This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Đây không phải là cuốn sách nghiên cứu hay phê bình văn học, nghệ thuật. Mục đích của người viết chỉ nhắm chia sẻ chút ít hiểu biết, những gì còn nhớ được về các tác phẩm, tác giả mình yêu thích, với những người có cùng cảm nghĩ, như một cách bầy tỏ lòng ngưỡng mộ, lòng biết ơn, đối với những người đã dâng hiến những gì tốt đẹp nhất mình có thể làm ra được cho đất nước, nhờ đó, mọi người đã được thừa hưởng.
Phần khác, để các bạn trẻ sinh trưởng ở trong và ngoài nước, không biết nhiều về Việt Nam, một lúc nào đó, muốn quay về tìm hiểu các tác giả trong nước, có thêm một chút dấu vết, tài liệu.
Bởi vì, với những cuộc chiến tranh, chia cắt, kéo dài và liên tiếp trên đất nước, ngay cả những người quen biết, đồng thời với nhau, có nhiều khi cũng hoàn toàn thất lạc, không biết gì về nhau ..
Nguyễn Đình Toàn.
Canh Thân
Có một thời Hà Nội được gọi là Đất Tề. Những người Hà Nội chạy giặc, bỏ Hà Nội đi về các vùng quê, các miền xa, gọi chung là hậu phương hay các vùng kháng chiến, rồi bỏ các vùng ấy trở về Hà Nội (hoặc các thành phố khác) gọi là về Tề. Những người về Tề ấy mang theo nhiều dấu vết của hậu phương. Một trong những dấu vết ấy là những ca khúc. Phần lớn các ca khúc người ta được nghe vào các năm từ 47, 48 và ít lâu sau đó, của những Văn Cao, Phạm Duy, Việt Lang, Ngọc Bích, Đỗ Nhuận … đều được mang về từ các hậu phương. Khi được phổ biến tại các vùng Tề, người ta đã sửa đổi lời ca đi đôi chút cho hợp thời như “giặc Pháp” thì gọi là “giặc cướp” chẳng hạn. Một trong số những người rời bỏ kháng chiến về Tề sớm
nhất là ca sĩ Ngọc Toàn. Ông từ hậu phương về và gia nhập vào đoàn cải lương của nữ nghệ sĩ Ái Liên lúc ấy đang hát tại Hà Nội. Ca sĩ Ngọc Toàn đã mang theo mình hai bài hát: Cây Đàn Bỏ Quên của Phạm Duy và Cô Hàng Cà Phê của Canh Thân.
Nhưng không phải Canh Thân chỉ có một bài Cô Hàng Cà Phê. Ông sáng tác khá nhiều. Các ca khúc như: Khúc Ca Mùa Hè, Vỉa Hè, Đi Với Tôi
Tới Chân Trời Xa, Hoa Mai, Túi Đàn … của Canh Thân đều là những ca khúc hay cả. Có người cho rằng nhạc của chúng ta nói chung quá buồn. Các bản nhạc vui có thể đếm trên đầu ngón tay. Chưa ai biết chính xác số lượng tác phẩm của Canh Thân. Nhưng chỉ trong mấy ca khúc nêu trên, đã có tới ba bài vui, từ giai điệu, nhịp điệu tới lời ca, hết thẩy đều chan chứa vẻ trẻ trung, lòng yêu đời và đều có thể xếp vào hàng những ca khúc hay nhất của chúng ta. Nhạc hài của chúng ta càng hiếm hơn nữa. Canh Thân cũng có một bài có thể làm người nghe vừa cười vừa chảy nước mắt đó là bài Vỉa Hè.
Giữa hai màn tuồng, trong khi chờ đợi thay đổi cảnh trí, Ngọc Toàn thường ôm đàn ra sân khấu để hát mấy ca khúc này.
Và Cô Hàng Cà Phê đã được hoan hô nhiệt liệt. Có những tác phẩm nổi tiếng hơn tác giả. Đó cũng là trường hợp Cô Hàng Cà Phê và Canh Thân.
Rất nhiều người khi ấy thích bài hát này, nhưng ít người biết ai là tác giả.
Chỉ mãi khi đài phát thanh Hà Nội cho phát bài hát này với các giọng hát đương thời như Ngọc Bảo, Quách Đàm, Thanh Hiếu … và nhất là do chính Canh Thân (sau đó cũng về Tề hát) tên tác giả mới thực sự được gắn liền với tác phẩm.
Thế nhưng hình như bài hát này cũng đã bị quên mất, vì đã rất lâu rồi không thấy ai hát hay thậm chí nhắc đến nữa. Xin ghi lại (theo trí nhớ, nghe được, ngày còn nhỏ, ở Hà Nội):
Hôm qua tôi trông thấy một con chó nhà kia
Tôi thấy nó ăn mà tôi thèm
Toàn những thứ béo và thật đắt
Và ướp nước đá cho thật tươi
Eo ôi tôi trông miếng thịt ngon quá là ngon
Bò tái thái phay thật mê hồn
Anh bồi còn lấy trứng gà đập vào
Bốn cái trứng xinh đẹp sao
Sữa bò một ống rót vào đầy đầy
Mà chó thì liếm một loáng hết ngay
Thương thay thân tôi đói bụng không có hột cơm
Tôi móc túi không một xu nào
Nhìn chó ngấu nghiến mà rỏ rãi
Rằng nó sướng hơn là tôi nhiều
Rằng chó sướng hơn là tôi nhiều …
Bài hát có cái gì đó quá quắt, gây khó chịu. Nhưng nó đã được viết ra. Như một vết đen len lẫn trong tấm gương. Không phải vì chúng ta thấy đẹp mà hoa nở. Cũng không phải vì chúng ta thấy hay mà chim hót. Nhưng người thì khác. Người cần sự cảm thông. Không có cảm thông thì không có nghệ thuật. Hình như sách tướng số cho rằng tuổi thân là tuổi vất vả. Điều này cũng đúng với Canh Thân chăng?
Nhớ lại những ngày cuối đời. Canh Thân làm việc tại đài phát thanh Quân Đội. Có những buổi trưa, trong bóng mờ của cái phòng vi âm vắng vẻ, lặng lẽ, người ta hướng nhìn thấy Canh Thân trong bộ quân phục xộc xệch ngồi ngủ gục trên thành chiếc đàn dương cầm, bên cạnh là một cái ly người ta không biết đựng rượu hay đựng nước, trong vắt, thường vơi hết một nửa. Có vẻ như ông đã hóa thành một chiếc bóng trước khi biến mất.
Buồn.
Không biết còn có bao nhiêu người muốn góp hoa để tạ ơn ông?
Chia tay vội vã với người vợ trẻ trước cổng trường, vác ba-lô, chạy vội vào trong, không ngoảnh lại. Thôi thì cũng liều nhắm mắt đưa chân. Bạn bè cũ mới, mừng rỡ gọi nhau ơi ới.
Thiếu úy Nhảy Dù, Trung úy Biệt Động Quân, Đại úy Thiết Giáp, ôi thôi đủ mọi binh chủng. Rồi Cha Tuyên úy Công Giáo, Đại đức Tuyên úy Phật Giáo, Bác sĩ, Kỹ sư biệt phái, mọi người đều khăn gói gió đưa tình nguyện đi ở tù.
Có người mặt mày ủ ê buồn thảm vì viễn tượng ngày mai u ám nhưng cũng có một đôi khuôn mặt rạng rỡ, tràn đầy hy vọng, tin tưởng sẽ được đoàn tụ gia đình sau 10 ngày xa cách ngắn ngủi. Mình mừng gặp được hai thằng bạn Huế ngày xưa: Lâm bác sĩ, Thúy kiến trúc sư. Gom hành trang một góc tường, gối đầu lên chiếc ba lô rách bươm thuở đi hành quân trên Cao Nguyên, nói chuyện thời học trò, thời lính tráng và rồi san sẻ những âu lo về những ngày trước mặt.
Nhìn lên bảng đen, có cái thằng cò mồi mô đó bắt bài hát “Tự nguyện” của một tên sinh viên nằm vùng ở miền Nam:
“Nếu là chim tôi sẽ là loài bồ câu trắng Nếu là hoa tôi sẽ là một đóa hướng dương Nếu là người tôi sẽ chết cho quê hương.”
Hay thực, đúng thực, thằng chó nào không ưa hòa bình, có thằng nào không muốn chết cho quê hương, nhưng quê hương mô mới được chứ! Quê hương Xã Hội Chủ Nghĩa ư?
Chữ nghĩa các ông không giống với chữ nghĩa chúng tôi. “Dân chủ” của các ông là do Đảng lãnh đạo và “Tự do” của các ông phải có Tổ Chức lo.
12 giờ đêm được lệnh tập họp lên đường, vào rừng U Minh, Hố Bò, Bố Lá hay đi vào cõi U Minh đây? 30 đứa lên một xe GMC, ngồi chồm hổm, bạt phủ kín mít. Bốn ông bộ đội cầm súng AK 47, lựu đạn đeo tòn ten, đứng bốn góc. Chẳng thấy đường xá mô tê chi cả. Tiếng xe thiết giáp ầm ĩ dẫn đầu, đoàn xe dài dằng dặc e cũng vài trăm chiếc, chạy mãi chạy hoài trong đêm. Cả bọn ngủ gà ngủ gật. Tiếng bánh xe lăn trên mặt đường hòa với tiếng ngáy tập thể thành một hợp âm buồn thảm lạ lùng.
Căn cứ Trảng Lớn – Tây Ninh 28-7-1975
Xe ngừng đột ngột, cả bọn dồn cục, thức giấc, thầm thì trời sáng rồi, đây là đâu?
Có lệnh xuống xe, mặt nhìn mặt ngơ ngác. Bỗng có tiếng la lớn: “A! Trảng Lớn, Tây Ninh bây ơi! Căn cứ của đơn vị tau đây mà. Chà, mới có hai tháng mà tan tành như sau một trận động đất.”
Động đất thiệt còn chi nữa, hơn cả động đất mà trời sập lận.
Rồi cũng không biết có lệnh của ai mà mọi người đều túa ra tứ phía, vô các giao thông hào tìm chỗ ở. Người cầm một miếng các-tông, kẻ phủi phủi cái bao ni-lông, anh nọ tâng tiu cái thùng đạn. Cũng có người giành nhau la chí chóe như con nít. Nghĩ cũng tức cười, cũng ông này ông nọ, bỏ nhà cao cửa rộng, xe cộ sang trọng, vợ đẹp con khôn, vào đây giành giựt từng miếng ni-lông, từng miếng gỗ, từng cái thùng đạn rỉ sét. Đúng là óc tư hữu, thói ích kỷ của chúng ta nặng nề quá, càng ở trong hoàn cảnh khó khăn càng bộc lộ dữ đội.
Có tiếng còi tập họp chia đội, chia tổ và chi khu vực. Cứ 10 người là một tổ, 60 người thành một đội và 200 người là một khối. Tổ mình được chia cho một cái lô-cốt gần ụ đạn, ngổn ngang sắt thép và súng đạn đủ loại: súng cối 81 ly, M 79, M 16 v.v.. Dọn dẹp súng đạn qua một bên, kê mấy tấm ván, trải tấm ni lông nằm đỡ hơi đất và rắn rít. Đêm nay lại nằm trên súng đạn và ngủ với giun dế như những ngày hành quân năm xưa. Không ai ngủ được vì lạ chỗ, nhớ nhà nhớ vợ, nhớ con, ngổn ngang trăm mối bên lòng. Thỉnh thoảng có tiếng thở dài và hình như có tiếng khóc.
30-7-1975
Anh đội trưởng lên họp Tiểu đoàn về thông báo kế hoạch “của trên”:
– Tuần thứ nhất: ổn định nơi ăn chốn ở . – Tuần thứ hai: làm bản tự khai . – Tuần thứ ba: “lên lớp” học tập chính sách của Cách Mạng..
Có tiếng xì xầm trong hàng và một người hỏi:
– Ủa, CM nói chỉ đi học 10 ngày thôi, nay đã 3 ngày rồi, chỉ còn một tuần nữa mà sao có chương trình những 3 tuần?
Anh đội trưởng cười cười, cái miệng méo xệch:
– Tôi chỉ có nhiệm vụ truyền đạt lại những gì mà anh Trạm, chính trị viên Tiểu đoàn nói buổi giao ban sáng nay mà thôi. Tôi cũng lên thắc mắc đó của anh em thì được trả lời là CM ra lệnh cho anh em “chuẩn bị” 10 ngày và sau đó CM sẽ lo cho anh em sau mười ngày là về đâu. Từ nay chúng ta được gọi là Học Viên. Ngay hôm nay anh em ra phi trường trước mặt, nạy các tấm vỉ sắt lót đường bay về kê mà nằm cho cao ráo, sửa soạn nơi ăn chốn ở vệ sinh sạch sẽ, để chúng ta có điều kiện “học tập tốt, lao động tốt”.
Mặt tên nào tên nấy dài thòng, xìu như cái lốp, nghe như chuyện buồn trăm năm. Cả bọn lục tục kéo nhau ra phi trường, mình chui vô xác chiếc máy bay rớt ngồi chơi. Một thằng miệng ăn mắm ăn muối hát nghêu ngao mấy câu trong bài “Em tôi” của Lê Trạch Lựu. Mình chỉ nghe được một câu: “Ngày về xa lắm… người ơi”.
Cậu Thạnh, dược sĩ, 26 tuổi, Bắc Kỳ di cư 54, lầu bầu chửi thề: “Có mà về với Chúa. ĐM, ngu như chó cả lũ, ngơ ngáo đưa tay cho chúng nó còng, đưa đầu cho chúng nó chặt, chết cả nút cũng đáng đời.”
Nằm bên Thạnh đêm nay nghe tâm sự đời chàng, cả nhà di tản, vì thương người yêu, những tưởng ở lại để được kết tóc xe tơ, ai ngờ cũng phải chia lìa.
Ngoài sân, hai con chó rượt đuổi nhau rần rật.
– Ê, Nixon, Johnson lại đây, lại đây!
À thằng chính trị viên Trạm này bần tiện và ghê gớm thật. Nó đặt tên hai con chó là tên hai ông Tổng Thống Mỹ đã ra lệnh dội bom vào đầu chúng. Có lẽ thằng này đã từng suýt chết đâu đó vì B.52 trên rừng Trường Sơn hay ngoài núi rừng Bắc Việt nên thâm thù “Mỹ – Ngụy” ghê lắm. Mấy ngày ni hễ cứ nhắc đến miền Nam là hắn chửi thằng Kỳ, thằng Thiệu, thằng Hương v.v… lạ tai và khó nghe quá, nhưng thôi, ngủ đi, mai kể tiếp kẻo phạm “nội quy qui định của trại” thì khốn.
16-8-1975
Cả bọn cởi trần trùng trục, quần xà lỏn, mồ hôi dầm dề, mải mê đánh vật với cái bản tự khai chết bầm. Khai từ khi cha sanh mẹ đẻ cho đến khi trời sập, mất hết 3, 4 ngày suy nghĩ nát óc, mà khi nộp lến trại cũng bị trả về, bắt buộc phải viết lại vì chưa thành thật khai báo. Cách Mạng biết hết rồi nhưng chính bản thân phải “thấy rõ tội lỗi”, phải “thành thật khai báo” với CM mới được CM cứu xét khoan hồng mà sớm về với vợ con, cha mẹ. Chức vụ chưa đúng, tội lỗi chưa khai hết. Phải khai như gợi ý của CM là đã đốt bao nhiêu cái nhà, giết bao nhiêu đứa trẻ, hiếp dâm bao nhiêu phụ nữ, tra khảo bạo nhiêu cán bộ CM v.v… Cụ thể ngày giờ, địa điểm v.v. ..
Chàng Dân, kiến trúc sư, hiền như bụt, làm ở Khu Quân Sản Tạo Tác, chỉ biết có công việc xây nhà cho lính ở, không một ngày cầm súng tác chiến, đến nỗi mang khẩu súng Colt 45 ứng chiến cấm trại mà chẳng biết cái gắp đạn có mấy viên. Thế mà cứ bị chính trị viên lên, kêu xuống hạch sách đủ điều, khai năm lần bảy lượt, lần nào anh cũng viết là chẳng có tội tình chi với ai cả. Lần thứ 8 chàng ta nổi điên, thành thật khai báo là đã đi hành quân hơn trăm trận, đốt hơn 3,000 ngôi nhà và nhất là vô cùng hối hận vì đã hiếp dâm hàng trăm phụ nữ nhớ không hết; sau khi thỏa mãn thú tính, chàng ta còn xẻo vú xẻo tai ngâm dấm đem về nhậu rượu nữa chứ.
Thế là chàng ta bị tội ngoan cố cùng cực, chống đối CM đến cùng, khi dễ, diễu cợt cán bộ, bị gọi lên Văn Phòng, bị trói vào cọc sắt bỏ đói sau ụ đạn. Anh em bị cấm liên lạc, chỉ biết nhìn nhau ái ngại, nước mắt lưng tròng.
Hai giờ sáng, một tiếng nổ dữ đội, anh em hốt hoảng chạy về ụ đạn mới hay Dân đã khều được một quả lựu đạn, rút chốt an toàn ôm vào lòng để được sớm đi vào cõi bình yên.
Chia nhau đi lượm từng phần thân xác anh, gom lại trong một chiếc poncho, đặt vào chiếc hòm gỗ đóng vội bằng thùng đạn pháo binh. Bốn đứa bốn góc đưa lên vai khiêng anh ra phi trường, vùi nông một nấm cuối đường bay ngày xưa. Ngủ đi anh giấc ngủ bình yên.
Xin gửi cho anh những dòng nước mắt này thay nén hương thành kính tưởng niệm một người bạn tù anh dũng, một chiến hữu can trường.
Còn chúng tôi, biết ra sao ngày mai, sẽ đến phần ai đây?
Trảng Lớn tháng 9-1975
Cuộc sống tù túng, thiếu thốn trăm bề, tương lai mù mịt, thương nhớ gia đình vợ con quay quắt. Con người ta trở nên điên khùng nóng nảy, khắc nghiệt, ích kỷ hơn bình thường. Thế nên, rất dễ bùng nổ dù chỉ là những chuyện cỏn con giữa những người anh em, giữa bạn tù với nhau.
Phần lớn anh em chúng mình đều có học thức, có tư cách, tự chế được, nhưng cũng có một vài anh em tinh thần sa sút hoặc tâm địa không tốt, dễ “chao đảo”, cam tâm làm mật báo viên (trong trại chúng tôi gọi là Antenna) báo cáo hại bạn đồng đội để mong lập công chuộc tội, hy vọng sớm trở về với vợ con.
Một vài người thì không chịu nổi đói thiếu thốn nên sinh tật ăn cắp, ăn trộm từ cá khô, từng cục đường hoặc giành ăn cơm cháy trong khi anh em đi lao động. Thỉnh thoảng xẩy ra những cuộc ẩu đả vì miếng ăn, thực đau lòng không kể xiết.
Thế mà mình cũng dính vào trong một vụ xung đột không phải vì miếng ăn mà chỉ là lời nói. Cậu Như, bác sĩ nhà ta có tật ăn tục nói phét của Bắc Kỳ quốc, mình lại có tật nói móc lò, móc họng của Trung Kỳ quốc. Thế mới ra nông nổi.
Đang nằm mơ mơ màng màng gửi hồn về căn gác nhỏ góc Bàn Cờ – Nguyễn Thiện Thuật, nơi có vợ hiền con dại đang mỏi mắt chờ chồng, chờ cha trở lại thì bị tiếng oang oang của cậu BS Như cắt đứt giấc mộng đẹp:
“Mẹ kiếp, tớ khi chọn vợ đã dựa trên 4 tiêu chuẩn sau đây: thứ nhất là con gái đẹp, trinh trắng; thứ hai phải là con nhà giàu; thứ ba là học giỏi; thứ tư là phải biết đàn piano. Không đủ 4 yếu tố đó tớ đếch thèm lấy.”
Nói xong cậu ta cười hô hố tự đắc, tự mãn.
Nghe đã chói lỗ tai, thấy bộ tịch gai con mắt nên mình mới buột miệng:
“Ê, cậu không biết chỗ mà tìm vợ đó, chứ 4 điều kiện đưa ra dễ ợt à, cậu tới nhà thờ mà kiếm mấy bà xơ là có ngay. Bà xơ nhiều bà đẹp lắm, trinh trắng hơn tờ giấy trắng, quỹ của Giáo Hội Thiên Chúa Giáo thì giàu lắm, chắc chắn không nhà giàu nào sánh nổi, mà khi vào lớp 1, lớp 2 là đã học piano rồi và đi tu thì lo học chứ đâu còn nghĩ chuyện chi khác đâu nên bà xơ học giỏi lắm. Ít ra cũng có Tiến sĩ Thần học ngang hàng với Tiến sĩ Y khoa của cậu đó.”
Thế là cậu ta nổi xung lên, tuôn một tràng tiếng Đan Mạch rồi chụp cây dao hùng hổ chạy đến kiếm mình xin tí huyết: “Cái thằng Huế, cái miệng ăn mắm ăn muối độc địa”. May mà có chàng Nông đẹp trai ra tay nghĩa hiệp bênh vực kẻ nhỏ con không thì cũng lãnh đủ vì vạ miệng. Thôi từ nay xin chừa.
Trảng Lớn tháng 10-1975
Rứa là đã gần 100 ngày trôi qua, mòn mỏi đợi chờ. Tin đồn tràn ngập. Người nào cũng lý luận theo cảm quan của mình. Chẳng có ai đúng cả. Một ít đồ ăn mang theo đã hết từ lâu. Mỗi ngày hậu cần phát gạo, thịt hộp Trung Cộng, thịt hộp của QLVNCH, tự nấu lấy mà ăn. Thèm đủ thứ, một hơi thuốc lá, một ngụm cà phê, nhất là thèm ngọt chi lạ.
Tối hôm qua có chú bộ đội tới gạ bán thứ đường kho cá ở nhà, đen thủi đen thui, 1 kí-lô 42 cục. Thèm quá ăn luôn một hơi 1 kí-lô, sáng mai cái miệng sưng vù vì nhiệt…
Không biết bây giờ em ở mô? Sàigòn hay đã về Huế? Con cái ra răng? Tội nghiệp con bé út Móm đã đầy năm, nhớ quá đi mất, nhớ muốn đứt ruột mà cái anh chàng Phong mặt rỗ hoa mè, đẹp trai, hát hay đàn giỏi lại rên rỉ “Xuân này con không về chắc mẹ buồn lắm…”. Tự nhiên nước mắt cứ ứa ra. Bỗng, có tiếng báo động:
– Ê! Stop, please. Xuỵt, xuỵt… xì tốp.
À, ông Trạm, Thượng úy chính trị viên Tiểu đoàn đến. Ông này cái miệng cá ngão, răng hô như cái mái hiên, đội thêm cái nón cối thì giống y chang cái bia Việt Cộng bằng giấy ngoài sân bắn của các quân trường.
– Anh Phong hát bài nhạc vàng gì đấy nhẩy?
– Dạ tôi không nhớ tên chỉ nghêu ngao vài câu cho đỡ buồn.
– Thế các anh buồn lắm à, tại sao lại buồn? Nước nhà Hòa Bình, Độc Lập rồi mấy anh buồn cái gì? À mà này, anh Phong ở trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị giữ chức vụ gì nhẩy?
– Dạ thưa anh, tôi làm phụ khảo ạ.
– À, ghê nhẩy, “phụ tá tra khảo” những người yêu nước! Thế mà trong bản tự khai anh vẫn chưa thấy rõ tội lỗi của mình.
– Dạ thưa anh, không phải ạ. Công việc của tôi là phụ giúp ông giáo sư chính, giảng lại bài cho sinh viên và giải đáp thêm những điều sinh viên chưa hiểu rõ mà thôi.
– Ừ, các anh tưởng CM không biết gì hết hay sao? CM biết rõ tất cả các anh, từng người, từng chân tơ kẽ tóc và còn biết trong đầu các anh đang nghĩ gì, đang định làm gì nữa kia. Anh Phong, lên Tiểu đoàn gặp tôi, nhớ mang theo giấy bút.
Anh em nhìn Phong ái ngại nhưng Phong cười cười tỉnh bơ, khoác vội cái áo trận bạc màu, vừa đi vừa diễu:
“Trạm ơi thương lấy Phong cùng Tuy khác Chiến Tuyến nhưng chung một Ngành.”
Hồ Đăng Định (Trích trong Nhật Ký 2,000 Ngày Thử Lửa)
Tôi được thả về cuối tháng 1/1981, hơn một tuần lễ trước tết Tân Dậu, trong Giấy Ra Trại ghi “Không được cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh sau thời hạn 6 tháng”. Lúc đó vợ con tôi đã có hộ khẩu và ở trên lầu một căn nhà nhỏ trước kia là cái bếp của nhà người dì út. Vợ con tôi được “an cư” là nhờ bản lĩnh của nàng cộng với sự quen biết một ông “30 tháng Tư” làm nghề đạp xe ba gác, trước kia được người dượng của tôi cho miếng đất để cất nhà.
Nguyên vào giữa thập niên 1960, dượng tôi, khi ấy là một Thiếu tá phục vụ tại Tổng Nha Thanh Tra QLVNCH, bán căn nhà lầu ở Hẻm 6 Trương Minh Ký để mua một khu đất khá rộng bên bờ kinh Nhiêu Lộc, cũng thuộc ấp Tây Ba, xã Phú Nhuận, quận Tân Bình, nhưng đi sâu vào phía trong, cách đường rầy xe lửa khoảng 100 mét về hướng bắc (phía nam đường rầy xe lửa là giáo xứ Bùi Phát).
Khu đất này được dân địa phương gọi là “khu ao cá” vì có mấy cái ao nuôi cá khá lớn, một bồn nước (do máy bơm lên) để cung cấp nước cho các nàng ma-ri phông-ten (ngày ấy thủ đô Sài Gòn chưa có nước từ nhà máy Đồng Nai), được dượng tôi khuyếch trương thêm với một cơ sở nuôi gà khá quy mô.
Sau khi người dượng út, một Trung úy xuất thân Khóa 13 Võ Bị Đà Lạt, phục vụ tại Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù, đền nợ nước, người dượng lớn cho dì út tôi một miếng đất trong khu đất nói trên để xây nhà, bà ngoại và tôi cùng ở với dì để chăm sóc bốn đứa cháu mồ côi cha. Cũng từ đó, tôi được người dượng lớn trao trách nhiệm về “an ninh” của khu đất, trong đó có việc mỗi tối khóa cổng – một cái cổng lớn khá lớn đủ để xe hơi ra vào.
Tới khi tôi chuẩn bị thi Tú Tài 1, dượng tôi trao mọi việc cho ông S, tức ông “30 tháng Tư” nói trên. Nguyên ông S làm nghề đạp xe ba gác, thường được dượng tôi mướn đổ đất hoặc dọn dẹp, chở gạch đá xà-bần đem đi đổ. Ông S là dân Bắc di cư 1954 nhưng không phải người Công giáo, tuổi độ chừng 40 tuổi, mặt mũi dáng dấp quê mùa thô kệch, nhỏ thó, chỉ cao trên dưới mét rưỡi (có thể vì vậy mà không phải đi quân dịch?)
Vợ chồng ông và mấy đứa con nhỏ sống trong một cái lều tựa vào đầu hồi nhà một người bà con ở một khu lao động nghèo nàn. Thấy ông là người siêng năng, thật thà, dượng tôi cho một miếng đất nhỏ, nằm sát bờ kinh Nhiêu Lộc để dựng một căn nhà mái tôn vách thiếc (thiếc “cao-bồi”), tuy đơn sơ nhưng cũng được gọi là nhà chứ không phải lều.
Ông S và vợ con gọi tôi và các con của hai dì là cô, cậu như một sự tôn trọng giai cấp. Bù lại, dì lớn của tôi cũng thường giúp đỡ vật chất, chẳng hạn quần áo cũ cho mấy đứa con nhỏ, chăn chiếu, bàn ghế cũ, cho bánh kẹo vào các dịp lễ tết… Sau khi tôi nhập ngũ vào cuối năm 1968, khu ao cá có những thay đổi lớn, dần dần trở thành một khu dân cư. Nguyên dượng tôi bị thất bại thê thảm trong việc nuôi gà, sau hai đợt dịch cúm gà đã dẹp bỏ, cho lấp bớt mấy cái ao lấy đất bán cho người ta xây nhà. Thời gian này, người cậu lớn của tôi, một Trung tá ngành Chiến Tranh Chính Trị, được thuyên chuyển về gần Sài Gòn, cũng lấy một miếng để xây một căn nhà lầu rất đẹp, nằm giữa nhà dượng tôi và nhà người dì út. Đồng thời cái nhà bếp khá rộng của dì út được phá bỏ lấy đất xây một căn nhà lầu nho nhỏ, trên lầu thì cho thuê, ở dưới làm nhà ăn, nhà bếp, nhà vệ sinh, buồng tắm…
Từ đó, cái cổng lớn ra vào khu ao cá bị dẹp bỏ, phía bên trong chia ra hai khu riêng biệt: khu kín cổng cao tường gồm nhà dượng tôi, cậu tôi và dì út đều có hàng rào và cổng vào riêng, khu “xôi đậu” gồm 5, 7 căn nhà trệt sát vách nhau.
Vì thế, ông S cũng không còn đảm trách công việc gác-dan của khu ao cá nữa. Rồi ngày 30 tháng Tư ập đến. Mấy ngày sau, khi gia đình người dượng, người cậu lớn và dì út của tôi đã rời nhà tìm đường ra đi, người ta thấy ông S mang băng đỏ trên cánh tay; không phải mang để lấy điểm với cách mạng, hoặc để được an thân như một số người nhanh trí mà mang vì được cách mạng trao phó trách nhiệm một khu vực trong đó có khu ao cá!
Lần đầu tiên trong suốt bao năm tôi mới thấy ông S mặc một cái áo sơ-mi thay vì cái áo may-ô (áo thun ba lỗ) hoặc cái áo nhà binh màu ô-liu của dượng tôi cho. Có lẽ ông cũng chẳng nghĩ xa xôi tới việc giữ thể diện cho cách mạng mà chỉ để tương xứng với cái băng đỏ ông được mang.
Lúc này vùng đất có khu ao cá – ấp Tây Ba, xã Phú Nhuận, quận Tân Bình, tỉnh Gia Định – đã bị đổi thành Phường 13, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh. Sau mấy ngày được cán bộ cách mạng “quán triệt” ở trụ sở phường, ông S bắt đầu thi hành nhiệm vụ được trao phó: phổ biến đường lối chính sách của Ủy ban Quân quản thành Hồ, kiểm kê tổng số hộ và nhân khẩu trong khu vực, thiết lập danh sách “ngụy quân ngụy quyền” và đôn đốc những người này trình diện đăng ký tại những địa điểm ấn định. Vì trình độ văn hóa quá kém – chỉ có khả năng đọc một cách khó khăn chứ không biết viết – ông S phải dắt theo đứa con gái lớn khoảng 11, 12 tuổi làm “thư ký”.
Mặc dù không được đeo súng ngắn (K-54 hoặc Colt 45 của VNCH để lại) như một số tay 30 tháng Tư khác, ông S cũng được mọi người nhìn với ánh mắt nể nang, e dè vì có đám mũ tai bèo trang bị AK thường xuyên ra vào nhà ông. Ông cố gắng ăn nói dõng dạc, cất cao giọng như để mọi người hiểu rằng những gì ông truyền đạt tới họ đều quan trọng, bắt buộc phải đả thông!
Cũng may cho cư dân trong khu vực, tất cả những gì được gọi là “30 tháng Tư” nơi ông S chỉ có thế. Riêng với chúng tôi, ông vẫn xưng hô như trước đây, gọi bà ngoại tôi là “cụ”, vợ chồng tôi là “cô, cậu”, chỉ có điều là không còn thái độ nể nang trọng vọng ra mặt như trước kia.
Sau khi tôi bị đi học tập cải tạo, chỉ có căn nhà của dượng tôi bị Ủy ban nhân dân Phường tịch thu, còn căn nhà lầu của người cậu lớn thì vợ con của người cậu út (cũng bị đi học tập cải tạo) chiếm ngụ, căn nhà của người dì út thì bà ngoại tôi bán đi, chỉ còn căn nhà lầu nhỏ (trước kia là nhà bếp) đứng tên bà tôi. Tất cả những vụ mua bán sang nhượng, chiếm ngụ nói trên chỉ cần ông S đâm thọc với Ủy ban nhân dân phường là đổ bể, nhưng ông ta đã nhắm mắt làm ngơ.
Tới khi làm hộ khẩu, cũng nhờ ông S mà vợ con tôi được hợp thức hóa tình trạng cư trú. Nguyên tôi ở Sài Gòn với bà ngoại và các cậu các dì từ ngày mới lớn cho tới cuối năm 1968. Sau tôi khi nhập ngũ, phục vụ tại phi trường Pleiku, lấy vợ rồi thuyên chuyển về phi trường Biên Hòa, mướn nhà ngoài phố thì tên tôi không còn trong sổ gia đình (đã được cập nhật) của bà ngoại nữa. Nhưng nhờ có ông S làm chứng tôi đã ở địa chỉ này từ trước khi đi lính, vợ con tôi đã được cấp hộ khẩu.
Trên nguyên tắc, có hộ khẩu là được hưởng mọi quyền lợi của một công dân nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong đó quan trọng nhất là được cấp tem, phiếu mua lương thực thực phẩm ở các cửa hàng quốc doanh, nhưng trên thực tế hầu như quanh năm chẳng có gì để mà mua, hoặc đáng để mua.
Thời gian này – từ năm 1976 tới năm 1986 – được chế độ CSVN gọi là “thời kỳ bao cấp”, tức là nhà nước hoạch định, điều hành toàn bộ nền kinh tế, gom thu tất cả mọi thành phẩm, sản phẩm, và giữ độc quyền phân phối qua hình thức tem, phiếu.
Ngày ấy, với đại đa số dân chúng miền Nam, hai chữ “bao cấp” đồng nghĩa với đói khổ. Về sau, khi đã bắt buộc phải chấp nhận “đổi mới”, nhắc lại 10 năm kinh hoàng nói trên, CSVN thường lấp liếm bằng lập luận: VN noi gương Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa – là những nước đã áp dụng thành công chế độ bao cấp – tuy nhiên vì phải “khắc phục hậu quả do chiến tranh để lại, VN đã gặp một số khó khăn, nhưng đã cố gắng vượt qua”.
Trước hết nói về nông nghiệp, nếu trong những năm đang diễn ra cuộc chiến khốc liệt, dân chúng miền Nam vẫn có đủ lúa gạo, tại sao sau khi đất nước thanh bình lại thiếu? Câu trả lời khá đơn giản: tất cả mọi nông phẩm đã vào tay nhà nước qua một hệ thống cán bộ thu mua dày đặc, cùng với lệnh ngăn sông cấm chợ khiến không một hạt lúa hạt gạo nào có thể lọt vào tay tư nhân, hoặc đưa từ địa phương này qua địa phương khác.
Lúa gạo thu mua một phần được sử dụng để nuôi cán bộ viên chức nhà nước và bộ đội, một phần được xuất khẩu sang Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa anh em để trả nợ – những món nợ mà trong thời gian chiến tranh được gọi với mỹ từ “viện trợ có hoàn lại”!
Không có gạo để nuôi dân, CSVN phải nhập khẩu cao lương từ Liên Xô và Ấn-độ. Cao lương (sorghum), mà dân trong Nam thường gọi là “bo bo”, là loại thực phẩm dễ trồng và có thu hoạch cao nhất trong ngũ cốc – gồm: lúa gạo, lúa mì, bắp (ngô), lúa mạch (barley), và cao lương.
Người ta trồng cao lương chủ yếu để nuôi gia súc hoặc sử dụng trong kỹ nghệ. Trang mạng Wikipedia tiếng Việt viết: “Hạt cao lương có đường kính từ 3-4 mm. Hạt được dùng làm lương thực (lưu ý phải xay ra thành bột), hoặc nuôi gia súc, sản xuất ethanol…”
Vậy mà ngày ấy, không ít người dân miền Nam đã phải nhai cao lương nguyên hạt! Theo lời vợ tôi kể lại thì tới năm 1977, 1978, người dân còn phải ăn độn thêm khoai mì – loại khoai mì kỹ nghệ có năng xuất cao để sử dụng trong kỹ nghệ nuôi gia súc, khi tới tay người dân thường đã bị khô mốc.
Vậy mà tới khi xảy ra nạn đói năm 1979, nhiều người cả đến cao lương và khoai mì cũng không có mà ăn. Nông dân ở vùng đồng bằng sông Cửu Long – trước kia được mệnh danh “vựa lúa của Đông Nam Á” – có người đã phải ăn củ hoang rau dại để khỏi chết đói. Đây không phải tuyên truyền xuyên tạc của “các thế lực thù nghịch” mà là phóng sự của báo Tuổi Trẻ, xuất bản tại thành Hồ! (1)
Tóm lại, việc vợ tôi được cấp hộ khẩu chỉ mang lại cái lợi duy nhất là không bị đuổi khỏi Sài Gòn, không bị cưỡng bách đi vùng kinh tế mới, còn no đói mặc kệ! Vào khoảng thời gian tôi được thả về (đầu năm 1981), trước sự chống đối của dân chúng trong Nam, lệnh cấm chợ ngăn sông đã được nới lỏng, thị trường chợ đen từng bước khôi phục hoạt động cho nên nếu có tiền, người Sài Gòn có thể ăn cơm. Gia đình bé nhỏ của tôi nằm ở nấc thang dưới cùng trong thành phần may mắn ấy, nghĩa là không phải ăn, hoặc độn bo bo, khoai mì nữa nhưng cũng chỉ đủ khả năng tài chánh ăn loại gạo tệ hại nhất, thường mất cả tiếng đồng hồ để nhặt sạn trước khi nấu cơm!
Trước năm 1975, ở một số vùng trong Nam, nơi có những đường lộ tráng nhựa tương đối ít xe cộ qua lại, nông dân thường chiếm dụng một phần bề ngang của con đường để phơi lúa. Hậu quả là gạo sẽ có sạn.
Nhưng không thấm thía gì so với gạo sạn sau 1975, với những hạt sạn có khi to bằng hoặc to hơn hạt gạo, nhai trúng mẻ răng là cái chắc! Các báo trong nước giải thích nguyên nhân như sau: chính các nông dân đã lén trộn thêm đá xanh (đã được xay nhuyễn) vào lúa trước khi giao nộp cho cán bộ thu mua để thêm cân lượng!
Nếu trước 1975 có người làm như thế sẽ bị lên án là táng tận lương tâm, nhưng sau ngày miền Nam được “giải phóng”, để sinh tồn không ít người đã nhắm mắt bắt chước nhau. Lúa gạo trộn sạn còn đỡ, bởi bị mẻ răng là cùng, rượu bọt mía pha thuốc rầy (để rượu được trong) mới khủng khiếp, hầu như tuần nào cũng có tin người chết vì uống phải rượu pha thuốc rầy!
Trong khi tạm gọi là an cư, vợ tôi vẫn chưa được xem là lạc nghiệp sau hơn 5 năm bươn chải từ ngày tôi bị bắt đi học tập cải tạo. Nguyên trước kia vợ tôi học y tá ở Bệnh viện Biên Hòa, học xong đi làm cho một cơ sở tư nhân nuôi giữ trẻ ở Tân Định, sau khi lấy chồng thì bỏ nghề, theo chàng ra tận phi trường Pleiku, rồi về phi trường Biên Hòa…; trong suốt 5 năm ấy nàng chỉ biết sống nhờ vào đồng lương của chồng và “viện trợ” từ mẹ chồng lẫn mẹ ruột! Vì thế, tới khi biết mình mắc mưu cộng sản trình diện học tập cải tạo mang theo 10 ngày lương thực để rồi bị nhốt không có ngày ra, tôi vô cùng lo lắng, không biết vợ tôi sẽ xoay sở ra sao để nuôi con. Những gì xảy ra sau đó đã cho thấy ông bà mình nói không sai: đói thì đầu gối phải bò!
Trước hết, vợ tôi và K, một cô bạn có chồng đại úy bị mất tích trong cuộc di tản của Quân Đoàn II hồi tháng 3/1975, buôn bán đủ thứ tinh tinh ở cái chợ trời mới mọc lên cạnh đường rầy gần cổng xe lửa số 6.
Ngày ấy, những ai sống ở Sài Gòn vào thời gian sau khi thành phố được “giải phóng” hẳn còn nhớ chợ trời mọc lên khắp nơi. Có hai nguyên nhân chính:
(1) Buôn bán những mặt hàng đang được dân Bắc kỳ 75 – từ cán bộ, bộ đội, viên chức nhà nước tới người dân thường – đổ xô đi mua, từ “đài đổng đạp” (máy thu thanh, đồng hồ đeo tay, xe đạp), kính râm (kiếng mát), bút máy tới chén bát nhựa, quần áo may sẵn, nhất là áo sơ-mi trắng cụt tay, mặc cho trông giống “các đồng chí lãnh đạo”…
(2) Lo sợ sẽ bị thiếu thốn, đói khổ trước một tương lai lành ít dữ nhiều, dân Sài Gòn đã bán bớt những vật dụng dư thừa hoặc không cần thiết, vừa để lấy tiền cất dấu vừa tránh sự dòm ngó của đám cán bộ cộng sản từ Bắc vào hăm he kiểm kê để sung công, trưng dụng… Thành thử cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi có những gia đình khiêng cả bàn ghế, thậm chí nguyên một bộ xa-lông ra chợ trời bán, hoặc gọi vợ tôi và K tới nhà để định giá bộ màn cửa, cái quạt máy, cái survolteur…
Tới khi chợ trời bị công an phường dẹp, vợ tôi gửi con cho bà ngoại của tôi rồi cùng K đi buôn trà ở Bảo Lộc. Buôn trà thất bại, hai nàng chuyển sang buôn lậu cá khô từ Sông Mao, Phan Thiết về Sài Gòn…
Tới năm 1978, nhờ những người Việt “ôm chân đế quốc Mỹ” tháng Tư 1975, hai nàng đổi sang một nghề cao cấp hơn: buôn hàng ngoại quốc.
Nguyên vào thời gian này, hầu như người Việt nào ở nước ngoài cũng cố gắng gửi quà về cho thân nhân trong nước như một hình thức cứu trợ; nhận được quà, thân nhân thường chỉ giữ lại một ít bánh kẹo, thuốc men cần thiết, còn phần lớn quần áo, mỹ phẩm và những mặt hàng khác thì bán đi để lấy tiền chi dụng.
Từ đó đẻ ra cái nghề buôn đi bán lại những mặt hàng nói trên. Người nào có vốn lớn thì buôn thuốc tây, quy tụ ở đường Nguyễn Thông (khúc gần đường Kỳ Đồng và Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn). Vợ tôi và K là dân vô sản chuyên chính, chỉ biết sử dụng nước bọt, lấy công làm lời cho nên phải vất vả ngược xuôi.
Có khi hai nàng được người ta gọi tới nhà để bán, cũng có khi vào tận chỗ lãnh quà trong phi trường Tân Sơn Nhất để mua ngay tại chỗ.
Tới khi tôi được thả về vào đầu năm 1981 thì hai nàng đã mướn được một cái tủ kính có bốn bánh xe đặt phía trước một cửa tiệm ở gần ngã ba Trương Minh Giảng – Trương Tấn Bửu (lúc đó đã được đổi tên nhưng tôi chỉ nhớ tên cũ).
Vẫn biết tiền mướn cái tủ kính – tính luôn cả “mặt bằng” trước cửa tiệm – không phải là rẻ nhưng việc có một “địa chỉ” cố định để mua, bán đỡ phải chạy tới chạy lui, vừa gia tăng uy tín vừa có giờ đi về cố định cũng đáng tiền.
Hơn nữa, nếu có mối hai nàng vẫn có thể tới nhà người bán sau khi đóng tủ kính, hoặc khi biết có đợt lãnh quà từ ngoại quốc gửi về, một trong hai nàng sẽ vào phi trường để canh me.
Nhờ có đồng ra đồng vào, vợ tôi đã “nuôi đủ hai con với một chồng”.
Sau khi được thả, theo đúng quy định, sáng hôm sau tôi ra trụ sở công an phường trình diện. Đó là một căn nhà lầu khang trang ở đường Trương Minh Ký, nằm ở khoảng giữa cổng xe lửa số 6 và ngã tư Trương Minh Ký – Nguyễn Huỳnh Đức, trước kia là một cửa tiệm nay đã bị cách mạng tịch thu; không hiểu vì chủ nhân di tản năm 1975 hay đã bị cưỡng bách đi kinh tế mới.
Khu vực này tôi đã lui tới mòn chân từ năm 1958 cho tới khi nhập ngũ vào cuối năm 1968, nơi đã ghi lại biết bao kỷ niệm của thời niên thiếu, của tuổi học trò.
Nguyên từ năm lớp Nhất, bố mẹ tôi lên lập nghiệp ở tỉnh Phước Long mới được thành lập, tôi ở lại Sài Gòn với bà ngoại để ăn học với các cậu.
Trước khi di chuyển vào khu ao cá bên bờ kinh Nhiêu Lộc, đại gia đình của bà ngoại tôi ở Hẻm 6 Trương Minh Ký, cuối thập niên 1950 còn gọi là đường Trương Minh Giảng nối dài.
Đường Trương Minh Giảng (Quận 3) tới khúc này trở thành đường Trương Minh Ký (Phú Nhuận).
Đi thêm một đoạn, bên trái là đường vào Giáo xứ Bùi Phát – hình chụp năm 1966
Hẻm 6 nằm gần ngã tư Trương Minh Ký – Nguyễn Huỳnh Đức; tuy gọi là “hẻm” nhưng khá rộng, khúc phía ngoài xe hơi có thể ra vào hai chiều, có một cái chợ chiều, một dãy nhà 10 căn tường gạch mái ngói đỏ mới xây, cư dân ngày ấy đa số là công tư chức, sĩ quan, văn nghệ sĩ, sinh viên… chứ không xô bồ như sau này khi quân đội Mỹ đã hiện diện tại Hòn Ngọc Viễn Đông.
Năm 1958, bà ngoại tôi mua một khu đất có mấy cây xoài (vùng này trước kia gọi là Vườn Xoài) ở khoảng giữa hẻm 6, xây hai căn nhà lầu chung vách. Đây là hai căn nhà lầu đầu tiên trong con hẻm này, đứng trên ban-công, chúng tôi có thể nhìn thấy phi cơ lên xuống phi trường Tân Sơn Nhất, vì ngày ấy từ cổng xe lửa số 6 lên tới Lăng Cha Cả chưa có nhiều nhà cửa.
Lui vào phía trong khoảng 50 mét, dưới tàng cây điệp cổ thụ là nhà một cô ca sĩ đang lên (xin miễn nêu phương danh) tự tử chết vì thất tình một nam danh ca nọ; nghe kể ban đêm cô hay hiện về ngồi trên cây điệp khóc tỉ tê…
Sau lưng nhà bà ngoại là một cái ngõ cụt, trong đó có nhà của thủ môn Đực 2.
Đi ra đầu hẻm, phía bên mặt, trước khi tới tiệm ăn tàu Xuân Lạc Viên là một tiệm chạp phô chủ cũng là người gốc Hoa; tiệm chạp phô này có thêm “business” phụ là cho con nít mướn xe đạp chạy chơi. Tôi còn nhớ tiệm có 3, 4 cái xẹ đạp khá cũ cho mướn với giá 1 đồng 1 giờ đồng hồ. Đám con nít chỉ cần trả 1 đồng rồi lấy xe chạy, ông chủ tiệm không cần biết tên thằng nhỏ là gì, con cái nhà ai… Có lần tôi hỏi ổng xem đã có bao giờ tụi nhỏ lấy xe đi luôn không thì ông trả lời chưa bao giờ!
Phía bên trái, nhìn ra đường Trương Minh Ký là nhà nữ ca sĩ Minh Hiếu. Ngày ấy cô mới nổi tiếng, được xưng tụng đẹp sang giống nữ minh tinh Liz Taylor của màn bạc xứ Cờ Huê, và dĩ nhiên chưa trở thành “bà Vĩnh Lộc”. Cô chạy một chiếc xế hộp thể thao màu đỏ, sau này bán lại cho ông trung úy Không Quân mướn trên lầu nhà bà ngoại tôi.
Đối diện hẻm 6, phía bên kia đường Trương Minh Ký là một con đường đất không tên (sau này gọi là đường Thiệu Trị), đi sâu vào vài trăm mét bên trái có một cái nghĩa địa hoang phế với tháp Phong Thần, bên mặt là sân quần vợt; từ đây có ngõ tắt đi sang đường Công Lý.
Cho tới cuối thập niên 1950, một bên của con đường đất không tên ấy hãy còn lũy tre già che khuất ánh dương, một bên là nhà và cũng là nơi hành nghề của các bà đồng, thầy cúng nhưng chẳng hiểu sao lại lọt vào một gia đình Bắc kỳ có một bông hoa biết nói rất đáng yêu và về sau khá nổi tiếng: nữ văn sĩ Lệ Hằng.
Cổng xe lửa số 6 sau năm 1975, nhìn về hướng trung tâm thành phố
Còn ở ngoài đường Trương Minh Ký, từ ngã tư (Trương Minh Ký – Nguyễn Huỳnh Đức) tới cổng xe lửa số 6 chưa tới 100 mét nhưng có khá nhiều hàng quán, cửa tiệm. Nhìn về hướng Sài Gòn, bên trái trước hết là tiệm sửa đồng hồ (có hai người con trai là bạn của tôi), quán cơm Việt Nam, tiệm giặt ủi Ngọc Lan, nhà thuốc tây, vật liệu xây cất Thế Quang…, bên phải là tiệm tàu Xuân Lạc Viên, quán bi-da, nhà may Thưởng, tiệm chụp hình & uốn tóc Việt Tân, tiệm sắt Thăng Long…
Hầu hết hàng quán, cửa tiệm này nếu không quen tôi cũng biết khá rõ, nhất là những nhà có con gái.
Ngoài ra, phía trước nhà may Thưởng và tiệm chụp hình & uốn tóc Việt Tân còn có một xe bánh mì thịt và một xe đậu đỏ bánh lọt nổi tiếng khắp vùng Phú Nhuận, cả hai đều của người Tàu…
Gần sáu năm sau, từ ngục tù cải tạo trở về tuy cảnh cũ hầu như không có gì thay đổi nhưng phần lớn người xưa đã vắng bóng, tôi cảm thấy cô đơn như đang ở một nơi chốn hoàn toàn xa lạ…
Tại trụ sở công an phường, tay công an gốc Nam Kỳ khá trẻ có nhiệm vụ làm thủ tục đăng ký cho đám sĩ quan “ngụy” học tập cải tạo về lấy chi tiết trong Giấy Ra Trại của tôi ghi vào hồ sơ lưu rồi phát cho một cuốn vở 50 trang có đóng dấu công an phường.
Theo hướng dẫn của tay công an, tôi sẽ phải ghi mọi sinh hoạt trong ngày của mình, đi đâu, làm gì, rồi mỗi sáng Thứ Hai đem theo khi ra trình diện công an phường. Sau này tôi mới biết ở thành Hồ có những nơi sĩ quan tù cải tạo về phải trình diện công an phường mỗi tuần hai lần, hoặc hai ngày một lần, thậm chí có nơi mỗi ngày một lần!
Tại Phường 13, Phú Nhuận, đám sĩ quan đi cải tạo về không chỉ được thoải mái về số lần trình diện mà còn vì đám công an trẻ gốc Nam Kỳ ở đây tương đối dễ chịu so với những nơi khác, có lẽ vì đa số là dân cậu, được gia đình chạy chọt, lo lót cho gia nhập công an để khỏi phải “đi nghĩa vụ quân sự”, tức gia nhập bộ đội sang Căm-bốt đánh nhau với Khmer Đỏ.
Kể cả tay Trung úy Trưởng công an phường 13, một tay Nam Kỳ thích ăn nhậu (và ăn hối lộ) cũng không đến nỗi hắc ám. Nhưng không may cho tôi, tay công an hắc ám nhất, bị ghét nhất ở phường 13 lại chính là tay công an khu vực của tôi, Trung sĩ Huỳnh, người Quảng. Gã không chỉ trách nhiệm khu vực của tôi mà còn làm xếp một số công an khu vực lận cận.
(Ngày ấy, những năm đầu thập niên 1980, lon lá trong ngành công an còn có giá, chứ không như sau này, Trưởng công an phường thường mang cấp trung tá)So với đám công an gốc Bắc, gốc Trung mà tôi biết ở hai trại tù Suối Máu, Tống Lê Chân, Trung sĩ Huỳnh khá cao ráo, trắng trẻo, ăn nói lịch sự nhưng nét mặt lạnh lùng và ánh mắt rất đáng sợ.
Theo lời vợ tôi kể lại, người ta không biết tay Huỳnh này đã có vợ con gì chưa, chỉ biết gã sống độc thân tại chỗ. Ngay từ ngày tới phường 13 làm công an khu vực, Huỳnh đã ra mặt ve vãn một số bà vợ trẻ có nhan sắc của các sĩ quan QLVNCH bị đi học tập cải tạo, trong số đó có vợ tôi.
Vừa ve vãn y vừa gây áp lực bằng cách “đề nghị” đi kinh tế mới để “giúp chồng sớm được về”!
Thời gian tôi ở Phước Long và vợ tôi cùng cô bạn K còn đi buôn lậu cá khô từ Sông Mao, Phan Thiết về Sài Gòn cũng là khoảng thời gian tên Huỳnh theo vợ tôi sát nút. Cũng may mỗi lần y tới nhà đều bị kỳ đà cản mũi!
Như đã viết ở một đoạn trên, sau khi bỏ phi trường Biên Hòa chạy về Sài Gòn, vợ con tôi ở trên lầu căn nhà nhỏ (trước kia là nhà bếp) của dì út tôi, sau này đứng tên bà ngoại.
Tầng trệt thì cho một bà cụ cũng gốc Bắc di cư 54 mướn. Bà cụ sống với người con gái là một single mother với hai đứa con trai nhỏ.
Vì cầu thang nằm trong nhà cho nên vợ con tôi bắt buộc phải vào tầng trệt mỗi khi lên, xuống lầu. Chính vì sự chung đụng ấy mà hai phía trở nên thân nhau; bà cụ xem vợ con tôi như con cháu trong nhà, ngược lại vợ con tôi cũng bắt chước con cháu bà cụ để gọi là “bà me” (mère: mẹ, tiếng Pháp).
Từ chỗ thân nhau ấy, vợ tôi được biết bà me cũng là dân Hà Nội tương đối có học nhưng chẳng hiểu tại sao ngày ấy lại làm lẽ. Người chồng của bà xuất thân từ một gia đình trung lưu, có nhiều thành phần trí thức đi theo Việt Minh. Trong số này có một người cháu lên tới cấp trung tá trong Quân Đội Nhân Dân, phục tại một cơ quan tham mưu, gọi bà bằng cô.
Sau năm 1975, ông trung tá QĐND này thường xuyên vào Sài Gòn công tác. Mỗi lần như thế ông lại tới thăm bà me và biếu cô khi thì ký đường cát trắng, lúc thì gói trà Thái Nguyên, hoặc ít lương khô Trung Quốc… mà ông đã dành dụm trước mỗi chuyến công tác trong Nam.
Theo lời vợ tôi kể lại, ông trung tá này khác hẳn đám cán bộ ngoài Bắc vào tiếp thu miền Nam, thường ba hoa ca tụng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, chê bai mọi thứ trong Nam, đả kích “đế quốc Mỹ”, lên án “ngụy quân ngụy quyền”… Trái lại, xuất thân là một sinh viên Hà Nội trước năm 1954, nay vừa vì được tận mắt chứng kiến những tốt đẹp chế độ VNCH để lại, ít nhất cũng về mặt vật chất, vừa vì nhận ra đầu óc “phản động” ngay trong gia tộc mình (bà me và con cháu), ông đã hoàn toàn “giác ngộ”.
Nói là hoàn toàn bởi trước 1975 ông cũng đã thấy được phần nào bản chất của chế độ cộng sản mà ông đang phục vụ. Trong một lần trò truyện tại nhà bà me, khi vợ tôi và cô bạn K không tiếc lời đả kích, châm biếm đám cán bộ cộng sản Bắc Việt, ông trung tá đã đáp lại một cách cay đắng pha lẫn buồn tủi:
– Các cô không nên vơ đũa cả nắm. Các cô phải biết rằng ngày ấy có biết bao thanh niên thuộc thành phần trí thức yêu nước, vì nhiệt huyết của tuổi trẻ mà đi theo Việt Minh, tới khi biết ra thì đã quá muộn, họ không còn lựa chọn nào khác hơn là chấp nhận sống dưới chế độ ấy, phục vụ chế độ ấy… Hiện nay, người miền Nam các cô còn có lối thoát là đi vượt biên, nhưng chúng tôi thì chẳng có lối thoát nào cả!
Hiểu được tâm trạng ông trung tá, từ đó mỗi lần ông ghé nhà bà me, vợ tôi cố né tránh đề cập tới chuyện chính trị chính em.
Nhưng riêng bà me, dù sao đi nữa thì việc có một người cháu là trung tá QĐND đã khiến bà được mọi người trong xóm, và cả Trung sĩ Huỳnh nể nang.
Chính nhờ cái thế ấy mà bà đã góp phần giúp vợ tôi thoát được sự theo đuổi ve vãn của tay công an khu vực này.
Vì cầu thang nằm trong nhà cho nên mỗi lần y tới kiếm vợ tôi thì trước hết phải chào hỏi bà me. Lẽ dĩ nhiên, bà dư biết gã công an khu vực tới kiếm vợ tôi với ý đồ gì cho nên luôn tỏ thái độ lạnh lùng.
Chưa hết, sau khi hắn lên lầu, lâu lâu bà lại bước lên lưng chừng cầu thang làm bộ hỏi vọng lên lầu chuyện này chuyện nọ để vợ tôi phải trả lời cho bà yên tâm…
Một thời gian sau, Trung sĩ Huỳnh bỏ cuộc theo đuổi vợ tôi. Để đề phòng trường hợp bị gã công an tìm cách đẩy đi kinh tế mới, vợ tôi với cái mác y tá đã tình nguyện tham gia Tổ Y học Dân tộc của phường, trở thành học trò châm cứu bất đắc dĩ của một ông “thầy” nọ, nhưng không bao giờ thành tài vì cái tật lơ đễnh…
Khoảng hai ba tháng sau khi tôi được thả về, hai tay bạn thân trước năm 1975 cùng phục vụ trong ngành Chiến Tranh Chính Trị Không Quân là Trần Ngọc Tự và Phan Lạc Giang Đông cũng lần lượt được thả.
Trước hết, Trần Ngọc Tự được thả về từ miền Bắc. Tự là người bạn thân nhất trong đời tôi. Hai thằng ở cùng xóm từ nhỏ, mặc dù hắn hơn tôi một tuổi, học trên một lớp và vào trường Luật trước tôi một năm, chín chắn chững chạc hơn tôi nhiều, nhưng từ khi cùng đi Khóa 3/69 Thủ Đức, thằng nằm giường trên thằng nằm giường dưới, mãn khóa cùng về ngành Chiến Tranh Chính Trị Không Quân, cùng theo học Khóa 8 Sĩ quan Căn bản Chiến Tranh Chính Trị ở Đà Lạt năm 1970, rồi tôi lấy vợ hắn làm phù rể, có thể nói chúng tôi coi nhau như anh em ruột.
Rất tiếc, sau khi được thả, Tự và vợ con tá túc bên nhà vợ ở Hàng Xanh, rộng rãi thoải mái hơn nhà của bố mẹ, giờ đây đã trở thành nơi nương náu của lũ cháu mồ côi.
Vì thế, sau bữa tiệc mừng tại nhà bố mẹ hắn, lâu lâu Tự và tôi mới gặp nhau. (2)
Phan Lạc Giang Đông thì tôi chỉ gặp lại một lần. Chỉ một lần nhưng để lại biết bao câu hỏi xen lẫn mừng tủi, bùi ngùi.
Hôm ấy vào khoảng gần trưa, tôi đạp xe từ nhà sang bên Bà Chiểu, sử dụng một con đường nhỏ dành cho xe hai bánh và người đi bộ, Đông đạp xe ngược chiều và hai thằng thấy nhau.
Lúc đó cả hai chúng tôi mới được thả, chưa có nghề ngỗng gì cho nên chỉ kể cho nhau nghe về thời gian bị đi cải tạo. Kể xong phần mình, Đông nhìn thẳng vào mắt tôi, hỏi:
– Bạn nghe người ta đồn về mình nhiều lắm phải không?
Tôi biết Đông muốn nói đến những tin đồn nói rằng trong trại cải tạo Đông làm ăng-ten để lập công với “cách mạng”, mong sẽ được thả sớm! Nhưng riêng tôi không tin.
Thời gian gần 6 năm trong các trại cải tạo đã khẳng định điều mà tôi thường nghe nói hoặc đọc trong sách vở: sống trong cảnh khốn cùng người ta dễ để lộ ra con người thật của mình.
Sau này đọc hồi ký của một số sĩ quan cựu tù cải tạo, chúng ta được biết đã có những người, từ cấp úy tới cấp tá, hoặc làm ăng-ten hoặc bắt anh em bạn tù lao động cật lực (trường hợp được làm đội trưởng) để lập công với cách mạng, với hy vọng sẽ được thả sớm, trong số này có cả một ông bác sĩ và một nhà nhạc sĩ tên tuổi!
Dĩ nhiên, một khi đã đặt bút viết với tên tuổi thật của mình, những nhân chứng sống ấy phải viết sự thật bởi vì còn có hàng trăm, hàng nghìn bạn tù khác ở chung trại hiện vẫn còn sống.
Nhưng bên cạnh đó cũng có một số trường hợp bị đồn oan, trong đó có người bạn Phan Lạc Giang Đông của tôi. Sau này, lập trường của Đông ở Thành Ông Năm và hoạt động chống đối ở Suối Máu được kể lại qua bài viết của những người trong cuộc thì xem như Đông đã được minh oan, nhưng trước đó, vào những năm đầu thập niên 1980, tin đồn “em ruột của Phan Lạc Tuyên làm ăng-ten trong trại cải tạo” lan truyền khá rộng rãi và được không ít người tin!
Trong số người tin ấy dĩ nhiên không có tôi, bởi vì tuy không cùng K với Đông ở Suối Máu, tôi đã được nghe anh em kể lại việc Đông tham gia Ban Hành Động K1 trong cuộc nổi dậy đêm Giáng sinh 1978 và sau đó bị đưa về Chí Hòa…
Sau khi tôi trả lời Đông đại khái có nghe người ta đồn nhưng đời nào tôi tin, Đông cho tôi biết hiện nay hắn vẫn bị “họ” (cách mạng) theo dõi, đồng thời chuyện gia đình của hắn cũng “rất phức tạp”, nên hắn nói tôi đừng tới nhà, khi nào thuận tiện hắn sẽ ghé thăm tôi.
Từ giã nhau, tôi vừa tính đạp xe đi thì bỗng Đông gọi giật lại, nhoẻn một nụ cười thật tươi:
– Này bạn, cô P có lên trại cải tạo thăm mình!
Nghe nhắc tới tên P, tôi bỗng thấy lòng mình chùng xuống, bâng khuâng nhớ lại mối tình văn nghệ của Đông với P, của tôi với M ở Đà Lạt hơn 10 năm về trước.
Thực ra tôi và Phan Lạc Giang Đông không thân nhau lắm, nhưng trong cái “không thân lắm” ấy lại có một vài kỷ niệm đáng nhớ liên quan tới mục cặp kè văn nghệ văn gừng.
Tôi biết Đông qua Trần Ngọc Tự, vốn trước kia đã quen Đông qua các sinh hoạt thơ văn. Thời gian này, cuối năm 1969, gần 20 tân Chuẩn úy Khóa 3/69 Thủ Đức trong đó có tôi và Tự được tuyển về ngành Chiến Tranh Chính Trị Không Quân; trong lúc chờ bốc thăm đi đơn vị, Tự giới thiệu tôi với Đông, khi ấy mang cấp bậc Hạ sĩ I, đang chuẩn bị lên Thủ Đức theo học Khóa 6/69 SQTB.
Đông sinh năm 1940, khá lớn tuổi hơn tôi và Tự; nghe kể lại thì nguyên nhân khiến trước đây Đông – một người có cử nhân Sử Địa tại Đại học Văn khoa Sài Gòn – khi tới tuổi nhập ngũ không được theo học khóa sĩ quan Thủ Đức là vì có anh ruột là Đại úy Biệt Động Quân Phan Lạc Tuyên, người tham gia cuộc đảo chánh hụt năm 1960 cùng với Trung tá Nguyễn Chánh Thi, Trung tá Vương Văn Đông, sau đó bỏ chạy sang Căm-bốt rồi theo cộng sản.
Sau vài lần găp nhau tại Bộ tư lệnh Không Quân vào cuối năm 1969, tới giữa năm 1970, tôi mới gặp lại Đông khi từ Pleiku về Sài Gòn chuẩn bị ra Đà Lạt theo học Khóa 8 Sĩ quan Căn bản tại Đại Học Chiến Tranh Chính Trị cùng với Đông, Tự và một số sĩ quan KQ cùng ngành.
[Theo lời Tự kể thì ông Dương Hùng Cường – vốn xuất thân ngành Kiểm soát Không lưu – lẽ ra cũng học khóa Chiến Tranh Chính Trị này nhưng đàn anh đã xin hoãn để ở nhà đóng phim Người Tình Không Chân Dung]
Tại Đà Lạt, Tự và Đông ở trong Ban Báo chí của khóa học, tôi trong Ban Văn nghệ, qua đó quen biết một số anh em cầm bút hoặc đàn hát thuộc các quân binh chủng khác. Thường thường, mỗi Chủ nhật đám khóa sinh sĩ quan chúng tôi lại kéo nhau ra phố Đà Lạt, chia ra từng nhóm đi chơi đây đó. Bộ ba gồm tôi, Tự và Đông thường đi với nhau, có khi thêm Trung úy Đỗ Đức Kỳ, một đàn anh KQ dễ mến (và có cái máy chụp hình khá xịn).
Buổi chiều, trên đường về trường chúng tôi thường tụ tập tại quán cà phê Tình Nhớ dưới chân dốc nhà thờ Tin Lành.
Đà Lạt 1970, từ trái: tác giả, Trần Ngọc Tự, Phan Lạc Giang Đông
Được vài tuần thì đám sĩ quan trẻ chúng tôi bắt đầu làm quen với các cô nữ sinh Đà Lạt để có người dung dăng dung dẻ cuối tuần. Riêng ba thằng chúng tôi thì Tự xé lẻ vì hắn đã có sẵn người yêu nội trú ở một ngôi trường danh giá, còn lại tôi, Đông và T, một tay Thiếu úy Thiết Giáp cùng khóa, quen được “tam nương đồng hành”.
Sau khi đi chơi chung được vài lần, T và người đẹp tên Đ, một cô bé khá mi-nhon với những đường cong hấp dẫn, rã đám vì hai người không hợp nhau.
Còn lại hai cặp, Đông và nàng P, tôi và nàng M, ra vẻ rất tâm đắc; về sau chúng tôi không chỉ dung dăng dung dẻ vào cuối tuần mà cả ngày thường hai thằng cũng “cúp cua” để hò hẹn hai em (cũng “cúp cua”).
Thật ra, hầu hết những mối tình văn nghệ giữa các sĩ quan khóa sinh trẻ người non dạ, các sinh viên sĩ quan chưa “ra ràng” của các quân trường ở Đà Lạt với các cô nữ sinh thành phố sương mù thường… trong sạch; nhiều khi tới ngày chia tay vẫn chưa hề… nắm tay nhau lần nào!
Thế nhưng ai cũng thích cặp. Có người nói đó là một truyền thống ở Đà Lạt – thành phố của hai quân trường nổi tiếng là Võ Bị Quốc Gia và Đại Học Chiến Tranh Chính Trị.
Cũng có người cho rằng khung cảnh thơ mộng và không khí trữ tình ở Đà Lạt – tiếng thông reo, con dốc đá, hoa ven lối, đồi cỏ xanh, cái se lạnh, con gái má đỏ môi hồng… khiến người ta trở nên mơ mộng hơn, dễ rung động hơn.
Hơn ba tháng sau, chúng tôi mãn khóa học; từng toán được quân xa chở ra phi trường Cam Ly để đi về Sài Gòn hoặc Vùng chiến thuật của mình. Trong lúc chờ phi cơ trong Trạm Hàng Không, trong khi mọi người nói cười vui vẻ vì sắp được hưởng một tuần nghỉ phép bên cạnh những người thân yêu hoặc vi vút với cô bạn gái sau bao ngày xa cách thì tôi thẫn thờ nhìn về hướng thành phố, mường tượng bóng dáng quen thuộc của M trong sân trường Bồ Đề, trước cổng chùa Linh Sơn…
Nhưng sau khi chiếc phi cơ đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất, cửa mở ra, không khí nóng lùa vào thì tôi trở về với thực tại…
Năm 1972, tôi thuyên chuyển từ Pleiku về Biên Hòa. Thường xuyên về Bộ tư lệnh Không Quân công tác, hầu như lần nào tôi cũng gặp lại hai ông bạn quý đang phục vụ trong Đoàn Công Tác Chính Huấn, thuộc Văn phòng TMP/CTCT Bộ tư lệnh Không Quân: Trần Ngọc Tự, Trưởng ban Biên soạn Tài liệu kiêm Sĩ quan Thuyết trình, Phan Lạc Giang Đông, Trưởng ban Giáo dục Chính trị.
Rồi Đông rủ tôi ghi danh Ban Báo chí tại Đại học Vạn Hạnh. Tôi vốn đã chán bút nghiên nhưng ham vui nên nhận lời, vì đi với hắn sẽ có nhiều cơ hội gặp gỡ những tên tuổi trong giới thi văn, ngồi chầu rìa nghe thiên hạ tán dóc cũng thú vị…
Một ngày nọ, Đông tiết lộ với tôi P, cô nữ sinh Đà Lạt hắn quen biết hai năm về trước, hiện nay đã về sống ở Sài Gòn, và hai người thường xuyên gặp nhau!
Theo suy nghĩ của một người bình thường thì đã có vợ con mà còn bay bướm là việc… không bình thường. Nhưng Đông kể chuyện này với tôi một cách hết sức vô tư, hồn nhiên, không một chút mặc cảm tội lỗi.
Quen biết Phan Lạc Giang Đông, tôi thấy có những lúc hắn rất nghiêm nghị, thậm chí khó tính, cao ngạo; chẳng hạn mỗi lần nghe Lệ Thu hát bản Nước mắt mùa thu của Phạm Duy, một ca khúc khá thịnh hành lúc đó, hắn lại lắc đầu:
– Hỏng, hỏng, cả đến Phạm Duy bây giờ cũng làm nhạc sến!
Ngược lại nhiều khi hắn cứ như một cậu con trai mới lớn, mới biết yêu lần đầu, chẳng hạn trong thời gian học ở Đà Lạt, khi hắn và P đi chơi chung với tôi và M, lúc lên đồi xuống dốc, khi ngồi cà-phê Tùng, nhiều khi hắn phát ngôn một câu hết sức ngây ngô, dại khờ, dễ thương…
Trở lại với chuyện tình giữa Đông và P, sau khi khoe với tôi là cô nữ sinh Đà Lạt này đã về sống ở Sài Gòn và hai người thường xuyên gặp nhau, Đông rủ tôi tới nhà P. Nể lời bạn, tôi theo Đông tới nhà P một lần duy nhất; và sau này mỗi lần về Tân Sơn Nhất công tác, gặp lại nhau tôi cũng không bao giờ hỏi về P nữa, bởi tôi thực sự không cảm thấy thoải mái trước việc quan hệ giữa Đông và P đã không chấm dứt cùng với khóa học ngắn ngủi của chúng tôi tại Đà Lạt.
Tôi không đạo đức giả mà chỉ quan niệm một cách sòng phẳng: một khi đã cùng ai kết nghĩa phu thê thì cùng lắm cũng chỉ có thể “thân này ví xẻ làm đôi” chứ trái tim thì không thể “chứa chấp” thêm một bóng hồng nào khác!
Nhưng giờ đây, được Đông cho biết sau này P còn lên tận trại cải tạo thăm hắn, tôi cũng không biết phải gọi quan hệ tình cảm giữa ông bạn thi sĩ của mình và nàng P là gì? Chỉ biết nó hơi khác thường và… hay hay. (3)
Sau này một số tác giả đã viết đại khái: với một cựu sĩ quan hay viên chức VNCH bị bắt đi học tập cải được thả về thì cũng giống như từ một cái nhà tù nhỏ bước ra cái nhà tù lớn!
Riêng bản thân tôi sau khi được thả về lại có tâm trạng hơi khác. Tôi không có cảm tưởng mình đang sống trong một cái nhà tù khổng lồ mà sống trong một thế giới khác.
Thực ra, không cần tới một nhà phân tâm học, cũng có thể giải thích chẳng qua chỉ vì tôi không có khả năng thích ứng với mọi sự thay đổi sau ngày 30/4/1975.
Nhìn thấy một lá cờ đỏ sao vàng, một cái nói cối, một tấm hình Hồ Chí Minh, một khẩu hiệu “Đảng Cộng Sản Việt Nam Quang Vinh Muôn Năm”, “Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”… là tôi bị dị ứng, mặt nóng bừng!
Vì thế chẳng đặng đừng tôi mới bước ra khỏi nhà. Đám bạn học cũ hoặc bạn tù cải tạo như Đức “cống”, Phát “tịt”… tới rủ đi uống cà phê – cà phê “bắp rang” 1 đồng một ly ở góc đường – tôi miễn cưỡng đi theo chứ chẳng hứng thú gì.
Ban ngày đã thế, ban đêm còn tệ hơn. Viết ra có thể bị cho là cường điệu nhưng sự thật nó là như thế. Sau một thời gian ngắn hưởng hạnh phúc “vợ mới cưới không bằng vắng lâu”, cứ đêm về là tôi trằn trọc, nằm vắt tay lên trán, thở dài…
Tôi không chỉ bực bội, chán nản trong lòng mà còn hay cáu gắt với vợ con. Lúc đầu vợ tôi còn cố gắng chịu đựng nhưng riết rồi nàng cũng phải nói thẳng ra, từ đó vợ chồng thường bất hòa, và mỗi lần như thế tôi lại nhớ tới việc mình đang ăn bám vợ.
Tôi đã từng nghĩ tới việc bỏ đi. Nhưng đi đâu bây giờ? Vào rừng theo các lực lượng phục quốc là chuyện phiêu lưu không tưởng!… Lúc đó tôi chưa hề nghĩ tới chuyện vượt biên vì chẳng quen biết ai mà cũng tự biết mình không đủ khả năng tài chính.
Cuối cùng đành ở lại Sài Gòn thử tìm kế sinh nhai. Trước hết, tôi cùng với Phạm Khắc Khiêm làm xà bông bột.
Như đã kể trong phần đầu của thiên hồi ký này, thời gian ở Thành Ông Năm tôi cùng đội với hai tay trung úy “bách nghệ tinh”: Khương Hữu Thành, Quân Vận Sư Đoàn 18BB, và Phạm Khắc Khiêm, Hải Quân Công Xưởng.
Phạm Khắc Khiêm là con nhà khá giả, gia đình có ngôi nhà ba tầng khá lớn ở đường Công Lý, trước kia vừa để ở vừa cho thuê. Vì có tiền, bố mẹ anh em Khiêm đã tìm cách thoát khỏi VN từ giữa tháng 4/1975, chỉ để vợ chồng Khiêm ở lại vì ai cũng tin rằng nếu điều tệ hại nhất xảy ra, Khiêm và vợ con sẽ được di tản bằng tàu của Hải Quân.
Nhưng rốt cuộc hắn bị kẹt lại, ngôi nhà bị cách mạng tịch thu chỉ để lại một gian trên tầng ba cho vợ chồng con cái hắn ở.
Thời gian này (năm 1981) sau ba đợt đánh tư sản, toàn bộ nhà cửa của người di tản, của người bị cưỡng bách đi kinh tế mới đã bị đám cán bộ ngoài Bắc vào chiếm ngụ. Ngôi nhà của bố mẹ Khiêm cũng thế, nhưng cũng vì hắn bị ở tận trên lầu ba, có cầu thang đi lên sân thượng cho nên chúng tôi mới có chỗ nấu xà bông bột.
Thời gian này, hầu như tất cả sĩ quan bị đi cải tạo trở về dù còn sức khỏe cũng đều thất nghiệp vì người nào cũng nửa thầy nửa thợ, và cũng vì cái mác “sĩ quan ngụy” cho nên dù có muốn làm cu-li, làm phu khuân vác cũng không nơi nào nhận. Chỉ có một số rất nhỏ xin được việc làm trong các tổ hợp gia công hoặc đạp xích-lô.
Trong nhóm tù cựu tù cải tạo năm bảy người chúng tôi – ở tù chung trại, hoặc quen biết nhau trước kia hay sau này – chỉ có một mình Đức “cống” đạp xích-lô nhưng cũng chỉ đạp tài tử, đủ tiền cà phê thuốc lá, còn lại thì hai tay làm trong tổ hợp vỏ xe đạp (thủ công nghệ) không đủ tiền mua gạo, một tay còn độc thân đạp xe đi giao hàng may cho mấy cô em gái, mà ai cũng hiểu là các cô cố ý trao việc để ông anh trai bớt mặc cảm ăn bám gia đình!
Phần tôi thì thất nghiệp toàn thời. Mỗi ngày chỉ có một công việc duy nhất là nấu cơm chiều đợi vợ về ăn. Hai đứa con, 9 và 8 tuổi, đã đủ khôn lớn để đi học một mình ở một tư gia gần nhà thờ xứ Tân Hòa (còn gọi là nhà thờ Kiến thiết vì ở phía trong cư xá Kiến Thiết).
Thật ra vợ tôi cũng không dư giả tới mức cho các con học “trường tư” mà chỉ vì sau mấy buổi đi học ở trường nhà nước (trường tiểu học của giáo xứ bị nhà nước tịch thu), hai đứa con về nhà cứ hát những bài hát của “cháu ngoan bác Hồ”, nhắc tới tên những anh hùng bắn rơi hàng chục B-52, diệt hàng trăm xe tăng của đế quốc Mỹ, đồng thời bị gọi là “con ngụy”…, vợ tôi đã bắt hai đứa ở nhà, thà thất học còn hơn!
Sau đó, có một cô giáo bị mất việc ở trường giáo xứ mở lớp dạy học tại gia, tuy không ai nói ra nhưng mọi người đều hiểu là dành riêng cho những đối tượng “con ngụy” hoặc những gia đình Công giáo nhất định không cho con học trường nhà nước.
Đám cán bộ địa phương thừa biết việc này nhưng không hề làm khó dễ bởi họ cũng không muốn gây thêm căng thẳng trong một khu vực mà đại đa số dân cư là người Công giáo Bắc kỳ di cư năm 1954.
Khi tôi tới nhà tìm Khiêm thì được biết hắn được thả sớm hơn tôi cả năm. Với quà gia đình từ Mỹ gửi về đều đều, gia đình Khiêm cũng không đến nỗi đói; chưa kể hắn còn làm trung gian mua bán hải đồ, hải bàn và lấy khách cho những đường dây vượt biên. Hắn chỉ nảy sinh ý tưởng làm xà bông bột khi tôi tới chơi và kể về hoàn cảnh phải ăn bám vợ, hơn nữa hắn cũng muốn nhân dịp này thực hành những gì đã học từ Khương Hữu Thành (cũng được thả về trước tôi).
Giờ này tôi không còn nhớ chi tiết cách thức hai thằng làm xà bông bột vì hầu như Khiêm bao hết mọi viêc, tôi chỉ đóng vai thợ vịn. Tôi chỉ nhớ đại khái mua dầu dừa về nấu lên, sau khi thành bột thì vô bao ny-lông, mỗi bao 250g, rồi lấy bàn ủi ủi cho mép trên dính lại.
Tôi vẫn còn nhớ “thương hiệu” xà bông bột của chúng tôi là “Rose”, không phải do chúng tôi chọn mà chỉ vì những cái bao có in hình bông hồng màu đỏ này là do Thành cận in sẵn để phân phối cho những người quen biết làm nghề này.
Những khách hàng đầu tiên của tôi là mấy bà buôn bán lẻ ở chợ Kiến Thiết do vợ tôi giới thiệu. Vì hầu hết là chỗ quen biết, tôi giao xà bông cho các bà bán, mỗi bà 5 bịch, một tuần sau mới trở lại lấy tiền và giao hàng mới.
Kết quả thật thảm hại, đa số các bà chỉ bán được 1, 2 bịch. Nguyên nhân, theo lời các bà, xà bông bột của chúng tôi bị chê… không có bọt.
Sau khi được tôi báo cáo kết quả, Khiêm tìm Thành “cận” học hỏi thêm bí quyết rồi hai thằng lại hì hục nấu đợt hai. Nhưng vì ngay từ đầu, cái nhãn hiệu “Rose” của chúng tôi đã bị chê nên sau đó hai thằng phải dẹp nghề.
Chú Thích:
(1) Ba đợt đánh tư sản miền Nam:
Đợt X1 (theo cách gọi của đảng và nhà nước CSVN) được bắt đầu vào sáng sớm ngày 11 tháng 9 năm 1975, diễn ra tại thành phố Sài Gòn và trên khắp 17 tỉnh thành miền Nam. Đợt này chủ yếu nhắm vào nhà cửa của các cư dân thành thị, tịch thu nhà và cưỡng bức toàn bộ nạn nhân phải đi về các vùng Kinh Tế Mới.
Đợt X2 – tức chiến dịch cải tạo tư sản lần thứ nhất – bắt đầu vào tháng 12/1976.
Đợt X3, tức chiến dịch cải tạo tư sản (công thương nghiệp) lần thứ nhì được Hà Nội tiến hành từ tháng 3 năm 1978 và kéo dài cho đến sau khi có “Đổi Mới”, tức là khoảng năm 1990 mới chấm dứt. Đợt này chủ yếu nhắm vào tư thương, tiểu tư sản, các thành phần sản xuất hạ tầng vốn rất đa dạng và phồn thịnh trong nền kinh tế tự do, được chính phủ Việt Nam Cộng Hòa khuyến khích, nâng đỡ trong suốt 20 năm trước khi xảy ra biến cố 30/4/1975.
Đỗ Mười, sau này làm Tổng Bí Thư Đảng, trực tiếp chỉ huy X3.
Đỗ Mười (ảnh AP)
Ngày 21/3/1978, tại hội trường Trường đảng Nguyễn Ái Quốc ở Thủ Đức, Đỗ Mười khi ấy là Phó thủ tướng kiêm Trưởng ban Cải tạo Công thương nghiệp XHCN, đặc trách vấn đề Cải tạo Công thương nghiệp XHCN tại miền Nam, đã đọc chỉ thị 100-CP của Chính phủ và phát biểu những lời lẽ cực kỳ hung hăng sắt máu, trong đó có những đoạn sau:
“Từ sau giải phóng chúng ta đã thực hiện X-1, tập trung bọn ngụy quân, ngụy quyền học tập cải tạo. Đã thực hiện X-2 đánh bọn tư sản mại bản. Bây giờ chiến dịch X-3, quyết liệt nhất, nhằm tiêu diệt tận gốc rễ chủ nghĩa tư bản, tay sai đế quốc Mỹ…
“Đánh rắn phải đánh dập đầu, ta đã đánh dập đầu rồi, nhưng con rắn tư bản đánh dập đầu nó chưa chết, cái đuôi nó còn nguy hiểm hơn cái đầu. Không giần cho nát cái đuôi của nó, thì nó vẫn tác oai tác quái phá chúng ta…
“Cho nên chúng ta phải róc thịt chúng ra. Bắt chúng lao động sản xuất, tự làm lấy mà ăn. Phải biết cày ruộng, cấy lúa, trồng ngô. Đất hoang còn nhiều, bắt chúng đổ mồ hôi sôi nước mắt kiếm miếng ăn…”.
Sau chiến dịch X3, hàng ngàn gia đình cán bộ miền Bắc đã vào Sài gòn sinh sống trong những ngôi nhà bị tịch thu. Hơn 10 năm sau, tháng 9 năm 1989, báo Sài Gòn Giải Phóng và báo Công An khi bàn đến vấn đề trả lại nhà cho những “đối tượng” bị đánh tư sản oan, đã ước tính có khoảng 150 ngàn người thuộc gia đình cán bộ gốc miền Bắc vào Sài Gòn cư ngụ trong những ngôi nhà bị tịch thu.
Riêng về Chỉ thị 43 của Bộ Chính Trị vào tháng 5/1978 đã quốc hữu hóa toàn bộ đất đai của nông dân miền Nam vào tay nhà nước thông qua hình thức “Tập Đoàn Sản Xuất”, dẫn đến nạn đói năm 1979 vì sản lượng lúa gạo và tất cả mọi loại nông sản trên toàn miền Nam bị sút giảm một cách trầm trọng.
(2) Trần Ngọc Tự trước năm 1975 còn đảm trách thêm chức vụ Thư ký tòa soạn cuối cùng (1974-1975) của đặc san Lý Tưởng BTL/KQ.
Sau khi đi cải tạo về, tới năm 1984 anh bị chế độ CSVN bắt giam cùng với Doãn Quốc Sĩ, Hoàng Hải Thủy, Dương Hùng Cường, Lý Thụy Ý, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Khuất Duy Trác (ca sĩ Duy Trác) trong vụ án mà báo Công An thành Hồ gọi là “Những những tên biệt kích cầm bút”.
Do sự can thiệp của Văn Bút Quốc Tế, năm 1988 Trần Ngọc Tự được thả sớm nhưng quyết định không đi định cư tại Hoa Kỳ vì muốn ở lại VN phụng dưỡng mẹ già. Nhiều năm sau khi bà cụ mất, anh mới đi theo diện HO “vớt” vào năm 2006.
Trần Ngọc Tự tại Hoa Kỳ
Những bài viết gần đây nhất của Trần Ngọc Tự đăng trên Hội Quán Phi Dũng là Chuyện về ông tướng Tư lệnh, Bên dưới những đôi cánh sắt trong chuyên mục Quân Sử Không Quân.
(3) Năm 1994, Phan Lạc Giang Đông sang Hoa Kỳ trong chương trình HO cùng với vợ và hai con trai, định cư tại Seattle, tiểu bang Washington.
Phan Lạc Giang Đông tại Hoa Kỳ
Tại Hoa Kỳ, PLGĐ viết báo và sáng tác thơ; một số bài thơ đã được chuyển sang Anh ngữ để đăng trong các tuyển tập thi ca Hoa Kỳ. Năm 2001, chàng thi sĩ đã đạt tới đỉnh cao danh vọng (tạm gọi như thế) khi trở thành Hội viên Ưu tú của Hiệp hội Thi ca International Society of Poets, trước khi qua đời vì bạo bệnh vào tháng 11 năm đó, hưởng thọ 62 tuổi.
Nghe bạn bè ở Việt Nam kể lại, trong những lần về thăm quê hương, PLGĐ lại có thêm một mối tình văn nghệ nữa; ly kỳ hơn vì lần này nàng là một con chiên của Chúa. Nghe nói Đông đã lấy sẵn “tên Thánh”, dự tính sẽ về VN rửa tội vào đạo, sống quãng đời còn lại trên quê hương, nhưng việc chưa thành thì đã vội sớm ra đi.
Tang lễ của PLGĐ tại Hoa Kỳ được tổ chức theo nghi thức Phật giáo; tại Sài Gòn, bạn bè và đồng nghiệp còn ở lại cũng tổ chức một buổi cầu siêu và tưởng niệm ở chùa.
Cô Huôi ngồi nhà, bỗng đứa nữ tỳ chạy vào mặt mày hơ hải:
– Cô ơi! Ở đằng kia, cậu Ba la hét. Mấy người hộ vệ đứng sắp hàng dưới bến.
Cô Huôi đoán chừng:
– Chuyện nhà nầy, mi cứ lo. Hơi đâu lo chuyện đằng kia.
Linh tính như báo trước với cô điều gì quan trọng, lát sau, cô đứng dậy:
– Ra ngoài sân coi thử.
Đứa nữ tỳ ra ngoài rồi trở vào, hai tay run run vịn vào cánh cửa:
– Thưa cô…
– Cái gì?
– Dạ…có người nào tóc tai rối nùi, quần áo ướt mem đứng trước sân. Người đó đưa tay ngoắt tôi.
Cô Huôi ngạc nhiên. Khi nhận ra tên hộ vệ, cô hỏi:
– Tới đây làm gì? Ta gọi hồi nào mà tới? Say rượu rồi làm càn sao chớ? Đi ra.
Tên hộ vệ chắp tay:
– Thưa cô! Cậu Ba lên án chém đầu tôi, ngày mai nầy. Cô Xí Vĩnh bị nhốt rồi, ngày mai cũng bị chém. Trăm lạy cô. Cô nói một tiếng thì cứu được mạng tôi.
Cô Huôi nói:
– Vô đây. Nói đầu đuôi cho ta nghe.
Tên hộ vệ đứng khép nép bên góc cột, tay chân run rẩy.
– Thưa bà, tôi sợ quá. Chắc là tôi chết. Nếu cậu Ba biết tôi vô đây, làm sao tôi trở ra. Cậu Ba hung hăng, tự xưng là ông Chúa.
– Cứ ngồi xuống, tự nhiên. Ta hứa cứu giúp cho. Ta còn sống đây thì không ai dám lấn hiếp, giết chú mầy vô cớ. Nếu cậu Cẩu không dùng mày thì ta trả tiền hàng tháng, chú mày canh giữ nhà này.
Tên hộ vệ nói tỉ mỉ những gì xảy ra. Lần đầu tiên, kể từ khi về Hòn Chông, cô gặp một trường hợp khó xử, vô cùng nguy hiểm. Chuyện giam cầm Xí Vĩnh nào phải là sự cao hứng ngẫu nhiên.
Đồng ý rằng cậu Cẩu thường nổi cơn điên, nhưng đó là cơn điên khôn ngoan để thỏa mãn tham vọng vô bờ bến.
Từ khi Bá Vạn chết, Mười Hấu mất bình tĩnh, muốn nắm trọn quyền. Những gì ông ta nói luôn luôn được cậu Cẩu tuân theo. Hỗm rày cô Huôi chỉ giữ thái độ yên lặng. Việc giam cầm Xí Vĩnh là âm mưu của ông Mười để dò xét phản ứng.
Suy luận như thế, cô Huôi thấy mình cô độc hơn bao giờ hết. Trước mặt chỉ còn hai đường: một là sống ngoài vòng thế sự, mỗi ngày dùng hai bữa cơm ngon, tai ngơ mắt điếc. Hai là phản ứng lại để cho Mười Hấu và cậu Cẩu hiểu rằng người có nhiều quyền hạn nhứt ở Hòn Chông hiện giờ chính là cô.
Nếu giữ thái độ thụ động, trong cơn hốt hoảng nào đó, cậu Cẩu dám cho bọn hộ vệ bao vây căn nhà nầy.
Cô Huôi ra lịnh cho tên hộ vệ:
– Xuống nhà bếp mà ngủ. Ngày mai, ta cứu chú mầy…
Nhưng tên hộ vệ vẫn chắp tay:
– Tôi sợ quá. Rủi ngày mai bà cứu không được. Còn cô Xí Vĩnh?
Cô Huôi gật đầu, nhìn nhận rằng tên hộ vệ biết lo xa:
– Mi trở lại nhà ông Mười Hấu.
Tên hộ vệ run lên:
– Hễ trở lại là tôi bị bắt luôn.
– Ta chết thì mi mới bị bắt. Mi quên rằng ta là người có quyền hạn rộng. Ta là mẹ của cậu Cẩu. Muốn làm việc gì lớn thì phải…nghe ta can gián. Nếu ông Mười Hấu hỏi, mi cứ nói đúng lời ta.
Tên hộ vệ mừng thầm:
– Xin bà dạy việc.
– Không có gì lạ. Nói rằng ta mời ông Mười Hấu đến.
Khi tên hộ vệ ra đến thềm nhà, cô Huôi gọi:
– Trở vô đây. Nếu ông Mười Hấu do dự thì bảo rằng đó là lịnh của ta.
Vừa ra tới đường cái, tên hộ vệ bắt đầu lo. Trời đã xế, dưới sông không còn một chiếc ghe xuồng qua lại. Trước nhà cậu Cẩu, hai tên hộ vệ cầm đoản đao đi tới đi lui.
Đến gần cổng nhà ông Mười Hấu – nơi ông Chúa Hòn cư ngụ trước kia – tên hộ vệ nghe tiếng gọi:
– Hy! Mầy về đây làm gì? Chỗ anh em, ta khuyên mầy nên lánh mặt.
Hy là tên đứa hộ vệ. Nó trả lời:
– Tao muốn trốn qua xứ khác, nhưng cô Huôi bắt buộc tao tới đây gặp ông Mười.
– Nãy giờ ông Mười cằn nhằn. Ông biết mầy cầu cứu với cô Huôi. Khi người lớn ăn thua với nhau thì kẻ nhỏ hứng chịu tất cả. Mầy thấy cô Xí Vĩnh không? Cô ta bị giam về tội làm tình với ông Bá Vạn hồi mấy năm về trước.
Đột nhiên tên hộ vệ nghiêm mặt, nói khẽ:
– Ông Mười tới.
Rồi anh ta đổi giọng:
– Mầy đứng lại cho tao trói.
Thằng Hy tin vào quyền lực của cô Huôi nên bình thản trả lời:
– Lát nữa hãy trói. Bây giờ, tôi là người tới đây theo lệnh của cô Huôi.
Ông Mười Hấu hơi ngạc nhiên vì cô Huôi đã có phản ứng quá nhanh. Cô là người mà ông ta ghét nhưng kính nể:
– Sao? Cô Huôi nói gì? Mầy vô đây.
Đến phòng khách, thằng Hy dừng lại:
– Thưa ông, cô Huôi dạy tôi mời ông tới thật gấp.
Để khai thác tin tức, ông Mười bèn giở giọng quát nạt:
– Mầy nói xấu tao điều gì? Ai cho mầy vô nhà đó?
– Dạ, cô Huôi gọi tôi vô rồi bắt buộc tôi tới đây.
Mười Hấu quát mắng:
– Tại sao mầy không cãi lại?
– Dạ, lúc ban đầu tôi cãi.
– Mầy cãi như thế nào?
– Dạ…tôi nói rằng…tôi là tôi tớ vừa bị rầy la.
– À! Mầy có cho cô Huôi biết chuyện con Xí Vĩnh bị lên án chém đầu không?
– Dạ, cô Huôi hỏi thì tôi phải trả lời…
– Mầy chưa nói thật. Tao giết mầy! Tôi tớ không được phép nói xấu chủ. Mầy hiểu chưa? Mầy là tôi tớ của tao chớ đâu phải của cô Huôi. Tại sao mầy vâng lời người ngoài?
Đã đến lúc thằng Hy nói liều:
– Cô Huôi bảo rằng cô là mẹ cậu Cẩu, ở Hòn Chông nầy không ai có quyền hạn lớn hơn cô.
– Xuống nhà bếp!
Câu trả lời của thằng Hy khiến ông Mười lo sợ. Nếu đến gặp cô Huôi lập tức thì còn gì thể diện? Nhưng nếu không đến thì đó là hành động khiêu khích quá đáng.
Lúc nầy, nói chung thì dân chúng vùng Hòn Chông đều nhớ tới ông Chúa Hòn ngày trước. Hoặc cô Huôi bị giết, hoặc cô ra đi thì cậu Cẩu không tài nào trấn áp dư luận được. Kinh nghiệm cuộc khởi loạn ở núi Mo So đã cho ông Mười thấy rằng cậu Cẩu quá sợ chết và dân chúng sẽ kéo đến Hòn Chông nếu không có Bá Vạn cản ngăn kịp thời.
Lát sau, ông cũng mặc chỉnh tề ra sân. Ông cố ý đến trễ để chứng tỏ rằng mình chỉ tuân lịnh cô Huôi trong chừng mực nào đó thôi.
Đứa nữ tỳ đã thấy dạng ông Mười. Nó chạy vào. Nhưng cô Huôi nghiêm nét mặt:
– Cứ đứng đó hay vô đây luôn. Đừng chạy. Không có chuyện gì quan trọng cả.
– Ông Mười mặc áo gấm.
Cô Huôi cười thầm vì rõ ràng ông Mười đã xuống nước. Từ khi về Hòn Chông, chưa bao giờ ông ta ăn mặc như thế. Vì muốn ra vẻ trang nghiêm bệ vệ, vô tình ông ta để lộ mặt sợ hãi, thiếu tự tin.
Đứng lóng nhóng hồi lâu, đứa nữ tỳ bèn vào trong, chuẩn bị rót nước trà. Cô Huôi lại nhắc nhở:
– Ông Mười là ông của cậu Cẩu nhưng là người không làm chức gì ở Hòn Chông nầy. Lát nữa, khi nào ông ta gọi cửa thì mi ra đón rồi vào đây xin phép ta. Ông ta thắc mắc thì mi trả lời như ta vừa nói.
Thoạt tiên, ông Mười Hấu bước nhanh. Nhưng khi thấy đứa nữ tỳ chạy nhanh vào nhà cô Huôi, ông ta thêm kiêu hãnh, nghĩ thầm:
– Cô Huôi đang sợ. Hiện giờ, cô không còn vây cánh ở xứ nầy.
Đến trước cổng, ông Mười đứng thẳng người để chờ đợi đứa nữ tỳ. Ông hơi sốt ruột. Bên trong cửa mở he hé. Đứa tớ gái mở cánh cửa rồi khép lại.
Ông Mười đưa tay ngoắt:
– Đứa nào đó! Mở cửa chớ.
Nhưng đứa tớ quay mặt. Mười Hấu chưa biết nên chọn thái độ nào? Một là về, không thèm gặp cô Huôi. Hai là xô cổng tự tiện vào sân.
Đứa tớ gái bước chậm rãi:
– Thưa ông…
Mười Hấu ngoắt tay:
– Lại đây cho tao hỏi. Tại sao mầy không chào tao lúc nãy? Tao tới đây. Mầy không có mắt?
Đứa nữ tỳ chắp tay:
– Thưa ông, cô dạy rằng…ông là…
– Là gì?
Đứa nữ tỳ nói khéo léo:
– Nếu nói ra, chắc tôi bị rầy. Ông tha thứ thì tôi mới dám nói sự thật. Cô nói rằng ông là người không có quyền hạn gì ở xứ nầy. Nhưng cô dạy tôi mời ông vô.
Mười Hấu hơi ngại ngùng. Bỗng dưng, ông nảy ra ý nghĩ trở về nhà vì cô Huôi cố ý làm mất thể diện ông. Hai cánh cửa mở rộng. Đứa nữ tỳ thứ nhì chạy ra, chắp tay chào:
– Thưa ông, cô tôi xin mời.
Cô Huôi ngồi trên bộ ván gõ. Khi bước vào, ông Mười Hấu cứ im lặng, đến cái trường kỷ ở sát vách đối diện mà ngồi xuống.
Bầu không khí trở nên khó chịu. Ông Mười muốn rằng cô Huôi lên tiếng chào trước. Cô Huôi thì chờ đợi ông Mười. Ông Mười tằng hắng để lấy nghị lực.
Cô Huôi càng tự tin, cứ nâng tô trà lên uống rồi hạ cái tô xuống khá mạnh. Nghe tiếng động, Mười Hấu nhìn thẳng về cô Huôi. Cô Huôi lên tiếng:
– Sao ông Mười chưa nói gì? Tôi thì không quên ông, nhưng có lẽ vì bận rộn công việc nên ông quên tôi. Chắc không có chuyện gì lạ.
Mười Hấu đành chịu thua trước vẻ đẹp lộng lẫy nhưng oai nghiêm của đối phương:
– Dạ, thưa cô. Con Xí Vĩnh bị lên án xử tử. Chắc cô mời tôi tới đây vì chuyện đó!
Cô Huôi lắc đầu:
-Xí Vĩnh là người nhỏ tuổi. Nó bị lên án, đó là chuyện riêng trong gia đình cậu Cẩu. Tùy ý cậu biện định. Ngày cậu đem Xí Vĩnh về làm vợ, tôi không được báo trước. Nhưng đó là chuyện của cậu.
– Vậy cô mời tôi tới đây có việc gì?
Cô Huôi lườm ông Mười Hấu:
– Tôi muốn hỏi về ông Bá Vạn.
– Hôm đó, tôi có trình với cô: Bá Vạn chết vì cảm mạo.
Cô Huôi khoát tay:
– Con người chết rồi thì thôi. Nhưng tại sao không ai lo mồ mả cho Bá Vạn, hoặc lo cúng kiếng? Bá Vạn là người có tội nhưng cũng có công.
Mười Hấu dọ thử phản ứng của cô Huôi để biết cô có kiêng nể cậu Cẩu chăng:
– Tôi muốn làm lễ cầu siêu tại đây nhưng cậu Cẩu ghét Bá Vạn. Nếu vậy, xin cô nói cho cậu biết…
– Cứ làm lễ nơi khác. Hỗm rày, chắc cậu Cẩu muốn làm lễ “xưng vương”? Ông cứ nói thiệt. Tôi đồng ý chuyện đó.
Nghe qua, Mười Hấu mừng rỡ như mở cờ trong bụng:
– Thưa cô, nếu vậy còn gì may mắn cho bằng. Tôi không dè cô lo lắng cho cháu tôi đến mức đó. Vậy mà bấy lâu nay nó thất lễ với cô. Trời ơi! Mừng quá.
– Nó được nở mặt nở mày thì tôi vui mừng.
– Cô còn dạy điều gì không?
– Ngày mai tôi tới thăm cậu Cẩu. Sẵn có Tư Thiện, người ở chợ Rạch Giá mới vô, tôi muốn bày ra nhiều trò vui để chứng tỏ rằng ở Hòn Chông dân chúng không kém …người Lang Sa.
Mười Hấu ra khỏi ngưỡng cửa, day lại xá dài.
– Thưa cô!
– Gọi tới đây thật gấp.
Khi Mười Hấu vừa khuất dạng ngoài cổng, cô Huôi uống thêm một chén trà. Thế là bao nhiêu kế hoạch sẽ được thi hành như ý muốn. Cô cho một tên hộ vệ thân tín đến núi Đất, nhờ cha cô tìm một mớ thuốc độc.
– Gọi ông Tư Thiện tới đây!
Đứa nữ tỳ vào với Tư Thiện. Cô Huôi nói:
– Ông nên bày ra một buổi lễ với nhiều trò chơi…giống hệt như ở Rạch Giá. Mới đây, cậu Cẩu nổi cơn điên đòi giết những người chung quanh. Nếu không trấn áp kịp thời thì cậu ta sẽ nghi ngờ tới ông.
Mấy ngày qua, Tư Thiện sống vui vẻ, được cô Huôi che chở. Nhiều khi, ông ta muốn trốn ra khỏi vùng đồi núi nầy nhưng về Rạch Giá để tiếp tục nghề mua bán và dọ thám là điều ông ta không thích cho lắm. Ở đây, bên cạnh cô Huôi, ông ta thấy yêu đời hơn. Cô quá xinh đẹp, có cử chỉ nhã nhặn. Nếu cô từ chối không yêu, chừng đó ông ta trốn cũng không muộn.
Tư Thiện nói:
– Sống chết là do cô. Cô dạy là tôi tuân lời. Bày cuộc lễ tại đâu? Tốn kém bao nhiêu? Cô nói rõ thì tôi mới lo liệu được. Ở ngoài chợ Rạch Giá, khi người Lang Sa mới đến, có nhiều trò giải trí tuyệt diệu.
– Thì ông cứ chờ ý kiến cậu Ba.
Tư Thiện mừng khấp khởi. Rồi đây, nếu quân kéo vào chiếm Hòn Chông, ông ta sẽ giúp một tay đắc lực, cho bên này hay bên kia, tùy theo tình thế.
Lẽ dĩ nhiên, mấy tên hộ vệ làm sao chống cự nổi với binh hùng tướng mạnh. Nhưng trước khi xảy ra cuộc náo loạn đó, Tư Thiện có thể đứng về phe cậu Cẩu để kiếm chút ít bổng lộc. Mấy chục năm qua, ông Chúa Hòn đã vơ vét bao nhiêu vàng bạc của đám tá điền.
Nhưng cái bồng bột mà Tư Thiện ao ước trước tiên là vóc dáng yểu điệu của cô Huôi. Cô đã xinh đẹp, còn trẻ lại thông minh.
Liệu rồi đây ông ta được dịp thố lộ tâm tình? Cô Huôi ăn nói nghiêm nghị, lúc bối rối nầy nếu ông ta nói chuyện yêu đương ắt bị từ chối. Cô sẽ khinh rẻ và trừng phạt là chắc.
Đứa nữ tỳ chạy vào, bàn tán rằng cậu Cẩu sắp tới.
Cô Huôi nghĩ đến tánh mạng Xí Vĩnh. Nó sống thì kế hoạch đầu độc mới thực hiện được. Cậu Cẩu là đứa ngạo mạn mà chịu hạ mình tới đây thì cô nên tâng bốc để cậu ta vui lòng. Trong ngày lễ tưng bừng chánh thức nhìn nhận cậu là ông Chúa trẻ, Xí Vĩnh sẽ có dịp tốt nếu Tư Thiện bày ra nhiều trò vui lạ khiến cậu Cẩu quên đề phòng những chi tiết nhỏ nhặt lúc ăn uống.
Trước ngưỡng cửa, cô Huôi cười dòn:
– Cậu Ba hôm nay coi đạo mạo quá.
Khi ra đi, cậu được ông Mười Hấu dạy tỉ mỉ cách xưng hô vì cuộc gặp gỡ nầy có lợi cho cậu. Nhưng cậu quên phần lớn lời căn dặn.
– Dạ! Dì nói đúng quá. Hết thời buổi ăn chơi thì tôi phải đạo mạo cho thiên hạ sợ. Dì nhớ hôm ở núi Mo So không? Tôi ưa giỡn, luôn luôn dưới ghe có vài cô gái hầu hạ.
– Mời cậu ngồi!
Cậu Cẩu ngồi xuống ghế trường kỷ. Cô Huôi bèn ra lịnh:
– Nữ tỳ đâu? Rót nước rồi ra ngoài. Hôm nay, ta nói chuyện riêng với cậu. Chúng bây trót khờ dại hôm nay, ta tha tội cho. Lần sau đừng vô phép như vậy nữa.
Một đứa nữ tỳ cúi đầu trình bày:
– Xin cô dạy con.
– Hễ gặp cậu Ba thì chắp tay xá ba lần. Ra ngoài đi!
Khi đứa nữ tỳ khuất dạng bên kia cánh cửa, cô Huôi gọi:
– Cậu Ba lại đây! Cậu mến tôi không? Lúc sau nầy, thấy cậu làm được nhiều chuyện quan trọng, tôi mừng.
Cậu Cẩu thích chí vì được khen ngợi:
– Thưa dì, hôm qua tôi muốn giết một người để ăn mừng. Đó là con Xí Vĩnh.
Giả vờ như chưa hay biết chuyện ấy, cô Huôi hỏi:
– Nó là cái gì mà giết?
Vì nghe không rõ, cậu Cẩu trả lời:
– Thưa dì, nó dám ho lớn tiếng khi tôi ra lịnh cấm tất cả mọi người không được ho, trước mặt tôi.
Đối với cô Huôi thì chỉ cần một lời nói khéo léo là gỡ được tội cho Xí Vĩnh:
– Tôi hỏi: Nó là cái gì? Tôi đâu có hỏi: Nó làm chuyện gì? Cậu trả lời kỹ lưỡng giùm.
Cậu Cẩu cau mày:
– Dạ, nó là cô gái mà tôi đem về để mua vui.
– Nó phải là vợ cậu không?
– Dạ, đâu phải là vợ! Một thứ đầy tớ. Ngày xưa, nó ở với ông Bá Vạn rồi qua tay thằng A Chúa, đàn hát tại xóm Vàm Rầy, trong căn phố dự trữ bong bóng cá, tôm khô. Dơ dáy quá. Bởi vậy mà tôi ghét. Nó sống để làm gì?
Lời lẽ ấy xúc phạm đến tự ái của cô Huôi. Là đàn bà, cô chẳng bao giờ muốn nghe lời khinh miệt hồ đồ ấy. Cô Huôi sống vui vẻ, im lặng trả thù những ai khinh miệt rằng đàn bà bất tài. Nếu không gì bất trắc xảy ra, nhứt định trong đôi ba ngày nữa cậu Cẩu phải chết vì tay con người mà cậu Cẩu xem là trò chơi dơ dáy.
– Cậu nói đúng!
Dáng điệu cậu Cẩu lúc bấy giờ thật dễ ghét, với hàm râu lún phún và đôi mắt xếch, như chỉ muốn nhìn lên cao. Cậu ta ưỡn ngực:
– Dì muốn tôi trừng trị nó cách nào? Hồi đó, đá cá thia thia ở núi Mo So, hễ bực mình thì tôi ném bỏ. Có con cá mun, hớt được ở trên núi trong bọng cây. Ai cũng nói nó là cá quí. Vậy mà tôi coi như con trùn, con dế.
Giọng cô Huôi tỏ rõ từng tiếng:
– Người sắp được tôn làm Chúa Hòn, người có khí tượng đế vương như cậu thì chớ nên ăn thua với những cô gái dơ dáy.
Bị công kích thình lình, cậu Cẩu nắm tay lại:
– Dì nói sao? Tôi làm một chuyện không xứng đáng à?
– Chớ còn gì nữa. Người có khí tượng đế vương nên ăn thua với kẻ khác, ngang hàng với mình. Thí dụ như bọn Lang Sa. Nếu cậu ăn thua với con Xí Vĩnh thì thiên hạ có thể hiểu lầm rằng cậu ngang hàng với nó, phàm tục như nó.
Cậu Cẩu chụp lấy cái tô đựng nước trà trước mặt. Cô Huôi bèn khiêu khích:
– Trước kia, khi còn đá cá thia thia, cậu là người phàm. Bây giờ, cậu là người cao cả hơn. Nếu tha tội cho con Xí Vĩnh, cậu được tiếng tốt.
– Nhưng người ta nói tôi hèn nhát…
Cô Huôi đáp:
– Ai nói thì cậu giết người đó. Thí dụ như ông Bá Vạn cậy thần cậy thế.
Hồi lâu, cậu Cẩu mới buông cái tô ra:
– Dì nói đúng.
– Nãy giờ, cậu muốn làm gì? Đừng nóng nảy vô cớ. Vua chúa luôn luôn bình tĩnh và rộng lượng.
– Nhưng mà tôi lỡ lên án xử tử nó rồi. Chẳng lẽ tôi nói ngược với tôi.
– Nhơn dịp lễ “tôn vương”, cậu tha tội cho Xí Vĩnh. Đồng thời, cậu cho mọi người ăn uống no say suốt ngày đêm. Trong kho, còn nhiều tiền mà! Ngày xưa, khi lên ngôi, vua chúa mở ngục, ân xá tất cả tội nhơn…Ân xá vì khinh rẻ họ, chớ đâu phải vì sợ họ…
Bỗng dưng, cậu Cẩu cười dòn, vỗ tay như đứa bé đang gặp cái bánh:
– Tôi tha tội cho Xí Vĩnh. Buổi lễ chừng nào cử hành vậy dì? Nhờ dì giúp đỡ.
Hồi lâu, cô Huôi giảng dạy cho cậu Cẩu nghe rõ về tình hình ở chợ Rạch Giá. Trong khi quân Lang Sa muốn dò xét sự việc ở Hòn Chông, buổi lễ nầy là một lời hăm dọa. Tư Thiện biết những trò chơi lạ mắt, vui tai. Nếu dám tốn tiền thì ảnh hưởng lớn lao vô cùng. Bọn dọ thám sẽ báo cáo với quân Lang Sa rằng ở Hòn Chông có ông Chúa thông minh, oai vệ không kém bọn chúng. Muốn gây sự, chúng cũng do dự. Hơn nữa, người tài giỏi nhứt của quân Lang Sa đã đầu hàng…ông Chúa rồi.
Cậu Cẩu nói:
– Xin dì cho Tư Thiện tới gặp tôi để biết rõ tốn kém bao nhiêu tiền.
Cô Huôi tiễn cậu Cẩu ra cửa:
– Tư Thiện là tôi tớ của cậu. Hỗm rày ông ta ghi chép sổ sách rành mạch lắm.
Hai ngày sau, dân chúng Hòn Chông tha hồ ăn uống, khỏi tốn tiền. Tư Thiện muốn biểu diễn tài năng của mình để lấy lòng cậu Cẩu, nhứt là để làm vui mắt cô Huôi.
Thật ra, Tư Thiện chỉ là người có tài bắt chước. Năm ngoái, tại chợ Cái Bè (Mỹ Tho) ông ta chứng kiến một buổi lễ khao quân do người Lang Sa tổ chức, sau khi dẹp loạn ở Đồng Tháp Mười.
Quan tổng đốc Lộc vì viên quan ba người Pháp ngồi trên cái đài khá cao để uống rượu và cổ võ dân chúng.
Tư Thiện gây lại bầu không khí lạ lùng ấy, thêm thắt nhiều chi tiết. Lẽ dĩ nhiên, từ cô Huôi đến ông Mười Hấu, cậu Cẩu đều trố mắt. Từ thuở bé đến lớn, chưa lần nào họ thấy cuộc vui sôi nổi, hoàn toàn mới lạ so với những buổi hội hè đình đám vào dịp kỳ yên.
Bọn hộ vệ khăn xanh, lưng thắt dây nhiễu đỏ, ống quần túm gọn, bó sát phía trên mắt cá. Mỗi đứa cầm ngọn dao ngắn, trên ngực có vải vuông, vẽ chữ “tốt”.
Trên khán đài, cậu Cẩu ngồi trên chiếc ghế vuông cẩn đá cẩm thạch. Ông Mười Hấu ngồi bên cạnh, phía sau có hai đứa bị quạt đứng hầu.
Giữa sân, một thân cau lão cặm đứng, bào trơn láng chấp chóa dưới ánh mặt trời. Trên chót cây cau, treo lủng lẳng nào là gấm vóc lụa là, tiền điếu, những giỏ đựng trái cây, bánh ngọt.
Mấy món nầy buộc chung quanh vành tròn. Vành nối lên ngọn cau, dựa vào cái rỏ rẻ, có sợi dây dài điều khiển từ bên dưới.
Tư Thiện nắm đầu dây kéo mạnh.
Cái vành tròn và mấy miếng lụa, mấy cái giỏ đựng bánh được rút lên cao.
Ông ta từ từ buông dây.
Cái vành tròn từ từ hạ xuống.
Cậu Cẩu cười híp mắt:
– Cái trò nầy chắc vui lắm. Tại sao chưa bắt đầu? Dân chúng chờ đợi từ nãy giờ…
Đôi mắt Tư Thiện phảng phất chút gì buồn bã. Phải chi cô Huôi có mặt trên khán đài để chứng kiến trò vui nầy, do ông ta bắt chước theo kiểu của người Lang Sa.
Ông ta đâu có dè cô Huôi có ý vắng mặt để tỏ ra khiêm tốn, khinh thường địa vị. Cô ngồi trong nhà mà ăn trầu. Bọn nữ tỳ chạy lăng xăng dọn chén dọn dĩa. Từ nhà bếp, thức ăn thơm ngon bay mùi quyến rũ.
Tư Thiện giựt mình khi nghe cậu Cẩu thúc hối:
– Xong chưa? Người ta đang chờ. Dòm cái gì vậy?
Tư Thiện đáp nhanh, che giấu tâm trạng của mình:
– Dạ, chờ cho đông hơn. Tôi không dè vùng nầy dân chúng giàu có đến mức nầy.
Cậu Cẩu hỏi:
– Giàu hơn chợ Rạch Giá không?
– Dạ, hơn nhiều.
– Nghe nói thành Gia Định – Sàigòn sung túc lắm.
– Nhưng thưa ông, vùng Hòn Chông nầy đâu kém..
– Tư Thiện đáng được thưởng. Này, uống một chén rượu với ta. Ngươi thoa dầu chai với mỡ heo lên thân cây cau để làm gì?
Nãy giờ ông Mười Hấu ngồi ưỡn ngực, khoe chiếc áo gấm. Để cho Tư Thiện đừng chê cậu Cẩu là trẻ con, dại dột, ông bèn đỡ lời:
– Để trèo lên, hễ sảy chân thì té.
Một dịp để Tư Thiện nịnh hót khéo léo:
– Thưa ông, trò chơi nầy thú vị ở chỗ có nhiều người té vì ham leo trèo giựt phần thưởng.
Cậu Cẩu cằn nhằn:
– Nắng quá! Ta ra lịnh. Đừng cãi ta.
Tư Thiện khoát tay. Hai tên hộ vệ đánh trống inh ỏi theo nhịp trống múa lân. Ông ta đưa một tay lên cao. Tiếng trống dứt hẳn.
– Bà con cứ trèo lên cây cau nầy mà lãnh thưởng. Cứ được món nào đem về nhà món ấy. Nhưng hễ té thì ráng chịu.
Sợi dây được buông lơi. Cái vành tròn hạ xuống thấp. Năm ba chàng trai chạy tới, đưa tay giựt mấy miếng lụa. Nhanh như chớp, Tư Thiện rút sợi dây, cái vành lên cao, khỏi tầm tay bọn trai.
Các cậu đứng sát gốc cột.
Tư Thiện nói:
– Anh em cứ trèo lên. Cây cau ngoài vườn, anh em lên tới ngọn, huống gì cây nầy thấp chủm.
Các cậu ôm thân cau, trợt chân nhưng cố gắng phóng. Một ông lão nói:
– Nè! Làm như vầy.
Rồi ông ta quỳ gối xuống đất:
– Tụi bây đứng trên vai tao. Hễ tao đứng thẳng chân thì tụi bây ôm sát cây cau, làm sao té được? Dù cho cây cau..cao tới đâu, mình cũng trèo tới.
Cậu Cẩu trố mắt, chờ xem kết quả. Một chàng trai đứng trên vai ông lão. Để gây sự hào hứng, Tư Thiện cố ý buông thòng cái vòng.
Chàng trai chụp được cái giỏ đựng bánh. Nhưng chàng ta ôm gốc cau với một tay còn lại nên mất thăng bằng té nhào xuống đất.
Bánh trái văng ra, bọn người chung quanh vỗ tay:
– Cho tụi tôi ăn với.
Ông lão nói:
– Cứ ăn đi. Lần hồi, tôi giựt tất cả mấy món trên cái vòng. Anh em trai tráng ra đây, người nầy đứng trên vai người kia, đứng hai lớp là tới chót ngọn.
Ba chàng trai cởi áo, chạy ra. Ông lão và chàng trai lúc nãy cười hì hì, tay chân đều lem lấm dầu mỡ. Tư Thiện mừng thầm vì trò chơi nầy đã làm hài lòng cậu Cẩu.
Cậu đưa tay ngoắt:
– Tư Thiện! Đưa sợi dây cho ta nắm. Ta điều khiển giỏi hơn mi! Ngồi gần ta cho vui.
Cậu Cẩu nói to giọng:
– Ta nóng nảy lắm. Một là tụi bây té gãy tay. Hai là tất cả mấy món quà bị mất sạch. Nè!
Cậu thòng cái vòng xuống. Bao nhiêu lụa là, hoa quả di chuyển tòn ten, trong tầm tay.
Ông lão quỳ xuống. Cậu giựt cho cái vòng chạy lên cao. Một chàng trai đứng lên vai ông lão rồi với lên. Cậu rút cái vòng tận chót ngọn cây cau. Ông lão đứng dậy.
Tình cờ, cậu hạ thấp xuống, khi chàng trai vừa đưa tay lên thì cậu giựt mạnh. Chàng trai chới với, đạp lên vai ông lão để lấy trớn.
Khi té xuống, chàng ta nắm trong tay một xâu tiền kẽm..
Cậu Cẩu day lại Tư Thiện:
– Một năm, ta bày mười cuộc lễ như vầy. Cho thiên hạ té lăn cù…như con heo.
Tư Thiện đáp:
– Hễ ông ra lịnh thì tôi sẵn sàng. Còn trò chơi khác vui hơn, ở mé sông.
– Người Lang Sa bày trò nầy khéo thật, nhưng còn thua ta. Lần sau ta làm như vầy. Tư Thiện đoán thử…
Mặc dầu muốn nịnh hót để làm vừa lòng ông Chúa trẻ con ấy, Tư Thiện vẫn không tìm ra lời nói duyên dáng nào cả:
– Thưa ông, người Lang Sa ngu dốt.
– Họ ngu dốt lắm. Nếu khôn ngoan thì họ lấy lọ chảo mà thoa vào cây cột. Mấy người giành giựt sẽ đen đúa, mặt mày có vằn có vện. Thôi! Ta ăn uống cái gì cho vui miệng rồi hãy xuống bến.
Cậu Cẩu và Mười Hấu rời khán đài vào nhà. Nãy giờ cô Huôi chờ đợi một cơ hội thuận tiện nhất. Hôm nay, ở nhà bếp hơn chục đứa nữ tỳ làm việc không hở tay. Khi được tha tội, Xí Vĩnh ăn mặc như đứa nữ tỳ, đi tới lui sau bếp.
Xí Vĩnh tin chắc rằng hôm nay thể nào cậu Cẩu cũng chết. Cô ta đến gần cô Huôi:
– Thưa cô, chừng nào?
Cô Huôi trả lời:
– Lát nữa. Bây giờ hơi sớm.
– Dạ thưa, cậu vô kìa!
Cô Huôi nghiêm nét mặt:
– Kêu bằng ông. Ngu dại quá! Nên mềm mỏng, nịnh hót. Còn sớm lắm. Rủi cậu ta té lăn sau khi ăn uống thì ông Mười Hấu dễ truy ra thủ phạm. Chờ khi ban nhạc Dù Kê múa hát, cậu uống rượu. Nhớ chưa?
Khi bước vào nhà, ông Mười Hấu sanh nghi vì Xí Vĩnh và cô Huôi nói chuyện với nhau, gương mặt kém trầm tĩnh. Ông Mười đến gần cô Huôi:
– Hôm nay vui quá. Tư Thiện là người có tài. Phải chi cô ra xem cho đỡ buồn.
Cô Huôi nghiêm mặt:
– Đàn bà không nên ngồi trên cao. Nếu ngồi gần cậu Cẩu thì thiên hạ hiểu lầm, cho rằng tôi muốn án bóng. Thà rằng tôi ở đây, coi sóc chuyện bếp núc. Hôm nay là ngày lễ của cậu Cẩu chớ đâu phải của tôi.
Cậu Cẩu bước tới:
– Cám ơn dì. Lát nữa vui lắm. Tụi nó giựt giàn tại mé sông. Dì ra thì con mới vui.
Cô Huôi muốn từ chối, ngặt vì chưa có lý do xác đáng. Xí Vĩnh bạo dạn nhưng vụng về. Cô muốn ở bên cạnh nó để đỡ gạt giùm nếu có điều gì lộ bí mật. Hơn nữa, trong trường hợp Xí Vĩnh bị bắt quả tang, Mười Hấu sẽ làm hỗn, tra tấn tàn nhẫn để bắt buộc nó tố cáo cô.
– Thưa cô, con tôm này chưa chiên, chờ đợi lát nữa thì mới ngon…
Cậu Cẩu nói đùa, liếc về Xí Vĩnh:
– Con nhỏ này bữa nay coi ngộ quá!
Xí Vĩnh cúi mặt, không dám trả lời. Cậu Cẩu chụp lấy con tôm, lột vỏ rồi đưa lên miệng nhai lua láo:
– Chưa chín thì ngọt hơn là chín. Ta uống rượu vô cái gì mà không cháy? Hay lắm. Vừa ăn vừa uống, ta lại xem trò hề dưới nước. Nè! Lát nữa, nướng thêm vài con tôm, làm nước mắm thật ngon.
– Được rồi…Cậu cứ vui chơi, lát nữa đói hơn, ăn còn ngon hơn lúc nầy.
Ông Mười Hấu hơi áy náy vì khi cậu Cẩu nói chuyện, Xí Vĩnh như lúng túng, hai tay rờ vào túi áo rồi rút ra vuốt tà áo cho thẳng. Hôm nọ, lúc chuẩn bị đầu độc Bá Vạn, ông Mười đã từng trải qua cơn khủng hoảng tương tự. Nếu cô Huôi không có mặt tại đây, ông Mười ra lịnh xét bắt lập tức.
Đôi mắt cô Huôi sáng ngời lên khi nhìn Mười Hấu:
– Ông muốn ăn? Hồi sáng tới giờ, tôi nhịn đói vì bận rộn bao nhiêu công chuyện.
Ông Mười nói:
– Đáng lý thì hôm nay con gái tôi phải có mặt. Từ khi ông Bá Vạn mất, con gái tôi cứ bấn loạn, điên không ra điên. Thằng Cẩu cũng mang một chứng bịnh như mẹ nó. Chắc là tôi chưa làm điều gì từ thiện. Tội nghiệp ông Bá Vạn.
Dụng ý của Mười Hấu là dò xét phản ứng cô Huôi để biết rõ cô dính líu tới mức nào trong âm mưu sắp tới. Cô Huôi dư hiểu rằng Bá Vạn chết vì đầu độc. Nhưng cô Huôi nói lảng qua chuyện khác:
– Hôm nào, ông gọi cô Ngó tới nhà tôi cho vui.
Cậu Cẩu ăn xong con tôm, đưa mấy ngón tay lên góc cột mà quệt cho sạch. Đó là cử chỉ không sang trọng chút nào cả. Cô Huôi hơi bực nên ra lịnh:
– Còn trò tiêu khiển nào thì cứ làm cho nốt, còn ăn uống nữa chớ? Đêm nay, ban hát Dù Kê của người Cao Miên diễn một tuồng xuất sắc.
Cậu Cẩu đi nhanh xuống bến. Mười Hấu ngỏ lời với cô Huôi:
– Mời cô coi cho vui trong giây lát.
Tình thế thật khó xử. Cô Huôi muốn ở gần Xí Vĩnh. Nếu từ chối lời Mười Hấu thì ông ta thêm nghi ngờ. Chưa chi mà cô Huôi hơi buồn bực. Cô nhớ tới Bá Vạn. Hồi còn sống, Bá Vạn là người giàu sáng kiến và cũng là người thực hành quá giỏi. Hay là việc đầu độc sẽ thất bại?
Cô thì có đủ quyền lực để tự biện hộ. Nhưng ai cứu cho Xí Vĩnh lần thứ nhì!
– Tôi đi bây giờ. Nhưng tôi nói trước là tôi đứng trong giây lát.
Tư Thiện mừng rỡ về việc cô Huôi đến chứng kiến một trò chơi mới mẻ do ông ta bày ra.
Một cây cau trơn láng được đóng vào bờ, thân cây giơ ra ngoài như cây cầu. Ngoài chót cây cau, có miếng vải để treo vào cây cờ.
Như sực nhớ đến khí tượng đế vương của mình, cậu Cẩu ưỡn ngực hỏi:
– Người Lang Sa dùng dầu gì?
– Dạ, họ thoa cây cau bằng một thứ mỡ, kêu là mỡ bò.
– Mỡ bò tốt hay là dầu mù u tốt?
– Dạ, dầu mù u trơn hơn nhiều. Người Lang Sa đâu có dầu mù u. Họ dốt lắm. Xứ họ quá nghèo, làm sao có dầu nầy.
Một hồi trống nổi lên. Tư Thiện tuyên bố điều kiện dự giải. Mỗi người phải đứng trên bờ, ngay gốc cây cau rồi chạy ra ngoài giựt cho bằng được lá cờ để sau đó lãnh thưởng. Dân chúng tỏ ra vui vẻ, bàn qua lại:
– Dễ ăn hơn hồi nãy. Rủi té thì mình tắm luôn, không sợ gãy tay, trặc chân.
Tư Thiện liếc phía sau. Cô Huôi bước chậm rãi, đến gần cậu Cẩu. Tư Thiện khoát tay. Một hồi trống nổi lên.
Hai ba người đến gần cây cau, chạy thẳng ra ngoài như đi trên cây cầu trơn trợt. Vừa di chuyển được vài bước là tất cả đều té. Nước văng lên trắng xoá. Họ trồi đầu lên, lội vào bờ.
Cậu Cẩu thúc giục:
– Không lẽ xứ mình thiếu nhân tài? Té hoài vậy?
Một chàng trai bước chậm rãi đến gốc cây cau, ngắm nghía hồi lâu. Anh ta nói với đồng bọn:
– Mình đi cho chậm..Để tôi đi một mình. Cây cau nầy giơ ra ngoài, như cây cần câu. Nhiều người đi một lượt thì đầu cầu giựt lên, dễ té.
Nhưng vừa đi được bốn bước, anh ta lảo đảo như người say rượu, nhào xuống nước.
Cậu Cẩu day lại Tư Thiện:
– Thứ nầy sao khó chơi quá vậy? Người Lang Sa đi qua cây cầu như vầy được không?
Để làm thỏa mãn tự ái cậu Cẩu, Tư Thiện đáp:
– Tụi nó lớn con, dễ té hơn người mình. À! Chú nầy…
Một chàng trai đứng ưỡn ngực, lướt thật nhẹ rồi nhắm mắt chạy nhanh trên cây cau. Ngọn cây đưa qua đưa lại. Nhưng trước khi té, anh ta đã kịp thời phóng tới chụp cây cờ, nắm gọn trong tay.
Cử toạ vỗ tay ầm ĩ.
Nhưng có hai người không vỗ tay. Đó là cô Huôi và Mười Hấu. Cô Huôi day lại:
– Ông Mười có xem không?
Mười Hấu biết rằng cô Huôi nói châm chọc. Người theo dõi đang bị theo dõi ngược lại. Lúc nầy, nếu buông lơi, xem thường mọi cử chỉ của cô Huôi thì ông Mười và cậu Cẩu có thể bị suy sụp tan tành sự nghiệp. Mười Hấu càng nghi ngờ khi bắt gặp trong ánh mắt Tư Thiện một chút gì tình tứ kín đáo. Tư Thiện đã mê cô Huôi. Nếu cô Huôi liên kết với hắn thì còn gì là cậu Cẩu! Hèn gì cô tìm cách giúp đỡ Tư Thiện, giao phó cho bao nhiêu công việc quan trọng.
Cuộc vui đã kết thúc.
Cậu Cẩu ra lịnh:
– Bây giờ thì ăn uống.
Cô Huôi nghĩ đến Xí Vĩnh. Lúc vắng mặt cô, nãy giờ nó còn giữ vững tinh thần hay không? Mớ thuốc độc phải để trong món ăn mà cậu Cẩu thích nhất. Cô chưa căn dặn kỹ lưỡng. Phải gặp Xí Vĩnh để nói một lần chót. Rõ ràng Mười Hấu muốn theo dõi cô.
Khi đến gần nhà bếp, cô Huôi day lại:
– Ông Mười! Ông đi đâu?
Mười Hấu hơi bẽn lẽn:
– Tôi mừng ngày hôm nay. Hồi nãy tôi mời cô xuống bến coi tụi nó đi…cầu.
Cô Huôi chụp lấy tiếng nói kém thanh tao ấy:
– Trước mặt bọn nữ tỳ, ông đừng ăn nói cẩu thả.
Mười Hấu giận căm gan. Lần đầu tiên, ông bị cô Huôi mắng nhiếc. Nhưng đó là lỗi của ông. Ông vừa đi vào nhà vừa nghĩ tới lúc cậu Cẩu đưa con tôm nướng vào miệng mà nhai rồi lột con tôm khác, chấm vào chén nước mắm. Cậu té lăn ra, chân co lại rồi đạp mạnh, hai tay bíu vạt áo, thò vào cổ họng. Đúng là hình ảnh của Bá Vạn, trong đám sậy.
Mười Hấu muốn chạy trở lại để khuyên đứa cháu đừng ăn uống bất cứ món gì từ nhà bếp dọn lên. Đồng thời, ông khuyên cậu Cẩu nên bắt con Xí Vĩnh mà tra tấn, đừng cho cô Huôi hay biết.
– Ai biểu lượm? Đốt đèn lên, hai cây đèn sáng. Trong tủ không còn tăm dạng cái dĩa xanh, vậy chớ nó ở đâu?
Hai ngọn đèn sáp được đốt lên. Mười Hấu cầm một cây, rọi lên cái án thư mà không bao giờ ông dùng đến. Ông nhớ đến cái rương xe, đựng nào quả, nào tráp, nào chén uống trà:
– À! Đây rồi!
Lão bộc tiếp một tay, dỡ nắp rương lên. Ông Mười Hấu mở cái tráp:
– Nó ở đây. Vậy mà nãy giờ…
Cái dĩa khá nặng, mát lạnh nằm gọn trong bàn tay ông. Ông quăng ngọn đèn sáp ra sân, đi thẳng đến nhà cậu Cẩu. Vì ông đi quá nhanh, bầy chó cứ sủa theo.
Ông la lên:
– Chó! Mày quên tao rồi hả? Tao đập bây giờ.
Đó là mấy con chó săn của cậu Hai Điền còn để lại. Với cái dĩa ngừa thuốc độc trong tay, ông Mười mừng thầm, cầu mong rằng đằng kia bữa tiệc chưa mở đầu vì còn chờ ông.
Con chó chạy theo, cong đuôi. Nó cắn ống quần ông, đôi ba lần.
Ông nghĩ thầm:
– Chó là loài thú có linh tánh. Cứ cho nó đi theo. Bữa nay nó làm điềm gì lạ quá!
Trên bộ ván cẩm lai, cậu Cẩu ngồi uống rươu, tay nâng cái đùi gà lên mà khen ngợi:
– Ngon quá!
Phường nhạc ngũ âm trổi lên. Ông Mười Hấu đến ngồi gần đứa cháu ngoại. Ông liếc tứ phía không có Xí Vĩnh và không có cô Huôi. Phải chăng họ từ bỏ tham vọng, dời việc đầu độc qua một dịp khác?
Gương mặt cậu Cẩu vẫn hồng hào. Ông Mười hỏi:
– Cháu ăn lâu mau rồi?
Cậu Cẩu không nhòm ông Mười, cứ trả lời:
– Ăn uống là chuyện kéo dài. Nãy giờ ăn nhiều lắm nhưng mà cũng như chưa ăn.
– Cháu nói lạ quá. Rượu ngon không?
– Mới uống được hai chén, chưa say.
Đôi mắt cậu Cẩu trở nên mơ màng lim dim. Thật là khó xử cho ông Mười. Nên dẹp tiệc rượu nầy, ném bỏ tất cả các thức ăn, hay cứ ngồi mà chờ đợi?
Thuốc độc có loại chỉ công phạt sau khi ăn một buổi hay đôi ba ngày. Nghe đâu mấy ông thầy Chà chế biến ra thứ thuốc lợi hại, nạn nhân chỉ chết sau khi ăn nhằm thịt bò hoặc thịt vịt Xiêm.
Đó là chưa nói đến những thứ thuốc bột giống như tiêu sọ đâm nhỏ. Hễ ăn vào, nạn nhân lần hồi mang chứng đau bụng kinh niên. Mớ bột ấy nở ra to dần rồi quấn lại, tạo ra những mớ tóc rồi, những cây đinh dày gần một tấc trong bao tử.
Vài con ruồi bay gần dĩa thịt. Một con ruồi nhỏ rơi vào chén nước mắm. Ông Mười rùng mình tự hỏi:
– Phải chăng con ruồi là miếng da trâu trá hình? Nhiều người bị “thư” miếng da trâu. Vô bụng, miếng da nở to ra, choán đầy cái bao tử.
Cậu Cẩu hạ chén xuống:
– Ông ngoại nghe ngũ âm không?
Để dò xét sức khoẻ của đứa cháu ngoaị, ông Mười nắm tay cậu Cẩu:
Như vậy có nghĩa là từ khi ông Mười vắng mặt, cậu Cẩu chưa ăn hoặc uống món gì có chất độc.
Giàn ngũ âm biểu diễn khá vui, gồm những dụng cụ lạ lùng: trống bịt bằng da sấu, những miếng tre già dày mỏng khác nhau, mỗi miếng tạo một âm thanh. Ngoạn mục nhứt là mớ cồn bằng đồng, sắp xếp theo hình vòng cung. Nhạc công ngồi xếp bằng trên chiếu, giữa vòng cung ấy. Anh ta dùng hai cái dùi nhỏ, mỗi lần gõ trên hai miếng cồn.
Âm thanh dồn dập, một nhạc khí mà rộn rịp bằng hai nhạc khí cộng lại. Nơi góc nhà, một ông lão mù loà đờn cây đờn kìm khổng lồ. Đờn có cần dài, bốn dây. Thùng đờn là con cần đước ôm không xuể trong vòng tay, bị móc ruột. Mai và yếm láng bóng vì xài quá lâu năm.
Cậu Cẩu vỗ tay:
– Hay lắm! Hay lắm!
Một hàng vũ nữ gồm bốn đứa, từ góc phòng tiến ra. Mỗi vũ nữ đầu đội mão nhọn, mấy ngón tay có gắn chóp nhọn bằng đồng, bóng láng.
– Hay lắm! Hay lắm!
Cậu Cẩu đứng dậy, nghiêng mình như muốn nhìn bọn vũ nữ từ phía sau lưng.
Cậu cười toe, nói tiếp:
– Rượu đâu! Rượu với tôm nướng!
Nghe lịnh ấy, Xí Vĩnh chạy xuống nhà bếp. Từ nãy giờ, nó đứng ngoài cửa. Cô Huôi hỏi:
– Dọn thức ăn ra?
– Dạ, cậu đòi rượu với tôm nướng.
Cô Huôi nói khẽ với
– Đem ra quá sớm họ nghi ngờ. Chờ lát nữa. Mi trở lên coi ông Mười Hấu đang làm gì? Nãy giờ ổng tức lắm.
Xí Vĩnh đến gần ngưỡng cửa. Nó thấy bàn tay ông Mười đang thò vào túi áo, đem ra cái dĩa màu xanh.
Cậu Cẩu vỗ tay, nói to:
– Rượu đâu! Tôm đâu! Lúc này ăn …cho chết. Uống cho chết. Ta muốn chết với mấy nàng tiên này.
Ông Mười Hấu hơi áy náy. Giờ này, cô Huôi đang suy nghĩ và theo dõi kế hoạch giết cậu Cẩu và giết luôn ông.
Nếu bỗng dưng ông ra về thì vô lý quá. Biết đâu cô Huôi và Xí Vĩnh không giết cậu Cẩu bằng thuốc độc nhưng dùng một thủ đoạn khác. Bỗng dưng bọn vũ nữ bước đến trước mặt cậu Cẩu, điệu vũ đã chuyển biến theo một tiết tấu khác.
Có bóng người thấp thoáng ngoài cửa.
Day lại, ông Mười thấy cô Huôi. Cô vẫn nghiêm nét mặt, nói với đứa nữ tỳ:
– Tôi về nhà.
Như quá ham vui, đứa nữ tỳ ngỏ lời:
– Thưa bà, họ múa hát đẹp quá…
Cô Huôi nói gắt:
-Ta hơi mệt, buổi lễ còn kéo dài tới nửa đêm.
Đứa nữ tỳ ngoan ngoãn vâng lời. Cô Huôi nói nhưng không nhòm thẳng vào mặt ông Mười Hấu:
– Tôi về. Ông ở lại với cậu Ba. Buổi lễ nầy là trò giải trí của đàn ông.
Cô Huôi và đứa nữ tỳ khuất dạng ngoài cổng.
Hai đứa nữ tỳ bước chậm rãi; dọn thức ăn. Đó là món tôm nướng, bên cạnh dĩa tôm còn có dĩa nước mắm. Tất cả là bốn dĩa đầy, mùi tôm bay phảng phất, hửi qua là khó nhịn thèm.
Ông Mười Hấu cau mày. Bọn vũ nữ cứ bước tới một bước là trở lui một bước. Cậu Cẩu cười hề hề:
– Đẹp lắm! Lại gần đây…
Cô vũ nữ dẫn đầu khá mạnh khoẻ, mắt đen đậm mở rộng nhìn cậu Cẩu. Mấy ngón tay cô ta đều có gắn chóp nhọn, mười ngón tay trở thành mười mũi dùi sắc bén. Nhớ đến vài mẩu chuyện nghe lóm đó đây, ông Mười hơi run tay. Phải chăng bọn vũ nữ nầy là võ sĩ, được luyện tập kỹ lưỡng! Nếu bọn chúng thét lên một tiếng, xúm nhau bao vây cậu Cẩu rồi dùng ngón tay mà đâm thì làm sao trở tay cho kịp?
Cậu Cẩu nói:
– Đẹp lắm! Lại đây..
Rồi cậu thò tay vào dĩa, đưa lên con tôm khá to, lột cái vỏ cứng ở đầu con tôm.
Cậu đưa cho cô vũ nữ xinh đẹp đang múa lượn trước mặt:
Cô vũ nữ cứ mỉm cười, nụ cười chai đá. Cậu Cẩu đứng dậy bỏ con tôm xuống:
– Hay là muốn uống rượu?
Thừa lúc cậu Cẩu không chú ý đến thức ăn, ông Mười Hấu bèn để thử một con tôm vào cái dĩa màu xanh mà khấn vái lầm thầm:
– Xin thần linh phò hộ tai qua nạn khỏi. Nếu xảy rủi ro, xin cho tôi chết thay thế đứa cháu.
Màu xanh chấp chóa, dường như không thay đổi. Như vậy, có nghĩa là cô Huôi và Xí Vĩnh dùng thủ đoạn khác để trả thù. Khi ngước mắt lên, đột nhiên ông Mười gặp Xí Vĩnh. Xí Vĩnh đứng nép bên ngưỡng cửa ăn thông xuống nhà bếp. Nó bước lui như để tránh né. Ông tằng hắng lên, gọi to:
– Xí Vĩnh!
Xí Vĩnh vẫn đứng yên tại chỗ. Ông Mười không phiền hà cho lắm vì ban nhạc ngũ âm bắt đầu chuyển qua một điệp khúc nhanh hơn, có lẽ để chấm dứt.
Cậu Cẩu chụp bầu rượu, đưa lên uống. Ông Mười toan cản lại. Bên ngưỡng cửa, Xí Vĩnh cúi mặt, liếc xéo, hai giọt mồ hôi chảy long lanh trên trán.
– Nhứt định là có âm mưu gì đây. Cô Huôi về trước để khỏi gánh lấy trách nhiệm. Tại sao thời tiết không nóng bức mà Xí Vĩnh lại đổ mồ hôi? Nó đứng bên ngoài, nơi có gió thổi.
Nghĩ vậy, ông Mười bèn kiểm soát cẩn thận cái bầu rượu. Ông hửi thử mớ rượu còn đọng trên đáy bầu rồi nhủ thầm:
– Rượu nầy không có thuốc độc. Vậy thì con Xí Vĩnh đứng lên còn chờ đợi cái gì? Hay là cô Huôi về nhà gọi bọn hộ vệ đến. Chúng nó dùng gươm giáo chạy tràn vào.
Nghĩ vậy, ông Mười bước ra sân. Bọn vũ nữ cứ bước tới, mỗi cô nghiêng mình khi đi ngang qua cậu Cẩu. Cậu chụp một con tôm, đưa lên miệng.
Ông Mười Hấu la hoảng:
– Cháu ơi!
Rồi chạy vô ấp úng. Nếu tri hô rằng con tôm nọ có tẩm thuốc độc thì quá sớm, cô Huôi mà biết được thì xảy ra chuyện rắc rối. Cô sẽ trách mắng rằng ông Mười muốn vu khống.
Cậu Cẩu hỏi:
– Cái gì? Sao làm cho ông giận?
Bỗng đâu một con chó săn từ ngoài sân chạy vào, con chó mà cậu Hai Điền nuôi lúc trước để săn heo rừng. Bọn vũ nữ la hoảng. Cậu Cẩu hỏi:
– Cái gì? Giết con chó cho tôi!
Con chó nhảy chồm lên, hai chân trước vịn vào bộ ván. Nó sủa lớn tiếng rồi hả miệng, lỗ mũi phồng lên, hướng về dĩa tôm, cái dĩa màu xanh mà người lão bộc bảo rằng có thể ngừa thuốc độc.
Không bỏ lỡ cơ hội, ông Mười Hấu cầm lấy một con tôm nướng, ném vào miệng con chó.
Con chó gục đầu xuống, há miệng ra.
Cậu Cẩu hỏi:
– Ông ngoại làm gì vậy?
– Con chó nầy không chịu ăn tôm nướng.
Bọn nữ tỳ đứng hơ hải nhìn nhau.
Ông Mười Hấu chú ý một điều quan trọng là Xí Vĩnh vẫn đứng đó, mồ hôi chảy ròng ròng trên trán.
Cậu Cẩu hỏi:
– Ông ngoại…nói sao?
– Đừng ăn mấy con tôm nướng đó!
Rồi ông Mười day ra sau lưng:
– Hộ vệ đâu? Bắt con chó nầy cho nó đứng tại chỗ. Nhét vô miệng nó vài con tôm nướng.
Bọn hộ vệ vừa đến là cậu Cẩu ra lịnh:
– Bắt tất cả bọn nữ tỳ dưới nhà bếp.
Con chó hả miệng, hửi từng con tôm trên nền gạch. Nó trợn mắt, day mũi qua hướng khác.
Ông Mười Hấu truyền cho bọn hộ vệ:
– Bắt con chó lại!
Hai tên hộ vệ chạy tới, cầm giữ bốn chân con chó. Con chó cứ sủa, hả miệng lởm chởm răng. Cậu Cẩu hỏi:
– Cái gì vậy, ông ngoại?
– Đầu độc! Con đi súc miệng…
Cậu Cẩu vẫn bình tĩnh:
– Ai đầu độc hồi nào? Cháu là người chơn mạng đế vương, tại sao nãy giờ cháu mạnh như rồng?
Nhanh như chớp, ông Mười Hấu lấy một con tôm đút liền vào miệng con chó. Con chó cứ sủa, không chịu nuốt. Bấy giờ cậu Cẩu bắt đầu lo sợ. Chó mà gặp tôm nướng thì táp ngay, đâu có bao giờ do dự.
Quả thật là mấy con tôm trong dĩa đều có tẩm thuốc độc.
Là người tinh ranh, Mười Hấu nói:
– Tụi bây cầm bốn chân nó cho chắc. Đứa nào mạnh thì cạy miệng nó ra.
Con chó săn vùng vẫy vô hiệu quả. Con tôm nướng nằm trong miệng con chó trong khi ông Mười nói gắt:
– Tao làm vầy coi mầy nuốt không?
Ngón tay ông ta bóp lỗ mũi con chó. Vì ngộp thở con chó nấc lên để tìm không khí. Con tôm chạy tuốt qua cuống họng.
– Được rồi!
Ông Mười Hấu ra lịnh buộc con chó vào góc cột. Quả nhiên, con chó trợn mắt đập đầu xuống nền gạch, đôi mắt đỏ ngầu như hai cục than lửa.
Rồi nó dậm chân, quào móng xuống nền, quào thật mạnh đến chảy máu. Nó nằm xuống, quơ bốn chân lên trời, sủa không ra tiếng.
Con tôm văng ra khỏi miệng con chó.
Cậu Cẩu lắc đầu:
– Ghê thiệt! Nhưng mà…nó còn sống.
Ông Mười Hấu quỳ xuống sờ vào ngực con chó. Con chó rú lên một tiếng dài, giống như trường hợp sủa ma lúc ban đêm.
Nó nằm nghiêng, bốn chân nhịp đều đều rồi nằm yên, miệng há hốc, máu đỏ tuôn chảy dài theo khoé mép.
– Nó chết rồi! Còn chối cãi nữa thôi!
Nói xong câu ấy, ông Mười mới sực nhớ đến một việc làm cần kíp:
– Hộ vệ đâu! Bắt nó!
Bọn hộ vệ nhìn nhau và chẳng một đứa nào biết rõ thủ phạm.
Một đứa hỏi:
– Thưa ông! Bắt ai bây giờ?
Cậu Cẩu vỗ bàn:
– Bắt tất cả mọi người ở…xứ nầy!
Ông Mười bèn nói với bọn hộ vệ:
– Cứ nghe lời tao. Bắt tụi đàn bà con gái ở nhà bếp.
Rồi ông ta nói rỉ tai tên hộ vệ thân tín nhứt:
– Coi cho kỹ đứa nào chạy trốn phía sau vườn. Phận sự của mầy là vậy thôi! Đừng bỏ sót bất cứ ai.
Con chó há miệng, bốn chân co rút lại. Cậu Cẩu trợn mắt, không có đủ thời giờ để mà sợ. Hai bàn tay cậu run lên, mấy ngón tay duỗi ra, co lại mò mẫn trên bộ ván, như hai con nhền nhện khổng lồ.
Bọn hộ vệ trở lên, lùa một đám bảy tám đứa nữ tỳ và hai ba bà lão. Họ cúi mặt, người này nắm tay người kia cho bớt run sợ. Họ biết rằng, cậu Cẩu đang giận dữ, đang nổi cơn điên. Hôm trước vì ho hen một tiếng mà Xí Vĩnh bị tuyên án tử hình. Hôm nay, nhứt định cậu sẽ hung hăng, xử tử cả bọn.
Nỗi vui mừng của ông Mười Hấu là thấy Xí Vĩnh đứng gần đám nữ tỳ ấy.
Nếu điều tra Xí Vĩnh, nhứt định ông tóm ra manh mối. Nhưng dầu sao đi nữa, ông vẫn còn nể nang cô Huôi. Nếu Xí Vĩnh khai ra cô Huôi giữa đám đông như vầy thì e xảy ra nhiều điều bất lợi.
Uy tín cô Huôi còn quá cao đối với bọn hộ vệ và dân chúng ở Hòn Chông.
Nếu Xí Vĩnh cung khai, ông phải bắt cô Huôi. Chừng đó chẳng một ai tin là sự thật. Thiên hạ sẽ bất mãn, đồn đãi rằng đây là âm mưu để trả thù cá nhân.
Bởi vậy ông Mười nói:
– Đem nhốt bọn nó, chiều nay ta liệu định. Những người khác thì về nhà. Ta cấm không được bàn tán, ra khỏi nhà.
Nhưng cậu Cẩu quát to:
– Ông ngoại hiền quá vậy! Đây là quyền hạn của tôi. Tụi nó giết tôi, tôi được quyền xử phạt theo ý muốn. Bọn vũ nữ này…hôi hám quá! Tao là người “chơn mạng đế vương”, trời đánh không chết, huống gì mấy con tôm nầy!
Cậu vung tay, ném từng cái dĩa vào mặt bọn vũ nữ, nhạc công:
– Đứa nào tránh né? Tránh né là xem thường ta!
Bọn vũ nữ kêu la ơi ới. Vài cô ôm mặt, miểng chén cắt đứt thịt da, máu chảy ròng ròng.
Cậu Cẩu ném tơi bời, hết dĩa tới chén:
– Đứa nào đầu độc tao?
Ông Mười Hấu liệu bề không đình hoãn được cuộc điều tra, nên đành lên tiếng:
– Mấy đứa nữ tỳ! Ai dọn mấy con tôm đó ra?
Một đứa lên tiếng:
– Thưa ông…cô Xí Vĩnh.
Nghe nói tới tên mình, Xí Vĩnh mím môi. Vì nãy giờ, nó đã chọn lựa một thái độ: liều chết, không bao giờ nhắc đến cô Huôi. Cô Huôi là người đáng kính nể. Để cô sống thì có ngày cô sẽ trả thù giùm nó. Vả lại, lúc đầu độc, cô Huôi vắng mặt.
Cậu Cẩu rít lên:
– Ư…Nhục nhã quá! Tao muốn cho mầy sống để làm gì? Bá Vạn giết chết cuộc đời con gái của mầy. Tao phải giết mầy, xé xác mầy mà ăn tươi nuốt sống. Phải mầy không?
Xí Vĩnh đáp:
– Nếu cậu bảo rằng tôi thì tùy ý cậu!
Cậu Cẩu chụp cái bình rượu, ném mạnh về phía Xí Vĩnh.
– Mầy…dám kêu tao bằng cậu? Mầy không nhìn nhận tao là vua?
Xí Vĩnh cười lạt:
– Cậu chỉ là người phàm thôi.
Người phàm! Hai tiếng ấy khiến cậu Cẩu giận tột độ, hai tay run run:
– Tao là người phàm mà được nối nghiệp ông Chúa Hòn? Đừng nói xấu tao. Hộ vệ đâu?
Xí Vĩnh đáp:
– Tôi không sợ chết nữa. Để tôi nói chuyện.
Ông Mười Hấu không ngờ rằng Xí Vĩnh có bãn lãnh đến thế ấy. Nếu để lâu, cô ta sẽ chửi mắng, gây ảnh hưởng không tốt trước mặt bọn hộ vệ.
Nhưng cậu Cẩu nói to:
– Ai cấm mầy nói? Mầy là người không ra gì. Mầy mất nết với lão Bá Vạn.
Bọn hộ vệ cứ nhìn nhau. Tuy không nói ra, ai cũng nhận thấy rằng cậu Cẩu là người quá nhỏ mọn. Lý do khiến cậu oán ghét Xí Vĩnh hiện rõ rệt: khi về ở với cậu, Xí Vĩnh đã mất trinh tiết. Vì vậy, cậu mang mặc cảm nặng nề, muốn giết Xí Vĩnh. Và chỉ khi nào giết được, cậu ta mới cảm thấy rằng mình có oai quyền cao hơn Bá Vạn ngày trước.
– Cháu đem nó về nhà rồi tra tấn để hiểu đầu đuôi công việc. Chẳng lẽ nó dám làm chuyện nầy một mình! Đập rắn thì đập trúng ngay đầu, chớ cắt khúc đuôi thì ích lợi gì?
Vì quá tức giận, cậu Cẩu chỉ biết nhắm vào Xí Vĩnh:
– Tôi giết nó.
– Nhưng mà nếu nó chết thì còn nhiều đứa khác nổi lên để giết cháu.
Cậu Cẩu vẫn chưa hiểu được thâm ý của ông Mười Hấu:
– Đứa nào dám nổi lên? Tôi là bực “chơn mạng đế vương”.
Ông Mười đáp:
– Hoặc là…trong bọn nữ tỳ còn vài đứa khác, ác độc hơn con Xí Vĩnh. Nè! Uống rượu thêm đi cháu. Hộ vệ đâu? Bắt con Xí Vĩnh, trói lại rồi đem qua nhà tao.
Dường như cậu Cẩu chưa hết cơn điên. Hai tay cậu vung lên, ném tứ tung mớ chén dĩa còn lại trên bộ ván. Bọn nữ tỳ kêu la bài hải. Cậu nói:
– Lần nầy, nó phải chết. Ông ngoại à! Tôi nghe lời ông nhưng mà …ông nên nghe lời tôi.
Câu nói vô lễ ấy vẫn được ông Mười Hấu chấp nhận với thái độ bình thản:
– Cháu nói gì? Thì sớm muộn gì nó cũng chết. Lần nầy không có ai xin tội cho nó được đâu.
– Nó phải chết thật lâu.
– Lâu nghĩa là làm sao?
– Khó nói quá! Lát nữa, tôi tính toán kỹ lưỡng rồi nói cho ông biết. Như mấy người làm thịt gà, để con gà sống nhăn rồi nhổ lông. Coi nó dãy chết, tôi sung sướng lắm.
Đây không phải là cuốn sách nghiên cứu hay phê bình văn học, nghệ thuật. Mục đích của người viết chỉ nhắm chia sẻ chút ít hiểu biết, những gì còn nhớ được về các tác phẩm, tác giả mình yêu thích, với những người có cùng cảm nghĩ, như một cách bầy tỏ lòng ngưỡng mộ, lòng biết ơn, đối với những người đã dâng hiến những gì tốt đẹp nhất mình có thể làm ra được cho đất nước, nhờ đó, mọi người đã được thừa hưởng.
Phần khác, để các bạn trẻ sinh trưởng ở trong và ngoài nước, không biết nhiều về Việt Nam, một lúc nào đó, muốn quay về tìm hiểu các tác giả trong nước, có thêm một chút dấu vết, tài liệu.
Bởi vì, với những cuộc chiến tranh, chia cắt, kéo dài và liên tiếp trên đất nước, ngay cả những người quen biết, đồng thời với nhau, có nhiều khi cũng hoàn toàn thất lạc, không biết gì về nhau ..
Nguyễn Đình Toàn.
Bạch Bích
Chúng ta có khá nhiều nhạc sĩ chỉ viết một ca khúc rồi thôi. Nghe lại những ca khúc ấy, đôi khi người ta không khỏi thắc mắc tự hỏi, tại sao, những người đã có được một tâm hồn bén nhậy, cảm thông được với cái hay, cái đẹp của trời đất và đã có thể chia xẻ sự cảm thông ấy với mọi người, lại chỉ làm công việc đó có một lần, rồi thôi? Thế nhưng trong đời sống có biết bao điều người ta không giải thích được.
“Trăng Muôn Thuở” là bài hát duy nhất của Bạch Bích người ta được biết. Âm điệu trong trẻo của nó khiến người ta luôn tưởng như đó là một bài hát dành riêng cho tuổi thơ. Nhưng nghe hết bài hát người ta lại thấy tác giả tỏ ý mong ước “quân cướp tham tàn đừng làm hoen sắc trăng” và “mây tô thêm hồng màu hờn căm”. Những lời ca ấy đã làm cho cái vẻ long lanh của ánh trăng tràn đầy trong ca khúc bỗng trở nên u ám. Đó cũng là không khí chung, cái hồn nhạc chung của chúng ta một thời, kéo dài vài chục năm, và cho đến bây giờ vẫn chưa hết, không có một ca khúc nào hoàn toàn hạnh phúc. Chiến tranh đã đổ cái bóng nặng nề, tang tóc lên đất nước và chúng ta chưa ra thoát khỏi ảnh hưởng của nó.
Đây không phải là cuốn sách nghiên cứu hay phê bình văn học, nghệ thuật. Mục đích của người viết chỉ nhắm chia sẻ chút ít hiểu biết, những gì còn nhớ được về các tác phẩm, tác giả mình yêu thích, với những người có cùng cảm nghĩ, như một cách bầy tỏ lòng ngưỡng mộ, lòng biết ơn, đối với những người đã dâng hiến những gì tốt đẹp nhất mình có thể làm ra được cho đất nước, nhờ đó, mọi người đã được thừa hưởng.
Phần khác, để các bạn trẻ sinh trưởng ở trong và ngoài nước, không biết nhiều về Việt Nam, một lúc nào đó, muốn quay về tìm hiểu các tác giả trong nước, có thêm một chút dấu vết, tài liệu.
Bởi vì, với những cuộc chiến tranh, chia cắt, kéo dài và liên tiếp trên đất nước, ngay cả những người quen biết, đồng thời với nhau, có nhiều khi cũng hoàn toàn thất lạc, không biết gì về nhau ..
Nguyễn Đình Toàn.
Anh Việt Thu
Anh Việt Thu mất sớm. Những ngày còn làm việc tại phòng Văn Nghệ Thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị (do Thiếu Tá Đinh Thành Tiên, tức Thi sĩ Tô Thùy Yên làm trưởng phòng) Anh Việt Thu chắc chỉ mới ngoài 30 tuổi. Nếu chúng tôi nhớ không lầm thì khi ấy, cùng làm việc trong phòng Văn Nghệ còn có nhạc sĩ Trần Thiện Thanh tức ca sĩ Nhật Trường. Chính trong thời gian này, Anh Việt Thu khám phá bị ung thư gan (hay phổi?) rồi qua đời.
Như thế ca khúc Dòng An Giang hẳn đã được Anh Việt Thu viết vào những năm ông còn rất trẻ, ở độ tuổi chưa đến 20, vì bài hát đã nổi tiếng trước đó nhiều năm. Những người quen biết Anh Việt Thu cho biết, ông là người ít nói, hiền lành và sống với bạn bè rất nhiệt tình. Có một thời ông muốn làm nhà xuất bản nhạc, nhưng hình như chỉ in được một, hai tập nhạc ngoại quốc lời Việt, rồi thôi. Có thể coi Anh Việt Thu là thế hệ nhạc sĩ sau cùng sinh trưởng tại miền Nam (nếu lấy ngày 30 tháng 4/75 làm dấu mốc) những người viết nhạc với tâm hồn đôn hậu của người miền Nam, ít cầu kỳ, cả trong giai điệu lẫn ca từ. Nghe nhạc Anh Việt Thu người ta nghĩ đến những kinh rạch chứ không phải những ao hồ. Ao hồ có một vẻ gì đó u uẩn, tù túng. Kinh rạch, đổi thay và phơi mở theo với thủy triều lên xuống.
Dòng An Giang sông sâu nước biếc
Dòng An Giang cây xanh lá biếc
Lả lướt về qua Thất Sơn
Châu Đốc dòng sông uốn quanh
Soi bóng Tiền Giang Cửu Long
Dòng An Giang xanh xanh khóm trúc
Dòng An Giang tung tăng múa hát
Đêm đến dòng sông thở than
Bên mấy hàng cây hắt hiu
Đã mấy mùa xuân thanh bình
Dòng An Giang đáy nước in sâu
Nhịp cầu tre ngắm bóng say sưa
Nắng vẫn chiếu trên làn sóng nhấp nhô
Nắng vẫn chiếu trên gò má hây hây,
mơ màng, ngây thơ
Cô thôn quê đang giặt yếm trên sông
Tiếng sáo vẳng trên đồng lúa xanh tươi
Trâu lang thang đôi cò trắng tung bay dập dìu
Dòng An Giang ai qua vẫn nhớ
Dòng An Giang lơ thơ bến nước
Đâu những thuyền ai lắc lơ
Đôi mái chèo trăng lướt qua
Lơ lửng vầng trăng vỡ tan
“Tám Điệp Khúc” của Anh Việt Thu là một tình khúc. Nhưng ông đã nhập cái tình riêng của mình vào với tình yêu quê hương, đất nước. Một đất nước tràn ngập điêu linh, tang tóc, mỗi tiếng hát như một lời thở than, kêu gọi yêu thương nhiều hơn là tỏ tình.
Nhà văn Nguyễn Mạnh Côn có lần nói rằng, ông rất thích bài hát này của Anh Việt Thu, mặc dầu nghe cả bài trong một lúc khó nắm bắt tác giả nói gì, nhưng nghe từng đoạn tách rời, âm điệu day dứt của nó làm cho rất buồn.
Tám Điệp Khúc
1. Trời làm cho mưa bay giăng giăng
mây tím dệt thành sầu
Bàn tay năm ngón mưa sa
Dìu anh trong tiếng thở
Đưa tiễn anh đi vào đời
Mẹ Việt Nam ơi!
Con xin dâng xin hiến trọn đời người
2. Trời làm cho mưa bay giăng giăng
mây tím dệt thành sầu
Nằm nghe tiếng hát đu đưa
Dìu anh trong giấc ngủ
Ôi tiếng ru ru ngọt nào
Mẹ Việt Nam ơi!
Ai chia ly tan tác cả ngàn đời
3. Tiếng hát, hát trên môi
Giấc ngủ, ngủ trong nôi
Một đàn đàn chim nhỏ
Bay khắp trời Việt Nam mến yêu
Ôi tiếng chim muông gọi đàn
Mẹ Việt Nam ơi!
Con xin dâng, xin hiến trọn cả đời
4. Trời làm cho mưa bay giăng giăng
mây tím dệt thành sầu
Từng đêm ấp ủ trong tim
Từng đêm khe khẽ gọi
Anh nhớ thương em từng giờ
Mẹ Việt Nam ơi!
Ai chia ly tan tác cả ngàn đời
(Trở lại đoạn 3)
5 Trời làm cho mưa bay giăng giăng
mây tím dệt thành sầu
Trùng dương sóng nước bao la
Trùng dương vang tiếng gọi
Ôi sóng thiêng em về trời
Mẹ Việt Nam ơi!
Con xin ghi xin khắc nguyện lời thề
6. Trời làm cho mưa bay giăng giăng
mây tím dệt thành sầu
Rừng thiêng lá đổ âm u
Rừng thiêng vang tiếng gọi
Ôi núi thiêng em về nguồn
Mẹ Việt Nam ơi!
Con xin ghi xin khắc nguyện lời thề
Vì nhu cầu của cơ quan nơi ông làm việc Anh Việt Thu còn sáng tác nhiều ca khúc khi ấy được gọi chung là “nhạc chiến dịch” nhưng rất có giá trị, đã được nhiều ban hợp ca trình bầy, thu thanh, và được phát trên làn sóng điện và truyền hình khắp trong nước.
Anh Việt Thu mất trước khi xẩy ra biến cố 1975 không bao lâu. Trước và sau đó, người ta có biết bao điều bận, âu lo, nên sự tưởng nhớ dành cho ông không xứng đáng. Rồi đất nước lại chìm ngập trong những năm dài đầy rẫy những chuyện bi thương, cho đến nay vẫn chưa xong. Sự quên, nhớ đối với một số tác phẩm cũng không biết thế nào. Có những bài hát lọt vào trong tiềm thức người ta và trở thành những vết nội thương. Và có cả những nấm mồ người ta tưởng nhớ nhưng không còn dịp thăm viếng.
Tặng Nguyễn Khoa Dánh: người bạn chết tại trại Đầm Đùn năm 1981 với lòng tiếc thương vô hạn.
Chiếc kẹo nhỏ trong bàn tay người chết Nắm không buông như níu kéo cuộc đời Chiếc kẹo nhỏ trong bàn tay người chết Người bạn tôi vừa rời bỏ cuộc đời
Chỉ vừa đây trong tiếng rên hấp hối Anh đã xin hãy tìm hộ anh Một chiếc kẹo vì đã thèm của ngọt Nhiều tháng năm chỉ chờ đợi lúc này.
Ý nguyện ấy anh chỉ còn dám nói Khi thịt da cái lạnh đã ngập tràn Khi chúng tôi bạn anh cùng chạy loạn Trong trại tù miệng rối rít van xin: Một cái kẹo nhanh nhanh cho người bạn Sắp ra đi “Mau mau kẻo muộn rồi!”
Trong tuyệt vọng vẫn thoáng niềm hy vọng Sẽ mang về kịp lúc anh lâm chung Và hoan hỉ tôi nhìn anh ngắm nghía Trong bàn tay rộng mở kẹo vô tri Nụ cười nhẹ trên đôi môi nhợt nhạt Anh thầm thì: “Ồ thú quá sẽ ăn Chiếc kẹo này thì khỏe vui chi lạ!” Sao nỗi vui chỉ nhỏ bé thế thôi.
Rồi anh chết không kịp ăn chiếc kẹo. Nằm lặng yên trong những ngón tay xanh Chúng tôi liệm anh trong im lặng nặng nề Lần vải thô lớp quần áo thuở nào Khi tôi cạy tay anh bàn tay mở Chiếc kẹo rơi nằm nhẹ trên ngực anh Đầy cẩn trọng trong niềm kinh hãi: Tôi nhặt lên để cạnh bát cơm Cạnh quả trứng: món quà cho người chết Chẳng bao giờ anh sẽ nếm vị hương
Rồi tất cả chúng tôi đều nức nở Nước mắt tuôn cứ mãi mãi chẳng ngừng Khóc cho anh, cho chúng tôi tất cả Biết khi nào sẽ đến lượt khi nào? Chiếc kẹo nhỏ trong bàn tay người chết Chẳng kịp ăn khi từ giã cuộc đời!
Cô Gái Nhỏ Hấp Hối Tặng cô gái nhỏ cả làng bỏ rơi tại Thanh Hóa trong nạn đói 1988
Cô gái nhỏ trơ trọi Trong căn nhà vắng tanh Gia đình đã đi hết Bỏ cô nằm một mình Trong làng không chó sủa Chim chóc cũng chẳng về Dưới ao không tăm cá Im lặng thật thảm thê Làng cô đã vắng ngắt Người người kéo nhau đi Để tìm ăn tìm sống Quê hương bỏ sau lưng
Trong cơn mê hoảng loạn Cô rên rỉ van xin Ông Táo trong bếp lạnh Cho cô một bát cơm! Trời hỡi trời hãy thương Cô bé đang hấp hối Hãy cho cô được thấy Một khuôn mặt dịu dàng Để cô bé khỏi chết Làm ma đói lang thang
Người bạn tù của tôi tên Phốc. Anh thuộc lực lượng biệt kích. Anh người mạn ngược. Dáng anh rất thô. Anh thường nằm trên một cái võng tự đan lấy mắc từ gốc cây nọ sang gốc cây kia. Anh ít trò chuyện với ai. Chúng tôi gọi anh là con sói đơn độc. Anh chỉ chơi với con gà con bạn anh cho.
Anh thân với tôi trong trường hợp đặc biệt. Một hôm trại đánh kẻng. Nghe kẻng, một là chuyển trại, hai là chúng tôi sắp bị khám xét. Chúng tôi gặp trường hợp sau. Việc đầu tiên là phải giấu những vật bén nhọn. Thứ hai là phải thủ tiêu tất cả giấy tờ có tiếng Anh.
Tôi thấy các bạn tôi giấu dao dưới cống gần bếp. Tôi lóe lên một sáng kiến. Tôi lấy con dao tây rất đẹp của mẹ tôi gửi cho tôi đâm phập vào cây chuối gần giếng nước. Tôi lấy chân đạp mạnh cho lút cán. Lúc đó Phốc đứng cạnh tôi cũng theo tôi đâm con dao díp của anh vào một thân cây chuối khác. Trong nháy mắt.
Sau cuộc khám xét chúng tôi trở lại bụi chuối moi dao ra an toàn. Lúc đó không có cặp mắt của người thứ ba. Chúng tôi đã làm chuyện này sau bữa cơm chiều và người nọ canh chừng cho người kia. Kể từ đó, thỉnh thoảng Phốc nói chuyện với tôi.
Anh nằm ở góc phòng kế phòng tôi và gần cầu tiêu. Một buổi chiều anh nhờ tôi đun thêm một “gô” nước cộng thêm với “gô” nước sôi của anh đổ xuống cái tổ kiến lửa dưới chiếu của anh. Có cả ngàn con. Thế mà đêm đó anh vẫn bị lũ kiến đỏ đốt sưng cả lưng.
Có lần đào giếng, tôi đã bắt phải cái thăm đào khúc gần dưới đáy. Anh tình nguyện đào khúc của tôi để tôi được đào tầng đất đầu tiên. Xuống sâu rất ngộp thở. Bây giờ tôi và Phốc trở nên hai người bạn thân.
Tôi ăn ít nên thường nhường cả một phần tư thau bo bo cho anh. Phốc có thể ăn gấp ba tôi. Cứ đến lần tôi làm vệ sinh bếp – có nghĩa là rửa chảo cơm – bao giờ anh cũng làm hộ tôi để vét cháy dính ở chảo ăn mới đủ no. Có một thời gian Tàu đánh Việt Nam, trại tôi không được thăm nuôi, tôi thấy Phốc chiều chiều vác cái cần câu lúi húi ở những ao rau muống nở đầy hoa tím để câu vài con nhái con bằng đầu ngón tay cái nấu canh với rau dền dại ăn. Tôi luôn luôn cung cấp cho anh bột ngọt. Anh không còn thân nhân nào.
Anh bảo tôi mình phải sống còn. Ngoài ra không còn gì đáng kể đối với một người tù không biết ngày nào trở về. Hãy ăn mọi thứ có thể ăn được, kể cả bò cạp nướng, kể cả bất cứ con gì nhúc nhích trừ rắn độc!
Một lần anh và tôi đang đào đất để chôn cọc, rào lại hàng kẽm gai ba lớp gần mấy cái chòi canh của vệ binh, tôi cuốc lên một vật xanh biếc. Hóa ra là con cánh cam. Tôi nhớ con gái tôi quá. Nếu ở nhà, tôi đã buộc sợi chỉ để cho con cánh cam bay vòng vòng cho con tôi chơi như bà ngoại tôi thường làm như thế hồi tôi còn nhỏ. Tôi cầm con cánh cam và tung lên trời. Con cánh cam xòe cánh bay qua rào kẽm gai rồi mất hút trong không nhìn về phía con cánh cam. Tôi thấy Phốc nuốt nước bọt cũng nhìn về phía con cánh cam. Ngoài rào kẽm gai phía xa, có một cậu bé chăn bò đang thả diều.
Một buổi sáng chủ nhật, tôi thấy anh xuống cái phòng trước kia thuộc ban quân xa để tập thể dục. Trong phòng toàn mùi dầu. Mặt sàn đen. Giữa sàn là một sợi xích to treo từ trên bó thông và gắn xuống sàn. Anh rủ tôi tập cùng. Tôi thấy có lý. Thế là tôi tập cùng anh. Tôi và Phốc thường nắm lấy sợi xích để tập tay và tập bụng. Anh cũng rủ tôi chạy tại chỗ cho bền sức chịu đựng. Sau một thời gian tập với Phốc, lúc nào phải “xuống gạo” hay bột mì với những bao nặng 50 cân tôi không còn thấy đứt hơi và tim muốn ngừng đập như hồi mới đi tù. Tôi sợ nhất vác gạo và khiêng củi từ rừng về. Tôi nặng có 45kg kể cả giầy và quần áo! Cân lúc ăn no.
Có một đêm tôi nghe thấy tiếng hỏa châu nổ. Tôi hãy còn mất ngủ. Ngoài song cửa, bầu trời được rọi sáng. Năm phút sau, quản giáo đi cùng một vệ binh vác AK ra lệnh mọi người ra khỏi phòng. Chúng tôi xếp hàng. Quản giáo lấy đèn pin rọi xuống chân từng người. Điểm danh xong lại tiếp tục vào ngủ..
Tôi thức trắng đêm. Tôi đoán có người vượt trại tìm tự do.
Sáng hôm sau, chúng tôi mới biết người vượt trại chính là Phốc. Tôi không biết chuyện gì sẽ xẩy ra cho cả Phốc lẫn tôi. Vì sáng nào tôi cũng tập thể dục nhất là tập chạy với anh. Hóa ra Phốc đã chuẩn bị cả mấy tháng rồi. Hôm trước anh có xin tôi một số đường thẻ. Bây giờ tôi mới biết tại sao Phốc tập chạy dai sức. Bây giờ tôi mới biết tại sao VC bắt chúng tôi đào ao nuôi cá trước đó một tháng. Cái ao cá khá sâu chạy vòng bờ rào kẽm gai trại giữa hai chòi canh có gắn đèn pha. Ao rộng đến 10 thước.
Tôi rất mừng dù sao Phốc cũng được sống ngoài vòng kẽm gai như con cánh cam hôm nào tôi và anh bắt gặp. Cái hôm mà tôi thấy anh nuốt nước bọt nhìn lên bầu trời với ánh mắt khao khát.
Không khí trại rất căng. VC không nói gì. Tôi vẫn quyết định ra chỗ cũ tập. Tôi lập luận nếu bỏ tập có thể bị nghi ngờ liền. Tôi vẫn tập với sợi xích. Tôi không thấy quản giáo gọi lên “làm việc”. Tôi chờ điều này. Điều tệ hại nhất luôn luôn có thể xẩy ra trong bất cứ một trại tù Cộng Sản nào trên toàn thế giới.
Một tuần sau, anh bạn trong tổ làm rò rèn được lệnh chặt sợi xích làm đôi và đóng một cái còng chân bằng gỗ rất nặng. Quản giáo nói lờ mờ Phốc đã bị bắt lại.
Sau hồi kẻng, chúng tôi bị tập trung và VC đã đưa Phốc ra để kết tội. Anh đi rất khó khăn với cái cùm có xích. Hai tay anh phải nâng sợi xích lên mới bước được. Tự nhiên tôi ứa nước mắt.
Phốc đã bị bắt khi anh trốn tới Biên Hoà. Có lẽ đói quá, Phốc đã ra ruộng bắp bẻ bắp ăn. Anh đã bị mấy đứa bé chăn bò đi báo công an địa phương.
Phốc đã bị biệt giam trong thùng sắt mấy ngày ở trại. Thứ hỏa lò khối vuông.
Có hôm anh được ra để đi vệ sinh ở một gốc cây me gần bờ rào phòng tù của tôi. Tôi thấy an toàn, ném lén cho anh một gói 9 viên đường thẻ. Tôi mong anh hên với con số 9.
Đó là 9 viên đường cuối cùng tôi cho anh và cũng là lần cuối tôi trông thấy anh. Ngay đêm hôm đó, VC đã đưa anh đến một trại khác nghe đồn ở tận ngoài Trung. Cái kỷ vật cuối cùng anh để lại cho tôi là con gà trống con bằng nắm tay mù cả hai mắt vì lên đậu. Tôi nuôi vài ngày rồi quyết định chặt cụt đầu nó thật nhanh để con gà đỡ đau. Tôi không dám ăn thịt con gà con. Tôi giết con gà để đỡ nghĩ tới Phốc.
Sau này, nghe đồn là anh đã bị bắn chết trong rừng mây. Lần vượt trại thứ hai.
Bên cạnh khu vực nhốt tù chính nói trên còn có một khu phụ nhỏ hơn, có lối đi thông với khu vực chính. Khu phụ này nằm sát phía sau khu nhà của ban giám thị trại, gần một con suối khá lớn, cũng giống như con suối ở Phước Long, là một trong số hàng trăm con suối tạo thành thượng nguồn sông Sài Gòn.
Khu phụ này chỉ có hai dãy nhà, cũng mái tôn vách ván như nhà của ban giám thị nhưng cũ kỹ, vá víu, được dành cho tù cải tạo cấp tá được đưa tới vào đầu năm 1979.
Ở Tống Lê Chân không hề có các buổi học tập chính trị, và cũng không có các màn cán bộ vào từng nhà để kiểm soát. Nguyên nhân chính là vì ở đây không có hội trường, còn các dãy nhà dành cho cải tạo thì quá tối tăm, chật hẹp.
Chỉ thỉnh thoảng mới có một buổi tập họp toàn trại ngoài sân để ngồi nghe cán bộ “lên lớp” chuyện này chuyện nọ, và cũng là nơi tập họp mỗi buổi sáng để nghe phân công lao động trong ngày.
Qua những lần tập họp ấy, tôi ước lượng tổng số tù cải tạo ở Tống Lê Chân chỉ vào khoảng 1000 người, chia ra từng đội và một số tổ chuyên môn như tổ tăng gia (trồng rau), tổ mộc, tổ may.
Mỗi buổi sáng, vào khoảng 7 giờ, hai ba tay trong ban giám thị, thường là cấp trung úy, thiếu úy cho mở khóa cổng và tiến vào cùng với một số bảo vệ mang súng có nhiệm vụ canh chừng các toán đi lao động.
Nếu không có tin tức, chỉ thị cần loan báo cho tù cải tạo, đám giám thị sẽ cho các tổ chuyên môn ra khỏi cổng trước tiên, không có công an bảo vệ, sau đó mới lần lượt phân công tác cho các đội: làm rẫy, đi chặt tre, cưa gỗ, hoặc công tác trên “khung”: tu bổ nhà cửa, làm cỏ, dọn dẹp, và làm những công việc linh tinh trên khu nhà của ban giám thị.
So với thời gian còn ở trên Phước Long dưới quyền bộ đội, mọi công tác lao động ở Tống Lê Chân nhàn hơn nhiều, có lẽ vì không trực thuộc một hệ thống hàng dọc, hoặc nằm trong một đại đơn vị sản xuất như thời bộ đội nên không bị cấp trên đưa ra chỉ tiêu.
* * *
Nhàn nhất là làm rẫy. Rẫy quanh trại, bên trong cũng như bên ngoài hàng rào, đã được khai hoang từ hồi nào, đám tù cải tạo chúng tôi chỉ phải làm cỏ, trồng khoai trồng mì, đậu phộng… cho đám công an thu hoạch. Công tác chặt tre tuy phải đi bộ mấy cây số nhưng thú vị hơn. Thú vị vì cảnh sắc thiên nhiên, không khí trong lành, và được tự do. Không hiểu vì thiếu nhân sự hay không mấy quan tâm tới việc tù cải tạo có thể bỏ trốn, ban giám thị ở Tống Lê Chân chỉ cho hai tay bảo vệ đi theo mỗi toán chặt tre trên dưới 50 mạng. Rừng tre ở đây không biết có từ đời nào, mọc kín dọc các bờ suối, khó khăn lắm mới tìm được một thân tre tương đối trống trải có thể leo lên để chặt (vì không thể nào chui vào gốc tre), cho nên mọi người phải phân tán mỏng, có lúc chẳng còn ai nhìn thấy ai.
Một ngày nọ, xảy ra một việc khá ly kỳ mà nếu không có mặt ở đó chỉ nghe kể lại, tôi nhất định không tin!
Lúc ấy, tôi và một vài anh em đang quanh quẩn bên bờ suối quan sát, tìm tre để chặt, đứng bên cạnh là tay công an bảo vệ gốc Bắc mặt còn non choẹt. Bỗng có một con nai khá lớn có lẽ đang uống nước dưới bờ suối thấy động hoảng hốt bỏ chạy lên bờ và bị vướng trong một bụi tre. Mọi người chưa biết phải phản ứng ra sao thì tay bảo vệ đã vội vã đưa khẩu súng trường CKC về phía một anh tù cải tạo, miệng lắp bắp:
– Anh bắn đi… anh bắn đi!
Cũng may, ngay lúc đó con nai đã thoát ra khỏi bụi tre và phóng chạy vào rừng; bằng không chúng tôi cũng không biết phải phản ứng ra sao trước diễn tiến tức cười này!
Sau này có dịp tìm hiểu khi làm công tác trên “khung”, chúng tôi được biết đa số công an làm công tác bảo vệ, canh gác ở Tống Lê Chân là đám trẻ mới lớn lên sau 1975, tới tuổi đi “nghĩa vụ” được gia đình chạy chọt, lo lót cho gia nhập công an để khỏi phải đi bộ đội lên biên giới đánh nhau với quân Trung Cộng, hoặc sang Căm-bốt đánh nhau với Khmer Đỏ.
Theo luật cung cầu, càng có nhiều người muốn vào ngành công an thì Bộ Nội Vụ càng “vẽ” thêm nhu cầu tuyển mộ để có chỗ trốn nghĩa vụ cho con cái cán bộ cao cấp, và để ăn hối lộ.
(BỘ NỘI VỤ: Trước năm 1975, Bộ Nội Vụ và Bộ Công An của CSVN là hai bộ riêng biệt, tới năm 1975, Bộ Công An bị sát nhập vào Bộ Nội Vụ; năm 1998, do tranh chấp quyền lực trong nội bộ, tầm quan trọng của ngành công an được nâng lên tương đương với quân đội, Bộ Nội Vụ trở thành Bộ Công An. Năm 2002, Bộ Nội Vụ được tái lập nhưng chỉ còn đặc trách những công việc mang tính cách hành chánh mà thôi)
Có lẽ vì phải dành ưu tiên cho việc huấn luyện bộ đội, đám công trẻ này đa số không qua một khóa học nào về vũ khí trước được đưa đi các nơi, con ông cháu cha hoặc gia đình biết cách chạy chọt thì được ở phường, quận, thành phố, không thì đi về các miền quê, hoặc Cục Trại Giam để làm bảo vệ.
Trong đám công an trẻ ở Tống Lê Chân, trừ một hai tay gốc Bắc tương đối lạnh lùng, đa số còn lại, gốc Bắc cũng như gốc Nam, mặt búng ra sữa, ăn nói khá nhã nhặn và không hề tỏ thái độ hằn học, thù nghịch với tù cải tạo như công an ở Suối Máu… Sau khi chặt tre, trên đường về trại, nếu gặp người dân, chúng tôi được phép dừng lại dăm ba phút để “thương lượng” mua những con thú nhỏ mà họ đánh bẫy được.
Người dân ở đây hầu hết là người Thượng thuộc sắc tộc S’tiêng, cùng sắc tộc với những người Thượng mà chúng tôi gặp ở Phước Long (Sông Bé).
Người S’tiêng (có khi viết X’tiêng) là một sắc tộc tương đối nhỏ trong tập thể người Thượng sống ở Việt Nam. Về hình dạng, họ cũng nhỏ con và đen đủi hơn các sắc tộc Ra-đê (nay gọi là Ê-đê), Ba Na, Gia Lai… ở Tây Nguyên.
Nhưng nói về tinh thần chống cộng thì người S’tiêng nếu không hơn cũng phải bằng người Ra-đê, người Ba Na. Trước năm 1975, ở Bình Long, Phước Long hầu như không bao giờ người ta nghe tới chữ “Thượng cộng” như ở Kontum, Pleiku… Trái lại, đa số binh sĩ trong Lực Lượng Dân Sự Chiến Ðấu ở vùng này đều là người S’tiêng.
Về sau, năm 1970, khi Lực Lượng Dân Sự Chiến Ðấu được cải biến thành Biệt Ðộng Quân Biên Phòng, đại đa số binh sĩ người S’tiêng ở trại Tống Lê Chân đã tình nguyện ở lại để trở thành quân nhân của Tiểu Ðoàn 92 BÐQ Biên Phòng.
Sau khi cộng sản chiếm miền Nam, phần lớn người S’tiêng ở Bình Long, Phước Long đã bỏ chạy sang phía bên kia biên giới Việt-Miên, cho nên chỉ thỉnh thoảng chúng tôi mới gặp một vài người. (1)
* * *
Công tác lao động nặng nhất là đi cưa gỗ. Gọi là nặng nhưng vẫn đỡ hơn nhiều so với ở Phú Quốc, về thể xác cũng như tinh thần.
Khi được phân công đi cưa gỗ, chúng tôi ra khỏi cổng gác, đi trên con đường đất đã đưa chúng tôi tới trại, tức là đi về hướng Quốc lộ 13, luôn luôn có một tay giám thị cùng với mấy tay bảo vệ trang bị AK đi theo.
Ra khỏi trại khoảng hai cây số, chúng tôi được đưa vào khu rừng thưa ở phía bên mặt nơi có vô số gốc cây lớn nhỏ. Tay giám thị đích thân chọn những gốc cây không lớn lắm (chỉ khoảng một vòng tay ôm) ở những vị trí tương đối dễ hạ. Cây hạ xuống, chúng tôi cưa thành từng khúc dài khoảng một mét, rồi xếp thành từng khối vuông vức.
Chỉ sau vài lần đi cưa gỗ, chúng tôi khám phá ra có những khối gỗ “đặc biệt” nằm ở những vị trí kín đáo, không thuộc “thành phẩm của trại” mà sẽ được bán lén cho những tay buôn củi để lấy tiền bỏ túi. Vì có một toán tù cải tạo dành riêng cho công tác này, chúng tôi đoán họ (công an trại) có ăn chia từ cấp trên xuống cấp dưới.
Càng ngày các toán cưa gỗ càng được đưa đi xa hơn, cuối cùng gần tới cái quán ở khu kinh tế mới bỏ hoang. Mỗi lần như thế, tay giám thị thường cho phép hai tù cải tạo đi tới cái quán để mua thuốc rê, đường thẻ, bánh kẹo cho những anh em muốn mua.
Viết “bánh kẹo” chỉ để nghe cho thuận tai còn trên thực tế, cũng giống như cái quán trên đường đi chặt le ở Đồng Ban, cái quán này chỉ bán một thứ bánh kẹo duy nhất là kẹo dừa, loại kẹo sản xuất sau năm 1975 vừa cứng vừa nồng mặc mùi xà bông (tôi cũng không hiểu tại sao?)
Trong những lần đi xa như thế, thỉnh thoảng anh em tù cải tạo đã gặp một số thanh thiếu niên của trại tù “tệ đoan xã hội” ở gần Quốc lộ 13 cũng bị bắt vào rừng cưa gỗ.
Cùng là thân tù tội nhưng chúng tôi đã không thể cầm lòng trước những thân hình tiều tụy, những khuôn mặt hốc hác, những cặp mắt không còn sinh khí của đám thanh thiếu niên này. Mặc dù bị nghiêm cấm tiếp xúc với tù cải tạo, họ vẫn lén lút mò tới, hy vọng sẽ xin được một nhúm thuốc rê, một hai cục đường thẻ…
* * *
Hơn một tháng sau khi đám tù cải tạo cấp úy chúng tôi bị đưa từ Suối Máu lên Tống Lê Chân, có thêm một đợt tù đặc biệt được đưa tới nơi. Gọi là “đặc biệt” bởi gồm nhiều thành phần đối tượng khác nhau, trong đó có cả một hồi chánh viên người miền Nam, tức gốc gác Mặt Trận Giải Phóng.
Để có chỗ cho những người mới tới, chúng tôi bị dồn nhà. Nhờ đó, trong khi chỗ ngủ trở nên chật chội hơn, tôi được gần gũi với một số anh em cùng chí hướng, lập trường (nói theo từ cách mạng là “có tư tưởng phản động”), phần lớn thuộc ngành Chiến Tranh Chính Trị.
Thực ra có hay không có tư tưởng phản động thì giờ này tất cả tù cải tạo ở Tống Lê Chân cũng cùng chung một “chính sách”, cùng một tương lai vô định như nhau.
Viết là vô định bởi vì khác với ở Suối Máu và những trại chúng tôi ở trước kia, người tù có thể suy diễn, đoán mò những gì sắp xảy ra qua các buổi “lên lớp” của giáo viên, tiết lộ của quản giáo, qua tin tức trên đài phát thanh, đài truyền hình, qua hệ thống loa phóng thanh trong trại (ở Suối Máu), và quan trọng không kém là những gì được thân nhân rỉ tai trong những lần thăm nuôi, ở Tống Lê Chân chúng tôi không có bất cứ một nguồn thông tin nào! (Tù cải tạo chỉ được nhận quà chứ không được viết và nhận thư từ)
Kể cả với công an, Tống Lê Chân cũng giống như một hòn đảo xa xôi. Cả tháng mới đôi lần nghe thấy tiếng xe vận tải chở lương thực tới trại. Còn lại thường ngày chỉ là tiếng máy điện, chạy từ giờ cơm tối cho tới 9 giờ đêm để công an xem truyền hình. Sau đó là đêm đen dài như vô tận…
Nhờ có nhóm “phản động”, tụ tập bàn luận chính chị chính em, kể chuyện trên trời dưới biển, chúng tôi mới có thể giết thì giờ những lúc rỗi rảnh, tạm quên đi tương lai mờ mịt.
Bên cạnh đó, tôi còn mở lớp… dạy nhạc!
Chuyện khá dài dòng. Nguyên vào một ngày nọ không phải đi lao động, xế chiều tôi đi tắm ở con suối phía sau khu nhà của ban giám thị trại, lúc về đi ngang khu nhà mái tôn vách ván của tù cải tạo cấp tá được đưa lên Tống Lê Chân vào đầu năm 1979, tôi nghe có tiếng người gọi tên cúng cơm của mình. Quay lại thì thấy anh PT Tùng, một ông Thiếu tá Liên đoàn trưởng cùng đơn vị kỹ thuật trong phi trường Biên Hòa trước 1975.
Anh Tùng là người gốc Bắc, thư sinh trắng trẻo, tính tình hiền lành lại nhỏ thó nên có biệt hiệu Tùng “con”. Trước năm 1975, tôi khá thân với anh Tùng cho nên từ Phước Long về K3, Suối Máu, gặp lại nhau chúng tôi mừng lắm, tuy nhiên tôi vẫn giữ ý tứ, mỗi khi tình cờ gặp nhau ngoài sân, tôi chỉ nói chuyện qua loa, hỏi thăm ngắn gọn, vì vào thời gian Suối Máu còn nằm trong tay “bò xanh”, tù cấp tá được khuyến cáo không nên quan hệ với tù cấp úy, thường bị đánh giá là không chịu học tập tiến bộ!
Tới đầu năm 1979, sau khi ăn tết ta xong và đám cấp úy chúng tôi bị phân tán đi các K khác, toàn bộ cấp tá ở K3 bị đưa khỏi Suối Máu. Anh Tùng là một trong số những người may mắn được đưa lên Tống Lê Chân. Nói là may mắn vì so với những trại tù hắc ám như Xuân Phước (A20), Gia Trung ngoài miền Trung, Tống Lê Chân là… thiên đàng!
Bên cạnh đó, nhờ gia đình khá giả, anh Tùng thường xuyên nhận được những gói quà rất chất lượng!
* * *
Lúc đó anh Tùng đang ngồi “trà lá” với mấy ông thiếu tá khác quanh cái bàn gỗ bên hông nhà, trong đó có Thiếu tá Ph, một ông Trưởng Phòng cùng đơn vị với chúng tôi. Sau khi tay bắt mặt mừng, anh Tùng cho tôi biết chiều nào anh cũng ngồi trà lá ở đây và nói tôi ngày mai qua chơi (vì lúc đó tôi đi tắm suối về, người ngợm ướt nhẹp).
Chiều hôm sau, khi tôi tới nơi thì thấy anh Tùng đang ôm cây đàn ghi-ta để tập đệm. Chỉ cần nghe sơ, tôi biết anh mới chập chững bước đầu. Buổi kế tiếp, tôi mang theo cuốn “Cách bấm hợp âm trên cần đàn ghi-ta” mà tôi soạn ở Suối Máu, hy vọng sẽ giúp anh tự học bấm những hợp âm thông dụng nhất.
Không ngờ cuốn vở 50 trang ấy lại được khá nhiều quan tá chiếu cố, chuyền tay nhau sao chép. Sau khi các “học trò” của mình bấm các hợp âm tương đối đã nhuyễn, tôi đưa thêm cuốn “Hòa âm căn bản” để giúp họ tự ghi ra các hợp âm chính của một ca khúc.
Kết quả, công việc mà ngày còn trẻ theo thầy, tôi cho là nhàm chán, nhức đầu, giờ đây lại được ít nhất phân nửa “học trò” của tôi thích thú. Khỏi nói, anh Tùng phục tôi sát đất, và vô cùng hãnh diện vì có gã đàn em KQ tài hoa hết mực, ít nhất cũng là dưới mắt anh và các quan tá vào tù mới tập đàn và học nhạc!
Bù lại, anh Tùng, với sự đóng góp các quan tá nói trên, không bao giờ để tôi phải đói thuốc (thuốc rê, thuốc lào), lại còn san sẻ quà gia đình gửi vào, tôi mà từ chối là anh giận!
* * *
Cũng ở Tống Lê Chân, tôi còn được gặp một đàn em cùng ngành Chiến Tranh Chính Trị trong quân chủng Không Quân, Thiếu úy Th. Th thuộc lớp sĩ quan trẻ nhất của quân đội miền Nam, ngập ngũ sau Mùa hè đỏ lửa 1972, vừa mang lon thiếu úy được mấy tháng thì mất nước. Nghĩa là chưa kịp gây “tội ác với cách mạng” nhưng vẫn bị liệt vào thành phần nguy hiểm vì cái mác Chiến Tranh Chính Trị!
Thiếu úy Th phục vụ tại Sư Đoàn 5 Không Quân ở Tân Sơn Nhất, còn được gọi là “sư đoàn vận tải”, lại còn độc thân cho nên vào những ngày cuối tháng 4-1975, muốn di tản cũng không khó, nhưng vì sợ pháo kích của Việt Cộng nên không dám vào phi trường. Rốt cuộc bị kẹt lại.
* * *
Khoảng ba, bốn tháng sau khi đám tù cải tạo cấp úy chúng tôi từ K1 Suối Máu được đưa lên Tống Lê Chân, xảy ra một vụ trốn trại khá “đẹp mắt”. Qua quan sát hiện trường và suy diễn từ các biện pháp đối phó của công an trại sau đó, chúng tôi được viết sự việc xảy ra như sau:
Mấy anh em trốn trại này đã chuẩn bị từ trước bằng cách lén cắt đứt các dây buộc lớp hàng rào bằng tre ở phía trong để thoát ra, sau đó sử dụng kìm cắt kẽm gai để cắt lớp hàng rào bên ngoài.
Việc lén cắt đứt các dây buộc hàng rào tre không có gì khó khăn, miễn sao đừng lộ liễu, nhưng cắt hàng rào kẽm gai phía bên ngoài cả là một vấn đề.
Trước năm 1975, tôi thấy cái kìm cắt kẽm gai là loại kìm đặc biệt, dài ít nhất cũng 30 cm, trong trại cải tạo tìm đâu ra; còn tự chế thì kiếm đâu ra loại thép có thể cắt được kẽm gai?! Vậy mà họ thoát được mới tài!
Về thời điểm vượt thoát, có lẽ các anh em này đã lợi dụng lúc sắp sửa tắt điện để ra tay.
Khác với ở Suối Máu, nơi máy phát điện chạy suốt đêm, ở Tống Lê Chân, máy phát điện chỉ bắt đầu chạy vào trước giờ cơm tối để cung cấp ánh điện cho toàn trại và các đèn pha trên vọng gác, tới 9 giờ thì máy phát điện ngưng chạy. Sau khi điện tắt, tù cải tạo không ai được ra khỏi nhà.
Trên nguyên tắc, trên bốn vọng gác ở bốn góc trại có công an gác 24/24, nhưng về sau, ỷ y có ánh đèn pha sáng rực, đám công an có nhiệm vụ canh gác, sau khi ăn cơm tối đã nán lại để xem truyền hình, gần tới giờ tắt điện mới đi ra vọng gác.
Sau khi điều nghiên, biết được “lỗ hổng thời gian” này, các anh em trốn trại đã quyết định hành động vào khoảng 8 rưỡi tối, tức là họ có khoảng 15, 20 phút để chui ra ngoài hàng rào tre rồi cắt hàng rào kẽm gai và chạy vào khu rừng chồi.
Qua ngày hôm sau, đội của tôi bị phân công cột lại lớp hàng rào tre, khi ấy chúng tôi mới khám phá ra hàng rào tre ở hướng tây và hướng nam có nhiều chỗ bị cắt, suy ra một là những anh em nói trên đã cắt ở nhiều vị trí khác nhau để tùy cơ ứng biến, hai là còn có những anh khác cũng chuẩn bị trốn trại. Nếu đúng là còn những toán khác thì coi như dẹp luôn, bởi sau đó đám công an canh gác được lệnh có mặt trên các vọng gác 24/24 chứ không được lơ là như trước nữa.
Về phần những anh em trốn trại, tôi được biết cả đều là cấp úy thuộc các đơn vị tác chiến, tức là dư khả năng vượt qua mọi chướng ngại thiên nhiên, nhưng có thoát khỏi bàn tay con người hay không mới là điều đáng nói.
Lo ngại lớn nhất của chúng tôi là những anh em này đi về hướng bắc, liều mạng vượt biên giới Việt – Miên tìm đường đi sang Thái Lan với hai bàn tay không thì gần như nắm chắc cái chết nếu gặp Khmer Đỏ. Chỉ có cách băng rừng đi về hướng tây hoặc hướng nam thì mới hy vọng bằng cách này cách khác về được Sài Gòn.
Hướng tây là huyện Tân Châu của tỉnh Tây Ninh, hướng nam là hai huyện Dầu Tiếng và Chơn Thành của tỉnh Bình Dương. Theo suy đoán của tôi, nếu quyết định đi về Sài Gòn thì những anh em nói trên sẽ men theo quốc lộ 13 đi về Chơn Thành rồi tùy cơ ứng biến…
Khác với những gì thường xảy ra dưới thời “bò xanh” khi có người trốn trại, vụ mấy anh em tù cải tạo ở Tống Lê Chân vượt thoát đã không bị ban giám thị làm lớn chuyện. Theo tôi nhớ, trước sau chỉ có một buổi “lên lớp” của viên Thiếu tá công an thủ trưởng Tống Lê Chân, lên án những anh em trốn trại và tiên đoán trước sau cũng bị bắt lại. Nhưng rồi thấy im re, chúng tôi đoán có lẽ những anh em nói trên đã thoát.
[Sau này, qua lời thuật lại một anh em vượt thoát thành công, rồi vượt biển, định cư tại hải ngoại, chúng tôi được biết cho tới lúc chia tay nhau tại một địa danh nào đó thuộc tỉnh Bình Dương, toán trốn trại vẫn còn đầy đủ]
* * *
Khoảng một tháng sau vụ trốn trại, một buổi sáng nọ, sau khi toàn trại đã tập họp ngoài sân chờ nghe phân công lao động trong ngày, khóa cổng được mở, thay vì chỉ có hai ba tay giám thị cấp úy và đám công an bảo vệ tiến vào như thường lệ, hôm nay lại có cả một “phái đoàn” tiền hô hậu ủng, trong đó chúng tôi nhận ra Trung tá Đào Lưỡng, Giám thị trưởng Chí Hòa – Suối Máu, đi bên cạnh là viên Thiếu tá thủ trưởng Tống Lê Chân, cùng hai tay công an lạ mặt đeo xà-cột (sacoche), sau này được biết là người của Cục Trại Giam, Bộ Nội Vụ.
Việc viên Giám thị trưởng Chí Hòa – Suối Máu lần đầu tiên xuất hiện ở Tống Lê Chân quả là chuyện lạ cho nên không cần đám giám thị ra lệnh, cả ngàn người tù tự động giữ im lặng hướng lên phía cổng.
Thông thường, khi tập họp chờ nghe phân công lao động mỗi buổi sáng, các tổ chuyên môn (may, mộc, tăng gia, hậu cần…) ngồi phía trên vì họ sẽ được ra khỏi cổng trước tiên, kế tới là các đội cấp tá, dưới cùng là các đội cấp úy trở xuống.
Riêng tôi và đám bạn “phản động” cùng đội hay không cùng đội cũng luôn luôn quây quần ở góc sân xa nhất ngồi tán dóc, hút thuốc, chẳng thèm quan tâm tới việc hôm nay đội mình bị giao công tác gì, nhưng hôm nay trước sự xuất hiện của Đào Lưỡng và mấy tay công an lạ mặt, chúng tôi cũng ngưng tán dóc để theo dõi.
Trước hết, mấy tay công an bảo vệ vào trạm xá (nằm phía trong hàng rào) khiêng ra một cái bàn và hai cái ghế. Sau khi Đào Lưỡng lên lớp mấy câu theo đúng sách vở (học tập tốt, lao động tốt, nghiêm chỉ chấp hành nội quy…), ông ta ngồi xuống ghế. Một trong hai tay công an tháp tùng ông ta cũng ngồi xuống, lấy trong xà-cột ra một xấp hồ sơ và trao cho tay công an còn lại một tờ giấy.
Tay công an này đứng bên cạnh bàn, dõng dạc công bố “tiến trình làm việc” đại khái như sau: hắn ta sẽ lần lượt đọc tên từng người trong danh sách, người nào có tên thì đứng lên, rồi đọc to cấp bậc và số quân của mình, kế tiếp là đơn vị phục vụ, sau cùng tới địa chỉ cư trú. Trường hợp có nhiều người trùng tên, hắn chỉ ai thì người đó trả lời trước. Nếu không đúng với chi tiết trong danh sách, hắn sẽ nói người ấy ngồi xuống, rồi tới người kế tiếp…
Mặc dù chưa biết những người có tên trong danh sách sẽ bị chuyển trại hay được thả, đám tù cải tạo cũng xôn xao, khiến những người ngồi phía cuối sân không thể nghe rõ (vì không có megaphone), cho nên mỗi lần tay công an đọc xong một cái tên, những người ngồi gần đó lại quay xuống phía dưới lớn tiếng lập lại, rồi những người ngồi giữa sân lại lập lại cho cuối sân nghe.
Vì sự lập lại ấy, có những anh em tên gần giống tên được gọi cũng đứng dậy, để rồi vừa đọc xong cấp bậc và số quân đã bị tay công an khoát tay bảo “ngồi xuống!”
Cuối cùng, khoảng trên dưới 50 người có tên trong danh sách – tất cả là cấp úy – lần lượt tiến lên và được lệnh tập họp bên cạnh trạm xá, số tù cải tạo còn lại đi lao động như thường lệ.
Tới trưa khi mọi người trở về trại thì được biết số anh em được gọi tên buổi sáng sẽ được đưa về Suối Máu “để làm thủ tục trở về xum họp với gia đình” – nguyên văn lời Đào Lưỡng nói với họ.
Dĩ nhiên, kinh nghiệm bị cho ăn bánh vẽ trong hơn 5 năm cải tạo không cho phép chúng tôi tin ngay lời Đào Lưỡng, nhưng rồi so sánh danh sách này với danh sách bị đưa về Chí Hòa sau vụ nổi loạn đêm Giáng Sinh 1978, chúng tôi tin tới 90% những người có tên sáng nay sẽ được thả. Bởi vì đa số anh em đều có “thân nhân cách mạng”.
Hơn nữa, chính những anh em này cũng được gia đình cho biết trước, hay ít ra cũng tin rằng mình sắp được thả; bên cạnh đó, số người có tên trong danh sách mà không có “thân nhân cách mạng” thì đều có gia đình là “tư sản mại bản” (tức “nhà giàu” theo cách gọi của CSVN) mà chúng tôi đoán là đã “chạy vàng”.
Sáng hôm sau, hai chiếc molotova tới Tống Lê Chân chở số tù cải tạo nói trên rời trại.
* * *
Khoảng hai tháng sau, sự việc lại tái diễn. Số người được về lên tới gần 100, trong đó có “thân nhân cách mạng” chỉ chiếm khoảng một nửa, nửa còn lại vừa là “tư sản mại bản” vừa là “con bà phước” từ cấp thiếu tá xuống tới thiếu úy trước năm 1975 phục vụ tại các đơn vị không tác chiến, tuy nhiên không có một tay “giặc nói” (Chiến Tranh Chính Trị) nào!
Trước việc có nhiều “con bà phước” được thả về, chúng tôi suy luận một cách lạc quan như sau: có lẽ sau khi chiếm đóng Căm-bốt, tình hình trong nước được xem là đã ổn định, nhà cầm quyền CSVN lại cho thả tù cải tạo sau mỗi thời hạn 3 năm, như họ đã bắt đầu từ năm 1978 khi tôi còn ở Phước Long.
Và cũng giống như ở Phước Long trước đây, đám “con bà phước” được thả có thể mang bất cứ cấp bậc nào từ thiếu tá xuống thiếu úy, miễn không phải thành phần tác chiến thứ dữ (nhảy dù, biệt kích, TQLC, BĐQ), “giặc lái”, an ninh tình báo hay CTCT.
Nhưng tại sao họ lại không thả đám “con bà phước” theo ưu tiên cấp bậc lớn nhỏ: thiếu úy về trước rồi mới tới trung úy, đại úy, thiếu tá?
Như tôi đã viết trong một kỳ trước, trong đợt thả tù đầu tiên sau thời hạn 3 năm khi tôi còn ở Phước Long, cùng với đám trung úy, thiếu úy ở Bù Gia Phúc (L2) còn có các anh Tư (thiếu tá) ở Bù Gia Mập!
Sau này khi đã được thả, tôi nghe một ông trung tá CSBV ra vẻ hiểu biết đường lối chính sách “học tập cải tạo” của Đảng và Nhà nước, giải thích đại khái như sau:
Không kể các tướng tá giữ những chức vụ quan trọng, các thành phần “có nhiều nợ máu với nhân dân”, và các đối tượng khó cải tạo (CTCT), tất cả còn lại được xét cho về qua kết quả học tập cải tạo chứ không phải cấp bậc hay thời gian phục vụ chế độ dài hay ngắn. Bên cạnh đó, những người mang cấp bậc cao thường đã lớn tuổi, có con có cháu, được thả về sẽ sống an phận, khác với đám sĩ quan trẻ còn hăng máu, sẵn sàng chống phá cách mạng.
(Đó cũng là những gì chúng tôi đã được nghe Đào Lưỡng “lên lớp” sau khi tù cải tạo ở Suối Máu được bộ đội bàn giao cho công an vào năm 1978.)
Nhưng – chữ NHƯNG viết hoa – làm sao cách mạng biết được mức độ “tiến bộ” một khi tất cả mọi “bài thu hoạch” của cải tạo viên sau đợt học tập chính trị 10 bài đã được bộ đội sử dụng để nhóm bếp, hoặc tệ hại hơn, để làm giấy đi cầu, thay vì đưa về trung ương để “đánh giá” như quản giáo đã hù dọa, đồng thời sau mỗi lần chuyển trại lại có sự “xóa bàn làm lại” (về quá trình học tập cải tạo của mỗi cá nhân ở các trại cũ)!
Thành thử có thể viết trong đám “con bà phước” từ cấp tá xuống thiếu úy nếu không thuộc thành phần tác chiến thứ dữ, “giặc lái”, an ninh tình báo, CTCT… ai được thả sớm hơn ai là do hên xui may rủi!
Điều này đã được chính Đào Lưỡng xác nhận khi diễn ra đợt thả tù thứ ba ở Tống Lê Chân vào cuối năm 1980; trước khi tiến hành việc đọc danh sách, viên Trung tá công an Giám thị trưởng Chí – Hòa Suối Máu đã vui vẻ nói đùa “Các anh giữ im lặng để nghe kết quả xổ số nè!”
Giai thoại này (lời tuyên bố của Đào Lưỡng) ra vẻ khó tin nhưng có thật, mà anh em tù cải tạo ở Tống Lê Chân là những nhân chứng sống, được nghe tận tai!
* * *
Khoảng giữa tháng 1/1981, tức là trước tết Tân Dậu, diễn ra cuộc thả tù lần thứ tư ở Tống Lê Chân.
Cũng giống như những lần trước đó, sau khi tù cải tạo đã tụ họp ngoài sân đợi phân công lao động trong ngày, “phái đoàn” mới tiến vào. Tuy nhiên lần này chỉ có mấy tay công an của Cục trại giam đem danh sách lên chứ không có Đào Lưỡng; rất có thể vì danh sách được thả lần này chỉ vào khoảng ba chục người may mắn được về ăn tết với gia đình.
Và cũng giống như ba lần trước, nhóm “phản động” chúng tôi tụ tập ở một góc sân xa nhất vẫn tiếp tục trà lá tán dóc vì tự biết chẳng tới lượt mình được gọi tên.
Một hồi sau, bỗng có tiếng nhao nhao từ giữa sân vọng xuống:
– Ê Sáu Lèo, Sáu Lèo, có tên mày kìa!
Nhìn lên, tôi thấy không có ai đứng cả. Sau này tôi được biết đã có mấy người trùng tên với tôi đứng lên trả lời… cầu may nhưng đều bị tay công an của Cục trại giam khoát tay bảo ngồi xuống.
Tôi chậm rãi đứng lên, trong bụng vẫn nghĩ chắc có một sự lầm lẫn nào đó, hoặc anh em nghe không rõ. Thấy tôi lề mề, tay công an cầm danh sách quát lớn:
– Tên gì?
Trả lời xong, tôi quên mất rằng phải đọc tiếp cấp bậc và số quân của mình, phải đợi tay công an quát tháo, tôi mới giật mình đọc cấp bậc và số quân.
Đọc xong tôi ngưng lại, chờ tay công an khoát tay bảo ngồi xuống, nhưng không, hắn vẫn nhìn tôi chờ đợi… Một anh bạn phải nhắc tuồng “Đơn vị, địa chỉ” tôi mới làm theo như một cái máy. Và tới khi tay công an của Cục Trại Giam miệng quát lớn “Lên đây tập họp”, tay chỉ về phía những người đã có tên đang đứng riêng bên cạnh trạm xá, tôi bỗng như người mất hồn!
Sau này dù cố gắng hồi tưởng, tôi cũng không thể nhớ đích xác lúc đó tôi và nhóm anh em thân thiết phản ứng ra sao. Chỉ biết một điều chắc chắn là tôi lâm vào một trạng thái vô cảm, không hề mừng rỡ, xúc động…
Trước kia, mỗi đêm mơ tưởng tới ngày được thả, tôi nghĩ là mình sẽ sung sướng phát điên lên nhưng giờ đây cảm xúc ấy đã không đến, chẳng hiểu tại sao?!
Phải đợi tới chiều, khi anh em quen biết kéo hỏi han, chúc mừng, tôi mới lấy lại phần nào bình tĩnh. Chỉ tội nghiệp Th., chàng thiếu úy Chiến Tranh Chính Trị ở SĐ5KQ, đã tìm cách gặp riêng tôi để hỏi đi hỏi lại xem tôi có “thân nhân cách mạng”, hay có “chạy vàng” không; bởi vì cho dù chính viên Trung tá Giám thị trưởng đã gọi đây là những cuộc “xổ số”, Th. vẫn không thể tin một trung úy CTCT thâm niên như tôi lại được thả trước một đàn em mang lon thiếu úy mới được mấy tháng!… Tôi đã phải thề sống thề chết tôi là con bà phước thứ thiệt, nhà không đủ ăn để trấn an chàng thiếu úy trẻ.
Buổi tối hôm đó, tôi sang chào từ biệt Thiếu tá Tùng “con”, học thuộc lòng địa chỉ nhà bố anh ở Thủ Đức để tới thăm, rồi cùng vài anh em thân thiết nhất ra góc sân trà lá lần cuối cùng. Dù không nói ra, ai cũng có vẻ lên tinh thần trước việc một trung úy CTCT “con bà phước” nổi tiếng “phát ngôn linh tinh” như tôi lại được thả, cho thấy anh em cũng có thể có tên trong những kỳ “xổ số” kế tiếp!
* * *
Sáng hôm sau, nhóm tù sắp được thả được anh nuôi (tổ làm bếp) phát cho mỗi người một ổ bánh mì làm bằng bột bo bo (cao lương) dài hơn một gang tay, là khẩu phần cho một ngày ăn, vì theo dự trù, sau khi về Suối Máu ngủ qua đêm, sáng hôm sau chúng tôi sẽ nhận được Giấy Ra Trại để tung cánh chim tìm về tổ ấm!
Mấy chục người chúng tôi ngồi chờ hoặc đi tới đi lui trước trạm xá ở gần cổng, nhưng chờ mãi vẫn không thấy công an từ Ban giám thị xuống gọi mà cũng chẳng nghe tiếng xe molotova chạy tới nơi.
Gần tới giờ ăn trưa, chúng tôi bắt đầu băn khoăn, lo ngại mà dù không nói ra, ai cũng có cùng một câu hỏi trong đầu: có khi nào danh sách lần này bị hủy bỏ vào giờ phút chót không?!
Mãi tới hơn bốn giờ chiều mới nghe tiếng xe chạy vào trại. Công an Cục Trại Giam xuống ra lệnh cho chúng tôi xếp hàng, điểm danh một lần nữa rồi đi lên khu nhà của Ban giám thị. Tôi quay lại nhìn anh em lần cuối, khẽ đưa tay vẫy chào…
Lên tới nơi, thấy có hai chiếc molotova chờ sẵn, tôi thầm cám ơn Cục Trại Giam chơi đẹp, vì trong những lần chuyển trại trước đây, 30 tù cải tạo thì chỉ cần một xe cũng dư sức nhét vào. Như vậy, hôm nay chúng tôi sẽ được ngồi thoải mái trên đường trở về Suối Máu.
Leo lên xe rồi chúng tôi mới biết mình bị hố: dưới sàn xe đặc kín một lớp thân gỗ dài khoảng nửa mét, đường kính 30-40 cm, tức là gỗ để bổ ra làm củi, có lẽ đưa về Suối Máu để sử dụng trong nhà bếp của công an (còn bếp của tù sử dụng than nắm – tức bột than đá trộn với bùn rồi nắm thành từng nắm).
Ngửi mùi mạt cưa còn tươi, tôi suy ra nguyên nhân khiến hai chiếc molotova này vào Tống Lê Chân trễ hơn một buổi: vì trước đó đã phải ghé trại tù “tệ đoan xã hội” ở gần Quốc lộ 13 để lấy gỗ củi; nhưng vì không có sẵn, họ phải chờ tù cưa những khúc gỗ dài ra làm hai, làm ba khúc ngắn.
Vì có lớp thân gỗ dưới chân, chúng tôi không thể đứng thẳng người mà ngồi thì đau… bàn tọa (ở tù gần 6 năm, chúng tôi vẫn không thể tiếp thu kiểu ngồi nước lụt của dân Bắc kỳ 2 nút), đã vậy quốc lộ 13 lại đầy rẫy ổ gà, xe molotova “made in China” (Trung Cộng gọi là xe “Giải Phóng”) chạy ì à ì ạch cho nên đoạn đường từ Tống Lê Chân về Bình Dương không bao xa mà như bất tận!
Tới Bình Dương thì trời đã tối. Khoảng nửa tiếng sau, tới Lái Thiêu xe bỗng dừng lại. Nghe tiếng nói chuyện giữa tay công an của Cục Trại Giam ngồi trên xe với người đứng dưới đường, chúng tôi biết đây là một trạm kiểm soát của công an địa phương.
Một lát sau, xe tắt máy, tay công an Cục Trại Giam rời xe bước xuống đường, tiếp theo là tiếng đối thoại có vẻ gay gắt; rồi có mấy tay công an địa phương trong đó có một tay ra vẻ cấp chỉ huy tiến tới phía sau chiếc molotova tôi đang ngồi, kiễng chân soi đèn pin vào những khúc gỗ củi trên sàn xe.
Tới đây chúng tôi đã hiểu đại khái những gì đang diễn ra: công an địa phương chặn bắt công an Cục Trại Giam về tội chở gỗ bất hợp lệ. Như vậy, nếu quả thật đây là gỗ đưa về Suối Máu để làm củi thì chỉ cần một cú điện thoại xác nhận từ Suối Máu là xong, nhưng những gì diễn ra tiếp theo đó cho thấy đây là một cách “làm ăn” của đám công an cắc ké thuộc Cục Trại Giam!
Trước hết, mấy chục tù cải tạo chúng tôi được lệnh xuống xe, đi bộ tới một trường học gần đó, gồm mấy gian nhà mái tôn vách ván không có cửa nẻo gì cả, vào một lớp học để… nghỉ ngơi, cần tiểu tiện thì ra trước nhà, không được đi ra khỏi sân trường.
Chúng tôi chỉ biết than trời: cả đến lúc được thả về cũng còn gặp nạn, trong lòng thầm cầu mong trời phù hộ… đám công an chở gỗ lậu!
Tới quá nửa đêm, vẫn không thấy động tịnh gì, chúng tôi chán nản, nằm dưới nền đất cố dỗ giấc ngủ.
Sáng hôm sau, khi mặt trời đã lên cao, mới thấy hai chiếc molotova thân yêu trên có mấy tay công an của Cục Trại Giam chạy tới đậu ngoài đường lộ phía trước trường học, và chúng tôi được lệnh lên xe.
Thấy lớp gỗ củi còn nguyên vẹn dưới sàn xe, chúng tôi hiểu đã có một sự “dàn xếp” nào đó giữa công an Bình Dương và công an Cục Trại Giam!
Khi xe lăn bánh tiếp tục đi về hướng nam, tức là đi về Suối Máu, cho rằng mình đã an toàn, trong lòng tôi lại tội nghiệp đám công an cắc ké của Cục Trại Giam chẳng biết kiếm chác được bao nhiêu nhưng kỳ này về chắc chắn sẽ bị kiểm điểm!
* * *
Tới xa lộ Đại Hàn, hai chiếc xe quẹo trái để về Biên Hòa. Khi đi ngang phi trường trên con đường trước 1975 mang tên Phạm Phú Quốc, từ Cổng 2 (Dốc Sỏi) tới Cổng 1, tôi rất muốn nhìn xem cảnh vật đã thay đổi ra sao sau gần 6 năm bể dâu nhưng không đủ can đảm, vẫn cúi gầm mặt!
Gần tới trưa, xe chạy vào Suối Máu. Thấy trại giam cũ, tôi lại cảm thấy bần thần như khi nghe đọc tên mình trong danh sách được thả ở Tống Lê Chân sáng hôm qua.
Sau này nhớ lại, tôi cho rằng có lẽ vì được thả về quá bất ngờ nên tôi bị “shock”, đầu óc cứ mơ mơ màng màng, cho nên tôi cũng không để ý tới việc chúng tôi được đưa vào K nào, chỉ nhớ chắc chắn không phải K2 hay K1 mà tôi đã ở trước đây vì ở ngoài sân có trồng cây.
Về tới nơi, chúng tôi được cho biết đám công an của Cục Trại Giam làm thủ tục “ra trại” cho tù cải tạo, trong đó có tay tài vụ phát tiền xe (cho tù đi về nhà) đã về Sài Gòn, sáng hôm sau mới trở lại, vì thế chúng tôi phải ngủ lại một đêm tại hội trường; tuyệt đối cấm tiếp xúc với tù đang ở Suối Máu.
Thật đúng là cái số ăn mày, đã mất một đêm ngủ hoang ở Lái Thiêu bây giờ lại thêm một đêm màn trời chiếu đất ở Suối Máu!
Đêm hôm ấy, chúng tôi hầu như không ai ngủ được, vừa đói bụng vừa nôn nao chờ cho trời mau sáng!
Cuối cùng rồi trời cũng sáng. Dù mất ngủ hai đêm liên tiếp, chúng tôi ai nấy rạng rỡ nét mặt vì ngày hôm nay – ngày mà chúng tôi mỏi mòn chờ đợi từ 5 năm rưỡi qua – cuối cùng đã tới.
Khoảng 9 giờ sáng, cổng mở, mấy tay bảo vệ và một tay công an của Cục Trại Giam đi vào, tập họp điểm danh rồi đưa chúng tôi ra khu nhà của Ban giám thị.
Tại đây, một tay ra vẻ cao cấp nhất “lên lớp” lần cuối cùng. Từ ngày vào tù tới giờ, chưa bao giờ chúng tôi được nghe những lời lịch sự, tử tế đến như thế. Sau khi chúc mừng chúng tôi đã học tập cải tạo tiến bộ được cấp trên xét cho về xum họp với gia đình, tay công an nhắn nhủ đại khái như sau:
– Về tới nhà việc đầu tiên là trình diện công an phường, xã để đăng ký.
– Tuân theo các quyết định cho từng cá nhân ghi trong giấy ra trại.
– Nghiêm chỉ chấp hành luật pháp nước CHXHCNVN và luật lệ của chính quyền địa phương các cấp để sớm được phục hồi quyền công dân.
Sau cùng, ông ta chúc chúng tôi thượng lộ bình an và mong rằng sẽ không có người nào bị đưa vào nhà tù lần thứ hai!
Sau đó, mỗi người chúng tôi được cấp một tờ Giấy Ra Trại, tất cả được trở về địa chỉ cư trú khi trình học tập cải tạo, nhưng riêng tôi và một vài người khác ở Sài Gòn thuộc ngành chiến tranh chính trị, an ninh quân đội, quân báo, v.v…, bị ghi thêm hàng chữ:
Chú Thích:
Không được phép cư ngụ tại TP Hồ Chí Minh sau thời hạn 3 tháng (hoặc 6 tháng tùy người)
Nhưng chúng tôi không mấy quan tâm tới hàng chữ trên, chỉ cần được tự do, mọi việc tính sau!
Theo đúng quy định, sau khi được cấp Giấy Ra Trại, chúng tôi sẽ được phát tiền xe đi về nhà. Tôi còn nhớ mang máng ngày ấy người nào về Sài Gòn thì được phát 5, 7 đồng tiền Hồ, người nào về tận miền Trung thì được phát khoảng 20 đồng. (Theo thời giá, 1 đồng tiền Hồ lúc đó mua được một ly cà-phê đen hạng bét – toàn là hạt bắp rang cháy – ở các quán lề đường, hoặc trả một cuốc xích-lô đạp ngăn ngắn)
Nhưng một tay công an cho chúng tôi biết hôm nay tay tài vụ của Cục Trại Giam chưa tới, và nói chúng tôi ra bên ngoài chờ, khi nào anh ta tới họ sẽ gọi chúng tôi.
Đứng chờ mỏi cả chân, anh em bàn tán và tin rằng đám công an cố tình trì hoãn việc phát tiền xe với hy vọng một số tù nóng ruột không muốn chờ đợi sẽ bỏ ra về để họ đút túi số tiền xe. Một vài anh em nói “thí cô hồn, về cho rồi” nhưng cũng có những anh em không có tiền dằn túi, hoặc chỉ có năm bảy đồng, muốn tiếp tục chờ.
Bỗng một anh nói:
– Tôi ở ngay Sài Gòn, còn dư mấy chục, anh nào nhà ở miền Trung, tôi biếu!
Trước hạnh phúc sắp được đoàn tụ với những người thân yêu, lòng hào hiệp bỗng có tác động dây chuyền. Ít nhất có thêm hai anh nữa bắt chước nghĩa cử này.
Kết quả, hầu hết trong tổng số trên dưới 30 tù cải tạo được về đợt này đã quyết định “thí cô hồn” để rời xa nơi chốn hắc ám này càng sớm càng tốt. Chỉ có vài anh nán lại để chờ, nhưng không phải vì cần tiền mà vì không chấp nhận để công an chơi gác. Một anh nói:
– Mẹ chúng nó chứ, một đồng tôi cũng chờ, nhất định không cho chúng nó ăn!
Rồi mấy chục anh em chúng tôi, cầm tờ Giấy Ra Trại trên tay, lần lượt bước qua cái cổng ngoài cùng của trại tù Suối Máu. Ra tới quốc lộ 1, chúng tôi chờ xe lam đi tới Ngã Ba Sặt để đón xe đò về Sài Gòn.
Ngã Ba Sặt là nơi xa lộ Sài Gòn – Biên Hòa chấm dứt tại quốc lộ 1, nơi có giáo xứ Kẻ Sặt của người Bắc di cư, được xem là trung tâm thương mại và ẩm thực của vùng Hố Nai.
Trước năm 1975, đoạn đường này tấp nập xe cộ, cứ vài phút lại có một chuyến xe lam chạy từ thành phố Biên Hòa, nhưng nay vắng tanh, thỉnh thoảng mới có một người dân đi xe đạp.
Thay vì đứng chờ xe lam không biết bao giờ mới tới, chúng tôi quyết định đi bộ về hướng Ngã Ba Sặt. Nửa tiếng đồng hồ sau, tôi ngoái cổ nhìn lại, trại tù Suối Máu đã khuất hẳn.
Chú Thích:
(1) Trong thời gian cuộc chiến tàn khốc diễn ra tại miền Nam VN, hình ảnh người S’tiêng đã được cả hai phe quốc cộng đề cập tới: phe quốc gia qua vụ thảm sát Dak Son, còn phe cộng sản với bài hát “Tiếng chày trên sóc Bom Bo”.
Cuộc thảm sát Dak Son chúng tôi đã đề cập tới trong một kỳ trước, xảy ra vào cuối năm 1967 tại làng Dak Son gần thị xã Phước Long, vốn một làng “Cuộc Sống Mới” được chính phủ VNCH dựng lên cho khoảng 800 đồng bào Thượng, đa số là người S’tiêng, vượt thoát từ những vùng bị quân cộng sản kiểm soát.
Đêm mồng 5 rạng mồng 6 tháng 12, một lực lượng cộng quân thuộc Trung Đoàn 88 chính quy Bắc Việt đã bao vây làng, sử dụng súng phun lửa đốt cháy nhà cửa trong lúc mọi người đang an giấc, người nào chạy thoát được ra ngoài thì bị bắn bằng súng tiểu liên… Kết quả, 252 đồng bào Thượng phần lớn là phụ nữ và trẻ em đã bị tàn sát một cách dã man, đa số bị chết cháy.
Còn bài hát “Tiếng chày trên sóc Bom Bo” là một “ca khúc cách mạng” của nhạc sĩ Xuân Hồng, mô tả cuộc sống “vừa tăng gia sản xuất vừa đánh giặc giữ đất” của người người S’tiêng.
Đây là một trong những ca khúc phổ biến nhất, không chỉ trong thời gian chiến tranh mà còn sau năm 1975, rất có thể còn phổ biến hơn bản “Cô gái vót chông” (là ca khúc mà Hoa hậu Đỗ Thị Hà đã trình diễn đàn T’rưng trong cuộc thi Hoa hậu Thế giới 2022, và bị dư luận trong cũng như ngoài nước chỉ trích kịch liệt!)
Bom Bo là một địa danh có thật ở huyện Bù Đăng, tỉnh Phước Long (nay là tỉnh Bình Phước), nhưng nội dung ca khúc lại là một sự bịa đặt trắng trợn. Chỉ cần đọc các bài viết về Bom Bo của truyền thông nhà nước cũng đã đủ để thấy nội dung ca khúc này hoàn toàn do óc tưởng tượng của tác giả.
Bài viết “Tiếng chày trên sóc Bom Bo – Xuân Hồng” của tác giả Mỹ Hạnh có đoạn viết:
“Trong một dịp tham gia chiến dịch Đồng Xoài, Xuân Hồng được lệnh hành quân đến sóc Bom Bo (nay là ấp I của xã Bom Bo, huyện Bù Đăng, Bình Phước) để nhận gạo. Sóc Bom Bo là một đơn vị hậu phương vững chắc, người dân nơi đây sẵn sàng ăn củ rừng để nhường gạo cho cách mạng, ăn tro để nhường muối cho bộ đội…”
Trong khi Cổng thông tin điện tử (website) của tỉnh Bình Phước hiện nay lại viết khác:
“Đến giữa năm 1963, khi địch vây bắt và khủng bố gắt gao thì già trẻ, gái trai của vài chục hộ dân sóc Bom Bo đã lặng lẽ băng rừng, vượt suối vào căn cứ “Nửa Lon” để theo cách mạng. Ở vùng đất mới, bà con bắt tay vào vừa xây dựng lán trại, tăng gia sản xuất và vừa tham gia đánh giặc. Thanh niên thì vào bộ đội, du kích, làm giao liên; còn phụ nữ và trẻ em thì đêm đêm giã gạo nuôi quân.”
Điều này có nghĩa là vào thời gian tác giả Xuân Hồng tham gia chiến dịch Đồng Xoài, không còn một bóng người ở Bom Bo thì làm gì có tiếng chày giã gạo?!
Suy ra, “nguồn cảm xúc cho nhạc sĩ Xuân Hồng sáng tác bài hát Tiếng chày trên Sóc Bom Bo” (theo bài viết của tác giả Mỹ Hạnh) hoàn toàn là sự bịa đặt!
Chưa hết, vì sự nổi tiếng của ca khúc Tiếng chày trên sóc Bom Bo, sau năm 1975 đã xảy ra việc tranh giành địa danh “Bom Bo”.
Trong bài đã dẫn, tác giả Mỹ Hạnh viết sóc Bom Bo nay là ấp I của xã Bom Bo, huyện Bù Đăng, Bình Phước, nhưng theo website chính thức của UBND tỉnh Bình Phước thì sau năm 1975 sóc Bom Bo trở thành “thôn 1, xã Bình Minh” chứ không phải “ấp 1, xã Bom Bo”.
Nguyên sau năm 1975, có lẽ để thu hút du khách (?) người ta đã lấy tên “Bom Bo” đặt cho một vùng đất cách đó cả chục cây số, gọi là “xã Bom Bo”, còn sóc Bom Bo nguyên thủy (trong bài hát hát của Xuân Hồng) được gọi là thôn 1 thuộc xã Bình Minh.
Sau khi có sự kiện cáo của xã Bình Minh, nhà cầm quyền tỉnh Bình Phước đã quyết định đổi tên thôn 1 của xã Bình Minh thành thôn Bom Bo. Như vậy hiện nay ở huyện Bù Đăng, Bình Phước có tới hai đơn vị hành chánh mang tên “Bom Bo”: thôn Bom Bo (thuộc xã Bình Minh) và xã Bom Bo.
Nhưng tính cách khôi hài không chỉ ở việc tranh giành địa danh mà còn ở chỗ khi du khách tới thăm viếng “sóc Bom Bo lịch sử” và được thưởng thức các màn vũ của “người dân tộc”, họ chẳng thấy một cô gái S’tiêng nào mà chỉ thấy toàn là gái Kinh trắng trẻo tươi mát giả làm… sơn nữ!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.