Bà Chúa Hòn

vietmessneger.com

Sơn Nam

Kỷ Nguyên xuất bản 1969

Post by Sơn râu 29 May 2025

Chương 11.

Bá Vạn ra khỏi cửa, muốn xuống ghe để về Vàm Rầy, thâu hồi lại mấy căn phố mà cậu Cẩu đã ra lịnh tịch thâu.

Mười Hấu mừng thầm vì thì giờ còn đủ để ông ta thi hành thủ đoạn. Lúc Tư Thiện trình bày về thực lực quân Lang Sa, Mười Hấu qui tụ bọn hộ vệ lại để nghe báo cáo về tổn thất ở núi Mo So. Bọn hộ vệ cho biết là Bá Vạn đánh thắng quá dễ dàng. Mười Hấu nghĩ thầm:

– Cuộc phản loạn do thằng Thừa, tay sai Bá Vạn gây ra. Nhứt định đó là do lịnh của Bá Vạn. Ông ta chiến thắng vì thằng Thừa rút lui, để gây uy tín cho chủ cũ. Quả thật Bá Vạn là tay nguy hiểm. Phải giết mới được!

Vì lo cho tương lai cho đứa cháu ngoaị, Mười Hấu đề phòng trường hợp Bá Vạn chiếm tất cả quyền hạn ở Hòn Chông. Bá Vạn có sống thì không ích lợi gì. Ông ta dẹp loạn chăng? Loạn là do ông ta gây ra. Ông ta chết thì không còn loạn. Điều quan trọng vẫn là giết khéo léo không cần bày ra những cuộc săn heo như trước. Nếu bàn mưu kế với cậu Cẩu hay cô Ngó thì ắt gặp nhiều trở ngại. Cậu Cẩu làm ầm lên, Bá Vạn sẽ trốn hay ra tay trước. Cô Ngó thì có tình riêng với Bá Vạn nhưng lại ghen tương với bà chánh thất.

Mười Hấu nhớ đến cái chết của ông Chúa Hòn ngày xưa. Bước đầu vẫn là phục rượu, trong rượu có thuốc độc. Hình ảnh cái dĩa màu xanh hiện ra trong tâm trí Mười Hấu. Người lão bộc bảo rằng cái dĩa ấy sẽ biến màu sắc khi có món ăn giết người để vào.

Thuốc độc pha vào rượu thì giết người quá dễ dàng. Mấy tháng trước chính Mười Hấu đã trao cho cô Huôi bầu rượu để làm cho ông Chúa Hòn mất trí, tại căn chòi ở Lung Tràm.

Không chút do dự, Mười Hấu ra đón đường:

– Thưa ông Bá! Ông thắng trận, may quá.

Bá Vạn tin vào Mười Hấu:

– Nhờ trời vậy thôi.

– Nhà cửa của tôi ở núi Mo So ra sao?

– Cháy hết. Còn mấy cây cột và một miếng vách tường.

– Nhờ ông mà tôi còn được thể diện với dân chúng. Hôm nay tôi mời ông qua, ăn cơm uống rượu cho vui.

Trong lúc Bá Vạn do dự, ông Mười Hấu giới thiệu:

– Con gái tôi lo cơm nước. Nó nhắc ông hoài…

Hình ảnh duyên dáng cô Ngó hiện ra. Từ lâu, Bá Vạn chưa gần gũi với cô. So với bà chánh thất, cô còn trẻ hơn nhiều. Nhứt định là sau bữa ăn, Bá Vạn được dịp nói chuyện riêng với cô …

Bao nhiêu mệt nhọc đều tiêu tan khi Bá Vạn bắt đầu ngồi lên bộ ván cẩm lai. Mười Hấu nhớ đến gói thuốc độc đã từng có công hiệu ở Lung Tràm. Nhưng nếu bỏ thuốc độc vô rượu thì quá sớm. Cô Ngó đang ngồi trong phòng, gói thuốc để trong ngăn tủ. Cô sẽ phản đối việc làm ác độc ấy. Bá Vạn mà chết tại nhà này thì cô Huôi nổi giận ngay…

Bá Vạn nâng chén rượu, khen ngợi:

– Rượu ngon quá. Mời cô Ngó ra đây uống với tôi một chén.

Cô Ngó được dịp tốt để ra chào hỏi:

– Thưa ông! Lâu quá không gặp ông. Tôi thì hỏi thăm ông, ông chẳng bao giờ thăm tôi.

Bá Vạn biết rằng cô Ngó hờn ghen nên an ủi ngay:

– Tôi nghĩ đến cô nhưng tôi muốn tránh tai tiếng. Vả lại, tôi không rảnh rang. Nào là nhà cửa tài sản bị tịch thâu, nào là đánh Nam dẹp Bắc.

Cô Ngó đáp:

– Dường như ông thích nghỉ ngơi ở núi Đất! Bà chánh thất còn tu hành ở đó không?

Đôi mắt Bá Vạn liếc quanh, ngại ngùng vô cùng. Ông không muốn cãi vã những chuyện riêng tư trước mặt Mười Hấu. Mười Hấu lanh trí, nói ngay:

– Để tôi đi kiếm thêm vài con mực hoặc tôm khô.

Khi Mười Hấu vừa khuất nhà sau, cô Ngó lên giọng:

– Ba tôi vắng mặt rồi đó. Ông cứ trả lời đừng giấu diếm.

– Tôi …đi gặp ông đạo Đất để xem quẻ. Cô biết, tôi tin ổng, trước khi làm bất cứ chuyện gì.

– Bọn hộ vệ nói rõ rồi. Ông đừng chối. Ông ghé nhà ai?

Bá Vạn đáp:

– Thì ghé nhà bà chánh thất để thăm viếng. Bà đang tu…

– Tôi không tin. Ăn cơm rồi, ông đi đâu? Nơi ông ở laị một ngày một buổi…

Đột nhiên, cô Ngó nghe tiếng rít ken két phía trong buồng. Cô hỏi:

– Cái gì vậy?

Mười Hấu lính quính. Ông ta đang kéo cái ngăn tủ để lấy gói thuốc độc:

– Có gì đâu! Tao kiếm cái …hũ rượu!

Cô Ngó cằn nhằn:

– Rượu gì trong đó. Rượu thuốc trên nóc tủ. Để con đem ra cho ba. Phải bắc ghế lên cao.

Cô Ngó vào buồng, trong lúc Mười Hấu đang đẩy nhẹ cái ngăn tủ. Cô chụp tay cha:

– Ba! Làm gì vậy?

Mười Hấu khoát tay. Cô Ngó đã hiểu. Nếu nói lớn tiếng hoặc cãi vã phản đối thì còn gì tình cha con. Nếu hiểu được ác ý đó, chưa ắt Bá Vạn còn mến thương cô như trước.

Đời cô gặp cảnh không may là ông Chúa Hòn chết sớm, người duy nhứt mà cô có thể gần gũi là Bá Vạn. Hoàn cảnh không cho phép cô đi tìm hạnh phúc với người khác, vì dư luận bên ngoài.

Ngỡ rằng cô Ngó chịu nhượng bộ, ông Mười Hấu rút nhanh gói thuốc độc. Nhưng cô cúi mặt, cắn vào tay cha. Ông Mười Hấu bèn bỏ gói thuốc vào hộc tủ như trước rồi trở ra với gương mặt tươi tỉnh:

– Uống rượu như vầy, kém vui.         

Bá Vạn hỏi:

– Phải có ông tôi mới uống nhiều được! Ông làm gì mà cô Ngó phản đối?

– Có gì đâu! Tôi muốn đem ra một hũ rượu lớn. Nhưng con gái tôi ngăn cản, sợ rằng ông uống nhiều, say sưa. Muốn uống nhiều thì phải ăn cơm no dằn bụng. Con gái tôi xuống bếp thúc hối bọn nữ tỳ nấu cơm. Ông ở đây cho vui. Tôi qua nhà thằng cháu, kiếm vài miếng khô cá biển.

Nói xong, Mười Hấu đi xăm xăm qua nhà cậu Cẩu. Nhà đã khép cửa, ông cứ vô. Trong phòng, tiếng đờn tranh vang lên, từng âm thanh lảnh lót. Thấy ông ngoại của ông Chúa con nên bọn hộ vệ cứ chắp tay chào, không dám kiểm soát hành động của Mười Hấu.

Ông ta đến cái án thư, kiếm miếng giấy. Chưa hết, ông dòm dáo dác trong cái hộp nhỏ tìm chút ít son tàu. Ông cạo lớp mực khô dày trên cái nghiên bằng đá.

Dụng ý của ông là tìm một thứ bột đỏ để đánh tráo cô Ngó. Ông gói mớ son và mực ấy vào miếng giấy bản, bỏ vào túi.

Vừa sửa soạn bước ra, ông nghe cậu Cẩu quát mắng:

– Cô nầy tệ quá!

Xí Vĩnh trả lời:

– Xin cậu dạy em…

– Cô đẹp thiệt, nhưng ở gần cô, tôi không gặp chuyện gì may mắn hết! Nguời Lang Sa ở gần đây, tại sao tôi chưa đánh họ được? Xứ nầy là xứ của tôi mà! Tại sao thằng Tư Thiện bảo rằng chợ Hòn Chông không sung túc bằng chợ Sàigòn? Chắc là tụi Lang Sa …có nhiều vợ. Ừ! Con người có nhiều vợ, nhiều tì thiếp mới được. Ở mãi với một cô thì dễ u mê!

Mười Hấu nghe Xí Vĩnh trả lời:

– Thưa cậu, em đâu dám cản ngăn.

Cậu Cẩu đáp:

– Tao mời ông ngoại qua để hỏi việc nầy. Hộ vệ đâu?

Lập tức Mười Hấu lên tiếng:

– Ông đây! Cháu mời qua làm gì?

Cánh cửa hé mở. Xí Vĩnh cúi đầu chào ông Mười Hấu. Vì muốn nói chuyện riêng, cậu ra lịnh:

– Xí Vĩnh lo nấu nước cho ta tắm. Mấy ngày rày, sao ta bực bội quá.

Ông Mười Hấu ngồi xuống:

– Cháu mệt thì uống thuốc, sâm nhung thiếu gì?

Cậu Cẩu ngồi dậy, nắm tay Mười Hấu:

– Ông ngoại à! Mấy đêm rày cháu nằm chiêm bao thấy chuyện lạ quá. Đây là lần thứ chín, thứ mười rồi. Ba con hiện về đeo tòn ten trên nóc nhà, thòng đầu xuống, ổng le cái lưỡi dài thòng rồi hăm doạ: “Mầy chết! Mầy chết!”.

Mười Hấu gật đầu:

– Chắc là cháu mệt mỏi nên nằm chiêm bao. Từ rày về sau, ban đêm nhớ ngủ sớm…

– Nhưng mà ngủ không được. Hễ nằm gần con Xí Vĩnh thì ngủ không được! Không thay đổi thì tôi chết.

– Nói bậy đi!

– Nhưng ông ngoại phải dạy cháu điều gì? Bây giờ, sao mà nhiều bữa, gặp bất cứ ai cháu cũng thương. Nhưng mà nhiều bữa khác cháu muốn giết tất cả đàn bà con gái. Cháu là ông vua con. Cháu cưới năm mười con vợ…

Mười Hấu suy nghĩ thầm: “Xí Vĩnh là người của A Chúa và Bá Vạn. Nếu Xí Vĩnh cứ ở bên cạnh cậu Cẩu thì có ngày xảy ra chuyện lớn, trở tay không kịp”. Theo sự nhận xét của ông ta thì cuộc khởi loạn vừa rồi ở núi Mo So là cuộc dàn cảnh của Bá Vạn để trả thù cậu Cẩu. Bá Vạn sẽ tiếp tục trả thù, để chiếm đoạt tất cả quyền hạn, ngày nào mà ông ta còn sống.

– Nên tuyển chọn vài đứa tì thiếp. Ban đêm, nên ngủ một mình.

– Ông ngoại nói nghe được!

Mười Hấu hơi bực dọc vì lời khen vô lễ của đứa cháu ngoại. Nhớ đến Bá Vạn, ông Mười vội đứng dậy:

– Ông đi về. Cháu cứ ngủ cho khoẻ.

– Mấy thằng Lang Sa làm cháu phiền quá. Tại sao tụi nó giỏi hơn cháu…

Mười Hấu đi nhanh về nhà, thấy Bá Vạn nằm trên bộ ván gõ. Cô Ngó sai bọn tớ gái dọn cơm ra. Thừa lúc vắng bóng người, Mười Hấu vào phòng cô Ngó mở hộc tủ, lấy gói thuốc độc ra, đem cái gói có son và mực Tàu thay thế vào.

Bá Vạn chợt mở mắt:

– Ông Mười về đó hả? Nãy giờ tôi ngủ…

Mười Hấu nói:

– Ăn cơm chớ. Ông Bá rửa mặt cho tỉnh táo. Ngó đâu! Con đem rượu ra, ông Bá đòi uống rượu đó!

Phản ứng đầu tiên của cô Ngó là vào phòng, mở cái hộc tủ. Nhìn thoáng qua, cô tin rằng gói thuốc độc vẫn còn nằm ngay chỗ cũ.

Ngoài nầy, Mười Hấu sung sướng vô cùng:

– Ông Bá uống rượu!

Bá Vạn hơi nghi vì từ nãy giờ, Mười Hấu chỉ nói rượu. Nhưng Mười Hấu nhủ thầm:

– Mình ngu dại gì bỏ thuốc vào nước trà đậm. Uống rượu quá say, Bá Vạn không đủ tỉnh táo để phân biệt mùi vị nữa.

Bởi vậy Mười Hấu rót rượu ra chén, uống trước một hơi:

– Ngon quá. Bây giờ, mạnh ai nấy rót.

Bữa cơm kéo dài, Bá Vạn vui sướng vì cô Ngó ngồi bên cạnh, thúc hối bọn tớ gái đem thêm thức ăn. Để cho Bá Vạn khỏi nghi ngờ, ông Mười Hấu cứ đi tới đi lui, rót rượu thật nhiều, uống một cách tự nhiên.

Khi bữa cơm gần tàn, Mười Hấu nghĩ ra một thủ đoạn tinh vi:

– Từ lâu, tôi nghe danh ông đạo Đất. Phải chi ông đưa tôi tới đó, xem một quẻ.

Bá Vạn vẫn còn luyến tiếc, muốn được ở gần cô Ngó. Thỉnh thoảng, ông ở lại đây một đêm, thì chắc rằng không ai nghi ngờ gì cả:

– Ông đạo là người có tài. Nhưng bây giờ đi rồi trở về, e không kịp. Núi Đất là nơi sầm uất, có thể thằng Thừa tới khuấy rối. Chẳng lẽ ta đi xem quẻ mà đem theo quá nhiều quân hộ vệ. Cậu Cẩu sẽ than phiền.

Mười Hấu bèn bịa chuyện:

– Đêm rồi, tôi nằm chiêm bao thấy điềm kỳ lạ. Tôi bị rượt. Khi tôi vấp té thì phía sau lưng người rượt tôi lại biến mất. Nếu sợ nguy hiểm thì ta đi ngay, trời chạng vạng tối ta về, đừng ngủ tại đó. Hoặc là…

Bá Vạn hỏi:

– Ông Mười tính sao? Miễn là thuận lợi cho ông thôi. Hôm rày tôi hơi mệt, muốn tìm nơi nghỉ ngơi.

Mười Hấu hiểu ngầm rằng câu nói đó nhắm vào cô Ngó. Cô Ngó cúi mặt nói khéo:

– Vậy thì ông Bá cứ đi cho ba tôi vui.

Mười Hấu muốn thi hành thủ đoạn thật gấp. Ông sẽ bỏ thuốc độc vào rượu để Bá Vạn uống rồi chết trên đường đi núi Đất.

Trong khi đó, cậu Cẩu giết Xí Vĩnh.

Hai người nầy mà chết thì địa vị cô Huôi sẽ lung lay. Gia đình Mười Hấu nắm trọn quyền hạn những ngày sắp tới. Bá Vạn còn sống thì nhất định còn nhiều chuyện thay đổi đột ngột, vì ông ta làm quản gia quá nhiều năm, mua chuộc được bọn tay em và những người lớn tuổi trong vùng.

Mười Hấu nói:

– Theo ý tôi thì mình không nên quá rình rang. Hai bạn già xuống xuồng, đây qua có nước xuôi, chuyến về nếu cần thì mình kiếm vài đứa tiếp sức chèo chống. Đêm mười bốn có trăng, uống rượu vui biết chừng nào.

Cô Ngó nói thêm:

– Ông Bá Vạn cứ đi rồi khuya nay về.

Mười Hấu đến cái tủ ở góc nhà, tìm mấy bầu rượu ngon. Vì ao ước được gần gũi Bá Vạn, cô Ngó đến gần nói khẽ:

– Đêm nay tôi chờ ông. Nhớ về cho sớm và làm thế nào cho ba tôi uống rượu say. Nếu ông ở lân la tại nhà nầy, thiên hạ bàn tán bất lợi…Đi vắng mặt một buổi rồi trở về, êm ấm và kín đáo hơn.

Bá Vạn mừng thầm, nói nhanh:

– Đời tôi lúc nầy không màng công danh gì cả.

Mười Hấu mang bốn bầu rượu Ngũ gia bì. Việc đầu tiên mà ông ta làm để tránh mọi sự nghi ngờ là trao rượu cho Bá Vạn:

– Ông cầm lấy. Tôi xuống bếp kiếm vài con khô mực.

Hai người ngồi xuống chiếc xuồng nhỏ. Mười Hấu cầm dầm bơi sau lái, cố ý nói to cho hộ vệ đừng bàn tán, đòi đi theo:

– Đây là bơi xuồng trên rạch để uống rượu. Tụi bây theo làm gì? Khuya nay, tao về còn một tiệc khác để khao thưởng tụi bây.

Ra khỏi vùng đồi núi Hòn Chông, Bá Vạn hơi mệt mỏi vì nắng quá gắt. Thấy bóng hai cây me trước mặt, ông ta ngỏ ý:

– Mình ghé lại, uống thử một bầu cho mát.

Sau khi ra lịnh cho bọn tỳ gái dọn dẹp chén bát, cô Ngó vào phòng, cười tủm tỉm một mình. Cô muốn chải tóc rửa mặt, nhưng thấy trời còn sớm. Lâu rồi cô không được hưởng lạc thú yêu đương. Thuở ấy, ông Chúa Hòn chỉ gần gũi cô được mấy tháng rồi từ đó, ông cứ ôm lấy cô Huôi. Mười bảy năm rồi, đâu phải là khoảng thời gian ngắn!

Cô lấy cái thau bằng đồng, đổ nước vào để soi mặt. Dường như trán cô hơi nhăn. Nhưng cô tự an ủi:

– So với mình thì Bá Vạn lớn tuổi hơn nhiều. Bây giờ mình rửa mặt, chải tóc thì hơi sớm. Nên làm công chuyện khác, cần thiết hơn.

Hồi lúc mới về hầu hạ ông Chúa Hòn, cô được thưởng một gói trầm hương. Ông Chúa căn dặn cô nên đốt trầm, xông vào quần áo. Quả thật mùi trầm hương đầy quyến rũ.

Tiếc thay cô chỉ xông áo có ba bốn lần. Khi thằng Cẩu chào đời, cô bị xem như lỗi thời, ông Chúa cứ gần gũi cô Huôi vì cô là thần hộ mạng, đóa hoa còn tươi.

Cô đến gần tủ kéo mạnh cái hộc để tìm gói trầm hương. Trầm hương được chẻ ra từng que nhỏ cho dễ đốt, gói ấy khá to.

Đột nhiên, cô Ngó trố mắt. Cái gói thuốc độc dường như bị đổi chỗ. Hồi sáng, cô bắt gặp lúc cha cô toan lấy nó ra, để đầu độc Bá Vạn. Cô chụp gói giấy. Đúng là loại giấy bản còn mới trắng tinh. Mở gói ra, cô đưa lên mũi hửi.

Loại thuốc độc mà ông Chúa uống lúc đi săn heo rừng ở Lung Tràm có mùi thơm nồng, màu đỏ bầm. Nhờ vậy mà khi pha vào rượu, nạn nhân không bao giờ nghi ngờ, tưởng là rượu ngâm thuốc bổ. Mớ bụi đỏ đen trong gói giấy nầy còn quá tươi.

Cô đưa lên mũi, hửi nhẹ.

Không một mùi gì bốc lên cả!

Như vậy có nghĩa là cha cô đã đánh tráo, mang theo thuốc độc để giết Bá Vạn.

Nghi ngờ gì nữa! Cha cô bơi xuồng, không cần bọn hộ vệ, ra đi lúc trời còn nắng. Nếu Bá Vạn chết vì thuốc độc thì cô chịu trách nhiệm một phần lớn. Lúc nãy cô đã xúi giục Bá Vạn nên đi để trở về lúc nửa đêm. Ông chết vì quá yêu cô.

Nhưng nếu Bá Vạn không chết, tình thế càng rắc rối hơn. Ông tố giác với cô Huôi. Chừng ấy, những người cầm đầu ở Hòn Chông sẽ giết hại nhau, chia ra ba phe.

Lập tức, cô xuống xuồng gọi tên hộ vệ:

– Đưa tôi qua Hòn Đất!

Tên hộ vệ ngơ ngác hỏi:

– Thưa cô, đi ghe có mui, mát mẻ hơn.

Cô Ngó quát to:

– Đi xuồng lẹ hơn. Mấy chú cãi lời tôi sao chớ? Tôi có chuyện riêng…

Chiếc xuồng lướt nhanh. Lần đầu tiên bọn hộ vệ không hiểu tại sao ông Mười Hấu, Bá Vạn và cô Ngó lại trở về với nếp sống của dân nghèo, không có “tiền hô hậu ủng” như mọi khi. Dường như cô Ngó quá xúc động bối rối. Chiếc xuồng lủi vô bờ, cô vội cho mũi xuồng trở ra.

Bọn hộ vệ nói với theo:

– Cô để chúng tôi…

Cô Ngó không thèm trả lời.

Mặt trời xuống dần. Muỗi bay vo ve từ đám lau sậy bên bờ. Dân chúng cứ nhìn nhau mà chỉ chỏ bàn tán. Mặc kệ! Cô bơi mạnh không dám ngừng tay. Trời sắp tối. Cô hối tiếc vô cùng vì đã tính toán vụng về. Bá Vạn và ông Mười Hấu bơi xuồng đi trước, cả hai cầm dầm, xuồng của họ đi nhanh gấp đôi.

Cô đuổi theo quá chậm trễ, chắc giờ này ông Mười là cha cô đã đến Hòn Đất rồi, và Bá Vạn chỉ còn là cái xác không hồn.

Cô mừng thầm vì đã đến Doi Lửa, cách Hòn Đất không xa cho lắm. Gọi là Doi Lửa vì nơi đây khúc sông chảy quanh co. Nghe đâu, mấy trăm năm về trước, để đề phòng bọn cướp biển, quân sĩ đã bố trí nơi đây một chòi canh. Hễ thấy thuyền bè lạ vào bãi thì họ đốt lửa làm ám hiệu.

Cô Ngó gặp một chiếc ghe chở củi đi ngược chiều, nên vội hỏi:

– Thấy ai ở phía trước không?

Người trên ghe không nhận ra cô, nên trả lời vu vơ:

– Thiếu gì ghe xuồng…

Cô hỏi kỹ:

– Có chiếc xuồng hai người bơi…

Người trên ghe trả lời:

– Dường như có …ông Bá Vạn say rượu. Chẳng lẽ ông Bá lại ngồi trên xuồng?

Cô Ngó càng sợ sệt, hỏi thêm:

– Ông Bá ở đâu? Gần hay xa?

Người nọ đáp:

– Khó nói lắm. Dường như chiếc xuồng đậu gần đây. Cô là ai? Nếu tôi không lầm thì… Đời là vậy. Chắc là ông Bá Vạn buồn rầu, sau khi bị cách chức.

Cô Ngó không muốn phí thì giờ nên bơi nhanh hơn. Bên trái, sát đám cây, cô nhận ra chiếc xuồng không người. Mặt trời khuất hẳn. Cô chú ý một điều là chim cò bay bổng lên, đảo vòng quanh.

Tại sao có hiện tượng lạ? Chiều thì chim cò đáp xuống, để ngủ. Nhứt định là trong đám lau sậy có người nào đang làm náo động.

Phải chăng cha cô và Bá Vạn đang đánh đấm nhau? Bá Vạn chết rồi, cha cô đang đào huyệt để dấu xác?

Quá nóng nảy, cô la lớn:

– Ai đó? Ai làm gì trong đám sậy?

Đám sậy lại khua động xào xạc mặc dầu trời không nổi gió. Lập tức, cô cho xuồng lui vô bờ rồi chạy ngay vào đám sậy:

– Ai đó?

Cô la hoảng.

Từ trong đám sậy, một bóng người nhô ra:

– Ai?

Nhận ra ông Mười Hấu, cô Ngó kêu lên:

– Trời ơi! Cha giết ông Bá Vạn!

Mười Hấu hốt hoảng, nói khẽ:

– Con đừng nói lớn tiếng, gần đây có nhà cửa, thiên hạ nghe được thì sao?

Cô Ngó dậm chân.

– Trời ơi! Ổng ở đâu?

– Bá Vạn là cái gì mà con mến tiếc? À! Cha biết rồi. Bá Vạn tuổi tác đã cao, còn lớn hơn tuổi của cha.

Dụng ý của Mười Hấu tranh thủ thời giờ. Bá Vạn say mèm và bắt đầu mửa ra máu thì thuốc độc bắt đầu công phạt.

Lúc ngồi xuống xuồng, Bá Vạn kêu rú như con chó điên rồi đưa tay vào miệng mà móc tận cổ họng. Mười Hấu thấy có vài người bơi xuồng đến gần nên cương quyết cầm cây dầm, đập vào đầu Bá Vạn. Bá Vạn té xuống rạch. Mười Hấu vất vả lắm mới kéo Bá Vạn lên tận đám sậy này.

Giờ đây Bá Vạn đang hấp hối. Mười Hấu nói qua vấn đề khác:

– Con đi thình lình như vầy nguy hiểm lắm. Con có cho thằng Cẩu biết không?

Cô Ngó hỏi:

– Sao ba hỏi quẩn quanh vậy? Ông Bá Vạn đâu? Chôn tại đâu? Nhờ ổng nên ba với con được lên địa vị cao sang. Sao ba không nói?

Mười Hấu nói:

– Bá Vạn chết rồi! Cha mướn người quăng xác ông ta ngoài biển.

Đột nhiên, trong đám sậy có tiếng ụa mửa, tiếng rú vang ra. Vài cây sậy nằm xuống, gãy rôm rốp. Và bầy chim cò cứ bay lượn, kêu oang oác.

Cô đã biết sự thật, cắm đầu chạy vào giữa đám sậy. Biết chuyện đã vỡ lở, ông Mười Hấu chửi đổng:

– Con gái bất hiếu! Tao giết nó chỉ vì nó muốn giết tao. Tao về. Mầy ở lại rồi chết theo thằng già đó cho trọn đạo. Mất nết!

Nhưng cô Ngó không còn nghe thấy gì nữa hết. Bá Vạn nằm úp mặt trên mấy cây sậy bị dẫm nát, tóc rối nùi che khuất mặt mày. Ông đập chân thở hồng hộc như con trâu bị chọc tiết.

Quỳ bên cạnh, cô Ngó hỏi:

– Ông! Có sao không? Em đây..

Bá Vạn không trả lời. Cô Ngó sờ vào ngực ông ta, thấy còn nóng. Lập tức cô đỡ cho ông đứng dậy, nhưng ông không đi được bước nào cả. Cô đành kéo lết ông ra khỏi đám sậy, đưa xuống xuồng.

Giọng Mười Hấu quát to từ xa:

– Đưa nó về phía Hòn Đất. Hễ mầy đưa nó về Hòn Chông thì tao giết mầy. Nghe chưa Ngó?

Cô Ngó không trả lời, cố ý bơi để tìm xóm nhà đốt lửa lên hơ cho Bá Vạn, hoặc là kêu cứu với mấy ông thầy thuốc.

Tiếng chuông vang lên, ngân nga rồi dứt hẳn. Tiếng mõ tụng kinh dường như phảng phất trong sương đêm. Cô Ngó nhận ra dãy nhà trước mặt.

Cô kêu lên:

– Bà con ơi! Cứu người chết!

Dường như có người chạy lao xao trên bờ sông. Cô Ngó bơi nhanh hơn, kêu từng chập:

– Họ giết người! Ai biết thuốc thang thì cứu giùm…

Trên bờ, một bó đuốc chiếu sáng, nhờ vậy cô Ngó nhận ra bóng dáng hai, ba vị sư nữ. Và cô trố mắt, kêu rú:

– Bà.. ở đây! Ông Bá Vạn chết kìa!

Bà chánh thất nhận ra:

– Cô Ngó sao lạc tới đây? Ông Bá đâu?

Cô Ngó chỉ nhắm vào việc cần kíp là cứu Bá Vạn. Giữa cô và bà chánh thất, tuy tình cảm không được êm đẹp nhưng chưa xảy ra gây gổ hoặc hiềm khích sâu sắc. Cô nói:

– Bá Vạn bị …bọn hộ vệ đầu độc, mình còn nóng, có thể cứu được.

Bà chánh thất hốt hoảng:

– Am này là nơi thờ phượng. Vậy cô với tôi đưa ông Bá Vạn qua nhà riêng của tôi, bên nầy.

Bá Vạn vẫn nhắm mắt. Người hàng xóm hiểu rằng đây là cuộc tranh giành quyền hạn từ khi ông Chúa Hòn mất. Họ không thắc mắc cho lắm khi thấy hai người vợ của ông Chúa đang khiêng Bá Vạn.

Đèn đốt thêm ngọn, chiếu sáng.

Bá Vạn nghiêng mình qua một bên, nằm xuôi trên bộ ván. Bà chánh thất hồ nghi rằng đây là âm mưu của cậu Cẩu. Hỏi cô Ngó thì khó tìm ra sự thật. Phải cứu Bá Vạn!

Bà nói:

– Bây giờ chỉ còn ông đạo Đất là biết thuốc men điều trị, nhưng ở quá xa…

Cô Ngó cứ bóp chân Bá Vạn:

– Thưa…hay là bà đốt lửa. Xin bà thương xót giùm tôi…

Bà chánh thất sực nhớ đến phương pháp cổ truyền để cứu bệnh nhân là nấu nước nóng, cho uống vài lát gừng sống:

– Uống rượu có thuốc độc, phải không? Nấu nước thêm ở dưới bếp. Chụm thêm bếp lửa, để dưới bộ ván…

Bá Vạn bỗng nhiên mở mắt. Cô Ngó mừng quýnh:

– Ông…

Nhưng Bá Vạn bị nấc lên, máu trào ra từ khoé miệng, đôi mắt lại nhắm, hai chân co lên. Bà chánh thất hỏi:

– Nhờ hơi nóng ở dưới bộ ván xông lên đó.

Cô Ngó đến cái tủ, kiếm gừng sống trong cái thố nhỏ.

Chén nước gừng bốc hơi nồng ấm khiến Bá Vạn đổ mồ hôi. Khi mở mắt ra, ông không cản ngăn được hai hàng nước mắt. Không cảm động sao được!

Bá Vạn sống đến tuổi già không lấy vợ, không có con, lúc nguy nan hấp hối, ông được diễm phúc là được nằm giữa hai bà goá phụ của ông Chúa Hòn, cả hai đều là người yêu.

Nhưng ông khóc, có lẽ vì chua xót, cô độc và hối hận. Ông cất tiếng:

– Hai cô đừng buồn.

Bà chánh thất nắm tay ông, van nài:

– Ai đã giết ông? Tôi hứa trả thù.

Bá Vạn day qua cô Ngó. Cô Ngó để rơi hai hàng nước mắt gần như xin lỗi, nhờ ông khoan hồng đừng nói ra danh tánh ông Mười Hấu.

Bá Vạn nói phều phào:

– Thù thì phải trả. Nhưng ta lớn tuổi rồi. Trả mà làm gì? Nói ra vô ích. Ta …tha thứ cho người đã hại ta.

Rồi ông khóc rống lên:

– Ta đã tham lam. Sống thêm vài năm nữa chẳng ích lợi gì. Những người tham lam giết ta để sống…chưa ắt họ sung sướng. Ngoài biển, mấy con cá kình nổi lên, có lá cờ tam sắc. Ông đạo Đất nói đúng.

Rồi Bá Vạn ho lên, mồ hôi tươm ra ướt trán, máu thắm đỏ môi.

Bà chánh thất nói:

– Để tôi đưa ông gặp ông đạo Đất. Đường không xa lắm đâu.

Bá Vạn trợn mắt rồi cau mày lại:

– Chết…Thế nào tôi cũng chết. Ông đạo Đất đoán rằng trước khi chết, tôi qua một giai đoạn sáng sủa. Đó là…tôi dẹp loạn ở núi Mo So. Đó là…hôm nay. Cám ơn hai cô.

Bà chánh thất đoán chừng căn bịnh không quá nguy ngập nên muốn có thái độ cứng rắn:

– Ai giết ông? Tôi chở ông về Hòn Chông cho dân chúng hay rằng ông bị kẻ hèn hạ giết hại.

– Thôi…

Rồi Bá Vạn nằm im, nhắm mắt. Ông trở nên tỉnh táo lạ thường. Dạo trước, ông Chúa Hòn đã chết vì loại rượu thuốc nầy, do ông sắp đặt kế hoạch đầu độc và ám sát. Hôm đó, ông không có mặt ở Lung Tràm nhưng chắc chắn là ông Chúa Hòn đã nhào lăn, hộc máu từng chập như ông.

Mắt ông như tối lại.

Kìa! Một người ngoài cửa bước vô. Đúng là ông Chúa Hòn. Cậu Hai Điền theo sau. Hai người nầy bước chập chờn, chân không dính đất.

Họ mặc quần áo tang, thân hình gầy guộc. Họ cười không ra tiếng. Gió nổi lên ào ào. Bỗng nhiên, ông Chúa Hòn rút ngọn đoản đao, chạy tới. Bá Vạn đưa tay đỡ, té xuống.

Ông ta kêu lên:

– Nó giết tôi!

Bà chánh thất hỏi:

– Nó là ai?

Bá Vạn phều phào:

– Là…cuộc đời tội lỗi của tôi. Thôi, ông đạo Đất nói đúng. Mọi người đều trở về Đất…

Cô Huôi ngồi trầm ngâm khi hay tin Bá Vạn chết. Mười Hấu cho rằng ông Bá chết vì bệnh cảm mạo, nhưng cô Huôi không tin.

Cô khéo che giấu sự lo âu, ra lịnh cho Mười Hấu:

– Nhớ chôn cất kỹ lưỡng, dựng mộ bia, làm tuần bảy ngày, mười bốn ngày. Dầu sao đi nữa, Bá Vạn cũng là người có công trong gia đình.

Mười Hấu hỏi thêm:

– Cô là người lớn nhứt. Vậy đem ai thay thế Bá Vạn?

Cô Huôi nói chậm rãi:

– Chẳng ai thay thế được cả. Bây giờ, ta chỉ cần một người ghi chép sổ sách. Bọn tá điền cứ vay nợ liên miên. Nợ cũ chưa dứt là vay thêm nợ mới. Tạm thời, nên cho Tư Thiện lãnh công việc ghi chép.

Mười Hấu hỏi khẽ:

– Người đó đáng tin không?

Cô Huôi muốn nâng đỡ Tư Thiện để có người sớm hôm đàm đạo:

– Đáng tin về việc ghi chép sổ sách, vậy thôi. Hay là ông nghi ngờ rằng Tư Thiện làm phản, đưa bọn Lang Sa tới đây? Ta kiểm soát việc làm của Tư Thiện mà. Anh ta đâu có làm dọ thám mà sợ! Bọn Lang Sa đến đây làm gì? Ta trọng dụng Tư Thiện tức là người Lang Sa hài lòng rồi. Nay mai, nếu người Lang Sa muốn mua bán, ta sẵn sàng. Và ta nhờ Tư Thiện mua súng đạn.

Lý luận ấy khiến Mười Hấu khá an tâm. Ông ta chẳng đủ thông minh để nhìn xa. Điều cần thiết vẫn là để cho cậu Cẩu nắm trọn quyền hạn, để lần lần lấn hiếp cô Huôi. Hiện giờ, cô Huôi chưa có tội tình gì cả. Khi nhìn cô, Mười Hấu đâm ra kính nể và sợ sệt. Nếu không có cô, ắt giờ nầy cậu Cẩu chỉ là chàng trai cờ bạc ở núi Mo So, ông Mười chỉ là một nông dân dư ăn dư xài.

Hơn nữa chưa bao giờ cô Huôi tranh giành quyền hạn. Trong lúc tiếp xúc với Mười Hấu, cô tỏ ra khiêm tốn lạ thường.

Mười Hấu hỏi thêm:

– Theo ý cô thì cậu Cẩu phải làm gì?

Cô Huôi đáp:

– Cậu là…ông Chúa Hòn rồi, nắm trọn quyền trong tay, nên làm thế nào cho người chung quanh kính nể.

Khi Mười Hấu vừa bước ra, cô nói thêm:

– Tôi thì muốn đi tu, về nhà sống với cha mẹ, sáng thì trồng bông hoa, chiều thì ra ngoài ruộng, xem cảnh chim bay về núi. Nhớ nhà quá.

Mười Hấu lo sợ, day lại:

– Thưa cô! Cô nên ở lại. Cậu Cẩu còn nhỏ dại. Cô là người lớn hơn mẹ ruột nó.

Cô Huôi nói rõ từng tiếng:

– Đó là lời mời của ông. Ông nhớ giùm. Tôi đã chán tất cả…

– Cậu Cẩu là cháu ngoại tôi, tôi nói, nó tin lời.

Khi Mười Hấu vừa đi khuất, cô Huôi đứng dậy, đến trước sân, lòng mừng khấp khởi. Cô gọi tên hộ vệ:

– Mở cửa ngục ra cho Tư Thiện tới đây. Bảo rằng ngồi mà chờ ta.

Rồi cô căn dặn tên hộ vệ thứ nhì:

– Qua nhà cậu Ba, mời cậu đến. Không có thì gọi cô Xí Vĩnh.

Ngồi trên sạp, cô Huôi nghĩ đến kế hoạch sắp tới. Sau khi Bá Vạn chết, quả thật địa vị của cô hơi lung lay, tuy còn vững. Mười Hấu kính nể cô nhưng tình thế đã khác trước.

Nếu không biết lo xa, một ngày nào đó cậu Cẩu và Mười Hấu sẽ hại cô. Lại còn tai họa khác lớn hơn đang bao trùm vùng Hòn Chông. Cô tin rằng quân Lang Sa sẽ kéo đến sau khi rảnh tay ở các tỉnh lỵ Rạch Giá, Hà Tiên.

Tên hộ vệ đến gần, chắp tay thưa:

– Tư Thiện tới kìa! Thưa cô…

– Cho vô đây!

Vừa thấy mặt cô Huôi, Tư Thiện chắp tay xá, ngỏ lời cám ơn. Hỗm rày, vì kính nể Tư Thiện, cô Huôi đã khuyên bọn hộ vệ đối xử tử tế. Tư Thiện được ăn uống no đủ, quá ngon.

Anh ta cúi đầu:

– Xin cô giúp tôi…được sống thảnh thơi hơn, có công ăn việc làm. Tôi là người ham thích mua bán.

– Ngồi đó!

Cô Huôi chỉ cái ghế vuông, cẩn đá cẩm thạch. Tư Thiện mừng thầm nghĩ rằng đã gây được cảm tình với người đẹp.

Anh ta nói:

– Cám ơn cô! Đây là ơn huệ. Nếu không có cô thì hỗm rày chắc là tôi bị chết chém vì cậu Cẩu rồi.

– Đừng nói vậy! Cậu Cẩu là người ưa giận hờn. Cậu muốn xem tất cả mọi người như bọn tay sai trung thành. Muốn lãnh việc ghi chép sổ sách không?

– Dạ, còn gì may mắn hơn. Nhờ cô…

Cô Huôi nói:

– Gặp người hoạn nạn, tôi giúp đỡ. Từ lúc nầy, tôi gọi chú…bằng chú. Lát nữa, cậu Cẩu tới… Cậu ham vui, ưa biểu diễn oai quyền… Chú muốn được trọng dụng thì nên bày những trò chơi để cậu tiêu khiển.

Một tên hộ vệ bước vào:

– Thưa cô!…Xí Vĩnh tới.

Cô Huôi nhìn Tư Thiện với đôi mắt trìu mến:

– Chú là người thông minh. Tôi mong được gặp chú để nói thêm nhiều chuyện. Sống như tôi buồn lắm. Phải chi tôi được rảnh rang, đi đó đi đây như người khác! Tôi không được quyền tái giá, trong lúc nầy.

Tư Thiện sung sướng vô cùng, đứng dậy chắp tay xá. Cô Huôi nói với tên hộ vệ:

– Dẫn chú nầy qua gặp ông Mười, nói rằng nên để chú ở tại nhà Bá Vạn lúc trước. Bá Vạn chết, chú nầy tiếp tục ghi chép sổ sách.

Tư Thiện theo tên hộ vệ. Và khi Xí Vĩnh vào phòng, cô Huôi vội đóng cửa lại:

– Xí Vĩnh! Biết tôi không? Trước khi Bá Vạn căn dặn những gì? Bây giờ ông chết rồi…

Xí Vĩnh cau mày. Đã đến lúc nó nói tất cả sự thật:

– Thưa cô…Bá Vạn khuyên tôi nên trả thù ngay khi còn sống. Hai ngày rày, cậu Cẩu thay đổi tánh ý bất thường, đòi đánh tôi.

– Hồi nãy, cậu Cẩu thức hay ngủ?

Xí Vĩnh đáp:

– Cậu nằm lim dim rồi sai tôi tới gặp bà.

– Được lắm. Bây giờ, ta nói chuyện thật mau. Xí Vĩnh có hai chuyện làm. Một là đi xứ khác mà ở, hai là ở lại đây để làm chuyện nguy hiểm. Đi xứ khác thì dễ nhưng quá hèn nhát. Con người sớm muộn gì cũng chết. Xí Vĩnh biết tại sao Bá Vạn chết không?

– Thưa bà, theo chỗ con hiểu thì ông Bá Vạn quá hiền lành chậm chạp. Trước kia, ông Bá khuyên con nên kiên nhẫn chờ cơ hội trả thù, có bà giúp đỡ.

Cô Huôi thấy rằng Xí Vĩnh là đứa khôn ngoan và khá can đảm, giữ được lòng trung thành đối với chủ.

– Ta buồn vì không cứu được Bá Vạn. Nhưng ta còn đủ thời giờ để trả thù.

– Thưa bà, bằng cách nào?

– Chỉ có một cách là dùng thuốc độc bỏ vào rượu hoặc thức ăn. Nếu thất bại, Xí Vĩnh có thể chối cãi.

– Chừng nào ra tay, thưa bà? Con hơi lo sợ vì hỗm rày cậu Cẩu ngủ mơ, chửi mắng con thậm tệ, lắm khi lại đánh đập. Nếu ra tay chậm thì chắc là con bị bắt hoặc không còn được trọng dụng, làm sao còn hoàn cảnh thuận lợi ở gần cậu Cẩu.

Rồi nó nói khẽ:

– Thuốc độc ở đâu? Bà có sẵn trong nhà?

– Có chút ít nhưng chưa nên đem dùng. Khi nào cần, ta đưa cho. Nên chờ dịp nào đông người, bày yến tiệc linh đình. Chừng đó, chẳng ai biết thủ phạm. Thôi về đi. Cậu Cẩu hỏi thì bảo rằng ta muốn bày ra cuộc vui chơi để ăn mừng ngày cậu nắm trọn quyền hành, không còn bị Bá Vạn chia sớt quyền hạn như trước.

Ra khỏi sân nhà cô Huôi, Xí Vĩnh gặp ngay ông Mười Hấu. Nãy giờ, ông Mười theo dõi Xí Vĩnh nhưng ông ta không dám vào nhà để nghe lén…

Gặp ông Mười Hấu, Xí Vĩnh chắp tay chào, gương mặt kém bình tĩnh:

– Thưa ông!

Mười Hấu muốn chận đường để điều tra, hạch hỏi nhưng làm quá sớm thì khó nắm bằng cớ. Trong thâm tâm, Mười Hấu biết rằng cô Huôi không quí trọng cậu Cẩu. Bề ngoài, cô tỏ ra hiền lành nhưng biết đâu cô ôm ấp nhiều tham vọng. Tư Thiện là người bị cầm tù, ấy thế mà cô Huôi muốn ưu ái, cho ăn uống tử tế.

Mười Hấu suy luận:

– Cô Huôi và Tư Thiện sẽ liên kết nhau để tạo thế lực, chờ khi thuận tiện là ra tay giết cậu Cẩu. Cuộc gặp gỡ lúc nãy nhất định là có nhiều ý nghĩa, vì Xí Vĩnh là người thân cận của Bá Vạn. Lũ ca nhi sống bừa bãi, nay làm tình với chủ, mai làm tình với bọn tôi tớ.

Xí Vĩnh vào nhà, đến phòng cậu Cẩu là thấy tên hộ vệ đến.

Cậu Cẩu vẫn ngủ lim dim. Xí Vĩnh nói:

– Đưa phong thơ cho ta.

Tên hộ vệ đáp:

– Đây là của bà.

“Bà” tức là cô Huôi. Trong khi Xí Vĩnh còn do dự chưa biết có nên đánh thức cậu Cẩu hay không, thì cửa phòng lại mở. Mười Hấu bước vào:

– Cái gì vậy?

Cậu Cẩu giựt mình, nhìn Xí Vĩnh rồi nhìn ông Mười Hấu.

– Lạ quá, tôi nằm chiêm bao. Hửi mùi gì kỳ cục quá. Cho tôi uống rượu. Tay chân nó sưng vù lên…

– Cháu ơi! Có lá thơ..

Rồi ông tự ý khoát tay, đuổi Xí Vĩnh ra ngoài. Ông mừng thầm vì cậu Cẩu không có phản ứng gì cả.

– Ừ! Thơ của ai? Tôi biết chữ nghĩa gì đâu. Ông ngoại đọc giùm coi…Hôi thúi quá…

Rồi cậu nhăn mặt, nói tiếp:

– Tôi thấy Bá Vạn hiện về. Bá Vạn cầm cái chén liệng vô mặt tôi. Tôi chụp cái chén, liệng ngược lại trúng ngay đầu Bá Vạn. Ông ta xỉu, xương thịt rã tan, dưới đất chỉ còn một vũng nước tanh hôi.

Ông Mười Hấu giở lá thư ra xem. Đó là cô Huôi ngỏ ý với cậu Cẩu để cho Tư Thiện làm việc ghi chép sổ sách. Ngoài ra Tư Thiện không có quyền hạn gì cả. Nếu dư tiền Tư Thiện chỉ có thể mua bán với những nơi ở ngoài vùng Hòn Chông. Tư Thiện không được mua ruộng đất, nuôi nấng tá điền.

Ý kiến ấy được cậu Cẩu tán thành:

– Phải khác với Bá Vạn! Xứ nầy tôi là ông vua nho nhỏ, đừng có thằng nào đòi án bóng tôi. Ông ngoại à! cô Huôi còn nhắn điều gì không?

– Còn nữa. Cô khuyên nên bày ra cuộc lễ để ăn mừng ngày Bá Vạn không còn quyền hạn.

Cậu Cẩu vỗ tay như đứa bé:

– Phải lắm. Như vậy là cô Huôi muốn giết Bá Vạn từ lâu. Nhưng ông ngoại à, tại sao Bá Vạn trúng gió chết? Tôi nằm chiêm bao, thấy Bá Vạn hiện về mấy lần rồi. Chắc là ổng chết oan. Ổng liệng cái chén, tôi chụp được!

Trả lời câu hỏi ấy là vấn đề quá tế nhị. Hôm kia ông Mười chỉ thuật lại sơ qua trường hợp của Bá Vạn, nói láo là bịnh cảm mạo. Bá Vạn hiện về trong giấc ngủ của cậu Cẩu, phải chăng Bá Vạn khá linh thiêng và cậu Cẩu có linh tính?

Phải chăng Bá Vạn đang tìm cách trả thù? Bá Vạn chết rồi, người trả thù chính là Xí Vĩnh và cô Huôi, chớ còn ai xa lạ.

Xí Vĩnh đã từng hầu hạ Bá Vạn. Cô Huôi thì muốn mượn tay Bá Vạn để lấn hiếp cậu Cẩu.

Ông Mười Hấu nói:

– Cháu à! Nên đề phòng …con Xí Vĩnh.

– Thì ông ngoại nói nhiều lần rồi. Cháu muốn giết nó nhưng gẫm lại thì tội nghiệp.

Mười Hấu cau mày. Cậu Cẩu là người thay đổi tính tình bất ngờ. Lúc cao hứng cậu sẽ…đứng về phe cô Huôi. Mười Hấu suy nghĩ về cái chén của Bá Vạn ném cậu Cẩu trong giấc chiêm bao.

Ông nhớ cái chén màu xanh nước biển mà người lão bộc cho rằng kỳ diệu, đề phòng được những vụ đầu độc. Hay là cô Huôi và Xí Vĩnh bày ra chuyện đầu độc để trả thù cho Bá Vạn? Làm cách nào cho cậu Cẩu đuổi Xí Vĩnh ra khỏi nhà thì ông Mười Hấu mới yên tâm. Tuy còn vương vấn nhưng cậu Cẩu không còn quí mến và si mê Xí Vĩnh như lúc trước.

Ông Mười Hấu nói:

– Cháu à! Con Xí Vĩnh mới gặp cô Huôi lúc cháu ngủ say. Nãy giờ nó có thuật lại cho cháu nghe điều gì không?

Cậu Cẩu day lại:

– Đâu có.

Mười Hấu bèn chọc tức đứa cháu ngoại:

– Như vậy là hỗn hào, dám qua mặt cháu! Xưa nay chẳng ai được quyền thay mặt ông vua để làm bất cứ chuyện gì. Huống hồ con Xí Vĩnh là đứa ca nhi. Nó làm lộng rồi đó. Ông lo quá. Từ khi Bá Vạn chết đến giờ, cô Huôi với con Xí Vĩnh cứ bàn chuyện riêng.

Cậu Cẩu nhăn mặt, rót nước trà uống rồi cằn nhằn.

– Khó dữ đa! Khó dữ đa!

Rồi cậu đổi giọng:

– Ông ngoại thấy cháu xứng đáng làm ông vua không?

Mười Hấu trả lời:

– Vua ở ngoài Huế. Cháu là ông Chúa, làm vua ngay vùng đất…không nhỏ.

– Vậy thì cháu phải giết con Xí Vĩnh. À! Cháu nhớ rồi…Từ khi nắm bao nhiêu quyền hạn trong tay, cháu chưa giết người nào …để lấy máu thị oai…

– Khó lắm, đừng làm cho cô Huôi nổi giận.

Nghe nói đến cô Huôi, cậu Cẩu cứ vò trán suy nghĩ. Thật ra, cậu kính nể cô. Chưa bao giờ cô rầy rà hoặc khuyên dạy cậu với lời lẽ gay gắt. Chưa bao giờ cô đòi hỏi tiền bạc. Nếu muốn gây gổ thì chưa có lý do.

Cậu Cẩu nói:

– Cháu chém đầu con Xí Vĩnh thì biết cô Huôi hiền hay dữ.

– Nhưng lấy bằng cớ gì để chém đầu nó? Muốn chém phải cho cô Huôi biết trước…Muốn làm gì, cháu nhớ cho ông biết trước.

Cậu Cẩu đáp:

– Ngày nay hoặc ngày mai là có chuyện lớn.

Khi ông Mười Hấu ra về, cậu Cẩu ra sân, nhìn kỹ từng tên hộ vệ. Xí Vĩnh ngồi trên cái đôn sành ở góc sân. Nó nhảy mũi, rồi ho lên một chuỗi dài. Cậu Cẩu thích chí, nhủ thầm:

– Mình có bằng cớ!

Cậu ra đến cổng. Bọn hộ vệ theo sau. Có đứa nói:

– Thưa cậu, cậu muốn đi đâu? Tụi tôi chèo ghe cho cậu, bất cứ lúc nào.

Gió thổi mát rượi, cậu Cẩu chợt nhìn về bên phải. Ngôi nhà dành cho cô Huôi hiện ra sừng sững. Dường như Tư Thiện ngồi trước mé sông để gảy đàn tranh. Tư Thiện và cô Huôi đều là người khôn ngoan đáng sợ. Cậu Cẩu nghĩ tới mình, tới mẹ và ông ngoại. Tất cả đều dốt nát, không biết chữ nghĩa tính toán.

Muốn sống thì nên triệt hạ đám người khôn ngoan ấy. Nên giết con Xí Vĩnh trước để hăm dọa cô Huôi và Tư Thiện, thử xem họ đề phòng cách nào?

Vào sân cậu truyền lịnh:

– Xí Vĩnh! Đem cái ghế cho ta ngồi.

Xí Vĩnh lại nhảy mũi và ho. Cậu Cẩu day lại. Dạo nầy dường như Xí Vĩnh kém đẹp. Hốc hác quá chừng. Giết là phải. Xí Vĩnh đã bán rẻ trinh tiết cho Bá Vạn chăng?

Nghĩ tới đó, cậu Cẩu nói gắt:

– Đánh trống lên! Hộ vệ đâu?

Xí Vĩnh vào trong, đem cái ghế ra để bên cạnh cậu Cẩu. Lần nầy cậu giận xám mặt, dường như có thể Xí Vĩnh là cặn bã của Bá Vạn.

Cậu nói:

– Thằng nào mà đánh trống hoài vậy? Tao biểu đánh một hồi rồi dừng tay.

Tên hộ vệ chắp tay, cúi đầu:

– Thưa cậu, tôi chưa rành…

– Đánh trống để gom bọn hộ vệ lại đây cho ta dạy việc. Gom lại đủ chưa?

Tên hộ vệ đáp:

– Dạ, đủ rồi.

– Quỳ xuống! Đứa nào còn đứng đó? Tao chém bây giờ!

Bầu không khí trở nên khó thở. Chưa bao giờ cậu Cẩu ra lịnh đánh trống, hăm he chém giết như hôm nay. Phải chăng cậu nổi cơn điên. Ai nấy đều mong sự rắc rối nầy chỉ là tạm thời, vì hết cơn mưa thì trời lại nắng ráo.

– Đứa nào chưa quỳ? Thằng nào lại gần tao cho lịnh…

Đột nhiên, cậu Cẩu ưỡn ngực, đi tới đi lui.

– Ừ! Quỳ như vậy mới đúng phép tắc. Tao nói cho tụi bây biết: Hỗm ray, tao là người ham vui. Nhưng xung quanh đây, nhiều người phá tao. Thí dụ như ông Bá Vạn. Tao là người “chơn mạng đế vương”. Bởi vậy cho nên ông Bá Vạn chết…vì tay tao.

Xí Vĩnh giận sôi gan, vì chưa bao giờ cậu Cẩu hống hách đến mức ấy. Nó cúi mặt, đứng gần cái ghế.

Cậu Cẩu bèn chỉ vào mặt Xí Vĩnh:

– Sao chưa quỳ! Ai cho mày đứng?

Xí Vĩnh nén cơn giận, chờ dịp khác đến gặp cô Huôi để xin chút ít thuốc độc, đem về giết cậu Cẩu cho xong.

Xí Vĩnh quỳ chậm rãi rồi lấy tay che miệng mà ho rồi nhảy mũi.

Cậu Cẩu nói:

– Nín! Tao đang nói chuyện mà bày ra chuyện ho hen. Muốn kiêu ngạo tao sao chớ!

Xí Vĩnh chắp tay lại:

– Thưa Cậu, em lỡ dại.

– Mầy kêu tao bằng cái gì? Tao là ông. Nghe chưa?

Day qua bọn hộ vệ, cậu Cẩu nói:

– Tao là ông. Từ nầy về sau, đứa nào ho hen, nhảy mũi trong lúc tao nói chuyện thì tao chém đầu. Nghe cho rõ rồi đề phòng, kẻo chết oan như lão Bá Vạn.

Xí Vĩnh trợn mắt, từ trong lồng ngực dường như cơn ho sắp tuôn ra, cổ họng ngứa ngáy lạ thường. Làm sao ngăn cản trận ho nầy cho được?

Xí Vĩnh mím môi, đưa hai tay lên miệng. Nếu tiếng ho vang ra trong trường hợp nầy, ắt là cô mang tội phạm thượng, vì dường như cậu Cẩu bày ra luật lệ ấy để áp dụng riêng cho cô ta thôi.

Cậu Cẩu day lại khi nghe có tiếng gầm gừ phía sau.

Xí Vĩnh trợn mắt. Cơn ho muốn chui ra khỏi cổ họng, toàn thân cô run rẩy, mồ hôi tuôn ra trên trán. Đoán chừng khó đè nén được cô ta day mặt qua một bên, hy vọng rằng nếu ho ra tiếng phía sau cậu Cẩu thì tội vạ sẽ nhẹ hơn.

Vì nín ho nên cô nín thở. Cô cắm đầu, toan chạy trốn. Bên góc sân có cái lu nước. Cô đến đó, lấy một tay giở nắp lu ra.

 Nắp lu rơi bể trên nền gạch. Tiếp theo đó là một loạt tiếng ho.

Biết mình đã phạm tội nầy, Xí Vĩnh quỳ xuống nhắm mắt lại như ngất xỉu tại chỗ.

Bọn hộ vệ nhìn nhau. Gương mặt cậu Cẩu trở nên tái ngắt.

Trường hợp này quá tế nhị. Có thể là cậu Cẩu bỗng dưng cười dòn, ban lượng khoan hồng. Nhưng rất có thể là cậu ra lịnh xử tử Xí Vĩnh để thị oai.

Cậu bước tới quát to:

– Mày làm gì vậy?

Ông Mười Hấu đến kịp thời, nói nghiêm giọng:

– Nó ho lớn tiếng sau khi cháu ra lịnh nghiêm cấm. Như vậy còn gì là oai quyền.

Cậu Cẩu đến gần Xí Vĩnh:

– Con kia!

Vì quá sợ, Xí Vĩnh nín thinh. Cậu Cẩu day lại ông Mười Hấu:

– Làm sao?

Ông Mười Hấu không bỏ lỡ cơ hội để dò xét phản ứng của đối thủ lợi hại nhứt là cô Huôi:

– Nó không trả lời. Nó ho lớn tiếng. Nó làm ô uế cái lu nước. Như vậy là có tội.

Cậu Cẩu lại chống nạnh, nhìn bọn hộ vệ:

– Đem giam nó sau nhà cho tao. Ngày mai, tao giết nó. Giết nó tại sân này thêm ô uế. Phải đem xuống bếp.

Hai hộ vệ lại gần Xí Vĩnh, kéo lết cô ta đem ra phía sau nhà.

Khi cậu Cẩu vào trong thì bọn hộ vệ từ từ xuống bến, dụm ba mà bàn tán. Nhưng cậu Cẩu lại trở ra sân, cười dòn nghe ghê rợn:

– Bá Vạn giết cuộc đời con gái của Xí Vĩnh thì ta cũng không thua Bá Vạn. Tụi bây biết tại sao không?

Đôi mắt trợn trắng của cậu Cẩu khiến bọn hộ vệ hoảng sợ. Không khéo cậu sẽ ra lệnh xử tử thêm vài người nữa.

Thấy không ai trả lời, cậu đi thẳng xuống bến, nói vu vơ:

– Ủa! Tụi bây khi rẻ tao sao chớ? Tao không xứng đáng làm ông Chúa Hòn sao chớ? Hôm nay tao lên ngôi. Tao biết xung quanh đây có người coi tao như đứa con nít, thua tài thua trí Bá Vạn.

Rồi cậu nắm tay một đứa hộ vệ:

– Sao? Trả lời thử coi.

Đứa hộ vệ run rẩy:

– Dạ, cậu hỏi, con không nghe rõ…

– Ủa! Tao chém mầy bây giờ? Tao nói mà mầy không thèm nghe. Mầy có hai tội đáng chết. Một là kêu tao bằng “cậu”. Tao là “ông”. Nghe chưa? Còn tội thứ nhì là khinh thường lời nói của tao. Tao phạt sơ sơ cho mầy sợ. Ngày mai tao chém mầy. Trước khi chém, tao hành hạ tới mức. Tánh tao là vậy. Tao thấy người ta làm thịt gà thịt vịt không cần cắt cổ. Cứ đem nhúng nước sôi rồi nhổ lông lúc con vịt còn sống.

Đứa hộ vệ chắp tay:

– Xin ông tha cho.

– Ừ! Ghét mầy quá. Tao chém mầy bây giờ. Biết tại sao tao không thua tài ông Bá Vạn không? Bá Vạn giết con Xí Vĩnh, phá hại trinh tiết của nó. Tao thì giết…tất cả tánh mạng con Xí Vĩnh. Hộ vệ đâu? Chém thằng này.

Tên hộ vệ sợ quá sợ, nhìn ông Mười Hấu như kêu cứu. Lần nầy, ông Mười hơi lúng túng. Ông nắm tay cậu Cẩu:

– Cháu ơi!

Cậu Cẩu quơ chân, đá vào hông tên hộ vệ.

Đứa hộ vệ thối lui rồi nhảy xuống sông lặn mất dạng. Khi trồi lên, anh ta vuốt mặt, nghe tiếng cười sang sảng của cậu Cẩu:

– Cho nó tắm. Ngày mai nó chết.

Anh ta nín thở, lặn một hơi dưới nước. Khi trồi đầu lên, anh ta lội vô bờ…

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 28 May 2025

Tập I (Phần 1 và 2)

Phần 1 – Các nhạc sĩ

Thưa,

Đây không phải là cuốn sách nghiên cứu hay phê bình văn học, nghệ thuật. Mục đích của người viết chỉ nhắm chia sẻ chút ít hiểu biết, những gì còn nhớ được về các tác phẩm, tác giả mình yêu thích, với những người có cùng cảm nghĩ, như một cách bầy tỏ lòng ngưỡng mộ, lòng biết ơn, đối với những người đã dâng hiến những gì tốt đẹp nhất mình có thể làm ra được cho đất nước, nhờ đó, mọi người đã được thừa hưởng.

Phần khác, để các bạn trẻ sinh trưởng ở trong và ngoài nước, không biết nhiều về Việt Nam, một lúc nào đó, muốn quay về tìm hiểu các tác giả trong nước, có thêm một chút dấu vết, tài liệu.

Bởi vì, với những cuộc chiến tranh, chia cắt, kéo dài và liên tiếp trên đất nước, ngay cả những người quen biết, đồng thời với nhau, có nhiều khi cũng hoàn toàn thất lạc, không biết gì về nhau ..

Nguyễn Đình Toàn.

Anh Việt

Nếu hai thập niên 40-50 được coi là phồn thịnh của tân nhạc Việt Nam, thì phần đóng góp của Anh Việt không phải là nhỏ.

Vào thời ấy, buổi sáng người ta có thể nghe thấy Ngọc Bảo và Tâm Vấn hát Bến Cũ của Anh Việt trên đài phát thanh Hà Nội, buổi chiều hay đêm khuya người ta lại có thể nghe tiếng Anh Ngọc / Minh Trang, Mạnh Phát / Minh Diệu, Trọng Nghĩa / Ngọc Hà hát Lỡ Chuyến Đò, Một Chuyến Đi, Chiều Trong Rừng Thẳm của ông trên sóng của các đài phát thanh Huế, Pháp Á hay Sài Gòn.

Ấy là chưa kể có đài còn dùng nhạc của ông để làm nhạc hiệu nữa. Hầu hết các ca khúc của Anh Việt đều là tình ca. Và, tình ca của chúng ta nói chung, trong thập niên 50, thường nói về những cuộc chia ly, nỗi nhớ nhung xa cách, ước mong một ngày yên bình được trở về chốn cũ, nối lại tình xưa …

Nhạc của Anh Việt cũng vậy. Nhưng với cái ngọt ngào của âm điệu, thơ mộng của lời ca, ông đã biến các ca khúc của mình trở thành những bài

hát điển hình của một thời đại.

Chiều vàng lại đem nhớ tiếc thương

Đây người sang với con đò xưa

Và chiều chiều thôn nữ vấn vương

Duyên tình xưa êm thấm còn đâu

Người của bốn phương

Người đã ra đi có nhớ bao giờ

Dù duyên thề ước đắm với giấc mơ

Đường tơ vấn vương

Đem gieo thắm tươi vào đau thương

Và cố quên tình người bơ vơ

(Lỡ Chuyến Đò)

Anh Việt cho biết về tiểu sử của mình như sau:

“Sinh trưởng trong vùng đồng bằng sông Cửu Long giữa lúc cao trào kháng Pháp dành độc lập đang bùng lên. Buổi niên thiếu sống trong khung cảnh ruộng lúa phì nhiêu với sóng triều biển cả của những chiều gió lộng với giòng Kiên Giang in bóng trăng vàng và cũng là nơi còn ghi chiến tích

oanh liệt của anh hùng Nguyễn Trung Trực chống giặc Pháp, nêu gương tiết liệt với ngàn thu”. Chính ở đây Anh Việt đã viết các ca khúc Bến Kiên

Giang, Chiều Trong Rừng Thẳm, Một Chuyến Đi, Lỡ Chuyến Đò …

Có điều hơi lạ Anh Việt là người Nam, tình yêu của ông đối với sông nước, ruộng đồng nơi mình sinh trưởng thật đằm thắm, nhưng nhạc của ông không có vẻ gì là sản phẩm của một người gốc gác miền Nam cả.

Nhà văn Nguyễn Trọng Trác bày tỏ cảm tưởng khi nghe lại các ca khúc của Anh Việt như sau:

“Những bài hát cũ gợi lại cả trời xưa cũ, thời xưa cũ, những rung động xa xưa, cũng nhắc đến cả một chiều dài phức tạp của lịch sử đất nước Việt Nam cận đại. Anh đã khởi đi trong những ngày quật cường của quần chúng, đã sống cuộc sống giang hồ của một nghệ sĩ, đã góp tiếng lòng với quê hương, và cũng đã có tâm trạng của một kẻ bị lưu đầy”.

Còn nhà văn Thanh Nam đã mượn thơ Quang Dũng để viết về Anh Việt:

Chưa chắc cây cao hồ dễ yên

Sông sâu hồ dễ đã êm đềm

Cây cao chừng đợi giờ giông tố

Sông đợi mùa dâng sóng nước lên

Có vẻ như Anh Việt muốn viết anh hùng ca, nhưng chất lãng mạn đã lấn át mọi cái khác, nên cuối cùng ông chỉ còn lại những bài tình ca.

Ngoài ngàn dậm đoàn người ra đi

Trong sương lạnh lòng trai bền chí

Ra biên quan xa xăm ngàn phương

Và còn vọng tiếng hát trong sương

Người theo ngàn gió

Biệt ly buồn nhớ

Chờ đợi bao năm

Sống với âm thầm

Chốn ấy xa xăm người đi

Chiếc bóng bên song chờ chi

Tha phương ngoài ngàn quan san

Từ bao lần lá thu tàn …

(Một Chuyến Đi)

Bài hát hùng tráng nhất của Anh Việt là bài Chiều Trong Rừng Thẳm. Bài hát này có thể coi như tiếng vang của tâm hồn ông đối với các nhân vật lịch sử và quê hương riêng, ông ấp ủ trong hồn. Chính nỗi bi tráng của bài hát trở thành hùng tráng:

Trong rừng xa vắng âm u nhuộm ánh dương mờ

Tiếng gió rít lên ngàn cây xác xơ

Chuông chùa vang nhắc ngân lên như những oan hồn

Rừng còn mang hận mãi trong hoàng hôn

Mây nặng u hoài

Thây ngập bên rừng

Tiếng gió hòa bi ai

Đây là nấm mồ

Bao nhiêu quân Nam hy sinh vì quốc dân

(Chiều Trong Rừng Thẳm)

Bài tình ca ngọt ngào và trọn nghĩa nhất của Anh Việt có lẽ là bài Thơ ngây. Đây cũng là bài hát được nhiều ca sĩ chọn để trình bầy nhiều hơn cả trong số các nhạc phẩm của ông.

Từ âm điệu đến lời ca có một vẻ gì đó nũng nịu, làm dáng, nhưng vẫn giữ được vẻ nghiêm trang, trong sáng, không quá trớn để trở thành bỡn cợt hay giả dối:

Khi ấy em còn thơ ngây

Đôi mắt chưa vương lệ sầu

Cười đùa trong muôn ánh trăng

Đắm xinh đôi môi hồng thắm

Em ngắm mây hồng hay dòng nước trong

Thấy lòng ngẩn ngơ như tìm một bóng ai.

Rồi một hôm

Có chàng trai trẻ đến nơi này

Đời em có một lần

Là lần tim em thấy yêu chàng …

(Thơ Ngây)

Anh Việt có vẻ là một người sống kín đáo. Ông ít xuất hiện ở nhưng nơi công cộng, dù cho đó có là nơi người ta mang nhạc của ông ra trình diễn. Hoặc giả ông cũng có tới dự nhưng tự lẫn vào đám đông, như những khán giả vô danh khác.

Ông từng giữ những chức vụ quan trọng trong chế độ cũ của chúng ta ở Sài Gòn xưa, nhưng cũng ít người biết ông. Từ sau biến cố 75, sống ở hải ngoại, người ta cũng không thấy ông tuyên bố điều này điều khác, ở chỗ nọ chỗ

kia. Chắc ông chọn sự im lặng.

Những người yêu nhạc ông hoàn toàn kính trọng sư im lặng của ông, và xin gửi tới ông một bông hồng tạ ơn về nhưng gì ông đã cống hiến cho âm nhạc Việt Nam.

Bến Cũ

Bến ấy ngày xưa người đi vấn vương biệt ly

Gió cuốn mây trôi về đây

Thấy bóng người về hay chăng?

Xa nhau bến xưa ngày ấy

Anh đi thế thôi từ đây

Sầu chết bên lòng

Hồn nặng nhớ mong

Biết đi sầu em mong

Nhưng ngàn dân đang ngóng

Dưới trời gió mưa

Làn gió chiều đưa

Xa nhau bến xưa ngày ấy

Anh như bóng mây hồng trôi

Về chốn xa vời

Lòng nặng nhớ mong

Chớ buồn khóc chi

Càng khổ người đi

Bến ấy chiều sương chờ mong

Vấn vương lòng ta

Gió cuốn mây trôi về đâu

Cố nén sầu lòng bao năm

Cố quên sầu thương đi

Anh nguyền đi theo gió

Chớ buồn khóc chi

Càng khổ người đi

Bến ấy chiều sương chờ mong

Vấn vương lòng ta

Gió cuốn mây trôi về đâu

Cố nén sầu lòng bao năm

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 28 May 2025

Tập I – (Phần 1 và 2)

Phần 1 – Các nhạc sĩ

Thưa,

Đây không phải là cuốn sách nghiên cứu hay phê bình văn học, nghệ thuật. Mục đích của người viết chỉ nhắm chia sẻ chút ít hiểu biết, những gì còn nhớ được về các tác phẩm, tác giả mình yêu thích, với những người có cùng cảm nghĩ, như một cách bầy tỏ lòng ngưỡng mộ, lòng biết ơn, đối với những người đã dâng hiến những gì tốt đẹp nhất mình có thể làm ra được cho đất nước, nhờ đó, mọi người đã được thừa hưởng.

Phần khác, để các bạn trẻ sinh trưởng ở trong và ngoài nước, không biết nhiều về Việt Nam, một lúc nào đó, muốn quay về tìm hiểu các tác giả trong nước, có thêm một chút dấu vết, tài liệu.

Bởi vì, với những cuộc chiến tranh, chia cắt, kéo dài và liên tiếp trên đất nước, ngay cả những người quen biết, đồng thời với nhau, có nhiều khi cũng hoàn toàn thất lạc, không biết gì về nhau .. Nguyễn Đình Toàn.

Anh Bằng

Ông tên thật là Trần An Bường, sinh năm 1925. Như thế, có lẽ ông là một trong vài nhạc sĩ cao tuổi nhất lác đác còn lại của chúng ta hiện nay.

Một điều đáng vui hơn nữa là, dù đã qua cái tuổi “cổ lai hy” từ lâu, nhưng

người ta vẫn được nghe những sáng tác mới của ông, nếu coi tất cả những

gì Anh Bằng viết sau 1975, sau ngày ông ra khỏi nước, là sáng tác mới.

Nghe nói, trước 1975, ở Sài Gòn, Anh Bằng được coi là tác giả “ăn khách”, được các nhà xuất bản “đặt hàng”, dành trước quyền xuất bản các ca khúc của ông, kể cả những bài ông chưa viết xong. Anh Bằng có sức sáng tác phong phú. Ngoài cả trăm ca khúc của riêng ông, Anh Bằng còn một số bài cùng viết với các nhạc sĩ Lê Dinh và Minh Kỳ, được ký dưới cái tên chung

là Lê Minh Bằng.

Ca khúc nổi tiếng nhất của ba người có lẽ là bài Nguyện Cầu. Bài hát được viết vào những năm cuộc chiến tranh trên đất nước ngày càng trở nên thảm khốc, đã trở thành một cái gì đó, giống như dấu vết của một thời đen tối, hằn sâu trong ký ức của rất nhiều người.

Ca sĩ trình bầy bài Đêm Nguyện Cầu gây ấn tượng nhất có lẽ là Hùng Cường:

Hãy lắng tiếng nói vang trong tâm hồn mình người ơi

Con tim chân chính không bao giờ biết đến nói dối

Tôi đi chinh chiến bao năm trường miệt mài

Và hồn tôi mang vết thương, vết thương trần ai

Có những lúc tiếng chuông đêm đêm vọng về rừng sâu

Rưng rưng tôi chắp tay nghe hồn khóc đến rướm máu

Bâng khuâng nghe súng vang trong sa mù buồn gục đầu

Nghẹn ngào cho non nước tôi trăm ngàn u sầu

Thượng Đế hỡi có thấu cho Việt Nam này

Nhiều sóng gió trôi giạt lâu dài

Từng chiến đấu tiêu diệt quân thù bạo tàn

Thượng Đế hỡi hãy lắng nghe người dân hiền

Vì đất nước đang còn ưu phiền

Còn tiếng khóc đi vào đêm trường triền miên

Có những lúc tiếng chuông đêm đêm vọng về rừng sâu

Rưng rưng tôi chắp tay nghe hồn khóc đến rướm máu

Quê hương non nước tôi ai gây hận sầu tội tình

Mẹ Việt Nam yêu dấu ơi bao giờ thanh bình

Nhà văn Nguyễn Thụy Long có kể lại trường hợp một người tử tù, đã hát bài hát này trong trại giam Chí Hòa, đêm trước ngày bị đưa ra pháp trường.

Sau biến cố 1975, ở miền Nam, các nhà tù lúc nào cũng chật ních người.

Nhiều người khác cũng nói rằng, họ từng được nghe các tù nhân hát cùng bài hát đó trong những đêm chờ chuyển trại.

Một bài hát được người ta chọn để hát vào những lúc như thế, chắc không phải chỉ là sự tình cờ. Không biết người hát nghĩ gì khi hát. Nhưng người nghe nói rằng, họ cảm nhận một nỗi ray rứt, bi thương, mãi sau này, vẫn còn xúc động tâm trí mỗi khi tưởng nhớ lại.

Các ca khúc thịnh hành của Anh Bằng có thể kể:

Hẹn Anh Đêm Nay

Nỗi Lòng Người Đi

Tango Dĩ Vãng

Tình Tuyệt Vời

Lời Tình Băng Giá

Dù Nắng Có Mong Manh

Nhớ Sài Gòn

Tâm Hồn Cô Đơn

Anh Bằng cũng phổ nhạc rất nhiều thơ: thơ Nguyên Sa [Nếu Vắng Anh] thơ Nguyễn Bính [Bướm Trắng], thơ Yên Thao [Chuyện Giàn Thiên Lý] thơ Thái Can [Anh Biết Em Đi Chẳng Trở Về] thơ Du Tử Lê [Khúc Thụy Du]

Khúc Thụy Du của Du Tử Lê do Anh Bằng phổ nhạc, có thể coi là một thành công và là một trong những tình khúc hay nhất chúng ta có được vậy:

Hãy nói về cuộc đời

Khi tôi không còn nữa

Sẽ lấy được những gì

Về bên kia thế giới

Ngoài trống vắng mà thôi

Thụy ơi và tình ơi

Như loài chim bói cá

Trên cọc nhọn trăm năm

Tôi tìm đời đánh mất

Trong vũng nước cuộc đời

Thụy ơi và tình ơi

Đừng bao giờ em hỏi

Vì sao ta yêu nhau

Vì sao môi anh nóng

Vì sao tay anh lạnh

Vì sao thân anh run

Vì sao chân không vững

Vì sao và vì sao

Hãy nói về cuộc đời

Tình yêu như lưỡi dao

Tình yêu như mũi nhọn

Êm ái và ngọt ngào

Cắt đứt cuộc tình đầu

Thụy bây giờ về đâu

Đại uý Andrew Dang (gốc Việt), Phi công Oanh tạc cơ chiến lược B-2 Spirit Không quân Hoa Kỳ được đề cử thăng cấp Thiếu tá.

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on May 22, 2025

Post by Sơn râu 28 May 2025

Đại uý Andrew Dang và chị, Vivian Dang trong buổi lễ tốt nghiệp mang cánh bay phi công ngày 30 tháng 9 năm 2017 (Ảnh khi còn mang cấp Trung uý* của David Poe, Không quân Hoa Kỳ)

Đại uý Andrew Dang vừa được Hội đồng thăng cấp Sĩ quan Không quân Hoa Kỳ đề cử thăng cấp Thiếu tá cho tài khoá năm 2026, danh sách đề cử thăng cấp đã được chuyển đến Quốc Hội và Uỷ ban quân vụ Thượng viện nhận được ngày 19 tháng 5 năm 2025. Cùng đợt đề cử thăng cấp Thiếu tá năm nay còn có 17 Đại uý Không quân gốc Việt khác được ghi nhận**: MINH K. QUAN; ALEC L. DINH; PHILLIP Q. NGUYEN; THINH Q. TRAN; HIEP M. DU; ANH T. LE; ANDY NGUYEN; HIEU A. PHAM; NATHANIEL V. LE; TONEY DOAN; VI N. DOAN; TIFFANY M. PHAN; VIET A. TRAN; JEREMY T. DAO; PETER S. VO; AI MI O. NGUYEN; DANIEL D. NGUYEN. Sau khi được Uỷ ban quân vụ xác nhận bầu chọn, 18 Đại uý gốc Việt được đề cử sẽ chính thức thăng cấp Thiếu tá.

Minh hoạ các nguồn tin: Đại uý Andrew Dang, Phi công phi cơ oanh tạc chiến lược tàng hình B-2 Spirit. các nguồn tin.

Đại uý Andrew Dang gia nhập Không quân Hoa Kỳ qua Chương trình huấn luyện Sĩ quan Không quân trừ bị tại Trường Đại học UCLAUCLA và tốt nghiệp với Văn bằng Cử nhân nghệ thuật Triết học năm 2015 mang cấp bậc Thiếu uý. Ông được chọn thụ huấn khoá Phi công 15-17 và tốt nhiệp mang cánh bay vào tháng 9 năm 2017.

Đại uý Andrew Dang là Phi công phi cơ oanh tạc chiến lược tàng hình B-2 Spirit, hiện đang phục vụ tại Phi đoàn phi cơ oanh tạc viễn chinh 393 (393rd Expeditionary Bomb Squadron) thuộc Không đoàn phi cơ oanh tạc 509 (509th Bomb Wing) tại căn cứ Không quân Whiteman Air Force Base. Ông nguyên là Phi công Pháo đài bay B-52H Stratofortress của Phi đoàn oanh tạc cơ 23 (23rd Bomb Squadron) trước khi chuyển sang Phi đoàn 393 bay phi cơ B-2 Spirit.

Phi cơ oanh tạc chiến lược B-2 Spirit của Phi đoàn phi cơ oanh tạc viễn chinh 393 tiếp nhận nhiện tại căn cứ Không quân Offutt (ảnh của Thượng sĩ Kenneth W. Norman).

Phi đoàn 393 hiện là Phi đoàn phi cơ oanh tạc tầm xa B-2 Spirit hàng đầu của Không quân Hoa Kỳ. Phi đoàn cung cấp khả năng chiến đấu trên toàn thế giới với lực lượng gồm 20 phi cơ B-2, Phi công và Quân nhân tác chiến để yễm trợ các nhiệm vụ hạt nhân và quy ước của Bộ tham mưu Liên quân Hoa Kỳ. Phi đoàn 393 hoạt động bao gồm các lãnh vực như tình báo, thời tiết, truyền tin và nhiều lãnh vực khác. Các lãnh vực này phối hợp chặt chẽ với nhau để bảo đảm các nhu cầu về giao tiếp, chiến lược và tác chiến đáp ứng cho Phi đoàn 393 khi hoạt động với các Đồng minh Khối NATO khắp Châu Âu. Sau ba mươi năm lần đầu tiên phi cơ oanh tạc chiến lược B-2 Spirit xuất hiện tại căn cứ Không quân Whiteman, các phi công đã duy trì hoạt động của phi cơ B-2 tiếp tục mở rộng phạm vi hoạt động toàn cầu, chứng minh phi cơ oanh tạc chiến lược này thật sự Lực lượng viễn chinh hoàn thành khả năng răn đe chiến lược, bất cứ thời gian nào và bất cứ nơi đâu!

Đại uý Andrew Dang được thăng cấp Thiếu uý năm 2015, Trung uý năm 2017, Đại uý năm 2020, đề cử thăng cấp Thiếu tá tháng 5 năm 2025.

Minh hoạ của Air Force global Strike Command năm 2020: Đại uý Andrew Dang, Phi công pháo đài bay chiến lược B-52H, thuộc Phi đoàn oanh tạc 23.

Sĩ quan Phi công Không quân Hoa Kỳ gốc Việt bay các loại phi cơ oanh tạc chiến lược ngoài Đại uý Andrew Dang bay loại phi cơ B-2 Spirit và B-52 Stratofortress còn có Đại uý Bui Duc Phuong, Phi công Pháo đài bay B-52H Stratofortress thuộc Phi đoàn oanh tạc cơ 11 (11th Bomb Squadron); Thiếu tướng John R. Edwards, đã bay loại phi cơ oanh tạc chiến lược B-1 lancer và pháo đài bay B-52 Stratofortress; Đại uý Nguyen Anh Vu, Phi công bay loại oanh tạc cơ chiến lược B-1 lancer thuộc Phi đoàn 9 phi cơ oanh tạc viễn chinh (9th Expeditionary Bomb Squadron) đã giải ngũ, nay là Phi công chính của Hảng hàng không Delta Airline.

Nam, Nữ Sĩ quan Không quân Hoa Kỳ gốc Việt mang cấp bậc Thiếu tá phục vụ các ngành trong Quân chủng Không quân có thể hơn 120 vị, không tính những vị đã hồi hưu.

Chúc Tân Thiếu tá Andrew Dang thăng tiến binh nghiệp.

Chú thích: Viết theo tài liệu; *Ghi theo thời gian mang mang cấp Trung uý; **Có một số Đại uý mang họ giống họ Việt Nam, nhưng chưa xác nhân được họ gốc Việt, Hoa, Hàn hay các các nguồn gốc Á châu khác.

Nguồn: congress.gov; afgsc.af.mil; airforcetimes.com; linkedin.com; bienxua-Những Sĩ quan Phi công Không quân Hoa Kỳ gốc Việt.

Cải tạo nửa mùa – Vượt biên tài tử

hoiquanphidung.com

Hồi ký

NGUYỄN HỮU THIỆN

Post by Sơn râu 28 May 2025

Phần 13

Chương 6 – Suối Máu & Tống Lê Chân

Không biết tù cải tạo ở các nơi khác thì sao, riêng ở Suối Máu, chúng tôi được nghe tin tức hàng ngày trên đài phát thanh (và đôi khi cả đài truyền hình) Sài Gòn Giải Phóng, nhờ đó được biết diễn tiến tổng quát của cuộc xâm lược của Trung Cộng vào sáu tỉnh biên giới phía bắc của Việt Nam.

Mỗi đêm sau giờ cơm tối, nhóm chúng tôi – gồm tôi, Hưng (đại úy) và vài anh em khác – lại tụ tập bên hông Nhà 13 để to nhỏ bàn luận về tình hình chiến sự và tiên đoán những gì sắp xảy ra.

Về tình hình chiến sự, chúng tôi khá ngạc nhiên và thất vọng trước sự tiến quân ồ ạt của lính Trung Cộng vào lãnh thổ Việt Nam mà không gặp sức kháng cự đáng kể ở tuyến đầu. Mặc dù đài phát thanh không loan báo diễn tiến cuộc chiến một cách chi tiết mà chỉ chú trọng việc lên án sự dã man tàn bạo của của lính Trung Cộng đồng thời ra sức ca tụng “tinh thần chiến dấu dũng cảm của quân dân ta”, chúng tôi cũng có thể đoán biết khi 120,000 quân Trung Cộng (trong tổng 300,000 tham gia chiến dịch) đồng loạt vượt biên giới tiến vào lãnh thổ sáu tỉnh phía bắc VN – Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Móng Cái – vào sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, chúng đã không đụng độ với các lực lượng chính quy thiện chiến của CSVN, bởi phần lớn lực lượng này đã được đưa vào Nam để tiến hành cuộc xâm lược và chiếm đóng Căm-bốt.

Gần hai tuần sau, khi đài phát thanh loan tin và tường thuật về chiến sự ở thị trấn Lạng Sơn, chúng tôi tin rằng thị trấn này sẽ thất thủ và đại quân Trung Cộng sẽ tiến về vùng châu thổ sông Hồng để uy hiếp Hà Nội, Hải Phòng. Và nếu việc này xảy ra, tù cải tạo sẽ tiếp tục ở tù dài dài, bởi như lời viên trung tá công an Đào Lưỡng, Giám thị trưởng Chí Hòa – Suối Máu đã tuyên bố trước đây, chúng tôi chỉ được thả một khi tình hình ổn định!

Mấy ngày sau, 5 tháng 3 năm 1979, Cộng Sản Việt Nam ra lệnh tổng động viên toàn quốc (trong Nam gọi là “đi nghĩa vụ quân sự”). Trưa cùng ngày, Bắc Kinh tuyên bố đã “hoàn thành mục tiêu” (dạy cho Hà Nội một bài học), “chiến thắng” và bắt đầu rút quân.

Dĩ nhiên, tuyên bố của Trung Cộng sau này chúng tôi mới được biết, còn ngày ấy chỉ được nghe tin trên đài phát thanh Sài Gòn Giải Phóng, qua đó phía CSVN cũng tuyên bố “đã chiến thắng…, chấp nhận cho địch rút quân…, và dừng chiến dịch phản công”.

Việc Trung Cộng sau khi xua 300,000 quân xâm lược VN, chiếm được các thị xã Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng và một số thị trấn vùng biên giới sau đó lại cho rút quân đã khiến “các nhà bình luận thời sự ở Suối Máu” phải ngạc nhiên, bởi trước đó, như đã viết ở trên, chúng tôi tin rằng sau khi đánh chiếm sáu tỉnh biên giới, đại quân Trung Cộng sẽ tiến về vùng châu thổ sông Hồng, và Liên Xô sẽ có cớ nhảy vào vòng chiến để tiếp sức cho đàn em “tiểu bá quyền phương Nam”, cuộc chiến sẽ trở nên dai dẳng và chúng tôi sẽ tiếp tục ở tù cho tới khi “tình hình ổn định”, nghĩa là còn lâu, lâu lắm!

Vì thế, nay trước việc Bắc Kinh cho rút quân, chúng tôi chỉ biết đoán mò: có lẽ Trung Cộng sợ Liên Xô can thiệp mạnh, cho các quân đoàn đang trú đóng trên lãnh thổ Mông Cổ (một “đồng minh không cộng sản” của Mạc-tư-khoa) tấn công Trung Cộng từ phía bắc, khi ấy Bắc Kinh sẽ bị lưỡng đầu thọ địch, cho nên “bài học” mà Đặng Tiểu Bình dạy cho CSVN chỉ có bấy nhiêu thôi. (Chú thích 1)

Tuy nhiên, trước việc CSVN ngày càng hung hăng chửi bới “tập đoàn lãnh đạo Bắc Kinh” trên các phương tiện truyền thông và ra sức hốt thanh thiếu niên miền Nam đi “nghĩa vụ quân sự”, đưa sang Căm-bốt để thay thế (một phần) bộ đội chính quy bị đưa về bảo vệ miền Bắc, cho thấy Hà Nội có ý định chiếm đóng xứ chùa Tháp lâu dài, chúng tôi càng thêm hoang mang, lo ngại khi nghĩ tới những năm tháng tù tội trước mặt.

Rảnh rỗi vì không bị bắt đi lao động, chúng tôi cố gắng tìm quên qua nhiều hình thức giải trí: chơi cờ tướng, xoa mạt chược (những anh em “thâm niên” ở K1 thực hiện được hai bộ mạt chược khá chuẩn), đàn địch ca hát, chơi bóng chuyền, đá banh… Thỉnh thoảng tôi cũng ra sân banh nhưng không phải để đá mà để bắt gôn, sở trường của tôi từ những năm trung học.

Trong một trại tù chật hẹp như Suối Máu mà có được một cái sân đá banh là chuyện khó tin nhưng có thật!

Nguyên K1 là một khu đất vuông vức, khác với các K còn lại hình chữ nhật chạy dài từ ngoài vào trong. Từ cổng K1 đi vào, một bên là hội trường, lò bánh mì, dãy nhà bếp, một bên là một giếng nước, và sân bóng chuyền, nơi đã diễn ra cuộc “biểu tình ngồi” trong đêm Giáng Sinh 1978.

Vào sâu hơn là ba dãy nhà nhốt tù, mỗi dãy 6 nhà, tổng cộng 18 nhà, mỗi nhà giam giữ khoảng trên dưới 50 anh em. Khác với ở K3, nơi các nhà còn nguyên mái tôn vách tôn, các nhà ở K1 cũng mái tôn nhưng vách ván. Nguyên nhân là vì, cũng giống như ở trại tù Phú Quốc, khi xảy ra biến cố 30-4-1975, dân chúng tràn vào gỡ vách tôn cho nên sau đó đã được vây lại bằng ván (ở Phú Quốc vây bằng tranh); nhờ đó người tù cải tạo cũng có cảm giác dễ chịu hơn, có thể biến vách ván chỗ nằm của mình thành một cái kệ nho nhỏ, hoặc trang trí vách theo ý riêng: một bức tranh tự vẽ, tấm hình gia đình…

Phía bên trong ba dãy nhà là một cái sân hẹp chạy dài suốt từ nhà 13 đến nhà 18, được anh em biến thành sân banh, một sân banh có một không hai với chiều dài gấp ba bốn lần chiều rộng. Thành thử nhiệm vụ thủ thành của tôi khá nhàn rỗi, nhiều khi đợi cả chục phút mới thấy banh xuống vùng cấm địa!

Trong số sĩ quan tù cải tạo lại có một anh chàng trước kia đá cho đội tuyển Quan Thuế tự nguyện làm huấn luyện viên cho nên các trận đấu giữa các dãy nhà khá hào hứng. Nhưng riêng tôi, sau một thời gian bắt gôn đã không còn hứng thú nữa, quay sang viết sách dạy nhạc – một cách chính xác là hòa âm căn bản cho những người tập chơi đàn ghi-ta.

Ý tưởng “tốt đẹp” này (cứ tạm gọi như thế) đến với tôi sau khi thấy một bạn tù cựu giáo sư ở Trường Sinh Ngữ Quân Đội biên soạn các bài học tiếng Anh để các bạn tù muốn học chuyền tay nhau sao chép.

Với những người có trình độ hòa âm trung cấp trở lên, “công trình biên soạn” của tôi gồm Hòa âm căn bản và Cách bấm hợp âm trên cần đàn ghi-ta – chỉ là trò trẻ con, nhưng với những bạn tù chưa biết gì về hòa âm hoặc đang tập tễnh đệm ghi-ta thì những gì trình bày trong hai cuốn vở 50 trang ấy của tôi khá đắc dụng.

* Bông hồng Suối Máu

“Bông hồng Suối Máu” là một nhân vật có thật 100%, đối tượng của thiếu tá Y, một trong ba ông thiếu tá Không Quân khá đặc biệt ở Suối Máu. Người thứ nhất đã được tôi nhắc tới ở một phần trên là cựu Thiếu tá phi công khu trục Lê Thanh Hồng Vân, nguyên Phi đoàn phó Phi Đoàn 530 ở Pleiku với tôi năm xưa, Trưởng Ban Hành Động K3, đã bị đưa về Chí Hòa.

Người thứ hai là thiếu tá X, trước kia là một ông Trưởng Phòng hét ra lửa ở cùng đơn vị Không Quân ở Biên Hòa mà tôi không muốn nhắc tên. Ông X không làm ăng-ten mà chỉ đem khả năng mánh mung, sở trường lấy điểm của ông trước 1975 để trở thành “đại diện” của trại Suối Máu, bày mưu túc kế, toa rập với đám cán bộ hậu cần (thời bò xanh) trong việc bớt xén tiêu chuẩn lương thực, thực phẩm của tù cải tạo để đem đi bán.

Cũng là tù cải tạo mà sáng sáng ông X mặc bộ pyjamas lụa, đeo kiếng mát, mặt vênh váo đi lên Ban hậu cần “công tác”. Các sĩ quan cùng đơn vị trước 1975 nay ở tù chung không ai chơi với ông đã đành mà khi vô tình đụng đầu cũng không ai thèm dòm mặt. Rất có thể ông X cho rằng người ta ghen ghét vì những đặc quyền đặc lợi ông được hưởng, chẳng hạn vợ được lên thăm nuôi thường xuyên, có khi “qua đêm” – một việc không hề có ở trại Suối Máu – nhưng thực ra mọi người xa lánh ông chỉ vì khinh bỉ!

Người thứ ba là thiếu tá Y tôi cũng không nhắc tên ra đây, tuy nhiên không phải vì ông là một người tệ hại như thiếu tá X mà chỉ vì tôi muốn giữ kín lý lịch của ông – nhân vật chính trong chuyện tình với “bông hồng Suối Máu” – để bạn bè cùng quân chủng Không Quân nếu không ở tù chung hoặc không được nghe người khác kể lại sẽ không biết ông là ai.

Về phần tôi vì ở khác K với thiếu tá Y nên lúc đó chỉ biết đại khái trước năm 1975 ông là phi công trong Không Quân VNCH, vợ con đã di tản sang Mỹ ngày 30-4-1975, thường được người em gái của vợ lên thăm nuôi. Còn chuyện tình của ông với bông hồng Suối Máu tôi chỉ biết qua nghe người khác kể lại với những tình tiết mà tôi tin rằng đã ít nhiều được thêu dệt cho thêm phần… ly kỳ rùng rợn. Nhưng đoạn kết buồn nhiều hơn vui thì tôi biết rõ.

Bông hồng Suối Máu nói tới ở đây là H, con gái của trung tá công an Đào Lưỡng, ra chào đời trước khi tía tập kết ra Bắc, tuổi khoảng trên 25. Sau khi trại Suối Máu được bộ đội bàn giao cho công an thì H được tía cho làm việc tại ban giám thị trại và K30 (bệnh xá). Có lẽ công việc của H là về giấy tờ chứ không liên quan tới ngành y vì cô không tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân (như sau này tôi được biết).

Về phần thiếu tá Y, không hiểu do đâu mà được trông coi nhà máy điện của trại Suối Máu. Có người nói ông có bằng kỹ sư điện nhưng tôi không tin, bởi vào thời VNCH chẳng có ông kỹ sư điện nào dại dột (hoặc lý tưởng) tới mức xin vào Không Quân để làm phi công thời chiến!

Nhưng ít ra thiếu tá Y cũng là một tay tháo vát hơn người (handyman) cho nên mới được trung tá Đào Lưỡng trao công việc chăm sóc chiếc xe Jeep Willys của ông ta do Cảnh Sát Quốc Gia (VNCH) để lại.

[Jeep Willys, hoặc Kaiser Jeep, ngày ấy trong Không Quân VNCH thường gọi là “jeep ca-pô bầu”, được cải biến từ một kiểu jeep dân sự để sử dụng trong quân đội, thường là các bộ chỉ huy, các hậu cứ, những nơi không cần tới loại jeep tác chiến có khả năng băng rừng (off-road) vốn có giá thành cao hơn, chẳng hạn jeep lùn A1, A2. Tất cả xe jeep của Không Quân Hoa Kỳ sử dụng tại Việt Nam đều là Jeep Willys, khi họ rút quân được bàn giao cho KQVN. Cảnh Sát Quốc Gia cũng được viện trợ kiểu jeep này]

Về sau, thiếu tá Y còn được Đào Lưỡng sử dụng làm tài xế riêng đi đi về về Sài Gòn – Biên Hòa. Thường thường, cùng đi trên xe còn có cô con gái của viên trung tá công an.

Một thời gian sau, H mang bầu tâm sự, còn thiếu tá Y được xuất trại, được phục hồi quyền công dân để trở thành con rể của viên Giám thị trưởng Chí Hòa – Suối Máu. Trong số anh em tù cải tạo có người còn quả quyết đã đọc được mục Chúc Mừng trên báo Sai Gòn Giải Phóng, nhưng không mấy người tin!

Trước cuộc tình quốc – cộng nói trên, dư luận tù cải tạo Suối Máu chia ra hai phe: một phe chê trách thiếu tá Y phản bội vợ con (hiện đang sống ở Hoa Kỳ), một phe tuy không khen nhưng rất thích thú (hả dạ) trước việc một tù cải tạo “dớt” được cô con gái của viên trung tá công an giám thị trưởng – một bóng hồng nghe đồn khá xinh đẹp và sexy!

Tôi may mắn là một trong những tù cải tạo có cơ hội kiểm chứng những lời đồn trên, và sau này được biết đoạn kết của cuộc nhân duyên quốc – cộng ấy.

Nguyên tôi được sang K30 (bệnh xá) ở khoảng hai tuần vì bị bạn tù… đả thương!

Đầu đuôi là trong Nhà 13 của tôi có T, một tay trung úy lầm lì, không chơi với ai, có ít nhiều… máu điên, mà một số anh em cho là hậu quả tâm lý của những năm tháng dài bị nhốt ở Suối Máu.

Một ngày nọ, vào khoảng giữa năm 1979, tôi và T xích mích nặng, được anh em cùng nhà can gián. Thế rồi trong giờ nghỉ trưa, khi tôi đang ngồi quay mặt vào vách với cuốn vở nhạc lý đang soạn dở dang thì T đứng phía sau lấy cái ghế đẩu thấp bằng gỗ (giống ghế của các bà bán hàng rong) sử dụng 24 thành công lực giáng lên đầu, khiến tôi ngã lăn quay, bất tỉnh! Sau này hồi tưởng lại, tôi cũng không biết đích xác mình bất tỉnh trong bao lâu, nhưng có lẽ chỉ trong vài giây đồng hồ, bởi khi tỉnh lại tôi còn nghe tiếng anh Thiết đang hốt hoảng kêu cứu.

Chỉ bị choáng váng chứ không cảm thấy đau đớn lắm, tôi đoán mình không bị bể đầu, có nghĩa là không nguy hiểm cho nên tôi chợt nảy sinh ý tưởng đùa nghịch là cứ giả bộ tiếp tục bị bất tỉnh xem mọi việc sẽ diễn tiến ra sao!

Mặc dù đầu của tôi không có vết thương chảy máu, anh Phố (Nhà trưởng) vẫn chạy ra cổng nhờ lính gác báo cáo với giám thị K1. Trong lúc chờ đợi tay công an phụ trách Nhà 13 vào, thấy anh em xôn xao lo lắng, người thì đắp nước lạnh trên trán, người lo quạt…, tôi đành phải hé mắt chớp chớp cho anh em biết tôi đã tỉnh, nhưng sau đó vừa làm bộ nhăn nhó ra vẻ đau đớn lắm vừa nhắm mắt lại, ai hỏi gì cũng lắc đầu nhè nhẹ như không có sức mở miệng trả lời!

Khoảng 15 phút sau, tay công an phụ trách Nhà 13 vào, hỏi qua loa đầu đuôi sự việc rồi, có lẽ vì sợ trách nhiệm, cho lấy võng khiêng tôi qua K30 (bệnh xá), cách K1 khoảng 500 mét.

Bên trong cổng gác của K30, phía tay mặt có bốn căn nhà tôn vách ván, nhỏ hơn nhà nhốt tù ở các K; ba căn được sử dụng làm chỗ ở cho bệnh nhân, một căn làm phòng khám bệnh và chỗ ở của hai vị bác sĩ quân y VNCH được đưa sang làm việc ở bệnh xá, phía đối diện là mấy căn nhà nhỏ hơn dành cho bệnh nhân công an, nhân viên bệnh xá, công an gác cổng, hậu cần, nhà bếp…

Không khí và sinh hoạt ở bệnh xá Suối Máu khác hẳn với bệnh xá Thành Ông Năm mà tôi đã từng ở qua vào cuối năm 1975; có thể mô tả một cách ngắn gọn là bệnh xá Suối Máu khá lặng lẽ, buồn tẻ.

Bệnh nhân tù cải tạo ở đây cũng thuộc đủ lứa tuổi, cấp bậc như ở bệnh xá Thành Ông Năm trước kia nhưng đa số suốt ngày nằm một chỗ, nhà nào biết nhà nấy nên không có sự thân mật cởi mở, tụ tập trò truyện, đấu láo như ở Thành Ông Năm.

Có hai nguyên nhân. Thứ nhất là về mặt tinh thần, trước kia ở Thành Ông Năm, mới bắt đầu đời tù tội nên anh em chưa kịp thấm, chưa nếm mùi lao động khổ sai, nay thì ai cũng chán chường, ê chề, tuyệt vọng.

Thứ đến là về thể xác, sau ba bốn năm ăn uống thiếu dinh dưỡng, sức đề kháng trong cơ thể không còn, cho nên người nào quỵ là quỵ luôn, và đó cũng là tình trạng của đa số bệnh nhân tù cải tạo lớn tuổi ở K30, trong số đó có cựu đại tá (nhạc sĩ) Nguyễn Văn Đông.

[Về sau, năm 1980, Đại tá Nguyễn Văn Đông được đưa về Chí Hòa, tới 1985 được thả để về nhà… chờ chết. Tuy nhiên, như một phép lạ, có những người thân yêu bên cạnh, ông đã dần dần hồi phục và sống thêm được 23 năm nữa]

* * *

Hai ông bác sĩ quân y VNCH ở K30 khá rảnh rỗi, một ông hơi lớn tuổi suốt ngày nằm trong phòng cho nên giờ này tôi cũng không còn nhớ tên, một ông còn trẻ mang cấp bậc trung úy, gốc Bắc, tên N.

Vì không khí buồn tẻ ở K30, trừ những người nằm liệt giường và “tù xì thẩu”, đa số bệnh nhân tù cải tạo đều muốn trở về sống ở các K có người này người kia vui hơn, bởi nếu ở lại K30 cũng chẳng có thuốc men, chỉ được một ưu đãi duy nhất là ngày nào cũng được ăn bo bo, không phải độn khoai mì phơi khô!

Tù xì thẩu nói tới ở đây là một số nhỏ tù cải tạo có gia đình giàu có, qua ba đợt đánh tư sản của nhà nước CSVN vẫn bằng cách này cách khác giữ được một ít của chìm của nổi, đã sử dụng tiền bạc, quà cáp đắt tiền để mua chuộc đám giám thị ở Suối Máu đưa họ sang K30 để được thăm nuôi thường xuyên, vì thế, ít nhất cũng về mặt ẩm thực, những người tù này sống như những ông hoàng trong khi các bệnh nhân khác quanh năm chỉ có bo bo với cá khô.

Ngoài ra, mấy ông tù xì thẩu còn liên hệ với đám hậu cần nhờ mua dùm món này món khác ngoài chợ (dĩ nhiên phải trả công), và qua tiếp xúc đã được nghe những tay công an này bật mí tin này tin khác. Vì thế, ngoài việc trở thành “ân nhân” của những bạn tù đói thuốc (thuốc rê), mấy ông tù xì thẩu còn trở thành nguồn tin hấp dẫn, tương đối đáng tin cậy ở K30.

* * *

Sau mấy ngày tới K30, tôi được bác sĩ N cho biết dù không cảm thấy bất cứ triệu chứng khác thường nào trong đầu, tôi cũng nên ở lại K30 thêm một tuần lễ nữa để ông theo dõi cho chắc ăn.

Phía sau phòng khám bệnh, kế căn nhà tôi ở có một bóng cây khá lớn, dưới gốc có hai băng ghế, nơi tôi một vài anh em còn trẻ hay ra ngồi tán dóc, thỉnh thoảng có bác sĩ N tham gia. Càng về sau tôi và vị bác sĩ trẻ càng trở nên thân nhau hơn, lúc đó tôi mới biết ông không phải là một người kín đáo, ít nói như tôi đã nhận xét lúc ban đầu, trái lại ông thích trò truyện và đặc biệt có óc khôi hài, châm biếm.

Qua trò truyện với nhau, tôi được biết trên nguyên tắc hai ông bác sĩ “ngụy” nằm dưới quyền một nữ y tá công an còn rất trẻ tên X, mà mọi người gọi là “y sĩ”.

Tôi có dịp quan sát X vài lần khi cô vào phòng khám bệnh gặp bác sĩ N. Cô nói giọng Nam, có nhan sắc dưới trung bình khá xa, thân hình nhỏ thó, đã vậy còn có làn da đậm giống như lai Miên (Căm-bốt), nghĩa là không có một nét thu hút nào, hoàn toàn tương phản với “bông hồng Suối Máu”, tức H, cô con gái của viên Trung tá Giám thị trưởng trại giam Chí Hòa – Suối Máu.

Ngay lần đầu tiên được chiêm ngưỡng dung nhan và ngoại hình của H, tôi đã thông cảm với sự ghen tức của đám công an trước việc người đẹp lại trao thân cho một tay tù cải tạo!

Sáng hôm đó, tôi đang ngồi trò truyện với mấy anh em bệnh nhân dưới gốc cây sau phòng khám bệnh thì H từ khu nhà của ban giám thị trại đi xuống K30. Từ lúc cô đi gần tới cổng cho tới lúc bước vào khu nhà của nhân viên bệnh xá, tôi có được vài phút để quan sát từ khoảng cách mấy chục mét.

H là một người có nhan sắc và một thân hình khá hấp dẫn. Để độc giả có một ý niệm về nhan sắc và sức hấp dẫn của H, tôi xin so sánh với “chị Thùy”, cô y sĩ Nam kỳ ở bệnh xá Thành Ông Năm mà tôi đã mô tả trong Chương 1:

“Cô không bao giờ mặc đồ bộ đội mà cũng chẳng cuốn khăn rằn, chỉ mặc quần đen áo bà ba… Cô khoảng độ trên dưới 25, thân hình cao ráo, có nhan sắc, với mái tóc thề dài gần tới eo”.

Về nhan sắc, H có đẹp hơn “chị Thùy” hay không là tùy người đối diện (hơn nữa, tôi cũng chỉ được chiêm ngưỡng dung nhan H từ một khoảng cách) nhưng về sức hấp dẫn thì H ăn đứt. Lúc đó H đã có bầu mấy tháng, và hình như nhờ vậy mà hai vòng số 1, số 3 của cô phát triển tới mức tối đa.

H không mặc quần đen áo bà ba như “chị Thùy” mà mặc đồng phục của công an, nhưng với tôi khi ấy màu vàng không còn đáng ghét nữa bởi cái quần may bó sát không chỉ tăng sức hấp dẫn của cặp mông mà còn có tác dụng khiến cặp trường túc của H như dài thêm, cùng với mái tóc uốn quăn và dáng đi như người mẫu đã tạo ra một sức thu hút chết người!

Khi H bước gần tới cổng, một trong hai gã công an trẻ đang ngồi chồm hổm bên cạnh phòng khám bệnh buột miệng:

– Con đĩ!

Nghe chửi, tôi biết những tình tiết về chuyện tình giữa bông hồng Suối Máu và thiếu tá Y tôi đã viết ở một đoạn trên, trong đó có việc hai người được “chúc mừng” trên báo Sài Gòn Giải Phóng theo lời kể của một vài bệnh nhân tù cải tạo ở K30, không biết có được thêu dệt thêm hay không, nhưng việc đám công an cay cú trước việc người đẹp trao thân cho một tay tù cải tạo là có thật! (Chú thích 2)

Nhưng ở Suối Máu không chỉ có cô con gái viên giám thị trưởng mà cả cô y sĩ X của K30 cũng mê “sĩ quan ngụy”!

Vị sĩ quan ngụy tốt số (?) ấy không ai khác hơn là bác sĩ N.

Một buổi sáng nọ, khi H tới K30 thì chỉ có tôi và bác sĩ N ngồi trò truyện với dưới gốc cây. Thời gian này tôi đã khá thân với bác sĩ N cho nên vừa chiêm ngưỡng người đẹp, chúng tôi vừa trao đổi những lời bình phẩm không được… lành mạnh cho lắm!

Bỗng bác sĩ N nói nửa đùa nửa thật:

– Em X chỉ cần được một nửa em H tôi cũng chịu!

Rồi ông kể cho tôi nghe một cách khá chi tiết về việc ông được (bị) X ra mặt “chào mời”.

Theo lời ông, vào thời gian chưa xảy ra vụ bông hồng Suối Máu lấy thiếu tá Y, cô y sĩ công an của K30 cũng ra vẻ ta đây cấp trên lắm, nhưng sau đó đã thay đổi thái độ một cách mau chóng, không chỉ dễ chịu hơn trước mà còn tỏ ra tôn trọng chuyên môn nghề nghiệp của hai vị bác sĩ quân y VNCH.

Vào một buổi trưa thanh vắng, khi chỉ có hai người với nhau trong phòng khám bệnh, X than thở với bác sĩ N rằng trong thời gian gần đây cô cảm thấy đau ở ngực và xin ông… khám. Bác sĩ N chưa kịp hỏi han triệu chứng thì X đã cởi ngay mấy nút áo trên ngực, sẵn sàng để ông đặt ống nghe. Bác sĩ N hơi bối rối nhưng lấy lại bình tĩnh ngay, và trong khi thi hành chức năng “lương y như từ mẫu” ông đã không bỏ lỡ cơ hội quan sát, đánh giá vòng số 1 thật khiêm nhượng của cô y sĩ.

Nghe trước ngực xong, tới nghe sau lưng, chẳng thấy gì khác thường ngoài tiếng tim đập thình thịch, bác sĩ N cho X biết kết quả và nói cô yên tâm!… Nhưng mấy ngày sau, X lại xin bác sĩ N khám nữa; và tới lần thứ ba, khi X kéo bàn tay vị bác sĩ xuống thật sâu giữa hai trái tuyết lê của cô, miệng nói “em đau ở chỗ này”, thì dù vô tình tới đâu ông bác sĩ “ngụy” cũng phải hiểu được tim đen của cô y tá công an… khát tình!

Từ đó tới nay, hai ba tháng đã trôi qua, bệnh đau ngực của X vẫn không thuyên giảm, và bác sĩ N vẫn phải tiếp tục… khám!

Tuy đã khá thân với bác sĩ N, tôi cũng tế nhị không hỏi ông một câu nào về tình cảm, hay viết cho chính xác hơn, cảm tưởng (và cảm giác) của ông khi khám ngực cho cô y tá công an. Cho nên sau này tôi cứ thắc mắc mãi về đoạn kết chuyện tình đơn phương của cô y tá công an trời bắt xấu với chàng bác sĩ ngụy đẹp trai nho nhã.

* * *

Sau hơn hai tuần ở K30 tôi trở về K1, được anh em đón tiếp khá nồng hậu bởi theo thói thường, kẻ đi xa về luôn luôn có nhiều câu chuyện hấp dẫn, chưa kể tôi còn có tài… phét lác, phóng đại!

Tuy nhiên trong khi kể đủ mọi thứ chuyện, tôi đã không đề cập tới tin đồn về việc sắp có chuyển trại quy mô, để anh em khỏi xôn xao lo lắng.Nguyên trong thời gian ở K30, tôi được một số anh em bệnh nhân “thâm niên” và mấy ông tù xì thẩu có dịp tiếp xúc, trò truyện với đám công an kể lại rằng sắp tới, Cục Trại Giam sẽ đưa tù hình sự từ các nơi về Suối Máu, còn tù cải tạo ở Suối Máu sẽ được đưa đi các nơi khác. Đưa đi đâu không biết nhưng chắc chắn sẽ xa Sài Gòn hơn, và đây là nguyên nhân chính khiến tôi không kể lại cho anh em những gì mình được nghe ở K30.

Riêng tôi tự trấn an: đi đâu thì đi, miễn không bị đưa ra miền Bắc là được rồi. (Thời gian này, tù cải tạo ngoài Bắc ở các trại gần biên giới Hoa-Việt đã được đưa về vùng đồng bằng cho nên ngoài đó thiếu chỗ).

* * *

Khoảng gần cuối năm 1979, việc chuyển trại xảy ra thật. Trong số mấy trăm tù cải tạo cấp úy ở K1 bị gọi tên có tôi nhưng không có hai người ăn chung với tôi là đại úy Thiết và thiếu úy Thi. Đúng là “đời tôi cô đơn” nên đi đâu cũng đi một mình!

Rời Suối Máu vào buổi sáng, đoàn molotova đưa chúng tôi trở lại Quốc lộ 13, qua Bình Dương tới ngã ba Chơn Thành thì chạy thẳng (nếu quẹo mặt là Quốc lộ 14, đường đi Quảng Đức cũng là đường đưa tôi lên Phước Long trước đó hơn hai năm).

Từ Chơn Thành, theo Quốc lộ 13 đi lên hướng bắc sẽ tới thị xã An Lộc, trước năm 1975 là tỉnh lỵ của tỉnh Bình Long, nay thuộc tỉnh Sông Bé.

[Sau này, tới năm 1988 Sông Bé tách ra làm hai tỉnh: Bình Dương và Bình Phước – gồm lãnh thổ hai tỉnh Bình Long, Phước Long trước năm 1975, tỉnh lỵ đặt tại thị trấn Đồng Xoài]

Nhưng trước khi tới An Lộc, đoàn xe đã quẹo trái đi về hướng tây mà không anh em nào trên xe của tôi biết là đi về đâu. Xe chạy trên một con đường đất ghồ ghề lồi lõm, hai bên là rừng rậm, đi một hồi thì tới một khoảng đất trống có một cái quán mái tranh vách đất, gần đó là mấy căn nhà cũng mái tranh vách đất bỏ hoang, mà sau mày chúng tôi được biết đó là tất cả những gì còn sót lại của một làng kinh tế mới.

Từ cái quán, đoàn xe tiếp tục đi về hướng tây vài cây số, tới một cái cổng có công an gác, bên trong cổng, hai bên đường là nương rẫy xanh tốt, rồi tới một khu nhà mái tôn vách ván, thấp thoáng bóng công an, và đoàn xe dừng lại. Chúng tôi được lệnh xuống xe.

Theo lời “chào mừng” của một tay công an trong Ban giám thị, chúng tôi được biết đây là trại tù Tống Lê Chân.

Vừa nghe ba chữ “Tống Lê Chân”, lòng tôi bỗng nổi lên một cảm xúc buồn vui lẫn lộn, bởi đây là một địa danh nổi tiếng trong những năm tháng cuối cùng của cuộc chiến, nơi đã chứng kiến cuộc tử thủ bi hùng của Tiểu Ðoàn 92 Biệt Động Quân Biên Phòng trước cuộc bao vây tấn công kéo dài nhất trong chiến tranh Việt Nam, và theo nhà văn Phan Nhật Nam, cũng là dài nhất trong lịch thế giới: 510 ngày, mà giờ đây tôi được vinh dự đặt chân tới, dẫu chỉ với tư cách một tên tù cải tạo!

Tiền đồn Tống Lê Chân

Cũng xin có đôi dòng về Tống Lê Chân để độc giả nào chưa đọc các bài viết liên quan có chút ý niệm về địa danh oai hùng này.

Tống Lê Chân là phiên âm sang tiếng Việt của “Tonlé Tchombe”, nguyên là tên tiếng Miên của vùng này (trước kia thuộc Căm-bốt).

Theo lời kể của một số cụ già thì tên “Tống Lê Chân” có từ năm 1956, khi Tổng thốngNgô Đình Diệm thực hiện chính sách dân tộc chủ nghĩa, đã cho thay đổi và Việt hóa nhiều địa danh trên lãnh thổ VNCH, như Bù Đốp thành Bố Đức, B’lao thành Bảo Lộc… và Tonlé Tchombe đã trở thành Tống Lê Chân.

Tống Lê Chân là một ngọn đồi thấp, thoai thoải về hướng bắc, ngày nay nằm giữa hai xã Minh Tâm, Minh Đức thuộc huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước. Phía bắc là biên giới Việt – Miên, phía đông là thị xã An lộc, phía nam là hai huyện DầuTiếng và Chơn Thành của tình Bình Dương, phía tây là huyện Tân Châu của tỉnh Tây Ninh.

Như vậy Tống Lê Chân chỉ cách trại cải tạo Đồng Ban ở huyện Tân Biên, nơi chúng tôi ở trước khi đi lên Phước Long, khoảng 20-25 cây số đường chim bay.

Về mặt chiến thuật, Tống Lê Chân là một vị trí rất quan trọng, chỉ cách vùng Mỏ Vẹt của Căm-bốt 13 cây số về hướng Tây Bắc, và nhìn xuống con đường huyết mạch nối liền Cục R (Trung ương Cục miền Nam của Đảng CSVN) với vùng Tam giác sắt của Việt Cộng.

Năm 1967, nằm trong chương trình CIDG (viết tắt từ Civilian Irregular Defense Group), tiếng Việt gọi là Dân Sự Chiến Đấu, người Mỹ đã xây dựng một trại Biệt kích vừa có mục đích phòng thủ vừa để huấn luyện tại Tống Lê Chân.

Năm 1970, trong chương trình Việt Nam hóa chiến tranh, Hoa Kỳ đã bàn giao các trại biên phòng cho QLVNCH, Lực Lượng Dân Sự Chiến Đấu được cải danh thành Biệt Động Quân Biên Phòng.

Trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, Việt Cộng đồng loạt tấn công vào Lộc Ninh, Chơn Thành và An Lộc. Các căn cứ tiền đồn biên phòng như Thiện Ngôn, Cà Tum, Bổ Túc, Bù Gia Mập lần lượt rút lui trước áp lực của quân cộng sản. Chỉ duy nhất căn cứ Tống Lê Chân của Tiểu Đoàn 92 Biệt Động Quân Biên Phòng, do Thiếu tá (sau lên Trung tá)Lê Văn Ngôn làm tiểu đoàn trưởng, với quân số trên dưới 300 người, không rút lui mà vẫn tiếp phòng ngự trước sự phong tỏa, tấn công của 10,000 quân thuộc bốn sư đoàn địch (sau khi Lộc Ninh bị thất thủ và thị xã An Lộc đã bị bao vây).

Sau 510 ngày cầm cự, tới ngày 11-4-1974 Tiểu Đoàn 92 Biệt Động Quân Biên Phòng mới mở đường máu rút khỏi căn cứ này, lực lượng hầu như còn nguyên vẹn, trong đó có 50 thương binh.

Cố Trung tá Lê Văn Ngôn, xuất thân Khóa 21 Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt.

Sau năm 1975, ông bị chế độ CSVN bắt đi “học tập cải tạo” và bỏ mình tại miền Bắc vì kiệt sức. Nhìn khu nhà tương đối khang trang so với ở Đồng Ban hay Phước Long, với những cái sân sạch sẽ có bóng cây tôi đã lạc quan tếu, chỉ sau khi bị đưa sang phía sườn đồi cách đó khoảng 100 mét, tôi mới biết mình mừng hụt: khu nhà mái tôn vách ván trên đồi là nhà của ban giám thị và công an coi tù, còn chỗ ở của tù cải tạo là những dãy nhà tranh tối tăm lụp xụp, vách làm bằng những thanh tre không đủ che mưa gió!

Khu vực chính để nhốt tù cải tạo ở Tống Lê Chân là một mảnh đất vuông vức, mỗi bề khoảng ba, bốn trăm mét. Từ cổng đi vào là một cái sân rất rộng để tù cải tạo ngồi nghe cán bộ “lên lớp”, cũng là nơi tập họp mỗi buổi sáng để nghe phân công lao động trong ngày.

Ba mặt sân là những dãy nhà dành cho tù cải tạo, phía sau các dãy nhà đối diện với cổng ra vào là hai giếng nước rồi tới một cái ao nhân tạo khá lớn, không biết có từ bao giờ, chỉ biết nay không còn sử dụng vào việc gì được nữa vì nước quá dơ bẩn. Sau cùng là dãy nhà cầu.

Chung quanh trại có hai lớp hàng rào. Lớp bên trong làm bằng tre che kín mít, không nhìn thấy phía bên ngoài. Lớp thứ hai là hàng rào kẽm gai kiên cố không thua gì ở Thành ông Năm. Ở bốn góc trại là bốn vọng gác có đặt súng máy.

Bên cạnh khu vực nhốt tù chính nói trên còn có một khu phụ nhỏ hơn, có lối đi thông với khu vực chính. Khu phụ này nằm sát với khu nhà của ban giám thị trại, gần một con suối khá lớn, cũng giống như con suối ở Phước Long, nằm trong số hàng trăm con suối tạo thành thượng nguồn sông Sài Gòn.

Khu phụ này chỉ có hai dãy nhà, cũng mái tôn vách ván như nhà của ban giám thị nhưng cũ kỹ, vá víu, được dành cho tù cải tạo cấp tá được đưa đến vào đầu năm 1979.

Khi đám tù K1 Suối Máu chúng tôi được đưa tới Tống Lê Chân, tại khu nhà chính – tức những dãy nhà tranh tối tăm lụp xụp – đã có sẵn một số tù cải tạo từ cấp đại úy trở xuống được đưa tới bằng nhiều đợt từ nhiều nơi khác nhau, trong đó có những người từng ở Trảng Lớn, Phước Long với tôi. Gặp lại nhau tay bắt mắt mừng, họ lại tiếp tục gọi tôi bằng biệt danh “Sáu Lèo”.

Theo những tù cải tạo ở Tống Lê Chân thâm niên nhất, ở đây không có nhà thăm nuôi, bởi chưa bao giờ có thăm nuôi!

Chú Thích:

(1) Sau này người ta được biết ngay từ đầu, mục đích của Đặng Tiểu Bình khi xua quân xâm lược sáu tỉnh phía bắc của VN chỉ là để cho CSVN “một bài học” rồi rút quân về.

Có hai nguyên nhân khiến Trung Cộng không tiến xa hơn. Thứ nhất là lo ngại Liên Xô can thiệp.

Sau khi Hoa Kỳ và Trung Cộng bắt tay nhau năm 1972, một việc mà CSBV xem là một sự phản bội của Bắc Kinh, Hà Nội đã nghiêng hẳn về phía Mạc-tư-khoa.

Sau khi thống nhất hai miền nam bắc, năm 1977, Tổng Bí thư Đảng Lê Duẩn và Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng nhau sang chầu Mạc-tư-khoa, trong khi trước đó chỉ có một mình Lê Duẩn đi Bắc Kinh một chuyến ngắn vào năm 1975 sau khi chiếm được miền Nam, và sau chuyến viếng thăm ấy đã không hề có một thông cáo hoặc tuyên bố chính thức nào của phía CSVN!

Vào thời gian này trong số các quốc gia cộng sản chỉ có một mình Căm-bốt (Campuchia) của Khmer Đỏ theo Trung Cộng, còn tất cả các quốc gia ở Đông Âu, Cuba, Mông Cổ đều theo phe Liên Xô; riêng Mông Cổ còn để Liên Xô đem quân vào đóng dọc theo biên giới Mông Cổ – Trung Cộng. Về phần Bắc Hàn tuy không chính thức theo phe nào nhưng ngay từ đầu quan hệ giữa Bình Nhưỡng và Mạc-tư-khoa luôn luôn tốt đẹp hơn nhiều so với Bắc Kinh. Còn Cộng sản Lào thì coi như không đáng kể!

Viết Thêm:

Kim Nhật Thành, lãnh tụ sáng lập chế độ cộng sản Bắc Hàn, lúc đầu theo cộng sản và tham gia kháng chiến chống Nhật ở Trung Hoa, nhưng vào thời gian Đệ nhị Thế chiến kết thúc, ông ta là một Đại úy trong Hồng Quân Liên Xô, chỉ huy lực lượng du kích kháng chiến gốc Triều Tiên được các sĩ quan Liên Xô huấn luyện, gọi là Lữ đoàn bộ binh độc lập 88 thuộc Quân Khu Viễn Đông của Liên Xô.

* * *

Ngày 29 tháng 6 năm 1978, Việt Nam gia nhập Hội Đồng Tương Trợ Kinh Tế (tiếng Anh viết tắt là COMECON) gồm các quốc gia theo phe Liên Xô. Mấy ngày sau, Trung Cộng tuyên bố cắt hết viện trợ và rút toàn bộ chuyên gia đang làm việc tại Việt Nam về nước.

Ngày 12 tháng 7 năm 1978, lần đầu tiên, tờ Nhân Dân Nhật Báo của Đảng Cộng sản Trung Hoa công khai cáo buộc CSVN “đang tìm cách sáp nhập Campuchia vào một Liên bang Đông Dương dưới sự thống trị của Việt Nam”.

Ngày 3 tháng 11 năm 1978, CSVN và Liên Xô ký “Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác”. Ngoài các điều khoản về hợp tác thương mại và văn hóa, hiệp ước này còn có những thỏa thuận về quốc phòng, giống như một hiệp ước phòng thủ chung.

Hiệp ước này được giới quan sát đương thời xem như một sự bảo đảm Liên Xô sẽ can thiệp nếu Việt Nam bị Trung Cộng tấn công!

Vì thế, mặc dù CSVN đem quân xâm lược Căm-bốt trước (7-1-1979), khi trả đũa bằng cách tiến đánh các tỉnh phía bắc của Việt Nam hơn một tháng sau đó (17-2-1979), Trung Cộng cũng rất lo ngại Liên Xô sẽ nhảy vào vòng chiến – phía bắc từ biên giới Mông Cổ, phía nam từ biển Đông – cho nên họ vừa đánh vừa thăm dò phản của Mạc-tư-khoa.

Nhưng những gì diễn ra sau đó cho thấy Liên Xô đã chẳng dại dột chạm nọc Đặng Tiểu Bình bằng cách trực tiếp tham chiến để bảo vệ một đàn em ở xa lắc xa lơ, hơn nữa thời gian này Mạc-tư-khoa đang dồn mọi nỗ lực vào việc đem quân xâm lược A-phú-hãn.

Thành thử tất cả những hỗ trợ của Liên Xô cho CSVN sau khi Trung Cộng xua quân đánh chiếm các tỉnh phía bắc của Việt Nam chỉ là đưa một số vận tải cơ An-12 (tương đương C-130 của Mỹ) tới giúp vận chuyển bộ đội trong Nam về bảo vệ miền Bắc, và đem mấy chiến hạm thuộc Hạm đội Thái bình dương từ Vladivostok (Hải Sâm Uy) xuống vịnh Bắc Việt để “đảm bảo hành trình an toàn cho các tàu vận tải từ Vladivostok, Nakhodka và Odessa chở hàng tiếp tế cho Việt Nam. Trong thời gian chiến sự, 6 tàu thủy Liên Xô đã tới cảng Hải Phòng vận chuyển kỹ thuật quân sự, kể cả tên lửa và thiết bị radar dành cho Việt Nam” (trích nhật ký của trung tá hải quân Nga Vladimir Glukhov).

* * *

Nguyên nhân thứ hai khiến Trung Cộng chỉ xua quân đánh phá các tỉnh biên giới bắc của VN rồi rút quân về là vì họ không muốn bị mang tiếng “ăn hiếp nước nhỏ”, mà cứ để cho thế giới trừng phạt CSVN về tội xâm lược Căm-bốt theo các nghị quyết của Liên Hiệp Quốc.

Sau này, đa số sử gia quân sự cũng như các nhà bình luận thời cuộc còn tin rằng khi Trung Cộng ra lệnh cho đàn em Khmer Đỏ gây hấn, đánh phá biên giới phía tây nam (của VN) chính là để “dụ” CSVN đem quân xâm lược Căm-bốt, để rồi bị sa lầy, bị cả thế giới lên án!

Hậu quả, ngày 11-1-1979, việc Việt Nam đưa quân xâm lược Căm-bốt được đưa ra Đại hội đồng LHQ, và trong số 154 quốc gia hội viên chỉ có 3 nước bênh vực VN là Liên Xô, Tiệp Khắc và Cuba.

Việc CSVN bị cả thế giới cô lập trong những năm kế tiếp đã cho thấy tập đoàn Trung Nam Hải nói chung, cá nhân Đặng Tiểu Bình nói riêng, cao tay ấn hơn đám lãnh đạo hiếu chiến và đầy tham vọng ở Bắc Bộ Phủ rất nhiều!

* * *

Tới đây, chúng tôi xin được trở lại với câu hỏi ở đầu:

Tại sao vào sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, khi lực lượng hùng hậu gồm 120.000 quân Trung Cộng tiến vào lãnh thổ Việt Nam trên toàn tuyến biên giới, tướng Võ Nguyên Giáp vẫn không tăng cường các đơn vị chủ lực tới biên giới, nơi chỉ có bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, và các trung đoàn độc lập trấn giữ?

Việc Trung Cộng xua quân xâm lược Việt Nam vào tháng 2-1979, giới quan sát tình hình đều đoán trước.

Riêng tướng Võ Nguyên Giáp, trong cương vị Bộ trưởng Quốc phòng phải thấy rõ và thấy trước hơn ai hết. Lẽ ra, ngay sau khi cho quân xâm lược Căm-bốt vào tháng đầu tháng 1-1979 để lật đổ đàn em của Trung Cộng là Pol Pot, họ Võ đã phải chuẩn bị; hoặc muộn lắm là tới cuối tháng, khi Đặng Tiểu Bình trong chuyến thăm Mỹ đã không tiếc lời án Việt Nam xâm lược Căm-bốt và nói rằng “Trung quốc không thể tiếp tục khoanh tay nhìn Việt Nam gây rối loạn khắp nơi”, báo chí Mỹ tiên đoán sớm muộn cũng sẽ xảy ra một cuộc chiến giữa hai “anh em cộng sản”, ông ta đã phải lo dàn quân ở biên giới phía bắc.

Thế nhưng tờ mờ sáng 17-2-1979, khi 120.000 lính Trung Cộng tràn qua biên giới dài hơn 1.400 km của sáu tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh, đồng loạt tấn công 26 địa điểm, quân dân VN tại đây không hề biết trước. Dân chúng hoàn toàn không nhận được bất cứ thông báo nào để lo di tản; hậu quả là ông già bà lão, trẻ em, phụ nữ kể cả những người đang mang thai, đều bị bọn Tàu cộng man rợ phanh thây!

Những sự thật được phơi bày sau này cho thấy ngày ấy tình báo của Quân Đội Nhân Dân VN biết rất rõ, tuy nhiên Võ Nguyên Giáp đã quyết định… nướng dân!

Chúng tôi xin trình bày một cách chi tiết như sau:

Để cho đàn em CSVN “bài học thứ nhất”, Trung Cộng đã huy động một lực lượng gồm 300.000 quân, 550 chiến xa, 480 khẩu trọng pháo, 1.260 súng cối, súng phóng hỏa tiễn…, mà theo các giới quan sát tây phương, ít nhất Trung Cộng cũng phải mất từ 60 tới 90 ngày để đưa quân vào vị trí xuất phát các cuộc tấn công, thì chắc chắn tình báo Quân Đội Nhân Dân VN và Võ Nguyên Giáp phải biết.

Nhưng ngay từ đầu, họ Võ cứ đinh ninh (sai lầm một cách tại hại) sau khi vượt biên giới phía Bắc, Trung Cộng sẽ tiến đánh Hà Nội để trả đũa việc CSVN đánh chiếm Phnom Penh (Nam Vang) cho nên viên tướng này đã giữ lại năm sư đoàn chủ lực để lập “Phòng Tuyến Sông Cầu” (Bắc Ninh – Bắc Giang) với mục đích bảo vệ Hà Nội.

Vì thế 6 tỉnh biên giới phía Bắc bị bỏ ngỏ một cách tàn nhẫn, phải tự lực chiến đấu trong tuyệt vọng.

Thị trấn Cao Bằng sau cuộc chiến

Tới đây, chúng tôi xin độc giả tạm quên đi ý thức hệ, chính kiến, chiến tuyến, màu cờ, để có một cái nhìn thật khách quan về cuộc chiến chống quân Trung Cộng xâm lược ở 6 tỉnh phía Bắc năm 1979, từ đó phải cảm phục tinh thần chiến đấu của quân dân miền địa đầu, tương tự hiện nay không ít người cộng sản đã và đang ca tụng tinh thần chiến đấu dũng cảm và sự hy sinh cao quý của các chiến sĩ Hải Quân VNCH trong trận Hoàng Sa (1974).

Lấy trận Đồng Đăng làm thí dụ điển hình:

Trọng điểm bảo vệ thị xã là pháo đài Đồng Đăng rất kiên cố xây từ thời Pháp, do 2 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn Tây Sơn, Sư đoàn Sao Vàng, trấn giữ, vào sáng ngày 17-2-1979 đã bị một lực lượng Trung Cộng đông gấp 10 lần tấn công, gồm 2 sư đoàn bộ binh, 1 trung đoàn chiến xa, với sự yểm trợ hùng hậu của pháo binh.

Dù không hề được chi viện, lực lượng phòng thủ cũng đã giữ vững pháo đài được 22 ngày đêm, trước khi hy sinh tới người lính cuối cùng. Sau này, người dân thị xã kể lại rằng: sau khi đã chiếm được khu vực bên ngoài pháo đài, quân Trung Cộng phát loa kêu gọi đối phương cố thủ bên trong ra đầu hàng, nhưng không có hiệu quả. Sau đó chúng cho chở chất nổ tới phá sập cửa chính, rồi dùng súng phun lửa, phun hơi độc, và quăng lưu đạn vào các lỗ thông hơi, giết tất cả mọi người ở bên trong pháo đài, trong số đó có các thương binh và dân chúng chạy vào lánh nạn, và cuối cùng sử dụng 10 tấn chất nổ biến pháo đài thành đống đá vụn.

Tàn tích của pháo đài Đồng Đăng

CSVN lúc đó có ít nhất 5 sư đoàn đang đóng quân ở miền Bắc, nếu Võ Nguyên Giáp cho lực lượng này tham chiến ngay từ đầu, chắc chắn tình thế, và thiệt hại của phía Việt Nam đã khác hẳn.

Điều mỉa mai khôi hài là tới ngày 5 tháng 3, khi CSVN ra lệnh tổng động viên, “nhà quân sự lỗi lạc nhất của mọi thời đại” đưa những sư đoàn chủ lực, chiến xa, pháo binh từ Căm-bốt trở về để chống quân Trung Quốc xâm lược, thì cũng là ngày Trung Cộng tuyên bố “đã hoàn thành mục tiêu của cuộc trừng phạt, chiến thắng vẻ vang”, và ra lệnh rút quân!

“Phòng Tuyến Sông Cầu” để bảo vệ thủ đô Hà Nội trở nên trơ trẽn, chìm vào lãng quên. Nhưng vết thương chiến tranh ở sáu tỉnh biên giới phía Bắc sẽ không bao giờ lành: hai thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng bị hoàn toàn bình địa, 320/320 xã, 735/904 trường học, 428/430 bệnh viện, bệnh xá, 41/41 nông trường, 38/42 lâm trường, 81 xí nghiệp, hầm mỏ và 80.000 mẫu tây hoa màu bị phá hủy, 400.000 gia súc bị giết hoặc bị cướp mang đi; khoảng phân nửa trong số 3.5 triệu dân bị mất toàn bộ nhà cửa, tài sản…, chưa kể một phần giang sơn gấm vóc đã bị Trung Cộng chiếm đoạt vĩnh viễn!

Cho nên cũng là điều dễ hiểu khi trong tất cả các bài ca tụng chiến công của “Napoléon Đỏ” Võ Nguyên Giáp, các tay bồi bút của chế độ CSVN đã không hề nhắc tới “chiến thắng Trung Quốc ở sáu tỉnh miền Bắc”, đồng thời trong danh sách “10 danh tướng bị đại bại dưới tay Võ đại tướng” cũng không thấy nêu tên Thượng tướng Dương Đắc Chí, viên tướng chỉ huy cuộc xâm lược này, về sau trở thanh Tham mưu trưởng Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc!

(2) Sau khi bị đưa lên trại cải tạo Tống Lê Chân, tôi không còn nghe tin tức gì về thiếu tá Y và “bông hồng Suối Máu” nữa. Sau khi được thả về, vì không gặp lại một bạn tù Suối Máu nào, tôi cũng không có dịp khơi lại chuyện tình quốc – cộng ấy trong những buổi gặp gỡ bạn tù cũ.

Cho tới gần 30 năm sau…

Trong một buổi trà dư tửu hậu giữa anh em cựu quân nhân Không Quân VNCH định cư tại Úc, kể chuyện về thời gian tù cải tạo ở Suối Máu, khi tôi nhắc tới tên thiếu tá Y và cô con gái của trung tá công an Đào Lưỡng, một anh bạn cùng phi đoàn với thiếu tá Y đã kể lại đoạn kết như sau:

Ra khỏi trại Suối Máu, ông Y chung sống với H và H sinh một đứa con trai. Tới khi có chương trình HO, ông Y không làm đơn xin đi Mỹ mà ở lại với H.

Theo lời anh bạn phi công nói trên, trong anh em cùng phi đoàn có dư luận nói rằng đứa con trai H sanh ra không phải là con của ông Y, mà “tác giả” là một tay thiếu tá công an ở Suối Máu (tôi đoán có lẽ là Giám thị Bằng, người thay mặt Đào Lưỡng tại Suối Máu mà tôi đã nhắc tới trong phần viết về cuộc nổi dậy đêm Giáng Sinh 1978).

Cũng theo dư luận trên, sau khi con gái có bầu với viên thiếu tá, trung tá Đào Lưỡng đã dụ thiếu tá Y nếu chịu “đổ vỏ” thì sẽ được thả sớm, và ông Y nhận lời.

Tuy nhiên, nếu quả thật đứa con trong bụng H không phải của thiếu tá Y, một câu hỏi phải được đặt ra: tại sao khi có chương trình HO ông không sang Hoa Kỳ đoàn tụ với vợ con (đã di tản vào tháng 4-1975)?

Vì ông thật lòng yêu (hoặc say mê) H nên chấp nhận làm kẻ “đổ vỏ”? Vì ông bị vợ con bên Mỹ “từ” sau khi ông lấy H? Vì ông đã “đăng ký kết hôn” với H nên nếu đi Mỹ phải mang H theo? Vì bị Đào Lưỡng tìm cách ngăn cản?…

Không ai có câu trả lời. Chỉ biết sau này ông Y làm công nhân cho một hãng xưởng hay xí nghiệp nào đó. Với anh em cùng phi đoàn còn ở Việt Nam, ông hạn chế liên lạc, gặp gỡ.

Cách đây hơn 10 năm, ông Y bị suy yếu sức khỏe trầm trọng, phải nghỉ việc, gia cảnh rất túng thiếu. Anh em cùng phi đoàn ở hải ngoại gom tiền, cử người đại diện trao tận tay ông. Người anh em này kể lại khi tới nhà có thấy thấp thoáng bóng một phụ nữ còn khá trẻ, có lẽ là “bông hồng Suối Máu” năm nào.

Mấy năm sau, thiếu tá Y qua đời. Gần đây, tôi đọc được ở đâu đó thấy có người viết rằng sau này trung tá công an Đào Lưỡng bị lột lon và bị ngồi tù về tội gì đó, không biết thực hư ra sao.

Nguyễn Hữu Thiện

Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 28 May 2025

Có Một Ngày
Chu Tất Tiến

Có một ngày, tôi sẽ về
Thăm lại Cà Tum, Suối Máu
Thăm những con đường chúng tôi đã đắp năm xưa
Tôi muốn nâng niu
Những dấu chân đất sét hoang sơ
Sau cơn mưa rừng, tưởng rút lên không nổi

Tôi muốn xem lại
Những hố bom lầy lội
Nước đục ngầu như sữa, rong rêu
Đã là nơi anh em ngụp lặn mỗi chiều
Lao động vinh quang về, hú nhau xuống tắm .

Và những bụi măng
ta cám ơn ngươi nhiều lắm!
Đã cùng rau dền, quả bứa, trái cơm
Rau tầu bay, hay lá dang thơm
Cưu mang anh em ta, chờ ngày phục hận

Tôi sẽ đi thăm những gốc le đầy rận
Vắt tung bay, tanh tách, bám hơi người
Chỗ năm xưa, trải lá ngồi chơi
Ôm đầu gối tưởng như ôm em quằn quại
Mặc bên tai, bọn chăn trâu lải nhải
Hồn vẫn quay về một chốn xa xôi
Nơi em và con đang đổ mồ hôi
Những cặp mông mũm mĩm
những tiếng cười như ngọc.

Lá trên rừng – có đôi lần
Nhìn tôi bật khóc
Nước mắt căm hờn,lã chã
Rơi
Rơi

Tôi sẽ về thăm một chốn – rất vắng người
Chỗ gò mả – những Anh Hùng yên nghỉ
Những miếng ván, những tấm bia kỳ dị
Khắc bằng dao, chỉ mỗi một tên người
Họ nằm đây, thân lổ chổ tơi bời
Đầy vết đạn, vết xương rời gãy .

Tôi sẽ không cắm hoa
Bởi không vinh quang nào, họ thèm lấy
Tôi cũng không thắp nhang
Bởi khí phách đã huy hoàng
Tôi cũng chẳng cầu trời
Bởi họ là Thần lẫm liệt
Đất mẹ đón họ về, ngời ngời khí tiết

Và một điều, cần làm hơn hết
Là thăm quê hương tôi
Dãi chữ S nghèo nàn
Bốn ngàn năm từng vùng vẫy, ngang tàng
Sẽ còn trăm, ngàn, triệu năm
vùng vẫy, ngang tàng…

Chu Tất Tiến

Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 28 May 2025

Chim Hót Ngoài Song
Đỗ Quý Sáng

Tháng 7-1975, mùa hè ở vùng New England thật là êm ả. Bọn sinh viên Việt Nam ở Hải ngoại lại tập họp về trại hè. Lần này tôi đem theo gia đình vì vợ và con tôi chạy thoát được ra ngoài. Năm ngoái, 1974, ở Đại Hội Sinh Viên Trại Hè tại Chicago, tôi bị chỉ định mặc áo dài khăn đóng để đóng vai cô dâu chú rể. Lúc ấy mấy gã độc thân trai trẻ không anh nào dám đóng vai chú rể, sợ bị vướng thật. Còn tôi, vợ ở Việt Nam, mà tôi lại có kinh nghiệm lấy vợ từ 1971 nên chi đóng vai chú rể hẳn là không khó. Năm nay, tôi nghiễm nhiên là một lão sinh viên. Thật quả lần này, không thể ngờ được, là tôi lại đoàn tụ gia đình bên Mỹ. Dẫn vợ đi đại hội sinh viên tôi cũng nhột lắm, nhưng không thể nào để hai mẹ con bơ vơ ở nhà. Bà vợ quê mùa của tôi sẽ phải ăn nói ra sao với bọn nữ sinh viên du học tân tiến? Lại còn cháu bé ba tuổi! Bạn bè có chế giễu tôi là lão sinh viên không? Sinh viên mà có vợ con thì kể như đi tiêu rồi. Suy nghĩ thì vậy nhưng mà không đem vợ con đi theo đại hội thì kể như cuộc đời còn rắc rối hơn. Thôi, cũng liều nhắm mắt đưa chân. Tôi là chủ bút tờ báo sinh viên, dứt khoát phải đi phó hội. Số báo “Chuông Việt” đã phát hành, tôi phải đem theo. Số báo này có một bài gay cấn do ông Nguyễn Xuân Nhị viết. Ông Nhị là nhân viên ngoại giao Tòa Đại Sứ của ta ở Thái. Là một người có kinh nghiệm đấu tranh với Cộng Sản… ông tiên đoán Cộng Sản sẽ bắt đầu giở thủ đoạn. Bài viết của ông dựa trên giả thuyết… cứ theo những quan điểm của Cộng Sản… thì đây là việc chúng sẽ làm… Từ đó ông suy diễn ra những hành động đổi tiền, tịch thu tài sản, bắt lao động cưỡng bách…, thủ tiêu người quốc gia. Vài anh em sinh viên trẻ khi duyệt bài của ông Nhị thì có vẻ ái ngại. Bởi cái tinh thần học ở bên Mỹ nó rất thơ ngây. Có anh suy diễn: Việt Cộng không ngu dại gì lại bỏ lỡ cơ hội hòa giải hòa hợp. Nhất định không có bắt bớ, họ khẳng định! Họ cũng phê bình lối viết giả tưởng, một lối viết họ cho là bóp méo sự thật.

Là chủ bút tờ báo sinh viên duy nhất ở đất Mỹ lúc đó, tôi thật sự đem bàn cân ra suy nghĩ. Ông Nhị bảo vệ cho quan niệm của ông. Ông cho rằng ông không viết theo giả tưởng. Bọn sinh viên du học Mỹ quá thơ ngây đến độ bị lừa bịp. Làm gì có chuyện hòa giải hòa hợp. Bọn Vẹm nhất định tiên hạ thủ vi cường. Ông ký bút hiệu Nhị Nguyên và nói rằng Cộng Sản chúng theo lối độc đạo… độc nhất nguyên. Ông đứng trên quan điểm nhị nguyên để soi sáng vấn đề.

Cuối cùng thì tôi quyết định đăng bài của ông Nhị Nguyên. Tôi nghĩ rằng cả trăm ngàn người dọt chạy nạn Cộng Sản, nhất định phải có lý do. Chiến tranh đã chấm dứt, một bên thắng một bên thua, bên thua cảm thấy như thế cũng xong, bây giờ là lúc chờ xem.

Khi báo được phân phối vào buổi sáng thì buổi trưa một tốp sinh viên kéo đến chất vấn tôi và kết án việc cho đăng bài chống Cộng trong một cuộc chiến đã ngã ngũ. Thôi thì họ làm đủ thứ ồn ào. Tôi cắt nghĩa cho họ thế nào là tự do tư tưởng. Tôi đòi hỏi họ phải áp dụng những giá trị cơ bản đó trong quan điểm phê phán. Những người này quả quyết không có vấn đề biển máu. Tôi cho rằng trăm ngàn người bỏ chạy đã nói lên chính xác của dự phóng. Tất nhiên mấy người phản chiến không chịu luận điệu này. Vả lại họ đã khoác cho họ một chiếc áo choàng chiến thắng, muốn đồng hóa họ với phe thắng trận, kiếm chút thỏa mãn tự ái. Thuyết phục những người này lúc hai bên còn lâm chiến bất phân thắng bại đã khó. Khuất phục họ lúc thế cờ của họ đang lên khó khăn bằng đi lên trời. Họ cho rằng những người bỏ chạy là nạn nhân của chính đường lối tuyên truyền ngáo ộp hóa Cộng Sản. Rất mừng là kỳ đại hội sinh viên này có khá nhiều thân nhân của sinh viên đi theo. Dân số chống Cộng ở đại hội vẫn đè bẹp phe thiểu số đón gió hào quang chiến thắng. Nhất là những người này vừa từ quê hương tị nạn chạy qua. Có hay không có biển máu cho những người xấu số kẹt lại bên nhà trở nên một đề tài nóng bỏng ngoài những đề tài liên quan đến vai trò sinh viên du học đối với công cuộc trợ giúp đồng hương.

Trong những người không tin có biển máu phải kể nhóm đi theo tàu Việt Nam Thương Tín trở về. Số phận những người này cũng chưa có tin tức gì xác nhận vào lúc ấy.

Đề tài phải thích ứng với đời sống mới như thế nào trở nên sôi nổi bởi vì sinh viên du học lâu nay không được phép làm việc trên đất Mỹ. Anh em phần lớn chỉ có kinh nghiệm làm bồi bàn và rửa chén ở mấy tiệm ăn Tầu. Nay phải đi kiếm job, họ cũng không tài ba gì hơn người mới qua là bao nhiêu. Đặc biệt họ lại mù tịt trong vấn đề các chương trình xã hội … bởi vì chính họ… từ trước tới nay không có điều kiện thụ hưởng.

Đề tài Biển Máu do đó sôi nổi được một lúc rồi… lạnh luôn. Không phải dùng lý luận cũng hiểu là tâm lý ai cũng không muốn có biển máu xẩy ra. Lý luận một hồi cũng đâm ra nhàm bởi vì nếu có biển máu thì chúng ta làm được gì? Không ai muốn đặt cho mình vào vị thế khó xử! Quan điểm ngầm là lạy trời không có biển máu xảy ra! thế thôi. Trong khi đó biết bao cơ cực và đầy ải xảy ra trên khắp các vùng đất nước mà người ở ngoài không sao biết được.

Vào những năm đầu tiên tin tức về Việt Nam quá mù mờ. Dần dần nhờ các vụ vượt biên, đi chui hoặc đăng ký của thuyền nhân mà một số dữ kiện về học tập cải tạo tù đầy được tiết lộ. Tin tức liên quan đến thảm sát và diệt chủng ở Campuchea được thế giới chú ý đến hơn. Chiến tranh Hoa – Việt vào cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80 lại càng làm số phận những người tù cải tạo không được chú ý đến. Dần dần các phong trào ở hải ngoại tranh đấu mỗi lúc lên cao và tin tức về số phận nửa triệu người bị cầm tù trong các trại cải tạo được phơi bày.

Bên Âu Châu lúc đầu có nhiều tin tức sốt dẻo hơn, vì số người được cho phép rời Việt Nam qua Pháp dễ dàng hơn bởi quan hệ ngoại giao hai nước. Từ năm 1976, tôi đã được nghe những chuyện lạ đời như nhổ một củ khoai ăn lén là bị cán bộ Cộng Sản bắn chết. Đối với đời sống no đủ ở ngoại quốc và ở nơi mà nhân quyền được tôn trọng, câu chuyện khủng khiếp như vậy không mấy ai tin. Ban đầu người ta còn hồ nghi vì không ai nghĩ Cộng Sản lại có thú tính dã man như thế. Tin này dồn dập với tin kia và nhân chứng sống mỗi ngày mỗi đông, không tin cũng không được.

Ông Nhị Nguyên nói thế mà đúng… những sự thật về Cộng Sản không thể phủ nhận. Tôi tự hào với sự chọn lựa đăng bài của Nhị Nguyên và thầm nhủ đáng lẽ… chả có gì là tự hào mới đúng bởi vì nếu có kinh nghiệm đấu tranh lẽ ra phải… nhìn rõ như hai với hai là bốn. Những lý luận rằng Cộng Sản Việt Nam không áp dụng lối biển máu như ở Campuchea tức là chúng nhân đạo hơn, liên tiếp bị những nhân chứng sống phản ứng mạnh mẽ. Ai cũng cho rằng Cộng Sản Việt Nam tinh vi ác độc hơn… chúng bóc lột sức lao động và hành hạ đầy ải người thất trận một cách vô nhân đạo, để cho người bị cầm tù sống dở chết dở… mà không mang tiếng xấu quốc tế.

Mỗi câu chuyện tôi nghe kể làm ghê rợn và ơn ớn ở khắp cơ thể không phải chỉ ở cổ của người bị cắt tiết, không phải chỉ ở cổ chân nơi bị xiềng xích, không phải chỉ ở khuỷu tay bị đánh gẫy rồi đem đi mổ sống, mà cảm giác rờn rợn chạy khắp quanh người. Hồi còn nhỏ mỗi lần nhìn thấy cắt tiết gà vịt, tôi rợn ở cổ và không muốn… ăn thịt gà vịt. Ba tôi mỗi lần cắt tiết gà vịt thường đọc câu niệm: “cắt tiết sát kê hóa kiếp này ra kiếp khác.” để cho đỡ mang tội. Những câu chuyện cổ tích về báo oán như đánh rắn bị báo thù, cứu con cá nhỏ được vua Long Vương thủy tề báo ơn dường như lúc nào cũng pha trộn trong tâm thức để ngăn chuyện ác, khuyến chuyện lành. Những lần phải phụ cầm cánh con gà hoặc cánh con vịt, tôi kinh nghiệm là trước khi gà vịt chết chúng vùng mạnh lắm có lần tuột ra khỏi tay tôi. Cứ liên tưởng những hình ảnh đó đối với con người lại làm tôi ớn lạnh. Tiếp chuyện với những người cựu tù nhân học tập, tôi không thể nào ngưng được dòng dĩ vãng.

Khi còn 7, 8 tuổi ở Hà Nội tôi đã gặp những người ăn mày hai tay run lẩy bẩy. Tôi thường năn nỉ mẹ tôi cho tiền những người này. Chúng tôi hỏi han vì sao họ ra nông nỗi ấy. Phần lớn họ nói bị Tây bắt và bị tra điện. Những trẻ sống ở thành thị thường chỉ nghe tiếng Tây say rượu la ó với phu xe xích lô. Chúng ít có dịp nhìn thấy cảnh người đánh người. Một đứa bé như tôi, tôi có may mắn hơn, vì thật quả tôi mới từ quê ra tỉnh có vài năm, óc còn mang những hình ảnh hãi hùng. Đồng quê Việt Nam quá thanh bình và quá đẹp. Chiến tranh đã làm cho tan nát. Không phải là tan nhà nát cửa về thể chất mà tan nát cả tấm lòng trong trắng.

Tôi rơm rớm nước mắt, kéo tay mẹ tôi lẳng lặng từ giã những người ăn mày chiến cuộc. Tôi thường có những lần nằm mê. Giấc mơ có nhiều sợ hãi. Mỗi chiều trở lại, thì cơn sợ của tôi cũng trở lại. Tôi không biết tối nay phải trải qua những cơn mơ quái đản gì nữa đây. Tôi không hỏi mẹ, vì tôi biết mẹ tôi không có thì giờ suy nghĩ trả lời. Vả lại con nít nhỏ ở Việt Nam… những âu lo của nó… có gì quan trọng lắm đâu. Nhất là trong thời chiến.

Năm tôi lên sáu, chứng kiến cảnh Tây về làng. Mõ làng đánh liên hồi. Mọi người phải tụ họp ở sân làng. Thanh niên, trung niên bị xét hỏi giấy tờ. Người nào không ra trình diện kịp thì bị đòn nặng. Tôi là một đứa bé cũng phải theo mẹ tôi ra trình diện. Ba tôi tất nhiên là không có ở trong làng vì ông còn kháng chiến chưa về tề. Có khi ông đã bị bắt nhốt ở nhà pha Hỏa Lò rồi. Thời gian quá xa mà lúc đó tôi quá nhỏ không được mẹ tôi cho biết chi tiết. Người trung niên bị Tây bắt ở đình run rẩy lạy lục lắm. Tây không đánh, mà một người Việt Nam mặc đồ nhà binh đánh đấm đá túi bụi. Người nhà quê ấy kêu la rống lên. Anh ta bèn được lệnh há mồm ra và đổ nước mắm vào cho uống. Sau đó, anh ta được uống liên hồi một thùng nước lã, nước ao ở đình làng. Lúc anh ta bị cởi áo ra thì cái bụng đã trương phượt lên. Người “Việt gian” lúc ấy hùng hổ vừa chửi vừa đạp đôi giày “săng đá” lên cái bụng nước ấy. Mỗi lần đạp thì từ miệng anh nhà quê nước lại phun ra. Tôi không nhìn thấy máu nhưng tiếng chửi rủa, tiếng kêu đau rõ mồn một. Cả làng ngồi ở đấy mà yên lặng như tờ. Trẻ con như chúng tôi, có đứa nhỏ hơn tôi, đầu còn để mấy cái cút, mớ chỏm tóc, cũng không đứa nào dám hó hé. Nín thở. Bất lực. Phó mặc.

Một sáng nắng đẹp trời, không có Tây, mẹ tôi phơi thóc và chiếu ra sân. Tới gần trưa mẹ tôi kêu tất cả các con lại, trao cho mỗi đứa một cái túi xách nhỏ. Tiểu đội chúng tôi ra tới đầu làng, tách vào đường ruộng. Chúng tôi như lũ vịt con theo chân mẹ đi trong ruộng lúa. Đến khi gần tới địa phận Tỉnh có đồn lính Tây gác chúng tôi mới lên lại đường cái. Nhìn thấy Tây đen gạch mặt (gốc Phi Châu – Sénégal) tôi lạnh cả xương sống. Tây về làng đánh đập, sao mình lại về đây hả mẹ. Tôi hỏi âu lo. Mẹ tôi chỉ nói về Tỉnh ở thì chúng nó không đánh đập nữa.

…Những quá khứ sóng gió như thế thường tạo cho mình những giấc mơ khủng khiếp. Tôi nghĩ những người tù nhân chính trị gọi là cải tạo cũng vậy. Họ vẫn còn những giấc mơ ám ảnh, sợ hãi. Người còn minh mẫn thì thở phào tỉnh dậy với cảm giác…thì ra chỉ là một cơn ác mộng. Người yếu tiếp tục kéo theo  cơn sợ cả ngày. Ông Trang Tử nằm mơ thấy mình là con bướm bay một cái đi khắp vũ trụ… vào khoảng không… ông gọi là thái chân chi du… Lúc ông tỉnh dậy quên cả mình là Trang Tử. Nằm mơ vào cõi mê ly đó ai là không muốn, nhưng những giấc mơ của người cựu tù Cộng Sản không đẹp như vậy… nó toàn là máu… là xô đẩy… là khiếp hãi… là nhìn thấy bạn bị bắn chết… là thấy sắp đến lượt mình bị hành hạ. Họ tỉnh lại, với mồ hôi vã ra như tắm. Bần thần. Uể oải. Chán nản. Nghĩ đến thực tế… rồi mấy tháng phù du sẽ trôi qua. Trong mơ cũng khủng khiếp mà thực tế cũng hãi sợ. Sống trong cơn lốc.

Tôi không có kinh nghiệm ở tù. Chưa ở tù lấy một ngày trong đời. Có lẽ vì vậy tôi kém nhạy cảm về quyền lực của kẻ thống trị. Có người bảo tôi chưa từng trải vì nói năng… không đề phòng. Có lẽ các anh ấy nói đúng. Một con chim dù là chim bồ câu ở Việt Nam cũng rất thận trọng khi gần người. Ở Mỹ, chim cứ sà vào tay người ta mổ hạt mà không sợ bị chụp. Vì cuộc đời của tôi từ khi trưởng thành hít thở không khí tự do, phần lớn lại là ở các đại học. Nơi mà quyền ăn nói phát biểu được tôn trọng nhất. Có người bảo tôi khéo nói. Nhưng nội dung lời nói thì mang những ý kiến phản kháng. Phản kháng tuổi già, cản chân giới trẻ! Phản kháng giả đạo đức! Phản kháng tinh thần quan liêu chết nếp! Tôi chưa ở tù vì làm gì sái quấy nhưng phải vạ miệng thì có rất nhiều. Một con chim chưa bị đạn, chưa từng bị người vồ bắt, rình rập, ắt hẳn kém nhạy cảm và vì thế dạn dĩ hơn con chim ở Việt Nam giữa thời giông loạn. Đấy là nhược điểm của tôi.

Nhưng tôi lại có nhạy cảm về sự đau khổ của người khác. Một người nhà quê bị Tây giật điện. Một người thương binh tàn phế cụt chân bán vé số trên đường Tự Do, một em bé bụi đời đánh giày trên hè phố… những hình ảnh ấy rướm máu trong tim tôi và thường làm tôi xúc động. Mặt khác, một ông Tướng hống hách… di chuyển ở quân đoàn có tiền hô hậu ủng, có quân cảnh bảo vệ nhẩy xổ xuống đường xô ngã một ông già đi xe đạp để đừng phớt qua chiếc xe của vị Tướng… hình ảnh mà tôi nhìn từ văn phòng Tòa Hành Chánh Tỉnh Biên Hòa… làm tôi phẫn nộ với kẻ quyền lực.

Thứ cường quyền mà Cộng Sản áp dụng là một thứ cường quyền có thể làm cho người ta tức ói máu lên chết được. Tôi nghe lại những cách xử và giải quyết sự việc của các cán bộ Cộng Sản do những người cựu tù học tập kể lại… mà thầm phục cho những người sống sót. Thật vậy, khi kẻ cường quyền không màng đến sự sống chết của người dưới tay, thì cái dũng của Thánh nhân là một cái dũng quá dại dột. Bởi vì làm như thế là dọn cho mình cái chết thế thôi. Nhưng mà cũng không được hèn hạ để cầu sướng thân hơn anh em bạn tù. Cái khó cho người sống sót mà giữ toàn danh tiết là ở chỗ đó. Tôi không hiểu sao tôi đã làm thơ than khóc cho những cô nhi khốn khổ, đã làm thơ cám cảnh “Thương binh đợi bạn về”, mà tôi chưa làm thơ về người tù cải tạo.

Một dạo tôi định làm thơ bởi vì tôi đã nghe quá nhiều các câu chuyện do người tù cải tạo kể cho tôi nghe về thân phận và nỗi đọa đày của họ. Chất liệu họ có đủ tại sao tôi không làm được? Một lần tôi đọc thơ của Luân Hoán viết về người cải tạo đi gỡ mìn. Tôi xúc động và không dám làm thơ thác lời người cải tạo. Làm như thế tôi cho là mất phong cách của người cầm bút. Hằng trăm ngàn tinh hoa miền Nam bị đẩy vào các trại cải tạo khắp các vùng đất nước. Những địa danh Trảng Lớn, Long Giao, Hàm Tân, Kà Tum, Đầm Đùn, Thanh Hóa, Hoàng Liên Sơn… rộn lên sợ hãi. Đất nước ta có những địa danh Vạn Kiếp, Tam Điệp, Bạch Đằng Giang, Chí Linh, Chi Lăng, Hàm Tử Quan… rền vang trong tâm thức Việt. Hùng tráng. Oanh liệt. Những địa danh ghê rợn do Cộng Sản cống hiến cho lịch sử sẽ viết tội ác của họ đến muôn đời. Tôi không thể lấy đi cơ hội của những người tù cải tạo nói lên nỗi oán hờn cũng như niềm tự hào của họ. Chính các anh mới là những tác giả chân thành và chính thống. Khi các anh viết về các anh, lịch sử lắng nghe và lịch sử ghi nhận. Anh Kiêm Thêm là một nhà văn, lại là giám đốc các chương trình huấn nghệ và trực tiếp điều hành trung tâm sinh hoạt cựu tù nhân chính trị Việt Nam ở Los Angeles. Tôi đề nghị với anh ước vọng của tôi là cộng đồng có một tuyển tập của các cây viết cựu tù cải tạo. Tôi biết anh Kiêm Thêm quá bận rộn với các chương trình, và báo chí do anh chủ trương, nhưng “Ngục văn nhất hữu, phiếm luận bách vô.” Tôi bắt chước câu “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” của thời hủ lậu để trình bày là dù anh xuất bản 100 quyển tạp luận cũng chẳng kể chi, nhưng một cuốn tuyển tập của những cây viết tù cải tạo là kể như có một sự đóng góp lớn. Nhất là nếu được những người chưa hề viết bao giờ nay phải viết ra thì đúng là “vật cùng tắc minh” có lẽ sẽ vô cùng xúc động!

Đã có rất nhiều nhà văn viết lên cuộc đời của họ qua các trại tù. Thỉnh thoảng trong vài tập có nêu những gương can đảm trong thời cải tạo … Những người can đảm thì phần lớn là nhận lấy cái chết. Ngoài ra, thì đều phải tập nhẫn nhịn như một thứ thiền bất đắc dĩ cho khỏi nộ khí xung thiên hoặc tức mà chết, hoặc vọng động mà đưa mình đến chỗ chết. Tôi nghĩ rằng người chết cũng đã vinh danh mà người sống cũng đáng được ca tụng nếu họ nói được cho loài người nghe nỗi đau đớn của họ. Tuyển tập viết từ MIỀN ĐẤT HỒI SINH với 26 tác giả đóng góp bài vở hy vọng làm được điều mong ước chung này. Tuyển tập này do Liên Hiệp Cộng Đồng Việt Nam, Trung Tâm Sinh Hoạt Cựu Tù Nhân Chính Trị Los Angeles xuất bản gởi tặng các anh em H.O mới sang như là một món quà văn nghệ. Hy vọng trong tương lai những tác phẩm như thế này sẽ được thực hiện đều đặn. Mong các cây viết H.O, các nhà văn, thơ cùng các mạnh thường quân tiếp tay với UVCC trong mục tiêu kể trên.

Khi tôi nói chuyện với một nhóm cựu tù cải tạo mà nay đã thành danh vì có tên tuổi thì có một điều lý thú là họ hết sức chân thật cả đến những khuyết điểm của mình.

Một hôm chúng tôi hội họp vui vẻ. Anh chủ xị đóng vai quản giáo, một cựu thiếu tá Hải quân, Thiếu tá Chuộng, mặc dù anh Chuộng hình như chạy thoát từ 75. Đóng vai quản giáo ngu dốt thì ai mà chả đóng được. Hồi xưa dưới đời nhà Minh, Bồ Tùng Linh không biết phải châm chọc chế độ độc tài cách nào cho an toàn. Ông bày ra chuyện hồ ly tinh. Ông dựng quán bên đường, ai có chuyện ma quái hay ho thì đến kể và được thưởng rượu. Nhờ sáng kiến này chúng ta mới có bộ ngoại thư Liêu Trai Chí Dị mà thưởng thức những cảnh ái ân ma quái. Tôi bắt đầu buổi họp ở Chicago bằng bốn câu thơ:

“Cô vọng ngôn chi cô thính chi
đậu bằng qua giá vũ như ty
Liễu ưng yếm tác nhân gian ngữ
Ái thính thu phần quỷ xướng thi.”

Tản Đà dịch:

Nói láo mà chơi nghe láo chơi
Dàn dưa lún phún hạt mưa rơi
Chuyện đời chán ngắt không thèm nhắc
Thơ thẩn nghe ma đọc mấy lời.

Anh em liền nổi hứng kể chuyện mình và kể chuyện người.

Bằng một giọng cảm động, anh Mai Tất Đắc, Chủ Tịch Hội Người Việt tại ILLinois phát biểu: “Phải công nhận là nếu chúng ta, gốc sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, mà bị cải tạo không chết thì chúng ta cũng đã có tí hèn rồi. Chúng ta phải làm cái gì chuộc lại.” Anh em hoan hô cựu sĩ quan Hải quân Mai Tất Đắc… người đã làm bài thơ tự trách “Ta như bầy chim trốn tuyết“.

Nhà văn Vũ Uyên Giang đứng lên hát bài “Kha Tư Giáo”, anh bắt đầu giọng trầm buồn hát bài hát mà anh khiếu nại là đã làm trong dịp chứng  kiến cái chết tàn nhẫn của Kha Tư Giáo ở trại tù cải tạo.

… “Kha Tư Giáo là một sĩ quan cứng cổ đã từng bớp tai cấp trên và được cho đoái công chuộc tội lao công chiến trường. Một thứ Nguyễn Công Trứ bị phạt đi “tiền quân hiệu lực”. Kha Tư Giáo hạch sách cán bộ Cộng Sản: “tại sao chúng tôi có tội? chúng tôi yêu phần đất tự do và phải thi hành nghĩa vụ quân sự. Nếu chúng tôi thắng các anh, chúng tôi chắc chắn đối xử với các anh tốt hơn là chính Đảng đối xử với các anh nữa!”

Bọn chúng tôi lạnh mình… khi công an… lên đạn rầm rập. “Mày cứ bắn tao đi, tụi hèn” Kha Tư Giáo thách thức. Một tiếng nổ chát chúa. Kha Tư Giáo choạng đi, viên đạn xuyên vào chân. Kha Tư Giáo gào lên: “Mày không bắn chết tao là mày hèn”…

Cán bộ lôi Kha Tư Giáo sệch sệch đi như lôi một con dã thú bị thương.

Giáo không bị giết vì chú của Giáo là Kha Tư Ân, một cán bộ ở cấp Bộ Trưởng Bộ Thương Nghiệp Hà Nội. Kha Tư Ân viết giấy vào nói: “Cháu chỉ cần nhận tội theo ngụy, thì cháu sẽ được về”. Kha Tư Giáo mắng cán bộ quản giáo: “Tao không có thân nhân nào làm quan ở chế độ Cộng Sản cả.”

Một buổi sáng, công an đeo súng vào triệu tập cả trại tề tựu. “Hôm nay chúng tôi cho các anh cơ hội. Các anh được quyền xét xử tên Kha Tư Giáo. Chúng tôi đã kết tội tử hình. Anh nào đồng ý thì giơ tay.” Cả bọn tù ngồi xổm, không đứa nào giơ tay.

Tiếng súng AK lên nòng đạn đến rợn người.

Họng súng nâng ngang, rồi chĩa vào đám tù chúng tôi. Một vài cánh tay lác đác giơ lên. À, chắc là của ăng-ten. Không có lý. Vậy thì của vài thằng hèn sợ chết không gặp mặt vợ con. Thêm một đợt súng khác lên nòng. Thêm cánh tay “biểu quyết” thuận án tử hình.

Tiếng cán bộ nói: “Các anh đã đồng ý án tử hình cho tên Kha Tư Giáo, thôi các anh bỏ tay xuống.” Cả bọn tù thở phào nhẹ nhõm. Được một giây, ai nấy lại ái ngại cho viên cựu sĩ quan gan lì này.

Vũ Uyên Giang kết luận: 

“Thế là Giáo bị trói tay chân trên giàn, để khát để đói. Dai dẳng vài ngày không chết. Các vết còng bị ghẻ lở có dòi. Cán bộ cho nhúng tay  vào nước muối. Cuối cùng Kha Tư Giáo kiệt lực, lờ đờ. Không ai cứu giúp được gì. Mọi người lặng nhìn cái chết tàn nhẫn thoi thóp của anh. Ngày ấy mưa buồn phất nhẹ. Kha Tư Giáo có lẽ thấm được môi vài giọt nước từ trời cao rơi xuống.”

Nhà văn Việt Dương kể lại bằng giọng đanh thép dù người anh nhỏ yếu và gầy:

“Cách tra khảo thật là tàn nhẫn. Tôi bị treo ngược lên. Mười đầu ngón tay bị đâm kim gút và buộc lông gà tơ. Quạt máy được vặn lên xoay qua lại để phe phẩy vào các sợi lông. Mỗi lần lông gà xoáy, cơn đau của tôi không thể nào kể ra hết được.”

Một cựu Đại úy lục quân nói về số phận mình:

“Tôi bị đi Hoàng Liên Sơn đẵn nứa. Giang, nứa, tre, lồ ồ, cây bương cây mai. Những năm ở Sơn La và Hoàng Liên Sơn rét mướt vô cùng. Khi ở trong Nam tôi đã bị đập một báng súng vào màng tang ngất xỉu vì đi chậm. Cán bộ chửi rủa và cho rằng tôi muốn trốn. Ở trại Long Giao tôi mất hai người bạn. Đại úy Lê Đức Thịnh, dạy tình báo ở Thủ Đức là một trong hai người bị bắn chết. Thịnh viết thư gởi cho vợ và bị công an bắt được. Cán bộ bắt ra hành hình. Thư của Thịnh được đọc để kể tội. Thịnh nói cho vợ nghe: “Anh rất oán hận lũ Cộng, em ở nhà nhất định không cho con gái lấy bọn chó đẻ. Khi nào anh em bên ngoài tập họp xong, anh sẽ ra tiếp tay.”

Thịnh được buộc vào cột đèn xi măng của Mỹ để lại. Người thứ hai can tội trốn trại bị bắt. Cả hai bị không biết bao nhiêu viên AK bắn vào, thân thể cứ co lại rồi bật lên. Tôi không dám khóc. Một cái báng súng vào đầu ngất xỉu hôm trước, được coi là ơn huệ cảnh cáo. Từ Long Giao chúng tôi được chuyển trại. Về Tân Cảng lên thuyền than đá đi ra Bắc. Người tù xuống tầu ngồi co ro, được phát cho cái chai để tiểu vào. Ai đi cầu thì phải đợi. Tôi chờ xếp hàng từ 1 giờ đến 3 giờ sáng, leo lên được miệng thùng phuy thì không thể đi cầu được. Trong bụng chắc không có gì tiêu hóa để phải hóa tiêu!

Trời nắng, cán bộ phun nước lên đầu, ai uống được tí nào thì uống. Sau 3 ngày 2 đêm, thì tầu cập bến Cẩm Phả. Đến trạm nào chúng nó cũng cho chuyển vào ban đêm. Khi xuống tầu, công an rọi đèn pha. Có cả chó dữ dàn chào, họng súng AK chờ đợi. Chúng tôi mặc kệ… chó cắn thì cứ cắn, sống chết không thành vấn đề. Từ đó chúng tôi được chuyển lên xe lửa. Chỗ nào đi qua có trạm là có “đồng bào” tập hợp la hét dọa đánh chết. Cán bộ công an phải ra sức cản cho họ… khỏi xông tới xé xác chúng tôi. Cán bộ lên tiếng: 

“Mấy anh phải đánh giá đúng điểm đứng của mấy anh. Mấy anh phải biết tội ác của mấy anh. Đồng bào sẽ giết các anh liền nếu Đảng không bảo vệ mấy anh”.

Chao ơi cũng chúng nó xúi, rồi lại lên tiếng nhân nghĩa hão. Chúng tôi bị bắt buộc phải biết ơn những kẻ cầm tù chúng tôi.

Đến phà Ô Lâu… bọn tù chúng tôi xuống xe qua phà. Xe giải phóng và xe molotova cũng lên phà. Từ bờ này qua bờ kia là hai giây cáp dài. Bọn móc thuyền móc từng nấc vào giây cáp kéo phà đi chứ không có máy móc gì. Chắc đây là sông Kỳ Cùng, tôi nghĩ như vậy.

Rồi thì đoạn đường di chuyển cũng phải đến.

Trại Hoàng Liên Sơn là một liên trại. Cứ sáu người chúng tôi thì có một cái thau. Trong bọn có một Đại Đức trước làm ở bệnh viện Cộng Hòa. Đại Đức này lo hái thuốc, hái lá để dành làm dược liệu cho trại. Một hôm bọn tù chúng tôi dấu được một củ khoai nhờ Đại Đức luộc giúp. Chỉ có thế mà Đại Đức này bị kiểm thảo là nhóm lửa ngoài giờ sắc thuốc. Bị kết tội là toan nấu thuốc độc đầu độc cán bộ. Khi bị giải đi Đại Đức nói với tôi, ông sẽ từ giã cõi đời. Khi được điều tra và được trở lại trại thì ông uống thuốc độc tự tử chết. Tôi không còn nhớ tên vị Đại Đức này nữa. Đầu óc tôi bây giờ không nhớ được gì khi cần nhớ nữa anh ơi.” –  người Đại úy cựu tù than trách. Ông nói: “Trong ba tháng tôi phải đóng quan tài chôn tới 9 người bạn ở đây. Bây giờ tôi nằm mơ là thấy máu, thấy lửa đỏ, tôi ghê rợn màu đỏ, trước tôi là Tiểu Đoàn Trưởng sao bây giờ tôi sợ sệt không giống ai cả.”…

Kịch sĩ Quản giáo Chuộng… lên tiếng kéo mọi người về thực tế: “Thôi mấy anh kể chuyện chống tôi quá, anh nào muốn làm quản giáo thì lên thế tôi đi.”

Cả đám anh em cựu tù cải tạo cười ồ. Anh Chuộng đóng vai quản giáo dễ thương quá, bằng không anh em đã xông tới siết cổ anh rồi. Bữa họp tại Chicago này làm mọi người lên tinh thần quá cỡ! Thật ra bữa tập họp này làm mọi người buồn vui lẫn lộn. Tôi không biết phải nói với anh em điều gì hơn. Sự khổ não của anh em bi thảm quá! thê lương và tàn nhẫn.

Mấy hôm nay một bọn đón tiếp cựu Đại Tá Việt Cộng Bùi Tín khi anh chàng này bỏ Đảng ở giờ thứ 25. Mấy người đại tá của chế độ cũ đi qua đây chẳng ai đón rước. “Thì ra vì chính trị người ta làm đủ mọi chuyện… còn bọn tù rục xương cải tạo qua đây có ma nào thèm đoái hoài.” Anh Tâm Trung úy Không Quân buồn nản than phiền trong buổi nói chuyện hàng tháng của anh và tôi.

Tôi chợt thấy mình ướt nước mắt khi người sĩ quan cựu tù cải tạo bước ra khỏi phòng. Làm tâm lý không có quyền cảm động để khóc trước mặt thân chủ. Nhưng không khóc làm sao được khi tất cả những thân chủ của tôi người nào cũng cơ thể mục nát, đi đứng  như những kẻ mất hồn. Họ không tin ở sự tử tế của loài người nữa. Tiếng chim hót bên ngoài trời có lẽ làm thoa dịu đau thương của họ hơn là lời khuyên giải của tâm lý gia. Ông cựu Đại úy Cảnh Sát Tuân đã nói với tôi như một giấc mơ nhẹ nhàng trong giọng Quảng Bình: “Tôi nghe tiếng con chim sáo kêu, con sáo tôi nuôi lúc còn làm cảnh sát, nó khôn lắm, bây giờ nó còn theo tôi.” Ông nói: “Ở Việt Nam hay ở đây, đất Mỹ tôi vẫn còn thấy hình như mình vẫn ở tù. Chỉ có tiếng chim hót làm tôi thoải mái.”

Tiếng con chim sáo làm cho Tuân thoải mái vì nó liên tưởng đến một thời anh đã sống. Nhưng anh tách rời tiếng con chim kêu với quá khứ vẫy vùng. Anh không tin ở quá khứ ấy nữa và muốn phủ nhận nó. Chấp nhận quá khứ là chấp nhận “tội lỗi”. Tẩy não đã làm cho anh phải chối bỏ quá khứ… Khi chối bỏ quá khứ thì anh cũng chẳng còn gì đáng sống. Tuân là người bệnh tâm thần nặng nhất của tôi. Tuân không phải là tên thật của anh. Có buổi nói chuyện làm anh quắc mắt giận dữ… có lúc anh nói như mê nhái lại lời Cộng Sản đã mớm cho anh… lúc tỉnh thì anh chán nản khóc lóc. Có buổi anh ca hát những bài yêu nước “quê hương là gì” một cách say mê. Tại sao các anh đã sống sót qua địa ngục trần gian? Nhiều khi tôi hỏi các anh tại sao đã không tự tử. Câu trả lời của những người sống sót đều là… phải tìm cho ra một lý do để sống. Sống để về nhìn mặt vợ con. Sống để về tạ tội với cha mẹ. Sống để gặp lại bạn bè. Sống để về kể lại những gì tai nghe mắt thấy. Sống để không thể chết được. Vô lý quá. Tôi phải sống. Sống để làm toán số đời nhân chia trừ cộng (có anh cải tạo đã chết vì lời nói này).

Vậy mà lạ lùng khi đặt chân lên Mỹ, cũng có những người cựu tù cải tạo thấy chán nản không muốn sống. Lý do để sống đã không còn nữa khi họ đến được bến an toàn. Có lẽ cần phải phát hiện ra một mục tiêu mới tại sao phải sống! Sống để kể mãi, kể mãi câu chuyện bi thương của từng người. Con chim đã sổ lồng dù nó vẫn còn bịn rịn tâm lý với cái lồng giam, chưa bay đi xa được. Chim hót lên tiếng hót ngoài song nhà giam. Hân hoan và tủi hận.

Từ thời thượng cổ đã có những tư tưởng chán nản cuộc đời:

“Thiên lý thảo hề thanh thanh
Tri ngã thử, nhi vô sinh. “

(Dọc đường cỏ mọc xanh xanh
Biết thân nông nổi đừng sinh làm người.)

Bây giờ tôi mới hiểu nổi những chán nản cùng cực và những ao ước vô lý vẫn song đôi nghịch lý:

Kiếp sau xin chớ làm người
Làm con chim nhạn tung trời mà bay.

Các anh H.O, các anh đã trả giá quá đắt cho tự  do… cái tự do xa xỉ mà bây giờ các anh cũng chưa biết phải xử dụng ra sao ở xứ Mỹ này ít nhất là trong vài năm đầu điều chỉnh.

Tôi xin dành lại các anh, trả lại các anh… những trang giấy trắng sẽ viết thành lời. Bài thơ người tù cải tạo xin trả lại cho các anh để viết lên từ tâm thức soi sáng bằng kinh nghiệm. Tập văn Viết Từ Miền Đất Hồi Sinh… tôi xin được góp phần nhỏ bé.

Đỗ Quý Sáng

Bà Chúa Hòn

vietmessneger.com

Sơn Nam

Kỷ Nguyên xuất bản 1969

Post by Sơn râu 28 May 2025

Chương 10.

Sau hai đêm sống ấm áp với bà chánh thất, Bá Vạn buồn rầu vì mấy vị sư nữ bên am tỏ vẻ phản đối. Họ không qua đến sân nhà bà chánh thất, không nhắc nhở bà tụng kinh gõ mõ. Bá Vạn ra ngoài ao sen. Bà chánh thất đến gần mà nói:

– Tình thế thiệt khó xử. Nếu có dư luận xấu, khổ cho tôi. Hay là ông qua nhà Tư Thính, hoặc đi viếng ông đạo Đất. Nếu lân la như thế nầy, chắc là mấy vị sư nữ buồn phiền. Bá Vạn hơi bực dọc:

– Ở nhà thì bị đuổi, tới đây ẩn náu qua ngày cũng bị đuổi. Ấy thế mà ông đạo Đất bảo rằng mạng tôi còn lớn nay mai trở lại chức vị cũ.

Bà chánh thất đáp:

– Hồi nãy mấy bà sư nữ hăm he tôi.

– Bà tu tại gia, theo lịnh độ, ai nói nặng bà được?

– Mấy bà sư nữ bảo rằng nếu ông cứ ở với tôi thì mấy bả sẽ bỏ am mà về núi…

– Được rồi! Năm mười ngày, tôi qua thăm bà một lần. Chắc là ở núi Mo So xảy ra nhiều chuyện lớn.

Lát sau, ông Bá Vạn đến nhà Tư Thính. Tư Thính mừng rỡ kêu lên:

– May quá! Cậu Cẩu gởi thơ cho ông nè!

– Ai đem thơ?

Tư Thính đáp:– Đứa hộ vệ. Nó chờ để rước ông về Hòn Chông. Nghe qua, Bá Vạn mừng đến run tay, phục tài tiên đoán của ông đạo Đất. Đúng là ông còn nặng nề công danh. Mở phong thơ ra, ông đọc nhanh. Đại ý trong bức thơ là ông Mười Hấu xin lỗi Bá Vạn về những lỗi lầm mà cậu Cẩu mắc phải trong thời gian qua. Theo Mười Hấu thì cậu Cẩu muốn mời Bá Vạn đi theo để tiễu trừ bọn cướp ở núi Mo So. Nếu thắng trận, Bá Vạn sẽ nắm quyền hạn quản gia như cũ.

Một khi cô Huôi khuyên bảo thì nhứt định chuyện sẽ thành công. Nghĩ vậy, Bá Vạn bèn lên tìm ông đạo Đất, nhờ ông cho người đến gặp thằng Thừa. Bá Vạn khuyên thằng Thừa giả vờ thua, chạy trốn. Nó sẽ được bảo đảm tánh mạng. Nếu quá sợ thì đến am ông đạo Đất mà cư ngụ trong một đôi tháng.

Những hàng chữ dưới bức thơ khiến Bá Vạn tin cậy hơn. Cô Huôi viết cho ông, khuyên ông nên về, vì đây là dịp để cậu Cẩu giảng hoà trong danh dự, tạm thời như thế. Bá Vạn nói với Tư Thính:

– Vậy thì tôi về. Cho tôi một hũ rượu.

Uống chén rượu, Bá Vạn thấy đầu óc minh mẫn thêm. Mấy tiếng “tạm thời như thế” khiến ông ta suy nghĩ kỹ hơn. Phải chăng cô Huôi khuyên Bá Vạn nên chuẩn bị kỹ lưỡng để sau nầy giết cậu Cẩu.

Tên hộ vệ chèo ghe thật nhanh, đến nửa đêm là tới Hòn Chông. Mười Hấu rước Bá Vạn qua nhà cô Huôi vì biết Bá Vạn còn ghét cậu Cẩu.

Cô Huôi nói:

– Ông Mười về nghỉ cho khoẻ. Cậu Cẩu làm gì bên nhà?

– Dạ, nó uống rượu say mèm, con Xí Vĩnh thì quạt hầu sáng đêm.

– Sáng mai, ông nhớ kêu cậu thức sớm.

Khi Mười Hấu vừa ra ngoài, cô Huôi đóng cửa lại rồi mỉm cười:

– Việc đời lắm khi quá khó rồi trở nên quá dễ.

Bá Vạn thêm kính nể đối với cô Huôi:

– Nhờ cô giúp mà tôi được trở về Hòn Chông.

Cô Huôi đáp:

– Trước kia, nghe ba tôi nói lại thì ông giúp tôi quá nhiều. Bây giờ tôi bàn như vầy. Chuyến đi đầu tiên, phải làm cách nào cho cậu Cẩu chết hụt rồi sau đó, ông ra tay cứu cậu Cẩu.

Bá Vạn nói:

– Thằng Thừa làm giặc vì nó binh vực tôi. Tôi nhắn tin rồi, làm đúng theo lời cô dạy. Nhưng còn chuyện nầy, tôi muốn hỏi kỹ: sau khi thắng trận, chẳng lẽ để cậu Cẩu sống hoài?

Cô Huôi cau mày:

– Ông muốn giết nó? Nên thận trọng vì lúc nầy cậu đang thắng thế. Sau khi dạy được bọn giặc cỏ ở núi Mo So, cậu được thiên hạ sợ sệt hơn trước. Với lại có Mười Hấu bên cạnh. Nầy Bá Vạn! Tôi thấy cậu Cẩu là người bất thường, khi thì dại dột nhưng lắm lúc quá thông minh. Người hơi điên, tánh tình khó lường được.

– Cậu ta hơi điên?

– Còn gì nữa! Luôn luôn người điên không bao giờ sống lâu. Ông cứ tin tôi, đừng nóng nảy hờn giận vô lý. Chưa ắt cậu sống dai hơn ông…Bây giờ thì ông cứ đi núi Mo So, chuyện dễ quá.

Nhơn chuyến lên núi vừa rồi, ông Bá Vạn đã suy nghĩ nhiều khi nghe ông đạo Đất nói đến những con cá kình, bằng sắt, đậu ngoài khơi Vịnh Xiêm La. Sớm muộn gì người Lang Sa cũng tới Hòn Chông. Bá Vạn sẽ chiếm đoạt một mớ tài sản của cậu Cẩu rồi chạy trốn, khi người Lang Sa đến! Bởi vậy phải giết cậu Cẩu, nhờ bàn tay của Xí Vĩnh.

Khi ngang nhà cậu Cẩu, Bá Vạn ghé vào. Cậu còn ngủ. Bá Vạn hỏi:

– Cô Xí Vĩnh, cậu thức chưa?

Xí Vĩnh khoát tay, nói khẽ:

– Cậu ngủ nhưng cũng như thức. Để tôi kêu thử.

Thừa lúc cậu Cẩu còn nhắm mắt, Bá Vạn sờ vai Xí Vĩnh bóp mạnh:

– Nhớ chuyện cũ không?

Xí Vĩnh hiểu đó không phải là cử chỉ mất dạy của lão già háo sắc. Nàng đoán chừng Bá Vạn khuyên nhủ nên nhớ đến mối thù xưa. Xí Vĩnh là tình nhân của A Chúa, người đã bị cậu Cẩu hạ nhục công khai.

Xí Vĩnh sờ bàn tay Bá Vạn, day lại, cúi đầu. Rồi nàng gọi to:

– Cậu ơi!

Cậu Cẩu mở mắt nhận ra Bá Vạn:

– Cái gì? Đi đánh giặc chưa? Ông đủ sức đánh tụi nó chớ?

Bá Vạn đáp:

– Nhưng phải có cậu đi mới được. Tôi là người quản gia, xưa nay chưa ra trận lần nào.

Cậu Cẩu vươn vai:

– Vậy thì tôi đi. Nhưng phải đi dọ thám trước. Để lâu sanh ra nhiều điều bất lợi.

Lát sau, năm chục tên hộ vệ mang dao mác lên đường. Vì sợ chết nên cậu Cẩu ngồi trên chiếc ghe hầu, đi sau chót. Xí Vĩnh cầm quạt, ngồi bên cạnh cậu Cẩu. Mặt trời lên cao. Núi Mo So hiện ra ở chân trời. Hai bên bờ rạch, nhà cửa vắng tanh, không bóng người. Bọn hộ vệ kêu lên từng chập:

– Thây ma chết trôi! Ghê quá!

Bá Vạn ngồi trên mui ghe, chui vào mui nói với cậu Cẩu:

– Gần tới chỗ nguy hiểm rồi.

Cậu Cẩu giựt mình ngồi dậy. Hai bên đồng cỏ hoang vu từng bầy quạ đen bay chập chờn. Có lẽ trên ấy vẫn còn vài cái thây ma hôi thúi.

-Lạ vậy? Mùi gì kỳ cục!

Bá Vạn đáp:

– Thưa cậu, chắc là nhiều người chống cự lại thằng Thừa, bị nó giết. Một cái thây ma vừa trôi qua.

– Bọn hộ vệ thấy điều gì lạ không!

– Theo ý tôi thì bọn thằng Thừa là cố thủ ở chân núi.

– A? Tụi nó chưa đụng độ.

Gần tới núi Mo So, bọn hộ vệ lên bờ, đi bộ. Chiếc ghe hầu của cậu Cẩu đậu lại. Tiếng mõ nổi vang lên. Một căn nhà lá bốc cháy sát chân núi. Cậu Cẩu la hoảng:

– Hộ vệ đâu? Đánh thử một trận!

Nghe qua, Bá Vạn nực cười vì rõ ràng cậu Cẩu là đứa trẻ con. Bọn hộ vệ tiến nhanh trong khi cậu Cẩu ra lệnh dừng ghe lại. Bỗng đâu một tên hộ vệ chạy trở về, mặt mày hơ hãi:

– Cậu ơi! Bên mình chết hai người!

Cậu Cẩu xám mặt:

– Sao vậy? Làm sao bây giờ?

Tên hộ vệ đáp:

– Trên núi, có treo hai ngọn cờ, một lá tam sắc, xanh trắng đỏ; một lá đen. Mấy người hộ vệ chết khi tới gần ngọn cờ màu đen. Bọn nó núp trong mấy căn nhà bỏ hoang, chạy ra thình lình, bên mình trở tay không kịp. Chém xong, bọn nó chạy lên núi, vô hang đá.

Cậu Cẩu hỏi Bá Vạn:

– Làm sao bây giờ? Ông tới coi thử.

Bá Vạn làm núng để hăm dọa cậu Cẩu:

– Tôi sợ quá. Tuổi già, hễ gặp bọn nào dùng võ lực thì tôi chạy. Cậu còn trẻ, dai sức hơn tôi.

Xí Vĩnh nói thêm:

– Cậu đánh một trận là tụi nó sợ. Cậu là người có tài..

Cậu Cẩu cằn nhằn:

– Bá Vạn tới trước, dò xét thật kỹ rồi tôi tới sau.

Nghe qua, Bá Vạn mừng thầm vì đây là dịp tốt để ông tiếp xúc riêng với thằng Thừa. Ông nhận lời nhưng nói dè dặt, đề phòng trường hợp cậu Cẩu nghi ngờ:

– Dò xét là phận sự của tôi. Nhưng cậu phải đánh chiếm núi Mo So mới được. Đó là nơi mà cậu hiểu rành từng gốc cây, từng cục đá.

Cậu Cẩu chau mày:

– Trên đó ghê lắm. Ai chiếm trước là thắng trận. Một cục đá là một bức thành. Ông đi trước xem thử.

Bá Vạn đáp:

– Hễ làm dọ thám thì phải cải trang đi trong đêm tối. Rủi nó nhìn mặt, bắt giết tôi thì sao. Xin cậu cho tôi hẹn tối nay, tôi ăn mặc rách rưới, đi một mình. Điều quan trọng là biết nơi ẩn núp của thằng Thừa. Giết được nó thì xong chuyện. Rắn mất đầu, bọn phản loạn chỉ còn chạy trốn.

Trời xế dần. Mấy đống lửa cứ cháy bên sườn núi, Bá Vạn hơi lo sợ khi nghe tên hộ vệ nói đến lá cờ đen và lá cờ tam sắc cắm trên sườn núi. Phải chăng quân Lang Sa đã tới núi Mo So, sau khi chiếm bờ biển núi Đất? Tin rằng thằng Thừa còn giữ tình cũ nghĩa xưa, Bá Vạn đánh bạo đến nơi, để hiểu rõ hơn.

Mặt trời vừa lặn, ông đến chân núi, ngay nền nhà Mười Hấu. Nhà bị cháy sạch. Hai tên hộ vệ của cậu Cẩu, còn đứng núp lén bên gốc cây. Thấy Bá Vạn tới, bọn nó mừng rỡ

– Ông liệu lẽ nào? Tại sao cậu Cẩu còn xài ông?

Bá Vạn nhớ kỹ từng gương mặt. Toàn là bọn mới vô nghề, được cậu Cẩu trọng dụng sau khi lên ngôi ‘‘ông chúa Hòn’’. Bá Vạn hơi bực mình vì bọn nó ăn nói vô phép.

– Muốn chết tao cho chết – Bá Vạn nghĩ thầm như thế. Ông ta đáp vu vơ:

Một tên hộ vệ đáp:

– Có hai cây cờ, một cây đen, một cây ba sọc. Giỏi thì ông bước tới. Tụi tôi ở đây trong giây lát, nếu không đụng độ thì trở về. Ngu dại gì mà chịu chết lãng nhách.

– Tụi bây đi trước, dẫn đường cho tao.

Vừa nói, Bá Vạn vừa giả vờ run rẩy. Hai tên hộ vệ ngồi xuống rồi dựa lưng vào vách một căn nhà lá vắng chủ, Bá Vạn xem chừng để tìm ám hiệu của thằng Thừa. Ông đi tới lui chợt nhận ra một bàn tay lú ra, bên vách nhà Mười Hấu. Nhà cháy sập, cây cột vách và một mảnh tường vôi còn đứng vững.

Bọn hộ vệ hỏi:

– Mạng ông gần tàn rồi. Hôm trước, nghe đâu cậu Cẩu muốn cho ông chết. Tôi mà như ông thì chết sướng hơn, sống mà tài sản không còn một món thì lấy gì mà ăn?

Bá Vạn bèn cương quyết ra tay, nói trở lại:

– Tụi bây lo canh phòng tứ phía. Hễ hai cây cờ nọ di chuyển tới lui là tụi nó xuống núi đánh bọn mình. Chẳng lẽ tao chết tại đây.

Nói xong, Bá Vạn bước tới. Ông thử ho lên vài tiếng sù sụ như báo hiệu rằng “ta đây là Bá Vạn…”. Một con quạ đen bay vòng tròn trên nhà Mười Hấu rồi đáp xuống. Điềm gì đây? Sau khi suy nghĩ, Bá Vạn cương quyết đến gần miếng vách tường loang lổ. Trong hoàn cảnh nầy, ông là người tốt phước nhứt, vì chẳng ai muốn giết ông cả!

Đến gần miếng vách, ông hỏi:

– Thừa phải không?

Đúng là giọng thằng Thừa:

– Chờ ông gần chết.

– Tao cũng chờ mầy nhưng tao sợ hộ vệ của cậu Cẩu.

Thằng Thừa nói:

– Ông vô đây mà ngồi cho kín đáo. Có chuyện gì thì nói gấp. Tôi luôn luôn trung thành với ông.

Ba Vạn nhìn lại hai tên hộ vệ rồi nói khẽ:

– Đó là hai thằng chó chết. Nó chế nhạo tao khi tao mất chức vị. Mình cứ nói chuyện dông dài. Có đứa nào theo mầy không?

– Dạ. Hơn mười đứa sẵn sàng giết cậu Cẩu. Tụi nó ngồi ở sát vách bên kia. Tôi khoát tay là có.

– Vậy thì …cứ giết thằng hộ vệ của cậu Cẩu. Nó ngồi dựa vách cái nhà lá đằng kia.

Ba cậu trai lực lưỡng, đứng dậy thi hành lịnh của Bá Vạn. Lát sau, bọn chúng trở lại:

– Chết hết rồi. Tụi tôi siết cổ, hai đứa nó chết không kịp ngáp. Nó cắn muốn đứt thịt cườm tay tôi.

Bá Vạn lấy vạt áo chùi mồ hôi mà hỏi nhanh:

– Chú mầy về núi Đất, ở với ông đạo Đất cho yên, tình thế chắc còn nhiều đổi thay.

Thằng Thừa cau mày:

– Hỗm rày, tôi sắp đặt kế hoạch để báo thù cho ông. Nè! Ông thấy cây cờ tam sắc trên núi không? Thằng đó ở chợ Rạch Giá, lúc trước giả dạng Sơn Đông mãi võ để dọ thám. Nghe tôi nổi lên chống lại cậu Cẩu, nó đem bốn, năm đứa tay em tới xin gia nhập. Thiệt là đáng nghi ngờ. Nó mang theo một cây súng lạ lắm, bắn nổ lớn tiếng. Nó rủ tôi theo phe nó. Tôi hỏi phe nào thì nó không trả lời.

Bá Vạn nghĩ xa hơn; nếu gầy dựng sự nghiệp mà bỗng nhiên quân Lang Sa tới xâm chiếm thì thật là uổng công. Từ nửa tháng qua, cô Huôi và ông đạo Đất đều nhắc tới quân Lang Sa nhưng chưa ai biết mặt mày bọn chúng ra sao.

Ông ta nói khẽ:

– Bây giờ mầy giúp tao chuyện nầy được không Thừa? Bắt thằng đó, đem cây súng về coi thử. Được như vậy thì cậu Cẩu, Mười Hấu, cô Huôi đều nể mặt tao.

Thằng Thừa đáp:

– Nó làm dọ thám cho quân Lang Sa ở chợ Rạch Giá. Tôi nói thì nó tin, nhưng ông nên ra tay nhanh chóng tới đây bắt nó.

– Rồi làm sao tao cự nổi với súng đạn!

– Tôi cho nó uống rượu rồi trói như con heo. Ông cứ khiêng nó về.

Bá Vạn gật gù, nói vài tiếng với thằng Thừa rồi trở về. Khi đi ngang qua tấm vách lá, ông nhận ra xác hai tên hộ vệ vừa bị giết…Ông nói lẩm bẩm như kẻ say rượu.

– Chế nhạo tao làm gì? Bây giờ một đứa theo tao…

Ông nắm chân một cái xác, kéo lê lết. Vì chưa chết hẳn cái xác nọ vụt co chân. Ông buông ra:

– Cái gì vậy?

Xác lại nằm yên. Ông nghiêng mình, nắm cái xác lần thứ nhì rồi kéo lê lết, miệng la bài hải

– Tụi nó tới! Tụi nó đông lắm…

Cậu Cẩu đứng sẵn trước mũi ghe. Xí Vĩnh ngồi bên cạnh. Cậu cằn nhằn:

– Bá Vạn chết rồi sao chớ? Hay là bị thương. Hộ vệ đâu.

Bọn hộ vệ tới gọi Bá Vạn

– Thưa ông!

Bá Vạn giả vờ run sợ:

– Nó giết hai đứa hộ vệ rồi. Nó rượt sau lưng tao đó? Đứa nào cõng tao lên vai mà chạy. tao sợ quá.

Cậu Cẩu hỏi:

– Sao vậy Bá Vạn

– Cậu nên đề phòng. Tụi nó giết hai đứa hộ vệ. Tôi hết sức cứu được một cái xác.

Xí Vĩnh nhận ra bên kia bờ rạch, hàng chục người lạ mặt vừa xuất hiện, lưng trần, tay cầm dao mác sáng ngời. Cô ta la hoảng:

– Cậu! Cậu! Đánh nó!

Bọn người bên kia bò đưa tay ngoắc:

– Đứa nào tên Cẩu đâu?

Cậu Cẩu vội chui vào mui ghe, đóng cửa lại kín mít. Hai ba chục tên hộ vệ được lịnh sẵn sàng canh phòng chgo cậu và Xí Vĩnh lên bờ đi bộ về phía Hòn Chông. Bá Vạn hỏi

– Thưa cậu! Như vầy thì sao?

Cậu Cẩu chạy một hơi đến giữa đồng trống, ngồi xuống mà chờ Xí Vĩnh. Bá Vạn hỏi tiếp;

– Thưa cậu! Để tôi rửa nhục cho cậu! Tôi lên núi thì tự nhiên bọn nó rút lui. Bọn nó có đứa chạy lăng xăng dưới này. Trên đó, cắm cờ để thị oai chớ không có ai ráo.

Cậu Cẩu hơ hải, nhìn trở lại.

– Mấy căn nhà bên kia rạch bốc cháy kìa! Tôi muốn về, đem bọn hộ vệ theo. Nếu ông dẫn tụi nó lên núi, rủi dọc đường tôi bị bắt rồi sao? Úy trời! Coi kìa!

‘‘Quả thật thằng Thừa là đứa quá giỏi!’’. Kế hoạch của nó khiến Bá Vạn khâm phục, đứng vào địa vị nó, chưa chắc ông thực hiện khéo léo hơn. Toán võ sĩ của thằng Thừa lội ngang qua rạch, cầm đuốc lửa trong tay, nhảy lên chiếc ghe hầu mà đốt.

Bọn vệ sĩ của cậu Cẩu đã chạy từ trước. Bá Vạn nói khẽ:

– Cậu về Hòn Chông với bọn hộ vệ. Chỉ cần ba bốn đứa đi theo tôi là được. Tôi ráng tránh né, đốt sào huyệt bọn nó, chỗ căn nhà mà trước kia cậu tới lui đá cá thia thia.

Giữa đồng hoang cậu Cẩu cứ vuốt mấy giọt mồ hôi trán. Xí Vĩnh cúi mặt, thở dài:

– Cậu nên trở lại mà trả thù.

Bị mất thể diện trước người đẹp, cậu Cẩu bỗng dưng nổi cơn nóng giận tay hơi run. Đúng là bịnh điên mà cô Huôi đã nói. Cậu phun nước miếng phèo phèo.

– Như vầy, còn mặt mũi nào mà về Hòn Chông? Bộ tao bại trận sao chớ! Tao giết hết bây giờ.

Bá Vạn bèn nghĩ ra sáng kiến.

–  Cậu chớ lo? Bây giờ cậu tới Vàm Rầy mà chờ tôi. Sau khi bắt sống bọn nó và tịch thâu mấy cây cờ trên núi, tôi gặp cậu để về Hòn Chông một lượt.

– Phải! Nhưng chiếc ghe bị đốt cháy rồi! Chẳng lẽ ta đi bộ?

–  Thì bọn hộ vệ cõng cậu lên vai…

–  Hừ! Quần áo lem lấm như vậy…

Bá Vạn nói:

– Thưa cậu, quần áo có lem lấm, chiếc ghe có bị đốt thì dân chúng ở Hòn Chông mới tin chắc rằng cậu ra trận, tả xung hữu đột để …chiến thắng.

–  Phải! Bá Vạn cứ lên núi, bắt sống vài đứa tịch thâu lại ngọn cờ. Tôi chờ tại đó. Nhưng mà đừng để tôi chờ quá lâu.

Lát sau, bọn hộ vệ đưa cậu Cẩu và Xí Vĩnh về Vàm Rầy mà chờ đợi. Bá Vạn chọn lựa hai tên hộ vệ quen biết, những đứa đã từng quen với ông hồi mười năm trước, Bá Vạn cười xoà:

– Tụi bây thấy sao?

Nãy giờ bọn hộ vệ đã bất mãn với cậu Cẩu nên đồng thanh trả lời:

– Thiệt là lỡ cười lỡ khóc. Nhưng nắng bề nào che bề nấy. Hồi xưa, cậu Hai Điền đâu quá tệ như vầy.

Bá Vạn nói:

– Mấy ngày trước, tao bị cậu Cẩu hạ nhục tại chợ Vàm Rầy, mấy căn phố bị lấy lại. Tụi bây cứ yên tâm. Tao còn thì tụi bây còn…Ăn cho no rồi ra trận là thắng.

Nãy giờ hai tên hộ vệ tưởng lầm rằng Bá Vạn không dám đương đầu với bọn phản loạn. Có đứa van nài:

– Ông ơi! Ông đã già mà tụi tôi thì vỏn vẹn có hai đứa. Rủi gặp ngày xui xẻo thì sao?

– Tao nghĩ kỹ hơn tụi bây. Bọn thằng Thừa chắc cao bay xa chạy rồi, đầu đuôi không tới ba chục đứa. Dễ đánh quá, ban đêm, mình ngủ mà chờ đợi. Núi Mo So lớn chớ đâu phải nhỏ. Nếu tụi nó chống cự thì tao mướn đàn bà trên núi may hai lá cờ, đem nhúng bùn, coi như là tịch thâu của bọn nó. Tao dư tiền trong túi, chuyện gì mà làm không được?

Hai tên hộ vệ vào căn nhà trống hoang bên đường trong khi Bá Vạn đứng trước sân, giả vờ ngắm nghía núi Mo So. Nếu cho bọn chúng hiểu rõ sự sắp đặt đã có từ trước thì ông sẽ bị tình nghi. Bọn hộ vệ nầy chưa đáng tin cậy cho lắm.

Ông day lại:

– Tụi bây mệt thì ngủ cho khoẻ. Tao đi lại đằng nầy để dọ thám.

Một tên hộ vệ nói:

– Ông đi trước là phải, vì dân núi Mo So xưa nay mến chuộng ông…

Đến gần nhà Mười Hấu, Bá Vạn đứng lại. Thằng Thừa xuất hiện bên vách:

– Ông ơi! Như vầy là xong. Để tôi lên núi bắt sống cái thằng Sơn Đông mãi võ.

Bá Vạn lẩm bẩm:

– Như vậy là gọn nhứt. Kiếm cho tao một chiếc ghe. Đem thằng Sơn Đông đó với hai cây cờ xuống đây. Cậu Cẩu là thằng ngu dại, không biết gì ráo. Rồi cho hai ba thằng bá vơ nào đó chèo ghe cho tao ngồi, tao nói rằng đó là bọn đầu hàng…Khuya nay, tao về Vàm Rầy để lấy lại thể diện. Nhớ về núi Đất chờ tao…

Cậu Cẩu nằm ngủ trên giường, Xí Vĩnh quạt hầu mỏi tay rồi nằm bên cạnh. Bọn hộ vệ ngồi ngoài sân mà canh phòng. Dân chúng cứ qua lại bàn tán xôn xao vì Cậu Cẩu đưa ra tin thắng trận.

Đột nhiên Xí Vĩnh kêu rú:

– Sao cậu đánh tôi.

Xí Vĩnh khều thấp đèn đứng khá xa. Rõ ràng Cậu Cẩu đang ngủ say, mắt trợn trắng mà nói:

– Tôi giết ai mà ai giết tôi? À? Tôi không sống lâu. Tại sao tôi không sống lâu? Ba đi đâu vậy? Ba đánh thì tôi đỡ.

Bàn tay Cậu Cẩu nắm lại, răng nghiến ken két. Cậu đập mạnh xuống giường mà la lớn:

– Chết …chết!

Bọn hộ vệ chạy vào hỏi nhanh:

– Cô ơi! Cậu làm sao?

Xí Vĩnh đáp:

–  Cậu nằm chiêm bao ngủ mê. Mấy chú ra ngoài. Làm gì mà chộn rộn vậy?

– Xin lỗi cô. Hồi nãy tôi nghe lầm, tưởng rằng bọn bất lương vào nhà…

Trong mùng, Cậu Cẩu lại đập tay thật mạnh xuống giường. Giựt mình thức dậy; cậu nhìn ngơ ngác:

– Xí Vĩnh đâu?

Xí Vĩnh đến bên cạnh mà hỏi:

–  Cậu nằm chiêm bao? Chắc là gặp điềm gì hung dữ lắm.

– Ừ! Nhưng mà …

Nói tới đó, cậu Cẩu bèn cúi mặt, vỗ trán để xua đuổi ám ảnh không tốt cho lắm. Lúc nãy, cậu nằm chiêm bao thấy ông chúa Hòn hiện về, hạch hỏi tội lỗi và khuyên cậu nên đề phòng kẻo gánh lấy hậu quả tai hại. Khi cậu hỏi kỹ lưỡng hơn thì ông chúa Hòn trói cậu lại mà đánh đập. Cậu muốn chạy nhưng hai chân tê cóng.

Xí Vĩnh hỏi:

– Thưa cậu…

–  Nãy giờ thức hay ngủ? Bá Vạn về chưa?

Bọn hộ vệ dưới bến chạy tới, báo tin:

– Thưa cậu, có bốn ngọn đuốc. Chắc là Bá Vạn thắng trận.

– Đứa nào đi với tao…

Cậu Cẩu ra sân, đứng ngóng về phía ngọn rạch. Theo lịnh cậu, một tên hộ vệ chạy đi săn đón tin tức. Bá Vạn đứng trước mui ghe, trong khoang có hai người bị trói nằm chèo queo.

Ông ta hỏi:

– Cậu đâu rồi?

Tên hộ vệ trở về báo tin. Cậu Cẩu vô cùng mừng rỡ, gọi Xí Vĩnh:

– Mình về Hòn Chông chớ?

Lát sau, chiếc ghe lướt tới, dừng lại đón cậu Cẩu. Bá Vạn báo cáo:

– Tịch thâu được hai cây cờ, bắt sống được hai đứa, hai đứa ra đầu hàng…

Cậu Cẩu ngồi trước mui ghe, cười dòn:

– Như vầy là từ rày về sau không ai dám làm phản nữa…Ngày mai, ta ra lịnh cho dân Hòn Chông ăn lễ ba ngày ba đêm. Nầy Bá Vạn…

Bá Vạn tin rằng lời nói đầu tiên của cậu Cẩu là khen ngợi công lao. Nhưng ông ta thất vọng cười chua chát khi nghe nói:

– Ông thấy tôi …sống dai không? Thiên hạ đồn rằng tôi bất tài. Nhưng tôi có tài hơn anh tôi là Hai Điền.

Bá Vạn nói phân bai:

– Người có đức thì sống dai. Cậu chỉ có tài…

– Hai Điền chỉ biết săn heo rừng… Tôi thì… dẹp được bọn làm phản. Bởi vậy… Rượu đâu?

Bọn hộ vệ dân rượu cho cậu Cẩu. Cậu uống một hơi cạn bầu rượu rồi trợn mắt.

– Bậy quá. Thiệt là chó chết.

Lời trách móc vu vơ khiến Bá Vạn phật ý. Hay là cậu muốn hại ông, theo kiểu được chim bẻ ná? Cậu Cẩu bỗng dưng đứng trên mui ghe, quát to:

– Dân làng đâu! Tại sao không đánh trống, đốt đuốc lên để mừng khi ta thắng trận?

Rồi cậu cầm hai lá cờ trong tay, múa qua múa lại như ông tướng trong tuồng hát bội. Xí Vĩnh nói khẽ với Bá Vạn:

– Cháu bực mình quá.

Bá Vạn nói khéo:

– Vài ngày nữa, bác đưa cháu… cháu bỏ vô thức ăn.

Xí Vĩnh gật đầu:

– Dạ như vậy là để…

Bá Vạn cười tủm tỉm:

– Nó là thằng điên nhưng là thứ điên giết người. Để nó sống thì bác cháu mình chết.

Dân chúng Hòn Chông tha hồ cờ bạc và uống rượu. Bọn người tản cư được lịnh về núi Mo So. Họ xin ra mắt cậu Cẩu để cám ơn.

Cậu Cẩu uống rượu với Bá Vạn. Cô Huôi ngồi nghiêm mặt, trên bộ ván gõ, cách độ chừng vài bước.

Rượu say ngà ngà. Cậu nói:

– Bây giờ ta nên hạch hỏi tụi nó! Tại sao trên núi có hai lá cờ? Dẫn tụi nó lên đây!

Thật ra Bá Vạn còn nóng nảy hơn cậu Cẩu. Người bị bắt hiện đang bị giam trong nhà riêng sau hè. Bọn hộ vệ dẫn hắn đến. Hắn cự nự lâu lắm mới chịu quỳ lạy.

Cậu Cẩu hỏi:

– Tên gì? Mặt mày sạch sẽ quá vậy? À! Dường như tao gặp chú mầy một lần. Mấy chú là ai?

Người nọ nhìn thẳng về Bá Vạn. Bá Vạn hơi e ngại vì thật ra địa vị của ông không được vững cho lắm. Cậu Cẩu sẽ hạch tội, xem ông là kẻ thù, tùy sự cao hứng. Để đánh tan sự nghi ngờ, ông lên tiếng, đứng hẳn về phe cậu Cẩu:

– Nó là đứa Sơn Đông mãi võ, hồi tháng trước tới đây một lần.

Cậu Cẩu nói nhanh:

– Nó là cái thằng nhảy qua vòng lửa. Tội đáng chết.

Nhưng Bá Vạn lại hạ giọng vô tư như để cứu vớt người có tội:

– Lúc bị bắt, nó không kháng cự. Nó nói rằng lá cờ tam sắc do người Lang Sa trao cho nó, muốn nó đem cắm tại núi Mo So và Hòn Chông!

Cậu Cẩu lại cười:

– Như vậy là người Lang Sa yếu ớt lắm.

Bá Vạn muốn nói rõ hơn để cậu Cẩu kiêng oai người bị bắt:

– Có một khẩu súng lạ lùng nhưng bắn không được! Người nầy tên là Tư Thiện…

– Dạ, tôi là Tư Thiện. Người Lang Sa mướn tôi đến đây. Vậy thì cậu đừng giận, tôi là người thừa hành phận sự.

Cậu Cẩu chưa bao giờ ra khỏi vùng Hòn Chông nên trố mắt:

– Lang Sa là cái gì? Cây súng đâu?

Tư Thiện kéo vạt áo ngay ngắn, nói chậm rãi, tin rằng nếu xử sự khéo léo thì thoát nạn, được trọng dụng là đường khác. Dầu sao đi nữa, cậu Cẩu cũng cần dùng anh ta để tìm hiểu thêm về người Lang Sa.

Ngoài ra, theo Tư Thiện nhận định thì Bá Vạn và người con gái xinh đẹp kia chưa đến đỗi khờ dại mà gây sự quá sớm với những người Lang Sa đang chiếm đóng vùng phụ cận Hòn Chông và kiểm soát bờ biển.

Tư Thiện nói:

– Thưa cậu, Lang Sa là Phú Lang Sa. Đó là một nước hùng cường. Họ chiếm cứ thành Sài Gòn, Biên Hoà, Vĩnh Long…

Cậu Cẩu nói nhanh:

– Nhưng Hà Tiên và chợ Rạch Giá còn hay không?

Tư Thiện nói không do dự:

– Mất mà như còn. Còn như đã mất.

Cô Huôi nhìn thẳng vào Tư Thiện. Anh ta quả là người thông minh, biết ăn nói khéo léo. Anh ta chưa lớn tuổi, hơn bốn mươi, nước da trắng, trán cao, mặc kiểu áo vạt hò, chân đi dép. Có thể nói là đẹp trai.

Cậu Cẩu trợn mắt:

– Cái gì mà còn còn, mất mất? Tôi không đụng chạm tới người Lang Sa thì người Lang Sa đừng đụng chạm tới tôi. Sao ăn nói khó nghe quá.

Cô Huôi bèn lên tiếng để cậu Cẩu đừng nổi điên lúc nghiêm trọng nầy. Theo ý cô thì Tư Thiện có thể ở lại đây, gióng nhiều sáng kiến. Từ bên kia bờ biển phía Tây mà người Lang Sa qua tới đây để mua bán thì rõ ràng họ có tài hơn cậu Cẩu. Quân sĩ triều đình Huế còn chịu thua người Lang Sa, huống hồ gì bọn hộ vệ ở vùng đồi núi cheo leo nầy. Quả thật cậu Cẩu là con ếch ngồi đáy giếng.

– Tư Thiện nói rõ cho cậu hiểu tình hình ở chợ Rạch Giá như thế nào. Hoặc là nay mai, cậu cho người đến kết thân với người Lang Sa.

Cậu Cẩu lắc đầu:

– Nói rõ tại sao chú mầy đem lá cờ tam sắc tới đây? Chắc là dọ thám. Chú mày quen với thằng Thừa như thế nào?

Tư Thiện liếc thấy cô Huôi mà anh ta đã nghe danh từ lâu. Hồi ở chợ Rạch Giá, viên cai đồn người Lang Sa giao cho anh ta trách nhiệm đến Hòn Chông để dò xét sự kháng cự của dân chúng, những sào huyệt bí mật do quan lại địa phương điều khiển. Anh ta trở về báo cáo sự thật.

Khi biết rằng ở Hòn Chông và vùng đồi núi phụ cận chỉ có vài chục hộ vệ quân mang dao mác, sống một cõi với ông Chúa Hòn thích đá cá thia thia, viên cai đồn nhận định rằng Hòn Chông là nơi không cần xâm chiếm quá sớm. Lần thứ nhì, Tư Thiện được lịnh đến núi Mo So để nghiên cứu sản phẩm địa phương, nguồn lợi sáp và mật ong. Anh ta gặp thằng Thừa, liên kết với nó rồi bị bắt.

Nếu trả lời không khéo léo, anh ta biết rằng tánh mạng khó bảo toàn, khi cậu Cẩu nổi giận. Nhưng anh ta chưa yên tâm vì có Bá Vạn và nhứt là cô Huôi xinh đẹp. Hai người nầy vẫn giữ nhiều quyền hạn, can gián cậu Cẩu.

Anh ta nói:

– Người Lang Sa đóng quân ở chợ phố, ở cửa biển. Trong xóm hẻo lánh, nơi đồi núi, ai làm gì mặc kệ.

Cậu Cẩu hỏi:

– Nhưng chú mày đến tới đây để dọ thám?

Tư Thiện nhìn thẳng vào cô Huôi rồi cúi đầu:

– Tôi đến đây tìm mật và sáp ong, đem về bán lại cho thương gia ở chợ Rạch Giá. Thằng Thừa bắt sống tôi, lấy tiền bạc.

Cậu Cẩu quát to:

– Còn lá cờ tam sắc? Xứ của tôi mà tại sao người Lang Sa đem cờ tới cắm, không xin phép?

Câu hỏi bất ngờ ấy khiến Tư Thiện lúng túng. May thay cô Huôi lên tiếng:

– Cậu à! Đó là Tư Thiện muốn chứng tỏ lòng thành thật. Nếu là dọ thám thì ai ngu dại gì mang theo lá cờ cho thiên hạ thấy mà bắt sống. Vả lại, lá cờ tam sắc…chỉ là miếng vải có ba màu, như lá cờ ghi rõ tên một đoàn hát Sơn Đông mãi võ vậy thôi. Cây cờ đó đã vào tay cậu. Cậu cứ xé bỏ hoặc để dành coi chơi. Từ nãy giờ, tôi không nghi ngờ Tư Thiện. Đó là người mà cậu xài được, hoặc cho ghi chép sổ sách, hoặc cho luyện tập bọn hộ vệ. Nghe nói Tư Thiện có khẩu súng.

Cậu Cẩu thích chí:

– Tư Thiện hầu hạ tôi. Nay mai tôi đi chợ Rạch Giá một chuyến. Cây súng hư rồi, không có đạn.

Tư Thiện nói khéo:

– Thưa cậu, người Lang Sa chỉ cần tiền. Hễ cậu đem tiền tới là họ bán súng cho cậu…

– Ừ! Phải đó. Đem rượu ra uống chơi.

Bá Vạn rót rượu mời cậu Cẩu. Cậu Cẩu nói giọng kiêu hãnh:

– Tư Thiện uống đi, ta tha tội cho. Nhưng nói rõ những điều tai nghe mắt thấy. Chợ Rạch Giá, chợ Sàigòn, chợ Mỹ Tho lớn hay nhỏ so với chợ Hòn Chông của ta?

Tư Thiện đáp:

– Thưa cậu, chợ Sàigòn kém xa chợ Hòn Chông!

Câu nói khoác lác, nịnh bợ khiến cậu Cẩu sung sướng:

– Thật vậy sao? Nhưng Sàigòn có khác hơn chớ? Lang Sa làm cách nào mà vượt biển tới đây? Họ ăn uống như thế nào? Họ biết săn heo rừng không?

Bá Vạn và cô Huôi lắng tai nghe. Những chi tiết mà Tư Thiện sắp nói rất quan trọng. Cả hai hiểu rằng người Lang Sa quá mạnh dám dùng người. Ít nhứt là bên phía Lang Sa còn nhiều nhân vật tài ba hơn Tư Thiện.

Tư Thiện đáp:

– Người Lang Sa dùng tàu sắt. Lúc tàu chạy thì máy móc nổ ầm ầm, tàu chạy rẽ sóng, không cần chạy buồm hoặc chèo. Lúc chạy, tàu phun khói đen kịt, còn hơn con rồng. Họ ăn bánh mì dùng tay xé từng miếng nhỏ. Rượu thì chát, lạt hơn rượu đế. Chợ Hòn Chông nầy đẹp hơn Sàigòn về phong cảnh, có núi non hữu tình…

 – Nhưng tại sao quân sĩ triều đình lại thua người Lang Sa?

– Dạ, họ có súng to, đứng xa một hai dặm, họ bắn trúng đích. Tàu sắt của họ chạy mau. Họ mang giày da…

Cậu Cẩu vỗ trán:

– Tại sao ta không giăng dây ngang sông mà cản mũi tàu?

– Tôi nghe đồn rằng trước mũi tàu họ có cái ống bễ và cái lò rèn nhỏ. Khi gặp dây sắt, họ thổi lửa lên, dây sắt chảy ra.

Cậu Cẩu buột miệng:

– Giỏi thật.

Tư Thiện nói thêm, để chứng tỏ lòng thành thật của mình:

– Còn giày da thì đi không vững khi gặp đất sình lầy. Ở Trung Lương – Mỹ Tho, quân sĩ triều đình chống cự, treo bảng cầu hiền. Có người đến dâng kế là lấy trái mù u khô, rải đầy mặt đường, tin rằng người Lang Sa phải trợt té vì dưới chân mấy trái mù u cứ lăn tròn.

– Rồi họ có té không?

– Không ai té hết vì trái mù u bị dập nát khi chiếc giày đạp lên! Hiện giờ, người Lang Sa mua bán khắp Nam kỳ Lục tỉnh.

Cậu Cẩu xám mặt lại, thấy nguy cơ sắp xảy ra. Nhưng chẳng lẽ cậu lo sợ trước mặt Tư Thiện! Cậu hơi run tay.

Cô Huôi biết rằng nếu để chậm trễ thì cậu Cẩu sẽ ăn nói hỗn láo hoặc ra lịnh xử tử Tư Thiện. Nãy giờ, cô đã có cảm tình và kính nể người mới đến. Tình thế đã thay đổi. Bá Vạn không còn đủ sáng suốt để ứng phó với chuyện rắc rối mà người Lang Sa sắp gây ra ở vùng Hòn Chông nầy. Tư Thiện mới đúng là người của thời cuộc. Cô nói rõ từng tiếng:

– Cho Tư Thiện ở căn nhà riêng. Mai chiều, ta nhờ Tư Thiện mua súng ống của quân Lang Sa. Tư Thiện có lỗi nhưng ta đang cần dùng…để làm tay sai.

Cậu Cẩu vui sướng, cười tươi tỉnh:

– Phải! Người giỏi như Tư Thiện chỉ đáng làm tay sai của ta. Bây giờ ta mệt, nên ăn uống cho khoẻ.

X

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 3 May 2022

Post by Sơn râu 27 May 2025

1.

Chân dài: Ông ta khoảng ngoài năm mươi, tôi áng chừng vậy. Tôi chưa từng ngó ra lão giữa thanh thiên bạch nhật. Nghề của tôi chỉ tiếp xúc với hạng người tà đạo, bọn dạ hành lấp liếm chuyên đi săn đêm. Ban đêm nhà ngói cũng như nhà tranh. Hỏi nhau tới nhan sắc, tuổi tác, ngoại hình… là xem như chơi khó nhau. Làm sao trông rõ, xem mặt mà bắt hình dong?

Không biết tên. Nghe bọn đi cùng gọi tuỳ tiện: Anh Hai, khi thì Đại ca, có lúc ông Thầy. Thi thoảng nghe kêu Thủ trưởng, lắm bận lại Sếp. Những kẻ đến đây thông thường chúng mang biệt danh hoặc bí số gì đấy. Chúng dấu nhẹm tên tuổi, an toàn để ở nhà cho vợ con cất. Chùi mồm sạch sau khi ăn vụng, đă đành, lại thống nhất việc giữ kín hành tích thân phận. Mèo dấu cứt thì kín đáo cũng tầm cỡ ấy thôi. Biết chết liền!
Tiền bạc hở? Đại gia ư? Lão ta là loại ngoài rìa, không chịu để cho kẻ khác sắp hạng thứ lớp. Một quan chức cán bộ, thế lực của lão ở địa phương nầy buộc người ta phải thay đổi tư duy cũng như mọi định nghĩa về sự vật. Đen có thể biến thành trắng trong nháy mắt, giả dụ vậy. Nghe đồn đãi, một bà mẹ, đêm hôm có thể mang chân dung vô hình tướng của lão ra để doạ dẫm trẻ thơ, làm câm họng tiếng khóc nhè, khát sữa. Hơn cả ông kẹ!Ông ưa đổi thay, thậm tẻ nhạt nếu cứ mãi nhìn một nhân dạng, một hình tướng. Ông bảo thế. Cực chẳng đã, sau khi đã trải nghiệm qua, đã đi giáp vòng những lối mòn, ông chỉ định đứa nào tương đối có thịt da nhất và gợi ý với má mì: Muốn kinh doanh một nhà hàng đặc sản, chí ít cái tấm thực đơn của quán ăn ấy phải không dưới mười hai hạng mục để chiều chuộng khẩu vị khách khứa, đó là chưa kể tới món khai vị hoặc đôi ba thứ dùng tráng miệng.Tôi từng là món ông dùng để khai vị, thứ ông xơi lai rai đêm dài lắm mộng cũng như làm cú tráng miệng sau cùng trước khi dắt tăm vào giữa đôi môi thâm dầy háu đói. Nói chung là đéo sướng. Một khứa lão trọng tuổi hơn cả bố mình đang dày xéo mình… Buồn. Nhục. Có cái an ủi, dẫm chân vào nghề bạc ác này thường chẳng trụ được lâu. Đôi ba năm nhan sắc tàn phai, người chảy nhão; phải tự tìm đường rút lui nhường đất cho bọn nhí, em út mới lớn tới chiếm đóng điền thế. Mấy ông nội xã hội đen đi lại trong giang hồ cũng từng đưa ra một lập thuyết tương tự: Sóng sau xô sóng trước, phải tự lượng sức mà rửa tay gát kiếm, tìm chốn quy ẩn. Buông đao xuống hoạ may thành Phật!

2.

Bà bán cơm bụi đường Đồng Khởi: Trước, có chút nhan sắc, có ngoại hình khá bắt mắt và hiền thục ngu ngơ như gái quê, tôi được tuyển làm phục vụ viên trong quán nhậu uy tín nhất thị xã, quán “Sương Sương MàTới Bến”. Có thể người đời đã đánh giá, đã nghĩ sai về đội ngũ lao động như bọn tôi. Cũng có thể do bởi tôi điên rồ, tôi dại khờ, tôi dở hơi, tôi té giếng nên đã mù quáng lỡ tay phạm thượng. Đêm đó, ông ta đi cùng đám người chộn rộn trong cơ quan đến quán đánh chén ăn mừng thắng lợi về một hợp đồng béo bở nào đấy vừa bút sa gà chết. Tôi mang bia ra, ông ta chồm người qua mặt bàn để thò bàn tay hộ pháp tới bóp vú tôi. Ma nhập hay sao ấy, phản ứng điện giật là tôi đã tạt nguyên cốc bia vào mặt đương sự.Hậu quả là tôi đánh mất tương lai, nhân thân xấu, lý lịch đen để biến đổi thân phận, đầu thai sang kiếp khác. Tôi thành tâm vào chùa thắp nhang cúng vái mong giải oan nghiệp chướng. Sư bà an ủi: Mô Phật! Chưa tù tội nhục hình chết chóc là đã may. Có căn tu chăng? Ăn hiền ở lành chăng? Quới nhơn, người khuất mặt khuất mày dõi trông phù hộ chăng?

3.

 Hoạ sĩ Hoa: Bắt đầu từ Festival Huế, năng nổ tham dự hầu hết những cuộc giao lưu văn hoá cùng bè bạn thế giới đổ về tham quan, hăng say đi thực hiện loạt sáng tác tranh đường phố, tôn vinh và xiển dương nét đẹp đặc trưng truyền thống của dân tộc, tôi bắt đầu tạo dựng chút tên tuổi; được những cơ quan tài trợ ưu ái đặt cho danh hiệu: Cành phượng đất Thần kinh.Một ngày đẹp trời, sau buổi bàn thảo sơ bộ có tính đại cương ở nhà hàng đặc sản “Không có phụ nữ xấu, chỉ sợ không đủ thịt cá sấu cho phụ nữ ăn”, tôi được xe ô tô con rước về căn biệt thự tiền tỷ trồng nhiều cây cao niên thâm u ở vùng ngoại ô tịch lặng mà đất ở đấy đang nằm trong tầm nhắm của các đại gia chuyên làm đảo điên chuyện rừng vàng biển bạc. Khác với những chẩn đoán thường vô căn cớ, thiếu cơ sở về những ông quan tai to mặt lớn, thực bụng tôi rất an tâm khi được diện kiến gia chủ, người có thời làm bí thư tỉnh uỷ và một dọc những chức phận đi kèm nghe thót tim. Hồng hào, tươi nhuận, vui tính, xuề xoà… Ông không hề cho người đối diện thoáng mọc vu vơ cái cảm nhận hồ đồ, rằng sáu chục tuổi thì còn nước nôi gì để tạo dáng nhanh lẹ cường tráng thậm sung như tớ đang hiển thị rành rành. Không tuổi tác, phương phi là một từ khác nhằm tô đậm thần sắc linh hoạt lên người tôi đang hầu chuyện. Ông có lối nói thật ấn tượng, quả quyết, chủ động, chẳng vòng vo, trấn áp đối phương. Đó là ngôn ngữ rổn rảng của kẻ đầy quyền lực và kẻ ấy chừng như chưa hề tạo ra sai lầm trong suốt quá trình từ hạ tầng cơ sở leo dần tới thượng tầng kiến trúc. Một sự tự tin thái quá, chủ quan cả vú lấp miệng em hệt như tấm băng-rôn đỏ chói lọi treo mắc cửi phố phường: Chủ nghĩa Mác-Lê bách chiến bách thắng muôn năm! Muôn năm hay muốn nằm? Ông ngả người xuống ghế, chiếc ghế lớn rộng khảm xà cừ, gỗ lên nước bóng lộn với vô số hình phù điêu chạm trổ công phu. Ngai vàng của hoàng thượng chưa chắc được hoành tráng tựa thế. Long sàng e cũng kíp nhường ngôi. Ông ngó tôi, từ đỉnh đầu xuống tới gót chân, dừng sâu ở diện mạo, chú mục tới khuôn ngực nhô ra những nhịp đập thất thường.Theo hợp đồng, tôi sẽ phải thu mình trong căn biệt thự trống trải ấy, ngắn hay dài ngày tuỳ vào thành quả lao động nghệ thuật của tôi. Tôi sẽ phải hoàn tất hai bức tranh sơn dầu kích cỡ khác biệt. Nhỏ: Chân dung. Lớn: kích thước thật, y hệt con người bản lai diện mục ông mang. Và ông muốn đi thụt lùi vào thời tiền sử, giai đoạn khỉ vừa lột xác thành người, nghĩa là trần trụi, nghĩa là tranh nuy, nghĩa là dơ dáng dại hình, nghĩa là chẳng có gì che đậy. Tranh vẽ phải hơn máy chụp hình, theo đòi hỏi của ông. Ông làm sáng tỏ: Phản ánh khách quan là nhiệm vụ của quang khẩu mở, đóng, chụp bắt, thu hình. Rất trung thực nhưng thiếu hẳn cái hậu cảnh phông màn đằng sau khi mình tha hồ muốn dàn dựng thoả chí. Tôi khoả thân ung dung tự tại phía trước bỏ quên sau lưng cảnh một con rồng bay ngang mặt biển vờn nguyệt giỡn mây. Đặng không? Nhắm ăn nổi không? Ý tưởng chủ đạo là thế nhưng Hoa có quyền thêm bớt những tiểu tiết để bức tranh hiển lộng một uy lực siêu khủng. Người xem dẫu gà mờ chẳng thông hiểu ẩn ngôn của hội hoạ vẫn có thể rùng mình choáng váng trước bao dời đổi của thế sự đảo điên. Vốn là sản phẩm của tưởng tượng nhưng rồng là loài vật dễ hớp hồn người nhất, gieo cho chúng sinh thứ cảm nhận đầy mê muội của một lòng thần phục khó bề cưỡng chống.Khi thao tác nghệ thuật trước khung bố, tôi đã phải ngừng cọ lắm phen. Người mẫu nằm yên theo đòi hỏi nhưng cái vật quái gỡ dị hình dị tướng kia thì khác, mãi vọng động. Như thể đã có một thế lực thù địch nào luôn mang âm mưu đen tối tới truy bức, hãm hại. Ông nói: Nhìn nó rung động, Hoa có mang vào lòng một nỗi niềm gì không? Đừng nói với tôi là khi hy sinh cho nghệ thuật, ta phải cương cường đạp đổ hết mọi chướng ngại, xét đó là rào cản thấp hèn, hoen ố trần tục. Vói dáng vẻ một con báo vồ mồi, ông đã phủ chụp tấm khăn choàng quyền lực lên phần số đen tối tôi mang. Gầm gừ bằng ngôn ngữ loài người, con mãnh thú ấy cất tiếng: Tôi sẽ trao cho Hoa những cơ hội làm bàn đạp tiến thân. Tài năng như Hoa, một siêu sao về lĩnh vực tạo hình, chuyện đó vốn không khó nắm bắt, tin tôi đi, cũng như tôi luôn thủ đắc một đề cương, có qua có lại mới toại lòng nhau. Sống ở đời, chả có thứ gì là miễn phí là hàng khuyến mãi đối với mình cả. Hoa tin không? Ông đã nhẫn nha gặm nhấm con mồi trong ba thời khắc, bởi theo sự suy diễn ông bộc bạch, rằng định luật quang học rất ảnh hưởng tới vấn đề âm dương hoà hợp. Tôi trải thân dưới người ông vào bình minh, đúng ngọ và nửa đêm về sáng. Tôi đã nuốt ngược nước mắt hai lần, ngăn suối lệ hoen ra trên gối. Và duy một lần, nếu được ai khích lệ, tôi sẽ rên rỉ thành tiếng, manh động oà vỡ cơn hoan lạc như biểu tỏ một khám phá, có khi hạnh phúc đến tìm bằng tận cùng những đớn đau. Nếu mai đây ông làm lãnh tụ một bộ phận linh tinh có trong guồng máy điều khiển nước nhà nhiêu khê trắc trở chậm lụt này hẳn khi đó tôi sẽ viết tự truyện cực ngắn, siêu mỏng: Đời đời nhớ ơn chủ tịch đã giải phóng một thiếu nữ dại khờ ở tuổi 23 đen như đêm ba mươi.

4.

Chú Tư vé số: Muốn cải thiện chút chút cuộc sống trầm trầy trầm trật và trầm kha này, chiều hè êm ả ấy nghe lời đường mật tui đã ngửa tay nhận tiền để đêm khuya hợp sức cùng một đám người đeo khẩu trang hì hục chui lỗ chó tạt hắt tám thùng chứa phân người cũng như đầu tôm đuôi cá ruột rà thú vật vào trong nhà ông Bê suông sẻ trót lọt. Sau đọc báo mới biết ông Bê là đảng viên đang có đấu đá quyền lực trong nội bộ, doạ khui thành tích man khai của ai kia làm mích lòng đụng chạm tới một quan chức có tiếng là anh hùng trong kháng chiến chống Mỹ thần thánh. Tui ít học nhưng ngẫm lại việc mình làm là bậy bạ dễ bị khiển trách, còn tệ hơn mụ vợ tui khi không bỏ buôn bỏ bán hí hửng mang về nhà một két bia hôi của rơi lăn lóc ngoài đường. Có sao đâu, trời đãi kẻ khù khờ, ai cũng lăn xả nhập cuộc vui, mấy khi mới được hưởng. Tối nay đợi mấy mặt con say ngủ ông thử uống bia ôm xem sao. Lâu quá rồi cứ đầu tắt mặt tối chẳng có điều kiện thuận lợi để nói chuyện mặn nồng. Kệ, ông với tui cứ chơi đại một hai lon xem say tới cỡ nào đặng nằm ôm nhau mà gác chân lên tâm sự chuyện đời đắng cay cho thoả dạ. Chuyện đời lạ lùng, sau sự cố hôi hám tanh tưởi ô nhiễm môi sinh cả một khu vực, ông Bê thôi hét ra lửa, làm đơn yếu xìu xin ra khỏi đảng, đề đạt nguyện vọng tâm tư đại để như rũ áo từ quan về cầm chổi quét sân trước và đuổi gà ở sân sau. Ông Bê tâm sự, tui hiến dâng cả đời tui cho cách mạng ngang tới đoạn này là xem như đã ớn tới tận cổ, rách như cái xơ mướp trong cuộc hí trường, bị cả dòng họ nội ngoại thảy ra mặt khinh khi, ác đức bất nhơn biết sao mà thổ lộ! Nhiều đứa nghe, có đứa chảy nước mắt.

5.

Minh Bảo Đường: Cha truyền con nối đã hơn ba đời vương, theo thời cuộc, bổn tiệm chuyên trị hàng độc thuốc bắc thuốc nam thuốc dân tộc thuốc cây lá thảo mộc eo xèo lao đao đã lắm bận. Có dạo chỉ sống lai rai nhờ vào rượu thuốc nhân sâm, rượu ngâm mãng xà rắn rết, rượu cường dương bổ thận hoàn ông uống bà khen hay. Rượu chân mòn mà gối không mỏi, cái mới khó đụng hàng! Thời gian gần đây, cũng do thời cuộc mặn phong thuỷ, tin thần thánh, thầy tướng số nhà ngoại cảm mọc ra từng dề bổn tiệm theo đó cũng có lắm khách vãng lai đến để bốc thuốc. Từ một gói cân đo đong đếm gia giảm hương liệu dùng để ninh một nồi phở cho chí nguyên vật liệu làm thuốc xông cho đàn bà đẻ chóng hồi sức. Thân chủ đa phần đều nhờ xắt thuốc xin toa thứ chứa hợp chất nhằm chữa bá bệnh, ăn đứt Xuyên tâm liên thời mới phỏng dái. Nói chung, nôm na là từ sống thoi thóp nay đã chuyển đổi qua sống mạnh sống vững chắc. Trải lòng chỉ chốc lát thôi, và riêng tư; chứ bọn sát thủ mà nghe được chúng tới hỏi thăm sức khoẻ thì ngay cả Hoa Đà lương y như từ mẫu tái thế cũng xin bó tay chấm com. Ruột đổ ngoài da. Tiệm vắng, cô quạnh, neo người vì con cháu lần hồi vượt biên hết ráo, vì dạo xẩy ra cuộc chiến tranh biên giới chống bọn giặc phương Bắc phản động, nhà nước liền mang sự ác cảm nghi ngờ bọn người Hoa chúng tôi, quy chụp là thành phần nội ứng, là cảm tình viên, là trợ thủ đắc lực nội công ngoại kích cho bọn xâm lược bành trướng. Nói thế là oan ôi ông địa! Là xét theo gia phả xưa goắc cần câu, từ đời tám hoảnh nào đó, chứ giờ đây chúng tôi là Duỵt Nàm dành, người Việt chay chứ Tàu bè cắc chú thế lực thù địch nào nữa chớ! Ngộ nói mà lị có hiểu không? Hẩu lớ. Có chạy ra nước ngoài tha phương cầu thực thì đè mấy ông đế quốc đầu sỏ mà xin nương náu chứ tội vạ gì chui đầu vào Tung cọt. Ai mà chơi được với Mao xếnh xáng! Biết rồi, khổ lắm, cứ nói. Người nước lạ gọi là đả thông tư tưởng. Người nước lạ cũng có thành ngữ “hữu xạ tự nhiên hương”, một hôm có chiếc xe xịn gắn bảng số tứ quý thể hiện đẳng cấp đỗ ngay trước cửa bổn tiệm. Quan không nhọc thân giá lâm, chỉ là bốn đứa đệ tử mặt mày vênh váo vào đặt hàng. Sau hơn cả giờ đả thông tư tưởng, đôi bên mới rõ lý đạt tình, rằng thì là tôi có sứ mạng bốc cho quan một phương thuốc thần dược nhằm xuống đông đông tĩnh lên đoài đoài yên, nôm na đánh đâu thắng đó, đánh đến rách cái lai quần vẫn đánh, đánh cho đối phương đạt cao trào hưng phấn ta mới buông đao xuống ngựa hạ hồi phân giải. Sứ giả tâm phúc của quan rù rì: Ngài từng thử qua Viagra nhưng đồ rằng món ấy chẳng hợp tạng. Ta về ta tắm ao ta, người phương Đông e nên xài linh chi ngàn năm để đả thông hai huyệt nhâm đốc tăng thêm mười hai thành công lực chăng? Ui chao, đột xuất quá. Hạng dân dã thì cho chúng liều lượng qua loa cây lá linh tinh, chứ một vị đại thần như ổng thì ngộ hổng dám vuốt râu hùm, bèn có lời thưa thốt: Dạ, bổn tiệm hiện không có linh dược, phải kíp thỉnh cầu sang Đài-loan o-đờ ngay, chúng đóng gói gửi hoả tốc thì mất ngoẻn ba ngày. Ba ngày đối với kẻ ngắc ngoải đợi bắt tay thần chết thì lâu tợn, tợ thiên thu; nhưng thời gian nọ dành cho kẻ quyết tâm đi vùi hoa dập liễu thì chỉ là vó câu bên ngoài cửa.Chấp nhận thương đau. Quan nhắn gửi thông tin cuối: Trăm sự ta chỉ trông nhờ có mình lão thôi. Hãy xem đó là trọng trách, gắn chu toàn để ta an tâm đùa vui những mùa Xuân đại thắng cuối đời. Bí mật là phương châm hành sử của kẻ thức thời. Mafia có tuyên ngôn 3 không: Không thấy, không nghe, không biết. Ba ngày thôi, đúng không? Ta đợi ta chờ ta trông.

6.

Bảo vệ: Tôi tên Tướng. Trong cơ quan, ai cũng có cảm tình. Cô Hồng kế toán viên bảo: Cái tên ấy nhằm nói đến một bộ phần nào, chứ cái mặt thư sinh của anh, má đỏ môi hồng, ôi chao, dễ ghét quá đi. Nào, cho em thăm thú nhé. Vậy đó, ngay thủ trưởng giám đốc cơ quan cũng từng tuyên dương: Cái hay của một bảo vệ như Tướng nằm ở chỗ ngỡ có mà không, ngỡ hư mà thật. Cậu ấy dáng vẻ là sinh viên nhưng vì bổn phận, khi ra đòn thì gặt hái thành quả ngay. Kẻ xấu bụng, thành phần bất hảo sẽ ngờ vực: Sao cái mặt búng ra sữa kia lại có nhiều ngón nghề dắt lưng thế nhẩy? Hổng kịp trở tay! Nói như trên, ý tôi muốn diễn đạt, đôi khi cái tên mình mang chả có tác động để lậm vào người. Nơi tôi công tác trước đây có anh mang tên Thật, anh ấy có rất lắm bí danh và khi anh thuật chuyện, anh thường vui mồm hư cấu phóng đại sự việc, mông lung huyền ảo rất khó lường. Anh Nguyễn Thành Đạt cũng vậy, anh chưa tốt nghiệp bậc tiểu học, anh là bộ đội phục viên và hiện anh có dựng tấm bìa cứng chéo cơ quan, ngồi vá xe thủng ruột và thường nhìn đời hiu quạnh. Anh có băng qua đường xin tôi điếu thuốc. Anh nhổ toẹt bãi đờm vướng họng: Mẹ nó chứ, e có ngày thằng Thành Đạt này làm đinh tặc quá. Đời thằng Đại Dương giờ này đã phất vì nó lên rừng làm lâm tặc, tối ngủ mộng lành vì gối đầu thường không dưới năm chục triệu. Mẹ nó chứ, sao nó không bị gãy cổ nhỉ, cái cũng lạ!Tướng? Mấy bà chị đi ăn nhậu, đi hát karaoke thường mắng yêu mấy thằng đàn ông mang tật ngứa tay: Thôi đi ông Thánh ông Tướng, giờ này khuya khoắt gì cho cam mà đã sớm bày trò lùng sục mân mê. Để yên cho người ta xả xì-trét.Tướng? Hình như thiếu chữ cướp đi cùng, nhỉ? Hôm ấy trong cơ quan xẩy ra chuyện, người ta gọi tôi vào để trói ké một lão già mãi mồm năm miệng mười: Chúng bây là một bọn tướng cướp, không hơn không kém. Tôi làm xong bổn phận, nghĩa là gọi công an đến để họ dẫn về trụ sở làm rõ nguyên nhân khiến đối tượng bức xúc gây mất trật tự cơ quan nhà nước. Qua báo cáo của Nguyễn Thành Đạt, nghề vá sửa xe của anh là nơi thu lượm lắm tin tức thời sự, tôi biết lão già ấy là chủ tiệm thuốc bắc ở bên phố, ông bị sếp của tôi lường gạt một số tiền lớn, dùng chi trả cho thứ linh dược hiếm quý nhập về tử Đài-loan. Lý do khiến sếp lớn không chịu thanh thoả vì ông bảo đó là hàng nhái, chẳng thể đồ xịn chính hãng, uống không gây hiệu ứng như trông đợi lại gây thêm phản ứng phụ. Sếp mắng: Đéo mẹ, tao chưa nhốt mày vào lao là phước cho mày lắm rồi, còn to gan vu tao là tướng cướp! Giòng họ nhà mày mới là tướng cướp, biển đảo người ta đang lặng sóng thế kia, không dưng lại…

7.

Quan toà: Chí công vô tư là phương châm hành động của chúng ta. Xét bắt ai phải đúng người đúng tội. Chúng ta phải có dũng khí để nhắm mắt nói không, xua tay từ chối những phong bì bôi trơn lật lọng ém nhẹm sự thật. Một bên là chính nghĩa trong khi việc bôi trơn kia là cách hành sử của thế lực ám muội kiểu tư bản dẫy chết. Ngay từ đầu phải tuyên chiến với những lươn lẹo, bề dày bộ luật cộng hoà xã hội chủ nghĩa sẽ dẫn dắt ta tới công đạo, đâu ra đó, rút tỉa kinh nghiệm để tránh vụt những đường đao vào mặt nhân dân.Sau khi thống nhất vụ việc, những diễn tiến của câu chuyện mà bọn ác khẩu gọi là “thường ngày ở huyện”, chúng tôi đã hội ý, đấu tranh rất căng ròng rã tháng trời, trên đã gửi xuống văn bản tuyệt hậu như sau: Ông Minh Bảo Đường, 69 tuổi, tù 8 năm 3 năm cưỡng chế vì tội âm mưu cấy độc tố vào người cán bộ trông coi một bộ phận không nhỏ trong guồng máy nhà nước thông qua đường sinh lý trong uống ngoài thoa kích dục và đã tác hại tới tiền liệt tuyến đêm bảy ngày ba vô ra toa-lét giải thuỷ xác xơ chim cò mà theo giấy chứng thương của bác sĩ chuyên khoa da liễu xét nghiệm rằng thì là bệnh nhân nghe như sét đánh ngang tai đang hùng mạnh chuyển qua yếu xìu không thể nào hồ hởi phấn khởi tợ như kỳ vô phong nhan sắc cực kỳ thảm hại. Riêng cá nhân ông Phạm Vương, bí danh anh Chín, 61 tuổi, qua quá trình điều tra thu thập chứng cớ cũng như hỏi chuyện những nạn nhân trước đây không dám tố cáo bưng bít sự thật, chúng tôi đã thống nhất đi tới kết luận đương sự mang chứng hoang tưởng ngỡ mình là vua của một vùng miền, ưa hô phong hoán vũ và đặc biệt thích xơi gái trinh nguyên để sống lâu trăm tuổi như truyền thuyết những vị vua ngày trước, thời phong kiến thực dân cha truyền con nối cơ ngơi thế lực khủng. Vì bận dưỡng thương nên khiếm diện chốn công đường, tuy nhiên khi nghe qua những luận tội sơ khởi đương sự cũng đã hình dung ra bản án, đấy là bị đuổi ra khỏi đảng, thu hồi chức vụ, cho dưỡng thương đến khi thực sự bình phục mới ra hầu toà nghe tuyên án tiếp. Tội phạm đã cúi đầu chấp nhận khung hình phạt của bản án, do bản tính vốn lạc quan nên người đàn ông 61 tuổi đã đùa dai rằng: Tôi thực bụng chả muốn làm quan, chứ hỏi quý vị, trên bảo dưới không nghe như giờ nầy thì sinh lực vui thú đéo gì nữa mà mặn nồng đeo bám danh lợi! Búa gỗ gõ chan chát xuống mặt bàn chao đảo. Ông Bao Công thời đại tuyên bố: Bế mạc.

Hồ Đình Nghiêm

Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

P:ost by Sơn râu 27 May 2025

Những Con Mắt Bạc
Thơ Phùng Ngọc Ẩn

Từ xứ mù, người đi tìm lý tưởng
Đến với bạn bè như vọng ngưỡng thiên đường
Thiên đường? Ố! nó đã chết tan xương
Chỉ tồn căn một mùi hôi vất vưởng

Mùi của mười sáu năm đánh mất quê hương
Xú danh nào đó đeo đẳng người
trên nẻo đường lữ thứ
Gặp chiến hữu, nở nụ cười viễn xứ
Đường ai nấy đi, như mấy mụ đứng đường

Phẩy tay vờ như thể hiện tình thương
Đồng đô la là duy nhất thiên đường bất tử
Bạn ơi! “huynh đệ chi binh” thành sáo ngữ?
Học bao năm mà chẳng thử một lần

Cuộc đời này còn lắm bậc “cù lần”
Lật trang sử mới, tưởng mình “thần thời đại”
Làm sao biết ai khôn ai dại?
Lấy gì đo sức mạnh tương lai?

Sau lưng người, chiến hữu bỗng thở dài
Tù ngục vẫn đeo đẳng tháng ngày chưa dứt?
Hỏi bao kẻ tự vấn lương tâm bứt rứt
Không bỏ anh em, lại cắt đứt tình người.

Gẫm sự đời, nghĩ cũng nực cười
Những con mắt bạc, rẻ khinh người tị nạn
Tâm tư này trang trọng gởi về cho bạn
Bằng hữu ơi! đừng vội bỏ anh em!

Florida, tháng 11, 1991
Phùng Ngọc Ẩn