Vết Nám – Hồi Ký Tù Cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long hải

Posted on 14 Aug 2015 

Post by Sơn râu 19 Oct 2025

Bài 26

Tiên “rái cá”

Sau khì bị bắt, giải về trại cũ, TRịnh X. Ch. vào cát-xô ngay.

Phía sau “Trại Đá”, trại mới xây bằng gạch “lốc” rất kiên cố, là bốn “biệt thự” ngói đỏ. Chúng tôi gọi đùa là “biệt thự”, thực ra đó là bốn ngôi nhà lợp ngói đỏ. Mỗi nhà chia làm bốn phòng có bốn cửa riêng. Mỗi phòng là mỗi cát-xô để giam tù “bị kỷ luật”, như ai trốn trại, có hành động, tư tưởng hay tuyên truyền “chống phá cách mạng”, v.v… và, v.v…

Mỗi phòng có một sạp gỗ để nằm, một cây sắt dài và to gần bằng cán cuốc, một đầu ở phía ngoài vách nhà, thọc qua bức tường đi tuốt vào một phòng nhỏ ở phía trong. Đầu trong có ổ khóa to, ở trong cái phòng ấy.

Chân người bị “cát xô” bao giờ cũng bị cùm, bằng một cái cùm chữ U, lòn qua thanh sắt ấy.  Bọn Công An đi tuần, đứng phía ngoài cửa, cầm đầu thanh sắt, thọc tới, kéo lui vài cái, làm cho thanh sắt chuyển động và xiết vào chân người tù, đau lắm. Người tù la lên. Thế là chúng yên tâm. Tù còn trong phòng, chưa trốn đi đâu. Mỗi phiên đi tuần cách nhau khoảng một giờ đồng hồ. Cứ đầu phiên, đi qua mỗi phòng, chúng cầm thanh sắt kéo lui kéo tới như vậy để canh chừng người tù.

Dù người tù muốn ngủ cũng không ngủ được, coi như bị đánh thức từng giờ một. Có người nói đùa: “Đi tù cải tạo, phải vô “cát-xô” một lần cho thấm “mùi tù”. Tố Hữu, Lê Duẫn dù có bị Tây bỏ tù, cũng chưa bao giờ thấm cái “mùi tù” như thế nầy.”

Có người sợ cái “mùi tù” ấy, nhưng cũng có người coi như pha, vào ra “cát-xô” như cơm bữa, như Võ Phước Thọ chẳng hạn (Võ Phước Thọ ra tù cùng một lần với tôi, năm 1982, được ít tháng thì bị hậu bệnh mà qua đời. Hậu bệnh là vì trong tù anh ấy bị Công An đánh nhiều lần, rất tàn bạo!)

Hỏi Thọ về chuyện “Khách không mời mà đến cát-xô”, anh ta chỉ cười, nói nhỏ: “Nhằm nhò gì. Riết rồi người ta cũng lì đòn!”

Ngày đầu tiên vào “cát-xô”, đến chiều mới được “trật tự” (1XXXXX) đem “cơm” chiều tới. Gọi là cơm nhưng thật ra đó là chén bắp nguyên hột (nguyên vỏ), hay chén khoai mì, thêm một chút nước muối. Vậy thôi!

Khi trật tự đem “cơm” vào, tên Công An giữ chìa khóa phải vào mở cửa cát-xô, chờ khi giao “cơm” xong thì đóng cửa lại.

Tuy nhiên, đối với những người vào cát-xô ngày đầu tiên, dù có vào ra nhiều lần như Thọ, thì bao giờ cũng bị đánh một trận tơi bời!

Sau khi anh chàng trật tự giao cơm xong ra về, tên Công An giữ chìa khóa còn đứng lại đó, cửa cát-xô còn mở thì ba bốn tên Công An cùng vào, “chơi hội đồng”.

Chúng bắt người tù đứng thẳng lên, tay bị còng, chân bị cùm. Thế là bốn tên đứng bốn góc, thi nhau đấm thật mạnh vào mặt, vào bụng người tù một cách “anh hùng” và “vinh quang” như đảng hô hào.

Tên Công An bên phía nầy đánh cho người tù té qua phía bên kia. Tên Công An phía bên kia đánh người tù té qua phía nọ. Người tù gượng đứng lên thì bị chúng đánh cho gục xuống. Bị gục xuống thì tụi Công An đá vào người tù bắt đứng lên để tụi nó đánh tiếp.

Người tù không có cách gì để chống đỡ hay né tránh được. Cuối cùng, không còn sức chịu đựng được nữa, người tù té gục xuống sàn, nằm im, ngất xỉu, bất động. Bấy giờ mấy tên Công An mới kéo nhau ra về, nói cười hớn hở, hả hê như vừa thắng một trận lớn, “đem vinh quang về cho đảng”.

Người tù thì nằm lại đó, tay chân mình mẩy người tù đau đớn, ê ẩm, không nhúc nhích gì được, rên rỉ suốt đêm.

Chén thức ăn để lại đó, không đậy che gì cả, mặc cho dán, ruồi bu, đậu đen thui.

Ở trại Z-30A những tên ưa đánh tù nhứt là “cán bộ” Lở, Chinh, Tuyên, Lâm (trực trại), Viễn (trực trại), Nhâm (mắt trắng môi thâm), Khoái (dáng người giống “đại tướng anh hùng thước mốt”. Trong các tên nầy, Lở là tên tàn bạo nhứt, ít khi vắng mặt trong những lần đánh tù như thế.

Cấp trên của chúng có biết việc đánh tù của chúng không?

Biết chứ!

Nhưng những cấp trên của bọn chúng như thượng sĩ Thắng, “cán bộ giáo dục”, trung úy Lê Ngọc (2), đại úy Mai Văn Lớn, đại úy Hoàng Nhân, và cả trung tá Trịnh Văn Thích, trại trưởng nữa đều làm ngơ. Chúng muốn “dằn mặt” người tù đấy. Đó là “chính sách” của bọn chúng!

Sau trận “đòn hội chợ”, Trịnh X. Ch. nằm liệt ba ngày không nhúc nhích, tưởng như đã chết. Anh ta nhỏ con, dáng bộ thư sinh, yếu ốm, lại bị suyễn, “trói gà không chặt”, cả đời chỉ biết có sách vở thì làm sao chịu nỗi trận đòn hôm đầu tiên vào cát-xô.

Cũng may, ngày thứ ba, thêm một người được giam chung với anh. Ban đầu, Trịnh X. Ch. hơi nghi, hỏi thẳng:

– “Chúng nó đưa anh vào đây để theo dõi tôi phải không?”

Người ấy, còn trẻ lắm, mới trên 20 tuổi, nói với anh, giọng cũng gay gắt:

– “Lạy Chúa tôi! Anh nghĩ tôi là cái gì mà hỏi như thế? Tôi chẳng thèm nói chuyện với anh đâu. Ở đời, chuyện gì rồi ai cũng biết. Tôi có làm tay sai cho chúng nó, cũng có ngày anh sẽ biết!”

Thế là hai người găng nhau, chẳng ai nói với ai lời gì nữa. Đêm, Trịnh X. Ch. đau khắp mình mẫy, hễ trở mình là rên.

Người tù trẻ, tên Tiên, hỏi Trịnh X. Ch., giọng ân cần:

-“Anh đau ở đâu, để em xoa nhẹ nhẹ lên, không có dầu

nhưng cũng đỡ lắm.”

Trịnh X. Ch. nằm im, để cho người tù trẻ giúp mình.

Qua ngày hôm sau, hai người tù cát-xô bắt đầu chuyện trò.

Tiên nói:

– “Đời tù mà anh. Mình phải tìm cái gì để quên đi, an ủi nhau.”

Trịnh X. Ch. trả lời:

– “Anh nói được câu ấy cũng là hay lắm đấy. Không tự mình làm cho mình nguôi ngoai thì đời tù hay đời thường chỉ thêm buồn mà thôi.”

Bỗng Tiên hát nho nhỏ “Tìm quên đi! Thôi còn cay đắng làm gì?” Rồi Tiên nói tiếp: “Đâu có chỉ quên chuyện tình yêu mà thôi. Đời lính, đời tù, có nhiều cái không những chỉ tha thứ mà còn phải quên.”

Trịnh X. Ch. hỏi, giọng nhẹ nhàng hơn:

– “Anh có ở lính?”

– “Có chứ anh. Em tình nguyện vào lính khi chưa đủ mười tám tuổi.”

&

Mấy năm đầu khi mới lập trại Z-30A, doanh trại quân đội Việt Nam Cộng Hòa cũ trên “đồi Phượng Vĩ”, – cái tên nghe thơ văn thật, đúng là dân tiểu tư sản đi đánh giặc vô sản -, được dùng làm nơi giam tù, gọi là Trại A.

Trại nằm trên đồi cao, thiếu nước. Vì vậy, mỗi chiều, khi các đội đi lao động, trên đường về thì quản giáo và bọn cán bộ Công An bảo vệ cho toàn đội ghé lại một cái ao nước hay vũng nước nào đó, bên cạnh đường về, để tắm rửa.

Thường ngày, đội của Tiên được phép ghé lại một cái ao nhỏ, bằng nửa cái sân bóng chuyền, tắm táp, rửa ráy.

Quản giáo và tên Công An bảo vệ ngồi trên khúc cây gần đó, chuyện trò với nhau, chờ tù tắm xong thì về.

Việc ấy xảy ra đều đặn như thế hằng ngày, thành thói quen.

Cựu đại úy Hùng, Biệt Động Quân cùng với Tiên lặng lẽ đi lại phía sau hai tên Công An, – như đã nghiên cứu và bàn định từ trước -, Hùng cầm một cục đá lớn đánh vào đầu quản giáo. Tên nầy gục xuống. Hùng cướp ngay cây súng ru-lô đeo bên hông quản giáo. Tiên thì cướp súng tên Công An bảo vệ. Hai bên đang giằng co thì Hùng cầm cây súng ru-lô trong tay, bắn vào tên Công An. Tên nầy chết liền tại chỗ.

Việc xảy ra nhanh như cắt, không thua gì trong ciné. Ngoại trừ Tiên và Hùng bàn bạc với nhau, cả đội không ai biết trước, chưng hửng, có người chưa kịp biết chuyện gì xảy ra thì Hùng đã hô to:

-“Anh em! Ai muốn trốn trại theo tôi.”

Nói xong, anh chạy về hướng núi Chứa Chan. Tiên và một số tù nữa chạy theo, tất cả 19 người. Những người khác, cũng khoảng hơn 2 chục ở lại, cam chịu tiếp tục số phận người tù.

Lúc ấy, có một đội tù khác cũng trên đường về, cách đó không xa, chưa biết chuyện gì nhưng thấy một số người chạy về hướng núi, bọn Công An đội ấy biết có “sự biến” xảy ra, bèn bắn súng báo động.

Bọn Công An trên đồi Phượng Vĩ, nghe súng báo động bèn cầm súng chạy xuống đồi, đuổi theo đám người đang chạy lúp xúp về hướng núi Chứa Chan.

Công An vừa chạy vừa la to “Đứng lại! Đứng lại!” và bắn thẳng vào đám tù đang chạy trốn phía trước. May mắn, đạn chẳng trúng ai! Đám tù trốn vẫn cứ chạy.

Tiên nghĩ: Tới được chân núi là an toàn. Tới đó, cây rừng rậm rạp, chúng nó không dám đuổi theo.

Bỗng có một người không chạy nữa. Anh ta đứng lại, hai tay đưa lên trời, la to “Tôi đầu hang! Tôi đầu hang!”

Nghe tiếng, Tiên quay lại. Thì ra đó là một chú ba Chợ Lớn. Anh nầy bị tù vì tội vượt biên. Tiên chưởi thầm “Thằng mập. Ăn cho nhiều vào, động sự mới biết mấy thằng mập chẳng làm được gì!”

Đoán biết bọn Công An sẽ loay hoay với “thằng mập”, Tiên la to, khuyến khích anh em: “Gắng lên! Gắng lên, sắp tới núi rồi.”

Trong khi đang chạy, cựu đại úy Hùng đổi cây súng cho Tiên. Nắm cây CKC trong tay, Hùng nói: “Chạy tiếp đi.” Rồi anh ta đứng lại, nằm sát mặt đất, sau một thân cây gãy. Hùng mở cơ bẫm, lên đạn, kê súng lên thân cây, nhắm.

Tên Công an chạy đầu trong nhóm có lẽ là một cán bộ chỉ huy. Nó không mang súng dài, trong tay chỉ có cây ru-lô. Vừa chạy nó vừa la “Đứng lại”, cây súng vung vẫy. Đúng lúc ấy thì Hùng bóp cò.

Sau tiếng nổ, Hùng không còn thấy tên Công An đang chạy trên đường mòn ở đâu nữa. Nó đã lăn xuống bên cạnh, nằm im. Bọn chạy sau, đứa nằm xuống tránh đạn, đứa xúm quanh tên bị bắn.

Hùng vùng dậy thật nhanh, chạy theo đám trốn tù.

Mười tám người còn lại chạy tới núi, cố leo lên sườn núi cao và dốc. Đúng như Tiên nghĩ, bọn Công An dừng lại phía dưới, không dám đuổi theo. Chúng nó sợ bọn Tiên phục kích. Bọn Tiên có hai cây súng.

Đó là lần thứ nhất Tiên trốn trại!

&

Cha của Tiên tử trận khi anh ta mới 6 tuổi. Mẹ Tiên một thân một mình nuôi bốn đứa con. Tiên thứ Tư, đứa út là con gái.

Quê Tiên ở Cà Mau. Nếu không có chiến tranh, mẹ Tiên với các con cũng có thể sống ở quê được. Vì là một xóm đạo, chống Cộng rất căng nên ấp của Tiên bị tấn công những mấy bận, hết nhà nầy tới nhà khác bị đốt, bị quăng lựu đạn phá nát. Không ở được, mẹ Tiên đem các con lên sống ở Nhà Bè. Tiên bỏ học.

Sinh ra ở vùng sông nước, về Nhà Bè, cũng là vùng sông nước; nhà nghèo, Tiên không đi học nữa. Mười lăm tuổi, Tiên theo các đàn anh “hành hiệp” trên sông Lòng Tào.

Nhờ bơi giỏi, lặn sâu và xa, như một con rái cá, lần hồi Tiên được đàn anh giao nhiều công việc quan trọng.

Không một chiếc tầu buôn nào đi vào sông Lòng Tào mà Tiên không quăng giây leo lên được. Không có một ổ khóa nào trên Tầu, dù khóa ngoại mà Tiên không mở được. Đám của Tiên chỉ ăn cắp hàng trên tàu, không làm ăn cướp.

Sự tài tình của Tiên và các “đồng nghiệp” không dễ khiến cả đám bị bắt khi đang ăn hàng. Nếu xui, có bị phát giác ngay tại trận, cách thoát thân hay nhất là nhảy xuống sông, lặn một mạch. Thủy thủ tầu hàng ngoại quốc chẳng đưa súng bắn theo bao giờ, cũng không đuổi theo bao giờ.

Thế rồi năm 17 tuổi, chán cảnh sông nước nầy, Tiên đi lính. Cha của Tiên đã vì nước hy sinh nên Tiên không thấy e ngại hay sợ hãi trong việc nhập ngũ.

Tiên vào Thủy Quân Lục Chiến, đơn vị ở miền Trung, chưa đánh trận nào đã “di tản”. Về tới Saigon, đơn vị tan rã, Tiên về Nhà Bè tìm mẹ, kiếm sống.

Sau 30 tháng Tư, Tiên gặp giới giang hồ cũ, lại tụ tập nhau, tiếp tục cuộc sống cũ như trước khi đăng lính, tuy tầu hàng bây giờ số lượng ít hơn, Tiên vẫn sống được. Rồi Tiên cặp với một cô gái sống như vợ chồng.

Một hôm, Tiên gặp một cô nữ quân nhân chế độ cũ, sau khi “tan hàng” về sống cùng xóm. Cô ta nói với Tiên:

– “Người ta đang tập trung trong Rừng Sát, sao không vô đó góp sức với anh em?”

Thế là Tiên tìm vô Rừng Sát. Gặp một số anh em đang ẩn núp trong đó. Ban đầu, họ tuyên truyền nghe ngon lắm, nói là tướng Kỳ từ Mỹ về chỉ huy, đem theo vũ khí, quân trang, quân dụng và lương thực, tái lập quân đội.

Sống với họ cả tháng trời, Tiên chẳng thấy gì hết. Súng thì lượm súng cũ mà xài. Ai kiếm được súng gì xài súng đó. Đạn dược không có, lương thực không có. Lội sình lội suối, áo quần càng ngày càng rách nát.

Bọn Bộ Đội thì lùng sục. Nhóm của Tiên, chưa tới 10 người không dám chống lại, một là vì quân số ít, hai là không dám bắn, sợ hết đạn. Lần hồi, không thấy gì, trong cảnh tuyệt vọng, anh em bỏ ra về. Ai vô trước, về trước; ai vô sau về sau. Tiên cũng về.

Sau khi bỏ nhà đi hơn một tháng, Tiên trở về thì vợ Tiên đã cặp với một tên cán bộ. Biết Tiên vô Rừng Sát, tên cán bộ báo cáo với Công An ngay chiều hôm Tiên mới về.

Chưa làm được gì mà ở tù, lãng xẹt, Tiên tự giận mình.

Sau khi Công An điều tra, giam mấy tháng ở khám Chí Hòa, Tiên được chuyển về trại Z-30A trên đồi Phượng Vĩ, chung đội với đại úy Hùng. Hai người nghiên cứu thực hiện chuyến trốn trại làm chấn động tất cả anh em ở khu trại nầy, gồm cả ba phân trại A, B, C.

&

– “Em muốn khùng lên khi lên tới đỉnh núi Chứa Chan.”

– “Sao vậy?” Trịnh X. Ch. hỏi.

– “Anh thấy ngọn núi nhỏ vậy mà suốt ba ngày quanh quẩn trên đỉnh núi, tìm không được lối ra. Ngày thứ ba, chui ra khỏi rừng, tưởng là xuống phía sườn bên kia thì lại là phía sườn bên nầy. Khu trại tù hiện ngay trước mặt. Lại leo ngược lên, vòng qua đồi bên kia, xác định bằng con đường xe lửa đi sát chân núi rồi theo phía đó mà xuống núi.

– “Ông có biết người ta gọi núi Chứa Chan là cái gì không? Trịnh X. Ch. hỏi.

– “Không!” Tiên trả lời.

– “Nó giống như tình cảnh của ông vậy. “Chứa chan! Chán chưa?” Hoặc là “Chứa Chan, Chan Chứa”. “Chan chứa, Chưa Chán.”

“Tiên cười:

– “Chưa Chán cái mẹ gì! Ba ngày chưa ra khỏi núi. Núi không có cây ăn trái, tre thì nhiều, nhưng măng tre có ăn sống được đâu. Ăn măng sống, xót ruột lắm.”

“Một lúc, Tiên kể tiếp:

-“Tới chân núi rồi, cả bọn bàn nhau tìm đường về. Anh em chia làm hai nhóm nhỏ. Một nhóm băng rừng đi về hướng Đông Nam, ngã Bình Giả. Nghe nói ở đó có một nhóm Phục Quốc đang hoạt động. Nhóm ít hơn, cặp theo đường xe lửa tìm về Saigon. Em đi theo nhóm nầy.”

“Đại úy Hùng không theo ai hết, ông ở lại một mình, không rõ ông có ý định gì. Ít lâu sau, ông bị bắt lại và đã bị xử bắn rồi.

“Đi được ba hôm thì tới một cái rẫy. Ba bốn ngày nay, không có lương thực, đói lắm rồi, bèn vào rẫy, đào củ mì, đốt lửa nướng, ăn đỡ đói.

“Đang ngồi ăn thì có ông chủ rẫy đi tới. Ông ta dựng xe Honda phía ngoài, đi vào rẫy. Tụi em cũng bị bất thình lình, không trốn kịp. Ban đầu, ông ta tưởng lầm là dân chúng đói quá đi trộm mì mà thôi. Tuy nhiên, khi thấy đông người, ông ta sinh nghi. Ông ta tính chạy ra xe Honda lấy súng thì em đã phóng ra trước, chụp cây AK của ông ta rồi. Em nói to:

– “Đưa tay lên, tôi bắn.”

“Ông ta quỳ xuống, lạy lục, xin tha mạng. Có lẽ ông ta đoán chừng bọn em là một nhóm Phục Quốc. Ông ta khai là cán bộ, vô bưng mấy năm, nay về địa phương, phá đất làm rẫy, không hoạt động gì cho “cách mạng” nữa cả. Vì là cán bộ cũ nên được cấp súng để tối tối chỉ huy bọn dân phòng.

“Em không giết ông ta nhưng xả xì cả hai vỏ xe, đề phòng ông ta chạy xe đi báo với đồng bọn.

“Xong, cả đám tiếp tục đi về phía Nam. Trên đường đi, đứa nào tách riêng ra được thì tách, tìm đường về nhà. Sau ba ngày nữa, về tới Biên Hòa, chỉ còn mình em. Em lại tìm về nhà.

&

“Nhóm về Bình Giả, gặp Phục Quốc, hợp chung lại thành một. Vừa lúc tụi Việt Cộng huy động một hay hai đơn vị gì đó vây bắt, tấn công, đánh một trận lớn. Nghe nói chẳng người nào sống sót.

Vừa là vụ Bình Giả, vừa là vụ trốn trại có giết người, tụi Công An lùng bắt dữ lắm. Không dám về Nhà Bè, ở Saigon em nhắn tin về nhà, mẹ em biểu đừng về. Nhà đang bị Công An theo dõi. Em bèn vô Bình Đông, tạm làm phu khuân vác gạo, chưa được mấy hôm thì tụi Công An vào tận kho, còng tay em dẫn đi.

&

Sau mấy hôm giam chung với Trịnh X. Ch., Tiên bị chuyển qua phòng bên cạnh sau khi phòng nầy đã hoàn chỉnh các “trang bị” dành cho cát-xô. Các “biệt thự” nầy được xử dụng hơi sớm, xây đã xong nhưng phía trong, “nội thất” chưa hoàn tất thì đã có “khách” đến rồi. Tuy nhiên, với Tiên, bọn Công An không “chủ quan” được. Chúng chờ phòng bên cạnh có đủ cùm, khóa, v.v… thì Tiên mới được chuyển qua.

Mặc dù việc chuyển phòng thường đột ngột, không biết trước, nhưng trước hôm chuyển đi, Tiên nói với Trịnh X. Ch.:

– “Thế nào em cũng trốn trại.”

– “Cùm như thế nầy, làm sao trốn được.”

– “Ầy! dễ ợt!” Tiên nói. “Em thủ được cọng kẽm rồi. Khóa nầy em mở như không.”

– “Khóa nầy là khóa Chợ Lớn, phải không?” Trịnh X. Ch. hỏi.

– “Nhìn qua, biết ngay. Khóa ngoại trên tầu chở hàng, em còn mở được.” Tiên nói.

– “Chỉ với một cọng thép?” Trịnh X. Ch. hỏi, hồ nghi.

– “Hình như trời cho cái năng khiếu anh à. Tụi em hồi đó cũng ngạc nhiên tài mở khóa của em. Em thọc cọng kẽm vào, chút xíu là xong.” Tiên giải thích, tự nhiên, không có vẻ tự hào chút nào.

– “Tiên có cọng kẽm rồi?” Nghĩa hỏi. “Ổ khóa nằm phía trong buồng nhỏ, làm sao mở?”

– “Để em nói cho nghe. Em lần vào sát vách trong, chồm người ra cửa phòng nhỏ, ngoái người vào, vói tay vào trong. Vói tay vào tới ổ khóa là được.” Tiên giải thích.

– “Lỡ khi Công an khóa cửa phòng nhỏ?” Nghĩa hỏi.

– “Thì mình mở phòng đó trước, mở khóa phòng trong sau.” Tiên nói.

– “Chỉ với một cọng kẻm?

– “Có rồi, dấu kỹ lắm. Chuẩn bị xong, anh với em cùng dông?”

Trịnh X. Ch. nín thinh, không trả lời Tiên.

Tiên bị chuyển phòng được ba hôm thì một đêm quá khuya, Tiên mở cùm cho anh ta xong, để thanh sắt nằm đúng vị trí cũ, leo lên trần nhà. – Trần nhà lúc nầy chưa đóng ván xong. Sau vụ Tiên trốn, chúng đóng ván kỹ và đổ mạt cưa lên trên thật dày. – Theo trần nhà, Tiên leo xuống phòng Trịnh X. Ch., rủ anh trốn.

Trịnh X. Ch. không đi. Anh không có nơi ẩn náu tại Saigon.

Nói hoài không được, Tiên lại leo lên mái, dở ngói chui ra ngoài rồi leo hàng rào đi mất.

Sáng, cán bộ Chinh đến mở cửa cho tù đi đổ cầu.

Khi cửa phòng Tiên mở ra, Chinh chưng hửng. Cát-xô trống hốc, không có ai cả. Chinh nhìn lên mái ngói: Một lỗ hổng vừa một người chui lọt. Chinh thổi còi báo động. Công An tập trung truy kích nhưng không biết truy kích hướng nào.

Từ cát-xô mà trốn đi được, ai cũng phục Tiên tài tình.  Đó là sự việc xảy ra đầu tiên ở trại Z-30A khiến Công

An cũng ngạc nhiên, phục tài người tù trốn trại.

Nhưng rồi Tiên lại bị bắt lần nữa. Lần nầy không ai được gần Tiên để nghe anh kể chuyện trốn trại và bị bắt như thế nào.

Và bọn Công An xúm nhau đánh đập Tiên không chỉ một lần như trước kia mà nhiều lần, đánh nhiều ngày, đánh một cách tàn bạo, dữ dằn, “vinh quang”, lại bỏ đói anh nhiều ngày.

Mãi đến mấy hôm sau, khi “trật tự” đem cơm vào cho Tiên, thấy Tiên nằm bất động. Gọi tên, anh không ừ hử gì cả. “Trật tự” cầm tay Tiên lay thử. Tay lạnh ngắt.

Tiên đã chết từ hồi nào!

hoànglonghải

(1) “Trật tự”, cũng là tù nhưng bọn Công An cho đứng ra làm tay sai, như tiếng “cặp rằn” ngày truớc vậy. Làm trật tự được Việt Cộng cho vài “ưu đãi” nhưng bị anh em tù chưởi cũng không ít.

(2) Người Bắc, vào Nam hoạt động khoảng thập niên 1960, nằm vùng ở Saigon, chạy xe ba gác chợ Cầu Muối, có đủ giấy căn cước và giấy tờ hợp lệ quân dịch. Sau 30 tháng Tư 1975, y mang lon trung úy Công An.

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút

vietmessenger.com

Hoàng Hải Thủy

Post by Sơn râu 19 Oct 2025

Phần 32 – Kết

Trích Những Tên Biệt Kích Cầm Bút

Căn phòng nhỏ của Kiên Trinh lại trở nên náo nhiệt với các loại tiếng ồn ào quen thuộc, thân thương: Những chiếc máy đánh chữ đang mổ liên hồi để hoàn thành gấp bản báo cáo kết thúc vụ án, xen lẫn những câu chuyện mà những trinh sát vui miệng kể cho nhau nghe.

Hồng Sơn dí dỏm:

– Nếu cho Hoàng Hải chỉ là nhà văn, nhà thơ gì đó, quả là chưa đủ. Phải tính thêm hắn vaò danh sách soạn giả kiêm diễn viên! Thủ vai chính trong vở kịch trá hàng, hắn đến công an thành phố nhằm đánh lạc hướng mũi nhọn điều tra vào họa sĩ Ý Nhi. Vở kịch không thành công. Hôm bị bắt, hắn lại chuyển sang đóng vai cải lương. Buồn cười là khi bọn mình vào nhà “hỏi thăm” hắn thì hắn nói nghe tỉnh rụi:

– Trời! Tôi chờ các anh đã mấy ngày nay rồi. Tưởng đâu các anh đến sớm hơn chớ!

Chẳng lẽ giờ G của kế hoạch phá án được chuyển dời, mấy tướng nhà mình cứ thấp thỏm sợ lọt mất hắn nên bám quá sát khiến hắn ngửi thấy tấm lưới bủa vây.

Hắn lại tỏ ra “thanh thản” lúc phải “khăn áo ra đi”. Hắn vừa vẫy tay, vừa nói lời từ biệt vợ: “Thôi… anh ra đi lần thứ hai nghe em..”

Nhiều tiếng cười cùng cất lên một lúc khi một số trinh sát hình dung lại điệu bộ và lời nói “rất chi là cải lương” ấy của Hoàng Hải.

Quý bạn vừa đọc một đoạn trong hai trang 195-196 chương XXII, quyển “Những tên biệt kích cầm bút”. Anh cu Hoàng Hải bị kể phạm tội “trá hàng” và có lời nói “rất chi là cải lương” khi anh bị công an Việt cộng, hai giờ sáng đến nhà dựng cổ dậy, đọc lệnh bắt và sau đó “khăn áo ra đi”

Nhiều tiếng cười cùng cất lên một lúc khi một số trinh sát hình dung lại điệu bộ và lời nói “rất chi là cải lương” ấy của Hoàng Hải. Bọn đầu trâu, mặt ngựa tỏ ra sung sướng, khoái lạc với việc đi bắt người cho vào tù. Chúng thích thú khi thấy người khác sợ hãi, đau khổ. Giống như bọn văn nô ca tụng việc Đảng giết người, bọn công an cộng sản nhẩy múa, ca hát trên xiềng xích và trên xác chết những nạn nhân của chúng, những đồng bào của chúng:

Ông cha ta có câu:

Một đời làm lại

Bại hoại ba đời…

đời chúng ta có câu:

Một đời cộng sản

Tàn mạt ba đời…

Tôi, người mang cái tên Hoàng Hải “rất chi là cải lương” là công tử bột, con nhà thông phán, nhưng quán tính con nhà Tổng đốc, con nhà Thượng thư, tôi ăn chơi, chưng diện không bằng ai, nhưng tôi có cái tật tôi rất khó chịu khi tôi làm việc gì rởm, lố bịch, không được thanh lịch hay khi tôi bị người khác chê cười, chọc quê, cho là quê, rởm. Vì vậy, tôi coi lời hai cớm cộng Nam Thi – Minh Kiên diễn tả tôi “có điệu bộ và lời nói rất chi là cải lương” là lời mạ lỵ tôi nặng nhất trong tất cả những trang Những tên biệt kích cầm bút viết về tôi.

Hai giờ sáng ngày 2 tháng 5 năm 1984, chừng 10 tên công an thành Hồ kéo vào nhà tôi. Đọc lệnh bắt, khám xét, làm biên bản, khoảng 5 giờ sáng, chúng đưa tôi ra khỏi nhà.

Chỉ có vợ chồng tôi sống trong căn nhà nhỏ Cư xá Tự Do trước cửa hồ tắm Cộng Hòa, Ngã ba Ông Tạ. Tháng 11 năm 1977, khi công an Thành Hồ đưa xe bông đến nhà rước tôi đi lần đầu, Alice ở lại nhà một mình, lần thứ hai, nửa đêm, chúng đưa xe bông đến nhà đưa tôi đi, Alice cũng ở nhà một mình.

“Hắn lại tỏ ra ‘thanh thản’ lúc phải khăn áo ra đi”. Tôi phải nhận cớm cộng diễn tả đúng tâm trạng vợ chồng tôi lúc ấy. Chúng tôi cũng buồn, cũng ngao ngán, nhưng chúng tôi “bình thản” vì chúng tôi biết trước việc bắt bớ sẽ xẩy ra, việc tôi bị tù đầy bắt buộc phải có, không tránh được, việc tôi bị bắt là tự nhiên, hợp lý. Chúng tôi đã làm những việc chúng tôi phải làm, chúng tôi biết rõ là làm những việc đó bọn công an Thành Hồ không để cho chúng tôi yên.

Nếu tôi viết: “.. Đêm chúng đến nhà bắt tôi lần thứ hai tôi thanh thản ra đi..” trong các bạn có thể có bạn nghĩ: “Anh này dzóc. Công An ViXi nó nửa đêm đến nhà còng tay dẫn đi, sức mấy mà ra đi thanh thản..” Nhưng chính bọn Công An ViXI viết như thế về tôi.

Một người bạn nói: “Viết tả lại những vụ Việt cộng bắt người ngoài những thủ tục như đọc lệnh, còng tay, khám xét, moi móc v.v… có lẽ ta nên viết về tâm trạng của người bị bắt…” Tôi đồng ý với anh. Chỉ có điều, nếu tôi tả lúc tôi bị bắt vợ chồng tôi bình thản nhiều bạn đọc có thể sẽ không tin. May cho tôi là cớm cộng đến bắt tôi đêm ấy xác nhận “hắn lại tỏ ra ‘thanh thản’ lúc ra đi…”

Và đây là việc tôi làm, lời tôi nói với Alice trước khi tôi xách túi theo bọn đầu trâu, mặt ngựa ra khỏi căn nhà tình ái của chúng tôi.

Nhớ lại lần trước vào Số 4 Phan Đăng Lưu, tôi bị lấy mất cái dây nịt thắt lưng – cái dây lưng Mỹ, hai mặt đen, nâu, đẹp nhất, vừa nhất, tôi ưa nhất – nên lần này khi sửa soạn ra đi tôi cởi dây lưng để trên bàn. Dây lưng đó của tôi thuộc loại to bản theo kiểu 1970, có cái khóa to và nặng, khi đặt lên bàn phát ra một tiếng kịch.

Tôi nói bốn câu với Alice trước khi ra khỏi nhà:

– Anh bỏ không hút thuốc nữa. Khi được thăm nuôi, đừng gửi thuốc lá cho anh.

Tôi hôn nàng. Và đây là câu nói thứ hai:

– Anh dâng đời anh lên Thiên Chúa.

Đây là câu thứ ba:

– Anh sẽ về với em.

Tôi cầm tay nàng:

– Đi với anh ra cửa

Khi tên trưởng đội ra lệnh đưa tôi đi, bọn công an ra ngoài đứng quanh chiếc xe ô tô đã mở sẵn cả bốn cửa. Nhưng một tên vẫn đứng trong cửa nhìn chừng chúng tôi. Khi tôi dắt Alice ra đến hàng ba, tên đứng cửa nghe được câu tôi vừa nói với Alice, hỏi tôi:

– Anh nghĩ là anh còn có thể trở về được cái nhà này à?

Đây là câu tôi trả lời hắn:

– Tôi còn sống thì tôi còn trở về chứ.

Câu “Trời…. Tôi chờ các anh đã mấy ngày rồi…” là câu cớm cộng bịa. Tôi không nói câu đó.

Người tù bị bắt nửa đêm ở nhà, tảng sáng bị còng tay đưa đi, đi một chuyến đi âm u không biết ngày về, đi theo lũ cai tù tàn bạo, ác ôn nhất lịch sử, người tù ấy hôn vợ và nói với vợ:” Anh sẽ về với em..” Chỉ có bọn công an cộng sản mới thấy việc làm và lời nói đó của người tù “rất chi là cải lương..” Nếu chúng không thấy như thế chúng không phải là công an cộng sản.

Sáu mùa lá rụng sau, một sáng đầu xuân tôi trở về mái nhà xưa lần thứ hai. Ông bạn ở sát nhà tôi sang thăm. Ông kể lúc tôi bị đưa ra khỏi nhà, ông đứng bên cửa nhà ông và ông nghe rõ tiếng tên công an hỏi tôi và câu tôi trả lời. Ông nói:

– Thằng đó nó hỏi ngu quá. Người ta còn sống thì người ta trở về chứ. Chúng nó muốn giam người ta cho đến chết sao.

Hai bà trong cư xá, buổi chiều ngồi nói chuyện với nhau trên hiên nhà cho mát, một bà nói khi tôi đi ngang:

– Chúng nó muốn giết người ta nhưng đâu có được. Còn có Trời nữa chứ!

Chuyến đi kéo dài sáu năm, năm năm sống quanh quẩn giữa những bức vách phòng tù, những hàng song sắt, một năm ở trại lao cải. Tôi đã làm đúng lời tôi hẹn với vợ tôi buổi sáng tháng Năm xa xưa khi tôi ra đi: “Anh sẽ về với em..” Sáu năm sau tôi trở về với nàng.

Thực ra, ngay khi tôi còn ở trong Thánh thất Chí Hòa, đọc vài trang NTBKCB do vợ con tôi gửi được vào cho tôi, tôi thấy tức cười nhiều hơn là sợ hay hờn giận. Các con tôi đọc những trang NTBKCB viết về bố mẹ chúng chúng cười lên hô hố. Tôi dám chắc người nào đọc NTBKCB cũng phải cười, vì họ thấy bọn Công An Việt Cộng viết về chúng tôi “kỳ” quá, không có qua một điểm nào giống chúng tôi..

… Về phần Hoàng Hải, người vợ như một dòng sông mà hắn có thể ngụp lặn, tắm mát thỏa thích sau những ngày bon chen vất vả. Thân hình đầy đặn, sung mãn của người phụ nữ sinh trưởng ở đồng bằng Nam Bộ cộng với khuôn mặt sắc xảo phảng phất những nét Tây phương đã nâng nhan sắc của bà ta lên trên mức bình thường…

Đó là lời hai anh Cớm Cộng Nam Thi-Minh Kiên viết về Alice, vợ tôi, trong Những Tên Biệt Kích Cầm Bút. Một đêm trong Phòng 10, Lầu Ba, Khu ED, Lầu Bát Giác Chí Hòa, nằm trong mùng đọc trang báo mới gửi vào lúc ban ngày bằng cách dùng để gói thức ăn thăm nuôi, đọc xong câu trên tôi nói với Trí Siêu Lê mạnh Thát, ngày ấy, tháng ấy, năm ấy hai chúng tôi nằm cạnh nhau:

– Chúng nó viết chửi tôi tàn độc quá, nhưng chúng nó khen vợ tôi đẹp và vợ tôi yêu thương tôi, tôi xí xóa với chúng nó.

Viết ở Rừng Phong, Virginia, Hoa Kỳ, năm 1995.

Sửa lại Tháng Tư năm 2000.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 19 Oct 2025

107. Xuân Đỗ

Từ Vết Thương Đến Giấc Mơ là tác phẩm thứ hai của Xuân Đỗ, sau tập truyện ngắn Sau Cuộc Chiến viết chung với Lê Minh Văn, được xuất bản cách đây khoảng ba, bốn năm. Sách do nhà xuất bản Hoài Bão ấn hành. Từ Vết Thương Đến Giấc Mơ tuy ra đời sau tập Sau Cuộc Chiến bốn năm, nhưng về nội dung, có thể coi như một tiếp nối những suy tưởng của tác giả về ý nghĩa của cuộc sống, nhấn mạnh vào đời sống chung và đất nước. Đời sống riêng nếu có được đề cập, chỉ là những bức tiểu họa thêm vào cho bức tranh lớn là đời sống chung mà thôi.

Ta có thể lấy truyện Vết Thương của Xuân Đỗ làm thí dụ cho nghệ thuật viết truyện ngắn của ông:

Nhân vật chính của truyện ngắn này là Tiếu. Tiếu cũng như bao người Việt bình thường khác đang sống ở Mỹ. Anh có tên Mỹ là Tony, lấy vợ Mỹ, sống thoải mái về vật chất. Tiếu có một vết thương dài và sâu ở bụng. Vết thương này là hậu quả của một mối tình: hai anh em cùng yêu một cô hàng xóm, Tiếu đã bị em ruột mình đâm. Sau khi đâm Tiếu, người em bỏ vào bưng, theo Việt Cộng. Tiếu không chết vì nhát dao mà vì bao năm tháng ưu tư dần vặt vì cơn bệnh trầm kha của dất nước: bệnh chia rẽ, huynh đệ tương tàn từ đời nọ sang đời kia. Tiếu rầu tới thối ruột và chết vì bịnh ung thư bao tử. Đó là cách cấu tạo nhân vật và lồng ghép ẩn dụ trong truyện của Xuân Đỗ. Nhận định về Xuân Đỗ, Tâm Thanh đã viết trên Tạp Chí Thế Kỷ 21, số 152 như sau:

“Xuân Đỗ nhìn thẳng vào cái bi đát của lịch sử dân tộc, nhưng không tuyệt vọng. Anh nuôi nhiều giấc mơ. Giấc mơ anh kể trong truyện cuối cùng, truyện “Giấc Mơ” [tranh đấu cho dân quyền của người thiểu số, những người bị xã hội bỏ quên vì nghèo khổ, ít học vấn] chỉ là một – một giấc mơ, có lẽ – do nặng tính luận đề – nên, ít tính thuyết phục cảm tính hơn – những truyện khác trong tập. Nếu người đọc theo thói quen, chỉ đọc những truyện đầu và truyện cuối, sẽ bỏ qua những vết thương xót xa, những giấc mơ … cảm động nhất”.

Cũng vẫn theo Tâm Thanh thì, vết thương “tuyệt vời” nhất trong các truyện của Xuân Đỗ, không nằm trong truyện Vết Thương mà nằm trong truyện Con Trai Người Tử Tội. Một người tử tội, trước giờ lên ghế điện, thố lộ với con trai về quá khứ của mình, qua đó, gián tiếp lý giải tại sao ông trở thành kẻ sát nhân. Không có gì phức tạp cả ông là một trong những đứa trẻ sống sót trong vụ pháo kích Trường Tiểu Học Cai Lậy vào năm 1965. Và xạ thủ chính là cha của ông, khi ấy ông còn là một đứa bé 9 tuổi. Em bé thoát chết, nhưng theo lời người y tá trong nhà thương, chỉ “chỉ sợ mảnh đạn còn ở trong đầu nó, không biết sau này có biến chứng chi không?”. Nỗi lo ngại của người y tá trong nhà thương đã trở thành sự thật: “Trời ơi! Ước gì đầu tôi đừng có tiếng nổ nữa. Tiếng nổ buổi sáng ở trường học Cai Lậy … và máu. Máu lại tung tóe khắp nơi”. Tiếng nổ kinh hồn đã tàn phá tâm hồn đứa nhỏ, thậm chí che lấp nhân tính, lớn lên em trở thành một tên đâm thuê chém mướn. Người thanh niên di tản sang đất Mỹ hòa bình, có cơ hội tiến thân, tìm được tình yêu, có vợ con, nhưng không thoát khỏi cơn hành của vết thương tâm thần.

Một hôm, do bị hắt hủi, bị dồn đến chân tường, anh đã nổi cơn điên giết luôn người vợ cũ và hai đứa trẻ vô tội. Hậu quả của cuộc chiến tranh, trên nhiều phương diện, chưa hết ảnh hưởng, vẫn tiếp tục tàn phá tâm hồn, nhân tính, nhiều người. Từ Vết Thương Đến Giấc Mơ gây xúc động đối với người đọc, mặc dầu ý muốn xử dụng những ẩn dụ của tác giả đã làm cho diễn biến của các truyện, có lúc không được uyển chuyển. Nhưng chính sự thiết tha trong từng dòng chữ của người viết vẫn đủ sức thuyết phục người đọc. Nhưng đọc tập truyện ngắn của Xuân Đỗ, thêm một lần nữa, độc giả lại cảm nhận rõ ràng cái nỗi đau này: tất cả các sách vở nói về đất nước chúng ta, nói về Việt Nam, dù đó là truyện ngắn, truyện dài, bút ký, phóng sự, tài liệu hay lịch sử, đều buồn, rất buồn nữa là đằng khác. Ngay cả những truyện tiếu lâm người ta nghe được đây đó, cũng là những truyện, hết chín trên mười, cười ra nước mắt. Liệu những giấc mơ, những ước mơ, có chữa được những vết thương, như cách đặt tên nối liền cuốn truyện của Xuân Đỗ?

Xin trích dẫn lá thư của người tử tội trong truyện, gửi con trai thay cho câu trả lời:

“Ba ước mong được ngủ một giấc, có giấc mơ thật đẹp, ôm con vào lòng. Johnny ơi! Nhìn con giống ai. Giống ba ở mái tóc, màu da. Giống mẹ ở chiếc mũi, cái miệng. Và tương lai của con nơi thanh bình này, không có hận thù, không có tiếng bom đạn nổ, không có cảnh người chém giết người”.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 19 Oct 2025

106. Vương Hồng Sển

Học giả Vương Hông Sển đã qua đời lúc 8 giờ 35 sáng ngày 9 tháng 12 năm 1996 tại nhà riêng của ông ở Gia Định, hưởng thọ 94 tuổi. Ông là một nhà khảo cổ, một người chơi đồ cổ, chơi sách và tất cả những thú vui này ông đều đã viết thành sách.

Thời Việt Nam Cộng Hòa, Vương Hồng Sển từng làm giám đốc Viện Bảo Tàng Sài Gòn, giảng dạy tại các Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, Huế. Ông là tác giả các cuốn Sài Gòn Năm Xưa, Thú Chơi Sách, Thú Chơi Cổ ngoạn, cùng nhiều cuốn khảo về đồ cổ. Vào năm 1995, một cuốn sách mới viết của ông được xuất bản ở hải ngoại, đó là cuốn Hơn Nửa Đời Hư đã được các độc giả đón đọc một cách nồng nhiệt. Nửa Đời Còn Lại có thể coi là phần thứ hai của cuốn Hơn Nửa Đời Hư.

Nói có thể coi Nửa Đời Còn Lại như phần thứ hai của cuốn Hơn Nửa Đời Hư chỉ là một cách nói. Bởi vì đây không phải là một cuốn truyện hiểu theo nghĩa thông thường, có đầu đuôi, có cốt truyện. Mặc dầu, đọc sách, người ta vẫn được tác giả dẫn theo, cho thấy rõ từ ngày ông còn là một cậu bé học tiểu học cho đến khi trưởng thành, thi đỗ ra làm thông ngôn cho Tây.

Nhưng đó chỉ là những sự kiện, không phải truyện. Lần theo những dòng chữ của ông người ta còn được gặp các nhân vật, từ những người bình thường, những giai nhân của Sài Gòn xa xưa, những người nay đã trở thành nhân vật lịch sử. Đọc thiên Tôi biết gì về Sài Gòn từ 1919 cho đến nay và từ Sài Gòn trở nên thành phố Hồ Chí Minh … của Vương Hồng Sển người ta sẽ thấm thía số phận của người trí thức miền Nam, kể từ khi Cộng Sản miền Bắc tràn vào, cái cách nói, cách viết làm sao đó, vẫn đạt được ý mình, mà thiên hạ không bắt bẻ được. Nếu ai đã có dịp trực tiếp nghe Vương Hồng Sển nói chuyện hay diễn thuyết, mới thấy cái uyên bác, cái duyên nói của ông quyến rũ người nghe đến thế nào.

Ông quan niệm một cách rõ ràng, ngoài văn viết còn một lối văn nữa, đó là văn nói. Quả thật, nghe Vương Hồng Sển, người ta không thể phân biệt những gì ông kể với phần văn chương ẩn dấu trong từng lời nói và nét đặc thù của ngôn ngữ miền Nam, trong cách xử dụng của Vương Hồng Sển, nó khác hẳn với văn Bình Nguyên Lộc hay Sơn Nam, mặc dầu cả hai người này cũng viết đặc sệt tiếng Nam và cùng làm chúng ta ngây ngất về cái duyên của tiếng Nam.

Cái thích thú nhất khi đọc Vương Hồng Sển là hình như lúc nào chúng ta cũng thấy bên cạnh vẻ đứng đắn của ông là một nụ cười nửa miệng. Ông cười điều mình nói, cười người nghe ông nói, cười cái khôi hài và cười cả sự nghiêm chỉnh nữa. Chẳng hạn nói về việc ông được cử ra Huế chấm thi,

Vương Hồng Sển viết:

“Nhớ lại năm 1967, tôi được cho ra Huế dự khảo xét các bạn Đại học nhỏ, thi ra trường … một tên thư ký quèn, dốt nho dốt nôm, nhưng vì ham tìm mua đồ cổ ngoạn, phúc được ra Huế có vé máy bay khứ hồi, tội gì mà từ chối … ”

Có bao nhiêu phần mỉa mai, bao nhiêu phần sự thật, bao nhiêu âu lo, cái lo của một ông thầy đối với học trò, trong những dòng chữ ấy?

Phải đọc Thú Chơi Sách của Vương Hồng Sển để cùng với ông hưởng cái tuyệt thú này. Cái may của người chơi sách vớ được một cuốn sách quý, mà lại vớ được từ tay một người bán đồng nát với giá rẻ mạt thì tưởng không còn cái vui mừng nào bằng. Mua hụt một cuốn sách hiếm, cho bạn mượn sách bạn đánh mất, không đòi lại được, giận bạn không đành mà lòng tiếc hùi hụi chưa biết bao giờ nguôi. Có những ông chủ Tây, tăng tiền lương cho tay bồi chỉ vì y biết cách rọc sách, bằng dao lưỡi dày, tơ giấy túa ra trên những cạnh sách, ông chủ vuốt ve như tóc giai nhân …

Nhưng chơi đồ cổ cũng như chơi sách không phải chỉ có thú vui mà rất nhiều nguy hiểm. Bởi vì cái gì quý ắt có nhiều người muốn chiếm hữu.

Nếu kẻ muốn chiếm hữu lại là người có thế lực thì người giữ của quý coi như mang vạ đến nơi rồi. Những người quen biết cụ Vương cho biết, bộ sưu tập đồ cổ của cụ là cả một bảo tàng quý giá và đã bị dòm ngó rất nhiều.

Từ khi cụ mất không thấy ai nhắc nhở gì đến kho tang ấy. Chẳng biết bây giờ ra sao? Có lẽ đúng như cụ nói trong sách, vật cũng tựa người, đều có số mạng của nó.

Xám sắc ngũ thập

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 30 Apr 2022

Post by Sơn râu 18 Oct 2025

Ra khỏi métro, ôi thôi gió lộng. Trời còn sớm, lắm người đi giữa bao mộng mị quàng xiên. Xe cào tuyết náo động một góc đường, họ thu vén gò đống này để dựng núi băng chốn kia. Hàn khí thênh thang giữa mặt hắc ín trầy trụa, chiếc khăn quàng màu đỏ của cô bán hoa làm ấm con lộ rét mướt tháng hai.

Hoa hồng gói trong giấy kiếng ba đoá mười đồng. Tôi đưa tờ năm nhờ cô chọn cho một nụ ngó thoả thuê. Mẹt-xì bú-cu. Anh cầm khơi khơi cho ra vẻ lãng mạn. Bậy nà, tính tôi mắc cỡ xin vui lòng gói vén khéo trong tờ nhật trình có đặng chăng? Ba mươi giây nghề của nàng. Đôi mắt ướt trông lên xanh màu trùng dương, chiếc khăn quàng làm nhân diện kia au đỏ, những sợi tóc vàng xui nhớ bài học vỡ lòng Je t’aime. Mừng lễ tình nhân. Người bán hoa nói, có đám khói mỏng chóng biến trước môi xinh.
Co ro bên trạm đợi, chờ xe buýt trờ tới tôi ngó xuống cánh hoa trốn lạnh, tờ báo bao che ở ngoài in nhem nhuốt mẩu chuyện cười. Vợ trách móc chồng: Thế mà trước khi lấy nhau anh luôn bảo “Em là cả thế giới” của anh. Chồng gãi đầu: Tại hồi đó anh chưa biết xem bản đồ.

Tôi cũng dốt môn địa lý như nhân vật ấy, luôn đầu hàng trước những cật vấn. Không mồm năm miệng mười trước những gay cấn. Anh thấy không, cả tháng nay đi đâu tôi cũng chỉ có ba bộ áo quần để thay đổi. Còn tôi thì sao, hơn hai năm rồi, đi đâu tôi cũng chỉ có mỗi mình bà bên cạnh. Rõ khổ!

Xe buýt gầm rú đi qua những lối lý ra không nên vòng vo một cách khó hiểu. Mất nửa giờ gật gà tôi xuống đúng bến đỗ. Cửa không khoá, êm thắm theo quy định bởi sợ kinh động sự dưỡng thần của bằng hữu ngự phòng lân cận. Caroline ở cùng bạn, muốn sống chung hoà bình buộc ta phải tôn trọng những nội quy. Cho kẻ lạ đột nhập là cách phá rào, lén lút xé bỏ hiệp định mà Caroline muốn “đi đêm” cùng cảm xúc mù loà khi tim đập sai nhịp. Tôi làm bạn đồng minh sẵn lòng dắt tay Caroline nhắm mắt đi trên một sợi dây căng ngang giữa hai triền vực: Cả tin và sự bội phản.

Tôi đặt cánh hoa xuống bên gối để rảnh tay cởi bỏ áo xống. Cởi tới đâu nghe ấm áp tới đó, cởi mà như đang tròng thêm y phục. Caroline mở mắt, nghiêng đầu hôn nhẹ lên nụ hồng. Trong bóng tối vừa phải đôi mắt màu hạt dẻ ấy long lanh dưới những sợi tóc rối. Lấy đi cành hoa là cách dọn chỗ và tôi tuân thủ “điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa”. Le thi Ở Truồng ôm lấy Trần văn Như Nhộng. Tin nhắn tôi đọc cách đây một tiếng, có nghĩa là tôi đã sưởi ấm mặt nệm này đúng sáu mươi phút. Tôi hôn vào môi Caroline, có những thứ khác làm người ta ấm lòng, ngôn ngữ chẳng hạn; và cách chờ đợi của người con gái “tóc vàng sợi nhỏ” này làm người tôi nóng. Nóng đủ thứ. Cảm động làm người tôi mềm ra nhưng có “một bộ phận không nhỏ” đang cứng dần. Tay Caroline đang nắm lấy nó và cô muốn nó phải trả công sức “bắt người ta phải đợi cả tiếng đồng hồ, bắt đền anh đó”. Cách đây dễ chừng bốn mươi năm, chẳng có ai nói lời thoại kia nghe sướng lỗ tai bằng Mai Lệ Huyền. Cái chả chớt cân nặng trong từng chữ dỗi hờn. Phụng phịu như ghi dấu trên bầu ngực vun tràn thổn thức. Ngực Caroline không nhỏ, cô xài nịt vú size B-36 và hai hòn đảo thầm kín kia như biết phát quang dưới chăn mền. Lúc bé tôi chẳng được nuôi bằng sữa mẹ. Tôi bú núm cao su hôi rình với dung dịch sữa ông Thọ. Chán ốm! Thương hiệu Caroline chưa sản xuất sữa nhưng mình mẩy trù phú kia có mãnh lực khiến những thằng đàn ông sẽ hoá thân thành bây bi ưa dụi mặt vào kiếm tìm nguồn năng lượng khác. Không cần vitamin A, D, chất sắt các thứ. Ngược lại nó cần cái u mê hôn ám. Nó hăng hái đi thăm thú địa đạo bí mật cỡ Củ Chi. Địa đạo Caroline úng thuỷ để cô thì thào tiếng được tiếng mất: Mừng ngày lễ tình yêu.

Chúng tôi yêu nhau, tới bến. Xe đò không bị lật, qua sông chẳng luỵ đò, tiếc cái là phải chôn dấu niềm hạnh phúc, y như quân Lưu Bị phải xuống ngựa, ngựa thì cất lạc người thì ngậm tăm bởi sợ kinh động bản doanh Tào Tháo đang đóng sát vách. Không gì khó ăn khó nói cho bằng cô bạn Caroline thi triển khinh công sang tới để phát hiện đôi gian phu dâm phụ đang loã lồ bu nhau như sam. Cần thanh minh chút chi không? Gà mất mẹ thì lâu khun, gái thiếu trai thì thậm khổ, gió ngoài biển hắn dồn vô, mây trên trời hắn cuốn lại, o với tui cùng cuốn lại. Thông cảm đi nghe.

Bên kia, mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh. Bên này, lệnh ngưng bắn bắt đầu có hiệu lực, nếu ai vi phạm thì đích thị kẻ đó là Caroline chứ chẳng phải tôi. Tôi xin giã từ vũ khí. Nằm nghe trái tim đối phương đập thì thụp bên dưới đôi gò bồng đảo mềm mại. Đầu tôi lên xuống đều đặn, nhấp nhô. Đợi sang Xuân, thời tiết ấm lại tôi sẽ đi tìm chỗ tattoo xăm ở đây hai mẫu tự quấn quít. Caroline chỉ tay vào bình nguyên mượt mà, gần thắt lưng. Cô di chuyển bàn tay lên vò đầu tôi. Có ý kiến chi không? Chỗ ấy nhạy cảm e sẽ đau hơn nơi khác. Tôi nói và nhớ tới một cuốn phim cũ, rất ấn tượng của Nhật. Một thiếu nữ muốn lưu giữ tác phẩm nghệ thuật trên lưng đã nhờ tới một nghệ nhân chuyên xăm trổ để thực hiện ý định. Rất đớn đau, đau đến độ phát khóc, co quắp hình hài. Nghệ nhân đề nghị: Tôi nói điều không phải thì xin cô bỏ qua, tôi có đứa con trai đang tuổi lớn, nó sẽ giúp cô bớt đau. Bằng cách gì hả ông? Tôi biểu nó làm tình với cô, chỉ duy cách đó may ra cô sở hữu được một tuyệt tác mang trên lưng trần. Muốn sống chết cho nghệ thuật, cô gái đã thuận lời. Và quả nhiên, cô thôi khóc, quên biến những giọt máu ứa ra theo vết xăm trên da thịt.

Đừng ngủ nhé, hãy nói một chuyện gì đó cho tôi nghe. Chuyện khôi hài nhé. Một thuỷ thủ đến tuổi nghỉ hưu, vì yêu nghề ông đã xăm nguyên một bản đồ thế giới sau lưng. Có hôm cảm mạo ông buộc lòng phải đi khám bác sĩ. Cởi áo ra, sao rồi, ông thấy khó chịu ở vùng nào? Thưa bác sĩ, tôi rất đau ở Việt Nam. Caroline cười tiếng nhỏ, cô xô tôi xuống mặt nệm. Nói mới nhớ, bao lâu nữa thì bạn dắt tôi về quê cũ? Bao giờ số tiền mà đôi ta gộp chung lên đến mười ngàn. Tôi không nắm bắt tài khoản bạn hiện có trong trương mục, phần tôi thì con số ấy là cả một ước mơ khó với tới. Nghĩa là còn lâu mới nói tới chuyện đi? Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt. Tôi hát, tiếng Việt chỉnh và chuẩn. Nói gì thế? 69 phần trăm những tai nạn bất ngờ xảy đến, liệu bạn an lòng không? Thứ hai, bạn khui một chai nước, trong đó nằm sẵn một con ruồi nằm đợi, liệu bạn uống trôi? Thứ ba, bạn thoả thuận sau khi mặc cả xong một cái giá buộc phải trả, đến khi đưa tiền người ta hô hoán bạn đưa thiếu phân nửa, lòng bạn có dậy sóng ba đào? Thứ tư… Dài lời thế, có nghĩa là vừa lo toan tài chánh vừa chuẩn bị tinh thần? Không, nói chính xác là bạn vất tiền xuống chiếu bạc để cá cược một cuộc chơi đầy rủi ro. Tin tôi đi, hà cớ gì bạn phải làm một cuộc phiêu lưu tựa thế. Ô hay, tôi cứ ngỡ là khi nghe đi lại đường xưa lối cũ bạn sẽ lấy làm hạnh phúc, có đâu dè phông màn bạn dựng toàn cả sắc xám. Ừ, xám ngoét. Và đó là niềm bất hạnh của đứa mất đất. Mùa đông vốn rất dài với cá nhân tôi.

Phòng của Caroline không lớn, dầu bóng tối có ngự đầy, một đôi mắt chẳng vấp tới vấn đề thị giác, đôi mắt đó trông rõ hàng chữ in trên tấm poster nhỏ. Tôi đọc chậm rãi cái câu gần giống như một câu đối: It’s not how big the HOUSE is, it’s how happy the HOME is. Caroline tung chăn ngồi dậy, tấm lưng trần ghi dấu những vết hằn ửng đỏ. Cô đã vô ý làm nát tan cánh hoa hồng tôi tặng. May mà gai nhọn không đâm, nếu máu rịn ứa có khác gì tôi đã xăm lên da thịt cô một dấu ấn dễ nhạt phai. Chúng ta đi tìm một quán ăn nhé. Cô đề nghị. Cho tôi mười lăm phút sửa soạn. Cô quấn vào người chiếc khăn lông, đi lui phòng vệ sinh bằng dáng điệu của một con mèo. Sàn gỗ dọc hành lang vặn mình kêu ca, nếu chẳng là mèo thì thứ tiếng kẻo kẹt kia sẽ khuếch đại âm thanh.

Tôi không vệ sinh rửa ráy, tôi là con mèo khác, biếng nhác mặc lại áo quần. Tôi thèm được uống cốc cà phê đen nóng, tôi thèm đứng giữa giá lạnh để mồi lửa điếu thuốc. Tôi xỏ chân vào giày, đang cúi người cột thắt dây thì mũi tôi vướng đọng nhột nhạt một hương mùi. Rất êm thắm, đứng gần kề là Anne. Cô như thấu hiểu nỗi lòng của những thanh gỗ lót nền, biết cách đặt chân vào những vị trí vững chải để chúng thôi oán than. Và vì vậy cách hiện hữu đầy bất ngờ của Anne khiến tôi ngạc nhiên, lúng túng. Chào, khoẻ không? E có hơn tuần mới thấy lại. Ý tôi muốn nói, đã khá lâu mới đến đây. Tôi ngó cô bạn ở chung với Caroline, áo ngủ xộc xệch, da thịt lơ đãng, tóc tai rối rắm, diện mạo chưa linh hoạt. Nói chung, một người vừa rời giường ngủ sẽ chẳng bao giờ trông cho tử tế. Nhưng cái “mất lịch sự” kia mang riêng vẻ đáng yêu, chưa kể nhân dáng kia vừa xô đẩy ra một mùi thơm rất nữ tính. Anne như bước ra từ một vườn rậm với vô vàn giống hoa. Tôi biết những gì liên quan tới tình yêu, tôi tôn trọng Caroline mặc dù chính nó đã bội ước một điều lệ. Bạn tính đi đâu? Ồ tôi ra đầu đường mua cà phê. Cô thường uống loại gì? Xin lỗi nếu tôi lỡ đánh thức cô dậy. Không sao đâu, hôm nay là ngày đặc biệt mà. Tôi dùng thứ dark, size medium, nếu có thể. Hôm nay lạnh không? Cũng vậy, cô nhìn tôi độn bao cơ man là quần áo thì hiểu. Ừ, lạnh. Rán chống đỡ thêm hai tháng nữa. Người ta vẫn luôn than phiền về sự ngắn, dài; không cứ là riêng mùa màng. Bạn hiểu ý tôi chăng?

Tôi muốn bước ra khỏi cánh cửa kia nhưng Anne chẳng có biểu hiện ngưng cuộc đối thoại. Cô lần khân như thể muốn đợi Caroline chứng kiến, thắt thỏm ngờ vực. Hai người có dự tính gì không, riêng ngày hôm nay? Tôi không biết, tôi chẳng có dự tính gì, trước mắt thì Caroline muốn tìm một quán ăn. Cô có hứng thú đi chung với bọn tôi không? Hãy để lần khác, hôm nay tôi chẳng nên dự phần. Tôi đề nghị hai người nên đi xem phim Fifty Shades of Grey phỏng theo cuốn sách bán chạy của nữ nhà văn E.L.James. Cô xem chưa? Chưa, tôi chờ một phản hồi từ Caroline, đánh giá xem là tôi có nên chong mắt ngồi coi những pha làm tình bạo liệt trên màn ảnh. Đi có đôi thì hợp lý hơn.

Tôi trùm nón len vào đầu. Tôi đi mua cà phê nhé, cô ăn bánh ngọt không? Tôi làm hoanh hỏi thế vì tôi chợt ngó ra một đốm hồng ẩn hiện trên ngực Anne, sau áo ngủ mỏng manh. Tôi từng thấy người ta bày bán một loại bánh ngọt có hình thù gần giống thế, dễ nuốt nước miếng, dễ thèm ngọt cho dù dính bệnh tiểu đường bày đặc kiêng khem. Anne cười. Cám ơn, tôi biết cách gì để trả công đây. Đọc lên một câu danh ngôn nhé? “Tình yêu làm thời gian trôi nhanh. Thời gian làm tình yêu trôi đi”.

Tôi mở cửa ra đường. Gió buốt táp vào mặt. Trời thấp, trời nặng, trời buồn. Quanh tôi mọi thứ chìm trôi trong sắc xám.

Hồ Đình Nghiêm

Papillon Người Tù Khổ Sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 18 Oct 2025

Bài 5

Xuất phát

Đến sáu giờ sáng có lệnh chuẩn bị xuất phát. Mấy người tù cấm cố đến đưa cà-phê cho chúng tôi, rồi bốn viên giám thị đến gặp chúng tôi với những chỉ thị cuối cùng. Hôm nay họ mặc đồ trắng, súng lục vẫn đeo bên hông. Hàng khuy trên cái áo trắng muốt của họ óng ánh vàng. Một người trong bọn họ có ba cái lon vàng hình chữ V trên ống tay áo bên trái, trên vai không thấy phù hiệu gì.’
– Các phạm nhân, các người sẽ ra hành lang từng hai người một. Mỗi người sẽ tìm lấy bị đồ đạc của mình, tên có đề trên nhãn. Hãy cầm lấy bị và lùi sát tường, mặt quay ra hành lang, bị để ngay trước mặt. 
Phải mất đến hai mươi phút chúng tôi mới xếp hàng xong dọc hành lang, bị để trước mặt.
– Cởi áo quần ra, gấp lại cho gọn và lấy hai ống tay áo ngoài buộc lại thành bó.. Được rồi. Thằng kia nhặt mấy bó áo quần để vào trong phòng giam… Bây giờ mặc áo quần mới vào, quần đùi mặc trước, rồi đến áo lót dệt kim, rồi quần sọc, áo blouson, đi tất và đi giày… Xong chưa?
– Thưa ông giám thị xong rồi. 
– Tốt. Để cái áo va-rơi len ở ngoài bị phòng khi trời mưa hoặc khi nào lạnh thì mặc vào. Vác bị lên vai bên trái. Từng hai người một, nối đuôi nhau theo tôi. Viên giám thị đeo lon đi trước, hai người kia đi hai bên, người thứ tư đi sau cùng, cứ thế đoàn người bước ra phía sân. Không đầy hai tiếng đồng hồ, tám trăm mười người tù khổ sai đã hàng lối chỉnh tề. Họ gọi tên bốn mươi người trong đó có tôi và Louis Dega cùng với ba người vượt ngục bị bắt lại là Julot, Galgani và Santini. Bốn mươi người này được xếp thành hàng mười. Mỗi hàng có một viên giám thị đi kèm bên cạnh người đứng đầu hàng. Không có xiềng, không có khóa. ở phía trước, cách chúng tôi ba thước, có mười viên cảnh binh xếp hàng thẳng quay mặt về phía chúng tôi. Họ cầm súng trường lăm lăm trong tay, đi giật lùi trước mặt chúng tôi trên suốt chặng đường, mỗi người được một viên cảnh binh khác dẫn đường bằng cách kéo dây nịt vai. 
Cổng lớn của pháo đài mở ra và đoàn người từ từ xuất phát. Trong khi chúng tôi ra khỏi pháo đài, có nhiều cảnh binh cầm súng trường hay tiểu liên đi theo cách đoàn người khoảng hai mét. Một đám người tò mò đông như kiến được bọn cảnh binh ngăn ra hai bên: họ biết có chuyến tàu đi đày, nên kéo nhau ra xem. Đi được khoảng nửa đường tôi nghe có tiếng huýt sáo khe khẽ qua kẽ răng từ trên cửa sổ một ngôi nhà lầu đưa xuống. Tôi ngẩng đầu lên thì trông thấy Nénette vợ tôi và một người bạn của tôi là Antoine D. đứng ở một khung cứa sổ; ở một khung cứa sổ khác tôi lại trông thấy Paula, bà vợ của Dega và bạn của bác ta là Antoine Giletti. Dega cũng đã nhìn thấy họ, và thế là chúng tôi vừa di vừa dán mắt vào hai khung cửa sổ ấy cho đến lúc không còn nhìn được nữa mới thôi. Đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy vợ tôi, và cả Antoine bạn tôi nữa: về sau anh ta sẽ chết trong một trận oanh tạc ở Marseille. Đoàn người đi hoàn toàn im lặng, không có ai nói gì. Dù là tù nhân, là giám thị, là cảnh binh hay là công chúng hiếu kỳ, ai nấy đều không dám làm kinh động cái giờ phút thực sự bi đát ấy, khi mà mọi người đều hiểu rằng đoàn tù một ngàn tám trăm người này sắp vĩnh viễn từ giã cuộc sống bình thường. 
Chúng tôi lên tàu. Tốp bốn mười người đầu tiên được đưa xuống hầm tàu, nhốt vào một cái chuồng xung quanh có bốn hàng chấn song sắt rất lớn. Trên chấn song có một cái biển bằng các-tông. Tôi đọc thấy: “phòng số 1, 40 người thuộc loạt rất đặc biệt. Cần cảnh giác thường xuyên và nghiêm ngặt”. Mỗi người được nhận một cái võng cuốn chặt lại. Xung quanh có rất nhiều vòng dính vào chấn song để treo võng. Có ai ôm hôn tôi: đó là Julot. Cậu ta thì biết rõ cảnh này lắm, vì cách đây mười năm cậu ta cũng đã đi một chuyến như thế này. Không ai có thể hiểu tình hình hơn nữa. Julot nói với tôi:
– Đến đây nhanh lên. Treo bị lên cái vòng mà cậu định dành để treo võng. Chỗ này gần hai cái cửa thông hơi kia, bây giờ thì đang đóng, nhưng ra khơi họ sẽ mở, cho nên chỗ này dễ thở hơn bất cứ nơi nào khác trong chuồng.

Tôi giới thiệu Dega với anh ta. Chúng tôi đang nói chuyện thì thấy một người bước tới, Julot liền giơ tay ra chặn lại và nói: “Nếu cậu muốn sống cho đến lúc cặp bến thì đừng bao giờ đến gần chỗ này. Hiểu chưa?” – “Hiểu rồi”, người kia nói. – “Cậu có biết tại sao không?” “Có” – “Thế thì xéo đi”. Hắn bỏ đi, Dega rất mừng khi được chứng kiến cuộc biểu dương sức mạnh này, và cũng không giấu giếm điều đó: “Có hai cậu, tôi sẽ có thể ngủ yên”. Julot đáp: “Có hai đứa chúng tôi, bác ở đây còn an toàn hơn ở trong một cái villa trên bờ biển có một khung cửa sổ mở”.
Chuyến vượt Đại tây dương đã kéo dài được mười tám ngày. Chỉ có một sự cố duy nhất: đêm nọ, một tiếng kêu lớn làm mọi người thức giấc. Một người tù đã chết, một con dao lớn cắm vào giữa hai vai. Con dao đâm từ phía dưới lên, xuyên qua võng trước khi đâm xuống lồng ngực. Đó là một vũ khí đáng kinh sợ, dài hơn hai mươi phân. Lập tức, hai mươi lăm hay ba mươi viên giám thị chĩa súng lục hay súng trường vào chúng tôi, quát:
– Tất cả, cởi hết ra, nhanh lên!
Mọi người hối hả cởi áo quần. Tôi hiểu rằng họ sắp khám xét chúng tôi. Tôi để con dao mổ dưới bàn chân phải (lúc bấy giờ tôi không đi giày đi tất gì cả), đứng nặng về chân trái nhiều hơn vì lười dao tuy đặt ngửa vẫn làm cho gan bàn chân phải của tôi đau. Tuy vậy bàn chân phải của tôi cũng lấp hết chiều dài của con dao mổ. Bốn viên giám thị đi vào chuồng và bắt đầu lục soát giày và áo quần của tù nhân. Trước khi vào họ đã để vũ khí ở bên ngoài, và người ta đã đóng cửa chuồng lại sau lưng họ, nhưng từ bên ngoài người ta vẫn quan sát chúng tôi, các họng súng chĩa thẳng vào chúng tôi. Có tiếng một viên chỉ huy nói: “Hễ đứa nào nhúc nhích là chết ngay”. Trong cuộc lục soát họ phát hiện được ba con dao, hai cái đinh đóng sàn nhà mài nhọn, một cái dùi xoáy ốc mở nút chai và một cái plan bằng vàng. Sáu người được lệnh ra khỏi chuồng, mình vẫn trần truồng. Viên chỉ huy trương của đoàn áp giải là thiếu tá Barrot cùng đến với hai bác sĩ quân – y và viên thuyền trưởng. Khi mấy người cảnh binh đã ra khỏi chuồng, mọi người đều mặc áo quần trở lại, không cần đợi lệnh. Tôi đã giấu được con dao mổ vào chỗ cũ.
Bọn giám thị đã lùi về phía cuối gian hầm tàu. Đứng giữa là Barrot, còn mấy người khác đứng cạnh cầu thang. Trước mặt họ, sáu người tù trần truồng xếp hàng ngang đứng nghiêm.
– Cái này là của tên này, viên cảnh binh đã chỉ huy cuộc lục soát vừa nói vừa cầm lấy con dao, tay chỉ vào chủ nhân của nó.
– Đúng, của tôi đấy.
– Tốt, – Barrot nói. – Người này sẽ tiếp tục chuyến đi trong xà-lim gần hầm máy.
Chủ nhân của mấy cái đinh mài nhọn, của cái dùi xoắn, của mấy con dao, lần lượt được chỉ ra và mỗi người đều thừa nhận sở hữu của mình. Vẫn trần truồng, họ bước lên thang gác, mỗi người có hai viên cảnh binh kèm hai bên. ở giữa sàn tàu chỉ còn lại một con dao và cái plan bằng vàng; đứng trước hai vật này chỉ còn lại một tù nhân. Hắn còn trẻ, hai mươi ba hay hai mươi lăm tuổi là cùng, người to cao, một mét tám mươi là ít thân hình cân đối như một lực sĩ điền kinh, đôi mắt màu xanh lơ. Viên cảnh binh cầm cái plan bằng vàng đưa ra trước mặt hắn, nói:
– Cái này của mày phải không?
– Vâng, của tôi.
– ở trong có những gì? – Thiếu tá Barrot cầm lấy cái plan nói.
– Ba trăm bảng Anh, hai trăm dollars và hai viên kim cương năm carats.
– Được để xem. – ông ta mở cái plan ra. Vì đứng quanh ông ta có nhiều người cho nên chúng tôi không trông thấy gì mà chỉ nghe ông ta nói: “Đúng. Tên mày?”
– Salvidia Romeo.
– Mày là người Ý?

– Thưa ông vâng.
– Mày sẽ không bị phạt vì cái plan, nhưng sẽ bị phạt vì con dao.
– Xin lỗi, con dao không phải của tôi.
Đừng nói thế, tao đã tìm thấy con dao này trong giày của mày, – viên cảnh binh nói.
– Con dao không phải của tôi, xin nhắc lại.
– Thế thì tao nói dối phải không?
– Không, chẳng qua ông nhầm.
– Thế thì con dao của ai? – Thiếu tá Barrot nói. Nếu không phải của mày thì phải là của một người nào chứ?
– Nó không phải của tôi, chỉ có thế thôi.
– Nếu mày không muốn bị luộc trong căn xà-lim đặt trên nồi súp-de, thì nói đi: con dao của ai?
– Tôi không biết.
– Mày giỡn mặt tao đấy à? Con dao dấu trong giày của mày mà mày không biết là của ai? Mày cho tao là thằng ngốc sao? Một là của mày, hai là mày biết ai để nó vào đấy. Trả lời đi.
– Nó không phải là của tôi và tôi không có bổn phận nói ra cho các ông biết nó là của ai. Tôi không phải là mật thám. Mặt mũi tôi thế này mà các ông nhìn ra thành một thằng canh tù hay sao?
– Giám thị, khóa tay thằng này lại. Mày sẽ phải trả một giá đắt cho cái thái độ vô kỷ luật hỗn láo của mày.
Viên chỉ huy đoàn áp giải và viên thuyền trưởng bàn bạc gì với nhau một lúc. Viên thuyền trưởng ra một mệnh lệnh gì đó cho một viên thủy thủ trưởng, hắn liền đi lên boong. Một lát sau một thấy thủ người Bretagne to như ông hộ pháp bước xuống, tay xách một cái xô bằng gỗ đựng đầy nước biển và một sợi dây thừng to bằng cổ tay. Họ trói người tù vào bậc cuối cùng của cầu thang, ở tư thế quỳ Người thuỷ thủ nhúng sợi thừng vào xô rồi từ từ dùng hết sức mạnh đánh lên mông, lên sườn và lên lưng người tù đáng thương. Không một tiếng kêu nào buột ra khỏi miệng anh ta, trong khi máu chảy đỏ lòm từ đôi mông và từ bên sườn anh ta. Không khí đang im phăng phắc, thì từ chuồng giam bỗng phát ra một tiếng hét phản đối:
– Quân khốn nạn!
Thế là mọi người lập tức la ó: “Quân giết người Thật bỉ ổi? Rõ thối tha!” Bọn cảnh binh quát: “Im ngay! Nếu không sẽ bắn xả vào cả lũ chúng mày?” Nhưng chúng càng dọa, chúng tôi càng hét to hơn. Bỗng viên chỉ huy trưởng hô:
– Phun hơi vào?
Mấy người thủy thủ vặn hai cái bánh xe gì đó, và những tia hơi nóng phụt vào chuồng chúng tôi mạnh đến nỗi trong khoảnh khắc mọi người đều phải nằm rạp xuống. Những tia hơi nóng đều được phun ngang tầm ngực bọn tôi. Một nỗi kinh hoàng ghê gớm bao trùm lên cả cái tập thể của chúng tôi. Những người bị bỏng không đám kêu. Họ phun hơi trước sau cũng không đến một phút mà cũng đã làm cho mọi người khiếp đảm.
– Ta hy vọng rằng những kẻ cứng đầu đã hiểu ra chứ? Hễ lôi thôi một chút là sẽ nếm mùi hơi nóng. Hiểu chưa? Đứng dậy!
Chỉ có hai người bị bỏng thật sự. Họ được đưa ra bệnh xá. Người bị đánh bằng thừng được đưa vào chuồng trở lại với chúng tôi. Sáu năm sau anh ta sẽ chết trong một chuyến cùng vượt ngục với tôi.

Trong mười tám ngày vượt biển, chúng tôi có đủ thì giờ hỏi han để biết ít nhiều về cảnh sống ở nhà tù khổ sai. Sau này chúng tôi mới biết là không có gì giống với những điều chúng tôi đã hình dung, mặc dầu Julot đã cố gắng hết sức để cung cấp tài liệu cho chúng tôi Chẳng hạn, chúng tôi biết rằng Saint-Laurent- du-Maroni là một cái làng ở cách biển một trăm hai mươi cây số, nằm trên bờ con sông Maroni. Julot giảng giải cho chúng tôi:
– Làng này là nơi đặt nhà trừng giới, trung tâm của trại tù khổ sai. Việc phân loại tù được tiến hành ở trung tâm này. Những người bị đày biệt xứ được đưa thẳng đến một nhà trừng giới gọi là Saint-Jean cách đấy mốt trăm mười cây số. Những người tù khổ sai được phân loại ngay ra thành ba khối:
“Khối thứ nhất gồm loại rất nguy hiểm; sẽ được gọi tên ngay khi mới đến và nhốt vào các phòng giam của khu trừng giới trong khi chờ đợi được đưa đến Quần đảo Salut. Họ bị giam ở đấy đến khi mãn hạn hoặc đến khi chết. Quần đảo này ở cách Saint-Laurent năm trăm cây số và cách Cayenne một trăm cây số. Quần đảo gồm có ba đảo, một là Royale; đảo lớn nhất là Saint- Joseph, nơi đặt nhà tù cấm cố của trại khổ sai; cuối cùng là đảo Quỷ, đảo nhỏ nhất. Tù khổ sai không đến đảo Quỷ, trừ một vài trường hợp ngoại lệ rất hiếm hoi. Những người được đưa đến đảo Quỷ đều là tù khổ sai chính trị
“Kế đến là loại nguy hiểm bậc hai: họ sẽ ở lại trại Saint-Laurent và sẽ được đưa đi làm những công việc canh tác và trồng vườn. Mỗi khi cần, người ta lại phái họ đến những trại khổ sai đặc biệt gay go: Trại Forestier, Trại Charvin, Trại Cascade, Vịnh Đỏ, Cây số 42 được mệnh danh là trại Tử thần;
“Cuối cùng là loại bình thường; họ được phân việc ở ban quản trị, ở các nhà bếp, được giao làm công việc quét dọn trong làng hay trong trại, hoặc được dùng vào những công việc của xưởng máy, xường mộc, xưởng may, hay làm thợ sơn, thợ rèn, thợ điện, thợ nhồi đệm, thợ giặt, v.v…
“Vậy giờ G là giờ cặp bến: nếu tù nhân được gọi tên và dẫn vào phòng giam riêng, thì như thế có nghĩa là sẽ bị giam ở Quần đảo, không còn chút hy vọng nào có thể vượt ngục. Chỉ còn lại một cách duy nhất là mau mau tự gây thương tích, xẻ đầu gối hay rạch bụng ra để vào bệnh viện và tính chuyện vượt ngục từ đấy. Bằng bất cứ giá nào cũng phải tránh cho được cái cơ may bị đưa ra Quần đảo. Cũng còn có một cơ hội nữa, là nếu chiếc tàu có nhiệm vụ đưa tù nhân ra đảo bị trục trặc, thì phải đút tiền cho người y tá. Người này sẽ tiêm một mũi tinh chất terebenthin vào một khớp xương, hoặc luồn một sợi tóc tẩm nước đái vào thịt để cho chỗ ấy nhiễm trùng sưng tấy lên. Hoặc giả người y tá sẽ đưa lưu huỳnh cho anh hít, rồi nói với bác sĩ là anh “sốt 40”. Trong mấy ngày chờ đợi ấy, phải tìm cách vào bệnh viện bằng bất cứ giá nào.
“Nếu anh không bị gọi riêng ra, mà được xếp chung với những người khác trong các lán của trại, thì anh có thì giờ để hành động: Trong trường hợp đó, không nên tìm một công việc ở bên trong trại. Phải đút tiền cho viên kế toán để có được một chân đổ rác hay quét dọn trong làng, hoặc được phái đến làm ở xưởng cưa của một thường dân làm thầu khoán ở đấy. Những khi đi ra khỏi trại để đến nơi làm việc và mỗi tối trở về trại, người ta có thì giờ bắt liên lạc với những người tù mãn hạn hiện còn ở trong làng hay với những người Tàu, để họ chuẩn bị cho anh vượt ngục. Phải tránh những trạm ở quanh làng: ở đấy rất chóng chết; có những trại trong đó không một người nào sống được quá ba tháng. Đi làm trong rừng rậm thì phải chặt đủ mỗi ngày một mét khối gỗ.
Tất cả những tài liệu quý báu này, chúng tôi đã được Julot truyền đạt dần dần trong suốt cuộc hành trình. Riêng cậu ta thì đã sẵn sàng. Cậu ta biết rằng với tư cách tù nhân vượt ngục bị bắt lại, cậu ta sẽ được đưa thẳng vào xà-lim khi tàu cặp bến. Cho nên cậu ta thủ sẵn một con dao rất nhỏ, dao nhíp thì đúng hơn, dấu trong plan. Khi tàu cặp bến, cậu ta sẽ lấy dao ra rạch đầu gối. Khi xuống tàu cậu ta sẽ vờ vấp ngã trên thang trước mặt mọi người. Cậu ta dự tính là sẽ được khiêng thẳng từ bến vào nhà thương. Mọi việc sẽ diễn ra đúng phắt như vậy.





Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 3 Aug 2023

Post by Sơn râu 18 Oct 2025

Kỳ 14

Tới vị trí tiểu đoàn, tôi thở phào khi biết quân ta không có tổn thất nào.

Thiếu úy Việt là người chỉ huy đợt 1 báo cáo rằng không rõ trong căn cứ có bao nhiêu tên địch, nhưng vì bị đánh bất ngờ, chúng không phản ứng kịp, đợi khi quân ta khuất dạng chúng mới bắn theo vài ba tràng tiểu liên.

Thiếu úy Phước báo cáo rằng lúc quân ta xung phong đợt hai thì nghe có tiếng người rên la vì bị thương, nhưng chúng cũng không bắn lại, có lẽ vì trời tối, chúng sợ bắn lầm vào nhau?

Chiến thuật mà tôi vừa sử dụng để càn quét Plei Ngol Ho là do tôi học lóm được từ Trung Ðoàn E48 Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản.

Mỗi khi cần thanh toán một mục tiêu dã ngoại hay cứ điểm không có hàng rào vững chắc thì E48 cho quân dàn hàng ngang, ném thủ pháo ào ào, rồi vừa chạy vừa bắn, không đứng lại thu chiến lợi phẩm hay chiếm giữ công sự, hầm hào.

Sau khi lướt qua mục tiêu thì tất cả cán binh đồng loạt rẽ trái hay rẽ phải để về điểm tập họp đã định sẵn.

Cứ thế, sau vài đợt xung phong bắn giết, họ mới cho quân vào lục soát mục tiêu, thu nhặt chiến lợi phẩm và bắt giữ tù binh.

Chiến thuật này cũng rất hữu hiệu khi được sử dụng để triệt hạ những đơn vị mở đường và giữ đường.

Tới 10 giờ đêm thì máy bay võ trang AC47 Hỏa Long lên bao vùng.

Tôi nằm lăn trên poncho ngủ sau khi nhờ Hỏa Long liên tục tưới đạn trên Plei Ngol Ho và làng Siêu 1.

Ngày 17 tháng 4 năm 1974

5 giờ sáng 17 tháng 4 tôi cho Ðại Ðội 1 men theo triền dốc hướng Tây tỉnh lộ rồi từ từ tiến về 711.  Trước khi trời sáng thì quân ta đã âm thầm áp sát bờ đất hướng Bắc của căn cứ.

Ðúng 6 giờ, Thiếu úy Tô báo cho tôi hay trong đồn 711 không còn tên địch nào cả.

Từ trưa tới chiều ngày hôm đó tôi tiếp tục dùng pháo binh đánh phá Plei Ngol Ho và làng Siêu 1.

Tối 17 tháng 4 Thiếu úy Trần Văn Phước và Chuẩn úy Nguyễn Văn Trâm chỉ huy 12 anh Trinh Sát thực hiện một cuộc tấn kích nửa khuya, mục tiêu là làng Siêu 1.

Cú đột kích sẽ không có pháo yểm.

Toán quân này xuất phát từ Ðại Ðội 1, rồi len lách theo bìa rừng bên trái của tỉnh lộ, sau đó đổ dốc đánh địch từ phía sau lưng.

Kết quả, một tiểu đội Việt-Cộng đóng chốt trong làng Siêu 1 đang giấc ngủ ngon bên bếp than hồng đã bị tiêu diệt hoàn toàn.

Ngày 18 tháng 4 năm 1974

Mờ sáng 18 tháng 4 năm 1974 Ðại Ðội 3 dàn hàng ngang vượt qua tường đất khu đóng quân cũ của Chi Ðoàn 3/19.

Tôi và Ðại úy Nguyễn Xá ngồi trên M113 theo sau cánh quân này.

Tới bìa làng, tôi nhảy xuống xe đi bộ.

Hôm nay trời nắng ráo, hơi đất bốc lên mờ mờ, nồng nặc mùi tử thi đã sình trương.

Phòng thuyết trình là nơi chứa thương binh thì đầy ruồi nhặng và ong đen từng bầy.

Nóc hầm bị trũng xuống một lỗ to, vì đã bị một quả bom đánh trúng.

Tôi chỉ đứng ngoài nhìn mà không chui vào hầm nhưng cũng thấy rõ, trong hầm, gần ba chục thương binh đều đã bị đâm chết bằng lưỡi lê.

Rời căn phòng thuyết trình chứa thương binh, tôi theo chân Hạ sĩ Ba tới căn hầm mà tôi dự trù sẽ làm văn phòng.

Căn hầm này cũng vô cùng hôi thối và chứa đầy ruồi nhặng. Trên chiếc giường tre ở giữa hầm là cái xác trần truồng của một người vợ lính. Chị bị Việt-Cộng lột hết quần áo, bị hãm hiếp, rồi bị đâm chết bởi nhiều nhát lưỡi lê, ruột gan lòi lòng thòng.

Trên nền đất, máu đọng thành vũng.

Trong góc hầm là xác đứa con trai hai tuổi của nạn nhân.

Cháu bé bị trói hai tay, hai chân bằng dây dù và cũng bị hàng chục nhát lưỡi lê đâm vào bụng, vào ngực.

Hai người này vừa theo chuyến xe tiếp tế của đơn vị lên thăm chồng và cha của họ được vài ngày.

Họ đã không kịp chạy khi Việt-Cộng tràn ngập căn cứ trưa 15 tháng 4 năm 1974.

Người đàn bà và đứa trẻ này là vợ và con của Trung sĩ Nguyễn Văn Tư, Hạ sĩ quan Ban 3 tiểu đoàn.

Ðời tôi đã chứng kiến hàng ngàn cái chết do chiến tranh, quân ta chết, quân địch chết, dân thường chết, chết đủ kiểu, chết đủ cách, nhưng chưa bao giờ tôi có thể tưởng tượng ra cái cảnh mà địch thủ của tôi đã hành xử trong trận này.

Hành động giết chết thương binh có thể bỏ qua, nếu như tình hình cấp bách quá; nhưng hành động đâm chết một hài nhi hai tuổi rồi giết chết mẹ nó, sau khi đã hãm hiếp mẹ nó thì quả là quá sức vô lương tâm.

Loan và con gái Vương Tiên Giao – 1974

Có lẽ những tên cán binh Cộng-Sản kia không phải là người?

Những tên xâm lược khốn kiếp kia cũng không thể so sánh với những con thú; vì thú vật cũng không nỡ đối xử với nhau một cách tàn độc, và dã man như thế!

Hình ảnh cái chết thảm khốc của  vợ con Trung sĩ Nguyễn Văn Tư cứ ám ảnh tâm trí tôi một thời gian dài.

Sau khi cho quân bố trí quanh vị trí và đặt ba tổ báo động xa, tôi cho lệnh kiểm soát toàn bộ diện tích cứ điểm để thâu thập tài liệu.

Tất cả hầm hố, lô cốt, pháo đài trong khu vực Nam Plei Ngol Ho đều có dấu tích đã bị đánh phá bằng thủ pháo.

Hai chiếc xe kéo đại bác đều bị cháy rụi chỉ còn khung sườn sắt. Một khẩu pháo 155ly ngả nghiêng đè lên dăm viên đạn đã lột vỏ.

Chiếc xe ủi đất của Công-Binh hình như không hề hấn gì.

Xác quân Cộng-Hòa chết ở đâu vẫn nằm tại đó. Trên Plei Ngol Ho chỉ có ba vị trí đóng quân cấp trung đội của Việt-Cộng mới được thiết lập.  Ba vị trí này đã bị cày xới tan nát.

Trên mặt đất và dưới khe suối có khoảng gần ba chục xác Cộng Quân mới bị giết.

Giấy tờ trên tử thi địch cho ta biết tất cả những cán binh này đều trực thuộc Tiểu Ðoàn D25 Vận Tải.

Ta chỉ tịch thu được 27 khẩu AK47 và 3 khẩu B40 của địch.

Trưa 18 tháng 4 năm 1974, một tiểu đoàn của Trung Ðoàn 42 Bộ Binh và một chi đoàn chiến xa từ Ngã Ba Mỹ-Thạch tiến vào đã bắt tay được Tiểu Ðoàn 82.

Kế đó những chiếc xe cứu nạn của Thiết Giáp được điều động vào để kéo xác những chiến xa bị bắn cháy.

Chỉ có 11 chiếc M113 bị cháy được kéo về Pleiku, một xe M113, một khẩu đại bác 155ly cùng khẩu súng cối 4.2 đã bị Cộng-Quân đem đi mất từ đêm 15 tháng 4.

Theo sau chiếc cứu nạn chiến xa của Thiết Giáp là chiếc GMC mười bánh dùng để chuyên chở thi hài những quân nhân tử trận.

Trên chiếc xe GMC vừa trở đầu và đậu lại bên tỉnh lộ có một người đàn bà vào đây để tìm xác chồng.

Người này là vợ của Trung úy Danh, sĩ quan Pháo Binh đã tăng phái cho tôi.

Chị Danh đã gạt nước mắt mà kể cho tôi hay rằng, đêm 15 rạng 16 tháng 4 năm 1974 chị đã nằm mơ thấy anh Danh mặt mày đầy máu bước vào nhà.

Chị đã hỏi anh vì sao anh ra nông nỗi này thì anh Danh chỉ lắc đầu không nói tiếng nào.

Sau cơn ác mộng, chị Danh lo lắng quá, nên ngay sáng hôm sau chị đã cấp tốc theo chuyến xe đò sớm nhất lên Pleiku để hỏi thăm tin tức của Trung úy Danh.

Chị được Bộ Tư Lệnh 22 trả lời rằng anh Danh đã bị thương và mất tích.

Hai ngày sau, chị xin đi theo xe vào 711.

Giấc mơ của vợ Trung úy Danh là một chuyện hoàn toàn khó tin, nhưng bắt buộc tôi phải tin.

Tới trưa 18 tháng 4, trên chiếc GMC từ 711 về Pleiku có một người đàn bà ngồi trên sàn, bên cạnh cái poncho gói xác chồng.

Ðối diện với người đàn bà, trên sàn xe, cũng có một Trung sĩ Biệt Ðộng Quân ngồi cạnh hai cái poncho gói xác vợ và con. Ðồng hành với ba cái poncho đó, trên xe còn cả chục chiếc poncho khác chưa biết ai là thân nhân.

Trong lúc quân nhân của đại đội chỉ huy lo chuyển vận xác những tử sĩ, tôi cũng đích thân đứng kiểm tra từng vật dụng mà địch đã bỏ lại trận địa.

Tôi không tả nổi nỗi mừng vui khi nhìn thấy 6 ống lựu đạn chày có đánh dấu, “Coi chừng hơi độc” cùng với 10 ve thuốc bằng thủy tinh to như những đầu đạn Garant cũng được sơn hàng chữ màu đỏ, “Thuốc giải hơi độc”

Ngoài ra ta còn nhặt được cả chục cái bao nylon trắng dùng để làm mặt nạ chống hơi cay.

Nửa giờ sau, đích thân Ðại tá Phạm Duy Tất đã đáp xuống mặt Tỉnh Lộ 6C để nhận từ tay tôi một cái bao cát chứa 4 ống lựu đạn chày, 4 ve thuốc chống hơi ngạt và 4 cái mặt nạ.

Ông Tất vỗ vai tôi rồi cười thật lớn, át cả tiếng máy bay,

– Tui sẽ đem mấy thứ này về trao cho quân đoàn ngay! Cậu giỏi lắm! Vậy là thoát nạn! Mừng cho cậu!

Ông chỉ huy của tôi vui một, tôi vui mười!

Chợt nhớ ra ông Trung úy Chủ còn đeo cái máy chụp hình trước ngực, mà cuộn phim trong cái máy đó có chứng tích là hình ảnh một núi súng mà chúng tôi đã tịch thu được sáng 14 tháng 4. Tôi ra lệnh cho ông Chủ giao chiếc máy ảnh cho Ðại tá Tất rồi nói,

– Ðại tá về rửa cuộn phim này ra rồi đưa hình cho ông Toàn coi. Hôm đó tụi tôi đã lấy được cả trăm khẩu súng, hạ được cả trăm thằng địch rồi mới bị đánh bằng hơi ngạt nên phải bỏ chạy. Có bằng chứng rõ ràng như thế chắc ông Toàn mới tin.

Tôi đã biết chắc rằng, sau khi bị đánh bật ra khỏi 711 và Plei Ngol Ho nếu tôi kéo quân chạy thẳng ra Ngã Ba Mỹ-Thạch thì chắc chắn tôi đã bị Tướng Toàn lột lon.

Mặt khác, chỉ với cái tội để tổn thất 12 chiếc M113, tôi đã đủ tư cách lãnh 40 Trọng Cấm từ tay ông Toàn rồi.

Tôi đã thấy những cái gương mất đồn, xém chết mà còn bị “ký củ” với 40 Trọng Cấm của các ông chỉ huy Dak Seang, Ben Het, Ðức Cơ, là Ðại úy Nguyễn Hộ, Ðại úy Trần Văn Thanh, Trung tá Lê Chữ và Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn.

Các vị chỉ huy này sau khi mất đồn đã chạy thẳng một lèo không dám quay cổ nhìn lại.

Còn tôi, ngay sau khi thoát chết, tôi đã quyết tâm phải lấy lại 711 cho bằng được.

Rồi đúng ba ngày sau tôi đã đặt chân trở lại Cứ Ðiểm 711 và đã tái kiểm soát toàn bộ khu vực mà địch đã chiếm cứ.

Ðại  tá Tất cho tôi hay, theo tin tức tình báo mới nhất thì, Thượng tá Hồng Sơn, Chính ủy của Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản đã chết vì trúng bom, đồng thời kế hoạch cắt đứt Quốc Lộ 14 một thời gian ngắn để Trung Ðoàn 470 Vận Tải vận chuyển quân lương cho vùng duyên hải của Cộng-Sản cũng bị phá vỡ.

Trận chiến đẫm máu để giành giựt Cứ Ðiểm 711 diễn ra chỉ vỏn vẹn có mấy ngày, nhưng đã có hàng trăm chiến sĩ từ hai bên tham chiến phải hy sinh.

Nhìn những cái xác Việt-Cộng rải rác đó đây, rồi lại nhìn những chiếc poncho quấn xác đồng ngũ nằm trên lề cỏ chờ được di chuyển về nhà xác của quân y viện, tôi chỉ biết ngậm ngùi thở dài.

Ðang trên đường bay về Pleiku, không rõ có suy nghĩ gì, Ðại tá Tất đã gọi cho tôi,

– Thái Sơn đây Trường An! Hôm nào yên, tui cho cậu vài ngày phép về thăm vợ và cô công chúa mới sinh!

Tôi cảm động, đáp lời người chỉ huy của mình,

– Cám ơn Trường An!

Nhưng chiến trận liên miên, tôi chờ hoài mà không thấy có “ngày nào yên…”

Tôi ngồi xuống vệ cỏ bên đường. Trước mắt tôi là Tỉnh lộ 6C như con rắn đen đang vặn mình, uốn khúc chui vào rừng xanh. Xa xa, hướng Ngã Ba Mỹ Thạch, vọng lại tiếng đại bác “Ì! Ầm!”

Trời đang trong sáng bỗng từ đâu, mây đen ùn ùn kéo tới nên trở thành âm u.

Trong màn mưa mỏng, tôi thấy những đóa hoa vàng rung rinh trong gió…

Giờ đây Pleime đang là lúc chuyển mùa, khắp núi rừng, muôn hoa khoe sắc màu…

Cách nơi này đúng một trăm cây số đường chim bay, trong vườn nhà tôi cũng vừa nở một bông hoa…

Con tôi chào đời đúng vào ngày pháo địch rơi như mưa trên đầu bố nó…

Mùa Mưa Hoa Nở

(Cho Em và bé Tiên Giao) 

Lại một lần Pleime hoa nở

Tôi ra đi vào chiến trường…

Một năm sau ngày ngừng bắn

Một năm sau ngày trao đổi tù binh

Ðồi núi Pleime hoa vàng rực rỡ

Hoa rừng mùa nào cũng đẹp

Cao Nguyên mùa Hạ nào cũng mưa

và chiến trường nào cũng đầy thù hận

dù trước, dù sau ngày Hòa Bình!

Mở mắt chào đời, tôi đã thấy chiến tranh

mà bây giờ …

ngày em sinh đứa con thứ ba ở Ban Mê Thuột

cũng là ngày mưa pháo địch trên Tiền Ðồn 711

Mùa mưa năm nay…

như mùa mưa năm kia

như mùa mưa năm ngoái

có những người bạn ra đi không trở lại

có những người thù ra đi không trở lại

Trận chiến vừa tàn,

đi tìm xác nhau…

Tôi tìm thấy bên chùm hoa gạo

 chiếc nón cối vỡ toang

của người quê miền Hải Hậu

tôi tìm thấy trên một đoạn giao thông hào

quyển nhật ký của người tuổi trẻ

 từ Hưng Yên vừa xâm nhập được năm ngày…

Hỡi những người lặn lội dặm dài,

hận thù gì khi mới hai mươi tuổi?

…

Tôi đứng nhìn Tỉnh Lộ 6 C

tìm Hoà Bình tít chốn xa mờ

 như không bao giờ thấy được

 như không bao giờ với được

Nghĩ về đứa con vừa mới ra đời

biết đến bao giờ nó thấy đồng xanh quê nội?

Giữa mùa hoa…

Cao Nguyên vào Hạ

có màu xanh của áo

có màu đỏ của máu

có màu trắng của xương

của những người Bắc Hà, Hải Hậu, Hưng Yên…

Pleime vào Hạ…

đạn vẫn bay

mưa vẫn đổ

và hoa vẫn nở…

Vương Mộng Long

(Pleime tháng 4 năm 1974)

Bài thơ viết vội trên chiến địa này đã được tôi gửi về Sài-Gòn để in trên Nguyệt San Biệt Ðộng Quân và Nguyệt San Chiến Sĩ Cộng Hòa.

Vậy là đúng một tháng sau ngày tiền đồn Kon Sơm Luk bị tràn ngập, tiền đồn 711 cũng bị tràn ngập. Chỉ có một điều đáng ghi là Cứ Ðiểm 711 đã được Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân tái chiếm chỉ sau ba ngày, còn Kon Sơm Luk thì vĩnh viễn nằm trong tay địch quân.

Trận ác chiến để tranh giành Căn Cứ Hỏa Lực 711 Pleiku tháng 4 năm 1974 coi như kết thúc sau khi quân ta tái chiếm lại lãnh thổ đã mất.

Ngày 20 tháng 4 năm 1975 tôi được lệnh chuẩn bị thuyết trình cho một phái đoàn thanh tra đặc biệt của Bộ Tổng Tham Mưu bay ra từ Sài-Gòn

Vết Nám – Hồi Ký Tù Cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 14 August 2015 

Post by Sơn râu 18 Oct 2025

Bài 25

“Sắc bất ba đào…”

Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách

Sắc bất ba đào dị nịch nhân

(Nguyễn Giản Thanh)

Trịnh X. Ch., sau 3 tháng nằm “cát-xô” (cachot) (1), được tha ra, “biên chế” (danh từ Việt Cộng đấy) về đội của tôi, tức là đội cũ của anh.

Vì anh về đội tôi chưa lâu thì trốn trại, nên anh em trong đội, ít người biết anh, ngay cả tôi cũng vậy! Tuy vậy, nghe mới ra khỏi cát-xô, anh em ai cũng mừng. Mừng, vì “bạn tù” được ra khỏi “cát-xô”, mừng vì anh là người “nổi tiếng” trong việc trốn trại vừa qua.

Trốn trại như anh, thật là “quái kiệt”. “Quái kiệt” là biệt danh, Trần Phú Trắc tặng cho anh, sau khi anh trốn trại.

Trịnh X. Ch. cùng ở trại Suối Máu với chúng tôi. Trại nầy do “bộ đội quản lý”. Anh được đưa đi lao động ở Trảng Táo. Đi Trảng Táo là được coi như thành phần nhẹ “nợ máu với nhân dân”. Chúng tôi, “nặng tội” hơn, thay vì đi Trảng Táo thì bị bàn giao cho Công An, đưa về trại Xuân Lộc, Z-30A của bộ Nội Vụ.

Được hơn một năm, trại Trảng Táo giải tán. Tù ở đây, một số được tha. Số còn lại như Trịnh X. Ch, chưa “tha ra khỏi trại cải tạo” được thì đưa về trại Xuân Lộc. Anh em cũ lại gặp nhau.

Về được vài tuần lễ, Trịnh X.Ch. trốn trại.

Anh ta “điều nghiên” (cũng danh từ VC đấy) kỹ lắm. Đêm nào anh cũng cố thức thật khuya để canh giờ bọn Công An đi tuần bên ngoài. Cứ khoảng một tiếng, chúng đi rảo một vòng, rất đều đặn.

Muốn trốn, anh phải ra khỏi nhà giam ngay sau vòng đi rảo của tụi nó. Một giờ sau, khi đi rảo vòng kế tiếp, nếu chúng có phát hiện nơi anh mở vách chui ra, thì anh cũng đã đi xa rồi.

Anh cạy tấm ván ngay chỗ ngồi đi cầu, chỗ không ngờ nhất, đề phòng, hễ bất thường có ai đi vào nhà cầu vào lúc khuya, họ cũng tưởng anh đi cầu như họ.

Thứ hai, là việc leo qua hàng rào cây. Anh đã chuẩn bị một sợi giây thừng. Anh lén giấu sợi giây thừng trọng túi xách của anh. Khi chui ra khỏi nhà, anh mang sợi giây theo, tới sát hàng rào, Trịnh X. Ch. làm “tặc giăng” đu giây” – như chúng tôi gọi đùa. Anh quăng sợi giây thừng lên đầu hàng rào cây, rồi nắm giây leo lên, leo qua đầu hàng rào cao, nhảy xuống phía ngoài, lủi vào ruộng bắp, mất dạng.

Toán Công an đi phục kích ở ngoài, theo anh biết, chỉ phục kích phía bìa rừng xa. Anh không đi vào phía đó. Anh đi thẳng ra Ngã Ba Ông Đồn, ở đó, có bà Lệ Khanh, người quen của anh, giúp anh về Saigon trót lọt.

Buổi sáng, cán bộ trực trại vào mở cửa từng nhà giam, gọi tù ra sân kiểm tra nhân số. Đếm đi đếm lại, cứ thấy thiếu một người. Cán bộ sai đội trưởng vào xét lại trong nhà giam, không còn ai cả. Cán bộ đích thân vào xét, cũng chẳng thấy ai. Lại sắp hàng, lại đếm, lại thiếu mất một người. Cán bộ ra lệnh cho đội trưởng kiểm tra đội mình. Bấy giờ Trương Đình Gòn, đội trưởng đội 19 là đội của tôi, mới phát hiện thiếu mất Trịnh X. Ch. Vào nhà giam xét chỗ nằm của Nghĩa, chăn màn chưa xếp. Kiểm soát nhà cầu mới thấy một tấm ván bị cạy ra, một người chui lọt.

Trương Đình Gòn đi ra sân, tới bên chỗ đội đang sắp hàng, cười cười: “Dông rồi! Dông đâu hồi khuya rồi.”

Nghe Gòn nói, anh em ai cũng thấy vui. Thế là chấm dứt một đời tù.

Vốn tính hay đùa, Gòn nói to: “Anh em có ai biết Trịnh X. Ch. trốn hồi hôm không?”

“Hỏi bù trớt không!” Có người nói. Ai mà biết. Ai biết mà nói. Trần Phú Trắc đứng sau tôi nói đùa, nhỏ, sợ cán bộ nghe: “Có anh nào dân nước “Đại Ngu” thì báo cáo đi!”

Sở dĩ trong trại có danh từ “nước Đại Ngu” là tự tôi. Hôm họp đội, Trần Văn D. tố cáo “ông già Minh” khai bệnh giả để khỏi đi lao động, tôi gọi đùa D, là dân “nước Đại Ngu”.

Sau khi Hồ Quí Ly cướp ngôi nhà Trần, ông đặt tên nước là “Đại Ngu” vì gốc Hồ Quý Ly là người nước Ngu bên Tầu. Tôi dùng chữ Ngu là để ám chỉ mấy người dại dột cứ nghe cán bộ xúi mà “đấu tranh để học tập tiến bộ”.

Hôm ấy, đội trưởng và hai người nằm hai bên Nghĩa được lệnh ở nhà để làm kiểm điểm. Ba người đó đều vui vì khỏi đi cuốc đất. Có người nói đùa với Gòn: “Ông biết nó trốn trại, còn giả bộ.” Gòn cười: “Biết thì tao theo nó rồi, giờ nầy đâu còn đây!” Rồi Gòn cười hề hề!

Khi Trịnh X.Ch. còn ở trại Trảng Táo, việc đi lại tương đối dễ, bộ đội không cấm ngặt, anh thường ra Ngã Ba Ông Đồn, ghé quán bà Lệ Khanh uống cà phê chơi. Hoặc anh có đi Biên Hòa hay Saigon, trên đường đi về, anh cũng ghé lại quán đó.

Trịnh X, Ch. là người Bắc, dân Hà Thành, con nhà dòng giống, cháu ông Trịnh Xuân Ngạn, Chủ tịch Tối Cao Pháp Viện thời Đệ Nhị Cộng Hòa. Anh hơi nhỏ con, kiến thức sâu rộng, tài hoa, ăn nói hay, đậu cử nhân văn chương Pháp, tốt nghiệp Đại học Sư phạm ban Pháp văn, nhưng bỏ dạy, làm việc ở nhiều cơ quan thông tấn ở Saigon, ở Việt Tấn Xã, làm chuyên viên ở bộ Giáo Dục. Công việc cuối cùng của anh là chuyên viên bậc 2 ở “Văn Phòng Phụ Tá Ngoại Vụ” của “Tông tông”, (tông tông là tiếng lóng chúng tôi thường gọi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, bọn cán bộ không phát hiện được, mà cũng là tiếng thân mật, yêu kính của chúng tôi đối với ổng). Anh hơi kiêu ngạo.

Trước 30 tháng Tư ít hôm, khi “xếp” của anh, Ông Nguyễn Phú Đức, chuẩn bị di tản, Trịnh X. Ch. hỏi “xếp”:

– “Ông phụ tá đi rồi, còn anh em chúng tôi thì sao?”

Ông ta trả lời:

– “Những người như các anh, còn trẻ, nên ở lại để giúp nước.”

Nghe lời ông “phụ tá tông tông”, anh cho vợ con đi Pháp. Vợ anh là đầm Tây chính cống, quốc tịch Pháp. Vợ con anh lên Air France đi Paris, còn anh “ở lại giúp nước”, như lời ông phụ tá dặn dò.

Anh lầm, mà ông phụ tá tông tông, “xếp” của anh cũng lầm nốt. Anh thuộc “dạng chuyên”, không phải “dạng hồng”. Cộng Sản không cần “chuyên”, chỉ cần “hồng”. Vì vậy, có “chuyên” mà không có “hồng” thì vô tù.

Có lẽ bà Lệ Khanh biết và khâm phục cuộc đời anh như thế, nên sẵn sàng giúp anh trốn trại. Đêm trốn trại đó, anh ra tới nhà bà. Đã chuẩn bị sẵn, bà trao cho anh một số giấy tờ giả, khác tên, khác họ, và đón một chuyến xe đò quen, gởi anh về Saigon.

Trịnh X. Ch. không dám về nhà mình, tuy mẹ anh còn sống. Anh rất muốn về thăm mẹ. Anh cũng chẳng nương nhờ sinh sống ở nhà ai, sợ họ bị liên lụy. Hàng ngày anh lang thang ở Chợ Lớn, tránh Saigon là nơi anh nghĩ có người biết mặt, biết tên anh. Tối tối, anh thường chui vào nhà ga Saigon, kiếm một góc kẹt nào đó, ngủ qua đêm.

Saigon bấy giờ người ta ngủ đường ngủ chợ không thiếu gì, phần nhiều là những gia đình bị “đánh tư sản”: bị lấy mất nhà, hoặc đã đi Kinh Tế Mới nhưng không thể ở đó được nữa, liều về Saigon. Nhà cũ không còn, họ ăn đường ở chợ, sống lây lất được này nào hay ngày đó. Họ từng là những người giàu có, nệm ấm chăn êm, có người ở, có kẻ hầu. Họ từng là người lao động chân tay, buôn bưng bán gánh, một đời đã từng khổ cực, nay lại càng khổ cực hơn nữa. Trịnh X. Ch. có một cảm tưởng chung về họ: Những người ở cuối tầng địa ngục. Trong đó, có Trịnh X. Ch. sống lẫn lộn với họ.

Anh sống lang thang ở Saigon được một thời gian, bà Lệ Khanh cho một nguời liên lạc với anh, người ấy dẫn anh xuống Ngọc Hà, một làng nhỏ bên bờ sông Đồng Tranh, chờ chuyến vượt biên.

Nhà anh ở tạm tại Ngọc Hà là nhà một người Tầu. Hôm trước, có đám vượt biên bị bể, “khách hàng” chạy tán loạn cả. Ngày sau đó, Công an lục soát từng nhà, Trịnh X. Ch. bị giữ. Chúng nghi ngờ giấy chứng minh của anh là giấy giả.

Xui cho Trịnh X. Ch. là, Xuân Lộc, nơi anh trốn trại thuộc tỉnh Đồng Nai, đã có lệnh tầm nã anh. Nơi Trịnh X. Ch. bị bắt, ấp Ngọc Hà, cũng thuộc Đồng Nai. Công An đối chiếu giấy tờ, nghi ngờ nhưng không khai thác được gì vì anh một mực không khai tên thật, dù bị Công An điều tra gắt gao, thậm chí đánh đập, giam riêng, bỏ đói. Trịnh X. Ch. không nhận tên mình, trốn trại Xuân Lộc, và cứ theo tên giả mà khai, khai về Ngọc Hà kiếm đất trồng màu. Cuộc điều tra kéo dài hơn một tháng, “bất phân thắng bại”.

Một hôm, chúng dẫn anh lên văn phòng, cởi còng, cho ngồi chờ thì tên H. xuất hiện ngoài cửa. H. chỉ đi ngang, nhìn Trịnh X. Ch. rất lâu rồi đi luôn.

Sau đó, tên trung sĩ Công An thường điều tra Trịnh X. Ch., gọi anh vào, hỏi:

– “Thế “lào”! Anh chịu khai thật chưa?”

Trịnh X. Ch. nói, giọng bình tĩnh:

– “Vâng! Tôi là Trịnh X. Ch.!”

Chỉ cần nghe chừng đó, tên Công An ngữa người ra lưng ghế, cười ha hả, chiến thắng!

Hôm đó chủ nhật, khỏi đi lao động, chúng tôi ngồi vây quanh Trịnh X. Ch. Nghe anh kể chuyện. Nghe đến đó, hai ba người cùng hỏi:

– “H. là thằng nào?”

– “H. là thằng nào?”

Trịnh X. Ch. nói:

– “Bọn Bắc kỳ 75 nầy ghê lắm, khôn ngoan, mưu mẹo, xảo quyệt, thủ đoạn… Tên điều tra tôi là một thằng trung sĩ, nhưng so với một thiếu úy Cảnh Sát miền Nam trước đây, nó khôn hơn, gian manh hơn, thủ đoạn hơn nhiều lắm. Dân Nam Bộ khó chơi lại dân Bắc Kỳ!”

Nghe nói thế, chúng tôi cười: Trịnh X. Ch. cũng là dân Bắc Kỳ, hay nói đúng hơn là “Dân Hà Nội thanh lịch”.

Bà Khanh, tên gọi thường là Lệ Khanh, đẹp, sắc sảo, dân Saigon, cựu học sinh Gia Long, “Em gái hậu phương” của một ông thiếu tá Biệt Động Quân đã có vợ. Bà có với ông nầy một con gái. Khi ông thiếu tá tử trận, bà Lệ Khanh trôi giạt về Long Giao, làm chủ một bar Mỹ ở đó. Khi quân Mỹ rút về nước, bà về mở tiệm ăn ở Long Khánh. Sau 30 tháng Tư, bà lại trôi về Ngã Ba Ông Đồn.

Tên Năm Thái, phó trưởng trại cải tạo Xuân Lộc, nguyên là “Bộ đội Quân Giải phóng Miền Nam”, thường vào ra tán tỉnh. Bà lợi dụng tên nầy, thầu cung cấp muối, nước mắm và bột ngọt cho trại cải tạo khi tên nầy chưa bị Trịnh Văn Thích, trại trưởng, “đá” văng ra khỏi trại, lột lon, đuổi về quê.

Dân Nam Kỳ làm sao chơi lại dân Bắc Kỳ, mặc dù cả hai đều là Việt Cộng.

Tham vọng của Trịnh Văn Thích là chỗ ngồi của Mười Vân, giám đốc Công An Đồng Nai. Tại Biên Hòa, bấy giờ, phe Nam Kỳ hay gốc Nam Kỳ tập kết còn mạnh, còn đông. Thích, dân Bắc Kỳ, biết chưa làm gì được. Nhưng để Năm Thái bên cạnh, khác gì “nuôi ong tay áo”. Việc để Năm Thái cho bà Lệ Khanh thầu vài thứ vặt vảnh ở trại, chỉ là cái bẫy của tên cáo già Trịnh Văn Thích, có quá trình 25 năm kinh nghiệm làm “quản lý trại giam”.

Trong quá trình đó, Trịnh Văn Thích, dùng người chồng hờ của bà Lệ Khanh, tên H., làm mật báo viên cho trại của y, theo dõi sinh hoạt của Năm Thái với bà Lệ Khanh, theo dõi những người tới lui quan hệ với bà Lệ Khanh và cả việc theo dõi thân nhân những người đi thăm tù cải tạo. Để câu tên H., Trịnh Văn Thích cho y độc quyền chạy xe lam, đón khách từ chợ Gia Rây vào Nhà Thăm Nuôi của trại.

Chừng đó sự việc, đủ cho Trịnh X. Ch. biết mặt và canh chừng H. như bà Lệ Khanh dặn dò và dĩ nhiên, tên H. không lạ gì mặt Trịnh X. Ch..

Khi ngồi trong văn phòng, thấy tên H. đi ngang phía ngoài, nhìn mặt Trịnh X. Ch., anh biết Công An nghi ngờ anh là ai và cho H. tới nhìn mặt.

  1. Ch. vừa nói vừa cười:

– “Moa” biết cái trò cút bắt giữa “moa” và Công An tới đó phải chấm dứt. Nếu không thì tụi nó đánh… bỏ mẹ.”

Nghe câu ấy, ai nấy đều cười.

Có người nói:

– “Tài giỏi như ông, khôn ngoan, mưu lược như ông, dại gái thì cũng bằng không.”

Trịnh X. Ch. bèn đứng dậy, bỏ đi. Có lẽ anh ta giận người nói câu nói đó nhưng anh ta nhịn.

Dĩ nhiên, sau khi Trịnh X. Ch. nhận tội trốn trại, bà Lệ Khanh cũng bị bắt, bỏ lại hai đứa con còn nhỏ, không cha không mẹ.

hoànglonghải

(1) Cachot: nhà tối, ngục tối. Tiếng Pháp.

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút

vietmessenger.com

Hoàng Hải Thủy

Post by Sơn râu 18 Oct 2025

Phần 31

Năm 1977, trong phòng thẩm vấn nhà giam số 4 Phan Đăng Lưu, Ba Trung Huỳnh Bá Thành nói với tôi:

– Trong lúc toàn dân phấn khởi, hồ hởi xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, anh làm thơ Buồn. Bài thơ của anh có thể làm nhiều người khác buồn lây. Vì vậy, chúng tôi phải bắt anh…

Lúc ấy bẩy tám giờ tối. Khu thẩm vấn vắng tanh, đèn vàng nhờ, bốn bề yên lặng. Ba Trung thường vào thẩm vấn tôi lúc bốn năm giờ chiều, ngồi mãi đến tám, chín giờ tối mới thả tôi về xà lim. Tô cơm tù được anh em tù đưa vào từ lúc bốn giờ chiều khô cứng trên sàn xi măng. Khi tôi nghe Ba Trung nói câu trên, quả thực trong lòng tôi có sự ngậm ngùi, tim tôi nặng như đá đeo. Tôi hối hận nghĩ: “… Thơ mí thẩn. Thơ con cóc. Mần thơ làm cái quái gì để cho nó bắt, nó nhốt thảm cảnh xã hội thế này! Vợ con nheo nhóc, mình thì tù tội mút chỉ cà tha, xa mùa lệ thủy. Việt cộng dzô Sègoòng, người Sègoòng nào mà chẳng buồn, nhưng người ta buồn, người ta chịu, người ta đâu có mần thơ. Nó nói nhân dân vui sướng, mình mần thơ tả nhân dân buồn khổ, nó cho mình dzô xà lim là đúng thôi.”

Trích Những Tên Biệt Kích Cầm Bút từ trang 117 đến trang121

Về phần Hoàng Hải, người vợ như một dòng sông mà hắn có thể ngụp lặn, tắm mát thỏa thích sau những ngày bon chen vất vả. Thân hình đầy đặn, sung mãn của người phụ nữ sinh trưởng ở đồng bằng Nam Bộ cộng với khuôn mặt sắc sảo phảng phất những nét Tây phương đã nâng nhan sắc của bà ta lên trên mức bình thường. Trong đời Hoàng Hải có hai thích thú mà hắn cho là kỳ diệu là đôi mắt của người vợ và ngọn đèn dầu lạc trong tiệm hút. Nhìn vào đó, hắn thấy cả độ sâu thẳm của lòng mình, sự níu kéo của cuộc sống, vừa đam mê vừa tỉnh táo, vừa rực rỡ vừa mờ ảo. Đó là những nguồn gợi hứng cho hắn suy nghĩ và sáng tác.

… Với gia cảnh ấy, con người ta thường dễ yên phận với tuổi xế bóng. Song Hoàng Hải đâu phải là một con người như vậy. Hắn luyến một thời xưa. Hắn hi vọng về một sự cứu rỗi, về một cơ may đủ sức xoay ngược tình thế hiện tại. Và hắn đã nhận được tín hiệu từ xa vọng đến đầy hứa hẹn, thúc giục hắn vùng vẫy. Đó là một ảo vọng, nhưng đối với hắn lại là một vũng nước xanh mát trong sa mạc mà hắn là kẻ sắp chết khát. Những tín hiệu đến với hắn bằng nhiều cách. Những lá thư của bạn bè gửi đi từ bên kia đại dương, những buổi phát thanh bằng nhiều ngôn ngữ ngày đêm vút lên không gian mà Hoàng Hải đón nhận bằng chiếc radio hiệu Zenith cực mạnh. Hắn biết rằng qua những tín hiệu ấy, từ những xứ sở xa xôi, người ta còn quan tâm đến “sự tồn tại” của hắn.

Có những câu, những ý hắn gần như thuộc nằm lòng: “Chúng tôi sẽ làm hết mình để anh trở thành immortel”

Hoàng Hải còn nhớ rất rõ nét chữ quen thuộc của người bạn ở Oa-sinh-tơn gửi cho hắn năm 1976. Có lẽ người bạn ấy cho rằng từ immortel trong tiếng Pháp thâm thúy hơn từ bất tử trong tiếng Việt Nam nên đã cố tình sử dụng từ ấy đến hai lần trong mấy chục dòng của lá thư đầu tiên gửi cho Hoàng Hải.

“… Ở đây mọi người đều nghĩ và tin chắc rằng thế nào Việt Nam cũng có những Xôdennítson. Dễ gì có thể viết một cái gì đại loại như “Quần đảo Gulắc” để biện minh cho tên phản bội Vlasov. Nhưng hắn biết chắc bạn bè của hắn benâ kia đại dương đang cần những “món” gì. Lúc cháy khát cổ, một ly nước lã cũng quý không kém gì một chai Coca Cola ướp lạnh.

Hoàng Hải đã làm cho cơ quan USOM từ năm 1954, đến năm 1973 lại làm việc chu USIS. Cách nhau gần hai mươi năm, ở hai thời điểm mở đầu và kết thúc sự có mặt chính thức của người Mỹ ở Sàigòn, hắn có đủ thời gian để hiểu người Mỹ. Trước kia họ là như thế thì nay và sau này họ vẫn thế: nếu không có Coca Cola thì họ sẵn sàng nhận ly nước lạnh. Có còn hơn không!

Hoàng Hải tự cho mình không chỉ là một ly nước lạnh bình thường mà là một ly nước lạnh hiếm hoi trong sa mạc. Sự khan hiếm ấy nâng cao giá trị của hắn lên.

Năm 1976, 1977 hắn đã hái ra tiền nhờ nhạy bén khai thác tình trạng khan hiếm ấy. Nhưng hắn đã phải trả giá khá đắt. Chính vì thế, sau khi dự cuộc họp ở nhà bà chị của Kiều Trang về, Hoàng Hải thấy có điều không ổn, lần trước chỉ một mình hắn độc quyền “làm ăn” với bên ngoài, thế mà công an đã phăng ra, khiến hắn phải vô trại giam. Hắn đã viết rất nhiều thể loại truyện, phiếm luận, nghị luận, văn học, thơ … với đủ các bút hiệu hắn đã ký tên những bài đã được in trên các báo của “phe hắn” xuất bản ở nước ngoài, nào là “Người Sàigòn”, “Ngụy Công Tử”, “Con trai Bà Cả Đọi”, “Yên Ba”, “Hạ Thu”… Hắn không ngờ công an lại bỏ công sưu tầm và nghiên cứu “sự nghiệp văn chương” của hắn kỹ đến thế. Biết dấu không được, hắn đã khai tuốt tuột. Đó là phương thức “tối ưu” – thà rằng khai cái người ta đã biết để được nhẹ tội còn hơn chối quanh. Về mặt này, hắn cũng tự hào rất am hiểu công an cộng sản. Hắn được khoan hồng thật. Hắn không tiếc lời thề thốt và viết trong bản cam kết:

“Khi được nhà nước khoan hồng cho về sum họp với vợ con, tôi sẽ lo làm ăn v.v…”

Tôi thích viết, vẽ, chơi đàn từ thuở tôi chưa biết thích đàn bà, con gái. Tức là lúc tuổi đời chưa đầy một bó. Thuở xa xưa ấy tôi không chỉ thích văn, họa, nhạc bình thường như mọi người, tôi hung hăng con bọ xít muốn mai sau mình sẽ trở thành văn sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ. Nói cách khác, tôi muốn sáng tác văn, họa, nhạc. Khi tôi nói tôi học nhạc không phải chỉ để chơi đàn suông, tôi muốn sáng tác những bản nhạc như các ông Jôhan Sìtờrao, ông Bít Tô Vơ, ông Môza, tôi bị khựng khi ông anh tôi nói: “Mày chơi được mấy bản nhạc của mấy ông ấy cũng đủ hết đời mày rồi. Ở đấy mà đòi sáng tác nhạc..”

Những năm học tiểu học ở thị xã Hà Đông – trường Tự Đức, hiệu trưởng cậu giáo Kiên – tôi là tên vẽ khá nhất những lớp có tôi là học sinh. Bạn học có giấy thường đưa cho tôi vẽ cao bồi cưỡi ngựa, bắn súng đuổi mọi da đỏ, vẽ chó mèo, đôi khi vẽ cả những cảnh trai gái theo sự tưởng tượng bậy bạ của bọn nhóc chúng tôi. Năm 1946, tôi theo gia đình tản cư lánh nạn chiến tranh về quê tôi ở ven sông Đuống. Năm 1947, tôi đi kháng chiến ở vùng Bắc Bắc – Bắc Ninh, Bắc Giang – năm 1950, tôi theo gia đình hồi cư về Hà Nội. Từ đó tôi bỏ vẽ và giấc mộng họa sĩ của tôi tiêu tán thoòng. Tôi học đàn ghi ta ba lần. Lần thứ nhất học thầy Tạ Tấn ở Hà Nội, lần thứ hai học thầy Vĩnh Lợi ở Sàigòn, lần thứ ba học thầy Lâm Tuyền cũng ở Sàigòn. Tôi thích nhạc nhưng có lỗ tai trâu, mù tịt về nhịp điệu, thêm cái tật cầm cây đàn là muốn thánh thót du dương ngay, không chịu ngồi gù lưng mà phứng phưng cả tiếng đồng hồ.

Năm 1983 con tôi đi học vẽ. Thầy dậy là bà họa sĩ Nguyễn Thị Tâm và ông chồng là họa sĩ Nguyễn Long Sơn. Ông bà mở lớp dậy tại nhà riêng sau trường Mỹ thuật Gia Định. Tôi theo con tôi đến thụ huấn ông bà họa sĩ Sơn Tâm. Vì yêu họa từ ngày còn nhỏ lại sống đời dân Ngụy tại thành Hồ quá nhàn rỗi, ngày tháng phất phơ toàn chủ nhật, quanh năm chủ nhật, hết năm này 365 ngày chủ nhật đến năm khác 365 ngày chủ nhật, tôi đi học vẽ cho đỡ buồn, cho có việc làm. Ở đời có những ông “Già năm mươi tuổi chưa đeo kính. Thức suốt năm canh chỉ sợ già…” tôi mới bốn mươi đã đeo kính lão. Thầy Sơn nói:

– Vẽ mà cứ bỏ kính ra nhìn, đeo kính lên, vẽ được vài nét lại bỏ kính ra… thì vẽ viếc cái gì… Mấy ông trên năm mươi học vẽ chỉ để chơi thôi…

Thầy nói đúng. Tôi học vẽ những năm 80 không phải để trở thành họa sĩ mà chỉ để đỡ buồn. Tuy nhiên tôi nghĩ, tôi có thể minh họa được những truyện ngắn của tôi. Mình viết truyện, mình vẽ tranh đi kèm truyện theo đúng ý mình. Là nhất. Học vẽ chừng vài tháng, tôi bắt đầu vẽ được hí họa. Bức vẽ anh Nguyễn Văn Nghêu số 4 Phan Đăng Lưu khệ nệ ôm thùng quà nước ngoài gửi về đề thêm bốn câu lục bát tôi cho là hay cực kỳ. Bốn câu thơ có âm điệu lá đa dân tộc, theo sự đề cao có thể là quá đáng của tôi, xứng đáng được chọn làm ca dao ghi lại cả một thời nhân dân Thành Hồ Con Cá, Cái Bang ba, bốn túi tấp nập đến chầu chực ở những nhà bưu điện, kho hàng Tân Sơn Nhất chờ lãnh những thùng đồ cứu đói. Thời gian người Thành Hồ sống nhờ đồ Pháp, đồ Mỹ kéo dài từ năm 1978 đến năm 1990. Bốn câu bất hủ nguyên là tám câu:

Muốn tắm mát thì lên ngọn cái con sông đào

Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh

Đôi tay anh vín đôi cành

Quả chín anh hái quả xanh anh vồ

Năm sáu năm nay anh ăn ở thành Hồ

Anh ra bưu điện lãnh quà em cho

Đồ em vừa nặng vừa to

Anh đã con mắt anh no cái mồm

Trong hai triệu người Việt sống ở các nước Tây Dương chắc phải có 50.000 vị từng được hưởng niềm sung sướng được đi lãnh đồ ở Thành Hồ. Xin quý vị làm chứng: thơ tôi tả đúng hay sai? Ở đời ta thấy có những thứ đồ thật to mà không nặng, như bao rơm chẳng hạn, lại có những thứ đồ thật nặng mà không to, như cục sắt. Riêng với đồ ngoại quốc gửi về cho ta, ta mơ ước thùng đồ có đủ hai điều kiện: nặng và to. Đồ vừa nặng vừa to là nhất. Trước hết nhìn thùng đồ hai chục ký, ba chục ký lô to vuông, vững chãi, phương phi, sung túc, phồn vinh, hiện đại mắt ta truyền cảm được thống khoái đi khắp châu thân ta, đến từng chân lông, ngọn tóc của ta. Ta mệt mỏi một cách sướng khoái ôm thùng đồ về nhà. Sau khi mắt ta nhìn đã – đây là sướng – ta hiu hiu ngồi chờ những nhóm anh chị chuyên săn mua đủ các thứ đồ ngoại thấy ta có đồ lớn, xin ta địa chỉ, theo ta đến tận nhà xin mua đồ của ta. Ta bán đồ lấy tiền mua gạo nếp, gạo tẻ, thịt cá rau dưa, vợ chồng, bố con, ông cháu hí hửng dắt nhau đi ăn mì vịt tiềm, phở, bún bò giò heo, ta cùng bạn hữu hạ cờ tây, bia Trung quốc. Chị vợ gầy guộc xanh leo xanh lét vì đói, vì lo của ta có ít tiền còm yên tâm được một hai tháng, chị sẽ dzui dzẻ đôi chút với anh chồng gà què ăn quẩn cối xay. Cuộc sống như dzậy chẳng phải là đỡ khổ ư? No cái mồm nhờ đồ em, dù chỉ no được một tháng cũng là no.

Những ngày ấy, tháng ấy, năm ấy – thấm thoát đã qua mười mấy mùa cóc chín – tôi di chuyển bằng xế đạp – người Thành Hồ gọi là xế Điếc – mang theo trong cái túi vải xách tay đủ thứ linh tinh bịch thuốc, hộp quẹt, cặp kính, chìa khóa, thêm quyển sổ tay và cây bút chì để khi ngồi cà phê vỉa hè lấy ra hí hoáy ghi hình. Về nhà tôi dùng bút mực vẽ lại, đôi khi tô màu. Bọn công an thành Hồ đến nhà tôi đêm mùng Hai tháng Năm năm 1984 vớ được tập hí họa của tôi. Vì vậy hai anh Nam Thi – Minh Kiên mới thấy bức họa “Đồ em vừa nặng vừa to” của anh chàng phản động Hoàng Hải.

Việc đi học vẽ và vẽ mấy bức hí họa của tôi bị hai anh cớm cộng Nam Thi – Minh Kiên diễn tả bằng những câu:

… Vì thế hắn đã chọn để lại một thứ có thể thanh minh rằng hắn đã biết hối cải và không làm gì xấu. Gần đây, hắn học thêm nghề hội họa. Trong mớ tài liệu mà hắn không đốt có tập phác họa do hắn vẽ. Hắn có thể nói với công an: “Thưa các ông, đây là công việc hàng ngày của tôi. Các ông xem, tôi già rồi, sức yếu còn làm gì nổi, nên tôi đã học vẽ, may ra có đươc một nghề vừa sức, hợp với khả năng để sống…”

Đại tá Tổng Biên Tập chi mà viết quá ngu. Một người tuổi đời năm bó, làm báo, viết truyện chuyên nghiệp từ năm mới hai bó gập, hai mươi mấy mùa táo tầu Nghị Hách sống đàng hoàng, sống ung dung, sống phơi phới với nghề viết truyện giải trí lương thiện, bỗng dưng bị bọn cộng sản bẻ gẫy cái cần câu cơm, bắt dzô tù, còn đổi nghề, đổi nghiệp cái gì được nữa! Thay vì phải lấy làm hổ thẹn vì chế độ của chúng đập bể nồi cơm của người dân lương thiện, bọn đầu trâu mặt ngựa, tim heo, óc chó lại tỏ ra hiu hiu tự đắc khi thấy những người dân miền Nam vì chúng mà lâm vào cảnh đói khổ.

Hai mươi niên vất vả ở Thành Hồ, tám niên ngồi rù trong những Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, Chí Hòa, tôi có phạm một số việc không được đàng hoàng chi mấy. Khi ra tòa năm 1988, tôi có nói: “Thưa bà chánh án” – Mụ chánh án xử tôi là mụ Nguyễn Thị Thu Phước, bao nhiêu phước, mụ ấy thu ráo trọi vào lòng mụ – nhưng tôi không -: “Thưa quý tòa…” như nhiều anh em ta. “Quý Tòa” là danh từ gọi tòa án quốc gia Việt Nam Cộng Hòa. Với người dân Việt Nam Cộng Hòa tòa án cộng sản có cái gì là “quý”? Chúng muốn tuyên án tử hình cho mình lên thùng phuy bãi bắn Thủ Đức, chúng muốn bỏ tù mình mút mùa Lệ Liễu kiêm Lệ Thủy – Lệ Thu… Vậy mà mình cứ phải “quý trọng” nó thì ngoài sự nhục nhã thậm tệ còn có sự lạ lùng không chấp nhận được.

Nhưng với bọn công an thành Hồ đến bắt tôi, thẩm vấn tôi, tôi không “Thưa ông…” với tên nào cả. Tôi trích đăng đoạn hai anh Nam Thi – Minh Kiên viết về chuyện tôi đi học vẽ để bạn thấy Việt cộng chửi rủa chúng tôi đểu cáng đến chừng nào. Tôi bị chúng chửi, mạ lỵ, bới móc tàn tệ nhất trong số tám người bị chúng gọi là “Những tên biệt kích cầm bút”. Các bạn thấy đấy: Cả ông ngoại tôi cũng bị chúng lôi vào chuyện. Chúng viết tôi kính cẩn: “Thưa các ông…” vẫn còn là nhẹ. Trong một tập sách mỏng chúng viết về một ông từ nước ngoài trở về bị chúng bắt sống ở Lào, tôi đọc được năm 1982, chúng viết ông chiến sĩ quốc gia này gọi chúng bằng “ông”, xưng “con”.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 18 Oct 2025

105. Vương Đức Lệ

Trong những năm gần đây, những người yêu thơ đều sợ, vì biết chắc rằng, mình không thể nào đọc hết được số thơ đã được xuất bản. Lại còn số lượng thơ lớn đáng kể khác, hay nói đúng hơn, số lượng thơ lớn hơn nhiều, hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, được đăng trên trên các nhật báo, tuần báo, nguyệt san, đặc san v.v … người ta không thể nào có đủ để đọc.

Thơ là tinh hoa của ngôn ngữ. Mà những gì đã được coi là tinh hoa thì không thể nào có nhiều được. Thi sĩ như loài chim hiếm, chợt đến, chợt đi.

Người ta sợ vì đọc thơ không ra thơ sẽ làm nản lòng người yêu thơ. Nếu không đọc hết có thể lại bỏ sót những gì cần đọc.

Trong văn học sử Trung Quốc, không thiếu những thi sĩ, học giả, thiên kinh vạn quyển trong người, vậy mà cả đời chỉ làm được vài câu thơ rồi biến mất.

Nhị cú tam niên đắc

Nhất ngâm song lệ lưu

Ba năm mới làm xong được hai câu thơ, mỗi lần ngâm lên là hai hàng nước mắt chảy ra. Người yêu thơ nào không muốn mình là người thứ nhất được đọc những câu thơ như thế, tuyệt hơn nữa, khám phá ra những câu thơ như thế. Đó cũng là điều giải thích vì sao người ta vừa yêu thơ, vừa sợ thơ, vừa muốn đọc thơ vừa muốn tránh đọc thơ. Trong số các nhà thơ của chúng ta, có lẽ không ai chung thủy với thơ hơn Vương Đức Lệ. Kể từ tác phẩm đầu tay cho xuất bản tới giờ, ông không làm gì khác ngoài thơ, Ông không viết truyện ngắn, không cả bàn về thơ nữa. Ông làm thơ vần, tho tự do, thơ xuôi. Nhưng dần dà tới tập “Thơ Tình” vừa cho xuất bản lần này, Vương Đức Lệ có khuynh hướng nghiêng hẳn về lối làm thơ có vần điệu, thơ ngũ ngôn, thơ thất ngôn, thơ lục bát.

Ngay các bài làm theo thể thơ tự do, thơ xuôi của ông, với những câu ngắn dài không nhất định, người ta vẫn thấy ông tìm cách sắp xếp vào những khuôn, nhịp và cả với vần điệu nữa. Tuy được đặt tên là “Thơ Tình” nhưng bài thơ đầu tiên trong tập của Vương Đức Lệ bài “Âm Hưởng” lại không có vẻ gì là một bản tình ca cả. Vương Đức Lệ đã bầy tỏ cảm xúc của ông khi đứng trước bức tượng chìm nửa người trong cát ở Washington DC:

Nửa người vùi dưới đất đen

Bàn tay co quắp vươn lên với trời

Hỏi đâu chức phận con người

Ngàn thiên cổ lụy tiếng đời nỉ non

Vương Đức Lệ chỉ muốn làm thơ tình, nhưng hình như những cái không phải là tình đã xâm chiếm phần lớn những xúc động của tâm hồn ông. Cái vui không trọn, cái liều chẳng xong.

Trong thơ Vương Đức Lệ mọi sự dường đều ngừng lại ở nửa chừng. Ông chia nước mắt ra nhiều dòng, không khóc hết cho tình cũng không khóc hết cho quê hương, cho mình hay cho người khác.

Bài “Quán Nhỏ Chiều Mưa Tuyết” có thể coi là điển hình cho thơ Vương Đức Lệ:

Ngồi trong quán nhỏ chiều mưa tuyết

Gọi một ly sầu nhớ cố hương

Đã mấy ly rồi ta chẳng biết

Ngậm ngùi mái tóc điểm hơi sương

*

Ngồi trong quán nhỏ chiều mưa tuyết

Gọi một ly sầu nhớ cố nhân

Xuân ở bên này không có tết

Trời vô tâm đất cũng vô tâm

*

Ngồi trong quán nhỏ chiều mưa tuyết

Cạn mấy ly sầu nhớ diết da

Cạn mấy ly rồi ta chẳng đếm

Sầu tình nào phải của riêng ta

*

Ngồi trong quán nhỏ chiều mưa tuyết

Chợt nhớ em hay chợt nhớ mình

Rót chén cô đơn sầu chất ngất

Chân lê, trời lạnh, đất chông chênh

Tập “Thơ Tình” của Vương Đức Lệ dầy 220 trang, gồm 257 bài thơ. Có những bài chỉ có hai câu. Đọc những bài thơ ngắn, phần lớn là tứ tuyệt của ông, người ta có thể liên tưởng tới lối thơ haiku của Nhật Bản. Nhưng không phải như  vậy. Cách xử dụng chữ nghĩa, hình ảnh trong thơ ông là của riêng ông.

Cộng trừ rồi lại chia ư

Nhân lên sẽ thấy thừa dư ít nhiều

Em cười con mắt có đuôi

Người đời bảo đĩ còn tôi nhủ tình

Người ta cũng không thể nói những câu thơ như thế gần với ca dao. Thời cuộc cũng ghi nhiều ảnh hưởng trong thơ Vương Đức Lệ. Dĩ nhiên đối với những người phiêu bạt ở nơi chân trới góc biển này thì quê hương, đất nước chỉ còn là một nỗi buồn:

Cuối đời, đầu kiếp lưu vong

Hồn xiêu, phách vỡ, đèn chong bóng về

Chân dồn bước cuối đường mê

Trời quê xa lắc lòng tê tái sầu

Có người làm thơ để sống hết nỗi buồn của mình. Có người làm thơ để giải thoát mình ra khỏi nỗi buồn. Thơ Vương Đức Lệ hình như một nửa để nuôi sầu, một nửa để giải thoát.