dân – 1
Thị Trưởng Javier Jimenez và một viên chức khác bị bắt mặc váy đầm diễu phố.
Chuyện chỉ mới xảy ra tại Mễ Tây Cơ, không biết dân chúng các nơi khác có học hỏi được những chiêu thức này không. Nếu họ biết bắt chước nhau, các…con ma nhà họ Hứa phải dè chừng. Vinh quang sẽ có khổ nhục đính kèm!
Vũ tháo nốt đầu võng thứ hai, vo tròn tất cả nhét vào túi đeo lưng. Toán lính đã thu xếp xong trong những tiếng thì thào thật khẽ. Chàng đeo túi lên lưng, ngồi xuống thềm đất, lật ngửa mũ úp mặt vào châm thuốc. Ra tiến lại:
“Đi hướng nào, chuẩn uý?”
“Cho anh em ra sát lộ đợi tôi”.
Những người lính bước khẽ men sát vách tường, cố ẩn mình dưới khoảng bóng tối ngắn do mái hiên tạo ra. Chái nhà bắt đầu hoang vắng, hiệu thính viên ngồi xổm cạnh mái, nhẫn nại chờ đợi, hai cánh tay đặt trên đầu gối duỗi thẳng xuôi về phía trước. Hai người lính gác giặc phía sau xuất hiện, lần mò kiếm túi đeo lưng dựng ở một góc cột. Vũ nghiêng người về hiệu thính viên:
“Báo cho họ biết mình bắt đầu di chuyển. Sẽ băng qua lộ”.
Chàng đứng dậy, mở bi-đông đưa lên miệng uống một ngụm dài. Mặt lộ như không có một hạt bụi, chàng quỳ lên lắng nghe và quan sát một lần chót: Không có gì ngoài các ngôi chùa tối đen, ánh trăng và cây cỏ. Chàng vẫy tay, tiểu đội 1 chồm lên, các khối đen lăn khuất bên kia bờ đất. Hoàn toàn im lìm ngoài một phảng phất âm thanh địch đào đường thật xa. Chàng vẫy tay, tiểu đội còn lại leo vội lên mặt lộ, chạy lao người về trước. Khi tới gần sát lề đường bên kia, một luồng gió đêm ướp mùi đồng nội ào tới làm chàng dừng lại trong một khoảnh khắc, hít một hơi dài. Cơn buồn ngủ day dứt từ khi trời bắt đầu tối tan biến hẳn, chàng thoải mái và gần như vui vẻ khi cho quân đi sâu vào trong xã. Men theo bóng tối của mái hiên, của rặng cây, của bờ rào, đôi lúc xoạc chân bước qua một hàng rào quá cao, đôi khi dừng lại đứng im hay phân tán vào bờ bụi khi có tiếng động bất thường. Bóng tối, kiếm bóng tối, men theo bóng tối, chàng cố gắng giữ cho toán quân đừng quá xa đừng quá gần con lộ mặt nhựa thẫm màu. Tiếng cuốc bổ vào mặt đường cứng bắt đầu nghe rõ từng nhát, rồi tiếng người nói lao xao. Chàng giơ tay, toán quân đứng sững, tản mát vào các vũng tối chung quanh, khẩu trung liên thò một cái mũi ra ánh trăng rồi biến đi ngay. Trên lộ, đám người hỗn độn lập lờ đang như những con kiến đen bu quanh một cái mô đắp ngang đã cao gần đầu gối. Chàng ngồi dựa vào một thân cây, muốn mỉm cười khi thấy đã ước tính đúng: địch không đặt một tổ báo động nào phía này. Ra bò tới sát cạnh:
“Tụi chúng làm ăn hung quá ta! Kêu pháo binh thụt cho chúng mấy trái cho chừa đi. Bọn mình được phép mà…”
Vũ ngần ngại. Có quá nhiều đàn bà trong đám người kia. Nhưng Ra có lý của hắn, bắn vài trái đạn nổ vào đúng cái đám đen đang lúi húi kia, có thể cả chục người dân tan xác nhưng có lợi từ đó về sau, dân sẽ có cớ để từ chối với các cán bộ ẩn hiện về đêm. Dân sẽ có thể nói: “Đắp mô! Lính nguỵ chúng gọi phi pháo túi bụi ngay!”. Một tiếng đàn bà cất lên cao vút, chàng lắng nghe nhưng không hiểu rõ câu nói, nhưng chú tâm ấy làm chàng hết ngần ngừ: Chàng sẽ không gọi pháo binh dù để chỉ bắn trái khói hay chiếu sáng doạ nạt, cũng không gọi 81 của đồn. Chàng quyết định ngắn ngủi, sẽ bò lại thực gần, lựa cho được vài tên cán bộ cho một băng, kèm vài trái lựu đạn ném xa xa, rồi rút.
Đám đông người quần áo đen sẽ cuống quít chạy ùa tứ phía, những con kiến đen bu quanh miếng đường bị bất chợt lay động bởi một ngón tay của chàng hồi nhỏ. Vũ chợt nhận ra mình đang mỉm cười với một hình ảnh cũ và hình như thích thú với dự định sẽ làm. Ra trườn như một con thằn lằn không đuôi đầu ngóc lên khỏi bụi cây thấp ven con đường đất nhỏ. Cái đầu đội mũ sắt tròn nhô lên, cứng ngắc. Hắn sẽ trở lại đây bây giờ, hắn sẽ góp ý kiến và chàng chờ đợi cái giọng thì thào quen thuộc trong bao đêm. Ý thức phải chờ đợi làm bàn tay tự động đưa lên túi áo lấy thuốc. Chàng ngồi bệt xuống cỏ hai đầu gối giữ chiếc mũ, đưa bàn tay có bật lửa vào trong, bậm chặt môi kê đầu điếu thuốc lên vành bật lửa, mắt theo dõi một đường cuốc sáng loáng trên mặt lộ. Ánh lửa vụt loé lên đồng thời với tiếng ma sát bị chìm trong tiếng cuốc va mặt nhựa. Chàng hút mạnh vài hơi liền, nhìn vệt đỏ từ một góc lan dần đầu điếu thuốc trong lòng chiếc mũ. Giọng thì thào quen thuộc đã cất lên:
“Chỉ có bốn tên mang cạc-bin hay Mas 36 quanh chỗ đắp mô. Xa hơn chung quanh thì không biết, chuẩn uý tính sao?”
Chàng im lặng cúi đầu vào lòng mũ, hút một hơi dài. Khi hắn hỏi tính sao là hắn sắp đề nghị, chàng chờ đợi.
“Đừng gọi pháo binh, chuẩn uý. Lỡ gặp phải gà chết nó câu đúng một trái nổ vào giữa cái đám kia, chết cả đống! Rồi mai dân kéo lên quận mít-tinh tùm lum thì mình kẹt”.
“Anh quên Tư tưởng Kinh kỳ cho phép bắn”.
“Phép hay không phép cũng thế thôi. Cứ có mít-tinh khiếu nại là chuẩn uý lãnh củ. Lúc đó chẳng ông nào nhận đã ra cái lệnh đó đâu… Khẩu lệnh mà, lấy gì làm bằng…”
Chàng lại cúi đầu vào trong mũ, hút một hơi dài và một lần nữa chờ đợi cái giọng thì thào cũ kỹ.
“Tôi ở quân đội gần mười lăm năm rồi, chuẩn uý”.
Giọng nói nhỏ hơn trước nhưng không chứa đựng một mỉa mai hay chua xót. Nó chỉ là nhận định một sự kiện… thế thôi, kinh nghiệm hơn của mười năm quân ngũ. Chàng lẳng lặng đưa cả mũ lẫn điếu thuốc bên trong sang phía cái đầu tròn của con thằn lằn không đuôi. Mùi thuốc bốc lên, chàng cúi xuống toan nói nhưng vội ngừng khi bàn tay người hạ sĩ quan đập vội lên mũi giày. Một tiếng người đi nhẹ chân, chàng không kịp làm gì hơn là cầm khẩu súng lên, bóng người đã hiện ra ngay khúc quanh của con đường. Vòm lá cây che khuất ánh trăng làm chàng không nhìn thấy gì hơn là hình dạng một người mặc đồ đen, chàng tính toán rất nhanh, ngồi im phải ngồi im cho các đường nét lẫn vào bụi cây thấp chung quanh, hắn sẽ không thấy hắn sẽ đi qua. Nhưng bóng đen đã ngập ngừng dừng lại mặt hướng về phía trước có quãng đường không lá cây đầy ánh trăng. Hắn định làm gì đây, hắn biết rồi chăng, mũi súng đã hướng đúng chiều và ngón tay đặt hơi nặng lên cò. Bóng đen đứng hẳn lại quay về phía chàng, ngón tay toan siết cò vội vụt buông ra khi thấy bóng đen không vũ khí và hai bàn tay vừa lần xuống cạp quần vừa tiến lại. Con thằn lằn không đuôi bung người lên chụp lấy bóng đen vào lúc chàng nhận ra đó là một người đàn bà. Vài tiếng kêu ú ớ lọt qua kẽ ngón tay Ra úp chặt, nhưng hai bàn chân vung lên đập thình thịch xuống đất. Chàng rút vội lưỡi lê, nhào nắm đè lên hai đùi, ép chặt cứng xuống đất, một khoảng trắng nhỏ thoáng chiếu rõ đôi mắt sợ hãi. Lưỡi lê mài sáng đưa lên trước đôi mắt mở lớn, người đàn bà vụt ngưng kháng cự. Giọng Ra nghe rõ từng tiếng:
“Nằm im nghe không… Chúng tôi chỉ giữ chị tới sáng mai là cùng cho khỏi lộ vị trí. Bảo im là im, bảo gì làm nấy sẽ được về với chồng con. Số chị xui, đi tiểu không đúng chỗ… Năm! Kiếm cái dây mày”.
Hai binh sĩ đã trườn người tới. Chàng ngồi dậy đút lưỡi lê vào bao, một bên tay còn hằn cảm giác êm của chiếc đùi rộng ấm. Các tiếng động trên phía lộ vẫn nguyên vẹn, đàn kiến đen vẫn tiếp tục bu quanh miếng mồi, chàng yên tâm đặt súng dựa vào một bên vai, tìm cách châm điếu thuốc mới. Một mùi khai nồng thoáng bốc lên đồng thời với ý thức một cảm giác ẩm ướt giữa một kẽ tay. Chàng tự dưng muốn ớn khi Ra trườn trở lại vị trí cũ, làu nhàu nho nhỏ:
“Mụ ta sợ quá đái đầm đìa cả ra… Khai quá sức! Chuẩn uý cho mồi điếu thuốc…”
Chàng chậm rãi chùi tay vào quần, xoay người lại. Người đàn bà hai tay kéo lên trên đầu đã bị trói xong, miệng bịt ngang bằng một chiếc khăn thẫm màu, chiếc quần vì vùng vẫy đã tụt trệ dưới rốn. Chàng ngắm khoảng da thịt để hở bồng bềnh trắng nhờ nhờ, và khi bắt gặp thân thể mình đang chịu tác động rõ rệt về tình dục, chàng toan quay đi. Nhưng một khoảng đen thẫm vuông vắn nằm áp cạnh sườn người đàn bà làm chàng chú ý và gọi Ra khe khẽ:
“Anh ra lấy cái túi kia. Coi có cái gì mà mụ ta cất kỹ quá”.
Người đàn bà vùng vẫy cố kháng cự nhưng một lưỡi lê đã giơ lên khua ngang đe doạ. Chiếc túi trút ra có một xấp giấy. Vũ cầm lên mở ra, lựa một khoảng trăng lớn lọt qua lá cây, đọc vội vàng những hàng chữ. Chàng đặt xấp giấy xuống cỏ, một cán bộ giao liên địch, chàng đã xét đoán lầm, không phải một người dân đi đào đường muốn đi cầu tình cờ tạt vào đây. Ra thì thào:
“Cái gì, chuẩn uý?”
“Một cán bộ giao liên”.
“À! Thảo nào nó kháng cự hung quá”.
“Anh hỏi nó xem tụi chủ lực đang ở đâu. May ra nó biết”.
“Phải hù nó mới được, chuẩn uý! Thứ này thứ dữ mà”.
“Cũng được…”
Câu trả lời sau cùng hạ thấp xuống miễn cưỡng. Chàng không ưa chứng kiến cảnh hù nó mới được, cái mà khi còn học trong quân trường, huấn luyện viên gọi là thẩm vấn tù binh tại chiến trường. Chàng biết như thế sau một lần thấy một tù binh không chịu khai bị bắt ngồi trên một vũng nước đã nẩy bắn người ngã ngửa ra phía sau khi một binh sĩ dí sợi dây điện có nối với một máy truyền tin. Luồng điện quá yếu không tạo một hậu quả gì hơn là một hoảng sợ cho một kẻ đang hoang mang sau khi đã chiến đấu, bị bắt và lo âu cho thân phận mình nằm trong chờ đợi nhiều bất trắc. Hù cho nó sợ, chàng không ưa chứng kiến và thường đi chỗ khác ngồi hút thuốc. Một cần thiết khó chịu như nhu cầu bài tiết nôn nao trong người. Nhưng bây giờ chàng không thể lảng tránh, đây không phải là sân đồn yên ổn có góc cho chàng ngồi hút thuốc. Không thể quay mặt đi khỏi vệt nhờ nhờ trắng và bồng bềnh khuất vào mép quần, không thể từ chối vai trò của mình bởi vì chính chàng đã tham dự vào việc bắt trói kẻ địch đồng thời là sinh vật cái có khoảng da thịt muốn loang trắng thêm trong bóng tối dưới lớp lá cây. Chiếc khăn bịt miệng bị giật tung sang một bên, một loáng lưỡi lê giơ lên, chậm chạp đặt nằm ngang tầm chiếc cổ người đàn bà hai tay bị trói kéo ngược lên phía trên.
“Nói đi! Đại đội của tên Hải hiện ở đâu? Muốn nói hay là muốn cắt tiết!”
Người cán bộ im lặng, chàng nhìn về phía lộ, đàn kiến đen cần cù, chàng cúi xuống lòng mũ hút một hơi thuốc.
“Nói mau! Tưởng bọn tui giỡn hả? Dân biệt kích đây, biệt kích không có hỏi tới câu thứ ba!”
Năm móc túi giơ lên trước mặt người cán bộ địch chiếc phù hiệu thêu hình chiếc sọ người hai xương trắng trên nền đen, phù hiệu hắn xin từ một toán biệt kích đã có lần tới giải vây cho đại đội chàng bằng một mũi dùi tiến quân có những ngôi nhà tranh bị đốt cháy.
“Nói mau! Không nói hả! Năm, mổ bụng nó ra mày”.
Mũi lưỡi lê nhọn thôi hướng vào cổ, quay chúc xuống lách dưới vải. Người cán bộ thốt kêu tiếng nhỏ nghẹn tắc dưới bàn tay Ra vụt úp lên miệng, chiếc áo đã bị rách đứt hết cúc, màu trắng vải vụt trải rộng như chói sáng.
“Hỏi lần chót, đại đội tên Hải hiện ở đâu? Còn bướng hả? Năm!”
Ngọn lưỡi lê lướt xuống phía dưới đe doạ. Người cán bộ giao liên hốt hoảng gật gật đầu. Ra cúi đầu xuống gần sát miệng người đàn bà thì thào liên tiếp. Vũ duỗi thẳng hai chân xua đuổi cảm giác gây gấy khó chịu dọc sống lưng, cảm giác của một âm thanh do lưỡi dao sắc cạo mạnh vào ống nứa xanh, của ước muốn như một sợ hãi đầu lưỡi lê sẽ chúc xuống thật sự xuyên qua lớp vải.
“Chuẩn uý! Nó bảo đại đội tên Hải đóng bên kia lộ cách chỗ đào đường chừng ba trăm thước”.
“Đóng thế nào? Định làm gì?”
“Nó không biết bởi vì được phép ghé qua thăm nhà từ chập tối. Rồi từ nhà đi liên lạc thẳng tới đây. Nó nói…”
Chàng chợt nhận rõ một bàn tay, không, nhiều bàn tay đang bò, những con vật đen thẫm bám trên ngực người đàn bà. Viên hạ sĩ quan ngừng thì thào, người đàn bà nằm im chịu đựng, không một cử động, không một âm thanh phản kháng. Cảm giác gây gấy lại xuất hiện, Ra im lặng chờ đợi, các con vật đen di chuyển mau hơn, vội vã. Chàng ngập ngừng, đó là một kẻ địch, đêm tối và tiếng súng, đêm tối hoả châu và những giọt mồ hôi những bất trắc của nỗi chết. Những con vật đen vụt ngưng di chuyển, những cái đầu binh sĩ hướng về chàng chờ đợi. Giới hạn chót đã đến, chàng biết rõ như thế, chàng chỉ cần ngồi im thêm một phút nữa, những bản năng sẽ được tung ra quanh khoảng ẩm ướt nước tiểu với chàng ngồi đó chứng kiến để rồi tan cuộc, họ cũng như chàng không còn gì hơn là nỗi tuyệt vọng với chính mình và một đam mê vớt vát với đời sống của những người lính.
Chàng chống báng súng quỳ một chân lên, các con vật đen biến mất. Chàng nói chậm chạp :
“Anh Ra mặc lại quần áo cho bả tử tế. Bịt miệng cho khỏi kêu rồi cho nằm sau bờ rào. Bảo đừng có chú nào lộn xộn nữa”.
Người hạ sĩ quan quỳ lên theo, hình như mỉm cười trước khi di chuyển thi hành lệnh. Chàng hiểu nụ cười phỏng đoán ấy. Chàng đã ra lệnh thừa, bây giờ không thể còn có lộn xộn nào nữa. Giới hạn chót chàng đã không vượt qua, người chỉ huy đã dừng lại bên tiền đồn của tuyệt vọng, tất cả sẽ dừng lại, chàng đã ngăn chặn mình ở lại bên này biên giới, một cưỡng ép tự ý không đạo lý trên thế gian nào hiện diện. Chàng trở lại ngồi vị trí cũ nhìn về phía lộ, đám người vẫn bao quanh mô đất đã cao hơn đầu gối. Khi đưa tay lên túi móc bao thuốc, chàng bắt đầu lại nghe thấy tiếng cuốc xẻng trộn vài tiếng nói và một con chó sủa ở một nơi xa phía sau. Khói thuốc toả trong miệng khô cứng, bàn tay kéo bi-đông thật nhẹ khỏi bao vải, dòng nước mát bám vào thành thực quản êm dịu, vài giọt chảy ra ngoài dọc cổ rồi mất hút ở một khoảng nào trên ngực. Chàng thoải mái nói nhỏ khi Ra và hiệu thính viên chúi đầu lại gần:
“Tôi sẽ đi với thằng Năm và Sao bò lại sát chỗ tụi nó đang đào. Sẽ tìm cách hạ vài tên kích rồi ném một lựu đạn cho dân sợ chạy. Anh cho cả trung đội dàn theo đường mương kia. Nếu tên Hải đóng đúng chỗ mụ cán bộ nói, chúng sẽ nhào sang làm mồi cho trung liên. Để kéo trung liên như thường lệ, khẩu của thằng Bảy để hẳn lên gốc cây dừa yểm trợ cho tôi rút”.
Không gian vụt tối hẳn đi, chàng ngừng nói nhìn lên, đám mây bay ngang mặt trăng có những viền một thứ màu xám trong. Chàng cúi đầu xuống nói với hiệu thính viên :
“Khi nghe thấy tiếng lựu đạn tôi ném, gọi về đồn báo cáo mình kích tụi đắp mả Hồ Chí Minh. Chỉ xin pháo binh bắn bên kia lộ một trăm khi nào anh thấy tụi nó tràn sang cả đại đội…”
Ra giọng lo ngại:
“Sao chuẩn uý không xin pháo binh ngay khi chúng nó bắt đầu xuất hiện? Đợi biết rõ là C. của chủ lực, đâu còn kịp”.
Chàng im lặng đưa chiếc mũ lên tận ngang mặt hút thuốc, Ra nhìn sang bên kia lộ, hắn hiểu chưa, những ngôi nhà tranh san sát nhiều lớp đến tận bìa rừng cao-su, Ra quay đầu lại không nói gì, hắn đã hiểu rồi, mọi sự phải là như thế, không còn cách nào hơn. Những người dân chỉ có thể chết trong lương tâm thanh thản của hắn, của chàng, của những người lính nằm từng vũng đen dưới ánh trăng nếu xác họ sẽ lẫn với xác địch. Còn chàng, hình như hắn vừa thở dài chịu đựng, còn những người lính của chàng có chết, bao giờ cũng là chết trong lương tâm thanh thản của mọi người, tất cả mọi người. Hai binh sĩ được chỉ định đi cùng đã tháo túi đeo lưng, bỏ mũ sắt, cài lựu đạn lên túi áo. Khi gỡ túi đeo lưng đưa cho hiệu thính viên, chàng cúi xuống, như một an ủi, nói thêm vào tai người phụ tá:
“Nếu không chặn nổi tụi chúng, anh cho trung đội phân tán vào các ruộng mía đợi sáng rút về đồn”.
“Còn ông Hy?”
“Ai biết được đại đội đóng chỗ nào lúc này”.
Chàng quỳ lên, cài hẳn lựu đạn vào phía sau lưng cho khỏi vướng khi bò.
“Chuẩn uý…”
“Cái gì nữa, anh Ra?”
Người hạ sĩ quan vụt im bặt, cúi mặt xuống. Chàng chợt hiểu, hắn không còn gì để nói thêm về chiến trận, hắn chỉ còn điều để nói riêng với chàng như những người lính nói với bạn thân nhất của mình, những lời giản dị như chúc mày may mắn, gặp hên nghe mày, liệu mà giữ nguyên bộ đồ nghề về cho vợ nó mừng nghe… Nhưng hắn không thể dùng những câu như thế, chàng đã giữ thái độ quá tách biệt từ quá lâu rồi và bây giờ thì đã quá muộn. Chàng để bàn tay lên vai Ra, hắn ngẩng đầu lên những nét mặt hiện rõ dưới ánh trăng, chàng toan nói một điều gì để hắn hiểu thứ tình tựa như lòng biết ơn và lưu luyến nho nhỏ, nhưng sau cùng chàng chỉ hỏi một câu trước khi lom khom cùng hai người lính băng qua con đường đất:
“Trăng còn ba tiếng nữa lặn phải không?…”
° ° °
Người đàn ông làm việc hối hả, lưng bị ép mạnh vào một nếp gấp của chiếu đau tê dần, chị toan nói toan di chuyển người sang phía bên nhưng những cử động bấu víu cương quyết của Hải là mọi ý định mềm rũ xuống, vô dụng. Chỉ còn cách chịu đựng, tiếp tục chịu đựng. Một giọt nước đọng kẽ mắt từ lúc nào bây giờ vì một cử động mạnh của người đàn ông, bật tung từ má chảy buồn buồn xuống thái dương. Hải thở hổn hển ngay sát cạnh làm những sợi tóc rung động phá vỡ giọt nước li ti bám vào vành tai, chị chợt nhận đồng thời cảm giác giọt nước vỡ tan và cơn khóc đã ngừng. Nỗi tuyệt vọng có từ lúc hoả châu bùng sáng không còn nữa, Hải đó rồi, Hải như bóng đêm, là bóng đêm đã tới và chị chẳng còn có thể làm gì hơn là theo đà đẩy mà nằm ngửa chịu đựng. Chị chậm chạp mở mắt, một chiếc lá nào đó theo gió lay động cho mặt trăng thấp thoáng trên kia. Hắn vội vã hơn, thế là sắp xong rồi. Chị toan nói, mong hắn nói nhưng không gian vẫn chỉ là tiếng gió và tiếng lá khô lạo xạo vỡ nát thêm dưới chiếu, chị muốn nghe cái gì khác hơn là tiếng thở mỗi lúc thêm đứt quãng. Mong ước đến tuyệt vọng, nhưng hắn không cần nói, Ba có nói, có hỏi han trong lúc… nhưng Ba là chồng, Ba có thương có yêu. Nhưng Ba đâu rồi, Ba ở đâu? Ý nghĩ rằng Ba đang hì hục đào đường, lưng trán đùi mồ hôi ướt bám dưới ánh trăng ngoài kia làm chị nghẹn ngào, muốn vùng lên. Nhưng Hải đã đến cực điểm, Hải không còn là gì hơn một áp lực tua tủa dồn chị xuống vết chiếu hằn đau cứng, hắn là một con vật dằng dai ngấu nghiến miếng mồi để không cần nói không cần phải thốt ra tiếng kêu, bất cứ tiếng kêu loại nào để chị bớt niềm tủi thân. Chị bắt đầu khóc thành tiếng nho nhỏ, giọt nước bám vào mi làm nhòe méo mó và rung rinh mặt trăng bên trên kia, sau lớp lá. Hải rũ liệt khoảnh khắc, lăn sang một bên ngồi dậy. Hắn không nói và chị tiếp tục để nước ứa ra làm mờ mắt mình. Hắn im lặng, hắn đang lục túi áo kiếm thuốc lá, chị không cần ngó cũng biết hắn sắp hút thuốc, đàn ông nào cũng đến thế, đàn ông nào cũng là mùi thuốc bốc lên khét lẹt, đàn ông nào cũng đến thế, cũng đến chỉ là cái thân thể uể oải dựa tường, dựa vách dựa cột dựa thành đất lạnh của chiếc hầm. Bây giờ chị hiểu thật rõ tại sao sau ngày bị Tây cưỡng, má hay khóc một mình với những giọt nước rớt trên tro nóng trong bếp. Cái hành động ấy chẳng nghĩa chi hết cho thân thể, một vài gáo nước là không còn dấu vết. Nhưng còn bên trong thì đầy thương tích, người đàn bà là đàn bà cho một người đàn ông, như thế mới thấy được là chính mình.
Tiếng trẻ khóc làm chị bừng tỉnh, toan ngồi dậy. Không phải tiếng thằng Bé. Người đàn ông giơ chân cản, chị gạt sang một bên:
“Để tui vô! Bấy nhiêu chưa đủ…”
“Đã ăn nhằm vào đâu”.
Tiếng nói của người đàn ông làm chị vụt tìm lại sức lực. Hắn đã nói, hắn không còn là khối đen tua tủa, không còn là tiếng thở hổn hển làm rũ liệt tan tành ý muốn chống cự. Bây giờ hắn là Hải, chính Hải. Chị không còn sợ hãi nhưng tự hỏi còn có thể làm được chi nữa không hay là để rồi và những lúc vắng người ngồi khóc cho nước mắt rớt trên tro tạo những tiếng xèo an ủi sau cùng. Bây giờ chị thấy ngại ngùng cho cả việc thực hiện dự định đã có lúc ngồi trên thềm hiên: cùng Ba lên tỉnh hay cùng Ba vượt sông vào sâu bên kia đều đòi hỏi những nỗ lực những cố gắng mà chị thấy không còn hy vọng có được. Thôi đành để chìm luôn, thôi thì Tía và quyền lực ban ngày phá ụ san đường mồ hôi chảy ròng dưới nắng, thôi thì Hải và vùng thầm lặng đe doạ tua tủa đau cứng người những giọt mồ hôi dán vào da đào đường đắp mộ ban đêm…
° ° °
Vũ ngừng bò, lật nghiêng người thò tay vào túi quần lấy bật lửa bỏ vào túi áo cho khỏi vướng. Con lộ đã gần lắm rồi, tiếng cuốc nghe rõ từng nhát tách biệt. Chàng nhô đầu thật chậm khỏi bờ ruộng, đám kiến đen đã trở thành đám người hỗn độn làm việc với những vết sáng loang loáng của kim khí mài phản chiếu ánh trăng. Một vài câu nói đứt khúc tung tới, chàng quan sát tìm kiếm những du kích nhưng những cử động nhoà tất cả vào một khối đen hỗn độn, quều quào. Ánh trăng yếu đi, chàng ngẩng lên, đám mây xám đang bay tới che dần mặt trăng, chàng ước chừng chiều dài và tốc độ bay của đám mây rồi nhắm mắt lại, đếm thì thầm như bao đêm nằm thao thức trên chiếc võng treo dưới hàng hiên, trong rừng, bờ bụi, tẩn mẩn tính thời gian che khuất mặt trăng của từng đám mây lớn nhỏ. Chàng tiếp tục đếm, năm sáu, bảy, nên mua vải màu gì làm quà cho Bích ngày mai, ni-lông không nhàu nhưng bây giờ ít người mặc, tám chín, mười, đàn bà kỳ cục chỉ thích theo mốt, mười một mười hai mười ba, còn đẹp hay xấu không quan hệ, mười bốn mười lăm, xuống xe đi mua liền cho có vẻ quà, mười sáu mười bảy, đàn bà thích nhận quà dù là của chồng, mười tám mười chín hai mươi, đám mây chắc qua rồi, chàng mở mắt từ từ. Một kẻ cầm súng đứng bên này lộ, một người nữa đứng trên mặt đường đang đốc thúc đám dân này làm việc, một kẻ nữa đang vén quần đái trên bờ ruộng. Tên thứ tư đâu, tên du kích thứ tư đâu… Chàng cố quan sát, cố tìm. Hay Ra đã nhìn lầm một người dân nào. Chàng quay đầu lại, phía sau toàn ruộng phẳng và bờ cây gần nhất cũng tít phía xa. Nếu cần phải rút, chỉ còn cách chạy ngược trở lại con đường đất cũ, ven xã. Chàng thở dài trước khi trườn sang bên trái thì thào vào tai một người lính đi cùng:
“Hai anh cố hạ hai tên đứng phía này… Kia kìa, một đứa đứng gác gần phía này, một đứa vừa đi tiểu xong đang ngồi xuống hút thuốc đó, chếch ngay bên phải cái cây, thấy chưa? Còn tên đang thúc dân, để tôi lại gần thanh toán. Nhớ chỉ nhắm sẵn thôi, khi nào thấy tôi bắn hãy bắn. Hết kẹp là rút thật mau, đừng đợi tôi”.
Chàng lăn tròn người sang phía bên kia bờ ruộng, mùi rạ ẩm bốc lên thấp thoáng mùi bùn và mùi cỏ. Phải bò thật chậm, chúng có thể nhìn ra từ khoảng cách này, mắt chúng quen bóng tối. Một cục đất nào đó bị cùi chỏ chạm lăn đi mấy vòng, chàng bất động nín thở. Trên lộ, các hoạt động vẫn bình thường, chàng nghe rõ từng câu nói của đám đông nhưng không hiểu nghĩa, từ đây tới lộ còn hơn trăm thước, không hy vọng gì bắn trúng trong thứ ánh sáng này. Liệu còn có thể lại gần hơn nữa không, chàng ngần ngại nhìn khoảng trống trước mặt, nhìn đám đông. Hình như tên du kích vừa lớn tiếng, chàng vội lắng nghe nhưng không kịp. Những mẩu âm thanh bẻ vụn vì gió không sao chắp nối được trong trí. Chàng tự dưng thực sự muốn giết tên du kích, muốn như một ao ước, một nhu cầu không thực hiện ngay sẽ làm ray rứt khó chịu. Trăng hoàn toàn ra khỏi mây, chiếu sáng trước mặt một khoảng trũng có bụi cây nhỏ thấp chơ vơ. Chàng trườn thật từ từ, súng để ngang trên hai cánh tay, một đầu gối một cùi chỏ đưa lên, những âm thanh sột soạt khe khẽ dưới người, một đầu gối đưa lên nữa, mong chỗ trũng đừng có nước, nếu không… Gần lộ lắm rồi, chàng vòng tay ra phía sau lấy lựu đạn, vành chỗ trũng đã hiện rõ, tên du kích đã để lộ chiếc bao đựng đạn phồng căng nơi thắt lưng. Hắn không nghi ngờ, hắn khinh địch, nếu không đã phải nhìn ra. Chàng khẽ để thân hình tụt theo thành dốc chỗ trũng, mùi cỏ ẩm ướt bốc lên sực nức. Không có nước, may quá không có nước ở dưới… Mồ hôi đẫm đùi kéo vải quần dán vào da, chỗ nào cũng mồ hôi nhưng bây giờ chàng mới nhận thấy chúng. Áp sát người vào bờ cỏ, chàng nhận thấy tên du kích đang cúi xuống chỉ trỏ. Ở khoảng cách này, hắn sẽ chết chắc chắn. Không thể thoát được, không thể thoát nổi. Chàng đặt quả lựu đạn xuống, ngoáy mạnh trôn vào cỏ cho khỏi lăn, mở nút bao vải kéo bi-đông ra thật khẽ. Liệu chúng đã nghi ngờ gì chưa, tiếng nút nhựa xoay khẽ, chàng đưa bi-đông lên, thò lưỡi vào miệng bình dẫn nước vào miệng. Những giọt nước mát mẻ và một thoáng gió hạ thấp làm se mồ hôi thành những điểm lành lạnh. Mùi cỏ ngái ẩm ướt mỗi lúc thêm dày đặc làm ý chí nhão nát buông thả tứ chi, tâm hồn vào giấc ngủ. Chỗ trũng trở thành ấm cúng quen thuộc nhanh chóng và mùi cỏ như rủ rê vào một vùng an toàn. Mi mắt hơn cụp xuống, chàng nhận biết cái cử động nhỏ bé ấy của thân thể. Mình mệt rồi, mình mệt mất rồi, mùi cỏ quá dễ chịu, quá êm đềm. Nhưng còn nhiều việc phải làm, nhiều việc phải làm…
Chàng đặt trái lựu đạn đứng thẳng bên trái bụi cây. Tên Năm hẳn đã đưa nòng súng theo từng di chuyển của gã du kích phía trái, nhưng hắn và Sao đều mang tiểu liên khó chính xác ngay từ những viên đạn đầu với khoảng cách ấy. Chàng quyết định sẽ ném lựu đạn vào phía đó ngay sát lộ, vừa không chết dân vừa hạ tên du kích. Ném bằng tay trái để có đủ năm giây cho tay phải bắn hạ tên chỉ huy trên lộ. Năm giây là đủ ngắm và bóp cò, chàng thì thào ý nghĩ của mình như để tự nhắc nhở. Năm giây trước khi mọi sự tan hoang với tiếng lựu đạn. Chàng cố suy nghĩ, cố ước tính xem cái gì sẽ xảy ra sau khi bóp cò và đàn kiến chạy tứ tung. Hy đóng đâu, gần phía đồn hay xa hơn, cách lộ ba trăm hay năm trăm, đại đội tên Hải hiện làm gì, rình mò nơi đâu, chàng không biết những điều ấy, không thể biết gì thêm, hiệu thính viên có nhận thêm tin tức cũng đến thế thôi bởi vì chỗ trũng là không gian cách biệt, khoảnh khắc an bình giả tạo mà chiều dài chiều ngắn tuỳ thuộc chính mình, chàng ngẩng đầu lên nhìn bao quát tìm một đám mây thấp, nó kia rồi, không lớn lắm, đang bay lừ lừ. Lớn chừng đó đủ rồi, đủ che khuất ánh trăng cho chàng chạy ngược trở lại chỗ trung đội nằm trong ven con đường đất. Đám mây gần hơn rồi, gần hơn nữa rồi, một thoáng mỏng đã đi ngang phía dưới mặt trăng. Chàng đặt khẩu súng nằm dài trên cỏ, rút chốt an toàn lựu đạn, mắt theo dõi hình dáng người du kích trên lộ. Hắn đang đi dọc mô đất, trà trộn vào dân, làm sao bắn được, trăng sắp bị che khuất, ra đi mày ra khỏi đám dân đi mày, đám mấy sắp tới ra đi mày… Hắn đứng lại, làm gì thế này, được rồi đó, đi nhanh lên chút nữa, còn ba người dân nữa, còn hai người… Chàng đột nhiên nghe rõ một tiếng cười, một câu nói: “Ba! Mần đi cho rồi còn về… mần vợ”. Bóng đen tên Ba quay đầu văng tục, chàng nheo mắt cố tìm đường ngắm đúng, đầu ruồi lờ mờ làm mỏi mắt nhưng mũi súng đã vào giữa bụng tên du kích. Bây giờ chỉ còn chờ đám mây, nó còn bao nhiêu đường phải đi tới trăng, bàn tay phải đã hơi cứng lại vì ghì chặt đúng vị trí, mây tới chưa… Không gian vụt u ám, chàng ném lựu đạn không nhìn theo nó đi tới đâu, cúi vội xuống cầm súng. Trước khi bóp cò một thời gian vô nghĩa, chàng thoáng nhận ra người dân tên Ba lao người vào đánh một kẻ kế bên làm che khuất tên du kích. Nhưng ngón tay đã bóp cò, Ba lảo đảo, chàng rủa một tiếng quỳ lên, tên du kích nghiêng người về phía trước lấy đà chạy, chạy đâu, chàng bóp cò liên tiếp, chạy đâu cho kịp mày… Tiếng lựu đạn nổ vang dội, chạy đâu nổi, chàng bóp cò, cái gã Ba nào đó đã đổ xuống, tên du kích gắng gượng ôm bụng, lắc lư cố bước, ngã chúi xuống. Trước khi xoay người nhảy ra khỏi chỗ trũng, chàng còn kịp thấy hắn đổ sấp xuống lộ và những người dân nhốn nháo. Đàn kiến đen, chàng co chân nhảy qua một bờ ruộng, đúng đàn kiến bị ngón tay chọc vào mồi đang xôn xao, con đường đất kia rồi…
Sau khi xảy ra vụ vượt thoát không thành của hai Đại úy, bầu không khí trong trại cải tạo Thành Ông Năm trở nên ngột ngạt, khó thở hơn trước rất nhiều; phần vì những biện pháp gắt gao của ban chỉ huy trại, phần vì sự căng thẳng, lo âu tuyệt vọng nơi anh em cải tạo. Như sau này tôi đã nghiệm ra, trong hoàn cảnh ấy buông xuôi là tự đưa mình xuống hố thẳm. Trong thời gian hơn 5 năm cải tạo, ngoài những bạn tù chết vì tai nạn, vì bệnh tật, vì bị bắn…, tôi còn chứng kiến một số anh em tự tử, và ít nhất một người chết vì kiệt lực do hậu quả của trầm cảm. Riêng tôi, tôi không dám nghĩ rằng mình vượt qua được là nhờ bản thân sẵn có sức mạnh tinh thần hơn người, mà chỉ vì tôi may mắn tìm được niềm tin vào tôn giáo; hay viết cho chính xác hơn, tôi đã tìm lại được niềm tin ấy. Viết là “tìm lại” bởi vì tuy sinh ra và lớn lên trong một gia đình Công giáo, từ ngày trưởng thành cho tới khi đi tù cải tạo, hầu như tôi đã quên mất mình là một “con chiên” của Chúa. Nếu tôi có đi lễ nhà thờ vào mỗi Chủ Nhật thì cũng chỉ do thói quen, hoặc bị bà ngoại, và sau này là bà vợ yêu quý bắt phải đi mà thôi…Nguyên vào năm 1958, tôi đang học lớp Nhất (Grade 6) thì bố tôi tình nguyện lên lập tỉnh mới Phước Long (nay là Sông Bé), trước kia là vùng Bà Rá rừng thiêng nước độc, nơi người Pháp đày tù khổ sai, phục vụ tại Ty Công Chánh, đem theo cả gia đình trừ thằng trưởng nam, là tôi, ở lại Sài Gòn với bà ngoại để học hành với người cậu út cho có bạn. Vào thời gian người dì út chưa đi lấy chồng và người cậu áp út chưa vào trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, thì tôi và người cậu út còn tương đối “vào khuôn vào khổ”, nhưng sau khi hai chúng tôi được “độc lập tự do” thì bà ngoại chỉ còn “hư vị”: thằng con út và thằng cháu ngoại có đi lễ Chủ Nhật hay không, đi lễ có vào nhà thờ hay đứng bên ngoài hút thuốc đấu láo, bà không thể biết. Công tâm nhận xét thì tôi vẫn “tin đạo” chỉ không “giữ đạo”; nghĩa là tin Chúa nhưng không tuân giữ những “lề luật của Hội Thánh”. Một trong những bằng chứng về việc tôi “tin đạo” là mỗi khi gặp hoạn nạn, hoặc lâm vào một hoàn cảnh khó khăn nào đó, tôi thường cầu cứu Đức Mẹ Maria và các vị Thánh có tiếng linh thiêng. Cho tới nay, tôi vẫn tin rằng một tay lêu lổng như tôi mà học xong bậc trung học, một phần cũng là nhờ sự phù hộ của Thánh Mác-tin. (Chú thích 1) Nguyên sau khi lên bậc trung học, tôi chỉ học chung với người cậu út ba năm Đệ Thất, Đệ Lục, Đệ Ngũ tại một trường tư thục nọ, và tới cuối năm Đệ Ngũ bị trường cảnh cáo sẽ không được cấp học bạ nếu không chịu đóng học phí hai tháng còn thiếu. Tiền bạc bố mẹ gửi về thì đã xài hết, lại không dám thú thật với bà ngoại, tôi quyết định xù đóng học phí và sang năm lên Đệ Tứ sẽ đi học trường khác. Vì được “độc lập tự do”, không có sự hướng dẫn của người lớn, tôi nào biết phải có đủ học bạ của bốn lớp Thất, Lục, Ngũ, Tứ thì mới được trường đứng ra làm hồ sơ thi Trung Học. Hậu quả là tôi phải nộp đơn thi tự do! Tuy nhiên, ngoài việc phải đạp xe sang tận đường Võ Di Nguy, quận Tân Bình (tôi quên mất tên trường) để thi, tôi chẳng có gì phải lo lắng, bởi tôi tin mình dư sức qua cầu! Đa số thí sinh thi tự do là quân nhân, công chức. Khi thi môn Toán, tôi làm xong rồi giúp anh quân nhân ngồi bên cạnh làm xong bài toán mà vẫn còn dư giờ! Năm ấy tôi đậu Bình Thứ! Ngựa quen đường cũ, qua năm Đệ Tam, tôi theo mấy tên bạn lang thang học “tài tử” ở khu vực các trường Quốc Tuấn, Trường Sơn, Thượng Hiền, Văn Học. Gọi là học “tài tử” bởi đa số học sinh tới đây chỉ vì ái mộ các nhà văn nhà thơ kiêm giáo sư (Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền…), học một vài tháng rồi dông, hoặc đóng học phí để “học thử”, hoặc để có cơ hội làm quen với những bóng hồng có tiếng “chịu chơi”… Thành thử tiền ăn học bố mẹ gửi, tôi cúng cho mấy xe bánh cuốn trước trường Quốc Tuấn nhiều hơn là đóng học phí cho Văn Học, Trường Sơn, Thượng Hiền… Tới năm Đệ Nhị, sau khi các trường đã khai giảng, tôi mới quyết định tu thân, trở về trường cũ học lớp Đệ Nhị ban B thì mới biết mình bị mất căn bản hai môn Lượng giác và Hóa học của lớp Đệ Tam. Đúng ra tôi có thể chuyển sang ban A (khoa học) nhưng vì đám bạn cũ thằng nào cũng học ban B (toán), chê ban A là của “con gái” cho nên tôi cũng tự ái ở lại ban B. Không có chứng chỉ Đệ Tam, khi thi Tú Tài 1, tôi lại phải nộp đơn thi tự do, từ Phú Nhuận lên tận Bác Ái Học Viện ở đường Nguyễn Trãi, Chợ Lớn để thi. Nghe bà ngoại thường ca tụng Thánh Mác-tin ở nhà thờ Ba Chuông rất linh thiêng, tới ngày thi, tôi thức dậy sớm, tới nhà thờ vào quỳ trước tượng Thánh cầu nguyện sao cho đề thi Toán năm nay đừng có bài toán Lượng giác!
Nhà Thờ Ba Chuông, đường Trương Minh Ký, Phú Nhuận Khấn Thánh Mác-tin chưa đủ, tôi còn ra trước tượng Đức Mẹ Maria ở ngoài sân nhà thờ dưới gốc cây ngọc lan cổ thụ để cầu xin Đức Mẹ phù hộ! Tới lúc vào phòng thi, đọc đề thi môn Toán tôi… tái mặt, rụng rời tay chân: một bài toán Lượng giác! Chỉ trả lời các câu hỏi và bỏ không làm bài toán thì điểm môn Toán của tôi chắc chắn sẽ dưới 10/20, chưa kể trường hợp tệ hại các câu hỏi môn Vật lý không trả lời đúng hết… Tương lai “rớt tú tài anh đi trung sĩ” cầm chắc trong tay! Thế nhưng… tôi lại đậu trong khi cô bạn “Marguerite” PTHL khả ái, học trò cưng của vị Linh mục Hiệu trưởng, lãnh phần thưởng hạng nhất các lớp Đệ Nhị toàn trường, lại rớt một cách đau đớn! Ngày ấy, và cho tới nay, tôi vẫn tin rằng chính Thánh Mác-tin đã phù hộ cho tôi được… đậu vớt! Lên Đệ Nhất, biết thân biết phận, tôi dẹp tự ái nam nhi để học ban A. Chỉ tới khi ấy tôi mới thấy trước kia mình “ngu ơi là ngu” khi chọn ban B, bởi học ban A vừa không bị nhức đầu vì môn toán vừa có nhiều nữ sinh học chung, đa số là các cô chiêu ôm mộng trở thành dược sĩ, bác sĩ! Với trí nhớ tốt (gần như thuộc lòng cuốn Vạn Vật của Đỗ Danh Tẩm) và khả năng sinh ngữ, tôi đậu Tú Tài 2 một cách dễ dàng! Để rồi từ đó, tôi cũng quên luôn Đức Mẹ Maria, quên Thánh Mác-tin, quên mình là một “con chiên Chúa”! Chỉ tới sau khi vào trại cải tạo Thành Ông Năm, đối diện với tương lai mờ mịt, tôi mới cảm nhận được sự cần thiết của đức tin. Thực ra, vào thời gian đầu, đức tin của tôi mang tính cách “vụ lợi” rõ rệt: cầu xin Chúa cho mình được mọi sự an lành, được sớm về xum họp với vợ con… Nhưng dần dần về sau, đức tin ấy đã trở thành nơi nương tựa, nguồn an ủi trong bước đường cùng, còn tương lai ra sao, sống chết lúc nào, tôi phó mặc cho Chúa.Sau này, nhìn lại quãng đời đã qua, tôi cứ băn khoăn tự hỏi: nếu cộng sản không chiếm miền Nam, nếu tôi không bị bắt đi cải tạo, nếu tôi không phải liều chết vượt biển, liệu “đứa con hoang đàng” này có bao giờ trở lại với Chúa hay không?! Nhưng đức tin chỉ đến… ban đêm, khi đặt lưng xuống dỗ giấc ngủ, còn ban ngày, tôi phải tìm mọi cách để quên đi thân phận cá chậu chim lồng. Có vào tù mới thấm thía câu “nhất nhật tại tù, tam thu tại ngoại”. Sau này, khi bị bắt lao động khổ sai ở những trại cải tạo đúng nghĩa “lao cải”, chúng tôi mới nuối tiếc những ngày “nghỉ mát” ở Thành Ông Năm, nhưng khi còn ở đó, chúng tôi lại cảm thấy vô cùng nhàm chán vì không biết làm gì để giết thì giờ trong cái diện tích vài trăm mét vuông của đội mình. Thành thử thỉnh thoảng “được” cán bộ bắt đi dọn dẹp các nhà kho, các khu đậu xe cơ giới bị dân chúng tràn vào hôi của trước đây, ai nấy đều mừng rỡ, như thể được xuất ngoại! Mỗi ngày, công việc bắt buộc của chúng tôi chỉ là tập thể dục vào lúc 6 giờ sáng, nghe đọc sách, báo “cách mạng”, và họp tổ để kiểm điểm vào buổi tối. Nhắc tới tập thể dục ở Thành Ông Năm tôi lại nhớ tới “Bài quyền số 1” của Trần Ngọc Tự. Sau khi xảy ra vụ trốn trại của hai đại úy, vào lúc 6 giờ sáng mỗi ngày, chúng tôi phải ra sân điểm danh và tập thể dục. Trong buổi tập đầu tiên, tay đội trưởng (cải tạo) hỏi có ai biết cách thức tập thể dục thì tình nguyện lên hướng dẫn anh em. Trần Ngọc Tự xung phong, và thay vì “chim bay cò bay” như hồi còn ở bậc tiểu học, hắn hướng dẫn anh em… múa võ, mà những ai từng học Thái Cực Đạo đều biết đó là “bài quyền số 1”. Nguyên trước năm 1975, Tự phục vụ trong Đoàn Công tác Chính Huấn BTL/KQ do Thiếu tá “võ sư” Trần Như Đẩu làm Trưởng Đoàn. Ông Đẩu từng giữ chức Giám đốc Võ Đường Thần Phong Tân sơn Nhất trước khi đi bay lại (PĐ-211 trực thăng), nay trở về Tân Sơn Nhất, ông tiếp tục dạy võ, Tự theo ông học Thái Cực Đạo là vì thế. Không biết ngày ấy Tự lấy được đai màu gì, chỉ biết khi hướng dẫn anh em cải tạo ở Thành Ông Năm, ra vẻ đương sự cũng có bài bản lắm. Về phần anh em cải tạo, trừ mấy ông sĩ quan đã lớn tuổi, đều tỏ ra thích thú trước phương cách tập thể dục mới lạ này. Nhưng chỉ được vài ngày, tay quản giáo đội xuống quan sát buổi tập thể dục, thấy cả trăm tù cải tạo tay thì đi quyền, miệng thì “hự hự” có vẻ… hung hãn quá, bèn ra lệnh ngưng tập. Hắn lên lớp: “Giờ này mà các anh còn tập võ à?… Tập để đánh cách mạng à?!” Qua sáng hôm sau, hắn đưa một tay bộ đội ra vẻ “vận động viên” xuống biểu diễn các “bài thể dục tay không” số 1, số 2… để tù cải tạo tập theo, và ghi nhớ… Về mục nghe đọc sách báo thì tùy hứng của tay cán bộ quản giáo, chúng tôi được nghe đọc tin tức trên hai tờ Nhân Dân, Sài Gòn Giải Phóng hoặc truyện cách mạng, trong đó có Thép Đã Tôi Thế Đấy của Liên Xô, cuốn truyện đã đầu độc nhồi sọ biết bao thế hệ trẻ, mà có lẽ không một tù cải tạo nào không bị nghe đi nghe lại dăm bảy lần!Nhưng tẻ nhạt, vô vị, nhàm chán nhất phải là các buổi họp tổ vào buổi tối. Các tổ sẽ lần lượt được tay quản giáo xuống chủ trì, lải nhải về chính sách khoan hồng nhân đạo của cách mạng, động viên tù cải tạo chấp hành nghiêm chỉnh nội quy trại, xây dựng quyết tâm học tập tốt, cải tạo tốt để trở thành “người công dân lương thiện”, v.v… * Những niềm vui… Ngày cộng sản mới chiếm Sài Gòn, nhạc Trịnh Cộng Sơn bị cấm. Nhà nhạc sĩ liền lấy điểm chế độ mới với ca khúc Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui, ca khúc đã khiến người yêu nhạc họ Trịnh trước năm 1975 phải thất vọng não nề. Thất vọng bởi theo lời hát của Trịnh Công Sơn, dưới chế độ mới này có quá nhiều “niềm vui” không thể cùng một lúc hưởng hết cho nên mỗi ngày chỉ chọn một! Nhưng sau này có thì giờ nghiên cứu kỹ lời hát, tôi, và không ít người khác, tin rằng trong khi tựa đề ca khúc là một sự ca tụng cuộc sống mới thì nội dung lại là một sự chửi cha chế độ, bởi vì những “niềm vui” mà tác giả chọn đều là những niềm vui không hề có dưới một chế độ độc tài cộng sản: bông hoa – nụ cười – đường đến anh em bạn bè – thảm lá me vàng – đón tiếng chân em về… Về sau, chính Trịnh Công Sơn cũng đã gián tiếp xác nhận dưới chế độ CSVN không hề có “nụ cười” và “sự tử tế”. Nguyên sau chuyến xuất ngoại đầu tiên, thăm Gia-nã-đại (Khánh Ly từ Hoa Kỳ bay sang hội ngộ), trở về Việt Nam, Trịnh Công Sơn viết bút ký về chuyến đi. Nhưng bút ký của một nhạc sĩ nổi tiếng thay vì được đăng trên các tờ báo, các tạp chí văn hóa nghệ thuật chuyên ngành, hoặc ít ra cũng là tờ Tuổi Trẻ – vốn được “người Sài Gòn cũ” đánh giá cao – thì lại được đăng trên một tờ báo của chị em: tờ Phụ Nữ thành Hồ! Nhưng cũng chỉ đăng được hai kỳ thì bị dẹp, bởi những đoạn viết “thật thà” của họ Trịnh về thành phố Montréal của một chế độ tư bản, chẳng hạn “nơi mà ra đường phố chỉ thấy nụ cười, và sự tử tế giữa người với người…” Nếu ở Sài Gòn, mỗi ngày Trịnh Công Sơn dễ dàng CHỌN một niềm vui tưởng tượng, thì trong Thành Ông Năm anh em tù cải tạo chúng tôi phải cố TÌM một nguồn vui có thật. Căn nhà của tổ tôi may mắn có một dàn đậu ván xanh tốt ở phía trước, mà tôi gọi đùa là “dàn thiên lý” (đã xa tít mù khơi), thêm mấy bụi ớt xum xuê nên khung cảnh khá… hữu tình, một số anh em ở các tổ lân cận thường lui tới đánh cờ tướng hoặc tán dóc. Tôi là một “ngôi sao” trong đám tán dóc nhờ tài phét lác và óc tiếu lâm. Tôi không dám tự khen mà chính bà ngoại tôi đã phải nhìn nhận tôi được ông trời phú cho một trí nhớ hơn người, nhớ cả những chuyện ở quê xưa Nam Định khi tôi mới lên 3 lên 4! Thêm vào đó, tôi có thú đọc sách, ham mê tìm hiểu, đặc biệt về môn thế giới sử, cho nên tôi có một mớ kiến thức tổng quát rất đáng nể, cho dù chỉ có bề rộng chứ không có chiều sâu (nhưng mấy ai biết tẩy!). Tôi lại có tài phịa – phịa đúng theo nguyên tắc “thất thực tam hư” của La Quán Trung, tác giả Tam Quốc Diễn Nghĩa – cho nên chuyện tôi kể vừa hấp dẫn vừa có sức thuyết phục. Chẳng hạn chuyện tình tay ba giữa Nữ hoàng Ai-cập Cleopatra, Julius Caesar và Tướng Mark Antony của La-mã đã trở thành một cuốn… dâm thư, hoặc tình sử Trần Khắc Chung – Trần Huyền Trân – Chế Mân được chế thành một pho truyện kiếm hiệp phiêu lưu gián điệp kỳ tình ma quái… Nhưng óc tiếu lâm khôi hài của tôi thì không do bẩm sinh mà vì hoàn cảnh: hơn bất cứ nơi chốn nào khác, trong tù cười là thuốc bổ, còn khôi hài được là còn tinh thần, còn ý chí, còn hy vọng. [Về sau, ở một vài trại cải tạo khác, óc tiếu lâm khôi hài của tôi đã bị một số anh em bạn tù “tiến bộ” suy diễn là “châm chọc, đả phá cách mạng” và báo cáo với cán bộ quản giáo, khiến tôi cũng đôi phen xính vính. Nhưng “ở hiền gặp lành – người gian mắc nạn”, một số anh em “tiến bộ” đó còn ở tù… lâu hơn tôi!] Tới đây xin điểm qua một số anh em bạn tù gần gũi, thân thiết với tôi ở Thành Ông Năm, hoặc sau này ra tù vẫn còn liên lạc với nhau. Trước hết nói về những người cùng tổ thì sau Trần Ngọc Tự phải kể tới Khương Hữu Thành, tay tổ trưởng có biệt hiệu “Thành cận”, nguyên Trung úy Tiểu Đoàn 18 Quân Vận, SĐ18BB. Thành là người miền Nam, cháu của Phó Đề đốc Hải Quân Khương Hữu Bá, một tay “bách nghệ tinh”, trên thông thiên văn dưới tường địa lý, có một kho kiến thức rất đáng nể phục và đa tài, từ âm nhạc (chơi ghi-ta classique) tới ẩm thực, từ tây y tới đông y, từ khoa học thực nghiệm tới khoa học huyền bí… Sau này ra tù gặp lại nhau ở Sài Gòn, cũng chính Thành cận đã chỉ bọn tôi cách làm xà bông bột sao cho có nhiều bọt để dụ bán cho mấy bà ngoài chợ trời. Nhưng cái hữu dụng nhất tôi học được nơi Thành cận trong tù là cách sử dụng quả lắc cảm xạ học. (Tôi sẽ trở lại với quả lắc này ở một phần sau). Kế tới là Nguyễn Văn Chúc, Trung úy Khóa 2 Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, cũng là một tay ghi-ta classique như Thành cận, cùng trạc tuổi và cùng ở khu ngã tư Trương Minh Ký & Nguyễn Huỳnh Đức, Phú Nhuận, với tôi và Trần Ngọc Tự. Chúc và tôi biết nhau ngoài đời nhưng không thân. Nguyên ông cụ thân sinh của Chúc là chủ tiệm sắt Thăng Long ở Cổng xe lửa số 6, anh trai lớn của Chúc là Đại tá Nguyễn Hữu Toán (Khóa 1 Nam Định), có thời làm Tư lệnh SĐ25BB, sau cùng giữ chức Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Lam Sơn và Huấn khu Dục Mỹ, còn người anh giữa của Chúc chơi với người cậu áp út của tôi (Khóa 21 VBQG), cả hai đã đền nợ nước. Năm 1970, chúng tôi gặp lại nhau tại Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, nơi tôi, Trần Ngọc Tự và Phan Lạc Giang Đông theo học Khóa 8 Sĩ Quan Căn Bản còn Chúc học Khóa 2 Sinh Viên Sĩ Quan, giữ chức Nhạc trưởng của khóa. Sau này tôi mới biết Chúc cũng làm thơ, chỉ thi thoảng nhưng rất có hồn. Người thứ ba là Nguyễn ĐS, Trung úy, lớn tuổi hơn tôi, đã có Cử nhân Luật. Anh cao ráo, hơi hói đầu, tóc dài, đeo kính cận trông giống John Lennon của ban Beatles, tính tình hiền lành, ít nói; là một điển hình của “Bắc kỳ” trí thức trung lưu nền nếp, nói tiếng Pháp rất “chuẩn”, đối tượng đấu láo về đề tài ca nhạc, phim ảnh ngoại quốc của tôi. Sau khi cộng sản vào Sài Gòn, gia đình ép anh lấy vợ; vừa xong tuần trăng mật là đi tù cải tạo. Người thứ tư là An Đình Phương, một Thiếu úy cũng gốc Bắc kỳ trung lưu, mặt trông còn trẻ như học sinh trung học, ăn nói nhỏ nhẹ, yếu đuối như con gái; tương tự trường hợp Nguyễn ĐS, sau khi cộng sản chiếm Sài Gòn, gia đình An Đình Phương cũng vội vã hỏi vợ cho con trai trước khi bị đi trình diện học tập cải tạo. Chẳng hiểu Phương “có tội với cách mạng” như thế nào mà tôi bị đày đi trại nào Phương cũng bị đày theo, nhưng Phương chỉ đi được một phần ba đường! Về những anh em khác tổ, tôi thân nhất với Hiếu “đờn” (không nhớ họ) ở tổ kế bên, cấp bậc Trung úy, một tay đàn ghi–ta chuyên nghiệp, trước kia chơi cho các vũ trường ở Sài Gòn. Chỉ ít lâu sau khi vào Thành Ông Năm, tôi được biết Hiếu đờn chính là “sư phụ” của một tay bạn khá thân của tôi thời trung học, đi theo Hiếu để thọ giáo và thực tập. Hiếu đờn và tôi có cái thú ngồi dưới “dàn thiên lý”, hắn đờn bằng miệng (và hai bàn tay làm bộ như đang sử dụng một cây ghi-ta tưởng tượng) để đố tôi tên bản nhạc, thường là những bản jazz ngoại quốc ít người biết tới. Một ngày nọ, tôi còn nhớ vào thời gian sau khi tù cải tạo ở Thành Ông Năm nhận gói quà nửa ký đầu tiên từ gia đình (giữa tháng 11 – đầu tháng 12 dương lịch?), cả bọn đang phì phèo những điếu thuốc “Sài Gòn Giải Phóng” thơm lừng, Phạm Khắc Khiêm, một Trung úy Hải quân ở cùng tổ với Hiếu, cao hứng tuyên bố hắn sẽ đóng một cây đàn ghi-ta để Hiếu khỏi phải đàn bằng miệng nữa. Phạm Khắc Khiêm, tức “Khiêm hớt tóc”, trước kia giữ chức vụ Trưởng Xưởng Ụ Nề thuộc Hải Quân Công Xưởng, là một “handyman” siêu đẳng; vào tù hắn kiêm đủ thứ nghề: hớt tóc, thợ mộc, thợ may (may quần đùi bằng vải bao cát), gò thùng, thau chậu, nồi niêu xoong chảo, thiết kế và sản xuất dép râu “cao cấp”… Hiếu đờn không mấy tin tưởng vào khả năng đóng đàn của Khiêm nhưng Thành cận thì hưởng ứng ngay. Thế là hai tay “handyman” bắt đầu tìm kiếm, gom góp thu nhặt vật liệu, hoặc nhờ những anh em được đi dọn dẹp các nơi…Hai tuần sau, cây đàn ghi-ta – rất có thể là cây đàn đầu tiên đóng trong trại cải tạo – được trình làng. Thùng đàn đóng bằng ván ép, cần đàn và bộ khóa lên dây đàn đẽo bằng gỗ, ngăn phím làm bằng lõi đồng của dây điện, dây đàn làm bằng các sợi thép lấy trong ruột dây điện thoại: dây “Mí” thì một sợi, dây “Si” hai sợi xoắn lại, dây “Sol” ba sợi, v.v… Đặc biệt thùng đàn có hình thù giống kiểu quan tài hình lục giác của người tây phương, ở giữa lớn hai đầu nhỏ lại. (Chú thích 2)
(Ảnh trên Internet, chỉ có tính cách minh họa thùng đàn và cần đàn của cây ghi-ta Thành Ông Năm) Đàn đóng xong, cũng phải mất mấy ngày để Hiếu đờn chơi “test” cho Thành cận điều chỉnh vị trí các ngăn phím cho tương đối chính xác. Xong xuôi, một buổi “trình diễn độc tấu ghi-ta” đã được tổ chức dưới “dàn thiên lý” vào sau giờ cơm chiều và trước kẻng ngủ. Dĩ nhiên, Hiếu đờn là người đàn nhiều nhất và được “ái mộ” nhất, bởi hắn có khả năng đàn từ nhạc thời trang tới nhạc jazz, nhạc rock…, còn Thành cận chỉ phụ diễn với một vài bản classique. Riêng tôi chuyên về hòa âm, còn trình diễn thì không dám múa rìu qua mắt thợ. “Buổi trình diễn” live thu hút được mấy chục khán giả cùng đội, và trong số những anh em bạn tù tới từ căn nhà gần cầu tiêu, tức là khá xa tổ của tôi, có Xuân Điềm, một nhạc sĩ chuyên chơi đàn mandoline, và ngay trong buổi tối hôm đó, anh đã quyết định sẽ thực hiện một cây banjo cho riêng mình. Xuân Điềm, tên họ đầy đủ là Lê Xuân Điềm, cũng là một người tôi biết trước năm 1975. Gặp lại anh, một thời hoa mộng như sống lại trong tôi… Ngày ấy, khoảng năm 1964, 1965, Xuân Điềm là nhạc sĩ chơi đàn mandoline trong Ban đại hòa tấu Trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn, thường tới Trường Mù La-san ở đường Nguyễn Thông để hướng dẫn các em trong ban nhạc của trường, nơi mandoline là nhạc cụ chính. Viết rằng tôi chỉ “biết” Xuân Điềm là vì ngày ấy tôi tới Trường Mù La-san với mục đích chính là ngắm các người đẹp, chứ không phải để giao kết với anh. Nguyên TH, một người cậu họ cùng lứa tuổi với tôi là bạn thân của anh Xuân Điềm. TH khoe với tôi rằng khi tới Trường Mù La-san, chàng thường gặp các “em” mầm non trong Ban Việt Nhi và lò đào tạo ca sĩ Nguyễn Đức, tới tập dợt chung với ban nhạc của trường. Thế là tôi đi theo TH. Tại Trường Mù La-san, ngoài anh Xuân Điềm, thỉnh thoảng tôi còn được hân hạnh gặp một trong những cây đại thụ của nền tân nhạc Việt Nam là nhạc sĩ Lê Thương, người đã tận tụy công sức hướng dẫn học sinh của trường. Nhưng như đã viết, mục tiêu chính của tôi là các mầm non ca sĩ trong lò Nguyễn Đức – những cô bé đang từ giã tuổi ô mai để bước vào tuổi dậy thì. Giờ này, hơn một nửa thế kỷ đã trôi qua, tôi vẫn còn nhớ rõ mái tóc và những nét cao sang dung dị của Phương Hoài Tâm, nhan sắc mặn mà và những đường cong phát triển trước tuổi của Phương Hồng Hạnh, cái mũi hếch đáng yêu của Phương Hồng Quế… Nhưng vào cái thời hoa mộng xa xưa ấy, bọn con trai chúng tôi chỉ đứng xa xa chiêm ngưỡng chứ chẳng tay nào có can đảm tới gần để làm quen. Bởi vì các “em” luôn luôn được mẹ đưa đón, và canh phòng cẩn mật! Lẽ dĩ nhiên, khi các mầm non ấy thành danh và thành người lớn, tôi cũng không còn đủ hứng thú để lui tới Trường Mù La-san nữa. Đường đời muôn lối, lẽ ra tôi đã quên hẳn Xuân Điềm nếu như không gặp Xuân Lạ, em trai của anh, cùng theo học Khóa 8 Sĩ quan Căn bản tại Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt năm 1970. Nguyên sau khi nhập ngũ, về phục trong ngành Chiến Tranh Chính Trị của quân chủng Không Quân, tới năm 1970, tôi từ Pleiku về trình diện BTL/KQ để ra Đà Lạt theo học Khóa CTCT nói trên. Cùng trong nhóm gần 20 sĩ quan Không Quân cấp bậc từ Chuẩn úy tới Trung úy, có Trần Ngọc Tự và Phan Lạc Giang Đông thuộc Bộ Tư Lệnh KQ. [Theo lời Trần Ngọc Tự, lẽ ra còn có cả đàn anh nhà văn Dương Hùng Cường, tức nhà báo Dê Húc Càn, nhưng vào giờ chót đàn anh xin hoãn để ở nhà tập tành làm tài tử xi-nê, đóng trong phim Người Tình Không Chân Dung] Ba anh em chúng tôi đều tham gia Ban Báo Chí và Ban Văn Nghệ của khóa học. Qua sinh hoạt trong Ban Văn Nghệ, tôi quen thân Thiếu úy Lê Xuân Lạ, Sĩ quan CTCT thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh; từ đó tôi mới biết Xuân Lạ là em trai của Xuân Điềm. Tuy là hai anh em ruột, nhưng hai người khác nhau hoàn toàn, về cả ngoại hình, diện mạo lẫn tính tình. Xuân Điềm người tầm thước, vạm vỡ, trông giống như một “võ sĩ” Tây Sơn, Bình Định (quê quán của hai anh em) hơn là một “nhạc sĩ” trong Ban đại hòa tấu Trường Quốc Gia Âm Nhạc. Xuân Lạ trái lại dáng dấp thư sinh, cao ráo, và… đẹp trai hơn. Về tính tình, trong khi Xuân Điềm vui vẻ, hay đùa, dễ hòa đồng thì tính Xuân Lạ hơi… lạ. Cùng ở cái tuổi chưa “tam thập nhi lập”, trong khi đám sĩ quan trẻ độc thân chúng tôi đùa nghịch, ồn ào, quậy phá khắp nơi thì Xuân Lạ cứ như một vị thầy tu trẻ, nét mặt luôn đăm chiêu như suy tư điều gì, khi cần phải mở miệng thì ăn nói nhỏ nhẹ như con gái. Với bạn bè cùng lứa tuổi, Xuân Lạ xưng hô “mình” và “bạn”, nghe càng thiếu chí khí nam nhi. Nghề của Xuân Lạ là vĩ cầm; anh hát cũng rất hay, đặc biệt bản Mùa Thu Chết, nhưng ít khi chịu hát. Gần cuối khóa học, anh em trong khóa phối hợp với Cơ Sở Nhân Văn Đà Lạt tổ chức một buổi thơ nhạc tại Trường nữ trung học Bùi Thị Xuân. Phan Lạc Giang Đông và Trần Ngọc Tự ngâm thơ, anh Hậu (tôi không nhớ đầy đủ tên họ) hát du ca, tôi đứng sau cánh gà để… cổ vũ tinh thần. Xuân Lạ xuất hiện gần cuối chương trình, dĩ nhiên để độc tấu vĩ cầm. Anh vừa đàn xong, chúng tôi đứng phía trong xúi anh hát bản Mùa Thu Chết. Anh ngập ngừng một chút rồi hát với tất cả say mê, như thể gửi hồn mình vào mùa thu đang về trên thành phố sương mù. Không ngờ tiết mục ngoài chương trình ấy lại được hoan hô nhiều nhất, mà đại đa số khán giả ái mộ là các cô nữ sinh. Lúc ấy, tôi ước gì mình là Xuân Lạ! Sau khi mãn khóa và trước khi trở về đơn vị ở tận Pleiku, tôi chỉ gặp lại Xuân Lạ một lần duy nhất ở quán cà-phê Hồng cuối đường Pasteur, nơi tụ tập quen thuộc của anh em báo chí, văn nghệ. Chỉ một lần nhưng không bao giờ quên nhau! Cuối năm 1971, tôi đi phép về Sài Gòn, tìm tới quán thì được anh em cho biết Xuân Lạ (khi ấy mang cấp bậc Trung úy và vẫn còn độc thân) đã đền nợ nước tại chiến trường Snoul ở tận bên kia biên giới Việt – Miên. Anh em ai cũng ngậm ngùi tiếc thương một người bạn trẻ tài hoa mệnh yểu. Vì những kỷ niệm với Xuân Lạ ở Đà Lạt, vào Thành Ông Năm, tôi trở nên thân thiết với Xuân Điềm, nhất là sau khi anh thực hiện cây banjo.
Sau này ra hải ngoại, trong những buổi trình diễn của cá nhân hoặc cùng với Ban Tù Ca Xuân Điềm, anh luôn luôn xuất hiện với cây banjo làm trong trại cải tạo. Tuy nhiên đây không phải cây đàn đầu tiên anh làm ở Thành Ông Năm, vì khi ấy thiếu vật liệu, anh đã phải sử dụng một cái vỏ hộp lọc gió (air-filter) của xe hơi (chôm từ bãi đậu xe) để làm thùng đàn, và một cái đĩa nhôm mỏng (chôm từ nhà bếp) làm mặt thùng đàn; cần đàn và bộ khóa lên dây đàn đẽo bằng gỗ tương tự cây ghi-ta của chúng tôi! Sau khi anh Xuân Điềm đóng xong cây đàn banjo, thỉnh thoảng chúng tôi lại tổ chức một buổi “hòa tấu dưới dàn thiên lý”, luôn luôn diễn ra vào ban ngày (matinée) bởi tổ của anh Xuân Điềm nằm khá xa, buổi tối không thể “quan hệ” với những tổ khác. Ngày ấy, đầu mùa cải tạo, chưa có ai sáng tác “tù ca”, nhạc vàng thì tuyệt đối bị cấm, cho nên chúng tôi chỉ dám chơi một số bản nhạc ngoại quốc không lời, trong đó có một bản được gọi là “của các nước xã hội chủ nghĩa anh em” để trình diễn mỗi khi có cán bộ quản giáo lảng vảng, đó là bản Guantanamera (Chú thích 3….) Cây banjo do anh Xuân Điềm độc quyền sử dụng, bởi chúng tôi mù tịt, còn cây ghi-ta thì cho cả nhóm. Hiếu là người đàn nhiều nhất, kế tới là Khương Hữu Thành rồi mới tới tôi, còn Chúc rất ít đàn, phần vì bản tính trầm lặng, phần vì hắn khó tính, chê đàn “dổm”! Những lần hiếm hoi được nghe Chúc đàn, tôi nhận ra hai bản classique quen thuộc: Fur Elise và Amour Interdits. Một buổi tối nọ, gần tới Lễ Giáng Sinh, tôi vô cùng ngạc nhiên khi nghe Chúc đàn một đoạn trong Kinh Hòa Bình, vốn là một bản thánh ca nổi tiếng của người Công Giáo Việt Nam, nguyên là lời kinh do Thánh Phan-xi-cô (St Francis of Assisi) đặt, được đức Tổng Giám mục Huế Phi-líp-phê Nguyễn Kim Điền dịch sang lời Việt, do Linh mục Kim Long phổ nhạc. Ngạc nhiên vì tôi biết gia đình Chúc theo đạo Phật. Sau này, Chúc giải thích với tôi: từ trước năm 1975, anh đã luôn luôn xúc động trước lời hát, và rung động trước nét nhạc của bản thánh ca đầy vị tha, tình người, và hy vọng này, nhất là khi được được trình bày dưới hình thức đại hợp xướng. Tới đây thì tôi hiểu, bởi Chúc đã từng điều khiển ban hợp xướng của Đại Học Chiến Tranh Chính Trị ngày nào. Gần tới dịp kỷ niệm “Ngày toàn quốc kháng chiến” (19/12/1946), chúng tôi được viên thủ trưởng “lên lớp” về ý nghĩa của ngày này, và phải bầu ra một “quản ca” để đặc trách việc tập cho anh em hát mấy “bài hát cách mạng”, trong đó có Giải Phóng Miền Nam của Lưu Hữu Phước và Chiến Sĩ Việt Nam của Văn Cao. Tạm dẹp ý thức hệ sang một bên để chỉ xét về khía cạnh nghệ thuật, tôi phải nhìn nhận Chiến Sĩ Việt Nam là một ca khúc hay, cả về giai điệu lẫn ca từ: Bao chiến sĩ anh hùng… Lạnh lùng vung gươm ra sa trường… Quân xung phong nước non đang chờ… Nhưng bản Giải Phóng Miền Nam, tức “quốc ca” của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, lại là một trong những hành khúc dở nhất của phe cộng sản. Không phải tài nghệ của Lưu Hữu Phước thua kém Văn Cao tới mức ấy (nên nhớ bản Tiếng Gọi Thanh Niên sau trở thành quốc ca VNCH là một sáng tác của Lưu Hữu Phước) mà theo tôi, vì hai nguyên nhân sau đây: (1) Sau hơn 15 năm đi theo “cách mạng”, óc sáng tạo của Lưu Hữu Phước đã cùn lụt. (2) Ai cũng biết Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, thành lập năm 1961, chỉ là công cụ của Đảng CSVN (ngày ấy núp dưới danh xưng Đảng Lao Động) trong công cuộc xâm lược miền Nam, tức là bù nhìn, thì việc sáng tác “quốc ca” cho cái tổ chức bù nhìn ấy cũng chẳng vinh hạnh, hứng thú gì. Có lẽ vì vậy mà khi sáng tác bản này, Lưu Hữu Phước đã lấy một bút hiệu lạ hoắc: Huỳnh Minh Siêng! Giai điệu của bản này, được viết theo cung Mi thứ, cho dù hát nhanh tới đâu cũng không mạnh mẽ, thành thử kể cả cao điểm là cái điệp khúc “Vùng lên nhân dân Việt Nam anh hùng, vùng lên xông pha vượt qua bão bùng…” cũng không tạo được hùng khí. Mỗi lần cả đội bị bắt ngồi ngoài sân vừa vỗ tay vừa hát bản Giải Phóng Miền Nam, tôi vừa chán ngán vừa thương tội cho đám “phỏng giái”, hy sinh biết bao xương máu mà cả đến bản “quốc ca” cũng không ra hồn! [Tới tháng 7/1976, sau khi tập đoàn lãnh đạo ở Bắc Bộ Phủ vào Sài Gòn tiến hành thống nhất hai miền, khai tử hai tổ chức bù nhìn Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam của Nguyễn Hữu Thọ và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam VN của Huỳnh Tấn Phát, ca khúc Giải Phóng Miền Nam của “Huỳnh Minh Siêng” cũng chìm vào quên lãng!] Tối 24/12/1975, chúng tôi lại bị lùa ra ngồi ngoài sân hát nhạc “cách mạng” thay cho các ca khúc về Giáng Sinh. Viên thủ trưởng tuyên bố: “Đảng và Nhà nước luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của các công dân, nhưng hiện nay các anh là cải tạo viên, chưa có quyền công dân nên không được hưởng quyền tự do ấy. Khi nào các anh học tập tiến bộ, được cách mạng trả về với gia đình, các anh sẽ được tự do theo đạo của các anh, không ai ngăn cấm cả”. Đêm hôm ấy, trước khi đi ngủ, tôi cầm cây ghi-ta khẽ gảy bốn nốt đầu trong ca khúc Giáng Sinh bất hủ: Silent Night – Đêm Thánh Vô Cùng. Chiều ngày 23/1/1976, gần tới Tết ta, toàn khu Trung úy Thiếu úy bỗng có lệnh tập họp khẩn cấp ngoài sân. Nhìn mấy tay cán bộ lạ mặt đeo xắc-cốt (sacoche, còn gọi là xà-cột) cùng với một dàn quản giáo và bộ đội hùng hậu chưa từng thấy, chúng tôi có linh cảm một diễn biến quan trọng sắp xảy ra. Một tay cán bộ bắt đầu đọc tên những người được chuyển trại, ra khỏi hàng đứng riêng thành từng toán. Tổ tôi có tôi, Trần Ngọc Tự, Nguyễn ĐS, An Đình Phương… Tôi và Tự khác toán. Sau đó tất cả được lệnh giải tán, những người có tên trong danh sách chuyển trại có 10 phút để thu xếp quần áo, vật dụng cá nhân rồi trở ra sân để điểm danh theo từng toán. Khi đã sẵn sàng, tôi chợt nhớ tới cây đàn ghi-ta; nhìn anh em, tôi nói: – Tao mang theo cây đàn! Sau này hồi tưởng lại, tôi cũng chẳng hiểu tại sao ngày ấy tôi đã không góp một chút công sức nào trong việc đóng đàn, tài đàn cũng chẳng bằng ai, mà lại đòi lấy cây đàn?! Nhưng anh em ở lại không ai phản đối. Họ muốn chiều lòng kẻ ra đi. Bởi vì mặc dù khi ấy không ai biết người đi sẽ đi về phương trời nào, và số phận kẻ ở lại sẽ ra sao, nhưng theo tâm lý thông thường, người ở lại bao giờ cũng lo âu, ái ngại cho kẻ phải ra đi. Đoàn xe molotova bít bùng chở chúng tôi tới Tân Cảng Sài Gòn. Chúng tôi được lệnh ngồi chờ trên xe cả tiếng đồng hồ, trong lòng hồi hộp, hoang mang không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Một người lạc quan tếu: – Chắc trong thành phố không có chỗ chứa, mình ngủ đêm ở Tân Cảng để sáng mai làm lễ mãn khóa! Không một ai lên tiếng hưởng ứng! Rồi chúng tôi cũng đươc lệnh xuống xe từng người một, dưới sự kiểm soát chặt chẽ của bộ đội với súng AK lăm lăm trên tay, xếp hàng một đi xuống một cái “tàu há mồm”. Khi bước chân lên cái bửng ở đầu tàu, tôi bỗng rùng mình như thể bị khí lạnh của cái bửng sắt truyền lên người, cùng với mùi rỉ sét hôi hám của con tàu cũ kỹ. Đây là lần thứ hai trong đời, tôi được đi tàu há mồm (tàu đổ bộ). Lần thứ nhất khi di cư vào Nam năm 1954, được tàu há mồm chở từ bờ biển ở Hải Phòng ra tàu lớn đậu ngoài khơi. Ngày ấy còn bé chưa đủ trí khôn, theo bố mẹ lên tàu mà không hiểu mình đi đâu; hơn 21 năm sau cũng lên tàu há mồm mà không biết mình sẽ được đưa tới chốn nào?! Lên tàu, mỗi tù cải tạo được phát một ổ bánh mì dài khoảng 2 gang tay, rồi ngồi chen chúc dưới sàn tàu. Chúng tôi được lệnh giữ im lặng tuyệt đối. Từ hai bên thành tàu phía trên, lâu lâu lại có ánh đèn pin quét xuống.Quá nửa đêm, tàu rời bến. Mặc dù không có chỗ nằm, phải ngồi tựa lưng nhau, nhưng vì quá mệt mỏi, sau đó một số anh em, trong đó có tôi, cũng ngủ thiếp đi, chập chờn trong những cơn ác mộng.
CHÚ THÍCH:
(1) Thánh Mác-tin: Martin de Porres Velázquez (1579 – 1639), ra chào đời tại of Lima, Peru, là một tu sĩ Dòng Đa Minh (Dominican Order), được phong Thánh năm 1962.
Là con ngoại hôn của Don Juan de Porres, một nhà quý tộc Tây-ban-nha, và Ana Velázquez, một cựu nô lệ da đen lai da đỏ Nam Mỹ, Martin và người em gái Juana không giống cha mà giống mẹ (da đen) cho nên sau khi Juana ra đời, ông ta đã bỏ rơi cả ba mẹ con.Nhà nghèo, Martin chỉ được đi học 2 năm, lớn lên làm người sai vặt của một vị bác sĩ; tới năm 15 tuổi xin vào Dòng Đa Minh, làm người giúp việc (servant). Theo luật lệ ở Peru ngày ấy, người da đen và thổ dân da đỏ không được phép trở thành một tu sĩ thực thụ (full members of religious orders), tuy nhiên vì thấy Martin là một người đạo đức và có chí đi tu, tới năm 1603, vị Bề Trên tu viện đã phá lệ để cho chàng thanh niên 24 tuổi được vào “Dòng Ba Đa Minh” (Third Order of Saint Dominic). Mười năm sau, Martin chính thức trở thành một tu sĩ Dòng Đa Minh nhưng suốt đời chỉ làm một thầy dòng (brother) chứ không được làm linh mục (priest). Thầy Martin phục vụ tại bệnh viện “thí” của nhà Dòng trong cương vị một y công (health worker), đôi khi kiêm cả đầu bếp, lao công quét dọn. Nhân đức và tinh thần hy sinh phục vụ của Thầy đã thu phục được nhiều nhà quý tộc và tài phiệt, dẫn đưa tới việc bảo trợ xây dựng một viện mồ côi và một bệnh viện nhi đồng theo mong ước của Thầy. Thầy Martin qua đời vào tuổi 59. Theo lời kể lại, ngay từ khi còn sống, Thầy đã làm nhiều phép lạ nhưng có khi chính Thầy cũng không biết. Sau khi qua đời, Thầy làm vô số phép lạ để ban ơn cho các đối tượng nghèo hèn, bị xã hội bạc đãi. Năm 1837, gần hai thế kỷ sau khi qua đời, Thầy Martin de Porres mới được Đức Giáo Hoàng Gregorio XVI phong Chân Phước (Blessed), và phải đợi thêm 125 năm (1962), Ngài mới được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô XXIII – vị “giáo hoàng của người nghèo” – phong Thánh (Saint), và được ghi nhận là vị Thánh “da đen” đầu tiên của Giáo Hội Công Giáo. Thời gian Chân Phước Martin de Porres được phong thánh (1962) cũng là lúc Dòng Đa Minh Việt Nam khánh thành Nhà Thờ Ba Chuông ở đường Trương Minh Ký, Phú Nhuận, và các Cha đã ra sức quảng bá lòng sùng mộ vị Thánh da đen này. Nếu chỉ căn cứ vào con số “plaque” CẢM TẠ của người được ban ơn, Thánh Martin de Porres có lẽ là vị thánh Công giáo linh thiêng nhất tại miền Nam VN trước năm 1975. (2) Thùng đàn hình quan tài. Từ lâu (không biết từ bao giờ) đã có đàn ukulele (đàn ghi-ta nhỏ có 4 dây của đảo Hawaii) với thùng đàn hình dạng chiếc quan tài (coffin shape ukulele) ngược chiều. Lợi ích chính là kiểu thùng đàn này dễ đóng hơn là thùng đàn hình số 8. Đặc tính của thùng đàn hình quan tài là có độ âm vang (resonance) thấp, vì thế kiểu đàn này thường được sử dụng để “vê” (rung: tremolo). Ngoài ra, còn có kiểu đàn ukulele nhỏ hơn với thùng đàn hình quan tài xuôi chiều, có quãng âm vực cao, gọi là “ukulele soprano”. Còn đàn ghi-ta thùng (acoustic guitar) có thùng đàn hình quan tài thì cực kỳ hiếm. Hiện nay trên Internet chỉ có hình chụp một cây duy nhất, do một người nào đó tự đóng lấy rồi bỏ lại khi dọn nhà, giống hệt thùng đàn chúng tôi đóng trong Thành Ông Năm. Về đàn ghi-ta do các hãng sản xuất, chỉ có đàn guitar điện (hoặc đàn bass điện) mới có mặt đàn (chứ không phải thùng đàn) hình quan tài, thường chỉ có các ca nhạc sĩ, ban nhạc rock “nặng” (hard rock, heavy metal) sử dụng để trông cho thêm “ngầu”, chẳng hạn kiểu “Epiphone Graveyard Disciple” của hãng đàn Gibson, muốn mua phải đặt riêng.
Ukulele soprano
“Epiphone Graveyard Disciple” guitar (3) Guantanamera là một ca khúc của Cuba được người cộng sản nhận vơ là một “bài hát cách mạng”. Trên thực tế, đây chỉ đơn thuần là một ca khúc về tình quê hương mà người yêu nhạc ngoại quốc ở miền Nam VN trước năm 1975 hầu như ai cũng biết. Guantanamera tiếng Tây-ban-nha có nghĩa là “người phụ nữ/cô gái ở vùng Guantanamo”. Tương tự trường hợp bản La Bamba của Mễ-tây-cơ, giai điệu của bản Guantanamera nguyên là một giai điệu dân gian mà không ai biết tác giả. Khoảng năm 1928/1929, ca nhạc sĩ Cuba nổi tiếng José Fernandez (1908 – 1979) đã khai triển giai điệu này thành một nhạc khúc để làm nhạc hiệu cho chương trình phát thanh của ông, đồng thời đặt lời hát với tựa đề Guajira Guantanamera (guajira: miền quê), nội dung kể về chuyện tình của tác giả với một thôn nữ ở vùng Guantanamo, sau này phụ tình ông. Vì là người có công hoàn chỉnh giai điệu này và là người đầu tiên phổ biến dưới hình thức một nhạc khúc, José Fernandez đã được nhiều người ghi là “tác giả” (composer). Về sau, ca khúc Guajira Guantanamera được đặt thêm nhiều lời hát khác với tựa đề ngắn gọn Guantanamera, trong đó có phiên bản sử dụng bốn đoạn thơ của thi sĩ Cuba José Marti làm lời hát trong các phiên khúc. José Marti (1853 – 1895) là một nhà thơ ái quốc, được xem là “linh hồn” của cuộc cách mạng của các dân tộc Mỹ la-tinh chống lại mẫu quốc Tây-ban-nha. Tới đầu thập niên 1960, sau khi Fidel Castro và phe cách mạng (cộng sản) chiếm được chính quyền ở Cuba, họ đã ra sức phổ biến phiên bản của José Marti, không chỉ vì ông là một nhà ái quốc mà còn vì tựa đề Guantanamera của ca khúc nhắc mọi người nhớ tới việc “đế quốc Mỹ” đang chiếm đóng một phần lãnh thổ Cuba là Vịnh Guantanamo (theo Hiệp ước năm 1898 ký với Tây-ban-nha, và Hiệp ước năm 1903 ký với Cuba). Vì thế Guantanamera đã được nam ca sĩ dân ca Mỹ nổi tiếng thân cộng Pete Seeger (1919-2014) ra sức phổ biến tại Hoa Kỳ. Giữa năm 1963, Pete Seeger trình diễn live ca khúc Guantanamera tại đại hí viện Carnegie Hall và đưa vào album We Shall Overcome của ông; tiếp theo là hai ca nhạc sĩ phản chiến Bob Dylan và Joan Baez. Tới năm 1966, ban hợp ca Mỹ Sandpipers thu đĩa Guantanamera dưới hình thức một ca khúc phổ thông (pop) và đã lên tới No.3 trên bảng xếp hạng Easy Listening, và No.9 trên bảng Billboard Hot 100 (tính tất cả mọi thể loại). Từ đó Guantanamera trở thành một ca khúc Mỹ la-tinh được ưa chuộng khắp năm châu, trong đó có miền Nam VN, được nhiều ban nhạc, ca sĩ nổi tiếng thu đĩa, trong số đó có Julio Iglesias, Celia Cruz, Bobby Darin, Joe Dassin, José Feliciano, Trini Lopez, La Lupe, Nana Mouskouri, Gloria Estefan, Los Lobos… Sau khi CSBV chiếm miền Nam VN năm 1975, đám cán bộ văn hóa miền Bắc đã vô cùng “hồ hởi phấn khởi” trước việc dân chúng miền Nam sống dưới sự kìm kẹp của Mỹ – Ngụy bao năm, nay được nghe “nhạc cách mạng của các nước xã hội chủ nghĩa anh em” là yêu thích ngay! Họ đâu có biết người Sài Gòn đã thưởng thức Guantanamera của Cuba, Those Were The Days (Dorogoi Dlinnoyu / Tình Ca Du Mục) của Nga từ bảy đời tám kiếp rồi! Sau đây là bản dịch Anh ngữ (https://lyricstranslate.com) 3 phiên khúc bằng lời thơ của José Marti, trong đó có thấy chút “sắt máu” nào của cách mạng đâu?!
(1) I am a truthful man; I come from where the palm tree grows, I am a truehearted man who comes from where the palm trees grow, Before I lay down my life, I long to coin the verses of my soul Chorus (2) I plant a snowy rose in January and July, I grow a snowy rose in January and July, For the open-hearted friend who puts a helping hand in mine
Chorus (3) The words that I write are radiant crimson and emerald bright, The poems that I write are radiant crimson and emerald bright, My verses are a wounded deer seeking shelter in the mountain height. Chorus
Toa xe Stolypin chen chúc, xe bít bùng ngột thở, khám tạm bồn chồn khó sống, sao bằng vứt bỏ hết ngần ấy giai đoạn để lên toa xe chở súc vật, thẳng đường vào Trại cho rồi. Tù vừa đỡ mệt mà tiện việc nhà nước biết mấy, thằng nào thành án là đưa đi đày một mạch. Đỡ tốn chỗ xe lửa, khỏi cần xe bít bùng đưa đón, đỡ phải tổ chức khám tạm tốn bao nhiêu nhân viên! Bộ máy Cải tạo hẳn nhận ra ngay điều đó nên tù đi đảo tổ chức thành từng đoàn: Đi xe lửa thì từng đoàn dài toa chở súc vật, đi đường thủy từng đoàn tàu. Không có đường hoả xa, đường sông thì đoàn tù lũ lượt đi bộ. (Không lẽ đưa tù đi đày mà phải bắt ngựa, bắt lạc đà lao động?) Phải nói ngay không gì thuận tiện bằng loại toa xe chở súc vật. Bao nhiêu tù chở cũng hết, một vài chuyến là xong. Cả triệu nông dân từng đi toa súc vật những năm 1929-1931. Lêningrad tản cư cũng xe súc vật. Những năm 1930 trở đi ngày nào từ Mạc Tư Khoa chẳng có một chuyến xe lửa đầy nhóc tù trên những toa súc vật. Những năm 1930 trở đi ngày nào từ Mạc Tư Khoa chẳng có một chuyến xe lửa đầy nhóc trên những toa súc vật chở đi Sovetskaya Gavan, đi Vanino. Chẳng bao lâu nghẹt quần đảo Kolyma! Các tỉnh đều chở thẳng tới Kolyma, dù không đi hàng ngày. Năm 1941 cũng những toa súc vật dời trọn xứ Cộng hoà sông Volga (thân Đức) sang miền Kazakhstan hoang vu, mở màn cho những đợt di dân tập thể. Kế đó những con cưng của Tổ quốc, cả trai lẫn gái dám xuất ngoại sang Đức, Tiệp, Áo hay mon men gần biên giới là bị quơ lên xe súc vật, tống đi Trại hết, cũng như các đợt bị điều 58 vô trại đặc biệt năm 1949. Xe Stolypin còn phải theo thời khắc biểu nhà ga. Xe súc vật là khỏi. Miễn có một ông tướng ký tên vô là cho đi đầy nhóc một chuyến, bất cứ lúc nào và bất cứ nơi nào. Khỏi cần có sẵn trại giam! Một chuyến xe lửa chở súc vật dài dằng dặc đi đến đâu là một Trại Cải tạo có thể mọc lên tức khắc, dù giữa rừng sâu, đồng cỏ hay hoang đảo. Có phải bất cứ toa súc vật nào cũng chở tù được đâu! Ít nhất cũng phải cải sửa lại, nhưng cải sửa đây không phải là vừa chở than chở đá vôi dơ dáy mà phải quét lò than! Tù đi đày đâu cần lò sưởi, nấu ăn dọc đường cho phiền phức? Vả lại chỉ đi trên dưới 1 ngày thì đói lạnh đến mấy cũng dư sức chống cự! Công tác cải sửa chỉ nhằm kiểm soát kỹ từng mánh ván ở nóc toa, sàn toa và hai bên vách toa xem có đủ chắc chắn, kiên cố không. Có lỗ hổng, cây ván yếu là đóng cứng lại, mấy lỗ thủng hơi nhỏ đóng bít hết. Cả toa xe chỉ có quyền có 1 lỗ hổng nho nhỏ đục ở sàn toa để làm ống cống, có bao lưới sắt và đóng đinh chắc. Quan trọng nhất là vấn đề canh giữ. Toa nào cũng phải làm chòi canh ở ngoài để lính hộ tống ôm súng máy ngồi gác, phải có mấy bực thang lên nóc, phải có vị trí đặt đèn pha cực mạnh, có điện thường trực. Phải có một mớ gậy dài để gõ gõ nóc tua, gần toa kiểm soát mỗi trạm xe ngừng. Bắt buộc phải có một vài toa xe hành khách đầy đủ tiện nghi cho Sĩ quan An ninh đi theo xe và đoàn hộ tống. Sau khi đã cải sửa chu tất, mỗi toa sự vật kín bưng (bên trong là tù) còn phải vẽ phấn cho rõ ở thành toa: Dụng Cụ Đặc Biệt hoặc là Cấm Mở. Hàng dễ hư hao. Xét ra công tác chuẩn bị đoàn xe chỉ là thứ yếu, không quan trọng bằng phương pháp tống tù lên xe mà cán bộ và lính đi hộ tống phải học tập chu đáo, nhằm 2 mục tiêu rõ rệt: Giữ bí mật, không cho dân chúng dòm ngó. Khủng bố tối đa tinh thần bọn tù. Mỗi chuyến xe súc vật chở ít nhất 1 ngàn tù, chia đều 25 toa, nhét người lên tuần tự, cũng lâu chớ đâu phải một toa xe Stolypin? Vẫn biết ngày nào giờ nào chẳng có người bị bắt nhưng quang cảnh cả ngàn tù bị áp giải lên xe lửa đưa đi đày chẳng đẹp đẽ gì! Năm 1938 ở Orel có một nhà nào không có người bị bắt, trước cửa khám lúc nào chẳng đen nghẹt đàn bà khóc lóc, chờ đợi? Tuy nhiên những cảnh đưa người đi đày rùng rợn không để lọt vào mắt các công dân Xô Viết tự do, nhất là đám thanh thiếu niên hy vọng của tương lai! Do đó, tù ở khám ra ga bắt buộc phải đi đêm, đi bộ từng đoàn lầm lũi. Dù tổ chức kín tới đâu cũng chẳng thoát khỏi cặp mắt những bà mẹ có con bị bắt, những người vợ lo lắng chờ tin chồng. Chập tối là họ bảo nhau chạy ra ga, thấy chiếc xe nào có vẻ chở tù là áp tới. Họ đến từng toa, hỏi vọng lên: “Có ai tên, không?” hoặc “Toa này có ai tên, không?”. Cứ thế họ chạy len lỏi từ toa đầu đến toa cuối, Thỉnh thoảng từ bên trong toa bít bùng có tiếng reo: “Mình đấy hả? Tôi đây nè” hay “Con đây, con đây má”. Lâu lâu mới có vụ: “Chị, đấy hả? Anh ấy đi chuyến này đó nghe? Ráng tìm ở mấy toa khác coi” hay một giọng ồn ồn cuống quít: “Tôi là… đây! Vợ tôi thế nào cũng ra ga đón bữa nay. Cô bác làm ơn kêu nó giùm”. Hoạt cảnh trên giờ đây đâu còn nữa? Không thể chấp nhận được, nên có lệnh tổ chức nghiêm ngặt này. Mỗi chuyến xe chở tù ở ga nào là phải có một hàng rào chó bẹc-giê vây quanh. Muốn luồn lọt tới gần toa xe không sao thoát. Cho dù lên xe ban đêm còn có lợi là sử dụng được ép phê khủng bố của đèn pha. Đám tù ngồi ngay hàng, run rẩy luôn luôn bị đèn pha chiếu tới kiểm soát. Có tiếng hô là đứng bật dậy, luồng pha đèn rọi tới đúng chỗ. “Năm thằng hàng đầu đứng lên. Nào, chạy ra xe”. Luồng ánh sáng chói chang dõi theo, sáng trưng như trên sân khấu cùng làm 5 thằng tù chạy cuống quít, bước thấp bước cao đụng nhau, chỉ sợ té. Đâu có thời gian ngó quanh, suy nghĩ? Vấp té là có chầu đèn pha tốp lại, bao nhiêu cái miệng la lối, bao nhiêu mõm chó trận nhau nhau rồi gót giày, báng súng sẽ giáng xuống như mưa! Sự thực đâu phải vì sợ chậm trễ hết giờ mà lính hộ tống bắt tù phải chạy như ma đuổi (bắt tập họp ngồi cũng đủ, đâu phải ngồi bệt xuống đất, hay bắt quỳ gối xếp hàng như ở khám Orel?). Cũng như đèn pha, chó bẹc-giê, mũi súng chĩa lăm lăm, hối thúc chỉ là một mánh lới đặc biệt hữu hiệu của kỹ thuật khủng bố và kiểm soát tù. Xét về tâm lý thì thằng tù lúc nào cũng phải đặt trong tình trạng phải tuân lệnh, hối hả cắm đầu tuân lệnh (không chỉ có răng chó và báng súng) đến độ lúc nào cũng hốt hoảng, không dám nghĩ đến đào tẩu. Tù bị hối thúc khủng bố liên miên ắt sẽ nhận không ra nổi hay quên bẵng mất một lần di chuyển là một cơ hội tốt để chạy trốn. Ít ra vách xe, sàn xe cũng còn dễ thoát hơn mấy lần vách đá nhà giam chớ? Đề phòng bị tù chạy bậy, khám đường còn được lệnh trước khi cho tù ra ga lên xe đi đày còn phải kiếm đủ mọi cách quần cho chúng đừ người, chỉ còn vừa đủ sức để ngồi nghỉ trước khi “Năm thằng hàng đầu đứng dậy!”. Lên xe ban đêm nhưng ngay từ sáng sớm tù đã bị kêu điểm danh tập hợp ở một khu riêng. Suốt ngày hôm đó liên miên những thủ tục cưỡng bách. Bao nhiêu lần kêu tên, đếm đầu, sắp hàng? Hớt tóc tắm gội tập thể. Quần áo cho lên lò rang khô. Mệt mỏi nhất là nạn xét người, xét hành lý. Dĩ nhiên nhân viên khám đường trước khi cho tù tập hợp điểm danh đi đày đã khám xét quá kỹ rồi, nhưng đợt khám xét của lính hộ tống mới đáng kể. Họ chịu trách nhiệm khi đi đường, họ phải dành quyền khám xét tối hậu để phòng ngừa mọi bất trắc chớ? Về vụ này đã có thể thức và chỉ thị của nhà binh rõ rệt. Tù đi đày không có quyền giữ bất cứ một món gì có thể sử dụng vào việc đào thoát – vật sắt bén có thể cưa cắt được là tịch thu. Những chất bột rời rạc như bột, đường, cà phê, muối, trà, thuốc lá cũng tịch thu hết. “Để tụi bay thình lình thảy vào mắt lính hộ tống, rồi nhảy chắc?”. Bất cứ một vật dụng gì có chiều dài như dây thừng, dây cột đồ, vải rút, dây lưng có thể dùng để “vượt ngục” cũng tịch thu luôn. (Lệnh tịch thu quái ác này không chừa cả sợi dây da cột chiếc chân giả của một thằng tù làm nó phải cởi chân ra, vác chân lên vai và di chuyển bằng cách lò cò nhảy từng bước, với thằng bạn đi bên ghé vai đỡ! (Hơn nữa, tất cả những đồ vậy quý giá chẳng hạn như chiếc va-li cũng bị củ soát kỹ. Không được xách theo người mà phải nạp trình để tập trung vào một chỗ, đến nơi trả lại.) Chỉ thị Trung ương dù sao cũng là lý thuyết. Thực tế là các toán hộ tống Vologda hay Kuibyshev có toàn quyền sinh sát với tù nên mới có mục tiêu thứ 3 trong công tác đưa tù lên xe súc vật, được hiểu ngầm là “tài sản của bọn phản động, phản Cách mạng là tài sản chung của nhân dân xứng đáng (như giám thị, lính hộ tống) có quyền chia chác. Đó là một điều không cần phải nói ra vì thân phận thằng tù sinh mạng giữa không xong thì sao giữ nổi chút đỉnh tài sản dính theo người? Chống cự sao nổi chính những người có quyền hành hạ, bắt ngồi bắt quỳ hay lột trần truồng? Một khi bị lột truồng ra rồi thì thằng tù dĩ nhiên phải thuộc vào một giai cấp khác, ở dưới hẳn giai cấp đang mặc quần áo, sai bảo, nộ nạt, hành hạ nó. Thông thường lính hộ tống xét tù theo thể thức sau đây, áp dụng ở khám Kuibyshev mùa hè năm 1949. Đám tù cởi trần truồng ngồi bệt thành hàng lối, lính chĩa súng quay chung quanh. Gọi tên thằng nào thì thằng ấy đứng dậy, tay xách quần áo, tay xách đồ. Lính hộ tống luôn miệng nộ nạt, xô đẩy, hối thúc, nghĩa là rõ ràng làm dữ xử mạnh, tuyệt không có cử chỉ lời nói bình thường để thằng tù hốt hoảng, sợ hải tưởng đâu sắp bị dẫn đi xử bắn chớ không phải đi đày! Bản thân bị dày vò, vùi dập thì còn tiếc gì mấy món đồ riêng? Gói bị mở banh, va-li quăng quật và dốc ngược lên cho tất cả những vật bên trong tung tóe ra đất. Những thứ vặt vãnh như ví da, hộp thuốc, bị quăng ngay vào một cái thùng rỗng (không biên nhận, không ghi dấu cá nhân và quăng bừa vào một chỗ hở hang – không két sắt, không hộc tủ – như điệu này thì dĩ nhiên chẳng có vấn đề trả lại! Dĩ nhiên khi nạp thằng tù nào chẳng biết trước vậy?). Mớ quần áo được rờ nắn kỹ sau đó và khi xét xong thì thằng tù trần truồng chỉ còn nước quơ vội những manh quần tấm áo vứt bừa bãi, túm gọn vào một bó. Có tấm mền bọc lại thì gọn quá! Còn đôi bốt lên bên trong hả? Để lại đi, quăng vào đống cạc táp, va-li da và ký tên vô sổ lẹ lẹ (quái gở ở chỗ nạp đôi bốt không được cấp biên nhận (sau này xuất trình lấy lại!) còn phải ký tên vô tờ khai là đã nạp rồi). Chập tối trước khi tù được áp giải ra ga mới khỏi sự chia chác tiếng phản động: Ưu tiên là lính hộ tống mỗi ông lựa vài món. Cặp da, bốt da, hộp thuốc lá được chiếu cố trước. Rồi đến lượt các thầy chú giám thị. Thậm chí đến Công vụ và mấy người anh em cũng có phần chia kia mà.°
Muốn được lên toa súc vật là phải qua ngần ấy thể thức và, mất mát. Đặt chân lên sàn xe là nhẹ hẳn người, dù biết rằng sắp chịu đói chịu rét lại sắp phải mắc kẹt giữa các đồng chí hộ tống và những người anh em kên kên. Bộ xe chở súc vật cũng có kên kên lẫn lộn. Sao không? Đó là truyền thống. Họ chiếm chỗ nào còn biết trước nữa! Mùa hè gần chỗ cửa thông hơi và trọn ngăn trên, nếu có. Mùa đông nếu may mắn có cái lò than thì chắc chắn mấy người anh emsẽ vây quanh lò. Ông bạn dân chơi Minayev từng thổ lộ trong lá thư gởi về toà báo Literaturnaya Gazetta cho tôi đề ngày 29 tháng 11 năm 1963 đại khái như sau. Năm 1949 trời lạnh quá, đi từ khám Voronezh tới trại Kotlas mất mấy ngày liền mà cả toa xe chỉ được phát 3 thùng than. Dân chơi chiếm trọn lò than còn lạnh quá, thấy thằng chính trị nào có tấm áo lạnh còn tốt là lột và lột đến cả mấy đôi vớ không tha. Phát thức ăn dĩ nhiên người anh em lãnh phát nên cho cái gì được cái nấy. Chỉ bánh khô, cá khô là nhường cho chính trị chia nhau (họ chán chê mấy món này!), còn cháo nóng súp nóng không cho phép rớ tới. Phản đối, khiếu nại làm gì, khi sự bóc lột, cưỡng đoạt có thể diễn ra trắng trợn như trường hợp ông bạn người Estonia có một chiếc răng vàng còn bị vài người anh em đè ngửa ra sàn xe. Không sẵn kềm nhổ thì ghè bật ra bằng búa! Những chuyến đi xa không gì sung sướng cho bằng được lính hộ tống phát đồ ăn nóng tận toa, dù chỉ là cháo. Cả đoàn xe chở rặt tù nên trưởng xa có quyền tới chỗ hẻo lánh ra lệnh tốp để phát cháo. Chỉ phiền phức nước uống quá hiếm, lấy đâu ra nước rửa? Sẵn thùng than đấy, đổ đại cháo vô: Những thằng bao chót sẽ nuốt cháo và than lẫn lộn. Bù lại với số tô nhà nước phát không đủ (thông thường 1 toa xe 40 mạng chỉ có 25 tô là nhiều) thì những thằng bao chót có hy vọng phần cháo nhiều hơn, đặc hơn chút đỉnh. Lãnh đợt đầu chắc chắn cháo hay súp ngũ cốc cũng phải loãng hơn, dù có kêu nài: “Quậy lên cho đều giùm!”. Cũng ít hơn vì, lỡ xúc quá tay thiếu phần những người ăn sau thì sao? Có điều lãnh trước hay lãnh sau cũng phải nhắm mắt lùa cho lẹ vì vừa cầm tô cháo lên đã bị hối thúc tíu tít: “Lẹ lẹ cho rồi! Còn trên 20 toa xe, chớ hầu hạ riêng mấy người mà rề rề?”. Đi xe súc vật thì ăn thiếu, nước uống hạn chế mà có chết cóng hay bị lột trần cũng thây kệ. May ra ban ngày gật gù ngủ đỡ được một vài chập: Lính ngồi đầy nóc toa, chòi canh nhìn lại phía sau thì không lẽ phá vách nhảy ngang được hay đục sàn chui xuống đường sắt? Đêm đến là khổ vì nạn củ soát. Thỉnh thoảng trưởng xa cho lệnh tốp, bật pha sáng trưng để lính vác gậy đi từng toa, gõ rầm rầm trên nóc, gầm sàn, vách toa coi có chỗ nào đang bị cưa lên không. Xen kẽ là những vụ xét phía trong toa và đếm đầu đặc biệt. Cửa toa bật mở thình lình, đèn pha rọi vô. Toán lính xách đèn dí sát vào những chỗ “khả nghi”, mấy bọc đồ nhét ở thành xe bị hất văng đi. Toa xe được chia hai. Theo khẩu lệnh “Dồn một bên” tù phải dồn nhấp nháy sang một bên để củ soát bên trống, và ngược lại. Ngái ngủ chậm chân là bị sút bằng bốt da! Tiếp đó mới đếm đầu. Một, hai, ba, toán củ soát đêm có lệ đếm bằng gậy. Thay vì lệnh miệng, mỗi cây gậy vụt xuống hay tạt ngang trúng thằng tù nào là “đếm” xong thằng đó, phải nhảy tạt qua bên trống cho nhanh, nếu không muốn bị “đếm” thêm, bất kể đầu mình hay chân tay. Chừng đếm hết 40 mạng, đèn pha rọi tua chót không còn gì khả nghi nữa thì cửa sắt đóng rầm rầm. Toán củ soát bước sang toa bên là có quyền ngủ tiếp, cho tới lần sau xe ngưng thình lình và tù bị dựng dậy in hệt! (Xét cho cùng lính hộ tống có củ soát tàn nhẫn vậy cũng chẳng phải thừa. Tù chính trị đào tẩu đâu chưa thấy nhưng vách toa cưa sẵn lâu lâu vẫn phát giác còn vi phạm luật hộ tống thì quá thường, chẳng hạn như giấu giếm vũ khí bén nhọn. Dù cố tình lờ đi cũng chịu không nổi: mới tối hôm trước năm ba thằng dân chơi còn râu ria xồm xoàm sáng hôm sau đứa nào cũng mày râu nhẵn nhụi! Vậy là ít chúng cũng dấu vài con dao cạo râu, thứ cấm kỹ nhất của nhà tù. Bắt buộc phải đếm đầu bằng gậy, lục soát đến bằng lòi ra tang vật. Cưỡng bách nạp thì nạp, có sao đâu?)
Đi toa xe súc vật còn khác bất cứ chuyến xe lửa đường trường nào ở điểm chỉ biết có lên xe, còn lúc nào xuống, xuống ở đâu thì kể như mù tịt. Không biết có xuống nổi không là thường! Như chuyến xe lửa chở đầy nhóc tù từ các khám Lêningrad tới trại Solikamsk năm 1942. Lúc có lệnh xuống xe có thấy toa nào cục cựa? Mở cửa toa mới giật mình hãi hùng: Những xác chết khô đét nằm còng queo đầy sàn, nhiều hơn người sống! Chừng khuân xuống xếp đầy nghẹt một sân ga xác tù chết khô. Những năm 1944-1945-1946 về mùa Đông có những chuyến xe tù từ những vùng mới “giải phóng” ngược đường về Bắc. Dân làm Hoả xa hay sinh sống gần nhà ga còn lạ gì: Chuyến xe nào chẳng dành riêng 1, 2 toa sau cùng để chất xác? Các toa trên phát giác ra xác nào là đợi đến trạm ngừng dồn cả xuống “toa đặc biệt”. Xe lửa chạy đường trường, dù mưa lạnh cũng không thể để người sống nằm chung với xác chết! Lâu lâu mới có nạn người sống người chết lẫn lộn, khó phân biệt. Phải đợi đến lúc mở cửa toa ra, thằng nào không động đậy mới chắc chắn chết rồi. Không gì kinh hoàng cho bằng phải đi đày giữa mùa Đông giá rét. Nhà nước chỉ sợ mất tù chớ ăn nhằm gì những thằng tù chết cóng? Lính đi hộ tống là để canh giữ, khủng bố cho tù khỏi trốn, chớ đâu phải để xúc than, khiêng than phân phối cho 25 cái lò? Do đó tù thiếu than sưởi chết lạnh quá dễ! Ngược lại mùa hè là chui đầu vào lò, một cái lò sắt có 4 lỗ thông hơi thì bít hết 2, để chịu đựng hơi nóng nung nấu và rên rỉ vì thiếu nước uống. Mùa Đông thiếu than dễ chết cóng thế nào thì mùa Hè cũng dám khát nước gần chết như vậy, rút cục cũng khổ sở như nhau. Tương đối chỉ đi về tháng 4 và tháng 9 còn đỡ khổ. Tuy nhiên nếu đoàn xe lửa lết cà rịch cà tang cỡ 3 tháng mới xong chuyến, như đi từ Lêningrad sang Hải Sâm Uy năm 1939 thì hết lựa chọn! Những công voa tù đường trường còn thêm nạn học tập chính trị dọc đường điên đầu. Lính hộ tống phải nhồi sọ để giữ vững lập trường tư tưởng đã đành, chính những thằng tù đi đày vẫn phải “theo dõi” thường xuyên. Phụ trách việc học tập là Bố Già tức cán bộ An ninh ngồi toa xe riêng. Chính Bố Già lãnh trách nhiệm phân phối tù từng toa, cắt đặt “trưởng phòng” chính thức và gài ngầm mật báo viên để làm tai mắt cho An ninh ở mỗi toa. Dọc đường Sĩ quan An ninh sẽ triệu tập “trưởng phòng” và chỉ điểm viên đến toa riêng để cho chỉ thị và thu thấp báo cáo mật. Mỗi chuyến xe là phải có một vài hồ sơ kết thúc. Có tư tưởng lạ, chống đối là ị đưa xuống toa an ninh khai thác gấp và đến nơi chắc chắn sẽ lãnh thêm ít năm trong bản án đi đày. Đi công voa súc vật cực khổ là thế – cực khổ đến suốt đời khó quên – nhưng vẫn còn được đi một mạch, đỡ phải chờ chực hay đổi xe đổi tàu. Miễn là đi một mạch. Miễn tới được là mừng, tâm lý chung mấy người đi đày là vậy. Làm như ở trại Cải tạo Sĩ quan An ninh nhiều hơn, điểm chỉ viên tử tế hơn và tuyết cũng đỡ lạnh hơn ở học đường. Tới Trại là đỡ phải đi nữa. (Phải đi nữa thì chắc chết! Đi nữa là, đi sâu thêm vào những vùng hoang vu, đi thứ xe cổ lỗ chạy đường sắt nhỏ hay những toa hàng hoá không mui, không vách. Ngồi sàn xe trống trơn như vậy, tù dễ trốn quá nên lính hộ tống càng có quyền canh gác gắt gao: tất cả phải nằm thu vào một đống, lấy tấm vải bạt lớn trùm kín lên! Nghẹt thở lắm nhưng có vải bạt trùm còn hơn ngồi trơ vơ trên sàn xe, đầu đội trời suốt một ngày như bọn Olenyev. Mặc cho tuyết tháng 10 sa xuống lạnh ngắt, cả bọn ngồi sát vào nhau đợi đầu máy kéo đi! Đầu máy không thấy chỉ có mưa xuống. Nước mưa thấm vào áo quần ít lâu và lạnh đóng băng cứng luôn. Ở những đoạn đường sắt hiểm trở bắt buộc phải có những toa có đóng vách gô sơ sài. Xe lửa cố bò chậm lặc lè còn lắc lư, lảo đảo và thỉnh thoảng giật tung người. Vách xe bắt đầu rên kẽo kẹt, những khúc quanh gắt xe lắc mạnh và tù bị hất văng xuống đường rầy dễ như chơi! Từ Dudinka đi vô các mỏ cỡ 100 cây số là thấy địa ngục. Vậy mà người anh em blatnye vẫn sung sướng như thường: Họ tranh chui hết vào giữa toa, tha hồ lấy hơi của mấy thằng chính trị bao quanh sưởi ấm lại khỏi sợ lọt đường rầy oan! Khổ nhất là lúc xuống xe. Nhìn quanh chỉ thấy trắng xoá những tuyết (1939). Nhà cửa có đâu? Có mấy cái hang, lỗ vừa đục trong sườn núi tuyết thì bọn đến trước đã chiếm sạch. Khỏi phải đào hàng mất công. Hãy cất lều vải ở đỡ. Đi đày Bắc cực là phải làm mỏ kia mà?) Ôi thảm thương cho những thằng đi đày Yertsovo tháng Hai 1938. Nửa đêm có lệnh xuống xe, mấy đống lửa đốt lên ở ven đường sắt. Đếm đầu tập họp rồi đếm đầu nữa! Giữa bãi tuyết mênh mông thời khoá biểu tụt xuống 32 độ dưới số không. Công voa này toàn những thằng ở Donbas chở lên, phần đông bị tống giam lúc mùa hè nên quần áo mong manh, giày vớ thiếu thốn. Có thằng đi dép và mặc đồ nghỉ mát! Thấy lửa là mừng quá, toan bu tới sưởi nhưng lính gác đuổi lập tức. Đốt lửa để lấy ánh sáng kiểm soát cho dễ chớ đâu phải để mấy thằng phản động sưởi ấm? Giữa đêm lạnh, đồng trống, 32 độ dưới không độ thì mấy ngón tay chịu sao nổi? Chúng cứng ngắc, mất cảm giác tức khắc. Tuyết chui vào giày và nằm nguyên chỗ, không chịu tan. Khẩu lệnh phát ra nghiêm khắc: “Nghe đây. Vào hàng cấp kỳ. Đi lệch sang phải sang trái một bước là bắn bỏ, không cảnh cáo. Đi thẳng tới!” Đoàn công voa người chầm chậm chuyển động. Mấy con bẹc-giê trận lồng lên như muốn bứt xích. Dẫn đầu là mấy ông hộ tống mặc áo da cừu kín bưng. Đám tù phong phanh áo mùa hè, cắm cúi bước trên cánh đồng ngập tuyết, giữa đêm đen tuyệt không chút ánh sáng. Mấy cây phong khô khốc đứng sững, gió thổi lúc nào cũng có thể gãy. Những bước chân lún sâu vào tuyết, mỗi lần nhắc lên là cả một khó khăn vì xương cốt, bắp thịt gần như chết cóng, không chịu tuân lệnh. Mới tới đã vậy còn lao động ngoài mỏ thì sống sót sao nổi? Tháng Giêng năm 1945: Hồng quân giải phóng thủ đô Ba Lan. Hồng quân cắt ngang Đống Phổ! Ở tuốt vùng Pechora, tù đi đày xuống công voa chỉ thấy mênh mông một màu tuyết trắng. Xế chiều rồi. Ngồi sụp xuống ven đường rầy, thành hàng 6 người một điểm danh, đếm đi đếm lại. Đồng tuyết Bắc cực khỏi có đường đi, kể cả đường tắt. Đoàn tù phải băng đồng, vượt 6, 7 cây số vất vả. Xưa nay có ai đặt chân đến đây? Đa số tù gốc Moldavia yếu chịu lạnh, chỉ đi giày da là cùng, lội lóp ngóp giữa đồng tuyết. Chậm chân một chút là bị đàn chó bẹc-giê đoạn hậu táp vào đít vào gót chân và vào gáy. Chó trận có huấn luyện mà. Hàng tù đi chót hết cuống cuồng té xiêu vẹo, thảm hại nhất là linh mục trẻ Viktor Shipovalnikov đã bết còn phải ghé vai đỡ đàn anh tóc bạc Fyodor Florya! Bước thấp bước cao đi mãi cũng phải đến. Đến Trại là có chầu tắm nước nóng: Cởi quần áo ở một ca-bin, chạy tồng ngồng một khoảng sân tuyết mới được tắm ở ca-bin kế lên. Tắm xong là trời sập tối mới hay tin động trời: Trại vừa lập, chưa đủ chỗ chứa. Không thể nhét thêm mạng nào! Không thể đội trời đạp tuyết suốt đêm đành phải tập họp bù lại, bắt ngồi sắp hàng 6, đếm đầu vài lần và ra lệnh về công voa ngủ đỡ! Lại mò mẫm, dắt díu nhau lội 7 ca bãi tuyết trong bóng đêm. Tới công voa, trèo lên xe là kiệt sức. Cửa mở banh, than sưởi hết nhẵn đoàn tù co ro ngồi áp nhau chịu cóng qua đêm. Sáng dậy phát bánh khô cá khô, muốn uống nước thì vốc tuyết cạp, rồi lếch thếch vô Trại. Cũng may có sẵn một Trại. Không đủ chỗ thì cất thêm ít căn nhân công quá thừa chỉ một ngày…. Đi công voa chở súc vật còn dám kẹt cảnh xuống xe giữa đồng trống mênh mông, một miền Taiga chưa hề thấy dấu chân người. Tận cùng của đường rầy có thể là khởi điểm của một trại Cải tạo mới toanh. Chỉ cần một tấm bằng gỗ đóng lên một gốc cây phong, mang 3 chữ tắt OLP là đủ 1. Một tuần lễ bánh khô, cá khô, trộn bột với mấy cụm tuyết là hình thành xong cơ sở gốc. Trại Cải tạo mọc lên nhanh và bắt rễ nhanh lắm: Chỉ 2 tuần lễ là tổ chức đâu ra đấy, có bếp nấu đồ ăn nóng, nếu không bát đĩa cũng có một chậu lớn chung cho một tổ 6 người. Chưa bàn ghế nên giờ ăn tổ có lệ đóng vây quanh chậu rồi chia phiên ra: 2 người bưng chậu 1 tay và bốc đồ ăn 1 tay, chỉ 4 người có quyền sử dụng cả 2 tay. Thông lệ tù mới tới sẽ được chia toán gấp. Bao giờ toán trưởng cũng phải là một dân kỳ cựu để cầm đầu toán mới ép vào kỷ luật, chỉ bảo mánh lới và bóc lột luôn thể! Việc lập toán không thể trì hoãn vì ngay sáng hôm sau đã phải công tác lao động. Hồi chuồng Cải tạo gióng lên là bắt tay vào việc cấp kỳ vì Chuông không chờ đợi ai. Đây là chế độ Xô Viết mới, tù đi Cải tạo yếu tố thời gian là quý, chớ chẳng phải ngục khổ sai đầy ải con người như Akutui dưới thời Nga hoàng mà tù mới đến phải được nghỉ ngơi 3 ngày rồi mới cắt cử công việc (như đã ghi trong Hồi ký của tù già Yukabovich!).
Như đã nói trại Cải tạo mọc nhanh, bắt rễ nhanh lắm nên quần đảo mỗi ngày một phồn thịnh, mỗi ngày mỗi đặt nhiều thiết lộ mới ở nhiều nơi mới đây chở tù đến còn phải dùng đường thủy, trên những giang thuyền cổ lỗ đặc biệt Nga. Loại thuyền này chở được đến 100 người, tù phải ra sức chèo lấy. Cũng có trường hợp đi thuyền chài. Đặc biệt hơn cả là những chiếc thuyền lớn kiểu xà lan phẳng đáy, chở tù đến Vorkutlag hay Ust-Usa. Dân quần đảo kỳ cựu làm sao quên nổi những xà lan chấy, rận nhung nhúc như dòi này? Rận chấy phá đến nỗi bò lổm ngổm đầy thuyền, lính hộ tống phải cho tù đi từng mạng lên trên mui chải, rũ chúng xuống sông! Có những chuyến chở tù không đi đâu xa mà loanh quanh mất đến 10 ngày, vì xà lan đâu phải chỉ sử dụng duy nhất vào việc đưa tù đi đày? Ghé bên này, nằm đợi bến khác chán chê vì nơi đây cũng đặt cả hệ thống khám tạm nho nhỏ dựng trên nhà sàn hay căng lều sát bờ sông. Phải đi vòng vo, lâu lắt các toán hộ tống mới đủ thời giờ và điều kiện lột những thằng Zek! Dân sinh sống ở 3 dòng Dvina, Ob và Yenisei làm sao quên những công voa xà lan đầy nhóc tù – nhộn nhịp nhất là đợt thanh trừng Kulak. Ba dòng sông cùng chảy ngược lên biển Bắc, phải có những xà lan khổng lồ đi thành công voa mới chuyên chở kịp cả rừng người đi Cải tạo! Tù nằm dưới lòng xà lan chen chúc như cua cá xếp lớp. Lòng xà lan sâu như giếng, có sức chở tối đa. Lính gác ngồi tuốt trên “lồng cu” chĩa súng xuống. Có xà lan lộ thiên, thỉnh thoảng mới có chiếc được phủ tấm bạt khổng lồ. Để che cho khuất, để chắn cho tù khỏi trốn chớ chẳng phải che mưa che nắng, vì đã bị liệng xà ngầu xuống lòng xà lan là phải chịu thân phận ngoi ngóp, lúc nhúc của mớ cá mớ cua. Ngay ân sủng cũng vứt xuống cái gì thì chia nhau cái đó, không có thì đành chịu. Kulak mà. Khi di chuyển đã vậy, ngay trong trại cũng không có vấn đề dự trữ thực phẩm cho bọn phản động. Giữa miền Taiga hoang vu phải ráng xoay sở lấy bằng cách tranh sống với thiên nhiên! Khỏi nói đợt đi đày Kulak chỉ là một hình thức tiêu diệt dần dà, có hệ thống. Cho đến 1940 vẫn còn những công voa xà lan trên sông Dvina (mạn Bắc) và sông Vychegda, theo lời nhân chứng Olenyev. Dưới lòng cà lan tù thì đủ chỗ đứng mà không phải chỉ đi một vài ngày. Đi đái đã có những bồn nhỏ chuyền tay nhau và trút qua mấy lỗ thông hơi xuống sông, nhưng đi cầu thì không có cách nào khác hơn là bậy ra đũng quần! Trên sông Yenisei việc chở tù bằng công voa xà lan tiến hành thường xuyên trong mấy chục năm liền. Vì vậy khám Krasnoyarsk mãi đến thập niên 1930 còn những bến tàu lộ thiên ở ven sông để tập trung tù nhân chở tàu. Thời gian chờ tàu chỉ mất 1, 2 ngày nhưng thời tiết Tây Bá Lợi Á độc địa chết người chớ không dễ dàng như năm 1897 Lênin xuống tàu đi St Nicholas đi đày! Kiểu xà lan chở tù phổ thông nhất trên sông Yenisei là thứ sâu thăm thẳm 3 tầng với một cầu thang sắt là chỗ lên xuống và lấy ánh sáng duy nhất. Lính hộ tống chia nhau 1 ca-bin nhỏ ở trên boong và thông thường chỉ đi lại bên trên canh gác, miễn sao tù không lao đầu xuống sông trốn là được. Họ không cần biết những gì xảy ra ở 3 tầng dưới nên chẳng tội vạ gì lần mò xuống cho dơ dáy người, dù có người rên la gần chết. (Có tủ thuốc cứu thương để cấp cứu dọc đường đâu.) Hai đợt 1937-1938 và 1944-1945 xà lan tù hoạt động nhiều nhất. Dù chia 3 tầng nhưng chẳng sàn nào có quyền đốt đèn, hoàn toàn trông vào lỗ hổng cầu thang sắt và mấy lỗ thông hơi nho nhỏ ở bên vách. Nếu đủ chỗ thì tù chia nhau nằm thành hai hàng ngang, đầu quay vào vách xà lim chừa lối đi nhỏ ở giữa 2 rừng chân cẳng. Mỗi sàn có một thùng cầu duy nhất đặt ở cuối phòng. (Vậy đã là văn minh chán!). Muốn đi là phải lên lỏi giữa hai hàng chân. Khổ sở nhất là những lúc cầu đầy ắp phải khiêng lên boong trút xuống sông bằng ngả cầu thang duy nhất. Khỏi nói là không có cách nào ngăn ngừa phân văng tùm lum, dính lép nhép và ngập ngụa từ sàn trên tha hồ chảy xuống sàn dưới (phần vì làm biếng, phần vì khiêng lên xuống quá khó khăn nên cầu chỉ được đổ khi không chịu đựng thêm nổi!). Khiêng cơm khiêng cháo xuống cũng chỉ một ngả cầu thang này. Phân đổ ra sàn người nằm ráng chịu cũng quen nhưng mỗi sàn một thùng cháo hay súp chia nhau không thể chấp nhận rơi vãi. Do đó chỉ lúc mấy thằng bạn ẩm thực lo thả thùng xuống mới được quyền sử dụng ánh đèn. Giờ đây có thể có đèn điện, những năm đó chỉ có cây đèn Batdầu hôi xách tay le lói ánh sáng. Di chuyển tù bằng xà lan dĩ nhiên được nhiều và thuận tiện nhưng không thể nhanh được. Đi Dudinka dám mất trọn 1 tháng như không (bây giờ chỉ 1 tuần). Nào gặp bãi cát, nào nước lớn nước ròng, biết bao nhiêu trở ngại sông nước không thể dự phòng? Chậm trễ chỉ chết thằng tù vì hành trình trễ một ngày là khẩu phần cúp 1 ngày. Nhiều chuyến tù bị nhịn ngang năm ba ngày thông! Nhưng dĩ nhiên những thằng tù đói chẳng phải anh em blatnye. Tôi không nói ra nhưng bạn đọc thông minh hẳn biết trước, xà lan cũng đầy dẫy kên kên vậy, chuyến nào chẳng có? Dĩ nhiên chỗ thường lệ của họ phải là sàn trên cùng, ở sát chỗ cầu thang sắt để hưởng ưu tiên ánh sáng, khí trời và đặc quyền ghê gớm là phân chia thực phẩm. Có thiếu bánh phát đến mấy bữa dân chơi cũng chẳng vì vậy chịu nhịn đói bao giờ! Đi xà lan chậm rề rề, buồn bực biết mấy, nên để đốt thì giờ các người anh em ưa giở mấy cỗ bài ra tiêu khiển. Họ quây quần đánh bài cho đỡ buồn, không có bài sẵn thì chế tạo ra vài ba cỗ cũng dễ dàng. Blatnye mà. Đó là một sự kiện mà Shalamov tả vô cùng linh hoạt trong thiên hồi ký Vài nét phóng hoạ về giới giang hồ. Đừng hỏi người anh em lấy tiền đâu ra đánh bài tiêu khiển! Có đồ là có cách bán có tiền, mà đồ thì 3 sàn tàu thiếu gì mòng. Có mòng thì kể như dân chơi có quyền lột công khai. Được bao nhiêu đồ đã có lính hộ tống phụ trách “tiêu thụ” mỗi lần xà lim ghé ngang một bến. Chớ còn ai làm công việc này nỗi, tù đâu có quyền lên bờ? Chỉ có một cách này người anh em mới có quyền tụ họp nhau để giải trí ngày này sang ngày khác. Thua qua, ăn lại cũng chỉ bấy nhiêu tiền, giữa bọn họ với nhau. Nhưng không lẽ con mòng lúc nào cũng xuôi tay chịu chấp nhận lột? Họ cũng chống đối lại chớ. Vụ chống đối đáng kể nhất đã xảy ra trong chiếc xà lan lớn, thứ xà lan đi biển, giữa khoảng đường từ Hải Sâm Uy ngược ra Sakhalin. Điều đáng kể nhất là 7 thằng chính trị trong tay không có 1 tấc sắt nhưng nhất định không chịu thua kên kên, dù chuyến này họ không dưới 80 thằng mặt rằn! Với ngần ấy mặt rằn thì con mòng cả xà lan đã phải nạp đồ ngay từ khi tàu chưa rời bên, nghĩa là xà lan còn đậu trong kho số 3/10 cảng Hải Sâm Uy. Dân chơi đã phân công lột nhẵn nhụi tất cả những gì lột được. Dĩ nhiên kỹ thuật khám xét của họ còn cao hơn thầy chú một bậc vì sinh hoạt cùng một chỗ với nhau. Khó giấu giếm lắm nhưng thực tế là có xét là phải có cách nào lục lọi ra bằng hết! Biết vậy nên họ phải đợi tàu chạy đã, thỉnh thoảng sẽ có kế hoạch buộc phải lòi ra. Thế rồi có giọng rao: “Có thuốc rê ngon đấy nghe? Bà con ai có tiền có quyền bỏ ra”. Con mòng Grachev rơi vào bẫy cấp kỳ. Moi mãi trong cùng chiếc gi-lê nhồi bông mới lòi ra 3 đồng rúp! Người anh em Tatarin vừa thấy 3 đồng bạc là xông tới nạt nộ tính cướp: “ĐM, thằng này! Tiền đóng thuế nói không có. Bây giờ nghe thuốc rê mới chịu lòi ra. Đưa đây mày!” Có kẻ đứng bên chặn hắn lại. Đó là Trung sĩ 1 Pavel. Như thường lệ Tatarin đưa 2 ngón tay ra, doạ làm chữ “V” nghĩa là móc mắt thằng cứng đầu nhưng bị Pavel cho đo ván tức thời. Hai ba chục dân chơi bèn nhảy xổ tới can thiệp, tính đập hội đồng, trừng trị thằng chó chết có tiền và thằng trung sĩ muốn làm anh hùng. Nhưng ngay sau đó Grachev và Pavel chịu đầu hàng. Cứ đánh. Lập tức bên “chính trị” có thêm 5 thằng nữa nhào vô. Biết chúng đông hơn và thằng có dấu dao nhưng nhóm 7 thằng nhất định chống cự. Tưởng sao! Mới trao đổi ít đòn quần đảo là cả đám giang hồ rút lui lẹ lẹ. Thì ra blatnye là như vậy! Xưa nay bắt nạ được ai là làm bộ hùng hổ như sắp giết người đến nơi. Chỉ cậy số đông làm bừa, chớ thực sự các người anh em ngán chơi dữ hơn ai hết. Và hèn hạ cũng hơn ai. Già dái non hột vốn là bản chất kên kên mà. Vả lại họ không tốp cũng không được. Lính canh sẽ tuột thang xuống can thiệp cấp kỳ, đời nào cho phép ‘đánh lớn” ở chiến trường sát chân thang. Có khi thầy chú đã hờm sẵn để chờ giải tán đúng lúc! Tuy nhiên kên kên chẳng bao giờ chịu rút lui mất mát. Họ phải thòng một câu: “Cứ để chúng mày đấy! Đi tàu đi xe làm không tiện, chớ đến Trại thì làm thịt chúng mày quăng sọt rác mấy hồi!”. Câu thòng chỉ đúng một nửa. Quả thực 80 anh chị mặt rằn chuyến xà lan đó đã bàn tính nhau có kế hoạch “nắm vững” Trại Aleksandrovsk, đảo mới trong hệ thống quần đảo Sakhalin để có đất làm ăn, phỗng tay trên những đồng nghiệp dân chơi khác. Đi đày phải có đất để cai trị mới mong sống sót về được chớ. Đổ bộ lên Aleksandrovsk nhóm 7 thằng điều 58 cứng đầu vẫn có ý chờ đợi ngày bị “làm thịt quăng sọt rác”. Rút cục êm xuôi, chẳng có gì xảy ra! Đám 80 mặt rằn còn lòng dạ nào giải quyết “món nợ cũ” trên xà lan? Chính họ còn điêu đứng sợ sống không nổi khi phát giác ra rằng đảo Aleksandrovsk đã có sẵn “người cai trị” rồi. Cũng dân chơi nhưng ít ra cũng sạch hơn chút đỉnh và không thuộc phe nhóm họ!
Lớp đi đày Kolyma sau này không đi thuyền, xà lan mà đi tàu biển đàng hoàng. Tàu lớn hơn thì nhiều tệ nạn hơn chớ bản chất vẫn là một. Lớp người ra Kolyma trên mấy chiếc tàu biển ọp ẹp lạ thay giờ này vẫn còn một số sống sót! Mùa Xuân năm 1938 chiếc tàu phá băng Krasin dẫn đầu, kéo theo một lô chở tàu tù. Tàu biển hồi đó cũng 3 tầng nhưng mỗi tầng đều có ổ ngủ 2 ngăn trên dưới, có vài ngọn đèn le lói. Mỗi tàu chứa nổi 3, 4 ngàn tù. Mỗi ngày tù được chia phiên từng toán lên boong trên đi hứng gió và cho bớt cuồng cẳng. Ra Kolyma mất trên 1 tuần đường biển nên bánh mì mang ra từ Hải Sâm Uy đi thường mốc meo, khẩu phần hàng ngày đang trên dưới nửa ký bỗng rút đi 1 phần 3 là thường. Có cá khô, có thức nước uống lờ lợ, nhưng ăn nhằm gì. Ăn uống vô bao nhiêu say sóng mửa trả sàn tàu bằng hết. Chỉ tổ dơ dáy, ngập ngụa thêm! Chở tù bằng tàu lớn thỉnh thoảng cũng có chuyện chớ. Có lần suýt có gay cấn ngoại giao, như lần đoàn tàu chạy ngang eo biển La Pérouse, chạy sát mấy hòn đảo của Nhật. Đúng đặc điểm lập tức mấy ổ đại liên trên vọng gác được tháo xuống, giấu biệt. Lính hộ tống đổi thường phục, bao nhiêu cửa xuống boong dưới đều khoá cứng. Nếu có chuyện bất trắc xảy ra tàu nào cũng sẵn hồ sơ hải hành và văn kiện lập từ trước, để chứng minh tàu của hãng thầu chở nhân công ra công trường xây cất Kolyma. Tuyệt đối không có vụ lính áo giải đi tù đày. Mấy chiếc tàu tuần Nhật cũng sinh nghi nhưng chỉ chạy vòng vo, chạy bám theo. Cũng năm 1938 ở địa điểm hiểm này có chuyện lộn xộn trên tàu Dzhurma. Một bọn dân chơi bẻ khoá lọt vô một kho thực phẩm trên tàu cướp đồ và gây hoả hoạn. Lửa bắt cháy, khói xông mù mịt. Đám tàu tuần Nhật vây quanh đánh điện om sòm, đề nghị lên tàu chữa cháy giùm. Thuyền trưởng tàu Dzhurma đã từ chối thẳng còn không chịu mở cửa boong và cửa xuống kho hàng. Những người bị kẹt dưới kho chết ngộp vì khói nằm co quắp. Sau khi chạy khỏi eo biển, thuyền trưởng điềm nhiên ra lệnh thảy xác chết xuống biển. Kho thực phẩm trên tàu cháy rụi nhưng cái gì còn xài được vẫn chất lên đảo cho tù ăn sau 2. Đoàn công voa tàu biển chở tù tới hải phận đảo Magadan thì lâm nạn. Kẹt băng cứng cả đám, ngay chiếc Krasin có bộ phận chuyên phá băng đi dẫn đầu cũng kẹt luôn! Thời tiết Bắc cực mùa này còn quá sớm, băng đã tan hết đâu mà đòi hải hành? Dù nhà nước Xô Viết có nôn nóng gởi “nhân công” ra Kolyma khai thác mỏ cũng chẳng chống lại nổi trời! Đợt tới ngày 2 tháng 5 vẫn chưa thấy hy vọng băng rã, đoàn tù được lệnh đổ bộ đại lên Magadan. Cũng may mà nhìn thấy nó dể dắt díu nhau vượt một cánh đồng băng mênh mông tìm đường vào bến tàu trên đảo. Chao ôi, họ run rẩy ngắm cơ sở đảo Magadan và càng thêm cám cảnh: Ngoài một toà nhà đá 2 tầng Dalstroi chỉ thấy lơ thơ vài căn chòi gỗ cũ mèm. Không cây, không bờ bụi, không cỏ và một bóng chim cũng không luôn! Ngoài băng tuyết trắng xoá chỉ còn đồi đá trọc mấp mô. Vậy mà đúng lớp lang vở kịch soạn sẵn, từ toà Dalstroi tiến ra nguyên một giàn nhạc long trọng dàn chào. Nhạc chơi hết quân hành hùng hồn đến luân vũ quay cuồng để gọi là chào đón “những con dân Xô Viết lầm lỡ được nhà nước cho đi cải tạo để có dịp tự cải hoá bằng lao động sản xuất”. (Dân Nga không phải đón mừng những bộ xương khô được chở tới lót nền cho đảo vàng Kolyma!). Thảm thương thay cho đám người dở sống dở chết từ Mạc Tư Khoa lê tấm thân tàn ra đây đứng lóng ngóng một dãy dài nghe bà con trên đảo trổi nhạc đón mừng! Còn gì thương tâm cho bằng thảm cảnh những thằng tù chính trị – chiếc tàu thứ nhất nhè đổ bộ toàn tù chính trị, không lẫn một dân chơi nào – thằng lành cõng thằng sống dở, chết dở, đứng co ro ngơ ngác ngó giàn nhạc Dalstroi? Nhiều người phải cõng thực sự vì tê bại trầm trọng quá đứng sao nổi cũng như không còn chân thì đứng cách nào? (Què cụt năm 1938 cũng đi đày Kolyma thiếu gì). Sau phút đón mừng lâm ly đó, những gì sẽ xảy ra? Có gì đâu? Sự thực cũng có nhưng cam đoan tôi viết ra là nhàm chán cùng cực, bạn đọc không buồn coi chắc chắn. Đại khái là sau khi trình diện làm thủ tục xong thì lên xe cam nhông đi cả trăm cây số, xuống đi bộ thêm ít chục cây nữa là vừa đến trại mới. Nhập trại là lãnh công tác tức khắc? Ngủ sẽ ngủ lều vải. Ăn thì cá khô, bánh khô và uống thì cả núi tuyết đấy! Trại mới mà. Nếu muốn có chút chi tiết thì có thể kể thêm vô mục khám sức khoẻ trong nhà lều Magadan, cởi trần truồng ra coi qua tiêu chuẩn người ngợm có thích ứng với công tác không mà kết quả chẳng thằng tù nào không thích ứng hết! Sau đó đến mục tắm tập thể và xét vì tắm là phải trần truồng nên những thứ gì không dính vào da là phải gởi nhà kho để cán bộ phụ trách “định liệu”. Phải nói là cú “định liệu” đợt tù đầu tiên mùa Xuân năm 1938 cán bộ phụ trách tiếp nhận Magadan đã trúng mối lớn! Nội khoản áo quần, giày dép của 1 chuyến tù cũng cả núi những áo vét da, áo khoác da cừu nguyên tấm Romanov, com-lê đen dạ thế chiến, áo lạnh dài tay, áo mặc nhà bằng nhung nõn, bốt da láng, bốt da bên trong lót nhung tơ, (đã nói đợt đầu toàn tù chính trị, không có dân chơi lẫn lộn vô mà). Xét về phương diện biết ăn sung mặc sướng thì đám tù Kolyma đầu Xuân 1938 có lẽ vô địch Liên bang Xô Viết. Họ đâu phải bần cố nông phản động hay Kulak? Tất cả từng là con cưng của chế độ, thành phần có gốc Đảng bự. Nào chủ bút, chủ nhiệm báo, Nào giám đốc xí nghiệp, công ty quốc doanh. Nào bí thư Đảng ủy Tỉnh, Miền, giáo sư Kinh tế, Chính trị. Trong đám gốc bự biết ăn xài, chưng diện đó có một vị chợt lên tiếng thắc mắc: “Này, mấy món đồ của tụi mình để lại đây ai coi nhỉ? Tắm xong thì,”. Hắn lập tức bị cán bộ phụ trách chỉnh: “Cứ vất đại ra đấy, ai mà thèm!”. Cán bộ hướng dẫn tắm còn bất mãn: “Đi tắm, đi mau! Ở đấy mà thắc mắc!” Mọi người bèn tồng ngồng bíu ríu đi tắm. Tắm xong thì hết thắc mắc đồ đạc, quần áo còn mất! Vì lúc được hướng dẫn trở ra đi một ngả khác, chớ đâu có trở lại nhà kho. Kế bên là phòng phát đồ. Dĩ nhiên là đồ nhà tù đúng tiêu chuẩn: Quần áo bà ba vải đen, sơ mi lao động, áo vét nhồi bông gòn (kiểu đi đày và không có túi). Mỗi kẻ còn được phát một đôi giày tứ thời da heo! Cái vụ đổi đồ nhà tù này đâu phải chuyện chơi. Mặc nó vô là thôi, tống tiễn cả một thời quá khứ! Nào địa vị, nào chức tước ngày xưa liệng bỏ cái một. Hét dám ho he chắc! Lúc bấy giờ họ xớn xác: “Ủa, đồ đạc..quần áo chúng tôi đâu cả?”. Có kẻ còn la lớn lên nữa, nhưng làm sao át nổi tiếng quát rất hách của sếp cán bộ: “Toàn thể nghe đây, Những thứ đó, ở nhà tụi bay! Yên lặng hết, ở Trại là không có cái gì hết, khỏi đồ đạc, quần áo! Ở Trại chỉ có một thứ là Cộng sản chủ nghĩa, hiểu chưa? Vào hàng gấp, Toán trưởng chuẩn bị. Đi đầu, bước! ” “À, ở Trại chẳng có gì hết. Chỉ có Cộng sản chủ nghĩa! Nếu chỉ có thế thì hết dám hó hé. Bề nào cũng là con cưng của Đảng, từng hiến dân cả đời cho chủ nghĩa. Còn phản đối cái gì?”
Nếu công voa có xe lửa, tàu biển thì dưới chế độ Xô Viết xe bò hay đi bộ cũng thành công voa vậy chớ. Dĩ nhiên không hiền lành như Tolstoi tả trong cuốn Hồi sinh, “rồi một ngày nắng ráo đoàn tù được lính áp giải từ khám ra ga!”. Tù giam trong khám Minusinsk năm 1940 cũng được đi chân vậy. Có điều trọn một năm họ bị giam cứng trong cát-xô, xà lim, có biết đi là gì đâu. Đến thở và nhìn còn muốn quên luôn! Đột nhiên họ bị đẩy ra sân bắt sắp hàng và ra lệnh: “Đi! Đi một mạch tới Abakan, có 24 cây số đường đất mà 12 người ngã lăn ra chết dọc đường!” Tính ra đến 500 mét mới có một mạng lăn ra chết – vì cuồng cẳng – đi hết nổi – đã lấy gì làm nhiều? Đâu có đáng đề tài sáng tác lớn. Một chương truyện cũng phí đi! Thì ra sống ở trong nghĩa địa con người ta cạn hết nước mắt là phải. Công voa tù đi chân đất mới thực sự là thủy tổ của mọi thứ công voa. Chẳng qua thời buổi văn minh cơ khí sử dụng được bất cứ một phương tiện vận chuyển gì là người ta từ bỏ nó vậy thôi. Chẳng đặng đừng mới xài lại lỗi chăn người, đại khái như hồi Lêningrad bị bao vây phải đưa tù đi một khoảng đường dài trước khi nhét lên toa súc vật. Hồi đó chỉ tù đàn bà mới được phép đi gần tù binh Đức, mấy thằng tù lớ quớ tới gần là có lưỡi lê xua qua ngay (bộ xáp tới gần để cướp giật đồ ăn sao?). Nhưng đàn ông đàn bà bình đẳng ở chỗ mạng nào té gục, không gượng dậy nổi để bắt kịp theo đoàn là được lượm cấp kỳ để thảy lên chiếc cam nhông tà tà chạy đoạn hậu. Sống hay chết chưa cần biết. Hãy cứ thảy lên, giày dép tịch thu lại. Công voa tù áp giải đường trường cho tới thập niên 1930 còn thiếu gì? Ngày nào chẳng có một đoàn từ khám tạm Kotlas đi Trại Ust-Vym đường xa 300 cây số? Tới trại Chibyu còn 480 cây số, đi 100 người một lượt. Mãi 1938 còn trọn công voa đàn bà trên các đoạn đường này. Trung bình mỗi ngay công voa người bò được cỡ 25 cây số chớ mấy? Thông thường công voa người bao giờ chẳng có chó trận mở đường và báng súng đoạn hậu. Đi đường xa, nghỉ lại dọc đường là phải xách theo nồi niêu soong chảo và thực phẩm. Sẽ có vài cái xe bò đi sau gánh đỡ những khoản này, không khác gì thế kỷ trước! Dọc đường đã có những trạm nghỉ tạm, nhà cửa của bọn Kulak bị đi đày bỏ lại thiếu gì. Có điều chỉ còn khung nhà, bao nhiêu cửa cũng bị thổi bay từ lâu. Ngược lại, thực phẩm dọc đường là mối lo chính. Nhà tù có bây giờ chịu phát thừa đồ ăn? Có trục trặc dọc đường đành chịu: Khẩu phần 2 ngày chia cho 3, hay 5 cũng xong. Thiếu thốn là thường trực, thỉnh thoảng mới phải nhịn khô. Năm 1940 đoàn công voa của Oleyev ở xà lan lên là được áp tải bộ băng ngang đồng hoang. Không có đồ ăn “đi” cùng cả đoàn đành nhịn. Bốn bên đồng trống, cỏ không mọc nổi thì biết xoay sở cái gì lót bụng? Đến nước sình nước phèn cũng lâu lâu mới có một vùng. Vốc lên uống cho đỡ khát thì cũng lâu lâu mới có một vũng. Vốc lên uống cho đỡ khát thì cả đoàn mắc chứng bệnh kiết lỵ nặng. Thằng nào ngã gục sang bên lề ráng chịu, chẳng ai buồn bận tâm (đồng hoang Taiga mà). Lâu lâu mới có một thằng gục được biết đến: Đó là lúc con chó trận nhào theo và lát sau thấy phất phơ vài mảnh giẻ rách nơi chiếc mõm tổ bố của con bẹc-giê. Đấy là tình trạng đoàn công voa người đi tới Chybyu. Bọn di Izhma tương đối còn dễ chịu hơn: Cũng là Taiga nhưng nơi đây thỉnh thoảng còn bắt gặp một vũng nước, một cái đìa có cá. Còn gì sung sướng hơn cho những thằng tù chết đói? Những chiếc quần được cởi ra làm lưới và bắt được con cá nào là ăn sống con đó. (Chính ở giữa vùng Taiga hoang vu, rùng rợn mỗi khi áp giải tù băng ngang, các cán bộ ưa giơ tay chỉ trỏ: “Đây là địa điểm mấy anh sắp phải khởi công làm đường sắt, từ Kotlas đi Vorkuta này…”) Vùng phía Bắc nội địa Nga công voa người vẫn là căn bản cho đến khi bọn Zek đắp xong đường xe, đường sắt và xuất hiện những toa chở súc vật màu đỏ, cả một cố vấn đặc biệt chỉ chở tù đi đày. Những vùng còn công voa người đi dài dài dĩ nhiên phải có quy luật, chỉ thị rành rẽ. Từ Knyazh Pogost đi Veslyana chẳng hạn, lúc băng ngang Taiga có thằng tù nằm gục, đi hết nổi thì phải làm người dừng lại chỉ để chờ một mạng tù ngất ngư? Hay một thằng tù gục té bắt một lính hộ tống ở lại chờ? Lấy đâu ra lính cho đủ? Vậy nên thằng nào nằm gục lính cũng chỉ dừng lại một lát. Cả đoàn cứ đi, lát sau lính thế nào chẳng bắt kịp? Hắn làm xong công việc rồi! Đoạn đường đi đày Karabas-Spassk áp giải đi tù chân tiện lợi quá: Có 35 cây số đi nội một ngay là vừa đẹp. Nhà tù tính toán vậy nhưng thực tế tù đi đày có bao giờ khoẻ mạnh? Một ngàn thằng run rẩy, lết từng bước té lên té xuống lại là vấn đề khác! Ngã gục ngay giữa hàng hoặc bết bát lọt xuống sau chót, lẽo đẽo một hồi rồi nằm luôn để có ai thèm để ý? Còn bực bội là khác. Những thằng mệt đứt hơi chết không sợ, chúng còn cầu! Nhưng gậy đập lại ngán vô cùng, kinh nghiệm mà. Do đó cứ múa gậy loạn đã là chẳng thằng nào dám thụt lại. Thế là có lệ lính đi hộ tống xa bằng tiểu liên (cỡ 50 mét, chạy là bắn bỏ (và lính đi áp giải gần, không cần võ khí gì ngoài gậy. Chậm chân là vụt bất kể đầu, mình, Sắp đặt vậy còn công voa người nào chậm trễ?) Xét ra Lãnh tụ tiên liệu trúng phóc! Tù đi đầy chỉ có thể giác ngộ bằng đòn. Đi bết bát là no đòn nên những thằng tưởng sắp đứt hơi gục đến nơi cũng đi phom phom và cũng vẫn tới đích như thường. Trừ trường hợp đập đến mấy nó cũng nằm lì một đống chịu trận vì thực sự không lết nổi được nữa thì đã có xe ngựa, xe bò đi đoạn hậu lãnh lượm lên. Với những thằng làm biếng cố chịu đòn để được liệng lên xe lại khác. Sẽ có hình, nhưng thực tế chẳng mấy khi xảy ra xét vì chịu nổi đòn đâu phải dễ? Đi đày còn đòi xe? Xe đâu ra, ngựa đâu! Ngựa không phải tốn lúa sao? 1948, 1950 còn thấy lác đác công voa người nhưng khoảng 1920 thịnh hành nhất. Tôi không sao quên nổi hồi còn bé tí thấy những đoàn tù lặc lè đi dọc các đường phố Rostov. Có một khẩu lệnh thật tức cười nên tôi nhớ mãi: “Tụi bay đi lộn xộn là nổ súng khỏi cảnh cáo!”. Khốn nạn, thời ấy lính giải tù đi chỉ có gươm chớ lấy đâu ra súng mà nổ? Tuy nhiên có thằng nào đi lệch lạc, trật ra ngoài hàng lối là bị nạt: “Đi ngay vô, không chém cổ giờ!”. Với tâm hồn thơ dại ngày đó, tôi chỉ nghe nồ đã ớn: nổ súng, chém cổ. Nghe thấy ghê, một nhát gươm vung dám một cái đầu rụng lắm! Ôi, quên làm sao nổi cảnh tượng thê thảm, não nề của toán tù già áp giải ngang Nizhini Novgorod tháng 2 năm 1936! Toàn những ông già miệt quê, những lão nông râu dài sinh sống miền bên kai sông Volga! Những con người cổ lỗ của một nước Nga xa xưa, quần áo mặc vải thô nhà dệt, không chấp nhận giày dép loẹt quẹt kéo lê những đôi guốc vòng quai vải dày cộm. Cả một nước Nga cổ lỗ đang chìm vào quên lãng. Đoàn tù già đang băng qua ngã tư thì từ đằng xa 3 chiếc xe hơi vùn vụt phóng tới cúp Công voa người lọm khọm dừng lại ngó đồng chí Chủ tịch Kalinin băng ngang cùng 2 xe hộ tống. Dĩ nhiên đồng chí chủ tịch chẳng thèm để ý.
Bạn đọc theo dõi tới đây, thì xin mời khẽ nhắm mắt. Có tiếng bánh xe sắt nghiến rầm rầm trên đường rầy: toa xe Stolypin đó. Âm thanh kéo dài ra là công voa chở súc vật, Phút nào cũng có. Ngày nầy sang ngày khác rầm rầm quanh năm! Bạn có nghe rì rào tiếng sóng vỗ mạn thuyền? Công voa xà lan đưa tù đi dài dài. Có tiếng động cơ rít róng: xe bít bùng đi vồ người, lượm người. Khốn nạn người bị bắt, tống giam và đưa đi đày thì nước này ngày nào, giờ nào chẳng có? Bạn lắng nghe nữa đi. Thấy rầm rì, ào ào như ong vỡ tổ còn gì khác hơn là âm thanh đặc biệt của những xà lim nhét tù chật cứng? Có tiếng la chói lói, tiếng khóc rú lên. Tiếng người, bị cướp đoạt, hãm hiếp, chịu đựng tra tấn thừa sống thiếu chết. Chắc bạn còn lạ gì mọi phương pháp di chuyển tù, biết bao nhiêu thứ công voa đi đày nhưng thảy đều giống nhau ở một điểm: Chúng vô nhân tính? Cũng như hệ thống khám tạm dọc đường thì thiếu gì hình thức, nào tiếp nhận nào đính chính nhưng có một nơi nào không đốn mạt? Có nhà tù TỐT bao giờ! Đau khổ là con người ta ráng sống vì hy vọng, biết đâu chừng chỗ sắp tới không đỡ khổ? Cũng dám có một Trại Cải tạo không đến nỗi nào chớ? Không có chuyện hão huyền đó đâu! Trại khốn khổ, tệ hại hơn nhiều…
Nào phải chỉ riêng vụ tàu Dzhurma? Mấy chục năm sau, các tàu Xô Viết lâm nạn giữa đại dương – dù không chở tù, không giấu giếm điều gì – cũng chối bỏ mọi đề nghị tiếp cứu của các tàu bạn ở chung quanh. Thà làm mồi cho cá mập chớ không thể “tiết lộ bí mật” hay để lộ những sơ hở kỹ thuật gây ra tai nạn. Đó là vấn đề Quốc thể!
Bên dòng Cửu Long – Khoảng 1950. Sơn mài. 61x126cm. Sưu tập Ngô Kim Khôi – nguồn manhhaiflickr
Từ thập niên 1930 đến 1970, là thời kỳ tranh sơn mài chiếm lĩnh thị hiếu của nhiều người yêu mến tranh nghệ thuật trang trí trong nhà. Từ tranh bảng gỗ cho đến sơn mài trang trí đồ nội thất cao cấp. Và rồi, tự dưng loại hình nghệ thuật này bắt đầu lung lay nhường chỗ cho loại hình sơn mài mang tính mỹ nghệ thị trường hơn.
Có vẻ khái niệm này mang tính phân hạng tranh sơn mài nghệ thuật và sơn mài mỹ nghệ. Nghệ thuật đòi hỏi sản phẩm tranh làm ra trau chuốt từng chi tiết theo lớp lang, phối màu và nguyên liệu sơn (xưa dùng sơn ta trích từ nhựa cây sơn có nhiều ở miền Bắc, ngày nay gần như không còn) cũng như kỹ thuật mài, đánh bóng làm cho bức tranh có giá trị về mặt nghệ thuật cùng công sức lao động của người hoạ sĩ đặt hết tâm hồn của mình vào bức tranh đó. Do vậy, giá trị của sơn mài nghệ thuật lúc nào cũng cao và tất nhiên giá trị đó không thể đáp ứng hoàn toàn được thị hiếu và túi tiền của người bỏ ra mua tranh.
Sơn mài mỹ nghệ thích hợp với một phần đại chúng, dĩ nhiên giá trị nó thấp hơn. Tuy vậy, đó không phải là một sản phẩm kém phẩm chất mà nguyên liệu chế tác sơn mài sau này được công nghệ hoá, nhất là nguyên liệu sơn (sau này nhiều nghệ nhân dùng sơn lacquer của Nhật) để tiết kiệm được nhiều công đoạn hoàn thành một tác phẩm. Ðương nhiên giá trị nó phù hợp với đa số người yêu mến loại hình sơn mài mong muốn có được một bức tranh trang trí trong nhà hoặc làm món quà tặng lưu niệm (sau này, sơn mài mỹ nghệ lại phân ra từng hạng: cao cấp, trung bình và bình dân để đáp ứng nhu cầu tài chánh của mọi người, nói chung là tiền nào của đó).
Tôi nhớ năm mười hai tuổi, tôi đã biết tới hai chữ sơn mài. Biết đây là biết tên của loại hình tranh mà ba tôi đặt hàng chú Năm Thành ở xóm trên thực hiện bộ tranh Bắc Trung Nam để tặng cho vị cố vấn Mỹ làm kỷ niệm nhân chuyện ông về nước. Bộ tranh ba tấm mang ba biểu tượng của ba miền: phong cảnh Hồ Gươm, Chùa Thiên Mụ và Lăng Tả quân Lê Văn Duyệt. Sau này đi làm báo, tôi biết rõ hơn về tranh nghệ thuật truyền thống này nhờ nhiều lần đi Tương Bình Hiệp thực hiện những bài phóng sự về làng nghề sơn mài nổi tiếng tại Bình Dương.
Ông Nguyễn Thành Lễ (Ảnh: Internet)
Ðến đây, tôi xin lan man đôi chút nguyên do tôi bắt đầu biết đến tranh sơn mài. Năm đó, vài tháng trước khi Hội nghị Paris đình chiến tạm thời hai miền. Trong bữa cơm chiều, nghe ba nói với má tôi rằng, viên sĩ quan cố vấn phòng An ninh quân đội đề nghị ba tôi và những thành viên gia đình di tản cùng với đoàn sĩ quan về Mỹ, ông đặc biệt muốn gia đình ba tôi theo ông về Hawaii quê nhà của ông, ở đó thanh bình, dễ sống, khí hậu ôn hoà. Ông cho ba tôi một tháng để suy tính có quyết định đi hay không để ông thu xếp.
Cuối cùng, ba tôi quyết định ở lại vì ông nội còn đó, nhà cửa còn đó, không biết cuộc sống xứ người ra sao và có thể là ba tôi yêu mến quê nhà không chừng nên không dễ dứt bỏ ra đi. Ðiều này tôi chỉ đoán mò khi tôi ở tuổi trưởng thành nhớ đến bộ tranh sơn mài Bắc Trung Nam đề tài đặt hàng của ba tôi với chú Năm Thành. Chuyện ba tôi quen biết chú Năm cũng là chuyện tình cờ. Nhà tôi ở xóm dưới, chú Năm ở xóm trên nhưng số nhà lại trùng nhau khiến thư từ thường xuyên bị lẫn lộn. Không có cách thay đổi được số nhà, ba tôi tìm đến nhà chú Năm đề nghị hễ có thư của nhà tôi thì đem vào giùm, còn nhà tôi nhận được thư nhà chú Năm thì mang ra giùm. Thế là ba tôi và chú Năm quen nhau. Tôi nhớ có lần ba tôi gọi chú là hoạ sĩ nhưng chú xua tay nói: “Tôi có học hành hoạ sĩ gì đâu, làm gia công sơn mài cho hãng sơn mài Thành Lễ ở Bình Dương, sẵn nhận làm tranh ngoài giờ kiếm thêm tiền chợ”.
Chú Năm khiêm tốn nói vậy, chứ hồi ba và tôi ra nhà chú nhận bộ tranh sơn mài, ba tôi thì xem ngắm bộ tranh đem tặng trước khi đóng gói, còn tôi thì nhìn ngắm hai bức tranh phong cảnh làng quê bến nước trang trí trong nhà chú. Hai bức tranh treo đối xứng trên vách tường phòng khách nhỏ, màu nâu đất làm chủ đạo lót nền cho màu vàng nhũ của ruộng lúa chìm trong ánh hoàng hôn, xa xa những cách chim chấp chới. Hai bức tranh trông hài hoà, còn đẹp như thế nào thì một đứa trẻ con như tôi làm sao hiểu được. Có lẽ, màu sắc phối hợp của hai bức tranh treo trong nhà chú, ảnh hưởng đến sở thích màu sắc của tôi khi sau này tôi chọn mua bộ tranh sơn mài ba tấm khổ lớn tại một cửa hàng đồ cũ. Bộ tranh có ký tên hẳn hoi và ghi năm sáng tác 1964.
Thái tử Sihanouk, vương quốc Cambodia thăm Công ty Thành Lễ vào đầu thập niên 1960 và xem họa sĩ Ba Tuyền vẽ tranh sơn mài. Góc trái là họa sĩ Lưu Đình Khải, hiệu trưởng trường Mỹ thuật Gia Định.
Tính ra, khi tôi mua bộ tranh sơn mài này đã có ba mươi năm tuổi. Nền sơn còn y nguyên, các lớp sơn nhũ không bạc màu. Tôi không rõ hoạ sĩ Nguyễn Văn Hải xuất thân từ đâu. Nhưng sau đó vài năm, một lần ghé lại cửa hàng đồ cũ tôi mua bộ tranh này thì chính người chủ cửa hàng hỏi tôi có muốn bán lại bộ tranh hồi trước tôi mua không với giá cao gấp năm sáu lần. Tranh sơn mài trước 1975, vào thập niên 1990 bắt đầu được săn lùng, kể cả bàn ghế tủ khảm tranh sơn mài đều được rao bán với giá cao ngất ngưởng, nhất là những sản phẩm sơn mài của công ty Thành Lễ.
Thành Lễ hồi trước 1975 đã nổi tiếng tại Sài Gòn và Bình Dương, nói đến sơn mài là hầu hết người ta nhắc đến Thành Lễ. Họa sĩ Nguyễn Thành Lễ tốt nghiệp trường Mỹ thuật Thủ Dầu Một khoảng năm 1940 chuyên về ngành sơn mài và chạm trổ. Ngay sau khi ra trường, ông cùng họa sĩ Trương Văn Thanh hợp tác lập nên xưởng sơn mài “Thanh & Lễ”. Ðến năm 1960, Nguyễn Thành Lễ tách riêng ra lập xưởng sơn mài Thành Lễ tại Thủ Dầu Một gồm 12 họa sĩ, 2 nghệ nhân vẽ kiểu, 20 người mộc, 60 người chuyên về sơn, 4 thợ chạm, 1 thợ cẩn xà cừ. Sau đó hai năm, ông Nguyễn Thành Lễ mở rộng quy mô sản xuất và thành lập công ty chuyên sản xuất và kinh doanh tranh sơn mài, thảm len, đồ nội thất khảm tranh sơn mài, đồ mỹ nghệ cao cấp, kể cả đồ gia dụng gốm sứ hoặc gỗ khảm sơn mài.
Trong bài “Sơn mài Thành Lễ, quá khứ vàng son” của tác giả Phạm Công Luận viết: “Trong một dịp tình cờ, chúng tôi xem được một trang lịch trong bộ lịch in màu năm 1962. Bộ lịch có tên là Công nghệ Việt Nam do một cơ quan nước ngoài bỏ vốn ra in. Tờ tháng Hai in hình nữ ca sĩ Kim Chi bên cạnh một chiếc chén, dĩa và ly chân cao bằng sơn mài cẩn trứng do nhà Thành Lẽ sản xuất. Lòng tô và dĩa màu vàng nhũ. Họa tiết đơn giản nhưng sang trọng trên nền trứng cẩn trắng ngà rất hài hoà. Những sản phẩm mỹ nghệ cách nay gần 50 năm thật tinh tế và không thua kém bất cứ sản phẩm mỹ nghệ cao cấp hiện nay”.
Ca sĩ Kim Chi bên cạnh một chiếc chén, dĩa và ly chân cao bằng sơn mài cẩn trứng do nhà Thành Lễ sản xuất trong bộ lịch “Công nghệ Việt Nam” năm 1962.
Theo Nguyệt san Quản trị xí nghiệp số tháng 10 năm 1972 xuất bản tại Sài Gòn, đến thời điểm đó, hãng Thành Lễ đã có những thành tích như sau: Huy chương và Hội chợ Munich 1964, huy chương bạc do Bộ Kinh tế (Nam Việt Nam) trao năm 1968, bằng cấp danh dự Hội chợ Paris 1969 và 1970, huy chương vàng Hội chợ Kỹ Nông Công Thương Sài Gòn 1970. Ngoài ra sản phẩm của Thành Lễ đã tham gia các cuộc triển lãm sơn mài tại Pháp (1952), Thái Lan (1954), Philippines (1956) và Hoa Kỳ (1959). Nhiều sản phẩm sơn mài và hàng mỹ nghệ cao cấp của công ty Thành Lễ được sử dụng trang trí trong những công trình sang trọng nhất Sài Gòn như phòng ăn Dinh Gia Long, Dinh Ðộc Lập, khách sạn Caravelle, khách sạn Majestic. Trên trang mạng Hồn Quê, tác giả Bích Xuân cho biết: “Tác phẩm sơn mài Thành Lễ được treo tại những dinh thự như tư dinh TT. Hoa Kỳ Richard Nixon, tư dinh vua Hassan II tại thành phố Ifrane (Maroc), lâu đài T.T Pháp Charles de Gaulle tại Colombey les II Eglises (La Boissière), OMS (Organisation Mondiale de la Santé) tại Thuỵ Sĩ.
Sau năm 1975, ông Thành Lễ cùng gia đình sang Pháp định cư. Từ đó, tranh sơn mài nghệ thuật và hàng mỹ nghệ cao cấp vắng bóng trên thị trường. Và rồi vài xưởng sơn mài hoạt động trở lại nhưng tiếc thay sản phẩm không thu hút như những hãng Thành Lễ hay Trần Hà ngày trước nữa.
Không có lạc đà, người dân Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất (United Arab Emirates) không thể sống nổi dưới mặt trời thiêu đốt ở sa mạc. Từ khi lạc đà trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của các tiểu vương quốc, người ta nhận ra nhiều điều khác nữa từ lạc đà, và đua lạc đà là một trong những điều ấy.
Một trường đua lạc đà lớn, tại UAE. Nguồn. incredible.travels2.blogspot.com
Với những nước Ả Rập, đua lạc đà đã trở thành sự kiện sáng giá ở UAE (United Arab Emirates, Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất), là môn thể thao truyền thống của các nước UAE, lôi cuốn nhiều du khách tới UAE hằng năm.
Những lạc đà được chọn để huấn luyện đua. Nguồn. FaisalKhaldi
Tuyển chọn lạc đà
Việc chọn lạc đà cho các cuộc đua rất kỹ càng. Chỉ có vài loại lạc đà thích hợp để đua. Dromedary là giống lạc đà từ Bắc Phi và bán đảo Ả Rập. Giống này chỉ có một bướu, đã được chọn để chạy đua tại UAE. Lạc đà Dromedary cao hơn và có thể vượt qua các điều kiện thời tiết tệ hại nhất.
Ngoài ra, còn có các giống lạc đà khác như: Mahaliyat, Sudaniyat, Omaniyat và Muhajanat cũng được chọn đua.
Sau một thời gian huấn luyện, lạc đà bắt đầu tham gia chạy đua khi được 3 tuổi và tuổi đua của chúng chỉ kéo dài khoảng 2, 3 năm. Riêng lạc đà cái có thể lâu hơn 2 năm. Thông thường, lạc đà có thể chạy nhanh tới 65km/giờ, và tốc độ bình thường cũng đạt 40km/giờ.
Những lạc đà chuẩn bị cho cuộc đua. Nguồn. incredibletravels2.blogspot.com
Tuy thời gian đua ngắn nhưng việc huấn luyện và chuẩn bị để thành một lạc đà đua lại rất tốn thời gian. Người ta tính, phải cần tới 3 tháng để chuẩn bị và huấn luyện một con lạc đà có thể tham gia cuộc đua. Suốt thời gian này, lạc đà được ăn uống theo một thực đơn dinh dưỡng đặc biệt với sữa bò tươi, lúa mạch, chà là khô, cám gạo và tập chạy để tăng sức.
Người dân UAE có cách tuyển chọn lạc đà rất thú vị là qua cỡ răng để xác định tuổi và lúc lạc đà 2 tuổi, bắt đầu được huấn luyện chạy đua. Khi được chọn để đua, lạc đà sẽ được đánh dấu bằng loại sơn đặc biệt. Và, lạc đà không được đánh dấu, tuyệt đối không được dự thi.
Tại UAE có hơn 15 trường đua lạc đà khác nhau. Trong đó, có 3 trường đua chính là: Al Marmoum ở Hội Ðua Lạc Ðà Dubai; Al Wathba ở Abu Dhabi và Al Sawan tại Ras Al Khaimah.
Al Marmoum là trường đua lớn nhất tại UAE, nằm ở khu Al Lisaili, gần làng cổ Al Marmoum, cách Dubai chừng 30 phút lái xe. Cuộc đua lạc đà được tổ chức tại đây mỗi năm là một phần thuộc lễ hội di sản cổ xưa của vùng này và có giá trị nhất trong các cuộc đua ở UAE. Trong trận vô địch đua lạc đà hằng năm tại đây, các đội thắng giải được nhận cúp vô địch, xe hơi sang trọng và tiền mặt lên tới 80 triệu dirhams (2.97 triệu đô Mỹ). Các con lạc đà chiến thắng sẽ được các gia đình hoàng gia mua lại với giá cao ngất ngưởng.
Đua lạc đà tại các nước Bắc Phi. Nguồn. news.cgtn.com
Diễn tiến cuộc đua
Các cuộc đua lạc đà lớn thường được tổ chức từ sáng sớm vào cuối tuần, giữa tháng 10 và tháng 4 hằng năm. Ðây là lúc thời tiết tương đối ôn hòa, thích hợp để tổ chức đua. Trước khi cuộc đua chính thức bắt đầu, người ta cho những con lạc đà chạy một vòng rút ngắn để làm ấm và khởi động cơ thể.
Một lần đua, có từ 20-60 lạc đà tham dự. Những con lạc đà được mặc áo màu sáng để dễ nhận diện. Người ta sắp lạc đà thành hàng sau cổng dài, khi tiếng còi xuất phát vang lên, cổng sẽ mở ra và các con lạc đà bắt đầu đua. Các huấn luyện viên và chủ của lạc đà chạy theo sau trên xe SUV.
Đua lạc đà tại UAE, khi còn nài trẻ em. Nguồn. news.cgtn.com
Về phần khán giả (coi miễn phí) có thể dùng ống nhòm để theo dõi cuộc đua hoặc quan sát qua các màn ảnh TV khổng lồ. Nếu muốn, họ cũng có thể sử dụng các xe bus chạy song song theo vòng đua để nhìn lạc đà gần hơn.
Theo quy định, đường đua của lạc đà dài 10 km, và cuộc đua chấm dứt trong vòng 10-15 phút. Một điều lý thú là đua lạc đà khác với đua ngựa ở chỗ “nài”. Trong các cuộc đua lạc đà đầu tiên tại UAE, người huấn luyện và người chủ lạc đà cột một đứa trẻ trên lưng lạc đà để làm “nài”. Nhưng từ năm 2001, chính phủ UAE cấm hẳn việc dùng trẻ em làm “nài” lạc đà đua. Với kỹ thuật tân tiến mới, người ta chế tạo ra “nài rô bô” thay thế. “Nài rô bô” có trọng lượng như một đứa trẻ, làm bằng nhôm mỏng và người huấn luyện có thể kiểm soát lạc đà của mình bằng remote, GPS của “nài rô bô” giúp huấn luyện viên và chủ lạc đà theo dõi tốc độ, vị trí chạy của lạc đà trong suốt vòng đua.
Nài rô bô, điều khiển bằng remote tại UAE hiện nay. Nguồn. science.howstuffworks.com
Lời kết
Ðua lạc đà là môn thể thao mang lại nguồn lợi lớn cho UAE, vì thu hút các đoàn khách du lịch đông đảo tới UAE trong mỗi năm.
Ngày nay đua lạc đà cũng là môn thể thao hấp dẫn không kém đua ngựa tại các nước Tây Á, Bắc Phi, Nam Phi, Pakistan, Mông Cổ…
Riêng tại Úc, các cuộc đua lạc đà cũng được tổ chức tại Alice Springs. Ðây là cuộc đua tổ chức hằng năm, có giải thưởng lớn. Giải thưởng hạng nhất cho các cuộc đua lạc đà tại Úc là: “The Boulia Desert Sands”, trị giá 500,000 đô Úc tại Queensland.
Ngược dòng lịch sử, đua lạc đà từng được tổ chức như một môn thể thao truyền thống ở Trung Ðông trong thời Trung cổ, vào thế kỷ thứ 7, trong các lễ hội của dân Ả Rập.
Cuộc đua lạc đà với nài rô bô tại UAE hiện nay. nguồn.dayoutdubai.ae
Chiếc xe bán hủ tíu mì của chú thím Xồi không biết đã có mặt nơi đầu ngõ từ bao giờ. Mỗi ngày, khoảng 3, 4 giờ chiều chú thím cùng các con, người này đẩy xe, người kia lom khom khiêng bàn ghế cùng những vật dụng cần thiết gom về một chỗ. Chỉ trong chốc lát thôi, chiếc xe đã được định vị hẳn hòi với mái che, ghế ngồi và nồi nước lèo bốc khói thơm lừng giữa một khu phố lao động ồn ào, đông đúc.
Chỗ ngồi cho thực khách là những cái ghế sắt be bé với mặt ghế vuông vức được làm bằng gỗ. Quanh chiếc xe cũng được gắn thêm hai miếng gỗ dài để làm bàn ăn “dã chiến”. Trong lúc chờ đợi, khách khứa có thể bâng quơ đưa mắt ngắm nghía những tranh cảnh sơn thủy hay những điển tích trong truyện Phong Thần, Tam Quốc được vẽ sắc nét và sinh động trên các ô kính được lau chùi sáng rực.
Những sợi mì được chính tay chú thím chuẩn bị tại nhà từ buổi sáng, buổi trưa và được đánh thành từng vắt nhỏ. Có 2 loại, mì sợi lớn và sợi nhỏ luôn được “áo” với bột mì sống cho khỏi bị dính. Những sợi hủ tíu trắng phau và bóng lưỡng nằm ngoan ngoãn trong cái nia mềm mềm được kết bằng những sợi lác. Thực khách có thể lựa chọn mì sợi lớn, sợi nhỏ hay ăn kèm với hủ tíu mà thường được gọi nôm na là “hủ tíu mì”. Món mì khô hay hủ tíu khô được ăn kèm với chén nước súp nho nhỏ điểm chút hành, hẹ cũng được nhiều người ưa thích.
Hai vắt mì hay một nhúm hủ tíu được trụng kỹ trong nước sôi, vài ba lát thịt heo thái mỏng như lá mạ trải lên trên, một chút tỏi phi, tóp mỡ và vài cọng cải ngọt cộng thêm ít nước lèo đã sẵn sàng mang đến cho thực khách một món ăn hấp dẫn, bốc khói qua cơn đói lòng với hương vị tuyệt vời, khó quên. Miếng bánh tôm tròn vo, mỏng mảnh, nhỏ nhắn với con tôm chấy giòn tan làm tăng thêm khẩu vị. Nước lèo được hầm với xương heo, tôm khô và củ cải là linh hồn của tô mì. Mỗi nơi có một “bí quyết” nấu nướng và nêm nếm riêng biệt của gia đình nên luôn thu hút được mớ thực khách “ruột” của mình. Nước lèo do chú thím nấu nhìn trong vắt, có vị ngọt thanh, thơm và beo béo. Chai xì dầu nắp màu xanh lá cây, chai giấm Tiều nắp đỏ và hũ ớt tươi cắt lát ngâm trong giấm chua ngọt là những thứ không thể thiếu trên bàn ăn.
Cô con gái đầu lòng xinh đẹp cũng học hỏi và được thuần thục tay nghề từ cha mẹ của mình. Đôi tay nhỏ nhắn với những động tác hết sức quen thuộc và “nhà nghề” đã tạo thành những chiếc hoành thánh be bé gói thịt heo xay nhuyễn trông vô cùng đẹp mắt.
Ngày trước, các sinh hoạt buôn bán thường mang tính cách gia đình. Mọi thứ hầu hết thường được làm tại nhà, hợp vệ sinh và không có tẩm hóa chất hay thêm chất phụ gia tạp nhạp như bây giờ. Họ sợ mất đi lượng khách trung thành đã hết lòng ủng hộ thương hiệu của mình. Với tinh thần trách nhiệm và lòng thiện tâm, họ đã khéo léo giữ chân khách và duy trì bảng hiệu được dài lâu. Cuộc sống ngày nay đã khác, tâm tình con người cũng khác đi nhiều lắm.
Tuổi thơ tôi gắn liền với những sinh hoạt mua bán nhộn nhịp nơi con ngõ hẹp. Ở đó, có những tiếng rao, tiếng mời chào và những nụ cười thân ái. Họ ở gần nhau, được gặp mặt mỗi ngày và trở thành hàng xóm láng giềng thân thiết cùng góp phần tạo nên một nhịp sống hiền hòa giữa một đô thị trù phú. Tất cả những ảnh hình quen thuộc như đã đi vào trong cõi nhớ. Có lẽ tâm hồn tôi chông chênh, trái tim tôi mong manh nên bao giờ lòng tôi cũng ngổn ngang và bồi hồi tiếc nuối những ngày tháng cũ, nâng niu niềm vui và nhớ thương những nỗi buồn dù đã đục màu sông. Cái tuổi thơ ở Sài-Gòn ngày xưa cùng những sinh hoạt nhộn nhịp đã xa xôi ngót nửa thế kỷ nhưng trong tôi vẫn là của ngày hôm qua, của những bóng mát cây xanh ven đường và những trìu mến thân yêu chưa hề vơi cạn.
Nghệ sĩ Năm Châu (1906-1977) tên thật là Nguyễn Thành Châu, là con chim đầu đàn, đã khai sáng và đóng góp nhiều công lao cho sân khấu cải lương miền Nam từ thuở sơ khai cho đến ngày nhắm mắt lìa đời. Ông là diễn viên, soạn giả kiêm đạo diễn (thầy tuồng), giáo sư kịch nghệ của trường Quốc gia âm nhạc Sài-Gòn và tiên phong trong lãnh vực chuyển âm, lồng tiếng cho các cuốn phim nước ngoài khi nghệ thuật này mới hình thành ở miền Nam trong thập niên 50 và 60.
Bảng quảng cáo vở tuồng “Vợ và tình”
Vở ca kịch tình cảm xã hội “Vợ và Tình” của soạn giả Nguyễn Thành Châu được đưa lên sân khấu “Con Tằm” lần đầu tiên hồi cuối thập niên 40. Theo thời gian, vở tuồng được nhiều lần cải tiến và ban “Việt Kịch Năm Châu” trình diễn trở lại tại rạp Nguyễn Văn Hảo hồi tháng 6.1951. Trong lần trao giải Thanh Tâm nghệ sĩ triển vọng nhứt vào năm 1959, “Vợ và tình” được hân hạnh ra mắt với các nghệ sĩ Thanh Nga, Lan Chi và Hùng Minh. Đến năm 1966, nghệ sĩ Năm Châu thành lập gánh hát “Ánh Chiêu Dương” và cho tái diễn vở hát “Vợ và Tình”. Thập niên 90, vở tuồng được dàn dựng lần nữa với lớp nghệ sĩ trẻ sau này.
Vợ và tình
Nhà điêu khắc Trần Tích Lương mang mảnh bằng tốt nghiệp trường Mỹ thuật về quê nhà để ra mắt người thân. Những bữa tiệc linh đình trong phạm vi gia đình cũng như trong bạn bè khoản đãi kéo dài từ đêm này qua đến tối khác. Trên bàn, thức ăn, thức uống ngổn ngang, rượu thịt ê hề. Không gian ấm cúng, phòng ốc sang trọng cho đến những loài hoa thiên nhiên thơm ngát được bài trí đẹp mắt càng tăng thêm sự trưởng giả, giàu sang. Nhưng rực rỡ hơn hết là những bông hoa biết nói, những bông hoa kiêu sa hừng hực lửa yêu đương.
Duyên dáng và xinh xắn nhất trong số ấy là Thu. Thu sở hữu một nhan sắc mặn mà, một gương mặt gợi cảm, thu hút người chung quanh từ cái nhìn đầu tiên. Mỗi một nụ cười, từng cái liếc mắt đưa tình của Thu cũng làm cho chàng điêu khắc trẻ trung kia bối rối, vụng về và tan chảy. Thu là người phụ nữ từng trải trong cuộc đời cũng như giàu kinh nghiệm yêu đương. Vào một ngày không hẹn trước, trái tim Lương đã giao trọn cho Thu. Họ là đôi uyên ương khắng khít, mặn nồng. Thu đã dạy cho Lương nhiều điều trong cuộc sống cũng như trong chốn tình trường. Nhờ có Thu, cái tên của nhà điêu khắc trẻ trung ngày càng được nổi bật trong cái xã hội phong lưu và sự nghiệp của chàng đi lên như diều gặp gió.
Được tắm mãi trong dòng sông ngọt nước, được ngập chìm trong cái hạnh phúc do người sắp đặt sẵn, những tưởng ai nấy cũng sẽ bằng lòng. Nhưng món ngon đến mấy được ăn mãi cũng chán, xinh đẹ như Bao Tự nhìn mãi cũng nhàm. Sau 4 năm chung sống, Lương dứt áo ra đi không một lời từ tạ! Gia đình Lương gọi chàng về để lo việc hôn nhân. Phượng là một thiếu nữ xinh đẹp, lớn lên ở nhà quê và chỉ mới vừa 18 tuổi. Phút đầu tiên gặp Phượng, Lương đã có cảm tình và quyết định đi xa hơn nữa. Cái đám cưới rình rang của hai gia đình môn đăng hộ đối đã khiến cho làng trên xóm dưới rộn rã một niềm vui. Hai vợ chồng trẻ đẹp, xứng đôi và tươi tắn như Tiên Đồng, Ngọc Nữ. Trai tráng trong làng, ai nấy cũng háo hức được làm con rể gia đình quyền thế. Con gái dưới thôn ngày đêm mơ ước được trao thân cho nhà điêu khắc bảnh bao, trẻ tuổi.
Nghệ sĩ Năm Châu và Phùng Há
8 tháng hạnh phúc lặng lẽ trôi nhanh. Dù hết mực thương yêu chồng nhưng Phượng không đủ kinh nghiệm và hiểu biết để làm vợ. Phượng là tiểu thư khuê các, tuổi đời còn quá trẻ và được nuông chiều từ tấm bé, nên Phượng chỉ thích được chồng nâng niu như trứng, ve vuốt như hoa và nuông chiều như những ngày còn sống bên cha mẹ. Dù đang ngập tràn hương yêu với Phượng, nhưng Lương không thể quên được hình bóng của Thu. Hình như cái tình xưa vẫn còn trong tim, trong óc của người trai trẻ. Thì ra, tình yêu với Thu chưa hề chết trong Lương và chỉ lẩn khuất đâu đó rồi lại hiện về như một cơn nghiện.
Một ngày kia, Thu xuất hiện và quyết tâm giành lại người mình yêu. 8 tháng cách xa, tình yêu trong Thu vẫn nồng nàn, say đắm như thuở ban đầu. Là người phụ nữ bản lĩnh, cộng với sự xuất hiện đúng lúc, tình cũ không rủ cũng tới, Thu đã thắng cuộc. Lương lạnh lùng khoác áo ra đi, mặc cho bao lời van nài não nề của người vợ trẻ:
– Mình đừng đi, mình ơi! Em sẽ tập yêu chồng, sẽ tập tành làm vợ. Mình cho em thời gian, em sẽ cố gắng để không phụ lòng yêu thương của mình đâu … Hay là cả hai hãy ở lại đây, em chấp nhận tất cả, miễn là mình đừng rời xa em, đừng xa em nghen mình!
Nhìn theo xa xa, ai buông lái
Mà đi, đi sao không dừng lại
Để người chờ như hoa héo màu phai (*)
Một buổi sớm mai, báo chí Sài-Gòn và lục tỉnh đưa lên trang nhất một hàng chữ in đậm nét “vì bị phụ tình, thiếu nữ 18 tuổi tự tử bởi nhiều vết dao đâm xuyên qua lồng ngực”.
Hơn nửa thế kỷ trôi qua, những vở tuồng có giá trị nghệ thuật với lời ca phong phú, lời đối thoại chọn lọc mỗi ngày một hiếm hoi và cuộc sống bây giờ đã làm đổi thay mọi thứ. Khán giả yêu chuộng cải lương tiếc nuối cho một ngành nghệ thuật đã phôi phai và bị bỏ quên giữa cái xã hội nhập nhằng kim tiền, nhân nghĩa chỉ còn lại một con số không. Dòng sông cũ đã xuôi chiều ra biển lớn và bỏ lại nơi này những tiếc nhớ mênh mông.
TV
(*) trích nhạc phẩm “Mong chờ” của nhạc sĩ Xuân Tiên
LỜI NÓI ĐẦU: Sau khi cùng gia đình vượt biển thành công rồi được định cư tại Úc-đại-lợi năm 1982, cho tới nay, đôi khi ban đêm tôi vẫn còn những giấc mơ về ngày 30 tháng Tư 1975, về thời gian ở tù cải tạo, về chuyến vượt biển tìm tự do. Sau này tìm hiểu, tôi được biết những cơn ác mộng này là hậu quả tâm sinh lý chung mà rất nhiều người đồng cảnh ngộ với tôi mắc phải. Với không ít cựu sĩ quan QLVNCH ở lại, hoặc bị kẹt lại sau ngày mất nước, nhắc tới ngày 30 tháng Tư 1975 là khơi lại tủi nhục đắng cay, nhắc tới hai chữ “cải tạo” là nhớ lại dĩ vãng kinh hoàng, nhắc tới chuyến vượt biển năm xưa là rùng mình ớn lạnh. Tôi là một trong số ấy. Nhưng rồi càng thêm tuổi, tôi càng vơi bớt hận thù, như thể cho tâm hồn được thanh thản trước khi đáp “chuyến tàu hoàng hôn”… Viết một cách chính xác, tôi vẫn căm ghét chế độ CSVN, vẫn giữ lời thề không đặt chân trở lại một khi quê hương còn bóng cờ đỏ, nhưng với những con người đã đày đọa, hành hạ mình trước kia, tôi cho rằng họ chỉ là những người sinh ra dưới một ngôi sao xấu – ngôi sao vàng trên nền cờ đỏ. Một khi thân xác tôi không bị nằm lại ở trại cải tạo, không bị chôn vùi dưới lòng đại dương, tôi vẫn cảm thấy mình may mắn hơn những con người ấy. Bên cạnh đó, tôi không bị đưa ra miền Bắc, không phải sống ở những trại cải tạo khủng khiếp nhất trong Nam (trừ mấy tháng ở Phú Quốc), không dám trốn trại…, vì thế thiên hồi ký của tôi sẽ không phải một bản cáo trạng về tội ác của chế độ CSVN, không phải một thiên anh hùng ca về những tấm gương can trường, bất khuất, cũng sẽ không có những tình tiết ly kỳ, rùng rợn, mà chỉ là chuyện kể – chuyện buồn cũng như chuyện vui (thật vậy, trong tù cộng sản vẫn có thể có “chuyện vui”), chuyện vượt biển giỡn mặt tử thần – không ngoài mục đích chia sẻ với anh em Không Quân, bằng hữu và độc giả một quãng đời đã qua, cách riêng những ơn lành Thượng Đế thương ban cho một “đứa con hoang đàng” sám hối vào giờ thứ 25. Tất cả mọi nhân vật, tình tiết trong thiên hồi ký này đều có thật; riêng những mốc điểm thời gian có thể chỉ chính xác tương đối, và tên tuổi các nhân vật đôi khi sẽ được viết tắt, hoặc dấu kín vì những nguyên nhân tế nhị.
* * *
PHẦN I: Nhất Nhật Tại Tù CHƯƠNG 1 – Thành Ông Năm Gần trưa ngày 29 tháng Tư năm 1975, sau khi Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III cho lệnh di tản, cùng với những anh em Không Quân còn kẹt lại ở Biên Hòa sau khi đốt phi trường vào chiều ngày 28/4, tôi chạy về Sài Gòn, nơi tôi đã đưa vợ con về từ một tuần lễ trước để tránh pháo kích, tá túc nhà bà ngoại ở đường Trương Minh Ký, Phú Nhuận. Mấy ngày sau, Ủy Ban Quân Quản thành Hồ ra lệnh trình diện đăng ký, tôi và người cậu út, một Đại úy An Ninh Quân Đội, rủ nhau tới địa điểm đăng ký ở giáo xứ Bùi Phát, thấy tay ký giấy chứng nhận đăng ký là một gã “30 tháng Tư” – em trai một ông dân biểu VNCH (ông này trước kia hỏi người dì Út của tôi vốn là một hoa khôi Trưng Vương nhưng bị từ chối) – tôi và ông cậu nhìn cái bản mặt dễ ghét và cung cách ta đây của hắn, chán nản bỏ đi; sau đó tới đăng ký tại một ngôi biệt thự lớn ở đường Huỳnh Quang Tiên, nghe nói nguyên là của “Cậu Mười”, em trai bà Thủ tướng Trần Thiện Khiêm. Nguyên nhân tôi ở lại VN kể ra thì dài dòng, nhưng tóm lại cũng do số mệnh. Cả tuần lễ trước ngày 30 tháng Tư, nhiều gia đình trong họ ngoại của tôi đã bồng bế nhau ra Phước Tỉnh, nơi có nhiều bà con và vị linh mục chánh xứ là một người trong thân tộc. Khi mẹ tôi đem việc này ra bàn thì bị tôi gạt ngay, bởi tôi không muốn… bỏ chạy! Chẳng phải vì bản thân là một sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị nên tôi yêu nước, chống cộng hơn người khác, mà chỉ đơn thuần vì khi ấy tôi không tin mình sẽ mất trọn miền Nam mà ít ra cũng giữ được Vùng 4. Tôi muốn ở lại để cùng mọi người tử thủ! Thêm vào đó, mẹ tôi cũng hơi dùng dằng vì có ý chờ tin tức về một thằng em của tôi phục vu tại Tiểu Khu Pleiku, mất tích trong cuộc di tản bằng liên tỉnh lộ 7, nên cuối cùng cả gia đình tôi không ai đi. Một ngày sau khi ông Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng, một người cậu, một người dượng của tôi, cả hai đều mang cấp bậc Trung tá phục vụ tại cơ sở đầu não, sau khi bị Mỹ “bỏ rơi” (đúng ra là một số địa điểm đáp của trực thăng Mỹ đêm 29/4 bị hủy bỏ vào phút chót), sử dụng xe hơi (dân sự) đi ra Phước Tỉnh, sau đó cùng gia đình, họ hàng vượt thoát bằng ghe đánh cá ra tàu Mỹ, lúc đó một số vẫn còn chờ bên ngoài hải phận quốc tế. Hai ông có rủ gia đình tôi đi theo, nhưng phần vì đầu óc tôi còn đang bị sốc nặng trước việc Sài Gòn thất thủ, phần vì vợ tôi thương tội bà mẹ già đơn chiếc, chúng tôi đã không có được một quyết định sáng suốt! Nhưng xét cho cùng, không phải chỉ mình tôi mà trong đám bạn thân trong Không Quân cũng có ít nhất ba thằng chẳng thiết tha gì tới việc bỏ nước ra đi. Người thứ nhất là nhà thơ Ngọc Tự, tức Trung úy Trần Ngọc Tự, Thư ký tòa soạn đặc san Lý Tưởng của Bộ Tư Lệnh Không Quân. Tự với tôi là bạn thân từ nhỏ, ở cùng xóm, cùng học trường Luật, cùng đi Khóa 3/69 Thủ Đức, cùng tình nguyện về ngành Chiến Tranh Chính Trị Không Quân. Trần Ngọc Tự (sau khi đi cải tạo 6 năm) cũng là một trong những văn nghệ sĩ bị chế độ CSVN bắt giam và đưa ra tòa trong vụ án mà báo Công An thành Hồ gọi là “Những những tên biệt kích cầm bút”, gồm Doãn Quốc Sĩ, Hoàng Hải Thủy, Dương Hùng Cường, Lý Thụy Ý, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Khuất Duy Trác (ca sĩ Duy Trác), và Trần Ngọc Tự. Kế đến là Nguyễn KD, Trung úy Quân Cảnh SĐ3KQ, cũng xuất thân Khóa 3/69 Thủ Đức; tay bạn từng một thời cùng tôi vi vút ở xứ Bưởi. Hắn có vợ làm trong cơ quan DAO (thuộc Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ) nhưng quyết định ở lại. Sau cùng là nhà thơ Phan Lạc Giang Đông, Trung úy Trưởng Ban Giáo Dục Chính Trị BTL/KQ. Đông sinh năm 1940, khá lớn tuổi hơn tôi và Trần Ngọc Tự, tốt nghiệp cử nhân Sử Địa tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, từng phục vụ tại tòa soạn Lý Tưởng BTL/KQ với cấp bậc Hạ sĩ I trước khi theo học Khóa 6/69 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Nguyên nhân trước kia Phan Lạc Giang Đông không được theo học khóa sĩ quan là vì hắn là em trai của Đại úy Biệt Động Quân Phan Lạc Tuyên, người tham gia cuộc đảo chính hụt năm 1960 cùng với Trung tá Nguyễn Chánh Thi, Trung tá Vương Văn Đông, sau đó chạy sang Căm-bốt rồi theo cộng sản. (Chú thích 1) Tôi thân với Phan Lạc Giang Đông vì trong thời gian học khóa 8 Sĩ Quan Căn Bản Chiến Tranh Chính Trị tại Đại Học CTCT Đà Lạt năm 1970, hai thằng thường cùng nhau “trốn học”, dung dăng dung dẻ ngoài phố với hai người đẹp vốn là hai cô bạn thân; và sau này khi tôi thuyên chuyển từ Pleiku về Biên Hòa, Đông rủ tôi cùng ghi danh Ban Báo Chí ở Đại Học Vạn Hạnh.
Phan Lạc Giang Đông (bên trái) và người viết, Đà Lạt, 1970
Nhưng tới khi Ủy Ban Quân Quản thành Hồ ra lệnh trình diện “học tập cải tạo” tại nhiều địa điểm khác nhau tùy theo địa chỉ cư trú, chỉ có tôi và Trần Ngọc Tự trình diện tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn. Sở dĩ ở đây tôi nhắc tới Trần Ngọc Tự, Nguyễn KD và Phan Lạc Giang Đông là vì cả ba sẽ tái xuất hiện trong thiên hồi ký này.
* * *
Đám cán bộ cộng sản làm thủ tục trình diện học tập tại Đại Học Văn Khoa là người của Ủy Ban Quân Quản thành Hồ, đa số là dân Nam kỳ, tuy tay nào cũng mặt lạnh như tiền nhưng ăn nói khá lịch sự khiến chúng tôi cũng hơi yên tâm. Nhưng khi màn đêm buông xuống, một đoàn xe mololova tới nơi với đám nón cối nói đặc giọng Bắc 75, khẩu AK lăm lăm trên tay, chúng tôi được lệnh leo lên, cấm nói chuyện, vải bạt được phủ xuống, cột kín lại thành xe bít bùng, thì sự yên tâm ấy đã nhường chỗ cho nỗi lo sợ. Đoàn xe chạy vòng vòng, quẹo tới quẹo lui, cốt để chúng tôi không thể đoán biết mình bị đưa đi đâu, cuối cùng, gần sáng mới tới một doanh trại ở Hóc Môn, nguyên là cơ sở của Liên Đoàn 5 Công Binh Kiến Tạo, QLVNCH. Sau vài ngày sống chen chúc ở khu vực trước kia là các cơ sở thuộc Bộ chỉ huy Liên Đoàn, làm tạp dịch linh tinh, chúng tôi được lệnh xếp hàng một đi bộ tới khu vực trước kia là khu gia binh. Trên đường đi chúng tôi thấy khu nào cũng có người mặc quần áo dân sự lố nhố bên trong, sau này mới biết đây những sĩ quan cấp Đại úy trở lên, bị gọi trình diện học tập trước cấp Trung úy, Thiếu úy. Tôi và Trần Ngọc Tự luôn luôn “nắm áo” nhau, như chúng tôi đã làm trước kia khi từ TTHL Quang Trung lên Trường Bộ Binh Thủ Đức, và được ở cùng trung đội, thằng nằm giường trên thằng nằm giường dưới. Tới khu gia binh, theo lệnh của đám cán bộ, cứ 10 người vào một gian nhà, và trở thành một “tổ”, nhiều tổ thành một “đội”.
* * *
Nhờ bị gọi trình diện học tập sau cấp Tá và Đại úy, khi chúng tôi tới nơi thì đã có sẵn nhà bếp, giếng nước, cầu tiêu… do các đàn anh để lại. Sau khi đã “an cư”, qua ngày hôm sau chúng tôi bị lùa ra sân, ngồi dưới đất để nghe viên thủ trưởng Đoàn 775 (đơn vị coi tù cải tạo ở Thành Ông Năm) chính thức công bố “chính sách 12 điểm đối với ngụy quân ngụy quyền” của Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam VN, theo đó chúng tôi “được cách mạng khoan hồng tha tội chết” đưa vào đây “học tập cải tạo để trở thành người công dân lương thiện, khi nào tiến bộ sẽ được về xum họp với gia đình, góp phần xây dựng đất nước”. Khi nghe viên thủ trưởng tuyên bố từ nay chúng tôi được gọi là các “cải tạo viên”, sự nghi ngờ của tôi lúc bị đưa lên xe molotova bít bùng càng có thêm sức thuyết phục: thời gian “học tập cải tạo” chắc chắc sẽ không chỉ có 10 ngày, và rồi đây chúng tôi sẽ bị đưa đi lao động khổ sai ở một nơi nào đó chứ không “nghỉ mát” dài dài ở khu gia binh chật hẹp này! Những gì xảy ra sau này cho thấy tôi đoán không sai: Thành Ông Năm chỉ là nơi nhốt tạm khoảng 5.000 “cải tạo viên”, sau đó phần lớn sẽ được phân loại để đưa tới các trại cải tạo đúng nghĩa, trong thời gian ở các trại này có thể sẽ bị thanh lọc thêm một, hai, hoặc ba lần nữa để bị đưa ra miền Bắc, hoặc những trại hắc ám nhất ở trong Nam. (Chú thích 2) * * * Tuy nhiên, trong thời gian một, hai tháng đầu ở Thành Ông Năm, đa số anh em tù cải tạo đã không đến nỗi bi quan như tôi, bởi vì chỉ ít lâu sau khi đám Trung úy, Thiếu úy chúng tôi tới nơi, ban chỉ huy trại đã bắt đầu tổ chức các buổi học tập chính trị, cho nên không ít anh em đã tin vào lời hứa “khi nào học tập tiến bộ các anh sẽ được trở về xum họp với gia đình”, từ đó suy ra sau khi hoàn tất chương trình học tập chính trị, nếu “tiến bộ” sẽ được thả về để “góp phần xây dựng đất nước”! Chương trình học tập chính trị gồm 10 bài, tập trung vào ba đề tài chính: Tội ác Mỹ – Ngụy, Đảng CSVN có công giành độc lập cho đất nước, và Chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước. (Giờ này tôi chỉ còn nhớ tựa đề một bài duy nhất: “Đế quốc Mỹ là kẻ thù số 1 của nhân dân ta”).
(Ảnh minh hoạ) Sau mỗi bài học ở hội trường, về nhà, cải tạo viên phải viết “bài thu hoạch”, đọc lên trong các buổi thu hoạch của tổ dưới sự chủ trì của một tay quản giáo (cán bộ coi tù); sau đó nộp lên “khung” (ban chỉ huy trại) để được… chấm điểm, hay ít ra đó cũng là tin tưởng của một số anh em. Sau 10 bài học chính trị tới mục quan trọng nhất trong “quá trình học tập cải tạo”, mà theo lời viên quản giáo, qua đó cải tạo viên sẽ được đánh giá là đã tiến bộ hay chưa tiến bộ, đó là việc kê khai tội lỗi đối với “cách mạng” và tự phê phán bản thân! Cũng xin viết thêm, trước đó ngay sau khi “an cư”, chúng tôi đã bị bắt viết bản tự khai lý lịch mà họ gọi là “lý lịch trích ngang”, trong đó kê khai tên tuổi (và bí danh nếu có), ngày sinh tháng đẻ, tên cha tên mẹ, quân trường xuất thân, các khóa học, thăng thưởng, cấp bậc, các chức vụ đã đảm trách từ ngày gia nhập quân đội, tên tuổi (và tông tích) các cấp chỉ huy cũ, v.v… Giờ đây chúng tôi sẽ phải viết bản tự khai một cách chi tiết về quá trình hoạt động, sau đó tự kiểm điểm để lên án bản thân. Trước hết nói về “quá trình hoạt động”, như một nguyên tắc khai thác trong ngành điều tra nói chung, việc bắt đối tượng khai đi khai lại có hai mục đích: (1) đối chiếu để tìm ra những mâu thuẫn và (2) khủng bố tinh thần; vì thế hầu hết các tờ khai lần thứ nhất của chúng tôi không cần biết khai ít hay khai nhiều, dài hay ngắn cũng đều bị viên quản giáo đánh giá là “chưa đạt yêu cầu”, “chưa chịu thành thật khai báo”. Mà chưa thành thật khai báo thì còn khuya mới được xem là “tiến bộ”. Vì thế không ít anh em sau khi bị quản giáo phê bình trong các buổi thu hoạch, đã tự giác “thành thật khai báo”, thậm chí có người còn tự thổi phồng tầm quan trọng của chức vụ mình nắm giữ, bịa đặt thành tích để chứng tỏ sự “thành khẩn” của bản thân với hy vọng sẽ được thả sớm, hoặc chỉ đơn thuần để viên quản giáo cho mình hai chữ bình yên. Kế đến là phần tự kiểm điểm, tức “nhận tội”, thì anh em bên tác chiến đỡ mệt óc hơn đám lính văn phòng chúng tôi, bởi vì trong khi những anh em đó có thể khai ra “tội ác cụ thể” (tham dự trận đánh nào, giết được bao nhiêu “chiến sĩ cách mạng”…) thì đám văn phòng chúng tôi suy nghĩ nát óc cũng không thể tìm ra “tội ác” của bản thân để mà nhận! Rồi vì bị bắt viết đi viết lại nhiều lần, không ít anh em văn phòng hoặc các đơn vị không tác chiến đã phải “xạo”, tức là bịa ra những thành tích tưởng tượng, nhiều khi vô lý tới mức tức cười, và khi được rổn rảng đọc lên trong các buổi tự kiểm điểm, vô hình trung đã trở thành một thú giải trí cho mọi người – trừ viên quản giáo! Riêng tôi, một Trung úy ngành Chiến Tranh Chính Trị, sau hai lần bị bắt viết lại, quá mệt mỏi bèn… tới luôn: dựa theo những cáo buộc của các giáo viên mỗi khi lên lớp (đối với các sĩ quan ngành CTCT nói chung), tôi đã đúc kết thành một bản nhận tội vô cùng “chất lượng”, sử dụng tối đa “từ cách mạng”, dài gần 20 trang giấy viết tay; kết quả đã được viên quản giáo đánh giá “mức độ thành khẩn, tinh thần tự giác cao”! Không phải tôi liều lĩnh, không nghĩ tới hậu quả một khi bản kiểm điểm nhận tội của mình sau này sẽ bị đem ra làm bằng chứng buộc tội, mà tôi đoán chắc tới 99% những bản kiểm điểm này sẽ không bao giờ được đưa về trung ương, bởi việc khai thác, đánh giá hàng trăm nghìn bản tự khai lý lịch và tự kiểm điểm của tù cải tạo là bất khả thi. Tôi đã đoán không sai: sau này, tới một trại cải tạo khác, những anh em bị bắt làm công tác dọn dẹp trên “khung” (ban chỉ huy trại) cho biết đã thấy những bản thu hoạch, tự khai của tù cải tạo được bộ đội lấy để nhóm bếp, hoặc tệ hại hơn, đi cầu!
* * * Sau khi 10 bài học chính trị kết thúc vào khoảng đầu tháng 10/1975, tinh thần của anh em tù cải tạo ngày càng căng thẳng. Thứ nhất, như đã viết ở phần trên, căng thẳng vì phải viết các bản tự khai và bị phê bình kiểm điểm liên tục qua các buổi “thu hoạch”; thứ hai, căng thẳng vì lo âu, mong ngóng ngày được thả về. Tôi không bi quan, cũng chẳng đánh giá thấp tinh thần của anh em bạn tù, nhưng sự thật đáng buồn là sau khi miền Nam lọt vào tay cộng sản, đa số những sĩ quan QLVNCH bị kẹt lại, hoặc chấp nhận ở lại, đều mang một tâm trạng bi quan cùng cực, ai cũng muốn quên đi cuộc thảm bại của quân dân miền Nam; vì thế khi đi trình diện học tập, họ chỉ mong sớm được “cách mạng khoan hồng” thả về xum họp với gia đình để sống nốt phần đời còn lại. Vì thế, sau khi học xong 10 bài học chính trị và hoàn tất việc tự kiểm điểm nhận tội của bản thân, họ mong ngóng từng ngày, tự trấn an, cố hy vọng trước những diễn tiến không đâu: một chiếc “ô-tô con” (tương tự xe Jeep) chở các cán bộ đeo xà-cột (sac-de-côte) tới trại, việc được chụp hình, được phát bộ quần áo tù mới tinh, việc trang trí hội trường…, đều được một số anh em suy diễn là để chuẩn bị làm lễ… mãn khóa, cấp giấy chứng nhận đã học tập tốt, về xum họp với gia đình! Nhưng khi mỗi khi đêm về, nằm nghe những tiếng thở dài, trằn trọc của anh em, tôi biết cả đến những người tỏ ra lạc quan nhất, cũng đều tự dối lòng. Bên cạnh đa số bi quan, thụ động ấy, cũng có một số nhỏ không chấp nhận buông xuôi cho số phận, đã tính tới việc trốn trại. Riêng tôi được mấy anh em thân thiết (cùng ngành CTCT) giới thiệu với một nhóm đang nghiên cứu kế hoạch trốn trại, gồm mấy tay tác chiến “thứ dữ” và hai tay Chiến Tranh Chính Trị ở hai khu khác nhau. Nguyên ở trại cải tạo Thành Ông Năm, tùy theo vị trí các khu nhốt tù, có những khu chỉ bị phân cách với nhau bằng một hàng rào kẽm gai khá sơ sài, người từ khu này có thể nói chuyện thoải mái với người khu kế bên, thậm chí lén lút leo rào sang “quan hệ”. Có lần Trần Ngọc Tự được tin nhắn đã leo rào sang khu Thiếu tá gặp anh Võ Văn Thi, nguyên Trưởng Khối CTCT Căn Cứ Không Quân Phù Cát, được đàn anh dúi cho hai gói thuốc Bastos De Luxe (anh Thi sau này vượt biên, định cư ở Úc, qua đời vì bạo bệnh cách đây hơn 5 năm). Khi biết được ý định của số anh em nói trên, dù tham gia hay không, chúng tôi cũng âm thầm cùng nhau điều nghiên địa hình địa vật và đường đi nước bước của đám bộ đội để có thể ước đoán mức độ hy vọng thành công một khi anh em quyết định trốn. Về địa hình địa vật, trại cải tạo Thành Ông Năm, nguyên là doanh trại của Liên Đoàn 5 Công Binh Kiến Tạo trước 1975, có hệ thống hàng rào phòng thủ ra sao, chúng tôi không biết đích xác, bởi chung quanh trại phía bên trong hàng rào là một bờ đê cao khoảng 2m, sử dụng làm tuyến phòng thủ sau cùng khi hữu sự (thời VNCH), tù cải tạo không được phép leo lên. Ngồi trên cầu tiêu cách hàng rào khoảng 50m chỉ nhìn thấy lố nhố những hàng cọc sắt chăng dây kẽm gai và các vọng gác cách nhau độ khoảng 150-200m. Theo một bạn tù nguyên là sĩ quan công binh hiểu biết về nguyên tắc đặt mìn, một doanh trại ở hậu phương như Liên Đoàn 5 Công Binh Kiến Tạo thường không gài mìn ở hàng rào. Về hoạt động của đám bộ đội, ban đêm, ngoài các toán tuần tiễu đi lại trong trại, không có các toán tuần tiễu bên trong hàng rào (dọc bờ đê), chỉ có lính canh trên các vọng gác, và phía bên ngoài hàng rào thì cứ mỗi 2 tiếng đồng hồ lại có một toán tuần tiễu; chúng tôi biết được chi tiết này nhờ theo dõi tiếng chó sủa. Như vậy, với những anh em tác chiến chuyên nghiệp thì chuyện vượt rào trốn ra khỏi Thành Ông Năm cũng không đến nỗi khó khăn, vấn đề còn lại phải đặt ra là: trốn trại rồi đi đâu? Chỉ có hai con đường: vào rừng gia nhập các lực lượng của “phe ta” đang tiếp tục chiến đấu, hoặc trốn về quê giả dạng thường dân để… chờ thời. Trước hết nói về các lực lượng của “phe ta” thì sau ngày 30/4/75, tôi được nghe đồn khá nhiều nhưng không có cơ hội, phương tiện kiểm chứng. Mãi tới cuối tháng 6/1975, tôi mới được một người em họ về làm ruộng ở vùng Hố Nai (Biên Hòa) cho biết có một số quân nhân VNCH thuộc nhiều quân binh chủng khác nhau không chịu đầu hàng, rút vào các mật khu cũ của Việt Cộng ở vùng Sông Buông, Sông Mây (tiếp giáp Chiến Khu D), thỉnh thoảng cho người ra tiếp xúc với dân ở “đồng ruộng”. [Theo cách gọi của người dân ở vùng Hố Nai, “đồng ruộng” là vùng đất thấp nằm sâu phía bên trái Quốc Lộ 1 (hướng Sài Gòn – Hà Nội), vào thời Tổng thống Ngô Đình Diệm là khu vực canh tác của những người làm ruộng từ Hố Nai đi vào. Sau cuộc đảo chánh tháng 11/1963, ấp chiến lược bị đám tướng lãnh đảo chánh dẹp bỏ, VC công khai hoạt động, “đồng ruộng” bị bỏ hoang cho tới sau 30/4/1975] Được tin này, tôi về Hố Nai theo người em họ vào “đồng ruộng”, sống trong cái chòi ven sông để chờ đợi. Vì chỉ tò mò muốn tìm hiểu hư thực chứ không có ý định gia nhập, sau mấy ngày không thấy động tĩnh gì, tôi bỏ về. Còn giải pháp trốn về quê giả dạng thường dân thì tôi thấy không ổn. Trốn về Phước Tỉnh thì họ hàng đã bỏ đi gần hết, không biết nương tựa ai, trước sau cũng sẽ bị lộ. Trốn về Cái Sắn (Rạch Giá) thì không có can đảm… làm ruộng, chẳng lẽ cứ ăn bám anh em chú bác mãi! Thành thử, suốt thời gian ở Thành Ông Năm, tôi hoàn toàn không có ý định trốn trại. Đúng vào khoảng thời gian này, tôi bị bệnh nặng, từ bụng trở xuống sưng phù, lở lói, gần như nằm liệt tại chỗ. Tay bác sĩ quân y ở cùng đội phán rằng nếu trước đây tôi từng bị phong tình hoa liễu thì nay bệnh tái phát, trường hợp không phải thì rất có thể tôi bị sơ gan do trước kia uống rượu nhiều quá. Không có bất cứ thứ thuốc tây nào để chữa trị, anh em bắt tôi ăn rau đắng, trông giống như rau ôm, mọc đầy dưới các đường mương trong khu gia binh, có người còn đào hà thủ ô (ở Thành Ông Năm rất hiếm) nấu cho tôi uống cả thân lẫn lá, nhưng bệnh tình vẫn không thuyên giảm mà ngày càng nặng. Cuối cùng viên quản giáo của đội có lẽ sợ trách nhiệm nên cho hai bạn tù cải tạo khiêng tôi (nằm trên võng) theo anh ta tới bệnh xá. Giờ này tôi kể lại rất có thể nhiều anh em cựu tù cải tạo không tin, nhưng tôi vẫn phải thành thật và khách quan mà viết rằng: bệnh xá ở Thành Ông Năm là số một! Số một vì có nhiều loại thuốc tây và có cả một… người đẹp! Về thuốc tây, họ có khá nhiều loại. Riêng tôi chẳng hiểu tay “y sĩ” Bắc Kỳ cho uống thuốc gì mà mấy ngày sau đã có thể đi lại, từ đó mỗi buổi sáng phải đi lên phòng khám bệnh để y sĩ khám và phát thuốc (gọi là “y sĩ” cho oai chứ tôi nghĩ trình độ chỉ cỡ y tá thời VNCH). Còn “người đẹp” ở đây là “chị Thùy”, một cô y sĩ Nam Kỳ 100%. Điều khó hiểu là Đoàn 775 là một đơn vị Cộng Sản Bắc Việt, từ thủ trưởng xuống tới chính trị viên, quản giáo, hậu cần, vệ binh, đều là Bắc Kỳ răng mã tấu nhưng trong số ba y sĩ của bệnh xá lại có một cô em Nam Kỳ. Vì thế tôi chỉ có thể đoán mò có một đơn vị y tế biệt lập nào đó ở địa phương đã bị giải thể, lấy phương tiện và thuốc men đưa vào bệnh xá Thành Ông Năm để phục vụ Đoàn 775 (đơn vị coi tù cải tạo), cho nên họ mới có nhiều thuốc men và một cô em Nam Kỳ! Chúng tôi không được biết cô em là du kích “18 thôn vườn trầu” (căn cứ địa khét tiếng ở Hóc Môn) hay chỉ là một nhân viên y tế dân sự thời VNCH nay được đưa tới phục vụ tại bệnh xá Thành Ông Năm, chỉ biết cô không bao giờ mặc đồ bộ đội mà cũng chẳng quấn khăn rằn, chỉ mặc quần đen áo bà ba, và được mọi người ở cả hai phía chiến tuyến gọi là “chị Thùy”. Cô khoảng độ tuổi trên dưới 25, cao ráo, thân hình khá hấp dẫn, nhan sắc trên trung bình, với mái tóc thề dài gần tới eo. Đã đẹp người lại còn… đẹp nết. Mỗi buổi sáng khi tới bệnh xá, việc đầu tiên của cô là hái một bông hoa ở vườn hoa giữa sân (một loài hoa nho nhỏ 5 cánh màu tím hoa cà, tôi chẳng biết gọi hoa gì) cài lên mái tóc, khiến tôi chợt nhớ tới ca khúc “Hoa cài mái tóc” rất ăn khách trước năm 1975! Sau đó cô mới tươi cười vui vẻ bước vào phòng khám bệnh, phát thuốc. Dĩ nhiên, nón cối vào trước, tù cải tạo vào sau. Phòng khám bệnh, phát thuốc nằm chung một gian nhà với phòng mổ, được phân cách bởi một tấm màn (vải mùng) mỏng, dài không chấm đất, có tấm biển các-tông ghi hai chữ “PHÒNG MỔ”. Chính tại phòng mổ “hiện đại” này, sau đó không lâu một vị Đại úy trốn trại bị bắn trọng thương đã được mổ “sống”, nghĩa là không có thuốc mê, thuốc tê gì cả! Khi khám bệnh và phát thuốc, “chị Thùy” không hề có sự phân biệt đối xử giữa nón cối và cải tạo; riêng tôi và vài anh em cải tạo còn được cô ưu ái… nựng! Đầu đuôi như thế này: tôi và mấy anh em đó được chích trụ sinh, dẫu chỉ là penicillin của Trung Cộng đã hết hạn mấy năm, cũng là chuyện khó tin trong trại cải tạo. Sau khi khám bệnh phát thuốc xong, cô mới bắt đầu chích. Những ai từng bị chích penicillin hẳn phải biết cái đau thấu trời khi thuốc được bơm vào mông hoặc cánh tay. Dĩ nhiên, chúng tôi được chích trên cánh tay, vừa bơm thuốc cô vừa lấy một “ngón tay thiên thần” gãi gãi vào cánh tay (gần chỗ kim chích) của bệnh nhân với mục đích cho đương sự quên đau. Vì thế, ngày nào tới phiên một trong hai tay y sĩ Bắc Kỳ răng mã tấu lên ca trực thì chúng tôi (những người được chích penicillin) cứ như đang ở trên thiên đàng rơi xuống địa ngục! Sau hơn một tuần ở bệnh xá với 4, 5 mũi penicillin, tôi đã gần bình phục nhưng vẫn làm bộ còn yếu đuối, đi đứng khó khăn chậm chạp cốt để kéo dài thời gian “nghỉ mát” ở bệnh xá. Bên cạnh đó, anh em bệnh nhân cải tạo ai cũng muốn tôi ở lại để kể chuyện tiếu lâm cho họ nghe, trong số này có một người tôi không bao giờ có thể quên: Thiếu tá Xuyến, người thích nghe tôi kể chuyện nhất, ít ra cũng là vào thời gian đầu. Trong số ba bốn anh em tù cải tạo bị bệnh suyễn phải nằm bệnh xá, anh Xuyến bị nặng nhất; ngặt một nỗi bệnh xá Thành Ông Năm tuy có nhiều loại thuốc tây nhưng lại không có một thứ thuốc gì để trị bệnh suyễn. Mỗi khi tôi kể chuyện tiếu lâm, khi mọi người cười bò thì anh Xuyến vừa cười được một chút đã lên cơn suyễn nặng. Về sau, cứ mỗi khi tôi chuẩn bị kể chuyện, anh Xuyến vừa đứng dậy khỏi cái võng vừa nói: – Ê mày, để tao qua phòng bên rồi hãy kể! Sau này gặp lại một bạn tù cũ từng ở bệnh xá Thành Ông Năm, tôi được biết khoảng hai tháng sau khi tôi trở về đội, anh Xuyến đã qua đời tại bệnh xá khi lên cơn suyễn nặng, chỉ vài ngày trước khi gói quà đầu tiên của gia đình, trong đó chắc hẳn phải có thuốc suyễn, gửi tới nơi. Thời gian ở bệnh xá còn giúp tôi cơ hội tìm hiểu về tình hình và đường đi nước bước trong trại qua dò hỏi anh em ở các khu khác, đồng thời quan sát tận mắt hệ thống hàng rào phòng thủ của Thành Ông Năm, mà ngày ở đội tôi chỉ thấy lố nhố mấy hàng cọc kẽm gai. Nguyên vì thiếu “mặt bằng”, dãy cầu tiêu ở bệnh xá được làm phía bên ngoài bờ đê, cách hàng rào chỉ khoảng hơn chục mét. Đứng trên bờ đê tôi có thể thấy 5, 6 lớp concertina, rồi tới 4 lớp rào kẽm gai chằng chịt, và sau cùng là hào chống chiến xa sâu 3, 4 mét. Tôi không tin các bạn tù của tôi đang có ý định trốn trại có thể thoát ra khỏi hàng rào này, bởi vì trong khi concertina có thể bằng cách này cách khác nâng lên để chui ra, thì những lớp kẽm gai chằng chịt ấy chỉ có thể giải quyết bằng một cái kìm cắt kẽm gai, nhưng tìm đâu ra?! Cũng đứng trên bờ đê này, tôi đã được nhìn thấy “thế giới tự do”: những ngôi nhà dân thấp thoáng sau vườn cây trái cách hàng rào độ khoảng 100m, cái nghĩa địa hoang vắng nằm chếch về hướng bắc, con đường mòn quanh co, và đáng nói hơn cả là… các bà vợ “Ngụy” đi tìm chồng! Số là chỉ vài tháng sau khi các đấng phu quân bị bắt đi học tập cải tạo, không hiểu do tin tức từ đâu, các bà vợ sĩ quan ở Sài Gòn được biết và thông báo cho nhau (một cách thiếu chính xác) rằng hầu hết sĩ quan của chế độ cũ hiện bị giam giữ ở Thành Ông Năm. Thế là nhiều bà đã rủ nhau đi… thăm chồng. [Về sau, tôi được biết trong số đó có cả vợ tôi, cùng đi với cô em gái của Trần Ngọc Tự, nhưng ngày ấy nàng tới một khu khác chứ không phải bệnh xá, cho nên “Ngưu Lang – Chức Nữ” đã không được nhìn thấy nhau] Theo sự chỉ dẫn của dân chúng địa phương, từ quốc lộ, các bà vợ sĩ quan theo con đường mòn đi bộ vào, tụ tập dưới các bóng cây gần nhà dân, đợi đông đông mới lấy… khí thế tiến tới gần hàng rào. Nhìn thấy chúng tôi đứng lố nhố trên bờ đê, các bà biết ngay là sĩ quan “Ngụy” nên tranh nhau hỏi, đại khái: “Chồng tôi Đại úy Nguyễn Văn A Nhảy dù…, Thiếu tá Trần Văn B Thiết giáp… Trung úy Lê Văn C pi-lốt trực thăng… có trong này không các anh?” Phía ngoài hàng rào là những người vợ lặn lội đi tìm chồng, phía trong là những gã tù cải tạo nhớ vợ thương con, tuy không xảy ra một cuộc “hạnh ngộ” nào, cũng đem lại chút ấm lòng cho cả hai phía, cho dù bối cảnh không gian cũng chẳng lấy gì làm đẹp đẽ thơ mộng: dãy cầu tiêu lộ thiên do các “đỉnh cao trí tuệ loài người” thiết kế với những thùng “phân Bắc” nồng nặc mùi xú uế! Lần nào cùng thế, cứ khoảng 15 phút sau thì có đám vệ binh AK lăm lăm trên tay tới xua đuổi các bà vợ, nhưng các bà chỉ “lui binh” chứ không bỏ cuộc: rút vào các bóng mát dưới gốc cây gần nhà dân, đợi đám vệ binh đi khỏi, quay trở lại hàng rào, tiếp tục màn đối thoại, với những câu hỏi lo âu “Bao giờ thì được thả? Các anh có bị đói không?…” luôn luôn được đáp lại bằng những lời trấn an… giả dối “Chắc sắp được về rồi, học chính trị xong rồi…”, “Tụi tôi không đói đâu, chỉ thèm thuốc lá thôi…” Trước khi bỏ ra về, một vài bà còn cố gắng ném mấy gói quà vào phía trong, nhưng tất cả đều không vượt qua cái hào và cả chục hàng kẽm gai… Sau ba tuần nằm bệnh xá, được “bồi dưỡng bằng tiêu chuẩn bệnh” tôi trông đã khỏe mạnh hẳn ra nên bị tay “y sĩ” (nón cối, không phải “chị Thùy”) bắt xuất viện, được viên quản giáo đội cùng với hai vệ binh trang bị AK tới bệnh xá đưa về “nguyên quán”! Về tới nơi, tôi được anh em bu quanh như người mới xuất ngoại trở về, bởi ngoại trừ tay cải tạo được phong chức “hậu cần” có nhiệm vụ phân phối lương thực cho các “anh nuôi” (đầu bếp của đội) được đi ra khỏi khu vực, được tiếp xúc trực tiếp với đám cán bộ, đôi khi với cả dân chúng (những người cung cấp thực phẩm cho trại), tôi là người duy nhất trong đội đã có cơ hội đi cho biết đó biết đây. Tới khi tôi kể về việc các bà vợ đi tìm chồng bên ngoài hàng rào bệnh xá, anh em cho biết ở đội nhà cũng thế, có khác chăng là cầu tiêu của đội tôi nằm bên trong bờ đê khá xa nên anh em không nhìn thấy phía bên ngoài được, chỉ nghe tiếng các bà réo gọi vào phía trong, cùng tiếng xua đuổi, nạt nộ của đám vệ binh! Qua ngày hôm sau, tôi kín đáo tìm gặp các anh em có dự định trốn trại, mô tả một cách chi tiết về hệ thống hàng rào và hào sâu quanh trại, khuyên họ không nên hấp tấp, vội vã mà hãy kiên nhẫn chờ đợi thời cơ. Nghe tôi trình bày, anh em chia ra hai phe, một phe vẫn muốn trốn trại càng sớm càng tốt, vì hiện nay bọn VC chưa đề phòng, kiểm soát chưa gắt gao, nếu chần chừ để chúng đưa tới những nơi khác canh phòng cẩn mật hơn, e sẽ không bao giờ còn cơ hội; một phe thì muốn chờ đợi để có thêm thì giờ tìm hiểu về đường đi nước bước bên ngoài Thành Ông Năm, thì mới có hy vọng vượt thoát tới các “chiến khu” hoặc về vùng quê sống lén lút chờ thời vận. Sau đó, vì không thể đi tới một quyết định chung, những anh em muốn chờ đợi đã rút tên ra khỏi nhóm, chỉ còn lại ba người, tất cả đều là dân tác chiến, quyết định hành động càng sớm càng tốt. Nhưng giờ H của các anh em ấy đã không bao giờ tới. Bởi chỉ mấy ngày sau, khoảng giữa hay cuối tháng 10/1975, có hai tù cải tạo ở khu Đại úy chui rào trốn trại nhưng không thoát, một người bị bắn chết, một người bị bắn trọng thương (và được đưa vào bệnh xá mổ sống để lấy các đầu đạn ra, như tôi đã viết ở một đoạn trên). Súng đã nổ, máu đã đổ. Những tràng AK dòn dã giữa đêm khuya, những tiếng kẻng báo động đánh liên hồi, những tiếng chân vệ binh chạy rầm rập, những tiếng quát tháo của quản giáo tập họp điểm danh, báo cáo quân số… đồng loạt vang lên từ khắp các khu, như báo hiệu cho những tháng năm đen tối, hãi hùng trước mặt.
CHÚ THÍCH: (1)Phan Lạc Tuyên (1930-2011), xuất thân từ dòng họ Phan nổi tiếng lâu đời ở Sơn Tây; năm 1951 đang học Luật ở Hà Nội thì bị động viên Khóa 1 Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định, tức là cùng khóa với các ông (Đại tá, Giáo sư) Nguyễn Xuân Vinh, (Thiếu tướng) Nguyễn Cao Kỳ… Phan Lạc Tuyên là một nhà thơ, trong số tác phẩm của ông có bài Tình Quê Hương, được nhạc sĩ Đan Thọ phổ nhạc năm 1953, rất được yêu chuộng: ”Anh về qua xóm nhỏ. Em chờ dưới bóng dừa. Nắng chiều lên mái tóc. Tình quê hương đơn sơ…” Tháng 11/1960, Phan Lạc Tuyên, lúc đó mang cấp bậc Đại úy, giữ chức vụ Chỉ huy phó Liên Đoàn Biệt Động Quân thủ đô, tham gia cuộc đảo chính do Trung tá Nguyễn Chánh Thi, Trung tá Vương Văn Đông cầm đầu. Cuộc đảo chính thất bại, ba người chạy sang Căm-bốt. Tại đây, Phan Lạc Tuyên được Việt Cộng móc nối, trở về VN tham gia Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam. Năm 1967, ông bị thương ở Tây Ninh, sau đó ra miền Bắc làm việc trong Đoàn Đại Diện MTDTGPMN. Năm 1972, du học Ba Lan, lấy bằng Phó tiến sĩ Sử học (nhưng ai cũng gọi ông ta là “Tiến sĩ”). Mấy tháng sau ngày CSBV chiếm Sài Gòn, Phan Lạc Tuyên trở lại miền Nam. Dù là bạn thân nhưng vì những nguyên nhân tế nhị, trước cũng như sau 1975, người viết chưa bao giờ hỏi Phan Lạc Giang Đông bất cứ điều gì liên quan tới Phan Lạc Tuyên. Nay cả hai anh em đã về bên kia thế giới, người viết chỉ xin ghi lại một vài trong nhiều nguồn tài liệu khác nhau về hoạt động cũng như tư cách con người của Phan Lạc Tuyên trong giai đoạn sau năm 1975. Tạp chí Giác Ngộ (trong nước) viết: “(Phan Lạc Tuyên) có 20 năm gắn bó với Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM qua 5 khóa học, góp phần đào tạo nên một đội ngũ đông đảo trí thức Phật giáo, trong đó có nhiều người hiện đang đảm nhận những trọng trách của Giáo hội.”
Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo (trong nước) viết: “Học giả Phan Lạc Tuyên được Hội đồng Điều hành Trường Cao cấp Phật học TP.HCM (sau này là Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM) mời tham gia giảng dạy cho Tăng Ni hệ cử nhân trong nhiều năm… Với Phật tính sẵn có và ký ức về ngôi chùa trong tâm thức của người Việt, trong đời sống văn hoá dân tộc qua những lần theo mẹ, theo bà lên chùa, cùng những trải nghiệm về cuộc đời, Ông đã nỗ lực học Phật, đã phát nguyện quy y Tam bảo và thọ nhận năm giới của người cư sĩ. “Cuối năm 2008, Cụ vào chùa Diệu Pháp, phường 13, Bình Thạnh, cuối con đường Nơ Trang Long, phát nguyện đi tu, pháp danh Nguyên Tuệ, Pháp tự Quảng Đạo Nhẫn…” Còn tờ Tuổi Trẻ viết: “Thần tượng của cuộc đời ông là Hồ Chủ tịch. Trong các sách vở, tài liệu để lại của ông có một lá thư mời dự tang lễ Hồ Chủ tịch, mảnh băng tang đen và một bông hoa vải được Phan Lạc Tuyên rút ra từ vòng hoa của Mặt trận Dân tộc Giải phóng viếng trước linh cữu Người. “Vì có thần tượng là Bác Hồ mà Phan Lạc Tuyên đã có một cuộc lựa chọn và dấn thân mạnh mẽ như thế. “Và rồi hôm nay, ở cái tuổi 83, ông kiên quyết vào ở hẳn trong chùa. Ngôi chùa mà ông chọn ở là chùa Diệu Pháp ở P.13, Bình Thạnh, cuối con đường Nơ Trang Long.”
* THẮC MẮC: mọi nguồn tài liệu đều ghi Phan Lạc Tuyên sinh năm 1930, qua đời năm 2011, tức là vào tuổi 81, nhưng không hiểu do đâu các báo trong nước lại viết ông thọ 84 tuổi; còn báo Tuổi Trẻ viết năm 83 tuổi ông mới vào chùa tu?!
* * * Tuy nhiên, theo những gì bà Thu Khanh, vợ của Phan Lạc Giang Đông kể lại sau khi ra hải ngoại thì con người Phan Lạc Tuyên rất tệ, từ miền Bắc trở về đã lên án bố (cụ đồ Phan Vọng Húc) là “phản động”, chiếm căn nhà tổ ở Tân Bình, đuổi bố về sống ở một căn nhà nhỏ ở Cống Bà Xếp; lên án toàn bộ tác phẩm của (em trai) Phan Lạc Giang Đông là phản động, ngày bố chết không về nhà thọ tang, chỉ tới chùa vào giờ phút chót để có đôi lời cám ơn “sự hiện diện của đồng chí lãnh đạo”. Còn theo tác giả Hồ Nam thì “Chế Lan Viên quả quyết sau khi ra Bắc, Phan Lạc Tuyên trở thành tay sai của Tố Hữu trong việc theo dõi các văn nghệ sĩ miền Nam tập kết”. Sau khi trở về Nam, Phan Lạc Tuyên nhập băng với đám tu sĩ Phật Giáo thân cộng (của Thích Minh Châu), hãm hại các Thượng tọa Thích Trí Siêu, Thích Tuệ Sỹ… Cũng theo bà Thu Khanh, Phan Lạc Tuyên có ba đời vợ. Người thứ nhất là bà Đường, chết sau khi sanh con trước năm 1954. Người thứ hai là bà Nga, bị điên sau khi Phan Lạc Tuyên tham gia đảo chánh rồi bỏ trốn. Người thứ ba là bà Hồng Phấn, lấy Phan Lạc Tuyên theo sự “phân công” của Đảng sau khi ông ta ra Bắc. Sau năm 1975, bà Hồng Phấn không theo Phan Lạc Tuyên vào Nam mà ở lại miền Bắc. Tác giả Hồ Nam còn cho biết khi đã 80 tuổi, Phan Lạc Tuyên lấy thêm một người vợ trẻ mới 32 tuổi. Việc này đã được nhiều người trong nước xác nhận.
HÌNH: “Cùng đoàn đại biểu Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam gặp Bác Hồ năm 1967 (ông Phan Lạc Tuyên đứng phía sau Bác)” – Ảnh và chú thích của báo Thanh Niên
(2) Cải tạo: “Cải tạo” là một mỹ từ được chế độ cộng sản Bắc Việt sử dụng thay cho chữ “lao cải” của Trung Cộng, một hình thức cưỡng bách lao động mà Hà Nội rập khuôn. Thực ra, hình thức lao động khổ sai không tuyên án đã được cộng sản áp dụng tại Liên Xô từ thời bạo chúa Stalin, với một hệ thống trại cải tạo chịu sự quản lý của một cơ quan đặc biệt có tên viết tắt là “GULAG” (dịch sang tiếng Anh là “Main Administration of Camps”). Từ đó các trại cải tạo lao động khổ sai của Liên Xô được truyền thông tây phương gọi một cách ngắn gọn là “gulag”.
Trước năm 1975, có lẽ không ít người miền Nam đã được đọc cuốn The Gulag Archipelago (Quần đảo ngục tù) của nhà văn kiêm sử gia Nga Aleksandr Solzhenitsyn (1918-2008), người được trao tặng giải Nobel Văn Học năm 1970. Chính sách lao động khổ sai của Liên Xô đã được Mao Trạch Đông sao y bản chánh sau khi chiếm trọn Hoa Lục năm 1949, gọi là “lao động cải tạo” (勞動改造) có nghĩa là “cải tạo qua lao động”, viết tắt là “lao cải” (勞改). Theo ước tính của các sử gia quốc tế, từ năm 1950 tới năm 1976, đã có từ 10 đến 15 triệu người bị đưa vào các trại “lao cải” ở Hoa Lục, trong đó khoảng 5 triệu người đã bỏ mạng tại đây. Tại miền Bắc VN sau năm 1954, chế độ cộng sản VN đã rập khuôn đàn anh Trung Cộng thiết lập các trại “lao cải”, nhưng có lẽ vì thấy hai chữ “lao cải” (lao động cải tạo) nghe lộ liễu quá, Hà Nội đã rút ngắn thành “cải tạo”, tuy nhiên thực chất vẫn là các trại “cải tạo qua lao động”.
Hãy lật bản đồ Tổ quốc ra mà coi. Nhớ lựa một tấm lớn để coi cho rõ. Những chấm đen đậm là tỉnh lỵ, là nơi những đường giao nhau, là những trạm chuyển tiếp. Đường sông, đường núi ngoằn ngoèo. Những chấm đen đậm sao mà nhiều thế? Chỗ nào cũng có chi chít mọc như đầu ruồi dễ sợ lạ! Không, đó chỉ là tấm bản đồ đặc biệt ghi rõ những cửa vào quần đảo. Nhưng không phải những cửa biển, những bến tàu thơ mộng trong truyện Aleksande Grin, nơi rượu ngon gái đẹp tràn trề. Ở xứ này có thằng Zek nào không biết năm ba trạm tiếp nhận hay Trại Cải tạo? nhiều người còn nhớ đến mười, mười lăm, và gọi là Con đẻ Cải tạo là phải nhớ vanh vách 50 tên trại! Nhưng ghi nhận bằng ký ức dễ lẫn lộn quá. Trại nào chẳng giống trại nào? Này đám lính hộ tống mù chữ “đánh vật” với bản điểm danh, những buổi chiều chầu chực chờ đợi giữa mưa phùn nắng gắt, những phiên tra xét cỡi trần cởi truồng hết, lục lọi mãi. Này hớt tóc dơ dáy, tắm nước lạnh nhờm tởm, cầu tiêu thối hoặc hành lang ướt át sâu hun hút. Này xà lim tối om chật cứng hơi người hầm hập xông lên, từng dãy dài đầu người lố nhố ngoi lên khỏi ổ. Bánh mì muôn năm nhão nhoẹt, cháo toàn đồ phế thải nấu lại. Trí nhớ bén nhọn, nhớ không sót từng đặc điểm từng trại thì cố ngồi nguyên một chỗ chẳng một hệ thống trạm dọc đường in sâu trong óc từ hồi nào bỗng hiện ra một loạt. Novosibirsk hả? Còn lạ gì, từng ở đó mà. Cả dãy nhà lao kiên cố, cột kèo bự kinh khủng chớ gì? Irkutsk là chỗ đặc biệt cửa sổ cũng xây gạch từng lớp bít bùng, hết lớp này đến lớp khác, phải không? Còn Vologda thì phòng giam ọp ẹp, tháp canh vây quanh, cầu tiêu lầu trên nằm ngay lầu dưới, ngó thấy hết! Trại Usman thì vô địch về kiến trúc cổ lỗ và về rệp. Có điều tù đông rệp còn đông gấp bội, mỗi lần chở tù ra xe thì rệp rớt lộp bộp nằm từng đống dọc đường chớ gì. Nếu anh tính qua mặt “dân trong nghề”, bảo rằng “thỉnh thoảng cũng có tỉnh lỵ không có khám tiếp nhận chứ” thì anh hố ngay. Họ cả quyết chẳng tỉnh nào không có khám tạm. Đúng như vậy! Anh tưởng ở Salsk không hả? Có chứ, nó nằm trong KPZ nằm chung với khám giam cứu. Quận lỵ cũng bắt buộc phải có, ít ra là một. Tầm thường như quận Sol Iletsk cũng có. Quận Rybinsk có khám số hai, ở chỗ tu viện cũ đó. Khám tạm cấp quận có khác. Yên tĩnh lắm, sân lát đá tảng rêu mọc xanh um, mấy cái bồn tắm bằng cây ghép kiểu xưa thật sạch sẽ! Quận Chita có khám số 1, quận Naushki rõ ra khám tiếp nhận dọc đường. Còn ở Torzhok khám đặt tuốt trên đồi cao, cũng tu viện cũ. Vậy thì yên chí đi. Chỗ nào có toà xử là có nhà giam và khám tiếp nhận tù ở dọc đường, ở trạm lại ít ngày thì quả thực mỗi nơi mỗi vẻ chẳng thể so sánh hơn kém. Ba bốn thằng Zek họp mặt, mỗi thằng chịu một khám là thường quá! Hãy nghe họ “ca ngợi” như sau: “Mấy anh tưởng khám tiếp nhận Ivanovo không nổi tiếng sao? Thử hỏi những thằng từng ở đó hồi 1937-1938 coi. Mấy mùa Đông đặc biệt, phòng giam lạnh ngắt, khỏi có lò sưởi. Lạnh chết người là thường quá. Vậy mà trong xà lim ở mấy cái ổ trên phải cởi bỏ quần áo thì biết sao! Lại phải đập bể mấy khuôn kính cho bớt hầm. Xà lim 21 đúng nguyên tắc chỉ nhốt 20 tù mà phải nhét ba trăm hai mươi ba mạng kia mà. Ổ nằm sờ chỗ nào cũng nhơm nhớp, lép nhép những nước! Ổ đâu ra? Hơi người bài tiết, hơi giá từ mấy khuôn kính bể lọt vô, đâu có thua ánh đèn điện thì mấy thằng nằm ổ trên hay đứng dưới sàn đã chắn mất hết còn đâu? Chen chúc như thế đi cầu là cả một sự lách né, xô đẩy khó khăn. Tụi nó bám cứng cả bên ngoài rìa ổ nằm.” Hồi đó phát thức ăn là phát cho tổ. Không phát từng cá nhân. Cứ mỗi tổ 10 người. Tổ nào có một thằng chết dại gì khai báo vội. Hãy nhét đỡ nó xuống gầm ổ, để tiếp tục chia nhau chỗ khẩu phần của nó. Nghĩa là 9 miệng hưởng 10, chừng nào xác có mùi hẵng hay! Chen chúc khốn nạn vậy mà nhà tù cứ nhét thêm và tù cứ ráng chịu: bao nhiêu cũng vừa. Phiền nhất là đông như vậy tù chỉ được phép, 3 tháng tắm 1 lần. Chấy rận nảy nở khỏi nói: Chúng hút máu đến nỗi chân cẳng thằng tù nào cũng đầy nhọt áp xe. Bệnh chấy rận tệ hơn nhiều. Vì bệnh dịch quái ác này mà cả khám bị cô lập đúng 40 ngày. Đồng ý. Nhưng không riêng mình Ivanovo cực khổ. Trại thời buổi đó đồng đều hết. Vì 1937-1938 thì đến đá cũng phải cực hình nữa là tù nhốt tạm trong khám tiếp nhận. Như Irkutsk có phải khám tiếp nhận đặc biệt đâu mà năm 1938 bác sĩ đi khám bệnh đâu có dám nhìn vô xà lim. Họ đi mau mau ngoài hành lang để sếp gác chạy theo ghé miệng vô hô: “Bác sĩ tới, thằng nào bệnh nặng đâu? Ra đây.” Đúng thế thật. Thời kỳ 1937-1938 thì toàn quốc đều cám cảnh như nhau. Tệ hại nhất in hình ở biển Okhotsk và ở cảng Vladivotosk thì phải. Tối đa tàu biển chỉ chuyên chở nổi 30 ngàn tù một tháng. Trung ương không cần biết cứ cho lệnh chở tới. Kẹt cả trăm ngàn người một lúc. • Một trăm thằng tù kẹt? Ai đếm đâu mà biết. • Thằng nào công việc đếm, bắt buộc phải đếm chớ sao. • Đúng thế. Có đếm đâu chớ? Tháng hai năm 1937 ở khám tiếp nhận Vladivostok chẳng hạn, đâu có trên 40 ngàn tù, phải không? Nên nói rõ khám tiếp nhận chỉ là nơi tù ở những nơi khác di chuyển tới ở tạm chờ phân phối đi những chỗ khác. Ở tạm cỡ năm bảy tháng, chen chúc ngần ấy con người. Đó là lúc rệp nảy nở như cào cào châu chấu, mỗi ngày ½ ca nước. Nước ở đâu ra cho đủ, lấy người đâu xách về. Có nguyên một trại tù nhốt toàn dân Cao Ly mà chết dần dần không còn một mạng chỉ vì một chứng kiết lỵ. Mỗi sáng lính vô mỗi trại xách ra không dưới một trăm cái xác. Hồi đó đang phải xây nhà xác nên tù chết hay đá tảng cũng đi cùng một xe. Hôm nay còn kéo xe, mai nằm xe đi là thường quá. Tháng 8 năm ấy dịch chấy rận bắt đầu làm cỏ khám tiếp nhận Vladivostok. Vậy mà thằng nào chết cũng nằm đỡ trong kẹt ít lâu để anh em hưởng khẩu phần đỡ ít ngày! Thuốc chữa thì tuyệt đối không có. Không có bất cứ một thứ thuốc gì nên tù khốn khổ quá phải lết ra tận hàng rào gào lên: “Thuốc đâu? Cho chúng tôi thuốc!”. Gào lớn quá thì lính gác nổ ít loạt súng cho át đi. Sau cùng nhà tù đành phải lập riêng 1 trại chấy rận. Những thằng ngắc ngư cũng được đưa đến vậy, nhưng trở về thì hiếm quá! Trong xà lim này những ổ ngủ đều chia 2 từng trên dưới: Lỡ từng trên có thằng bệnh nặng quá không mò dậy nổi là chỉ chết những thằng nằm từng dưới. Từng trên ỉa đái thì từng dưới lãnh đủ chớ sao? Trại chấy rận một ngàn năm trăm thằng tù bệnh, mà An ninh, Trật tự đều do blatnye phụ trách hết. Đó là lý do những xác chết không bao giờ còn được một chiếc răng vàng. Ngay người sống còn bị “nhổ răng” khơi khơi! Ủa, tại sao mấy anh cứ 1937-1938 mà nói mãi? Năm 1949 ở khám tạm Vanino không khổ sao? Trại số 5 chẳng hạn? Số tù đâu có ít. Ba mươi lăm ngàn con người, chen chúc nhau sống 5, 7 tháng liền. Kẹt chở đi Kolyma mà. Không hiểu sao Trại Vanino hồi đó có cái lệ khó hiểu là đêm nào cũng có vụ dồn phòng, đổi khu luôn xoành xoạch? Đổi để làm gì không biết. Nhưng lính xông vô ra lệnh là phải là cho thật lẹ: “Ra mau! Ra bằng hết, thây kệ thằng nào kẹt bên trong” 1.Thầy chú đã có lệnh cấp tốc như vậy thì dĩ nhiên phải chạy. Chạy cho thật nhanh, vì có việc gì ở đây được làm chầm chậm đâu? Đi lãnh bánh mì hàng ngày cũng chạy, cả trăm thằng hối hả, chen chúc nhau. Lãnh cháo cũng chạy, dù chạy tới nơi hộc tốc chẳng lấy gì để đựng cháo, ngoài vạt áo hay lật ngửa nón ra. Nhà tù dọc đường không chén dĩa. Tại sao anh có tay không ngửa ra lãnh phần cháo mà còn kêu ca cái nỗi gì? Cũng như nước xe chở lại từng bồn lớn, không có vòi nước, không có vật dụng gì có thể chứa nước được. Giản dị quá, lính gác chỉ nổ một vài loạt vào bồn thì muốn bao nhiêu vòi chẳng có? Thằng nào muốn uống chạy lại ghé miệng vào vòi. Muốn uống cho đã thì ráng tiến chiếm hàng đầu. Mà coi chừng tranh nhau, đánh nhau vì miếng nước lính trên tháp canh xả súng bắn là chết cả. Cảnh tranh từng miếng nước này đau khổ không khác gì trong các trại giam Quốc xã. Có lần nói đã diễn ra trước sự hiện diện của Đại tướng Derevyanko, chỉ huy trưởng hệ thống Trại Cải tạo miền Đông Bắc (vùng Kolyma). Thấy lính gác trên chồi cao dám chĩa súng nổ đám tù đói khát một gã Không quân ức quá, vùng chạy lên phía trước, xé áo banh ngực ra hét lớn: “Chúng bay hãy coi đây! Tao 7 huy chương, 7 thành tích giệt giặc đây này. Ai cho phép chúng bay nã bắn vô lối thế?” Đại tướng Derevyanko quát lớn hơn: “Tao cho phép hắn. Cứ bắn nữa đi. Bắn đến chừng nào chúng hết dám ba gai thì thôi.”
Tất cả những nhà giam vừa nói trên chưa chính danh khám tiếp nhận. Phải như ở Kirov kìa! Khỏi cần chọn khoảng thời gian làm chi cho mất công. Hãy lấy ví dụ năm 1947 đi. Nên nhớ khám Kirov (tên cũ của Uyatka) đảng phải ở Hắc Hải, nhưng tù cũng đông vậy chớ. Muốn đóng cửa xà lim là phải 2 giám thị hiệp lực: Một ông đưa bốt sút, một ông mạnh tay lẹ làng sập cửa. Thây kệ bên trong thu xếp với nhau. Thời tiết tháng 9 mà tù phải cởi trần thì hơi người phải biết hầm hập cỡ nào! Ổ ngủ thì 3 tầng trên dưới nhưng nằm là thiếu chỗ. Chỉ đứng hay ngồi là cùng, phải chia phiên lần lượt. Đứng thì xách, ngồi thì phải ôm khư khư bọc quần áo trước bụng chớ làm gì có chỗ treo. Tuy nhiên dân blatnye vẫn có giang sơn riêng: Bọn họ có quyền chiếm ngăn trên cùng, sát cửa sổ để ngả lưng thảnh thơi. Nói về rệp thì khám Kirov chẳng chịu thua bất cứ khám nào: Ban ngày chúng cũng hoạt động như điên và từ trần nhà “thả xuống” nghe rào rào! Dù là khám tạm nhưng đã vô xà lim Kirov thì tối thiểu cũng kẹt 1 tháng, may mắn lắm mới là 1 tuần! Nghe bọn tù đua nhau diễn tả đời sống ở những khám tiếp nhận dọc đường, tôi cũng muốn đóng góp vô những gì đã thấy ở xà lim khám Krasnaya Presnya tháng 8 năm 1945, đúng mùa Chiến thắng vinh quang. (Nó nằm gần gũi quá đi, mà tại sao dân Mạc Tư Khoa ít người biết?). Nhưng Krasnaya Presnya thực sự đã đi đến đâu? Dù sao đêm đến còn duỗi chân ra được chút đỉnh, rệp cũng như muỗi chỉ tấn công mức trung bình những thân thể trần truồng láng nhẫy mồ hôi dưới ánh đèn điện chiếu gắt suốt đêm. Dù sao xà lim của tôi mới nhét cỡ 100 người, có bước đi mới thiếu chỗ đặt chân. (Được cái ít người muốn cựa quậy, đi lại cho mồ hôi túa ra nhớp nháp. Mỗi bữa ăn đành phải chịu để ra mồ hôi vậy thôi). Dù sao cũng vẫn còn 2 ô cửa sổ con con “đậy nút” kỹ càng. Phải chi “nút đậy” thông dụng thì chỉ bị cản không khí mà thôi. Bằng thép đan lưới nên chúng giữ luôn hơi nóng quá lâu, “hầm” cả xà lim. (Sau này mới hay đặc điểm của khám tiếp nhận là không có màu sắc gì đặc biệt! Muốn tả cho rành rẽ cũng khó biết nên vào vấn đề thế nào, nói cái gì trước. Càng nhiều tù tống vô khám càng phải giản dị tối đa để hoàn toàn là một bộ máy chỉ để tiếp nhận tù. Tù kẹt lâu là tai hoạ song cũng bất lợi cho toàn bộ hệ thống Trại Cải tạo vì nạn tù “ngồi không ăn sẵn” tháng này qua tháng khác. Tính cách máy móc biểu lộ rõ rệt ở bánh mì chở cả xe, xếp chồng chất như gạch. Một xe cháo chia sáu ngăn, sáu thùng cây, trút ồng ộc.) Nếu cần sắp hạng các khám tiếp nhận thì Kotlas coi bộ vượt hẳn lên: Nó nằm trấn ngay địa đầu Đông Bắc bình nguyên nước Nga và tới Kotlas kể như làm dân quần đảo rồi. Những quy tắc phức tạp bỏ hết! Nó giản dị là một chuồng lớn có rào sắt lần nữa và khoá thép. Chẳng cần phải có hình thức thường lệ của một nơi giam giữ người. Chỉ cần giam được người. Năm 1930 Kotlas đầy nhóc tù nông dân nhưng nhà tù vẫn chưa cần lợp mái. Đầu đội trời chân đạp đất như vậy có mạng tù nào sống sót làm nhân chứng? Năm 1938 vẫn sơ sài những dãy nhà trệt vách ván thùng ọp ẹp, phía trên che đỡ bằng một lớp vải bạt. Tuyết đổ hay nắng cháy vẫn chỉ có bấy nhiêu. Tù chen chúc, không tham gia sản xuất được nhưng cấm ngồi không cho quen lì lợm, làm biếng. Không đi làm nhưng điểm danh lu bù, cả ngày lẫn đêm. Bất kể giờ giấc có hiệu lệnh tập hợp là 20 ngàn con người phải vùng dậy chạy ra sắp hàng cho cơ thể có dịp vận động và xếp kiểm soát từng đầu một. Dần dà thêm lều vải, thêm ít dãy nhà cây tiếng là hai tầng nhưng để tiết kiệm cây ván không có sàn lầu 1. Ngoài một diện tích tối thiểu hẹp như boong tàu biển ở sát ổ ngủ thì lầu 1 chẳng còn gì nữa! Mỗi “lầu” 3 tầng ổ ngủ trên dưới nay có 6 tầng ổ ngủ nên phải kể như có lầu 1 luôn. Lên xuống đến ổ ngủ thứ 6 cao chót vót cũng chỉ có mấy bậc thang cây thô sơ, người khoẻ trèo cũng mệt rã rời huống hồ bọn tù ốm đói thường xuyên. Nhưng để vận động cơ thể thì những bậc thang quả là dụng cụ lý tưởng! Mùa Đông năm 1944-1945 khu nào cũng có mái che đầy đủ nhưng sức chứa tối đa của khám tiếp nhận Kotlas chỉ tới mức 7 ngàn 5 trăm tội phạm với số tử trung bình 1 ngày 50 mạng. Ban Vệ sinh khám làm việc trối chết – nhất là tiểu ban khiêng cáng xuống nhà xác – nhưng Ban Quản đốc Kotlas hài lòng vì tỷ lệ tù tử vong luôn luôn dưới mức 1%. Tính ra một thằng tù nằm Kotlas còn sống được tới 5 tháng, theo toán học. So với các Trại Cải tạo thì nơi đây còn là CÕI THỌ (Cứ vô đi, rồi biết!) Ở các địa hạt sản xuất khác, kế hoạch gia nhà nước không chịu chấp nhận, một mức độ hư hao lớn lao cỡ này. Hư đến 2 phần 3 của một phần trăm hàng hoá sản xuất hàng ngày – kể cả rau tươi, trái tươi nhập kho – hiển nhiên làm băng hoại kinh tế nước nhà! Đối với dân quần đảo càng đi sâu vào nếp sống Trại Cải tạo càng khám phá ra rằng hình thức nhà giam biến mất dần: Đúng là những nhà kho người để cho “nhập kho” đám tù từ các khám tạm chuyển tiếp các nơi chuyên chở đến. Nhà kho Karabas tỉnh Karaganda trong năm bảy năm đã tiếp nhận nửa triệu tù để phân phối đi các trại mà. Năm 1942 Yuri Karbe đã ghé qua nơi này, vô sổ cái dưới số hiệu thằng tù thứ 433 ngàn. Con đẻ quần đảo thường coi Karabas là khám tiếp nhận tiêu biểu. Đúng vậy, nếu cần lưu lại một chứng tích lịch sử thì Karabas phải là Bảo tàng viện mới đúng. Tuy nhiên nhà nước đã xoá bỏ để lập nhà máy sản xuất dụng cụ xi-măng đúc. Đặc điểm Karabas là những dãy nhà đất thấp lè tè như hang, nền bằng đất nện. Nền đất lâu ngày láng coóng, mịn mặt nên Ban Quản đốc bày trò ngày nào cũng bắt tù xách hết đồ ra ngoài trời để Ban Mỹ thuật vô quét vôi nền nhà, vẽ những bức “bích hoạ” khổng lồ. Đêm đến tù vô nằm xoá bỏ bằng hết tác phẩm và sáng mai Mỹ thuật sáng tác lại từ đầu. Khám Knyazh Pogost ở vĩ tuyến 63 đặc biệt là cả dãy nhà sàn, dựng trên bãi sình, vách là những tấm bạt căng chỗ kín chỗ hở. Từ những hàng cừ cắm sâu xuống sình đến cột kèo sàn nhà, ổ ngủ đều bằng nguyên cây gỗ không bào. Cũng 2 tầng ổ ngủ trên dưới nên lâu ngày cứ lún dần, sàn nhà muốn đụng mặt sình, nhiều chỗ sình dâng lên ngập ngụa, hôi thối. Đêm về phải biết là lạnh cóng nhưng xét ra cũng chưa sợ bằng những lúc phải di chuyển. Trên bãi sình dĩ nhiên mọi đường đi lối lại trong khám đều là cầu khỉ lớn nhỏ. Thân hình yếu ớt gió thổi bay, biết bao nhiêu mạng tù đã rớt xuống và chậm vớt lên là chết sặc. Cứng cáp, vững chắc sao nổi khi ngày nào cũng chỉ một món duy nhất, không ra cháo không ra cơm, lổn nhổn những vụn cháy và xương cá. Phải cho ăn cách này mới thuận tiện: Đỡ phải chén, bát, muỗng, dĩa. Khám tạm mà. Giờ “cơm” cứ 12 thằng một tổ được hướng dẫn vô lò: Có nón thì ngửa ra nếu không “túm” bằng vạt áo! Khám Vogvozdino (cách tỉnh lỵ Ust Vym cỡ 10 cây số) ngày nay có ai biết nó nằm chỗ nào. Đấy là cửa di chót dẫn vào quần đảo, có lúc chứa tới 5 ngàn tù. Vô đây là tống ngay đi, thằng nào xui xẻo lắm mới kẹt cỡ 1 năm (!) chỉ vì chẳng Trại Cải tạo nào chịu nhận cho. Kẹt cỡ đó chỉ là dai sức lắm vì Vogvozdino đâu có dựng trên bãi sình mà chế độ khẩu phần cũng in hệt Knyazh Pogost! Món ăn duy nhất năm này sang năm khác cũng nửa cháo nửa cơm. Mỗi tổ 10 mạng lãnh về một chậu “la-va-bô”, nóng hay nguội cũng chỉ có một cách là lấy tay vét ăn 2.
Xin nói ngay để bạn đọc đừng chê thô tục: Ăn đã vậy thì ỉa làm sao? Ôi chao, cả một cực hình! Sự thực mấy ông nhà văn vốn nghèo chất liệu mỗi khi đả động đến nếp sống và phong tục quần đảo. Hình như mỗi lần muốn vạch rõ chế độ nhà tù hắc ám, phi nhân họ ưa nhấn mạnh và lên án cái cầu tiêu mà theo họ đó là tượng trưng rõ nét nhất về sự hành hạ, sa đoạ con người. Họ cứ tưởng đâu cầu tiêu là cả một ám ảnh hãi hùng đối với thằng tù. Chao ôi, họ đâu biết chính nó là cứu tinh – một ân huệ lớn của nhà tù ban cho thằng tù. Ám ảnh hãi hùng đệ nhất là bước vô xà lim không thấy nó nằm đâu kìa! Có đi tù Tây Bá Lợi Á năm 1938 mới hiểu nỗi thống khổ của thằng tù không có cầu tiêu để mà ỉa! Làm sao cho kịp cầu tiêu, biết bao nhiêu cầu tiêu mới đủ cho nhu cầu tối thiết của những lớp tù dồn vô đông đến thế? So với những đợt tù dồn dập thì kỹ nghệ xây cất của Tây Bá Lợi Á tiến bộ sao kịp? Thế là những nhà kho đợt mới thiếu đứt khoản cầu tiêu. Rồi những xà lim cũ bên trong có sẵn cầu tiêu cũng gỡ đi luôn. Để nó làm chi, khi nó không thực sự giải quyết được phần nào nhu cầu? Nó được chế tạo theo tiêu chuẩn cũ và nhiệt độ tù “nhập kho” vượt qua mọi tiêu chuẩn mà. Khám đường Minusink lập ra với sức chứa tối đa 500 tù (Lênin cũng từng ở đây nhưng người có đặc quyền di chuyển thong thả). Nay phải nhét vô 10 ngàn, thì chế tạo sao nổi những cầu tiêu trong xà lim với dung tích 20 lần lớn hơn? Nhà văn Nga có lệ ưa tả những cái gì thanh cao, tránh bằng hết những danh xưng tục tĩu, thô bỉ. Họ không khoái mổ xẻ vấn đề chia ly, đặt kính hiển vi vào cả những thứ tầm thường, nhỏ mọn nhất cho các cây viết Tây phương để thấu hiểu cho nỗi khổ tâm của một thằng tù bị tống vô một xà lim với số tù chen chúc 20 lần nhiều hơn, mà mỗi ngày chỉ được phép dẫn đi cầu đúng 1 lần! Nhà văn Tây phương chú ý đến xã hội của họ không thể quan niệm nổi một nếp sống (dù là tù đày) mà người vô trước khuyến cáo người vô sau nếu mắc đái quá hãy tống đại vào lòng nón, và chiếc giày bốt dựng ngửa lên rồi lộn đầu trong ra ngoài, đặt xuống đất là có một cái cầu tiêu khá chắc chắn, xài tạm được. Những đầu óc Tây phương đó làm sao thấu triệt nổi nguyên tắc “ít ăn ít ỉa, ít uống ít đái” tốt đẹp ở khám đường Minusink. Mỗi tổ 4 người, mỗi ngày lãnh một chậu thức ăn, 1 ca nước uống. Có vậy thôi, liệu mà chia nhau! Có 4 thằng tù với nhau mà chia chác cho đều đâu phải dễ. Chưa kể đến thằng giành giữ chậu thức ăn, thằng đòi giữ lại phần nước, chưa uống vội. Những vấn đề không giải quyết nổi chỉ nhà tù không cung cấp đủ chậu đủ ca cho tù, dù 4 thằng xài chung 1 cái! Chao ôi, lúc bấy giờ mới nảy ra tranh chấp, lúc bấy giờ con người mới để lộ ra tất cả những cái gì gọi là thú tánh kìm hãm mãi! Tôi không dám nói đùa. Phải chung chạ trong hoàn cảnh nghiệt ngã như thế đó cái đáy của con người mới nổi lên, hiện nguyên hình. Nhưng nhà văn Nga còn bận rộn nhiều chuyện khác, người đọc Nga cũng chẳng có thì giờ đâu để đọc vụ đó. Tôi đâu dám nói đùa, chỉ có thầy thuốc nhìn vô mới hiểu chỉ cần vài tháng sống trong cảnh ngặt nghèo đó đủ di hại cho cả một đời người. Không cần phải bị Yezhov đưa ra pháp trường xử bắn, con người không còn là người nữa. Dù có được Khruschhev phục hồi công quyền cũng vẫn đến vậy mà thôi.
Than ôi, nếp sống khám tiếp nhận là như vậy đó mà bọn tôi có hồi đã mơ màng, mong ước sao cho mau đến nơi để nghỉ ngơi cho thoải mái con người một chút! Chẳng là bị dồn ép mấy ngày liền trên xe Stolypin, chỉ khấp khởi mong đến một chỗ nào có thể duỗi chân ra một lúc, hay đứng thẳng lên được cũng đỡ khổ. Cứ tưởng bề nào cũng qua được cái nạn “đi cầu có hộ tống, 1 phút 1 đầu”. Nước uống ít ra cũng không hạn chế, không chừng còn được nấu sôi lên pha chút trà nữa! Và đồ ăn thì chắc chắn khỏi phải “trao đổi” quần áo mới đòi lại đủ khẩu phần của mình hàng ngày. Thế nào chẳng có đồ ăn chín, đồ nóng? Mà tệ nhất cũng phải có chút nước để tắm qua loa, xối nước lên người chỉ để phải gãi ngữa tối ngày chớ. Than ôi, quăng lên quật xuống mấy đợt trên xe bít bùng, xương cốt tụi tôi muốn rời rã. Tay đứa nào cũng giơ lên hết nổi sau những màn tay xách đồ, tay ôm eo thằng đằng trước, hoặc đi cúi lom khom như một đàn ngỗng. Mà thôi, cứ cho rằng không có đủ ngần ấy thứ đi nữa tụi tôi cũng thấy lên tinh thần chán. Lên xe Stolypin là chỉ mong đến khám tiếp nhận cho xong. Thì bây giờ đến nơi rồi đấy. Chẳng khám tiếp nhận là gì đây? Điều nhận xét trước tiên là nơi đây cũng có những cái ước mơ của tụi tôi trở thành sự thực. Nhưng cũng có nhiều diễn biến quả thực là không dám ngờ. Chẳng hạn như vấn đề tắm táp sao đây? Chưa biết. Nhưng đột nhiên thấy ra lệnh: Đàn bà phải hớt tóc, cấm để tóc dài (khám Krasnaya Presnya, tháng 11 năm 1950). Lại còn cả dãy đàn ông cỡi truồng đứng sắp hàng cho đàn bà hớt tóc giùm nữa mới là khổ. Ở Vologda sếp phòng tắm là mụ mập Motya. Thấy đủ số cho đi tắm một lượt được rồi là mụ đứng dậy hô lớn: “Đứng dậy, mấy cha!”. Mụ sẽ đưa cả đám vô vòi nước nóng. Ở khám tạm Irkutsk lại khác: Phụ trách phòng tắm phải toàn là đàn ông! Khám Novosibirsk thì giữa mùa Đông tháng giá tù cũng ráng tắm nước lạnh cho quen. Có phản đối thượng cấp thì một ông Đại úy sẽ hầm hầm bước vô, khẽ đưa mấy ngón tay vô vòi nước, quát ầm lên: “Tao thấy nước thế này là đủ nóng rồi! Đòi hỏi cái gì? Nhưng thôi, thiếu gì nạn tắm đặc biệt. Cũng tắm, nhưng tắm cạn, tắm khô. Cởi quần áo ra, vứt vô chảo cho lên bếp lò rang khô (cho đúng cách hấp tẩy vệ sinh!). Cũng tắm nhưng tắm xong tù phải ở truồng, chân đất chạy trên tuyết mới lấy được quần áo mặc vô, như ở trại giam Ty phản gián, Mặt trận Byelorussia ở Brodnica năm 1945. Đặt chân vô khám tạm anh sẽ nhận ra ngay những nhân vật mà anh phải tiếp xúc không phải là người nhà nước, giám thị hay sĩ quan chuyên nghiệp là những người ít nhất lúc hành nghề cũng tôn trọng luật nhà nước. Cấp thẩm quyền ở đây toàn thứ được đề bạt vào làm việc nhà lao, những khuôn mặt rất quen thuộc với anh từ trên toa xe Stolypin nhưng nơi đây họ sạch sẽ, chỉnh tề và nghiêm trang hơn nhiều. Mấy ông bạn blatnye chớ ai khác. Bọn họ thì thằng sếp phòng tắm có thể chào đón vô duyên hạ cấp: “Rước quý ngài Phát-xít đi tắm chơi”, thằng cắt cử công tác tay cầm bản phân công tò mò, soi bói nhìn từng tên coi “thằng nào, nghề gì”. Thằng huấn luyện viên cuốn tròn tờ báo đập đập vào đùi mà mắt vẫn không ngừng “chiếu tướng” bên trong ba lô! Nghĩa là được đề bạt vào chức vụ thầy chú nhưng cái đuôi blatnye của họ vẫn sờ sờ: Thấy vật gì có thể chứa đựng những món đồ bóc lột được là động lòng tham ngó sững như muốn qua lớp vỏ. Làm công việc của thầy chú dĩ nhiên tha hồ đi lại. Đâu phải thằng tù nữa. Đó là người làm việc nhà nước, tư cách và long trọng đủ để thay mặt nhà nước áp dụng kỷ luật nhà tù. Quan sát kỹ thì đấy mới là thành phần bần cố tiêu biểu Nga, chính gốc bố cu mẹ đĩ. Cũng hai lỗ mắt, hai lỗ mũi như ai nhưng lỗ miệng kên kên rõ: Đó là chuyện bộ phận chuyên môn ăn đớp và phát ngôn những danh từ đặc biệt nhà nghề. Phải hiểu tổ chức nhà lao. Có nhân viên phụ trách là phải có lương nhà nước: Tại sao ông Quản đốc ma lanh không bỏ túi một mớ lương nhân viên (sau khi đã chia chác) và “đề bạt” các anh em blatnye vô làm thế chân nhỉ? Chỉ cần vẫy tay một phát thì anh em xung phong thiếu gì? Đâu cần lương tháng. Chỉ đòi hỏi được quyền được ở lại khám tiếp nhận để tha hồ ăn trên ngồi trước, khỏi phải đi nông trường hay công trường Mỏ là được. Do đó dần dà các khám tạm đều có nguyên một bộ phận hành sự blatnye: Văn phòng thì có đủ thư ký, kích thước, thủ kho. Cán bộ thì sếp phòng tắm, sếp hớt tóc, sếp thợ may, sếp bếp, sếp cầu rửa, ngành nào cũng có sếp, có huấn luyện viên! Trên giấy tờ họ cũng vẫn là tù, vẫn có danh sách trong xà lim vậy. Ngoài khẩu phần chính thức tha hồ hưởng thực phẩm thặng dư ăn chặn của tù ngay từ dưới bếp, còn dư bao nhiêu bacilli lột được của bọn làng xã, dân quỉnh nữa chớ. Tội gì chúng không phục vụ khám tạm đắc lực để được nằm lại vĩnh viễn. Than ôi, đã vô đến khám tiếp nhận để chuẩn bị làm dân quần đảo thì thằng tù nào chẳng xác xơ, có còn giữ được gì? Nhưng dù sao vẫn còn rút rỉa được, vì muốn ngàn mánh lới mà căn bản là không du ngoài võ lực cưỡng đoạt. Chỉ “mượn”, “giữ giùm cho khỏi mất” và “đền ơn” là cùng! Chẳng hạn như khám vừa tiếp nhận đám tù thì vô sổ cũng người anh em lo, công tác quan trọng nhất là khám hành lý, lục lọi xét từng người cũng hoàn toàn người anh em phụ trách. Câu đầu tiên trước khi khám xét bao giờ cũng là: “Vô đến đây bà con đừng giấu giếm tiền nghe! Tốt hơn có bao nhiêu khai ra. Nhà tù giữ giùm có biên nhận hẳn hoi.” Dại dột thò tiền ra là mất luôn: Chẳng nhìn thấy tiền, sờ thấy biên lai vô sổ bao giờ! Kế tiếp là một công tác vệ sinh rất hợp lý: Tù phải được đi tắm ngay để tẩy uế. Cởi quần áo ra, phân vân chưa biết tính sao đã nghe sếp tắm nạt: “Coi, tính xách quần áo vô tắm luôn sao? Để đấy, mớ giẻ rách ai thèm”. Đi trở ra thiếu đứt một số quần áo tốt nhất, áo lên, quần dạ không bao giờ còn! Có kêu ca, thưa gởi sẽ bị nghe câu chặn họng muôn thuở: “Mấy người lộn xộn, vứt bừa bãi quá! Chỉ mấy người lấy của nhau chớ ai ở đây mà thèm!”. Có khăng khăng làm tới thì: “Mất cái gì? Áo len hả? Màu gì?”. Xác nhận: “Áo len dài tay màu xám” cũng tối vô ích vì sếp kết luận: “Ồ, dài tay màu xám thiếu gì. Chắc mặc lẫn lộn của nhau! Hay tụi nó không biết quơ luôn xuống nhà giặt rồi. Để thủng thỉnh kiếm!” Có bao giờ kiếm ra? Nó đã được người anh em “mượn” rồi. Cũng như chiếc va-li còn tốt, người anh em đề nghị “gởi kho” giùm là vô phương “xin lại”. Người anh em còn được “đền ơn” nhiều cách. Muốn được vô một xà lim đỡ khổ là phải có một cái gì. Hai thằng muốn gần nhau, nhờ người anh em thu xếp cho ở chung phòng ắt phải biết điều. Muốn có tên trong danh sách đi ngay, hoặc muốn được ở nán lại vài ngày cũng chẳng khó. Nếu có một cái gì để “đền ơn”. Do đó không phải muốn làm “người anh em” mà dễ! Thiếu gì dân blatnye thứ thiệt nằm chết rũ trong xà lim, dù cũng đầy một ngực xâm trổ. Đó là những đấng ưa chọn chỗ gần cửa sổ, đợi có đám tù mới ngồi xếp hàng đợi phiên khám xét là hù, đại khái: “Mấy anh em mới tới bữa nay hả? Ở đây bọn chó đẻ xét khó lắm nghe. Thấy trà thấy thuốc lá là tịch thu liền! Muốn khỏi mất thì thảy vô đây bọn này giữ giùm, lát nữa vô lấy lại. Để chúng nó thấy là mất không còn một sợi!” Biết họ có tịch thu mấy thứ đó thật không? Dám có lắm. Không lẽ cùng thân phận tù tội với nhau họ lại bịp trắng trợn, nhỏ mọn thế? Mà lát nữa lỡ bị mất thiệt, anh em đã cho hay trước còn mất thì sao? Thế là không do dự, mấy gói trà, mớ thuốc lá được liệng vô cửa sổ và dĩ nhiên mất luôn! Bên trong xà lim các anh em cười hô hố: “Bọn phát-xít phản động, ngu muội!” Thì ra khám tiếp nhận là như vậy. Không cần hô lớn, không viết thành khẩu hiệu dán vách nhưng thằng tù mới đến phải hiểu ngầm: “Nơi đây không Công lý, lẽ phải! Đứng nói đến tư hữu, của riêng. Có bao nhiêu đưa hết ra. Nộp hết đi, giữ sao nổi!” Chao ôi, giữ không nổi thật, và giữ để làm gì? Lãnh bản án đi đày đã choáng váng, kể như chết nửa người rồi. Không biết cuộc đời sẽ ra sao đây, Vật vờ sống qua ngày mà đến đâu cũng bị bóc lột mãi thế này. Án chính trị là bị dồn ép mọi bề, ai ai cũng hành hạ thân xác được thì giữ làm gì những thứ không dính theo người? Giữ làm gì khi bằng chứng của sự bóc lột, cưỡng đoạt dễ thấy quá. Đó kể như một hành động được công nhận. Này ông giám thị khám tạm Gorky đầu lúc lắc nhưng tay vẫn đưa ra nhận đỡ chiếc bành tô nhà binh thứ chiến mà Ans Berntein hể hả trao tay. Ít ra còn đánh đổi được 2 củ hành! Khám Krasnaya Presnya có thầy chú nào không diện một đôi bốt da láng coóng mà nhà binh không hề phát? Toàn là bốt của tù, do kên kên “làm ăn” được và chia chác cho chớ còn ở đâu ra? Còn nói làm gì khi khám Kem có mỗi một ông huấn luyện viên, trưởng ban Học tập và Văn hoá thì người lại là dân blatnye chính cống và chính ông dân chơi có hạng này lại phụ trách công tác báo cáo hạnh kiểm tù chính trị. Vô khám tạm Rostov còn nói làm gì đến Công lý và chống trộm cướp khi cả nước phải công nhận đây là sào huyệt đắc địa bậc nhất của họ nhà kên kên. Không phải tất cả đều cúi đầu, chấp nhận mọi sự lộng hành, nhũng nhiễu của blatnye. Nghe nói năm 1942 ở ngay khám tạm Gorky một số tù chính trị cựu sĩ quan (trong đó có Gavrilov, kỹ sư công binh Sthhebetin,) đã uất ức, trừng trị đích đáng bọn kên kên, buộc phải chịu phép. Có thể có chuyện trên nhưng chỉ ở một nơi đó, trong thời gian nào đó thôi. Không bao giờ blatnye chịu khuất phục vĩnh viễn vì họ còn là “thành phần cải tạo được” không lẽ phải chịu thua “bọn phản động, rác rưởi, bỏ đi?”. Bề nào cũng còn các đồng minh Mũ Xanh mà. Chuyện can thiệp đã từng xảy ra ở khám Kotlas năm 1940. Đang xếp hàng trước Câu lạc bộ tiền cầm sẵn ra tay đợi lượt bước vô mà bị kên kên xông tới giựt thì chịu sao nổi? Tù chính trị hè nhau đập túi bụi, không mạng nào thoát ra nổi, nhưng biết làm sao hơn khi giám thị “can thiệp” không nổi đã có lớp lính gác ngoài hàng rào xông vô bên trong nhà tù giải tán tất cả bằng những họng đại liên. Cũng phải nói dân blatnye lên chân được một phần cũng vì số người thích nhờ vả. Có gì đâu, kẹt trong xà lim không được nhờ những thằng có quyền chạy ngoài mua đồ giùm thôi! Họ xăng xái lắm chớ, có tiền mà. Nay thức ăn mai vật dụng, người có tiền dần dà đâm lụy thằng mua giùm, lệ thuộc vào nó chỉ vì chút tiện nghi vật chất. Từ nhờ vả, cầu cạnh đến chịu lụy và nô lệ quá dễ! Càng lệ thuộc vào tiện nghi vật chất thì càng khó lòng giữ bản sắc của một thằng tù dù tù tội cũng ráng giữ được tự do để đạt đến mức tinh thần thanh thản. Càng sa lầy càng khó vươn lên vì, lạc đà làm sao chui lọt lỗ kim? Cũng chỉ vì quá tha thiết mấy món vật dụng nên anh mới quên lúc ngồi xe bít bùng dân blatnye cũng đã đánh hơi và thèm chiếc ba lô của anh lắm, nhưng chúng không dám vì chúng có 2 mà bọn anh tới 50 người mà. Cũng thỉ vì lo sợ mất đồ nên ngồi chen chúc với nhau qua ngày thứ hai ở nhà ga Krasnaya Presnya ướt át anh đâu còn đầu óc để quan sát ngoại vật. Chỉ tính toán làm cách nào cho khỏi mất đây. Lúc hành lý được khám xét xong anh thở phào ra nhẹ nhõm. À, xong rồi thì còn đồ! Nghĩa là lần này chưa, có mất phải lần sau! Ít ra cũng còn cầm tay được một gói, một bọc bên trong có thứ gì ăn được. Xem ra đám tù mới nhiều dân quỉnh con mòng quá. Vậy phải phân tán, chia đều ra các xà lim. Tình cờ tôi lọt chung phòng với anh chàng thầy bói sáng Valentin, chỗ quen biết từ ngày bị kêu lên lãnh án. Người long trọng và cảm động đề nghị lập một cuộc đời mới trong trại. Cũng dễ vì lúc đó xà lim còn chưa đến nỗi đông lắm, dưới sàn còn có chỗ đi lại. Ngay ở các ổ nằm cũng khoảng khoát. Thông lệ thì ngăn trên cùng đã có anh em dân chơi bao trọn. Đàn anh gần cửa sổ, em út xa xa một chút. Ngăn dưới nằm lũ lượt một đống người. Không có chuyện gì xảy ra. Tụi tôi dân mới, thiếu kinh nghiệm có biết lựa chọn, thu xếp gì. Thấy chỗ trống phía dưới là chui vô, tuy gần ổ ngủ hơi thấp một chút nhưng cúi sát xuống, luồn vô cũng được. Hai đứa nằm duỗi dài cạnh nhau, dù nằm gần cũng khoan khoái lắm rồi. Ít ra cũng kề cận nhau, khe khẽ nói chuyện tâm tình. Miễn là không có chuyện gì xảy ra! Nhưng làm sao không có chuyện cho được? Bao nhiêu thứ quý giá thồn vô, mỗi thằng một gói đầu giường thì chắc ăn quá rồi. Nào ngờ nằm chưa nóng chỗ đã có động! Rất nhẹ nhàng hệt như những bóng ma, mấy bóng đen từ hai bên trườn tới đột kích. Dáng người thế kia thì người lớn sao được? Đúng, toàn con nít! Có đứa chỉ 12 tuổi là nhiều, 12 tuổi vẫn lãnh án đại hình, Toà vẫn xử như thường. Phải nói là chúng đã “tốt nghiệp” kể từ ngày lãnh án và những ngày nằm khám kể như “thực tập”, có các đàn anh sa cơ, thừa thì giờ truyền bằng hết kinh nghiệm quý báu. Chúng lẹ vô cùng và tính toán “làm ăn” thần sầu. Chợt thấy chúng thì đã muộn rồi: 6 cánh tay luồn như rắn “mượn” luôn 2 gói bảo vật mà 2 đứa tụi tôi đang gối cứng dưới đầu. Chỉ thấy soạt một phát là những cái gì mình khăng khăng giữ lọt hẳn sang tay chúng để chúng chuồn đi như chuột cắp đồ! Cả hai chúng tôi trơ mắt ngó. Gầm sàn quá thấp, cất đầu sao nổi? Muốn rượt theo cũng vô phương vì chuồn ra chầm chậm cũng còn khó quá! Đành lấy mắt ngó theo, uất ức. Không lẽ bị cướp giật đồ khơi khơi mà cứ dằn lòng nằm mãi? Càng suy nghĩ càng thấy mình ngu: Khi không chui đầu vô hang cụt để thấy chuột cõng đồ đi mà ú ớ nằm nguyên chỗ. Từ từ cả hai đứa trườn giật lùi mãi mới thoát khỏi cái gầm. Nằm khám bị 3 đứa con nít được ủy nhiệm lòn vô phỗng tay trên tất cả gia tài cùng nín thinh lúc bấy giờ. Tôi đâu có phải thằng hèn. Địch pháo như mưa bấc giữa đồng trống tôi vẫn xung phong, đường gài đầy mìn chống chiến xa vẫn dám lái xe đi như không, bị bao vây 4 mặt vẫn tỉnh táo kéo cả pháo đội ra an toàn còn trở lại lấy nốt chiếc xe chỉ huy. Vậy sao tôi không dám nắm đầu mấy thằng ranh mất dạy dọng xuống sàn dầu hắc? Nó con nít không nỡ thì đứa cầm đầu nó. Tôi không làm gì! Hay ở chiến trường hăng say tình đồng đội hoặc vì nghĩa vụ chiến sĩ lúc bấy giờ phải làm như vậy, trong khi lọt vào chốn hoàn toàn xa lạ này tôi mù mờ, không biết phải phản ứng cách nào cho đúng? Tôi đi tới thằng sếp sòng. “Gia tài” bọn nhãi vừa cướp giật còn nằm sờ sờ cạnh nó, gần chỗ cửa sổ. Còn nguyên vẹn! Bọn chuột nhắt đâu dám đụng tới “chiến phẩm”. Mặt thằng chúa đảng chao ôi là cả một sự nhớp nhúa, buồn nôn! Đúng là phần trên dị hợm của con vật 2 chân gọi là người, quân kên kên săn mồi có khác. Nó thỏn lại điếm đàng và trâng tráo. Phần trán ngắn ngủi, cái sẹo ác ôn, hàm răng giả gớm khiếp. Cặp mắt ti hí thế kia có lẽ trời sinh ra chỉ để ngó cho thấy đường chớ đâu phải để tưởng thức những vẻ đẹp của thiên nhiên. Nó ngó sững tôi, đeo dính như rắn đeo mồi. Rõ ràng nó chờ coi tôi làm gì. Tôi phải làm gì? Đập một phát bể khuôn mặt thú vật rồi ung dung đi về phía mình? Khốn nạn, tôi đâu có làm vậy! Không lẽ chịu quay trở về chỗ cũ, nằm bóp bụng chui vô gầm sàn? Cũng không. Tôi hậm hực bảo nó lấy hết đồ ăn thì ít nhất cũng thu xếp giùm một chỗ trên ổ đàng hoàng chớ. Uất ức, nhỏ mọn như vậy đó. Thằng sếp sòng gật đầu. Làm gì nó không chấp thuận? Tôi đâu có đòi lại những món bổ béo mà còn yêu cầu “thu xếp” tức đã gián tiếp xác nhận chủ quyền của nó ở đất này còn gì? Vậy là tôi đồng ý quan điểm với nó, đè đầu được thằng nào là đè, nhằm những thằng yếu nhất. Lệnh của sếp sòng ban ra là có chỗ trống lập tức ở ổ dưới, 2 chỗ tốt nhất cạnh cửa sổ. Hai đứa đang nằm phải riu ríu “tản cư” đi chỗ khác. Tôi và Valentin điềm nhiên ngả lưng xuống mà vẫn tiếc hùi hụi hai bọc đồ: Mấy món nhà binh của tôi các người anh em không khoái mấy nhưng một đứa cứ vuốt mãi chiếc quần len của Valentin. Đêm hôm đó mấy người nằm cạnh than thở với nhau. Sao lại có hạng người hạ mình nhờ vả bọn blatnye để tranh đoạt cả chỗ nằm của anh em nhà, những người cùng đi đày điều 58 với nhau? Lúc đó tôi sực nhớ lại cử chỉ hèn hạ của mình, càng ngẫm nghĩ càng thấm thía và nhục nhã (bao nhiêu năm sau mỗi lần nghĩ tới tôi còn đỏ mặt). Dĩ nhiên tôi không biết 2 kẻ vừa bị truất chỗ là ai. Nhưng họ là bạn đồng tù. Họ lại là cựu tù binh hồi hương, thành phần bị đày đoạ nhất. Sau bao nhiêu ngày tháng dở sống dở chết trong trại tù binh địch tưởng được giải thoát hồi hương nào ngờ bị tống hết đi đày vì điều 58 khoản 1b. Mới đây tôi còn xót thương, còn cầu nguyện vì họ tranh đấu! Vậy mà vừa rồi tôi còn tranh chỗ nằm của họ, lại nhờ áp lực của bọn lưu manh, thì đốn mạt quá! Đồng ý la họ lặng thinh, không can thiệp lúc bọn kên kên cướp giựt đồ của tụi tôi. Nhưng chính tụi tôi – người mất đồ – có kháng cự, có chống lại đâu mà đòi hỏi họ bênh vực? Họ đã dở sống dở chết trong các trại giam đến mất hết tin tưởng ở sự tử tế trên cõi đời này. Nhưng họ có đụng chạm gì đến tụi tôi? Mà tôi nỡ đối xử như vậy, không đỏ mặt sao được? Thì ra con người ta là vậy. Phải có hoài hoài những bài học, phải ăn roi và thường trực gò nắn thì mai sau may ra mới nên người.
Phải nói là dù bị quăng lên quật xuống ở trong đó thật nhưng khám tiếp nhận thực sự vẫn là cứu tinh của một thằng tù mới. Nó là một cửa vào quần đảo tối cần thiết để tập chịu đựng cho quen dần trước khi vô ở hẳn Trại Cải tạo. Đang tự do ở ngoài đời bị tống tức khắc vô quần đảo, sự thay đổi quá đột ngột, phũ phàng, mấy ai chịu nổi? Để khỏi bị mất hồn phải có một chuẩn bị tiệm tiến, phải học tập chịu đựng mọi thử thách. Nằm khám tiếp nhận cảm giác tốt đẹp đầu tiên là thấy gần gũi với gia đình. Từ ngày bị bắt có bao giờ được phép gửi thư, nhắn tin về nhà. Đến đây mới được phép viết lá thư đầu tiên. Ít nhất cũng có thể cho gia đình hay chưa đến nỗi chết và đôi khi còn có thể cho biết hiện đang trên đường lưu đày phương nào. Gia đình, thân nhân cứ tưởng người bị bắt vẫn như xưa nay hay có thay đổi cũng chỉ phần nào. Nào ngờ thời gian tù tội đã biến đổi hắn thành một người khác hẳn, không thể trở lại con người ngày xưa. Coi lá thư thứ nhất viết về nhà là thấy ngay sự thay đổi nhưng làm sao khác hơn được. Nó nguệch ngoạc, xiêu vẹo, vì nhà tù cho phép viết thư, sân trong khám còn có thùng bỏ thư đàng hoàng nhưng lấy đâu ra giấy, viết chì? Kiếm cho ra một cái gì có thể gọt viết chì cũng khó trần ai! Phải xoay sở một mảnh giấy gói thuốc rê, gói đường gì đó rồi vuốt ve cho thẳng thắn, nài nỉ mượn cây viết chì cùn của gã cùng nằm chung xà lim. Nắn nót viết thế nào cũng cứ nguệch ngoạc nhưng gia đình sung sướng hay lo lắng cũng vì nó. Thiếu gì bà vợ vừa nhận được mấy chữ của chồng vội cuống cuồng tìm đủ mọi cách để mò tới tận khám tiếp nhận chỉ cốt dể nhìn thấy tận mặt chồng. Chẳng bao giờ được phép vô thăm. Chưa nghe nói khám tiếp nhận nào cho phép hết. Khéo xoay sở lắm cũng chỉ gởi vô thêm được ít đồ nuôi càng làm bận tâm thêm. Vì vậy mới có sự tích trông chồngdưới đây mà theo ý tôi phải dựng tượng đá kỷ niệm đúng chỗ mới đáng để đời sau suy ngẫm. Vụ này xảy ra năm 1950 ở khám tiếp nhận Kuibyshev. Khám choán trọn một vùng đất thấp nhưng từ đây nhìn xuống vẫn thấy cây cầu Zhiguli trên sông Volga. Tiếp giáp với khám ở phía đông là cả một sườn đồi sừng sững cỏ xanh, hệt như bức tường thành khổng lồ chắn ngang, cao vòi vọi. Hoạ hoằn lắm mới thấy đàn dê được trẻ chăn lên ăn cỏ sườn đồi. Bỗng đâu một buổi trưa mùa hạ có bóng người lạ thấp thoáng trên đồi: một phụ nữ tỉnh thành! Nàng đứng sững một chỗ, tay đưa lên che nắng, nghển cổ ngó xuống nhà giam. Giờ đi dạo thường nhật, dưới sân khám cả 3 xà lim trên 300 con người cùng được thả ra cho đi chơi một lượt, ở 3 khoảng sân cách nhau. Sừng sững trên sườn đồi, người đàn bà đứng nghển cổ ngóng xuống mãi. Xa xôi, cách trở như vậy thì thấy mặt chồng sao nổi, 1 con kiến giữa đàn kiến 300 con? Hoạ may nhờ linh tính! Chắc hẳn xin phép vô thăm không được nàng mới leo lên đồi ngó xuống, cố tìm hình ảnh người thân. Dưới chân khám bao nhiêu con mắt ngóng lên. Dưới này lặng gió nhưng sườn đồi chơ vơ chắc gió thổi ào ào. Gió lộng thổi tạt mớ tóc dài buông xõa, xiêm áo bay phơi phới. Còn cảnh tượng trông chồng nào thiết thực sống động và gợi tình bằng? Tôi cho rằng ở ngay chỗ sườn đồi ấy, nhìn xuống khám Kuibyshev dưới này, phải dựng pho tượng thiếu phụ trông chồng cho đời sau chiêm ngưỡng 3. Bữa hôm đó thiếu phụ đứng làm pho tượng sống lâu. Dĩ nhiên thấy tù xôn xao Ban Quản đốc biết liền nhưng mấy ông lính gác vòng ngoài làm biếng leo núi, mãi sau mới có một người trèo lên hò hét, xua đuổi người đàn bà đi.
Ngoài tính cách “luyện tập sức chịu đựng của con người” khám tiếp nhận còn là một cơ hội mở mắt cho những thằng tù. Ăn ít nhưng được thấy nhiều. Không ăn cũng vui vì hàng ngày được chứng kiến mấy chục, mấy trăm người đi đến, đến đi và tai được nghe thấy bao nhiêu chuyện lạ (ở Trại Cải tạo có ai dám hó hé gì? Chỉ sợ lọt bẫy của ông Oper tức sĩ quan An ninh!). Nhờ những dip sinh hoạt thú vị cho tai cho mắt mà con người thấy thoải mái hơn, sáng suốt hơn và có nhất định rõ hơn về mình về người và những gì xảy ra ở thế giới bên ngoài. Chỉ cần nghe một mẩu chuyện vớ vẩn của một gã lập dị nào đó cũng thấy lạ hơn bất cứ một cuốn sách nào anh từng đọc. Chẳng hạn như tình cờ họ tống vô xà lim một nhân vật đặc biệt kỳ lạ: Một dân nhà binh rõ vì hắn còn diện một bộ quân phục Ăng lê thẳng nếp. Đẹp trai, trẻ tuổi đã đành. Hắn còn nguyên bộ tóc vàng óng ả dợn sóng trong khi bà con trong này đầu trọc lóc hết. Hắn như một sĩ quan vừa cầm quân đổ bộ lên bờ biển Normandy chớ chẳng có nét gì về tù tội hết. Dáng đi của hắn lại bệ vệ, chững chạc như chờ đợi mọi người đứng bật dậy chào đón. Đâu phải một thằng tù vô xà lim. Điều lạ nhất là hắn vẫn nghênh ngang, dù là thằng tù! Thì ra mất tự do 2 năm nhưng bây giờ hắn mới phải nằm xà lim là một. Được đưa thẳng đến khám tiếp nhận hắn vẫn một mình chiếm một ca-bin toa xe Stolypin mà. Hắn là gã lạ mặt trên công voa hôm trước, Erik Arvid Andersen. Có lẽ chính Andersen cũng không ngờ bị tống vô ở chung với tụi tôi. Vừa thấy mặt gã sĩ quan Đức còn mặc nguyên quân phục Quốc xã trong phòng, hắn xấn tới xổ tiếng Đức ào ào. Hai đứa tranh luận, gây gổ tưởng chừng sắp đấm đá đến nơi. Khác hẳn tụi tôi, đánh nhau với Đức 5 năm nhưng chẳng hề coi gã là thù địch. Nghe chuyện Andersen chẳng ai tin nổi, nếu hắn không có “mớ tóc dài duy nhất trên quần đảo” làm bằng chứng trước mặt. Lại người ngoại quốc, thông thạo 3 thứ tiếng Anh, Đức, Thụy Điển! Theo lời Andersen thì thân phụ hắn là một nhà kinh tài lớn Thụy Điển, không phải triệu phú mà là tỷ phú. Phía ngoại cậu hắn là tướng Robertson, tư lệnh vùng chiếm đóng của Anh ở Đức nên hắn quốc tịch Thụy Điển tình nguyện chiến đấu trong quân đội Anh, có tham dự trận Normandy thực sự và sau đó là sĩ quan hiện dịch quân đội Thụy Điển. Cũng chỉ vì say mê Xã hội chủ nghĩa, muốn thấy tận mắt nên Andersen không màng đến gia tài của cha, xoay sở một chân trong đoàn tùy viên quân sự Toà Đại sứ Thụy Điển ở Mạc Tư Khoa. Là bạn của chế độ Xô Viết ông sĩ quan tùy viên đi đến đâu cũng được trọng vọng, tiếp đón niềm nở. Nay tiệc tùng, mai thăm viếng miền quê, tiếp xúc vô cùng thân hữu với “nhân dân” đủ mọi giới, không hề ngờ gặp toàn những nhà dàn cảnh và kịch sĩ đại tài mà nữ kịch sĩ lại vô cùng dễ tính, săn đón rất đúng mức nên có dịp trở về Thụy Điển, Andersen viết báo ca tụng chế độ Xô Viết bằng thích. Thời kỳ 1947-1948 nhà nước Nga đang cần phải có một số “nhân vật” trẻ khối Tây phương chối bỏ tư bản và sẵn sàng công khai nói lên điều đó. Có sẵn Erik Arvid Andersen thì tốt quá nên hắn được chiếu cố ngay. Đó là lúc Andersen đang phục vụ ở Tây Bá Linh, để vợ con ở lại Thụy Điển. Như bất cứ một thằng chồng nào xa vợ, hắn lui tới giao du với một thiếu phụ chưa chồng ở Đông Bá Linh. Một đêm hắn mò đến thăm tình nhân và chừng tỉnh dậy thấy mình bị trói cứng, nhét giẻ đầy miệng. Tục ngữ có câu “Tối thăm em khuya nằm nhà pha” là thế, song đâu có phải một mình Andersen bị. Đưa về Mạc Tư Khoa, hắn được gặp lại Gromyko – người từng ra tới nhà hắn ăn cơm một lần ở Stockholm. Gromyko tiếp đãi tử tế sau đó khuyến cáo hắn trở cờ hứa hẹn một mức sống đầy đủ, thừa thãi không thua tiêu chuẩn Tây phương. Nghĩa là Andersen không mất mát gì nhưng chính Gromyko không ngờ hắn từ chối phắt và nặng lời công kích. Tưởng hắn bất quá chỉ là một thằng bốc đồng, dư sức tẩy não mới có lệnh quản thúc tạm trong một vi-la ngoại ô Mạc Tư Khoa “ổn định tư tưởng” dần dần Andersen vẫn được đãi ngộ như thượng khách, muốn gì có nấy, thỉnh thoảng mới bị dằn mặt sơ sơ, đại khái trưa mai muốn ăn gà quay thì chỉ có bít tết xài đỡ! Một năm ở không ăn chơi nhồi sọ hết Marx-Engels đến Lênin-Stalin rốt cuộc Andersen vẫn trơ trơ. Chiến thuật hù bèn được sử dụng: Một ông đại tướng từng bị nằm Trại Cải tạo Norilsk 2 năm được cử tới ở chung với hắn để hướng dẫn cho Andersen biết qua thế nào là tù ngục, nếu còn bướng. Chắc ông tướng chẳng ưa công tác cũng như chế độ nên 10 tháng sau trò Andersen vẫn không tiến bộ chút nào. Ngoài mớ tiếng Nga bồi còn tởm bọn Mũ Xanh nhiều nữa! Mùa hè 1950 hắn được triệu đến lần chót để nghe chính đồng chí Vyshinsky thuyết phục gã Thụy Điển vẫn cứng đầu. Chủ nghĩa không hạ nổi để đồng chí Abakumov hạ hắn bằng bản án 20 năm đi đày, không nêu tội danh. Có lẽ lúc bấy giờ nhà nước Xô Viết cũng nhận thấy chọn lầm người, giác ngộ không nổi mà thả ra thì tai hại cho nên Andersen được đưa lên xe Stolypin, một mình một ca-bin cho kín đáo! Trên đường đến khám tiếp nhận hắn đã được cô nữ sinh viên Mạc Tư Khoa rỉ tai cho biết bộ mặt thật của nhà nước Xô Viết. Hai năm giam lỏng đã khiến Andersen giác ngộ nhiều. Với hắn bây giờ khối Tây phương lại mạnh nhất, đúng nhất. Quân lực Tây phương vô địch, cấp lãnh đạo vô song. Hắn cuồng tín đến độ không tin khối Tây phương chịu Nga lộng hành, bao vây Bá Linh cũng như động công kích đến Roosevelt, Churchill là hắn đỏ mặt giận dữ. Hắn nhất định khối Tây phương không chịu bỏ qua vụ của hắn và thế nào hệ thống tình báo của họ đặt bên trong khám tạm Kuibyshev cũng phát giác và có tin về cho biết Erik Arvid Andersen hiện đang bị Nga bắt giữ chớ không phải đã chết đuối trên sông Spree. Do đó thế nào cũng có một vụ điều đình chuộc người hay trao đổi để hắn được trả tự do. Andersen vững tin ở các gốc lớn của hắn – tuy nằm đây nhưng không thể tàn mạt như tụi tôi – không khác gì mấy đồng chí Cộng sản chánh cống! Tụi tôi đâu có tin ngây thơ vậy nên nhiều lần cãi cọ nặng lời. Tuy nhiên hắn vẫn hể hả mời tôi sau này có cơ hội qua Stockholm nhớ ghé nhà hắn. “Cứ nói gia đình tôi thì ai chẳng biết? Quen lớn cả một triều đình!”. Andersen dặn dò và mỉm cười mệt mỏi. Trong khi đó cậu con ông tỷ phú Thụy Điển mồ hôi ra ướt mình không có khăn lau đành nhận đỡ một mảnh giẻ rách của tôi cho để xài đỡ vậy! 4
Ở khám tiếp nhận tù đến tù đi liên miên có bao giờ dứt. Có xe lửa chở đến là có ra, vô đều. Ở ngoài nhìn vô tưởng bộ máy di chuyển vĩ đại vậy hẳn phải chạy đều lắm. Có biết đâu bên trong có những vụ tù đến tù đi vô cùng ngu ngốc, chẳng ai tin nổi! Chẳng hạn năm 1949 những Trại Đặc biệt ra đời. Do chỉ thị của thượng cấp nào đó, bao nhiêu tù đàn bà các trại Cải tạo ở Nga-Bắc và trung bộ Volga bị lôi đầu ra hết, chở tới khám tạm Sverdlovsk rồi đưa tuốt sang Tây Bá Lợi Á, Taishet và Ozerlag. Năm 1950 cấp trên cho rằng để đàn bà những nơi quá xa xôi đó không tiện, phải đưa hết về Temnikov, về Mordvinia. Nghĩa là quay trở lại hướng Tây, cũng ghé qua khám tạm Sverdlovsk! Năm 1951 nhà nước mở thêm nhiều trại trong tỉnh Kemerovo và quyết định tù đàn bà phải tập trung hết về đây mới đúng. Thế là từ Temnikov, từ Mordvinia, bao nhiêu con người lại bị xách cổ ra, tống về Kemerovo bằng hết. Dĩ nhiên vẫn phải qua khám tạm Sverdlovsk. Chỉ cần một lệnh ban ra là trôi nổi, lênh đênh biết bao nhiêu con người khắp các ngả đường di chuyển: Hàng hoá hư hao dọc đường đáng kể gì! Thế hệ cởi mở Khruschhev đem nhiều hy vọng lại cho dân quần đảo. Được dịp xét lại, tù đàn bà sẽ được phóng thích bằng hết! Tuy nhiên những thành phần kẹt lại cũng đông lắm chớ. Chế độ mới, thời đại mới thì chính sách đi đày cũng phải đổi mới: từ Kemerovo họ được lệnh tập trung cấp tốc về khám tạm Sverdlovsk để nơi đây phân phối đi Mordvina, đi Tây Bá Lợi Á mỗi nơi một ít. Mới đó lại có lệnh mới: không phân tán nữa, phải tập trung hết về Mordvinia. Dĩ nhiên vẫn phải qua hệ thống khám tạm! Những đợt đi đến, đến đi, đột ngột, vô lý vậy đó. Nhưng có sao đâu, dân Cải tạo thì Trại nào chẳng là nhà! Quần đảo tự trị tự túc mà. Với dân Nga thì di chuyển nhiều nữa, đi xa nữa còn được vì khoảng cách có nghĩa gì đâu? Di chuyển tập thể nghĩa là đi chung một chuyến đỡ khổ nhiều. Thảm hại nhất là những thằng Zek bất thần có lệnh di chuyển cá nhân, như trường hợp Shendrik trong một trại ở Kuibyshev. Còn dân Cải tạo nào yêu lao động bằng hắn, làm việc chăm chỉ ngoan ngoãn bằng hắn? Bỗng có một khẩu điện đánh tới trại, buộc giao hoàn tức khắc thằng tù tên Shendrik về khám 18 Mạc Tư Khoa. Ai dám chậm trễ? Bức điện mang chữ ký của sếp lớn nhất là đồng chí Bộ trưởng Nội An (quái lạ, đồng chí Bộ trưởng làm sao biết có một thằng tù tên Shendrik). Thế là Shendrik bị tống ngay về Mạc Tư Khoa nhưng không vô khám 18 mà cùng cả bọn được đưa về Krasnaya Presnya! Hắn có biết được giải giao về khám 18 đâu? Chưa đầy hai hôm đã bị tống lên xe Stolypin, đi miết ngược miền Bắc. Hé mắt ra ngoài thấy cảnh vật mỗi ngày một hoang vu, mỗi ngày một lạnh cóng thêm Shendrik càng hoảng hồn. Điệu này là gởi xương Bắc cực, không hiểu ông Bộ trưởng thù ghét gì hắn mà ra lệnh trừng phạt cá nhân thế này? Bị lính hộ tống truất 3 ngày bánh mì nên xuống ga Pechora hắn vừa đói vừa mệt, đi hết nổi. Ở trại Cải tạo Pechora sức lực mạnh mẽ đi lạc động còn mệt rã rời, huống hồ một thằng Shendrik ốm đói, lo sợ, bồn chồn? Hắn bị đưa đi làm liên miên ngoài tuyết, 2 ngày không có thì giờ sưởi khô quần áo và làm đỡ một chiếc nệm cỏ. Bỗng có lệnh nạp lại tất cả vật dụng nhà nước phát để lên xe di đày một nơi xa hơn nữa, khổ hơn nữa là trại Vertuka. “Thôi, đúng là đồng chí Bộ trưởng bắt mình phải bỏ xác nơi đây, cùng cả đám này rồi!” Shendrik nghĩ vậy nên cam đành chịu chết. Có mấy thằng đi đày Bắc cực trở về được bao giờ? Một tháng liền hắn không nghĩ đến sự sống nữa. Suốt ngày làm quần quật ngoài mỏ, lao động không chuyên môn là vậy! Ở trại Vertuka hắc ám còn ngành công tác nào chết dễ, chết mau bằng công tác không chuyên môn, nghĩa là Ban Quản đốc hay cán bộ toàn quyền sử dụng, muốn bắt làm gì cũng được. Đột nhiên đang ngồi ngoài mỏ Shendrik được kêu về trả lại hết đồ nhà nước phát để 1 giờ sau từ Vertuka lên xe lửa xuôi thẳng miền Nam. Chẳng biết phải đi tới đâu nửa nhưng phen này hết sống chắc! Chắc bị chở về Mạc Tư Khoa, tống vô khám 18. Nằm xà lim đúng 1 tháng, không biết số phận xoay vần ra sao, thì được kêu lên văn phòng. Một ông Trung tá nạt nộ: “Anh là Shendrik? Chui xó nào kiếm hụt hơi mới thấy? Anh kỹ sư Cơ khí chớ gì? Shendrik không dám chối. Bèn gật đầu thì được lệnh, chuẩn bị đi. Lần này đi tuốt ra ngoài đảo Thiên Đàng (quần đảo cũng có hòn mang tên Paradise vậy chớ). Chắc ra đến đảo “Thiên Đàng” cuộc đời kỹ sư Cơ khí Shendrik mới tạm yên. Thôi thì đâu cũng là quần đảo, cần gì phải biết – và biết sao nổi – tại sao có vụ di chuyển tứ tung Đông Tây Nam Bắc khó hiểu thế này?
Chỉ vì chỗ đi đến, đến đi lung tung và khó hiểu vậy mà đời sống ở “cửa vào quần đảo” đâm đặc biệt! Những con ruột Cải tạo đầy mình kinh nghiệm do đó thường dạy bảo bọn đàn em mới mặt tuyệt đối chớ thắc mắc mất công. Bảo đi thì đi, ở lại càng tốt! Mấy chú phải biết nằm khám chuyển tiếp là thiên đường so với Trại Cải tạo. Ăn chỉ tối thiểu nhưng đảm bảo (đó là khẩu phần NGÀY NGHỈ ở trại mà). Chẳng phải lao động cong xương sống. Nếu không chật chội quá thì có quyền tối ngày nằm ngủ thả giàn. Ăn thiếu thì ngủ bù, nuốt xong bữa cháo có quyền nằm dài ra ngủ đợi bữa cháo sau. Còn gì sung sướng bằng được ngủ suốt ngày, nhất là với những tay từng phải vô trại làm công tác không chuyên môn? Chao ôi ban ngày mà ngủ được thì thế gian đi chóng lắm lắm! Nói chung là vậy. Thiếu gì khám tạm bắt tù lao động không thua trại Cải tạo? Lao động cải tạo con người! Nhiều ông Quản đốc tinh thần cao đã bắt tù đi làm như điên để có dịp cải tạo tư tưởng, và gây thêm quỹ nhà tù. Như khám tạm Kotlas có lệ bắt đi chở củi, mỗi toán năm bảy mạng kéo xe trượt tuyết dọc sông Diva 10 cây số xuống tới Vychegda. Nơi đây phải kiếm cho đủ 13 thước khối củi đốt, chất lên xe kéo về khám (ấy là mới khởi sự công tác!). Ít nhất cũng là một dịp tập luyện cho quen trước khi nhập trại chớ. Toán người ngựa tụi tôi tuy thiếu nghệ sĩ Repin cũng vẫn còn trưởng toán Kolupayev, kỹ sư Điện Dmitriyev, Trung tá Quân nhu Belyayev, Chủ tịch Hợp tác xã Vasily Vlasov và mấy anh em khác. Thời kỳ chiến tranh khám tạm Arzamas có lệ tăng khẩu phần tù (ít ra cũng thêm được vài cộng của cải) để làm công tác sản xuất thường trực. Vùng này có kỹ nghệ chế biến len và len nhân tạo. Tù đi làm các xưởng may, dệt vớ, đan dép. Mùa hè 1945 giữa lúc chen chúc đông nhất, khám Krasnaya Presnya cho tù xung phong xin ra ngoài công tác. Thiếu gì đứa tình nguyện xin đi. Ít nhất còn được ra ngoài cho khoảng khoát suốt ngày, được đi cầu tự do, sạch sẽ, không ai hối thúc (có vô tù mới biết điều này quý giá chừng nào!). Lại còn được phơi nắng (nắng tháng 8, nắng Postdam, nắng Hiroshima!). Được nghe ong bay lượn vo ve và đêm về xà lim và xà lim còn được mẩu bánh mì cỡ 100 gam phụ trội! Chao ôi, được nuốt mẩu bánh mì của nhà tù cũng khổ trần ai! Nếu không vì được thở hít không khí tự do chắc chẳng thằng nào xung phong đi công tác vớt gỗ xúc ở bờ sông Mạc Tư Khoa. Suốt ngày hết dỡ bè gỗ chất lên bờ, lăn gỗ từ đống này xếp sang đống kia đâu phải nhàn nhã. Những xúc gỗ khổng lồ. Chính nhờ công tác vớt bè gỗ, đánh đống gỗ mà tôi có dịp “đánh giá” lại con người thực của mình, con người trẻ dại, nông nổi, mỗi lần đụng chạm thực tế là lòi đuôi hèn hạ, nhục nhã! Chẳng là công tác ra bờ sông vớt gỗ đòi hỏi một số đông tù, chia từng toán, cắt việc ra làm hùng hục vất vả suốt ngày. Dĩ nhiên khu bờ sông được quây kín, có lính trên chòi canh gắt không thua nhà tù. Công tác vớt gỗ đâu có tính cách dài hạn? Khám Krasnaya Presnya là khám tiếp nhận, khám tạm, tù nằm chờ đi quần đảo chớ có lệnh nào cho phép tụi tôi ở lại đây vớt gỗ khỏi phải đi đày. Khám tạm, công tác tạm, tụi tôi đứa nào cũng biết vậy. Nhưng dù là tạm thời, làm một vài ngày tù vẫn phải chia thành toán. Chia toán là phải có toán trưởng. Dĩ nhiên được cử làm toán trưởng bao giờ chẳng sung sướng hơn? Đỡ phải lam lũ, mệt nhọc, lại có quyền chỉ huy, chia công tác, kiểm soát những thằng khác. Làm trưởng toán sung sướng nhiều chớ. Nếu không bữa đầu tiên cắt cử công việc, gã cặp rằng cầm danh sách tù đi làm, đưa mắt nhìn tụi tôi có ý tìm mấy thằng trưởng toán, tôi đã chẳng hồi hộp nghe tim mình nhảy thình thịch thiếu điều muốn nhảy bổ ra: “Tôi đây ông. Chọn tôi đi. Chọn tôi đi.” Cặp rằng đâu có chọn tôi. Nhưng tại sao tôi ham “chức vụ” trưởng toán ghê gớm vậy? Ấy là mới có chức trưởng toán, coi mấy thằng bạn đồng tù, làm tạm ít ngày! Quả là một ham muốn hèn hạ, nhục nhã. Chức vụ, quyền hành hấp dẫn con người ta ghê gớm tới mức này sao?
Nếu Mạc Tư Khoa là thủ đô Liên bang Xô Viết thì trung tâm điểm của quần đảo phải là khám tạm Krasnaya Presnya. Từ Đông sang Tây hay xuôi Nam ngược Bắc du khách đều ghé ngang Mạc Tư Khoa cho tiện thì tù đi đày trại Cải tạo là phải tập trung về Krasnaya để nơi đây làm công việc phân phối đi toàn quốc. Chỉ những chuyến xe hàng chở đám quân nhân lãnh án toà Mặt trận là không vô Mạc Tư Khoa mà chỉ lượn sát Krasnaya kéo một hồi còi chào mừng. Hồi tôi vô thì trung tâm điểm chật cứng người tưởng nứt bể đến nơi đang phải xây thêm cơ sở mới. Vẫn biết tập trung là phải về Krasnaya Presnya nhưng rồi đi đâu thì tù làm sao biết nổi? Mấy năm sau Thế chiến II thì ngay những ông lớn nhất của Tổng Nha Quản trị các trại Cải tạo cũng mù tịt. Thời đó quần đảo chưa được tổ chức chu đáo như những năm 1950 về sau: không có lộ trình vạch sẵn, khỏi thông báo nơi đến. Chỉ thị kèm theo mỗi chuyến tù chỉ đại khái: “Tên X, phải canh chừng thật gắt gao” hay “Tên Y, chỉ được lãnh công tác không chuyên môn”. Thông thường gã trung sĩ tưởng toán hộ tống chở tù đến là bước vô văn phòng khám Krasnaya, tay xách theo một chồng, vài ba chồng hồ sơ cá nhân, những kẹp bìa rách rưới cột sợi dây gai. Hắn sẽ tiện tay liệng vô hộc tủ, trên mặt bàn, hoặc dưới gầm ghế, trong xó nhà không chừng. Dưới xà lim tù nằm ngồi đứng ngổn ngang thế nào thì trên văn phòng hồ sơ của họ cũng in hệt. Rồi đây cột tuột ra, hồ sơ tha hồ nằm tứ tán, lung tung, nằm đầy 1 phòng, 2 phòng, 3 phòng! Sắp đặt, dọn dẹp cho thứ tự khỏi có. Mấy bà mấy cô thư ký chẳng buồn để ý. Còn mắc lau mồ hôi, mắc quát nạt. Ngồi tán gẫu với nhau hay lã lướt với mấy sếp. Hồ sơ cứ việc ngập ngụa, thư ký cứ nhởn nhơ. À, tù đi trại xa thì một tuần năm bảy chuyến. Đi gần thì xe bít bùng, ngày nào chẳng đưa đi cỡ 100 mạng? Một thằng đi đày thì hồ sơ bắt buộc phải đi kèm. Biết vậy là đủ lựa chọn làm gì? Chi bằng giao phứt cho mấy thằng Công vụ làm cho khoẻ! Công vụ cũng là tư pháp, cũng được đề bạt để làm công việc nhà tù nhưng thuộc thành phần khá hơn, chuyên công tác văn phòng. Có thể có năm ba gã polutsvetnye, tức không phải tù chính trị mà cũng không ra blatnye. Đó là thứ lai căng, dân chơi nửa mùa. Đi đày chỗ tốt hay xấu là ở mấy gã công vụ này. Tù mới đến thường tin vậy và chính họ cũng làm ra vẻ có thẩm quyền để kiếm ăn chớ có gì lạ 5. Tại sao không kiếm chác được khi công vụ lên làm trên văn phòng, có quyền sắp đặt hồ sơ phân phối tù thay cho người nhà nước và lại toàn quyền tiếp xúc với “anh em” mới trong xà lim? Phải lo lót mới được họ chịu khó lục tìm hồ sơ của mình để lựa chỗ tốt (!) nhét vô chớ. Nếu đám tù mới có nhiều mòng, chỉ sợ gặp phải Trại dữ thì thiếu gì tay trung gian? Sếp bếp, thủ kho, đều sẵn sàng móc nối hết! Chẳng qua đây cũng lại là một hình thức bóc lột mới. Tin lo lót có thể có chỗ tốt thì thà đổ xí ngầu còn hơn! Tội nghiệp nhất là chỉ mua thêm nỗi lo lắng vào người, chớ đâu phải vì “nạp mạng” một chiếc áo da chiến một vài ký thịt sấy mà được đi chỗ gần, chỗ tốt thay vì bị tống đến chỗ xa hơn. Cũng có thể ông công vụ sắp đặt, lựa chỗ cho thật nhưng sướng khổ còn tùy. Sướng nhất bao giờ cũng là kẻ chẳng có gì để lo lót, chẳng thắc mắc sẽ phải đi đâu! Chẳng lệ thuộc, chẳng mất mát, thản nhiên chấp nhận định mạng để gạt hết mọi sự trông mong vào may rủi là nhất. Phải biết hồ sơ nằm tứ tung, lộn xộn như thế nào trong văn phòng khám tạm Krasnaya Presnya và mấy ông Công vụ tiện tay quơ đại thế nào mới thấy lo lót là ngốc! Có trước sau, thứ tự hay lựa chọn gì? Nếu nó nằm gần gần tầm tay thì hy vọng đi trước chắc. Thiếu gì thằng nằm đợi khốn khổ vài tháng, mà cũng thiếu gì thằng đi lẹ như tên bay. Tất cả hoàn toàn tự do tình trạng ứ đọng, lề lối làm việc hối hả, vô trật tự! Thậm chí đến nhận bừa tên, đánh tráo án, và đánh đổi án cũng còn được kia mà! (Vụ này chẳng riêng một khám tạm Krasnaya mới có, nhưng dĩ nhiên dân đi đày vì điều 58 không thể sử dụng được vì án chính trị của những thằng phản động đâu phải chuyện chơi). Mấy anh thường phạm án nhẹ dễ bị các người anh em blatnye đánh tráo án như không. Chẳng hạn như thường phạm Vasily Parfenych Yevrashkin, sanh năm 1913, nguyên quán Semidubye bị 1 năm tù, chiếu điều 109 vì tội bất cẩn. Hắn là tay mơ, làng xã đâu có ngờ nạn đánh tráo nên ai hỏi gì cũng kể vanh vách. Lại không rành thời khắc buổi nhà tù, không biết sẽ được kêu đi giờ nào. Không ngủ gục cũng chẳng dễ gì mỗi người men tới gần được cửa lưới (nhiều người anh em cản lối, ngăn chặn quá mà) khi sếp cầm danh sách tới trước cửa xà lim kêu tên. Có những tên gọi lớn vài ba lần ầm cả phòng nhưng tên Gevrashkin thì không. Vì sếp mới đọc khẽ chưa thằng nào nhắc lại thì một thằng hờm sẵn nãy giờ đã thò đầu ra, ngoan ngoãn và lẹ làng đọc một tràng dài để sếp theo dõi trên danh sách: “Gevrashkin đây, Dạ, tên Vasily, tên lót Parfenych, sinh năm 1913, nguyên quán Semidubye, điều 109, một năm tù.” Cho ra một hàng lý lịch là nó xách đồ nhào ra. Trong khi đó anh chàng thật sự Gevrashkin đang đứng xớ rớ góc phòng hay nằm vùi trong ổ lắng tai nghe kêu tên. Không thấy ráng đợi ngày mai. Đợi một tuần, một tháng, Đâu dám chất vấn giám thị. Chỉ phàn nàn sao mãi chưa kêu tới tôi, với anh em trong phòng vậy tôi. (Mấy hôm sau ngày nào cũng nghe kêu tên Zvyaga ầm ĩ, kêu cùng khắp không thấy ai thưa! (Hai ba tháng hay nửa năm sau không chừng, Công vụ thanh toán xong tất cả các hồ sơ mới lòi ra chỉ còn kẹt một hồ sơ của một thằng dân chơi thứ dữ tên Zvyaga, nhiều tiền án, can tội ăn cướp, sát nhân, 10 năm đi đày. Cùng lúc đó ở xà lim dư ra một thằng làng xã tự nhận tên Gevrashkin, luôn miệng kêu rên sót tên. Bèn mang hình ra so. Nhưng hình ảnh chụp ở nhà tù thì ăn nhằm gì? Nó đúng là Zvyaga, chẳng Gevrashkin gì hết! Nó phải là Zvyaga và phải lên xe đi đày 10 năm, trại khổ sai cưỡng bách. Bằng không thì xác nhận nhà tù làm việc cẩu thả, sơ sót sao? Trong khi đó, làm sao dò tìm nổi thằng Zvyaga thiệt đội tên Gevrashkin? Nó ở đâu chẳng có cách nào biết nổi, vì khám tạm chỉ đưa tù đi đày, không lưu giữ hồ sơ! Mang bản án 1 năm nhẹ hều vì tội bất cẩn có thể nó được gởi tới một nông trại nào đó làm 1 ngày tính 3 ngày án. Cũng có thể nó đã đào tẩu và hiện đang ở nhà vui thú vợ con, hay lại chui đầu vô khám nào đó lần nữa? Đó là trường hợp đánh tráo án. Thiếu gì thằng chịu chơi, tình nguyện đánh đổi án, chỉ để lấy 1, 2 kí lô thịt sấy. Muốn đổi bản án nhẹ chỉ việc đưa ra một cái gì. Họ sẵn sàng đổi liền vì “thế nào nhà tù chẳng khám phá ra và điều chỉnh lại gấp?”. Thỉnh thoảng cũng được điều chỉnh thực sự. Thời kỳ hồ sơ đi đày không chỉ định rõ Trại phải tới, để cho các khám tiếp nhận tùy tiện phân phối thì nghiễm nhiên mỗi khám tạm là một chợ buôn người để các đại diện Trại vào tận xà lim lựa chọn mặt hàng. Mỗi trại Cải tạo chỉ được cấp một số tù ấn định vậy thay vì đợi khám gởi người tới, tại sao không cử người về lựa chọn những thành phần tốt, khoẻ mạnh? Người làm hao hụt, đã đành không mất mát gì nhưng cứ đếm đầu nhận đại, gặp những thứ lao động kém, không đủ năng suất, không hoàn thành kịp thời thì sao? Do đó nhiệm vụ của đại diện Trại không khác gì lái buôn người một hai chục thế kỷ trước. Phải giao thiệp tốt với các khám, phải sành sỏi, tinh khôn để loại trước những mặt hàng xấu, những thành phần lười biếng, bệnh hoạn, tàn tật. Để khỏi “mua” lầm hàng dở, tại sao không cử người đến coi tận mắt, sờ tận tay? Bắt chúng sắp hàng, lột trần truồng ra quan sát là khỏi sơ sót! Đó là trường hợp của cô bé Ira Kalina, 17 tuổi bắt buộc phải khoe thân thể tốt ở khám tạm Byturki để ông đại diện gật gù chấp nhận. Đặc biệt nhất là vụ cả một phái đoàn chuyên viên MVD tới khám Usman năm 1947 để nhận hàng. Có đến mấy chục ông đại diện các nha sở trực thuộc, bận quân phục chững chạc ngồi bàn giấy có trải náp trang trọng, để chăm chú theo dõi đám tù đàn bà được lần lượt đưa vô trình diễn. Tất cả phải cởi bỏ quần áo ở phòng kế bên, từng người một đi chầm chậm trước dãy bàn buya-rô, dừng chân lại, xoay người vài vòng và được bàn nào gọi là tới gần bên để các đại diện “phỏng vấn” vài câu. Một nhân chứng kể lại nếu đi trình diễn hay đứng lại mà cô nào thẹn thùng, bẽn lẽn đưa tay che đậy những chỗ đàn bà con gái hay che là lập tức sẽ gị giám thị nạt nộ: “Làm bộ hoài! Bỏ tay xuống,”. (Thực tế là các đại diện MVD tới chỉ cốt để tuyển mộ người đẹp về hầu hạ mà nhè che đậy đi thì còn quan sát gì?).
Nếu lâu lâu không có những trường hợp rắc rối trên thì sinh hoạt khám tiếp nhận hẳn dễ chịu chán! Bù lại tù đến tù đi thường nhật lại có những cơ hội học hỏi tốt cho những thằng kém kinh nghiệm. Chẳng hạn như trong xà lim Krasnaya Presnya hai đêm liền có mặt một gã mà hồ sơ đi đày ghi là chuyên viên. (Hỏi ra mới biết đấy là những người mà Ban Quản đốc Trại phải cử vào công tác đặc biệt, thích hợp với nghề chuyên môn). Gã nằm ngay cạnh tôi trong ổ ngủ và cử chỉ, sinh hoạt tự nhiên, dạn dĩ, không hề có mặc cảm tù tội. Vì gã vô ra các Trại và đi về khám tạm này nhiều lần quá đâm quen. Hết công tác Trại này ra khám nằm chờ đưa đến Trại mới, gã quả là một thằng tù rong! Hồ sơ ở Tổng nha ghi rõ nghề nghiệp gã là “chuyên viên xây cất” nên Trại chỉ được sử dụng gã đúng ngành, không thể bắt đi đốn củi. Với đám dân quần đảo có nghề chuyên môn là có bùa hộ mệnh, đi đến đâu cũng chẳng sợ chết. Vì đi rong gần mãn án gã có thể kể như cáo già quần đảo, biểu hiệu là một khuôn mặt cứng cỏi, lạnh lùng. (Đúng vậy, sau này tôi mới nhận ra nhãn hiệu của quần đảo là lạnh lùng và tàn nhẫn. Ở đảo ít lâu là trăm người như một! Nơi đây đâu phải đất sống cho những thằng phong lưu, lịch thiệp? Chết chắc). Gã lạnh lùng ngó những sự ngây ngô, khờ khạo của chúng tôi và nhếch mép cười cay đắng như ông già thương hại nhìn đám trẻ lên ba vậy! Có lẽ vì thương hại cho những thằng tù con nít gã mới truyền cho chúng tôi bài học quý giá về kinh nghiệm ngục tù. – Lọt vào Trại mấy chú phải hiểu là thằng nào cũng chỉ nhăm nhe ăn hiếp, bóc lột mình. Không tin một ai, ngoài mình. Lúc nào cũng có thể bị chúng thịt, chúng giết. Ngây thơ là khó sống. Hãy rút kinh nghiệm của tụi tôi 8 năm về trước, lức vừa đặt chân xuống Trại Cải tạo Kargopollag. Hai chắc chắn xe lửa vừa đổ tù xuống, chờ lính áp tải cỡ 10 cây số băng đồng tuyết về Trại. Bỗng 3 xe trượt tuyết ở đâu chạy tới, qua mặt lính gác không bị cản. Mấy thằng ngồi xe lên tiếng: “Anh em có đồ cât lên. Xe về Trại đây….” Dĩ nhiên tụi tôi mừng húm: vác hành lý mệt quá mà nhà tù còn cho xe ra chở giùm về thì đâu đến nỗi tệ? Không ai bảo ai, tụi tôi hớn hở chất đồ lên. Xe chạy và chạy luôn. Khỏi về Trại, bao nhiêu hành lý của tụi tôi mất sạch! – Sao vậy được kìa! Bộ không có pháp luật gì chắc? – Đừng hỏi ấm ớ! Sao không vậy được? Có luật chớ, nhưng luật rừng, luật thảo khấu! Còn công lý thì làm chó gì có? Nếu có, đã chẳng có Trại Cải tạo! Tấm gương 3 xe hành lý ở Kargopollag là điển hình đúng boong nếp sống Cải tạo, không ai tử tế với ai. Bất cứ một cái gì cũng phải trao đổi, trả giá vì cái gì cũng có giá hết! Nơi đây, nếu nghe ai nói chung tử tế, bất vụ lời thì phải hiểu ngay là bịp, là bẫy. Phải nhớ in như vậy, cũng như 5 chữ công tác không chuyên môn là tối kỵ. Phải né ngay từ ngày đầu tiên vì một ngày công tác không chuyên môn là cả cuộc đời bế mạc. Hết gỡ…. – Thế nào là không chuyên môn? – Là căn bản công tác của bất cứ Trại nào. Là công việc của 80 phần 100 dân đi đày các Trại hãy nhớ kỹ 80% công tác không chuyên môn và chết hết, chẳng sơ sẩy một mạng. Lớp trước chết thì có lớp sau trám vô nguyên vẹn, để rồi lại lần lượt chết hết nữa vì những công tác không chuyên môn. Lỡ kẹt vô là chết chắc. Chết vì mòn mỏi, tàn tạ. Lao lực, đói, lạnh, cái gì cũng thiếu thốn, thua sút người ta. Ăn thiếu, ở khổ cực và động ốm là chết. Có thuốc men, chạy chữa cho những thằng phụ không chuyên môn bao giờ? Vậy mấy chú tin lời tôi nói: Ở Trại Cải tạo sống sót được là những thằng với bất cứ giá nào tránh cho kỳ được có tên trong danh sách không chuyên môn. Chỉ những thằng đó sống. – Với bất cứ giá nào? – Đúng vậy, với bất cứ giá nào! Bữa hôm đó tôi thấm nhuần ngay tức khắc lời dạy dỗ vô cùng thiết thực của ông bạn từ khắc khổ, sống được nhờ ngành chuyên môn. Tôi công nhận ngay. Chỉ tiếc không hỏi lại cho rõ “bất cứ giá nào” là bao nhiêu, lấy cái gì mà đánh giá?
Khẩu hiệu này trùng hợp với Phát xít: “Thây kệ những thằng còn kẹt bên trong” có nghĩa là những thằng còn kẹt đó sẽ bị trừng phạt cho chúng mày thấy! Có thể là bắn bỏ hay đập gậy tới gãy xương để lần sau tuyệt đối không dám chậm trễ. Mà phải xông ra trong toán đầu tiên.
Sung sướng biết mấy là những đấng ở tù mà chưa phải nếm mùi 10 đứa 1 tổ ngồi vây quanh chậu thức ăn vục ra bằng tay, nhét vào miệng! Phải ăn bốc “tập thể” kiểu này mới thấm thía thế nào là “những nhu cầu súc vật của thằng tù Ivan Denisovich. Nếu giữa bữa ăn lại có tranh chấp nữa” thì e rằng các đảng viên trung kiên nhất dám không nhớ tới Đảng nữa!
Dĩ nhiên để ghi nhận lại một thời lịch sử của quần đảo còn phải dựng nhiều pho tượng mà ý nghĩa hơn cả có lẽ là một ông Stalin khổng lồ bằng đá đứng chót vót, đứng trên mỏm cao nhất Kolyma. Cần phải thật khổng lồ, mỗi bên ria ít nhất cũng vài thước răng phải nhe ra đanh ác (điển hình cho bất cứ một quản đốc trại nào). Một tay người phải cầm dây cương, một tay người vung roi da quất lia lịa trên lưng vài trăm thằng tù, cặp 5 thằng làm một như cặp ngựa, vươn cổ ra kéo. Pho tượng khổng lồ này đặt ở chót vót bán đảo Chukchi, trông ra eo Bering cũng thích hợp vậy. Tôi mới tưởng tượng nào ngờ sự thực từng xảy ra là đã có bức bíth hoạ khổng lồ STALIN TRÊN ĐÁ sơn màu trên vách đá đồi Mogutova, chỗ cầu Zhiguli trên sông Volga, ở cách Trại Cải tạo trên sông cũng phải ngó thấy.
Sau này tôi có dịp hỏi những người Thụy Điển hay từng ra vô nước này về gia đình Andersen và trường hợp mất tích của một nhân vật như thế đó…thì họ chỉ lắc đầu cười. Dân Thụy Điển tên Andersen thì cũng như Nga tên Ivanov vậy và chẳng có ông tỷ phú Andersen nào hết. Khốn nạn, 22 năm sau lúc đọc lại lần chót bản thảo Quần đảo ngục tù tôi mới sực nhớ ra đời nào họ cho phép hắn giữ nguyên tên thật. Lộ ra là thủ tiêu nên cái tên Andersen phải hiểu là tên bịa. May ra nhờ những chi tiết nho nhỏ kể lại người ta có thể đoán biết hắn là ai nên hắn mới tin tưởng thế nào cũng có người gỡ ra, khối Tây phương chắc chắn sẽ can thiệp. Có điều hắn không hiểu phe Cộng: Một nhân chứng “biết hết” như hắn, dám chịu đựng tù đày chớ không khuất phục Tây phương có mấy tay cứng vậy? thì không thể trả lời tự do được, với bất cứ giá nào! Không chừng lúc tôi viết mấy hàng chữ này (1971) hắn còn sống cũng nên.
Sự thực đơn giản là chẳng có trại nào tốt! Tất cả đều là đất chết. Chỉ có công tác nặng, khổ sở và công tác tương đối khoẻ hơn nhưng phải quan sát tại chỗ mới biết.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.