Chuồng Bồ Câu

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 28/02/2019 

Post by Sơn râu 30 Aug 2026

Để tránh lôi thôi, Thục My quyết định mang tôi đi trình diện Clementine. Cô giáo trẻ gọi thêm bà Beatric đến, ba bốn mặt một lòng ngầm thoả thuận rằng, đừng hô hoán mông-xừ Tran là l’étranger, kẻ lạ ngác ngơ bất chính đột nhập vào sân trường với mục đích xấu. Ông Tran này nếu không bố, thì bác, chẳng bác thì chú, tóm lại là người thân thích của cháu Annie, đại diện mẹ bận lu bu công chuyện mần ăn, Tran sẵn lòng dang tay đón Annie về nhà trong an toàn, cho dẫu bé ngoan có làm bộ làm tịch phụng phịu mặt mày.

Thục My đã đi mài dũa một chiếc chìa khoá nhà, ân cần trao phó bản vào tay tôi. Tôi móc cái chìa vàng ấy nằm chung đụng với ba cái của riêng tôi, kiếm sợi dây tròng vào cổ, đong đưa trước ngực cùng thẻ nhựa đi xe buýt mua hằng tháng. Tay My bao giờ cũng ấm khi chạm phải. Mười ngón, hai mươi ngón khác biệt chỉ giống nhau ở chỗ, cả đôi lứa đều không đeo nhẫn, trống vắng. Thục My bảo: Đã nhớ chưa, đúng ba giờ rưỡi, chịu khó đừng để con bé mầm non mẫu giáo lạc loài hoang mang khi đứng đợi, tội nghiệp.
Như vậy, tự dưng tôi có job mới, chủ không trả lương, không cả quan hoài trao bonus hai chữ “tội nghiệp” cho ông Tran xứng đáng đón nhận một chia sẻ thân thương, cả tin, đong đầy uy tín.

My xong việc lúc 5 PM. Về tới nhà nếu hanh thông đường sá cũng bóng đổ tà dương lu mờ cảnh sắc. Tôi làm quen với Annie mới non tháng, con bé 5 tuổi “chảnh” như một thiếu nữ dậy thì vui buồn bất chợt. Trời giông, trước khi đổ nước cũng biết làm khúc dạo đầu bằng mây đen kéo về bưng bít. Annie khác, tính khí trời sợ, không quỡn để đưa lời cảnh báo trước. Xem chừng nó biết kẻ lạ là mông-xừ Tran này sẽ “từ ngoài sân sau lần vô bếp”, là bad guy muốn soán đoạt bớt cảm tình mà má nó dành riêng cho cục cưng. Nhưng nói nào ngay tôi biết học bài nhẫn nhục, Tran là đệ tử ruột của thằng cha nội Hàn Tín xem việc lòn trôn thiên hạ chỉ là chiện nhỏ, chẳng hề lấy đó làm điều. Căn tu thâm hậu do vậy hôm giới thiệu với mấy cô giáo coi trẻ, Annie đã nắm lấy tay tôi biểu hiện tình hữu hảo môi hở răng lạnh.

Về ngón đòn tâm lý chiến thì dễ như ăn ớt, ba rưỡi đến hẹn lại lên, tôi xẵng xái đặt chân vào vùng cấm địa, toét miệng cười, chào hỏi thắm thiết tới quý vị phụ nữ xong, liền dắt con bé đi thơ thẩn tới cửa hàng Mách Đô. Tôi có xem tờ báo chợ, thống kê cho rằng 90% các đấng nhi đồng thảy mặn khoai tây chiên đi cùng cái hamburger hoặc cục thịt gà bọc bột chiên, tu một hơi gần cạn ly coke. Mặt tươi như hoa được phun nước, tiếng cười trong trẻo vi vút hơn lệ thường. Bận ngồm ngoàm cứng miệng, nếu không đã ghé tai tỏ tình: Je t’aime.

Thục My luôn khuyến khích tôi trao đổi tiếng mẹ đẻ cùng Annie. Mới 5 tuổi khả năng đàm thoại của con bé y như tôi khi sử dụng tiếng Pháp với người bản xứ, có nghĩa là còn giới hạn lắm. Nó đã vất bỏ chữ ông Tran, nó gọi tôi lúc bác lúc chú. Không riêng nó, ngay cả già đầu như tôi cũng chẳng biết cha nó, papa, ba, bố còn sống hay đã chết. Ổng giang hồ vất vưởng phương nao. May cho Annie, nó chưa một lần thắc mắc, gióng hỏi. Nó biết cái đáng biết, Tran, bác, chú nọ không thể là người khiến má nó mang bầu rồi hạ sinh ra một con bồ câu bé nhỏ. Bồ câu là tên ở nhà của Annie. Tôi từng ra sức vẽ nên một con bồ câu giống thật vào giấy rồi biểu nó tô màu tuỳ thích, xanh xanh đỏ đỏ trẻ nhỏ cũng ưa. Đó là kế điệu hổ ly sơn, để bác và má có cơ hội đứng trong bếp cùng sát vai thổi lửa nấu ăn chung. Thục My nói: Bồ Câu biết hôn, ngoài tài vẽ đẹp, bác còn biết nấu nhiều món ngon lắm. Và như thế, lắm khi tôi nai lưng thêm chức sếp bếp, hoặc ngửa tay nhận tiền cậy nhờ đi chợ mua sắm nguyên vật liệu ở nhà đang thiếu thốn. Ghi ra giấy kẻo quên, lần trước xớn xác dặn một đường tha đồ về một nẻo, trật chìa, lộn tùng phèo. Người gì mà cứ dật dờ, để tâm trí rơi tận đâu đâu á!

Tôi mần thinh, chưa phải lúc để thưa thốt: Dạ thưa em, lòng dạ Trần này bận tơ tưởng tới hình dáng em. Đứng gần em thì băn khoăn không rõ sau áo xống lụa là che đậy kia là thức gì ẩn dấu? Trần khờ khạo lắm, mong được em chỉ giáo một lần để sớm mở mắt, có vậy con bồ câu mới đâm quyến luyến với con chim cu này.

Có bữa mát trời ông địa, đón Annie về, nó đòi vào công viên coi ông già vô gia cư ngồi yên trên băng ghế đá mặc tình cho đàn chim mổ thức ăn rơi bám thân ông. Phải hiền từ đôn hậu lắm chim mới thân tình ríu rít vây quanh xem nhau như bạn được. Chân tay tôi có biến thành bốn ổ bánh mì e chim chóc cũng nhác ăn, cạy mặt cái đứa đến từ nơi chốn “con gì nhúc nhích đều xơi ráo”. Tôi không phải “tự nhiên như người Hà Nội” ghiền món thịt cầy, chưa hề thử “ngon nhức răng” vậy mà đi ngoài đường có nhiều con chó gầm gừ, mắt long lên kỳ thị thấy rõ. Chuyện nhỏ! Chuyện nhớn là Annie càng lúc càng “mặn nồng” với bác, Bồ Câu xem tôi là người bạn đồng minh có thể chơi được, có thể gặp cảnh bất bình rút đao tương trợ, đừng hòng có đứa nào lén phén tới ăn hiếp tao, nhớ. Mông-xư Tran biết kung-fu đấy.

Coi cảnh ngoạn mục chim ăn chim ỉa trên đầu ông già rách rưới có thể là xem phim quảng cáo phút đầu, anh thanh niên đạp xe ba bánh chứa thùng kem nhiều màu tựa bên thân cây rậm lá mới là bộ phim chính lâm ly bi đát hơn hẳn. Chưa coi mà đã chảy nước miếng. Bác, con thích ăn kem. Ơn trời, may mà trong túi có chêm chút bổi, làm đứa khố rách áo ôm thì chẳng biết mần răng giải quyết. Ô kê, kem thì kem, sợ gì. Kem múc hai cục rõ to ém vào cái ly làm bằng loại bánh xốp. Của cháu là chó-có-lát của ông là va-ni, vị chi là tám đô chín mươi chín xu. Va-ni dắt chocolat tìm bãi cỏ mượt nhẹ nhàng buông thân nửa nằm nửa ngồi mút lấy mút để hai cục đường mát ngọt cần cổ. Tôi nhìn vẻ say sưa của con bé, thè lưỡi liếm cho mòn, cho triệt tiêu cục kem trơn láng: Bồ Câu thích có em không? Là sao? Con thấy mấy con chim đậu sát bên người ông ấy không? Lúc nào chúng cũng có bạn, chúng chẳng đi một mình. Em là bébé, là đứa bé sẽ được chị Bồ Câu bồng bế ẵm ru. Môi con bé ướt ngọt: Nếu con thích em bé thì phải xin má, hay xin bác? Ai cho con?

Đàm thoại cho có, cho khỏi quên tiếng mẹ đẻ, tưởng sẽ chìm vào dĩ vãng, ai có ngờ đâu chữ “em bé” đã ghim vào trí nhớ nhỏ nhoi kia. Hồi nào con lớn bộn bề, ắt con “về nhà dối mẹ”, hiện tại con tẻo teo như cây kẹo, con thật thà như đếm: Má, con muốn có em bé. Có lửa mới sinh ra khói, má rùng mình đón nghe lời trần tình quá sức cực đoan, má nhìn bác bằng đôi mắt biết nói: Ô là la, mông-xừ Tran đã đầu độc trẻ thơ, còn ai trồng khoai đất này? Gieo rắc tai hoạ là hậu quả của việc giao lưu tình cảm chùng lén giữa song phương bấy chầy, ưa bắt đương sự viết bản kiểm điểm quá. Em bé đâu phải từ trên trời rớt xuống dưới đất chui lên. Muốn tựu thành ra em bé thì biết bao cơ man là gay cấn buộc phải nhắm mắt liều mạng bước qua cầu tre lắc lẻo. Có rớt xuống sông làm ướt cái quần ny-lông thì tai kíp nghe lời ai hát hỏng: Dô đây em đợi quần khô anh sẽ đưa em dìa. Cởi quần phơi cho ráo nước, trong khi chờ đợi thời khắc từ ướt tới khô, em nào biết mần chi, há lẽ anh biểu em ngồi không? Hoàn cảnh ấy rất mực căng thẳng, thót tim trong e ấp. Búi xờm xờm chớ hổng giỡn chơi đâu nhen. Hèn chi người xưa dạy: Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ. Chốn cô quạnh khiến tim mềm, ta dễ nghe lọt tai lời rù quến.

Tôi vụng tu. Tôi vụng về. Tôi không biết cách xử thế. Tôi chẳng thông hiểu mức nông sâu của lòng người. Tôi thất nghiệp. Người ta đã từ chối bao công sức tôi trao chẳng toan tính. Người ta đã gài số de, lùi một lèo, không thèm nháy đèn chẳng cần đạp thắng. Lỗi tại tôi mọi đàng. Tiên trách kỷ hậu trách nhân.

Điện thoại im re. Bước lên bậc thềm cửa đóng then cài bấm chuông chẳng ai mở, đút chiếc chìa khoá vàng mãi tòn teng trước ngực vào ổ, đút hoài chẳng vô. Ai kia nhẫn tâm đã thay ổ mới, nhìn qua cửa kính, thấy đen thui một sự từ khước lạnh tanh. Thất bại, đứng dáo dác nghe gối mỏi chân mòn, chẳng biết làm chi tôi rảo chân đến ngôi trường với lấn cấn dấu hỏi: Chuyện gì? Tại sao? Sao quay lưng mà chẳng bảo gì nhau?

Chào cô Clementine, cô khoẻ không? Ah, chào ông Tran. Cảm ơn, tôi tốt. Ông đến có việc gì không ạ? Mẹ của Annie đã thốt lời chào tạm biệt chúng tôi, dọn tới chốn khác thuận tiện hơn, có lẽ vậy. Ơ, đợi tôi một chốc nhé, chừng hai phút thôi, tôi có cái này trao ông.

Tôi đứng nhìn vào cánh cửa vừa mở rộng, một hành lang sạch bong thắp sáng những đốm điện vàng, thế giới êm ả đó vừa gửi trao một hương mùi đặc thù nó riêng thu cất. Mùi bàn ghế hao mòn của bao thế hệ từng mài đít, mùi giấy ẩm của sách vở, bục gỗ, bảng đen, phấn trắng chừng cũng biết phát hương. Hít phải, nghe lòng bồi hồi trong hoài niệm tự ùa đến. Đã là ngôi trường thì buộc chúng phải có linh hồn, thứ linh hồn luôn tỉnh thức. Nó không đời nào chợp mắt, dẫu nó thoi thóp nằm yên trong ba tháng hè. Nó tựa chứng nhân, bao dung, sẵn lòng hàn huyên cho bạn nhớ về một thời vụng dại tuổi học trò. Thời gian đã lạnh lùng soán đoạt cái kho báu giá trị ấy. Bạn nghe ra một nỗi đau dịu dàng, buồn tủi. Cắm cúi học vạn điều hay lẽ phải để về già vẫn thấy mình chưa thật sự khôn lanh.

Đây, ông xem. Annie vẽ nhiều bức nhưng tôi vẫn thích bức tranh này nhất. Cô Clementine đã trở lại, tay nắm tờ giấy vung vẫy khi bước ra. Trong các lớp, chúng tôi vẫn trang hoàng chật vách bằng chính thành quả các em say sưa vọc màu. Trẻ con bao giờ cũng đáng yêu, hồn nhiên thể hiện rõ qua màu sắc, đường nét. Clementine trao cho tôi bức tranh vẽ bằng màu nước có ghi tên Annie bên dưới. Tranh vẽ một gã đàn ông tay chân lòng khòng ngồi trên ghế đá, trên đầu có đậu con chim rõ to. Màu chim xanh, xanh nhỏ giọt chảy tràn trên bãi cỏ, lốm đốm. Con bé giải thích, mông-xừ Tran là người còn con chim mang tên Annie. Mình thương ai thì mình để trên đầu, con bé khẳng định thế. Trên đầu chứ không trong tim. Ông giữ làm kỷ niệm.

Cảm ơn nhiều. Tôi nói, cẩn trọng gói tròn tờ giấy nhăn nhúm vì màu nước tấp dày. Tôi bắt tay Clementine, chào tạm biệt. Tôi đón xe buýt về chỗ trọ. Có lẽ tôi sẽ kiếm tìm một công việc nào đó để cứu vớt phần nào, không ai an lòng sống với những ngày vô tích sự. Trước, tôi có chiếc xe hơi mua trả góp, làm chân cẳng vì hãng xưởng nằm tuốt ngoài xa lộ. Một ngày băng giá tự dưng có chiếc xe tải lảo đảo lạc tay lái đâm thốc một bên thân. Tôi nằm viện hơn tuần lễ, không biết cách viết đơn kiện tụng. Theo giám định hiện trường nơi xẩy ra tai nạn, hãng bảo hiểm đã bồi thường cho tôi một số tiền khá lớn. Tôi thong dong quên việc cày bừa đã được hai năm, tôi sợ ngồi vào tay lái do vậy tôi quyết định dùng phương tiện vận chuyển công cộng. Tôi trình bày rõ mọi chuyện cho Thục My nghe, cô nói nhàn cư vi bất thiện, chi bằng tới giúp cô những việc cô không kham nổi. Nhỏ nhặt như bóng điện bị hỏng bất chợt cũng chẳng biết cách thay cái mới.

Tôi ghé ngang một cửa hiệu chuyên bán khung ảnh. Người bán hàng muốn giúp tôi việc lồng bức tranh vào trong. Ông ta bảo, bức vẽ này quá dễ thương, hãy cho tôi xén bớt khoảng trống, như vậy bố cục sẽ hoàn chỉnh hơn. Tôi gật đầu. Cháu được mấy tuổi rồi? Picasso từng nói: Mỗi một đứa bé đều là nghệ sĩ…

Tôi trả tiền. Tôi cầm lên “tác phẩm” của Bồ Câu vừa được gói giấy cẩn thận. Tôi bước ra, tôi băng qua đường vì chợt thấy một quán nước lộ thiên có trương dù che nắng gió.

Ông dùng cà phê loại gì ạ? Không, hãy bán cho tôi một cốc kem, loại chocolat, xin vui lòng.

Tôi nghe như có tiếng cười trong trẻo của Bồ Câu vừa vọng vào đôi tai. Tôi đồ rằng Thục My chê tôi nghèo khó. Tôi mút cục kem, ngậm bồ hòn làm ngọt. Tôi là ông già rách rưới ngồi trong công viên mà chim chóc ái ngại chẳng dám đáp xuống ríu rít hót ca quanh thân. Chẳng có con chim nào đậu ngay đỉnh đầu tôi cả. Yêu ai nên để trên đầu. Ai đã dạy con chuyện ấy? Trên đầu là nơi chỉ dành riêng cho bố mẹ thôi, con ạ. Tôi cầu mong cho Bồ Câu ở được trong một cái chuồng vững chắc, che kín nắng mưa, tránh tai ương vụt đến tước đoạt đi hạnh phúc má vừa ra công gầy dựng. Annie, toa có thương moa không? Moa treo bức tranh này bên chỗ nằm cho tới mãn kiếp.

Hồ Đình Nghiêm

Sài Gòn – Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 30 Aug 2026

Đã một thời Hoàng Anh Tuấn là hàng xóm của tôi ở cư xá Chu Mạnh Trinh, bên ngã tư Phú Nhuận. Khu cư xá này từng có khá nhiều văn nghệ sĩ thời đó “xây tổ ấm.” Gia đình anh chị Dương Thiệu Tước – Minh Trang – Quỳnh Giao, gia đình ông chú Nguyễn Mạnh Côn của tôi, gia đình Thái Hằng – Phạm Duy, danh ca Anh Ngọc, nhà văn Duyên Anh, nhà báo Linh Lan, ông chủ báo Ngôn Luận và Văn Nghệ Tiền Phong Hồ Anh… Lâu quá rồi, tôi không thể nhớ hết. Nhưng điểm lại nay không còn được một nửa. Lại thêm một người nữa vừa ra đi: Hoàng Anh Tuấn ở San Jose.

Không Ngạc Nhiên, Nhưng…

Tin anh mất không làm tôi ngạc nhiên, bởi từ lâu, khi Phạm Huấn còn nằm tại “viện dưỡng lão” bên cạnh đã có Hoàng Anh Tuấn. Tôi vẫn được bạn bè ở San Jose cho biết tin về hai bạn này. Có ông tường thuật từng chi tiết.

Nào là hồi này Tuấn khỏe lắm, bụng to như cái thùng, vẫn cười như trẻ thơ. Tôi cũng nhận được vài tấm ảnh của Tuấn, khuôn mặt vẫn vậy, nhưng thân hình đẫy đà, khác nhiều so với ngày nào. Khi Phạm Huấn mất, tôi chắc Tuấn buồn lắm, không còn bạn bên mình. Trong thâm tâm, tôi cứ nghĩ một ngày nào đó Tuấn sẽ bỏ anh em, một ngày gần thôi. Vì thế tôi không ngạc nhiên khi nhận cùng lúc gần 10 cái e-mail từ các bạn ở Mỹ báo tin Tuấn đã ra đi vào 7.30 sáng, giờ Cali, Thứ Sáu 01-9-2006. Không ngạc nhiên, nhưng nỗi ngẩn ngơ vẫn tràn đầy. Hình ảnh Hoàng Anh Tuấn cứ hiện lên, hơn 30 năm qua rồi, xa nhau biền biệt mà Tuấn như ở trước mặt. Dáng vẻ hồn nhiên, vô tư của anh rõ mồn một. Con người lúc nào cũng như “cuộc đời chẳng có gì phải lo nghĩ, chẳng có gì phải tính toán”. Anh phơi phới trong bất kỳ trường hợp nào. Suốt những năm tháng ở gần anh, chẳng bao giờ thấy anh buồn. Thế mà thơ anh lại hay, lại thấm, chữ nghĩa mới lạ, sâu sắc.

Với tôi, đó là người bạn rất đặc biệt.

Toàn Nghề Tay Trái

Hoàng Anh Tuấn có rất nhiều “nghề”. Đạo diễn, nhà thơ, nhà văn, nhà báo và Quản đốc đài phát thanh Ðà Lạt. Nhưng con người anh không có một tí công chức nào. Thông thường, bạn bè nhìn anh như một nhà đạo diễn, nhưng không “chuyên nghiệp” như Hoàng Vĩnh Lộc, Lê Hoàng Hoa… Anh là đạo diễn “tài tử” dù từng tốt nghiệp tại một trường Ðiện Ảnh ở Pháp ngay thời kỳ là sinh viên ở Paris. Nhưng ai mời mà thấy “hợp gu” thì đạo diễn… chơi cho vui. Hình như cái gì anh cũng làm chơi cho vui. Thích thì làm, không thích thì bỏ, giản dị có thế. Cả cuộc sống cũng vậy. Ở anh, con người nghệ sĩ chân thật, hồn nhiên bao trùm mọi thứ. Anh chơi với hết mọi người, ngồi quán cóc, uống ly cà phê, ăn cơm Bà Cả Ðọi cũng y chang ngồi ở Caravel phỏng vấn các ca sĩ nổi danh thế giới như Dalida hoặc ngồi dancing ăn cánh gà chiên bơ, đấu láo với mấy em ca-nhe, bất kể hạng nhất hay về già. Ngay ăn mặc, Tuấn cũng chẳng hề lưu ý, cứ “đại khái chủ nghĩa”, không “lên khuôn đóng thùng” ngay cả ở nơi cần long trọng. Tiếng cười của anh nhiều hơn lời nói. Vẻ “tỉnh tỉnh” làm nên một phong cách riêng. Nhìn anh là thấy ngay “cuộc đời có cái quái gì quan trọng đâu.” Tôi chắc bạn bè rất thích Hoàng Anh Tuấn vì lẽ đó.

Nhà Đạo Diễn Hiền Lành Nhất Thế Giới

Tôi nhớ khi đạo diễn phim Ngàn Năm Mây Bay phóng tác theo tiểu thuyết của tôi do Thái Lai mời, Hoàng Anh Tuấn gặp tôi ở đầu ngõ, hỏi:

– Lê Quỳnh đóng với Bích Sơn, được không mày?

Hai tài tử này thời gian đó là nổi nhất rồi. Tôi nói “tùy mày và anh Thái”, nhà sản xuất phim cũng là một nhà sản xuất tài tử — khác với Mỹ Vân, Alpha. Hai ông “nghề nghiệp tài tử” này thích thì làm, khỏi cần biết cuốn phim đi đến đâu. Nhưng quả thật, tôi khoái kiểu “vui chơi mùa hè này” của mấy ông bạn. Ông Thái trả bản quyền bao nhiêu tôi không còn nhớ, nhưng chắc chắn không phải là “có món tiền kha khá” như Quốc Phong làm Chân Trời Tím.

Một lần Tuấn kéo tôi lên xem đóng phim. Phim trường là căn nhà của ông giám đốc sản xuất Thái Lai phim, cuối đường Hồng Thập Tự. Căn nhà mặt tiền đường, không rộng hơn các căn nhà bán tạp hóa ở dẫy phố này. Kê cái comptoir ở phía trong, đèn đuốc, máy quay lỉnh kỉnh xung quanh, cứ như cửa hàng bán phụ tùng máy móc. Bữa đó không có Lê Quỳnh, chỉ có hai chị em Bích Sơn, Bích Thủy. Đạo diễn Hoàng Anh Tuấn râu ria xồm xoàm, nhưng rất nhàn nhã, không quát tháo, chỉ chỏ tơi bời hoa lá như các đạo diễn mà tôi đã từng thấy. Lâu lâu lại thấy đạo diễn cho máy travelling bằng cách kéo cái camera di chuyển trên mặt sàn gạch, chẳng cần đường rày. Lúc nào Tuấn cũng nhỏ nhẹ:

– Ấy ấy, làm thế này, em ơi. Em làm ơn đứng sát vào một tí. Ðừng cười nhiều, cái miệng rộng quá, mím chi thôi. Làm xem nào. Máy!… Cắt!…

Họ làm việc với nhau như “anh em trong nhà”.

Thế mà cuốn phim cũng hoàn thành, tôi chẳng biết hoàn thành trong bao lâu. Nhưng chắc không quá 2 tháng vì quá 2 tháng thì nhà sản xuất tài tử này không còn tiền trả nhân công. Rồi cũng đem ra rạp chiếu đàng hoàng, lời lỗ bao nhiêu chẳng biết. Nếu tôi nhớ không lầm thì ông Thái Lai chỉ sản xuất một cuốn phim rồi thôi luôn. Sau này ông tái bản cuốn Chân Trời Tím mà tôi cũng chẳng hề biết. Khi sách in xong, ông mới mang đến cho tôi một cuốn, bản quyền được trả bằng một chầu ăn là xong. Một kỷ niệm đáng nhớ là Bà Cụ Hoài Bắc — cách gọi thân mật bà mẹ của Phạm Ðình Chương, Thái Thanh — thỉnh thoảng lại nhắc về cuốn phim, nhưng cụ gọi là phim Ngàn Năm Máy Bay vì trong phim có cảnh máy bay trực thăng đổ quân xuống một vùng quê.

Một lần khác, tôi được xem Hoàng Anh Tuấn đạo diễn phim Hai Chuyến Xe Hoa. Phim trường ngay tại nhà đạo diễn ở cư xá Chu Mạnh Trinh. Tôi chỉ xem được một đoạn có nghệ sĩ cải lương Thành Ðược mở cửa buồng nhà ông bà Hoàng Anh Tuấn, đi ra đi vô năm bảy lần.

Nhưng cuốn phim được nhiều người nhắc đến nhất có lẽ là Xa Lộ Không Ðèn. Tuấn không long trọng mời bạn bè mà chỉ hỏi:

– Mày có đi xem không, tao đưa vé. Tính cách anh là như thế.

Những Truyện Dài Không Bao Giờ Viết Hết

Anh còn viết feuilleton cho một số tuần báo và nhật báo Sài Gòn thời đó. Nhưng khối ông chủ báo rên la vì cái tật hứng thì viết, không thì bỏ. Hầu như ít có truyện dài nào anh viết đến nơi đến chốn, nên rất hiếm truyện nào được xuất bản. Lối viết của anh khá hấp dẫn, độc giả chịu đọc lắm, nhưng mỗi khi gặp đoạn “khó nhai” là anh tạm ngưng hoặc ngưng luôn. Người viết truyện dài nào, cũng gặp lúc như thế, phải cố gắng vượt qua. Riêng anh hay nản, nên bỏ ngang. Tôi rất tiếc vì điều này, nếu không thì Hoàng Anh Tuấn cũng có nhiều tác phẩm rất hay được xuất bản.

Lâu lâu lại thấy xuất hiện một bài thơ của Hoàng Anh Tuấn trên báo khiến anh em sững sờ. Vì thơ Tuấn rất hay, bài nào cũng hay. Ðã có người so sánh với Nguyên Sa, Ðinh Hùng, nhưng với tôi, thơ Tuấn có cả tính chất Nguyên Sa, Ðinh Hùng và rất Hoàng Anh Tuấn. Chữ nghĩa mới, không trau chuốt, cầu kỳ, nhưng rất rung động, đi thẳng vào tim người. Cung bậc sâu thẳm trong tình yêu được đánh thức dậy đến bàng hoàng.

Những Bài Thơ Bất Hủ

Ðã lâu lắm không đọc thơ Hoàng Anh Tuấn, mới đây, tôi nhận được tập thơ của anh gồm: 18 bài thơ Hà Nội và 47 bài Ngoại Tập. Ðọc thích thú, say sưa. Vẫn như thuở nào khi bất ngờ thơ Tuấn xuất hiện trên báo hoặc qua bạn bè. Lần nào cũng là một cú “chơi ngang” của anh. Tôi không yêu bài nào hơn bài nào. Nhưng trong những thư điện tử của các bạn tôi khi báo tin Hoàng Anh Tuấn đã ra đi, có nhiều người đã nhắc lại các bài thơ mình yêu thích.

Hồng Dương ở Santa Ana thì cảm khái vô cùng với:

Hương còn ngấn ẩn trên môi

Ươm hơi rừng cũ, đượm mùi gỗ xưa

Mướt lá đợi, óng rêu chờ

Sững im cương thạch, quanh co ôn tuyền.

Và Thanh Thương Hoàng ở San Jose thì ngân nga:

Hà Nội yêu, anh vẫn yêu muốn khóc

Mấy chục năm, xa đến mấy ngàn năm

Giã từ em – mười bẩy tuổi – một lần

Thu rất mỏng, mưa hững hờ đẫm lá

Hà Nội yêu, áo lụa ngà óng ả

Thoáng khăn san nũng nịu với heo may

Hai ngón tay nhón một trái ô mai

Chiếc răng khểnh xinh nụ cười cam thảo…

Ðến đây tôi có phần đồng ý với Nguyễn Xuân Thiệp về nhận định: “Lục bát của Hoàng Anh Tuấn mới thể hiện hết những vẻ đẹp cấu trúc ngôn từ và cảm xúc”.

Nhưng xem lại các bài khác của Tuấn, tôi lại phân vân, vì ở thể loại nào nhà thơ cũng mang đến cho tôi cảm xúc mạnh mẽ như chính tâm hồn tác giả cũng giông bão:

…Lửa rạo rực còn nguyên trong mạch máu

Sóng cuồng quay ẩn náu dưới làn da

Gỡ mưa mềm cho nắng ấm phù sa

Cởi sương mỏng – thôi ngượng ngùng mắc cỡ

Em hoang dại cồn dâng vùng rêu cỏ

Anh ngựa điên tung vó dấy phong ba

Trời quạnh hiu nổi bão tố phấn hoa

Khe suối nhỏ ẩm nồng hương dã thú

Mùa hạn hán bỗng tràn lan nước lũ

Tiết đông hàn trổ lộc nõn thanh xuân

Rất ngàn xa trong ấp ủ miết gần

Nghe nhung lụa trong vuốt ve tình sử…

và:

…Mộng trong mộng đã chìm vào đáy mộng

Anh bàng hoàng bằng choáng ngợp lên cao

Ði miệt mài chừng đã mỏi khát khao

Nên chân bước lún sâu vào dĩ vãng

Những ngây ngất chạy vòng quanh mê loạn

Tưởng ngàn năm không thoát khỏi cơn điên

Bằng bất ngờ sợi tóc bạc đầu tiên

Em phát vãng nồng nàn vào xưa cũ…

Các vần thơ trên đều trích từ thơ Hoàng Anh Tuấn.

Vài Kỷ Niệm Nhỏ

Tôi nói nhiều về thơ Hoàng Anh Tuấn vì thơ anh đặc biệt xuất sắc hơn tất cả những “nghề tay trái” khác của anh. Những kỷ niệm rải rác của tôi và gia đình Hoàng Anh Tuấn khá nhiều. Có lần anh ở Ðà Lạt, có con gái về Sài Gòn, anh điện thoại cho tôi thản nhiên nói: “Mày cho xe ra phi trường đón con gái tao, Hoàng Hôn Thắm nhé”.

Quả thật tôi không còn nhớ chính xác người con gái đó là Hoàng Hôn Thắm hay Thu Thuyền nữa. Tất nhiên tôi phải cho xe đón cháu và đưa đến nơi về đến chốn. Anh không màu mè “làm ơn đón cháu” lôi thôi.

Lần khác tôi lên Ðà Lạt vào dịp lễ Gíang Sinh, đến nhà anh chị Tuấn chơi, nhưng cả mùa Noel đó Tuấn không về. Khi trở lại Sài Gòn, gặp Tuấn, tôi muốn trách anh mấy câu, nhưng nhìn anh cười cười tỉnh rụi, tôi lại không nói gì được nữa. Nhưng sau đó tôi hỏi sao không về ăn Noel với vợ con. Anh trả lời gọn lỏn: “Tao bận”.

Ðó là những gì tôi nhớ về người bạn vừa ra đi.

Tiếc rằng trang báo có hạn và thì giờ chẳng còn bao nhiêu nên tôi ghi vội những hàng này để tiễn đưa thêm một người bạn nữa. Với tôi, anh là một nghệ sĩ đích thực trong cả cuộc đời và tác phẩm.

Vài Nét Về Tiểu Sử

Hoàng Anh Tuấn sinh ngày 7-5-1932 tại Hà Nội. Ngoài làm thơ, viết văn, viết kịch — Ly Nước Lọc, Hà Nội 48 — còn là đạo diễn điện ảnh.

– 1949 Ði Pháp du học

– 1954 Lập gia đình

– 1958 Về Việt Nam, cộng tác với nhiều tạp chí văn nghệ, tuần báo, nhật báo ở Sài Gòn

– 1965 Quản đốc đài phát thanh Ðà Lạt

– 1975 Tù cải tạo về tội phản động

– 1979 Trở lại Paris

– 1981 Qua Mỹ, sống ở San Jose, California

Từ trần 7:30 sáng, giờ Cali, Thứ Sáu 1-9-2006 tức ngày 9 tháng Bảy năm Bính Tuất, thọ 75 tuổi.

Gói quà đầu năm

phamtinanninh.com

Phạm Tín An Ninh    

January 12, 2009    

Post by Sơn râu 30 Aug 2026

Tôi phải ngồi lại trên các bậc đá nghỉ chân đến ba lần trước khi bước vào cổng chùa. Ngôi chùa nhỏ nằm trên một triền núi, được phủ mát bởi những tàng cây. Ngôi nhà khách bằng gỗ, khá xinh xắn, nằm trong một khu vườn toàn hoa vạn thọ. Phía trước là một tượng Phật ngồi dươi gốc cây bồ đề, cành lá được cắt tỉa công phu. Chung quanh là cả một vùng núi trời tĩnh mịch.Tôi không phải là phật tử, nhưng ngồi nghe tiếng mõ và lời cầu kinh trong chùa vọng ra, cũng thấy lòng nhẹ hẳn đi trước bao nhiêu điều phiền não.

Hôm nay là mồng một tết, nhưng cảnh chùa khá im ắng, bởi chùa nằm khá xa khu dân chúng. Ngày hôm qua tôi có đến đây, nhưng thầy trụ trì đi vắng. Tôi đã để lại tấm danh thiếp của chồng tôi, viết vài dòng phía sau xin hẹn thầy hôm nay trở lại.

Chú tiểu còn rất trẻ, mang trà ra mời và xin tôi chờ thêm mươi phút nữa, vì thầy trụ trì đang khai kinh cho buổi lễ tân niên. Tôi nôn nao muốn sớm được nhìn mặt vị ân nhân của mình, nhưng cũng dặn lòng phải kiên nhẫn và cẩn trọng ý tứ trước một nhà sư.

Hơn ba mươi năm trước. Lúc ấy tôi còn là cô bé học trò của trường huyện An Túc, nằm giữa thị trấn An Khê, bên QL 19 nối liền Qui Nhơn với Pleiku. Chiến tranh đang thời kỳ ác liệt. Tuổi còn nhỏ, nhưng ngày nào tôi cũng nghe cha mẹ và các thầy cô bàn chuyện chiến trường: đánh lớn ở Pleime, Dakto, Tân Cảnh. Mấy năm nay, An Khê tương đồi bình yên, nhờ Sư Đòan 101 Không Kỵ Hoa Kỳ có căn cứ ở đây, và dọc theo đèo An Khê có đồn bót của các đơn vị thuộc Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn. Giữa lúc chiến tranh ngày khốc liệt, bất ngờ lực lượng đồng minh rút quân về nước, làm dân chúng ở đây hoang mang, lo lắng. Xứ họ đạo của tôi cũng được cha chánh xứ tổ chức những toán tự vệ, phối hợp với quận, lo canh gác khu vực của mình.

Chiều ba mươi Tết, được thông báo của tỉnh, các cơ quan trên quận phối hơp với các thầy cô giáo và cả Hội Đồng giáo xứ đi mọi nhà kêu gọi đóng góp những gói quà tượng trưng dành tặng cho anh em chiến sĩ của một đơn vị từ xa tới, thay thế lực lượng đồng minh, đồn trú ở đây.

–  Tôi nghiệp, nghe nói anh em đã phải rời căn cứ từ sáng sớm 30 để chiều mồng một Tết có mặt ở đây. Họ có biết tết nhất gì đâu! Ông cha xứ nói với chúng tôi như thế.

Cả quận vui mừng, nô nức trước tin vui. Riêng tôi còn vui hơn khi tưởng tượng sẽ có nhiều anh lính đến cái thị trấn nhỏ xíu buồn tênh này, nên rất sốt sắng trong việc gói quà. Tôi tự tay thực hiện được hai gói quà, gồm một số bánh mức, chiếc khăn tay do tôi thêu lấy, kèm theo lá thơ chúc mừng năm mới tới hai anh chiến sĩ vô danh nào đó. Tôi nắn nót viết thật đẹp rồi đề tên, lớp và trường học phía dưới. Vì “sao y bản chánh” từ một bài luận văn tháng trước, nên hai lá thư giống nhau như đúc. Nhìn hai gói quà tôi mỉm cười, khi nghĩ sẽ có hai “người tình không chân dung” nào đó nhận được lá thư nồng nàn của một cô “em gái hậu phương”. Ban đầu, các thầy cô cho biết, đám học trò chúng tôi được hướng dẫn vào căn cứ để tận tay tặng quà cho các anh chiến sĩ. Bọn tôi đứa nào cũng hớn hở, lăng xăng giặt ủi lại chiếc áo dài trắng ưng ý nhất. Nhưng sau đó dưới tỉnh cho biết là trước khi vào An Khê, các đơn vị này còn phải hành quân mở đường, giải tỏa một số đồn bót của lực lượng Đại Hàn nằm dọc theo đèo An Khê, bị địch quân bao vây đã ba hôm nay. Cuối cùng tất cả quà đều được nộp cho trường, và thầy hiệu trưởng cùng các thầy cô giáo sẽ mang vào cho đơn vị để trao lại cho anh em chiến sĩ khi tình hình an ninh cho phép. Bọn học trò chúng tôi tiếc hùi hụi vì mất một dịp được vào xem căn cứ và ủy lạo các anh chiến sĩ.

–   Nam Mô A Di Đà Phật. Xin chào bà. Xin lỗi, chắc là bà đã chờ tôi lâu lắm phải không ?

Câu hỏi của thầy trụ trì cắt đứt dòng hồi tưởng của tôi. Tôi đứng lên, vụng về chấp hai tay trước ngực chào lại thầy. Tôi muốn nhìn thật kỹ khuôn mặt của thầy, nhưng thấy ái ngại, nên chỉ cúi đầu im lặng.

–   Cái cổng tam quan, ngôi nhà khách này, và những bậc đá trên con đường mà bà vừa đi lên là do tiền cúng dường của ông bà. Chúng tôi xin tán thán công đức và cầu xin chư Phật gia hộ cho ông bà cùng gia đình. Bà có muốn đi một vòng xem cảnh chùa không ? Xin mời bà.

Thầy vừa nói vừa chỉ tay về phía cổng tam quan.

–   Dạ, công ơn của thầy đối với gia đình tôi lớn lao quá. Biết làm sao đền đáp. Xin thầy đừng nhắc tới công đức, làm tôi thêm xấu hổ. Tôi vừa bước theo phía sau thầy, vừa nói.

–   Mô Phật ! Giúp người, đó là nhiệm vụ của kẻ tu hành, dù là tôn giáo nào. Sao bà lại gọi là công ơn. Thầy nở một nụ cười độ lượng.

Đi phía sau, nhìn dáng đi khoan thai của thầy, tôi băn khoăn suy nghĩ: Khuôn mặt thì có nhiều nét giống, nhưng với cái dáng đi thì lại khác hẳn. Có thể ngày xưa là lính nên cần phải nhanh nhẹn. Tôi nghĩ thầm như thế.

Khi đến cửa tam quan, thầy dừng lại và chỉ tay về hướng bờ biển, nơi có mấy tảng đá ở triền núi, phía dưới là một khu rừng rậm :

–   Chính ở nơi đó, tôi đã tìm gặp chồng của bà

Năm ấy, khi chồng tôi vừa mới trốn về từ trại tù cải tạo Gia Trung (anh chỉ là thầy giáo, vì dạy một trường trong khu người Thượng, nên bị nghi ngờ hợp tác với lực lượng Fulro chống lại chính quyền, bị bắt năm 1979 ), được một người bạn thân cho đi theo một chuyến vượt biển do gia đình anh ta tổ chức. Lúc ấy ai cũng nghĩ ra đi là không bao giờ gặp lại vợ con, mà có ở lại cũng sống không yên, chỉ làm khổ cho gia đình. Hơn nữa lúc ấy tôi vừa mới sanh đứa con đầu lòng, nên không thể đi cùng.  Chúng tôi đành gạt lệ chia tay mà không dám nghĩ sẽ có ngày tái ngộ.

Tàu vừa ra khơi hơn một ngày thì bị hỏng máy, trong lúc gió mưa tầm tã. Tất cả mọi người phải đem sinh mạng chống chọi với phong ba. Cuối cùng, sau gần ba ngày bềnh bồng trên biển, nhờ những cơn gió nhiệm màu đã đẩy chiếc tàu với hơn một nửa số người sống sót, giạt vào một ghềnh đá lúc trời nhá nhem tối. Tưởng đã thoát chết, nào ngờ khi vừa leo lên bờ thì bị một toán công an biên phòng vây bắt. Một số người yếu sức thì đành đưa tay cho họ trói. Chồng tôi cùng một vài thanh niên khác dùng hết tàn lực chạy trốn trong các hốc đá bên triền núi. Mấy lần thoát chết dưới những tràng đạn. Nhờ trời tối anh chạy thoát vào khu rừng trước khi kiệt sức. Khi tỉnh lại, anh thấy mình nằm trong ngôi chùa nhỏ nằm bên triền núi. Anh được vị trụ trì săn sóc và che dấu chu đáo, mặc dù biết anh là người công giáo, bởi trên cổ có đeo thánh giá. Sau hơn một tuần, nhờ thầy giúp cạo đầu, cho áo quần để cải dạng một thầy tu, và gởi theo một chiếc xe đò của một phật tử thân quen, chồng tôi mới trốn được vào nhà bà cô ruột ở Cam Ranh. Sau đó nhờ chính bà cô này tìm đường để vượt biển tiếp.Và lần này anh đã đươc tàu Pháp vớt, nên được sang định cư bên Pháp. Ba năm sau, tôi và đứa con được anh bảo lãnh với diện đoàn tụ gia đình.

–   Mô Phật! Tôi nghiệp, ông ấy đã về tìm thăm tôi hai lần, và giúp cho tôi khá nhiều tiền để lập lại ngôi chùa này và một nhà từ thiện nuôi các em bé tật nguyền dưới xóm. Công đức của ông bà thật lớn lắm.

Tôi nhớ lại tấm ảnh mà chồng tôi chụp chung với thầy trong lần thứ nhì về thăm thầy. Bao nhiêu lần tôi đã nhìn kỷ tấm ảnh, lại nghe chồng tôi bảo, ngày xưa thầy cũng là lính, nên tôi đã ngồi hằng giờ hình dung, nhớ lại một người quen lúc trước.

–  Thực ra anh ấy ngại không muốn về, nhưng vì nhớ ơn thầy mà anh ấy mới về gặp thầy. Lần này chính tôi đề nghị được thay anh về thăm thầy, nhân dịp thăm mẹ của tôi đang ốm nặng.

–   Mô Phật ! Tôi hiểu nỗi khổ tâm của ông ấy.

Tôi nghe tiếng thở dài của vị trụ trì, và thấy thầy đưa mắt nhìn về một nơi xa xăm nào đó. Từ lúc mới gặp nhau trong ngôi nhà khách, tôi nghĩ là thầy đã nhận ra tôi. Tôi chờ thầy hỏi, nhưng có thể thầy đã quên hay bây giờ là kẻ tu hành, nên thầy không muốn nhắc lại chuyện thế tục ngày xưa. Không để lỡ mất cơ hội, tôi lên tiếng :

–  Tôi về đây, gặp thầy cũng để muốn xin được hỏi thầy một điều, mà bấy lâu nay cứ băn khoăn mãi trong lòng, nhưng ngại thầy là bậc tu hành, nên tôi không dám .

Thầy nhìn tôi, im lặng giây lát rồi lên tiếng :

–   Mô Phật!  Kẻ tu hành lúc nào cũng muốn đem ánh sáng cho chúng sinh hầu giải tỏa những lo âu phiền não. Xin bà cứ tự nhiên

–   Xin thầy tha lỗi, nếu có điều gì không phải. Có phải thế danh của thầy là Quế, Lê Phương Quế ?

Thầy ngạc nhiên nhìn tôi, rồi nhìn lên khoảng không, nhíu mày.

–   Mô Phật!  Làm sao mà bà biết được tên của tôi ?

–  Thầy còn nhớ anh Lân, trung sĩ  Đỗ Lân, ở Sư Đoàn 23 BB, có đóng quân ở An Khê vào những ngày tết năm 1972 ?

–   Bà còn biết cả bạn tôi? Anh Lân đã tử trận ở Kontum từ mùa hè 72 . Bà có biết không?

Tôi có một thoáng giận thầy, vì nghĩ là đến bây giờ ông vẫn chưa nhận ra mình. Chẳng lẽ thầy vô tình đến thế. Nhưng ngay sau đó tôi hối hận về ý nghĩ của mình. Sao lại đem chuyện đời để mà trách một vị chân tu, một người đã xa lánh chuyện hồng trần, thế sự. Thầy đã cho mình hỏi và sẳn sàng tâm sự đã là một điều hỉ xả rồi.

–  Dạ, tôi có biết, và tôi cũng có đến Kontum thăm mộ anh mấy lần. Sau này tôi về tìm để xây lại ngôi mộ cho anh, thì nghĩa trang không còn nữa, và không ai biết mộ anh đã chuyển đi đâu .

Đôi mắt của vị trụ trì sáng hẳn lên. Thầy mở đôi mắt thật to nhìn tôi, đưa tay lên định nắm vai tôi, nhưng rồi kịp khựng lại.

–  Vậy là Xuân ? Bà là cô Xuân ngày xưa? Mô Phật! Sao lại có chuyện kỳ ngộ lạ lùng này.

Vâng, tôi chính là Xuân, cô bé học trò trường trung học An Túc ngày xưa. Người  đã gói hai gói quà Xuân ủy lạo cho những chiến sĩ đến giữ an ninh cho quê tôi vào đúng chiều ngày mồng một tết. Hai gói quà được nộp cho trường để chuyển tới cho các anh, vì lúc ấy đơn vị đang hành quân mở đường để đến nơi trú đóng.

Sau một cái tết an bình, cả thị trấn nhỏ của tôi nhộn nhịp hẳn lên bởi sự có mặt của một trung đoàn lính chiến, ngày mồng tám tết, đám học trò chúng tôi trở lại trường, nhưng các thầy cô biết là trong lòng đám học trò ai cũng còn dư âm ngày tết, nên cho chúng tôi tập họp lại hát hò và kể chuyện vui. Trong lúc thầy hướng dẫn đệm đàn cho cả đám học trò ca hát, thầy giám thị đến tìm tôi, bảo tôi lên văn phòng có người nhà muốn gặp. Bước theo thầy giám thị mà lòng tôi lo lắng không biết ở nhà có chuyện gì, thì ông đưa tay chỉ hai anh lính đang ngồi chờ trên chiếc ghế đá trong sân trường.

Hai anh lính thật trẻ đứng lên chào tôi, nhoẻn miệng cười :

–  Hai đứa tôi đến để cám ơn Xuân và chúc mừng Xuân năm mới .

Tôi thoáng một chút ngạc nhiên và bẽn lẽn :

–  Em có làm gì đâu mà hai anh cám ơn ? Mà sao hai anh biết được tên em ?

Hai anh cùng mở túi áo lấy ra bức thư. Vừa kịp nhận ra đó là hai bức thư mà tôi đã “sao y bản chánh” bỏ trong hai gói quà ủy lạo, thì một anh lên tiếng :

– Tôi là Đỗ Lân, và người bạn thân của tôi đây là Lê Phương Quế. Trông anh hiền như con gái, nhưng Xuân đừng nhầm với nữ ca sĩ Phương Hồng Quế nghe, mặc dù anh Quế bạn tôi cũng có giọng hát rất hay, không thua gì Phương Hồng Quế . Hai đứa tôi nhận hai gói quà của Xuân. Quà cáp như nhau và lời lẽ trong cả hai bức thơ cũng giống nhau như đúc. Cô Xuân thật công bình. Cám ơn nghe!

Tôi hơi quê, nhưng cố làm ra vẻ tự nhiên:

–  Hai anh tới trường tìm Xuân, không sợ thầy giám thị la Xuân hà ?

Anh lính thứ nhì, tên Quế, lên tiếng :

–  Bọn tôi bảo là anh em bà con với Xuân, đi lính xa nhà bây giờ mới gặp. Thầy giám thị coi bộ cũng thương lính lắm, nên chắc không nở la rầy người yêu, à xin lỗi, người em của lính đâu!

Mặc dù thấy hai anh chàng có vẻ thư sinh, vui tính, nhưng nhớ lời bà chị thường bảo mấy ông lính bạo dạn và tán gái hay lắm. Phải coi chừng. Tôi nhủ thầm như thế. Và để xem hai anh chàng này có thực sự bạo dạn hay không tôi khoanh tay:

–  Nghe nói anh Quế hát hay không thua gì Phương Hồng Quế, em xin mời hai anh vào lớp em chơi. Bọn em cũng đang ca hát trong đó, chứ không có học hành gì đâu. Đám bạn em sẽ mừng lắm đó.

Hai anh nhìn nhau cười, rồi gật đầu, theo tôi vào lớp.

Cả đám bạn học trò im bặt, tò mò nhìn ra khi thấy tôi dắt theo hai anh lính trẻ. Tôi nói với vị giáo sư hướng dẫn :

–  Thưa thầy, có hai anh lính nhận được quà tết của lớp mình, đến cám ơn và xin hát cho cả lớp mình nghe .

Thầy hướng dẫn lớp gật đầu, đến bắt tay hai anh, tươi cười :

–   Hồi nãy tới giờ mấy cô chỉ hát những bài tình yêu lính chiến, bây giờ đích thân lính chiến hát tặng mấy cô thì còn gì hay bằng, phải không ?

Cả lớp vỗ tay .

Anh lính tên Lân bước lên bục giảng, hai tay mân mê chiếc nón bê- rê :

–   Kính thưa thầy, thưa các bạn. Tôi không biết hát, nên xin dành phần nói trước. Chúng tôi xin cám ơn những gói quà Tết của nhà trường, của các bạn. Trong không khí Tết, vì nhiệm vụ phải xa nhà, được những món quà của các bạn chúng tôi thấy ấm áp nhiều lắm. Đặc biệt hai đứa tôi đây đã nhận được quà của cô Xuân. Chỉ cần cái tên của cô là hai đứa chúng tôi cũng đã có cả một mùa xuân rồi . Xin cám ơn và kính chúc thầy, chúc các bạn một năm mới vạn điều như ý.

Cả lớp lại rộn lên tiếng cười và những tràng vỗ tay không dứt. Một con bạn có tiếng nghịch nhất lớp quay về hướng tôi ngồi :

–   Xuân ơi, mày chỉ được chọn một trong hai thôi. Còn để dành cho đứa khác nữa chứ!

Đúng là nhất quỉ nhì ba, còn thứ ba là bọn này. Tôi đoán hai anh chàng lính sữa đang nghĩ như thế. Anh lính tên Lân bẽn lẽn, ngừng lại đôi phút rồi đưa tay về hướng người bạn, tiếp tục :

–   Bây giờ, xin giới thiệu anh bạn thân nhất của tôi, Lê Phương Quế, mà chúng tôi thường gọi là Phương Hồng Quế, tiếng hát hàng đầu của trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu, sẽ lên hát một vài bài tặng thầy và các bạn .

Tôi cũng phục tài ăn nói khá “tâm lý chiến” của anh chàng Lân này. Cái giọng Huế nghe cũng êm ái, cứ như rót mật vào tai người ta. Bây giờ nhìn kỹ thấy anh ta cũng đẹp trai, nụ cười cũng có duyên ghê lắm. Lính cỡ này chắc sẽ làm khổ vài cô em gái hậu phương đây. Tôi mỉm cười với ý nghĩ vừa thoáng trong đầu.

Anh Quế bước lại chỗ thầy hướng dẫn để xin nhờ thầy đệm đàn. Anh hát bài Xuân Này Con Không Về của nhạc sĩ Trịnh Lâm Ngân. Trông anh có dáng dấp thư sinh và khuôn mặt hiền lành như một thầy tu.

Tiếng hát cất lên làm cả lớp im bặt. Đúng là giọng hát của anh rất hay, điêu luyện, lúc réo rắt lúc trầm buồn không thua một ca sĩ chuyên nghiệp. Dường như có cùng tâm trạng với nội dung bài hát, nên anh đã hát với tất cả cảm xúc, làm dao động trái tim mọi người. Bài hát chấm dứt, mà cả lớp dường như còn thẫn thờ, yên lặng. Sau đó bùng vỡ bởi những tràng vỗ tay và nhiều tiếng la: bis, bis…

Anh cúi xuống một lúc, hình như để dấu sự cảm xúc, rồi ngước lên nói nhỏ hai tiếng cám ơn và xin hát tiếp bài Chiều Trên Phá Tam Giang, thơ của Tô Thùy Yên phổ nhạc.

Lần này, chính tôi không cầm được nước mắt. Không chỉ vì anh hát hay, nhưng tôi thấy xúc động, thấm thía hơn cuộc đời của những người lính chiến.

–  Thưa thầy. Bây giờ đã đi tu rồi, thầy có còn hát những bản nhạc tình lính ngày xưa? Tôi vẫn còn nhớ cái cảm xúc khi thầy hát cho cả lớp tôi nghe, sau cái tết năm nào ở trường An Túc. Thầy hát thật hay và truyền cảm. Hôm ấy là lần đầu tiên tôi được gặp thầy và anh Lân.

–   Mô Phật ! Bây giờ tôi chỉ còn biết tụng kinh gõ mõ, cầu cho thế giới hòa bình, chúng sinh an lạc. Nhưng những gì bà vừa nhắc lại, cũng là con người, làm sao tôi có thể quên.

–   Xin thầy thứ lỗi, nếu tôi đã nhắc thầy nhớ lại chuyện đời để làm bận lòng một bậc chân tu.

–   Mô Phật! Đạo ở trong Đời, cũng như hai kẻ đồng hành. Hành đạo là để giúp đời. Kẻ tu hành như chúng tôi cũng chỉ là “cư trần lạc đạo”  mà thôi, thưa bà.

–   Cư trần lạc đạo là sao, thưa thầy?

–   Có nghĩa là hiện diện nơi trần thế mà hành đạo, vui đạo. Chứ không phải xa lánh trần thế đầy khổ nhục để tìm sự thanh thản riêng cho bản thân mình.

–   Cám ơn thầy. Thầy giảng hay quá. Ngày đầu tiên gặp thầy, và nhất là lúc nhìn thầy đứng hát trên bục lớp, tôi đã thấy thầy giống một nhà tu. Có lẽ thầy đã có căn duyên từ trước, phải không thầy ?

–    Mô Phật! Ai cũng có thể tu hành, và bất cứ ai cũng có thể thành Phật được, thưa bà .

Không ngờ lần gặp gỡ đầu tiên năm ấy lại mang đến cho tôi mối tình đầu. Sau vài lần gặp nhau, tôi biết Lân và Quế là hai người bạn thân thiết từ lúc còn học trong trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu. Ra trường về cùng đơn vị, nên sống với nhau như anh em, mặc dù tôn giáo khác nhau. Quế đạo Phật còn Lân là tín đồ Công giáo.  Những ngày chủ nhật không bận hành quân, Lân đều đi lễ nhà thờ, nên chúng tôi thường gặp nhau hơn. Và lần nào tôi cũng mời Lân về nhà. Cha mẹ tôi cũng rất thương quí Lân, nhất là sau khi biết cha mẹ Lân đã chết trong biến cố tết Mậu Thân. Tính tình Lân lại hiền lành chân chất và hiếu học. Dù bận hành quân liên miên, nhưng anh vẫn cố gắng tự học để thi tú tài vào mùa hè này. Cũng có đôi lần Quế theo Lân đến nhà tôi chơi. Càng lúc chúng tôi càng thân nhau hơn.

Tôi biết là Lân cũng thích tôi. Trong túi áo của anh lúc nào cũng có chiếc khăn tay tôi đã tặng anh trong gói quà Xuân. Mỗi lần chia tay, anh bịn rịn lưu luyến không muốn rời tôi. Còn tôi, cũng thấy nhớ anh da diết và mong chờ anh từng ngày trong các lần anh đi hành quân. Tối nào tôi cũng đọc kinh cầu nguyên cho anh được bình yên trở về.

Bây giờ tôi mới biết tình yêu là gì. Tôi bắt đầu biết tương tư, mơ mộng, nhớ nhung và man mác buồn khi thiếu vắng anh. Những bản nhạc tình lính, người yêu của lính, dường như càng lúc tôi càng thấy hay hơn, và tôi hát nhiều hơn. Sau mỗi lần hành quân, Lân đều mang về tặng tôi những cánh hoa lan rừng. Tôi nghe nói vùng núi rừng An Khê này có nhiều hoa lan. Có những loại hoa lạ, thật đẹp mà tôi chưa bao giờ nhìn thấy hoặc biết tên. Chỉ sau hai tháng, trong phòng tôi treo đầy hoa lan rừng. Tôi thích nhất là những cánh hoa màu tím. Có lẽ tôi nhớ tới màu tím hoa sim trong một bản nhạc mà tôi thường hay hát..

Chiến tranh lại ngày càng ác liệt. Ngồi trong lớp học, bọn tôi vẫn thường nghe tiếng súng, tiếng máy bay vần vũ trên bầu trời. Ban đêm, nhìn qua cửa sổ, những trái hỏa châu lơ lững giữa trời, soi sáng cả một vùng núi non nào đó. Rồi tôi nghe tin Dakto mất, Tân Cãnh thất thủ, thành phố Kontum bị pháo kích..Một số người đã phải bỏ nhà chạy xuống Pleiku, sống trong các trường học, được chính quyền dùng làm trại tiếp cư

Hơn một tuần, tôi chưa gặp Lân bởi đơn vị anh có lệnh cắm trại, ứng chiến. Bất ngờ gặp lại anh trong lễ sáng chủ nhật ở nhà thờ. Khi tôi đang quỳ gối cầu kinh, Lân đến sau, quỳ xuống bên cạnh. Tan lễ, vừa bước ra khỏi nhà thờ thì chúng tôi gặp anh Quế đứng đợi từ lúc nào. Tôi mời hai anh về nhà. Trên đường đi, cả hai anh im lặng, không nói một lời gì. Nhìn nét mặt thật buồn, tôi nghĩ là họ đang ưu tư điều gì. Tôi hỏi, nhưng hai anh chỉ nhìn nhau rồi lắc đầu, không nói.

Suốt ngày hôm ấy hai anh ở lại nhà tôi. Mẹ tôi đãi hai anh một con gà tơ. Trong lúc Lân và Quế rượt bắt gà trong vườn, tôi tìm hái mấy trái cà, trái mướp và rau thơm. Cả ba chúng tôi cùng làm bếp, đùa giỡn, ca hát líu lo, không còn chút ưu tư nào trên khuôn mặt của mọi người. Ăn cơm xong, chúng tôi rủ nhau ra ngồi dưới những cây dừa rợp bóng, nghe Quế hát, rồi chúng tôi cùng hát theo những bài tình ca quen thuộc. Buổi chiều, Quế cáo từ tôi, chào ba mẹ tôi xin về trước.                      Trong phòng tôi chỉ còn có tôi và Lân. Lần đầu tiên tôi nghe Lân rụt rè tỏ tình. Anh bảo, đời chiến binh rày đây mai đó, rồi có một ngày, anh sẽ phải đi xa, nhưng lúc nào cũng mang theo bóng hình của tôi vào những nơi gió cát. Những lời anh nói làm tôi nhớ tới những câu thơ Chinh Phụ Ngâm thật hay của bà Đoàn thị Điểm dịch mà tôi đã học. Những câu thơ thật buồn bây giờ lại càng buồn hơn. Tôi khóc. Lần đầu tiên tôi khóc, không biết là vì hạnh phúc đến bất chợt của mối tình đầu hay là vì nghĩ tới nỗi cô đơn của người Chinh Phụ. Tôi giật mình, khi Lân ôm tôi vào lòng. Tôi đứng im, bất động, đón nhận nụ hôn tình yêu đầu đời trong hai hàng nước mắt. Tôi tiễn Lân ra đầu làng, hai đứa ôm lấy nhau khi bóng chiều vừa tắt.

Sáng hôm sau, ngồi trong lớp học, khi thấy từng đoàn xe nhà binh chở đầy lính chạy về hướng Pleiku, lòng tôi thẫn thờ khi nghĩ là Lân đã đi xa..Tôi vội lên xin phép cô giáo ra ngoài. Nhưng khi tôi vừa chạy đến hàng thông phía trước, thì đoàn xe cuối cùng đã chạy qua bên kia cầu .

Xuân ơi,

Anh đang ở phi trường Pleiku để chuận bị được không vận lên Kontum. Chiến trường đang ác liệt. Căn cứ Tân Cảnh vừa thất thủ. Địch quân đang tràn xuống uy hiếp thành phố Kontum. Thành phố  này đang bị cô lập bởi những cái chốt của địch quân trên đỉnh núi ChuPao, cắt đứt quôc lộ 14 nối liền với Pleiku. Sợ lên Kontum rồi, anh không liên lạc được với em, nên viết vội ít dòng tin em và cũng xin lỗi em vì hôm qua, khi chia tay ở nhà em , anh không nói chuyện anh  đi. Mong em thông cảm bởi đó là bí mật quân sự, anh không được phép tiết lộ, mặc dù anh rất yêu em và tin em..

Không biết đến bao giờ mình mới gặp lại, nhưng dù bất cứ hoàn cảnh nào, anh vẫn luôn mang theo trong tim mình hình bóng của em. Em nhớ cầu nguyện cho anh nghe.

Xin cho anh kính lời hỏi thăm hai bác cùng gia đình. Cầu xin Chúa và Đức Mẹ Maria luôn che chở em cùng tất cả mọi người.

Hôn em

Đỗ Lân

Không ngờ lá thư này là lá thư cuối cùng tôi nhận được của Lân. Chỉ ba tuần sau, Lân hy sinh. Người báo tin buồn này chính là Lê Phương Quế, người bạn chí thân của Lân và sau này cũng là bạn của tôi. Lá thư có kèm theo vài di vật, Quế đã nhờ một anh phi công gởi cho tôi từ Pleiku , sau một chuyến đổ quân cho đơn vị  của Quế ở Kontum. Lân đã bị thương rất nặng khi cùng với vị tiểu đoàn trưởng chui qua hàng rào phòng thủ, mở đường vào giải cứu Bệnh Viện 2 Dã Chiến, đang bị địch quân xua xe tăng đánh chiếm, với ý đồ lợi dụng những thương binh nằm trong bệnh viện, làm bàn đạp tấn công vào khu phi trường nằm sát thị xã Kontum. Lân chết lúc chờ máy bay tản thương. Chính Quế là người đã vuốt mắt cho Lân và nghe những lời trăn trối cuối cùng. Anh nhờ Quế giữ để trao lại cho tôi cái dây chuyền có mang thánh giá cùng mấy tấm ảnh có hình của cha mẹ anh và của anh mặc lễ phục trắng đội bê rê đỏ khi còn là thiếu sinh quân. Những tấm ảnh ấy bây giờ vẫn còn trong nhà thờ An Túc, và sợi dây chuyền tôi vẫn còn cất giữ đến hôm nay. Anh Quế còn cho biết thêm, trước khi trút hơi thở cuối cùng, Lân còn thì thào gọi tên tôi, và khi lục trong túi áo, anh Quế còn thấy cái khăn tay và lá thư của tôi tặng Lân trong gói quà tết hôm nào.

–  Thưa thầy, cuối năm 1973 tôi có nhận được thư của thầy. Lúc ấy thầy bị thương nặng, nằm ở quân y viện Pleiku. Tôi có tìm đến thăm, nhưng người ta bảo là thầy đã được chuyển về quân y viện Nguyễn Huệ ở Nha Trang, để được gần nhà. Lúc ấy đoạn đèo An Khê lại bị địch chiếm, nên xe đò không chạy được. Mấy tháng sau, khi đi được xuống NhaTrang tìm thăm thầy, thì thầy đã xuất viện. Tôi có hỏi nhưng bệnh viện không biết thầy ở đâu.

–  Mô Phật! Đúng như bà nói. Tôi được Hội Đồng Giám Định Y Khoa cho xuất ngũ, vì thương tích. Tôi về sống với mẹ già. Lúc ấy bà cũng đang tu tại gia, ăn chay trường. Suốt một đời bà đã lo lắng cầu nguyện cho cha tôi, rồi đến tôi. Cha tôi cũng đã tử trận năm 1965, trong trận Đồng Xoài, khi ấy tôi chỉ vừa 11 tuồi.

–   Nhờ vậy mà thầy đã đi tu .

–   Lý do đó chỉ một phần. Cái chính là do tôi đã sống trong chiến tranh, chứng kiến bao nhiêu cái chết quá đau lòng, như cái chết của những người còn quá trẻ như Lân. Họ đâu có tội tình gì. Tôi nghĩ tới cuộc chiến phi nghĩa, khi mà anh em cùng một nhà lại chém giết thù hận lẫn nhau. Tôi nghĩ tới cái Vô Thường, Vô Minh mà Đức Phật đã dạy, nên tôi đã tìm tới cửa Thiền để mong trút bỏ mọi ám ảnh, oan khiên.

Như vừa nhớ ra một điều gì, thầy chỉ tay về hướng sau chùa :

–   Mời bà đi theo tôi. Mong bà sẽ tìm thấy một điều kỳ diệu.

Tôi theo thầy đi dọc theo triền đồi, đến một nơi tương đối bằng phẳng. Lại một khu vườn nhỏ toàn hoa sim. Tuyêt diệu hơn, bên trên các khung cây được treo đầy những cánh lan rừng. Tôi nhớ tới những cành lan mà Lân thường mang về tặng tôi sau các cuộc hành quân. Ngày xuân, tất cả đang nở rộ một mùa hoa. Điều làm tôi ngạc nhiên hơn là giữa khu vườn là một ngôi mộ, trên tấm bia lại có cây thánh giá. Tôi thắc mắc hỏi thầy.

Thầy im lặng, không trả lời, ra dấu bảo tôi cùng thầy đến gần ngôi mộ. Tôi bàng hoàng khi đọc mấy dòng chữ trên mô bia:

Giuse Đỗ Lân
Sinh ngày 10.7.1953 tại Huế
Tử ngày 11.5.1972 tại Kontum

Tôi quỳ trước ngôi mộ, đưa tay lên ngực làm dấu thánh giá rồi khóc sụt sùi. Một cơn gió xào xạc làm chao động cả rừng cây. Dường như tôi đã ngồi ở đây lâu lắm. Khi lau nước mắt đứng lên tôi không còn thấy thầy trụ trì. Có lẽ thầy muốn để tôi ngồi khóc một mình mà thổn thức với người xưa, hay là muốn tránh xa chuyện vui buồn của thế tục.

Khi trở lại chùa, tôi có cảm giác như chân mình đang bước vào khoảng không, hụt hẫng. Chú tiểu chờ tôi trong căn nhà khách, chuyển lại lời xin lỗi của thầy trụ trì và trao lại cho tôi một tờ giấy học trò được xếp làm đôi. Thầy trụ trì đang cúng ngọ. Tôi mở tờ giấy ra đọc, trong lúc tiếng chuông chùa ngân nga như muốn làm dịu đi phần nào những cơn sóng đang bềnh bồng  trong lòng tôi. Trên tờ giấy chỉ có mấy dòng chữ : Xin chào bà và cám ơn bà. Chính tôi đã mang hài cốt của anh Lân về cải táng trong vườn chùa, khi được tin nghĩa trang trong thành phố Kontum bị giải tỏa. Anh Lân mồ côi, không còn ai thân thích.Từ nay, xin bà hãy cầu nguyện cho anh Lân, theo nghi thức tôn giáo của bà. Nam Mô A Di Đà Phật.

Phạm Tín An Ninh

(Tác giả viết lại phỏng theo lời kể của một nữ độc giả. Độc giả này sau khi đọc bài Trên Chiến Trường Xưa (Kontum) của tác giả,  được phổ biến trên nhiều số báo nhân ngày 30.4.2008 đã tìm cách liên lạc với tác giả để  tìm hiểu vế cái chết của người tình cũ. Anh đã tử thương trong trận tái chiếm Bệnh Viện 2 Dã Chiến, Kontum ngày 11.5.1972)

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 30 Aug 2026

Chúng ta còn nhớ vụ Little Saigon xuống đường đả đảo Trần Trường giăng cờ máu và hình ảnh chồn cáo đã gây chấn động khắp các cộng đồng hải ngoại, nhưng cuối cùng Trần Trường lại bị còng tay về một cái tội không liên quan gì đến chính trị: Đó là tội sang băng lậu, vì anh chàng khùng khùng điên điên này là một trong những chủ tiệm cho thuê phim Tàu trong vùng Bolsa. Khi mở cửa kiểm kê tang vật, người ta tìm được hàng nghìn cuốn băng và hơn trăm cái đầu máy dùng để sang băng. Biết thì biết vậy chứ không ai để ý đến phong trào coi phim Tàu đã tràn lan trong các gia đình Việt Nam một cách không ngờ và đáng sợ.

Trong vùng Little Saigon, cứ lấy điển hình là một tiệm cho thuê băng cỡ Trần Trường nhân với con số khoảng 25 tiệm cho thuê băng hiện nay, mỗi ngày hàng nghìn đầu máy video liên tục quay vòng để sản xuất ra hàng chục nghìn bộ phim, sản xuất theo kiểu “ mì ăn liền” đủ các loại để cung cấp cho các gia đình Việt Nam tại đây. Đám cưới không thể thiếu món đãi tiệc Tàu thì món ăn tinh thần rẻ tiền phổ biến hiện nay không thể thiếu món phim Tàu. Trong mười gia đình Việt Nam ở Little Saigon thì có tám gia đình là “membership” của một tiệm cho thuê phim truyện Tàu, chúng ta chưa nói đến đồng hương ở các vùng khác, mà sự việc cũng không khác xa nhau mấy. Trong hai TV tại gia đình đó thì có một để dành riêng chạy phim Tàu. Mười phụ nữ Việt tuổi từ 18 đến 75 thì có tám phụ nữ coi và mê phim Tàu. Cứ xem khách vào ra của những tiệm gọi là cho thuê video trong thời gian mở cửa chúng ta sẽ thấy mãnh lực của phim Tàu như thế nào, nó tràn đến, xâm chiếm các phòng khách, phòng ngủ của mọi gia đình Việt Nam. Phim Tàu chiếm hết thời gian sinh hoạt của mọi gia đình, là một món chi hiện diện thường trực trong ngân sách gia đình, đốt của chúng ta bao nhiêu thời giờ và tiêu phí những đồng đô la làm lụng khó nhọc. Về thời gian dành cho các bộ phim Tàu, người xem vì sự “hấp dẫn”của loại phim này, có người đã ngồi trước máy truyền hình suốt ngày, hay từ 10 giờ đêm đến 5, 6 giờ sáng, rất có hại cho sức khỏe, bỏ bê, trễ tràng không biết bao nhiêu công việc của gia đình và bản thân cần phải làm, hay đáng lý dành thời giờ đó cho những công việc làm có ý nghĩa hơn.

Chúng ta chưa làm những cuộc phân tích tâm lý và xã hội để giải đáp câu hỏi vì sao phụ nữ thích xem phim Tàu hơn là cánh đàn ông. Trong khi quí ông thích xem tin tức trong nước và thế giới, những phim đấm đá thì quí bà lại thích xem những bộ phim Tàu dài thườn thượt từ ngày này qua ngày khác mà không mỏi mệt. Không chỉ những phụ nữ làm các nghề tự do ở nhà, các bà ngoại bà nội lớn tuổi là những người chắc chắn đã là “membership” phim bộ, mà không thiếu những thiếu nữ cỡ tuổi hai mươi, ngay những em bé gái tốt nghiệp trung học ở Mỹ cũng khoái xem loại phim này. Phong trào định cư H.O. và các đợt thuyền nhân, di dân khoảng từ năm 1990 trở đi đã cung cấp cho những tiệm cho thuê băng, phim bộ Tàu những khách hàng thường trực và hào phóng. Phim Tàu có đặc tính gì để hầu hết quí bà đam mê thích thú như vậy. Từ loại kiếm hiệp, võ thuật mà quí ông đã từng mê qua sách báo lúc còn ở quê nhà như” Anh Hùng Xạ Điêu”, “Hoàng Phi Hùng”, loại tình cảm sướt mướt kiểu Quỳnh Giao như “ Song Ngoại”, “Dòng Sông Định Mệnh”, loại tích xưa chuyện cũ như “Bao Công Xử Án”, “Tây Du”, “Mạnh Lệ Quân”, loại chuyện tình cảm gia đình thời xưa của Trung Hoa như “ Người Mất Trí”, “Tình Người”. Loại sau này là loại phim dai dẳng nhất, có bộ phim dài trên vài trăm cuốn mà chưa chịu kết thúc, xem mệt nghỉ. Trong khi bộ ngắn nhất cũng phải trên 15 cuốn. “Nghệ thuật” làm phim Tàu là càng dài càng tốt, khách đã ghiền rồi không thể dứt ra được. Và khách tha hồ lựa chọn trong hàng nghìn đề mục phim mới cũ, mỗi người mỗi ý. Giống như những nhà sản xuất phim ảnh trên thế giới vì phim bán chạy, cốt chuyện được nhiều người thích, nên các nhà làm phim lần lượt cho ra tiếp những phim hồi hai, có ” Charles’Angels II”, “Men In Black II” thì Tàu cũng có “Bao Thiên Thanh Thời Niên Thiếu”, “Thời Niên Thiếu của Hoàng Phi Hùng” ..

Không biết những cuốn phim gốc ra sao vì khách hàng ít khi được thuê những loại phim như vậy và ngay cuốn phim đầu tiên nhập vào Mỹ để được in ra hàng vạn bản sao cũng đã là những cuốn phim sang lại rồi. Do đó phần kỹ thuật của một cuốn phim khi chúng ta thuê được về nhà, rất mờ không rõ nét, nhiều đoạn hình ảnh bị nhảy hay màn ảnh bị lốm đốm. Phần dàn dựng và kỹ thuật cũng như bố cục phim, thì vì đây là những loại phim được sản xuất theo công thức “mì ăn liền”, càng nhanh càng tốt, càng dài càng tốt, càng nhiều càng tốt vì các tiệm cho thuê phim bộ luôn luôn được hỏi: “Có phim gì mới không, bao nhiêu cuốn?” và hình như người ta quan niệm đã là phim Tàu thì phải dài mới hay. Vì vậy nội dung phần lớn những phim bộ của Tàu, kể cả các bộ phim đã có tuồng tích, phim nào đạo diễn cũng cho kéo dài lê thê, thêm nhiều tình tiết, sự việc, để kéo thêm chiều dài của những bộ phim. Những nhà sản xuất phim bộ vì vấn đề lợi nhuận, phim hoàn tất với giá thành càng thấp càng tốt, do đó từ dàn dựng, y phục, đạo cụ và những đầu tư khác như cốt truyện, bản phân cảnh phim, tài tử càng rẻ càng tốt. Về nhạc phim, các ông bà sản xuất khỏi cần thuê tới giàn nhạc giao hưởng cho tốn kém, cứ bỏ vài dĩa nhạc Tây Tàu vào theo diễn tiến của bộ phim là xong chuyện. Với đà ấy theo chu kỳ sản xuất, cứ mỗi một tháng lại có ít nhất là mười bộ phim mới ra đời. Về vấn đề lồng tiếng Việt cho những bộ phim Tàu, để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong cộng đồng người Việt ở trong và ngoài nước, những nhà lồng tiếng cũng hà tiện tới mức tối đa, quanh đi quẩn lại cũng vài tiếng nói quen thuộc. Giọng ông Bao Công giống giọng ông Hoàng Phi Hùng, giọng bà chủ lầu xanh cũng là giọng của nàng công chúa.

Để theo kịp miệng của tài tử Tàu mở ra khép vào, tiếng Việt trở thành một ngôn ngữ liến thoắng, nhanh nhẩu, âm thanh trầm bổng quái dị, nhiều tiếng cuối câu kéo dài ra một cách rất là … phim bộ, mà ta đã bật cười khi nghe các tài tử sân khấu nhái lại. Thế mà có vị đã bào chữa là thuê phim bộ về xem “cho con khỏi quên tiếng Việt … ” Với những bộ phim, hình ảnh mờ nhạt coi đến đau con mắt, âm thanh khi cao khi thấp, tiếng nói léo nhéo và với kỹ thuật, âm thanh như vậy, mà thái độ người mướn phim, xem phim coi ra rất dễ dãi, miễn có phim chiếu lên có đủ tài tử, cốt truyện là xong chuyện. Chúng ta thử làm một bài toán: chỉ tính nội trong vùng Little chúng ta có 25 tiệm cho thuê phim Tàu – tuy mang danh là chuyên cho thuê băng video bình thường, mỗi tiệm có chừng có chừng 1,000 “memberships”, mỗi “membership” khách được quyền thuê 100 cuốn phim (có khi một cuốn băng được tính là hai đơn vị). Little Saigon có 25,000 “memberships”, mỗi “membership” phải trả $30 và $10 “deposit”. Vì phim thuê không phải trả liền ngày sau đó mà khách được giữ tại nhà khoảng 3 tuần lễ, nên người xem nhiều có khi mười lăm ngày đã xong 100 cuốn, khách tà tà phải hai tháng mới hết một “membership”. Tính trung bình thua kém, trong vvùng Little Saigon chúng ta có mỗi tháng 25,000 gia đình (ít lắm là hai tháng tiêu một “membership” $30), Little Saigon trong một tháng đã chi ra một số tiền $375,000 (ba trăm bảy mươi lăm nghìn đô la). Con số này chỉ là con số tối thiểu.

Đây chỉ là câu chuyện phiếm về hiện tượng phim Tàu trong các gia đình Việt Nam ở vùng Little Saigon hiện nay nên những con số đưa ra chỉ là những con số phỏng đoán. Phần phóng sự điều tra xin để dành cho quí vị phóng viên chuyên nghiệp. Phim (bộ) Tàu có giúp ích gì thêm kiến thức cho người Việt hải ngoại không? Phim Tàu có trau dồi tiếng Việt cho con em chúng ta không? Bỏ tiền ra để đi thuê phim Tàu có phí tiền không? Mỗi ngày bỏ ra năm bảy tiếng ngồi xem phim Tàu có vô bổ không ? Xin để câu trả lời cho bạn đọc.

Thiếu tá Ron Nguyen (gốc Việt), Sĩ quan tác chiến, Lực lượng không gian Hoa Kỳ

dongsongcu.wordpress.com

Posted on August 28, 2026 by dongsongcu

27/08/2026

Nguyễn Quân

Post by Sơn râu 29 Aug 2026

Thiếu tá Ron Nguyen (hình của linkedin.com).

Thiếu tá Ron Nguyen là Sĩ quan Lực lượng Không gian Hoa Kỳ với kinh nghiệm trong nhiệm vụ chỉ huy hoạt động tác chiến, và soạn thảo kế hoạch quản lý ngân sách và chương trình. Những nhiệm vụ trước đây, ông từng phục vụ bao gồm các vị trí: Chỉ huy phó, Sĩ quan tham mưu Bộ tư lệnh, Sĩ quan yểm trợ hoạt động liên lạc vệ tinh quân sự, thử nghiệm và đánh giá. Ông phục vụ tại các đơn vị trong nhiệm sở Sĩ quan tác chiến Lực lượng Không gian Hoa Kỳ từ tháng 5 năm 2016 đến nay.

Thiếu tá Ron Nguyen thụ huấn Chương trình Sinh viên Sĩ quan Không quân trừ bị (ROTC) của Trường Đại học (UCLA), với kinh nghiệm ban đầu trong các hoạt động nguyên tử và hoả tiễn, ông mang đến nền tảng kỹ thuật đa dạng và thành tích xuất sắc trong hoạt động. Ông chuyên môn về hệ thống vệ tinh, phân tích chương trình và giám sát tổ chức, thúc đẩy sự thành công của nhiệm vụ qua khả năng chỉ huy kỷ luật, đổi mới và hợp tác. Ông hiện đang theo học tại Trường nghiên cứu quân sự cao cấp Lục quân Hoa Kỳ (SAMS) tại Fort Leavenworth.

Lực lượng Không gian Hoa Kỳ (USSF) là Quân chủng tác chiến không gian trong sáu Lực lượng quân sự của Quân đội Hoa Kỳ, và là một trong tám Lực lượng đồng phục của Quốc Gia này. Được thành lập lần đầu vào ngày 1 tháng 9 năm 1982 với danh xưng là Bộ tư lệnh vũ trụ Không quân. Ngày 20 tháng 12 năm 2019, Lực lượng Không gian được tách ra thành một Quân chủng độc lập với việc ký kết đạo luật Không gian Hoa Kỳ, một phần của đạo luật ủy quyền Quốc phòng Quốc gia năm 2020. Lực lượng Không gian Hoa Kỳ được tổ chức thành một Quân chủng trong Bộ Không quân, một trong ba Bộ quân sự thuộc Bộ Quốc phòng. Bộ trưởng Không quân là người đứng đầu Lực lượng Không gian do Tổng thống bổ nhiệm và Thượng viện xác nhận, và tường trình trực tiếp lên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đây là lực lượng quân sự có quân số ít nhất trực thuộc Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ. Lực lượng Không gian hiện nay do Đại tướng B. Chance Saltzman làm Tư lệnh, ông xuất thân là Sĩ quan Không quân Hoa Kỳ.

Thiếu tá Ron Nguyen “trái” và các Quân nhân Lực lượng không gian được vinh danh trong buổi Lễ trao giải thưởng thường niên năm 2024, ghi nhận những đóng góp của họ cho Lực lượng Không gian Hoa Kỳ (hình của linkedin.com).

Thiếu tá Ron Nguyen hoàn tất Chương trình Sinh viên Sĩ quan Không quân trừ bị (ROTC) của Trường Đại học California, Los Angeles (UCLA) năm 2012, ông mang cấp Thiếu uý và được chỉ định làm Sĩ quan tác chiến phục vụ tại Bộ Tư lệnh tấn công toàn cầu Không quân tại Minot, ND, từ tháng 6 năm 2013 đến tháng 12 năm 2015.

Từ tháng 2 năm 2018 đến tháng 10 năm 2018, ông là Sĩ quan tác chiến Bộ Tư lệnh Không gian Không quân tại AFB Schriever.

Từ tháng 10 năm 2024 đến tháng 1 năm 2025, ông được cử làm Sĩ quan nghiên cứu của Cơ quan dự án nghiên cứu tiên tiến quốc phòng (DARPA) tại Ballston, Virginia.

Hiện ông đang theo học tại Trường nghiên cứu quân sự cao cấp Lục quân Hoa Kỳ (SAMS) tại Fort Leavenworth.

Thiếu tá Ron Nguyen hoàn tất các Văn bằng: Văn bằng cao học tâm lý học công nghiệp và tổ chức, Trường Đại học Harvard; Văn bằng Cao học khoa học tác chiến, Trường Cao đẳng Chỉ huy và Tham mưu Lục quân Hoa Kỳ (The U.S. Army Command and General Staff College), tháng 6 năm 2026; Văn bằng hàm thụ, Trường Cao đẳng Chỉ huy và Tham mưu Không quân Hoa Kỳ (USAF Air Command and Staff College). năm 2023; Văn bằng Cao học Y tế công cộng, Trường Đại học Liberty University năm 2021; Văn bằng sinh học phân tử, tế bào và phát triển, Trường Đại học Đại học California, Los Angeles (UCLA), năm 2012.

Sĩ quan gốc Việt phục vụ trong Lực lượng không gian Hoa Kỳ còn rất khiêm tốn, không nhiều như Sĩ quan gốc Việt phục vụ trong các Quân chủng Hải, Lục, Không quân, Thuỷ quân lục chiến, Tuần duyên Hoa Kỳ (USCG) và Đoàn y tế công cộng Hoa Kỳ (USPHS). Theo tài liệu từ afpc.af.mil/Promotion/Officer-Promotions và congress.gov thì Sĩ quan gốc Việt phục trong Lực luợng Không gian hiện nay gồm có: 2 Đại tá (1 hồi hưu), khoảng 10 Trung tá, 30 Thiếu tá và trên 50 Đại uý, không tính Sĩ quan cấp Trung/Thiếu uý và Công chức dân sự. Có một số Sĩ quan gốc Việt từ Không quân chuyển sang phục vụ Lực lượng không gian.

Kỳ tới: Thiếu tá Jesse Nguyen (gốc Việt), Sĩ quan tác chiến Lực lượng không gian Hoa Kỳ.

Nguồn: linkedin.com; wikimedia.org; bienxua-Đại uý Kevin Tran (gốc Việt), Kỹ sư thử nghiệm tác chiến quỹ đạo, Phi đoàn 3 thử nghiệm và đánh giá, Lực lượng Không gian Hoa Kỳ

Samurai! Những trận không chiến dữ dội nhất lịch sử Thái Bình Dương

vietmessenger.com

Tủ sách Khoa Học Nhân Văn

Lê Thanh Hoàng Dân

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Post by Sơn râu 29 Aug 2026

Martin Caidin

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

Trẻ Xuất Bản 1974

Chúng tôi bước qua giai đoạn mới của cuộc chiến vào ngày 21 tháng Bảy, khi một sư đoàn bộ binh Nhựt đổ bộ lên Buna, cách phía nam Lae 268 cây số. Bộ binh lập tức mở đường xuyên qua rừng già dầy bịt trên đảo để tiến đến hải cảng Moresby. Nhìn trên bản đồ, cuộc điều binh không mấy gì khó khăn. Buna giống như một hòn đá được quăng ra từ Moresby để nối liền eo biển giữa nó và bán đảo Papua. Nhưng tình trạng các hòn đảo rừng rậm trên bản đồ hoàn toàn khác biệt với tình trạng nghiệt ngã phía dưới những tàn cây kín như bưng. Bộ Tư Lịnh Tối Cao Nhựt đã sai lầm khủng khiếp và chết người. Trước khi cuộc hành quân này chấm dứt, Nhựt Bản phải chịu đựng một trong những tai họa bi đát và nhục nhã nhất.

Rặng núi Owen Stanley có lẽ còn cao hơn rặng núi đáng sợ Alpes. Nếu chỉ mô tả rừng rậm dầy bịt trên sườn núi không thôi thì e quá dễ dãi. Dưới đời sống của cây cối còn nhiều sự tàn bạo không thể tưởng tượng nổi. Nếu không có những ao đầm, những bãi lầy dưới chân thì cũng phải là những tảng đá bén như dao cạo, những cái dốc thẳng đứng. Ðó là không nói đến các loại sên vắt, khí hậu nóng bức đến nghẹt thở, và những chứng bệnh chết người không thể tìm ra nguyên nhân.

Vượt qua băng tuyết trên rặng Alpes có lẽ còn dễ dàng hơn vượt qua rừng rậm của dãy núi Owen-Stanley. Ðơn vị nào lọt ngay vô một bãi lầy thì kể như tiêu luôn. Khí hậu vừa nóng bức vừa ẩm thấp khiến cho các sây sát hoặc vết thương lở loét thêm. Từ mọi lỗ chân lông mồ hôi tươm ra cho đến khi nước trong người khô cạn. Ðồ trang bị hư hại, quần áo rách tả tơi, đôi chân bị cắt nát bấy bởi đá, gai góc và lá cây sắc nhọn như dao.

Trong nhiều tháng ròng rã, lực lượng bộ binh của chúng tôi đã xung đột với một kẻ thù tồi tệ nhứt mà họ chưa từng đối diện bao giờ. Một kẻ thù không có súng ống, không đặt mìn bẫy, nhưng đã lần lượt nuốt trọn hàng ngàn binh sĩ Nhựt. Nhiều đơn vị cũng lập được chiến công siêu phàm, tìm đường lần mò đến gần mục tiêu chỉ định, pháo đài Moresby, trong vòng một dặm. Nhưng các đơn vị này đều bị tiêu diệt, đa số chết đói vì loay hoay trong rừng rậm không tìm được lối thoát. Cuộc tấn công trên bộ là một cựa quậy tuyệt vọng. Trước kia Bộ Tư Lịnh Tối Cao Nhựt đã sắp xếp một cuộc tấn công Moresby quy mô, cả hai mặt đường biển và đường bộ. Nhưng kế hoạch này đã bị bãi bỏ vào ngày 7 tháng 5, khi hai hàng không mẫu hạm Nhựt đụng độ với hai hàng không mẫu hạm của địch trên biển San Hô.

Ðây là trận hải chiến đầu tiên mà tàu cả hai phía không bắn một phát súng nào. Mỗi lực lượng chỉ sử dụng phi cơ oanh tạc lẫn nhau. Chúng tôi thắng trận này, nhưng địch quân đạt được mục đích của họ: cuộc tấn công thủy bộ như dự tính đã bị bãi bỏ.

Với cuộc đổ bộ của bộ binh ở Buna, Tổng Hành Dinh Rabaul ra lịnh cho chúng tôi đình chỉ các cuộc tấn công Moresby, và tất cả các phi cơ quay sang không yểm cho cuộc đổ bộ. Cuộc đổ bộ Buna, mà sự thất bại đã nhìn thấy ngay khi nó được phát động, chỉ là một phần trong một cuộc hành quân rộng lớn hơn. Sự thất bại này không chỉ do rừng rậm gây ra, nhưng còn do sự thiếu hiểu biết về các vấn đề tiếp vận của giới chức chỉ huy. Sự yếu kém này, phối hợp với những chuyển động vượt trội của đối phương, một thảm họa đã cầm chắc trong tay.

Cùng lúc với cuộc đổ bộ ở Buna, một đơn vị xung kích đã nhảy lên mũi cực Ðông của đảo New Guinea. Làm việc ngày đêm, đơn vị này thiết lập được một phi trường mới bên ngoài rừng rậm ở Rabi, với ý định đổ tiếp liệu cho binh sĩ di chuyển từ đầu cầu Buna xuyên qua New Guinea. Thật lạ lùng, địch quân không dội bom lúc công việc thiết lập phi trường này còn dở dang, nhưng họ ghi nhận đầy đủ bằng không ảnh do phi cơ thám thính chụp. Tuy nhiên, khi binh sĩ của chúng tôi vừa hoàn tất nhiệm vụ, lực lượng địch đánh úp bất ngờ, và vét trọn đơn vị phòng giữ của chúng tôi. Ðó là một cú đánh đẹp mắt, Nhựt Bản thiết lập phi trường để cho phi cơ của Hoa Kỳ và Úc Ðại Lợi sử dụng.

Nhưng đối phương không hài lòng với phi trường của Nhựt khá đơn sơ này. Công binh của họ thiết lập những phi đạo mới trong khu rừng với một tốc độ tiến hành đáng kinh ngạc. Oanh tạc cơ hạng trung và chiến đấu cơ của họ đáp trên các phi đạo mới này, ngay khi còn đang dở dang. Và các cuộc không tập càng lúc càng gia tăng khối lượng phi cơ và bom. Không đêm nào mà không có những chiếc B25 Mitchell và B26 Marauder xuất hiện.

Trong ngày, Phi đoàn Lae phải cắt đặt thế nào để luôn luôn có 6 đến 9 chiến đấu cơ Zéro hoạt động trên không phận Buna, đồng thời phải duy trì một lực lượng bảo vệ phi trường. Nhiệm vụ bao che Buna quá sức chúng tôi, nhưng chúng tôi vẫn tìm cách ngăn chặn các cuộc không kích quy mô của đối phương nhằm tiêu diệt các đầu cầu đã thiết lập.

Ngày 22 tháng 7, trong một phi vụ bao che gồm 6 chiến đấu cơ Zéro, tôi bắn hạ thêm hai phi cơ địch, nâng tổng số nạn nhân của tôi lên 49. Một vài tuần kế đó, chúng tôi vẫn giữ nhiệm vụ bao che khu vực bãi biển Buna, nhưng vào hạ tuần tháng Bảy chúng tôi phải đương đầu với một giai đoạn mới đầy xa lạ của cuộc chiến. Lịnh đưa xuống từ Bộ Tư Lịnh Tối Cao.

Ðại tá Saito chỉ thị mọi phi công phải mang dù trong khi chiến đấu. Tôi có một cảm giác kỳ lạ với cây dù phía sau lưng và những sợi dây buộc quanh thân. Tôi chưa bao giờ bay với tình trạng gò bó như vậy trước đây.

Một lịnh khác đã làm chúng tôi ngơ ngác không khác gì lịnh mang dù. Ðại tá Saito ban xuống, từ nay trở về sau không có chiến đấu cơ nào được vượt qua rặng núi Owen-Stanley, và lịnh này không giải thích lý do.

Chỉ có một dịp duy nhứt, vào ngày 26 tháng 7, đã khiến tôi thấy lại hải cảng Moresby. Chúng tôi nghinh chiến 5 oanh tạc cơ Marauder trên không phận Buna, tôi bắn hạ hai chiếc rồi cùng với Sasai và Endo truy đuổi những chiếc còn lại. Chúng tôi vượt quá bên kia rặng núi, trái với lịnh đưa ra. Ðó là lần cuối cùng chúng tôi bay trên căn cứ của địch quân. Tình thế chúng tôi thay đổi nhanh chóng. Vào cuối tuần lễ đầu tiên của tháng Tám, chúng tôi bắt đầu đối diện với những tình trạng mà chúng tôi chưa bao giờ biết đến trước đây. Người Mỹ đã phát động một cuộc đổ bộ quy mô lên đảo Guadalcanal.

Ngày 29 tháng Bảy, Ðại úy Joji Yamashita quay về Lae, sau một phi vụ tuần thám ở Buna, với một tin tức gây xôn xao cả căn cứ. Lần đầu tiên các phi cơ của ông bị phi cơ của Hải quân Hoa Kỳ tấn công. Trước giờ chúng tôi chỉ đụng với Không quân của Lục quân Hoa Kỳ là USAAF. Lần này là US NAVY.

Ðại úy Yamashita đã báo cáo với Ðại tá Saito và Trung tá Nakajima rằng 9 chiếc Zéro của ông đã chạm trán với một lực lượng hỗn hợp bao gồm các loại chiến đấu cơ Grumman F4F Wildcat và oanh tạc cơ Douglas SBD Dauntless của Hoa Kỳ, được hướng dẫn đến Buna bởi các chiến đấu cơ P-39 Airacobra. Theo xét đoán của ông lực lượng này phát xuất từ Rabi. Ðây là lần đầu tiên các phi cơ của Hải quân Hoa Kỳ xuất hiện trong khu vực chiến đấu của chúng tôi.

Tin tức về một hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ đã di chuyển vô hải phận New Guinea là một điềm dữ, và các sĩ quan tham mưu của chúng tôi có vẻ xao xuyến. Nếu người Mỹ đưa được hàng không mẫu hạm vô hải phận này để phóng ra các cuộc tấn công vào Lae, Buna và Rabaul thì chiến thắng của họ ở Midway kể như có thật và đồng thời phủ nhận những mất mát quan trọng của họ trong trận đánh ở biển San Hô. Trước đó, Ðông-Kinh đã công bố rằng hạm đội của chúng tôi đã tiêu diệt hết hàng không mẫu hạm địch trong các cuộc đụng độ ở biển San Hô và Midway, nếu sự thật đúng như vậy, tại sao lại có một hàng không mẫu hạm trong vùng lân cận của chúng tôi? Chúng tôi bắt đầu nghi ngờ những công bố chiến thắng mà Ðông-Kinh luôn luôn lặp đi lặp lại.

Tuy nhiên, đa số phi công chiến đấu ở Lae đã ghi nhận tin tức với một thái độ khác biệt hoàn toàn. Ðêm đó, chúng tôi đã đặt nhiều câu hỏi với các phi công của Ðại úy Yamashita. Có bao nhiêu phi cơ của Hải quân Mỹ? Loại chiến đấu cơ F4F Wildcat có tốt hơn loại chiến đấu cơ P-39 Airacobra và Curtiss P40 Warhawk không? Các phi công US Navy tài giỏi bậc nào?

Những câu giải đáp của họ đã làm chúng tôi bền chí. Phi đội của Yamashita đã hạ 3 phóng pháo cơ Dauntless, 5 chiến đấu cơ Wildcat và 1 chiếc P-39 mà không mất một chiếc Zéro nào. Do đó những gì có thể xảy ra ở Midway, ở biển San Hô hoặc bất cứ nơi nào khác không còn quan trọng đối với chúng tôi nữa.

Chúng tôi chỉ cần biết trong bốn tháng liên tiếp vừa qua chúng tôi luôn luôn chiến thắng, và các phi cơ của Hải quân Hoa Kỳ xuất hiện chẳng qua là giúp cơ hội cho chúng tôi chiến thắng nữa. Ba ngày liền các phi cơ mới của địch không thấy xuất hiện ở Buna. Vào ngày 30 tháng Bảy, chín pháo đài bay B17 tấn công khu vực đầu cầu đổ bộ, và cuộc tấn công xem như đã đạt hiệu quả. Chín chiến đấu cơ của chúng tôi chỉ bắn rơi được 1 pháo đài bay địch. Tôi đã gặt hái được chiến thắng này khi tôi đụng đầu với chiếc B17 trên mũi Nelson, với tất cả hoả lực tập trung vào mũi của nó. Chắc chắn viên phi công chính và phụ đều thiệt mạng, vì chiếc phi cơ khổng lồ đâm chúi xuống biển. Ðó là một trong những trận đánh khó khăn nhứt của tôi, vì tôi trở về Lae với nhiều vết thương ở cánh tay phải do đạn địch gây ra. Tôi chỉ thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, và các chuyên viên cơ khí phải làm việc suốt đêm để vá lại hàng chục lỗ đạn ở thân và cánh chiếc phi cơ của tôi.

Vào ngày 2 tháng Tám, hình ảnh của những chiếc phi cơ mới của Hải quân Hoa Kỳ biến mất trong đầu óc tôi. Khi ngày sắp hết, lúc bay quần trên Buna ở cao độ 12,000 bộ, chúng tôi phát hiện 5 chấm nhỏ li ti nổi bật trong mây, cách đầu cầu đổ bộ nhiều dặm. Hình như là những chiếc pháo đài bay và ở cùng một cao độ với chúng tôi. Tôi bay dọc theo phi cơ của Sasai và ra dấu những oanh tạc cơ đang đến. Ông gật đầu và chúng tôi cùng báo hiệu cho các phi công khác. Chúng tôi vẫn giữ đội hình, bay vòng quanh chầm chậm cho đến khi tiếng máy của năm oanh tạc cơ nghe thấy rõ ràng. Sasai giơ tay lên, lắc cánh phi cơ ra lệnh phá vỡ đội hình chữ V của chúng tôi và tấn công trực diện theo hàng dọc. Chúng tôi quăng các bình xăng phụ. 9 Zéro chống với 5 B17 và hầu hết chín chúng tôi đều là những phi công hàng đầu của Nhựt về số điểm chiến thắng. Sasai cầm đầu cuộc tấn công. Ota bay cách 500 thước phía sau ông, tiếp theo là Endo. Tôi ở vị trí thứ tư, cũng cách 500 thước, với hai phi công bên cánh là Yonekawa và Hatori ở phía sau đuôi, tức ở vị trí thứ năm và sáu. Nishizawa ở vị trí thứ bảy, kế đó là Takatsuka và cuối cùng là trung sĩ Yashio Sueyoshi. Chín chiến đấu cơ trải dài ra 400 thước và trên đó là những phi công tài giỏi nhứt Nhựt Bản.

Các pháo đài bay khép chặt đội hình khi chúng tôi áp sát. Phi cơ Sasai hạ xuống phía dưới chiếc oanh tạc cơ dẫn đầu rồi vượt lên và từ từ lăn tròn để nhắm “dưới cằm” của phi cơ địch. Giây thứ hai sau khi ông khai hoả và vượt lên, vừa vượt vừa bắn, từ các oanh tạc cơ, những dòng khói ria ra, nhưng đó là khói của các khẩu đại liên 50. Ðội hình của địch vẫn không thay đổi.

Thế rồi Ota lướt đến hành động giống như Sasai. Tôi nhìn thấy những tia đạn từ phi cơ của hắn trúng vào chiếc B17 dẫn đầu, và hắn lướt thẳng lên. Một tiếng nổ dữ dội rung chuyển mọi phi cơ xung quanh và bầu trời như bao phủ trong làn khói. Chiếc oanh tạc cơ không còn nhìn thấy nữa. Nó biến mất, tan ra thành muôn ngàn mảnh vụn do bom chất đầy trong phi cơ phát nổ. Ðó là một đòn sát thủ ngoạn mục nhứt trên không mà tôi được nhìn thấy từ trước đến nay. Tôi vui mừng khi nhìn thấy phi cơ của Ota vọt lên khỏi màn khói.

Lúc đó Endo cũng nhập cuộc, nhưng vô hiệu vì bị hoả lực chéo dữ dội của các oanh tạc cơ ngăn chặn. Bây giờ tới phiên tôi. Tôi kéo cần điều khiển nhè nhẹ về phía sau, chiếc pháo đài bay thứ ba lướt tới phía tôi chầm chậm. Gần hơn nữa và gần hơn nữa, tôi ấn cò súng. Không có tiếng nổ. Ðồ ngu. Tôi quên mở khoá an toàn, một sai lầm mà ngay cả những phi công mới biết bay chập choạng cũng không để mắc phải…! Tôi lộn nhào thật dữ dội để tránh chiếc B17 đang lướt đến chỉ còn cách tôi có 20 thước.

Tôi bị hoả lực bắn chéo của các xạ thủ địch. Chiếc Zéro lảo đảo khi những viên đại liên chọc vô thân, và tôi cảm thấy bị xốc khi nghe tiếng đạn xoi vô chất kim khí. Hiện thời tôi bối rối hẳn, và chiếc phi cơ phơi bụng lên trên. Tôi gạt cần điều khiển thật mạnh sang trái, chiếc Zéro lộn nhào thật dữ dội.

Ðại liên địch vẫn xẹt ngang tứ phía. Tôi lướt qua, nhưng không phải là không bị hư hại. Tôi chửi thề sự ngu dốt của mình, nhưng có chửi thì cũng đã quá muộn. Tôi hạ xuống phía dưới đội hình của đối phương, và vọt cấp tốc về phía các oanh tạc cơ để đánh nữa.

Nishizawa đang quất một cú đẹp mắt, hắn vừa xoay tròn chầm chậm vừa vượt lên, lăn tròn một vòng như chớp khi khoảng cách giữa hắn và phi cơ địch thâu hẹp lại, rồi rót một loạt đại bác vô thùng xăng bên cánh của đối phương. Tức khắc, lửa túa ra, lan thật mau, và trong một vài giây chiếc pháo đài bay biến thành một cuộn lửa khổng lồ.

Lửa hực theo chiều gió dọc theo thân chiếc B17 đang trôi đi tuồn tuột, rồi mũi cắm xuống đất. Lúc ấy Sasai đã quay trở lại chụp hoả lực lên một chiếc oanh tạc cơ  khác từ mũi đến đàng đuôi ở khoảng cách chỉ khoảng 150 thước. Thân chiếc phi cơ lãnh đạn lộn nhào về phải, mất kiểm soát. Tôi thấy lửa thò ra từ trong thân chiếc phi cơ, lan tới phòng lái và tháp súng thứ hai. Lửa dữ dội hơn trong vòng hai phút và một tiếng nổ đinh tai nhức óc vang lên, đánh dấu sự hủy diệt của chiếc B17 thứ ba.

Tôi vượt lên theo hình thắt nút dây, căng mắt dõi theo hai chiếc oanh tạc cơ còn lại, chúng đang rẽ về hai hướng khác nhau. Một chiếc đang hướng đến một mỏm núi chởn chơ, một chiếc quay ra biển. Tôi đang theo hướng chiếc đang bay ra biển gần nhứt. Chiếc B17 chao đảo liên hồi khi tôi cố chụp lên buồng lái và bên cánh của nó bằng những loạt đạn tầm dài. Ðại bác 20 ly của tôi hộc lên từng loạt.

Có điều lạ là chiếc phi cơ không chịu buông sức nặng trong mình ra. Nó vẫn trốn chạy với những trái bom mang theo. Tôi chúi xuống để lấy đà rồi lại vượt lên từ phía dưới chiếc oanh tạc cơ và khép khoảng cách vào phía cánh trái của nó. Chiếc B17 lớn hơn, lớn hơn nữa trong mắt tôi. To dần cho đến khi gần sát. Tôi vồ ngược lên, và đưa mắt nhìn những viên đạn chọc thủng cánh trái của nó. Thế giới như đổ sụp. Một màn ánh sáng gay gắt hừng hực tràn ngập bầu trời khiến tôi thấy tối tăm mặt mũi. Có một bàn tay khổng lồ tóm lấy chiếc Zéro và lắc qua lắc lại thật dữ tợn. Tai tôi điếc câm và tôi nghe mùi máu ứa ra từ trong mũi. Pháo đài bay thứ tư đã ra đi vĩnh viễn. Mỗi chiếc đều bị hủy diệt với chính những trái bom mang bên trong. Hiện thời chỉ còn lại một chiếc đang chạy về phía dãy núi. Tám chiếc Zéro ùa theo, giương nanh múa vuốt như lũ chó săn bu quanh một con heo rừng. Tuy nhiên mấy chiếc Zéro khó bắt kịp chiếc B17, vì lẽ nó đã thả hết bom để gia tăng tốc lực. Hướng bay của nó cắt ngang qua mũi của tôi, tôi nhận thấy đó là một dịp may để ngăn chặn trước khi nó tiến sâu vô đất liền.

Ngay khi gia tốc lên hết tối đa, lướt về phía trước, tôi phát hiện ba chiếc Airacobra ào xuống từ phía Ðông và tiến sát vào tám chiến đấu cơ Zéro đang truy địch. Ba chiếc P-39 bắt đầu vượt lên, định chụp mấy chiếc Zéro lơ đãng. Tôi xoay một vòng thật rộng, cũng với ý định chụp trước ba chiếc P-39 “lơ đãng” này.

Ngay khi chiếc P-39 đầu tiên vừa đặt chiếc Zéro bay cuối vào vòng ngắm thì tôi chúi xuống thật nhẹ nhàng. Chắc viên phi công địch sẽ không bao giờ biết được những gì đã xảy ra, vì ngay lập tức một loạt đạn đại bác và đại liên của tôi đã nghiền nát thân phi cơ địch ra từng mảnh, một cái cánh bay ngang qua thân chiếc Zéro của tôi. Tiếng súng tôi đã báo động cho tám chiến đấu cơ Zéro và lập tức hai chiếc Zéro xoay thân và chúi xuống theo hình trôn ốc và rớt ngay xuống hai chiếc P-39 kia, diễn tiến chỉ trong vòng một giây. Tôi ghi nhận đó là hai phi công vô địch Nishizawa và Ota. Mỗi người chỉ thổi một quả đại bác, và hai chiếc Airacobra biến thành hai cây đuốc rớt xuống.

Nhưng nhiệm vụ trên không vẫn chưa chấm dứt, chiếc oanh tạc cơ còn sống sót đã bỏ đất liền để quay ra biển. Tốc lực của nó có vẻ sút giảm, và với máy móc đã hư hỏng, việc chiếc oanh tạc cơ này bị chúng tôi kéo xuống đất chỉ là vấn đề thời gian.

Trở về Lae, khi chúng tôi cho các chuyên viên cơ khí biết đã tiêu diệt được 5 pháo đài bay, họ nhảy nhót vui mừng. Năm pháo đài bay B17 và ba Airacobra, một ngày làm ăn khá khiển!

Sài Gòn! Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 29 Aug 2026

Tôi không nhớ quen biết Thái Thủy từ bao giờ, chỉ nhớ khoảng năm 1957, khi tôi từ Nha Trang về làm việc tại Ban Báo Chí Nha Chiến Tranh Tâm Lý Bộ Quốc Phòng. Khi đó Thái Thủy đang làm chương trình Tao Ðàn với Ðinh Hùng, Huy Quang, Thanh Nam, Hoàng Thư, Hồ Ðiệp, Phạm Ðình Chương, Ngọc Bích, Tô Kiều Ngân, Quách Ðàm… Có lẽ, qua một trong số những bạn này, tôi đã gặp Thái Thủy.

Hồi đó anh đang sống chung với Thanh Nam và Hoàng Thư. Ba chàng ngự lâm không biết bắn súng này sống trong một ngôi nhà ở đường Phan Văn Trị rồi sau đó chuyển về sau rạp hát Quốc Thanh, gần đường Cống Quỳnh, và nơi trú ngụ sau cùng là building Cửu Long, trên đường Hai Bà Trưng, nay vẫn còn. Tại đây có một tay chà-và gác cửa hẳn hoi, tuy chẳng bao giờ cần hỏi ai mà chỉ đợi khách đến building hỏi thăm số phòng. Ngày nay thì building tàn tạ lắm rồi, trông bề ngoài nhơm nhếch, cứ như “dân tứ xứ đi chiếm đất giành dân” vào ngự trị vậy. Ðôi lúc đi ngang qua mà bùi ngùi.

Những ngày tháng đó chúng tôi có khá nhiều kỷ niệm. Nếu tôi nhớ không lầm, leo lên hơn 80 bậc thang mới tới căn phòng số 7C trên lầu 3, building Cửu Long.

Căn phòng toen hoẻn chỉ có một cái giường đủ cho một người nằm, vậy mà 3 ông nghệ sĩ được coi là “lớn” của Sài Gòn thời đó, chung nhau ở trọ. Thời kỳ này cả 3 cùng độc thân, một ông nằm giường, hai ông nằm đất. Sau này Thái Thủy mới “tậu” lại căn phòng 11C của ông Lâm. Ông Lâm làm cho hãng truyền hình Mỹ, nhưng anh em cứ thích gọi cái tên “nặng mùi xã hội đen” là Lâm Thợ Ðiện. Lúc đó Thanh Nam mới mua được cái tủ lạnh, chứa thức ăn thì ít, chứa la-de thì nhiều. Nhưng thật ra Thanh Nam được mệnh danh là “ba 33”, tức chỉ uống ba ly là chân tay quờ quạng rồi.

Thái Thủy rất điều độ, rượu nào cũng uống được, làm một ly với bạn bè thôi. Anh cả nể, nên cái gì cũng biết một tí, để chiều bạn chứ không phải chiều mình. Có lẽ vì thế mà anh rất nhiều bạn, nhất là những người nhiều tuổi hơn cũng quý anh, coi anh là bạn. Tôi nhớ hồi đó có anh Khôi, từ Mỹ về giữ chức Tổng Giám Ðốc Thông Tin cũng hay lên phòng Thái Thủy nằm dài ra trên nền gạch bông đấu láo. Từ những ông, gần gấp đối tuổi anh, cũng rất thân mật và yêu quý anh.

Con người nhỏ thó, nhưng nói năng cứ như ông già. Giữa Thái Thủy và Ðinh Hùng chưa biết ai nhỏ con hơn ai. Anh còn một người bạn thân nữa là Vũ Quang Ninh, tục gọi Ninh con, cũng không “to” hơn anh là bao. Theo tôi biết sở dĩ gọi là “Ninh con” để phân biệt với ông “Ninh lớn” tức cụ Hà Thượng Nhân bây giờ.

Hồi đó ông nghệ sĩ nào có máy đánh chữ đã là hay lắm rồi, chúng tôi toàn viết tay. Thái Thủy thường phải phụ trách phần biên tập bài vở cho chương trình này. Nói rõ hơn anh ngồi soạn bài vở, thu thập tài liệu, phân công ai nói phần nào, ai ngâm bài nào, như một nhà đạo diễn làm bảng phân cảnh kỹ thuật kiêm luôn quay phim, tức là chính anh cũng nhận “xướng ngôn” những gì.

Chương trình Tao Ðàn thu thanh trực tiếp, tức là thu và lên sóng cho khán giả thưởng thức ngay nên không thể có sự lầm lẫn nào. Một tiếng động cũng sẽ được phát đi trên sóng. Ở bất cứ đài phát thanh nào, người làm tin trực tiếp phải là những chuyên viên nhiều kinh nghiệm. Ban Tao Ðàn cũng gồm những vị như thế.

Vậy mà có lần Thái Thủy nói với tôi một chuyện khá vui: Mấy ông Ngọc Bích, Phạm Ðình Chương… vẫn chơi xúc xắc sau “tấm màn nhung” phòng thu thanh trong khi chờ tới lượt mình. Cảnh chơi lén lút ấy có vẻ thú vị và trẻ trung lắm, dù ban kiểm soát bắt gặp thì cũng hơi phiền. Nhưng với các “đàn anh” Tao Ðàn thì rồi cũng huề cả làng thôi.

Hồi đó cả nước đều nghe Tao Ðàn. Sau này, thời gian tôi ở trên Pleiku một năm, hầu như nhà bất cứ người dân kha khá nào hoặc phòng một sĩ quan độc thân nào cũng có một cái “radio” và các buổi tối có chương trình Tao Ðàn, nhà nào cũng mở nghe. Ở Sài Gòn cũng vậy.

Khi gặp Xuân Vũ, một nhà văn tập kết ra Bắc rồi hồi chánh vào khoảng đầu thập niên 1970, tác giả Ðường Đi Không Đến, tôi có dịp trò chuyện thân mật để tìm hiểu xem chương trình phát thanh nào ở miền Bắc thích theo dõi. Lúc đó tôi được biết, người dân và một số nghệ sĩ ở miền Bắc cũng “nghe lén” Tao Ðàn và một vài chương trình khác, tất nhiên là phải rất cẩn thận. Như thế đủ chứng tỏ ảnh hưởng của Tao Ðàn rất lớn đối với thính giả.

Theo tôi biết, cố thi sĩ Ðinh Hùng là người phụ trách chính của chương trình này, nhưng Thái Thủy, Thanh Nam, Huy Quang là linh hồn của Tao Ðàn — tất nhiên phải kể đến những nghệ sĩ khác nữa đã góp công sức làm nên chương trình văn học nghệ thuật rất có giá trị này. Đây là một dấu ấn không thể phai về phát thanh của Miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Thời kỳ Thái Thủy còn độc thân, anh em cho cái hỗn danh là “chú nhóc” vì tạng người nhỏ bé của anh. Nhưng “chú nhóc” lại rất hào hoa, rộng rãi. Hồi đó nhà hàng La Pagode ở Catinat là nơi một số lớn anh em nghệ sĩ thường gặp nhau vào buổi chiều, hàng ghế salon còn kê dài dài ở ngoài hè phố. Mỗi lần Thái Thủy đi chơi về ngang là ghé vào vơ lấy bông tính tiền trả hết.

Sau này khi Thái Thủy có vợ thì cái hỗn danh ấy không còn nữa. Bộ ba ngự lâm pháo thủ không biết bắn súng cũng rụng dần theo thời gian. Hoàng Thư đi trước với một người đẹp, con ông chủ nhà hàng cơm Tây nổi tiếng ở Ða Kao, sau đó đến Thái Thủy về Phú Nhuận, và Thanh Nam là người trụ lại cho đến khi chị Túy Hồng từ Huế vô Nam mới “đưa chàng về dinh”.

Trong thời gian ở cái được gọi là trại cải tạo, Thái Thủy “may mắn” bị tóm sau chúng tôi ít ngày và “được” đưa lên trại Gia Trung, một trại nổi tiếng về sự hà khắc, hỗn hào.

Ðể chứng minh cho một sự hỗn hào, Thái Thủy kể lại chuyện một anh tù cải tạo hơn 60 tuổi để râu. Khi anh này đi qua cổng trại, bị một cai tù chặn lại hoạnh họe:

– Mày bao nhiêu tuổi mà để râu?

– Tôi ngoài sáu mươi.

Anh cai tù chỉ chừng 19-20 tưổi trừng mắt phán:

– Ôn con mà đòi để râu! Về cạo ngay đi.

Vài năm sau, khi chúng tôi từ Bắc “được” đưa về trại Hàm Tân, Thái Thủy cùng một số bạn tù khác cũng được đưa về đây. Nhìn Thái Thủy xách hành lý tả tơi đi vào trại, tôi không thể nhận ra anh được. Cái kính cận mất gọng, nứt mắt, buộc bằng hai sợi dây lòi tói, trên một khuôn mặt hốc hác. Bộ quần áo tù, vá chằng vá đụp, anh đi ngơ ngác với một vẻ chán chường.

Tôi biết các anh ở trại Gia Trung về hầu hết là “đói dài”. Sau khi đã ổn định chỗ ở trong tù, tôi kéo anh ra một góc tâm sự và bàn với một người bạn tôi vẫn “sinh hoạt” chung trong tù, chia cho Thái Thủy một ít đồ dùng. Nhưng Thái Thủy và tôi đi đến giữa sân, gặp ngay tên cai tù, suýt nữa cả hai cùng vào nhà đá “nằm nghỉ mát treo một chân lên”, chơi với muỗi. Cũng may, sau một hồi giải thích, nó lại tha. Từ đó chúng tôi có dịp gặp nhau thường xuyên.

Khi Thái Thủy được tha trước tôi hai năm, anh rủ một người bạn phóng xe gắn máy từ Sài Gòn lên thăm và tiếp tế thêm cho tôi vài gói thuốc, mấy phong bánh. Anh trở thành người “đi thăm nuôi” như các bà vợ đáng thương của những người ở trại cải tạo.

Khi tôi về Sài Gòn, bắt đầu “sự nghiệp” đánh vi tính thuê kiếm sống, tôi đã định rủ rê Thái Thủy đi vào con đường này, kiếm được đồng nào hay đồng ấy. Nhưng anh quyết định đi định cư ở Mỹ.

Trước khi đi, anh chăm chỉ lên nhà tôi học vi tính. Thật ra cũng chưa biết học để làm gì. Bây giờ mới biết là nó hữu dụng như thế nào. Ít ra thì hàng ngày cũng gõ được e-mail cho bạn bè, làm được vài tấm hình ảnh gửi cho con cháu, nghe được vài bản nhạc “chùa”.

Mỗi lần nhận được thư điện tử của anh, tôi thích thú và thầm nghĩ “ông có ở đâu thì tôi với ông cũng còn nhiều nợ nần lắm”. Nhưng kỷ niệm giữa tôi và Thái Thủy nói cả năm cũng chưa hết.

Ðược tin báo Khởi Hành và báo Người Việt tổ chức một buổi họp mặt với những người Bạn Tao Ðàn, tôi ghi vội vài hàng này, gọi là một chút quà tặng bạn.

Tôi ở một vùng quê mùa tại Việt Nam, hình dung ra buổi họp mặt rất nhiều ý nghĩa sâu sắc và trên hết là cảm xúc tràn đầy của những người nhớ về các kỷ niệm xưa, đánh thức tình yêu, tình người và cả một thời gian không gian cứ như đang sống lại. Có lẽ chúng ta chẳng có nhiều thời gian được sống lại như thế.

Xin kính chúc các vị khách và bạn bè trong buổi “hội ngộ tương phùng” HẠNH PHÚC và gia quyến KHOẺ MẠNH.

(Lộc Ninh tháng 7-2006)

Cho gởi chút hồn ta

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on April 27th, 2020

Post by Sơn râu 29 Aug 2026

“Trong kiêu dũng mày cho gửi chút hồn ta!”  – thơ Trương Tịch

Ngày 31, tháng Ba năm 1968, Mỹ ngưng ném bom miền Bắc. Bốn bên: Mỹ, Việt Nam Cộng Hòa một bên; Bắc Việt và Việt Cộng một bên, lục tục đến Thủ đô Paris của Pháp hòa đàm … tìm cách giải quyết chiến tranh.

Nhưng chỉ cãi nhau toàn những chuyện ‘vớ vẩn’ về cái bàn ngồi họp. Hình tròn, hình vuông, kiểu nầy kiểu kia. Cứ đánh đánh đàm đàm. Bàn Hội nghị cứ cãi và chiến trường thì cứ đánh! Xương máu của người lính ở chiến trường được đem ra trên bàn Hội nghị ở Thủ đô hoa lệ Paris mà cò kè bớt một thêm hai?!

Sau những trò cam kết rồi lật lọng của Bắc Việt, với chánh sách cây gậy và củ cà rốt của Mỹ, ngày 18, tháng Chạp, năm 1972, Mỹ cho máy bay B–52 ném bom rải thảm Hà Nội, Hải Phòng …

Đợt ném diễn ra trong 12 ngày (18 tháng 12 đến 30 tháng 12), đó là Chiến dịch Linebacker II.

(Bom nổ ở Hà Nội! Sài Gòn cửa kính có rung rinh?)

Bắc Việt ‘rét’ mới chịu trở lại bàn Hội nghị và ký tắt Hiệp định ngày 23, tháng Giêng, năm 1973 tại Paris và bắt đầu có hiệu lực vào thứ Bảy, 27 tháng Giêng, năm 1973.

“Quân đội Mỹ và các đồng minh nước ngoài phải rút khỏi Việt Nam. (Bắc Việt được ở lại miền Nam Việt Nam).

Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu được quyền tồn tại trong một giải pháp hoà bình.

Trao trả tù binh không điều kiện trong vòng 60 ngày.”

***

Cả tiểu đoàn 2, sinh viên sĩ quan trừ bị trường Bộ binh Thủ Đức khóa 4/72 đang thụ huấn, chiều 6 giờ, nghe tin trên Đài phát thanh Sài Gòn… ‘hurrah’ mừng rỡ?!

Thứ Sáu, ngày 26, tháng Giêng, năm 1973, các Tiểu đoàn Sinh viên sĩ quan Thủ Đức lên đường đi chiến dịch Hiệp định Paris.

Mỗi sinh viên sĩ quan được cấp số đạn đầy đủ và hai trái lựu đạn M 67. Đại đội 4 Tiểu đoàn 2 được đưa về Tiểu Khu Kiến Hòa. Trung đội 242 của tôi được xe nhà binh GMC 10 bánh từ Tiểu khu Kiến Hòa chở ngược ra Tân Thạch, cầu bắc Rạch Miễu để 4 giờ chiều xuống mấy Tiểu đỉnh của Giang đoàn xuôi dòng sông Mỹ Tho ra biển, về quận Bình Đại.

Đêm tối dần trên mặt sông. Hồn tử sĩ gió ù ù thổi. Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi. Tiếng máy tàu chạy rầm rì giữa dòng sông lặng, để tránh đạn B 40 của VC.

Mấy con tép bạc xin của dân đóng đáy, luộc lên màu đỏ ối, chấm nước mắm. Một nồi cơm nguội. Nhắm chút rượu trong cái chén mẻ miệng, khè một tiếng, cho ấm bụng! Rượu trong veo như nước mắt quê hương, rót ra từ một can 4 lít, mua ở bến phà Rạch Miễu…

Và bài thơ của tôi như vầy nè:

Tám giờ đêm tàu ủi bãi.

Đạn lên nòng súng cầm tay, ta về quê em: Bình Đại.

Bình Đại buồn, thu nhỏ lại trong đêm.

Ánh đèn vàng hiu hắt, ly cà phê chát ngắt,

cho ta trắng đêm nay, cho em hầm trú ẩn.

Tiếng đạn giặc bay bay, em nghe riết quen rồi!

Em thức giấc sáng mai, hỏi ai còn, ai mất?

Ai còn, rũ khăn sô, ai mất, vùi dưới mộ!

Đêm qua rồi đêm nay, ngàn đêm như thế đó!

Bình Đại buồn, thu nhỏ lại trong đêm!

Ta yêu vô cùng Bình Đại chân quê!

Xin quán em mở khuya thêm chút nữa.

Hãy khêu lên bếp lửa, đến đối ẩm cùng ta.

Zhivago, Lara trong cách mạng Mười Nga điên loạn!

Ta, đời lính, cạn ngàn ly rượu đắng!

Hiệp định Paris; ngày mai ngừng bắn?

Chiến tranh? Hòa bình? Chết? Sống? Hư không!

Buồn chi em! Vạn thọ đã vàng bông!

Trời cuối năm, giáp Tết. Sống sót đã là may!

Ly rượu này, cạn hết! Cùng ta say đêm nay!”

Chiều đầu tiên nằm trên nắp hầm truyền tin trong đồn nghĩa quân Tân Phú Trung kề con hương lộ buồn thiu như dế kêu. Nhìn phía xa, phía quê nhà ráng chiều đỏ rực cháy chân mây!

Sao nhớ Má, nhớ em biết bao nhiêu!

Về Bình Đại, về Tân Phú Trung, về một vùng quê không yên tĩnh… lần đầu giáp mặt gần hơn với cuộc chiến tranh kinh khiếp nầy. Đời lính, thực tế chiến trường khắc nghiệt làm sao để sống còn… để trở về với má, với em… Chàng tuổi trẻ từ trường đại học, bạch diện thư sinh, dù muốn dù không cũng bờm xờm râu tóc, đã nhuốm phong trần trong lửa đạn.

Niềm ước vọng về Hiệp định Paris sẽ có ngưng bắn, sẽ có hòa bình da beo, ai ở đâu ở đó… không kéo dài được bao lâu đã lụi dần rồi vỡ tan do các cuộc xâm phạm, giành dân lấn đất của Bắc quân… Dù trên Đài phát thanh Quốc gia vẫn còn:

Rồi có một ngày. Sẽ một ngày chinh chiến tàn. Anh chẳng còn chi, chẳng còn chi. Ngoài con tim héo em ơi. Xin trả lại đây, bỏ lại đây. Thép gai giăng với lũy hào sâu. Lỗ châu mai với những địa lôi. Đã bao phen máu anh tuôn. Cho còn lại đến mãi bây giờ.

Trả súng đạn này. Khi sạch nợ sông núi rồi. Anh trở về quê, trở về quê. Tìm tuổi thơ mất năm nao. Vui cùng ruộng nương, cùng đàn trâu. Với cây đa khóm trúc hàng cau. Với con đê có chiếc cầu tre. Ðã bao năm vắng chân anh. Nên trở thành hoang phế rong rêu.

Rồi anh sẽ dựng căn nhà xưa. Rồi anh sẽ đón cha mẹ về. Rồi anh sẽ sang thăm nhà em. Với miếng cau, với miếng trầu. Ta làm lại từ đầu. Rồi anh sẽ dìu em tìm thăm.  Mộ bia kín trong nghĩa địa buồn. Bạn anh đó đang say ngủ yên. Xin cám ơn! xin cám ơn! người nằm xuống.

Ðể có một ngày. Có một ngày cho chúng mình. Ta lại gặp ta, còn vòng tay. Mở rộng thương mến bao la. Chuông chùa làng xa, chiều lại vang. Bếp ai lên khói ấm tình thương. Bát cơm rau thắm mối tình quê. Có con trâu, có nương dâu….

Thiên đường này mơ ước bao lâu?!”

(Nhạc Trịnh Lâm Ngân)

Thiên đường này mơ ước bao lâu?

***

Sau 4 tháng đi chiến dịch, tháng Sáu, năm 1973, trở về, ra trường, tứ tán người đi mỗi ngả.

Binh quân chết ở chiến trường!

Tướng công chết ở trên giường thê nhi!

Ra mặt trận chẳng bao lâu là thằng Khôn ngã xuống ở Cái Côn, thằng Tuấn chết trận ở Thuận Nhơn, Phong Dinh và nhiều nhiều nữa trong cuộc lui binh bất ngờ hai năm sau đó.

Tháng Giêng, năm 75, mình mất Phước Long. Tháng Ba mình mất Ban Mê Thuột dẫn tới cuộc triệt thoái kinh hoàng của Quân đoàn 2 trên liên tỉnh lộ 7B được xem là một cuộc lui binh bi thảm nhất trong suốt chiều dài cuộc chiến.

(Liên tỉnh lộ 7 B là hành lang máu, con đường đầy nước mắt, xương máu trong 9 ngày đêm của thường dân và binh lính miền Nam.)

Đánh Nguyệt Chi theo quân năm trước.

Toàn đạo binh bị diệt trên thành.

Hán, Phiên vắng bặt tin anh.

Cho dù sống chết cũng đành xa nhau.

Màn trướng nát không ai thu lượm.

Ngựa trở về cờ phướn rách tan.

Cúng anh, nghi vẫn sống còn.

Chân trời xa tắp, khóc trông quê nhà!

Thổ Phồn chiếm cứ Tây Châu.

Ngoại vi mất hết còn đâu lũy thành …

Kỵ binh giặc tới bất kỳ.

Dân tình hết vía chuyển di luôn ngày

…Vùng ven chém giết bão giông.

Chiến binh giáp trận chết không vẹn hình*

Quân cứ triệt thoái hoài, đoạn chiến mà không hiểu tại vì sao?!

Người lính luôn cô đơn, chỉ biết tuân lịnh, xưa giờ cũng vậy:

“Ngựa qua uống nước sông Thu!

Nước sông lạnh, gió vù vù cắt da”

Rồi cùng nhau ngã xuống cho một thiên đường mơ ước bao lâu?!

“Cổ kim cát bụi chôn vùi!

Chỉ còn xương trắng ngậm ngùi cỏ lau” **

Bến phà Rạch Miễu phía Tiền Giang

Tháng Tư lại về trên quê người viễn xứ, đốt lò hương cũ, đọc thơ xưa, nhớ một thời giầy sô áo trận, dù ngắn ngủi, nhưng dễ gì quên!

“Anh nhớ tình năm cũ, nước mắt và tháng Tư.

 Già rồi… anh hay khóc, khóc tình cũ, em xưa!

Anh rót đầy ly rượu, cạn hết nổi đắng cay, của một người mất nước.

Mất hết… còn cơn say …” 

Đêm nay, gần 45 năm, sau ngày thất trận đó… ly hương và tha phương… lại nhớ về bè bạn cũ mà tuổi xanh của chúng ta vốn đẹp biết bao đã cháy rụi… tàn trong cơn binh lửa.

‘Thở thật dài vào thinh không bát ngát.

 Theo gió về động lá cánh rừng xa.

Này thằng lì còn chơi miền gió cát.

Trong kiêu dũng mày cho gửi chút hồn ta!’*

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne, Úc

*thơ Trương Tịch.

** thơ Vương Xương Linh

***thơ Cao Tần.

Chùm ba chuyện

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 29 Aug 2026

1. Mỏi một hang

Nem moi bọc áo lấy tờ 5000 trao tay Chả: Có đàn đúm cà phê cà pháo xong thì nhớ tạt ngang chợ mua tui bó rau. Chả gật đầu: Ô kê. Nem nhìn trời: Mưa nắng chi cũng đi cà phê, răng lạ quá! Ở nhà mua đủ hai ba hủ lớn bé có cả mà không chịu uống, rõ là ngứa cái chân cứ kiếm cớ chạy rong. Nem bình phẩm, lời chua như thông lệ. Chả dắt xe máy ra: Thằng Tư vắng mặt hai hôm bị chúng mắng đồ nhác gan sợ vợ. Tui thương bà, chẳng ưa bị chúng coi thường, có thông cảm không? Chả đội nón bảo hiểm, mưa lộp độp ngoài vành tai khoả lấp lời mà Nem đang nhóp nhép miệng. Có nghe rõ không? Ừ, đã nghe rõ.

Tụ điểm là quán “Tình Xa” nằm nhô thân cheo leo bên khúc sông mà con nước dật dờ bên dưới nông cạn tuỳ mùa. Quen biết cả, chủ quán vẫn chịu chơi đôi khi cho ký sổ, chẳng lấy đó làm điều; mà nói cho ngay đám khách này chưa từng chạy làng, không phải hạng mặt trân mày tráo giả điếc giả câm. Gì chớ bọn họ cũng vui thú sốt sắng khi nghe cậy nhờ, chạy u đi mua đường sữa nếu quán thiếu hụt đột xuất. Bà Sương từng thỏ thẻ: Rất tâm tư mấy anh, ấn tượng lắm tình bang giao đề huề giữa khách chủ.

Khi Chả đun xe vô sân xi măng có đôi ba chậu tường vi đang úng thuỷ thì đã đủ mặt các chiến hữu tụ bầy. Tới lâu chưa? Bọn này mới đến cả, ngồi chưa ấm đít. Cà phê sữa nóng và năm cái mồm cùng đốt thuốc, khói dày đặc loãng chậm khiến không khí chừng bớt lạnh. Có người tức cảnh sinh tình rung đùi trên ghế mang thơ Nguyễn Bính ra đọc thầm:

“Giời mưa ở Huế sao buồn thế
Cứ kéo dài ra đến mấy ngày
…….
Đò vắng khách chơi nằm bát úp
Thu về lại giở gió heo may…
”

Bà Sương mang thêm bình thuỷ nước sôi đặt giữa bàn, trao thông tin: Con Chanh hôm qua bị kêu ra uỷ ban làm việc, nó than bức vách có lỗ tai hay răng mà làm ăn vén khéo cách mấy cũng bị lộ hàng, chán mới gớm! Chanh mô? Chanh “mỏi một hang” chứ Chanh mô nữa. Còn ai trồng khoai đất này!
Bà chủ quán ngó quanh: Vì cớ làm răng mà mấy anh lại áp đặt cho nó ba chữ ác ôn nớ? Ông vừa đọc thơ Nguyễn Bính đáp: Chị Sương ơi, bọn ni có cảm tình với Chanh mới cho cô ấy nép mình trong thơ Bùi Giáng chứ dễ dầu gì:

“Em đi bên ấy chân tròn khép
Hai ống mơ hồ mỏi một hang.
”

Có an toàn không? Chanh có nói thêm chi khác? Bà Sương hạ giọng: Chừ có “đi” thì em phải mang thân sang địa bàn khác. Cẩn tắc vô áy náy. Nó tâm sự như rứa. Cạy mặt chỗ ni, bụt nhà không thiêng. Có hai mươi tuổi đời mà đã mọc bốn năm sợi tóc bạc, lo âu suy nghĩ lao lung quá! Ấy là bởi Chanh nó có nhan sắc đâm rậm rật, chớ con Lan con Bưởi cứ bình chân như vại lai rai ba sợi có chết thằng Tây nào đâu.

Chả ngồi ôn nhớ từng bóng hình. Con Lan trắng da dài tóc chỉ phải cái tội mình hạc xương mai. Bưởi tuy đen đúa cốt cách nông dân nhưng vóc vạc ngồn ngộn vừa vặn một vòng tay ôm. Lan còn biết nhắm mắt ngậm miệng chứ Bưởi rèm mi chẳng đóng mà miệng thì sung chuyện hát cải lương. Lạ, xuống sáu câu cũng tuỳ thời điểm, tuỳ hoàn cảnh. Lu bu muốn tắt quạt dường như Bưởi chưa từng nếm trải qua. Chả chẳng biết em Chanh có ngon cơm không, tính cắc củm dè xẻn tiền tiêu pha để đi thực tế một phen thì giờ đây sự cố vụt hiện. Trong đám chiến hữu có người lưu số Chanh Lan Bưởi vào điện thoại di động nhưng Chả thì không, bởi Nem chúa tò mò buồn tay ưa kiểm soát những tin nhắn, những cuộc gọi. Ăn vụng phải biết chùi sạch mồm, chớ dại trưng chứng cớ. Số con nào đây? Cãi chày cãi cối hả? Tui phôn một cú là rõ trắng đen. Ôi, căng lắm lận! Cực bức xúc! Tam thập lục kế, lạy bà tui ở bụi này rõ là hạ sách, khó du di.

Mưa thưa hạt rồi ngưng hẳn. Tan hàng. Chả chạy xe ghé chợ ngắm hàng rau xanh ngồn ngộn hai hàng đâm thừ người. Móc điện thoại ra: A lô, bà biểu mua rau mà rau gì thì chẳng cho hay. Rau có năm bảy loại rau, gió đưa cây cải về trời rau răm ở lại a hèm bà hổng xơi. Đúng vậy, ông lựa cho tui bó rau muống ngó nõn nà xanh non. Đắt quá thì lựa mồng tơi hoặc hai bó tàng ô. Không ấy, kẹt quá thì mua đại trái bầu cũng đặng. Đầu tôm mà nấu canh bầu, vợ chan rồi húp chồng rầu bỏ cơm. Loay hoay một hồi Chả đến bên gánh hàng một bà cụ không trương tấm biển “Rau Sạch”. Thiệt vàng sợ chi lửa. Đàng sau những quảng cáo thường là nơi ẩn náu của dối gian. Chữ “Cấm Đái” luôn hiện ra giữa phạm vi nồng khai nước tiểu. Một bó cải hoa vàng giá 3K. Đựng trong túi ny-lông, đong đưa móc vào kính chiếu hậu thì bất thần Chả ngó ra Chanh. Rõ là ẻm có đi mần việc với uỷ ban, bình thường ẻm trông linh hoạt hơn nhiều. Í, giỏi ghê nơi! Biết đi chợ mua rau nữa à? Chanh nói. Tuy mang tên ấy mà giọng Chanh nghe ngọt hơn cam. Nếu không bị cơ quan bảo vệ khu phố dằn mặt, có thể thanh quản kia sẽ phun tới từng cục đường phèn. Hạt sen đem nấu đường phèn, chè này nhất định kẻ hèn bó tay. Thanh cao, ngon ngọt, người ít tiền mấy ai đụng tới. Chả tuôn lời chả chớt: Có tính sang địa bàn khác không, anh chở đi. Chi vậy? Để giúp em bớt mỏi một hang.
Có ai mỏi hồi nào đâu? Đang muốn mỏi mà chưa kiếm ra thủ phạm đây. Hề hề, leo lên xe ôm này đi. Sao linh như cái miễu vậy không biết. Ngồi cà phê đằng “Tình Xa” vừa nhắc tới em hổm rày không thấy mặt thì bây chừ hiển hiện. Đi, mình sang sông, bên kia cầu có quán “Tình Vắng” chuyên trị Ca-ra-ô-kê. Chanh ngồi vào yên sau, nhích mông ôm sát Chả: Ô kê, tới luôn đi anh. Mình khôn mình tới chốn lao xao.

2. Lạnh như tiền

Cơm nói cùng Phở: Lóng rày con người em nó làm sao ấy, có điều phải quấy nào thì cứ nói thẳng ra cho sáng tỏ đôi đàng. Phở làm thinh, cũng chẳng buồn mặc lại áo quần. Chiều chưa về nhưng nắng thoi thóp ngoài màn cửa, ánh sáng tuy yếu nhưng Cơm nhìn nhận rõ là màu da Phở trắng quá, hơn cả trứng gà bóc. Mái tóc đen đổ dài uốn lượn bên vai trần làm tương phản, đẩy mạnh sắc độ như da biết phát quang. Cơm ngồi mép giường dùng một tay ve vuốt từ vai xuống ngực xuống bụng xuống tận vật cản là cánh tay Phở đang thu cất giữa bắp đùi, sít sao, ẩm thấp. Chị vẫn ao ước có được số đo ba vòng giống em, đừng nói là đàn ông bản thân chị cũng đâm mê mệt vì thể hình, vì làn da, vì những thứ em đang sở hữu. Chiều rồi, chị về nhé. Sao hôm nay em không mấy vui?

Phở nhìn vào khuôn mặt Cơm: Em đang rối lòng, chị tốt với em quá… đồng thời… anh ấy cũng quá sức chu đáo với em… Chị nên cho em một ý kiến. Nghe chị hỏi này, em có yêu anh ấy không? Em cũng muốn hỏi chị, chị có yêu chồng chị không? Chị đã từng biểu lộ sự ghen tuông? Cơm nuốt nước miếng: Ghen chớ, nhưng phải dằn bà hoả xuống, bởi suy đi tính lại chẳng giải quyết được gì, thêm rách việc. Đưa thơm miếng nào. Cơm gục mặt xuống vùng ngực đầy của Phở, nghe được nhịp tim đối tượng bình thản đập, thong dong lên xuống. Chồng chị thích hôn em ở những vùng nào? Phở thôi thu cất hai tay giữa đùi, Phở rướn thân: Ảnh nói, anh mê toàn bộ khu vực của em. Thôi, chị về, muộn rồi. Còn phải ghé chợ mua thức ăn.

Cơm ra khỏi căn hộ mà chồng lén thuê cho tình nhân. Hai tháng trước, Cơm tốn bốn triệu để chi trả cho thám tử tư và nghe lời ổng khuyên: Không có mưu kế nào cực sốc bằng cách tạo cho bọn chúng tin vào một sự yên ổn tuyệt đối. Chỉ có bọn trẻ người non dạ mới quýnh quáng la hoảng lên. Dậm chân dậm cẳng mà làm gì, bù lu bù loa mà làm chi; muốn làm trò cười cho bàng dân thiên hạ à…

Cơm ghé chợ, bỏ băng nhà hàng đặc sản hoành tráng đứng án phía trước để men theo con hẻm sánh đôi ngập đầy bóng tối. Một gã thanh niên mang tạp dề nhờ nhợ màu trắng đục bất thần hiện ra đón đường trao vào tay Cơm cái giỏ đan bằng chiếu lát. Hắn nói, hơi thở nồng mùi thuốc lá: Đủ hàng. Một lít cường toan a-xít đậm đặc nguyên chất và một con dao Thái Lan có thể chẻ sợi tóc làm hai. Trong gói giấy là ba viên thuốc gây mê hiệu quả. Chúc cô thành công. Cơm đưa hắn cái phong bì. Không cần đếm tiền, thoáng cái hắn biến mất tiêu.

Thấy đói bụng, Cơm ghé vào quán bình dân gọi xuất ăn giá 65K. Giờ này chồng Cơm đã tan việc cơ quan, ảnh sẽ ghé đùa nghịch với Phở, tầm 11 giờ thì về nhà. Việc ở cơ quan ngập cả mặt, chán thế! Luôn đầu bù tóc rối với ba cái hợp đồng, chả cho mình một phút giây trống để thư giãn… Thường, ảnh sẽ nói thế và rồi đi nhanh vào phòng tắm. Ảnh sẽ sai vợ mang nước tới khi ảnh ngồi xem ti-vi…

Cơm bắt xe ôm, trước khi đọc địa chỉ nhà, Cơm biểu xe dừng ở một hiệu sách. Cơm đi lại ngăn kệ có ghi dấu chuyên mục hình sự và mua cuốn truyện dịch của Nhật. Mỏng thôi vì Cơm không có đủ thời giờ để ngốn nó. Bìa trình bày rất máu, rất lôi cuốn, rất hợp nhãn.

Và Cơm mở cửa vào nhà quạnh quẽ lúc đồng hồ chỉ số 9.30 PM. Hồi hộp đợi chồng trong bóng tối.

3. Sắc như dao

Môn phái Ngũ Hành có thời hưng thịnh, môn sinh vào ra tấp nập. Có lúc người ta không ưa bọn trau dồi võ thuật, xem là thành phần nguy hiểm, vì thế tan hàng rã đám một sớm một chiều. Tấm bảng gỗ treo thế môn bài võ đường hạ xuống bán cho bọn chuyên mua phế phẩm. Huynh đệ thắt đai trắng cho chí huyền đai nhị đẳng thảy lưu lạc muôn phương, tìm kế sinh nhai, bặt vô âm tín. Thầy đi đường thầy, trò xuống núi theo đường trò, nhường đất dụng võ cho tổ hợp chăn nuôi gia súc. Heo bò gà vịt dồn tới chốn lạ tuồng nghe bất an, thảy róng riết quang quác kêu la suốt năm canh, rót vào tai bọn vô tri cũng gây được chút muộn phiền. Cỏ cây thêm xao xác.

Có năm người tự cao tự đại tự gọi là Ngũ Phong Trấn Sơn. Năm đứa suýt soát tuổi nhau thầm lén sư phụ bày hương đèn giữa sân mà thề nguyền anh em như thủ túc bạn bè như y phục, khắng khít như bóng hình, tâm nguyện sẽ gặp cảnh bất bình rút đao tương trợ. Cắt máu ăn thề hôm trước, hôm sau vội vắt giò lên cổ tan đàn sẩy nghé trước ngọn thuỷ triều đỏ oan nghiệt không dưng đổ ập lên số phận, chẳng chừa một ai.

Như định luật của bể dâu luôn bày, Ngũ Phong Trấn Sơn vội xoá thứ danh hiệu nông nổi dại khờ kia đi kẻo bị rắc rối hung hiểm đón đầu. Xưa, năm đứa đầu đội trời chân đạp đất; nay thay đổi hình tướng sống cùn mằn làm phận bèo dạt theo sông hồ, bạc lòng xoá câu thề ngày nọ. Tưởng là lời sẽ như đinh đóng cột ai ngờ cột ấy đã rụi theo tro than.

Ngày kia trời chan nắng lửa, giữa thị tại môn tiền náo, có hai kẻ đi ngược chiều đụng mặt nhau, va vấp áo bụi: Hề, quả đất này vốn bé tẻo teo! Hành, Tỏi tay bắt mặt mừng rậm rật dậm chân. Họ là nhị vị trong ngũ huynh đệ keo sơn gắn bó dạo ấy. Hành xem ra sung túc, mặt mày chưa bị gió chướng hành hạ gây phong trần. Tỏi thì gầy đi đôi phần, luôn láo liên chao đảo, chứng thực hắn có tâm trạng bất an, là hạng người ưa lẫn vào đám đông hòng che dấu thân phận. Một thân phận bất chính. Hành nhìn quanh, chú mục về một hàng quán có lồng gương treo lộn đầu bốn năm con chó đằng sau. Từ đó vấn vương làn khói mỏng đẩy đưa dặt dìu mùi thơm xót ruột. Đi, ta nên mượn chỗ mà hàn huyên giải bày bao tâm sự. Hành nói. Và Tỏi chỉ chờ có vậy để giã từ vẻ ủ dột đang mang.

Kéo ghế là động thái của đứa lắm tiền. Xưa nay Tỏi chẳng mấy khi, hắn chỉ ngồi đòn hoặc ngồi trên cục gạch có ở mấy quán cơm bụi mà qua ngày đoạn tháng. Vào nhà hàng đặc sản như này khiến hắn trộm nhìn Hành, đầu óc hiện lên vô vàn dấu hỏi. Xem, tuy không bảnh bao nhưng thuộc dạng ăn trắng mặc trơn, da thịt tươi nhuận, thần sắc rạng ngời. Ngày xưa thì cá mè một lứa mà nay xem chừng đã chia chủng loại, bên lòng tong bên kình ngư thơm thịt. Hành gọi em phục vụ: Trước, hãy mang bia ngoại cùng đĩa thịt cầy cho bọn ta súc miệng, sau hẳn tính tới chuyện tới bến. Dạ thưa quý khách thông cảm, hôm nay bọn cung cấp thịt cầy chưa kịp giỏi chân mang tới ạ. Cả ba cái đầu cùng nhìn về tủ gương. Em phục vụ chợt hiểu: Dạ không ạ, đấy là hàng nhái ạ, toàn cả nhựa tô mầu cả, mượn đầu heo nấu cháo, phô trương thanh thế chứ đéo xơi được ạ!

Em ấy chỉ tay vào vách, màu vôi xanh bị chữ nghĩa sơn đỏ quằn quại bò cùng. Thực đơn từ a tới z đều nằm ở trên đấy cả, chữ to rõ là không làm khó thực khách. Xin mặc tình kén cá chọn canh rồi hẳn gọi. Bia hiệu gì nhỉ? Hành ngó Tỏi. Tỏi lên giọng: Corona thứ extra. Ướp lạnh hay dùng thêm đá ạ? Cả hai. Đợi phục vụ quay lưng, Hành hỏi Tỏi: Bấy lâu làm chi để sống? Tỏi đáp gọn: Lặt vặt, thợ đụng, nghề nghiệp chẳng nhất định, phụ thợ hồ, phụ thiến heo, đi buôn trầm và cũng có lúc làm lâm tặc, giang hồ một nắng hai sương, tiền nhà khó như gió vào nhà trống. Hành moi bọc ra bao thuốc lá thảy xuống bàn sau khi thắp đỏ đầu lửa, thở khói: Võ nghệ có năng luyện? Hay quá trình tu tập đã trôi sông đổ biển? Tỏi đặt tia nhìn vào bàn tay Hành, u nần, chai sạn tựa đôi tay của đứa quen sử dụng Karaté thuần cương đẳng cấp. Tỏi rút một điếu thuốc: Dụng võ phải có nguồn cơn, lực đẩy. Rối mắt với cơm áo gạo tiền khiến nhãng sao, bài quyền căn bản giờ này e chẳng thi triển xong 24 thế liên hoàn. Vả lại giờ đây giang hồ dậy sóng, chúng lập ngôn “nhất đẳng huyền đai không bằng dao phay chém lén”, võ học sơ sài như tôi nói ra thêm hổ thẹn!

Bia mang tới bàn, vàng lườm sủi bọt. Thứ màu dễ khiến người uống lên cơn: “Không say không về”. Và khi lỡ say, kẻ ấy luôn phạm lỗi lầm: Thiếu ngân lượng để chi trả. Gầm gừ, lửa bốc dễ sinh đột biến, vì vậy đa phần quán nhậu đều phải thuê bảo vệ. Hành nói: Tôi lấy làm tiếc cho ông, muốn giúp hiền hữu để ký cái hợp đồng mần ăn e phải rút lại. Anh em còn lại trong năm chúng ta ai còn ai mất? Tỏi ực một hơi bia, bọt trắng lấm lem hàm râu xám: Hôm nay tôi lang bạt tới phương này vì nghe đồn thằng Ớt có phô trương thanh thế chốn đây. Vậy có phải ông cũng hay tin muốn nhìn lại mặt huynh đệ cũ? Không, tôi đến chỉ để kiếm cơm, vừa ký xong hợp đồng thích hợp. Tỏi đăm chiêu: Làm việc gì mà phải tuyển kẻ biết võ công? Hành trạc ngực áo lộ hình xăm trổ rồng cọp giao tranh, trông da thịt nát nhừ ấy, kẻ đối mặt e phải kính nể đôi phần chả dám nhìn đểu. Giời nóng quá nhỉ, thứ khí hậu dễ kích hoả lòng người. Hành than. Than là than vậy thôi, chừng mượn cớ nọ để khoe khoang đẳng cấp. Tỏi cũng thuộc hạng “thiệt vàng chẳng sợ lửa” có điều Tỏi xăm ở bụng vỏn vẹn một hàng chữ: Hận Đời Đen Bạc. Bốn chữ nầy thì thời nào ngẫm ra cũng không lạc hậu, huống chi đang ở vào đời xã hội chủ nghĩa.

Cả hai đã lựa xong món ăn, thực đơn bình dân cốt lấy no bụng là chính. Sức vóc cỡ Hành Tỏi ngốn xong ngần ấy cũng tạm coi như chỉ dằn bụng thôi, dở ngon chưa bàn tới. Lai rai ba sợi, chén tạc chén thù cũng chưa phải lúc. Thực tâm, tôi đang muốn dò la một việc làm để mong ổn định. Tỏi nói, ông cứ cho hay về hợp đồng mà ông vừa ký, xem thằng Tỏi này liệu sức có kham nổi chăng? Hành lấy tăm xỉa răng, dùng bia mà súc miệng, xong nuốt ực: Khu vực này luôn là tụ điểm phát xuất của bọn người chuyên đi biểu tình, nhiệm vụ trên giao cho chúng tôi là đàn áp chúng không khoan nhượng, hỏi ông võ học còn giữ mấy phần hoả hầu là vậy. Cận chiến, xáp lá cà, vật ngã, gạt chân, khoá tay, trói ké, dụt vào thùng xe. Khó xơi chứ không đùa đâu nhé, nhắm chơi được chăng. Họ phát cho ông một bộ y phục khó đụng hàng kể cả còng số 8. Mẹ nó chớ, có khi mà hét ra lửa chứ không vừa!

Tỏi ngó Hành, giả bộ vô cảm chứ đa phần thất vọng. Ngày xưa sư phụ từng khuyên lơn, chúng ta học võ trước là để rèn luyện bản thân, sau là giúp kẻ chân yếu tay mềm bị áp bức. Hôm nay thằng Hành ngồi đó xem chừng đã phá bỏ bài học nhập môn, danh môn chính phái không theo lại mù quáng chạy theo bọn bàng môn tả đạo. Ta không đứng vào hàng ngũ kẻ đi đòi quyền sống thì thôi, cớ sao lại chúi đầu đi theo bọn cường hào ác bá? Tỏi tính mở miệng nói ra cảm nhận nhưng cố nén, dầu gì hắn cũng là người sẽ moi tiền lận lưng ra mà chi trả bữa ăn này. Hành ngoắc cô phục vụ lại bàn. Đứa con gái ăn vận có hơi thông thoáng mát mẻ nhanh chân bước tới, tay cầm tờ hoá đơn thanh toán trao tay Hành.

Gà xé: 195.000
Thịt luộc: 95.000
Cá kho: 135.000
Canh cá: 140.000
Rau luộc: 50.000
Cơm trắng: 60.000
Bia ngoại và nước đá: 1 triệu tư.

Hành la lớn: Địt mẹ tao nào đã say. Thanh Đồ Long đao của em dấu nơi nao mà tao chẳng thấy? Giỏi, em chặt đầu tao luôn đi! Cô phục vụ lui nửa bước chân chừng đang thủ thế dù người chẳng xuống trung bình tấn. Cô chưa yên thân đã hứng chịu bàn tay Hành đưa tới điểm trúng vú. Cô la oái, vội tẩu vi thượng sách. Vừa chạy vừa moi di động nhét chật sau quần bò ôm lấy mông tròn. Địt mẹ cứ hét giá trên trời thế có chó mới vào xơi. Tao giả một triệu rưỡi thôi nhé, bận sau tính nốt. Tiếng Hành rượt đuổi sau lưng em phục vụ chân dài.

Tấm màn nhựa từ nhà bếp thông với tiền sảnh lay động, thoắt cái có bóng người hiện tới sát bên Hành. Tỏi nhìn ra ngay chiêu thức quen thuộc mà kẻ ấy vừa thi triển, đồ chừng tên gọi nó là Cầm Ưng Soán Khuyển. Đường quyền ấy vung lên, chí ít phải huyền đai mới tựu thành, nhoáng cái đã thấy Hành nhăn nhó mặt mày, trán đẫm mồ hôi. Đâu phải dân ngoại đạo, nhanh không kém, tay Hành đã nắm được chiếc đũa tre thế món hoành đao đáp trả kẻ xuất thủ đường đột. Một tiếng la thảm vang lên, chiếc đũa thay vì ghim vào đối phương lại trở ngược cắm vào bên eo Hành. Đừng vội rút nó ra, máu sẽ đổ tràn ra đấy. Kẻ ấy nói, bốn năm làm bảo vệ ta chưa từng sơ xuất, ăn quỵt chạy làng thì buộc phải để lại chút gì thế hiện kim, ấy là nguyên tắc.

Giọng nói và khẩu khí nọ nghe quen, định thần ngó chăm, Tỏi reo lên: Ủa, Ớt đó ư? Ớt nhìn Tỏi xong lại chú mục tới Hành: Cớ sao giờ này ra nông nỗi thế này, đã từng theo thầy học võ ai lại đi làm việc bất chính. Ớt này ra tay như vậy e có nhẹ chăng? Ông có bao nhiêu tiền thì cứ moi ra, thiếu ta sẽ bù đắp, riêng việc dùng cầm nã thủ mà bóp vú người ta thì buộc ông phải xin lỗi. Lệ à, xong rồi em, ra đây mà nhận lấy một lời niệm tình thứ tha. Cô phục vụ tên Lệ sắc diện đã thôi xanh xao, cô nhìn nạn nhân nhăn nhó dù phút trước mãi hạnh hoẹ dở chiêu đồi truỵ. Lệ nhớ sực ra điều chi, đang đi cô đứng yên moi điện thoại di động ra. Màn hình thắp sáng một khuôn mặt, cô dí nó gần Ớt cho tỏ tường, không quên thuyết minh: Ông nội này chủ nhật tuần trước hăm hở đi phá mấy bà bán hàng rong quanh chợ, đây là tang chứng vật chứng.

Ớt hỏi Tỏi: Ông tính sao? Tỏi đáp: Tha cho nó đi, nên nghĩ lại chút tình xưa nghĩa cũ. Bản thân tôi đói mốc meo nhưng dù gì còn giữ chút đạo đức, bữa cơm này tôi lỡ ăn vào thì hãy để tôi lui sau nhặt rau rửa chén để xoá nợ. Phàm đã học võ thì nên khắc ghi câu ơn đền oán trả. Ớt vỗ vai: Nói vậy nghe hợp bụng ta, có mỏi chân giang hồ tìm nơi quy ẩn thì Ớt này rộng bụng mà chỉ bày chốn trú thân. Tỏi cúi đầu, chúng ta trước hội đủ năm thằng như bàn tay năm ngón. Bàn tay thì có ngón ngắn ngón dài, biết làm sao đặng. Hành à, sao không vội bắt xe ôm mà tìm nơi sơ cứu vết thương. Đổ máu hôm nay biết đâu giúp ông lai tỉnh. Cậy vũ lực ông đã khiến dân oan đổ máu bao lần?

Ớt quay đầu nói với Lệ: Em kíp mang ra cho bọn ta hai ly cà phê sữa đá. Mấy chục năm rồi giờ mới được ngồi gần hiền hữu đây. Lệ sửa lại xiêm y: Mấy anh thiệt kỳ khôi! Chuyện gì? Đời này thiếu gì tên nghe oách, nghe chảnh, sao cứ đè Hành Tỏi Ớt mà chơi, chớ sửa tên em là Nước Mắm nghe hôn!

Hồ Đình Nghiêm

Đường xưa lối cũ

phamtinanninh.com

Phạm Tín An Ninh    

August 20, 2008    

Post by Sơn râu 29 Aug 2026

Đường xưa lối cũ ta về
Từng con sóng vỗ não nề xa xa.

Phạm Tín An Ninh

Tôi xin mượn tên một bài hát của cố nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ làm tựa cho bài viết có lẽ không đâu vào đâu này, để cám ơn chị bạn Ninh Hòa có cái họ vừa đẹp vừa buồn – Lương Lệ – đã hát tặng trong đêm đầu tiên chúng tôi vừa trở lại quê nhà, ở cái quán cà phê mang tên khá lạ; Hòn Kiến, nằm trong một khu vắng vẻ trên con đường Bạch Đằng quen thuộc của một thời tôi còn lang thang đi học ở Nha Trang.
Bài hát dù hay nhưng xưa cũ lắm, tôi đã nghe rất nhiều lần, đến gần như không còn cảm xúc. Nhưng hôm nay ngồi nghe chị hát mà lòng chợt ngậm ngùi. Bởi vì chính bây giờ đây, tôi đã trở về và đang đi trên những con đường xưa lối cũ ấy.

Không ngờ chị hát thật hay, thật truyền cảm. Tôi nghe tên chị từ lâu lắm, nhưng hôm nay lần đầu tôi gặp chị. Tôi mới chợt nghĩ ra rằng, ở Ninh Hòa, cái họ Lương này, dù ở Phú Hòa hay là ở Xóm Rượu gì cũng đã từng vang bóng một thời, đã từng làm khổ biết bao chàng, từ thư sinh đến anh hùng hào kiệt. Bà xã tôi thường nhắc tên một cô bạn thân, cùng lớp, cùng đội múa Trăng Mường Luông ngày xưa, đẹp và hiền hơn ma soeur, nhưng bất cứ lúc nào cũng có thể khóc được. Hỏi ra thì cô nàng có cái tên Lương-Lệ Bích-San. Tôi bảo, cô ấy dễ khóc là phải, vì trong cái tên lúc nào cũng đã có sẵn cả một dòng nước mắt. Đêm nay cũng có Bích San và ông xã. Anh ngồi bên tôi, rất hiền lành, chỉ mỉm cười, ít nói, thì thầm đọc cho tôi mấy câu thơ về một chuyện tình buồn. Anh làm thơ hay lắm nhưng cho tôi cái cảm giác là cuộc tình của hai người ngày xưa cũng có cả một trời sóng gió. Trước năm 75, anh là giáo sư của vài trường trung học ở Ninh Hòa, nhưng bây giờ anh làm một việc giống như “cai trường”, sống âm thầm lặng lẽ ở Nha Trang. Chị bạn hát tặng chúng tôi bài hát mừng hội ngộ tối nay, chắc lúc xưa cũng đã từng làm dại khờ bao nhiêu trái tim của đám học trò lẫn các ông thầy Trần Bình Trọng, Võ Tánh.

Được người bạn tù của cha tôi cho biết chính xác nơi cha tôi chôn cất, sau khi ông chết trong một trại tù “cải tạo” vào cuối tháng 5 năm 1976, tôi về lại Việt nam để tìm hài cốt cha, đưa về cải tang bên cạnh mộ mẹ tôi và ông bà nội trong nghiaa trang gia tộc. Bà vợ Ninh Hòa của tôi cũng tháp tùng một chuyến cố hương. Lần đầu tiên sau hơn ba mươi năm, bất ngờ được ăn một cái Tết quê nhà. Đêm giao thừa, nằm ờ Ninh-Hòa mà thấy lòng buồn bát ngát một mùa thu. Có lẽ, tuổi đã già nên không còn cái nao nức của thời xưa, hay là còn cái cảm giác quê hương mình sao vẫn còn xa lạ quá. Ngay trước nhà là một chợ hoa, nhiều nhất là hoa cúc với hoa mai. Dường như hai loại hoa này đang mang mùa xuân đến cho Ninh-Hòa. Sắp đến giờ giao thừa mà hoa vẫn còn đầy ngoài đường, trước ngõ. Người ta phải bán với cái giá chỉ để khỏi phải trả tiền chuyên chở lại về nhà trên các vùng như Quang Đông, Chấp Lễ. Tội nghiệp, những người trồng hoa có lẽ đã phải vất vả suốt cả năm, để mang mùa Xuân đến cho mọi nhà, nhưng rồi không biết mùa Xuân có đến được nhà của chính họ hay không?

Sáng mồng một Tết, dự định ghé lại thăm một vài người quen, nhưng ngại có người kiêng cữ. Một kẻ lưu lạc tha phương xông đất biết đâu lại là cái điềm chia lìa nào đó. Nên cuối cùng đón xe lửa trở lại Nha Trang để tìm một chút yên bình. Đi xe lửa bây giờ là điều thú vị, vừa được ngắm cảnh núi non đồng ruộng, vừa được nghe toàn những bản nhạc “vàng” tình ca của miền nam thuở trước và nhớ lại cái thời vào trọ học Nha Trang, cuối tuần chỉ toàn đi xe lửa “cọp”.

Nha Trang, dù có cái gì xa lạ nhưng lúc nào cũng đẹp. Đẹp để đủ cho lòng người ta nuối tiếc mông lung. Bởi ngồi trước biển Nha Trang mà tâm tư cứ mơ hồ giữa cái còn và cái mất, giữa ngày xưa với bây giờ. Cái nhớ nhất, sâu lắng nhất còn lại trong lòng là kỷ niệm của một thời đi học, của những mối tình học trò vụng dại dễ thương.

Niềm vui là tìm gặp được những bạn bè cùng lớp ngày xưa để còn thấy mình trẻ lại. Nhưng vui đó rồi buồn đó. Bởi bây giờ ai cũng đã già và mỗi người một số kiếp long đong.

Một thằng bạn cùng học ba năm cuối cùng ở trường Võ Tánh, to con, đẹp trai và học giỏi. Sau này cũng là bạn lính. Ở tù hơn bảy năm nên bạn bè ai cũng nghĩ là nó đã đi diện HO và đang nổi trôi nơi nào trên nước Mỹ, không ngờ còn gặp lại nó ở Nha Trang.

Sau sáu tháng nó vào tù, cô vợ “Bắc Kỳ nho nhỏ” mang ba đứa con (mà đứa lớn nhất mới vừa năm tuổi) giao cho bà nội ở trên Thành, Diên Khánh, rồi sang sông….. về đâu đó, không bao giờ trở lại thăm con. Bà nội thì già, mấy đứa nhỏ bấu víu vào ông chú, vừa tốt nghiệp kỹ sư Nông Lâm Súc, nhưng bởi có ông anh là “ngụy đang cải tạo”, nên được chức phụ hồ cho một ông thợ nề là bác họ. Trong lúc phụ hồ xây dựng một bệnh viện, anh làm quen được một chị đầu bếp của bệnh viện, Không biết tài ăn nói thế nào mà anh làm cô đầu bếp động lòng trắc ẩn, thương cảm hoàn cảnh mấy đứa cháu dại không mẹ không cha. Cô sẵn sàng làm mẹ nuôi. Với tất cả tiền bạc và tấm lòng, cô đã cưu mang ba đứa bé còn hơn cả một người mẹ. Ba đứa nhỏ lớn lên cứ tưởng cô là mẹ. Cái tình mẫu tử này sao mà hiếm hoi và bi tráng quá. Thì ra trong cái thời nhá nhem tình nghĩa ấy vẫn còn có những tấm lòng hơn cả chữ từ bi viết trong mấy ngôi chùa.

Bảy năm sau, thằng bạn tôi được thả về, cúi mình trước người con gái lần đầu tiên gặp mặt để xin lạy một lạy tạ ơn. Cô nắm tay ngăn lại. Đúng giây phút ấy, bốn mắt nhìn nhau và cùng rơi lệ. Họ ôm nhau và yêu nhau rồi lấy nhau… Hôm gặp chị, tôi tò mò hỏi lý do nào chị yêu và lấy thằng bạn khốn cùng của tôi trong lúc chị còn con gái. Chị cho biết vì không thể rời xa ba đứa nhỏ mà chị cứ tưởng là con ruột của chính mình. Chính cái tình thương gắn bó mấy đứa nhỏ mà chị trở thành vợ của ba nó. Còn tôi thì lại mơ màng suy ngẫm đến hai chữ duyên nợ của đất trời.
Sau này chị làm đầu bếp cho một nhà hàng ở bờ biển Nha Trang. Thằng bạn tôi và mấy đứa con vẫn sống trên Thành, vì với cái lý lịch đen, không thể xin được cái hộ khẩu về thành phố. Còn chị vợ thì tiếc cái hộ khẩu ở thành phố, mà không muốn chuyển lên Diên Khánh. Mặc dù ban ngày làm ở Nha Trang nhưng tới tối là chị chạy xe Honda về với chồng con.

Cũng chính vì cái “hộ khẩu” mỗi người một nơi ấy, mà khi thằng bạn của tôi nộp đơn xin đi theo diện HO, bị phái đoàn Mỹ từ chối, trả lại hồ sơ và sỉ vả một trận, vì nghĩ chị vợ tốt bụng này chỉ là vợ giả, trả tiền cho nó để được bỏ nước ra đi. Chuyện tình ngay mà lý gian ấy cũng đã làm vợ chồng tốn kém và khốn khổ một thời. Sau mấy lần khiếu nại, cái ân sủng cuối cùng là: chỉ có người cha và ba đứa con được ra đi vào đợt cuối HO. Còn chị vợ sẽ vĩnh viễn không bao giờ được bước chân đến Mỹ.

Bạn tôi quyết định ở lại với người vợ ân tình, mà anh coi như ông trời đã sai xuống dương trần này để gánh vác cho mấy cha con.
Bây giờ ba đứa con đã là người lớn. Thằng bạn tôi ở nhà chăm sóc ngôi từ đường, nuôi mấy con heo và nấu cơm cho con cho vợ. Chị ấy vẫn làm ở khách sạn dưới Nha Trang.

Hôm đứa con gái lớn lấy chồng, chị khuyên mãi thằng bạn tôi mới báo tin cho bà mẹ ruột bạc tình, bây giờ đang lấy một ông chồng người Thụy Sĩ. Bà ấy cũng vác bộ mặt đầy son phấn trở về. Nhưng đứa con gái chỉ cho bà đến nhà hàng dự tiệc mà từ chối sự hiện diện của bà trong hôn lễ. Con bé bảo rằng, bà chỉ là một cái máy đẻ ra tôi, nhưng mẹ tôi chính là vợ của ba tôi bây giờ.

Tôi rót một ly rượu mừng cho cả cái vô phúc lẫn cái diễm phúc của thằng bạn cũ, nhưng rót đến hai ly để mời vợ nó. Một ly mừng và một ly để nói hộ giùm tôi lòng biết ơn và ngưỡng mộ.

Tội quay sang bảo thằng bạn:

– Dường như chính phủ Mỹ vừa cho mở lại diện HO, mày thử nộp đơn lại xem sao.

Nó xua tay:

– Tao chẳng cần đi đâu nữa, vì ở đâu có bà vợ tao đây là ở đó có thiên đường.

Tôi đùa:

– Mày nói còn hay hơn mấy ông linh mục trong nhà thờ.
Tôi choàng tay ôm vợ chồng nó mà nước mắt trào ra. Tôi nghĩ, nó vẫn còn tác phong của một thằng lính.

Một cô bạn học từ năm đệ tứ. Mùa hè năm rồi sang Mỹ thăm cô con gái là ni cô tu ở một ngôi chùa nữ dưới Los Angeles, bất ngờ đọc được bài viết của tôi trong Đặc San Hội Ngộ Võ Tánh & Nữ Trung Học Nha Trang, trong đó tôi có nhắc đến tên nàng, rồi lần mò tìm ra tông tích của tôi. Ngày xưa là một cô bé khá xinh và học giỏi. Sau này có thời làm phóng viên chiến trường cho QĐ II. Ông chồng gốc Võ Bị Đà Lạt, chết một tháng trước ngày có chuyến bay theo diện HO. Nàng dắt hai đứa con gái lưu lạc khắp nơi, với một số vốn liếng của mẹ cha để lại. Cuối cùng, khi kinh tế ổn định, mẹ con về mua một ngôi nhà bên cạnh Quan Âm Tự ở Sài Gòn. Cô con gái út vừa học đại học vừa tu học trong chùa. Còn nàng thì tu tại gia và cũng là một nhà thơ. Ngồi trên máy bay trở lại Nauy, tôi đọc hết hai tập thơ của nàng ký tặng lúc chia tay. Nàng làm thơ Đường thật hay và cảm động. Tôi nghĩ, nếu Đức Phật mà đọc được thơ nàng thì cũng phải rơi nước mắt xuống tòa sen.

Mấy ngày ở Sài Gòn, tôi ghé thăm chị Hà , một người con gái gốc gác “quan họ” nhưng lúc nào cũng nặng lòng với Ninh Hòa. Ông bố ngày xưa là một niên trưởng của tôi, nên ngôi nhà nhỏ, dù là của gia đình đã bao đời, bây giờ vẫn chưa có “sổ đỏ”, trông cũ kỷ nhất trên con đường Minh Mạng xưa, vì không được phép sửa sang lại. Vẫn với nụ cười, từ tốn và lịch thiệp đủ để cho người lạ dễ làm quen và có cảm giác gần gũi thân thiện. Tôi hiểu lý do tại sao, giữa Sài Gòn với những bề bộn trong mấy ngày giáp Tết, bao nhiêu người phải đi ngược về xuôi, vậy mà cuộc họp mặt tất niên của Hội Đồng Hương Dục Mỹ & Ninh Hòa của chị có đến hơn một trăm người hiện diện. Nghe tôi ghé thăm, có một anh bạn trẻ Ninh-Hòa cũng đến chờ tôi. Chính cái cách biệt tuổi tác, cái khoảng cách không gian giữa ngoài và trong nước, lại là một sự gắn bó đến không ngờ. Chúng tôi có biết bao nhiêu điều để nói, từ hoài cảm về một thời xa xưa, đến những buồn vui trăn trở bây giờ.

Tội nghiệp người bạn trẻ có lòng. Hôm sau, anh xin nghỉ làm nguyên cả buối sáng… ghé lại khách sạn rủ tôi ra quán cà phê tâm sự. Tôi có cả xót xa và hạnh phúc, khi thấy mình đã già, trí óc có thể đã cằn cỗi, lỗi thời nhưng lại có rất nhiều ưu tư, suy nghĩ rất gần với người bạn trẻ, vừa có lòng vừa có kiến thức này. Những nhận định, từ cái tư cách của ông nhạc sĩ Phạm Duy, những điều đáng buồn của quê hương đất nước: đạo đức xã hội ngày cáng bị xói mòn, người ta làm giàu không từ nan bất cứ một thủ đoạn nào, ngay cả bán phụ nữ đi làm nô lệ -kể cả nô lệ tình dục- và bán cả một phần giang sơn đất nước.

Nói chuyện với anh, tôi chợt nhớ tới cái kết luận của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, khi đọc Le Fils de La Baleine (Kẻ Thừa Tự của Ông Nam Hải), tác phẩm nổi tíếng trên thế giới vào những năm giữa thập niên 50-60, của ông Thầy, nhà văn Cung Giũ Nguyên (nguyên tác bằng tiếng Pháp, xuất bản lần đầu ở Pháp năm 1956. Sau đó được dịch ra nhiều thứ tiếng và tái bản ở Đức và Canada):

“Người ta tôn vinh, thờ phụng một con Cá Voi chết, nhưng tại sao người ta lại tàn nhẫn với cuộc sống của một con người. ? – Xin đừng choàng vòng hoa cho một người đã chết và hãy yêu một người đang sống”.

Chiều hôm qua, trong khi bà vợ Ninh Hòa đi mua sắm, làm tóc làm tai, tôi nằm dài trong hotel đọc hai cuốn sách. Cả hai cuốn sách này tôi đã đọc qua trên mạng, cùng vớí bao ý kiến khen chê từ trong ra ngoài nước: Nhật Ký ĐặngThùyTrâm và tiểu thuyết Bóng Đè. Một cuốn đề cao một nữ bác sĩ hy sinh trong cuộc chiến, mà cuốn nhật ký của cô được kẻ cựu thù là một ông Mỹ vô danh nào đó gìn giữ và trao lại cho gia đình. Tôi nghiệp, lại thêm một cái chết nữa bị người ta lợi dụng. Còn cuốn kia nói về hiện tượng một cô gái bị bóng ma của mấy đời nhà chồng: ông, cha, từ trên bàn thờ trong nhà họ, đêm nào cũng xuống đè cô hãm hiếp. Tôi thích cuốn tiểu thuyết này, tác giả là một cô luật sư trẻ ngoài Hà Nội. Dường như báo chí trong nước phê phán gắt gao về những từ ngữ tả chân tình dục. Riêng tôi, tôi thích thú cái ý đằng sau những từ ngữ ấy. Đúng như vậy, có biết bao nhiêu người tuổi trẻ mà tôi biết hay đã gặp, như người bạn trẻ đang ngồi trước mặt tôi đây, với tấm lòng, kiến thức và nhiệt huyết, họ thừa khả năng để đưa đất nước vươn lên. Những cái bóng ma của quá khứ chỉ làm cho họ thêm nặng nề, ngộp thở. Chia tay anh, suốt trên đường về lại hotel… lòng tôi miên man với bao suy tư và hy vọng.

Ở Nha Trang, bất ngờ gặp vợ chồng cô bạn ở bên con sông Dinh và cây cầu Sắt, học cùng lớp và cũng cùng đội múa với bà vợ Ninh Hòa của tôi ở Trần Bình Trọng, cũng trở về từ một nơi nào đó. Ông bà cứ như là đám mây trên trời. Chợt đến rồi chợt đi. Không biết những nơi hai người đi qua có còn để lại vết tích của một đôi tình nhân sáu mươi khi “con tim đã vui trở lại?”

Gặp cô bạn thân thiết một thời này, bà xã tôi bèn làm ngay một cuộc họp bạn bỏ túi. Bốn người bạn cùng lớp, trôi nổi mỗi người một cảnh, bây giờ gặp lại nhau, thôi thì tha hồ mày tao mi tớ, và kể đủ thứ chuyện dưới đất trên trời, làm tôi nhớ đến mấy câu thơ “làm chơi” của một ông bạn vong niên:

Một đám con nít sáu mươi
Gặp nhau bỗng thấy nhớ trời đất xưa
Nhớ ngôi trường cũ dưới mưa
Nhớ thầy nhớ bạn nhớ giờ ra chơi

. . .
Một đám con nít sáu mươi
Tìm nhau kể chuyện trên trời dưới sông
Trên trời mây nổi mênh mông
Dưới sông bèo dạt bềnh bồng nổi trôi
…

Một người nhắc tới anh bạn “ốm tong teo” cùng lớp, nhà thơ Quan Dương, đang lưu lạc ở New Orleans, vừa bị cơn bão Katrina rượt chạy sang tận Houston-Texas, và cho biết là dường như có một tờ báo trong nước luận (tội) về thơ Quan Dương. Tôi bảo là thơ Quan Dương chỉ kể lại những cái đau của người miền Nam trong những ngày tháng cũ. Có luận thì cũng chỉ thấy tội…nghiệp mà thôi. Đã là con người, lại là một nhà thơ.., xin hãy để cho họ nói lên những nỗi niềm tận đáy lòng của họ. Làm thơ cũng chỉ là một sự giải tỏa những niềm đau, những ẩn ức còn ở trong lòng. Chính những ông Văn Cao, Phùng Quán, hai nhà thơ nổi tiếng nhưng đã bị tù đày, tàn tạ gần cả một đời chỉ vì “…muốn làm nhà văn chân thật / Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã / Bút giấy tôi ai cướp giật đi /Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá ” cũng đã từng nhờ thơ mà sống còn, bởi “có những lúc ngã lòng,.. nhờ vịn câu thơ mà đứng dậy”. Bây giờ nhà nước đã phải chấp nhận ngợi ca giá trị thơ văn của hai ông, như là một đóng góp quí giá, lớn lao vào sự nghiệp văn hóa chung của dân tộc. Đặc biệt tên Văn Cao đã được dùng đặt tên cho một con đường ngay giữa lòng Hà Nội. Tiếc là mọi thứ chỉ xảy ra khi ông sắp chết!

Một anh bạn trong nước cho biết thêm một điều thú vị: “ông chủ tịch tỉnh” bây giờ là bạn học cùng lớp cùng trường Trần Bình Trọng với Quan Dương. Không biết ông ta có chút xót xa nào khi đọc được tập thơ Ruột Đau Chín Khúc của Quan Dương, và nếu bây giờ gặp nhau, liệu “ông chủ tịch” có tay bắt mặt mừng, hay lại bắt thằng bạn xưa nhốt vào trại tù cải tạo thêm vài ba năm nữa ? Ôi ! cuộc chiến tranh Việt nam sao mà bi thảm quá!

Tôi từ giã Ninh-Hòa vài ngày sau Tết, nhưng không biết Quê hương mình có thực sự bước vào một mùa Xuân? Tôi nhìn thấy người ta bắt đầu phóng những con lộ lớn từ quốc lộ “đại hàn” nối về khu thị trấn. Tôi cũng mừng về những đổi thay muộn màng đó của quê hương, nhưng thầm mong những con lộ mới làm này cũng sẽ nối lại được cái tình tự của con người Ninh Hòa, người Việt Nam với nhau, cho dù trước kia, trong cuộc chiến, kẻ ở bên này người ở bên kia và bây giờ kẻ ở quê nhà còn người thì lưu lạc khắp muôn phương. Bất giác tôi lại nhớ tới những đồng đội bất hạnh nhất của tôi còn nằm lại trong Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, mồ mả của họ đã bị đâp phá, san bằng, người nhà không được tự do đến thăm viếng, sửa sang. Vết thương cũ trong lòng tôi nhói đau trở lại, tựa hồ như vừa có trăm ngàn vết chém.

Phạm Tín An Ninh

(Mồng bảy Tết năm Bính Tuất)