This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Người ta thường dùng nhiều danh từ đẹp đẽ để ca tụng người Việt Nam về mặt tinh thần như “người Việt cao quý”, “người Việt đáng yêu”, “người Việt vẻ vang” … nhưng hiện nay đối với đời sống người Việt dưới chế độ CS, chúng ta không biết dùng danh từ gì để mô tả sự lầm than, đau khổ của họ. Khi nói tới những người Việt này, xin bạn đọc đừng nghĩ tới những cư dân no đủ ở thành phố, những cán bộ đỏ giàu có hơn cả Việt Kiều vì đặc quyền đặc lợi, có nghìn cơ hội bóc lột, tham nhũng, làm giàu trên số phận còm cõi, đau thương của dân chúng. Nếu chế độ CS tốt đẹp, tạo công ăn việc làm, cơm no áo ấm cho mọi tầng lớp dân chúng, thì làm sao đất nước chúng ta có những người con gái phải kiếm chồng xa xứ qua biên giới Trung Cộng, Đài Loan; những thiếu nữ phải bán mình như món hàng xác thịt qua đường Kampuchia, Thái Lan; những thanh niên phải lên đường xa xứ để đi làm thuê. Tất cả ra đi để tránh nạn nghèo đói, vô vọng ở quê nhà, và mặc nhiên phần lớn lại là nạn nhân của những tổ chức hay dưới đường lối làm giàu cho đất nước của chế độ. Trước thảm cảnh chung của nạn “ xuất khẩu người” đi kiếm cơm ở nước ngoài, năm ngoái, cộng đồng Việt Nam ở Mỹ đã xúc động trước câu chuyện của những người thợ may Việt Nam ở Samoa bị chủ bạc đãi, bỏ đói, hiếp dâm. Gần đây chúng ta đã được nghe tin năm chục thanh niên người Việt được “xuất khẩu” sang Mã Lai, sau khi hãng xưởng của họ bị đóng cửa vì phá sản, họ thất nghiệp, đói khát, bị đuổi ra khỏi nhà trọ vì không có tiền trả, phải che thùng carton, ván gỗ để sống ngoài hè phố, trước sứ quán CSVN đề chờ giải quyết. Chúng ta còn lạ gì bọn cán bộ, viên chức CS ở các tòa đại sứ, các sứ quán ngoại quốc là bọn đảng viên, tham ô, thối nát mà chính phủ ngay tại Hà Nội thì lại mặc cho các dịch vụ “xuất khẩu người”, “đem con bỏ chợ”, không có đường lối rõ ràng và hành động cấp thời để cứu dân.
Đám người đói rách cùng đường này, thậm chí đã phải bắt chó mèo của dân địa phương để ăn, sống qua ngày. Thử tượng tượng cái cảnh một đám người rách rưới, bẩn thỉu, đói khát (vì bị đói và không nơi cư ngụ đã lâu), rình bắt những con chó hoặc mèo, làm thịt, đốt lửa thui hoặc luộc dưới những mái nhà tạm che bên hè đường, trước cái sứ quán giương cao những chữ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, lòng ai lại không xúc động và cảm thấu một sự đắng cay, mỉa mai vô cùng tận.
Cuộc sống tàn tệ như thế sẽ kéo dài bao lâu, nếu không có “sự may mắn” cuối cùng, là vì vi phạm luật pháp Mã Lai vì tội ăn thịt chó mèo bắt trộm, năm mươi người Việt Nam khốn khổ này đã bị trục xuất bằng máy bay về lại quê nhà. Những người tình nguyện đi làm công ở xứ người đã phải đóng một số tiền cọc là 1.400 đô la, qua một đại diện công ty sản xuất, công ty này lại đem đám thợ ký hợp đồng lại với một công ty hợp tác lao động khác. Số tiền này đối với nông dân nghèo là một sồ tiến quá lớn, phải vay mượn họ hàng hoặc thế chấp tài sản để có cơ hội ra đi. Trong hợp đồng ghi rõ số lương hàng tháng, nhưng đến chỗ làm việc thì số lương được lãnh chỉ có một nửa. Làm việc trong điều kiện bụi bặm mà không có che miệng, không mũ trùm đầu, không có găng tay, mặc áo cộc tay mang số sau lưng như những tên tù. Công nhân làm việc suốt 12 tiếng mà không được uống nước (!), ngủ trong nhà tôn nóng mà không đủ quạt vì chủ sợ hao điện. Những người Việt Nam này quả bị coi thường và bị khinh rẻ, lẽ cố nhiên là quốc gia thuê người lao động đó cũng coi thường và đánh giá thấp cả cái chính phủ đã đưa những người đến làm việc ở đây. Đối với một quốc gia khác có uy tín, biết tôn trọng và bênh vực dân của họ, những chuyện tương tự như vậy không bao giờ có thể xẩy ra. Những người Việt nam khốn khổ này khi về nước đã nói với báo chí: “Đi lao động thì nghe sang trọng, nhưng không khác gì hoàn cảnh những người ở trong tù. Điều trớ trêu ở đây là ở tù mà phải đóng tiền.”
Giờ đây, đám người lao động nghèo khổ, kém may mắn này trở lại đời sống nghèo đói ở trên quê hương, nhưng ít ra còn tránh được cảnh nhục nhã ở quê người. Trước đây, 400 người Việt Nam cũng đã trả về nước vì vào Mã Lai bất hợp pháp (do các cơ quan nhà nước và dịch vụ dụ dỗ đưa đi). Trước khi bị trục xuất, những nạn nhân này phải chịu hình phạt đánh bằng roi theo luật pháp của Mã Lai.
Trước đây gần chục năm, một thiếu niên người Mỹ tên Fay, cư ngụ tại Singapore, vì tinh nghịch xịt sơn lên xe hơi của người khác để trong parking, đã bị cảnh sát nước này bắt phạt tiền và đánh bằng roi. Báo chí Mỹ và chính Tổng Thống Clinton cũng đã lên tiếng vì cảm thấy nhục nhã và vì tự ái dân tộc. Than ôi, người Việt tha hương vì miếng ăn, vì bị chế độ lừa bịp khắp nơi bị đánh bằng roi, bằng hèo, bằng cây … mà cả chế độ, tự xưng là “đỉnh cao của trí tuệ” mặt trơ, mày tráo, không cảm thấy một chút hổ thẹn vì liêm sỉ nào.
Trong chế độ đương thời ở Việt Nam, viên chức, cán bộ cao cấp làm đám ma cho chó, thu hàng chục triệu trong một đám ma của cha, đãi đằng ăn nhậu vài nghìn đô la một đêm, trong khi chính báo chí Saigon đã loan tin nhiều vùng dân chúng phải ăn cả cây xương rồng để thay cơm qua bữa. Cho nên, những người dân lương thiện, nghe tin đâu có việc làm, có miếng cơm ăn là vội vàng bán nhà cửa, cầm cố, vay mượn để có đủ điều kiện, có cơ hội kiếm một cái vé ra đi. Chính vì vậy mà hoạt động của các dịch vụ bán người tư cũng như quốc doanh tha hồ bịp bợm, làm ăn trên sự hy vọng của cả một lớp người tuyệt vọng. Con số 150 cơ quan theo giấy phép, nhưng thực tế con số “ma quỷ, phù thủy” này còn lên cao nhiều.
Con người Việt Nam có phải là con người mà trước đây trong chiến tranh, cơ quan tuyên truyền CS đã ghi lại
“danh ngôn” của một anh ký giả Đông Âu nào đó đã nói: “Ước mơ của tôi, là một buổi sáng, thức dậy, trở thành một người Việt Nam.” (?) Ông thi nô Tố Hữu thì còn tệ hơn một bậc là muốn làm một người Cộng Sản. Một người Việt Nam Cộng Sản có lẽ còn no đủ, giàu sang vì họ ở trong hệ thống “băng đảng” được che chở, cấu kết với nhau, còn một người Việt nam sống dưới chế độ Cộng Sản chỉ có nghèo đói khốn khổ, cộng thêm với nhục nhã, đắng cay. Những người Việt Nam đi bán sức lao động ở nước ngoài, những cô con gái của ruộng đồng mong kiếm tấm chồng ở quê người, những cháu vị thành niên gởi tấm than phiêu bạt qua biên giới.
Tất cả đều vì đồng tiền, mang một giấc mơ đơn giản là chịu khổ, đày đọa tấm thân để mong có chút tiền dành dụm giúp gia đình đang đói khổ ở quê nhà. Những người đi bán sức người khắp năm châu đã trở lại, những người vợ chung ở Trung Quốc đã trốn về, những đứa trẻ bán mình đã tuyệt vọng … nhưng vì sao con người Việt Nam vẫn nối tiếp nhau để tìm cách rời bỏ quê hương để ra đi? Để bán sức trâu ngựa, để làm vợ thuê, để bán thân … Trời cao, đất rộng, con người Việt Nam khốn khổ, cay đắng biết kêu ai. Nhưng vì sao, cách đây hàng trăm năm, hàng chục năm dân quê Việt Nam cũng đói khổ bữa cơm bữa cháo, kể cả những thời bị ngoại thuộc, nhưng không ai chịu bỏ làng, chịu bỏ ruộng đồng, bỏ cha mẹ để tha phương cầu thực.
Phải chăng ngày nay, mục đích của cuộc sống là vật chất, là giàu sang, hưởng thụ. Trong làng, một gia đình trở nên khá giả vì có con xuất ngoại làm đĩ, những gia đình khác cũng thèm muốn noi theo. Mỗi ngày chúng ta có bao nhiêu người con gái bỏ ruộng đồng, phấn son diêm dúa, ưỡn ẹo, ăn mặc hở hang, xếp hàng chầu chực để mong được lọt mắt xanh của một gã đàn ông từ bên Tàu sang kiếm vợ. Giá một gã đàn ông lao động tay chân đã rẻ, giá một mụ đàn bà cũng không phải là đắt. Chưa lúc nào trong lịch sử, phẩm giá con người Việt Nam lại rẻ mạt hạng đến như thế. Bây giờ ở Việt Nam cái gì quí nhất? -Không phải cái “độc lập tự do” mà “bác Hồ” hô hào đâu. Cái quí nhất bây giờ là đồng tiền, đồng tiền trên mọi thứ, ngoài ra danh dự, tình nghĩa, trinh tiết, đạo đức, nhân hậu, trung tín, cao thượng … đều là những thứ không đáng kể, không có trong nếp suy nghĩ của con người – xin nói rõ là – con người Việt Nam đang sống dưới chế độ Cộng Sản hay là văn hoa, khoa trương hơn là dưới chế độ “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”.
Dưới chế độ đó, một người làm đĩ không bao giờ cúi mặt vì xấu hổ, một tên lường gạt ngẩng đầu hãnh diện giàu có hơn người, một người vô luân cũng không có chi đáng trách, vì xã hội Việt Nam hiện nay đầy dẫy những hạng người như vậy. Những ai muốn lội ngược dòng, muốn làm người tử tế, lương thiện đều phải chấp nhận sự thiệt thòi, nghèo đói và bị bóc lột. Xã hội và đạo đức con người bị băng hoại từ khi chế độ Cộng Sản lên cầm quyền, từ khi băng đảng bao che, bênh vực, sống chết có nhau.
Trong suốt tháng Sáu, chúng tôi chạm trán với một số lượng chiến đấu cơ và oanh tạc cơ đối phương đông đảo chưa từng thấy. Chúng tôi được thông báo rằng đối phương đang gầy dựng lại một sức mạnh không lực quan trọng trong khu vực, và rằng từ đây chúng tôi phải dốc toàn lực cho những nhát chổi quét sạch bầu trời của chúng tôi. Ðiều này có nghĩa là chúng tôi phải tận dụng tất cả chiến đấu cơ Zéro hiện có trong tay. Ðối phương đã thiết lập thêm nhiều phi trường bên ngoài những cánh rừng trùng điệp trên khắp khu vực Port Moresby.
Các cuộc oanh tạc của chúng tôi cũng gia tăng đều đặn về số lượng, và các chiến đấu cơ địch đối đầu với chúng tôi cũng quyết tâm hơn. Vào ngày 17 tháng 6-1942, 12 chiến đấu cơ Zéro hộ tống 18 oanh tạc cơ Betty, bay đến dội bom hải cảng Moresby, đã đánh bật bảy chiến đấu cơ nghinh chiến của địch quân. Cuộc oanh tạc này đã gây cho khu vực bến tàu Moresby hư hại nặng và đánh chìm một chiếc tàu chở hàng 8,000 tấn đang buông neo trong cảng. Khu trục cơ Mỹ tấn công máy bay chúng tôi trong suốt phi trình từ Moresby về mũi Ward Hunt, nhưng không gây thiệt hại. Ngày hôm sau, 9 oanh tạc cơ Betty và 9 chiến đấu cơ Zéro khác không tập Kido, nằm gần vịnh Rescar, một căn cứ mới của địch quân ở phía Bắc Moresby. 10 chiến đấu cơ địch đụng độ với 18 phi cơ Nhật, chúng tôi hạ hai chiếc mà không bị tổn thất nào.
Vào ngày 24 tháng Sáu, tôi trở về Lae sau khi nghỉ phép ở Rabaul, và cất cánh sáng hôm sau, nằm trong một lực lượng gồm 21 chiến đấu cơ tấn công Moresby. Tôi hạ được một trong số 11 chiến đấu cơ địch nghinh chiến. Sáng kế đó, Rabaul gởi 17 oanh tạc cơ trở lại Moresby với 11 chiến đấu cơ hộ tống. 12 chiến đấu cơ địch lên nghinh chiến và chúng tôi hạ thêm hai chiếc. Những thiệt hại liên tiếp của Ðồng Minh không ngăn họ tái võ trang Moresby.
Ðó là cuộc tấn công cuối cùng của tháng Sáu. Ngày hôm sau, mưa trút ồ ạt xuống khu vực Papua New Guinea. Mưa không chỉ trói chân chúng tôi mà còn trói chân cả Ðồng Minh. Mây che kín bầu trời hầu như suốt mỗi buổi trưa, và ban đêm cuồng phong quét ngang khu vực thật dữ dội. Chúng tôi yên lòng nhắm mắt tới sáng.
Tháng Bảy thời tiết bỗng thay đổi bất ngờ. Ngày thì mưa gió nhưng ban đêm bầu trời lại sáng dạ quang. Oanh tạc cơ địch bay đến hàng đàn hầu như mỗi đêm và trút bom xuống không ngừng nghỉ. Chúng tôi bó tay. Ngay cho dù phi đạo đủ rộng, thích hợp cho các hoạt động đêm, khả năng dạ chiến của chiến đấu cơ Zéro rất đáng nghi ngờ. Do đó, chúng tôi vẫn ở trên mặt đất, chui vô hầm trú ẩn và chửi rủa bọn Mỹ.
Bình minh ngày 2 tháng Bảy, chúng tôi đối đầu với một cuộc oanh tạc quy mô. Tiếng còi báo động rú lên, đánh thức giấc ngủ về sáng của chúng tôi. Chúng tôi gấp gáp mặc đồ bay và chạy túa ra phi đạo. Nhưng không ai chạy tới phi cơ được vì tiếng động cơ máy bay địch đã gầm thét trên đầu. Các phi công hối hả chạy vô hầm trú ẩn gần nhất.
Chúng tôi có thể nhìn thấy các oanh tạc cơ địch nổi bật trên nền trời đầy sao. Ðó là loại B25 Mitchell và B26 Marauder bay không cao hơn 600 bộ. Là chưa đến 200 thước
Sau khi thả hết bom, các oanh tạc cơ sà thấp trên ngọn cây bắn phá phi đạo và tất cả các cơ sở nằm trong tầm mắt. Ðạn địch rải lên phi đạo giống như mưa đá. Lúc lộp bộp cuốc đất lúc rôm rốp như ném liệng một chùm gạch đá. Cày xới tứ tung. Chỗ tôi nấp không an toàn, tôi bỏ chạy vào vị trí đặt súng. Tôi đẩy một xạ thủ ra khỏi súng máy và nói với hắn để tôi thay thế. Hắn đeo dính khẩu súng, và từ chối bỏ vị trí. Tôi không để mất thì giờ, đạp hắn một đạp ra khỏi chỗ ngồi. Hắn đứng dậy chửi rủa om sòm, nhưng một phi công khác đã chạy vô phía sau tôi nắm cổ xô hắn ra ngoài và lượm các băng đạn lên. Trọng liên Shiki kiểu 92 không tiếp đạn bằng dây mà từng thanh sắt nhồi 30 viên. Tôi nạp đạn. Ðợt xạ kích thứ hai của 6 chiếc Marauder đang lướt đến, tôi kéo cơ bẩm và ghìm súng chờ đợi. Một chiếc Marauder bay ngang trên đầu, tôi ria một tràng đạn từ mũi đến đuôi, nhưng không trúng. Chiếc oanh tạc cơ B26 quành lại, chúi ngay xuống vị trí đặt súng cao xạ, xạ thủ trước mũi của nó đáp trả hoả lực của tôi. Ðạn đại liên từ mũi chiếc B26 cày vạch tung tóe mặt đất. Ðây là kinh nghiệm đầu tiên của tôi trên mặt đất với một chiếc phi cơ tiến thẳng đến trước mặt. Hình ảnh những trái bom xoáy xuống và nổ bùng trên vị trí đặt súng khiến tôi kinh hoảng. Tôi vụt bỏ chạy như giông như gió đến hầm trú ẩn xây bằng bao cát phía sau. Một vài giây ngồi trong đó, tôi cảm thấy như một tên hèn nhát ngù ngờ và vô lý. Chiếc oanh tạc cơ gầm thét trên đầu, lướt qua nhưng không thả bom. Tôi tự rủa thầm và quay lại khẩu súng mà tôi vừa bỏ chạy. Dần dần tôi lấy lại bình tĩnh và quyết không làm thỏ đế nữa.
Mấy chiếc oanh tạc cơ quày lại, tiếng cánh quạt vang vang như sấm động, cách mặt đất chỉ 150 bộ, tròm trèm 45 thước, các họng súng rực lửa. Tôi rót lên một tràng trọng liên nhắm chiếc phi cơ bay sau. Tôi rót liên thanh cho đến hết đạn. Một giòng khói túa ra, nhưng chiếc phi cơ này vẫn bay như thường và rồi biến mất vào chân trời.
Ngày lên hẳn, sau một giờ dội bom và bắn phá, các oanh tạc cơ địch ra đi an toàn. Không một chiếc nào bị hạ cho dù các khẩu cao xạ của chúng tôi bắn hết đạn. Bọn phi công chúng tôi mất tinh thần đến nỗi loạt bom cuối cùng vừa dứt mà không ai dám chạy ra phi cơ cất cánh truy đuổi, như chúng tôi thường làm trước đây. Hầu hết cơ sở của căn cứ đều bốc cháy. Phi đạo đầy dẫy mảnh sắt vụn, phi cơ không thể cất cánh được dù có cố gắng cách mấy đi nữa. Một việc khó thể tin, nhưng có thật, là 20 chiến đấu cơ Zéro đang đậu cạnh phi đạo hầu như an toàn, chỉ bị đạn và mảnh bom khoét lỗ. Chúng tôi tập trung vô bộ chỉ huy để nhận lịnh, trong lúc 200 binh sĩ công binh dọn dẹp khẩn cấp phi đạo. Hải quân Thiếu úy Mitsuo Sonitsu, vừa mới thuyên chuyển về Lae, giận dữ la hét, thề sẽ đâm thẳng vào oanh tạc cơ B26 bằng máy bay của hắn, ngay chuyến sau. Chúng tôi không chú ý lắm đến cơn thịnh nộ của hắn. Thình lình nhiều liên lạc viên chạy vô Bộ Chỉ Huy cho biết một cuộc tấn công nữa sắp xảy ra. “Hơn 100 phi cơ địch đang bay tới căn cứ!” Một trăm phi cơ! Một con số khó thể tin nổi! Cả trăm phi cơ, một con số khổng lồ.
Chúng tôi chưa từng nghe nói đến một cuộc tấn công nào dữ dội như vậy. Các sĩ quan tham mưu có vẻ xao xuyến và ra lịnh cho mọi phi cơ cất cánh tức khắc. Chúng tôi chạy túa ra các chiến đấu cơ Zéro, rồ máy chạy ra phi đạo lúc ấy vừa mới dọn dẹp xong, rồi chờ đợi trong vị thế sẵn sàng. Sau đó, chúng tôi được báo cáo: “Một trăm chiến đấu cơ địch biến thành một trăm con cào cào”… Mọi người đều cười ồ.
Chúng tôi ăn trưa quanh Bộ Chỉ Huy, vẫn trong tư thế sẵn sàng cất cánh. Lúc chúng tôi còn đang nhai, các liên lạc viên chạy vô cho biết Salamaua báo cáo có 6 pháo đài bay B17 trên đường hướng đến căn cứ chúng tôi. Không ai phí một giây nào. Chúng tôi bỏ ăn, chạy như bay ra phi cơ. Căn cứ Salamaua chỉ cách Lae mấy phút bay. Các phi công khác đã cho phi cơ rồ máy ra phi đạo trong khi tôi vẫn nguyền rủa và loay hoay bên chiếc Zéro bất động của mình. Cố gắng cách mấy động cơ cũng không chạy. Tôi rồ máy đủ cách, cánh quạt vẫn không quay. Tôi leo xuống phi cơ, thiểu não, vì các chiến đấu cơ khác đã ở trên không rồi.
Tôi chạy băng ngang qua phi đạo hướng đến các hầm trú ẩn. Trung tá Nakajima từ một miệng hầm đưa tay vẫy gọi tôi rối rít và tiếng rít của một trái bom, hú ran giống như một lưỡi dao khổng lồ bửa xuống. Chém phạt với hết sức mạnh. Gió hất tôi bổ chúi vô hầm, đè trên lưng nhiều người nằm sẵn trong đó. Tức khắc, thế giới nổ tung. Tôi cảm thấy một áp lực cực mạnh chụp từ mọi phía đè thúc lên thân thể mình; một áp lực khủng khiếp đè gí lấy cơ thể và ghị tôi xuống sát đất, rồi tất cả biến thành màu đen. Tôi không thấy, không nghe gì nữa, như tôi đã rời xa hẳn thế giới quanh mình. Tôi cố cử động chân tay nhưng vô ích, tôi đã đông cứng. Có thể nhiều giây hoặc nhiều phút, tôi nghe tiếng gọi văng vẳng của Trung tá Nakajima. “Sakai! Sakai!”… Tôi cố gào lên để la “Tôi đây..” Tôi nghĩ rằng tôi la lớn lắm, nhưng lạ thay tôi không nghe thấy tiếng kêu của chính mình. Mũi miệng tôi cứng đờ. Có một cái gì chèn nặng lên trên ngực, lên thực quản và chặn ngang cằm. Tôi vùng mà chân tay không nhúc nhích. Giống tôi không có tay, không có chân. Không có cả thân mình. Tiếng nói của Trung tá Nakajima lại văng vẳng: “Hắn bị chôn vùi rồi! Tìm kiếm đi! Ðào lên mau!” Trung tá Nakajima có giọng nói bình thường sang sảng mà lúc này nghe xa xôi.
Bị chôn? Dĩ nhiên! Tôi nằm dưới đá và cát. Tôi cố gắng mở mắt. Tối đen. Cơn sợ hãi ùa đến. Tiếng nói của Trung tá Nakajima lần này lớn hơn: “Gặp cái gì đào cái nấy! Mau lên! Dùng cây khượi lên! Cả tay và móng nếu các anh không có vật gì để đào! Mau lên!”.
Rồi những âm thanh lao xao vang lên, tiếng xẻng đào trong cát. Tiếng xúc, tôi chờ, cố gắng không cựa quậy. Cuối cùng một bàn tay phẩy phẩy đất trên mặt tôi, rồi cát trên mũi tôi vẹt ra. Ánh sáng bỗng nhiên tràn ngập. Ùa đến như có cả chục chiếc đèn pha rinh tới trước mắt. Tôi khạc nhổ trong lúc chói mắt. Nhiều bàn tay nhấc tôi lên. Không phải một mình tôi mà ít ra cũng hàng chục người nữa bị chôn vùi lúc trái bom nổ. Nhưng không có một ai bị thương. Bộ Chỉ Huy tan nát. Mái sập và hầu hết số phi cơ còn đậu trên phi đạo trở thành những đống sắt vụn, thùng chứa xăng của nhiều chiếc đang bốc cháy. Khói đen bốc phừng phừng. Một hố bom toang hoác sát cạnh như chứng tích của một may mắn là Bộ Chỉ Huy không bị đánh trúng bằng một cú “direct”.
Gần một giờ sau, các chiến đấu cơ đã cất cánh trở về căn cứ. Bọn phi công tiu nghỉu. Sáu pháo đài bay Hoa Kỳ đều bay thoát.
Chúng tôi phải bỏ ra hai ngày để sửa sang căn cứ Lae sau cuộc tấn công ngày 2 tháng 7. Và ngày 4, chúng tôi sẵn sàng mở trận phục thù trên phi trường Moresby. Hãy còn là ngày 3 do lệch múi giờ phía Hoa Kỳ, nhưng chúng tôi tin rất phù hợp cho chúng tôi tham dự Lễ Ðộc lập Hoa Kỳ với pháo bông bắn thẳng từ họng đại bác của chúng tôi.
21 chiến đấu cơ Zéro gặp một ủy ban chào đón bao gồm 20 chiến đấu cơ địch trên không phận Moresby. Chúng tôi ra tay trong lúc chủ nhân vẫn còn tiếp khách bằng cách chúi xuống. Chín chiến đấu cơ địch chánh thức bị hạ, và còn thêm ba chiếc nữa què quặt.
Trên đường quay về, còn cách Lae nhiều dặm tôi đã nghe mùi khói phảng phất trong gió. Khi nhìn thấy căn cứ, chúng tôi mới biết khói đó bốc lên từ các cơ sở nằm cạnh phi đạo đang bốc cháy. Những cột lửa dâng cao, toả khói đen nghịt trên khắp khu rừng và bãi biển. Trong lúc chúng tôi vắng mặt, nhiều oanh tạc cơ địch bâu đến oanh tạc những kho chứa dầu.
Khi chúng tôi còn đang lượn vòng để đáp xuống, bảy chiếc B26 Marauder gầm thét trên cánh rừng phía dưới. Khi chúng tôi phát hiện, các oanh tạc cơ địch đã đến phi trường và những trái bom được thả xuống làm tung đất cát lên không. Lúc chúng tôi chúi xuống để truy đuổi địch, nhiều chiếc Zéro khác đã rời khỏi phi đạo, và chúng tôi bắt đầu một cuộc rượt đuổi 7 oanh tạc cơ địch như điên cuồng. Nhiều lần chúng tôi suýt đụng nhau trên không, chỉ tránh khỏi trong vòng gang tấc.
Một chiếc Zéro khác vừa cất cánh từ Lae bay bứt ra khỏi nhóm chánh, vượt qua mặt các oanh tạc cơ địch và vung trở trong một vòng xoay 180 độ rồi đâm thẳng góc vào chiếc oanh tạc cơ dẫn đầu, có vẻ như muốn tự sát. Viên phi công không bắn một phát súng nào, chiếc phi cơ lướt đến như một cái bóng, với một tốc độ gần 600 cây số giờ, rồi lách phía dưới chong chóng bên phải của chiếc Marauder, bay dọc theo thân và hơi nghiêng cánh một chút. Chiếc cánh như lưỡi dao cạo của chiếc Zéro tiện đứt lìa bánh lái của chiếc Marauder. Chiếc Zéro vẫn tiếp tục bay thẳng và lướt lên cao, có vẻ như không bị tổn hại, nhưng sau đó chiếc phi cơ bắt đầu một loạt lộn nhào chầm chậm, dần dần mất cao độ và chúi xuống biển hết tốc lực. Chính là Thiếu úy Mitsuo Sonitsu. Vài giây sau đó, chiếc B26 mất đuôi xiên vẹo và lộn nhào liên hồi, phơi bụng lên trên và chúi xuống nước với một tiếng nổ đinh tai nhức óc. Lập tức, sáu chiến đấu cơ Zéro xông tới rót đạn đại bác và đại liên như mưa rào vào thân cánh các oanh tạc cơ Hoa Kỳ còn lại, chôn ngay một chiếc nữa xuống biển. Năm oanh tạc cơ khác chạy thoát.
Chúng tôi lại đánh Moresby vào ngày 6 tháng Bảy, với 15 chiến đấu cơ Zéro hộ tống 21 oanh tạc cơ Betty. Chúng tôi dứt điểm 3 chiến đấu cơ địch nữa.
Từ ngày 7 đến ngày 10 tháng Bảy, tới phiên đối phương đánh chúng tôi. Ba đêm liên tiếp, chúng tôi co rút như lũ chuột trong các hầm trú ẩn. Lae trở thành một cơn ác mộng của tiếng bom rền rền hàng loạt từ đầu sân bay đến cuối sân bay, những bựng khói và lửa, của những căn nhà đổ vỡ, của hàng ngàn mảnh bom bay tua tủa. Chắc chắn, đối phương dự định nghiền nát Lae ra như cám. Tuy nhiên họ không bao giờ đạt được mục đích này, chúng tôi vẫn còn chiến đấu cơ khả dụng để bay.
Ngày 11 tháng Bảy, chúng tôi vét hết lực lượng oanh tạc cơ để đánh Moresby một lần nữa. Mười hai chiến đấu cơ Zéro hộ tống 21 oanh tạc cơ Betty cất cánh từ Rabaul. Trên đường đi, Ðại úy Sasai phát hiện sáu chiếc B17 trực chỉ đến phi trường của chúng tôi. Ông tách ra khỏi nhóm hộ tống cùng với năm chiến đấu cơ khác, trong đó có tôi, Nishizawa và Ota. Chúng tôi gây hư hại cho ba pháo đài bay B17, nhưng không hạ được chiếc nào. Trái lại, một chiếc Zéro bị bắn cháy và các chiến đấu cơ khác kể cả tôi lãnh nhiều vết đạn.
Với chỉ sáu chiến đấu cơ hộ tống, đội hình của các oanh tạc cơ của chúng tôi bị chiến đấu cơ địch phá rối lúc đến mục tiêu, vì vậy bom thả không chính xác, gây thiệt hại cho địch không bao nhiêu. Việc này khiến cho Sasai bị khiển trách nặng nề. Thật sự Ðại úy Sasai đã vi phạm quy luật căn bản của chiến đấu cơ khi hộ tống: không bao giờ rời bỏ việc phòng vệ các oanh tạc cơ.
Liên tiếp hai ngày trong tuần qua, tôi nhận được hai tin buồn về hai người bạn. Một ở Mỹ và một ở Việt Nam. Oái oăm là người bạn ra đi ở Mỹ vào ngày 23-3 thì 10 phút sau tôi đã biết tin. Còn người ở ngay Sài Gòn cũng từ trần ngày 23-3 nhưng hai ngày sau tôi mới được tin.
Tin thứ nhất do Nguyễn Nghiệp Nhượng nhận được qua điện thoại từ Mỹ 10 phút sau khi anh Thanh Tâm Tuyền đã ra đi và điện thoại ngay cho tôi. Sau đó là những e-mail từ nước ngoài tới tấp bay về, trong đó phải kể đến cái e-mail từ Úc của Phan Lạc Phúc với nỗi xót thương sâu sắc. Bởi chúng tôi từng có thời kỳ cùng chịu tù đày chung ở một trại cải tạo miền Bắc.
Tin thứ hai do một người bạn ở Sài Gòn thông báo khi anh Ngọc Long từ trần đã qua 2 ngày ở ngay Sài Gòn, không xa chỗ tôi ở là bao. Cho nên cái khoảng cách về không gian bây giờ không còn gì là quan trọng nữa. Chỉ còn là việc thông tin như thế nào thôi.
Những Khoảnh Khắc Với Thanh Tâm Tuyền
Ðối với tôi, Thanh Tâm Tuyền là một người bạn khá thân nhưng không gần nhau nhiều như Mai Thảo, Thanh Nam, Hoài Bắc, Vũ Khắc Khoan. Thỉnh thoảng gặp anh trong một tòa báo hay một buổi ăn uống vui chơi nào đó ở một nhà hàng. Thanh Tâm Tuyền dường như không hợp tác với một chương trình phát thanh nào nên sau này tôi ít khi gặp anh.
Ở cái gọi là “trại cải tạo” cũng vậy, mỗi người ở một đội nên chúng tôi ít có cơ hội gặp nhau. Những kỷ niệm của tôi với Thanh Tâm Tuyền chỉ còn là những khoảnh khắc bất chợt.
Nhưng con người anh, bản tính anh, tạo thành những nét rất riêng đôi khi giống như thơ anh, khó hiểu, lạnh lùng và chỉ cho người ta cảm nhận được tâm hồn phóng khoáng bay bổng của anh. Ðôi khi anh lại rất dễ thương, hồn nhiên, duyên dáng như những đoạn văn xuôi mạch lạc trôi chảy rất thú vị.
Khoảnh khắc đáng nhớ nhất là lần cuối gặp anh cũng là ngày anh được thả khỏi trại cải tạo Vĩnh Phú, vào năm 1982. Anh ghé vào khu nhà giam tôi đang sống, anh hỏi:
– Có trà ngon không, mang đãi khách chứ. Bây giờ anh là tù, tôi là người… ngoài trại tù.
Tôi gật đầu:
– Tôi vừa nghe tin anh được “tha”, đang định sang khu anh thì anh đến.
Tôi pha trà và mang cái điếu cày ra bàn. Chúng tôi ngồi đối diện, anh không nói gì, có lẽ anh nghĩ không nên làm nản lòng những người còn ở lại. Tuy nhiên hôm đó anh bớt lầm lì hơn những ngày tháng ở trại. Tôi hỏi:
– Về nhà rồi anh định làm gì? Anh nói như người mơ ngủ:
– Về nhà à? Không biết nữa.
Vài phút sau rồi anh mới nhún vai:
– Cũng thế thôi. Bữa nọ tôi gặp “Phụng cao bồi”. Nó vẫn khỏe. Cũng ở K2, gần đây thôi.
Rồi chúng tôi quay sang nói về những bạn cũ. Bây giờ hầu hết đều ở Mỹ, hồi đó như thiên đường và địa ngục. Chẳng bao giờ chúng tôi nghĩ một ngày nào đó sẽ đến được một nơi yên ấm, an lành như vậy.
Liệu Có Tác Phẩm Mới Không?
Thanh Tâm Tuyền (1936-2006).
Những lúc đó Thanh Tâm Tuyền giản dị chân thật. Nhưng bước chân ra khỏi căn nhà đó, anh có bộ mặt khác hẳn, lúc nào cũng như muốn xa lánh tất cả, từ con người đến cỏ cây. Anh sống một mình với cái thế giới riêng, bất cần, bất chấp những thứ khác.
Khi tôi ra khỏi trại tù năm 1987, về Sài Gòn, chẳng biết anh ở đâu, tôi không gặp lại anh nữa. Khi anh định cư ở nước ngoài, tôi chỉ biết anh ở Minnesota và nghe nói anh không giao thiệp, không tiếp xúc nhiều và không còn viết gì thêm nữa. Thái độ của anh có phần khó hiểu.
Chán chường hay vì một lý do nào khác?
Tôi vẫn nghĩ thế nào rồi cũng có ngày anh cho trình diện một tác phẩm lớn trong đời. “Cóc không mở miệng thì thôi, khi mở miệng thì như trời gầm”. Nhưng đợi mãi 30 năm, chưa thấy tác phẩm mới nào của anh. Biết đâu một ngày sắp tới chúng ta sẽ được đọc một tác phẩm cuối đời của một nhà thơ, nhà văn đã im hơi lặng tiếng suốt hơn 30 năm. Hẳn phải là một tác phẩm lớn.
Về cuộc đời và tác phẩm của Thanh Tâm Tuyền tôi đã được đọc trên khá nhiều website ở nước ngoài và chắc chắn bạn đọc cũng đã biết nhiều nên tôi không viết lại ở đây. Tuy nhiên về chi tiết tiểu sử của anh, có một đôi chỗ không giống nhau. Có bạn ghi Thanh Tâm Tuyền tên thật là Dzư Văn Tâm, sinh ngày 13-3-1936, có bạn ghi ngày 15-3-1936. Tôi lại nhận được một nguồn tin khác, anh sinh năm 1934, do chính Thanh Tâm Tuyền tiết lộ với một số bạn bè khi ngồi ở nhà hàng La Pagode.
Cuộc Sống Có Ảnh Hưởng Đến “Tôi Không Còn Cô Độc”?
Thêm một điều nữa cũng từ nguồn tin trên, do thi sĩ Ðinh Hùng tiết lộ từ lâu, ngay từ hồi còn nhỏ Thanh Tâm Tuyền đã sống rất cô đơn vì bố mất sớm. Ông sống cùng mẹ và dượng trong nỗi buồn sâu thẳm. Tôi không tọc mạch đi sâu hơn vào đời sống riêng tư của bạn. Tôi chỉ ghi lại điều này để may ra có thể giúp phần nào cho các bạn làm công việc nghiên cứu sau này. Tác phẩm Tôi Không Còn Cô Độc của anh ra mắt năm 1955, gây một chấn động trong làng văn học miền Nam Việt Nam. Người khen cũng lắm, người mỉa mai cũng nhiều. Ðó là quyền của người thưởng ngoạn. Nhưng rồi người ta vẫn phải công nhận cái giá trị văn học của nó. Như một cột mốc đánh dấu một sự vượt thoát của thi ca. Phải chăng tác phẩm ấy là do ảnh hưởng của một tâm sự từ thuở ấu thơ cho đến khi trưởng thành? Nó dồn nén, nổ tan, bay múa như những chùm pháo hoa đêm giao thừa của tuổi thanh xuân.
Nhưng dù sao tôi không dám khẳng định những điều trên là hoàn toàn đúng. Công việc này xin để các nhà phê bình văn học luận bàn thêm.
Tôi và những bạn của anh còn ở lại Sài Gòn chỉ xin thắp một nén nhang cho một nhà văn lớn vừa từ giã chúng ta ra đi và xin gửi lời phân ưu đến tang quyến. Vào những ngày vừa qua, ở vài tiệm cà phê Sài Gòn, lẫn lộn “phe ta, phe tây, phe nó” cũng có nhiều người vẫn nhớ đến nhà thơ, nhà văn và nhà giáo Thanh Tâm Tuyền. Hình ảnh anh như còn mãi vương vất nơi đây.
Cúm Gà Hành?
Tôi về Sài Gòn được hai ngày thì lăn ra cảm cúm khá nặng. Lúc đầu tôi nghĩ là khí hậu Sài Gòn nóng nực quá, có lúc hàn thử biểu trong phòng tôi chỉ tới con số 39 độ C. Tôi cứ nghĩ ô nhiễm nặng nề, ồn ào quá mức làm mấy anh nhà quê như tôi choáng váng ít ngày rồi khỏi.
Nhưng nằm li bì mãi, lại sực nhớ đến cúm gà H5N1. Nằm “kiểm điểm” lại thấy tôi và cả gia đình đều kiêng khem rất kỹ, cả tháng nay chưa hề biết đến cái đùi gà nó ra sao. Thành thật kiểm điểm hơn tí nữa mới chợt nhớ ra rằng hôm mới về đến nhà, có mấy ông bạn từ nước ngoài về “triệu tập” rủ ra quán A.N. ăn sáng. Ðây là một quán hàng đồ sộ của Sài Gòn hiện nay. Nó chiếm nguyên 3 căn biệt thự ở góc đường TÐ và VTS. Tất nhiên là gốc gác phải “ra gì”.
Công bằng mà nói, trước đây những món ăn sáng của nhà hàng này đều thuộc loại khá như bánh cuốn Thanh Trì, miến cua, miến lươn, bún thang và thêm vài món tây tàu xì xồ nữa cũng ăn được. Nơi ngồi thật lý tưởng. Nhưng gần đây, chẳng hiểu sao chủ nhà hàng cho cánh bếp cũ nghỉ việc, thay vào một loạt thức ăn mới. Phở Hà Nội chẳng ra Hà Nội, bánh cuốn Thanh Trì cũng mất tiêu. Còn lại loe ngoe vài món ăn sáng chẳng giống ai. Ðã đến đây rồi, tôi đành chọn món omelette jambon. Ðến lúc đĩa đồ ăn được mang ra bàn, tôi vẫn chưa chịu nhớ nó là trứng gà. Ngồi thản nhiên ăn rồi mới giật nẩy mình, hồi này gà lậu đủ kiểu từ khắp nơi đổ vào thành phố dữ dội lắm. Tuy vậy đã trót ăn và tin rằng đây là nhà hàng lớn thì mọi thứ đều đã được kiểm dịch.
Ðó là niềm an ủi cuối cùng. Nằm vật vã mấy hôm liền, cứ nghĩ đến cúm gà lại sợ, không thể tin được bất cứ thứ gì ở thành phố này. Nếu có “trúng” thì ráng chịu.
Lời Thú Tội Trước Ngọc Long
Hôm sau được điện thoại báo tin anh Ngọc Long đã ra đi. Tôi phải “viện trợ” đến Ðằng Giao đi xem nhà anh ở đâu. Với Ngọc Long có một chuyện mà mãi đến bây giờ tôi vẫn còn ân hận. Vì sau bài viết về chị Mộc Lan vài năm trước đây, có vài người bạn bảo tôi nên viết về Ngọc Long.
Tôi nhận lời, nhưng sau khi bàn tính với mấy người bạn ở Sài Gòn và ở nước ngoài, chúng tôi đều có chung một suy nghĩ là không có lợi cho những thân nhân của anh ở nước ngoài. Vì thế tôi cứ đắn đo mãi, chưa thể làm gì hơn được. Nay nghe tin anh mất, dù có bị cúm gà hành, tôi cũng phải xuống tạ lỗi với anh. Tôi điện thoại cho Lê Hoàng Long, anh cho biết khá nhiều chi tiết về Ngọc Long. Tôi rủ Lê Hoàng Long đi nhưng anh nói anh đi rồi. Thế là 6 giờ chiều Thứ Bảy, Ðằng Giao đèo tôi trên chiếc xe gắn máy lao xuống nhà anh. Một căn nhà hẹp, số 41 nằm trên đường Trường Sơn, cư xá Bắc Hải, Q.10, Sài Gòn. Gần công viên Lê Thị Riêng.
Lúc này khách khứa cũng thưa thớt, bởi đã qua 2 ngày thăm viếng và sáng ngày hôm sau, Chủ Nhật 26-3 đã làm lễ động quan.
Chị Ngọc Long không nhận ra chúng tôi, nhưng khi nghe giới thiệu, chị thân mật, ân cần, vồn vã lắm. Chị gọi từng cậu con trai ra đọc tên các chú các bác, cho các cháu nhớ mặt kẻo sau này ra đường đỡ… đánh lộn. Sài Gòn bây giờ chuyện đó là thường, chỉ cần một cú va chạm xe sơ sơ là có chuyện rồi.
Thật ra trước kia tôi quen biết nhưng không đi lại nhiều với Ngọc Long. Những bạn của tôi là hai người anh của Ngọc Long. Đó là Từ Ngọc Bích, đã có một thời gian dài làm chủ bút báo Thế Giới Tự Do của Sở Thông Tin Hoa Kỳ USIS từ Bắc vào Nam, và danh ca Anh Ngọc – Từ Ngọc Toản. Hiện nay đều ở Mỹ.
Sơ Lược Về Cuộc Đời Ca Sĩ Ngọc Long
Ca sĩ Ngọc Long tên thật là Từ Ngọc Long, sinh năm 1928 tại Hà Nội. Anh cùng anh ruột là ca sĩ Anh Ngọc nổi danh từ giữa thập niên 50 đến những năm 70 thế kỷ trước, qua các Ðài Huế, Ðài Pháp Á và Ðài Sài Gòn.
Ngọc Long (1928-2006).
Ca sĩ Ngọc Long là một trong những ca sĩ của giai đoạn đầu tân nhạc Việt Nam. Với chất giọng nam trung ấm áp, mượt mà, tên tuổi anh gắn liền với những ca khúc: Chuyển Bến, Tà Áo Xanh, Lá Đổ Muôn Chiều của Ðoàn Chuẩn – Từ Linh; Con Thuyền Xa Bến của Lưu Bách Thụ, Dư Âm của Nguyễn Văn Tý; Hình Ảnh Một Buổi Chiều của Lâm Tuyền; Tạ Từ của Tô Vũ; Thu Hát Cho Người của Vũ Ðức Sao Biển…
Theo nhạc sĩ Lê Hoàng Long, Ngọc Long lập gia đình đầu tiên với chị Ngọc Bảo, một nữ trợ tá quân đội PAF xinh đẹp. Nhưng hơn 10 năm sau không có con nên hai người đồng ý chia tay. Lạ một điều sau khi cả hai cùng có gia đình khác thì con cái lu bù. Thôi thế cũng là một hạnh phúc tìm được cho cả hai.
Sau này anh kết duyên cùng ca sĩ Thanh Ðức, mà chúng tôi đã gặp trong tang lễ của anh.
Khi từ Huế vào Sài Gòn, ca sĩ Ngọc Long hát cho Ðài Sài Gòn. Sau đó chị Minh Trang giới thiệu nên ông Hoàng Cao Tăng mời sang hát cho Ðài Pháp Á và anh cũng cộng tác thường xuyên với Đài Quân Ðội.
Như nhiều ca kịch sĩ thời kỳ 1950-1965, ca sĩ Ngọc Long cũng chạy “xô”, thường gọi là attraction cinema với các nhạc sĩ Trọng Khương, Vũ Ngoạn, ca sĩ Vũ Huyến, Minh Hoan, kịch sĩ Hoàng Hải, Vũ Huân, Trần Văn Trạch… Tiếc rằng hồi đó chưa có phong trào thu băng đĩa rầm rộ như bây giờ nên không có một băng nhạc nào của Ngọc Long trên thị trường âm nhạc hiện nay tại Việt Nam.
Có một thời nhạc sĩ Ðoàn Chuẩn ở Hà Nội đã ký giấy ủy quyền cho Ngọc Long được bán bản quyền tác phẩm của ông tại Sài Gòn. Nhưng Ngọc Long phải ký tên Từ Linh – vì Từ Linh là đồng tác giả với Ðoàn Chuẩn. Chuyện có vẻ éo le nhưng chỉ là một cách đòi được tiền bản quyền, không bị mất trắng.
Ca sĩ Ngọc Long để lại trong ký ức những người Sài Gòn một giọng hát trầm ấm cho đến nay ít có ca sĩ nào theo kịp. Mỗi lần nghe Ngọc Long hát như đánh thức cả một quãng thời gian Sài Gòn xưa cũ.
Định cư ở Nauy một thời gian, sau khi ổn định công việc làm ăn và việc học hành cho mấy đứa con, tôi tổ chức một chuyến Âu du bằng xe hơi. Chiếc xe Ford của tôi vừa cũ kỹ vừa nhỏ, không thể nào vượt qua một chặng đường trên dưới bảy ngàn cây số, và dĩ nhiên cũng không đủ chỗ cho một gia đình lớn nhỏ tám người. Tôi mướn một cái xe mới toanh mười hai chỗ ngồi, có máy lạnh và kính mát đàng hoàng.
Tôi không muốn bất cứ điều gì làm mất cái hứng thú cho cuộc hành trình đầu tiên của chúng tôi trên những đất nước mà trước đây tôi đã từng một thời mơ ước nhưng chẳng bao giờ nghĩ là có một ngày được đi qua. Tôi và đứa con trai lớn vừa mới đủ tuổi lấy bằng lái xe thay nhau làm tài xế. Bà xã và cô con gái lớn chịu trách nhiệm xem bản đồ và theo dõi lộ trình.
Tuần lễ đầu tiên, chúng tôi rất thích thú khi đi qua những vùng đất xa lạ, mà ngày trước tôi chỉ biết mơ hồ qua sách vở. Sau một ngày, băng qua hai đất nước hiền hòa Thụy Điển, rồi Đan Mạch, chúng tôi sang Hamburg, thành phố lớn cực bắc của Tây Đức. Thời gian này nước Đức còn chia đôi, nên vừa mới đến ranh giới là không khí đã căng thẳng. Cảnh sát với súng ống đầy người, trông mặt người nào cũng đằng đằng sát khí làm tôi nhớ tới hình ảnh của Hitler trong bộ phim dài chiếu mỗi tuần trên truyền hình Nauy. Vừa mới thoát ra cảnh chiến tranh tù đày ở quê nhà, lại được định cư tại một quốc gia ban phát giải Nobel Hòa Bình, tôi không muốn phải ngộp thở trên quê hương của ông Hitler, nên sau khi qua khỏi Frankfurt, tôi rẽ sang Hòa Lan. Một đất nước nghe như huyền thoại: nằm dưới mặt nước biển trung bình, có một con đập dài nhất thế giới, cũng là một xa lộ băng qua biển. Chạy xe trên con đập này, tôi cứ ngỡ mình đang lái tàu chạy giữa biển khơi. Xứ sở của hoa tulip, với những chiếc quạt gió cùng những con kênh đào thơ mộng.
Hôm sau, chúng tôi sang Bỉ, Lục Xâm Bảo, và cuối cùng đến Pháp. Điểm đến cuối cùng cũng là nơi quan trọng nhất mà chúng tôi muốn đến. Tôi dành một nửa thời gian, hai tuần lễ còn lại, cho cái xứ sở mà lúc còn nhỏ, khi học lịch sử thì tôi thù ghét, nhưng khi học văn chương thì tôi lại mê thích nó. Nào là tháp Eiffel bên dòng sông Seine tình tự, nào là nhà thờ Notre Dame cổ kính mà tôi mơ hồ thấy trong phim Thằng Gù ở nhà thờ Đức Bà, nào là vườn Luxembourg, nơi hẹn hò của bao cặp tình nhân.
Hơn một tuần ở Paris, chúng tôi xuôi về miền Nam nước Pháp. Thành phố Nice nằm bên bờ Địa Trung Hải, gần thành phố Cannes, nơi quy tụ những tài tử điện ảnh hằng năm, và không xa đất nước Monaco với những sòng bài và những chuyện tình nóng bỏng của mấy nàng công chúa.
Mười ngày nằm trên thành phố biển này, tôi tạm quên những bất hạnh trong quá khứ và những gì đang xảy ra trên quả đất có quá nhiều phiền muộn này.
Rời Nice, chúng tôi trở lại Paris trước khi về Nauy. Trời mùa hè đang nóng, bà xã và mấy cô con gái đề nghị chạy ban đêm, vừa cho mát vừa được ngắm những thành phố rực rỡ trong ánh đèn. Nhìn trên bản đồ, tôi thấy trên đường đến thành phố Lyon, mình có thể dừng lại Grenoble rồi rẽ sang Genève của Thụy Sĩ, xem thử nơi đã cho ra đời cái hiệp định làm khốn khổ quê hương mình ra sao. Như được trở lại thời trận mạc xa xưa, tôi gọi cả bầu đoàn thê tử lại để ban bố ” lệnh hành quân”. Chúng tôi không đi theo xa lộ 85 mà chọn con tỉnh lộ nhỏ trực chỉ Grenoble. Tôi đích thân xem bản đồ hướng dẫn cho cậu con trai làm tài xế.
Rời Nice lúc 7 giờ tối. Sau hơn ba giờ từ “tuyến xuất phát”, tôi mới biết là mình đã sai lầm khi xử dụng con đường tắt này. Bởi chúng tôi bắt đầu chạy qua một khoảng rừng và những đồng lúa mì mênh mông, không thấy một bóng người. Đang mơ màng thì nhìn thấy phía đầu xe bốc khói. Tôi ra dấu cho đứa con trai dừng lại, bảo cả nhà xuống xe gấp. Khói trước xe vẫn còn bốc lên mờ mịt. Tôi tái mặt, vì bao nhiêu năm nay, từ lúc còn ở Việt Nam cũng như sang đây, ngoài việc cầm vô-lăng và đổ xăng ra tôi có biết gì về xe cộ nữa đâu. Chờ cho khói tan hết và rờ vào nắp xe thấy không còn nóng, tôi mở nắp xe lên bảo cậu con trai rọi đèn pin vào máy nhìn thử. Đến đường cùng thì làm như phản xạ tự nhiên vậy thôi, chứ tôi có biết cái gì trong máy đâu mà xem. Nhìn quanh một chặp, tôi cảm giác có điều gì lạ lạ. Cuối cùng tôi mơí phát hiện là sợi dây cu-roa không còn nữa. Nước trong bình đã bốc hơi không còn một giọt. Thấy tôi xách đèn pin trở lại, bà vợ và đám con gái đang nằm trên bờ ruộng lúa mì, ngồi bật dậy. Nghe tôi ra lệnh “đóng quân tại vị trí” vì xe hư không biết khi nào mới chạy được, bà vợ xỉ vả cho tôi một trận, bảo hèn chi ngày xưa ông đánh giặc thua là phải, đừng có đổ thừa tại tụi Mỹ nó phản bội bỏ miền Nam.
Tôi bảo đám đàn bà con gái lên xe nằm và khóa cửa lại cẩn thận, vì biết đâu khu này có thú dữ. Đàn bà coi dữ vậy chứ nhát gan, ríu rít tuân lệnh. Tôi và thằng con trai đi vòng vòng xem có nhà cửa gì không. Nhưng tất cả đều tối om, tĩnh mịch. Đến gần một giờ sáng, khi tôi đang nằm mơ màng trên ruộng lúa thì nghe có tiếng động. Dường như là tiếng của một loại động cơ nào đó, càng lúc càng gần hơn. Một lúc sau, tôi thấy có ánh đèn từ khu ruộng lúa chay ra. Một chiếc máy cày. Ai đi cày ruộng vào giờ này ? Chưa kịp tìm câu trả lời cho thắc mắc của mình, chiếc máy cày đã dừng lại trước mặt tôi. Qua ánh đèn xe, tôi thấy một người đàn ông trẻ, có lẽ là người Pháp, bước xuống tiến lại phía chúng tôi. Cử chỉ anh ta không phải là một người gian. Tôi yên tâm. Anh hỏi chúng tôi bằng tiếng Pháp, anh nói từng chữ vì sợ chúng tôi không hiểu :
– Chắc là xe các anh bị hư ? Có cần tôi giúp điều gì không ?
Lúc còn đi học, Pháp văn là sinh ngữ chính của tôi. Vậy mà lâu quá không xử dụng, nên nghe và hiểu được, còn nói thì ngập ngừng, phải phụ họa bằng tay:
– Xe tôi bị đứt dây cu-roa, khô hết nước, không chạy được nữa.
– Các anh ở tỉnh nào tới ?
– Chúng tôi từ Nauy sang, chứ không phải ở Pháp. Trên đường từ Nice về, thì xe bị hỏng.
Anh bảo bây giờ đã khuya rồi, nhà anh cũng ở gần đây, anh sẽ giúp chúng tôi kéo xe về nghỉ tạm, rồi ngày mai sẽ tính. Tôi mừng rỡ gật đầu. Anh ra dấu cho tất cả chúng tôi lên xe.
Chiếc máy cày kéo xe và chúng tôi chạy lòng vòng chỉ khoảng mười phút thì về đến nhà. Trời tối, tôi không thấy gì ngoài mấy cái nhà khá lớn nằm dưới những tàng cây. Anh đưa chúng tôi vào một gian phòng rộng, mang thêm vài tấm nệm và mấy cái mền mỏng. Một chặp sau anh lại mang vào bánh mì, phô- mát, và một ấm cà phê nóng, rồi chúc mọi người ngủ ngon.
Lạ nhà, nhưng có lẽ vì mệt quá, nên khi chúng tôi thức dậy thì trời đã sáng tự lúc nào. Kim của chiếc đồng hồ lớn treo trên tường chỉ 8 giờ 10 phút. Mở cửa sổ nhìn ra ngoài, tôi mới biết đây là một nông trại khá lớn. Chưa kịp gọi bà vợ và mấy đứa con dậy xem, thì có tiếng gõ cửa. Anh bạn trẻ tốt bụng tối hôm qua đến dắt tôi chỉ khu nhà tắm, nhà vệ sinh, rồi dặn tôi khoảng 45 phút nữa, anh sẽ trở lại đón chúng tôi ăn sáng.
Ngồi vào bàn ăn, anh giới thiệu vợ và hai đứa con nhỏ. Cô vợ khá xinh, vui vẻ, lúc nào miệng cũng cười, vừa nói vừa làm dấu với mấy đứa con gái của tôi.
– Các anh là người Việt nam ? Anh ta vừa bưng tách cà phê vừa hỏi.
– Nhưng làm sao anh biết được vì ở Bắc Âu cũng có nhiều người Tàu, người Đại Hàn, người Thái Lan và cả người Nhật nữa? Tôi không trả lời mà hỏi ngược lại anh.
– Tôi không nói được nhưng hiểu một ít tiếng Việt. Bà ngoại tôi là người Việt Nam mà. Mẹ tôi cũng sinh ra và lớn lên ở Việt Nam. Lúc còn sống bà nhớ Việt Nam lắm và thường kể cho chúng tôi nghe những thắng cảnh bên ấy. Đặc biệt, bà thường nhắc đến một thành phố có tên là Đà Lạt. Bà bảo nơi đó thật thơ mộng và có những nơi hò hẹn thật dễ thương cho những cặp tình nhân. Tội nghiệp, bà mới mất hơn hai năm nay, trong một tai nạn xe hơi cùng cô em gái duy nhất của tôi.
Ăn điểm tâm xong, anh đưa chúng tôi vào thăm phòng đọc sách. Một tấm bản đồ Việt Nam thật to treo trên vách. Anh chỉ cho chúng tôi thành phố Đà Lạt mà mẹ anh thường kể cho anh và cô em gái nghe mỗi lần bà nhớ về quê mẹ.
Càng lúc chúng tôi càng thấy gần gũi và thân thiết với gia đình anh bạn trẻ có một chút gốc gác Việt Nam này. Anh bảo vợ anh đưa chúng tôi đi thăm khu nuôi bò sữa và vắt đem về vài lít sữa tươi để chúng tôi dùng thử, trong khi anh lấy xe chạy ra phố tìm mua sợi giây cu-roa để thay cho xe chúng tôi. Mấy cô con gái của tôi rất thích thú khi được cô chủ nhà chỉ cho cách vắt sữa bò. Sau đó chúng tôi vào thăm một vườn nho.
Khi trở về, thì anh ta đã sửa xong cái xe và đang cho máy nổ thử. Thấy chúng tôi, anh cười đưa ngón tay cái lên báo hiệu là xe đã tốt. Anh tắt máy xe và giao chìa khóa lại cho tôi. Tôi chưa kịp trả tiền sợi giây cu-roa và nói lời cám ơn thì anh đã vỗ vai mời chúng tôi ở lại chơi với gia đình anh vài hôm. Anh bảo là lâu lắm anh mới gặp được những người đến từ quê ngoại. Thấy ông bà chủ hiếu khách, phong cảnh ở đây hữu tình, lại có sẵn sữa tươi và rượu nho, bà xã và mấy cô con gái cười nheo mắt nhìn tôi. Tôi hiểu ý và nói với anh là chúng tôi chỉ có thể ở lại một đêm. Trưa ngày mai chúng tôi phải lên đường.
Ăn cơm chiều xong, trời dịu mát, anh đề nghị chúng tôi đi thăm khu vườn cam nằm trên ngọn đồi. Vào vườn cam, chúng tôi có cảm giác như lạc vào một chốn thiên thai nào đó. Những hàng cam thẳng tắp, trĩu vàng những quả, mùi hoa cam toả ra thơm cả một góc trời. Giữa vườn cam là một công viên nhỏ, trồng đủ các loại hoa. Bên kia công viên, ngay giữa đỉnh đồi là khu nghĩa trang nhỏ của gia đình. Vợ chồng anh mời chúng tôi đến thăm mộ của ba má anh và cô em gái. Ba ngôi mộ xây đơn giản, nhưng lại có nét đẹp cổ kính. Trên mỗi mộ bia đều có một tấm ảnh lồng trong khung kiến. Đến trước từng ngôi mộ, tôi cung kính cúi đầu, chấp hai tay trước ngực và đọc thầm từng tên khắc đậm trên bia. Khi đọc đến tên người mẹ: JACQUELINE CUVÉRO GAULTIER – tôi bỗng giật mình. Cái tên này tôi thấy quen quen. Bà mất lúc tròn 40 tuổi. Nhìn tấm ảnh thật lâu, tôi nghĩ đến một người.
Khi về nhà, tôi ngỏ ý muốn xem những tấm ảnh lúc cha mẹ anh còn trẻ. Anh bạn chủ nhà mang đến cho chúng tôi mấy quyển album. Bà xã và mấy cô con gái thì tranh nhau xem quyển album lúc ông bà làm đám cưới và nức nở khen mấy cái áo của cô dâu. Riêng tôi dành lấy tập album cũ với những tấm ảnh đen trắng mà nhiều cái đã ngã màu vàng. Bỗng tôi lạnh người khi xem những tấm ảnh của mẹ anh thời con gái, đặc biệt là tấm ảnh có mái tóc cắt ngắn giống ca sĩ Sylvie Vartan thời cô ta đang nổi tiếng. Chẳng lẽ lại là nàng ? – Không thể nào ! Tôi lắc đầu nói thầm trong miệng.
Năm 1963, đang học lớp đệ nhất C trường Võ Tánh – Nha Trang, vốn đã học không giỏi mà tình hình chính trị lại bất ổn, cứ xuống đường biểu tình, bãi khóa, đã vậy lại còn bị một cơn bệnh ngay trước mùa thi, nhưng rồi tôi cũng may mắn được trở thành một thằng sinh viên, dù chỉ là loại sinh viên hạng bét, để khỏi phụ lòng thương yêu, lo lắng của cha tôi, suốt một đời làm gà trống nuôi con.
Khi chân ướt chân ráo vào Sài Gòn, tôi chẳng có ai quen, ngoài một bà cô họ xa, trước lấy chồng Tây. Chồng chết, bà ở với mấy đứa con mang hai dòng máu ở sau khu tiệm phở Tàu Bay, Tàu Thủy, trên đường Lý Thái Tổ. Tôi không ngờ trong khu này đa số là những gia đình có con lai Pháp, trắng có đen có, được toà đại sứ Pháp cưu mang lo lắng từ việc sinh sống tới việc học hành. Hầu hết đều mang quốc tịch Pháp và được theo học ở các trường Tây Sài Gòn, Đà Lạt. Những ngày cuối tuần tôi thường ghé lại đây chơi. Đang cô đơn ngơ ngác thì được mấy người con của bà cô họ giới thiệu cho tôi nhập bầy với đám Tây lai này. Họ cũng dễ thương và dĩ nhiên là có phong cách tây lắm. Chiều cuối tuần họ thường tụ tập để ăn uống và nhảy đầm. Anh con cả của bà cô họ tôi là trưởng nhóm, chỉ định một cô bé tóc vàng, có mái tóc ngắn và đôi mắt thật dễ thương dạy tôi nhảy đầm và cũng làm partner cho tôi khi có tiệc tùng. Nghe mọi người trong nhóm gọi cô là Sylvie Vartan, tôi cũng gọi theo, nhưng biết vì khuôn mặt và mái tóc của cô giống người ca sĩ Pháp đang được ái mộ này nên bè bạn gọi đùa, chứ đó không phải là tên thật của cô.
Sylvie Vartan
Vừa gốc nhà quê, tiền bạc thiếu thốn, tôi ngại, nên chỉ thỉnh thoảng mới nhận lời tháp tùng ông anh. Đi chơi với nhóm được sáu, bảy lần gì đó, thì tôi vào quân trường Thủ Đức. Hôm lễ gắn alpha, thấy anh em mời thân nhân bạn bè nhiều quá, tôi cũng tủi thân. Gia đình tôi và một số bạn bè thân ở tận Nha Trang, còn ở Sài Gòn này thì tôi tứ cố vô thân. Cuối cùng tôi nghĩ đến ba người con lai Tây của bà cô họ và mời họ đến dự lễ gắn alpha, rồi sau đó cùng đi dự tiệc với tôi. Hôm ấy cả ba người đều đến và còn dẫn theo nàng con gái Sylvie Vartan. Họ rất thích thú với khung cảnh quân trường và sinh hoạt của lính. Ai cũng chụp chung với tôi một tấm ảnh có mang cầu đai alpha.
Sau đó, trong những lần về phép ngắn ngủi, tôi cũng có ghé thăm họ một đôi lần. Đêm ra trường, họ cũng đến dự. Sau đó đưa tôi về Sài Gòn, họ làm một buổi tiệc chia tay tôi, và lần này tổ chức tại nhà cô gái có tên Sylvie Vartan. Gia đình cô không ở trong khu Lý Thái Tổ mà có một biệt thự riêng, khá xinh, nằm trên một con hẻm lớn trên Tân Định.
Tôi không gặp ai trong gia đình của cô hôm ấy, chỉ xem tấm ảnh người cha ruột của cô chụp với mẹ cô khi còn rất trẻ, và cả tấm ảnh chụp gia đình cô bây giờ, với ông cha Việt Nam, một người em gái cũng lai Tây như cô và hai người em nhỏ cùng mẹ khác cha. Mẹ cô có nhan sắc, nên ông chồng mới sau này thuộc lọai nhà giàu. Tôi nghĩ như thế.
Tới hơn hai giờ sáng tiệc mới tàn. Khi nói lời chia tay, không hiểu vì xa họ không biết khi nào gặp lại hay vì nghĩ đến đời lính chiến nay mai trên rừng núi cao nguyên mà tôi chạnh lòng, muốn khóc. Nàng cũng nhìn tôi nghẹn ngào. Khi mọi người đi tìm áo khoác và mang giày, nàng kéo tôi ra phía sau, tặng tôi một tấm ảnh, rồi bất ngờ hôn tôi trên má.
Ngồi trên máy bay ra trình diện đơn vị, bất chợt nhớ đến nàng, tôi mở xách tay ra tìm tấm ảnh. Nàng có mái tóc thật dễ thương, nhìn kỹ đúng là giống cô ca sĩ Sylvie Vartan. Sau tấm ảnh nàng viết một câu ngắn ngủi “À toi, avec tout mon coeur.” Phía dưới cô cũng chỉ ký là Sylvie Vartan, cái tên mà bọn tôi đặt để thường gọi đùa với cô.
Nhớ tới nụ hôn bất ngờ tối hôm qua, tôi đưa tay lên sờ má, thấy vẫn còn thoang thoảng một mùi hương. Tôi mỉm cười và nói thầm một mình : Đúng là lãng mạn như Tây.
Tôi ra đơn vị đúng vào lúc chiến trưòng cao nguyên bắt đầu sôi động, cùng lúc nhóm người Thượng Fulro nổi loạn, giết một số sĩ quan, viên chức hành chánh người Kinh, chiếm một vài nơi, đặc biệt là tỉnh Quảng Đức và một vài quận lỵ. Đơn vị tôi đang tiếp viện cho chiến trường Quảng Nhiêu còn mịt mờ lửa đạn ở bắc Ban Mê Thuột thì được lệnh di chuyển về phi trường Phụng Dực, xử dụng máy bay dân sự của hàng không Việt Nam để đáp xuống Nhơn Cơ, một phi trường bỏ hoang nằm cách tỉnh lỵ Quảng Đức khoảng ba mươi cây số, do một đơn vị Lực Lượng Đặc Biệt mũ xanh của ta kiểm soát. Thằng trung đội trưởng mới ra trường như tôi làm sao có khả năng để ứng phó với một chiến trường nửa ta nửa địch, mà trong sách vở quân trường không hề nói tới. Lòng tôi thật băn khoăn. Nhưng cuối cùng thì mục tiêu cuộc hành quân Dân Thắng này cũng đạt được. Đơn vị tôi không hề tốn một viên đạn. Mấy lãnh tụ người Thượng thấy quân chủ lực bao vây bốn hướng, cộng với lời thuyết phục tài ba của vị chỉ huy nào đó, đã ra lệnh cho những lực lượng người Thượng buông súng.
Nằm trong cái tỉnh khỉ ho cò gáy mà dân chúng sống rải rác trong các buôn làng hầu hết là người Thượng, mấy thằng lính trẻ như tôi chỉ có buồn muốn khóc. Ai cũng mong sớm chuyển đi tỉnh khác Vậy mà riêng tiểu đoàn của tôi được lệnh nằm lại đây để giữ an ninh cho dinh điền Đạo Nghĩa nằm trong một thung lũng gần biên giới Cam Bốt. Một trong những dinh điền do tổng thống Ngô đình Diệm sáng lập vừa để thu hút di dân sau 1954, vừa là một trọng điểm chiến lược.
Ra trường đã hơn hai năm. Đời lính cao nguyên thật là vất vả và buồn. Nhiều lúc nằm giữa rừng già, nghe tiếng chim kêu vượn hú, tôi thường chạnh lòng nhớ tới thời còn đi học, và khuôn mặt những người quen. Đôi khi tôi cũng chợt nhớ tới cô con gái lai Tây và lấy tấm ảnh ra xem. Đến bây giờ tôi cũng không biết tên thật của nàng. Mà biết để làm gì. Vì giữa nàng với tôi là cả một thế giới cách biệt. Tôi, một thằng lính trận, gốc gác nhà nghèo, không biết sống chết ra sao. Còn nàng lại là một cô con gái lai Tây, xinh đẹp và quí phái. Nàng quen với tôi, thích tôi một chút, cũng là cái thích lãng mạn của một tiểu thư sống trong thành phố lâu ngày được bất ngờ ra thăm một vùng dân giả, thế thôi.
Ở Quảng Đức gần hai năm, đánh nhau một vài trận, tôi được mấy cái huy chương rồi lên làm đại đội trưởng. Trong mấy thằng đại đội trưởng, tôi là thằng trẻ nhất, và cũng nghèo kinh nghiệm chiến trường nhất. “Ra trường gần hai năm rồi mà trông mày vẫn cứ như thư sinh”. Ông tiểu đoàn trưởng bảo tôi như thế trước khi cho tôi dẫn đại đội “solo” xuống núi biệt phái cho Tiểu khu Lâm Đồng
Đoàn xe chở đại đội tôi vừa vào ranh giới Lâm Đồng, tôi nhận lệnh ông tiểu khu trưởng, trực chỉ đến khu cầu Đại Nga để giữ an ninh cho công binh làm lại mấy cây cầu trên quốc lộ 20, từ Sài Gòn chạy lên Đà Lạt, vừa bị VC giựt sập hai đêm trước.
Đến vị trí, tôi phối hợp với một đại đội địa phương quân đã có mặt tại chỗ và một đơn vị công binh mới từ Đà Lạt xuống, bố trí quân theo nhu cầu. Riêng ban chỉ huy đại đội cùng trung đội vũ khí nặng nằm trên một đồn điền trà có cao độ tốt cho việc phòng thủ và yểm trợ hỏa lực. Phía duới khu đồn điền này là cầu Đại Ngà, cây cầu dài nhất vừa bị phá hoại.
Sau khi công binh làm xong mấy cái cầu tạm, lưu thông họat động trở lại. Do ứ động mấy hôm trước, nên ngày đầu tiên có khá nhiều xe đò từ Sài Gòn chạy lên Đà Lạt. Hơn nữa bây giờ đang là mùa hè, người Sài Gòn rủ nhau lên Đà Lạt nghỉ mát. Để bảo đảm an ninh, trước khi xe chạy vào khu quân sự, đều phải dừng lại, tất cả hành khách xuống xe để được kiểm soát giấy tờ. Trạm kiểm soát là một căn nhà bằng ván do công binh vừa mới dựng lên, toán quân báo của đại đội tôi phối họp cùng với ba nhân viên cảnh sát đảm trách. Mỗi ngày tôi lái xe đi kiểm tra các cây cầu và thường ghé lại ngồi nghỉ trong trạm kiểm soát này.
Buổi chiều, trời vừa tắt nắng, tôi định trở về vị trí đóng quân, thì một đoàn xe đò chạy tới. “Có lẽ đây là mấy cái xe cuối cùng từ Sàigon lên”. Anh cảnh sát bảo với tôi như thế. Trong số những hành khách xuống xe bước qua cái cổng chắn làm bằng kẻm gai dã chiến, tôi để ý tới một cô gái tóc vàng, mặc một cái jupe màu vàng sậm. Khi cô móc ví lấy giấy tờ, ngước mặt lên nhìn anh cảnh sát, tôi thấy thật quen và vội chạy ra
– À, cô Sylvie Vartan, cô lên đây làm gì ?
Tôi hỏi bất ngờ, rồi quay sang bảo anh cảnh sát: cô này là người nhà của tôi. Anh cảnh sát trao lại cho tôi tấm thẻ căn cước bằng tiếng tây mà anh chưa kịp hiểu.
Cô nhìn tôi cười rạng rỡ:
– Anh là anh Ninh, phải không? Mấy năm rồi tụi mình không gặp. Em lên Đà Lạt đón cô em về Sài Gòn nghỉ hè. Nó học trên Lycée Domaine de Marie
– Tôi đóng quân trong đồn điền trà nằm trên đồi cao kia. -Tôi vừa nói vừa chỉ tay về hướng đồn điền -. Đẹp lắm, và ông chủ hình như cũng là người Pháp. Mời cô ghé lại chỗ tôi chơi. Tôi sẽ đón chuyến xe sau gởi cô về Đà Lạt.
Cô ngần ngừ một chút rồi gật đầu. Tôi đưa cô lại xe lấy túi hành lý và nói với anh tài xế:
– Cô này là người nhà của tôi, cô ở lại đây chơi với tôi rồi lên Đà Lạt sau.
Anh tài xế trẻ, nhìn tôi nhoẻn miệng cười.
Tối hôm ấy nàng ở lại với tôi. Có lẽ nàng cũng biết là chuyến xe của nàng là chuyến cuối cùng. Chẳng còn có chuyến sau nào để tôi gởi nàng lên Đà Lạt, như lúc tôi hăm hở nói với nàng, mà không biết là mình đang nói dối.
Giữa cảnh núi rừng, nàng đẹp rực rỡ như một bông hoa. Không biết nàng đã nói gì vơí ông chủ người tây, ông dành riêng cho cô một phòng ngủ và mời chúng tôi dùng bữa cơm chiều với ông. Bữa cơm đầy đủ hương vị tây, mà chai rượu chát ông khoe đã gởi mua từ bên Pháp. Sau bữa cơm, tôi đưa nàng đi dạo trong đồn điền trà.
Bây giờ đang là mùa hè, bầu trời trong vắt, ánh trăng tỏa vàng xuống cả một đồi trà. Đêm cao nguyên trời bắt đầu lành lạnh, thơ mộng như một muà thu. Chúng tôi nắm tay nhau bước tung tăng dưới ánh trăng, nghe từng nhịp đâp của trái tim giữa một vùng đất trời tĩnh mịch. Nàng kể cho tôi nghe về một ước mơ của nàng: muốn có lần trở về quê cha, thăm ngôi mộ của người và bà nội già còn đang sống ở đó với mấy người cô. Quê nội nàng đẹp lắm lại là một đất nước với nhiều thi ca lãng mạn. Chúng tôi đã xuống cuối chân đồi, nghe tiếng nước chảy từ một con suối nhỏ. Nàng bảo tôi dừng lại và dìu tôi đến ngồi xuống một bãi cỏ. Bên kia con suối là một cánh đồng cỏ rộng mênh mông
– Anh có thấy gì lạ không ?
Tôi đang ngơ ngác, thì nàng chỉ cho tôi mấy hàng cây bên kia bờ suối
– Bây giờ là mùa hè, mà sao có nhiều lá vàng đang rơi. Anh không thấy sao?
Nàng âu yếm dựa sát vào tôi và hỏi tôi có biết bài thơ Les feuilles mortes của Jacques Prevert không ?
– Lúc học Littérature Francaise, anh có học, nhưng lâu quá, anh chỉ còn nhớ một đôi câu. Bài thơ thật hay và cảm động.
Tôi đã đổi cách xưng hô tự lúc nào không biết.
Nàng cất tiếng khe khẽ hát bài thơ Les Feuilles Mortes được phổ nhạc. Hát xong bài hát nàng chậm rãi đọc lại mấy câu :
Mais la vie sépare ceux qui s’aiment Tout doucement, sans faire de bruit Et “le vent” efface sur la “plaine” Les pas des amants désunis. (1)
Tôi hỏi sao nàng dám đổi lời một bài thơ hay của tác giả. Nàng không trả lời mà ôm tôi hôn thật lâu. Trong say mê tôi cảm thấy có cái gì lành lạnh trên gò má. Tôi sờ tay lên mân mê: nước mắt.
Nàng ôm tôi ngồi khóc, nàng bảo là nàng có nhiều bạn bè, nhưng nàng có cảm tình thật nhiều với tôi từ khi nhìn tôi mặc áo lính. Nàng thấy ở tôi có cái gì khác lạ so với mọi chàng trai lai Pháp mà nàng quen. Và cũng ở nơi tôi nàng được thấy lại hình ảnh của cha nàng. Cũng làm lính cả một thời trai trẻ, rời quê hương, rồi chết sớm ở xứ người bỏ laị mẹ và hai chị em nàng.“Những người con gái mang hai dòng máu. Buồn lắm phải không anh ?” mấy lần nàng hỏi tôi như thế.
Đêm hôm ấy nàng không ngủ trong căn phòng sang trọng mà ông chủ đồn điền đã dành sẵn cho nàng. Nàng ra ngồi trong căn lều phủ poncho của tôi cùng uống trà tươi mà tâm sự thâu đêm. Nàng rủ tôi ngày mai cùng nàng lên Đà Lạt vài ngày để nàng làm thủ tục đón cô em gái về và đưa nàng đi thăm các thắng cảnh thơ mộng ở đây.
Sáng hôm sau, tôi lên máy gọi về trung tâm hành quân tiểu khu Lâm Đồng gặp ông Tham Mưu Trưởng, xin ông cho ba ngày phép và được xử dụng chiếc xe jeep của Tiểu Khu biệt phái, đón người vợ sắp cưới vừa mới lên Đà Lạt. Tôi tả oán thêm là cả một năm nay, phải tham dự nhiều cuộc hành quân, nên hai đứa chưa được gặp nhau. Ông Tham Mưu Trưởng tốt bụng, vui vẻ chấp thuận, và dặn dò tôi phải bàn giao công việc thật kỹ càng cho anh đại đội phó.
Ba ngày ở Đà Lạt là ba ngày thần tiên nhất trong đời lính của tôi. Sau khi đưa nàng đến trường thăm cô em gái và làm một số thủ tục cần thiết, chúng tôi lấy phòng ở khách sạn Palace nằm trên một ngọn đồi cao gần hồ Xuân Hương và cách khu phố Hòa Bình không xa lắm. Ban ngày chúng tôi đi tắm ở thác Cam Ly, thăm hồ Than Thở, cởi ngựa ở sân Cù, bơi thuyền trên hồ Xuân Hương. Buổi tối đi ăn bê thui, uống rượu vang, rồi ra nhà Thủy Tạ ngồi tâm tình đến khuya. Ngày hôm sau, chúng tôi rời thành phố. Sau khi thuởng thức cà phê Tùng, chúng tôi chạy về hướng thác Prenn. Nàng chỉ đường cho tôi tìm đến một hotel nằm trên núi, ông chủ cũng là một người Tây. Lấy phòng và gởi hành lý xong, chúng tôi đi bộ xuống thác Prenn, nằm không xa phía dưới. Nàng kéo tôi xuống tắm dưới dòng thác.
(thác Prenn)
Hai đứa ôm nhau trong cái lạnh của nước từ trên núi cao đổ xuống. Nàng dắt tôi chạy vào khu rừng phía sau để đùa với mấy con khỉ, con gấu và cả một con cọp nữa trong vườn bách thú. Rồi nàng đi trốn, giả vờ làm nàng Jane mắc nạn để bắt tôi làm Tarzan đi cứu. Nàng hò la và ôm tôi cười vang cả một khu rừng.
Trong ba ngày, nàng đã cho tôi tất cả những gì hạnh phúc nhất mà không đòi hỏi ở tôi bất cứ một điều gì. Hôm cuối cùng, tôi đưa nàng trở lại trường Domaine De Marie để gặp lại em nàng. Ngồi trên xe, nàng trầm ngâm không nói một lời. Đến cổng trường, nàng bảo tôi dừng lại. Nàng hôn tôi thật lâu. Tôi nghe tiếng nàng khóc. Tôi định nói một lời gì đó, nhưng nàng lấy một ngón tay để trên miệng tôi, không cho tôi nói, rồi bảo tôi ngồi yên trên xe chờ nàng. Hơn hai mươi phút sau nàng chạy ra, cầm tay tôi và trao cho tôi một tờ giấy nhỏ, rồi vụt chạy vào phía sau trường. Trên mảnh giấy nàng viết vội vàng bằng tiếng Việt.: “Xin cám ơn và tạm biệt anh ở đây. Em và đứa em của em sẽ về Sàigòn vào sáng sớm ngày mai. Anh hãy trở lại đơn vị, đừng chờ và cũng đừng tìm em nữa. Rồi có lúc nào đó và ở một nơi nào đó, mình sẽ gặp lại nhau. Hôn anh.”
Tôi vội vàng bước xuống xe, chưa biết gọi nàng bằng tên gì, thì nàng đã mất hút phía sau trường. Tôi ngồi trên xe nhìn thẫn thờ vào khu trường. Tất cả đều vắng lặng, chỉ nghe một vài tiếng lá rơi từ những hàng cây đứng chơ vơ im lìm trước cổng.
Tôi trở lại nhà Thủy Tạ, tìm lại bóng dáng và mùi hương của nàng. Buổi trưa, bốn bề yên lặng. Một con chim lạ, có dáng của một con hải âu, đậu xuống con thuyền bơi phía trước, kêu vài tiếng, vụt cánh bay sà xuống mặt hồ, rồi biến mất trong rừng thông. Cả một khung trời Đà Lạt nhạt nhòa trong nước mắt. Tôi không biết mình đã khóc tự bao giờ.
Tôi lái xe trở về đơn vị mang theo một nỗi buồn kỳ lạ, dường như trong lòng chỉ còn là một khoảng trống bao la.
Suốt đêm hôm ấy, tôi lang thang trong đồi trà, ngồi một mình bên bờ con suối nhỏ, nhìn mấy chiếc lá vàng rơi xuống và trôi theo dòng nước, bàng bạc dưới ánh trăng. Nửa đêm tôi trở về căn lều cũ, đun đầy một ấm trà tươi mà không uống.
Tôi ngủ vùi từ lúc nào không biết. Thức giấc, mặt trời đã lên cao. Tôi vội vã xách xe chạy xuống trạm kiểm soát. Ngồi suốt cả ngày hôm ấy, tôi vẫn không tìm thấy bóng dáng của nàng.
Hai ngày sau, khi thay bộ đồ trận ra giặt, thò tay vào túi áo lấy mọi thứ ra, bất ngờ tôi thấy tấm thẻ căn cước của nàng, viết bằng tiếng Pháp do tòa đại sứ cấp. Tôi nhớ anh cảnh sát đã giao tấm thẻ này cho tôi hôm ở trạm kiểm soát và tôi đã quên trả lại cho nàng. Đến bây giờ tôi mới biết được tên thật của nàng: Jacqueline Cuvéro.
May mắn trong tấm căn cước có cả địa chỉ. Tôi gởi trả lại nàng tấm thẻ căn cước, viết kèm theo bốn câu thơ trong bài thơ Les feuilles mortes mà nàng yêu thích.
Les feuilles mortes se ramassent à la pelle Les souvenirs et les regrets aussi Mais mon amour silencieux et fidèle Sourit toujours et remercie la vie (2)
Tôi phập phồng chờ thư hồi âm, nhưng không thấy. Tôi viết thêm vài cái thư nữa cho nàng nhưng tất cả đều biệt vô âm tín. Ba tháng sau tôi xin bảy ngày phép thường niên về Sài Gòn. Trước khi tìm đến nhà nàng, tôi trở lại khu đường Lý Thái Tổ thăm gia đình bà cô và rủ người anh họ cùng đi. Anh bảo là nàng cùng cô em gái đã về định cư bên Pháp hơn hai tháng nay. Không biết khi nào mới trở lại Việt nam.
Tôi lang thang ở Sài Gòn hai ngày thì lấy xe đò về Nha Trang để thăm cha tôi. Nhưng ngày nào tôi cũng đi lang thang trên bờ biển, nhìn sóng đổ vào bờ cuốn theo tất cả mọi dấu chân mình trên cát, và nhớ đến nàng.
Tôi trở lại đơn vị, đúng vào lúc đại đội tôi nhận lệnh rời khỏi Lâm Đồng để di chuyển về Phan Thiết, tăng phái cho Tiểu khu Bình Thuận, hành quân phối hợp với một đơn vị thiết kỵ của Hoa Kỳ vừa mới đến Việt Nam, giải toả mật khu Lê Hồng Phong.
Kể từ ngày ấy, trên bảng tên may trên nắp áo lính, ngay phía dưới tên tôi, có thêu một chữ nhỏ : Jacqueline, màu vàng. Mấy chú lính bảo sao tôi lại có tên con gái. Tôi giả vờ : tại vì tớ ái mộ bà vợ của tổng thống Kennedy.
****
Sáng ngày mai gia đình chúng tôi phải rời nông trại GAULTIER thơ mộng này để trở về Nauy. Vợ chồng anh chủ nhà cùng mấy cô con gái của tôi đang rượt bắt mấy con gà Tây. Anh muốn đãi chúng tôi một bữa ăn Tây truyền thống. Tôi đi lang thang khắp nơi trong khu nông trại, như để cố tìm ra những dấu tích của nàng.
Buổi chiều, khi bà xã và mấy đứa con đang ngồi ở phòng khách, say mê theo dõi một cuốn phim trên truyền hình, tôi một mình lặng lẽ ra vườn cam, rồi vào khu nghĩa địa.
Tôi ngồi trước mộ nàng rất lâu, hình dung lại hình ảnh của nàng trong những ngày cùng tôi trên đồn điền trà ở bên cây cầu Đại Ngà và tung tăng khắp nơi ở bờ hồ, thác Prenn và trong rừng thông Đà Lạt.
Một cơn gió xào xạc, mấy chiếc lá vàng trên tàng cây chầm chậm rơi xuống mộ nàng.
Tôi đưa tay sờ tấm ảnh nàng trên mộ bia, nói thì thầm trong gió :
Et la chanson que tu me chantais Toujours, toujours je l’entendrai. ! (Và bài hát mà em đã hát cho anh nghe Mãi mãi, mãi mãi, anh vẫn còn đang nghe đây!)
Phạm Tín An Ninh (Mùa hè 1988)
(1) tạm dịch ra Việt ngữ:
(Nhưng cuộc đời thường ngăn cách những kẻ yêu nhau Bằng tất cả im lìm lặng lẽ Rồi “gió” sẽ xóa di trên “ cánh đồng cỏ” này Mọi buớc chân của đôi tình nhân bị chia lìa)
(2)
(Những chiếc lá khô bị gom vào chiếc xẻng Cả những kỷ niệm và tiếc nuối Nhưng tình yêu lặng lẽ và trung thành của tôi Sẽ luôn mỉm cười và xin cám ơn cuộc đời)
Câu chuyện đùa của Úc thường có phảng phất mùi phân biệt chủng tộc, kỳ thị về văn hóa nên bà con mình có định kiến cho rằng Úc trắng kỳ thị Úc đen.
Nhưng Úc đen cũng bị dân da vàng mũi tẹt, mắt hí, nhứt là mấy chú thiếm ba Tàu kỳ thị cũng không thua gì bị Úc trắng.
Mới năm rồi nè! Một công ty Trung quốc đã đưa ra lời xin lỗi về một đoạn quảng cáo bột giặt.
Trong đoạn quảng cáo đó, một á xẩm ném một chú da đen, đen như cột nhà cháy, tóc quăn tít hè, quần áo dính đầy sơn vào máy giặt.
Máy quay ro ro rồi ‘xì tốp’, tay da đen này chui ra, sạch sẽ tinh tươm, màu da vàng nhạt y như một chú Ba ở Bắc Kinh vậy. Bột giặt tốt hết biết!
Sợ các nước khác chê là giờ đã khá giàu mà Tàu lại kém văn minh, nên cũng có bà con Ba Tàu khác cự nự, đòi tẩy chay cái hãng bột giặt lếu láo này.
Sợ sập tiệm, chú Ba chủ hãng phải đành xin lỗi là: “Từ rày về sau ngộ không dám quảng cáo ngu như vậy nữa!”
Mấy ngàn năm nay Trung Hoa cứ tự xưng mình là thiên triều, nằm ngay chóc chính giữa, còn các nước chung quanh đều là man di mọi rợ hết ráo hè.
Cái máu kỳ thị, coi thường dân tộc khác hình như lậm cũng hơi lâu và hơi sâu rồi đó!
Trong gia đình thì trọng nam khinh nữ: Nhất nam viết hữu thập nữ viết vô.
Hồi Mao Trạch Ðông cấm đẻ nhiều, chỉ cho một đứa. Thì chú Ba và ngay cả thiếm Ba đều muốn có con trai để nối dõi tông đường, cúng giỗ hàng năm, hồn mới có cái mà ăn, chớ ở địa ngục a tỳ bị quỷ sứ bỏ đói dài dài hè!
Hậu quả là ngày nay, chim nhiều bướm ít thì đại loạn trong và ngoài nước để giành gái thì chiến tranh tất yếu sẽ xảy ra, đe dọa đến cái tồn vong của chế độ CS Tàu cho mà coi.
Mà khi nói chuyện chim và bướm, tui xin kể bà con nghe câu chuyện này nè:
Tại phòng mạch của một bác sĩ tâm lý nổi tiếng, có ba bà mẹ dắt theo ba đứa con ngồi chờ.
“Chào bác sĩ! Ðây là con gái tôi tên Hồng.”
Bác sĩ tâm lý: “Ồ! nếu tôi đoán không lầm thì bà là một con người tình tứ. Yêu màu hồng, thích bông hồng, thích mân mê bông hồng cho đã, rồi đem ép vào trang giấy!
“Ôi! “Ðúng là bác sĩ tâm lý mà! Quả có vậy!”
Người mẹ thứ nhì: “Thưa bác sĩ, và đây là con gái tôi, tên Phượng!”
“Ồ! Nếu tôi đoán không lầm thì bà đây chắc hẳn bà yêu hoa phượng lắm. Khi còn là tuổi học trò trong trắng, chắc chắn bà đã mân mê hoa phượng cho đã rồi đem ép vào trang giấy!
“Ôi! Ðúng là bác sĩ tâm lý mà! Quả có vậy!”
Tới phiên người đàn bà thứ ba sắp được tiếp chuyện cùng bác sĩ tâm lý, bỗng bà hớt hải đứng dậy và nói cùng đứa con trai của bà: “Thôi! Ði, đi về….Cu, mau lên Cu, mình đi về!”
Bài học rút ra từ câu chuyện này là anh nào hân hạnh được Má đặt tên Cu thì đừng có buồn duyên tủi phận, khóc hu hu sao cái tên của mình ‘đen’ quá?
Nó ngang hàng với tên Hồng, tên Phượng là tên các loài hoa vương giả đó nha!
Tuy vậy cũng đừng có quá tự cao tự đại, ỷ mình là nam nhi chi chí, là đấng trượng phu đường đường một đống, coi thường bọn nữ nhi tay yếu chân mềm, không có ‘con’ đó chỉ có cái (họng) là rộng, vì hở cái là khóc hè!
Em giận quá về nhà khóc hu hu méc má! Không biết Má em nói cái gì mà hôm sau vào lớp em trả đũa rằng: “Anh có ‘con’ mà em không có, còn em có ‘cái’ mà anh lại không có. Em đã có ‘cái’ thì em muốn có mấy ‘con’ cũng được hết á!”
***
Thưa tiếng Pháp là một ngôn ngữ kỳ quái vì nó bị cái giới tính ám ảnh, phải giống cái (féminin) hoặc giống đực (masculin).
Vật vô tri vô giác như cái bàn, cái ghế mà cũng đem đực cái vô đây chi hỡi ‘Mông xừ Victor Hugo’?
Việt Nam mình xui cái là thuộc địa của thằng Tây tới cả trăm năm nên dù muốn ít nhiều cũng phải chịu ảnh hưởng nền văn hóa của nó, chớ chạy đi đâu cho khỏi?
Nghe nói: Tây nó sợ vợ, nó ‘’galant’’ lắm, tức là nịnh đầm lắm. Hỏi không sợ thì việc gì phải nịnh chớ? Ngay cả mấy ông Cử nhà mình hồi trào Tây cũng nịnh nữa là.
Thế nên nhà thơ Trần Tế Xương mới có hai câu thơ đối nhau chan chát là: “Trên ghế, bà đầm ngoi đít vịt, Dưới sân, ông Cử ngẩng đầu rồng”
Tui tâm đắc, thán phục nhà thơ sát đất khi đối ‘’ngoi đít vịt’’ và ‘’ngẩng đầu rồng’’ với nhau. He he!
Kết luận: Tây là một dân tộc đầy mâu thuẫn. Vừa sợ đàn bà, mà vừa phân biệt giới tính.
Thì cũng như xã hội Việt Nam mình hồi tui còn mặc quần thủng đáy vậy thôi!
Chắc do mình chịu ảnh hưởng xấu từ hai nền văn hóa phong kiến và thực dân nó trộn lẫn với nhau. Chịu ảnh hưởng của Tàu là nam nữ thọ thọ bất thân. (Chơi vậy thì làm sao có con nít hè?)
Rồi cổng tam quan của đình chùa, miếu mạo nào cũng chia làm hai rạch ròi bên Thiện nam bên Tín nữ.
Ði ăn giỗ quảy, đám tiệc gì đó là phải ngồi riêng. Bàn thượng hạng là dành cho mấy ông. Còn bàn gần bếp dành cho mấy bà, để tiện việc chạy lên chạy xuống tiếp đồ nhậu cho chàng đang cầm ly, ngồi nói dóc.
Xa quê, tưởng rằng cái hủ tục trong nam khinh nữ đó đã bị bỏ lại quê nhà rồi chớ. Qua đây tui tắm gội bằng xà bông Dove để gội sạch cái văn hóa trọng nam khinh nữ. Giờ là sạch bong rồi.
Tui với em yêu là: “Em ơi em à!” Cần là năn nỉ gãy lưỡi chớ đâu có ngang tàng hống hách như xưa: ‘’Lợi đây cho tui biểu chút coi!’’
Nhưng những sắc tộc di dân khác, nhứt là từ Phi Châu tới, hình như không chịu đổi.
Dân Phi Châu theo Hồi giáo ở đây đi đám cưới là riêng lẻ hết. Ðàn bà là đàn bà, đàn ông là đàn ông. Chỗ đàn bà ngồi nhiều chuyện là không có đàn ông, chỗ đàn ông ngồi lo chuyện trên trời dưới đất là không có đàn bà.
Ðàn ông thuộc về đẳng cấp cao hơn, cho dù lùn hơn con vợ mình cả tấc chăng đi nữa!
Chuyện rằng: Bay đi Afghanistan để nghiên cứu về văn hóa của đất nước đang chiến tranh ly loạn này, một nữ phóng viên phương Tây kinh ngạc khi thấy đàn bà ra đường bao giờ cũng phải đi sau đức ông chồng của mình 10 bước chân.
Hỏi lý do tại sao thì hướng dẫn viên trả lời: Phụ nữ đi sau đàn ông vì giai tầng trong xã hội vợ phải thấp hơn chồng.
Cô phóng viên chiến trường về, viết bài phê phán dữ dội sự bất bình đẳng về giới tính nam nữ ở Afghanistan. Bài viết được trang trọng đi trên trang nhứt và gây tiếng vang toàn thế giới nên em rất lấy làm khoái chí.
Một năm sau, em quay trở lại đất nước đầy bạo lực này để làm phóng sự thì ngạc nhiên thay khi thấy người vợ giờ ra đường lại đi trước đức ông chồng của mình tới 10 bước.
Nhưng không phải do bài báo phê phán của em mà xã hội Afghanistan thay đổi đâu mà vội mừng.
Phụ nữ Afghanistan giờ đi trước đàn ông? Tại sao ư? Tại vì đàn ông sợ trúng mìn bẫy!
***
Thưa bà con huyền thoại cho rằng: Từ cát bụi, Thượng Ðế nắn ra một người đàn ông đặt tên là Adam! Cu ky một mình trong vườn Ðịa đàng, không có ai bầu bạn, để cãi lộn cho vui.”Ðời tui cô đơn, thân tui… quá cô đơn.”
Thượng đế nghe vậy cũng tỏ lòng thương cảm: Muốn là chìu. Nên thừa lúc Adam ngủ say, Thượng Ðế bèn lấy xương sườn của Adam và tạo ra một người nữ, đặt tên là Eva, đưa đến bầu bạn với Adam.
Adam khoái quá xá, dõng dạc tuyên bố là: “Xương của Eva là xương của tui, thịt của Eva là thịt của tui. Cả thân xác đó đều từ tui mà ra… nên tui sẽ làm cha!” Ha ha!
Ðây chỉ là một truyền thuyết thôi nhưng mấy ông anh mình hay vịn vào cái này để mà ăn hiếp vợ nhà. Bậy bạ quá! Tui là hổng có cái vụ đó rồi vì tui không dám. Em yêu ăn hiếp tui thì có.
Lời khuyên của tui dành cho ông anh nào ủng hộ cái bất bình đẳng về giới tính, chỗ của đàn bà là trong bếp, thì phải luôn luôn dòm chừng phía sau lưng của mình. Vì trong bếp còn có chứa mấy con dao. Dao phay, dao chặt thịt… Cái nào cũng bén ngót hè…
Thôi xếp bướm trên chim đi cho nó phẻ nhe mấy anh!
Em lấy chồng. Bị tai nạn, em mới vừa hai mươi. Tôi nghe bạn em nói: Mi ăn gian, dám qua mặt ông anh để nhanh chân chạy đi tìm hạnh phúc mình ên. Em có hai cô bạn thân, Phạm và Nguyễn, cả hai vẫn còn kén cá chọn canh. Phạm quay sang tôi, giọng đùa cợt: Hồi nào tụi em mới được uống chút rịu nồng anh rót cho? Tôi trả lời: Không dám đâu! Chữ này vay mượn từ mấy cô, vẫn thường nghe mấy cô ưa dùng. Ngay cả em cũng vậy, lý ra em nên áp dụng “không dám đâu” trong trường hợp này. Đúng là em đã “ăn gian”, chưa gì tôi nghe hụt hẫng khi nghĩ tới chữ mình ên. Em ở với tôi trong một căn hộ 4 rưỡi có hai phòng ngủ. Tôi đi cày quần quật, lương lậu dùng chi trả mọi thứ. Em cùng hai người bạn vẫn giữ một lập luận khó bề lay chuyển: Đàn ông con trai mà, lưng dài vai rộng nên ra án ở tuyến đầu khói lửa, đàn bà con gái chân yếu tay mềm ở hậu phương chỉ cậy nhờ có bấy nhiêu thôi. Nguyễn thì thắc mắc, cả hai khác họ, chắc không mắc mớ tới ruột thịt, vậy thì liên hệ anh em này nên hiểu là sao? Tôi biểu em làm phát ngôn viên, so ra đứa mồm năm miệng mười là em chứ lời tôi phân trần thì chẳng thuyết phục được một ai, bà con thêm dị nghị. Em lên giọng: Nhiều chuyện quá, nói đã nhiều lần mà bạn bè chẳng chịu nhập tâm. Cứ đa nghi tới bốn chữ “anh em kết nghĩa” là sao?
Chạy xấc bấc xang bang qua được tới chốn đây bọn tôi đều ra đi mạng không. Không tài sản, không gia đình, không tổ quốc. Vì lỡ ba không nên có thêm bốn không cũng chẳng lấy đó làm điều. Đám cưới em không việc gì mà làm rình rang cho tốn kém. Chỉ gửi email, chỉ điện thoại, chỉ nhắn miệng: Lễ Phục Sinh chúng ta có một long weekend, từ Good Friday cho tới Easter Monday, mời bằng hữu đến Quán Ba Miền chúng ta cùng chung vui.
Em lấy chồng, em không lên xe hoa, em không xuống đò sang ngang, em không có tứ thân phụ mẫu để gạt lệ thốt lời tạ từ rằng con sáo đã đủ lông đủ cánh âu cũng nên sổ lồng bay đi. Một đám cưới không giống thiên hạ, cổ kim chưa hề xảy ra. Mười nhân mạng âm thịnh dương suy đặt cọc một cái bàn tròn trong Quán Ba Miền có cấp giấy phép được quyền ực rượu bia. Ba Miền cho dễ tính, vì miệng lưỡi mười đứa tuồng không cùng khẩu vị. Sài Gòn Huế Hà Nội mỗi nơi có thu giữ đặc sản riêng, ông ăn chả bà ăn nem, ông thích múi mít bà khoái ngậm sầu riêng cũng là căn bản của tự do dân chủ chớ nên ngầy ngà bắt bẻ rằng khi yêu, yêu cả mùi mắm tôm hoặc mắm ruốc hoặc những món hiểm hóc bốc mùi khác. Ai bịt mũi thì ta phải tôn trọng tới khoảng ô nhiễm môi sinh, chớ lên mặt làm đày khuyến mãi nên ăn Chin-su hùm bà lằng gì đấy.
Chú rể, chồng em chính là thằng bạn thân của tôi. Nguyễn nói chùng vụng vào tai tôi: Anh xử sự như đứa quân tử dị đó. Anh cày bừa tắt quạt ở hãng xưởng thì giờ giấc đó bạn anh thoải mái vào nhà tự tung tự tác liên hồi kỳ trận khiến đứa em kết nghĩa của anh phải chịu mang trống chầu. Phạm lay tay Nguyễn: Gạo đã thành cơm, mi nói chi lời khét khê đến thế, quan trọng là bạn mình đồng tình đứng đợi cửa, chẳng nề hà việc bầu bì ăn cơm trước kẻng. Giờ này mà mang quân tử với tiểu nhân ra luận bàn thì thiệt chẳng hợp lẽ. Đáng quan tâm là nên chọn mua thứ quà cưới nào thực dụng và hôm đó tụi mình có nên trang điểm ăn mặc cầu kỳ không? Nó được mấy tháng rồi anh? Tôi làm hến mở miệng: Ba tháng thì phải.
Theo đề nghị của em là tôi nên đi tìm một cái ấp nhỏ mà an thân cư ngụ, để phụ chú về sự phân giải nọ, em kèm theo bốn chữ “độc thân vui tính”. Và bốn chữ khác “chín bỏ làm mười”. Phần em vừa lập gia đình, mai này sẽ sinh con nên tiếp tục “định cư” ở địa chỉ này. Đồ đạc chẳng có gì, tôi thồ hai chuyến xe là dứt điểm. Bàn ghế, kệ tủ và đống tạp chí sách báo Việt ngữ bao năm đặt mua dài hạn tôi gửi tặng lại cho đứa bạn thân và em một chút gì “văn hoá chữ nghĩa lưu vong”.
Tôi thuê một cái apt. 2 rưỡi vừa sơn sửa lại, lựa địa điểm gần chỗ cày bừa vì vậy khá khuất lấp. Tiền thuê hàng tháng gần bằng hai tuần lương. Có sẵn bếp lò tủ lạnh và bao luôn điện nước. Ngày đầu bước vào, tôi mang ý nghĩ giống như một đứa tỵ nạn vừa được đệ tam quốc gia thu nhận. Trống vắng, mới lạ đi kèm chút tủi thân. Tôi quen hít thở trong không gian giam giữ hương mùi của em, quen nghe những tiếng động do em tạo ra, quen ăn những thức chính tay em xào nấu. Đó là căn nhà cũ mà mỗi chúng ta khi vượt biên đều luôn hồi nhớ, quặn lòng.
Rồi em sinh con đầu lòng, em đi biển mồ côi. Nguyễn nhắn tin: Em đến chỗ anh rồi tụi mình vào bệnh viên cùng lần để thăm mẹ tròn con vuông. Em đã mua hai bộ áo quần em bé, phần anh chỉ lựa một tấm thiệp chúc mừng rồi ghi vào ít chữ. Cho địa chỉ đi, khoảng 6 giờ em lại.
Nguyễn tới, cô đi nhìn ngó từ trước tới sau, bình phẩm: Lạnh chết đi được, không nấu nướng, không ti-vi, không giàn máy nhạc, không sách báo. Bộ anh tính đi tu sao? Tôi giả ngây: Anh sẽ buông bỏ kinh kệ nếu em giả bộ làm ma nữ. Nguyễn cười, giọng trong vắt vang dội giữa căn phòng trống: Được, hồi nào tinh thần em xuống thấp, để tránh trầm cảm, em sẽ đến quấy phá anh, kéo anh về lại phía trần tục. Em sẽ mượn chỗ anh để tập món nữ công gia chánh, bếp lò tinh tươm như thế mà không để nó dính dầu mỡ nghĩ cũng uổng phí. Tôi gật gù: Lời em thật chí lý, anh nghe rất ăn ý. Hình như em tuổi Tý?
Chúng tôi đến bệnh viện, hỏi thăm khu hộ sinh và được bày đường là các sản phụ hiện tĩnh dưỡng ở lầu 4. Vào tháng máy, chỉ có Nguyễn và tôi. Túi quần tôi luôn chêm nạm tiền giấy cho ấm, nếu ở Việt Nam đổi ra 200.000 có thể tôi sẽ mạnh dạn dồn Nguyễn vào một góc mà hôn hít cưỡng dâm chả sợ phạm luật. Nguyễn ngó tôi, nhắc lại câu “bộ anh tính đi tu thật à?”. Tôi nói khi cửa thang máy vừa mở rộng: Chữ tu có đồng nghĩa với chữ tù chăng? Cộng đồng mạng có liên tu chửi bới?
Em không xanh xao như tôi tưởng tượng mặc dù em sinh đẻ tự nhiên, họ chỉ chích một mũi kim sau cột sống. Thằng nhỏ nặng ba ký tám, em cho Nguyễn hay, nó khóc to lắm, làm như nó muốn khóc giùm mình vậy. Một người đàn bà, một người con gái cứ tỉ tê chuyện đẻ đái cho nhau nghe, liên hồi trút bầu tâm sự. Ở đây lạ lắm, y tá biểu mình gắng tự lực mà bước đi vào phòng vệ sinh một mình, đừng kiêng cử gió máy nước nôi các thứ. Họ mà nghe trùm chăn ngồi xông lửa cho cửa mình thu bé lại chắc họ chết khiếp. Đứa bé đâu? Ờ, chúng nằm cách biệt, chốc nữa mới mang tới để mình cho bú. Mi có đủ sữa cho bé không? Có chớ, chảy ra ngon lành mà… Em ngước mắt lên tôi: Họ biểu em đặt tên cho baby để làm giấy khai sinh, anh thấy Trần Tinh Tú nghe có đặng không? Nguyễn chen vô: Sao, có đẻ con mới thấy tinh tú quay cuồng hả?
Họ tên đầy đủ của bạn tôi là Trần Nam Tĩnh, em tên Tú Trinh. Như vậy cho con em mang tên vậy thì cũng ô kê. Tôi hỏi: Ba nó đi đâu hổng thấy? Ảnh chạy đi mua cho em tô cháo cá vì nghe em than nhạt mồm, nuốt thức ăn ở đây không trôi. Ảnh chìu em lắm, trao toàn quyền cho em việc đặt tên con. Tội nghiệp, người gì ít ăn ít nói, mấy đêm nay ảnh ngủ không tròn giấc, thương hết biết!
Vì không có liên hệ huyết thống với sản phụ lẫn hài nhi nên y tá đuổi khéo chúng tôi ra. Lần này, khi trở xuống gặp phải bốn người đứng sẵn trong thang máy, nếu vắng tẻ mồm miệng tôi đang nhạt dám liều mạng húp tô cháo lú từ môi mọng của Nguyễn gợi mời chực trao. Nguyễn đòi tôi đưa cô về nhà, cô bảo thấy đàn bà sinh con sao ngán quá, chẳng biết đó có phải là nghĩa vụ thiêng liêng? Tôi thưa: Cái muốn khác với tai nạn, nếu không muốn người ta có trăm phương nghìn cách để ngăn ngừa, như kiểu dầm mưa thì nên mặc áo đi mưa chẳng hạn. Về tới trước cửa, Nguyễn hứa hẹn, hôm nào trời mưa em sẽ đến gõ cửa phòng anh, đêm tối cho thêm phần lãng mạn.
Có hôm đi làm overtime về tôi thấy có tờ giấy gấp làm tư dán trước hộp thư của tôi. Mở ra, đọc phải hàng chữ của bạn tôi, Trần Nam Tĩnh mần thơ:
Thà làm điều tốt gần nhà Hơn đi xa thắp hương mà cúng vái Biết chạy thẳng hơn quẹo trái Va vấp xanh máu mặt tái cũng đành Trao nhau chút của để dành Người đi thủng thẳng chẳng rành sáu câu Vọng cổ ứ hự niềm sâu Cải lương xuống thấp ta rầu phận nhau Môi hôn tình lỡ vội lau Đắp bồi an ủi nỗi đau vẫn tràn.
Tái bút: Không riêng cô Phạm, ngay cả mọi người đến thăm đều nhận xét về một thực tế đau lòng: Đứa bé sao mặt mũi nó giống y như người anh kết nghĩa với vợ anh. Tôi tự hỏi, giữa hai đứa mình, tôi và bạn, ai là kẻ hạnh phúc? Nghe Nguyễn nói vu vơ rằng bạn có ý định tu? Bạn đừng đi xa thắp hương cúng vái cho nhọc sức, ghé tới nhà tôi biểu lộ bao điều thiện cho vợ con tôi được viên mãn một nụ cười tròn trịa. Ôi, tình bạn! Ôi, tình yêu! Than thì than vậy chớ tôi chưa thấu hiểu “đời là bể khổ, tình là dây oan”.
Theo nguồn tin từ trang nhà Bộ Tư lệnh nhân lực Hải quân (Navy Personnel Command), thông báo danh sách Hải quân Thiếu tá* được Hội đồng thăng cấp Hải quân (PROMOTION SELECTION BOARD CONVENING ORDER) chọn đề cử thăng cấp HQ Trung tá* năm 2026, cho tài khóa YF-27, trong số hàng trăm HQ Thiếu tá được chọn đề cử thăng cấp HQ Trung tá năm nay có 13 HQ Thiếu tá gốc Việt.
Năm 2025, có 12 HQ Thiếu tá gốc Việt được thăng cấp HQ Trung tá.
Năm nay, 2026, Sĩ quan HQ Thiếu tá Hoa Kỳ gốc Việt có 1 HQ Thiếu tá ngành tác chiến Hải quân (Unrestricted Line Officers), 4 HQ Thiếu tá ngành yểm trợ tác chiến Hải quân (Restricted Line Officers) và 8 HQ Thiếu tá ngành chuyên môn phục vụ Hải quân (Staff Corps Officers) được chọn đề cử thăng cấp HQ Trung tá.
HQ Thiếu tá James Phan (hình của npsfoundation.org).
***
Danh sách 13 HQ Thiếu tá gốc Việt
ngành tác chiến Hải quân (Unrestricted Line Officers), ngành yểm trợ Hải quân (Restricted Line Officers), và ngành chuyên môn (Staff Corps Officers) hiện dịch và trừ bị được chọn đề cử thăng cấp HQ Trung tá:
Vu Carolyne, Sĩ quan tác chiến mặt nước (Unrestricted Line Officers).
Nguyen Jimmy An, Sĩ quan ngành nhân lực (Restricted Line Officers).
Phan James Huu, ngành truyền tin (Restricted Line Officers)
Quan Luuthuy Khanh, ngành truyền tin (Restricted Line Officers)
Tran Timothy Quoctin, ngành tình báo (Restricted Line Officers)
Hutson Oanh Pham, Bác Sĩ nha khoa (Staff Corps Officers).
Do Nhu Quynh, Chuyên viên y tế (Staff Corps Officers).
HQ Thiếu tá Hoang Kevin được HQ Đại tá Jenny Burkett, Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy huấn luyện và sẵn sàng Y tế Hải quân Camp Pendleton trao tặng giải thưởng vinh danh Y sĩ nhãn khoa năm 2023 (hình của instagram.com).
Hoang Kevin Quoc Kho, Y sĩ nhãn khoa (Staff Corps Officers).
Phung Thuy Bich, Chuyên viên y tế (Staff Corps Officers).
Bui Peter Vu, Bác sĩ Quân y Hải quân trừ bị (Staff Corps Officers).
Thai Quoc Anh, Bác sĩ Quân y Hải quân trừ bị (Staff Corps Officers).
Tieu Trang Kieu, Kỹ sư công chánh, trừ bị (Staff Corps Officers).
La Loc Quang, tiếp vận, trừ bị (Staff Corps Officers).
HQ Thiếu tá Hutson Oanh Pham, Bác Sĩ nha khoa (hình khi còn mang cấp Đại uý của Trung sĩ Taylor King, Hải quân Hoa Kỳ).
Theo hệ thống thăng cấp Sĩ quan Hải quân (Navy Officer Promotion System), thì sau 3 năm mang cấp Thiếu tá, khoảng 70% Sĩ quan Thiếu tá sẽ được thăng cấp Trung tá, cũng theo tài liệu Defense Primer: Military Officers – Updated June 4, 2024, thì Hải quân Hoa Kỳ có 10487 HQ Thiếu và 6614 HQ Trung tá phục vụ hiện dịch toàn thời (Active-Duty Military Officers).
Cần biết thêm về các ngành của Sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ, xin được tóm lược:
Ngành Sĩ quan tác chiến (chủ lực) của Hải quân Hoa Kỳ (Line Officer) được chia ra thành hai ngành gồm: Sĩ quan tác chiến không giới hạn (Unrestricted Line Officers và Sĩ quan yểm trợ tác chiến giới hạn (Restricted Line Officers).
-Sĩ quan ngành tác chiến Hải quân không giới hạn (Unrestricted Line Officers) có 4 ngành: Sĩ quan chiến hạm (tác chiến mặt nước), Sĩ quan tiềm thủy đĩnh, sĩ quan Hải quân không chiến (Không quân của Hải quân), Sĩ quan chiến tranh đặc biệt Hải quân (Lực lượng đặc biệt Hải quân). Những Sĩ quan chủ lực không giới hạn được quyền chỉ huy các tàu ngầm và chiến hạm, các Phi đoàn Không quân, và các đơn vị hành quân đặc biệt, tương tự như Sĩ quan ngành chỉ huy của Hải quân VNCH.
Hình minh họa của military.com/navy/officer-ranks.military.com/navy/officer-ranks: Cấp hiệu HQ Trung tá ngành tác chiến Hải quân (Unrestricted Line officers) và ngành yểm trợ tác chiến Hải quân (Restricted line officers) Hải quân Hoa Kỳ
***
-Sĩ quan ngành yểm trợ tác chiến giới hạn (Restricted Line Officers) gồm có các ngành: Sĩ quan tài nguyên nhân lực; Sĩ quan kỹ thuật cơ khí; Sĩ quan kỹ thuật hàng không; Sĩ quan bảo trì phi cơ; Sĩ quan công vụ (chiến tranh chính trị); Sĩ quan hải vận chiến lược (Strategic Sealift Officer); Sĩ quan giao tế ngoại giao; Sĩ quan hải dương học; Sĩ quan chiến tranh mật mã; Sĩ quan truyền tin Hải quân; Sĩ quan tình báo Hải quân; Sĩ quan chiến tranh an ninh mạng và Sĩ quan không gian hàng hải (Maritime Space Office).
-Sĩ quan ngành chuyên môn phục vụ Hải quân (Staff Corps Officers ) gồm có 8 ngành: Bác sĩ, Nha sĩ, Điều dưỡng và Chuyên viên y tế thuộc Bộ chỉ huy Quân y Hải quân; Sĩ quan kỹ sư công chánh ( Công binh Hải quân ) và Sĩ quan tiếp liệu Hải quân thuộc Bộ chỉ huy tiếp vận Hải quân; Sĩ quan luật sư quân pháp và Sĩ quan Tuyên úy tôn giáo trực thuộc Bộ hải quân.
Theo tài liệu lưu trữ trên các trang nhà Navy Personnel Command và Congress.gov thì có trên 60 HQ Trung tá gốc Việt đang phục vụ trong Hải quân Hoa Kỳ, không tính nhiều vị đã hồi hưu và được thăng cấp Đại tá.
Chúc 13 tân HQ Trung tá Hoa Kỳ gốc Việt thăng tiến hải nghiệp.
Nguyễn Quân
Chú thích: *Ghi theo cấp bậc HQ Thiếu tá (Navy Lieutenant Commander) và HQ Trung tá Hoa Kỳ (Navy Commander); **Ghi theo họ và tên 13 HQ Thiếu tá gốc Việt trên các bản danh sách, có một sô HQ Thiếu tá mang họ và tên giống người Việt được đề cử thăng cấp Trung tá, nhưng chưa xác định được họ gốc Hàn, Hoa hay Việt gốc Hoa?; ***Cấp hiệu HQ Trung tá ngành chuyên môn phục vụ Hải quân (Staff Corps officers) không có ngôi sao như HQ Thiếu tá ngành tác chiến Hải quân (Unrestricted Line officers) và ngành yểm trợ tác chiến Hải quân (Restricted line officers), thay thế cho ngôi sao là huy hiệu của ngành chuyên môn.
Kỳ tới: Thiếu tá Ron Nguyen (gốc Việt), Sĩ quan tác chiến, Lực lượng không gian Hoa Kỳ.
Nguồn: mynavyhr.navy.mil; congress.gov; military.com/navy/officer-ranks; Defense Primer: Military Officers – Updated June 4, 2024; en.wikipedia.org; linkedin.com; bienxua-Nữ Hải quân Thiếu tá Carolyn Vu (gốc Việt), Sĩ quan tác chiến mặt nước được đề cử thăng cấp Trung tá Hải quân Hoa Kỳ.
Đài BBC vừa phỏng vấn bà tiến sĩ Sophie Quinn-Judge, tác giả cuốn sách “Ho Chi Minh, The Missing Years” (Hồ Chí Minh, Những Năm Chưa Biết Đến), ngoài chuyện theo các tài liệu của Pháp và của Cộng Sản Quốc tế đã được giải mật, Nguyễn Thị Minh Khai đích thị là vợ Hồ Chí Minh mười mươi, tác giả này cho rằng bác Hồ là một người luôn luôn đi tìm một “đồng thuận dân tộc, muốn có một liên minh dân tộc” và nếu như … bác Hồ còn sống (!), “bác” không phải là một người nặng đầu óc ý thức hệ và đóng băng với quá khứ”.
Thật sự thì con người “muốn có một liên minh dân tộc” đó đã tàn sát Cao Đài, Hòa Hảo, Đệ Tứ, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt … như thế nào, lịch sử đã ghi chép quá rõ ràng. Người ta còn diễn dịch nôm na là nếu còn Bác còn sống Bác sẽ khai tử Chủ nghĩa Cộng Sản. (!) Khổ quá, lâu nay người ta nghe nói nhiều tới “nếu như”, toàn là giả thiết, điều kiện cách, nghe muốn phát mệt.” Nếu như “Bác Hồ” còn sống thì anh em mình không phải đi cải tạo như vầy”, quan niệm ấu trĩ như thế mà ở trong trại cải tạo cũng có người bàn tán xầm xì, người ta nói rằng hồi “bác Hồ” chết, Bộ Chính Trị sửa di chúc của Bác, trong di chúc nguyên con của Bác có đoạn tha … cải tạo! “Nếu như Bác Hồ còn sống thì dân mình sướng hơn nhiều, đâu có khổ như vầy !” Đó là chỗ xì hơi của cái bong bóng quá phồng, người ta chán mấy ông đầu sỏ Hà Nội, người ta bèn đem cái mồ ma “Bác” để an ủi cho cuộc đời đỡ khổ. Cuối cùng thì hư đốn là do đàn em của Bác, khốn nạn là do mấy tên chức tước trong Bắc Bộ Phủ, còn Bác là số một, là “ngọn đuốc soi đường”, là “sao Bắc Đẩu”, là “ngọn hải đăng”, “cực kỳ” tốt đẹp thơm tho cả …
Cho nên, Hoàng Văn Hoan có chửi Hà Nội tới mấy thì cũng giả vờ quên chửi Bác, Bùi Tín có huyên thiên đả kích những sai lầm của Đảng Cộng Sản thì cũng chừa một chỗ “bất khả xâm phạm” cho Bác, Trần Độ có hận mất quyền mất chức, bị bỏ rơi bèn làm người đối lập, vạch trần cái dã tâm khốn nạn của Đảng thì cũng nỏ dám đụng tới Bác. Nếu như Bác còn sống … thì đâu đến nỗi, phải không? Nếu như … Bác còn sống thì Hoàng Văn Hoan đã không chạy sang Bắc Kinh, nếu như … Bác còn sống thì Bùi Tín đã không chuồn sang Paris, nếu như … Bác còn sống thì Trần Độ vẫn là công thần. Nếu cái mũi của Cleopatre dài thêm một chút! Nếu như … bác Hồ còn sống … Bác ơi, Bác là hy vọng của biết bao nhiêu người, sao Bác vội “chuyển sang từ trần” vội vã như thế! Con người bác Hồ như thế nào? – Nguyễn Thị Minh Khai là vợ Lê Hồng Phong hay vợ của Bác, ai trước ai sau hay là cả hai? – Không xin vào học trường Bảo Hộ của thực dân Pháp được thì đi làm cách mạng, – Về tham vọng làm vua “bác tôi, tôi bác cũng anh hùng”, hay “mơ thấy cỡi rồng lên thượng giới, sao vàng năm cánh mộng hồn quanh”; – Về đạo đức giả, sơ sơ thiên hạ mù mắt cũng biết tới Bác vợ con tùm lum; -Làm chính trị thì biết khóc cười, biết đóng kịch (khóc giả vờ khi đi thăm bức tường công xã ở Paris, xách dép lội nước trong khi lề đường khô không đi – trong “Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên trang 459-460”), – Vô liêm sỉ dám viết sách khen ngợi, ca tụng mình bằng cách ký tên khác -(Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện – Trần Dân Tiên); –
Làm bộ thương xót thuộc hạ (Vũ Đình Huỳnh) nhưng êm re trước thế lực Lê Đức Thọ, Lê Duẩn trong khoảng 10 năm cuối đời vì bị tước bỏ quyền hành, sợ hãi hay nhu nhược (chuyện “Bác” hứa với tướng Lê Liêm là ra hội nghị, sẽ ủng hộ chống lại đường lối bài Liên Xô trong khi Việt Cộng còn ngửa tay nhận viện trợ, nhưng sau khi Lê Liêm phát biểu thì “Bác” giả nai, làm ngơ để cho “băng” Lê Đức Thọ làm thịt vị tướng này (tài liệu ĐGBN của Vũ Thư Hiên – Văn Nghệ xb. 1997- trang 363). Thế thì “nếu như … Bác còn sống, thì cỡ Bác, với nhân cách đó, Bác làm được những gì? Ngu dân vẫn còn mơ tưởng tới “bác Hồ” vì hình ảnh Bác đã đánh bóng, chùi rửa quá sạch sẽ, sơn phết quá lộng lẫy. Khi cha già Staline, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành … chết đâu phải không có ai khóc, thì “bác Hồ” cũng vậy. Bộ máy thông tin, tuyên truyền, suy tôn trong các chế độ Cộng Sản làm việc tích cực, thêm vào đó những màn đóng kịch của những con người làm chính trị: vì dân vì nước, thanh liêm trong sạch, hy sinh gian khổ. Do vậy trên bàn thờ nhà dân ở miền Bắc XHCN trước đây, không thấy hình ảnh ông bà tổ tiên mà chỉ thấy hình Bác chễm chệ, vừa là lãnh tụ, vừa là cha chú.
Người ta tin vào “bác Hồ” như thế nào mà một người khi bị đem ra đấu tố oan ức trong vụ cải cách ruộng đất năm 1958, còn tin tưởng mà kêu “Ới Cụ Hồ ơi!” Một nạn nhân theo Cộng Sản từ năm 1945, bị vu là đảng viên Quốc Dân Đảng, thắt cổ tự tử, để lại một bức thư tuyệt mệnh cũng kết luận, tin tưởng bằng câu khẩu hiệu: “Hồ Chí Minh muôn năm!” Nghĩa là chỉ bọn thừa hành làm sai, còn “Bác” là tuyệt đối toàn thiện, toàn mỹ.
“Bác ra đi’ đã 35 năm, Liên Bang Xô Viết đã tan rã, Đông Âu đã đổi đời mà ngày nay ở cái nước XHCN Việt Nam, ngày 19 tháng 5 năm nay người ta còn khánh thành một quảng trường mang tên Hồ Chí Minh, dựng lên một cái tượng của nhân vật Hồ Chí Minh tại một tỉnh mang một cái tên nghèo nàn và khốn khổ nhất của đất nước là tỉnh Nghệ An. 1200 công nhân viên của nhà sách và thư viện Saigon cũng bị móc túi đóng tiền để mua đồng đúc tượng cho người sinh ra Bác Hồ, tức là người sinh ra sự khốn khổ đau đớn cho Việt Nam trong vòng gần 100 năm nay, mang tên Nguyễn Sinh Sắc. Đó là người ta chưa nhắc đến rằng cha Bác là một người họ Hồ chứ không phải ông Sắc. Không biết cái tượng cao 12 thước vừa mới dựng lên ở quê “bác” là cái tượng thứ mấy nghìn ở cái đất nước tụt hậu này. Tượng của Bác làm ta nhớ tới tượng của Bác Xít, Bác Mao, Bác Kim, Bác Sađam … Đất nước nào có nhiều tượng lãnh tụ chừng nào càng chứng tỏ đất nước đó dân khó cất đầu nổi.
Nghe nói một nhà thở Bắc Hàn đã làm một bài thơ nói về một con chim đậu trên vai pho tượng Bác Kim Nhật Thành đã khóc khi nghe tin Bác … đi, và một nhà thơ hiện đại của CS Hà Nội, khi đi trên đường phố Paris mà lòng nao nao chợt nhớ tới Bác Hồ, trong khi theo kinh nghiệm của du khách, thì khi đi trên đường phố Paris phải cúi đầu nhìn kỹ đường sá, cẩn thận kẻo bị vạ vì “animal waste”!
Chẳng lẽ hiện nay tại Việt nam không còn món hang nào đáng giá hơn để đem ra loè thiên hạ hơn là cái xác khô Ba Đình, và không có thứ an ủi nào hơn là mấy chữ “nếu như Bác Hồ còn sống … ” hay sao? Nếu đã giả thiết thì ta giả thiết “tới luôn” rằng “nếu như … Việt Nam không sản sinh ra cái gọi là Đảng Cộng Sản” thì có phải đất nước mình đỡ khốn nạn hơn không?
Trước đó, vào ngày 20 tháng 5-1942, chúng tôi đối đầu với đối phương trong một trận không chiến cao nhứt lịch sử khi chỉ huy trưởng phi đoàn hướng dẫn 15 chiến đấu cơ từ Lae bay đến Moresby ở cao độ 30,000 bộ (9,200m) trong suốt một tiếng rưỡi đồng hồ. Chúng tôi duy trì cao độ này để lấy yếu tố bất ngờ, và chúng tôi cũng đã bất ngờ khi đụng đầu với một đội hình địch quân cũng bay cùng một cao độ như chúng tôi.
Tôi đã hồ nghi khả năng chiến đấu của phi cơ Zéro ở cao độ này. Riêng tôi có thể đạt đến cao độ 37,720 bộ (11,500m) với chiếc Zéro, nhưng phải mang mặt nạ dưỡng khí và áo ấm. Ở cao độ đó, cần điều khiển của phi cơ rất nặng nề và không thể nhích độ cao lên một tấc nào được nữa. Bởi vậy chiến đấu với một chiếc Zéro ở độ cao 30,000 bộ hình như không được khôn ngoan cho lắm.
Có 10 chiến đấu cơ địch, loại P39 kiểu mới. Tôi dẫn đầu cuộc tấn công và xáp chiến tức khắc. 14 chiếc Zéro khác đối đầu với nhóm phi cơ còn lại. Cần kiểm soát nặng nề và chậm chạp trong không khí loãng, hình như mọi cử động của tôi đều trì trệ. Lồng ngực của tôi như muốn rạn nứt và mặt nạ dưỡng khí tuột ra khỏi càm tôi. Dường như khi một người đã tập trung tất cả sức mạnh vào một hành động quyết định, ngay cả khi ngộp thở vì thiếu dưỡng khí cũng không thể nào ngăn nổi hành động của hắn. Giữa lúc tôi như bất tỉnh, tôi cảm thấy tay tôi vẫn nắm chặt cần lái và giữ cho phi cơ chúi xuống trong vòng xoáy trôn ốc. Khi đầu óc tôi đã tỉnh táo và nhìn rõ trở lại, phi cơ đã xuống dưới 20,000 bộ (6,000m). Tôi xoay mình tức khắc, vì phi cơ địch vẫn bám sát theo sau và đang chuẩn bị hoả lực. Nhưng phi công địch cũng gặp rắc rối. Có lẽ hắn xoay theo tôi quá ngặt hay có thể hắn cũng mất dưỡng khí như tôi, cho nên ở cùng cao độ 20,000 bộ nhưng phi cơ của hắn xoáy theo hình trôn ốc chầm chậm. Không bỏ lỡ dịp may, tôi xông tới ngay khi chiếc P39 có vẻ lấy lại thăng bằng, cánh hơi ngước lên với các họng súng rực lửa hướng về phía tôi. Tôi lảng ra nhanh như chớp, bấy giờ chiếc P39 đang ở bên trên về phía bên phải, tôi ấn cò đại bác. Một viên 20 ly cắt đứt phi cơ địch ra làm hai.
Ngoài tôi ra, chỉ có Ota bắn hạ được một chiếc P39 khác vào ngày hôm đó.
Hôm sau, đầu tiên tôi hạ một chiến đấu cơ địch mà không cần bắn một phát súng nào, trong một trận không chiến căng thẳng cực độ. Khác hơn lần trước, lần này ngày 26 tháng 5, chúng tôi đụng nhau ở một cao độ rất thấp, là sát trên ngọn cây. Một nhóm 16 chiếc Zéro chạm trán một đội hình đối phương kỳ lạ. 4 oanh tạc cơ B17 bay trong đội hình hàng dọc với khoảng 20 chiến đấu cơ P39 chia thành từng nhóm nhỏ hai hoặc ba chiếc bao xung quanh các pháo đài bay này. Chúng tôi ở phía dưới đối phương và tấn công bằng cách vượt thẳng đứng lên mà họ không hay biết. Tôi đốt ngay một chiếc P39, và bầu trời như nổ tung trong một trận hỗn chiến.
Hầu hết chiến đấu cơ địch đều thối lui và lảng xa các chiến đấu cơ của chúng tôi. Tôi bám sát đuôi của một chiếc P39 đang chúi xuống khu rừng. Viên phi công tỏ ra sợ hãi, hắn bay có vẻ như quét trên ngọn cây và giống như cắt cỏ khi hắn xoay thân, vượt lên, chúi xuống với tôi đeo dính sau đuôi. Mỗi lần hắn vượt lên, xoay ngang hoặc lăn tròn, tôi cắt thẳng vào thân phi cơ của hắn. Tôi thụt ngay một viên đại bác khi chiếc Airacobra lảng ra bằng cách lăn tròn về phía trái. Phi công Mỹ chúi xuống ngay và lao về phía đầy cây cối, xung quanh toàn là dốc đá cao chớn chở.
Trước khi tôi nhận biết sự nguy hiểm, tôi đã lọt vô một hẻm núi, đeo dính một bên đuôi của chiếc P39. Không có thời giờ để tập trung hoả lực, tất cả những gì mà tôi có thể làm là tránh né các mỏm đá gie ra, san sát và khít khao trong đường tơ kẽ tóc. Hiểm nguy chết người khiến tôi quên hẳn mục đích chánh của mình. Mồ hôi đổ ra như tắm. Tiếng động cơ máy bay vang vang từ hai vách núi như sấm động.
Bỗng nhiên phía trước, một gộp đá treo lơ lửng án mất lối đi của chúng tôi. Lập tức viên phi công địch dựng đứng mũi phi cơ để vượt lên, nhưng quá muộn. Cánh chạm vào đá, chiếc phi cơ lộn nhào, và một tiếng nổ khủng khiếp vang lên phía dưới hố sâu. Tôi kéo hết cần điều khiển về phía sau với tất cả sức lực của đôi tay và giữ thật chặt. Cần kiểm soát rung rần rật. Chiếc Zéro quất ngược đầu lên thật dữ đội, và chỉ trong vòng một cái nháy mắt nhưng dài dằng dặc, chiếc phi cơ lướt lên khỏi gộp đá, có thể nói là chỉ trong gang tấc.
Tôi mất vài phút mới lấy lại bình tĩnh. Mệt lả vừa đưa tay vuốt mồ hôi đổ tháo như tắm trên mặt, tôi gia tăng tốc lực và vượt lên cao từ từ. Ðó là chiến thắng thứ 37 của tôi, mặc dù tôi không đích thân tiêu diệt chiếc phi cơ này, nhưng trận không chiến vừa qua là một trong những trận không chiến tổn sức nhất trong đời tôi.
Sau đó, tôi được biết Nishizawa và Ota cũng lâm vào tình trạng chiến đấu không khác gì tôi. Họ rượt đuổi 2 chiếc P39 xuống một triền núi và hầu như lâm hiểm trong lúc vượt lên khi hai đối thủ phía trước của họ vỡ tan. Ðêm đó, doanh trại của chúng tôi ồn ào nỗi vui qua những biến cố trong ngày.
Suốt tuần lễ cuối cùng của tháng 5, Phi đoàn Lae tung hết sức mạnh càn quét khu vực Moresby, và trong vòng ba ngày của cuộc không chiến dữ dội, chúng tôi đã thâu đạt được những thành quả không thể tưởng tượng được. Qua chiều hướng này, Moresby được xét đoán đã đến lúc nhận lãnh một cú đấm dứt khoát. Vào ngày 1 tháng 6, 18 oanh tạc cơ Betty cất cánh từ Rabaul, hộ tống bởi 30 chiếc Zéro của Lae và 11 chiếc khác của Rabaul, cố gắng san bằng pháo đài huyết mạch của địch quân lần cuối. Chúng tôi đã tin tưởng một cách chắc chắn rằng Ðồng Minh không thể đưa ra một sự chống đối mạnh mẽ sau các trận đánh liên tục. Chúng tôi đã sai lầm! 20 chiến đấu cơ địch đã gầm thét xông vào lực lượng to lớn của Nhựt. Một lần nữa, một trận đánh “xáp lá cà” xảy ra. 7 phi cơ địch rớt trong lửa đỏ, một chiếc do súng của tôi gây ra. Nhưng đối phương đã đạt mục đích: phân tán lực lượng oanh tạc cơ của chúng tôi và bẻ gãy sự chính xác của cuộc không tập.
Trên đường trở về Lae, một oanh tạc cơ của chúng tôi rớt khỏi đội hình, bay lạng quạng trong không khí. Tôi và năm chiến đấu cơ khác phải bay tụt lại để bao che. Chiếc oanh tạc cơ lê thân chậm chạp. Những lỗ đạn đại bác lỗ chỗ trên cánh và thân phi cơ, coi không khác nào một cái rây. Chiếc phi cơ vẫn còn bay được, là một phép lạ.
Phi công trưởng và phụ nằm dài trên ghế trong những vũng máu. Tôi không thể nhìn thấy bốn người khác thuộc phi hành đoàn. Chỉ có chuyên viên cơ khí vật lộn với cần điều khiển, cố giữ cho phi cơ thăng bằng. Hiển nhiên hắn không bị thương, còn những người khác có thể đã chết hoặc bị thương nặng.
Bằng mọi cách, chuyên viên cơ khí đã đưa được chiếc phi cơ lảo đảo như người say rượu về tới phi trường Lae. Hắn đã làm được một việc đáng nể phục. Rõ ràng hắn bay với kiến thức học lóm. Việc này đã đành là khó khăn đối với những người chưa được huấn luyện lái phi cơ, nhưng còn khó khăn hơn nữa khi lái một chiếc phi cơ bị hư hại trầm trọng. Lúc ấy chiếc oanh tạc cơ đã tiến vào không phận Lae và anh cơ khí viên không còn biết phải làm gì thêm nữa. Hắn có thể giữ cho phi cơ bay, nhưng đáp xuống là cả một vấn đề.
Chiếc phi cơ què quặt đảo chầm chậm trên phi trường hết vòng này đến vòng khác, và anh cơ khí viên ngắm nghía phi đạo nhỏ hẹp phía dưới. Không có cách nào khác để giúp đỡ con người bồn chồn này. Chúng tôi bay sát hơn và cố chỉ cách cho hắn đáp xuống, nhưng một khi hắn rời tay khỏi cần điều khiển, chiếc phi cơ chao đi chao lại một cách nguy hiểm. Dần dần hắn giảm được tốc độ và bắt đầu hạ thấp xuống. Chiếc phi cơ bay vòng ra ngoài biển, và hạ thấp quá mau khi xoay lại để hướng đến phi đạo. Tôi nín thở. Chiếc phi cơ xốc dữ dội và bắt đầu rơi tuồn tuột. Nó sẽ tan tành trong nháy mắt.
Một phép lạ xảy ra! Viên phi công gượng ngồi dậy, gương mặt trắng bệch lốm đốm máu. Hắn tựa một cách nặng nhọc vào vai của anh cơ khí viên. Chỉ một giây sinh tử, hắn ấn nút bộ phận đáp bật ra, phi cơ lấy lại tốc lực và bánh xe chạm trên mặt phi đạo. Trong nháy mắt, nó va vào hai chiếc Zéro đang đậu vỡ tan, rồi bật nhào nửa vòng và đứt làm hai đoạn.
Chúng tôi đáp lập tức sau đó, cán trên các mảnh vụn nhưng lạ lùng là không có chiếc phi cơ nào bốc cháy. Phi công chánh của chiếc oanh tạc cơ chỉ gượng đứng dậy được một phút rồi ngã ra bất tỉnh. Phi công phụ tử thương. Cơ khí viên bị thương trầm trọng ở giò, phải khiêng ra bằng cáng. Tất cả nhân viên khác thuộc phi hành đoàn đều mang thương tích nặng.
Nhát chổi chiến đấu cơ vẫn tiếp tục quét, và suốt hai ngày kế tiếp chúng tôi bắn rơi thêm ba chiến đấu cơ địch. Nhưng không một người nào ở Lae biết được các chiến thắng liên tục của chúng tôi trái ngược một trời một vực với cuộc chiến bại đầy bi thảm của một lực lượng đặc nhiệm Nhựt Bản to lớn ở Midway vào ngày 5 tháng 6. Ðông-Kinh tuyên bố Hạm đội Hỗn hợp Ðặc nhiệm của chúng tôi đạt được chiến thắng quan trọng. Bộ Tư Lịnh Hoàng Gia đã giảm thiểu sự mất mát của chúng tôi xuống một mức độ vô nghĩa. Tuy nhiên, lần đầu tiên chúng tôi hồ nghi sự chính xác của các tin tức. Lý do dễ hiểu là chúng tôi biết Midway bị địch quân đổ bộ và chiếm đóng. Nếu hạm đội của chúng tôi rút lui mà không đẩy bật được cuộc chiếm đóng đó, không cần nhìn thấy cũng biết những gì đã xảy ra.
Sau này chúng tôi mới được biết bốn trong số các hàng không mẫu hạm mạnh nhứt và lớn nhứt của chúng tôi, đã làm nên chiến thắng Trân Châu Cảng, cùng với 248 phi cơ và hầu hết phi công cũng như hàng mấy ngàn thủy thủ, đã bị chôn vùi xuống đáy biển.
Từ ngày 5 đến 15 tháng 5, một sự yên tĩnh kỳ lạ trên mặt trận New Guinea. Sự yên tĩnh này chỉ bị phá vỡ bởi một cuộc không kích duy nhất ở Lae vào ngày 9. Ðiểm thắng của tôi ghi thêm hai oanh tạc cơ B26 Marauder. Vào ngày 16 tháng 5, cuộc chiến trên không bùng nổ dữ dội trở lại. Ðó là một ngày chiến đấu cơ của chúng tôi làm chủ chiến trường, khi 21 chiếc Zéro vồ ba nhóm phi cơ lơ đãng của địch quân.
Chúng tôi đụng với nhóm 12 chiến đấu cơ đầu tiên của địch bằng cách bổ nhào xuống một lượt, phá tan đội ngũ của địch quân. Tôi bắn rơi một chiếc, và năm phi công khác mỗi người ghi một điểm. Sáu chiến đấu cơ địch còn lại chúi mũi chạy thoát.
Trở lên cao độ cũ, chúng tôi nhào ra khỏi ánh mặt trời đâm thẳng vô nhóm 12 chiến đấu cơ thứ hai. Với cách đánh bất thần được lặp lại này, chúng tôi hạ thêm ba chiến đấu cơ địch. Tôi lại ghi thêm một điểm. Ðợt phi cơ thứ ba, gồm khoảng 10 chiếc lướt đến ngay khi chúng tôi vừa dọn dẹp xong nhóm thứ hai. Chúng tôi chia ra làm hai nhóm, một nhóm 11 chiếc Zero vượt lên cao để đánh xuống, một nhóm gồm 10 chiếc vẫn giữ độ cao như cũ. Các đội hình toả rộng trên khắp bầu trời Moresby. Phi cơ địch là loại P39 mới, bay mau lẹ hơn loại cũ nhiều. Tôi nhảy vô một đối thủ, và hắn đã làm cho tôi ngạc nhiên qua lối vung thật lẹ ra khỏi hướng bay mỗi lần tôi khai hoả. Chúng tôi rượt đuổi nhau vòng quanh. Viên phi công của chiếc Airacobra này vừa chạy vừa xoay tít, lộn nhào, vượt lên, chúi xuống, xoắn vòng, rớt theo hình trôn ốc, và nhiều cách khác. Tài nghệ của hắn tuyệt luân. Với một chiếc phi cơ tốt hơn, đáng lẽ hắn đã lấy mạng tôi từ lâu, nhưng tôi không để hắn hở tay. Tôi cứ đeo dính cách phía sau đuôi hắn không đầy 20 thước. Cuối cùng tôi lăn về phía trái một vòng, tung ra hai viên đại bác tầm ngắn, và chiếc P39 biến thành cây đuốc.
Ðó là chiến thắng thứ ba trong ngày. Chiến thắng thứ tư hầu như tiếp ngay sau đó và dễ dàng một cách đáng buồn cười. Một chiếc P39 xẹt đến trước mặt tôi và chỉ lo chú ý đến một chiếc Zéro khác đang truy đuổi ráo riết phía sau. Chờ cho chiếc phi cơ đến đúng tầm súng, tôi rót ngay 200 viên đại liên vô mũi. Nó lộn nhào như chớp để tránh né. Tôi bồi thêm loạt đại liên thứ hai vô bụng. Nó vẫn chưa chịu rớt. Một loạt đại liên thứ ba chụp trúng buồng lái của chiếc phi cơ đang còn lộn nhào. Kiếng che gió vỡ tan, và tôi thấy viên phi công gục về phía trước. Chiếc P39 xoay tít như chong chóng, và nổ tan trong khu rừng phía dưới.
Hạ bốn chiến đấu cơ địch trong một ngày. Ðó là thành tích của riêng tôi, đóng góp vào thành tích chiến thắng vĩ đại nhứt chỉ trong vòng một ngày hoạt động của Phi đoàn Lae, với tổng số 19 chiến đấu cơ địch bị tiêu diệt thực sự.
Chiến thắng như vậy vẫn chưa đủ. 10 oanh tạc cơ B26 lại mò đến căn cứ của chúng tôi. Ðịch đã chọn giờ xấu, vì 19 chiếc Zéro đã rời khỏi mặt đất trước khi chúng đến. Chúng tôi không hạ được chiếc nào, nhưng gây hư hại hầu hết và phá hỏng kế hoạch oanh tạc của địch quân. Trên đường truy đuổi, chúng tôi đụng đầu với 10 chiếc P39. Hiển nhiên 10 phi cơ này đáp lại lời kêu cứu của các oanh tạc cơ. Chúng tôi đốt một chiếc.
Căn cứ Lae tưng bừng với chiến thắng đêm đó. Tất cả các phi công được phát thuốc hút thả giàn. Chuyên viên cơ khí bu quanh chúng tôi để chia sẻ niềm vui. Chúng tôi còn được tin sẽ có 5 ngày phép ở Rabaul. Tin này khiến tôi khoan khoái hơn hết.
Không những tôi quá mệt mỏi sau những ngày chiến đấu liên miên, nhưng các chuyên viên cơ khí muốn có thời giờ để sửa chữa chiếc Zéro của tôi. Họ gọi tôi ra để chỉ cho coi nhiều lỗ đạn trên cánh và trên thân phi cơ, và tôi đã thót ruột khi nhìn thấy những lỗ đạn chạm thành một hàng phía sau phòng lái, cách đầu tôi không đầy hai phân.
Hồi năm 1942, không có một phi công nào của Nhựt bận áo giáp, và phi cơ cũng không được chế tạo với những chỗ bọc thép để chống đạn như phi cơ của Hoa Kỳ. Nếu đối phương sớm khám phá điều này, chỉ cần một viên đại liên 50 bắn vô thùng chứa xăng, chiếc Zéro làm bằng hợp kim nhôm sẽ biến thành ngọn đuốc lập tức. Tuy biết như vậy, trong thời gian này không có một phi công nào của chúng tôi mang dù khi bay. Vấn đề này Tây Phương đã diễn dịch sai lầm khi cho rằng cấp lãnh đạo Nhựt đã coi rẻ mạng sống của chúng tôi, rằng tất cả các phi công Nhựt bị vắt chanh bỏ vỏ và bị coi như những món đồ vật hơn là con người. Diễn dịch quá nhiều tưởng tượng. Tất cả các phi công chúng tôi đều được phát một cây dù khi bay, còn dùng hay không là quyết định riêng của chúng tôi, không có bộ chỉ huy nào ra lịnh không xài dù. Thực ra, chúng tôi được giới chỉ huy cao cấp thúc giục, tuy nhiên không ra lịnh hẳn hoi là phải mang dù khi chiến đấu, tuy cũng có những vị chỉ huy bắt buộc. Gặp trường hợp sau, phi công đem theo dù nhưng chỉ để trong phòng lái hoặc dùng làm nệm lót để ngồi.
Mục đích khiến chúng tôi không mang dù là nhằm tránh vướng víu tay chân. Vả lại đa số các trận không chiến của chúng tôi đều xảy ra trên đất địch, nếu có nhảy dù xuống an toàn thì cũng sẽ bị bắt giữ. Trong các điều luật của quân đội và trong các điều tâm niệm của võ sĩ đạo, không có giòng nào ghi hai chữ “Tù binh” hết. “Không làm tù binh”. Một kẻ ra trận hoặc là chết hoặc là trở về. Không có phi công chiến đấu nào gọi là can đảm mà lại để cho địch quân bắt giữ bao giờ. Việc này hoàn toàn không được nghĩ đến. Tuy nhiên, quả thật là khó chịu vô cùng khi nhìn thấy một hàng lỗ đạn chỉ cách đầu mình có mấy phân.
Ðêm đó tôi được Bộ Tư Lịnh Hải quân xác nhận con số bốn nạn nhân trong ngày của tôi. Ðây không phải là trường hợp duy nhất của Hải quân Hoàng gia. Tôi biết có nhiều phi công hải quân khác đã lập được thành tích này hoặc nhiều hơn nữa. Tính đến hiện tại, tổng số phi cơ bị tôi hạ là 43 chiếc.
Nishizawa sẽ trở thành phi công đại tài nhất với tổng số 103 phi cơ địch bị bắn rơi, và thành tích tột cùng của hắn lập được vào ngày 5 tháng 8 ở Guadalcanal là khi hắn hạ một lúc sáu chiến đấu cơ của Hải quân Hoa Kỳ, còn Trung sĩ Kenji Okabe hạ một lúc bốn chiếc F4F Wildcat, TBF Avenger và SBD Dauntless qua một loạt trận không chiến trong cùng ngày ở Rabaul. Okabe đã đáp xuống ba lần để lấy nhiên liệu và đạn dược trong suốt cuộc chiến đấu của ngày hôm đó, lập được thành tích vô song này.
Tuy nhiên, hầu như tất cả những phi công đạt được chiến công trên đều bị thiệt mạng không lâu sau đó trong lúc chiến đấu. Có hai trường hợp ngoại lệ, đó là trường hợp của chính tôi và Nishizawa. Nhưng mỉa mai thay, Nishizawa lại bị thiệt mạng vào tháng 9 năm 1944 trên không phận Cebu ở Phi Luật Tân, mà không bắn được phát súng tự vệ nào. Nhiều chiến đấu cơ H6F Hellcat đã túm được hắn trong một vận tải cơ không hộ tống và không võ trang. Chiếc vận tải cơ bị bắn cháy và chấm dứt cuộc đời của viên phi công vĩ đại nhất của Nhựt Bản một cách tăm tối.
Ðêm đó tôi được lịnh trình diện Chỉ huy trưởng căn cứ, một việc hiếm xảy ra. Trong văn phòng của Ðại tá Saito, tôi thấy có mặt Ðại úy Sasai và Chỉ huy trưởng Phi đoàn, Trung tá Nakajima. Cả hai vị sĩ quan cấp tá đều có vẻ buồn bã.
Ðại tá Saito nói: “Tôi muốn báo cho anh biết tin này và tôi làm như vậy là lời yêu cầu của Trung tá Nakajima. Ðây là một việc không mấy gì vui vẻ đối với tôi. Hồi đầu tháng này, tôi có yêu cầu Tổng Hành Dinh Ðông-Kinh ân thưởng cho Ðại úy Sasai về tài ba chỉ huy phi đội trong chiến đấu. Ðồng thời tôi cũng yêu cầu Ðông-Kinh công khai thừa nhận các thành quả phi thường mà anh, Sakai, đã đạt được trên mặt trận. Những thành quả này, theo chúng tôi biết, đã khiến anh trở thành phi công hàng đầu của toàn thể phi công Hải quân Hoàng gia. Tuy nhiên, những lời yêu cầu này đã bị bác bỏ. Ðông-Kinh nhận thấy không thích hợp cho việc phá bỏ tiền lệ. Lịch sử chúng ta chưa bao giờ có một vị anh hùng nào còn sống bao giờ,” Saito gằn giọng, “và hiển nhiên Ðông-Kinh không muốn có sự thay đổi nào trong thời gian này. Họ đã từ chối,” ông nói thêm với giọng buồn bã “ngay cả ân thưởng một huy chương hoặc thăng cấp cho các anh cũng không.”
Ông kết luận: “Tôi không muốn tiết lộ các chi tiết này cho các anh, e rằng các anh sẽ bàn tán này nọ về hành động của Bộ Tư Lịnh Tối Cao. Nhưng có điều quan trọng không kém đối với tôi là tôi muốn cả hai anh biết rằng tôi, trong tư cách thượng cấp của các anh, tôi hoàn toàn công nhận lòng nhiệt thành và sự cố gắng không lúc nào ngưng nghỉ của các anh.”
Trung tá Nakajima lên tiếng: “Truyền thống của Hải quân là chỉ ân thưởng huân chương hoặc thăng cấp tại mặt trận cho người đã chết, chúng tôi không biết là đúng hoặc sai. Dĩ nhiên truyền thống này thật là bất lợi cho các anh trong hoàn cảnh này. Tôi cảm thấy cần phải nói cho các anh biết rằng Ðại tá Saito cũng đã yêu cầu thăng một cấp cho Ðại úy Sasai, và thăng cấp Thiếu úy cho Thượng sĩ Sakai.”
Sasai đáp rằng: “Tôi không biết cách nào để bày tỏ lòng biết ơn của tôi đối với sự ưu ái của cấp trên. Tuy nhiên, tôi cần phải nói thêm rằng cả tôi lẫn Sakai không ai bất mãn trước sự quyết định của Ðông-Kinh. Tôi không thấy có lý do nào để chúng tôi bất mãn. Theo thiển ý của tôi, và tôi chắc Sakai cũng vậy, những thành quả và những chiến thắng trên không của chúng tôi không phải là một mình chúng tôi có thể đạt được. Nếu không có những phi công bên cánh đã bao che cho chúng tôi, nếu không có sự tận tâm của các nhân viên dưới mặt đất, chúng tôi sẽ không thể làm gì được cả. Tôi hài lòng về công tác có tính cách đồng đội của chúng tôi, và tôi không cảm thấy sự ân thưởng hoặc thăng cấp cá nhân là cần thiết, mặc dù những gì mà nhị vị đã làm khiến cho chúng tôi rất lấy làm vinh dự.”
Sasai đã nói lên tất cả những gì tôi muốn nói, và tôi chỉ biết gật đầu đồng ý.
Chính sách không tuyên dương công trạng cá nhân của Hải quân vẫn được giữ triệt để cho đến cuối cuộc chiến. Tuy nhiên, vào tháng 3 năm 1945 có một sự phá lệ đặc biệt trong chính sách này khi Ðô đốc Soemu Toyoda, Tư Lịnh Hạm Ðội Hỗn Hợp, thốt lên lời khen ngợi các chiến công phi thường của Trung sĩ Shoichi Sugita và tôi, bấy giờ là một thiếu úy. Nhưng lúc ấy sự khen ngợi này đã trở thành vô nghĩa. Những phi công vĩ đại của Hải quân như Nishizawa, Ota, Sasai và nhiều người khác, đã không còn nữa.
Tôi gặp anh trong buổi tiệc họp mặt mừng xuân của Hội Biệt Động Quân Nam Cali. Khi nghe giới thiệu, anh đến tìm tôi. Anh cầm tay hỏi lại tên tôi rồi nức nở với hai hàng nước mắt. Tôi ngạc nhiên, đứng dậy, im lặng xúc động nhìn anh khóc. Anh mặc bộ đồ bay màu đen, cao lớn, bô trai. Hàm râu mép vừa tăng vẻ cương nghị oai phong vừa đượm nét hào hoa lẫn một chút phong trần của những người đã từng một thời đi mấy về gió. Tôi vội vã cố lục lọi trong ký ức, nhưng không thể nhớ anh là ai, và đã từng gặp nhau chưa. Có thể là ngày xưa chúng tôi đã cùng tham dự một cuộc hành quân phối họp nào đó. Lúc ấy tôi là lính bộ binh, tham gia nhiều cuộc hành quân trực thăng vận, hoặc được L-19 bao vùng, Hỏa Long soi sáng hay được cận yểm bởi các oanh tạc cơ, mà chúng tôi xem như những chàng dũng sĩ, cứu tinh trong giờ phút lâm nguy. Tôi có dịp quen biết một số phi công, nhiều nhất là ở các Phi Đoàn trực thăng, nhưng không nhận ra chàng pilot vẫn còn đầy phong độ, đang đứng trước mặt mình.
Khi bớt xúc động, anh đưa tay lau nước mắt và tự giới thiệu:
– Xin lỗi anh, gặp anh tôi xúc động quá, vì nghĩ tới anh tôi. Tôi là em của anh Phạm văn Thặng.
Bây giờ tôi mới hiểu ra. Đúng là tôi chưa gặp anh bao giờ. Sở dĩ anh biết tôi, vì mới đây trong một ký sự về chiến trường xưa, tôi có nhắc lại những trận đánh tại Kontum, và trong đó có kể lại cái chết can trường của người phi công anh hùng Phạm văn Thặng, khi anh đang bay một phi vụ yểm trợ cho chính đơn vị của tôi.
Tôi cảm động, ôm lấy vai anh và mời anh ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh. Chỉ nói chuyện được một lúc, vì cả hội trường đang bừng lên với những bài hùng ca trên sân khấu. Anh cho tôi địa chỉ, số điện thoại và mong được gặp tôi tại nhà anh vào cuối tuần sau. Anh muốn biết tường tận hơn về cái chết của người bào huynh khả kính, cố Trung tá Phạm văn Thặng.
Qua tâm tình, tôi biết anh có một cái tên khá đẹp: Phạm Vương Thục. Trước 75 từng là phi công trực thăng võ trang của một Phi Đoàn kỳ cựu, tiếng tăm Vùng I: Song Chùy – 213. Đọc trên Cánh Thép, tôi còn biết anh từng là Lead Gun (trưởng toán trực thăng võ trang), tham gia trong suốt cuộc Hành Quân Lam Sơn 719. Một trận chiến mà địch quân tập trung hỏa lực phòng không mạnh mẽ nhất từ trước tới nay. Gây thiệt hại không nhỏ cho các đơn vị không quân Hoa Kỳ và Việt Nam tham chiến. Nhờ tài năng, phán đoán nhanh nhẹn cùng với sự bình tĩnh và can trường, anh đã vẫy vùng trên bầu trời trận mạc, bao lần vượt qua cái chết trong đường tơ kẻ tóc để yểm trợ hữu hiệu, cứu nguy cho các lực lượng chiến đấu cũng như cho chính những người bạn trong Phi Đoàn. Có lần phi cơ trúng đạn, anh đã phải đáp khẩn cấp xuống Căn Cứ Hỏa Lực Đồi 30, trong khi Đồi 31 đã bị thất thủ.
Cuối tuần, trước khi đến anh, tôi báo cho anh biết, là tôi vừa gặp người bạn cùng tù thân thiết, là một sĩ quan Lôi Hổ thuộc Nha Kỷ Thuật, vào năm 1972 đồn trú tại căn cứ B-15 ở Kontum. Và cũng là người trưởng toán, chỉ huy việc lấy di thể của anh Phạm văn Thặng từ chiếc oanh tạc cơ bị bốc cháy bên bờ sông Dakbla ngày ấy. Anh Thục rất vui mừng và mong được gặp người bạn Lôi Hổ này sẽ cùng đến với tôi.
Chúng tôi không mấy khó khăn khi tìm đến nhà anh, dù lúc trời đã tối và đang vần vũ một cơn mưa. Chưa kịp bấm chuông là anh đã mở cửa, vui mừng mời chúng tôi vào. Ngôi nhà khá đẹp, bày biện trang nhã. Điều làm chúng tôi bất ngờ cảm động là ở một góc của tầng trên là bàn thờ trang trọng với tấm ảnh chân dung lớn của cố Trung Tá Phạm văn Thặng, một số bạn bè không quân của anh đã hy sinh, năm vị tướng và một số sĩ quan khác đã tuẫn tiết vào giờ thứ 25 cuộc chiến. Chúng tôi đứng nghiêm trước các bức chân dung, lòng ngâm ngùi thương tiếc, cùng cảm kích tấm lòng của anh, người phi công dũng cảm hào hoa vẫn luôn giữ trọn tình với quê hương, chiến hữu.
Chị Thục từ dưới bếp chạy lên vui vẻ chào chúng tôi. Đúng là vợ phi công. Chị rất hiếu khách, bặt thiệp. Sau đó, khi nhìn trên bàn thờ gia đình, thấy tấm ảnh chân dung của Đại tá Trịnh Tiếu, tôi mới biết chị Thục là em gái của vị Trưởng Phòng Nhì Quân Đoàn mà tôi đã vài lần được gặp ở Kontum. Sau 75, Ông từng bị tù đày, tra tấn hành hạ nhiều năm, sức khỏe hao gầy, bệnh hoạn, nên vừa mới qua đời tại hải ngoại. Tấm ảnh của ông mới nhất trong số các bức ảnh chân dung khác trên bàn thờ. Anh Thục kể lại chuyện hai người tình cờ quen nhau, khi anh chỉ huy một phi đội vào Quảng Ngãi tham gia hành quân với Sư Đoàn 2BB. Buổi chiều, trước khi bay về Căn Cứ Phi Đoàn ở Đà Nẳng, anh được BTL/SĐ chuyển lại lời yêu cầu của Đại Tá Trịnh Tiếu (khi ấy là Trung Tá). Thục đã nhận lời chở quan tài của thân sinh đại tá Tiếu từ Quảng Ngãi ra Hội An an táng, và trong “phi vụ” đặc biệt này anh đã quen và làm xiêu lòng cô em gái xinh đẹp của ông, tháp tùng trên chuyến bay.
Trong bàn ăn, chúng tôi kể lại những chuyện vui buồn trong thời lính chiến ngày xưa. Anh Thục cho biết anh được tin máy bay anh Phạm văn Thặng lâm nạn tại Kontum vào lúc 5.30 giờ chiều ngày 26.5.72. Ngay sáng hôm sau Sư Đoàn 1 KQ cho một phi cơ A37 đưa anh từ Đà Nẵng vào phi trường Pleiku. Phi công của chiếc A37 này lại là người em cột chèo của anh, Thiếu Tá Trịnh Đức Tự (sau này đã anh dũng hy sinh tại chiến trường Quế Sơn). Nhưng khi đến Pleiku, anh được cho biết tình hình ở Kontum rất nặng nề, chưa thể tìm được anh Thặng nhưng sự sống sót rất mong manh, không còn chút hy vọng nào. Thục đã bay trở lại Đà Nẵng trong ngày. Đến tối, anh được BTL/KQ cho biết là thi thể anh Thặng đã được đưa về Tử Sĩ Đường ở Tân Sơn Nhất. Anh cùng người anh cả vào nhận xác. Đứng trước thi thể của anh Thặng, anh đã tột cùng xúc động khi quá thương tiếc người anh khả kính đã từng có với mình cả một trời kỷ niệm tuổi thơ, đặc biệt khi còn ở miền Bắc. Anh Thặng là người con thứ sáu và anh Thục là người con thứ tám của gia đình. Năm Thục vừa tròn 12 tuổi và anh Thặng 16, đã cùng gia đình di cư vào Nam, sống và lớn lên ở thành phố Huế. Không chỉ là anh em, hai người còn là đôi bạn thân thiết, cùng theo học trường Pellerin nổi tiếng do sự giúp đỡ tận tình của các Linh mục và Sư huynh, trước khi chia tay vào quân ngũ. Vài ngày trước khi hy sinh, như là điềm báo trước, anh Thặng gọi điện thoại về Đà Nẵng thăm anh và hỏi han khá nhiều về mọi người trong gia đình.
Tôi kể lại hành động can trường của anh Thặng mà tôi đã được chứng kiến từ khi anh lên vùng cho đến lúc hy sinh, và người bạn tù Lôi Hổ của tôi kể lại việc lấy xác của anh sau khi lâm nạn. Anh Thục ngồi nghe và khóc sụt sùi. Trước khi chia tay, anh xin địa chỉ e-mail của bạn tôi, bảo sẽ báo tin này cho cô con gái lớn của anh Thặng, hiện định cư ở Đức để cháu cám ơn người đã giúp lấy xác ba cháu. Hai ngày sau, người bạn chuyển cho tôi bức điện thư với lời lẽ rất lễ phép, cảm động dễ thương của cháu Phạm Hồng Phương, con gái lớn của anh Thặng.
Vào tối ngày 29.4, được thư mời của anh Thục, chúng tôi đến nhà hàng Paracell tham dự một Chương Trình Tưởng Niệm do cá nhân anh phối họp với người bạn thân, chiến hữu Đặng Thành Long, một cựu SQ Hải Quân, tổ chức. Anh đón chúng tôi trước cửa Nhà Hàng, nơi có bàn thờ nhiều vị Tướng Lãnh và Sĩ Quan VNCH đã hy sinh tại chiến trường hay tuẫn tiết trước giờ mất nước. Buổi Tưởng Niệm được tổ chức thật chu đáo, và nhiều ý nghĩa, trong không khí tôn nghiêm và cảm động. Tất cả tiền thu được dành hổ trợ những người đấu tranh trong nước đang bị tù đày khốn khổ. Cũng trong đêm nay, tôi được hân hạnh gặp bác sĩ Ngô Thế Khanh, một cựu y sĩ Không Quân tại Pleiku, một người lúc nào cũng trọn tấm lòng với anh em. Cái tình chiến hữu anh đã dành cho làm tôi cảm động. Tôi cũng được gặp một số các anh phi công khác. Tất cả đều có một thời oanh liệt, ngang dọc trên bầu trời quê hương và hào hùng trên đầu quân địch. Đêm nay cũng có người phi công mà tên anh có lẽ người cựu lính nào cũng biết. Bởi những bài ký sự chiến trường, mà ai đọc qua cũng phải ngưỡng mộ anh, không những cảm phục về tài bay bổng mà còn có một trí nhớ thật phi thường. Người hùng Vĩnh Hiếu, Lead gun của Phi Đoàn Thần Tượng 215. Phi Đoàn mà đơn vị tôi có nhiều gắn bó nhất, lúc còn hoạt động ở khu vực Sông Mao, và khi ấy người anh cả cuối cùng của Phi Đoàn, Trung Tá Khưu văn Phát còn là Đại úy Trưởng Phòng Hành Quân. Đêm nay, đã trải qua 35 năm dâu bể, nhưng Vĩnh Hiếu vẫn rất trẻ trung, với đôi mắt sáng, hàm râu mép hào hoa, nụ cười rạng rỡ, với những cái bắt tay thật chặt ân tình và những chuyện chiến trường, chuyện đồng đội sôi nổi dường như không muốn dứt. Như vậy đó, mà anh đã từng là một phi công trực thăng võ trang gan dạ hào hùng trên khắp chiến trường Vùng 2 khói lửa năm nào. Ngồi nói chuyện với anh, tôi thầm nghĩ, nếu bây giờ trở lại chiến trường, Thần Tượng Vĩnh Hiếu này cũng vẫn là một Lead Gun hào hùng(và hào hoa) như thuở trước.
Qua anh Thục, hôm sau tôi liên lạc được một người bạn phi công anh hùng khác. Người mà tôi đã từng chứng kiến và ngưỡng mộ về tài năng và sự can đảm phi thường. Thiếu Tá Hàn văn Trung. Năm 1973, khi ấy Hàn văn Trung còn mang cấp bậc Đại Úy, giữ chức vụ Trưởng Phòng Hành Quân của Phi Đoàn 235 Sơn Dương ở Pleiku.
Hôm ấy, tôi nhận lệnh Đại Tá Bùi Hữu Khiêm, TMT Sư Đoàn 23BB, cùng bay trên chiếc C&C của Phi Đoàn 235, để bốc khẩn cấp số thương binh, trong đó có Thiếu Tá Cang, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 2/44 ra khỏi căn cứ Võ Định. Căn Cứ nằm phía Bắc Kontum khoảng 15 cây số, bên cạnh QL 14 trên đường đi Dakto, trên ngọn núi trọc, với một cao điểm có khả năng chế ngự các vùng chung quanh. Đặc biệt, ngay phía dưới là con sông Dak La. Bên kia sông trở về hướng Bắc là vùng địch chiếm từ cuối tháng 4/72, sau khi BTL/ SĐ 22BB tại Tân Cảnh bị tràn ngập và vị Tư Lệnh đã lẫm liệt hy sinh, vùi thân nơi chiến địa. Căn cứ này đã trải qua nhiều trận chiến, bao lần bỏ đi rồi chiếm lại, nên bây giờ chỉ còn là một ngọn đồi xám xịt, hoang tàn loang lổ dấu đạn bom.
Thiếu Tá Nguyễn Hữu Cang, tốt nghiệp khóa 17 Võ Bị Đà Lạt, nguyên là Sĩ Quan Nhảy Dù. Trong một cuộc hành quân trực thăng vận tại Đông Hà, anh bị thương nặng ở chân phải. Xụất viện, với một thanh sắt vĩnh viễn nằm trong cái chân khập khiễng, được lệnh thuyên chuyển ra khỏi Nhảy Dù về BTL/Quân Đoàn II, giữ một chức vụ tại Trung Tâm Hành Quân. Chỉ một thời gian ngắn, anh khẩn khoản xin ra đơn vị tác chiến, mặc dù Phòng Tổng Quản Trị từ chối vì tình trạng sức khỏe của anh. Anh tiếp tục xin vị Tư Lệnh, và cuối cùng được toại nguyện, bổ nhiệm về nắm Tiểu Đoàn 2/44, mà vị Trung Đoàn Trưởng trẻ tuổi thao lược, lại là người bạn cùng khóa: Trung Tá Ngô văn Xuân.
Đầu năm 1973, vài ngày trước khi có Hiệp Định Paris (Ngưng Bắn Da Beo), Tổng Thống Thiệu ra lệnh các đơn vị cố gắng mở rộng tối đa vùng kiểm soát, đặc biệt chiếm lấy những vị trí quan trọng để cấm ngọn cờ chủ quyền. Tiểu Đoàn 2/44 nhận lệnh phải chiếm bằng được căn cứ Võ Định, cao điểm trọng yếu tận cùng phía Bắc Kontum.
Với sự yểm trợ hỏa lực mạnh mẽ, hữu hiệu của Không Quân và Pháo Binh, Tiểu Đoàn 2/44 của Thiếu Tá Cang được trực thăng vận bất ngờ xuống ngay vùng địch, đánh một trận khá đẹp, nhanh chóng tiêu diệt lực lượng địch án ngữ phía dưới và dễ dàng chiếm lĩnh căn cứ trên ngọn đồi Võ Định. BCH Tiểu Đoàn, Đại Đội CHYT và một Đại Đại Đội tác chiến trách nhiệm phòng thủ căn cứ. Các Đại Đội còn lại bung ra hoạt động các vùng lân cận. Một toán Công Binh được thả xuống ngay sau đó để tu sửa lại hệ thống phòng thủ, nhất là vị trí dành cho một trung đội pháo binh 105 ly sẽ được thả xuống nay mai. Ngày N+1 tình hình hoàn toàn yên tĩnh, nhưng sáng sớm hôm sau, pháo địch từ bên kia sông thi nhau ập xuống. Địch đã có sẵn các yếu tố tác xạ và sử dụng tối đa các loại pháo, liên tục và chính xác. Những công sự phòng thủ chưa kịp tu bổ xong đã bị phá hủy. Thiếu tá Cang và một số sĩ quan và binh sĩ bị thương, kể cả anh Sĩ Quan trưởng toán Công Binh.
Ngày hôm sau, tình hình trở lại yên tĩnh trong không khí căn thẳng nặng nề. Sau khi Sao Mai 09, (phi cơ quan sát L-19) hướng dẫn hai phi tuần đánh bom vào các điểm nghi ngờ vị trí đặt pháo của địch, hai chiêc trực thăng tản thương, được yểm trợ bởi các gunships, đáp xuống căn cứ để bốc thương binh. Riêng Thiếu Tá Cang tình nguyện ở lại cùng đơn vị. Nhưng khi chiếc thứ nhất vừa đáp, hằng loạt pháo địch lại thi nhau rót xuống. May mắn chỉ có người co-pilot bị thương nhẹ, nhưng máy bay bị trúng đạn, không cất cánh được. Chiếc thứ nhì quyết không bỏ đồng đội, đáp xuống bốc phi hành đoàn trong tiếng nổ và khói lửa mù trời của pháo địch.
Sau khi nghiên cứu kỹ tình hình, BTL Sư Đoàn quyết định rời bỏ căn cứ Võ Định để tránh tổn thất do trận địa pháo của địch. Tiểu Đoàn 2/44 rút về Căn Cứ Eo Gió, nằm phía Nam Võ Định khoảng bốn cây số. Nhưng phải giải quyết số thương vong và anh Tiểu Đoàn Trưởng không thể di chuyển theo đoàn quân bộ chiến được. Tôi được vị Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn giao cho trách nhiệm tháp tùng trên chiếc C&C của Phi Đoàn 235 thi hành nhiệm vụ khá gay go nhưng rất khẩn cấp này.
Đến bãi đáp B15, tôi gặp người chị huy hợp đoàn trực thăng hôm ấy. Rất vui mừng khi gặp lại Đại Úy Hàn văn Trung, Trưởng Phòng Hành Quân Phi Đoàn 235. Tôi đã từng bay đổ quân với anh vài lần, thích bản tính vui vẻ và thầm thán phục về khả năng chỉ huy và bay bổng của anh. Sau khi nghe tôi trình bày tình hình và mục tiêu, cũng như lời dăn dò của vị TMT /SĐ, Đại Úy Trung gọi các phi công lại để bàn kế hoạch. Tôi lên chiêc C&C do Trung điều khiển, cất cánh trước cùng với hai trực thăng võ trang. Sau một vòng bay để quan sát kỹ lưỡng địa thế, anh Trung bay vòng lại và gọi tất cả phi cơ còn lại lên vùng. Tôi thấy anh cho một số phi cơ bay tản ra nhằm đánh lạc hướng địch, để hai trực thăng khác bất ngờ đáp xuống căn cứ. Nhưng không tránh được sự quan sát của địch. Chiếc trực thăng vừa can đảm xuống thấp và lấy hướng an toàn bay vào, thì pháo địch đã nổ ngay trên bãi đáp. Đại Úy Trung cùng hai trực thăng võ trang liền xuống thấp yểm trợ, và cùng lúc ra lệnh cho chiếc trực thăng này bay ra theo hướng an toàn nhất, chiếc thứ hai bay từ hướng khác tìm cách bất ngờ xuống bãi đáp. Nhưng pháo địch tiếp tục ập xuống. Nhìn chiếc trực thăng bay lên từ trong một vùng khói lửa, chúng tôi ai cũng căng thẳng, hồi họp lo âu. Đại úy Trung ra lệnh cho cả hợp đoàn bay về Kontum lấy xăng.
Sau gần một giờ nghỉ ngơi và nghiên cứu một kế hoạch khác, Đại úy Trung gọi các phi công lại, thảo luận kế hoạch và phân chia nhiệm vụ. Lần này anh sẽ đích thân lái chiếc C&C đáp xuống bốc thương binh. Dường như Trung vừa mới quyết định một điều bất thường, ngoại lệ, nên tất cả mọi người đều tròn mắt nhìn anh ái ngại. Anh nổ máy, đích thân điều khiển phi cơ. Anh bay thật thấp dọc theo con suối chảy dài phía bên trái quốc lộ 14, trong khi hai gunships bay hai bên và tác xạ trước vào các điểm nghi ngờ. Hơp đoàn còn lại bay theo phía sau xa. Anh bay thấp đến nỗi các hàng lau sậy nằm rạp xuống ngay dưới bụng máy bay, nước dưới suối bắn tung lên. Đã từng rất nhiều lần ngồi trên trực thăng, nhưng chưa bao giờ tôi bị “bay” rất nhanh với một độ thấp như thế. Mấy lần tôi suýt thét lên, khi chợt thấy phía trước là một cây cao hay một tảng đá, nhưng anh đã tài tình lách qua tránh khỏi. Tôi có cảm tưởng chiếc trực thăng như là một món đồ chơi nhỏ bé trong tay anh.
Con suối khá dài, dẫn tới triền đồi Võ Định. Anh Trung tiếp tục bay sát theo ngọn đồi. Tôi có cảm giác như chiếc trực thăng đang bò lên căn cứ. Địch quân không hề hay biết. Nhưng khi anh bất ngờ đáp xuống, bụi mù bốc lên, địch mới phát hiện và pháo bắt đầu nổ. Cát, sạn, và có thể có cả mảnh đạn nữa, bay rào rào vào thân và kiếng phi cơ. Nắm chặt khẩu M-18, tôi chưa biết xử trí thế nào, thì thấy anh Trung bảo người co-pilot giữ cần lái, rồi mở cửa máy bay nhảy xuống. Tôi nhảy theo anh, chạy về hướng hầm chỉ huy đốc thúc, phụ lực khiêng và dìu thương binh ra phi cơ. Thương binh khá đông, có tới trên 10 người. Thiếu Tá Cang nhìn chúng tôi lo lắng, nhưng đại úy Trung rất bình tĩnh ra dấu cho tất cả lên máy bay. Đạn pháo vẫn tiếp tục rót xuống, một vài thương binh lại bị thêm ít mảnh đạn. Trung là người cuối cùng bước lên tàu khi anh co-pilot điều khiển cho phi cơ quay đầu lại và bay nhanh xuống đồi.
Đáp xuống bãi đáp B-15. nhìn thấy trên thân và kiếng phi cơ lỗ chỗ nhiều vết đạn, Thiếu Tá Cang và tôi đã ôm chầm lấy Trung và người co-pilot. Giọt nước mắt biết ơn và cảm phục đã lăn xuống gò má của tất cả những người lính bộ binh vừa được Trung và phi hành đoàn bốc ra từ cõi chết.
Trở về Trung Tâm Hành Quân Sư Đoàn ở căn cứ B-12, tôi gặp hai ông Đại tá Tư Lệnh Phó và TMT Sư Đoàn. Kể lại phi vụ đặc biệt của Phi Đoàn 235, tôi hết lời ngợi ca và xin đề nghị tưởng thưởng cho đại úy Trung một Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu, và các anh còn lại của phi hành đoàn mỗi người một ngôi sao vàng. Hai ông đại tá hứa sẽ làm theo đề nghị của tôi( Nhưng không biết sau này kết quả ra sao). Một vị Trung tá KQ ngồi cạnh anh Sĩ Quan Không Trợ, mà khi vừa mới bước vào tôi không để ý, quay sang nhìn tôi cười:
– Tay Trung này thì có tài và liều lĩnh lắm, nhưng cũng là một tay coi trời bằng vung. Nó đùa giỡn với chiếc máy bay như là một món đồ chơi. Thích biểu diễn kiểu nào là nó làm ngay, và dù có bị “ký củ” hơi nhiều, vẫn cứ cười tỉnh bơ. Vì vậy nên có thừa tài năng và can đảm, nắm Trưởng Phòng Hành Quân mà vẫn chưa mang Thiếu tá được!
Tôi không còn nhớ rõ đó là Trung Tá Quang hay Trung Tá Vĩnh Quốc. Nhưng tất cả mọi người trong TTHQ đều cười và thán phục. Sau này Thiếu Tá Cang nhận Trung là người anh em kết nghĩa. Sau một cuộc hành quân trở về, hai chàng lại gặp nhau, bù khú ngay trong căn cứ dã chiến của Tiểu Đoàn. Mùa hè 2010, gặp lại anh Cang trong Buổi Họp Mặt Khóa 17 VBĐL tôi báo cho anh biết là tôi vừa nói chuyện với Hàn Văn Trung trong điện thoại. Mắt anh Cang sáng lên. Mừng như sắp được gặp lại người tri kỹ.
Trong cuộc chiến Việt Nam, những chàng pilot nổi tiếng hào hoa ở thành phố. Là thần tượng của các cô con gái đẹp. Nhưng có lẽ ít ai biết rằng, những chàng trai trẻ ấy lại là những chiến sĩ rất hào hùng trên khắp các chiến trường. Bao phen xem cái chết tựa lông hồng. Địch quân khiếp sợ. Không có chiến tích nào mà thiếu sự tham dự của các chàng trai hào hoa ấy. Với những người lính bộ binh như chúng tôi, các Bạn luôn là những cứu tinh, là niềm hy vọng khi đơn vị bị lâm nguy, hay gặp khó khăn trên con đường tiến quân vào vùng địch. Các Bạn cũng là ân nhân của bao nhiêu thương binh và gia đình tử sĩ. Không có sự can trường, sẵn sàng chấp nhận hiểm nguy của các Bạn, có biết bao chiến binh đã phãi vĩnh viễn nằm lại tại chiến trường, ở một vùng núi rừng lạnh lùng vô danh nào đó. Tôi đã từng theo dõi những phi vụ tản thương của Phi Đoàn 243 Mãnh Sư, từ căn cứ Phù Cát đã phải bay lên Cao Nguyên trong những đêm khuya gió mưa tầm tã. Có chiếc lạc vào những đám sương mù dày đặc, và rớt trên đỉnh núi cùng với số thương binh của chính đơn vị tôi vừa mới được bốc lên. Tôi đã đứng nghiêm trong TTHQ để đưa tay chào vĩnh biệt!
Các Bạn đúng là những cánh én đã từng mang lại bao mùa Xuân cho đồng đội, cho quê nhà. Những cánh én ấy, giờ đây, dù đã phải trải qua bao thăng trầm nghiệt ngã, dù tan tác chia lìa khắp muôn phương, nhưng vẫn luôn khát khao vẫy vùng trên bầu trời xưa cũ. Tiếc rằng, chúng ta đã phải trải qua một mùa Đông quá dài. Dài hơn cả đoạn đời đẹp đẽ nhất, khi các Bạn còn bay bổng trong bầu trời xanh, trong lửa đạn, mà vẫn vui đùa trước lằn ranh sống-chết nhiều khi còn mỏng hơn sợi tóc.
Mãi mãi các Bạn vẫn là những cánh én hào hùng. Cho dù những cánh én ấy đang phải ẩn mình để chờ đợi một mùa Xuân.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.