This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Việt Kiều về quê ăn Tết. (Hình: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)
Hiện chúng ta rất khó xác định nghĩa của hai tiếng “đi” và “về.”
Trở lại nơi mà chúng ta đã từ đó ra đi, hẳn là về. Nhưng nếu một gia đình sau khi ở Việt Nam vài tuần, đang sửa soạn hành lý ra sân bay, thì câu nói của chúng ta là: “Anh chị về Mỹ bình an!” mà không ai nói đi… Mỹ. Vậy thì đi đâu mà về đâu, hẳn nghĩa của hai tiếng “đi” và “về,” chẳng giống nhau!
Khi đi thì “…cột đèn biết đi cũng đã ra đi,” lén lút, hiểm nguy, chia lìa, vô định; khi về thì tấp nập, ồn ào, hể hả. Mấy ai nghĩ đến sự nghịch lý của chuyện đi và về.
Tết năm 2008, chính phủ Việt Nam loan báo có hơn 350,000 Việt Kiều (phải hiểu là người Việt ở ngoại quốc) về ăn Tết. Con số này càng ngày càng tăng theo thời gian mà không hề giảm sụt. Lý do người chưa về lần nào, thấy nhiều người về thì mạnh dạn về theo, người về rồi thấy vui, “có tiền” thì về nữa, như lời “Ngài Chủ Tịch Nước” nhắc nhở: “Ai chưa về thì về, ai về rồi thì về nữa!” Trong số người “có tiền” này có những người nhận tiền trợ cấp dưới danh nghĩa tị nạn, từ ngày đặt chân ướt lên Mỹ, Canada, Úc hay Âu Châu cho đến hôm nay.
Người tị nạn là người chạy trốn qua một xứ khác, nơi khác để thoát cảnh hiểm nguy, ngược đãi, hoặc bắt bớ bởi một quyền lực ở chốn cư ngụ. Căn cứ vào bằng chứng xác thực việc bị CS cầm tù trong nhiều năm, những người cựu tù nhân chính trị được Toà Đại Sứ Hoa Kỳ tại Thái Lan cấp visa cho vào định cư tại Mỹ dưới danh nghĩa tị nạn. Còn tất cả những người vượt biển, vượt biên khác, muốn được chấp nhận cho định cư đều phải kê khai trên giấy tờ hay qua một cuộc phỏng vấn của nhân viên Cao uỷ Tị Nạn LHQ về lý do họ phải bỏ nước ra đi đến đây.
Không như những người về ăn Tết ở trong nước, ở ngoại quốc kể cả Mỹ, Úc, Tây Âu, Canada, người Việt về quê ăn Tết đều dùng máy bay. Vé máy bay đi Việt Nam vào những dịp Tết Nguyên Đán có khi đắt gấp đôi ngày thường mà người ta vẫn chen chúc và vẫn có tiền đi, mua chậm thì hết vé.
Người Việt ở tại các nước phương Tây sau biến cố Tháng Tư, 1975 là “định cư,” có hẳn quốc tịch, đã trở thành công dân của các nước này rồi, chứ không phải là người đi làm ăn xa, hay trú ngụ tạm thời như những người Việt trong nước hay những người Hoa về ăn Tết ở ngay quê hương của họ.
Nhưng đối với người Việt tỵ nạn đã bỏ nước, cứ hai người vượt biển, một vùi thây dưới biển sâu, bỏ cửa bỏ nhà quyết chí ra đi, thì mấy danh từ “về Việt Nam ăn Tết” nghe mỉa mai quá chừng!
Ở nước Úc vì gần với Việt Nam nên số người về ăn Tết rất cao. Ở thành phố Perth, miền Tây nước Úc, bay về Saigon chỉ mất bảy tiếng, chỉ bằng số giờ lái xe tà tà từ Phước Lộc Thọ đi San Jose, nghe mà ham. Về ăn Tết, đi du lịch thì có cả nghìn lý do mà biện bạch. Thăm cha mẹ sắp lâm chung, dời mồ dời mả, bán nhà mua đất còn nghe được, nhưng với những lý do xả tang, dự đám cưới con ông chú, bà bác thì thà nói “đi Việt Nam chơi” còn hơn, còn chơi gì thì tùy ý thích của quý vị.
Chúng ta đã biểu tình, chúng ta đã chống Cộng, nhưng chúng ta lại thích về Việt Nam, vì lý do này hay lý do nọ, thì Cộng Sản không bao giờ sợ. Đừng nghĩ là đi biểu tình thì Cộng Sản chụp ảnh, quay phim làm khó dễ khi về Việt Nam, nếu bị bắt hay bị làm khó dễ thì một đồn mười, ai mà dám về Việt Nam nữa. Cộng đồng chúng ta rất dễ giải, “chín bỏ làm mười,” chống thì cứ chống, về thì cứ về. Ca sĩ Việt Nam qua Mỹ trình diễn với trung tâm nào có lập trường chống Cộng, tôn vinh lá cờ VNCH thì về nước y như là bị khai trừ, bị chế tài, bị cấm hát, trái lại ca sĩ hải ngoại cũng về Việt Nam hát xướng, tuyên bố khen ngợi nhà nước Cộng Sản bên đó trở lại hải ngoại cũng không ai tẩy chay, vì chúng ta không có “nhà nước hải ngoại” và chúng ta tự do.
Chúng ta có sức mạnh của đô la mà chúng ta chưa sử dụng hết mười phần công lực của nó. Chúng ta ủng hộ công cuộc đấu tranh dân chủ, chống Việt Nam dâng đất dâng biển cho Trung Quốc mà vẫn về Việt Nam nườm nượp, vẫn đi qua các phi trường, kẹp tờ $10 vào trong sổ thông hành, nở một nụ cười “xã giao” với “công an cửa khẩu.”
Không phải đợi đến bây giờ mới có người kêu gọi “đừng về Việt Nam trong Tháng Tư, mà cách đây 5 năm (2009), trên nhật báo Người Việt, dưới mục tạp ghi, chúng tôi đã có bài “Về Việt Nam.” Xin trích:
“Chúng ta sử dụng sức mạnh của chúng ta thử một lần, dù là một lần thôi. Tôi không dám đề nghị đồng hương tỵ nạn Cộng Sản đừng về Việt Nam nữa, về thời gian nào cũng được, mà hiệp sức cùng không về Việt Nam trong một tháng thôi, như một ví dụ, đó là Tháng Tư, 2009. Chúng ta đã gọi là “Tháng Tư Đen” vì sao chúng ta lại về Việt Nam trong tháng đó, chúng ta gọi là “mất nước” thì nước đâu nữa mà về?
Nếu trong Tháng Tư, 2009, tất cả đồng bào tỵ nạn hải ngoại không về thì chuyện gì sẽ xẩy ra ở Việt Nam? Phi trường vắng vẻ, khách sạn ế khách, hải quan đói meo, hàng quán thưa thớt, mãi lực của Saigon xuống thấp. Điều này có thể ảnh hưởng đến quần chúng lao động của các dịch vụ, nhưng đây là lúc đồng bào trong nước chia sẻ tâm tình hải ngoại và họ đang biết hải ngoại đang muốn gì, chống lại điều gì của đảng Cộng Sản trong nước, tùy theo điều mà chúng ta muốn chống hay muốn tỏ thái độ như việc Cộng Sản dâng Hoàng Sa cho Trung Quốc, việc Cộng Sản đàn áp các nhà tranh đấu dân chủ hay đây là dịp bày tỏ sự đồng tình với đồng bào Công Giáo Thái Hà. Hải ngoại không có lãnh đạo, hải ngoại có nơi đoàn kết nhưng cũng có nơi cấu xé nhau, hải ngoại nói và làm không đồng nhất, chúng ta có dám nhìn sự thật như vậy không?”
Năm 2009, từ trong ý nghĩ của cá nhân, chúng tôi đã tự túc in 2,000 truyền đơn và nhờ anh Trần Trọng An Sơn (TTCS) cùng một vài anh em đi rải ở những nơi đông người hay gắn lên kính xe của đồng bào ở Bolsa. Chúng tôi không có phương tiện và uy tín để kêu gọi giới truyền thông hải ngoại tiếp tay, cũng không có tiền để in bích chương, biểu ngữ để treo ở nơi đông người như chợ búa, nhà chùa hay nhà thờ, chạy slogan hay script trên truyền thanh, truyền hình khắp nước. Chúng tôi cũng hiểu rằng, điều quan trọng nhất không phải ở chỗ phương tiện, mà là sự việc nêu ra không được sự hưởng ứng của đồng bào, trừ những người đã nguyện là “không bao giờ về Việt Nam khi còn chế độ Cộng Sản.” Tiếng kêu “không về, không gửi tiền về Việt Nam trong Tháng Tư,” rõ ràng là “tiếng kêu trong sa mạc!”
Mới đây ba nhân vật của ba tổ chức có nhân sự và tầm vóc hoạt động lớn nhất trong cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ là Bác Sĩ Võ Đình Hữu, chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ, Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh, chủ tịch hội đồng đại diện Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại, và Giáo Sư Nguyễn Thanh Trang, chủ tịch Tổ Chức Dân Chủ Việt Nam, đã tổ chức họp báo để “kêu gọi đồng bào hải ngoại không về và không gửi tiền về Việt Nam trong suốt tuần lễ sau cùng của Tháng Tư Đen, từ 24-30 Tháng Tư, 2014.”
Lời kêu gọi chỉ khiêm nhượng gói gọn trong vòng một tuần lễ của Tháng Tư năm nay mà thôi.
Năm xưa (2009) với một bài báo và 2,000 tờ truyền đơn của một ký giả nhỏ bé không hề đem lại một kết quả nào, thì năm nay (2014) với ba đoàn thể lớn “vào cuộc,” chúng ta có quyền hy vọng. Theo ông Hữu, ông đã có 36 cộng đồng người Việt ở Mỹ ký tên tham gia, gần như toàn thể người Việt ở Mỹ, tổ chức của ông Vinh hiện nay có hơn 10 trung tâm điều hợp trong nước Mỹ và trên thế giới… chúng ta mong mỏi ở kết quả của lời kêu gọi thiết tha này. Xin các tổ chức chủ quản in bích chương, biểu ngữ để treo ở nơi đông người như chợ búa, nhà chùa hay nhà thờ, chạy “slogan” hay “script” trên truyền thanh, truyền hình khắp nước và trước hết, ngay các nhân sự trong ba tổ chức này sẽ không có ai “rón rén” về Việt Nam hay gửi tiền trong Tháng Tư.
Theo tôi thu gọn lại việc không về hay gửi tiền trong chỉ “một tuần” cuối của Tháng Tư, 2014 là một chiến dịch quá khiêm nhường (một năm có 52 tuần), nhưng kết quả hay không mới là điều quan trọng. Không ai dại thức một mình khi mọi người đều ngủ.
Và chúng ta thường chê trong nước vô cảm, nhưng chúng ta mới là người vô cảm, xem chuyện đất nước này là của người khác, không dám bày tỏ, dù một thái độ nhỏ nhoi.
Ngày 5 tháng 01, 2012 ở xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng, gia đình ông Đoàn Văn Vươn bị dồn vào đường cùng, đã chống lại việc cưỡng chế đất đai vô lý, bắn bị thương 4 công an và 2 bộ đội. Để trả thù, chính quyền đã phá sập ngôi nhà của anh dù nằm ngoài khu đất tranh chấp, nhưng Phó chủ tịch thành phố Hải Phòng Đỗ Trung Thoại trong một cuộc họp báo đã tráo trở nói rằng, ‘Việc phá nhà ông Vươn là do “nhân dân” bất bình không đồng tình với việc làm của ông Vươn!”
Thật tội nghiệp cho “nhân dân”. Nhân dân là cái bóng ma mà chế độ Cộng Sản luôn luôn nhân danh để lấy lòng dân đen cả nước, nhưng cũng là một thứ bóng ma để đem ra hù dọa mọi người, vì cái gì nhân dân làm, cái đó là chính nghĩa. Nhà nước và đảng làm, song cứ đổ tội cho nhân dân là xong chuyện. Chuyện lớn như Tết Mậu Thân ở Huế thì cũng chính nhân dân nổi dậy mà chôn sống 6.000 người, chuyện nhỏ như phá nhà, hôi của của ông Đoàn Văn Vươn thì cũng do nhân dân “bức xúc” mà làm! Chính quyền, công an, bộ đội luôn luôn công minh, chính đại, có bàn tay sạch sẽ, không hề bẩn mà cũng chẳng bao giờ dính máu.
Một danh từ khác để đổ tội cho “nhân dân” là danh từ “quần chúng tự phát”. Tại giáo xứ Mỹ Lộc nhà cầm quyền bố trí hàng trăm công an, an ninh, dân phòng mặc thường phục tấn công, đánh đập đồng bào ở đây rất dã man, làm mười một người phải vào bệnh viện, nhưng lại đổ cho đó là “quần chúng tự phát”, nghĩa là chính phủ hoàn toàn không chịu trách nhiệm những điều gì do “nhân dân” làm. Gần đây nhà nguyện Con Cuông ở Vinh bị đặt bom, lại có hai người đi xe máy tới nhà thờ lúc 2 giờ sáng, quăng bom tự chế vào nhà thờ. Đó cũng là “quần chúng tự phát!”
“Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” là khẩu hiệu mà người dân dưới chế độ Cộng Sản đã thuộc nằm lòng. Thậm chí chúng còn giương cao biểu ngữ: “Đảng là người đầy tớ của nhân dân!” Và vì dân ngu, được ôm cái bằng khoán cũng như cái bản tuyên dương được làm chủ, nhưng như trong một công ty, ban lãnh đạo quyết định, chỉ đạo hết mọi chuyện, nhà nước là anh thủ kho ôm hết tài sản, còn nhân dân là anh chàng hữu danh vô thực, có tiếng mà không có miếng. Nếu công ty thua lỗ, ban lãnh đạo cấu kết với thủ kho chia nhau tẩu tán tài sản đi nữa, thì anh nhân dân làm chủ cũng chẳng có miếng nào. Dưới chế độ Cộng Sản, đất nước như một nhà máy, đảng là Ban Giám Đốc, chính phủ là Ban Quản Lý, có tài sản, nhà cao cửa lớn, xe đời mới, còn công nhân là những người làm thuê với đồng lương rẻ mạt, ở nhà ổ chuột, còng lưng đi xe đạp. Nhân danh nhân dân là nghề của Cộng Sản. Cái gì cũng của nhân dân, từ bộ đội nhân dân, công an nhân dân, bệnh viện nhân dân… chỉ trừ những nơi có hơi xôi thịt là của nhà nước như ngân hàng, cục dự trữ và ủy ban chứng khoán…
Tản Đà trong bài cảm đề tiểu thuyết “Tờ chúc thư” đã có câu rằng:
“Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn
Cho nên quân nó dễ làm quan”.
Dân ngu vì dưới chế độ chẳng ra gì, có khôn ngoan, bị đối xử bất công cũng chẳng biết kiện tụng, cậy nhờ vào ai như câu chuyện của Ngu Công sau đây:
Tề Hoàn công đi săn, đuổi theo con hươu. Hươu sợ quá chạy vào một cái hang. Thấy một ông lão gần đấy, bèn hỏi:
– “Hang này tên gọi là gì?’
– “Bẩm, đấy là hang Ngu Công’.
– “Tại sao lại có cái tên lạ thế? Ta xem ngươi đâu phải là kẻ ngu!”
– “Thưa, tại tôi đây mới có cái tên ấy. Nguyên tôi có một con bò cái đẻ được một con bê. Khi bê lớn, tôi đem ra chợ bán và mua một con ngựa con đem về nuôi chung với con bò cái, chờ lớn để kéo xe. Một hôm có tên du côn đến nói: “Vô lý! Bò làm sao đẻ ra ngựa được!” rồi y bắt ngựa của tôi mang đi. Tôi bị ép chế, nhưng sợ họ gây chuyện, đành chịu mất, chớ biết kêu vào ai bây giờ! Từ đó mọi người cho tôi là “ngu” và gọi cái hang gần chỗ tôi ở là hang Ngu Công.
Buổi thiết triều hôm sau, Tề Hoàn công thuật lại chuyện này cho quan Tướng quốc là Quản Trọng nghe, Quản Trọng bèn tâu:
– Nếu được một đấng minh quân như vua Nghiêu, được một tể tướng như Cao Dao thì làm gì mà có kẻ dám ngỗ ngược chiếm đoạt ngang nhiên như thế được. Ngu Công mất ngựa, nhưng biết rõ hình pháp nước ta không ra gì, chẳng ai phân xử cho phân minh, đành chịu cắn răng mà làm kẻ ngu. Xin bệ hạ kịp thời chỉnh đốn các chính sách, hình luật lại”.
Bắt chước lời Quản Trọng, chúng ta cũng có thể nói: Những người như dân oan bị cướp đất cướp nhà, đành chịu thiệt vì pháp luật bất nghiêm, giềng mối[1] lỏng lẻo, không ai phân xử vì cường quyền bạo ngược, phủ bênh huyện, huyện binh phủ cũng được gọi là dân ngu. Nông dân bị xã ấp chèn ép, dùng công an, bộ đội khống chế như trường hợp Đoàn Văn Vươn, mà không biết dùng súng đạn chống lại, đành chịu thiệt một bề, thì cũng gọi là dân ngu. Dân càng ngu thì chính phủ càng lộng quyền, áp chế. Dân ngu vì không biết tin cậy vào ai. Chính phủ, tòa án, quốc hội cũng một phường.
Qua cuộc thảo luận tại Quốc hội Việt Nam vừa qua về luật biểu tình, dân biểu Hoàng Hữu Phước khẳng định “khi nào trình độ dân trí cao hơn thì mới có thể ban hành luật biểu tình”. Có nghĩa là dân còn ngu, đâu cần đến luật lệ. Có luật còn chẳng làm gì, huống chi không luật, cứ việc tùy tiện mà đối xử với dân ngu là xong. Mạnh Tử chủ trương “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Cộng Sản Việt Nam lại chủ trương “đảng vi quý, xã tắc thứ chi, dân vi khinh”. Hai vế đầu thì chúng ta đã thấy “thà mất nước còn hơn mất đảng”, vế cuối “dân vi khinh” thì chúng ta đã thấy rõ, cảnh cướp nhà cướp đất làn cho nhân dân cơm đùm gạo bới từ Hậu Giang, miền Trung ra đến Hà Nội gặp “ông chính phủ” để kêu oan với lời gọi thống thiết: “Hỡi ông chính phủ, về cứu lấy nhân dân!”
Không khinh dân sao dân bị bợp tai đá đít, bị lôi đi như con chó, bị đạp vào mặt, bị đánh chết vô tội vạ, nói chung là bị tước đoạt hết quyền làm người. Phóng viên RFA đã ghi nhận lời một người trong nước, ông Lê Duy Bắc: “Bây giờ nhà cầm quyền họ thích đâm, thích chém, thích giết ai thì họ giết. Người dân trong tay không tấc sắt thì làm gì được”.
Đúng! Đảng là người đầy tớ của nhân dân! Nhưng nhân dân hiện nay đang gặp phải tên đầy tớ phản phúc!
Hơn hai tháng sau khi lên Phước Long, khi anh em tù cải tạo T2 đã “an cư lạc nghiệp”, các sinh hoạt giải trí bắt đầu trở nên hào hứng, sôi nổi hơn bao giờ hết. Có hai nguyên nhân, một khách quan một chủ quan. Nguyên nhân khách quan là sau khi mọi công tác liên quan tới tăng gia sản xuất ở T2 được thực hiện dưới hình thức giao khoán, anh em tù cải tạo đã tự giác làm cật lực, không phải vì ý thức được “lao động là vinh quang” mà chỉ vì nếu cố gắng hoàn tất chỉ tiêu sớm, anh em sẽ có được những khoảng thời gian rảnh rỗi vào mỗi buổi chiều, và trọn ngày chủ nhật. Nhưng, như tôi đã viết ở phần đầu, trong tù cải tạo, rảnh rỗi là con dao hai lưỡi. Người nào bi quan sẽ có thêm thì giờ để… bi quan: nhìn lại thân phận cá chậu chim lồng, nghĩ tới tương lai mờ mịt, nhớ vợ thương con… Người lạc quan – viết chính xác là cố gắng sống lạc quan – thì có thì giờ để làm những công việc mình yêu thích, bằng đầu óc cũng như tay chân, vừa để giải trí, vừa cho đầu óc bớt căng thẳng. Điều tốt đẹp là công việc của những anh em cố gắng sống lạc quan ấy đã thu hút không ít bạn tù bi quan, với kết quả trong những lúc rảnh rỗi không có mấy người không dự khán hoặc tham gia vào một sinh hoạt giải trí nào đó, từ chơi cờ tướng tới đàn địch ca hát, từ nghe kể truyện hoặc đấu láo, tới đá banh, chơi bóng chuyền, từ học ngoại ngữ, đàn hát tới học… nấu ăn! Nguyên nhân chủ quan là trong tập thể tù cải tạo ở T2 có quá nhiều nhân tài! Chẳng hạn về nấu ăn, có Thiếu úy Xì A Phát, gốc người Nùng ở biên giới Việt – Hoa, vừa là tuyển thủ bóng chuyền vừa là đầu bếp chuyên nghiệp, đã chỉ dạy anh em cách nấu nướng “hàm thụ” cả chục món ăn; riêng bánh bao thì khi được cấp phát bột mì, Xì A Phát đã cho anh em thực hành làm bánh bao không có men bột mà vẫn nổi, xốp như bánh bao trong tiệm Tàu; sau này được thả về, tôi biểu diễn đã khiến bà xã phục lăn! Nhưng nhiều nhân tài nhất phải là bộ môn ca nhạc; trong số anh em gốc Cà Tum có những người từng chơi nhạc chuyên nghiệp trước 1975, từ nhạc phòng trà, vũ trường tới nhạc trẻ, lại có cả một nhạc sĩ cổ nhạc Nam phần xuất thân trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn và một “chuyên gia” luyện giọng cho ca sĩ. Chính tại T2 Phước Long tôi mới có dịp tìm hiểu sâu xa, cặn kẽ về cổ nhạc Nam phần, từ đó bắt đầu yêu thích và có một thái độ trân trọng hơn với bộ môn nghệ thuật dân tộc này. Cũng tại Phước Long, tôi mới thấy được tầm quan trọng của môn thanh nhạc; chỉ sau mấy tuần lễ ra bờ suối để được “thầy” hướng dẫn, một tay vốn có giọng hát tra tấn lỗ tai như Hưng “sún” đã trở thành một ca sĩ điêu luyện… Với ngần ấy nhân tài, ban ngày thường có những trận so tài cờ tướng, các lớp học ngoại ngữ, nhạc lý, đàn địch, hát hỏng…, buổi tối thỉnh thoảng lại có một chương trình ca nhạc, khi thì nhạc trẻ, khi thì nhạc thính phòng, lúc nhạc sến, lúc hòa tấu, lúc solo…, và tới chủ nhật thường có một buổi “đại nhạc hội” với đầy đủ mọi tiết mục!
* * * Nhưng trong số các sinh hoạt giải trí ở trại tù cải tạo T2 Phước Long, được nhiều người hưởng ứng nhất phải là mục kể truyện của Ch “lùn”. Thực ra mục kể truyện để giải khuây cho anh em trong các trại tù cải tạo nơi nào cũng có, và đã có ngay từ đầu mùa cải tạo, chẳng hạn thời gian ở Thành Ông Năm tôi đã kể cho anh em nghe các tình sử “thất thực tam hư” như Cleopatra – Julius Caesar – Marc Antony, Trần Huyền Trân – Trần Khắc Chung – Chế Mân, các bộ tiểu thuyết nổi tiếng được thực hiện thành phim như Cuốn theo chiều gió, Bố già…, nhưng tôi có thể khẳng định không một nơi nào có thể đạt tới mức độ chuyên nghiệp và mang tính cách thường trực như ở T2 Phước Long. Tất cả nhờ có Ch lùn, người kể truyện, cũng dân Cà Tum. Trước năm 1975, Ch là một thiếu úy địa phương quân phục vụ tại tiểu khu Biên Hòa, chủ nhân cái quán cà-phê ở Dốc Sỏi nằm đối diện Cổng số 2 của phi trường. Theo những gì do chính Ch lùn khai ra thì đương sự nửa lính cậu nửa lính kiểng, trong giờ làm việc hắn có mặt ở quán cà-phê nhiều hơn là bộ chỉ huy tiểu khu. Quán cà-phê của Ch lùn lại là nơi tụ tập, ngồi đồng của anh em quân cảnh, phòng thủ, an ninh Không Quân của phi trường Biên Hòa cho nên hắn quen biết nhiều nhân vật nổi tiếng, trong đó có Thiếu tá Hảo “què” Liên đoàn phó LĐ Phòng Thủ, Đại úy Phạm Phú Ngự (anh trai của cố Đại tá Phạm Phú Quốc), cũng thuộc LĐ Phòng Thủ của Sư Đoàn 3 Không Quân. Chiều cao của Ch lùn – hỗn danh “người ruồi gieo máu lửa” – chỉ khoảng 1m50 nhưng “bộ nhớ” của hắn thật dễ nể, từ Tam Quốc Chí, Thủy Hử tới các bộ truyện kiếm hiệp của Kim Dung, Cổ Long… hắn nhớ không sót một nhân vật, một tình tiết nào. Bên cạnh đó Ch còn có lối kể truyện thu hút, đối thoại như một diễn viên kịch nói (voice actor) chuyên nghiệp… Nhìn cảnh anh em tù cải tạo tối tối ngồi quanh Ch lùn say mê theo dõi, tôi liên tưởng tới những ông già sống bằng nghề kể truyện rong ở bên Tàu ngày xưa. Vì tiếng Hán có hàng ngàn mặt chữ cần học thuộc, đại đa số dân chúng Trung Hoa trước đây, dù ở nơi phồn hoa đô hội hay chốn thôn quê dân dã cũng đều không biết đọc, cho nên mới có những người làm nghề kể truyện rong, thường là các cụ già. Tại các thành thị, người kể truyện thường chọn một địa điểm đông người qua lại để hành nghề; thu nhập của họ là những đồng tiền do người nghe ủng hộ. Tại thôn quê, ra vẻ những người làm nghề kể truyện rong được trọng vọng hơn; họ được dành cho một vị trí thuận lợi, như sân đình, chùa hay nhà một phú hộ nào đó, được trả thù lao hậu hĩ, được cung phụng đủ thứ để có thêm hứng. Ở trại cải tạo T2 Phước Long cũng thế, mỗi lần “đăng đàn”, Ch lùn lại được anh em điếu đóm, nào là thuốc lào 888, trà Đỗ Hữu, cà-phê, bánh kẹo… Vì Ch lùn ở cùng dãy nhà với đa số anh em nghệ sĩ gốc Cà Tum, cho nên phải có một sự phối hợp sắp xếp chương trình giữa đôi bên để khỏi trùng nhau, nhưng nói chung phe nghe kể truyện vẫn được ưu tiên hơn, ít nhất là bốn buổi tối mỗi tuần. Có thể so sánh việc anh em trong trại cải tạo chờ nghe Ch lùn kể truyện với việc độc giả chờ đọc truyện kiếm hiệp hoặc tiểu thuyết “phơi-ơ-tông” trên các nhật báo ở Sài Gòn trước năm 1975. * * * Phần tôi, tự biết tài đàn của mình chẳng bằng ai, trong các buổi “trình diễn” ca nhạc chỉ đóng vai khán giả. Thay vào đó, những lúc rảnh rỗi tôi thường xách cây đàn Tobia ra cái lều ở bờ suối để tìm cảm hứng sáng tác. Nhưng kết quả chỉ là một con số không to tướng. Viết một cách chính xác, tôi cũng soạn được vài ba ca khúc mà lúc ôm đàn cất giọng vịt đực bên bờ suối, tôi cho là cũng tạm được; nhưng mấy ngày sau hát lại thì nhận thấy dòng nhạc của mình thật tầm thường, còn lời hát thì một là ngô nghê, hai là cường điệu. Cuối cùng, tôi bỏ cuộc vì nhận ra mình thiếu óc sáng tạo.Xưa nay người ta thường nói “Thiên tài chẳng qua chỉ là kết quả của một quá trình luyện tập bền bỉ”, nhưng tôi cho rằng nếu áp dụng vào lĩnh vực sáng tác thì thiếu vế thứ hai: “với điều kiện bạn phải có chút ít óc sáng tạo”. Với óc sáng tạo, Trịnh Công Sơn đã viết những tình khúc để đời trong khi trình độ nhạc lý của ông (xin lỗi) chỉ… ngang ngửa với tôi là cùng! Thật vậy, không cần phải là một bậc thầy âm nhạc, người ta cũng có thể nhận ra kỹ năng, nhạc thuật của Trịnh Công Sơn qua những sáng tác của ông, không cầu kỳ, rắc rối nhưng giai điệu vẫn có sức thu hút lạ thường. Bên cạnh đó, theo suy nghĩ của tôi, trong việc soạn ca khúc, óc sáng tạo mà thôi vẫn chưa đủ, cần phải có tâm hồn. Ca từ trong các tình khúc của họ Trịnh không văn hoa bóng bảy nhưng vẫn đi vào lòng người là nhờ khi viết tình ca – tôi nhấn mạnh “tình ca” – ông viết với cả tâm hồn. Áp dụng vào trường hợp của tôi, trong khi bạn bè có những người trở thành nhà văn, nhà thơ thì tôi – óc sáng tạo đã không có mà tâm hồn lúc nào cũng trống rỗng – suốt đời an phận làm một nhà báo quèn, tuy không tệ hại tới mức “nói láo ăn tiền” nhưng cùng lắm cũng chỉ làm công việc phục vụ nhu cầu thông tin của quần chúng, cao hơn nữa là hướng dẫn dư luận, chứ không cống hiến độc giả những món ăn tinh thần như các nhà văn, nhà thơ… Vì thế, nhiều lúc tôi đã thầm ghen tỵ với những người bạn tài hoa của mình. Ngồi ôm cây đàn với đầu óc trống rỗng bên bờ suối ở Phước Long, tôi nghĩ chắc hẳn giờ này ở một trại tù nào đó, Phan Lạc Giang Đông, Trần Ngọc Tự… đã sáng tác được khối thơ!
Đà Lạt, 1970 (từ trái): tác giả, Trần Ngọc Tự, Phan Lạc Giang Đông Sau này, chỉ gặp lại Phan Lạc Giang Đông một lần duy nhất, tôi không được biết về những sáng tác trong tù của hắn, còn Trần Ngọc Tự thì rất tiếc sau khi ra tù cải tạo ít lâu thì nhà bị lụt, sách vở, bản thảo đa phần theo hà bá, rồi lại bị bắt lần thứ hai, ra tòa lãnh án, ngồi tù thêm mấy năm…, thành thử những sáng tác của hắn sau năm 1975 chỉ còn lại một số ít ỏi nằm trong bộ nhớ mà thôi. Trong số những bài thơ Trần Ngọc Tự còn nhớ ấy, tôi thích nhất bài viết trong ngày giỗ đầu Dương Hùng Cường, và bài Khúc quân ca mới viết trong trại tù cải tạo ngoài Bắc. Khúc quân ca mới nơi những năm tháng lưu đầy ở trại tù cải tạo Yên Bái-Phong Quang (Lào Cai)- Vĩnh Quang (Vĩnh Phú) 1977-1981
Thế rồi đất nước bỗng xa khơi
Chinh chiến ta đi tiếp một đời Hát khúc quân ca hồn phơi phới Chẳng chút nao lòng tổ quốc ơi.
Những nông trường từng sớm bình minh Đẫm mồ hôi nhòe mắt lung linh Còn chặng cuối này qua cho nốt Đoạn đời hay đoạn đường chiến binh.
Như bước vào mùa huấn nhục mới Tay cuốc dài thay khẩu súng trường Thêm tên gọi nào đời trai trẻ Cho dài mãi ra những nẻo đường.
Ta thấy ta trong mắt đồng đội Có còn chăng ánh lửa niềm tin Thoáng chút gì bâng khuâng xao xuyến Đừng vội bối rối hãy ngẩng nhìn.
Vẫn cười vui giữa cuộc thương khó Vai áo tù ngỡ sắc chiến bào Hát nhẩm quân hành mơ vào trận Mộng mãi cho đầy gối chiêm bao. ngọc tự * * * Khoảng ba tháng sau khi lên Phước Long, Thượng úy Phùng Xuân Nghĩa, thủ trưởng T2, được thăng cấp Đại úy. Cũng từ khoảng thời gian này, ông trở nên dễ chịu và tỏ ra thân thiện với tù cải tạo hơn trước nhiều. Chủ nhật không phải đi lao động, ông hay xuống các đội quan sát sinh hoạt (chơi bời) của anh em; các buổi tối trong tuần, thỉnh thoảng ông xuống tham dự các buổi họp tổ, sau đó ngồi lại uống trà, trò truyện với anh em tù cải tạo. Bên cạnh tổ của tôi có một anh trung úy (tôi không nhớ tên) gốc Cà Tum, khá lớn tuổi so với đám trẻ chúng tôi. Anh là nhạc sĩ đàn mandoline chuyên nghiệp nhưng rất ít khi đàn, tính tình hiền lành, ít nói. Tối hôm ấy, nói tới chuyện vợ con, ông Phùng Xuân Nghĩa hỏi anh trung úy: – Còn anh được mấy đứa? – Thưa chỉ được một gái! – Sao lại chỉ đẻ có một đứa thôi? Anh trung úy trả lời cho qua chuyện: – Thưa anh… thời buổi kinh tế khó khăn. – Khó khăn thì khó khăn chứ…, ngoài Bắc chúng tôi còn khó khăn gấp mấy lần trong Nam, nhưng cũng chẳng có ai đẻ một đứa cả… Trời sinh voi trời sinh cỏ! Câu nói thật thà (và… duy tâm) ấy của ông Phùng Xuân Nghĩa khiến chúng tôi càng có thiện cảm với ông. Nhưng trong khi ông thủ trưởng ngày càng trở nên dễ chịu thì xuất hiện một tay thủ phó cực kỳ đáng ghét: Trung úy Tịch, hỗn danh “Tịch tây lai”. Sau này chúng tôi được biết viên trung úy tây lai này nguyên là cán bộ đặc trách thăm nuôi của một trại cải tạo khác cũng ở Phước Long, nơi mà nhà thăm nuôi có những phòng riêng. Vào một đêm nọ, hắn mò vào toan tính làm bậy một bà vợ cải tạo mà trước đó hắn đã lấy cảm tình bằng những lời hứa hẹn hão huyền; nhưng hắn chưa kịp dở trò tồi bại thì bà vợ cải tạo đã tri hô lên… Sau đó Tịch được đưa tới T2 làm thủ phó. Tịch lai tây, cao ráo, da trắng hồng, môi đỏ như tô son nhưng cũng không đủ để gọi là một người đẹp trai. Trong khi đó có lẽ hắn tự cho mình là đẹp trai nên càng ra sức trình diễn. Sáng sáng, khi tù cải tạo còn đang đánh răng rửa mặt, Tịch đã lững thững đi xuống các dãy nhà của cải tạo, đầu đội cái mũ lưỡi trai (hầu như không bao giờ hắn đội nói cối), ở thắt lưng đeo một khẩu Browning 6.35 ly nhỏ xíu không biết kiếm được ở đâu. Biết tay thủ phó thường tìm đủ mọi cách để kiếm chuyện, hễ thấy bóng hắn từ trên khung đi xuống là anh em tù cải tạo lỉnh hết vào trong nhà, đợi hắn đi qua rồi mới trở ra bên ngoài. Ít lâu sau khi tới T2, Tịch sắm được một chiếc xe đạp mới tinh, trước ghi-đông gắn hoa ni-lông sặc sỡ, trên sườn xe và sau póc-ba-ga (porte-bagage) có chữ “Mazda” xi (mạ) sáng loáng. Hắn khoe đây là xe đạp của hãng Mazda nhập cảng từ Nhật! Nghe hắn khoe, tôi phục mấy tay buôn bán xe đạp ở Sài Gòn sát đất. Bởi vì họ xạo có căn cơ, bài bản. Còn nhớ ngày mới di cư vào Nam năm 1954, bố tôi chỉ mơ ước có được một chiếc xe đạp khung nhôm hiệu Peugeot nhập cảng từ Pháp, một sản phẩm của hãng chế tạo xe hơi Peugeot nổi tiếng. Nay các con buôn xe đạp ở Sài Gòn gắn cho những chiếc xe đạp “made in Cholon” chữ Mazda rồi bảo đó là xe của hãng xe hơi Mazda nhập cảng từ Nhật, đám nón cối tin còn hơn tin Đảng! Từ ngày có chiếc Mazda, chiều nào Tịch cũng dắt xe xuống, đạp chầm chậm từ đầu trại cho tới cuối trại để giựt le. Cũng từ đó, anh em cải tạo đặt cho hắn biệt hiệu “Mát-đa”. Điều trùng hợp oái ăm, và thú vị, là con chó tôi nuôi cũng có tên là “Mát-đa” (Magda), hai chữ tuy viết khác nhau nhưng phát âm y hệt. Nguyên trong một lần đi làm cỏ rẫy khoai mì trên đường vào Bù Đốp, chúng tôi gặp lại một gia đình người Thượng từng trao đổi, mua bán. Lần này mấy đứa con của họ ôm theo hai con chó con rất dễ thương, con đực lông khoang nâu trắng, con cái khoang đen trắng.Thời gian này ở T2 đã có một vài anh em nuôi mấy con chó con mua của người Thượng nên tôi cũng muốn nuôi một con để làm bạn. Nhưng tới khi tôi đòi mua con khoang đen trắng thì họ cho biết vì hai con chó con này là “chị em” nên ai muốn mua phải mua cả hai để có chị có em! Tôi không nghĩ mấy người Thượng này chế chuyện để một lúc bán được hai con chó, mà tôi tin họ thành thật. Cuối cùng tôi đồng ý mua cả hai con với giá 10 đồng tiền Hồ (trị giá 10 ly cà-phê vỉa hè ở Sài Gòn lúc bấy giờ). Nhưng không hiểu vì bị dứt sữa mẹ sớm, vì nhớ chủ cũ, hay vì một nguyên nhân nào khác, hai con chó con sau khi được tôi đưa về T2 đã không chịu ăn, ngày càng ốm yếu tong teo. Khoảng hơn một tuần sau thì con đực chết; khi chôn nó bên bờ suối tôi nhủ thầm: chắc con chị rồi cũng chết thôi, khi ấy tôi sẽ cho hai chị em nằm bên nhau! Nhưng như một phép lạ, sau đó con chị lại chịu ăn và lớn như thổi, đẹp nhất là bộ lông khoang đen trắng hơi quăn nhưng mềm mại và óng ả của nó. Chẳng những thế nó còn rất khôn và thích đùa dỡn cho nên anh em trong đội ai cũng thương, thậm chí khi đi ra suối tắm, họ cũng rủ nó theo để cùng nhau bơi lội, nô đùa dưới dòng nước. Tới bữa ăn, mỗi khi thấy nó lẩn quẩn bên cạnh, anh em lại cho nó miếng này miếng khác. Đặc biệt trong số anh em này có một anh chàng thiếu úy gốc Hoa không hiểu bằng cách nào đó, hoặc chỉ vô tình, biết được con chó của tôi rất thích ăn đường, nên đặt tên cho nó là “Sugar Thoòng”. Ngồi ở tận cuối nhà, anh chỉ cần gọi “Sugar Thoòng” là nó phóng ngay tới… Thấy cái tên nửa Mỹ nửa Tàu “Sugar Thoòng” thiếu… nữ tính và có vẻ hơi diễu cợt, tôi lựa cho con chó một cái tên thật đẹp: Magda, viết tắt của Magdalene. Từ đó, anh em trong đội đều gọi nó là “Mát-đa”. Vì thế, với những anh em này, việc viên thủ phó bị tặng biệt hiệu “Mát-đa” càng thêm tính cách thú vị. Thực ra, việc viên thủ phó T2 và một con chó của cải tạo cùng được gọi là “Mát-đa” chỉ là chuyện nhỏ, sở dĩ tôi ghi ra đây là vì cả hai sẽ được nhắc tới trong một đoạn kết bi thảm. * Thiếu bóng đàn bà! Trước năm 1975, nhạc sĩ Trúc Phương đã mở đầu ca khúc Kẻ Ở Miền Xa của ông như sau: Tôi ở miền xa Trời quen đất lạ Nhiều đông lắm hạ Nối tiếp đi qua Thiếu bóng đàn bà… Với một đấng nam nhi đã trưởng thành, bốn chữ “Thiếu bóng đàn bà…” trong lời hát của Trúc Phương mang ý nghĩa bóng gió xa xôi chứ không chỉ đơn thuần là “không thấy bóng một người đàn bà nào cả”. Viết một cách dễ hiểu, và trắng trợn, ý Trúc Phương muốn nói “không có đàn bà để quan hệ thân mật”. Chỉ ở miền xa mà đã “thiếu bóng đàn bà” thì nói gì tới bị giam trong tù cải tạo! Tôi không biết khi màn đêm buông xuống, các bạn tù của tôi có mơ tưởng tới “đàn bà” trong nhạc của Trúc Phương hay không, riêng tôi trong hơn 2 năm đầu, đêm nằm chỉ nhớ thương vợ chứ không có sự thèm khát. Dường như những tủi nhục, lo âu, tuyệt vọng đã khiến tôi, và có lẽ đa số bạn tù cải tạo, trở nên nguội lạnh, quên mất… đàn bà (trong nhạc Trúc Phương), ít nhất cũng trong thời gian hơn 2 năm đầu, khi chưa thấy được một chút ánh sáng nào ở cuối đường hầm. Lần đầu tiên trong trại cải tạo tôi nghĩ đến “đàn bà” là sau khi được xem một cuốn phim của miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Nguyên mấy tháng sau khi chúng tôi lên Phước Long, toán chiếu phim lưu động của Quân Khu tới phục vụ L2, tù cải tạo ở các T được lần lượt lên sân trung đoàn xem phim chung với bộ đội. Đám cải tạo chúng tôi ngồi ngay hàng thẳng lối trên những chiếc ghế tự đóng lấy, thấp lẹp xẹp như ghế của các bà bán hàng rong ngoài chợ, còn bộ đội thì ngồi kiểu nước lụt (chồm hổm) rải rác mỗi nơi một nhóm. Trong số này có mấy cô bộ đội Bắc Kỳ ngồi cách chúng tôi vài mét. Trong đêm tối chỉ thỉnh thoảng mới có ánh đèn pin của quản giáo cho nên chúng tôi không biết dung nhan các cô ra sao mà chỉ ngửi thấy mùi dầu Con Sóc nồng nặc. Tội nghiệp, thì ra từ Bắc vô Nam các cô cứ tưởng dầu Con Sóc là… nước hoa! Các cô có lẽ còn rất trẻ, cười đùa hồn nhiên, tíu ta tíu tít, nói chuyện hơi lớn tiếng, thỉnh thoảng lại cười ré lên như muốn cho đám cải tạo biết có những bóng hồng đang ngồi gần họ. Thành thật mà nói, việc ngồi gần đám bộ đội gái này cũng chẳng khiến tôi cảm thấy thích thú gì hơn ngồi gần một đám bộ đội đực rựa; và nếu tôi có để ý tới các cô thì cũng chỉ để cố nghe thử xem họ đang nói những gì, bởi tuy chính gốc Bắc Kỳ, tôi cũng chỉ hiểu lõm bõm, vì các cô nói quá nhanh, quá nặng, lại lên xuống một cách kỳ cục, không giống tiếng Bắc trước 1954 một chút nào cả! Chỉ tới khi xem phim, một cuốn phim do nữ diễn viên Trà Giang thủ vai nữ nhân vật chính, tôi mới nghĩ tới “đàn bà”. Trà Giang, sinh năm 1942, có thể không phải nữ diễn viên xinh đẹp nhất của điện ảnh miền Bắc thời phim đen trắng nhưng ngoại hình của cô rất hấp dẫn. Sau này, một tay viết trong nước đã so sánh nhan sắc, ngoại hình của Trà Giang ngoài Bắc với Thẩm Thúy Hằng trong Nam, một sự so sánh mà tôi cho là khập khiễng. Thứ nhất, nhan sắc của Trà Giang nói chung không thể sánh với Thẩm Thúy Hằng, nhưng bù lại cô có cặp mắt đẹp và cặp môi dày quyến rũ. Thực ra, Thẩm Thúy Hằng cũng có cặp mắt đẹp và đôi môi dày, nhưng mắt của “Người đẹp Bình Dương” không có hồn, còn môi thì bơm một cách quá lộ liễu.
Trà Giang
Thẩm Thúy Hằng Thứ đến về ngoại hình, Trà Giang cũng không sexy bằng Thẩm Thúy Hằng nhưng điều này không có nghĩa là Trà Giang không thu hút bằng Thẩm Thúy Hằng, mà ngược lại.Bởi vì nhìn Trà Giang người ta tin rằng những đường cong ấy là trời cho, còn ngắm Thẩm Thúy Hằng người ta có cảm tưởng vòng số 1, vòng số 3 dễ nể của nàng đã có sự tăng cường bằng một hình thức nào đó. Nhất là vòng số 3, ngày ấy đã khiến nhiều người phải xuýt xoa, còn đám nhà báo thì ví von “đầu Tô Văn – mông Thẩm Thúy Hằng”, nhưng không đem lại cho các đực rựa cảm giác kích thích thực sự như vòng số 3 của một Sophia Loren… * * * Tôi không nhớ tên cuốn phim được chiếu tối hôm đó, chỉ biết chắc chắn không phải một trong những cuốn phim sặc mùi tuyên truyền đã góp phần đem lại danh hiệu “Nghệ sĩ Nhân dân” cho Trà Giang, như Chị Tư Hậu (1963), Vĩ tuyến 17 ngày và đêm, Em bé Hà Nội (1974), v.v… Thực ra, cuốn phim nào của miền Bắc xã hội chủ nghĩa mà không mang mục đích tuyên truyền, tuy nhiên ít nhất trong cuốn phim này cũng có chút tình cảm nam nữ và gián tiếp đề cập tới nhu cầu tình dục. Tôi nhớ đại khái Trà Giang thủ vai một cô vợ trẻ xinh đẹp với những đường cong hấp dẫn, chưa có con cái, khát khao chuyện vợ chồng nhưng tối nào cũng phải đi ngủ trước vì chồng (cán bộ hay chuyên gia gì đó) có tinh thần trách nhiệm cao, làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm! Một buổi tối nọ, có lẽ không thể “nhịn” được nữa, nàng chủ động tỏ thái độ âu yếm, dục chồng đi ngủ, nhưng anh ta vẫn thản nhiên, nói nàng cứ đi ngủ trước. Chán nản, nàng bỏ đi vào phòng… Tôi không phải một nhà phê bình phim ảnh mà chỉ là người thưởng ngoạn, nhưng cũng có thể nhận xét Trà Giang đã diễn xuất cảnh này một cách tuyệt vời, không chỉ thể hiện qua nét mặt mà còn lột tả bằng dáng đi. Viết một cách chi tiết, khi Trà Giang quay lưng õng ẹo bỏ đi, cứ mỗi bước chân, một bên mông của nàng lại nổi lên sau lớp vải quần một cách khiêu khích. Thực ra đây chỉ là cách bước căn bản của các cô người mẫu để tăng sức thu hút của vòng số 3, nhưng trong khi các cô di chuyển khá nhanh trên sàn trình diễn thì trong phim sau mỗi bước, Trà Giang lại ngừng lại khoảng 1/10 giây đồng hồ để khán giả có đủ thời gian chiêm ngưỡng và vận dụng óc tưởng tượng!… Cứ tạm thời cho rằng không phải khán giả “tù cải tạo thiếu bóng đàn bà” nào cũng có tư tưởng… đen tối như tôi khi xem cảnh này, ít nhất tôi cũng có một bạn tù đồng cảm. Trên đường trở về trại, Nguyễn ĐS, tay luật sư phục vụ tại Nha Quân Pháp ở cùng tổ với tôi ở Thành Ông Năm trước đây, thấy tôi đi phía trước liền tiến lên đi song song, bình luận về nhan sắc, ngoại hình của Trà Giang rồi kết luận: “Chặc… Nhìn em hẩy hẩy cặp mông, tôi chịu không được!!! Cũng may, chỉ hơn một tuần sau khi xem phim, đêm về tôi đã có thể xua đuổi “ngoại hình” của Trà Giang trong giấc ngủ: chúng tôi sắp được thăm nuôi, sẽ được gặp lại người vợ, người yêu là “đàn bà” bằng xương bằng thịt! * * * Đợt thăm nuôi thứ nhất của T2 diễn ra khoảng ba tháng sau khi chúng tôi lên Phước Long. Viết về việc đi thăm nuôi tù cải tạo ở trong Nam, nếu chỉ tính những trại do trung ương quản trị thì theo những gì được kể lại, gian nan cực khổ nhất phải là đi thăm tù ở Gia Trung (Tây Nguyên), kế đến là tù ở Phước Long. Từ Sài Gòn đi Phước Long chỉ hơn 160 cây số nhưng thiếu phương tiện di chuyển và đường đi rất xấu. Kiếm được một chỗ trên xe đò từ Sài Gòn lên quận lỵ Phước Bình không phải là việc dễ dàng, nhưng từ Phước Bình đi vào trại cải tạo mới thực sự gian nan. Như tôi đã viết ở một đoạn trước, các trại cải tạo ở Phước Long nằm trên con đường từ Phước Bình đi Quảng Đức; tuy mang tiếng là “liên tỉnh lộ”, nhưng sau năm 1975 chỉ còn một đoạn mấy cây số từ Phước Bình đi vào tỉnh lỵ Phước Long (cũ) có thể gọi là đường trải đá, còn từ đó trở đi chỉ là đường đất đỏ. Qua chân núi Bà Rá, gần tới tỉnh lỵ quẹo mặt, xuống dốc, băng qua cầu Dak Lung, lên một cái dốc thật dài, đi thêm khoảng 10 cây số nữa thì tới vùng Bù Gia Phúc, nơi có các trại cải tạo của L2, và khoảng 25-30 cây số nữa mới tới trại cải tạo Bù Gia Mập. Đi từ Sài Gòn, sau khi tới quận lỵ Phước Bình, thân nhân sẽ phải ngủ đêm ở chợ để sáng hôm sau đón xe đò Phước Bình – Quảng Ðức đi vào trại cải tạo. Nhưng đó chỉ là hướng dẫn của ban chỉ huy trại cho tù cải tạo viết thư về nhà, còn trên thực tế, chuyến xe Phước Bình – Quảng Ðức ấy có chạy hay không, không ai biết trước. Qua sáng hôm sau, nếu được thông báo xe bị nằm ụ chờ sửa chữa không biết bao giờ mới xong thì thân nhân đành phải mua đòn gánh để gánh quà thăm nuôi, cùng nhau đi bộ mấy chục cây số để vào trại. Đoạn dốc đi xuống cầu Dak Lung nếu gặp mùa mưa sẽ trở nên rất trơn trượt, các bà vợ đi thăm chồng còn đỡ nhưng các bà mẹ già đi thăm con trai thì cứ té oành oạch. Tuy nhiên, nói theo cách nói của dân nhà binh thì cái dốc phía bên kia cầu mới đúng là “đoạn đường chiến binh”. Đứng cuối dốc nhìn lên, ai cũng phải ngao ngán. Cả đến xe cộ cũng chỉ có xe molotova hoặc GMC (của quân đội VNCH để lại) mới đủ sức leo lên cái dốc này, còn xe đò, xe vận tải “thời xã hội chủ nghĩa” thì hành khách phải xuống xe, nếu có đám thanh niên thì phải xúm nhau đẩy phụ, xe mới leo lên dốc được! Thành thử thân nhân nào phải đi bộ vào trại cải tạo, nhất là các bà mẹ già, tới cái dốc này bắt buộc phải gạt lệ quẳng bớt quà thăm nuôi vào bụi cho nhẹ bớt thì mới có sức mà leo dốc. Thường thì thức ăn, bánh trái bị vứt bỏ trước tiên, cho nên nhiều khi lặn lội cả trăm cây số, vượt rừng vượt suối mấy ngày trời chỉ để trao cho người tù cải tạo ít thuốc tây và những thứ thật cần thiết như mắm muối, thuốc rê thuốc lào… Nếu thăm tù cải tạo ở Bù Gia Phúc thì xế chiều có thể đã vào tới nơi, nhưng nếu vào tận Bù Gia Mập thì chắc chắn sẽ phải ngủ đêm ở dọc đường! Cũng may mà do chiến tranh kéo dài, các loài thú dữ ở rừng già Phước Long đã bỏ đi nơi khác lánh nạn cho nên đoàn người thăm nuôi mới được toàn thây! Sau này tôi được biết cũng có một số thân nhân đi thăm nuôi chỉ cần đi một chuyến xe từ Sài Gòn tới thẳng trại cải tạo. Đa số là những gia đình có thân nhân cấp tá ở Bù Gia Mập, khi được thăm nuôi cùng đợt, đã liên lạc với nhau để mướn chung một chiếc xe vận tải nho nhỏ cùng với tài xế để đi và về. Tuy nhiên, số thân nhân may mắn này cũng chẳng được bao nhiêu, bởi vì sau khi chồng con bị bắt đi học tập cải tạo, không phải nhà nào cũng có đủ khả năng tài chính, không phải ai cũng biết đường đi nước bước, khôn ngoan lanh lợi để nghĩ tới việc mướn xe đi chung. Cũng may, sau khi chúng tôi lên Phước Long, tình trạng xe cộ từ Phước Bình đi vào các trại cải tạo đã khả quan hơn, nhờ có thêm các xe vận tải do tư nhân khai thác, và trên đường trở ra Phước Bình, đôi khi thân nhân cũng quá giang được xe tải của các nông trường, và, dù rất hiếm họa, cả xe molotova, xe GMC của những anh bộ đội tốt bụng thuộc Đoàn Liên Hiệp Kinh Tế Phước Long (Đoàn 500). * * * Để chuẩn bị cho việc thăm nuôi, tù cải tạo của L2 được lệnh cất một cái nhà tranh vách lồ ô dài khoảng 20 mét, với hai hàng sạp cũng bằng lồ ô, ban ngày làm chỗ thăm nuôi, ban đêm làm chỗ ngủ cho thân nhân. Nhà thăm nuôi này nằm sát con đường Phước Bình – Quảng Đức để thân nhân dễ nhìn thấy, ba mặt là rẫy khoai mì, đi sâu vào khoảng 2, 3 trăm mét là con suối chảy xuống T2 (tức sông Tà Niên, thượng nguồn Sông Bé). Đoạn suối này rất trong, chảy êm, khá thơ mộng với bóng mát và những tảng đá lớn nằm ven bờ hoặc giữa dòng…
Đoạn suối chảy qua Bù Gia Mập Thân nhân nào tới nơi sớm nhất thì trời cũng đã về chiều, cho nên phải chờ tới sáng hôm sau người tù cải tạo (được miễn công tác lao động ngày hôm ấy) mới được lên gặp mặt một hai tiếng đồng hồ; tới khi cán bộ phụ trách nhà thăm nuôi thông báo hết giờ thì phải tự giác trở về trại, người nào ở lại nếu bị khám phá sẽ bị kỷ luật và cấm thăm nuôi kỳ tới. Trong một hai tiếng đồng hồ phù du ấy, một số trong đám trung úy thiếu úy trẻ chúng tôi có vợ lên thăm, đã bất chấp nội quy thăm nuôi để tận hưởng hạnh phúc riêng tư. Theo nội quy thăm nuôi, tất cả mọi cuộc gặp mặt đều phải diễn ra bên trong nhà thăm nuôi dưới sự giám sát của cán bộ quản giáo; vợ chồng không được có những cử chỉ âu yếm, thân mật lộ liễu. Nhưng trên thực tế, đã có những cặp lén đưa nhau xuống bờ suối hoặc vào rẫy khoai mì… Để thực hiện “âm mưu” này, trước đó trong các lần được đi lao động tự giác, các chàng đã phải điều nghiên đường đi nước bước và chuẩn bị “bãi đáp”, tới khi thăm nuôi, vợ chồng làm bộ đi về phía nhà vệ sinh rồi lỉnh vào vườn mì. Khoai mì trồng ở đất Phước Long rất tốt, ngoài dòm vào, trên nhìn xuống chỉ thấy một màu lá xanh, nhưng vào bên trong người ta vẫn có thể định hướng bằng cách nhìn xuống gốc mì được trồng ngay hàng thẳng lối. Sau khi vào vườn mì, hoặc sẽ tìm đường đi xuống suối hoặc đưa nhau vào cuối rẫy.
Vườn mì… đồng lõa (Ảnh minh họa) Có những cặp đưa nhau xuống bờ suối có lẽ chỉ để tâm tình (cùng lắm là tay trong tay, môi kề môi) và… ngắm cảnh, nghĩa là trong sạch như trong ca khúc Suối Mơ của Văn Cao, nhưng những anh chàng đưa vợ vào tận cuối rẫy khoai mì thì hẳn phải có ý đồ… đen tối, như Trúc Phương đã viết một cách văn huê, bóng gió xa xôi trong bài 24 Giờ Phép: “Ta đưa nhau về nguyên thủy loài người… Ngôn ngữ tình làm bằng dấu đôi tay…” [Trong Lời Nói Đầu của thiên hồi ký này, tôi đã thưa cùng độc giả “Tất cả mọi nhân vật, tình tiết trong thiên hồi ký này đều có thật…”, tức là không hề bịa đặt. Tuy nhiên viết như thế không có nghĩa là tác giả sẽ kể lại TOÀN BỘ sự thật, bởi có những sự thật đau lòng không nên nhắc nhớ, có những sự thật tế nhị không thể kể ra. Vì thế, ngày ấy vợ chồng tôi có nghiêm chỉnh chấp hành nội quy thăm nuôi hay không, trường hợp không, thì đưa nhau xuống bờ suối hay vào cuối vườn khoai mì, xin được xem là chuyện “tứ tri” – chỉ có trời, đất, và hai người trong cuộc biết với nhau mà thôi] * Đợt thả tù đầu tiên Khoảng cuối năm 1977 đầu năm 1978, đã diễn ra đợt thả tù cải tạo quy mô đầu tiên ở Phước Long, cùng thời gian với nhiều nơi khác ở miền Nam. Gọi là quy mô bởi vì trước đó đã có những đợt thả tù lẻ tẻ, thường là những người “có thân nhân cách mạng”, hoặc các bác sĩ được thả về để phục vụ tại các bệnh viện… Những người được thả trong đợt đầu tiên này không được cấp Giấy Ra Trại ngay mà chỉ được đi phép một tháng để tìm kiếm công ăn việc làm, hoặc đưa gia đình lên vùng kinh tế mới, rồi đem giấy chứng nhận trở về trại để “cấp trên” duyệt xét, xong xuôi mới được cấp Giấy Ra Trại. T2 chúng tôi có hơn 1/3 có tên trong danh sách, đa số là trung úy thiếu úy lớn tuổi, trong đó có Tư “răng vàng”, tay đội trưởng tăng gia, Thiếu úy T, ông tổ trưởng cũ của tôi ở Trảng Lớn. Điều này cũng dễ hiểu, những ông trung úy thiếu úy già này thường đã vợ con đùm đuề, nhiều người đã có cháu nội cháu ngoại cho nên trong thời gian cải tạo thường an phận, thủ cẳng, nín thở qua sông, tích cực lao động, nghiêm chỉnh chấp hành nội quy… với hy vọng sớm được cho về đoàn tụ với gia đình. Cùng với thành phần lớn tuổi nói trên là những người có thân nhân cách mạng, và một vài thiếu úy trẻ “nhẹ tội”. Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có ít nhất hai chàng thiếu úy trẻ không “nhẹ tội” một chút nào, đó là Hùng nhô, tay thiếu úy CTCT ăn chung với tôi, từng trốn trại trong những ngày cuối cùng ở Đồng Ban, và tay thiếu úy gốc Hoa nói tiếng Việt không rành gốc Cà Tum trốn trại sau khi lên Phước Long, người mà ông Phùng Xuân Nghĩa cho rằng “thời gian cải tạo chắc chắn sẽ lâu dài hơn những người kiên trì học tập tiến bộ”! Sau này chúng tôi được biết tay thiếu úy gốc Hoa được gia đình chạy 16 cây vàng; riêng trường hợp Hùng nhô – Bắc Kỳ di cư, nhà nghèo, không thân nhân cách mạng… – thì chính đương sự cũng không tìm ra câu trả lời, cho nên chúng tôi chỉ biết đoán mò rằng rất có thể danh sách tù cải tạo được thả đợt này chưa đủ con số do trung ương đưa ra, và một số may mắn trong đó có Hùng nhô được điền vào cho đủ số! Suy ra, “tội” của Hùng nhô và mấy tay thiếu úy trẻ trốn trại bất thành ở Đồng Ban ngày ấy đã không bị ông Phùng Xuân Nghĩa ghi vào hồ sơ! * * * Hết hạn một tháng, tất cả tù cải tạo được đi phép đều trở lại T2, trừ… Tư răng vàng, tay đội trưởng tăng gia! Mấy ngày đầu, ông Phùng Xuân Nghĩa còn cố hy vọng Tư răng vàng vì một nguyên nào đó bị “trễ phép”, nhưng hai tuần sau ông ta vẫn biệt tăm. Trong khi ông thủ trưởng quê một cục thì đám tù cải tạo chúng tôi vô cùng thích thú trước việc “cải tạo viên” gương mẫu, tiến bộ, luôn luôn lấy điểm cách mạng ấy lại chơi ban chỉ huy trại một vố đau điếng!(Chú thích 1) Số là, như sau đó chúng tôi được biết, do lời dụ ngọt của Tư răng vàng, không ít cán bộ của T2 đã gửi tiền nhờ ông ta mua giúp cái đài, cái đổng, hay thứ này thứ khác, cộng lại có đến vài trăm bạc. Đám cán bộ tin tưởng Tư răng vàng vì nguyên nhân rất đơn giản: ông ta phải trở lại T2 để lấy giấy ra trại, và chắc chắn sẽ lấy điểm bằng cách cố gắng tìm mua món hàng chất lượng với giá rẻ nhất! “Anh ấy tệ thật!” là tất cả những gì Đại úy Phùng Xuân Nghĩa thốt ra với đám đội trưởng cải tạo. * * * Hai tuần sau, những người được thả trong đợt đầu tiên được cấp giấy ra trại, và được xe molotova chở ra Phước Bình để từ đó đón xe đò về Sài Gòn. Như vậy, những người này chỉ bị cải tạo chưa tới hai năm rưỡi. Chúng tôi nhớ lại những gì Trung úy Vầy đã nói ở Đồng Ban rằng theo sự tin tưởng của anh, chính sách cải tạo trong Nam hiện nay cũng giống như ở ngoài Bắc sau năm 1954, trừ những người bị xem là “kẻ thù nguy hiểm của chế độ” sẽ không có ngày về, những người còn lại cứ mỗi 3 năm sẽ được cứu xét và một số sẽ được thả về. Chúng tôi suy ra sở dĩ nay mới hai năm rưỡi mà đã có đợt về đầu tiên là vì tù cải tạo trong Nam quá đông, phải cho về thành nhiều đợt, ai hên thì được lời mấy tháng. Một tuần sau, khi đội của tôi đang phá rẫy dọc sát con đường Phước Bình – Quảng Đức thì thấy hai chiếc xe GMC chở tù cải tạo từ Bù Gia Mập chạy ra. Khi thấy chúng tôi, một số người đưa tay vẫy, và chúng tôi hiểu họ được thả về. Một người trong bọn chúng tôi lớn tiếng hỏi “Bò mấy?” thì họ đưa bốn ngón tay lên làm hiệu, cho chúng tôi biết họ là “bò tứ” (thiếu tá). Việc này càng khiến chúng tôi thêm phấn khởi, tin tưởng sẽ có thêm những đợt khác được thả về trong thời gian sắp tới… * Mát-đa chi mộ Sau đợt thả tù đầu tiên ở T2, vì các dãy nhà dành cho cải tạo đã xuống cấp trầm trọng, chúng tôi được lệnh đi cắt tranh về lợp lại mái để chuẩn bị cho mùa mưa sắp tới. Vì đã có hơn 1/3 cải tạo được thả, cho nên đội của tôi đang ở dãy nhà gần ban chỉ huy trại nhất được lệnh xuống ở chung với anh em trong hai dãy nhà còn lại vừa được tu bổ. Nhóm chúng tôi ở chung nhà với đội của Thời, một tay thiếu úy gốc Cà Tum, Bắc Kỳ vui tính, lanh lợi, hơi lắm mồm và khá láu cá (đối với “cách mạng”). Tôi và hắn trở nên khá thân, xưng hô mày tao… Một tháng, rồi hai tháng trôi qua kể từ ngày thả tù đợt một, chúng tôi vẫn không thấy ông Phùng Xuân Nghĩa đả động tới gì tới đợt kế tiếp. Rồi ông đi phép về Bắc thăm nhà, trao T2 lại cho thủ phó là Trung úy Tịch. Mát-đa vừa lên xử lý chức vụ thủ trưởng thì có những diễn tiến bất thường. Trước hết, tù cải tạo L2 được lệnh lên hội trường trung đoàn để học tập về thái độ thù nghịch và âm mưu bành trướng của đàn anh Trung Quốc, mà nay đảng và nhà nước ta gọi là bọn “bá quyền phương Bắc”. Giáo viên cũng cho biết Khmer Đỏ, tức “tập đoàn Pol Pot – Ieng Sary” đã trở thành tay sai của Bắc Kinh và bắt đầu hoạt động gây hấn ở vùng biên giới Tây Nam. Tiếp theo, toán lao động tình nguyện ở Bù Gia Mập được lệnh trở về T2 ngay. Toán này gồm mấy chục anh em thuộc đội của tôi do Cường hướng dẫn, tình nguyện tới một trại cải tạo (hoặc doanh trại quân đội nhân dân) bỏ trống trên đường đi Bù Gia Mập, để chăm sóc đám rẫy lúa mọi được trồng trong khu vực, dự trù ở lại cho tới ngày thu hoạch. Theo những gì chúng tôi nghe được từ đám vệ binh, tuy hiện nay Khmer Đỏ chỉ đánh phá vùng biên giới từ Tây Ninh trở xuống An Giang, các đơn vị bộ đội ở Bình Long, Phước Long cũng được đặt trong tình trạng báo động, đồng thời một số sĩ quan và bộ đội đang “công tác” (phục vụ) tại các trại cải tạo được “biên chế” (thuyên chuyển) tới các đơn vị biên phòng. Ít lâu sau, trong một buổi giao ban vào chiều Thứ Sáu, Trung úy Tịch ra lệnh các đội trưởng về thông báo cho anh em cải tạo biết bắt đầu từ Thứ Hai tuần tới, mọi người phải nghiêm chỉnh chấp hành lệnh cấm nuôi chó. Theo viên thủ phó, trước sau nội quy trại vẫn cấm tù cải tạo nuôi chó, nhưng lên Phước Long ban chỉ huy trại (ông Phùng Xuân Nghĩa) đã du di để cải tạo nuôi chó cho có bạn. Nay vì “tình hình khẩn trương”, quân Khmer Đỏ có thể vượt biên giới, thâm nhập lãnh thổ Phước Long, khi ấy tiếng chó sủa sẽ làm lộ vị trí của trại, vì thế những cải tạo viên đang nuôi chó ở T2 có hai ngày Thứ Bảy và Chủ Nhật để làm thịt chúng. Qua ngày Thứ Hai, người nào còn nuôi chó sẽ bị kỷ luật! Tuy nhiên không mấy người trong chúng tôi tin vào cách giải thích của Trung úy Tịch, mà đa số cho rằng viên thủ phó lợi dụng cơ hội được xử lý chức vụ thủ trưởng để diệt lũ chó mà y ghét cay ghét đắng. Những gì tôi kể lại sau đây có thể bị nhiều người cho là khó tin nhưng anh em ở L2 T2 ngày ấy là những nhân chứng sống. Nguyên mấy con chó ở T2 được tù cải tạo nuôi có khả năng phân biệt giữa tù cải tạo và đám cán bộ, vệ binh; ban ngày thì không sao, nhưng sau khi trời tối nếu có cán bộ từ ban chỉ huy đi xuống khu vực cải tạo là chúng sủa um sùm, gián tiếp báo động cho mọi người biết có “nón cối” đi xuống. Nhưng riêng Trung úy Tịch thì bất kể ngày đêm, mỗi khi hắn xuống khu vực cải tạo thì đi tới đâu mấy con chó cũng chạy theo sủa tới đó. Có anh em giải thích rằng vì trước đây hắn đã có lần đá một con chó khi nó tới gần, từ đó lũ chó đã thể hiện “thái độ chống đối” qua việc đua nhau sủa viên thủ phó mỗi khi đương sự đi xuống khu vực cải tạo! Sau khi được các đội trưởng thông báo lệnh giết chó của Trung úy Tịch, những anh em nuôi chó không biết phải xử trí ra sao, giết thịt thì không nỡ, mà không giết thì trả lời ra sao với tay thủ phó? Sau cùng, anh em quyết định đem chó cho bạn bè ở T1, họ tiếp tục nuôi thì không còn gì bằng, trường hợp họ làm thịt thì ít ra mình cũng không phải chứng kiến cảnh thương tâm ấy. Riêng tôi không quen biết anh em nào ở T1 nên dự tính tới chiều Chủ Nhật khi anh em đem chó lên T1 (ở gần trung đoàn) tôi sẽ gửi con Mát-đa theo, anh em muốn cho ai thì cho. Nhưng tới chiều Chủ Nhật, khi anh em chuẩn bị đưa chó lên T1 thì Mát-đa… biệt tích. Tôi gọi khản cả cổ, tìm kiếm khắp nơi, ra tận bờ suối nơi tôi thường dắt nó đi tắm và bơi lội, đùa giỡn cũng không thấy. Tới chiều tối, khi tôi đang ăn cơm thì nó mới dẫn xác về, ướt sũng! Cho tới nay, tôi cũng không biết đích xác ngày ấy con Mát-đa có linh tính nên bỏ trốn hay chỉ bơi qua suối đi chơi lang thang tới tối mới mò về?! Tôi dự định sáng hôm sau sẽ cột con Mát-đa ngoài bờ suối, đợi tới chiều nhờ một anh bạn đưa nó lên T1 để tôi được yên thân với tay thủ phó. Sáng hôm sau, khi tôi đang đánh răng rửa mặt ở ngoài giếng phía sau dãy nhà thì một anh bạn chạy tới, vừa thở hổn hển vừa nói: – Sáu Lèo! Sáu Lèo, thằng Tịch nó đang bóp cổ con Mát-đa của mày! Tôi vội vàng chạy về, nhưng vừa vào nhà thì một anh em khác đã ôm chặt lấy tôi, nói nhỏ: – Đừng ra, nó đang nổi điên! Định thần lại, tôi thấy tất cả anh em đều đã quay vào trong nhà, không một ai ở ngoài sân… Một lúc sau mới có người cho biết tay thủ phó đã bỏ đi. Tôi chạy ra sân, tới nơi thấy Mát-đa nằm sõng soài bên cạnh một gốc cây, máu từ miệng ứa ra. Sau này, tôi được anh em kể lại đầu đuôi như sau: Mặt trời vừa lên, Trung úy Tịch đã lững thững đi xuống khu vực cải tạo. Hắn vừa tới đầu dãy nhà thứ nhất thì con Mát-đa từ đâu không biết phóng tới sát chân viên thủ phó mà sủa inh ỏi, và bị hắn nhanh tay chộp được. Rồi hắn đứng dạng hai chân như thể để lấy tấn, hai tay bóp cổ con Mát-đa; một lúc sau thấy nó trở nên bất động, hắn mới buông tay, quăng xuống đất. Nhưng, một là vì bị ném mạnh xuống đất con Mát-đa tỉnh lại, hai là, như đa số anh em tin tưởng, nó chỉ giả vờ chết, vừa bị ném xuống đất là vùng dậy bỏ chạy! Nhưng sức đã yếu, không thể chạy nhanh, Mát-đa bị Trung úy Tịch chạy theo chộp lại một cách dễ dàng. Rồi hắn như một thằng điên, vừa chửi thề vừa nắm hai chân sau của con chó, lấy hết sức bình sinh quật đầu nó vào gốc cây liên tiếp cho tới khi nát óc! Đó chính là lúc anh em bảo tôi “Đừng ra, nó đang nổi điên!” và giữ tôi lại trong nhà… Tôi tiến tới gốc cây, ôm con Mát-đa lên, lòng đau xót khôn tả. Đúng lúc ấy, Thời chạy tới, nói lớn: – Cắt tiết ngay, không máu nó đông! Tôi quay lại: – Mày nói cái gì? – Tao nói phải cắt tiết ngay, không thì máu nó đông! Tôi bừng bừng nổi giận nhưng cũng cố dằn để khỏi chửi thề, chỉ đáp cộc lốc: – Tao chôn! Thời vẫn không chịu bỏ cuộc: – Sao lại chôn, thịt chó cũng là “prô-tê-in”…, sao lại chôn, phí của giời! Tôi gằn từng tiếng: – Chó của tao!… Tao chôn! Trong lúc tôi và Thời đối đáp, anh em đứng chung quanh đều giữ im lặng. Tôi biết họ không chỉ thông cảm với nỗi xót xa của tôi mà chính họ cũng xúc động trước cái chết thảm thương của con chó được cả trại yêu thích. Tôi lấy một cái áo cũ cuốn con Mát-đa lại rồi thay vì chôn nó ngoài bờ suối cạnh con chó em, tôi trịnh trọng chôn trong cái vườn rau đẹp nhất trại. Nguyên trước khi được thả về, Thiếu úy T, ông tổ trưởng cũ đã kết tôi từ ngày còn ở Trảng Lớn, đã ưu ái bàn giao cho tôi cái vườn rau cá nhân mà ông và mấy người bạn già đã bỏ biết bao công sức để vun trồng, có đủ mọi loại rau, mấy gốc cà tím, và một giàn mướp, một giàn khổ qua. Vườn có hàng rào thấp ngang bụng và một cái cổng ra vào xinh xắn, lại nằm giữa hai dãy nhà của cải tạo cho nên ai đi ngang qua cũng nhìn thấy và phải trầm trồ. Tôi chôn con Mát-đa ở giữa vườn. Buổi chiều đi lao động về, tôi đắp cho nó một nấm mồ nho nhỏ, rồi lấy một cây cọc cắm lên, trên gắn miếng các-tông hình chữ nhật khoảng hai gang tay, với hai hàng chữ lớn: Mát-đa chi mộ Chết vì bóp cổ Ngày hôm sau, Thời tìm tôi: – Sáu Lèo ơi, tao lạy mày. Mày mà chọc giận Mát-đa, hắn nổi điên lên thì cả trại lãnh đủ! Vừa căm thù viên thủ phó vừa nhớ lại việc sáng hôm qua Thời đòi cắt tiết con chó, tôi lạnh lùng trả lời: – Con chó của tao tên là Mát-đa thì tao viết là Mát-đa, nó bị bóp cổ thì tao viết là bị bóp cổ. Trung úy Tịch có thắc mắc thì mày cứ bảo là tao nói thế đấy! Tuy nhiên vì sau đó có mấy anh lớn tuổi nhỏ nhẹ khuyên can, tôi đã chấp nhận nhượng bộ một nửa: xóa bốn chữ “chết vì bóp cổ”.
CHÚ THÍCH: (1) Tư răng vàng. Sau khi ra tù cải tạo, tôi đã quên Tư răng vàng. “Quên” ở đây không có nghĩa là không còn nhớ gì về nhân vật đặc biệt này, mà chỉ vì không có dịp nhắc nhớ tới ông ta. Gần 20 năm sau, Tư răng vàng tái xuất hiện, không phải tại Việt Nam mà ở Hoa Kỳ, trong một cuộc biểu tình chống… CSVN. Tôi biết được việc này qua đọc một bài phóng sự (không nhớ tựa đề và tên tác giả) được phổ biến trên Internet. Đọc bài viết, tôi biết tác giả phải là người đã từng ở T2 từ Đồng Ban lên tới Phước Long cho nên mới biết rõ “quá trình hoạt động” của Tư răng vàng như thế. Trong cuộc biểu tình, Tư răng vàng là một trong những người hô “Đả đảo cộng sản” hăng hái nhất, lớn tiếng nhất. Trước sự việc này, tác giả bài viết đã có phản ứng và suy nghĩ mà nếu có mặt ở đó, tôi cũng không làm khác hơn: những gì đã qua cho qua luôn; điều quan trọng là ngày ấy Tư răng vàng đã không lấy điểm chế độ mới tới mức gây “nợ máu” với anh em; còn hiện nay việc ông ta tham gia biểu tình chống cộng tại hải ngoại, cho dù là a-dua, cũng chỉ có lợi chứ chẳng làm hại tới ai. Khác với một số người lấy điểm hoặc làm ăng-ten trong trại cải tạo, sau khi được thả đã tiếp tục cúc cung tận tụy với chế độ để được, hoặc hy vọng sẽ được, hưởng đặc quyền đặc lợi, chẳng hạn một ông lang Tây nọ, làm tới “dân biểu quốc hội”!
Cẩu là chàng trai kiêu hãnh, thích ăn chơi, mê gái. Năm ngoái, một ông lục người Cao Miên làm phép cho cậu ta, trao cho sợi dây cà tha. Cậu ta lạy ông lục rồi nhận sợi dây bùa ấy: một sợi chỉ tơ se lại khá to và chắc, từng miếng vàng lá được cuốn tròn rải rác quanh sợi chỉ. Ông lục nói:
– Từ rày về sau, không ai chém cậu được. Khi đụng vào da thịt cậu, lưỡi dao dội ngược ra.
Cậu hỏi về tiền tài, tình duyên.
Ông lục nói: – Cậu là người đầy đủ quyền thế, sung sướng mãn đời, sống hơn tám mươi tuổi. Cứ ngồi một chỗ cũng có hàng chục cô gái tới hầu hạ.
Bởi vậy, Cẩu bất chấp lời khuyên dạy của mẹ nó và ông ngoại. Thỉnh thoảng, cậu ta được mẹ ban thưởng vàng bạc, tha hồ xài phí. Món giải trí ưa thích vẫn là đá cá thia thia.
Hôm qua, cậu gặp người nhà đến gọi:
– Ông Mười kêu về nhà!
Cậu lắc đầu:
– Ngày mốt tao mới về được, mai nầy, còn đá một trận lớn.
Người nhà van nài:
– Ông Bá Vạn và mẹ cậu tới thăm.
Cậu trả lời chậm rãi:
– Tao mạnh khoẻ, cần gì thăm viếng. Tao đâu phải là thằng dân quèn dưới quyền ông Bá Vạn.
Sáng nay cậu tới trường đá cá thia thia. Đó là ngôi nhà khá rộng, dành riêng cho người sành điệu tới ăn thua, sát phạt. Nghe danh cậu Cẩu, người ở vùng lân cận kéo tới tấp nập. Cậu ta dám thua sạch túi, không bao giờ gian lận. Cậu nhìn ra sân như áy náy:
– Mặt trời lên chậm quá. Có nắng nóng thì cá đá mới hăng. Tụi bây lựa con cá “mun” đem ra đây.
Cá mun là loại cá thia thia đen, nhỏ con, màu giống như cục than. Dân sành điệu ít dám nuôi cá mun vì đa số đều “bở” đá không lâu, vừa bị đòn là đã chạy. Tuy nhiên, thỉnh thoảng họ gặp con “cá thần” trăm trận trăm thắng.
Tỏ ra là người quân tử, cậu Cẩu lên tiếng:
– Tôi cho bà con biết trước rằng con cá mun nầy là “cá thần”.
Có người hỏi:
– Cậu hớt tại đâu?
– Trên chót núi Còm. Cá ở trên chót núi là điều phi thường. Còn điều phi thường thứ nhì là nó sống trong bộng cây. Trên chót núi, có cây thị bị trời đánh tét đôi, nước mưa đọng trong gốc cây, con cá…từ trên trời…đáp xuống.
– Làm sao từ trên trời rớt xuống được? Theo ý tôi thì đó là một cái trứng cá nhỏ, từ dưới đất bay lên theo gió rồi rớt vô vũng nước. Nhiều khi cá đẻ trên đất bùn rồi gặp nắng….
Cậu Cẩu trợn mắt. Người vừa cãi với cậu là ông lão hơn sáu mươi tuổi.
Nếu quát tháo thì hóa ra vô lễ, cậu nén cơn giận, mặt mày tái mét, hai bàn tay giựt lia lịa như mắc chứng kinh phong:
– Cá nầy đâu phải phàm tục, dính bùn đất. Ông dám đá với nó không?
Ông lão vuốt râu cười:
– Xin lỗi cậu, tôi hiểu tới đâu thì nói tới đó.
Cậu Cẩu bèn cởi áo ra, để lộ sợi dây cà tha trên ngực:
– Tôi ở đây hoài, đá đủ một chục độ. Con cá mun của tôi sẽ thủ đài!
Nói dứt lời, cậu đứng dậy, ra trước sân. Mười Hấu và Bá Vạn đằng kia đi lững thững đến. Mười Hấu bước nhanh, lại gần mà nói:
– Cháu bận áo vô. Làm gì mà ở trần vậy, coi không được. Ông Bá Vạn tới thăm để giúp cháu…một chuyện lớn. Nhớ chắp tay chào ổng.
Cẩu nhướng mắt, nhìn về Bá Vạn:
– Ông già đó…gần sụm rồi! Chắc là muốn đá thia thia. Mời ổng ở lại coi vài độ…
Mười Hấu giựt mình:
– Đâu được, con đừng ăn nói hỗn láo. Bá Vạn còn nhiều chuyện khác. Dẹp cái vụ đá cá qua một bên. Đừng hỗn hào.
Nhưng cậu Cẩu đã lớn tiếng:
– Chào ông Bá. Bữa nay ông tới đây để chung vui hả? Đem theo bao nhiêu tiền? Già rồi mà không chơi cho vui là…dại dột.
Bá Vạn vô cùng thất vọng. Người như thằng Cẩu làm sao đóng vai trò ông Chúa Hòn trong tương lai được! Nhưng nếu chê bai nó thì ông còn biết chọn ai. Bởi vậy, ông mỉm cười:
– Cậu rảnh rang quá!
– Đời tôi cực khổ lắm. Lo cho con cá mun nầy. Nó thắng chín độ rồi. Hôm nay là độ thứ mười. Có phần không cần gì lo.
Bá Vạn nôn nóng, muốn nói riêng với thằng Cẩu về kế họach sắp tới, thí dụ như chàng ta phải đến gặp ông Chúa Hòn và cô Huôi tại Lung Tràm, trước khi ông Chúa săn heo rừng để rồi thọ nạn.
– Cậu uống rượu với tôi cho vui.
Mười Hấu bước vào, vỗ vai thằng Cẩu:
– Cháu ơi! Uống rượu cho ông Bá Vạn mừng. Lâu lâu, ông Bá tới thăm cháu một lần. Nên nghe lời ông Bá. Cái chuyện đá cá thia thia nầy đợi tới chiều cũng không muộn. Rủi ông Bá giận cháu thì sao? Xuống tam bản, uống chén rượu…
Thằng Cẩu vẫn lì lợm, gõ tay xuống bàn mà hát:
– Dẫu sao cũng chẳng làm sao. Dẫu có bề nào, cũng chẳng làm chi. Ủa! Dầu chi cũng chẳng làm chi…
Bá Vạn khều ông Mười Hấu:
– Nó mê chơi thì để cho nó mê.
Mười Hấu nghĩ đến địa vị “quốc phụ” trong tương lai nên hơi lo ngại. Nếu thằng Cẩu vô lễ thì Bá Vạn dám ngả về phe cậu Hai Điền, chừng đó cậu Hai giết thằng Cẩu để trừ hậu họa. Mười Hấu lại khuyên:
– Cháu nghe lời ông ngoại một lần.
Thằng Cẩu cười hề hà:
– Lát nữa mới nghe. Ông ngoại làm gì gấp dữ vậy? Mọi khi, hễ thấy cháu đá cá thia thia thì ông ngoại khen. Nghề nầy của ông ngoại truyền lại cho cháu mà!
Mười Hấu ra sân, nói khẽ với Bá Vạn:
– Ông tha thứ cho cháu. Cái tật của nó lớn lắm. Cứ ham chơi và ham gái đẹp.
Bá Vạn đáp:
– Vậy thì chú Mười biểu nó đá vài độ cá thia thia, sau đó tôi nói chuyện với nó. Chú tìm cách đưa nó về nhà ở núi Mo So, dễ bàn bạc hơn. Ở đây rừng có mạch, vách có tai.
Mười Hấu bèn đổi thái độ:
– Cháu đem cá ra “cáp độ” cho ông coi. Ông Bá Vạn cùng ngồi đây để xem..
Thằng Cẩu thích chí vô cùng:
– Có vậy mới được chớ!
Người chủ trường khiêng ra cái ghế trường kỷ để mời Mười Hấu và Bá Vạn ngồi. Thằng Cẩu nói với cử toạ:
– Bà con mình cứ cáp độ! Tôi đem con cá mun ra! Bà con cứ tới coi cho kỹ con cá thần nầy!
Cử toạ im lặng, chẳng ai muốn làm chuyện vô lễ trước mặt Bá Vạn, Mười Hấu cả. Thật ra, “cá mun” chỉ là huyền thọai mà thôi, đa số đều đá dở, chưa tới nước khuya là chạy rót, nếu bị cắn đau.
Một ông lão đến gần cái thố bằng đất, ngắm nghía kỹ lưỡng. Phép xem cá thia thia vẫn là từ trên cao nhìn xuống để xem bề ngang cái lưng con cá. Ông lão cau mày:
– Cá nầy hơi lớn. Tụi tôi sợ rồi.
Thằng Cẩu đáp:
– Tại sao ông sợ?
Mười Hấu liếc về phía ông lão nọ rồi sờ tay vào túi như ngầm bảo “Cứ đá, nếu thua thì tôi chịu cho một số tiền”. Ông lão nọ hiểu ý bèn lên tiếng:
– Dạ, ít tiền quá…
Thằng Cẩu đáp:
– Cái gì chớ ít tiền thì dễ quá. Bây giờ tôi nói rõ. Hễ tôi ăn thì ông chịu thua… hai ngày công. Nghĩa là ông chèo ghe cho tôi đi chơi hai ngày mà không ăn tiền. Còn nếu cá của ông mà thắng thì tôi…chèo ghe cho ông đi chơi …bốn ngày ròng rã. Tôi nói là tôi làm.
– Dạ, cậu muốn thì tôi không dám cãi.
Thằng Cẩu ra vẻ bình dân:
– Cái gì dám với không dám. Mình chơi theo “điệu nghệ” mà. Phải cho con cá mun thắng độ thứ mười rồi tôi mới về nhà ngủ yên được.
Lát sau, ông lão đem con cá thia thia thả vô cái keo lớn. Thằng Cẩu xoa tay khấn vái rồi cầm cây vợt nhỏ xúc con cá mun thả vô keo.
Ai nấy nín thở chờ đợi, tin rằng con cá mun sẽ thắng đối phương dễ dàng.
Con cá của ông lão bắt đầu lên sắc, vẩy trổ màu xanh ngời, đuôi, kỳ và phướn đều xoè ra, xáp lại gần cá mun.
Nhưng lạ thay, con cá mun cứ lội lững lờ rồi từ từ xuống sắc. Màu đen của vẩy trở thành màu “sọc dưa” gọi theo danh từ nhà nghề của giới đá cá thia thia. Bá Vạn mừng thầm, tin rằng độ cá nầy sẽ kết thúc sớm. Ông ta vuốt râu, rồi lấy tay che miệng, cười tủm tỉm.
Thằng Cẩu trợn mắt:
– Kỳ cục quá.
Rồi chàng ta đứng dậy nắm cái keo bằng sành, quơ tay lên, ném mạnh ra phía ngoài sân. Cái keo bể ra từng mảnh nhỏ, nước văng tung toé, hai con cá dường như mất tích. Cậu nói to:
– Xui xẻo quá! Tại mấy ông tới mà con cá mun phải hư! Về! Mướn tôi ở lại mười lượng vàng tôi cũng không thèm. Về!
Bá Vạn đủ bản lãnh để chịu đựng thái độ ngạo mạn ấy. Nãy giờ, ông chú ý một điều: quả thật, thằng Cẩu mang chứng bệnh lạ kỳ, có thể là nóng gan. Lúc giận, chàng ta run hai tay, mặt mày tái mét. Chuyện lúc nãy không đáng giận đến mức ấy. Nay mai, nếu trở thành ông Chúa, chàng sẽ làm nhiều chuyện lạ lùng và khó hiểu hơn cậu Hai Điền.
Mười Hấu phàn nàn với Bá Vạn:
– Ông thương nó giùm. Tuổi trẻ thì ham chơi. Nếu làm chức lớn, chắc nó siêng năng, trầm tĩnh hơn.
– Nó có bản lãnh. Bây giờ nó chịu về nhà rồi chớ? Tôi còn nhiều chuyện quan trọng khác. Sáng mai, tôi gặp cô Huôi rồi trở về Hòn Chông.
– Ủa! Rồi tôi với thằng Cẩu làm chuyện gì? Ông bỏ tôi sao?
Bá Vạn nói khẽ:
– Hai ngày nữa, ông dẫn thằng Cẩu tới Lung Tràm và chờ cơ hội tốt. Biểu nó về nhà!
Chiếc tam bản chở Bá Vạn đi trước. Thằng Cẩu ngồi trên chiếc ghe mui, phía sau. Chàng ta đang đùa giỡn với ba bốn cô gái quê. Các cô cười sặc sụa.
Sau khi trao cho Mười Hấu chút ít tiền, Bá Vạn sẽ đến Lung Tràm để ra mắt cô Huôi và ông Chúa Hòn. Cuộc tiễn đưa khá ngậm ngùi và sôi nổi. Mười Hấu đem ra thứ rượu quý, rót cho Bá Vạn một chén nhỏ, bảo là rượu tê giác…Bá Vạn nói khẽ vào tai Mười Hấu vài câu. Mười Hấu rưng rưng nước mắt:
– Cầu Trời Phật phò hộ. Vắng ông, tôi như cái xác không hồn. Mong ngày gặp mặt ông…
Khi gần tới Lung Tràm, Bá Vạn nghe tiếng nhạc ngũ âm vang rền hai bên bờ rạch, người Cao Miên ca hát nghêu ngao, tất cả già trẻ bé lớn đều say sưa. Có người nằm dài trên bãi cỏ, mửa ra mật xanh vì uống rượu đế quá nhiều.
Một tên hộ vệ nhận ra thằng Thừa thằng Thiếu nên cười to:
– Tụi bây cực quá vậy! Lên đây cho no say.
Bá Vạn nhô đầu ra khỏi mui tam bản:
– Đứa nào đó?
Tên hộ vệ giựt mình:
– Xin lỗi ông Bá, tôi uống rượu hơi nhiều.
– Làm gì cả xóm đều vui say vậy?
– Dạ, hôm qua là ngày mừng bà Chúa. Ông Chúa thết đãi dân làng. Rồi còn một trận săn heo rừng dữ dội.
Bá Vạn mừng quýnh vì cô Huôi quả thật là người đầy đủ bản lãnh. Cô đã thuyết phục ông Chúa Hòn để được phong là bà Chúa.
Như vậy, nếu ông Chúa nhắm mắt thình lình, bà nắm trong tay khá nhiều quyền hạn.
Ông Chúa Hòn nằm trong chiếc ghe hầu, ngáy khò khò. Bá Vạn rất mừng khi gặp cô Huôi. Cô ngồi trong gian nhà khá sang trọng của người điền chủ. Bá Vạn hỏi nhanh:
Lập tức, cô Huôi khoát tay cho bọn nữ tỳ và bọn hộ vệ lui ra xa. Bá Vạn đuổi khéo người chủ nhà:
– Vài tháng nữa, tôi cho ông mượn thêm tiền để làm mùa. Xóm nầy sung túc quá. Tôi thích ăn rắn hổ đất, chiều nay ông kiếm một con, nấu cháo đậu xanh ăn chơi.
Cô Huôi nói:
– Tôi được phong làm bà Chúa rồi! Ông Chúa nằm dưới ghe, năm bảy cô gái lo đấm bóp, quạt hầu cho ông ta. Cái tật gì lớn quá, dọc đường hễ gặp gái tơ là ổng mời xuống ghe. Tôi giận quá, nói phải nói quấy. Bởi vậy, ổng sẵn sàng phong cho tôi chức bà Chúa để tôi hết ghen tương lặt vặt.
– Buổi lễ đông đảo không?
– Sao không đông đảo, hai ngày hai đêm rồi mà dân chúng còn uống rượu…
Bá Vạn nâng chén nước lên, uống một hơi rất khoẻ khoắn:
– Như vậy là dân chúng vùng Lung Tràm nầy đã tôn sùng và nhìn nhận cô rồi. Nay mai, nếu cần chống cự với cậu Hai Điền, cô sẵn một số dân trung thành trong tay.
– Chừng nào ông ra tay? Tại sao ông còn sợ cậu Hai Điền?
Bá Vạn đáp:
– Đó là đề phòng chuyện bất ngờ. Chừng ba ngày nữa, cô thúc hối ông Chúa vô Lung để săn heo rừng. Tôi phải vắng mặt trong lúc xảy ra tai nạn để cậu Hai Điền đừng nghi ngờ rằng có bàn tay tôi nhúng vào.
Là người thông minh, cô Huôi chưa được yên tâm cho lắm. Trên gương mặt Bá Vạn, cô bắt gặp nhiều nét lo âu, buồn bực. Tuy nhiên, cô mỉm cười mà chờ đợi. Bá Vạn sắp sửa vào đề. Đây là vấn đề khó nói, sẽ gặp phản ứng của cô Huôi. Hồi lâu, ông nói:
– Thưa cô, công việc đã xong xuôi rồi nhưng còn chút ít khó khăn.
– Bá Vạn sợ điều gì?
– Rồi đây, thằng Cẩu thay cho cậu Hai Điền. Nó trở thành ông Chúa, cô là mẹ của nó. Nó gọi cô bằng “má lớn”.
Cô Huôi cau mày:
– Phiền quá. Tôi muốn về nhà, sống cho an nhàn, miễn là cha tôi khỏi cày bừa cực nhọc. Tôi muốn tranh giành quyền hạn với ai đâu? Thằng Cẩu là con trai ông Chúa, nó thay thế cha nó là phải. Trừ khi nào ông Chúa không có con trai, dòng vợ lớn như dòng vợ nhỏ, thì tôi mới thay quyền.
Bá Vạn vội đính chánh:
– Nếu cô không ở lại Hòn Chông mà nắm giềng mối thì chắc tôi cũng rút lui về vườn cho khoẻ. Tôi bày chuyện săn heo rừng nầy đâu phải vì muốn chiếm đoạt chức vị. Bá Vạn vẫn là Bá Vạn coi sổ sách cho ông Chúa Hòn, dầu ông Chúa là người già hay người trẻ, tôi cũng phải tùng phục.
Cô Huôi mừng thầm vì nãy giờ cô đã áp đảo được Bá Vạn. Quả thật, Bá Vạn đã kiêng nể cô Huôi, mặc dầu nhỏ, đáng bực con cái, nhưng cô đủ bản lãnh. Bấy giờ, Bá Vạn mới cúi đầu, nói ra vấn đề khó giải quyết, tế nhị nhứt:
– Cô sẽ điều khiển thằng Cẩu, nó còn nhỏ dại.
– Thì tôi giúp nó trong vài năm rồi tôi về nhà.
– Thưa cô, nó mang tật lớn lắm….
– Tật gì?
Bao nhiêu lời hỗn láo như còn vang rền trong tai Bá Vạn. Và nhứt là hình ảnh thằng Cẩu đang vung tay ném cái keo đựng hai con cá thia thia. Lúc ấy, mặt mày thằng Cẩu tái mét, tay run run như thằn lằn đứt đuôi. Theo sự hiểu biết của Bá Vạn, đó là thằng Cẩu bị mất trí vì bùa phép hành hạ. Nó uống quá liều lượng. Hoặc còn lý do xa vời hơn là thằng Cẩu mang chứng bịnh di truyền. Ông Chúa Hòn là người ăn chơi trác táng, bịnh phong tình còn ngấm ngầm hành hạ cơ thể, mấy đứa con của ông đều yếu đuối về thần kinh. Cậu Hai Điền tạt tô thịt kho vào đầu Bá Vạn cũng giống như trường hợp thằng Cẩu ném cái keo đựng con cá thia thia mun, vì cậy quyền thế, vì cơn điên nổi lên.
Bá Vạn nói chậm rãi:
– Thưa cô, thằng Cẩu ham chơi, tánh tình buồn vui bất thường, muốn nổi giận thì cứ…nổi giận không cần duyên cớ. Tôi sợ rồi đây giữa nó và cô xảy ra nhiều phiền hạ.
Cô Huôi đáp:
– Tôi là “má lớn” của nó. Nó phải nghe lời tôi. Bằng không thì…
– Thưa cô, đó là tôi nói trước để đề phòng, chắc cô đủ bản lãnh để sửa trị nó.
– Được rồi. Nói nhiều quá cũng vậy thôi. Bây giờ, sửa soạn điều gì? Thời giờ gấp rút lắm.
– Dạ, tôi về Hòn Chông, ở bên cạnh Hai Điền để biết rõ cơ mưu cậu ta và để cậu ta đừng nghi ngờ. Hai ngày nữa, cô thúc hối ông Chúa vô Lung Tràm, tôi để thằng Thừa thằng Thiếu tại đây. Nó giỏi về nghề săn và có thể làm bất cứ chuyện gì.
Uống cạn chén nước trà thứ nhì, Bá Vạn cáo từ cô Huôi rồi đến chiếc ghe hầu để ra mắt ông Chúa Hòn. Ông Chúa Hòn vừa thức dậy, cằn nhằn từng chập:
– Nực nội quá. Tao muốn tắm cho khoẻ.
Tên hộ vệ lên tiếng:
– Thưa ông, Bá Vạn tới…
– Ừ! Bá Vạn là người quen thân, như trong gia đình. Phải có Bá Vạn tới, ta mới bàn tính đại sự được.
Thấy nụ cười phảng phất trên môi ông Chúa Hòn, Bá Vạn mừng thầm. Hai cô gái quê đang quạt hầu, ông ta ngồi dựa lưng vào cái gối cao:
– Xuống đây!
– Ông Chúa bữa nay vui quá.
Ông Chúa như suy nghĩ hồi lâu, ba bốn nếp nhăn trên trán:
– Ông đạo Đất nói đúng. Tai họa từ trên cao giáng xuống, muốn trừ khử thì ta ngao du nơi thấp sình lầy. Dè đâu miền núi Còm, miền Lung Tràm nầy còn nhiều hoa đẹp.
Bá Vạn hỏi ướm thủ:
– Hổm rày, ông săn được con heo rừng nào chưa?
– Cái đó thì chưa. Ta còn đợi ngày lành tháng tốt, cô Huôi khuyên ta chờ đợi, đừng nôn nóng. Xưa nay, hễ săn được con thú dữ thì hết chuyện, ta về nhà luôn. Bởi vậy, ta chưa muốn chấm dứt cuộc vui. Đây mới là mở đầu mà thôi.
“Hết chuyện”, “Chấm dứt” là những tiếng xui xẻo. Bá Vạn càng tin rằng thời vận của ông ta đang lên và ông Chúa Hòn sắp chết bất đắc kỳ tử nên cô hồn xúi giục nói nhiều tiếng kỳ lạ. Bá Vạn hỏi, giọng chậm rãi:
– Lung Tràm là nơi mà từ xưa tới giờ chưa ai dám vô. Bởi vậy, con heo độc giác tới làm sào huyệt.
– Ta nghĩ tới chuyện đó rồi. Cô Huôi khuyên ta chờ đôi ngày. Ta kiếm được thằng Lục Nhét. Bá Vạn ở đây cho vui để gặp thằng đó. Ta chưa rành việc săn heo rừng nhưng chắc là vui lắm.
Bá Vạn đáp:
– Ông đi tới nơi mà chờ. Bọn hộ vệ và thợ săn rành nghề cứ lùa con heo tới trước mặt ông. Đâu đó xong xuôi, ông cầm con dao hoặc cầm cái mác mà đâm một nhát chí tử. Sau đó, ông khen thưởng bọn thợ săn rồi ăn tiệc tại chỗ với nó.
– Hèn gì mấy ông vua…bên Tàu ham đi săn. Mấy ổng chưa ắt còn mạnh khoẻ như ta.
– Lục Nhét là người thế nào?
Ông Chúa Hòn đáp:
– Nó tới bây giờ. Bá Vạn gặp nó, dạy dỗ nó. Ta không bao giờ tiếc vàng bạc, miễn là hết xui xẻo. Nanh con heo rừng nầy nhứt định là quý giá vô song, một nanh linh nghiệm bằng hai nanh.
– Dạ, ông nói đúng, bao nhiêu vàng bạc cũng không đổi được. Mang vào mình thì tính mạng an toàn, đem chưng trong nhà thì nhà chẳng bao giờ bị cháy. Cái nanh nầy mà đem lên Nam Vang thì ông vua trên đó cũng không dám chê. Theo chỗ tôi hiểu thì từ hai năm trước, con heo độc giác ấy ở bên kia biên giới, chẳng ai săn được. Khi tới Hà Tiên, một đêm nó phá hàng chục công rẫy khoai lang.
Bọn hộ vệ báo tin rằng Lục Nhét đã tới. Bá Vạn nói khéo với ông Chúa Hòn:
– Để tôi chỉ dạy nó. Ông nằm nghỉ. Nãy giờ, nói chuyện cũng hơi lâu rồi.
Ông Chúa Hòn cười dòn:
– Chiều nay, chắc ta…. đi tắm ở bờ suối. Rồi Bá Vạn gặp ta chớ? Thôi, gặp làm gì. Nếu rảnh thì Bá Vạn về Hòn Chông, coi tiền bạc sổ sách giùm cho cậu Hai.
Bá Vạn mừng thầm:
– Dạ, ông viết lá thơ nhỏ, kẻo cậu Hai nghi ngờ rằng tôi muốn lấn lướt quyền hạn.
Sau khi nhận lá thơ, Bá Vạn lên bờ để gặp Lục Nhét. Gương mặt lão thợ săn nầy đen đúa và xanh mét, tay chân yếu đuối. Lục Nhét tin rằng sẽ được thưởng số tiền khá to nên chắp tay xá Bá Vạn. Bá Vạn hỏi:
– Nhà ở đâu? Về nhà nói chuyện chơi…Ông Chúa giao tôi trọn quyền gặp chú. Săn heo rừng mà có một mình chú sao?
Lục Nhét hơi lúng túng:
– Dạ, nhà ở giữa Lung Tràm, làm sao ông tới được! Khổ cho tôi quá. Đây là dịp để tôi có tiền xài nhưng ông Chuá muốn đi săn bất ngờ, mấy đứa tay em của tôi đi vắng.
– Vậy thì xuống tam bản của tôi.
Vừa xuống ghe, Bá Vạn vừa cảm động, như muốn quỳ xuống lập tức để tạ ơn Trời Phật. Bọn tay em đi vắng thì thằng Thừa, thằng Thiếu sẽ thay thế, dưới quyền điều khiển của Lục Nhét. Nếu án mạng xảy ra – tai nạn thì đúng hơn – Bá Vạn và thằng Thừa, thằng Thiếu cứ đổ tội cho Lục Nhét. Và chừng đó, để Lục Nhét khỏi cung khai lôi thôi, Bá Vạn sẽ giết lão ta.
Bá Vạn rót rượu mới Lục Nhét rồi hỏi kỹ:
– Đi săn bao nhiêu năm rồi? Cứ ngồi tự nhiên, nói đầu đuôi cho tôi nghe. Tay em gồm mấy đứa, chó mấy con? Hôm rày, ăn uống đầy đủ không? Lát nữa đem hũ rượu nầy về nhà mà uống. Nếu thiếu người thì tôi có hai đứa gan dạ lắm.
Linh tính như báo trước với Lục Nhét điều gì bất thường. Nhờ sống lưu lạc nhiều năm từ Hà Tiên đến Hòn Chông, ông ta hiểu rành sanh hoạt của loại thú rừng. Quả thật con heo độc giác mới đến Lung Tràm là nguy hiểm. Hồi tháng trước, nó ở chân núi Hòn Chông, gây nhiều thiệt hại cho dân làm rẫy. Khi cậu Hai Điền tới bao vây thì nó chạy mất, chạy vì nó hiểu vùng chân núi Hòn Chông chưa phải là nơi nương tựa kín đáo.
Lục Nhét đáp:
– Tôi còn bốn con chó mực thứ tốt. Tay em chỉ có hai đứa, nếu ông giúp cho hai người gan dạ thì còn gì may mắn cho bằng. Nhưng tôi xin nói trước điều nầy…
– Cứ nói.
– Tôi sợ chưa giết được con heo độc giác! Hôm kia tôi rình một lần, gặp nó. Nó lớn như con bò con, luôn luôn sôi bọt mép như con heo điên. Cái nanh của nó to lớn lạ thường, đen thui như bằng đá. Thứ heo nầy dám chống cự với cọp. Lâu lâu nó “khịt” một tiếng nghe mà ớn xương sống.
Bá Vạn nghĩ thầm ‘‘Điều qua trọng là giết ông Chúa Hòn chớ đâu phải giết con heo. Nếu con heo còn sống thì ta chọc tức cậu Hai tới đây săn cho bằng được để trả thù cho cha. Rồi sẵn dịp đó ta ra tay….”
Bởi vậy, Bá Vạn an ủi Lục Nhét:
– Cứ lấy nén vàng nầy. Ngày mốt, chắc là ông Chúa Hòn muốn đi săn. Nếu lần thứ nhứt thất bại thì đi lần thứ nhì. Cô Huôi không rầy rà đâu.
Bá Vạn đuổi khéo Lục Nhét lên bờ rồi gọi thằng Thừa, thằng Thiếu:
– Hai đứa bây ở lại mà giúp ta, công ơn ấy không bao giờ ta quên.
“Công ơn” có nghĩa là ám sát khéo léo ông Chúa Hòn giữa Lung Tràm, lúc ông ta sửa soạn giết con heo độc giác để lập thành tích. Thừa và Thiếu hơi lo sợ, cứ nhìn nhau, nghĩ đến hậu quả to lớn. Thừa là anh cả nên nghĩ nhiều đến tương lai gia đình. Rủi mà “họa hổ bất thành” thì hai anh em bị cậu Hai Điền hay ông Chúa Hòn giết không nương tay, chừng ấy Bá Vạn đã chạy trốn, hai anh em biết nhờ ai bênh vực?
Bá Vạn trợn mắt:
– Tụi bây sợ ai? Chẳng lẽ hai đứa không đủ tài trí để giết ông Chúa Hòn. Nó già yếu, bao nhiêu sức lực đều bị đàn bà rút rỉa. Đó là chưa nói tới chuyện khác…
Rồi Bá Vạn nói rõ vào tai thằng Thừa:
– Trước khi đi săn, cô Huôi ép nó uống một thứ rượu đặc biệt, tụi bây chỉ cần thúc vào hông bằng cùi chỏ là nó đủ té rồi nhập thổ chết luôn.
Thằng Thừa chắp tay, nói giọng cung kính:
– Anh em tôi chỉ có hai đứa, cha mẹ chết hết rồi. Rủi bề gì, lấy ai thờ cúng cha mẹ. Phải chi ông ở bên cạnh chúng tôi, lúc đi săn ở Lung Tràm! Cậu Hai Điền sẽ trả thù, nếu…
Bá Vạn cười dòn:
– Tao đâu phải hèn nhát, trốn tránh chuyện khó khăn. Tao đi gặp cậu Hai Điền là để lo cho tụi bây an toàn. Cậu Hai Điền làm điều gì thì tao hay biết trước để chận kịp thời. Rồi tụi bây thấy tao là thằng nịnh, tao sẽ làm thế nào cho cậu Hai mê tao. Trước khi cậu ra tay, làm điều gì ám hại tụi bây, thì tao biết trước vài ngày.
Thằng Thừa mừng thầm:
– Tôi tin ông là người lớn tuổi, nhiều mưu mẹo. Nhưng rủi xảy ra khó khăn, ai bảo vệ cho ông?
Bá Vạn suy nghĩ hồi lâu rồi gật đầu:
– Vậy thì mầy theo tao, để thằng Thiếu ở laị. Thằng Thiếu xoay trở giỏi chớ? Tao hiểu nãy giờ mầy thắc mắc chuyện gia đình, sợ giòng họ bị tuyệt tự. Được rồi!
Thằng Thừa trao cây dao đặc biệt cho thằng Thiếu, anh em nói chuyện riêng khá lâu. Đại khái Thừa bảo Thiếu nên đâm vào đùi ông Chúa Hòn vì heo rừng thường dùng nanh mà đánh vào đùi bọn thợ săn. Nanh heo rừng không bén như lưỡi dao bằng thép, nếu dùng cây dao khác thì cậu Hai Điền sẽ nghi ngờ.
Bá Vạn nói chêm vào:
– Nếu con heo độc giác chạy vuột sau khi “đánh” ông Chúa Hòn thì hay biết chừng nào! Tao mời cậu Hai tới Lung Tràm. Nhưng điều quan trọng là mày theo sát thằng Lục Nhét để giết nó, đừng cho nó cung khai bậy bạ…
Chiếc tam bản đưa Bá Vạn về Hòn Chông, thằng Thừa chèo một mình phía sau lái. Bá Vạn ngủ khò trong mui. Đến tối, thằng Thừa đánh thức:
– Ông Bá ơi! Tới rồi!
Bá Vạn dụi mắt rồi căn dặn lần chót:
– Mấy đừng nói chuyện nhiều, cứ để tao trả lời.
Bọn hộ vệ của cậu Hai Điền ngồi uống rượu trước sân. Bá Vạn đi chân không, đầu tóc rối nùi, mặt mày âu sầu:
– Cậu Hai có trong nhà không? Tao cực khổ hơn tụi bây nhiều. Tụi bây cười tối ngày chớ tao thì khóc từng chập.
Từ trong phòng, cậu Hai Điền chạy ra, trố mắt nhìn Bá Vạn:
– Sao vậy ông?
Bá Vạn đáp:
– Thủng thỉnh rồi tôi nói cho cậu nghe. Nói sớm quá, cậu cười thằng già nầy.
Hai ngày qua, cậu Hai bắt đầu thấy yên ổn, bao nhiêu lo âu đều tan mất. Bọn do thám qua Hòn Me trở về cho cậu biết rằng ông đạo Đất và Tư Thính đều trốn mất dạng. Lúc ban đầu, cậu lo ngại một âm mưu táo bạo do cô Huôi bày ra để đuổi mẹ cậu ra khỏi gia đình. Nhưng cậu đã quyết định chiếm giữ ngôi nhà nầy với bất cứ giá nào và nếu cần, cậu ra lịnh cho bọn hộ vệ ngăn cản cô Huôi và thằng Cẩu không cho họ đặt chân tới Hòn Chông. Bá Vạn đến chắc có chuyện lạ. Theo sự nhận xét của cậu thì lão nầy rất thông minh, luôn luôn nịnh bợ kẻ nào thắng thế. Cậu sẽ bắt buộc lão ta ở bên cạnh đến khi nào tình thế trở nên bình thường.
– Sao mà buồn vậy ông?
Bá Vạn lên tiếng:
– Cô Huôi đập cây quạt lên đầu tôi. Có tức không!
– Còn ba tôi? Mọi khi ba tôi thương ông lắm mà.
– Dạ, ông Chúa dạy cô Huôi nên đập tôi bằng cây chổi quét nhà. Tôi nào có tội tình gì? Thấy cô Huôi hơi yếu, tôi sai dân làng múc nước suối đem tới cho cô tắm. Tắm nước phèn dễ sinh bịnh. Núi Mo So, núi Còm là nơi nhiều muỗi mòng…
Như thích chí, cậu Hai Điền ngã dài trên ghế trường kỷ, ôm bụng mà cười lăn.
– Ông tởn chưa. Tôi khuyên ông đừng nịnh bợ. Nịnh đúng lúc thì có duyên nhưng nhiều khi lại vô duyên. Cô Huôi tự hào là giai nhân tuyệt thế mà ông chê rằng bịnh hoạn, thì làm sao cô không nổi giận? Được rồi! Từ rày về sau, ông ở đây với tôi.
Bá Vạn thò tay vào túi, đem ra mảnh giấy nhỏ:
– Thưa cậu, ông Chúa gởi thơ nầy.
Xem qua, cậu Hai vỗ vai Bá Vạn:
– Đó là ba tôi chưa muốn đuổi ông. Ông lo sổ sách, đòi nợ giùm tôi, tôi hứa đối xử tử tế. Cứ bỏ qua chuyện cũ. À! Ba tôi nói gì thêm không?
– Dạ, ông Chúa ở núi Còm, gần Lung Tràm để săn heo độc giác.
Cậu Hai lấy tay che miệng cười:
– Ổng săn đàn bà chớ tài ba gì mà săn heo? Phải chờ tôi.
Rồi cậu ngồi dậỵ, cau mày:
– Chừng nào săn? Con heo độc giác có cái nanh hiếm có. Hôm trước, tôi rượt một trận, phần số nó chưa tới. Lấy cái nanh đó mà tiện ông Phật thì suốt đời mình gặp may mắn. Tôi gởi qua bên Xiêm, nhờ ông sãi cả làm phép.
Bá Vạn nói giọng khiêu khích, với dụng ý rõ rệt là làm cho cậu Hai Điền lạc hướng khi điều tra thủ phạm:
– Ông Chúa kêu thằng Lục Nhét ở Lung Tràm!
– Lục Nhét! Thằng đó tài nghệ cũng tạm xài được nhưng thua tôi xa. Nó nổi danh nhờ mấy con chó săn. Nhưng gặp con heo độc giác thì nó đành chịu bó tay.
Bá Vạn nói:
– Ông Chúa ban số tiền lớn, chắc nó phải trổ tài để còn ăn những dịp khác.
– Một là nó không săn được …cái gì ráo. Hễ ham tiền thì nó chết. Tôi nói rõ: con heo đó lọt về tay tôi. Nếu nó sống được thì …nó là anh hùng xứ nầy, giành quyền bá chủ của tôi rồi. Chẳng lẽ tôi đi Lung Tràm thì coi kỳ quá. Người đời chê cười, cho rằng hai cha con phải hiệp sức lại mới săn được con heo rừng. Thế nào ba tôi cũng gọi tôi tới. A! Nãy giờ nói chuyện hơi lâu, quên hỏi ông Bá ăn cơm chưa?
Bá Vạn muốn chấm dứt cuộc hội kiến nên trả lời nhanh:
– Dạ, lát nữa về nhà ăn. Để cậu nghỉ ngơi chớ.
Ông ta ra ngoài vì đã đạt được mục đích. Khi gần tới mé sông, chợt đâu ông nghe tiếng gọi:
– Thưa ông, bà mời lên nhà…
Đó là đứa nữ tỳ của bà chánh thất, mẹ ruột cậu Hai Điền. Lại thêm nhiều mối âu lo! Lẽ dĩ nhiên, Bá Vạn khó bề từ chối cuộc gặp gỡ mà ông ta thấy là quan trọng vô cùng. Bà chánh thất đã lớn tuổi, ắt đã theo dõi tình hình và buồn bực từ khi cô Huôi được long trọng giới thiệu là nữ thần hộ mạng. Bà chánh thất tin dị đoan hơn ai hết. Không tin sao được khi bà thấy địa vị bị suy sụp rõ rệt. Linh tính như báo trước với và rằng ông Chúa Hòn sắp chết. Và người khôn ngoan quỉ quyệt nhứt vẫn là Bá Vạn.
Bà ở ngôi nhà riêng, phía sau sảnh đường, kiểu nhà thấp, không cửa sổ. Ban ngày phải đốt đèn sáp mới ăn uống hoặc thấy đường đi tới lui. Bà đứng trước cửa, đón chào Bá Vạn:
– Ông Bá mới về?
Bá Vạn giựt mình. Rõ ràng bà ta am hiểu tình hình. Trong giây phút, ông Bá ngỡ rằng có bọn dọ thám nào đó theo dõi cuộc hành trình. Chẳng lẽ thằng Thừa làm phản? Giả thuyết ấy hoàn toàn vô lý. Lúc nãy ông thấy nó nằm chèo queo sau lái chiếc tam bản. Nhưng Bá Vạn lầm to.
Chưa chi bà chánh thất đã khoát tay, đuổi đứa nữ tỳ:
– Ra ngoài. Khi nào ta gọi thì hãy vô.
Bà đẩy nhẹ cánh cửa, gian phòng lạnh tanh. Lâu rồi, Bá Vạn không được dịp vào đây. Bỗng nhiên, bà chánh thất làm một cử chỉ khiến Bá Vạn rởn tóc gáy: bàn tay bà nắm tay Bá Vạn, siết mạnh rồi đẩy vào phòng. Bá Vạn đứng lại:
– Tội nghiệp tôi! Lạy bà…
– Ông cứ vô đây.
Thoạt tiên Bá Vạn nghĩ đến cuộc mưu sát do bà bố trí cẩn thận. Trót vào đây rồi làm sao ông trở ra cho được? Ắt là bọn hộ vệ hoặc bọn nữ tỳ đã vây tứ phía. Nhưng bà chánh thất nói khẽ:
– Đừng ngại gì hết. Mười năm rồi, ông Chúa không còn ăn nằm với tôi nữa, ông thấy buồn tủi cho tôi không? Vô tới đây rồi, ông đừng sợ mang tai tiếng.
– Dạ, tôi là tôi tớ của ông Chúa, đâu dám phạm thượng. Rủi tai vách mạch rừng thì ắt tôi bị phanh thây.
Bà Chúa cười hiền lành, cứ bước tới rồi ngồi trên cái sạp cẩm lai, bóng láng. Bá Vạn ríu ríu theo sau. Bên cạnh cái sạp là giường ngủ, cái mùng bằng nhiễu đỏ phủ xuống. Bà chánh thất nói:
– Ông sợ…có người rình để giết hả?
Rồi bà với tay, nắm mí mùng vén lên. Bên trong chỉ có cái mền, cái gối thêu. Bà rút tay, mí mùng rủ xuống. Bấy giờ, Bá Vạn hơi yên tâm. Ông ta ngắm nghía bà chánh thất, tuy đã hơn bốn mươi tuổi, bà ta vẫn còn giữ nét đẹp, trán chưa nhăn, hàm răng vẫn đều đặn không hư chiếc nào. Bá Vạn thở mạnh, lo ngại. Mùi thơm bay thoang thoảng. Phải chăng hôm nay, bà mời Bá Vạn vào để bày trò ân ái bất chánh? Quả thật, Bá Vạn hơi rung động nhưng ông ta vẫn còn sợ. Giọng bà chánh thất nói tỏ rõ:
– Ở đây kín đáo lắm. Ông Chúa đã đi xa, chưa biết ngày nào về. Nghĩa là đêm nay, ông khỏi sợ bị quấy rầy.
Bá Vạn vẫn van nài:
– Thưa bà, còn cậu Hai.
– Tôi đang lo cho nó. Nó sợ tôi. Tôi mời ông vô đây, nó mừng lắm. Chuyện cũ bỏ đi. Bây giờ, ông Bá ơi, mọi việc đều mới.
– Thưa bà, tôi chưa hiểu.
– Ông là người thân tín trong gia đình nầy. Ông biết rành hơn tôi mà. Ông Chúa mê cô Huôi và cô Ngó. Phen nầy ổng truất phế mẹ con tôi. Nhưng mẹ con tôi đâu nhịn được. Cô Huôi, cô Ngó khó về Hòn Chông nầy một lần nữa. Nếu trời giúp, ông cứ ở đây, tiếp tục coi giấy tờ sổ sách.
– Thưa bà, tôi là tôi tớ…
Bà chánh thất day về phía sau, lấy bầu rượu và một cái chén nhỏ. Rượu chảy ra lóng lánh:
– Ông cứ uống.
Nghĩ đến chuyện đầu độc, Bá Vạn từ chối khéo léo. Bà chánh thất táo bạo hơn, nâng chén rượu lên môi, uống một hơi. Bà mím môi, cau mày, đôi má nóng bừng bừng. Lập tức Bá Vạn rót một chén mà uống cạn.
– Bây giờ, tôi cởi áo ra.
Nghe tới đó, Bá Vạn sửng sốt, toan phá cửa mà chạy. Bà chánh thất cười dòn:
– Ở lại chớ. Ông làm bùa giùm tôi. Đây là bùa của ông đạo Đất. Cô Huôi nhờ ông đạo Đất mà trở thành “nữ thần hộ mạng”. Nói thiệt với ông Bá, tôi đã gặp ông đạo Đất, ổng giúp tôi lá bùa nầy.
Cái hộc tủ kéo ra, Bá Vạn liếc nhanh, ngỡ là trong đó có một con dao để giết ông ta. Nhưng bà chánh thất lại cười:
– Cái trứng gà! Tôi cho bọn nó tới Hòn Me. Lúc đầu, ông đạo Đất lánh mặt vì gặp bọn hộ vệ. Lần sau tôi cho bọn nữ tỳ tới. Ông đạo Đất đưa ra cái trứng gà nầy rồi căn dặn nên đem lăn trên da thịt, nhờ bàn tay người nào già cỡ…sáu mươi tuổi. Tôi nhớ tới ông đó. Ông đạo Đất nói rằng tôi đã tới lúc hên, nếu rút được hơi độc trong mình ra.
Bá Vạn nửa tin nửa ngờ. Hôm nọ ông khuyên ông đạo Đất nên trốn lánh, đề phòng bị ám hại. Tại sao ông đạo Đất lại ra mặt, đón tiếp đứa nữ tỳ của bà chánh thất?
Cái trứng gà nhuộm son được trao vào tay Bá Vạn. Ông ta nhìn tứ phía, liên tưởng những chuyện kỳ bí trong chốn thâm cung, hồi thuở nào. Có thể là trong phút giây hàng chục ngọn gươm sẽ kết liễu đời Bá Vạn trong khi cậu Hai Điền cười ha hả.
– Ông lăn cái trứng gà lên lưng giùm tôi! Đừng ngại gì hết.
Thái độ do dự của Bá Vạn khiến bà chánh thất hơi bực dọc. Thật ra bà chưa cho đứa nữ tỳ nào đến núi Đất cả. Cậu Hai Điền khuyên bà nên dàn cảnh để quyến rủ Bá Vạn, thế thôi. Bà hơi buồn giận vì cậu Hai chưa tới. Buổi dàn cảnh nầy khá tế nhị nhưng bà sẵn sàng nghe theo lời con, với mục đích đuổi cô Huôi không cho về Hòn Chông.
Bá Vạn lăn cái trứng gà nhè nhẹ trên lưng bà chánh thất, mấy ngón tay ông bám víu khó khăn, sợ cái trứng gà rớt xuống đất, nhưng cũng sợ đụng vào làn da trắng mịn chưa nhăn của bà chánh thất. Bà nói hơi to:
– Khoẻ quá! Cái trứng gà nầy rút hơi độc trong mình tôi. Ông ráng giùm.
Bá Vạn không còn nghĩ đến nguy hiểm nữa. Lúc sau, ông ta xoè bàn tay ra mà đỡ cái trứng gà. Lòng bàn tay đụng vào da lưng bà chánh thất. Vì hơi nhột, bà day lại cười tủm tỉm:
– Cám ơn ông!
Đột nhiên, cánh cửa mở tung. Bá Vạn giựt mình rút tay ra. Cái trứng gà nhuộm son rớt xuống nền gạch. Cậu Hai Điền xuất hiện, mặt mày hậm hực. Bá Vạn vội chắp tay:
– Thưa cậu, bà mời tôi vô đây.
Gương mặt cậu Hai Điền lại biến đổi đột ngột. Cậu cười dòn mà không nói thêm lời nào. Bá Vạn lại càng sợ sệt. Lần nầy mồ hôi trán chảy từng giọt. Ông ta nói lẩm bẩm với bà chánh thất:
– Bà cắt nghĩa giùm tôi.
Cậu Hai mới chịu khai khẩu:
– Được rồi. Nếu là người ngay thẳng thì chẳng bao giờ ông vô đây. Tôi gặp ông tại đây, ông đừng chối cãi. Đáng lý ra, tôi được quyền giết ông hoặc là chém lấy theo.
– Cậu tha cho tôi, tôi hứa…
Cậu Hai đắc ý:
– Hứa điều gì? Phải hứa rằng ông giết con Huôi. Con đó nhỏ xíu mà đòi làm mẹ tôi, đâu được! Vài ngày nữa, tôi giao cho ông một trách nhiệm…
Để thóat khỏi cơn nguy, Bá Vạn bèn gợi ý để tỏ rằng ông ta luôn luôn ngoan ngoãn:
– Cậu trao cho tôi một mớ thuốc độc?
Cậu Hai đáp:
– Tôi giết tất cả, từ thằng đạo Đất tới thằng Tư Thính rồi tới thằng Mười Hấu. Ông hứa thì tôi nghe nhưng tôi chưa tin. Từ rày về sau, ông theo tôi, phải không?
Bá Vạn cúi đầu:
– Cậu tha tội cho tôi, tôi phục đức độ của cậu. Nếu cần, tôi sẵn sàng viết lên giấy.
Cậu Hai mừng thầm vì đã đắc thắng:
– Ông cứ nịnh bợ hoài, tôi buồn quá. Người như tôi làm gì có đức độ. Đức độ dành cho kẻ yếu đuối. Tôi là anh hùng, suốt mấy năm đi săn, tôi gặp tử thần hàng chục lần rồi. Anh hùng thì không cần đức độ. Đi săn mà sợ mang tội sát sanh thì làm sao cầm dao được? Tôi nói ít, ông hiểu nhiều. Bây giờ, tôi về ngủ.
Nói xong, cậu Hai khom lưng, lượm cái trứng gà bể. Đó là trứng gà luộc chín nên hình dáng còn nguyên vẹn.
– Bằng cớ nầy đủ rồi!
Nãy giờ, bà chánh thất thương hại cho hoàn cảnh Bá Vạn nên can gián:
– Điền! Con đừng làm quá đáng. Bá Vạn là người lớn, lời nói cũng đủ rồi. Con ra khỏi phòng nầy để rồi má còn bàn tính chuyện khác.
Cánh cửa đóng lại. Lần nầy bà chánh thất khóa cửa cẩn thận, thổi tắt bớt một ngọn đèn sáng. Bà rót chén rượu mời Bá Vạn:
– Đêm nay, ông ở đây bàn chuyện với tôi.
Bá Vạn hơi giận:
– Còn chuyện gì nữa mà bàn bạc. Thân tôi như cá chậu chim lồng. Tôi trót nghe lời bà.
– Còn chuyện khác. Ông chưa vợ, sống với bọn hầu non, chắc là chưa bao giờ bàn chuyện tâm sự với đàn bà. Đêm nay, tôi muốn hiểu ông hơn. Đừng sợ. Con trai tôi sẽ nắm mọi quyền hạn, ông theo nó, giúp nó trong vài tháng. Nó còn trẻ thì hỗn hào, hơi đâu mà chấp nhứt.
Bà chánh thất nằm xuống. Bá Vạn cười lạt, nghĩ thầm:
“Trót lên lưng cọp thì cứ cỡi luôn! Mình ra về hoặc đính chánh để làm gì? Mình chỉ muốn cho cậu Hai Điền tin dùng, đừng nghi mình nhúng tay vào việc hạ sát ông Chúa Hòn tại Lung Tràm. Vái trời cho Lục Nhét và thằng Thiếu thành công”.
Bà chánh thất khoát mùng chui vào trong. Bá Vạn cởi áo, tằng hắng vài tiếng rồi chui vào, nằm kế bên. Bà chánh thất nói khẽ:
– Mấy năm rồi, ông Chúa bỏ bê tôi. Ông ở đây cho tới sáng, bọn nữ tỳ chẳng bao giờ dám thót mét. Rồi đây, khi giết được con Huôi, tôi thưởng ông tiền bạc. Ngày mốt, ông đi gặp con Huôi, con Ngó được không? Đầu độc xong, ông cứ chạy về đây mà trốn.
Bá Vạn buông mình vào lạc thú ái ân. Trong phút giây, ông ta ngỡ mình là ông Chúa.
Theo Paris Match, đây là loại súng giết bin Laden, H&K MP7 (Heckler & Koch)
Trước khi cuộc đột kích bắt đầu, người Nhái đã đặt ra một bảng danh sách các tên hiệu để chỉ mỗi giai đoạn của chiến dịch. Chỉ cần đọc một tên nào đó, người ta có thể biết ngay diễn tiến đang đến dâu, như trực thăng rời Jalalabad, vào không phận Pakistan, tiến tới căn nhà… “Geronimo” là ám hiệu tìm thấy bin Laden. (Geronimo là tên một lãnh tụ người Da Đỏ Apache, từng chống lại quân đội Hoa Kỳ, cuối cùng đã đầu hàng, qua đời vào đầu thế kỷ trước – người Da Đỏ đã than phiền người Mỹ dùng tên Geronimo để chỉ bin Laden).
Ba người Nhái vượt qua thi thể Khalid, phá tung một cửa sắt khác dùng để ngăn xâm nhập tầng ba từ cầu thang. Vừa phóng lên những bậc thang tối om, họ vừa chú mục vào khoảng lan can ở chỗ đứng trên đầu cầu thang. Người Nhái dẫn đầu quay về bên phải, qua kính nhìn đêm, thấy một người đàn ông cao, gầy lòng khòng, với bộ râu dài trên mặt, nhìn ra từ phía sau cửa phòng ngủ, cách khoảng ba mét phía trước. Người Nhái này cảm thấy ngay, đó chính là “Crankshaft” (Trục quay trong bộ máy – tên đã được dùng trước đó để chỉ bin Laden). (Giới chức chống khủng bố nói người Nhái trông thấy bin Laden đầu tiên tại chỗ đứng ở đầu cầu thang, nổ súng, nhưng không trúng mục tiêu).
Các người Nhái ập tới cửa phòng ngủ. Người đầu tiên đẩy cửa mở. Hai trong số các người vợ bin Laden đứng che chắn cho chồng. Người vợ thứ năm, Amal al-Fatah, thét lên bằng tiếng Ả Rập. Bà ta có cử chỉ như sắp tấn công. Người Nhái hạ tầm nhắm, bắn bà ta một phát, vào đùi. Sợ một hay cả hai phụ nữ mặc áo gắn chất nổ tự sát, người Nhái này tiến tới, hai tay ôm cứng cả hai bà, đẩy sang một bên. Anh hầu như chắc chắn sẽ bị giết, nếu họ tự nổ, nên ôm cứng họ, có ý che chắn cho đồng đội phía sau thoát chết. Nhưng chẳng có bà nào mặc áo nổ.
Người Nhái thứ nhì bước vào phòng, chĩa tia laser của khẩu M4 vào ngực bin Laden. Lãnh tụ Al Qaeda mặc bộ shalwar kameez mầu nâu nhạt, mũ cầu nguyện trên đầu, tay không võ khí, đứng bất động. Theo một giới chức các chiến dịch đặc biệt, “không bao giờ có chuyện bắt giữ. Chẳng ai cần tù nhân”. (Chính quyền vẫn nói rằng, nếu bin Laden đầu hàng ngay, ông ta có thể đã bị bắt sống). Chín năm, bảy tháng, và 20 ngày sau 11 tháng 9, một người Mỹ đã lẩy cò, kết liễu cuộc đời của Osama bin Laden. Viên đạn đầu tiên, cỡ 5,56 ly, trúng ngực bin Laden. Trong khi bin Laden ngã người về phía sau, người Nhái bồi thêm phát thứ nhì vào đầu, ngay trên mắt trái. Qua radio, anh báo cáo: “Vì Thiên Chúa và Tổ Quốc – Geronimo, Geronimo, Geronimo”. Ngừng, rồi anh thêm: “Geronimo E.K.I.A” (Enemy Killed in Action – kẻ thù giết tại trận).
Tại Tòa Bạch Ốc, nghe được điều này qua radio, Obama mím môi, nghiêm trang nói, không với riêng ai: “Ta đã hạ hắn” (We got him).
Cần đi lễ tối nay
Buông hai bà vợ bin Laden, người Nhái thứ nhất trói hai bà bằng lạt mềm, rồi hướng dẫn họ xuống dưới nhà.
Trong khi đó, hai trong các đồng đội chạy lên với bao đựng tử thi. Họ mở bao, mỗi người quỳ một bên bin Laden, đặt xác chết vào bao. Mười tám phút đã qua kể từ khi toán DEVGRU đáp xuống. Trong 20 phút kế tiếp, sứ mạng chuyển sang việc thu lượm tin tức và tài liệu tình báo.
Bốn người lục lọi tầng nhì, bao plastic trong tay, họ thu góp các phần mềm, CD, DVD…, và phần cứng computer trong phòng, những vật dụng và tài liệu đã giúp bin Laden điều hành một cơ sở thông tin tại nơi ẩn náu. Trong số tài liệu thu được, có cả video sex. CIA cho biết, căn cứ vào tài liệu thu được, bin Laden đã trực tiếp tham dự vào hoạt động khủng bố, nhiều hơn người ta vẫn tưởng. Ông ta đã phác họa cả kế hoạch ám sát Tổng Thống Obama và Tướng Petraeus, cũng như một cuộc phá hoại ngoạn mục vào dịp kỷ niệm 10 năm vụ 11 tháng 9.
Ở bên ngoài, đàn bà trẻ con được/bị gom lại một chỗ, ai cũng bị trói bằng lạt mềm, và cho ngồi tựa vào bức tường đối diện chếc Black Hawk thứ nhì còn nguyên. Người thông dịch thẩm vấn họ. Hầu hết trẻ con đều dưới 10 tuổi. Chúng hầu như không biết gì về những người sống trên lầu, ngoài “một ông già”. Không có phụ nữ nào xác nhận “ông già” này là bin Laden.
Khi một chiếc Chinook cấp cứu tới, một y tá bước ra, cúi xuống bên tử thi. Anh đâm kim vào thi thể bin Laden, rút ra hai ống mẫu tủy xương. Thêm nhiều mẫu DNA được lấy bằng bông gòn. Một ống mẫu tủy xương được đưa lên chiếc Black Hawk, ống kia đưa lên chiếc Chinook, cùng với tử thi bin Laden.
Sau đó, trước khi ra đi, người Nhái phá hủy chiếc Black Hawk bị rớt. Phi công, với cái búa được dự trữ sẵn để làm việc này, đập nát bảng dụng cụ chỉ dẫn, radio, và các trang bị bí mật khác trong phòng lái. Rồi đến phiên toán phá hoại. Họ đặt chất nổ vào nhiều nơi, gần hệ thống điều khiển, truyền tin, động cơ và cánh quạt. Thêm chất nổ được đặt dưới thân máy bay, một cuốn đạn lửa trong thân máy bay, rồi lùi ra xa. Helo One bùng cháy, trong khi toán phá hoại lên chiếc Chinook. Tất cả đám đàn bà trẻ con đều bỏ lại, số phận họ sẽ do nhà cầm quyền Pakistan định đoạt.
Tại Phòng Tình Hình ở Bạch Ốc, Obama nói: “Tôi sẽ không mừng cho đến khi tất cả trở ra bình an”. Sau 38 phút tại căn nhà, hai toán người Nhái phải trải qua một chuyến bay khá dài trở lại Afghanistan. Chiếc Black Hawk còn ít xăng, cần gặp chiếc Chinook đậu gần biên giới Afghanistan – nhưng vẫn còn trong lãnh thổ Pakistan – để đổ thêm nhiên liệu. Cần tới 25 phút để đổ đầy bình xăng. Có một lúc, Phó tổng Thống Biden – trước đó đã lần tràng hạt cầu nguyện – quay sang Tướng Mullen, Chủ Tịch Bộ Tham Mưu Liên Quân: “Chúng ta nên đi lễ tối nay”.
Các trực thăng đáp xuống Jalalabad vào khoảng 3 giờ sáng. McRavaen và trưởng trạm CIA gặp cả toán tại sân bay. Hai người Nhái khiêng bao đựng tử thi xuống, mở ra, để McRaven và giới chức CIA nhìn thấy tỏ tường thi thể bin Laden. Chụp hình mặt, và thân thể khá dài của bin Laden; được nghe nói cao tới 6 feet 4 inches. Nhưng chẳng ai có sẵn thước đo để xác nhận. Một người Nhái cao 6 feet, nằm xuống bên cạnh tử thi, xác chết quả thật dài hơn người sống khoảng 4 inches. Được biết chuyện này, Obama nói: “Chúng ta đã bỏ ra 60 triệu đô cho chiếc trực thăng (bị phá hủy) trong chiến dịch này. Chẳng lẽ chúng ta không mua nổi một cái thước giây?”. Vài phút sau, McRaven xuất hiện trên màn ảnh tại Phòng Tình Hình Bạch Ốc, xác nhận thi thể bin Laden đã nằm trong bọc, trước khi được gửi tới Bagram.
Kế hoạch tốt
Từ trước, người Nhái đã lập kế hoạch bỏ xác bin Laden xuống biển. Họ đã từng làm vậy, ít nhất một lần trước đó. Trong một vụ tấn công trực thăng vận của DEVGRU tại Somalia vào tháng 9, 2009, người Nhái đã hạ sát Saleh Ali Saleh Nabhan, một trong các lãnh tụ hàng đầu của Al Qaeda tại Đông Phi châu. Thi thể Nabhan sau đó đã được chở tới một chiến hạm trên Ấn Độ Dương, làm các nghi lễ theo Hồi Giáo, rồi thẩy xuống biển.
Nhưng trước khi làm như vậy với bin Laden, John Brennan, từng có hồi là trưởng trạm CIA ở Riyadh, đã gọi cho một giới chức tình báo quen thuộc của Saudi Arabia. Brennan cho biết chuyện gì đã xẩy ra tại Abbottabad, và cho ông ta biết kế hoạch sẽ thủy táng bin Laden. Tuy nhiên, vì bin Laden có nhiều thân nhân là người có thế lực tại Vương Quốc, cũng như bin Laden trước đây mang quốc tịch Saudi, liệu chính quyền Saudi có muốn nhận xác bin Laden không? Câu trả lời của Saudi là: “Kế hoạch của các ông có vẻ tốt đấy”.
Bình minh 2 tháng Năm, thi hài bin Laden được chất vào lòng một phi cơ V-22 Osprey (loại phi cơ đặc biệt có thể bay, cất và hạ cánh như máy bay thường, hay xoay hai cánh quạt ở đầu cánh theo chiều thẳng đứng, để cất và hạ cánh như trực thăng), có sĩ quan liên lạc của JSOC và một toán quân cảnh đi theo. Chiếc Osprey bay về hướng Nam, tới hàng không mẫu hạm USS Carl Winson (một mẫu hạm dài bằng ba sân túc cầu, chạy bằng nhiên liệu hạt nhân, đang di chuyển trên Biẻn Ả Rập, ngoài khởi Pakistan). Một lần nữa, Mỹ lại phải bay qua không phận Pakistan, mà không xin phép.
Xác bin Laden được thanh tẩy, bọc vào khăn liệm, và được đặt vào một túi cùng với trọng lượng cần thiết để chìm. Brennan nói với các ký giả: “Lễ nghi khâm liệm đã được làm đúng theo quy định của Hồi Giáo”. Thi thể được mang vào thang máy lộ thiên, xuống tầng dưới, nơi thường dùng làm chỗ chứa phi cơ. Từ một nơi cách mặt nước khoảng ba tầng lầu, thi hài được cho tuột xuống biển.
Trong khi ấy, tại Abbottabad, cư dân Bilal Town và hàng chục nhà báo tụ tập tại căn nhà, tìm hiểu xem những gì đã xảy ra đêm qua. Những khoảng nám đen do chiếc Black Hawk bị phá hủy gây ra vẫn còn đó. Đuôi chiếc Helo One, trông khá lạ so với trực thăng thường, vẫn còn treo tòn ten ngoài bức tường cao. Một giới chức chiến dịch đặc biệt nói: “Tôi mừng vì không ai bị thương trong vụ máy bay rớt. Mặt khác, tôi mừng vì dấu tích trực thăng vẫn còn đó. Đấy là bằng chứng, để mọi người có thể tin ngay, là cuộc đột kích đã thực sự diễn ra”.
Khủng bố và tử đạo
Ngày 6 tháng Năm, 2011, Al Qaeda xác nhận cái chết của bin Laden, và phổ biến lời ca tụng “các dân tộc Hồi Giáo” về “cuộc tử đạo của người con yêu dấu Osama”. Tác giả thông điệp nhắn nhủ người Mỹ: “Sự vui mừng của họ sẽ trở thành đau thương và nước mắt họ sẽ hòa với máu”. Cùng ngày này, Tổng Thống Obama tới thăm Fort Kampbell ở Kentucky, nơi đồn trú của đơn vị không vận đặc biệt 160, gặp đơn vị DEVGRU và các phi công đã thi hành cuộc đột kích. Các người Nhái về từ Afghanistan trước đó trong tuần, đã bay đến từ Virginia. Biden, Tom Donilon, và hàng chục cố vấn an ninh khác tháp tùng.
McRaven đón chào Obama trên sân bay (họ đã gặp nhau vài ngày trước đó tại Bạch Ốc, và Tổng Thống đã tặng McRaven một cái thước cuốn). McRaven hướng dẫn Tổng Thống và phái đoàn vào một ngôi nhà ở phía bên kia căn cứ. Họ bước ào một căn phòng không cửa sổ. McRaven, Brian, các phi công, và James lần lượt thuyết trình.
Khi James, trưởng toán lên tiếng, anh kể tên những người Nhái đã hy sinh trong các chiến dịch trước ở Afghanistan, anh nói: “Tất cả những gì chúng ta làm trong mười năm qua đã chuẩn bị cho chúng ta trong vụ này”. James cũng không quên nhắc tới con chó Cairo, khiến Obama chặn ngang: “Có cả một con chó?” James gật đầu, nói con chó ở phòng bên cạnh, nhưng bị bịt miệng, do yêu cầu của mật vụ. Obama nói: “Tôi muốn gặp con chó”. James dỡn: “Nếu ông muốn gặp, nên mang theo phần thưởng”. Obama đi gặp con Cairo, nó vẫn bị bịt miệng.
Sau đó, Obama và đoàn tùy tùng vào một phòng thứ nhì ở cuối hành lang, để gặp tất cả những ai đã tham dự vào chiến dịch, kể cả những người lo về nơi ăn chốn ở cho toán. Tổng Thống tặng cả đơn vị Bằng Tưởng Lệ. Nhóm biệt kích sau đó tặng Tổng Thống lá quốc kỳ đã để trên chiếc Chinook cấp cứu. Có kích thước 3×5 feet, lá cờ đã được căng ra, ủi thẳng, đóng khung. Tất cả người Nhái và phi công ký tên phía sau, với lời đề tặng khắc ở phía trước: “From the Joint Task Force Operation Neptune’s Spear, 01 May 2011: For God and Country. Geronimo” (Từ Lực lựơng Hỗn hợp Chiến dịch Giáo Hải Thần, 01 tháng Năm, 2011: Vì Thiên Chúa và Tổ Quốc. Geronimo).
Trước khi ra về, Obama đã lần lượt chụp hình với mỗi người trong nhóm, và nói chuyện với nhiều người trong số họ. Nhưng ông không bao giờ hỏi ai là người đã lẩy cò giết thủ phạm. Người Nhái cũng không bao giờ tự ý nói cho ông biết.
CHƯƠNG 5 – Phước Long Rời Trảng Bàng, đoàn xe chở tù cải tạo theo Quốc Lộ 1 (nay gọi là Quốc Lộ 22) xuôi hướng đông nam, qua Củ Chi tới Hóc Môn tôi nhận ra nhà thờ giáo xứ Bùi Môn ở phía bên tay mặt. Đây có lẽ là giáo xứ Bắc Kỳ di cư lớn nhất nhì trong vùng Hóc Môn; giữa thập niên 1960 có lần tôi đưa bà ngoại tới thăm một vị linh mục quen biết. Qua khỏi Bùi Môn mấy cây số thì tới ngã tư Trung Chánh, quẹo trái là đường đi qua giáo xứ Trung Chánh trước khi tới cổng chính của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung của quân đội VNCH trước năm 1975, từng được ghi nhận là “lò luyện thép lớn nhất Đông Nam Á”. Sở dĩ tôi khá rành vùng này là vì khoảng năm 1961, 1962, một người dượng của tôi phục vụ tại TTHL Quang Trung, mướn nhà ở ngoài cổng nhà thờ Trung Chánh. Qua ngã tư Trung Chánh, tôi và những anh em biết việc tôi sử dụng quả lắc cảm xạ bắt đầu chăm chú theo dõi lộ trình của đoàn xe chở tù cải tạo. Bởi vì qua khỏi khu vực TTHL Quang Trung (cũ) sẽ tới ngã tư Quốc Lộ 1 – Xa Lộ Đại Hàn, nếu đi thẳng sẽ là đường về Sài Gòn qua ngả Bà Quẹo và Ngã Tư Bảy Hiền, còn quẹo trái sẽ là đường đi Bình Dương, Biên Hòa, và Tân Cảng Sài Gòn. Sau khi đoàn xe quẹo trái vào Xa Lộ Đại Hàn, chúng tôi hồi hộp đợi chờ: tại ngã tư sắp tới nếu đoàn xe đi thẳng về Biên Hòa thì rất có thể chúng tôi sẽ bị đưa lên Long Giao, hoặc Lâm Đồng, nếu quẹo phải về Tân Cảng thì có nguy cơ bị đưa lên tàu ra Bắc, chỉ có quẹo trái vào Quốc Lộ 13 mới có thể đi Phước Long hoặc Quảng Đức như quả lắc của “thầy Sáu Lèo” đã cho biết. Đoàn xe quẹo trái thật! Tới chợ Lái Thiêu, tôi lại thả hồn về quá khứ. Còn nhớ vào thưở thanh bình xưa cũ, từ Sài Gòn chạy xe gắn máy lên Lái Thiêu sáng đi chiều về thoải mái. Ăn trưa ở chợ xong, vào vườn cây rợp bóng mát (thú vị nhất là đi với… người yêu), mua chôm chôm, sầu riêng, bòn bon, mít tố nữ…, trước khi về không quên ghé chợ mua vài chục nem. Nem Lái Thiêu, theo tôi, ngon nhất… thế giới; độc giả gốc Huế có phản đối, tôi cũng không thay đổi lập trường! Qua Thủ Dầu Một, Bến Cát thì tới Lai Khê, nơi trước kia có căn cứ trực thăng của Lục Quân Hoa Kỳ, các phi công CH-47 Chinook của Phi Đoàn 237, SĐ3KQ tới đây thực tập rồi nhận tàu đưa về Biên Hòa. Xế chiều, khi bắt đầu thấy những rừng cao-su liên tiếp ở hai bên đường, một anh bạn gốc Sư Đoàn 5 Bộ Binh ngồi sát tôi từ hồi nào cho biết sắp tới ngã ba Chơn Thành, nếu tiếp tục đi thẳng (QL 13) sẽ đi lên Bình Long, Lộc Ninh, nếu quẹo mặt là Quốc Lộ 14 – đường đi lên Phước Long, hoặc xa hơn nữa là Quảng Đức. Khi tới ngã ba Chơn Thành, đoàn xe quẹo mặt vào QL 14, anh bạn SĐ5BB nhìn tôi ra dấu hiệu No.1, nhưng chẳng bao lâu sau đó, nét mặt anh căng thẳng trở lại, bởi vì khi tới Đồng Xoài mới biết… 9 nút hay bù! Chín nút là rẽ trái để đi Phước Long, bù là chạy thẳng QL 14 đi Quảng Đức (ngày nay gọi là tỉnh Dak Nông) rồi chạy dọc biên giới Việt – Miên trở thành đường mòn Hồ Chí Minh! Cuối cùng, tới Đồng Xoài, đoàn xe rẽ trái! Tôi thở phào: “thầy Sáu Lèo” đã đoán trúng ngay trong lần đầu tiên sử dụng quả lắc cảm xạ! Qua khỏi đồn điền cao-su Thuận Lợi khoảng 30 phút, đường đi giống như một con đường bỏ hoang, cây cối hai bên phủ kín, cành cây vươn ra đập cả vào mui xe; mặt đường càng lúc càng gồ nghề, nhiều lúc nghiêng hẳn về một bên… Xe chạy thật chậm khiến mọi người sốt ruột, và không khỏi lo ngại; có người hỏi lại anh Trung úy SĐ5BB có chắc đây là đường đi Phước Long hay không? Anh trả lời chắc chắn đây là con đường độc đạo dẫn tới quận Phước Bình, và tỉnh lỵ của tỉnh Phước Long trước năm 1975, nay thuộc tỉnh Sông Bé. Đôi dòng về PHƯỚC LONG và SÔNG BÉ: Trước năm 1975, ngoài những người thuộc giới quân sự, không mấy người dân miền Nam biết tới, hoặc nghe nói tới “tỉnh Phước Long”. Một số người chỉ biết địa danh “Phước Long” là tên một xã thuộc quận Giồng Trôm, tỉnhBến Tre. Phải đợi tới tháng 1/1975, khi cộng sản ngang nhiên xé bỏ Hiệp Định Paris 1973, xua quân đánh chiếm tỉnh lỵ Phước Long, nhiều người mới biết tới địa danh này. * * * Theo tài liệu để lại, vào cuối năm 1956, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã chia miền Nam VN thành 22 tỉnh, trong đó có một số tỉnh mới. Riêng tỉnh Biên Hòa cũ được chia thành 3 tỉnh: Biên Hòa, Long Khánh, và Phước Long. Lãnh thổ tỉnh Phước Long nguyên là quận Bà Rá của tỉnh Biên Hòa. Gọi là quận Bà Rá vì ở đây có núi Bà Rá, cao 733m, đứng hàng thứ ba tại miền Nam, sau núi Bà Đen, 986m ở Tây Ninh và núi Chứa Chan, 800m, ở Long Khánh.
Núi Bà Rá và phi trường dã chiến Phước Long Vào thời miền Nam VN mới được độc lập, Bà Rá còn là một vùng rừng thiêng nước độc, chỉ có người Thượng sinh sống; trước đó, đây là nơi người Pháp đày tù khổ sai. Tỉnh Phước Long gồm 4 quận: Phước Bình, Bố Đức (Bù Đốp), Đức Phong, và Đôn Luân. Tỉnh lỵ Phước Long nằm trong quận Phước Bình. Ngày ấy, trong số những tỉnh mới được thành lập, Phước Long được xem là tỉnh quan trọng hàng đầu, về mặt kinh tế cũng như quân sự. Về kinh tế, vùng đất đỏ màu mỡ chưa khai thác được đánh giá tốt miền Nam, còn tốt hơn đất đỏ Long Khánh, lý tưởng để trồng hoa màu cũng như mở các đồn cao-su. Nhiều khu dinh điền được thành lập với dân cư đa số được đưa từ miền Trung vào. Về quân sự, tiểu khu Phước Long khi kết hợp Bình Long, Lộc Ninh sẽ tạo thành một hệ thống cứ điểm quân sự liên hoàn bao vây, chia cắt vùng Nam Tây Nguyên với Chiến khu D, Chiến khu Dương Minh Châu của quân cộng sản, đồng thời ngăn chặn sự chi viện của Cộng Sản Bắc Việt cho Việt Cộng trong Nam qua ngả Căm-bốt. Vì vị trí chiến thuật và tầm quan trọng, từ giữa năm 1965 (trước trận Đồng Xoài), Phước Long đã bị Việt Cộng tiến đánh nhiều lần, để rồi tới đầu năm 1975, đã lọt vào tay quân cộng sản vĩnh viễn. Sau năm 1975, 3 tỉnh Phước Long, Bình Long và Bình Dương được CSVN gom lại thành tỉnh Sông Bé. “Sông Bé” là tên của một phụ lưu của sông Đồng Nai, bắt nguồn từ Phước Long chảy về tới Trị An (Biên Hòa) thì nhập vào sông Đồng Nai. Tới cuối năm 1996, tỉnh Sông Bé lại bị tách ra làm 2 tỉnh Bình Phước và Bình Dương. Trong đó, tỉnh Bình Phước gồm lãnh thổ 2 tỉnh Bình Long và Phước Long cũ, tỉnh lỵ đặt thành phố Đồng Xoài, trước 1975 là quận lỵ của quận Đôn Luân.
* * *
Khi đoàn xe đi gần tới quận lỵ Phước Bình, khung cảnh trở nên quang đãng và đường đi tương đối tốt hơn, nhưng đi qua Phước Bình mấy cây số, tới chân núi Bà Rá thì lại bắt đầu gập ghềnh, lên đồi xuống dốc… Lúc này trời đã bắt đầu tối, sau khi đi qua khu dân cư cuối cùng, con đường trải đá lâu ngày đã trở thành con đường đất trơn trượt, đoàn xe từ từ đi xuống một cái dốc, băng qua một cây cầu sắt rất cũ, rung rinh như muốn sập, rồi bò lên một cái dốc khác dài hơn… Sau này, chúng tôi được biết đây là cầu Dak Lung, và cái dốc dài ấy chính là đoạn đường kinh hoàng nhất của thân nhân đi thăm nuôi tù cải tạo. Qua khỏi cái dốc, đoàn xe chạy thêm độ khoảng 10 cây số nữa thì quẹo phải vào một con đường đất hẹp, xuống dốc rồi dừng lại bên cạnh một con suối lớn, có tiếng nước chảy xiết. Chúng tôi được lệnh xuống xe. Lúc này trời đã tối mịt, chúng tôi phải vịn vai nhau để khỏi bị trượt té trên lớp đất đỏ trơn trượt. Mặc dù đã đoán trước sẽ bị đưa lên vùng rừng núi, nhưng đêm đen như hăm dọa đã khiến đoàn tù cải tạo cảm thấy hoang mang, lo sợ, cho dù (theo tôi) không hãi hùng bằng cái đêm bước vào trại tù ở Phú Quốc dưới ánh đèn pha sáng rực cùng những họng AK đen ngòm! Rồi chúng tôi được lệnh bước lên một cái cầu làm bằng hai thân cây lớn bắc ngang dòng suối để vào sân trại; tại đây chúng tôi được quản giáo chia ra từng nhóm, mỗi nhóm vào một dãy nhà trong đó đã có sẵn một số tù cải tạo ở. Hỏi ra mới biết họ cũng là “cựu đồng hương Tây Ninh”: tù cải tạo ở Cà Tum được đưa lên đây trước chúng tôi mấy ngày. Nhờ tinh thần “hiếu khách” của những anh em Cà Tum này mà đêm đầu tiên của chúng tôi ở Phước Long đỡ bỡ ngỡ, hoang mang… Sáng ra tôi mới có cơ hội quan sát khung cảnh của trại tù cải tạo mới tới. Về địa thế, trại nằm trên một khu đất thấp, bằng phẳng, có một con suối lớn chạy vòng quanh gần giáp vòng cho nên có thể xem như một cái cù lao nho nhỏ. Con suối này là một nhánh của thượng nguồn Sông Bé (hiện nay trên bản đồ, con suối này được gọi là sông Tà Niên). Đường vào trại là cái cầu bắc ngang dòng suối mà tôi đã viết ở trên; trong trại có ba dãy nhà tập thể dài cả trăm mét, xếp thành hình chữ L, xa xa phía bên trái là khu nhà của ban chỉ huy trại và đám vệ binh. Nằm giữa các khu nhà là một sân banh. Đây nguyên là một trong những doanh trại của bộ đội cộng sản Bắc Việt được dựng lên sau khi họ chiếm Phước Long vào đầu tháng 1/1975. Sau khi bộ đội rút đi nơi khác, các doanh trại này bị bỏ trống một thời gian trước khi cải tạo từ Cà Tum, Đồng Ban lên chiếm ngụ. Về sau chúng tôi được biết vùng này có tên là Bù Gia Phúc, đi lên hướng bắc khoảng 25-30 cây số là Bù Gia Mập, nằm gần biên giới Việt – Miên ở hướng tây và hướng bắc, biên giới Phước Long – Quảng Đức ở hướng đông.
Tại Bù Gia Mập có một khu trại cải tạo rất lớn, thành phần cải tạo là sĩ quan cấp tá không bị đưa ra miền Bắc. [Theo lời kể của một số người, ở Bù Gia Mập còn có cả sĩ quan cấp úy. Về sau, Bù Gia Mập trở thành trại giam tù hình sự, thuộc Bộ Công An] Sau này chúng tôi được nghe kể Bù Gia Mập là trại cải tạo hắc ám nhất ở Phước Long, so với Bù Gia Phúc cũng giống như Cà Tum với Đồng Ban ở Tây Ninh trước kia. Suy ra, từ Tây Ninh cho tới Phước Long, anh em tù cải tạo thuộc L2 chúng tôi đều có “qưới nhân phò trợ”! Cũng xin viết thêm về vị trí của L2 T2. Ngày ấy ở Phước Long, tôi không hề biết vùng này có tên là Bù Gia Phúc. Chỉ sau khi ra hải ngoại, đọc hồi ký của một cựu tù cải tạo cũng từng ở Phước Long, rồi tra cứu bản đồ (của CSVN ấn hành), tôi mới biết các trại cải tạo của L2 nằm trong vùng Bù Gia Phúc. Tuy nhiên, qua khung cảnh và sinh hoạt được mô tả trong hồi ký trên, “trại Bù Gia Phúc” được nhắc tới không phải L2 T2 mà tôi đã ở. Về thành phần cán bộ của T2, ngoài Thượng úy Phùng Xuân Nghĩa thủ trưởng từ ngày còn ở Đồng Ban, chúng tôi không thấy Trung úy Vầy và Chuẩn úy Đạt (chính trị viên), thay vào đó là mấy tay quản giáo lạ mặt. Vệ binh thì đa số là “em mới”, bộ đội Bắc Kỳ mặt mũi còn non choẹt, không phải thành phần sinh bắc tử nam. Cũng may, trong số vệ binh cũ từ Đồng Ban lên đây không có “Bia lên”, tay vệ binh có máu điên từng đòi bắn Hùng sùi. * * * Về thành phần cải tạo, hơn một nửa là trung úy, thiếu úy gốc Cà Tum. Cũng giống như trước đây khi chúng tôi được đưa từ “địa ngục” Phú Quốc về “thiên đường” Trảng Lớn, nay đám tù cải tạo từ Cà Tum lên Phước Long cũng trông cũng thê thảm hơn so với tù cải tạo từ Đồng Ban, và cũng ngang tàng, “phản động” hơn! Ngày đầu tiên ở Phước Long, chúng tôi được chia thành từng đội, dân Cà Tum và Đồng Ban lẫn lộn. Cường tiếp tục làm đội trưởng và Tư “răng vàng” tiếp tục nắm giữ đội tăng gia. Qua ngày hôm sau, cả trại ra sân banh ngồi nghe ông Phùng Xuân Nghĩa nói chuyện. Ông cho biết chúng tôi được đưa lên đây để “trải qua thực tế lao động” trước khi trở về xum họp với gia đình. Vì thế, ông nhấn mạnh, chúng tôi phải tích cực lao động chứ không “chơi bời” như ở Đồng Ban nữa. Ông cũng cho biết về công tác lao động, lên đây L2 thuộc Đoàn 500, tức Đoàn Liên Hiệp Kinh Tế Phước Long, gồm cả các đơn vị quân đội, cải tạo, và dân sự. Mọi chỉ tiêu đều do “cấp trên” đưa ra, và thành quả của các đơn vị cũng sẽ được “cấp trên” đánh giá, ban chỉ huy trại chỉ có trách nhiệm kiểm soát, đôn đốc mà thôi. Nghe ông Phùng Xuân Nghĩa nói, tôi có cảm tưởng ông ta muốn “phân trần” nhiều hơn là cảnh cáo. Từ đó tôi tin rằng ông không hù dọa, mà rồi đây anh em Đồng Ban chưa từng ra Phú Quốc sẽ được nếm mùi “lao động là vinh quang” thật sự. Thời gian hai tháng đầu, công tác chính của L2 T2 là phá rừng để trồng lúa và hoa mầu, chủ yếu là khoai mì. Rừng ở Phước Long nói chung là rừng già, “già” gấp mấy lần rừng già ở Đồng Ban, có đủ tiếng chim kêu vượn hú. Tuy nhiên ở vùng Bù Gia Phúc, dọc hai bên con đường đi Quảng Đức chỉ là rừng chồi. Nguyên vào thời Đệ nhất Cộng hòa, phía bên phải đường lộ (phía trại cải tạo T2), do thế đất thấp và màu mỡ hơn, lại có con suối mát, đã được chính phủ khai quang để lập khu dinh điền cho dân chúng từ các nơi tới lập nghiệp. Phía bên trái, thế đất cao hơn, thì được khai quang để trồng cao-su. Trong những tuần lễ đầu, T2 chúng tôi phải phá rừng chồi phía bên trái. Nguyên sau cuộc cách mạng năm 1963 lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm, tỉnh Phước Long không còn được giới lãnh đạo miền Nam quan tâm tới như trước, về cả mặt chiến thuật lẫn kinh tế. Chương trình trồng cao-su ở Phước Long của chính phủ Đệ nhất Cộng hòa vì thế bị bỏ dở. Từ đó, rừng cao-su bị bỏ hoang, những cây cao-su chưa kịp lớn bị cây cỏ lấn lướt dần, và mười mấy năm sau, khi tù cải tạo đặt chân tới Phước Long thì không còn một vết tích nào của “rừng cao-su” ngày trước. Thay vào đó là rừng chồi và lồ ô. Rừng chồi ở đây tương đối thấp và thưa. Nhìn những gốc cây cháy đen còn sót lại, những anh em có kinh nghiệm sống ở cao nguyên cho biết trước đây khu rừng này đã được người Thượng khai phá – đốn cây, chặt chồi, đợi khô rồi đốt, tro than trở phân bón – để trồng “lúa mọi”; thường thường sau hai, ba mùa lúa (mỗi năm chỉ có một mùa), đất hết màu, họ bỏ đi khai phá một khu đất khác. (Chú thích 1) Vì thế, rừng chồi ở đây khá thưa, chỉ cao khoảng 2, 3 mét, nhưng lồ ô thì thật khủng khiếp! Lồ ô vốn thuộc họ tre, không cứng như tre, không đặc ruột như tầm vông nhưng có thể cao tới 25 mét, đường kính cả gang tay. Do thành phần cấu tạo và đặc điểm mau lớn, chỉ cần 3, 4 năm là trưởng thành, lồ ô được xem là nguyên liệu rất tốt để làm giấy, còn về xây dựng, lồ lô chỉ được sử dụng như một loại vật liệu tạm thời vì dễ bị mối mọt. Lồ ô vốn mọc nhiều ở miền trung nhưng những anh em gốc Quảng cho biết họ chưa bao giờ nhìn thấy những cây lồ ô to, cao như ở Phước Long. Nhưng to, cao không phải vấn đề bởi thân lồ ô rỗng ruột, chỉ đi một, hai đường mác là gục, nhưng những bụi lồ ô ở đây không có đường kính 2, 3 mét như các nơi khác mà có khi 5, 7 mét, với cả trăm cây mọc chen chúc nhau vì bao năm qua không có người lấy măng!
Chúng tôi được lệnh chặt đứt lìa từng cây lồ ô cho đổ xuống đất, đợi tới khi nào khô sẽ được đốt cùng với chồi khô để lấy đất trồng lúa. Ngày đầu tiên đi lao động, chúng tôi được cán bộ quản giáo chia cho mỗi đội một khu rừng chồi và lồ ô bề ngang 50 mét, từ lề đường tiến vào phía trong 200 mét. Được khoảng nửa buổi, tay quản giáo trở lại kiểm soát, thấy chúng tôi mới tiến được khoảng 20 mét, đã không tiếc lời xỉ vả chúng tôi không chịu “nao động tích cực”, rồi cảnh cáo nếu chúng tôi không “phấn đấu đạt chỉ tiêu”, tới cuối ngày sẽ tiếp tục lao động cho tới tối! Hắn không dọa. Chiều tối hôm đó, gần tối mịt, đoàn tù cải tạo mới được về trại, ai nấy đều đói lả. Qua ngày hôm sau, chúng tôi bắt buộc phải “mánh”: chồi thì chỉ chặt những cây lớn cho đè lên cây nhỏ; các bụi lồ ồ thì chỉ chặt một mé cho đổ rạp xuống rồi chặt mé bên kia cho đổ chồng lên, nghĩa là những cây ở giữa bụi vẫn còn nguyên nhưng đứng bên ngoài rất khó nhận ra. Kết quả, chúng tôi không còn bị tay quản giáo nặng lời nữa, và ngày nào cũng về trại kịp giờ cơm chiều. Mấy tuần sau, khi khu rừng chồi do T2 khai quang đã được khoảng nửa cây số, một buổi tối nọ, sau bữa cơm chiều, cả trại được lệnh ra sân tập họp nghe thủ trưởng nói chuyện. Chưa bao giờ chúng tôi thấy ông Phùng Xuân Nghĩa giận dữ đến thế! Theo lời “hài tội” của ông, sáng hôm nay các đại diện của Đoàn Liên Hiệp Kinh Tế Phước Long vào “nghiệm thu” đã không tiếc lời chê bai, chỉ trích T2 làm ăn bôi bác; rừng chồi và lồ ô được báo cáo khai quang xong, nay có tới phân nửa đã… sống lại, thì trồng trọt cái gì! Rồi ông Nghĩa răn đe: – Mức độ tiến bộ của các anh tùy thuộc vào cố gắng của bản thân trong quá trình lao động; các anh lao động bôi bác như thế làm sao tôi báo cáo tốt cho các anh được! Sáng hôm sau, đích thân ông Nghĩa đưa chúng tôi trở lại khu rừng đã được khai quang. Thú thật, chính tôi còn thấy coi không được nói gì tới phái đoàn nghiệm thu: đám chồi trước đây bị cành lá đè lên, sau mấy trận mưa nay đã hiên ngang vươn mình, lồ ô thì bụi nào cũng chỉ có vài cây ở mép ngoài bị héo khô, còn lại vẫn xanh tốt như cũ… Sau khi bắt các đội trưởng đi tham quan một vòng với mình, và nghe họ trình bày việc bị quản giáo đốc thúc vượt chỉ tiêu, ông Nghĩa đã quyết định giao khoán: mỗi đội một tuần lãnh bằng ấy héc-ta, làm sớm nghỉ sớm; nhưng phải làm cho sạch! Kết quả hết sức tốt đẹp. Chẳng phải vì đám tù cải tạo chúng tôi đã nhận ra “lao động là vinh quang” mà chỉ vì nếu làm cật lực, sau những buổi lao động mệt nhọc, chúng tôi sẽ có những khoảng thời gian tự do, thoải mái, cho đầu óc bớt căng thẳng. Từ đó cho tới khi chúng tôi rời Phước Long, tất cả mọi công tác liên quan tới tăng gia sản xuất, như khai quang, trồng trọt, làm cỏ, thu hoạch…. của T2 đều được thực hiện dưới hình thức giao khoán. Sau khi phá rừng chồi phía bên trái con đường để trồng lúa mọi, chúng tôi quay về phía bên phải, làm cỏ, trồng bắp, trồng khoai mì trên các khu đất chung quanh trại đã được bộ đội khai phá trước đây, đồng thời phá thêm các đám rẫy mới… Từ cây kơ-nia tới bắp Nam Mỹ Khoảng hai tháng sau khi tới Phước Long, có thể nói T2 chúng tôi đã “an cư lạc nghiệp”, nhưng lại bị đói! Không hiểu anh em tù cải tạo gốc Cà Tum thì sao, riêng anh em gốc Đồng Ban – Trảng Lớn chúng tôi trước đây tuy có phải ăn độn rau, phải ăn cao lương nhưng chưa bao giờ bị đói, trừ những người đã từng ở Phú Quốc. Trở lại với thời gian ở Đồng Ban, sau khi được thưởng thức bột mì Liên Xô, chúng tôi được nhà nước cho làm quen với “cao lương”, cũng do Liên Xô vĩ đại viện trợ.Dĩ nhiên, hai chữ “cao lương” ở đây không phải “cao lương” trong thành ngữ “cao lương mỹ vị”, mà là tên gọi loại thực phẩm dễ trồng và có thu hoạch cao nhất trong ngũ cốc, gồm lúa gạo, lúa mì, bắp (ngô), lúa mạch (barley), và cao lương (sorghum). Cao lương có thu hoạch cao bởi nó là loài “thảo” sống được nhiều năm (perennial) mà năm nào cũng cho hạt, chứ không phải chỉ sống một mùa (annual) như lúa, bắp… Người ta trồng cao lương chủ yếu để nuôi gia súc hoặc sử dụng trong kỹ nghệ. Cho tới nay, tôi cũng không hiểu ngày ấy Liên Xô viện trợ cao lương cho CSVN để nuôi gia súc nhưng Đảng và nhà nước lại lấy cho dân ăn, hay Liên Xô cố tình viện trợ thực phẩm nuôi gia súc cho dân VN ăn – tức là xem người dân VN như… súc vật, chỉ biết một điều chắc chắn là kể cả trong trường hợp sử dụng để nuôi súc vật, người ta cũng phải xay thành bột, vậy mà ngày ấy tù cải tạo và không ít người dân miền Nam đã phải nhai cao lương nguyên hạt! Ngày ấy, cao lương được đa số dân chúng trong Nam gọi sai là “bo bo” có lẽ vì hạt cao lương trông giống hạt bo bo (để nấu chè, nấu sâm bổ lượng…) nhưng phẩm chất khác nhau một trời một vực. Cũng rất có thể họ biết gọi như thế là sai nhưng thà gọi sai chứ không chấp nhận chữ “cao lương” của miền Bắc!(Chú thích 2)
Cao lương
Bo bo Những ai sống tại miền Nam VN sau năm 1975 và phải ăn bo bo (cao lương) hẳn vẫn còn nhớ loại hạt này có một lớp vỏ dai, cần phải nhai lâu mới có thể nuốt được. Nhưng với những người có bao tử yếu, trong đó có tôi, thì dù nhai kỹ tới đâu, sau khi ăn vào cũng vẫn bị bao tử hành! Ngày còn ở Đồng Ban, tù cải tạo được ăn cả ba thứ: gạo, bột mì, bo bo nhưng sau khi lên Phước Long chỉ còn một thứ duy nhất là bo bo. Vậy mà cũng không có đủ để mà ăn! Thời gian đầu, khi chưa kịp “tăng gia” (trồng rau) để ăn thêm, chúng tôi phải “cải thiện” (tìm kiếm những thứ có thể ăn) bằng măng lồ ô và… rau dại. Măng lồ ô không phải lúc nào cũng có mà chỉ khi đi lao động ở những khu vực có lồ ô thì mới có cơ hội tìm kiếm; bên cạnh đó măng lồ ô chẳng những không ngon như măng tre, măng tầm vông mà còn độc hại, ăn nhiều có thể bị nhức đầu chóng mặt, ói mửa, thậm chí… theo ông bà! Thực ra, theo sự giải thích của mấy anh bạn tù nguyên là dược sĩ quân y thì tất cả các loại măng đều có chất độc cyanure (tiếng Anh: cyanide), dù có luộc cả ngày cũng chỉ giảm được một phần nhỏ; muốn hết độc, luộc xong phải ngâm nước cả tuần lễ! Vì thế, để no bụng chúng tôi chỉ còn cách ăn thêm rau dại! Sau này hồi tưởng lại, tôi thấy chúng tôi ngày ấy ăn rau dại thì có khác gì loài thú hoang đâu, nhưng lúc ấy chẳng ai nghĩ gì cả, chỉ cần đầy bụng. Theo người Thượng, rừng Phước Long có nhiều loại củ rừng ăn được mà họ thường đào về để ăn khi hết lúa gạo, tuy nhiên chúng tôi không thể nhận diện (và cũng một phần vì sợ ăn phải củ độc) nên chỉ tìm rau dại; bởi theo những anh em có kinh nghiệm mưu sinh thoát hiểm, trái rừng, củ rừng có thể độc nhưng rau cỏ thì không. Cuối cùng, chúng tôi đã khám phá ra một loại rau dại cũng không đến nỗi khó nuốt cho lắm. Thực ra gọi là rau cũng không được chính xác, bởi đó là một loài cây nhỏ, nửa giống cây rau dền cơm nửa giống cây hoa mồng gà, mọc đầy ở các khu rừng chồi. Tôi diễu cợt đặt tên cho loài rau dại này là “kơ-nia”, lấy từ ca khúc cách mạng Bóng cây kơ-nia, và được mọi người gọi theo. Bóng cây kơ-nia nguyên là một trong hai ca khúc viết về người Thượng “yêu tổ quốc xã hội chủ nghĩa” do đám văn nô nhạc nô của CSVN sáng tác vào thời gian “chống Mỹ cứu nước”, thơ Ngọc Anh, nhạc Phan Huỳnh Điểu, được (bị) nghe nhiều nhất. Ca khúc còn lại là Tiếng chày trên sóc Băm Bo của Xuân Hồng.
“Kơ-nia” là tên người Thượng gọi cây “wild almond”, mà người Kinh gọi là cây cầy, hoặc cây cốc. Đây là loài cây mọc hoang, cao tới 25-30 mét, có ý nghĩa linh thiêng với người Thượng cho nên họ thường tìm nơi nào có một gốc kơ-nia cổ thụ để lập buôn làng. Dĩ nhiên, những anh em tù cải tạo nào đã biết nội dung ca khúc Bóng cây kơ-nia đều nhận ra tính cách vô lý trong việc tôi sử dụng chữ “kơ-nia” để gọi một loài cây cỏ dại để ăn độn; nhưng thực ra số người này cũng không nhiều bởi do bị dị ứng với thể loại ca khúc “cách mạng”, rất ít tù cải tạo chịu để ý nghe xem nội dung ca khúc nói về cái gì, thành thử có ít nhất một người đã hỏi tôi một cách ngây thơ: – Làm sao anh Sáu biết tên cây rau này là kơ-nia? Tôi đáp bừa: – Thì nghe người Thượng họ gọi cây kơ-nia mình gọi theo! Thật đúng là “trời sinh cải tạo trời sinh (cỏ) kơ-nia”! Trong thời gian chờ cây khoai mì đủ lớn để (lén) hái đọt về luộc ăn độn, tù cải tạo T2 chúng tôi cầm cự được là nhờ kơ-nia. Về cách biến chế, mấy anh em ăn chung với tôi chỉ có một món duy nhất là canh kơ-nia. Gọi là canh cho oai chứ thực ra chỉ là kơ-nia nấu nước muối có điểm chút váng mỡ heo trên mặt. Tới Phước Long, tôi ăn chung với Hoàng (đờn bass), mấy anh em thiếu úy CTCT và “Yên kiết”, một tay thiếu úy nguyên là giáo sư trung học trông già trước tuổi. Hắn có chữ “kiết” đi theo tên cúng cơm từ hồi còn ở Đồng Ban là vì, theo lời những anh em thân thiết, tính hắn rất kỹ lưỡng và… keo kiệt. Thế nhưng trong hoàn cảnh thiếu thốn, keo kiệt đôi khi lại trở thành một đức tính! Tới Phước Long, khi tôi và đám thiếu úy tính chuyện ăn chung với nhau, rủ Yên “kiết” thì hắn đưa ra hai điều kiện: (1) thực phẩm (gạo, bột, đường, mỡ, mắm, muối, gia vị…) còn bao nhiêu gom hết lại giao cho hắn, và (2) với tư cách thủ kho, hắn có toàn quyền quyết định trong việc… xuất kho. Chẳng hạn ngày nào phải đi lao động xa, có khi mười mấy cây số cả đi lẫn về, buổi chiều về tới trại tay nào cũng rã rời, nằm lăn quay, Yên “kiết” mới mở cái thùng đạn lấy hũ đường tán ra phát cho mỗi người ¼ tán. Lúc đó anh em mới thấy việc Yên “kiết” không cho nấu chè là có lý, bởi chỉ cần ¼ tán đường vào lúc kiệt sức cũng đủ để hồi phục! Mỡ heo thì được hắn cất trong mấy cái hũ chao, sau khi nồi canh kơ-nia (và sau này là rau dền, rau muống) được nấu chín, hắn mới múc một, hai muỗng cà-phê mỡ đổ vào nồi canh cho có mùi thơm và vị béo tưởng tượng. Hoặc cá khô – loại cá khô mà trước năm 1975 chỉ để nấu cám heo – “thực phẩm có protein” duy nhất được cấp phát trong thời gian ở Phước Long, lãnh về Yên “kiết” cũng không cho chiên mà bắt nướng, sau đó mới phi mỡ tỏi đổ lên trên; hắn nói làm cách này chỉ tốn 1/3 mỡ so với chiên! * * * Khoảng hai tháng sau, khi chúng tôi đã trồng được rau xanh (rau muống, rau dền, mồng tơi…) thì phần bo bo buổi sáng được thay thế bằng bắp khô (lên Phước Long lao động, tù cải tạo có thêm bữa ăn sáng). Bắp nói tới ở đây không phải nếp của VN hay bắp vàng của đế quốc Mỹ mà bắp đá của Nam Mỹ! Hiện nay, nếu độc giả vào trang Google với từ khóa “Bắp hạt Nam Mỹ” thì sẽ thấy vô số quảng cáo đại khái như sau:
Nông Sản Bảo Minh BẮP HẠT ARGENTINA Bắp hạt Nam Mỹ chất lượng cao, nguyên liệu dùng làm thức ăn chăn nuôi.
Gọi là “bắp đá” bởi vì nó cứng như… đá. Giống bắp này có xuất xứ từ Nam Mỹ, trồng nhiều nhất ở Ba Tây và Á-căn-đình (ngoài Bắc gọi là Ác-hen-ti-na), năng xuất rất cao, trái bắp dài khoảng 25-30 cm, hạt bắp to gần bằng móng tay cái. Khi mới lãnh bắp đá về, các “anh nuôi” tẻ hạt, ngâm nước từ tối hôm trước, 6 giờ sáng thức dậy nấu cho tới 7 giờ mà vẫn chưa mềm, khiến tù cải tạo phải để bụng đói đi lao động. Qua ngày hôm sau nấu từ 5 giờ sáng cũng vẫn không mềm, sau đó mới biết bắp đá… không thể nấu mềm, vì vỏ hạt bắp dày và cứng vô cùng, chính vì thế người ta mới phải xay ra để làm thực phẩm cho gia súc! Nấu lâu chỉ được một cái lợi là mày hột bắp bung ra, nhờ đó tù cải tạo nào răng yếu, bao tử yếu có thể bóc vỏ hạt bắp để ăn phần bên trong. Vì thế, tôi và những anh em đồng cảnh ngộ (yếu bao tử) phải may một cái túi nho nhỏ bằng bao cát để đựng hạt bắp luộc, trên đường ra rẫy hoặc vào rừng vừa đi vừa bóc vỏ để ăn! Gần hai tháng sau, khi đợt khoai mì đầu tiên được thu hoạch, chúng tôi mới chia tay “bắp đá Ác-hen-ti-na”, và thay vào đó bữa sáng mỗi người được một khúc khoai mì luộc độ nửa gang tay. Tuy nhiên trên thực tế, để đủ no, số lượng khoai mì chúng tôi dồn vào bụng mỗi ngày phải gấp ba lần tiêu chuẩn bữa sáng nói trên. Số khoai mì ngoài tiêu chuẩn này được nhổ trộm ở các rẫy khoai mì trên đường đi lao động. Cũng nhờ chôm chĩa mà chúng tôi khám phá ra khoai mì cũng có hai đẳng cấp khác nhau: khoai mì để cán bộ, bộ đội ăn và khoai mì cho cải tạo ăn. Được biết, trước năm 1975 ở miền Nam, và trước năm 1954 ở miền Bắc, chỉ có một loại khoai mì duy nhất mà sau này ở miền Bắc gọi là “sắn ngọt”, là loại khoai mì sử dụng làm lương thực cho con người, nhưng sau năm 1954, miền Bắc xã hội chủ nghĩa còn trồng thêm một giống khoai mì có năng xuất cao hơn rất nhiều (và cũng độc hại hơn rất nhiều) gọi là “sắn cao sản”, để làm thực phẩm gia súc và sử dụng trong kỹ nghệ. Sau khi đất nước thống nhất, người ta đã đưa giống khoai mì kỹ nghệ này từ miền Bắc vào trồng trong Nam. Như người miền Bắc trước năm 1954 và người miền Nam trước năm 1975 còn nhớ, khoai mì ngày ấy (sắn ngọt) chỉ cao khoảng 2m, có cuống lá màu tím, và củ của nó sau khi bóc lớp vỏ màu nâu sẽ hiện ra lớp da màu tím hoa cà. Trong khi đó cây khoai mì “cao sản” của miền Bắc to hơn, có khi cao tới 2.50-3m, cuống lá màu xanh, củ có da màu vàng nâu nhạt. Xưa kia, ông bà mình tuy không biết trong khoai mì có chất độc (acid cyanhydric – HCN) nhưng do kinh nghiệm đã khuyên con cháu không nên ăn khoai mì sống sẽ bị say, đồng thời trước khi luộc phải ngâm nước qua đêm. Khoai mì vỏ tím (sắn ngọt) mà còn độc hại như thế nói gì tới khoai mì kỹ nghệ (sắn cao sản). Còn nhớ khi tôi bị đưa ra Phú Quốc đầu vào năm 1976, được nghe kể có một hạ sĩ quan cảnh sát đặc biệt (ra Phú Quốc trước chúng tôi) chết vì ngộ độc do ăn quá nhiều vỏ khoai mì lấy từ hố rác của nhà bếp; nay tôi đoán có lẽ ông ta ăn phải vỏ khoai mì kỹ nghệ nên mới ra nông nỗi! (Chú thích 3)
* * * Việc chúng tôi chúng tôi khám phá ra có hai loại khoai mì khác nhau hoàn toàn do tình cờ. Nguyên sau khi hoàn tất công tác phá rừng chồi phía bên kia đường để trồng lúa mọi, chúng tôi trở về phía bên này để trồng hoa màu trên các khu đất chung quanh trại đã được bộ đội khai phá trước đây. Vì phải ưu tiên hoàn tất chỉ tiêu của T2 trong Đoàn Liên Hiệp Kinh Tế Phước Long, chúng tôi được lệnh trồng khoai mì kỹ nghệ (sắn cao sản) trước, sau đó mới phá thêm rẫy để trồng khoai mì bình thường (sắn ngọt) và bắp nếp. Dĩ nhiên, lúc đó làm sao chúng tôi biết được có hai loại khoai mì khác nhau; chỉ tới khi sắn ngọt đã có củ, chúng tôi nhổ trộm đem về trại luộc ăn mới biết phẩm chất khác nhau một trời một vực! Sở dĩ chúng tôi biết “sắn ngọt” được dành riêng cho bộ đội là vì tới kỳ thu hoạnh, chúng tôi chỉ bị bắt thu hoạch “sắn cao sản”, dồn vào bao bố vác lên kho của trong đoàn (L2), còn “sắn ngọt” thì các đồng chí tự thu hoạch lấy đem về khung xơi với nhau. Vỏ quýt dày móng tay nhọn (tôi xin tự bốc thơm một phát), để trả đũa tôi đã nảy sáng kiến bẻ bắp non về nấu súp. Bởi tôi biết chắc chắn đám bắp nếp này cũng sẽ được dành riêng cho các đồng chí! Tôi nhủ thầm: Mẹ, trước năm 1975, bắp non (đóng hộp) là một món xa xỉ, nhập cảng từ Đài Loan, nay tù cải tạo lại được ăn tươi là nhất thiên hạ! Đợi tới khi trái bắp đã lớn bằng ngón chân cái, tôi rỉ tai căn dặn mấy chú em ăn chung trên đường từ rẫy về cố tìm cách đi sau cùng, khi đi ngang khu rẫy trồng bắp thì phải thật nhanh tay lẹ mắt, chỉ cần mỗi người 2, 3 trái là đủ; điều quan trọng là không được bẻ trụi một cây bắp, vì như thế sau này đám bộ đội sẽ biết. Tôi không thể diễn tả hết cái ngon ngọt của nồi canh bắp non đầu tiên, chỉ nấu với nước muối và điểm thêm chút váng mỡ mà sao nó tuyệt vời đến thế! Nhưng món canh bắp non của chúng tôi không kéo dài được lâu vì hai nguyên do: Thứ nhất, những tư tưởng lớn gặp nhau, một số anh em gốc Cà Tum cũng lén (thực ra sau này không ai lén nữa) thu hoạch bắp non. Thứ hai, việc tù cải tạo “cải thiện” bằng bắp non của bộ đội bị ăng-ten báo cáo, mà chúng tôi tin đến 99% là Tư “răng vàng”, tay cải tạo đội trưởng tăng gia. Trong một buổi giao ban, các đội trưởng đã bị một tay quản giáo giận dữ hạch tội, đập bàn, sùi bọt mép: – Các anh phải biết đây là hành động phá hoại cực kỳ nghiêm trọng trong quá trình sản xuất! Thử hỏi bao nhiêu trái bắp non mới đủ một bữa cho các anh, trong khi một trái bắp để nó lớn sẽ được mấy trăm hột, mấy trăm hột ấy sẽ đẻ ra hàng ngàn, hàng vạn hột khác… Các anh ăn như vậy mà ăn được à? Các anh không chịu phấn đấu với bản thân, cải tạo tư tưởng triệt để, quyết tâm từ bỏ đầu óc xấu xa, làm sao gọi là tiến bộ được! Hai cuộc trốn trại Hơn hai tháng sau khi tới Phước Long, thỉnh thoảng đội tôi lại được đi “du ngoạn”: theo đường lộ về hướng bắc gần một cây số, quẹo trái vào con đường đi Bù Đốp (trước 1975 là quận Bố Đức), đi thêm 6, 7 cây số về hướng tây để làm cỏ các rẫy khoai mì không biết do đơn vị nào trồng từ bao giờ. Chúng tôi mang theo cơm trưa vì tới chiều mới trở về trại. Lúc đầu có một quản giáo và hai vệ binh đi theo, được vài lần chỉ còn hai tay vệ binh, và sau cùng – khó tin nhưng có thật – khi số tù cải tạo làm công tác này chỉ còn 1, 2 tổ, chúng tôi được “tự giác” đi, về! Con đường đi Bù Đốp trước năm 1975 là một hương lộ, nhưng sau này vì không có xe cộ sử dụng, cây cỏ mọc kín, chỉ có một lối mòn cho người đi bộ. Trong thời gian chúng tôi ở Phước Long, ngoài đám tù cải tạo, những “người đi bộ” duy nhất chỉ là mấy gia đình người Thượng từ Bù Đốp về thăm lại sóc cũ, hoặc đi đào củ rừng, hái mướp mọc hoang để bán hoặc đổi chác với người Kinh. [Làng của người Thượng ở Tây Nguyên gọi là “buôn”, còn ở phía Tây Nam gọi là “sóc”. Sóc Băm Bo được nhắc tới trong bài hát Tiếng chày trên sóc Băm Bo cũng là một sóc Thượng ở tỉnh Phước Long, nằm trong quận Bù Đăng, giáp ranh Quảng Đức và Lâm Đồng] Trên đường đi tới rẫy, chúng tôi từng vào một sóc Thượng khá lớn, các dãy nhà sàn tương đối khang trang, tươm tất hơn một số buôn Thượng ở Pleiku mà ngày xưa tôi từng tới để làm công tác Dân sự vụ, nhưng không một bóng người. Sau đó mới biết người dân Thượng ở đây đã bị cưỡng bách di chuyển tới các khu kinh tế mới ở Bù Đốp; những người không chấp nhận “vào khuôn khổ” dưới chế độ mới thì rút sâu vào rừng, gần biên giới Việt-Miên. Đàn ông trong các gia đình người Thượng mà chúng tôi gặp đa số nói được tiếng Kinh, mặc dù không lưu loát cho lắm. Khi chúng tôi hỏi mua mướp, họ nói không bán chỉ đổi lấy muối; sau khi chúng tôi năn nỉ họ bán và hứa lần tới sẽ có muối, họ ngần ngừ rồi bán cho chúng tôi 1 đồng 10 trái (1 đồng tiền Hồ sau khi đổi tiền lần thứ nhất). Lần sau, chúng tôi xuống nhà bếp xin anh nuôi ít muối hột. Người Thượng họ rất quý muối và thật thà, hiền lành, mình đưa cho họ nửa lon sữa bò muối, họ trao cho mình hết gùi mướp, không cần biết hôm đó chỉ có nửa gùi hay đầy gùi. Mướp Thượng ngắn và tròn trĩnh, ăn cũng giống mướp của người Kinh nhưng không có mùi thơm như mướp hương. Không biết từ đời nào, mướp Thượng mọc hoang và leo lên cây rừng, có khi cao cả chục mét; những trái cao quá không hái được, khi già rụng hột xuống mặt đất, sang năm mọc thành cây con, cứ thế mà tiếp diễn… Thỉnh thoảng xui xẻo chúng tôi cũng gặp một vài trái mướp đắng, hái từ những cây mướp đã bị lai giống do gió hoặc ong bướm đem phấn lạ tới. Đó chính là mướp đắng mà cụ Nguyễn Du đã nhắc tới trong Truyện Kiều: “Tình cờ chẳng hẹn mà nên Mạt cưa mướp đắng đôi bên một phường” [Vậy mà cho tới nay, chữ “mướp đắng” trong Truyện Kiều vẫn được không ít nhà “hàn lâm” ở miền Bắc giải thích là trái “khổ qua” trong Nam!] Sau vài lần gặp gỡ và đổi chác như thế, chúng tôi và mấy gia đình Thượng ấy đã coi nhau như người quen biết, có khi cùng ngồi nghỉ bên đường cuốn thuốc hút. Biết họ bất mãn chế độ mới, một ngày nọ tôi hỏi một người đàn ông ra vẻ lớn tuổi nhất trong đám: – Có còn nhớ Dak Sơn không? Ông ta như bị điện giật, nhìn thẳng vào mắt tôi, biểu lộ sự ngạc nhiên vì thấy tôi cũng biết Dak Sơn, và không dấu được sự kinh hoàng khi nhớ lại vụ thảm sát man rợ nhất của cộng sản Bắc Việt tại Phước Long trước năm 1975. Rồi ông ta từ từ hướng đôi mắt về một phương trời xa, đáp như muốn lạc giọng: – Còn nhớ chứ! Làm sao quên được! Đó là vụ thảm sát mà ngày ấy tạp chí Time đã ghi nhận là kinh hoàng, tàn bạo nhất nhắm vào thường dân vô tội trong cuộc chiến Việt Nam, diễn ra trong đêm mồng 5 rạng mồng 6 tháng 12 năm 1967, tại làng Dak Sơn gần thị xã Phước Long – một làng “Cuộc Sống Mới” được chính phủ VNCH dựng lên cho khoảng 800 đồng bào Thượng sau khi họ vượt thoát từ những vùng cao nguyên bị quân cộng sản kiểm soát. Theo tạp chí này, vào lúc quá nửa đêm, một lực lượng gồm hai tiểu đoàn thuộc trung đoàn 88 chính quy Bắc Việt đã bao vây làng Dak Sơn, sử dụng súng phun lửa đốt cháy nhà cửa trong lúc mọi nguời đang an giấc, người nào thoát được ra ngoài thì bị bắn bằng súng máy… Kết quả, 252 đồng bào Thượng, phần lớn là phụ nữ và trẻ em, đã bị tàn sát một cách dã man, đa số bị chết cháy. (Chú thích 4)
* * *
Việc được “tự giác” đi lao động, không có vệ binh đi kèm đã tạo cơ hội cho những anh em gốc Cà Tum có ý định trốn trại. Như tôi đã viết trong một kỳ trước, thời gian ở Tây Ninh, trong khi tù cải tạo ở Đồng Ban (L2) được thả lỏng thì anh em ở Cà Tum bị kiểm soát rất chặt chẽ, gắt gao bởi trại nằm sát biên giới Việt – Miên, đám coi tù sợ cải tạo tìm cách đào thoát sang bên kia biên giới. Vì thế nay lên Phước Long được tự do đi lao động, dò hỏi được biết từ chỗ làm cỏ khoai mì chỉ cần đi băng ngang Bù Đốp về hướng tây vài cây số là tới biên giới Việt – Miên, những anh em gốc Cà Tum sẵn có ý định trốn trại đã tiến hành vượt thoát. Nhưng toán trốn trại thứ nhất của T2 gồm bốn chàng thiếu úy trẻ tuổi, hoàn toàn thiếu kinh nghiệm đã bị du kích bắt ngay trên đường đi Bù Đốp và bị giải giao về Bộ chỉ huy trung đoàn (L2). Hai ngày sau, bốn chàng được ông Phùng Xuân Nghĩa cho người lên lãnh về T2 để biệt giam. Nhắc tới hai chữ “biệt giam”, tù cải tạo ở các trại trong Nam sẽ nghĩ ngay tới những cái conex bằng sắt (shipping container) hoặc những cái cũi bằng cây, hay những căn phòng nhỏ bị khóa kín, nhưng ở T2 Phước Long chỉ là một nhà kho cũ trong khu vực của ban chỉ huy trại. Ban đêm bị nhốt bên trong, khóa cửa lại, ban ngày ra ngoài làm công tác lao động nhẹ: chăm sóc mấy luống rau, dàn mướp, vườn bắp phía sau khu nhà; ăn uống thì cơm bưng nước rót do tổ anh nuôi ở dưới trại đem lên. Chưa đầy một tuần sau, sau bữa cơm chiều, ông Phùng Xuân Nghĩa ra lệnh cả trại tập họp ngoài sân để nghe thủ trưởng nói chuyện, hay viết một cách chính xác hơn, để chứng kiến lễ “phóng thích” mấy chàng thiếu úy trốn trại trở về đội sinh hoạt bình thường. Dĩ nhiên trước đó ông thủ trưởng không quên cảnh cáo mọi người về hậu quả sẽ đến với những người trốn trại, đó là thời gian cải tạo chắc sẽ kéo dài hơn những người trước sau như một tin tưởng vào đường lối chính sách của cách mạng, kiên trì học tập cải tạo để tiến bộ. Trong khi toán trốn trại thứ nhất chỉ là mấy chàng thiếu úy gà mờ, bồng bột (trong đó có một anh chàng gốc Hoa nói tiếng Việt không rành!) thì toán thứ hai toàn dân thứ dữ và kế hoạch vượt thoát của họ – như sau này tôi được nghe kể lại – rất chu đáo, từ việc chôn dấu lương thực tới lộ trình và thời điểm xuất phát. Cũng như toán thứ nhất, tất cả mọi anh em trong toán trốn trại thứ hai đều gốc Ca Tùm, trong số này tôi chỉ quen biết M, một thiếu úy thiết giáp. Trước khi M trốn trại, tôi và anh không thân nhau lắm nhưng luôn dành cho nhau một sự tương kính. Tuy mang cấp bậc thiếu úy, tôi thấy M lớn tuổi hơn hẳn đa số thiếu úy nhập ngũ sau Mùa Hè Đỏ Lửa (1972). Cùng với tính tình điềm đạm, M còn có một kiến thức đáng nể, không chỉ về ngành chuyên môn (thiết giáp) mà còn về quân sự, chính trị, thời cuộc. Đối lại, anh cũng rất quý mến tôi, một điều “anh Sáu” hai điều “anh Sáu” với cái lịch sự hơi kiểu cách của người Hà Nội ngày cũ. Tin anh trốn trại khiến tôi rất ngạc nhiên, bởi trong thời gian biết nhau, tuy luôn luôn tỏ rõ lập trường không đội trời chung với cộng sản, anh chưa bao giờ đề cập tới chuyện vượt thoát. Khoảng một tuần sau, vẫn không có tin tức gì về toán trốn trại của M, tôi vừa mừng thầm vừa cầu nguyện hàng đêm cho M và anh em trong toán vượt thoát được mọi sự an lành. Nhưng những gì tệ hại nhất đã xảy ra! Đúng như sự tin tưởng (và cầu mong) của anh em quen biết, toán trốn trại của M đã băng qua Bù Đốp và tới được biên giới Việt – Miên an toàn; tại đây họ gặp một toán trốn trại của một T khác và kết hợp với nhau, tổng cộng trên 10 người. Như đã dự tính trước khi định ngày xuất phát, đêm nay là một đêm trăng, trước mắt họ là một con sông nhỏ, biên giới thiên nhiên giữa hai nước, bên kia bờ là xứ chùa Tháp, từ đó băng rừng theo hướng tây bắc sẽ là lộ trình ngắn nhất để đi sang Thái-lan. Bề ngang con sông chỉ khoảng 30 mét, ai cũng biết bơi nên không có gì trở ngại. Đêm thật thanh vắng, ánh trăng dịu dàng, nhưng khi đoàn người tới giữa sông thì nhiều khẩu AK từ bờ bên kia đồng loạt bắn xuống xối xả cùng với tiếng hò hét của Khmer Đỏ! Sau này hồi tưởng, M không thể nhớ có bao nhiêu người bị trúng đạn và chìm ngay xuống nước, chỉ biết có mấy người trong đó có M quay trở lại được bờ bên này, bò vào núp sau những gốc cây, khoảng 10 phút sau không thấy động tĩnh gì, mới cùng nhau bàn tính. Vì có người bị thương, họ không còn lựa nào khác ngoài việc quay về. Các chi tiết từ đoạn này cho tới khi M và mấy người về tới Bù Đốp, được người dân đối xử tử tế, rồi bị du kích bắt, tôi không nhớ rõ nên xin lướt qua để viết về việc M bị đốt râu. Nguyên M là người có râu quai nón. Lần đầu tiên gặp M, tôi liên tưởng ngay tới một vị thiếu tá hoa tiêu trực thăng quen biết ngày còn ở căn cứ không quân Pleiku, là người dân tộc Thái từ bắc di cư vào nam năm 1954 định cư ở Tuyên Đức, anh có làn da trắng bạch, mũi cao, mắt sâu và râu quai nón như lai tây. Từ lúc M trốn trại cho tới khi bộ chỉ huy L2 được huyện đội Bù Đốp thông báo, cho một chiếc xe tới chở M và mấy người kia về, đã hơn một tuần lễ trôi qua, cho nên bộ râu quai nón của M đã mọc khá dài, không bằng thì cũng gần bằng bộ râu của trùm đỏ Fidel Castro ngày còn trẻ. Cho nên ngay từ lúc nhìn thấy mặt M, mấy tên cán bộ của L2 – mà sau này M được biết là thuộc Ban 2 (an ninh) trung đoàn – đã vô cùng ngứa mắt. Trên đường về L2, một tên cán bộ có lẽ là Trưởng ban 2, nói tài xế ngừng xe giữa đường, ra lệnh lôi cổ M xuống xe (lúc đó đang bị trói tay sau lưng), bắt quỳ dưới đất, lấy xăng tưới lên mặt anh rồi đốt, vừa cười một cách khoái trá, man rợ vừa nói: – ĐM, tao cho mày hết để râu! Mấy ngày sau, T2 mới được thông báo cho người lên bộ chỉ huy L2 lãnh M về. Sau này M kể lại cũng nhờ bị đốt phỏng mặt mà anh không bị đám cán bộ Ban 2 đấm đá một trận nên thân như những người của T khác! [Trước đó, bốn chàng thiếu úy trẻ không bị ăn đòn, chỉ bị đám vệ binh trói tay, đạp cho mấy cái ngã xuống nền nhà giam dập mặt dập mũi, rất có thể vì tên Trưởng ban 2 trung đoàn vắng mặt]Tin tức về kết quả bi thảm của cuộc trốn trại thứ hai được ông Phùng Xuân Nghĩa thông báo cho các đội trưởng khi giao ban. Theo lời kể lại của Cường (đội trưởng của tôi), ông Nghĩa không đả động gì tới việc M bị đốt râu, chỉ sau khi đã lên lớp về chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước đối với tù cải tạo, ông mới nói thêm:
“Tôi đã hết lời với các anh rồi, các anh về nói lại với đội của mình, nghe hay không là tùy các anh ấy”. Rồi ông hạ giọng, “Nhưng nếu trốn mà liệu không thoát, thì tìm cách mà trở về tiểu đoàn, đừng để trung đoàn bắt được, Ban 2 nó đánh chết!” Qua ngày hôm sau, chúng tôi mới biết việc M bị đốt râu do anh Thu, y tá của T2, kể khi xuống đá banh với anh em cải tạo. Cũng xin có đôi dòng về người y tá bộ đội tên Thu này. Anh mang cấp bậc trung sĩ, khoảng độ trên 30 tuổi, mặt mũi trắng trẻo, sáng sủa nếu không muốn nói là khá đẹp trai, ăn nói lịch sự, ra vẻ hiểu biết chứ không “ruộng” như đa số bộ đội Bắc Việt. Khi tù cải tạo ở T2 bắt đầu có thì giờ rảnh rỗi vào cuối tuần, anh ôm trái banh cùng hai ba tay vệ binh xuống rủ mọi người chia phe đá banh. Trong số anh em tới từ Cà Tum, có Vui, một cầu thủ tài tử mà tài nghệ so với anh y tá cũng một chín một mười, cho nên các buổi đá banh cũng khá hào hứng; về sau thỉnh thoảng họ còn đá vào cả ngày thường, và từng lập “đội tuyển” lên trung đoàn thi đấu với các T khác. Qua những lần tiếp xúc, anh Thu, với tư cách một y tá, thường khuyên chúng tôi nên gìn giữ sức khỏe để đợi ngày về xum họp với gia đình. Anh nói thẳng: đừng trông mong vào thuốc men của “cách mạng” bởi vì hầu như anh không có bất cứ một thứ thuốc gì ngoài thuốc… sát trùng (ngày ấy người miền Nam thường gọi là “thuốc đỏ”). Anh kể lại trong những năm tháng vượt Trường Sơn, số bộ đội chết vì kiết lỵ và sốt rét còn nhiều hơn cả chết vì bom B-52! Anh Thu cho biết M bị phỏng hết mặt mũi, cổ và hai vai, cũng may hai con mắt không sao… Mấy tuần sau, trong một lần đi lao động, chúng tôi mới thoáng thấy bóng M trong vườn rau phía sau dãy nhà của ban chỉ huy, mặt mũi quấn băng trắng kín mít, chỉ trừ cặp mắt và phía trên đầu. Sau này M kể lại rằng trong thời gian bị giam giữ trên khung, anh đã được y tá Thu chữa các vết phỏng bằng cách giã nát một loại lá gì đó để đắp lên.
CHÚ THÍCH: (1) Thời Pháp thuộc, người Thượng còn bị người Kinh gọi là “mọi”, dịch sang tiếng Pháp là “nègre”, trong khi người Pháp chỉ sử dụng chữ “nègre” để gọi người da đen ở Phi châu, còn dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên VN họ gọi là “montagnard” (người miền núi) do chữ “montagne” (núi). Tới thời VNCH, dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên được gọi là “người Thượng” là dịch từ chữ “montagnard” này. Tuy nhiên chữ “mọi” (tĩnh từ) vẫn tiếp tục được sử dụng ít nhất trong hai trường hợp: “heo mọi”, “lúa mọi”. Những ai trước kia từng đi Đà Lạt bằng đường bộ, tới Định Quán vào quán ăn cơm “gạo mọi” hẳn còn nhớ hương vị. (2) Gần 40 năm sau ở trong nước mới có người dám viết rằng cao lương để nuôi gia súc. Đó là Tiến sĩ Phạm Văn Cường thuộc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, viết năm 2015 trên Wikipedia (tiếng Việt): Cao lương, hay còn gọi miến mía, cao lương đỏ, (cỏ) miến to, bo bo (danh pháp khoa học: Sorghum bicolor), là một loài thực vật có hoa trong họ Hòa thảo (Poaceae). Cao lương là cây ngũ cốc quan trọng thứ năm trên thế giới sau lúa gạo, lúa mỳ, ngô và đại mạch. Cao lương là cây hàng năm nhưng cây trồng là lâu năm. Loài cây này mọc thành nhóm cao đến 4 m. Hạt nhỏ và có đường kính từ 3–4 mm. Hạt được dùng làm thức ăn gia súc, sản xuất si rum, ethanol. (ngưng trích) Theo phân loại của ngành thực vật học, cao lương và bo bo cùng họ họ Hòa thảo (Poaceae) nhưng khác chi, khác loài. Bo bo được người miền Bắc gọi bằng từ Hán Việt là “ý dĩ”. Cũng Tiến sĩ Phạm Văn Cường, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, viết trên Wikipedia (tiếng Việt): Ý dĩ hoặc cườm thảo, bo bo (danh pháp khoa học: Coix lacryma-jobi), là một loài thực vật nhiệt đới thân cao để lấy hạt trong họ Hòa thảo (Poaceae). Cây có nguồn gốc từ Đông Á và bán đảo Malaysianhưng được gieo trồng ở nhiều nơi trong ruộng, vườn như là một loại cây một năm. Ý dĩ còn có tên gọi là bo bo nhưng cần chú ý đây không phải là bo bo thời bao cấp. Bo bo thời bao cấp là cao lương. (3)Sắn “cao sản”. Trích bài “Ăn khoai mì như thế nào để không bị ngộ độc”, Báo điện tử VN Express, 15/8/2020: Sắn (khoai mì) phổ biến ở Việt Nam song ít người biết trong sắn có độc chất là acid cyanhydric có thể dẫn đến ngộ độc, thậm chí tử vong. Người dân thường luộc hoặc hấp củ sắn; lá sắn dùng để muối chua… Theo tiến sĩ Lâm Quốc Hùng, Cục An toàn Thực phẩm, Bộ Y tế, trong sắn chứa lượng acid cyanhydric (HCN) đáng kể. Hàm lượng độc chất HCN trong khoai mì cao hay thấp phụ thuộc vào giống sắn. Sắnđắng, sắn cao sản chứa HCN cao hơn sắn ngọt. Ngoài ra chất này có nhiều ở vỏ củ, lõi củ; ở lá cao hơn củ 3-5 lần… Hàm lượng HCN cao vào cơ thể người sẽ gây ngộ độc. Liều gây độc cho một người lớn là 20 mg HCN, liều gây chết người 50 mg HCN cho mỗi 50 kg thể trọng. Chất độc này khiến hồng cầu không hấp thu được oxy, nạn nhân rơi vào trạng thái suy hô hấp, khó thở. Chỉ sau 1-3 giờ, người ăn đã có khả năng biểu hiện ngộ độc. Năm 2014, khoa Nhi Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Nhi Trung ương (Hà Nội) tiếp nhận một số trẻ bị ngộ độc sắn, nhập viện trong tình trạng nguy kịch, hôn mê. Nguyên nhân là do trẻ ăn loại sắn cao sản, nhiều nhựa vốn chuyên dùng làm thức ăn cho gia súc. Năm 2005, một bé gái 4 tuổi tại Bình Thuận tử vong vì ngộ độc sắn. (4) Vụ thảm sát Dak Sơn. Điều đáng tiếc là ngày ấy không hiểu vì nguyên nhân gì, vụ thảm sát Dak Sơn đã không được truyền thông VNCH tường thuật chi tiết và phổ biến rộng rãi. Tất cả những gì còn được lưu trữ cho tới ngày nay chỉ là tài liệu của phía Hoa Kỳ và một vài bài viết theo ký ức của một số quân cán chính VNCH sống ở Phước Long vào thời điểm nói trên. Trong khi phía CSVN thì cho rằng thiệt hại nhân mạng của dân chúng ở Dak Sơn chỉ là “hậu quả giao tranh” giữa QLVNCH và quân du kích của Mặt Trận Giải Phóng (chứ không phải bộ đội Bắc Việt xâm lược); họ (CSVN) còn quả quyết đa số người bị chết cháy là do bom napalm của phi cơ của Không Quân VNCH thả bừa bãi xuống khu vực giao tranh. Hiện nay, độc giả nào muốn tìm hiểu về cuộc thảm sát Dak Sơn, có thể vào trang mạng Wikipedia đọc đề tài “Đắk Sơn Massacre” và bài “Tưởng niệm 46 năm: Tội ác Thảm Sát Dak Son của đoàn quân Cộng sản” của tác giả Tim Pham trên Google. Tuy nhiên, chúng tôi cũng xin cảnh giác trước: một số trong những hình ảnh về cuộc thảm sát này hết sức ghê rợn, những ai yếu bóng vía không nên xem.
Buổi sáng tại Washington. Các giới chức Bạch Ốc hủy bỏ những cuộc gặp gỡ đã hẹn trước, mua bánh mì kẹp tại Costco, biến Phòng Tình Hình thành Phòng Chiến Tranh. Mười một giờ sáng, các cố vấn cao cấp của Obama bắt đầu tụ họp quanh chiếc bàn hội nghị lớn. Một đường giây video nối họ với Panetta ở Trụ sở Trung ương CIA, và McRaven ở Afghanistan. (Ngoài ra, còn ít nhất hai trung tâm chỉ huy nữa, một ở bên trong Ngũ Giác Đài, và một tại Đại Sứ Quán Mỹ ở Islamabad).
Thiếu tướng Marshall Webb, một phụ tá tư lệnh của JSOC ngồi tại chiếc ghế ở đầu bàn trong một văn phòng nhỏ kế cận, mở chiếc máy vi tính để đùi. Ông mở nhiều cửa sổ trên máy, nối kết ông với Bạch Ốc, và các toán chỉ huy khác. Văn phòng nơi Tướng Webb ngồi, có nguồn cung cấp video duy nhất tới Bạch Ốc, cho nơi đây thấy những gì đang diễn ra tại mục tiêu, được thu hình bởi một máy bay không người lái, không võ trang, loại RQ 170, bay cao khoảng 5 cây số trên Abbottabad. Các nhà lập kế hoạch của JSOC đã quyết định giữ bí mật ở mức cao nhất có thể được, đã chống lại việc dùng thêm máy bay chiến đấu hay thả bom để hỗ trợ. Toán người Nhái phải tự mình lo lấy mọi việc.
Trong khi ấy, Obama vẫn tới căn cứ không quân Andrews ở ngoại ô Washington chơi golf, và trở lại Bạch Ốc lúc 2 giờ chiều. Nửa giờ sau…
Tại Afghanistan, đã hơn 11 giờ đêm. Hai chiếc trực thăng Black Hawk MH 60 cất cánh từ phi trường Jalalabad, phía Đông Afghanistan, bắt đầu phi vụ bí mật hướng vào Pakistan.
Tất cả trên hai trực thăng có 23 người Nhái Hải quân, thuộc Toán Sáu (Team Six), có tên chính thức là Nhóm Phát huy Chiến tranh Đặc biệt của Hải Quân (Naval Special Warfare Development Group – DEVGRU), cùng với một người Mỹ gốc Pakistan làm thông dịch, và con quân khuyển gốc Bỉ. Một đêm không trăng, các phi công đeo kính nhìn thấu đêm, bay không đèn, qua niềm núi Pakistan. Radio được sử dụng tối thiểu; ngoài tiếng máy đã bị hãm bớt, một không khí yên lặng đáng sợ trong máy bay.
Mười lăm phút sau, các trực thăng bay xuống thấp theo thung lũng, vào không phận Pakistan, né tránh để không bị khám phá. Sáu mươi năm nay, Pakistan vẫn canh chừng nghiêm ngặt về phía láng giềng Ấn Độ ở mạn Đông, hầu như bỏ ngỏ phía Tây. Tuy nhiên, theo một gới chức quốc phòng Pakistan, sự thật không phải vậy. Pakistan không bao giờ bỏ ngỏ biên giới, thực trạng là kỹ thuật không cân xứng giữa Pakistan và Hoa Kỳ. Mỗi chiếc Black Hawk có hai phi công và phi hành đoàn thuộc Không Đoàn Đặc biệt 160, còn được gọi là “Night Stalkers” (Những kẻ rình đêm). Các trực thăng này đã được cải biến để tránh bị khám phá vì sức nóng, tiếng động, hay chuyển động; vỏ bọc là kim loại đặc biệt, và góc cạnh thay đổi để tránh radar.
Cẩn thận bớt lo
Điểm đến của nhóm người Nhái là căn nhà ở thị trấn nhỏ Abbottabad, cách biên giới Pakistan khoảng 120 dậm, ở phía Bắc thủ đô Islamabad. Abbottabad nằm dưới chân đồi của dẫy núi Pir Panjal, là nơi nghỉ mát nổi tiếng cho những người muốn tránh nắng mùa Hè. Được thành lập từ năm 1853 bởi một thiếu tá người Anh là James Abbott, thành phố này đã là nơi để thành lập Trường Võ Bị uy tín của Pakistan vào năm 1947.
Chỉ cách Trường Võ Bị dưới một dậm, có ngôi nhà lớn ba tầng, được xây cất kiên cố trên thửa đất rộng một mẫu (acre), nằm trên đường Kabul, thuộc Bilal Town, một khu gia cư của giới trung lưu. Theo thông tin CIA thu lượm được, bin Laden ẩn náu trên tầng ba ngôi nhà này.
Căn nhà nơi bin Laden trú ẩn
Bin Laden’s Compound
Theo kế hoạch, toán người Nhái sẽ được thả xuống căn nhà từ trực thăng, trấn áp đám cận vệ, hạ sát bin Laden, rồi đem tử thi về Afghanistan.
Không ảnh chụp căn nhà từ trên cao
Hai trực thăng bay qua Mohmand, là vùng thuộc về một trong 7 bộ lạc của Pakistan, bao bọc phía Bắc Peshawa, rồi tiếp tục bay về phía Đông. Người chỉ huy “Đội Hồng” là James (không phải tên thật) ngồi dưới sàn trực thăng số 2, chen chúc trong đám người Nhái, cùng với thông dịch viên Ahmed (cũng không phải tên thật), và chó Cairo. James ở lứa tuổi ngoài 30, thân hình mạnh khỏe, tuy là người Nhái, nhưng trông giống một lực sĩ ném đĩa, hơn là lực sĩ bơi lội. Đêm nay, anh mặc quần áo dã chiến lẫn với mầu sa mạc, mang súng ngắn Sig Sauer P226 có hãm thanh, cùng nhiều chất nổ, một Camel Bak để phòng khát, và thuốc tăng năng lực để chịu đựng dẻo dai. Anh cũng mang một súng ngắn nòng có hãm thanh (các người Nhái khác chọn loại súng Heckler&Koch MP7 của Đức). Trong túi áo là một bản đồ vị trí căn nhà. Trong túi khác là cuốn tập nhỏ gồm hình ảnh và mô tả ngoại hình của những người tình nghi cư ngụ tại căn nhà. Anh đội mũ có gắn máy lọc nhiễu âm.
Trong chuyến bay kéo dài 90 phút, James và đồng đội ôn lại trong đầu những gì sẽ phải làm. Chuyến bay vào Abbottabad không phải là chuyến mạo hiểm đầu tiên vào Pakistan. Toán này đã từng vào nước này hàng chục lần. Tuy nhiên, vụ Abbottabad được coi là chuyến bay sâu nhất của DEVGRU vào lãnh thổ Pakistan, nó cũng được coi là vụ tấn công quan trọng nhất nhắm vào bin Laden, kể từ cuộc tấn công vào Tora Bora cuối năm 2001. Bốn mươi lăm phút sau khi hai chiếc Black Hawk ra đi, bốn chiếc trực thăng loại Chinooks MH-47 cũng cất cánh từ cùng địa điểm ở Jalalabad. Hai trong số bốn chiếc này bay đến biên giới, đậu lại phía Afghanistan. Hai chiếc kia bay vào lãnh thổ Pakistan. Cho bốn chiếc Chinooks này đi theo, là quyết định vào phút chót, sau khi Tổng Thống Obama nói ông muốn bảo đảm là toán đặc nhiệm Hoa Kỳ có thể tự chiến đấu để ra khỏi Pakistan. Hai mươi lăm người Nhái của DEVGRU được lấy ra từ một đơn vị ở Afghanistan, ngồi trên hai chiếc Chinooks đậu bên trong biên giới – lực lượng “thần tốc” này chỉ được sử dụng nếu toán thi hành sứ mệnh gặp trở ngại bất thường. Các Chinooks thứ ba và thứ bốn, mỗi chiếc trang bị một cặp súng liên thanh M134. Cả hai theo đường bay của hai chiếc Black Hawks đã đi trước, và đậu lại trên một lòng sông cạn và rộng, vắng người ở, thuộc một thung lũng phía Bắc Pakistan. Đậu trên mặt đất, nhưng để cánh quạt vẫn quay, trong khi phi hành đoàn quan sát những đồi núi chung quanh, đề phòng trực thăng hay chiến đấu cơ của Pakistan. Một trong hai chiếc Chinook này có mang theo bình xăng phòng hờ, dự phòng các trực thăng khác cần thêm nhiên liệu.
Khoảnh khắc tựa thiên thu
Trong khi đó, hai chiếc Black Hawks mau lẹ đến Abbottabad từ phía Tây Bắc, bay khuất sau dẫy núi ở phía cực Bắc thành phố. Sau khi lượn qua lượn lại để tránh bị khám phá, hai trực thăng tới trung tâm thành phố. Mười hai ngừơi trong toán trên chiếc dẫn đầu “Helo One”, tất cả đều đeo bao tay và kính nhìn thấu đêm, sửa soạn tụt giây xuống nhà bin Laden. Họ đợi trưởng nhóm ra lệnh để thả giây. Nhưng trong khi bay qua căn nhà, quần một chỗ trên không, và bắt đầu xuống thấp để thả giây, phi công nhận thấy như không còn điều khiển chiếc Black Hawk được nữa, làm như nó sắp rớt.
Mấy phút trước 4 giờ chiều (tại Washington), Panetta báo cho những người trong Phòng Tình Hình biết các trực thăng đang tới gần Abbottabad. Obama đứng dậy, nói “Tôi phải coi vụ này”, rồi bước qua hành lang, vào văn phòng nhỏ, ngồi xuống cạnh Tướng Webb. Phó Tổng Thống Biden, Bộ Trưởng Quốc Phòng Gates, và Ngoại Trưởng Hillary theo sau, cùng với tất cả những ai căn phòng nhỏ có thể chứa được.
Trên màn ảnh TV cỡ trung bình trong căn phòng, hình ảnh đen trắng không rõ nét của chiếc trực thăng số 1 “Helo One” vừa xuất hiện bên trên căn nhà, lập tức có dấu hiệu gặp rắc rối.
Tại hiện trường, khi cảm thấy trực thăng không còn điều động được như bình thường, phi công kéo cần điều khiển cánh quạt, nhưng không có dấu hiệu đáp ứng. Những tường cao quanh căn nhà và khí hậu nóng khiến chiếc Black Hawk tụt hẫng. Khi thực tập tại North Carolina, chuyện rắc rối này không sẩy ra, vì hàng rào giây thép được dùng thay cho bức tường, gió cánh quạt có thể thông qua, không bị dội ngược trở lên, gây rối loạn không khí.
Phi công không còn nghĩ tới việc thả giây, mà chú tâm vào việc làm thế nào để trực thắng rớt xuống an toàn nhất. Ông cố điều khiển cho mũi máy bay đâm đầu xuống một đám bụi đất gần chuồng nuôi gia súc, để tránh trực thăng bị lật nghiêng. Các người Nhái tự ngồi theo thế chống đỡ, trong khi cánh quạt phía đuôi quay loạn xạ, đụng vào tường cao khi trực thăng rớt xuống, một nửa nằm lơ lửng bên ngoài. Thân máy bay nằm chống vào bức tường, ở mức nghiêng 45 độ. Bò, gà, thỏ chạy tán loạn. Phi hành đoàn gửi điện cầu cứu tới mấy chiếc Chinooks đang đợi sẵn.
James và toán người Nhái trong trực thăng “Helo Two” nhìn thấy cảnh này trong khi đang quần trên góc Đông Bắc của căn nhà. Phi công thứ hai này không hiểu đồng bạn gặp nạn vì bị bắn, hay trục trặc kỹ thuật, quyết định bỏ luôn dự tính thả người trên nóc nhà. Thay vào đó, đáp ngay xuống bãi cỏ trước con đường bên kia căn nhà. Lúc này, chưa có người nào đột nhập vào bên trong căn nhà. Mark và toán của anh trong trực thăng 1 rớt tại một góc, trong khi James và toán của anh ở phía đối diện. Tất cả mới tới mục tiêu được một phút, mà kế hoạch đã gặp trở ngại.
Tại Bạch Ốc, theo dõi mọi việc qua màn ảnh TV, Obama và các giới chức thân cận cảm thấy căng thẳng, còn hơn cả coi phim Hitchcock. Thời gian chờ đợi từ khi thấy trực thăng rơi cho đến khi được nghe tin từ hiện trường, tuy chỉ là khoảnh khắc, nhưng dài tựa ngàn năm.
Giờ định mệnh
Sau vài phút, 12 người Nhái thoát hiểm từ Helo One lấy lại bình tĩnh, cho biết họ tiếp tục nhiệm vụ. Vài phút sau khi máy bay đụng đất, Mark và cả toán phóng ra từ cửa hông trực thăng. Bùn lún giầy bốt trong khi họ chạy dọc theo bức tường cao bao bọc chuồng gia cầm. Một toán ba người thuộc đơn vị phá hoại chạy lên trước, dùng chất nổ phá cửa sắt thông chuồng với bên trong khu nhà. Sau tiếng nổ lớn, cửa bật tung. Chín người Nhái chạy tới, qua lối đi dẫn tới phía sau lối vào căn nhà chính, súng hãm thanh sẵn sàng ở thế nhả đạn.
Mark lùi lại sau để thông tin qua radio với toán kia. Ở cuối lối đi, họ phá bung một cửa khóa khác, và bước vào cái sân trước nhà khách, nơi Abu al-Kuwaiti sống với vợ và bốn con.
Ba người Nhái đi trước lo việc thanh toán nhà khách, trong khi chín người còn lại phá một cửa khác để vào sân trong, ở trước nhà chính. Khi đơn vị ba người đi vòng tới góc đối diện các cửa nhà khách, họ thoáng thấy Kuwaiti chạy bên trong, báo động cho vợ và các con. Người Nhái đã nhìn thấy cảnh này đượm mầu xanh ngọc qua kính nhìn đêm. Kuwaiti mặc bộ đồ “shalwar kameez” mầu trắng (kiểu quần áo thùng thình giống như bộ bà ba của VN – quần shalwar hay salwar giống quần pajama, thường phía trên rộng và ống túm; áo kameez rộng, chùng tới đầu gối, không cài khuy phía trước hay bên hông, mà có lỗ chui cổ xẻ xuống phía ngực), lượm vội khẩu súng chạy ra ngoài, khi các người Nhái nổ súng bắn chết.
Chín người Nhái khác, kề cả Mark, họp thành ba đơn vi ba người lo thánh toán sân trong. Các người Nhái nghi rằng còn nhiều đàn ông trong nhà: Người anh/em của Kuwaiti là Abrar 33 tuổi; các con trai của bin Laden là Hamza và Khalid, và chính bản thân bin Laden. Ngay khi bước mau trên lối vào phía trước, một đơn vị người Nhái thấy Abrar vạm vỡ, để ria, mặc bộ shalwar kameez mầu kem, xuất hiện với khẩu AK-47. Hắn bị bắn vào ngực, chết cừng vợ là Bushra, không võ khí, đứng cạnh.
Bên ngoài tường cao bao quanh, thông dịch viên Ahmed đi tuần trên con đường đất trước căn nhà, giống như một cảnh sát viên thường phục của Pakistan; mặc một bộ shalwar kameez bên ngoài áo chắn đạn, anh đóng vai khá chuẩn. Anh và con Cairo cùng bốn người Nhái có nhiệm vụ canh chừng bên ngoài căn nhà, trong khi James và sáu người Nhái khác – những người đáng lẽ tụt giây xuống nóc nhà – tiến vào bên trong. Đối với toán canh chừng bên ngoài, không có chuyện gì sẩy ra trong 15 phút đầu. Chắc chắn láng giềng đã nghe tiếng trực thăng bay thấp, tiếng máy bay rớt, và thỉnh thoảng có tiếng nổ với tiếng súng tiếp theo, nhưng chẳng ai ra ngoài. Một người địa phương viết trên twitter: “Trực thăng quần trên Abbottabad vào lúc 1 giờ sáng (là chuyện ít có)”.
Cuối cùng, có vài người tò mò tới hỏi chuyện gì đang xẩy ra bên kia bức tường. Ahmed nói bằng tiếng Pashto, trong khi con Cairo gương mắt nhìn: “Về nhà đi! Đang có chiến dịch về an ninh”. Họ về nhà ngay, chẳng ai nghĩ rằng họ đã nói với một người Mỹ. Khi phóng viên tới Bilal Town mấy ngày sau, một người địa phương nói với một ký giả: “Tôi trông thấy nhiều lính phóng ra từ trực thăng và tiến về căn nhà. Một vài người nói bằng tiếng Pashto, bảo chúng tôi tắt đèn và ở trong nhà”.
Trong khi đó, James, người trưởng toán đã vượt qua một bức tường, đi qua một khoảng sân có những dàn cây leo, vượt một bức tường thứ nhì, và nhập bọn với toán người Nhái từ Helo One, họ đã vào nhà bằng tầng trệt. Chuyện gì xẩy ra kế tiếp, đã không được kể lại rõ ràng. Sau này, Panetta nói qua chương trình tin tức (NewsHour) trên PBS rằng: “Tôi có thể nói, có một khoảng thời gian chừng 20 hay 25 phút, chúng tôi không biết chắc những gì đã sẩy ra”.
Cho đến lúc này, chiến dịch đã được theo dõi bởi hàng chục giới chức quốc phòng, tình báo, và hành chánh qua video do máy bay không người lái cung cấp. Người Nhái không đeo máy quay phim gắn trên mũ như CBS đã loan tin rộng rãi. Không có ai biết trước cách bố trí bên trong ngôi nhà, và họ còn bị giao động mạnh hơn nữa, khi biết rằng họ có thể sắp kết thúc một cuộc săn bắt đắt giá nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Do đó, kết quả là, ngay cả những lời kể được ghi lại ở đây, cũng có thể thiếu rõ ràng, hoặc gây tranh cãi.
Trong khi đám con của Abrar chạy trốn, người Nhái bắt đầu thanh toán tầng một căn nhà chính, từng phòng một. Mặc dầu người Mỹ từng nghĩ rằng căn nhà có thể đặt bẫy, nhưng sự hiện diện của đám trẻ con cho thấy sự thật không phải thế. Hơn nữa, căn nhà đã bố trí đầy đủ các biện pháp đề phòng đến mức tối đa, như cửa sắt có khóa chắn chân cầu thang lên tầng hai, biến tầng một giống một cái chuồng.
Sau khi phá cửa bằng chất nổ, các người Nhái tiến lên cầu thang. Lên được nửa chừng, họ thấy Khalid, con trai 23 tuổi của bin Laden, nghển cổ ra ở một góc. Rồi anh ta xuất hiện trên đầu cầu thang với khẩu AK-47. Khalid, mặc một áo thung trắng rộng cổ, với tóc ngắn và một chòm râu, bắn xuống phía người Mỹ. (Giới chức chống khủng bố nói Khalid không võ trang, nhưng vẫn là một đe dọa thực sự đáng quan tâm). Ít nhất hai người Nhái bắn hạ Khalid. Theo một cuốn sổ tài liệu nhỏ người Nhái mang theo, có thể tới năm người đàn ông sống trong căn nhà. Ba người bây giờ đã bị giết; người thứ tư là Hamza, con của bin Laden, chưa thấy xuất hiện, và người cuối cùng là bin Laden.
Bà chánh thất và cậu Hai Điền đều bực dọc khi nghe ông Chúa Hòn tuyên bố long trọng:
– Cô Huôi là nữ thần hộ mạng của ta. Từ nay về sau, cô Huôi thay mặt ta để bàn những chuyện quan trọng với Bá Vạn!
Nói xong, ông rót rượu vào hai chén nhỏ trên bàn thờ rồi đích thân đốt ba cây nhang, xá ba lần.
Khói nhang bay thơm ngào ngạt, ai nấy đều nín thinh, bực tức. Năm sáu cô tì thiếp cúi mặt, đứng ngoài thềm trông vào. Tại sao cô Huôi là kẻ đến sau mà lại được lên chức mau đến thế? Phải chăng cô dùng bùa ngải để mê hoặc ông Chúa.
Khấn vái xong, ông Chúa cắm nhang rồi day lại. Ông đã biết rằng có nhiều người bất bình nhưng chưa dám nói ra. Người phản đối đầu tiên chính là cậu Hai Điền. Bấy lâu, cậu ví mình là “đông cung thái tử”, mẹ cậu trở thành mẫu hậu. Buổi lễ hôm nay là ngày mà mẹ cậu bị truất phế, kẻ thay thế là cô gái bần hàng ở Hòn Me mới rước về.
Ông Chúa nói:
– Hôm nay ta vui, tại sao con không uống rượu?
Quả thật, chén ruợu cậu Hai Điền còn đầy. Cậu có dụng ý rõ rệt là chẳng uống một giọt nào để phản đối cha. Bà mẹ nói:
– Con nói đi. Có mẹ đây.
Cậu Hai tuy ngang ngược nhưng là đối với người khác. Hôm nay, trước mặt cha, cậu cân nhắc từng tiếng:
– Cô Huôi là người mới tới. Hơn nữa…
Chưa chi mà ông Chúa đã chận lời con:
– Mẹ con mầy làm điều xui xẻo cho ta. Hôm rày xảy ra mấy chuyện bực bội quá. Vì mẹ con mầy xui xẻo nên ta đem một cô gái còn trinh bạch, tốt phước về đây để bù lại. Hiểu chưa? Ta mà chết sớm thì chưa ắt gia tài nầy còn mãi mãi để mẹ con chúng mầy hưởng! Nghe đâu quân Lang Sa kéo binh tới Gia Định, Định Tường.
Bà chánh thất bèn cằn nhằn:
– Quân Lang Sa là chuyện ở xa. Cô Huôi là chuyện gần. Hổm rày, cô Huôi chưa ra mắt bất cứ ai trong gia đình nầy. Hôm nay cô vắng mặt, đó là điều vô phép. Ai bày chuyện đem cô Huôi về đây, tôi biết hết.
Cậu Hai Điền nói thêm:
– Bá Vạn chớ ai! Tôi biết lão già nịnh bợ ấy. Hôm nọ tôi trừng phạt một lần rồi…
Ông Chúa Hòn vẫn giữ thái độ cứng rắn:
– Mầy câm miệng! Tao chết, mầy thay thế tao, chừng đó muốn làm gì thì làm. Nhưng tao còn sống đây, mầy nên kính nể Bá Vạn. Bá Vạn xây cất ngôi nhà nầy, từ hồi ông nội mầy còn sống. Tao đâu ngu dại gì mà nghe lời một lão già.
Nãy giờ, Bá Vạn và cô Huôi ở trong phòng bên cạnh, nghe tỏ rõ những lời qua tiếng lại bên nầy. Bá Vạn mừng thầm vì ông Chúa Hòn là người oai vệ, đủ sức trấn áp vợ con. Đột nhiên, cánh cửa hé mở. Ông Chúa Hòn bước vào nói nhanh:
– Trước là cô Huôi, kế đến là Bá Vạn qua đây.
Bá Vạn và cô Huôi đã bàn bạc từ trước là nên giữ thái độ yên lặng, nếu mẹ con cậu Hai Điền nói điều gì vô lễ thì cả hai xin từ chức, về vườn làm ăn.
Cô Huôi vào phòng lễ, cúi đầu chào bà chánh thất rồi cúi đầu ba lần trước bàn thờ. Dáng điệu khoan thai của cô, nhứt là gương mặt trầm tĩnh đã khiến bà chánh thất nể nang.
– Nữ thần hộ mạng của tôi là đây…
Ông Chúa Hòn nói gằn từng tiếng như thách đố bà chánh thất. Bà hơi lúng túng:
– Chờ xem…Còn trẻ quá vậy.
Cô Huôi nhìn thẳng vào mặt bà chánh thất:
– Tôi vào nhà nầy nào phải để giành chức vụ. Vui thì tôi ở. Buồn là tôi về. Xin ai nấy hiểu cho tôi.
Ngỡ rằng người đẹp nổi giận, ông Chúa can gián:
– Cô là người đem phước đức, giúp tôi khỏi tai nạn. Cô ở đây mãi mãi. Bá Vạn đâu?
Bá Vạn chắp tay, cúi đầu:
– Xin vâng lời ông…
Cậu Hai Điền bĩu môi. Bá Vạn nhủ thầm: ‘‘Tao cho mầy sống thêm vài ngày nữa. Rồi tới lúc mầy lạy tao, nhờ tao tha tội’’.
Ông Chúa Hòn nói:
– Bá Vạn giúp ta từ lâu, nhờ Bá Vạn mà ta gặp ông đạo Đất! Ta thưởng cho Bá Vạn một cái giường, kiểu giường mà ta nói hôm trước đó, ngồi, nằm, ăn uống trên giường. Gọn gàng, sang trọng biết bao nhiêu! Uống rượu để mừng ngày hôm nay.
Ông Chúa Hòn làm một chuyện thách đố khác là bưng hai chén rượu cúng trên bàn thờ trao cho cô Huôi và Bá Vạn. Theo lịnh ông Chúa, tất cả nâng chén dứt buổi lễ. Lẽ dĩ nhiên, bà chánh thất từ chối, cứ khoanh hai tay trước ngực. Cậu Hai Điền nói khẽ:
– Mẹ nên uống rồi lo chuyện khác, chẳng lẽ ngồi ở đây mãi!
– Chuyện gì?
– Mẹ nên uống. Con biết đầu đuôi rồi, ông đạo Đất mới là người chủ mưu. Uống cho mau, đừng để cha con nghi ngờ.
Buổi lễ chấm dứt. Bá Vạn được mời ở lại để nghe ông Chúa bàn bạc:
– Theo lời ông đạo Đất, ta nên dạo chơi nơi nào thấp, để xua đuổi những cái rủi từ trên cao. Lát nữa, ta với cô Huôi đi săn heo rừng ở Lung Tràm. Bá Vạn thấy sao?
Lung Tràm là khu rừng trầm thủy, cách xa Hòn Chông chừng một ngày đường, nơi có nhiều heo rừng. Nên bố trí khéo léo để giết ông Chúa, nhơn dịp đi săn nầy. Bá Vạn nhớ lời ông đạo Đất. Lúc nãy, ông Chúa tiết lộ danh tánh cho cậu Hai Điền nghe được. Nếu chậm thì trở tay không kịp. Cậu Hai dám cho người tới Hòn Me để hạ sát hoặc làm áp lực cho ông đạo Đất xua đuổi cô Huôi.
– Ông đi săn là tốt lắm. Theo ý tôi, ông nên đi vắng chừng mười ngày để cậu Hai và bà chánh thất bớt giận. Ông đem cô Huôi theo chớ?
– Để ở nhà sao được! Ta ở đâu thì nàng đó. Ta muốn vui say với nàng suốt ba tháng trường. Lần đầu tiên ta gặp một giai nhân tuyệt thế. Nầy Bá Vạn!
– Dạ, ông dạy gì?
– Lúc nầy, cô Huôi xứng đáng là …con chim phụng, quanh nàng, tất cả tì thiếp đều xấu xí như bầy gà. Bá Vạn theo ta không?
Vì muốn có thời giờ để gặp ông đạo Đất và bố trí cuộc mưu sát nên Bá Vạn từ chối khéo léo:
– Năm bảy ngày nữa, tôi tới Lung Tràm để gặp ông. Bây giờ, nếu tôi đi theo thì cậu Hai và bà nổi giận, cho rằng tôi theo phe cô Huôi. Ông Chúa thương giùm tôi. Hôm nọ, tôi bị cậu Hai hạ nhục một lần rồi.
– Nó là con nít, hơi đâu mà giận. Bá Vạn nói cũng phải. Ở nhà, tránh gây gổ với cậu Hai, rảnh thì dạo đó dạo đây, đốc thúc bọn tá điền. Năm nay chắc ruộng nương đều tốt. Năm ngày nữa, ta chờ ở Lung Tràm.
Bá Vạn từ giã ông Chúa Hòn, về nhà. Sáng hôm sau, bọn hộ vệ lên đường. Hai chiếc ghe đi trước, cách khoảng xa rồi mới tới ghe hầu chở ông Chúa và cô Huôi. Cậu Hai Điền có mặt tại bến, nhắn nhủ với cha:
– Ba làm cách nào đâm được con heo rừng độc giác, lấy cái nanh làm bùa đeo thì chẳng ai ám hại được. Hôm qua con săn hụt.
Ông Chúa Hòn vui mừng vì cậu con đã hết thắc mắc về vấn đề ngôi thứ:
– Con ở nhà, lo lắng công việc giùm ba.
Cậu Hai Điền cau mày:
– Con ghét công việc lặt vặt.
– Thì con tập tành cho quen. Ai tới mượn tiền, con cứ từ chối, nói rằng chờ ba về. Ai đem tiền bạc tới thì con cứ thâu. Ba biết con không ưa Bá Vạn. Con lo lắng công việc một mình, đừng gọi lão tới.
Nhưng cái nanh heo ‘‘độc giác’’ vẫn ám ảnh cậu Hai Điền. Nếu không có buổi tiệc ra mắt hồi hôm qua thì cậu đã theo dõi con heo độc giác ấy để lấy cho bằng được cái nanh quý giá, một nanh có “thần lực” bằng hai nanh. Theo sự tin tưởng của người Cao Miên ở địa phương thì con heo mài nanh có tật là luôn luôn hung hăng, sức mạnh tập trung vào chót nanh. Nanh ấy trong nhà thì kỵ lửa, chống được hoả hoạn; tiện hình ông Phật, làm phép rồi đeo vào cổ thì chủ nhân tránh được dao búa, tên đạn.
Ông Chúa Hòn mỉm cười, nói thêm:
– Chắc là ba chưa săn được con heo đó. Phải là người có tài như con thì họa chăng. Ba muốn ngao du đó đây với người đẹp.
– Năm ngày nữa, nếu ba chưa về thì con tới Lung Tràm với bọn hộ vệ. Săn không được thì dân chúng khinh thường.
Cậu Hai Điền vào nhà, đóng cửa lại mà uống rượu. Lát sau, Bá Vạn giả vờ đi ngang qua, hỏi tên hộ vệ canh phòng trước cửa:
– Cậu Hai đâu rồi?
– Dạ cậu biểu đóng cửa, chắc là đang ngủ
Như vậy có nghĩa là cậu chưa tìm ông đạo Đất để hành hung hoặc bắt buộc ông đạo xem một quẻ thứ nhì, trái hẳn quẻ thứ nhứt để truất phế cô Huôi. Như vậy, kế hoạch sẽ đổ vỡ. Ông xuống chiếc tam bản bốn chèo, không quên căn dặn tay em.
– Đem theo hai cây sào! Bữa nay, tụi bây làm việc tận tình, rồi đây có phần thưởng xứng đáng. Thừa, Thiếu! Ra khỏi chỗ nầy cho mau, kẻo cậu Hai thấy.
Thừa và Thiếu là hai anh em sanh đôi, giống nhau như khuôn đúc. Hai đứa đã theo Bá Vạn từ năm rồi, luôn luôn trung thành. Hôm nay, vì sợ bọn dọ thám của cậu Hai Điền trà trộn vào nên Bá Vạn chỉ đem hai đứa nầy mà thôi.
Đến giữa cánh đồng hoang, con rạch trở nên chật hẹp. Nước cạn dần, hai mái chèo đụng vào bờ. Thừa, Thiếu bèn rút sào, gác chèo lên mũi ghe. Bá Vạn thúc hối:
– Chống cho lẹ, tới Hòn Me để gặp ông đạo Đất!
Thừa nói nhanh:
– Chiếc tam bản lướt nghe re re…còn hơn là trâu kéo.
Bá Vạn nói:
– Tụi bay hễ rảnh là do tập dượt võ nghệ, tới lúc tụi bay ra nghề rồi đó. Tao nói cho tụi bay đề phòng. Bây giờ chỉ còn có hai đường, một là sống, hai là chết.
Thiếu nói nhanh:
– Mình theo phe cô Huôi, phải không ông?
– Chớ theo phe nào bây giờ! Vài ngày nữa, mình đi Lung Tràm thăm ông Chúa Hòn, sẵn dịp mình…ra tay. Tao nói, tụi bây dư hiểu.
Thừa là đứa khôn lanh nên đưa ra sáng kiến:
– Ông cho tôi nghỉ một ngày.
– Chi vậy?
– Để làm cây giáo đặc biệt. Lưỡi giáo là một khúc nanh heo rừng, tôi lựa cái chót nanh thiệt bén.
Bá Vạn phục thầm. Thằng Thừa tinh ranh quá. Nếu dùng cây giáo đó mà đâm ông Chúa Hòn thì làm sao phân biệt được chuyện ám sát với tai nạn lúc đi săn. Bởi vậy Bá Vạn hứa long trọng:
– Về già, anh em tụi bay trở thành sang trọng như tao. Tao với cô Huôi đâu bao giờ quên ơn kẻ giúp việc. Bữa nay, tụi bây biết tao làm chuyện gì không?
Thừa và Thiếu đều im lặng. Bá Vạn nói:
– Tao đem vàng bạc đền ơn cho ông đạo Đất. Ổng sẽ làm chủ một ngôi chùa lớn nhứt.
Đến xế trưa, chiếc tam bản đến Hòn Me. Công việc đầu tiên của Bá Vạn là gặp Tư Thính để trình bày sự việc. Đại khái, cô Huôi được giới thiệu long trọng là “nữ thần hộ mạng” trước mặt cậu Hai Điền và bà chánh thất. Họ phản đối dữ dội, nhưng nhờ sự dàn xếp khéo léo của Bá Vạn nên họ đành chịu thua. Hiện giờ, ông Chúa và cô Huôi ở trên đường về Lung Tràm để săn heo rừng.
Tư Thính chắp tay xá Bá Vạn:
– Ơn ông, tôi không bao giờ quên. Nhưng tôi thấy khó khăn quá, rủi họa hổ bất thành thì cha con tôi đều bị giết.
Bá Vạn cười dòn:
– Đây là ông Chúa Hòn ở chốn quê mùa chớ nào phải “ông vua chánh hiệu” mà chú Tư sợ bản án tru di tam tộc? Có tôi mà.
– Nhưng trước khi làm điều gì, nên hỏi ý ông đạo Đất.
– Ông đạo Đất có ở trong cốc không?
– Dạ có, để tôi đi với ông tới đó.
Bá Vạn nói khẽ rỉ vào tai Tư Thính:
– Để tôi đi một mình. Như vậy thiên hạ ít đồn đãi. Biết đâu ở chốn nầy có vài đứa do thám. Chú nên ẩn mặt vài ngày, giả vờ như lên rừng đốn củi hoặc đi thăm bà con ở Rạch Giá. Cậu Hai Điền dám cho bọn tay em đến đây gây rắc rối hoặc ám sát.
Tư Thính hơi sợ sệt cúi đầu ngỏ lời cám ơn Bá Vạn. Bá Vạn ra khỏi nhà, đi xăm xăm đến cốc.
Ông đạo Đất ngồi uống trà, chợt reo lên khi thấy Bá Vạn:
– Kính mời ông. Sự việc tới đâu rồi? Suốt đêm tôi không ngủ được. Ông tới đây thình lình, chắc là có chuyện gấp.
– Gấp lắm. Ông Chúa vô ý nhắc tên ông. Bởi vậy mẹ con cậu Hai Điền tức giận. Ông nên ẩn lánh năm, mười ngày. Bọn hộ vệ của cậu Hai dữ lắm.
Ông đạo Đất nghiêm mặt, yêu cầu Bá Vạn trình bày tình hình nội bộ gia đình của Chúa Hòn. Khi nghe nói tới tên thằng Cẩu, đứa con rơi mà ông Chúa sanh với cô Ngó, ông đạo Đất reo mừng:
– Thằng Cẩu đâu rồi? Ông tới gặp nó, dạy nó tới Lung Tràm chờ khi ông Chúa gặp nạn thì…thằng Cẩu có mặt tại chỗ. Như vậy mới lấn quyền cậu Hai Điền được!
Bá Vạn chắp tay xá ông đạo Đất:
– Quả thật ông giỏi hơn tôi. Vậy thì tôi đi gặp Mười Hấu, ông ngoại thằng Cẩu. Nó ở núi So Mo.
Ông đạo Đất trả lời:
– Đừng để trễ. Đừng khinh thường cậu Hai Điền. Bọn hộ vệ thân tín của ông đáng tin cậy không? Võ nghệ tới đâu?
Bá Vạn khoe khoang bọn thằng Thừa, thằng Thiếu và cây giáo có lưỡi nhọn làm bằng nanh heo rừng. Tuy nhiên ông đạo Đất vẫn chưa yên tâm. Xung quanh ông Chúa Hòn tại Lung Tràm, hẳn còn nhiều tên hộ vệ khác trung thành với ông Chúa và sẵn sàng theo phe cậu Hai Điền. Dưới mắt ông, kế họach chưa được khéo léo. Bá Vạn khuyên nhủ:
– Ông đạo nên tin tôi. Thằng Thừa thằng Thiếu hiểu rành về cách săn heo rừng ở vùng sình lầy. Hơn nữa, bọn hộ vệ theo phe cậu Hai sẽ bị giết một lượt. Tôi tìm cách chọc tức cậu Hai Điền, mời cậu tới để lãnh trách nhiệm mới: kế vị cho cha. Rồi thì tôi cho cậu theo cha, về chầu Diêm Chúa.
Ông đạo Đất vỗ vai Bá Vạn:
– Ông nên khéo léo, ra tay nhanh chóng, mua chuộc bọn hộ vệ. Rồi đây khi thành công, ông đừng quên tôi. Nhớ đi gặp Mười Hấu và thằng Cẩu. Lúc ông Chúa nhắm mắt, thằng Cẩu phải có mặt bên cạnh. Ông đi gặp may mắn!
Bá Vạn nhắc nhở lần chót:
– Ông đạo nên rời khỏi cái cốc nầy chừng năm bảy ngày. Cậu Hai Điền dám mướn người tới giết ông đó.
– Tôi lên núi, còn thiếu gì nơi ngao du. Dễ gì bọn nó đụng tới tôi.
Chiếc tam bản tiếp tục hành trình. Thừa và Thiếu vì quá hăng hái, muốn lập công nhanh chóng với Bá Vạn nên thúc giục:
– Bây giờ đi Lung Tràm! Sẵn nước lớn, tụi tôi chèo tới đỏ đèn là xong. Ghé dọc đường làm gì? Tụi tôi đủ sức chịu đói. Hễ thành công, thưởng tụi tôi món gì?
Bá Vạn cười:
– Cưới cho tụi bây mỗi đứa hai con vợ. Đừng nóng nảy, chuyện đó sẽ tới. Coi chừng bọn hộ vệ của ông Chúa.
Thừa bèn nói:
– Phần đông tụi nó đều ghét cậu Hai Điền. Đáng ngại nhứt là thằng A Mách, nó biết gồng Xiêm, gồng Chà. Nhưng cái thứ gồng đó dở lắm. Muốn giết thằng Mách, tôi bồng nó cho hai chân hỏng mặt đất rồi dùng nanh heo rừng hoặc khúc cây đâm ngược vô hậu môn. Bấy lâu nay thằng Mách phách lối, khoe rằng dao chém không đứt. Nó tưởng rằng tôi không biết chỗ nhược của nó.
Mui tam bản hóa ra chật chội, Bá Vạn nằm ngồi chẳng yên. Khí trời oi bức là một lẽ nhưng nguyên do chánh vẫn là những việc quan trọng sắp xảy ra: Giết hai cha con ông Chúa Hòn! Trong phút giây ông hơi ngao ngán, nhớ đến tuổi già chẳng còn hưởng được bao nhiêu năm nữa, làm cho dữ thì cũng nằm dưới ba tấc đất. Nhưng Bá Vạn lại tự biện hộ:
– Mấy ông Chúa Hòn trước đây có kẻ thiện kẻ ác, đời không nhắc nhở bất cứ một ai. Tai sao mình không chịu khó trong vài ngày để hưởng sung sướng trong những năm còn lại? Nếu mình rút lui, chưa ắt được yên ổn. Mối thù còn đó!
Ông Bá Vạn đưa tay lên vuốt mái tóc đã từng bị ô uế vì tô thịt và dĩa nước mắm. Ông nhớ đến cái áo dơ dáy còn xếp lại, cất kỹ trong tráp.
– Ai ở đằng sau kia? Mấy đứa hộ vệ chớ ai! Ai trong cái ghe hầu vậy ông?
Bá Vạn ra phía sau lái mà nhìn. Phản ứng đầu tiên của ông là câu hỏi nhẹ nhàng:
– Ông Chúa đi Lung Tràm theo con rạch Mù U, bọn hộ vệ đông lắm. Chiếc ghe hầu ở đằng sau dường như không có sơn son thếp vàng trên mui. Tụi bây tỏ con mắt thì coi giùm tao.
Thừa nói nhanh:
– Ghe hầu thứ thường.
Bá Vạn vẫn trầm tĩnh:
– Chẳng lẽ cậu Hai Điền theo dõi tao để rồi giết tao ở dọc đường? Nó ưa ngồi trên ghế, bắc ở giữa chiếc ghe không mui. Nếu đi săn thì nó đem theo bầy chó…
Thừa day lại, nói to:
– Lạ quá. Không có chó săn. Chẳng lẽ cậu Hai Điền?
Bá Vạn tỏ ra dè dặt. Nếu đụng độ với ghe cậu Hai trong tình thế nầy, thì ông ta chịu thất thế. Thằng Thiếu nóng nảy hơn, nói nhanh:
– Thưa ông, làm cách nào bây giờ? Tụi nó như chèo lẹ lắm rượt theo chiếc tam bản của mình!
Bá Vạn đáp:
– Đậu tam bản lại, cho tao lên bờ. Tụi bây cứ bình tĩnh. Cái gì kìa? Tụi nó múa tay múa chân, phải không?
Thằng Thừa trố mắt:
– Trước mũi ghe, cô Ngó đứng ngoắt kìa!
Nghe tên cô Ngó, Bá Vạn thờ phào khoẻ khoắn, vì cô không phải là kẻ thù. Nhưng còn mối lo khác: tại sao cô rời Hòn Chông quá hấp tấp? Hay là cậu Hai muốn ra tay trước, nắm tất cả quyền hạn tại Hòn Chông rồi tìm cách giết Bá Vạn?
Bá Vạn nói:
– Tụi bây cứ đậu tại đây.
Tam bản vừa cập sát bờ là Bá Vạn nhảy lên đứng thẳng người. Đằng kia cô Ngó cũng ra lịnh đậu ghe rồi lên bờ. Nụ cười nở trên môi cô Ngó. Thừa và Thiếu ngồi xuống, khoát nước rửa mặt.
Cô Ngó mặc bộ quần áo lụa trắng, dáng đi yểu điệu. Bá Vạn hỏi trước:
– Cô kiếm tôi? Chuyện gì quan trọng đó? Nãy giờ tôi giựt mình.
Cô Ngó đến gần Bá Vạn:
– Dạ, cậu Hai lo tập dượt mấy con chó săn. Cậu chưởi rủa vu vơ làm tôi nóng ruột quá. Chắc ông đi núi Mo So thăm ba tôi với con tôi.
Bá Vạn hơi xúc động trước vẻ đẹp tươi trẻ của cô Ngó:
– Vậy chớ đi đâu bây giờ? Tôi lo cho cô từ hồi nào tới giờ!
Cô Ngó cười tình:
– Biết lấy gì đền đáp cho xứng đáng?
Rồi liếc về phía thằng Thừa thằng Thiếu, cô hỏi khẽ:
– Hai thằng nầy tốt chớ?
– Người của tôi. Cô xuống tam bản nói chuyện cho vui, ở phía sau cứ chèo theo. Sợ gì!
– Tôi sợ lắm, sợ ông quên tôi. Từ khi cô Huôi được ông Chúa xem là “nữ thần hộ mạng”, tôi biết rằng mình hết thời rồi, chỉ còn trông cậy vào ông, miễn là thằng Cẩu được nở mày nở mặt.
Hai người xuống chiếc tam bản, ngồi gần nhau. Bá Vạn gật đầu:
– Đêm nay tại nhà cô, tôi nói nhiều chuyện hơn. Tôi quên cô hồi nào? Chẳng qua vì phận sư, vì việc lớn chưa làm xong.
Mặt trời đã lặn khi chiếc tam bản đến chân núi Mo So. Ông Mười Hấu đứng sẵn dưới bến. Chừng thấy Bá Vạn và cô Ngó trong mui, ông hơi ngạc nhiên:
– Ông Chúa đâu rồi?
Bá Vạn đáp:
– Ông Chúa lúc nầy lo ngao du.
Sự có mặt của cô Ngó trong mui tam bản khiến Mười Hấu lo nghĩ, đoán mãi không ra. Nhứt định là ở Hòn sắp thay đổi lớn. Nếu ông Chúa còn oai quyền như thuở nào thì làm sao Bá Vạn dám ngồi gần người vợ của ổng? Phải chăng Bá Vạn đang say mê nhan sắc cô Ngó, bày ra âm mưu thâm độc để chiếm riêng một cõi núi Mo So nầy? Đứng về luân lý, chuyện lân la giữa hai người không thể nào dung thứ được. Nếu ông Chúa biết thì bao nhiêu quyền hạn, lợi lộc của gia đình Mười Hấu sẽ mất. Nghĩ vậy, Mười Hấu hỏi kỹ lần thứ nhì:
– Ngó ơi! Sao con dại dột như vầy! Trước khi đi, con có xin phép ông Chúa không?
Bá Vạn lên bờ, trả lời thay cho cô Ngó:
– Chú Mười yên tâm. Tôi và cô Ngó đâu ngu dại gì làm chuyện trái với luân thường đạo lý. Vô nhà, tôi nói chuyện riêng. Đừng cho người nào lạ tới lui trước sân. Thằng Cẩu đâu rồi?
Mười Hấu đáp:
– Ông Bá nhắc tới tên thằng đó làm gì, không ai chịu nổi.
– Tôi muốn gặp thằng Cẩu.
Mười Hấu lắc đầu:
– Dạ, nó đi chơi rồi. Lát nữa, tôi kêu nó về. Chắc ông Bá chưa ăn cơm. Đêm nay ông ở đây chớ?
Bá Vạn vẫn chưa hết thắc mắc. Ông muốn gặp mặt thằng Cẩu, trước tiên là để xem tướng mạo cho biết nó có “khí tượng đế vương” hay không? Điều thứ nhì, không kém phần quan trọng hơn là dạy dỗ thằng Cẩu những lời ăn tiếng nói cho hợp với hoàn cảnh mới, khi ông Chúa Hòn vừa nhắm mắt.
Cô Ngó hỏi Bá Vạn:
– Ông tính chuyện gì thì nên làm gấp. Tôi sợ bọn cậu Hai Điền theo dõi, hạ sát mẹ con tôi. Hồi tôi ra đi, cậu Hai nằm ngủ nhưng bọn hộ vệ thì nói chuyện riêng như bí mật lắm. Mỗi đứa đều cầm mác, cầm dao mà mài cho bén.
Bá Vạn day lại:
– Chú Mười đuổi những người lạ mặt cho xa nhà nầy.
Cô Ngó trả lời thay cha:
– Má tôi mất lâu rồi, đâu còn ai trong nhà nầy. Ông Bá cứ bàn bạc.
– Tôi muốn nhờ chú Mười kiếm thằng Cẩu thiệt gấp.
Từ lâu, thỉnh thoảng về thăm nhà, cô Ngó hiểu phần nào tánh tình thằng Cẩu. Lớn lên, nó chỉ lo ăn chơi xài phí tiền bạc. Lại còn cái tật hỗn láo, cãi với ông ngoại. Cô biết thằng Cẩu đang dạo xóm để chọc gái và đá cá lia thia. Nói ra quá sớm, ông Bá Vạn sẽ thất vọng vì nếu thằng Cẩu mà lên ngôi Chúa Hòn thì sự nghiệp sẽ tan tành: hoặc là dân chúng sẽ nổi loạn, không thèm đóng một hột lúa nào cả.
Cô Ngó nói:
– Để tôi xuống nhà bếp nhờ ba tôi đi kiếm thằng Cẩu, gọi nó về đây gặp ông. Bây giờ hơi khuya, không nên là xáo động xóm giềng. Chắc ông mệt? Miễn là ăn cơm xong “mình” gặp thằng Cẩu. Nó khờ dại lắm, nhờ ông dạy dỗ.
Tiếng “mình” từ miệng cô Ngó nói ra thật là ngọt ngào và gợi tình. Làm sao Bá Vạn làm ngơ trước đóa hoa tươi trẻ ấy được? Bá Vạn lẩm bẩm một mình:
– Nếu cô Ngó và Mười Hấu đột nhiên theo phe cậu Hai Điền thì nguy cho mình. Mình nên chiều theo ý họ.
Ông xuống bến nói với thằng Thiếu:
– Mầy buồn ngủ chưa? Mầy đói bụng không?
Thiếu đáp ngay:
– Ông dạy thì tôi vâng lời. Hơi đói nhưng chịu nổi.
Bá Vạn nói khẽ:
– Mầy qua Lung Tràm rồi trở về đây cho tao biết ông Chúa với cô Huôi tới đó chưa?
Thằng Thiếu gật đầu rồi hỏi:
– Thưa ông, thì tôi mượn chiếc xuồng độc mộc của ông Mười Hấu, dùng sào mà chống tắt qua đồng cỏ. Hừng sáng, tôi về tới đây. Ông còn nhắn thêm điều gì không? Chẳng lẽ tới Lung Tràm rồi trở về thì uổng công trình của tôi quá.
Bá Vạn vỗ vai thằng Thiếu:
– Mầy coi vậy mà khôn. Tao thấy chống xuồng mệt hơn là cỡi trâu. Lát nữa tao mượn một con trâu cổ cho mày cưỡi. Nếu gặp cô Huôi, mày lại gần nhắn giùm tao. Mà thôi, chưa chi đã lộ bí mất.
Thằng Thiếu trố mắt:
– Theo tôi thì chẳng có điều gì bí mật nữa. Một là tôi sống, hai là tôi chết. Chẳng lẽ cô Huôi tìm cách hại tôi? Còn ông Chúa Hòn thì…
Bá Vạn lấy tay bụm miệng thằng Thiếu:
– Mầy đừng lớn tiếng. Ông Chúa đến Lung Tràm để chết vì ngọn giáo của mầy, tao hiểu rồi. Nếu gặp cô Huôi, mày nhắn rằng nên chờ ngày mai hoặc ngày mốt, nói vậy là cổ hiểu.
Từ nhà trên, cô Ngó bước ra sân, Bá Vạn đưa tay ngoắt rồi nói:
– Thằng Thiếu đi Lung Tràm, thằng Thừa lên sân kiếm cơm ăn rồi canh phòng rủi có kẻ lạ mặt tới đây gây chuyện. Tao ở dưới nầy tìm cách thuyết phục cô Ngó. Cô Ngó coi vậy mà không tỉnh táo.
Thằng Thừa sẵn sàng lên bờ để kiếm cơm ăn cho no lòng rồi ngủ cho khoẻ. Nó muốn cho Bá Vạn và cô Ngó bày chuyện yêu đương. Rồi đây nếu âm mưu được thành công, Bá Vạn và cô Ngó ắt nhớ công lao của nó.
Cô Ngó xuống tam bản, vào trong rồi đốt ngọn đèn sáng. Cha cô đã khuyên cô tìm cách quyến rũ Bá Vạn vì tình thế đã thay đổi. Nếu cậu Hai Điền thắng thế thì chưa ắt cô và thằng Cẩu còn sống được.
Bá Vạn vào trong mui, cười hề hề:
– Đêm nay ở dưới nầy mát mẻ nhưng …muỗi cắn.
Cô Ngó cười tủm tỉm:
– Trên nhà, có nhiều chuyện bất lợi. Ở dưới nầy, thảnh thơi hơn. Tôi giăng mùng cho ông ngủ. Hễ nực hay là muỗi vô mùng quá nhiều, tôi quạt. Tôi biết… ông Bá thương tôi nhiều nên lo cho mẹ con tôi…
Bá Vạn hiểu rằng cô Ngó đã sẵn sàng trao thân cho ông. Muốn cho đêm dài được trọn vẹn ý nghĩa, ông hỏi:
– Ăn cơm uống rượu xong, tôi nói cho cô nghe nhiều điều.
Cô Ngó hỏi:
– Điều gì? Ông nói đi rồi…em đem cơm xuống đây ăn một lượt, em còn đói hơn ông nữa đó.
Bá Vạn ôm cô Ngó vào lòng. Cô Ngó giả vờ e thẹn:
– Để em lên nhà đem cơm xuống…
Đêm sáng, trời trong, Bá Vạn mở cánh cửa nhỏ bên hông mui ghe để thưởng thức trọn vẹn cảnh đẹp bên ngoài. Cô Ngó bước thong thả lên sân, dáng đi yểu điệu lạ thường, thỉnh thoảng day lại hé miệng cười. Cá đớp bọt sát bờ, vài con hạc ăn sương bay lướt qua như xé không gian với tiếng kêu oang oác hiền lành…
Chừng nầy thằng Thiếu đang cưỡi trâu đến Lung Tràm. Trễ lắm là hừng sáng nó trở về báo tin. Bá Vạn thầm nghĩ:
– Sống lênh đênh trên chiếc ghe, giữa cảnh đồng quê mộc mạc vẫn vui thú hơn ở trong nhà. Ông Chúa Hòn là người quá khôn, biết hưởng thụ. Hồi xưa, ông đến đây để gặp cô Ngó lần đầu tiên. Ngày ấy, còn nhớ cô Ngó là gái tơ múc nước bên suối. Vật đổi sao dời, bao nhiêu nước chảy qua cầu. Thằng Cẩu lớn lên, ai biết rằng nó sắp trở thành ông vua nho nhỏ trong vài ngày sắp tới.
Thấy cô Ngó trở lên, Mười Hấu khuyên răn:
– Con nên cẩn thận. Liệu Bá Vạn lật đổ ông Chúa nổi không?
Cô Ngó đáp:
– Bá Vạn là tay đầy mưu mẹo, dư sức làm. Ông Chúa đang đi săn ở Lung Tràm, bọn hộ vệ đã bị mua chuộc, chờ lịnh Bá Vạn là chúng nó giết khéo léo.
Mười Hấu đáp:
– Nhưng còn cậu Hai Điền! Làm sao thằng Cẩu tranh giành địa vị được. Cậu Hai lớn tuổi hơn, lại là con giòng chánh.
– Ông Bá Vạn nói sẽ cho cậu Hai “đi đời” dễ dàng. Thằng Cẩu đâu rồi? Phải cho nó gặp ông Bá Vạn để được chỉ dạy về lời ăn tiếng nói. Nó ham chơi quá.
Mười Hấu cau mày:
– Tánh tình thằng Cẩu, con dư biết vì con là mẹ của nó. Nó ăn chơi không ai bằng. Đã vậy mà nó còn cứng đầu cứng cổ, muốn làm gì thì làm. Hôm trước nó xách cây gài cửa để rượt ba. Mấy ông thầy ở trên núi nói rằng nó bị bùa ngải hành xác.
Cô Ngó nói khẽ:
– Ba đừng cho ông Bá Vạn biết căn bệnh của nó. Liệu ngày mai nó về đây không?
– Ba cho người đi kiếm nó rồi. Nó đang xổ cá thia thia để tuyển thứ cá nòi, cá rặc. Sáng mai, ba đi gặp nó, năn nỉ nó về đây. Con xuống ghe, kẻo ông Bá Vạn chờ. Ba hồi hộp quá…
Mâm cơm đã bưng xuống tam bản. Bá Vạn uống rượu, ăn ngon lành. Cô Ngó cầm đũa, lựa mấy miếng thịt ngon gắp để trong chén sẵn cho ông Bá Vạn. Hồi lâu, cô mới dám ngỏ lời tâm sự:
– Ông à! Em sợ điều nầy…
Bá Vạn đáp:
– Được làm vua, thua làm giặc, đó là thế gian thường tình. Nếu không xong, xứ nầy còn nhiều nơi để ta ẩn náu. Giặc Tây nghe đâu đã đánh tới Vĩnh Long, Tân An. Mình tới mấy chỗ đó là yên thân. Ông Chúa đâu có đủ binh mã mà rượt theo. Với năm ba chục lượng vàng, mình đủ sống năm mười năm.
Cô Ngó đáp:
– Em muốn nói chuyện khác. Em sợ nửa chừng ông bỏ em bơ vơ.
Bá Vạn hỏi:
– Sao vậy? Em làm cho tôi giựt mình. Tôi làm điều gì mà em nghi ngờ?
– Còn cô Huôi?
Bá Vạn cười sặc sụa:
– Cô Huôi trở thành “mẫu hậu”. Tôi ngu dại gì mà yêu cô Huôi cho nhọc thân, cho thiên hạ nghi ngờ rằng tôi tham lam.
Tôi sống với cô em như vầy là quá vui rồi. Cô em sẽ thấy đời cô Huôi là khổ, tiền bạc oai quyền rất nhiều nhưng phòng the khép kín.
Cô Ngó như chợt hiểu:
– Như vậy, ai dám nói xấu mình được! Em đâu ngờ ông tài giỏi, thấy xa hiểu rộng tới mức đó. Cô Huôi và thằng Cẩu đều là người dưng nhưng…nắm quyền vùng nầy, bởi vì ông Chúa với cậu Hai Điền đều ngộ nạn thình lình. Bà chánh thất như con rắn mất đầu…
Bá Vạn ưỡn ngực, vuốt râu:
– Bởi vì bà ta không biết dạy con. Thằng Hai Điền vô phép quá, nó hạ nhục tôi, bây giờ …trời hại nó. Cô còn nhớ không? Tôi không thèm rửa mặt, không thèm thay áo, cứ mang cái áo dính thịt kho với nước mắm mà đi ngoài đường cho thiên hạ thấy. Từ lâu rồi, thiên hạ biết thằng Hai Điền là đứa gian ác. Thằng Cẩu của em chắc hiền lành hơn.
Nghe hỏi tới đó, cô Ngó suy nghĩ, chưa dám trả lời. Cô nói lảng qua chuyện khác:
– Hồi đó, thấy ông mặc cái áo dơ, em tức giận cậu Hai nhưng biết nói sao bây giờ. Em đón ông, bữa đó em cầm bó bông sen.
– Nhớ rồi! Mấy cái bông sen… Rót rượu thêm. Đêm nay vui quá. Ở Lung Tràm, ông Chúa Hòn với cô Huôi hưởng lạc thú nào thì ở đây mình hưởng lạc thú đó. Em đem cơm ra ngoài. Buồn ngủ quá..
…Hai người nằm kề nhau, đến hừng sáng, cô Ngó thức trước. Ánh nắng chói chang bên ngoài tạt qua khe cửa mui tam bản. Bỗng dưng mà cô sợ sệt. Nếu bọn dọ thám của cậu Hai theo dõi thì chúng bắt gặp quả tang cuộc yêu đương vụng trộm nầy. Cô muốn lên nhà, để Bá Vạn ngủ dưới nầy một mình nhưng làm vậy Bá Vạn buồn, tưởng cô chỉ yêu ông ta vì quyền lợi tạm thời, vì tương lai của thằng Cẩu.
Trên bờ, có tiếng gọi:
– Ông ơi!
Thằng Thiếu nhảy gọn xuống đất, con trâu cổ đứng lóng nhóng, le lưỡi như đói khát. Cô Ngó mở cửa rồi đánh thức:
– Ông ơi, có chuyện.
Bá Vạn mở mắt, thằng Thiếu đã xuống tam bản. Bá Vạn ra lịnh cho cô Ngó:
– Cô lên nhà, để tôi bàn chuyện.
Rồi nói riêng với thằng Thiếu:
– Gặp không?
Thằng Thiếu cho biết là ông Chúa và cô Huôi đang ở Cây Gừa, một xóm phì nhiêu gần Lung Tràm. Đêm rồi ông Chúa uống rượu say mèm, gọi mấy cô gái Cao Miên trong xóm đến múa hát. Nó gặp cô Huôi, cô Huôi trả lời rằng ngày mai hoặc ngày mốt, ông Chúa mới săn heo rừng. Con heo độc giác còn lẩn trốn chưa ai gặp tung tích. Bọn hộ vệ đang dẫn bầy chó săn lùng kiếm….
– Mầy với thằng Thừa lên nhà kiếm cơm mà ăn rồi lo canh phòng xung quanh xóm nầy, đừng cho bất cứ ai lẻn vào. Tao kiếm thằng Cẩu.
Bá Vạn lên nhà. Mười Hấu đang bối rối vì thằng Cẩu chưa chịu về để trình diện với Bá Vạn. Hôm nay, có độ đá thia thia ở núi Còm. Nó lỡ ăn thua, chắc tới chiều mới về đây được.
Nói ra sự thật e Bá Vạn thất vọng. Một ông Chúa tương lai mà ham chơi, thì ai dám tin cậy, như vậy là kém xa cậu Hai Điền.
Hồi lâu, Mười Hấu mới viện được lý do:
– Thưa ông, hôm nay mời ông đi núi Còm chơi cho biết phong cảnh. Thằng Cẩu muốn về nhà gặp ông nhưng rủi quá, nó hơi bịnh.
Câu nói ấy khiến Bá Vạn lo âu. Thằng Cẩu mà mang bịnh thì công việc khó thành. Trước khi ông Chúa Hòn nhắm mắt, thằng Cẩu phải có mặt bên cạnh để nhận chức vị mới. Và trong khi ông Chúa hấp hối, chưa biết nên nhường cho ai thụ hưởng, Cẩu phải tỏ ra khiêm tốn, ăn nói đàng hoàng để giành được cảm tình. Bá Vạn hỏi nhanh:
– Nó đau nhiều hay ít?
Mười Hấu đáp:
– Dạ, chắc nó cảm mạo sơ sài thôi.
Ý kiến của Bá Vạn khiến Mười Hấu trút được bao nhiêu lo âu:
– Vậy thì tôi đến núi Còm gặp nó, săn sóc cho nó.
– Tôi lo sợ quá, sợ ông hiểu lầm rằng nó vô phép.
– Mình đi lập tức.
Mười Hấu xuống chiếc tam bản. Bá Vạn vào mui. Thiếu và Thừa ra sức chèo mạnh tay. Bá Vạn thấy hai bên bờ xóm nhà khá đông, nhiều người tò mò đứng nhìn, thì nói:
– Chú Mười chịu khó ngồi trước mũi tam bản. Ngoài đó nắng, nhưng nếu chú vô mui với tôi thì thiên hạ hiểu lầm.
Mười Hấu phục ngầm sự bố trí của Bá Vạn:
– Dạ, ông nói đúng. Đừng để dân chúng cho rằng ông toa rập với tôi để giành quyền với cậu Hai Điền. Con Ngó ở nhà là phải…
Tuy nhiên dân chúng cũng kéo xuống mé rạch để tỏ lòng cung kính với Bá Vạn, nếu Bá Vạn thương thì họ được vay tiền nhiều trong mùa tới. Bá Vạn đành xuất hiện từng chập, ló đầu ra khỏi cửa tam bản để chào mấy ông kỳ lão và nhận vài món quà xứng đáng như mật ong, sáp ong.
Núi Còm hiện ra với hình dáng đặc biệt như con cóc đang ngồi giữa vùng đất sình lầy. Xưa kia núi Còm là một hòn đảo giữa biển, lần hồi đất phù sa lấn vào, chôn lấp chân núi. Vách đá bị sóng đánh vào, khuyết từng mảng lớn. Xung quanh núi, còn con rạch nhỏ chảy cong queo. Bọn người săn ổ ong dường như làm việc không ngừng. Vách đá cheo leo, ấy thế mà họ buộc dây vào eo lưng, đầu dây có vòng tròn máng vào hòn đá trên cao hơn. Họ cứ di chuyển tòn teng như thế, tìm mấy ổ ong ở kẹt đá.
Rồi ngày thăm nuôi cũng tới, tôi nhớ vào khoảng giữa năm 1977. Lần này chỉ có vợ tôi lên thăm, dắt theo hai đứa con, 4 và 3 tuổi. Mỗi khi có đợt thăm nuôi, phương tiện vận chuyển từ Trảng Bàng, Tây Ninh đi vào các trại cải tạo ở hai huyện Tân Biên và Tân Châu được tăng cường thêm nhiều xe đò, xe tải chạy than hoặc chạy bằng xăng hay dầu cặn. Bà vợ, bà mẹ cải tạo nào may mắn kiếm được một chỗ ngồi, chỗ đứng trên các xe chạy xăng hay dầu cặn thì còn đỡ, bà nào phải đi xe than thì vào tới nơi sẽ thành “Công chúa lọ lem” (Cinderella) theo nghĩa đen, nghĩa là mặt mũi áo quần đóng một lớp bụi than đen gớm ghiếc! Cũng may, nhà thăm nuôi của T2 chúng tôi ở gần cái giếng nước của ban chỉ huy trại, cho nên các bà các cô có thể rửa mặt trước khi vào nhà thăm nuôi chờ người thân. Trước ngày thăm nuôi, tôi đã dự định sẽ bàn với vợ tôi về việc trốn trại về Sài Gòn, nhưng tới khi gặp nhau, nghe vợ tôi tả oán về cuộc sống khó khăn, tôi quyết định dẹp bỏ ý tưởng trốn trại. Nguyên vợ tôi cũng chẳng đảm đang gì! Không phải tôi nói xấu vợ mà sự thực nó là như thế. Nàng vốn xuất thân dân trung lưu, cho dù gia cảnh có sa sút sau khi ông bố mất sớm, cái máu tiểu thư ít nhiều vẫn còn, bản tính lại không mấy chăm chỉ (tôi không dám viết là lười), thêm cái hậu đậu vụng về bẩm sinh nên dứt khoát không thể gọi là một người vợ đảm đang! Đảm đang gì nổi khi mà ít lâu sau đám cưới, tôi về Sài Gòn đón nàng ra Pleiku, lúc ấy nàng mới tìm mua cuốn sách dạy cách nấu những món ăn căn bản của bà Quốc Việt!… Nhưng tôi chấp nhận tất cả chỉ vì thích lấy… vợ đẹp – ít nhất cũng là đẹp dưới mắt tôi. Vậy mà sau năm 1975, nàng đã trở thành một “bà Tú Xương” – nuôi đủ hai con với một chồng! Trước hết, nàng buôn bán đủ thứ tinh tinh ở cái chợ trời mới mọc lên cạnh đường rầy gần cổng xe lửa số 6. Sau khi chợ trời bị công an phường dẹp, nàng gửi con cho bà ngoại của tôi rồi cùng một cô bạn có chồng Đại úy mất tích ở Pleiku đi buôn trà ở Bảo Lộc. Buôn trà không có ăn, hai nàng chyển sang buôn cá khô, dĩ nhiên là buôn lậu, từ Sông Mao, Phan Thiết về Sài Gòn! Vợ tôi có tật say xe, say máy bay. Còn nhớ ngày ở Pleiku, hai vợ chồng được ông sếp lớn cho theo trực thăng đi chơi Đà Lạt, nàng ói tới mật xanh mật vàng khiến mọi người mất vui, vậy mà giờ này đi xe đò Sài Gòn – Phan Thiết như cơm bữa, chưa kể còn phải biết mánh mung qua mặt công an. Nàng nói với tôi: – Giá mà mình có chút vốn như con X, buôn thuốc tây vừa nhàn vừa có ăn lại không phải gửi con! X là vợ một tay trung úy quen biết nhà ở Bùi Phát cũng bị đi cải tạo, nhờ nhà chồng cho mượn vốn, thêm chút lanh lợi nên chỉ cần đạp xe lui tới khu buôn bán thuốc tây lậu ở đường Nguyễn Thông mà có cuộc sống tương đối đầy đủ, thăm nuôi chồng thoải mái. “Giá mà mình có chút vốn”! Tôi tin rằng vợ tôi thốt lên câu ấy một cách vô tình, nhưng tôi vẫn cảm thấy nhột. Nhớ lại từ ngày lấy vợ cho tới khi xảy ra cuộc đổi đời, có lẽ tôi chỉ đưa tiền lương cho vợ trong mấy tháng nàng ra Pleiku, còn lại thì giao vợ con cho bà nội bà ngoại, tiền lương không gửi về một xu, thì sau năm 1975 lấy đâu ra “vốn”?! Thời gian này – năm 1977 – ngoài những chuyến đi “bán chính thức” của người Việt gốc Hoa, chưa có phong trào vượt biên ồ ạt cho nên nếu tôi trốn trại về để rồi phải trốn chui trốn nhủi thì chỉ thêm nặng gánh cho vợ. Vì thế, tôi quyết định dẹp bỏ ý tưởng trốn trại, chỉ biết cầu mong sao cho sớm được thả về để phụ vợ nuôi con, cho dù chưa biết sẽ phụ bằng cách nào?!
* * * Sau đợt thăm nuôi, T2 của chúng tôi vốn trước kia vốn đã dễ thở hơn các T khác, nay có quà của gia đình mang lên càng thêm giống… ngày tết! Cho dù không “sáng sâm-banh tối sữa bò” ít ra cũng sáng cà-phê tối nồi chè. Dĩ nhiên, không thể thiếu những buổi văn nghệ bỏ túi do “ban nhạc nhẹ” của T2 Đồng Ban trình diễn quanh đống lửa hồng. Tuy sống trong cảnh cá chậu chim lồng, ban nhạc nhẹ của chúng tôi cũng khá đầy đủ: lead guitar (Hiếu đờn), bass guitar (Hoàng sử dụng “cây đàn Tobia” của tôi), rythm guitar (tôi, hoặc một người khác), mandoline (một anh bạn trung úy bộ binh tên C). Lực lượng ca sĩ khá hùng hậu và đa dạng, trong đó được ái mộ nhất là những anh chàng hát thể loại nhạc “bình dân”, tức nhạc “lính”, nhạc “sến” – những ca khúc được tầng lớp khán giả bình dân ở miền Nam trước năm 1975 yêu chuộng. Nguyên nhân của sự “thoái hóa thưởng ngoạn” này (tạm gọi như thế) là ở trong trại cải tạo, mọi nhu cầu của con người, từ vật chất đến tinh thần, trở nên đơn giản tới mức tối đa; bên cạnh đó không thể không nói tới sức thu hút của nhạc “lính”, nhạc “sến” – loại nhạc dễ hiểu, dễ nghe mà chỉ vào trong trại cải tạo những người khó tính mới có thời giờ, cơ hội thưởng thức. Ngay bản thân tôi vốn là một người thích nghe nhạc cổ điển, nhạc pop, nhạc rock tây phương, mà nay khi đệm đàn cho “ca sĩ” hát nhạc lính, nhạc sến vẫn cảm thấy hứng thú hơn là đệm cho những người hát nhạc Văn Cao, Phạm Duy, Cung Tiến, Từ Công Phụng , Ngô Thụy Miên… [Cho nên cũng là một điều dễ hiểu khi trong những năm gần đây (2010-2020), sau bốn thập niên bị chế độ CSVN ra sức xóa bỏ, nền nhạc nhạc lính, nhạc sến trước năm 1975 chẳng những đã không chết mà còn trở nên phổ biến, được yêu chuộng trên khắp mọi miền đất nước, từ trung ương tới địa phương, nơi đâu cũng tổ chức các cuộc thi hát nhạc vàng, đặc biệt Bolero] Nhạc ngoại quốc thì có “cậu” Trân, đẹp trai con nhà giàu học… không giỏi nhưng hát những ca khúc Pháp của Christophe thật tuyệt vời, nhất là bản Maman, cậu lá-la-là-la-lá… khúc “intro” và “coda” y hệt thần tượng. Hiếu đờn thì được bản “cầu chứng” Unchained Melody của Rightous Brothers, và Hoàng bass cũng chỉ được một bản Reflections of My Life của ban Marmalade trong đó có đoạn “solo” của bass guitar để hắn show-off. Vậy mà bên T3, anh em cải tạo còn tổ chức những buổi “văn nghệ” quy mô, xôm tụ hơn nhiều. Nguyên nhân chính, theo một số anh em T2 chui rào sang tham dự về kể lại, bên đó có nam ca sĩ Lê Xuân của Không Quân. Tưởng ai hóa ra là ông bạn già của tôi, người cùng học Khóa 8 Căn Bản Sĩ Quan Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt năm 1970, cùng ở Pleiku từ năm 1969 tới năm 1972, và sau đó cùng phục vụ tại phi trường Biên Hòa cho tới ngày mất nước! Anh tên thật là Lê Trung Xuân, dân Huế trung lưu, đi khóa hạ sĩ quan kỹ thuật Rochefort ở Pháp vào giữa thập niên 1950; sau khi về nước, anh không chịu đi học các khóa sĩ quan Không Quân ở Trung Tâm Huấn Luyện KQ Nha Trang cho nên tới năm 1975 mới chỉ bò lên tới cấp trung úy. Lê Trung Xuân có trình độ nhạc lý cao và một giọng tenor rất giống Tino Rossi, cho nên từ ngày còn phục vụ ở Bộ tư lệnh Không Quân, đã được tặng biệt hiệu “Tino Xuân”, rất được các đàn anh Không Quân thuộc thế hệ thứ nhất, trong đó có Trung tướng Trần Văn Minh, Tư lệnh Không Quân, ái mộ. Khi hát tại các vũ trường ở Sài Gòn, Lê Trung Xuân lấy nghệ danh “Lê Xuân”. Thực ra với khách nhảy đầm, Lê Xuân chỉ là một ca sĩ hạng B, hát cho một vũ trường nhất định chứ không được mời “chạy show” như các ca sĩ nổi tiếng. Tại vũ trường của mình, anh là người bao dàn trong lúc chờ các ca sĩ xịn tới, hoặc hát thế nếu có người không tới, vì thế anh phải thuộc lòng nhiều ca khúc của nhiều thể điệu khác nhau để sẵn sàng “điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa”! Cũng nhờ đó mà trong các buổi “văn nghệ” ở T3, anh em được nghe Lê Xuân hát mệt nghỉ. Sau này tôi nghe nói người bạn đời của anh Xuân đã mất trong thời gian anh ở Đồng Ban; không biết đó có phải là nguyên nhân khiến anh thêm say sưa hát để quên đi nỗi buồn, đồng thời đám cán bộ quản giáo trên “khung” cũng thông cảm, làm lơ cho anh hát thoải mái hay không? (khi anh hát những ca khúc mang âm hưởng opera, tiếng hát của anh vang đi khá xa). Lê Trung Xuân là một trong những trung úy ngành Chiến Tranh Chính Trị hiếm hoi của quân chủng Không Quân không bị đưa ra miền Bắc; rất có thể anh chỉ khai cái gốc kỹ thuật Rochefort chứ không khai đã chuyển sang ngành Chiến Tranh Chính Trị. Cái chết của Nguyễn Nhật Hiểu Qua các buổi thăm nuôi, tù cải tạo không chỉ được gia đình tiếp tế thực phẩm, thuốc men mà còn cả tiền bạc để mua bán khi có cơ hội. Nhàn cư vi… cờ bạc; một số anh em mê đen đỏ trong đó Cường (đội trưởng) thường tụ tập binh xập xám vào cuối tuần, hoặc những buổi chiều rảnh rỗi. Tôi không biết thân phận “nhà nghèo” cũng nhào vô, chẳng bao lâu thì cháy túi. Trên đây là giải trí không lành mạnh, còn giải trí lành mạnh thì đầu tiên phải nói tới đá gà. Đá gà, ngoài Bắc gọi là chọi gà, là một trò chơi dân gian phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, riêng tại Việt Nam đã xuất hiện từ thời nhà Lý, do những quân sĩ của danh tướng Lý Thường Kiệt đem về nước sau những chuyến chinh phạt Chiêm Thành. Cả ba miền Trung Nam Bắc đều nuôi gà đá (gà chọi, gà nòi) nhưng nổi tiếng nhất là gà Bình Định ở miền Trung, gà Bến Tre, Cao Lãnh, Châu Đốc, và Bà Điểm ở trong Nam. Tại Việt Nam, có hai trường phái đá gà: đá đòn và đá cựa. Đá đòn thiên về “võ nghệ” còn đá cựa thiên về sát phạt. Từ đầu thế kỷ thứ 20, ở miền Nam đa số là đá gà cựa. Đá gà cựa là một hình thức so tài một mất một còn. Người ta thường gắn cựa sắt sắc như dao vào chân gà, hoặc mài chuốt cựa gà cho thật bén, biến nó thành một thứ vũ khí giết… gà. Sau một độ đá cựa, chú gà chiến bại, dù bỏ mạng nơi đấu trường hay bị trọng thương, cũng bị đem nấu cà-ri; đôi khi cả chú gà thắng độ nhưng mang quá nhiều thương tích, cũng cùng số phận. Những ai chưa có dịp thưởng thức cà-ri gà nòi có thể sẽ nghĩ rằng thịt nó dai và hôi. Trên thực tế, cà-ri gà nòi (thường nấu với khai lang) là một món độc đáo của miền Nam mà không phải nơi đâu, lúc nào cũng có. Năm 1968, trước khi nhập ngũ, tôi theo một tay bạn thân quê Châu Đốc đi giang hồ gần một tháng ở Sa Đéc và Châu Đốc. Hắn là cháu của chủ nhà máy chà cho nên tôi cũng được tiếp đãi như dân “cậu”. Thường thường, cứ khoảng 10, 11 giờ sáng ra trước nhà máy chà ven sông nhậu lai rai, chiều chiều xem đá gà, tối tối ăn cà-ri gà nòi nấu khoai lang. Cho tới giờ này tôi vẫn còn nhớ mùi vị thơm ngon tuyệt vời của món cà-ri gà nòi cay nồng cùng với những miếng khoai lang ngọt bùi, mà không một món cà-ri nào khác có thể đem lại. Sau năm 1975, ít nhất cũng là trong những năm đầu, trò chơi đá gà bị chế độ mới cấm ngặt, các “lò” gà nòi bị đóng cửa, thì những “chiến kê” vang bóng một thời đã bị đem bán để giết thịt. Biết cải tạo sau khi thăm nuôi có tiền, lâu lâu tay cán bộ hậu cần của T2 nhân dịp ra chợ Tây Ninh hay Trảng Bàng lại mua thêm mấy con gà về bán lại cho cải tạo kiếm lời. Trong số gà này, đôi khi có cả những chú gà nòi nói trên. Trong số tù cải tạo gốc Nam kỳ ở T2, có những anh em khá rành về đá gà, đã bỏ tiền mua những cựu “chiến kê” ấy để trước mua vui, sau… mần thịt! Thế là ở T2 thỉnh thoảng buổi chiều lại có một trận so cựa sôi nổi, hấp dẫn. Đa số những con gà nòi này gốc Bà Điểm (Hốc Môn), một trong những địa danh nổi tiếng với những lò gà nòi đá cựa “chiến” nhất, sau một thời gian dài không thượng đài, nay chỉ cần vài lần so cựa là nhớ lại bài bản cũ.
Vì cả trại chỉ có mấy con gà nòi để anh em giải trí, cho nên dù là đá cựa, các “chủ gà” cũng chỉ cho đá để phân thắng bại chứ không đá tới một mất một còn, vì thế cũng không có vụ “đá bắt xác” như trước năm 1975. Trong số khán giả của các trận đá gà ở T2 có cả một vài anh em từ T3 lén chui rào sang dự khán (giữa T2 và T3 không có vọng gác của vệ binh); để rồi sau đó bên T3 cũng bắt chước nuôi gà nòi để chúng đá nhau coi cho đỡ buồn. Cuối cùng, đã có những trận đá gà cấp liên trại: anh em T3 lén đem gà sang T2 đá. Tuy nhiên thời gian này tôi cũng không còn hứng thú theo dõi các trận đá gà nữa. Vào một buổi chiều nọ, tôi được nghe anh em kể lại trận đá “đẫm máu” vừa diễn ra giữa con gà chiến nhất của T2 và con gà lỳ nhất của T3. Con của T3 bị trúng đòn trước, cổ máu me đầm đìa nhưng vẫn nhào vào trả đòn. Sau khi bị địch thủ móc một mắt, nó vẫn tiếp tục tấn công một cách điên cuồng cho tới khi ngã gục… Con của T2 cũng bị thương khá nặng. Hoàng (đờn bass) khi kể lại đã lắc đầu: – ĐM ghê quá, từ nay tui hết dám coi đá gà! Tối hôm đó, T2 có họp đội. Khoảng 7 giờ rưỡi, chúng tôi đang ngồi họp trong các dẫy nhà thì bỗng nghe một tràng AK nổ từ hướng T1. Theo lệnh của ban chỉ huy trại từ khi mới tới Đồng Ban, khi “có biến”, tù cải tạo không được náo loạn, phải ngồi yên tại chỗ cho tới khi có lệnh của cán bộ; người nào chạy ra khỏi nhà vệ binh sẽ nổ súng! Sau khi nghe tràng AK, chúng tôi vừa ngưng họp, đang nhìn nhau hoang mang, thì bỗng có thêm mấy phát súng nổ. Sau đó có tiếng chó sủa lẫn tiếng người ở phía T1. Khoảng 10 phút sau, đích thân Chuẩn úy Đạt, chính trị viên T2, dẫn một toán vệ binh xuống, ra lệnh tất cả mọi người không được ra khỏi nhà, rồi cho vệ binh đứng gác phía trước. Tới khoảng 9 giờ đêm, Chuẩn úy Đạt trở lại, tới từng đội lớn tiếng tuyên bố: một tù cải tạo chui rào trốn trại, bị vệ binh phát giác, ngoan cố không chịu đứng lại cho nên đã bị bắn chết. Nghe tay chính trị viên nói như thế, chúng tôi thấy ngay có điều gì đó không ổn. Bởi nếu muốn trốn trại, tù cải tạo ở Đồng Ban thiếu gì cách trốn, thiếu gì lúc trốn, có bị bắt thì cũng phải sau khi đã ra khỏi trại; ai ngu dại tới mức chui rào ngay trước mắt vệ binh để bị bắn?! Sáng ra, anh em ở dãy nhà phía trước kể lại đêm hôm qua sau khi súng nổ khoảng một tiếng đồng hồ, họ nghe nhiều tiếng chân người đi lại từ T1 tới T3, sau đó dòm qua khe cửa họ thấy mấy bóng người khiêng cái đó trên một cái võng đi về hướng T3. Như vậy, người tù cải tạo bị bắn chết thuộc T3. Chi tiết này khiến tấn bi kịch càng trở nên khó hiểu: tại sao một tù cải tạo thuộc T3 lại băng qua T2 để tới T1 rồi bị bắn chết? Ngay trong buổi sáng hôm đó, xác người tù cải tạo xấu số được lệnh đem chôn, và tới chiều thì ở T2 chúng tôi đã biết tên tuổi người bị bắn, cũng như nguyên nhân, chi tiết, diễn tiến cái chết của anh. Đó là cựu Trung úy Nguyễn Nhật Hiểu, ngành Hành chánh Quân y, trước năm 1975 phục vụ tại Phòng Nhận Bệnh, Tổng Y Viện Cộng Hòa (trong hồi ức của mình khác, một tác giả ghi tên anh là “Nguyễn Hiểu”). Hiểu chính là người đã đem con gà lỳ lợm của mình từ T3 sang T2 đá và bị vong mạng trong trận đấu vào chiều hôm trước. Sau khi đem xác gà về, Hiểu nấu một nồi cháo gà rồi chui rào băng qua T2 để sang T1 kêu người anh sang ăn chung cho vui (tôi không được biết rõ là anh ruột hay anh bà con). Khi Hiểu vừa chui vào T1 thì bị tên vệ binh trên chòi canh phát giác, bắn một tràng AK. Hiểu chỉ bị thương, sau đó tên vệ binh tiến tới bồi thêm mấy viên nữa vào ngực! Chi tiết này được một tù cải tạo T3 là một Thiếu úy Quân cảnh Tư pháp khẳng định. Nguyên sáng hôm sau, khi cán bộ T3 lấy mấy tù cải tạo khiêng xác Hiểu đi chôn, anh Thiếu úy Quân cảnh Tư pháp tuy không thân với Hiểu nhưng đã tình nguyện với mục đích tìm hiểu về cái chết của người bạn tù. Với con mắt của dân trong nghề, chỉ cần nhìn thoáng qua, anh biết ngay ngoài tràng đạn bắn từ xa, Hiểu còn bị lãnh mấy viên đạn bắn thật gần, vì vết khói ám còn trên ngực áo. [Muốn biết một người bị bắn từ khoảng cách nào, các chuyên viên điều tra sẽ căn cứ vào loại đạn, vết đạn đi vào thân thể và trổ ra (nếu có). Tuy nhiên, trong trường hợp bị bắn thật gần (close range) chỉ cần nhìn vết khói ám trên quần áo, trên thân thể do bụi thuốc súng gây ra] Sự khám phá vết khói ám trên ngực Hiểu đã giải thích tại sao có thêm mấy phát súng nổ sau tràng AK. Một số anh em T2 ở dãy nhà gần hàng rào còn cho biết sau tràng AK họ nghe thấy tiếng la của Hiểu, tiếp theo mới là những “phát súng ân huệ”! Thực ra, nếu Hiểu bị thương nặng thì trong hoàn cảnh thiếu thốn thuốc men, phương tiện cấp cứu của một trại tù cải tạo, những phát súng bồi thêm của tên vệ binh đúng là một “ân huệ”, nhưng ở đây khi anh em khiêng xác Hiểu về, cái đồng hồ trên tay anh đã biến mất! Từ đó chúng tôi có quyền suy ra, chính cái đồng hồ Seiko 5 “hai cửa sổ không người lái” đã khiến tên vệ binh T1 nổi lòng tham và kết liễu mạng anh!… Lẽ dĩ nhiên, sau cái chết của Nguyễn Nhật Hiểu, anh em tù cải tạo ở Đồng Ban cũng hết hứng thú đá gà! Về phần Trung úy Vầy, người quản giáo hiền lành tốt bụng tôi đã nhắc tới ở một phần trước, không thường xuyên xuống đội của chúng tôi uống cà-phê nữa, có lẽ bầu không khí ngột ngạt sau vụ Nguyễn Nhật Hiểu bị bắn không còn thích hợp cho những buổi trò truyện thân mật giữa đôi bên. Chỉ tới trước khi đi phép về thăm gia đình ngoài Bắc, anh Vầy mới xuống chơi để báo cho chúng tôi biết. Đây là lần thứ hai kể từ ngày vượt Trường Sơn vào Nam chiến đấu, anh được về thăm nhà. Cũng xin bổ túc một chi tiết về gia cảnh của anh Vầy: cuối năm 1975, anh được đi phép lần đầu, về tới nơi mới biết vợ anh đã bỏ đi chung sống với một người đàn ông khác, để lại đứa con trai 6 tuổi cho bố mẹ anh nuôi. Thành thử sau khi ra ủy ban nhân dân xã ký giấy tờ ly dị, anh trở vào miền Nam ngay, trong lòng thề sẽ không bao giờ trở lại quê cũ! Nhưng rồi nghĩ lại, thương bố mẹ già, thương đứa con có cha có mẹ mà như mồ côi, nay anh phải về. Trước khi từ giã, anh Vầy có nói riêng với Cường rằng rất có thể khi anh trở lại trong Nam sẽ không gặp chúng tôi nữa, vì anh nghe phong phanh sắp có chuyển trại. Nhà nhà trốn trại… Trong khi ở T2 chúng tôi chỉ rỉ tai nhau tin “sắp chuyển trại” thì ở T3, không hiểu do nghe từ đâu, anh em tù cải tạo không chỉ đồn ầm lên sắp có chuyển trại mà còn nói rõ lần này sẽ bị đưa lên vùng cao nguyên để khai phá rừng Trường Sơn! Tin đồn này đã khiến những anh em sẵn có ý định trốn trại tìm cách trốn càng sớm càng tốt. Vài tuần lễ sau cái chết của Nguyễn Nhật Hiểu, ở T3 xảy ra cuộc trốn trại đầu tiên, rồi cuộc trốn trại thứ hai… Chúng tôi còn được nghe kể (không biết có thật hay không) anh em ở T3 bàn chuyện trốn trại một cách công khai, thậm chí một số anh em thuộc binh chủng nọ còn nấu một nồi chè, họp mặt để từ giã nhau! Một ngày nọ, sau bữa cơm chiều, Hùng sùi kéo tôi ra một góc sân, nói nhỏ: – Anh Sáu, đêm nay tôi zulu! Nghe Hùng tiết lộ, tôi không ngạc nhiên một chút nào bởi từ lâu tôi biết sớm muộn Hùng cũng sẽ trốn trại sang Căm-bốt. Tôi chỉ hỏi lại: – Đi với ai? – Anh Hạng! Hạng là một trung úy hải quân khá chững chạc, ít nói nhưng rất có uy tín với anh em. Riêng tôi, qua những lần nói chuyện với Hạng, tôi được biết anh căm thù cộng sản tới tận xương tủy. Trước đó, anh và Hùng sùi thuộc hai nhóm (dự định trốn trại) khác nhau, nay có lẽ vì nhiều người rút lui, nhóm Hùng sùi xin nhập chung vào nhóm của anh. Tôi ngập ngừng, tính nắm lấy tay Hùng nhưng rồi chỉ vỗ nhẹ lên vai, nói cụt ngủn: – Thôi… đi bình an! Trong số những anh em thiếu úy trẻ ở cùng đội, tôi thương Hùng sùi nhất. Năm 1972, vừa thi đậu Tú Tài 1, Hùng đã tình nguyện vào Thủ Đức, rồi tình nguyện về Nhảy Dù. Tới ngày trình diện học tập cải tạo, Hùng cũng chưa có một người yêu để đưa tiễn. Hùng sùi cao ráo, không đẹp trai lắm nhưng có nét đàn ông, thêm da mặt sần sùi nên trông già dặn hơn người anh ruột cũng ở T2 nhưng khác đội: T, một Thiếu úy Không Quân lái C-130, mặt mũi trắng trẻo, trông hết sức nhà lành. Trong khi Hùng sùi “phản động” ra mặt thì T rất an phận, rất có thể vì T đã có vợ. Hai anh em ra vẻ không thuận thảo với nhau vì tôi thấy hầu như hai người không bao giờ trò truyện. Kể cả khi được gia đình thăm nuôi, Hùng cũng ngồi với bố ở một góc nhà, T ngồi với vợ ở xa xa… Sáng hôm sau, ban chỉ huy trại được chính thức báo cáo có năm tù cải tạo ở T2, tức nhóm của Hạng, Hùng sùi, đã trốn trại trong đêm….
* * * Khoảng hai tuần sau, trong một lần đi chặt le về, thấy tay đội phó Sơn lồ đã… biến mất, chúng tôi đoán tới 99% hắn đã trốn trại bằng cách giả dạng thường dân đón xe ra Tây Ninh. Hai tuần sau, vẫn không thấy Chuẩn úy Đạt, tay chính trị viên của T2, khoe “cách mạng” đã bắt được Sơn, chúng tôi tin rằng hắn đã thoát. Cũng nên biết, theo nguyên tắc của các trại tù cải tạo, tù của trại nào trốn mà bị bắt lại, sẽ được đưa về trại đó để cảnh cáo mọi người. Trừ những trường hợp đặc biệt, chẳng hạn cướp vũ khí, tấn công, gây thương vong cho bộ đội, công an trên đường trốn trại, thì sẽ bị đưa về Bộ chỉ huy trung đoàn (L) để chờ bị xét xử – thường là xử bắn… Tới lúc ấy, Cường mới bật mí cho tôi biết Sơn có bà con ruột thịt ở Tây Ninh, cho nên một khi trốn trại chắc chắn hắn về đó tá túc, trước khi tính bước kế tiếp.
* * * Sơn lồ trốn trại được hơn một tuần thì Trung úy Vầy trở lại T2. Anh đưa cho Cường một gói trà Thái Nguyên và một phong bánh đậu xanh Bảo Hiên Rồng Vàng nổi tiếng của Hải Dương, nói là quà cho anh em trong nhóm. Hôm đó, không có mặt tôi, chỉ nghe Cường kể lại khi được biết Sơn lồ đã trốn trại, anh Vầy buột miệng: – Sao anh ấy dại dột vậy. Sắp có đợt thả đầu tiên rồi, anh ấy có tên trong danh sách ban chỉ huy trại đề nghị! Theo những gì anh Vầy giải thích với Cường, chính sách cải tạo trong Nam hiện nay cũng giống như ở ngoài Bắc sau năm 1954, ngoại trừ những người nằm trong sổ bìa đen, tức thành phần bị xem là “kẻ thù nguy hiểm của chế độ”, sẽ không có ngày về, hoặc chỉ được thả về khi gần chết, còn những người bị bắt đi cải tạo chỉ vì trước kia đã cộng tác với địch, cứ mỗi 3 năm sẽ được cứu xét và một số sẽ được thả về. Lúc ấy, nghe Cường kể lại, tôi bán tín bán nghi, nhưng mấy tháng sau, khi chúng tôi đã được chuyển tới một trại khác, đợt thả tù đầu tiên đã diễn ra; khi ấy tôi mới biết anh Vầy nói thật.
* * * Tới khoảng tháng 8 hay tháng 9 /1977, ở Đồng Ban có đợt chuyển trại, đúng như anh Vầy đã tiên đoán. Trên dưới 500 tù cải tạo của L2, tức là vào khoảng 1/3, được đưa tới Cây Cầy cách đó khoảng 15 cây số để “tăng gia sản xuất”. Căn cứ vào “quá trình hoạt động” và mức độ “ác ôn” của thành phần đi Cây Cầy, chúng tôi cũng chẳng hiểu nhà cầm quyền trại đã dựa trên tiêu chuẩn nào để chọn số người này. Bởi có cả cấp trung úy lẫn thiếu úy, cả già lẫn trẻ, cả “tiến bộ” lẫn “phản động”, cả “có thân nhân cách mạng” lẫn “con bà phước”… Trong số bạn bè hoặc người quen biết của tôi đi Cây Cầy, có Đức “cống”, Hiếu đờn, và hai Trung úy hoa tiêu trực thăng – 1 gunship, một Chinook. Thêm một chi tiết cũng cần ghi ra, đây lần chuyển trại đầu tiên mà tù cải tạo được cho biết trước nơi mình sắp được đưa tới. Chúng tôi cho đây là một sơ sót vô tình của ban chỉ huy trại hơn là có chủ ý, bởi nó đã gây xôn xao lo lắng cho không ít anh em còn ở lại. Xôn xao lo lắng vì tin rằng sẽ bị đưa đi xa hơn, rất có thể ra tận miền Trung để khai phá rừng Trường Sơn, như anh em ở T3 đã đồn! Vì thế, trong khi tôi và những anh em đã từng ra Phú Quốc không mấy quan tâm tới việc mình sẽ bị đưa đi đâu thì đám thiếu úy trẻ gốc Trảng Lớn xuống tinh thần ra mặt, và nhiều tay đã tính tới việc trốn trại. Dĩ nhiên là trốn vào rừng rồi đi sang Căm-bốt, bởi họ đâu có giấy tờ giả hay rành đường đi nước bước ở Tây Ninh như Sơn lồ để trốn về Sài Gòn! Một yếu tố nữa đã khiến mấy chàng thiếu úy trẻ hăm hở bàn tính chuyện trốn trại là tin đồn “hồ hởi phấn khởi” về chuyến vượt thoát của nhóm Hạng (Hải Quân) & Hùng sùi. Qua kinh nghiệm trong thời gian ở tù cộng sản và sau đó sống ở các trại tỵ nạn, tôi nhận thấy không nơi đâu có nhiều tin đồn thất thiệt bằng hai nơi này. Có khác nhau chăng là tin đồn ở các trại tỵ nạn may ra còn có thể kiểm chứng nhưng trong trại tù cải tạo thì vô phương. Nào là ông Nguyễn Cao Kỳ, tướng Ngô Quang Trưởng trở về lập chiến khu để… phục quốc, nào là Liên Hiệp Quốc đang can thiệp để buộc chế độ CSVN phải thả hết tù cải tạo, nào là tất cả sĩ quan sẽ được đưa sang Mỹ, mỗi người sẽ được phát mấy chục nghìn đô-la xài chơi… Nhưng trong khi những tin đồn thất thiệt nói trên được xem là vô hại thì tin đồn thất thiệt về thành công của những vụ trốn trại qua ngả Căm-bốt đã đem lại hậu quả vô cùng tai hại là tạo ảo tưởng cho những người muốn trốn trại bằng con đường này. Trong một kỳ tới tôi sẽ viết về những anh em trốn trại mà tôi biết chắc chắn đã bỏ mạng tại biên giới Việt – Miên. Trở lại trại cải tạo Đồng Ban, khoảng một tháng sau khi nhóm Hạng & Hùng sùi trốn trại, có tin đồn Hạng đã tới Thái Lan và báo tin về cho gia đình! Tin đồn nói rằng sở dĩ anh em biết được là do gia đình một anh em Hải Quân viết thư thông báo – dĩ nhiên dưới một hình thức ngụy trang nào đó. “Anh em Hải Quân” đó là ai, không một người nào biết đích xác, nhưng tin đồn thì ngày càng lan rộng, và ngày càng có thêm nhiều người trốn trại, trong đó có đám thiếu úy trẻ gốc Trảng Lớn ở T2 tôi đang đề cập tới. Một đêm nọ, ba tù cải tạo gồm Hùng “nhô” – một thiếu úy Khóa 4 Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt mới ra trường – cùng hai chú em mặt non choẹt khác, âm thầm trốn trại. Báo hại, sáng ra Cường đội trưởng phải thân chinh ban chỉ huy trại báo cáo sự việc. Viên thủ trưởng, Thượng úy Phùng Xuân Nghĩa, liền ra lệnh cho gôm tất cả tù cải tạo còn lại vào hai dãy nhà ở gần “khung” nhất, và chỉ thị lập danh sách trực gác ban đêm: sau kẻng ngủ, từng cặp phải thay phiên nhau thức để canh chừng, đề phòng có người trốn trại. Nhưng tới khoảng 2, 3 giờ chiều thì thấy… Hùng “nhô” và hai chú em thiếu úy mò về trại! Thì ra đêm qua, sau khi trốn khỏi trại, ba chàng vào rừng tới chỗ chôn dấu quần áo lương thực, vừa đào lên xong thì nghe tiếng toán tuần tiễu của vệ binh T1 dắt chó đi ngang qua gần đó. Ba chàng nằm chờ cả tiếng đồng hồ, đợi toán tuần tiễu quay về mới dám ra con đường mòn để đi. Từ lúc ấy cho tới trưa hôm sau, ba chàng đã “đụng” các toán tuần tiễu thêm ít nhất hai lần nữa, cũng may mà chạy kịp vào rừng! Cuối cùng, nhuệ khí lúc ban đầu đã biến mất. Ba chàng quyết định… quay về! Chờ cho Hùng “nhô” và hai anh bạn định thần, Cường dắt lên ban chỉ huy trại trình diện ông thủ trưởng. Theo lời kể lại của Cường, có lẽ Thượng úy Phùng Xuân Nghĩa cũng không thể ngờ ba tay cải tạo cả gan trốn trại lại mặt búng ra sữa như thế, ông không tỏ lộ một chút giận dữ, chỉ nói: – Thôi, trở về đội sinh hoạt bình thường với mọi người, từ nay đừng có dại dột nữa nhé! Cũng theo Cường, sở dĩ ba tay trốn trại được khoan hồng một phần cũng vì ông Nghĩa có muốn biệt giam cũng không có chỗ nhốt, không có người canh giữ, vì lúc đó trên “khung” ai cũng bận rộn chuẩn bị chuyển trại, hòm rương, đồ đạc, nồi niêu xoong chảo ngổn ngang… “Thầy” Sáu Lèo, quả lắc cảm xạ, và Tha La Xóm Đạo Mấy ngày sau, thấy tay tài vụ của T2 đưa người vào tổ chăn nuôi để bán heo, chúng tôi biết ngày chuyển trại đã gần kề, anh em nào còn nuôi gà đều mang ra thịt hết, các bữa trưa bữa tối trở nên thịnh soạn hơn bao giờ hết, nhưng ăn ngon mà vẫn không vui vì nỗi lo trước mắt: sẽ bị đưa đi đâu?! Riêng cá nhân tôi vì đã dứt khoát không trốn trại cho nên cũng chẳng mấy quan tâm tới việc mình sẽ bị đưa đi đâu; chỉ có điều ưu tư là trường hợp bị đưa ra miền Trung thì tội nghiệp cho gia đình phải vất vả khi đi thăm nuôi; khi ấy rất có thể tôi sẽ nói vợ tôi khỏi thăm nuôi, để tiền lo cho các con. Không quan tâm nhưng thấy anh em quá lo lắng, tôi chợt nhớ tới vốn liếng cảm xạ học đã thọ giáo Thành “cận” hồi còn ở Thành Ông Năm, trong đó có mục tìm vị trí của một nơi chốn nào đó, thế là tôi quyết định… thí nghiệm! Xin được kể sơ lại, Thành “cận”, tức Trung úy Quân vận Khương Hữu Thành, tay tổ trưởng của tôi ở Thành Ông Năm, là một nhân vật độc đáo, có một kho kiến thức rất đáng nể phục, từ âm nhạc tới ẩm thực, tây y tới đông y, trên thiên văn dưới địa lý, từ khoa học thực nghiệm tới khoa học huyền bí… Khoa học huyền bí trong trường hợp của Khương Hữu Thành là Cảm xạ học (Radiesthesia) và Thông thiên học (Theosophia); anh là hội viên của Thông thiên học Việt Nam. Thông thiên học là một học thuyết siêu hình (đạo Cao Đài của Việt Nam có những tương quan với học thuyết này), tôi hoàn toàn mù tịt cho nên xin miễn bàn. Cảm xạ học thì hiện nay vẫn bị một số người xem là khoa học huyền bí, trong khi nhiều người khác cho là “một khoa học thực nghiệm chưa được chứng minh”, cho nên tôi cũng xin đứng vòng ngoài, và chỉ thuật lại với độc giả những gì tôi được Thành cận truyền thụ và kết quả ứng dụng. Ngày ấy, trong những lúc rảnh rỗi tới mức nhàm chán ở Thành Ông Năm, Thành cận đã “thuyết” về cảm xạ học, kể ra một số ứng dụng của quả lắc cảm xạ, và hỏi có ai muốn thọ giáo không. Nghe sơ qua thấy cũng… ly kỳ, tôi và hai anh bạn cùng đội tình nguyện bái sư. Tuy nhiên sau hai buổi “test” bằng cách thử cho quả lắc quay vòng, hai người kia bị Thành cận loại, chỉ mình tôi được tiếp tục thọ giáo vì có “chỉ số năng lượng (Bovis) cao” – nguyên văn lời Thành cận. Sau đó, tôi được Thành chỉ dạy cách thức sử dụng quả lắc cảm xạ cho tới khi nhuần nhuyễn, và thường xuyên ôn luyện để duy trì “chỉ số năng lượng”. [Độc giả muốn tìm hiểu thêm về về cảm xạ học, cách sử dụng và ứng dụng quả lắc cảm xạ, có thể lên Internet, có khá nhiều trang mạng tiếng Việt viết về đề tài này] Trở lại với T2, Đồng Ban. Trước hết tôi thực hiện một quả lắc cảm xạ hết sức đơn giản là một hòn sỏi nhỏ cỡ đốt ngón tay út, đầu to đầu nhỏ, cột vào một sợi dây dài khoảng 25 cm sao cho đầu nhỏ của hòn sỏi chỉ xuống đất, rồi lấy bốn trang giấy vở học trò ghép lại, vẽ một cảm xạ đồ hình tròn với bốn phương tám hướng, sau đó “test” để biết chắc quả lắc cảm xạ hoạt động chính xác.
Quả lắc (kim loại) và các mẫu cảm xạ đồ Sau một đêm ngủ để giải tỏa mọi buồn bực ưu phiền, ngày hôm sau, khoảng 10 giờ sáng, tôi bày “đồ nghề” ra trên sạp ngủ, yêu cầu anh em giữ khoảnh cách ít nhất 1m50, tin hay không tin cũng xin giữ im lặng, rồi ngồi thiền. “Thiền” với tôi không có gì cao siêu mà rất đơn giản. Nguyên từ thời trung học, theo học Nhu đạo (Judo) tại võ đường Quang Trung của Thượng tọa Thích Tâm Giác ở đường Phạm Đăng Hưng, Đakao, trước mỗi buổi học, tất cả các môn sinh, từ nhập môn cho tới huyền đai, đều phải lên phòng tập chính ngồi thiền trước khi trước về lớp của mình.
Theo sự hướng dẫn của Thầy, chúng tôi tập trung tư tưởng để đạt tới vô thức, vận dụng năng lượng của bản thân để tiếp thu những gì sẽ học hỏi. Chỉ đơn giản thế thôi, nhưng rõ ràng là có hiệu quả. Thiền xong, tôi chuẩn bị tư thế của cánh tay, bàn tay, test lại quả lắc lần cuối cùng, rồi tập trung tư tưởng, vận dụng năng lựơng trong người truyền qua bàn tay, đi qua sợi dây nối để vào quả lắc, rồi đưa ra các câu hỏi có sẵn trong đầu. Tôi tiến hành công việc một cách từ tốn, chậm chạp, anh em rất sốt ruột nhưng không dám lên tiếng… Khoảng nửa tiếng đồng hồ sau, tôi cho anh em biết nếu tin vào quả lắc cảm xạ, nơi chúng tôi sẽ được đưa tới nằm về hướng đông đông bắc của Đồng Ban, khoảng cách từ 100 tới 150 cây số đường chim bay. Nghe tôi nói, anh em bán tín bán nghi. Thực ra lúc đầu hầu như không có ai tin tưởng cả, họ vây quanh quan sát tôi sử dụng quả lắc cảm xạ chỉ vì óc tò mò, nhưng tới khi thấy quả lắc (hòn sỏi) chạy vù vù thì họ bắt đầu tin tôi có một khả năng đặc biệt nào đó. Dĩ nhiên, cũng có một số người có định kiến, hoặc không chứng kiến tận mắt mọi diễn tiến, đã cho rằng mọi người bị tôi bịp. Cường đội trưởng cũng là một trong số những người bán tín bán nghi. Anh đề nghị tôi double-check bằng cách làm lại một lần nữa nhưng tôi từ chối. Tôi giải thích đại khái: tôi không nhận thấy bất cứ trục trặc nào trong lúc test cũng như trong tiến trình sử dụng quả lắc. Như vậy nếu kết quả không chính xác thì chỉ vì tôi đã không tập trung tư tưởng, không vận dụng năng lực đủ để truyền đạt các câu hỏi tới quả lắc. Mà một khi đó là nguyên nhân, tôi có làm lại lần thứ hai kết quả cũng sẽ không chính xác như lần thứ nhất mà thôi; chưa kể còn sai lạc nhiều hơn bởi cơ thể lẫn tinh thần đã mệt mỏi, thiếu sáng suốt, bình tĩnh. Nhưng tin hay không tin, một số anh em cũng đem những dữ kiện tôi cung cấp để tìm ra câu trả lời về địa điểm sẽ bị đưa tới. Theo những anh em sĩ quan bộ binh quen thuộc với bản đồ của các tỉnh miền đông Nam Bộ và cao nguyên Trung Phần, với phương hướng và khoảng cách tôi đưa ra, chúng tôi sẽ bị đưa về một trong ba tỉnh Phước Long, Quảng Đức và Lâm Đồng. Trong số ba tỉnh nói trên, Lâm Đồng bị chúng tôi gạt bỏ ngay, bởi qua đọc các “báo Đảng” ai cũng biết những vùng đất chưa khai thác của tỉnh này đã được dành ưu tiên cho dân miền Bắc vào Nam lập nghiệp – nơi có những “vùng kinh tế mới” với nhà mái tôn, có máy phát điện để xem truyền hình! Còn lại hai tỉnh Phước Long và Quảng Đức, chúng tôi thiên về Phước Long (sau 1975 gọi là tỉnh Sông Bé ), bởi phần lớn diện tích của tỉnh đất đỏ màu mỡ này vẫn chưa được khai thác.
* * * Hai ngày sau, đoàn molotova chở chúng tôi rời Đồng Ban. Lần đầu tiên, xe không bị bít bùng. Dĩ nhiên, đoàn xe đi về hướng nam, bởi nếu đi lên hướng bắc sẽ là biên giới Việt – Miên. Qua thị xã Tây Ninh, tới chợ Trảng Bàng đoàn xe dừng lại khoảng nửa tiếng đồng hồ để đám cán bộ, vệ binh mua sắm. Chiếc xe chở tôi đi phía sau, đậu cách chợ vài trăm mét, ngay ngã ba Quốc lộ 1 và con đường đá đỏ đi vào họ đạo Tha La, nơi tôi đã sống những tháng ngày thần tiên của thời niên thiếu. Dĩ vãng bấy lâu tưởng đã nhạt nhòa bỗng sống lại trong tôi… (Chú thích 1) Còn nhớ vào đầu năm 1965 tại Sài Gòn, khi ca khúc Tha La Xóm Đạo của Dzũng Chinh được Hoàng Oanh thu đĩa, làm mưa gió trên các làn sóng điện đài phát thanh, tôi cho bạn bè biết gần 10 năm trước tôi đã từng sống ở Tha La, không một người nào tin. Họ nói dân giá sống thứ thiệt đây mà còn không biết Tha La xóm đạo ở đâu thì làm sao một tay Bắc Kỳ di cư như tôi lại có thể đã sống ở đó?!
Nguyên vào đầu năm 1955, sau khi di cư vào Nam, tạm trú mấy tháng tại nhà một người cô (chị ông ngoại) vào Nam trước Đệ Nhị Thế Chiến nay ở Thị Nghè, gia đình tôi theo bà ngoại và mấy cậu, dì chưa lập gia đình tới họ đạo Tha La ở quận Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh để lập nghiệp. [Tới cuối thập niên 1950 hay đầu thập niên 1960, khi tỉnh Hậu Nghĩa được thành lập, Trảng Bàng thuộc tỉnh mới, sau 1975 trở lại thuộc Tây Ninh] Sau này có cơ hội tìm hiểu, tôi được biết trước kia, vào hai năm 1954, 1955, chính phủ của Tổng thống Ngô Đình Diệm đã đưa khoảng 40.000 đồng bào Công Giáo miền Bắc di cư tới Tây Ninh lập nghiệp, đa số tập trung ở quận Châu Thành (sau 1975 gọi là “huyện”), một số nhỏ ở Bời Lời thuộc quận Trảng Bàng, hoặc Đồng Ban và Bàu Cỏ thuộc quận Tân Châu. Tuy nhiên vì không có kế sinh nhai, chỉ sau một thời gian ngắn, những người ở Bời Lời, Đồng Ban, Bàu Cỏ, hoặc đi nơi khác lập nghiệp, hoặc về quận Châu Thành, hợp cùng đoàn người di cư ở đây thành lập giáo xứ Cao Xá, vẫn còn hiện hữu cho tới ngày nay. Những tài liệu trên không hề nhắc tới đoàn người lập nghiệp ở họ đạo Tha La có lẽ vì đây chỉ là một nhóm nhỏ, và về sau bỏ đi gần hết. [Theo một tài liệu, trước năm 1975, chỉ còn bốn gia đình người Bắc di cư ở lại họ đạo Tha La] Sở dĩ gia đình tôi lên Tha La là vì bà ngoại tôi rất thân với một vị linh mục uy tín đã trọng tuổi mà bà gọi một cách trân trọng là “Cha già cố Trực”. Khi biết ngài đang “tuyển mộ” dân Công Giáo di cư lên Trảng Bàng để lập xứ đạo, bà đưa hai người cậu, người dì út, và rủ bố mẹ tôi đi theo để ủng hộ tinh thần Cha. Thời gian này người dì giữa của tôi vừa lập gia đình, mua nhà trong hẻm 6 đường Trương Minh Giảng (nối dài), Phú Nhuận, khuyên bà tôi ở lại Sài Gòn mua lô đất trống gần đó, xây nhà cho các cậu và dì út của tôi ở. Bà ngoại tôi tuy góa chồng sớm (ông ngoại tôi làm Lý trưởng, hy sinh đầu năm 1954 khi bốt quốc gia bị Việt Minh tấn công) nhưng cũng còn chút của; tuy nhiên thay vì nghe lời khuyên của dì tôi, bà nhất định đi theo “Cha già cố Trực” lên Tha La. Để rồi chỉ nửa năm sau đã phải quay trở về hẻm 6 mua đất xây nhà! Nhưng riêng gia đình tôi thì nhất quyết nhận Tha La làm quê hương thứ hai. Lúc đó tôi mới 6, 7 tuổi, đang suốt ngày bị nhốt trên căn gác chật hẹp ở ven sông Thị Nghè bỗng được về sống ở một vùng quê rộng rãi thoải mái, cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, xum xuê cây trái hoa lá, có ruộng vườn, sông suối, rừng cây, tha hồ bay nhảy, hỏi không thích sao được! Theo ký ức của tôi, đi theo Quốc lộ 1 hướng Sài Gòn – Tây Ninh, qua chợ Trảng Bàng vài trăm mét, quẹo trái vào con đường trải đá đỏ, cứ đi thẳng về hướng tây sẽ thấy nhà thờ Tha La nằm phía bên trái. Sau này lớn lên tôi mới biết Tha La là không chỉ là xứ đạo lâu đời và lớn nhất ở tỉnh Tây Ninh mà còn là một trong những xứ đạo nổi tiếng của miền đông Nam Bộ vào thời kháng chiến chống Pháp, được lưu danh trong văn học sử qua bài thơ Tha La Xóm Đạo của Vũ Anh Khanh. (Chú thích 2) Đi qua nhà thờ và trường học thì tới một con dốc thoai thoải, và cuối cùng những ruộng mía lau gần bờ sông. Cũng từ Trảng Bàng đi vào, trước khi tới nhà thờ, từ con đường đá đỏ rẽ mặt vào một con đường đất, lớn đủ để cho xe hơi chạy, sẽ tới khu định cư của người Công Giáo di cư, bề dài khoảng hơn một cây số, bề ngang vài trăm mét, được vây quanh bởi những lũy tầm vông lâu đời dày cả mấy mét. Khu đất này không bỏ trống mà trồng xoài từ đời nào, xen lẫn là khoảng 100 căn nhà tranh vách đất dành cho dân di cư, một ngôi nhà thờ nho nhỏ mái tôn vách tôn, với một vị linh mục người Bắc di cư gọi là “cha Mỹ” kiêm đủ mọi công việc đạo đời – vừa là cha xứ vừa đại diện chính quyền. Tôi không biết khu đất này là tài sản của họ đạo Tha La hay một đại điền chủ nào đó, chỉ biết chắc chắn không phải đất công, bởi vì vào mùa xoài, có người đưa xe bò và công nhân tới hái xoài chở đi. Tôi vẫn còn nhớ những luật lệ bất thành văn do cha xứ phổ biến cho giáo dân trong các buổi đọc kinh ở nhà thờ, chẳng hạn chỉ được thu lượm trái cây – mít, xoài, vú sữa, điều lộn hột… – đã rụng xuống đất chứ không được leo lên cây để hái, không được bẻ măng (tre, tầm vông), thơm khóm mọc ở bất cứ nơi nào, bởi tất cả đất đai ở đây đều có chủ, không phải đất hoang…, nhất nhất đều được giáo dân tuân giữ. Vì dân di cư ở Tha La không mấy người kiếm được công ăn việc làm, không có ruộng rẫy để canh tác, không có rừng để khai phá, khoảng nửa năm sau, khi đại diện chính phủ tới kêu gọi người tình nguyện đi Ban Mê Thuột lập “khu dinh điền”, khoảng 1/3 dân di cư đã theo mấy chiếc xe vận tải lên vùng cao nguyên. Số còn lại cũng bỏ đi dần, cho tới lúc chỉ còn lại khoảng 10 gia đình, cha Mỹ cũng gỡ tôn nhà thờ chở đi đâu mất (chắn hẳn phải có phép của Bề Trên) thì đám Bắc Kỳ di cư còn lại được nhập vào họ đạo Tha La của dân Nam Kỳ. Tôi được đi học ở trường tiểu học do các dì phước trông coi. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi được cắp sách đến trường nhưng đã biết đọc biết viết, làm toán cộng toán trừ, nhờ được mẹ dạy ở nhà từ hồi còn ở ngoài Bắc, cho nên được học lớp Tư. Tôi học khá giỏi, trừ môn chính tả luôn luôn bị zéro (trên 10 lỗi), vì các dì phước người Nam đọc sao tôi cứ y như thế mà viết: dui dẻ, ra dô, dường tược, diếc mực, dăng minh, dâng chúng, cờ dàng… Đây cũng là lần đầu tiên trong đời tôi có bạn đúng nghĩa. Cũng giống như người lớn ở Tha La, đám con trẻ con Nam Kỳ ở đây không hề kỳ thị “Bắc Kỳ ăn cá rô cây”, trái lại chúng rất thích chơi với tôi, có lẽ vì tôi tháo vát, lắm trò nghịch ngợm, và nói giọng Bắc nghe “thiệt ngộ”! Về phần tôi, nhờ theo các bạn Nam Kỳ, tôi mới có cơ hội khám phá hết vùng Tha La, với sinh hoạt đặc thù và phong cảnh độc đáo, vừa có ruộng vườn, sông suối vừa có những ngọn đồi thoai thoải, vừa có hoa màu nơi vườn tược vừa có những loài hoa dại trong rừng, nơi chúng tôi thường rủ nhau đi hái trái hồng quân (còn gọi là bồ quân, mùng quân), một loại trái chùm giống như trái nho thường mọc hoang ở miền Thượng du Bắc Việt, và Tha La, Thất Sơn (An Giang) trong Nam.
Trái hồng quân Cũng ở Tha La, lần đầu tiên trong đời tôi có… girlfriend; hoặc nếu độc giả không tin một thằng nhóc mới 6, 7 tuổi đã biết yêu, tôi xin sửa lại cho nhẹ nhàng hơn: lần đầu tiên trong đời tôi thích một người… khác phái. Tôi không phải văn sĩ hay chuyên gia tâm lý để có thể diễn tả, mổ xẻ, phân tích quan hệ tình cảm đặc biệt này, nhưng dứt khoát đây không chỉ là tình bạn học giữa hai đứa trẻ khác tính phái, bởi vì cùng với những nụ cười chúng tôi dành cho nhau, còn có cả… ánh mắt! Đôi mắt to tròn và mái tóc bắt đầu dài ấy là một phần không thể xóa bỏ mỗi khi tôi nhớ về chốn thiên đường hạnh phúc thời niên thiếu! Cùng khoảng thời gian, nhờ có chút vốn liếng chữ nghĩa, thường giúp mọi người viết đơn từ, và hay ra xã xin các tạp chí, bản tin, bích chương của chính phủ về nhà đọc và phổ biến cho mọi người, nay bố tôi được trao chức vụ Thư ký Hội đồng Xã. Sau khi khăn gói ra Long Hoa học một khóa hành chánh, ông bê về nhà một cái máy đánh chữ cổ lỗ sĩ to gần bằng nửa cái bàn, thì gia đình coi như an cư lạc nghiệp. Thỉnh thoảng có “quan lớn” trên quận đi xe díp màu xanh lá cây (công xa) về thăm, tôi lại được dịp lên mặt với đám bạn Nam Kỳ. Về phần mẹ tôi vốn tính tình cởi mở, dạn dĩ, đã trở nên thân thiết với các cô gái miền Nam gần nhà, được họ gọi là “chị Ba”, chiều chiều khi chuông nhà thờ đổ lại rủ nhau đi đọc kinh chiều… Từ những ngày ấy cho tới khi qua đời hơn 60 năm sau đó, mẹ tôi không bao giờ vấn tóc nữa, mà chỉ búi. Ngoài ra, gia đình tôi còn được bà Tám Hào, góa phụ của một chủ đất giàu có ở Tha La, nhận làm con cháu. Bà Tám khi ấy đã móm xọm nhưng còn khỏe mạnh và sống một mình. Khi chia đất cho các con, bà giữ lại thửa đất có căn nhà của vợ chồng bà. Thửa đất ấy trồng toàn vú sữa – loại trái cây nổi tiếng nhất của Tha La, và mấy cây mít gần nhà trong đó có một cây mít ướt dành riêng cho bà. Bà bắt chúng tôi kêu bằng “bà nội” (ông bà nội tôi đã mất ngoài Bắc), và thương “con Ba” (mẹ tôi) tới mức nhiều khi con cháu bà phải ganh tỵ. Bà Tám Hào chỉ có một “khuyết điểm” là đi lễ Chủ Nhật luôn luôn đứng bên ngoài chứ không chịu vào nhà thờ. Bà nói “Tao đứng ngoài để muốn dìa lúc nào thì dìa!” Có lẽ bà hạp mẹ tôi một phần là vì cả hai đều có máu “tomboy”! Có thể viết, nếu cuộc đời cứ thế trôi đi, tôi và thằng em trai sẽ trở thành hai chàng trai Tha La thứ thiệt. Nhưng có lẽ chúng tôi có duyên với Tha La mà không có nợ! Trong năm 1956, sau một loạt vi phạm Hiệp Định Genève 1954 của phía cộng sản, Tổng thống Ngô Đình Diệm chấm dứt các cuộc tiếp xúc giữa hai miền về việc tổng tuyển cử thống nhất đất nước, thì đám du kích bấy lâu nay trốn tránh bên kia bờ sông Vàm Cỏ, bắt đầu mò về hoạt động trở lại. Nghe bố tôi nói chuyện với người lớn, tuy không hiểu rõ tôi cũng đoán được đám du kích này đã ám sát một số viên chức chính phủ ở địa phương. Một đêm nọ, lực lượng Bảo An trên quận được mật báo, về Tha La vây bắt được hai tên du kích lén về thăm nhà. Cho tới sau này tôi cũng không biết đích xác về sự hăm dọa của đám Việt Cộng nằm vùng đối với các viên chức ở xã, cũng như tình trạng “xôi đậu” ở Tha La nói riêng, Trảng Bàng nói chung, chỉ biết bố tôi đã quyết định xin nghỉ việc để đưa gia đình trở lại Sài Gòn. Chính vì tuổi niên thiếu êm đẹp của mình bị chấm dứt một cách đột ngột, phũ phàng như thế, tôi không bao giờ quên được Tha La, cho dù thời gian sống ở đó chưa đầy hai năm…
Nhà thờ Tha La trước năm 1975 Đoàn molotova chuyển bánh, tôi nhìn lại con đường đá đỏ lần cuối, nhà thờ Tha La bị những tàng cây xanh che khuất, chỉ thấy một chiếc xe bò chở đầy me xanh ra chợ. Thì ra hàng me cổ thụ bên đường phía trước nhà thờ mà ngày ấy chúng tôi thường lén cha xứ leo lên nghịch phá, nay vẫn còn đó, và trở thành một nguồn lợi, dù bé nhỏ, cho người dân vùng đất “trái ngọt cây lành” sau cuộc đổi đời. Rồi tôi chợt bâng khuâng: không hiểu cô bé Tha La tóc dài có cặp mắt to tròn học lớp Tư ngày ấy tôi… yêu, giờ này đã mấy con?!
CHÚ THÍCH: (1) Quốc lộ 1: Hiện nay, theo cách gọi của CSVN, Quốc lộ 1 từ Bắc vô Nam, tới Sài Gòn thì tiếp tục đi xuống miền Tây, tới tận Năm Căn, Cà Mau. Thực ra đây chỉ là một sự áp đặt mang mục đích tuyên truyền, xóa bỏ thực tế lịch sử. Nguyên Quốc lộ 1 được xây dựng từ thời Pháp thuộc, không chỉ là con đường nối liền ba miền bắc trung nam của Việt Nam mà còn nối với cả thủ đô Nam Vang (Phnom Penh) của Căm-bốt, từ Sài Gòn đi qua Ngã Tư Bảy Hiền, Hốc Môn, Củ Chi, Trảng Bàng tới thị trấn Gò Dầu thì quẹo trái để đi sang Căm-bốt. Còn con đường từ Sài Gòn đi miền Tây xuống tới Cà Mau được Việt Nam Cộng Hòa đặt tên Quốc lộ 4. Sau năm 1975, đoạn đường này cũng được chế độ mới gọi là Quốc lộ 1, còn con đường nối liền Sài Gòn với Căm-bốt, tức Quốc lộ 1 cũ, được gọi là Quốc lộ 22. (2) Tha La Xóm Đạo. Mời độc giả đọc nguyên văn bài viết của tác giả Lê Thương: Vũ Anh Khanh và Tha La Xóm Đạo Tha La, trước năm 1975, người dân Miền Nam đã nghe tên nầy qua các bản nhạc “Tha La Xóm Đạo”, “Hận Tha La”, “Vĩnh Biệt Tha La”. Tha La nằm trong vùng Trảng Bàng, nếu bắt đầu đi từ Sài-Gòn theo hướng Tây Bắc đến Hóc Môn rồi vượt Củ Chi và đến quận Trảng Bàng. Từ Trảng Bàng theo con đường đất đỏ mà hai bên đường là các thửa ruộng, rẫy chen lẫn với các nhà dân. Tha La chỉ là một xóm nhỏ với những mái nhà lợp tranh, lợp tôn nhưng thỉnh thoảng cũng có những nhà lợp ngói thấp thoáng sau những vườn cây ăn trái. Nguyên thủy Tha La tên gốc từ chữ Schla của người Khmer, có nghĩa là trại hoặc nơi nghỉ mát rồi không biết từ khi nào người Việt đọc Schla thành Tha La và địa danh nầy tồn tại cho tới ngày nay. Tha La thuộc ấp An Hội, Xã An Hòa nằm trong quận Trảng Bàng thuộc tỉnh Tây Ninh và là một Xứ Đạo Thiên Chúa. Từ thời vua Minh Mạng dân theo đạo trốn chạy lánh nạn vào đây rồi khai quang lập ấp, xây dựng cuộc sống để bảo tồn nền đạo cùng niềm tin Thiên Chúa. Trong Tha La, nơi nhộn nhịp, trù phú nhất là khu vực dân cư sống chung quanh họ đạo gần nơi thánh đường Thiên Chúa Giáo. Tuy nhiên, cũng có một số người theo đạo Phật, theo đạo Cao Đài hay thờ cúng tổ tiên sống ở Tha La. Tha La là một vùng đất lành, màu mỡ do con kinh Vàm Trảng dẫn nước từ sôngVàm Cỏ Đông về tưới mát đất đai, cây trái, vườn tược nhưng sao dân cư ở trong vùng vẫn mang vẻ u hoài, hiu quạnh hay Tha La tự nó vẫn buồn muôn thuở…? Trong công cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp, thanh niên nam nữ Tha La đã nhiệt tình tham gia phong trào kháng chiến, họ ra đi không hẹn ngày trở về và họ đã đền nợ nước trên các chiến trường lửa đạn khiến Tha La vắng bóng người, buồn cô quạnh… rồi nhà thơ Vũ Anh Khanh trong một lần lạc bước đến Tha La đã cảm xúc tinh thần yêu nước chống ngoại xâm của nam thanh nữ tú Tha La nên sáng tác bài thơ “Tha La Xóm Đạo” vào năm 1950. “Tha La Xóm Đạo” là một bài thơ dài 97 câu, viết theo lối hợp thể, đoạn mở đầu là ngũ ngôn, rồi chuyển sang tám chữ, sau đó thành kịch thơ và kết thúc bằng hai câu thất ngôn. Lời thơ giản dị, chân thành. Nhịp điệu của bài thơ nhẹ nhàng như lời tâm tình đã làm rung động tâm hồn của nhiều độc giả. “Tha La Xóm Đạo” đã được nhạc sĩ Dũng Chinh, cũng người Phan Thiết phổ nhạc vào năm 1964. Sau đó một năm, nhạc sĩ Sơn Thảo phổ thành bài hát mang tên “Hận Tha La” và cũng trong năm này nhạc sĩ Anh Tuyền phổ thành ca khúc mang tên “Vĩnh Biệt Tha La”. Ngoài ra, soạn giả cải lương Viễn Châu cũng đã phỏng theo ý tưởng của Vũ Anh Khanh để viết ca khúc tân cổ giao duyên “Tha La Xóm Đạo”. Bài Thơ “Tha La Xóm Đạo” Đây Tha La xóm đạo Có trái ngọt cây lành Tôi về thăm một dạo Giữa mùa nắng vàng hanh.
Ngậm ngùi Tha La bảo: – Đây rừng xanh rừng xanh, Bụi đùn quanh ngõ vắng, Khói đùn quanh nóc tranh. Gió đùn quanh mây trắng, Và lửa loạn xây thành. Viễn khách ơi! Hãy dừng chân cho hỏi, Nắng hạ vàng ngàn hoa gạo rưng rưng, Đây Tha La một xóm đạo ven rừng, Có trái ngọt, cây lành in bóng lá. Con đường đỏ bụi phủ mờ gót lạ. Ngày êm êm lòng viễn khách bơ vơ! Về chi đây? Khách hỡi? Có ai chờ? Ai đưa đón? – Xin thưa, tôi lạc bước! Không là duyên, không là bèo kiếp trước, Không có ai chờ, ai đón tôi đâu! Rồi quạnh hiu, khách lặng lẽ cúi đầu, Tìm hoa rụng lạc loài bên vệ cỏ, Nhìn cánh hoa bay ngẩn ngơ trong gió, Gạo rưng rưng, nghìn hoa máu rưng rưng. Nghìn cánh hoa rơi, lòng khách bỗng bâng khuâng. Tha La hỏi: Khách buồn nơi đây vắng? Không, tôi buồn vì mây trời đây trắng! – Và khách buồn vì tiếng gió đang hờn? Khách nhẹ cười, nghe gió nổi từng cơn, Gió vi vút, gió rợn rùng, gió rít. Bỗng đâu đây vẳng véo von tiếng địch. Thôi hết rồi còn chi nữa Tha La! Bao người đi thề chẳng trở lại nhà. Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn! Tiếng địch càng cao, não nùng ai oán, Buồn trưa trưa, lây lất buồn trưa trưa, Buồn xưa xưa, ngây ngất buồn xưa xưa, Lòng viễn khách bỗng dưng tê tái lạnh. Khách rùng mình, lòng ngẩn ngơ hiu quạnh. – Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La! Đây mênh mông xóm đạo với rừng già. Nắng lổ đổ rụng trên đầu viễn khách. Khách bước nhẹ theo con đường đỏ quạch, Gặp cụ già đang ngóng gió bâng khuâng. – Kính thưa cụ vì sao Tha La vắng? Cụ ngạo nghễ cười rung rung râu trắng, Nhẹ bảo chàng: “Em chẳng biết gì ư? Bao năm qua khói loạn phủ mịt mù! Người nước Việt ra đi vì nước Việt, Tha La vắng vì Tha La đã biết, Thương giống nòi đau đất nước lầm than.” Trời xa xanh, mây trắng ngoẹn ngàn hàng. Ngày hiu quạnh. Ờ…ơ…hơ tiếng hát. Buồn như gió lướt lạnh dài đôi khúc nhạc. Tiếng hát rằng: Tha La giận mùa thu, Tha La hận quốc thù, Tha La hờn quốc biến, Tha La buồn tiếng kiếm, Não nùng chưa! Tha La nguyện hy sinh. Ơ…ơ…hờ… có một đám chiên lành. Qùy cạnh Chúa một chiều xưa lửa dậy. Quỳ cạnh Chúa, đám chiên lành run rẩy: Lạy Đức Thánh Cha! Lạy Đức Thánh Mẹ! Lạy Đức Thánh Thần! Chúng con xin về cõi tục để làm dân… Rồi… cởi trả áo tu. Rồi… xếp kinh cầu nguyện. Rồi… nhẹ bước trở về trần… Viễn khách ơi! Viễn khách ơi! Người hãy dừng chân. Nghe Tha La kể, nhưng mà thôi khách nhé! Đất đã chuyển rung lòng bao thế hệ. Trời Tha La vần vũ đám mây tan. Vui gì đâu mà tâm sự? Buồn làm chi mà bẽ bàng? Ơ…ơ…hơ, ờ…ơ…hơ… tiếng hát. Rung lành lạnh ngâm trầm đôi khúc nhac. Buồn tênh tênh, não lòng lắm khách ơi! Tha La thương người viễn khách đi thôi! Khách ngoảnh mặt nghẹn ngào trông nắng đổ, Nghe gió thổi như trùng dương sóng vỗ. Lá rừng cao, vàng rụng lá rừng bay… Giờ khách đi. Tha La nhắn câu này: – Khi hết giặc, khách hãy về thăm nhé! Hãy về thăm xóm đạo, Có trái ngọt cây lành. Tha La dâng ngàn hoa gạo, Và suối mát rừng xanh. Xem đám chiên lành thương áo trắng. Nghe mùa đổi gió nhớ quanh quanh. (Thơ Mùa Giải Phóng – 1950)
Vũ Anh Khanh tên thật là Võ Văn Khanh, có người nói ông tên thật là Nguyễn Năm, sinh năm 1926 tại Mũi Né, quận Hải Long, tỉnh Bình Thuận. Vũ Anh Khanh là một cây bút chuyên viết chuyện ngắn và tiểu thuyết. Tác phẩm của ông gồm những chuyện dài như “Nửa Bồ Xương Khô”, “Bạc Xíu Lìn”, “Cây Ná Trắc” và các truyện ngắn như “Ngũ Tử Tư”, “Đầm Ô Rô”, “Sông Máu”, “Bên Kia Sông”, “Một Đêm Trăng”. Ngoài ra, ông cũng còn sáng tác thơ, nổi bật nhất là các bài “Chiến Sĩ Hành” và bài “Tha La Xóm Đạo”. Các tác phẩm của Vũ Anh Khanh rất có giá trị, tiêu biểu cho dòng văn chương thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp ở Miền Nam. Tuy vậy, hầu như nhiều người chỉ nhớ đến Vũ Anh Khanh qua bài thơ “Tha La Xom Đạo” hay “Hận Tha La”. Trước năm 1945, ông vào Sài-Gòn làm báo và viết văn. Sau ngày toàn quốc kháng chiến 19-12-1946, ông cùng hoạt động với Lý Văn Sâm, Dương Tử Giang, Thẩm Thệ Hà…trong nhóm Văn Học Yêu Nước ở Sài-Gòn. Năm 1950, ông bị chính quyền Sài-Gòn lùng bắt, ông trốn thoát ra chiến khu. Ngày 20-7-1954 Hiệp Định Genève được ký kết, chia cắt nước Việt Nam làm hai, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Khoảng một triệu người dân Miền Bắc ồ ạt di cư vào Miền Nam, đổi lại các cán bộ, binh sĩ của cộng sản ở Miền Nam tập kết ra Bắc, trong số nầy có Vũ Anh Khanh. Ông ra Bắc rồi được cử đi dự Hội Nghị Các Nhà Văn Á Châu ở Tân Đề Ly, Ấn Độ. Vũ Anh Khanh có mặt trong phái đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa với nhà văn Miền Bắc Nguyễn Công Hoan (tác giả Bước Đường Cùng, Đống Rác Cũ…). Sau khi dự Hội Nghị về, Vũ Anh Khanh được cử đi công tác ở Vĩnh Yên, một tỉnh nằm về phía Bắc của Hà Nội và nhà thơ đã sửa Lệnh Công Tác từ Vĩnh Yên thành Vĩnh Linh, một địa danh gần Sông Bến Hải vì ông đã có ý định vượt tuyến về Miền Nam tìm Tự Do. Vũ Anh Khanh đã đến được Vĩnh Linh và thực hiện cuộc vượt tuyến bằng cách bơi qua sông Bến Hải nhưng ông bị công an gác ở sông Bến Hải phác giác, họ dùng nỏ và tên tẩm thuốc độc bắn chết trước khi ông đến được bờ phía Nam của Việt Nam Cộng Hòa. Sở dĩ công an Bắc Việt gác ở sông Bến Hải dùng nỏ và tên độc vì Hiệp Định Genève cấm dùng súng ở Khu Phi Quân Sự. Vũ Anh Khanh mất tại Bến Hải năm 1956, lúc đó ông mới 30 tuổi. Xác của người bạc mệnh được vớt lên và bị vùi dập đâu đó trong Khu Phi Quân Sự mà không để lại vết tích, mồ mả gì cả! Là một nhà văn, nhà thơ có tài lại có lòng yêu nước cao độ nhưng chính quyền Miền Bắc đã cố tình gạt bỏ tên ông trong văn học sử mà ngay cả chính quyền Việt Nam Cộng Hòa ở Miền Nam cũng đối xử tương tự với ông khi bỏ tên ông trong chương trình giáo dục phổ thông cùng cấm xuất bản và cấm lưu hành các sách của ông từ năm 1955-1975, họ xếp ông là văn, thi sĩ cộng sản! Cả hai chính quyền Nam Bắc đều đối xử bất công với một nhà văn, nhà thơ tài hoa của nền văn học nước nhà!
Tháng Tám 2010, Panetta trở lại Bạch Ốc với tin tức khá hơn. Các nhà phân tích của CIA tin rằng họ đã tìm ra liên lạc viên của bin Laden.
Phải mất cỡ bốn năm để biết tên thật liên lạc viên thân cận nhất của bin Laden. Theo tin Reuters, một nghi phạm khủng bố bị CIA giam ở Guantanamo, tên là Hassan Ghul, sau thời gian thẩm vấn lâu dài, đã cho biết liên lạc viên của bin Laden tên là Abu Ahmad al-Kuwaiti, một người đàn ông ngoài 30 tuổi.
Theo Bob Woodward (người đã phanh phui vụ Watergate khiến Tổng Thống Nixon phải từ chức), nhờ một cú điện thoại di động, CIA đã tìm ra nơi ở của bin Laden. Vào năm 2007, một hôm al-Kuwaiti nhận được một cú điện thoại qua máy di động, từ một người bạn, với những lời thăm hỏi bình thường: “– Tôi nhớ anh nhiều, bây giờ anh ở đâu, làm gì?” Kuwaiti trả lời bâng quơ: “– Tôi trở lại với người cũ”. Theo chân Kuwaiti, đã dẫn các thám tử tới căn nhà ở Abbottabad.
Kuwaiti lái một xe SUV mầu trắng với bọc bánh xe phòng hờ vẽ một con tê giác trắng. Việc theo dõi được dành cho vệ tinh, và vệ tinh do thám ghi được hình ảnh chiếc xe này ra vào một ngôi nhà lớn ở Abbottabad. Các thám tử cho rằng Kuwaiti sống tại đây, nên cho vệ tinh quan sát thường trực ngôi nhà. Đó là một ngôi nhà chính ba tầng, một nhà khách và vài căn phụ. Họ quan sát thấy những người ở trong nhà thay vì đổ rác như người khác, đã đốt rác. Căn nhà cũng không có đường giây điện thoại và Internet. Mỗi khi Kuwaiti muốn gọi điện thoại di động, thường ra khỏi nhà cả hơn trăm cây số mới lắp pin vào máy. Kuwaiti và người anh/em lui tới căn nhà này thường xuyên. Nhưng có một người đàn ông khác, sống trên tầng ba, không bao giờ rời ngôi nhà. Khi người này ra khỏi nhà, thì vẫn ở trong khu vực được che chắn bởi các bức tường cao. Một số nhà phân tích cho rằng người này là bin Laden, và gọi bằng tên là “người rảo bước” (The pacer).
Obama, dù phấn khởi, vẫn chưa chuẩn bị ra lệnh hành động bằng biện pháp quân sự. Theo John Brennan, cố vấn chống khủng bố của tổng thống, các cố vấn của Obama bắt đầu một cuộc tra vấn về những sự kiện thu được qua các cuộc thẩm vấn nghi phạm, xem có luận cứ nào phủ nhận việc bin Laden sống tại căn nhà ở Abbottabad không. Đồng thời, CIA gia tăng nỗ lực thu góp các tài liệu tình báo. Theo báo The Guardian, một bác sĩ Pakistan làm việc cho CIA đã mở một cuộc chủng ngừa ở vùng Abbottabad, để hy vọng tìm được mẫu DNA của các con bin Laden (không có ai trong ngôi nhà đã đi chủng ngừa).
Người Nhái nhảy ra
Cuối năm 2010, Obama ra lệnh cho Panetta bắt đầu thảo kế hoạch cho một cuộc đột kích bằng quân sự vào ngôi nhà. Panetta tiếp xúc với Phó Đô Đốc (đã lên Đô Đốc 4 sao từ tháng Tám 2011) Bill McRaven, Tư lệnh Bộ chỉ huy hỗn hợp các chiến dịch đặc biệt (JSOC = Joint Special Operations Command), và từng là chỉ huy trưởng của một đơn vi Navy Seal. Tháng Giêng năm 2011, McRaven cử Brian, vốn là chỉ huy phó của một đơn vị người Nhái, có tên chính thức là Naval Special Warfare Development Group – DEVGRU (Nhóm phát huy chiến tranh đặc biệt của Hải quân), thảo kế hoạch hành quân.
Tháng sau đó, Brian vào làm việc tại một văn phòng ở tầng 1 Trụ sở Trung Ương CIA, Langley, thuộc bang VA, ngoại ô Washington, DC. Brian treo kín tường bản đồ và không ảnh ngôi nhà Abbottabad. Brian và chừng nửa tá sĩ quan biệt phái từ JSOC làm việc tại trung tâm chống khủng bố của CIA, đặc trách Pakistan/Afghanistan, nhưng thực tế, họ hoạt động độc lập. Một viên chức cao cấp về chống khủng bố từng viếng nơi làm việc này, mô tả đó là một nơi bí mật phi thường, “tất cả mọi cộng việc của họ đều giữ kín”.
Liên hệ giữa các đơn vị công tác đặc biệt với CIA đã có từ thời chiến tranh Việt Nam. Nhưng làn ranh giữa hai bên đã ngày càng lu mờ, khi các giới chúc CIA và sĩ quan quân đội cùng được gửi sang Iraq và Afghanistan. Theo một giới chức Bộ Quốc Phòng: “Họ lớn lên với nhau, hoạt động chung với nhau, nói tiếng của nhau”. Giới chỉ huy cũng thay đổi lẫn nhau: Tướng David Petraeus, cựu tư lệnh tại Iraq và Afghanistan, bây giờ là Giám Đốc CIA, trong khi Giám Đốc CIA Leon Panetta trở thành Bộ Trưởng Quốc Phòng.
Điệp vụ bin Laden, lập kế hoạch tại trụ sở trung ương CIA, và ra lệnh dưới tư cách CIA, nhưng thi hành bởi người Nhái của Hải Quân (Navy SEAL).
Từ ám ảnh “Móng Đại Bàng”…
Hôm 14 tháng Ba, 2011, Obama triệu tập các cố vấn an ninh quốc gia vào Phòng tình hình (Situation Room) ở Bạch Ốc, để thảo luận và lấy ý kiến trên một số chọn lựa cho vụ tấn công Abbottabad. Đa số lựa chọn giữa giải pháp một cuộc tấn công của JSOC, hay một trận oanh tạc bằng máy bay; một vài đề nghị khác, kể cả việc cộng tác với giới quân sự Pakistan. Obama chống lại việc thông báo hay làm việc chung với Pakistan. Một cố vấn của tổng thống tiết lộ: “Sự thật đã có việc không tin tưởng là Pakistan có thể giữ bí mật, dù chỉ hơn một khoảnh khác”. Cuối cuộc họp, Obama ra lệnh cho McRaven tiến hành với kế hoạch đột kích.
Brian mời James, Chỉ huy trưởng Đội Nhái Hồng (Red Squadron) của DEVGRU, và Mark, một sĩ quan ưu tú của Hải Quân, tới làm việc với ông ta tại trụ sở trung ương CIA. Họ đã mất hai tuần rưỡi để tìm ra cách đột nhập vào bên trong căn nhà ở Abbottabad. Một giải pháp là trực thăng bay tới địa điểm ngoài Abbottabad, rồi để cho toán biệt kích đột nhập thành phố bằng đưởng bộ. Giải pháp này có thể gặp nhiều rủi ro, dễ bị khám phá, và toán biệt kích có thể mỏi mệt, vì phải chạy xa để tới căn nhà. Các kế hoạch gia đã nghĩ tới việc đào hầm dẫn tới căn nhà – hay rất có thể bin Laden đã có sẵn đường hầm để thoát ra. Nhưng hình ảnh do Cơ quan Trinh sát Không địa Quốc gia (National Geospatial Intelligence Agency) cho thấy có nước tụ ở vùng này, nghĩa là căn nhà cất trên một vũng lụt, khiến việc đào hầm không thể thực hiện. Cuối cùng, mọi người đồng ý để trực thăng chở toán biệt kích thẳng tới căn nhà.
Ngày 29 tháng Ba, McRaven đem kế hoạch tới Obama. Các cố vấn quân sự của Obama đã chia rẽ. Một số ủng hộ cuộc đột kích, một số ủng hộ cuộc oanh tạc bằng máy bay, và một số người khác muốn đợi cho đến khi tin tình báo khá hơn. Robert Gates, Bộ Trưởng Quốc Phòng, là người chống đối mạnh mẽ nhất một cuộc đột kích trực thăng vận. Ông Gates nhắc cho các đồng sự nhớ lại việc ông đã từng ở trong Phòng Tình hình Bạch Ốc thời Tổng Thống Carter, khi các giới chức quân sự trình bầy kế hoạch “Móng đại bàng” (Eagle claw) vào năm 1980 về cuộc đột kích bất thành của lực lượng Delta để cứu các con tin tại Tehran. Kết quả là một đại họa, vì trực thăng đụng nhau tại sa mạc Iran, khiến tám quân nhân Hoa Kỳ thiệt mạng. Ông Gates chua cay: “Họ cũng nói đó là một kế hoạch khá tốt”. Ông Gates và Tướng James Cartwright, Phó Chủ Tịch Liên Quân, thiên về kế hoạch không tập bằng pháo đài bay B-2. Lựa chọn này tránh được rủi ro để quân Hoa Kỳ đặt chân trên lãnh thổ Pakistan. Nhưng Không Lực tính ra rằng, một chuyến bay chở 32 “bom khôn” (smart bomb), mỗi trái nặng hai ngàn cân, mới đủ sức để xâm nhập khoảng 10 mét chiều sâu, hầu có thể phá hủy mọi căn hầm, “một sức mạnh như vậy sẽ tương đương một vụ động đất”. Theo Tướng Cartwright, triển vọng san bình địa một thị trấn Pakistan khiến Obama khựng lại. Ông đã loại bỏ kế hoạch B-2, và ra lệnh cho McRaven bắt đầu tập dượt vụ đột kích.
Đến triển vọng “Giáo Hải Thần”
Brian, James, và Mark lựa chọn một toán gồm hơn hai chục người Nhái, từ “Đội Hồng” (Red Squadron), và bảo họ tới trình diện tại địa điểm là một cánh rừng rậm ở North Carolina, đề bắt đầu tập dượt vào ngày 10 tháng Tư (Red Squadron là một trong bốn squadron của DEVGRU, có tất cả khoảng 300 người). Ngoài James và Mark, không có ai trong nhóm người Nhái biết được nguồn tin tình báo của CIA và căn nhà nghi là nơi bin Laden trú ẩn. Cho đến khi một thiếu tá Hải Quân bước vào một căn phòng tại nơi huấn luyện, thấy một Tướng hai sao từ JSOC ngồi tại bàn hội nghị với Brian, James và Mark, và nhiều nhà phân tích từ CIA, chắc chắn đây không phải là cuộc huấn luyện thông thường. Vị thiếu tá hiểu ngay. Một căn nhà giống hệt nơi tình nghi bin Laden đang cư ngụ được dựng lên tại nơi luyện tập, với hàng rào giây thép thay cho bức tường cao bao bọc chung quanh căn nhà. Toán biệt kích dành ra năm ngày để thực tập. Ngày 18 tháng Tư, cả toán bay tới Nevada cho một tuần thực tập nữa. Nơi tập dượt là một rẻo sa mạc do chính quyền sở hữu, ở độ cao tương đương với vùng chung quanh Abbottabad. Một căn nhà được giả định là nơi ở của bin Laden. Nhóm phi hành lập ra đường bay giống như chuyến bay từ Jalalabad tới Abbottabad. Mỗi buổi tối, sau mặt trời lặn, cuộc tập dượt bắt đầu. Mười hai người Nhái, kể cả Mark, lên chiếc trực thăng số 1. Mười một người Nhái, kể cả James, cùng với Ahmad (thông dịch) và Cairo (quân khuyển), lên chiếc trực thăng số 2. Phi công bay trong trời tối, đến căn nhà mẫu.
Theo kế hoạch đột kích, khi tới nơi, trực thăng 1 không đáp xuống, mà giữ nguyên vị trí trên sân căn nhà, thả hai giây cho 12 người tụt xuống. Trực thăng 2 bay về phía Đông Bắc căn nhà, thả xuống thông dịch viên Ahmad, chó Cairo, cùng bốn người Nhái; nhóm này sẽ theo dõi và đối phó với tình hình bên ngoài căn nhà. Rồi trực thăng 2 bay trên căn nhà, thả James xuống mái nhà cùng sáu người Nhái còn lại. Nếu mọi sự diễn ra đúng dự trù, Ahmad, người Mỹ gốc Pakistan, nói tiếng Pakistan, sẽ không cho những láng giềng tò mò tới gần căn nhà. Bốn người Nhái, và con chó sẽ giúp anh, nếu cần. Rồi, nếu không tìm thấy bin Laden, con Cairo có thể được cho vào nhà để đánh hơi, tìm những tường giả hay cửa kín. Ahmad, vốn là nhân viên văn phòng, chưa hề có kinh nghiệm tụt từ trực thăng, đã phải học cấp tốc về kỹ thuật này.
Một chuyến bay chở đầy khách tới vào đêm 21 tháng Tư. Đô Đốc Mike Mullen, Chủ Tịch Bộ Tham Mưu Liên Quân, cùng với Đô Đốc Eric Olson, tư lệnh Bộ chỉ huy các chiến dịch đặc biệt (Special Operations Command – SOCOM), và Phó Đô Dốc McRaven, tư lệnh JSOC, họp với nhân viên CIA trong một nhà chứa máy bay (hangar), trong khi Brian, James, Mark và các phi công trình bầy vắn tắt về kế hoạch đột kích, được gọi là “Chiến dịch Giáo Hải Thần” (Operation Neptune’s Spear).
Thiếu tin tưởng
Mặc dầu do JSOC lãnh đạo, cuộc hành quân chính thức là một sứ mạng bí mật của CIA. Tính cách bí mật cốt để Bạch Ốc che dấu vai trò của mình, nếu cần. Như một giới chức mô tả gần đây: “Nếu cuộc đột kích chẳng tóm được ai, thì cứ êm ả rút lui, chẳng ai biết”.
Sau khi nghe trình bầy về cuộc hành quân, có người hỏi: “Nếu có đám đông kéo đến quanh căn nhà, thì sao? Liệu người Nhái có chuẩn bị để bắn vào thường dân?” Olson, người từng được tặng huy chương ngôi sao bạc trong vụ trực thăng Black Hawk bị rơi ở Mogadishu, Somalia, năm 1993, lo lắng sẽ là một tai nạn chính trị, nếu một trực thăng Hoa Kỳ bị bắn rớt trong lãnh thổ Pakistan. Sau khoảng một giờ thảo luận, các sĩ quan cao cấp và các nhà phân tích tình báo trở về Washington. Hai ngày sau, toán người Nhái trở lại căn cứ của họ ở Dam Neck, Virginia.
Đêm thứ Ba, 26 tháng Tư, toán nguời Nhái lên một phi cơ Boeing C-17 Globemaster tại Naval Air Station Oceana, cạnh Dam Neck. Sau khi đáp xuống lấy thêm nhiên liệu tại Ramstein Air Base ở Đức, chiếc C-17 tiếp tục bay tới Bagram Airfield, Bắc Kabul. Toán người Nhái qua đêm tại Bagram, rồi tới Jalalabad vào thứ Tư.
Hôm đó, tại Washington, Panetta triệu tập một phiên họp trên một chục viên chức cao cấp và các nhà phân tích CIA, để thảo luận về những chuẩn bị sau cùng. Panetta hỏi từng người tham dự, yêu cầu họ nói ra cảm tưởng của mình, xem có bao nhiêu tin tưởng về việc bin Laden ở tại căn nhà tình nghi. Một giới chức chống khủng bố tham dự cuộc họp nói với tác giả bài báo trên New Yorker rằng: “Tỷ lệ thay đổi từ 45% đến 95%”. Panetta quan tâm tới sự nghi ngại của các nhà phân tích, nhưng ông ta tin rằng những tin tình báo có được tốt hơn tất cả những gì CIA thu lượm được về bin Laden, từ khi hắn ta thoát khỏi Tora Bora.
Xế chiều thứ Năm, Panetta và tất cả mọi người trong nhóm an ninh quốc gia họp với Tổng Thống. Vài đêm kế tiếp, trời sẽ không có trăng trên Abbottabad – điều kiện lý tưởng cho cuộc đột kích. Sau đó, phải chờ một tháng nữa, cho đến khi trăng khuất. Nhiều nhà phân tích từ Trung tâm Quốc gia chống khủng bố được mời phê phán về các phân tích của CIA, sự tin tưởng của họ vào nguồn tin tình báo thay đổi giữa 40 và 60%. Giám đốc Trung Tâm là Michael Leiter nói ông ta muốn đợi có thêm tin tức xác nhận về sự có mặt của bin Laden ở Abbottabad. Theo Ben Rhodes, một phó cố vấn an ninh quốc gia nói gần đây, kế hoạch càng kéo dài, càng dễ bị lộ, “khiến mọi sự sẽ đảo ngược”. Obama hoãn phiên họp sau 7 giờ chiều, nói ông sẽ suy nghĩ qua đêm.
Sáng sau, Tổng Thống họp tại Phòng bản đồ (Map Room) với Tom Donilon, cố vấn an ninh quốc gia, và Denis McDonough, một phó cố vấn, và Brennan. Obama đã quyết định để DEVGRU thi hành cuộc đột kích, và để McRaven chọn thời điểm hành sự. Lúc đó là 8 giờ 20 sáng 29 tháng Tư, 2011. Đã quá trễ để khởi sự vào đêm thứ Sáu, và sẽ có nhiều mây bao phủ vào chiều thứ Bảy. Obama dùng điện thoại liên lạc với McRaven, ông này nói cuộc đột kích sẽ diễn ra vào đêm Chủ Nhật, giờ địa phương. Obama nói với McRaven: “Chúc anh và lực lượng thành công; làm ơn cho họ biết là tôi sẽ theo dõi sát vụ này”.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.