Theo Chân Những Tiếng Hát

vietmessenger.com

Hồ Trường An

Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ 1998

Post by Sơn râu 1 Jan 2026

Chương 6.

Khởi Đầu Một Giai Đoạn Xuống Giốc

MỘT hiện tượng đáng được nhắc đến là những ban kịch lưu động của Nha Tâm Lý Chiến chia nhau đi trình diễn khắp miền Nam đất nước, từ Bến Hải đến Cà Mau. Những ban kịch nầy chuyên diễn những hài kịch tố Cộng, nhưng vẫn có phần đơn ca, song ca và hợp ca những bài hát bài tố Cộng. Tuy những vở kịch mà họ trình diễn dù không sâu sắc, nhưng thu hút quần chúng mãnh liệt. Những nghệ sĩ hài hước như Kim Bảng, Ngọc Trai, Hồn Nhiên (em trai của Ngọc Hà) và nhất là Xuân Phát làm cho ấm nóng sân khấu lộ thiên của các ban kịch ấy. Khán giả cứ tự tiện mà đến xem, không mất tiền mua vé. Về phần ca hát, những ban kịch nầy đã giới thiệu được những giọng hát sáng chói như sau:

* Kim Chi, Mỹ Hòa:

Kim Chi và Mỹ Hòa sau khi thôi cộng tác với các ban kịch lưu động trở thành các ca sĩ phòng trà. Kim Chi ở đây không phải là Thần đồng Kim Chi, bạn song ca với Thần đồng Quốc Thắng. Kim Chi ở đây có dáng dấp mỏng mảnh, giọng ca cũng mỏng mảnh. Khuôn mặt cô đẹp tươi sáng, nhưng vóc dáng cô mảnh khảnh và kiều nhược. Tuy nhiên, cô hát vài bài rumba khá hay, nhất là bài “Thuyền Về Bến Xưa” của Anh Việt.

Mỹ Hoà xinh xắn, duyên dáng, giỏi trang điểm, dù cô có màu da hơi ngăm đen nhưng cô có nét tươi trẻ nồng mặn qua màu sắc trang điểm tươi thắm. Mỹ Hòa có giọng hát trong trẻo, nhưng khi áp dụng giọng ngực thì giọng cũng khào khào và nồng ấm. Về sau, vào năm 1970, cô cùng hai chị em Uyên Ly và Kim Anh (hai cô nầy là em của nữ ca sĩ Minh Tuyết) lập thành Tam Ca Ba Con Mèo và chuyên hát nhạc Mỹ.

Mỹ Hòa có đóng một vai quan trọng trong phim Hoa Mới Nở (phỏng theo quyển tiểu thuyết Cô Hippy Lạc Loài của Nhã Ca) do Lê Dân đạo diễn. Cô đóng bên cạnh Bạch Liên, Cát Phương và Vũ Thái Bình. Lần đầu tiên đến với điện ảnh, cô tỏ ra thoải mái và thao túng, diễn xuất rất truyền cảm.

Khi ra hải ngoại, Mỹ Hòa chuyển qua hát cải lương bên cạnh Hữu Phước, Dũng Thanh Lâm, Chí Tâm, Minh Đức, Ngọc Lưu, Hương Lan, Hà Mỹ Liên, Kiều Lệ Mai … Dù có hơi yếu về nhịp, nhưng khi hát Vọng Cổ, cô có thừa những cái huê dạng và bay bướm để mê hoặc khán giả. Cô đóng vai thương đã hay, mà nhào qua đóng vai lẳng cũng rựa ràng lắm. Hiện nay, bắt đầu từ đầu năm 1977, mỗi xế Chúa nhật, cô làm mưa làm gió trong chương trình ca nhạc tại quán Đào Viên (quận 13, Paris).

Giao tình giữa Mỹ Hòa và tôi từ 1977 cho tới nay bao giờ cũng tốt đẹp, dù cả hai vì đa đoan công việc nên ít khi gặp nhau. Nhưng khi gặp nhau, cả hai đấu láo thật nhộn để rồi khi chia tay lại lười điện thoại cho nhau. Ở cô, tôi bắt gặp sự thông minh sâu sắc, những kinh nghiệm về cuộc đời rất chin chắn, niềm thông cảm thật bao la. Có một thời cô hơi đẫy người. Nhưng giờ đây cô lấy lại vóc mình thanh cảnh và sự tươi mát trẻ trung; dù chỉ nhỏ hơn tôi một tuổi nhưng trông cô trẻ hơn tôi ít nhất 10 tuổi.

* Bích Huyền:

Khi chưa lấy chồng, Bích Huyền có vóc mình tuy hơi nhỏ nhắn, nhưng tròn lẳn và xinh xắn. Khuôn mặt chị có những nét đều đặn: mũi dọc dừa, mắt tròn bồ câu, đôi môi rõ nét và gợi cảm. Giọng của chị nồng ấm mềm mại. Chị hát và diễn kịch đều thu hút khán thính giả. Khi thôi cộng tác với ban kịch lưu động và trở thành vợ Xuân Phát, thỉnh thoảng Bích Huyền có hát trên sân khấu Đại nhạc hội do Kim Cương tổ chức. Nhưng không hiểu vì sao khi đứng trên sân khấu lớn trong một hí viện, chị lại mất hết sức thu hút dù giọng chị vẫn không mất âm lượng và dù nhan sắc của chị vẫn không suy giảm, vóc mình của chị không lệch lạc sau những lần sinh nở.

* Bích Sơn:

Bích Sơn là cháu kêu nữ danh tài Bích Thuận bằng dì. Cô có vẻ đẹp của một cô gái Nhật Bản, hao hao giống nữ hoàng điện ảnh Kim Ô Phương Tử (Kyo Machiko). Cô có một suối tóc dài bất hủ, một khuôn mặt đầy đặn, và cặp môi mũm mĩm. Giọng hát của cô hơi khàn nhưng làn hơi thật mướt, chuỗi ngân rập rờn. Khi thôi cộng tác với ban kịch lưu động, Bích Sơn học hát Vọng Cổ cùng một số bài bản cổ nhạc Nam Kỳ rồi đầu quân cho đoàn ca kịch cải lương Thúy Nga và trở thành nghệ sĩ ca kịch cải lương luôn. Sau gánh Thúy Nga, cô cộng tác các gánh Bích Thuận, Bích Sơn & Ngọc An, Thanh Minh, Bạch Vân … Cô đoạt giải Thanh Tâm vào năm 1962. Cô có đóng các phim như Thế Hệ 20 do Năm Châu đạo diễn bên cạnh La Thoại Tân, Thẩm Thúy Hằng, Bích Thủy, Phương Mai, như Ngàn Năm Mây Bay do Hoàng Anh Tuấn đạo diễn bên cạnh Lê Quỳnh, Bích Thủy. Thập niên 50, thời đại thanh bình. Mọi bộ môn trình diễn bắt đầu vươn lên trên đà phát triển mạnh, trừ ngành điện ảnh. Khắp các nơi đô thị, cuộc sống ăn chơi làm cho thị dân quên phắt đi những mầm mống ác hiểm ở nông thôn. Khi Việt Minh tập kết ra Bắc có để lại một số cán bộ nằm vùng khắp nơi, từ trong nội bộ của các cơ quan của chính quyền, từ mọi hoạt động văn hóa ở thành thị cho tới các sinh hoạt khác ở nông thôn. Nhất là nông thôn, một vị trí hoạt động rất lý tưởng cho họ để sau nầy khi lực lượng quân sự của họ từ Bắc len lỏi vào Nam thì đồng bằng miền Nam sẽ là cái bàn đạp để họ mở những mũi tấn công về phía đô thị.

Chính phủ của nền Đệ nhất Cộng Hòa vẫn không ngừng nghĩ những mưu kế để bứng trọn gốc những kẻ địch nằm vùng. Cảnh sát hương thôn chưa đủ hiệu lực phanh phui và tiêu diệt họ nổi. Thế là có tổ chức những cái gọi là Cải Cách Điền Địa và Diệt Trừ Sốt Rét. Những cán bộ của hai chiến dịch đó len lỏi vào trong nông dân và dân miệt vườn, mặt ngoài là cố giúp đỡ dân cải thiện nếp sống ở bùn lầy nước đọng, nhưng thực ra là dò xét và phăng tìm dấu vết bọn Cộng Sản nằm vùng. Nhưng hai chiến dịch nầy không bao lâu bị bãi bỏ vì các cán bộ của chúng ta bị bọn Cộng Sản nằm vùng bắt đem thủ tiêu. Chánh sách Ấp Chiến Lược cũng không tồn tại lâu vì gây ra nhiều oán ghét trong lớp nông dân, một phần vì họ bị Việt Cộng tuyên truyền bất lợi cho chánh sách, một phần dân chúng bị gom vào ấp không được bồi hoàn thiệt hại xứng đáng cơ nghiệp mà họ bỏ lại ngoài vòng đai của ấp. Cho nên mầm mống ác hiểm của Việt Cộng càng ngày càng bành trướng.

Nha Tâm Lý Chiến và Nha Thông Tin đã chỉ thị một số nhạc sĩ trong nha sáng tác những bài hát tuyên truyền ca tụng nào là Ấp Chiến Lược, nào là Khu Dinh Điền, nào là Khu Trù Mật để nói lên cái thắng lợi giả tạo của nhà cầm quyền trung ương lẫn nhà cầm quyền địa phương. Dĩ nhiên những bài hát đó chỉ tổ làm bực mình người nghe, trước hết là nhạc dở tồi dở tệ, sau đó là dân chúng oán ghét chế độ gia đình trị của anh em nhà họ Ngô. Tuy nhiên, ở những khu định cư dành cho người Bắc di cư như Hố Nai, Gia Kiệm, Cái Sắn, cuộc sống

được ổn định và trở nên trù phú. Vào thuở đó, chỉ có bài hát tuyên truyền “Ai Về Miền Cái Sắn” của Nguyễn Việt là được thính giả đón tiếp nồng hậu. Bài nầy thường được nữ danh ca Thái Thanh hát trên làn sóng điện. Đây là một bài hay; tài hoa của tác giả đã đưa công cuộc tuyên truyền vào lãnh vực nghệ thuật. Điều nầy rất hiếm xảy ra.

Mai nầy mùa lúa mới đơm bông

Tôi về tìm sức sống

Bên bờ giòng nước trong

Gió chiều đùa trăng thanh ngát hương

Sống hòa nhịp bốn phương

Cho lòng tràn mến thương.

Trong khoảng thời gian đó, có một vận sự và cũng là một hiện tượng đáng kể xảy ra trong khoảng gần cuối thập niên 50. Đó là vụ nữ nghệ sĩ cải lương Kim Hoàng ly khai gánh cải lương Nam Phi để lao vào lãnh vực Tân nhạc. Vận sự nầy, tôi đã tường thuật ở quyển Sàn Gỗ Màn Nhung, nhưng cũng xin nhắc lại ở đây cho có đầu có đuôi. Kim Hoàng là gái mồ côi cha mẹ được nữ hoàng sân khấu Năm Phỉ nhận làm dưỡng nữ.

Bà đã từng nuôi chị từ lúc chị hãy còn thơ bé và bà gắng công rèn luyện chị trở thành đào hát. Khi chị vừa lớn lên thì các chị em bà Năm Phỉ dùng lời ngon tiếng ngọt sao đó để đùn chị cho cậu Lê Tấn Để, em út của bà Năm. Chị tuy lấy chồng mà không yêu chồng. Trên sân khấu, chị bị nữ nghệ sĩ Bảy Nam, em của bà Năm Phỉ và cũng là mẹ ruột của Kim Cương chèn ép, không cho mặc trang phục hào nhoáng hơn Kim Cương, không cho đóng những vai trội hơn Kim Cương. Thật ra, Kim Hoàng diễn xuất thua Kim Cương, nhưng sáng đẹp sân khấu hơn Kim Cương. Lại nữa, về ca hát, Kim Cương không có giọng đẹp, lại nghẹt mũi, làn hơi hao hụt trong khi đó Kim Hoàng có giọng kim cao vút và làn hơi vừa dũng mãnh vừa phong phú. Tuy nhiên, vì gặp anh chồng Út Để đã nhu nhược hiền lành, lại sống nhờ nghề vẽ phông và áp-phích cho đoàn hát nên Kim Hoàng không dám phản đối kêu ca. Rồi một ngày kia nữ vô địch bóng bàn Như Mai xuất hiện. Chị Như Mai vốn là một người đồng tính luyến ái. Lúc đầu, chị ve vãn Kim Cương. Nhưng Kim Cương chướng mắt, gạt chị qua một bên. Cho nên chị xoay qua xun xoe Kim Hoàng. Thế rồi Kim Hoàng bỏ gánh theo Như Mai. Lúc đó, bà Năm Phỉ chết đã được 4 năm rồi. Bà Bảy Nam và cậu Út Để làm dữ, phanh phui với báo chí chuyện tình trái cựa của cặp Kim Hoàng & Như Mai. Tuy nhiên, Kim Hoàng vẫn cương quyết theo tiếng

gọi của trái tim và nhất là trốn thoát khỏi cái tánh khống chế nhỏ mọn của bà Bảy Nam. Khi chung sống với Như Mai, Kim Hoàng được bạn của mình nâng đỡ để có dịp trau giồi nghệ thuật và được tập cách sống theo một mẫu người đàn bà thanh lịch. Như Mai vận động cho Kim Hoàng hát trên sân khấu Đại nhạc hội. Không ngờ, chị ăn khách kinh khủng. Giọng hát vang lộng như tiếng Đại hồng chung và ngọt lìm lịm của chị làm cho khán thính giả trong hí viện như bị điểm huyệt. Bản “Nắng Đẹp Miền Nam” của Lam Phương nhờ Kim Hoàng mà trở nên nổi tiếng và bán chạy như tôm tươi. Sở trường của Kim Hoàng là hát những bản có hai câu thơ lục bát mở đầu để chị ngâm sa mạc như “Quê Mẹ” của Thu Hồ, “Bức Tâm Thư” của Lam Phương, “Quê Hương” của Hoàng Giác và “Nắng Đẹp Miền Nam” của Lam Phương. Mỗi khi xuất hiện trên sân khấu Tân nhạc, Kim Hoàng hiện thân là một nàng tiên, nhan sắc thùy mị dịu hiền, cung cách quý phái hơn Kim Cương nhiều. Như Mai đã gột rửa rất nhiều những cái vụng về quê mùa trong cách ăn mặc trang điểm, trong ngôn ngữ, cử chỉ, cách hành xử của Kim Hoàng. Do đó, Kim Hoàng lần hồi trở thành mẫu người phụ nữ thanh nhã và lịch lãm, không mặc cảm, biết tự tin. Do đó mà chị có thể đứng ngang hàng với Bích Thuận và Túy Hoa vốn là hai cô đào cải lương biết ca Tân nhạc. Và hơn thế nữa, thập niên 50 là thời đại vàng son

của Kim Hoàng trong khi đó Túy Hoa chớm già và Bích Thuận không hoạt động nhiều ở mọi bộ môn trình diễn được nữa.

Vận sự giữa Như Mai & Kim Hoàng khiến cho giới sành kịch ảnh và tân nhạc liên tưởng tới vận sự của đôi nghệ sĩ “gay” nước Pháp là thi sĩ kiêm điện ảnh gia Jean Cocteau và tài tử điện ảnh Jean Marais. Nhờ tình yêu của thi sĩ lỗi lạc Jean Cocteau mà anh chàng vô danh tiểu tốt ở giai cấp thấp là Jean Marais trở thành minh tinh điện ảnh hàng đầu của Pháp. Jean Cocteau hướng dẫn Jean Marais xem sách, tập viết văn, tập môn hội họa. Khi về già, Jean Marais viết được vài cuốn sách, vẽ tranh và nắn tượng để triển lãm.

Trên sân khấu Đại nhạc hội, Trần văn Trạch bớt ăn khách vì anh cứ trình diễn một số bài bản cũ nên khán giả bắt đầu nhàm chán. Minh Trang chớm già, vóc mình trở nên khô sau nhiều lần chửa đẻ. Tâm Vấn vì kết hôn với Thanh Nghị nên ít khi xuất hiện trên sân khấu. Những cây đinh sáng chói trên sân khấu Đại nhạc hội gồm có Khánh Ngọc, Ngọc Hà, Linh Sơn, Vũ Huyến, Mộc Lan, Anh Ngọc, Tuyết Mai & Duy Khánh, Ngọc Cẩm & Nguyễn Hữu Thiết, Kim Hoàng, Túy Phượng & Hoàng Cầm. Riêng nhạc sĩ Hùng Lân có đào tạo được ba cô nữ sinh là Ngọc Loan, Thu Hà và Lệ Thanh. Hát xướng chưa được bao lâu thì Ngọc Loan và Thu Hà giải nghệ. Thu Hà tiếp tục việc học để sau nầy đỗ Tú tài, lên học trường Đại Học Y Khoa. Chỉ có Lệ Thanh tiếp tục ca hát. Nhưng về sau, song song với việc theo đuổi khoa danh ở trường Đại học, Thu Hà gia nhập vào ban Tam Ca Đông Phương để hát chung với Tuyết Hằng và Hồng Vân.

Còn về sinh hoạt của giới sáng tác thì sao?

Kế tiếp đợt Nguyễn Hiền, Văn Phụng, Nhật Bằng, Lê Trọng Nguyễn, Xuân Lôi, Xuân Tiên, Trịnh Hưng là đợt Lê Dinh, Minh Kỳ, Hoài Linh, Song Ngọc … Đây là đợt có nhiều nhạc phẩm ăn khách, nhưng lại hiếm nhạc phẩm có giá trị.

Minh Kỳ có ba nhạc phẩm hay là “Giòng Thời Gian”, “Nha Trang”, “Nhớ Nha Trang”, Lê Dinh có “Người Em Xứ Thượng” … Về sau cả hai hợp cùng với Anh Bằng thành Lê Minh Bằng sáng tác bừa bãi những bản nhạc chạy theo thị hiếu quần chúng theo thể điệu boléro. Chính thật ra Anh Bằng vẫn có những bản khá độc đáo, chẳng hạn như “Nếu Vắng Anh”, “Sầu Lẻ Bóng” …

Sự xuất hiện của Nguyễn văn Đông cũng là một hiện tượng đáng kể. Bản “Đôi Bờ” của anh là một bản hay, nhưng nó không nổi tiếng. Phải đợi những bản “Phiên Gác Đêm Xuân”, “Sắc Hoa Màu Nhớ”, “Chiều Mưa Biên Giới”, anh mới nổi tiếng khắp mọi tầng lớp thính giả. Nhưng có lẽ bản “Mấy Dặm Sơn Khê” mới là một tuyệt chiêu của anh. Để lượm bạc, Nguyễn văn Đông sáng tác loại nhạc chiều theo thị hiếu quần chúng trong đó có bài “Khi Đã Yêu” và anh lấy biệt hiệu là Phượng Linh khi cho xuất bản những loại bài ca rẻ tiền ấy.

Đây là giai đoạn hiếm hoi những nhạc phẩm có giá trị. Những nhạc sĩ chân chính tuần tự rút lui vào bóng tối, để cho phường lái nhạc lộng hành. Nhưng Phạm Duy vẫn cứng cựa và vẫn đương đầu với sóng gió. Những bản “Tôi Còn Yêu Tôi Cứ Yêu”, “Hẹn Hò”, “Vần Thơ Sầu Rụng”, “Hoa Rụng Ven Sông” … Đặc biệt nhất là anh phổ thơ của Cung Trầm Tưởng, cống hiến cho khách sành điệu những bài thật đặc sắc nhưng cũng phổ thông trong quần chúng như “Tiễn Em”, “Chiều Đông”, “Mùa Thu Paris” v.v … Và tuyệt vời nhất là bản trường ca “Con Đường Cái Quan” gồm 19 ca khúc. Riêng Phạm Đình Chương thì có những bài như “Ly Rượu Mừng”, “Đón Xuân”, “Màu Kỷ Niệm”, “Mộng Dưới Hoa”, “Xóm Đêm” … Tuấn Khanh tung ra “Quán Nửa Khuya”, “Hoa Soan Bên Thềm Cũ”, “Đêm Nầy Nghỉ Đỡ Chân” dù ăn khách kinh khủng đi nữa, nhưng có lẽ các bài “Mộng Đêm Xuân”, “Dưới Giàn Hoa Cũ”, “Chiếc Lá Cuối Cùng”, “Một Chiều Đông” mới chứng tỏ được cái tài hoa chân chính của anh. Lê Hoàng Long với “Gợi Giấc Mơ Xưa”, Huỳnh Anh với “Mưa Rừng” và “Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím” (phổ thơ của Kiên Giang Hà Huy Hà), Nguyễn Hữu Thiết với “Màu Áo Thiên Thanh”, Hoàng Thi Thơ với “Phố Chiều”, “Tà Áo Cưới” đều là những bản nhạc không đến nỗi rơi vào quỹ đạo thương mại của bọn lái nhạc bắt đầu lộng hành. Tóm lại, Tân nhạc trong giai đoạn nầy không còn thu mình vào giới sành nhạc chọn lọc nữa mà nó bung ra quần chúng. Nhưng được cái nầy thì phải mất cái kia. Những nhạc sĩ bất tài nhưng biết nắm thị hiếu quần chúng dìm nhạc vào thị trường hạ cám quá ê hề và bừa bãi trong khi nhạc sĩ có tài năng căn bản đưa nhạc vào thị trường thượng vàng thì chẳng có bao nhiêu.

Đồng thời, nhạc ngoại quốc nhập cảng vào Việt Nam. Những nhạc phẩm được những giọng chân truyền của Mỹ như Nat King Cole, Andy Williams, Patti Page, Jo Stafford, Doris Day diễn tả những “Mona Lisa”, “Too Young”, hoặc “I Went to Your Wedding”, “Love Is a Many Splendored Thing”, “Que Sera Sera”, “Secret Love”, “The River of No Return”, đều là những bản nhạc có nhiều nề nếp chân truyền. Nhưng những bản “Mambo Italiano”, “Calypso Italiano”, “Banana Boat Song”, “Venus” đều là nhạc thời trang. Pat Boone, Ricky

Nelson, Paul Anka, Elvis Presley, Dalida đều là những ca sĩ thời trang và đều là thần tượng của giới trẻ Việt Nam. Pat Boone thì hơi khác là anh có thể hát những bản chân truyền như “Love Letter in the Sand”, “April Love”, nhưng anh cũng biết quấy nhộn qua các bản “Bernadine” hay “Why Baby Why” … Những ban hợp ca thì có ban The Platters, Trio Los Pechos, The Golden Gate là được giới trẻ thích hơn cả.

Cuộc tuyển lựa ca sĩ do đài phát thanh tổ chức tại rạp Thống Nhất đã giới thiệu được Thanh Sơn, Vũ Thành An và Nhật Thiên Lan. Thanh Sơn đỗ đầu trong kỳ chung kết vì anh biết xướng thanh. Vũ Thành An có giọng đẹp hơn Thanh Sơn, nhưng lại đứng hạng nhì vì anh xướng thanh không vững bằng Thanh Sơn. Còn Nhật Thiên Lan đỗ hạng sáu. Về sau, Thanh Sơn lẫn Vũ Thành An đều trở thành nhạc sĩ. Thanh Sơn sáng tác loại nhạc chiều theo thị hiếu quần chúng trong đó có bài “Màu Hoa Anh Đào” được các học sinh dùng làm nhạc cho các màn vũ của họ trên sân khấu học đường. Còn Vũ Thành An sáng tác những bản nhạc tình rất đẹp, được giới trẻ có khiếu thưởng ngoạn cao hâm mộ, trong đó có bài “Tình Khúc Thứ Nhất” và “Bài Không Tên Số 2″. Về sau, Vũ Thành An sáng tác thêm chín bài “Không Tên” nữa, nhưng chúng vẫn không có cái hấp lực nồng đậm bằng hai bài đầu của anh. Trong 3 năm cuối của thập niên 50, Mai Hương, Mai Hân, Bạch Yến và Bích Chiêu đã bắt đầu trưởng thành. Đoan Trang thì vừa đeo đuổi môn dương cầm ở trường Quốc Gia Âm

Nhạc vừa đeo đuổi việc sách đèn nên không còn hát ở đài Sài Gòn nữa. Quốc Thắng hãy còn là thần đồng hợp cùng Kim Chi, Tuyết Phương thành ba ca sĩ tí hon thao túng trên các sân  khấu Đại nhạc hội. Kim Chi và Tuyết Phương ngân nga rựa ràng lắm. Lê Phi, Lê Út, Huỳnh Mai hoàn toàn rút lui vào bóng tối. Mai Hương càng lớn càng hát vững chãi với nội lực thâm hậu dọn một chỗ ngồi sáng chói trong hàng ngũ ca sĩ thượng thặng với nghệ thuật hát chân truyền sau nầy. Mai Hân càng lớn lên thì giọng hát càng lu, làn hơi không còn

phong phú. Bạch Yến bỏ đi theo đoàn môtô bay một thời gian rồi cùng Bích Chiêu làm mưa làm gió ở phòng trà Hòa Bình vào khoảng năm 1957 cho tới 1960. Sau đây tôi xin điểm mặt từng giọng hát:

* Mai Hương, Mai Hân:

Tuy hai cái tên có chữ Mai khởi đầu, tuy cả hai có bước khởi hành trong sự nghiệp ca hát giống nhau, nhưng tài nghệ lại khá xa cách nhau. Mai Hương có vóc người mảnh mai, vóc vạc mỏng mảnh ốm yếu, khuôn mặt mỏng, đôi mắt hơi nhỏ, cặp môi hơi dầy. Nhưng cô trang điểm và ăn mặc khéo nên vẫn có cái dễ nhìn riêng và nhất là có cái cốt cách riêng. Mai Hương có giọng lu và mỏng yếu. Nhưng âm sắc của giọng thì đẹp. Chuỗi ngân của cô nhỏ mức và tỉ mỉ như những nét thêu tuyệt xảo. Cô dàn trải làn hơi thật điêu luyện và tinh vi, không chỗ nào gãy và hụt hơi. Âm vực trong giọng hát của cô hẹp, nhưng cô lên cao hoặc xuống thấp dù không vang lộng, nhưng hát tới nơi tới chốn ở những chỗ hóc búa. Nếu gặp một kẻ không có kỹ thuật lão luyện như cô thì với tiếng hát dù có mềm mại nhưng bạc nhược như thế đó khó mà giúp đương sự hành nghề ca sĩ. Nhưng Mai Hương vẫn có ý chí, vẫn biết luyện giọng theo phương pháp chân truyền nên vẫn là một ca sĩ thượng thặng. Cô hát những bản “Hương Xưa” của Cung Tiến, “Serenata” của Enrico Toselli (Phạm Duy phổ lời Việt đặt cái tựa là “Chiều Tà”), “Dòng Sông Xanh” của Johann Strauss (tức “Le Beau Danube” mà do Phạm Duy phổ lời Việt) là những bản có nhiều chỗ lên cao, nhưng cô vẫn hát trôi chảy, dù rằng khi lên cao giọng cô mỏng như mạng nhện nhưng không tắc tịt, không tét, không chua, đã vậy cô còn hơi sức để ngân nga lăn tăn. Nhưng coi chừng đó, cô hát mà khán thính giả run sợ theo cô, chỉ sợ cô vấp bẫy ngã ngựa, vậy thì cô nên lựa những bản nằm trong âm vực của cô mà hát thì hay hơn. Bản “Hương Xưa” dù đã được Lệ Thu và Thái Hiền hát bằng giọng kim cao vút và phong phú, nhưng họ hát không sành điệu bằng Mai Hương.

Dù có tiếng hát kém về âm lượng, nhưng Mai Hương có kỹ thuật thâm hậu hơn Thái Thanh. Mai Hương hát dân ca và loại ca khúc âm hưởng nhạc bán cổ điển Tây phương đều hay.

Đây là giọng rất kén người nghe. Nhưng nói cho cùng, Mai Hương chỉ hát hợp với làn sóng điện, băng nhạc, dĩa nhạc hơn là sân khấu Đại nhạc hội hay sân khấu phòng trà. Bởi cái nhan sắc khiêm tốn của cô không ăn đèn. Giọng cô đã lu mà cô lại cứ cầm khăn mù-soa đứng trước máy vi âm, hát mà không biết diễn tả sao cho sống động khi gặp bản vui hay không biết diễn tả niềm cảm xúc lâm ly khi gặp bản buồn. Cho nên xem Mai Hương hát, khán thính giả chỉ ước mong cô hát cho mau xong để họ thưởng thức tiết mục ca nhạc kế tiếp.

Mai Hương có người em gái tên Bạch Tuyết, cũng võ vẽ hát xướng, nhưng không có giọng tốt. Nhận thấy con đường ca hát không mở cho mình một tương lai sáng sủa nên cô cố gắng học ngành Dược để trở thành dược sĩ. Khi trở thành vợ của Ngọc Giao, Mai Hân ít ca hát. Vả lại cô không có làn hơi phong phú. Mai Hân thuở còn con gái chỉ xinh thôi chứ không đẹp. Về sau, khi có vài mặt con với chồng và vào tuổi ba mươi trở lên cô ăn diện thật diêm dúa, trang điểm thật thắm thật đậm. Giọng hát cô lại không có âm sắc đặc biệt. Cô không có cái ma lực đặc biệt để khuấy động sự thờ ơ của quần chúng và cũng không có kỹ thuật thâm hậu để làm cho khách sành điệu phải thán phục. Cho nên cũng như Tuyết Anh, cô chỉ hát trên làn sóng điện.

* Quỳnh Giao:

Công Tằng Tôn Nữ Đoan Trang vốn là hậu duệ của ngài Tuy Lý Vương Miên Trinh. Cô đã trưởng thành kịp lúc trong đầu thập niên 60 để hát chung với Mai Hương với cái biệt hiệu là Quỳnh Giao. Đây là một giọng kim cực kỳ phong phú, tươi non mươn mướt. Cũng như Mai Hương hay như Mộc Lan, Quỳnh Giao ngân nga thật vững vàng thoải mái. Giọng cô trong trẻo, nhưng sao mà có vẻ như giọng cô trinh nữ, không một chút gợi cảm nào. Nó còn gợi nên hình ảnh một thiên thần cánh trắng, một tiên nữ trinh khiết thơ ngây. Đôi lúc cô hát bằng một giọng gượng nhẹ làm người nghe có cảm tưởng đó là một phiến mây phiêu diêu hay một sợi tơ trời mong manh, không biết tan rã lúc nào. Nhưng coi chừng đó, giọng ấy khi vút lên cao thì vang lộng và ngời sáng, chuỗi ngân kéo dài theo ý muốn. Đây là một giọng có nội công thâm hậu, có một kỹ thuật già dặn. Hồi ở quê nhà, cô có lần lên đài truyền hình hát bài “Dòng Sông Xanh” của Johann Strauss. Cô hát thật dễ dàng, thoải mái, không chút cố gắng, tới chỗ ngân bằng nguyên âm (vocaliser) cô làm cho khán thính giả thỏa mãn ở làn hơi phong phú như thác nước Cam Ly và chuỗi ngân óng ả rập rờn. Mọi người đều thích Thái Thanh hát bài “Dòng Sông Xanh” và cho rằng chị hát bài nầy hay nhất. Riêng tôi, tôi nghĩ rằng Quỳnh Giao hát đạt hơn. Tại sao? Bởi vì giọng của Thái Thanh hát theo lối nhấn từng chữ, hát theo điệu chầu văn quen thói quen nết rồi. Khi hát một bản nhạc cổ điển Tây phương, chị thả lối hát chầu văn vào đó dù là một chút xíu đi nữa thì có khác nào thả một thìa mắm tôm vào món “ra-gu” hay món sườn rô-ti của Tây. Quỳnh Giao có thể hát không tới nơi tới chốn những bản nhạc của Phạm Duy (về tình ý), nhưng những bản có âm hưởng nhạc bán cổ điển Tây phương thì cô ăn đứt Thái Thanh ở cách trình bày trong suốt, không gợn đục bởi mắm tôm và tương Cự Đà. Quỳnh Giao là một nàng tôn nữ nhưng từ thuở nhỏ sống ở Sài Gòn. Cho nên cô nói giọng Nam. Khi kết hôn với anh Dương Ngọc Hoán vốn là người Bắc nên cô nói tiếng Bắc. Cô có vóc vạc mảnh mai, khuôn mặt thông minh và đoan trang thùy mị. Cô có học thức, lại tốt nghiệp môn dương cầm. Cho nên cô vẫn giữ cốt cách và phong thái của một quận chúa. Khuôn mặt cô có đôi lưỡng quyền hơi cao, nhưng không vì lẽ đó mà nó tối tăm. Thần thái cô sáng rỡ rỡ. Nụ cười của cô đằm thắm, cái nhìn đoan nghiêm. Cô ăn mặc nhã đạm, trừ lúc lên sân khấu sau nầy. Mà dù có ăn mặc diêm dúa và choáng lộn đi nữa, cô vẫn có cái sang trọng quý phái đặc biệt. Là trưởng nữ của nữ danh ca Minh Trang nên cô hát có đôi chút hơi hướm của giọng chị Minh Trang. Giọng cô trong quá có nhiều lúc hơi chát. Chỉ thiếu một chút khàn khàn thôi, cái giọng ấy mới lột xác giọng trinh nữ hay giọng thiên thần để trở thành gợi cảm như giọng chị Minh Trang. Điều đó, các bạn khỏi lo, trong hai dĩa nhạc “Khúc Nguyệt Quỳnh” và “Tiếng Chuông Chiều Thu”, cô hát cực kỳ điêu luyện như tự xưa giờ và cực kỳ gợi cảm ở chỗ khàn khàn khi xuống một nốt hơi trầm. Bước vào tuổi tứ tuần, cô có cái giọng thật thiếu phụ, ấm áp và nồng mặn hơn. Nhưng từ căn bản, đó vẫn là giọng hát trong như pha lê và sáng như gương báu. Chút khan khàn kia như một nét vân mềm làm cho phiến ngọc thạch thêm duyên dáng, thêm hoa mỹ vậy thôi.

Tôi quen với Quỳnh Giao vào năm 1971, khi tôi cộng tác với tờ tuần san Minh Tinh. Từ đó, có vài lần tôi đến tư thất của bà Ngọc Thuyền để viếng cô. Thuở đó, vợ chồng cô ở chung với bà, tại đường Trần Quang Khải (Tân Định). Sau nầy, vào năm 1977, tôi mới rời khỏi Việt Nam và định cư trên nước Pháp. Nhưng mãi tới năm 1985, tôi mới liên lạc được với cô qua sự trung gian của nhà văn nữ Vi Khuê. Từ đó, thỉnh thoảng chúng tôi có viết thư cho nhau. Được biết cô thích văn chương và sốt sắng theo dõi văn chương Việt Nam ở hải ngoại, tôi rất mừng. Năm 1989, tôi có dịp qua Washington D.C ra mắt sách, vợ chồng cô có mời tôi lại nhà cô chơi. Thuở đó cô còn chung sống với anh Ngọc Hoán. Cả ba đưa nhau đi chơi núi, có trăm ngàn việc để kể cho nhau nghe, cùng hát những bản nhạc xưa ơi là xưa. Tối hôm đó cả ba cứ thức kể lể đủ thứ chuyện, và khi nhìn ra ngoài trời thì đã lờ mờ sáng. Tôi được gia chủ đãi một bữa điểm tâm thịnh soạn trước khi chuẩn bị khăn gói quả mướp qua viếng nhà chị Vi Khuê ở thành phố Burke.

* Bạch Yến:

Sau khi bỏ nghề môtô bay, Bạch Yến khởi nghiệp ca hát ở phòng trà. Dạo đó, cô có thân hình đầy đặn và nồng nàn, khuôn mặt dù không đẹp nhưng xinh tươi và duyên dáng. Với đôi vai hơi xuôi, cô mặc áo dài thật bắt mắt. Cái duyên dáng đậm đà nhất của cô là chiếc răng hơi khểnh bên mép trái. Giọng Bạch Yến có âm vực hơi hẹp, nếu cô không xử dụng thành thạo thì lên cao sẽ tét, xuống trầm sẽ nghẹt. Hồi cô còn son trẻ, tiếng hát của cô đã hơi khao khao rồi. Khao nhưng chẳng những không khô, mà trái lại còn dẻo mềm quyến rũ nữa. Sau nhiều năm trôi nổi ở hải ngoại, trước ngày chung cuộc của miền Nam đất nước, Bạch Yến luyện được một giọng óc vừa dũng mãnh vừa mượt mà óng ả. Bởi đó, khi hát bản nhạc Nam Mỹ “Malagueña”, khi lên cao cô chẻ qua giọng óc một cách khéo léo và ngân nga trác tuyệt làm khách mộ điệu phải mê mẩn rụng rời. Phải nói là Bạch Yến có cách diễn tả bài hát thật quyến rũ. Cô cùng Bích Chiêu là linh hồn của phòng trà Hòa Bình. Khách đến đó chỉ cốt nghe cả hai hát mà thôi. Hễ cô vừa xuất hiện trên sân khấu là như mang theo một cơn lốc bừng bừng phấn khởi. Đã vậy giọng hát cô như ướp bùa ướp ngải làm mọi người như bị thôi miên.

Nhắc tới Bạch Yến là giới sành điệu cũ nhớ tới những bản nhạc ngoại quốc thịnh hành trong hai năm cuối của thập niên 50 và hai năm đầu của thập niên 60 như: “Bernadine”, “Secret Love”, “The River of No Return”, “Calypso Italiano”, “April Love”, “It’s Now or Never”, “Diana” … Những bản “Hoa Xuân” hoặc “Yêu Tinh Tình Nữ” của Phạm Duy và nhất là bản “Đêm Đông” của Nguyễn văn Thương cũng được cô trình bày một cách điệu nghệ. Vào đầu thập niên 1962, Bạch Yến sang Pháp được mời hát nhà hàng ca nhạc Les Mandarins,

được hát trên Đại hí viện Olympia ở Paris, được mời thu vào dĩa Polydor. Đây là thời gian cô leo lên tuyệt đỉnh vinh quang vậy. Sau đó, nhận thấy khán giả người Pháp ăn xổi ở thì, chỉ thích cô hát qua một vài bản trong một thời gian nhai chưa dập bã trầu, cho nên Bạch Yến qua Mỹ hành nghề, sống lây lất đó đây theo kiểu những nghệ sĩ gạo chợ nước sông xứ mình, không gây được một chút tên tuổi ở địa danh nhỏ bé nào lâu.

Nhưng có lần Bạch Yến bảo tôi:

— Đáng kể nhất là nhờ hát bản “Đêm Đông” trên đài truyền hình ở New York, Yến đã chinh phục 40 triệu khan thính giả Hoa Kỳ.

Có lần tôi viết bài “Bạch Yến, Tiếng Hát Ngậm Ngùi” đăng trên tạp san Quê Mẹ số 25 (ngày 16/9/78), Bạch Yến chê:

— Bài viết còn quá nhiều thiếu sót. Thành tích của tôi cầu phải có một cuốn sách dầy cộm mới nói đủ. Hôm nào tôi sẽ cho anh xem những bài báo bên Mỹ viết về tôi. Tôi nghẹn lời, biết nói sao cho phải. Ở Pháp, báo vùng có hai ba tờ nhật báo. Nước Mỹ vốn rộng mênh mông, báo địa phương mỗi tiểu bang phải có cả hàng trăm nếu kể cả tạp chí lẫn nhật báo. Báo vĩ đại Mỹ nào viết về một ca sĩ của nước Việt Nam qua Mỹ hành nghề với tính cách tư nhân chứ không phải qua công việc trao đổi văn hóa như Bạch Yến đây?

Sau ngày cáo chung của miền Nam, Bạch Yến phải đi hát ở các nước Á Châu cho khách du lịch nghe để rồi trở về định cư ở Pháp và kết hôn với nhạc học giả Trần Quang Hải vào năm 1978. Từ đó, dù được Trần Quang Hải dìu dắt vào lãnh vực hát dân ca, nhưng với tiếng khao khao, cô hát dân ca không gợi cảm, dù cô nắm bắt được nhiều bí quyết hát dân ca đi nữa. Nói chung, suốt 15 năm qua, từ năm 1981 cho tới 1996, Bạch Yến tài nghệ giảm sút, tiếng hát trở nên hơi khô, thời đại hoàng kim chỉ còn là kỷ niệm xa lơ xa lắc. Đã bao lần cô bị chứng đau cổ, phải giải phẫu. Nhưng cô vẫn kiên trì luyện giọng.

Dù sao xét qua công trạng và thành tích trên 40 năm hành nghề ca hát, Bạch Yến vẫn là một danh ca hạng cừ, có nội lực thâm hậu trong giọng hát. Bạch Yến đã tạo được một vài thành tích hiển hách khi đem chuông đi đấm xứ người dù rằng tại xứ người tiếng chuông không vang xa đối với khán giả ngoại quốc và không lâu dài lắm. Nhưng tiếng hát của cô có một chỗ đứng riêng, có một sắc thái độc đáo, không ai chối cãi điều đó. Nó đến mỗi chúng ta bằng vẻ nồng đượm như mùi hương khói chiên đàn. Nó trải dài nỗi bàng hoàng trên băng nhựa, dĩa nhựa và trải rộng ở các phòng trà Hòa Bình, Kim Điệp, Tự Do. Làn hơi ngao ngán u hoài của giọng hát cô như lời than thở cô đơn của nữ danh ca Julie London. Cũng như Julie London, Bạch Yến có một chuỗi ngân điêu luyện và cách giát mỏng giọng hát thật trác tuyệt. Và vượt cả Julie London, Bạch Yến còn biết xử dụng giọng hát đó để đôi lúc hát nhạc kích động, làm nổi sóng cả một buổi trình diễn.

Vào năm 1966, Bạch Yến có cho thu giọng của mình vào một dĩa nhạc. Cô hát những bài nổi tiếng của Pháp như “Ne Me Quitte Pas”, “La Vie en Rose”, “Les Feuilles Mortes”, hoặc bản nhạc Ý như “Mama” hoặc bản Nam Mỹ như “Malagueña” với cái accent khá vững vàng. Dù rằng làn hơi cô kém phong phú, nhưng kỹ thuật vẫn khá điêu luyện, lối trình diễn cũng còn đôi chút quyến rũ.

* Bích Chiêu:

Cô không đẹp nhưng có duyên. Cô có hàm răng vẩu và lưỡng quyền hơi cao. Nhưng vẻ thông minh tinh quái chiếu sáng chan hoà khuôn mặt cô. Đã vậy, cô rất hồn nhiên, không hề che đậy khuyết điểm của mình. Thân hình của Bích Chiêu khá nồng nàn và khá cân đối. Đã vậy cô biết hóa trang và ăn mặc nên trên sân khấu cô có nét gợi cảm và thu hút riêng. Giọng Bích Chiêu phong phú và hơi khàn. Chuỗi ngân cô rập rờn và óng ả. Cô hát những bản “Mustapha”, “Diana”, “Innamorata”, “Histoire d’un Amour”, “Le Gitan”, “Never on Sunday” rất điệu nghệ. Về các bản Việt, cô xuất sắc ở bài “Mùa Hoa Phượng” của Lê Đô, “Nỗi Lòng” của Nguyễn văn Khánh. Buồn cười nhất là ở bài sau, cô khởi đầu bằng ba tiếng “I love you … ” tới đây cô ngừng lại. Khán thính giả tưởng đâu ai đó đặt lời tiếng Anh cho bản nầy để cô ca, nhưng cô lại tiếp theo: “ … cả một đời”. Mọi người bị xí gạt cười rùm lên tán thưởng cái thông minh tinh quái của cô.

Bích Chiêu hát rất trội, rất ngậm ngùi những ca khúc tình ái như “You Don’t Know Me” hay “I Went to Your Wedding” dễ làm say lòng người. Tôi còn nhớ Nguyên Sa có câu thơ “trải dài đại lộ bằng tiếng hát Bích Chiêu”. Bên cạnh Bạch Yến, Bích Chiêu vẫn là thần tượng lộng lẫy của giới trẻ vào cuối thập niên 50. Cô không để hào quang của Bạch Yến lấn áp hào quang cô một chút nào. Thấy báo chí quảng cáo việc Bạch Yến đem chuông đi đấm nước người thật huy hoàng hiển hách cho nên Bích Chiêu bèn khăn gói quả mướp dông qua bên Pháp. Than ôi, chuyến đi nầy cô chôn sống sự nghiệp ca hát của cô. Lúc cô qua bên Tây mong lập nghiệp thì Bạch Yến cũng đang cụ bị hành trang đi Mỹ để tìm môi trường sinh hoạt mới. Cuộc hôn nhân giữa cô và chàng trai nước Ý chẳng những làm chướng ngại cho sự nghiệp ca hát của cô mà còn làm cô dở sống dở chết vì cảnh vợ chồng đồng sàng dị mộng vì canh không ngọt mà cơm cũng không lành.

Năm 1972, Bích Chiêu về nước, được trình diễn một buổi dành riêng cho cô, để rồi âm thầm trở về Ý không trống không kèn. Cái hướng vọng ngoại bắt cô trả giá hơi nhiều. Vào hè 1996, tôi được gặp Bích Chiêu trong phần phụ diễn ca nhạc cho buổi lễ chào mừng Văn Bút Âu Châu (thuộc phe cánh Viên Linh). Cô vẫn giữ vẻ mặn mà mà gợi cảm ở sắc vóc. Khi hát bài “Summertime”, cô biểu diễn một làn hơi dũng mãnh như làn hơi nữ nghệ sĩ Liza Minnelli làm cho khan giả hoan nghinh nồng nhiệt. Bích Chiêu ngân nga thua Bạch Yến, nhưng làn hơi cô phong phú hơn làn hơi của Bạch Yến.

Đã vậy cô còn giữ âm sắc trẻ trung trong tiếng hát. Sau đó vài tháng, Bích Chiêu qua bên Hoa Kỳ tái xuất giang hồ được báo chí cổ võ lắm. Cô lại còn hát cho cuốn băng hình Thúy Nga, nghe nói cũng gặt hái ít nhiều thành công.

Trong giai đoạn năm năm cuối của thập niên 50, trong ca trường nhạc giới xuất hiện những khuôn mặt như Việt Ân, Thanh Hùng, Mai Trường, Duy Mỹ (bên nam), Kim Vui, Minh Tuyết, Tuyết Hằng (bên nữ) … Đó không phải là lực lượng hùng hậu lắm, nhưng vẫn có một vài chân tài, dù các tài năng đó không chói sáng và không tồn tại lâu dài đi nữa. Riêng ban Dân Nam đào tạo thêm nữ kịch sĩ Túy Hồng. Cô nầy chẳng những đóng kịch hay mà còn ca hát tiến bộ vùn vụt để trở thành một giọng hát có bản lĩnh vượt xa những giọng hát nữ bên ban Sầm Giang.

* Kim Vui:

Trước khi trở thành ca sĩ, Kim Vui là một nữ vũ công đồng thế hệ với Mỹ Á Lan, đồng thế hệ với vũ bộ Hoa Lư gồm Anh Thư, Lan Hương và Băng Tâm. Kim Vui cao lớn, đẹp bỏng cháy. Chị có khuôn mặt hao hao như khuôn mặt của nữ minh tinh gốc Thụy Điển Anita Ekberg pha khuôn mặt của nữ minh tinh Ý-đại-lợi Sophia Loren. Có lẽ trong hàng ngũ các nữ ca sĩ, các nữ kịch sĩ, các nữ minh tinh màn bạc, Kim Vui đẹp bốc lửa nhất, đa tài đa diện nhất. Có một dạo chị chụp ảnh cười phơi bày hai hàm răng ngọc trai khít khao và đều đặn để làm quảng cáo cho hãng kem Leyna. Chị cũng như Kiều Chinh trội hơn đồng nghiệp ở cặp giò dài. Chị hơn Kiều Chinh ở bộ ngực đồ sộ và tài ca hát có chân truyền. Chị thua Kiều Chinh là đóng phim quá ít và không đóng phim ở ngoại quốc, không được kiên nhẫn để đeo đuổi sự nghiệp đến tận cùng.

Ít lâu, Kim Vui chán nghề vũ. Dù là ở những màn vũ Ai cập, chị hiện thân là một thần nữ lướt mướt lụa the dệt kim tuyến lấp lánh. Nhưng chị nhìn xa hơn vì chị có giọng tốt. Nghệ thuật trình diễn nếu mất đi nữ vũ công Kim Vui thì lại được thêm một nữ ca sĩ có đủ nội lực thâm hậu hát bằng lối chân truyền song song với lối hát nhạc kích động của giới trẻ đương thời. Giọng hát Kim Vui ngọt và khỏe, tuôn thao thao lai láng như một trận mưa hè. Chuỗi ngân của chị cũng tinh  luyện. Chị hát những bài nhạc Pháp bằng tiếng Pháp như “Bambino”, “Histoire d’un Amour”, “Le Gitan” đều hay, phát âm tiếng rựa ràng. Trong phim Chân Trời Tím, đạo diễn Lê Hoa Hoàng cho Thái Thanh hát “đúp” cho chị qua hai bản “Nửa Hồn Thương Đau” và “Người Đi Qua Đời Tôi” của Phạm Đình Chương. Tôi nghĩ họ Lê làm thế tức là chưa thưởng thức nổi một giọng hát cỡ cao như giọng hát của chị Kim Vui. Nhân dáng, cử chị của Kim Vui thật vương giả, thật tự nhiên, cao sang từ bản chất, không õng ẹo điệu đà. Khi tiếng hát Thái Thanh với cách ngoai mồm và nghiến từng tiếng trám vào họng Kim Vui, tôi e tiếng và người chẳng đi đôi. Vả lại, Kim Vui thừa sức hát hai bản đó, hát hay cũng như Thái Thanh, tuy không theo phong cách hát của Thái Thanh.

Kim Vui mặc áo dài thì áo dài phải mang ơn chị, vì nhờ chị mà áo mới đạt được cái đẹp trong công việc bợ ngực bó eo người mặc. Cái eo của chị thon, lưng chị dài, đùi chị cũng dài, ngực và mông chị đều cao và lồng lộng nét tròn mê hoặc. Chị mặc áo đầm hở vai, và mang găng tay kéo lên khuỷu tay, áo và găng đều bằng nhung đỏ hay nhung đen thì quá choáng lộn, quá bốc lửa như Rita Hayworth trong phim Gilda. Kim Vui cuốn tóc từng lọn boucles anglaises thì đẹp và sang như bà hoàng. Rất tiếc, khán thính giả thích xem nhan sắc của chị lúc chị hát chứ không kể số gì tới giọng hát có căn bản của chị. Có một dạo, Kim Vui theo ban Thoại kịch Kim Cương, đóng vai độc rất tới trong hai vở kịch Lỡ Một Bước Đường, Tôi Là Mẹ. Nhận thấy rằng trong ban Thoại Kịch Kim Cương, Kim Cương giành hết những vai thương cảm, còn vai độc vai lẳng dành cho mình, cho nên chẳng bao lâu Kim Vui tách khỏi ban kịch ấy.

Về phim ảnh, Kim Vui đóng ba phim như Thương Hận, Chân Trời Tím và Cúi Mặt. Chính nhờ vai Liên trong Chân Trời Tím, chị đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc. Trong phim nầy, chị có dịp mặc áo tắm và có dịp khỏa thân trước giá vẽ của nhân vật họa sĩ để phô bày đường cong nét lượn tuyệt mỹ trên thân thể chị. Hùng Cường, bạn đồng diễn của chị trong phim Chân Trời Tím có lần tuyên bố với báo chí rằng về điện ảnh, Kim Vui là bạn đồng diễn lý tưởng nhất của anh.

Ngoài tài năng nghệ thuật trình diễn đa diện, Kim Vui còn biết vẽ tranh sơn dầu.

* Túy Hồng:

Tên thật của chị là Trương Ánh Tuyết, quê ở Bình Dương. Thuở còn con gái, chị có khuôn mặt tròn thật ăn ảnh và thật duyên dáng cùng vóc mình nhỏ bé và xinh xắn. Trên làn sóng điện, Túy Hồng thủ những vai nhì sau Túy Phượng trong các vở thoại kịch do Anh Lân biên soạn cho ban Dân Nam. Nhưng khi các vở những kịch nầy được đưa lên sân khấu thì các vai của Túy Phượng lại giao cho Kim Cương, nhưng Túy Hồng vẫn giữ vai cũ của mình. Túy Hồng lúc khởi nghiệp hát không hay. Về sau, nhờ có nhạc sĩ Lam Phương chỉ dẫn nên chị hát rất nghề. Những bản nổi tiếng của Lam Phương như “Chiều Tàn”, “Đèn Khuya”, “Mộng Ước”, “Tình Nghĩa Đôi Ta Chỉ Thế Thôi” được chị trình bày thật truyền cảm. Và nhất là bản “Phút Cuối” mà chị cùng hát với Diên An và được thu thanh vào dĩa Việt Nam loại 45 tours phải nói là tuyệt chiêu. Giọng Túy Hồng trong và hơi chát, nhưng chị biết xử dụng làn hơi để che lấp cái âm sắc chát chát đó để rồi thả vào giọng những tình cảm nồng mặn đậm đà. Chuỗi ngân của chị rất điêu luyện. Tiếc thay về sau người ta chỉ mến chị qua vai nữ kịch sĩ Túy Hồng chứ không mến chị qua nữ ca sĩ Túy Hồng. Chị ca hát hay mà rồi rốt cuộc như người mặc áo gấm đi đêm. Về điện ảnh, Túy Hồng có đóng ba phim: Gác Chuông Nhà Thờ (do Lê Hoàng Hoa đạo diễn), Nhà Tôi (do Lê Dân đạo diễn) và sau hết là phim hài hước Lệnh Bà Xã …

* Minh Tuyết:

Chị xuất hiện ở các phòng trà, các quán ăn ca nhạc từ năm 1955. Mặt chị trái soan, sóng mũi dọc dừa, cặp mắt hơi nhỏ, chiếc miệng hơi rộng, nhưng thân hình khá nồng nàn sinh lực. Minh Tuyết có cái duyên thâm trầm. Mới nhìn thì thấy chị không đẹp, nhưng nhìn chị lâu, chúng ta thấy chị đậm hẳn lên. Giọng hát của Minh Tuyết hơi yếu, làn hơi không dồi dào. Nhưng chị biết gói ghém dè sẻn làn hơi để khi lên cao và xuống trầm không hụt hơi một cách sỗ sàng lộ liễu. Tóm lại, Minh Tuyết hát chỉ nghe được mà thôi chứ không mê hoặc được ai. Minh Tuyết là chị ruột của hai con mèo Uyên Ly và Kim Anh trong ban Tam Ca Ba Con Mèo.

* Tuyết Hằng:

Chị có nhân dáng một người nội trợ thuộc giai cấp trung lưu hơn là nhân dáng một nghệ sĩ. Chị có vẻ hiền lành phúc hậu, khuôn mặt đoan trang và rực rỡ thần thái thông minh. Nhưng đây là một giọng hát chân truyền được rèn luyện đúng mức, có thể được xếp vào hạng thượng thặng như Kim Tước, Châu Hà, Mộc Lan, Mai Hương, Quỳnh Giao.

Tuyết Hằng cởi mở mà không lố lăng, cách ăn nói khiêm tốn. Chị có thể thay thế một trong bộ ba Kim Châu Mộc để tam ca với hai người kia. Tiếng hát chị theo nề nếp khít khao, đạt đến kỹ thuật cao. Khi cùng Thu Hà và Hồng Vân thành lập Tam Ca Đông Phương, Tuyết Hằng cộng tác với phòng trà Đêm Mầu Hồng, tên tuổi chị mới vang xa. Chị hát trội hơn Thu Hà và Hồng Vân về kỹ thuật, nhưng thua Hồng Vân về nghệ thuật trình diễn vì Hồng Vân có cái lẳng lơ tuyệt xảo khi diễn tả một bài hát. Chị đẹp hơn và sắc sảo hơn Thu Hà, nhưng không sáng hơn Hồng Vân vì Hồng Vân có nụ cười dí dỏm và rạng rỡ cùng ánh mắt loáng gương.

Vào năm 1971, khi tôi cộng tác với tuần san Minh Tinh, có thường đến phòng trà Đêm Mầu Hồng và có dịp trò chuyện với Tuyết Hằng, có dịp nhắc đến anh Nguyễn văn A, giáo sư trường Quốc Gia Âm Nhạc đã từng đỗ bằng hòa âm và đối điểm. Anh A là bạn hàng xóm của tôi khi cả hai cùng ở dưới mái đông lang của Thánh Thất Cao Đài Từ Vân ở đường Nguyễn Huệ trên Phú Nhuận. Chính anh A đã khuyên chị Tuyết Hằng ghi tên học âm nhạc ở trường Quốc Gia Âm Nhạc để mở rộng kiến thức và để luyện giọng cho đến mức tinh xảo.

* Việt Ấn:

Là người Việt lai Ấn nên anh có mầu da sậm, thân vóc to lớn, cặp mắt hơi trố. Nhưng mặt mũi anh thấm nhuần vẻ hiền lành, hễ ai gặp anh là có cảm tình với anh ngay. Việt Ấn đi hát từ thời nhạc sĩ Lê Thương lập ban nhạc kịch gồm có Mộc Lan, Bích Giang (sau đổi lại là Tuyết Vân), Yến Hương, Phạm Đức, Dương Ngô Cầm. Giọng anh rất phong phú về âm lượng, lại sang sảng như chuông. Chỉ tiếc một điều là anh không ngân nga vững vàng, khi có khi không. Việt Ấn thường hát “Tiếng Hát Dân Chàm” của Châu Kỳ, “Hận Đồ Bàn” của Xuân Tiên. Bài sau đưa tên tuổi anh sáng rực trên đài danh vọng, nhưng sau đó Tổng Thống Thiệu lại cấm bài đó được trình diễn vì ông cho rằng đó là nhạc vong quốc.

Tội nghiệp cho Việt Ấn, anh chết vì tay một tên cao bồi du đãng mà chính quyền không thể truy nã được dấu vết của tên hung thủ ấy. Anh chết giữa lúc anh bước vào tuổi tứ tuần và giữa lúc danh vọng anh chưa hề giảm thiểu ánh hào quang.

* Thanh Hùng:

Anh đến ca trường nhạc giới bằng vóc dáng thư sinh, bằng khuôn mặt khôi ngô, bằng giọng hát cực kỳ dũng mãnh, cao vút và vang lộng với một chuỗi ngân trác tuyệt. Đây là giọng ténor mà chỉ có Lê Mộng Hoàng và Cao Thái mới có. Bởi có giọng quý giá như hoàng kim bảo ngọc ấy nên Thanh Hùng thường chọn những bản có chỗ lên cao như “Vọng Ngày Xanh” của Khánh Băng, “Tiếng Dương Cầm” của Văn Phụng, “Tình Không Biên Giới” của Văn Lương. Ngoài ra anh chọn những bài hát cao vút đã giúp cho ca sĩ Tây-ban-nha Luis Mariano nổi tiếng trong đó có bài “Le Chanteur de Mexico”. Ở bài nầy, Luis Mariano khi đến câu chót chẻ qua giọng óc mỏng và dẻo nghe mà mê luôn! Lúc đầu Thanh Hùng không chẻ được qua giọng óc như Luis Mariano, nhưng anh đâu có chịu khuất phục dễ dàng như vậy. Anh gia công tập luyện để chừng một thời gian ngắn sau, anh biểu diễn giọng óc vang lộng và tinh xảo của mình không kém Luis Mariano bao nhiêu.

Về âm lượng phong phú, tiếng hát của Thanh Hùng làm thính giả có cảm tưởng đó là con sông Cửu Long, con song Hồng Hà cuồn cuộn láng lai vào mùa nước nổi. Nó còn gợi luôn cái dũng mãnh ào ạt của thác Cam Ly ở làn hơi thật mạnh và thật phong phú.

Thanh Hùng thường được ký giả Trọng Minh (Vũ Trọng Chất) mời đóng loại roman-photo đăng từng kỳ trên các loại báo phụ nữ (Phụ Nữ Diễn Đàn, Phụ Nữ Ngày Mai … chẳng hạn) vì khuôn mặt anh rất ăn ảnh và nhất là anh ăn mặc rất bảnh bao.

Dù gì thì dù, tiếng hát của Thanh Hùng khá phổ thông trong giới khán thính giả chọn lọc và trong quần chúng. Khác với trường hợp của Kim Vui, anh có tài ca hát và được đời đãi ngộ xứng đáng. Vào năm 1965, Thanh Hùng được bầu làm nam ca sĩ ăn khách nhất, trong khi đó Phương Dung được bầu là nữ ca sĩ ăn khách nhất.

Hè 1993, khi Trọng Minh qua Paris ra mắt sách, tôi có gặp Thanh Hùng đến dự. Anh cho biết rằng anh được phép qua Pháp thăm người con trai và tháng sau phải trở về Việt Nam. Kỳ đó anh cùng ca sĩ Cao Thái hát những bản ruột của cả hai. Tôi cũng có dịp cùng anh nhắc nhở tới sinh hoạt của giới ca nhạc vào hai thập niên 50 và 60. Và chúng tôi có dịp nhắc tới hai danh ca lừng lẫy Mario Lanza và Luis Mariano vốn có giọng ténor sáng giá đã từng mê hoặc khán thính giả hoàn cầu trong các thập niên 40, 50 … Thanh Hùng cho biết:

— Anh biết chứ, thuở mới lớn tôi coi Lanza và Mariano như thần tượng. Phim nào mà họ đóng, tôi tìm xem cho bằng được. Tôi cũng sưu tầm dĩa hát của họ để nhái theo họ mà hát. Năm 1965, Thanh Hùng chiếm Huy Chương Vàng giải ca sĩ ăn khách nhất, bên nữ thì có Phương Dung.

* Duy Mỹ:

Phòng trào nghe dĩa ngoại quốc để hát được nhạc ngoại quốc đã quyến rũ chàng nam sinh Duy Mỹ trước đó là học sinh trường Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho. Nhưng trước khi chuyển qua lãnh vực hát xướng, Duy Mỹ hợp cùng Duy Thanh và Bạch Yến thành Vũ Bộ Bạch Yến, chuyên ăn mặc trang phục Tây-ban-nha và vũ theo điệu múa flamenco của Tây-ban-nha. Khi Bạch Yến ly khai thì hai chàng Duy Thanh, Duy Mỹ đưa Mai Ly vào thay thế. Giọng hát của Duy Mỹ rõ và khỏe. Khán thính giả chỉ thích anh hát những bài nhạc ngoại quốc hợp với giới trẻ chứ không thích anh hát loại nhạc cây nhà lá vườn. Anh rất trắng trẻo xinh trai, chẳng những không “bột” mà còn khôi vĩ nên rất được các khán giả nữ sinh ái mộ. Đây là giọng nam ăn khách ở phòng trà và ở sân khấu Đại nhạc hội. Có một dạo, anh cộng tác với phòng trà Tùng Lâm & Lệ Liễu ở đường Chi Lăng (Phú Nhuận), vào năm 1961 thì phải. Anh vẫn hát nhạc ngoại quốc ở đó và đôi khi cao hứng anh nhào qua đóng kịch với Tùng Lâm và Bạch Lan Thanh. Duy Mỹ về sau lập ra ban Tam Ca Sao Băng với Thanh Phong và Phương Đại. Nhưng anh lu mờ trước hai chàng ca sĩ kia.

* Ngọc Phu:

Anh có vóc vạc vừa tầm, mảnh khảnh mà rắn rỏi, khuôn mặt khôi ngô, sống mũi dọc dừa, nụ cười ngạo nghễ, ánh mắt dò xét. Anh không “đô” con, không có bắp thịt nổi cuồn cuộn. Nhưng trông anh vẫn tràn ngập nam tính. Trên màn ảnh, anh rất ăn ảnh và rất điển trai. Giọng anh cũng thường thôi, hát trơn ngọt, nhưng không có âm sắc đẹp. Đã vậy anh không biết ngân nga. Trên sân khấu anh mê hoặc khán thính giả qua bài “Banana Boat Song” theo thể điệu Calypso. Anh cũng thường hát những bài theo thể điệu nầy, đó là những bản đã từng được ca sĩ da đen Harry Belafonte diễn tả. Thường anh xuất hiện với chiếc quần màu xám ngọc trai, áo veste bằng nhung đen có rắc bột sáng lấp lánh nhiều màu xanh đỏ như áo của các ảo thuật gia.

Về điện ảnh, Ngọc Phu đã đóng vai chính trong phim Người Vợ Hiền bên cạnh nữ nghệ sĩ Kim Lan, do Trần văn Trạch đạo diễn. Anh còn đóng các vai then chốt trong loạt phim do Trần văn Trạch đạo diễn như Thoại Khanh Châu Tuấn (bên cạnh Kim Cương, Yến Hương và Vân Hùng), My Nương Trương Chi (bên cạnh Kim Cương, Trang Thiên Kim và La Thoại Tân), Tam Tạng Xuất Gia (bên cạnh Kim Hoàng). Về sau, anh và Ngọc Đức là hai tài tử lớn chuyên thủ vai phụ rất đạt trong nhiều cuốn phim danh tiếng, tạo được một hào quang riêng biệt trên vòm trời điện ảnh. Có một dạo Ngọc Phu đeo đuổi nghề nhiếp ảnh và trở thành tay nhiếp ảnh khá thành công.

* Mai Trường:

Đây là một giọng hát nhẹ nhưng vang lộng. Tuy thế, phần ngân nga của anh không vững vàng lắm. Tiếng hát anh chẳng có gì đặc biệt, nhưng cũng tạm gọi là một tiếng nghe được, đẹp và sáng hơn tiếng hát của Thanh Thoại và của Nhật Bằng.

Mai Trường có khuôn mặt thật trí thức, thần thái sáng lồng lộng. Thân hình anh hơi nhỏ, nhưng có một dạo anh tập thể dục thẩm mỹ để trở thành lực sĩ đẹp theo kiểu Steve Reeves (người đã đóng vai Hercule trong nhiều cuốn phim thần thoại). Quả nhiên, anh có thân hình đáng đem dự cuộc tuyển chọn lực sĩ đẹp. Tuy nhiên, bắp thịt anh nở nang quá mức, không cân đối với tầm vóc hơi thấp của anh. Nhưng dù sao trông anh vẫn đẹp: hai tảng ngực căng phồng như hai cánh buồm lộng gió, hai cái dorsaux vạm vỡ, bắp tay và bắp đùi nổi cuộn cuộn. Mai Trường có đóng một vai quan trọng trong phim Nước Mắt Đêm Xuân do Hoàng Anh Tuấn đạo diễn bên cạnh Nguyễn Long, Lệ Quyên và Giáng Hương. Chính trong phim nầy, anh hát nhạc phông bản “Ngày Đó Chúng Mình” của Phạm Duy. Anh cũng sáng tác nhiều bản nhạc ướt át, nhưng chỉ có bản “Hồn Bướm Mơ Tiên” mà anh soạn chung với Tô Vân mới được nhiều người biết đến qua giọng hát diễn tả của Tuyết Mai.

Mai Trường kết hôn với bà chủ thầu may quân phục ở đại lộ Trần Hưng Đạo, đối diện với Công Trường Quách thị Trang (Sài Gòn). Bà vợ của anh vốn kém sắc và có vẻ lớn tuổi hơn anh, lại có vẻ quê quê. Anh đành giải nghệ, cam phận ngồi ở xưởng nhà để may quân phục. Vào năm 1973, tôi tháp tùng theo nhạc sĩ Tô Vân đến viếng anh. Anh mập ú và trắng bủng beo đang ngồi kết mũ lưỡi trai, vẻ mặt mệt mỏi sật sừ, khuôn mặt lúc nào cũng trĩn ướt mồ hôi. Anh nhắc lại thuở còn theo nghề hát của mình bằng giọng thờ ơ, không có vẻ gì xót xa tiếc nuối.

* Quang Minh:

Quang Minh xuất hiện trong đầu thập niên 60 trên sân khấu Đại nhạc hội Kim Cương. Anh rất khôi ngô, khuôn mặt hóa trang của anh rất ăn ánh đèn sân khấu. Anh hát rất vững, ngân nga tinh vi, rõ ràng đây là giọng được luyện tập theo phương pháp chân truyền. Nhưng than ôi, ở đời làm gì có nhiều tri âm đối với một giọng hát hao hao như giọng Anh Ngọc ấy? Bởi anh hát đơn giản quá, bởi anh dựa trên kỹ thuật mà hát, không biết uốn éo làm duyên nên giọng anh chuồi qua tâm hồn khán thính giả bằng những bước chân rón rén âm thầm để rồi trôi vào niềm lãng quên của họ. Về sau, Quang Minh xoay qua ngâm thơ trong ban Tao Đàn và ban Thi Nhạc Giao Duyên do Đinh Hùng phụ trách. Với giọng phong phú, với chuỗi ngân dễ dàng và trác tuyệt, cộng thêm một chút tình cảm nồng đậm trong khi diễn tả một bài thơ, chẳng mấy chốc mà anh nổi tiếng trong địa hạt mới nầy. Và chẳng mấy chốc mà anh vượt cả Hoàng Thư, Quách Đàm và luôn cả Tô Kiều Ngân.

Dù gì thì dù, anh vẫn thích ca hát, nhưng khán giả sành điệu quá ít. Tiếng hát chân phương của anh không thể khua động vào khiếu thưởng ngoạn của đa số quần chúng nên tên tuổi anh đành mai một ngày khi anh tách rời ban Tao Đàn và ban Thi Nhạc Giao Duyên.

Năm 1973, tôi tình cờ gặp anh trong một buổi tối ca nhạc bỏ túi ở Phú Nhuận do nhạc sĩ Hoàng Bá tổ chức. Nhờ nghệ sĩ diễn ngâm Đoàn Yên Linh mà tôi được hầu chuyện với anh. Hôm đó anh tới chơi chứ không có hát xướng gì cả. Anh có vẻ xanh xao bịnh họan, vai co rút, lưng còng. Trời đất ơi, thần thái sáng lộng lẫy như gương của anh chỉ còn là kỷ niệm. Mặt anh mờ nhạt lu câm, cái nhìn mệt mỏi. Tôi đến bên anh để tỏ lòng ngưỡng mộ giọng hát của anh mà giới sành điệu cho rằng đó là giọng hát Anh Ngọc thứ hai.

Năm 1989, vào đầu hè, tôi sang Washington D.C ra mắt sách. Trong thời gian ở chơi tại Hoa Đô, tôi được nhà thơ nữ Lê thị Ý ở Maryland mời đến ăn tiệc sinh nhật của chị. Hôm đó có nhà thơ Vĩnh Liêm, vợ chồng nhà văn Trần Long Hồ, nghệ sĩ thổi sáo Thanh Hà, anh Quang Minh và tôi. Tiệc tổ chức ở sân sau, chỗ dùng đặt bếp than để nướng thịt và đặt những chiếc bàn cây dài. Quang Minh có cho tôi biết hôm tôi ra mắt sách anh cũng có đến dự. Cả bọn nhẩn nha ăn uống từ lúc bóng hoàng hôn chói rực trên những ngọn cây cao cho tới

lúc bóng đêm kéo về. Tiệc tan, cả bọn leo lên phòng khách uống trà. Chúng tôi yêu cầu Quang Minh hát và ngâm thơ. Thanh Hà đến bên cây dương cầm dạo nhạc. Quang Minh chỉ có thể ngâm thơ bằng giọng truyền cảm như thuở nào. Nhưng anh không thể hát suông sẻ dễ dàng như xưa nữa. Anh bỏ hát quá lâu, trên 20 năm có lẻ. Nhưng được cái anh không già hơn bao nhiêu. Anh lấy lại đôi chút thần sắc sáng rỡ, nhưng có vài nếp nhăn đã gợn trên vầng trán sáng nhuận của anh.

Sau hết, tôi xin nói thêm đôi chút sinh hoạt ca trường nhạc giới trong thời gian nầy. Quốc Thắng có cô bạn đồng diễn của mình là Thần Đồng Phương Lan. Phương Lan xinh tươi mũm mĩm như búp bê chứ hát không hay, nhưng đóng kịch thì truyền cảm lắm. Đã có Phương Lan thì phải có một nữ thần đồng khác có cái tên khởi đầu bằng chữ Phương ra đời. Vậy là đến lúc Phương Mai xuất hiện do sự bảo trợ của nữ kịch sĩ Kiều Hạnh và nữ ca sĩ Mai Hương. Phương Mai hát điêu luyện lắm, xuất hiện trên các sân khấu Đại nhạc hội liên miên. Về sau, cô đóng một loạt phim như Thế Hệ 20, Mười Năm Giông Tố … bên cạnh nữ minh tinh Thẩm Thúy Hằng do Năm Châu đạo diễn.

Trưởng ban Thiếu Nhi là nhạc sĩ Nguyễn Đức đã đào tạo một loạt thần đồng, nhưng sáng giá nhất chỉ có Hoàng Oanh, Thanh Lan và ba cô Vân là Bích Vân, Ngọc Vân và Phước Vân. Khi năm cô nầy trưởng thành thì anh đào tạo các cô Phương khác như Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Hạnh, Phương Hồng Quế, Phương Hồng Ngọc …

Trong thời gian nầy, tên tuổi Thái Thanh sắp bị lu chìm. Nếu không nhờ báo chí hết lòng bảo vệ và quảng cáo cho chị thì nhà văn Mai Thảo không có cơ hội đã tặng cho tiếng hát chị một cụm từ quý giá: “Tiếng Hát Vượt Thời Gian”. Còn Minh Trang vì uống thuốc suyễn quá dược lượng nên tiếng bị hư hao khá nhiều. Giọng chị vừa khô vừa chát và khi lên cao thường bị tét. Cho nên chị phải dùng biệt hiệu Lai Hồng để hát. Rồi chị xoay qua đóng kịch nhiều hơn. Phong trào phòng trà dâng lên cao từ năm 1958 như một ngọn sóng thần. Những giọng hát nổi danh ở phòng trà gồm có: Lệ Thanh, Thanh Thúy, Thu Hương, Thùy Hương, Thùy Nhiên, Trúc Mai, Băng Tâm, Tâm Đan, Diệu Anh, Yến Hương, Thái Xuân, Tuyết Hương, Mỹ Hòa, Kim Chi, Mỹ Thể,

Lệ Hoa, Thiên Nga. Bên đực rựa có Việt Ấn, Duy Mỹ, Thanh Hùng, Jeannot, Ngọc Phu, Hoàng Cầm … Tôi sẽ nói tới các ca sĩ phòng trà ở chương sau (tức chương 7 của quyển Theo Chân Những Tiếng Hát nầy).

Cũng trong thời gian nầy, ở rải rác ngoài Sài Gòn có những giọng hát quý giá khác như Cao Thái và Thiên Hương ở bên Pháp, như Hà Thanh và Thương Hà ở ngoài Huế.

* Cao Thái:

Anh về nước trước Thiên Hương và ở lại nước hát đôi ba năm mới trở qua bên Pháp. Cao Thái có vóc vạc vừa tầm, nhưng dáng điệu đường bệ. Anh có nụ cười tươi và ngạo nghễ phơi hàm răng ngọc trai dưới hàng ria mép tỉa mỏng. Mái tóc anh dồi dào và rậm rạp ăn nhịp với nét mày sắc sảo của anh. Mặt anh hiền, anh ăn nói mềm mỏng, cư xử hòa nhã. Giọng anh cũng thuộc loại giọng ténor, nhưng mạnh và lẫm liệt khi lên cao, có phần sắc sảo hơn giọng Thanh Hùng đôi chút. Những bài ruột của anh là “Le Chanteur de Mexico” và “Malagueña” là những bài mà anh có thể áp dụng giọng ténor của anh và để anh biểu diễn giọng óc tinh luyện của anh. Giọng óc sao mà như xé lụa, chẳng những không chua không chát mà lại còn ngọt lịm như suối và ngời sáng như một dải Ngân Hà. Thỉnh thoảng trên sân khấu anh mặc quần áo và đội nón theo kiểu Mễ-tây-cơ có thêu những nét hồi văn bằng chỉ màu tuyệt đẹp.

Tôi chỉ mới quen Cao Thái vào năm 1994, trong dịp ký giả Trọng Minh ra mắt quyển Vẻ Vang Dân Việt (quyển hai). Tuy anh đã bước vào tuổi lục tuần, nhưng trông anh vẫn dẻo dai cường tráng, tay chân cứng cáp. Chiếc cổ anh gân guốc và khỏe mạnh có đeo sợi giây chuyền với miếng mề-đay bằng ngọc thạch chạm tượng Phật. Sau đó, cũng trong dịp nhà thơ nữ Bích Xuân ra mắt tập thơ Bao Giờ Em Quên, tôi có dịp chuyện trò với anh nhiều hơn. Anh có khoe anh vừa sáng tác một tập thơ thiền và có hứa trong dịp đến viếng một người bà con ở Troyes, anh sẽ đến Cổ Nguyệt Đường thăm tôi và sẽ tặng tôi tác phẩm thi ca của anh. Nhưng rồi anh bận việc sao đó đến nỗi quên mất chuyện viếng thăm tôi cũng như chuyện cho tôi được ghé mắt đọc qua tác phẩm của anh. Ít lâu, tôi tình cờ gặp anh ở quán ăn Thiên Cơ tại quận 13 Paris, anh cho tôi biết anh Trần văn Trạch đau nặng, đang nằm nhà thương đợi giải phẩu chứng ung thư ruột. Anh buồn rầu bảo:

— Bịnh nầy nặng lắm, tôi e cuộc giải phẩu sẽ không thành công. Tôi có thang thuốc gia truyền đưa cho vợ ảnh, mong ảnh chịu thuốc và sẽ qua khỏi căn bịnh ngặt nghèo kia.

* Thiên Hương:

Khi vào ca trường nhạc giới Pháp, chị lấy biệt hiệu là Tiny Young. Chị về nước vài lần ngắn ngủi và xuất hiện vài lần trên Tivi. Đây là một tôn nữ sớm rời đất Thần Kinh để định cư bên Pháp, đã khởi nghiệp qua lời giới

thiệu của danh ca thượng thặng Henri Salvador: “Permettez-moi de vous présenter une fleur que j’ai cueillie au hasard d’une promenade dans le jardin de la Chanson. C’est une fleur d’ailleurs qui a poussé sur la terre de France, permettez-moi de vous l’offrir. Elle s’appelle Tiny Young”. (“Xin cho phép tôi được giới thiệu một bông hoa mà tôi đã tình cờ hái trong vườn ca nhạc nhân một chuyến nhàn du. Đó còn là một bông hoa đã mọc lên trên đất Pháp, xin cho phép tôi trình hiến các bạn. Hoa ấy tên là Tiny Young.”)

Thiên Hương có một giọng trong sáng nhưng lại đượm một chút khàn khàn ở một vài chỗ làm cho ý nhạc các bài hát du dương và êm ái do chị diễn tả thoáng một chút ngậm ngùi cực kỳ gợi cảm. Giọng chị được thu vào nhiều dĩa 33 tours lẫn nhiều dĩa 45 tours. Hiện giờ tôi có 6 dĩa 45 tours và 1 dĩa 33 tours của chị. Chị hát nhiều bản do Henri Salvador sáng tác như: “Le Carrosse Blanc”, “Ma Poupée”, “Syracuse”, “Je t’Attendrai”, “Mon Chien et Moi”, “Aime-moi”, “C’est Fini Nous Deux”, “Tout Ce qui Fut l’Amour”, “Tu es le Roi des Menteurs” … Ngoài ra chị cũng có hát bài “Eight Days a Week” do hai chàng John Lennon và Paul McCartney trong ban Tứ Quái the Beatles soạn. Bản nầy được phổ lời Pháp với tựa “Huit Jours par Semaine”. Trong năm năm đầu của thập niên 60, Thiên Hương được xếp vào hạng 6 trong 10 ca sĩ trẻ được thính giả Pháp ái mộ nhất.

Vào năm 1972, Thiên Hương có về thăm Sài Gòn và xuất hiện trong chương trình của Ngọc Chánh trên đài truyền hình Việt Nam qua hai bản “Biệt Ly” của Dzoãn Mẫn, “Em Gắng Chờ” của Huỳnh Anh. Chị hát bằng một giọng thì thào gượng nhẹ, được âm sắc khàn đục nồng ấm phớt nhẹ nên dễ làm say lòng người. Tiếng hát sao mà như thoảng từ một cảnh giới mơ hồ huyền bí nào hay như đồng vọng từ cõi chiêm bao đưa về.

Chị có vóc mình mảnh khảnh, dáng điệu thật vương giả, khuôn mặt tuy không đẹp nhưng có chất thơ, chất mộng. Mái tóc chị đen như một giòng suối mực Huy Châu Hào xõa óng ả hai bên tai và phía sau, nhưng cắt mành tương trước trán làm cho khuôn mặt chị hơi giống khuôn mặt nữ ca sĩ Pháp Juliette Gréco, tuy nhiên chị trẻ trung tươi mát và khi ca còn biết ngân nga, về kỹ thuật hơn người nữ danh ca thời danh nầy nhiều. Giờ đây, bên điện ảnh, có hai nghệ sĩ Kiều Chinh và Dustin Nguyen (con trai của nghệ sĩ Xuân Phát) hành nghề

trong môi trường điện ảnh Hoa Kỳ. Nhưng Dustin Nguyen đóng loại phim đấm đá có bắn súng đùng đùng; do đó những vai của anh không cần diễn xuất nhiều. Còn Kiều Chinh đóng những vai quá ngắn, cũng không cần đòi hỏi tới tài diễn xuất vốn tiềm tàng ở chị. Ôi, một bà hoàng điện ảnh của miền Nam Việt Nam trên bước lưu vong xứ người không có đất dụng võ, và cũng như Dustin Nguyen khó đem chuông đấm tại xứ người. Đó không phải là niềm hãnh diện của kiều bào của chúng ta ở hải ngoại. Nhưng Thiên Hương thì lại là trường hợp khác. Chị dùng tiếng hát chân truyền của mình để xuất hiện trên sân khấu, trên đài truyền hình và tung hoành trong các hãng dĩa cho người Pháp thưởng ngoạn suốt cả một thập niên. Chị mới là niềm hãnh diện của dân tộc. Tuy nhiên, có điều hơi đáng tiếc rằng chị không thể giới thiệu được nhạc dân tộc cùng các bài hát của các tác giả Việt Nam với khán thính giả người Pháp.

* Thương Hà:

Chị từ Huế vào Sài Gòn vào năm 1959. Chị không đẹp nhưng có duyên, răng hơi vẩu mà người miền Nam gọi là hô duyên. Khuôn mặt chị hơi xương xương, nhưng vẫn thông minh rạng rỡ. Chị thích mặc Âu phục với áo sơ-mi cụt tay màu trắng và chiếc váy kẻ ô đen. Trông chị không giống một nghệ sĩ chút nào. Đã vậy chị không biết xài son phấn, cứ trang điểm quá phơn phớt, quá gượng nhẹ nên không nổi bật dưới ánh đèn sân khấu dù là sân khấu phòng trà đi nữa.

Thương Hà thường hát chung với Mai Hương và Nhật Thiên Lan trên đài Sài Gòn. Giọng chị khá điêu luyện, rất ngọt ngào trong sáng, rất lảnh lót thanh tao với chuỗi ngân thật tinh xảo như xâu chuỗi hổ phách, với lối phát âm trau chuốt và hơi điệu đà một chút. Chị cũng có hát một dạo tại phòng trà Hòa Bình. Những bản ruột của chị là “Aime-moi” của Henri Salvador và “Histoire d’un Amour” (bản nầy đã đưa tên tuổi nữ danh ca Dalida lên đài danh vọng một cách rạng rỡ). Sự nghiệp ca hát của Thương Hà quá ngắn. Vào năm 1964, không ai biết chị ở đâu, và cũng ít ai còn nhớ tới chị.

* Hà Thanh:

Tên thật là Trần thị Lục Hà. Trước khi vào Sài Gòn lập nghiệp, Hà Thanh đã nổi danh là Chim Họa Mi Xứ Huế. Giọng hát của chị trong sáng, lả lướt và mềm mại, khi lên cao chẳng những không mỏng không chua mà trái lại còn vang lồng lộng và ngọt như quít Hương Cần hoặc như mía Mỹ Lợi, hai món thổ sản của xứ Thần Kinh. Đó là giọng kim rất quý phái và cũng rất Huế. Hà Thanh hát dân ca rất đạt, nhất là những bài âm hưởng nhạc xứ Huế như “Đêm Tàn Bến Ngự” và “Tiếng Xưa” của Dương Thiệu Tước, “Nhớ Huế” của Lê Mộng Nguyên, “Ai Ra Xứ Huế” của Duy Khánh, “Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy” của Trầm Tử Thiêng. Ngoài ra, chưa có nữ danh ca nào hát hai bản “Dứt Đường Tơ” của Văn Thủy và “Hẹn Một Ngày Về” của Lê Hữu Mục bằng chị. Trước đó, đã có Minh Diệu và Kiều Nga hát bản “Dứt Đường Tơ”, nhưng cả hai diễn tả bài hát quá trong suốt cho nên hơi nguội lạnh. Hà Thanh thì vốn có sẵn cái nữ tính hơi ẻo lả và hơi điệu đà vừa phải để làm cho giọng hát mình trở nên đẹp hơn và quyến rũ hơn. Trước chị đã có Anh Ngọc và sau chị đã có Quỳnh Giao hát bài “Hẹn Một Ngày Về” của Lê Hữu Mục. Nhưng Anh Ngọc hát chân phương quá, khi lên cao phải cố gắng dùng làn hơi từ bụng đưa lên khá gian nan, còn Quỳnh Giao không có sẵn chất ngọt trong giọng hát dù lên cao tiếng hát cô vang dội sang sảng. Trong khi đó, Hà Thanh cất giọng lên cao thật dễ dàng thoải mái và hát bằng một âm sắc ngọt lịm như rót vào tai khán thính giả một dòng cam lộ mát rượi.

Hà Thanh khi còn ở trong nước có dáng dấp mảnh mai, cung cách ngoan ngùy của phần đông cô gái Huế. Khuôn mặt chị khá đẹp, nụ cười thật huyền hoặc và duyên dáng một cách kín đáo thâm trầm. Chị lại rất ăn ảnh khi chường mặt trên Tivi. Chị mặc áo màu dịu và sáng thì lại đẹp và sang hơn mặc áo in hoa sói hoa hòe.

Năm 1991, tôi qua chùa Viên Giác ở tỉnh Hannover bên Đức để hành hương trong kỳ Phật Đản thì Hà Thanh, Lệ Thu và Kim Anh cũng đến Hannover trình diễn trong buổi tối văn nghệ do chùa tổ chức. Cả ba và tôi cùng các bà sư nữ được thầy Viện chủ cho ở trên tầng lầu hai của một khách sạn. Trong dịp nầy, tôi có dịp chuyện vãn cùng chị và cùng nhắc nhở những nhà văn nhà thơ nữ như Nguyễn thị Hoàng, Túy Hồng, Nhã Ca, Hoàng Hương Trang. Tối hôm đó, trong buổi trình diễn văn nghệ, chị xuất hiện với tấm áo dài gấm màu hồng hạnh rực rỡ, nhưng mái tóc chị chải không khéo trông có vẻ lười xười luộm thuộm, không ổn mắt cho khán giả. Sau đó, khi về tới khách sạn, chị than với tôi là hôm đó nhằm Chúa Nhật nên chị không thể đến tiệm chải tóc nên chị phải tự chải lấy rồi xịt keo. Bởi đó mà mái tóc của chị mới vụng về như vậy.

Tôi ngứa miệng:

— Chị phải sắm vài ba mái tóc giả. Khi đến chỗ nào trình diễn, chị chỉ tròng tóc giả lên đầu là xong, cần gì đến tiệm chải tóc cho tốn tiền và mất thời giờ.

Hà Thanh vỗ tay:

— Ý kiến của anh rất hay! Từ khi ra hải ngoại, dạo trước tôi ít đi trình diễn ở ngoài chỗ tôi đang định cư nên tôi không nghĩ tới điều đó. Bậy thật!

Kỳ gặp Hà Thanh tại Hannover, tôi thấy chị hơi mập hơn dạo trước, khuôn mặt trắng trẻo và sáng hồng. Trông chị có tướng mệnh phụ phu nhân lắm. Chị hát vẫn hay vẫn ngọt như thuở nào. Đã vậy chị thuộc lòng những bài kinh ngắn, những bài thần chú nhật tụng. “Đại Bi Thần Chú” vốn khá dài, khó mà học thuộc lòng. Vậy mà chị thuộc như cháo. Nhà chùa hành lễ bao lần là có chị đến dự. Sau đó, chị xin thắp hương các bàn Phật. Trong dịp trình diễn, chị có hát một bản nhạc phổ bài thơ Thiền của Thầy Nhất Hạnh.

Sáng hôm sau buổi trình diễn, chị cùng nhóm nhà văn gồm có anh Phạm Thăng, anh Vũ Nam và tôi chụp chung một tấm ảnh trước khi chia tay.

Mùa đông giữ lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 1 Jan 2026

Bài 5

Chống Cộng hay thân Cộng?

Đại Dương.

Tôi rất kinh ngạc khi đọc bài viết của ông Kỳ Văn Nguyên lên án Phan Nhật Nam “thân cộng”. Vì thế tôi phải tìm đọc lại những bài viết của Phan Nhật Nam từ khi ra hải ngoại, nhất là bài nói chuyện của ông tại Chi Hội Sinh Viên Sĩ Quan trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam ở Houston, Texas ngày 23-4-95 trước khi trình bày cảm nghĩ riêng liên quan đến chuyện đáng tiếc đã xẩy ra.

Tôi vốn không hề quen biết hai ông Nguyên và Nam, kể cả một lần đối mặt bắt tay nói vài câu xã giao. Xuyên qua các tác phẩm và giới thiệu trên sách báo, tôi biết họ đều là hai nhà văn quân đội, chống Cộng quyết liệt. Vì thế, bài viết này không bị chi phối bởi tình cảm bạn bè, quen biết. Tôi chỉ muốn trình bày một lối nhìn khác qua cùng những sự việc mà ông Kỳ Văn Nguyên đã mổ xẻ ông Phan Nhật Nam.

Tôi không làm công việc biện minh cho Phan Nhật Nam vì quan niệm rằng chính những quan điểm, hành vi của Phan Nhật Nam từ quá khứ, hiện tại và tương lai là người luật sư đích thực của Anh.

“Không khai sinh, căn cước, thẻ sĩ quan, chưa hề có tài sản nào quá 10 đô-la. Giấy tờ hộ tịch có được đầu tiên: Giấy Ra Trại do công an cộng sản Việt Nam cấp. Tài sản lớn nhất là phụ cấp xã hội do chính phủ Liên Bang Bắc Mỹ cấp phát khi đến Mỹ tháng 11-93″.

Qua những giòng chữ trên, ông Nguyên cho rằng ông Nam cố tình khai báo, thú nhận với cộng sản ViệtNam:

“Chối bỏ nguồn gốc của bố mẹ; không thừa nhận là công dân của nước Cộng Hòa Miền Nam cũ; chối bỏ là sĩ quan Quân đội Việt Nam Cộng Hòa; vinh dự được nhận làm đứa con của Cộng Sản sinh ra; thuộc giai cấp vô sản; cam kết sống bằng tiền Mỹ để tuyên truyền cho cộng sản ở đất Mỹ. (Nguyên văn của ông Nguyên)

Phần tự mô tả chân dung của Phan Nhật Nam để lại trong lòng tôi hai ấn tượng sâu đậm:

(1)- Nam thuộc thành phần “Người-lính-chiến-trẻ” đã từng đem sinh mạng bảo vệ miền Nam vĩ tuyến 17. Họ không màng đến tiền tài, danh vọng, địa vị. Họ chiến đấu trong thiếu thốn thường xuyên đối với bản thân và gia đình. Đôi khi họ bị miệt thị từ mọi phía (kẻ thù, đồng minh, một số đồng bào phè phỡn nhờ những chiếc “khiên thịt” của “tụi lính”). May ra chỉ có thời gian từ 1958 đến 1963 “Người Lính Chiến” mới được tôn trọng đúng nghĩa của nó. Nhưng trong bất cứ hoàn cảnh nào người-lính-chiến-trẻ cũng chiến đấu với tâm niệm Vị Quốc An Dân. Họ không bị bẩn vì tiền tài, danh vọng cá nhân. Họ xứng đáng được lưu danh muôn thuở mặc dù ít người biết đến tên tuổi của họ.

(2)- Dưới chế độ Tự Do Nhân Bản, nếu thiếu giấy tờ hộ tịch một người cũng có thể sống và được thừa nhận.

Nhưng trong xã hội cộng sản, với “chủ nghĩa lý lịch, hộ khẩu.” nghiệt ngã, con người phải giữ giấy tờ hộ tịch như mạng sống dù cho đó chỉ là Giấy Ra Trại. Thiếu hộ tịch thì không được coi là con người: Không có chỗ dung thân ngoài xã hội và bị đưa vào các trại tập trung cải tạo bất cứ lúc nào. Thảm cảnh cuộc chiến Việt Nam chỉ có người Việt chúng ta thấu hiểu và cũng chỉ có người Việt Nam phải chịu đựng cảnh trái ngang nhất trong mỗi gia đình.

Người cùng chung núm ruột cố tình lừa gạt nhau, thản nhiên giết nhau nơi trận địa vì “lý tưởng” của riêng mỗi cá nhân. Từ khởi đầu cho tới khi tàn cuộc chiến tranh nóng (lạnh đối với thế giới nhưng nóng đối với Việt Nam), mãi đến bây giờ Phan Nhật Nam vẫn phân biệt rạch ròi giữa lý tưởng và tình nghĩa gia đình. Người cha là cán bộ cộng sản theo lệnh Tổ Chức đã không chiêu dụ được Anh từ bỏ lý tưởng Quốc Gia Dân Tộc. Và Phan Nhật Nam, một trong những người Lính bại trận, bị lăng nhục cũng không thiết nhờ vả người cha ruột hầu có thể tránh những ngón đòn thù của cộng sản Việt Nam.

Ông Kỳ Văn Nguyên viết: “Tôi thực sự khinh miệt những kẻ nào đã một thời đề cao chính nghĩa Quốc Gia, ca tụng người Chiến Sĩ Cộnhg Hoa trong nhiều vụ chống lại bọn Cộng sản xâm lăng miền Bắc, mà nay, nếu không muốn nói đã ngã theo cộng sản, thì cũng đương dùng ngòi bút của mình để làm lợi cho cộng sản”. Chúng ta thử xem từ những đoạn văn nào mà ông Kỳ Văn Nguyên đã cáo buộc Phan Nhật Nam.

Trong bài “Nỗi Đau Luôn Là Nỗi Đau Chung” Phan Nhật Nam viết: “Tôi đã có ý quyết không viết về chiến tranh, một đề tài sở đắc, bởi đã quá não nề với cảnh lửa đạn; cũng có hẳn cảm giác ghê ghê khi nhìn thấy bất kỳ một loại vũ khí nào, cho dù chỉ con dao nhỏ nhọn …

Cũng không muốn viết, kể chuyện tù tội, dù đã có đủ “kinh nghiệm” về nó, một thứ tài sản khốn nhục mà tôi tin đến giờ nằm xuống, phút lâm chung, tâm cảnh kinh hoàng về cách “hiện sống” giữa những chiếc hộp dựng đứng đầy bóng tối kia vẫn còn đọng chặt lại nơi mỗi tế bào não bộ; cũng một phần không muốn điều mình viết lên như một lối thở than hèn mọn. Thế nhưng, cuối cùng tôi vẫn tiếp tục viết về Người Lính. Viết về Chiến Tranh và Nỗi Đau. Những CON NGƯỜI KHỔ ĐAU. Tôi không thể viết gì khác. Không có gì khác. Bởi nếu không, sẽ là bội bạc vong ân rất đáng nguyền rủa. Chúng ta sống hôm nay từ máu của Người Lính. Máu của người đã chết”.

Phân tích đoạn vặn trên, ông Kỳ Văn Nguyên viết, “Đấy là lời ông (PNN) nhận tội với cán bộ quản giáo trong trại tù cải tạo về những điều ông viết đề cao các chiến binh Cộng Hòa xưa kia là sai lầm, là phản lại Cách Mạng là phản lại Nhân Dân, Tổ quốc … Ông thật sự là một con người khiếp nhược, sợ hãi đến cùng độ. Khi còn ở trong tù, hay là khi ông bị kiên giam, ông sợ hãi, đau đớn đến cùng cực, ông khiếp nhược trước mọi thủ đoạn hành hạ độc ác, tôi không nói làm chi … Nhưng nay sống ở bên Mỹ, xa lìa bọn cộng sản ông không đủ ý chí chống lại bọn cộng sản thì cũng thôi, việc gì mà ông phải sợ hãi như thế … Ông đau đớn về xác thân, quằn quại trong tâm hồn, sống trong cảnh Địa Ngục Mê Loạn mà bọn cộng sản tạo ra cho ông, ông chỉ còn một cách biến mình thành một cái bóng hình đen tối của cộng sản mà thôi, nghĩa là ông đã bị cộng sản hoàn toàn khuất phục và lột xác ông. Câu văn chứa đầy máu và lời nguyền rủa, từ đáy linh hồn bắn tóe ra như một lời kêu gào của quỷ dữ”.

Suốt chiều dài cuộc chiến Việt Nam, chúng ta những con người Việt Nam đã được những gì? Kẻ thắng, người thua chỉ được một mớ danh từ hão (mũi nhọn của Chủ Nghĩa Quốc tế Vô sản, tiền đồn chống Cộng của Thế Giới Tự Do). Chúng ta đã mất ba triệu người cùng chung dòng máu để đổi lấy một đất nước tụt hậu thê thảm và một xã hội tồi tệ nhất so với các quốc gia khác trên thế giới. Tàn cuộc chơi, hai phe tư bản và cộng sản cụng ly chúc mừng nhau. Họ chỉ mất có tí nước bọt xui nguyên dục bị. Còn người Việt Nam chúng ta tiếp tục ôm một núi hận thù. Cuộc cờ Tư Bản-Cộng Sản đã tàn, nhưng cuộc chiến vì “Tự Do Dân Chủ Phú Cường cho Quê Hương” giữa những người Việt Nam vẫn còn tiếp diễn.

Vì thế Phan Nhật Nam không thể quẳng bút chiến tranh để bình thản ngồi gọt giũa những áng văn tình tứ, lãng mạn. Nhất định phải viết về những người đã góp công thực sự (vì họ đã hiến dâng cho Tổ Quốc bằng máu, bằng khối óc của họ) trong trận chiến vì Tự Do Dân Chủ Từ đó sẽ nung nấu tinh thần chiến đấu, nối gót tiền nhân cho thế hệ trẻ Việt Nam. Với lý lịch Phan Nhật Nam (cha là cán bộ cộng sản) chỉ cần thỏa thuận bằng lời thôi cũng đủ cho ông ta “bắt” được cái chức “Thi Đua Thường Trực” (1) hoặc Văn Hóa; hoặc Đội Trưởng trong các trại tập trung cải tạo. Điều này chắc Phan Nhật Nam không thể không biết. Nhưng ông chấp nhận đối đầu hơn là thỏa hiệp theo phong cách của con người quen lối sống ngang tàng. Thái độ đó đã bị phê là “sĩ quan kém tác phong” trong đời binh ngũ với cấp bậc Đại úy nhiệm chức sau 14 năm xuất thân từ Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt.

Việc kiên giam của ông Nam xẩy ra trước mắt mọi người, không phải kiểu đi “tù lèo” tại Bộ Nội Vụ.

Trường hợp này không thể coi như một kiểu “trá hàng”. Không ai chấp nhận 8 năm kiên giam để đóng vai trá hàng. Nhiều lắm chỉ là một trận đòn như Hoàng Cái trong trận Xích Bích. Phan Nhật Nam đã thách thức “Bạo lực tuyệt đối” trước mặt kẻ thù thì không vì lý do gì lại tỏ ra khiếp nhược khi cách xa quân thù bằng nửa vòng trái đất. Chắc tất cả chúng ta đều biết nếu ông Nam chịu để cho cộng sản lột xác thì ông ta đã không phải chịu kiên giam suốt 8 năm trời. Nếu ông Nam “khiếp nhược trước mọi thủ đoạn hành hạ độc ác” của cộng sản thì họ chẳng tốn công kiên giam ông ta lâu đến như vậy. Trong “Nỗi Đau Luôn Là Nỗi Đau Chung” Phan Nhật Nam viết: “Này đây, hình ảnh chiếc xe hàng chất lấp bởi trẻ con, người già và phụ nữ … Nhưng bởi chiếc xe kia đi ra từ An Lộc và rơi vào tầm đạn pháo kích của lực lượng cộng sản … Trái mìn không phân biệt được xe dân sự hay nhà binh; người lính cộng sản cũng không nhận được lệnh phải tránh tấn công vào một loại mục tiêu, đối tượng nào. Anh ta bình yên giật trái mìn. Và cuối cùng anh ta với đồng đội thản nhiên tiến ra lục soát mục tiêu. Nhưng nguyên do đầu tiên gây ra đám cháy nhân tạo tàn nhẫn này lại thuộc về một điều kiện tâm lý, đấy là:”Những con người đi trên chuyến xe oan khốc kia đã hoàn toàn bị khinh miệt.”

Ông Kỳ Văn Nguyên nhận định: “Việc gì phải lý luận lôi thôi như vậy. Giản dị là bọn cộng sản đã tấn công bừa bãi vào cả xe dân sự gồm đàn bà, trẻ con và người già, như chúng ta đã từng ném bom, ném lựu đạn, pháo kích vào chợ và trường học mà ai cũng biết, ông Phan Nhật Nam bênh vực cho cộng sản mà bảo rằng đó là một điều kiện tâm lý thì thật là buồn cười.”

Phan Nhật Nam đã mô tả người lính cộng sản như một chiếc máy phi nhân sẵn sàng thi hành lệnh của đảng không do dự trong bất cứ tình huống nào. Và đảng cộng sản Việt Nam cũng chẳng buông tha cho bất cứ người nào không theo chúng kể cả thường dân muốn tránh xa móng vuốt cộng sản. Người cán binh cộng sản lạnh lùng giật mìn những chiếc xe chở đàn bà con nít; thản nhiên lục soát những thây người vô tội. Ngòi bút Phan Nhật Nam đã “lột trần bản chất người lính cộng sản” dấu kín sau lớp áo anh bộ đội “giải phóng quân.” Và cũng chỉ rõ dã tâm của đảng cộng sản Việt Nam núp sau tấm chiêu bài vì dân chiến đấu.

Trong “Nhìn Lại … Tháng Ba”, Phan Nhật Nam viết: “Sư đoàn 320 Điện Biên bắn thẳng xuống đoàn di tản. Đó là lệnh của Văn Tiến Dũng cho Kim Tuấn, Tư lệnh Sư đoàn 320: “Nếu đồng chí để vuột mất đoàn di tản thì phải chịu hoàn toàn trách nhiệm.” Lính còn có phản ứng trú ẩn, chống cự, người dân chỉ biết đưa mắt nhìn lên nơi đặt súng, nơi có những tiếng nổ khô, ngắn trước khi bị bùng vỡ phá toang. Xác người tung lên theo đất bay bay.”

Trong “Sứ Mạng Người Lính Việt Nam” Phan Nhật Nam viết: “Nhưng oan nghiệt thay, đây cũng là đầu mối của bao nhiêu tệ hại sai lầm trong sách lược của phương Tây (toàn phương Tây chứ chẳng giới hạn trong một giới, một chính phủ, một tập thể, cá nhân riêng rẽ nào) khi đối đầu với người cộng sản Việt Nam, một thứ cộng sản được “đông phương hóa” ở những khía cạnh ác hiểm và xảo biện nhất. Người cộng sản Việt Nam là một yếu tố chính trị, một công cụ của bạo lực để thực hiện Mục Đích Yêu Cầu của Tổ Chức. Con người hoàn toàn triệt tiêu, xóa sạch. Thế nên chúng ta đừng bao giờ kỳ vọng quá nhiều về sự đổi thay (cho là có thật) từ, của một cá nhân đảng viên cộng sản … Và đừng bao giờ, dù chỉ một lần (một lần cũng quá đủ) tin một người cộng sản trên tư cách, giá trị riêng của người ấy. Họ chỉ thật sự phê phán chế độ đó vì họ là sản phẩm của chế độ đó. Họ chỉ tồn tại khi chế độ đó tồn tại.”

Trong bài thơ “Nhân xem phim Trời và Đất,” Phan Nhật Nam viết: “Từ Hùng Vương nhẩy vào thời đại hôm nay. Với sức đẩy khởi đầu …. Hồ Chí Minh, Lenin, Karl Marx. Giết người không hề nên tội ác. Khi Đảng hạ lệnh khai đao. Đứa bé vượt biên trong tay mẹ khối thịt đỏ au. qui tội ngang tầm bọn Đế Quốc Tư Bản.”

Ông Nguyễn Văn Thuận đã gặp gỡ tướng Trần Văn Đôn nhân dịp Tết Tân Mùi (1991), đăng tải trên Nhật báo Người Việt ngày 8,9-6-95 có ghi lại lời nói của ông Đôn:

“Theo tôi thì chỉ có giải pháp thứ ba, có nghĩa là chính cán bộ, bộ đội, công an cộng sản sẽ nổi dậy làm cái công việc mà chúng ta chờ đợi để có một chế độ thích hợp cởi mở hơn và cho người dân dễ thở hơn. Theo nguồn tin tôi biết, người được thế giới chọn lựa là Võ Nguyên Giáp.” Sự tương phản về nhận thức và quan điểm đối với chủ nghĩa và con người cộng sản của một sĩ quan cấp úy và một sĩ quan cấp tướng khác xa một trời một vực. Nhận thức Phan Nhật Nam trưởng thành trong binh đao, hun đúc trong lửa đạn với bè bạn đồng đội khi trực diện với quân thù nơi trận địa. Nhận thức đó cũng được kiểm nghiệm suốt quãng đời dài hơn binh nghiệp trong các trại tập trung cải tạo khi “người lính chiến” bị hạ nhục thậm tệ. Nhận thức của tướng Trần Văn Đôn kiêm chính trị gia Đệ Nhị Cộng Hòa thành hình qua hơi hám đàn bà cùng sự vuốt ve, hứa hẹn (hão huyền) của những con cáo già cộng sản. Nhận thức đó dẫn tới các kết quả tất yếu. Người-lính-chiến-trẻ, khi lâm chiến, lúc tù tội, trở về đời sống dân sự bất đắc dĩ, luôn luôn suy tư, tìm tòi phương pháp thắng giặc. Trong khi đó vị tướng lãnh lo đi cầu cạnh người khác kể cả kẻ cựu thù hoặc nằm há mồm chờ sung rụng!

Với những giòng chữ viết lột trần bản chất cố hữu của người cộng sản theo kiểu rọi kính chiếu yêu, liệu Phan Nhật Nam sẽ làm lợi những gì cho đảng cộng sản và cán bộ đảng viên đang tìm cách ẩn mình trong các màu áo khác nhau nơi hải ngoại này.

PHAN NHẬT NAM NHỤC MẠ NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM CỘNG HÒA?

Trong “Nỗi Đau Luôn Là Nỗi Đau Chung” Phan Nhật Nam viết: “Này đây, những người lính của các tiểu đoàn 33, 52 … thuộc Liên đoàn 5 Biệt Động Quân, những lính Sư đoàn 5 Bộ Binh, lính Tiểu Khu Bình Long … lẫn khuất, trườn bò, thất thần, nháo nhác dưới đạn pháo, đứng núp mình sau những bức tường sụp đổ bốc khói mù. Này đây, những binh nhì, trung sĩ quen thuộc của Đại Đội 62, 64 … của Tiểu đoan 6 Nhẩy Dù với Vinh “con,” Phạm Tường Tuấn, Bằng “Bùi Đăng” … đang ngồi nhai nắm cơm sấy dưới hố bom, chạy tấn công vào mục tiêu với chiếc nồi lủng lẳng bên tay. Có người lính nào tội nghiệp thế hở trời?! Có người lính nào trong dòng binh lửa của thế gian phải chiến đấu trong hoàn cảnh khốn khổ tang thương đến như vậy. Nhưng người lính ấy đã chiến đấu như thế trong thời gian dài. Dài suốt trí nhớ của một dân tộc điêu linh … Chắc chắn không vì số tiền chỉ mua đủ tạ gạo và vài món quân-tiếp-vụ … Từ tuổi trẻ, qua những giòng chữ viết, tôi đã đặt một nền móng xác tín cao cả, bi hùng: “Người Lính đã chiến đấu cho Tự Do. Người Lính đã chiến đấu cho một mục đích tự thân – Chiến Đấu Bảo Vệ Phẩm Giá Con Người!”.

Và ông Kỳ Văn Nguyên viết: “Ông (PNN) kể chuyện, gần đây ông được xem cuốn phim tài liệu về chiến trường An Lộc. Trước kia với nhãn quan của một chiến binh chiến đấu cho Tự Do, cảnh cùng cực chết chóc ở chiến trường được ông ghi nhận để nói lên sự dũng cảm oai hùng của người lính Cộng Hoà Miền Nam (chữ của ông Nguyên). Bây giờ hai mươi hai năm sau nhãn quan của ông đã thay đổi một cách đáng sợ”.

Người lính nơi chiến địa không thể đứng xổng lưng, mắt long lanh đưa tình, miệng cười duyên, vung tay hùng dũng, ca nhạc lính như trên sân khấu hay trong truyền hình. Người lính chiến phải biết ẩn núp để sống còn, để tiếp tục chiến đấu. Ai cũng sợ chết kể cả người lính chiến. Can đảm hay hèn nhát là do thái độ dám xông vào nơi lửa đạn, đối đầu từng giờ từng phút với thần chết; hoặc tìm cách lo lót, chạy chọt để thành lính kiểng, lính ma, lính thành phố. “Người lính-chiến-trẻ” biết rõ có nhiều kẻ dựa hơi lính để vinh thân phì da, núp sau chiếc mộc che của lính chiến để hưởng thụ. Ai đã từng là một đơn vị trưởng có lương tri ắt phải xót xa và phẫn nộ khi cùng thuộc cấp, cũng là đồng đội thân thiết, chiến đấu trong hoán cảnh thiếu thốn mọi bề. Ai có đủ trâng tráo để nói rằng “Người-lính-chiến Việt Nam” đã xông pha nơi trận tiền với sự hổ trợ đầy đủ từ hậu phương? Nhưng “người-lính-chiến” vẫn tình nguyện chiến đấu vì Tự Do của đất nước, để bảo vệ phẩm giá con người. Khi “người-lính-chiến” buông vũ khí cũng là lúc Quê Hương chúng ta mất Tự Do và người Việt Nam mất phẩm giá. Ai có can đảm nói khác hơn điều này? Phan Nhật Nam viết: “Các anh đánh đấm làm sao để gây họa cho chúng tôi. Lão nhân vùng thung lũng Hoàng Liên Sơn đã nói cùng chúng tôi lời bừng bừng phẫn nộ … Quả thật Người Lính Miền Nam đã đồng thời gây nên vô vàn đau xót không đường giải cứu, đánh vỡ toàn thể Hy Vọng Quốc Dân từ cuộc thất trận oan nghiệt của chính mình.”

Ông Kỳ Văn Nguyên cho rằng: “Đó là lý luận cộng sản được Phan Nhật Nam trình bày trên đất Mỹ với đồng bào hải ngoại và với cảc chiến hữu của ông ta. Buộc tội người lính Cộng Hòa Miền Nam chưa đủ, ông còn hạ nhục người lính miền Nam bằng cách phang cho một câu thật xỏ lá để xóa cho thật hết danh dự. Bởi PNN đã viết:

“Vào ngày 30-4-75, khi những người lính thuộc đoạn phim nói trên tự lột truồng trước đám đông dưới ánh mặt trời, đập gẫy súng, vứt bộ máy cò xuống sông, hất bỏ chiếc nón sắt, cởi dây ba chạc mang đạn … ”. KVN đặt vấn đề: “Tôi muốn hỏi ông, ông nhìn thấy bao nhiêu người lính tự lột truồng trước đám đông hay đó chỉ là trút bỏ bộ quân phục mặc quần áo thường dân để tìm lối thoát thân khi Quân Đội tan rã. Ngòi bút ông thật là độc ác và đê hèn.”

Trang bị của người lính chiến gồm quân phục, vũ khí, đạn dược, tạo nên hình ảnh người lính chiến trước mắt mọi người. Nay phải tự cởi bỏ có khác chi trần truồng trước mắt tha nhân. Thực tế, có nhiều người lính chiến sau lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh họ chỉ còn độc nhất chiếc quần đùi dính vào thân thể còn đầy mùi thuốc súng, đi chân đất trên đường tìm về với vợ con. Không phải ai cũng sẵn quần áo dân sự để trau chuốt trên đường thoát thân.

Ai đã bị lùa ra Bắc năm 1976 ít ra cũng từng đích thân nghe, hoặc được kể lại lời thống trách của một số đồng bào mạnh miệng, bạo phổi ở miền Bắc. Quả thực có nhiều người đã mong đợi Quân Đội Miền Nam ra giải phóng miền Bắc, trả lại cho họ phẩm giá con người. Nhưng họ thất vọng não nề khi thấy chúng ta đến với họ trong tư thế hàng binh của Hà Nội. Không ai trong chúng ta phiền trách họ, mà cùng nhau chia xẻ cuộc sống bị hạ nhục bởi người cộng sản. Quả thật, chúng ta đã đánh mất niềm hy vọng ấp ủ, nuôi dưỡng bao nhiêu năm khi họ phải sống dưới chế độ đầy tủi nhục. Trên Nguyệt San Quốc Dân số Tháng 3-95, Phan Nhật Nam đề nghị chọn ngày 30-4 làm Ngày Vinh Danh Người Lính Việt Nam: “Ngày 30-4-75, đánh dấu sự đau khổ tột cùng của Quốc Dân Việt Nam nói chung và người lính VNCH nói riêng … Nhưng cũng là ngày khởi đầu của trận chiến khác, trận chiến không bao giờ tàn của đại đa số quân nhân Việt Nam, một trận tuyến khốc liệt hơn, ngay trong tâm khảm của mỗi người, giữa những trại tù mệnh danh là “cải tạo” hay vùng kinh tế mới. Trong sự lãng quên hững hờ của dư luận thế giới”.

Ông Kỳ Văn Nguyên viết: “Ông (PNN) muốn nói gì đây trong đoạn này. Đó là thủ thuật chính trị của nhà văn Phan Nhật Nam mà bọn cộng sản muốn đem ra xử dụng. Nói trắng ra, ông muốn nhắn các cựu tù nhân chính trị rằng: “Từ ngày các anh thua trận phải đi học tập cải tạo, dưới sự giáo dục của Đảng và Nhà Nước, các anh phải đấu tranh liên tục với chính bản thân, phải tự lột xác, để từ một kẻ phản quốc có nợ máu với nhân dân, trở thành một người lao động khổ sai mới được hưởng sự khoan hồng của đảng. Đây là một trận chiến khốc liệt không bao giờ tàn, diễn ra trong tâm khảm các anh, các anh phải tự lột xác và lột xác mãi mãi, dù các anh đã được Nhà Nước khoan hồng cho phép sang định cư tại Hoa Kỳ, vẫn cứ phải tuân theo những lời Đảng đã chỉ dậy. Dư luận thế giới đã bỏ quên các anh rồi, không còn ai biết đến các anh là người chiến sĩ Cộng Hòa nữa đâu mà ham.”

Sau ngày 30-4-75 Người Lính VNCH đứng trơ vơ trên một trận địa đã tàn. Cấp trên (Tổng tư lệnh, Tổng tham mưu trưởng … ) bỏ chạy, cấp dưới tự động tan hàng, bạn bè lưu lạc, gia đình nheo nhóc, bơ vơ. Trước đây cả Quân Lực đương đầu với địch quân trên chiến tuyến địa dư, giờ đây chỉ trơ trọi người lính bại trận phải đối diện với quân thù. Phải làm sao đương đầu với kẻ địch để sống còn. Mỗi người tự chọn cho mình một cách xử thế. Đó là một cuộc đấu tranh gay go giữa Thiện và Ác; giữa Can Đảm và Hèn Nhát. Chiến tuyến giữa Ta và Địch ngày càng rõ nét theo với thời gian bị giam giữ. Từ thâm tâm những người cộng sản cũng biết rằng không thể “cải tạo” được đám “ngụy quân”. Tư tưởng đối kháng lớn mạnh biến thành hành động chống đối dưới muôn vàn hình thức khác nhau. Và chúng ta đã tự vạch lấy chiến tuyến đối đầu với người Cộng sản. Cá nhân chống với tập đoàn lấy bạo lực làm phương tiện duy nhất là một cuộc chiến không cân sức và khốc liệt.

Người lính bại trận không chiến đấu trên DANH TỪ QUÂN ĐỘI VIỆT NAM CỘNG HÒA mà với, TINH THẦN QUÂN ĐỘI VIỆT NAM CỘNG HÒA: BẢO QUỐC AN DÂN.

Đối với đại đa số Người Lính Việt Nam, quả thật trận chiến với người cộng sản không bao giờ tàn. Có súng cũng đánh. Bại trận cũng chống. Trở thành dân sự lại tiếp tục đấu tranh. Không bao giờ thỏa hiệp. Đó là một thực tế không thể chối cãi được. Trong “Nỗi Đau Luôn Là Nỗi Đau Chung,” Phan Nhật Nam viết: “Phần chúng ta, Người Lính Miền Nam, dù không đi hết bổn phận cho đến ngày toàn thắng, đã có nhiều sơ sót, vụng về, khiếm khuyết trong sứ nhiệm xả thân, nhưng quả thật chúng ta đã làm đúng chức năng cao quý: VỊ QUỐC AN DÂN.”

Trong “Người Lính Không Hề Chết,” Phan Nhật Nam viết “Chúng ta đã mất những chiến hữu với phẩm chất rất cao cả, những người chỉ huy đáng phần kiêu hãnh, những đơn vị không hề thua sút so với bất cứ quân đội nào trên thế giới.”

Trong “Chân Dung Cần Phải Viết Lại”, Phan Nhật Nam viết: “Người Lính Việt Nam, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa gánh chịu phần nặng nề, thua thiệt và đau đớn nhất. Gần hai mươi năm sau cuộc chiến kia chấm dứt, vết thương bị lăng nhục vẫn còn tươi máu, trên tất cả những vùng đất, thị trấn, xóm làng, thành phố tan tác, loang lỗ khắp Miền Nam hôm nay vẫn nguyên độ nóng của dấu bom miểng đạn, vẫn hằng hằng những người tóc ngã mầu mệt nhọc cúi mình trên tập vé số, tì tay lăn chiếc xe phế binh hoen rỉ, bên trên lề đường đặc lềnh bụi khói mờ mờ che màu cờ đỏ của một buổi đổi thay tàn nhẫn. Nơi Nghĩa Trang Quân Đội Long Bình lũ chó hoang kéo lê những lóng xương rã mục, Trung Liệt Đài sụp xuống chiếc mái, biến thành nơi tích chứa phân của đơn vị bộ đội cộng sản … Người lính và con của họ vẫn bị coi là đám “ngụy tiện dân” xếp hạng thứ 13 … Chân dung của Người Lính đó từ lâu đã bị ngộ nhận. Hôm nay chúng ta nên viết lại. Phải vẽ lại đúng vóc dáng kỳ vĩ nỗi chịu đựng lặng lẽ đầy bi tráng này.”

Thế hệ thanh niên Việt Nam ở các thập niên 1940-50-60-70 đa số bị cuốn hút vào quân đội. Khi đã vào quân ngũ họ rẽ theo hai hướng khác nhau. Một thiểu số nhỏ nhoi coi Quân Đội là nơi tiến thân. Họ xoay sở trăm chiều tùy theo như cầu và quyền lợi cá nhân bất chấp quyền lợi của Tổ Quốc, Đồng Bào, Đồng Đội. Họ đã trở thành một số “Tướng hèn, Tá bẩn” trong tập thể Quân Đội kiêu hùng, trong sáng. Danh từ “tướng hèn, tá bẩn” không phải do Phan Nhật Nam sáng tác. Đó là tiếng thét phẫn nộ, lời nguyền rủa của Quốc Dân, Toàn Quân đối với hạng người bất xứng. Đại đa số lấy quân đội làm nơi tập trung sức mạnh để thực hiện hoài bão VỊ QUỐC AN DÂN. Họ không màng tiền tài, danh vọng, địa vị. Họ chiến đấu trong thiếu thốn (trang bị vật chất, hổ trợ tình thần từ hậu phương), tận gian khổ khó khăn để giữ từng tấc đất quê hương. Họ giương cao sĩ khí khi bại trận. Họ âm thầm trong cuộc đấu tranh tư tưởng dai dẳng để không bị lột xác. Hiện nay họ vẫn kiên trì tiếp tục công cuộc đấu tranh hầu duy trì ngọn lửa bền bỉ của Dân Tộc.

Phan Nhật Nam có mặt trong số những người này.

(1) Thường Trực Thi Đua: Ban Đại diện Tù nhân ở các trại cải tạo do cán bộ cộng sản chỉ định.

ĐẠI DƯƠNG,

NGƯỜI LÍNH QLVNCH.

Bầy Sư Tử lãng mạn

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 1 Jan 2026

Bài 5

Căn nhà nằm bên số chẵn đường Phan Đình Phùng, cách tòa Lãnh sự Pháp vài bước. Trước cửa trồng hoa giấy. Từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, không ai thiết chăm sóc giàn hoa, để nó mọc xum xuê che lấp cả ánh sáng. Vì thế, căn nhà đã cổ kính lại càng thâm u. Nó là biểu tượng của sự phản kháng tiêu cực. Nó chẳng chịu hòa nhập vào niềm vui thống nhất tổ quốc. Nó thiếu cờ lớn, hình như không treo chân dung chủ tịch hồ chí minh, mặc dù, căn nhà thường xuyên phải tiếp những nhân vật quyền quý của chế độ mới: Bộ trưởng ngoại giao của chính phủ lâm thời cộng hòa miền Nam, bà Nguyễn thị Bình và chồng, đại tá Đinh Khang, chánh văn phòng của đại tướng Võ Nguyên Giáp. Trước những năm 70, thời quân phiệt Nguyễn Cao Kỳ, căn nhà phải tiếp Tổng ủy viên thông tin chiêu hồi Đinh Trình Chính. Vậy thì căn nhà còn là biểu tượng đậm nét của thời đại về lòng thù hận huynh đệ, về sự xung đột tư tưởng, về nỗi xâu xé quyền bính gây ra bởi chủ nghĩa và chủ nghĩa, gây ra bởi sự dấn thân mù quáng và sự bon chen hèn mọn.

Chủ nhân của căn nhà, ông Đinh Phụng, đứng giữa thù hận và chống luôn cả hai phía thù hận. Mặc nhiên ông cô đơn. Ông tự biến ông thành thứ Kiều Phong trong Thiên Long bát bộ. Người hiệp sĩ kia có đường gươm chém đá, có trái đấm chặt cây, có chút tình oan nghiệt, có bạn hiền, có trời đất, có rượu. Để đi, để khóc, để trút hận sầu. Chủ nhân căn nhà chỉ có một góc tối. Để thở dài. Ông còn người em khác, không màng công danh, không ham phú quý, khinh bỉ địa vị xã hội của Chính, của Khang, sống thầm lặng như một ẩn sĩ ở một xó xỉnh nào đó của phồn hoa Sài gòn. Ông nhiều con cái, dĩ nhiên, nhưng ba đứa con trai của ông đã là sư tử lãng mạn trong lịch sử tranh đấu hôm nay: Đinh Vượng, Đinh Cường, Đinh Dũng.

Ba anh em cùng chung một tâm sự, từ sau 30-4-75. Sống trong một gia đình trung lưu, trí thức, lương thiện, ba cậu con trai được ấp ủ bằng nỗi niềm của bố và của ông chú tài năng ở ẩn. Như tất cả những người tuổi trẻ Sài gòn, ba cậu yêu mến cuộc đời vô cùng. Cuộc đời, với tuổi vừa lớn, cơ hồ một tình nhân mắt xanh thu cổ tích, tóc heo may thần tiên, tim suối đàn miên viễn. Mộng ước của tuổi trẻ là làm hồng môi cuộc đời, làm thơm má cuộc đời, làm xanh tóc cuộc đời, làm rung động trái tim đời. Giấc mơ mới ở đoạn đầu. Cuộc đời thay đổi. Cuộc đời vụt biến. Cuộc đời mất tích. Tuổi trẻ hụt hẫng. Tuổi trẻ thất tình với cuộc đời. Tuổi trẻ tương tư cuộc đời. Tuổi trẻ bơ vơ. Tuổi trẻ hư vô. Một hôm, tuổi trẻ muốn tìm lại cuộc đời, muốn tìm lại kỷ niệm chan chứa và mộng ước dạt dào lỡ trao gởi cuộc đời…

– Chú Lăng không còn cư ngụ ở Trần Bình Trọng nữa, bố có biết chú ấy đi đâu không?

Đinh Vượng hỏi bố. Ông bố thầm lặng đáp gọn:

– Chú ấy đã nhập thế.

– Nghĩa là?

– Chú ấy biết lúc nào chú ấy phải chiến đấu.

– Chú ấy làm phản động?

– Không, chú ấy đi làm lịch sử. Con đã biết rồi đấy, chú con là người lạ lùng. Có lẽ, phải nói, chú con là người Việt Nam chân chính, người quốc gia lý tưởng, người quốc gia cực đoan hiểu theo ý nghĩa đẹp nhất. Có lần, chú con than thở rằng: “Đôi khi, tôi không thấy tôi là người Việt Nam nữa. Người ngoại quốc làm sao nhận diện nổi mẫu người Việt Nam mà họ mong mỏi. Dân tộc chúng ta đã bị phiêu lưu quá xa cội rễ của mình bằng học thuyết, bằng chủ nghĩa, bằng giáo điều…”

Sự thở than của ẩn sĩ họ Đinh không viển vông chút nào. Cuộc phiêu lưu tư tưởng của dân tộc ta khởi sự từ Khổng giáo. Rồi Lão giáo, Phật giáo. Khổng Tử, Lão Tử, Thích Ca không có gì để chê trách. Nhưng giáo điều và sự thêu dệt của bọn truyền giáo đã tạo ra những khe khắt, những u mê trói buộc và làm tăm tối con người, đã xóa bỏ dấu vết tinh thần Văn Lang, tinh thần tuyệt diệu của giòng giống Bách Việt. Những sáng tạo Cổ Loa, Hoa lư kỳ diệu, dần dần, mai một. Những công trình nhà Hồ, lũy Thầy nhân bản chẳng hề thấy nữa. Giáo điều thêu dệt và lễ nghĩa chế thêm của bọn truyền giáo biến dân tộc thành một bầy người cam đành với thân phận hẩm hiu của mình, phó thác định mệnh cho Trời, cho con Trời. Thường thì con Trời quyền uy hơn Trời. Người ta được phép nhục mạ Trời nhưng không dám động đến con Trời. Giáo điều đẻ ra hình phạt. Hình phạt đẻ ra ân huệ dành cho bọn truyền giáo. Rốt cuộc, con người đành an ủi bằng tiêu dao tâm hồn, bằng sự chối bỏ cuộc đời bể khổ để giải thoát cá nhân một cách ích kỷ. Toàn là những thêu dệt của bọn truyền giáo ngu xuẩn. Phiêu lưu mãi, phiêu lưu mãi… Toàn những khuyển nho xu phụ, những thầy cúng đồng bóng, những sư mô đàn chay. Rồi Thiên Chúa giáo, rồi thực dân giáo. Rồi giáo điều thêu dệt, giáo hội chế thêm. Rồi Tin Lành giáo, Bà la môn giáo, Hồi giáo, Sư bút giáo, Bà hai giáo… Rồi khuyển tây, khuyển nhật, khuyển mỹ. Rồi cộng sản giáo, rồi khuyển nga! Một giáo hội đẻ thêm hàng chục giáo hội. Trên đầu người Việt Nam đội nặng… giáo hội: Giáo hội Công giáo, Giáo hội Tin Lành, Giáo hội Giêhôva, Giáo hội Ba ngôi, Giáo hội Phật giáo thống nhất Ấn Quang, Giáo hội Phật giáo thông nhất Việt nam quốc tự, Giáo hội Cổ sơn môn, Giáo hội Hòa hảo, Giáo hội Cao đài, Giáo hội Ba Hai… Giáo hội và giáo hội. Giáo hội trước, tổ quốc sau. Bao nhiêu giáo hội đè lên tinh thần dân tộc. Vậy nên dân tộc mới ngóc đầu không nổi, mới triền miên lầm than, cay đắng, nô lệ, chiến tranh, tù đày, phân cách. Người ta cứ nhận người ta là người Việt Nam, người ta cứ nói về tinh thần dân tộc nhưng người ta không cư xử với nhau như người Việt Nam xa xưa, ít ra, như người Việt Nam thuở ca dao nhiễu điều phủ lấy giá gương, và người ta chẳng còn xúc động với huyền thoại đồng bào. Chắc chắn, để trở về nguồn gốc, trở về hạnh phúc đích thực của mình, mỗi người Việt Nam đều phải truy nã thân phận mình hiện tại.

Cậu Đinh Vượng không muốn biết chi tiết rườm rà của sự lạ lùng của ông chú ẩn sĩ, cậu cắt ngang lời ông bố thầm lặng:

– Chú Lăng đi làm lịch sử ở đâu?

– Ở Việt Nam.

– Chú ấy vẫn còn ở lại Việt Nam?

– Vẫn còn, và mãi mãi. Lịch sử Việt Nam phải do người Việt Nam làm ở Việt Nam. Lịch sử làm từ ngoài Việt Nam đem về là lịch sử của khốn cùng, của sa đọa. Chúng ta đã có bốn lần lịch sử ấy: Lịch sử làm bởi Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Hồ Chí Minh và Ngô Đình Diệm.

– Con muốn làm lịch sử, được không?

– Tại sao không? Bây giờ là cơ hội đẹp của những người Việt Nam chân chính muốn làm lại quê hương của mình.

– Bố không sợ nguy hiểm cho con sao?

– Không. Không ai có quyền sợ hãi cho những người đi làm lịch sử. Gia đình ta có một đại biểu trong phỉ quyền, một đại biểu trong ngụy quyền, rất nên có một đại biểu trong chính quyền tương lai, hoặc đại biểu tranh đấu cho sự kiến tạo một chính quyền tương lai.

– Con sẽ đi một mình?

– Con tự tìm lấy đường đi, đường đi của người quốc gia lý tưởng. Đường ấy gian khổ và cô đơn nhưng nó cho phép con hãnh diện.

Cậu Đinh Vượng hết buồn bã. Tuổi trè của cậu không còn bơ vơ hụt hẫng nữa. Cậu vẫn còn một con đường đi để làm thắm má hồng môi cuộc đời. Và cậu đi. Ngày nào cậu cũng đi. Đi sớm về khuya. Cậu đến trường này, cậu đến đại học nọ. Cậu gặp nhiều người như cậu. Một hôm, lại một hôm, cậu hỏi Đinh Cường:

– Mày dám chơi không?

Đinh Cường hỏi:

– Chơi gì?

Đinh Vượng đáp:

– Chơi cộng sản.

Đinh Cường mỉm cười, khó khăn xoay cái cổ. Cậu là đệ tử của thày Tâm Giác, sáng chói Trung tâm Nhu đạo Quang Trung. Có lần đi đấu võ tranh giải, cậu bị người lớn chơi bẩn, thả lên đài thằng đối thủ đai lớn hơn mà hạ xuống. Nó cho Đinh Cường đo ván với thương tích ở cổ. Đinh Cường nuôi hận, không thèm chữa, cứ để cái cổ ngoẹo một bên.

– Em khinh bỉ những thằng chơi bẩn. Cộng sảnlà bọn chơi bẩn. Sợ gì nó mà không chơi.

Đinh Vượng nói:

– Trò chơi này khác trò chơi nhu đạo của mày. Nó đòi hỏi cái đầu mày, sự thận trọng và tinh thần chuẩn bị vào tù, ăn đòn.

Mắt Đinh Cường sáng rực:

– Anh tìm thấy Phục Quốc rồi à!

Đinh Vượng gật đầu:

– Đúng mà không đúng. Tất cả đều có bổn phận phục quốc nhưng chúng tao thấy dùng chữ phục quốc không ổn. Quê hương mình còn đó, ngôn ngữ mình còn đó. Đất nước mình chỉ mới bị thống trị bởi một chế độ khốn nạn. Và bây giờ mình đánh nát cái chế độ khốn nạn này là xong. Khi nào đất nước bị xóa tên bản đồ như Do Thái ngày xưa, như Palestine ngày nay mới dùng chữ phục quốc. Phục quốc nghe nó vời vợi, tiêu cực lắm. Đánh nát chế độ cộng sảntích cực và gần gũi hơn.

– Em hiểu rồi, mình chống cọng sản.

– Không chống. Chúng tao đã bàn nhau. Cha anh chúng ta chống cọng ba mươi năm mà cứ thua dài dài. Chúng ta mở kỷ nguyên mới. Kỷ nguyên đánh cọng sản. Kinh nghiệm đánh còn non nớt thì vừa đánh vừa học cách đánh. Nhất định không chống cọng sản. Đánh thẳng vào mặt cọng sản. Đánh vào tim, vào óc nó. Đánh gục lãnh tụ nó. Đánh chết lãnh tụ nó. Chỉ đánh chết lãnh tụ của nó thôi. Bẻ cùn móng vuốt chủ nghĩa của nó.

– Ngon vậy?

– Chứ sao.

– Anh giao em nhiệm vụ gì?

– Mày dán bích chương và rải truyền đơn.

– Chỉ thế thôi à?

– Bước đầu.

– Bao giờ khởi sự?

– Mày bằng lòng thì “hàng hóa” xong tao sẽ giao.

– Em chơi.

– Tốt.

– Anh rủ thằng Dũng chưa?

– Tao không rủ rê.

– Anh đã rủ em?

– Tao không rủ mày. Tao hỏi mày. Mày có quyền từ chối. Lịch sử không bao giờ làm nên bởi những thằng a dua ngu muội. Đi chiến đấu khác với đi ăn cướp. Chiến đấu kết bạn. Ăn cướp kết bè. Chúng tao không xưng là Tổ chức, Phong trào hay Công ty. Chúng tao có cái tên nho nhỏ: Nhóm Tuổi Trẻ Đánh cộng sản.

Đinh Cường thấm lời đàn anh hơn nó có hai tuổi. Nó gặp riêng thằng em Đinh Dũng nói những gì mà Đinh Vượng đã nói với nó. Đinh Dũng khoái chí:

– Tôi âm thầm đi kiếm Phục Quốc, kiếm hoài không ra, nay các ông cho tôi cơ hội chơi cọng sản, còn gì bằng. Tôi chơi ông chú, bà thím trước.

– Cách nào?

– Đọc truyền đơn của mình.

– Đừng.

– Yên chí, tôi sẽ nhét vào túi ông chú một cái, bà thím một cái, khi họ đến đây thăm bà nội.

Hai tháng 10 và 11 năm 1975, Sài Gòn đầy truyền đơn. Truyền đơn đủ loại. Đánh máy. In Ronéo. Truyền đơn nhét vào xe hơi. Truyền đơn bỏ vào giỏ đi chợ. Truyền đơn nhìn mặt đưa công khai. Truyền đơn ném vô nhà… Truyền đơn hứa hẹn tái chiếm Sài gòn. Truyền đơn dặn dò ngày tấn công. Truyền đơn viết non nớt, ngo nghê, ngớ ngẩn mà nhiệt tình. Vững chãi nhất là truyền đơn của nhóm Tuổi Trẻ Đánh Cọng Sản. Sở Công An Nội Chính ngạc nhiên không hiểu bọn phản động in, rải truyền đơn bằng những phương tiện nào. Họ điều tra. Họ giăng lưới. Đinh Dũng, những ngày chưa chơi nhau với cọng sản, thường rong chơi các khu chợ trời. Cậu mua đồng hồ, radio giùm bộ đội nên quen vài anh bộ đội. Đinh Dũng còn bán xăng ăn cắp giúp bộ đội nữa. Do đó, cậu đã thản nhiên ngồi trên xe dzíp của bộ đội mà rải truyền đơn mỗi tối.

Đinh Cường dán bích chương kêu gọi dân Sài Gòn tẩy chay cọng sản. Cậu dán những khẩu hiệu sôi sục chiến đấu. “Còn cọng sản, còn tù đày, đói khổ”. “Chặt đầu Lê Duẩn, phanh thây Trường Chinh”. “Tống cổ bọn nón cối, giép râu khỏi miền Nam”… vân vân. Ở góc mỗi khẩu hiệu, bích chương đều ghi tắt NTTĐCS. Cái thú của Đinh Cường là, sáng sáng, ra ngắm “tác phẩm” của mình trước khi bị bọn Cờ Đỏ lột đi, lèm bèm chửi rủa bọn phản động với công an phường.

Đinh Vượng làm những việc lớn hơn. Bằng hữu của cậu toan tính gây một tiếng vang lớn ở Sài Gòn. Đinh Vượng không hề nói kế hoạch của cậu cho hai em biết. Đinh Dũng đã nhét được vào túi áo mưa của ông chú Đinh Khang và bà thím Nguyễn thị Bình, mỗi người một cái truyền đơn. Cậu rất buồn vì không thấy phản ứng của hai đảng viên đảng cọng sản. Khi mùa mưa chấm dứt, hoạt động của Đinh Vượng, Đinh Cường, Đinh Dũng cũng chấm dứt theo. Lợi dụng nhiệt tình và lòng ngay thẳng của tuổi trẻ, công an cộng sảnđã tung bọn sinh viên học sinh nằm vùng của họ gia nhập các tổ chức phản động. Bọn phản phúc làm việc tận tình, chúng hăng say đánh cộng sảnhơn cả Nhóm Tuổi Trẻ Đánh Cộng sảnvà các tổ chức chống cọng khác. Chúng mai phục theo chỉ thị, rất công phu và kiên trì. Cuối tháng 11-1975, nhóm Đinh Vượng dính lưới công an hết. Đến cuối tháng 6-1975 thì các tổ chức chống cộng sảncủa sinh viên học sinh tan rã. Kẻ vào tù, người bỏ trốn về các vùng kinh tế mới, người tình nguyện vào thanh niên xung phong để tạm ẩn thân, chờ đợi cơ hội khác.

Ba anh em Đinh Vương, Đinh Cường, Đinh Dũng bị bắt tại nhà. Công an bảo vệ chính trị áp vô lúc 9 giờ tối. Họ còng tay ba anh em lại, bắt đứng nghiêm nghe họ đọc “Quyết định”. Đinh Vượng không đứng nghiêm. Hai người công an kè cậu đứng dậy. Đinh Vượng thản nhiên nói:

– Một mình tôi dám đánh chế độ cộng sản bằng cái đầu và trái tim. Cả chế độ xúm lại bắt tôi bằng còng, súng đạn và quyền hành. Tôi nhận tội hết. Hai em tôi bị khích động thôi.

Đinh Cường cố đưa cái cổ cao lên:

– Tại sao tôi không nhận tội đã đánh chế độ nhỉ?

Đinh Dũng lây máu đàn anh:

– Và tôi nữa!

Người công an lớn tuổi hỏi ông Đinh Phụng:

– Ông có ý kiến gì?

Ông Đinh Phụng nhìn ba đứa con trai, trả lời công an:

– Đã bao giờ ông thấy sư tử đẻ ra chó chưa? Ông có thể bắt thêm tôi, nếu cần thiết.

Công an im lặng. Họ lục soát lung tung, tịch thu bừa bãi. Hai giờ sáng, ông Đinh Phụng ký vào biên bản. Ba anh em họ Đinh rời gia đình. Tháng 4 năm 1977, Đinh Cường và Đinh Dũng được trả tự do. Ít lâu sau, ông bố thầm lặng mất khi Đinh Vượng, hai tay còng chéo vào nhau, ngồi dựa lưng ở góc tường cachot khu A đề lao Gia Định.

Những chuyện chưa quên

Hồ Phú Bông

Post by Sơn râu 1 Jan 2026

Google image

Chương 5

Cái Chết Của Chiến Sĩ

Cái chết của con vàng cứ ám ảnh Nghiêm. Nó không có liên quan gì cả. Thế nhưng nó là nỗi ám ảnh không rời. Từ sự kiện kiên trì hàng đêm của ông quản giáo, quyết tâm hạ cho bằng được con vàng, đến cái ngực con vàng mở ra toang hoác… bê bết máu. Đó là cái chết của một con vật. Vâng, một con chó. Không phải là một con người. Một con chó đói!

Lúc đó Nghiêm còn ở trại cải tạo Tây Ninh. Dãy trại là khu trại gia binh cũ của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, nằm bên trong căn cứ quân sự Trảng Lớn. Trại có nhiều lớp hàng rào kẽm gai bao bọc và một giao thông hào sâu. Bên kia rào, phía cổng vào, là phi trường trực thăng cũ. Văn phòng phi trường trước kia chỉ còn trơ lại những bức vách quét vôi màu vàng. Ở đó, vâng, ở cái sân nhỏ trước những bức vách quét vôi màu vàng đó, là phiên tòa án nhân dân xét xử Trung úy Pháo binh Ngô Nghĩa!

Hôm đó trại 3 đến ngày thảo luận bài học. Đây là một bài học trong loạt mười bài mà có rất nhiều tin đồn là học xong sẽ được cho về. Buổi thảo luận bắt đầu tám giờ tại từng lán. Ông quản giáo thường đến đúng giờ và ngồi ngay cửa ra vào. Hôm đó ông vừa đến thì có lệnh từ trung đoàn xuống, phải cử ngay tất cả lán phó đi tham dự mít-tinh đặc biệt. Lán trưởng ở lại chủ trì thảo luận. Nghiêm rời lán, lòng có chút vui. Thoát được cảnh “ngồi đồng”, phải nghe lải nhải, lặp đi lặp lại thì còn gì vui hơn?

Một số cán bộ súng ngắn và mấy ông vệ binh súng dài áp giải tù tham dự mít tin đặc biệt. Tù lán phó sắp thành hai hàng dài đi về hướng cổng trại. Không tù nào biết đang đi đâu nhưng đều cảm thấy thỏa mái. Khi ra khỏi cổng trại, rẽ về bên phải, nơi hàng ngày tù tháo gỡ các tấm vĩ sắt PSP, sàn phi trường trực thăng, khiêng về làm hội trường, có mấy chục dân thường đã tụ tập sẵn ở đó. Một cái bàn và ba cái ghế chưa có ai ngồi. Một số bộ đội khác đang đứng rải rác. Xa hơn, một cây trụ gỗ được trồng trên một nỗng đất cao mà chiều hôm qua sau giờ cơm tối, tù lảng vảng bên nầy bờ rào thấy mấy ông bộ đội đang hì hục đào nhưng không ai biết là chuyện gì. Dưới đất, nơi cây trụ, đã rải vôi bột trắng xóa. Cách cây trụ không xa, một cái thùng bằng thiếc, có thể là thùng chứa vôi bột còn lại (?)

Cả đám tù khựng lại. Có tù hoa cả mắt. Đám dân cũng yên lặng, không thấy nói năng, chỉ trỏ, như những đám đông thường lệ. Đám tù được đứng bên hông, cách ly với đám dân. Đám dân đứng đối diện với hai cái bàn và ba cái ghế trống. Từ dân tới tù chưa ai biết cái không khí nầy, dù đây là loại dân chắc đã được tuyển chọn đặc biệt! Hơn nửa tiếng đồng hồ sau, ba ông bộ đội với súng AK cầm tay, áp giải một người tù tới. Hai tay người tù bị trói gập sau lưng. Một ông bộ đội nắm giữ và đẩy đi. Người tù mặc bộ đồ đen mới, nếp gấp còn rất rõ. Mái tóc cũng cắt ngắn theo kiểu bộ đội. Người tù ốm và xanh như lá chuối non. Họ vừa lôi người tù nầy từ conex ở trung đoàn ra. Người tù bị giam trong đó bao lâu không ai biết. Đôi mắt người tù chắc đã quen với ánh sáng bên ngoài nhưng vẫn còn nheo lại. Toàn bộ người tù như một thứ cây thiếu sáng. Èo uột. Dài. Và mềm nhũn.

Tù conex là loại tù đặc biệt. Cái conex là một hộp sắt dày, lớn, gần như vuông vức, của quân đội Mỹ dùng để chở vũ khí cho an toàn. Kích thước cỡ 1,8 x 1,8 x 2,4 mét. Ban đêm trong conex lạnh như mùa đông. Ban ngày như một bàn ủi nóng khổng lồ. Tiêu tiểu tại chỗ. Người nào đã nghĩ ra việc dùng cái conex để giam giữ người khác, quả là một sáng kiến kinh khiếp! Đây là một bước tiến mới của con người trong quá trình đày ải kẻ thù. Một sáng kiến cần phải được ghi vào sử sách!

Ba ông bộ đội áp giải người tù vào giữa sân. Người tù nhìn thoáng qua đám đông. Chắc chắn người tù hiểu chuyện gì đang xảy ra. Rồi người tù nhìn đám tù. Đôi mắt anh không nói lên điều gì. Phẫn nộ hay kinh hãi. Đó là đôi mắt bình thản. Hờ hững. Một đôi mắt đã đạt được mức độ vô vi. Hình như không còn có gì bận tâm trong đôi mắt ấy. Nếu gọi là giải thoát, thì đã được giải thoát. Nếu gọi là bình an thì đã có bình an. Nếu gọi là chịu đựng, thì hình như đã qua khỏi giai đoạn đó rồi. Tôn giáo nào cũng tìm kiếm sự bình an cho tâm hồn. Sự bình an khi gặp giông bão trong cuộc đời. Đôi mắt người tù đã đạt được điểm ấy.

Bao nhiêu tù đang xúc động. Có tù tê tái, không dám nhìn thẳng vào thực tại. Có tù đang sợ hãi cùng tột. Có tù đang phẫn nộ ngấm ngầm. Nhưng tất cả đều được che giấu ở bên trong. Chỉ có người tù nhân vật chính sáng nay, lại bình thản. Anh đang chết khi đang sống. Và anh đang sống, đang đứng giữa nơi đây. Anh đang sống bình an trong khi sự chết sẽ xảy ra rất gần. Không. Không là gì cả. Không sống. Không chết. Không kinh hoàng. Không sợ hãi. Tất cả đều tự nhiên. Thật tự nhiên. Thật bình thường như không có gì. Thật không có gì. Không có gì có thể kiềm tỏa thân xác nầy, vì thân xác sẽ về với cát bụi. Không có gì có thể kiềm tỏa linh hồn nầy, vì linh hồn sẽ về nơi cõi đời đời.

Quê hương đã mất vào tay bạo tàn thì đời trai dọc ngang như đã kết thúc. Phẫn nộ trước kẻ thù nói lên mình đang uất ức, thua cuộc. Sợ hãi trước kẻ thù nói lên mình hèn nhát. Chỉ có bình thản trước kẻ thù là khí phách tinh anh, coi kẻ thù không là gì cả. Tại sao phải bối rối với kẻ mà mình coi chẳng ra gì? Đấy, là thái độ của anh trước tòa án nhân dân của chế độ mới!

Vào giữa sân, anh ngồi xuống đất. Ba ông bộ đội cầm súng đứng chung quanh.

Một chiếc xe quân đội chạy tới, thả ba ông cán bộ xuống. Cả ba ông đều đội nón cối có gắn ngôi sao vàng giữa trán, đeo xắc cốt và mang dép râu. Không thấy có ông nào đeo cấp bậc trên cổ áo. Toán bộ đội đang đứng rải rác bây giờ tập trung lại sau đám đân.

Ba ông cán bộ mới tới tự động ngồi vào ghế.

Nghiêm đoán ông ngồi giữa là chánh án, hai ông ngồi hai bên sẽ là một công tố và một biện hộ.

Ông ngồi giữa lấy giấy tờ ra khỏi xắc cốt. Ông bắt đầu:

– Hôm nay thừa lệnh Đảng và chính phủ, tòa khai mạc phiên xử tù nguy hiểm và âm mưu trốn trại.

Câu mở đầu đã nói lên tính cách mới của chế độ. Ở đây không có lập pháp, hành pháp và tư pháp ngang hàng và độc lập với nhau nữa. Ở đây không nhân danh công lý, luật pháp, mà là thừa lệnh Đảng! Chính phủ hay quân đội mở phiên tòa là thừa lệnh Đảng. Tù nguy hiểm đã được gọi rõ ràng thay cho chữ cải tạo viên như danh xưng hàng ngày.

Ông ngồi bên trái cũng móc từ xắc cốt, cầm xấp giấy ra đọc. Lại có cả lý lịch, gia cảnh của bị cáo nữa. Cũng nhờ đó mà mọi người tham dự được biết thên chút tiểu sử của người tù. Trung úy Pháo binh Ngô Nghĩa, quê ở Quảng Ngãi, có vợ hai con. Tội ác bị cáo buộc thì viết khá dài kể từ binh chủng cũ của anh cho đến hiện tại. Nhưng lòng vòng để qui tội chỉ có: cực kỳ phản động, đã dùng đại bác bắn phá cách mạng, đã không chịu ăn năn hối cải, lại âm mưu trốn trại và đã cắt đường dây điện thoại từ bộ chỉ huy ra cổng trại.

Tội ác ghê gớm cũ và mới mà công tố viên cáo buộc chỉ có như vậy.

Không ai hiểu tại sao phải giới thiệu quê quán và gia cảnh của anh. Phải chăng ý ông công tố muốn nhấn mạnh, anh là người cùng quê hương với ông Phạm Văn Đồng, đương kiêm Thủ Tướng chính phủ ở miền Bắc, mà lại cực kỳ ngoan cố? Không thấy ông ngồi bên kia nói gì. Chỉ thấy ông cũng để cái xắc cốt trên bàn và mấy tờ giấy. Ông ngồi lơ đễnh nhìn về đám dân, có các bộ đội đang đứng ở phía sau. Ông công tố đọc xong cáo trạng.

Anh vẫn ngồi im. Bình thản.

Ông ngồi giữa hỏi đám đông:

– Nhân dân và các đồng chí có ý kiến gì không?

Tất cả im lặng.

Ông hỏi lần thứ hai.

Cũng im lặng.

Cuối cùng ông thấy được một cánh tay đưa lên. Ông như vồ lấy, sợ cánh tay thụt trở xuống.

– Thưa đồng chí, tôi thấy tội lỗi đã rõ ràng. Xin đề nghị án tử hình.

Người vừa nói là một thanh niên có mái tóc ngắn, kiểu bộ đội nhưng mặc thường phục. Họ là đồng chí với nhau! Có lẽ đám dân đã được tuyển chọn, chưa ai tỏ ra có kinh nghiệm về vụ xử án như thế nầy, nên không khí mới yên lặng sau câu hỏi của ông ngồi giữa.

Ông ngồi giữa nói:

– Đã có đại diện của nhân dân nêu ý kiến. Tôi xin ghi nhận.

Ông lại hỏi tiếp.

Không còn ai phát biểu.

Cuối cùng ông quyết định:

– Các đồng chí phụ trách cho bị can quì xuống nghe tuyên đọc án lệnh.

Mọi đôi mắt đổ dồn về anh. Anh cũng bình thản nhưng nhất định không chịu quì. Ba ông bộ đội kéo anh đứng lên, rồi lại ấn xuống, bắt anh quì. Đôi tay anh bị trói chặt phía sau lưng nhưng anh vẫn phản ứng cương quyết. Và vẫn không thèm lên tiếng. Một ông bộ đội dùng bán súng đánh vào mặt anh. Một dòng máu rĩ ra từ khóe môi. Anh ngã chúi xuống đất trong tư thế chổng mông. Ông ngồi giữa từ tốn:

– Các đồng chí có nhiệm vụ, không được đánh bị cáo giữa phiên tòa.

Không khí căng thẳng. Mọi người nín thở chờ đợi.

Rồi ông ngồi giữa đọc bản án:

– Thay mặt Đảng và chính phủ, tòa tuyên án tử hình. Án phạt phải được thi hành ngay tại chỗ.

Anh được kéo đứng dậy. Một ông bộ đội trùm lên đầu anh một túi vải đen như bộ quần áo anh đang mặc. Anh không có phản ứng. Ông bộ đội dẫn anh từng bước đi về hướng cây trụ.

Hai tay anh vẫn ở vị thế sau lưng, bị trói chặt vào trụ trước, rồi đến hai chân. Đến lúc nầy thì ông ngồi phía bên phải mới rời ghế. Ông không phải là ông biện hộ như Nghiêm nghĩ. Ông đang chỉ huy việc hành quyết!

Một phụ nữ trong đám dân bất ngờ kêu rú lên, rồi bỏ chạy. Mấy người khác cũng hấp tấp chạy theo. Số bộ đội đứng sau lưng đám dân không kịp cản lại. Chỉ có tù lán phó là bất động. Tất cả phải nhìn về phía cây trụ. Không một ai dám quay lại vì các ông vệ binh đang cầm súng đứng ở sau lưng. Anh vẫn đứng yên. Đầu không nhúc nhích. Ánh nắng buổi sáng đang chiếu vào người anh. Hình ảnh anh nổi bật trên nền trời có mây trắng phía xa. Ba ông bộ đội lùi lại phía sau. Đứng ngang hàng, chỉa súng nhắm vào anh. Ông chỉ huy hành quyết khoát tay ra lệnh. Đám tù lán phó, nhiều người nhắm mắt lại. Có người cúi xuống, lặng lẽ làm dấu thánh giá.

Sáu tiếng súng nổ. Nửa người anh bật ngửa ra phía sau, rồi ngã gập lại về phía trước. Đầu gục xuống. Xác anh tụt xuống. Đầu gối hơi co lại. Ông chỉ huy hành quyết đưa tay lên, ra dấu ngưng bắn. Ông đích thân đi lại bên xác anh. Khẩu súng lục ông cầm nơi tay, để vào bên tai trái anh, bóp cò. Phát súng ân huệ! Thời gian xử tử xảy ra khá nhanh và yên lặng. Đây không phải là thời gian cần tiếng nói của con người, là thời gian của tiếng súng! Nhiều tù lán phó ngồi bệch xuống trên cỏ. Xanh mét. Đầu cúi thấp. Không một ai chứng kiến cảnh ghê rợn như thế nầy trong cuộc đời. Nhưng mấy ông cán bộ và bộ đội thật bình thản, như một công việc đã quen!

Một bản án chỉ có giá trị khi công lý đã được thi hành. Bản án của anh Ngô Nghĩa đã được đọc. Đã được thi hành. Nhưng chân lý không ở nơi người nhân danh pháp luật mà lại nằm ở nơi anh. Mọi người đã hiểu rõ thêm bản chất của chế độ mới. Của luật pháp mới. Của tính ưu việt Xã Hội Chủ Nghĩa hơn gấp trăm lần các bài học đang được thảo luận. Làm Cách mạng là lo trước cái lo của thiên hạ, cho nên chưa mở phiên tòa, đã lo trồng trụ, lo vôi bột. Làm Cách mạng oai thiệt. Giết một con người chỉ cần đôi ba lời nói và mấy dòng chữ viết! Đơn giản chỉ có vậy. Không có câu trả lời đây là tòa án quân sự của chính phủ Cộng hòa Giải phóng miền Nam Việt Nam hay tòa án nhân dân của chế độ mới! Chỉ biết đó là cái án tử hình, xử ngay tại chỗ. Cả mấy tuần lễ sau, cho đến ngày Nghiêm chuyển trại, cây trụ gỗ vẫn còn đó. Đứng sừng sững. Họ muốn khoe khoang sức mạnh. Đó là uy quyền của chế độ mới. Đó là lời cảnh cáo hãy liệu hồn đấy! Nhưng với tù, cây trụ còn đứng chơ vơ trên nỗng đất, lại giống như một dấu chấm than lớn của chế độ mới và cũng là dấu chấm than của miền Nam tự do!

Khoảng mười giờ đêm, tù chuẩn bị đi ngủ, thì một tiếng nổ vang dội làm rung chuyển các dãy nhà đang ở. Tù nhốn nháo ra khỏi lán. Một số chạy về phía hội trường, nơi phát ra tiếng nổ. Nghiêm thấy một đám khói còn đang bốc lên trong ánh đèn đêm lờ mờ. Có tiếng tù từ đó kêu thảng thốt:

– Gọi ngay cứu thương

Có tiếng thảng thốt khác:

– Lựu đạn MK2.

Nghiêm chạy theo đám đông, đang đổ về bên hông của hội trường, cạnh bụi chuối. Bụi chuối tả tơi. Gãy gục. Bức tường vôi vàng, lỗ đỗ dấu vết đất và máu.

Quá đông người vây quanh nên Nghiêm không thể thấy được gì. Từ sau ngày Trung úy Pháo binh Ngô Nghĩa bị xử tử, không khí toàn trại đầy dao động. Nhiều tin đồn râm ran từ lán nầy qua lán khác. Một số tù có thân nhân theo cách mạng thì cố gắng nuôi giấc mơ sẽ được bảo lãnh về sớm. Một số tù còn sót lại, khi cả gia đình đã di tản, thì lặng lẽ trong tuyệt vọng. Một số thì vẫn ngây thơ, thật thà nghĩ cuộc chiến đã qua rồi nên những bài đang học là căn bản cần thiết để hiểu biết chế độ mới rồi sẽ được cho về. Số nầy tin ở các đài phát thanh của nhà nước, đang ra rả về chính sách khoan hồng nhân đạo. Một số khác, chín chắn hơn, thì bắt đầu chuẩn bị cho mình một đời tù lâu dài, kinh nghiệm từ cuộc cộng sản cướp chính quyền ở Nga, kinh nghiệm từ cuộc cộng sản cướp chính quyền ở Trung Quốc.

Các ông quản giáo ở tiểu đoàn đánh hơi được như vậy, nên lệnh mới ban xuống cấm tuyệt đối không được quan hệ với các đội khác. Không bàn tán, đưa tin đồn thất thiệt, nếu bắt được sẽ bị xử lý!

Nghe chữ xử lý mới mẻ nhưng đầy hăm dọa nên đa số tù tự cô lập mình. Tiêu chuẩn ba không được diễn thật hay: không biết, không nghe, không thấy. Những ăng tên cũng bắt đầu phát tín hiệu lập công để mong được cho về sớm.

Tù bước đầu tập cho mình một nếp sống tù thật sự. Ngu ngu, ngơ ngơ. Nín thở nhưng chưa biết bao giờ mới qua được sông sâu! Nhưng thế giới riêng của tù vẫn rầm rì với nhau và tránh càng xa những tù ăng tên càng tốt.

Tiếng mấy ông bộ đội đang cầm AK chạy đến, la lớn:

– Các anh khẩn trương về nại nán ngay.

Tù nghe lệnh nhưng cũng tụ năm, tụ ba, bàn tán xôn xao rồi mới từ từ tản hàng về lại lán, vì biết các ông bộ đội đang phải tập trung tại nơi phát ra tiếng nổ.

Trung úy Tâm(?) thuộc binh chủng Không quân(?) tự sát.

Sáng hôm sau, trước khi đi vào thảo luận tiếp bài học, ông quản giáo được lệnh trên, phải dành ra một tiếng đồng hồ để thảo luận về cái chết của Trung úy Tâm đêm qua. Ông mở đầu:

– Hậu quả của chế độ Mỹ Ngụy đang để nại cho đất nước ta có thể thấy ngay trước mắt. Đêm qua, anh Tâm tự sát. Trước khi chết anh Tâm đã để nại hai ná thư. Một ná viết cho cách mạng, bày tỏ sự ăn năn, hối cải nà đã phục vụ cho Ngụy quân, Ngụy quyền, phản nại cách mạng. Ná thứ hai anh viết cho người vợ sắp cưới của anh, nhờ cách mạng chuyển. Thư chị gửi anh, khuyên anh ăn năn, hối cải, để sớm được khoan hồng nhưng trong thư anh gửi chị, anh cho biết, anh đang bị căn bệnh xã hội, mà anh đã giấu chị. Căn bệnh nàm dương vật của anh bị nở noét và cụt mất, nên anh không thể sống để trở về nập gia đình với chị. Đây nà một nạn nhân trực tiếp của văn hóa đồi trụy Mỹ Ngụy. Do đó, tôi muốn các anh thảo nuận sôi nổi về hậu quả nguy hiểm mà đế quốc Mỹ đã để nại cho nhân dân ta.

Cả nhóm thảo luận không ai biết căn bệnh xã hội mà ông quản giáo nói là bệnh gì. Hột xoài, mào gà, lậu, giang mai thì biết, nhưng bệnh lở loét, làm cụt cả dương vật, trong khi Trung úy Tâm đã ở trong tù 6 tháng và hàng ngày vẫn đi lao động bình thường, là một chứng bệnh thật lạ! Trong nhóm, có hai bác sĩ quân y, nhưng tù hiểu nhau, nên yên lặng, không đòi hỏi đến kiến thức chuyên môn của hai tù bác sĩ nầy.

REPORT THIS AD

Buổi tối, hai tù bác sĩ Minh, Tường, chuyện gẫu với Nghiêm. Minh nói:

– Cách mạng đã đem đến thật nhiều điều mới lạ. Có lẽ tao phải trở lại trường Đại học Y khoa của cách mạng để học thêm cho biết, căn bệnh xã hội đã làm rụng mất của quí mà bệnh nhân không hề đau đớn, vẫn đi lao động bình thường!

Tường thêm vào:

– Bọn đế quốc đểu thật! Căn bệnh nầy chúng lại không ghi vào sách vở!

Bên tiểu đoàn một, Trung úy Quân y Mai Gia Thược, là dược sĩ đồng hóa, cũng đã tự sát bằng lựu đạn, nhưng không phải loại lựu đạn công phá như MK 2, M 26 nên cái chết đau đớn hơn rất nhiều. Trung úy Thược đã dùng lựu đạn hóa chất lân tinh, nên cả thân người bị cháy bỏng, đã phải nằm trần truồng trong mùng ở trung đoàn suốt mười ngày, không được chăm sóc thuốc men, hôi thối đến lợm giọng rồi mới chết. Trạm xá ở trung đoàn rất nhiều tù bị bệnh nặng đủ loại, không thuốc men, nằm chờ chết. Còn các cô hộ lý thì thích nói chuyện, đùa giỡn với bộ đội thay vì chăm sóc người bệnh.

Chỉ một thời gian ngắn, khu đất gần phi trường trực thăng, đã biến thành một nghĩa địa nhỏ với những nấm mồ hoang. Chỉ vài ngôi mộ có miếng gỗ ghi tên người chết![1]

Vùng đất sống ngày nào, vùng đất đầy sinh động ngày nào, bây giờ là một vùng đất chết. Vùng an nghỉ của những con người chiến bại và ngây thơ!

Đêm đêm, phía vườn cao su, có tiếng chuông trong vắt, ngân dài, và tiếng mõ tụng kinh đều nhịp, của một gia đình nào đó, cứ vọng vào, thêm nỗi tịch liêu.

Gần sáng thì tiếng xe bò với nhịp chuông loọc coọc, rời rạc, nhắc nhở một ngày nữa đang đến.

Một ngày dài thiên thu.

[1] Nghĩa địa nầy còn nhiều nấm mộ hoang. Kính xin quý độc giả cung cấp thêm tên tuổi những chiến sĩ đã bị chôn tại đây để lần tái bản nghĩa trang nầy được đầy đủ hơn.

Bầy Sư Tử Lãng Mạng

vietmessenger.com

Duyên Anh
Post by Sơn râu 31 Dec 2025

Truyện này được viết để tặng một thế hệ

tuổi trẻ Việt Nam trưởng thành sau 30-4-1975

4. Chương 4

Bản tự khai của Đặng Hữu Trí

Sơ yếu lý lịch

Họ và tên: Đặng Hữu Trí

Năm sinh: 1960

Nơi sinh: Sài gòn

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 214B/5 Gia Long, Sài gòn

Nghề nghiệp: Học sinh

Bị bắt ngày: 7-11-1975

Can tội: Xử tử bác Hồ.

Chúng tôi gồm ba đứa: Nguyễn Bảo Châu, Lê Văn Nam và Đặng Hữu Trí, cùng học chung lớp 10 trường Pétrus Ký. Bố của Nguyễn Bảo Châu là đại tá quân lực việt nam cọng hòa. Bố của Lê văn Nam là trung tá. Còn bố tôi buôn bán lặt vặt. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chúng tôi rất buồn vì nhiều bạn thân của chúng tôi đã chạy sang Mỹ. Rồi bố bạn tôi, anh bạn tôi đi trình diện học tập cải tạo. Nhà nước nói 10 ngày về nhưng nhà nước đã nói dối. Niên học giải phóng, thống nhất tổ quốc, trường của tôi bị đổi tên thành trường Lê Hồng Phong, chúng tôi tức lắm. Thầy của chúng tôi, người di tản, người đi tù, chúng tôi uất ức. Tượng của vị danh nhân mang tên trường tôi dựng ở vườn sao trước dinh Độc lập bị giật đổ nằm gục mặt xuống cỏ trông thảm hại. Ông Trương Vĩnh Ký có tội gì? Ông ấy không phải ngụy quân, ngụy quyền, tại sao cách mạng thù hận ông ấy? Tôi không thích cách mạng. Tôi không thích ai trả thù ai. Tôi thích mọi người sống gần gũi nhau, đùm bọc nhau, thương yêu nhau, tha thứ lỗi lầm cho nhau. Cách mạng chỉ làm xa cách và bắt bẻ tội tình đã qua và bỏ tù người việt nam. Cách mạng thiếu tình đồng bào.

Ở khu phố tôi, mấy thằng mất dạy, nay là Cờ Đỏ, bắt nạt tôi, bắt tôi họp hành tập hát, tập múa và căm thù Mỹ Ngụy. Chúng cứ mở miệng là “bác Hồ vĩ đại” khiến tôi cáu sườn. Bác Hồ, bác Hồ, bạn tôi nói, người đường phố nói, bởi cái anh già râu lơ thơ này mà miền Nam khổ sở. Tôi thấy bác Hồ thua ông Trương Vĩnh Ký. Bác ấy chết rồi mà cứ bắt chúng tôi nằm mơ gặp bác ấy, chán lắm, chán lắm. Tôi thương ông Trương Vĩnh Ký, chết thuở nao thuở nào mà còn bị xử tử. Tôi ghét bác Hồ. Tôi bàn với Châu:

– Này, tao muốn xử tử thằng già râu. Cách mạng xử tử ông Pétrus Ký, mình xử tử già râu.

Châu nói:

– Muốn xử tử lão ta thì phải lập tòa án.

Nam nói:

– Dùng cả pháp trường cát nữa.

Châu nói:

– Xử bí mật, ba thằng mình xử lão.

Nam nói:

– Cứ rủ thêm mấy thằng con cháu sĩ quan ngụy cho chúng nó tham dự mới vui.

Tôi nói:

– Lập tòa án luộm thuộm vô cùng. Tao đã xem xử án Tòa Sài Gòn. Có chánh án, phụ thẩm, bồi thẩm, công tố viên, luật sư, mõ tòa, nhân chứng.

Châu nói:

– Mình đơn giản đi. Thằng Trí làm chánh án, tao buộc tội, Nam bào chữa.

Chúng tôi nhất trí. Nam nói:

– Cả nước hoan hô bác Hồ, mình xử tử bác ấy mình mới ngon.

Châu nói:

– Mình hách hơn bố mình.

Tôi nói:

– Mình trả thù cho dân tộc.

Châu nói:

– Nếu nó biết thì sao?

Nam nói:

– Tao đã đọc truyền đơn của Phục Quốc. Chơi xong, mình đi kiếm Phục Quốc mà dông vô rừng.

Tôi nói:

– Tao chẳng ham sống với Cộng sản. Đời sống bây giờ buồn quá. Tối ngày thủy lợi với kinh tế mới. Mình mất hết kỷ niệm rồi.

Châu nói:

– Bộ đội của nó lỏi dìn. Mình đủ sức cầm súng. Mình chơi súng là Cộng sản đi đái.

Nam nói:

– Tao thề không đội trời chung với Cộng sản.

Tôi nói:

– Tao thề không theo Cộng sản.

Châu nói:

– Tao thề tiêu diệt Cộng sản.

Chúng tôi thề chí tình và tôi cũng khai thật tình. Tôi ghét những kẻ gian dối. Buổi trưa ngày 4-11-1975, chúng tôi đã lập tòa án ở lớp học trường Pétrus Ký. Ngoài ba đứa tôi chủ mưu còn thêm năm đứa toàn con sĩ quan ngụy mà chúng tôi gạt chúng nó vô xem chúng tôi làm trò ảo thuật. Tôi gỡ chân dung bác Hồ lộng kiếng treo tường, đặt lên bàn, trên bục giảng. Dưới bàn học trò, Châu móc túi lôi ra sợi giây, con dao nhíp và một hộp quẹt. Hai đứa ngồi hai bàn sát nhau. Năm thằng kia ngồi chung một bàn. Phiên tòa khai mạc.

Tôi nói:

– Đây là phiên tòa bí mật. Vậy tòa yêu cầu mọi người im lặng, nói khẽ, cười khẽ, vỗ tay khẽ.

Một thằng bọn năm đứa nói:

– Xử đứa nào thế?

Nam nói:

– Mày yêu bác Hồ không?

Thằng đó nói:

– Không.

Châu nói:

– Vậy chúng tao xử lão già.

Bọn năm đứa vỗ tay. Tôi nói:

– Buộc tội lão đi, Châu!

Châu nói:

– Tao hỏi câu nào, mày nhái giọng ông cụ trả lời nhé, Nam!

Nam nói:

– Ô kê.

Châu nói:

– Già Hồ, ra trước vành móng ngựa.

Nam nói:

– Dạ… dạ…

Tôi dựng bức ảnh bác Hồ lên. Châu nói:

– Bị cáo từ đâu vô đây?

Nam nói:

– Từ Bắc kỳ!

Châu nói:

– Bị cáo! Già có biết già gây ra bao nhiêu tội ác không?

Nam nói:

– Khô… ô… ng…

Tôi nói:

– Láo! Đồ nói láo!

Châu nói:

– Thưa Tòa, bị cáo già Hồ này có một tỉ tội ác. Tôi chỉ kể vài tội vừa mới xảy ra ở Sài gòn thôi. Hắn tên là Hồ chí minh, hừ, Hồ chí minh con mẹ gì. Đọc tiểu sử hắn, thấy cả lô tên. Nào là nguyễn tất thành, nguyễn ái quốc, lý thụy… chẳng biết tên nào thật tên nào giả nữa. Đích thực, hỗn danh của hắn là minh râu, trùm bọn cướp nón cối. Hắn đã xua quân chiếm Sài gòn, cướp nhà cửa của dân di tản, bắt sĩ quan vào tù, bắt thầy giáo đi cải tạo tư tưởng, đổi tên trường học, phá hủy tượng đài vĩ nhan, anh hùng, xé quốc kỳ miền Nam may quần xà lỏn, đốt sách, giết nhà văn, bắt con nít học tập căm thù Mỹ ngụy, bắt cả nước suy tôn hắn, bắt cụ già gọi hắn là bác, xua người về vùng kinh tế mới, lùa người đi làm thủy lợi vân vân… Nhưng cái tội vĩ đại của hắn là gây ra cảnh cha xa con, cHồng mất vợ và chúng tôi chán nản học hành vì thấy tương lai mù mịt. Vậy tôi xin Tòa xử tử hắn để treo gương cho những tên phản dân hại nước khác.

Tôi nói:

– Luật sư cái đi, mày!

Nam nói:

– Thưa quý Tòa, thân chủ của tôi thật sự là Hồ chí minh tự anh ba bồi tàu thủy chứ không phải minh râu. Thân chủ của tôi vô tội. Ông ta không hề cầm dao con chó xin tí huyết ai cả. Mà chỉ xui lui cháu ngoan tàn sát nhân dân thôi. Ông ta rất có công với tổ quốc Liên xô, Trung quốc. Vậy xin Tòa giảm án cho ông ta, đổi án xử tử thành án cắt lưỡi. Theo ý tôi, Cộng sản bị cắt lưỡi là nó hết nói phét, hết tuyên truyền láo lếu.

Tôi nói:

– Tòa suy nghĩ một tí.

Châu nói:

– Thưa Tòa, tôi cho phép minh râu chọn ba cách chết. Một: hắn sẽ bị thắt cổ. Hai: hắn sẽ bị đâm ngực. Ba: Hắn sẽ bị hỏa thiêu.

Tôi nói:

– Tòa tuyên án xử tử lão già Hồ chí minh, không cho lão chọn lựa, bắt hắn chết cháy.

Bọn năm đứa vỗ tay hoan hô sự sáng suốt của Tòa. Bản án được thi hành ngay. Tôi liệng chân dung bác Hồ xuống sàn lớp, vỡ tan. Châu gỡ ảnh ra, xé tan nát, dí chân lên rồi châm lửa đốt. Chúng tôi sung sướng vì đã trả thù cho toàn dân việt nam. Sau phiên tòa, chúng tôi ra về. Tôi không hề biết tên năm đứa tham dự, cũng chẳng quen chúng nó. Chúng tôi không sợ bị bắt. Do năm đứa kể với bạn bè ở trường, an ninh Cờ Đỏ điều tra ra chúng tôi. Và chúng tôi bị công an đến nhà còng tay, bịt mắt dẫn đi. Ở công an phường, tôi bị đánh hộc máu mồm. Về sở công an, tôi hết bị đánh nhưng bị nhốt ở biệt giam hai tháng.

Phiên tòa xử tử bác Hồ hoàn toàn do tôi nghĩ ra. Không ai xúi dục tôi cả. Bạn tôi, Châu và Nam ham vui đã a dua tôi. Tôi xin khai thêm: Từ lớp 2 đến lớp 5 tôi học ở trường tiểu học Trần Quý Cáp. Tôi không có nguyện vọng gì. Tôi cũng không xin cách mạng tha tôi. Tôi chẳng hiểu mình làm đúng hay sai nhưng đã làm thì chịu.

Những lời tự khai của tôi là đúng. Tôi chịu hình phạt nếu khai man trá.

Làm tại đề lao Gia Định, 8-3-1976

Ký tên

Đặng Hữu Trí

Bổ sung bản tự khai ngày 8-3-76

Sơ yếu lý lịch

Họ và tên: Đặng Hữu Trí

Năm sinh: 1960

Nơi sinh: Sài gòn

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 214B/5 Gia Long, Sài gòn

Nghề nghiệp: Học sinh

Bị bắt ngày: 7-11-1975

Can tội: Xử tử bác Hồ.

Sau nhiều lần làm việc với nhiều cán bộ chấp pháp và được gặp gỡ bố mẹ tôi, tôi vẫn cho rằng những ý nghĩ của tôi đã tự khai là chân thật. Tôi không hề nói dối. Từ khi tôi cắp sách đi học đến khi tôi bị bắt, chưa ai dạy tôi nói dối cả. Bố mẹ tôi hy vọng vào tương lai của tôi: Làm người thật thà, không làm người ian dối, dù thông minh hay xuất chúng. Người thật thà đã nói là thật. Người thật thà không bao giờ cần cải chính những điều mình đã nói.

Tôi ghét bác Hồ, tôi nói tôi ghét. Tôi không yêu bác Hồ, tôi nói tôi không yêu. Tôi không thể yêu một người mà tôi không hề biết. Bác Hồ đã chết, xác ướp trong hòm kính, tại sao bắt tôi phải yêu? Tại sao bắt tôi phải suy tôn xác chết. Bây giờ tôi nói tôi yêu xác chết, yêu bác Hồ là tôi nói dối. Mà cán bộ đòi hỏi tôi chân thành khai báo rõ sự thật. Vậy sự thật là tôi không yêu bác Hồ, tôi thù ghét bác Hồ.

Khi tôi đã ghét khó mà bảo tôi yêu. Khi tôi đã yêu khó mà bảo tôi ghét. Thầy tôi đã dạy tôi thơ của ông Phùng Quán: “Yêu ai cứ bảo là yêu, Ghét ai cứ bảo là ghét”. Tôi vâng lời thầy tôi, vâng lời ông Phùng Quán. Tôi không thích tự khai thêm. Bổ sung, bổ sung hoài thì cũng chỉ tăng thêm lời ghét chứ chẳng có lời yêu đâu. Nhốt tôi ở biệt giam năm tháng hay năm năm, tôi vẫn thế, tôi vẫn là tôi chân thật.

Cán bộ hỏi tôi, nếu thả tôi về với gia đình, tôi sẽ làm gì, có biết ơn cách mạng không, có yêu kính bác Hồ không. Biết ơn cách mạng, nhất định tôi biết ơn cách mạng rồi. Ai bắt tôi, rồi thả tôi, tôi cũng mang ơn. Nhưng yêu kính bác Hồ thì tôi không yêu kính đâu, vì tôi đã ghét bác Hồ, đã xử tử bác Hồ. Tôi chỉ biết bổ sung đến đây.

Tôi khai thật, nếu man trá tôi không phải là tôi nữa.

Làm tại đề lao Gia Định, 6-8-1976

Ký tên

Đặng Hữu Trí

Bổ sung bản bổ sung tự khai ngày 6-8-1976

Sơ yếu lý lịch

Họ và tên: Đặng Hữu Trí

Năm sinh: 1960

Nơi sinh: Sài gòn

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 214B/5 Gia Long, Sài gòn

Nghề nghiệp: Học sinh

Bị bắt ngày: 7-11-1975

Can tội: Xử tử bác Hồ.

Thêm nhiều lần làm việc với cán bộ chấp pháp, tôi đã trả lời rõ rệt tôi không khai lại bản tự khai lần đầu. Không ai biến đổi sự thật thành sự giả được. Cán ộ dọa rằng, nếu không ăn năn hối cải, thật lòng yêu kính bác Hồ thì muốn nằm tù bao nhiêu năm, tôi cũng đã trả lời rồi. Hồi ngụy, người ta ghét Nguyễn Văn Thiệu, người ta uống rượu, giả say, bắn nát hình Nguyễn Văn Thiệu, có sao đâu. Ngụy gian ác mà nó không bắt những người bắn hình Thiệu, đốt hình Thiệu, đem ảnh Thiệu chùi đít, gói tôm, gói cá. Cách mạng quang minh sao nỡ nhốt trẻ con? Cứ nhốt đi, khi nào cách mạng tiêu, tôi sẽ về. Về bây giờ vẫn bị nghe hát suy tôn bác Hồ chẳng ích lợi gì. Tôi muốn nằm tù muôn năm.

Làm tại đề lao Gia Định, 7-10-1976

Ký tên

Đặng Hữu Trí

Mùa đông giữ Lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam
Post by Sơn râu 31 Dec 2025

Bài 4.

Sứ mạng người lính Việt Nam.

Bắt đầu …

Chúng tôi bắt đầu cùng các chiến hữu, những người còn sống hay đã chết. Quả thật chúng ta đã sổng qua một cuộc chiến tranh dài hơn trí nhớ và chết trong tận cùng lãng quên. Nhưng cuộc thất trận ngày 30 tháng Tư năm 1975 không ở lỗi chúng ta, những người lính chiến đấu trong quân ngũ QLVNCH. Bởi sự chuẩn bị cho cuộc thất trận ấy đã có từ trước. Trước bao xa và từ nơi nào? Mười chín năm sau ngày gãy súng, xć cở đau đớn ẩy chúng ta có thể nói không sợ sai lầm rằng, sự chuẩn bị hiểm độc ấy không do Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, không nằm ở Dinh Độc Lập, cũng không từ ngoài Hà Nội … (Dẫu rằng đây là một yếu tố quyết định nên thắng lợi của họ và sự tiêu vong của chúng ta). Nói như thể chắc sẽ không làm người Cộng Sản bằng lòng ở vào thời điểm mấy năm trước đây, nhưng vụ bỏ cấm vận vừa qua hẳn đã cho họ hiều rõ thể nào là giá trị của cái gọi là “thắng lợi vẻ vang … “. Nhưng đây là vấn đề của họ với phán xét tất yếu của quốc dân và lịch sử. Chỉ biết, chúng ta đã mất những chiến hữu với phẩm chất rất cao cả, những người chỉ huy đáng phần kiêu hãnh, những đơn vị không hề thua sút so với bất cứ quân đội nào trên thế giới. Nhưng quả thật chúng ta đã bị thua cuộc. Không chỉ một trận đánh mà nguyên cuộc chiến tranh. Dân Tộc Việt đồng thời cũng bị đánh vỡ trong giòng sống cuồng nộ ác độc buổi hạ ngươn điêu tàn toàn trần thế. Chúng ta, những người lính tiền phong của dân tộc bi tráng bị đánh gục trước hết. Mười chín năm sau vẫn hằng mới vết thương.

1 – NHÌN RÕ DỊCH TÌNH

Nhưng quả thật quân đội đó đã bị thua trận, lần thất trận toàn diện không cách giải cứu và không cơ hội phục hồi. Hai mươi năm đi qua sau ngày 30 tháng Tư mà thật sự khởi đi từ một buổi tháng Ba. Ngày10 tháng Ba, năm 1975, ngày Ban Mê Thuộc bị tấn công bởi một lực lượng quân sự cộng sản gồm ba sư đoàn nặng mà Sư đoàn 320 Điện Biên từ lâu hằng có mặt ở vùng Tây Nguyên và Sư đoàn 316 mới xâm nhập vào mặt trận B3; chỉ riêng với Sư đoàn 316 nầy, chiến trường Tây Nguyên nhận được 500 xe chở đầy vũ khí, quân dụng, trong đó có những xe Zil 31 kéo pháo 122 ly và 130 ly, lẽ tất nhiên không thiếu chiến xa hạng nặng T54 và giàn hỏa tiễn SAM 2. Sư đoàn 316 nầy xâm nhập từ cuối năm 1974 để chuẩn bị cho Văn Tiến Dũng, viên tướng số Hai của quân đội Bắc Việt mà thực sự đã là viên tướng số Một bởi Võ Nguyên Giáp từ lâu đã bị Lê Duẫn đì cứng. Dũng vào Nam từ ngày 5 tháng 2, 1975 nhưng hằng ngày vẫn có một người mặc y phục đại tướng ngồi xe Dũng đi từ nhà đến văn phòng. Giống nhau đến nỗi mãi đến tháng Tư, cơ quan CIA mới khám phá ra sự có mặt của Dũng ở mặt trận Tây Nguyên. Vùng Tam Biên nầy có F10 làm mũi nhọn, 320 và 316 tăng cường; ba sư đoàn nầy lại được 314 tổng trừ bị. Tóm lại lực lượng Cộng sản khoảng 25.000 người, phối hợp với pháo binh và chiến xa tấn công vào thị xã Ban Mê Thuột do khoảng 1200 lính phòng thủ, gồm lính Tiểu khu Daklac, hậu cứ Sư đoàn 23 Bộ Binh và Liên đoàn 22 Biệt Động Quân. Sau ngày 10 tháng Ba (Ngày N của trận đánh), Dũng điều động thêm Sư đoàn 968 từ Lào về dự phần vào cuộc truy kích lực lượng di tản

xuống đồng bằng. Tóm lại Dũng đã điều quân tác chiến với những điều kiện tối ưu chiến thuật lẫn chiến lược

Bảo mật quân sự và an toàn chính trị tuyệt đối.

Chỉ thị cuối cùng của ông Thiệu, Tổng Thống miền Nam, kiêm Tổng Tư Lệnh Quân đội với Tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Vùng II trong thăm viếng dịp Tết âm lịch cũng như ý niệm điều quân phía VNCH hoàn toàn chỉ nhắm vào việc giữ phần còn lại của vùng lãnh thổ phía Bắc, sau khi đã mất Tân Cảnh và một phần Bắc tỉnh Kontum năm 1972. Cụ thể hơn, tất cả các cuộc hành quân phần lớn chỉ cốt tạo được vòng đai an toàn chung quanh Pleiku, nơi Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II trấn đóng, cũng là mục tiêu tấn công của phía cộng sản từ

ngày khởi chiến, tương tự như trong chiến tranh Pháp-Việt trước đây. Phía cộng sản, từ tháng 10, 1973, sau khi có Thông Cáo Chung ngày 13 tháng 6 giữa Kissinger và Lê Đức Thọ (về việc thi hành Nghị Định Thư): “Cam kết đẩy mạnh tiến trình thực thi Hiệp Định Paris 27 tháng1, 1973 “TÁI LẬP HOA BÌNH TẠI VIỆT NAM”. Nghĩa là sau nhiều lần cam kết thực hiện “Hòa Bình”, kết quả của bốn năm “Thảo luận Hòa Bình” tại Paris, cũng đến lúc Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng Cộng Sản Hà Nội đã quá “mệt mỏi về Hòa Bình”, nên họ có quyết định: “Cuộc tấn công toàn diện ở Miền Nam Việt Nam phải được thực hiện đồng loạt và tràn ngập: Liên kết Ba mũi; chủ động trên Ba mặt; tràn ngập Ba vùng.

Ba mũi: Tấn công Quân sự, Chính trị, Binh vận;

Ba mặt: Quân sự, Chính trị, Ngoại giao;

Ba vùng: Rừng núi, Nông thôn, Đồng bằng.” Nghị quyết còn nêu rõ các biện pháp và thời đoạn tiến hành:”Củng cố vùng Giải phóng, tranh thủ vùng Xôi đậu, ung thối vùng Địch (VNCH); Huy động toàn bộ Ba thứ quân: Du kích, Địa phương, Chính quy để “đánh rã từng bộ phận dành thắng lợi từng phần” tiến tới thắng lợi cuối cùng”. Tóm lại, đánh dưới nguyên tắc chỉ đạo, “Đánh chậm, đánh chắc.Đánh tất thắng. Không thắng không đánh. Đánh có miếng, không đánh lấy tiếng” Tất cả quyết định, phương thức, chỉ đạo trên được đúc kết trong Nghị Quyết 21 của Bộ Chính Trị T.Ư Đảng biến danh Nghị Quyết 12R của Trung ương Cục Miền Nam hiện thực qua “Mệnh lệnh đánh trả” ngày 15 tháng 10, năm 1973 phổ biến đến tất cả đơn vị vũ trang tham chiến ở chiến trường B. Nghị quyết này cũng được hình thành sau chuyến đi Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa cũng tháng 10, của Lê Duẫn và Phạm văn Đồng để yêu cầu hai nơi nầy cung cấp, tăng cường quân viện nhưng đã bị (cũng có thể gọi là“được”) từ chối. Sự kiện xác định qua lời Chu Ân Lai nói cùng Phạm Văn Đồng: “Muốn cho Việt Nam và Đông Dương tốt lành chi bằng để hai nơi này “nghỉ xả hơi” khoảng năm, mười năm”. Lời nói “tốt lành” này được chính giới Tây Phương đánh giá cao về “thiện ý” của một trong 13 thành viên ký “Định Ước Bảo đảm Thi Hành Hiệp Định Tái Lập Hòa Bình tại Việt Nam.” Toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm và hân hoan trao giải thưởng Nobel Hòa Bình đến Kissinger và Lê Đức Thọ. Còn ai vào đây xứng đáng nhận lãnh phong hiệu đáng hãnh diện cao cả này – Người tranh đấu, tái lập, bảo vệ Hòa Bình – Hòa Bình cho Việt Nam cũng là bảo đảm bình an đối với một khu vực rối rắm đe dọa sự ổn định toàn thế giới. Trong phóng đồ hành quân Chiến dịch Hồ Chí Minh có chữ ký của Thọ, chính uỷ chiến dịch. Sự khinh miệt lương tri và hèn hạ ngôn ngữ đã được người Cộng sản Việt Nam hiện thực toàn diện nhất

– Được sự a tòng và tiếp tay của toàn thế giới, trong đó không thiếu những con người gọi là trí thức, khoa bảng, kể cả những người gọi là chiến sĩ đấu tranh vì giá trị con người … Những nhà văn, thi sĩ, triết gia, lãnh tụ tôn giáo. Im lặng của họ cũng có nghĩa đồng loã đầu hàng Sự Ác. Một năm sau, tháng 10 năm 1974, Trần Văn Trà, Tư Lệnh lực lượng vũ trang Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam từ Bắc trở về miền Nam theo “đường mòn Hồ Chí Minh” mà thực sự đã là một “xa lộ” rất xứng danh với bãi đậu xe, khu bảo trì, bồn xămg dầu, điểm tiếp liệu. Đường Nam tiến mở rộng thênh thang để “bước đầu có thắng lợi nhất định” với chiến thắng Phước Long-Tỉnh ly miền Nam bị mất sau bao đợt tổng công kích cho dù lực lượng cộng sản đã một lần chiếm được thị xã Quảng Trị từ 30 tháng Tư, 1972 (quả là một thời điểm tiền định cho ba năm sau) và quân lực miền Nam đã lấy lại từng phần từ tháng 7 đến 15 tháng 9 thì đến được phía Nam bờ sông Thạch Hãn. Chiến thắng của phe Cộng Sản ở Phước Long không làm Tổng Thống “tự động” Ford bối rối …

Ông thân mật tâm sự cùng giới doanh nhân ở San Diego: Tình hình quả thật “tragic” và chúng ta cần có một ý nghĩa mới về “đoàn kết quốc gia”. Ý là ông muốn nói tình hình Việt Nam và vụ Tổng Thống Nixon từ chức (9 tháng 8, 1974) thật là những điều không nên nhắc lại. Ông cũng nói thêm: “Cũng bởi chúng ta không khôn ngoan một chút nào khi quá cam kết về một nơi mà chúng ta đã thực sự rút quân đi !!”. Tóm lại, Việt Nam cùng những cam kết của ông Nixon cứ coi như đã thanh toán xong. Phạm Văn Đồng trong buổi họp Bộ Chính Trị tháng1 năm 1975 đóng dấu ấn cuối cùng lên bản khai tử miền Nam với lời thống khoái: “… Cho kẹo Mỹ cũng không dám vào lại Việt Nam!! “.

Đúng như vậy, người cộng sản đã đoạt được chiếc ô chính trị an toàn này – Sự bó tay bất động toàn thế giới, những siêu cường phương Tây, thủ phạm chính gây nên thảm trạng Việt Nam trong suốt chiều dài thế kỷ. Mà nguyên do và hậu quả đầu tiên, Người Lính Việt Nam trước kẻ thù ma quỷ – Chúng ta đành phải thua trận.

Hôm nay, tháng Ba 1995, hai mươi năm sau ngày mất nước chúng ta cần nhìn lại để rõ mặt kẻ thù – Chúng ta cần biết biết rõ “Địch Tình” – Như yếu tố tiên khởi của Lệnh Hành Quân, nếu như chúng ta xét thấy còn có khả năng và lòng nhiệt thành muốn xông trận lớn-Trận cuối cùng Phục Quốc, An Dân.

IA- TỔ CHỨC – BAN TỔ CHỨC TRUNG ƯƠNG ĐẢNG.

Điểm đầu tiên chúng ta cần phải nói tới là điều không thực tế và thiếu tính chính xác của báo chí, những nhà bình luận, phân tích thời cuộc, chính khách chuyên nghiệp trên thế giới khi đề cập đến chế độ Hà Nội (trước 30 tháng 4, 1975) và toàn nước Việt Nam sau thời điểm trên. Những người nầy luôn luôn và bao giờ cũng chỉ (mà thật sự chỉ có thế) căn cứ vào cách xếp đặt nhân sự của chính quyền Hà Nội – Trên cơ sở con người – Người Cộng Sản nếu muốn nói chính xác hơn. Nhưng nói cho cùng, không “từ và với người” thì họ (những cá nhân, tổ chức thuộc cơ cấu xã hội, văn hóa, chính trị phương Tây kia) quả tình không thể nào nhìn thấy vấn đề với thói quen duy lý vốn dĩ là tính năng, sức mạnh chí cốt của họ. Nhưng oan nghiệt thay, đây cũng là đầu mối của bao nhiêu tệ hại sai lầm trong sách lược của phương Tây (toàn phương Tây chứ chẳng giới hạn trong một giới, một chính phủ, một tập thể, cá nhân riêng rẽ nào …) khi đối đầu với người Cộng Sản Việt Nam, một thứ cộng sản được “đông phương hóa” ở những khía cạnh ác hiểm và xảo biện nhất. Trong số đông những người phạm sai lầm kia, bi thảm thay lại có dự phần của chúng ta – Kẻ thụ nạn đầu tiên, toàn diện và đích thực nhất bởi ma thuật chính trị và tấn công quân sự từ, của người cộng sản cùng chung chủng tộc.

Tai họa trên đã xẩy ra bởi – Con người đã bị vong thân theo yêu cầu chính trị mà nó mang vác- Người Cộng Sản Việt Nam là một yếu tố chính trị, một công cụ bạo lực để thực hiện Mục Đích Yêu Cầu của Tổ Chức.

Con người hoàn toàn triệt tiêu, xóa sạch. Vâng, chỉ TỔ CHỨC ĐẢNG mới đúng thực danh “bản thể hiện hữu”và yếu tố Đảng Viên chỉ là những “hiện tượng biểu hiện”. Chúng ta hãy luôn tâm niệm một điều cốt lõi: “Đừng bao giờ kể đến “yếu tố cá nhân” khi xét đến “Tổ Chức Cộng Sản” cho dù kẻ kia giữ những chức vụ, nhiệm vụ quan yếu nhất như chủ tịch nước, các bí thư trung ương hoặc tổng bí thư … Đừng nói gì những chức vụ “hành chánh” như tổng, bộ trưởng, các tướng lãnh tư lệnh đơn vị quân đội lớn. Những kẻ võ biền thô tục chỉ biết “giương cung bắn ó diều” … Nói theo cách khinh miệt của Mao Trạch Đông. Và nếu một vài cá nhân nào trong các chế độ cộng sản có toàn quyền tuyệt đối như Stalin, Mao Trạch Đông hoặc gần gũi, hiện tại như Fidel Castro, Kim Nhật Thành, Kim Chính Nhất hoặc ở Việt Nam với Lê Duẩn, Trường Chinh, Giáp, Đồng, Thọ với những chức vụ, kéo dài gần nửa thế kỷ không suy chuyển … Thì do họ đã đồng hóa cùng Tổ Chức – Tổ chức ấy là môi trường, hơi thở của chính họ. Và trung tâm quyền lực mang danh xưng đúng như chức năng quan yếu, với đối tượng Đảng mà nó hành xử, khai triển, hiện thực, tác động đến.

Chính là: BAN TỔ CHỨC TRUNG ƯƠNG ĐẢNG: Trước khi đi tiếp vấn đề đang trình bày xin mở một dấu ngoặc về từ ngữ; danh từ “Ban” ở đây có một nội dung chính trị chứ không là thuật ngữ chỉ tình trạng về một cơ quan trong tổ chức; nó có chức năng tổng quát và quan trọng hơn hẳn một “Bộ,” cơ quan phổ cập trong tổ chức hành chánh, chính trị của các chế độ của đời sống xã hội con người thế giới từ bao lâu

1 – CỤC TÌNH BÁO HẢI NGOẠI

Đây là cơ quan hàng đầu của tổ chức quan yếu vừa kể trên. Từ chỉ đạo vận động của cơ quan này nên chỉ vài chục (cho là vài trăm) thước đường hầm của vùng Củ Chi, Hậu Nghĩa, khu tứ giác Bến Cỏ, Bến Mương, Bến Súc và Củ chi bên cạnh sông Sài Gòn đã biến dạng nên “Thành phố dưới đất-Địa đạo Củ Chi- Đất Thép Thành Đồng”.Ngôi mồ lớn sẵn sàng chôn kín trăm, ngàn, hàng chục ngàn quân Mỹ với pháo bầy, xe bọc thép, máy bay lên thẳng, Thần Sấm (Thunderchielf), Con Ma (Phantom) … trong nháy mắt. Sư đoàn Anh Cả Đỏ (BigRed One), Sấm Sét Miền Viễn Tây, SĐ 25 Bộ binh, những đơn vị có trăm năm truyền thống của quân lực Mỹ phút chốc bị khai tử, lấp kín như một bởi cơn địa chấn đổ chụp bất ngờ. Câu chuyện hoang đường kinh dị nầy được lập đi lập lại, khai triển, phổ biến qua những người viết báo, những hảng thông tấn vốn có ác tâm, ác ý, hèn hạ đối với chế độ Miền Nam Việt Nam, đến mỗi người dân, cộng đồng xã hội Mỹ, để cuối cùng huy động hàng trăm ngàn người vào những cuộc biểu tình phản chiến trước điện Capitol, Bạch Cung, phản đối chiến tranh Việt Nam. Để vào ngày lễ nhậm chức tổng thống của Nixon, những lời hô “Hồ … Hồ … Hồ Chí Minh..!!” lọt qua cửa kính đến tai Tổng Thống Liên Bang Bắc Mỹ, kèm theo những cảnh tượng tồi tệ đối với Quốc Kỳ, chân dung Tổng Thống, Người Lính … Những biểu tượng tôn quý của quốc gia đã do những thế hệ hào hùng dựng lên trên đồn Alamo, đảo Iwo Jima khi băng qua ngàn dặm đường sa mạc, núi cao, nắng gió, bão táp và sự chết trong ngày mở nước … Tất cả đồng bị xé rách, chà đạp, lăng nhục một các ti tiện, điếm nhục – Tất cả chỉ là một thành tựu trong chuỗi hoạt động có hiệu quả, khéo léo, hiểm độc của cơ quan tình báo nầy tại hải ngoại.

Cũng chỉ với cơ quan này, những sinh viên VNCH đi từ sân bay Tân Sơn Nhất khi vừa đến các phi trường cửa khẩu ở Pháp, Mỹ, Úc, Nhật … Thường được người chào đón đưa về các cư xá sinh viên, nơi có sẵn hình Hồ Chí Minh, các bài nói của Lê Duẩn, công trận Võ Nguyên Giáp, tài tổ chức của Nguyễn Chí Thanh được in lên giấy trắng bóng. Người sinh viên còn được giúp làm bài và hướng dẫn cách thức tổ chức biểu tình có tiền cước phí. Trong cùng lúc, tòa Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa mỗi năm tập họp những người du học một lần để ăn chả giò chấm nước mắm. Nhưng hoạt động tình báo hải ngoại không chỉ hạn chế trong âm mưu tổ chức đạo quân thứ năm như vừa đề cập. Đúng chức năng của tính danh xác định vừa kể ra, nó có nhiệm vụ tập hợp, vận động tất cả nhân viên, giới chức các đoàn thể, mỗi cá nhân Việt Kiều vào mục tiêu chung: Thu nhập dữ kiện liên quan đến tình hình chính trị, chiến tranh, các hoạt động văn hóa, xã hội, kinh tế … Làm thế nào để có một kết luận tình báo nhanh chóng, chính xác nhất. Đây là một kinh nghiệm tích lũy từ những cơ quan tình báo sừng sõ quốc tế, khu vực. Công tác tập trung, phân tích kết luận về một Nguồn Tin đòi hỏi sự chuẩn bị vô cùng kiên nhẫn lâu dài đôi khi bứt khoát khỏi những biến động chính trị đoản kỳ, cấp thời. Tương tự như kết luận cuối cùng của nước Mỹ về quyết định chiến lược của người Nhật: “Sẽ mở mặt trận phía Bắc hoặc Nam Châu Á?”. Câu hỏi đặt ra từ 1930, lúc chưa có một dấu hiệu nhỏ của Thế Chiến Thứ Hai. Để sau đó có lời giải đáp cụ thể vào ngày 7 tháng 12 năm 1941 với trái bom đầu tiên nổ ở cảng Pearl Habor. Câu trả lời chính xác này kèm theo lời tán thán của Yamamoto: “Rồi đây gã khổng lồ say ngủ sẽ tỉnh giấc … ”, khi ông ta biết rằng đã không có một chiếc hàng không mẫu hạm nào đậu ở bến cảng-Chiến tranh Mỹ-Nhật đã có kết thúc từ lời giải đáp trên. Và cái cơ quan mà chúng ta đang đề cập đây lại do một kẻ kiệt liệt trong nghề thành hình, Hồ Chí Minh chứ không ai khác. Ông Hồ làm việc cho KGB của Nga là một điều tất nhiên, nhưng không ai cấm ông không dính líu đến một cơ quan tình báo khác. Ông ta “chỉ có thể thoát khỏi” nhà tù Hương Cảng qua Hạ Môn đến Thượng Hải và cuối cùng lên tàu đi Liên sô (1933, 1934) từ Hải Sâm Uy (Vladivostok). Cái giá cho cuộc đào thoát này “không phải cho không”, người trong nghề (nghề tình báo, mật thám) phải hiểu hơn ai hết. Thực ra, tất cả chỉ là một hài kịch. Người Anh “đã đề nghị” Nguyễn Ái Quốc làm việc cho sở Tình Báo Anh như là (lẽ tất nhiên) một nhân viên điều động một chiến dịch “Chống Cộng Sản” ở Viễn Đông!! (Hồ Chí Minh, Con Người Và Huyền Thoại, Chính Đạo, Văn Hóa 1993 – Hồ sơ thiết lập năm 1948 của sở Mật Thám Pháp (Mục Tiểu Sử).

Không lẽ cơ quan Intelligence Service của Anh lại không biết ông Hồ là ai, đi Nga làm gì? Cũng tương tự như thế, tháng 11, năm 1944 lực lượng Việt Minh ở Cao Bằng cứu được viên phi công Mỹ W. Shaw gốc tiểu bang Texas. Hồ Chí Minh mang người này qua Quảng Đông trả cho người Mỹ để làm quà giới thiệu gặp Chennault, Tư Lệnh Không Đoàn 14 tại Côn Minh, Hoa Nam. Hồ Chí Minh xin Chennault tấm hình có chữ ký và vài khẩu Colt 45, để sau này có thể nói cùng với những phụ tá nói riêng và phong trào Việt Minh (nới rộng, mà điều này mới là mục tiêu thật): Đã được chính phủ Mỹ giúp đỡ. Nhưng thật ra không phải chỉ thế, mục tiêu của ông cao xa hơn và quan trọng hơn một tác động tuyên truyền:”Bắt liên lạc với Đại Úy Patti, Chỉ huy trưởng OSS Mỹ ở Hoa Nam để người Mỹ có kết luận “Kể từ ngày này. Mặt trận Việt Minh bắt đầu hợp tác với OSS trên một căn bản tương tự như Thiếu tá Jean Sainteny và Đại tá Commentry của Pháp” cùng với lời ghi chú quan trọng “Lãnh tụ Việt Minh chỉ là những người yêu nước, xứng đáng được chính phủ Mỹ yểm trợ”(Hồ Chí Minh, Con Người Và Huyền Thoại, Chính Đạo, Văn Hóa 1993, trang 357).

Chúng ta không thuộc giới tình báo, nhưng với nỗi xót đau của phận người Việt Nam, từ trực giác của kẻ đang trong cơn tuẫn nạn có thể tìm được câu trả lời cay đắng, về những vận động và phần vận động quanh ông Hồ, cùng hệ thống tình báo do ông ta thiết lập, huấn luyện, điều động … Người Mỹ làm thế nào có thể vào Việt Nam một cách dễ dàng thuận tiện như đã diễn ra sau 1954, để thay thế người Pháp mà đã là một thực thể quyền lực từ 1883, 1884?! Cụ thể hơn với kết quả trận Điện Biên Phủ, chỉ do không có can thiệp quyết định và cuối cùng của không lực Mỹ (Chiến dịch Vautour do Pháp đề nghị bị hủy bỏ)- Xử dụng phi đoàn Hổ Bay đóng tại Đài Loan ném bom cường tập vào vị trí Việt Minh tập trung, quanh vùng lòng chảo Mường Thanh. Phi đoàn này không thay tư lệnh từ thập niên 40, Tướng Chennault vẫn tại chức. Điều này rất dễ nhận ra tính lô-gíc của vấn đề vì “Nước Mỹ không hề bị ràng buộc từ Hiệp Định Genève 1954 về Đông Dương” và khi cần thiết ra khỏi vũng lầy Việt Nam thì tạo nên một hiệp định “Tái Lập Hòa Bình” khác. Chỉ khác chăng, cả hai phía, người Mỹ và Cộng Sản Việt Nam không đủ khôi hài và nhẫn tâm để nhóm họp tại Genève một lần nữa vào những năm 1968-1973. Mượn phòng họp La Celle Saint Cloud cũng chỉ là cách cho Pháp một chút sĩ diện hão mà thôi … Muốn giải quyết chuyện Việt Nam tôi phải nhờ anh cái chỗ ngồi vậy!!

Từ những thập niên 40 đến nay đã hơn nửa thế kỷ, những cơ sở tình báo luôn cải tiến, bổ sung để có hiệu quả hơn. Thế nên người Pháp đã vô cùng “bất ngờ sung sướng” biết được đường đi của Nguyễn Bình từ Nam Bộ ra Bắc để thanh toán xong viên tướng lừng lẫy này mà kết quả giúp cho Lê Duẩn, Trưởng phòng Dân Quân Mặt Trận Việt Minh rảnh tay, thực sự nắm quyền Bí thư Xứ Ủy Nam Bộ Đảng Cộng Sản (đã được giải tán theo kế “kim thiền thoát xác – Con ve lột vỏ” trong chiến lược kết hợp lực lượng quốc gia vào Mặt Trận Việt Minh từ tháng 5, 1941). Bình chết ngày 29 tháng 9, 1951 khi chạm súng với Tiểu đoàn 4 của Miên; qua nhật ký Vũ Bá Nhạc, người chỉ huy toán hộ tống Bình, chuyên viên mật thám Pháp có kết luận “Ainsi le haut commandement Việt Minh avait pratiquement condammé (Hồ sơ 10H 636), trích từ Việt Nam Nhân Vật, Niên Biểu Chí, Chính Đạo, NXB VH, 1993). Ai giết? Ai kết án? Đời Bình đã kết thúc dưới ánh sáng lịch sử, phán xét chính xác của nhân dân. Tương tự như thế, người Pháp cũng đừng lấy làm phiền lòng tại sao những chuyến bay từ phi trường Bạch Mai (Hà Nội) đi Điện Biên đã tiết lộ trước bởi tình báo “kỹ thuật”-Kỹ thuật quân sự Việt Minh năm 1954 chỉ là “kỹ thuật du kích” tiến lên vận động chiến chắc chắn không nằm trong hạng mục kỹ thuật đang đề cập … Vậy nó là ai?! Sau này người Mỹ (những cơ quan tình báo quân sự)

hẳn cũng biết rõ vì sao, tại đâu, những phi vụ B52 phát xuất từ Guam, Phi Luật Tân, Thái Lan luôn được “thông báo” trước 24 giờ để các đơn vị cộng sản chém vè, phân tán mỏng tránh khỏi khu vực dội bom. Vì quả thực, chẳng cần phải là chuyên viên về vũ khí, ai cũng có thể tính ra, với số lượng bom đạn khổng lồ kia, chỉ cần 1/100 lượng bom thả xuống trúng mục tiêu, đạo quân di chuyển từ miền Bắc không thể nào đến miền Nam được tương đối an toàn và đầy đủ như thế. Trong thuật ngữ “tình báo” có từ “intelligence” và chữ “tình” của ngôn ngữ Việt. “Tình” – Những liên hệ cấu kết do những điều kiện khác với bình thường.

Để chấm dứt đề mục tình báo này chúng ta có thể dùng lại lời Phạm Văn Đồng – Nếu không có một đánh giá tình báo chiến lược đúng (Nói rõ hơn tại Mỹ, về Mỹ) có “cho kẹo”, Hà Nội cũng không đánh chiếm miền Nam lẹ làng và hiệu quả đến như vậy.

*- CỤC BẢO VỆ CHÍNH TRỊ

Cơ quan Tình Báo Hải Ngoại nếu phụ trách tình báo ngoại vi thì Cục Bảo Vệ Bộ Chính Trị thiết lập lên mạng lưới tình báo và phản tình báo trong nước, trong nội bộ Đảng, trong tất cả tổ chức, thành phần chính trị, văn hóa, xã hội toàn quốc. Để điển hình hóa và cụ thể hóa công tác của cơ quan này, chúng ta có thể xét đến thành phần và chức năng mỗi một thành viên của nó. Ví dụ, đối với một nhân viên Cục Bảo Vệ, một ủy viên trung ương, bộ trưởng, tướng lãnh hoặc ngay cả viên chức lãnh đạo cao nhất, Thủ tướng, Chủ Tịch nước, Tổng bí thư (những “đối tượng” bảo vệ của người kia) … Tất cả những giới chức cao cấp này có quyền từ chối nhân viên được phái đến công tác. Và, Cục Bảo Vệ phải thay thế nhân viên ấy theo yêu cầu của giới chức thủ trưởng. Nhưng người “được bảo vệ” kia hoàn toàn không có quyền chỉ định người được thay thế – Vị yếu nhân phải tuân theo lời dặn (mà thực sự là “quyết định” của Tổ Chức) do nhân viên bảo vệ kia truyền đạt lại. Quyết định ấy tác động, liên hệ đến cả đời sống riêng tư, sinh hoạt cá nhân, gia đình. Một (của tất cả) nhân viên phụ trách bảo vệ kia có thể nói thẳng đến cùng bất cứ giới chức lãnh đạo nào: “Báo cáo thủ trưởng, do yêu cầu công tác, thủ trưởng nên đảm bảo tốt sức khỏe.” Nghĩa là yêu cầu thủ trưởng không được hành xử, thực hiện đời sống lứa đôi, gia đình!!

Điều này không là sự kiện ngoa ngôn cường điệu; Chu Văn Tấn, Thượng Tướng, Chủ Tịch khu tự trị Tây Bắc, công thần hạng nhất, người mở đường cho Đảng xâm nhập, thiết lập căn cứ đầu tiên nơi vùng Thượng Du Bắc Việt lúc lực lượng cộng sản chỉ là nhóm du kích nhỏ vài chục người; nhưng viên tướng công thần này sở dĩ phải vong mạng vì “không trốn thoát khỏi người bảo vệ mình” trên đường đào nạn sang Trung quốc. Cần thanh toán Lê Trọng Tấn, viên Tổng Tham mưu trưởng xuất sắc, người chỉ huy tài giỏi của Sư Đoàn 312, đơn vị đánh chiếm cứ điểm Gabriell, ngõ quan yếu cực Bắc của tập đoàn phòng thủ Điện Biên Phủ; mất Gabriell và Béatrice (bên cạnh nó), Điện Biên Phủ chỉ là một thây chết không đầu. Tấn chỉ có thể bị bức tử dễ dàng, chóng vánh do không ai khác ngoài nhân viên thân cận “tắm gội” của mình. Khi tắm gội, con người quả thật còn gì để che dấu và giữ gìn!

Những điều vừa trình bày thật ra không phải là điểm mới mẻ, đáng kinh ngạc. Cách dùng một hệ thống an ninh nội bộ tối mật và toàn quyền quyết định sinh mệnh chính trị, đời sống của toàn thể thành viên trong tổ chức, vốn dĩ lại là những tổ chức được thành hình từ bí mật và ẩn danh. Đảng Cộng Sản Việt Nam với người thành lập Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc, Lý Thụy, Lão Vương, Vương Đông Hải, Thầu Chín … Để cuối cùng với Hồ Chí Minh, đã học được “tinh chất” về tổ chức và bảo vệ quyền lực từ đảng đàn anh, với hai “đệ nhất sát tinh” lẫy lừng thế kỷ, cũng của lịch sử dài toàn thế giới. Staline và Mao Trạch Đông. Coi chừng ông ta còn “độc” hơn bởi tâm chất khắc nghiệt hiểm sâu của người dân vùng đất cơ khổ nhất nước Việt. Tướng Bạch Khởi đời Chiến Quốc một đêm chôn sống 300.000 quân Triệu quả thật không đáng là bao khi đặt bên cạnh Hitler chỉ với trại Auschwitz-Birkenau cũng đã đốt tiêu từ 1.000.000 đến 2.500.000 mạng người (theo tính toán tối thiểu). Nhưng Hitler dù bạo ngược hiếu sát bao nhiêu đi chăng nữa cũng phải cho sống sót một số người tương đối khỏe mạnh để thi hành công tác gớm ghê, chôn cất, tiêu hủy người đồng chủng. Trại Auschwitz cũng chỉ qua con số bảy triệu người!! Hitler cũng rất mực “nhân bản” khi bức tử viên đại tướng tài danh Rommel với gói thuốc độc êm dịu cùng lễ nghi quân cách dành riêng cho vị tướng lãnh sau khi lâm tử; gia đình cũng được giữ đủ danh dự, tiếng tăm công thần, lương đống của chế độ. Nhưng so với Stalin, nhà độc tài Đức Quốc Xã chỉ là một anh đồ tể non tay vụng về và đôi khi còn lộ vẻ lãng mạn, yếu đuối trong quá trình thiết chế và bảo đảm quyền lực. Tháng Tám 1936, Stalin hạ lệnh cho Yagoda, giám đốc cơ quan mật vụ NKVD đưa Zinovyev, Borisovich, Kamenev và Siriknov ra tòa án đặc biệt. Tất cả đều là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí chiến đấu của ông ta lẫn Lenine từ ngày đầu thế kỷ. Sau vài ba buổi xét xử, ngày 24 tháng 8, tất cả đều bị xử bắn, không một lời kháng cáo, quyền duy nhất là: “thực hiện cách chết im lặng để xác tín việc không sai lầm của người lãnh đạo” – Xử dụng cái chết để kiện toàn và vững mạnh “tổ chức”. Một năm sau, tháng Giêng, 1937 đến phiên Yezhov thay thế Yagoda chỉ huy cơ quan-mật vụ và tiếp theo, mười bảy ủy viên trung ương khác ra tòa với tội danh “âm mưu lật đổ chế độ, chống đối lãnh tụ … ” đúc kết trong thuật ngữ “kẻ thù của nhân dân.” Kết quả, mười ba trong tổng số mười bảy bị can bị hành quyết.

Những phiên tòa tương tự được tiến hành từng năm, từng lục cá nguyệt một, để rồi chính cũng vớiYagoda và hai mươi người khác (trong số có Bukharin, lý thuyết gia của Đảng và Rykov, lãnh đạo phe hữu khuynh) ra trước vành móng ngựa để được kết quả ba người sống sót. Hai mươi năm sau vụ án, ba năm sau ngày Stalin chết, tháng Hai năm 1956, trong phiên họp kín với chỉ riêng các ủy viên trung ương (không có mặt đại diện các đảng anh em) kỳ họp Thứ Hai Mươi của Đảng Cộng Sản Liên Sô, Tổng Bí Thư Khrushev đọc tờ tường trình mật để bày ra sự thật:“Chỉ riêng trong hai năm 1937 và 1938 đã có 98 của tổng số 139 ủy viên Ban Chấp Hành trung ương đảng bị Staline giết hại; 1108 người của 1956 đại biểu trung ương bị bắt giữ và kết tội”. Tờ tường trình kết thúc với con số 20 triệu người Nga và các dân tộc thuộc liên bang Sô-Viết bị một tay Staline đưa vào Trại Tập Trung, ra bãi xử bắn trong hai mươi chín năm cầm quyền của y. Với “con người” này (Có đúng chăng với danh xưng cao quý này không), đảng Cộng Sản Việt Nam qua ủy viên tuyên huấn Tố Hữu, Bí Thư ban Tuyên Huấn Trung Ương có lời thơ:

Hoan hô Staline

Đời đời cây đại thọ

Rợp bóng mát Hòa Bình

Đứng đầu sóng ngọn gió

Và một nhân vật kiệt liệt xứng đáng để noi theo:

Hoan hô Hồ Chí Minh

Cây hải đăng mặt biển

Bão táp chẳng rung rinh

Lửa trường kỳ kháng chiến

Nhưng với Staline với nước Nga dù sao cũng quá xa xôi và cái chết có phần sớm sủa, đảng Cộng Sản Việt Nam còn có một bậc thầy sát cạnh để uốn nắn những sai lệnh, kịp thời đáp ứng “mục đích và yêu cầu” nhu cầu phát triển cách mạng. Mao Trạch Đông với Cách Mạng Văn Hóa 1966 huy động đến 18 triệu Hồng Vệ Binh quét sạch từ Khổng Tử đến Bành Đức Hoài, Lâm Bưu, Lưu Thiếu Kỳ; ngọn gió cách mạng cũng không tha ông già hốt phân Thời Chuyên Tường bởi đã phạm tội làm “anh hùng lao động tiên tiến”, được đại diện giới công nhân vệ sinh lên Bắc Kinh bắt tay họ Lưu. Cuộc cách mạng có kết quả phải dùng xe ủi đất để hốt xác người tại thành phố Nam Ninh và viên Bộ Trưởng quốc Phòng họ Bành bị chết nơi ngục tối sau những lần đấu tố bởi những tên tuổi trẻ đáng bằng con, cháu. Nhưng cũng phải đến mười năm sau ngày Mao chết, ở Quảng Trường Thiên An Môn, thanh niên, sinh viên và học sinh Bắc Kinh có ngã chết trước họng súng của toán lính chống biểu tình vào tháng 5, 1989 … Chế độ Cộng Sản, đảng Cộng Sản Trung Hoa mới có thủ phạm được nêu danh không chính thức qua văn phẩm của Bác sỹ Lý, thầy thuốc thân cận riêng của Mao để bày ra một …

“Ông chủ tịch, mặt trời hồng, tên bạo dâm, chuyên môn ngủ với gái quê và không hề chịu đánh răng, tắm rửa!!” Tất cả những sự kiện này đã làm nổi bật khả năng của người Cộng Sản Việt Nam – Họ quả thật đã áp dụng một cách sáng tạo biện chứng duy vật, đã bỏ qua một bước dài, đã vượt lên một mức rất cao từ những tiền đề khởi sự. Sáu mươi năm sau ngày thành lập, năm mươi năm sau lần nắm quyền lực, chịu đựng bao nhiêu thoái trào, tiến lên bao nhiêu tiến trào; thực hiện bao đợt cải cách, hành quyết bao nhiêu mạng người, thanh toán mấy đợt đồng chí … Khái Hưng, Nhượng Tống, Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch, người chết nơi trại Đầm Đùn những năm 45-54, chết nơi trại Lam Sơn số 5 sau năm 1975 … Không ai biết, không ai nói tới. Họa hoằn  lắm người ta mới biết đến Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế của trại Xuyên Mộc, một Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt ở trại Thanh Cẩm vào những năm của thập niên 90, khi thành trì XHCN Liên Sô, Đông Âu đã sụp đổ và người cộng sản ở Việt Nam bắt buộc phải mở cửa về phương Tây để tự cứu … Còn bao nhiêu người đã thật bị lãng quên, chết uất hận lặng im giữa trùng vây bóng tối. Năm thứ sáu kiên giam, 1986, tôi đến trại Thanh Cẩm vào phòng kiên giam số Hai … Chiếc cùm chân đã xỉn mòn, vòng sắt đã lõm vào độ sâu có thể đẩy lên thấu gối. Hệ thống các trại tù chỉ là mặt nổi hiện thực khi Ban Bảo Vệ Bộ Chính Trị đã đúc kết xong hồ sơ ở mức độ khoan hồng nhất – Cho được sống sót. Để chấm dứt phần đề cập đến Cục Bảo Vệ này, người viết có thể nêu ra đây câu chuyện nhỏ … Cuối tháng Năm 1993, bản thân từ Lái Thiêu trở về Sài Gòn để mua sắm những vật dụng cần thiết cho cuộc sống chốn thôn quê. Đến chiều, trước khi trở về, tôi ghé thăm anh Dương Cự, người bạn vong niên hằng kính mến. Thật bất ngờ, tôi gặp Dương Phục, em anh Cự, cũng là người quen biết cũ trước năm 1975 vừa ở Mỹ về. Phục ngỏ ý nhờ tôi đưa đi gặp một vài anh em trong giới văn nghệ, sinh hoạt văn hóa. Tôi đưa Phục đến Phạm Cung, họa sĩ, điêu khắc gia của Sài Gòn trước năm 75; sau đó cả ba đến nhà Trần Mạnh Hảo, cách nhà Cung một khoảng ngắn, cũng một phần Phục muốn biết đội điều về văn nghệ sĩ miền Bắc. Sau đó chúng tôi chia tay. Ngày 8 tháng Sáu, tôi được giấy trình diện phòng An Ninh PA 15, sở phản gián thuộc Cục Bảo Vệ Chính Trị Thành Ủy Sài Gòn, đặc trách văn nghệ sĩ, đặt tại đường Trần Hưng Đạo, Nha Cảnh Sát Đô Thành ngày trước. Buổi làm việc có mục tiêu về sự kiện gặp Dương Phục được kết thúc với câu hỏi “Sau khi gặp TMH, các anh còn đi đâu nữa?”

-Không đi đâu cả, sau đó tôi về Lái Thiêu.” Tôi trả lời.

-Các anh “định” đi ăn mà?

-Chỉ là “định” thôi chứ đâu có đi!! Tôi la lên.

Xin bạn đọc đừng nghĩ đây là điều cười cợt – Cục Bảo Vệ Chính Trị kia có khả năng kết tội từ lúc sự kiện còn trong vòng bóng mờ của “ý niệm”, đang trên đường nên thành ý nghĩ, hành vi.

3 – BỘ NỘI VỤ – CỤC TRẠI GIAM

Con đường từ thị xã Yên Báy vào thung lũng Hoàng Liên Sơn, xã Việt Hồng, Việt Cường có một trường học ở bến phà Âu Lâu, chỉ là trường cấp Hai; sau khi qua khỏi bộ chỉ huy đoàn 776, vượt đèo Cây Da, xuống đèo đi thêm một đoạn đến ngã Ba Lò Vôi, đám tù người Nam thấy có thêm một trường thứ hai. Trường cấp Một, mái tranh, vách đất, với những học sinh vị thành niên đi học với cuốc sẻng, dao đi rừng. Những trẻ nhỏ tuổi lên mười, chân trần, chùm đầu miếng ni-lông đội mưa núi, đi từ những làng bản xa xôi đến trường theo những con lộ đất bùn, đá núi ngổn ngang. Theo dõi câu truyện từ lũ trẻ, những người tù nghe được những câu “Cách Mạng Việt Nam là cách mạng thế giới!” Trong cảnh trí và môi trường sinh hoạt dọc con đường hoang vu đó, đoàn 776 chỉ huy, điều động một hệ thống giam gồm 14 trại từ  cấp tướng lãnh (trại 5) đến hạ sĩ quan cao cấp (trại 14) gồm phần lớn tù miền Nam đưa ra Bắc từ mùa Hè 1976. Mười bốn trại so với hai trường học quả thật là tỷ số chênh lệnh quá lớn. Hơn nữa, nếu so với diện tích, khối lượng, (trại nhỏ nhất, T10), hai trường học kia cũng không thể nào sánh được; dù hệ thống trại chỉ do tay trần sức tù dựng lên. Những người tù miền Nam cũng có thêm nhận xét “Nhà tù nhiều hơn trường học”. Cũng nhiều và đẹp hơn bất kỳ trụ sở, cơ quan nào của địa phương, các doanh trại quân đội. Họ cay đắng nhận ra khả năng và tiềm lực hơn hẳn so với những người giam giữ họ. (Tình trạng tương tự như những tù binh đồng minh bị quân đội Nhật bắt giữ trong thế chiến thứ hai). Nhưng chúng tôi cũng tự biện hộ với lý luận … “Chắc đây chỉ là trường hợp riêng nơi một địa phương cách biệt, xa xăm. Hóa ra chúng tôi đã lầm. Lầm rất lớn. Mười năm sau mới hiểu ra.”

Bộ Nội Vụ chính quyền Cộng Sản Hà Nội giăng khắp nơi một hệ thống công an với những thành viên ba đời

bần cố (mà những người này sau quá trình công tác, đào tạo, huấn luyện thường được đưa vào bố trí những nhiệm vụ của Cục Bảo Vệ vừa đề cập – Qua hệ thống huấn luyện, tu nghiệp: Đại Học Biên Phòng – Đại Học Công An, Tình Báo. Sách Đại Học ắt phải đổi lại định nghĩa “Đại học chi Đạo, tại minh Minh Đức; tại thân Dân; tại chỉ ư chí Thiện”. Hệ thống này xuống đến cấp cơ sở, nghĩa là mỗi khu phố, mỗi thôn ấp, mỗi nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện. Mỗi xã đội (lực lượng quân sự xã) đặt dưới quyền chỉ huy của ủy viên an ninh xã, tức là nhân viên công an thuộc hệ thống dọc Chi, Ty, Sở của xã, huyện, tỉnh trực thuộc Bộ Nội Vụ trung ương của Hà Nội. Và những cơ quan này có quyền bắt giam bất cứ giới chức, nhân viên, người dân nào với tội danh:

“Vi Phạm An Ninh Tổ Quốc.” Nếu cần một văn bản hợp thức hóa việc bắt giam (Để thực hiện khẩu hiệu “Sống và làm việc theo Pháp Luật”) chính quyền sẽ nại đến một cơ quan pháp lý “Viện Kiểm Sát Nhân Dân” -Thành viên quan yếu, quyết định của cơ quan kia không ai khác – Ủy viên an ninh – Người công an của hệ thống nhất quán từ trung ương đến mỗi cơ sở, xương sống bộ máy chuyên chính Cộng Sản Việt Nam. Với mạng lưới công an dày đặc này, một trẻ vị thành niên hư hỏng sẽ được đưa đến Ủy Ban Nhân Dân khu phố, nơi đây chuyển qua đồn Công An; đồn chuyển tiếp lên “trường”. Đứa bé đến tuổi trưởng thành, ban giám thị trường thay bìa đựng hồ sơ – Đứa nhỏ trở thành “trại viên trại cải tạo” với án phạt “tập trung cải tạo.” Trên nguyên tắc án phạt tập trung cải tạo chỉ có thời hạn là ba năm. Điều này thường đưa đến tình trạng bối rối cho người thanh niên khi ra trại … Hắn ta vào “trường” năm 1978, khoảng mười ba tuổi, nay ra trại với án “tập trung cải tạo trong thời hạn ba năm…” Như thế là thế nào … Bây giờ, năm 1991?!! Anh ta cũng không hiểu tội danh ghi trong giấy ra trại “xâm phạm tài sản Xã Hội Chủ Nghĩa” tức là đề cập đến việc anh ta đánh cắp mấy cây sắn khô của hợp tác xã từ một ngày thơ ấu hay chăng?

Cách đây hơn hai mươi năm, người viết đã nêu rõ khẩu hiệu “Sinh Bắc tử Nam,” không chỉ là khẩu hiệu chiến thuật áp dụng nơi chiến trường với đối tượng những người lính tác chiến … Khẩu hiệu ấy có mục tiêu lâu dài, tác động cùng khắp với nhiều đối tượng – Đưa hẳn toàn miền Bắc vào Nam – Với mục tiêu địa lý- chính trị, kinh tế-chiến lược. Lời báo động tuy đúng nhưng chưa đầy đủ. Phải nói thêm rằng, hạt nhân cho quá trình công tác chiến lược kia không ai khác, chính là những cán bộ công an thuộc Bộ Nội Vụ từ miền Bắc tràn ngập khắp mọi cơ sở hành chánh, kinh tế, y tế, xã hội, giáo dục, nghiệp đoàn, nghĩa là toàn vùng miền Nam vừa cưỡng chiếm xong. Lẽ tất nhiên, các nhà tù và cơ sở công an là nơi ưu tiên bổ nhiệm những người nầy. Và kết quả tốt đã gặt hái được trong thời hạn sớm nhất. Những trại tù miền Nam như Tiên Phước, Quảng Nam, trại D 30 Bình Định, Phú Yên, trại Z 30 (gồm có các phân trại A, B, C, D) đã trở nên những “điển hình tiên tiến” vượt xa thành tích so với những “đàn anh” một thời lừng lẫy như trại Quyết Tiến ở Hà Giang; trại Lam sơn, Thanh Cẩm, Thanh Hóa. Nhưng dù sao những trại miền Nam cũng có một điều không thể nào bù được khi so cùng những nơi giam giữ ở miền Bắc: Một hệ thống dân cư (cư dân miền núi sẵn sàng bỏ cày cuốc, việc làm để cả làng, cả bản tiến vào rừng lùng “tù ngụy” với giải thưởng hấp dẫn. – Ba năm không nộp thuế, sáu chục cân thóc, dầu thắp đèn, muối ăn – Người tù miền Nam vừa ra khỏi trại biến thành trần truồng trước mắt những đồng bào cùng xứ sở. Cảnh săn người thời trung cổ với đàn chó đuổi theo những tên nô lệ thường được lập lại rất nhiều nơi với rất nhiều người – Những chiến hữu của chúng ta, những người không thể sống cùng dối gạt từ lệnh học tập cải tạo mười, mười lăm ngày!! Trong những ngày ngồi trong hầm tối, chân mang cùm sắt, tôi thường nhìn lên tấm cửa gỗ bọc tôn và nhẩm tính “… Sau cánh cửa này có cửa thứ Hai của ngăn để áo quần đồ đạc; cửa thứ Ba trước phòng giam; toàn khu kỹ luật có cửa thứ Tư; mỗi nhà ở của tù có cửa thứ Năm, các khu nhà ngăn cách nhau bởi cửa thứ Sáu; khu tù cách khu văn phòng trại cánh cửa thứ Bảy; trại tù và làng dân có cửa thứ Tám; miền Bắc và miền Nam khác nhau từ cánh cửa thứ Chín; và cuối cùng Việt Nam đóng chặt cửa thứ Mười với thế giới!!”. Người làm sao ra được mười cái cửa này hở trời?? Vâng, tôi đã rất nhiều lần than nên thành lời như thế và chỉ mong không gì hơn được ra khỏi cánh “cửa thứ nhất” để lấy cái áo mặc vào mùa lạnh hoặc chút thức ăn. Nỗi ao ước và trí tưởng tượng không hề vượt qua khỏi cửa thứ Ba, thứ Tư … Họa chăng chỉ có phép mầu, chỉ có Trời mới cứu được thôi, anh ơi?! Tôi hằng kêu với cánh cửa lặng im như thế hằng ngày, qua từng đêm và tin rằng trong cùng lúc, khắp nơi của Việt Nam, sâu cảnh khổ, chắc chắn có rất nhiều người cũng đang ghìm giữ tiếng uất hận đau đớn này. Hai mươi năm âm dội hằng vang vọng trên quê hương điêu linh. Và trong phút giây trên biên giới chạm sự chết ấy trí nhớ bỗng nhiên vụt sáng: “Ta là cánh cửa, ai bởi ta mà vào thì chắc được cứu”. Tôi bất ngờ nhớ lại Ngôi Lời viết trên cánh cửa nhà Hội Thánh Tin Lành Đà Nẵng những ngày thơ ấu hằng đọc qua trên đường ra vịnh biển … Và nghe ra mùi muối mặn từ ngã tư Khải Định -Nguyễn Hoàng. Mặt nước loáng sáng nơi xa.

4- BAN NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ ĐẢNG

Cuối cùng một cơ quan mang danh xưng thoạt nghe vô hại, tưởng như chỉ có chức năng của một văn khố, ban văn thư hoặc phòng tổng quản trị theo suy nghĩ thông thường của người lính miền Nam; nhưng thực tế khác xa quan niệm sẵn có của chúng ta, những người luôn có tập quán xét sự việc, nhìn vấn đề theo hướng chính danh, thuận lý. Cơ quan mang danh xưng chức năng chuyên môn này thật sự là khối thiết lập và lưu trữ hồ sơ, tài liệu phê điểm- Tiêu chuẩn quyết định sinh mạng chính trị toàn đảng viên – Không một ai có quyền phản bác hoặc khước biện. Nói tóm một câu: Ban Nghiên Cứu Lịch Sử Đảng là Văn Phòng Hồ Sơ Mật và Thật về mỗi đảng viên qua từng thời kỳ với mọi công tác được đánh giá khách quan ưu, khuyết điểm. Hồ sơ này không bị ảnh hưởng bởi những hiện tượng ngoại vi, không do tác động từ những sự kiện đoản kỳ, chiến thuật. Với hồ sơ, phiếu bình điểm của Ban Nghiên Cứu những nhân viên thuộc cụm tình báo chiến lược như Huỳnh Văn Trọng, Trần Ngọc Hiền, Vũ Ngọc Nhạ, Phạm Xuân Ấn, Phạm Ngọc Thảo … rất an toàn nếu phải làm đôi điều gây bất lợi đến với một vài cơ sở, cá nhân cộng sản nào đó. Họ đã có tấm khiên chắc chắn này làm chứng cho lần xét công tội, bình bầu, chỉ định vào những chức sắc, nhiệm vụ khác của tổ chức. Trường Chinh chỉ có thể trở lại chức Tổng Bí Thư lần thứ hai, 1986, cũng phải mất một thời gian dài lặn sâu, nín kỹ từ 1956, năm mất chức lần thứ nhất sau những sai lầm do cải cách ruộng đất 1953. Năm 1986, Khu (Trường Chinh) cũng thật sự quá già để không gây nguy hiểm cho những đảng viên đối thủ, nhưng điều quan trọng quyết định cho lần trở lại này là những tay em của ông ta, Hoàng Quốc Việt, Lê Văn Lương nắm giữ chức Trưởng Ban Tổ Chức và Trưởng Ban Nghiên Cứu vào thời điểm có vụ việc bầu bán. Tố Hữu, đệ nhất văn lại của chế độ không thể níu kéo được gì do những sai lầm của cải cách nông nghiệp 1986-87 mà y được chỉ định làm trưởng ban. Những sai lầm không thể che dấu đã ghi sẵn vào hồ sơ của Bản Nghiên Cứu, mà cho dù y đã viện đến một cơ quan có thẩm quyền, sức mạnh chính trị thực lực để biện hộ và bảo vệ, báo Nhân Dân, cơ quan chỉ đạo tuyên truyền, huấn luyện, phát ngôn, điều động, hướng dẫn quần chúng, đảng viên. Tờ báo có năng lực chính trị và chức năng của một bộ. Khi cần chỉ định một ủy viên trung ương vào chức vụ cao cấp, ủy ban trung ương đảng không căn cứ gì khác ngoài khối tài liệu cung cấp từ Ban Nghiên Cứu. Những đề nghị của hội nghị thật ra đã được hoàn thành hơn một nửa khi ủy viên phụ trách đọc xong phần tài liệu đã được thiết lập về mỗi cá nhân. Hoàng Quốc Việt đã một lần lớn tiếng cảnh cáo “Tấn ngồi xuống !! “ Khi viên tướng Chu Văn Tấn tỏ ý phản đối về một điểm ghi trong quá trình hoạt động của y ở những năm kháng chiến chống Pháp. Bởi, đây là “Lịch sử Đảng không là của cá nhân.” Lịch sử có quyền quyết định cuối cùng và chung nhất.

IB- NGUYÊN TẮC:

Những tổ chức vừa trình bày được điều động, thực hiện theo đúng những nguyên tắc sau:

1- CÁ NHÂN HOÀN TOÀN BỊ TRIỆT TIÊU TRONG TỔ CHỨC.

Đây là điểm chí cốt của chế độ cộng sản, tính chuyên chế của tổ chức hiện thực cao độ với biểu hiện cụ thể này. Và chẳng cứ gì cá nhân, những giá trị mà chúng ta tưởng như vĩnh cửu tối thượng như “Độc Lập, Tự Do, Dân Tộc, Dân Quyền … ”; Lúc cần thiết vẫn có thể hy sinh để tổ chức được tồn tại, củng cố. Bởi, “Nếu người cách mạng không biết phối hợp những hình thức đấu tranh bất hợp pháp với những hình thức hợp pháp thì đấy chỉ là những người cách mạng tồi.” Vâng, Lê-nin đã nói thành lời như thế và cũng chính ông ta đã thực hiện thành hành động qua Hòa Ước Brest-Litovsk (1918) chấp nhận chuyển giao cho Đức, Áo, Thổ, phần lớn lãnh thổ thuộc vùng Baltic, Balan, Phần Lan và cả Ukraine trong ngày 3 tháng Ba, 1918, để có được “hoà bình thoát hơi” cầm cự được cùng phe cách mạng cánh tả của Bukharin và phe cách mạng xã hội đang nhất quyết phát động chiến tranh. Nhưng thật sự mối âu lo của Lê-nin có nguyên nhân khác, phe bạch vệ của Denikin dọc miền sông Don; phe Kolchak ở Siberie; quân của Yudenich từ (tháng 8, 1918) và Moscow bỏ ngỏ. Bởi vì: “Nhu cầu vùng biển Baltic đang chuẩn bị đồng loạt tấn công tồn tại của chính quyền Cộng Sản cần thiết hơn danh dự của tộc Đại Nga”. Cũng tương tự như thế, ông Hồ nửa đêm gõ cửa nhà viên Bộ Trưởng Bộ Thuộc Địa Marius Moutet cầu ký cho được Tạm Ước Modus Vevendi (14, tháng 9, 1946) cốt để có “Bốn tháng an toàn (từ 9 đến 12)” cho chính quyền Việt Minh đang lưỡng đầu thọ địch tại cả Nam lẫn Bắc Việt Nam. Và khi cần giải tán Đảng (1945) hoặc đổi tên Đảng (1953) cũng là những chuyện bình thường. Bởi “Tổ chức là tất cả, Phong trào (công nhân) không là gì cả”. Cũng là lời của Lê-nin. Thế nên, chúng ta đừng bao giờ kỳ vọng quá nhiều về sự đổi thay (cho là có thật) từ của một cá nhân đảng viên cộng sản. Sự đổi thay đó có nhiều nguyên do, chúng tôi không hề gọi đó là một “hành vi giả dối”, một biện pháp “cò mồi.” Không, chúng tôi luôn coi trọng “tính liêm sĩ, tự trọng trí thức” của những người phản tỉnh, xét lại … Nhưng khổ thay chính người cộng sản Lê-nin đã luôn nhắc đi nhắc lại : “Không có luân lý, đạo đức tâm lý trong chính trị; nếu có một nền đạo lý nào đó thì cũng chỉ là đạo lý từ, của nhu cầu chính trị mà thôi”.

Thế nên năm 1989, Nguyễn Hộ trong lời mở đầu bàn về “đổi mới” trong chính sách, nội bộ Cộng Sản (báo Sài Gòn Giải Phóng, tháng 5) luôn nhấn mạnh đến yếu tố “phân biệt bạn, thù”, có nghĩa – Ông ta đứng trên “lập trường Xã Hội Chủ Nghĩa” với tất cả “luân lý, đạo đức Xã Hội Chủ Nghĩa” để xét sự kiện sai lầm- Sai lầm phạm phải “không riêng” của Lê Duẫn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng … Hoặc bất cứ cá nhân nào của Ban Chấp Hành TƯ Đảng Cộng Sản, kể cả người đã chết Hồ Chí Minh. Sai lầm cũng không phải chỉ được phát hiện ra từ Đại Hội VI, sau thất bại xâm lược Campuchia, cải tạo nông-công thương nghiệp 1978 v.v .. Thế nên, khi suy ra tội của một vài cá nhân như Lê Duẫn, Đỗ Mười …đừng nói gì những giám đốc công ty, chủ nhiệm hợp tác là cách đặt “giã vấn đề” với những tội danh không thủ phạm như “tiêu cực trong quản lý kinh tế; xơ cứng tư duy, không nắm bắt được như cầu bức thiết của quần chúng .. “

Tóm lại, những “tiêu cực vì chưa tốt” này có thể áp dụng đến với bất cứ ai của tất cả cơ quan chính phủ, thời điểm thi hành, đối với tất cả thể loại công tác …Đây là biện pháp “gói gió ngăn trời bão,” cũng vô ích như khi “phê phán chế độ” từ những viên chức cao cấp bởi đã không hoàn tất “nhiệm vụ người chồng tốt lành, người cha gương mẫu”. Cung cách đánh giá chế độ như kiểu Nguyễn Trí Huân với “1975, Họ đã sống như thế”, Nguyễn Mạnh Tuấn với “Cù lao Chàm”, hoặc Dương Thu Hương với “Thiên đường mù” … Một triệu cuốn sách của Tiêu Dao Bảo Cự, Nguyễn Huy Thiệp được in ra phát không đến mỗi người đọc cũng không bớt đi một chút ô uế của những đống rác lầy bốc lên trước những căn nhà cao tầng cửa Romain, Gothique có hình chó berger được vẽ với dường nét hung hăng … Những ngôi nhà dựng vội, chung quanh vùng Tân Sơn Nhất, Thành Cổ Loa được đặt với một cái tên “chính thống trơ tráo-Tiểu Hà Nội !! ” – Thành quả do, từ một chính sách ăn cướp giữa ban ngày-Vụ đoạt chiếm Miền Nam bằng bạo lực, khởi động chiến tranh thập phần vô ích và bất nhẫn-Không phải chiến tranh nơi biên giới Tây-Nam với Khmer đỏ, cũng không với chiến tranh “giữ nước” ở biên giới Việt-Hoa. Nhưng xa hơn và chính thức nhẫn tâm đê tiện-Dìm toàn thể Dân Tộc (Có nghĩa cả giá máu của triệu người Miền Bắc lẫn Miền Nam) vào cuộc chiến khởi đi từ 19 tháng 12, 1946. Hoặc gần gũi cụ thể hơn, từ một ngày 19 tháng 12 khác của 14 năm sau:1960

– Lần lập lên cái gọi là “mặt trận giải phóng miền nam”.

Bao giờ chúng ta nghe những lời phê phán chính thức nầy với một đơn vị tội phạm đương nhiên – Đảng Cộng Sản – Do một nhân vật trách nhiệm tổ chức, thực hiện, Nguyễn Tất thành. Lúc ấy mới thực sự là “Lời Nhận Tội trước Quốc Dân và Lịch Sử”, nếu không, tất cả chỉ là “phó sản phẩm mạo hoá” nỗi đau thương của toàn khối Người Việt- Cũng là những người cộng sản có lương tri và lương năng. Chúng ta không nghi hoặc nhà văn “thiếu trung thực cá nhân khi phê bình chính sách đảng và nhà nước”- Nhưng họ chỉ “thật sự phê phán chế độ đó vì:

“Họ là sản phẩm của chế độ đó”– Họ chỉ tồn tại khi chế độ đó tồn tại. Điều này thật dễ nhận ra với Bùi Tín,

Thiếu tá sĩ quan báo chí Ban Liên Hợp quân sự Trung Ương / Phái đoàn VNDCCH. Bùi Tín chỉ thực sự là Bùi Tín khi chế độ đó tồn tại – Và anh ta đóng vai người phê phán (rất thành tâm) chính quyền Hà Nội qua những nhân vật không ăn cánh cùng ông ta (nói rõ hơn phe nhóm Võ Nguyên Giáp). Bởi nếu như chế độ đó sụp đổ … Anh ta sẽ là gì? Cũng chỉ một người lu loa bất mãn như trăm, ngàn viên chức cao cấp, sĩ quan, tướng lãnh của một chế độ bị đánh sụp, quân đội bị thất trận như tình cảnh hiện tại với chính chúng ta. Tuy nhiên, các biện pháp xử lý với mỗi cá nhân (trong chế độ cộng sản) vẫn thật là: Biện pháp an toàn nhất để bảo đảm chế độ, cho dù được thi hành như một cách phòng ngừa không cần thiết. Thế nên, những phê phán chế độ với một “mức độ an toàn” nào đó đối với cá nhân phê phán quả thật là một biện pháp khôn ngoan vậy. Chúng ta có thể qua nguyên tắc thứ hai của vấn đề:

2- TẬP THỂ LÃNH ĐẠO, CÁ NHÂN PHỤ TRÁCH.

Xin quý bạn đọc đừng nghĩ đây chỉ là phần hệ luận tiêu cực của vấn đề vừa được trình bày trên. Thật sự đây là biện pháp hữu hiệu nhất để bảo vệ một đơn vị cá nhân thoát khỏi những truy bức, cáo buộc do khuyết điểm trực tiếp từ hắn ta gây ra. Nếu phần trên chúng ta đã vạch ra khía cạnh “cá nhân bị tan biến và vô tính hóa bởi tổ chức” thì bây giờ đến lượt nó được thụ hưởng, bức thoát  khỏi hậu quả trừng phạt do những khuyết điểm bản thânđã phạm phải với nhân danh, quyền lợi, mục đích của tổ chức. Nói tóm lại cá nhân và tổ chức nương theo nhau tránh đỡ một cách an toàn và vô hại trong tất cả khuyết điểm đã vấp phạm- Cá Nhân Hoàn Toàn Không Trách Nhiệm Về Hành Vi Của Chính Mình. Một tiểu đoàn thuộc Công trường 7 (Sư đoàn 7 bộ binh thuộc lực lượng vũ trang Giải Phóng Miền Nam) đóng tại địa bàn tỉnh Bình Dương (vùng chiến khu D, tỉnh Sông Bé theo tên gọi của phía Cộng Sản). Tiểu đoàn nầy ăn gạo do Tỉnh Ủy Sông Bé cấp; thế nên khi điều động đơn vị này, ngoài hệ thống dọc của quân đội (tiểu, trung, sư đoàn và thành phần chính uỷ cấp tương đương) Tỉnh Ủy Sông Bé có thẩm quyền và trách nhiệm dự phần quyết định trên lịnh hành quân của đơn vị. Sự kiện “phân quyền” này có hai điều lợi:

a. Hệ thống chính trị (các cấp ủy viên đơn vị và địa phương) nắm vững được hoạt động của từng đơn vị, cho dù cấp cơ sở, đơn vị nhỏ nhất.

b. Không ai phải gánh chịu toàn phần trách nhiệm về bất cứ thiệt hại, tổn thất, khuyết điểm nào do bản thân gây nên … Thế nên, đừng nói chuyện xử dụng các đơn vị võ trang làm đảo chánh, cũng không thể tìm được một thủ phạm đích danh về những nhũng lạm, hối lộ, cửa quyền, thất thoát tài sản công, thiệt hại trong sản xuất, hư hỏng các công trình xây dựng. Hai mươi năm sau 1975, hẳn chúng ta phải hiểu ra những điều căn bản này để đừng bao giờ có những huyễn tượng về sự sụp đổ tất yếu của chế độ Công Sản Việt Nam, cùng cách thức xử dụng bạo lực để lật đổ nó. Và đừng bao giờ, dù chỉ một lần (một lần cũng quá đủ) tin một người Cộng Sản trên tư cách, giá trị riêng của người ấy. Đừng đối xử với họ như một con người với tất cả ưu, khuyết điểm như hằng có của một con người.

Một đoạn đường phố ở Sài Gòn bây giờ được quản lý bởi “Công ty chiếu sáng và cây xanh thành phố (tức là chỉ phụ trách phạm vi lề đường, trên lề đường); công ty cấp nước thành phố (dưới mặt đường); công ty cầu đường (trên mặt lộ) … Nó cũng thuộc quyền Ủy ban Nhân dân Thành phố (với những phòng, sở có chức năng tương đương như những công ty trên); lẽ tất nhiên, đoạn đường ấy cũng thuộc quyền quản lý của Quận mà nó thống thuộc (với những phòng, ban chức năng tương đương); quyền quản lý khúc lộ này chỉ dừng lại ở cấp phường với một hệ thống phòng, ban không thiếu xót – Tất cả hệ thống chồng chéo, giăng khắp này cốt đưa đến một kết qủa tất yếu – Cây ngã đổ chết người, sập nhà, đứt giây điện, vỡ ống cống … Không rơi vào phạm vi trách nhiệm của bất cứ ai thuộc những cơ quan, phòng, ban trên. Và cuối cùng, con người trong tổ chức Cộng Sản là một nhân chứng đe dọa và canh chừng người khác ở mức độ đáng sợ nhất. Người không chỉ là địa ngục của kẻ khác. Người còn là cai ngục của đồng loại. Một cai ngục thường trực và rất hiệu quả.

Ông Phạm Văn Đồng là Ủy Viên Bộ Chính Trị, Thủ Tướng chính phủ, nhưng ông ta còn là Dân Biểu tỉnh Thanh Hóa … Để làm gì với chức vụ thêm thắt này?! Hẳn tất cả chúng ta, những người có lưu tâm đến thời cuộc, chắc cũng một lần đặt lên câu hỏi tương tự. Nhưng, vì không có điều gì vô ích trong chế độ cộng sản, với những con người cộng sản … Đây lại là một thứ Cộng Sản Á Châu thuần thành, cuồng nhiệt nhất, nên những chức vụ thoạt nhìn thừa thãi kia thật ra là “cái thắng” để kìm giữ ông ta lại. Con người trong chế độ cộng sản luôn “được và bị” trông chừng cùng một lúc cho dù là kẻ kia đang tột đỉnh quyền uy. Viên giám đốc cơ quan mật vụ NKVD Yagoda, người chủ trì cuộc thanh trừng khốc liệt toàn bộ Ủy Viên Trung Ương Đảng Cộng Sản Liên Sô từ 1934 đến 1938, luôn luôn ở trong tình trạng “chính mình chờ bị xử bắn”. Y chỉ có cảm giác “thực sự sống sót” sau mỗi lần vào gặp Stalin và trở về bình an, để chờ đợi lần gặp gỡ kế tiếp (Không biết sẽ chết hoặc sẽ sống ra sao). Thế nên với cái “hàm dân cử” kia, tại Quốc Hội ông Đồng chỉ là một dân biểu không hơn không kém và người quyền thế trong một lần Quốc Dân Đại Hội không ai khác, chính là người nắm chức Bí Thư Quân Ủy Trung Ương – Đại diện toàn quân đội về mặt chính trị mà thông thường chức Phó Bí Thư không ai khác ngoài vị Trưởng Ban Tổ Chức như vừa trình bày trên giữ phần kiêm nhiệm. Hỏi còn ai kìm giữ ai chặt chẽ hơn với những con người luôn canh chừng nhau này. Đặng Tiểu Bình trong những năm cuối quyền lực có thể bàn giao cho đàn em tất cả chức vụ, kể cả chức Chủ Tịch nước hay Chủ Tịch Quốc Vụ Viện, ngay cả chức Tổng Bí Thư nhưng luôn luôn và chỉ giữ một chức vụ duy nhất – Bí Thư Quân Ủy Trung Ương. Nắm chắc quân đội, công an, có nghĩa nắm vững quyền lực. Từ nhà nước Sô-Viết đầu tiên được thành hình ở đất Nga, 1917 đến nay hơn nửa thế kỷ, nguyên tắc kia luôn đúng và mãi đúng với chế độ độc tài – Chế độ chuyên chính Hà Nội lại càng cần thiết hơn.

Chúng ta là nạn nhân đầu tiên và khốc hại nhất của tổ chức, vận động quyền lực và tác động bạo lực kể trên – Một tổ chức đánh vỡ con người từ trong định nghĩa, mục tiêu và phương tiện. Muốn tự cứu và tồn tại. Tồn tại xứng danh với Phẩm Giá Con Người – Tự Hào Dân Tộc – Chúng Ta còn có Ai và phải làm gì?

II- VẤN DỀ CỦA CHÚNG TA

Đây là thời đại của Người Tổ Chức. Cụm từ này không là khẩu hiệu tuyên truyền, nhưng là trọng tâm chiến lược hành động cho bất cứ những lãnh tụ, người có thực tâm, hoài bão, mục tiêu lớn, đường đi dài trong tranh đoạt, thiết lập quyền lực, muốn mở vận hội mới đến với dân tộc, xây dựng quốc gia trong thời đại va chạm Đông-Tây đã đến độ gay gắt nhất, vỡ bùng với hai cuộc thế chiến, nên chiến tranh lạnh, để kết thúc dần hình thành một trật tự mới – Mà thời điểm cao nhất mở đầu cho trật tự ấy có thể nói không sợ sai lầm là – Từ và khởi cuộc, tại lần chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Và chúng ta, những người lính quân đội miền Nam, kẻ thụ nạn đầu tiên của buổi đổi đời lớn lao kia lại càng phải gạn lọc bài học dẫu đắng cay mà cũng vô vàn hữu ích thiến than này. Bởi, chúng ta quả thật chưa hoàn tất sứ nhiệm của mình. Hai mươi năm qua, Dân Tộc Việt, toàn thể người Việt Nam, không phân biệt trong nước hay bên ngoài cương giới quốc gia chắc hẳn đều chờ mong một lần hồi sinh, quê hương lớn dậy – Quê hương có người lính xả thân, bảo vệ Tổ Quốc Trường Tồn – Quốc Dân An Lạc. Chúng ta phải tiếp tục sứ mạng cao cả đó nếu không, thời gian và lịch sử sẽ hiện thực nên những nguyền rủa, trách cứ vô bờ.

II A- LÝ THUYẾT, TỔ CHỨC, NHÂN SỰ.

Nếu chúng ta đã đồng ý với nhau về yếu tố tiên khởi, mối quan hệ thiết thân của tổ chức thì chúng ta cần phải đề cập đến điều tất yếu, mà trên căn bản đó, tổ chức kia được cấu thành: Cái cốt lõi của một tổ chức. Từ điểm xuất phát đầu tiên này với tính cách khách quan của vấn đề, chúng ta có thể nói ngay không sợ sai lầm là:

Chúng ta đã thiếu một nền tảng Lý Thuyết – Cụ thể hơn, Chính Phủ, Quân Đội Việt Nam của cả nước (trước năm 1954) thiếu một nền Chính Lý-Nghĩa Lớn Dân Tộc. Khiếm khuyết này càng trầm trọng hơn sau thời điểm nói trên khi miền Bắc với chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa có được chính danh, thực lực từ cuộc thắng lợi quân sự qua chiến dịch Điện Biên Phủ -Kết thúc 9 năm kháng chiến chống Pháp – Cuộc chiến tranh Vệ Quốc bị cướp công và đặt sai “tính danh” khi lồng vào nghĩa đấu tranh giữa hai thế lực không khoan nhượng: Đế Quốc Thực Dân Tư Bản và Giải Phóng Dân Tộc Vô Sản-Một trong hai bên ký kết Hiệp Định Đình Chiến Đông Dương 1954 tại Genève.

Trong khi Miền Nam chỉ là một trong những bên thi hành – Thi Hành qua chức năng thành viên khối Liên Hiệp Pháp – Một trong hai phe ký kết. Sự khiếm khuyết của chúng ta, lực lượng người Việt không Cộng Sản, còn có nguyên do khác từ một buổi đầu xa hơn thời điểm vừa kể – Hiệp Định Hạ Long, 1948. Ngày 5 tháng 6, trên chiến hạm Duguay-Trouin, Cựu Hoàng Bảo Đại cùng Bollaert, Cao Ủy Pháp tại Đông Dương ký một thỏa hiệp gồm Ba Điểm chính với Điều Thứ Nhất quy định như sau: “Nước Pháp long trọng nhìn nhận sự Độc Lập của nước Việt Nam. Từ rày về sau, việc tự do thực hiện nền thống nhất quốc gia tùy nơi nước Việt Nam. Về phần mình, Nước Việt Nam tuyên bố thỏa thuận gia nhập vào Liên Hiệp Pháp với danh nghĩa một quốc gia đồng hội với nước Pháp.”

Nhưng thật ra đây chỉ là một “thỏa ước tạm thời“, trên Thực Tế cũng như trên Pháp Lý, vì Bảo Đại đã là “Công dân Nguyễn Phước Vĩnh Thụy, Cố Vấn Tối Cao của nhà nước VNDCCH”, với Hồ Chí Minh nguyên chức Chủ Tịch (Có sự chứng nhận chính danh của Chính Phủ Pháp từ những hội nghị Fontainebleau, với Tạm ước Modus Vivandi). Rõ ràng hơn nữa, Bảo Đại đến chiến hạm với chức năng chỉ để chứng kiến cuộc thỏa thuận Đa Phương, một bên là Cao Ủy Bollaert, một bên là Đại Diện Ba Miền; Nghiêm Xuân Thiện, Đặng Hữu Chí (Bắc Việt); Phan Văn Giáo, Nguyễn Khoa Toàn, Đinh Xuân Quảng (Trung) và Trần Văn Hữu, Lê Văn Hoạch (Nam) … Tất cả dưới quyền điều hành của Nguyễn Văn Xuân, Thủ Tướng Lâm Thời Cộng Hòa Nam Kỳ,” một nước của Năm Nước Đông Dương”, vừa được đề bạt làm Thủ Tướng Chính Phủ thống nhất ở Hà Nội. Bảo Đại không có gì để thảo luận, cũng không đoạt được gì sau thỏa ước – Bởi Hiệp Ước chỉ có giá trị thi hành sau khiuốc Hội Pháp biểu quyết chấp thuận. Hòa ước 1884 giữa Patenotre và những viên quan triều đình Huế vẫn luôn còn có hiệu lực đối với thời điểm này; (Và Bảo Đại thì đã thoái vị khỏi Danh Hiệu Hoàng Đế của Triều Đình Nhà Nguyễn từ 25 tháng 8, 1945). Một trong những điều khoản sẽ được hai bên quan tâm và cùng nhau hợp tác thực hiện là “tổ chức một quân đội” cho chính phủ trung ương. Quân Đội Việt Nam với hậu than của nó, QLVNCH mà tập thể những người lính chúng ta là thành viên với máu xương đóng góp được khai sinh từ bản thỏa ước chông chênh này, như hình ảnh chiếc chiến hạm thả neo trên giòng nước nổi trôi của vùng Vịnh. Một năm sau, Bảo Đại đi Pháp, ngày 8/3/1949 ký với Tổng Thống Pháp Vincent Auriol một văn kiện khác, hiện thực điều đã có từ Hạ Long. Vẫn chỉ là một Thỏa Ước Thư đặt lên những nguyên tắc “sẽ thảo luận sau này về nền độc lập của Việt Nam trong khi chờ Quốc Hội Pháp biểu quyết thông qua”. Tiến trình dự định này không dễ dàng vì gặp phải những trở ngại như việc Bộ Trưởng Hải Ngoại Paul Coste-Floret vận động ráo riết quốc hội biểu quyết cấp thời một đạo luật thành lập Hội Đồng Lãnh Thổ Nam Kỳ với mười hai đại diện Pháp và hai mươi bốn đại diện Việt. Ý đồ tạo nên một chính phủ trong một chính phủ đã thành hình trước khi nền “Độc Lập” kia được thực hiện. Theo Thỏa Ước Elysée, Bảo Đại là “Quốc Trưởng-Chef d’Etat” của một Quốc Gia Tự Do (Etat Libre) trong Liên Hiệp Pháp. Tự Do, chỉ là một “yếu tố tâm lý, tình trạng tinh thần, không là quy định pháp lý, càng không là mục tiêu, thành quả chính trị;” hơn nữa trong văn thư giao thiệp, ông vẫn được gọi là Bệ Hạ (Sa Majesté) với tất cả nghi lễ Hoàng Gia; chỉ thiếu phần thực quyền cần yếu – Vua một Nước ĐộcLập. Và quân đội, xương sống của tất cả mọi chế độ; một nước đang trên tiến trình thiết chế quyền lực, đang phải giải quyết nạn phân liệt như hoàn cảnh Việt Nam ở thời đoạn này lại càng gấp rút cần kíp. Nhưng ông Vua, Quốc Trưởng kia lại có ý kiến: “Trong lúc này (1949), chưa nên bành trướng quân đội, vì sẽ rất nguy hại cho quốc gia, khi chúng ta chưa đem lại một lý tưởng chiến đấu cho quân đội đó. Chúng ta chưa gây được niềm tin tưởng trong quần chúng, thì làm sao gây được niềm phấn khởi và đem lại tinh thần chiến đấu cho binh sĩ được. Nếu nói là quân đội ta, trong khi cấp chỉ huy lại toàn người Pháp và lại do Bộ Tư Lệnh Pháp xử dụng, tất nhiên ta chấp nhận tính chất đánh thuê của quân đội ta ..!” (Hồi ký của Trần Văn Đôn, sĩ quan quốc tịch Pháp, Giám đốc Nha An Ninh Quân Đội đầu tiên của Bộ Tổng Tham Mưu QĐVN). Nói như thế quả thật cay đắng nhưng không thể nào nói khác đi vì chính vị Tổng Tư Lệnh Quân Đội kia, Quốc Trưởng kiêm Thủ Tướng chính phủ lại giao nhiệm vụ quốc phòng cho ông Phó Thủ Tướng, một trung tướng đặt Bộ Chỉ Huy Hành Quân nơi Biệt Điện Đà Lạt, trong phòng ngủ. Nhưng dù khai sinh trong một tình trạng hiểm nghèo, èo uột kia, cái quân lực mang định mệnh khốn khó đó vẫn chưa xong lần thành tựu. Thời điểm 1949, song song với việc ra đời Nội Các Bảo Đại, cũng chỉ thành hình được lực lượng Vệ Binh Quốc Gia gồm Vệ Binh Nam Việt, Việt Binh Đoàn, Bảo Chính Đoàn và Vệ Bình sơn cước. Nhưng người lính Quân Đội Việt Nam phải đợi thêm một năm nữa – Ngày 11/5/1950 – Quốc Hội Pháp mới biểu quyết chấp thuận để Quốc Gia Việt Nam thành lập Quân Đội với những cơ chế của một quân lực chính quy. Lòng hào hiệp này không phải tự nhiên có – Tháng 10/1949, lực lượng Cộng Sản Tàu đã xuống sát biên giới Việt Trung, cuộc chiến với Việt Minh tưởng đã thanh toán xong từ những năm 1947, 48 … (hoặc lạc quan như LeClerc, ngay cuối năm 1946!!), đã không còn là cuộc xung đột giữa một lực lượng thực dân và phong trào giải phóng dân tộc. Năm 1950, cũng bùng nổ cuộc chiến tranh Nam-Bắc Hàn với lực lượng Cộng Sản Tàu hung hăng tràn qua sông Áp-Lục, đẩy quân đội quốc gia xuống đến cực Nam bán đảo Triều Tiên. Cũng năm này, Thượng Nghị Sĩ McCathy bắt đầu mở chiến dịch điều tra bốn năm liền về tất cả mọi thành phần trong xã hội Mỹ có dính líu đến phong trào Cộng Sản. Người Pháp dần hiểu nên một điều đơn giản: Khi họ đẩy người Quốc Gia vào thế đường cùng, lên máy chém, là vô tình tăng viện cho lực lượng Cộng Sản khối nhân lực vô bờ từ những người yêu nước-Lực Lượng Dân Tộc Việt Nam-Nguồn sức mạnh không hề cạn qua bao đợt thanh trừng, khủng bố trắng. Và biện pháp “Chống Cộng” hữu hiệu không với ai khác tại một nước thuộc địa-Chính là khối sức mạnh dân tộc của nước đó. Người Hòa Lan đã thực tế hơn người Pháp – Trao trả độc lập lại cho Indonesia sau bốn năm thù hận hiểm nghèo. Nhưng khổ thay, chúng ta không có một Sukarno mà có quá nhiều người làm việc cho Đông Phương vụ Đệ Tam Quốc Tế và người Pháp quả tình đã giúp người Cộng Sản Việt Nam một cơ hội bằng vàng bởi đã triệt hạ hộ tất cả đối thủ chính trị của họ; bạch hóa Mặt Trận Quốc Gia, nhổ tận gốc các đảng phái, đoàn thể dân tộc; để chỉ còn lại rơi rớt những ông “Việt Nam nói tiếng Tây” những vị “cách mạng thành phố Đốc Phủ Sứ” quẩn quanh một ông Quốc Trưởng diễn đạt ý, tình cũng chỉ bằng tiếng … Tây nốt!

Quân đội Việt Nam khai sinh từ những người chỉ huy lãnh đạo này. Ngày 1/10/1950, Trường Võ Bị Liên Quân thành lập với nhiệm vụ đào tạo sĩ quan hiện dịch cho quân đội khốn khó trên. Cũng có thêm sức đẩy của viên Tướng ngoại hạng Jean De Lattre trên đường từ Đà Lạt về sau khi gặp Bảo Đại, “xong rồi, tôi đã nắm được anh vua ù lỳ bằng những tiểu đoàn Annamite!!”. (Lucien Bordart). Thế nhưng, cũng phải đợi thêm một năm nữa, ngày 5/5/1951, Bộ Quốc Phòng mới thực sự thành hình với những cơ cấu đầu não đúng danh xưng, nhiệm vụ, tuy rằng cơ quan này trên lý thuyết đã có cùng chính phủ lâm thời Nguyễn Văn Xuân từ năm 1949. Và cũng phải thêm một năm nữa, Bộ Tổng Tham Mưu mới được thành lập vào ngày 11/5/1952 với viên Tổng Tham Mưu trưởng, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hinh, một Đại úy Không quân thuộc Quân lực Pháp, về nước năm 1950, vinh thăng Thiếu tá để nhận nhiệm vụ Tổng Thư Ký Bộ Quốc Phòng cầm đầu bởi Tổng Trưởng, Trung Tướng Nguyễn Văn Xuân. Chính phủ lâm thời của ông Xuân xong nhiệm vụ; nội các Nguyễn Phan Long lên thay với ông Tổng Trưởng Quốc Phòng Phan Huy Quát. Thiếu tá Hinh bàn giao nhiệm vụ Bộ Quốc Phòng sang làm chánh Võ Phòng Quốc Trưởng với cấp bậc mới, Trung tá. Nay Bộ Tổng Tham Mưu thành lập, vì nhu cầu công vụ, Trung tá Chánh Võ Phòng vinh thăng đặc cách lên Thiếu Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Quốc Gia – Tiền đồn chống Cộng ở vùng Đông Nam Á – Nơi thử sức, giải tỏa sự cọ sát nóng bỏng giữa hai lực đối nghịch toàn cầu, để thế giới có được chiếc van an toàn sau cơn binh lửa gớm ghê Đệ Nhị Thế Chiến. Cũng là thời điểm lực lượng quân đội Quốc Dân Đảng Trung Quốc đã thất bại ở Hoa Lục; người Mỹ với sự đồng thuận của Liên Hiệp quốc (có Liên Sô) chỉ lập được cân bằng ở nửa phần bán đảo Triều Tiên; người Pháp với hào quang chiến thắng tại Châu Âu trong khuôn khổ Đồng Minh nay cũng đang dần có dấu hiệu mệt mỏi. Gánh nặng đó chuẩn bị đổ xuống chúng ta, lực lượng khai sinh lỡ làng trong một vùng tranh chấp Đông-Tây khắc nghiệt nhất. Quân đội Quốc Gia Việt Nam không hề được chuẩn bị để chịu nạn cho an toàn thế giới- Quả thật, hai mươi lăm năm gánh chịu một nỗi bất công.

Nhưng quân đội chúng ta đã có mặt trong cùng mệnh nước; đã làm đúng nhiệm vụ cao cả muôn thuở của Người Lính – Bảo Quốc, An Dân. Chúng ta đã trải máu xương để dân tộc tồn sinh cho đến ngày 30/4/1975. Giờ vĩnh quyết Sài Gòn chấm dứt với lượng máu cuối cùng của người Lính Việt Nam.

II B- ĐOẠN TRƯỜNG CHIẾN BINH

Chúng ta được khai sinh thay thế người Pháp, quân đội Liên Hiệp Pháp, chịu trận máu xương trên đất nước điêu linh và khi chết đi, cũng không được nhận lãnh điều đau đớn cuối cùng- Chết cho Quê Hương Việt Nam.

Hành quân Castor hay chiến dịch chiếm đóng lòng chảo Điện Biên Phủ, sản phẩm cuối cùng của giai cấp quý tộc quân sự Đệ Tứ Cộng Hòa Pháp chấm dứt với tổng số 13,050 quân nhân chết và bị thương. Từ người viết sách nghiêm túc, khách quan Bernard Fall, đến ông thực dân chính gốc Jules Le Roy không ai nhắc đến một lần trong số lương nói nói trên những Người Lính Việt Nam chiến đấu trong hàng ngũ quân đoàn viễn chinh, ở những Tiểu đoàn Nhẩy Dù Thuộc địa, Tiểu đoàn Việt Nam (BEP, BPVN … ). Những người lính không những bị bỏ quên trong trận địa, họ còn bị bỏ quên trong bóng tối tù ngục, không một tiếng lời can thiệp, hoặc có chăng cũng không được lắng nghe. Nếu ở bàn Hội Nghị Geneve, phái đoàn Việt Nam do Ngoại Trưởng Trần Văn Đỗ kết thúc với một tuyên cáo tuyệt vọng “Việt Nam long trọng phản đối việc ký kết Hiệp Định Genève – Chính phủ Quốc Gia Việt Nam hoàn toàn tự do hành động để bảo vệ quyền lợi thiêng liêng của Dân Tộc Việt trong cuộc thực hiện thống nhất, độc lập và tự do cho xứ sở.”

Tuyên cáo này được “Hội nghị ghi nhận, nhưng không được xếp vào văn kiện chính thức của Hội Nghị.”

Nói tóm lại, Hiệp Định được ký kết bất chấp ý kiến tối hậu của Dân Tộc Việt Nam – Kẻ thụ nạn đầu tiên cũng là độc nhất. Và hệ quả Gèneve được lập lại nơi Hội Nghị Trung Giá, hai phái đoàn quân sự cấp cao của Pháp (Đại tá Lennuyeux) và Việt Minh (Thiếu tướng Văn Tiến Dũng) toàn quyền định đoạt tất cả những vấn đề liên quan đến ngưng bắn; thủ tục thi hành ngưng bắn; vấn đề lãnh thổ … Và cuối cùng, thân phận những tù binh chiến tranh (những tù binh người Việt hoàn toàn bị bỏ quên). Hội nghị họp ngày 4 tháng 7 và kết thúc vào ngày 27 cùng tháng. Việt Minh chậm rãi, kéo dài những thảo luận vòng vo; người Pháp vội vã vì thời gian không thuộc về phía họ. Phái đoàn. Việt Nam thoạt đầu do Trung Tá Trang Văn Chính làm trưởng đoàn, có các Thiếu tá Đàng, Đại úy Bửu phụ tá. Sau thay thế bởi Trung tá Lâm Ngọc Huấn và Đại úy Trần Ngọc Huyến. Phái đoàn này “không được quyền phát biểu” bởi chỉ là thành viên của đoàn Pháp; không được tham dự các phiên họp trưởng phái đoàn. Hậu quả tất nhiên xảy ra: Việt Minh có đủ thời gian, phương tiện tiếp thu những nơi họ chưa hề một lần hiện diện; phía quân đội quốc gia cùng đám dân thất thần khốn khổ vượt qua những rào cản bất ngờ và bất hợp pháp dựng vội vàng ngăn đường xuôi Nam. Một triệu dân cùng 80,076 lính chỉ có thời hạn 80 ngày để đi khỏi Hà Nội; 100 ngày ra khỏi Hải Dương và 300 ngày để rời khỏi Hải Phòng. Bao nhiêu người tù đã không lấy khỏi trại giam; bao nhiêu đồng bào vùng thượng du không kịp xuống đến vùng tập kết; bao nhiêu lính bị thất lạc đơn vị … Quân số những đơn vị (trú đóng hành quân ở Miền Bắc) khi vào đến miền Nam chỉ còn 32,000 người. Họ đi đâu trong cơn tan vỡ một lần miền Bắc của bốn mươi năm trước đây? Bao nhiêu người dân đã chết nơi các bãi Trà Lý, Tiền Hải, Kim Sơn, nơi những vùng chiêm nước mặn từ Bùi Chu, Phát Diệm vào đến Thanh Hóa, Nghệ An?!!

Trong bốn mươi năm khởi đi từ 1954 ấy, có những vùng đất trên thế giới không hề một lần nghe tiếng đạn.

Không một lần biết đau. Sáu thế hệ con trẻ Việt Nam lớn lên trong hơi bom, khói đạn, tiếng nổ, sự chết … Kẻ viết bài nầy là Một trong đám bất hạnh nầy. Thế nên, tôi phải cầm súng. Năm 1955, quân đội vừa qua cơn sốt vỡ da kia không một lần ngưng nghỉ. Chiến dịch tiếp thu Bồng Sơn, Tam Quan miền Trung; tiếp thu bình định Cà Mâu, cuối mũi miền Nam. Những tảo thanh Giáo Phái, dẹp Bình Xuyên với chiến dịch Thoại Ngọc Hầu, Trương Tấn Bửu … Người lính miền Nam học tập kinh nghiệm chiến trường không phải từ một kẻ xâm lăng nào khác mà với máu xương của chính mình và da thịt anh em – Mối uất hận oan nghiệt của “Nam-Bắc-Triều,” của “Đàng Trong – Đàng Ngoài” luôn tác động ở những mức độ tàn nhẫn và đau thương theo tháng năm chiến trận. Nhưng hình như không đủ, chưa hề đủ cho cừu oan Dân Tộc Việt – Đầu cuộc chiến, những năm đầu của thập niên 60, quân đội miền Nam xử dụng quân trang, dụng của thời Đệ Nhị Thế Chiến còn thừa để lại; 1965 Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đổ bộ Đà Nẵng, mỗi trung đội Nhảy Dù được 2 hoặc 3 khẩu AR 15. Phía cộng sản, khi bắt đầu thành lập MTGPMN, đường mòn HCM đi mất sáu tháng, sau dần xuống còn hai, ba … Lính cộng sản mang theo hai, ba khẩu chi viện cho miền Nam, công đồn dân vệ, bắn sẻ bằng súng ngựa trời – Mậu Thân, lực lượng cộng sản tấn công 40 thành phố miền Nam toàn bằng AK tự động báng xếp. Năm 1958, B 52 được đưa vào xử dụng với nhiệm vụ mang bom nguyên tử bay vòng quanh thế giới, làm chức năng tấm khiên cùng lưỡi gươm bao vây khu vực cộng sản – Lập lên thế quân bình trên nỗi khiếp sợ của chiến tranh lạnh. Nhưng B 52 vào Việt Nam lại thực hiện một chức năng khác. Mang bom chiến thuật trải “full-box” vào bất cứ chỗ nào tình nghi. Khu tứ giác Bến Mương, Bến Cỏ, Bến Súc, Củ Chi tạo nên mật khu

Hố Bò, tháng 8/1964 hai tiểu đoàn Nhẩy Dù và Biệt Động Quân phải mất một buổi chiều mới qua được chiếc cầu sắt trước chợ Bến Cỏ. B 52 đi qua, đi lại, bay dọc theo sông Sài Gòn tiếp lên Dầu Tiếng, Tống Lê Chân, nghĩa là chẳng phải chỉ riêng cái gọi là “Hố Bò” kia thành bình địa, mà ngay cả chiến khu D cũng nên “bạch giới”. Cuộc hành quân Junction City kéo dài suốt năm 1967 … Việt Cộng chém về bỏ chạy tất. Nhưng họ không chạy thẳng, lực lượng cộng sản trở lại, luồn sâu, bám kỹ, “bám thắt lưng kẻ thù mà đánh!! ” Nói như thế không là nói chơi – Chỉ một đêm, Tiểu đoàn 4 TQLC và Tiểu đoàn 7 Nhẩy Dù bị đánh đặc công hai lần, mỗi lần mất một trung đội, ngày hôm sau di chuyển đến đâu bị mìn đến đấy: mìn gài trên ngọn cây. Nói tóm lại, người Mỹ đẩy chiến tranh mỗi ngày mỗi cao – Lực lượng cộng sản đáp ứng cùng người Mỹ, quân đội Mỹ. Lính VNCH hứng ngọn cuồng phong cuối giòng từ đối phương chưa bao giờ có dấu hiệu mệt mỏi.

“Nhưng Quân Lực VNCH không chịu chiến đấu … “

Nhận xét này không phải của một mình John Paul Vann, cũng không riêng báo Washington Post, hay của đám phóng viên AP, UPI, CBS … ngồi lê la ở những quán rượu đường Tự Do – Loại ký giả nhìn chiến tranh Việt Nam qua đánh giá như một phim 007 … Mà là nhận định rập khuôn của dư luận, báo giới Mỹ, những viên cố vấn … Vậy sự thật ở đâu? Ở đâu là đầu mối của thất bại, của mạ lị, của xuyên tạc? Chiến tranh là hình thái cuối cùng khi tương quan chính trị giữa hai bên không thể nào giải quyết bằng những biện pháp ngoại giao êm thắm được. Và hình thái bạo lực kia chấm dứt khi một phe lâm chiến chiến thắng với những hệ quả cụ thể như chiếm được đất đai, thành trì của đối phương, hạ thủ được người chỉ huy (hay tập đoàn, tổ chức điều hành chiến tranh). Chiến tranh cổ điển hay hiện đại cũng vẫn thế và chỉ là như vậy. Nhưng trong giao tranh khốc liệt của chiến trường Việt Nam có một chỗ rất mực an toàn – An toàn hơn bất cứ thành phố, thị trấn, thủ đô nào của một nước đang lâm chiến, quốc gia đang xẩy ra chiến tranh: “Thành phố Hà Nội, thủ đô nước   VNDCCH”. Điều nghịch lý này xẩy ra do chính vị nguyên thủ của một bên tham chiến cam kết. Tổng Thống Liên Bang Bắc Mỹ, L.B. Johnson trong một diễn văn ở Houston (của rất nhiều lần tuyên bố), “Chúng tôi không nhắm đến một cuộc chiến tranh mở rộng”. Nhưng e ngại rằng lời tuyên bố này chưa đủ làm Hà Nội yên lòng, những người lập kế hoạch và điều động chiến tranh ở Hoa Thịnh Đốn còn khoanh một vùng an toàn với đường kính mười dặm chung quanh Hà Nội; chưa hết, dọc biên giới Việt-Trung còn có thêm ba mươi dặm an toàn nữa … Những “vòng đai an toàn” này có mục đích để người Tàu đừng buồn lòng và Hà Nội khỏi cáu kỉnh!! Hãy nghe ông McNaughton (giáo sư Luật, đại học danh tiếng Havard, phụ tá Tổng trưởng Quốc Phòng McNamara) giải thích cùng với Đô Đốc Moorer, Tư lệnh lực lượng Mỹ ở Thái Bình Dương, sau giữ chức Tham Mưu Trưởng Liên Quân (Khi ông này đề nghị tấn công những giàn hỏa tiễn đặt chung quanh Hà Nội) “…Tại sao ông lại tấn công người ta; người ta chỉ cốt ngăn chặn ông mà thôi … Khi nào người ta tấn công ông, tôi sẽ cho lệnh ông trả đũa!!” Không những tránh vòng đai 10 dặm chung quanh Hà Nội mà còn phải tránh xa biên giới Việt-Trung 30 dặm nữa. Tóm lại, “đụng đến đoạn đường xe lửa Hà Nội – Vân Nam có 40 dặm ấy là hành động gây chiến đối với nước Việt Nam DCCH và nước CHND Trung Quốc!!” Hóa ra Hoa Kỳ đánh nhau với chính người họ bảo trợ!!

Đánh bom không được, ông Đô Đốc đề nghị gài mìn hải cảng Hải Phòng (1965) vì không chịu nổi tình trạng bất công, vô lý: Các tàu Nga, Đông Đức, Tiệp, Ba Lan kể cả tàu Anh ngang nhiên chở vũ khí chiến cụ vào Hải Phòng. Nhưng những ông Dân Biểu, Nghị Sĩ tại Quốc Hội Mỹ lắc đầu:“ … Làm như thế người Nga tới gỡ đi hết thì sao … Và nhỡ tàu người Nga đụng phải thì có phải làm mất lòng Mạc Tư Khoa chăng?! Họ đang làm trung gian để giúp Mỹ nói chuyện cùng Hà Nội cơ mà”. Cuối cùng, năm 1972, để thúc Hà Nội ngồi tại bàn Hội Nghị Ba-Lê ký hiệp định ngừng chiến; Tổng Thống Nixon đồng ý gài mìn … Ông Đô Đốc “mất ba phút” để lấy ra kế hoạch đã có sẵn: “Điều động 26 phi cơ trong vòng một tiếng rưỡi. Cảng Hải Phòng kín nhự bưng, không tàu ra cũng không có tàu vào”. Cũng không gây tổn thất cho một ai, kể cả chiếc ghe con của Hà Nội. Gài mìn Hà Nội chưa khứng ký thì dội bom … Bom dội 12 ngày kể từ 18 tháng 12 cùng năm này. Đến hai ngày cuối cùng, tàu bay bay ra bay vào Hà Nội không một tổn thất. Sau khi bay 740 phi xuất, suốt đợt oanh tạc có 270 trường hợp tổn thất với 15 phi xuất bị nạn với 5 chiếc rơi trong nội địa Bắc Việt. Nhưng Quốc Hội lại la lớn đòi ngưng ngay cuộc dội bom … Không được trải thảm Hà Nội. Không được dội bom vào dân chúng. Cuộc biểu quyết chỉ có “một Dân Biểu Cộng Hòa” bênh vực vụ oanh tạc. Từ Tổng Thống đến Bộ Trưởng quốc Phòng, Bộ Trưởng Ngoại Giao đồng vắng mặt. Không ai chịu nổi áp lực của dư luận, ngay cả bà Pat Nixon cũng lên tiếng, khóc lóc “… Không quân các ông dội bom xuống cả thường dân và bệnh viện phải không. Vì Chúa xin ngưng dội bom lại … “.Không một ai trên đất Mỹ, không một ai trên thế giới, cũng ngay tại Sài Gòn. Tất cả đồng im lặng một cách đáng kinh sợ (vì nỗi nhẫn tâm, dối gạt từ trái tim đã hoàn tất đến độ phi nhân tính) về cảnh tượng trên đoạn đường chín cây số, xác người từ La Vang đến cầu Giáp Hậu, Nam Hải Lăng – Chỉ một ngày 30 tháng Tư cũng năm 1972 này – Trước một Quảng Trị đã nên thành bình địa, chốn không người, đất của sự chết. Chính phủ Mỹ bị tê liệt, quân đội Mỹ bị bó tay, quân lực Việt Nam còn gì nơi chiến địa khi Quốc Hội Mỹ với Tu Chính Án Church-Cooper 1971 thông qua Nghị Quyết “Hạn Chế Xử Dụng Không Quân Mỹ tại Đông Dương”; trong khi ấy, Chủ thuyết Nixon chỉ là một phương trình giản dị:

“Bộ Binh ViệtNam + Không Lực Mỹ.” Hãy tưởng tượng, bán đảo Triều Tiên không có quân đội, chỉ ít Không Quân Mỹ. Thế giới thậm tệ bất công cùng với chúng ta-Những lời cáo buộc của họ đối với QLVNCH, thực chất chỉ là muốn nguy trang nổi bất lực của toàn bộ Tây Phương trước sức tiến công của phong trào cộng sản-Những người biết khai thác một cách có hiệu quả “mặc cảm thực dân”, vết nhơ của văn minh Tây bán cầu kéo dài trên hai thế kỷ với nổi cùng khốn các dân tộc Á, Phi, mà hôm nay là thời điểm vỡ bùng hậu quả của lần bóc lột thực dân – Quá trình bóc lột đã tạo nên cảnh cường thịnh Tây-Âu, mà chính những kẻ họp báo chống chiến tranh Việt Nam ấy, những “trí thức lớn” của sản phẩm văn minh, văn hoá Tây Âu là người thụ hưởng đầy đủ và lâu dài nhất … Những Sartre, D Beauvoir, Aragon … Lẽ tất nhiên không thiếu những khuôn mặt mòn nhẫn ở những cuộc biểu tình trước điện Capitol, Washington với hình ảnh của Ché Guévara, Hồ Chí Minh … Biểu tình chống  chiến tranh Việt Nam tương tự như một loại thời trang bày ra phần hạ thể một cách thô tục đang thịnh hành. Vòng đai mang tên Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara chạy từ Cửa Việt qua Gio Linh lên thấu Cồn Tiên, Khe Sanh, Lao Bảo … Người được gắn tên hiệu vào cuộc chiến Việt Nam, điều động bộ máy chiến tranh tại Ngũ Giác Đài qua hai nhiệm kỳ Tổng Thống Mỹ. Nhưng chính con người khôn ngoan tài giỏi này vào đến cuối đời đã nói thẳng: “Chúng ta đã nhầm lẫn, rất mực nhầm lẫn. Hãy để cho những thế hệ sau này giải thích tại sao -In Retrospect: Tragedy and Lesson of VietNam.” Lời nói này có hai giải thích, hoặc đã nhầm lẫn trong nghĩa tiêu cực (Không quyết tâm tại Việt Nam); hoặc nghĩa tích cực (Đã có quyết tâm nhưng vì một lý do nào khác, không thuộc phạm vi trách nhiệm của Mỹ, nên đã thất bại).

Nhưng đến một đoạn sau ông nói rõ … “Người Nam Việt Nam dù được chúng ta yểm trợ, tiếp vận, huấn luyện nhưng không có khả năng bảo vệ chính mình – sđd.” Nói thế là nói thật nhưng không hẳn đúng và ông lại càng không đúng khi có kết luận: “.. Việc mất Nam Việt Nam không hề có đe dọa làm suy thoái vị thế nước Mỹ ở Châu Á hoặc sút giảm lòng tin về nước Mỹ ở bất cứ đâu!! “.

Nếu một gã tân binh quân dịch, hoặc một anh thanh niên biểu tình chống chiến tranh (kiểu Bill Clinton) nào nói như thế ở thời điểm 60, 70 thì cũng có thể chấp nhận; nhưng đây là Tổng Trưởng Quốc Phòng của siêu cường dẫn đầu và quyết định vận mệnh thế giới; người điều động một cuộc chiến hao tổn, ảnh hưởng sâu rộng tới cục diện không phải riêng của Mỹ, Châu Á mà là toàn cầu … Và vì chiến tranh kia đã chấm dứt với tình trạng thảm hại như trên, nên Tổng Thống Liên Bang Bắc Mỹ G. Ford phải đến “chầu” Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Liên Sô Brezhnev tại nơi hẻm hốc Vladivostok, 1974 để bàn về tài giảm binh bị, vũ khí hạt nhân; quân Nga ngang nhiên kéo vào Afghanistan, Angola, Mozambique… Các quốc gia thuộc thế giới thứ Ba lần lần rơi vào quỹ đạo Xã Hội Chủ Nghĩa. Đại Hội Đảng 1987, kỷ niệm 60 năm CáchMạng Tháng Mười Nga, hơn một trăm nguyên thủ quốc gia, các đảng cộng sản, phong trào công nhân trên toàn thế giới tập trung về Mạc Tư Khoa để tuyên dương thủ lĩnh cuộc cách mạng toàn cầu đã dành toàn phần thắng lợi – Sắp đến giai đoạn thoái trào của chủ nghĩa tư bản – Với cái hố mai táng do giai cấp công nhân sửa soạn theo tiên tri của Karl Marx, Lenin. Thời điểm đó ông ở đâu? Ông Bộ trưởng Quốc Phòng McNamara, ông có thể nói lời như trên chăng khi Hạm đội Nga đã vào Cam Ranh – Trong lịch sử “Địa Lý Chính Trị” toàn cầu có bao giờ tộc Slave, Cosaque xuống đến phương Nam sâu đến như thế. Há ông không biết thế kỷ 13, quân Hốt Tất Liệt đã ba lần thử xuống vùng Nam Á bằng ngã Việt Nam. Cộng Sản Việt Nam và Tư bản Mỹ đã giúp tập đoàn hung hãn hiếu chiến nhất thế giới hoàn tất một ước vọng lâu dài suốt hai mươi thế kỷ không thực hiện được – Hay ông cũng chung giòng máu của chủng tộc Nguyên, Mông như Lenin?! Nhưng nhận xét của McNamara về Việt Nam vẫn là một nhận xét chung nhất của những giới chức (Mỹ) có thẩm quyền để giải thích về một thất bại của họ. Giải thích này được sự đồng thuận mạnh mẽ từ báo chí và dư luận quần chúng – Vì nó cũng trả lời được điều mà đô Đốc Moorer đã gầm lên lời phẩn nộ: “Tôi đã từng tham gia ba cuộc chiến tranh, nhưng đây là cuộc chiến điên khùng nhất chưa hề biết tới!! Chúng ta đã điều động một lực lượng đến năm chiếc hàng không mẫu hạm, mười ba phi đoàn chiến đấu, chưa kể đến B 52, chống đối một nước nhỏ hơn bang Texas, dân số chỉ bằng Cali (ý nói chỉ mỗi miền Bắc, Nam)”. Nhưng, nói như thế chỉ mới được nửa phần sự thật, phải nói thêm nữa rằng: “Chúng ta không bao giờ xử dụng sức mạnh của mình!!” Và để tránh né điều quái gỡ này, những luận cứ ông McNamara luôn được nại ra – Tất cả sự hư đốn này do từ Việt Nam-Tại nơi miền Nam. Và thủ phạm đầu tiên cuối cùng đã làm hư hại công trình tốt đẹp của người Mỹ không ai khác-Chính phủ Sài Gòn và quân đội ở đấy: Người Lính VNCH Bị Lăng Nhục Thậm Bất Công Và Rất Đỗi Đê Tiện. Màn lăng nhục cùng khắp rất mực tinh vi và thảm hại có trên miệng lưỡi, tiếng lời từ những giới chức trong quốc hội, những con người sừng sỏ, quyền thế .. Thượng Nghị Sĩ Fullbright với câu nói tàn nhẫn, “Sài Gòn là một ổ điếm khổng lồ.” Đến viên cố vấn thủ đoạn John Paul Vann cũng có lời dạy dỗ … “Cái giống dân này chỉ là những người tình nhân tuyệt vời (không hiểu loại đàn bà nào đã giao tiếp với trung tá này?!), chứ không thể là những chiến sĩ can trường được. Nhưng họ cũng là những người khá tốt, và có thể đoạt được thắng lợi nếu có người dạy bảo cho!! “

Cách thức, ngôn ngữ mang vẻ đoái thương này rất quen thuộc với những quan chức người Pháp bên chính phủ Nam Triều đầu thế kỷ – Nhưng, loại ngôn ngữ, ý kiến này khi lọt vào đám báo chí hung hăng cỡ David Halberstam của New York Times hoặc Neil Sheehan của UPI sẽ nên thành những “nguồn tin rất đáng tin cậy” từ giới chức cố vấn Mỹ. Và cuối cùng, khi xuất hiện lên báo Mỹ sẽ là, “Quân đội Nam Việt Nam không có ý chí chiến đấu – Với lời ghi chú: Tường trình trung thực từ VN. Loại tin tức buổi chiều này hằng ngày sói mòn tinh thần, tâm lý, ý chí chiến đấu của người Mỹ, để dẫn đến những kết luận dứt khoát như của viên Thượng Nghị sĩ bang Idaho, Chủ tịch Ủy ban Ngân sách Quốc Phòng Thượng Viện, F. Church: “Việt Nam không đáng một xu!!” Lời khẳng định trên còn có thêm yếu tố quyết định từ phái đoàn Dân Biểu Hoa Kỳ sang thăm Sài Gòn trong dịp tháng Tư, năm 1975. Phái đoàn này đến Sài Gòn để lượng giá tình hình, ngõ hầu Tổng Thống Mỹ có được chấp thuận từ Quốc Hội viện trợ khẩn cấp cho Việt Nam 300 triệu thặng dư hầu sống sót thêm dăm ba ngày, một vài tuần trong buổi dầu sôi, lửa bỏng khi đã mất Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang. Dân biểu MacCloskey, cựu Đại tá TQLC Hoa Kỳ, đã từng tham chiến ở Nam Hàn có lời nhận xét: Quân lực miền Nam có 16 sư đoàn, tổng số hơn một triệu quân; trong khi miền Bắc chỉ có13 sư đoàn với quân số chưa bao giờ quá 45,000 người. Hơn nữa, trước đây chỉ riêng Vùng I Chiến Thuật người Mỹ đã đổ bộ đến 5 Sư đoàn (ý muốn nói các lực lượng TQLC Mỹ), thế mà không đánh thắng được cộng sản thì chỉ đáng bỏ đi .. Giúp làm gì cái đám quân, dân bạc nhược yếu đuối này!!” Ông không nói bâng quơ với một đám người bậy bạ nào đó ở quán rượu. Ông phát biểu trên tư cách người đại diện số đông dân chúng Mỹ, với hiểu biết của một cựu đại tá quân chủng lừng lẫy trước đám cử tọa đoàn của những người khoa bảng Đại học Stanford. Phái đoàn của ông dân biểu này còn có thêm một vị dân biểu khả kính nữa: Bà Abzub, bà này đến Việt Nam chỉ với mục đích nhân đạo, “Đi thăm tù chính trị đang bị nhốt ở chuồng cọp Côn Đảo ... “. Bà ta vào Chí Hòa, gặp mặt một sinh viên tranh đấu chống độc tài Nguyễn Văn Thiệu. Với lương tri của người trí thức, bà ta tuyên bố với báo chí: “…Những hình ảnh tồi tệ về việc vi phạm nhân quyền ở Nam Việt Nam”. Cùng lúc với lời tuyên bố này, ngàn người, trăm ngàn người ngã chết không toàn thây nơi Tây Nguyên, ở trại gia binh Trung đoàn 44, 46, Ban Mê Thuộc, dưới lườn sông Ba, nơi chân đèo Củng Sơn, ở bãi Tiên Sa, trên đèo Hải Vân … Hiện tại, nơi những trại cấm, Người Việt đang tiếp tục chết cho một lý tưởng gióng lên, chủ đạo bởi người Mỹ, văn minh Tây Phương -Tự Do. Người Dân Biểu đấu tranh cho Nhân Quyền này đã hiện thực nên thành một thứ đồng lõa mạt hạng với đám sát nhân – Còn tệ hơn lũ giết người mệnh danh giải phóng!!!

Trong cơn lâm tử nhục nhằn này, người lính được gán ghép thêm trăm nghìn điều tồi tệ … “ăn cắp đến cả xác chết cũng không tha!!”. Hình ảnh một cán binh cộng sản chết ở mặt trận thành phố Huế hôm Mậu Thân, đầu xuân 1968: Anh ta chết bên cạnh những chiếc ví da đựng “giấy tờ, hình ảnh … ”. Người ký giả, tác giả cuốn sách có tấm hình trên, viết lời ghi chú: “Lính miền Nam VN thường ăn cắp những vật dụng quý giá từ những người lính miền Bắc bị giết.”– ViêtNam, A History-S Karnow.

“Kinh khủng và đáng thương quá, người lính Bắc kia vô cớ đã bị giết còn bị tước đoạt những hình ảnh, đồ vật quý giá kỷ niệm của gia đình !! Cái tụi lính Việt Nam Cộng Hòa man rợ đến thế là cùng, không buông tha cho cả xác chết”. Trong những lời tuyên dương Stanley Karnow, khi lãnh giải thưởng Pulitzer có đoạn sau đây: “Đây là một chiến thắng của ngành báo chí do một lối kể truyện tuyệt hảo xây dựng trên sự quan sát cụ thể, trung trực với những điều tra mẫu mực, không bị bóp méo do đã quen thuộc, hiểu biết về vùng đất và con người ở đấy”. Nhân tiện đây chúng tôi xin khẳng định hai điều cụ thể: Thứ nhất, chắc chắn không một ký giả nào đã thấy được một lính tác chiến cộng sản đang còn sống (Bởi nếu có, họ sẽ hiểu rằng, cái thằng người gọi là “bộ đội” đó chỉ là một bộ xương ngụy danh, hóa trang trong một bộ đồ rách nát, không có gì ngoài những túi đạn, khẩu súng đeo trên người). Thứ hai, ngoài trận đánh ở núi Thành, Quảng Nam – Đà Nẵng, năm 1965, ngày Mỹ mới đổ bộ đầu tiên vào Việt Nam; mục tiêu trận đánh cốt để thử sức hỏa lực, khả năng quân đội Mỹ, cũng đồng thời muốn gây phản ứng tâm lý: Quyết đánh thắng Mỹ. Từ đấy về sau, bộ đội CS chém về khi gặp Mỹ. Cho dù trận Khe Sanh hai Sư đoàn 304, 308 có tăng cường Trung đoàn 126 Đặc công cũng “không hề tấn công bộ” lực lượng phòng thủ gồm một Tiểu đoàn TQLC tăng cường một tiểu đoàn Không Kỵ dưới quyền chỉ huy của Tướng Lowell English. Mậu Thân tất cả căn cứ Mỹ đều bình an tuyệt đối; vụ tấn công tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn chỉ cốt tạo nên tiếng vang chính trị; lính phòng thủ tòa Đại Sứ chỉ là lính Quân Cảnh. Điều này càng cụ thể trong suốt nửa cuối năm của năm 1969, dãy căn cứ hỏa lực Anne, Barbara, Carolyn … Vicky kéo dài từ Tây Ninh qua sông Bé của hai Lữ Đoàn Nhảy Dù và Không Ky Mỹ chen lẫn nhau. Lực lượng Việt Cộng tránh né tối đa lính Không Ky, nếu có chăng chỉ những hoạt động pháo kích, bắn sẻ. Bởi một điều giản dị: Sư đoàn 1 Không Kỵ có hơn 600 trực thăng võ trang làm nhiệm vụ “Không quân chiến thuật”.” Lính cộng sản dù mình đồng da sắt cũng không chịu nổi hỏa lực của đơn vị này- Họ không dám đánh Mỹ. Tôi xin khẳng quyết như thế. Đến cuối cuộc chiến, chính bản thân chúng tôi đi trả tù theo điều khoản Hiệp định Ba Lê, trừ “một người Mỹ” được trả khi chiều tối ở tháng Hai (sau này mới biết đó là trao đổi nhân viên tình báo của hai bên); một người Mỹ dân sự trả ở Cà Mâu. Tóm lại, con số 585 nhân viên quân sự Mỹ và người nước ngoài được trả tại hai địa điểm Lộc Ninh và Gia Lâm ngoại trừ những người vừa kể trên, số còn lại, hầu hết là nhân viên phi hành và những nhân viên dân sự bị bắt cóc suốt cuộc chiến Việt Nam. Muốn chính xác hơn, cũng nên kể đến một lính Đại Hàn được trả tại Đức Phổ (Quảng Ngãi); anh ta là lính thuộc Sư Đoàn Thanh Long Đại Hàn lỡ bước đi chơi nên bị bắt!! Không hề có một tù binh vốn là Lính Bộ Binh của Mỹ được trao trả – Bởi một điều giản dị – Lực lượng cộng sản hoàn toàn tránh đụng trận với bộ binh Mỹ. Hãy kể ra một trận đánh “cấp tiểu đoàn” giữa lực lượng cộng sản và lính tác chiến bộ của Mỹ?! Tôi nghe đây. Vâng, báo chí Mỹ đã hoàn tất nhiệm vụ cao cả của họ (qua chiến tranh Việt Nam): Tên lính du kích không được trả công của người Cộng Sản. Những người làm báo thiên tả ở Mỹ có hay không mối chạnh lòng … Khi. nghe Võ Nguyên Giáp nói : “Lực lượng du kích hữu hiệu nhất của chúng ta ở Mỹ – Báo chí Hoa Kỳ.”

Quân đội Việt Nam không những bị trói tay, tước mất vũ khí; chúng ta còn bị những kẻ nội thù đâm ngập những đường dao độc hèn hạ. Và có thể nói không sợ sai lầm rằng: Chính chúng là thủ phạm đích thực của ngày 30 tháng Tư ở miền Nam; đánh mất toàn thể Hy Vọng đối với cả Việt Nam. Sau tháng 10/1973, khi Hà Nội phổ biến Nghị Quyết 21 của Trung Ương Đảng, quyết tâm đánh chiếm miền Nam bằng vũ lực; Dinh Độc Lập tiến hành soạn thảo một kế hoạch cải tổ toàn bộ cơ cấu chính trị, quân sự từ hạ tầng để chuẩn bị giai đoạn đấu tranh mới. Bản dự thảo kế hoạch được phổ biến tối mật, chỉ những giới chức lãnh đạo cao cấp nhất được phân phối và lưu giữ, mỗi bản được đánh dấu với những số hiệu đặc biệt: Một bản để ở văn phòng Tổng Thống; một ở Phủ Thủ Tướng; một được gởi đến văn phòng Tướng Cao Hảo Hớn, Chủ tịch Ủy ban thi hành Hiệp định Ba Lê. Đầu năm 1974, Cảnh sát Đặc Biệt được mật báo, có một nhân viên cao cấp của Cục R di chuyển theo lộ trình Sài Gòn – Mỹ Tho, chận bắt người này, một nữ bác sĩ, cảnh sát khám xét bắt gặp “một bản sao kế hoạch dự thảo nói trên”. Nội vụ chuyển đến trung tâm tình báo hổn hợp (cơ sở bên cạnh Tổng Tham Mưu) để tra xét, vì cơ quan này đặc trách về mặt tình báo và phản tình báo; cung cấp tin tức về đối phương cho Ủy Ban thi hành Hiệp định của Tướng Hớn. Một Ủy ban đặc trách điều tra nội vụ, gồm giới chức hỗn hợp Việt-Mỹ, trong số này có Thiếu tá Ng B Chg, cựu SVSQ khóa 14 Đà Lạt, hiện đang ở Cali. Trong trung tâm tình báo hỗn hợp có một Thiếu úy lớn tuổi xuất thân từ hàng binh, giữ phần giấy tờ văn thư. Người này có một chiếc xe Juva 4, đời xe đầu tiên của hãng Citroen; vì xe quá cũ nên người thiếu úy kia phải luôn sửa chữa. Việc sửa xe cũng là nguồn vui độc nhất đối với người sĩ quan lớn tuổi này mỗi khi ông ta rảnh rỗi.

Cùng trong thời gian nói trên (1973, 74) cơ quan truyền tin điện tử đặt trong khu Tân Sơn Nhất, xử dụng doanh trại và máy móc do Mỹ để lại ở Camp David, có nhiệm vụ kiểm thính và ghi nhận tất cả những nguồn tin đánh đi từ khu vực Tân Sơn Nhất, bao gồm Bộ Tổng Tham Mưu. Cơ quan kiểm thính này bắt gặp một kênh chuyển sóng về Lộc Ninh tại khu vực trách nhiệm. Vị trí phát sóng khác nguồn sóng phái đoàn Cộng Sản ở trại David. Vụ bắt giữ người nữ bác sĩ cuối cùng tìm ra liên hệ: Mỗi khi người thiếu úy kia sửa xe tức là đang chuyển tin về Lộc Ninh!! Người này bị bắt, chỉ một tuần sau đầu tóc hóa trắng bạc- Ông sợ hãi bởi cái chết quá chắc chắn. Buổi làm việc cuối cùng (tháng Ba, 1975), viên Thiếu tá Mỹ phụ trách việc thẩm vấn có kết luận: “Rồi đây ông sẽ là người thắng trận!”. Nhưng chuyện về trung tâm này chưa hết, sáng 30-4, khi các sĩ quan thuộc trung tâm cuống cuồng thoát chạy, viên thiếu úy ra khỏi phòng giam, trở lại “nhiệm sở cũ với người cũ – Viên Đại tá Phó giám đốc trung tâm!!”. Vâng, đây chỉ là một của trăm ngàn sự kiện để có thể kết luận: “Cộng sản đã xâm nhập sâu xa, lâu dài, tinh vi vào tất cả cơ quan, đơn vị của chúng ta, từ Phủ Tổng Thống, các bộ phận tình báo chiến lược, mỗi đơn vị chiến thuật”. Để chúng ta có thể hiểu tại sao B 52 dội vào chỗ trống, Tiểu đoàn 2 “Trâu Điên” TQLC bị phục kích ở Phong Điền, Thừa Thiên 1967, đơn vị cộng sản bắn không phí một viên đạn, Thiếu tá Lê Hằng Minh, tiểu đoàn trưởng chết ngay loạt đạn đầu tiên. Tin “chiến thắng” được Thích Minh Chiếu, một của những thủ lãnh tôn giáo vụ biến động 1966, Đà Nẵng, thông báo đến học sinh trường Bồ Đề ngay tại lớp học: “Tên tiểu đoàn trưởng ác ôn đã bị cách mạng trừng phạt” dù báo chí Sàigòn chưa hay biết. Chúng ta còn bị phục kích ngay tại lãnh vực tưởng đã là an toàn nhất với những gia nô, những người nhận bổng lộc hậu hĩnh nhất của chế độ. Dân biểu Đinh Văn Đệ, Chủ Tịch Ủy Ban Ngân Sách Hạ Viện, một người rất được tin cẩn của ông Thiệu. Trong giai đoạn sinh tử, tháng 3- 75, Đệ cầm đầu một đám dân biểu khác sang Hoa Kỳ cầu viện, nhưng ông ta lại có một chủ điểm khi nói cùng Quốc Hội Mỹ:

“Trình bày thế nào để Chính Phủ, Quốc Hội Mỹ Phải Từ Chối – Vì có viện trợ thêm 300 triệu hay nhiều hơn nữa cũng vô ích!! “Như thế là thế nào?? Hóa ra trong tường trình công tác, ông dân biểu gia nô này không những chỉ báo cáo với Dinh Độc Lập ở Đường Công Lý Sài Gòn, mà với Trung Ương Cục Miền Nam ở Lộc Ninh kèm lời ghi chú phấn khởi: Hoa Kỳ không bao giờ can thiệp lại ở Việt Nam!! (Trả lời của Đệ với Larry Engelmann – Tears Before Rain). Hèn gì Phạm Văn đồng mới có thể nói chắc: “Cho kẹo Mỹ cũng không vào lại Việt nam!! ” như đã kể. Sự việc đến đây có thể kết luận rằng: Vì làm cho ông Thiệu, nên dân biểu Đệ “phải thay mặt người chủ”để soạn cái báo cáo kia; không lẽ đường đường một “ông Tổng Thống VNCH” lại đi soạn báo cáo gởi đến Việt Cộng sao?! Đấy là do vụ đổ bể với HVTrọng, V NNhạ, ông Thiệu không còn phụ tá thân tín nữa mới dùng đến Đệ. Chứ nếu không biết đâu? Kể ra Đệ cũng xứng đáng với đồng tiền nhận từ ông tổng thống. Và ông Thiệu cũng quả tình rất tinh tế khi chọn người. Biết đâu trong lý lịch trích ngang được lưu giữ bí mật tại Ban Nghiên Cứu Lịch Sử Đảng về một số cán bộ cao cấp nằm vùng tại Sài Gòn lại không có yếu tố: “Đã có liên hệ cộng tác tốt với Đồng chí Tổng Thống”. Ngoài những PNThảo, Phạm Xuân Ẩn, Trọng, Nhạ, Chuẩn tướng Hạnh, viên Đại tá Phó Giám đốc Trung Tâm Tình Báo, Dân biểu Đệ … Hỏi thử còn bao nhiêu người? Còn bao nhiêu người nữa? Ông Thiệu được tiếng đa nghi và khôn. Cuối cùng, chúng ta làm được gì với từng ngày khổ nạn, qua từng đêm vây thù khi ở Sài Gòn trong Dinh Độc Lập, những đại diện dân, những cố vấn, những lãnh tụ xây đắp công danh, quyền lực với chính máu của mỗi người lính đổ xuống. Không thiếu những viên tỉnh trưởng bán gạo cho Việt Cộng. Tư lệnh sư đoàn bán súng và cả chiến xa cho đối phương!!

Năm 1956, một thanh niên vượt tuyến, lội sông Bến Hải vào Nam; viên tướng Tư Lệnh Đệ Nhị Quân khu, thời này đang đóng tại Huế, cho viên Thiếu tá chánh văn phòng đi đón người kia vốn làm em thứ tư trong gia đình. Khi hỏi lý do vượt tuyến, người thanh niên nói cùng anh” … Vì ảnh hưởng của sự kiện anh là tướng lãnh của quân đội miền Nam, nên gia đình ở đất Bắc bị khó khăn về chính trị, kể cả đời sống kinh tế, xã hội; ngay đến người anh cả vốn là một trung tá chỉ huy trưởng một đơn vị phòng không, có công trận trong chín năm kháng chiến chống Pháp cũng bị nghi ky .. ”. Người thanh niên ở với anh, đến tuổi trưởng thành nhập học khóa 11 Thủ Đức, năm 1960 dù gia đình thừa khả năng cho anh ăn học cao hơn. Lý do vào lính của người nầy là mong được ngày vinh quang như anh!! Người thanh niên nói cùng vị tướng như thế. Ông tướng cũng vui lòng vì em mình chọn võ nghiệp. Những ngày cuối tháng Tư, 1975, viên tướng từ lâu đã giải ngũ cho người về Mỹ Tho gọi em lên Sài Gòn để cùng đại gia đình đi Mỹ (Bởi ông là tướng lãnh thâm niên của quân đội, từng làm Đại sứ ở Thái Lan, có giao thiệp sâu rộng trong chính giới, tướng lãnh Mỹ). Người em giờ này là Thiếu tá, trưởng phòng Hành quân Bộ Tư lệnh Vùng IV Duyên Hải; người được mệnh danh là “VC killer“, do sau mỗi đợt hành quân, kéo xác Việt Cộng dọc sông Mỹ Tho để đồng bào, lính tráng nâng cao “tinh thần sát cộng”. Người em từ chối đề nghị của anh với lý do: “Anh ta chỉ là một thiếu tá, không việc gì phải sợ hãi khi cộng sản vào”. Vâng, chỉ là một sĩ quan cấp thiếu tá, cho dù đã là “VC Killer,” vì cách mạng vốn … “khoan hồng”. Anh ta nói chắc như thế và bình yên trình diện “đi trình diện học tập”. Tháng Sáu, 1976 anh ta ra Bắc, ở Trại 1, Đoàn 776, vùng xã Việt Cường, Yên Báy, thung lũng Hoàng Liên Sơn, lao động tốt, học tập tốt như tất cả mọi người. 1978, sau hai năm “học tập cải tạo” có tiến bộ, một cán bộ cộng sản từ Hà Nội theo sau có viên Bí Thư Chính Ủy Đoàn 776 đến Trại 1; Thiếu tá “VC Killer” lên làm việc và ra khỏi trại. Viên trại trưởng cũng không biết việc gì đã xẩy ra. Nhưng Thiếu tá Hải Quân “VC Killer” chưa xong công tác, hiện tại anh ta đang đảm nhiệm chức vụ “giữ xe đạp ở Ban Mê Thuộc” với đối tượng công tác mới “tập thể đám cán bộ cộng sản của Thị Xã Ban Mê Thuộc.

Một chuyện khác, sau 30 tháng Tư, những cựu SVSQ khóa 18 chúng tôi đi trình diện ở địa điểm Chợ Lớn gặp một khuôn mặt quen thuộc, người bạn cùng khóa, cựu SVSQ Chí, Thiếu tá An Ninh Quân Đội ngồi ở bàn ghi danh. Chỉ khác, Thiếu tá mang quân hàm Thượng úy cộng sản! Chương trình H.O bắt đầu thực hiện vào năm 1990, người “cựu SVSQ khóa 18, cựu Thiếu tá An Ninh Quân Đội, cũng cả cựu Thượng úy Việt Cộng đến Mỹ theo diện HO 2 “. Mấy chục trại tù từ Nam ra Bắc hoàn toàn không có mặt người này. Anh ta thiết lập hồ sơ HO với  iấy Ra Trại năm 1981-Trại Cây Trâm, Sông Bé, một trại hình sự, nếu hoạ hoằn có đôi ba sĩ quan cấp thiếu, chuẩn uý. Chúng ta không những bị đâm vào lưng mà còn phải bước chân lên bãi mìn dưới ánh sáng tàn  nhẫn bị phản bội cùng những “NGƯỜI ĐÃ LÀ MỘTLẦN CHIẾN HỮU NGỤY DANH.”

Chúng ta phải thua trận cũng đành.

THẾ NHƯNG CHÚNG TA VẪN CHIẾN ĐẤU, NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM- MỘT NHIỆM MẦU.

Để kết thúc bài viết, chúng tôi xin kể lại một đoạn ngắn về một trận đánh đã kết thúc rất lâu, nhưng không hề chấm dứt với trí nhớ và đời sống của mỗi chúng ta …Tính đến ngày 15/9/1972 từ thời điểm 7 tháng Bẩy, ngày mở đầu chiến dịch tái chiếm Quảng Trị, thì trận chiến kéo dài 68 ngày. Trong thời gian 68 ngày này, bốn Tiểu đoàn Nhẩy Dù (5, 6, 7 và 11), giai đoạn đầu; và tám Tiểu đoàn TQLC cùng một Liên đoàn BĐQ trong giai đoạn hai; toàn thể người lính của những đơn vị nói trên liên tục tác chiến trên một chiến tuyến dài đúng 2,500 thước từ Ngã Ba Long Hưng, ngõ vào Quảng Trị đến chân Cổ Thành Đinh Công Tráng; đặc biệt 48 ngày cuối cùng TQLC, từ ngã ba Lê Văn Duyệt – DuyTân đến bờ sông Thạch Hãn. Trên chiến trường một cây số bề ngang này, tức là 1,00 thước chiến đấu (Phải nói rõ từng con số chính xác như thế để có thể hình dung ra sức căng thẳng, cường độ khắc nghiệt của chiến trường-Mà quân sử thế giới chưa hề vượt qua cho dù ở Bastogne, Okinawa … ) Mười lăm tiểu đoàn bộ chiến gồm khoảng 7,000 con người phải đi qua, bò, trườn, ẩn núp, ném lựu đạn, bắn đại liên, gọi pháo, điều chỉnh bom … với từng tấc đất chiếm lại. Trong 68 ngày này, giàn pháo của sáu tiểu đoàn 105 ly của Nhẩy Dù và TQLC, hải pháo từ Hạm đội 7 đã bắn bao nhiêu quả đạn; phi cơ Không Quân Việt Nam, Hải Quân Hoa Kỳ, của Không Lực Mỹ từ Đà Nẵng, từ Guam, từ Thái Lan …

Đã dội bao nhiêu tấn bom?!

Chỉ trong vòng bốn giờ từ 6 đến 10 giờ này 25 tháng 7, phi cơ Việt Nam đánh bảy phi tuần xuống Đông- Bắc Cổ Thành mở đường cho Tiểu đoàn 5 Dù tiến chiếm mục tiêu. Bảy phi tuần gồm mười bốn phi xuất, một phi cơ trong một phi xuất đánh mười hai trái bom từ 250 Pounds đến 500 pounds … Vậy trong 68 ngày kể trên bao nhiêu bom đã liên tục rơi trên 2,500 thước chiều dài và 1,000 thước ngang kia?! Buổi bình yên đi hết thị xã chỉ cần nửa giờ Honda. Thế nên, Quảng trị phải được gọi là Thánh Địa hứng chịu tất cả tai ương cho nhân loại – Chúng ta không còn một nơi chốn nào trên mặt đất này khi đã sống và chết trên Quê Hương cùng cực điêu linh. Chúng ta có thể nại đến một so sánh. Người Đức bao vây Stalingrad 76 ngày; quân lực Mỹ vây Bataan trong 66 ngày; Corregidor 26 ngày; quân lực Anh và Khối Thịnh Vượng chung tử thủ Tobruk trong 241 ngày. Và gần gũi nhất, Điện Biên Phủ ở Việt Nam, Pháp và Việt Minh thực sự tấn công cường tập và phản tấn công cũng chỉ đúng 56 ngày kể đến 7 tháng Năm. Những cuộc bao vây và tử thủ lừng danh này được thực hiện với súng tiểu liên Sten, Mas 36, Garant M 1, Carbin M 2 hoặc súng trường bá đỏ của Nga – Những vũ khí hàng đầu của bộ binh thế giới lúc ấy. Những trận đánh để đời của quân sử thế giới kia có là gì, khi một anh hạ sĩ, hai mươi mốt tuổi, Trần Văn Rony của tiểu đoàn 6 Dù trên đường tiến quân đếm đúng trăm xác người chết. Chết do lựu đạn và đánh cận chiến. Dưới đất là cá nhân chiến đấu, trên trời một Pass B. 52 đi qua. (Sau 27/7/1972, B 52 được lệnh đánh trận Quảng Trị) … Một Pass B 52 gồm ba chiếc, mỗi chiếc chở bốn mươi hai quả bom 250 Pounds và hai mươi bốn quả nặng 500 Pounds … Tất cả khối lượng bom đạn này được trút xuống Cổ Thành, bức tường gạch dài đúng năm trăm thước. Còn gì nữa không? Quả thật không còn trời, chẳng còn nơi gọi tên mặt đất. Cũng không còn người!! Bởi còn người nào sống xót trên đoạn đường từ Ngã Tư Quang  Trung-Duy Tân, nơi Tiểu đoàn 6 Dù bàn giao lại, nhữngngười lính của Tiểu đoàn 6 TQLC của Đỗ Hữu Tùng, khóa 16 Đà Lạt phải qua hết 48 ngày tác chiến để chiếm được mé Cổ Thành trong buổi sáng 14 tháng Chín – Trên 400 thước bề dài này, người lính Tiểu đoàn 6 phải bò bằng cách chống tay lần qua mỗi chốt “kiền,” chốt là một hệ thống công sự bố trí theo thế liên hoàn mỗi chốt có từ ba đến chín người (tổ chức tam chế của cộng sản trong chính trị cũng như tác chiến); gồm đủ B 40, B 41, thượng liên, chôn cứng dưới những công sự phòng thủ chịu được bom. Chốt được bảo vệ bởi một hàng rào hỏa lực gồm “cối cơ hữu” của những chốt cứng phía sau; toàn thể bao che bởi giàn đại pháo từ Đông Hà, Bến Hải, Khe Sanh tập trung hỏa lực dồn về 400 thước đất kia qua 48 ngày tác chiến không dứt thở. Hỏi thử người lính Việt Nam đã chịu đựng thế nào để chiến đấu cho quê hương một buổi tồn sinh!?

Thế nhưng người lính gầy gò, khốn khổ ấy, người lính không hề chợp mắt bình yên từ ngày 30 tháng Tư, ngày mất Quảng Trị, không hề có được lần cầm chén cơm nóng, uống hớp nước trong lành. Suốt trận chiến mùa Hè 1972, anh phải hằng ngày mang bốn ngày thức ăn, gạo, áo quần, chiếc poncho, võng, 600 viên đạn XM 16, sáu trái lựu đạn, hai hỏa tiễn chống chiến xa, phá công sự M 72 … Tất cả khối nặng nề này đè xuống thân thể nặng cũng chỉ bằng cái khối oan khổ chồng chất trên lưng. Người Lính đó đã mang vác nỗi đoạn trường ấy từ một thuở rất lâu … Đã từ lâu. Và Anh là đối tượng bị khinh miệt, bị hạ nhục khắp trên sách báo ở Mỹ; nơi biểu tình “đòi quyền sống” ở đường phố Sài Gòn, trong khuôn viên đại học hội thảo phản đối chiến tranh với những giáo sư khoa bảng của văn minh, văn hóa nhân bản Tây Phương … Trên bức hình Tướng Loan bắn tên đặc công Việt Cộng. Người Lính đã bị chôn sống, bức tử cùng một lần với khổ nạn quê hương Miền Nam. Hai mươi năm vết thương hằng tươi máu. Cơn hấp hối vẫn ghê gớm kéo dài. Người Lính Việt Nam đã chiến đấu và tồn tại như một nhiệm mầu. Trên chịu đựng lặng lẽ của họ Tổ Quốc điêu linh thở từng hơi ngắn đớn đau nhưng bền bỉ. Chúng ta có tội và hoàn toàn bất lực trước chân dung khổ nạn bi tráng của Người và Quê Hương.

Phan Nhật Nam

Quê Hương Tôi Nỗi Dau Dài Hơn Trí Nhớ

Sống Từng Ngày, Cơ Khổ Quá Trăm Năm

Nhục Mất Nước Thấm Từng Giây Rất Mới

Nơi Dất Xa Hằng Nuốt Xuống Nấc Thầm.

Mùa Phục Sinh 1995

Những chuyện chưa quên

Hồ Phú Bông

Post by Sơn râu 31 Dec 2025

Google image

Chương 4

 Con Vàng

Con vàng bị trói gô bốn chân, đặt nằm gần cửa ra vào của bếp bộ chỉ huy trại. Tuần trước chủ nó đã bàn với đồng đội, để “chén” nó. “Chúng mình thiếu chất quá nên phải “chén” nó thôi”. Mấy lời ngắn ngủi của chủ nó đã quyết định sinh mạng nó. Nhưng con vàng không hay biết.

Con vàng vừa nhận được củ sắn khá lớn của chủ quăng xuống, nó ngoạm lấy và chạy ra ngoài nằm gặm. Thường ngày con vàng cũng nhận được thức ăn của nhiều người quăng xuống, cho nên đến giờ ăn, con vàng thường quanh quẩn ở nhà bếp của bộ chỉ huy. Chỉ thỉnh thoảng con vàng mới chạy vô nhà bếp trong trại tù và bếp chuồng heo. Thực phẩm không đủ, nhưng con vàng cũng không đói lắm. Mỗi người quăng xuống gầm bàn chút thức ăn thừa cũng đủ cho con vàng qua bữa. Con vàng đang tuổi lớn nên không mập, cũng không ốm lắm.

Thường ngày con vàng quấn quít lấy chủ. Nó là niềm vui chung của bộ chỉ huy. Của thủ trưởng. Của quản giáo và vệ binh. Họ thường đùa giỡn với nó cho qua những buổi chiều tẻ nhạt nơi núi rừng. Con vàng cũng quen với đám tù, khi tù lao động quanh trại. Có những buổi sáng, khi tù đi lao động, trên đường ngang qua khung, con vàng đứng trên cao nhìn xuống nhưng không bao giờ sủa. Nó đã quen với cái lôi thôi, lết thếch của tù, không nghi ngại. Đôi khi được sự cổ võ của tù, nó còn chạy theo được một quảng đến khi bị vệ binh đuổi, mới chạy trở về.

Con vàng là chút vui của toàn trại.

Ở đây con người có giai cấp thống trị và bị trị. Giai cấp quản giáo và vệ binh. Giai cấp cai tù và tù. Nhưng với con vàng thì lại bình đẳng. Nó gần gũi với mọi hạng người. Nó thân mật với cai tù và tù. Nó không biết che dấu hay ngụy trang tình cảm. Nó thực thà với chính nó và với mọi người. Nó khác hẳn với cách con người cư xử với nhau ở đây. Nó ngoắt đuôi mỗi khi lại gần ai. Nó có tiếng kêu sung sướng khi có tù vuốt vuốt lên đầu nó, dù có tù đùa giỡn, hăm he: nhất mực, nhì vàng, tam khoan, tứ vện, về chất lượng thịt của nó. Con vàng không có chủ nghĩa. Không có hận thù giai cấp. Con vàng được tự do. Tự do ở ngoài khung. Tự do vô cổng trại. Tự do đi bất cứ nơi nào nó muốn. Chỉ chút tự do đó thôi mà nhiều tù ngồi nhìn nó, đã mong ước được như nó. Sống với cái tự nhiên như nó.

Thỉnh thoảng ông chín ngón kêu con vàng theo ông đi kiểm soát toán cưa xẻ. Nó chạy theo ông. Con vàng bao giờ cũng đến trước ông chín ngón. Vô tình, con vàng là người đưa tin có ông chín ngón đến kiểm tra.

Mấy ông bộ đội loay hoay trong bếp để chuẩn bị làm thịt con vàng, đang kháo nhau:

– Đéo mẹ, phải cuốc bộ cả năm ki nô mét mới có chút riềng và dúm rau mùi đấy ạ.

– Có phải vì riềng hay vì chị em nhà nó? Khai thật đi, bố bảo.

– Mày bảo mày hay mày bảo tớ?

– Gay đấy, không có chỗ cho mày đâu. Mấy tên công an xã ngày đêm chầu chực nên chúng cứ vênh mặt nên cơ đấy.

– Gái Hà Nội mà nỵ.

– Có ngày chúng cũng phải sút quần ra thôi.

– Ông đấm buồi vào đấy.

Mấy ông bộ đội bắt đầu huyên náo chuyện về gái thì ông chín ngón bước vào. Ông lên tiếng:

– Các đồng chí tác phong nhé. Đối tượng chung quanh các đồng chí đang nghe cả đấy.

Toán nhà bếp chợt yên lặng. Rồi lại cùng lên tiếng:

– Chào thủ trưởng.

– Chào thủ trưởng.

– Món tiết canh chỉ có thủ trưởng đánh giúp thôi. Thủ trưởng nổi tiếng với món nầy mà nỵ.

– Còn món dồi thì tớ no được.

Ông chín ngón thấy mọi việc chưa sẵn sàng để ông đánh món tiết canh nên ông chín ngón bước lại chỗ con vàng. Thường ngày, ông đùa giỡn với nó, nhưng bây giờ ông nhìn con vàng như chưa bao giờ ông biết nó. Ông đạp đạp chiếc dép râu của ông lên lưng nó và nói:

– Phải ba cân rưởi đến bốn cân cơ đấy.

Con vàng đang chờ chết. Đôi mắt nâu hiền lành hàng ngày, bây giờ kinh hoảng, có màu xanh biếc, trong suốt giống như màu mắt mèo bị phản chiếu ánh đèn xe ban đêm. Cái mũi con vàng nhăn lên và hai hàm răng trắng nhe ra. Nó thở khì khè, điên dại. Cái chân đạp nhẹ lên lưng con vàng như nhắc nhở bản năng sinh tồn của nó trước cái chết cận kề. Con vàng cố cắn sợi dây buộc và gắng sức vùng vẫy. Ông chín ngón bước ra cửa, nói vọng lại:

– Lúc nào sẵn sàng thì báo cho tớ biết.

Ông chín ngón vừa bước xuống sân thì bất ngờ con vàng vùng thoát. Nó tông mạnh vào chân ông, kêu ăng ẳng, rồi lao thẳng về hướng cổng trại tù. Con vàng chạy theo bản năng hay nhờ tù che chở (?). Ông chín ngón rượt theo và hét lớn:

– Tóm lấy nó. Tóm lấy nó.

Mấy ông bộ đội trong nhà bếp tung ra. Rượt đuổi. Ông vệ binh đang đứng gác trên chòi lao xuống. Con vàng vừa chạy, vừa kêu ăng ẳng xuyên qua cổng trại, rồi lao về phía chuồng heo. Ông chín ngón hét tiếp:

– Bắn nó. Bắn nó.

Ông vệ binh gác cổng cầm khẩu AK đuổi theo thì con vàng đã theo ngã chuồng heo băng qua bên kia con suối cạn, qua khỏi hàng rào, cắm đầu chạy miết vô rừng. Ông vệ binh vượt suối, nước tung tóe, đến hàng rào thì tì súng bắn theo. Những phát nổ chát chúa xé rừng, vang dội, rồi phút chốc trở lại im ắng. Con vàng biến mất.

Tù trong láng đổ ra, vừa sợ hãi, vừa ngạc nhiên. Cứ tưởng có tù nào dám vượt trại ban chiều. Toán bộ đội trách cứ nhau. Một ông quản giáo cầm một khẩu AK khác băng qua bên kia suối, theo dấu vết con vàng giữa màu nắng úa hoàng hôn.

Con vàng biến mất. Không để lại một dấu vết.

Mỗi buổi chiều sau khi ăn xong, thường có mấy ông bộ đội cầm súng AK đi bên ngoài hàng rào theo ngả con vàng đã chạy vô rừng. Con vàng không còn là con chó nhà. Con vàng đang là con thú hoang bị săn đuổi.

Trời mới tối nhưng như đã vào khuya. Mặt trăng rừng như chiếc đĩa bạc, đang treo lơ lửng trên trời sao thưa. Đêm nay ít mây, trời không trong lắm. Mây bông lãng đãng từng cụm. Huỳnh và Nghiêm co ro trong mấy lớp áo dày chống lạnh đang chuyện gẫu ở đầu hồi của lán, nơi ngủ của Huỳnh. Những mẩu chuyện không đầu, không đuôi, nhưng là những mẩu chuyện làm quên cơn đói đang dày vò trước khi ngủ.

Huỳnh ngạc nhiên khi tiếng con heo trong chuồng, cạnh bờ suối, ụt ịt hơi lớn, mà không nghe tiếng eng éc kêu đói, như hàng đêm. Đây là phản ứng của con heo sợ con khác giành thức ăn. Có thể chậu thực phẩm chính nó không thể ăn được nhưng lại có con vật khác thèm thuồng.

Huỳnh và Nghiêm bước ra. Ánh trăng xuyên lỗ chỗ qua các song thưa của chuồng heo. Còn xa, nhưng Huỳnh và Nghiêm cũng nhận ra, có bóng dáng một con vật nhỏ, quanh quẩn ở gần đó. Nghiêm kéo tay Huỳnh đứng lại quan sát. Hy vọng là con thỏ rừng hay con chồn nhỏ. Không ai nói với nhau nhưng cả hai cùng ý nghĩ, phải làm sao tìm cách bắt cho được. Con thỏ không còn là con thỏ nhỏ nữa. Con chồn không còn là con chồn nhỏ nữa. Nó là một con thịt khổng lồ trong đôi mắt phờ phạt vì đói.

Con vật phản ứng thật nhanh. Thoáng chốc đã biến mất nơi chuồng heo. Nghiêm và Huỳnh chạy tới nhìn theo. Bên kia suối, con vàng vừa chui ra khỏi hàng rào, đang cụp đuôi, chạy dưới ánh trăng hoang.

Mấy hôm sau, không biết tin từ đâu, các ông bộ đội đã biết con vàng về quanh quẩn ở chuồng heo kiếm ăn, nên khi trời vừa sụp tối, hai ông bộ đội đã thông báo ở các đầu lán, cấm không tù nào được ra ngả chuồng heo. Rồi hai ông ngồi núp nơi góc hội trường, cách chuồng heo không xa, chờ đợi. Đó là vị thế tốt nhất để quan sát.

Qua hai đêm yên ắng. Con vàng không trở lại. Cả trại tù cũng nín thở theo dõi. Đêm thứ ba, theo sau một tiếng súng nổ chát chúa, xé cả không gian yên tĩnh, con vàng kinh hoảng la ăng ẳng. Khi hai ông bộ đội rượt đến chuồng heo thì con vàng lại biến mất. Cả trại tù thở phào, nhẹ nhõm. Một cái gì đó, từ sâu thẳm như có sự liên hệ giữa con vàng và tù. Giữa đói và rừng. Giữa tù và bị săn đuổi. Không có ai lên tiếng nhưng tù cứ đang âm thầm mong con vàng đừng bao giờ quay lại.

Rừng khắc nghiệt. Rừng đói. Rừng lạnh lùng. Rừng bao la nhưng con vàng không có một chỗ để dung thân. Gần mười ngày đã trôi qua, con vàng không thể tìm được chút gì để ăn. Để sống. Thân xác tiều tụy. Bơ phờ. Con vàng đã mất đi cái nhanh nhẹn thường ngày. Con vàng không thể chịu đựng cơn đói hành hạ! Chỉ có nơi chuồng heo, con vàng hy vọng có thể có chút đồ ăn. Con vàng phải quay trở lại dù biết nơi đây tử thần đang chờ đợi.

Sau lần bắn hụt, ông quản giáo vẫn kiên nhẫn chờ đợi con vàng. Ông nghĩ ra thêm kế hoạch để bắn hạ nó. Ông lấy một khúc sắn luộc, còn nguyên củ, buộc một sợi dây vào giữa. Đầu sợi dây còn lại ông buộc vào trụ của chuồng heo gần bếp. Nơi đó có ánh trăng soi rõ và là góc độ tốt nhất để ông nhắm bắn. Con vàng sẽ không ngoạm khúc sắn đi ngay tức khắc được vì còn vướng sợi dây. Nó nhùng nhằng ở đó, thừa đủ thời gian để ông nhắm và bóp cò. Nghiêm và Huỳnh vẫn ngồi ở đầu lán chuyện gẫu và chờ đợi. Tù khác cũng theo dõi. Cả trại tù yên lặng và chờ đợi. Cái án tử hình sắp được thực hiện.

Con vàng chui vào hàng rào trại thực êm. Băng qua con suối cạn không một tiếng động. Chỉ có tiếng nước chảy róc rách và tiếng gió xào xạc trên cành cây. Con vàng đang phân vân, nghe ngóng. Nó nhìn về hướng hội trường, nơi hai đêm trước đã phát ra tiếng nổ. Cái chân trước co lên, lưỡng lự. Con vàng lại quay ra hàng rào, rồi đứng nhìn vô nơi hội trường. Con vàng đang chiến đấu với cơn đói, thèm thuồng và nỗi sợ hãi. Một lát sau, con vàng cắm cổ chạy thẳng một mạch, băng qua suối, vô nơi chuồng heo phía bên kia bếp. Được một lúc, con vàng chạy vòng qua phía bên nầy, nơi có củ sắn đang buộc vào chân cột nhà. Con vàng lại co một chân trước nhìn vô hội trường. Thấy yên tĩnh, con vàng cúi xuống ngoạm củ sắn định tha đi. Củ sắn bị sợi dây kéo lại, rớt xuống đất. Con vàng lại cuối xuống ngoạm tiếp. Phát súng nổ xé màn đêm. Xé cả không gian. Ông quản giáo hét lớn:

– Ngã rồi.

Rồi ông cầm súng chạy nhanh tới trước. Ánh đèn pin lóe lên nơi tay ông vệ binh. Ông vệ binh chạy theo.

Lồng ngực con vàng mở toang hoác. Mắt con vàng chưa kịp nhắm lại. Con vàng không kịp kêu tiếng kêu kinh hoàng của nó.

Ông quản giáo:

– Tớ nhắm ở đầu cơ mà!

Sau một lúc quan sát, ông vệ binh nắm chân sau con vàng, xách ngược lên. Đầu con vàng lủng lẳng bên dưới. Thân xác nó đã bị xé làm đôi. Hai ông bộ đội xách con vàng ra hướng cổng trại. Tù ra khỏi lán nhìn theo.

Có hai bóng tù lao nhanh về phía chuồng heo. Nghiêm và Huỳnh. Củ sắn vẫn còn trong sợi dây buộc. Dấu vết răng con vàng còn đó. Máu tươi của con vàng bê bết trên màu ngà của củ sắn.

Huỳnh cố che giấu trắc ẩn bên trong, nói gãy gọn với Nghiêm:

– Xuống suối rửa. Tụi mình không dính máu con vàng. Chỉ ăn thừa của nó thôi.

Kiều lần trình diễn thứ 3

baotreonline.com

Hai Quê

Post on October 14th, 2022

Post by Sơn râu 30 Dec 2025

Chủ Nhật ngày 2 tháng 10, Hai Quê đi xem hát. Tuồng tên Kiều, diễn song ngữ Việt-Pháp, ở thính phòng Saint-Léon, quận 15, Paris, do nghệ sĩ Trúc Tiên – qua Pháp từ năm 10 tuổi, hiện sinh sống và làm việc tại ngoại ô Paris cùng nhóm Cội Nguồn tổ chức. Đây là lần thứ ba Kiều hiện thân ở Paris.

Lần thứ nhất, hơn hai mươi năm trước, Minh Họa Kiều I do nhạc sĩ Phạm Duy đích thân đem qua. Buổi họp mặt thân mật diễn ra tại tư gia nhạc sĩ Ngô Càn Chiếu (1996) có mặt giáo sư cổ nhạc Trần Văn Khê. Hai cây đại thụ của âm nhạc Việt Nam, hai người bạn già, một cổ một tân, trò chuyện và thân ái chia sẻ với khán giả đáng tuổi con cháu tình yêu họ dành cho Kiều và cho nhạc ngũ cung. Mái tóc nhạc sĩ Phạm Duy khi ấy đã bạc như cước trắng nhưng nhân dáng vẫn vững chãi, cử chỉ vẫn hoạt bát. Giáo sư Trần Văn Khê ngồi nhiều hơn đứng, đụng đến Hò Xự Xang Xê Cống, ông thao thao như chẳng bao giờ muốn dừng.

Nhạc sĩ Phạm Duy mặc veste xanh dương, đứng giữa. Bên phải ông là nhạc sĩ Ngô Càn Chiếu, bên trái là giáo sư Trần Văn Khê. Người mặc áo dài xanh lá cây là nhà phê bình văn học nghệ thuật Thụy Khuê, cạnh bà là nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Chung quanh là một số thành viên của Thư Viện Diên Hồng và bạn hữu – 01/04/2002.

Sáu năm sau, đúng ngày lễ Phục sinh năm 2002, Thư Viện Diên Hồng tổ chức chương trình ra mắt Minh Họa Kiều I và Kiều II với tầm vóc rộng lớn hơn, ở thính phòng FIAP (khoảng 200 chỗ), quận 14, Paris. Nhạc sĩ Phạm Duy là một diễn giả giỏi, sau lời giới thiệu của nhà phê bình văn học nghệ thuật Thụy Khuê, ông đã tự dẫn giải về tác phẩm của mình. Kiều của «Bố già» quy tụ toàn gà nhà, mà là gà nòi: hòa âm phối khí của Duy Cường, giọng ca của Thái Hiền, Thái Thảo, Duy Quang, Tuấn Ngọc. Ðặc biệt, có giọng ngâm thơ của Thanh Ngoan. Ái Vân được giao vai Kiều.

Cũng trong năm 2002, với sự hỗ trợ của giáo sư Ðặng Tiến, nhạc sĩ Phạm Duy đã đem Minh Họa Kiều đến thuyết trình tại Ðại học Paris 7.

Nhạc sĩ Phạm Duy và Minh Họa Kiều – Giảng đường Đại học Paris 7 (Jussieu) – 2002

Lần thứ hai, cách đây 5 năm (2017), vở nhạc kịch Kim Vân Kiều do nhà hoạt động văn hóa Bùi Xuân Quang soạn lời Pháp ngữ và bỏ tiền túi ra sản xuất (khoảng 170 ngàn euros, theo lời ông Bùi Xuân Quang nói với đài BBC – Quốc Phương phỏng vấn, 04/09/2018). Ðạo diễn Christophe Thiry dàn dựng. Từ Thúy Kiều đến Hoạn Thư, Từ Hải, Kim Trọng, Thúc Sinh, Giác Duyên… đều do diễn viên Pháp đóng. Những nghệ sĩ chuyên hát opéra của đoàn kịch nói nhà hát L’Attrape này đã nhận lời hát pop cho Kim Vân Kiều. Các nhạc cụ Tây phương được kết hợp với đàn bầu, đàn nguyệt, sáo, phách, trống da trâu, do các nghệ sĩ Việt Nam tham gia trình diễn. Vở nhạc kịch đã nhận được nhiều khen ngợi từ khán giả Pháp và được đưa về lưu diễn ở Việt Nam sau đó.

Áp phích Kim Vân Kiều – 2017

Lần thứ ba, chiều Chủ Nhật, 02/10/2022 vừa qua, Kiều hiện hình trong không khí đàn ca tài tử. Trong tờ giới thiệu chương trình có mấy dòng giải thích: «Ðàn ca tài tử, một loại nghệ thuật đàn ca truyền thống của miền Nam Việt Nam, ra đời cuối thế kỷ 19, là kết hợp của Nhã nhạc và Lễ nhạc.» Trò chuyện với nghệ sĩ Lê Tứ từ Việt Nam qua, Hai Quê được anh giải thích: «Ðàn Ca Tài Tử khởi thủy đơn sơ, chỉ có đàn hát mà thôi, từ từ tiến lên Ca Ra Bộ, tức là người ca bắt đầu thêm chút bộ điệu cho mới mẻ, phong phú hơn, sau đó mới phát triển thành cải lương, có diễn xuất, có vở có tuồng, và sân khấu.»

Tiếng đàn tranh, đàn nguyệt, đàn ghi-ta điện phím lõm, sáo, trống da trâu đan xen tiếng vĩ cầm, saxo, organ,… Hò Xự Xang Xê Cống khi thê thiết khi rền rã quyện vào hòa âm phối khí của âm nhạc vi tính hiện đại và phong phú (3 ca khúc tân nhạc Kiều do nhạc sĩ Ngô Càn Chiếu biên soạn). Nguyễn Du dẫn Thúy Kiều, Thúy Vân, Kim Trọng, Từ Hải, Hoạn Thư, Thúc Sinh, Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh… xàng xê từ thế kỷ 19 qua thế kỷ 21.

Bó thân về với triều đình, hàng thần lơ láo phận mình ra đâu? Kiều (Trúc Tiên) khuyên Từ Hải (Lê Tứ) ra hàng

Giọng Trúc Tiên (Kiều) không mướt ngọt như rượu nếp cẩm mà đằm rền, gần với bồ đào tửu hơn. Ngũ cung đưa đẩy, khơi dậy không khí Dạ Cổ Hoài Lang của ông Sáu Lầu. Lê Tứ (Từ Hải) chuyên nghiệp. Các tài tử a-ma-tơ ở Paris nhập vai hết mình. Tính sân khấu trong giọng ca, giọng kể và cách diễn của một số anh chị em tạo được kịch tính cho Kiều. Khán giả sụt sùi nhiều nhất khi Thúy Kiều sụp xuống bên chân Thúy Vân: «Cậy em em có chịu lời, ngồi lên cho chị lạy rồi xin thưa…», và khi nàng bệu bạo trước thi thể Từ Hải, tiễn đưa «Râu hùm hàm én đi vào hư vô.»

Trước giờ diễn

Chương trình này đã được định ngày, tập dượt, đặt phòng, in áp phích, quảng bá rộng rãi cho buổi biểu diễn ngày 29/03/2020. Ðùng một cái, bị Covid phá bĩnh, đành phải gác lại. Hai năm sau, gánh hát gồm các nghệ sĩ chuyên nghiệp bay từ Việt Nam qua (Văn Môn, Huỳnh Tuấn, Lê Tứ) ráp với một số anh chị em nghệ sĩ ở Paris thực hiện cho bằng được đam mê. Riêng chỉ đam mê và lòng can đảm đã đủ để hoan hô. Tại sao can đảm? Vì so với các thành phố lớn ở California hay Texas, nơi cộng đồng Việt Nam rất lớn mạnh thì Paris thưa vắng hơn nhiều. Thứ nữa, Kiều và đàn ca tài tử không phải ai cũng mê. Choai choai đừng mong chi mua vé. Các cụ cao tuổi dù có thích cũng chẳng sức đâu ăn được bữa cỗ chạy ba quãng đồng. Có lẽ chỉ còn biết trông vào khán giả sồn sồn… Ðiều đáng hoan hô thứ hai, trong số 500 vé bán ra (số chỗ tối đa của thính phòng), nghệ sĩ Trúc Tiên đã dành 100 vé tặng các viện dưỡng lão và một số khách mời của giáo xứ Việt Nam lẫn một số chùa tại Paris.

Ðánh giá sự thành công của một vở diễn không nên chỉ dựa vào số vé bán được mà nên chú ý đến việc khán giả có thấy vui thích hay không. Vở nhạc kịch kéo dài ba tiếng đồng hồ. Vãn hát, Hai Quê nghe nhiều tiếng cười bay.

Cuối buổi diễn

HQ

Bầy Sư Tử Lãng Mạng

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 30 Dec 2025

Truyện này được viết để tặng một thế hệ

tuổi trẻ Việt Nam trưởng thành sau 30-4-1975

3. Chương 3

Cachot này ghê gớm nhất. Nếu ví nhà tù là khách sạn và nỗi khổ là sao thì Chí Hòa, khách sạn mười tám sao. Khu FG cực kỳ sang trọng đánh giá bằng kỷ luật thẳng thừng và sự tối tăm phát sợ. Và biệt giam tầng cao nhất FG, những phòng đặc biệt dành cho những khách tù đặc biệt. Trần Thế Tưởng, 32 tuổi; sinh quán Quảng Trị; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú Làng Báo Chí, quận Thủ Đức, Sài gòn; nghề nghiệp lính ngụy biệt phái nhật báo Tiếng Nói; đơn vị gốc Pháo binh; can tội tổ chức chống phá cách mạng; nhiệm vụ ấn loát truyền đơn, báo chí; bị bắt ngày 5 tháng 11 năm 1975, đang ngồi bó gối ở góc cachot khu FG Chí Hòa.

Trần Thế Tưởng, người tù duy nhất đã nằm hết cachot của sở công an, của đề lao Gia Định. Một năm có 365 ngày thì Tưởng ở cachot đủ 300 ngày. Chàng coi thường cachot đề lao. Khi người ta đưa chàng ra phòng tập thể, chàng kiếm chuyện vi phạm kỷ luật để được đi biệt giam. Dáng dấp to con, giọng nói trọ trẹ mà ham nói nhanh, nói nhiều, Tưởng ưa tranh luận và ưa gây lộn. Tính tình thẳng thắn, nóng nẩy. Nổi danh ở đề lao Gia Định vì dám chỉ tay thẳng mặt tên cai ngục C2 sỉ nhục: «Anh và chế độ của anh dã man, vô nhân đạo». Cai ngục báo cáo với chúa ngục Hai Phận. Chúa ngục gọi Tưởng lên làm việc:

– Anh dám bôi bác chế độ hả?

– Đúng.

– Tại sao?

– Vì lâu quá tôi không được gặp vợ con tôi.

– Sẽ cho anh gặp.

– Bao giờ?

– Mai.

Hai Phận giữ lời hứa. Hắn dẫn Trần Thế Tưởng ra hàng rào đề lao. Vợ con Tưởng bên ngoài, Tưởng bên trong. Sau mười lăm phút gặp gỡ Hai Phận đưa Tưởng vào, mời Tưởng uống nước trà, hút thuốc Vàm Cỏ.

– Chế độ còn dã man không?

– Còn.

– Tại sao?

– Vì đứng ở hàng rào dã man, vô nhân đạo hơn là không gặp.

– Sẽ cho anh gặp lại.

– Bao giờ?

– Cuối tuần.

Cuối tuần, can phạm Trần Thế Tưởng gặp vợ trong phòng thăm đàng hoàng. Chuyện trò kéo dài nửa tiếng.

– Chế độ còn dã man không?

– Còn.

– Tại sao?

– Vì nói chuyện có nửa tiếng chưa nói hết chuyện.

– Sẽ cho anh gặp vợ con nữa.

Lần thứ ba, Tưởng tha hồ tâm sự với vợ con. Trọn nửa ngày, Hai Phận không ngồi ám. Hắn cũng chẳng khám quà nuôi Tưởng đem vô phòng. Anh em bảo Tưởng khùng, Tưởng liều và Hai Phận thì bốc đồng. Từ đó, Hai Phận chiếu cố Tưởng tận tình. Trước ngày nuôi, hắn đưa dao cạo cho Tưởng cạo râu. Sáng sớm ngày nuôi, hắn đưa bánh mì cho Tưởng ăn, sợ ra khiêng quà tù vất vả, mau đói. Hắn tặng Tưởng hai bộ quần áo tù và, thỉnh thoảng, bồi dưỡng trứng gà tươi. Hắn còn thi ân lao động ngoài phòng cho Tưởng. Sáng sáng, đích thân hắn mở cửa mời Tưởng lên y tế bào chế thuốc dân tộc. Chiều chiều, đích thân hắn ôm vai đưa Tưởng về. Tưởng gây gỗ đánh ai, Hai Phận xử hòa. Người khác sẽ bị kỷ luật. Tưởng được ưu đãi quá khiến anh em ngờ vực, sợ hãi rồi rỉ tai nói xấu. Thần tượng hôm qua sụp đổ. Hôm nay là thằng antenne hèn mọn, đê tiện. Cọng sản lại chơi quốc gia một cú ngoạn mục. Mày nổi tiếng, mày thuyết phục, mày kết hợp được, mày dám chống đối, tao không hành hạ mày, hành hạ mày để mày trở thành anh hùng, thành đại bàng à! Không, tao nuông chiều mày, tao mượn tay những đứa sùng bái mày hạ bệ mày, ghê tởm mày, hết tin mày, con ạ!

Không chịu nổi sự ngộ nhận của “chiến hữu” ngu xuẩn và để thanh minh tâm hồn trong sạch của mình, một buổi sáng, khi Hai Phận vừa mở cửa phòng, Trần Thế Tưởng phóng trái đấm đắng cay vào mặt Hai Phận. Chúa ngục lảo đảo, bị xô bắn sang cửa biệt giam đối diện. Tưởng nghiến răng, nói với anh em:

– Hãy cố mà sống lâu. Kẻ nào sống, kẻ ấy sẽ biết. Đoạn cuối của đời tôi sẽ có một kết luận đúng nhất.

Phản ứng của Hai Phận bình thường. Buổi trưa, Trần Thế Tưởng dọn hành lý rời phòng. Chúa ngục tuyên bố nhà nước khoan hồng thả Tưởng về. Nhưng Tưởng bị đưa qua Chí Hòa và bị nhốt ở cachot khu FG. Chàng đang ngồi bó gối suy nghĩ về cái thủ đoạn khốn kiếp của cọng sản. Cọng sản gian manh và giỏi lắm. Cọng sản không phải là những anh nhóc bộ đội nói ngọng và những cậu công an khu vực mê gái Sài Gòn đâu. Cọng sản có chủ nghĩa. Và chủ nghĩa của nó tua tủa móng vuốt. Và chúng ta mãi mãi hôn mê trong hờn giận, ghen tuông, ngờ vực và bêu xấu lẫn nhau.

Tưởng đưa tay rờ mép. Máu vẫn còn ri rỉ. Chàng bị lũ công an quản giáo FG trói lại đánh đập tàn bạo. Chúng giáng những nắm đấm tình nghĩa, những cú đá khoan hồng , những cái đạp nhân đạo 2 vào mặt chàng, vào bụng chàng, vào ngực chàng. Chúng quần thảo cho đến khi chàng nằm bất động, mắt nhắm lại và máu miệng ứa ra 3. Chưa tha, chúng dựng đứng chàng dậy, bồi tiếp những trái cách mạng vĩ đại. Rồi chúng khiêng chàng, liệng vào cachot, chẳng cần quan tâm chàng sống hay chết. Tưởng tỉnh dần, tỉnh dần. Chàng không hiểu mình đã thiếp đi bao lâu. Chàng tỉnh nhờ bóng tối âm u, nhờ mùi hôi khai tỏa ra từ cái xô phân tiểu lâu ngày chưa đổ, nhờ sự ẩm ướt của phòng biệt giam. Thế là chàng chưa chết. Để có dịp so sánh cachot FG Chí Hòa với cachot đề lao Gia Định.

Dựa lưng vào tường, thả dài chân cho thoải mái, chàng cảm thấy thèm một hơi thuốc lá hơn là môt ly nước dẫu cổ họng chàng khô cháy. Tưởng mơ ước một vũng nước, một vũng nước của thời niên thiếu. Được nhảy xuống, đầm mình, ngoi lên, da thịt lại tươi ngon, nỗi đau sẽ tan biến và ý chí sẽ gang thép. Tự nhiên, Tưởng muốn truy nã cái thân phận của chàng từ dĩ vãng đến hiện tại. Chàng muốn làm một bản tự khai tâm cảm cho chính chàng…

Quê hương chàng, quê hương “đất cày lên sỏi đá”. Con nhà nghèo, thật nghèo. Bố chàng xưa, học hành vớ vẩn, đi lính gác quận đường. Năm chàng lên sáu, bố bệnh hoạn trở về làng. Cậu bé không được đi học và thường xuyên đói rách. Tội nghiệp cậu, bố cậu đến một ngôi chùa, ký thác cậu cho sư cụ trụ trì để cậu ăn cơm thừa cửa Phật. Cậu bé có pháp danh Thích Tâm Ổn. Đầu gọt nhẵn, mặc áo cà sa, đi chân không, chú tiểu Tâm Ổn theo thầy đi khuyến giáo đây đó. Chú thích nhất đám ma. Vì đám ma thì có đàn chay, gõ mõ cả đêm và ăn uống thỏa thuê. Ăn căng bụng là ước mơ của chú tiểu Tâm Ổn. Chú nảy sinh ý nghĩ độc ác, mong mỗi ngày một người chết. Để chú khỏi lo đói. Sự nghiệp đi tu không kéo dài hết đời chú Thích Tâm Ổn. Năm chú lên mười, bố chú ra tỉnh, gặp sếp cũ nay là tỉnh trưởng. Nhờ ông tỉnh trưởng giúp đỡ, chú Tâm Ổn cởi áo cà sa, vô tuốt Vũng Tàu học trường Thiếu Sinh Quân. Một chân trời mới mở ra cho cậu Trần Thế Tưởng. Chăm chỉ, ngoan ngoãn, chịu khó nhờ các anh lớp lớn kèm thêm, cậu theo kịp bạn học cùng lứa tuổi với số chữ nghĩa học ở nhà và học thầy chùa. Mười tám tuổi, cậu tình nguyện vào trường Bộ Binh Thủ Đức. Vì là tình nguyện, tốt nghiệp, sĩ quan Trần Thế Tưởng phục vụ ở binh chủng biệt kích. Hai năm sau, cậu mang lon thiếu úy, chỉ huy một toán quân chuyên nhảy lên đầu cọng sản ở rừng già heo hút. Thiếu úy Tưởng gan dạ, lập nhiều chiến công nhưng không có huy chương. Biệt kích không được phép phô trương, chiến công của họ nhường cho các binh chủng bạn. Tưởng có nhiều kỷ niệm buồn bã về nhảy toán. Những buổi chiều mưa hiu hắt ngồi chờ trực thăng bốc đến địa điểm nào đó mà mình chẳng hề biết trước. Những đồng đội bị thương nặng không thể mang theo, không thể để sống chờ chết, phải kết thúc họ bằng chính dao găm biệt kích. Nước mắt đã nhỏ nhiều trên những xác chết đòi đoạn ấy.

Khi chiến tranh chỉ còn là trò chơi giết nhau vô tích sự, người biệt kích chán nản. Chàng uống rượu. Chàng mê gái. Chàng đốt ngày tháng sầu muộn viển vông: người biệt kích bỗng hối hận mình đã không có căn tu. Rồi chàng si mê cô ca sĩ. Chàng đào ngũ vì nàng. Nàng không yêu chàng. Chàng biến thành gã lang thang, về Sài gòn đêm đêm kéo màn cho gánh cải lương hát đình bệ rạc. Cuối cùng, quê hương là nơi chốn êm đềm nhất. Nhưng mà đói rách, chàng đành dùng căn cước của anh họ, đăng lính pháo binh Sư đoàn I. Vì ngang bướng, vì không tôn trọng mệnh lệnh, binh nhì Trần Thế Tưởng đã không kéo chướng ngại vật cho thiếu tá chỉ huy trưởng đơn vị lái xe vào trong cơn say mèm. Vị thiếu tá ban lệnh rồi vị thiếu tá dẫm chân lên lệnh. Và đòi bắn binh nhì Tưởng. Binh nhì Tưởng bị đầy đi làm “đề lô” trên một ngọn núi hết tháng này sang tháng khác. May mắn, sếp cũ bị thuyên chuyển, sếp mới thay thế, chú ý trường hợp của Tưởng. Ông ta gọi Tưởng về, Tưởng trình bày hoàn cảnh của mình: sếp yêu mến người sĩ quan biệt kích cũ, dành cho Tưởng nhiều ân huệ, Tưởng quanh quẩn ở đơn vị.

Quảng Trị sục sôi lửa đạn. Bọn phóng viên nhiếp ảnh ngoại quốc không dám lao vào chiến trường. Họ đưa máy cho Tưởng, thuê Tưởng chụp, mỗi cuốn mười ngàn đồng. Sếp của Tưởng không chịu. Rẻ quá. Ông sắm máy ảnh cho Tưởng. Tưởng bỗng nhiên thành phóng viên nhiếp ảnh chiến trường, bán phim cho các hãng thông tấn ngoại quốc và báo chí việt nam. Rồi Tưởng được nhận làm phái viên của nhật báo Tiếng Nói, được đổi vào Sài gòn, được biệt phái về ngành báo chí. Tiếng tăm chàng nổi dậy. Tiền bạc chàng nhiều. Chàng cưới vợ và trở về làng cũ xây cho bố mẹ một căn nhà khang trang. Còn trẻ, thiếu thủ đoạn nghề nghiệp, chàng say máu sự nghiệp, làm tất cả những gì mà đàn anh ở tòa báo sai bảo. Và chàng đã dính líu vào vụ bắn chết một ông chủ báo đối nghịch với Tiếng Nói tại đầu đường Bùi Chu. Cuộc đời không dừng lại ở đó, nhà báo Trần Thế Tưởng vẫn hung hăng tiến lên. Đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì sự nghiệp báo chí của chàng chấm dứt.

Cơn hốt hoảng qua mau, phái viên Trần Thế Tưởng sắm cái xe ba bánh chở đồ mướn. Nghề chở xe ba bánh thiếu hấp dẫn, Tưởng bán xe ba bánh mua xe xích lô. Chàng thả dài khắp đường phố Sài gòn, giải sầu bằng đạp xe và chỉ cần đủ một gói Lucky. Trần Thế Tưởng đã gặp Vương Huy Dũng trong dịp này. Dũng, dưới ba mươi tuổi, chưa vợ con, sĩ quan báo chí quân đoàn 4, khước từ trình diện học tập cải tạo. Họ tìm đường vào chiến khu.

– Mày bắt liên lạc gì với tụi bạn biệt kích cũ chưa?

– Chưa. Tao thả dài các phố, quán cà phê nào cũng ghé mà chẳng gặp thằng nào.

– Bọn nó về rừng cả rồi.

– Mình phải tìm đường. Tao để địa chỉ liên lạc ở quán chị em Quỳnh Như, Hoàng Nga.

– Vợ mày ra sao?

– Sắp đập bầu.

– Mày vất vợ mày lại à?

– Không, tao đi làm cuộc đời cho các con tao. Cuộc đời chúng mình hỏng rồi. Mình tiêu pha đời mình láo lếu qua. Tao thương cuộc đời thơ ấu khốn nạn của tao. Con tao sẽ khốn nạn như tao ngày xưa. Tao ngỡ đã có thể quên mình mà gầy dựng hạnh phúc cho con mình. Bây giờ thì hỏng. Thì phải làm lại. Thì phải chiến đấu. Chiến đấu vì cái gần gũi trước nhất.

– Đúng. Bây giờ mới đích thực là chiến đấu. Tao muốn được chiến đấu như một hiệp sĩ một mình một ngựa. Tao chán làm guốc cho lãnh tụ rồi, tao phải làm mũ đội lên đầu tao. Tuổi trẻ của tao còn nguyên vẹn tao cần đi từ đầu. Từ đầu đường mới đến tương lai. Tao ghê tởm cái cũ. Cái cũ vất bỏ.

Mỗi đêm, hai người bạn đều chờ đợi một chuyến vào chiến khu. Hình như không có chiến khu. Hình như chiến khu chỉ là ảo tưởng, là nơi chốn nương dựa của tuyệt vọng. Vương Huy Dũng và Trần Thế Tưởng tìm đến cụ Phan Vô Kỵ. Già và trẻ gặp nhau. Cụ Vô Kỵ chỉ dẫn Dũng và Tưởng những kinh nghiệm của cụ với cọng sản. Họ hoạch định chương trình hoạt động. Tổ chức, ngày đầu, chỉ có Dũng và Tưởng. Tuần lễ sau đã quyến rũ được hàng chục thanh niên, thiếu nữ. Nam Sơn, vua các biển quảng cáo đường Vũng Tàu, Lục tỉnh nhập cuộc chơi. Phan Vinh, phó giám đốc khách sạn Palace dâng hiến tiền bạc. Nơi liên lạc: Các quán cà phê vỉa hè. Nơi hội họp: Phòng 4, lầu 3, khách sạn Palace. Dũng và Tưởng viết truyền đơn, viết báo. Nam Sơn ấn loát bằng roneo, bằng máy in. Sinh viên học sinh phổ biến. Tổ chức thiếu cảnh giác và kết nạp người theo nhiệt tình. Tên luật sư Đỗ Hữu Cảnh, bạn học của Dũng đã lọt vô. Nó là thằng trí thức nằm vùng, đeo quân hàm trung úy công an, bí danh ba son. Nó giăng một mẻ lưới. Tổ chức bị tóm gọn. Đối diện Mai Chí Thọ, Dũng và Tưởng không nhận tội. Chiến đấu cho tự do, dân chủ, hạnh phúc của dân tộc không bao giờ là tội lỗi cả.

Hai chàng bị xếp vào hồ sơ đen, bị còng chân, còng tay nằm dài dài trong các thứ cachot của các kiểu nhà tù. Hai chàng từ chối làm việc với công an chấp pháp và không viết tự khai. Tuy vậy, công an vẫn điều tra đầy đủ lý lịch của hai chàng cọng thêm những chống đối của hai chàng ở các trại giam.

Tiếng đập cửa thình thình làm Trần Thế Tưởng giật mình.

– Mày khát nước chưa?

Cai ngục hỏi.

– Tôi khát lắm.

Tưởng đáp.

– Ký vào tờ giấy tự kiểm nhận hết tội lỗi với cách mạng, mày sẽ được uống nước và đưa xuống phòng tập thể. Rồi mày có thể về nhà luôn.

Cai ngục rọi đèn pin qua miếng cửa cachot. Ánh sáng soi rõ cảnh tượng ghê gớm của cái quan tài xi măng nhốt tù nhân. Cuộc đời nhỏ đấy, phóng lớn thì nó là cuộc đời xã hội chủ nghĩa rất trung thực. Cai ngục tắt đèn.

– Mày nghĩ kỹ đi.

– Tôi nghĩ rồi.

– Ký hả?

– Không phải tôi nghĩ thế.

– Mày nghĩ sao?

– Tôi nghĩ có ngày tôi sẽ tha thứ anh, dù anh đã đánh đập tôi không tiếc thương.

– Đ. m., vậy lát nữa tao đánh thêm mày!

Cai ngục bỏ đi. Trần Thế Tưởng cố đứng dậy, mò mẫm tới cửa, đặt miệng vào ô hở cachot, hét lớn:

– Mày không đáng trả thù, mày chỉ đáng tha thứ…

——————————–

1          Chấp cung, hạch hỏi, dọa nạt đối với cộng sản đều là… làm việc.

2          Danh từ nghiêng: Cộng sản luôn luôn nói với tù nhân như thế.

3          Trận đòn Tưởng chịu đựng ở Chí Hòa với Vương Huy Dũng tháng 12 năm 1978.

Những chuyện chưa quên

Hồ Phú Bông

Post by Sơn râu 30 Dec 2025

Chương 3

 Mơ Miền Nam

Ai ơi đừng lấy thợ cưa
Trên tàn dưới mạt dái đưa lòng thòng.

Sự khổ cực của người thợ cưa gỗ ngày xưa đã đi vào ca dao, bây giờ đám tù đói đang phải thực hiện. Đội mộc chọn 7 người vào toán cưa xẻ. Là những tù trẻ, thuộc loại to con, sức khỏe còn tương đối khá hơn hết. Nhóm được ăn theo tiêu chuẩn đặc biệt, 18 cân. Việc làm tự giác và có nhiều cơ hội cải thiện. Toán gồm Đương cốm, Dân lùn, Trí, Phước dù, Phương râu, Nghi và Tòng cháy. Đương cốm phụ trách toán.

Ông chín ngón đã lùng sục khắp trong rừng. Nơi nào có cây to, gỗ tốt, ông đều kiểm tra, chọn địa điểm và lên kế hoạch. Kiểm lâm sức mấy mà vào đến đây được. Toán cưa xẻ sẽ làm việc trực tiếp với ông, vì đây là kinh tế của riêng ông, của cấp chỉ huy ông. Hai lưỡi cưa cá mập là linh hồn của ông. Nhờ nó ông sẽ có những miếng gỗ rộng bản, dày mỏng tùy ông muốn. Ông sẽ bắt toán mộc đóng cái tủ, cái bàn, cái ghế. Căn nhà ước mơ cả đời người của ông sẽ có. Xóm giềng sẽ vị nể ông và ít nữa, khi ông về lại gia đình, vợ ông phải nhìn ông thán phục. Vợ ông sẽ hãnh diện vì ông quyền uy, giàu có. Ông không thể là cô bé đội thúng trứng trên đầu, mơ ước những quả trứng sẽ thành đàn gà con, rồi đàn gà con sẽ lớn và bán rồi mua con bò, con bò sẽ cho sữa… cô mừng quá, nhảy lên và thúng trứng rơi xuống đất!

Để bảo đảm kế hoạch riêng được tốt đẹp, không còn khe hở, ông phải nghĩ đến cách thực hiện kỷ luật nghiêm khắc toàn trại. Tạo bộ mặt trại thật nề nếp, khang trang. Bộ mặt trại thật quan trọng. Ở trên nhìn xuống sẽ thấy ông làm việc rất tốt, rất chuyên chính với kẻ thù, thể hiện tấm lòng của ông với Đảng, với giai cấp. Ông cho thực hiện ngay việc nuôi cá trám cỏ. Cái hồ nước đang có sẵn, chỉ tu sửa lại, be bờ cho bằng phẳng. Xuất ngân quỹ đợt đầu 30.000 cá trám cỏ con được thả xuống. Từ bộ chỉ huy trại nhìn xuống, trông thật đẹp mắt. Ông gật gù. Nhóm cưa xẻ hàng ngày vác hai lưỡi cưa cá mập vô rừng. Nhóm chia hai toán nhỏ. Mỗi toán ba người. Hai người cưa, một người nghỉ và luân phiên. Cả nhóm bàn kế hoạch cải thiện. Rừng chỉ có cây quế là nhiều, còn không có cây gì khác có thể ăn được, kể cả rau tàu bay, rau má. Các cây khô mục cũng không thấy bóng dáng nấm mèo.

Nghi thử xuống suối, mò cua, bắt ốc. Suối nước rất lạnh và trong vắt. Không thấy bóng dáng một con cá nhỏ nào. Mấy tiếng đồng hồ bì bõm, không kết quả. Nghi trở lên đồi. Cả toán không ai có kinh nghiệm. Vầu, dang rất nhiều nhưng không tìm được một mụn măng. Tòng cháy đem về hai mụn măng nhỏ nhưng khô cứng và đắng, không thể nào ăn được. Đương cốm là dân biệt kích nhảy dù nên tương đối có kinh nghiệm, nhưng không thể rời nhóm lâu vì đề phòng ông chín ngón đến kiểm tra bất ngờ. Cho nên, có chút thì giờ, có củi lửa, có gô coóng, nhưng ngoài thuốc lào, nước sôi, chẳng còn gì khác.

Ở đâu có nước, ở đó có cá, cho nên Đương cốm nhất định dòng suối lớn và sâu đến thắt lưng như vậy thì không thể không có cá. Đích thân đi quan sát một tiếng đồng hồ sau trở lại, Đương cốm báo tin mừng: có cá và cá rất to. Một loại cá tương tự như cá chép, nhưng nhỏ hơn, có vảy màu hồng. Chúng bơi thành đàn năm bảy con. Khi Đương cốm xuống vẫn không thấy tăm hơi một con cá nhỏ nào, do đó Đương cốm nghĩ rằng phải có cá lớn, vì cá nhỏ không dám ở trong khu vực nầy. Đương cốm ẩn mình trong lùm kín, chờ đợi, nửa tiếng sau, bầy cá màu hồng nhởn nhơ xuất hiện. Chúng bơi ngược dòng nước, có đàn mười mấy con. Đương cốm vừa đứng dậy thì đàn cá vụt biến mất. Nhóm cưa xẻ có đề tài bàn thảo, đặt kế hoạch bắt cá. Đầu tiên nghĩ đến việc dùng mùng muỗi ngăn hai đầu lại nhưng dòng suối rộng và sâu không thể nào thực hiện được. Câu thì không có lưỡi câu, dây cước và cũng không chắc loại cá nầy sẽ cắn câu. Cho nên, nhóm cưa xẻ biết để mà biết, để mà ấm ức. Những miếng ván đầu tiên đã ra đời. Ông chín ngón săm soi kỹ lưỡng nhưng không khen, cũng không chê. Đường cưa không phẳng nhưng nhóm tù đói bước đầu đã đạt được như vậy là tốt rồi. Ông chín ngón như vô tình:

– Tiêu chuẩn cao cả đấy.

Chắc không phải ý ông muốn nói về ván gỗ là tiêu chuẩn cao trong đời sống. Tù hiểu ý, nhưng mặt tù sưng sưng, chì chì, như không còn cảm giác.

Nghi rẽ các lùm cây, đi xuống suối để lấy nước, hôm nay Nghi làm anh nuôi cho toán. Nhớ lời Đương cốm, Nghi đi thật nhẹ nhàng như không gây ra tiếng động, với hy vọng sẽ được nhìn thấy đàn cá màu hồng mà Đương cốm mô tả. Phải thấy để thỏa mãn, để ước mơ, và biết đâu Nghi sẽ nghĩ ra được cách bắt chúng. Nắng đã lên cao nhưng tàng cây che khuất, chỉ cho những bóng nắng chạy nhảy lẻ loi trên lối đi xuống suối. Nghi nghe tiếng nước chảy róc rách vọng về nhưng hình như có thêm tiếng người. Vâng, hai giọng nữ đang trò chuyện. Óc tò mò trẻ thơ bỗng chốc nổi lên, giữa núi rừng hoang dã nầy sao lại có tiếng người? Nữ bộ đội hay dân thiểu số? Nghi ẩn mình vào trong bụi rậm. Mười, mười lăm thước không chừng.

Nghe giọng nói mệt mỏi, có chút âm hưởng đắng cay của tù, ngày nầy qua ngày khác, nghe giọng nói chì chiết của các ông quản giáo, vệ binh, ngày nầy qua ngày khác, nay bất chợt, nghe lại giọng nói của người nữ, thật lạ lùng. Thanh âm sao trong thế? Trẻ thế? Nó như tiếng chim gọi buổi sáng để đánh thức núi rừng. Nó như tiếng chim đánh thức tâm hồn Nghi. Hóa ra anh cũng còn tràn đầy cảm xúc mà tưởng đã chai lỳ. Mà tưởng đã khô cứng. Những nàng tiên trong cổ tích hiện về. Bầy tiên nào đó đang đùa tắm giữa rừng hoang?

Nghi thấy hai cô gái đang dầm mình trong dòng suối. Hai gùi măng đang để trên bờ. Một cô đang tắm và cô kia đang kỳ cọ búp măng trắng nõn. Khi cô bước lên bờ để bỏ búp măng vô gùi, Nghi như đứng tim. Nín thở. Đôi mắt Nghi như hoa lên. Nghi không thể tin ở thực tại. Da thịt những vùng kín trên cơ thể cô gái tuy không trắng như búp măng cô đang cầm, nhưng cũng nõn nà, phân biệt thật rõ ràng với đôi cánh tay, với khuôn mặt và cái cổ rám nắng. Cảm giác đến ồ ạt. Ngột ngạt. Lần đầu tiên Nghi biết lại chính mình. Nghi vẫn còn là một người đàn ông trẻ! Những ray rức, rạo rực, tiềm ẩn như côn trùng âm ỉ dưới lớp cây lá mục, phút chốc lột xác thành những con đom đóm lòe ra, bay bổng trong bóng đêm. Cái ấn tượng ấy một lần Nghi đã gặp. Đã sững sờ. Lần đó Nghi và toán lính nằm phục kích trên một khu vực đầy lá đen, ẩm ướt. Bóng đêm vừa sụp xuống thì hàng trăm con đom đóm phút chốc đã hóa thân và bay lên như cả trời sao di động. Giây phút hóa thân. Giây phút tiềm ẩn. Giây phút bản năng sống thức dậy.

Chờ cho hai cô gái tắm xong, chuẩn bị đi, thì Nghi gây tiếng động. Và tiếp tục đi xuống suối. Nghi như vô tình không biết có họ ở đó. Hai cô gái thấy Nghi cũng có vẻ ngạc nhiên, một cô lên tiếng:

– Anh là cải tạo đấy à?

– Dạ.

– Anh chỉ đi một mình cơ à?

– Dạ không. Còn một nhóm anh em cưa xẻ trên đồi. Tôi xuống đây lấy nước.

– Các anh lao động xa trại nhỉ?

– Dạ.

Tiếng anh thoát ra từ miệng một cô gái đã cho Nghi trở lại đời thường trong giây lát. Cũng là tiếng anh, nhưng thoát ra từ miệng các ông quản giáo, vệ binh, luôn có vẻ là một tiếng đệm, gằn giọng, mang một ý nghĩa khác. Ôi chao, cũng một tiếng gọi nhưng ý nghĩa lại khác nhau. Một đàng của tù ngục. Một đàng của tự do. Nghi muốn hỏi nhưng Nghi thận trọng. Nội quy trại cấm tuyệt đối không được giao tiếp với dân trong vùng mà họ gọi là quan hệ. Cho nên Nghi chỉ trả lời những câu hỏi. Họ hình như là hai chị em. Khuôn mặt giống nhau. Nhân dáng giống nhau. Nhưng có một điều dễ nhận ra là họ không phải là người địa phương, không phải là người thiểu số tại đây. Nét mặt thanh tú. Dáng dấp không quê kệch, cục mịch. Đôi bàn tay cũng không quá cỡ, sần sùi.

– Anh là cải tạo từ miền Nam ra?

– Dạ.

– Chúng em nhỏ hơn anh. Đừng dạ với chúng em như vậy.

– Dạ.

Rồi Nghi tiếp:

– Kỷ luật của trại… Tôi đang nói chuyện với hai cô là vi phạm nội quy.

– Anh đừng lo. Chúng em từ Hà Nội lên kinh tế mới ở đây sáu bảy năm rồi. Gia đình thầy mẹ chúng em là giới tiểu thương, hết tiền hối lộ, nên bị đưa đi. Em là Tố Nga, còn Tố Uyên là em.

Chỉ qua mấy câu đối thoại ngắn ngủi đã cho Nghi an tâm hơn. Tố Nga và Tố Uyên đang có tự do. Loại tự do được chỉ định nơi núi rừng. Chỉ tự do với núi rừng. Họ có khác gì anh không?

– Hai cô ở gần đây không?

– Xa, khoảng năm ki lô mét cơ ạ.

– Hai cô tìm đâu ra nhiều măng quá. Anh em chúng tôi cũng cố tìm nhưng chẳng thể tìm được một búp nào cả.

– Đây là măng vầu. Các anh không biết, vì rất khó tìm thấy. Măng vầu không mọc chung tại bụi như măng dang. Măng vầu thường mọc đơn độc. Chỉ nhú lên khỏi mặt đất vài cen ti mét thì đào lên mới ăn được. Nếu chúng lên cao hơn thì rất đắng.

– Dạ, cô có thể hướng dẫn cách tìm cho tôi được không?

Tố Nga cơi cơi đống vỏ măng vừa lột bên suối. Cô vớ lấy một đỉnh nhọn đã cắt bỏ, đặt lên mặt đất, đỉnh nhọn hướng lên trời:

– Đấy, giống như thế nầy. Nhưng chiều cao cỡ 2 cen ti mét cơ.

– Màu vỏ măng, màu đất, lại giống nhau mà chỉ nhú lên chút xíu, trong lúc mặt đất đầy cây lá mục, quả là khó nhận ra thật. Anh em chúng tôi không biết là khó tìm đến như vậy, mà chỉ nhìn những cây măng đã lên cao cao trên đất.

Tố Uyên xen vào:

– Quen như chúng em thì nhận ra dễ hơn các anh.

Nhìn hai gùi măng đã lột, rửa trắng phau, Nghi nói:

– Tìm được nhiều măng như thế nầy chắc hai cô tốn nhiều thời gian lắm?

– Đi từ rạng sáng đến bây giờ thôi ạ. Mùa măng đã hết nên chỉ có thế, chứ trước đây khoảng hai tháng thì nhiều hơn lắm cơ.

Tố Uyên tiếp:

– Chúng em hái và làm măng khô bán về xuôi. Nhưng lúc nầy hết mùa rồi. Mà thôi, đừng nói về măng nữa! Chúng em thích nghe chuyện miền Nam cơ. Anh kể cho chúng em nghe nhé?

Miền Nam như một huyền thoại đối với người miền Bắc. Miền Nam hấp dẫn. Miền Nam văn minh. Miền Nam có nhạc vàng.

Lúc ở trại 5, nông trường chè Trần Phú, tỉnh Hoàng Liên Sơn, Nghi cũng đã có dịp nói chuyện với hai cô gái hái chè ở đó. Họ cũng đi kinh tế mới đến đấy. Lần đó cả đội đi đốn dang. Nghi và Dũng đốn chung, nhưng cả hai không thể nào đạt chỉ tiêu vì những cây dang khoe thân mình xanh mượt, nằm cạnh ngoài của bụi dang, rất dễ đốn, nhưng ngọn dang đã bị dây rừng quấn chặt, do đó đốn rất dễ, nhưng không thể nào kéo xuống được. Dũng và Nghi đã trầy trụa, mệt nhừ, nhưng cũng không làm ngọn dang rơi xuống đất. Nó cứ nhùng nhằng, đong đưa. Bỏ thì tiếc, nhưng kéo xuống thì không thể. Nghi và Dũng đang ngồi nghỉ xả hơi thì gặp hai cô gái đi vào khu vực đốn dang. Có chút e dè khi mới gặp nhau nhưng trao đổi đôi ba câu chào hỏi, Nghi thấy hai cô rất chân thật và nhiệt tình:

– Trước khi các anh bị đưa ra đây thì địa phương đã phải học tập, đã được nghe họ mô tả các anh như không còn mang tính người. Phải ghê sợ các anh. Khi thấy các anh thì phải tránh cho xa kẻo bị các anh giết chết. Nhưng vì chính sách khoan hồng, nên dù bản tính các anh có như vậy, Đảng không giết mà chỉ giáo dục để các anh trở thành người dân lương thiện. Chỉ đánh người chạy đi, chứ không ai đánh người chạy lại. Do đó ban đầu khi vừa thấy các anh là chúng em tránh xa ngay, nhưng dần dần chúng em nghĩ khác. Các anh từ nét mặt, đến nhân dáng, đều không có nét hung dữ. Các anh không là những con quái vật mà rất hiền lành. Do đó chúng em thường tìm cách tiếp xúc với các anh để được nghe kể chuyện về miền Nam.

Một cô hỏi:

– Các anh có biết nhạc vàng không?

Nghi cười hiền lành:

– Biết chứ. Biết nhiều lắm.

– Anh hát cho chúng em nghe đi cơ.

Biết thì biết rất nhiều, nhưng hát, mà hát trong hoàn cảnh như thế nầy, thì dù có là ca sĩ cũng không thể nào cất giọng được. Nghi nghĩ như vậy nhưng không nói ra.

Cô kia tiếp:

– Hai anh hát cho chúng em nghe, chúng em sẽ đốn hộ dang cho hai anh.

Dù có mệt mỏi thế nào cũng không thể không cười được. Một sự trao đổi rất sòng phẳng. Rất mộc mạc. Nhạc vàng là loại nhạc Đảng muốn tiêu hủy. Đảng muốn tận diệt. Di sản văn hóa miền Nam phải đốt sạch. Đó là văn hóa Mỹ-Ngụy. Nó ghê gớm, độc hại đến như vậy mà sao hai cô gái nông trường nầy đòi đổi lấy mồ hôi của chính mình để được nghe? Phong trào cấm nhạc vàng càng mạnh, thì nhạc vàng với những dòng nhạc mềm mại, những dòng nhạc trữ tình, những dòng nhạc phản ảnh trung thực tình cảm tự nhiên của con người, lại có thêm sức hút.

Cái gì Đảng muốn, quả thật, rất khác với tình tự con người!

Những ngày đầu 30-4-1975, mở radio theo dõi tin tức, thì cứ nghe giọng nói đanh thép, lạnh lùng của xướng ngôn viên, rồi hàng hàng lớp lớp những bản nhạc, ít khi nghe rõ được lời. Giọng ca chạy lên óc. Giọng ca làm nổi cả gai ốc. Giọng ca the thé, cứ dồn đuổi theo nhau, đã làm Nghi bật khóc. Khóc nức nở. Miền Nam mất rồi. Mất thật sự rồi. Những điệu nhạc thường ngày bỗng dưng biến mất. Mất trọn vẹn. Thế giới đang sụp đổ. Phố phường đang qua giai đoạn khác. Giai đoạn xa lạ. Giai đoạn mà khi nói phải nghiến răng. Giai đoạn the thé. Giai đoạn long óc. Khi hát như nghiến răng. Khi nói như nghiến răng. Ù lỗ tai, dội lên tận óc. Nhạc Việt hay nhạc Trung Quốc? Đài Việt Nam hay đài Trung Quốc?

Việt Nam độc lập rồi ư? Đảng bảo độc lập cơ mà!

Miền Nam đang thật xa xôi với hai cô gái nông trường nầy. Miền Nam là ngoại quốc văn minh, từ vật chất tới nhạc vàng. Và, người miền Nam đó, những người miền Nam với án lệnh tập trung. Những con người hiền lành với khổ ải không có ngày về. Các cô hiểu cái án tập trung. Người miền Bắc hiểu cái án tập trung. Cái án cao su. Cái án không có án. Cái án cố trù dập thân phận con người. Những con người không theo Đảng. Nhưng người miền Nam mới bắt đầu biết. Chỉ mới bắt đầu.

Bánh xe của Đảng đang trên đường đi tới.

Lần đó Nghi và Dũng không hát được, nhưng đọc cho hai cô gái nông trường chè Trần Phú lời của hai bản nhạc tình theo nhạc điệu của nó. Hai cô không có bút, không có giấy, nên cố nhớ. Lặp đi, lặp lại. Dù Nghi và Dũng can ngăn nhưng hai cô nhất định trả công bằng hai bó dang đúng chỉ tiêu để Nghi và Dũng vác về trại.

Một phút quên chính mình. Một phút Nghi thấy thương đời sống và tuổi trẻ như Tố Uyên, Tố Nga. Chỉ một phút thôi. Một phút của tự do chợt đến. Một phút quặn thắt. Một phút quên thân phận tù. Một phút xúc động trong tình người.

Tố Uyên lấy ra mấy búp măng trao cho Nghi:

– Anh đem về toán để các anh cải thiện.

Tố Nga đưa cho Nghi một gói lá chuối khá nặng mà màu xanh của lá đã bị hơi nóng làm đổi ra màu nâu sậm:

– Đây là xuất trưa của chúng em, anh mang về tất.

Nghi xúc động trong giọng nói:

– Hai cô giữ lại một ít để đỡ đói trên đường về nhà.

Tố Nga không trả lời và tiếp:

– Nếu anh muốn tìm măng cải thiện thì ngày mai chúng em sẽ trở lại đây, anh đi với chúng em.

Nghi ngần ngừ:

– Tôi muốn lắm nhưng vô cùng nguy hiểm.

– Cảnh giác. Chúng em biết. Lối xóm với nhau còn phải cảnh giác cơ mà! Chúng em quen chuyện bị theo dõi, nên mỗi người phải luôn đóng một vai nào đó để đánh lạc hướng. Công an ở mọi nơi. Công an ở cả núi rừng. Nhưng phải làm thôi anh ạ. Không luồn lách thì không thể nào sống được. Cứ chối bay chối biến, nếu chúng tóm được. Đến khi hết đường chối cãi thì cho chúng khảo của.

Nghi trở lên đồi khá trễ nhưng những chiến lợi phẩm Nghi mang về làm cả toán ngạc nhiên. Nghi kể lại từng diễn tiến nhưng giấu biệt không kể về chuyện Nghi trộm nhìn say sưa hai tiên nữ tắm suối. Đây là câu chuyện Nghi có thể khoe khoang, có thể thêu dệt theo thói thường. Nhưng có chút gì đó, tự nhiên chợt đến, như riêng tư, như thật riêng tư, nên Nghi giữ kín, dù Nghi chưa cảm nhận được một cách trọn vẹn.

Buổi tối, Nghi thấy hơi khó ngủ. Cứ nghĩ đến cái hẹn ngày mai. Dòng suối. Tố Uyên. Tố Nga. Tù. Cùm. Tra tấn. Đói. Vừa hồi hộp sợ sệt, vừa thích thú. Nghi biết đây không phải là chuyện bình thường. Đây là trò đùa với lửa. Đem sinh mạng ra đùa với tử thần. Kỷ luật trại.

Đương cốm và cả toán cưa xẻ cũng bàn kế hoạch trả lời cho suông sẻ, nếu ông chín ngón kiểm tra nhân sự bất chợt. Những mảnh lá chuối gói cơm nếp Tố Nga cho hôm qua, cũng đã cho vào lửa tại chỗ, cẩn thận. Bên dưới làn da mặt sưng sưng, chì chì của tù, đang thoáng có chút sinh khí. Mỗi người đang đóng một vai nào đó, như Tố Nga đã nói.

Buổi sáng rừng núi như còn đang ngái ngủ. Tiếng chim vang vọng thật xa. Trong vắt. Khói sương còn đang lướng vướng trên các ngọn cây cao. Từng cụm. Nắng nhợt nhạt trải trên các lối đi ẩm ướt sương mưa. Toán cưa xẻ lầm lũi trên đường ra hiện trường lao động. Hôm nay khác với thường ngày, cả toán yên lặng, mỗi người theo một suy nghĩ riêng. Có chút căng thẳng.

Nghi xuống suối theo một lối khác. Vào phía sâu hơn, theo Tố Nga chỉ ngày hôm qua. Cây lá cọ quẹt trên lối đi làm áo quần Nghi ướt đẫm. Chỉ có tiếng chim buổi sáng chào đón nắng sớm và tiếng suối róc rách, rì rào. Nghi hồi hộp và có cảm tưởng như là buổi hẹn hò, tình tự. Càng vào sâu, dòng suối rộng hơn và hoang vu hơn. Đến ngả ba, nơi có một dòng suối khác nhập lại, một cụm cây mọc bao quanh một tảng đá khá lớn, chắn lối giữa ngả ba, nước chảy xoáy quanh, nơi Tố Nga hẹn gặp Nghi. Bên kia suối, rừng khá rậm rạp. Có nhiều bụi dang và vầu. Nghi chưa dám ra gần suối vì còn cảnh giác. Bất cứ người nào phát hiện Nghi ở đây cũng có thể bắt Nghi về giao nộp cho trại vì tội trốn trại. Nghi ngồi yên chờ đợi.

Nghe có tiếng động ở phía sau, Nghi quay lại thì thấy Tố Nga đang đi tới. Tố Nga đi một mình. Tố Nga không mặc bộ đồ lam lũ, hái măng hôm qua. Cô mặc một áo sơ mi cũ, màu cháo lòng và quần tây màu xanh đậm. Cô mang một túi vải thay cho cái gùi măng. Nghi ngạc nhiên lên tiếng:

– Cô Tố Nga đi một mình, còn Tố Uyên đâu?

– Tố Uyên đang lo dịch vụ tại Hợp Tác Xã vì sắp có hàng phân phối về.

Nghi tỏ ra phân vân. Tố Nga tiếp:

– Trên đường về hôm qua, Tố Uyên cứ bảo, tù gì như anh mà lành như bụt đấy cơ.

Ngưng một lát, Tố Nga tiếp:

– Tố Nga không hái măng hôm nay nhưng vẫn ra đây để chỉ cho các anh tìm cái cải thiện. Khu vực nầy chúng em thường đi hàng năm. Bên kia suối, có thể còn một ít măng vầu.

Nghi nhìn dòng suối:

– Nước hơi sâu làm sao Tố Nga qua bển được?

Tố Nga nhíu mày:

– Bển?

– Bển là bên kia.

– Lạ nhỉ. Bển. Lần đầu tiên Tố Nga nghe từ bển đấy.

Nghi có chút căng thẳng nhưng Tố Nga thì thật tự nhiên:

– Vào bên trong chút nữa sẽ có một thân cây vắt ngang suối. Chúng mình qua ngả ấy.

Rồi Tố Nga tiếp:

– Khi đánh được nhiều măng thì lúc trở về không thể theo lối nầy nhưng chúng em lột vỏ măng và tắm tại đây. Vừa tắm, vừa kiểm tra cho nhau, có con vắt nào bám trên người không. Ban đầu, chúng em sợ vắt kinh khiếp lắm, bây giờ vẫn sợ, nhưng đỡ hơn và vì kinh tế gia đình cả anh ạ!

Nghi chợt hiểu và nhớ lại hình ảnh Nghi bắt gặp hôm qua. Nghi thấy rạo rực trong lòng. Nghi định hỏi, bộ không sợ người khác nhìn thấy hay sao, nhưng Nghi kịp ngừng lại.

– Chúng mình qua bên kia suối đi anh.

Nghi theo Tố Nga đi dọc theo bờ suối, vừa đến một khúc quanh, thì một thân cây khô mục nằm vắt ngang qua dòng suối, quấn đầy dây lá rừng. Tố Nga lên tiếng:

– Rất trơn trợt, anh cẩn thận đấy.

Tố Nga vịn vào các nhánh cây khô, xoay ngang người, từng bước, bước qua bên kia. Nghi theo Tố Nga không khó. Nghi nhớ đến những cây cầu khỉ ở quê anh. Bên dưới là dòng nước đục ngầu phù sa mang những khóm lục bình trôi vô định. Những chiếc thuyền ba lá là phương tiện di chuyển, chở cây trái từ miệt vườn ra chợ. Nơi nào cũng có trái ngọt, cây lành, quanh năm không bao giờ nghĩ đến đói. Đứa con mộc mạc quê anh đó, bây giờ lại phải đi tìm cái ăn vì sự sống còn.

– Mình qua được “bển” rồi phải không anh?

Tố Nga cứ kéo dài chữ bển ra để trêu Nghi. Nghi cười hiền lành. Anh nhìn trong đôi mắt long lanh, tinh nghịch của Tố Nga như muốn nói: cám ơn em, giữa chúng ta không có sự hận thù mà Đảng mong muốn.

– Chỗ nầy khuất và an toàn. Anh dùng chút cơm Tố Nga mang cho anh đã, rồi mình đi tìm măng.

Tố Nga trao cho Nghi một gói cơm với muối vừng còn nóng. Cầm gói cơm trong tay, Nghi không nói được câu nào, Nghi chỉ nhìn Tố Nga thật yên lặng và sâu thẳm. Sự xúc động của Nghi làm cô bối rối. Cô lẫn tránh cái nhìn đó và giục:

– Ăn đi anh.

Những búp măng vầu được Nghi và Tố Nga đào lên từ lòng đất khá to và nặng. Cả hai đều ướt đẫm mồ hôi nhưng không ai thấy mệt. Họ vừa tìm, vừa đào, vừa nói chuyện nên thời gian trôi rất nhanh. Nhìn nắng đã lên khá cao, Nghi nói:

– Măng đã đủ cho ngày hôm nay và cả ngày mai nữa. Mình trở xuống suối kẻo trưa rồi.

Tố Nga nhìn Nghi như muốn nói sao thời gian trôi nhanh thế. Cô lặng lẽ chuốt một cành cây nhọn, đâm xuyên qua các chóp măng. Nghi luồn một sợi dây rừng qua đó và mang tất cả măng xuống suối.

Nghi theo sát Tố Nga. Bất chợt Nghi nhìn thấy một vết đen thẫm, cồm cộm, gần giữa lưng nơi có sợi dây nịt ngực của Tố Nga. Nghi vội vã:

– Tố Nga, có thể có con vắt ở sau lưng áo!

Nghi bỏ lửng câu nói. Tố Nga dừng lại. Cô bỏ ngay cái túi vải đang mang trên vai xuống đất. Cô cố khuỳnh tay ra phía sau kiểm soát. Cô thảng thốt, cuống quýt:

– Ấy chết, anh giúp hộ em.

Tố Nga ôm chầm lấy Nghi, mặt tái nhợt, úp vào ngực Nghi, sợ hãi giục:

– Nhanh, nhanh lên…

Nghi quăng xách măng xuống, cũng cuống quýt.

– Nhanh, nhanh đi anh.

Nghi luồn tay dưới áo sơ mi của Tố Nga, nhưng Tố Nga còn mặc một áo mỏng khác bên trong, làm Nghi luống cuống. Thấy Tố Nga không có phản ứng nào, nên một tay Nghi cố kéo chiếc áo lót đang bó sát người Tố Nga, tay kia lần ngược lên. Nhưng chiếc áo lót quá chật, lại bằng vải, không có độ dãn. Tố Nga mở các nút áo sơ mi. Nghi kéo dần chiếc áo lót lên cao. Một con vắt mập ú, mềm nhũn, đang bám chặt vào da Tố Nga, dưới chéo vải nối với sợi dây thun của cái áo ngực. Con vắt thật trơn và bám thật chắc. Nó đang say máu nên không thể kéo ra dễ dàng. Tố Nga đưa ngược hai tay ra phía sau lưng lần mở cái móc chiếc áo ngực. Con vắt màu đen xám, tròn trĩnh như một giọt mực lớn trên lưng Tố Nga. Nghi phải vất vã mới kéo được con vắt rớt ra. Một dòng máu đỏ tươi chảy trên tấm lưng trần, trắng mịn. Nghi lấy ngón tay di di nơi vết cắn. Lưng Tố Nga nóng ran. Người Tố Nga nóng ran. Cả người Nghi cũng nóng ran. Cánh tay còn lại của Nghi ghì chặt lấy Tố Nga. Cô mềm nhũn trong tay Nghi. Hơi thở cả hai dồn dập. Vết cắn bị bỏ rơi. Hai tay Nghi xục xạo. Tìm tòi. Nghi qùy xuống, úp mặt mình vào đôi vú trần đang săn cứng.

Tố Nga liên tiếp mất thăng bằng. Mười ngón tay cô bấu chặt vào chân tóc Nghi, rên rĩ:

– Đừng. Đừng anh.

Nghi lần tay xuống bên dưới. Chiếc quần lót cũng bằng vải. Không đàn hồi. Không mềm, mượt, mịn, sờ đến mát cả tay như của các cô ở miền Nam. Tố Nga cào cấu trên tóc, trên cổ, trên lưng Nghi. Hình như có tiếng anh nho nhỏ phát ra từ đôi môi run rẩy của Tố Nga. Nhưng âm thanh bị méo đi. Lạc giọng.