This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Về tuyển tập thơ văn H.O.Viết Thư Miền Đất Hồi Sinh Kiêm Thêm
Trong những năm gần lại đây, bất luận những nơi nào có người Việt định cư hay có sinh họat báo chí Việt Nam hải ngoại, thì những sáng tác phẩm của các cựu tù nhân chính trị đều xuất hiện. Xuất hiện với những giá trị độc đáo; xuất hiện gây tác động lớn cho người đọc, và cũng là khí giới sắc bén nhất để chống lại những tuyên truyền xuyên tạc của kẻ thù.
Với tính chất nầy, chúng ta thấy rõ trong những hoạt động văn học nghệ thuật Việt Nam hải ngoại, thơ văn của những cựu tù nhân chính trị Việt Nam đã đóng góp một phần vững chắc, giá trị nổi bật, nội dung phong phú, ảnh hưởng sâu rộng và có giá trị vĩnh cửu, miên trường.
Như một biến chuyển đặc thù, khuynh hướng văn học nầy tại hải ngoại đã gây được một sức mạnh tinh thần vững chắc, để động viên cho những người mang hoài bão xây dựng lại thể chế mới cho đất nước trong tương lai càng thêm hăng hái, tin tưởng, say sưa trong sự nghiệp tranh đấu chính trị của mình, xây dựng một Việt Nam tự do, dân chủ, không bóng dáng những kẻ tham vọng chuyên quyền điên rồ của nền chuyên chính vô sản.
Nói như một nhà bình luận Pháp, ông André Keith, “Những giá trị nầy quả là những thứ vũ khí lợi hại, để chống lại những lối tuyên truyền độc hại của Cộng Sản với những kẻ nhẹ dạ” (Critiques Littéraires). Trên một khía cạnh nào đó, nhận xét nầy đã thích hợp với tinh thần tranh đấu của người Việt hải ngoại trong bối cảnh hiện nay của thế giới và của đất nước.
Trong những năm tháng dài của những nhà tù cải tạo Cộng sản Việt Nam, những chiến sĩ từng chiến đấu cho nền tự do của miền Nam, những người con yêu của tổ quốc, đã chịu đựng, can trường và nhẫn nại, chờ đợi thời cơ và hoàn cảnh, để tiếp tục công trình tranh đấu của mình, trên bình diện mới và hoàn cảnh mới.
Nội dung chứng liệu trong những tác phẩm của cựu tù nhân chính trị VN trở thành những bản cáo trạng bản chất và hiện tượng của chế độ một cách trung thực nhất, sâu sắc nhất và ảnh hưởng đậm đà nhất..
Chỉ trong một khoảng thời gian năm sáu năm lại đây, nhiều tác phẩm trong khuynh hướng nầy, với những góc độ khác nhau, hoàn cảnh khác nhau cũng như thân phận khác nhau đã lần lượt xuất hiện: Đáy Đia Ngục của Tạ Tỵ, Vùng Đất Ngục Tù của Nguyễn Vạn Hùng, Trại Đầm Đùn của Trần Văn Thái, Đại Học Máu của Hà Thúc Sinh, Tù Binh và Hòa Bình của Phan Nhật Nam, Vượt Thoát của Phạm Quang Giai, Sau Ngày Giặc Đến của Nguyễn Mậu Qúy, Bản Chúc Thư của một người Việt Nam của Nguyễn Chí Thiện, Chín Năm Tù Ngục của Nguyễn Đình Trị, Tổ Ấm Cuối Cùng của Đào văn Bình, Phía bên kia Thiên Đường của Phạm Trọng Phúc. Hàng trăm bài báo, hồi ký, thi ca, tùy bút thuộc khuynh hướng văn chương nầy được đăng khắp báo chí Việt Nam hải ngoại; dĩ nhiên còn rất nhiều tài liệu giá trị khác được sáng tác của những chứng nhân nầy, nhưng chưa hội đủ những điều kiện cần thiết để ra mắt. Tất cả những chứng liệu trên là những bản cáo trạng hào hùng, những tài liệu vô cùng phong phú, những niềm đau nỗi xót của những người cựu tù nhân. Với thời gian, những tác phẩm cùng loại sẽ dồi dào hơn về nội dung và phong phú hơn về hình thức.
Ảnh hưởng lâu dài của những tác phẩm nầy khiến cho những người Mỹ phản chiến, thân Cộng cũng như những kẻ nào còn có lương tâm nhân bản trên thế giới sẽ phản tỉnh trước những xuyên tạc tuyên truyền của chế độ.
Hình ảnh sống động của những trại tù được thể hiện khá đầy đủ, duới nhận thức và nhãn quan khác nhau, nhưng nội dung thì vẫn là một: một phần tố cáo những chính sách, chế độ, đường lối tàn bạo nhất của Cộng sản; nhưng phần khác, sinh động hơn và quan trọng hơn thì thể hiện tinh thần bất khuất, chí dũng cảm, tình nghĩa đồng bào, đồng đội của những người cùng chung cảnh ngộ, qua những năm tháng dài hoạn nạn.
Chế độ quản tù ghê gớm tại Long Giao, những tấn trò hình phạt tù nhân tại Hóc Môn, những cuộc ruồng bố rợn người tại Trảng Lớn, những tiếng kêu thống thiết tại Phước Long, đời sống dưới đáy địa ngục tại Ka Tum, chế độ quản chế tàn nhẫn tại trại tù Xuyên Mộc, những chiến sị gãy đổ tại trại tù Hàm Tân, những đêm dài rét cóng người tại trại tù Gia Lai, những hình ảnh phẫn nộ tại trại tù Nghi Trưng, những gương chiến đấu anh hùng bất khuất tại trại tù Khâm Đức, những đêm dài khắc khoải nhất và kinh hoàng nhất tại tại trại tù Tiên Lãnh, cảnh ma thiêng, nước độc tại trại tù Ba Lạch, những cảnh tẩy não khủng khiếp tại trại tù Bình Điền, những đau xót, hãi hùng tại trại tù Thanh Hoá, cảnh địa ngục trần gian tại trại tù Hoàng Liên Sơn, quang cảnh “chém tre đẵn gỗ trên ngàn” tại trại tù Hà Sơn Bình, những trò chơi đầy dã thú tại trại tù Hà Tây, những bài thơ hùng tráng viết lên từ tại trại tù Nghệ Tĩnh, những thủ đoạn quản tù dã man của những tên quản tù tại trại tù Vĩnh Phú, những cảnh vượt thoát không thành tại trại tù Phúc Sơn, những bức chúc thư bi đát tại trại tù Yên Báy, những tấm gương chiến đấu kiên cường bất khuất tại trại tù Bắc Thái… Tất cả những hình ảnh đó đã ghi rõ nét trong những công trình sáng tác trên.
Nhờ những tác phẩm nầy, chúng ta biết được một cách tường tận những thủ đoạn của công sản với những tù nhân cải tạo: hình phạt tra tấn, tẩy não dã man, hành hạ thể xác lẫn tinh thần, gây tị hiềm, đố kỵ lẫn nhau, nhất là thái độ hãnh tiến của những tay cuồng sát trên danh phận là kẻ chiến thắng. Chúng ta cũng biết được nhiều tâm sự, tình cảm, hoài bão, nhiều tấm gương anh hùng, những con người chịu đựng không bến bờ, để chống lại với cảnh chết ngày đêm rình rập. Và trong bối cảnh đó, chúng ta cũng thấy được hình ảnh tuyệt vời của những chiến sĩ Việt Nam Cộng hoà, về chính trị cũng như về quân sự, những chuyên gia cũng như những vị lãnh đạo tinh thần, đảng phái, những con người đáng kính, đáng yêu.
Nhà văn hào Nga Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn tác giả The Gulag Archipelago (1918-1956) đã viết: “Những áng văn của những người từng sống trong chế độ lao tù thú vật của Cộng Sản thông thường là những bản cáo trạng, những tiếng thét nhân bản và cũng là những chứng nhân hùng hồn nhất của thời đại chúng ta hiện nay”. Viết lên, một phần để trút được những uất hận của mình, để ghi nhớ lại những ngày đau thương nhất trong đời mình, phần khác, để tưởng nhớ những người cùng chung cảnh ngộ, cũng như hoài niệm những người đã hy sinh trong lao tù. Thành thử, nội dung và ý niệm của người viết không còn là những tác phẩm bình thường, mà với nỗi thiết tha khi cầm bút, thậm chí e ngại chữ nghĩa đã không thể hình dung hết những gì mình đã sống, mình muốn nói và uất ức khó cực tả cho hết được.
Ngục tù đối với những người chiến sĩ can trường, như là trạm dừng chân tạm thời, như lời thơ của nhà chí sĩ Sào Nam Phan Bội Châu,khi ngồi tù ở ngục Quảng Châu: “Cũng là hào kiệt, cũng phong lưu; Chạy mỏi chân thì phải ở tù”, vì cho rằng “Thân nọ hãy còn, còn sự nghiệp; Bao nhiêu nguy hiểm ngại gì đâu”. Hay nhận định của Tây Hồ Phan Châu Trinh trong thời gian ngồi tù tại ngục Côn Lôn: “Những kẻ vá trời khi lỡ bước; Nam nhi hà sá chuyện cỏn con”. Họ đã lưu lại danh thơm cho muôn đời.
Văn chương, trong trường hợp không còn là chuyện khi trà dư tửu hậu, mà trở thành thứ vũ khí sắc bén chống lại những hành động bạo tàn, nung nấu tinh thần bất khuất và rèn luyện tinh thần chiến đấu dày dạn của mình và của đồng đội nữa.
Nhà chính trị phản tỉnh Djilas của Nam Tư trong cuốn The New Class đã có lý khi viết: “Phải là những người từng sống trong những hoàn cảnh hãi hùng do chế độ và chính sách của Cộng Sản gây nên mới thấm thía được những ý nghĩa của nó và khả năng đối kháng của bản thân mình”.
Nhận xét nầy càng làm sáng tỏ những dụng công của người viết và thái độ của người đọc, nâng cao những giá trị sâu sắc của khuynh hướng văn học nầy.
Giá trị của những tác phẩm còn trường tồn với thời gian, tỏa rộng khắp không gian và gây ảnh hưởng lâu dài cho những thế hệ mai sau nữa.
☆
Văn chương phản kháng của những cựu tù nhân chính trị mang nhiều màu sắc sinh động, sắc bén, mà nội dung thường lấn át cả hình thức, hay nói một cách khác là cuộc sống của họ quá phong phú, đến nổi bất cứ một tù nhân nào cũng có thể kể được tâm trạng và hoàn cảnh của mình, gây chấn động tình cảm và tinh thần kẻ khác.
– Trước hết là tính chất hiện thực. Đã không biết bao nhiêu nhà văn Tây Phương muốn nghiên cứu đề tài nầy với những kinh nghiệm viết lách của mình; nhưng đây lại không phải là chuyện kinh nghiệm hay khả năng, mà chính là cuộc sống, cuộc sống trong từng giờ từng phút phải thở bầu không khí ngột ngạt, chịu đựng, bất mãn ròng rã trên dưới mười năm trời. Họ từng là nạn nhân cũng là chứng nhân rõ nét nhất của bản thân mình và đồng đội mình, để có thể viết lên những bản cáo trạng một cách hoàn chỉnh, vững chắc và giá trị nội dung cực kỳ phong phú.
– Tinh thần kiên cường bất khuất là một khía cạnh khác của những tác giả từng thể hiện. Mặt đối mặt với kẻ thù, với thân phận là người thua cuộc, nhưng vẫn hiên ngang, can đảm, dũng mãnh chịu đựng và xem chuyện lao tù, dù cơ cực đến đâu, chẳng qua là nạn kiếp trong một thời gian, sau đó, đến ngày được trả tự do, sẽ làm lại cuộc đời với tư tưởng và hoài bão nung nấu trong bao nhiêu ngày tháng qua. Niềm kiêu hãnh của tinh thần nầy chính là ngọn đèn chiếu sáng cho những người sống cơ cực trong lao tù Cộng Sản, để chờ đợi tin tưởng hy vọng vào con đường tương lai của mình.
– Sự đùm bọc, thương yêu, tinh thần đồng đội, huynh đệ chi binh hầu như thể hiện trọn vẹn trong những tác phẩm vừa nói trên, tình cảm xây dựng trong bao nhiêu năm trời qua vẫn còn nguyên vẹn.
– Những uất hận, tủi hờn, bất mãn, chống đối được thể hiện qua những ánh mắt, nụ cười ngạo nghễ, chẳng những tạo nên niềm tin tưởng và tự hào cho bản thân của mình, mà trở thành động lực thúc đẩy mọi người cùng chung cảnh ngộ, tìm lẽ sống tinh thần, để chờ đợi ngày mai, dù ròng rã bao nhiêu chăng đi nữa.
– Trong những tác phẩm nầy, rải rác trong thái độ, tư tưởng, tình cảm đã nói lên niềm hy vọng của những người từng sống trong những chuỗi ngày hoàn toàn như vô vọng. Lời kết luận chung của những tác giả là: Nếu không tự tạo cho mình một niềm tin và một lý tưởng sống, thì sẽ ngã gục trong chế độ lao tù nầy một cách nhanh chóng, dựa lưng nỗi chết trong từng ngày từng đêm.
– Sau cùng là niềm tin son sắt của những người cựu tù bao giờ cũng trở thành giá trị tinh thần bất biến. Niềm tin trở thành động cơ vững chắc nhất để bảo toàn lý tưởng cao đẹp, sống còn của mình; lòng tin có thể động viên được đồng đội cần nhẫn nhục, sắt đá, “trơ gan cùng tuế nguyệt” để có thể hy vọng được một ngày mai reo vui.
Chúng ta không lấy làm lạ khi thấy những cựu tù nhân chính trị Việt Nam khi sang đến bến bờ đất nước tự do đã hăng say tiếp tục lý tưởng tranh đấu của mình, vạch trần tội ác của chế độ, đồng thời tham gia tích cực đóng góp cho nền chính trị của cộng đồng người Việt, mong chờ ngày mai đây lật ngược lại thế cờ, xây dựng lại đất nước tự do, dân chủ.
Văn chương trở thành những tiếng phẫn nộ sôi động dồn nén trong một chục năm qua.
Nhà văn hào Victor Hugo thường bảo: “Trong nhà tù, con tim của mỗi người có thể cứng lại và cũng có thể vỡ ra”. Cứng lại, để rèn luyện cho bản thân mình chống đỡ trước những tai ương, kiềm chế, quản thúc của bạo lực; và vỡ ra, một khi có cơ hội thuận lợi để trút hết mọi nỗi niềm. Đọc những tác phẩm trên, một người dù bình dị đến đâu, khách quan đến đâu, cũng không thể nén được những xúc động sâu sắc như thế.
Với hoàn cảnh khó khăn khi vừa mới định cư tại xứ người, phải đương đầu với trăm ngàn vấn đề trong cuộc hội nhập, nhưng những cựu tù nhân chính trị đã đóng góp phong phú những công trình sáng tác của mình, với tâm nguyện được nung nấu từ lâu, hoài bão sâu xa và niềm thao thức lưu lại những gì cho cuộc sống mới của mình.
Chức năng của những cựu tù nhân chính trị trong tập thể sinh họat cộng đồng người Việt hải ngoại đã đóng một vai trò quan trọng, không ai có thể chối bỏ được. Sự hiện diện của họ trong những tổ chức chính trị, văn hoá, xã hội, giáo dục, truyền thông, báo chí trong những năm tháng gần đây đã gây nên những sinh khí đồi dào, hăng say, phát triển chiều rộng lẫn chiều sâu, cho những người đến trước thấy được những gì đang xẩy ra trên đất nước Việt nam thân yêu trên mười lăm năm trời nay.
Tập hợp tất cả những chất liệu qua những sáng tác phẩm mang nội dung trên, những nhà phân tách xã hội học và tâm lý học sẽ có đầy đủ những dữ kiện và chứng liệu cần thiết, để nhìn thấu đáo bản chất của chế độ.
Viết để tường thuật lại những cảnh huống hiếm có trên mặt đất nầy, viết cho những người đồng đội, viết gửi gắm cho những người còn ở lại quê nhà, viết cho những linh hồn đã khuất, sự kiện viết lách nầy đã vượt ra khỏi tánh chất thông thường, để trở thành những chứng liệu vô cùng quý báu, một thời đã qua và một thời đã khuất.
Trên một góc độ khác, những nhà văn, nhà thơ, nhà báo Việt Nam hải ngoại cũng đã dựng lên những nội dung cực kỳ phong phú chung quanh đề tài trên, góp phần không nhỏ, với những bút pháp cực kỳ tinh vi, sắc bén và sinh động của họ.
Văn học sử Việt nam trong giai đoạn hiện nay đã tạo dựng được những giá trị lớn lao, trong đó, những công trình văn học nghệ thuật của những cựu tù nhân chính trị chắc chắn giữ một vị thế không nhỏ.
Có nhận thức được những ý nghĩa trên, chúng ta mới cảm thấy những công trình sáng tạo đó mới đúng chân giá trị của nó và mục đích sáng tác mang tính chất cao cả vô cùng.
Những sáng tác phẩm điển hình đã nói lên những khía cạnh sâu sắc, bén nhọn, chứa đựng cả một nhân sinh quan và nhận thức quan phong phú. Bích Huyền với những kỷ niệm ngàn năm không phai; Huy Phương trong những năm tháng tủi hờn nhưng vẫn giữ được những hình ảnh vàng son của vùng trời xứ Huế oanh liệt và đài trang “Với Huế thương yêu dấu muôn đời”, Nguyễn Hữu với lối nhìn lạc quan hơn hướng về tương lai, trong niềm kiêu hãnh hiếm có, Lữ Tuấn với nhận định sắc bén và suy luận toàn diện, viễn kiến, hoài niệm của Chu Tất Tiến nghe như cả một trời thương yêu, hoài cảm xót xa. Những sáng tác của những cây bút H.O, như: Phạm Tất Thắng, Nguyễn Chí Thiệp, Quế Chi, Nguyễn Tiến Đức… đã chứng minh những hình ảnh vô cùng sâu sắc, vô cùng sắc bén của một thời tù ngục.
Những đóng góp của những nhà văn, nhà thơ, nhà bình luận: Nguyên Sa, Du Tử Lê, Thái Tú Hạp, Phạm Trọng Phúc, Võ Văn Hà, Đỗ Quý Sáng, Phùng Ngọc Ấn, Duy Lam, Hồ Đăng Định đã ra sức xiển dương và hình thành cấu trúc của một nền văn học đặc thù trong văn học phản kháng.
Tập hợp và ấn hành một số văn thơ tiêu biểu trong Tuyển tập nầy, không gì khác hơn là chúng tôi muốn trình bày một số góc độ của những giá trị trên. Những người cựu tù nhân chính trị được định cư đông đảo chừng nào, thì những tài liệu và tác phẩm cùng khuynh hướng trên lại càng phong phú bấy nhiêu.
Trong tuyển tập nầy, những tác giả tham dự có thể nhà văn, nhà thơ, là những chiến sĩ can trường, là những chứng nhân của thời đại; nhưng dù trong góc độ nào đi chăng nữa, ý nghĩa vẫn chung nhất: nói lên cho mọi người Việt Nam, bất luận trong địa bàn nào, chiến tuyến nào, đều thấy được những gì đã xẩy ra, những gì nổi bật nhất của chế độ bạo tàn, đồng thời, ca ngợi ý chí bất khuất của người dân tranh đấu sống còn, bảo vệ khí phách và quyết tâm của những người chịu cảnh lao tù.
Trong trường hợp có đủ phương tiện và những sự hợp tác quý báu của những tác giả, chúng tôi sẽ cho ấn hành những tác phẩm cùng loại kế tiếp.
Trung Tâm Sinh hoạt Cựu Tù Nhân Chính Trị VN thuộc Liên Hiệp Cộng Đồng Việt Nam tại Los Angeles khởi đầu những chương trình Tuyển Tập “Viết từ Miền Đất Hôi Sinh” nầy bằng những tác phẩm điển hình cho từng bộ môn và khuynh hướng sáng tác, để từ đó, hoạch định những Tuyển Tập trong những tháng tới. Kế hoạch mang tính chất lâu dài, tuy nhiên, việc tiến hành ra sao, cũng tùy sự hưởng ứng của những cây bút trong tập thể cựu tù nhân chính trị, những nhà văn, nhà báo tâm đắc và cùng hướng vào mục đích chung.
Như đã nói, chúng tôi tuyển tập trong mục đích trình bày những khía cạnh đặc thù, những giá trị điển hình. Nhưng vì mọi giá trị tác phẩm đều có những sở đắc và sự phong phú của nó, cho nên đây chỉ là bước khởi đầu của những chương trình tập hợp trong hiện tại và tương lai.
Cậu Hai Điền ngồi giữa chiếc ghe, với cái tật cố hữu là chống nạnh. Cậu liếc mắt. Dường như dân chúng đóng cửa lại khi thấy cậu và bọn hộ vệ đi ngang qua. Nhà của Tư Thính, cha ruột cô Huôi, hiện ra giữa chòm cây xanh um. Cậu ra lịnh cho bọn hộ vệ:
– Lên bờ, bao vây xung quanh nhà.
Bọn hộ vệ tuân lời rồi hỏi thêm:
– Thưa cậu, nếu ai kháng cự, chúng tôi đối phó thế nào:
– Cứ bắt sống, bắt nhưng đừng trói, lúc trói thì đừng nói nặng lời. Cô Huôi, Tư Thính hay bất cứ ai cũng đáng bị bắt. Tụi nó làm lộng!
Bọn hộ vệ kéo nhau đi từng hàng dài. Dọc đường ai nấy đều chán nản vì hôm trước bọn họ tới một lần rồi, nhà để trống, không đóng cửa nhưng tuyệt nhiên bên trong chẳng thấy một bóng người. Hôm nay là lần thứ nhì chưa ắt thâu được kết quả.
Cậu Hai nói vọng, từ dưới ghe:
– Mau lên. Tụi bây chậm chạp quá!
Bọn hộ vệ bao vây ngôi nhà. Cậu Hai nhảy lên bờ ra dấu hiệu như ngầm bảo:
– Siết vòng vây!
Cậu chỉ ngón tay vào cửa cái như ra lịnh lục soát. Lát sau, một tên chạy trở ra, đến gần cậu.
Cậu hỏi nhanh:
– Có ai không?
– Dạ, nhà bỏ trống nhưng dưới bếp than lửa còn cháy.
– Lạ thật. Tụi bây dại quá, nó lẻn ra ngoài mà không hay biết.
Tên hộ vệ trả lời:
– Dạ, chắc là xảy ra chuyện gì quan trọng. Trên bàn, tôi thấy tấm giấy viết chữ lăng nhăng.
Câu Hai chạy nhanh vào nhà, chụp miếng giấy rồi đọc. Đại ý, Tư Thính cho biết rằng ông ta tới núi Mo So để dự lễ an táng ông Chúa Hòn, đồng thời ra mắt “cậu Ba Cẩu”.
Dè đâu tình thế biến chuyển quá nhanh! Ai giết cha cậu? Tại sao thằng con nít bị bỏ rơi lại được gọi là “Cậu Ba”! Cậu co chân, đạp nhanh cái bàn, xé nát tấm giấy nọ:
– Tụi nó giết ba tao! Tao hiểu rồi, chắc là ba tao bị thiệt mạng tại Lung Tràm. Tao phải trả thù, giết thằng Cẩu với con Huôi. Con Huôi…là con nít, bấy lâu nay lấn quyền hạn của mẹ tao. Tao phải cho ông Bá Vạn hay biết.
Ra khỏi nhà, cậu Hai trợn mắt rồi ra lịnh:
– Đốt nhà thằng Tư Thính. Cha con nó muốn soán ngôi vị của tao! Tao không nhịn đâu.
Lửa bốc cháy mù mịt. Dân trong xóm chạy tán loạn, bồng bế nhau, đuổi trâu ra ruộng. Bụi quỳnh hoa run phần phật, nhà cháy khiến gió nổi lên, xoay tròn. Nhớ tới giai thoại xưa, cậu Hai đến gần bụi hoa. Chẳng còn nụ nào cả! Cậu vung tay, nhổ sạch, ném mấy lá quỳnh hoa vào đống lửa. Bọn hộ vệ nhìn nhau ngơ ngác, nêu câu hỏi thầm kín mà chính họ không trả lời nổi:
Ông Chúa chết, đồn điền nầy chia ra hai phần. Họ sẽ theo ai? Rồi đây chắc cuộc tranh chấp sẽ quyết liệt…Cậu Hai và bà chánh thất đứng một phía, thằng Cẩu và cô Huôi, cô Ngó đứng một phía. Nếu đổ máu thì chính họ phải xả thân…
Cậu Hai Điền lập tức xuống bến:
– Tao kiếm ông Bá Vạn mới được. Ông già đó nhiều mưu mô lắm. Ổng sẽ bày kế hoạch cho tao giết thằng Cẩu. Tao thưởng cho ổng một số tiền.
Bọn hộ vệ xuống mấy chiếc ghe lườn, cầm dầm mà chờ. Cậu Hai vỗ trán rồi nói:
– Còn chuyện nầy nữa! Chưa đi được!
Rồi cậu khoát tay:
– Hộ vệ đâu? Kiếm thằng đạo Đất cho tao. Tao xé xác nó. Nó nói toàn là chuyện xui xẻo cho gia đình tao!
Bọn hộ vệ hơi bực dọc vì nhảy lên bờ rồi nhảy xuống ghe quá nhiều lần. Nhưng tất cả đều yên lặng. Phía sườn đồi, là khói trắng bốc lên, lửa cháy vàng hực, đúng ngay hướng nhà ông đạo Đất. Cậu Hai lẩm bẩm:
– Nguy rồi! Đây là việc sắp đặt trước. Tại sao Tư Thính biết tao tới đây? Chắc là Tư Thính và thằng đạo Đất đốt lửa để chọc tức tao! Lên đó làm gì cho mất công! Thôi! Trở về Hòn Chông…
Rồi cậu dậm chân thật mạnh, chiếc ghe nghiêng qua nghiêng lại, suýt chìm:
– Đi qua núi Mo So! Tao muốn gặp thằng Tư Thính, con Huôi, thằng Cẩu. Toàn là quân bất nhơn chiếm đoạt tài sản ông cha tao mấy đời để lại.
Bọn hộ vệ nhìn nhau chưa biết cho đoàn ghe đi về hướng nào vì cậu Hai thay đổi ý kiến như chong chóng. Ai nấy cứ ngậm miệng. Nếu lỡ thốt ra lời sai quấy, cậu Hai sẽ trừng trị gắt gao, đánh đập hoặc giết chết.
Cậu Hai khoát nước dưới rạch để rửa mặt cho tỉnh táo rồi nói:
– Cũng tại con heo rừng ở Lung Tràm! Đi núi Mo So rồi đi Lung Tràm! Tụi bây dám ăn thua với bọn không? Ở đó, đâu có thợ săn, đâu có võ sĩ!
Nhưng, một tên hộ vệ chỉ ngón tay phía Hòn Chông mà reo lên:
– Ai kia, thưa cậu Hai!
Thoạt tiên, cậu Hai không nhận rõ. Trên con rạch, một chiếc ghe độc mộc phóng tới, trước mũi và sau lái có ba người đang dùng sào mà chống. Giữa ghe, một ông lão đứng lom khom, cứ đứng một chập, lại ngồi, như sợ té.
– Ai vậy tụi bây?
Một tên hộ vệ đoán:
– Dường như người quen. Ông già đó hơi giống ông Bá Vạn.
– Phải rồi! Bá Vạn. Chắc tin quan trọng. Tụi bây chống ghe cho tao gặp ổng.
Nói xong, cậu Hai đưa tay ngoắt. Đằng kia, Bá Vạn cũng đưa tay lên trời, để trả lời. Trong phút giây, cậu Hai thương mến Bá Vạn hơn bao giờ hết.
Đúng là người lão bộc gương mẫu của gia đình!
Đằng kia, Bá Vạn mừng thầm khi gặp cậu Hai. Để chuẩn bị tình cảm, ông ta chờ khi gần gặp mặt mới khóc rống lên:
– Cậu ơi! Ông mất rồi. Thằng Cẩu làm phản, chiếm cứ đất đai ở núi Mo So. Cậu cho phép tôi giết nó. Như vầy nhục nhã cho tôi quá. Nó là đứa con rơi, nó là…con chó.
Cậu Hai hỏi:
– Ai đem tin cho ông biết? Chắc như vậy không? Tôi mới vô nhà Tư Thính gặp lá thơ. Thằng đạo Đất đốt chòi để khiêu khích tôi.
Bá Vạn đáp:
– Chuyện hơi dài và hơi bí mật. Tôi muốn nói riêng với cậu. Rủi người khác nghe thì bất lợi. Hay là tôi với cậu lên bờ…
Trước biến cố nầy, thật ra chẳng ai cảm động cả. Cậu Hai hơi mừng vì nay mai sẽ thừa hưởng gia tài, sự chống đối và tranh giành của thằng Cẩu không đáng kể. Bá Vạn thì ra vẻ xúc động để cậu Hai đừng nghi ngờ. Ông ta vuốt mồ hôi trán. Mồ hôi chảy ra vì ông ngồi suốt buổi trên chiếc ghe nhỏ không mui, bị nắng thiêu đốt. Nhưng nó được cậu Hai hiểu là những giọt mồ hôi lo âu của người tôi tớ già.
Bá Vạn thuật chuyện thằng A Mách từ núi Mo So và Lung Tràm trở về với bức thơ.
Cậu Hai hỏi:
– Nó đâu rồi?
– Nó bị bà chánh thất nhốt sau hè. Dường như nó lôi thôi lắm, dính líu tới thằng Cẩu.
– Tại sao lôi thôi?
– Nó nói không ra lời, mặt mày tái mét. Phải chăng nó muốn gieo tin thất thiệt? Làm hộ vệ mà tới lúc nguy nan nó đành bỏ ông Chúa, tội ấy thật đáng đánh.
Cậu Hai tức giận vô cùng.
– Về nhà, tôi giết nó. Bây giờ, theo ý ông, tôi phải làm gì?
– Cậu nên tới núi Mo So để rước linh cữu ông Chúa đem về Hòn Chông mà mai táng. Ngày nay thằng Cẩu với cô Ngó, cô Huôi còn giữ được linh cữu thì dân chúng tin lời họ.
– Phải lắm. Nhưng đi bằng cách nào? Bọn thằng Cẩu đông đảo không? Dao mác, cuốc xuổng nhiều hay ít?
Để thúc giục cậu Hai lên đường, Bá Vạn đáp:
– Cậu cho tất cả số hộ vệ đi theo. Hơn nữa, tôi tình nguyện phò cậu mà. Tụi nó làm sao hơn tôi được? Bấy lâu nay, tôi chưa làm mất lòng ai. Luôn luôn, tôi nhẫn nhịn.
Cậu Hai bèn vỗ vai Bá Vạn:
– Chuyện xưa ông cứ bỏ qua…
Bá Vạn hiểu ý nên nói thẳng ra:
– Hồi xưa, tôi bị cậu làm nhục, nhứt định thằng Cẩu sẽ dạy tôi, để tôi theo nó. Nhưng tôi ngu dại gì! Bây giờ cậu về Hòn Chông gấp chớ.
Chạng vạng tối, cậu Hai và Bá Vạn tới Hòn Chông. Bà chánh thất chạy ra sân, khóc lóc với cậu Hai. Bá Vạn lo lắng vô cùng, chưa biết thằng Mách ra sao. Ông ta nói:
– Cậu nằm nghỉ giây lát, tôi về nhà tắm rửa rồi trở lại.
Không chờ sự đồng ý của bà chánh thất, Bá Vạn ra sân sửa đoạn đi vòng ra phía sau nhà. Lúc bấy giờ, bọn hộ vệ dụm năm dụm ba trước bến, Bá Vạn lên tiếng để thị oai:
– Tụi bây đề phòng kỹ lưỡng, bắt giữ tất cả những người lạ mặt.
Rồi ông ta đến gian nhà ẩm thấp gần cầu xí. Thằng Thừa hỏi:
– Ai đó?
Bá Vạn đáp:
– Tao mà! Xong chưa?
– Dạ, xong mà chưa xong. Tôi đưa chén cơm mà thằng Mách không chịu ăn. Nó cứ la lên. Tôi nhét nùi giẻ trong miệng nó.
Bá Vạn bực tức vô cùng:
– Cậu Hai về tới rồi mà nó còn sống thì chết cả bọn. Tại sao không giết nó? Mầy tệ quá. Giao phó một công việc nhỏ xíu, quá dễ dàng như vậy mà mấy làm không xong. Để tao coi. Đốt đèn lên!
Bị rầy oan ức, thằng Thừa trả lời:
– Làm sao tôi giết nó lúc ban ngày được? Bây giờ mà đốt đèn lên thì lộ bí mật.
Cánh cửa hé mở, thằng Thừa bước vào, đạp mạnh vào ngực A Mách. Thằng Mách thở hồng hộc, đập hai tay xuống nền. Bá Vạn bước theo sau, chân ông đá nhằm chén cơm:
– Mầy lôi thôi quá!
Thằng Thừa hỏi:
– Ông cứ dạy tôi. Siết cổ nó, phải không?
– Để tao coi. Ừ! Phải rồi! Mầy đập cái chén nầy ra, lấy miểng chén mà cắt cho đứt mạch máu ở cườm tay. Rồi mầy tri hô lên. Nhớ bịt mũi, nhét thêm nùi giẻ vô miệng cho nó nghẹt thở. Khi tao trở lại thì mầy rút nùi giẻ ra…
Bá Vạn ra sân, về nhà để rửa mặt rồi thay quần áo. Chưa chi đứa nữ tỳ chạy tới gọi:
– Thưa ông! Cậu Hai mời ông.
– Tao tới bây giờ.
Khi đến sân, ông ta đứng chậm rãi chờ đợi thằng Thừa thi hành kế hoạch. Ông chắt lưỡi chửi lầm thầm:
– Cái thằng chậm lụt quá.
Cậu Hai hỏi:
– Ông tới đó hả? Chừng nào đi núi Mo So? Má tôi cản lại, e gặp rủi ro dọc đường. Vả lại, nếu bọn hộ vệ theo tôi thì nhà nầy còn ai giữ gìn. Thằng Cẩu kéo chừng vài chục tên cướp tới thì sao?
Đột nhiên, từ sau nhà giọng thằng Thừa vang lên:
– Nó chết! Nó đánh tôi nè! Nó tự vận.
Cậu Hai Điền hỏi:
– Cái gì vậy?
– Thằng Mách tự vận rồi. Bậy quá. Tôi muốn nói với cậu nên đánh đập nó để hiểu thêm chuyện ở Lung Tràm. Đúng là nó muốn chạy tội.
– À! Hộ vệ đâu! Đốt đuốc lên, theo tao.
Ánh đuốc chói sáng rực. Thằng Thừa chắp tay thưa:
– Mấy ông ơi! Nó tắt thở rồi.
Cậu Hai Điền vì quá nông cạn nên xông vào nhà giam nắm lỗ tai thằng Mách, xách đầu nó lên mà chửi liền miệng:
– Thằng phản phúc. Nó tự tử bằng cách nào? Tại sao máu me chảy linh láng vậy?
– Nó cắt mạch máu cườm tay, nó đập cái chén ăn cơm, để lấy miểng…
Đôi mắt thằng Mách như mở trao tráo, chỉ còn tròng trắng, miệng hả ra. Cậu Hai đứng dậy:
– Quăng nó xuống sông cho diều quạ rỉa xác. Nó ăn tiền của thằng Cẩu để giết hại ba tôi, còn ai xa lạ nữa!
Cậu Hai trở ra trước sân, hỏi Bá Vạn:
– Làm sao?
Bá Vạn nói:
– Để tôi cho đứa nào đó đi núi Mo So dọ dẫm trước, sáng mai khi mặt trời mọc, cậu với tôi hãy đi.
Nói xong, Bá Vạn gọi thằng Thừa:
– Mầy đáng tin cậy. Chuyện nguy hiểm lắm, mầy phải lo cho tròn. Nuôi quân ba năm, dụng quân một ngày, mầy hiểu chưa?
Thấy cậu Hai Điền còn đứng gần, Bá Vạn đến sát bên cậu mà nói:
– Thằng Thừa võ nghệ cao cường lắm. Nó là đứa khôn lanh. Cậu Hai có sẵn trong mình chút ít vàng bạc thì cho tôi mượn để ban thưởng cho nó.
Cậu Hai Điền tháo chiếc nhẫn, gọi to:
– Thằng Thừa lại đây. Mày nhớ dò xét kỹ lưỡng nơi thằng Cẩu ẩn núp để tao giết nó, trong ngày mai, trễ lắm là ngày mốt. Tao không tiếc với mầy bất cứ món gì. Chiếc nhẫn nầy có nhận hột ngọc bích, trị giá ba bốn lượng vàng ròng.
Thằng Thừa mừng ra mặt:
– Cám ơn cậu.
– Chừng nào mầy trở về?
– Dạ, trong đêm mai.
– Để trễ thì tao giết mầy.
Bá Vạn nói cố ý cho cậu Hai Điền nghe:
– Thừa à! Ai hỏi thì mầy trả lời rằng cậu Hai đang đi săn heo rừng ở Hòn Đất.
Cậu Hai bị chạm tự ái nên cằn nhằn:
– Đáng lý thì nói rằng tao tới núi Mo So để xé xác thằng Cẩu. Tại sao cha tao chết mà thằng Cẩu tự ý chôn cất ở nơi quê mùa hoang vắng? Ông nội tao chôn ở Hòn Chông thì nó phải đưa linh cữu về Hòn Chông. Nó muốn xin tiền bạc thì tao cho nhưng tao không tha thứ cái tội soán ngôi đó được.
Bá Vạn van nài:
– Thằng Thừa dọ thám, làm sao nó dám nói lại đúng theo ý của câu. Vả lại, tôi ngăn cấm không cho nó gặp mặt thằng Cẩu.
– Tại sao vậy?
Bá Vạn nói khẽ vào tai cậu Hai:
– Nó theo dõi thằng Cẩu, chờ cậu tới mà giết để trả thù. Chắc rằng thằng Cẩu đang mướn nhiều đứa hộ vệ. Nếu bọn hộ vệ của hai bên đánh nhau thì đổ máu vô ích, chi bằng cậu tới núi Mo So thình lình để bắt thằng Cẩu vào lúc ban đêm. Hôm sau, cậu đem nó ra xử trước mặt để thị oai với dân chúng.
Cậu Hai vỗ vai Bá Vạn:
– Ông nói phải. Chẳng lẽ tôi giết tất cả dân chúng ở núi Mo So. Dân chết hết, còn ai là tá điền cho tôi. À! Còn con Huôi?
– Cậu giết thằng Cẩu thì cô Huôi sẽ quì lạy cậu, xin tha tội. Cậu bắt buộc cô ta vô chùa tu, thế là xong chuyện.
Cậu Hai Điền trông theo, mãi đến khi thằng Thừa khuất bóng sau rằng cây tràm.
Đám tang ông Chúa Hòn vẫn chưa xong xuôi. Theo ý kiến của cô Huôi thì linh cữu ông Chúa phải quàn lại để chờ cậu Hai Điền và bà chánh thất tới. Địa điểm quàn tạm là sườn núi Mo So. Thoạt tiên ông Mười Hấu và cô Ngó hơi lo ngại. Ông Mười nói:
– Nên chôn gần nhà tôi, để canh phòng.
Cô Huôi cãi lại:
– Rủi bọn Hai Điền tới đào mồ, đem xác ông Chúa Hòn về Hòn Chông thì cậu Cẩu làm sao xưng là ông Chúa được?
Mười Hấu và cô Ngó đều khen cô Huôi là người thông minh sáng suốt. Cô Huôi vẫn bực vì thằng Cẩu quả là đứa trẻ ăn chưa no, lo chưa tới. Chưa chi nó đã xin tiền để đá cá thia thia và bày kế hoạch cất tại Hòn Chông một sòng bạc, ai vào sòng thì tha hồ đá gà, đá cá, đánh me. Biết rằng để thằng Cẩu ở bên cạnh thì hư hỏng việc lớn, cô Huôi tặng cho nó vài lượng vàng rồi gọi thằng Thiếu đến mà căn dặn:
– Chú mầy lo thật gấp hai chuyện: Đừng cho cậu Cẩu đi chơi xa và giết thằng Lục Nhét.
Thằng Thiếu đáp:
– Tôi giết nó hồi hôm qua rồi, chỉ còn chờ lịnh cô.
Cô Huôi sửng sốt:
– Tại sao giết rồi mà còn chờ lịnh?
– Tôi trói tay chân nó, để trong chòi giữa rừng. Thằng Lục Nhét quả thật là đứa có gồng, da thịt cứng như cây nhưng tôi có cách trị. Dùng cây cau vạt nhọn mà đâm.
– Cứ đâm cho gấp. Nhưng tại sao mầy buồn bực như vậy?
Nỗi lo âu của thằng Thiếu vẫn là việc A Mách còn sống, trốn thoát. Mấy đêm rồi, thằng Thiếu ăn ngủ không yên. Nó chẳng dám tiết lộ chi tiết ấy cho cô Huôi biết. Cô Huôi đã hỏi, nó trả lời rằng đã giết trọn hai tên hộ vệ rồi. Hôm qua, nó dạo chung quanh núi, gặp cậu Cẩu đang điều khiển một bọn hơn mười người hớt cá thia thia cho cậu tuyển lựa lại. Cậu Cẩu đã nói khóac lác:
– Tao viết thơ cho thằng Mách cầm đem về Hòn Chông mà tại sao thằng Hai Điền chưa tới để ăn thua với tao!
Chờ khi Mười Hấu ra ngoài, cô Huôi hỏi:
– Thiếu! Mầy buồn rầu việc gì? Hay là mầy sợ cậu Hai Điền? Ông Bá Vạn đang theo sát cậu Hai, cậu Hai không qua mặt ông ta được đâu!
– Dạ, hôm nọ tôi để sống sót một đứa hộ vệ. Cậu Cẩu lại tha tội nó, viết thơ cho nó đem về Hòn Chông khiêu khích cậu Hai…
– Đừng lo. Mấy cứ giết thằng Lục Nhét.
Vầng trán cô Huôi bỗng nhăn nheo. Cô thở dài. Quả thật thằng Cẩu là đứa ngu dại, liều lĩnh. Nó dám làm nhiều chuyện to lớn mà không cần hỏi ý kiến của bất cứ ai.
Nếu thằng A Mách còn sống thì tình thế ra sao? Liệu Bá Vạn có đủ tài trí để giựt dây, điều khiển mọi hành động của cậu Hai Điền không? Hay là Bá Vạn đã bị cậu Hai giết?
Cô vừa nằm xuống để nghỉ trưa là Mười Hấu chạy vào, mặt mày hơ hãi:
– Cô ơi! Tụi nó đánh mõ, đánh trống ở đằng xa.
Cô Huôi lồm cồm ngồi dậy:
– Tụi nào?
– Dạ, tụi dân trong xóm tôi bố trí canh phòng dọc theo bờ rạch, đề phòng cậu Hai Điền đem bộ hạ tới bao vây.
Cô Huôi ra trước sân, lấy tay che mắt. Đằng xa, chỉ có một bóng chạy lại, theo sau là năm bảy người dân làng. Cô Huôi reo lên:
– Thằng Thừa chớ ai đâu lạ!
Lập tức, cô nói với Mười Hấu:
– Biểu họ ngưng tiếng trống, đừng làm náo động dân chúng.
Khi thằng Thừa đến sân nhà, cô Huôi gọi:
– Vô đây. Thủng thỉnh hãy nói chuyện.
Rồi cô và Mười Hấu vào trong, đóng cửa lại. Thằng Thừa bước vào, gương mặt nghiêm nghị:
– Thưa cô, ông Bá Vạn nhắn tin. Vì sợ lộ bí mật nên ông nhắn miệng. Tôi tới đây để dọ thám.
Mười Hấu vì chưa kịp suy nghĩ nên vung tay:
– Mầy làm phản?
Cô Huôi trầm tĩnh hơn, bèn trấn an Mười Hấu:
– Thằng Thừa là đứa đáng tin cậy. Nếu là dọ thám của cậu Hai Điền thì nó ngu dại gì mà thú nhận.
Thằng Thừa trình bày:
– Cậu Hai tới Hòn Đất để đốt nhà ông Tư. Ông Tư đã trốn từ lâu…
Cô Huôi tức giận vô cùng. Đã đến lúc quyết liệt, vì hành động đốt nhà của cha cô đúng là vô lễ và có nghĩa là tuyên chiến.
– Còn gì nữa? – Cô hỏi – Chừng nào cậu Hai Điền tới đây?
Bỗng dưng mà Mười Hấu tái mặt. Là người quê mùa, ông ta sợ một cuộc tấn công bất ngờ. Nếu cậu Hai Điền cho vài chục võ sĩ tới thì làm sao ông ta chạy kịp. Tại núi Mo so nầy, hổm rày ông ta chỉ tuyển chọn được chừng mười thanh niên trai tráng để canh phòng mà thôi. Cô Huôi khoát tay:
– Ông Mười đừng lo, nên tin tài trí ông Bá Vạn. Sao nữa?
Thằng Thừa nói khẽ:
– Hai ngày nữa là cậu Hai và ông Bá Vạn tới. Cô và ông Mười nên chạy trốn cho cậu Hai hứng chí sanh chứng kiêu ngạo. Ông Bá Vạn sẽ dẫn cậu Hai lên núi để bắt cậu Cẩu. Chừng đó, sẽ làm như vầy…
Cô Huôi gật đầu từng chập. Thằng Thừa nói:
– Bây giờ tôi phải trở về Hòn Chông, vì tôi tới đây để dọ thám mà.
Cô Huôi vỗ vai thằng Thừa:
– Cám ơn chú. Ở lại ăn cơm.
– Dạ, tôi về gấp với mặt mày hốc hác để cho cậu Hai tin lời tôi. Còn thằng em tôi?
– Thằng Thiếu mạnh khoẻ, chú đừng lo.
Thằng Thừa ra ngoài sân. Cô Huôi căn dặn ông Mười Hấu:
– Cứ đánh trống đánh mõ rồi rượt thằng nầy. Ruợt nhưng đừng giết nó.
Cô Huôi nói thêm:
– Giựt cái áo thằng Thừa, cho rách một vạt.
Thằng Thừa phục thầm sự bố trí của cô Huôi. Ra khỏi khu vực núi Mo So, anh ta xuống xuồng, bơi một mạch về tới Hòn Chông.
Trời nhá nhem tối, thằng Thừa đến chân Hòn. Bọn hộ vệ chạy tới ngăn cản. Thằng Thừa bèn giả vờ nổi giận:
– Người như tôi mà anh em dám nói là do thám của ông Mười Hấu! Nếu chưa tin, anh em mời ông Bá Vạn tới để lãnh tôi về.
Dụng ý thằng Thừa là muốn nói chuyện riêng với ông Bá Vạn, không cho cậu Hai Điền nghe. Lát sau, Bá Vạn tới nói với bọn hộ vệ của cậu Hai:
– Mấy chú cẩn thận như thế, nghĩ cũng phải. Nhưng chú nầy là người thân tín của cậu Hai.
Bá Vạn đi bên cạnh thằng Thừa:
– Nói cho mau. Xong chưa?
– Dạ, cô Huôi mừng lắm. Ngày mai, trễ lắm là ngày mốt, trên núi Mo So sẽ có một căn nhà rộng rãi, giống như trường đá cá thia thia. Khi tới núi, tất cả mọi người đều chạy trốn. Ông Bá cứ đưa cậu Hai tới đó là xong chuyện.
Trước sân nhà, cậu Hai Điền đi tới đi lui rồi cằn nhằn:
– Tao mổ ruột thằng Cẩu, bêu đầu nó dưới bến cho thiên hạ trông thấy.
Chợt nhìn thấy Bá Vạn và thằng Thừa, cậu Hai Điền hỏi:
– Sao? Tụi nó ở đâu? Canh phòng thế nào? Ngày mai tao tới núi Mo So được chưa?
Thằng Thừa giả vờ như sắp nói chuyện quan trọng:
– Cậu ơi! Chuyện nầy mà đổ bể ra, chắc tôi bị giết. Tôi về đây, suýt chết mấy lần. Bọn hộ vệ của thằng Cẩu nắm áo tôi. Tôi liều chết chạy thật lẹ…
Nhìn cái vạt áo rách của thằng Thừa, cậu hai không nghi ngờ gì cả. Cậu hỏi:
– Sao? Thằng Cẩu ở đâu?
– Dạ, trên núi. Mỗi ngày nó lo đá cá thia thia. Nếu bao vây hoặc giả dạng thường dân, lên núi thình lình thì giết nó tại trận.
– Ngày mai lúc mặt trời đứng bóng, chắc là thằng Cẩu không còn sống.
Bá Vạn đáp:
– Chắc chắn như vậy, nhưng dọc đường cậu nên cẩn thận. Chuyến đi, cậu đừng cho ai biết nhiều. Chuyến về thiên hạ sẽ khâm phục, cho cậu là “chơn mạng đế vương” có tài xuất quỉ nhập thần. Cậu nghỉ sớm để dưỡng sức.
Cậu Hai Điền lẩm bẩm
– Giết thằng Cẩu xong rồi thì Tư Thính, cô Huôi phải hàng phục thôi.
Bá Vạn nói thêm:
– Nhưng Mười Hấu và cô Ngó thì phải đền tội. Mẹ và ông ngoại gánh tất cả trách nhiệm của con, làm sao chối cãi được. Chừng đó xong xuôi, chắc cậu ban thưởng tôi.
– Đừng lo. Tôi cho ông một ngôi nhà cao ráo, ở gần tôi. Căn nhà của ông hư nát rồi. Lúc tôi săn heo rừng, ông coi chừng tiền bạc, rầy la bọn tá điền…
Bá Vạn cười hiền lành, tưởng rằng thế gian nầy chẳng còn ai đóng trò khéo hơn được:
– Tôi không màng danh lợi, chỉ dám mong cậu xuất tiền xây cất một kiểng chùa để thỉnh thoảng tôi tới đó tụng niệm.
Sau khi từ giã cậu Hai Điền, Bá Vạn qua nhà bà chánh thất ở bên cạnh. Đứa nữ tỳ đưa ông vào trong. Bà chánh thất đóng cửa lại rồi ra lịnh:
– Ra ngoài mà chờ. Ta nói chuyện riêng. Thằng Hai Điền tính sao? Trăm sự đều nhờ ông. Tôi bây giờ như người goá phụ…
Bá Vạn ngồi xuống rồi mở nút áo:
– Xin lỗi bà, nực nội quá. Hồi chiều tới giờ, tôi chưa ăn cơm. Cậu Hai hơi nóng nảy, muốn đem tất cả bọn hộ vệ tới núi Mo So. Tôi ngăn cản, vì làm vậy thì còn ai bảo vệ bà, rủi bọn thằng Cẩu tới bao vây thình lình.
– Tôi dạy thằng Điền, chắc nó nghe lời tôi. Nhưng mà làm cách nào để giết thằng Cẩu? Theo ý tôi thì con Huôi là đứa lợi hại hơn. Còn con Ngó? Chẳng lẽ tha tội cho nó? Từ ngày hai đứa nó về nhà nầy, bao nhiêu chuyện lộn xộn xảy ra.
Rồi bà đến ngồi sát Bá Vạn:
– Ông đừng bắt chước ông Chúa Hòn ngày xưa làm khổ vợ con. Bấy lâu, ngồi trên đống vàng mà tôi khổ sở, buồn bực không kém gì cô gái quê mùa.
Bá Vạn cười dòn:
– Tôi muốn đi tu, sống an nhàn. Lâu lâu, nếu bà nhớ tưởng thì gọi tôi tới để dạy việc.
Bà chánh thất nói giọng tình tự:
– Ông dạy tôi, chớ tôi biết gì mà dạy ông. Ông nói phải. Nếu yên mọi việc thì tôi cất nhà ở xa, hoặc trên chót Hòn mà ở cho yên tịnh. Nhà nầy cất theo kiểu xưa, tối om om. Bọn nữ tỳ quá đông đảo, sớm muộn gì bọn nó cũng nói xấu chủ.
Uống cạn chén rượu, Bá Vạn giả vờ đòi về. Nhưng bà chánh thất cầm giữ khéo léo:
– Ông ở đây cho vui, vắng ông tôi buồn. Thằng Điền không giận ông đâu.
– Tôi sợ tới hừng sáng thức dậy không kịp. Cậu Hai nóng nảy muốn đi sớm.
– Dễ quá, để tôi biểu một đứa nữ tỳ qua nhà thằng Điền mà chờ. Hễ nó thức thì con nữ tỳ qua đây báo tin.
Suốt đêm ấy, tuy nằm bên cạnh bà chánh thất nhưng ông Bá Vạn suy nghĩ chuyện đâu đâu. Trong số ba người vợ mà ông Chúa để lại, ông thích nhất là cô Huôi nhưng làm sao ông với tới. Ông cười thầm:
– Mình đã chiếm được hai bà rồi!
Nhưng hình ảnh cậu Hai Điền cứ hiện ra chập chờn. Hai Điền là đứa khá gan dạ, khôn lanh. Liệu ngày mai anh em thằng Thừa thằng Thiếu đủ sức giết cậu Hai? Làm cách nào cho cậu ta đừng đem tên hộ vệ nào lên núi Mo So? Nếu kế hoạch thất bại, ông sẽ bị Hai Điền giết tại trận. Trong phút giây, ông nghĩ đến chuyện phản bội cô Huôi và thằng Cẩu, nhưng ông sực nhớ đến cái áo lem lấm thịt kho mà ông còn cất giấu kỹ lưỡng.
Rồi đây khi nắm trọn quyền hành, Hai Điền sẽ hách dịch bội phần và một trong những đứa hộ vệ giỏi nghề săn sẽ nắm vai trò “quân sư”. Biết đâu, Hai Điền sẽ trừng trị ông vào dịp khác. Và hổm rày có điều đáng chú ý là cậu ta thắc mắc việc ông giao thiệp thân mật với mẹ ruột của cậu! Đó là bản án treo mà sau nầy cậu được quyền xét xử, bất cứ lúc nào!
Đang ngủ say, Bá Vạn bị đánh thức:
– Ông ơi! Cậu Hai kêu..
Đứa nữ tỳ gõ nhẹ vào cửa, lập tức ông ngồi dậy.
Bà chánh thất ôm Bá Vạn mà hôn:
– Ông giúp giùm tôi. Thằng Điền còn trẻ lắm. Nhớ đem linh cữu chồng tôi về đây. Tôi hứa đền ơn ông.
Bá Vạn đáp:
– Bà nên dạy cậu Hai vài lời. Tôi nói, nhiều khi cậu không tin.
– Dạy điều gì?
– Cậu Hai nên giả dạng thường dân, đừng đem theo bất cứ tên hộ vệ nào cả. Tôi cũng ăn mặc xuề xoà.
Trong lúc Bá Vạn rửa mặt, bà chánh thất đến gặp cậu Hai, lát sau trở lại:
– Ông ơi! Nó chịu rồi. Sẵn đây, tôi đem bộ quần áo đen cho ông.
– Cậu Hai vui vẻ chớ?
– Lúc đầu, nó nhăn nhó mặt mày. Tôi cắt nghĩa rằng giết thằng Cẩu giống như giết heo rừng, nếu ăn mặc sang trọng thì làm tăng giá trị thằng Cẩu.
Bá Vạn ra ngoài. Công việc đầu tiên của ông ta là đánh thức thằng Thừa. Vắng thằng Thừa là hư chuyện. Tuy nhiên, ông dè dặt đến gặp cậu Hai Điền.
Cậu Hai đứng sẵn dưới bến. Hai tên hộ vệ lui cui đánh quai chèo. Thấy Bá Vạn tới, cậu hỏi:
– Như vậy được chưa? Giống như thằng đốn củi.
Bá Vạn trấn an cậu Hai:
– Được rồi, nhưng cậu nên mang theo hai cây dao nhỏ, giấu kín trong áo.
– Thì tôi mang theo hai cây với hai thằng hộ vệ.
Bá Vạn đáp:
– Hai đứa nầy không rành đường sá, mặt mày coi dữ tợn quá. Cho tụi nó ở nhà. Tôi với cậu thay phiên nhau mà chèo chống..
Cậu Hai Điền trố mắt:
– Như vậy mệt lắm. Ông tính sao? Rủi bị chận dọc đường làm sao chống cự được. Phải chi ông mạnh khoẻ…
Bá Vạn vỗ trán rồi nói nhanh:
– Tôi nhớ rồi! Thằng Thừa là đứa hộ vệ của tôi, nó rành đường sá, võ nghệ nào kém ai. Cậu với tôi cứ ngồi để nó chèo sau lái. Chiều nay mình tới Mo So là vừa. Thằng Thừa đã dọ thám hôm qua.
– Kêu nó đi theo. Nhưng tôi muốn làm chuyện bất ngờ. Thay vì đi êm thấm thì mình cho bọn hộ vệ chừng vài chục đứa đốt đuốc, cầm dao mác. Thằng Cẩu là con heo rừng, nên giết nó như giết heo.
– Đó là chuyến về. Nếu gây động, nó trốn thì dễ gì bắt sống nó mà xử cho hả dạ?
Cậu Hai đang do dự. Bá Vạn bèn ngoắt thằng Thừa.
Mặt trời xuống thấp, muỗi kêu vo vo. Thằng Thừa cầm cây sào, xuống chiếc ghe lườn nhỏ. Đó là kiểu ghe độc mộc, tuy nhỏ hẹp nhưng di chuyển nhanh chóng, bị đụng thì không bể, rủi chìm thì cứ nâng lên rồi tát nước cho cạn.
Cậu Hai hỏi:
– Muỗi cắn, mình làm sao bây giờ? Phải un khói trước mũi ghe chớ.
Biết rằng nếu sơ suất một tiếng nói thì kế hoạch bị gãy đổ, Bá Vạn đáp:
– Dạ, un khói thì muỗi tan, nhưng có đóm lửa chập chờn, mình chưa tới là dân chúng hay biết…
– Phải đem rượu theo thật nhiều. Mình uống say thì hơi rượu thấm vô máu, muỗi cắn hút cũng say rượu luôn.
Thằng Thừa lên nhà đem hũ rượu xuống. Bá Vạn nháy mắt rồi khoát tay. Chưa chi thằng Thừa đã trổ tài chống ghe. Với cây sào dài, nó điều khiển khéo léo, chiếc ghe không lúc lắc vì di chuyển quá nhanh. Cậu Hai Điền bắt đầu vui vẻ:
– Ghe đi lẹ thì bớt muỗi, làm sao muỗi bay theo kịp? Uống rượu chớ!
Bá Vạn mở hũ rượu, rót ra chén mời cậu Hai uống trước. Uống cạn chén, cậu trố mắt:
– Tại sao cây cối hai bên bờ hơi lạ?
Bá Vạn đáp:
– Dạ, mình đi tắt trên bưng, đừng lo thiên hạ thấy. Núi Mo So hiện ra kìa!
– Phải chỗ hôm trước không mậy? Mầy còn nhớ chỗ thằng Cẩu đá cá lia thia không?
Thằng Thừa đáp:
– Dạ tôi nhớ. Ban đêm cậu Cẩu ngủ tại trường đá cá không ai canh phòng cả. Mình chỉ sợ phía chân núi, chỗ nhà Mười Hấu và cô Huôi đang trú ngụ. Luôn luôn, trước sân có năm bảy đứa cầm dao.
Lý lẽ ấy chưa thuyết phục được cậu Hai Điền:
– Tại sao thằng Cẩu ngủ trên sườn núi một mình? Ban đêm, cá thia thia cũng ngủ chớ đâu có thức mà đá. Mầy nói hơi vô lý. Nẫy giờ tao muốn trở về!
Bá Vạn rùng mình lo sợ, nhưng cậu Hai vội nói tiếp:
– Tao trở về kêu vài chục đứa hộ vệ tới đốt nhà Mười Hấu, đốt luôn con Huôi thử coi nó có sống mãi không? Cái thứ bông quỳnh hoa thì lâu lâu nở một lần. Cha tôi lầm tưởng con Huôi là nữ thần hộ mạng.
Để tranh thủ thời giờ, Bá Vạn cứ nhắc nhở:
– Mầy chống cho lẹ kẻo muỗi cắn cậu Hai.
Bỗng dưng cậu Hai la hoảng:
– Con gì vậy?
Một con cá thát lát trắng bạch từ ngoài bưng nhảy vào chiếc ghe lườn, ngay trước mặt cậu Hai. Cậu cằn nhằn:
– Điềm xui xẻo. Đêm nay tôi sao giận trong bụng quá. Hay là mình về?
Bá Vạn đưa tay ra sau lưng như khuyên thằng Thừa đề phòng cẩn thận. Cậu Hai rút ngọn dao ra mà nói tiếp:
– Bá Vạn nghĩ sao? Con cá nhảy vô ghe rồi nằm im. Chắc là có kẻ rình mọ.
Bá Vạn đáp:
– Cậu đừng lo ngại. Ban đêm bọn tay em của Mười Hấu uống rượu rồi ngủ hết rồi.
– Chống xuồng ra ngoài rạch, mát mẻ hơn. Mầy cho chiếc ghe quẹo ra. Trong bưng u ám quá. Hay là con cá nầy là điềm của Trời Phật khuyên bọn mình nên theo con đường khác?
Thằng Thừa tức giận vô cùng, muốn nhảy tới giết cậu Hai Điền cho rảnh. Nó thắc mắc không hiểu tại sao Bá Vạn chưa giết cậu Hai. Nhưng Bá Vạn lại suy nghĩ cách khác. Đến giờ phút nầy, tánh mạng cậu Hai Điền đã nằm trong tay lão. Nếu giết quá nhanh chóng vội vàng thì thằng Cẩu, Mười Hấu và cô Huôi đều sẽ xem thường công việc, sau nầy khi nắm quyền hành thì họ cho rằng lão chẳng góp công lao đáng kể. Mười Hấu và cô Huôi đều là người tham tiền bạc, địa vị. Thằng Cẩu nuôi nấng nhiều cao vọng. Với cái tật ngang tàng, phách lối, rồi đây cậu ta sẽ chửi lão như cậu Hai đã từng làm. Được chim bẻ ná, đước cá quăng nơm. Là người tôi tớ già, lão hiểu trò đời hơn ai hết. Lão nhớ cái tráp, trong đó đựng cái áo dính thịt kho chưa giặt sạch. Khi Hai Điền chết, lão sẽ sung sướng mở tráp ra, ném cái áo cho mọi người xung quanh thấy. Dù sao đi nữa, bà chánh thất vẫn hiền lành, khả ái và vô tội. Nếu có dư luận không đẹp cho rằng lão giết Hai Điền thì còn mặt mũi nào lão nhìn bà chánh thất. Chẳng lẽ lão giết luôn bà ta! Làm như vậy thì Tư Thính và Mười Hấu sẽ cho rằng lão gian ác, sẵn sàng phản bội tất cả mọi người. Họ sẽ giết lão sau khi họ thắng thế để ngừa hậu hoạn.
Thằng Thừa lên tiếng:
– Xuồng ai bơi ngược về phía nầy kìa.
Bá Vạn nhắc nhở khéo léo:
– Có tao. Chắc là xuồng mấy người đốn củi đặt trúm.
Nhà hai bên bờ đều đóng kín cửa. Đã đến địa phận chân núi Mo So. Quả thật cô Huôi đã bố trí khéo léo, dọc đường cậu Hai không gặp ai xét hỏi cả. Cậu Hai Điền thích chí:
– Đêm nay tao cho tụi nó chết. Thừa à! Nhớ kỹ nhà Mười Hấu không?
– Dạ nhớ. Chỗ có mấy cây cau lão đằng trước.
– Mầy ghé lại, tao ngồi chờ. Mầy tới đó rình thử rồi cho tao biết.
Thằng Thừa lên bờ, bước nhanh. Vài con hạc kêu oang oác trên bầu trời đầy sao thưa. Cá đớp bọt sát mé cỏ. Bên kia bờ, nhà nọ còn thức. Có tiếng trẻ con khóc và tiếng hát ầu ơ.
Cậu Hai mò tay, lấy hũ rượu uống cạn một chén rồi căn dặn Bá Vạn:
– Đừng nói chuyện.
Ngồi trên ghe với cậu Hai, Bá Vạn lo sợ vô cùng. Nếu cậu trở mặt dùng dao nhọn mà giết lão thì ai che chở giùm.
Thời khắc trôi qua chậm chạp. Phía núi Mo So vài đốm sáng chập chờn. Mây đen kéo tới nườm nượp che khuất trăng sao. Bỗng dưng mà Bá Vạn ngờ mình đang bị chôn sống trong cái hố sâu thẳm. Ếch nhái kêu inh ỏi bên tai. Bầy đom đóm từ xa bay lại như những oan hồn, đều bắt đầu làm quen với Bá Vạn.
Cậu Hai tằng hắng:
– Nó về kìa!
Thằng Thừa chạy hổn hển, đứng lại thở phào:
– Dạ xong rồi. Nhà Mười Hấu đóng cửa kín.
Cậu Hai nói:
– Mầy kiếm một mớ nhánh cây khô để tao đốt. Nó chạy ra là gặp tao. Tao giả dạng như người chòm xóm tới coi đám cháy. Làm sao nó biết trước được.
Cả ba người lên bờ, đến nhà Mười Hấu. Bầy chó sủa vang nhưng lạ thay, họ chẳng nghe ai lên tiếng cả. Cậu Hai hỏi:
– Sao vậy?
Thằng Thừa đáp:
– Dân chúng ngủ mê hoặc là xóm nầy chó cứ sủa từng chập, chẳng ai thèm chú ý.
Cậu Hai đến trước sân rồi đạp mạnh cánh cửa:
– Chủ nhà đâu?
Thừa lúc ấy, Bá Vạn hỏi thằng Thừa:
– Mầy gặp ai lúc nãy?
– Dạ, cô Huôi. Cô bảo rằng cứ tới…rồi lên núi.
Cánh cửa mở tung, bên trong thắp đèn leo lét. Một người lồm cồm ngồi dậy trên bộ ván. Cậu Hai xông vào. Lúc ấy, cậu tin sức mình, với ngọn dao nhỏ cầm sẵn trong tay. Người nọ chạy xuống nhà bếp rồi đạp cửa sau nghe rầm rầm. Thằng Thừa đoán chắc là Mười Hấu, nên chờ khi Mười Hấu chạy ra vườn, nó kêu lên:
– Nó chạy kìa! Để tôi rượt theo.
Cậu Hai đáp:
– Mầy ngu quá. Đốt nhà cho tao!
Không đợi thằng Thừa tiếp tay, cậu Hai lấy thếp đèn để sát vách, đổ mớ dầu ra rồi dùng tim đèn mà châm vào. Lửa bốc lên. Bá Vạn bịa chuyện để cậu Hai tin rằng đã thắng cuộc:
– Nó chạy ra sau vườn kìa! Nó xuống mé sông.
Lập tức, cậu Hai trở ra với nụ cười trên môi và cây dao trên tay. Bá Vạn nói khéo:
– Bây giờ cậu lên sườn núi để bắt sống thằng Cẩu. Chờ lâu quá thì ngọn lửa bốc sáng, nó nghi ngờ.
Cậu Hai Điền nhìn mấy nhà chung quanh, nêu câu hỏi:
– Dân chúng đâu hết rồi?
Bá Vạn hiểu rằng dân chúng đã tản cư trước, theo lệnh cô Huôi, ông ta đưa lý do không vững lắm:
– Mười Hấu phách lối, ăn ở bất nhân nên dân chúng không phục. Ngày mai, họ vui mừng khi hay tin cậu tới cứu giúp.
– Phải lắm. Mười Hấu là cái gì mà đòi làm cha ông Chúa Hòn? Bây giờ, tao giết thằng Cẩu. Dẫn đường cho tao đi!
Thằng Thừa đến gốc cây to, dừng lại để chờ cậu Hai và Bá Vạn. Con đường mòn hiện ra, dốc núi thoai thoải và trên kia, ánh đèn leo lét chiếu sáng từng chập. Lúc hăng hái, cậu Hai đi nhanh, hỏi lấy lệ:
– Tao biết rồi. Thằng Cẩu ở chỗ có ánh sáng trên đó?
Thằng Thừa đáp:
– Dạ phải.
– Để tao giết nó một mình. Tưởng rằng bọn nó canh phòng chu đáo; quanh nhà có thiên binh vạn mã. Ngờ đâu chuyện đời quá dễ.
Bá Vạn và thằng Thừa theo sau. Ông ta cau mày nói khẽ:
– Mầy thấy chưa? Cậu Hai muốn phản tụi mình.
– Ông nói sao?
– Hễ giết được thằng Cẩu thì cậu cho rằng đó là do cậu can đảm, đủ tài trí. Nhưng thằng Thiếu có ở trên đó không?
– Dạ, hồi nãy nó hẹn ở đó.
Cậu Hai Điền gọi từng chập:
– Theo tôi cho mau. Tôi chỉ sợ khi nào Mười Hấu và con Huôi lên núi báo tin. Hồi nãy, họ xuống bến phải không?
Căn nhà hiện ra đúng là nơi mà thằng Cẩu bố trí sẵn để đá cá thia thia hồi mấy tháng trước. Nhà rộng bốn gian vách phên sơ sài. Đến trước sân, cậu Hai dè dặt đứng lại để chờ thằng Thừa. Bá Vạn nói:
– Coi chừng lầm nhà, mầy nhớ kỹ chưa?
Thằng Thừa đáp:
– Dạ, đúng là nhà nầy.
Cậu Hai nhìn qua kẽ vách. Có người nằm trong cái mùng bằng nhiễu đỏ. Cậu khều Bá Vạn:
– Ông vô trước, đánh thức nó. Rồi tôi hạch hỏi nó trước khi giết cho sướng tay.
Bá Vạn đáp:
– Thằng Thừa vô trước. Nó có võ nghệ. Nó vô trước, cầm dao đứng sẵn rồi cậu hãy lên tiếng.
Thằng Thừa tuân lênh, vạch mấy miếng lá bên vách mà xông vào. Mừng rỡ biết chừng nào! Nó thấy đúng em nó là thằng Thiếu đang nằm nghiêng trong mùng giả dạng thằng Cẩu. Nãy giờ, thằng Thiếu phập phồng chờ đợi với cây mác nhọn và sợi dây khá chắc.
Thằng Thừa nhìn kỹ. Em nó mở mắt ra, nháy đôi ba lần. Nó khoát tay.
Từ bên ngoài, cậu Hai Điền đạp cửa phên. Cửa ngã xuống, cậu cười dòn:
– Thằng kia! Thức hay ngủ!
Nhanh như chớp, thằng Thừa đổi vị trí, đến sát cậu Hai Điền như để làm phận sự hộ vệ. Cậu Hai cầm ngọn dao trên tay, đến sát bên mùng. Thằng Thiếu vụt ngồi dậy. Bá Vạn cười to:
– Cậu Hai! Biết tôi là ai không?
Khi day lại, cậu Hai bủn rủn tay chân vì thằng Thừa và thằng Thiếu đều hươi khí giới, để sát ngực cậu. Bá Vạn vuốt râu, trợn mắt:
– Biết tôi là ai không? Cậu nhớ thằng già nầy hồi mấy tháng trước bận cái áo gì không? Cái áo dính thịt kho…Cậu buông cây dao xuống. Ở đây, hôm nay thằng Cẩu không chết mà người chết là thằng Hai Điền.
Mồ hôi tuôn xuống nườm nượp, cậu Hai xám mặt, từ từ buông cây dao rớt nhẹ xuống đất. Bá Vạn nói tiếp:
– Chung quanh đây còn mười võ sĩ khác, cậu đừng chống cự vô ích.
Cậu Hai ôm mặt khóc, quì xuống trước mặt Bá Vạn:
– Trời! Dè đâu đêm nay tôi chết như vầy. Tôi là đứa ngu dại. Ông không tha thứ cho tôi được sao?
Bá Vạn sung sướng vô cùng. Lần đầu tiên trong đời, ông ta đã bắt buộc một ông chúa con phải quì gối để xin tha mạng. Trước khi giết Hai Điền, ông muốn nói vài tiếng cho hả giận, bù lại khoảng thời gian đau khổ mà ông đã chịu đựng suốt mấy tháng qua:
– Mọi khi, chú mầy xem trời đất nhỏ như hột tiêu. Bây giờ chú mầy nhỏ hơn hột tiêu, hiểu chưa? Đừng tưởng mầy giỏi hơn con heo rừng. Tao là con cọp kỳ lân. Bao nhiêu tài sản ông bà mầy để lại đều thuộc về tay tao nắm giữ. Tao làm tôi mọi nhiều năm rồi.
Niềm hy vọng mong manh vẫn còn thấp thoáng trong trí óc cậu Hai Điền. Cậu day lại nhìn thằng Thừa, thằng Thiếu. Hai đứa nó cầm dao trong tay. Cậu cúi mặt, hai ba giọt mồ hôi rớt xuống long lanh. Thếp đèn dầu mù u cứ cháy chập chờn:
– Hồi đó, tôi là đứa con nít, tôi trót dại, làm chuyện hổn láo. Nay mai khi trở thành ông Chúa, tôi hứa đền ơn xứng đáng. Hòn Đất và núi Mo So sẽ thuộc về tay ông.
Bá Vạn quát to:
– Không bao giờ mầy trở thành ông Chúa Hòn được!
– Trời ơi! Xin ông thương tưởng giùm, cho tôi sống để ăn năn tội lỗi. Tôi trở thành thường dân..
-Mầy không xứng đáng làm thường dân.
– Dạ…ông cho tôi sống thêm vài năm, tôi hứa vô chùa tu cho tới chết.
– Thà mầy chết bây giờ, sướng thân mầy hơn. Lúc trước mầy hất tô thịt kho lên áo tao, mầy hất thêm một tô nước mắm lên đầu tao. Đáng lý ra, hai ba ngày sau mầy kiếm tao để xin lỗi. Cha mầy là đứa không biết phải quấy, tao giết cha mầy rồi. Mạng mầy là đồ bỏ.
Liệu chừng năn nỉ không xong, cậu Hai Điền nghĩ tới biện pháp chót là chạy trốn. Căn nhà nầy vách phên thưa thớt, nếu đạp mạnh là thoát ra ngoài. Thà ra ngoài nhảy xuống hố, đập đầu vô đá mà chết còn đỡ nhục nhã hơn ở đây.
Nhưng Bá Vạn lên tiếng:
– Thừa, Thiếu đâu rồi? Dẫn nó ra trước sân, làm thịt cho kỹ.
Cậu Hai giãy dụa kêu la:
– Tôi không có tội tình gì hết, cho tôi sống với chớ! Mấy ông cho tôi sống rồi muốn làm gì thì làm. Oan ức quá. Trời ơi!
Bá Vạn ngồi xuống. Ngoài kia, cậu Hai thở hồng hộc, tiếng thở thỏn mỏn dần. Bá Vạn nhìn ra:
– Nó chết thiệt chưa? Giết cho kỹ lưỡng, quăng xác xuống hố.
Lát sau, ba người xuống chân núi. Nhà Mười Hấu chỉ bị hư hao sơ sài. Cửa trước sau đều mở rộng. Vừa liếc vào, Bá Vạn thấy cô Huôi đang ngồi trên bộ ván. Gương mặt cô trầm tĩnh và nghiêm nghị lạ thường. Mười Hấu ngồi phía sau lưng cô Huôi và phía sau Mười Hấu là cô Ngó. Thoạt tiên, Bá Vạn chờ đợi lời khen ngợi và đón tiếp rầm rộ của Mười Hấu. Bá Vạn nghĩ rằng mình đã lập công lớn, cô Huôi và Mười Hấu phải nhớ ơn và khâm phục. Ông ta bước vào, cúi đầu.
Cô Huôi cất tiếng:
– Xong xuôi rồi chớ? Ngày mai ta về Hòn Chông.
Mười Hấu là người quê mùa nên kém trầm tĩnh:
– Ông ơi! Nãy giờ tôi lo múc nước để chữa lửa. Nhà nầy bị cháy một lỗ lớn. Thằng Cẩu cứ lo…
Cô Huôi chận lời Mười Hấu:
– Xong rồi thì ta nghỉ cho khoẻ. Thằng Thừa, thằng Thiếu đâu rồi? Rửa tay chân cho sạch máu. Mai chiều, Bá Vạn thưởng tiền cho.
Nói xong, cô Huôi vào trong. Bá Vạn nằm trên bộ ván cứ thao thức trong khi anh em Thừa, Thiếu xuống bến tắm rửa. Chó sủa ma, văng vẳng trong đêm thâu. Bá Vạn rởn tóc gáy từng chập khi thấy một con đom đóm từ ngoài sân, phía núi Mo So bay vào. Phải chăng đó là oan hồn của cậu Hai Điền? Con đom đóm vào, bay trở ra. Bá Vạn chưa yên tâm cho lắm vì những ngày sắp tới ắt còn nhiều khó khăn. Cô Huôi đẹp thật, nhưng lúc nầy vẻ đẹp ấy hơi bí hiểm.
Bất giác, lão thở dài:
– Mình làm cho thiên hạ hưởng. Chẳng lẽ mình lại ngu dại làm chuyện hại ngược lại mình? Cô Huôi còn trẻ nhưng khác xa bà chánh thất và cô Ngó…Đêm nay nếu không có cô ta thì mình được an ủi bên cạnh cô Ngó! Còn thằng Cẩu? Nó ngủ say hay là đang trửng giỡn với mấy cô thôn nữ? Thiệt là đứa tốt phước!
Tại sân trung đoàn (L2), sau khi tất cả tù cải tạo bị chuyển trại từ các T đã lên tới nơi, một tay cán bộ đọc tên từng người trong danh sách đã được chia sẵn thành từng toán. Tôi cũng chẳng quan tâm tới việc mình thuộc toán nào bởi vì, thứ nhất, tôi không thấy một người quen nào trong đám cải tạo “nặng tội” này, và thứ hai, sau khi thoát chết vì sốt rét rừng tôi vẫn chưa bình phục, trong người lúc nào cũng mệt mỏi, chẳng thiết tha ăn uống, kể cả đầu óc cũng trở nên lười biếng, cho nên tương lai trước mặt tôi cũng thờ ơ…
Vì thế, sau khi tù cải tạo lên xe, vải bạt phía sau được thả xuống, cột kín mít thành xe bít bùng, khác với ngày từ Đồng Ban lên Phước Long, tôi cũng chẳng hơi đâu thắc mắc.Trên đường đi, mặc dù đoán trước lần chuyển trại này hung nhiều hơn cát, nhiều anh em vẫn xôn xao bàn tán sau mỗi lần xe quẹo, hoặc một người nhìn qua khe vải bạt thấy được một tấm biển ghi địa địa danh, một cái cầu, một trại lính nào đó…
Nghe những lời bán tán, tôi biết đoàn xe đi về hướng nam, theo Quốc lộ 14, rồi Quốc lộ 13.
Gần tới ngã tư xa lộ Đại Hàn, một số anh em trên xe bắt đầu tiên đoán một cách bi quan: chắc chắn sẽ không quẹo mặt vì đó là đường trở về Tây Ninh, còn quẹo trái là đi Biên Hòa, Long Khánh… chắc cũng không nốt, mà có lẽ sẽ chạy thẳng tới Tân Cảng Sài Gòn, nơi đó một chiếc tàu đang chờ để đưa chúng tôi ra Bắc!
Nhưng cuối cùng đoàn xe không chạy thẳng mà quẹo trái, như vậy chắc chắn chúng tôi sẽ không bị đưa ra Bắc!
Sau này chúng tôi mới biết lúc đó ngoài miền Bắc không còn chỗ cho chúng tôi. Không còn chỗ không phải vì đất hẹp người đông – núi rừng Hoàng Liên Sơn trùng điệp thiếu gì chỗ để đày tù – mà chỉ vì vào thời gian này, quan hệ “anh em môi hở răng lạnh” giữa đàn anh Trung Cộng và đàn em cộng sản Việt Nam đã trở nên cực kỳ căng thẳng, tới mức Đặng Tiểu Bình đã công khai tuyên bố trong một chuyến công du ngoại quốc: “Đã tới lúc phải cho Việt Nam một bài học”.
Khi ấy Trung Cộng đã dàn một quân đoàn ở phía bắc biên giới Hoa -Việt cho nên ai cũng hiểu “nội dung” bài học ấy là gì, vì thế cùng với việc ban hành lệnh tổng động viên, gấp rút đưa các lực lượng đang chiếm đóng Căm-bốt về biên giới phía Bắc, nhà cầm quyền CSVN đã đưa tù cải tạo từ các trại nằm gần biên giới như Quyết Tiến, Phong Quang… về miền xuôi, để đề phòng việc tù có thể lợi dụng lúc hỗn loạn để trốn thoát.
Trên bình diện quốc gia, cuộc xâm lược của Trung Cộng vào sáu tỉnh biên giới phía bắc VN, với mức độ dã man tàn bạo chưa từng thấy trong lịch sử chiến tranh giữa hai nước, phải được xem là nỗi đau chung cho cả dân tộc, nhưng nếu chỉ xét ảnh hưởng đối với tù cải tạo thì “bài học” ấy của Bắc Kinh đã đem lại nhiều cái lợi, trong đó có việc đa số tù cải tạo ở miền Bắc không còn phải lao động khổ sai ở những vùng rừng thiêng nước độc nữa, đồng thời đám tù cải tạo “nguy hiểm, nặng tội” trong Nam dự trù bị đưa ra Bắc đã được ở lại miền Nam.
* * *
Đoàn Molotova chạy qua phi trường Biên Hòa, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III cũ, qua Ngã Ba Vườn Mít, theo Quốc lộ 1 hướng về phía Hố Nai, nhưng vừa qua khỏi Dưỡng trí viện thì rẽ mặt vào khu trại tù mà thời VNCH gọi là Trung Tâm Cải Huấn Tân Hiệp, sau năm 1975 trở thành Trại Cải Tạo Tân Hiệp, thường được tù cải tạo và thân nhân gọi ngắn gọn là Trại Tù Suối Máu. Ba năm sau cùng của đời quân ngũ tôi phục vụ trong căn cứ không quân Biên Hòa, rất thường đi về vùng Hố Nai cho nên vị trí của trại tù này tôi vẫn còn nhớ rõ. Trại này nằm về phía đông bắc thành phố Biên Hòa, cách trung tâm thành phố khoảng 2 km; tức là cách cổng chính của phi trường và Ngã Ba Vườn Mít khoảng 1 km.
Trại nằm trên một vùng đất cát thuộc ấp Tân Hiệp, xã Bình Trước, quận Đức Tu, tỉnh Biên Hòa. Phía trước (hướng Bắc) là Quốc lộ 1, bên kia đường là giáo xứ Phúc Hải; phía sau (hướng Nam) là đường rầy xe lửa, phía bên mặt (hướng Đông) là khu dân cư Tân Hiệp nằm xa xa, phía bên trái (hướng Tây) là Suối Máu. (1)
Trại Tù Suối Máu
Trại Tù Suối Máu hình chữ nhật, chia thành 5 khu gọi là K: K1, K2, K3, K4 và K5. Các K được ngăn cách bằng hai, ba lớp hàng rào kẽm gai.
Toán chúng tôi, khoảng vài chục người, được đưa vào K2. Có thể nói mọi thứ ở đây, từ nhà cửa tới các phương tiện sinh hoạt cũng giống trại tù Phú Quốc, chỉ khác ở Suối Màu số nhà để giam tù trong mỗi K nhiều gần gấp đôi ở Phú Quốc.
Trước tiên cũng là cái cổng ra vào chật hẹp, chằng chịt kẽm gai, bên trong là một sân cát phía trước một ngôi nhà lớn dùng làm hội trường, phía bên tay trái là dãy nhà bếp và lò bánh mì, giếng nước, tiếp theo là các dãy nhà để nhốt tù, gần cuối có một sân bóng chuyền nằm giữa hai dãy nhà, và sau cùng là dãy nhà cầu nổi với các thùng phân đặt bên dưới, mà anh em thường lén gọi là “lăng Bác”!
Nhà để nhốt tù cũng là nhà tiền chế, nền xi-măng, khung sắt, mái tôn vách tôn, có hai cửa ra vào, một phía trước một phía sau. Mỗi nhà nhốt khoảng trên dưới 50 tù cải tạo (trước kia giam giữ từ 20-25 tù phiến cộng).
Như vậy, ở K2 có khoảng 1000 tù cải tạo. Bốn K còn lại cũng tương đương, suy ra toàn trại Suối Máu có trên dưới 5000 tù.
Xung quanh các K là một vòng đai 3, 4 lớp kẽm gai xen lẫn concertina với các chòi canh trang bị đèn pha, súng máy. Bên ngoài vòng đai này là doanh trại của đám cai tù. Sau giờ làm việc, khi đám quản giáo đã ra về, các cổng trại được đóng lại, khóa kỹ.
Sau này, khi thỉnh thoảng “được” gánh phân ra bên ngoài vòng đai, chúng tôi được biết trước năm 1975 trại tù Suối Máu có cả nhà thờ Công Giáo và Niệm Phật Ðường, nay đã biến thành chuồng heo và chuồng gà “kỹ nghệ” (gà nuôi trong chuồng). Ngoài ra còn có một bệnh xá ở khá xa khu nhốt tù.
Ngoài cùng là một lớp hàng rào có gài mìn…
Sau này nghe các đàn anh cấp tá kể lại, tôi được biết vào thời gian đầu (cuối năm 1975), trại tù Suối Máu được dành cho sĩ quan cấp tá đưa về từ khắp nơi; tới khi phần lớn những đàn anh này bị đưa ra Bắc, hoặc những trại khác ở trong Nam, thì trong số 5 K ở Suối Máu chỉ còn K2 nhốt toàn cấp tá, các K khác nhốt từ cấp đại úy trở xuống, về từ nhiều nơi: Trảng Lớn (Tây Ninh), Cà Tum (Tây Ninh), Thành Ông Năm (Hốc Môn, trại đầu tiên của tôi), Long Giao…
Về sau, tù cấp tá ở K2 được dồn vào những nhà ở phía trước gần hội trường, các nhà ở phía sau dành cho đám đàn em từ đại úy trở xuống lần lượt bị đưa từ các nơi về. Đám trung úy Phước Long chúng tôi là toán cải tạo sau cùng được đưa về K2.
Tôi và vài anh em được phân phối vào nhà 19 (hoặc 20, tôi không nhớ rõ) gần cầu tiêu, nơi đã có khoảng 40 anh em về từ các nơi, thuộc đủ mọi thành phần, đa số bị xem là “nặng tội” như chiến tranh chính trị, an ninh tình báo, quân cảnh tư pháp, đại đội trưởng tác chiến, phi công, thuyền trưởng (Hải Quân sông ngòi), cảnh sát dã chiến, v.v…, và một số nhỏ “nhẹ tội’” như những người phục vụ tại văn phòng, các ngành nghề không tác chiến, giáo chức biệt phái, v.v…
Cấp bậc thì cao nhất là trung úy, thấp nhất là… binh nhì!
Có lẽ nhiều người vẫn còn nhớ cách CSVN phân loại “ngụy quân” cấp thấp nhất bị bắt đi học tập cải tạo. Chẳng hạn sĩ quan của đa số các ngành thì từ cấp thiếu úy trở lên; riêng ngành chiến tranh chính trị thì từ cấp chuẩn úy trở lên, các ngành an ninh quân đội, quân cảnh tư pháp, cảnh sát đặc biệt… thì cả cấp hạ sĩ quan cũng bị đi, riêng Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo thì tất cả mọi cấp, từ binh nhì tới tướng tá đều phải trình diện học tập cải tạo, cho nên nhà 19 của chúng tôi mới có Kh., một chàng binh nhì trẻ măng mà nhiệm vụ chỉ là lái xe đưa đón các sếp!
Vì đám tù cải tạo cấp đại úy trở xuống ở K2 được đưa về Suối Máu bằng nhiều đợt khác nhau cho nên không có những buổi “lên lớp” tại hội trường của viên thủ trưởng. Vì thế trong thời gian mấy tuần lễ đầu, chúng tôi chỉ thấy đám cán bộ quản giáo cấp trung úy trở xuống, mỗi tay phụ trách một số nhà.
Đơn vị bộ đội, tức Quân Đội Nhân Dân, coi tù cải tạo ở Suối Máu cũng thuộc Đoàn 775 mà tôi đã nhắc tới trong kỳ đầu, viết về thời gian ở Thành Ông Năm (Hốc Môn).
Thời gian mấy tháng đầu ở Thành Ông Năm chủ yếu dành cho việc khai lý lịch tới lui, học tập và thu hoạch 10 bài học chính trị, cho nên chúng tôi chưa có cơ hội, chưa đủ yếu tố để đánh giá mức độ sắt máu của đơn vị coi tù này.
Việc một trong hai đại úy chui rào vượt ngục bị bắn chết là chuyện đương nhiên, nội quy đã ghi rõ, trại nào cũng thế thôi. Chỉ tới khi về Suối Máu, qua thái độ và cách đối xử của đám quản giáo và vệ binh với tù cải tạo, qua nghe những gì anh em kể lại, và quan sát sinh hoạt trong trại, tôi mới biết mình đang nằm trong tay đám bộ đội cai tù sắt máu nhất.
Trước đó, trong những trại tôi đã sống qua, Phú Quốc được xem là hắc ám nhất. Nhưng ở đó chúng tôi bị hành hạ về thể xác nhiều hơn tinh thần. Chúng tôi bị cưỡng bách lao động khổ sai với cái bụng trống rỗng, chúng tôi bị buộc phải cắt tranh ở những bãi mìn, nhưng rất hiếm trường hợp bị biệt giam vì có tư tưởng chống đối.
Rất có thể vì nhiệm vụ của tù cải tạo ở Phú Quốc là “góp phần vào kế hoạch biến Phú Quốc thành một trung tâm kinh tế hàng đầu của tỉnh Kiên Giang” – theo lời viên trại trưởng – cho nên khai thác sức lao động của chúng tôi là việc chính, cải tạo tư tưởng là việc phụ.
Ở Suối Máu thì ngược lại. Từ đầu mùa tới cuối mùa không hề có “lao động là vinh quang”. Những tù cải tạo duy nhất được hưởng “vinh quang” hàng ngày là anh em trong đội canh tác, đội chăn nuôi, toán mộc, toán gò rèn…, những anh em còn lại thì may mắn lắm lâu lâu mới được phân công gánh phân người ra đổ ở hố phân gần vườn rau. Chấm hết!
Bù lại, chúng tôi phải học tập tư tưởng ngày 7, 8 tiếng. Buổi sáng, đúng kẻng là mọi người phải vào nhà ngồi quay mặt ra lối đi để nghe viên quản giáo “lên lớp” và nghe đọc sách báo cách mạng!
Nghe đọc đi đọc lại, chỉ trong vòng hơn một tháng, chúng tôi đã thuộc lòng các cuốn Thép đã tôi thế đấy, Ruồi trâu, Con đường đau khổ…, với nội dung đề cao lý tưởng cộng sản, đả phá tôn giáo, cương thường đạo lý, tôn tri trật tự trong xã hội tư bản, Đường Kách Mệnh của Hồ Chí Minh, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch của Trần Dân Tiên (bút hiệu của Hồ Chí Minh khi viết cuốn sách này để ca tụng bản thân)…
Nhưng đáng sợ nhất phải là không khí khó thở trong trại. Khó thở vì những cặp mắt cú vọ của đám quán giáo; khó thở vì ở Suối Máu đầy rẫy ăng-ten; khó thở vì chính anh em cải tạo nhiều người cũng muốn chấp hành nghiêm chỉnh nội quy với hy vọng sớm được thả về…
Sau khi được đưa về K2 Suối Máu, tôi được anh em kể lại những cái chết của tù cải tạo trước đó, người bị bắn trên đường vượt thoát, người bị kết án tử hình và bị xử bắn ngay trại.
Trong số những người bị kết án tử hình có một vị Thiếu tá xuất thân trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt mà tôi không nhớ tên, nhớ khóa, trốn trại bị bắt lại và bị xử tử hình trong năm 1976.
Người thứ hai nổi tiếng hơn, Trung úy Nguyễn Ngọc Trụ, Cao học Quốc tế Công pháp, giảng viên trường VBQG Đà Lạt, bị tử hình vào cuối năm 1976.
Nguyễn Ngọc Trụ gốc Trảng Lớn, thân phụ là một vị Trung tá cũng đang bị tù cải tạo ngoài miền Bắc. Nghe kể lại, ngay trong đợt học tập 10 bài học chính trị ở Trảng Lớn, anh đã công khai tranh luận với các giáo viên trong đó một tay mang cấp bậc Trung tá. Đại khái anh nói anh không chấp nhận việc “đế quốc Mỹ” đổ quân vào Việt Nam nhưng anh cũng “không thích chủ nghĩa Cộng Sản” vì “cả Mỹ lẫn cộng sản đều là hiểm họa của dân tộc VN”!
Sau đó tới phần “thu hoạch 10 bài học chính trị” và “tự lên án bản thân”, Nguyễn Ngọc Trụ dứt khoát không nhận các tội danh “tay sai đế quốc Mỹ, bán nước, có nợ máu với nhân dân”!
Một ngày nọ có hai Thiếu úy trốn trại và bị bắt lại. Hai người này theo học khóa cuối cùng ở trường VBQG Đà Lạt, tức là học trò của Nguyễn Ngọc Trụ. Sau đó, Nguyễn Ngọc Trụ bị biệt giam (nhốt conex); nguyên nhân, theo lời các quản giáo, hai Thiếu úy kia khai rằng họ trốn trại theo lệnh của “Thầy Trụ” rồi sẽ dẫn đường “đem tàn quân quay lại tấn công giải thoát trại giam”.
[Vì từ lúc Nguyễn Ngọc Trụ bị biệt giam cho tới khi bị xử bắn, anh không được tiếp xúc với một tù cải tạo nào, cho nên anh em cũng không được biết cáo buộc nói trên có phải do hai thiếu úy kia bị ép cung mà khai như thế, hay hoàn toàn là sự bịa đặt của đám cai tù?]
Tới giữa tháng 5/1976, tức là khoảng một tháng trước khi tôi bị đưa từ Phú Quốc về Trảng Lớn thì tại đây có đợt chuyển trại đi Suối Máu; trong số khoảng 1000 người bị đưa đi có cả Nguyễn Ngọc Trụ.
Tới Suối Máu, anh tiếp tục bị biệt giam. Cuối tháng 11/1976, khi anh em tù cải tạo được thăm nuôi lần đầu tiên thì cũng là lúc Tòa Án Quân Sự Khu 7 xét xử Nguyễn Ngọc Trụ với bản án tử hình đã được định sẵn (trước đó, một số anh em đã được giao công tác khiêng một cái quan tài từ trên xe xuống, dấu trong lùm cây gần chỗ sẽ xử bắn Nguyễn Ngọc Trụ). (2)
* * *
Trở lại với tình hình ở Suối Máu vào thời gian tôi bị đưa từ Phước Long về (khoảng tháng 8/1978), hầu như K nào cũng có người bị biệt giam (nhốt conex) vì có tư tưởng chống đối, hoặc vi phạm nội quy và bị ăng-ten báo cáo, hoặc bị vu cáo.
Bản thân tôi cũng như những anh em mới về Suối Máu có thể không bị, hoặc chưa kịp nếm mùi ăng-ten (trước khi bộ đội bàn giao tù cho công an), nhưng những anh em ở từ trước ắt hẳn phải thấm thía, thậm chí có người thấm đòn!
Tôi viết điều này ra không phải để bôi nhọ tập thể sĩ quan QLVNCH bị bắt đi học tập cải tạo trong số đó có tôi, mà chỉ để người đọc thấy được âm mưu thâm độc, quỷ quyệt của bọn cai tù CSBV trong việc khai thác tâm lý tham sinh úy tử nơi những con người an phận, nhẹ dạ, hoặc đã đánh mất lương tâm, không còn lòng tự trọng, tin tưởng một cách hão huyền vào những hứa hẹn được thả sớm, thậm chí hy vọng sẽ có một tương lai “tươi sáng” hơn những người khác sau khi được thả về!
Theo nội quy trại, tù cải tạo giữa các Đội không được quan hệ với nhau. Giờ nay tôi cũng quên mỗi đội gồm mấy nhà và mình ở đội nào, tôi chỉ nhớ muốn tìm người quen hoặc trò truyện với bạn bè, chúng tôi thường ra ngồi trước thềm hội trường nơi có đông người qua lại, hoặc ngoài sân bóng chuyền xem anh em đấu với nhau, để tránh sự dòm ngó của ăng-ten (có thể có trong mỗi nhà), và cũng để tránh cho các ông nhà trưởng bị lâm vào thế khó xử khi có người lạ vào nhà mình nói chuyện phản động, hoặc ngồi chơi… quên giờ về!
Riêng tôi khi ra thềm hội trường ngồi còn tìm được một thú giải trí “thanh tao” là vẽ hình trên mặt cát (toàn thể trại Suối Máu là một vùng đất cát), không phải hình nàng Aline trong ca khúc nổi tiếng của Christophe, cũng không vẽ tranh nghệ thuật như các họa sĩ hè phố ở kinh thành ánh sáng Paris mà vẽ máy bay, một đam mê của tôi từ thời trung học chứ không phải sau này khi đã gia nhập Không Quân.
Một ngày nọ, khoảng ba bốn tuần sau khi tôi về Suối Máu, trong số những người đứng xung quanh xem tôi vẽ, có một giọng quen thuộc gọi tên cúng cơm của tôi. Tôi hơi ngạc nhiên, bởi từ ngày còn ở Trảng Lớn, rồi lên Đồng Ban, Phước Long, anh em quen biết đều gọi tôi là “Sáu Lèo” hoặc “anh Sáu”. Nhìn lên, tôi thấy Nguyễn TM, anh bạn tù ở Phú Quốc bị anh em ghét nhất trong số những “lao động gương mẫu”, bị tặng biệt hiệu “Pavel” – tên nhân vật chính trong cuốn Thép đã tôi thế đấy của Liên-Xô.
Nguyễn TM là bạn cùng Khóa 18 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang với hai người bạn thời trung học của tôi, cho nên tôi không nỡ ghét anh mà chỉ bực mình. Tuy không ghét nhưng cũng không có cảm tình, thành thử nay gặp lại nhau tôi cũng chẳng lấy gì làm vồn vã cho lắm. Nhưng Nguyễn TM thì trái lại, rất mừng khi gặp lại tôi. Anh cho biết ngày ấy từ Phú Quốc anh cũng được đưa về Trảng Lớn (khác T với tôi) và ở đó cho tới ngày bị chuyển trại lên Suối Máu cách đây mấy tháng.
Nhận xét đầu tiên của tôi khi gặp lại Nguyễn TM là trông anh hồng hào, khỏe mạnh và sáng sủa sạch sẽ hẳn ra, có lẽ vì về Trảng Lớn và lên Suối Máu không phải lao động nặng, lại được gia đình thăm nuôi thường xuyên nên không còn bị đói rách.
Nhà của Nguyễn TM ở gần khu Thiếu tá, và trong một lần ngồi ở bên ngoài trò truyện tôi đã gặp lại một đàn anh cùng đơn vị đi ngang qua. Đó là Thiếu tá Đ, vị liên đoàn trưởng tôi rất quý mến trong số các ông liên đoàn trưởng kỹ thuật trong đơn vị, từng nhậu với nhau mấy lần.
Qua Thiếu tá Đ, tôi được biết hiện có 5, 6 vị cựu thiếu tá cùng đơn vị – giữ chức vụ liên đoàn trưởng hoặc trưởng phòng – đang ở K2. Đơn vị của tôi là Bộ Chỉ Huy Kỹ Thuật & Tiếp Vận Không Quân (BCH/KT&TV/KQ) nằm trong căn cứ không quân Biên Hòa; dưới quyền ông Chỉ huy trưởng, Chuẩn tướng Từ Văn Bê, có 4 vị đại tá và hàng chục trung tá, thiếu tá.
Trong số cấp tá nói trên, sau 30/4/1975, có hai ông trung tá và đa số thiếu tá bị kẹt lại. Nguyên nhân: BCH/KT&TV/KQ của chúng tôi là một đơn vị kỹ thuật & tiếp vận, tuy cấp số tương đương với một sư đoàn không quân nhưng không có phi cơ. Thành thử trừ ông Chỉ huy trưởng Từ Văn Bê được ngồi chung trực thăng với Chuẩn tướng Huỳnh Bá Tính, Sư đoàn trưởng Sư Đoàn 3 KQ, vào tối 28/4/1975 sau khi đốt CCKQ Biên Hòa, tất cả đã phải tự mình tìm đường thoát thân hoặc chấp nhận ở lại.
Theo lời kể của Thiếu tá Đ, lúc đầu ở Suối Máu còn có một số trung tá, đại tá Không Quân, trong đó có sếp cũ của tôi ở Pleiku ngày trước là Trung tá Lê Bá Định, cựu Trưởng Khối CTCT, sau làm Không đoàn trưởng Không Đoàn 72 Chiến Thuật, nhưng ít lâu sau, tất cả đã bị đưa ra Bắc.
Ngoài các đàn anh cùng đơn vị kể trên, tôi được biết ở K2 Suối Máu lúc đó còn có Thiếu tá Lê Thanh Hồng Vân (LTHV), một hoa tiêu khu trục nổi tiếng, xuất thân Phi Đoàn 514 Phượng Hoàng, về sau có thời gian giữ chức Phi đoàn phó Phi Đoàn 530 Thái Dương ở Pleiku.
Trong suốt mấy tháng trước khi anh LTHV bị đưa về nhà giam Chí Hòa, tôi chỉ nhìn thấy anh vài lần chứ không gặp gỡ trò truyện vì nhà của anh nằm ngay “ngã tư quốc tế” đông người qua lại, nên tôi không muốn anh hay tôi, hoặc cả hai, bị một người bạn tù quý hóa nào đó báo cáo vi phạm nội quy.
Nhưng dù không được trò truyện với nhau, tôi cũng biết ở Suối Máu, LTHV vừa là một anh hùng, vừa là một huyền thoại. “Anh hùng” là việc đứng đầu “Ban hành động” trước khi xảy ra cuộc nổi loạn đêm Giáng sinh 1978 (tôi sẽ thuật lại ở một phần sau), còn “huyền thoại” là việc anh có đào là một đảng viên cộng sản!
Anh LTHV đã qua đời cách đây mấy năm tại Hoa Kỳ, tôi xin hương linh anh cho phép kể lại huyền thoại trên trong thiên hồi ký này, bởi vì ngày đó ở Suối Máu, anh em tù cải tạo thường kể cho nhau nghe một cách thích thú và quả quyết đó là… chuyện thật!
Huyền thoại ấy – hoặc “giai thoại” nếu là chuyện thật – như sau: trước năm 1975, cộng sản cho một nữ cán bộ xinh đẹp giả dạng “em gái hậu phương” quyến rũ anh LTHV để khai thác bí mật quốc phòng.
Không biết cô cán bộ có khai thác được bí mật nào không, chỉ biết thay vì quyến rũ anh, cô đã bị anh quyến rũ. Sau khi cộng sản chiếm miền Nam, tức là nhiệm vụ được đảng trao phó đã hoàn tất, cô cán bộ cộng sản vẫn không bỏ tay “giặc lái”. Sau khi LTHV bị đi học tập cải tạo, cô lên thăm nuôi thường xuyên – muốn thăm lúc nào thì thăm chứ không phải chờ đợi tới kỳ thăm nuôi như những tù cải tạo khác, bởi vì cô là một… đảng viên kiêm thượng úy Việt Cộng!
Nhờ đó, hay ít ra cũng là suy luận của anh em bạn tù, LTHV không bị đưa ra Bắc, và ở Suối Máu anh tỏ ra cực kỳ ngoan cố, nhất quyết không chịu cạo bộ râu mép theo sự khuyến cáo của viên thiếu tá thủ trưởng K2.
* * *
Như đã viết từ đầu thiên hồi ký, tôi là một trong những sĩ quan ngành Chiến Tranh Chính Trị may mắn nhất trong số những người bị bắt đi học tập cải tạo; nay về Suối Máu, tôi vẫn tiếp tục được hưởng cái số may mắn ấy khi được lọt vào K2.
Vì các đàn anh cấp tá đã được dồn vào những nhà ở phía trước, những nhà phía sau trở thành “giang sơn” của đám đàn em cấp đại úy trở xuống bị đưa từ các nơi về.
Đám đàn em này đa số thuộc thành phần “nặng tội” và còn trẻ nên thường rất ngang tàng, điếc không sợ súng, thành thử chúng tôi có thể tin tưởng lẫn nhau, cuộc sống căng thẳng ở Suối Máu nói chung nhờ đó cũng bớt căng thẳng đi rất nhiều.
Càng may mắn hơn nữa khi tôi được lọt vào nhà do anh Huyến làm nhà trưởng. Anh là một trung úy giáo chức biệt phái, lớn hơn tôi gần 10 tuổi, xuất thân là dân… tu xuất (đi tu nhưng hoàn tục trước khi trở thành linh mục), tính tình hiền lành, cung cách nhã nhặn, chẳng làm mất lòng ai bao giờ, cho nên kể cả những tay tác chiến ngang tàng nhất cũng tự nguyện vào khuôn vào khổ, vì thông cảm, quý mến anh chứ không phải vì ngán cách mạng.
Riêng tôi mãi nhớ những ưu ái anh dành cho tôi; thứ nhất, anh luôn luôn lấy tư cách một người đáng tuổi anh (chứ không với cương vị “nhà trưởng”) để khuyên nhủ, cảnh giác tôi về cái tật phát ngôn bừa bãi, và thứ hai, trong những lúc rảnh rỗi, anh tận tình hướng dẫn tôi về xướng âm (solfège), môn yếu nhất của tôi trong lĩnh vực âm nhạc.
Ngoài anh Huyến, tôi còn có một vài người bạn mới ở cùng nhà. Thân nhất là Sáu, một trung úy Hải Quân gốc Thủ Đức chứ không phải TTHL Hải Quân Nha Trang. Sáu là dân Nam kỳ, ít nói, không phát ngôn linh tinh, không châm biếm cách mạng như tôi mà chỉ kể những chuyện có thật trong binh nghiệp của anh nhưng rất có sức thu hút.
Thoạt tiên, trong một lần anh em tụ tập kể chuyện đánh giặc trước 1975, có người nói đại khái Hải Quân “thọ” nhất, trong suốt cuộc chiến kéo dài 20 năm chỉ đánh duy nhất một trận Hoàng Sa, Sáu mới từ tốn chậm rãi đính chính, cho mọi người biết trong quân chủng Hải Quân VNCH cũng có nhiều đơn vị tác chiến, điển hình là các “giang đoàn xung phong” thuộc Bộ tư lệnh Hải Quân Vùng IV Sông Ngòi mà anh đã phục vụ trong suốt 6 năm binh nghiệp.
Từ đó về sau, mọi người thường được nghe anh kể lại những lần hành quân phối hợp với quân bạn, hoặc những lần chạm địch bất ngờ. Anh có tài kể chuyện, từ chiến thuật tác chiến trên sông, rạch cho tới trang bị trên các loại giang đĩnh, như đại bác 20mm, hoặc công dụng của lưới chống B-40…, và nhất là những trận đánh anh đã vào sinh ra tử với thương tích để lại trên người.
Kế tới là một chàng thiếu úy cảnh sát dã chiến, cũng dân Nam kỳ. Anh tên là Thật, cái tên vô tình nói lên bản chất con người anh: thật thà, chất phác. Đôi lúc tôi cứ thắc mắc: anh là người miền Nam, lẽ ra cha mẹ anh phải đặt tên là “Thiệt” mới đúng kiểu phát âm của dân Nam bộ, không hiểu sao lại đặt là “Thật”?
Sau này, mỗi lần nhớ tới Thật, tôi lại liên tưởng tới ni sư Huỳnh Liên, “oan gia” của anh.
Nguyên gia đình Thật theo đạo Phật từ bao đời, nhưng oái oăm thay trong thời gian ni sư Huỳnh Liên và các ni cô đệ tử của bà đại náo thủ đô Sài Gòn, anh lại nằm trong lực lượng cảnh sát dã chiến có nhiệm vụ phong tỏa tịnh xá Ngọc Phương, nơi bà đặt bản doanh, không cho bà và đám ni cô xuống đường biểu tình quậy phá, và toán cảnh sát dã chiến dưới quyền anh được phân công ngay phía ngoài cổng chính, nơi lúc nào cũng có các phóng viên quốc tế chờ để săn tin, chụp hình…
Sau năm 1975, người dân miền Nam, trong đó có các phật tử, đều biết ni sư Huỳnh Liên, tục danh Nguyễn Thị Trừ, là một người theo cộng sản từ những ngày đầu của “kháng chiến Nam bộ”, về sau cầm đầu một hệ thống nữ cán bộ đội lốt khất sĩ hoạt động khắp miền Nam; và tịnh xá Ngọc Phương của bà ở Gò Vấp không chỉ là ổ Việt Cộng nằm vùng mà còn là cơ sở kinh tài cho cộng sản…
Thế nhưng trước đó, không ít người – đa số là phật tử – cho rằng vị ni sư này chỉ thuộc “thành phần thứ ba”, đòi hỏi dân chủ, phản đối chiến tranh, kêu gọi hòa bình… Trong số phật tử đó có cha mẹ của Thiếu úy Thật, ông bà cấm con trai không được đụng tới vị ni sư và đám ni cô.
Thời gian đầu, Thật nghe lời cha mẹ, ra lệnh cho các nhân viên dưới quyền bằng mọi giá không đụng tới “ngọc thể” của các ni cô. Chính vì thế, khi ni sư Huỳnh Liên cho “nữ tướng” Ngoạt Liên – một vị ni sư hung hãn khét tiếng – chỉ huy đám ni cô bắc gỗ leo qua hàng rào kẽm gai (concertina) thì Thiếu úy Thật và các cảnh sát dã chiến dưới quyền chỉ biết đứng nhìn chứ không dám chạm tới thân người của họ.
Nhờ đó mà ni sư Huỳnh Liên đã nhiều lần đưa được hàng trăm ni cô xuống đường biểu tình, quậy phá trong nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, mà đỉnh cao là cuộc biểu tình bạo động ngày 10/10/1974 trước trụ sở Hạ viện.
Mục tiêu của ni sư Huỳnh Liên trong cuộc biểu tình này là xông vào trụ sở Hạ viện, chiếm diễn đàn để đọc tuyên ngôn đòi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức, VNCH phải tôn trọng Hiệp định Paris 1973, Hoa Kỳ phải ngưng can thiệp vào tình hình Việt Nam, tức là ngưng viện trợ quân sự…
Biết trước mưu đồ của vị ni sư, nhà cầm quyền VNCH đã đưa một lực lượng quân sự hùng hậu tới để đối phó, và sau một trận “đọ sức” trước thềm tòa nhà quốc hội, lực lượng ni cô dưới quyền “nữ tướng” Ngoạt Liên đã bị đẩy lui!
Dĩ nhiên, những hình ảnh không lấy gì làm đẹp mắt này đã được thu vào ống kính của các phóng viên ngoại quốc, gây thất lợi về mặt tuyên truyền cho VNCH trên trường quốc tế!
Sau đó, lệnh từ phủ đầu rồng ban xuống: bằng mọi giá, cảnh sát dã chiến không được để một ni cô nào thoát ra khỏi hàng rào phong tỏa tịnh xá Ngọc Phương! Thế là lực lượng cảnh sát dã chiến, trong đó toán của Thiếu úy Thật, đã phải sử dụng những “đòn hiểm” một cách bất đắc dĩ!
Kết quả thật mỹ mãn, nhưng cũng đã quá muộn. Nền đệ nhị cộng hòa của miền Nam VN đã bước vào những ngày tháng cuối cùng. Khi được chúng tôi hỏi “đòn hiểm” mà anh nhắc tới là những đòn gì, Thiếu úy Thật nhoẻn một nụ cười hồn nhiên, trả lời:
– Mấy cha đừng nghĩ bậy, tụi tui không dám đụng tay tới người mấy cổ đâu, chỉ xài chưn đạp… phía dưới thôi!
* * *
Bạn văn nghệ của tôi thì có Phú, một tay thiếu úy bộ binh gốc Bắc kỳ có giọng baritone (nam trung) rất mạnh, có khả năng tự đệm đàn ghi-ta.
Ở Suối Máu lúc ấy, đàn hát nhạc vàng là điều tối kỵ. Anh em tù cải tạo chỉ dám đàn những bản nhạc ngoại quốc không lời, còn hát thì quanh đi quẩn lại chỉ có một vài bài “cách mạng” tương đối nghe đỡ chói tai, chẳng hạn bản Tình Đồng Chí (Áo anh rách vai, quần tôi có hai miếng vá…), Tự Nguyện (Nếu là chim tôi sẽ là loài bồ câu trắng, Nếu là hoa tôi sẽ là một đóa hướng dương…), hoặc những ca khúc có gốc gác “Liên Xô vĩ đại” như Chiều Mát-xcơ-va (Moscow’s Night), Tình Ca Du Mục (Those Were The Days)…
Vì thế, tôi đưa “sáng kiến” với anh Huyến tập cho Phú hát hai ca khúc đã được phổ biến tại miền Nam VN trước năm 1975, mà sau này có người nhận vơ là “nhạc cách mạng”, đó là bản Ngày Về của Hoàng Giác và Tình Quê Hương của Phan Lạc Tuyên & Đan Thọ.
Ngày Về được Hoàng Giác sáng tác năm 1948, do ông tự trình bày lần đầu tiên trên đài phát thanh Hà Nội, được xem là một trong những ca khúc được yêu chuộng nhất thời bấy giờ, được nhiều ca sĩ nổi tiếng thu âm. Năm 1954, Hoàng Giác lựa chọn ở lại miền Bắc.
Vì Ngày Về là một ca khúc tình cảm thuần túy, cho nên dù tác giả đang sống ở phía bắc vĩ tuyến 17, tới giữa thập niên 1960, chính quyền miền Nam đã sử dụng ca khúc này làm nhạc hiệu cho chương trình “Tiếng Chim Gọi Đàn” của Bộ Chiêu Hồi, với mục đích kêu gọi các chiến binh cộng sản quay về với chính nghĩa quốc gia!
Tung cánh chim tìm về tổ ấm
Nơi sống bao ngày giờ đằm thắm
Nhớ phút chia ly, ngại ngùng bước chân đi
Luyến tiếc bao nhiêu ngày xanh…
Sau khi cộng sản chiếm miền Nam, cùng với tất cả mọi ca khúc của miền Nam VN, bản Ngày Về cũng bị cấm hát. Phải đợi tới cuối thập niên 1980, sau khi Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đề ra chính sách “mở cửa”, “đổi mới”, “cởi trói”, Ngày Về mới được phép hát trở lại. (3)
Còn Tình Quê Hương nguyên là một bài thơ có cùng tựa của Phan Lạc Tuyên, được Đan Thọ phổ nhạc năm 1956:
Anh về qua xóm nhỏ
Em chờ dưới bóng dừa
Ánh chiều lên mái tóc
Tình quê hương đơn sơ…
Ngày ấy tại miền Nam VN, Tình Quê Hương được cả người hát lẫn người nghe có trình độ đặc biệt yêu chuộng, được xem là một trong những ca khúc hay nhất viết về tình người, tình non sông đất nước.
Riêng đối với Đan Thọ, một nhạc sĩ sáng tác không nhiều, giới thưởng ngoạn cho rằng chỉ cần hai bản Chiều tím (nhạc Đan Thọ, lời Đinh Hùng) và Tình Quê Hương cũng đủ đem lại cho tên tuổi ông một vị trí xứng đáng trong nền tân nhạc Việt Nam.
Rất tiếc, mấy năm sau, tháng 11/1960, Phan Lạc Tuyên, lúc đó mang cấp bậc Đại úy, giữ chức vụ Chỉ huy phó Liên Đoàn Biệt Động Quân thủ đô, tham gia cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm do Trung tá Nguyễn Chánh Thi, Trung tá Vương Văn Đông cầm đầu. Thất bại, ba người đào thoát sang Căm-bốt; tại đây, Phan Lạc Tuyên được Việt Cộng móc nối, trở về VN tham gia Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam.
Vì thế, ca khúc Tình Quê Hương đã bị chính quyền VNCH cấm hát. Bước sang nền Đệ nhị Cộng hòa, lệnh cấm được bãi bỏ, nhiều ca sĩ nổi tiếng đã tiếp tục trình bày Tình Quê Hương trên đài thát thanh và các băng nhạc, như Hà Thanh, Mai Hương, Lệ Thu, Hoàng Oanh…
Tôi đề nghị Phú hát bản Tình Quê Hương không chỉ vì tác giả lời hát sau này đi theo “cách mạng” mà còn vì trong đó có hai chữ “giải phóng” để chứng minh với cán bộ quản giáo đây là nhạc “cách mạng” – trong trường hợp bị hạch hỏi. (4)
Tôi và anh Huyến mất mấy ngày mới nhớ đầy đủ lời hát của hai bản Ngày Về và Tình Quê Hương, dù không chính xác 100%. Nhưng sau đó, anh Huyến đã suy nghĩ đắn đo rồi đổi ý:
– Không được! Với bản Tình Quê Hương mình còn có thể lập lờ, chứ bản Ngày Về thì cả miền Nam đều biết đó là ca khúc của chương trình Chiêu Hồi. Tới tai mấy ổng thế nào mình cũng bị kêu ra “làm việc”. Thôi quên đi!
Nhưng chỉ cần một bản Tình Quê Hương cũng đủ để Phú… thành danh ở K2. Ngoài giọng baritone ấm mạnh, anh còn có lối hát phóng khoáng, luyến láy tùy hứng, cho nên rất có sức thu hút, nhất là điệp khúc, tôi cho rằng anh còn hát hay hơn, có hồn hơn Nhật Trường:
Anh: chiến binh tiền tuyến
Về giải phóng quê em
Bao nhịp cầu đất nước
Nối về quê miền Trung.
Anh sẽ là anh đàn em nhỏ
Là con của mẹ giữ quê hương
Quê nghèo mai sẽ tươi mầm sống
Đàn trẻ thơ reo giữa lúa vàng.
* * *
Ít lâu sau khi toán Phước Long chúng tôi về Suối Máu, vào khoảng tháng 10 hay 11 năm 1978, tù cải tạo ở Suối Máu được thăm nuôi. Vì gần Sài Gòn, vợ tôi cho hai con cùng đi lên thăm bố.
Thoạt thấy vợ tôi và hai đứa bé từ xa xa, tôi không nhận ra hai con! Thật ra cho dù chúng có đen đủi gầy còm xấu xí đi, nét mặt cũng không mấy thay đổi, sở dĩ tôi không nhận ra từ xa bởi vì cả thằng con trai 7 tuổi lẫn cô con gái 6 tuổi đều hớt tóc trọc lóc! Sau đó hỏi ra mới biết Sài Gòn đang bị một trận dịch ghẻ khủng khiếp, bắt đầu từ ngày thành phố này “được mang tên Bác”, 3, 4 năm sau mới giảm bớt.
Vẫn biết ở các nước nghèo khổ, vào thời nào, dưới chế độ nào cũng có bệnh ghẻ, chẳng hạn trước năm 1975, người ta thường nói tới một loại ghẻ để lại những vết thẹo khó phai trên thân thể, nhất là hai chân, gọi là “ghẻ tàu” vì nghe nói do những người Tàu tha phương cầu thực đem vào Việt Nam.
Nhưng “dịch ghẻ” thì từ ngày chúa Nguyễn mở mang bờ cõi về phương Nam, đây là lần đầu tiên xảy ra dịch ghẻ! Đã gọi là “dịch” thì nó chẳng tha ai, từ ông già bà cả tới con nít, từ chàng trai trẻ tới cô gái dậy thì, người người bị ghẻ, nhà nhà bị ghẻ…
Những ai sống ở Sài Gòn thời gian mấy năm sau “giải phóng” hẳn vẫn chưa quên được trận dịch ghẻ kinh hoàng này. Kinh hoàng không chỉ vì tính cách quy mô của trận dịch mà còn vì mức độ trầm trọng cũng như sự hoành hành của con ghẻ trên thân thể con người!
Tôi không cường điệu, cũng không cố tình viết lách thô tục mà chỉ xin nêu ra một hình ảnh có thật để những độc giả may mắn thoát khỏi Sài Gòn năm 1975 biết được tác hại ghê gớm của dịch ghẻ ngày ấy: chưa bao giờ ra đường mà người ta thấy đàn bà con gái gãi… mông một cách kịch liệt như sau năm 1975 tại thành Hồ (không hiểu vì nguyên nhân gì, đám con nít và các thiếu phụ, các cô gái trẻ thường bị con ghẻ chiếu cố tận tình nhất).
Sẵn tâm lý thù ghét, khinh rẻ đám nón cối, người Sài Gòn bèn đổ tội cho “bộ đội Trường Sơn” đã mang theo con ghẻ về hòn ngọc Viễn Đông. Quy trách như thế kể ra cũng hơi oan, bởi kết quả nghiên cứu khách quan của các nhà dịch tễ trong Nam sau đó cho biết thủ phạm mang con ghẻ vào miền Nam quả thật là người miền Bắc, nhưng là người miền Bắc nói chung chứ không chỉ có “bộ đội Trường Sơn”.
Nói có sách mách có chứng, xin trích đăng một đoạn trong một bài viết về nguyên nhân dịch ghẻ ở Sài Gòn sau năm 1975, hiện vẫn còn được phổ biến trên Internet:
Cái ghẻ (Sarcoptes Scabiei), một loại ký sinh trùng gây bệnh ngoài da) được cho là du nhập vào miền Nam từ bộ đội, thân nhân cùng những cán bộ từ miền Bắc ồ ạt kéo vào miền Nam lập nghiệp và công tác. Thuốc trị bệnh ghẻ ngứa bị khan hiếm. Vệ sinh cá nhân trở thành “xa xỉ”, do thiếu xà phòng tắm, xà phòng giặt, nước sạch…Trở lại với việc hai đứa con tôi bị cạo đầu trọc lóc. Tôi vừa bực mình vừa tội nghiệp con vì trước kia hai đứa đều để tóc dài rất dễ thương.
Hai con sau dịch “ghẻ bộ đội”
Nguyên gia đình tôi có máu tóc quăn, cứ để dài tới ót là quăn tự nhiên, đẹp như tóc… các thiên thần trong tranh vẽ. Tôi lại có máu híp-pi, trước khi vào quân đội cũng bày đặt bắt chước kiểu tóc của ban Beatles cho nên sau này có con trai tôi cho để tóc dài, chỉ lâu lâu đem ra tiệm cắt tỉa cho gọn ghẽ. Còn con gái tôi cho để tóc thề giống mẹ…
Thấy tôi cứ càm ràm, vợ tôi nói hết ghẻ là mừng rồi, còn tóc thì mọc dài mấy hồi. Lúc đó tôi mới sực nhớ tới dịch ghẻ ở Sài Gòn, bèn hỏi vợ trị cách nào mà hai con hết ghẻ, nàng đáp ngay:
– Hà thủ ô!
Thoạt tiên tôi tưởng vợ tôi nói đùa, hỏi lại thì nàng giải thích:
– Hà thủ ô của bố bán không ai mua, lấy nấu nước tắm ghẻ cho con, ghẻ chết sạch!
Nguyên vào lần thăm nuôi cuối cùng ở Phước Long, tôi trao cho vợ khoảng nửa bao cát rễ hà thủ ô phơi khô, đem về kiếm chỗ bán được đồng nào hay đồng ấy.
Thực ra trong thâm tâm, tôi không tin tưởng một chút nào vào những lời truyền tụng về công hiệu của hà thủ ô. Không phải vì bản thân đã có những trải nghiệm mà chỉ vì được Thành cận khai sáng.
Như tôi đã giới thiệu trước đây, Thành cận (Trung úy Khương Hữu Thành), tổ trưởng của tôi ở Thành Ông Năm, người đã truyền thụ cho tôi cách sử dụng quả lắc cảm xạ, là một tay bách nghệ tinh, trên thông thiên văn dưới tường địa lý, có một kho kiến thức rất đáng nể, từ nghệ thuật tới ẩm thực, từ tây y tới đông y, từ khoa học thực nghiệm tới khoa học huyền bí…
Trong năm đầu, sau đợt học tập 10 bài học chính trị, tù cải tạo ở Thành Ông Năm rảnh rỗi chẳng biết làm gì, một số người hiểu biết về hà thủ ô, thấy nó mọc hoang trong trại liền đào lấy rễ đem về nấu nước uống, và ra sức ca tụng, kể lại nhiều huyền thoại về loại “thần dược” này.
Những huyền thoại ấy đều bị Thành cận thẳng thừng bác bỏ, nói rằng chẳng qua người Việt mình “bị Tàu nó bịp”. Anh cho biết rễ hà thủ ô chỉ là một vị trong toa thuốc bắc, khi đi một mình nó chẳng có công dụng đặc biệt nào cả, chưa kể rất đắng, có thể nói là đắng nhất trong tất cả các vị thuốc bắc.
Hà thủ ô có lai loại: rễ đỏ và rễ trắng, gọi tắt là hà thủ ô đỏ và hà thủ ô trắng; theo đông y chỉ có hà thủ ô đỏ mới được xem là dược thảo.
Hà thủ ô đỏ mọc nhiều ở Hoa Nam và các tỉnh phía bắc VN, còn ở miền trung và nam VN, chỉ có hà thủ ô trắng, nhiều nhất là ở đảo Phú Quốc, nơi mà vào năm 1976, đám bộ đội cai tù đã bắt chúng tôi lên núi đào cả tấn rễ hà thủ ô, đem về phơi khô chất đầy một nhà kho!
Theo sự “tố giác” của Thành cận, vì Hà thủ ô đỏ mọc ở Hoa Nam và bắc VN chỉ có hạn, hơn nữa trước năm 1975, Trung Cộng và CSBV còn bế quan tỏa cảng, cho nên nguồn cung cấp hà thủ ô cho ngành “thuốc bắc” Hương Cảng và Đài Loan chủ yếu là đảo Phú Quốc!
Hà thủ ô trắng ở Phú Quốc sau khi đưa về Hương Cảng, Đài Loan được các chú Ba ngâm trong một loại phẩm, trông cũng khá giống hà thủ ô đỏ, rồi được “xuất khẩu” sang Việt Nam dưới cái tên thật kêu: “thiên niên hà thủ ô Trung Quốc”!
Sau năm 1975, tình trạng khan hiếm thuốc tây đã tạo cơ hội cho việc thần thánh hóa nhiều loài thảo mộc trong đó có hà thủ ô. Từ đó ngày càng có nhiều người đi đào hà thủ ô để bán. Nhiều tới mức cuối cùng không còn ai mua nữa.
Lúc đó cũng là khoảng thời gian dịch “ghẻ bộ đội” đang hoành hành mạnh mẽ. Không biết ai là người đầu tiên nghĩ ra cách nấu rễ hà thủ ô tắm để chữa ghẻ, để rồi về sau nhiều người trong đó có vợ tôi bắt chước để chữa ghẻ cho các con.
Nghe vợ kể chuyện lấy “thiên niên hà thủ ô” bố gửi về làm thuốc chữa ghẻ cho con, lúc đó tôi cũng hơi quê, chỉ sau khi đi tù cải tạo về, nghe bà ngoại tôi tả lại tình cảnh thê thảm của hai đứa con lúc bị ghẻ, tôi mới thôi tiếc rẻ công sức đào hà thủ ô của mình. (5)
Chú Thích:
(1) Sự hiện hữu của địa danh “Suối Máu” theo các tài liệu chúng tôi sưu tầm được không có sự thống nhất.
“Trại Tù Suối Máu (tên do anh em tù gọi) chính là Trại Cải Tạo Tân Hiệp, ở Biên Hòa.
“Anh em tù thường gọi là Trại Suối Máu để nhắc nhở một chiến tích của một đơn vị thuộc Sư Đoàn Cọp Biển TQLC Việt Nam đã đánh tan tành một đơn vị cộng quân tại đây trong thời gian Tết Mậu Thân 1968. Theo lời dân chúng địa phương kể lại, máu địch chảy như suối nên có tên là Suối Máu. Dù bọn cai tù cộng sản cấm không được gọi là Trại Suối Máu nhưng anh em tù vẫn gọi như thế.” (ngưng trích)
Tuy nhiên, trong một tài liệu của phía CSVN viết về cuộc nổi loạn của tù cộng sản tại Nhà Lao Tân Hiệp (tên gọi thời Pháp thuộc) vào năm 1956, họ đã viết: “…phía tây giáp Suối Máu”.
Nhưng hiện nay, trong tất cả các bản đồ Thành phố Biên Hòa do chế độ CS ấn hành, “Suối Máu” lại được ghi là “Rạch Suối Lớn”, phía Nam ăn thông với sông Đồng Nai, phía Bắc chảy qua Quốc lộ 1 và có một nhánh rẽ phải được gọi là “Suối Săn Máu”, chảy dọc theo quốc lộ tới tận giáo xứ Thánh Tâm ở vùng Hố Nai.
Vì thế, muốn biết một cách chính xác tên gọi con suối (rạch) này phải hỏi những người dân địa phương đã sống tại đây từ thời Pháp thuộc! Nhưng dù bắt nguồn từ đâu, có từ thời nào, sau năm 1975 tên gọi “trại cải tạo Suối Máu” không chỉ được tù cải tạo và gia đình của họ sử dụng, mà sau khi được bộ đội bàn giao, đa số công an coi tù cũng gọi là Suối Máu!
Nhân đây, vì có ít nhất một tác giả trong bài viết về trại tù Suối Máu, đã viết đây là vùng “Tam Hiệp” thay vì “Tân Hiệp”, chúng tôi xin viết thêm: Tam Hiệp là một vùng đất cách xa thành phố Biên Hòa 7, 8 km, tiếp giáp xa lộ Biên Hòa – Sài Gòn. Ngã ba Tam Hiệp nổi tiếng là nơi có nhiều quán ăn, quán nhậu, cũng như chợ trời Tam Hiệp chuyên bán đồ Mỹ.
(2) Sau này có khá nhiều bài viết về nguyên nhân đưa tới bản án tử hình dành cho Trung úy Nguyễn Ngọc Trụ, cũng như diễn tiến phiên tòa và cuộc xử bắn người sĩ quan QLVNCH bất khuất này, trong đó có nhiều chi tiết không thống nhất với nhau.
Sau khi tìm hiểu, kiểm chứng, chúng tôi cho rằng bài viết mang tựa đề “Anh Hùng Kẻ Sĩ NGUYỄN NGỌC TRỤ” của tác giả TÙ CỰU (XM520), một người bạn tù của Nguyễn Ngọc Trụ từ Trảng Lớn, có sức thuyết phục nhất. Bài này hiện được phổ biến rộng rãi trên Google, và được lưu trữ trên website Hội Quán Phi Dũng, chuyên mục “Chuyện tù cải tạo”.
(3) Hoàng Giác (1924 – 2017) là một nhạc sĩ nổi tiếng kiêm ca sĩ rất được ái mộ ở Hà Hội trước năm 1954. Từ ngày còn là một cậu học sinh trường Bưởi, ông đã tự học hỏi về sáng tác và hòa âm qua sách vở của người Pháp. Năm 1945 ông viết ca khúc đầu tay, bản Mơ Hoa.
Sự nghiệp sáng tác của Hoàng Giác không đồ sộ như nhiều nhạc sĩ đương thời, tổng cộng chỉ có 12 bản (không kể 3 bản đặt lời cho Nguyễn Thiện Tơ) nhưng đều là những ca khúc sống mãi với thời gian: Mơ Hoa, Ngày Về, Lỡ Cung Đàn…
Theo tiểu sử của Hoàng Giác trên Wikipedia, khi cuộc kháng chiến chống Pháp nổ ra ở miền Bắc (1946), ông cùng gia đình sơ tán lên chiến khu Việt Bắc. Cuối năm 1946, ông sáng tác bài hát “Ngày Về” khi còn là một đội viên trong Đoàn Tuyên Truyền Xung Phong được trở về thăm gia đình sau những chuyến đi công tác.
Ngày Về
Tung cánh chim tìm về tổ ấm
nơi sống bao ngày giờ đằm thắm
nhớ phút chia ly, ngại ngùng bước chân đi
luyến tiếc bao ngày xanh.
Tha thiết mong tìm về bạn cũ
nhưng cánh chim mịt mùng bạt gió
vắng tiếng chim xanh ngày vui hót tung mây
mờ khuất xa xôi nghìn phương
Trên đường tha hương, vui gió sương
riêng lòng ta mang mối nhớ thương
âm thầm thương tiếc cho ngày về
tìm lại đường tơ nay đã dứt
Nghe tiếng chim chiều về gọi gió
như tiếng tơ lòng người bạc phước
nhắp chén men say còn vương bóng quê hương
dừng bước tha hương lòng đau.
(2)
Trong bốn phương mờ hàng lệ thắm
mơ đến em một ngày đầm ấm
nhớ phút chia phôi cùng ai dứt đau thương
tìm đến em nay còn đâu.
Năm tháng phai mờ lời hẹn ước
trong gió sương hình người tình mến
oán trách ai quên lời thề lúc ra đi
thôi ước mơ chi ngày mai
Phong trần tha hương bao nhớ thương
tim buồn ta mơ đôi bóng uyên
lưng trời âu yếm bay tìm đàn
lòng nguyện giờ đây quên quên hết
Ta sống không một lời trìu mến
như bóng con đò lạc bến
lờ lững trôi qua cùng ngày tháng phôi pha
duyên kiếp sau ta chờ mong.
Năm 1948, Hoàng Giác bỏ kháng chiến trở về Hà Nội, vừa sáng tác vừa ca hát trên đài phát thanh và Nhà hát lớn. Năm 1951, ông kết hôn với cô Kim Châu, nổi tiếng là hoa khôi của đường Quán Thánh.
Tới đây, chúng tôi cũng xin lưu ý độc giả về một chi tiết mâu thuẫn trong bài viết “Ngày về” với Hoàng Giác, nơi tôi có được của tác giả Orchid Lâm Quỳnh ở California vào giữa năm 2007, được phổ biến trên website của thi sĩ Du Tử Lê và một số trang mạng khác.
Sau khi kể về tình sử Hoàng Giác – Kim Châu, từ lần đầu tiên bà được nghe ông hát ở Nhà hát lớn Hà Nội tới đám cưới giữa chàng ca nhạc sĩ “nghèo rớt mồng tơi”, ế vợ (28 tuổi) với nàng thiên kim tiểu thơ 19 xuân xanh vào năm 1951, tác giả Orchid Lâm Quỳnh viết:
…Và, cũng thật may mắn cho tôi, khi sau đó, bà Hoàng Giác quay lại khúc phim gia đình ly tán!
Đó là thời gian toàn quốc kháng chiến chống Pháp. Hà Nội sơ tán. Nhạc sĩ Hoàng Giác tham gia đoàn Tuyên Truyền Xung Phong. Trong lần được phép về thăm vợ con (khi đó đã tản cư tới Phúc Yên,) để đánh dấu ngày gặp lại, Hoàng Giác viết “Ngày Về”. Một “Ngày Về” ngợi ca tình yêu. Một “Ngày Về” đơm hoa cho quá khứ đã tan nát… (ngưng trích)
Rõ ràng tác giả đã lồng việc Hoàng Giác sáng tác ca khúc Ngày Về vào “khúc phim gia đình ly tán” mà không để ý tới hai điểm mâu thuẫn:
(1) Sau khi nhạc sĩ Hoàng Giác sáng tác Ngày Về vào năm 1946, rồi rời bỏ kháng chiến vào năm 1948 trở về Hà Nội ca hát, ông mới lọt vào mắt xanh của tiểu thơ Kim Châu, để rồi nên duyên vào năm 1951.
(2) Nội dung Ngày Về với những câu hát như ”nhớ phút chia phôi cùng ai dứt đau thương, tìm đến em nay còn đâu”, “oán trách ai quên lời thề lúc ra đi, thôi ước mơ chi ngày mai” là những than thở tuyệt vọng trước một mối tình đã mất, đã tan, chứ không phải “ngợi ca tình yêu”, “đơm hoa cho quá khứ đã tan nát”.
Sau Hiệp định Genève 1954, Hoàng Giác lựa chọn ở lại miền Bắc, sống bằng nghề dạy nhạc tại Trường âm nhạc dân lập.
Tiểu sử của Hoàng Giác trên trang mạng Wikipedia có đoạn viết:
Từ khoảng nửa sau thập niên 1960, gia đình ông rơi vào cảnh sống cơ cực ở miền Bắc Việt Nam bởi nhà cầm quyền Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam sử dụng nhạc bản “Ngày về” của ông để làm nhạc hiệu cho chương trình “Chiêu hồi”.
Nhưng trên thực tế, theo lời kể lại của một số nhạc sĩ miền Bắc, không cần đợi tới “khoảng nửa sau thập niên 1960” Hoàng Giác mới bị bạc đãi mà ngay sau khi cộng sản tiếp thu Hà Nội vào năm 1954, ông đã bị chế độ “đì” về cái tội “dinh tê” (bỏ vùng Việt Minh kiểm soát để về vùng quốc gia). Đồng thời, vì Ngày Về đã trở thành ca khúc được yêu chuộng bậc nhất, được nhiều nam nữ ca sĩ nổi tiếng trình bày trên đài phát thanh Hà Nội (vùng quốc gia kiểm soát) cho nên sau năm 1954, nó đã bị các ca sĩ “quốc doanh” ở miền Bắc tẩy chay (chắc hẳn phải có sự khuyến cáo của Đảng), chứ không cần đợi tới khi được miền Nam sử dụng làm “tiếng chim gọi đàn” vào thập niên 1960.
Mãi tới cuối thập niên 1980, sau khi Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đề ra chính sách “mở cửa”, “đổi mới”, “cởi trói”, cho phép phổ biến, trình diễn một số ca khúc của các tác giả trong Nam, Ngày Về của Hoàng Giác ở ngoài Bắc mới được phép hát trở lại.
(4) Cựu Đại úy VNCH Phan Lạc Tuyên (1930-2011) là anh trai của nhà thơ (Trung úy Không quân) Phan Lạc Giang Đông, xuất thân Khóa 1 Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định (1951); ông cũng là một nhà thơ.
Năm 1956, Phan Lạc Tuyên cho xuất bản tập thơ Mùa Hoa Mới, trong đó có bài Tình Quê Hương. Cùng năm, bài thơ này được nhạc sĩ Đan Thọ phổ nhạc, rất được thính giả miền Nam yêu chuộng.
Nguyên vào năm 1955, sau Hiệp định Genève, Phan Lạc Tuyên, khi ấy đang mang cấp bậc trung úy, tham gia chiến dịch bình định Liên khu 5 trước đây do Việt Minh chiếm đóng, trong đó có vùng Sa Huỳnh ở Quảng Ngãi, nơi đã tạo cảm hứng cho ông sáng tác bài thơ “Tình Quê Hương”:
Tình Quê Hương
(Thân gửi thôn Sa Huỳnh trong Chiến dịch Giải phóng)
Anh về qua xóm nhỏ
Em chờ dưới bóng dừa
Ánh chiều lên mái tóc
Tình quê hương đơn sơ…
Quê em nghèo, cát trắng
Tóc em lúa vừa xanh
Anh là người lính chiến
Áo bạc màu đấu tranh…
Em mời anh dừng lại
Đêm trăng ướt lá dừa
Bên nồi khoai mới luộc
Ngát thơm, vườn ngâu thưa.
Em hẹn – Em sẽ kể
Tình quê hương đơn sơ…
Mẹ già như chiều nắng
Nhớ con trai chưa về
Ruộng nghèo không đủ thóc
Vườn nghèo nong tầm thưa
Ngõ buồn màu hoang loạn
Quê nghèo thêm sác sơ…
Anh: chiến binh tiền tuyến
Về giải phóng quê em
Bao nhịp cầu đất nước
Nối về quê miền Trung.
Anh sẽ là anh đàn em nhỏ
Là con của mẹ giữ quê hương
Quê nghèo mai sẽ tươi mầm sống
Đàn trẻ thơ reo giữa lúa vàng.
Người em nhỏ mắt thơ bừng tin tưởng
Vui nhìn đoàn trai trẻ tới miền Trung…
Phan Lạc Tuyên
Về binh nghiệp của Phan Lạc Tuyên, trang mạng Thơ Văn Lạc Việt kể lại nguyên văn như sau:
“Sau chiến dịch tiếp thu Liên khu 5 trở về Sai Gòn, Phan Lạc Tuyên được thăng đại úy và được đại tá Lê Văn Kim (chỉ huy chiến dịch bình định) giới thiệu với trung tá Vương Văn Đông, hiệu trưởng trường đại học quân sự về tham gia ban giảng huấn trường này. Chính dịp làm việc ở trường đại học quân sự, Phan Lạc Tuyên liên hệ với bác sĩ Trần Kim Tuyến, và năm 1957 Phan Lạc Tuyên được bác sĩ Tuyến cử sang Mỹ, tiếng là tu nghiệp về báo chí nhưng thực tế là học về tình báo.
Nhờ học về tình báo ở Mỹ về nên Phan Lạc Tuyên đươc trao cho nhiệm vụ cùng với Lữ Đinh Sơn sáng lập liên đoàn biệt động quân” (ngưng trích)
Sau 30/4/1975, khi Phan Lạc Tuyên trở lại miền Nam với mảnh bằng Tiến sĩ Sử học (tốt nghiệp tại Ba Lan), thì báo chí quốc doanh chỉ nhắc tới ông như “một nhà nghiên cứu văn hóa và Phật học” chứ không đả động gì tới sự nghiệp thơ văn của ông trước kia.
Chỉ tới sau khi ông qua đời, mới có hai bài viết – một trên tờ Tuổi Trẻ, một trên tờ Thanh Niên – nhắc tới bài thơ Tình Quê Hương, nhưng không nói rõ hoàn cảnh, thời điểm sáng tác mà chỉ mập mờ: “sáng tác trong những năm 1950”.
Chúng tôi không được biết trong danh sách những ca khúc của các tác giả miền Nam trước năm 1975 nay được bộ Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch cho phép phổ biến có bản Tình Quê Hương hay không, chỉ biết một điều cho tới nay, không thấy có ca sĩ nào của miền Bắc thu âm ca khúc này.
Như vậy có thể viết, cho dù sau này Phan Lạc Tuyên đi theo cộng sản và từng tuyên bố ông “thần tượng Hồ Chí Minh” (phim tài liệu “Phan Lạc Tuyên – Cuộc lữ hành” của đạo diễn Nguyễn Hoàng), Tình Quê Hương trước sau vẫn là một ca khúc của “phe ta”, với nội dung đề cao chính nghĩa quốc gia.
(5) Tất cả những gì tôi viết về Hà Thủ Ô trong bài này đều có thật. Để chứng tỏ tinh thần khách quan, nhân đây tôi cũng xin ghi ra một trường hợp rễ hà thủ ô có khả năng chữa bạc tóc.
Người may mắn ấy là một tay trung úy Không Quân Khóa 69B, lái C-130, ở trại tỵ nạn Galang với tôi cùng thời gian, và sau đó cùng định cư tại thành phố Melbourne, Úc-đại-lợi, cho biết trong trại cải tạo anh bị bạc tóc gần như 100%, nhờ uống rễ hà thủ ô mà tóc đen trở lại. Hiện nay anh đã gần 7 bó rưỡi, tóc mới hoa râm!
Tác giả Karen N. Nguyen, sinh năm 1962, hiện là một pharmacist làm việc và cư trú tại Maryland. Ngay bài Viết Về Nước Mỹ đầu tiên -kể chuyện một đồng nghiệp người Mỹ nghiện ma tuý- Karen N. Nguyen đã cho thấy một bút pháp tinh tế hiếm có. Sau đây là bài viết thứ ba của cô, tiếp tục kể về một ngày trong pharmacy. Với bài viết đặc biệt này, người đọc có thể tìm thấy nhiều chi tiết về công việc và cả luật pháp Mỹ về thuốc men cần biết.
Buổi trưa trời đổ mưa như trút. Mưa giăng một màn nước trắng xóa đất trời, bong bóng nước nổ tanh tách dưới chân Kim trên đường từ parking lot vào pharmacy.
Nhỏ Lisa, pharmacy technician, nhìn Kim cười cười: “Kim ơi, sáng giờ bán không được bao nhiêu toa thuốc đó. Tối nay mưa tạnh bà con mà tới đông chắc 2 đứa mình bận chết luôn!”
Kim nhìn vào cái computer screen, ừ, ít thật, từ 8 giờ sáng tới 1 giờ trưa mà chưa tới 80 toa thuốc nữa. Bình thường ngày thứ hai, tới giờ này là tiệm fill trên 120 toa thuốc rồi. Ông pharmacy manager, boss của Kim, nói với Kim: “Lâu lâu mới có ngày rảnh rỗi như vầy, thôi tớ đi ăn lunch đây. Lát nữa mà tiệm không có busy thì tớ về sớm một chút vậy nhe.”
Vậy là chỉ còn Kim và Lisa trong pharmacy, với 1 cái pharmacy counter sạch trơn! Lisa nói với Kim, “em bảo đảm boss của mình hôm nay đi ăn lunch đúng 1 tiếng đồng hồ cho coi.” Kim cười, ừ. Một tiếng lunch là coi như luxury treatment của tụi Kim rồi, chứ ngày thường pharmacist có 30 phút break mà nhiều khi cũng không dùng hết, ăn vội vàng để quay trở lại làm tiếp lúc tiệm đông khách và ai cũng đòi đợi, bởi waiting time kéo dài quá nửa tiếng thì sẽ có customer bắt đầu complain, nhiều lúc nghe nhức cả đầu.
Lác đác có vài người tới pharmacy để fill thuốc. Nhìn ra ngoài trời thì trời đất xám xịt một màu, mưa vẫn nặng hạt rơi đều. Có một couple còn khá trẻ, ăn mặc xoàng xĩnh, quần áo cũ mèm, nhăn nheo tùm lum, tới counter đưa cái toa cho Lisa hỏi pharmacy có thuốc này không. Kim nhìn cái toa thuốc, Oxycontin 20mg, 40 viên. Chẳng cần nhìn kỹ gì vẫn thấy là toa thuốc bị cạo sửa, cái thuốc trên toa, amoxicillin 500mg, bị bôi sửa và ai đó viết chữ Oxycontin 20mg đè lên, 2 màu mực, 2 nét chữ hẳn hoi. Kim nói là có, nhưng nói dối là computer trời mưa đang có problem vì nối với satellite trên nóc tiệm, mọi thứ slow down hết trơn, waiting time chừng nửa tiếng, có đợi được không. Hai anh chị nhìn nhau chịu đợi. Cũng may là hai anh chị này không đứng ở counter nhìn Kim như thôi miên để mong Kim fill thuốc cho nhanh như một vài người khách khác đã áp dụng phương pháp này, tưởng như có hiệu quả với Kim mà thật ra chẳng có tác dụng gì hết. Họ kéo nhau ra quầy Deli, hot food kế bên pharmacy, giờ lunch bên đó đã bán đủ thứ đồ ăn, roast chicken, panini, macaroni and chese, chicken nudgets, đủ thứ món, nhìn qua tủ kiếng là thấy hấp dẫn.
Kim gọi đến phòng mạch bác sĩ, chẳng ai trả lời phone, cái answer machine nói là bác sĩ đi vacation 1 tuần, có problem gì thì gọi bác sĩ on call. Kim gọi answer service, họ cho số phone của pharmacy, nói là muốn contact với bác sĩ nào đang on call. Đợi quá xá là đợi. Gần 20 phút trôi qua, ông bác sĩ on call gọi tới. Ông không biết trời đất gì hết, muốn verife mấy cái toa giả thật thì đợi tuần tới ông bác sĩ kia về thì gọi lại, ông không có access vào hồ sơ bệnh nhân này được, không biết gì cả, sorry vậy nha, nếu pharmacist nghi ngờ thì đừng có fill cái toa đó vậy!
Rồi chút sau đôi bạn nọ quay trở lại, có vẻ đã mua sắm xong xuôi, xách mấy bao plastic nặng trĩu, hỏi thuốc fill chưa. Cái toa giả hẳn hoi, nhưng Kim không verify được với bác sĩ thì cũng khó mà nói thẳng ra toa này là toa giả. Nghĩ hết cách để giữ cái toa lại trong tiệm mà không được, cuối cùng Kim giả vờ xin lỗi là Kim không đủ thuốc, nếu muốn, Kim có thể order, ngày hôm sau tới là có thuốc. Họ nhìn nhau, nói thì thầm vài câu, rồi cô gái lắc đầu không chịu, đòi xin lại toa thuốc để đi qua tiệm khác. Lisa nháy nhó với Kim, nói nho nhỏ là mình giữ cái toa giả này đi, thả nó ra quý vị này đi qua tiệm khác rủi lừa được ai để fill thuốc thì sao, thứ này ra black market bán cũng được bộn bạc đó Kim ơi. Kim biết vậy, nhưng không thích rắc rối nhiều, Kim đưa trả cái toa.
Khi hai anh chị này vừa quay lưng đi, Kim bắt phone, gọi cho supervisor ngay để nhờ voicemail cái information này cho toàn bộ các pharmacy của company trong vùng: có một cái toa giả, tên bệnh nhân là gì, tên bác sĩ là gì, bác sĩ đi vacation mất rồi, thuốc thật tên gì và bị xóa mất, nhưng vẫn còn đọc được mờ mờ trên giấy, và thuốc giả viết đè lên là Oxycontin 20mg, 40 viên. Patient lấy lại toa thuốc, các pharmacy khác cẩn thận đừng bị mắc lừa. Kim gác phone, đang suy nghĩ miên man thì thấy Andy, anh chàng assistant manager của store từ front office gần cửa ra vào tức tốc chạy vào, hỏi Lisa với Kim: “Mới đây có một couple mua sắm đồ trong tiệm, họ có trả tiền ở pharmacy counter hay không” Cái cash register ở pharmacy đâu có ring up mấy món groceries bán ở ngoài. Kim với Lisa lắc đầu quầy quậy. Andy lắc đầu, vậy là tụi nó lấy đồ mà không trả tiền rồi. Trời mưa, store cũng vắng khách, 2 anh cashier ở phía ngoài rảnh thời gian ngắm thiên hạ đi vào đi ra, thấy hai vị này xách mấy bao groceries nặng trĩu đi ra là đâm nghi, 1 anh báo cho Andy hay, còn 1 anh chạy theo ra tới parking lot hỏi customer mua đồ vậy chứ receipt đâu. Hai anh chị trả lời tỉnh bơ là mua trả tiền ở cái cash register trong pharmacy, receipt để ở đâu kiếm không ra, để từ từ rồi họ kiếm đưa cho xem, đồ mua trả tiền sòng phẳng rồi.
Andy chạy vào check với pharmacy, rồi chạy ra tới parking lot thì đã thấy con bé ngồi trong xe hơi ăn gần hết nửa con gà quay! Shoplifting, bắt lần đầu, trời mưa trời gió chắc cũng ảnh hưởng tới tính tình Andy, anh chàng thu hồi lại mấy bịch groceries rồi tha cho hai anh chị đi mất, bảo là đừng bao giờ trở lại tiệm này nữa, nhớ mặt rồi, lần sau là kêu police bắt đó nghe chưa. Kim lúc đó ở trong pharmacy mới nghĩ ra là mình dại, tụi nó đã bị bắt quả tang shoplifting, lại có cái toa giả rành rành trong túi, kêu police tới là trúng chắc. Kim chạy tức tốc ra tới cửa tiệm, chỉ còn thấy Andy khệ nệ khiêng mấy bao groceries quay trở vào. Anh chàng nghe Kim thuật lại bắt đầu nhăn nhó, bảo là sao Kim không nói với Andy chuyện cái toa Oxycontin giả, giờ thả cọp về rừng rồi! Ừ, Kim cũng biết lỗi, Kim nói vậy, nhưng trong lòng, Kim thầm nghĩ, vậy là Kim có nhân nhượng lắm không”
Nhỏ Lisa lại đem một cái toa thuốc tới cho Kim xem, hỏi Kim: “Kim ơi, cái toa thuốc này thấy hơi kỳ kỳ, Kim ngó nè, 2 màu mực, 2 nét chữ hẳn hoi đó. Nữa. Hôm nay là ngày gì mà đủ thứ toa giả vầy nè””
Kim nhìn cái toa thuốc, Percocet 5/325, 120 viên, uống 1-2 viên mỗi 4-6 tiếng đồng hồ để giảm đau. Cái toa viết bằng mực màu đen, toàn bộ số và chữ nhìn thoáng qua thì cũng một màu mực, 1 nét chữ, nhưng nhìn kỹ con số 0 nằm cạnh con số 12 màu mực quả thật hơi khác, nó lại hơi quá tròn và đứng hơi quá thẳng, nét mực nhỏ hơn và màu mực nhạt hơn, trong khi chữ và số trên toa thuốc đều có hướng nghiêng nghiêng qua phía bên phải. Con bé Lisa này mắt tinh thật, nó làm technician cả chục năm rồi, nhìn toa nào nghi là toa giả là thường đúng y boong. Ông bác sĩ nào viết toa vậy kìa”
Kim nhìn qua cái tên bác sĩ, a, toa thuốc do 1 ông dentist viết. “Ai đờiø đi làm răng mà cần tới số lượng pain killer nhiều tới như vậy,” nhỏ Lisa nói với Kim, “có mà nhổ hết cả hàm răng đi nữa chưa chắc dentist viết tới số lượng như vậy.” Kim cũng đồng ý với lập luận của Lisa. Dù sao đi nữa, cứ coi như là anh patient này innocent đi, để check lại với bác sĩ đã, Kim nói. Đối với bệnh nhân bị chronic pain như arthritis, thì số lượng thuốc như vậy là chuyện thấy hoài trên toa thuốc mấy ông bác sĩ orthopedics viết, nhưng toa do dentist viết thì cũng đáng nghi thật.
Kim bắt phone, gọi phòng mạch của ông dentist. Nhằm giờ lunch time, office đóng cửa, Kim phải nhắn lại trong answer machine là pharmacy muốn verify số lượng thuốc percocet viết, xin dentist gọi lại số phone… Đang nói nửa chừng thì Kim nghe giọng ông dentist trên phone. Trời đánh tránh bữa ăn, nhưng nghe tới chuyện controlled drug là ông đang nghỉ ăn lunch cũng túm cái phone ngay. Trời ơi, ông nhăn nhó cho biết ông viết có 12 viên thôi hà, twelve tables, patient này ông mới làm root canal hồi sáng nay, anh chàng than đau quá, đau quá, ông kê toa mấy loại thuốc giảm đau loại thường antiinflammatory, thì anh chàng lắc đầu, bảo là dentist trước cũng kê thuốc loại này, anh chàng uống vào không có giảm đau chút nào hết, xin ông cho thuốc khác mạnh hơn. Anh chàng này dám cả gan sửa toa thuốc ông viết, controlled drug mà dám sửa ha, to gan thật, ông sẽ gạch tên anh này khỏi danh sách bệnh nhân của mình, mai mốt muốn làm răng ở đâu thì làm, ông không nhận làm răng cho người kiểu troublemaker như vầy, pharmacy muốn kêu police bắt thì cứ kêu.
Vậy là toa thuốc coi như là forgery rồi. Kim hỏi Lisa “Mấy giờ thì anh chàng này tới pick up thuốc vậy”” Lisa lắc đầu không biết chắc chắn. Hồi nãy anh chàng drop off cái toa ở pharmacy, chỉ nói là chút nữa sẽ quay lại. “chút nữa” là nửa tiếng, 1 tiếng, hai tiếng, Lisa không có biết, vì nó nghĩ pharmacy không có bận rộn, fill cái toa như vậy chưa tới 10 phút là xong, có ngờ đâu lại rắc rối như vậy.
Ông boss của Kim ăn lunch xong quay trở vào, thấy mặt Kim và Lisa là đoán có chuyện rồi. “Take it easy, easy,” đưa cái toa ông coi, ông nói vậy. Ôi, ba cái thứ forgery này ông làm pharmacist mấy chục năm rồi, gọi cảnh sát bắt hoài thôi, no big deal. Kim nghĩ trong bụng, ừ, no big deal thiệt. Ông pharmacy manager cao gần 6 feet, to con, tốt tướng, tuần đi gym mấy lần, thằng nào dám uýnh lại, dám gây lại, còn Kim có 5 feet thôi sức yếu xìu, có mấy chai thuốc trong tiệm mà nhiều lúc vận 10 thành công lực của mấy ngón tay vẫn mở không ra. Về pharmacy này, Kim đâu có thuật bao giờ chuyện Kim ngày xưa làm home infusion mà gặp cướp đâu. Nghe chuyện gì dính dấp tới dân narcotic addicts là Kim lạnh xương sống rồi. Cây muốn lặng mà gió chẳng đừng, Kim muốn xin 2 chữ bình an thôi mà cũng không được.
Ông boss Kim bắt phone, gọi cho anh chàng detective của county chuyên điều tra về mấy vụ nacortics ở vùng này, nói là có 1 cái forged prescription ở tiệm, rồi Kim thấy ông ta lấy giấy viết, hý hoáy ghi cái gì đó. Kim hỏi Lisa chứ có nhớ mặt anh chàng, chủ nhân cái toa Percocet này không, Lisa bảo nhớ, anh chàng này vô tiệm mua đồ hoài hà, nhà ở cái apartment complex bên kia đường đó Kim ơi! Boss Kim đưa cho Kim tờ giấy, đây là pager của anh detective đây nè. Chừng nào patient tới pharmacy pick up thuốc của cái toa giả thì Kim có nhiệm vụ kềm chân patient lại trong tiệm lâu lâu một chút, kéo dài thời gian ra một chút, trong lúc đó thì page police, cứ page số đó, sau đó nhấn thêm 3 số 911, hít pause trên phone, chừng 10 phút trở lại thì police sẽ tới thôi.
Ông kêu Kim và Lisa cứ ring up cái prescription đó như bình thường, khi anh chàng đem receipt và thuốc ra khỏi pharmacy thì police sẽ ập tới bắt. Ông cười nói với Kim, nếu police tới nhằm lúc Kim là pharmacist in charge, mai mốt có trial xử anh chàng này, thế nào cũng có court order kêu pharmacist đi testify, Kim sẽ được nghỉ một ngày để đi ra tòa mà vẫn được company trả lương, không thích sao. Kim đi take break, ăn mấy cái cookies mà thấy miệng đắng nghét, lòng chỉ mong khi Kim đi ra khỏi pharmacy thì anh chàng kia tới lấy thuốc, có thù oán gì trong tương lai thì để ông boss lãnh.
Hết break, Kim quay trở lại pharmacy thì cái bao thuốc Percocet vẫn còn nằm trêu ngươi chình ình trên computer! Ông boss Kim ra khỏi pharmacy, còn quay trở lại chúc Kim và Lisa good luck tối nay. Nhỏ Lisa coi vậy chứ cũng hơi rét, nói với Kim tối nay mà bắt cái vụ toa giả này xong, 2 đứa mình ra parking lot chắc phải nhờ anh security officer của tiệm hay anh nào làm trong tiệm escort ra xe quá. Kim bảo Lisa đừng có lo, mà trong bụng cũng hơi đánh lôtô.
Năm giờ chiều, sáu giờ chiều, chẳng thấy tăm hơi anh chàng yêu Percocet đâu hết. Ngoài trời mưa vẫn rơi quá xá chừng, Lisa nói với Kim không chừng tạnh mưa customer đó mới tới lắm đó Kim ơi.
Điện thoại reng, có 1 bà gọi tới hỏi xem con gái bà còn refill cho birth control hay không. Kim nhìn computer, refill thì còn nhưng khi check trên kệ thì chẳng còn vỉ thuốc nào loại này hết. Ngày mai order mới về, bà đợi tới ngày mai được không. Bà khách nhăn nhó, không được đâu, con bé đáng lẽ start vỉ thuốc hồi Sunday kìa, hôm nay là Monday rồi, nó miss gần 2 ngày rồi, tôi phải lấy thuốc tối nay thôi, pharmacist gọi ngay tiệm gần bên coi có tiệm nào có, tranfer qua bên đó, tôi lái xe tới lấy liền thôi.
Kim đang gọi điện thoại tới mấy tiệm gần bên để xem tiệm nào có thuốc thì Lisa tới gần, thì thào “He’s here. What should I do now”” Kim nhìn lên, thấy một anh chàng đứng ở cash register. Kim nói với Lisa là kêu anh chàng đợi chút xíu đi, Kim đang on the phone với doctor office, sorry là anh chàng drop cái toa hồi sáng, mà Kim không có đủ 120 viên thuốc, Kim có order về hôm nay, trời mưa đường xá trơn trợt, traffic congestion, delivery trể cả mấy tiếng, hàng mới về, Kim xong cú phone là đếm thuốc ngay cho thôi, sorry, sorry. Lisa đi xin lỗi, giọng nó ngọt như mía lùi, Kim ở xa nghe loáng thoáng cả chục tiếng sorry. Kim kêu Lisa ring up trước cái receipt, Kim đi đếm thuốc ngay đây.
Kim đi vào phía sau pharmacy giả vờ lấy thuốc, ở đó có một cái phone nữa, dùng cái phone đó để page anh detective. Trong một tích tắc anh chàng detective gọi tới ngay, hỏi Kim suspect hình dáng ra sao, trang phục ra sao, mô tả đi để anh chàng phục kích ở parking lot, suspect ra là bắt thôi. Kim tả sơ sơ, cao cỡ bao nhiêu, màu tóc thế nào, mặc áo Jacket màu gì, Jean màu gì. Mới có chưa tới 5 phút, Kim phải cầm chân anh chàng thêm 5 phút nữa theo lời dặn của ông boss. Kim tới cái computer, type lách tách in cái label lần nữa. Tới phiên Kim apologize, nói là instruction trên label đánh hồi sáng nhìn lại không đúng, Kim sửa lại đây, mà cái printer hơi có problem bị kẹt vài mảnh giấy bên trong, xin customer thông cảm, thông cảm.
Kim mở nắp cái printer, lôi cái ink cartridge ra, lắc lắc giả vờ check bên trong printer để kiếm mấy mẫu giấy vụn giả tưởng làm kẹt printer. Cám ơn cơn mưa chiều nay, mưa nên pharmacy vắng khách mới đóng tuồng kiểu này được, nếu đông khách hơn không biết sao Kim handle nổi nữa. Kim nhìn đồng hồ đeo tay, 11 phút rồi OK quăng bao thuốc ra cho Lisa, lại nói sorry, sorry liền miệng. Anh chàng mặt hơi cau có vì phải đợi lâu, lấy được bao thuốc là quầy quả bước ra khỏi pharmacy thật nhanh. Lisa nói với Kim, em tò mò quá đi, Kim cho em chạy theo ra coi police bắt anh ta như thế nào nha. Kim gật đầu, đi đi nhỏ, nhưng đừng có la cà lâu nha, prescription bắt đầu chất đống rồi đây nè. Lisa được phép, chạy cái vù ra hướng cửa chính của tiệm ngay. Con bé cashier đứng phía ngoài mới vào hồi 5 giờ chiều không hiểu chuyện gì cả, tròn xoe mắt ngó theo.
Chừng chục phút sau, mà Kim thấy dài như nửa tiếng đồng hồ, vì Kim phải trả lời phone liên tục, fill thuốc liên tục, thì Lisa quay trở vào.
“Kim biết không,” Lisa kể, “em ra tới parking lot thì thấy police đã còng tay anh chàng rồi. Hóa ra là có tới hai anh police lận đó Kim ơi, 1 anh mặc đồ police chực ở ngoài parking lot, còn một anh mặc đồ civil đi vòng vòng trong tiệm mình gần cả tiếng trước khi customer này tới mà tụi mình không biết. Andy ở front office cũng có mặt ngoài parking lot đó Kim, nghe Andy thuật em mới biết có police đi lòng vòng trong tiệm rồi chứ. Đáng lẽ họ nói với pharmacy 1 tiếng thì mình cũng đỡ run, Kim hả. Hai anh có lẽ communicate với nhau, thành ra khi anh customer ra khỏi cửa là hai anh police tới sát bên thôi, như 2 gọng kềm siết chặt vậy đó, có chạy cũng không thoát. Mà anh chàng có vẻ say thuốc hay sao đó Kim ơi, lúc police bắt rồi mà còn hỏi giọng nhừa nhựa, bộ police bắt tui tại tui vặn nhạc ồn ào ban đêm trong apartment, rồi hàng xóm complant đó hả” Tui đâu có làm gì sai quấy đâu nào, chuyện vặn nhạc ồn ào là cách đây mấy tháng rồi mà. Em nghe anh chàng nói vậy đó,” Lisa kể.
“OK,” Kim nói với Lisa, “đủ chuyện exciting rồi, giờ đi lo type label đi, cái line customer waiting coi bộ bắt đầu dài lê thê rồi đó, tối nay muốn hai đứa mình ra khỏi tiệm lúc 9 giờ đúng hay ở lại tới 10 giờ hả””
Lisa hay đi ké xe Kim buổi tối, nghe nói phải ngồi chờ Kim clean mấy cái mess ở pharmacy chừng nửa tiếng sau closing time là nó nhảy nhổm lên liền, “no, no, em tăng tốc độ lên nè, mình sẽ về đúng giờ Kim ơi, em đảm bảo đó. Em type label xong rồi em đi lấy thuốc trên kệ em đếm luôn, Kim chỉ có check, ký tên, quăng ra thôi nha.”
Kim với Lisa, hai đứa làm xoay như chong chóng trong pharmacy, bên ngoài nhỏ cashier ring up mấy toa thuốc liền liền, nghe tiếng nó đóng mở cái cash register liên tục. Mãi tới 9 giờ tối, đóng được cửa pharmacy, Kim với Lisa mới có thời gian giải thích cho con bé cashier nghe chuyện gì xảy ra tối nay. Con bé nghe xong cứ trách Kim là sao không cho nó chạy ra parking lot xem lúc police bắt anh chàng yêu Percocet!Kim với Lisa ra gần cửa chính của tiệm thì nghe Andy gọi. Hóa ra Andy cũng thấy được chuyện police bắt anh chàng customer quen của tiệm. Andy nói với Kim và Lisa, thấy có 1 anh chàng cứ đi lòng vòng thật lâu, lâu một cách bất thường, ở quầy bán shampoo, dental needs, cứ đứng coi hoài mà chẳng mua một cái gì hết, lại cứ chút chút lại nói vào cell phone, coi khả nghi quá đỗi. Andy đâm nghi, cứ ngồi trong office xoay security camera của tiệm vào anh chàng, nghi ngờ anh chàng có mưu đồ đen tối shoplifting. Bỗng Andy thấy anh chàng chạy như bay ra khỏi tiệm, Andy tức tốc tông cửa office chạy theo, ra tới parking lot đã thấy anh chàng giơ cái police badge ra và cùng với một police khác còng tay anh customer quen của Andy rồi! Hôm nay trời mưa khí hậu xấu, tiệm lại có shoplifting và forged prescription nữa chứ, “that’s OK, It’s over rồi.” Andy bảo vậy. Andy hỏi Kim và Lisa có sợ không, có cần Andy escort ra tới xe không, Kim gật đầu liền, Lisa cũng vỗ tay đồng ý.
Ra khỏi tiệm, mưa đã tạnh từ lúc nào. Đất trời như được tắm mát sau cơn mưa dài, Kim thở một cái thật sâu, hít vào, nghe lòng mình cũng mát rười rượi. Không còn cảm giác có cục đá đè nặng trên ngực nữa.
Tác giả đã dự Viết Về Nước Mỹ từ hơn 10 năm trước và mới nhận giải Viết Về Nước Mỹ 2018. Bài đầu tiên của ông là “Kinh 5 Dị Nhân” kể về vùng quê, nơi có hơn 1000 người -phân nửa dân làng- vượt biên mà tới hơn 400 người tử vong- Hiện ông đang là cư dân Orlando, Florida, vùng đất rất quen với bão lụt. Loạt bài mới của ông là chuyện khởi nghiệp trên đất Mỹ. Lần trước, là cửa hàng bi da. Bài mới, làm Shop May Công Nghiệp, thêm phần mở trung tâm giải trí.
***
Cuối năm 1986 căn tiệm kế bên bỏ trống, dọn đến là vợ chồng một người Campuchia. Họ mở shop may may hàng công nghiệp. Loại business này tôi đã nghe nói đến, thời đó rất thịnh hành ở hai tiểu bang California và Texas, nơi có đông người Việt sinh sống, đồng hương quê tôi cũng có nhiều người đang làm công việc này.
Quan sát thấy họ có chừng chục người thợ, còn vợ chồng người chủ nhận hàng về bằng xe van, chất hàng xuống từng bó đồ bằng thung trắng đã được cắt sẵn, họ chia nhau ngồi may coi bộ thanh thản, không vất vả lắm. Ít ngày sau thấy họ chở đồ đem đi giao và nhận hàng mới về may tiếp…
Tôi lấy cuốn phone book bìa vàng ra tìm ở phần shop may (Sewing Shop) và các xưởng may quần áo (Garments Factory) gọi hỏi thăm. Có nơi trả lời nếu có xưởng may thì họ sẽ giao hàng cho may.
Chỗ tiệm Gift-Shop chúng tôi còn dư độ 500 sqf. phía sau. Tôi tính dọn dẹp làm shop may giống như họ, nhưng còn ngần ngại vì hai vợ chồng có biết may vá gì đâu, cả cái máy may công nghiệp cũng chưa trông thấy bao giờ! Suy đi tính lại về công việc cửa hàng Bi Da đang làm sao tương lai tăm tối quá, Mà tiệm Bi Da Hoàng lại mới khai trương cách không xa, khách hàng bi da chia ra thì chắc không khá.
Ngần ngại nhưng nhìn tiệm kế bên làm rất xôm tụ thấy ham quá nên gọi về California đặt mua 5 cái máy một kim và 3 cái vắt số loại công nghiệp. Chừng một tuần lễ sau họ gởi lên cho một lô toàn những thùng là thùng.
Nhìn đống đồ đạc mà không dám cắt thùng mở ra, chỉ sợ không biết ất giáp gì rồi lại làm lộn tùng phèo lên thì còn khổ nữa. Đành gọi một ông Mỹ chuyên bán và sửa chữa máy may ở địa phương đến ráp máy dùm. Ông ấy đòi mỗi cái 300 vị chi là 2400.00. Nếu vì thiếu phụ tùng mà phải trở lại thì ông tính thêm mỗi chuyến 300.00 nữa. Rồi ông ấy đến làm chưa đến một ngày đã hoàn tất, một cái máy YUKI chỉ tốn không đến một giờ mà xơi 300.00 sao dễ dàng vậy.
Đến khâu đăng báo tìm thợ, có rất nhiều người gọi hỏi xin việc, kể lể tôi may ở tiệm nọ, tiệm kia rất nổi tiếng bên Việt Nam. Giỏi vậy thì phải nhận thôi. Đợt đầu tiên là may quần thung trắng dài (sweatpants), có hai túi hai bên. Chủ hãng giao chỉ luôn. Mình chỉ dùng máy vắt sổ mà may các miếng đã cắt lại với nhau rồi giao cho họ. Trên hãng có máy 4 kim, họ sẽ chạy thung lưng và hoàn tất trên đó. Trước khi giao nguyên khối, họ đưa vài cái đã may làm mẫu (sample). Mọi chuyện suông sẻ và nhận từng đợt, mỗi đợt 5-7 trăm cái.
Giờ thì đã sắm thêm xe van để chờ hàng may. Nhìn đống đồ vừa chất lên xe lái về mà lòng thấy vui vui. Phen này nhất định ta sẽ…ta sẽ…
Chỉ mấy ngày là may xong đợt hàng đầu tiên, đem đi giao và nhận đợt mới. Buổi chiều người manager gọi xuống kêu tôi lên gấp. Đến nơi bà ấy chỉ cho biết tất cả số hàng vừa giao đã may sai, một phân nửa túi phía trong đã may mặt phải thành trái.
Thì ra cả chủ lẫn thợ đều lớ ngớ, Mỗi cái quần có hai cái túi tức bốn miếng, trong đó mỗi túi có hai miếng khi may phải lấy mỗi bên một miếng và hai mặt phải phải ráp lại với nhau. Đằng này vì chưa có kinh nghiệm nên khi xếp các miếng vải lên may để lẫn lộn nên bị lỗi này. Tuy nhiên bà ấy bảo vì ở bên trong nên tạm cho qua lần này.
Vài tuần sau lại thấy bà manager gọi lên. Bà ấy chỉ một đám quần đã nhuộm màu navy rồi nói:
– Tại sao tôi giao chỉ cotton cho ông mà bây giờ sau khi nhuộm màu chỉ vẫn có màu trắng?
Thì ra lỗi nầy do tôi. Khi một cái máy bị hết chỉ mà hàng đã giao vào ngày Chúa Nhật hãng đóng cửa, sẵn nhà có tiệm bán hàng gửi về Việt Nam chỉ thiếu gì, tôi lấy một cuộn thay vào mà không biết sự khác biệt giữa chỉ cotton (nhuộm màu được) và chỉ polyester (không nhuộm được). Lỗi này thì không tha và cũng không sửa được. Tôi phải nhận đám quần defect ấy và bồi thường cho hãng.
Rồi các cơ sở may hàng cao cấp cho Nordtrom, The Bon Marche, cũng kêu tôi lên giao hàng. Nhưng những người thợ tay nghề yếu không làm hàng mẫu được nên chủ hãng đâu có giao cho. Cùng lúc ấy trong số đồng hương quê tôi có chú em đang làm việc ở Texas, rất khá về công việc may mặc, nên tôi mời về cộng tác.
Năm 1987 có thêm người thợ giỏi, tôi nhận được thêm nhiều loại hàng khó may nhưng giá cao hơn. Những chiếc áo jacket 2 lớp của Eddie Power, Coat bằng nỉ rất sang bán ở những tiệm fashion nổi tiếng không chỉ trong vùng mà còn bán ở nhiều miền khác.
Cùng lúc ấy tiệm may của cặp người Miên kế bên dọn đi chỗ khác. Tôi thương lượng với chủ building mướn luôn hai căn kế tiếp nhau. Mua thêm các loại máy may, máy vắt sổ, máy đơm khuy nút, máy hai kim, cover stitch chuyên may vải thun… Một căn tôi đặt bàn cắt. Tôi đã học được cách làm patern (khuôn bằng giấy cứng cho mỗi đơn vị quần, hoặc áo), marker (tấm giấy mà các khuôn được vẽ lên trên đó để cắt vải) và cắt những order nhỏ nhưng giá trị cao. Loại hàng mà các xưởng lớn không muốn làm vì số lượng ít.
Bàn bi da bây giờ không còn đông khách nữa, vì trên cùng một con đường chỉ cách nhau có mấy block mà có hai tiệm, khách hàng phải chia ra, nên tôi mướn thêm người trông coi bên ấy. Hàng ngày mẹ các cháu tới shop, vừa phụ may, vừa học hỏi các kỹ thuật về may. Trong shop bây giờ đã có hơn mười người thợ, trong đó có mấy chị may rất giỏi, vừa nhanh vừa ít lỗi nên hàng hoá may rất dồi dào. Vừa lúc ấy thì người thợ chính có chuyện buồn của gia đình và xin nghỉ. Ít lâu sau chú ấy ra mở tiệm may riêng ở ngay phía sau bi da Hoàng. Shop chúng tôi bây giờ đã có nhiều thợ cứng cáp. Trong đó có chị Danh vừa giỏi tay nghề lại rất khéo léo trong việc đối nhân xử thế, nên tôi mời chị làm Supervisor và biếu thêm tiền commission cho chị. Cá nhân tôi cũng đã học hỏi được nhiều trong nghề, lại có bàn cắt nên hàng hoá có quanh năm không lúc nào ngưng việc.
Cuối năm 1988 thì nhận được tin người chủ (đang ở Cali) muốn bán khu phố này với giá 270 ngàn do vị đại diện của ông gửi thư riêng cho tôi. Lúc ấy tôi đang thuê 4 căn lớn với hơn 50% diện tích. Tôi liên lạc thì họ cho biết: Vì tôi mướn 55% diện tích, mà hơn 3 năm qua tôi trả tiền thuê rất đều đặn nên ông chủ phố sẵn sàng bán thiếu để tôi trả dần (carry contract) với số tiền down payment là 20%.
Hồi ấy vị chưa rành rẽ việc đầu tư địa ốc nên không dám quyết định ngay, tôi đem chuyện này bàn với ông bà bảo trợ. Ông ấy bảo để ông phụ trách thương lượng việc mua bán (neigotiate offer) và sẽ đầu tư 50% vào đó. Tôi cũng kể với ông accountant mà tôi coi như một người em thân thiết, trước đó đã có hùn hạp mua mấy căn nhà cho mướn ngay gần văn phòng của hắn. Tay này còn làm agent cho một công ty địa ốc nữa.
Trong lúc ông bảo trợ tôi thương lượng việc mua bán thì tôi gửi thư yêu cầu người đại diện chủ nhà kéo dài (extention) hợp đồng thuê mướn của tôi thêm 5 năm. Ít lâu sau họ cho biết đã nhận bán cho người khác mà trong đó có điều kiện không được ký thêm hợp đồng cho thuê mới.
Vậy là cuộc thương lượng tưởng như “chắc ăn” đã đưa tới hỏng việc, mất cơ hội tự làm chủ địa ốc.
Về sự hỏng việc này, trước hết là do tôi kém hiểu biết nên không tự tin để quyết định lấy, phải nhờ người khác nên bị trễ nải và cơ hội trôi qua. Thứ hai nếu mình không sơ hở tiết lộ thông tin thì bên ngoài đâu có ai biết mà mua. Những người làm địa ốc khi kiếm được người mua thì có huê lợi nên họ phải làm như vậy thôi. Đây là một thất bại to lớn và cũng là một bài học rất đáng ghi nhớ trong cuộc đời tôi. “Ai nên khôn mà không dại…nhiều lần”.
Người đại diện của chủ mới gửi thư cho tôi với lời lẽ rất cứng rắn khó nghe, yêu cầu tôi phải dọn đi ngay khi hợp đồng hết hạn. Tôi thương lượng bán rẻ bàn bi da lại cho người khác, hàng hoá còn dư của gift Shop thì mướn storage gửi, shop may thì đưa về nhà.
Làm việc ở nhà thì hàng may không được dồi dào như trước. Những mối cũ vẫn đưa hàng nhưng vì thiếu phương tiện nên chỉ dám nhận những gói đặt hàng nhỏ. Bù lại thì bà vợ tôi có nhiều thời gian thực hành hơn. Giờ thì bà ấy đã làm được những đồ mẫu khó, các hãng xưởng rất thích.
Tôi mở một tiệm bán áo đầm với tuxedo ở SouthCenter, hàng lấy từ Los Angeles, bán giá thấp hơn các tiệm trong vùng mà vẫn một vốn bốn lời. Nhưng rồi chỉ được ít lâu thì cũng loại hàng như vậy bán đầy ngoài chợ trời với giá rẻ hơn phân nửa. Thế là được hơn một năm thì lại phải đóng cửa và thêm một ít hàng hoá “bỏ thì thương, vương thì tội” phải đem về kho cất.
Năm 1992 tôi mướn một căn phố vùng SW gồm 2 tầng, tổng cộng độ 8000sf. Tầng trên làm xưởng may với đầy đủ bàn cắt với các trang thiết bị cho mấy chục người làm.
Năm đó hãng Sun Sport có những Order lớn, mỗi order hàng vài trăm ngàn units. Tôi không phải lên hãng chở vải nữa, mà hãng sẽ gửi vải xuống shop bằng xe truck thùng loại 53 ft, mỗi lần một xe may hết đem giao thì họ gửi tiếp. Thời gian này xưởng may đã vào nề nếp, từ việc trải vải, cắt, bó lại… Máy móc các loại được mua thêm và xếp đặt hàng hàng lớp lớp, không chỉ có các công nhân may ở xưởng mà hàng mấy chục home sew đến nhận hàng về nhà may. Những người này đặt mua máy may và tôi chở đến ráp luôn tại nhà cho họ. Sau khi may xong, khâu kiểm phẩm (inspection), đóng gói và gửi đi cũng chuyên nghiệp và gọn gàng nhanh chóng. Mỗi ngày vài ba ngàn units được gửi đi các nơi vừa bằng xe truck của nhà, vừa bằng các xe thùng của hãng gửi đến.
Hãng Images Concept chuyên may aó thun rồi nhuộm các màu xanh đỏ tím vàng … bán cho Costco cũng đặt may ở shop chúng tôi. Những hãng này tuy giá rẻ nhưng nhờ số lượng nhiều, mình có thể làm liên tục nên cũng tạm kiếm ăn được. Rồi có anh chị Túc ở Cali lên cùng hợp tác điều hành phân xưởng này.
Ở tầng dưới là một trung tâm giải trí, bao gồm: Nhà hàng, phòng Karaoke có bán bia-rượu, phòng đánh bài (cardroom)… Luật pháp ở Seattle ngày ấy có những điều kiện khá phức tạp để mở loại business này. Đầu tiên là địa điểm phải nằm bên ngoài giới hạn thành phố (city limit), có nhà bếp mới xin được license bia rượu và sòng bài. Vì vậy để có được giấy phép hoạt động ngành này cũng tốn phí nhiều.
Về lợi tức sòng bài có 4 bàn: Nếu đánh sập xám, xì phé Việt Nam thì chủ lấy xâu 3% của bên thắng, nếu chơi bài kiểu Mỹ như Poker thì lấy tiền giờ.
Thời gian đầu phòng Karaoke rất đông khách vì có DJ và hệ thống âm thanh rất chuyên nghiệp, mỗi đêm bán 5-7 chục két bia, rượu cho khách.
Ngặt nỗi, theo luật thì chỉ có người trên 21 tuổi mới được vào vui chơi ở đây, phòng Karaoke phải đóng cửa trước 2:00 sáng. Trong khi các chú dưới 21 tuổi thì tìm cách này cách nọ để vào, nếu không được vào thì tìm cách phá: Chọi đá vào cửa kiếng hay đập kiếng, đâm lủng bánh xe của chúng tôi. Tôi phải mướn 2 người security mỗi đêm để giữ an ninh trật tự và kiểm soát ID nhưng các cậu vẫn tìm cách lén vào.
Mấy ông security thì đôi khi có thể mắt nhắm mắt mở cho qua, nhưng những officer của chính phủ thì không? Họ kiểm soát hàng tuần rất gắt gao, đi với lực lượng cảnh sát nữa nên bắt được ngay những người dùng fake ID và chúng tôi phải chịu trách nhiệm. Lần đầu thi cảnh cáo, lần hai thì đình chỉ giấy phép 1 tháng, lần ba thì đóng cửa vĩnh viễn.
Khi phòng Karaoke đông khách thì nhà hàng cùng bán được và phòng cardroom cũng nhộn nhịp theo, nhưng khi license bia rượu bị rút lại thì các dịch vụ khác cũng chậm dần.
Những năm sau này chúng tôi không bao giờ tiếp khách ở nhà, có chuyện gì thì gặp nhau ngoài tiệm. Căn nhà ở được rào cao và nuôi mấy con chó dữ để canh gác. Hằng đêm trên đường đi về lúc nào cũng phải ngó trước ngó sau, nếu nghi ngờ “có đuôi” (bị theo dõi) thì phải tìm cách cắt đi.
Rồi một sáng tôi đến tiệm thì hàng song sắt bên ngoài bathroom bị cưa, cửa sổ kiếng bị đập. Vào bên trong thì cái tủ sắt đựng tiền, các nữ trang vàng bạc mà khách đánh bài cầm cố… Đã bị trộm đào đem đi mất.
Phải nói thêm tất cả các cửa ra vào, cửa sổ bằng kiếng đều có cửa sắt và khóa chết (dead lock). Nếu không có chìa khóa thì dù ở bên trong tiệm cũng khó ra. Tường bao quanh được xây bằng block xi măng, cái cửa sổ nhỏ chỗ bathroom rất khó cho một người chui vào cũng đã được hàn bằng song sắt… Riêng chiếc tủ sắt được gắn xuống nền gỗ trên lầu bằng bù loong thép. Vậy mà chúng lôi đi mất.
Thật đúng y như lời ông bạn thân thường nói: Lần này mình ngu kiểu này, lần khác mình ngu kiểu khác”, vì ỷ y không đặt máy security camera.
Cho đến thời điểm đó thì thành phố Seattle đã có khá đông người Việt định cư, trong đó các chú H.O và gia đình họ đến đây cũng nhiều. Sinh hoạt thương mại ngày càng phát triển mạnh. Khu phố Jackson trên đường 12 bây giờ rất sầm uất: Siêu thị Việt Hoa, chợ Chánh Hưng, các nhà hàng, phòng mạch bác sĩ …đã lấp đầy các khu phố mới được xây dựng. Ở vùng phía nam kế tiệm bi da cũ của chúng tôi cũng được một người Á Châu mua đất rồi xây thành khu Phước Lộc Thọ mà người Việt vùng Rainier đến mua bán rất nhộn nhịp.
Trong khi ấy thì công việc làm ăn của chúng tôi lại bị bế tắc. Trung tâm giải trí từ ngày mất license bán bia rất ít người đến chơi, nhà hàng cũng ít khách. Mấy năm trở lại đây xưởng may cũng chậm dần. Các hãng lớn kéo nhau đi đặt hàng ở ngoại quốc giá rẻ hơn.
Lúc ấy là giữa năm 1998. Hãng may tôi chỉ còn những order nhỏ và một ít thợ.
Có một chú phụ việc được vài năm đến từ Buffalo. Chú ấy theo gia đình là một H.O sang Hoa Kỳ rồi lưu lạc về đây. Hôm nhận được tin bố mất, tôi thăm hỏi thì chú ấy bảo:
– Mẹ em nói không về cũng được.
Tôi nghĩ chú ấy ngại ngùng việc phi tổn đi về nên nói:
– Vậy sao được! Nghĩa tử là nghĩa tận, chú cần phải về chịu tang phụ thân. Anh cho chú nghỉ ít ngày và tiền vé máy bay về bên ấy.
Sau đám tang thì chú ấy gọi nhờ tôi sang giúp mở tiệm bi da ở Buffalo- NY…
Tại Buffalo, khi lên làm giấy phép, tôi thấy một căn tiệm là một nhà hàng đã đóng cửa, nằm ngay trước City Hall để bảng bán. Đây là địa điểm tốt, tôi gọi hỏi thì điều kiện và giá cả phải chăng nên quyết định mua tiệm này. Sau đó là thu xếp từ giã Seattle, di chuyển về Buffalo- NY.
Tác giả Lê Như Đức đã được trao tặng giải thưởng sơ kết Viết Về Nước Mỹ 2001, với bài “Cây Chuối Sứ” và nhiều bài viết giá trị khác, mỗi bài viết của ông không chỉ là tài hoa, ý nghĩa nhân bản mà còn nói lên tấm lòng của người viết với đồng bào, đồng loại. Sơ lược tiểu sử tác giả được ông ghi như sau: Sinh năm 1962 tại Saigòn, Việt Nam; Nghề Nghiệp: Kỹ sư cơ khí cho Boeing, thành phố Houston; Gia Đình: Vợ và hai con gái; Học vấn: Cao học cơ khí.
Bài mới nhất của Lê Như Đức được ghi ở dòng kết “tôi viết lại bài luận thầy ra năm xưa để trả ơn thầy.”
Lần đầu tiên tôi gặp hắn tại phòng vệ sinh trong sở khi tôi mới chuyển qua chỗ làm mới.
Chỉ nhìn sơ qua hắn, tôi cũng biết là Việt Nam rặt. Hắn nhìn tôi cũng biết chắc chắn tôi cũng là người Việt Nam. Chúng tôi cùng đứng ngang vai nhau trước tấm gương lớn rửa tay sau khi làm nghĩa vụ quốc tế: túm lấy cổ Bác rung. Tôi thấy hắn ngập ngừng tính bắt chuyện với tôi rồi lại thôi.
Tôi cũng tính mở lời nhưng thấy hắn im lặng nên tự ái nổi lên, quay mặt bước mau ra khỏi nhà vệ sinh. Khi tôi bước ra, tôi hơi nghiêng đầu liếc về phía hắn. Tôi sung sướng khi thấy hắn cũng khẽ quay về phía tôi.
Mới gặp sơ qua lần đầu, hắn và tôi đều biết chắc rằng chúng tôi sẽ là bạn rất thân sau này. Chỉ không biết được ai sẽ là người tới làm quen ai trước. Tôi nhất định phải bắt hắn mở lời trước vì tôi trông thấy hắn… trước. Hắn cao cao, gầy gầy trông dáng thư sinh nhiều hơn võ biền. Mái tóc bồng bềnh lại quăn quăn với nụ cười lúc nào cũng có trên môi. Trông hắn têu tếu, dễ làm quen. Tôi thường ưa những người bạn dễ chịu, vui vẻ, lại ít tự ái như vậy. Những người khó chịu, tự ái cao rất khó chơi. Nói chuyện phải để ý từng tí một, mất tự nhiên.
Những ngày kế, tôi đi vòng quanh sở tôi đang làm để thăm hỏi và làm quen với mọi người trong nhóm. Thật ra tôi muốn tìm chỗ ngồi của hắn. Hình như hắn cũng như tôi, cũng đi vòng vòng thăm dò chỗ ngồi của tôi. Do đó mà chả ai biết được chỗ ngồi của ai. Chúng tôi vô tình gặp nhau trong phòng giải lao của công ty. Lúc đó đã qúa giờ ăn trưa nên không có ai ở trong phòng. Đèn lại tắt nên nửa phòng hơi tối. Nửa bên kia nhờ có ánh sáng mặt trời chiếu vào từ cửa sổ nên sáng hơn nhiều. Tôi bắt gặp hắn đang đứng lặng yên sát tường nhìn tôi. Hắn cũng nhất định không chịu mở lời trước. Tôi cũng nhất định không chịu thua.
Tôi bước tới góc phòng gỉa vờ mở tủ lạnh ra coi. Tôi thường về nhà ăn cơm trưa với vợ tôi nên chả bao giờ mang đồ ăn trưa để tủ lạnh của công ty cả. Nhà tôi ở bên cạnh sở và cũng gần trường vợ tôi dậy nên chúng tôi thường về nhà ăn cơm trưa theo đúng như tập quán của người Việt Nam. Tôi lại còn có cái bệnh ngủ trưa nữa. Trưa không ngủ nửa giờ đồng hồ là chiều đó tôi chỉ ngồi ngáp chứ chả làm được gì thêm. Hình như hắn cũng không mang cơm vô sở và cũng về nhà ăn cơm trưa như tôi.
Lần đầu tiên mở tủ lạnh của công ty tôi hết hồn. Người Mỹ có tật ăn vặt nên tủ lạnh chứa toàn bánh kẹo và nước ngọt. Có thể nói nó là một tiệm tạp hóa nhỏ chứa đủ mọi thứ linh tinh. Tôi không hiểu làm sao họ có thể phân biệt được gói kẹo nào của mình, cái bánh kia của kẻ khác. Tôi lẩm bẩm vừa như nói với mình, vừa như nói với hắn:
– Đồ lặt vặt nhiều qúa, không nhớ cái nào của mình cả.
Tôi chú ý lắng nghe xem hắn có tiếp lời tôi gì chăng. Hắn vẫn giữ cái vẻ khinh khỉnh ta đây. Hắn có nhiều kiên nhẫn hơn tôi. Hắn muốn tôi phải chính thức nhìn hắn mở lời làm quen trước. Tôi bực mình vùng vằng bước ra khỏi phòng giải lao. Tôi không thèm liếc nhìn hắn.
Hắn cũng có tật uống cà-phê vào buổi sáng như tôi. Tôi biết được là vì sáng hôm sau tôi gặp lại hắn trong phòng giải lao. Hắn cùng tôi đứng rót cà-phê. Đó là lần thứ ba tôi gặp hắn trong tuần. Hôm đó tôi đi làm sớm hơn thường lệ. Chưa có nhiều người tới nên công ty chưa mở hết đèn. Tôi phải tự pha cà-phê lấy. Vừa đổ nước vào máy pha thì tôi thấy hắn. Cũng lại cái vẻ mặt khinh khỉnh ta đây, hắn chẳng thèm gật đầu chào tôi. Tôi nhấp vài ngụm cà-phê nói đủ to cho hắn nghe:
– Cà-phê Mỹ nhạt như nước ốc. Cà-phê Việt Nam lúc nào cũng đậm đà, đầy quyến luyến. Uống thấm tới tận đáy lòng. Không hờ hững, lạt lẽo như vậy.
Hắn cũng tỉnh bơ nhấp đúng vài ngụm cà-phê như tôi, nhưng không trả lời. Cũng chả tức giận, chả đỏ mặt. Hắn giỏi nhịn hơn tôi nhiều.
Rồi tôi cũng tìm được chỗ ngồi của hắn. Nó nằm gần cửa sau của công ty nên hơi tối nhưng lại rất đẹp. Chung quanh là kiếng nên có thể nhìn ra ngoài ngắm trời, làm thơ. Chỗ của hắn rộng cũng gần giống như chỗ của tôi. Cũng gần cửa sau của công ty nên đôi khi muốn chuồn ra ngoài làm việc riêng thật dễ dàng. Cửa sau lại có bãi đậu xe ngay sát cửa nên bước ra là ta có thể lên xe dông thật lẹ. Rất ít xếp lớn chịu đậu xe nơi cửa sau. Thường thường các xếp được công ty cấp cho chỗ đậu xe riêng ngay trước cửa hãng nên chuồn ra bãi đậu xe nơi cửa sau chả bao giờ sợ đụng độ với các xếp cả. Có lẽ cả hắn lẫn tôi đều nhận thấy sự tiện lợi này.
Hôm đó vì bận chuyện riêng, tôi phải chuồn một giờ đồng hồ. Khi trở về lại sở làm, trời nắng gắt, tôi vô tình gặp hắn trong bãi đậu xe. Hắn cũng như tôi, đeo một cái kính mát to tổ chảng che gần hết mặt. Tôi thường hay quên mang kính mát khi ra đường nên mua ba cái để trong xe mỗi cái cho khỏi bận lòng. Vợ tôi có lần lái xe tôi đi làm, thắc mắc hỏi tôi sao lại cái kính mát này lại thô và to như vậy. Tôi trả lời là kính đi làm phải càng to, càng đen thì càng tốt. Lỡ có trốn đi đâu gặp xếp cũng không ngượng ngùng mấy. Nhiều khi xếp không nhận ra mặt mũi càng tốt hơn. Vợ tôi chả bao giờ chịu đeo nó cả. Cho dù biết có đụng độ xếp lớn, xếp nhỏ
Tôi nhìn hắn mỉm cười thích thú. Thì ra hắn cũng biết ăn vụng chùi mép nhiều như tôi. Thảo nào tôi không thể không ưa hắn được. Hắn cũng ma lanh như tôi. Tôi tà tà bước theo chân hắn.
Lần thứ năm, tôi gặp hắn trong phòng họp của department tôi làm. Hắn cùng tôi tới hơi trễ nên phải ngồi cuối phòng, gần cửa kính. Chúng tôi chỉ ngồi yên lặng nghe xếp lớn ban hành những thông cáo mới của hãng. Xong họp, tôi nhìn hắn cười mỉa, nói nhỏ:
– Thông báo mới đó cha nội. Lo mà sửa đổi. Phải thay đổi, vui vẻ với mọi người chứ đừng ta đây làm le làm một mình, đứng một chỗ đó nghe.
Rồi tôi nhại giọng mấy tên bộ đội Bắc kỳ “bẩy nhăm” thường phê và tự phê lẫn nhau:
– Không nàm thì nói nà nười. Mà nàm thì nại nói nàm ne. Tớ đây không thèm nàm nữa.
Hắn cũng cười lại. Nụ cười thân thiện hơn nhiều. Hình như hắn tính nói gì với tôi, nhưng cô thơ ký bước vội tới hỏi tôi về những giấy tờ cô ta đưa tôi hồi sáng sớm. Hắn im lặng đứng nghe rồi biến mất lúc nào tôi không hay.
Không hiểu ở hắn có cái gì lạ lạ mà tôi lại ưa thích hơn những người Việt Nam cùng sở khác. Nhiều lúc trông thấy hắn muốn bắt chuyện làm quen, khi tới gần tính mở lời, nhìn cái bản mặt kên kên lại muốn chửi thầm bỏ đi. Hình như hắn cũng biết vậy nên nhất định treo giá làm cao. Bắt tôi phải làm quen trước.
Ừ thì làm quen trước đã có sao đâu ” Nhưng ít ra hắn phải có chút vẻ muốn làm quen lại mới phải chứ ” Đằng này lúc nào hắn cũng có cái vẻ chơi trên cơ không. Không chịu chơi ngang hàng, cho dù tuổi của hắn cũng không hơn gì tuổi của tôi mấy.
– Muốn làm cao thì tớ cũng làm cao lại. Sợ đếch gì nhau ” Tôi càu nhàu lẩm bẩm.
Bàn giấy của hắn cũng trưng hình vợ, con như tôi. Một hôm canh không thấy hắn, tôi vội bước tới coi những bức hình chụp gia đình hắn. Hai đứa bé thật ngộ nghĩnh và dễ thương. Có lẽ cũng cùng tuổi với hai cô con gái của tôi. Tôi chắc chắn thể nào chúng cũng học trường vợ tôi dậy. Vợ tôi chắc chắn phải biết chúng, không chừng chúng cùng học lớp với con tôi. Vì lich sự, tôi không ngắm hình vợ hắn nhiều. Nhưng là một thiếu phụ trẻ, mặc chiếc áo dài mầu hồng nhạt có thêu mấy con chim phụng trước ngực. Cô ta đang ngồi trước tấm bình phong cũng vẽ hình con chim phụng đang đậu trên cành mai rực hoa vàng. Cô trông dáng quen quen, hình như đã có một thời sinh hoạt văn nghệ trong đài truyền hình ở Houston thì phải. Tôi chỉ nhớ mại mại như vậy.
Trên bàn hắn sách vở, giấy tờ cũng được sắp xếp gọn gàng thứ tự. Nhiều nhân viên trong sở chịu đi làm chứ không bao giờ chịu dọn bàn của mình. Bàn của họ không thua gì cái đống rác của thành phố Houston. Mỗi lần muốn tìm giấy tờ nào là họ mất cả giờ đồng hồ để moi cái đống rác nằm chình ình trước mặt họ hàng ngày. Bàn giấy của hắn trống trơn, không bầy đồ nhiều. Một cuốn lịch bàn to để ghi chép những điều cần nhớ nằm ngay giữa, chiếm gần hết mặt bàn. Hơn chục cuốn sách Toán và Vật Lý đặt ngay ngắn trên kệ theo thứ tự A,B,C… Góc bàn để cái cặp xách tay mầu đỏ gụ. Góc bên kia trưng hình gia đình. Một cái kệ cao cũng xếp đầy sách nằm cạnh che nửa cái bàn giấy.
Cái cặp xách tay của hắn cũng to và dầy như cái của tôi. Nhiều nhân viên trong sở đi làm thường mang cái cặp chỉ nhỏ và mỏng nửa. Nhiều khi cần để đồ ăn trưa, tờ báo hay cuốn sách lại không vừa, phải tay cầm cặp xách tay cầm tờ báo bước vào sở. Có lúc nách trái còn phải kẹp cái bình thủy đựng nước nóng nữa. Vào đến hãng, ghé phòng giải lao cầm được ly cà phê thì lại phải chuyển tờ báo kẹp qua nách phải trước khi bước tới chỗ làm việc của mình. Trông thật mất thẩm mỹ. Xếp thấy sẽ nghĩ mình tới sở không làm chỉ ăn, uống và đọc báo thôi. Có cái cặp xách to cỡ của hắn và tôi thì dù có bỏ thêm đồ ăn chiều cũng vừa y. Tôi còn nhớ ngày làm hãng cũ, ông xếp gìa thường than với tôi mỗi thứ sáu khi đi phát lương cho nhân viên:
– Hình như họ cố tình. Họ biết mỗi sáng thứ sáu lúc chín giờ sáng là tôi đi một vòng để phát lương. Người thì ngồi gác chân lên bàn đọc báo. Kẻ lại bầy đồ ăn sáng ra xơi. Nhiều lúc còn tụ năm tụ ba chơi game trên computer. Không ai muốn cho tôi thấy họ đang làm việc cả.
Tôi nhớ lời ông than nên đi làm lúc nào cũng để ý. Thấy xếp sắp tới là tôi lôi sách vở hay giấy tờ ra bầy ngập bàn. Nhiều khi làm bộ không hiểu, hỏi xếp vớ vẩn mấy câu. Xếp thích chí vì có dịp giảng giải, chỉ vẽ kinh nghiệm và có chuyện thân tình để nói. Nhiều lúc tôi phải ngồi nghĩ chuyện trước để khi gặp xếp khỏi phải trợn mắt lên nhìn, ú ớ không biết nói năng chi “
Ngày còn học trong trường, thầy tôi thường đậy chúng tôi:
– Ngày nào các anh ra trường đi làm, hãy nhớ lấy điều này. Muốn lên chức, lên lương nhiều thì một ngày tám tiếng đồng hồ chỉ làm sáu tiếng thôi. Hai tiếng còn lại phải đi tìm cách để la to cho xếp và mọi người biết mình đang làm việc …chăm chỉ.
Mười lăm năm qua, tôi không nghe lời thầy nên vẫn cứ làm lính trơn. Cho dù những tính toán của tôi được đóng thành tập bầy ngập thư viện của cơ quan không gian Hoa Kỳ và chữ ký của tôi cũng là một trong rất ít những chữ ký được cơ quan chấp nhận trong họa đồ về ngành tôi làm, structure analyst.
Theo tôi để ý thấy thì thầy tôi đã tính lộn. Một ngày đi làm tám tiếng đồng hồ, làm sáu tiếng, bỏ hai tiếng để đi vận động, ngoại giao cũng chưa đủ. Phải để ít nhất sáu tiếng thì mới có cơ hội. Những ngài giám đốc của công ty tôi có bao giờ phải làm gì đâu. Chỉ đi vòng vòng bắt tay, bắt chân rồi ngồi ngắm thơ ký. Ngài nào cũng mướn toàn mấy em trẻ măng, thơm phức. Mấy người hơi có tuổi hay có chồng đều cho về vườn.
Một lần, nhóm tôi cần một cô thơ ký. Trong buổi họp, tôi tỉnh bơ đề nghị xếp nên để xếp bà ở nhà mướn là công bằng nhất. Xếp ức lắm, không thèm trả lời, lầm lì ngảnh mặt làm lơ. Bốn cô vào phỏng vấn, xếp chọn một cô đùi dài, chỉ mới tốt nghiệp trung học, chưa lập gia đình. Cả nhóm chúng tôi cũng …nhất trí đồng ý. Tôi cũng ân hận lỡ lời nên hôm sau âm thầm mua bánh donut để xin lỗi xếp và các bạn trong nhóm. Xếp tôi đã già nhưng vẫn thích xơi donut. Cái bánh hình tròn có cái lỗ bự chính giữa, chung quanh trét xúc-cù-là chỗ thì nâu đậm, chỗ lại đen đen.
Cái máy computer của hắn để bàn sát cạnh cái bàn giấy và bị che khuất bởi cái tủ cao đựng giấy tờ. Hình như hắn cố tình kê cái tủ nơi đó để không ai thấy được cái màn ảnh của cái máy computer. Cái màn ảnh cũng được quay vào phía trong góc phòng chứ không để lộ liễu hướng ra phía ngoài. Chỉ nhìn cách trưng bầy đồ đạc, tôi cũng phải khâm phục hắn qủa là tay đáo để. Khó ai có thể thấy được hắn đang ngồi đâu và đang làm gì. Nhưng hắn lại có thể nhìn thấy được mọi diễn biến chung quanh thật dễ dàng và thật tự nhiên.
Hiện nước Mỹ đang mùa đóng thuế. Các nhân viên vào sở làm, ai ai cũng trầm tư và thành khẩn khai báo như trong mùa sám hối. Hắn cũng như tôi không chạy thoát được sở thuế. Có lúc tôi thấy hắn đi qua đi lại, tay cầm cái đơn khai thuế mầu xanh dương, vò đầu bức tóc. Có lúc hắn lại lẩm bẩm chửi thầm.
Đồng bệnh tương lân nên tôi cũng than khẽ với hắn:
– Làm bao nhiêu cũng cúng hết cho sở thuế. Nghề tụi mình có tiếng nhưng không có miếng. Giới trung lưu là giới thiệt thòi nhất của nước Mỹ. Giầu ụ có luật sư khai, không phải đóng thuế nhiều, nghèo rớt mồng tơi lại được chính phủ chu cấp cả housing lẫn foodstamp. Chỉ có tụi mình là lãnh đủ. Đóng thuế khờ luôn.
Hắn gật gù đồng ý. Tôi hứng chí xổ tiếp:
– Ngày xưa đi học bốn năm trong trường được chính phủ cho mỗi năm hai ngàn tiền học, mừng hết lớn, cám ơn lòng đại …bác của Uncle Sam lia chia. Giờ ra đi làm, mỗi năm đóng gần hai chục ngàn tiền thuế. Mà phải làm bốn chục năm mới được xin hưu …non. Tính ra chính phủ Mỹ bỏ ra một, thu lại hơn một trăm lần. Mình cứ phải đi làm phờ râu ra kiếm tiền nộp thuế. Đại tư bản có khác, bỏ con săn sắt bắt con cá rô. Không ngu như Việt Cộng. Bao nhiêu chất xám, chất xanh giết tuyệt. Đồng chí lãnh tụ hay đồng chí tổng bí thư chỉ học mới tới lớp ba thì làm sao ưa đứa lớp bốn, nói chi đến người có bằng đại học. – với Cộng sản mà để chúng biết có trình độ là được đưa vào nhóm Nhân Văn Giai Phẩm đi cải tạo mút mùa lệ thủy.
– với Đại tư bản Mỹ bị đóng thuế một phần lương nhưng buồn buồn lên báo, lên truyền hình nói nhăng nói cuội đôi điều, chửi thề chửi tục dăm câu cũng hả lòng, đỡ tức. Chả ai dám rờ đến cái móng chân của mình.
Thấy y hỉ hả cười, tôi vội xoay chiều, hỏi ngược lại:
– Mà không ai chịu đóng thuế thì lấy tiền đâu ra xây đường xá, cầu cống cho mình xài”
Y trợn mắt ú ớ nhìn tôi, ngẫm nghĩ một lúc nhưng không trả lời.
Càng ngày tôi càng chú ý đến hắn nhiều. Càng chú ý nhiều tôi lại càng khó chịu vì cái tính ngang tàng, cứng đầu của y. Cứng hay mềm cũng không thể thắng nổi hắn. Giở đủ trò đủ chiêu cũng chả làm hắn mở lời trước. Cuối cùng tôi đổi chiến thuật, tôi chơi bạo và đánh thẳng thừng vào con người của hắn để thăm dò phản ứng. Một hôm rình thấy hắn đang lén coi Việt Báo On Line trên Internet. Tôi bất kể, nhào tới vội, gào to:
– Ê cha nội, không lo làm việc lại lén đọc báo chùa. Mít tờ O. C. TIGER.
Hắn quê quê, tắt vội Internet nhìn tôi khó chịu nhưng vẫn chưa nổi khùng. Hắn đứng lên trầm tư một lúc rồi bỗng thăng mất.
Hình như hắn cũng ưa tôi nhiều và cũng biết chúng tôi sau này sẽ trở thành bạn tốt nên chả bao giờ nổi nóng, ngay cả lúc tôi cố tình chọc tức hắn. Hắn biết tôi vì tự ái nên cố làm như vậy để gây sự chú ý. Tuy rằng nhiều khi tôi hơi qúa trớn. Ai bảo hắn cố tình làm cao làm chi. Hơi cao cao thì tôi còn nhịn chứ cao qúa tôi cóc cần. Có chết thằng Tây nào đâu.
Lần sau hắn đứng rình tôi lại. Tôi biết rõ nên mở máy computer ra viết tiếng Việt chơi. Tôi thấy hắn ngập ngừng như muốn hỏi cách bỏ dấu tiếng Việt nên thích chí đánh càng mau, tiếng lách cách vang liên tục. Hắn nhìn một lúc rồi bỏ đi lúc nào tôi không hay.
Hôm sau tôi tới gần bàn hắn coi hắn đang mò mẫm học cách bỏ dấu từ một program mới, khác cái program xưa lắc, cũ kỹ của tôi. Hình như cái program của hắn thông dụng và tiện lợi hơn cái của tôi nhiều. Hình ảnh, chữ viết sáng sủa và dễ đọc hơn. Mầu sắc và cách trình bầy cũng tươi đẹp và nhã nhặn. Có lẽ tôi phải năn nỉ xin cái của hắn mới được.
Tôi lại thua hắn. Tôi bực mình lẩm bẩm:
– Cái đếch gì nó cũng hơn mình tí ti là làm sao”
***
Ba mươi năm trước, thầy dậy kèm của tôi, một lần, có ra đề luận “tả cái bóng của mình.” Một tiếng đồng hồ ngồi cắn bút, tôi chỉ viết được vài câu. “Cái bóng của tôi lúc nào cũng đi theo tôi. Có lúc nó to hơn tôi, có lúc nó nhỏ hơn tôi, nhưng lúc nào nó cũng giống tôi.”
Giờ ra chơi, anh Thọ, người lớn tuổi nhất trong đám, than:
– Thầy hôm nay chơi… khăm. Cái bóng đen thùi có gì để tả. Ra đề luận kiểu này ai mà viết nổi.
Sau giờ chơi, chúng tôi có than thở với thầy. Thầy ngồi trên tấm phản dài, cầm cái quạt tay vừa nhè nhẹ quạt vừa hiền từ cười giải thích:
– Một ngày nào đó nhân loại sẽ phải nhìn cái bóng của mình mỗi ngày. Hôm nay thầy cho các con viết về cái bóng của chính mình để các con tự thấy được con người thật của các con.
Ba mươi năm sau, một buổi sáng đi làm, vừa mở máy computer lên, tôi bỗng nhìn thấy cái bóng của tôi ẩn hiện trên màn ảnh của máy. Lời thầy năm xưa tưởng đã quên bỗng dưng hiện rõ lại trong ký ức. Nhân loại ngày nay đều phải nhìn cái bóng của mình hàng ngày. Computer đã có mặt khắp mọi nơi. Trong công sở, trên máy bay, bên đường phố, lề vỉa hè, ngoài công viên, nơi khách sạn, chỗ phòng ăn. Mọi người khi dùng nó đều tự nhiên phải nhìn thấy cái bóng của chính mình.
Bộ óc của thầy đã đi trước nhân loại hơn ba mươi năm. Chỉ tiếc rằng bộ óc đó không sinh ra trong một nước tân tiến để được đắc dụng hơn. Tôi may mắn sống trong một nước tân tiến vào bậc nhất
thế giới. Chỉ tiếc rằng bộ óc của tôi không bằng nửa của thầy.
Hôm nay nhân ngày lễ mẹ. Công thầy dậy dỗ cũng ngang ơn mẹ mang nặng đẻ đau. Mẹ cho tôi cuộc đời và khối óc, thầy đã khai thông khối óc để mở mang cuộc đời. Tôi viết lại bài luận thầy ra năm xưa để trả ơn thầy.
Khoảng hai tuần lễ sau khi Trung úy Tịch bóp cổ con Mát-đa (Magda) của tôi, viên thủ phó T2 có biệt hiệu Mát-đa (Mazda) ấy cùng với một số bộ đội (vệ binh) của trại bị thuyên chuyển về Tây Ninh, nơi đang có những cuộc giao tranh với Khmer Đỏ. Chúng tôi biết rõ việc thuyên chuyển này là nhờ có tay trong: chú bộ đội tà-lọt của ông Phùng Xuân Nghĩa đồng thời cũng là học trò đàn ghi-ta của Văn, tay cải tạo tổ trưởng tổ mộc (tôi không nhớ tên chú bộ đội này nên tạm gọi là X). X mới 18, 19 tuổi, mặt mũi sáng sủa hiền lành, trông còn non choẹt như một cậu học sinh trung học. Về sau, khi tôi và một vài anh em cải tạo thỉnh thoảng xuống tổ mộc đàn hát, X gọi chúng tôi bằng anh và xưng em không một chút ngượng ngập ! Việc một chú bộ đội trở thành người “nằm vùng” của phe ta bắt nguồn từ âm nhạc – viết một cách chính xác là “nhạc vàng” – và người có công lớn nhất là Văn. Nguyên tổ mộc của T2 được thành lập ít lâu sau khi lên Phước Long, nhiệm vụ chính là đóng bàn ghế, giường tủ cho ban chỉ huy trại, nhiệm vụ phụ là đóng cho mỗi ông cán bộ một cái rương gỗ thật chắc chắn. Văn, một tay thiếu úy gốc Cà Tum, làm tổ phó. Sau khi tay tổ trưởng được về trong đợt thả tù đầu tiên, anh được đôn lên làm tổ trưởng, và đã biến xưởng mộc thành nơi đàn hát nhạc vàng thoải mái, vì căn nhà này ở tận bên kia suối, cách xa khu nhà của ban chỉ huy trại. Tới đây cũng xin viết thêm về địa thế và đường đi lối về của T2 trong khu vực L2. Hơn nửa năm trước, khi chúng tôi được đưa từ Đồng Ban tới Phước Long, đoàn molotova đã rẽ mặt từ con đường đi Quảng Đức, đưa chúng tôi tới bờ suối, đi qua cái cầu bằng hai thân cây bắc ngang suối để vào T2. Tuy nhiên, theo quy hoạch của cả khu vực L2 thì đây chỉ là đường tắt đi vào T2, còn đường chính là đường đi lên trung đoàn (L2), gần nhà thăm nuôi mà tôi đã nhắc tới trong kỳ trước. Trại cải tạo T2 tọa lạc trên một khu đất giống như cái cù lao nhỏ vì có con suối chạy quanh gần giáp vòng. Bên hông khu nhà của ban chỉ huy trại là đường đi tới một cái cầu tương đối dài, vì bề ngang con suối ở chỗ này khá rộng. Tuy cũng làm bằng cây rừng nhưng cái cầu này có cấu trúc của một chiếc cầu đúng nghĩa chứ không chỉ là hai thân cây bắc ngang suối như cây cầu chúng tôi đã sử dụng để đi vào T2 trước đây. Qua suối khoảng 200 mét thì tới căn nhà được sử dụng làm xưởng mộc, đi thêm khoảng 200 mét nữa tới một doanh trại nho nhỏ của Quân Đội Nhân Dân (CSBV) khi ấy đã bỏ trống. Từ cổng doanh trại này có con đường khá lớn đi lên bộ chỉ huy trung đoàn (L2) và nhà thăm nuôi nằm sát con đường Phước Bình – Quảng Đức. Trở lại với tổ mộc, sáng sáng khi những anh em cải tạo khác lên đường đi ra rẫy thì họ tới xưởng mộc. Sau khi Văn đóng thêm một cây đàn ghi-ta và cùng nhau đàn hát thì chú bộ đội tên X mon men tới làm quen, rồi kiếm ván ép nhờ Văn đóng cho một cây đàn và trở thành học trò của Văn. Dĩ nhiên, Văn và anh em trong tổ mộc đã không bỏ lỡ cơ hội để khai thác X, từ sinh hoạt trên “khung” cho tới những tin tức sốt dẻo mà chú ta biết được, hoặc nghe lóm. Vì thế, tổ mộc chứ không phải tổ tăng gia (trước kia do Tư răng vàng làm tổ trưởng) đã trở thành nguồn cung cấp tin tức “tình báo” cho cả trại, trong đó có tình hình chiến sự ở biên giới Tây Nam và việc Trung úy Tịch, tay hậu cần cùng một số vệ binh của T2 bị đưa ra tuyến đầu để đánh nhau với Khmer Đỏ. Sau này có cơ hội tìm hiểu qua tài liệu của Quân Đội Nhân Dân (CSVN) được phổ biến trên Internet, tôi được biết Tây Ninh nằm trong Quân khu 7 của tướng Lê Đức Anh, là lực lượng bị thiệt hại nặng nhất trong cuộc vượt biên xâm lược Căm-bốt. Xin trích đăng một đoạn: Ở hướng của Quân khu 7, Sư đoàn 5 tiến từ hướng đông và Sư đoàn 303 từ Snoul (tỉnh Kratié sát biên giới với Bình Phước) tiến đến hướng tây bắc cùng đánh vào Kratié do Sư đoàn 260 và 2 trung đoàn địa phương của đặc khu 505 Khmer Đỏ phòng thủ. Các sư đoàn này gặp phải sức kháng cự quyết liệt từ phía quân Khmer Đỏ. Trong cuộc tiến quân, hai Tiểu đoàn 1 và 2 thuộc Trung đoàn 316, Sư đoàn 303 bị tập kích bất ngờ nên bị tiêu diệt. Trung đoàn này, cũng như Trung đoàn 33, sau một tháng hành quân, quân số hao hụt mất một nửa. Các đơn vị quân Khmer Đỏ tấn công Sư đoàn 303 gây nhiều tổn thất và suýt chiếm được sở chỉ huy sư đoàn… (ngưng trích) Như vậy, nếu Trung úy Tịch bị đưa tới Sư đoàn 303 của Quân khu 7 thì rất có thể đương sự đã “tịch” trong các trận giao tranh với quân Khmer Đỏ. Khi ấy, chắc gì Mát-đa “Tịch tây lai” đã có được một nấm mồ như Mát-đa “Sugar Thoòng” của tôi! Sau khi Tịch tây lai bị thuyên chuyển đi Tây Ninh, vì T2 không còn một sĩ quan cán bộ nào, bộ chỉ huy L2 phải phái một tay quản giáo xuống trông coi tạm thời cho tới khi Đại úy Phùng Xuân Nghĩa trở về khoảng một tuần lễ sau đó. Ông Phùng Xuân Nghĩa vừa về được một ngày đã có tin “hấp dẫn” từ tổ mộc: Trung úy Tịch và tay cán bộ hậu cần đã “dọn sạch” cái kho trước khi đi, trong đó có trên 30 cái võng. Võng nói tới ở đây không phải võng đan bằng sợi gai hay sợi ni-lông mà chỉ là một tấm vải “denim” hai đầu có chỗ xỏ dây để máng lên. Nguyên đây là vải denim nội hóa trước 1975 được sử dụng may quần cho lính Hải Quân VNCH. Sau khi chiếm miền Nam, đám nón cối nhà quê nhà mùa không biết làm gì với thứ vải mà họ cho là thô cứng này, bèn may thành võng để phát cho tù cải tạo. Sau này tới một trại cải tạo khác, tôi thấy một vài anh em gốc Trảng Lớn đã được cấp phát loại võng này. Tuy nhiên những trường hợp này rất hiếm, bởi vì chỉ ít lâu sau khi nhà nước cộng sản đánh tư sản, tịch thu hãng xưởng, quốc hữu hóa tất cả mọi cơ sở sản xuất, thì loại vải denim nói trên đã trở thành một mặt hàng hiếm quý, được sử dụng để may quần “jeans”, miền Bắc gọi là “quần bò” (rất có thể vì họ thấy mấy chàng chăn bò – cowboys – thường mặc loại quần này). Số võng chưa kịp phân phát cho tù cải tạo được đám hậu cần lén lút bán hết cho các con buôn.
* * * Khoảng hai tuần sau khi Đại úy Phùng Xuân Nghĩa đi phép trở về, T2 được lệnh chuyển trại, không đi xa mà chỉ băng qua con suối tới doanh trại của bộ đội trước kia nay đang bỏ trống. Từ ngày ấy, trừ trường hợp có lệnh của ban chỉ huy trại, chúng tôi không được phép trở lại khu vực T2 cũ, nơi có sân đá banh, cái vườn rau xanh tốt của tôi và Mát-đa chi mộ! Doanh trại cũ của bộ đội chỉ có hai dãy nhà dành cho cải tạo và một dãy nhà nhỏ cho ban chỉ huy; nhà cửa tương đối kiên cố, giường nằm bằng tre chứ không phải lồ ồ (vốn là môi trường sinh sôi nảy nở của rệp) như ở khu trại cũ. Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng nguyên nhân của việc chuyển trại không phải vì khu trại mới sạch sẽ, tiện nghi hơn (trên thực tế, khá chật chội) mà để trong trường hợp có biến (Khmer Đỏ tấn công) chạy lên trung đoàn gần hơn, nhanh hơn! Riêng ông Phùng Xuân Nghĩa thì từ ngày đi phép trở về, đã không còn xuống các đội để chè lá chuyện trò với anh em cải tạo nữa, một phần vì khung cảnh chật chội, một phần có lẽ vì ông không muốn phải trả lời những thắc mắc liên quan tới tình hình căng thẳng ở biên giới cũng như tương lai mờ mịt của đám cải tạo. Hai diễn tiến tốt đẹp duy nhất qua việc chuyển trại là thứ nhất, M, tay thiếu úy thiết giáp trốn trại bị đốt râu, được cho về sinh hoạt bình thường với anh em, và thứ hai, cải tạo được tự do đàn hát nhạc vàng. Trước đây, sau khi M trốn trại rồi bị bắt lại, bị tên Trưởng ban 2 trung đoàn tưới xăng đốt râu trước khi trả về T2, và chúng tôi được anh Thu, tay y tá bộ đội của T2, cho biết M bị phỏng hết mặt mũi, cổ và hai vai…, chúng tôi đã mường tượng ra một khuôn mặt sần sùi, dị dạng mà M sẽ phải mang suốt đời. Nhưng có lẽ vì những vết phỏng không ăn sâu vào da thịt, và trong thời gian bị giam giữ trên khung, M được y tá Thu chữa trị bằng cách giã nát một loại lá thuốc để đắp lên, tới khi được trả về đội, lớp da thịt trên mặt, cổ, vai của M chỉ bị khoang (loang lổ) chứ không bị sần sùi, dị dạng như những nạn nhân bị phỏng nặng hoặc bị tạt át-xít. Về tinh thần, M trở nên ít nói hơn, khi kể lại diễn tiến việc bị đốt râu, anh không hề tỏ thái độ hận thù; có lẽ cái tâm “kính Chúa yêu người” nơi anh cùng với sự tử tế của ông Nghĩa và y tá Thu trong thời gian bị biệt giam trên khung đã khiến anh tin rằng tên Trưởng ban 2 trung đoàn đã mất hết nhân tính ấy trước khi đầu óc bị nhuộm đỏ và trở nên sắt máu, rất có thể cũng là một con người tử tế. Về việc cải tạo được tự do đàn hát nhạc vàng, tôi tin rằng trong tất cả mọi trại cải tạo từ bắc chí nam, không nơi nào được tự do bằng T2 vào thời điểm này! Thứ nhất, địa điểm “trình diễn” là xưởng mộc, cách xa căn nhà của ban chỉ huy trại mấy trăm mét, tiếng đàn hát không thể vang vọng tới. Thứ hai, từ khi chúng tôi chuyển sang trại mới thì anh em trong tổ mộc được ăn ngủ ngay tại xưởng mộc, cho nên cứ cơm nước xong xuôi là chuẩn bị đàn hát, có khi kéo dài tới 9, 10 giờ đêm. Thỉnh thoảng còn có một nồi chè để “giải lao”. Nguyên vào thời gian này, X, chú bộ đội tà-lọt của ông Phùng Xuân Nghĩa, đã trở thành đệ tử ruột của Văn, tổ trưởng tổ mộc, và thường dẫn theo hai tay bạn cũng đang tập tễnh học đàn ghi-ta. Sau khi Văn đóng cho mỗi chú một cây đàn (đóng không công nhưng lấy “xâu” ván ép đủ để đóng một cây đàn khác) thì ba chú trả ơn bằng đường, đậu xanh và nếp để nấu chè! * Thăm nuôi đợt hai Có lẽ để giải tỏa phần nào bầu không khí căng thẳng đang bao trùm L2 sau khi có lệnh ngưng thả tù cải tạo, bộ chỉ huy trung đoàn đã cho thăm nuôi đợt hai. Lần này việc thăm nuôi được các T tự đứng ra tổ chức, cho nên T2 không sử dụng nhà thăm nuôi cũ dành cho cả trung đoàn ở gần đường lộ nữa, mà sử dụng một căn nhà nhỏ hơn trên con đường từ trung đoàn đi xuống T2, cách cổng gác khoảng 100 mét. Căn nhà tương đối tươm tất, có cả chỗ nấu nướng, tắm giặt, giếng nước…, có lẽ trước đây dành cho thân nhân tới thăm bộ đội, hoặc sử dụng làm “cư xá vãng lai” như trong các đơn vị QLVNCH trước kia. Vì chỗ ngủ có giới hạn, mỗi ngày chỉ có khoảng 4, 5 tù cải tạo được thăm nuôi. Thời gian này, phương tiện giao thông cho thân nhân thăm nuôi tù cải tạo ở Phước Long đã được tăng cường với nhiều xe đò nhỏ do tư nhân khai thác, chạy từ Phước Bình vào Bù Gia Phúc, cho nên xế chiều thân nhân đã tới L2. Vì thế, tù cải tạo được gặp thân nhân vào buổi tối, sáng hôm sau thân nhân đón xe trở ra Phước Bình, đi xe đò về Sài Gòn trong ngày. Như vậy, thân nhân chỉ mất hai ngày cho cả đi lẫn về. Theo quy định của trại, tù cải tạo T2 chúng tôi được ra gặp thân nhân trước giờ cơm tối và phải trở vào trại lúc 8 giờ; nếu gặp vệ binh gác cổng là “chỗ quen biết” thì cũng chỉ kéo dài thêm nửa tiếng nữa là cùng. Nội quy và hình thức thăm nuôi cũng giống như trong đợt một: gặp gỡ, trò chuyện, tâm tình, “động viên lẫn nhau” (nguyên văn của cán bộ quản giáo)… Tuy nhiên vì vào thời gian này, cán bộ trên “khung” của T2 chỉ còn một mình ông Phùng Xuân Nghĩa, thỉnh thoảng mới có một tay cán bộ trên trung đoàn xuống phụ giúp ông, cho nên tù cải tạo T2 và thân nhân thăm nuôi được hoàn toàn tự do, thoải mái. Nhưng vì có sự hiện diện của những cặp khác, anh em cũng chỉ dám ôm eo vợ là cùng, nếu có lén lút tìm “cảm giác mạnh” thì cũng phải nhìn trước nhìn sau. Dĩ nhiên, cũng có một số tù cải tạo… vi phạm nội quy thăm nuôi, tìm cách “hủ hóa”. Với những tay vi phạm nội quy này, đợt thăm nuôi thứ hai có hai thuận lợi: (1) không còn phải lo ngại cán bộ, vệ binh lùng sục khu vực chung quanh nhà thăm nuôi, (2) bóng tối đồng lõa sẽ thêm sức thuyết phục bà xã cùng “đưa nhau về nguyên thủy loài người”. Nhưng bên cạnh những thuận lợi đó cũng có một trở ngại lớn là môi trường thiên nhiên. Viết một cách chi tiết hơn là nguy cơ bị rắn, kiến, mối, và vắt… tấn công! Khác với vị trí cao ráo của nhà thăm nuôi đợt một, nằm trên đồi giữa những rẫy khoai mì khô ráo, sạch sẽ, căn nhà thăm nuôi đợt hai của T2 tọa lạc ở một khu vực ẩm thấp, cách con suối hơn 100 mét. Nguyên đây là một khu rừng già đã được khai thác từ 20 năm trước – thời Đệ Nhất Cộng Hòa – không còn cây cổ thụ, chỉ có những cây bằng cái cột nhà và chồi, mặt đất trống trải được phủ kín bằng một lớp lá khô mục rất dày, chỉ cần trải một miếng ni-lông lên trên là vợ chồng có một “bãi đáp” lý tưởng. Trong số những tay vi phạm nội quy có Hoàng (đờn bass). Vì đã có ý đồ từ trước, khi viết thư về nhà báo tin thăm nuôi, hắn đã căn dặn cô vợ trẻ phải ra chợ trời tìm mua cho bằng được một chai thuốc xịt muỗi của quân đội Mỹ trước đây. Buổi tối thăm nuôi, hắn chọn một vị trí cách nhà thăm nuôi khoảng 50 mét, trải một tấm ni-lông, thêm một lớp vải dù lên trên, sau đó lấy chai thuốc muỗi xịt chung quanh. Kết quả, theo lời Hoàng, nhờ chai thuốc xịt muỗi của “đế quốc Mỹ” đã hết hạn mấy năm mà vợ chồng hắn đã “đưa nhau về nguyên thủy loài người” một cách suông sẻ, tốt đẹp. Trở về trại, Hoàng chẳng những đã không giữ kín niềm hạnh phúc riêng tư, sự thỏa mãn của bản thân mà còn kể hết cho tôi nghe khi hai thằng nằm trên hai cái giường tre kê sát nhau. Chi tiết tới mức cả cái “feeling” khi tìm lại cặp tuyết lê của cô vợ son trẻ, hắn cũng kể với tôi! Hoàng dứt khoát không phải một tay playboy mà là con nhà gia giáo, cha là một vị thiếu tá đã hy sinh, hắn chưa một lần khoe khoang thành tích chơi bời hay kể chuyện tiếu lâm tục tĩu, cho nên có thể suy ra hắn kể lại với tôi “chuyện vợ chồng” trong buổi tối thăm nuôi chỉ vì niềm hạnh phúc quá lớn, không thể kềm giữ, phải chia sẻ với thằng bạn tù, thế thôi! Chưa hết, sau đó, Hoàng còn có nhã ý cho tôi mượn chai thuốc xịt muỗi và tấm ni-lông để sử dụng khi vợ tôi lên thăm nuôi mấy ngày sau đó. Tuy nhiên tôi từ chối lòng tốt của hắn vì đã quyết định “chấp hành nghiêm chỉnh nội quy thăm nuôi”! Không phải vì tôi là một cải tạo viên gương mẫu mà chỉ vì tôi rất sợ rắn và vắt rừng. Nghe qua thì hơi khó tin, nhưng sự đó là sự thật: một tay lì lợm từng một mình đi vào nghĩa địa giữa đêm khuya như tôi lại sợ và gớm mọi loài bò sát và côn trùng không có chân, kể cả con giun đất hiền lành. Từ ngày có trí khôn, tôi chưa hề sợ “Ông ba bị chín quai 12 con mắt” hay bất cứ nhân vật tưởng tượng nào mà người lớn thường đem ra để hù dọa trẻ con. Tôi cũng không hề sợ ma. Còn nhớ hồi tiểu học, tôi sống với bà ngoại ở Hẻm 6 Trương Minh Ký (Trương Minh Giảng nối dài), Phú Nhuận. Đối diện Hẻm 6, phía bên kia đường là một con đường đất không tên (sau này gọi là đường Thiệu Trị) đi vào một cái nghĩa địa cổ xưa hoang phế có tháp Phong Thần và ngõ tắt đi bộ sang đường Công Lý. Cho tới cuối thập niên 1950, con đường không tên ấy hãy còn những bụi tre già che khuất ánh dương, là nơi hành nghề của các bà đồng, thầy cúng. Đi qua khu vực của người sống tới giang sơn của kẻ chết: cái nghĩa địa hoang phế. Không hiểu cái nghĩa địa này có từ bao giờ nhưng căn cứ vào số lượng xương người chứa trong cái hầm nằm dưới tháp Phong Thần, có lẽ nó đã hiện diện từ cả trăm năm trước! Xin được giải thích như sau: Cứ sau vài chục năm, những ngôi mộ đất vô chủ đã không còn một dấu tích nào, chỉ tới khi đào huyệt để chôn người mới chết, người ta mới khám phá ra bộ xương bên dưới. Vì thế nhà cầm quyền đã cho làm một cái hầm bê-tông rất rộng ở ngay trung tâm nghĩa địa để chứa những nắm xương tàn ấy. Phía bên trên hầm có một cái tháp xây theo hiểu Á đông khá đẹp, gọi là tháp “Phong Thần”, vừa để che mưa nắng vừa để thể hiện lòng tôn trọng các vong hồn. Theo suy đoán của tôi, có lẽ vì sự hiện hữu của tháp Phong Thần mà các bà đồng, thầy cúng mới tụ tập tại khu vực này cho gần… cõi âm! Ban ngày thì không sao nhưng ban đêm đi ngang khu vực này (ngày ấy chưa có đèn đường) ai cũng sợ ma. Riêng đám bạn của tôi, lúc đó 9, 10 tuổi, cứ tới mép nghĩa địa là cắm đầu chạy, trừ một mình tôi. Một ngày nọ, lũ bạn thách tôi dám leo xuống cái hầm chứa xương người vào ban đêm. Sau khi thỏa thuận một chầu xi-nê Văn Lang, tôi đã leo xuống trước những cặp mắt vừa kinh hãi vừa thán phục của lũ bạn!… Không sợ ma quỷ nhưng tôi lại sợ trăn rắn (kể cả con lươn) và giun đất! Vì không dám đụng vào con giun, tôi không bao giờ thích đi câu, trừ câu cá rô, cá sặc bằng trứng kiến. Mỗi lần bất đắc dĩ đi theo bạn bè, tôi phải nhờ họ móc con giun vào lưỡi câu! Còn rắn thì khi làm công tác phá rẫy ở Phước Long gặp chúng là việc xảy ra như cơm bữa, thường là rắn lục. Đúng như sách vở đã viết, trừ trường hợp bị tấn công trước, rắn thường tìm cách trốn tránh khi nghe thấy tiếng động, nhưng lúc nào tôi cũng chăm chú quan sát mặt đất trước khi đặt bước, trường hợp thấy rắn vắt vẻo trên cành cây thì tôi lùi lại để… nhường cho các bạn! Tuy nhiên ở Phước Long, vắt rừng mới là mối lo chính của tôi. Vắt ở đây hơn xa vắt ở rừng Đồng Ban và các nơi khác về cả kích thước lẫn khả năng tấn công. Vắt Đồng Ban dài khoảng 2 cm, còn vắt Phước Long dài gấp rưỡi, có khi gấp đôi.
(Ảnh minh họa) Loài vắt nói chung tìm mục tiêu bằng cách dò hơi nóng (heat seeking), tuy nhiên trong khi vắt Đồng Ban chỉ có thể nhảy từ cành lá sang người khi họ đi sát khoảng một hai gang tay, thì vắt Phước Long có khả năng “búng” thân hình bay xa cả mét, vì thế dù không phải len lỏi vào rừng mà chỉ di chuyển trên những con đường mòn ven rừng, chúng tôi vẫn bị chúng tấn công như thường. Mỗi khi tới địa điểm lao động, chúng tôi lại phải nhờ người khác tống khứ hộ đám vắt đang bám trên mặt, trên cổ; sau đó muốn chắc ăn, phải cởi hết quần áo để bắt những con đang hút máu trên lưng, ngực, bụng, đùi, hoặc chui vào nách, háng… Trong trường hợp bị vắt cắn ở những vị trí kín đáo, không tiện nhờ người khác, tôi phải lấy một cái que để gạt chúng khỏi người mình. * * * Tới ngày thăm nuôi, vợ tôi không đi một mình mà đi cùng với K, cô bạn có chồng đại úy mất tích ở Pleiku năm 1975, sau này cùng vợ tôi lặn lội ngược xuôi buôn bán. Tôi không chỉ cảm kích trước lòng tốt của K mà còn cảm thấy nhẹ nhõm trong lòng vì không còn phải băn khoăn tiếc rẻ vì đã không mượn chai thuốc xịt muỗi và tấm ni-lông của Hoàng. Bởi vợ chồng tôi chỉ cần vắng mặt 30 phút là K biết chuyện gì đã xảy ra, cho nên chắc chắn vợ tôi sẽ phản đối trong trường hợp tôi dụ nàng “hủ hóa”! Sáng hôm sau, tổ của tôi được phân công phá một khu rừng chồi sát con đường Phước Bình – Quảng Đức. Khoảng nửa tiếng đồng hồ sau, thấy bóng hai người đàn bà đi bộ từ xa xa, hướng ra Phước Bình; tới gần hóa ra chính là vợ tôi và K. Thời gian này T2 chúng tôi đã hoàn toàn lao động tự giác, không có quản giáo hay vệ binh đi theo, cho nên tôi đi ra đường lộ chuyện trò thoải mái với hai người trong lúc chờ xe. Một lúc sau, một chiếc xe vận tải của nông trường chạy tới và ngừng lại cho quá giang. K được kéo lên trước rồi quay lại nắm tay vợ tôi kéo lên; khi đứng phía sau nhìn vợ leo lên cái bửng xe, tôi chợt nhận ra rằng vợ tôi có cặp mông quá sức hấp dẫn, và thẫn thờ, rồi sau đó lo sợ viển vông… Cũng xin có đôi dòng giải thích về việc “lột xác” của vợ tôi so với kỳ thăm nuôi đầu tiên ở Trảng Lớn. Sau khi tôi bị đi cải tạo, vợ tôi kiếm sống bằng cách buôn bán tinh tinh ở cái chợ trời mới mọc lên cạnh đường rầy gần cổng xe lửa số 6. Sau khi chợ trời bị công an phường dẹp, nàng gửi con cho bà ngoại của tôi rồi cùng K đi buôn trà ở Bảo Lộc. Buôn trà thất bại, hai nàng chuyển sang buôn lậu cá khô từ Sông Mao, Phan Thiết về Sài Gòn… Tới năm 1977, hai nàng đổi nghề: buôn hàng ngoại! Nguyên vào thời gian này, việc người Việt ở nước ngoài gửi quà về cho thân nhân trong nước đã trở nên khá phổ biến; và thường thường thân nhân chỉ giữ lại bánh kẹo, thuốc men, còn quần áo, mỹ phẩm thì bán đi để lấy tiền chi dụng. Từ đó đẻ ra nghề buôn bán những mặt hàng nói trên. Có khi K và vợ tôi được người ta gọi tới nhà để bán, cũng có khi hai nàng vào tận chỗ lãnh quà trong phi trường Tân Sơn Nhất để mua ngay tại chỗ. Dĩ nhiên, khi làm nghề này, hai nàng không thể ăn mặc lôi thôi như ngày còn đi buôn trà, buôn cá khô, mà phải chưng diện một chút cho phù hợp với “đẳng cấp nghề nghiệp”. Người đẹp nhờ lụa! Bên cạnh đó, việc không còn phải ngồi (đôi khi đu) xe đò, vất vả ngược xuôi, mưa nắng sớm chiều đã khiến hai nàng trắng trẻo hẳn ra, dinh dưỡng đầy đủ nên có da có thịt, hồng hào phốp pháp, hiện nguyên hình “gái 2, 3 con trông mòn con mắt” của những ngày trước 1975.
* * * Thực ra, viết rằng tôi nhận ra sức hấp dẫn của vợ rồi lo sợ viển vông cũng không được chính xác cho lắm, mà phải viết lo sợ ấy có liên hệ với thực tế: một số người trong thời gian đi học tập cải tạo đã bị mất vợ! Chỉ tính trong kỳ thăm nuôi đợt 2 này, đã có hai bạn tù quen biết với tôi được thân nhân lên báo… hung tin: một trung úy có bà vợ không kham nổi thiếu thốn cơ cực, đã cặp kè công khai với một sĩ quan CSBV cấp tá nắm giữ một chức vụ béo bở, một trung úy khác thì vợ đem các con theo một thương gia Chợ Lớn ra đi “bán chính thức”!
Vợ chồng người viết ngày mới cưới (Biển Hồ, Pleiku, 1971) Khi vợ tôi lên thăm, được nàng trấn an về mặt sinh kế, cho biết từ mấy tháng nay ba mẹ con không còn phải ăn độn bo bo hay khoai mì phơi khô nữa, và tới sinh nhật các con cũng đủ khả năng đưa chúng đi chơi Sở thú, chụp hình, ăn kem…, tôi cảm thấy yên tâm hơn nhiều so với những lần thăm nuôi trước đây khi vợ tôi còn phải bon chen ngoài chợ trời hay ngược xuôi buôn trà, buôn cá khô… Nhưng sau cái buổi sáng giã từ và chợt nhận ra sức hấp dẫn của cặp mông của vợ, tôi bắt đầu bị ám ảnh về những gì tệ hại nhất có thể xảy ra cho cuộc tình đang bị gián đoạn của hai đứa! Nhớ lại mấy tháng trước, sau khi được lên trung đoàn xem chiếu phim, thấy cảnh Trà Giang ưỡn ẹo khoe đôi mông sau lớp vải quần mà đêm về tha hồ dệt mộng đẹp, nay cũng hình ảnh hấp dẫn tương tự nhưng của vợ mình thì lại lo âu, thậm chí có lúc ghen tức với cuộc sống tự do của nàng bên ngoài hàng rào trại cải tạo… Tôi biết suy nghĩ như thế là nhỏ nhen, ích kỷ, vô lý nhưng không thể gạt bỏ khỏi đầu óc mình.
* * * Đúng vào khoảng thời gian bị giao động tinh thần ấy, tôi được mẹ tôi viết thư báo một tin sét đánh: T, em trai áp út của tôi đã chết thảm vì chất nổ! Việc xảy ra đã gần một năm nhưng mẹ tôi cấm không cho ai báo tin, sợ tôi xuống tinh thần. Nay mẹ tôi cứ nằm mơ thấy cả hai anh em, lo sợ không biết có chuyện gì chẳng lành xảy ra cho tôi hay không nên quyết định viết thư báo tin, để nếu tôi nhận được sẽ cầu nguyện cho linh hồn em, và bù lại linh hồn em sẽ phù hộ tôi – theo sự tin tưởng của người theo đạo Chúa. Đọc thư mẹ, lần đầu tiên từ ngày trưởng thành, tôi khóc. Khóc không thành tiếng nhưng nước mắt giàn giụa… Trong sáu anh em trai, T là người được mọi người, trong nhà cũng như ngoài đường, quý mến nhất: không chỉ đẹp trai, sáng sủa, học giỏi, hiền lành nhất nhà mà còn chịu… đi tu, nghĩa là trong tương lai sẽ làm linh mục. Thực ra, trong anh em tôi có tới 3, 4 người được bố mẹ gửi vào nhà dòng, để nếu không tu được thì cũng sẽ học hành nên người tử tế, nhưng tất cả – trừ T – hoặc trốn về vì nhớ nhà (và vì cơm nhà dòng nuốt không nổi), hoặc bị các cha trả về vì “không có ơn kêu gọi” (thực chất là nghịch phá hoặc học dốt). Trước 1975, T đã vào nhà dòng nhưng khi 30 tháng Tư ập đến, tất cả mọi tu viện hoặc bị chế độ mới tịch thu hoặc bị đóng cửa, những người đang tu tập bị trả về nguyên quán, thì ít lâu sau T được mẹ tôi gửi gấm một vị cha xứ đã già ở gần nhà, bề ngoài là chú giúp việc nhưng thực ra là một người tu “lậu”! Để tránh bị đám cán bộ địa phương dòm ngó, làm khó dễ, tịch thu cơ sở nhà xứ…, vị linh mục đã ra sức “nín thở qua sông”: sáng sớm, khi giáo dân trong xứ đạo lũ lượt kéo nhau vào nương rẫy thì ngài dù tuổi già sức yếu vẫn vác cuốc cùng T hòa mình vào đoàn người. Và cũng giống mọi người, cha và T ăn trưa trong rẫy, tới chiều mới quay về. Một buổi trưa nọ, cơm nước xong xuôi, vừa đặt lưng trong cái lều của hai cha con, T nghe thấy tiếng ồn ào của đám thanh thiếu niên gần đó, liền tới xem thử có chuyện gì. T vừa tới nơi thì một tiếng nổ long trời lở đất: một trái đạn đại bác 155 ly chưa nổ, không biết đám thiếu niên nghịch ngợm táy máy thế nào bỗng phát nổ. T bị một miểng đạn lớn vào trán, chết liền tại chỗ! * * * Khoảng hai tuần sau khi tôi nhận được tin em trai chết, cả T2 đã bị rúng động vì một cái chết khác: Vui, chàng cầu thủ đá banh được cả tù cải tạo lẫn bộ đội hâm mộ tài nghệ, tự tử chết! Ở một đoạn trước, khi viết về anh y tá bộ đội mê đá banh tên Thu, tôi đã nhắc tới Vui, một thiếu úy gốc Cà Tum, trước kia là một cầu thủ bóng tròn có hạng. Vui là người gốc Huế, cao lớn, trắng trẻo, khá đẹp trai. Theo những anh em chơi thân với Vui, anh xuất thân từ một gia đình khá giả và nề nếp ở đất thần kinh. Về chuyện tình cảm cá nhân, vì Vui rất kín miệng cho nên anh em cũng chỉ được biết Vui còn độc thân, và mỗi lần thăm nuôi thì có chị hoặc em gái lên thăm. Sau khi T2 di chuyển từ trại cũ sang trại mới, không ai được trở lại khu vực trại cũ nơi có sân banh, thì mục đá banh cũng bị dẹp bỏ, Vui buồn ra mặt, ngày càng trở nên trầm lặng, sống thu mình. Trong kỳ thăm nuôi đợt 2, Vui được người chị lên thăm; không hiểu có tin tức gì mà sau đó Vui xuống tinh thần thấy rõ, đi lao động về là nằm một chỗ. Được vài ngày, sau một đêm mưa to gió lớn, sáng ra anh em không thấy Vui trên chiếc giường tre thì cứ tưởng anh đi vệ sinh. Đợi tới giờ đi lao động vẫn không thấy Vui trở về, anh em tới giường quan sát kỹ thì thấy nhiều vết máu trên chiếu và một lưỡi lam (dao cạo râu): Vui đã cắt mạch máu tự tử?! Sau khi được báo cáo, ông Phùng Xuân Nghĩa cho tổ của Vui được miễn lao động để đi tìm kiếm. Tới trưa, khi chúng tôi trở về trại, anh em trong tổ đã ra tới tận bìa rừng, băng qua nên kia bờ suối mà vẫn không tìm ra một dấu vết nào của Vui… Một ngày, rồi hai ngày trôi qua… Tới ngày thứ ba, mới thấy xác Vui nổi lên trong một bụi cây dưới suối, ngay phía dưới cây cầu nối liền với trại cũ. Như vậy, sau khi cắt mạch máu cổ tay, để cho chắc ăn, Vui đã lấy cái chăn cuốn chặt vết cắt để khỏi để lại vết máu trên đường đi, rồi ra suối trầm mình… Xác Vui, bó trong cái chăn của chính anh, được anh em cùng tổ chôn giữa sân banh ở trại cũ, với một mộ bia bằng gỗ khắc tên tuổi do tổ mộc thực hiện. Lúc chôn Vui, y tá Thu cũng có mặt… Ít lâu sau khi Vui tự tử, khoảng giữa năm 1978, đội tôi được phân công làm rẫy gần đường lộ, đi về bằng lối trại cũ. Lúc về, chúng tôi tới thăm mộ Vui, ai cũng bùi ngùi, riêng tôi sau đó còn tạt qua vườn rau cũ tìm mộ con Mát-đa. Mới có mấy tháng mà cỏ và cây dại đã mọc che khuất cả khu vườn, nhưng cái bia “Mát-đa chi mộ” vẫn còn đứng vững. Là người Công giáo, không tin loài vật có linh hồn nhưng tôi vẫn thấy lòng mình chùng xuống như khi đứng trước mộ một người thân, hay một người bạn. Tôi đặt tay lên bia mộ một hồi lâu rồi mới quay gót…
* * * Vài tuần sau, tôi bắt đầu cảm thấy trong người mệt mỏi một cách khác thường. Không phải cái mệt mỏi rã rời sau những buổi lao động vượt chỉ tiêu mà dường như sinh lực trong cơ thể tự dưng dần dần biến mất… Cho tới một buổi sáng nọ tôi bò dậy một cách khó khăn, đi đứng lạng quạng nên xin được miễn lao động. Tới trưa khi anh em từ rẫy trở về trại, Hoàng (đờn bass) lãnh cơm trưa cho tôi nhưng tôi vẫn nằm một chỗ, không muốn ăn một chút nào vì miệng đắng ngắt. Suốt ngày hôm đó, tôi nằm liệt giường, chỉ cố gượng đứng dậy mỗi khi đi tiểu. Qua sáng hôm sau, tôi gần như bị liệt giường. Tới khoảng 1, 2 giờ chiều tôi thấy lạnh, càng lúc càng lạnh, lạnh run cầm cập, tôi trùm chăn kín mít, nằm co quắp, khép chặt hai đùi nhưng vẫn không ăn thua gì bởi đây không phải cái lạnh từ ngoài trời mà lạnh từ trong xương lạnh ra. Tôi có thể nghe hai hàm răng của mình đánh vào nhau rõ từng tiếng! Khoảng hơn một tiếng đồng hồ sau, cái lạnh từ từ biến mất, nhưng ngay sau đó tôi lại lên cơn sốt. Lúc đầu, tôi còn tỉnh để nhận ra thân người mình nóng như lò lửa, sau đó mê man không còn biết gì nữa. Cũng khoảng 1, 2 tiếng đồng hồ sau, tôi tỉnh dậy, cơn sốt đã chấm dứt và người bắt đầu toát mồ hôi, ướt sũng. Thân thể tôi trở nên rã rời, đầu nhức như búa bổ, miệng khô đắng. Chưa bao tôi thèm đường đến như thế; tôi thều thào nhờ Hoàng lấy cho tôi cái hộp đựng đường cát trắng vợ tôi mới đem lên, cất trong cái thùng đạn dưới gầm giường, và một lon ghi-gô nước lạnh. Xế chiều, tôi cố gắng xuống khỏi giường để đi tiểu thì thấy nước tiểu có màu đỏ sậm. Ngày hôm sau, tôi cảm thấy cơ thể đỡ mệt mỏi, bớt nhức đầu so với chiều hôm trước. Nhưng qua ngày kế tiếp, mọi diễn tiến lập lại y như hai ngày trước đó, cũng bắt đầu vào khoảng 1, 2 giờ chiều, có khác chăng là tôi bị mê man trong một khoảng thời gian dài hơn, sau đó bị nhức đầu dữ dội hơn, và cảm thấy mệt mỏi rã rời hơn lần trước rất nhiều! Một người bạn cùng đội đem lại cho tôi hai viên thuốc ký-ninh (quinine). Lúc đó tôi mới được biết trong lúc tôi lên cơn sốt, y tá Thu được anh em trong đội thông báo đã xuống thăm bệnh, và cho mọi người biết tôi bị sốt rét cấp tính. Anh nói anh em cải tạo nào có ký-ninh thì san sẻ cho tôi, bởi trên “khung” không có. Nhưng tôi uống hai viên thuốc mà bệnh không hề thuyên giảm: hai ngày sau, cơn sốt rét trở lại, khủng khiếp hơn… Tội nghiệp anh bạn tù tốt bụng chỉ có bốn viên ký-ninh để phòng thân, sau đó cho nốt hai viên còn lại, nhưng cũng chẳng ăn thua gì! Cũng cần viết thêm, từ khi bị sốt rét hành, vì miệng đắng và đau cuống họng, không muốn nuốt bất cứ thứ gì, tôi sống nhờ đường và nước lạnh. Mỗi khi miệng thật khô và đắng, tôi ngậm khoảng nửa muỗng cà-phê đường, sau khi đường tan, nhấp một chút nước… Gần hai tuần lễ sau, khi tôi ăn hết hộp đường của mình, Hoàng phải lấy đường của hắn cho tôi một hũ chao thì tôi có cảm tưởng đường và nước chẳng còn tác dụng gì cho một cơ thể đã không còn một chút sinh lực! Lúc này, tôi gần như bị mê man suốt ngày, và trong khoảng thời gian tỉnh táo ngắn ngủi sau mỗi cơn sốt rét, tôi nghĩ chắc chắn mình không qua khỏi. Trước kia, tôi từng được nghe Hùng, một thiếu úy bộ binh bị bắt làm tù binh trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, kể về những cái chết do sốt rét cấp tính mà anh đã chứng kiến trong rừng Trường Sơn. Khi bệnh nhân cảm thấy lạnh là lúc vi trùng sốt rét xuất phát từ lá gan đi khắp cơ thể để tiêu diệt hồng huyết cầu trong máu; sau đó khi chúng sinh sôi nảy nở là lúc bệnh nhân bị sốt rồi toát mồ hôi. Theo những gì Hùng đã chứng kiến thì sau khoảng hai tuần lễ, bệnh nhân sẽ kiệt lực và… đi luôn. Cũng theo lời Hùng, ngày ấy nơi anh và các tù binh VNCH khác bị giam là một căn cứ hậu cần của CSBV trong rừng Trường Sơn, có cả một trạm xá dành cho bộ đội “sinh bắc tử nam”, nhưng trong khi có cả tù binh VNCH lẫn bộ đội CSBV bị sốt rét, thì chỉ có bộ đội chết chứ không có tù binh miền Nam nào, có lẽ vì cơ thể của họ có đủ sức kháng cự những đợt tấn công của vi trùng sốt rét. Như vậy, anh y tá bộ đội của T2 đã không phóng đại khi có lần nói với chúng tôi rằng trong những năm tháng vượt Trường Sơn, số bộ đội chết vì kiết lỵ và sốt rét còn nhiều hơn số chết vì bom B-52! Nay tôi bị sốt rét đã gần hai tuần mà không thuyên giảm có lẽ vì sau gần 3 năm tù cải tạo, kháng thể trong người không còn đủ sức chịu đựng những đợt tấn công liên tiếp của vi trùng… Tôi hoàn đã toàn kiệt lực, không còn sức để nuốt đường, nước nữa. Tôi chờ chết!
* * * Điều kỳ lạ là sau này khi đã được thả, cứ mỗi lần nghĩ tới việc mình suýt bỏ mạng vì sốt rét ở Phước Long tôi lại rùng mình ớn lạnh, nhưng trước đó, khi nằm bất động trên cái giường tre trong trại cải tạo, tôi lại rất bình tĩnh! Thứ nhất, như đã viết trong kỳ đầu tiên, một thời gian ngắn sau khi bị bắt đi học tập cải tạo, tôi đã tìm lại được niềm tin vào tôn giáo, và phó thác cuộc đời cho đấng đã tạo dựng ra mình. Tôi thừa hưởng niềm tin này từ bà ngoại. Khi hai trong số bốn người cậu quân nhân của tôi đền nợ nước, bà đều nói: “Sống chết do Chúa định!” Viết như thế không có nghĩa là một khi tin vào Chúa là đương nhiên không còn sợ chết, nhưng hình như khi phải sống trong cảnh khốn cùng, tuyệt vọng, người ta không còn sợ hãi cái chết nữa. Không phải tôi không nghĩ tới vợ con, nhưng nghĩ tới chỉ vì tình cảm yêu thương chứ không phải vì lo lắng cho tương lai, bởi hơn ai hết, những người tù cải tạo chúng tôi trong cảnh cá chậu chim lồng đều suy nghĩ dưới chế độ cộng sản hiện nay, mình chỉ là những kiếp sống thừa, những gánh nặng cho vợ con, cha mẹ… Tôi cũng nghĩ nhiều tới mẹ tôi, người đã yêu thương lo lắng và hy sinh quá nhiều cho thằng trưởng nam (tới mức đôi khi tôi cảm thấy áy náy khi so sánh với các em), nhưng tôi tin mẹ tôi sẽ vượt qua bởi bà cũng có một đức tin rất mạnh. Chính đức tin ấy đã khiến mẹ tôi tin rằng việc gia đình tôi bị kẹt lại vào năm 1975 cũng là do “ý Chúa”! Ngày ấy, sau khi mất Phước Long, mẹ tôi, vốn quen biết nhiều vị trong giới giáo quyền, được một vị linh mục cho biết người Mỹ đã bán đứng miền Nam. Tới giữa tháng Tư, mẹ tôi đã đích thân lên phi trường Biên Hòa gặp tôi để bàn về việc cả gia đình đi ra Phước Tỉnh, nơi có nhiều họ hàng bên ngoại và vị linh mục chánh xứ là người trong thân tộc, để sẵn sàng ra đi vì nghe đồn sẽ có một cuộc “di cư” cho người Công giáo như vào năm 1954. Nhưng lần này di cư đi đâu, không ai được biết!… Tuy nhiên dự định của mẹ tôi đã bị tôi gạt phắt, bởi tôi không muốn… bỏ chạy! Tôi không hề nghĩ mình là một sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị nên có tinh thần yêu nước, chống cộng cao hơn người khác, mà chỉ vì khi ấy tôi không tin mình sẽ mất trọn miền Nam mà ít ra cũng giữ được Vùng 4. Tôi muốn ở lại để cùng mọi người tử thủ. Thế thôi! Lúc ấy, nhìn nét mặt thất vọng của mẹ, lòng tôi cảm thấy vô cùng bất nhẫn nhưng tôi không có lựa chọn nào khác. Sau 30 tháng Tư 1975, khi tôi bày tỏ sự ân hận chỉ vì quyết định của mình ngày đó mà cả bố mẹ anh em bị kẹt lại, mẹ tôi đã an ủi tôi bằng cách nói rằng ngày ấy bà cũng có ý chờ tin tức về một thằng em của tôi phục vu tại Tiểu Khu Pleiku, mất tích trong cuộc di tản trên liên tỉnh lộ 7, nên cũng hơi dùng dằng, nếu không rất có thể bà đã đưa cả nhà ra Phước Tỉnh, bỏ gia đình chúng tôi lại vì nghĩ rằng “không quân có máy bay, thế nào chả đi được!”
* * * Sau khi đã cảm thấy thanh thản khi nghĩ tới những người thân yêu, tôi tự vấn lương tâm về những gì còn vướng mắc trên quãng đời đã qua: những ân oán, những món nợ chưa trả – nợ tiền, nợ tình… Về ân oán, có lẽ tôi còn quá trẻ, hoặc không sống trong những môi trường, những cảnh đời phức tạp để phải vướng mắc! Nợ tình thì tôi nợ… tứ phương nhưng chỉ là những món nợ nho nhỏ, có thể xí xóa. Viết một cách cụ thể hơn, tôi chưa bao giờ hại đời con gái nhà lành rồi quất ngựa truy phong, chưa bao giờ đào mỏ (dại gái là đàng khác), chỉ thỉnh thoảng được hưởng “tình cho không biếu không”. Có áy náy chăng chỉ là khi nhớ tới cô bạn thơ văn từ thời trung học. Dù hai đứa chưa hề ngỏ lời, bằng miệng cũng như qua giấy mực, nhưng trong thâm tâm cũng tự biết hai đứa không chỉ coi nhau như bạn! Một khi chưa hề ngỏ lời, tỏ ý thì muốn chấm dứt cũng dễ thôi. Vậy mà tôi đã không làm được. Sau khi đã làm đám hỏi với người con gái sau này là vợ tôi, tôi vẫn dấu kín cô bạn, vẫn duy trì liên lạc, những buổi sáng giá lạnh, những buổi chiều lộng gió ở phi trường Pleiku vẫn “thắt lại khăn ấm chính em đan…”. Để rồi ít lâu trước khi lấy vợ, tôi bàn giao cái “khăn ấm” ấy cho ông bạn quý Trần Ngọc Tự, và chấm dứt cái một, không kèn không trống! … Nhưng nợ tiền thì tôi có vướng mắc! Nguyên trong thời gian học 9 tuần căn bản quân sự ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung trước khi lên Thủ Đức, tôi kết thân với một đàn anh thuộc một Bộ nọ trong chính phủ. Anh là một trong những công chức trung cấp, cùng với một số Phó đốc sự tốt nghiệp Khóa 13 Quốc Gia Hành Chánh, chỉ phải học 9 tuần căn bản quân sự rồi trở về nắm giữ chức vụ cũ. Chẳng hiểu sao anh lại thương tôi như một đứa em mà anh đặt cho biệt hiệu “Xăng-pha-mi” (Sans Famille: Vô gia đình, truyện của Hector Malot). Khi về phép cuối khóa, anh không chỉ bao tôi đủ mục vui chơi của đàn ông con trai, mà trước khi chia tay còn hỏi tôi có cần tiền để tiêu xài trong mấy tuần lễ huấn nhục ở Thủ Đức thì anh cho mượn, khi nào trả cũng được. Dĩ nhiên, tôi chẳng dại gì từ chối. Anh đưa cho tôi 3000 đồng (khoảng một tháng lương sinh viên sĩ quan ngày ấy). Thế rồi trong suốt 6 năm sau khi ra trường Thủ Đức cho tới 30 tháng Tư 1975, tôi chỉ nhớ tới món nợ này khi đã… xài hết tiền lương! Nhưng theo sự “diễn dịch” của tôi, vướng mắc này chỉ là một “tội nhẹ” trước mặt Thiên Chúa, bởi vì người tôi mắc nợ tương đối dư giả chứ không đến nỗi thiếu thốn, đồng thời tôi cũng không chủ tâm quỵt luôn.
* * * Sau khi tính sổ đời, tôi thấy lòng mình thảnh thản. Sự thanh thản của một người đã hết hy vọng và chấp nhận phần số, chứ không phải đau khổ tuyệt vọng. Tôi nghĩ tới cái chết của mình như thể đó là cái chết của một người nào khác. Ngày mai, hoặc vài ngày nữa, sau cơn sốt rét cuối cùng, tay tù cải tạo hỗn danh “Sáu Lèo” sẽ không bao giờ tỉnh lại, anh em sẽ chôn hắn ở giữa sân banh bên cạnh mộ Vui, để rồi mấy năm sau sẽ chẳng còn chút vết tích!… Nhưng đúng vào thời gian này lại xảy ra một biến cố mà nếu không có Hoàng (đờn bass) tôi đã bị chết đuối trước khi kịp chết vì sốt rét. Đó là việc T2 bị lụt sau khi đập nước ở thượng nguồn sông Tà Niên – tức con suối chảy xuống T2 – bị vỡ. Một vùng núi đồi như Bù Gia Phúc mà bị lụt là chuyện khó tin nhưng có thật, xảy ra vì hai nguyên nhân, một do thiên nhiên một do bàn tay con người. Về thiên nhiên, khu đất của T2 giống như một cái lòng chảo nho nhỏ, nơi con suối chảy quanh gần giáp vòng trước khi xuôi về Thác Mơ dưới chân núi Bà Rá. Nhưng nếu không có sự can thiệp của bàn tay con người thì cái lòng chảo ấy đã không bao giờ bị lụt. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy cái đập nước ấy và cũng không biết nó được sử dụng vào mục đích gì?! Sau này ra hải ngoại, qua đọc một hồi ký của một cựu tù cải tạo từng ở Phước Long, tôi cũng chỉ được biết cái đập nước ấy được xây dựng hoàn toàn bằng cây rừng và đất đá. Cũng như cái hội trường vĩ đại gây chết người ở Đồng Ban, cái đập nước ở Phước Long cũng là sản phẩm của một bộ óc siêu việt nào đó trong đám tù cải tạo! Theo lời Hoàng kể lại, không biết đập bị vỡ vào lúc nào, chỉ biết buổi sáng hôm ấy khi anh em đang chuẩn đi lao động thì nước suối bắt đầu dâng lên ngập sân, chỉ mấy phút sau đã ngập tới nền nhà. Tù cải tạo được lệnh di tản khẩn cấp lên một vị trí cao hơn trên con đường đi lên trung đoàn. Vì phải lo di chuyển vật dụng cá nhân và cái thùng đựng thực phẩm, sau khi lên tới nhà thăm nuôi, Hoàng mới quay trở lại trại để tìm cách đưa tôi đi. Nhưng lúc đó mực nước ở ngoài sân đã dâng cao lên tới ngực, và trong nhà thì gần ngập dẫy giường tre trên đó có tôi nằm bất động, một mình Hoàng không đủ sức đưa tôi thoát khỏi trại. Thời may, lúc đó đám cải tạo anh nuôi đang sử dụng mấy cái chảo gang lớn (đường kính khoảng 1.2 – 1.5 m) làm thuyền để vận chuyển thực phẩm của nhà bếp lên trên đồi, Hoàng liền lên tiếng báo động cho họ biết có một người bệnh còn nằm trong nhà. Vì đây là chuyến chót cho nên mấy cái chảo cũng không đến nỗi khẳm, dư sức chở thêm tôi. Nhưng khi ấy, mực nước ở ngoài sân đã ngập quá đầu người và cuốn mạnh, Hoàng và mọi người phải vất vả lắm mới vừa bơi vừa đẩy được mấy cái chảo lên khu vực nhà thăm nuôi. Sau này, Hoàng kể lại trong lúc đang bơi, gần hết hơi nên hắn phải há miệng để thở thì một bầy giòi (thoát ra từ những thùng phân người ở cầu tiêu) đã theo dòng nước chui vào miệng hắn. Cả tuần sau, hắn vẫn ói mửa khi nhớ tới trải nghiệm kinh hoàng này!
* * * Lên khỏi khu vực bị lụt, tôi được đưa vào nhà thăm nuôi, cho nằm trên một cái giường tre. Vì thân xác đã kiệt quệ, đầu óc mơ mơ màng màng, tôi hầu như không hay biết gì về những diễn tiến trong ngày T2 bị lụt. Cho nên tôi cũng không biết vào buổi chiều hôm ấy tôi có bị lên cơn sốt rét hay không? Chỉ biết sáng hôm sau, sau khi nước rút, trong lúc anh em tù cải tạo trở về trại dọn dẹp cây cối, rác rến, chùi rửa giường nằm và các vật dụng sinh hoạt, tôi cảm thấy đỡ nhức đầu và tỉnh táo hơn ngày hôm trước. Tới trưa, Hoàng và một người bạn tù khác xốc nách tôi đưa về trại. Sau khi được đặt lưng trở lại trên cái giường tre, tôi chuẩn bi tinh thần chờ đợi cơn sốt rét, nhưng chờ mãi, chờ tới hơn 2 giờ chiều vẫn không thấy sốt rét quay trở lại!… Ngày hôm sau, vẫn không có gì xảy ra… Cuối cùng, tôi biết mình đã thoát chết! Theo anh y tá Thu, tôi là bệnh nhân sốt rét cấp tính đầu tiên thoát chết mà anh được biết! Phần tôi, cho tới nay tôi vẫn tin việc mình bị sốt rét ở Phước Long năm 1978 mà không chết là một phép lạ!
* * * Ít lâu sau trận lụt ở T2, khi tôi đã có thể sinh hoạt bình thường trở lại thì vào khoảng tháng 7 hay tháng 8 dương lịch, xảy ra một cuộc chuyển trại ở L2. Không biết ở các T khác thì sao, riêng ở T2 chỉ có vài chục người, tất cả đều là trung úy thuộc thành phần “nặng tội” nhất: chiến tranh chính trị, an ninh tình báo, quân cảnh tư pháp…, trong số đó có tôi. Hầu như toàn thể tù cải tạo – kẻ ra đi cũng như người ở lại – đều tin rằng nhóm chúng tôi sẽ bị đưa ra miền Bắc. Tôi nhủ thầm: – Cuối cùng thằng “giặc nói” này cũng không thoát. Thôi, tới đâu hay tới đó! Khi nhóm chúng tôi được lệnh tập họp đi bộ lên trung đoàn, từ đó sẽ có xe chở đi trại mới, Cường (cựu đội trưởng), Hoàng, và M (bị đốt râu) tới từ giã tôi; người nào cũng ái ngại cho tôi vì biết cuộc chuyển trại này lành ít dữ nhiều! M bắt tay tôi thật chặt, nói nhỏ: – Thôi… Chúa phù hộ anh Sáu nhé!
Chiếc ghe bầu tiến sát vào Lung Tràm. Đó là vùng rừng trầm thủy, đầy cây tràm và dây choại rộng hàng chục mẫu. Mùa nắng, nước vẫn còn đọng dưới lung, hơi bùn lầy bốc lên khó thở.
Cô Huôi hơi buồn rầu, nhìn phía sau lái chiếc ghe bầu. Mắt cô sáng lên. Hai chàng trai đang cong lưng chống sào, trên ghe còn hai người khác, mà cô đoán chắc là Mười Hấu và thằng Cẩu. Họ tới hơi trễ nhưng tình thế còn cứu vãn được. Theo kế hoạch do Bá Vạn hoạch định thì khi ông Chúa hấp hối, thằng Cẩu phải có mặt bên cạnh để nhận lãnh chức vị. Cô nói:
– Ông ơi! Ai tới kìa!
Ông Chúa Hòn day lại:
– À, thằng Cẩu, con chó con. Nó tới, vui lắm. Cái thằng tánh tính không giống ai.
Cô Huôi biết rằng cuộc gặp gỡ nầy do Bá Vạn bố trí kỹ lưỡng. Nếu vắng mặt thằng Cẩu lúc ông Chúa nhắm mắt thì cậu Hai Điền có lý do để tranh chấp. Cô nói:
– Lục Nhét có phận sự lùa heo rừng tới một chỗ nào đó, hắn phải chờ đợi mình. Thằng ngồi giữa là ai vậy?
Chiếc ghe phía sau đến gần giúp ông Chúa thấy tỏ rõ, ông ta cao hứng vỗ tay:
– Thằng Cẩu, hồi nãy tao nhìn không ra. Cỡ nầy mầy mập quá!
Mười Hấu chắp tay thưa:
– Hay tin ông Chúa tới, tôi có món nầy quý giá.
– Món gì?
Đôi mắt cô Huôi liếc nhanh, nhận ra cái hũ da rạn, đậy nắp cẩn thận, dưới nắp có miếng vải đỏ. Trước khi từ giã, Bá Vạn cho cô biết Mười Hấu đem dâng cho ông Chúa một thứ rượu đặc biệt. Mười Hấu nãy giờ đang sửng sốt vì nhan sắc cô Huôi nên quên trả lời. Thằng Cẩu bèn nhảy lên bờ mà nói:
– Thưa ba, rượu của ông ngoại ngâm mấy năm rồi.
– Đem lại đây.
Vì muốn tránh tai tiếng, Mười Hấu trao hũ rượu cho thằng Cẩu để tự tay nó dâng cho ông Chúa Hòn. Nhưng Mười Hấu hơi thắc mắc vì chưa tiếp xúc được với cô Huôi.
Chiếc ghe hầu dừng lại để đón rước thằng Cẩu. Thừa dịp ấy, Mười Hấu cũng lên bờ, ngồi xuống với dụng ý nhìn mặt cô Huôi. May thay, thằng Cẩu đem hũ rượu xuống chiếc ghe hầu, nói lia lịa:
– Rượu nầy bổ lắm, ngâm sừng con tê giác.
Ông Chúa Hòn cười hề hề:
– Mầy là đứa con có hiếu.
Thằng Cẩu đáp:
– Dạ, của ông ngoại con…
Cô Huôi ngỏ lời với ông Chúa Hòn:
– Tôi lên bờ nói chuyện với ông Mười trong giây lát. Cô Ngó là con ông Muời, vậy thì ông Mười đáng bực cha chú của tôi.
Vì ham uống thuốc bổ nên ông Chúa nói lơ đãng:
– Cô nên gặp…
Cô Huôi lên bờ, Mười Hấu biết ý trước, bước lui ra. Cô Huôi đi theo, nói khẽ:
– Lát nữa, ông đi theo cho vui chớ. Bấy lâu, chưa gặp ông, tôi xin chào ông. Cô Ngó tới gia đình ông Chúa trước tôi.
Mười Hấu chắp tay thưa:
– Nhưng con Ngó của tôi thì quê mùa, nhan sắc kém xa. Mong cô giúp đỡ thằng Cẩu cho nó nên người. Ơn đức ấy, muôn đời tôi không quên.
– Tôi chỉ mong như vậy – Cô Huôi đáp.
– Nó còn trẻ, ăn nói ngang tàng, mong cô dạy dỗ nó.
Rồi Mười Hấu hỏi thăm:
– Ông Bá Vạn dạy tôi đem hũ rượu tới dâng cho ông Chúa và đem thằng Cẩu tới trình diện cô. Như vầy là xong rồi. Theo ý cô, tôi nên đi theo thằng Cẩu vô Lung Tràm hay nên về?
Cô Huôi đáp:
– Nên về núi Mo So rồi cho người canh chừng cẩn mật. Nếu dư người, ông cho họ tới gần Hòn Chông để dò xét. Bá Vạn ở Hòn Chông, ông đừng lo. Nhưng nếu xảy ra chuyện rắc rối, ông cho tôi hay biết.
Mười Hấu cúi đầu, phục tài cô Huôi.
Dưới chiếc ghe hầu, sau khi uống cạn chén rượu đầu tiên, ông Chúa cảm thấy hăng hái:
– Đi cho mau. Ăn cái gan con heo độc giác rồi uống thêm chút rượu tê giác thì còn gì sung sướng cho bằng!
Mười Hấu nghiêng mình như để chào. Thằng Cẩu nghe đến chuyện săn heo rừng thì sáng mắt lên:
– Cái nầy…vui hơn đá cá thia thia, phải không ba?
Dường như rượu độc đã bắt đầu công phạt, ông Chúa ngả lưng vào vách ghe hầu:
– Nàng ơi! Ta thấy cảnh tiên.
Cô Huôi bèn ra lịnh:
– Hộ vệ đâu? Vô Lung Tràm rồi về. Chẳng lẽ đậu ghe ở đây hoài?
Rồi cô liếc thằng Cẩu. Nó cúi mặt, hơi e thẹn. Cô nói gắt như để xem bản lãnh nó tới mức nào:
– Đỡ ba mầy, đừng cho ổng nằm. Hễ hơi say thì ổng dựa ngửa nghiêng.
Ông Chúa phều phào:
– Rót cho tao một chén nữa. Rót nữa. Cẩu đâu rồi! Ba thương con quá…
Thằng Thiếu và Lục Nhét đứng một chỗ mà chờ đợi. Nắng chiều đã lên cao. Muỗi rừng vẫn bay ào ào. Vài con rắn nước bò cong queo trên bãi bùn. Bầy cò trắng bay sập sận, toan đáp xuống trong khi bầy chó sủa oăng oẳng. Hồi lâu Lục Nhét ngồi xuống, lẩm bẩm:
– Sao lâu quá vậy?
Thằng Thiếu đáp:
– Tụi mình cứ chờ. Ông Chúa cho tiền, mình lãnh đủ rồi. Nếu săn được con heo độc giác, nhứt định là ổng cho thêm gấp đôi.
Lục Nhét nhai bùa trong miệng, thỉnh thoảng nghiến ken két. Ông ta nhìn bóng nắng, cau mày. Đột nhiên từ phía sau có tiếng cắc kè kêu inh ỏi, từng tiếng rời rạc. Ông ta bấm đốt tay mà đếm. Tiếng cắc kè sau cùng chấm dứt vào lóng giữa của ngón áp út.
Mặt ông ta cúi xuống:
– Không xong! Tôi chờ rồi…về nhà?
Thằng Thiếu hỏi:
– Sao vậy? Phải săn cho được! Thí dụ như ông Chúa ra lệnh dời lại ngày khác mình cũng ở lại. Chẳng lẽ hai người tài ba như bọn mình lại đi thua trí một con heo.
Lục Nhét lắc đầu:
– Bữa nay xui xẻo lắm. Rắn bò trên bãi cát rồi cắc kè kêu. Đó là có người…bị thương, chưa biết ai. Tôi về!
Lục Nhét về là một thất bại lớn cho Bá Vạn và cô Huôi. Thằng Thiếu nghĩ đến người anh ruột, đang theo chân Bá Vạn về Hòn Chông. Anh ta hơi bực tức:
– Ở lại lát nữa, thế nào ổng cũng tới.
Bầy chó sủa to, day mỏ về phía đầu rạch. Đúng là chiếc ghe hầu của ông Chúa Hòn. Thằng Thiếu mừng rỡ vô cùng, chắp tay xá. Sau lưng thằng Thiếu là căn chòi nhỏ, lợp sơ sài bằng lá dừa nước để cho ông Chúa và cô Huôi tạm nghỉ nắng.
Chưa chi thằng Cẩu đã lớn tiếng:
– Con heo đâu? Mấy người làm ăn chậm chạp quá vậy!
Lục Nhét hỏi khẽ thằng Thiếu:
– Cậu nào vậy?
– Con ông Chúa chớ cậu nào!
Ông Chúa Hòn lú đầu ra khỏi mui ghe, hỏi nhanh:
– Gặp con heo độc giác chưa? Lùa nó tới đây cho mau. Rượu ngon uống vô, sao mà chóng mặt quá. Hễ trễ nải thì tao làm thịt tụi bây.
Cô Huôi nghĩ thầm: Thời cơ đã đến. Bên cạnh Lục Nhét còn hai người khác, tay cầm ngọn lao sáng ngời. Nên tranh thủ thời giờ, lúc cơ thể bị thuốc độc ngấm vào nhứt định ông Chúa Hòn mất bình tĩnh, không phân biệt chuyện nào dễ làm, chuyện nào nguy hiểm cho tánh mạng.
Thằng Cẩu bồn chồn trong dạ, muốn theo bọn thợ săn để sống những phút hồi hộp cho thoả chí:
– Heo độc giác ở đâu? Tại sao mấy người chuẩn bị kỹ lưỡng như ra trận mạc? Để tôi đâm nó..
Cô Huôi gắt giọng:
– Con heo nầy đã giết nhiều người rồi. Cậu đừng liều lĩnh. Hồi còn ở Hòn Chông, nó đánh chết một con cọp!
– Ghê vậy! Nhưng cô cho phép tôi đi theo để coi cho biết cách săn heo rừng.
– Cậu ngồi chơi với ông Chúa. Lát nữa, bọn thợ săn lùa nó tới trước mặt cho cậu thấy. Cậu là “hoàng tử”, tội tình gì mà phải chạy nhảy dưới bùn lầy! Đó là phận sự Lục Nhét.
Ông Chúa Hòn nói giọng phều phào:
– Cho ta nằm! Con heo tới chưa?
Cô Huôi ra lịnh cho bọn hộ vệ:
– Cõng ông Chúa vô chòi.
Lúc bọn hộ vệ đang làm phận sự, cô lên bờ gọi thằng Thiếu mà nói khẽ:
– Nhớ đâm ổng bằng con dao mà Bá Vạn nói đó. Làm cho mau. Mấy biết hai thằng hộ vệ nầy không?
– Dạ, tụi nó theo phe ông Bá Vạn từ lâu. Nếu tụi nó trở mặt, cô ra lịnh là tôi giết tụi nó.
– Việc đó phải chờ tao ra lịnh. Bây giờ thì bắt đầu. Để trễ nải quá, ổng thấm rượu rồi nằm mê man…
Lục Nhét chắp tay thưa với cô Huôi:
– Thưa cô, đây là cây mác mài thiệt bén để lát nữa ông Chúa đâm con heo độc giác. Tụi tôi lùa nó tới trước chòi, chó săn bao vây tứ phía. Nó không tài nào chạy thoát được.
Đề phòng trường hợp Lục Nhét làm phản, cô nói:
– Chú đâm trước con heo bị thương nặng, cho mất sức rồi hãy lùa tới đây. Mau đi! Tánh ông Chúa khó lắm.
Cô Huôi, hai tên hộ vệ chèo ghe lúc nãy, ông Chúa Hòn và thằng Cẩu ngồi trong chòi, trên cái sàn bện bằng cây tràm con và dây choại. Thằng Cẩu nói liền miệng:
– Chỗ nầy dường như mọi lần tôi vô hớt cá thia thia… Muỗi cắn quá. Phải hồi nãy ba cho tôi theo tụi nó.
Nhưng ông Chúa Hòn không còn tỉnh táo nữa.
– Rượu! Thứ rượu gì mà uống vô…thêm nhức mỏi.
Hai tên hộ vệ cứ ngồi yên, thở phào. Bọn chúng hơi mệt, vì hồi sáng chưa kịp ăn cơm là phải xuống ghe. Cô Huôi hơi lo ngại. Bọn nầy không mang dao nhưng võ nghệ khá giỏi. Cô hỏi thử để biết phản ứng:
– Hai chú muốn rượu không? Rượu tê giác…mạnh lắm.
Rồi cô rót vào một chén nhỏ tự tay trao cho bọn nó. Bọn nó liếc qua liếc lại như hỏi ý kiến. Cô thúc hối:
– Lát nữa, mặc sức mà ăn thịt heo rừng! Uống đi.
Tên hộ vệ thứ nhất đưa chén rượu lên môi uống cạn một hơi vì rượu quá ngon. Tên thứ nhì nói khôi hài:
– Nó uống hết phần của tôi rồi!
Cô Huôi đáp:
– Ta cho chú mầy một chén đầy. Ta cũng chán việc săn bắn nhưng đây là ý muốn của ông Chúa.
Ông Chúa lim dim đôi mắt rồi ngả lưng vào vách, không nói một lời, mặc cô Huôi đề cập tới ông.
Bình thời, ông ưa cười, ưa nói. Thằng Cẩu cầm cây mác, đi tới đi lui. Cô Huôi liếc qua kẽ lá. Nó đứng sau vách để rình chém…một con cắc kè. Con cắc kè đã rút vào bộng cây. Cô nhắc nhở:
– Cậu đừng đi đâu xa. Chó sủa gần lắm rồi đó. Con heo độc giác sắp chaỵ qua đây.
Hai tên hộ vệ như hiểu rằng loại rượu tê giác nọ công phạt quá mạnh. Một đứa phun nước bọt vào vách. Cô Huôi nhìn chòng chọc. Hắn ngồi yên, tay chân ngay ngắn. Bầu không khí như quá yên lặng. Muỗi bay vo vo, một con muỗi to, vàng lườm bay vòng tròn chung quanh đầu Chúa Hòn rồi đáp xuống, đậu ngay mép ông. Trong phút giây, cô Huôi nhìn kỹ gương mặt người chồng bất đắc dĩ. Thật là khó thương, tuổi tác già nua, tuy ăn nhiều món ngon nhưng thân xác gầy guộc như thanh củi. So với cha ruột cô thì lão Chúa Hòn lớn tuổi hơn nhiều. Vài giọt nước dãi nhễu xuống từ bên khoé miệng.
Đột nhiên, thằng Cẩu kêu to:
– Tới rồi kìa!
Chó sủa rộ lên, bốn con chó phèn đang bao vây không cho con heo độc giác chạy thoát. Nhưng con heo độc giác cứ tiến tới, hươi cái nanh đen đúa. Chó nhào vô cắn. Để chống trả lại, con heo độc giác cứ xoay tròn.
Và vô tình, nó đang di chuyển về phía ông Chúa Hòn.
Ông Chúa nằm ngủ say. Dịp may để cô Huôi ra lịnh cho hai tên hộ vệ:
– Mấy chú ra trước chòi mà chận con heo rừng!
Hai tên hộ vệ trố mắt. Quả thật con heo độc giác thuộc vào loại quái đản, to xương, bề dài trên một sải, lông lá vàng lườm như cỏ khô, cái đuôi bị chặt đứt, bốn chân cao nghệu như chân nai, mỏ dài, lởm chởm răng, thoạt nhìn qua ngỡ là mỏ con gấu. Cái nanh duy nhứt to gấp ba loại nanh thông thường, chót nanh có lẽ bị gãy, tuy là ở hai bên mép nhưng khúc còn lại chĩa về phía trước. Nó táp “phập, phập”, nước bọt sủi ra, một bên mắt nhắm lại, bên kia chỉ thấy tròng trắng.
Lục Nhét và thằng Thiếu đầu ở trần, sau lưng còn hai con chó săn khác.
Thằng Thiếu kêu lên như làm dấu hiệu với cô Huôi:
– Nó dữ lắm. Chưa được đâu!
Ông Chúa Hòn mở mắt, quát to:
– Cái gì? Cho ta đâm nó! Con cọp hả?
Lục Nhét rút bên lưng, đem ra một cái còi nhỏ. Anh ta thổi lên bốn tiếng:
– Te! te! te! te!
Tức thời bốn con chó săn nhào vô, cắn vào bốn cái đùi con heo độc giác, như có sự phân công từ trước.
Con heo độc giác cứ chịu đau, không chống trả, hai chân sau cứ dậm, cứ bươi dưới đất bùn. Thằng Cẩu hỏi:
– Nó làm cái gì vậy! Bộ heo nầy mắc đẻ hả?
Nhưng Lục Nhét và nhứt là thằng Thiếu đâu rảnh trí để trả lời câu hỏi vô duyên đó. Ông Chúa mở mắt, bên mép vẫn còn chảy nước bọt:
– À! Con heo độc giác. Nó lớn như con bò mà tụi bây dẫn tới đây được. Ta khen cho tụi bây.
Cô Huôi nói khích:
– Bởi vì ông là người “khí tượng đế vương” nên bọn thằng Thiếu và Lục Nhét đưa con heo tới chờ ông giết…
Và để thúc hối, cô nói tiếp, hướng về bọn thợ săn:
– Xong chưa?
Lục Nhét la hoảng:
– Coi chừng! Dực một, Dực hai, Dực ba, Dực tư!
Dực theo chữ nho là cánh chim. Mỗi con chó săn mang một tên riêng, tùy theo sự phân công. Dực một, Dực hai là hai con chó lãnh trách nhiệm tấn công hai chân trước của con heo rừng, chân bên mặt và bên trái…Dực ba, Dực tư lo tấn công hai chân sau. Mỗi con chó được so sánh với một cánh quân.
Bốn con chó săn nhào vô. Con heo độc giác “khịt” một tiếng. Lần nầy, nó chiếm vị trí thuận lợi, phía sau mông được che chở nhờ bùn đất.
Nó choi thẳng hai chân trước, thoạt trông qua, thấy giống như con cọp đang ngồi.
Con chó săn nhào vô cắn chân phải con heo độc giác. Nhanh như chớp, con heo quơ nanh đánh trả lại. Nhưng con chó Dực của Lục Nhét nào phải là loại tầm thường: Để khỏi bị đổ ruột, nó nhảy mạnh lên trên không. Ai nấy trố mắt, nín thở. Quả thật con chó Dực nầy khoẻ mạnh, xứng danh là con chó nòi. Nó nhảy lên, cao hơn ngọn sạp.
Con heo khịt một tiếng, đưa nanh lên. Lục Nhét kêu rú:
– Chết con chó của tôi rồi!
Khi con chó vừa rớt xuống, con heo độc giác đưa cái nanh đen thui mà hứng rồi đánh thật mạnh.
Con chó mực bị lủng ruột, ngả lăn ra, máu me lênh láng, miệng sủa vài tiếng khàn khàn như trăn trối.
Thằng Thiếu liếc về phía cô Huôi, hai tên hộ vệ của ông Chúa trố mắt nhìn. Giờ phút nầy, hai tên hộ vệ nọ là chướng ngại độc nhứt. Thằng Thiếu hơi bực dọc, thấy rằng kế hoạch mà Bá Vạn vạch ra còn thiếu sót, chưa đề cập tới hai tên hộ vệ nầy. Cô Huôi như hiểu ý thằng Thiếu nên ra lịnh:
– Hai chú tiếp tay với bọn thợ săn. Đứng đây mà làm gì?
Một tên hộ vệ nói:
– Tụi tôi chưa rành việc săn bắn.
Ông Chúa Hòn hỏi như vừa tỉnh giấc:
– Thằng nào cãi cọ điều gì đó?
Cô Huôi nói nhanh:
– Dạ thưa ông, hai chú hộ vệ nầy phải ra ngoài kia lùa con heo cho bằng được, kẻo thiên hạ nói rằng ông Chúa nuôi bọn hộ vệ bất tài.
– Ừ! Tụi bây lùa con heo lại trước mặt tao!
Lúc hai tên hộ vệ còn lưỡng lự, cô Huôi nói khẽ:
– Hai chú cứ lại gần con heo để giữ thể diện cho tôi. Chết chóc gì mà sợ! Tụi nó đi trước, hai chú cứ chạy sau.
Hai tên hộ vệ đến gần vũng bùn, mỗi đứa mang một cây dao nhỏ. Việc ấy hơi chạm tự ái Lục Nhét. Ông ta bàn với thằng Thiếu:
– Con heo còn hăng sức! Cho nó chạy thêm vài vòng nữa thì mới đuối sức. Hai thằng hộ vệ nầy làm phách, phen nầy, tụi nó chạy le lưỡi như chó!
Lập tức, ông ta thổi còi. Ba con chó rút lui ra xa. Thằng Thiếu nói, như để báo cáo với cô Huôi:
– Xin ông Chúa chờ lát nữa. Giết được con chó Dực, con heo thêm hăng sức.
Cô Huôi nói khéo:
– Hai chú hộ vệ chưa quen đường đi nước bước, nếu đi chậm thì chú nên chờ…phía sau.
Thằng Thiếu hiểu ngầm rằng đó là lịnh của cô Huôi dạy nên giết bọn hộ vệ. Chó vẫn sủa nhưng chẳng con nào dám lại gần con heo độc giác vì xác con chó nọ hãy còn nằm đó. Thằng Thiếu hươi ngọn lao đâm vào lưng con heo. Con heo day lại rồi phóng tới. Thằng Thiếu né kịp. Trong chòi, thằng Cẩu xám mặt ngồi nép vào ông Chúa:
Con heo đứng một chỗ, day qua day lại rồi dậm hai chân sau. Thằng Thiếu nói với Lục Nhét:
– Cho nó chạy, chẳng lẽ mình chờ mấy con chó Dực cắn nó. Nó làm thịt hết bầy chó của mình bây giờ.
Lục Nhét chưa trả lời thì thằng Thiếu đứng nép một bên, cố ý mở lối thoát cho con heo. Nó chạy vào bụi rậm. Bầy chó và bọn người theo sau. Nó chui ra khỏi bụi rậm, núp vào gốc cây tràm con. Cây tràm ngã xuống, nhánh tràm cản trước mặt. Nghe chó sủa vang dậy, nó biết rằng khó bề thối lui nên hả miệng táp nhánh tràm mà nhai răng rắc. Nhánh tràm bị gãy nát, nó chạy tới. Trước mặt nó là vũng đất thấp, cỏ mọc lưa thưa.
Hai tên hộ vệ kêu la ỏm tỏi:
– Chờ tôi với! Anh em chạy lẹ quá, tôi theo không kịp.
Lục Nhét nói với thằng Thiếu:
– Anh đứng lại, chờ bọn đó. Rủi con heo chạy vuột thì tôi biết ăn nói như thế nào với ông Bá Vạn?
Thằng Thiếu đứng chờ. Hai tên hộ vệ thở hổn hển, một đứa hỏi phều phào:
– Sao chưa đâm con heo?
Thằng Thiếu đáp:
– Để cho ông Chúa đâm nó. Tụi tôi có phận sự là làm cho nó mệt mỏi, vậy thôi.
– Nhưng chẳng lẽ rượt suốt ngày như vầy?
Thằng Thiếu quan sát địa thế. Lục Nhét và bầy chó đang bám sát con heo, mất dạng đàng xa. Thời cơ đã tới cho thằng Thiếu hành động. Nó cầm ngọn lao trong tay, đó là cây lao cán dài, lưỡi thép bén nhọn, cong lên như cổ con phụng hoàng với cái mồng bên trên. Hai tên hộ vệ nhìn ngọn lao trong khi thằng Thiếu nói:
– Mình cứ ngồi nghỉ tại đây. Thằng Lục Nhét rượt đúng một vòng thì trở lại.
Hai tên hộ vệ mừng ra mặt, cất hai ngọn dao vào bên sườn rồi ngồi xuống. Thằng Thiếu nói:
– Hai chú lại đằng kia mà ngồi, cao ráo hơn!
Khi bọn chúng vừa đứng dậy, thằng Thiếu nắm chắc cán lao, đâm mạnh từ phía sau lưng đâm tới. Tên hộ vệ thứ nhứt còn đủ sức la:
– Trời! Giết nó!
Hắn té xuống, úp mặt vào vũng bùn. Tên hộ vệ thứ nhì hươi ngọn đoản đao, đâm vào ngực thằng Thiếu. Chỉ còn cách là té lăn xuống bùn để tránh né vì tay thằng Thiếu chẳng còn thứ khí giới nào cả. Nó lăn tròn một vòng rồi với tay chụp ngọn dao mà tên hộ vệ thứ nhứt còn giữ bên sườn. Tên hộ vệ thứ nhì quát to:
– Mầy muốn gì?
Thằng Thiếu vụt đứng dậy rồi co chân đá thốc vào hông tên hộ vệ. Hắn lách qua một bên rồi co chân chạy lủi vào đám sậy gần đó. Bây giờ thằng Thiếu mới đổ mồ hôi, lo ngại vô cùng. Tên hộ vệ nầy nhứt định sẽ chạy về Hòn Chông, báo cáo đầu đuôi sự việc với cậu Hai Điền. Do đó tánh mạng của Bá Vạn khó được bảo đảm. Thằng Thiếu toan chạy theo tên hộ vệ nọ để giết cho bằng được nhưng đã trễ rồi. Chó sủa vang phía sau lưng. Lục Nhét lên tiếng:
– Tụi bây đâu rồi? Tiếp tao!
Nghĩ rằng Lục Nhét là người không đáng tin cậy cho lắm, thằng Thiếu bèn trả lời:
– Đây nè! Tôi trở lại.
Anh ta cố sức rút ngọn lao ra khỏi lưng tên hộ vệ, chùi cho sạch máu. Lục Nhét lại cằn nhằn:
– Lại đây “chịu” với tao!
Thằng Thiếu chạy đến trước căn chòi, nơi cô Huôi và ông chúa Hòn đang chờ đợi. Quả thật, giờ phút quyết định đã đến. Thằng Cẩu chạy lăng xăng, dòm tới rồi quay mặt. Ba con chó đang bao vậy con heo độc giác. Thằng Thiếu chạy tới:
– Để tôi!
Lục Nhét hỏi:
– Hai người kia đâu rồi?
Thằng Thiếu đáp:
– Tụi nó than mệt, chạy lẹ thì bị gai đâm. Chắc là tụi nó kiếm chỗ nào mà ngủ.
Cô Huôi mừng thầm vì hai tên hộ vệ nọ đã mất dạng. Cô tin rằng thằng Thiếu đã làm xong công việc thanh toán. Chỉ còn lại Lục Nhét mà thôi. Cô nói:
– Tụi bây làm chậm trễ công việc. Ông Chúa…buồn ngủ rồi. Ai chờ đợi tụi bây được?
Thằng Thiếu hiểu rằng đó là lịnh cô Huôi thúc giục nó ra tay. Nó phóng ngọn lao vào sườn con heo độc giác. Con heo nhảy dựng, chạy thẳng tới. Với kỹ thuật tinh vi, thằng Thiếu giựt mạnh cán cây lao cho cán và lưỡi sút ra.
Con heo mang lưỡi lao nơi sườn, chạy lủi vào bụi cây tràm khá to nhưng được vài chục bước là đứng lại vì cán lao dính vào lưỡi, bị lôi kéo phía sau. Cán lao nằm ngang, vướng vào hai gốc cây tràm.
Lục Nhét đến trước mặt con heo độc giác, hươi ngọn mác. Con heo táp lưỡi mác, nhả ra rồi táp lần thứ nhì. Khi rút ngọn mác ra, Lục Nhét tập trung sức lực, cắm vào hông con heo. Rồi ông ta ngả tới trước, dùng sức nặng của thân người mà đè xuống.
Con heo đã bị gài tại chỗ với ngọn lao cổ phụng của thằng Thiếu và ngọn mác của Lục Nhét.
Cô Huôi hỏi:
– Rồi chưa?
Thằng Thiếu đáp:
– Xin mời ông Chúa…
Ông Chúa Hòn lắc đầu:
– Tao mệt quá. Ai đỡ thì tao đứng dậy mới được. Thằng Cẩu đâu?
Thằng Cẩu lại gần, ông Chúa vịn lên vai nó. Nó tò mò muốn lại gần con heo nên bước nhanh. Cô Huôi cầm cây mác trao cho ông Chúa.
Con heo cứ hả miệng mà thở, máu tuôn xối xả, thỉnh thoảng nó nghiêng mình qua một bên khiến Lục Nhét lảo đảo. Thằng Cẩu nói:
– Ba đâm nó đi!
Ông Chúa Hòn cầm cây mác, hai tay run run. Thằng Thiếu rờ bên hông, đem cây dao đặc biệt ra. Đó là kiểu dao ngắn với cái lưỡi làm bằng một khúc nanh heo rừng. Ông Chúa Hòn hỏi:
– Đâm chỗ nào cho nó chết tốt?
Vì quá mệt nên Lục Nhét lên tiếng:
– Dạ, ngay cổ nó. Hoặc là trên ngực.
– Làm sao đâm được?
Lục Nhét nghiêng mình, ghì ngọn mác qua bên trái cho con heo cử động. Thằng Cẩu nói:
– Chỗ đó, ba cứ đâm!
Ông Chúa Hòn phóng ngọn mác tới trước. Con heo day mỏ lại khi chịu đựng vết thương thứ ba.
Nhanh như chớp, thằng Thiếu hất chân ông Chúa Hòn rồi đưa lưỡi dao ngắn mà đâm vào đùi ông. Ông kêu lên:
– Chết tao!
Lục Nhét hốt hoảng, hai tay buông lỏng. Con heo độc giác quay lại, đánh cái nanh vào cây mác, toé lửa. Ông Chúa Hòn ngã xuống. Lục Nhét đứng chết trân trong khi bầy chó sủa vang rân. Con heo cố sức chạy để khỏi bị chó cắn. Mũi lao sút ra.
Cô Huôi, thằng Cẩu đều quì xuống, đỡ ông Chúa Hòn lên. Ông Chúa từ từ nhắm mắt, hai chân duỗi ra thật mạnh. Lúc thằng Cẩu bối rối, cô Huôi nói:
– Con lấy cái khánh ngọc của ông Chúa mà đeo!
Cô Huôi tháo khánh ra, cái khánh mầu xanh đậm mà ông Chúa tưng tiu, đeo mãi trong mình. Thằng Cẩu nhận lấy, ngỏ lời cám ơn.
Lục Nhét day mặt một bên, đưa tay vuốt mấy giọt mồ hôi trán. Cô Huôi lên tiếng:
– Chú mầy tệ quá, biết hối hận thì ta tha cho. Chờ gì nữa?
Thằng Thiếu và Lục Nhét khiêng xác ông Chúa xuống chiếc ghe hầu. Chiếc ghe di chuyển chậm chạp ra khỏi Lung. Cô Huôi cứ im lặng và sự im lặng ấy khiến Lục Nhét lo sợ. Lúc nãy, ông ta hốt hoảng nên không hiểu ông Chúa bị thương trong trường hợp nào.
Riêng về thằng Thiếu thì tâm trạng quá bối rối. Nó nhớ đến tên hộ vệ còn sống sót. Nhứt định tên ấy sẽ trốn về Hòn Chông để tố giác âm mưu nầy với cậu Hai Điền
Thằng Thừa thức suốt đêm không ngủ được. Theo lịnh Bá Vạn, nó lãnh trách nhiệm theo dõi những ghe xuống từ phía núi Còm tới Hòn Chông. Dưới tay nó, còn hơn hai chục tên hộ vệ. Đa số bọn nầy đều theo Bá Vạn và bà chánh thất. Hôm qua, Bá Vạn thết tiệc, đãi đằng cả bọn hộ vệ. Cậu Hai Điền thì qua Hòn Đất để theo dõi ông đạo Đất.
Ghe xuống từ phía núi Còm và Lung Tràm đến dường như thưa thớt hơn mọi ngày. Thằng Thừa đã hiểu lý do. Những người đi đường đã truyền tin cho nhau. Họ muốn tránh sự kiểm soát vì nói chung bọn hộ vệ của ông Chúa Hòn rất hách dịch, thích chọc ghẹo gái tơ hoặc xin dừa, chuối.
Anh ta ngồi dưới bến, trong ngôi nhà mát. “Nhà mát” là tiếng gọi nôm na để chỉ kiểu nhà thủy tạ mà ông Chúa cho xây cất ở bên sông, nhà hình lục giác, lợp ngói men xanh, mua từ Triều Châu bên Trung Hoa.
Anh ta rót rượu uống rồi dựa lưng vào cột mà ngủ. Bỗng đâu có tiếng gọi:
– Ngủ hoài vậy! Nghe chuyện gì lạ không?
Đó là Bá Vạn tới thăm. Anh ta trả lời:
– Từ sáng tới giờ, bọn hộ vệ lục soát ở đằng kia. Nếu gặp chuyện lạ thì bọn nó cho tôi biết lập tức!
Bá Vạn nhìn ra xa. Đằng kia, bọn hộ vệ ngồi dụm bên gốc cây, múa men tay chân. Một đứa nâng bầu rượu lên rồi đứng thẳng người mà uống. Cả bọn vỗ tay, đứa nọ uống cạn bầu rồi vung tay, ném mạnh. Cái bầu chìm lỉm, mặt nước gợn sóng…
Bá Vạn cằn nhằn:
– Bữa nay phải có tin tức ở Lung Tràm. Lẽ nào…
Thằng Thừa cau mày vì hai ngày qua, thái độ của Bá Vạn quá úp mở. Ông ra vào nhà bà chánh thất bất chấp dư luận. Bọn hộ vệ tung ra dư luận cho rằng Bá Vạn không nịnh bợ cô Huôi và ông Chúa Hòn như trước, có lẽ Bá Vạn thấy ông Chúa già nua, sắp cỡi hạc qui tiên nên lo xa. Ai nấy cho rằng Bá Vạn thiếu khí phách, quên mối hận ngày nào do cậu Hai Điền gây ra.
Thằng Thừa cau mày, nhớ đến đứa em là thằng Thiếu đứng lãnh trách nhiệm quá nguy hiểm ở Lung Tràm.
– Thưa ông, tôi không hiểu rõ, cứ ngồi chờ. Riết rồi muốn sanh bịnh. Vái trời cho đâu đó xong xuôi, tôi về vườn lo cày sâu cuốc bẫm để nuôi mẹ già.
Bá Vạn nói gắt:
– Đừng nói bậy bạ. Đêm rồi, tao nằm chiêm bao thấy nhiều chuyện lạ. Khi thức dậy quên ráo trọi. Tao nhớ thằng Thiếu quá chừng. Hổm rày, tao giả dại qua ải. Mầy đừng hiểu lầm.
Thằng Thừa ngước lên. Gương mặt Bá Vạn khá nghiêm nghị. Bá Vạn nói tiếp:
– Hai đêm rồi, ta không ngủ. Thằng Hai Điền qua Hòn Đất để tìm ông đạo Đất, nhờ xem một quẻ. Bữa nay nó vắng nhà…
Thằng Thừa không kịp trả lời vì bọn hộ vệ đằng kia chợt la lên bài hãi:
– A Mách!
A Mách là một trong hai đứa hộ vệ trung thành nhứt của ông Chúa. Đúng là A Mách đang về phía Bá Vạn và thằng Thừa. Bá Vạn hơi run giọng:
– Chắc là …xong rồi! Nhưng thằng Thiếu để thằng Mách chạy thoát về đây. Coi chừng nó nói bậy bạ.
Khi đến gần nhà mát, A Mách vuốt mồ hôi trán. Bá Vạn đưa tay ngoắc:
– Lại đây! Trên nhà không có ai đâu.
– Chuyện động trời! Ông ơi! Phải làm sao…bây giờ?
– Mầy cứ nói.
– Thằng Thiếu giết thằng bạn của tôi rồi toan giết tôi. Tôi chạy thoát về đây.
Rồi A Mách chỉ tay vào mặt thằng Thừa:
– Thằng nầy xài không được, đồ sớm đầu tối đánh. Ông bắt nó.
Bá Vạn nói to:
– Ngoài ra, còn chuyện gì nữa không?
A Mách đáp:
– Tui nghe đâu ở núi Còm nói rằng ông Chúa…mất rồi. Bị heo rừng đánh ngay đùi. Cô Huôi đang làm đám ma.
Bá Vạn lườm thằng Mách:
– Đừng nói giỡn. Mầy có tới đó hay không?
– Dạ, làm sao tôi dám tới đó. Thôi! Tôi sợ rồi. Chuyện nầy hệ trọng lắm, tôi phải cho bà chánh thất và cậu Hai biết.
Nói xong, A Mách chạy thẳng vào cổng. Thằng Thừa hỏi:
– Ông tính sao?
– Đáng lý thì mình phải giết thằng Mách. Nhưng nên để nó sống vài ngày. Mầy cứ bình tĩnh ở đây, tao lên nhà để….lèo lái bà chánh thất. Đừng lo. Nhiều khi bà ta thích nghe cái tin hung dữ nầy. Tao nói là bả nghe.
– Nhưng còn cậu Hai Điền?
Bá Vạn đáp:
– Thằng con nít đó quá nóng nảy. Tao trừng trị nó dễ dàng. Nó hất tô thịt kho lên đầu tao, cái áo đó tao còn để, chưa giặt sạch mà! Cứ ngồi đây.
Nói xong, Bá Vạn bước ra khỏi nhà mát. Ông ta vào sân. Thằng Mách vẫn còn đứng lóng nhóng vì chưa ai mở cửa. Nó gào lên:
– Bà! Ông Chúa mất rồi!
Cánh cửa hé mở. Bà chánh thất trố mắt, chưa tin lời nên hỏi kỹ:
– Mầy nói sao? Trời ơi! Ông mất rồi, tôi sống với ai…
– Dạ, khó nói quá!
Mách liếc về phía Bá Vạn. Bá Vạn bèn giả đi xa nơi khác, kỳ thật là ông ta qua phòng bên cạnh để nghe ngóng. Thằng Mách và bà chánh thất nói chuyện quá nhỏ, Bá Vạn không nghe rõ được. Bá Vạn tức mình, nhìn qua kẽ vách ván. Thằng Mách đang sờ vào túi, đem ra lá thơ nhỏ.
Bà chánh thất hỏi:
– Cái gì vậy? Gởi cho ai? Ai đưa cho mầy?
Thằng Mách đáp:
– Dạ, dọc đường tôi gặp cậu Cẩu. Cậu chận đường, bắt buộc tôi đem lá thơ nầy.
– À! Cái thằng Cẩu, hèn gì mẹ nó là con Ngó trốn mất dạng. Tại sao mầy không giết thằng Cẩu? Cái gì trong nầy, tao không biết chữ, làm sao đọc được?
Rồi bà đổi giọng:
– Ông Bá Vạn ơi! Đọc giùm.
Bá Vạn ra ngoài rồi lên tiếng:
– Dạ, tôi đây.
Bà chánh thất nói nhanh:
– Ông vô đây đọc giùm. Thật là chuyện ngạo ngược, làm sao tha thứ bọn đó được. Tôi hiểu rồi, con Huôi bày ra chuyện sát nhơn nầy. Tôi kêu thằng Điền về, tới núi Còm để xé xác con nhỏ Huôi.
Bá Vạn liếc về phía thằng Mách. Nó cúi mặt xuống, hai tay đưa ra như toan giựt lá thơ. Nó đoán chắc rằng thằng Thiếu là tay sai trung thành của Bá Vạn, người bày mưu kế thâm độc chính là Bá Vạn chớ nào phải cô Huôi và thằng Cẩu. Bà chánh thất đưa lá thơ tới:
– Ông đọc thử. Tôi nóng nghe thơ. Rồi còn lo tống táng cho ông Chúa. Thằng Điền phải đi Lung Tràm để chịu tang cha nó. Thằng Cẩu là cái gì chớ?
Bá Vạn tỏ ra do dự. Nếu thằng Mách gặp cậu Hai Điền thì cơ mưu bất thành, ông sẽ bị cậu Hai bắt giữ. Bởi vậy ông lườm thằng Mách:
– Mầy làm gì vậy? Tại sao mấy nhìn tao lấm lét? Nếu là đứa ngay thẳng thì không có gì giấu diếm cả. Tại sao mầy không ở lại coi cho biết ông Chúa đã chết vì săn heo rừng hay vì lý do khác?
Vì quá tin và quá yêu Bá Vạn, bà Chúa bèn mắng thằng Mách:
– Mầy ra ngoài. Hồi nào, ông Chúa nuôi mầy mập xác. Gặp lúc hoạn nạn thì mầy chạy trốn.
A Mách lầm lũi bước ra. Đề phòng nó chạy qua Hòn Đất để cấu kết với cậu Hai Điền, Bá Vạn nói khẽ với bà chánh thất:
– Đừng cho nó ra ngoài. Coi chừng nó chạy trốn.
Bà chánh thất mở cửa tìm bọn hộ vệ để sai cầm giữ thằng Mách trong khi Bá Vạn đọc thơ. Đại ý, thằng Cẩu nhắn với bà chánh thất rằng trước khi nhắm mắt, ông Chúa có lời trăn trối giao cho nó kế vị thay vì giao cho cậu Hai Điền. Thằng Cẩu ghi chú thêm rằng tang lễ ông Chúa Hòn được cử hành tại núi Mo So. Nó mời bà chánh thất và cậu Hai Điền tới đó…
Khi trở vô, bà chánh thất thở dài mà nghe Bá Vạn thuật lại nội dung lá thơ. Bà ôm ghì lấy Bá Vạn:
– Ông đừng quên tôi. Hèn gì mấy bữa nầy tôi ăn cơm không được, con mắt cứ giựt lia lịa. Theo ý ông thì tôi nên làm cách nào? Thằng Hai Điền còn nhỏ, nếu ông không giúp tôi, ở bên cạnh tôi thì chắc là tài sản nầy không còn. Ai chủ mưu việc nầy? Con Huôi, thằng Cẩu, hay là Mười Hấu, con Ngó?
Bá Vạn mừng thầm vì công việc đã thành tựu. Tuy cậu Hai Điền là đứa võ phu ngang ngược nhưng ít ra cậu cũng phải nể nang người mẹ ruột, Bá Vạn đủ uy thế để điều khiển bà chánh thất, trong những ngày sắp tới. Ông ta đóng kịch khá khéo léo:
– Bà tin cậy tôi thì tôi mừng, nhưng việc nầy quan trọng, không nên nóng nảy.
Bà chánh thất đáp:
– Để trễ thì tụi nó qui tụ bè lũ lâu la, kéo tới Hòn Chông để giết mẹ con tôi!
Bá Vạn nói:
– Nếu bà chết thì mạng tôi cũng không còn. Hiện giờ, bà có nhiều kẻ thù: cô Huôi, Mười Hấu và thằng Cẩu. Phải giết bọn nó, giết từng đứa như bẻ đũa vậy.
Lập luận ấy khiến bà chánh thất sáng mắt:
– Giết con Huôi trước! Đũa mà bó lại khó bẻ gãy, mình bẻ từng chiếc một.
Bá Vạn cau mày:
– Nếu giết con Huôi thì bà mang tiếng là tiểu nhân. Thủng thỉnh rồi hãy giết. Người ta nói bà giết vì ghen.
– Vậy ông muốn giết ai?
– Giết thằng Cẩu, vì nó đòi làm ông Chúa con.
– Phải lắm. Giết thật gấp. Tôi nhắn thằng Hai Điền trở về. Nhưng làm sao tôi dám đi dọc đường! Ông đi giùm tôi, kêu nó về. Bọn thằng Cẩu nhiều hay ít vậy ông?
Bá Vạn đáp:
– Nhiều hay ít, điều đó không quan trọng. Ít mà làm được việc tày trời, nhiều mà lắm khi làm không xong chuyện nào cả.
– Sao vậy?
– Đời bây giờ, mọi việc đều do bọn dọ thám. Phải nhốt thằng Mách, chờ cậu Hai về quyết định.
Lập tức, bà chánh thất chấp nhận ý kiến ấy. Để được yên tâm, Bá Vạn theo sát cạnh. Nãy giờ, thằng Mách bị bọn hộ vệ cầm giữ, nó ngồi cú rũ trong góc nhà.
Bà chánh thất nói:
– Nhốt nó sau hè!
Mách chắp tay xá, đoán chừng rằng đó là cơ mưu của Bá Vạn để giết anh ta. Nhưng van nài bằng cách nào bây giờ! Nếu lỡ lời thì Bá Vạn sẽ giết anh ta lập tức, qua bàn tay bà chánh thất. Trong lúc bối rối, anh ta hối hận vô cùng, vì trước đó không lâu, anh ta nghi ngờ Bá Vạn chủ mưu việc ám sát.
Bá Vạn cười hề hề:
– Mầy nhỏ mà phách lối. Hồi nãy mầy muốn ăn thịt tao! Mầy làm…khổ nhục kế, phải không? Thằng Cẩu biểu mầy đem thơ tới đây để dọ thám.
– Tức chết đi! Thưa bà….
Rồi anh ta quì lạy bà chánh thất. Bá Vạn nói:
– Bà con thấy chưa? Nó không nhìn mặt tôi.
Để làm đẹp lòng Bá Vạn, bà chánh thất quát to:
– Mai chiều, mầy lạy cậu Hai Điền! Ra ngoài cho mau.
Bá Vạn bèn từ giã bà chánh thất:
– Lát nữa, tôi đi Hòn Đất kiếm cậu Hai.
– Còn lá thơ?
– Bà cứ giữ, mang theo trong mình, rủi gặp bất trắc thì sao!
Trong khi bà chánh thất vào phòng, Bá Vạn ra sân, đưa tay ngoắt thằng Thừa.
Như hiểu ý, thằng Thừa chạy nhanh tới:
– Thưa ông?
– Lát nữa, tao đi Hòn Đất kiếm cậu Hai báo tin. Mầy ở lại coi chừng thằng Mách.
Rồi Bá Vạn nói rỉ vào tai thằng Thừa:
– Sáng mai tao mới về. Giao cho người khác là hư việc. Mầy nên tìm cách nào…
Thừa gật đầu khi nghe rõ kế hoạch của Bá Vạn. Anh ta theo sau thằng Mách. Bá Vạn bèn nói với bọn hộ vệ:
– Mấy chú nên canh phòng cẩn thận, bắt giữ bất cứ người quen kẻ lạ từ phía núi Còm, núi Mo So tới. Thằng Thừa đứng ở nhà mát làm gì? Mầy nên san sẻ cực nhọc với anh em. Coi chừng thằng Mách. Hễ nó chạy trốn thì tao giết mầy.
Năm 1954, năm Hiệp Định Geneva chia cắt đắt nước, tôi được gần 17 tuổi. Trong thời gian hội nghị đang bàn cãi sẽ dùng vĩ tuyến nào để phân ranh hai miền Nam Bắc, tôi chỉ mong đất nước sẽ cắt ngang vĩ tuyến 19 ở Đà Nẵng, để mình có thể di cư vào Nam, tránh một đời sống bình lặng, nhàm chán của một tỉnh nhỏ. Trong trí óc non nớt ngày đó, tôi đâu biết bỏ quê hương ra đi là một điều đau xót nhất của đời người.
Nhiều năm sau ngày chia cắt đất nước, là một công chức tại tỉnh địa đầu giới tuyến, tôi đã có dịp tháp tùng nhiều phái đoàn đồng bào di cư từ miền Nam ra thăm sông Bến Hải. Đứng phía bên này sông, nhìn lá cờ đỏ bay bên kia cầu Hiền Lương, tôi mục kích cảnh nhiều người khóc nức nở, khi nhìn về quê hương mịt mờ ở một vùng đất nào xa xôi khuất bóng bên kia. Quê hương đó nhưng còn đường về đã tắc nghẽn. Những bài hát của một thời chia cắt đất nước như “Chuyến Đò Vĩ Tuyến,” “Nắng Đẹp Miền Nam,” “Hình Ảnh Quê Xưa,” “Về Đây Anh,” đã làm rung động lòng người tha hương và làm chảy bao dòng nước mắt thương nhớ.
Nhưng một bài hát mang ấn tượng về Hà Nội nhất trong lòng tôi là bài “Hướng Về Hà Nội” của Hoàng Dương, một ca khúc viết sau ngày 20 Tháng Bảy, 1954, sau khi nhiều triệu đồng bào miền Bắc bỏ quê hương, làng mạc, mồ mả cha ông di cư vào Nam. Nội dung bài hát mang tâm trạng của một người đã xa Hà Nội:
“…Hà Nội ơi, hướng về thành phố xa xôi
Ánh đèn giăng mắc muôn nơi, biết đâu ngày ấy anh về!
Hà Nội ơi, mắt huyền ngây ngất đê mê
Tóc thề thả gió lê thê, hãy tin ngày ấy anh về.”
Người ra đi, bỏ quê hương trong một niềm tuyệt vọng, gần như người nhạc sĩ không tin đến một ngày về, nói đến “hãy tin” là lòng chưa dám tin, nói đến “biết đâu” là một sự hoài nghi không chắc chắn. “Hướng Về Hà Nội” ngày ấy đã làm thổn thức bao nhiêu con tim không chỉ riêng cho người Hà Nội mà còn cho tất cả những người ngoài vĩ tuyến di cư vào Nam sau ngày chia cắt.
Sau đó, người ta không ai nghe nói đến Hoàng Dương nữa, có người nói, ông là người ở lại Hà Nội. Dù không ra đi, Hoàng Dương đã cảm nhận nỗi đau sẽ mất Hà Nội và gửi những nỗi thương nhớ về “Hà Nội một ngày tháng cũ” theo những người di cư vào Nam. Nhạc của Hoàng Dương được phổ biến ở bên này con sông Bến Hải cho những người thương tiếc Hà Nội, và dù sau này, 20 năm sau, bài hát được trình diễn lại, người ta cũng biết đó là một Hà Nội trong trí nhớ, một Hà Nội đã mất, không phải là Hà Nội của hôm nay.
Ông để lại cho đời một nỗi nhớ thương Hà Nội, mà dù không phải là một người Hà Nội bỏ thành phố này ra đi, chính lòng tôi cũng mang một nỗi buồn se sắt như một người nhớ Hà Nội, như nhớ một người tình mà mình chưa hề biết mặt.
Hà Nội trong trí tưởng của tôi được hình dung qua những tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn mà thời niên thiếu tôi đã say mê. Từ Thạch Lam, Nhất Linh, Khái Hưng cho tới Hoàng Đạo, tôi đã sống bằng trí tưởng tượng về những con đường, những khu phố của Hà Nội 36 phố phường, những con đường thanh lịch mang tên Hàng Đào, Hàng Ngang, những con đường gọi là Cổ Ngư, những chiếc hồ gọi là Trúc Bạch, Hoàn Kiếm, hồ Tây, có vườn Bách Thảo, chùa Trấn Quốc, sông Nhị Hà… Nơi đó có những con đường cây bàng lá đỏ, có liễu rũ ven hồ…
Và sau này, với Hoàng Anh Tuấn, những buổi chiều thu, hình ảnh những cô gái dịu dàng xinh đẹp và quý phái của “Hà Nội yêu, áo lụa ngà óng ả, thoáng khăn san nũng nịu với heo may!”
Lần đầu tiên tôi được trông thấy Hà Nội trong mộng tưởng là Hà Nội của năm 1982, khi chúng tôi những người tù đang ở trên chuyến xe, qua cầu Long Biên trở về Nam, để cảm nhận “Năm cửa ô sầu hắt hiu trong ngục tù” mà tôi đã hình dung qua “Mưa Sài Gòn-Mưa Hà Nội” của ngày nào!
Hà Nội trong trí nhớ của những người đi xa, không còn là Hà Nội của bây giờ. Hà Nội đã thay đổi. Không còn người, còn cảnh, còn tiếng nói. Nhiều người đã mất hẳn Hà Nội vì không bao giờ còn muốn trở về. Cũng như tôi đã mất Huế của tôi để chỉ còn gọi hai tiếng xót xa, thương tiếc: “Huế ơi!” hay như đối với nhiều người, Sài Gòn đã là vĩnh biệt! Nha Trang còn có chăng một “ngày về” và Đà Lạt bây giờ “chỉ đẹp như chuyện ngày xưa!”
Những thành phố của tuổi trẻ, những thành phố của tình yêu, những thành phố của kỷ niệm và hình ảnh của thành phố trong thời thơ ấu chính là quê hương mà chúng ta đã mang theo suốt cuộc đời. Do vậy, đối với Hà Nội, có thể là một giọng hát quan họ, đối với Huế, đôi khi là một điệu hò mái nhì, đối với Sài Gòn thường là một câu vọng cổ, trong khoảnh khắc nào đó khơi dậy nỗi nhớ quê hương. Tuổi trẻ hăm hở bước đến tương lai, trong khi người già tần ngần thương tiếc, nhớ lại quá khứ, do đó, một giọt đàn bầu, một vần điệu dân ca một buổi chiều nào bỗng dưng đem lại trong lòng chúng ta những cảm xúc đến đau đớn của một người đã mất quê hương.
Nhiều người đã về lại Hà Nội nhưng Hà Nội khác xa với những ngày tháng cũ, đã trở lại Huế nhưng Huế đã đổi khác, đã tìm lại Sài Gòn nhưng Sài Gòn hôm nay không còn là Sài Gòn của hôm qua! Đành rằng quê hương “chỉ một” nhưng chúng ta đã lầm lỡ đánh mất quê hương rồi!
Giờ đây, quê hương là tiếng mời mọc réo gọi những đứa con đi xa. Một buổi chiều nào, nghe như tiếng còi tàu từ xa vẳng lại. Một đêm trăng từ tiềm thức vọng một tiếng ru hời. Những bước chân tưởng chừng như đi qua bao nhiêu cánh đồng, rặng núi, con sông. Thương cho ai vẫn canh cánh bên lòng nỗi nhớ quê hương, nhưng nếu trở về, đứa con ngày xưa chỉ là một người khách lạ lạc loài, ở với quê hương mà nhớ quê hương.
Tôi biết nhiều người bạn già đã bỏ Hà Nội gần 60 năm về trước, lại phải bỏ Sài Gòn 20 năm về sau, chưa một lần về lại chốn xưa. Nhưng dù bây giờ đã là cuối đường, cũng xin đừng tắt niềm hy vọng, không phải là “biết đâu,” mà “hãy tin ngày ấy anh về!” Chỉ tiếc rằng khó lòng xây dựng lại một Hà Nội của những ngày tháng cũ, niềm tin này xin hãy trao lại cho con cháu đời sau.
Một chuyến bay của Vietnam Airlines cất cánh tại phi trường Đà Nẵng. Nhân viên hãng này từng bị tố cáo đánh cắp hàng hóa trong các siêu thị Nhật vận chuyển về Việt Nam. (Hình minh họa: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)
“Người Việt thông minh, chăm chỉ và anh hùng, thế bạn có hãnh diện là người Việt Nam không?”
(Câu hỏi của báo Thanh Niên trong nước)
Trong bài “Đêm Của Những Cánh Bướm Việt Ở Malaysia” đăng trên nhật báo Người Việt (2009) trước đây, ký giả Đông Bàn đã vô tình nhắc lại câu nói của giới taxi Kuala Lumpur, “Con gái Việt Nam đẹp lắm!” Thủy, một “cánh bướm đêm” tại Beach Club đã cay đắng hỏi lại những người ký giả cùng quê hương với cô: “Người ta nói vậy, các anh có hãnh diện không?”
Câu trả lời tất nhiên là không! Ai lại hãnh diện khi có đồng bào, con em của mình, dù được khen là đẹp phải thất thân đi làm gái mại dâm. Không những được khen đẹp lắm, mà dân địa phương còn một “lắm” nữa, khi nói: “Con gái Việt Nam rẻ lắm!”
Một chuyến bay của Vietnam Airlines cất cánh tại phi trường Đà Nẵng. Nhân viên hãng này từng bị tố cáo đánh cắp hàng hóa trong các siêu thị Nhật vận chuyển về Việt Nam. (Hình minh họa: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)
Khi Đông Bàn đang đứng trên đất Malaysia, hẳn ông không thể nào hãnh diện là người Việt Nam.
Chúng ta cũng không hãnh diện là người Việt Nam, nếu chúng ta đang ở Đài Loan.
Theo số liệu thống kê kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với người Đài Loan trong 14 năm (1995-2008) đã có 117,679 trường hợp, chiếm 82% tổng số phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài. Trong một đảo quốc nhỏ như Đài Loan đã có hơn 10,000 phụ nữ Việt bỏ xứ sang đây làm vợ người, dù hạnh phúc hay khốn khổ, thì cũng vì thân phận nghèo đói, tương lai mờ mịt, có vinh dự gì cho đất nước khi đàn bà phải ly hương, với những cuộc hôn nhân không tình yêu chỉ vì đồng tiền. Điều khốn nạn nhất là trong tâm ý của người dân đồng bằng Cửu Long, “lấy chồng Đài Loan” là chuyện mơ ước của tất cả mọi người. Một đôi vợ chồng đem con gái về thăm quê được một người bà con buột miệng khen: “Úi, con bé này ngộ quá, lớn chút nữa lấy chồng Đài Loan được à nghen!”
Cũng ở Đài Loan, năm người lao động Việt Nam làm thuê ở một công ty thủy sản địa phương đã hợp lực khiêng lồng đi bắt hai con chó của dân địa phương bỏ vào bao tải, dìm xuống biển cho chết, sau đó mang lên làm thịt.
Ngoài việc phải quỳ hai giờ cúi lạy bàn thờ chó để tạ tội và để quần chúng giảm cơn thịnh nộ, năm người lao động Việt Nam này còn bị phạt 10,000 tiền Đài Loan.
Câu trả lời cũng là không, nếu chúng ta đang ở Nhật.
Trên nhiều diễn đàn của Nhật, nhiều người Nhật “cực đoan” kêu gọi tẩy chay người Việt, đuổi hết người Việt về nước, cắt vĩnh viễn các khoản viện trợ cho Việt Nam. Có người so sánh viện trợ cho Việt Nam uổng hơn là đổ tiền vào… cống, bởi tiền thuế của họ đang được dùng để nuôi bọn “dòi bọ” ở Việt Nam, sau những vụ: PCP, một tập đoàn cung cấp dịch vụ của Nhật bị Việt Nam đòi hối lộ 15% để được trúng thầu các dự án dùng tiền viện trợ của Nhật tại Việt Nam; Nhân viên, tiếp viên hàng không và phi công Vietnam Airlines, tổ chức đánh cắp hàng hóa trong các siêu thị Nhật để vận chuyển hàng gian về tiêu thụ tại Việt Nam; Các tu nghiệp sinh Việt Nam trước khi sang Nhật đã bị các doanh nghiệp xuất khẩu lao động CSVN bóc lột thậm tệ; Lãnh sự quán Việt Nam ở Nhật tại Osaka tổ chức bán giấy thông hành Việt Nam.
Trong một số siêu thị tại Nhật, có bảng cảnh cáo dành cho người Việt về chuyện ăn cắp vặt sẽ bị vào tù! Bức ảnh đã làm rộ lên tin đồn về nạn ăn cắp vặt của người Việt ở bên Nhật. Nhiều người cho rằng, người Việt đã để lại ấn tượng xấu xa trong mắt người Nhật khi xuất ngoại sang đất nước của họ.
Câu trả lời cũng là không, nếu chúng ta đang ở Singapore.
Trang mạng với tên gọi là Craigslist có mặt tại Singapore đưa thông tin rằng khách hàng có thể lựa chọn “gái Việt còn trinh,” giá khoảng $3,000 một tuần, ngay tại sân bay, khách sạn hoặc bất cứ nơi nào khách hàng yêu cầu. Tình trạng các cô gái Việt Nam bán trinh tại Singapore dường như công khai, ai cũng hay biết. Cảnh sát Singapore cho biết, hầu hết các cô gái Việt còn trinh đều ở độ tuổi từ 16 đến 17, đến và “làm việc” qua nhân vật trung gian, và năm ngoái, tại đây, một cô gái Việt Nam 17 tuổi cũng đã rao bán trinh tiết với giá $1,500!
Câu trả lời cũng là không, nếu chúng ta đang ở Nga.
Các đường dây buôn người đưa hàng nghìn phụ nữ Việt Nam vào các nhà chứa Nga, nhưng Đại Sứ Quán Việt Nam tại Nga từ chối trả lời câu hỏi của BBC cho rằng cơ quan này không có thẩm quyền để nói về việc này. Theo Tiến Sĩ Nguyễn Đình Thắng: “Trong tất cả các trường hợp ở Nga này, thủ phạm là những người Việt được bao che bởi một số giới chức ở Tòa Đại Sứ Việt Nam ở Nga, thậm chí họ thành Hiệp Hội May Dệt dưới sự bảo trợ của Tòa Đại Sứ Việt Nam.”
Cảnh sát Nga vừa khám phá một xưởng may “đen” dưới lòng đất tại khu chợ Cherkizov ở thủ đô Moscow, bắt hằng trăm di dân lậu Việt Nam. Nạn buôn lậu của người Việt tại Nga là chuyện xảy ra hằng ngày, có lẽ bởi nguyên nhân trong 80,000 người Việt ở Nga đã có 80% làm nghề buôn bán, phần lớn là chợ trời, mánh mung.
Ở Ba Lan: “Cầm quyền Hà Nội và nhân viên Tòa Đại Sứ Việt Nam tại Warsaw là một băng nhóm tội phạm có tổ chức, một hệ thống Mafia.” (Đài báo Weltspiegel Đức)
Câu trả lời là không, ở mọi nơi trên thế giới.
Trên VietNamNet, người Việt Nam sinh sống ở Nhật, ở Nga, ở Anh, ở Úc, ở Nam Phi, ở Mozambique và ngay cả ở California, đã trình bày những những mẩu chuyện về người Việt đọc xong chỉ muốn “độn thổ,” với bao nhiêu thói hư, tật xấu khác của người Việt từ trong nước đến như trộm cắp, gian dối, đái bậy, khạc nhổ, vứt rác bừa bãi, ăn uống thô tục, tranh giành, chen lấn nơi công cộng, không biết nói cảm ơn, xin lỗi khi cần. Nói về chuyện ăn cắp và ăn cắp vặt thì Việt Nam chắc hẳn bỏ xa đàn anh Trung Quốc. Ngay cả cuộn giấy đi cầu trong khách sạn, khách người Việt cũng không tha.
Một người Việt làm nghề thông dịch cho tòa án và cảnh sát ở Úc, cho biết phần lớn thủ phạm ăn cắp trong siêu thị và trồng cần sa trong nhà là những người mới định cư, đặc biệt những người từ Bắc Việt Nam và du học sinh. Mỗi lần người này đi dịch là anh ta khổ tâm vì cảm thấy nhục nhã cho dân tộc mình.
Trong khi trao đổi chuyện này với một phụ nữ trong nước, bà này đã viết cho chúng tôi: “Năm 2008 vào dịp Tết Nguyên Đán, tôi được con trai cho di du lịch Doha (Qatar,) sẵn dịp công ty của con bảo lãnh qua chơi Dubai. Nhưng đến chiều về lại Doha thì bị giữ lại phi trường vì nghe nói có chuyện gì xảy ra ở một siêu thị mà có người Việt mình dính vô. Trong khi cả đoàn ‘check in’ thì riêng tôi bị giữ lại vì mang passport CHXHCN Việt Nam. Mang hộ chiếu Việt Nam đi nước ngoài buồn lắm ông ơi!!!”
Lâu nay, người ta nhắc đến hai chữ Việt Nam hơi nhiều, không phải vì “tiếng tăm” mà vì “tai tiếng!”
Như vậy cũng không nên trách câu phát biểu của Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt: “Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam, đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm chứ, chúng tôi mong muốn đất nước mình mạnh lên. Làm sao như một anh Nhật nó cầm cái hộ chiếu là đi qua tất cả mọi nơi, không ai xem xét gì cả. Anh Hàn Quốc bây giờ cũng thế.”
Nhân câu nói này, các cơ quan truyền thông tại Việt Nam đã chỉ trích, lên án ông và đặt câu hỏi về lòng yêu nước của ông.
Tôi thì nghĩ khác, vì yêu nước nên ông Ngô Quang Kiệt mới cảm thấy nhục nhã. Tôi cũng không hãnh diện lắm về chuyện làm người Việt Nam, nhưng không phải như vậy là tôi không yêu nước, mà có thể vì lòng yêu nước, biết đâu có tác giả sẽ cho ra đời một cuốn sách mang tên “Người Việt Xấu Xa”.
Chúng ta đang nói chuyện người Việt dưới chế độ Cộng Sản. Để công bằng chúng ta nên có thêm một cái nhìn về người Việt ở Mỹ. Ngoài những chuyện được đề cao là làm “vẻ vang dân tộc Việt,” không có gì hơn là xin trích dẫn lời của ông Nguyễn Hữu Hanh, cựu thống đốc ngân hàng VNCH:
“Những năm tiếp theo đó ở nước Mỹ, tôi lại càng thêm ngao ngán và tuyệt vọng. Ngoài một số thành tích sáng chói của sinh viên Việt Nam và một vài thành công đáng kể của các chuyên gia Việt Nam trẻ tuổi, thì cộng đồng người Việt di tản đã gây nên tai tiếng xấu xa trong cái xã hội đã dung dưỡng họ: Bên cạnh những người đang cố gắng làm lụng để nuôi nấng con cái, một số người di tản lại đem qua đây những thói xấu cũ, lừa đảo và chôm chỉa bất cứ khi nào có dịp. Không phải chỉ có những người nghèo khổ phải sống bằng tiền trợ cấp, mà cả những tầng lớp trên (bác sĩ, dược sĩ, những người môi giới cổ phần, mua bán bất động sản, v.v.). Một ngày nọ tại Westminster, bang California, người ta trông thấy 80 vị bác sĩ và dược sĩ Việt Nam bị còng tay dẫn đi sau một toán cảnh sát Mỹ. Xấu hổ thay cho cộng đồng người Việt chúng ta ở đây, và xấu hổ lây cho cả quê hương đất nước chúng ta bên kia nữa!” (“Lời Nói Đầu” – “Làm việc với các nhân vật danh tiếng thế giới” hồi ký, XB 2004.)
Như vậy, sau một người có tên tuổi trong nước là Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt cảm thấy “nhục nhã,” bây giờ một người ngoài nước, lại là một viên chức cao cấp của hai nền Cộng Hòa Việt Nam, cảm thấy “xấu hổ,” một phụ nữ bình thường thì than “buồn lắm!” Thế mà không biết sao thời “chống Mỹ” báo chí miền Bắc lại phịa ra câu chuyện một anh chàng “bá vơ” nào đó tuyên bố: “Mơ ước một buổi sáng thức dậy, thấy mình được trở thành một người… Việt Nam!”
Ông Nguyễn Hồi Thủ khi dịch cuốn “Người Trung Quốc Xấu Xí” đã có nhận xét: “Thường trong lịch sử Việt Nam vốn đã rất ít người thật tình có can đảm và trung thực để tìm hiểu, phê bình, những cái xấu, cái dở của dân tộc mình. Gần đây lại chỉ toàn thấy ca tụng đất nước rừng vàng biển bạc, con người cần cù, thông minh, cao cả, đẹp đẽ, kiên cường, anh hùng, trong sáng… Thậm chí lại có cả người lãnh đạo lấy tên giả viết sách để ca ngợi cá nhân mình, có cả nhà văn bịa tên một người nước ngoài để ca ngợi dân tộc mình.”
Báo Thanh Niên trong nước đã đặt câu hỏi: “Người Việt thông minh, chăm chỉ và anh hùng, thế bạn có hãnh diện là người Việt Nam không?”
Thưa, các yếu tố thông minh, chăm chỉ và nhất là kiểu “ra ngõ là gặp anh hùng,” chưa đủ để tạo thành một con người tử tế và một đất nước tử tế để cho thế giới tôn trọng và yêu mến!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.