vietmessenger.com
Phan Nhật Nam
Post by Sơn râu 31 Dec 2025

Bài 4.
Sứ mạng người lính Việt Nam.
Bắt đầu …
Chúng tôi bắt đầu cùng các chiến hữu, những người còn sống hay đã chết. Quả thật chúng ta đã sổng qua một cuộc chiến tranh dài hơn trí nhớ và chết trong tận cùng lãng quên. Nhưng cuộc thất trận ngày 30 tháng Tư năm 1975 không ở lỗi chúng ta, những người lính chiến đấu trong quân ngũ QLVNCH. Bởi sự chuẩn bị cho cuộc thất trận ấy đã có từ trước. Trước bao xa và từ nơi nào? Mười chín năm sau ngày gãy súng, xć cở đau đớn ẩy chúng ta có thể nói không sợ sai lầm rằng, sự chuẩn bị hiểm độc ấy không do Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, không nằm ở Dinh Độc Lập, cũng không từ ngoài Hà Nội … (Dẫu rằng đây là một yếu tố quyết định nên thắng lợi của họ và sự tiêu vong của chúng ta). Nói như thể chắc sẽ không làm người Cộng Sản bằng lòng ở vào thời điểm mấy năm trước đây, nhưng vụ bỏ cấm vận vừa qua hẳn đã cho họ hiều rõ thể nào là giá trị của cái gọi là “thắng lợi vẻ vang … “. Nhưng đây là vấn đề của họ với phán xét tất yếu của quốc dân và lịch sử. Chỉ biết, chúng ta đã mất những chiến hữu với phẩm chất rất cao cả, những người chỉ huy đáng phần kiêu hãnh, những đơn vị không hề thua sút so với bất cứ quân đội nào trên thế giới. Nhưng quả thật chúng ta đã bị thua cuộc. Không chỉ một trận đánh mà nguyên cuộc chiến tranh. Dân Tộc Việt đồng thời cũng bị đánh vỡ trong giòng sống cuồng nộ ác độc buổi hạ ngươn điêu tàn toàn trần thế. Chúng ta, những người lính tiền phong của dân tộc bi tráng bị đánh gục trước hết. Mười chín năm sau vẫn hằng mới vết thương.
1 – NHÌN RÕ DỊCH TÌNH
Nhưng quả thật quân đội đó đã bị thua trận, lần thất trận toàn diện không cách giải cứu và không cơ hội phục hồi. Hai mươi năm đi qua sau ngày 30 tháng Tư mà thật sự khởi đi từ một buổi tháng Ba. Ngày10 tháng Ba, năm 1975, ngày Ban Mê Thuộc bị tấn công bởi một lực lượng quân sự cộng sản gồm ba sư đoàn nặng mà Sư đoàn 320 Điện Biên từ lâu hằng có mặt ở vùng Tây Nguyên và Sư đoàn 316 mới xâm nhập vào mặt trận B3; chỉ riêng với Sư đoàn 316 nầy, chiến trường Tây Nguyên nhận được 500 xe chở đầy vũ khí, quân dụng, trong đó có những xe Zil 31 kéo pháo 122 ly và 130 ly, lẽ tất nhiên không thiếu chiến xa hạng nặng T54 và giàn hỏa tiễn SAM 2. Sư đoàn 316 nầy xâm nhập từ cuối năm 1974 để chuẩn bị cho Văn Tiến Dũng, viên tướng số Hai của quân đội Bắc Việt mà thực sự đã là viên tướng số Một bởi Võ Nguyên Giáp từ lâu đã bị Lê Duẫn đì cứng. Dũng vào Nam từ ngày 5 tháng 2, 1975 nhưng hằng ngày vẫn có một người mặc y phục đại tướng ngồi xe Dũng đi từ nhà đến văn phòng. Giống nhau đến nỗi mãi đến tháng Tư, cơ quan CIA mới khám phá ra sự có mặt của Dũng ở mặt trận Tây Nguyên. Vùng Tam Biên nầy có F10 làm mũi nhọn, 320 và 316 tăng cường; ba sư đoàn nầy lại được 314 tổng trừ bị. Tóm lại lực lượng Cộng sản khoảng 25.000 người, phối hợp với pháo binh và chiến xa tấn công vào thị xã Ban Mê Thuột do khoảng 1200 lính phòng thủ, gồm lính Tiểu khu Daklac, hậu cứ Sư đoàn 23 Bộ Binh và Liên đoàn 22 Biệt Động Quân. Sau ngày 10 tháng Ba (Ngày N của trận đánh), Dũng điều động thêm Sư đoàn 968 từ Lào về dự phần vào cuộc truy kích lực lượng di tản
xuống đồng bằng. Tóm lại Dũng đã điều quân tác chiến với những điều kiện tối ưu chiến thuật lẫn chiến lược
Bảo mật quân sự và an toàn chính trị tuyệt đối.
Chỉ thị cuối cùng của ông Thiệu, Tổng Thống miền Nam, kiêm Tổng Tư Lệnh Quân đội với Tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Vùng II trong thăm viếng dịp Tết âm lịch cũng như ý niệm điều quân phía VNCH hoàn toàn chỉ nhắm vào việc giữ phần còn lại của vùng lãnh thổ phía Bắc, sau khi đã mất Tân Cảnh và một phần Bắc tỉnh Kontum năm 1972. Cụ thể hơn, tất cả các cuộc hành quân phần lớn chỉ cốt tạo được vòng đai an toàn chung quanh Pleiku, nơi Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II trấn đóng, cũng là mục tiêu tấn công của phía cộng sản từ
ngày khởi chiến, tương tự như trong chiến tranh Pháp-Việt trước đây. Phía cộng sản, từ tháng 10, 1973, sau khi có Thông Cáo Chung ngày 13 tháng 6 giữa Kissinger và Lê Đức Thọ (về việc thi hành Nghị Định Thư): “Cam kết đẩy mạnh tiến trình thực thi Hiệp Định Paris 27 tháng1, 1973 “TÁI LẬP HOA BÌNH TẠI VIỆT NAM”. Nghĩa là sau nhiều lần cam kết thực hiện “Hòa Bình”, kết quả của bốn năm “Thảo luận Hòa Bình” tại Paris, cũng đến lúc Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng Cộng Sản Hà Nội đã quá “mệt mỏi về Hòa Bình”, nên họ có quyết định: “Cuộc tấn công toàn diện ở Miền Nam Việt Nam phải được thực hiện đồng loạt và tràn ngập: Liên kết Ba mũi; chủ động trên Ba mặt; tràn ngập Ba vùng.
Ba mũi: Tấn công Quân sự, Chính trị, Binh vận;
Ba mặt: Quân sự, Chính trị, Ngoại giao;
Ba vùng: Rừng núi, Nông thôn, Đồng bằng.” Nghị quyết còn nêu rõ các biện pháp và thời đoạn tiến hành:”Củng cố vùng Giải phóng, tranh thủ vùng Xôi đậu, ung thối vùng Địch (VNCH); Huy động toàn bộ Ba thứ quân: Du kích, Địa phương, Chính quy để “đánh rã từng bộ phận dành thắng lợi từng phần” tiến tới thắng lợi cuối cùng”. Tóm lại, đánh dưới nguyên tắc chỉ đạo, “Đánh chậm, đánh chắc.Đánh tất thắng. Không thắng không đánh. Đánh có miếng, không đánh lấy tiếng” Tất cả quyết định, phương thức, chỉ đạo trên được đúc kết trong Nghị Quyết 21 của Bộ Chính Trị T.Ư Đảng biến danh Nghị Quyết 12R của Trung ương Cục Miền Nam hiện thực qua “Mệnh lệnh đánh trả” ngày 15 tháng 10, năm 1973 phổ biến đến tất cả đơn vị vũ trang tham chiến ở chiến trường B. Nghị quyết này cũng được hình thành sau chuyến đi Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa cũng tháng 10, của Lê Duẫn và Phạm văn Đồng để yêu cầu hai nơi nầy cung cấp, tăng cường quân viện nhưng đã bị (cũng có thể gọi là“được”) từ chối. Sự kiện xác định qua lời Chu Ân Lai nói cùng Phạm Văn Đồng: “Muốn cho Việt Nam và Đông Dương tốt lành chi bằng để hai nơi này “nghỉ xả hơi” khoảng năm, mười năm”. Lời nói “tốt lành” này được chính giới Tây Phương đánh giá cao về “thiện ý” của một trong 13 thành viên ký “Định Ước Bảo đảm Thi Hành Hiệp Định Tái Lập Hòa Bình tại Việt Nam.” Toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm và hân hoan trao giải thưởng Nobel Hòa Bình đến Kissinger và Lê Đức Thọ. Còn ai vào đây xứng đáng nhận lãnh phong hiệu đáng hãnh diện cao cả này – Người tranh đấu, tái lập, bảo vệ Hòa Bình – Hòa Bình cho Việt Nam cũng là bảo đảm bình an đối với một khu vực rối rắm đe dọa sự ổn định toàn thế giới. Trong phóng đồ hành quân Chiến dịch Hồ Chí Minh có chữ ký của Thọ, chính uỷ chiến dịch. Sự khinh miệt lương tri và hèn hạ ngôn ngữ đã được người Cộng sản Việt Nam hiện thực toàn diện nhất
– Được sự a tòng và tiếp tay của toàn thế giới, trong đó không thiếu những con người gọi là trí thức, khoa bảng, kể cả những người gọi là chiến sĩ đấu tranh vì giá trị con người … Những nhà văn, thi sĩ, triết gia, lãnh tụ tôn giáo. Im lặng của họ cũng có nghĩa đồng loã đầu hàng Sự Ác. Một năm sau, tháng 10 năm 1974, Trần Văn Trà, Tư Lệnh lực lượng vũ trang Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam từ Bắc trở về miền Nam theo “đường mòn Hồ Chí Minh” mà thực sự đã là một “xa lộ” rất xứng danh với bãi đậu xe, khu bảo trì, bồn xămg dầu, điểm tiếp liệu. Đường Nam tiến mở rộng thênh thang để “bước đầu có thắng lợi nhất định” với chiến thắng Phước Long-Tỉnh ly miền Nam bị mất sau bao đợt tổng công kích cho dù lực lượng cộng sản đã một lần chiếm được thị xã Quảng Trị từ 30 tháng Tư, 1972 (quả là một thời điểm tiền định cho ba năm sau) và quân lực miền Nam đã lấy lại từng phần từ tháng 7 đến 15 tháng 9 thì đến được phía Nam bờ sông Thạch Hãn. Chiến thắng của phe Cộng Sản ở Phước Long không làm Tổng Thống “tự động” Ford bối rối …
Ông thân mật tâm sự cùng giới doanh nhân ở San Diego: Tình hình quả thật “tragic” và chúng ta cần có một ý nghĩa mới về “đoàn kết quốc gia”. Ý là ông muốn nói tình hình Việt Nam và vụ Tổng Thống Nixon từ chức (9 tháng 8, 1974) thật là những điều không nên nhắc lại. Ông cũng nói thêm: “Cũng bởi chúng ta không khôn ngoan một chút nào khi quá cam kết về một nơi mà chúng ta đã thực sự rút quân đi !!”. Tóm lại, Việt Nam cùng những cam kết của ông Nixon cứ coi như đã thanh toán xong. Phạm Văn Đồng trong buổi họp Bộ Chính Trị tháng1 năm 1975 đóng dấu ấn cuối cùng lên bản khai tử miền Nam với lời thống khoái: “… Cho kẹo Mỹ cũng không dám vào lại Việt Nam!! “.
Đúng như vậy, người cộng sản đã đoạt được chiếc ô chính trị an toàn này – Sự bó tay bất động toàn thế giới, những siêu cường phương Tây, thủ phạm chính gây nên thảm trạng Việt Nam trong suốt chiều dài thế kỷ. Mà nguyên do và hậu quả đầu tiên, Người Lính Việt Nam trước kẻ thù ma quỷ – Chúng ta đành phải thua trận.
Hôm nay, tháng Ba 1995, hai mươi năm sau ngày mất nước chúng ta cần nhìn lại để rõ mặt kẻ thù – Chúng ta cần biết biết rõ “Địch Tình” – Như yếu tố tiên khởi của Lệnh Hành Quân, nếu như chúng ta xét thấy còn có khả năng và lòng nhiệt thành muốn xông trận lớn-Trận cuối cùng Phục Quốc, An Dân.
IA- TỔ CHỨC – BAN TỔ CHỨC TRUNG ƯƠNG ĐẢNG.
Điểm đầu tiên chúng ta cần phải nói tới là điều không thực tế và thiếu tính chính xác của báo chí, những nhà bình luận, phân tích thời cuộc, chính khách chuyên nghiệp trên thế giới khi đề cập đến chế độ Hà Nội (trước 30 tháng 4, 1975) và toàn nước Việt Nam sau thời điểm trên. Những người nầy luôn luôn và bao giờ cũng chỉ (mà thật sự chỉ có thế) căn cứ vào cách xếp đặt nhân sự của chính quyền Hà Nội – Trên cơ sở con người – Người Cộng Sản nếu muốn nói chính xác hơn. Nhưng nói cho cùng, không “từ và với người” thì họ (những cá nhân, tổ chức thuộc cơ cấu xã hội, văn hóa, chính trị phương Tây kia) quả tình không thể nào nhìn thấy vấn đề với thói quen duy lý vốn dĩ là tính năng, sức mạnh chí cốt của họ. Nhưng oan nghiệt thay, đây cũng là đầu mối của bao nhiêu tệ hại sai lầm trong sách lược của phương Tây (toàn phương Tây chứ chẳng giới hạn trong một giới, một chính phủ, một tập thể, cá nhân riêng rẽ nào …) khi đối đầu với người Cộng Sản Việt Nam, một thứ cộng sản được “đông phương hóa” ở những khía cạnh ác hiểm và xảo biện nhất. Trong số đông những người phạm sai lầm kia, bi thảm thay lại có dự phần của chúng ta – Kẻ thụ nạn đầu tiên, toàn diện và đích thực nhất bởi ma thuật chính trị và tấn công quân sự từ, của người cộng sản cùng chung chủng tộc.
Tai họa trên đã xẩy ra bởi – Con người đã bị vong thân theo yêu cầu chính trị mà nó mang vác- Người Cộng Sản Việt Nam là một yếu tố chính trị, một công cụ bạo lực để thực hiện Mục Đích Yêu Cầu của Tổ Chức.
Con người hoàn toàn triệt tiêu, xóa sạch. Vâng, chỉ TỔ CHỨC ĐẢNG mới đúng thực danh “bản thể hiện hữu”và yếu tố Đảng Viên chỉ là những “hiện tượng biểu hiện”. Chúng ta hãy luôn tâm niệm một điều cốt lõi: “Đừng bao giờ kể đến “yếu tố cá nhân” khi xét đến “Tổ Chức Cộng Sản” cho dù kẻ kia giữ những chức vụ, nhiệm vụ quan yếu nhất như chủ tịch nước, các bí thư trung ương hoặc tổng bí thư … Đừng nói gì những chức vụ “hành chánh” như tổng, bộ trưởng, các tướng lãnh tư lệnh đơn vị quân đội lớn. Những kẻ võ biền thô tục chỉ biết “giương cung bắn ó diều” … Nói theo cách khinh miệt của Mao Trạch Đông. Và nếu một vài cá nhân nào trong các chế độ cộng sản có toàn quyền tuyệt đối như Stalin, Mao Trạch Đông hoặc gần gũi, hiện tại như Fidel Castro, Kim Nhật Thành, Kim Chính Nhất hoặc ở Việt Nam với Lê Duẩn, Trường Chinh, Giáp, Đồng, Thọ với những chức vụ, kéo dài gần nửa thế kỷ không suy chuyển … Thì do họ đã đồng hóa cùng Tổ Chức – Tổ chức ấy là môi trường, hơi thở của chính họ. Và trung tâm quyền lực mang danh xưng đúng như chức năng quan yếu, với đối tượng Đảng mà nó hành xử, khai triển, hiện thực, tác động đến.
Chính là: BAN TỔ CHỨC TRUNG ƯƠNG ĐẢNG: Trước khi đi tiếp vấn đề đang trình bày xin mở một dấu ngoặc về từ ngữ; danh từ “Ban” ở đây có một nội dung chính trị chứ không là thuật ngữ chỉ tình trạng về một cơ quan trong tổ chức; nó có chức năng tổng quát và quan trọng hơn hẳn một “Bộ,” cơ quan phổ cập trong tổ chức hành chánh, chính trị của các chế độ của đời sống xã hội con người thế giới từ bao lâu
1 – CỤC TÌNH BÁO HẢI NGOẠI
Đây là cơ quan hàng đầu của tổ chức quan yếu vừa kể trên. Từ chỉ đạo vận động của cơ quan này nên chỉ vài chục (cho là vài trăm) thước đường hầm của vùng Củ Chi, Hậu Nghĩa, khu tứ giác Bến Cỏ, Bến Mương, Bến Súc và Củ chi bên cạnh sông Sài Gòn đã biến dạng nên “Thành phố dưới đất-Địa đạo Củ Chi- Đất Thép Thành Đồng”.Ngôi mồ lớn sẵn sàng chôn kín trăm, ngàn, hàng chục ngàn quân Mỹ với pháo bầy, xe bọc thép, máy bay lên thẳng, Thần Sấm (Thunderchielf), Con Ma (Phantom) … trong nháy mắt. Sư đoàn Anh Cả Đỏ (BigRed One), Sấm Sét Miền Viễn Tây, SĐ 25 Bộ binh, những đơn vị có trăm năm truyền thống của quân lực Mỹ phút chốc bị khai tử, lấp kín như một bởi cơn địa chấn đổ chụp bất ngờ. Câu chuyện hoang đường kinh dị nầy được lập đi lập lại, khai triển, phổ biến qua những người viết báo, những hảng thông tấn vốn có ác tâm, ác ý, hèn hạ đối với chế độ Miền Nam Việt Nam, đến mỗi người dân, cộng đồng xã hội Mỹ, để cuối cùng huy động hàng trăm ngàn người vào những cuộc biểu tình phản chiến trước điện Capitol, Bạch Cung, phản đối chiến tranh Việt Nam. Để vào ngày lễ nhậm chức tổng thống của Nixon, những lời hô “Hồ … Hồ … Hồ Chí Minh..!!” lọt qua cửa kính đến tai Tổng Thống Liên Bang Bắc Mỹ, kèm theo những cảnh tượng tồi tệ đối với Quốc Kỳ, chân dung Tổng Thống, Người Lính … Những biểu tượng tôn quý của quốc gia đã do những thế hệ hào hùng dựng lên trên đồn Alamo, đảo Iwo Jima khi băng qua ngàn dặm đường sa mạc, núi cao, nắng gió, bão táp và sự chết trong ngày mở nước … Tất cả đồng bị xé rách, chà đạp, lăng nhục một các ti tiện, điếm nhục – Tất cả chỉ là một thành tựu trong chuỗi hoạt động có hiệu quả, khéo léo, hiểm độc của cơ quan tình báo nầy tại hải ngoại.
Cũng chỉ với cơ quan này, những sinh viên VNCH đi từ sân bay Tân Sơn Nhất khi vừa đến các phi trường cửa khẩu ở Pháp, Mỹ, Úc, Nhật … Thường được người chào đón đưa về các cư xá sinh viên, nơi có sẵn hình Hồ Chí Minh, các bài nói của Lê Duẩn, công trận Võ Nguyên Giáp, tài tổ chức của Nguyễn Chí Thanh được in lên giấy trắng bóng. Người sinh viên còn được giúp làm bài và hướng dẫn cách thức tổ chức biểu tình có tiền cước phí. Trong cùng lúc, tòa Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa mỗi năm tập họp những người du học một lần để ăn chả giò chấm nước mắm. Nhưng hoạt động tình báo hải ngoại không chỉ hạn chế trong âm mưu tổ chức đạo quân thứ năm như vừa đề cập. Đúng chức năng của tính danh xác định vừa kể ra, nó có nhiệm vụ tập hợp, vận động tất cả nhân viên, giới chức các đoàn thể, mỗi cá nhân Việt Kiều vào mục tiêu chung: Thu nhập dữ kiện liên quan đến tình hình chính trị, chiến tranh, các hoạt động văn hóa, xã hội, kinh tế … Làm thế nào để có một kết luận tình báo nhanh chóng, chính xác nhất. Đây là một kinh nghiệm tích lũy từ những cơ quan tình báo sừng sõ quốc tế, khu vực. Công tác tập trung, phân tích kết luận về một Nguồn Tin đòi hỏi sự chuẩn bị vô cùng kiên nhẫn lâu dài đôi khi bứt khoát khỏi những biến động chính trị đoản kỳ, cấp thời. Tương tự như kết luận cuối cùng của nước Mỹ về quyết định chiến lược của người Nhật: “Sẽ mở mặt trận phía Bắc hoặc Nam Châu Á?”. Câu hỏi đặt ra từ 1930, lúc chưa có một dấu hiệu nhỏ của Thế Chiến Thứ Hai. Để sau đó có lời giải đáp cụ thể vào ngày 7 tháng 12 năm 1941 với trái bom đầu tiên nổ ở cảng Pearl Habor. Câu trả lời chính xác này kèm theo lời tán thán của Yamamoto: “Rồi đây gã khổng lồ say ngủ sẽ tỉnh giấc … ”, khi ông ta biết rằng đã không có một chiếc hàng không mẫu hạm nào đậu ở bến cảng-Chiến tranh Mỹ-Nhật đã có kết thúc từ lời giải đáp trên. Và cái cơ quan mà chúng ta đang đề cập đây lại do một kẻ kiệt liệt trong nghề thành hình, Hồ Chí Minh chứ không ai khác. Ông Hồ làm việc cho KGB của Nga là một điều tất nhiên, nhưng không ai cấm ông không dính líu đến một cơ quan tình báo khác. Ông ta “chỉ có thể thoát khỏi” nhà tù Hương Cảng qua Hạ Môn đến Thượng Hải và cuối cùng lên tàu đi Liên sô (1933, 1934) từ Hải Sâm Uy (Vladivostok). Cái giá cho cuộc đào thoát này “không phải cho không”, người trong nghề (nghề tình báo, mật thám) phải hiểu hơn ai hết. Thực ra, tất cả chỉ là một hài kịch. Người Anh “đã đề nghị” Nguyễn Ái Quốc làm việc cho sở Tình Báo Anh như là (lẽ tất nhiên) một nhân viên điều động một chiến dịch “Chống Cộng Sản” ở Viễn Đông!! (Hồ Chí Minh, Con Người Và Huyền Thoại, Chính Đạo, Văn Hóa 1993 – Hồ sơ thiết lập năm 1948 của sở Mật Thám Pháp (Mục Tiểu Sử).
Không lẽ cơ quan Intelligence Service của Anh lại không biết ông Hồ là ai, đi Nga làm gì? Cũng tương tự như thế, tháng 11, năm 1944 lực lượng Việt Minh ở Cao Bằng cứu được viên phi công Mỹ W. Shaw gốc tiểu bang Texas. Hồ Chí Minh mang người này qua Quảng Đông trả cho người Mỹ để làm quà giới thiệu gặp Chennault, Tư Lệnh Không Đoàn 14 tại Côn Minh, Hoa Nam. Hồ Chí Minh xin Chennault tấm hình có chữ ký và vài khẩu Colt 45, để sau này có thể nói cùng với những phụ tá nói riêng và phong trào Việt Minh (nới rộng, mà điều này mới là mục tiêu thật): Đã được chính phủ Mỹ giúp đỡ. Nhưng thật ra không phải chỉ thế, mục tiêu của ông cao xa hơn và quan trọng hơn một tác động tuyên truyền:”Bắt liên lạc với Đại Úy Patti, Chỉ huy trưởng OSS Mỹ ở Hoa Nam để người Mỹ có kết luận “Kể từ ngày này. Mặt trận Việt Minh bắt đầu hợp tác với OSS trên một căn bản tương tự như Thiếu tá Jean Sainteny và Đại tá Commentry của Pháp” cùng với lời ghi chú quan trọng “Lãnh tụ Việt Minh chỉ là những người yêu nước, xứng đáng được chính phủ Mỹ yểm trợ”(Hồ Chí Minh, Con Người Và Huyền Thoại, Chính Đạo, Văn Hóa 1993, trang 357).
Chúng ta không thuộc giới tình báo, nhưng với nỗi xót đau của phận người Việt Nam, từ trực giác của kẻ đang trong cơn tuẫn nạn có thể tìm được câu trả lời cay đắng, về những vận động và phần vận động quanh ông Hồ, cùng hệ thống tình báo do ông ta thiết lập, huấn luyện, điều động … Người Mỹ làm thế nào có thể vào Việt Nam một cách dễ dàng thuận tiện như đã diễn ra sau 1954, để thay thế người Pháp mà đã là một thực thể quyền lực từ 1883, 1884?! Cụ thể hơn với kết quả trận Điện Biên Phủ, chỉ do không có can thiệp quyết định và cuối cùng của không lực Mỹ (Chiến dịch Vautour do Pháp đề nghị bị hủy bỏ)- Xử dụng phi đoàn Hổ Bay đóng tại Đài Loan ném bom cường tập vào vị trí Việt Minh tập trung, quanh vùng lòng chảo Mường Thanh. Phi đoàn này không thay tư lệnh từ thập niên 40, Tướng Chennault vẫn tại chức. Điều này rất dễ nhận ra tính lô-gíc của vấn đề vì “Nước Mỹ không hề bị ràng buộc từ Hiệp Định Genève 1954 về Đông Dương” và khi cần thiết ra khỏi vũng lầy Việt Nam thì tạo nên một hiệp định “Tái Lập Hòa Bình” khác. Chỉ khác chăng, cả hai phía, người Mỹ và Cộng Sản Việt Nam không đủ khôi hài và nhẫn tâm để nhóm họp tại Genève một lần nữa vào những năm 1968-1973. Mượn phòng họp La Celle Saint Cloud cũng chỉ là cách cho Pháp một chút sĩ diện hão mà thôi … Muốn giải quyết chuyện Việt Nam tôi phải nhờ anh cái chỗ ngồi vậy!!
Từ những thập niên 40 đến nay đã hơn nửa thế kỷ, những cơ sở tình báo luôn cải tiến, bổ sung để có hiệu quả hơn. Thế nên người Pháp đã vô cùng “bất ngờ sung sướng” biết được đường đi của Nguyễn Bình từ Nam Bộ ra Bắc để thanh toán xong viên tướng lừng lẫy này mà kết quả giúp cho Lê Duẩn, Trưởng phòng Dân Quân Mặt Trận Việt Minh rảnh tay, thực sự nắm quyền Bí thư Xứ Ủy Nam Bộ Đảng Cộng Sản (đã được giải tán theo kế “kim thiền thoát xác – Con ve lột vỏ” trong chiến lược kết hợp lực lượng quốc gia vào Mặt Trận Việt Minh từ tháng 5, 1941). Bình chết ngày 29 tháng 9, 1951 khi chạm súng với Tiểu đoàn 4 của Miên; qua nhật ký Vũ Bá Nhạc, người chỉ huy toán hộ tống Bình, chuyên viên mật thám Pháp có kết luận “Ainsi le haut commandement Việt Minh avait pratiquement condammé (Hồ sơ 10H 636), trích từ Việt Nam Nhân Vật, Niên Biểu Chí, Chính Đạo, NXB VH, 1993). Ai giết? Ai kết án? Đời Bình đã kết thúc dưới ánh sáng lịch sử, phán xét chính xác của nhân dân. Tương tự như thế, người Pháp cũng đừng lấy làm phiền lòng tại sao những chuyến bay từ phi trường Bạch Mai (Hà Nội) đi Điện Biên đã tiết lộ trước bởi tình báo “kỹ thuật”-Kỹ thuật quân sự Việt Minh năm 1954 chỉ là “kỹ thuật du kích” tiến lên vận động chiến chắc chắn không nằm trong hạng mục kỹ thuật đang đề cập … Vậy nó là ai?! Sau này người Mỹ (những cơ quan tình báo quân sự)
hẳn cũng biết rõ vì sao, tại đâu, những phi vụ B52 phát xuất từ Guam, Phi Luật Tân, Thái Lan luôn được “thông báo” trước 24 giờ để các đơn vị cộng sản chém vè, phân tán mỏng tránh khỏi khu vực dội bom. Vì quả thực, chẳng cần phải là chuyên viên về vũ khí, ai cũng có thể tính ra, với số lượng bom đạn khổng lồ kia, chỉ cần 1/100 lượng bom thả xuống trúng mục tiêu, đạo quân di chuyển từ miền Bắc không thể nào đến miền Nam được tương đối an toàn và đầy đủ như thế. Trong thuật ngữ “tình báo” có từ “intelligence” và chữ “tình” của ngôn ngữ Việt. “Tình” – Những liên hệ cấu kết do những điều kiện khác với bình thường.
Để chấm dứt đề mục tình báo này chúng ta có thể dùng lại lời Phạm Văn Đồng – Nếu không có một đánh giá tình báo chiến lược đúng (Nói rõ hơn tại Mỹ, về Mỹ) có “cho kẹo”, Hà Nội cũng không đánh chiếm miền Nam lẹ làng và hiệu quả đến như vậy.
*- CỤC BẢO VỆ CHÍNH TRỊ
Cơ quan Tình Báo Hải Ngoại nếu phụ trách tình báo ngoại vi thì Cục Bảo Vệ Bộ Chính Trị thiết lập lên mạng lưới tình báo và phản tình báo trong nước, trong nội bộ Đảng, trong tất cả tổ chức, thành phần chính trị, văn hóa, xã hội toàn quốc. Để điển hình hóa và cụ thể hóa công tác của cơ quan này, chúng ta có thể xét đến thành phần và chức năng mỗi một thành viên của nó. Ví dụ, đối với một nhân viên Cục Bảo Vệ, một ủy viên trung ương, bộ trưởng, tướng lãnh hoặc ngay cả viên chức lãnh đạo cao nhất, Thủ tướng, Chủ Tịch nước, Tổng bí thư (những “đối tượng” bảo vệ của người kia) … Tất cả những giới chức cao cấp này có quyền từ chối nhân viên được phái đến công tác. Và, Cục Bảo Vệ phải thay thế nhân viên ấy theo yêu cầu của giới chức thủ trưởng. Nhưng người “được bảo vệ” kia hoàn toàn không có quyền chỉ định người được thay thế – Vị yếu nhân phải tuân theo lời dặn (mà thực sự là “quyết định” của Tổ Chức) do nhân viên bảo vệ kia truyền đạt lại. Quyết định ấy tác động, liên hệ đến cả đời sống riêng tư, sinh hoạt cá nhân, gia đình. Một (của tất cả) nhân viên phụ trách bảo vệ kia có thể nói thẳng đến cùng bất cứ giới chức lãnh đạo nào: “Báo cáo thủ trưởng, do yêu cầu công tác, thủ trưởng nên đảm bảo tốt sức khỏe.” Nghĩa là yêu cầu thủ trưởng không được hành xử, thực hiện đời sống lứa đôi, gia đình!!
Điều này không là sự kiện ngoa ngôn cường điệu; Chu Văn Tấn, Thượng Tướng, Chủ Tịch khu tự trị Tây Bắc, công thần hạng nhất, người mở đường cho Đảng xâm nhập, thiết lập căn cứ đầu tiên nơi vùng Thượng Du Bắc Việt lúc lực lượng cộng sản chỉ là nhóm du kích nhỏ vài chục người; nhưng viên tướng công thần này sở dĩ phải vong mạng vì “không trốn thoát khỏi người bảo vệ mình” trên đường đào nạn sang Trung quốc. Cần thanh toán Lê Trọng Tấn, viên Tổng Tham mưu trưởng xuất sắc, người chỉ huy tài giỏi của Sư Đoàn 312, đơn vị đánh chiếm cứ điểm Gabriell, ngõ quan yếu cực Bắc của tập đoàn phòng thủ Điện Biên Phủ; mất Gabriell và Béatrice (bên cạnh nó), Điện Biên Phủ chỉ là một thây chết không đầu. Tấn chỉ có thể bị bức tử dễ dàng, chóng vánh do không ai khác ngoài nhân viên thân cận “tắm gội” của mình. Khi tắm gội, con người quả thật còn gì để che dấu và giữ gìn!
Những điều vừa trình bày thật ra không phải là điểm mới mẻ, đáng kinh ngạc. Cách dùng một hệ thống an ninh nội bộ tối mật và toàn quyền quyết định sinh mệnh chính trị, đời sống của toàn thể thành viên trong tổ chức, vốn dĩ lại là những tổ chức được thành hình từ bí mật và ẩn danh. Đảng Cộng Sản Việt Nam với người thành lập Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc, Lý Thụy, Lão Vương, Vương Đông Hải, Thầu Chín … Để cuối cùng với Hồ Chí Minh, đã học được “tinh chất” về tổ chức và bảo vệ quyền lực từ đảng đàn anh, với hai “đệ nhất sát tinh” lẫy lừng thế kỷ, cũng của lịch sử dài toàn thế giới. Staline và Mao Trạch Đông. Coi chừng ông ta còn “độc” hơn bởi tâm chất khắc nghiệt hiểm sâu của người dân vùng đất cơ khổ nhất nước Việt. Tướng Bạch Khởi đời Chiến Quốc một đêm chôn sống 300.000 quân Triệu quả thật không đáng là bao khi đặt bên cạnh Hitler chỉ với trại Auschwitz-Birkenau cũng đã đốt tiêu từ 1.000.000 đến 2.500.000 mạng người (theo tính toán tối thiểu). Nhưng Hitler dù bạo ngược hiếu sát bao nhiêu đi chăng nữa cũng phải cho sống sót một số người tương đối khỏe mạnh để thi hành công tác gớm ghê, chôn cất, tiêu hủy người đồng chủng. Trại Auschwitz cũng chỉ qua con số bảy triệu người!! Hitler cũng rất mực “nhân bản” khi bức tử viên đại tướng tài danh Rommel với gói thuốc độc êm dịu cùng lễ nghi quân cách dành riêng cho vị tướng lãnh sau khi lâm tử; gia đình cũng được giữ đủ danh dự, tiếng tăm công thần, lương đống của chế độ. Nhưng so với Stalin, nhà độc tài Đức Quốc Xã chỉ là một anh đồ tể non tay vụng về và đôi khi còn lộ vẻ lãng mạn, yếu đuối trong quá trình thiết chế và bảo đảm quyền lực. Tháng Tám 1936, Stalin hạ lệnh cho Yagoda, giám đốc cơ quan mật vụ NKVD đưa Zinovyev, Borisovich, Kamenev và Siriknov ra tòa án đặc biệt. Tất cả đều là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí chiến đấu của ông ta lẫn Lenine từ ngày đầu thế kỷ. Sau vài ba buổi xét xử, ngày 24 tháng 8, tất cả đều bị xử bắn, không một lời kháng cáo, quyền duy nhất là: “thực hiện cách chết im lặng để xác tín việc không sai lầm của người lãnh đạo” – Xử dụng cái chết để kiện toàn và vững mạnh “tổ chức”. Một năm sau, tháng Giêng, 1937 đến phiên Yezhov thay thế Yagoda chỉ huy cơ quan-mật vụ và tiếp theo, mười bảy ủy viên trung ương khác ra tòa với tội danh “âm mưu lật đổ chế độ, chống đối lãnh tụ … ” đúc kết trong thuật ngữ “kẻ thù của nhân dân.” Kết quả, mười ba trong tổng số mười bảy bị can bị hành quyết.
Những phiên tòa tương tự được tiến hành từng năm, từng lục cá nguyệt một, để rồi chính cũng vớiYagoda và hai mươi người khác (trong số có Bukharin, lý thuyết gia của Đảng và Rykov, lãnh đạo phe hữu khuynh) ra trước vành móng ngựa để được kết quả ba người sống sót. Hai mươi năm sau vụ án, ba năm sau ngày Stalin chết, tháng Hai năm 1956, trong phiên họp kín với chỉ riêng các ủy viên trung ương (không có mặt đại diện các đảng anh em) kỳ họp Thứ Hai Mươi của Đảng Cộng Sản Liên Sô, Tổng Bí Thư Khrushev đọc tờ tường trình mật để bày ra sự thật:“Chỉ riêng trong hai năm 1937 và 1938 đã có 98 của tổng số 139 ủy viên Ban Chấp Hành trung ương đảng bị Staline giết hại; 1108 người của 1956 đại biểu trung ương bị bắt giữ và kết tội”. Tờ tường trình kết thúc với con số 20 triệu người Nga và các dân tộc thuộc liên bang Sô-Viết bị một tay Staline đưa vào Trại Tập Trung, ra bãi xử bắn trong hai mươi chín năm cầm quyền của y. Với “con người” này (Có đúng chăng với danh xưng cao quý này không), đảng Cộng Sản Việt Nam qua ủy viên tuyên huấn Tố Hữu, Bí Thư ban Tuyên Huấn Trung Ương có lời thơ:
Hoan hô Staline
Đời đời cây đại thọ
Rợp bóng mát Hòa Bình
Đứng đầu sóng ngọn gió
Và một nhân vật kiệt liệt xứng đáng để noi theo:
Hoan hô Hồ Chí Minh
Cây hải đăng mặt biển
Bão táp chẳng rung rinh
Lửa trường kỳ kháng chiến
Nhưng với Staline với nước Nga dù sao cũng quá xa xôi và cái chết có phần sớm sủa, đảng Cộng Sản Việt Nam còn có một bậc thầy sát cạnh để uốn nắn những sai lệnh, kịp thời đáp ứng “mục đích và yêu cầu” nhu cầu phát triển cách mạng. Mao Trạch Đông với Cách Mạng Văn Hóa 1966 huy động đến 18 triệu Hồng Vệ Binh quét sạch từ Khổng Tử đến Bành Đức Hoài, Lâm Bưu, Lưu Thiếu Kỳ; ngọn gió cách mạng cũng không tha ông già hốt phân Thời Chuyên Tường bởi đã phạm tội làm “anh hùng lao động tiên tiến”, được đại diện giới công nhân vệ sinh lên Bắc Kinh bắt tay họ Lưu. Cuộc cách mạng có kết quả phải dùng xe ủi đất để hốt xác người tại thành phố Nam Ninh và viên Bộ Trưởng quốc Phòng họ Bành bị chết nơi ngục tối sau những lần đấu tố bởi những tên tuổi trẻ đáng bằng con, cháu. Nhưng cũng phải đến mười năm sau ngày Mao chết, ở Quảng Trường Thiên An Môn, thanh niên, sinh viên và học sinh Bắc Kinh có ngã chết trước họng súng của toán lính chống biểu tình vào tháng 5, 1989 … Chế độ Cộng Sản, đảng Cộng Sản Trung Hoa mới có thủ phạm được nêu danh không chính thức qua văn phẩm của Bác sỹ Lý, thầy thuốc thân cận riêng của Mao để bày ra một …
“Ông chủ tịch, mặt trời hồng, tên bạo dâm, chuyên môn ngủ với gái quê và không hề chịu đánh răng, tắm rửa!!” Tất cả những sự kiện này đã làm nổi bật khả năng của người Cộng Sản Việt Nam – Họ quả thật đã áp dụng một cách sáng tạo biện chứng duy vật, đã bỏ qua một bước dài, đã vượt lên một mức rất cao từ những tiền đề khởi sự. Sáu mươi năm sau ngày thành lập, năm mươi năm sau lần nắm quyền lực, chịu đựng bao nhiêu thoái trào, tiến lên bao nhiêu tiến trào; thực hiện bao đợt cải cách, hành quyết bao nhiêu mạng người, thanh toán mấy đợt đồng chí … Khái Hưng, Nhượng Tống, Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch, người chết nơi trại Đầm Đùn những năm 45-54, chết nơi trại Lam Sơn số 5 sau năm 1975 … Không ai biết, không ai nói tới. Họa hoằn lắm người ta mới biết đến Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế của trại Xuyên Mộc, một Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt ở trại Thanh Cẩm vào những năm của thập niên 90, khi thành trì XHCN Liên Sô, Đông Âu đã sụp đổ và người cộng sản ở Việt Nam bắt buộc phải mở cửa về phương Tây để tự cứu … Còn bao nhiêu người đã thật bị lãng quên, chết uất hận lặng im giữa trùng vây bóng tối. Năm thứ sáu kiên giam, 1986, tôi đến trại Thanh Cẩm vào phòng kiên giam số Hai … Chiếc cùm chân đã xỉn mòn, vòng sắt đã lõm vào độ sâu có thể đẩy lên thấu gối. Hệ thống các trại tù chỉ là mặt nổi hiện thực khi Ban Bảo Vệ Bộ Chính Trị đã đúc kết xong hồ sơ ở mức độ khoan hồng nhất – Cho được sống sót. Để chấm dứt phần đề cập đến Cục Bảo Vệ này, người viết có thể nêu ra đây câu chuyện nhỏ … Cuối tháng Năm 1993, bản thân từ Lái Thiêu trở về Sài Gòn để mua sắm những vật dụng cần thiết cho cuộc sống chốn thôn quê. Đến chiều, trước khi trở về, tôi ghé thăm anh Dương Cự, người bạn vong niên hằng kính mến. Thật bất ngờ, tôi gặp Dương Phục, em anh Cự, cũng là người quen biết cũ trước năm 1975 vừa ở Mỹ về. Phục ngỏ ý nhờ tôi đưa đi gặp một vài anh em trong giới văn nghệ, sinh hoạt văn hóa. Tôi đưa Phục đến Phạm Cung, họa sĩ, điêu khắc gia của Sài Gòn trước năm 75; sau đó cả ba đến nhà Trần Mạnh Hảo, cách nhà Cung một khoảng ngắn, cũng một phần Phục muốn biết đội điều về văn nghệ sĩ miền Bắc. Sau đó chúng tôi chia tay. Ngày 8 tháng Sáu, tôi được giấy trình diện phòng An Ninh PA 15, sở phản gián thuộc Cục Bảo Vệ Chính Trị Thành Ủy Sài Gòn, đặc trách văn nghệ sĩ, đặt tại đường Trần Hưng Đạo, Nha Cảnh Sát Đô Thành ngày trước. Buổi làm việc có mục tiêu về sự kiện gặp Dương Phục được kết thúc với câu hỏi “Sau khi gặp TMH, các anh còn đi đâu nữa?”
-Không đi đâu cả, sau đó tôi về Lái Thiêu.” Tôi trả lời.
-Các anh “định” đi ăn mà?
-Chỉ là “định” thôi chứ đâu có đi!! Tôi la lên.
Xin bạn đọc đừng nghĩ đây là điều cười cợt – Cục Bảo Vệ Chính Trị kia có khả năng kết tội từ lúc sự kiện còn trong vòng bóng mờ của “ý niệm”, đang trên đường nên thành ý nghĩ, hành vi.
3 – BỘ NỘI VỤ – CỤC TRẠI GIAM
Con đường từ thị xã Yên Báy vào thung lũng Hoàng Liên Sơn, xã Việt Hồng, Việt Cường có một trường học ở bến phà Âu Lâu, chỉ là trường cấp Hai; sau khi qua khỏi bộ chỉ huy đoàn 776, vượt đèo Cây Da, xuống đèo đi thêm một đoạn đến ngã Ba Lò Vôi, đám tù người Nam thấy có thêm một trường thứ hai. Trường cấp Một, mái tranh, vách đất, với những học sinh vị thành niên đi học với cuốc sẻng, dao đi rừng. Những trẻ nhỏ tuổi lên mười, chân trần, chùm đầu miếng ni-lông đội mưa núi, đi từ những làng bản xa xôi đến trường theo những con lộ đất bùn, đá núi ngổn ngang. Theo dõi câu truyện từ lũ trẻ, những người tù nghe được những câu “Cách Mạng Việt Nam là cách mạng thế giới!” Trong cảnh trí và môi trường sinh hoạt dọc con đường hoang vu đó, đoàn 776 chỉ huy, điều động một hệ thống giam gồm 14 trại từ cấp tướng lãnh (trại 5) đến hạ sĩ quan cao cấp (trại 14) gồm phần lớn tù miền Nam đưa ra Bắc từ mùa Hè 1976. Mười bốn trại so với hai trường học quả thật là tỷ số chênh lệnh quá lớn. Hơn nữa, nếu so với diện tích, khối lượng, (trại nhỏ nhất, T10), hai trường học kia cũng không thể nào sánh được; dù hệ thống trại chỉ do tay trần sức tù dựng lên. Những người tù miền Nam cũng có thêm nhận xét “Nhà tù nhiều hơn trường học”. Cũng nhiều và đẹp hơn bất kỳ trụ sở, cơ quan nào của địa phương, các doanh trại quân đội. Họ cay đắng nhận ra khả năng và tiềm lực hơn hẳn so với những người giam giữ họ. (Tình trạng tương tự như những tù binh đồng minh bị quân đội Nhật bắt giữ trong thế chiến thứ hai). Nhưng chúng tôi cũng tự biện hộ với lý luận … “Chắc đây chỉ là trường hợp riêng nơi một địa phương cách biệt, xa xăm. Hóa ra chúng tôi đã lầm. Lầm rất lớn. Mười năm sau mới hiểu ra.”
Bộ Nội Vụ chính quyền Cộng Sản Hà Nội giăng khắp nơi một hệ thống công an với những thành viên ba đời
bần cố (mà những người này sau quá trình công tác, đào tạo, huấn luyện thường được đưa vào bố trí những nhiệm vụ của Cục Bảo Vệ vừa đề cập – Qua hệ thống huấn luyện, tu nghiệp: Đại Học Biên Phòng – Đại Học Công An, Tình Báo. Sách Đại Học ắt phải đổi lại định nghĩa “Đại học chi Đạo, tại minh Minh Đức; tại thân Dân; tại chỉ ư chí Thiện”. Hệ thống này xuống đến cấp cơ sở, nghĩa là mỗi khu phố, mỗi thôn ấp, mỗi nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện. Mỗi xã đội (lực lượng quân sự xã) đặt dưới quyền chỉ huy của ủy viên an ninh xã, tức là nhân viên công an thuộc hệ thống dọc Chi, Ty, Sở của xã, huyện, tỉnh trực thuộc Bộ Nội Vụ trung ương của Hà Nội. Và những cơ quan này có quyền bắt giam bất cứ giới chức, nhân viên, người dân nào với tội danh:
“Vi Phạm An Ninh Tổ Quốc.” Nếu cần một văn bản hợp thức hóa việc bắt giam (Để thực hiện khẩu hiệu “Sống và làm việc theo Pháp Luật”) chính quyền sẽ nại đến một cơ quan pháp lý “Viện Kiểm Sát Nhân Dân” -Thành viên quan yếu, quyết định của cơ quan kia không ai khác – Ủy viên an ninh – Người công an của hệ thống nhất quán từ trung ương đến mỗi cơ sở, xương sống bộ máy chuyên chính Cộng Sản Việt Nam. Với mạng lưới công an dày đặc này, một trẻ vị thành niên hư hỏng sẽ được đưa đến Ủy Ban Nhân Dân khu phố, nơi đây chuyển qua đồn Công An; đồn chuyển tiếp lên “trường”. Đứa bé đến tuổi trưởng thành, ban giám thị trường thay bìa đựng hồ sơ – Đứa nhỏ trở thành “trại viên trại cải tạo” với án phạt “tập trung cải tạo.” Trên nguyên tắc án phạt tập trung cải tạo chỉ có thời hạn là ba năm. Điều này thường đưa đến tình trạng bối rối cho người thanh niên khi ra trại … Hắn ta vào “trường” năm 1978, khoảng mười ba tuổi, nay ra trại với án “tập trung cải tạo trong thời hạn ba năm…” Như thế là thế nào … Bây giờ, năm 1991?!! Anh ta cũng không hiểu tội danh ghi trong giấy ra trại “xâm phạm tài sản Xã Hội Chủ Nghĩa” tức là đề cập đến việc anh ta đánh cắp mấy cây sắn khô của hợp tác xã từ một ngày thơ ấu hay chăng?
Cách đây hơn hai mươi năm, người viết đã nêu rõ khẩu hiệu “Sinh Bắc tử Nam,” không chỉ là khẩu hiệu chiến thuật áp dụng nơi chiến trường với đối tượng những người lính tác chiến … Khẩu hiệu ấy có mục tiêu lâu dài, tác động cùng khắp với nhiều đối tượng – Đưa hẳn toàn miền Bắc vào Nam – Với mục tiêu địa lý- chính trị, kinh tế-chiến lược. Lời báo động tuy đúng nhưng chưa đầy đủ. Phải nói thêm rằng, hạt nhân cho quá trình công tác chiến lược kia không ai khác, chính là những cán bộ công an thuộc Bộ Nội Vụ từ miền Bắc tràn ngập khắp mọi cơ sở hành chánh, kinh tế, y tế, xã hội, giáo dục, nghiệp đoàn, nghĩa là toàn vùng miền Nam vừa cưỡng chiếm xong. Lẽ tất nhiên, các nhà tù và cơ sở công an là nơi ưu tiên bổ nhiệm những người nầy. Và kết quả tốt đã gặt hái được trong thời hạn sớm nhất. Những trại tù miền Nam như Tiên Phước, Quảng Nam, trại D 30 Bình Định, Phú Yên, trại Z 30 (gồm có các phân trại A, B, C, D) đã trở nên những “điển hình tiên tiến” vượt xa thành tích so với những “đàn anh” một thời lừng lẫy như trại Quyết Tiến ở Hà Giang; trại Lam sơn, Thanh Cẩm, Thanh Hóa. Nhưng dù sao những trại miền Nam cũng có một điều không thể nào bù được khi so cùng những nơi giam giữ ở miền Bắc: Một hệ thống dân cư (cư dân miền núi sẵn sàng bỏ cày cuốc, việc làm để cả làng, cả bản tiến vào rừng lùng “tù ngụy” với giải thưởng hấp dẫn. – Ba năm không nộp thuế, sáu chục cân thóc, dầu thắp đèn, muối ăn – Người tù miền Nam vừa ra khỏi trại biến thành trần truồng trước mắt những đồng bào cùng xứ sở. Cảnh săn người thời trung cổ với đàn chó đuổi theo những tên nô lệ thường được lập lại rất nhiều nơi với rất nhiều người – Những chiến hữu của chúng ta, những người không thể sống cùng dối gạt từ lệnh học tập cải tạo mười, mười lăm ngày!! Trong những ngày ngồi trong hầm tối, chân mang cùm sắt, tôi thường nhìn lên tấm cửa gỗ bọc tôn và nhẩm tính “… Sau cánh cửa này có cửa thứ Hai của ngăn để áo quần đồ đạc; cửa thứ Ba trước phòng giam; toàn khu kỹ luật có cửa thứ Tư; mỗi nhà ở của tù có cửa thứ Năm, các khu nhà ngăn cách nhau bởi cửa thứ Sáu; khu tù cách khu văn phòng trại cánh cửa thứ Bảy; trại tù và làng dân có cửa thứ Tám; miền Bắc và miền Nam khác nhau từ cánh cửa thứ Chín; và cuối cùng Việt Nam đóng chặt cửa thứ Mười với thế giới!!”. Người làm sao ra được mười cái cửa này hở trời?? Vâng, tôi đã rất nhiều lần than nên thành lời như thế và chỉ mong không gì hơn được ra khỏi cánh “cửa thứ nhất” để lấy cái áo mặc vào mùa lạnh hoặc chút thức ăn. Nỗi ao ước và trí tưởng tượng không hề vượt qua khỏi cửa thứ Ba, thứ Tư … Họa chăng chỉ có phép mầu, chỉ có Trời mới cứu được thôi, anh ơi?! Tôi hằng kêu với cánh cửa lặng im như thế hằng ngày, qua từng đêm và tin rằng trong cùng lúc, khắp nơi của Việt Nam, sâu cảnh khổ, chắc chắn có rất nhiều người cũng đang ghìm giữ tiếng uất hận đau đớn này. Hai mươi năm âm dội hằng vang vọng trên quê hương điêu linh. Và trong phút giây trên biên giới chạm sự chết ấy trí nhớ bỗng nhiên vụt sáng: “Ta là cánh cửa, ai bởi ta mà vào thì chắc được cứu”. Tôi bất ngờ nhớ lại Ngôi Lời viết trên cánh cửa nhà Hội Thánh Tin Lành Đà Nẵng những ngày thơ ấu hằng đọc qua trên đường ra vịnh biển … Và nghe ra mùi muối mặn từ ngã tư Khải Định -Nguyễn Hoàng. Mặt nước loáng sáng nơi xa.
4- BAN NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ ĐẢNG
Cuối cùng một cơ quan mang danh xưng thoạt nghe vô hại, tưởng như chỉ có chức năng của một văn khố, ban văn thư hoặc phòng tổng quản trị theo suy nghĩ thông thường của người lính miền Nam; nhưng thực tế khác xa quan niệm sẵn có của chúng ta, những người luôn có tập quán xét sự việc, nhìn vấn đề theo hướng chính danh, thuận lý. Cơ quan mang danh xưng chức năng chuyên môn này thật sự là khối thiết lập và lưu trữ hồ sơ, tài liệu phê điểm- Tiêu chuẩn quyết định sinh mạng chính trị toàn đảng viên – Không một ai có quyền phản bác hoặc khước biện. Nói tóm một câu: Ban Nghiên Cứu Lịch Sử Đảng là Văn Phòng Hồ Sơ Mật và Thật về mỗi đảng viên qua từng thời kỳ với mọi công tác được đánh giá khách quan ưu, khuyết điểm. Hồ sơ này không bị ảnh hưởng bởi những hiện tượng ngoại vi, không do tác động từ những sự kiện đoản kỳ, chiến thuật. Với hồ sơ, phiếu bình điểm của Ban Nghiên Cứu những nhân viên thuộc cụm tình báo chiến lược như Huỳnh Văn Trọng, Trần Ngọc Hiền, Vũ Ngọc Nhạ, Phạm Xuân Ấn, Phạm Ngọc Thảo … rất an toàn nếu phải làm đôi điều gây bất lợi đến với một vài cơ sở, cá nhân cộng sản nào đó. Họ đã có tấm khiên chắc chắn này làm chứng cho lần xét công tội, bình bầu, chỉ định vào những chức sắc, nhiệm vụ khác của tổ chức. Trường Chinh chỉ có thể trở lại chức Tổng Bí Thư lần thứ hai, 1986, cũng phải mất một thời gian dài lặn sâu, nín kỹ từ 1956, năm mất chức lần thứ nhất sau những sai lầm do cải cách ruộng đất 1953. Năm 1986, Khu (Trường Chinh) cũng thật sự quá già để không gây nguy hiểm cho những đảng viên đối thủ, nhưng điều quan trọng quyết định cho lần trở lại này là những tay em của ông ta, Hoàng Quốc Việt, Lê Văn Lương nắm giữ chức Trưởng Ban Tổ Chức và Trưởng Ban Nghiên Cứu vào thời điểm có vụ việc bầu bán. Tố Hữu, đệ nhất văn lại của chế độ không thể níu kéo được gì do những sai lầm của cải cách nông nghiệp 1986-87 mà y được chỉ định làm trưởng ban. Những sai lầm không thể che dấu đã ghi sẵn vào hồ sơ của Bản Nghiên Cứu, mà cho dù y đã viện đến một cơ quan có thẩm quyền, sức mạnh chính trị thực lực để biện hộ và bảo vệ, báo Nhân Dân, cơ quan chỉ đạo tuyên truyền, huấn luyện, phát ngôn, điều động, hướng dẫn quần chúng, đảng viên. Tờ báo có năng lực chính trị và chức năng của một bộ. Khi cần chỉ định một ủy viên trung ương vào chức vụ cao cấp, ủy ban trung ương đảng không căn cứ gì khác ngoài khối tài liệu cung cấp từ Ban Nghiên Cứu. Những đề nghị của hội nghị thật ra đã được hoàn thành hơn một nửa khi ủy viên phụ trách đọc xong phần tài liệu đã được thiết lập về mỗi cá nhân. Hoàng Quốc Việt đã một lần lớn tiếng cảnh cáo “Tấn ngồi xuống !! “ Khi viên tướng Chu Văn Tấn tỏ ý phản đối về một điểm ghi trong quá trình hoạt động của y ở những năm kháng chiến chống Pháp. Bởi, đây là “Lịch sử Đảng không là của cá nhân.” Lịch sử có quyền quyết định cuối cùng và chung nhất.
IB- NGUYÊN TẮC:
Những tổ chức vừa trình bày được điều động, thực hiện theo đúng những nguyên tắc sau:
1- CÁ NHÂN HOÀN TOÀN BỊ TRIỆT TIÊU TRONG TỔ CHỨC.
Đây là điểm chí cốt của chế độ cộng sản, tính chuyên chế của tổ chức hiện thực cao độ với biểu hiện cụ thể này. Và chẳng cứ gì cá nhân, những giá trị mà chúng ta tưởng như vĩnh cửu tối thượng như “Độc Lập, Tự Do, Dân Tộc, Dân Quyền … ”; Lúc cần thiết vẫn có thể hy sinh để tổ chức được tồn tại, củng cố. Bởi, “Nếu người cách mạng không biết phối hợp những hình thức đấu tranh bất hợp pháp với những hình thức hợp pháp thì đấy chỉ là những người cách mạng tồi.” Vâng, Lê-nin đã nói thành lời như thế và cũng chính ông ta đã thực hiện thành hành động qua Hòa Ước Brest-Litovsk (1918) chấp nhận chuyển giao cho Đức, Áo, Thổ, phần lớn lãnh thổ thuộc vùng Baltic, Balan, Phần Lan và cả Ukraine trong ngày 3 tháng Ba, 1918, để có được “hoà bình thoát hơi” cầm cự được cùng phe cách mạng cánh tả của Bukharin và phe cách mạng xã hội đang nhất quyết phát động chiến tranh. Nhưng thật sự mối âu lo của Lê-nin có nguyên nhân khác, phe bạch vệ của Denikin dọc miền sông Don; phe Kolchak ở Siberie; quân của Yudenich từ (tháng 8, 1918) và Moscow bỏ ngỏ. Bởi vì: “Nhu cầu vùng biển Baltic đang chuẩn bị đồng loạt tấn công tồn tại của chính quyền Cộng Sản cần thiết hơn danh dự của tộc Đại Nga”. Cũng tương tự như thế, ông Hồ nửa đêm gõ cửa nhà viên Bộ Trưởng Bộ Thuộc Địa Marius Moutet cầu ký cho được Tạm Ước Modus Vevendi (14, tháng 9, 1946) cốt để có “Bốn tháng an toàn (từ 9 đến 12)” cho chính quyền Việt Minh đang lưỡng đầu thọ địch tại cả Nam lẫn Bắc Việt Nam. Và khi cần giải tán Đảng (1945) hoặc đổi tên Đảng (1953) cũng là những chuyện bình thường. Bởi “Tổ chức là tất cả, Phong trào (công nhân) không là gì cả”. Cũng là lời của Lê-nin. Thế nên, chúng ta đừng bao giờ kỳ vọng quá nhiều về sự đổi thay (cho là có thật) từ của một cá nhân đảng viên cộng sản. Sự đổi thay đó có nhiều nguyên do, chúng tôi không hề gọi đó là một “hành vi giả dối”, một biện pháp “cò mồi.” Không, chúng tôi luôn coi trọng “tính liêm sĩ, tự trọng trí thức” của những người phản tỉnh, xét lại … Nhưng khổ thay chính người cộng sản Lê-nin đã luôn nhắc đi nhắc lại : “Không có luân lý, đạo đức tâm lý trong chính trị; nếu có một nền đạo lý nào đó thì cũng chỉ là đạo lý từ, của nhu cầu chính trị mà thôi”.
Thế nên năm 1989, Nguyễn Hộ trong lời mở đầu bàn về “đổi mới” trong chính sách, nội bộ Cộng Sản (báo Sài Gòn Giải Phóng, tháng 5) luôn nhấn mạnh đến yếu tố “phân biệt bạn, thù”, có nghĩa – Ông ta đứng trên “lập trường Xã Hội Chủ Nghĩa” với tất cả “luân lý, đạo đức Xã Hội Chủ Nghĩa” để xét sự kiện sai lầm- Sai lầm phạm phải “không riêng” của Lê Duẫn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng … Hoặc bất cứ cá nhân nào của Ban Chấp Hành TƯ Đảng Cộng Sản, kể cả người đã chết Hồ Chí Minh. Sai lầm cũng không phải chỉ được phát hiện ra từ Đại Hội VI, sau thất bại xâm lược Campuchia, cải tạo nông-công thương nghiệp 1978 v.v .. Thế nên, khi suy ra tội của một vài cá nhân như Lê Duẫn, Đỗ Mười …đừng nói gì những giám đốc công ty, chủ nhiệm hợp tác là cách đặt “giã vấn đề” với những tội danh không thủ phạm như “tiêu cực trong quản lý kinh tế; xơ cứng tư duy, không nắm bắt được như cầu bức thiết của quần chúng .. “
Tóm lại, những “tiêu cực vì chưa tốt” này có thể áp dụng đến với bất cứ ai của tất cả cơ quan chính phủ, thời điểm thi hành, đối với tất cả thể loại công tác …Đây là biện pháp “gói gió ngăn trời bão,” cũng vô ích như khi “phê phán chế độ” từ những viên chức cao cấp bởi đã không hoàn tất “nhiệm vụ người chồng tốt lành, người cha gương mẫu”. Cung cách đánh giá chế độ như kiểu Nguyễn Trí Huân với “1975, Họ đã sống như thế”, Nguyễn Mạnh Tuấn với “Cù lao Chàm”, hoặc Dương Thu Hương với “Thiên đường mù” … Một triệu cuốn sách của Tiêu Dao Bảo Cự, Nguyễn Huy Thiệp được in ra phát không đến mỗi người đọc cũng không bớt đi một chút ô uế của những đống rác lầy bốc lên trước những căn nhà cao tầng cửa Romain, Gothique có hình chó berger được vẽ với dường nét hung hăng … Những ngôi nhà dựng vội, chung quanh vùng Tân Sơn Nhất, Thành Cổ Loa được đặt với một cái tên “chính thống trơ tráo-Tiểu Hà Nội !! ” – Thành quả do, từ một chính sách ăn cướp giữa ban ngày-Vụ đoạt chiếm Miền Nam bằng bạo lực, khởi động chiến tranh thập phần vô ích và bất nhẫn-Không phải chiến tranh nơi biên giới Tây-Nam với Khmer đỏ, cũng không với chiến tranh “giữ nước” ở biên giới Việt-Hoa. Nhưng xa hơn và chính thức nhẫn tâm đê tiện-Dìm toàn thể Dân Tộc (Có nghĩa cả giá máu của triệu người Miền Bắc lẫn Miền Nam) vào cuộc chiến khởi đi từ 19 tháng 12, 1946. Hoặc gần gũi cụ thể hơn, từ một ngày 19 tháng 12 khác của 14 năm sau:1960
– Lần lập lên cái gọi là “mặt trận giải phóng miền nam”.
Bao giờ chúng ta nghe những lời phê phán chính thức nầy với một đơn vị tội phạm đương nhiên – Đảng Cộng Sản – Do một nhân vật trách nhiệm tổ chức, thực hiện, Nguyễn Tất thành. Lúc ấy mới thực sự là “Lời Nhận Tội trước Quốc Dân và Lịch Sử”, nếu không, tất cả chỉ là “phó sản phẩm mạo hoá” nỗi đau thương của toàn khối Người Việt- Cũng là những người cộng sản có lương tri và lương năng. Chúng ta không nghi hoặc nhà văn “thiếu trung thực cá nhân khi phê bình chính sách đảng và nhà nước”- Nhưng họ chỉ “thật sự phê phán chế độ đó vì:
“Họ là sản phẩm của chế độ đó”– Họ chỉ tồn tại khi chế độ đó tồn tại. Điều này thật dễ nhận ra với Bùi Tín,
Thiếu tá sĩ quan báo chí Ban Liên Hợp quân sự Trung Ương / Phái đoàn VNDCCH. Bùi Tín chỉ thực sự là Bùi Tín khi chế độ đó tồn tại – Và anh ta đóng vai người phê phán (rất thành tâm) chính quyền Hà Nội qua những nhân vật không ăn cánh cùng ông ta (nói rõ hơn phe nhóm Võ Nguyên Giáp). Bởi nếu như chế độ đó sụp đổ … Anh ta sẽ là gì? Cũng chỉ một người lu loa bất mãn như trăm, ngàn viên chức cao cấp, sĩ quan, tướng lãnh của một chế độ bị đánh sụp, quân đội bị thất trận như tình cảnh hiện tại với chính chúng ta. Tuy nhiên, các biện pháp xử lý với mỗi cá nhân (trong chế độ cộng sản) vẫn thật là: Biện pháp an toàn nhất để bảo đảm chế độ, cho dù được thi hành như một cách phòng ngừa không cần thiết. Thế nên, những phê phán chế độ với một “mức độ an toàn” nào đó đối với cá nhân phê phán quả thật là một biện pháp khôn ngoan vậy. Chúng ta có thể qua nguyên tắc thứ hai của vấn đề:
2- TẬP THỂ LÃNH ĐẠO, CÁ NHÂN PHỤ TRÁCH.
Xin quý bạn đọc đừng nghĩ đây chỉ là phần hệ luận tiêu cực của vấn đề vừa được trình bày trên. Thật sự đây là biện pháp hữu hiệu nhất để bảo vệ một đơn vị cá nhân thoát khỏi những truy bức, cáo buộc do khuyết điểm trực tiếp từ hắn ta gây ra. Nếu phần trên chúng ta đã vạch ra khía cạnh “cá nhân bị tan biến và vô tính hóa bởi tổ chức” thì bây giờ đến lượt nó được thụ hưởng, bức thoát khỏi hậu quả trừng phạt do những khuyết điểm bản thânđã phạm phải với nhân danh, quyền lợi, mục đích của tổ chức. Nói tóm lại cá nhân và tổ chức nương theo nhau tránh đỡ một cách an toàn và vô hại trong tất cả khuyết điểm đã vấp phạm- Cá Nhân Hoàn Toàn Không Trách Nhiệm Về Hành Vi Của Chính Mình. Một tiểu đoàn thuộc Công trường 7 (Sư đoàn 7 bộ binh thuộc lực lượng vũ trang Giải Phóng Miền Nam) đóng tại địa bàn tỉnh Bình Dương (vùng chiến khu D, tỉnh Sông Bé theo tên gọi của phía Cộng Sản). Tiểu đoàn nầy ăn gạo do Tỉnh Ủy Sông Bé cấp; thế nên khi điều động đơn vị này, ngoài hệ thống dọc của quân đội (tiểu, trung, sư đoàn và thành phần chính uỷ cấp tương đương) Tỉnh Ủy Sông Bé có thẩm quyền và trách nhiệm dự phần quyết định trên lịnh hành quân của đơn vị. Sự kiện “phân quyền” này có hai điều lợi:
a. Hệ thống chính trị (các cấp ủy viên đơn vị và địa phương) nắm vững được hoạt động của từng đơn vị, cho dù cấp cơ sở, đơn vị nhỏ nhất.
b. Không ai phải gánh chịu toàn phần trách nhiệm về bất cứ thiệt hại, tổn thất, khuyết điểm nào do bản thân gây nên … Thế nên, đừng nói chuyện xử dụng các đơn vị võ trang làm đảo chánh, cũng không thể tìm được một thủ phạm đích danh về những nhũng lạm, hối lộ, cửa quyền, thất thoát tài sản công, thiệt hại trong sản xuất, hư hỏng các công trình xây dựng. Hai mươi năm sau 1975, hẳn chúng ta phải hiểu ra những điều căn bản này để đừng bao giờ có những huyễn tượng về sự sụp đổ tất yếu của chế độ Công Sản Việt Nam, cùng cách thức xử dụng bạo lực để lật đổ nó. Và đừng bao giờ, dù chỉ một lần (một lần cũng quá đủ) tin một người Cộng Sản trên tư cách, giá trị riêng của người ấy. Đừng đối xử với họ như một con người với tất cả ưu, khuyết điểm như hằng có của một con người.
Một đoạn đường phố ở Sài Gòn bây giờ được quản lý bởi “Công ty chiếu sáng và cây xanh thành phố (tức là chỉ phụ trách phạm vi lề đường, trên lề đường); công ty cấp nước thành phố (dưới mặt đường); công ty cầu đường (trên mặt lộ) … Nó cũng thuộc quyền Ủy ban Nhân dân Thành phố (với những phòng, sở có chức năng tương đương như những công ty trên); lẽ tất nhiên, đoạn đường ấy cũng thuộc quyền quản lý của Quận mà nó thống thuộc (với những phòng, ban chức năng tương đương); quyền quản lý khúc lộ này chỉ dừng lại ở cấp phường với một hệ thống phòng, ban không thiếu xót – Tất cả hệ thống chồng chéo, giăng khắp này cốt đưa đến một kết qủa tất yếu – Cây ngã đổ chết người, sập nhà, đứt giây điện, vỡ ống cống … Không rơi vào phạm vi trách nhiệm của bất cứ ai thuộc những cơ quan, phòng, ban trên. Và cuối cùng, con người trong tổ chức Cộng Sản là một nhân chứng đe dọa và canh chừng người khác ở mức độ đáng sợ nhất. Người không chỉ là địa ngục của kẻ khác. Người còn là cai ngục của đồng loại. Một cai ngục thường trực và rất hiệu quả.
Ông Phạm Văn Đồng là Ủy Viên Bộ Chính Trị, Thủ Tướng chính phủ, nhưng ông ta còn là Dân Biểu tỉnh Thanh Hóa … Để làm gì với chức vụ thêm thắt này?! Hẳn tất cả chúng ta, những người có lưu tâm đến thời cuộc, chắc cũng một lần đặt lên câu hỏi tương tự. Nhưng, vì không có điều gì vô ích trong chế độ cộng sản, với những con người cộng sản … Đây lại là một thứ Cộng Sản Á Châu thuần thành, cuồng nhiệt nhất, nên những chức vụ thoạt nhìn thừa thãi kia thật ra là “cái thắng” để kìm giữ ông ta lại. Con người trong chế độ cộng sản luôn “được và bị” trông chừng cùng một lúc cho dù là kẻ kia đang tột đỉnh quyền uy. Viên giám đốc cơ quan mật vụ NKVD Yagoda, người chủ trì cuộc thanh trừng khốc liệt toàn bộ Ủy Viên Trung Ương Đảng Cộng Sản Liên Sô từ 1934 đến 1938, luôn luôn ở trong tình trạng “chính mình chờ bị xử bắn”. Y chỉ có cảm giác “thực sự sống sót” sau mỗi lần vào gặp Stalin và trở về bình an, để chờ đợi lần gặp gỡ kế tiếp (Không biết sẽ chết hoặc sẽ sống ra sao). Thế nên với cái “hàm dân cử” kia, tại Quốc Hội ông Đồng chỉ là một dân biểu không hơn không kém và người quyền thế trong một lần Quốc Dân Đại Hội không ai khác, chính là người nắm chức Bí Thư Quân Ủy Trung Ương – Đại diện toàn quân đội về mặt chính trị mà thông thường chức Phó Bí Thư không ai khác ngoài vị Trưởng Ban Tổ Chức như vừa trình bày trên giữ phần kiêm nhiệm. Hỏi còn ai kìm giữ ai chặt chẽ hơn với những con người luôn canh chừng nhau này. Đặng Tiểu Bình trong những năm cuối quyền lực có thể bàn giao cho đàn em tất cả chức vụ, kể cả chức Chủ Tịch nước hay Chủ Tịch Quốc Vụ Viện, ngay cả chức Tổng Bí Thư nhưng luôn luôn và chỉ giữ một chức vụ duy nhất – Bí Thư Quân Ủy Trung Ương. Nắm chắc quân đội, công an, có nghĩa nắm vững quyền lực. Từ nhà nước Sô-Viết đầu tiên được thành hình ở đất Nga, 1917 đến nay hơn nửa thế kỷ, nguyên tắc kia luôn đúng và mãi đúng với chế độ độc tài – Chế độ chuyên chính Hà Nội lại càng cần thiết hơn.
Chúng ta là nạn nhân đầu tiên và khốc hại nhất của tổ chức, vận động quyền lực và tác động bạo lực kể trên – Một tổ chức đánh vỡ con người từ trong định nghĩa, mục tiêu và phương tiện. Muốn tự cứu và tồn tại. Tồn tại xứng danh với Phẩm Giá Con Người – Tự Hào Dân Tộc – Chúng Ta còn có Ai và phải làm gì?
II- VẤN DỀ CỦA CHÚNG TA
Đây là thời đại của Người Tổ Chức. Cụm từ này không là khẩu hiệu tuyên truyền, nhưng là trọng tâm chiến lược hành động cho bất cứ những lãnh tụ, người có thực tâm, hoài bão, mục tiêu lớn, đường đi dài trong tranh đoạt, thiết lập quyền lực, muốn mở vận hội mới đến với dân tộc, xây dựng quốc gia trong thời đại va chạm Đông-Tây đã đến độ gay gắt nhất, vỡ bùng với hai cuộc thế chiến, nên chiến tranh lạnh, để kết thúc dần hình thành một trật tự mới – Mà thời điểm cao nhất mở đầu cho trật tự ấy có thể nói không sợ sai lầm là – Từ và khởi cuộc, tại lần chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Và chúng ta, những người lính quân đội miền Nam, kẻ thụ nạn đầu tiên của buổi đổi đời lớn lao kia lại càng phải gạn lọc bài học dẫu đắng cay mà cũng vô vàn hữu ích thiến than này. Bởi, chúng ta quả thật chưa hoàn tất sứ nhiệm của mình. Hai mươi năm qua, Dân Tộc Việt, toàn thể người Việt Nam, không phân biệt trong nước hay bên ngoài cương giới quốc gia chắc hẳn đều chờ mong một lần hồi sinh, quê hương lớn dậy – Quê hương có người lính xả thân, bảo vệ Tổ Quốc Trường Tồn – Quốc Dân An Lạc. Chúng ta phải tiếp tục sứ mạng cao cả đó nếu không, thời gian và lịch sử sẽ hiện thực nên những nguyền rủa, trách cứ vô bờ.
II A- LÝ THUYẾT, TỔ CHỨC, NHÂN SỰ.
Nếu chúng ta đã đồng ý với nhau về yếu tố tiên khởi, mối quan hệ thiết thân của tổ chức thì chúng ta cần phải đề cập đến điều tất yếu, mà trên căn bản đó, tổ chức kia được cấu thành: Cái cốt lõi của một tổ chức. Từ điểm xuất phát đầu tiên này với tính cách khách quan của vấn đề, chúng ta có thể nói ngay không sợ sai lầm là:
Chúng ta đã thiếu một nền tảng Lý Thuyết – Cụ thể hơn, Chính Phủ, Quân Đội Việt Nam của cả nước (trước năm 1954) thiếu một nền Chính Lý-Nghĩa Lớn Dân Tộc. Khiếm khuyết này càng trầm trọng hơn sau thời điểm nói trên khi miền Bắc với chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa có được chính danh, thực lực từ cuộc thắng lợi quân sự qua chiến dịch Điện Biên Phủ -Kết thúc 9 năm kháng chiến chống Pháp – Cuộc chiến tranh Vệ Quốc bị cướp công và đặt sai “tính danh” khi lồng vào nghĩa đấu tranh giữa hai thế lực không khoan nhượng: Đế Quốc Thực Dân Tư Bản và Giải Phóng Dân Tộc Vô Sản-Một trong hai bên ký kết Hiệp Định Đình Chiến Đông Dương 1954 tại Genève.
Trong khi Miền Nam chỉ là một trong những bên thi hành – Thi Hành qua chức năng thành viên khối Liên Hiệp Pháp – Một trong hai phe ký kết. Sự khiếm khuyết của chúng ta, lực lượng người Việt không Cộng Sản, còn có nguyên do khác từ một buổi đầu xa hơn thời điểm vừa kể – Hiệp Định Hạ Long, 1948. Ngày 5 tháng 6, trên chiến hạm Duguay-Trouin, Cựu Hoàng Bảo Đại cùng Bollaert, Cao Ủy Pháp tại Đông Dương ký một thỏa hiệp gồm Ba Điểm chính với Điều Thứ Nhất quy định như sau: “Nước Pháp long trọng nhìn nhận sự Độc Lập của nước Việt Nam. Từ rày về sau, việc tự do thực hiện nền thống nhất quốc gia tùy nơi nước Việt Nam. Về phần mình, Nước Việt Nam tuyên bố thỏa thuận gia nhập vào Liên Hiệp Pháp với danh nghĩa một quốc gia đồng hội với nước Pháp.”
Nhưng thật ra đây chỉ là một “thỏa ước tạm thời“, trên Thực Tế cũng như trên Pháp Lý, vì Bảo Đại đã là “Công dân Nguyễn Phước Vĩnh Thụy, Cố Vấn Tối Cao của nhà nước VNDCCH”, với Hồ Chí Minh nguyên chức Chủ Tịch (Có sự chứng nhận chính danh của Chính Phủ Pháp từ những hội nghị Fontainebleau, với Tạm ước Modus Vivandi). Rõ ràng hơn nữa, Bảo Đại đến chiến hạm với chức năng chỉ để chứng kiến cuộc thỏa thuận Đa Phương, một bên là Cao Ủy Bollaert, một bên là Đại Diện Ba Miền; Nghiêm Xuân Thiện, Đặng Hữu Chí (Bắc Việt); Phan Văn Giáo, Nguyễn Khoa Toàn, Đinh Xuân Quảng (Trung) và Trần Văn Hữu, Lê Văn Hoạch (Nam) … Tất cả dưới quyền điều hành của Nguyễn Văn Xuân, Thủ Tướng Lâm Thời Cộng Hòa Nam Kỳ,” một nước của Năm Nước Đông Dương”, vừa được đề bạt làm Thủ Tướng Chính Phủ thống nhất ở Hà Nội. Bảo Đại không có gì để thảo luận, cũng không đoạt được gì sau thỏa ước – Bởi Hiệp Ước chỉ có giá trị thi hành sau khiuốc Hội Pháp biểu quyết chấp thuận. Hòa ước 1884 giữa Patenotre và những viên quan triều đình Huế vẫn luôn còn có hiệu lực đối với thời điểm này; (Và Bảo Đại thì đã thoái vị khỏi Danh Hiệu Hoàng Đế của Triều Đình Nhà Nguyễn từ 25 tháng 8, 1945). Một trong những điều khoản sẽ được hai bên quan tâm và cùng nhau hợp tác thực hiện là “tổ chức một quân đội” cho chính phủ trung ương. Quân Đội Việt Nam với hậu than của nó, QLVNCH mà tập thể những người lính chúng ta là thành viên với máu xương đóng góp được khai sinh từ bản thỏa ước chông chênh này, như hình ảnh chiếc chiến hạm thả neo trên giòng nước nổi trôi của vùng Vịnh. Một năm sau, Bảo Đại đi Pháp, ngày 8/3/1949 ký với Tổng Thống Pháp Vincent Auriol một văn kiện khác, hiện thực điều đã có từ Hạ Long. Vẫn chỉ là một Thỏa Ước Thư đặt lên những nguyên tắc “sẽ thảo luận sau này về nền độc lập của Việt Nam trong khi chờ Quốc Hội Pháp biểu quyết thông qua”. Tiến trình dự định này không dễ dàng vì gặp phải những trở ngại như việc Bộ Trưởng Hải Ngoại Paul Coste-Floret vận động ráo riết quốc hội biểu quyết cấp thời một đạo luật thành lập Hội Đồng Lãnh Thổ Nam Kỳ với mười hai đại diện Pháp và hai mươi bốn đại diện Việt. Ý đồ tạo nên một chính phủ trong một chính phủ đã thành hình trước khi nền “Độc Lập” kia được thực hiện. Theo Thỏa Ước Elysée, Bảo Đại là “Quốc Trưởng-Chef d’Etat” của một Quốc Gia Tự Do (Etat Libre) trong Liên Hiệp Pháp. Tự Do, chỉ là một “yếu tố tâm lý, tình trạng tinh thần, không là quy định pháp lý, càng không là mục tiêu, thành quả chính trị;” hơn nữa trong văn thư giao thiệp, ông vẫn được gọi là Bệ Hạ (Sa Majesté) với tất cả nghi lễ Hoàng Gia; chỉ thiếu phần thực quyền cần yếu – Vua một Nước ĐộcLập. Và quân đội, xương sống của tất cả mọi chế độ; một nước đang trên tiến trình thiết chế quyền lực, đang phải giải quyết nạn phân liệt như hoàn cảnh Việt Nam ở thời đoạn này lại càng gấp rút cần kíp. Nhưng ông Vua, Quốc Trưởng kia lại có ý kiến: “Trong lúc này (1949), chưa nên bành trướng quân đội, vì sẽ rất nguy hại cho quốc gia, khi chúng ta chưa đem lại một lý tưởng chiến đấu cho quân đội đó. Chúng ta chưa gây được niềm tin tưởng trong quần chúng, thì làm sao gây được niềm phấn khởi và đem lại tinh thần chiến đấu cho binh sĩ được. Nếu nói là quân đội ta, trong khi cấp chỉ huy lại toàn người Pháp và lại do Bộ Tư Lệnh Pháp xử dụng, tất nhiên ta chấp nhận tính chất đánh thuê của quân đội ta ..!” (Hồi ký của Trần Văn Đôn, sĩ quan quốc tịch Pháp, Giám đốc Nha An Ninh Quân Đội đầu tiên của Bộ Tổng Tham Mưu QĐVN). Nói như thế quả thật cay đắng nhưng không thể nào nói khác đi vì chính vị Tổng Tư Lệnh Quân Đội kia, Quốc Trưởng kiêm Thủ Tướng chính phủ lại giao nhiệm vụ quốc phòng cho ông Phó Thủ Tướng, một trung tướng đặt Bộ Chỉ Huy Hành Quân nơi Biệt Điện Đà Lạt, trong phòng ngủ. Nhưng dù khai sinh trong một tình trạng hiểm nghèo, èo uột kia, cái quân lực mang định mệnh khốn khó đó vẫn chưa xong lần thành tựu. Thời điểm 1949, song song với việc ra đời Nội Các Bảo Đại, cũng chỉ thành hình được lực lượng Vệ Binh Quốc Gia gồm Vệ Binh Nam Việt, Việt Binh Đoàn, Bảo Chính Đoàn và Vệ Bình sơn cước. Nhưng người lính Quân Đội Việt Nam phải đợi thêm một năm nữa – Ngày 11/5/1950 – Quốc Hội Pháp mới biểu quyết chấp thuận để Quốc Gia Việt Nam thành lập Quân Đội với những cơ chế của một quân lực chính quy. Lòng hào hiệp này không phải tự nhiên có – Tháng 10/1949, lực lượng Cộng Sản Tàu đã xuống sát biên giới Việt Trung, cuộc chiến với Việt Minh tưởng đã thanh toán xong từ những năm 1947, 48 … (hoặc lạc quan như LeClerc, ngay cuối năm 1946!!), đã không còn là cuộc xung đột giữa một lực lượng thực dân và phong trào giải phóng dân tộc. Năm 1950, cũng bùng nổ cuộc chiến tranh Nam-Bắc Hàn với lực lượng Cộng Sản Tàu hung hăng tràn qua sông Áp-Lục, đẩy quân đội quốc gia xuống đến cực Nam bán đảo Triều Tiên. Cũng năm này, Thượng Nghị Sĩ McCathy bắt đầu mở chiến dịch điều tra bốn năm liền về tất cả mọi thành phần trong xã hội Mỹ có dính líu đến phong trào Cộng Sản. Người Pháp dần hiểu nên một điều đơn giản: Khi họ đẩy người Quốc Gia vào thế đường cùng, lên máy chém, là vô tình tăng viện cho lực lượng Cộng Sản khối nhân lực vô bờ từ những người yêu nước-Lực Lượng Dân Tộc Việt Nam-Nguồn sức mạnh không hề cạn qua bao đợt thanh trừng, khủng bố trắng. Và biện pháp “Chống Cộng” hữu hiệu không với ai khác tại một nước thuộc địa-Chính là khối sức mạnh dân tộc của nước đó. Người Hòa Lan đã thực tế hơn người Pháp – Trao trả độc lập lại cho Indonesia sau bốn năm thù hận hiểm nghèo. Nhưng khổ thay, chúng ta không có một Sukarno mà có quá nhiều người làm việc cho Đông Phương vụ Đệ Tam Quốc Tế và người Pháp quả tình đã giúp người Cộng Sản Việt Nam một cơ hội bằng vàng bởi đã triệt hạ hộ tất cả đối thủ chính trị của họ; bạch hóa Mặt Trận Quốc Gia, nhổ tận gốc các đảng phái, đoàn thể dân tộc; để chỉ còn lại rơi rớt những ông “Việt Nam nói tiếng Tây” những vị “cách mạng thành phố Đốc Phủ Sứ” quẩn quanh một ông Quốc Trưởng diễn đạt ý, tình cũng chỉ bằng tiếng … Tây nốt!
Quân đội Việt Nam khai sinh từ những người chỉ huy lãnh đạo này. Ngày 1/10/1950, Trường Võ Bị Liên Quân thành lập với nhiệm vụ đào tạo sĩ quan hiện dịch cho quân đội khốn khó trên. Cũng có thêm sức đẩy của viên Tướng ngoại hạng Jean De Lattre trên đường từ Đà Lạt về sau khi gặp Bảo Đại, “xong rồi, tôi đã nắm được anh vua ù lỳ bằng những tiểu đoàn Annamite!!”. (Lucien Bordart). Thế nhưng, cũng phải đợi thêm một năm nữa, ngày 5/5/1951, Bộ Quốc Phòng mới thực sự thành hình với những cơ cấu đầu não đúng danh xưng, nhiệm vụ, tuy rằng cơ quan này trên lý thuyết đã có cùng chính phủ lâm thời Nguyễn Văn Xuân từ năm 1949. Và cũng phải thêm một năm nữa, Bộ Tổng Tham Mưu mới được thành lập vào ngày 11/5/1952 với viên Tổng Tham Mưu trưởng, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hinh, một Đại úy Không quân thuộc Quân lực Pháp, về nước năm 1950, vinh thăng Thiếu tá để nhận nhiệm vụ Tổng Thư Ký Bộ Quốc Phòng cầm đầu bởi Tổng Trưởng, Trung Tướng Nguyễn Văn Xuân. Chính phủ lâm thời của ông Xuân xong nhiệm vụ; nội các Nguyễn Phan Long lên thay với ông Tổng Trưởng Quốc Phòng Phan Huy Quát. Thiếu tá Hinh bàn giao nhiệm vụ Bộ Quốc Phòng sang làm chánh Võ Phòng Quốc Trưởng với cấp bậc mới, Trung tá. Nay Bộ Tổng Tham Mưu thành lập, vì nhu cầu công vụ, Trung tá Chánh Võ Phòng vinh thăng đặc cách lên Thiếu Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Quốc Gia – Tiền đồn chống Cộng ở vùng Đông Nam Á – Nơi thử sức, giải tỏa sự cọ sát nóng bỏng giữa hai lực đối nghịch toàn cầu, để thế giới có được chiếc van an toàn sau cơn binh lửa gớm ghê Đệ Nhị Thế Chiến. Cũng là thời điểm lực lượng quân đội Quốc Dân Đảng Trung Quốc đã thất bại ở Hoa Lục; người Mỹ với sự đồng thuận của Liên Hiệp quốc (có Liên Sô) chỉ lập được cân bằng ở nửa phần bán đảo Triều Tiên; người Pháp với hào quang chiến thắng tại Châu Âu trong khuôn khổ Đồng Minh nay cũng đang dần có dấu hiệu mệt mỏi. Gánh nặng đó chuẩn bị đổ xuống chúng ta, lực lượng khai sinh lỡ làng trong một vùng tranh chấp Đông-Tây khắc nghiệt nhất. Quân đội Quốc Gia Việt Nam không hề được chuẩn bị để chịu nạn cho an toàn thế giới- Quả thật, hai mươi lăm năm gánh chịu một nỗi bất công.
Nhưng quân đội chúng ta đã có mặt trong cùng mệnh nước; đã làm đúng nhiệm vụ cao cả muôn thuở của Người Lính – Bảo Quốc, An Dân. Chúng ta đã trải máu xương để dân tộc tồn sinh cho đến ngày 30/4/1975. Giờ vĩnh quyết Sài Gòn chấm dứt với lượng máu cuối cùng của người Lính Việt Nam.
II B- ĐOẠN TRƯỜNG CHIẾN BINH
Chúng ta được khai sinh thay thế người Pháp, quân đội Liên Hiệp Pháp, chịu trận máu xương trên đất nước điêu linh và khi chết đi, cũng không được nhận lãnh điều đau đớn cuối cùng- Chết cho Quê Hương Việt Nam.
Hành quân Castor hay chiến dịch chiếm đóng lòng chảo Điện Biên Phủ, sản phẩm cuối cùng của giai cấp quý tộc quân sự Đệ Tứ Cộng Hòa Pháp chấm dứt với tổng số 13,050 quân nhân chết và bị thương. Từ người viết sách nghiêm túc, khách quan Bernard Fall, đến ông thực dân chính gốc Jules Le Roy không ai nhắc đến một lần trong số lương nói nói trên những Người Lính Việt Nam chiến đấu trong hàng ngũ quân đoàn viễn chinh, ở những Tiểu đoàn Nhẩy Dù Thuộc địa, Tiểu đoàn Việt Nam (BEP, BPVN … ). Những người lính không những bị bỏ quên trong trận địa, họ còn bị bỏ quên trong bóng tối tù ngục, không một tiếng lời can thiệp, hoặc có chăng cũng không được lắng nghe. Nếu ở bàn Hội Nghị Geneve, phái đoàn Việt Nam do Ngoại Trưởng Trần Văn Đỗ kết thúc với một tuyên cáo tuyệt vọng “Việt Nam long trọng phản đối việc ký kết Hiệp Định Genève – Chính phủ Quốc Gia Việt Nam hoàn toàn tự do hành động để bảo vệ quyền lợi thiêng liêng của Dân Tộc Việt trong cuộc thực hiện thống nhất, độc lập và tự do cho xứ sở.”
Tuyên cáo này được “Hội nghị ghi nhận, nhưng không được xếp vào văn kiện chính thức của Hội Nghị.”
Nói tóm lại, Hiệp Định được ký kết bất chấp ý kiến tối hậu của Dân Tộc Việt Nam – Kẻ thụ nạn đầu tiên cũng là độc nhất. Và hệ quả Gèneve được lập lại nơi Hội Nghị Trung Giá, hai phái đoàn quân sự cấp cao của Pháp (Đại tá Lennuyeux) và Việt Minh (Thiếu tướng Văn Tiến Dũng) toàn quyền định đoạt tất cả những vấn đề liên quan đến ngưng bắn; thủ tục thi hành ngưng bắn; vấn đề lãnh thổ … Và cuối cùng, thân phận những tù binh chiến tranh (những tù binh người Việt hoàn toàn bị bỏ quên). Hội nghị họp ngày 4 tháng 7 và kết thúc vào ngày 27 cùng tháng. Việt Minh chậm rãi, kéo dài những thảo luận vòng vo; người Pháp vội vã vì thời gian không thuộc về phía họ. Phái đoàn. Việt Nam thoạt đầu do Trung Tá Trang Văn Chính làm trưởng đoàn, có các Thiếu tá Đàng, Đại úy Bửu phụ tá. Sau thay thế bởi Trung tá Lâm Ngọc Huấn và Đại úy Trần Ngọc Huyến. Phái đoàn này “không được quyền phát biểu” bởi chỉ là thành viên của đoàn Pháp; không được tham dự các phiên họp trưởng phái đoàn. Hậu quả tất nhiên xảy ra: Việt Minh có đủ thời gian, phương tiện tiếp thu những nơi họ chưa hề một lần hiện diện; phía quân đội quốc gia cùng đám dân thất thần khốn khổ vượt qua những rào cản bất ngờ và bất hợp pháp dựng vội vàng ngăn đường xuôi Nam. Một triệu dân cùng 80,076 lính chỉ có thời hạn 80 ngày để đi khỏi Hà Nội; 100 ngày ra khỏi Hải Dương và 300 ngày để rời khỏi Hải Phòng. Bao nhiêu người tù đã không lấy khỏi trại giam; bao nhiêu đồng bào vùng thượng du không kịp xuống đến vùng tập kết; bao nhiêu lính bị thất lạc đơn vị … Quân số những đơn vị (trú đóng hành quân ở Miền Bắc) khi vào đến miền Nam chỉ còn 32,000 người. Họ đi đâu trong cơn tan vỡ một lần miền Bắc của bốn mươi năm trước đây? Bao nhiêu người dân đã chết nơi các bãi Trà Lý, Tiền Hải, Kim Sơn, nơi những vùng chiêm nước mặn từ Bùi Chu, Phát Diệm vào đến Thanh Hóa, Nghệ An?!!
Trong bốn mươi năm khởi đi từ 1954 ấy, có những vùng đất trên thế giới không hề một lần nghe tiếng đạn.
Không một lần biết đau. Sáu thế hệ con trẻ Việt Nam lớn lên trong hơi bom, khói đạn, tiếng nổ, sự chết … Kẻ viết bài nầy là Một trong đám bất hạnh nầy. Thế nên, tôi phải cầm súng. Năm 1955, quân đội vừa qua cơn sốt vỡ da kia không một lần ngưng nghỉ. Chiến dịch tiếp thu Bồng Sơn, Tam Quan miền Trung; tiếp thu bình định Cà Mâu, cuối mũi miền Nam. Những tảo thanh Giáo Phái, dẹp Bình Xuyên với chiến dịch Thoại Ngọc Hầu, Trương Tấn Bửu … Người lính miền Nam học tập kinh nghiệm chiến trường không phải từ một kẻ xâm lăng nào khác mà với máu xương của chính mình và da thịt anh em – Mối uất hận oan nghiệt của “Nam-Bắc-Triều,” của “Đàng Trong – Đàng Ngoài” luôn tác động ở những mức độ tàn nhẫn và đau thương theo tháng năm chiến trận. Nhưng hình như không đủ, chưa hề đủ cho cừu oan Dân Tộc Việt – Đầu cuộc chiến, những năm đầu của thập niên 60, quân đội miền Nam xử dụng quân trang, dụng của thời Đệ Nhị Thế Chiến còn thừa để lại; 1965 Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đổ bộ Đà Nẵng, mỗi trung đội Nhảy Dù được 2 hoặc 3 khẩu AR 15. Phía cộng sản, khi bắt đầu thành lập MTGPMN, đường mòn HCM đi mất sáu tháng, sau dần xuống còn hai, ba … Lính cộng sản mang theo hai, ba khẩu chi viện cho miền Nam, công đồn dân vệ, bắn sẻ bằng súng ngựa trời – Mậu Thân, lực lượng cộng sản tấn công 40 thành phố miền Nam toàn bằng AK tự động báng xếp. Năm 1958, B 52 được đưa vào xử dụng với nhiệm vụ mang bom nguyên tử bay vòng quanh thế giới, làm chức năng tấm khiên cùng lưỡi gươm bao vây khu vực cộng sản – Lập lên thế quân bình trên nỗi khiếp sợ của chiến tranh lạnh. Nhưng B 52 vào Việt Nam lại thực hiện một chức năng khác. Mang bom chiến thuật trải “full-box” vào bất cứ chỗ nào tình nghi. Khu tứ giác Bến Mương, Bến Cỏ, Bến Súc, Củ Chi tạo nên mật khu
Hố Bò, tháng 8/1964 hai tiểu đoàn Nhẩy Dù và Biệt Động Quân phải mất một buổi chiều mới qua được chiếc cầu sắt trước chợ Bến Cỏ. B 52 đi qua, đi lại, bay dọc theo sông Sài Gòn tiếp lên Dầu Tiếng, Tống Lê Chân, nghĩa là chẳng phải chỉ riêng cái gọi là “Hố Bò” kia thành bình địa, mà ngay cả chiến khu D cũng nên “bạch giới”. Cuộc hành quân Junction City kéo dài suốt năm 1967 … Việt Cộng chém về bỏ chạy tất. Nhưng họ không chạy thẳng, lực lượng cộng sản trở lại, luồn sâu, bám kỹ, “bám thắt lưng kẻ thù mà đánh!! ” Nói như thế không là nói chơi – Chỉ một đêm, Tiểu đoàn 4 TQLC và Tiểu đoàn 7 Nhẩy Dù bị đánh đặc công hai lần, mỗi lần mất một trung đội, ngày hôm sau di chuyển đến đâu bị mìn đến đấy: mìn gài trên ngọn cây. Nói tóm lại, người Mỹ đẩy chiến tranh mỗi ngày mỗi cao – Lực lượng cộng sản đáp ứng cùng người Mỹ, quân đội Mỹ. Lính VNCH hứng ngọn cuồng phong cuối giòng từ đối phương chưa bao giờ có dấu hiệu mệt mỏi.
“Nhưng Quân Lực VNCH không chịu chiến đấu … “
Nhận xét này không phải của một mình John Paul Vann, cũng không riêng báo Washington Post, hay của đám phóng viên AP, UPI, CBS … ngồi lê la ở những quán rượu đường Tự Do – Loại ký giả nhìn chiến tranh Việt Nam qua đánh giá như một phim 007 … Mà là nhận định rập khuôn của dư luận, báo giới Mỹ, những viên cố vấn … Vậy sự thật ở đâu? Ở đâu là đầu mối của thất bại, của mạ lị, của xuyên tạc? Chiến tranh là hình thái cuối cùng khi tương quan chính trị giữa hai bên không thể nào giải quyết bằng những biện pháp ngoại giao êm thắm được. Và hình thái bạo lực kia chấm dứt khi một phe lâm chiến chiến thắng với những hệ quả cụ thể như chiếm được đất đai, thành trì của đối phương, hạ thủ được người chỉ huy (hay tập đoàn, tổ chức điều hành chiến tranh). Chiến tranh cổ điển hay hiện đại cũng vẫn thế và chỉ là như vậy. Nhưng trong giao tranh khốc liệt của chiến trường Việt Nam có một chỗ rất mực an toàn – An toàn hơn bất cứ thành phố, thị trấn, thủ đô nào của một nước đang lâm chiến, quốc gia đang xẩy ra chiến tranh: “Thành phố Hà Nội, thủ đô nước VNDCCH”. Điều nghịch lý này xẩy ra do chính vị nguyên thủ của một bên tham chiến cam kết. Tổng Thống Liên Bang Bắc Mỹ, L.B. Johnson trong một diễn văn ở Houston (của rất nhiều lần tuyên bố), “Chúng tôi không nhắm đến một cuộc chiến tranh mở rộng”. Nhưng e ngại rằng lời tuyên bố này chưa đủ làm Hà Nội yên lòng, những người lập kế hoạch và điều động chiến tranh ở Hoa Thịnh Đốn còn khoanh một vùng an toàn với đường kính mười dặm chung quanh Hà Nội; chưa hết, dọc biên giới Việt-Trung còn có thêm ba mươi dặm an toàn nữa … Những “vòng đai an toàn” này có mục đích để người Tàu đừng buồn lòng và Hà Nội khỏi cáu kỉnh!! Hãy nghe ông McNaughton (giáo sư Luật, đại học danh tiếng Havard, phụ tá Tổng trưởng Quốc Phòng McNamara) giải thích cùng với Đô Đốc Moorer, Tư lệnh lực lượng Mỹ ở Thái Bình Dương, sau giữ chức Tham Mưu Trưởng Liên Quân (Khi ông này đề nghị tấn công những giàn hỏa tiễn đặt chung quanh Hà Nội) “…Tại sao ông lại tấn công người ta; người ta chỉ cốt ngăn chặn ông mà thôi … Khi nào người ta tấn công ông, tôi sẽ cho lệnh ông trả đũa!!” Không những tránh vòng đai 10 dặm chung quanh Hà Nội mà còn phải tránh xa biên giới Việt-Trung 30 dặm nữa. Tóm lại, “đụng đến đoạn đường xe lửa Hà Nội – Vân Nam có 40 dặm ấy là hành động gây chiến đối với nước Việt Nam DCCH và nước CHND Trung Quốc!!” Hóa ra Hoa Kỳ đánh nhau với chính người họ bảo trợ!!
Đánh bom không được, ông Đô Đốc đề nghị gài mìn hải cảng Hải Phòng (1965) vì không chịu nổi tình trạng bất công, vô lý: Các tàu Nga, Đông Đức, Tiệp, Ba Lan kể cả tàu Anh ngang nhiên chở vũ khí chiến cụ vào Hải Phòng. Nhưng những ông Dân Biểu, Nghị Sĩ tại Quốc Hội Mỹ lắc đầu:“ … Làm như thế người Nga tới gỡ đi hết thì sao … Và nhỡ tàu người Nga đụng phải thì có phải làm mất lòng Mạc Tư Khoa chăng?! Họ đang làm trung gian để giúp Mỹ nói chuyện cùng Hà Nội cơ mà”. Cuối cùng, năm 1972, để thúc Hà Nội ngồi tại bàn Hội Nghị Ba-Lê ký hiệp định ngừng chiến; Tổng Thống Nixon đồng ý gài mìn … Ông Đô Đốc “mất ba phút” để lấy ra kế hoạch đã có sẵn: “Điều động 26 phi cơ trong vòng một tiếng rưỡi. Cảng Hải Phòng kín nhự bưng, không tàu ra cũng không có tàu vào”. Cũng không gây tổn thất cho một ai, kể cả chiếc ghe con của Hà Nội. Gài mìn Hà Nội chưa khứng ký thì dội bom … Bom dội 12 ngày kể từ 18 tháng 12 cùng năm này. Đến hai ngày cuối cùng, tàu bay bay ra bay vào Hà Nội không một tổn thất. Sau khi bay 740 phi xuất, suốt đợt oanh tạc có 270 trường hợp tổn thất với 15 phi xuất bị nạn với 5 chiếc rơi trong nội địa Bắc Việt. Nhưng Quốc Hội lại la lớn đòi ngưng ngay cuộc dội bom … Không được trải thảm Hà Nội. Không được dội bom vào dân chúng. Cuộc biểu quyết chỉ có “một Dân Biểu Cộng Hòa” bênh vực vụ oanh tạc. Từ Tổng Thống đến Bộ Trưởng quốc Phòng, Bộ Trưởng Ngoại Giao đồng vắng mặt. Không ai chịu nổi áp lực của dư luận, ngay cả bà Pat Nixon cũng lên tiếng, khóc lóc “… Không quân các ông dội bom xuống cả thường dân và bệnh viện phải không. Vì Chúa xin ngưng dội bom lại … “.Không một ai trên đất Mỹ, không một ai trên thế giới, cũng ngay tại Sài Gòn. Tất cả đồng im lặng một cách đáng kinh sợ (vì nỗi nhẫn tâm, dối gạt từ trái tim đã hoàn tất đến độ phi nhân tính) về cảnh tượng trên đoạn đường chín cây số, xác người từ La Vang đến cầu Giáp Hậu, Nam Hải Lăng – Chỉ một ngày 30 tháng Tư cũng năm 1972 này – Trước một Quảng Trị đã nên thành bình địa, chốn không người, đất của sự chết. Chính phủ Mỹ bị tê liệt, quân đội Mỹ bị bó tay, quân lực Việt Nam còn gì nơi chiến địa khi Quốc Hội Mỹ với Tu Chính Án Church-Cooper 1971 thông qua Nghị Quyết “Hạn Chế Xử Dụng Không Quân Mỹ tại Đông Dương”; trong khi ấy, Chủ thuyết Nixon chỉ là một phương trình giản dị:
“Bộ Binh ViệtNam + Không Lực Mỹ.” Hãy tưởng tượng, bán đảo Triều Tiên không có quân đội, chỉ ít Không Quân Mỹ. Thế giới thậm tệ bất công cùng với chúng ta-Những lời cáo buộc của họ đối với QLVNCH, thực chất chỉ là muốn nguy trang nổi bất lực của toàn bộ Tây Phương trước sức tiến công của phong trào cộng sản-Những người biết khai thác một cách có hiệu quả “mặc cảm thực dân”, vết nhơ của văn minh Tây bán cầu kéo dài trên hai thế kỷ với nổi cùng khốn các dân tộc Á, Phi, mà hôm nay là thời điểm vỡ bùng hậu quả của lần bóc lột thực dân – Quá trình bóc lột đã tạo nên cảnh cường thịnh Tây-Âu, mà chính những kẻ họp báo chống chiến tranh Việt Nam ấy, những “trí thức lớn” của sản phẩm văn minh, văn hoá Tây Âu là người thụ hưởng đầy đủ và lâu dài nhất … Những Sartre, D Beauvoir, Aragon … Lẽ tất nhiên không thiếu những khuôn mặt mòn nhẫn ở những cuộc biểu tình trước điện Capitol, Washington với hình ảnh của Ché Guévara, Hồ Chí Minh … Biểu tình chống chiến tranh Việt Nam tương tự như một loại thời trang bày ra phần hạ thể một cách thô tục đang thịnh hành. Vòng đai mang tên Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara chạy từ Cửa Việt qua Gio Linh lên thấu Cồn Tiên, Khe Sanh, Lao Bảo … Người được gắn tên hiệu vào cuộc chiến Việt Nam, điều động bộ máy chiến tranh tại Ngũ Giác Đài qua hai nhiệm kỳ Tổng Thống Mỹ. Nhưng chính con người khôn ngoan tài giỏi này vào đến cuối đời đã nói thẳng: “Chúng ta đã nhầm lẫn, rất mực nhầm lẫn. Hãy để cho những thế hệ sau này giải thích tại sao -In Retrospect: Tragedy and Lesson of VietNam.” Lời nói này có hai giải thích, hoặc đã nhầm lẫn trong nghĩa tiêu cực (Không quyết tâm tại Việt Nam); hoặc nghĩa tích cực (Đã có quyết tâm nhưng vì một lý do nào khác, không thuộc phạm vi trách nhiệm của Mỹ, nên đã thất bại).
Nhưng đến một đoạn sau ông nói rõ … “Người Nam Việt Nam dù được chúng ta yểm trợ, tiếp vận, huấn luyện nhưng không có khả năng bảo vệ chính mình – sđd.” Nói thế là nói thật nhưng không hẳn đúng và ông lại càng không đúng khi có kết luận: “.. Việc mất Nam Việt Nam không hề có đe dọa làm suy thoái vị thế nước Mỹ ở Châu Á hoặc sút giảm lòng tin về nước Mỹ ở bất cứ đâu!! “.
Nếu một gã tân binh quân dịch, hoặc một anh thanh niên biểu tình chống chiến tranh (kiểu Bill Clinton) nào nói như thế ở thời điểm 60, 70 thì cũng có thể chấp nhận; nhưng đây là Tổng Trưởng Quốc Phòng của siêu cường dẫn đầu và quyết định vận mệnh thế giới; người điều động một cuộc chiến hao tổn, ảnh hưởng sâu rộng tới cục diện không phải riêng của Mỹ, Châu Á mà là toàn cầu … Và vì chiến tranh kia đã chấm dứt với tình trạng thảm hại như trên, nên Tổng Thống Liên Bang Bắc Mỹ G. Ford phải đến “chầu” Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Liên Sô Brezhnev tại nơi hẻm hốc Vladivostok, 1974 để bàn về tài giảm binh bị, vũ khí hạt nhân; quân Nga ngang nhiên kéo vào Afghanistan, Angola, Mozambique… Các quốc gia thuộc thế giới thứ Ba lần lần rơi vào quỹ đạo Xã Hội Chủ Nghĩa. Đại Hội Đảng 1987, kỷ niệm 60 năm CáchMạng Tháng Mười Nga, hơn một trăm nguyên thủ quốc gia, các đảng cộng sản, phong trào công nhân trên toàn thế giới tập trung về Mạc Tư Khoa để tuyên dương thủ lĩnh cuộc cách mạng toàn cầu đã dành toàn phần thắng lợi – Sắp đến giai đoạn thoái trào của chủ nghĩa tư bản – Với cái hố mai táng do giai cấp công nhân sửa soạn theo tiên tri của Karl Marx, Lenin. Thời điểm đó ông ở đâu? Ông Bộ trưởng Quốc Phòng McNamara, ông có thể nói lời như trên chăng khi Hạm đội Nga đã vào Cam Ranh – Trong lịch sử “Địa Lý Chính Trị” toàn cầu có bao giờ tộc Slave, Cosaque xuống đến phương Nam sâu đến như thế. Há ông không biết thế kỷ 13, quân Hốt Tất Liệt đã ba lần thử xuống vùng Nam Á bằng ngã Việt Nam. Cộng Sản Việt Nam và Tư bản Mỹ đã giúp tập đoàn hung hãn hiếu chiến nhất thế giới hoàn tất một ước vọng lâu dài suốt hai mươi thế kỷ không thực hiện được – Hay ông cũng chung giòng máu của chủng tộc Nguyên, Mông như Lenin?! Nhưng nhận xét của McNamara về Việt Nam vẫn là một nhận xét chung nhất của những giới chức (Mỹ) có thẩm quyền để giải thích về một thất bại của họ. Giải thích này được sự đồng thuận mạnh mẽ từ báo chí và dư luận quần chúng – Vì nó cũng trả lời được điều mà đô Đốc Moorer đã gầm lên lời phẩn nộ: “Tôi đã từng tham gia ba cuộc chiến tranh, nhưng đây là cuộc chiến điên khùng nhất chưa hề biết tới!! Chúng ta đã điều động một lực lượng đến năm chiếc hàng không mẫu hạm, mười ba phi đoàn chiến đấu, chưa kể đến B 52, chống đối một nước nhỏ hơn bang Texas, dân số chỉ bằng Cali (ý nói chỉ mỗi miền Bắc, Nam)”. Nhưng, nói như thế chỉ mới được nửa phần sự thật, phải nói thêm nữa rằng: “Chúng ta không bao giờ xử dụng sức mạnh của mình!!” Và để tránh né điều quái gỡ này, những luận cứ ông McNamara luôn được nại ra – Tất cả sự hư đốn này do từ Việt Nam-Tại nơi miền Nam. Và thủ phạm đầu tiên cuối cùng đã làm hư hại công trình tốt đẹp của người Mỹ không ai khác-Chính phủ Sài Gòn và quân đội ở đấy: Người Lính VNCH Bị Lăng Nhục Thậm Bất Công Và Rất Đỗi Đê Tiện. Màn lăng nhục cùng khắp rất mực tinh vi và thảm hại có trên miệng lưỡi, tiếng lời từ những giới chức trong quốc hội, những con người sừng sỏ, quyền thế .. Thượng Nghị Sĩ Fullbright với câu nói tàn nhẫn, “Sài Gòn là một ổ điếm khổng lồ.” Đến viên cố vấn thủ đoạn John Paul Vann cũng có lời dạy dỗ … “Cái giống dân này chỉ là những người tình nhân tuyệt vời (không hiểu loại đàn bà nào đã giao tiếp với trung tá này?!), chứ không thể là những chiến sĩ can trường được. Nhưng họ cũng là những người khá tốt, và có thể đoạt được thắng lợi nếu có người dạy bảo cho!! “
Cách thức, ngôn ngữ mang vẻ đoái thương này rất quen thuộc với những quan chức người Pháp bên chính phủ Nam Triều đầu thế kỷ – Nhưng, loại ngôn ngữ, ý kiến này khi lọt vào đám báo chí hung hăng cỡ David Halberstam của New York Times hoặc Neil Sheehan của UPI sẽ nên thành những “nguồn tin rất đáng tin cậy” từ giới chức cố vấn Mỹ. Và cuối cùng, khi xuất hiện lên báo Mỹ sẽ là, “Quân đội Nam Việt Nam không có ý chí chiến đấu – Với lời ghi chú: Tường trình trung thực từ VN. Loại tin tức buổi chiều này hằng ngày sói mòn tinh thần, tâm lý, ý chí chiến đấu của người Mỹ, để dẫn đến những kết luận dứt khoát như của viên Thượng Nghị sĩ bang Idaho, Chủ tịch Ủy ban Ngân sách Quốc Phòng Thượng Viện, F. Church: “Việt Nam không đáng một xu!!” Lời khẳng định trên còn có thêm yếu tố quyết định từ phái đoàn Dân Biểu Hoa Kỳ sang thăm Sài Gòn trong dịp tháng Tư, năm 1975. Phái đoàn này đến Sài Gòn để lượng giá tình hình, ngõ hầu Tổng Thống Mỹ có được chấp thuận từ Quốc Hội viện trợ khẩn cấp cho Việt Nam 300 triệu thặng dư hầu sống sót thêm dăm ba ngày, một vài tuần trong buổi dầu sôi, lửa bỏng khi đã mất Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang. Dân biểu MacCloskey, cựu Đại tá TQLC Hoa Kỳ, đã từng tham chiến ở Nam Hàn có lời nhận xét: Quân lực miền Nam có 16 sư đoàn, tổng số hơn một triệu quân; trong khi miền Bắc chỉ có13 sư đoàn với quân số chưa bao giờ quá 45,000 người. Hơn nữa, trước đây chỉ riêng Vùng I Chiến Thuật người Mỹ đã đổ bộ đến 5 Sư đoàn (ý muốn nói các lực lượng TQLC Mỹ), thế mà không đánh thắng được cộng sản thì chỉ đáng bỏ đi .. Giúp làm gì cái đám quân, dân bạc nhược yếu đuối này!!” Ông không nói bâng quơ với một đám người bậy bạ nào đó ở quán rượu. Ông phát biểu trên tư cách người đại diện số đông dân chúng Mỹ, với hiểu biết của một cựu đại tá quân chủng lừng lẫy trước đám cử tọa đoàn của những người khoa bảng Đại học Stanford. Phái đoàn của ông dân biểu này còn có thêm một vị dân biểu khả kính nữa: Bà Abzub, bà này đến Việt Nam chỉ với mục đích nhân đạo, “Đi thăm tù chính trị đang bị nhốt ở chuồng cọp Côn Đảo ... “. Bà ta vào Chí Hòa, gặp mặt một sinh viên tranh đấu chống độc tài Nguyễn Văn Thiệu. Với lương tri của người trí thức, bà ta tuyên bố với báo chí: “…Những hình ảnh tồi tệ về việc vi phạm nhân quyền ở Nam Việt Nam”. Cùng lúc với lời tuyên bố này, ngàn người, trăm ngàn người ngã chết không toàn thây nơi Tây Nguyên, ở trại gia binh Trung đoàn 44, 46, Ban Mê Thuộc, dưới lườn sông Ba, nơi chân đèo Củng Sơn, ở bãi Tiên Sa, trên đèo Hải Vân … Hiện tại, nơi những trại cấm, Người Việt đang tiếp tục chết cho một lý tưởng gióng lên, chủ đạo bởi người Mỹ, văn minh Tây Phương -Tự Do. Người Dân Biểu đấu tranh cho Nhân Quyền này đã hiện thực nên thành một thứ đồng lõa mạt hạng với đám sát nhân – Còn tệ hơn lũ giết người mệnh danh giải phóng!!!
Trong cơn lâm tử nhục nhằn này, người lính được gán ghép thêm trăm nghìn điều tồi tệ … “ăn cắp đến cả xác chết cũng không tha!!”. Hình ảnh một cán binh cộng sản chết ở mặt trận thành phố Huế hôm Mậu Thân, đầu xuân 1968: Anh ta chết bên cạnh những chiếc ví da đựng “giấy tờ, hình ảnh … ”. Người ký giả, tác giả cuốn sách có tấm hình trên, viết lời ghi chú: “Lính miền Nam VN thường ăn cắp những vật dụng quý giá từ những người lính miền Bắc bị giết.”– ViêtNam, A History-S Karnow.
“Kinh khủng và đáng thương quá, người lính Bắc kia vô cớ đã bị giết còn bị tước đoạt những hình ảnh, đồ vật quý giá kỷ niệm của gia đình !! Cái tụi lính Việt Nam Cộng Hòa man rợ đến thế là cùng, không buông tha cho cả xác chết”. Trong những lời tuyên dương Stanley Karnow, khi lãnh giải thưởng Pulitzer có đoạn sau đây: “Đây là một chiến thắng của ngành báo chí do một lối kể truyện tuyệt hảo xây dựng trên sự quan sát cụ thể, trung trực với những điều tra mẫu mực, không bị bóp méo do đã quen thuộc, hiểu biết về vùng đất và con người ở đấy”. Nhân tiện đây chúng tôi xin khẳng định hai điều cụ thể: Thứ nhất, chắc chắn không một ký giả nào đã thấy được một lính tác chiến cộng sản đang còn sống (Bởi nếu có, họ sẽ hiểu rằng, cái thằng người gọi là “bộ đội” đó chỉ là một bộ xương ngụy danh, hóa trang trong một bộ đồ rách nát, không có gì ngoài những túi đạn, khẩu súng đeo trên người). Thứ hai, ngoài trận đánh ở núi Thành, Quảng Nam – Đà Nẵng, năm 1965, ngày Mỹ mới đổ bộ đầu tiên vào Việt Nam; mục tiêu trận đánh cốt để thử sức hỏa lực, khả năng quân đội Mỹ, cũng đồng thời muốn gây phản ứng tâm lý: Quyết đánh thắng Mỹ. Từ đấy về sau, bộ đội CS chém về khi gặp Mỹ. Cho dù trận Khe Sanh hai Sư đoàn 304, 308 có tăng cường Trung đoàn 126 Đặc công cũng “không hề tấn công bộ” lực lượng phòng thủ gồm một Tiểu đoàn TQLC tăng cường một tiểu đoàn Không Kỵ dưới quyền chỉ huy của Tướng Lowell English. Mậu Thân tất cả căn cứ Mỹ đều bình an tuyệt đối; vụ tấn công tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn chỉ cốt tạo nên tiếng vang chính trị; lính phòng thủ tòa Đại Sứ chỉ là lính Quân Cảnh. Điều này càng cụ thể trong suốt nửa cuối năm của năm 1969, dãy căn cứ hỏa lực Anne, Barbara, Carolyn … Vicky kéo dài từ Tây Ninh qua sông Bé của hai Lữ Đoàn Nhảy Dù và Không Ky Mỹ chen lẫn nhau. Lực lượng Việt Cộng tránh né tối đa lính Không Ky, nếu có chăng chỉ những hoạt động pháo kích, bắn sẻ. Bởi một điều giản dị: Sư đoàn 1 Không Kỵ có hơn 600 trực thăng võ trang làm nhiệm vụ “Không quân chiến thuật”.” Lính cộng sản dù mình đồng da sắt cũng không chịu nổi hỏa lực của đơn vị này- Họ không dám đánh Mỹ. Tôi xin khẳng quyết như thế. Đến cuối cuộc chiến, chính bản thân chúng tôi đi trả tù theo điều khoản Hiệp định Ba Lê, trừ “một người Mỹ” được trả khi chiều tối ở tháng Hai (sau này mới biết đó là trao đổi nhân viên tình báo của hai bên); một người Mỹ dân sự trả ở Cà Mâu. Tóm lại, con số 585 nhân viên quân sự Mỹ và người nước ngoài được trả tại hai địa điểm Lộc Ninh và Gia Lâm ngoại trừ những người vừa kể trên, số còn lại, hầu hết là nhân viên phi hành và những nhân viên dân sự bị bắt cóc suốt cuộc chiến Việt Nam. Muốn chính xác hơn, cũng nên kể đến một lính Đại Hàn được trả tại Đức Phổ (Quảng Ngãi); anh ta là lính thuộc Sư Đoàn Thanh Long Đại Hàn lỡ bước đi chơi nên bị bắt!! Không hề có một tù binh vốn là Lính Bộ Binh của Mỹ được trao trả – Bởi một điều giản dị – Lực lượng cộng sản hoàn toàn tránh đụng trận với bộ binh Mỹ. Hãy kể ra một trận đánh “cấp tiểu đoàn” giữa lực lượng cộng sản và lính tác chiến bộ của Mỹ?! Tôi nghe đây. Vâng, báo chí Mỹ đã hoàn tất nhiệm vụ cao cả của họ (qua chiến tranh Việt Nam): Tên lính du kích không được trả công của người Cộng Sản. Những người làm báo thiên tả ở Mỹ có hay không mối chạnh lòng … Khi. nghe Võ Nguyên Giáp nói : “Lực lượng du kích hữu hiệu nhất của chúng ta ở Mỹ – Báo chí Hoa Kỳ.”
Quân đội Việt Nam không những bị trói tay, tước mất vũ khí; chúng ta còn bị những kẻ nội thù đâm ngập những đường dao độc hèn hạ. Và có thể nói không sợ sai lầm rằng: Chính chúng là thủ phạm đích thực của ngày 30 tháng Tư ở miền Nam; đánh mất toàn thể Hy Vọng đối với cả Việt Nam. Sau tháng 10/1973, khi Hà Nội phổ biến Nghị Quyết 21 của Trung Ương Đảng, quyết tâm đánh chiếm miền Nam bằng vũ lực; Dinh Độc Lập tiến hành soạn thảo một kế hoạch cải tổ toàn bộ cơ cấu chính trị, quân sự từ hạ tầng để chuẩn bị giai đoạn đấu tranh mới. Bản dự thảo kế hoạch được phổ biến tối mật, chỉ những giới chức lãnh đạo cao cấp nhất được phân phối và lưu giữ, mỗi bản được đánh dấu với những số hiệu đặc biệt: Một bản để ở văn phòng Tổng Thống; một ở Phủ Thủ Tướng; một được gởi đến văn phòng Tướng Cao Hảo Hớn, Chủ tịch Ủy ban thi hành Hiệp định Ba Lê. Đầu năm 1974, Cảnh sát Đặc Biệt được mật báo, có một nhân viên cao cấp của Cục R di chuyển theo lộ trình Sài Gòn – Mỹ Tho, chận bắt người này, một nữ bác sĩ, cảnh sát khám xét bắt gặp “một bản sao kế hoạch dự thảo nói trên”. Nội vụ chuyển đến trung tâm tình báo hổn hợp (cơ sở bên cạnh Tổng Tham Mưu) để tra xét, vì cơ quan này đặc trách về mặt tình báo và phản tình báo; cung cấp tin tức về đối phương cho Ủy Ban thi hành Hiệp định của Tướng Hớn. Một Ủy ban đặc trách điều tra nội vụ, gồm giới chức hỗn hợp Việt-Mỹ, trong số này có Thiếu tá Ng B Chg, cựu SVSQ khóa 14 Đà Lạt, hiện đang ở Cali. Trong trung tâm tình báo hỗn hợp có một Thiếu úy lớn tuổi xuất thân từ hàng binh, giữ phần giấy tờ văn thư. Người này có một chiếc xe Juva 4, đời xe đầu tiên của hãng Citroen; vì xe quá cũ nên người thiếu úy kia phải luôn sửa chữa. Việc sửa xe cũng là nguồn vui độc nhất đối với người sĩ quan lớn tuổi này mỗi khi ông ta rảnh rỗi.
Cùng trong thời gian nói trên (1973, 74) cơ quan truyền tin điện tử đặt trong khu Tân Sơn Nhất, xử dụng doanh trại và máy móc do Mỹ để lại ở Camp David, có nhiệm vụ kiểm thính và ghi nhận tất cả những nguồn tin đánh đi từ khu vực Tân Sơn Nhất, bao gồm Bộ Tổng Tham Mưu. Cơ quan kiểm thính này bắt gặp một kênh chuyển sóng về Lộc Ninh tại khu vực trách nhiệm. Vị trí phát sóng khác nguồn sóng phái đoàn Cộng Sản ở trại David. Vụ bắt giữ người nữ bác sĩ cuối cùng tìm ra liên hệ: Mỗi khi người thiếu úy kia sửa xe tức là đang chuyển tin về Lộc Ninh!! Người này bị bắt, chỉ một tuần sau đầu tóc hóa trắng bạc- Ông sợ hãi bởi cái chết quá chắc chắn. Buổi làm việc cuối cùng (tháng Ba, 1975), viên Thiếu tá Mỹ phụ trách việc thẩm vấn có kết luận: “Rồi đây ông sẽ là người thắng trận!”. Nhưng chuyện về trung tâm này chưa hết, sáng 30-4, khi các sĩ quan thuộc trung tâm cuống cuồng thoát chạy, viên thiếu úy ra khỏi phòng giam, trở lại “nhiệm sở cũ với người cũ – Viên Đại tá Phó giám đốc trung tâm!!”. Vâng, đây chỉ là một của trăm ngàn sự kiện để có thể kết luận: “Cộng sản đã xâm nhập sâu xa, lâu dài, tinh vi vào tất cả cơ quan, đơn vị của chúng ta, từ Phủ Tổng Thống, các bộ phận tình báo chiến lược, mỗi đơn vị chiến thuật”. Để chúng ta có thể hiểu tại sao B 52 dội vào chỗ trống, Tiểu đoàn 2 “Trâu Điên” TQLC bị phục kích ở Phong Điền, Thừa Thiên 1967, đơn vị cộng sản bắn không phí một viên đạn, Thiếu tá Lê Hằng Minh, tiểu đoàn trưởng chết ngay loạt đạn đầu tiên. Tin “chiến thắng” được Thích Minh Chiếu, một của những thủ lãnh tôn giáo vụ biến động 1966, Đà Nẵng, thông báo đến học sinh trường Bồ Đề ngay tại lớp học: “Tên tiểu đoàn trưởng ác ôn đã bị cách mạng trừng phạt” dù báo chí Sàigòn chưa hay biết. Chúng ta còn bị phục kích ngay tại lãnh vực tưởng đã là an toàn nhất với những gia nô, những người nhận bổng lộc hậu hĩnh nhất của chế độ. Dân biểu Đinh Văn Đệ, Chủ Tịch Ủy Ban Ngân Sách Hạ Viện, một người rất được tin cẩn của ông Thiệu. Trong giai đoạn sinh tử, tháng 3- 75, Đệ cầm đầu một đám dân biểu khác sang Hoa Kỳ cầu viện, nhưng ông ta lại có một chủ điểm khi nói cùng Quốc Hội Mỹ:
“Trình bày thế nào để Chính Phủ, Quốc Hội Mỹ Phải Từ Chối – Vì có viện trợ thêm 300 triệu hay nhiều hơn nữa cũng vô ích!! “Như thế là thế nào?? Hóa ra trong tường trình công tác, ông dân biểu gia nô này không những chỉ báo cáo với Dinh Độc Lập ở Đường Công Lý Sài Gòn, mà với Trung Ương Cục Miền Nam ở Lộc Ninh kèm lời ghi chú phấn khởi: Hoa Kỳ không bao giờ can thiệp lại ở Việt Nam!! (Trả lời của Đệ với Larry Engelmann – Tears Before Rain). Hèn gì Phạm Văn đồng mới có thể nói chắc: “Cho kẹo Mỹ cũng không vào lại Việt nam!! ” như đã kể. Sự việc đến đây có thể kết luận rằng: Vì làm cho ông Thiệu, nên dân biểu Đệ “phải thay mặt người chủ”để soạn cái báo cáo kia; không lẽ đường đường một “ông Tổng Thống VNCH” lại đi soạn báo cáo gởi đến Việt Cộng sao?! Đấy là do vụ đổ bể với HVTrọng, V NNhạ, ông Thiệu không còn phụ tá thân tín nữa mới dùng đến Đệ. Chứ nếu không biết đâu? Kể ra Đệ cũng xứng đáng với đồng tiền nhận từ ông tổng thống. Và ông Thiệu cũng quả tình rất tinh tế khi chọn người. Biết đâu trong lý lịch trích ngang được lưu giữ bí mật tại Ban Nghiên Cứu Lịch Sử Đảng về một số cán bộ cao cấp nằm vùng tại Sài Gòn lại không có yếu tố: “Đã có liên hệ cộng tác tốt với Đồng chí Tổng Thống”. Ngoài những PNThảo, Phạm Xuân Ẩn, Trọng, Nhạ, Chuẩn tướng Hạnh, viên Đại tá Phó Giám đốc Trung Tâm Tình Báo, Dân biểu Đệ … Hỏi thử còn bao nhiêu người? Còn bao nhiêu người nữa? Ông Thiệu được tiếng đa nghi và khôn. Cuối cùng, chúng ta làm được gì với từng ngày khổ nạn, qua từng đêm vây thù khi ở Sài Gòn trong Dinh Độc Lập, những đại diện dân, những cố vấn, những lãnh tụ xây đắp công danh, quyền lực với chính máu của mỗi người lính đổ xuống. Không thiếu những viên tỉnh trưởng bán gạo cho Việt Cộng. Tư lệnh sư đoàn bán súng và cả chiến xa cho đối phương!!
Năm 1956, một thanh niên vượt tuyến, lội sông Bến Hải vào Nam; viên tướng Tư Lệnh Đệ Nhị Quân khu, thời này đang đóng tại Huế, cho viên Thiếu tá chánh văn phòng đi đón người kia vốn làm em thứ tư trong gia đình. Khi hỏi lý do vượt tuyến, người thanh niên nói cùng anh” … Vì ảnh hưởng của sự kiện anh là tướng lãnh của quân đội miền Nam, nên gia đình ở đất Bắc bị khó khăn về chính trị, kể cả đời sống kinh tế, xã hội; ngay đến người anh cả vốn là một trung tá chỉ huy trưởng một đơn vị phòng không, có công trận trong chín năm kháng chiến chống Pháp cũng bị nghi ky .. ”. Người thanh niên ở với anh, đến tuổi trưởng thành nhập học khóa 11 Thủ Đức, năm 1960 dù gia đình thừa khả năng cho anh ăn học cao hơn. Lý do vào lính của người nầy là mong được ngày vinh quang như anh!! Người thanh niên nói cùng vị tướng như thế. Ông tướng cũng vui lòng vì em mình chọn võ nghiệp. Những ngày cuối tháng Tư, 1975, viên tướng từ lâu đã giải ngũ cho người về Mỹ Tho gọi em lên Sài Gòn để cùng đại gia đình đi Mỹ (Bởi ông là tướng lãnh thâm niên của quân đội, từng làm Đại sứ ở Thái Lan, có giao thiệp sâu rộng trong chính giới, tướng lãnh Mỹ). Người em giờ này là Thiếu tá, trưởng phòng Hành quân Bộ Tư lệnh Vùng IV Duyên Hải; người được mệnh danh là “VC killer“, do sau mỗi đợt hành quân, kéo xác Việt Cộng dọc sông Mỹ Tho để đồng bào, lính tráng nâng cao “tinh thần sát cộng”. Người em từ chối đề nghị của anh với lý do: “Anh ta chỉ là một thiếu tá, không việc gì phải sợ hãi khi cộng sản vào”. Vâng, chỉ là một sĩ quan cấp thiếu tá, cho dù đã là “VC Killer,” vì cách mạng vốn … “khoan hồng”. Anh ta nói chắc như thế và bình yên trình diện “đi trình diện học tập”. Tháng Sáu, 1976 anh ta ra Bắc, ở Trại 1, Đoàn 776, vùng xã Việt Cường, Yên Báy, thung lũng Hoàng Liên Sơn, lao động tốt, học tập tốt như tất cả mọi người. 1978, sau hai năm “học tập cải tạo” có tiến bộ, một cán bộ cộng sản từ Hà Nội theo sau có viên Bí Thư Chính Ủy Đoàn 776 đến Trại 1; Thiếu tá “VC Killer” lên làm việc và ra khỏi trại. Viên trại trưởng cũng không biết việc gì đã xẩy ra. Nhưng Thiếu tá Hải Quân “VC Killer” chưa xong công tác, hiện tại anh ta đang đảm nhiệm chức vụ “giữ xe đạp ở Ban Mê Thuộc” với đối tượng công tác mới “tập thể đám cán bộ cộng sản của Thị Xã Ban Mê Thuộc.
Một chuyện khác, sau 30 tháng Tư, những cựu SVSQ khóa 18 chúng tôi đi trình diện ở địa điểm Chợ Lớn gặp một khuôn mặt quen thuộc, người bạn cùng khóa, cựu SVSQ Chí, Thiếu tá An Ninh Quân Đội ngồi ở bàn ghi danh. Chỉ khác, Thiếu tá mang quân hàm Thượng úy cộng sản! Chương trình H.O bắt đầu thực hiện vào năm 1990, người “cựu SVSQ khóa 18, cựu Thiếu tá An Ninh Quân Đội, cũng cả cựu Thượng úy Việt Cộng đến Mỹ theo diện HO 2 “. Mấy chục trại tù từ Nam ra Bắc hoàn toàn không có mặt người này. Anh ta thiết lập hồ sơ HO với iấy Ra Trại năm 1981-Trại Cây Trâm, Sông Bé, một trại hình sự, nếu hoạ hoằn có đôi ba sĩ quan cấp thiếu, chuẩn uý. Chúng ta không những bị đâm vào lưng mà còn phải bước chân lên bãi mìn dưới ánh sáng tàn nhẫn bị phản bội cùng những “NGƯỜI ĐÃ LÀ MỘTLẦN CHIẾN HỮU NGỤY DANH.”
Chúng ta phải thua trận cũng đành.
THẾ NHƯNG CHÚNG TA VẪN CHIẾN ĐẤU, NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM- MỘT NHIỆM MẦU.
Để kết thúc bài viết, chúng tôi xin kể lại một đoạn ngắn về một trận đánh đã kết thúc rất lâu, nhưng không hề chấm dứt với trí nhớ và đời sống của mỗi chúng ta …Tính đến ngày 15/9/1972 từ thời điểm 7 tháng Bẩy, ngày mở đầu chiến dịch tái chiếm Quảng Trị, thì trận chiến kéo dài 68 ngày. Trong thời gian 68 ngày này, bốn Tiểu đoàn Nhẩy Dù (5, 6, 7 và 11), giai đoạn đầu; và tám Tiểu đoàn TQLC cùng một Liên đoàn BĐQ trong giai đoạn hai; toàn thể người lính của những đơn vị nói trên liên tục tác chiến trên một chiến tuyến dài đúng 2,500 thước từ Ngã Ba Long Hưng, ngõ vào Quảng Trị đến chân Cổ Thành Đinh Công Tráng; đặc biệt 48 ngày cuối cùng TQLC, từ ngã ba Lê Văn Duyệt – DuyTân đến bờ sông Thạch Hãn. Trên chiến trường một cây số bề ngang này, tức là 1,00 thước chiến đấu (Phải nói rõ từng con số chính xác như thế để có thể hình dung ra sức căng thẳng, cường độ khắc nghiệt của chiến trường-Mà quân sử thế giới chưa hề vượt qua cho dù ở Bastogne, Okinawa … ) Mười lăm tiểu đoàn bộ chiến gồm khoảng 7,000 con người phải đi qua, bò, trườn, ẩn núp, ném lựu đạn, bắn đại liên, gọi pháo, điều chỉnh bom … với từng tấc đất chiếm lại. Trong 68 ngày này, giàn pháo của sáu tiểu đoàn 105 ly của Nhẩy Dù và TQLC, hải pháo từ Hạm đội 7 đã bắn bao nhiêu quả đạn; phi cơ Không Quân Việt Nam, Hải Quân Hoa Kỳ, của Không Lực Mỹ từ Đà Nẵng, từ Guam, từ Thái Lan …
Đã dội bao nhiêu tấn bom?!
Chỉ trong vòng bốn giờ từ 6 đến 10 giờ này 25 tháng 7, phi cơ Việt Nam đánh bảy phi tuần xuống Đông- Bắc Cổ Thành mở đường cho Tiểu đoàn 5 Dù tiến chiếm mục tiêu. Bảy phi tuần gồm mười bốn phi xuất, một phi cơ trong một phi xuất đánh mười hai trái bom từ 250 Pounds đến 500 pounds … Vậy trong 68 ngày kể trên bao nhiêu bom đã liên tục rơi trên 2,500 thước chiều dài và 1,000 thước ngang kia?! Buổi bình yên đi hết thị xã chỉ cần nửa giờ Honda. Thế nên, Quảng trị phải được gọi là Thánh Địa hứng chịu tất cả tai ương cho nhân loại – Chúng ta không còn một nơi chốn nào trên mặt đất này khi đã sống và chết trên Quê Hương cùng cực điêu linh. Chúng ta có thể nại đến một so sánh. Người Đức bao vây Stalingrad 76 ngày; quân lực Mỹ vây Bataan trong 66 ngày; Corregidor 26 ngày; quân lực Anh và Khối Thịnh Vượng chung tử thủ Tobruk trong 241 ngày. Và gần gũi nhất, Điện Biên Phủ ở Việt Nam, Pháp và Việt Minh thực sự tấn công cường tập và phản tấn công cũng chỉ đúng 56 ngày kể đến 7 tháng Năm. Những cuộc bao vây và tử thủ lừng danh này được thực hiện với súng tiểu liên Sten, Mas 36, Garant M 1, Carbin M 2 hoặc súng trường bá đỏ của Nga – Những vũ khí hàng đầu của bộ binh thế giới lúc ấy. Những trận đánh để đời của quân sử thế giới kia có là gì, khi một anh hạ sĩ, hai mươi mốt tuổi, Trần Văn Rony của tiểu đoàn 6 Dù trên đường tiến quân đếm đúng trăm xác người chết. Chết do lựu đạn và đánh cận chiến. Dưới đất là cá nhân chiến đấu, trên trời một Pass B. 52 đi qua. (Sau 27/7/1972, B 52 được lệnh đánh trận Quảng Trị) … Một Pass B 52 gồm ba chiếc, mỗi chiếc chở bốn mươi hai quả bom 250 Pounds và hai mươi bốn quả nặng 500 Pounds … Tất cả khối lượng bom đạn này được trút xuống Cổ Thành, bức tường gạch dài đúng năm trăm thước. Còn gì nữa không? Quả thật không còn trời, chẳng còn nơi gọi tên mặt đất. Cũng không còn người!! Bởi còn người nào sống xót trên đoạn đường từ Ngã Tư Quang Trung-Duy Tân, nơi Tiểu đoàn 6 Dù bàn giao lại, nhữngngười lính của Tiểu đoàn 6 TQLC của Đỗ Hữu Tùng, khóa 16 Đà Lạt phải qua hết 48 ngày tác chiến để chiếm được mé Cổ Thành trong buổi sáng 14 tháng Chín – Trên 400 thước bề dài này, người lính Tiểu đoàn 6 phải bò bằng cách chống tay lần qua mỗi chốt “kiền,” chốt là một hệ thống công sự bố trí theo thế liên hoàn mỗi chốt có từ ba đến chín người (tổ chức tam chế của cộng sản trong chính trị cũng như tác chiến); gồm đủ B 40, B 41, thượng liên, chôn cứng dưới những công sự phòng thủ chịu được bom. Chốt được bảo vệ bởi một hàng rào hỏa lực gồm “cối cơ hữu” của những chốt cứng phía sau; toàn thể bao che bởi giàn đại pháo từ Đông Hà, Bến Hải, Khe Sanh tập trung hỏa lực dồn về 400 thước đất kia qua 48 ngày tác chiến không dứt thở. Hỏi thử người lính Việt Nam đã chịu đựng thế nào để chiến đấu cho quê hương một buổi tồn sinh!?
Thế nhưng người lính gầy gò, khốn khổ ấy, người lính không hề chợp mắt bình yên từ ngày 30 tháng Tư, ngày mất Quảng Trị, không hề có được lần cầm chén cơm nóng, uống hớp nước trong lành. Suốt trận chiến mùa Hè 1972, anh phải hằng ngày mang bốn ngày thức ăn, gạo, áo quần, chiếc poncho, võng, 600 viên đạn XM 16, sáu trái lựu đạn, hai hỏa tiễn chống chiến xa, phá công sự M 72 … Tất cả khối nặng nề này đè xuống thân thể nặng cũng chỉ bằng cái khối oan khổ chồng chất trên lưng. Người Lính đó đã mang vác nỗi đoạn trường ấy từ một thuở rất lâu … Đã từ lâu. Và Anh là đối tượng bị khinh miệt, bị hạ nhục khắp trên sách báo ở Mỹ; nơi biểu tình “đòi quyền sống” ở đường phố Sài Gòn, trong khuôn viên đại học hội thảo phản đối chiến tranh với những giáo sư khoa bảng của văn minh, văn hóa nhân bản Tây Phương … Trên bức hình Tướng Loan bắn tên đặc công Việt Cộng. Người Lính đã bị chôn sống, bức tử cùng một lần với khổ nạn quê hương Miền Nam. Hai mươi năm vết thương hằng tươi máu. Cơn hấp hối vẫn ghê gớm kéo dài. Người Lính Việt Nam đã chiến đấu và tồn tại như một nhiệm mầu. Trên chịu đựng lặng lẽ của họ Tổ Quốc điêu linh thở từng hơi ngắn đớn đau nhưng bền bỉ. Chúng ta có tội và hoàn toàn bất lực trước chân dung khổ nạn bi tráng của Người và Quê Hương.
Phan Nhật Nam
Quê Hương Tôi Nỗi Dau Dài Hơn Trí Nhớ
Sống Từng Ngày, Cơ Khổ Quá Trăm Năm
Nhục Mất Nước Thấm Từng Giây Rất Mới
Nơi Dất Xa Hằng Nuốt Xuống Nấc Thầm.
Mùa Phục Sinh 1995

Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.