This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Nhân một buổi họp mặt tại nhà người bạn sống ở Mỹ đã lâu, một vài người chưa quen biết, sau khi biết tôi chỉ vừa qua Mỹ vài tháng, đã tỏ vẻ ngạc nhiên: “Thế mà hồi nẫy tới giờ tôi cứ tưởng anh qua Mỹ đã lâu!” Lẽ cố nhiên những người này chỉ mới quan sát mình qua bề ngoài và câu nói đó có tính cách khẳng định: những người mới qua Mỹ chỉ có thể là những người “thân thể thì ốm đói, mặt mày xanh xao, áo quần xơ xác,” một người khác thường không thể nhầm lẫn được. Sống với Việt Cộng, cả tù trong lẫn tù ngoài 15 năm mà chưa xương bọc da, người chưa hóa ngợm kể cũng lạ!
Mới qua Mỹ vài hôm, người đang dật dờ giữa ngày và đêm, tâm hồn đang còn hoang mang giữa đi và ở, thực và mộng thì một người bạn điện thoại đến hỏi thăm:
“Sao thấy thế nào, trong người ra sao?”.
Mình cứ thật thà kể lể là người cứ chao đảo, ăn không ngon, cứ như nửa tình, nửa mê. Người bạn này bèn quạt cho một hồi:
“Người ta vượt biển chịu đói khát, đầy đọa, gặp bao nhiêu hiểm nghèo, chết sông chết biển… mới qua được đây. Còn anh, đi máy bay, có tây đầm túc trực hầu hạ, cơm tây bưng, nước Coca rót còn than vãn nỗi gì!”
Trong vòng bà con cũng có lúc có người phỏng vấn:
“Sang đến đây, anh thấy thế nào!”
Mình than:
“Qua bây giờ là quá chậm. Con cái 25, 30 cả rồi quá tuổi vào high school, khó vào đại học! Kinh tế down khó kiếm việc làm! Làm cu li thì quá già, làm thầy thì quá đốt! Chưa biết sao đây, nhưng thôi cũng rán!”
Ông cậu thân mật giảng giải:
“Anh biết ở Việt Nam hiện có bao nhiêu người đang chờ để có được cái diễm phúc như anh là đặt chân lên đất Mỹ không? Gần một triệu người đã nộp đơn xin đi… nhưng đủ điều kiện hay gần đủ điều kiện thì may ra chỉ có 20%. Chương trình ODP ta cứ tạm gọi chương trình bảo lãnh thân nhân danh sách đã đến F, G… mà chờ phỏng vấn cứ dài cổ ra, có người ở danh sách C, D mà giờ này chưa ai hỏi han đến. Còn H.O. mới phỏng vấn đến H.O. 8 mà danh sách Việt Nam gởi cho phái đoàn Mỹ ở Bangkok đã lên đến H25, 26. Mỗi danh sách 8 đến 10,000, đi cho đến bao giờ mới hết. Sống trong tuyệt vọng ai lại không hy vọng. Chỉ béo bở cho công an ngoại vụ, dịch vụ. Ra xuất cảnh là tiền, lên danh sách gởi phái đoàn Mỹ lại tiền. Từ danh sách thấp lên danh sách cao lại tiền. Từ ODP qua H.O. lại tiền. Nếu bây giờ anh còn ở Việt Nam thì anh sẽ thấy điều anh qua được đây là quá hạnh phúc rồi, còn những vấn đề khác, ồ no big deal.”
Tôi cũng như những anh chàng lạc quan khác cứ cho rằng mình đi H.O là bảnh lắm. Có anh làm như ta đây là công thần, không chiến sĩ cũng anh hùng, Yên Báy, Bắc Thái, Hàm Tân có khác chi khách sạn Hilton qua đến nơi thì từ trên máy bay thảm đỏ trải dài đến tận xe bus, có quân nhạc, có cờ vẫy. Tôi cũng chế ra nào H.O. là viết tắt chữ humanitarian operation, có anh lại cãi: “H.O. là viết tắt hai chữ High Officer, bạn mình toàn là sĩ quan cao cấp cả ở tù trên 3 năm, cũng phải thôi!’ Có anh lại mỉa mai: “Bọn mình là Homeless Object (H.O.) một lũ không nhà, tướng tá chạy cả rồi, Cộng Sản không dung nạp, kỳ thị, bây giờ già rồi cũng ráng đi cho con cái được nhờ thôi.”
H.O. viết tắt của hai chữ gì thì cũng chẳng có văn thư nào xác nhận, toàn là do các bạn tôi suy đoán. Mà danh sách này là do phía Việt Nam đưa cho Mỹ ở Bangkok chứ không phải do Mỹ đặt ra. Mới đây khi Nam Trân phỏng vấn ông Fleming giám đốc thì mới vỡ lẽ ra là danh sách H.10 trở đi thì gọi là H.11, H.12, H.13.. Tôi như trên trời rơi xuống vì điều dễ hiểu nhất: chữ O là con số 0 mà thôi. Cũng như người ta gọi C.09, C.08 hay D.01, D.02 vậy thôi. Thôi đành quên cái officer của tôi đi mà đi điền đơn xin việc.
Có lúc quên bẵng chuyện mình, gặp anh em bạn bè cứ tâm sự: nào lo nghĩ, nào sợ không việc làm. Có người nói như mắng vào mặt:
“Các anh qua lúc này mà khó nỗi gì, mâm cổ người ta dọn sẵn cứ việc ngồi vào mà ăn. Hồi 1975, bọn tôi qua cái gì cũng phải mò mẫm, sponsor là người Mỹ, mở miệng không ra, đâu có dám hỏi dám nói như các anh bây giờ. Bọn tôi đi bộ mà tìm việc làm dưới trời lạnh. Vợ chồng con cái bảy tám người nhét vào một phòng. Xin welfare thì sợ mất sĩ diện. Hai năm sau mới mua được cái xe hơi 500 bạc. Ở trại định cư thèm trái cam không có ăn. Các anh đừng thấy chúng tôi bây giờ nào nhà, nào xe, con cái kỹ sư, bác sĩ… mà thấy dễ. Chúng tôi trầy vi tróc vảy mới được như vậy. Bây giờ các anh có Mỹ nuôi một năm, có bạn bè anh em giúp đỡ hướng dẫn, có cộng đồng Việt Nam để sinh sống. Các anh qua bây giờ nghề nghiệp còn chọn lựa, trước kia chúng tôi làm mửa mật ra, có ngày cắt cả nghìn cái cổ gà, có ngày rửa chén bát suốt 10 tiếng đồng hồ không lê chân nổi về nhà.”
Tôi chỉ có việc nhìn chăm chú vào đôi mắt người thuyết giảng và cám ơn rối rít.
Mới sang, ai cũng có đôi lúc phân vân nhất là những người tuổi còn dưới bốn mươi: “Tiếp tục đi học hay kiếm việc làm?”
Có người con cái đều đạt hạng khoa bảng khuyên: “Anh nên cho các con anh tiếp tục học và ngay chính anh cũng phải đi học tiếp. Ở Mỹ không có bằng cấp làm việc cực suốt đời. Chịu cực vài ba năm rồi sau đó tha hồ mà sung sướng!”
Có người lại bảo: “Các anh qua bây giờ là quá chậm, tiếng Anh chẳng bằng ai, sức khỏe không bằng Mễ, Mỹ đen… thôi thì kiếm việc làm gì một giờ năm ba đồng cho qua ngày chờ… lãnh lương hưu là quý lắm rồi.”
Cô cháu hỏi: “Chú già rồi, chọn nghề Real Estate hay làm Loans Officer là hợp nhất!”.
Ông bác khuyên: “Rải giấy đi cắt cỏ là tự do nhất!”.
Người hàng xóm bảo: “Tôi có nghề này hay lắm, ông mua một cái truck cu cũ, vào các shopping, thùng rác nhặt thùng carton, ve chai đi cân ký lô mỗi ngày cũng kiếm được 50 đồng.” (Ôi, năm chục đồng một ngày, tháng 30 ngày nghe hấp dẫn quá!).
Gặp cậu học trò cũ: “Thầy già rồi, có lẽ thầy nên kiếm một chân gác dan, về đêm càng nhiều tiền. Già rồi, ngủ ngáy chẳng bao nhiêu làm nghề này là nhất”. Tôi liên tưởng đến mấy ông gác-dan Ấn Độ, hàm răng và đôi mắt trắng dã ở đường Hàm Nghi, Tôn Thất Thiệp, Chợ Cũ… chắc suốt đời không biết nhắm mắt. Tôi đang bị bệnh mất ngủ, giá kiếm được một chân gác-dan thì chắc tốt, nhưng không biết bên Mỹ này ma có nhiều hơn ở bên nhà không? Mà gặp ma Mỹ, không biết nói tiếng Mỹ có gì trở ngại không?
Tôi có một người em họ, nhỏ tuổi hơn tôi nhiều. Trước kia khi chỉ thấy tên tôi nằm trên hộp thư tòa soạn của một tờ tuần báo đã khâm phục tôi lắm, nay khuyên tôi:
“Anh qua đây, đã lớn tuổi rồi, lại viết lách quen, đi làm báo là sướng nhất. Anh làm cả chủ nhiệm, chủ bút, thư ký đánh máy, quản lý, long tong một mình một chợ. Anh muốn viết gì thì viết, vẽ rồng vẽ rắn bao nhiêu cũng được, kể cả đăng ảnh gia đình anh lên báo và viết bài khen vợ con anh. Anh muốn chửi ai cũng được, nhưng chửi vừa vừa kẻo chửi quá lời, chúng uất quá pằng cho một phát là đi đong. Anh chết rồi là hết, chẳng ai cần tìm ra thủ phạm làm gì. Muốn báo quảng cáo nhiều thì anh phải khen tuốt luốt, mà phải khen thằng có tiền.”
Cậu em họ tôi mới nêu sáng kiến cho tôi hy vọng làm chủ báo, lại dọa tôi, rồi khuyến khích tôi. Sau cùng anh kết luận:
“Nhưng chị ở nhà còn trẻ đẹp không? nói tiếng Anh giỏi một tí càng tốt. Đi xin quảng cáo mà già cọp, cóp róp như anh lại là đàn ông nữa thì còn lâu mới có được một phần tư trang trong chứ đừng nói trang bìa 4 màu. Ở đây tôi biết có khi quảng cáo tiệm phở thì phải lấy tiền quảng cáo bằng phở trừ cơm, quảng cáo hớt tóc thì phải hớt hàng tháng thay vì lấy tiền.”
Vợ tôi đã quá già, hom hem, nhan sắc chỉ có chim sa cá lặn dưới mắt người đối diện là tôi. Nêu thuê một cô thư ký trẻ đẹp để ngoại giao quảng cáo thì chỉ có nước chết đói và chết… đuối. Thế là mộng làm báo coi như dẹp qua một bên.
Tôi mon men hỏi một anh bạn làm báo:
“Nếu tôi không làm chủ báofull-time mà part-time viết dăm ba bài kiếm bạc trả tiền điện, tiền nước, điện thoại có được không?”
Anh bạn tôi ra vẻ thương hại, nói thẳng với tôi:
“Báo ở đây chỉ nuôi sống may ra là ông bà chủ nhiệm, chủ bút kiêm tùy phái, tiền đâu mà trả nhuận bút cho ông. Mà dù bài ông có hay mấy đăng có tiền thì cũng chẳng đăng làm gì. Người ta đọc là đọc quảng cáo, ai thèm đọc bài ông. Người ta đây là các doanh gia đã bỏ tiền quảng cáo, đọc xem có đúng số nhà, số điện thoại của người ta không, xem ảnh người ta có rõ ràng, sắc nét không? Hiện nay báo tôi đang bỏ chợ, lúc nào bán được sẽ mời ông cộng tác thường xuyên. Ông cứ để số điện thoại lại cho tôi.”
Lại một hôm có dịp tôi hỏi một ông bạn già:
“Ở Việt Nam, tôi đánh máy giỏi lại có kinh nghiệm làm văn phòng, nếu như tôi xin đi làm thư ký văn phòng thương mãi hay phòng mạch bác sĩ có được chăng?”
Ông bạn già tôi cười ngất:
“Anh có nói tiếng Anh giỏi như mấy em tốt nghiệp high school ở Mỹ không? Anh có nhan sắc mơn mởn, giò dài không, có trẻ không? mà tôi quên anh là đàn ông mà! Ai lại đi thuê anh làm thư ký? Tôi hỏi thật anh: nếu như anh làm bác sĩ, luật sư hay giám đốc anh có chọn tôi, thằng bạn già trứng cá đầy mặt này, làm thư ký không, hay anh tuyển toàn các em trẻ đẹp phây phây, õng ẹo cho mát mắt anh mà cũng mát mặt khách hàng lúc tắt gió! Anh tự suy nghĩ đi rồi tìm câu trả lời, vì sao anh không thể làm nghề thư ký được.”
Ở Sài Gòn, sau 1975, tôi có anh bạn làm ba nghề. Lúc hàn vi làm nghề vá xe đạp ở lề đường. Khi đã bảnh bao, anh làm nghề viết thư mướn ở bưu điện và cố vấn cho bà con làm sao rút gọn vài chữ trong bức điện tín, để đỡ đi vài nghìn đồng, phần anh chỉ xin năm trăm. Lúc lỏi đời anh làm nghề chẻ tiền nhanh như chớp, đưa cho người ta năm chục nghìn đồng, về đến nhà họ đếm lại chỉ còn hai nghìn rưỡi. Qua Mỹ anh như con cá nằm trên cạn, bao nhiêu sở trường sở đoản của anh coi như vứt bỏ. Nghề vá xe đạp, bà con cũng hiểu là đây không có đất dụng võ. Nghề viết đơn mướn ở Việt Nam còn bịp được thiên hạ với mớ tiếng Anh ăn đong của anh. Qua đây, xứ của tiếng Anh, là đất của Lỗ Ban, anh đâu dám múa búa. Còn nghề chẻ tiền thì ở đây mua một cái quần jean có mấy chục, xoè ra có mấy tấm, không như ở thành phố “bác Hồ” phải khuân cả bó bạc, lấy gì mà chẻ. Anh ta than vãn:”Cuộc sống ở đây khó thực!”
Lại nói về nghề nghiệp, một chiến hữu nay là bác sĩ đã thân mật khuyên tôi:
“Anh em qua đây khá đông, tuổi phần lớn đã già, lại học hành dở dang, tôi biết anh em khó nghĩ. Những người đi trước, nhất là số làm social worker, đều khuyên anh em đi học E.S.L. rồi học nghề. Không có E.S.L. không có nghề thì những tổ chức hướng nghiệp, xã hội coi như bỏ, thất nghiệp. Tôi biết các anh đã đổi đời hai lượt, tất phải khó khăn. Nhưng tôi khuyên các anh, dù ít dù nhiều cũng phải ráng mà vào đại học. Vào đại học, gặp thầy gặp bạn tức là đã học Anh ngữ rồi. Có nghề hai năm có thể làm technician, lương khá cao. Học được khá hơn thì nghề nghiệp càng thăng tiến hơn. Không lẽ suốt đời anh đi làm những việc tay chân mãi sao. Tuổi về hưu ở Mỹ bây giờ là 67 chứ không phải là 65 như anh tưởng. Anh phải sống 12 năm nữa mới được lương già. Vậy anh phải vào đại học ít lắm là hai năm hay dài hơn, cao hơn nữa. Rồi còn phải làm gì cho đất nước nữa chứ!”
Tôi biết ông thương người, mong mỏi anh em mới qua thành đạt cũng như ông, đã từng cực khổ đi học lại tương đương với high school, rồi vào đại học, ra bác sĩ. Nhưng phần tôi, tôi thấy quả là khó khăn trước một mớ vợ con đùm đề, bill tiền nhà, tiền điện, tiền bảo hiểm… Chắc khó có thể yên tâm mà dùi mài kinh sử được nữa. Tôi chỉ mong mỏi sao có được một nghề lương tháng 5, 6 đồng một giờ cộng thêm tí benefit nữa là mãn nguyện rồi.
Trước những ý kiến, lời khuyên, dạy bảo… của bà con, bạn bè, chiến hữu, đồng hương… quả là đôi khi tôi thấy lùng bùng lỗ tai. Những ý kiến này, tất cả đều vì thương tôi là “người mới sang” mà góp ý, có khi những ý kiến này chỏi lại nhau mà tôi không đủ sức đo lường, phán đoán. Tuy nhiên, trên đời này còn hai chữ tuy nhiên.
☆
Tôi đã ở tù trong cái mà người ta gọi là trại-tập-trung-cải-tạo 7 năm, thời gian trung bình so với người không ở tù ngày nào và với những người ở tù 12 năm hay đang còn ở tù. Tôi đã có lúc cân chỉ còn 38 kg với mớ da bọc xương. Tôi đã có lúc đói meo thấy củ sắn mà chảy nước miếng. Tôi đã có lúc “lao động” mửa mật ra suốt ngày mà tối về chỉ được ba củ khoai, trong đó có một củ hà. Tôi đã có lúc xuống hầm cầu tiêu hốt phân bắc, nôm na là hốt cứt của bọn cai tù. Tôi đã có lúc đi qua nhà dân thấy bếp lửa nhà ai mà thèm không khí gia đình ấm cúng. Tôi đã có lúc quằn quại trên chõng tre vì bệnh nặng mà chỉ có mấy ngọn lá rừng vò nát làm thuốc. Tôi đã có lúc muốn đâm thằng đội trưởng tàn ác với chiến hữu, mà hèn nhát không dám đâm. Tôi đã có lúc muốn treo cổ tự tử vì nhục nhưng xót vợ con, không làm. Tôi đã có lúc muốn hóa thành con chó, con mèo, con chim cho đỡ khổ.
Xưa kia ở trong trại tù tôi chỉ dám mơ ước ra tù, cuốc đất trồng khoai, được ăn ngày ba bữa khoai, không tính đến mấy củ khoai hà. Xưa kia, ở trong trại tù cuốc bộ mười hai cây số với một gánh ngô trên vai tôi thấy thèm địa vị của thằng bộ đội cỡi xe đạp. Xưa kia, ra gần đường lộ tôi thấy hạnh phúc thay những người dân miền Bắc, lem luốc chen nhau lên cái xe hàng chạy than. Xưa kia, thấy cái máy bay trên trời tôi cho đó là niềm vô vọng mà cả nghìn kiếp sau chưa chắc tôi đã được ngồi trên đó.
Tôi chỉ cầu được tự do, rồi sau đó ra sao thì ra!
Rồi tôi được ra tù. Rồi tôi được sum họp với vợ con, có bếp lửa ấm cúng trong căn nhà cũ. Rồi tôi được cỡi lên chiếc xe đạp chạy phom phom trên thành phố Sài gòn thân yêu của tôi. Rồi tôi được đi xe hơi. Rồi tôi được phục hồi danh dự – có xuất cảnh, được phía Mỹ cho nhập cư, được phía Việt Nam gởi danh sách qua phái đoàn Mỹ.
Bao nhiêu thằng cán bộ chảy nước miếng thèm lại địa vị của tôi. Rồi tôi được leo lên máy bay phản lực, các cô em chiêu đãi Hà Nội mặt nặng như chì vì ghét tôi và bạn bè tôi, cũng phải cơm bưng nước rót. Rồi đổi máy bay, tây đầm phục vụ chu đáo một tiếng sir, hai tiếng sir.
Cuối cùng tôi đặt chân xuống đất Mỹ, nơi mà con tôi vì mong muốn đến, đã bỏ mình trên Thái Bình Dương. Các em tôi ra đón, ôm tôi mà khóc.
Hiện nay tôi đã là người cũ. Hơn nửa năm thì không còn gọi là người mới nữa. Là người cũ tôi cũng có nhà ở, có xe đi, có cơm ăn áo mặc và nhất là tôi cảm thấy tự do, tôi muốn viết gì thì viết theo lương tâm tôi. Ở “thành phố Hồ Chí Minh,” buổi sáng vào quán ăn phở ngồi chung với một anh nón cối bi bô chuyện “ngoài ta”, là tôi ăn đã mất ngon. Qua đây tôi cho là thoát. Thế thì tôi mơ ước, đòi hỏi gì hơn.
Tôi cũng như các bạn bè chiến hữu đau khổ của tôi, không chết ở trong tù, lẽ nào ta lại chịu chết ở đây! Chúng ta đã khổ quá nhiều rồi, sẽ không còn đau khổ nào lớn hơn, cao hơn. Hai lần đổi đời, ta sẽ làm lại cuộc đời. Và nếu tôi nói không quá, dù có chết được chôn cũng không sợ đào mồ cuốc mả nữa.
Chúng ta thường là những người vô tâm, hay quên, nhưng quên ở đây cũng đồng nghĩa với phản bội các bạn bè anh em ta đã nằm xuống…lẽ cố nhiên không phải nằm xuống ở đây.
Vì tù cải tạo là những người đã bị mất quyền công dân, không được mừng lễ Giáng Sinh cho nên ngày hôm sau, 25/12/1978, mọi sinh hoạt ở trại tù Suối Máu vẫn diễn ra bình thường. Nhưng trong lòng anh em không bình yên một chút nào cả, tức là ngược lại với câu hát của các thiên thần trong đêm Giáng Sinh:
Vinh danh Thiên chúa trên trời – Bình yên dưới thế cho người thiện tâm.
Không bình yên bởi chúng tôi biết chắn bọn công an sẽ tìm cách trả đũa việc phải nhượng bộ tù cải tạo trong đêm Giáng Sinh. Xế chiều, những anh em công tác ngoài trại về cho biết vào khoảng trưa, họ thấy mấy chiếc xe díp (của Cảnh Sát Quốc Gia trước 1975) chở một số công an tới khu nhà của ban giám thị trại, có tay mặc đồng phục công an đeo K54, có tay mặc áo sơ-mi trắng, tất cả đều đeo xà-cột (tiếng Pháp: sacoche) cho thấy họ không phải công an quèn. Về sau chúng tôi được biết đây là đám chuyên viên điều tra từ Chí Hòa được đưa lên Suối Máu để thanh lọc thành phần tù cải tạo chủ chốt trong cuộc nổi dậy đêm Giáng Sinh.
Nhưng ngay lúc đó, đã không có gì xảy ra!
Gần hai tuần lễ sau, trưa ngày 7/1/1979, toàn thể tù cải tạo ở năm K được lệnh “khẩn trương” lên hội trường (của mỗi K) tập họp. Từ ngày bò xanh bàn giao cho bò vàng, chưa bao giờ có một sự “khẩn trương” như thế cho nên chúng tôi không khỏi lo âu: lại chuyển trại chăng?…
Rồi một đám giám thị cùng với toán bảo vệ tiến vào K2. Thoạt tiên chúng tôi hơi rét, nhưng ngay sau đó đã chuyển sang ngạc nhiên khi thấy Trung tá Đào Lưỡng, viên Giám thị trưởng Chí Hòa – Suối Máu, bước vào hội trường với nét mặt tươi cười vui vẻ chưa từng thấy.
Đứng trước microphone (được truyền đi khắp trại qua hệ thống loa phóng thanh), sau mấy câu chào hỏi vắn tắt, ông ta vào đề với một giọng đầy phấn kích:
– Tôi lên đây để đích thân thông báo cho các anh một tin vui lớn: sáng sớm hôm nay, quân đội nhân dân Việt Nam đã tiến vào thủ đô Phnom Penh, lật đổ chế độ Pol Pot, giải phóng đất nước Campuchia…
Sau đó, trong lúc Đào Lưỡng ra sức ca tụng “cuộc tiến công như vũ bão của quân đội nhân dân VN anh hùng”, chỉ trong vòng mấy ngày đã từ biên giới Việt – Miên tiến chiếm thủ đô xứ chùa tháp, trong lòng tôi nổi lên một nỗi băn khoăn, lo lắng trước viễn ảnh ở tù dài dài.
Như đã viết trong một kỳ trước, thời gian cuối năm 1978, qua tin tức bên ngoài lọt vào nhân các kỳ thăm nuôi, chúng tôi được biết Hà Nội đang bị Bắc Kinh kiếm cớ gây sự (vụ “nạn kiều”, vấn đề tù cải tạo người Việt gốc Hoa…) và đứng trước nguy cơ bị hai mặt giáp công – Khmer Đỏ từ biên giới tây nam, Trung Cộng từ hướng bắc. Nay CSVN lại ra tay trước, đánh chiếm Phnom Penh một cách dễ dàng, thì rất có thể Hà Nội sẽ thực hiện được giấc mộng “Liên bang Đông Dương” với sự hỗ trợ của Liên Xô để chống lại tập đoàn Bắc Kinh.
Mà một khi cuộc tranh chấp giữa “đại bá quyền phương Bắc” và “tiểu bá quyền phương Nam” chưa ngã ngũ, tình hình chưa ổn định, đám tù cải tạo chúng tôi sẽ tiếp tục… ở tù, như Đào Lưỡng đã khẳng định khi mới được quân đội nhân dân bàn giao trại Suối Máu.
Sau buổi lên lớp nghe Đào Lưỡng báo tin chiến thắng của bộ đội CSVN tại Căm-bốt, đa số anh em tù cải tạo ở Suối Máu cũng có cùng tư tưởng bi quan như tôi. Nhiều người còn đem cái chết bi thảm của nữ nghệ sĩ cải lương Thanh Nga trước đó hơn một tháng ra để đi tới kết luận các đàn anh ở Trung Nam Hải chắc chắn sẽ cho đám đàn em ở Bắc Bộ Phủ “một bài học” như Đặng Tiểu Bình đã hăm dọa!
Nguyên vào thời gian cuối tháng 11/1978, đoàn cải lương Thanh Minh – Thanh Nga đang diễn vở Thái Hậu Dương Vân Nga, một vở tuồng có nội dung chống Tàu gay gắt, kêu gọi toàn dân một lòng chống quân xâm lược phương Bắc, thì Thanh Nga và chồng đã bị kẻ lạ mặt bắn chết trước cửa nhà riêng, cho nên đại đa số dân chúng Sài Gòn đã suy diễn thủ phạm bắn chết Thanh Nga chính là bọn gián điệp Trung Cộng. Thời gian này lại đang diễn ra các cuộc thăm nuôi, mọi chi tiết “ly kỳ rùng rợn” liên quan tới vụ này đã được thân nhân thuật lại, gây xôn xao khắp trại! (Chú thích 1)
* * *
Trở lại với trung tuần tháng 1/1979, khoảng hai tuần lễ sau khi Đào Lưỡng loan báo “tin vui chiến thắng” của quân đội nhân dân Việt Nam tại Căm-bốt, đám giám thị cai tù ở Suối Máu mới bắt đầu ra tay trả đũa việc tù cải tạo “làm loạn” trong đêm Giáng Sinh.
(Hai chữ “làm loạn” là của Đào Lưỡng sử dụng mỗi khi viên Trung tá công an nhắc lại vụ này)
Trước hết, một số anh em trong các Ban đại diện quân binh chủng và Ban hành động tại các K bị đưa đi khỏi Suối Máu. Ít lâu sau tới đợt thứ hai.
Sau này chúng tôi mới được biết số anh em nói trên bị đưa về giam ở khám Chí Hòa (cũng nằm dưới quyền Đào Lưỡng) để khai thác, sau đó bị đưa tới các trại tù hắc ám ở Xuân Phước (A20), Xuyên Mộc, Gia Trung, Tống Lê Chân…, nhưng ngay lúc đó, nhìn vào thành phần bị đưa đi, chúng tôi cũng đoán biết tương lai đen tối của các anh em này!
Theo tin tức nhận được từ K3, tất cả các vị linh mục tuyên úy Công giáo đều nằm trong số bị đưa đi. Về số người, đông nhất là K1 và K5. K1 có nhiều người bị bắt đưa đi cũng dễ hiểu, bởi vì, như đã viết ở một phần trước, đa số tù cải tạo ở K1 là cấp trung úy, thiếu úy trẻ còn rất hăng, chống đối ra mặt, đồng thời cũng là nơi khởi phát cuộc nổi loạn đêm Giáng Sinh 1978.
Còn K5 bị bắt đông vì, theo lời kể lại của một bạn tù ở K này, mọi hoạt động chống đối trong đó có việc đánh ăng-ten diễn ra một cách công khai, cho nên đám giám thị đã có được một danh sách khá đầy đủ anh em trong Ban hành động và Ban đại diện quân binh chủng, do đám ăng-ten báo cáo!
Nhắc tới việc tù cải tạo làm ăng-ten là việc chẳng đặng đừng, nhưng vẫn phải nhắc tới để thấy đám công an của Cục Trại Giam – những cai tù chuyên nghiệp – mưu mô quỷ quyệt hơn đám bộ đội nhiều.
Trước hết, họ tung tin sẽ có nhiều người học tập tiến bộ được trả tự do về xum họp với gia đình nhân dịp tết Kỷ Mùi (cuối tháng 1/1979). Sau đó quả thật có một số người được về.
Những người này thực ra đa số là các bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư, và chuyên viên các ngành mà chế độ mới cần đến, là những thành phần mà theo lệnh của trung ương chỉ bị học tập 3 năm, thế nhưng cái đám làm ăng-ten với hy vọng được về sớm đã không để ý tới điều này, hoặc có nhưng vẫn cố nuôi hy vọng.
Bên cạnh báo cáo của đám ăng-ten, còn có sự “thành thật khai báo” của chính một số người thuộc thành phần chỉ bị học tập 3 năm nói trên.
Sự việc diễn ra như sau: trước khi loan báo các danh sách được thả về, ban giám thị cho gọi từng toán lên, đưa vào phòng giao ban (phòng họp nội bộ) của K. Họ được đám công an điều tra của Cục Trại Giam nói đại ý: họ có tên trong danh sách được cán bộ trại đề nghị cho về xum họp với gia đình, đây là “bài thu hoạch” cuối cùng để đánh giá mức độ tiến bộ của từng cá nhân, “cấp trên” sẽ căn cứ vào chất lượng của bài thu hoạch để quyết định thả hay không. Nội dung bài thu hoạch là những gợi ý được in ronéo trên mấy tờ giấy phát riêng cho từng người.
Trong số những gợi ý này, đáng nói nhất là mục nhận xét, đánh giá tình hình và mức độ tiến bộ của các bạn tù trong K, trong Lán (Nhà), những cá nhân nào có hành động, lời nói tiêu cực, hoặc âm mưu chống phá cách mạng, v.v…
Dĩ nhiên anh em chúng tôi không thể biết trong số những người bị bắt làm “bài thu hoạch” ai khai ai không khai, chỉ biết chắc chắn có một số người nào đó đã khai ra tên tuổi anh em trong các Ban đại diện, Ban hành động mà đám ăng-ten sót tên. Hậu quả là gần như tất cả đã bị “sa lưới”, không cần biết những anh em đó có xuất đầu lộ diện trong cuộc nổi dậy đêm Giáng Sinh hay không!
Nhưng riêng ở K5, theo những gì tôi được nghe kể lại, đã xảy ra chuyện tức cười là có mấy tay ăng-ten cũng bị đưa về Chí Hòa cùng với các “thành phần phản động”.
Nguyên trong số người phải làm bài thu hoạch có bác sĩ X, một trung úy quân y mới ra trường, không biết khả năng chuyên môn cỡ nào nhưng đầu óc khôi hài châm biếm thì ăn đứt thiên hạ!
Sau khi bị ban giám thị gọi lên làm bài thu hoạch, trở về K5 bác sĩ X tiết lộ với vài người bạn thật thân rằng anh đã sốt sắng (từ VC gọi là “tích cực”) trong việc tố giác “những cá nhân có hành động, lời nói tiêu cực, hoặc âm mưu chống phá cách mạng” bằng cách ghi ra tên tuổi ba tay ăng-ten sừng sỏ nhất ở K5, hy vọng họ sẽ bị ban giám thị gọi lên “làm việc” cho bõ ghét!
Kết quả ngoài sự mong đợi của bác sĩ X: ba tay ăng-ten nói trên không chỉ bị ban giám thị gọi lên làm việc, mà hai người trong bọn còn bị đưa về Chí Hòa cùng với các “thành phần phản động” để rồi cùng bị đưa ra “trại trừng giới” A20 (Xuân Phước)!
Mặc dù ngay lúc đó chưa biết những gì sẽ xảy ra cho anh em trong các Ban hành động và Ban đại diện quân binh chủng bị đưa đi khỏi Suối Máu, chỉ cần điểm qua danh sách bị những người bị kêu tên, chúng tôi cũng biết chắc chắc họ không được về đoàn tụ với gia đình như các thành phần “chuyên gia” (bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư…) chỉ bị học tập 3 năm đã nhắc tới ở trên.
Vì thế, tuy ban giám thị đã nhiều lần tập họp các Nhà trưởng đề ra kế hoạch thi đua thể thao, văn nghệ mừng đón xuân Kỷ Mùi, ngày tết truyền thống của dân tộc, cũng không tạo được một chút phấn khởi nào trong bầu không khí nặng nề trước cảnh kẻ đi người ở trong tập thể tù cải tạo Suối Máu.
Tôi không nhớ cuộc thi đấu bóng chuyền giữa các K có diễn ra hay không, nhưng cuộc thi đua văn nghệ thì tôi nhớ rõ đã chết ngay từ trong trứng nước, bởi thiếu người tham gia.
Theo lời kể lại của anh Huyến, nhà trưởng của tôi, trong các buổi họp giữa ban giám thị và các Nhà trưởng về việc đón tết mừng xuân, đám giám thị đã tỏ ra rất cay cú, bực tức trước thái độ bất hợp tác này.
Vì thế với tôi, trong số bốn lần ăn tết trong trại cải tạo (tính tới lúc đó), có thể nói cái tết năm 1979 là buồn nản nhất. Ngoài tiêu chuẩn mỗi người một miếng thịt heo bằng hai đầu ngón tay, tất cả còn lại vẫn là “một ngày như mọi ngày”.
Có đáng nhớ chăng là việc được ăn bánh chưng “hàm thụ” nấu bằng… bo bo!
Sau năm 1975, trong số những đề tài liên quan tới ẩm thực bị dân miền Nam đem ra diễu cợt nhiều nhất có lẽ là (1) một ký rau muống có giá trị dinh dưỡng bằng một ký thịt bò, và (2) bánh chưng nấu bằng bo bo cũng ngon như bánh chưng nấu bằng nếp.
Câu so sánh rau muống với thịt bò ai cũng biết là của các “đỉnh cao trí tuệ” ngoài Bắc, người dân miền Nam chẳng thèm chấp, nhưng câu “bánh chưng nấu bằng bo bo cũng ngon như bánh chưng nấu bằng nếp” lại là của một phụ nữ nổi tiếng trong Nam, đã khiến mọi người phải ngán ngẩm!
Phụ nữ nổi tiếng ấy là “bà QV”, trước năm 1975 được xem là ăn khách bậc nhất trong số những tác giả viết sách dạy nấu ăn ở Sài Gòn. Chẳng cần nói đâu xa, chính cô vợ quý hóa của tôi khi theo chồng ra Pleiku sau ngày cưới cũng không quên mang theo cuốn sách dạy nấu những món ăn căn bản của bà.
Trước năm 1975, tôi chỉ nghe tên chứ không biết mặt bà QV, ngoài đời cũng như trên sách báo. Lần đầu tiên tôi được thấy hình bà là trong trại cải tạo ở Phước Long, trên một tạp chí bằng tiếng Việt của Liên Xô có tên là Báo ảnh Liên Xô.
Về hình thức, Báo ảnh Liên Xô cũng tương tự tạp chí Thế Giới Tự Do của Phòng Thông Tin Hoa Kỳ trước năm 1975, tuy nhiên vì chất lượng giấy báo cũng như kỹ thuật in ấn của làng báo quốc doanh của CSVN lúc ấy quá tệ, tạp chí Báo ảnh Liên Xô in hình màu đã được dân chúng VN xem như một biểu tượng cho những gì “to đẹp” của đàn anh cộng sản.
Có lẽ tạp chí “free” này được in tại Liên Xô và đưa sang VN với số lượng rất hạn chế cho nên trong suốt thời gian mấy năm kể từ ngày “miền Nam được hoàn toàn giải phóng” tôi chưa hề nhìn thấy Báo ảnh Liên Xô, cho tới khi có thân nhân một bạn tù không biết kiếm đâu ra được một, hai số báo và đem lên nhân dịp thăm nuôi.
Với anh em tù cải tạo trong trại nói chung, đọc những bài viết sặc mùi tuyên truyền cùng hình ảnh khoa trương kệch cỡm trong hai cuốn Báo ảnh Liên Xô ấy chỉ tổ bực mình, nhưng riêng tôi trước năm 1975 phục vụ trong ngành Chính Tranh Chính trị, từng giữ chức vụ Sĩ quan Báo chí đơn vị, có bạn bè sinh hoạt trong làng báo miền Nam cho nên không tránh được tò mò, đọc hai cuốn báo ảnh ấy không bỏ sót một chữ.
Nhờ đó tôi khám phá ra hình bà QV trên Trang Phụ Nữ do “Chị Vera” phụ trách. Ngoài các bài vở liên quan tới phụ nữ, trang này còn có mục nhịp cầu tri âm giữa chị Vera và các nữ độc giả ở các nước xã hội chủ nghĩa, thường kèm theo một tấm hình của chị em đã viết thư cho chị Vera và được chị trả lời. Trong số này có bà QV từ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Đọc phần trả lời của chị Vera cho bà QV, tôi được biết trước đó bà đã viết thư cho chị, đề nghị thiết lập thêm mục gia chánh trên Báo ảnh Liên Xô, và bà – tự nhận là tác giả viết sách dạy nấu ăn uy tín nhất miền Nam VN – sẽ tình nguyện tham gia với các món ăn Việt Nam thuần túy do bà hướng dẫn thực hiện.
Phần trả lời của chị Vera cho bà QV rất nồng thắm. Sau khi ca tụng phụ nữ VN anh hùng nói chung, phụ nữ thành Hồ nói riêng, chị đã hoan nghênh “tinh thần đóng góp ý kiến tích cực” của bà QV, và cho biết ban biên tập Báo ảnh Liên Xô sẽ nghiên cứu đề nghị của bà.
Vì sau đó không có cơ hội đọc Báo ảnh Liên Xô nữa, tôi không được biết tạp chí này có thêm mục gia chánh theo đề nghị của bà QV hay không? Nhưng cứ tạm cho là có, và bà QV đã tham gia bằng cách hướng dẫn chị em ở các nước xã hội chủ nghĩa nấu các món ăn Việt Nam, thì sự tham gia ấy cũng đã chấm dứt trước khi bà vượt biên. Tôi không biết đích xác bà vượt biên năm nào, chỉ biết tới tháng 8/1982, bà và cô con gái cùng gia đình tôi đi chung một chuyến bay chở người tỵ nạn từ Tân-gia-ba sang Úc định cư.
Trở lại với bánh chưng nấu bằng bo bo của bà QV năm 1979. Khoảng một, hai tuần trước tết Kỷ Mùi, bà lên đài truyền hình Sài Gòn Giải Phóng hướng dẫn nhân dân miền Nam nấu bánh chưng bằng bo bo.
Lẽ dĩ nhiên, bà không gọi là “bo bo” mà gọi là “cao lương” theo cách gọi của chế độ CSVN và người dân miền Bắc. Hai chữ “cao lương” ở đây không phát xuất từ thành ngữ “cao lương mỹ vị” mà là tên gọi loại thực phẩm dễ trồng và có thu hoạch cao nhất trong ngũ cốc, gồm: gạo, lúa mì, bắp (ngô), lúa mạch (barley), và cao lương (sorghum).
Người ta trồng cao lương chủ yếu để nuôi gia súc hoặc sử dụng trong kỹ nghệ. Vì hạt cao lương có lớp vỏ dầy và dai không thể tiêu hóa được cho nên kể cả trong trường hợp sử dụng để nuôi súc vật, người ta cũng phải xay thành bột, vậy mà ngày ấy tù cải tạo và không ít người dân miền Nam đã phải nhai cao lương nguyên hạt!
Sau năm 1975, cao lương được dân chúng trong Nam gọi là “bo bo” vì hạt cao lương trông giống hạt bo bo để nấu chè, nấu sâm bổ lượng… Vẫn biết gọi như thế là sai nhưng họ thà gọi sai chứ nhất quyết không chấp nhận chữ “cao lương” của miền Bắc!
Đám tù cải tạo gốc Phước Long chúng tôi được làm quen với bo bo trong thời gian còn ở Đồng Ban năm 1976, tới khi lên Phước Long mới ăn bo bo 100% trước khi độn thêm bắp “đá”.
Bo bo nấu chín có mùi hôi nồng rất khó ăn, riêng với những người yếu bao tử như tôi thì ăn vào là bị hành, nhưng vẫn phải ăn. Vậy mà bà QV lại lên truyền hình hướng dẫn dân chúng Sai Gòn nấu bánh chưng bằng bo bo; và cuối chương trình, bà kết luận bằng một câu xanh rờn, hơn 40 năm sau tôi vẫn còn nhớ:
– Chị em cứ nấu thử đi, ăn ngon y như bánh chưng nấu bằng nếp vậy!
Vừa “ăn tết” xong, đám giám thị ở Suối Máu cho tiến hành chuyển trại nội bộ: tù cải tạo ở mỗi K có tên trong danh sách chuyển trại được chia thành nhiều toán, mỗi toán đi sang một K khác nhau. Tới lúc này mọi người mới thấy đám công an của Cục Trại Giam chuyên nghiệp và đáng sợ hơn đám bộ đội võ biền rất nhiều!
Sau khi bắt anh em trong các Ban hành động và Ban đại diện quân binh chủng đưa về Chí Hòa, đám giám thị ở Suối Máu vẫn chưa hoàn toàn yên tâm bởi rất có thể đám ăng-ten báo cáo sót, hoặc anh em cải tạo còn ở lại ở các K sẽ tái thiết lập các đường dây phản động, vì thế họ mới cho chuyển trại nội bộ một cách tinh vi như vậy với mục đích phân hóa, làm tê liệt lực lượng chống đối còn lại ở Suối Máu!
Tôi nằm trong nhóm bị đưa sang K1. Sang tới nơi mới biết Phan Lạc Giang Đông đã bị đưa về Chí Hòa từ trước tết vì tham gia Ban hành động của K1. Tôi mong gặp lại Đông không chỉ vì muốn có một người bạn cũ ở tù chung cho đỡ buồn mà còn vì muốn biết đích xác những gì đã xảy ra cho Đông và gia đình sau ngày 30 tháng Tư oan nghiệt.
Hai ông bạn quý của tôi, Trần Ngọc Tự (bút hiệu Ngọc Tự) và Phan Lạc Giang Đông, đều làm thơ từ trước 1975.
Nếu thơ là người thì vì thơ Ngọc Tự và thơ Phan Lạc Giang Đông khác nhau nên con người hai chàng cũng khác nhau: Tự lúc nào cũng băn khoăn, khắc khoải trước thân phận của thế hệ mình, Đông trái lại luôn luôn sôi nổi với lý tưởng quê hương, dân tộc. Mà vào cái thời phản chiến đã trở mốt thời thượng trong giới sinh viên, trí thức, mấy chữ “quê hương, dân tộc” thường đi đôi với lập trường nghiêng ngả.
Phan Lạc Giang Đông (trái) và tác giả trong thời gian theo học khóa CTCT tại Đà Lạt năm 1970
Sau khi tôi thuyên chuyển từ Pleiku về Biên Hòa giữa năm 1972, Đông rủ tôi cùng ghi danh Ban Báo Chí ở Đại học Vạn Hạnh. Qua những lần theo Đông tới Vạn Hạnh, tôi được biết từ mấy năm qua hắn đã giao du với một số thành phần phản chiến, thân cộng, hoặc cộng sản nằm vùng (sau 1975 người ta mới biết) trong phong trào sinh viên học sinh thường đóng đô tại Đại học Vạn Hạnh, nơi nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ giữ chức vụ Trưởng Phòng Văn Mỹ Nghệ.
Vì thế, khi Trung úy Phan Lạc Giang Đông được bổ nhiệm vào chức vụ Trưởng Ban Giáo Dục Chính Trị, Đoàn Công Tác Chính Huấn, VP/TMP Chiến Tranh Chính Trị, BTL/KQ, một số người đã phải cau mày…
Sau 30/4/1975, Đông tới nhà bà ngoại tôi ở Phú Nhuận (nơi tôi tá túc sau khi chạy từ phi trường Biên Hòa về) rủ lên Vạn Hạnh xem tình hình. Nể lời, tôi đi theo Đông nhưng tới nơi thấy đám sinh viên đeo băng đỏ nhi nhô lăng xăng tôi chán quá chỉ đứng ngoài sân quan sát mặc Đông muốn đi đâu thì đi. Khoảng hơn nửa tiếng đồng hồ sau, hắn vừa đi ra vừa lắc đầu, tôi cũng chẳng buồn hỏi han…
Tôi cũng tế nhị không dò hỏi Đông về ông anh Phan Lạc Tuyên của hắn, tức tay cựu Đại úy Biệt Động Quân tham gia cuộc đảo chính hụt năm 1960 cùng với Trung tá Nguyễn Chánh Thi, Trung tá Vương Văn Đông, sau đó chạy sang Căm-bốt rồi theo cộng sản.
Sau ngày 30/4/1975, như tôi đã trình bày ở Chương 1, Phan Lạc Giang Đông, và cả cụ thân sinh, chẳng những không được “nhờ vả” Phan Lạc Tuyên mà còn chịu nhiều cay đắng. Nhưng vào thời gian đầu, nhiều người quen biết vẫn tin rằng Trung úy Phan Lạc Giang Đông sẽ được chế độ mới nương tay nhờ có ông anh “theo cách mạng” nổi tiếng!
Vì thế, khi tôi và Trần Ngọc Tự, gần nhà nhau ở Phú Nhuận, trình diện học tập cải tạo tại Đại học Văn Khoa, chúng tôi cũng không biết Phan Lạc Giang Đông, nhà ở gần khu Ông Tạ, có phải đi cải tạo hay không?
Mãi sau này từ Phú Quốc về Trảng Lớn (Tây Ninh), rồi từ Trảng Lớn lên Đồng Ban, tôi mới biết Phan Lạc Giang Đông cũng bị đi cải tạo, đồng thời được nghe một số tin tức, một cách chính xác là tin đồn, trái ngược về người bạn của tôi: người thì kể Đông bị cải tạo ở Cà Tum, ông cụ thân sinh lên thăm, hai bố con ôm nhau khóc vì “quốc phá gia tan” (gia tan bởi Phan Lạc Tuyên), người thì kể Đông làm ăng-ten trong trại cải tạo…
Tôi không hiểu tin đồn Đông làm ăng-ten phát xuất từ đâu, nhưng trong trại cải tạo người ta có khuynh hướng tin vào các tin đồn; riêng trong trường hợp Phan Lạc Giang Đông, người ta còn thêu dệt nhiều điều cả về thân thế lẫn con người của Đông, tôi nghe mà cứ tưởng đó là một nhân vật xa lạ nào chứ không phải một người mình quen biết!
Điều tai hại, và đáng buồn, là tù cải tạo ở Suối Máu chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tập thể tù cải tạo lên tới hàng trăm nghìn người, cho nên tỷ lệ biết Phan Lạc Giang Đông từng tham gia Ban hành động của cuộc nổi dậy đêm Giáng Sinh 1978, bị bắt về Chí Hòa rồi bị đưa đi A20 cũng chẳng được là bao.
Sang K1, tôi được phân phối tới Nhà 13 do Trung úy Đỗ Văn Phố làm Nhà trưởng. Anh hơn tôi một vài tuổi, cao lớn, đẹp trai, trước năm 1975 là trưởng đoàn mô-tô hộ tống thuộc Liên Binh Phòng Vệ Phủ Tổng Thống.
Sau này đọc một hồi ký viết về cuộc nổi dậy đêm Giáng Sinh 1978 ở Suối Máu, tôi mới biết Đỗ Văn Phố có tham gia Ban hành động của K1, nhưng không hiểu sao anh lại lọt lưới trong hai đợt thanh lọc của công an Cục Trại Giam?
Nếu chỉ nói về mặt sinh hoạt chứ không kể đói no, căng thẳng, thời gian ở Đồng Ban và Phước Long đối với tôi là thoải mái nhất, kế tới là thời gian sống ở K1, Suối Máu, nhờ được công an thả lỏng và có nhiều bạn tù hợp nhau.
Nhà của tôi đa số là cấp trung úy và một vài đại úy. Trong số đại úy, tôi rất thân với hai tay gốc Bắc Kỳ, một thuộc Cục An Ninh Quân Đội may mắn không bị đưa ra Bắc, một bên Địa phương quân. Anh Thiết, tay đại úy An Ninh Quân Đội, kết tôi ngay từ lúc tôi mới chân ướt chân ráo từ K2 sang và rủ tôi ăn chung.
Thời gian này, đầu năm 1979, không biết ở những nơi khác thì sao, riêng tại Suối Máu tiêu chuẩn thực phẩm của tù cải tạo đã xuống tới mức thấp nhất, về cả phẩm lẫn lượng; có lẽ do chính sách của trung ương chứ không phải vì bị đám hậu cần bớt xén.
Viết như thế không có nghĩa tôi khen hậu cần của công an lương thiện hơn hậu cần của bộ đội, mà chỉ muốn viết ra thực tế phũ phàng: thực phẩm của tù cải tạo ở Suối Máu lúc này chỉ có bo bo và khoai mì thắt lát phơi khô, thức ăn thì cá khô là chính – loại cá khô mà trước 1975 người ta dùng để nấu cám heo, thì có bớt xén khẩu phần của tù cải tạo cũng chẳng biết đem đi đâu để tiêu thụ!
Cũng may là trại Suối Máu ở gần Sài Gòn, tù cải tạo được thăm nuôi khá thường xuyên, được thân nhân tiếp tế đều đặn, và không bị cưỡng bách lao động khổ sai như ở Phú Quốc cho nên cũng không đến nỗi quá thê thảm.
Ngày nào được ăn bo bo thì các anh nuôi (tổ làm bếp) có nhiệm vụ nấu cho cả K, ngày nào bị cho ăn khoai mì phơi khô thì phân phối tới từng tổ để… muốn làm gì thì làm, bởi nếu các anh nuôi bỏ vào chảo nấu – dù nấu với cá khô hay chỉ nấu với muối – thì sẽ trở thành một món không phải cháo cho người mà cũng chẳng phải cám cho lợn!
Lãnh khoai mì khô về, tổ phân chia cho cá nhân. Thời gian này ở Suối Máu, ngoại trừ một số rất nhỏ (thường có gia đình khá giả) ăn một mình, đa số tù cải tạo thường ăn chung trong một nhóm anh em thân thiết. Riêng Đại úy Thiết, trước khi tôi từ K2 sang, chỉ ăn chung với Thi, một thiếu úy Hải Quân ở khác nhà mà anh xem như “đệ tử”, có nhiệm vụ nấu nướng, biến chế thực phẩm do các anh nuôi phân phối.
Nguyên nhân khiến không có ai ở cùng Nhà 13 ăn chung với anh Thiết là vì anh rất khó nết mặc dù anh là một con người rất tốt. Hầu hết anh em ở chung nhà, và cả một số anh em khác nhà, gọi anh là “anh cả”; anh biết trong đó có pha chút châm biếm nhưng vẫn vui vẻ tự nhận và tự xưng như thế.
Tôi không rõ gia thế anh Khiết chỉ biết quà thăm nuôi của gia đình rất “chất lượng”. Thi biết thân biết phận “con bà phước”, tự nguyện nhận chức đầu bếp.
Khoai mì khô lãnh về được Thi biến chế thành… bánh canh! Nhưng không chỉ với ba anh em chúng tôi mà ở toàn trại Suối Máu, khoai mì khô lãnh về đều trở thành bánh canh.
Cũng cần viết thêm, đây không phải sáng kiến của tù cải tạo Suối Máu mà là của dân Sài Gòn, ngày ấy được nhà nước cho ăn bo bo và khoai mì phơi khô đều đều; nhà nào không xoay xở được thứ thực phẩm khác thường giã khoai mì cho nát ra, lấy bột giả làm bánh canh sống qua ngày; để rồi sáng kiến “khắc phục” ấy đã được thân nhân phổ biến cho tù cải tạo!
Trung bình một tuần, ba anh em chúng tôi ăn bo bo hoặc “bánh canh” sáu ngày, một ngày ăn cơm nấu bằng gạo do gia đình đem lên khi thăm nuôi.
Trong khi tôi bắt chước Thi và mọi người gọi Đại úy Thiết là “anh cả” thì với Hưng, tay đại úy Địa phương quân, chúng tôi lại “mày tao” với nhau. Tôi và Hưng thân nhau vì có cùng suy nghĩ, trình độ kiến thức, lập trường, thường trò truyện về thời cuộc.
Tôi cũng quý mến và khá thân với một tay trung úy Nam Kỳ ở chung Nhà 13 là anh Thu, nguyên là sĩ quan tùy viên của cố Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu, Tư lệnh phó Quân Đoàn III & Quân Khu III, vị tướng nổi tiếng thanh liêm bị ám sát một cách bí ẩn tại phòng làm việc vào đầu tháng 4/1975.
Qua một vài lần trao đổi, tôi biết anh Thu cũng là một người nặng lòng với lý tưởng quốc gia, khác với cái vỏ bề ngoài vô tư, hay bông đùa, lâu lâu lại nhái giọng nữ ca sĩ Thanh Tuyền:
“Mỗi năm đến hè… thì ta nghỉ hè”!
Cuối cùng cũng phải kể tới một số bạn tù ở Trảng Lớn trước kia nay gặp lại nhau ở K1, tuy không thân cho lắm nhưng vẫn còn nhớ để gọi tôi bằng biệt hiệu “Sáu Lèo” thay vì tên cúng cơm. Vì việc này mà dần dần anh em cùng Nhà 13 cũng đều gọi tôi là “Sáu Lèo” hoặc “anh Sáu”.
Với những bạn tù cũ mới ấy, về mặt tinh thần, tôi cảm thấy thoải mái hơn những ngày sống ở K2 rất nhiều, để rồi chứng nào tật nấy, lại phát ngôn linh tinh, châm biếm cách mạng, khiến không ít người phải e dè né tránh; riêng Hưng đã nhiều lần cảnh giác tôi và điểm mặt những tay ăng-ten còn sót lại ở K1 để tôi đề phòng.
Tuy nhiên, như tôi đã viết trong một kỳ trước, ngay từ khi mới được quân đội nhân dân bàn giao tù cải tạo, viên trung tá công an Đào Lưỡng, Giám thị trưởng Nhà giam Chí Hòa và Trại giam Suối Máu, đã nói thẳng: một khi đã thuộc quyền quản lý của Cục Trại Giam, chúng tôi là những “tù nhân” không hơn không kém, “cải tạo” chỉ là một mỹ từ bởi không bao giờ họ (người cộng sản) tin rằng có thể cải tạo được tư tưởng của chúng tôi.
Vì thế, khi tuyển dụng đám ăng-ten mới, ban giám thị Suối Máu cũng chỉ có mục đích nhận diện anh em tù cải tạo trong các Ban hành động, Ban đại diện quân binh chủng để đưa về Chí Hòa, và sau đó sau đó theo dõi, báo cáo những hoạt động chống đối của anh em tù còn lại ở Suối Máu!
Nghĩa là những tay phát ngôn linh tinh, châm biếm cách mạng một cách công khai như tôi, đối với ban giám thị không còn bị xem là thành phần nguy hiểm, cùng lắm chỉ bị xem là thiếu tiến bộ mà thôi. Trong suốt hơn nửa năm ở K1, tôi chỉ bị kiểm điểm một lần duy nhất trong buổi họp dưới sự chủ trì của tay cán bộ phụ trách Nhà 13; và sau khi tôi giải thích nguồn gốc biệt hiệu “Sáu Léo” là vở kịch vui ở Trảng Lớn có nội dung khuyến kích mọi người học tập tốt để được về xum họp với gia đình, tay cán bộ chỉ cảnh cáo vài câu để rồi đâu lại vào đó, và ngày càng có thêm nhiều người gọi tôi bằng biệt hiệu “Sáu Lèo”!
Trở lại với thời gian tết Kỷ Mùi 1979. Sau khi Đào Lưỡng đích thân lên Suối Máu tập trung toàn trại hồ hởi báo tin chiến thắng của bộ đội CSVN trong cuộc xâm lược Căm-bốt, bầu không khí trong trại ngày càng trở nên xôn xao, giao động trước những diễn tiến thời sự được đài phát thanh Sài Gòn Giải Phóng loan tải, và được truyền đi khắp trại qua hệ thống loa phóng thanh.
Thực ra tôi cũng không hiểu ban giám thị ở Suối Máu cho tù cải tạo nghe những tin tức về sự thù nghịch và thái độ ngạo mạn của “bá quyền phương Bắc”, về tình hình căng thẳng ở biên giới Việt – Trung với mục đích gì? Chỉ biết một điều là chưa bao giờ tù cải tạo ở Suối Máu lại thích “nghe đài” đến thế!
Trước kia, vào thời gian tôi từ Phước Long về Suối Máu, khoảng tháng 8/1978, mỗi ngày tù cải tạo bị đám bò xanh bắt nghe đài Sài Gòn Giải Phóng từ 4 rưỡi chiều cho tới tối. Công tác này được trao cho một anh em tù cải tạo trong Tổ kỹ thuật.
Tổ kỹ thuật gồm một số tù cải tạo thuộc nhiều ngành nghề chuyên môn khác nhau, có nhiệm vụ trông coi nhà máy điện, phụ trách hệ thống loa phóng thanh, mở đài phát thanh i nghe, sửa “đài” (máy radio) cho cán bộ, sửa ô-tô, xe gắn máy, và cả xe đạp …
Chương trình phát thanh của đài Sài Gòn Giải Phóng, cũng như bất cứ đài phát thanh nào khác dưới chế độ CSVN, chỉ có mục đích tuyên truyền nên nghe riết muốn… điên!
Sau khi tôi về Suối Máu được ít lâu, anh tù cải tạo phụ trách mở đài khám phá ra một điều thú vị: có lẽ với mục đích điền vào chỗ trống, trước 4 rưỡi chiều các ngày trong tuần, đài Sài Gòn Giải Phóng có một chương trình nhạc ngoại quốc không lời khoảng 15 phút, gồm những bản nhạc hòa tấu quen thuộc với người Sài Gòn trước 1975, đa số của các dàn nhạc nổi tiếng như Mantovani, Ray Connif, Paul Mauriat…
Anh bạn cải tạo thú vị không chỉ vì được nghe lại những bản nhạc xưa mà còn vì anh biết chắc chắn trong đài Sài Gòn Giải Phóng cũng còn sót lại một số nhân viên của chế độ cũ, cho nên thính giả mới được thưởng thức những gì thường bị lên án là “nọc độc của đế quốc Mỹ, của tư bản phương Tây”!
Thế là anh đề nghị với ban giám thị cho mở đài sớm hơn 15 phút lấy cớ báo cho mọi người sắp xếp công việc, chuẩn bị tập trung theo dõi chương trình tin tức, thời sự.
Nhưng hạnh phúc ấy (được nghe nhạc ngoại quốc từ đài phát thanh của chế độ mới) chỉ kéo dài được hơn một tháng. Nguyên nhân: ít lâu sau khi bò xanh bàn giao tù cải tạo cho bò vàng, người tù cải tạo phụ trách mở đài được thay thế bằng X, một tay thiếu úy gốc Quảng không chỉ thuộc thành phần “tiến bộ” mà còn cúc cung tận tụy phục cách mạng trong công việc được trao phó.
Tôi không biết X ở K nào (chắc chắn không ở K1), có làm ăng-ten hay không, nếu không thì bằng cách nào X lọt vào mắt xanh của ban giám thị trại, chỉ biết ngay sau khi được trao phó công việc, anh ta đã bãi bỏ việc nghe chương trình nhạc ngoại quốc không lời của đài Sài Gòn Giải Phóng và thay vào đó là một chương trình giới thiệu “văn học nghệ thuật cách mạng” chủ yếu là thơ, nhạc do đích thân anh ta phụ trách.
Bị nghe “nhạc đỏ” đã là một sự chịu đựng, ở đây lại còn phải nghe những lời ca tụng tác phẩm, xưng tụng tác giả phát ra từ miệng một cựu sĩ quan QLVNCH thì phải nói là quá sức chịu đựng. Đến độ có mấy anh em biết quê quán của X đã hứa khi nào được thả sẽ tìm đương sự để cho một bài học nhớ đời!
Theo nhận xét của tôi, chưa chắc X đã có một trình độ nhạc lý căn bản, một sự hiểu biết tối thiểu về âm giai (gamme), về cách cấu tạo các hợp âm (accord) trưởng (majeur), thứ (mineur), mà có thể chỉ biết cách bấm những hợp âm ấy trên cần đàn ghi-ta.
Nhưng phải công nhận X có tài lòe bịp, không chỉ bịp được đám công an i-tờ mà còn bịp được nhiều anh em tù cải tạo không có sự hiểu biết về lĩnh vực âm nhạc, hoặc chỉ biết đệm đàn bằng những hợp âm được ghi sẵn trên các bản nhạc.
Giờ này, hơn 40 năm đã trôi qua, tôi vẫn còn nhớ rõ cái giọng Quảng khó nghe và khó ưa (xin lỗi quý vị độc giả gốc Trung) của X khi giới thiệu, xưng tụng những ca khúc cách mạng như Chiến sĩ Việt Nam, Cô gái mở đường, Trường Sơn Đông – Trường sơn Tây, Bác cùng chúng cháu hành quân, Tiếng chày trên sóc Bom bo, Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa, Tự nguyện, v.v…
Trong số nói trên, tôi nhớ nhất là bản Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý.
Trước năm 1975 tại miền Nam VN, vì thói quen (không mấy đáng yêu) chỉ nhớ tựa đề ca khúc chứ không quan tâm tới tên tác giả, đã không có nhiều người biết tới cái tên Nguyễn Văn Tý, tác giả bản Dư Âm (Đêm qua mơ dáng em đang ôm đàn dìu muôn tiếng tơ…),
một tình khúc rất được yêu chuộng tại miền Nam, nhưng ở miền Bắc, Nguyễn Văn Tý là một tên tuổi lớn của nền nhạc đỏ, là nhạc sĩ sáng tác nhiều nhất, đoạt nhiều giải thưởng nhất.
Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa là một trong sáu ca khúc đã giúp ông được Nhà nước trao tặng “giải thưởng cao quý nhất” về văn học nghệ thuật là Giải thưởng Hồ Chí Minh vào năm 2000.
Ở đây, tôi xin miễn bàn về giá trị văn học nghệ thuật của bản Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa mà chỉ nói tới hình thức sáng tác, trong đó Nguyễn Văn Tý đã viết các phiên khúc theo âm giai thứ (Am) và điệp khúc theo âm giai trưởng (A).
Thực ra, phương thức này không có gì cao siêu, mới lạ, mà nó đã được nhiều nhạc sĩ, chuyên nghiệp cũng như tài tử, sử dụng trong nền tân nhạc VN, điển hình là Văn Cao trước đó với bản Thiên Thai (Dm, D) và sau này là Phạm Duy & Ngọc Chánh với Bao giờ biết tương tư (Cm, C).
Thế nhưng qua sự trình bày của “nhà phê bình âm nhạc trại Suối Máu”, tức Thiếu úy X, thì đây là đỉnh cao trong nghệ thuật sáng tác Nguyễn Văn Tý! (Chú thích 2)
Chương trình giới thiệu các ca khúc cách mạng của X chỉ kéo dài 15 phút mà tưởng như bất tận. Anh em tù cải tạo người thì vừa nghe vừa chửi thề, người thì nằm trong nhà bịt tại lại để khỏi phải nghe, đợi tới khi chương trình này chấm dứt mới ra khỏi nhà tới gần các loa phóng thanh để theo dõi phần tin tức thời sự, bình luận của đài Sài Gòn Giải Phóng.
Nếu những năm trước đây, bị nghe đọc báo cách mạng – Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Sài Gòn Giải Phóng… – và nghe đài phát thanh là một cực hình, thì trong thời gian cuối năm 1978, đầu năm 1979, hầu hết tù cải tạo ở Suối Máu đều chờ đợi để được nghe chương trình buổi chiều của đài Sài Gòn Giải Phóng.
Dĩ nhiên, ai cũng biết tin tức trên các đài phát thanh của CSVN nếu không bịa đặt thì cũng được thổi phồng, bình luận thì sặc mùi tuyên truyền, khoác lác, nhưng riêng trong khoảng thời gian nói trên, tin tức trên các đài phát thanh của CSVN lại được anh em tù cải tạo quan tâm theo dõi để biết, hoặc đoán biết những gì đang xảy ra tại Căm-bốt và biên giới Hoa-Việt.
Tại Căm-bốt, CSVN đã mau chóng thiết lập chế độ bù nhìn do Hun Sen làm Thủ tướng và toàn bộ lãnh thổ xứ chùa tháp nằm trong tay lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam được mang danh “quân tình nguyện Việt Nam”, tương tự “chí nguyện quân Trung Quốc” trong chiến tranh Triều Tiên hồi đầu thập niên 1950.
Tại biên giới Hoa-Việt, mặc dù tin tức trên đài phát thanh không cho biết chi tiết, chúng tôi cũng tin rằng phía CSVN đã đem phần lớn, nếu không muốn nói là toàn bộ lực lượng còn ở lại miền Bắc lên các tỉnh biên giới phía bắc để chống lại các cuộc tấn công của quân Trung Cộng, sớm muộn cũng sẽ xảy ra như lời đe dọa của Đặng Tiểu Bình!
Nhưng những gì xảy ra sau đó cho thấy vào sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, khi lực lượng hùng hậu gồm 120.000 quân Trung Cộng với sự yểm trợ của pháo binh và chiến xa tiến vào Việt Nam trên toàn tuyến biên giới, tướng Võ Nguyên Giáp vẫn không tăng cường các đơn vị chủ lực tới biên giới, nơi chỉ có bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, và các trung đoàn độc lập trấn giữ!
Chú Thích:
(1) Cách đây hơn 40 năm, vào khoảng 11 giờ đêm 26/11/1978, sau khi diễn xong vở cải lương Thái Hậu Dương Vân Nga ở rạp Cao Đồng Hưng, Bà Chiểu, nữ nghệ sĩ Thanh Nga (TN) lên chiếc xe Wolkswagen do chồng là luật sư Phạm Duy Lân lái. TN ngồi ở băng ghế sau với đứa con trai 5 tuổi. Võ sư Nguyễn Văn Các, 34 tuổi, vệ sĩ của TN ngồi phía trước bên cạnh ông Lân.
(Luật sư Phạm Duy Lân, sinh năm 1923 tại Hà Nội, trước năm 1975 giữ chức Đổng lý văn phòng Bộ Thông Tin VNCH, nên thường được gọi là Đổng Lân)
Luật sư Phạm Duy Lân (Đổng Lân) và Thanh Nga
Khi chiếc xe ngừng trước cửa nhà Thanh Nga, số 114 đường Ngô Tùng Châu ở khu vực Ngã Sáu, võ sư Các nhảy xuống tính mở cửa xe cho TN thì bỗng một chiếc Honda phóng tới, thắng gấp, một người nhảy xuống chĩa súng vào gáy của võ sư Các uy hiếp, rồi đạp Các ngã chúi vào trong xe, sau đó bắn TN và chồng chết tại chỗ. Đứa con trai sống sót.
Tin TN bị bắn chết đã làm rúng động dư luận và một câu hỏi được đặt ra: ai đã giết TN?
Có ba câu trả lời; hay viết cho chính xác là hai giả thuyết và một câu trả lời: (1) TN bị gián điệp Trung Cộng giết, (2) TN bị bà vợ của Tổng Bí thư Lê Duẩn sai người thanh toán vì ông ta rất mê TN, (3) Công An cho báo chí biết chính bọn “tàn dư Mỹ Ngụy” đã giết TN.
Giả thuyết thứ nhất, được đa số dân chúng Sài Gòn nói chung, người ái mộ TN nói riêng, tin theo vì trong thời gian hơn một năm qua, đoàn Thanh Minh – Thanh Nga đã diễn liên tiếp hai vở cải lương có nội dung chống Tàu là Tiếng Trống Mê Linh và Thái Hậu Dương Vân Nga.
Giả thuyết thứ hai, ít người tin hơn nhưng không phải là không có cơ sở. Đó là việc Lê Duẩn say mê TN như một thần tượng, tới mức ông ta đã chỉ thị đám lãnh đạo ở thành Hồ cho phép đoàn cải lương Thanh Minh – Thanh Nga hoạt động trở lại, với tư cách một đoàn hát tư nhân chứ không phải một đoàn hát quốc doanh được thành lập sau ngày cộng sản chiếm miền Nam, chẳng hạn đoàn kịch nói Bông Hồng của Thẩm Thúy Hằng. Vì thế mà TN đã bị bà vợ “Họan Thư” của Lê Duẩn sai người thanh toán!
Nhưng Công An thì lại khẳng định đây là một âm mưu bắt cóc tống tiền không thành công, nên gây ra án mạng, và cho biết thủ phạm là Nguyễn Thanh Tân, trung sĩ “biệt động dù ngụy” và Nguyễn Văn Đức, “lính Hải quân ngụy”; cả hai đã nhận tội và bị xử tử hình ngày 23/8/1980.
Thế nhưng vào lúc ban đầu, viên tướng Công An cầm đầu cuộc điều tra vụ án đã không hề đả động tới âm mưu bắt cóc tống tiền, mà lại nói thủ phạm là “tàn quân của quân đội Sài Gòn được sự đỡ đầu của CIA Mỹ”.
Viên tướng ấy là Trung tướng Trần Quyết, Tư lệnh kiêm Chính ủy Lực Lượng Công An Nhân Dân Vũ Trang kiêm Thứ trưởng Bộ Nội Vụ (thời gian này, Bộ Công An được sát nhập vào Bộ Nội Vụ). Ông ta phân tích với báo chí:
“Vụ án Thanh Nga xảy ra trong lúc một số tàn quân của quân đội Sài Gòn còn lẩn trốn ở các vùng rừng núi, bưng biền, hoạt động chống lại ta. Trước đó, có một số hành vi đe doạ là gởi thơ yêu cầu Thanh Nga không được đóng vai Trưng Trắc hoặc Thái hậu Dương Vân Nga nữa. Giữa lúc đó, có tin mật báo một tổ chức tự xưng là “Lực lượng thống hợp Liên Bang Đông Dương” do sự đỡ đầu của CIA Mỹ, vừa mở tiệc ăn mừng ở một quán rượu vùng ven Saigòn, do đã bắn chết Thanh Nga theo lịnh cấp trên đưa xuống”. (ngưng trích)
Chỉ cần đọc sơ qua đoạn trên, một người không cần phải thông minh cho lắm cũng có thể nhận ra tính cách bịa đặt tới mức vô lý, hoang đường: một tổ chức chống cộng (phản động) mà dám ra quán nhậu tổ chức tiệc mừng sau khi bắn chết TN!
Chính vì không ai tin, sau đó công an mới thay đổi tình tiết để biến nội vụ thành một âm mưu bắt cóc không thành, thủ phạm vẫn là “lính ngụy” nhưng không có “sự đỡ đầu của CIA Mỹ”.
Như vậy, nếu TN (và chồng) không chết dưới bàn tay Trung Cộng, không bị vợ Lê Duẩn sai người thanh toán, không bị lính “ngụy” sát hại, thì ai là thủ phạm?
Theo một số người trong đó có tác giả Trúc Giang, thủ phạm chính là chế độ Cộng Sản Việt Nam.
Độc giả có thể tìm đọc bài “Ai Giết Nghệ Sĩ Thanh Nga” của Trúc Giang, đăng trên Việt Báo ngày 22/4/2021, hiện vẫn được phổ biến trên Google.
(2) Trong khi chỉ để lại cho đời một tình khúc nổi tiếng là bản Dư Âm, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý (1924-2019) đã được ghi nhận là một trong những tên tuổi lớn nhất của nền “nhạc đỏ”, từng được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật, thế nhưng vì nhiều nguyên nhân phức tạp, ông đã sống những năm tháng cuối đời trong cô đơn, khốn khó.
Theo tiểu sử trên Wikipedia và truyền thông trong nước, Nguyễn Văn Tý có gốc gác Hà Nội nhưng ra chào đời tại Vinh, Nghệ An năm Giáp Tý (1924).
Xuất thân trong một gia đình có truyền thống âm nhạc, khi theo học trường Quốc học Vinh, ông được một giáo viên người Pháp dạy cho những ca khúc của danh ca Tino Rossi đang thịnh hành thời đó. Trong thời gian tham gia sinh hoạt hướng đạo, ông được một vị linh mục người Tây-ban-nha cho vào ca đoàn nhà thờ mặc dù ông không phải là người Công giáo, qua đó ông được học nhạc lý căn bản, nâng cao trình độ hòa âm, hợp xướng. Ngoài ra, Nguyễn Văn Tý còn được một vị nhạc sĩ gốc Hoa tên là Mạnh Hinh dạy đàn ghi-ta Hạ-uy-di (Hawaii guitar).
Từ năm 1944, ông đi hát trong các phòng trà ở Vinh để kiếm sống. Năm 1945, ông tham gia phong trào Việt Minh, sáng lập và xây dựng đoàn kịch thơ, kịch nói của Thanh niên Cứu quốc Nghệ An. Năm 1946, ông kết hôn với bà Mai Thị Cúc, một tín đồ Công Giáo. Bà qua đời cuối năm 1947 khi con gái đầu lòng của 2 người – Nguyễn Thị Như Mỹ – mới được 3 tháng.
Năm 1950, Nguyễn Văn Tý nhận nhiệm vụ đi xây dựng Đoàn Văn công của Sư đoàn 304 và làm trưởng đoàn. Bản Dư âm nổi tiếng được ông sáng tác trong khoảng thời gian này sau một lần về chơi nhà một người bạn ở Quỳnh Lưu, Nghệ An, viết về cô em gái 16 tuổi của bạn.
Cũng vì ca khúc này ông bị đơn vị đưa ra kiểm điểm vì đã sáng tác một bài hát quá ủy mị, không thích hợp với thời kháng chiến.
Năm 1951, Nguyễn Văn Tý giải ngũ và chuyển về công tác ở Chi hội Văn nghệ Liên khu IV. Năm 1952, ông quen biết và kết hôn với nữ nghệ sĩ Nguyễn Thị Bạch Lê, em gái nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương, lúc ấy đã trải qua một đời chồng và có bốn con riêng. Ông có một con gái với bà, Nguyễn Thái Linh, sau này trở thành một nhạc sĩ dạy dương cầm.
Cuối năm 1957, Nguyễn Văn Tý cùng các nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước, Văn Cao được chỉ định thành lập hội Nhạc sĩ Việt Nam, trong đó ông là ủy viên Ban chấp hành khóa đầu tiên của Hội.
Mặc dù từng bị kiểm điểm vì sáng tác bản Dư Âm, một ca khúc bị lên án là mang nặng tình cảm “tiểu tư sản”, Nguyễn Văn Tý được ghi nhận là nhạc sĩ sáng tác nhạc đỏ nhiều nhất, đa dạng nhất và thành công nhất. Trong sự nghiệp sáng tác, Nguyễn Văn Tý có hơn 130 ca khúc cùng nhiều tác phẩm nhạc phim hoạt hình, múa rối và các vở chèo.
Theo giới phê bình trong nước, cho dù sáng tác nhạc đỏ, Nguyễn Văn Tý đã “khéo léo sử dụng chất liệu dân ca của từng vùng, miền, chất trữ tình được thể hiện qua lời ca trau chuốt cùng với giai điệu mượt mà và mang đậm bản sắc dân tộc, như Người đi xây hồ Kẻ Gỗ, Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh, Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa, Bài ca năm tấn, Dáng đứng Bến Tre, Mẹ yêu con, Vượt trùng dương…”
Năm 2000, ông được Nhà nước CSVN trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật cho các tác phẩm: Mẹ yêu con, Vượt trùng dương, Bài ca năm tấn, Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa, Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh, Dáng đứng Bến Tre.
Trước đó ông đã đoạt được một số giải thưởng như:
– 1951: Giải nhì (năm 1951 không có giải nhất) của Hội văn nghệ Việt Nam cho ca khúc Vượt trùng dương.
– 1964: Giải nhất Cuộc thi vận động sáng tác về đề tài phụ nữ với bài Tiễn anh lên đường.
– 1967: Giải nhất sáng tác về đề tài nông nghiệp với ca khúc Bài ca năm tấn.
– 1971: Giải Ngân hà với bài Em đi làm tín dụng.
Sau năm 1975, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý vào Sài Gòn sinh sống, cư ngụ tại một căn nhà nhỏ ở đường Trần Khắc Chân, Tân Định.
Sau khi vợ (bà Nguyễn Thị Bạch Lê) mất năm 2004, ông sống một mình cho tới khi qua đời tại nhà riêng vào chiều ngày 26/12/2019, hưởng thọ 96 tuổi .
Trang mạng Wikipedia cũng cho biết “Vào những năm cuối đời, Nguyễn Văn Tý là một tín hữu Công Giáo, ông có tên thánh là Phêrô”.
Trước và sau khi nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý qua đời, đã có một số bài báo (trong nước) viết về cuộc sống cô đơn, thiếu thốn của ông trong những năm tháng cuối đời, trong số đó có tờ Phụ Nữ Online với tựa đề “Những ngày cuối đời đơn độc của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý” vào năm 2018, có những đoạn:
Từng dành cả quãng đời tuổi trẻ của mình để cống hiến cho âm nhạc nước nhà, thế nhưng nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý quặn lòng cho biết, nhiều năm nay, không có đồng nghiệp hay bạn bè nào đến thăm hỏi ông, điều này khiến người nhạc sĩ tuổi cao sức yếu buồn tủi và rất dễ xúc động rơi nước mắt khi bất chợt thấy có ai nhớ đến mình.
Tuổi cao sức yếu, bệnh tật đeo mang… những ngày cuối đời của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý phải sống trong cảnh đơn độc, khốn khó và thiếu trước hụt sau. Đến con gái của ông (Nguyễn Thái Linh), dù sống ở TP.HCM, 2 năm rồi cũng không đến thăm ông.
Từng là một trong năm nhạc sĩ đầu tiên sáng lập nên Hội nhạc sĩ Việt Nam và để lại dấu ấn trong lòng công chúng qua những tác phẩm âm nhạc nổi tiếng như Dư âm, Dáng đứng Bến Tre, Mẹ yêu con, Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa, Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh, Người đi xây hồ Kẻ Gỗ… thế nhưng, ít ai ngờ rằng ở cái tuổi gần đất xa trời, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đang phải chật vật với cuộc sống đơn độc, lắm bệnh tật.
Trong căn phòng chưa đến 10m2, cuộc sống của người nhạc sĩ 95 tuổi chỉ gói gọn trên chiếc giường sắt cũ kĩ. Tay chân ông bây giờ rất yếu nên chẳng thể đi đứng được, ông bảo đôi khi muốn đứng dậy pha tách trà mà cũng không làm được.
Mọi sinh hoạt thường ngày của ông đều phải cậy nhờ vào người cháu họ xa, vốn chăm sóc ông suốt mấy mươi năm qua.
“Tôi nhiều bệnh lắm, thần kinh tôi bây giờ yếu, trí nhớ giảm, lúc nhớ lúc quên. Một bên tai tôi cũng không nghe được, tôi cũng không đi đứng được, càng nằm càng liệt. Lắm lúc tôi muốn ngồi dậy pha một ấm trà mà cũng không làm được. Cuộc sống của tôi bây giờ chỉ trông nhờ vào người cháu họ xa, tôi buồn và cô đơn lắm…!”, người nhạc sĩ già rưng rưng nước mắt khi nói về cuộc sống đơn độc của mình.
Tuy nhiên, theo lời Nguyễn Văn Tý chia sẻ, hiện tại cả 2 người con của ông đều không đoái hoài đến người cha già yếu, bệnh tật và không biết còn sống được bao lâu nữa…
“Tôi có 2 người con gái đều đã lập gia đình, một người là giáo viên dạy văn hóa, người còn lại dạy piano và được tôi cho đi học ở Đức. Hai con tôi hiện tại cũng sắp đến tuổi về hưu rồi nhưng không đứa nào lo cho tôi…” (ngưng trích)
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý và nữ ca sĩ Ánh Tuyết, một trong những vị khách hiếm hoi
Hai ngày sau khi nhạc sĩ mất, 28/12/2019, báo Pháp Luật TP.HCM đã đăng bài “Ước nguyện cuối đời của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý” của tác giả Quỳnh Trang, xin trích đăng phần cuối:
Đã chuẩn bị sẵn cho mình nơi chốn trở về. Người viết từng đến thăm nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý nhiều lần trong căn nhà của ông ở TP.HCM. Đầu con hẻm nhỏ ban sáng là chợ, căn nhà không nhiều không gian lẫn đồ đạc.
Khi ghé thăm nhà ông, nhiều người bất ngờ vì trong căn nhà giản dị đó, bàn thờ Thánh gia được đặt trang trọng. Có lẽ việc cậu bé Nguyễn Văn Tý ngày xưa từng được học nhạc lý ở nhà thờ, rồi từng theo đạo Công giáo khi lập gia đình với người vợ đầu tiên (Maria Mai Thị Cúc) đã thôi thúc ông tìm nơi trở về cho tâm hồn mình vào những ngày cuối đời. Ông quyết định trở lại đạo Công giáo vài năm gần đây.
Mỗi tuần nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đều được rước Mình Thánh Chúa tại nhà từ tu sĩ hoặc linh mục Giáo xứ Thánh Gia (Giáo hạt Tân Định), hàng xóm cùng đạo chăm sóc nhau… Đó là niềm an ủi tinh thần cho một người ngoài 90 tuổi không sống cùng con cái.
Dù gia đình, Hội Âm nhạc TP.HCM tổ chức lễ tang cho ông theo nghi thức nào thì với riêng ông, ông đã chuẩn bị cho mình nơi chốn trở về. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý hay Phêrô Nguyễn Văn Tý đã lãnh nhận bí tích xức dầu khoảng một năm trước khi sức khỏe ông yếu đi, đó như là sự chuẩn bị cho ngày trở về nhà Chúa của ông.
Quỳnh Trang
* Theo di nguyện của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, vào lúc 8 giờ sáng 27/12/2019, gia đình đã thực hiện tang lễ tại nhà riêng theo nghi thức Công giáo trước khi di quan ra Nhà tang lễ TP.HCM lúc 10 giờ để đồng nghiệp, bạn bè, công chúng đến tiễn biệt ông lần cuối.
Sáng 29/12/2019, linh cữu được đưa đi an táng tại nghĩa trang hoa viên Bình Dương, nơi có nhiều văn nghệ sĩ đã yên nghỉ trước ông, như: nhạc sĩ Phạm Duy, nhà văn Sơn Nam, soạn giả Viễn Châu, Giáo sư Trần Văn Khê, nhà thơ Kiên Giang…
Bà chánh thất ngồi trên cầu, thả câu xuống ao sen. Gió chiều mát rượi, hương sen tỏa thoang thoảng. Ở thảo am, mấy vị sư nữ đang tụng thời kinh “công phu chiều”.
Một con cá lội gần sợi nhợ, đứng lại. Cá nhìn mồi rồi do dự. Nhờ nước trong leo lẻo nên bà chánh thất theo dõi được sự dịch vẫn của con cá rô. Cá chúi đầu xuống dưới sâu. Đáng lý ra, bà phải đỡ cần lên cho miệng mồi nằm ngang mặt nước. Cá đến gần mồi, quạt đuôi rồi chạy mất, khuất dưới lá sen.
Bà chánh thất ngẩng đầu lên. Lũ chăn trâu nói to:
– Bà ơi! Có chiếc ghe lớn lắm, xóm nầy không ai có chiếc ghe như vậy.
Bà chánh thất đứng dậy, nhận ra chiếc ghe của Bá Vạn, có mui vuông, thếp vàng phía trước. Bà vừa mừng vừa lo. Mừng vì được gặp Bá Vạn, tha hồ bày tỏ tâm tình. Hơn tháng qua bà đoán rằng cậu Cẩu đã lộng quyền, làm nhiều chuyện thất lương tâm.
Nhưng tại sao Bá Vạn lại đến đây không có bọn tay em tiền hô hậu ủng như dạo nào? Phía sau lái, một lão gầy guộc đang cầm sào, chống thật nhẹ, bằng cớ là chiếc ghe lướt tới quá chậm chạp.
– Hay là Bá Vạn không có mặt trong chiếc ghe ấy? Ông ta giàu sang rồi, sắm chiếc ghe mới!
Nhưng Bá Vạn đã xuất hiện. Ông ta mặc áo dài đen, hỏi chuyện với mấy chiếc xuồng chỗ cửa qua lại. Đáng lý ra, bà chánh thất phải ngoắt tay làm hiệu. Nhưng bà muốn giữ thể diện với mấy sư nữ trong am.
Lát sau, Bá Vạn đến trước bến. Ông chạy nhanh đến bờ am, gương mặt buồn bã vô cùng, nụ cười héo hắt gượng nở trên môi:
– Thưa bà.
Bà chánh thất hỏi:
– Sao bơ phờ vậy?
Bá Vạn nói:
– Bà có tưởng được không? Thằng Cẩu nó đuổi tôi, tịch thâu tất cả tài sản.
– Ác thiệt! Chồng con tôi mà nó còn giết, huống gì ông. Ông ăn cơm chưa? Mời ông vô nhà.
Bá Vạn hơi lúng túng, chẳng biết tại sao bà chánh thất dám làm chuyện mà luật tu hành không bao giờ cho phép. Bà chánh thất nói nhanh:
– Tôi như cư sĩ tu tại gia. Những bà sư nữ bên am theo giới luật, tôi thì sống dễ dãi hơn. Nhà ở bên cạnh đó, ông cứ tự nhiên. Tôi chỉ ăn chay vào ngày sóc, ngày vọng.
Đi theo sau bà chánh thất, Bá Vạn suy nghĩ mông lung. Phải chăng bà chánh thất còn nhiều dục vọng muốn trở lại địa vị cũ nên chưa muốn thí phát qui y? Khi vào nhà, Bá Vạn thấy bàn ghế khá tươm tất, toàn là cây danh mộc. Bà chánh thất dùng cái chén bằng ngọc xanh như hôm nào. Bà đem cái chén ngọc thứ nhì, rót nước mời Bá Vạn.
– Tại sao nó đuổi ông?
– Bởi vì nó sợ tôi chiếm đoạt tài sản.
Bà chánh thất vẫn không quên đối thủ lợi hại nhứt:
– Còn cô Huôi? Nó dám đụng tới cô Huôi không? Tôi suy nghĩ mãi, hiểu rằng kẻ chủ mưu giết chồng tôi chính là cô Huôi. Tôi phải giết nó. Ông giúp tôi được không?
Bá Vạn mừng thầm vì ít ra đêm nay ta cũng còn được ngủ một đêm êm ấm bên bà chánh thất. Hồi lâu, ông mới trả lời:
– Tôi sẵn sàng giúp bà, nhưng lúc nầy tôi là kẻ sa cơ thất thế, không còn đứa hộ vệ nào đi theo.
– Thằng Cẩu là đứa chết yểu. Đêm rồi tôi nằm chiêm bao thấy nó bị đâm chết.
– Có lẽ vậy. Nhưng lúc nầy nó mạnh lắm.
– Mạnh mà yếu, ông ơi! Ba bốn ngày rồi, ở đây có nhiều người mới tới. Họ ở núi Mo So. Họ nói rằng xung quanh núi đầy khói, nhiều nhà bị cháy. Ông Mười Hấu với cô Ngó làm nhiều điều tàn ác. Dân chúng nổi lên…
Rồi bà nói khẽ vào tai Bá Vạn:
– Có thằng Thừa chèo ghe cho ông mọi lần, nhớ nó không?
Nghe qua, Bá Vạn cau mày. Quả thật cậu Cẩu quá ác độc. Chắc là sau khi cách chức ông, cậu ta về Hòn Chông đuổi thằng Thừa ra khỏi nhà, ngôi nhà mà ông Chúa Hòn ban cho từ trước. Hồi xuống ghe để đến núi Đất nầy, Bá Vạn vẫn nuôi hy vọng trở về Hòn Chông để di chuyển chút ít vàng bạc và ghé thăm cô Huôi, nhờ cô chỉ dạy cách đối phó.
Nếu đến sớm quá thì bất lợi, cậu Cẩu đang tức giận. Ông muốn tránh né về ngay, đến thăm bà chánh thất. Thằng Thừa đến núi Mo So làm loạn, phải chăng là cậu Cẩu đã hành hung nó, hoặc đã đập phá, tịch thu ngôi nhà của ông ở Hòn Chông rồi!
– Làm cách nào cho nó chết? Mọi khi, ông nhiều mưu kế lắm mà! – Bà chánh thất hỏi.
Bá Vạn trở lại thực tế:
– Nên nhẫn nhịn, bà ơi. Giông tố nổi lên thì cây cỏ phải rạp đầu xuống, nếu không muốn bị trốc gốc.
– Thằng Cẩu là đứa thất học, so sánh nó với trận giông thì hơi quá đáng.
– Bởi vì thất học nên mới đáng sợ. Hồi xưa, tôi gặp nó một lần. Nó đang đá cá thia thia. Lúc tức giận, nó không thèm đá cá nữa, đem con cá quí nhứt mà ném xuống đất.
– Bởi vậy, tôi nói nó là đứa không ra gì. Tại sao những người lớn tuổi như ông, như tôi lại sợ nó.
– Để tôi nói tiếp… Khi liệng con cá xuống đất, mặt thằng Cẩu xanh lè, coi dễ sợ. Tóm lại, tôi muốn nói rằng nó là thằng điên. Khi thằng điên lên cơn, mình nên tránh mặt chạy trốn.
– Nhưng muốn giết thằng điên thì dễ quá, vì điên là ngu dại, mất trí khôn.
– Phải. Tôi hiểu rồi. Nhưng chờ xem tình thế ra sao! Nếu quả thật thằng Thừa đã xúi giục dân chúng ở núi Mo So nổi dậy chống Mười Hấu và cô Ngó thì đó là cơ hội tốt. Thằng Cẩu không đủ sức chống cự đâu. Bọn hộ vệ còn hơn vài chục đứa…Nhưng trước tiên, mình nên giữ bí mật. Không khéo, thằng Cẩu cho người tới đây giết hại tôi với bà.
Hồi lâu, bà chánh thất giựt mình, vỗ vai Bá Vạn:
– Nầy ông! Nghe nói ông đạo Đất ở gần đây! Tại sao ông với tôi không tới gặp, nhờ xem giùm quẻ? Ông đạo xem giỏi, nói đúng thời vận cô Huôi. Nếu ông đạo bảo rằng tôi với ông hạp tuổi với nhau thì ông nên tìm cách giết thằng Cẩu, nhập bọn với thằng Thừa.
Trời đã khuya.
Sau bữa cơm, Bá Vạn và bà chánh thất nằm chung một giường. Tuy hưởng hạnh phúc, nhưng ông vẫn lo âu. Bà chánh thất hỏi:
– Tôi làm điều gì khiến ông không hài lòng?
Bá Vạn nắm tay bà chánh thất. Ngoài song cửa, ánh trăng soi chênh chếch. Nếu được hưởng hạnh phúc mãi mãi như vầy thì có chi đáng rầu lo. Ông nghĩ đến cuộc khởi loạn ở núi Mo So. Dân chúng Lung Tràm ắt sẽ khởi loạn theo. Đứng về phía nào bây giờ? Nếu đang lúc trai tráng mà gặp cơ hội nầy, nhất định ông sẽ xông pha trận mạc, dẫn bọn hộ vệ và võ sĩ đến Hòn Chông để cướp phá, bắt sống cậu Cẩu. Bây giờ tuổi già sức yếu rồi…
– Ông buồn điều gì? – Bà chánh thất hỏi.
Bá Vạn đáp:
– Tôi không biết làm cách nào để sống yên ổn
– Liệu chừng bọn thằng Thừa ở núi Mo So có thắng nổi không?
Bá Vạn đáp:
– Ở trên núi thì được địa thế tốt, cầm cự lâu ngày, nhưng lần hồi dân chúng mỏi mệt. Nếu thắng trận mà sống trên núi với rắn rít muỗi mòng thì thắng để làm gì?
– Như vậy là thằng Cẩu đang nắm ưu thế.
– Nó không mạnh hơn ai hết! Vài chục tên hộ vệ, sẵn sàng liều chết để canh giữ vòng rào ngôi nhà. Vậy thôi. Nhưng trong ngôi nhà có bàn ghế tốt, có thức ăn ngon, có nữ tỳ. So sánh cho kỹ thì mình ở đây vui nhứt.
Bà chánh thất đáp:
– Vui mà buồn! Hôm nào thằng Cẩu sẽ cho người tới đây hạ nhục tôi với ông. Bởi vậy, tôi khuyên ông tìm cách giết thằng Cẩu. Dễ quá mà! Bỏ thuốc độc vào thức ăn. Cần gì cầm gươm dáo.
Bá Vạn đáp:
– Nhưng liệu cô Huôi cho phép tôi làm chuyện đó không?
Bà chánh thất nảy ra ý nghĩ ghen tương:
– Sao ông sợ cô Huôi? Cô ta nào có binh lực gì trong tay!
– Tôi sợ cái trí khôn của cổ. Không bao giờ cô Huôi là người yếu thế.
– Tại sao lúc nầy cô Huôi không ngăn cản cho thằng Cẩu bớt hung ác?
– Nó càng hung ác thì thiên hạ càng tin cậy vào cô. Nhưng mà rốt cuộc, cô Huôi lại khổ vì chẳng bao giờ có chồng được. Hễ có chồng, dân chúng không tín nhiệm như trước.
Bà chánh thất gật đầu:
– Ông nói hữu lý. Chưa ai chê cô Huôi lời nào cả. Đàn bà mà tỉnh táo như vậy thì quá khéo léo. Ông đạo Đất bói quả đúng. Tại sao mình không gặp ông đạo Đất?
Ý kiến ấy khiến Bá Vạn vui mừng. Thật ra ông ta còn quá nhiều tham vọng, muốn trở lại Hòn Chông để tiếp tục vai trò quản gia, vơ vét thêm vàng bạc. Lúc nầy, bà chánh thất yêu ông chỉ vì ông là người quen thuộc, có tài. Lâu ngày chầy tháng, bà sẽ chê ông là bất tài, nếu suốt ngày ông chỉ biết làm tình rồi uống rượu, câu cá. Hơn nữa, bà chánh thất dám cho sống trong căn nhà ầy, bên cạnh thảo am mà không sợ dư luận?
Nếu muốn hưởng lạc thú, ông có thể tìm vài cô gái tơ. Như vậy đời ông tươi mát hơn. Bên cạnh bà chánh thất, ông chỉ là kẻ thuộc hạ, tôi tớ của …
– Ngày mai, gặp ông ta thử xem…Hỗm rày tôi quên…
Ăn xong bữa cơm sáng, bà chánh thất và Bá Vạn đi bộ lên núi Đất. Dọc đường, Bá Vạn sực nhớ đến ông Tư Thính cha ruột của cô Huôi. Ngôi nhà cũ được tu bổ lại sơ sài, sau khi bị Hai Điền đốt cháy. Bên cạnh, ngôi chùa khá to đang xây cất.
Tư Thính mặc áo lụa ra cửa đón tiếp hai vị thượng khách. Bá Vạn chắp tay xá:
– Tôi không còn là quản gia nữa. Cậu Cẩu đuổi tôi rồi.
Tư Thính đáp:
– Tôi kính trọng ông hơn xưa. Nhưng mà ngày mai ông sẽ làm chức lớn.
– Ai nói vậy?
Tư Thính đáp:
– Ông đạo Đất! Đôi ba ngày, ông tới đây thăm tôi một lần.
Bà chánh thất hỏi:
– Ông đạo Đất bây giờ còn ở trên am?
– Còn đó chớ đi đâu. Xin lỗi bà, ông đạo khen bà là người nhiều phước đức. Về già, bà được yên vui.
– Ông mới là nhiều phước đức chớ? Con gái ông bây giờ là người sang trọng nhứt…
– Tôi chỉ dám cầu mong cho nó được trong sạch nhứt, để cha mẹ khỏi mang tiếng xấu. Con người sanh ra, chịu cực khổ, bỗng vui sướng rồi chết. Mời bà và ông vô nhà.
Vì ganh tức với địa vị cô Huôi, bà chánh thất cương quyết từ chối:
– Tôi chỉ xứng đáng đứng ngoài sân nhà nầy. À! Nghe nói trước sân có bụi quỳnh hoa đẹp lắm.
Tư Thính chắp tay xá bà chánh thất:
– Xin bà đừng giận tôi. Tới ngày giờ nầy, con gái tôi cho tôi đủ tiền để cất một ngôi chùa. Tôi hứa đi tu mà! Ông đạo Đất nói rằng nếu không tu hành, theo con cái về Hòn Chông mà hưởng vinh hoa phú quý thì tôi bị giết!
– Ghê vậy! Để tôi lên gặp ông đạo Đất …
Rồi bà giải bày:
– Hỗm rày, tôi ở ngoài am. Tình cờ gặp Bá Vạn nên tôi nhờ ổng dẫn đường. Bụi quỳnh hoa ở chỗ nào? Cho tôi xem.
Tư Thính đưa bà chánh thất tới trước sân. Chỉ là bụi cây um tùm. Ông cho biết từ đó đến nay, nó không trổ thêm nụ nào hết.
Bá Vạn nói khẽ:
– Nên an hưởng tuổi già, ông Tư à!
Tư Thính cau mày:
– Ai mà không muốn được an nhàn? Nhưng mà ông đạo Đất dạy rằng: Khôn cất trại, dại cất nhà. Ổng dám đoán rằng vài năm nữa, con gái tôi trở về đây để tưới rau, trồng cải, cấy lúa. Ông tin không? Theo ông đạo Đất thì đời nầy sắp thay đổi. Vùng đồi núi Hòn của ông Chúa Hòn xưa kia chỉ là cánh bèo trên biển Đông. Khi tươi khi héo. Có bao giờ cánh bèo sống trăm năm, ngàn năm?
Bá Vạn bèn thúc hối bà chánh thất:
– Thưa bà, tôi muốn lên gặp ông đạo Đất. Ông nói nhiều chuyện lạ quá. Quá khứ, ông nói đúng, thì nhất định là đâu có sai lầm những chuyện vị lai. Tôi muốn biết thằng Cẩu sống bao lâu?
Ông Tư Thính muốn dẫn đường nhưng Bá Vạn nói khéo:
– Bà chánh thất nầy không ưa cô Huôi. Nếu ông có mặt thì làm sao ông đạo Đất dám bói quẻ.
Rồi ông nói riêng:
– Hôm nào gặp cô Huôi, nhờ ông nói giùm. Lúc nầy tôi thất thế.
Ông Tư Thính nói:
– Sống ngoài vòng danh lợi như tôi, thích hơn. Chừng gặp ông đạo Đất, ông sẽ nói nhiều điều mầu nhiệm lắm.
Khi Bá Vạn và bà chánh thất đến thảo am thì gặp ngay ông đạo Đất. Ông ngồi trên bộ ván sơ sài, gương mặt mệt mỏi:
– Tôi ít nói lắm.
Bà chánh thất bèn tự giới thiệu dài dòng. Ông đạo Đất đốt ngọn nến, soi tứ phía rồi để ngay trước mặt bà chánh thất:
– Về già, bà được hưởng chữ nhàn.
Bà chánh thất chưa được thoả mãn cho lắm:
– Nhờ ông coi kỹ lại. Nhàn mà bị đày ải nơi xa xôi, ngày đêm lo lắng thì sướng ích gì? Cô Huôi mới là người nhàn rỗi, ở không cũng có ăn, bên cạnh luôn luôn có người hầu hạ.
Ông đạo Đất nói:
– Cô Huôi lo lắng hơn. Rồi đây cô sẽ cất một cái thảo am như bà vậy thôi. Về già, ai cũng bớt nóng nảy.
– Nhưng chẳng lẽ số phận tôi và cô Huôi lại giống nhau? Trời sanh ra, giọt nước nầy rơi trên đồng, giọt nước kia rơi xuống giếng.
Ông đạo Đất cười hiền lành:
– Nhưng tất cả đều về biển. Chỉ khác một điều là cô Huôi đi tu sớm hơn bà. Bà đi tu năm nầy, năm được ngoài bốn mươi tuổi. Cô Huôi thì… cũng đi tu năm nay, chừng vài tháng nữa thôi.
Bá Vạn nãy giờ ngồi trầm tĩnh, đoán chừng ông đạo Đất chỉ xem quẻ chiếu lệ để trấn an bà chánh thất. Khi nghe chi tiết lạ lùng ấy, ông sửng sốt hỏi:
– Vài tháng nữa là cô Huôi đi tu?
Ông đạo Đất gật đầu:
– Thiên cơ mầu nhiệm lắm. Đây là thời Ma Pháp. Tôi ở non cao nên thấy vài chuyện ma, người ở dưới không thấy. Ngoài biển khơi hôm nào trời trong vắt…luôn luôn có vài con cá kình nổi lên!
Bà chánh thất cằn nhằn:
– Ông nầy nói nhiều chuyện khó tin quá.
Nhưng ông đạo Đất đứng dậy nói với Bá Vạn:
– Muốn thấy cá kình thì hôm nào rảnh, ông Bá tới với tôi, đứng trên chót núi.
Bá Vạn bước theo chân ông đạo. Bà chánh thất ngồi lì trong am, thắp ba cây nhang cắm trong cái lư nhỏ. Nếu quả thật vài tháng nữa cô Huôi phải đi tu thì bà vui mừng biết chừng nào. Chừng đó, tất cả mọi người đều tủi nhục, ngang hàng với nhau. Và người nào nếm mùi tủi nhục trước thì sẽ được xem là khôn ngoan.
Đến tảng đá bằng phẳng, ông đạo ngồi xuống.
– Ông Bá nói chuyện cho vui. Vì bà chánh thất ở trong am nên tôi muốn tới đây.
Bá Vạn ngồi xuống với vẻ mặt hơi bực dọc:
– Đầu đuôi cũng tại ông. Nếu không có cô Huôi thì tôi đâu nhục nhã như vầy! Thằng Cẩu đuổi tôi, chưởi tôi trước đám đông rồi còn tịch thu tài sản. Hồi xưa cậu Hai Điền chỉ làm một chuyện nhỏ là hất tô thịt kho vô áo tôi. Bởi vì tử vi cô Huôi quá hên, nên tôi hứng chịu bao nhiêu nhục nhã.
– Kìa!
Ông đạo Đất chỉ về phía Tây. Núi Đất ở xa bờ biển chừng trăm mẫu đất. Mặt biển xanh chàm, gió thổi mát lạnh. Hòn Nghệ, hòn Heo nằm im lìm. Và cánh buồm như không di chuyển. Nơi bãi bùn, vài chiếc thuyền câu sắp rời bến.
Bá Vạn hỏi:
– Ông muốn nói chuyện trời biển tang thương hay là ông rủ tôi ra ngoài hoang đảo để lánh nạn?
– Không! Gần Hòn Nghệ phía trái hai ngày trước, dân chúng thấy hai con cá kình nổi lên. Cá kình lớn hơn cá ông. Nhưng vài người chài lưới bảo rằng đó không phải là cá kình.
– Vậy chớ cá gì?
– Là hai chiếc tàu sắt, phun khói đen kịt. Trên tàu có nhiều người da trắng bạch, tóc hoe, mắt đục. Họ cầm súng, bên cạnh họ còn nhiều người “An Nam” khác. Sau lái tàu, có lá cờ xanh trắng đỏ. Bọn đó tới Hòn Chông, thì …liệu cậu Cẩu chống cự nổi không? Nghe đâu miệt trên, Vĩnh Long, Định Tường đều thất thủ. Bọn nó tới chợ Rạch Giá rồi.
Bá Vạn nhăn mặt. Ba màu xanh, trắng, đỏ khiến ông ta nhớ đến bọn Sơn Đông mãi võ đến Hòn Chông để nhảy qua vòng lửa. Bọn chúng là quân dọ thám, nghi ngờ gì nữa! Như vậy có nghĩa là sớm muộn gì Hòn Chông nầy cũng lọt vào tay người lạ mặt. Nhưng Bá Vạn vẫn còn thắc mắc:
– Biết đâu họ đem tàu sắt tới xứ nầy để thị oai rồi qua xứ khác. Bên kia bờ biển là nước Xiêm!
Ông đạo Đất nói:
– Sự đời thấy thì hay vậy! Tôi không dám bàn thêm. Mỗi ngày, tôi tới thăm ông Tư Thính, nói chuyện đạo hạnh cho vui. Bởi vậy …tôi khuyên ông Bá đừng nóng nảy.
Bá Vạn đứng dậy, nhắc ông đạo Đất ở trong am còn bà chánh thất đang chờ. Trên đường về am, Bá Vạn nài nỉ:
– Ông coi cho tôi một quẻ, coi thiệt tình, đừng nịnh bợ, thấy sao nói vậy…
Ông đạo Đất lẩm bẩm:
– Thế nào vùng Hòn Chông cũng lộn xộn. Cậu Cẩu phải nhờ tay ông. Ông ở đây mà chờ….
Cậu Cẩu về Hòn Chông, vui sướng vô cùng vì đã giải chức Bá Vạn mà không gặp sự chống đối nào cả. Cậu cho người đến núi Mo So, rước mẹ và ông ngoại về Hòn Chông.
Ông Mười Hấu và cô Ngó đến cư ngụ tại ngôi nhà trước kia dành cho bà chánh thất và ông Chúa Hòn.
Là người thận trọng, ông Mười Hấu hỏi:
– Cháu đã làm điều gì hỗn hào không? Dầu sao đi nữa, ông Bá Vạn giúp cháu quá nhiều.
Cậu Cẩu đáp:
– Hễ cháu đuổi là làm chuyện hỗn hào rồi. Cháu nghĩ rằng dung dưỡng Bá Vạn thì ngoại đâu còn công chuyện mà làm! Theo ý cháu thì từ rày về sau, ông ngoại sẽ lên chức quản gia thay thế Bá Vạn.
– Không được cháu ơi, thiên hạ bàn tán xôn xao. Họ nói rằng ông đây chủ mưu giết cậu Hai Điền.
– Cháu liệu định rồi. Thỉnh thoảng, ông ngoại tới Vàm Rầy mà ở. Bá Vạn cất ba căn phố, dự trữ đầy đủ nào là tôm khô, bong bóng cá để bán với giá cao trong mùa tới. Ông ngoại tới đó làm sổ sách…
Ông Mười Hấu đáp:
– Để tính kỹ lại. Khó lắm.
– Có gì mà khó! Cháu đủ quyền hạn mà.
Thật ra, ông Mười Hấu đang khổ tâm vì chuyện khác. Từ khi cậu Cẩu nắm quyền thay thế cậu Hai Điền và ông Chúa Hòn thì dân chúng núi Mo So vô cùng phẫn uất. Họ không tin cậu Cẩu, xem cậu là đứa ngu dại, khùng điên. Ông Mười Hấu nói:
Xí Vĩnh xuất hiện trước sự ngạc nhiên của Mười Hấu. Nàng mặc áo gấm, chân đi dép cườm. Cậu Cẩu nói:
– Đây ông ngoại. Em hãy chào ông ngoại.
Mười Hấu nói:
– Được rồi! Cô nầy là ở đâu vậy cháu?
Cậu Cẩu nói:
– Cháu nhìn nhận Xí Vĩnh là vợ. Ông ngoại thấy sao? Chưa ai xinh đẹp bằng. Thấy Xí Vĩnh ở đây, ông Bá Vạn nổi cơn ghen mà chết. Thằng A Chúa rước bọn gái đẹp để dành cho Bá Vạn. Dè đâu cháu chận trước đem về đây.
Day qua Xí Vĩnh, cậu Cẩu nói:
– Em hát một bài, hay là đem cây đờn tranh ra khẩy một bản Hành Vân, Lưu Thủy gì đó cho ông ngoại nghe.
Trong phút giây, ông Mười Hấu thấy cảnh suy sụp của gia đình. Theo ý ông thì công việc đầu tiên mà cậu Cẩu nên chỉnh đốn là phòng thủ, tuyển chọn thêm một số đông hộ vệ quân, cho bọn nầy ăn uống đầy đủ, phòng khi hữu sự thì chúng nó dám liều chết cứu chủ.
Nghe chưa dứt bản đàn, ông Mười Hấu đứng dậy:
– Cháu cứ nghe. Ông muốn nằm nghỉ.
Cậu Cẩu hỏi:
– Hay là Xí Vĩnh đờn quá dở. Nếu vậy cháu phạt nó uống rượu?
– Thôi! Ông đã già rồi. Cháu cứ vui…
Cậu Cẩu cau mày:
– Hay là ông ngoại chê cháu ham chơi? Cháu làm công việc dữ lắm. Phải trừ tuyệt bọn tay em của Bá Vạn.
Khi Mười Hấu ra cửa, cậu Cẩu ra lịnh:
– Hộ vệ đâu? Đưa ông ngoại tao tới nhà ông Chúa Hòn. Tụi bây quét dọn trong ngoài cho sạch sẽ.
Tên hộ vệ theo chân ông Mười Hấu. Lần đầu tiên, ông bước vào căn nhà sang trọng, từ trước đến nay. Tên hộ vệ mở khóa rồi chỉ dẫn:
– Đây là bàn thờ…
Ông Mười Hấu sực nhớ một việc quan trọng nên dừng lại.
Sau khi đốt nhang khấn vái lâm râm, ông xá ba lần trước bàn thờ. Trên ấy, có nhiều bài vị, nhưng còn thiếu cái bài vị đề tên ông Chúa Hòn và cậu Hai Điền.
– Trưa nằm ngủ bên nầy.
Cánh cửa mở rộng. Người hộ vệ vào trước, đốt mấy ngọn đèn sáp. Vì quen sống bên ngoài nên Mười Hấu đứng lại mà quan sát rồi hỏi:
– Tại sao tối om om vậy?
– Dạ ban ngày ban đêm gì cũng phải thắp đèn sáng. Hồi trước ông Chúa Hòn nói rằng nhà phải kín đáo thì làm ăn mới khá. Đây là kiểu nhà của vua quan bên Tàu. Nếu khoét cửa thì có ba điều hại.
Mười Hấu hỏi thành thật:
– Điều gì?
– Dạ gió lọt vô dễ bị cảm mạo. Tiền bạc bên trong có thể…bay ra ngoài.
– Ngộ quá! Vậy vua chúa có nhiều phong tục lạ. Nhưng còn điều thứ ba?
– Ông cho phép thì tôi mới dám nói.
– Cứ nói. Ta thưởng tiền bạc cho.
Nhìn kỹ gương mặt người hộ vệ, Mười Hấu hơi sửng sốt vì lão nầy hơi già, trán nhăn lại, gân tay nổi lên. Mười Hấu nói tiếp:
– Tôi lớn tuổi rồi, muốn hưởng nhàn. Cháu tôi mời mọc, tôi phải tới đây. Còn điều thứ ba?
Người hộ vệ bèn cúi đầu:
– Tôi hầu hạ ông Chúa hơn mười năm rồi. Tôi không phải là hộ vệ vì sức lực đã suy giảm. Điều thứ ba là nếu nhà có cửa sổ thì kẻ gian bên ngoài có thể nhảy vào mà thích khách…
Mười Hấu rởn tóc gáy khi nghe hai tiếng đó. Ông ta bèn trao cho lão nọ một nén bạc, với dụng ý mua chuộc tình cảm để lão nói cả sự thật.
Lão cúi đầu, ngỏ lời cám ơn. Mười Hấu nằm xuống sạp, lão cầm quạt phe phảy đứng bên cạnh. Mười Hấu vẫn chưa hết thắc mắc:
– Rủi người ngoài vào đây thích khách thì ta làm sao?
– Dạ, bên ngoài đã có bọn hộ vệ trẻ tuổi. Trong nầy có cách khác…tôi lo món ăn cho ông Chúa Hòn ngày trước. Hỗm rày tôi muốn trình cậu Ba vài việc nhưng chưa dám. Một khi nắm quyền hành trong tay, con người nên cẩn thận việc ăn uống, coi chừng bị đầu độc!
Trong một thoáng, Mười Hấu nhớ đến Xí Vĩnh và cái bầu rượu trên bàn cậu Cẩu lúc nãy:
– Phải đó. Đề phòng bị đầu độc bằng cách nào?
Người hộ vệ thưa:
– Đáng lý ra, trước khi ăn uống, cậu Ba nên hỏi ý tôi.
Mười Hấu trợn mắt:
– Ông làm thầy thuốc? Làm sao biết món ăn có trộn thuốc độc? Ông hửi thử hay là ăn trước vài miếng? Lúc nầy tôi nên đề phòng, dân chúng ở núi Mo So bắt đầu chống đối, hăm he không chịu góp lúa ruộng.
Người hộ vệ bèn kéo cửa tủ rồi mở cái ngăn nhỏ bên trong. Ông ta đem ra một cái dĩa màu xanh mướt trao cho Mười Hấu.
Ông nầy trố mắt, đem cái dĩa lại gần ngọn đèn sáp mà ngắm xem. Nước men nổi lên màu xanh láng kỳ diệu, rờ vào là mát lạnh:
– Ngộ quá! Hồi nhỏ tới lớn, tôi chưa thấy cái dĩa nầy.
Người hộ vệ đáp:
– Đó là cái dĩa quí của vua chúa bên Tàu. Mấy người thương gia đem qua “cống sứ” cho ông Chúa Hòn. Nhờ nó mà hồi mười năm trước, ông Chúa thoát nạn. Ông xem kỹ thì thấy cái màu xanh kỳ lạ, nước biển không ra nước biển, xanh lá cây thì khác hơn…
Mười Hấu thích chí, hỏi thêm:
– Có chén bằng ngọc không?
Người hộ vệ đáp:
– Cái dĩa nầy còn quí hơn ngọc. Nghe đâu nó còn phép lạ khác, để đồ ăn vô dĩa đôi ba ngày mà không hôi thúi.
– Tôi bỏ cái dĩa nầy trong túi. Khi nào nghi ngờ thì đem ra xài.
Người hộ vệ đáp:
– Ngày xưa, ông Chúa Hòn giữ kín, không cho ai thấy cái dĩa nầy, lâu lâu mới đem ra xài một lần. Nếu ông cho người khác thấy thì ai ngu dại gì ám hại bằng cách đầu độc?
– Vậy thì tôi để đây!
Vừa lúc ấy, bên ngoài có tiếng kêu la ơi ới. Mười Hấu chạy ra sân. Cậu Cẩu nói hơ hãi:
– Ông ơi. Nguy rồi! Ông cầm…binh được không?
Mười Hấu hoảng hốt:
– Cầm binh là làm sao? Thì cháu có sẵn mấy chục đứa hộ vệ. Chuyện gì mà đánh mõ ỏm tỏi vậy?
Cậu Cẩu nói khẽ:
– Dân ở núi Mo So chạy giặc lên đây. Thằng Thừa tay sai của ông Bá Vạn tới đó, đốt nhà cửa, xúc lúa đem lên núi.
– Cháu tính cách nào?
– Ông qua đây mà xem thử. Ông sẽ thấy chuyện nầy lớn chớ không nhỏ đâu.
Bên nhà cậu Cẩu, hàng trăm người ngồi chồm hỗm trước sân. Mười Hấu nhận ra tất cả những người quen thuộc:
– À! Tư Hinh!
Trước kia, Tư Hinh sống bằng nghề hái ổ ong, lấy sáp và mật. Tư Hinh vuốt mồ hôi trán, chắp tay thưa:
– Ông Mười ơi! Nguy lắm. Xóm mình không còn một căn nhà nào đứng vững. Nhà ông bị đốt trước. Thằng Thừa gom tất cả dao mác. Dẫn chừng bốn năm chục cậu trai lên núi để luyện tập võ nghệ. Phải chi ông cầm binh đánh một trận cho nó sợ.
Nhiều người mạnh dạn đến gần cậu Cẩu, chắp tay xá dài để xin cơm nước, xin chỗ tá túc. Cậu Cẩu bèn nghiêm nét mặt:
– Tại sao không dám ở núi Mo So? Thằng Thừa bây giờ ở trên chót núi? Ai dám trở về giết nó thì tôi trọng thưởng. Phải về xứ mà ở. Đây là nhà tôi, làm sao chứa chấp hàng trăm người được?
Có người khóc mếu máo mà nói:
– Cậu ơi! Nó mạnh lắm. Mỗi đêm, nó đốt đuốc trên núi, đánh trống mõ vang trời. Nó hẹn năm ngày nữa là kéo binh tới Hòn Chông để …trả thù cho ông Bá Vạn!
– Sao? Mấy người nói gì?
Ông Mười Hấu truyền lịnh nấu cơm cho bọn người tản cư ấy ăn tạm rồi dẫn Tư Hinh vào nhà. Trước kia, Tư Hinh thường uống rượu và đánh cờ tướng với Mười Hấu nên được tin cậy.
Vào trong phòng, ông Mười hỏi kỹ:
– Thằng Thừa mạnh yếu thế nào? Bá Vạn tới núi Mo So chưa?
Tư Hinh đáp:
– Làm sao tôi so sánh được? Nếu ở đây mạnh thì nó yếu. Nó có hơn năm mươi đứa, cầm dao mác.
Nghe qua, Mười Hấu hoảng sợ vì với lực lượng ấy, thằng Thừa đủ sức đốt phá Hòn Chông. Chừng ấy, chưa ắt bọn hộ vệ còn giữ lòng trung thành với cậu Cẩu. Nếu Bá Vạn đi theo thằng Thừa thì mặc nhiên ông ta sẽ thắng thế.
Mười Hấu hỏi tiếp:
– Ai xúi giục thằng Thừa? Bá Vạn có ở đó không?
– Dạ, không thấy Bá Vạn. Nhưng dường như thằng Thừa có chiêu mộ được một người “Sơn Đông mãi võ”. Người nầy ở chợ Rạch Giá mới tới, loan tin rằng quân Lang Sa đang tràn về phía Hòn Chông!
Cậu Cẩu nằm yên trên giường, mồ hôi để tuôn nườm nượp, mặc dầu cô Xí Vĩnh quạt không ngừng tay. Con nít khóc ré trước sân, mấy người tản cư như đói khát lắm giành nhau từng chén cơm. Cậu đếm lẩm bẩm:
– Mười, mười bảy, ba chục đứa hộ vệ. Yếu quá!
Ông Mười Hấu bước vào, đuổi Xí Vĩnh ra ngoài rồi nói với cậu Cẩu:
– Cháu tính sao? Ông thấy rằng để trễ thì…không còn nơi nào chạy trốn. Bọn hộ vệ của thằng Thừa hăng hái lắm…
– Nguy thiệt. Ông tính cách nào thì cháu tuân theo.
Mười Hấu cau mày, sực nhớ đến cô Huôi. Lập tức, ông qua tư thất của cô vấn kế..
Cô Huôi cười lạt:
– Gieo gió thì gặt bão. Người như Bá Vạn đâu dễ kiếm. Bởi vì cậu Cẩu cách chức Bá Vạn nên thằng Thừa hoảng sợ. Muốn dẹp loạn thì nên…
Mười Hấu đáp:
– Thưa cô, nên mời ông Bá Vạn về, biểu cậu Cẩu xin lỗi vài tiếng.
– Không! Nên để cho cậu Cẩu tới núi Mo So dẹp loạn một lần.
Mười Hấu trố mắt:
– Nó đi thì chắc là chết dọc đường. Trước đây, cậu Hai Điền có oai thế nhờ biết săn bắn. Thằng Cẩu là cháu ngoại tôi, nó chỉ biết giỡn gái và đá cá thia thia.
Cô Huôi nói:
– Đây là dịp cho cậu ta thấy rằng làm ông vua con đâu phải dễ. Sau đó, hãy rước Bá Vạn. Nhưng Bá Vạn đâu phải con nít. Theo tôi thì cậu Hai Điền chỉ có tật là “nói bậy nói bạ” cho vui chớ chưa bao giờ dám đuổi Bá Vạn, tịch thu tài sản.
Mồ hôi tuôn giọt vắn giọt dài trên trán Mười Hấu:
– Thưa cô, nhờ cô giúp…
– Phải cho cậu Cẩu hiểu rằng đời là khó.
– Nhưng nó chỉ sợ cô thôi. Cô dạy dỗ nó. Ở xứ nầy cô là người nhiều quyền hạn nhứt.
– Điều đó hơi khó. Thú thật với ông tôi muốn đi tu cho rồi, nhưng chưa rảnh nợ đời. Cha tôi đã cất gần xong một kiểng chùa ở núi Đất… Cứ biểu cậu Cẩu tới núi Mo So ra trận một lần. Chỉ khi nào bại trận, cậu ta mới bớt háo thắng. Thôi! Ông nên ra ngoài, kẻo nó giận tới tôi.
Ra khỏi nhà cô Huôi, Mười Hấu gặp cậu Cẩu, khuyên đứa cháu ngoại nên ra trận, tiến vào núi Mo So để tiễu trừ bọn phiến loạn. Phản ứng đầu tiên của cậu là chờ đợi. Ông Mười Hấu hơi bối rối:
– Nếu cháu không giết nó trước thì nó kéo tới đây. Ông chạy trốn bây giờ.
– Theo ý ông thì nên làm gì?
– Cháu đi thử một chuyến, cho bọn hộ vệ quân đi trước, nếu gặp bất trắc thì chúng nó chết trước.
– Xí Vĩnh với cháu đi sau…Rời Xí Vĩnh cháu thấy buồn quá. Nhưng phải chờ sáng mai, cho bọn hộ vệ tập dượt trước.
Quá thất vọng vì thái độ khiếp nhược của đứa cháu ngoại. Mười Hấu bèn đến gặp cô Huôi lần thứ nhì. Sau khi suy nghĩ khá lâu cô đáp:
– Ông viết thơ năn nỉ Bá Vạn. Có Bá Vạn thì việc nầy mới xong.
Tác giả Lê Như Đức đã góp nhiều viết về nước Mỹ được đông đảo bạn đọc Việt Báo quí trọng. Ông sinh năm 1962 tại Saìgòn, Việt Nam. Nghề Nghiệp: Kỹ sư cơ khí cho Boeing, thành phố Houston. Gia Đình: Vợ và hai con gái, Học vấn: Cao học cơ khí. Sau đây là bài viết mới nhất của ông.
Lời người viết
Nội dung câu chuyện do một người quen thuật lại trong một dịp gặp gỡ. Mặc dầu đã qúa mười năm qua, tôi vẫn còn thấy sự nuối tiếc trong lời lẽ của anh. Tôi có khuyên anh bên xứ này tám chục tuổi cũng còn có thể vào đại học được. Người Việt Nam có truyền thống hy sinh và chịu đựng hơn mọi dân tộc khác. Tuy nhiên trong một vườn cam ngọt thể nào cũng có vài cây chua. Mời bạn cùng chia với tôi một trái cam không được ngọt.
Thanh hối chồng thêm một lần nữa trước khi mở cửa sau nơi nhà bếp để bước ra vườn sau vào ga-ra đề xe:
– Anh có lẹ lên không. Trể giờ rồi. Mấy đứa nó mới tới Mỹ lần đầu, mình ra trễ đón, chúng sợ lắm. Con Nga viết thư cho em cứ dặn đi dặn lại là chúng từ đảo qua không biết gì cả. Nếu mình tới trễ nó dám khóc to ở phi trường lắm đó.
Mậu vừa cạo râu vừa trả lời vợ:
– Xong ngay. Em cứ đề xe đi là anh ra liền. Còn sớm chán. Bẩy giờ
máy bay mới đáp, giờ chưa tới sáu giờ mà em đã lo.
Mậu và Thanh đều qua Mỹ năm 75 và định cư tại Houston. Sau hơn sáu năm cần cù làm ăn có được chút sự nghiệp thì ba đứa em vợ vượt biên qua tới đảo Mã Lai. – đảo gần non một năm, được chị bảo lãnh, ba anh em: Vinh, Huy và Nga khăn gói lên đường tới Houston định cư. Còn gì vui bằng sau bao năm xa cách, Thanh người chị cả trong gia đình tám anh em, đón ba em mình tại phi trường. Cũng còn gì vui hơn khi vợ chồng Thanh lại làm ăn thành công có nhà to cửa rộng và làm chủ cả một chợ rau thịt trong khu thương mại Việt Nam vùng Downtown. Riêng Mậu lại càng vui hơn khi thấy vợ mình rực rỡ trong bộ đồ đầm mầu đỏ tươi thật đắt tiền đã làm cho ba đứa em vợ đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác.
Hôm đó là một ngày cuối Thu năm 1982.
Trời mùa Thu Houston hơi lạnh và buồn nhưng Vinh vẫn thấy lòng mình ấm và lâng lâng hơn bao giờ hết. Ngồi sát cửa trong băng sau của chiếc xe Mỹ thật sang trọng, Vinh nhìn những cảnh vật trôi nhanh bên đường mỉm cười, tự nhủ với lòng mình:
– Cuối cùng rồi cũng tới đích. Cám ơn trời đã thương, cho mọi việc đều êm trôi. Giờ thì chỉ còn lo học và …học.
Từ ngày rời nhà dắt hai em liều mạng vượt biển tìm tự do, Vinh đã mang trong người một gánh nặng của một người anh. Chàng đã hứa với ba mẹ sẽ sống cùng sống, chết cùng chết với hai em. Hôm nay tới được bến bờ
tự do, chàng sẽ chia xẻ bớt trách nhiệm với hai em cho chị Thanh. Riêng Vinh, chàng có một hoài bảo to lớn là được bước vào ngưỡng cửa Đại Học và sẽ được miệt mài với môn Toán mà chàng đã bao lần nhức óc nhưng đầy đam mê. Vinh không ao ước được ghi danh vào những đại học lừng lẫy của Hoa-Kỳ như MIT hay Standford. Chỉ cần một đại học thật bình thường thôi, và chàng có lẽ sẽ đành hết thì giờ cho khoa học. Một số bạn chàng đã may mắn qua năm 75, nhưng chẳng ai thành công mấy trên đường học vấn. Đối với Vinh, chàng biết rất rõ khả năng của mình lắm. Thi vào đại học Tổng Hợp rớt vì gia đình chàng không phải là gia đình cách mạng chứ không phải vì làm không được bài thi. Bốn bài toán hình học không gian lẫn đại số, chàng chỉ nhìn và cười khẩy. Ngoáy cây bút vài đường lả lướt là xong. Ông giám thị cũng phải sững sờ khi chàng nộp bài quá sớm. Ông nhìn chàng lắc nhẹ đầu, thầm tiếc cho một nhân tài. Sống trong xã hội chủ nghĩa ai ai cũng biết học tài thi lý lịch. Có giỏi cách mấy mà cha không phải đảng viên thì đừng hòng Bác cho thi đậu.
Nhìn qua cạnh cửa xe bên kia, Vinh thấy Huy cũng rộn rã hơn bao lần. Vinh hiểu rất nhiều về đứa em trai kế mình. Sức học của nó chỉ hơi thua chàng một chút thôi. Hai anh em đều là những học sinh xuất sắc từ Tiểu học qua đến Trung học của trường Chu-văn-An. Bốn đứa em còn kẹt lại ở Việt Nam cũng vậy, học giỏi không thua bất kỳ ai trong trường. Chàng đã bỏ hết công sức kèm các em mình từ vở lòng. Nhất là bốn năm sau khi thi không vào được đại học vì thiếu lý lịch tốt, Vinh không những không chán nản mà còn đã đem hết tài năng ra luyện cho các em mình và cũng cho chính mình thêm về môn ngoại ngữ. Chàng đã dọn đường cho mình rất nhiều để sẵn sàng bước vào Đại Học Hoa Kỳ khi có cơ hội. Hôm nay tuy là ngày đầu tiên đặt chân lên đất Mỹ, nhưng Vinh vẫn có cảm tưởng như là ngày mong đợi đã tới. Nga tuy là con gái nhưng kiến thức về những môn khoa học đã được chàng khéo léo đào luyện cũng bỏ xa nhiều đứa trai trong lớp học của trường Nguyễn Bá Tòng Sàigòn.
Ông Huân, cha chàng đã nhiều lần hài lòng với Vinh và với sự thành công của các con mình trong học vấn. Ông thường tâm sự với vợ:
– Thằng Vinh tuy nó không phải là cả nhưng là trai cả của nhà mình. Cám ơn Trời, Phật đã cho nhà mình có nó. Nó là cái đầu tầu thật tốt nên kéo tất cả các em nó đi lên. Chỉ cần thằng đi đầu khá là các em nó cứ thế mà nương theo. Ngày đẻ con Thanh tôi thật là lo. Nhưng khi thằng Vinh ra đời, chỉ nhìn nó thôi tôi cũng biết sau này nhà mình sẽ khá to.
Ngồi thu mình chính giữa nhưng Nga cũng có nhiều những cảm súc dâng tràn như hai anh. Chỉ lâu lâu thấy anh Vinh nhìn anh Huy mỉm cười, rồi anh Huy lại nắm chặt bàn tay phải đưa cao lên như thầm hứa sẽ cố gắng để thành công, Nga cũng thấy lòng mình ấm lại nhiều. Nga cũng muốn được vào đại học để học tiếp môn Hóa học mà nàng đã thích từ bao năm nay. Mỗi lần nghe nói bên Mỹ lớp học có phòng thí nghiệm thật đầy đủ, sinh viên vừa học vừa thực tập ngay tại chỗ là hồn Nga muốn bay bổng, thầm ước có cánh sẽ bay qua Mỹ ngay.
Vinh hết nhìn hai em rồi lại hơi nhón người lên trước nhìn Thanh. Bẩy năm xa cách trôi qua thật lẹ. Nhớ ngày gần mất nước, Thanh có về kêu nèo mọi người trong gia đình theo sở mình di tản. Thanh làm cho sở Mỹ gần phi trường Tân Sân Nhất nên được lệnh di tản qua đảo Guam sớm. Ông Huân phản đối. Ông lấy cớ là gia đình ông không có dính líu gì đến chế độ cũ, ông chỉ là một công chức quèn trong một xí nghiệp tư nên nay nước nhà thanh bình rồi thì tội gì lại bỏ nước ra đi. Thanh có rủ riêng Vinh. Vinh năm đó đương học lớp mười một, chưa dám nghĩ tới chuyện phiêu lưu với chị. Thanh vào sở xin di tản một mình.
Thanh ngày nay trông thật khác xưa nhiều lắm. Bẩy năm trời sống trên đất Mỹ, được “Ăn bồi dưỡng” đầy đủ cả về vật chất lẫn tinh thần, Thanh trắng trẻo và có da thịt hơn xưa. Không chỉ đẹp hơn, phong cách… Mỹ của Thanh cũng khác xa. Từng lời nói và từng cử chỉ điệu bộ của Thanh cũng có vẻ toát lên một sự sang trọng kín đáo, khôn ngoan và hiền thục.
Thanh quay xuống nhìn các em mình. Thấy Vinh nhìn lên liền mỉm cười dịu dàng hỏi em:
– Mấy đứa ngồi dưới có chật không ” Chị có nói anh Mậu mướn xe Van để đi đón các em, nhưng anh cứ nằng nặc là cái Ca-Lục-Lặc này chứa dư.
Vinh không trả lời câu hỏi của chị mà chỉ nhìn Thanh chăm chú rồi nhắc lại chuyện cũ:
– Phải chi ngày đó em cùng đi với chị thì có lẽ không phí mất một thời gian dài sống lãng phí, chị nhỉ” Nếu ngày đó chị không quyết định đi thì nhà mình đào đâu ra được tiền để chúng em vượt biên. Ngày chị đi, bố cứ rầy la, bực bội luôn. Về sau ông ca chị suốt ngày.
Thanh rướm nước mắt, rồi dễ dãi cười:
– Chuyện cũ em nhắc lại làm gì. Giờ qua được đây rồi cũng chả muộn gì nữa đâu. Em chỉ mới hai mươi lăm tuổi à. Chị đây sắp đến ba chục rồi mà vẫn còn thấy sớm, con cũng còn chưa muốn có. Anh Mậu con một, lại gốc người Tầu Chợ Lớn ba đời. Gia đình anh muốn có con lắm vậy mà anh vẫn tỉnh bơ. Bên Mỹ này năm chục tuổi vẫn chưa thấy già. Em mới được nửa, tiếc gì”
Chiếc xe Cadillac đồ sộ và láng bóng của Mậu từ từ quẹo vào ga-ra. Ba anh em Vinh lại càng ngẩn ngơ thêm khi thấy căn nhà của vợ chồng Thanh. Nga khẽ la: “To như dinh Thủ-Tướng, anh Vinh à. “
Huy bước xuống xe nhìn quanh cái ga-ra xe hết hồn hét lớn cho chị nghe:
– Cái ga-ra của chị thôi cũng đã to hơn cái nhà mình ở Việt Nam rồi.
Thanh nhìn em cười, giỡn nhẹ:
– Vậy tối nay chị để em ngủ một mình một ga-ra, em nhé.
Vợ chồng Thanh tuy chỉ có hai người nhưng tậu một căn nhà hai tầng với bốn phòng ngủ thật to về hướng Tây của thành phố Houston. Vườn trước nhà, vườn sau nhà là những bãi cỏ rộng bát ngát và xanh mướt. Chung quanh nhà trồng đầy những hoa đủ loại, đủ kiểu và đủ mầu. Xa xa nơi cuối vườn còn có một hòn non bộ đặt giữa cái hồ nước nhỏ. Đèn mầu đặt dưới hồ tỏa ánh sáng lung linh mờ ảo làm khung cảnh trở nên thần tiên, tươi đẹp.
Thanh dắt ba em theo lối sau vào nhà. Nơi bếp đã có hai người đàn bà Việt Nam tuổi trung niên đương nấu nướng. Trên bàn ăn, Vinh thấy bầy la liệt đồ ăn Việt Nam hầu như không còn một chỗ trống nào cả. Giữa bàn còn có cả cái chân đèn với tám cây đèn cầy bự đang cháy sáng. Nga thích chí kêu to:
– Ăn cơm có đèn cầy nữa. Sang qúa. Cả đời em chỉ được nghe thôi chứ chưa bao giờ được ăn cả. Lúc ở nhà, tối Việt cộng thường cúp điện luôn, chúng em cứ phải ăn cơm với đèn …dầu.
Mậu thẩy chùm thìa khóa lên bàn nhỏ đặt nơi góc bếp, giới thiệu cho em vợ mình về hai người đàn bà Việt Nam hiện diện trong nhà:
– Đây là chị Vân và chị Bẩy. Họ bán rau cho anh chị trong chợ. Hôm nay các em tới, anh chị có nhờ họ tới nhà nấu dùm mấy món ăn Việt Nam đãi các em.
Hai người đàn bà Việt Nam quay qua chào vội anh em Vinh rồi lại quay lại chỉ Thanh về những món ăn đang nấu. Hình như họ cũng muốn để lại sự tự nhiên đầm ấm cho gia đình Mậu nên từ biệt rất nhanh:
– Cô Thanh nè. Nồi nước lèo tôi đã nấu xong rồi. Khi nào ăn, cô cứ việc mở bếp hâm lại. Bún chị Bẩy đã sắp hết ra tô rồi. Đợi cho nước thiệt sôi, cô chỉ việc múc nước đổ vào tô là xong. Chúng tôi xin về đây.
Thanh cám ơn rồi đưa họ ra đến tận cửa, chào từ giã.
Tối hôm đó chị em Thanh có một bữa ăn thịnh soạn và tràn ngập thương yêu. Huy lâu lâu nhìn những thức ăn cứ tiếc nuối với chị:
– Chị làm nhiều qúa. Ăn ba ngày cũng không hết. Thật là phí của.
Thanh nửa đùa nửa thật với các em:
– Chị sẽ còn phải nấu nhiều hơn nữa. Các em cần phải ăn thật nhiều trong ba tuần tới để cho có chút da thịt đi sắm quần áo. Gầy qúa mặc quần áo không đẹp.
Tưởng đùa hóa thật, Thanh giam các em mình trong nhà và hàng ngày mua đồ ăn thật nhiều. Chưa được hai tuần Huy và Nga cuồng chân chịu hết nổi nên xin chị ra tiệm chơi. Vinh cũng xin theo.
*
Mậu và Thanh vô tình gặp nhau khi cùng đi xin việc trong một hãng điện tử nhỏ một năm sau ngày qua Mỹ. Xa quê hương ngộ cố tri. Hai người đã nhanh chóng yêu nhau rồi sống chung với nhau.
Ba năm sau vợ chồng Thanh liều mạng lấy hết tiền dành dụm mua đại một tiệm tạp hóa nhỏ trong vùng Downtown của thành phố. Hay không bằng may. Tiệm đang ế, tưởng sẽ xập không lâu bỗng nhiên thiên hạ ùn ùn đổ vào xây quán ăn, nhà hàng chung quanh làm thành khu thương mại Việt Nam trong vùng.
Vốn có đầu óc buôn bán của người Hoa, Mậu vội vàng tậu thêm đất chung quanh mở rộng tiệm chuyển từ bán tạp hóa thành chợ thịt rau. Chỉ một thời gian ngắn, tiệm đông khách như nêm, hai vợ chồng Thanh làm không xuể phải mướn thêm sáu người làm phụ. Hai người coi hàng rau, hai người phụ Mậu xẻ thịt và hai người giúp Thanh đứng quầy tiền.
Sau ba năm liên tục làm không nghỉ, 365 ngày một năm, 7 ngày một tuần và 12 giờ một ngày, vợ chồng Thanh tuy mệt mỏi nhiều nhưng không dám nghỉ. Giao tiệm cho những người làm phụ không tin tưởng, nhất là trong khâu quầy tính tiền. Đây không phải chỉ là vấn nạn riêng của vợ chồng Thanh mà hầu hết của tất cả những gia đình chủ tiệm trong vùng. Làm quanh năm suốt tháng thì không có thì giờ …thở, mà nghỉ nằm nhà thì lại không yên bụng, sợ người đứng phụ chôm hết tiền.
Hôm nay bất ngờ anh em Vinh tỵ nạn qua định cư, như buồn ngủ lại vớ được chiếu manh, Thanh biết rằng không ai có thể giúp mình bằng ba em cả. Làm thì hết mình, lương thì đòi phải chăng mà tiền trong tiệm thì lại không hụt đến một xu. Nhất là Vinh, Thanh biết rõ đứa em kế của mình rất nhiều. Với cái tính chăm chỉ cộng thêm sự thông minh lanh lợi, nếu giao tiệm cho Vinh thì mình chỉ có ngồi đếm bạc mà thôi. Chỉ có một điều làm Thanh băn khoăn suy nghĩ là các em mình qua đây đều có ước muốn riêng, không ai muốn đứng coi tiệm, làm giầu cho vợ chồng mình. Hai tuần qua khi biết được các em mình đều có chí học lên cao, Thanh biết tất cả những tính toán của vợ chồng mình đều khó thực hiện được.
Khác với ba em, từ ngày thôi làm hãng ra mở tiệm riêng, tiền vô dễ dàng, Thanh thấy rất rõ: phi thương bất phú. Vào trường học vừa mất bốn, năm năm lại tốn bao tiền học phí, rốt cuộc cũng lại ra đi làm ngày tám tiếng trong sở như Thanh bốn năm về trước. Lương có cao hơn chút nhưng cao sao bằng lương của ông chủ tiệm.
Ngày ngày ngồi bấm máy tính tiền cho khách hàng, Thanh lại nghĩ nhiều đến ba em mình ở nhà. Nhiều lúc Thanh muốn giải thích cho các em mình hiểu cuộc sống Mỹ này khác xa với xã hội ở Việt Nam vốn coi trọng khoa cử. Nếu có cơ hội làm giầu thì phải chộp ngay. – Xứ này, mảnh bằng chỉ là tờ giấy để đi kiếm việc chứ không phải là một chứng minh thư của sự cao sang, trí thức như người Việt Nam thường nhầm lẫn. Biết em mình mới qua, Thanh lại sợ hiểu lầm nên bao lần tính nói lại thôi. Mậu có bàn riêng với vợ:
– Em khỏi phải nói làm gì. Từ từ mấy cô, mấy chú sẽ tự động hiểu thôi. Em nói nhiều khi bị hiểu lầm cho là em sợ mấy cô, mấy chú học ra trường rồi hơn mình.
***
Nga vừa bước vô tiệm đã vội lên tiếng ngay:
– Tiệm chị to quá, nhiều việc nữa. Hay là chị cho em ra đứng bán hàng với chị đi.
Huy cũng nói theo:
– Ở nhà hoài riết cũng chán. Anh chị cho em ra đây làm quách. Em không cần lấy lương, chỉ ngày hai bữa cơm là đủ rồi.
Thanh nhìn Vinh chờ ý kiến. Vinh không nói gì cả. Chàng chỉ đút hai tay vào túi quần rồi lững thững đi quanh tiệm một vòng quan sát. Thỉnh thoảng Vinh lại với tay lượm bó rau rơi xuống đất hay xếp lại những bao đồ ăn khô để không đúng chỗ. Tuy mới tới Mỹ nhưng Vinh đã được đọc và nghe kể rất nhiều chuyện về cuộc sống tại đây. Tối qua nghe Thanh có nhắc lại món nợ ba chục ngàn đô la mà Thanh đã phải mượn để đóng cho ba anh em Vinh vượt biên. Tuy tiền mượn của ba má Mậu không lấy lời, nhưng cũng phải trả vốn. Thanh khôn khéo lấy nhà chồng ra làm bức bình phong để che giấu những tính toán của mình:
– Với chị thì không sao cả. Tiền của chị cũng là tiền của các em. Nhưng tiền này có dính tới anh Mậu nên hơi khó. Nhất là còn dính tới cả ba má của anh nữa. Nếu chị lấy tiền của chị ra trả, ba má anh sẽ nói chị lấy tiền của anh cho gia đình mình.
Vinh hiểu ý của Thanh. Cuối tuần qua khi ghé sang nhà ba má Mậu chào hỏi, Vinh có để ý thấy cuộc sống của họ cũng chả có gì sung túc lắm thì làm sao có dư tiền cho anh em chàng mượn đi vượt biên. Vinh biết tất cả đều ở vợ chồng Mậu bầy trò. Họ bỏ tiền ra nhưng sợ khó thu lại được nên phải dùng đến cái nước cờ ba má của Mậu. Tuy nhiên một điều Vinh vẫn chưa hiểu được ra tại sao vợ chồng Mậu lại có lòng nhân đạo đến độ bỏ ra một số tiền to cho anh em chàng vượt biên. Hôm nay tới tiệm và nhìn cử chỉ lẫn lời nói của Thanh, Vinh hiểu ra tất cả mọi chuyện. Thảo nào Vinh thấy tất cả những người làm cho tiệm Thanh đều không có vẻ thân thiện với anh em Vinh mấy. Mọi người đều biết họ sắp phải mất việc nên có cử chỉ ngại ngùng xa lánh. Có thể ba trong sáu người phụ làm tiệm cho Thanh đã được báo sẽ mất việc trước khi ba anh em Vinh đặt chân lên đất Mỹ. Biết đâu cũng có thể là bốn người không chừng”
Vinh bước tới quầy tính tiền coi Thanh đang chỉ cho Nga cách bấm máy tính tiền. Nhìn ngược lại phía cuối tiệm, nơi hàng thịt, Vinh thấy Mậu đang chỉ cho Huy cách cắt thịt và gói vào bao nylon bầy ra trong tủ kính. Vinh thở dài biết chắc anh em chàng sẽ phải làm ở nơi đây một thời gian thật lâu. Cổng vào đại học của Hoa Kỳ tuy rộng thênh thang nhưng chả mấy ai bước vô nổi vì những mưu đồ lợi lộc ích kỷ chứ không phải vì không có tài, có chí.
Tối hôm đó, trong bữa cơm chiều Vinh có nói chuyện với vợ chồng Mậu về những tính toán của mình. Ba anh em Vinh bằng lòng sẽ làm cho tiệm Mậu một năm để trả món nợ ba chục ngàn đô la. Vợ chồng Mậu hồ hởi ra mặt. Thanh nhận lời mướn các em ngay:
– Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh. Gì chứ ở cái đất Mỹ này chỉ cần giỏi một nghề là thành triệu phú liền. Chả có nghề nào hèn mà cũng chả có nghề nào sang. Xứ này chỉ có nghề nào kiếm nhiều đô-la và nghề nào kiếm ít đô-la mà thôi. Các em vào tiệm chị làm, học hết cách “rân” tiệm rồi chị nói anh Mậu để ý kiếm cho các em một tiệm kha khá, nhẩy ra làm riêng thì chả mấy chốc giầu to. Ngày mai các em ra tiệm học nghề rồi từ từ chị sẽ cho mấy người làm nghỉ. Dù sao người nhà mình vẫn hơn. Các em nghĩ có phải không “
Riêng Mậu vẫn cảm thấy không an lòng vì hết một năm sẽ khó kiếm được người thay thế. Đuổi người làm thì qúa dễ nhưng kiếm được người rành việc thì nhọc lắm. Khuya đêm đó, Mậu trằn trọc mãi không ngủ được. Thanh biết ý chồng nên bàn nhỏ:
– Anh đừng lo. Chúng nó sẽ phải làm ít nhất là chục năm cho tiệm mình. Vài tháng nữa em sẽ dụ thằng Huy mua xe mới. Còn con Nga thì dễ lắm. Tập cho nó xài thẻ nhựa. Cần tốn một ngày dắt nó đi thăm mấy cái Mall đắt tiền là nó cà thẻ hết biết. Nó còn có cái tật thích gọi điện thoại nữa. Sang năm em sẽ dụ tụi nó mua nhà mới rồi gắn bốn, năm cái điện thoại để nó tha hồ gọi đi Pháp, đi Úc. Nợ ngập đầu thì có thánh mới học nổi. Xài quen rồi mà bắt vô lại trường gặm bánh mì nguội, mặc áo thun thì chữ nào mà nhét vô đầu được. Chỉ có thằng Vinh là hơi khó nói thôi. Nhưng nó lại bị cái tính cả nể, thương anh em. Em sẽ dùng cái yếu điểm này để bắt nó làm cho tiệm mình suốt đời. Anh để ý coi có con nhỏ nào giới thiệu cho nó. Có bồ tự nhiên sẽ phải xài nhiều hơn. Nhưng anh nhớ tìm cho nó con nào hơi nghèo nghèo mới được. Giầu qúa nó bao thằng Vinh đi học thì mình lỗ to. Thất nghiệp càng tốt. Cho cả hai vợ chồng nó làm cho tiệm mình luôn.
Mậu nghe lời vợ …dậy nên yên lòng nằm ngủ một mạch tới sáng.
*
Hai tháng sau, Thanh tặng Huy một ngàn để down mua xe mới trả góp. Thanh còn chọn cho Huy chiếc xe sport với đầy đủ option. Huy nợ nhà băng hai chục ngàn đô-la nên ký lại giao kèo riêng với chị làm cho tiệm thêm ba năm nữa để trả cho xong tiền vốn lẫn tiền lời của cái xe. Riêng Nga thì ngoài giờ bán tiệm ra chỉ chuyên đi sắm đồ hiệu không. Vinh và Huy không ưa đi shopping nên Nga nghe chị bàn lại phải mua thêm một cái xe cũ cho chính mình. Dù xe cũ nhưng cũng tốn hơn chục ngàn. Tháng tháng tiền xe, tiền credit card lẫn tiền điện thoại long distance làm Nga bù đầu rối trí nên tạm quên đi cái ước mơ vào Đại học.
Năm sau Thanh sinh đôi nên anh em Vinh phải dọn ra ở riêng. Thanh khuyên các em nên mua nhà để còn đón ba má qua. Mướn hai phòng ngủ cũng hết sáu, bẩy trăm đô la một tháng trong khi mua nhà ba phòng ngủ chỉ trả thêm có ba trăm đô la mỗi tháng là cùng. Mua nhà lại còn được trừ thuế cuối năm. Ngày cuối tuần còn có sân trước sân sau để tổ chức picnic ngoài trời. Lợi trăm điều. Vinh nghe bùi tai. Chàng lại mới quen được Lan nên tiêu xài thoải mái hơn xưa nhiều. Anh en Vinh cùng chung ký mua nhà trả nợ góp ba chục năm.
Mua xong nhà Vinh mới nhận ra được ngoài tiền nhà còn có cả tiền thuế đất, thuế trường học và cả thuế cống rãnh. Tiền điện, tiền gas, tiền nước và tiền đổ rác chi đều đều. Hai cái sân cỏ nhìn thật đẹp nhưng phải cắt tỉa muốn hụt hơi. Ngoài tiền mua máy cắt cỏ máy xén cỏ, mỗi năm vào đầu Xuân, anh em Vinh lại tốn khá bộn bạc mua phân bón và mua hoa trồng quanh nhà.
Năm năm sau, ba anh em Vinh vẫn quần quật thay phiên nhau học cách “rân” tiệm cho vợ chồng Mậu từ 9 giờ sáng tới 9 giờ tối mỗi ngày, 7 ngày một tuần và 365 ngày một năm.
Vinh và Lan làm đám cưới tại nhà hàng cạnh tiệm và bay tới …tiệm trong tuần trăng mật. Vì là người nhà nên Lan cũng được job thơm làm cùng chung với chồng tại tiệm ngày ngày sáng tối.
Vợ chồng Mậu có người coi tiệm nên rảnh rang ghi danh học thêm cách làm người giầu sang. Có lúc cả hai phải qua tận California để dự những lớp dậy khiêu vũ nổi tiếng. Ngày cuối tuần Mậu phải đi đánh golf rồi vào những câu lạc bộ đắt tiền để đấp bóp, tắm hơi. Thanh thì lúc làm móng tay, lúc lại đi căng da, hút mụn, chà mặt, bóp eo, nắn chân, bơm ngực và độn mông. Hai vợ chồng lại còn có cái thú đi casino vui cuộc đỏ đen nữa.
Những ngày đầu, Lan mới lấy Vinh nên chín bỏ làm mười, vui vẻ “rân” tiệm. Càng ngày Lan càng thấy sự bất công chèn ép của người chị cả trong gia đình chồng mình. Lan xúi chồng và hai em chồng đứng lên đảo chánh, làm …cách mệnh. Lan bàn:
– Bỏ hết. Bán hết tất cả. Mình bán nhà, bán xe, bán đồ rồi đi ra mướn appartment hai phòng ngủ gần trường. Anh và Huy vào trường học lại còn em với con Nga cố gắng cầy bốn năm. Khi nào học xong có việc, anh Huy đi làm nuôi lại chúng em đi học. Chứ cứ làm cho bà Thanh kiểu này sẽ suốt đời làm nô lệ cho bả. Không để dành được đồng nào đâu. Một tháng, bả chỉ trả cho chúng mình được bốn ngàn thì tốn ba ngàn cho nhà cửa, xe cộ xăng nhớt, điện, gas. Còn lại một ngàn đúng để mua đồ ăn, và chút chút gửi về Việt nam. Chỉ cần một mình anh ra trường đi làm vài năm là cũng có thể kiếm hơn rồi. Tại sao mình không chịu cực khổ bốn năm năm để rồi suốt đời không sợ bị gò bó về tiền bạc nữa.
Huy làm năm năm cho tiệm cũng chẳng thấy được chút ánh lửa cuối đường hầm nên nóng nẩy quyết định:
– Ngày mai anh ra tiệm nói cho bả hay cuối tuần này chúng mình nghỉ.
Nga cũng tả oán thêm:
– Làm cho chị mãi chẳng thấy lên lương. Việc thì cứ nhiều thêm.
Vinh nhìn vợ và hai em một lúc rồi gật đầu:
– Ngày mai gặp vợ chồng chị, anh sẽ nói chuyện này. Mình cũng phải cho anh chị một thời gian để kiếm người thay thế.
Chiều thứ sáu hôm sau, như thường lệ vợ chồng Thanh có ghé qua tiệm để tính tiền thu nhập của tiệm trong tuần trước khi đi ăn tối rồi vào vũ trường. Vinh giao tiền và giấy tờ cho chị xong, nhỏ nhẹ nói:
– Em có chuyện muốn thưa với anh chị.
Thanh vừa đếm tiền, vừa nhanh nhẹn trả lời:
– Chị biết rồi. Chuyện của ba má chứ gì ” Chị cũng nhận được thư bên nhà. Ba má với mấy đứa nhỏ cuối tháng này sẽ qua tới đây. Chị với anh Mậu cũng đã tính hết cả rồi. Qua tháng tới sẽ mua thêm một cái chợ nữa cho tụi nhỏ có việc làm. Nó cũng to ngang như cái này. Được cái gần nhà. Tụi nó mới qua chưa biết lái xe, lại không rành việc. Do đó vợ chồng em sẽ qua tiệm mới làm với hai đứa út. Còn hai đứa trên thì tới đây làm với thằng Huy, con Nga. Má già rồi, không thể bắt đi làm mãi được. Cả đời bả chịu khổ quá nhiều. Chị tính sẽ để bả ở nhà lo việc bếp núc và trông hai đứa nhỏ con chị. Ba thì còn khỏe lắm. Nhưng cũng không để ông làm nhiều. Già rồi. Chị tính cho ông làm tài xế, thỉnh thoảng đi mua mấy món hàng lặt vặt trong tiệm thiếu. Có chuyện làm, đi đây đi đó cho thoải mái. – nhà ngồi không nhiều khi lại sinh bệnh ra. Phiền thêm. Riêng anh chị thì lúc tiệm này, lúc tiệm kia. Tiệm nào cần thì tới, lúc nào đông thì ra đứng phụ. Em thấy sao”
Tác giả là nhà báo quen biết trong nhóm chủ biên một số tuần báo, tạp chí tại Dallas. Ông dự Viết Về Nước Mỹ từ 2006, đã nhận Giải Danh Dự, thêm Giải Á Khôi, Vinh Danh Tác Giả VVNM 2016, và vừa chính thức nhận giải Chung Kết Tác Giả Tác Phẩm 2018. Sau đây thêm một bài viết mới của Phan, viết cho mùa Giáng Sinh đang tới.
***
1.
Tôi có người bạn quen biết từ bức điện thư anh gởi về toà soạn và nhờ chuyển cho tôi. Chúng tôi cùng trạc tuổi với nhau nên người đọc và người viết cùng thời có phần dễ gần nhau hơn. Rồi tình thân theo thời gian thân tình giữa người viết và người vẽ khi tôi biết ra anh là hoạ sĩ.
Tranh của anh bàng bạc nỗi lòng người xa quê trong không gian sống hiện đại và hối hả ở Mỹ là điều tôi cảm nhận được qua màu sắc, nét cọ… như anh vẽ một góc trường đại học ở Mỹ từ góc nhìn của người quét dọn hành lang.
Những thầy cô và sinh viên người Mỹ trong trường rất thích cảnh mùa thu về trường của họ qua nét cọ của anh, riêng tôi chỉ thấy những nhát chổi trong mùa thay lá nhuốm mồ hôi của người quét dọn muốn quét đi quá khứ đời mình, nhưng ký ức của người vẽ đã vô thức bàng bạc gởi trong màu sắc một vùng quê thương nhớ đã mù khơi. Tôi cũng thường gởi đến anh những tùy bút bất chợt một cảm xúc, những đoản văn không có bắt đầu nên không có kết thúc như tôi đứng xem duyệt binh ngày quân lực Pháp bên Paris, tiếng trống quân, tiếng kèn trận, tiếng giày đinh rầm rập trên đại lộ Champs Elysée tiến về Khải Hoàn Môn làm tôi thấy vua Quang Trung trên mình voi cao với ba quân tướng sĩ tung hoành oanh liệt. Khi những chiếc máy bay bay trên trời Paris thả khói màu, người dân đứng xem hai bên đường trầm trồ, hãnh diện, tôi lại thấy cụm mây trắng như chiến bào bị ánh nắng mặt trời xuyên qua làm đỏ hoe màu máu, Nữ tướng Bùi thị Xuân vừa trúng một đao. Tử mạng. Cây trường thương xuyên qua lồng ngực tôi chỉ là tia nắng xuyên qua được cụm mây nhưng là cả lịch sử chống ngoại xâm anh dũng của tiền nhân chỉ còn lại kẻ hậu thế lang bạt chân trời góc biển…
Trời ơi! Ai mà hiểu cho chữ nghĩa hoang hoải của người biệt xứ ngoài người quét dọn hành lang thường nói với tôi, “thỉnh thoảng tôi đọc lại sử Việt nam ông ơi! Sống bên Mỹ này riết, chỉ biết đời tổng thống nào rồi tới tổng thống nào của Mỹ. Trong khi đời vua nào tới đời vua nào trong lịch sử Việt nam thì chúng ta quên tiệt!” Cứ thế, hai người bạn chưa bao giờ gặp nhau mà chia sẻ vui buồn cuộc sống hải ngoại, tâm tư tình cảm qua điện thư, điện thoại những hôm cuối tuần, thậm chí cuối ngày có chuyện vui hay kém vui mà có thời giờ thì cũng kể lể nhau nghe cho khuây khoả…
Chúng tôi vẫn đùa giỡn với nhau khi gọi nhau là “cái thùng rác của tôi”. Nghĩa là nơi để trút bỏ những phiền muộn trong cuộc sống. Từ anh, tôi cảm nhận ra đời sống gia đình và xã hội thì dường như ai cũng như nhau với những lo toan cơm áo gạo tiền, tương lai con cái, bất đồng vợ chồng vì mỗi người di dân tiếp nhận đời sống mới khác nhau. Nhưng có một người bạn lắng nghe và chia sẻ cũng làm cho phiền muộn trong lòng vơi đi nhiều. Như khi nghe đầu dây bên kia tức giận gọi tôi, “Ông rảnh không? Tui đổ ông mớ rác. Tức quá!”
Khi tôi trả lời: “rảnh” thì anh giận dữ chuyện con anh không nghe lời cha, vợ lại bênh con chứ không đứng về phía chồng để dạy con cái lớn rồi, sống phải biết tiết kiệm, có trách nhiệm. Thời gian rảnh ở trường thì đi giúp đỡ cho người già trong viện dưỡng lão, hay đi dạy học cho trẻ em chậm phát triển; chứ đừng có rảnh là lo đi chơi, sung sướng bản thân…”
Nhưng giọng anh đã dịu xuống, bớt giận dữ khi nghe tôi phân tích chuyện mẹ nào chẳng thương con, muốn con được nghỉ ngơi, vui chơi sau đợt học thi mờ mắt, thiếu ngủ trầm trọng.
Vấn đề cần ở anh sự nhỏ nhẹ, khuyên giải thì anh lại nóng giận…”
Từ anh bạn chưa bao giờ gặp mặt nhưng qua trò chuyện với nhau. Tâm lý người đàn ông trong nhà mình không còn cảm giác ốc đảo cô đơn vì không ai thấu hiểu! Chúng tôi là cái thùng rác của nhau chẳng tốn kém gì ngoài ít thời gian lắng nghe và chia sẻ mà lại trút bỏ được những bực bội khó nói, muộn phiền khó nuốt ngay trong gia đình mình, ở chỗ làm, ngoài cộng đồng, trong xã hội…
2.
Nhưng khi tôi đến thăm anh thì quen biết thêm người bạn hàng xóm với anh là một kỹ sư người Việt. Anh hàng xóm đồng hương này ngang tuổi với chúng tôi nên rất dễ gần mà anh lại vui vẻ, tốt bụng. Một tấm lòng đáng qúy khi nghe anh tâm sự những trăn trở về quê nhà trong lòng đứa bé biệt xứ từ nhỏ khi theo gia đình di tản từ năm 1975.
Anh học trường Mỹ, chơi toàn bạn Mỹ, và làm việc cho Mỹ vì anh sinh sống ở Bắc Mỹ nên ít người Việt để tiếp xúc. Không ngờ người bạn còn rất Việt trong tâm tư, dù rất Mỹ trong đời sống hằng ngày lại phản đối tôi với anh họa sĩ, anh không đồng ý cho bạn bè sao lại gọi nhau là, “cái thùng rác của tôi”. Bạn bè phải gọi nhau là chai rượu qúy, bình trà thơm của nhau mới phải chứ?!
Tôi rất qúy mến hai người bạn đồng hương xa xôi này vì gặp họ như gặp lại chính mình ngày xưa vô tư với bạn học, nên vui cười thoả thích, cả ngày rong chơi với nhau đi thăm thú nhiều nơi, xem viện bảo tàng, vô dinh thống đốc tiểu bang cho biết cái phòng thống đốc tiếp người dân thường khi có việc phải gặp ngài thống đốc ở tiểu bang Tennessee nó ra làm sao? Trời ơi! Ở cái xứ tôi phải bỏ nước ra đi thì ba trăm năm nữa không biết nơi công quyền mới có cái phòng tiếp dân này hay ba ngàn năm nữa vẫn chỉ có trại giam cho người bất đồng chính kiến!
Hưng phấn với tự do dân chủ không phải là cái bánh vẽ ở quê người nên chúng tôi đi uống bia nghe nhạc ngoài đường phố thật thích thú, những nhạc công, nhạc sĩ hè phố không xin tiền, không xin ai thương xót họ mà xin mọi người thương xót nhau qua âm nhạc không biên giới, không tôn giáo, màu da, chủng tộc…
Chiều tối, chúng tôi về nhà nấu ăn, cụng ly rôm rả…
Một kỳ nghỉ lễ Giáng sinh thật ý nghĩa đối với tôi từ khi sang Mỹ đã mấy mươi năm chỉ biết vác máy ảnh đi chụp hình ở nhà thờ, đêm thánh vô cùng trở về nhà thường lặng lẽ một mình ngồi viết bài phóng sự địa phương cho báo nhà. Sự chia sẻ với độc giả muôn phương từ cảm nghĩ đến tâm tư người viết bài, niềm tin ơn trên lẫn lời thì thầm cầu nguyện cho mọi người được sống an vui trong tình thương yêu vô biên của thượng đế… Tất cả đều có thể trải lòng trên trang viết nhưng những muộn phiền trong tâm tư riêng mang thật không biết chia sẻ cùng ai để vơi đi những khắc khoải trong lòng người viễn xứ trước thời cuộc, quê nhà…
Tôi nhớ lắm kỳ nghỉ lễ Giáng sinh năm ấy vì hôm chia tay thật đáng nhớ trong đời chia xa nhiều hơn sum họp. Các bạn tặng tôi từ laptop để viết lách, tới mũ, áo, quà lưu niệm đã mua trong lúc rong chơi, tới đôi giày đang mang trong chân anh kỹ sư cũng cởi ra cho luôn vì tôi khen đôi giày đẹp, nhờ hai bạn chở tôi đi mua một đôi thì lại gặp hôm tiệm giày đóng cửa nghỉ lễ. Bạn đàn ông với nhau mà anh kỹ sư còn mua cả vòng vàng, dây chuyền làm quà gởi tặng cho hiền nội nhà tôi… Nói chung, trên đường ta bà rong chơi cuối năm của ba tên không tổ quốc, anh kỹ sư thấy tôi để mắt đến món gì thì anh nghĩ là tôi thích món đó, nhưng túi tiền nhà báo chỉ đủ mua vé vào xem những nơi triển lãm là cùng. Nghĩ đến tấm lòng của anh mà thành nợ ân tình vì đang vui chơi ở đâu đó, anh lại có việc riêng phải đi lo công việc một chút… về sau mới biết là anh đi mua những món tôi để mắt tới để làm quà cho tôi và gia đình. Cảm ơn anh thật nhiều và cả bữa ăn thân tình xa quê của chị nhà đã khoản đãi người viết tiếng Việt này dù chị không đọc được tiếng Việt vì sang Mỹ từ khi cai sữa nên chỉ biết tiếng Anh.
Anh hoạ sĩ tặng tôi mấy bức tranh thật nhiều kỷ niệm vì hôm trò chuyện với nhau qua điện thoại, tôi ví cuộc đời bọn mình như cánh vạc bay, gặp gỡ quen biết nhau trong đời như đêm may có vầng trăng bầu bạn với cánh vạc cô đơn nơi xứ lạ quê người. Mai nắng lên. Trăng lặn. Nhưng trăng lại mọc giữa trời đêm để bầu bạn với những cánh vạc đã lạc mất quê nhà… Rồi thì tôi lại gọi thăm anh, sang chơi với anh khi có thể… Và điều mong muốn qua phôn là thực tế, “Đừng làm tôi khó xử đến không dám sang thăm hai ông nữa! Làm ơn cất lại số tiền mà ông cứ nhất định cho tôi để mua vé máy bay, bay sang đây chơi…”
Tôi nhận quà hào phóng từ người bạn khá giả bởi hai vợ chồng cùng là kỹ sư lâu năm, mỗi năm họ làm ra được mấy trăm ngàn nên chẳng áy náy gì hết khi đã xem nhau là bạn bè. Nhưng đồng lương giờ ít ỏi của anh bạn họa sĩ phải làm hai việc làm cùng ngày để giúp con học dược sĩ thì không thể nhận những đồng đô la mồ hôi, tóc bạc da mồi trước tuổi đời của bạn nghèo. Nhưng tôi nhận bức vẽ cánh vạc bay đêm trăng để làm kỷ niệm cho hôm uống bia qua điện thoại với nhau tới trời về sáng mới tạm biệt. Hôm khác, cuối tuần, lúc tôi đang tưới mấy gốc đậu bắp sau nhà. Vừa lúc anh gọi uống cà phê sáng cuối tuần qua điện thoại, nên tôi tả màu vàng kiêu sa của hoa đậu bắp trong nắng sớm. Anh bảo tôi chụp tấm hình hoa đập bắp gởi cho anh xem có thật đẹp như tôi tả hay không? Không ngờ anh vẽ tặng tôi bức tranh “hoa đậu bắp nhà bạn” thật ý nghĩa…
Tôi cứ lưu luyến ân tình của ba người bạn đã sống hơn nửa đời mới gặp nhau, lại gặp ở nơi xa tít quê nhà nên chỉ ngồi nhâm nhi lại ký ức của thằng nhỏ người Phú Yên, hai thằng con nhà người bắc di cư nên ký ức càng xa mù với những chuyện kể về nguyên quán của cha mẹ … Ơn trên cho chúng gặp nhau thật lòng qua món quê anh, món quê tôi… để tôi làm! Món nào cũng dở hơi như những thằng người lạc mất quê hương từ tuổi nhỏ nên món nhớ quê nào cũng mặn khan, nên văn bằng, danh tiếng ở quê người lạt thếch đến đũa không buồn gắp, sao gắp hoài không hết hoài niệm về quê xa khi đầu đã bạc. Sự thật tình đối xử với nhau là của hiếm trong đời sống thân quen với giả dối, đãi bôi, nói ra câu thật lòng chỉ để cho người ta cười mình. Sống trong xã hội không thật đến quen miệng nói láo vì nói láo người khác lại dễ tin mình hơn là nói thật! Câu chuyện của anh họa sĩ lúc nửa đêm mà hai anh em còn đánh bóng bàn với nhau trên lầu nhà anh làm bằng chứng cho thời đại chúng tôi đang sống! Bà Hội trưởng Hội phụ nữ nơi anh ở đã hỏi họa sĩ nghĩ gì với chiếc áo dài mùa xuân của bà mới mặc lần đầu? Anh chỉ thấy cây chả lụa mới ra lò căng cứng trong lá gói. Nhưng lại được bà hội trưởng hết lời khen là anh hoạ sĩ khéo ăn nói như nét cọ của anh! Vì anh đã trả lời bà Hội trưởng, “Năm nào chị cũng làm lu mờ hết đám cháu gái trong cộng đồng người Việt của mình với những chiếc áo dài độc đáo của chị…” Anh thà để đám cháu gái trong cộng đồng chê cười mắt nghệ thuật của chú hoạ sĩ đồng hương vì bà Hội trưởng Hội phụ nữ cũng đã chân trên đời kém cỏi hơn chân dưới mồ vì tuổi tác! Thôi thì cứ nói một lời hổ thẹn với mình thay cho lời chia buồn cùng tang quyến của người dồng hương cũng chả sao…!
3.
Từ những người bạn đã quá nửa đời người mới gặp nhau. Biết bao giờ gặp lại khi mùa lễ lại về mà tôi đã đặt vé máy bay cho kỳ nghỉ Giáng sinh năm nay để đi thăm những người bạn cũng chưa bao giờ gặp mặt. Lại thêm một năm lỗi hẹn với hai người bạn chân thành hiếm có. Sáng nay tôi ngồi nhìn hai bức tranh “cánh vạc bay”, và “hoa đậu bắp nhà bạn”… sau khi đặt vé máy bay bay về bờ tây nước Mỹ chứ không qua bờ đông. Lòng riêng tạ lỗi thất hứa với bạn bè nhưng hiểu được trong mối quan hệ giữa người với người, việc tranh luận không thể tránh khỏi, nhưng việc có thể là tránh hơn thua. Anh kỹ sư có lý do riêng để tôn trọng, thương mến bạn bè như chai rượu qúy, bình trà thơm. Tôi với họa sĩ có lý do riêng khi gọi nhau là “cái thùng rác của tôi”. Khi nghĩ về hai người bạn thương mến mình không hết, tôi luôn tự thú nhận với mình là ta đã sai. Cãi nhau, những người trong cuộc đều thất bại, chỉ khác nhau ở mức độ thất bại mà thôi. Khi xảy ra tranh luận, bản năng tranh thắng lấn át, người ta dùng hết khả năng lý luận của lý trí. Trong khi cốt lõi của tình cảm, tình bạn, tình người là sự khiêm nhường và lòng độ lượng. Trong khi tranh luận là cuộc chiến của lý trí, cuộc công kích đối phương để bảo vệ lập trường, đến mức độ nhất định, người ta không còn cãi nhau để phân biệt đúng sai nữa mà chỉ hướng đến chiến thắng. Nhưng khi bình tâm, chúng ta phân tích khách quan ra mới thấy mình bị chính cảm xúc của mình lừa bịp, xỏ mũi. Từ đó hiểu ra cảm xúc của bản thân là tên bịp bợm khôn lường, kẻ thù thực sự khi chúng ta tranh luận không phải là đối thủ, bạn bè, mà chính là cảm xúc của chúng ta. Bản năng giành thắng dù không biết để làm gì sau đó nên hối hận. Suy ra, bản chất của cãi nhau là dùng sai trật của người khác và cố chấp của mình để trừng phạt bản thân. Không có người thắng trong mọi cuộc tranh luận mà chỉ thua ở mức độ khác nhau vì nét riêng, sự độc đáo, đặc biệt của mỗi người không chỉ là bề ngoài mà chính ở nội tâm khác biệt. Chỉ cần trong tâm luôn suy nghĩ lương thiện, tự nhiên, chúng ta sẽ trở nên đẹp đẽ hơn tranh luận vì sự chân thành của con người không đến từ những lời lẽ hoa mỹ, lý luận logic, mà là từ tâm hồn thuần khiết. Thiện ác chỉ cách nhau ở một niệm nhưng khác biệt vạn dặm.
Sống ở đời không cầu hư danh, chỉ cần không thẹn. Không hám lợi để còn tâm an để thanh thản, tự tại… lời nói sẽ thiện, việc làm sẽ lành. Vậy tại sao chúng ta tranh luận với người dưng đã không tốt. Thế mà đôi khi tranh luận cả với người thương qúy mình?! Giữa người với người, ngôn ngữ không phải là phương cách duy nhất để biểu đạt. Đôi khi chỉ cần một ánh mắt thiện ý, một nụ cười bao dung, một hành động khiêm nhường… đều có thể khiến nhân tâm đôi đàng ấm áp. Hà cớ phải tranh luận? Cần gì quan tâm tới đánh giá của người khác để xảy ra những cuộc tranh luận vô vị. Lời văn hay nhất là vô tự, lời nói ý nghĩa nhất là vô ngôn sẽ không bao giờ làm tổn thương người khác. Đời sống có lý lẽ cao cả là không so đo để tránh làm tổn thương cảm xúc, không tranh luận, tránh được họa vào thân, giữ được hoà khí…
Dẫu không có điều gì đáng tiếc xảy ra ngoài cuộc tranh luận mang tính kỷ niệm nhiều hơn giận hờn. Nên lần sau sang thăm hai người bạn, tôi sẽ nhường nhịn hơn để tránh những hối hận không đáng có. Tranh luận vô vị, tựa như hai người đổ rác vào nhau, khiến tinh thần hao tổn. Tôi sẽ gọi anh kỹ sư là chai rượu ngon, bình trà qúy… Nhưng họa sĩ mãi là cái thùng rác của tôi vì từ đầu tôi đã là thùng rác của anh.
Cuộc sống rất đơn giản khi ta sống cho giây phút hiện tại vì sang phút sau, giây phút trước đã mãi mãi là quá khứ, chỉ tồn tại trong ký ức mà không thể vãn hồi. Buông bỏ và độ lượng, bao dung bạn bè là thương mình.
Đường trần quên lối cũ Người đời xa cách mãi Tinh trần khôn hàn gắn thương lòng…
(Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay – Đoàn Chuẩn – Từ Linh)
Vĩnh Phú, địa danh tôi muốn quên mà không thể nào quên. Trong suốt hơn mười năm qua và trong cả cuộc đời. K1, K2, K3. K4…những chữ số ký hiệu kinh hoàng. Của tôi. Của những người tù và gia đình họ. Ở rồi, đến rồi, đi rồi…mấy ai muốn quay trở lại? Vậy mà hôm nay tôi vẫn phải trở về đây. cảnh vật không khác xưa là bao nhiêu dù thời gian trôi qua bốn năm rồi…
Những khẩu hiệu: “Chào mừng thành công Đại hội Đảng 5,” “Đảng Cộng sản Việt Nam, Người lãnh đạo Tài Tình”, “Đảng Cộng Sản Việt Nam muôn năm…” lem luốc màu đỏ vì nước mưa, chảy dài xuống như những dòng nước mắt pha máu ngoằn ngoèo trên từng bờ tường loang lổ, cũ kỹ. Ngay phía dưới lại có hàng chữ mang tính “Pháp lệnh” bằng những lời thô tục “Cấm ỉa đái.” Có cả những nét chữ nguệch ngoạc chửi thề. Hình như không một ai để ý.
Ở cái ga xép èo uột gần tận cùng của đất nước này, những con người lam lũ, ngác ngơ, còn đang loay hoay với ký trà, bao gạo, rổ rá nhựa, nồi niêu xoong chảo, xấp vải hoa Chợ Lớn hoa xanh, hoa đỏ…Che che, giấu giấu, tránh con mắt dòm ngó của bọn Công an kinh tế. Chính sách của Đảng đổi mới rồi, tự do buôn bán nhưng người dân lại khổ vì sưu cao thuế nặng.
Theo lời chỉ dẫn, chúng tôi không đến trại Tân Lập bằng đường sông nữa. Đạp xe trên bờ đê. Dắt xe đi bộ qua bãi cát lổn nhổn những vỏ sò, vỏ ốc. Băng ngang những thửa ruộng khô cằn của vùng đất miền trung du. Cái hình ảnh “quê em miền trung du, đồng chiêm lúa xanh rì” của một thời hoàng kim nào xa lắm, nay ở đâu? Giặc tràn về đốt phá thôn làng. Gia đình ly tán. “Vườn không nhà trống tàn hoang” còn trong trí óc non nớt của tuổi thơ tôi. Giờ đây, giặc nào đã làm cho miền Bắc điêu tàn?
Đảng Cộng sản Việt Nam, đỉnh cao của trí tuệ loài người! Ôi! mỉa mai thay những khẩu hiệu kêu to như những chiếc thùng rỗng! Đảng lãnh đạo tài tình làm sao để bao nhiêu năm đời ta có Đảng, bấy nhiêu năm Đảng phá nát tan? Để những người dân quê hiền hòa cởi mở trở nên ngu ngơ câm lặng đến thế kia sao?
Dân cư ở đây rất thưa thớt. Họ sống trong những mái nhà lụp xụp, vách đất, mái tranh. Mảnh vườn. Rào thưa. Khoảng sân đất. Giếng nước. Chiếc gầu…tất cả đều quá nhỏ bé, trơ trụi, xa lạ. Trẻ con gầy còm, ốm yếu. Quần đùi vá víu miếng nọ miếng kia. Cởi trần, ngồi nghịch đất. Không tiếng nô đùa. Không tiếng hát. Không tiếng nhạc của máy thu thanh. Không cả tiếng chim hót. Như một vùng đất chết.
Ba người anh cùng đi với tôi chuyến này đều là những thanh niên đầy nhiệt huyết của hơn ba mươi năm về trước. Thoát ly gia đình, mang tuổi trẻ của mình cống hiến cho đất nước. Để rồi khi biết mình bị lừa thì đã muộn. Cũng dòng sông Lô nắng vàng lấp lánh nhưng còn đâu tiếng hát rộn ràng? Cũng con đê này của những buổi chiều vai đeo ba lô từ chiến khu về, rầm rập bước chân.
Trong thời gian, “Hồi chuông ngân nga trong chiều thu ngập gió…Hồn ta chìm đắm tiếng chuông xa vời.” Ba người anh tôi ôn lại một vài kỷ niệm xưa. Tiếc nuối. Tôi làm các anh tỉnh giấc mơ: “Phải chi ngày ấy các anh không đi theo phong trào Thanh niên Cứu quốc thì ngày nay em đâu phải đi bốc mộ chồng ở một nơi đèo heo hút gió này!” Ba người anh im lặng. Họ như muốn quên đi những năm tháng sục sôi khí thế cách mạng. Yêu tự do. Yêu tổ quốc. Đánh đuổi giặc Pháp ra khỏi đất nước. Chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày trở về giải phóng thủ đô Hà Nội. Những người bộ đội với tuổi hai mươi. Trẻ trung. Học thức. Hà Nội đã bừng lên một sức sống mới.
Hà Nội rực rỡ cờ hoa. Hà Nội tưng bừng tiếng hát. Không bao lâu, những cuộc đấu tố dã man diễn ra khắp nơi. Ông bác tôi bị đấu tố, dù có năm người con đi kháng chiến. Nghe tin dữ, các anh về quê xin Đảng khoan hồng. Không những không tha, họ còn xúi giục các anh tôi: phải giác ngộ cách mạng, phải đứng vào hàng ngũ nhân dân, cùng vạch tội, chỉ tên địa chủ, cường hào, ác bá. Ông bác tôi bị tù. Khổ sai lao động, Thất vọng, đớn đau nhìn bố vác cây, đào đất, khiêng đá, trộn hồ…Những người tù già này làm việc suốt ngày đêm để đạt chỉ tiêu biến khu đất hoang quanh hồ Bảy Mẫu, Hà Nội, thành một công viên mang tên Thống Nhất. Đến thập niên 1980 đổi thành công viên Lê Nin.
Cũng vì sự khổ nhục của người bác thân yêu mà bao lần ra Hà Nội là bấy nhiêu lần tôi không đặt chân vào công viên này. Cũng như tôi đã không đến vui chơi ở khu K4 Long Khánh, một địa điểm du lịch mới lạ của miền Nam. Vì nơi đây được tạo nên bởi những bàn tay của cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị Cộng sản tù đầy, hành hạ.
Các anh tôi, vài năm đầu “Sài Gòn giải phóng,” vì đường lối của Đảng, hay vì muốn các em của mình ở miền Nam sớm “giác ngộ” để hòa nhập ngay với cuộc sống mới, đã có những lần tranh luận. Bao giờ cũng trở thành lớn tiếng cãi nhau. Tôi đã làm các anh nhức đầu không ít. Lần cuối cùng, tôi không cãi lại các anh nữa. “Đảng đã cho các anh tôi sáng mắt sáng lòng.” Đó là lần một anh nói với tôi: “Người em không yêu làm em khổ, em đâu có đau bằng anh? Anh đã yêu, anh đã dâng hiến cả cuộc đời, mà ngày nay anh bị phụ bạc, anh bị lừa dối…” Một anh khác: “Viên gạch đã trót để vào xây tường, giờ có rút ra cũng bị vỡ tan. Thôi em ạ, không còn con đường nào khác!”
Trên con đê này, giữa khung cảnh hoang vắng của buổi chiều trung du, bốn anh em đi bên nhau. Thương cho thân mình. Thương cho các anh. Lý tưởng sụp đổ tan tành. Ngày mai đen tối.
Trời chạng vạng. Tôi đã bắt đầu đi những bước thấp bước cao. Quãng đường này làm tôi nhớ lại những lần vượt biên. Xuống ghe tại Nhà Bè khi thành phố còn chìm trong màn đêm. Lên bờ đi bộ băng qua bao nhiêu là thửa ruộng, vấp ngã bao lần mà không cảm thấy đau đớn vì thần kinh đang trong tình trạng căng thẳng: hồi hộp, lo sợ.
Lần này trên cánh đồng: mệt mỏi, chán chường. Cũng phải vài giờ nữa mới tới trụ sở Ban chỉ huy. Tiếng dế nỉ non. Xa xa ánh đèn leo lét. cố lê bước tới đó để xin ngủ nhờ qua đêm. Nhìn một căn nhà tương đối khang trang, chúng tôi vào gặp chủ nhà xin ngủ đỡ ngoài mái hiên. Nhưng cũng bị từ chối. Đang lo lắng không biết tôi có đủ sức đi tiếp hay không, thì như có phép lạ, một người đàn bà gánh lúa từ xa đi tới. Bà ta dừng lại: “Các bác tìm nhà ai thế?” Khi biết ý, bà ta mời chúng tôi về nhà. Bốn anh em mừng rỡ như người sắp chết đuối vớ được chiếc phao. Dù gánh lúa nặng trĩu trên vai, bà ta vẫn bước đi thoăn thoắt. Trong khi tôi lẽo đẽo theo sau.
Khi bà đẩy cánh cổng tre, bóng tối làm tôi không thể nhìn rõ một người đàn ông đang xếp lúa ngay đầu nhà. Ông ta không quay lại và cũng không lên tiếng đáp lại lời chào của các anh tôi. Trước thái độ lạnh nhạt đó, chúng tôi hơi e ngại. Trong lòng vẫn mừng thầm không bị đuổi ra.
Một gian nhà ba gian bằng tre sơ sài nhưng gọn ghẽ. Nhìn cách trang trí nhà cửa, nhìn bức tượng Chúa nho nhỏ trên bàn thờ cao, tôi có thể đoán chủ nhân không phải là người quê mùa. Tôi ôm bộ quần áo ra giếng. Những giọt nước mát lạnh làm tôi tỉnh táo lại. Trăng bắt đầu lên. Tôi đã nhìn rõ khung cảnh chung quanh. Mảnh sân hình chữ nhật. Khu vườn nhỏ. Chái bếp cuối sân. Ánh lửa bập bùng. Hàng cây cau vươn cao đón ánh trăng. Tôi liên tưởng tới hàng cau của khu vườn trước nhà tôi ở quê hương. Ngày còn nhỏ, tôi vẫn thường trèo lên nhanh như một chú mèo con để hái quả cau cho mẹ tôi têm trầu đãi khách. Trong không gian thoang thoảng mùi hương hoa thiên lý. Âm thanh tiếng đàn mandoline bản Valse Favorite vui tươi, tiếng hát chan chứa tình quê “Làng tôi xanh bóng tre. Hồn lắng tiếng chuông ngân. Tiếng chuông nhà thờ rung…” chợt khua động trong tôi ngày tháng êm đềm thời thơ ấu.
Tôi thở thật sâu để nén xúc cảm. Đêm yên lặng. Đêm mờ ảo. Tất cả đều rất mong manh. Một tiếng động nhỏ cũng đủ làm tan vỡ giấc mơ xưa thoáng đến với tôi, đưa tôi về thực tại. Tôi phải vào nhà để bàn chuyện ngày mai.
Tiếng cười nói làm tôi ngạc nhiên. Ông chủ nhà cùng ba anh tôi đang vui vẻ quây quần bên khay trà bốc khói. Thấy tôi vào, ông kéo ghế trịnh trọng mời ngồi. Tôi còn đang ngơ ngác trước thái độ thay đổi nhanh chóng thì một anh đã giải thích: “Ban đầu ông Tuyển tưởng anh em mình đi thăm nuôi tù. Bây giờ ở đây có tù hình sự (những thanh thiếu niên can tội cướp của giết người). Tù chính trị chuyển đi từ lâu rồi. Một số về trại Hà Nam Ninh. Đa số vào Nam.”
Ông Tuyển đặt ly trà thơm phức trước mặt tôi: “Được biết cô về đây bốc mộ cho chồng, chúng tôi vô cùng cảm kích. Gia đình chúng tôi xin hết sức giúp đỡ cô và các ông anh đây.”
Vầng trán cao. Khuôn mặt chữ điền. Cách nói chuyện lưu loát cùng dáng điệu từ tôn, cử chỉ lịch sự, chứng tỏ ông Tuyển là một người có một số vốn kiến thức về học vấn cũng như về xã hội. Ông cho biết có một người anh là linh mục trong một ngôi nhà thờ vùng đất đỏ Long Khánh.
Ông Tuyển đã sắp xếp chỗ ngủ cho chúng tôi. Để khách được tự do, ông Tuyển dặn dò vợ con và đi vào thôn tìm người quen chuyên việc cải táng.
Gian phòng khách rộng, sơ sài nhưng ngăn nắp. Giường tre, bàn gỗ mộc mạc, thô kệch, được hình thành có lẽ do bàn tay của chủ nhà. Tượng Chúa và tượng Đức Mẹ trên cao là một hình ảnh cảm động hiếm có trong những ngôi nhà tại miền Bắc. Theo như lời ông Tuyển, đời sống gia đình ông bắt đầu khá hơn kể từ khi hợp tác xã nhà nước tan vỡ. Lối làm ăn tập thể nhường lại cho lối khoán sản phẩm. Tuy nhiên, vẫn phải nộp đủ cho nhà nước, cả nhà xúm nhau cầy cấy mới có gạo ăn.
Dưới nhà ngang, các con ông bà Tuyển đang đập lúa, giã gạo, sàng sẩy… Mọi người chăm chú làm việc, không tò mò để ý khách phương xa. Tôi mệt mỏi nằm thiếp đi trong chốc lát.
Khi tôi tỉnh dậy, trăng đã lên cao. Ông Tuyển vừa về tới. Tay cầm hai chai rượu và một bó hoa tươi. Ông cho biết đã tìm được một người rất thành thạo trong việc bốc mộ. Chai rượu này để rửa hài cốt. Tìm mua được rượu ở miền núi không phải là chuyện dễ dàng.
Bà Tuyển bưng mâm cơm từ nhà bếp lên. Chúng tôi trải chiếu ngoài hiên, ngồi ăn cơm dưới ánh trăng. Đĩa thịt gà luộc thơm mùi lá chanh thái chỉ rắc lên trên. Tô canh rau “tập tàng” – đủ mọi loại rau hái ngoài vườn – mát ngọt. Tôi không thể ngờ anh em chúng tôi được đối xử như một thượng khách ở nơi đây. Thế mới biết ở một nơi tưởng chừng như không có, ta vẫn tìm thấy một tấm lòng.
Qua một đêm ngủ với nhiều mộng mị, sáng sớm hôm sau, tôi và các anh đến Bộ Chỉ Huy. Có quãng đường đi được bằng xe đạp. Có quãng đường đá lởm chởm phải dắt bộ. Chỉ huy trại là người mới. Không phải Thiếu Tá Nguyễn Thùy tôi gặp lần trước. Hắn vồn vã thái quá, khiến tôi chỉ im lặng ngồi nghe. Hắn kể chuyện, có một người ở nước ngoài, cách đây không lâu, về đây bốc mộ bố. cầm bình hài cốt lên xe, xe không nổ máy. Gọi xe ngựa đến kéo, con ngựa nhảy quớ lên không chịu chạy.
Nhìn hắn ba hoa, ngồi bỏ cả hai chân lên ghế, tôi hơi khó chịu. Nhất là cặp mắt hắn thỉnh thoảng lại nhìn vào mấy bao thuốc lá “555” anh tôi mang đến làm quà. “Ba con năm vừa nằm vừa ký”, cho nên bọn tôi mới được chấp thuận một cách dễ dàng.
Những chuyện hắn nói có thể xảy ra ở đâu, hắn nghe được. Hắn muốn nói đến đời sống tâm linh. Anh em tôi thì có rất ít thời gian. Cũng có thể sau một thời gian quá dài bị đè nén, những con người triệt để chống chủ nghĩa duy tâm ngày nay bắt đầu duy tâm hơn ai hết.
Xe Volga cọc cạch chở chúng tôi đi lên ngọn đồi, nơi an nghỉ của những quân nhân chế độ cũ. Ít ra từ ngày Việt Cộng muốn bang giao với Mỹ, đã có lúc họ bỏ được từ ngữ “ngụy quân ngụy quyền.” Nhưng tiếc thay những tên gọi này vẫn là vết hằn trong lòng người Việt.
Tôi ngồi đợi trong một căn nhà nhỏ dựng sơ sài bằng tre, nứa. Nền đất lồi lõm. Trên vách nhỏ treo đủ thứ khẩu hiệu, kế hoạch công tác hàng tháng, tuần…
Hình ảnh các lãnh tụ Cộng Sản thế giới và trong nước quá khổ so với bức vách, treo xộc xệch như sắp rơi. Đây là nơi làm việc của toán công an canh gác.
Cách đây bốn năm, khi tôi đến nơi đây nhận mộ chồng, cảnh vật chung quanh gọn ghẽ hơn. Hàng ngày còn có bàn tay bạn tù săn sóc. Giờ đây cỏ cây, dây leo chằng chịt, không nhìn thấy lối đi. Hơn một giờ đồng hồ trôi qua, tên công an cầm bản đồ nghĩa trang và các anh tôi trở lại trụ sở với gương mặt thất vọng. Không tìm thấy mộ vì cỏ cây che lấp cả một vùng rộng lớn. Tim tôi như muốn ngừng lại. Chẳng lẽ lại về không?
Tôi xin mọi người hãy cho tôi đến tìm. Tôi thầm cầu nguyện cũng như ở Sài Gòn, mẹ tôi và các em tôi đã cầu nguyện cho chuyến đi của tôi được tốt đẹp.
Kỳ lạ thay! Tôi chỉ vạch lá chui vào đúng một quãng ngắn là tìm ra mộ. Tôi reo to lên. Các anh tôi đứng ngoài không tin. Ngôi mộ có hai bia đá. Tôi lầm thế nào được. Một tấm bia tôi mang từ Hà Nội lên. Một tấm bia nữa của anh em bạn tù đẽo gọt bằng tay. Nét chữ khắc vào đá mờ đi vì rêu phủ.
Trong khi người thợ cải táng chặt cây cối chung quanh, tôi thắp nhang lui cui cắm trên từng ngôi mộ. Đêm mưa, cỏ ướt, ngửi thấy có hơi người, những con vắt nhảy ra, bám lấy chúng tôi. Máu chảy ròng ròng. Tôi muốn ngất người đi vì sợ. Cây cối quang dần. Dầu nóng tôi bôi đầy mặt, mũi, chân, tay, khiến những chú dế bé tí xíu cũng không dám nhảy ra đột kích nữa.
Một ít trái cây mua vội dọc đường, bó hoa ông Tuyển mua giùm, chúng tôi chỉ có những tấm lòng thành trước linh hồn người đã khuất. Người anh lớn nhất của tôi khấn thật lâu. Những cây nhang cháy rất nhanh, tàn cong vòng…khói nhang thơm tỏa ngát. Nhát cuốc đầu tiên bổ xuống đất, lòng tôi đau buốt. Tiếng cuốc, xẻng đều đều vang vọng giữa miền rừng núi hoang vu. Từng tảng đất bật lên, tâm hồn tôi như vỡ vụn. Cho tới lúc lưỡi cuốc đụng vào quan tài. Tôi hồi hộp. Các anh tôi nôn nóng.
Khi tôi ra đến Hà Nội, các bậc lão thành có trấn an: “Đất miền núi khô ráo, xương cốt lâu ngày sẽ tan đi. Phải chuẩn bị sẵn tinh thần: có thể đứng trước một cái hòm chỉ có đầy cát bụi!”
Thế cho nên khi những nhát búa đầu tiên bổ xuống để nạy nắp quan tài, tôi cứ giật thót mình. Một cảm giác đớn đau như lần đầu tiên nghe thấy tiếng đóng đinh vào quan tài bố tôi lúc liệm quan…
Gỗ áo quan dầy và chắc. Khi chiếc nắp bật lên, tôi lạnh người: chiếc chăn len màu đỏ! Suốt đêm qua, người anh lớn của tôi cứ chợp mắt là nằm mơ thấy xác chồng tôi quấn bằng mảnh vải màu đỏ. Gương mặt các anh tôi xúc động. Bóc lượt chăn len ra là quần áo. Hết lớp áo này đến lớp quần khác. Bạn bè đã dồn tất cả cho người chết mang đi. Nước mắt tôi ràn rụa. Màu xanh lá cây đậm của chiếc áo len mẹ tôi mua tặng, gửi trong năm ký lô quà đầu tiên ra Bắc. Chiếc sơ-mi trắng ngà có từng sợi chỉ xanh xanh, hồng nhạt, mang về Sài Gòn sau chuyến du học tại Mỹ năm 1971. Chai dầu gió, đôi giày ba ta…, tất cả tôi đã tự tay xếp vào ba lô trước ngày anh đi trình diện “học tập cải tạo”.
Không còn lầm được. Không còn ảo tưởng: “Đã trốn trại, còn đang ẩn trốn tại một nơi nào.” Tôi mất anh thật rồi! Thế là hết. Tôi khóc nức lên. Trời như nổi gió. Cỏ cây chao đảo. Đồi núi quay cuồng. Quanh tôi cảnh vật mờ đi…
Lâu lắm, khi tôi tỉnh lại, đống tro tàn của áo quần vừa đốt còn âm ỉ cháy. Trong một cái xanh to bằng gang dùng thổi cơm cho trại tù đã gẫy tay cầm, các anh tôi đã đổ bột nhang thơm trộn với rượu trắng để ngâm xương cốt. Người thợ cải táng cùng các anh tôi quấn giấy bao từng lóng xương, đặt từng mảnh vào trong nhiều túi ni-lông…
Không gian mênh mông yên lặng. Tôi lặng lẽ theo các anh tôi bước nhanh cho kịp chuyến đò cuối cùng…
Xóm Hòn Chông trải qua những ngày vui tươi. Việc làm đầu tiên của cô Huôi là dạy Bá Vạn nên xoá bỏ một phần lớn nợ nần của bọn tá điền. Ai nấy mừng quýnh. Đối với họ, đây là dịp tốt để uống rượu, ăn chơi. Sòng bạc mọc lên rải rác. Ban đêm, họ đốt đuốc ngoài sân để ăn uống, ca hát. Thằng Cẩu ưỡn ngực, mặc áo gấm, mặc nhiên trở thành ông Chúa Hòn.
Cậu ta rước một đoàn lực sĩ “Sơn Đông” từ Rạch Giá để xem chơi. Trong khi ấy, cô Huôi ngồi trên bộ ván cẩm lai, gương mặt ưu tư hơn bao giờ hết.
Đối diện với cô là ông Bá Vạn. Bá Vạn hiểu rằng nên khéo nịnh hót cô Huôi, ông ta được hưởng chút ít tiền bạc, còn hơn là tổ chức một cuộc chống đối quá phiêu lưu. Bọn hộ vệ có thể nghe theo lời ông, nhưng ông Chúa Hòn không còn đứa con trai nào khác ngoài thằng Cẩu.
Cô Huôi cất tiếng:
– Hổm rày, ông Bá mệt nhọc, tôi biết.
Bá Vạn muốn nhơn cơ hội nầy bảy tỏ nỗi thắc mắc thầm kín nhứt:
– Nhưng xin lỗi cô, tôi muốn hỏi…
Cô Huôi trợn tròn đôi mắt:
– Phải kêu tôi bằng bà cho quen miệng. Thằng Cẩu chỉ là con của tôi. Tôi đứng trên thằng Cẩu.
Bá Vạn lại ấp úng:
– Thưa bà…
Cô Huôi mỉm cười:
– Bá Vạn đừng buồn. Tôi chưa khen thưởng Bá Vạn, để thủng thỉnh rồi tính sau. Tôi lo xa nên chưa vui. Thằng Cẩu là đứa khó dạy. Không hiểu nó mang chứng gì mà mặt mày xanh mét, run tay run chân, tánh tình bất thường. Điên không ra điên, khùng không ra khùng. Rồi đây, nó hại tất cả mọi người.
Bá Vạn chắp tay thưa:
– Thưa bà, lần nầy bà dạy dỗ nó. Vì bà là mẹ, còn hơn mẹ ruột.
Cô Huôi đáp:
– Nhưng tôi không tham quyền cố vị! Tôi tránh tai tiếng kẻo thiên hạ đồn rằng tôi bày mưu kế giết cậu Hai Điền. À! Nghe nói Bá Vạn quen thân với bà chánh thất?
– Dạ, xin bà hiểu giùm, lúc trước tôi tới lui với bà ta để dọ thám đừng cho Hai Điền kéo tất cả bọn hộ vệ tới núi Mo So.
Cô Huôi cau mày hồi lâu không trả lời. Lúc nầy Bá Vạn thấy mình yếu đuối và cô độc hơn bao giờ hết. Nếu cô Huôi lật ngược thế cờ, tố cáo ông Bá Vạn là kẻ âm mưu giết ông Chúa và Hai Điền thì ắt là ông ta bị
giết ngay, không ai binh vực, che chở. Từng giọt mồ hôi chảy dài trên trán Bá Vạn. Cô Huôi nói:
– Lau mồ hôi cho tỉnh táo, có gì mà sợ! Tôi không phải là người thất đức, miễn là Bá Vạn biết phải quấy với tôi. Đừng ham công danh.
Bá Vạn đáp:
– Dạ, nếu bà cho tôi nghỉ việc thì còn gì may mắn cho bằng. Từ nay về sau, bà trọn quyền coi sóc tất cả mọi việc. Tôi thì già yếu, chỉ mong được dưỡng nhàn.
Cô Huôi nói:
– Bá Vạn ở lại để điều khiển cậu Cẩu. Chẳng lẽ tôi gây gổ với nó mỗi ngày đôi ba lần. Thỉnh thoảng tôi rầy rà một lần thì nó mới sợ. Nhưng tôi buồn giùm bà chánh thất. Hỗm rày tôi chưa gặp mặt. Để bà ở đây thì khó xử.
Hai ngày qua, Bá Vạn chưa dám gặp bà chánh thất vì sợ cô Huôi tình nghi. Hơn nữa, Bá Vạn là người phản bội dưới mắt bà ta. Bà ta có thể liều chết, chưởi một trận nên thân rồi theo chồng theo con qua bên kia thế giới.
– Bà dạy thì tôi vâng lời…
Cô Huôi nói:
– Bá Vạn có quen thân với bà chánh thất thì đến gặp mà an ủi rồi khuyên bà nên lựa chọn nơi nào mà dưỡng thân cho khoẻ. Ta hứa cho tiền bạc thêm để xài…
Lập tức, Bá Vạn qua nhà bà chánh thất. Bà hỏi nhanh:
– Gì nữa đó? Cô Huôi đã chiếm đoạt tất cả quyền hạn. Nói rằng thằng Cẩu nắm quyền chớ cô ta từ rày về sau nắm hết quyền hạn, đúng là bà Chúa, là mẫu hậu. Cô ta có hỏi tới tôi không?
Bá Vạn trình bày ý kiến của cô Huôi. Bà chánh thất cười gượng:
– Thà rằng đi mà chắc sống thêm mươi năm, còn hơn là ở đây. Ông thấy cô Huôi là người thế nào?
– Dạ, là người khôn khéo, đáng mặt đàn bà.
Bà chánh thất thở dài:
– Đêm rồi, ta nằm chiêm bao, thấy nhiều điềm kỳ lạ quá. Chồng ta và con ta hiện về, mặc quần áo tang. Ta hỏi thì họ trả lời rằng vui lắm. Ta hỏi thêm cho biết tại sao họ vui. Họ trả lời rằng…
Bà nghiêng sát đầu vào tai Bá Vạn mà nói tiếp:
– Nói rằng cô Huôi không làm bà Chúa được lâu đâu.. Đó là bông quỳnh hoa sớm nở tối tàn. Quỳnh hoa được người chờ đợi khi là nụ, khi nở thì thơm lạ lùng nhưng mặt trời chưa mọc là đã tàn. Vả lại tôi nghe nhiều người nói rằng hễ đàn bà cầm quyền thì… gia đình suy sụp. Ông tin lời tôi không?
Bá Vạn nói:
– Tin chớ…
– Ông tìm cách xin đi xa. Bởi vì ông với tôi là hai người án bóng cô Huôi. Trước sau gì cô ta cũng đuổi. Thà rằng mình đi trước.
– Nhưng …hiện giờ cô Huôi bắt buộc tôi ở lại. Tôi buồn quá. Tôi ở lại để nghe cậu Cẩu chưởi mắng như lúc trước tôi đã từng chịu đựng với cậu Hai.
Ngoài đường, dân chúng la hét và cười giỡn rầm rộ lên. Có người nói:
– Hát thuật “Sơn Đông” bên chợ Rạch Giá tới. Một người nuốt hai ba cây gươm! Ông Chúa mới lên dám tốn tiền cho dân được vui.
Bá Vạn hỏi:
– Chuyện gì vậy?
Bà chánh thất đáp:
– Ông rảnh thì coi thử. Cái thằng Cẩu thiệt là khó chịu. Thằng Điền của tôi coi vậy chớ khôn ngoan hơn.
– Tôi về. Vài ngày nữa lại thăm bà…
Ra khỏi nhà bà chánh thất, Bá Vạn lầm lũi theo đám người đông như thác lũ đang kéo về xóm chợ. Cậu Cẩu ngồi trên cái ghế to, trước kia dành cho cậu Hai Điền ngồi trên ghe để thị oai khi săn heo rừng. Nhóm Sơn Đông mãi võ gồm mười đứa cao lớn, mang theo nào đao, siêu, chùy, đinh ba, song kiếm. Bá Vạn đứng sau lưng cậu Cẩu.
Hai tên võ sĩ đánh nhau, đứa cầm song kiếm, đứa đỡ gạt với hai bàn tay không! Dân chúng hò reo từng chập để tán thưởng tài nghệ anh chàng tay không. Lắm khi anh ta né một bên, nhảy thật cao hoặc ngã mình cho té sấp để tránh lưỡi kiếm sáng ngời của đối phương. Bá Vạn thừa hiểu đó là những cuộc sắp xếp ngoạn mục. Có điều đáng chú ý là ở góc sân có một chàng trai mặt mày nghiêm nghị, nhỏ con. Đúng là người Việt Nam chớ nào phải là Hoa kiều từ đất Sơn Đông tới. Chàng nầy cầm cây cờ đuôi nheo, ba góc. Giữa cờ, thêu năm chữ “Sơn Đông Quỉ Mãi Khoan” nhưng điều khiến Bá Vạn đổ mồ hôi là lá cờ nọ có những tua dài bằng kim tuyến. Bá Vạn lẩm bẩm:
– Bọn nguy hiểm. Kim tuyến màu vàng nhưng tại sao lại là màu xanh, màu trắng và màu đỏ?
Cậu Cẩu day lại:
– Cái gì?
Bá Vạn đáp:
– Thưa cậu, bọn nầy không phải là Sơn Đông.
– Miễn là nó đánh võ coi sướng mắt thì thôi. Nếu không phải là Sơn Đông thì nó là gì?
– Dạ có lẽ là dọ thám…
– Ông nói có lý. Lát nữa tôi mời cái thằng chủ chốt tới nhà ăn cơm rồi bắt nhốt luôn…Ông về đi. Cứ để nó múa vài chập nữa.
Bá Vạn tất tả vào tư thất của cô Huôi. Theo ý ông thì ba sọc xanh trắng đỏ là màu cờ của người Lang Sa. Năm ngoái, ông đã nghe nói rằng bọn Lang Sa đã chiếm thành Gia Định, rồi đến Định Tường, đến chợ Hà Tiên. Mấy tháng qua, vùng Hòn Chông sống yên lành, có lẽ vì người Lang sa cho rằng Hòn Chông không quan trọng.
Cô Huôi nghiêm mặt khi nghe Bá Vạn trình bày buổi trình diễn:
– Bọn đó là ai?
Bá Vạn suy nghĩ hồi lâu:
– Quân Lang Sa tới, nhưng là ở xa. Nghe đâu bọn nó ra ngoài Huế để ra mắt nhà vua. Mấy tháng rồi, ông Chúa không đụng chạm tới họ thì chắc là rồi đây họ không đụng chạm tới xứ Hòn Chông nầy.
Cô Huôi nói:
– Bá Vạn ra chợ, mời một đứa trong bọn rồi hỏi kỹ lưỡng. Nên đối xử tử tế rồi khuyên họ đừng nên tới lui xứ nầy.
Thật là một công việc khó khăn! Từ khi cậu Cẩu “lên ngôi” đến giờ, Bá Vạn luôn luôn tìm cách lánh mặt để tránh dư luận xấu, cho rằng ông âm mưu giết cậu Hai Điền. Cậu Cẩu thì xem thường Bá Vạn, suốt ngày cứ lo ăn uống và cờ bạc.
Ngoài chợ, bọn Sơn Đông mãi võ đang biểu diễn một trò nguy hiểm: nhảy qua vòng lửa!
Bá Vạn đến gần cậu Cẩu, nói khẽ:
– Thưa cậu…
Cậu Cẩu nắm tay Bá Vạn mà kéo xuống:
– Ngồi đây coi chơi.
– Dạ, bà má nuôi của cậu muốn xét hỏi. Bọn nầy đáng tình nghi.
Cậu Cẩu lắc đầu:
– Coi cho sướng cái đã. Tụi nầy có tài. Người ta đang trổ tài mà…
Giữa sân, một tên lực sĩ đang cầm cái vòng bằng sắt, có cán như cây vợt. Trống chiêng nổi lên. Tên lực sĩ khác lấy vải nhúng dầu chai, quấn chung quanh cái vòng châm lửa. Bỗng nhiên tên cầm cờ trao cây cờ cho người bên cạnh rồi chạy tới gần cái vòng, đứng lại.
Anh ta trợn mắt, lui ra. Rồi anh ta quát to, như tập trung thần lực. Cậu Cẩu nói:
– Bá Vạn vô coi! Nó nhảy vô trong vòng đó!
Nhưng anh ta cụt hứng vì chàng lực sĩ nọ chạy tới gần cái vòng rồi đứng lại, khom lưng, hai tay cặp sát mép tay. Cậu Cẩu nói lớn:
– Mầy giỡn với tao hả? Mầy gạt tao?
Anh ta thối lui, đứng ngắm nghía vị trí cái vòng rồi đứng thẳng người, buông xuôi hai tay. Cậu Cẩu nói:
– Mầy điếc hả? Tới xứ nầy mà mầy không phục tùng lời nói của tao.
Anh ta vẫn không trả lời, khoanh tay trước ngực rồi quát lên như con thú bị thương:
– Sát! Sát!
Bá Vạn và cậu Cẩu đứng dậy một lượt, nghĩ đến một vụ ám sát. Bọn Sơn Đông mãi võ nầy phải chăng là tay sai của bà chánh thất muốn lợi dụng cơ hội để lật ngược tình thế? Nhưng Bá Vạn và cậu Cẩu lầm to. Anh ta nhảy tuốt qua vòng lửa. Qua bên kia, anh ta đứng dậy, mỉm cười rồi day qua cậu Cẩu mà xá ba lần!
Cậu Cẩu bắt đầu nổi giận:
– Mầy khinh tao! Lại đây!
Anh nọ đến trước mặt mà trình bày:
– Thưa cậu, tôi liều nguy hiểm để cho cậu vui mắt.
– Nhưng tại sao mầy cười? Tại sao mầy kêu tao bằng cậu? Tao…chém mầy.
Bá Vạn phập phồng lo sợ. Nếu tên mãi võ nầy là tay sai dọ thám của quân Lang Sa thì việc chém giết quả là hành động khiêu khích, bỗng dưng mà rước lấy tai họa cho cả vùng Hòn Chông.
Ông nói:
– Thưa ông…nên hỏi kỹ lưỡng.
Cậu Cẩu lườm Bá Vạn:
– Đây là chuyện của tôi. Tôi giết nó.
Rồi nhìn anh chàng mãi võ, cậu la lớn:
– Ai dạy mầy cái tật hỗn láo!
Anh chàng nọ nhìn vào cậu Cẩu như để dò xét ngầm, lát sau mới nói:
– Dạ, người Lang Sa dạy tôi! Muốn được yên thân, cậu nên cầu hòa với người Lang Sa.
Vì sống quanh quẩn ở núi Mo So nên cậu Cẩu chẳng hiểu gì cả. Cậu lại hỏi:
– Lang Sa là thằng nào?
Bá Vạn quả quyết rằng bọn mãi võ nọ là quân dọ thám nên ra lịnh:
– Hộ vệ đâu? Bắt bọn nó!
Bọn Sơn Đông mãi võ hò hét vang rân trong khi bọn hộ vệ tìm cách bao vây. Dân chúng tán loạn trong khi Bá Vạn và cậu Cẩu chạy trối chết về tư thất. Cuộc tranh tài diễn ra trong chớp nhoáng rồi tự giải tán vì bọn Sơn Đông rút lui quá nhanh. Chúng hươi mấy cây đinh ba, chùy, song kiếm rồi chạy xuống núi. Đó là sự may mắn cho bọn hộ vệ, vì nếu bọn Sơn Đông kháng cự thật sự thì làm sao bọn chúng chống đỡ nổi với những cây dao ngắn.
Cậu Cẩu về nhà, gọi đứa nữ tỳ:
– Quạt cho mát coi!
Rồi day lại:
– Ủa! Sao có một đứa hè? Ba bốn đứa quạt một lượt cho nổi giông nổi gió.
Bá Vạn vuốt mồ hôi trán, theo sau mà nói:
– Thưa ông, đóng cửa lại! Bọn nó dám làm loạn.
Cậu Cẩu cằn nhằn:
– Ông già rồi mà ông còn nói bậy nói bạ. Thằng nầy chưa sợ bất cứ ai. Lát nữa, bọn hộ vệ lôi đầu thằng nhảy vòng lửa về đây chớ gì? Nếu sợ thì ông lại trước hàng ba mà canh chừng.
Tủi thân biết chừng nào! Bá Vạn không dám cãi cậu Cẩu. Đứng trước hàng ba, ông liếc về phía xóm chợ. Mấy tên hộ vệ cúi đầu đi lặng lẽ như bầy chuột mắc mưa. Đúng là họ đã thất bại và bọn Sơn Đông mãi võ đã tẩu thoát.
Cậu Cẩu hỏi:
– Tụi nó đâu? Dẫn bọn Lang Sa tới chưa? Lang Sa là cái giống gì?
Bá Vạn đáp:
– Bọn hộ vệ không bắt được ai hết. Bọn dọ thám chạy trốn rồi.
Bỗng dưng mà cậu Cẩu cười ha hả:
– Bọn Lang Sa chạy trốn thì…đâu đáng sợ. Ông hô hoảng làm náo loạn dân chúng. Từ rày về sau, ông đừng sợ bóng sợ gió vậy nữa…
Hai ngày liên tiếp, cậu Cẩu vắng mặt, lý do rất đơn giản: Cậu về núi Mo So để thăm mẹ và ông ngoại. Mười Hấu bày cho dân chúng ăn uống linh đình và tuyên bố rằng năm tới cậu Cẩu sẽ miễn tất cả nợ ăn và địa tô.
Người chờ đợi cậu Cẩu là cô Ngó. Cô buồn phiền vì thái độ gần như bạc bẽo, vô tình của Bá Vạn. Bá Vạn phải chăng đã quên đêm ân ái, trước khi xảy ra việc săn heo rừng? Cô Ngó hơi buồn tẻ, trở thành goá phụ. Cô không được tái giá vì vùng Hòn Chông nầy chẳng còn ai xứng đáng với cô. Ngoài ra, còn dư luận và áp lực của cậu Cẩu. Bá Vạn là niềm an ủi duy nhứt của cô.
Cô gọi:
– Cậu Ba đâu rồi?
Cậu Cẩu bước vào nhà:
– Thưa má, tại sao còn là cậu Ba? Là cậu Hai chớ!
Cô Ngó biết rằng cậu Cẩu đang kiêu hãnh nên vội sửa chữa:
– Ừ! Thì cậu Hai, má quen miệng. Hồi đó thằng Hai Điền còn sống, nó là đứa thứ hai.
Cậu Cẩu đáp:
– Má đừng nhắc tới nó nữa. Bây giờ, con là ông vua rồi.
– Bà chánh thất, cô Huôi và ông Bá Vạn đối xử với con ra sao? Con nên kính trọng và nghe lời mấy người đó. Má buồn vì quê mùa, ăn nói không lịch thiệp.
– Má về Hòn Chông ở với con…
– Chưa được đâu. Hễ má về thì thiên hạ đồn đãi…
– Chuyện đó thiên hạ bàn tán rồi bỏ qua chứ gì! Ai mà không biết ba con với thằng Điền bị cô Huôi và Bá Vạn giết chết. Tụi nó lợi hại lắm.
– Nhưng nhờ đó mà con thêm oai quyền. Đừng nói vậy không nên.
Vì ghen tương, cô Ngó muốn cho bà chánh thất và cô Huôi đi xa Bá Vạn. Cô hỏi:
– Bà chánh thất đi tu chưa? Má nghe đồn đãi rằng bà đi tu.
– Hơi đâu mà nhắc tới mụ đó. Mụ ta lấn hiếp má từ mấy năm qua. Đáng lý ra, con giết mụ ta.
– Con đừng nói nhảm. Còn Bá Vạn?
Cậu Cẩu cau mày:
– Cái đó khó hiểu. Bá Vạn tới lui thăm bà chánh thất rồi tới thăm cô Huôi.
Cô Ngó suy nghĩ hồi lâu. Vì đã từng sống gần cô Huôi nên cô Ngó tin rằng Bá Vạn chẳng bao giờ làm chuyện tình ái bất chánh được. Một là vì Bá Vạn đã già, hai là vì cô Huôi là người tự trọng và kiêu hãnh, dám hy sinh thú vui riêng để làm việc lớn.
Nhưng dầu sao đi nữa, Bá Vạn vẫn là người phụ bạc. Nghĩ vậy, cô Ngó nói:
– Bá Vạn là người tham lam.
Cậu Cẩu thích chí, nhớ tới chuyện Sơn Đông mãi võ hôm nọ:
– Nó muốn làm vua. Nó coi con là con nít. Con đi đâu, nó theo sát bên cạnh để dạy dỗ rồi mét thót với cô Huôi. Con cách chức nó.
Bỗng dưng mà cô Ngó nghĩ đến một thủ đoạn ác độc. Mấy tháng qua, cô sống hiền lành, phó mặc cho hoàn cảnh. Nhưng cô thấy rằng nếu quá hiền lành thì sẽ mất hạnh phúc:
“Rồi đây Bá Vạn sẽ năn nỉ ta cứu giúp”.
Nghĩ vậy, cô lại nói:
– Con hãy làm việc kỹ lưỡng. Bá Vạn làm công nhiều năm rồi, tất cả mọi người vùng Hòn Chông nầy đều biết mặt ông ta. Ông ta nghỉ việc, bao nhiêu sổ sách nợ nần đều mất. Chờ một hai năm nữa rồi hãy hay. Tạm thời, con tìm cách lấn quyền hạn ông ta, nắm giữ sổ sách.
– Hay lắm. Má cứ tin con.
– Nhắn Bá Vạn tới cho má dạy việc…
– Dạ.
Rồi cậu Cẩu lên núi Mo So để tìm mấy người bạn đá cá thia thia hôm nọ.
– Tụi bây tới Hòn Chông mà thăm tao!
Có người trả lời:
– Cậu là người giàu sang, như ông Chúa Hòn rồi. Tụi tôi bần hàn, ăn bận rách rưới, gia đình túng thiếu. Nếu bỏ công việc lấy sáp ong thì làm sao mà đủ cơm gạo cho vợ con ăn?
Cậu Cẩu đáp:
– Tao nuôi tụi bây luôn. Về đó, tụi bây ăn cho mập rồi tập luyện võ nghệ. Tao ở Hòn Chông một mình buồn bực vô cùng, xung quanh là người xa lạ, họ chắp tay xá tao, họ lạy tao nhưng tao không tin cậy bằng tụi bây.
Ai nấy vui mừng, hứa đi Hòn Chông để làm người hộ vệ cho cậu Cẩu.
Trên đường về Hòn Chông, cậu Cẩu bỗng dưng nảy ra ý nghĩ táo bạo:
– Qua Hòn Đất. Tụi bây biết nhà Tư Thính ba cô Huôi không? Đưa tao tới đó.
– Tụi bây dốt quá. Ở Vàm Rầy có xóm nhỏ, cứ đậu ghe lại. Tụi bây ngủ, tao cũng ngủ luôn.
Câu nói vớ vẩn của cậu Cẩu khiến bọn hộ vệ trố mắt nhìn nhau. Tại sao cậu đòi đi Hòn Đất thật gấp rồi lại muốn ngủ dọc đường? Nhưng khi cậu Cẩu nói thì chẳng một ai dám cãi lời.
Nằm trong ghe bầu, cậu Cẩu nhớ lời căn dặn của me. Phải hạ nhục Bá Vạn mới được! Cậu Cẩu hiểu rằng hiện nay mình đang nắm tất cả quyền hạn và tài sản. Nhưng Bá Vạn là kẻ đang chia sớt quá nhiều quyền hạn ấy. Cô Huôi là người đáng cho cậu kính nể, chưa rầy rà cậu lần nào.
Ghe tới xóm Vàm Rầy.
Bọn hộ vệ hỏi:
– Thưa cậu, ngủ tại đây chớ?
Cậu Cẩu ngồi dậy, nhìn qua cửa hông mui ghe. Đèn đuốc sáng rực. Năm ba căn phố ngói hiện ra. Năm ngoái, cậu đến đây một lần nhưng xóm Vàm Rầy còn chưa sầm uất.
Cậu nói:
– Ghé lại. Nhà cửa của ai vậy?
Bọn hộ vệ đáp:
– Dạ, tụi tôi chưa rõ.
Tiếng đàn hát từ mấy căn phố vang ra. Cậu Cẩu nổi giận:
– Bọn nó vô lễ!
Bọn hộ vệ chưa hiểu cậu Cẩu muốn nói gì. Thật ra bọn người ở xóm Vàm Rầy nầy đâu hay biết trước để đón tiếp ông chúa con. Một tên hộ vệ hỏi:
– Thưa cậu, chắc họ đờn ca inh ỏi, cậu khó ngủ. Để tôi lên bờ nói một tiếng là họ dọn dẹp ngay.
– Không đâu! Tao muốn chuyện khác.
Một tên hộ vệ bèn ngỏ lời nịnh hót:
– Chắc là có cô nào đẹp mà lại hát hay. Tôi mời cô ta xuống đây hát cho cậu nghe.
Cậu Cẩu lắc đầu:
– Đừng giỡn mặt với tao. Thằng nào nói hỗn xược đó! Xuống đây tao dạy việc…
A Chúa là người Hoa kiều lai Việt, làm cai điền cho Bá Vạn hơn mười năm qua. Mới đây ông Bá Vạn trao một số tiền, bảo A Chúa xây cất ba căn phố lợp ngói. Ngoài ra, A Chúa còn lo dự trữ hàng hóa quan trọng. Sống trong địa phương nhỏ, A Chúa được dân chúng nể nang. Lúc ngồi nghe ca nhi đờn ca, anh ta ngỡ mình là ông vua nhỏ, bên cạnh cung phi mỹ nữ. Chuyến trước, Bá Vạn an ủi anh ta:
– A Chúa ráng vài năm là tôi chia cho một phần ba gia tài.
Lúc ngồi dựa lưng vào gối, A Chúa bỗng giựt mình vì thấy có một tên hộ vệ bước vào. Lối ăn mặc của bọn nầy khác hẳn với thường dân: áo ngắn, dây nịt da to bản. Thoạt tiên, A Chúa ngỡ rằng Bá Vạn tới nên reo to:
– Vui quá. Ổng tới rồi!
Rồi anh ta day qua bọn ca nhi:
– Chúng bây nghỉ ngơi giây lát để dưỡng sức. Đêm nay thức tới khuya. Ông Bá Vạn ban thưởng tụi bây.
Nhưng anh chàng hộ vệ quát to:
– Xuống bến! Biết ai không?
– Ông Bá chớ ai?
– Ông Bá hả? Coi chừng ăn đòn! Ông Chúa tới đó. Xuống ghe để nghe ông Chúa dạy việc.
– Sao tôi không hay trước? Vậy mà nãy giờ tôi tưởng là…
A Chúa gài nút áo, xỏ chân vào đôi giày hàm ếch. Bọn ca nhi ngồi yên trên chiếu, cúi mặt, sau khi dẹp cây đàn và đôi song lang sát vách. Ra đến sân, A Chúa nghe tiếng chưởi:
– Xứ nầy lạ quá, tụi bây làm ăn kiểu gì vậy?
Trong lúc A Chúa bối rối thì tên hộ vệ nhắc nhở:
– Ổng rầy chú mầy đó!
A Chúa nói khẽ:
– Thưa ông, xin ông tha thứ cho. Tôi chưa biết mặt ông. Xin mời ông vô nhà…
Khi đến trước thềm, cậu Cẩu dừng lại, ưỡn ngực trông lên:
– Nhà mới cất. Bên kia, ai làm chủ? Tại sao thiên hạ mau giàu quá vậy?
A Chúa run sợ nhưng làm sao anh ta dám nói dối. Song nếu tiết lộ sự thật thì chắc là cậu Cẩu nổi giận.
– Hả? Ai làm chủ? Chú mầy làm chủ chớ ai?
– Dạ, của …ông Bá Vạn!
– Rồi! Tao nói không sai. Được lắm, được lắm! Nhà nầy cất bao lâu rồi? Còn mới tinh khôi. Làm giàu mau thiệt.
Đúng là cậu Cẩu oán ghét ông Bá Vạn nên mới cằn nhằn ganh tị. A Chúa buồn bực vô cùng. Đáng lý ra, cậu Cẩu phải mừng rỡ khi thấy kẻ ăn người ở được khá giả hơn trước.
– Dạ thưa ông, cất bốn tháng rồi!
Thật ra, ba căn phố nầy chỉ mới cất xong từ hôm kia. A Chúa rước bọn ca nhi tới để chờ đón rước Bá Vạn ăn mừng tân gia. Nếu bảo rằng mới cất xong thì cậu Cẩu sẽ cho rằng đó là tiền mà Bá Vạn lường gạt trong ngân quỹ.
Cậu Cẩu vào nhà, ngồi trên bộ ván gỗ, lắc đầu:
– Bốn tháng không? Nếu vậy thì Bá Vạn đã ăn trộm tài sản của tao từ khi tao chưa…kế vị! Chắc còn nhiều chỗ khác. Xóm Vàm Rầy nầy, Bá Vạn còn nhà cửa, ruộng đất gì không?
Để tránh cơn phẫn nộ của ông Chúa, A Chúa đáp:
– Thưa ông, tôi chỉ biết ba căn phố nầy.
– Mở cửa hai căn kia cho tao coi!
Bọn hộ vệ đi trước, theo sát A Chúa mà nói khẽ:
– Chú mầy sắp tàn mạt rồi! Năn nỉ thì tao dạy cho.
A Chúa đáp:
– Mấy cậu thương giùm. Tôi chỉ là người làm công cho ông Bá Vạn. Ăn cây nào rào cây nấy, biết sao?
– Nè! Kiếm cô nào đẹp, đánh đàn rồi hát cho ông Chúa ngủ. Ổng chịu thứ tiêu khiển đó.
Nhưng, cậu Cẩu đã theo, bén gót. Vừa bước vào căn phố thứ nhì, cậu trố mắt, nói lậy dậy:
– Trời! Nó giàu hơn tôi. Bá Vạn thiệt là khôn ngoan. Cái gì dự trữ đầy kho, đựng trong bao cà-ròn?
– Dạ, tôm khô…
– Còn gì nữa, nói thiệt đi.
– Dạ, căn bên kia dự trữ bong bóng cá, vi cá.
Cậu Cẩu đáp:
– Đóng cửa lại. Tao mệt rồi.
A Chúa hơi lúng túng, chưa biết cậu Cẩu dùng thái độ cứng rắn hay mềm dẻo. Dân chúng xúm lại khá đông, hỏi lăng xăng. A Chúa buồn rầu vô cùng vì đây là điều sỉ nhục lớn. Từ rày về sau, anh ta không còn được dân chúng kính nể như trước – khi cậu Hai Điền còn sống.
Tên hộ vệ gọi to:
– Chủ phố đâu?
A Chúa chắp tay thưa bẩm:
– Dạ tôi đây.
– Cậu dạy chú mày kiếm ông Bá Vạn để chịu tội…
A Chú hỏi khẽ:
– Anh biết tôi là người làm công, nắng bề nào che bề nấy, tại sao cậu Cẩu ghét ông Bá Vạn như vậy?
– Tao không biết. Nhưng là cậu Cẩu muốn xưng vương một cõi. Bấy lâu nay, Bá Vạn làm giàu. Cậu Cẩu là ông Chúa mà kém oai quyền hơn người quản gia.
Trời quá tối, đêm vào khoảng canh ba. A Chúa nghĩ đến con đường xa lăng lắc từ đây đến Hòn Chông nên van nài:
– Anh năn nỉ giùm tôi, nếu tôi trở về không kịp thì nói với cậu Cẩu như thế nào cho cậu đừng rầy la.
– Làm cách nào thì làm. Hừng sáng ông Bá Vạn phải tới cho kịp. Dầu sao đi nữa, ổng cũng là công thần. Nếu ăn nói khéo léo, chưa đến nỗi nào, phải gãi đúng chỗ ngứa.
– Anh nói sao?
Tên hộ vệ của cậu Cẩu nói:
– Tôi làm việc mấy trào rồi, ông Bá Vạn chưa rầy la lần nào. Tôi thương ổng lắm vì tánh tình điềm đạm, ít nổi nóng. Nghe gì chưa? Coi trên bờ kia!
Đứng dưới bến, A Chúa thấy cửa phố mở ra rồi đóng lại đôi ba lần. Tiếng đàn địch trỗi lên. Cậu Cẩu cười ha hả, bước vào. Cánh cửa đóng lại kín mít.
Tên hộ vệ lẩm bẩm:
– Cậu Cẩu ưa gái đẹp! Nói như vậy là ông Bá Vạn hiểu.
Vì sợ trễ nải nên A Chúa cong lưng chèo ghe đến Hòn Chông. Dọc đường, anh ta không dám dừng tay để rửa mặt, uống nước.
Đầu canh tư, anh ta đến bến, buộc dây ở mũi xuồng vào cây nọc trên bờ rồi chạy tất tả vào sân. Bọn hộ vệ hỏi:
– Ai đó?
– Tôi là A Chúa, coi điền đất cho ông Bá Vạn ở Vàm Rồng, Vàm Rầy. Cho tôi gặp mặt ông Bá.
Bị đánh thức thình lình, Bá Vạn biết là có chuyện quan trọng xẩy ra. A Chúa thuật đầu đuôi tự sự rồi nói thêm:
– Cậu Cẩu đang ngủ với mấy đứa “phì phà chảy”. Lúc đầu, cậu chưởi mắng tôi khi nghe tụi nó đờn hát. Nhưng riết rồi, coi bộ cậu trở nên phàm tục. Ông tới cho kịp, nếu trễ thì tôi còn gì thể diện với dân chúng bến phố. Theo ý cậu ta thì mớ tôm kho và bong bóng cá dự trữ trong kho đều là….bất chánh.
Bá Vạn thở dài hỏi A Chúa:
– Đói bụng lắm hả? Xuống bếp kiếm cái gì ăn cho no. Tao rửa mặt rồi đi liền. Chắc là cậu Cẩu coi tao như thằng ăn cướp. Già rồi, tao có quyền làm ăn mua bán chớ sổ sách ghi chép đàng hoàng, tao ăn gian chỗ nào? Dè đâu thói đời như vầy…
Lúc A Chúa xuống bếp, Bá Vạn qua tư thất cô Huôi. Cô Huôi đang uống nước trà, với cái tô kiểu vẽ hình long phụng. Thấy Bá Vạn, cô Huôi hỏi:
– Chuyện gì vậy?
– Thưa cô, cậu Cẩu hạ nhục tôi. Nhờ cô cứu giùm.
Cô Huôi nghiêm mặt:
– Ông ngồi, nói tiếp cho tôi nghe. Ông phải biết trước chuyện nầy, trước khi xảy ra chuyện ở Lung Tràm. Đừng hoảng hốt.
Rõ ràng cô Huôi là người đủ bản lãnh, còn trẻ nhưng không thiếu kinh nghiệm đối nhân xử thế. Bá Vạn cúi mặt.
Gà gáy eo óc. Hai ngọn đèn sáng cháy chập chờn. Sương mù bay lẩn quẩn trong nhà. Cô Huôi gọi rót tô nước trà mời Bá Vạn uống rồi xua tay đuổi đứa nữ tỳ ra ngoài.
– Cậu Cẩu đòi tôi tới Vàm Rồng. Nếu tới trễ, tội của tôi thêm nặng. Cô nghĩ coi. Tôi như thằng già cõng đứa bé lên vai để nó xem hát. Dè đâu, nó cú trên đầu thằng già. Đành rằng “được cá quăng nơm” là thế gian thường tình, nhưng cậu làm quá đáng. Hai căn phố giá đáng là bao. Tôm khô, bong bóng cá dự trữ trong kho là số vốn mà tôi dành dụm bấy lâu nay. Tức quá!
Cô Huôi bĩu môi:
– Ông nhớ không? Lúc ông bàn kế hoạch với tôi, tôi đâu có cười. Nhưng ông đừng lo. Sự đời là như vầy, mỗi người đều trải qua ba giai đoạn, từ khi lớn lên đến nhắm mắt. Chưa làm nên sự nghiệp, chịu lao đao lận đận. Nên sự nghiệp rồi thì suy tàn, nên tỉnh táo đề phòng. Vả lại ông chưa suy tàn đâu!
Bá Vạn hơi bực dọc vì cô Huôi không chịu dùng quyền lực để can gián cậu Cẩu. Cô Huôi nói tiếp:
– Tôi còn nhỏ, chưa dám dạy đời cho bất cứ ai. Nhưng tôi nghe ba tôi dạy như vậy. Ba tôi nói rằng đó là lời dạy của Trời Phật, trong kinh kệ.
Bá Vạn không còn kiên nhẫn được nữa:
– Trời ơi! Tôi phải gặp mặt cậu Cẩu để trả lời về tội gian tham. Rủi cậu nổi giận đánh đập hoặc có những cử chỉ thất lễ, làm sao tôi sống được. Xưa kia, tôi bị cậu Hai Điền hất tô nước mắm với tô thịt kho lên đầu. Cái áo đó còn để trong cái tráp.
Cô Huôi nói:
– Tôi khuyên ông nên chịu đựng tất cả. Lần trước giết cậu Hai Điền thì có người thay thế. Nhưng lần nầy, nếu giết cậu Cẩu thì còn ai? Phải để cậu Cẩu sống hoài. Vả lại, bọn Sơn Đông mãi võ hôm nọ làm tôi suy nghĩ. Cậu Cẩu không sống dai để làm ác đâu! Chuyện đời còn nhiều thay đổi.
– Thà rằng bị chưởi mắng nơi kín đáo chớ chịu đựng giữa đám đông thì chết còn sướng hơn.
Cô Huôi mỉm cười:
– Cậu Cẩu đang háo thắng, muốn chưởi mắng, hạ nhục vài người có quyền thế giữa đám đông. Ông nên vui vẻ chịu đựng.
Kể ông chịu đựng được thì cậu ta thương mến ông chớ gì!
Bá Vạn gật đầu:
– Cám ơn cô. Cô nói phải. Lúc nầy cậu ta muốn khoe khoang quyền thế. Tôi hứa chịu đựng tất cả.
Nói xong, Bá Vạn ra ngoài sân, về nhà rồi xuống ghe với A Chúa cho kịp lúc trời chưa sáng.
Cậu Cẩu uống rượu say mèm, ngủ thẳng giấc. Mặt trời lên cao, tên hộ vệ đứng gần bên cạnh. Cậu mong cho A Chúa rước Bá Vạn đến kịp giờ.
Bọn ca nhi rửa mặt, thay quần áo rồi ngồi cú rũ ở căn phố bên cạnh. Tên hộ vệ hỏi đùa:
– Hồi tối vui không? Mấy cô sao mà buồn vậy?
Một cô đáp:
– A Chúa rước chị em tôi từ Rạch Giá tới đây, nửa chừng A Chúa đi vắng. Hôm nay, lấy gì mà ăn, ai trả tiền chợ cho chị em tôi?
Tên hộ vệ chú ý đến nhan sắc cô gái hơi lớn tuổi.
– Đẹp như cô, chắc làm giàu mau lắm, toàn là người giàu sang đến rước, họ trả tiền nhiều…Cô tên gì?
Cô gái trố mắt:
– Hỏi chi vậy? Tôi tên Xí Vĩnh.
– Tên lạ quá…
– Có gì lạ. Tên tôi viết như vầy.
Ngón tay cô gái vẽ trên cát. Tên hộ vệ đọc nhanh:
– Xí Vĩnh là Thúy Anh. Tên đẹp quá. Mấy cô chờ lát nữa là có tiệc tùng ăn uống. A Chúa bận việc riêng…
Dân chúng cứ xúm xít dưới bến. Đột nhiên, có người reo to:
– A Chúa về rồi kìa!
Tên hộ vệ xuống bến, vừa mừng vừa lo khi thấy ông Bá Vạn ngồi xếp bằng trước mũi ghe.
Ghe cập bến, Bá Vạn lên bờ, hỏi nhanh:
– Cậu Ba đâu rồi:
Tên hộ vệ đáp:
– Dạ thưa, cậu còn ngủ. Hồi tối thức khuya với mấy phì phà chảy, uống rượu hơi nhiều. Nếu cần, tôi đánh thức cậu Ba.
– Thôi! Cậu là ông Chúa, rủi bề gì…A! Mày nghe cậu hờn giận tao điều gì đó? Khổ quá. Dầu sao đi nữa, cậu cũng giữ thể diện cho tao làm ăn. Nếu biết cậu tới đây, tao bày tiệc đón rước trọng thể.
A Chúa mời Bá Vạn qua căn phố bên cạnh. Ông không chờ cậu Cẩu thức. Bá Vạn nhìn cô gái xinh đẹp tên là Xí Vĩnh:
– Hồi tối, cô săn sóc cậu Ba…
– Dạ. Cậu đó ác quá, bắt tôi uống rượu hoài.
A Chúa bèn giới thiệu:
– Đây là cô Xí Vĩnh.
Rồi nói với Xí Vĩnh:
– Ông nầy có thể giúp cô làm nên sự nghiệp. Cậu hồi tối đó giàu lắm.
Xí Vĩnh cau mày:
– Hèn gì cậu xưng là ông Chúa Hòn, nắm trời đất trong tay. Cậu hăm giết vài người để …lấy máu tế cờ!
Bá Vạn rùng mình:
– Nói thiệt hay nói chơi? Chắc là lúc uống rượu hơi nhiều. Cậu hiền lắm mà.
Xí Vĩnh đáp:
– Cậu đâu có hiền. Uống rượu bao nhiêu cũng tỉnh, tỉnh mà như say, hai bàn tay hơi run, mặt tái mét. Hồi tối cậu đòi mổ bụng tôi để…ăn gan.
Bá Vạn thở dài, nhớ tới lời khuyên của cô Huôi. A Chúa nói khẽ:
– Xí Vĩnh sẽ giúp mình nhiều chuyện về sau nầy nếu cậu mê nhan sắc nó.
Bá Vạn trao cho Xí Vĩnh nén bạc:
– Để dành mà xài.
Bên kia vách, có tiếng dậm rầm rầm trên giường. A Chúa hơi mừng vì cậu Cẩu dường như đã quên chuyện cũ. Cậu nói:
– Hai đứa con gái đâu rồi? Có một đứa coi được quá. Con Xí Vĩnh! Để tao đem nó về làm vợ. Thứ con gái đó coi vậy mà xài được, dễ sai biểu. À! Tao nhớ! Đêm rồi mầy đi đâu? Mầy nói lại cho tao nghe thử. Nè! Nếu nói láo thì tao giết mầy.
– Dạ, tôi rước ông Bá Vạn tới đây để nghe cậu dạy việc.
– Ủa! Bá Vạn tới rồi hả? Sao lão ta chưa qua đây hầu hạ tao? Tao nhỏ tuổi thiệt nhưng tao thề không bao giờ chào ổng trước. Ổng là cái …thằng ở đợ, quá tham lam. Tao ngồi đây coi ổng muốn gì? Ổng muốn gặp mặt tao chớ tao gặp mặt ổng để làm cái gì chớ?
Bá Vạn nghe rõ, uống chút rượu, gài nút áo cẩn thận. Lời căn dặn của cô Huôi còn văng vẳng bên tai ông. Cậu Cẩu là đứa bần tiện, khi thắng thế thì phách lối. Nên nhịn nhục cho qua buổi rồi chờ cơ hội khác.
Ông đến trước cửa, chắp tay xá:
– Xin ra mắt…
Cậu Cẩu đưa tay ngoắt:
– Bá Vạn vô đây! Nghe tôi hỏi rồi trả lời kỹ.
– Dạ, cậu là bề trên của tôi.
– Trên dưới gì, nghe nhức đầu quá. Tôi muốn trừng trị một tên gian ác, vậy thôi. Ba căn phố dự trữ tôm khô, bong bóng cá, vi cá nầy là của tôi…
Bá Vạn cố nài nỉ:
– Xin cậu thương giùm. Tuổi già sức yếu, bấy lâu nay tôi dành dụm lần hồi.
– Dành dụm gì mà nhiều dữ vậy?
– Dạ tôi không ăn xài cờ bạc gì ráo. Vợ con thì không có. Mấy năm qua, nhờ gặp chuyến nên lời nhiều, cất được ba căn phố nầy.
– Lời gì nhiều dữ vậy? Ông ngoại tôi ở núi Mo So còn chưa có tài sản như vầy. Má tôi ở trong căn nhà ông ngoại tôi.
Bá Vạn bực tức, muốn nói thẳng rằng Mười Hấu, ông ngoại cậu Cẩu, cách đây vài tháng chỉ là kẻ thất phu, sống bằng nghề leo lên sườn núi mà hái ổ ong mật. Mẹ cậu Cẩu là cô gái gánh nước ở bờ suối, chính Bá Vạn đã cầm đuôi dẫn đường cho ông Chúa Hòn đến ăn uống no say. Nghĩ vậy, Bá Vạn nói khẽ:
– Lần hồi, ông ngoại cậu trở nên giàu có. Tài sản như tôi đáng là bao!
– Đừng nói lảng qua chuyện khác. Tôi muốn nói là ông không được quyền chiếm đoạt tài sản của tôi. Cãi hả? Cái thằng A Chúa đâu? Nó chịu tội giùm ông.
A Chúa trố mắt, chưa hiểu cậu Cẩu giở trò gì, nên trốn trách nhiệm:
– Cậu ơi, tôi là người làm công.
Cậu Cẩu đắc ý chỉ vào mặt A Chúa:
– Quỳ xuống! Chẳng lẽ tao bắt ông Bá Vạn phải quỳ!
A Chúa riu ríu vâng lời, quỳ trước thềm nhà. Bá Vạn vẫn còn tin rằng cậu Cẩu chỉ muốn thị oai với dân trong xóm, nhứt là với cô Xí Vĩnh. Nhưng ông lầm to. Cậu Cẩu truyền lịnh:
– Đánh mõ lên! Tụ họp dân chúng cho mỗi người thấy một chút.
Tên hộ vệ đã quen tánh ý cậu Cẩu biểu là phải làm, nếu cãi thì số phận anh ta sẽ tệ hại hơn A Chúa. A Chúa liếc về Bá Vạn như cầu khẩn.
Bá Vạn nói:
– Cậu dạy thì chú mầy cứ nghe lời. Cậu mới lên, thế nào cũng dễ dãi, ăn ở nhơn đức với kẻ ăn người ở.
Dân trong xóm đến bao quanh sân nhà. Cậu Cẩu gọi:
– Ông Bá Vạn! Lại đây mà nghe. Tôi hỏi ông điều nầy.
– Dạ, tôi sẵn sàng quỳ dưới chân cậu.
– Thằng A Chúa nầy giúp việc từ bao lâu rồi?
Bá Vạn đáp:
– Dạ từ bốn năm nay, tánh tình hiền hậu. Mỗi năm đến ngày Tết, ngày giỗ, nó đều có mặt tại đường ở Hòn Chông để cúng lạy.
– Mặc kệ. Ai mướn nó?
Bá Vạn đáp:
– Dạ tôi mướn nó.
Cậu Cẩu trợn mắt:
– Mướn nó…nhưng tại sao ông không cho tôi biết? Muốn làm gì thì làm sao chớ?
Bá Vạn bỗng nổi nóng:
– Thưa cậu, đây là chuyện riêng của tôi, tôi trình chỉ làm mất thời giờ của cậu.
– Nếu vậy mai mốt đây, ông mướn hàng trăm võ sĩ để xâm chiếm vùng nầy? Quyền hạn của ông nhỏ lắm, không có gì hết.
Cậu Cẩu vui sướng vô cùng khi thấy mồ hôi tuôn xuống từng giọt, ướt lưng Bá Vạn. Cậu nhớ lời mẹ dạy nên tìm cách hạ uy thế Bá Vạn, đề phòng trường hợp lão ta soán quyền hạn.
Bá Vạn thì nhớ lời cô Huôi, cố gắng van nài đến mức chót:
– Thưa cậu, từ rày về sau tôi hứa trình với cậu bất cứ chuyện gì dầu lớn dầu nhỏ.
– Được lắm, thằng A Chúa cứ quỳ đó mà phơi nắng cho tới trưa.
A Chúa khóc rấm rứt:
– Thưa cậu, thà rằng cậu chém tôi giăng xác cho quạ rỉa. Bà con chòm xóm đâu còn kính nể tôi…
Cậu Cẩu khoát tay:
– Đứng dậy rồi đi tới xứ khác mà ở. Tao không muốn thấy mặt mầy nữa.
Rồi day qua Bá Vạn:
– Còn ông, ông nên lo việc tìm cách làm ăn. Mấy căn phố nầy với bao nhiêu tôm khô, vi cá, bong bóng cá ở trong đều là của tôi. Ông không còn món gì ráo.
Nói xong cậu Cẩu vào trong, ngồi xuống gọi Xí Vĩnh đem bầu nước và bầu rượu. Dân chúng tản mát vì sợ sệt. A Chúa chạy thẳng một hơi tới xóm Vàm mất dạng.
Bá Vạn ngồi trên cái ghế nhỏ, bên cạnh cậu Cẩu. Ông hy vọng rằng qua cơn thạnh nộ vô lý ấy, cậu sẽ hồi tâm.
Bầu không khí trở nên yên lặng.
Cậu Cẩu lên tiếng trước:
– Nầy Bá Vạn, tôi không muốn thấy mặt ông nữa.
– Xin cậu suy nghĩ giùm. Lúc nãy trước mặt đông người, tôi đã bị hạ nhục. Chắc cậu đã thoả mãn.
Cậu Cẩu đáp:
– Ông là người ác độc. Tôi còn tỉnh táo lắm. Đây nầy, đãi ông một bầu rượu cuối cùng gọi là tiễn đưa ông về chùa mà hưởng già!
– Trời! Phải có chùa mà tu thì đời tôi chưa đến đỗi nào. Sau mấy chục năm trời lo trong lo ngoài, tôi còn hai bàn tay trắng như vầy.
– Tôi nói là tôi làm. Tôi không mướn ông nữa. Ông còn nắm níu để…ở đợ cho ai?
Bấy giờ Bá Vạn mới bình tĩnh day qua Xí Vĩnh:
– Cô đem cho tôi cái chén!
Xí Vĩnh chưa hiểu ông Bá Vạn muốn nói điều gì xa xôi.
Bá Vạn lắc đầu:
– Chén lớn mới được. Có cái tô càng hay.
Cậu Cẩu cười hề hề:
– Uống rượu cho say rồi nằm vạ ở đây để bêu xấu tôi sao chớ? Tôi còn nhỏ nhưng tánh tôi cứng lắm.
Bá Vạn ung dung chọn bầu nước lạnh, rót đầy tô đưa ngang môi. Bỗng dưng, ông trợn mắt ném cái tô xuống nền gạch.
Cái tô bể ra ba mảnh, nước văng tung toé. Cậu Cẩu rút chân lên càu nhàu:
– Ướt quần tôi!
Bá Vạn nói rõ từng tiếng:
– Hồi mấy năm về trước, có một cô gái múc nước suối, nhờ tôi mà gặp ông Chúa Hòn. Cô gái đó không bao giờ bận quần áo khô!
Cậu Cẩu hiểu rằng ông Bá Vạn kể công ơn. Ông Mười Hấu đã cho cậu biết rõ qua về trường hợp mẹ cậu gặp ông Chúa Hòn, do Bá Vạn làm trung gian. Thái độ ấy quả khiêu khích phạm thượng. Phải chăng Bá Vạn muốn chưởi xiên chưởi xéo rằng cậu là kẻ bần hàn, có địa vị cao là nhờ ông ta.
Gương mặt cậu Cẩu hơi biến sắc. Tên hộ vệ và Xí Vĩnh đều bước ra xa, đoán chừng cậu Cẩu sẽ rút dao ra đâm cho Bá Vạn chết tại chỗ.
Hồi lầu, cậu nói:
– Nầy Bá Vạn, ông giỏi lắm. Khi bắt được con cá thì người ta quăng nơm. Tôi cũng vậy thôi. Để ông làm chức lớn thì có ngày nào đó, ông giết hại tôi, như ông đã giết cậu Hai Điền, thiên hạ đồn rằng cha tôi bị ông giết. Tôi muốn ông đền tội. Tôi xử bản án nhẹ quá. Ông nghĩ sao?
Bá Vạn đáp:
– Mấy căn nhà nầy phải là của tôi!
Cậu Cẩu đáp:
– Tôi cho ông hưởng thêm vài tháng. Bù lại, cô Xí Vĩnh phải theo về Hòn Chông…
Sau đợt thăm nuôi tháng 10/1978, có tin đồn lan truyền giữa các K nói rằng tù cải tạo ở Suối Máu sắp được “bò xanh” (quân đội nhân dân) bàn giao cho “bò vàng” (công an nhân dân), vì CSVN đang gom quân để chuẩn bị xâm lược Căm-bốt. Mấy ngày sau, tin đồn này đã được “thầy Trọn” xác nhận.
Thầy Trọn là một nhân vật đặc biệt ở cùng đội nhưng khác nhà với tôi.
Anh là một cựu đại úy tuyên úy Phật giáo trong QLVNCH đã hoàn tục sau khi cộng sản chiếm miền Nam, tuy nhiên đa số anh em vẫn gọi anh là “thầy Trọn” – thân mật pha chút đùa vui, tuyệt nhiên không có ý châm chọc. Theo lời anh em ở cùng nhà với thầy Trọn kể lại với tôi, anh nguyên là một trong những vị đại đức thuộc giáo hội Phật Giáo Ấn Quang phục vụ tại Nha Tuyên Úy Phật Giáo. (1)
Sau ngày 30/4/1975 anh trở về ngôi chùa ở quê cũ nơi anh xuất gia trước kia thì thấy có tới một phần ba chúng tăng là cán bộ cộng sản nằm vùng đội lốt thầy tu, chán nản anh quay về Sài Gòn, hoàn tục và… chuẩn bị lấy vợ! Nhưng do “tai mắt của nhân dân” (đám “30 tháng Tư”), anh bị bại lộ tông tích và bị bắt đi học tập cải tạo. Từ khi tới Suối Máu, anh được sung vào tổ chăn nuôi.
Ở trại tù cải tạo nào cũng vậy, tổ chăn nuôi là “nhàn” nhất cho nên tổ trưởng thường là một ông sĩ quan già chăm chỉ, được “cách mạng” tin tưởng, và đa số tổ viên là những người được ông ta chọn.
Tôi không biết thầy Trọn được ông tổ trưởng chấm vì những điểm gì, chỉ biết về diện mạo anh trắng trẻo như một công tử miệt vườn, tính tình vui vẻ, thật thà, dễ mến. Đặc biệt, tuy đã hoàn tục nhưng thầy Trọn vẫn tiếp tục ăn chay.
Ăn chay nhưng lại làm… đổ tể!
Xin được kể đầu đuôi như sau: trong tổ chăn nuôi, thầy Trọn đặc trách toán nuôi heo, và tỏ ra mát tay nên rất có điểm với tay cán bộ hậu cần. Mỗi khi ban chỉ huy trại cho mổ lợn để “bồi dưỡng”, thầy Trọn lại tình nguyện đảm trách công việc hóa kiếp con vật vắn số – từ thọc huyết, cho tới làm lông, mổ bụng… – để lấy công làm lời, vài miếng thịt mỡ, ít lòng đem về cho anh em trong tổ, còn “thầy” không hề đụng đũa.
Khi bị anh em đùa vui, châm chọc “thầy chùa biến thành đồ tể”, thầy Trọn giải thích: con heo đó tới số, mình không giết cũng có kẻ khác giết, hơn nữa, điều quan trọng là phải biết cách thọc huyết sao cho nó chết thật nhanh, không kéo dài sự đau đớn.
Với tôi, câu chuyện mà mọi người cho là khôi hài ấy lại ấm lòng, và dưới mắt tôi, ông thầy chùa “phá giới” này quả thật đã đắc ngộ, hơn hẳn nhiều vị mang danh cao tăng mà vẫn còn mang nặng sân si…
Theo lời thầy Trọn thuật lại, từ mấy ngày trước, có một toán sĩ quan cấp tá và cấp úy trong ngành công an tới Suối Máu gặp gỡ đám bò xanh trong ban chỉ huy trại, sau đó đám tài vụ, hậu cần tới nhận hồ sơ, sổ sách, kiểm kê tài sản, lương thực thực phẩm tồn kho để chuẩn bị nhận bàn giao. Mọi việc diễn ra một cách hết sức bất ngờ và gấp rút, đám bò xanh chỉ kịp cho làm thịt một con heo trước khi đám bò vàng tới kiểm kê!…
Từ khi có tin bò xanh sẽ bàn giao tù cải tạo cho bò vàng, chúng tôi thấp thỏm chờ đợi, trong lòng không khỏi lo âu vì ai cũng biết công an là công cụ đàn áp trong các chế độ cộng sản, cho nên người ta mới gọi cộng sản là “chế độ công an trị”!
Trước mắt, chúng tôi chờ được xem mặt mũi và nghe các tay cai tù mới nói năng những gì trong buổi bàn giao; nhưng đợi mãi cũng chẳng thấy gì diễn ra, cho tới một buổi sáng nọ, khi một bầy bò vàng mở khóa cổng tiến vào K2 chúng tôi mới biết mình đã nằm dưới quyền sinh sát của công an!
Có ba bốn tay đeo súng K54 bên hông mà chúng tôi đoán là “cán bộ” được hộ tống bởi một tiểu đội công an trang bị súng trường CKC báng đỏ có gắn lưỡi lê sáng loáng. Nhận xét đầu tiên của tôi là đám bò vàng đa số trắng trẻo sạch sẽ, ăn mặc chỉnh tề, tươm tất, và có quy củ hơn đám bò xanh.
Rồi tất các đội trưởng, nhà trưởng được lệnh lên hội trường “làm việc”, còn tù cải tạo trừ các tổ tăng gia, chăn nuôi, anh nuôi (nhà bếp), tất cả được miễn mọi công tác thường lệ. Có nghĩa là đám tù cải tạo “phó thường dân” chúng tôi không bị nhốt trong nhà để nghe cán bộ lên lớp và nghe đọc sách báo cách mạng!
Khoảng một tiếng đồng hồ sau, các nhà trưởng về tập họp anh em trong nhà lại để truyền đạt những gì vừa được cán bộ nói chuyện trên hội trường, gồm những điểm chính sau đây:
– Từ nay, tù cải tạo ở Suối Máu được đặt dưới sự cai quản của Cục Trại Giam, trực thuộc Bộ Nội Vụ (ngày đó ngành công an còn thuộc Bộ Nội Vụ chứ chưa trở thành một bộ riêng biệt).
– Đại diện của Cục Trại Giam tại Suối Máu là Ban giám thị gồm các “cán bộ” chứ không phải “quản giáo”.
– Tù cải tạo phải chấp hành chính sách, tuân thủ kỷ luật của Cục Trại Giam. Cụ thể, khi thấy một cán bộ hoặc chiến sĩ công an cách 6 mét thì phải nói “Chào anh”. Khi có việc phải quan hệ với cán bộ hoặc chiến sĩ công an, phải đứng cách xa 3 mét, v.v…
– Mọi sinh hoạt trong trại tạm thời vẫn tiếp tục như cũ, riêng việc nghe đọc sách báo cách mạng hàng ngày được bãi bỏ; Ban giám thị trại sẽ cử người phục vụ nhu cầu thông tin của cả trại qua hệ thống loa phóng thanh toàn trại…
Mấy ngày sau tù cải tạo K2 chúng tôi mới được biết mặt viên “thủ trưởng” – Trung tá công an Đào Lưỡng – và nghe ông ta nói chuyện tại hội trường. (Trong các bài viết về Suối Máu, có tác giả ghi cấp bậc của Đào Lưỡng là thiếu tá, có người lại ghi là thượng tá, riêng tôi nhớ là trung tá)
Một cách chính xác, chức vụ của Đào Lưỡng là Giám thị trưởng nhà giam Chí Hòa kiêm Giám thị trưởng trại giam Suối Máu.
Đào Lưỡng là người gốc miền Trung nhưng giọng nói giống dân Nam kỳ nhiều hơn; ông ta khá cao ráo, mặt mũi cũng không đến nỗi “ruộng” như những tay thủ trưởng bò xanh, và sau khi nghe ông ta nói chuyện, chúng tôi biết ông ta là một người tương đối có học chứ không phải dân i tờ.
Trong phần tự giới thiệu bản thân, Đào Lưỡng cho biết ông ta là dân tập kết, phục vụ lâu năm trong ngành quản lý trại giam thuộc Bộ Nội Vụ; trong một lúc cao hứng, ông ta đã hãnh diện tự khoe “Tui là goang dăng (quan văn) à”.
Cuộc nói chuyện của Đào Lưỡng vừa thu hút vừa… gây chấn động. Thu hút vì ông ta ăn nói khá lưu loát và có vẻ cởi mở, gây chấn động vì ông ta nói ra những gì chúng tôi chưa từng được nghe thốt ra từ miệng một tay cán bộ của chế độ mới.
Đại khái Đào Lưỡng nói mặc dù chúng tôi được gọi là các “trại viên cải tạo”, trên thực tế một khi đã thuộc quyền quản lý của Cục trại giam, chúng tôi là những “tù nhân” không hơn không kém.
Theo Đào Lưỡng, “cải tạo” thực ra chỉ là một mỹ từ chứ không bao giờ họ (người cộng sản) tin rằng có thể cải tạo được tư tưởng của chúng tôi. Không thể cải tạo nhưng cũng không thể giết thì phải nhốt lại, khi nào tình hình ổn định sẽ thả.
Tôi còn nhớ ông ta nói nguyên văn:
“Hiện nay, tình hình biên giới Tây Nam và phía Bắc đều có vấn đề, thả các anh ra, chúng tôi không thể yên tâm. Vậy các anh cứ ở lại trong trại, khi nào tình hình ổn định thì chúng tôi sẽ thả các anh về. Chúng tôi biết hiện nay trong đầu các anh vẫn chống đối chế độ mới chứ…”
Nói tới đây, ông ta hướng về phía tù cải tạo cấp tá (ở K2, mỗi khi tập họp trên hội trường, các đội cấp tá ngồi một bên, cấp đại úy trở xuống ngồi một bên):
“Chúng tôi biết các anh đại tá trung tá thiếu tá đa số cũng có tuổi rồi, ai cũng chỉ mong được về xum họp đoàn tụ với gia đình, an phận sống nốt tuổi già, nhưng còn các anh (ông ta chỉ tay về phía chúng tôi): nào là đại úy, trung úy, nào là nhảy dù, biệt kích, đại đội trưởng… toàn thứ dữ không à, các anh còn hăng lắm, thả ra thế nào cũng có anh vào rừng tụ tập chống phá cách mạng, nhưng trước mắt tôi khuyên các anh đừng dại dột tìm cách trốn trại, cứ ở lại trong trại, làm gì cũng được miễn đừng trốn trại, bởi nếu các anh ra khỏi hàng rào là sẽ bị bắn ngay…”
Qua buổi nói chuyện của Đào Lưỡng, nghiệm lại những gì đã xảy ra trong hơn 3 năm “học tập cải tạo”, tôi thấy ít nhất ông ta đã thẳng thắn nhìn nhận hai thực tế:
(1) Cộng sản không thể cải tạo tư tưởng các sĩ quan QLVNCH bị bắt đi “học tập cải tạo”. Tuy cũng có những người tỏ ra “tiến bộ” hết mình, thậm chí làm ăng-ten, nhưng thực ra chỉ là nín thở qua sông, hoặc “gặp thời thế thế thời phải thế” mà thôi.
Thí dụ điển hình là trường hợp Tư răng vàng, tay thiếu úy già tổ trưởng tăng gia dễ ghét của T2 từ Đồng Ban lên tới Phước Long mà tôi đã tới nhắc trong một chương trước: gần 20 năm sau người ta thấy ông ta xuất hiện trong một cuộc biểu tình chống cộng tại Hoa Kỳ với lá cờ vàng ba sọc đỏ trên tay, miệng hô “Đả đảo cộng sản” lớn tiếng hơn ai hết. Cũng cần viết thêm, Tư răng vàng ở tù cải tạo chưa đủ 3 năm thì dứt khoát ông ta là dân vượt biên chứ không phải đi Mỹ theo diện HO.
(2) Mục đích chính của CSVN khi đưa hàng trăm ngàn quân cán chính VNCH vào các trại tập trung là để cô lập họ chứ không hề có một chính sách rõ rệt. Vì thế, ngoài một số nhân vật tên tuổi, các vị tướng lãnh nổi tiếng hay các cấp chỉ huy “có nhiều nợ máu với cách mạng” bị chế độ mới đưa vào sổ bìa đen, tất cả mọi thành phần cải tạo còn lại đều do… hên xui may rủi mà được ở những trại dễ thở hay hắc ám, được về sớm hay bóc lịch mệt nghỉ!
Bằng chứng là vào đầu năm 1978 tại Phước Long, trong đợt thả tù đầu tiên, cùng với khoảng 1/3 trung úy, thiếu úy ở L2 (Bù Gia Phúc) đã có hàng trăm thiếu tá ở Bù Gia Mập đã được thả sau hơn 2 năm “học tập cải tạo”!
Những gì xảy sau đó cho thấy Đào Lưỡng đã giữ lời.
* Ra khỏi hàng rào sẽ bị bắn ngay:
Khoảng mấy tuần sau khi bò xanh bàn giao tù cải tạo cho bò vàng, vào một đêm nọ, mọi người đang ngủ say thì nghe tiếng súng nổ. Lúc đầu là mấy tràng đại liên từ vọng gác và sau đó là tiếng súng nhỏ.
Qua ngày hôm sau, loa phóng thanh trong trại thông báo trung úy Nguyễn Khoa Bông, K1 (có người viết là K5), vượt rào trốn trại bị phát giác và bị bắn chết. (Theo một tác giả viết về trại tù Suối Máu thì “theo một vài anh em nhận xét vết đạn và tư thế khi bị bắn chết, thì Nguyễn Khoa Bông bị bắn chết sau khi bị bắt lại chứ không phải khi đang chạy trốn”).
* Cứ ở lại trong trại, làm gì cũng được:
Ngay sau khi được bàn giao cho công an, tù cải tạo ở Suối Máu không còn phải ngày ngày nghe đọc sách báo cách mạng nữa, chỉ thỉnh thoảng mới bị tập họp trong nhà để nghe tay cán bộ nói chuyện vớ vẩn khoảng 15, 30 phút. Thời giờ còn lại muốn làm gì thì làm!
Lúc đầu, anh em tù cải tạo còn e dè, rồi dần dần yên tâm hơn, và cuối cùng xả láng, đội này đi qua đội khác một cách thoải mái, tụ tập đàn hát nhạc vàng, nhạc ngoại quốc công khai, kể chuyện “đánh giặc” trước 1975, phát ngôn linh tinh… như chỗ không người.
Đồng thời, tù cải tạo ở các K sát cạnh nhau, người bên này kẻ bên kia hàng rào nói chuyện với nhau thoải mái. Về sau, còn có người gỡ chân hàng rào kẽm gai chui qua K kế cận gặp gỡ bạn bè, thu thập, trao đổi tin tức…
Nhờ đó, tôi được anh em cho biết trong nhóm bị đưa từ Thành Ông Năm (Hốc Môn) về K1 trước đó mấy tháng có cả Phan Lạc Giang Đông. Rất tiếc chưa kịp liên lạc với nhau thì đã xảy ra vụ nổi loạn đêm Giáng Sinh (tôi sẽ thuật lại ở một phần sau).
Ngay từ những ngày đầu ở Suối Máu, khi ra ngồi chơi trước thềm hội trường, tôi đã chú ý tới tiếng máy bay phản lực ở hướng bắc và thỉnh thoảng thấy mấy chiếc F-5, MiG-21 thấp thoáng sau dãy nhà của Ban chỉ huy.
Sau khi bộ đội bàn giao cho công an, được tự do, thoái mái, tôi thường trèo lên cây trứng cá bên cạnh hội trường quan sát. Cây trứng cá khá lớn, cao hơn 3 mét, nhờ đó tôi có thể thấy nhà thờ giáo xứ Phúc Hải ở hướng bắc và phi trường Biên Hòa ở hướng tây bắc.
Nói là “thấy” phi trường Biên Hòa nhưng thực ra chỉ thấy cái bồn nước (château d’eau) đối diện cổng chính của phi trường. Người dân xứ bưởi có lẽ không ai là không biết cái bồn nước này; có người còn ra vẻ hiểu biết, giải thích rằng người Mỹ cho xây bồn nước vĩ đại này với mục đích chính là đặt đài quan sát ở trên nóc để khám phá ra vị trí đặt súng của Việt Cộng mỗi khi chúng pháo kích phi trường và Bộ tư lệnh Quân Đoàn III.
(Theo các con số của phía Hoa Kỳ, Biên Hòa không chỉ là căn cứ không quân lớn nhất Đông Dương trong cuộc chiến Việt Nam mà còn là phi trường bị lãnh pháo kích nhiều nhất)
Bồn nước trước cổng phi trường Biên Hòa
Lấy bồn nước làm chuẩn, tôi có thể mường tượng ra vị trí các cơ sở chính yếu trong căn cứ và phi đạo Biên Hòa. Trục đáp và cất cánh của phi đạo gần như song song với Quốc lộ 1 cho nên thỉnh thoảng tôi lại được nhìn những chiếc phản lực F-5, MiG-21 bay phía trên giáo xứ Phúc Hải sau khi cất cánh. Mỗi lần thấy F-5 lòng tôi lại chùng xuống. Cũng căn cứ không quân Biên Hòa, cũng những “Chiến sĩ Tự do” (Freedom Fighter, tên gọi của F-5) nhưng ngồi trên buồng lái giờ đây lại là phi công cộng sản Bắc Việt!
Phản lực cơ siêu thanh F-5A “Freedom Fighter” của KQVNCH trước 1975
Ngoài tiếng F-5 và MiG-21 cất cánh, thỉnh thoảng tôi còn nghe được tiếng động cơ phản lực gầm rú từ phía phi trường, và nhận ra đó chính là tiếng thử động cơ từ giàn thử (Test Cell). Như vậy, ngày ấy khi đốt căn cứ không quân Biên Hòa trước khi di tản về Tân Sơn Nhất, đơn vị tôi đã không phá hủy Test Cell!
Tôi còn nhớ hôm đó là ngày Thứ Hai, 28/4/1975. Sau khi tất cả các loại phi cơ ở CCKQ Biên Hòa lần lượt di tản về Tân Sơn Nhất và Cần Thơ trong những ngày trước đó, tới trưa 28, Bộ tư lệnh KQ đã ra lệnh di tản hàng ngàn quân nhân còn ở Biên Hòa về Tân Sơn Nhất, và trước khi rời căn cứ, phải đốt sạch, không để một thứ gì địch có thể sử dụng…
Nhưng sau ngày 30/4/1975, một số anh em KQ bị cộng sản bắt vào dọn dẹp phi trường Biên Hòa cho tôi biết khá nhiều cơ sở ở khu Đông (East Ramp) do người Mỹ bàn giao vẫn còn nguyên, trong đó có Test Cell.
Lúc đó tôi bán tín bán nghi, bởi Test Cell là bộ phận quan trọng hàng đầu của Đoàn Động Cơ Phản Lực, nếu bị phá hủy địch sẽ không còn phương tiện để test các động cơ được tổng kiểm (overhaul), vì thế khi nhận được lệnh phá hủy các cơ sở trước khi di tản, ông Thiếu tá Liên đoàn trưởng Liên Đoàn Động Lực – gồm hai Đoàn Động Cơ Phản Lực và Động Cơ Nổ – phải nghĩ tới việc phá hủy Test Cell chứ!
Nhưng nay nghe tiếng thử động cơ từ phi trường, tôi biết chắc chắn Test Cell vẫn còn nguyên vẹn. Chỉ có thể giải thích vì giàn thử động cơ phản lực nằm tận cuối phi đạo hướng Đông (để tránh gây tiếng ồn cho các cơ sở khác), trước khi chạy sang khu Tây (West Ramp) để di tản bằng trực thăng, vị thiếu tá liên đoàn trưởng đã không có đủ thời gian, hoặc không có nhân viên để phá hủy Test Cell.
Việc tôi leo lên cây trứng cá cạnh hội trường dần dần đã trở thành hình ảnh quen thuộc với anh em K2, nhưng ai cũng nghĩ rằng tôi leo lên để mong kiếm thêm chút “đường” (trái trứng cá) chứ không phải để gửi hồn về chốn xưa.
* Cuộc nổi dậy đêm Giáng Sinh 1978
(Trong phần này, tôi chỉ ghi lại những điều mắt thấy tai nghe ở K2, và qua lời kể của một số anh em bên K1, muốn biết thêm chi tiết về biến cố này ở các K khác, độc giả có thể tìm đọc hai bài viết hiện vẫn được phổ biến trên Internet:
– Đêm Giáng Sinh 1978 và Lễ chào Quốc Kỳ VNCH đầu năm 1979 ở K4, Trại tù Suối Máu – Nguyễn Văn Hóa
– Đêm Noel Vùng Dậy Tại Suối Máu Năm 1978 – V Sáu)
Theo lời kể lại của những anh em tù cải tạo Suối Máu thâm niên, vào thời gian có những đợt chuyển trại từ Trảng Lớn (Tây Ninh), Thành Ông Năm (Hốc Môn), Phước Long về, tệ nạn ăng-ten ở trại tù Suối Máu đã lên tới đỉnh cao, nhiều anh em bị biệt giam (nhốt conex), trong đó có một người bị xử bắn, vì bị đám này báo cáo.
Nhưng tới khi tù cải tạo được bộ đội bàn giao cho công an thì có một màn xóa bàn làm lại: tất cả những người bị biệt giam được thả về đội cũ, còn những tay ăng-ten thì trở nên… thất nghiệp.
Vì thế trong thời gian công an chưa thiết lập được một hệ thống ăng-ten mới, cuộc sống trong cảnh cá chậu chim lồng của tù cải tạo ở Suối Máu trở nên thoải mái hơn bao giờ hết.
Như đã viết ở một phần trên, cùng với việc tự do đi lại, tụ tập đàn hát nhạc vàng, kể chuyện “phản động” trong K của mình, một số anh em còn chui hàng rào kẽm gai sang các K khác để liên lạc, móc nối với nhau.
Nguyên hàng rào kẽm gai ngăn cách giữa các K trước đấy rất kiên cố, nhưng trong thời gian mấy năm do bộ đội quản lý, đám cán bộ đã cho nhổ bớt cọc sắt và tháo lấy kẽm gai để bán chác hoặc sử dụng vào việc riêng tư, nên nay hàng rào khá thưa trống, có những chỗ có thể chui qua lại khá dễ dàng.
Sau khi liên lạc, móc nối với nhau, anh em đã thành lập các “Ban đại diện quân binh chủng” mà theo tôi được biết mạnh nhất là Nhảy Dù. Cùng với việc thành lập các Ban đại diện quân binh chủng, ở mỗi K còn thành lập một “Ban hành động” để “giữ gìn trật tự trị an và đối phó với tình hình”. Nhiều thành viên trong các Ban đại diện quân binh chủng cũng là thành viên Ban hành động ở các K.
[“Ban hành động” có danh xưng chính thức là “Ban Bảo Vệ Danh Dự Sĩ Quan QL/VNCH”]
Có hai nguyên nhân đưa tới việc tù cải tạo ở Suối Máu thành lập các Ban đại diện quân binh chủng và Ban hành động ở các K.
Thứ nhất, từ khi còn nằm dưới quyền sinh sát của bò xanh, anh em em đã vô cùng tức giận và xấu hổ lây trước việc một số cựu sĩ quan QLVNCH cúi đầu thần phục, cam tâm làm ăng-ten cho kẻ thù. Nay trước việc đám cai tù công an xóa bàn làm lại, anh em muốn gián tiếp cảnh cáo những người có ý định làm ăng-ten cho bò vàng.
Thứ hai, trong những tháng cuối năm 1978, qua các kỳ thăm nuôi, tù cải tạo ở Suối Máu được thân nhân cho biết những tin tức đáng phấn khởi, có thật hoặc chỉ là tin đồn, chẳng hạn nhiều tổ chức quốc tế trong đó có cả Liên Hiệp Quốc đã lên án CSVN vi phạm nhân quyền và đòi hỏi Hà Nội phóng thích tất cả tù cải tạo, trong khi Hoa Kỳ và các nước Tây phương tuyên bố sẵn sàng đón nhận những người tù này và gia đình tới định cư; hoặc đàn anh Trung Cộng cùng với việc di tản Hoa kiều ở Việt Nam mà Bắc Kinh gọi là “Nạn kiều”, đã áp lực đòi Hà Nội phải thả những tù cải tạo người Việt gốc Hoa; hoặc tin Bắc Kinh đang chuẩn bị hai mặt giáp công – Khmer đỏ từ biên giới tây nam, Trung cộng từ hướng bắc – tiến đánh Việt Nam…
Anh em trong các Ban đại diện, Ban hành động của các K thường xuyên chui rào sang các K khác để thu thập, trao đổi tin tức. Nghe nói anh em còn tổ chức các toán “du thuyết”, hàng đêm tới các K để thuyết trình về thời sự qua những tin tức mới nhất, và thực hiện những bản tin (viết tay) để phổ biến tới các K.
Ở một số K, các buổi thuyết trình còn có phần “văn nghệ phụ diễn”: hợp ca những ca khúc chính huấn như Cờ Bay, Trên Đầu Súng Quê Hương…, và không bao giờ thiếu bản Việt Nam, Việt Nam của Phạm Duy.
Riêng tại K2 của tôi, bầu không khí có phần yên tĩnh hơn. Ngoài việc Thiếu tá Không Quân Lê Thanh Hồng Vân được bầu làm Trưởng ban Hành động, tôi không thấy, hoặc không được biết tới những sinh hoạt kể trên.
Sự yên tĩnh này có nguyên nhân của nó.
Thứ nhất, trước khi đám “em mới” chúng tôi được đưa từ Trảng Lớn, Thành Ông Năm, hay Phước Long về Suối Máu, đám tù cải tạo trẻ (đa số từ cấp đại úy trở xuống) ở K2 đã bị phân tán đưa sang các K khác nhau để lấy chỗ cho chúng tôi. Vì thế ở K2 không còn những thành phần chống đối trẻ trong đám ma cũ.
Thứ hai, những tù cải tạo còn ở lại K2 – cấp trung tá, thiếu tá – thì đúng như viên trại trưởng Đào Lưỡng đã nhận xét trong buổi nói chuyện đầu tiên, đa số là những người đã có tuổi, chấp nhận an phận, nhẫn nhục chịu đựng, nín thở qua sông, để chờ ngày được thả về xum họp với gia đình, cho nên dù bầu không khí trong trại sau khi bộ đội bàn giao cho công an đã trở nên thoải mái hơn, sinh hoạt tại các đội cấp tá ở T2 vẫn âm thầm, lặng lẽ như những ngày còn nằm trong tay bò xanh.
Tôi còn nhớ ở K2 trước sau chỉ có vài người ở các đội cấp tá công khai quan hệ với đám cấp úy chúng tôi, hình thức thường thấy nhất là tới sân bóng chuyền nằm trong khu cấp úy tham gia các trận đấu, hoặc vừa dự khán các cuộc so tài vừa trò truyện với nhau.
Về nội bộ cấp úy K2 chúng tôi, tuy anh em có xôn xao, và lên tinh thần trước việc các K thành lập Ban đại Diện và Ban hành động, hầu hết cũng chỉ đứng bên lề, bởi khác với những anh em cũng mới từ Trảng Lớn, Thành Ông Năm, Phước Long về nhưng được đưa tới các K 1, 3, 4, 5, nơi có sẵn những thành phần chống đối, đám cấp úy K2 chúng tôi người nào cũng là “em mới” đúng nghĩa!…
Có thể nói sau khi Ban hành động được thành lập tại K2, thay đổi rõ rệt nhất chỉ là việc mấy ông quan tá già thường khúm núm, xun xoe với đám công an nay đã bớt xun xoe, khúm núm, trong số đó có ông “trung tá quét sân” tự xưng là một cựu sĩ quan tùy viên mà lúc nào cũng ở trần mặc quần xà-lỏn quét tới quét lui cái thềm hội trường, chỉ đợi có tay công an nào đi vào, cách 6 mét là vội vàng khom lưng “Chào anh”!
Khoảng giữa tháng 12/1978, tình hình Suối Máu trở nên căng thẳng (hoặc… hào hứng, tùy theo suy nghĩ của mỗi người) với các vụ đánh ăng-ten do Ban hành động của mỗi K thực hiện.
Sau này, tùy theo người kể lại, hoặc tùy theo mức độ ra tay ở mỗi K, các vụ đánh ăng-ten này được gọi là “chấn chỉnh”, “dằn mặt”, “thanh toán”, “trừng trị”, hay “diệt ăng-ten”…
Cũng sau này, trong các hồi ký được phổ biến, đa số viết việc đánh ăng-ten phát xuất từ K1 sau đó lan sang các K khác, nhưng cũng có một người viết phát xuất từ K5, sau đó lan sang K1 rồi từ đó mới lan sang các K khác (K5 nằm sát K1 và cách biệt những K khác). Về phần tôi ngày ấy, vì K2 nằm giữa K1 và K3, tôi chỉ biết việc đánh ăng-ten qua tin tức từ K1.
Theo lời anh em kể cho nhau nghe qua hàng rào, tại K1 ngay trong đêm đầu, đã có 3 tay ăng-ten bị đánh sưng mặt, bầm người. Sau này, bị chuyển trại sang K1, tôi được anh em thuật lại diễn tiến các vụ đánh ăng-ten như sau:
Cứ sau giờ ngủ mỗi đêm (10 giờ đêm), một toán 4, 5 anh em trong Ban hành động vào nhà, cho tắt bóng đèn điện duy nhất (theo nội quy, đèn bắt buộc phải mở suốt đêm), rồi tới trước chỗ nằm của tay ăng-ten đọc bản buộc tội. Sau đó đánh cho một trận, nặng hay nhẹ tùy theo mức độ tội lỗi (tố cáo anh em bạn tù).
Sau khi tin tức về việc anh em bên K1 đánh ăng-ten lan truyền sang các K lân cận, ở K2, theo tôi được biết, chỉ có những vụ cảnh cáo một số người chứ không có trường hợp thượng cẳng tay hạ cẳng chân nào.
Về phía bên K3, tôi được biết cũng chỉ có những vụ đánh dằn mặt một số ăng-ten chứ không đến nỗi đổ máu, nhờ có sự can thiệp của các vị linh mục tuyên úy Công giáo.
Cũng xin viết thêm, trong khi hàng rào kẽm giai giữa K2 và K1 dầy cả chục 10 mét thì giữa K2 và K3 chỉ chừng ba mét, các dãy nhà lại tương đối gần hàng rào cho nên rất tiện cho việc chuyện trò lén lút, kể cả chui rào. Vì thế tôi mới biết rõ tù cải tạo bên K3 đa số là cấp đại úy, trung úy, trong đó có các linh mục tuyên úy Công giáo.
Sau khi Ban hành động ở K3 được thành lập, anh em theo Công giáo đã thảo luận với một số anh em bạn tù khác, dự định sẽ tổ chức một Thánh lễ vào đêm Giáng Sinh, và được hai vị tuyên úy – cha X, cha Y – nhận lời đứng ra cử hành thánh lễ.
Tới khi được biết ở các K khác bắt đầu diễn ra những vụ đánh ăng-ten với kết quả người bị đánh gục, kẻ bị phù mặt gẫy răng, cha X đã nói chuyện với anh em trong Ban hành động K3.
Theo cha, đám bò xanh đã rời Suối Máu thì mình cũng không cần phải trừng trị những anh em đã trót dại làm ăng-ten cho chúng, còn nếu muốn đánh để làm gương cho những người đang có ý định “đầu quân” cho bò vàng, thì cũng chỉ nên nhẹ tay. Và để tạo áp lực với Ban hành động, cha X hăm dọa… đình công. Cha nói:
– Ban hành động được thành lập để bảo vệ nhau, giúp đỡ lẫn nhau, nay các anh lại quay ra thanh toán nhau thì tôi xin rút lui. Tôi và cha Y sẽ không cử hành thánh lễ Giáng Sinh nữa!
Dĩ nhiên, trước sự can thiệp của vị linh mục tuyên úy, Ban hành động bắt buộc phải nhẹ tay. Nhưng cho dù “nhẹ tay”, những phẫn uất dồn nén bấy lâu nay cũng đã được một vài anh em trong Ban hành động thể hiện một cách khá “tích cực”, đưa tới kết quả có mấy tay cựu ăng-ten ở K3 bị liệt giường; sau đó được cha X và một số anh em động lòng thương hại đích thân chăm sóc thuốc men, lo cơm nước.
Việc thành lập Ban hành động ở các K chắc chắn đã được đám “tân” ăng-ten báo cáo cho bò vàng, bởi sau đó mỗi lần đi tuần hoặc có việc phải vào trại, chúng đi cả bầy, súng ống tua tủa chứ không chỉ có hai ba tay như trước kia.
Ngoài việc nói trên, từ ban giám thị trại xuống tới những tay cán bộ phụ trách các đội đã không hề tỏ thái độ hay có một lời nói nào, trực tiếp hay gián tiếp, đả động tới việc đánh ăng-ten. Vì thế, các Ban hành động vẫn tiến hành việc tổ chức mừng lễ Giáng Sinh như đã dự định.
Chiều 24/12/1978, vào lúc 6 giờ, cha X và cha Y bắt đầu cử hành Thánh lễ ngoài trời ở K3, anh em ở các K khác ra sát hàng rào hướng về K3 tham dự thánh lễ. Cha cử hành lễ tới đâu, có anh em đứng bên hàng rào K3 thông báo để mọi người cùng hiệp thông. Có nhiều anh em không Công giáo cũng ra hàng rào đứng chung, để cổ võ tinh thần và cùng nhau hồi tưởng những mùa Giáng Sinh xưa.
Lúc đó trời chưa kịp tối, đám công an trên các vọng gác nhìn xuống nhận ra sinh hoạt bất thường này và báo cáo với Ban giám thị trại, sau đó các toán tuần tiễu được tăng cường tối đa nhưng cũng chỉ đi vòng vòng bên ngoài hàng rào các trại để quan sát mà thôi.
Khi thánh lễ kết thúc thì màn đêm cũng đã buông xuống, anh em từng nhóm thân nhau bắt đầu “tiệc Giáng Sinh”: nồi chè do mỗi người đóng góp một thứ, bình trà, bình cà-phê, ít bánh kẹo để dành từ hôm thăm nuôi… Ngoài những ngọn nến lung linh, nhà của tôi còn có một lồng đèn hình ngôi sao giáng sinh do anh em khéo tay nào đó thực hiện, treo phía trên cửa ra vào…
Hơn ba năm trong tù cải tạo, chưa bao giờ tôi cảm thấy tâm hồn mình an nhiên, thanh thản đến thế. Tôi ngước mắt lên bầu trời xanh thẳm lấp lánh muôn ánh sao rồi chợt nhớ tới vợ con, và hồi tưởng một mùa Giáng Sinh năm xưa hai đứa lần đầu tiên nắm tay nhau trong sân nhà thờ Tân Định…
Sau tiệc Giáng Sinh tới chương trình văn nghệ. Thường ngày, khu cấp úy ở K2 có hai “tụ điểm” đàn hát: một ở đội của tôi dành cho nhạc tình cảm, nhạc nhẹ, một ở đội gần hội trường chuyên chơi nhạc trẻ, nhạc Pháp… Đêm Giáng Sinh cũng chia ra hai phe như thế, nhưng với một chương trình đặc sắc, phong phú hơn nhiều…
Tới giờ đi ngủ (10 giờ), chương trình văn nghệ chấm dứt để khỏi làm phiền những anh em có thói quen đi ngủ sớm. Nhưng tới khoảng 10 giờ rưỡi, khi phần lớn anh em chưa kịp ngủ thì có tiếng hát từ K1 vọng sang “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời…”
Tiếng hát càng lúc càng lớn, hình như của rất nhiều người, hát đi hát lại… Trong lòng thắc mắc, tôi và một số anh em ra bên ngoài nghe ngóng.
Khoảng 10 phút sau, có tiếng xôn xao và tiếng chân của nhiều người đi tới; rồi có mấy anh đi từng nhà kêu gọi mọi người ra sân bóng chuyền nghe Ban hành động loan báo tin tức khẩn cấp.
Khi đã có khoảng hơn 100 người tụ tập ngoài sân bóng chuyền cạnh nhà 19 của tôi, và một số khác đứng ở lối đi giữa các nhà, một anh thiếu tá trong Ban hành động K2 (tôi không nhớ tên) bắt đầu nói với một giọng đanh thép nhưng chỉ vừa đủ nghe bởi sân bóng chuyền nằm gần hàng rào có vọng gác phía bên ngoài.
Anh nói ngắn gọn cho biết trong lúc bên K1 đang diễn ra buổi lễ mừng Giáng Sinh thì công an ập vào bắt đi ba người trong ban tổ chức.
Sau đó, Ban hành động K1 đã kêu gọi toàn thể tù nhân K1 tập trung ở sân bóng chuyền trước cửa ra vào đối diện với khu nhà của Ban giám thị trại để phản đối, yêu cầu thả ba người bị bắt trở vào trại.
Đồng thời Ban hành động K1 cũng kêu gọi tất cả các K khác ủng hộ bằng cách cùng ra sân ngồi hát các ca khúc Giáng Sinh…
Sau này chuyển sang K1, tôi được anh em kể lại chi tiết sự việc như sau:
K1 là nơi giam tù cấp trung úy, thiếu úy, đa số còn rất trẻ và hăng. K1 cũng là nơi đầu tiên tổ chức đánh ăng-ten, và ra tay “nặng” nhất!
Để mừng đón lễ Giáng Sinh, anh em Công giáo ở K1 quyết định tổ chức một buổi lễ mừng ngày Chúa ra đời, với bàn thờ, hang đá dã chiến, tượng Giáng Sinh nặn bằng đất…
Địa điểm tổ chức là khoảng trống giữa hai nhà 15 và nhà 16 ở sát sân sau, gần K5, tức là ở vị trí cách xa cổng trại nhất.
Buổi lễ bắt đầu khoảng 10 giờ đêm, trên bàn thờ đốt mấy ngọn nến, trên cao là bóng đèn điện được anh em gỡ dây chuyền từ trong nhà 15 ra; có khoảng trên 50 anh em tham dự, do một anh là dân “tu xuất” phụ trách chương trình đọc kinh và hát thánh ca.
Bất ngờ từ hướng sau nhà 13 (cùng dãy trong cùng nhưng nằm phía bên trái) toán bò vàng đi tuần tới nơi.
Như thường lệ, toán đi tuần của K1 luôn luôn do Trung úy Quỳnh, Giám thị K1, đích thân dẫn đầu, theo sau là một tiểu đội bò vàng, súng CKC có gắn lưỡi lê lăm lăm trên tay.
Thấy anh em đang làm lễ, Trung úy Quỳnh quát tháo:
– Ai cho các anh tụ tập làm lễ. Giải tán ngay! Giải tán ngay!
Mọi người giải tán, nhưng sau khi biết chắc chắn Trung úy Quỳnh đã dắt toán tuần tiễu đi ra khỏi cổng trại, hầu hết anh em đã quay trở lại để tiếp tục buổi lễ.
Không ngờ, sau khoảng 15, 20 phút, Trung úy Quỳnh bất thần dẫn toán bò vàng trở vào trại. Có lẽ hắn cũng đoán anh em tù cải tạo sẽ tụ họp trở lại để tiếp tục buổi lễ, cho nên ngay từ cổng đã ra lệnh cho toán tuần tiễu chạy thẳng nơi.
Viên trung úy công an thét lớn:
– Đã có lệnh tại sao không chịu giải tán? Bắt chúng nó!
Toán công an xông lại bàn thờ, đập phá tượng ảnh, hang đá, máng cỏ, đồng thời bắt ba anh đứng gần bàn thờ phụ trách buổi lễ là Nguyễn Văn Bé (tu xuất), Nguyễn Văn Hoàng và Trần Xuân Rĩnh.
Khi bọn công an dẫn ba người bị bắt rút lui ra phía cổng trại, một số anh em cũng đi theo, rồi càng lúc càng có nhiều người từ các nhà túa ra, xen lẫn tiếng chân chạy rầm rập, tiếng người xôn xao, bỗng có ai đó hét lớn:
– Giết tụi nó! Giết tụi nó!…
Trung úy Quỳnh hoảng sợ, miệng la hét, tay rút súng K54 bắn liên tục lên trời, chân bước giật lùi cho đến khi lọt ra ngoài cổng trại và cho khóa chặt lại.
Ngay sau đó, Ban hành động K1 đã đi từng nhà kêu gọi toàn thể anh em cải tạo tập trung ở sân bóng chuyền trước cửa ra vào, đối diện với khu nhà của Ban giám thị trại để phản đối. Anh em dùng loa giấy yêu cầu Giám thị trại thả ba người bị bắt.
Lúc đó, anh (Thiếu tá KQ) Lê Thanh Hồng Vân của Ban hành động K2 và một số đại diện Ban hành động các K khác đã đi sang K1 để tìm hiểu tình hình; sau khi thảo luận, tất cả đi tới quyết định cả năm K sẽ ra ngoài sân ngồi biểu tình bất bạo động bằng cách hát các ca khúc Giáng Sinh cho tới khi Ban giám thị thả ba người của K1 bị bắt.
Trở lại với diễn tiến ở K2.
Sau khi anh thiếu tá Phó trưởng ban hành động tường thuật các diễn tiến bên K1 và yêu cầu toàn thể anh em tù cải tạo K2 tụ tập ngoài sân bóng chuyền ngồi biểu tình bất bạo động, đông đảo anh em đã hưởng ứng.
Rồi anh Huyến, nhà trưởng của tôi bắt nhịp bản thánh ca “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời…”, thế là mọi người cùng hát theo; lúc đầu không được mạnh mẽ cho lắm vì chưa có khí thế và cũng vì nhiều anh em không phải Công giáo nên không thuộc bài hát này, nhưng dần dần cùng với khí thế dâng cao, anh em cũng thuộc được mấy câu đầu và hát hết mình.
Tiếng đồng ca của mấy trăm người đã có sức lôi cuốn hầu hết anh em còn ở trong nhà, họ kéo nhau ra bên ngoài, ngồi chen chúc trên sân bóng chuyền và đứng, ngồi ở lối đi giữa các dãy nhà.
Điều đáng nói là cả năm K đều hát bản “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời…”, có lẽ vì đây là bản thánh ca Giáng Sinh quen thuộc và dễ hát nhất.
Tiếng hát của gần 5.000 con người từ trại tù Suối Máu vang ra tận các xứ đạo của vùng Hố Nai gần đó, vọng lên không trung như thể hòa cùng tiếng các thiên thần hát mừng ngày Chúa giáng trần, nhưng với rất nhiều anh em tù cải tạo, trong đó có tôi, khi ấy lời hát “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời…” lại là những gì thay cho lời phản kháng!
Sau khi cả năm K đồng loạt ra ngoài sân ngồi hát thánh ca, đám cai tù báo động. Từ doanh trại phía bên kia đường đối diện các K, đám bò vàng la hét, kéo nhau ra nhảy xuống giao thông hào dọc theo bên đường, tất cả mọi họng súng chĩa vào trong trại.
Riêng anh em tù K2 chúng tôi tập họp ở sân bóng chuyền phía sau trại, chỉ cách vọng gác phía ngoài hàng khoảng 50 mét, có thể nghe thấy tiếng lên đạn đại liên và tiếng mấy tay công an nói chuyện với nhau.
Khoảng nửa tiếng đồng hồ sau, có tiếng cọc cạch từ hệ thống loa phóng thanh trong trại.
Ngày ấy khi mới về Suối Máu, tôi không để ý tới hệ thống loa phóng thanh này, và cũng không nhớ đám bò xanh đã sử dụng lần nào chưa, chỉ biết sau khi bộ đội bàn giao cho công an, đã được ban giám thị trại sử dụng để thông báo các chỉ thị, mở đài phát thanh Hà Nội, Sài Gòn Giải Phóng bắt tù cải tạo nghe tin tức và các bài bình luận, truyên truyền ngày hai buổi sáng chiều.
Sau mấy tiếng cọc cạch là tiếng viên Giám thị trại tên Bằng, người thay mặt Đào Lưỡng mỗi khi ông ta về Sài Gòn:
– Ban giám thị trại yêu cầu tất cả trại viên cải tạo trong các K giải tán trở vào nhà ngủ, sáng mai Ban giám thị sẽ cho ba trại viên bị bắt trở vào trại.
Toàn thể tù cải tạo nhao nhao đáp lại:
– Phải thả người vào trước!… Thả người vào trước… Thả người vào trước!
Giám thị Bằng lập lại vài lần rồi im bặt. Chỉ còn tiếng hát “Đêm đông…” tiếp tục vang dội một góc trời!
Bỗng vào khoảng nửa đêm, chúng tôi nghe tiếng động cơ ầm ì, càng lúc càng rõ, cuối cùng là tiếng xích sắt của xe tăng nghiến trên mặt đường. Chúng tôi hiểu đám công an đã cầu cứu bộ đội, xin đưa xe tăng tới Suối Máu để tăng cường. Về sau chúng tôi được biết có tất cả ba chiếc nằm đối diện với các cổng ra vào trại.
Ít phút sau, bỗng có mấy tràng đại liên nổ dòn dã xé tan màn đêm, tiếng đạn rít nghe rợn người phía trên các nóc nhà tôn!
Ngay lúc đó, anh em cải tạo người thì nói súng đại liên trên xe tăng, người thì bảo súng trên vọng gác, bởi cùng lúc đó, có ánh đèn pha từ vọng gác gần K2 quét xuống sân bóng chuyền nơi chúng tôi đang ngồi hát.
Nghe tiếng súng, anh em xôn xao, một vài người bỏ vào nhà nhưng đa số vẫn tiếp tục ngồi lại.
Riêng tôi, tôi bắt khối óc của mình làm việc thật nhanh. Tôi không biết sắp tới đám công an có dám bắn thẳng vào hàng ngàn tù cải tạo đang ngồi ngoài sân hay không, bởi nếu việc đó xảy ra, chắc chắn sẽ thất lợi cho chế độ về mặt tuyên truyền, nhưng tôi vẫn phải giả sử việc đó xảy ra để tìm giải pháp tốt nhất cho bản thân mình!
Tôi cũng không thể đoán nếu việc đó xảy ra, Ban hành động sẽ phản ứng, điều động ra sao, nhưng nếu phải phá rào để vượt thoát chúng tôi chỉ có một hướng duy nhất là hướng bắc: băng qua quốc lộ 1 chạy vào giáo xứ Phúc Hải hoặc các giáo xứ gần đó của người Công giáo di cư. Bởi ba hướng còn lại đều trống trải, rất dễ bị truy lùng, chưa kể có thể bị bắn gục ngay trong lúc đang vượt rào.
Sau mấy tràng đại liên đe dọa, không khí trở nên ngột ngạt, căng thẳng, nhưng chỉ vài chục giây đồng hồ sau, tiếng hát “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời…” lại tiếp tục vang lên.
Vừa hát, mọi người vừa hồi hộp chờ đợi phản ứng quyết liệt của công an và bộ đội trên xe tăng. Một cuộc tắm máu không chừng!… Nhưng một hồi lâu vẫn không thấy động tịnh gì.
Sau này chúng tôi được biết đêm hôm đó hầu như toàn bộ lực lượng công an tỉnh Đồng Nai (Biên Hòa cũ) đã được trải rộng trên huyện Thống Nhất (trước là quận Đức Tu) đề phòng đồng bào Công giáo ở vùng Hố Nai nổi dậy. Rất có thể vì vậy mà công an tỉnh không còn nhân sự để tăng cường cho Suối Máu.
Bên cạnh đó, như sau này tôi có dịp tìm hiểu, tinh thần cục bộ là một trong những nét đặc thù của chế độ CSVN: trại tù Suối Máu thuộc trung ương thì trung ương lo, công an tỉnh không dính dáng gì tới; cũng thế, trại tù nằm dưới quyền công an thì quân đội không có trách nhiệm gì cả, gửi ba xe tăng tới để diệu võ dương oai là quá tốt rồi!
Hơn nữa, Giám thị Bằng (tôi không biết cấp bậc) chỉ là người thay mặt Đào Lưỡng mỗi khi viên trung tá này đi về nhà ở Sài Gòn, cho nên rất có thể ông ta (Giám thị Bằng) lo ngại nếu đàn áp mạnh bằng súng đạn, lỡ mấy ngàn tù cải tạo đồng loạt phá rào chạy ra ngoài, trà trộn vào giáo dân Hố Nai đang dự lễ ở các nhà thờ thì vô phương giải quyết, và ông ta sẽ phải lãnh toàn bộ trách nhiệm!
Khoảng 1, 2 giờ đêm (tôi không nhớ đích xác), khi mọi người vừa tiếp tục hát “Đêm đông…” vừa chờ đợi phản ứng quyết liệt của Ban giám thị trại thì một người trong Ban hành động của K2 từ K1 chạy về báo tin phe ta… đại thắng: ba anh em K1 bị bắt đã được thả vô điều kiện!
Tôi như không tin vào đôi tai của mình. Các anh em khác cũng thế, phải mất mấy giây đồng hồ, mọi người mới hết ngạc nhiên sững sờ, rồi đồng loạt vỗ tay reo hò trước chiến thắng bất ngờ của tập thể tù cải tạo Suối Máu.
Sau này tôi được biết diễn tiến chi tiết như sau:
Sau khi công an bắn mấy tràng đại liên hăm dọa mà tù cải tạo vẫn không nao núng, đích thân Giám thị Bằng đã xuống văn phòng giám thị K1 để tìm phương cách giải quyết. Trước hết viên giám thị lập lại những gì đã nói trên loa phóng thanh, nhưng một anh trong Ban hành động K1 trả lời vọng ra:
– Chúng tôi chỉ giải tán sau khi ba anh em bị bắt được thả vào trại!
Sau hai ba lần đôi co, Giám thị Bằng nhường một bước, nói:
– Nếu tất cả trại viên K1 giải tán trở vào nhà ngủ, Ban giám thị sẽ cho ba trại viên trở vào trại ngay.
Tức là không cần đợi tới sáng mai!
Trước đề nghị của Giám thị Bằng, các anh em đại diện Ban hành động liên K đã thảo luận tại chỗ: Trung úy Quỳnh là kẻ bắt người chứ không phải Giám thị Bằng, nay đích thân viên Giám thị này đã đứng ra giải quyết và tỏ “thiện chí”, mình cũng không nên dồn ông ta vào chân tường. Vì thế anh em quyết định tỏ thiện chí để đáp lại: tù cải tạo K1 sẽ giải tán, nhưng 15 phút sau, nếu ba người bị bắt không được thả vào trại, anh em sẽ tập họp biểu tình trở lại, và qua ngày hôm sau, toàn thể năm K bắt đầu tuyệt thực vô thời hạn, không cho các anh nuôi ra khỏi trại đi lãnh thực phẩm.
Giám thị Bằng cam kết sẽ thả người, và để anh em tù cải tạo thêm tin tưởng, ông ta nói một khi bên trong các trại viên bắt đầu giải tán thì ngoài này các xe tăng cũng quay đầu rời trại.
Ban hành động K1 liền yêu cầu tất cả anh em tù cải tạo trở về nhà mình. Khoảng 10 phút sau, cùng với tiếng xe tăng xa dần, có tiếng mở khóa cổng K1: cả ba anh em bị bắt được thả về!
Ngày hôm sau, mọi sinh hoạt ở trại tù Suối Máu vẫn diễn tiến bình thường, như thể đêm qua đã không xảy ra biến cố lớn nhất trong một trại tù cải tạo sau năm 1975.
Sau này khi đã được thả, trong những dịp gặp gỡ anh em bạn bè cựu tù cải tạo ở những nơi khác, khi tôi kể lại vụ nổi loạn đêm Giáng Sinh 1978 ở Suối Máu, mọi người có vẻ không tin mức độ quy mô cũng như tinh thần chống đối quyết liệt, xem thường sinh mạng của chính mình của anh em tù cải tạo Suối Máu.
Tôi biết thế nào cũng có người nghĩ thầm trong bụng: Mẹ, chúng nó có súng trong tay mà chịu thua cải tạo à?, hoặc: Tù cải tạo mà đòi tuyệt thực, xem thằng nào chết trước!…
Chỉ tới sau này ra hải ngoại, khi có hàng chục, hàng trăm nhân chứng sống kể lại (chi tiết có thể khác nhau tùy theo người đó ở K nào) mới có nhiều người tin.
Riêng tôi, sau này chuyển sang K1, được anh em kể lại đầu đuôi đã có hai suy nghĩ, một về nguyên nhân đưa tới biến cố này, một về đoạn kết tốt đẹp, tốt đẹp tới mức khó tin ấy!
Trước hết, nói về nguyên nhân của “cuộc nổi loạn” đêm Giáng Sinh 1978.
Nguyên nhân xa, như tôi đã trình bày ở một phần trên, là việc sau khi bò xanh bàn giao tù cải tạo cho bò vàng, trong lúc đám cai tù mới chưa kịp thiết lập hệ thống ăng-ten của họ, một số anh em đã chui hàng rào sang các K khác để liên lạc, móc nối với nhau, đưa tới việc thành lập các “Ban đại diện quân binh chủng”, các “Ban hành động” ở các K để “bảo vệ danh dự sĩ quan QL/VNCH”.
Tuy nhiên, dù tinh thần của anh em tù cải tạo ở Suối Máu lúc ấy có lên cao tới đâu, cũng chỉ đưa tới việc đánh ăng-ten ở các K và việc tổ chức Thánh lễ đêm Giáng Sinh, chứ không một ai có thể nghĩ tới việc gần 5000 tù cải tạo ở năm K đồng loạt biểu tình bất bạo động để phản đối Ban giám thị trại, nếu như không có việc bắt giữ ba anh em ở K1. Nói cách khác, việc Trung úy Quỳnh vào K1 bắt người không chỉ là nguyên nhân gần mà còn là nguyên nhân chính! Theo đa số tù cải tạo ở K1, chính họ cũng không ngờ tay trung úy công an này lại hành động “sảng” đến như thế!
Theo sự mô tả của anh em, Trung úy Quỳnh khoảng trên dưới 40, nghĩa là đã khôn lớn trước khi cộng sản từ chiến khu về tiếp thu Hà Nội năm 1954. Về diện mạo, ngoại hình, ngoài hàm răng hơi hô có thể nói đương sự tương đối “dễ nhìn” nhất trong đám sĩ quan công an răng đen mã tấu.
Tay Quỳnh không bao giờ mặc nguyên bộ đồ của “bò vàng” mà lúc nào cũng diện cái áo sơ-mi trắng ngắn tay, không đi dép râu mà mang một đôi xăng-đan da giả màu vàng. Cung cách ăn nói cũng cho thấy anh ta có vẻ văn minh, hiểu biết hơn những tay i tờ mà thích “nên nớp” (lên lớp)!
Chỉ có điều anh ta hơi nặng phần trình diễn, thích diệu võ dương oai!
Mỗi ngày đích thân anh ta vào trại (K1) kiểm soát ít nhất một lần, hông đeo K54, theo sau là một tiểu đội bò vàng trang bị súng trường CKC có gắn lưỡi lê sáng loáng.
Thông thường, các toán tuần tiễu chỉ vào trại lúc ban ngày, nhưng trong đêm Giáng Sinh, có lẽ được đám công an trên các chư vọng gác báo cáo về sinh hoạt bất thường của tù cải tạo – chui rào, tụ tập dự thánh lễ, đàn hát… – thay vì chỉ cần tăng cường toán tuần tiễu bên ngoài hàng rào và trước cổng trại, Trung úy Quỳnh lại dắt một toán đi vào bên trong K1.
Sau khi bất ngờ bắt được quả tang tù cải tạo lén lút tổ chức mừng lễ Giáng Sinh, quát tháo ra lệnh giải tán rồi dắt toán tuần tiễu ra về, nếu tay trung úy công an đánh một giấc tới sáng thì đã không có chuyện.
Nhưng chưa đầy nửa tiếng đồng hồ sau, không hiểu nghĩ sao anh ta lại dẫn toán bò vàng trở vào trại, chạy thẳng tới nơi anh em đang làm lễ đập phá bàn thờ, máng cỏ Giáng Sinh, tượng Chúa Hài Đồng, và bắt ba anh đứng gần bàn thờ đem đi…
Khi viên trung úy công an thấy anh em tù cải tại ùa ra, lo sợ rút K54 bắn chỉ thiên, có thể nói cuộc nổi loạn đêm Giáng sinh 1978 mới thực sự bắt đầu.
Có lẽ chính đám giám thị trại giam Suối Máu cũng nhận ra hành động “sảng” của Trung úy Quỳnh đã tạo cơ hội cho tù cải tạo nổi loạn, cho nên chỉ vài ngày sau, anh ta đã bị thuyên chuyển đi nơi khác, và một tay sĩ quan công an già dặn, bản lĩnh hơn được đưa tới K1.
Tiếp theo, xin viết về đoạn kết tốt đẹp, tốt đẹp tới mức khó tin của cuộc nổi loạn đêm Giáng Sinh 1978 ở Suối Máu.
Như đã viết ở một đoạn trên, sau này khi đã được thả, anh em cựu tù Suối Máu chúng tôi kể lại vụ nổi loạn nói trên thì không mấy người tin mức độ quy mô cũng như tinh thần chống đối quyết liệt của anh em tù cải tạo.
Suy luận một cách khách quan, mọi người không tin cũng phải thôi: chưa nói tới việc tổ chức lễ Giáng Sinh trong tù, chỉ nội việc 10 giờ đêm không chịu đi ngủ là đã là vi phạm nội quy, lại còn hô hào đòi giết công an!
Sau này khi đã ổn định tình hình (thực chất là dẹp tan các “Ban đại diện”, “Ban hành động”, tôi sẽ viết ở một phần sau), chính Đào Lưỡng, viên Giám thị trưởng Chí Hòa – Suối Máu, đã nói trong một buổi lên lớp ở hội trường K2, được hệ thống loa phóng thanh truyền đi các K khác, nơi anh em tù bị bắt ngồi trong hội trường để nghe:
– Nếu đêm hôm đó, mấy thằng nhỏ không tự chế, thay vì bắn qua mái nhà tụi nó bắn xuống sân thì đã có nhiều người chết. Chết mà không thể oán cách mạng vì các anh làm loạn mà!
Theo những gì Đào Lưỡng nói, chúng tôi hiểu đêm hôm đó ông ta không được Giám thị Bằng báo cáo sự việc xảy ra ở Suối Máu, và tay giám thị này cũng không ra lệnh cho đám công an bắn đại liên để thị uy mà do những tên này tự ý bắn vì hoảng hốt (?).
Nhưng dù Đào Lưỡng được hay không được thông báo, Giám thị Bằng ra lệnh hay không ra lệnh cho công an bắn đại liên sát trên mái nhà, việc cuộc nổi loạn kết thúc một cách tốt đẹp – không ai chết hoặc bị thương, công an thả người bị bắt, tù cải tạo trở vào nhà ngủ – là ngoài dự đoán của nhiều người, nhất là anh em ở K1 và K5, vốn có tinh thần chống đối quyết liệt nhất.
Từ lâu, trong tập thể trung úy, thiếu úy trẻ ở K1, K5 có nhiều người nuôi sẵn ý định trốn trại; qua những lần được ra ngoài trại lao động gần quốc lộ 1, họ có dịp quan sát, nghiên cứu địa hình địa vật, khi thấy những tháp chuông nhà thờ liên tiếp của vùng Hố Nai, họ biết một khi thoát ra khỏi trại, họ sẽ có những nơi ẩn náu an toàn.
Vì thế trong đêm 24/12/1978, khi toàn thể tù cải tạo ở Suối Máu ra sân ngồi để phản đối Ban giám thị trại và hát “Đêm Đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời…”, một số anh em ở K1, K5 đã tính phá rào trốn trại, nhưng (như tôi được nghe kể lại) việc này đã bị các anh trong Ban hành động ngăn cản, với lập luận: việc phá rào trốn tại vào lúc này sẽ làm mất “chính nghĩa” của cuộc biểu tình bất bạo động của toàn trại, và tạo cho cớ cho công an sử dụng vũ lực, tức là sẽ có đổ máu!
Trước thái độ cương quyết của các Ban hành động, những anh em có ý định trốn trại đã phải bỏ dở việc phá hàng rào.
Chú Thích:
(1) Nha Tuyên Úy Phật Giáo, cùng với Nha Tuyên Úy Công Giáo và Nha Tuyên Úy Tin Lành được chính thức thành lập vào năm 1964, gọi chung là Tổng Nha Tuyên Úy Quân Đội, trực thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị.
Thượng Tọa Thích Tâm Giác, Chánh đại diện miền Vĩnh Nghiêm, được Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đề cử giữ chức Giám đốc đầu tiên của Nha Tuyên Úy Phật Giáo.
Di ảnh Hòa Thượng Thích Tâm Giác
Chuẩn tướng Nguyễn Khoa Nam và Hòa Thượng Thích Tâm Giác trong buổi lễ cầu siêu cho vong linh chiến sĩ trận vong tại Vùng 4 Chiến Thuật, năm 1972
Thượng Tọa Thích Tâm Giác (sau trở thành Hòa thượng) sinh năm 1917 tại Nam Định, xuất gia năm 7 tuổi. Năm 1954, ông được trường Tăng Học Quán Sứ (Hà Nội) lựa chọn gửi đi du học Nhật Bản. Tám năm, ông trở về (miền Nam, dĩ nhiên) với hai bằng Tiến sĩ Xã hội học, Triết học Đông phương và đệ Tam đẳng huyền đai Nhu đạo (KODOKAN).
Khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất được thành lập năm 1964, không hiểu vì sớm nhận ra mầm mống chia rẽ qua các cuộc tranh giành ảnh hưởng, quyền lực trong tăng giới, hay chỉ đơn thuần vì muốn duy trì, bảo tồn truyền thống Phật giáo miền Bắc, Thượng Tọa Thích Tâm Giác đã thành lập một “miền” riêng cho Phật tử Bắc Việt di cư, được Hiến chương của Giáo hội nhìn nhận, đó là miền Vĩnh Nghiêm, và Thượng tọa được bầu làm Chánh đại diện.
Năm 1966, Thượng Tọa Thích Trí Quang tuyên bố ly khai để thành lập “Giáo hội Phật giáo Ấn Quang”, lãnh đạo tăng ni và tín đồ chống lại chính phủ VNCH, dẫn đưa tới xung đột trầm trọng giữa hai phe Việt Nam Quốc Tự và Ấn Quang.
Mặc dù về mặt pháp lý, Giáo Hội Ấn Quang là một tổ chức bất hợp lệ, không được chính phủ VNCH công nhận, nhưng Thượng Tọa Thích Tâm Giác vẫn cố gắng duy trì tinh thần hòa hợp, không chỉ với tư cách Chánh đại diện miền Vĩnh Nghiêm và còn trong chức vụ Giám đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo.
Trong chức vụ này, Thượng Tọa đã có “nhã ý” mời Giáo Hội Ấn Quang đề cử một số vị đại đức (thuộc phe Ấn Quang) gia nhập hàng ngũ tuyên úy Phật giáo để thể hiện tinh thần đoàn kết trong tăng chúng, ít nhất cũng là dưới mắt người ngoài.
Hòa Thượng Thích Tâm Giác viên tịch ngày 15 tháng 11 năm 1973.
Bản thân tác giả thiên hồi ký này cũng là một môn sinh của Thượng Tọa Thích Tâm Giác tại Võ đường Nhu đạo Quang Trung ở đường Phạm Đăng Hưng, Dakao, trong thập niên 1960 nhưng không học tới nơi tới chốn. Trong khi một môn sinh khác, Hạ sĩ I Trần Văn Căn, cũng thuộc quân chủng Không Quân VNCH, đệ Nhị đẳng huyền đai, đã đoạt chức vô địch hạng nhẹ toàn quốc năm 1974.
Tác giả sinh quán tại Hội An, Quảng Nam, tốt nghiệp Đốc Sự Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Cựu tù chinh trị, hiện định cư tại Virginia, đã góp bài cho Việt Báo Viết Về Nước Mỹ từ nhiều năm qua. Nhà văn Võ Phiến nhận xét về các nhân vật trong ba tập truyện của Phạm Thành Châu đã xuất bản, “phải kêu là tuyệt vời. Sao mà họ chung tình đến thế.” Sau đây, thêm một truyện ngắn của tác giả.
* * *
Chúng tôi có sáu đứa con, ba trai, ba gái. Nếu vợ tôi không cằn nhằn thì giờ đây tôi có thể khoe có hơn chục đứa không chừng. Dĩ nhiên con cái đông phải cắm cổ mà cày, thấy mình còn thua con trâu, nhưng bù vào đó là cái thú được hi sinh cho con cái. Thỉnh thoảng ngó lại, ngạc nhiên thấy con mình sao mau lớn quá, áo quần đứa trước đã phải để cho đứa sau mặc rồi. Vợ tôi đi làm về còn phải lo phục vụ chúng. Giặt giũ, nấu nướng, dọn dẹp… Bà la hét đứa nầy, nạt nộ đứa kia rồi lại lầu bầu với tôi đủ chuyện, nhưng tôi chẳng hề bận tâm, tôi biết bà rất thú vị khi làm như vậy, đó là hạnh phúc của bà.
Vợ tôi thương con đến độ thương luôn các vật dụng của chúng nữa, từ đồ chơi lúc nhỏ đến quần áo cũ, giấy bút không dùng…bà đều coi như của quí, đem cất vào kho. Bà thương luôn cả đến bạn bè của chúng, đứa nào đến bà cũng mừng rỡ, săn sóc. Con ăn gì chưa? Ngồi xuống đây, bác lấy gì cho con ăn nghe! Bà giới thiệu tất cả sản phẩm bà có trên bếp, trong tủ lạnh, đứa nào chịu ăn bà thích lắm, nếu khen mấy tiếng Ngon quá! là bà phổng mũi cứ bổn cũ soạn lại, lần sau lại bắt chúng ăn như thế, chúng cũng khen nhưng có vẻ đau khổ, tôi lại phải nhắc chừng để bà đổi món khác, rồi bà lại mời, lại hồi hộp chờ được khen.
Sở dĩ không đứa bạn nào của con tôi dám chê vì có mục đích, chúng nhắm vào đứa con gái lớn trong nhà. Nó tên Thục Anh. Khi sinh ra nó, tôi đặt tên mà không hiểu ý nghĩa gì cả. Chỉ vì lúc còn dưới trung học tôi mê một cô bé học lớp đệ ngũ tên Thục Anh. Tuổi mới lớn, yêu chỉ để mơ mộng nên tên gọi là phần quan trọng nhất, vì không lẽ buổi tối đang học bài, bỏ vài phút ra mơ mộng mà lại viết tên người đẹp là Ổi, Ốc hay Cơm, Canh… lồng vào tên mình giữa hình một quả tim?!…
Sau nầy, dung nhan cô bé đó, tôi không nhớ rõ, chỉ còn ấn tượng đó là một cô bé ngây thơ, vui tươi, nhí nhảnh, đôi mắt thông minh, trong sáng. Nhiều cô đẹp hay làm kiêu. Cô Thục Anh đẹp nhưng rất tử tế với bạn bè. Tôi thường tìm dịp ngắm cô và yêu thầm. Và tên Thục Anh đã thành một âm vang dịu dàng trong mối tình học trò thuở nào. Tôi lấy tên cô ta để đặt tên cho con gái tôi. Dĩ nhiên vợ tôi đâu biết điều bí mật đó, nên cũng đồng tình. Tên Thục Anh, nghe hay đó chứ!”
Thường con cái trong nhà, mỗi đứa tôi thương một cách. Tôi không khó tính như mẹ chúng. Với con trai tôi nhìn thấy tôi của thời đi học. Cũng mê gái, cũng cãi lời cha mẹ một cách vô ý thức. Với con gái tôi thấy giống mẹ chúng, đúng hơn, giống bất cứ cô gái mới lớn nào khác, thế thôi. Trong nhà thì lười biếng, chỉ siêng soi gương chải đầu, ra đường làm bộ trang nghiêm, áo quần đẹp, ăn nói nhỏ nhẹ.
Riêng con bé Thục Anh thì đúng là yểu điệu thục nữ. Bình thường trông nó thật thảm hại. Người ốm, hơi cao, mặt trái xoan dài, trông hơi xanh xao như thiếu dinh dưỡng, hai mắt to vẻ ngái ngủ. Tóc tai lượt bượt, vướng víu, khi làm bếp, thỉnh thoảng phải dùng cánh tay gạt ra phía sau, nhưng khi ra đường, mái tóc dài đen mượt của nó là một giòng suối chảy xuống bờ vai thon nhỏ, dịu dàng. Còn đôi mắt ngái ngủ, không hiểu nó tô điểm cách nào mà trông vừa buồn buồn vừa ngơ ngác một cách dễ thương. Trang phục của nó cũng đơn giản, những hàng vải mềm, màu trang nhã hòa hợp với khuôn mặt và dáng người, trông thước tha và quí phái khiến các cậu vừa thấy đã xao xuyến nhưng cũng ngậm ngùi vì có vẻ cao sang quá, mình chẳng đáng hi vọng chút nào.
Nghệ thuật làm xiêu lòng lũ con trai không phải ngẫu nhiên, nó phải luyện tập gian khổ như một nghệ sĩ tập tuồng vậy. Từ cách ăn mặc, đi đứng cho đến cách chuyện trò. Chẳng biết nó nghiên cứu đâu ra những phương pháp kỳ cục. Trong nhà, nó thường đặt trên đầu một quyển sách, cần gì sai nó, nó cứ lững thững đi trông như người máy. Tôi tưởng nó bị bịnh tâm thần, nó cãi Ba không biết gì hết, khi nào con đi nhanh mà quyển sách không rớt xuống đất, con sẽ đi đẹp lắm đó”.
Thục Anh che giấu khuyết điểm của nó một cách tài tình. Nó gây lộn với các em nó không bao giờ thua. Với các anh, nó chỉ cần thút thít là các anh nó bối rối ngay. Tuy nhiên Thục Anh biết giữ khoảng cách vừa phải đối với bạn bè của anh nó. Với đứa nào nó cũng lễ phép và không thân mật quá khiến các cậu mê mệt mà không dám tỏ tình.
Đúng là cha mẹ sinh con trời sinh tính. Em nó, con bé Đỗ Quyên lại khác, tuy dáng dấp và khuôn mạt tương tự nhưng bản tánh mạnh mẽ như con trai. Nó không lượt là như Thục Anh mà lúc nào cũng quần jean, áo pull, tóc thì cột túm phía sau bằng một sợi giây thun, trong nhà ra đường đều thế, chẳng hề thấy điểm phấn tô son bao giờ. Nói chuyện với con trai, nó đốp chát thẳng thừng, bọn con trai tiếp xúc với nó cũng tự nhiên như với em gái thực sự. Có điều lạ là đứa nào muốn tặng quà cho Thục Anh đều phải qua Đỗ Quyên, nếu không Thục Anh sẽ không thèm nhận.
Các cậu đã tốn tiền còn phải quị lụy chỉ để được người đẹp thưởng cho nụ cười và hai tiếng cám ơn. Nhưng có nhìn thấy Thục Anh nhận quà mới hiểu được sự sung sướng của người tặng. Nó mở quà một cách chậm rải nhưng đầy vẻ hồi hộp, tò mò, rồi nó kêu lên Ôi, đẹp quá!” mắt mở lớn, ngước nhìn nạn nhân Cám ơn anh nhiều lắm, sao anh biết em đang cần món quà nầy? Em thích quá, cám ơn anh!”Cách suýt soa, trân trọng món quà của nó khiến khối chàng si tình muốn bê luôn ngôi nhà của cha mẹ đem dâng người đẹp. Đâu biết rằng, khi khách đã ra về, chỉ còn lại người nhà, nó vất cho mấy đứa em Cho tụi bây, có thích thì lấy đi.
Trong số các ứng viên có mấy anh chàng mà vợ tôi chấm là có đủ điểm để lọt vào vòng chung kết, đó là các cậu đang học y khoa Không nghề nào tự do lại nhiều tiền bằng”. Ngoài ra còn có một cậu coi bộ cũng si Thục Anh ghê lắm nhưng cũng rụt rè không kém. Cậu vượt biên qua Mỹ một mình, vừa đi học vừa đi làm, quần quật cho bản thân còn tiếp tế cho gia đình ở Việt Nam nữa. Chẳng bao giờ thấy quà cáp cho Thục Anh, chỉ thỉnh thoảng mang đến vài tờ nguyệt san, báo chí gì đó để ở phòng khách, có ai buồn tình thì giở ra đọc giết thì giờ. Thục Anh như thấy được thế kém của anh chàng nên thỉnh thoảng có săn sóc, hỏi han rất thân tình, có lẽ vì lòng trắc ẩn muốn cân bằng tương quan giữa các cậu, để cậu ta khỏi nản mà bỏ cuộc, vì các bà, các cô tuy không yêu nhưng lại muốn càng nhiều người say mê mình, càng thích. Mỗi lần ăn uống trong gia đình, cậu chỉ được ngồi tít xa người đẹp, lo cắm cúi ăn. Vợ tôi tuy cho cậu ra ngoài danh sách ứng viên khách đông sàng, nhưng lại thương nhiều vì cậu côi cút, thật thà, nhất là khen bà nấu ngon. Con ăn McDonald, hot dog riết ngán quá, thèm cơm, bác lại cho ăn ngon nên lần nào con cũng muốn bể bụng…”
Cậu ta, dĩ nhiên bị các đối thủ loại ra vì không có ưu điểm nào đáng ngại cả. Ăn mặc xuề xòa, thường là bộ đồng phục của tiệm ăn vì cậu là bồi bàn. Chiếc xe cũ xì, trong bỏ đầy báo chí sách vở. Người cao, mặt mũi cũng tạm nhưng tóc tai hớt ngắn như lính. Chỉ chừng đó cũng biết cậu chắc chắn đã thất bại trước khi tham gia cuộc đua chạy đến trái tim người đẹp rồi, đúng hơn cậu cũng chạy, nhưng lẽo đẽo theo sau để xem thử các bạn mình ai sẽ đến đích chứ riêng cậu chẳng thấy quyết tâm gì. Thế nên vợ tôi gọi cậu là anh chàng Cá Kèo, ý nói đứng hạng chót trong danh sách các ứng viên.
Có lẽ người Mỹ bị bịnh tâm thần, đau tim nhiều cũng vì những con số. Cái gì cũng tính bằng số, chết rồi cũng đem linh hồn ra cân! Lũ trẻ Á Châu ở Mỹ bây giờ cũng bị qui luật đó chi phối. Tình yêu vốn vô hình, vậy mà chúng biểu lộ được bằng những con số. Chúng nghĩ đơn giản, tình cảm cũng như một món hàng, hễ yêu ai cứ cho thật nhiều quà đắt tiền tức là yêu nhiều. Tôi muốn nói về những quà cáp của các chàng Sơn Tinh, Thủy Tinh tân thời đem dâng người đẹp nhân ngày sinh nhật của nàng. Ngày sinh nhật của Thục Anh cũng khoảng vào ngày nó tốt nghiệp trung học. Vợ chồng tôi muốn làm một lễ sinh nhật tươm tất để mừng nó tốt nghiệp luôn một thể. Chúng tôi định cho Thục Anh vào đại học ở một tiểu bang khác nhưng vợ tôi lại sợ con gái xa nhà sẽ gặp nhiều khó khăn. Bà mẹ Việt Nam nào cũng muốn các con dù khôn lớn đều phải nằm trong đôi cánh của mình hay ít ra cũng lẩn quẩn đâu đó trong tầm mắt, bà mới yên tâm, hoặc khi đi xa phải có bạn đồng hành giúp đỡ nhau để tránh lỗi lầm, sa ngã. Vợ tôi nói với Thục Anh “Con lớn rồi, phải quyết định lấy cuộc đời mình. Trong số các bạn trai của anh con, con có thể chọn được một anh mà con có cảm tình, ba mẹ không có quyền chen vào nhưng cần biết quyết định của con để yên lòng. Mẹ thấy đứa nào cũng đàng hoàng, xứng đáng cả. Đừng để chúng nản, chúng đi hết Thục Anh chỉ dạ, cười cười mà không nói. Vợ chồng tôi chẳng hiểu nó nghĩ gì, Tuy chưa hề thấy nó biểu lộ tình cảm đặc biệt cho riêng một cậu nào, nhưng lối cười của nó, tôi biết nó đã có đối tượng, có chủ đích.
Hôm tiệc sinh nhật, mới sáng, các bạn bè đã lục tục mang quà đến để đầy phòng khách. Không hiểu có phải qua Đỗ Quyên không, hình như cậu nào cũng biết rằng Thục Anh sẽ lộ ý cho biết ai là ý trung nhân của cô trước khi lên đường đi học xa, và cậu nào cũng tin rằng mình đã nằm trong mắt xanh người đẹp rồi. Một cái TV ngạo nghễ chiếm một góc phòng, bên cạnh là một cái máy CD, DVD gì đó, có mấy gói quà nho nhỏ tuy khiêm nhường nhưng nổi bật nhờ giấy gói rực rỡ…
Trong lúc chờ đợi chúng tụ tập ở phòng khách chuyện trò rôm rả. Vợ tôi tuy chuẩn bị trước, nhưng nấu nướng các món không phải đơn giản, các cô con gái và cả tôi nữa đều phải xuống bếp phụ một tay. Một lần, trong khi Thục Anh đang ở trong bếp thì anh chàng cá kèo xuất hiện, cậu ta đi có vẻ mạnh dạn lắm nhưng không che dấu được sự rụt rè, thiếu tự tin. Cậu đến bên Thục Anh đưa ra một gói nho nhỏ, hình như một quyển sách trong một phong bì màu xám “Anh tặng Thục Anh… để mừng sinh nhật. Anh cho gì đây? Quyển sách hả, anh để trên phòng khách, lát nữa em sẽ mở quà, bây giờ tay em dơ lắm. Anh không thích để trên đó, không thích ai biết trừ Thục Anh. Được rồi, em mở ngay bây giờ, quyển sách phải không?” “Một tập thơ. Thơ của ai? Thơ của anh. Thục Anh không lộ vẻ gì ngạc nhiên, nó giở từng trang, nhìn thoáng qua. Em có đọc mấy bài nầy rồi, trong các tờ báo… Đúng rồi, anh làm thơ tặng Thục Anh đó. Hèn gì, bài thơ nào cũng thấy đề. Tặng Thục Anh em biết ngay là anh” Con bé chỉ hững hờ nói cám ơn rồi bảo Đỗ Quyên đem tập thơ vào phòng.
Có lẽ cậu cá kèo đang chờ đợi một tiếng kêu ngạc nhiên của Thục Anh kèm một cái ngước mắt nhiều cảm động và biết ơn, giống như lúc nhận quà của mấy cậu kia. Không ngờ vẻ lạnh lùng của Thục Anh khiến cậu ta như bị một cú đấm bất ngờ. Phải rồi, tập thơ chẳng có giá trị gì cả, cũng chẳng biết dùng vào việc gì! Mặt cậu tái nhợt, cậu nói vội vã như hụt hơi. Anh về nghe! rồi cậu lễ phép với chúng tôi. Xin phép hai bác con về, con bận có chút việc. Vợ tôi vội chận lại. Có chuyện gì gấp vậy? Con ở lại với bạn bè cho vui, hay để bác dọn riêng, con ăn trước rồi hãy về. Thấy vẻ bẽ bàng lúc nãy, tôi đoán cậu thất vọng nhiều lắm nên cần rời nơi nầy, tìm một chỗ yên tĩnh để gặm nhấm nỗi buồn nên tôi không chen vào. Vừa lúc Thục Anh đến. Anh về em giận lắm đó. Ở lại, nghe chưa! Lối ra lịnh như thế khiến tôi cũng bất bình, cậu cá kèo đành nghe theo.
Có lẽ lúc sượng sùng nhất của cậu là khi mở quà vì cậu chẳng có tặng vật gì ở đó cả. Tôi ngồi ngắm những nhân vật của vở kịch đời, thấy rõ tâm lý hiện lên trên từng nét mặt. Với món quà nào Thục Anh cũng có một lối mừng riêng, nó khéo léo đến độ anh chàng có món quà ít giá trị coi bộ còn sung sướng hơn người khác nữa.
Thục Anh quì giữa đống quà và những giấy gói đủ màu sặc sỡ trông nó dễ thương và ngây thơ như một đứa bé. Tôi nhìn nó lòng vui sướng và ngạc nhiên, mới năm nào sinh ra, nó chỉ có chút xíu, ngọ ngoạy chân tay một cách vụng về, miệng cười thơ dại, thơm nức mùi sữa mẹ, bây giờ thành một cô thiếu nữ xinh đẹp.
Điều làm tôi phân vân, trông gương mặt nó sáng sủa, thông minh nhưng sao tâm hồn nó không giống vợ chồng tôi, nó không biết giá trị cao quí của tình cảm. Những bài thơ của anh chàng sinh viên nghèo kia dù không hay chăng nữa cũng nói lên những rung động chân thành đối với nó. Cậu sinh viên kia, trong góc phòng, lặng lẽ, núp kín sau bạn bè như muốn biến mình thành mây khói để thoát ra khỏi nơi ồn ào nầy. Tôi không hiểu cậu đang nghĩ gì? Có xót xa cho hoàn cảnh mình không đủ tiền mua một món quà đắt giá dâng người đẹp, hay ân hận mình đã yêu lầm một người không có tâm hồn?! Anh chàng Trương Chi tân thời nầy tuy không xấu trai nhưng chỉ có tiếng hát của hồn thơ và cô Mỵ Nương đời nay tuy có đọc thơ chàng từ trước trong những tờ báo đặt ở phòng khách chứ không phải lần đầu nhìn thấy, nhưng rõ ràng cô không quan tâm.
Trong lúc dự tiệc, anh chàng cá kèo vẫn giữ vị trí xa người đẹp nhất. Những lần trước cậu thường lặng lẽ ngắm Thục Anh, thỉnh thoảng góp chuyện với bạn bè, lần nầy cậu im như thóc, mặt buồn thiu, cầm đôi đũa vầm vầm món gì đó trong chén chứ không ăn, có điều cậu uống bia hơi nhiều, mặt bắt đầu đỏ, trông lầm lì, dữ tợn.
Cũng như mọi khi, bọn trẻ tha hồ nói thánh nói tướng về mình, về mọi chuyện, nhất là chuyện người đẹp, cậu nào cũng ra vẻ ta đây có số đào hoa, con gái chạy theo thiếu khối mà không thèm (Ý muốn nói chỉ để ý một người thôi) Rồi chúng xoay qua anh chàng cá kèo để chọc phá. Còn mầy thì sao? Kể ra xem, trước giờ có được mấy em theo mầy? Có mấy con cháu bà Só! Cả bọn ngớ ra, nhưng vợ tôi cười rộ lên giải thích. Cháu bà Só là chó bà Sáu đấy.”
Thấy có người hiểu được mình lại thêm chút rượu trong người, cậu bắt đầu triết lý. Con trai là nam châm, con gái là sắt, thép; có cứng bao nhiêu cũng chạy theo nam châm. Mầy ngon, vậy chứ có mấy cục sắt chạy theo mầy rồi? Chưa có, nhưng muốn lúc nào là có ngay. Cả bọn nhao nhao. Thằng nầy xạo, biểu diễn coi, bữa nào đưa một em đến đây cho tụi tao xem, hay dẫn một em xấu hoắc thì đúng là sắt rỉ, nói làm gì. Đâu đến nổi, tụi bây chấm được mới kể, nhưng phải thong thả, ít ra cũng vài ba ngày, hẹn hò đàng hoàng chứ thình lình như đâu trên trời rớt xuống được. Chúng tôi bắt đầu ái ngại cho cậu ta, có lẽ vì bị Thục Anh lạnh nhạt trước món quà vô duyên đó nên cậu tự ái, một phần vì ngấm rượu cậu đã bị các bạn đưa vào bẫy thách đố, nhưng trông còn vẻ bình tĩnh tôi đoán cậu có cách thoát ra. Thứ bảy nầy đi, mầy đưa người đẹp đến đây, dám không? Có ngay, nhưng em vô nhà hay không tùy quyền em. Tụi bây đông quá, em khớp, đâu dám. OK, đứng trước sân đủ rồi, chín giờ sáng thứ bảy, được chưa?”
Vợ tôi và mấy đứa con gái cũng bị kích động theo, anh chàng cù lần nầy làm sao kiếm được một cô bạn nhanh như thế, hắn không có bà con quen biết để nhờ đóng vai người bạn tạm bợ “Sáng thứ bảy mấy đứa ghé đây ăn sáng, bác sẽ nấu phở cho mà ăn” Lát sau cậu ta xin kiếu từ về trước, thấy lối đi ngất ngưỡng, vợ tôi bảo Con ra phòng khách ngồi nghỉ một lát, tỉnh rượu hãy về, cảnh sát gặp thì nguy” “Dạ, không sao đâu bác, con đi trong xóm chứ không ra ngoài lộ đâu.”
Sáng thứ bảy, bọn trẻ đã tụ tập tại nhà tôi chờ xem anh chàng cá kèo đem người đẹp đến trình diện. Tôi không quan tâm đến chuyện trẻ con đó, nhưng tò mò xem cậu ta giải quyết sự thách đố ra sao. Trước chín giờ cậu ta đã đến, cả bọn nhao nhao “Người đẹp đâu?” “Mười phút nữa em sẽ đến” “Mầy không đón em đến đây à?” “Em đến đón tao chứ xe tao em nào thèm ngồi” “Thằng nầy ngon, chà bữa nay áo quần coi bộ láng quá há!”
Tôi cũng nhận thấy cậu ta ăn mặc lịch sự, tóc tai gọn gàng, áo quần mới thẳng nếp lại thêm chiếc cà vạt hoa lá cành trông rất bảnh bao, coi bộ còn đẹp trai hơn các bạn nữa. Vợ tôi bảo “Mỗi đứa vào bếp lãnh tô phở rồi ra phòng ăn mà ngồi” “Thưa bác, lát nữa con đi ăn điểm tâm với cô ta.”
Bỗng có tiếng còi xe, cả bọn ùa ra cửa. Cậu cá kèo chửng chạc đi ra. Chiếc xe đời mới, cũng rực rỡ như cô gái trong xe. Cậu ta nói gì đó, cô gái ra khỏi xe, cười thật tươi, vẫy tay chào trong nhà. Tuy cô không đẹp lắm nhưng cách ăn diện ra người đứng đắn, quí phái. Dự đoán một cô tào lao nào đó không đứng vững. Cô gái nhường tay lái cho cậu cá kèo và xe vụt chạy đi.
Hơn một giờ sau xe quay lại, cô gái lại ra khỏi xe vẫy tay chào trong nhà, cậu cá kèo nói gì đấy cô ta cười gật đầu từ biệt. Bây giờ thì cậu ta chẳng còn chút buồn nào nữa, vợ tôi cũng vui lây, có lẽ bà cảm thấy như có lỗi vì cách đối xử của Thục Anh hôm trước, nay đã có một cô gái thay thế con gái bà trong quả tim anh chàng tội nghiệp nầy rồi. Rồi đây, khi Thục Anh chọn được một đối tượng, các cậu kia cũng sẽ buồn như vậy, có khi buồn hơn vì ấp ủ nhiều hi vọng hơn. Vợ chồng tôi cứ áy náy về cách xử sự vụng về của Thục Anh, cho nên chúng tôi dự định một dịp nào đó sẽ bắt Thục Anh xin lỗi cậu ta và chúng tôi sẽ nói mấy lời an ủi để cậu khỏi buồn.
Một buổi tối, chúng tôi gọi Thục Anh ra phòng khách, tôi nói “Ba mẹ thấy con đã lớn mà không tế nhị chút nào. Các bạn của anh con, đứa nào cũng đứng đắn, học hành chăm chỉ, ăn nói lễ độ. Dĩ nhiên ba mẹ không ép con thương người nầy hay ghét người kia, nhưng dù gì con cũng phải chứng tỏ mình tế nhị, lịch sự. Riêng tập thơ bạn con tặng, coi bộ con dửng dưng quá. Con có biết, khi người ta yêu, chỉ với tâm hồn say đắm mới làm được những bài thơ. Thơ dở không phải vì yêu ít. Nhưng ba đoán thơ đã được đăng trên báo ít ra nó cũng có giá trị về một khía cạnh nào đó chứ không phải hoàn toàn không đọc nổi. Ba mẹ rất vui khi thấy con bày tỏ lòng biết ơn với các anh tặng quà, biết cách làm cho mọi người vui vẻ dù giá trị món quà ra sao đi nữa, tại sao con không làm như thế với tập thơ? Lẽ ra lúc đó, sau khi mở quà, con phải đem ra một bài thơ để ngâm hay đọc lên cho mọi người cùng thưởng thức, con có thể không nói tên tác giả, nhưng để chứng tỏ rằng con hiểu được tình cảm của anh ta, chứng tỏ con có những nét đẹp cao quí đã làm rung động tâm hồn người khác. Ai cũng có thể cho bao nhiêu quà tùy thích, nhưng thơ thì chịu. Đó là ân sủng của Thượng Đế, người ta đã đem tặng con với tất cả tấm lòng, với bao tình yêu thương…
Ba nói hơi nhiều, bây giờ ba đề nghị thế nầy, sáng mai chủ nhật con mời anh ta đến và nói lời xin lỗi cũng như cám ơn tấm lòng của anh ta, ba tin con biết cách nói cho anh ta hiểu rằng con rất hãnh diện và cảm động được anh ta quan tâm thương yêu, nhưng thời gian sẽ giúp con trả lời và những bài thơ đó con sẽ giữ gìn như một kỷ niệm quí nhất, đẹp nhất trong đời”
Thục Anh đứng yên lặng nghe, nó có vẻ buồn buồn, tôi không hiểu nó đang nghĩ gì, nhưng lòng tôi rung động một tình phụ tử. Tôi tưởng nó đã lớn, đã thay đổi rồi, nhưng giờ đây trước mắt tôi, khuôn mặt, đôi mắt, chiếc miệng đó vẫn y nguyên như thời thơ ấu, nhất là khi nó sắp khóc, khiến tôi nhớ lại lúc nó còn nhỏ mỗi khi tôi giận dữ, la mắng điều gì, hễ mắt nó rơm rớm là lòng tôi chùng xuống, giận dữ tiêu tan, chỉ còn tình thương đứa con bé bỏng. Tôi ân hận, có lẽ đã nặng lời với nó chăng? Hay nó có tâm sự gì buồn? Vợ tôi cảm thấy điều đó, bà ôm Thục Anh vào lòng, nó bỗng khóc nấc trên vai bà. Tôi hôn lên đầu nó và thì thầm” Ba xin lỗi con!”.
Sáng chủ nhật hôm sau, anh chàng cá kèo đến, Thục Anh tiếp ở phòng khách. Chúng tôi không muốn xen vào, chỉ ngồi ở phòng ăn. Tôi uống cà phê, vợ tôi loay hoay trong bếp nhưng đôi tai vẫn hướng về phòng khách. Phòng ăn sát với phòng khách, chúng tôi loáng thoáng nghe được cuộc đối thoại. “Hôm trước thấy anh uống rượu mà ghê, tưởng bị cảnh sát bắt nhốt rồi chứ” “Đâu có say, uống cho vui”
Im lặng…
“Mấy bữa nay đi với người đẹp vui không? Em thấy chị ấy đẹp lắm đó, em cũng phải mê, lại có xe mới tinh. Chúc mừng anh hạnh phúc” “Mới quen thôi. Buồn quá… Chứ có gì vui đâu!” Lại im lặng, tôi nhìn vợ tôi lắc đầu, cuộc hòa đàm coi bộ đi lạc đề rồi. Có tiếng giấy sột soạt “Cho em gửi lại anh tập thơ, em không xứng đáng để anh ca tụng, bây giờ có người đẹp hơn, thơ anh phải hay hơn rồi. Lúc tối, đọc tập thơ nầy em mắc cỡ quá, em xấu xí vụng về, nhà quê quá nên anh chọn người khác cũng phải, chắc anh hối hận ghê lắm khi đã lỡ làm thơ về em.” “Không có đâu, không ai làm thơ ca tụng hoa hậu cả. Nhưng anh đã thề sẽ không bao giờ làm thơ nữa.” “Sao vậy?” “Vì em không hiểu anh” “Sao anh biết em không hiểu? Mấy năm nay… Em đọc thơ anh đến thuộc lòng” “Hiểu mà không thèm để ý” “Sao anh biết? Không lẽ em phải la to lên là em để ý anh sao? Anh phải biết chứ. Em tức quá!” “Để ý sao thấy lạnh lùng!” “Em tưởng anh đã biết những gì em nghĩ về anh rồi. Tại anh không nhìn em. Anh chỉ giỏi nhìn trộm, khi em nhìn lại thì ngó lơ chỗ khác… Em không muốn ai biết gì hết, không muốn ai xen vào.” “Thật hả? Anh buồn quá, cứ ân hận, thà đừng tặng tập thơ. Coi như yêu thầm phải sung sướng hơn không. Em biết anh làm thơ về em mà khi tặng tập thơ, em vẫn hững hờ… Anh nghĩ rằng em không có chút cảm tình nào với anh cả.” “Em tức quá! Thôi được rồi, vì em không có cảm tình với anh nên anh tìm người khác. Bây giờ xin anh đừng nghĩ gì đến em nữa. Cho em gửi lại tập thơ, anh về chỉ cần xóa tên em, viết tên người đẹp vào đem tặng người ta, anh sẽ được người ta vồn vã, ân cần chứ không giống em, xấu xí, lạnh lùng.” “Người đẹp nào?” “Cô nhỏ hôm rồi chứ người nào nữa! Chuyện trò, cười nói thân mật quá, lại còn đem xe đến rước đi ăn điểm tâm nữa.” “Anh thề với em, anh mới gặp lần đầu và hôm đó là lần duy nhất.” “Anh đừng xạo nghe! Không lẽ anh thuê nó đến đón anh? Em không phải con nít đâu mà nói láo, không ai tin đâu.” Có tiếng giấy sột soạt “Đây, hình cô ta trên báo đây, có phải cô đó không? Chữ realtor (trung gian mua bán nhà) rành rành. Cô nầy còn đẹp hơn nữa. Anh muốn cho mấy đứa ngán thôi chứ đâu có gì.” “Anh lợi dụng người ta để chọc tức em chứ gì? Anh không mua nhà mà giả bộ tìm nhà để người ta đưa đón, anh có thấy xấu hổ không?” “Anh đi coi nhà thực mà, tìm giùm nhà cho người bạn” “Đừng chối quanh. Bạn anh làm gì có tiền. Đi học thì tiền đâu mua nhà?” “Gọi là bạn chứ anh ta cũng lớn tuổi rồi. Lúc vượt biên ở đảo, bọn anh sống với nhau, qua đây anh ta làm hai jobs, để dành tiền mua nhà đón vợ con qua.”
Lại yên lặng… “Em mà không đi học xa đừng hòng em nói cho mà biết. Người ta thương!.. Chưa gì đã lăng nhăng. Lúc tối em tức phát khóc.…” Rồi nó lớn tiếng “Bây giờ về đi, chứ ngồi đó làm gì nữa? Đưa lại em tập thơ. Đứng lên!.. Cúi xuống! Cúi xuống nữa! Sao cao quá vậy?! Vẫn giọng lạnh lùng đó, như đang đốp chát với mấy đứa em nó! Vợ tôi lầu bầu. Con nhỏ nầy… Sau nầy ăn hiếp chồng dữ lắm! Và bà nhỏm dậy, định ra giữ thằng bé lại ăn điểm tâm, nhưng mới đến cửa, bà khựng lại, ngoắc tôi đến.
Tôi biết rõ Thục Anh, bao nhiêu con trai đến nhà tôi thường xuyên, đố đứa nào đụng được chéo áo nó. Nó giữ ý, nghiêm trang lắm. Vậy mà giờ đây nó đang hôn lên trán anh chàng thi sĩ si tình mấy cái. Rồi vừa cười nho nhỏ, nó vừa vò vò đầu cậu ta như đang đùa với một em bé.
Cầu không vận được thiết lập ngày mười chín, những ngày đầu đi thong thả, vô sáng chiều đi ngay, chỉ từ hai mươi hai, hai mươi ba mới phải chờ đợi, nhưng cũng chỉ trong vòng hai mươi bốn tiếng. Phi cơ C-132 cất cánh lúc đầu mỗi giờ, sau mỗi nửa giờ, có lúc thời gian còn thu lại ngắn hơn. Mỗi chuyến chở cả mấy trăm người, phi cơ bay thẳng từ Tân Sơn Nhất tới Guam. Khi máy bay cất cánh cũng lo vì không biết đi tới đâu, nhưng khi máy bay đáp xuống Guam, những bà Hồng Thập Tự chờ ở phi trường, sự tiếp đón cởi mở, những món ăn nóng được mang lại, thủ tục có phần đơn giản mang lại cho những người tị nạn rời khỏi Sài gòn thời điểm cuối tháng Tư đó sự vững tâm lớn hơn. Họ được chở tới trại Asan, những đoàn người đến trong những ngày đầu còn được tiếp đón bởi một ông Đại tá Hải quân và dàn kèn chào. Cầu không vận khởi đi từ cơ quan Mỹ D.A.O sang Guam kéo dài từ 19 tháng 4 đến cuối tháng. Ngày cuối tháng, khi cầu không vận này không còn hoạt động được nữa thì hàng loạt tàu thuyền ồ ạt từ Khánh Hội đi theo sông Sài gòn túa ra biển Nam Hải. Ngày chót có cả những chiếc sà-lan chở nhiều trăm người, còn nhiều hơn cả tàu Việt Nam Thương tín. Đoàn người tị nạn đường biển được Đệ Thất Hạm Đội Huê Kỳ chờ sẵn ngoài khơi bốc đi an toàn. Người được chở sang Subic Bay, người được đưa tới Guam. Người đến Phi trước thì sau cũng sang Guam. Người đến Guam hay một nơi khác sau chót cũng được đưa về một trại tị nạn trong nội địa của Mỹ. Như Pendleton. Như Arkansas. Như Philadelphia. Tại miền Nam Cali hay miền Đông nước Mỹ, đời sống an toàn, tiếp đón có tổ chức, đời sống của những người tị nạn đầu tiên chỗ nào cũng tương tự. Tuần tự thủ tục processing, một người bảo trợ Mỹ nhận lãnh. Gia nhập xã hội Mỹ với tương đối nhiều thuận lợi. Sự săn sóc của người hay cơ quan thiện nguyện sponsor, trợ cấp các loại không hạn định thời gian, tình trạng kinh tế Mỹ thời đó đang lên nên vấn đề công ăn việc làm không quá khó.
Hãy tưởng tượng bạn hụt đi những chuyến đó. Bạn vô D.A.O thì cầu không vận không còn hoạt động được nữa. Pháo kích phi trường đã khai diễn như những chiếc chầy khô cứng đã gõ trên sàn sân khấu báo hiệu vở kịch đã tới lúc hạ màn.Bạn dắt vợ con ra Khánh Hội, không chen lên sà-lan được, vả chăng chiếc cuối cùng đã ra đi. Lúc trở ra chiếc xe gắn máy của bạn đã bị lấy cắp. Bạn lạc lõng trên đường về của một chuyến đi hụt hay bạn đang ở nguyên vị trí và chờ lệnh. Những chiếc chiến xa T54 đã tiến vào thành phố. Cán bộ ba mươi đã lởn vởn trước cửa nhà bạn. Một tháng sau bạn đi trình diện học tập ba ngày. Lương thực mang đi đủ cho ba ngày. Ba ngày dài tới mười mấy năm.
2
Khoảng thời gian cuối thập niên bảy mươi, bạn hoàn tất học trình kỹ sư, hay bác sĩ, hay kế toán gia, công việc hội nhập diễn tiến xuôi chảy. Chiếc xe hơi nhà thờ cho bạn đã bán từ lâu và đã tậu chiếc xe thứ ba, chiếc thứ nhì cũng used car, nhưng chiếc này mới tinh. Các cháu vào Đại Học. Bạn thầm cảm ơn Thượng đế đã giúp cho bạn đến quê hương thứ nhì này không quá trễ vào lúc mới gần bốn chục, với nhiều cơ may và còn nhiều khả năng để tìm và tìm được một chỗ đứng tốt dưới mặt trời.
Hãy tưởng tượng bạn ở Long Giao một thời gian thì được đưa lên Pleiku. Một thời gian Pleiku sau đó là Thanh Hóa, rồi Bắc Kạn cho tới lúc bang giao giữa Việt Nam Cộng sản và Trung Cộng đứt gẫy bạn được đưa về Hà Nam Ninh. Xe chuyên chở di chuyển đêm, tù được cột vào nhau, cơm trộn bo bo, quản giáo thù nghịch và tàn ác, bản tự khai bạn phải viết nhiều chục lần. Khi còn ở Long Giao, người vợ có tới thăm. Khi bạn lên Pleiku bà ấy có tới, mặt xanh mướt gầy ốm, ba ngày đường không biết bao nhiêu ngày nhịn ăn nhịn mặc để có tiền xe có tiền mua quà tiếp tế cho chồng. Một năm, rồi hai năm một lần. Tới khi bạn bị chuyển ra Bắc Việt, thăm nuôi hoàn toàn gián đoạn. Có đến cả gần mười năm không nhìn thấy mặt vợ mặt con.
Hãy tưởng tượng sau chót bạn tới Mỹ, do chương trình có tên là H.O. Hãy tưởng tượng bạn đã gần tới tuổi sáu mươi, nhưng mái tóc đã bạc phơ, sức khỏe đã suy yếu như người vượt xa sáu chục. Bạn chưa đủ tuổi lãnh lương già 65, trợ cấp cho H.O. lúc trước 18 tháng, lúc này 8 tháng. Bạn ở chung với gia đình người em hai tháng thì ra riêng. Tiền trợ cấp trả tiền nhà xong thấy nhẹ nhõm quá.
Hãy tưởng tượng các cháu không đi làm nghề nghiệp chuyên môn như bạn bè cùng trang lứa, cũng không cần học xong mà chỉ bắt đầu lớp sinh ngữ cho người ngoại quốc E.S.L.
Hãy tưởng tượng sáng nay bạn không di chuyển bằng chiếc xe mới tinh có air bag mà bạn mua tháng trước để đi làm giấy tờ cho ngôi nhà mới mua, nhà này mua để đầu tư, nhà ở có rồi, mà bạn chỉ di chuyển chậm rãi bằng chiếc xe đạp dọc theo đường Bolsa. Bạn đạp từ khúc gần đường First cho đến góc đường Magnolia, đứng nhìn xe chạy chút chút rồi lại đạp xe về.
Bạn sẽ điện thoại chào mừng. Sẽ đến tận nơi thăm hỏi. Bạn sẽ đưa ra một bàn tay. Bạn sẽ cầu nguyện, sẽ khuyến khích, sẽ an ủi, sẽ cám ơn hay sẽ xin lỗi. Không biết, tùy bạn. Nhưng trước hết, bạn hãy tưởng tượng.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.