Giờ thứ hai mươi lăm

Vietmessenger.com

Constantin Virgil Gheorghiu

Bản dịch của Lê Ngọc Trụ và Võ Thị Hay

Gió Bốn Phương xuất bản 1967

Theo Bản Dịch La Vingt – Cinquième Heure Của Monique Saint – Côme

Nxb Gió Bốn Phương, Saigon 1967

Post by Sơn râu 29 Jan 2026

Chương 1 – Phần 1

Làng Fântâna

– Em không thể tin rằng anh đi được!

Suzanna vừa nói vừa ôm siết Iohann Moritz vào mình. Nàng để tay lên đầu anh và vuốt nhẹ mớ tóc đen. Moritz lùi một bước, nói:

– “Tại sao em không tin? Ngày mốt, sáng sớm thì anh đi”. Chàng trả lời, giọng cứng cỏi. Nàng đáp nhỏ:

– Em biết rồi.

Họ đứng gần một hàng rào. Trời mát lạnh vì đã quá nửa đêm. Moritz cầm tay Suzanna, rồi bỏ xuống, nói:

– Bây giờ, thôi, chào em!

– Ở nán thêm chút nữa, anh.

– “Sao em cứ muốn anh ở nán thêm?”. Giọng chàng quả quyết hơn: “Đã khuya quá rồi. Mai anh còn phải đi làm sớm”.

Nàng không trả lời, nép sát mình vào Moritz. Mở hở áo anh ra, nàng đặt gò má vào ngực anh và ngó lên trời, nói:

– Sao đẹp quá!

Moritz chờ một chuyện quan hệ hơn. Anh tưởng nàng biểu ở nán lại để nói chuyện ấy, thế mà nàng lại nói chuyện sao trên trời. Anh xê ra, muốn rời nàng, nhưng nhớ lại mình phải ra đi, và phải vắng mặt ít lắm là ba năm, nên anh bèn nhìn sao để nàng vui lòng. Suzanna hỏi:

– Phải chăng mỗi người đều có một vì sao bổn mạng, và khi họ chết thì sao rụng không anh?

– “Anh chẳng biết gì cả!”. Và chàng nhứt định đi về, nên nói: – Thôi chào em!

Nàng cố hỏi thêm:

– Phải chăng chúng ta cũng có ngôi sao của chúng ta trên ấy không anh?

– Cũng như mọi người. Ở trên ấy, hay ở trong ta.

Moritz nâng đầu Suzanna ra khỏi ngực. Anh bước đi. Nàng cầm tay anh đưa đến đầu đường. Nàng nhìn sao, ngó Moritz rồi nói:

– Em chờ anh tối mai.

– Nếu trời không mưa!

Suzanna muốn đi theo anh và van anh phải đến, dẫu trời mưa. Nhưng Moritz đi quá mau, đã khỏi khúc quanh đường, khuất sau miếng vườn. Nàng đứng yên lặng, vuốt áo, phủi mấy cành nhỏ dính ở hông. Trước khi vô sân, nàng nhìn lại đám cỏ nhàu nát, dưới cây gồi lúc nãy hai người đã nằm kề. Mũi nàng còn giữ hơi của Moritz, một thứ hơi lẫn các mùi cỏ nát, thuốc lá và hột trái anh đào.

Moritz băng đồng về nhà, vừa đi vừa huýt sáo. Anh mặc quần lính đen, áo sơ-mình trắng cổ hở, đi chân không. Đã mấy lần, anh ngưng huýt sáo và ngáp dài. Đoạn nhớ lại người đàn bà anh vừa chia tay, nghĩ đến Suzanna, anh muốn mỉm cười: “Hừ! Chuyện ngôi sao… Đàn bà thật trẻ con. Họ hỏi toàn những chuyện vô ích!”. Rồi nhớ tới cuộc hành trình anh định đi trong hai ngày nữa. Anh nghĩ tới nước Mỹ. Thét rồi không thèm nghĩ ngợi chi hết. Anh lại huýt sáo. Buồn ngủ quá! Phải mình được ở nhà liền bây giờ để ngủ. Mai còn phải dậy thật sớm, ngày làm công chót mà! Kìa trời đã hừng đông. Còn vài giờ nữa là sáng. Nghĩ đến đó, Moritz rảo bước thật mau.

Vừa hừng sáng, Moritz ghé lại máy nước trong làng, mở rộng áo sơ-mi ra, đưa tay bụm nước rửa mặt, rửa cổ. Anh vừa đi ra giữa lộ vừa vuốt tóc cho tay khô, sửa lại bâu áo chớ không gài nút. Anh nhìn cảnh làng, sương mù màu sữa đục tan lần. Đó là lang Fântâna xứ Roumanie. Moritz sanh trưởng nơi đây được 25 năm rồi. Và hiện giờ, trong lúc anh ngắm quê nhà chỉ có những nóc gia bé nhỏ với ba gác chuông của ba nhà thờ: Chính thống giáo, Thiên Chúa giáo và Cơ đốc giáo, anh lại nhớ đến câu nói của Suzanna hôm qua: “E rằng anh phải tiều tụy vì không sống ở đây nữa!”. Anh đã cười, cho là câu nói đùa và trả lời rằng, anh đã thành nhơn, chỉ có đàn bà mới tiều tụy thôi. Nhưng bây giờ anh cảm thấy một cái gì luyến tiếc xâm chiếm anh. Anh vội huýt sáo, ngoảnh mặt đi.

Nhà của mục sư Koruga ở dựa đường, gần nhà thờ Chính thống giáo. Cửa đóng. Moritz cúi xuống lấy chìa khóa giấu dưới cửa, cất như vậy để có thể mở vào, khi đi làm sớm. Anh mở cánh cửa nặng nề, không hấp tấp. Vô trong sân, mấy con chó chạy lại trững giỡn quanh anh. Chúng nó quen biết anh nhiều, vì anh đã làm cho mục sư hơn sáu năm nay; mỗi ngày, trong sáu năm liền, anh đến như là nhà anh. Song bữa nay là ngày làm chót của anh. Anh sẽ hái trái bôm suốt ngày, rồi sẽ lãnh tiền và mạnh dạn thưa với mục sư về ý định của anh, vì mục sư chưa hề biết gì.

Anh vô kho chứa đồ nghề, xách giỏ chất lên xe. Mục sư bước ra bao-lơn, mình mặc áo sơ-mình vải trắng. Ông vừa thức dậy. Moritz chào ông và cười. Anh để giỏ xuống, phủi tay, leo lên bao-lơn, lấy bình nước trên tay mục sư, nói:

– Cha để tôi xối nước cho.

Anh vừa xối nước, vừa nhìn tay mục sư. Ngón tay búp măng, dài và trắng, y như ngón tay đàn bà. Anh vui vẻ xem mục sư thoa xà-bong vào râu, vào cổ, trên trán. Mải nhìn, anh quên xối nước. Mục sư đưa hai tay đầy bọt xà-bông, chờ đợi. Moritz thấy có lỗi và đỏ mặt.

Mục sư Koruga là giáo trưởng trong làng. Ông mới độ năm mươi mà râu tóc đều đã bạc trắng. Vóc ông ốm yếu, mảnh dẻ, mình lòi xương như các hình thánh trong nhà thờ Chính thống giáo. Có thể nói ông là một ông già, chừng nhìn cặp mắt ông và nghe ông nói, mới nhận ra ông còn trẻ. Khi rửa mặt xong, ông lau mặt, lau cổ, bằng khăn vải thô. Moritz cầm bình nước đứng chờ, và nói:

– Tôi có một chuyện cần thưa với Cha.

– Anh chờ tôi thay đồ đã.

Mục sư lấy bình nước trên tay Moritz, cầm vô nhà. Tới ngưỡng cửa, ông ngoái lại vừa cười, vừa nói:

– Tôi cũng có chuyện để nói với anh nữa. Tôi cho anh một tin mừng. Giờ đây, hãy chất giỏ lên xe và bắc kế đi.

Suốt buổi mai, Moritz và mục sư hái trái bôm đựng đầy giỏ. Họ làm việc, không nói chuyện. Khi mặt trời nóng tới vai, mục sư ngưng làm, mỏi mệt, giăng hai tay ra, rồi nói: Ta nghỉ một lát đã.

Moritz đáp: Dạ!

Hai người bước lại chỗ mấy bao đầy trái bôm và ngồi lên trên. Họ làm thinh. Mục sư tìm trong túi gói thuốc ông mang theo luôn luôn để dành cho Moritz, đưa cho anh, và hỏi:

– Anh muốn nói chuyện gì với tôi?

– Dạ, tôi muốn thưa một chuyện.

Moritz châm điếu thuốc hút, quăng diêm quẹt trong cỏ, và xem nó tắt. Thật là khó nói chuyện ra đi của mình với mục sư. Anh còn dụ dự, thì mục sư lại tiếp:

– Để tôi báo tin mừng của tôi với anh trước.

Moritz rất vui lòng được khỏi phải nói trước. Mục sư khoan thai khởi chuyện:

– Cái phòng nhỏ gần nhà bếp của tôi trống, tôi nghĩ anh có thể đến ở. Vợ tôi đã quét vôi, treo màn và để sẵn vải trải giường sạch sẽ rồi. Nhà anh không đủ chỗ, chỉ có một căn phòng cho ba má anh và anh. Mai đi làm, anh đem đồ đạc lại ở.

– Ngày mai tôi không đến.

– Thì ngày mốt. Kể từ nay phòng ấy về anh.

– Tôi không đến đây nữa. Mai này tôi sang Mỹ.

– Mai này? Mục sư trố mắt nhìn.

– Dạ, mai này, sáng sớm.

Giọng Moritz tuy cứng cỏi nhưng ẩn một hối tiếc. Anh nói tiếp:

– Tôi mới được thơ, tàu cặp bến Constantza và chỉ đậu có ba ngày thôi.

Mục sư biết Moritz muốn sang Mỹ. Đã nhiều thanh niên nông dân qua đó, và chừng vài năm họ trở về, giàu có, mua nhà tốt và đất đai trong làng. Mục sư vui lòng thấy Moritz cũng đi. Trong vài năm nữa, anh cũng sẽ có một miếng đất của anh. Ông chỉ hơi lạ, vì cuộc hành trình quá gấp. Moritz không hề nói với ông chuyện này, tuy mỗi ngày anh với ông đều làm việc kế cận nhau luôn.

Moritz nói:

– Tôi vừa được thơ hôm qua.

– Anh đi một mình?

– Với Ghitza. Chúng tôi xuống tàu làm công, chỗ nồi súp-de. Như thế chỉ trả có năm trăm “lơ” mỗi người. Có bạn của Ghitza ở Constantza làm tại bến tàu lo hộ.

Mục sư chúc Moritz may mắn. Ông tiếc anh còn trẻ và làm việc giỏi. Anh lại tốt bụng, thật thà, nhưng nghèo. Anh không có tấc đất nào hết.

Hai người lại tiếp tục làm việc. Ông già bèn nói chuyện về nước Mỹ. Moritz lắng tai nghe. Anh thở dài mấy bận. Anh hơi hối tiếc về sự quyết định của anh. Chiều đến, sau khi lãnh tiền, Moritz đứng một hồi lâu, trước mục sư, mắt ngó xuống. Anh không can đảm bướoc đi. Mục sư vỗ vai anh nói:

– Khi tới nơi, anh nhớ viết thơ cho tôi. Mai sáng anh lại đây lấy gói đồ tôi soạn cho anh, anh sẽ có những gì ăn để đi đường.

Mục sư lại cho anh thêm năm tấm giấy 100 “lơ” và nói tiếp:

– Nhớ đến sớm, gõ nhẹ nhẹ cửa sổ tôi. Tốt hơn đừng cho vợ tôi nghe. Đàn bà họ hà tiện lắm! Tối nay tôi soạn đồ sẵn. Chừng nào anh đi?

– Mờ sáng. Tôi hẹn với Ghitza ở đầu làng.

– Vậy anh chỉ đủ thì giờ tạt qua nhà tôi. Hay là tối nay anh lại nhà tôi!

Moritz nghĩ đến Suzanna chờ anh, nên trả lời:

– Ngày mai tiện hơn.

Anh ra về.

Mục sư Koruga để bao lương thực dựa tường, dưới cửa sổ. Ông tắt đèn đi nằm. Trước khi ngủ, ông nghĩ đến Moritz, đến cuộc đi Mỹ của anh. Lúc soạn sắp bao đồ, ông có cảm giác là như chính mình sẽ đi. Ba mươi năm về trước, ông cũng có một lần sửa soạn hành trang. Khi ấy ông mới đậu bằng tiến sĩ thần học. Ông đăng tên làm nhà truyền giáo nơi Chính thống giáo hội Michigan. Một tuần lễ trước khi đi, ông lại đánh điện xin từ khước chỗ làm này. Vì trong khoàng thời gian ấy, ông quen biết vợ ông và đã làm lễ cưới. Từ đó, ông ở lại làm giáo trưởng làng Fântâna. Làng nhỏ, đời sống khó khăn. Ông thường hối tiếc cơ hội bỏ lỡ, nhưng đã quá trễ rồi! Mỹ quốc chỉ còn trong mộng tưởng. Mỗi khi một dân làng nào sang bên ấy, thì ông cho thuốc hút, thực phẩm với chút ít tiền nong, và dặn viết thơ về cho ông khi đi tới nơi. Làm việc ấy, ông giấu bà. Vợ ông không có gì nói ông được. Nhưng hễ nghĩ đến Mỹ quốc thì ông cảm thấy hình như phụ tình bà. Vì bà mà ông không ra đi. Trong thâm tâm ông vẫn còn sự xung đột ngấm ngầm ấy.

Nay Moritz ra đi, không phải như những người khác kia. Anh là người thân tín của ông. Và Moritz ra đi, tất là một chút gì của ông cũng đi sang Tân Thế giới.

Trăng tỏ. Mục sư không tài nào ngủ được. Ông đứng dậy, thắp đèn đi qua phòng sách mà khắp cả ba phía tường đều có kệ sách. Ông cầm một quyển. Trước khi giở ra, ông nhìn lên mấy kệ đầy sách. Có đủ thứ chữ: Anh, Pháp, Đức, Ý. Tường bên kia, sách cổ điển Hi-Lạp và La-Mã. Đó là những bạn cố tri của ông. Thỉnh thoảng, ông tự hỏi sao ông không muốn vào giảng tại Đại học đường. Nhiều bạn ở Iasi và Bucarest đã hai lần mời ông, nhưng ông đều từ chối chức giáo sư môn Lịch sử Giáo hội. Ông không tiếc. Ở Fântâna, ông làm lễ mi-xa bữa chúa nhật và mấy ngày lễ; ngoài ra, ông lo chuyện đất vườn, nuôi ong mật, trồng cây trái. Tối đến, ông đọc sách. Vận mạng ông bảo đảm tương lai ông. Ông an phận như thế. Có một lần ông muốn cưỡng vận mạng: chuyện muốn đi Mỹ quốc. Ông hết lòng lo lắng để đi, nhưng mặc dầu hết sức lo, chuyện đi không thành. Một bất ngờ đã xảy đến. Thế là hết! Từ đó, ông không toan tính nữa.

Ông tự hỏi: “Có phải thật mình còn tiếc cuộc ra đi ấy cách ba mươi năm nay chăng? Nếu không, sao mình lại băn khoăn lạ kỳ về chuyện đi của Moritz?”. Ông kéo mền lên, suy nghĩ: “Mình đã không buồn khi ở lại. Đây chỉ là lòng nhớ nhung một vật gì mình tưởng là thật trong mộng ảo, nhưng chẳng khi nào chiếm được trên thực tế. Đến khi tưởng đã nắm được nó thì lại nhận ra liền là không phải vật mình mơ ước. Có thể Mỹ quốc không phải là xứ mình muốn tìm đến? Có thể nó chỉ là một cớ về nỗi lo âu của mình. Mỹ quốc là xướng khởi của lòng thương nhớ vẩn vơ. Chưa biết Mỹ quốc có lẽ sẽ ít thất vọng hơn khi đã biết thật sự nó rồi”.

Mục sư vẫn chưa ngủ được. Ông ngùi ngùi cảm động, nóng lòng chơ cho mau sáng, như chính ông đã hẹn gặp Ghitza ở đầu làng để đi Constantza, rồi cùng nhau xuống chiếc tàu đang chờ đợi, tàu “chỉ được đậu ở bến có ba ngày thôi”.

Khi ông thức giấc, trời còn tối, nhưng gà đã gáy sáng. Đường vắng, làng còn chìm trong một lớp sương mù. Mục sư mở bao, để thêm gói thuốc hút còn để nằm trên bàn. Ông nghĩ thầm: “Nếu Moritz đi, mình đâu còn ai để biếu thuốc, mình mua cốt để dành cho anh ấy mà thôi”. Dòm qua cửa sổ, thấy trời rạng sáng, ông nói: “Moritz phải lẹ lẹ, không thì trễ hẹn!”. Ông nghe tiếng chân đi ngoài đường, nhưng lại vượt qua khỏi nhà và xa lần. Ông ra bao-lơn rửa mặt bằng nước lạnh mà không có Moritz ở đó để xối nước cho ông.

Mặt trời lên cao. Moritz không thấy lại. Mục sư chờ anh tới giờ ăn sáng. Ông nghĩ chắc anh thức dậy trễ, nên không kịp đến lấy bao đồ. Ông tiếc thầm: “Uổng quá! Anh ta sẽ có gì ăn trong ít nữa ba tuần lễ, vừa đủ cho mấy ngày đầu của anh ta ở xứ người!”.

Bà mục sư bước ra thềm nói:

– Ông ăn sáng đi chớ.

Ông đáp: – Tôi đi đây.

Ông vội cất bao đồ dưới giường, lòng ông se lại, buồn tiếc phải từ bỏ một việc, và từ bỏ mãi mãi việc ấy. Hy vọng chót sang Mỹ quốc, hay ít ra hy vọng ủy nhiệm lần chót đã mất. Ba mươi năm về trước, ông đã hành động y như vậy. Ông đi qua bàn ăn.

Ông nói thầm: “Nếu Moritz lấy bao đồ tự tay mình sửa soạn cho nó, mình sẽ có cảm tưởng như mình ra đi. Rất tiếc, anh lại không đến!”.

Khi ra khỏi nhà mục sư, Moritz ghé lại máy nước, tắm gội sạch sẽ, rồi đi đến phía bên kia làng, chỗ Nicolae Porfirie ở. Nicolae có một miếng đất, gần ven rừng, muốn bán. Moritz bước vô sân nhà, nói:

– Mai này tôi sang Mỹ châu. Chừng về sẽ có đủ tiền mua miếng đất này. Trước khi tôi đi, tôi muốn đưa tiền cọc để anh đừng bán cho ai.

Nicolae hỏi:

– Anh ở bển bao lâu?

– Chừng nào có đủ số tiền theo ý muốn. Hai, ba năm không chừng.

– Phải, ba năm là vừa. Không ai ở quá ba năm. Bên Mỹ, dễ kiếm tiền lắm!

– Anh muốn bán bao nhiêu?

– Hiện giờ tôi chưa cần tiền. Như trong ba năm, anh trở về với số tiền 50.000 đồng “lơ”, anh sẽ được miếng đất. Tôi không bán cho ai, tôi chờ anh.

Moritz móc túi, lấy xấp giấy bạc ra đếm trên ngạch cửa, rồi đưa cho Nicolae, nói:

– Đây ba ngàn “lơ”. Tốt hơn anh nên có tiền cọc trước.

Cuộc mua bán đã xong; Moritz siết tay Nicolae, rồi ra về. Trời chưa tối. Anh muốn xem lại miếng đất, tuy anh đã thấy nó nhiều lần. Anh thuộc lòng nó, song bây giờ lại khác, nó là của anh. Chỉ còn có việc chồng đủ tiền là anh đến ở được.

Moritz băng qua cánh đồng. Anh đi rất mau. Áo anh thấm mồ hôi dính sát da. Anh không thể nhẫn nại đi chẫm rãi được. Đến rừng rồi, anh ngừng lại. Đất của anh chạy dài, từ chỗ anh đứng, nơi ven rừng. Họ đã trồng bắp, cao độ chấm vai anh. Đất không mấy rộng, nhưng có thể cất một cái nhà có sân, có vườn cây trái. Anh nhắm chừng bề dài và bề ngang. Anh thấy hiện lên trên đám bắp, cái nóc nhà, cái tay quay nước giếng, cái cánh cửa ngõ bằng cây gồi và cả chuồng bò nữa. Đã bao lần, anh thấy cảnh tượng trên đây, nhưng không lần nào rõ bằng bây giờ. Tất cả đều dường như thật, đúng với sự anh ao ước làm anh mỉm cười. Gió thổi qua đám bắp, uốn chuyển những cành lá xanh tươi như lượn sóng. Anh lắng nghe tiếng xào xạc. Anh cúi cuống, hốt một nắm đất. Đất nóng trong lòng tay anh như một sinh vật, như hơi nóng của chim sẻ cầm trong tay. Moritz lại cúi xuống hốt một nạm khác. Anh bóp chặt nắm tay rồi buông ra, để đất rơi xuống kẽ tay. Anh băng ngang đám bắp để đến phía rừng. Tới giữa đám bắp, anh lại cúi xuống hốt một nắm đất, rồi nói: “Ở đây đất cũng nóng”. Anh cầm hòn đất kê sát vào má anh. Mùi đất xống vào mũi anh thấm thía. “Y như mùi thuốc lá, mùi đất tốt”, anh nghĩ thầm, và ngước đầu lên. Moritz hít nhiều hơi dài, như để thấm buồng phổi mùi đất thơm tho ấy. Anh nhớ đến Suzanna đang chờ anh, anh huýt sáo.

Nhà của Iordan, cha Suzanna, ở phía ranh làng. Moritz băng qua vườn, đi thẳng tới sân. Anh đứng lại dòm qua kẽ hàng rào. Iordan vừa nặng nề bước ra bao-lơn. Ông lần lượt đóng cửa, vặn chốt và khóa chặt lại. Moritz ngó theo từng cử chỉ của ông. Đóng cửa nẻo xong, ông còn nghi ngờ, ngó chung quanh, rồi bước xuống mấy bực thang bằng cây, kêu răng rắc dưới sức nặng thân hình to tướng của ông. Như thường bữa, ông mặc áo màu xanh lá mạ, mặc quần kiểu quần cỡi ngựa, và mang giày ống. Ông đi ngang qua vườn trước nhà, lại phía cửa ngõ, đóng mạnh cửa rồi khóa hai vòng, đoạn xây lưng, núng nính đi vô. Ông rảo quanh nhà, dòm bên này bên kia, như để tìm ai trong bóng tối. Rồi ông vào nhà, phía cửa sau. Tiếng khóa vặn hai ba lần, kế im lặng.

Iordan vô phòng. Buồng ngủ của ông, vách treo đầy những thú săn được, đầu thú dồn rơm: nai, chó sói, gấu… Trên tường, giữa gạc nai và chim ưng dồn rơm, có súng trường, súng ngắn và túi đạn. Gần dưới chiếc giường rộng lớn, trải hai tấm da thuộc đen. Iordan giẵm giày trên tấm da gấu, lấy cây súng trường dựng dựa giường. Ông kéo ngăn tủ lấy ra khẩu súng lục, cây đèn sáp, cái hộp quẹt và để trên bàn đầu giường. Đoạn ngồi lên giường, mệt thở hì hạch, ông tháo giày ra, sắp kế nhau. Mỗi tối, ông vẫn để đồ tại một chỗ, vừa tầm tay, để dễ tìm, trong đêm tối, hễ đưa tay ra là đụng liền. Sau rốt, ông cởi áo ra nằm ngủ, đầu vùi trong gối trắng, như cón gấu trong tuyết.

Moritz thấy đèn lu dần, rồi tắt hẳn. Cửa sổ đen ngòm. Bên phòng Iolanda, vợ Iordan, còn ánh đèn lờ mờ, vì cái chụp lụa đỡ bớt tia sáng chói. Thiên hạ đồn rằng bà rất khổ sở. Hai mươi lăm năm về trước, bà đến làng này với Iordan. Họ cỡi ngựa và dừng nghỉ tại quán trọ. Không ai rõ họ từ đâu đến. Nhưng chắc là xa lắm. Iolanda là người xứ Roumanie, còn người chồng, thì không phải. Về sau, mới biết họ từ xứ Hongrie đến. Họ choàng áo tơi lót bông. Khi ăn uống xong, họ ngủ tại phòng chủ quán. Chồng ăn tợn như hổ đói, bà vợ chỉ nếm qua như mèo. Ba ngày sau, người ta được biết họ không rời khỏi làng nữa. Vài tuần kế, họ mua quán trọ. Khi mới tới, Iordan không biết một tiếng Roumanie nào, mà bây giờ thì rành lắm. Họ không kết bạn với ai. Đến đứa con gái, Suzanna, họ cũng tránh không cho học tại trường nơi đó, sợ nó sẽ làm quen với trẻ trong làng; Suzanna đi học ở tỉnh. Người trong làng chỉ gặp Iolanda những lúc đi nhà thờ Chính thống, hoặc khi đi ra tỉnh, ngồi xe ngựa với chồng. Cạnh Iordan, Iolando, xem nhỏ thó, co quắp, vì y to lớn gấp đôi vợ. Suzanna giống hệt mẹ, có đôi mắt xanh và tóc óng như tơ. Đó là những gì mà người làng hiểu biết về gia đình này. Mùa đông nọ, Iordan có bắn chết một người muốn vào nhà hắn lúc đêm tối. Y bắn bằng súng trường ngay giữa hai mắt kẻ trộm. Cảnh binh cho rằng đó là quyền của Iordan. Y có quyền giết kẻ nào vào nhà y ban đêm để cướp tiền bạc của y. Nhưng người làng không đồng ý với cảnh binh mà nhìn nhận như vậy. Một án mạng vẫn là một án mạng. Song chuyện ấy rốt cuộc bị lãng quên, vì đã xảy ra lâu lắm rồi.

Khi Moritz dòm qua kẽ hàng rào thấy đèn lu dần rồi tắt hẳn, anh đưa hai tay làm loa cất tiếng kêu, nhái theo giọng chim mèo: “Hu! Hu! Hu”. Tiếng vang lên rồi vọng lại, nhỏ lần đến im bặt. Giây lát, cánh cửa mở, Suzanna nhảy qua cửa sổ, nhón gót chạy băng qua vườn. Nàng vạch lỗ rào, chun ra khỏi sân, gần chỗ Moritz đứng chờ.

– “Tại sao anh lựa tiếng kêu như thế! Tại sao? Tại sao?”. Suzanna đến từ bên kia rào, vừa hỏi vừa đi tới. Moritz muốn ôm nàng, song nàng vội tránh ra, nói tiếp: “Em không muốn anh kêu như vậy nữa!”. Tim nàng đập mạnh vì quá sợ hãi. Moritz hỏi:

– Chớ em muốn anh kêu thế nào?

– Tùy ý anh, nhưng tiếng chim mèo xui lắm, nó báo hiệu sự chết chóc.

– Chỉ là bịa đặt của mấy bà già. Có con chim nào kêu luôn ngày lẫn đêm, khi trời xấu, mùa hạ như mùa đông chăng? Chỉ có chim mèo. Em có biết con chim nào khác không? Họa mình chỉ hót về hè. Nếu anh bắt chước họa mình, tất ba em sẽ biết là tiếng người. Em muốn ông hộ pháp ấy biết là anh gọi em hay sao?

– Không, em không muốn, nhưng chim mèo báo tin dữ!

– Đó đâu phải lỗi của anh. Tại sao không có con chim nào lêu bốn mùa mà không báo hiệu sự chết? Nhưng thôi, đừng cãi cọ nữa. Đêm nay là đêm chót anh gọi em. Từ rày về sau, chúng ta hết còn phải giấu giếm! Sáng mai, anh đi Mỹ quốc. Lúc anh về, em sẽ là vợ anh. Anh đâu còn cần trốn sau hàng rào để bắt chước tiếng chim mèo nữa.

Moritz ôm Suzanna vào lòng. Nàng vòng tay bá cổ anh. Họ đứng dưới gốc cây gồi, chỗ mà họ gặp nhau đêm hôm qua, và mỗi đêm, từ bốn tháng nay, họ quen biết nhau. Nàng càng lúc càng nặng trên tay anh. Moritz đỡ nàng, để nằm trên cỏ và cũng nằm kề bên. Hai thân hình quấn quít nhau, tay tìm tay, môi sát môi. Họ nhắm mắt mê ly. Đây đây, tiếng dế nỉ non trong vườn. Họ vẫn ôm nhau không thốt một lời. Áo xanh Suzanna nổi lên trên nền cỏ thẫm. Nàng đã cởi ra để mẹ nàng không thấy dấu nhăn. Mây đen khi nãy che lấp trăng tròn, đẽ vén lần. Đôi vai trần của Suzanna lấp lánh trong bóng tối. Moritz cũng cởi áo sơ-mi lót dưới mình Suzanna.

Gần hai vai trắng nõn của Suzanna, ngực Moritz càng đen sạm như vỏ cây dà.

Nàng nói:

– Anh ơi! Đừng đi anh!

Moritz cau mày đáp:

– Tại sao em nói thế. Em biết rằng nếu anh không đi Mỹ, thì làm sao có tiền mua đất. Mà không có vườn có đất, thì làm sao cưới em được? Rồi chúng ta ở đâu, nếu không có nhà, có đất? Không, anh sẽ ra đi trong ba năm, và trở về với một số tiền. Chúng ta làm lễ cưới. Em không muốn anh cưới em sao?

– Em muốn lắm, nhưng không muốn anh đi.

Moritz mỉm cười nói:

– Vậy làm sao anh có tiền mua đất. Em biết không, anh đã đưa tiền cọc cho Nicolae rồi đấy! Còn lại bao nhiêu lúc anh về sẽ trả.

Moritz bèn thuật lại chuyện đưa tiền trước làm sao, đi thăm miếng đất thế nào, và dự tính cất nhà, chuồng bò… tất cả.

Suzanna không để tai nghe anh thuật chuyện, nói:

– Anh à, nếu anh đi, lúc trở về, anh không còn gặp em còn sống nữa.

Moritz lần này tức giận hỏi:

– Em có chuyện gì vậy? Em lạ kỳ quá!

– Không có chi hết. Anh có thể không tin em được. Song em cảm chắc khi anh trở về là em đã chết mất rồi.

– Không, em không chết. Em vẫn ở với ba má em như bây giờ. Em không có điều chi lo lắng, vì em không cô độc, không ở với người dưng, mà ở với ba má em.

Suzanna khóc thút thít. Moritz hỏi:

– Sao em? Em có chuyện gì?

Anh vừa nói vừa hôn môi Suzanna. Môi lạnh và ướt đầy nước mắt mặn mặn.

Suzanna đáp:

– Anh sẽ cho là những ý nghĩ điên cuồng, ý của đàn bà. Tốt hơn đừng nói với anh gì cả.

– Em nói đi. Anh không cho là ý nghĩ cỉa đàn bà đâu!

– Em chắc ba em muốn giết em!

Moritz giận hỏi:

– Ai nhét vào đầu óc em tư tưởng xằng bậy này vậy? Tại sao em muốn ba em giết em?

– Em biết anh không tin, nhưng em quá lo sợ rồi. Em chắc ông sẽ thi hành ý định vì ông đoán biết có chuyện gì rồi. Em không rõ lắm, song chắc vì đó mà ông muốn giết em.

– Ba em thấy chuyện gì mới được chớ.

– Ba em đã biết mối tình của chúng ta.

Moritz nằm dang ra xa. Vóc mình Suzanna lộ hẳn như pho tượng đá cẩm thạch trên nền cỏ.

Moritz hỏi: – Ông có nói dì với em chưa?

– Chưa.

– Ông có rầy em không?

– Không.

– Vậy sao em nói ông biết chuyện rồi?

– Linh tánh báo cho em biết trước.

Nàng khóc to, nói tiếp:

– Tiếng nói của lòng chưa đủ. Hồi trưa này, khi bưng món ăn lên, ông ngó em một cách khác thương. Một cái ngó căm thù. Ông hét lên: “Xây lưng vô vách coi?”. Em xây lưng vô vách. Em cảm thấy ông nhìn vào hông em. Ông hét thêm: “Ngó ra cửa sổ!”. Lần này ông nhìn kỹ và lâu hơn. Trông bề nghiêng, ông ngó bụng, ngó hông em như xem con ngựa của ông vậy. Rồi ông quát lên: “Mày đi mau cho rảnh mắt, đồ đĩ!”. Ông bỏ ăn. Em vội chạy ra. Em biết ông đã rõ sự thật. Khi em nhỏ, ông có la, có rầy, có đánh đến chảy máu nữa, nhưng không bao giờ mắng em là “đồ đĩ”, và đuổi xua em như hồi trưa này.

Moritz hỏi:

– Làm sao ông biết được? Có khi nào ông bắt gặp hai đứa mình đâu?

– Không gặp, nhưng ông biết.

– Làm sao biết cho được?

– Chỉ nhìn vào em thôi.

Moritz phì cười, hôn lên trán Suzanna, nói:

– Dẫu cho ông dùng ống dòm cũng không thấy được. Chuyện đùa! Em tưởng chỉ nhìn vào người rồi biết em có nhân tình sao?

– Em cũng biết thường thường thì khó nhận ra. Song ba em khác đời lắm. Những ngựa cái của ông, ông chỉ nhìn sơ là biết con ngựa có chửa hay không. Bạn ông, ai cũng phục ông hết.

– Hay là em có thai rồi?

– Không, em không có.

– Vậy thì không sao. Trong hai, ba năm, anh trở về, có tiền. Chúng ta sẽ mua đất, làm lễ cưới tại nhà thờ mục sư Koruga. Ta sẽ cất một cái nhà thật đẹp, rồi sống một cuộc đời hạnh phúc. Không phải vậy sao, em Suzanna?

Nàng siết chặt Moritz, như rất sợ hãi. Nàng run lên, và nói:

– Anh ở đây thì em không sợ, mà anh đi rồi, em sẽ chết vì sợ vậy! Nếu ba em không bắn giết, em cũng không sống nổi, em quá lo sợ rồi anh à! Mỗi đêm, em đều khóa cửa phòng và gài chốt chặt. Khi nghe tiếng giày của ba em, là em chui đầu vào gối, run lên.

Moritz đặt tay lên vai nàng, ôm sát vào lòng. Hai người yên lặng. Suzanna thấy sung sướng gần Moritz, mà anh cũng bằng lòng thấy nàng nín khóc.

Gà gáy sáng. Cả hai đứng dậy. Suzanna mặc áo vào, áo ướt lạnh vì hơi sương. Moritz cũng mặc áo sơ-mình và nắm tay Suzanna đưa tới hàng rào. Song vừa đi qua lọt, Suzanna kêu lên một tiếng thất đảm. Moritz khom lưng dòm xem chuyện gì, thì không thấy Suzanna ở trên sân. Nàng trở lại hồi nào, đến Moritz cũng không trông thấy. Nàng ôm chặt anh một cách tuyệt vọng. Toàn thân nàng run lên, mình nàng nóng ran như đang lên cơn sốt. Moritz dòm qua sân thấy cửa sổ phòng Suzanna mở rộng. Iordan mặc sơ-mình, đi qua, đi lại, tay cầm lồng đèn như tìm một vật gì. Moritz vuốt tóc Suzanna và ôm sát nàng vào mình, cố ý che không cho nàng thấy cha, song nàng đã thấy quá rõ ràng. Và, vì thế, nàng càng ghì chặt Moritz. Nàng run lên, không khóc được nữa. Hai người nghe tiếng mắng chửi của Iordan. Moritz nhìn thân hình khổng lồ của hắn. Sau bóng hắn, thấy dạng Iolanda. Bà đứng trước mặt chồng có một lát, một lần thôi. Iordan xây lưng ra cửa sổ. Moritz không còn thấy vợ của hắn nữa. Bà đã khuất hẳn sau thân hình to lớn của chồng. Kế nghe tiếng bà Iolanda kêu la, rên xiết như xé ruột xé gan. Đèn tắt, cửa sổ mở trong đêm tối. Tiếng rên la của bà Iolanda càng lúc càng đau thương, tuyệt vọng, rồi dịu lần. Moritz và Suzanna còn nghe thêm một hồi nữa tiếng kêu thảm thiết ấy như uất nghẹn. Đôi lứa run lên. Tiếng than khóc im bặt. Bà Iolanda đã té xuống đất. Iordan còn đạp, đá người đàn bà trong phòng tối.

Suzanna rền rĩ:

– Trời, má ơi! Ba giết má chết rồi!

Nàng xô Moritz ra, muốn chạy về sân, nhưng Moritz nắm chặt lại, vỗ về nàng. Đoạn anh buông Suzanna, cũng muốn chạy đến tiếp cứu người đàn bà thọ nạn, nhưng nghĩ lại là đã trễ rồi. Các thớ thịt anh căng thẳng. Anh không có khí giới trong tay, mà Iordan thì có súng và hình vóc vạm vỡ. Bản năng anh không cho anh đối chọi vô ích.

Anh bèn ôm Suzanna vào lòng. Nàng cố vùng vẫy. Nhưng anh ôm thật chặt và dìu nàng đi rất mau. Anh có cảm tưởng gã hộ pháp ấy đang đuổi theo nàng với khẩu súng cầm tay. Anh muốn giấu nàng, đem nàng thật xa, xa biệt nóc nhà ngói đỏ này. Hai người nhắm mắt chạy càn. Bên tai như thoảng nghe tiếng gót giày Iordan đang rượt theo, để bắn chết người con gái mà Moritz đang ôm trong lòng.

Moritz băng ngang đồng, không dám đi đường cái. Anh vấp mấy gò mối nhiều lần và đứng không muốn vững. Anh thấm mệt, chắc anh đã đi lâu lắm rồi nên thấy đuối sức, tay rã rời, mồ hôi chảy ướt đầm làm mờ mắt anh. Anh ngừng lại giữa một đám bắp và để Suzanna xuống đất. Anh đã kiệt sức. Anh để nàng nằm trên đất ướt, kéo áo đắp đầu gối nàng lại, và đặt tay lên ngực nàng. Anh bứt một mớ lá bắp làm gối kê đầu Suzanna; rồi bứt thêm một mớ lá khác trải trên bãi cỏ ướt, đoạn để Suzanna nằm lên. Nàng vẫn im lặng. Moritz vuốt tóc, màng tang và má nàng. Đoạn anh đứng dậy. Nỗi đau đớn cấu xé ruột, gan và tứ chi anh, như muôn ngàn mũi kim châm sâu vô xác thịt.

Anh thầm nghĩ: “Chắc mình chạy lâu lắm!”. Anh nhìn lên nền trời xanh và thấy mình ở gần rừng gồi, cách chừng vài bước. Ban đầu anh không tin cặp mắt anh, tưởng anh mơ, nhưng lần lần anh định tỉnh và run lên như cây sậy. Anh không chiêm bao. Anh và Suzanna đang ở trong đất của Nicolae. Cuộc chạy bấn loạn dắt dẫn anh đến đây. Lá bắp mà anh vừa giựt ra để lót cho Suzanna nằm, và nàng hiện còn nằm, là của vườn bắp mà anh đã đưa tiền cọc để mua đất, mới ngày hôm qua.

Nước mắt hòa với mồ hôi chảy dài theo má Moritz. Anh khóc trên đám đất mà anh biết chẳng thể nào mua được nữa, vì anh sẽ không sang Mỹ quốc.

Chỗ anh đứng, Moritz thấy rõ hết cảnh xóm làng. Anh nhìn từng nhà, từ đầu đến cuối làng, rồi nhìn Suzanna đang nằm dưới chân anh, trên lá bắp. Anh phóng tầm mắt nhìn xem nhà nào có thể trọ nàng được. Anh phải tìm cho nàng một chỗ trọ. Phần anh, anh đã từ bỏ sự ra đi; anh từ bỏ luôn ý định mua đất, vì hiện giờ người yêu của anh cần đến anh.

Anh không thể bỏ bê nàng được. Anh phải kiếm cho nàng một chỗ ở. Anh chỉ thấy có hai nơi: nhà ba má anh, và nhà mục sư Koruga; các nhà khác không tiếp anh được, vì mấy anh nông dân đều sợ Iordan; tất cả đều sợ ông ta. Nhà cha mẹ anh thì chỉ có một phòng, không dư chỗ cho Suzanna. Còn nhà mục sư, thì anh chưa cưới nàng, làm sao dẫn đến được. Anh không muốn làm liên lụy đến mục sư. Nếu mục sư chứa nàng, thì ắt ông sẽ xách súng đến hạch hỏi. Anh biết chắc như vậy, và không nên để chuyện chẳng lành xảy ra. Nhưng Suzanna cũng không thể ở trong vườn bắp này. Suy nghĩ một chặp, Moritz bồng Suzanna đi về làng. Nàng mét xanh, Moritz chắc nàng quá sợ nên thành bịnh. Anh rờ tim nàng thấy đập chậm chạp, anh vội vã rảo bước đi mau về làng.

Mặt trời đã lên cao khi Moritz về tới nhà. Anh để Suzanna nằm trước thềm dựa tường, nhìn mặt trời và nói thầm: “”Chắc Ghitza đợt mình lắm”. Anh cắn chặt răng để lấy can đảm, rồi xây lưng, bước vô nhà. Anh muốn xin với cha mẹ cho nàng ở đó. Ba má anh còn ngủ. Aristitza, mẹ Moritz, là một người khắc khổ. Anh muốn tránh bà, để nói thẳng với cha. Nhưng vừa bước vô thì Aristitza ngóc đầu lên khỏi gối, hỏi:

– Mày lấy bao đồ phải không? Để chỗ cửa đó!

Moritz không trả lời. Bà nói to:

– Làm gì mà đứng sựng đó vậy? Lại đây hôn mẹ, rồi qua từ giã cha mày cho mau. Rán ăn xài tiện tặn và đem tiền về.

Moritz đáp: – Tôi không đi Mỹ nữa!

Bà già ngồi phóc dậy gọn gàng, hỏi:

– Mày không đi à?

– Không!

– Ghitza cũng không đi hả?

– Ghitza thì đi.

Aristitza nhận thấy có chuyện gì mờ ám; bà mặc vội áo và hỏi:

– Tại sao? Mày gây với Ghitza hả?

– Không!

Bà đứng giữa nhà, hằn học, tiến gần đến con, hỏi:

– Vậy chớ có chuyện gì?

– Không có chi hết. Tôi muốn cưới vợ nên không đi.

Giọng Moritz run run. Anh không biết nên khởi đầu câu chuyện như thế nào, phải cắt nghĩa làm sao. Mẹ anh hai tay bấu chặt vai anh và lắc mạnh.

Anh nói tiếp:

– Tôi muốn nói chuyện với ba. Tôi không muốn cãi với má.

Bà la lớn: “Mày phải nói chuyện với tao. Chính tao đẻ ra mày chứ không phải mày ở trong bụng ổng mà chun ra”.

Cha Moritz thò đầu ra khỏi mền, nói:

– “Thôi bà nguôi bớt đi”. Ông muốn khuyên giải bà. Aristitza không nghe, vỗ vào hông nói:

– Mày banh da rứt thịt tao, mày bú sữa tao mà bây giờ mày không muốn nói chuyện với tao hả?

Moritz đáp: “Rồi tôi cũng sẽ nói với má”.

Bà mẹ khóc tức tưởi. Moritz muốn bà bớt giận, năn nỉ:

– Má nín đi, tôi sẽ nói chuyện với má, tôi xin thề.

Bà già ngồi bên cạnh giường, tay ôm đầu. Bà thấy bị tổn thương. Nỗi đau tủi không thể làm nguôi cơn giận của bà, bà không thể nín được.

Bà hét lên:

– Mày cưới ai?

– Tôi sẽ nói liền, nhưng má bớt giận đi!

– Tao muốn biết mày cưới đứa nào? Tao là mẹ mày, tao có quyền muốn biết.

Cha Moritz khuyên:

– Nói đi con, nói cho bả nghe, cho bả nín.

Ông thừa biết bà ta sắp la lối nữa. Nhưng Moritz cũng biết rằng cái tên Suzanna không làm cho bà yên, mà trái lại, làm bà nổi tam bành thêm. Anh đành đáp:

– Tôi cưới Suzanna, con gái ông Iordan.

Aristitza nhảy a lại, không phải để đánh mắng Moritz, mà ôm anh ta hôn. Bà nói:

– Ừ, phải mà, tao biết tại sao mày không đi!

Bà ôm con hôn khắp mặt, trên mắt, trên trán, trên má. Bà vồn vã nói:

– Mày không dại gì sang Mỹ, làm vất vả như thằng mọi, và vài năm sau, ốm yếu, bịnh hoạn trở về với vài ngàn “lơ”. Mày đã nghe lời tao, mày cưới con gái nhà giàu, (vừa nói mắt mụ sáng lên). Tao sẽ giàu. Tao sẽ có áo nhung, xe và ngựa. Tao sẽ qua ở nhà Iordan. Đó là quyền của tao. Quyền của tao, mày biết không? Chính tao sinh mày ra, khôn ngoan, đẹp trai, nên mày mới gò được con gái giàu nhứt trong làng, một đứa con gái có nhà gạch, có hầm rượu, có nhiều đất, xe và ngựa!

Ông già chận lại:

– Thôi, nín đi, mụ ơi!

Tiếng ông run run. Ông cũng xúc động. Nhiều tiền của quá làm ông ngẩn ngơ. Ông nằm vấn thuốc hút, không ngồi dậy.

Aristitza nói với Moritz:

– Tao sẽ ở nhà Iordan, cha vợ mày. (Xây qua chồng, bà nói). Còn ông thì ở đây. Tôi cần phải ở gần con trai tôi. Ai mà hơn tôi, lo cho vợ nó được?

Moritz ngắt lời:

– Nhưng còn chuyện này nữa, má à!

– Cứ nói đi, cưng, mẹ sẽ nghe con!

– Má phải hứa điềm tĩnh nghe tôi mới được.

Bà vuốt má Moritz, trả lời:

– Ừ, má hứa nghe con tất cả.

– Má à, tôi cưới Suzanna không có phép của Iordan.

– Điều cần nhứt là mày cưới được nó thì thôi. Tao sẽ là mẹ chồng con gái lão Iordan, lão nhà giàu. Thây kệ, nếu lão bằng lòng hay không!

– Má sẽ là mẹ chồng nàng, nhưng má không giàu được.

– Vậy tiền của về ai? Lão ta có độc một đứa con gái. Không lẽ lão ta lại không cho của hồi môn? Ai lại không biết lão chôn cả hũ vàng trong hầm rượu lão. Con đừng lo, má sẽ tính cho. Con mà biết gì?

– Má à, con cưới Suzanna, vì nàng chớ không phải vì tiền!

– Mày muốn tao tưởng mày thích gái hơn tiền à!

– Sự thật mà má!

– Dại! Nhưng tao cũng biết mày rồi. Để đó cho tao. Không ai ăn qua tao được đâu.

Mụ hình dung thấy đang cãi vả với Iordan về tiền nong và nhứt định không chịu ly một đồng nào.

Moritz bèn thuật chuyện hồi hôm. Aristitza giựt mình, hỏi:

– Sao? Nó không muốn trở về nhà ba nó nữa sao?

Moritz đáp:

– Không! Nếu nàng trở về, ba nàng sẽ giết chết.

Ông già cũng nói:

– Phải, lão ta sẽ giết con gái. Không phải chuyện chơi đâu! Con gái lão biết ý cha nó. Thằng cha ấy tàn bạo lắm. Chọc nó giận, nó xách súng bắn liền. Ngựa yêu quý của nó kia còn không khỏi thay! Và trời ơi! Ai cũng biết lão ta yêu quý ngựa của lão là dường nào. Lão dám bắn chết con Suzanna nếu nó mò về, nhứt là nó mới trốn nhà bỏ đi đây.

Moritz nói: – Ba nói thật đúng.

– Với chuyện như vậy khó gì mà không hiểu. Tao biết lão già ấy lắm mà!

Aristitza nói:

– Thôi để đợi vài ngày nữa sẽ dẫn nó về. Tôi dẫn đi cho.

Moritz đáp:

– Chắc Suzanna không trở về đâu. Tôi cũng không muốn Suzanna trở về nhà.

Mẹ anh hỏi:

– Rồi nó không có tiền bạc mày sẽ làm gì? Mày chết đói với nó phải không? Đàn bà thiếu gì, ở đâu lại không có. Không ai dại gì đi cưới vợ không của hồi môn. Sao mày ngu ngốc vậy?

Moritz quả quyết:

– Tôi lấy nàng không của hồi môn!

Mụ già giận dữ:

– Mày điên rồi! Từ bỏ tất cả vì một con đàn bà à? Không đi Mỹ cũng vì ai? Vì ả! Và bỏ tất cả, vì một đứa không giá trị gì ráo!

Ông già nói tiếp:

– Má mày nói phải. Đừng làm bậy, đi sang Mỹ đi. Lúc về sẽ mua đất, cất nhà và cưới vợ. Đàn bà thiếu gì!

Moritz đáp: – Tôi không đi nữa!

Cha anh nói:

– Mày sợ trễ rồi sao? Ghitza chắc còn đợi ở đầu làng. Mặt trời mới vừa mọc, đi mau có thể kịp.

Moritz buồn rầu nói:

– Ba bảo tôi đi Mỹ rồi bỏ người con gái này à? Lòng ba như vậy sao?

Aristitza hỏi: – Nó ở đâu?

– Ở ngoài trước cửa!

Hai cụ giựt mình, mặt thừ ra. Aristitza ngó ra cửa sổ. Moritz đứng chận cửa cái, không cho bà ra và khẩn nài:

– Xin má cho nàng ở đây vài ngày, tới chừng nào tôi tìm được chỗ ở cho nàng. Bây giờ thì nàng là dâu của má rồi.

Bà già tức giận nói:

– Mày muốn nuôi nó ở đây sao? Mày muốn lão Iordan giết cả hai vợ chồng tao hả?

Ông già nói tiếp:

– Con cũng biết nhà chỉ có đủ chỗ cho ba với má thôi. Nó sẽ ngủ ở đâu? Không, con à! Không thể được.

Aristitza nói:

– Bộ chắc mày lại muốn chúng tao nuôi ăn nó nữa hả. Mày muốn chúng tao nhịn ăn để cho nó hay sao?

Moritz ngó xuống, não nề suy nghĩ. Anh định trước sẽ phải đương đầu với mẹ, song tin rằng cha anh sẽ không nói gì. Bây giờ không phải vậy.

Moritz bèn nói:

– Vậy thôi để nàng ở đây tới chiều. Tôi chưa biết đem nàng đi đâu. Chiều nay tôi sẽ dẫn nàng ra thành phố kiếm việc làm. Nàng đang bịnh, cần phải nghỉ ngơi một chút để lấy sức, đặng đi tới tỉnh thành mới được. Cũng vì chuyện kinh khủng hồi hôm nên nàng mới đau.

Mẹ anh nói:

– Bữa nay không có gì ăn. Nếu mày muốn nó chết đói thì cứ để nó ở đây.

Moritz đáp:

– Tôi sẽ đem đồ ăn về. Nàng cần phải ngủ, vì nàng đứng không được vững.

Aristitza nói:

– Ba mày đau phải nằm trên giường luôn. Bây giờ để nó nằm đâu? Nằm chung với ổng à?

– Nếu không có chỗ trong nhà thì nàng ra nằm ngoài đống rơm, chỗ tôi nằm đó.

– Vậy thì được. Nhưng tao không có gì cho nó ăn đâu. Hết cả rồi.

Moritz xây lưng ra đi. Tới thềm, anh ngừng lại, nói với cha:

– Trong giờ phút nàng tạm ở đây, ba thương nàng với. Đau khổ như thế là nhiều quá rồi!

Mẹ anh giận dữ mắng:

– Đồ khốn! Mày lại dạy khôn chúng tao à? Trứng mà dạy gà mái ấp chớ? Trong lúc phải đi Mỹ để kiếm tiền, mày lại vác xác một đứa con gái đem về xô sấp bắt chúng tao nuôi, mà mày lại còn thêm một bài học khôn dại nữa!

Bà cúi xuống lấy thanh củi đập Moritz. Anh đã quen với sự chửi rủa và đánh đập này rồi. Trọn đời thơ ấu của anh, toàn là một chuỗi dài đánh và mắng. Anh cười gượng nói:

– Ba má nên thương nàng. Tôi đi kiếm cái gì cho nàng ăn, và về liền.

Anh đi ra. Suzanna không cục cựa, vẫn nằm yên trước nhà. Anh vuốt tóc nàng và nói:

– Anh đi một chút rồi về ngay. Em ngủ đi. Khi thức dậy sẽ ăn một chút gì, rồi ta đi ra tỉnh thành.

Nàng sợ hãi khi nghe nói còn phải đi nữa, nàng hỏi:

– Chúng ta không ở đây sao?

– Không. Em lại đây!

Vừa nói anh vừa dìu nàng ra sau nhà, chỗ chứa đồ nghề làm vườn, và đặt nàng lên đống rơm. Anh nói:

– Ngủ đi! Nếu không thì em không thể đi bộ tới tỉnh thành được. Gần hai chục cây số ngàn lận.

Suzanna ngó anh và mỉm cười biết ơn. Nàng mừng được ngủ yên một mình, vì nàng đang lên cơn sốt, lỗ tai lùng bùng, không còn nghe rõ ràng tiếng gì nữa.

Moritz nói:

– Nếu má có ra kiếm chuyện, thì em đừng trả lời! Bà đang giận mình đó!

Moritz đi ra. Tới đường còn ngó lại nhìn nàng và cười, song nàng đã nhắm mắt lại.

Moritz vừa đi rồi thì Aristitza ra khỏi phòng. Bà đứng chống nạnh ngó Suzanna nằm trên đống rơm. Nàng mở mắt thấy mụ già có cái mũi nhọn như mỏ ó, đôi má vàng võ nhăn nheo, nàng liền ngó qua chỗ khác. Nàng đâm sợ. Mụ già nói:

– Tao là mẹ của Moritz.

Suzanna gật đầu như để trả lời và chào bà. Nàng kéo áo dài xanh che đầu gối lại. Bà già nhìn vào đầu gối, vào hông nàng như muốn lột trần nàng.

Ba nhăn mặt hỏi:

– Mày muốn lấy chồng hả?

Suzanna đáp:

– Vâng!

– Tao thấy mà! Mày đã lớn như con ngựa cái rồi!

Suzanna giấu mặt trong đống rơm. Bà lại gần, kề tai nàng nói:

– Mày chưa tìm được thằng ngốc nào lấy mày đâu. Không của hồi môn, ai thèm cưới mày. Nếu mày lấy con tao, thì mặc mày, nhưng nó không nhìn mày chính thức đâu.

Suzanna chỗi tay ngồi dậy. Nàng muốn ra đi. Nhưng bà già lại cúi xuống trên mình nàng. Sợ sệt, nàng hỏi:

– “Iani đâu rồi?”. Nàng muốn nói chuyện gì khác nữa.

Bà già trố mắt ngạc nhiên hỏi:

– Iani nào? Tao không biết ở đây có ai tên đó.

Suzanna ngơ ngác nhìn bà. Nàng không biết phải nói làm sao. Mụ già hỏi dồn:

– Mày muốn nói Iani nào! Hay mày mất trí rồi? Hay mày tưởng đang ở đâu?

Suzanna ngập ngừng nói nho nhỏ:

– Iani, con bà!

Bà già đổi giọng, dữ tợn nói:

– Con tao tên Ion. Đó là tên tao đặt cho nó. Không ai có quyền sửa tên tộc của nó cả. Mày biết không?

Suzanna thấy hai tay bà cung lên, như hăm dọa. Nàng nhớ lời Moritz dặn phải hòa dịu, nên nàng đáp:

– Tôi biết rồi. Iani hay Ion cũng một tên, theo tôi tưởng.

Lời phân trần càng làm cho bà hăng tiết lên. Bà quát to:

– Mày lại muốn dạy tao học tên con tao hả? Tao chẻ đầu mày ra. Mày dám à! Đồ đĩ!

Suzanna nói:

– Tôi đâu dám làm phiền bà.

Aristitza bấu hai vai nàng lắc mạnh. Suzanna la lên. Nghe tiếng la, ông già tốc dậy, chạy ra cửa sau nhà, miệng ngậm điếu thuốc, còn mặc áo ngủ.

Aristitza buông Suzanna và xây qua chồng, giận mét xanh. Bà nói:

– “Ông có nghe chuyện quái gở này không? Con khốn đó cho tôi biết tên con tôi. Nó làm tôi nổi xung”. Cúi xuống lượm cục đá, bà nói tiếp: “Tôi chẻ đầu nó ra! Tôi chà nó như chà một con rắn độc!”.

Ông nắm tay bà đẩy vô cửa, can gián:

– Thôi bà, giận mà làm gì?

Đoạn ông lại gần Suzanna, cầm tay nàng tỏ dấu thương hại, khuyên nàng:

– Thôi đừng khóc nữa! Chuyện không có gì đâu!

Suzanna hỏi: – Iani đâu?

– Nó sẽ về. Nằm im đi.

Suzanna thấy được che chở. Bàn tay ông to lớn và sần sùi.

Ông nói tiếp:

– Này bé con, tao khuyên mày điều này, mày nên nghe tao. Về nhà cha mẹ mày đi!

Nàng khóc. Ông nói thêm:

– Mày không thể ở đây được. Mụ ấy sẽ bóp cổ hay bửa đầu mày. Tao biết trước sẽ có như vậy. Và còn gì đau thương khi máu chảy ra. Nếu Moritz đứng trước cảnh ấy, nó sẽ giết mẹ nó thì càng gây thêm tội ác. Đừng để xảy ra tai họa, mày hiểu chưa?

Suzanna mấp máy: – Tôi hiểu rồi!

– Tao khuyên mày nên đứng dậy đi liền đi. Đi lập tức trước khi Moritz về. Mày cứ băng qua vườn bắp trở về nhà cha mẹ mày đi. Chừng Moritz trở lại, tao sẽ nói mày đi ra đường cái rồi. Nó sẽ không tìm mày được nữa. Rồi chúng bay quên nhau. Tuổi trẻ chóng quên lắm! Thôi, dậy đi lẹ lẹ đi!

Suzanna nằm im, đầu quay mòng như điên. Nàng bịt hai tai lại, và cũng không màng để ý nghe ông già nói những gì. Ông hỏi:

– Mày không muốn đi à?

Ông muốn nằm tay nàng kéo dậy, dẫn nàng về nhà trả, nhưng ông chắc Moritz không bỏ qua cho ông. Ông bèn đứng lên, nói:- Thôi phận sự tao phải nói cho mày hay trước, nếu tai họa xảy đến là tại mày.

Ông trở vô nhà. Suzanna nằm một mình. Moritz trở về, tay cầm một bình sữa. Anh lo đi nấu nữa. Bà Aristitza mắng lớn:

– Với vợ chồng tao, mày chẳng khi nào đem sữa về cho. Còn với con voi giày này, mày lại bưng đem dưng. Thiệt, tao mà dè thì tao đã vặn cổ mày hồi còn nhỏ cho rồi! Cho bú mớm bồng ẵm chi vô ích!

Moritz quỳ gối trước lò lửa, nhìn lửa cháy, như không nghe mẹ nói gì. Bà Aristitza bước lại xua đuổi:

– Mày đi ra khỏi nhà tao lập tức, đem con khốn ấy đi cho khuất mắt tao. Không thì tao giết nó, tao bóp cổ nó cho mà coi. Đây dòm bàn tay tao đây. Để tao chận cổ nó cho chết mới nghe.

Moritz trả lời, không buồn ngó đến bàn tay của mẹ, bàn tay “sắp chận nghẹt cổ Suzanna”.

– Để nàng uống sữa rồi, chúng tôi đi liền, đi luôn ra tỉnh không bao giờ má thấy mặt nữa.

Bà già gay gắt:

– Bà hoàng chưa uống sữa thì không đi được phải không? Mẹ mày không cần uống sữa buổi sáng, còn bả thì chẳng có chẳng được.

Moritz nhắc bình sữa đi ra, không nhìn hai cụ. Sữa chưa sôi nhưng đã nóng. Suzanna giựt mình nghe tiếng chân đi. Moritz đưa bình sữa cho nàng và nói:

– Anh đây mà! Sữa nóng đây em!

Nàng nói nhỏ:

– Em không uống sữa.

– Uống một chút đi.

Suzanna đỡ lấy bình sữa. Moritz trở vô nhà lấy bao đồ đã sửa soạn để đi Mỹ. Aristitza hỏi:

– Mày đi với nó hả?

– Dạ!

Bà nghiến chặt hai hàm răng lại, nói: – Thôi được!

Khi Moritz cúi xuống giường lấy đôi giày thì bà ta ra sân.

Suzanna đang cầm bình sữa, thấy bà đi ngay lại mình, nàng sững sờ chết điếng. Mụ già nói:

– Mày còn đứng được thì phải đứng dậy ngay! Tao sẽ đánh cho mày biết tay. Đồ khốn kiếp!

Chưa dứt lời, mụ ta nắm tóc Suzanna đánh túi bụi. Suzanna la rú lên. Moritz nghe tưởng như là tiếng bà Iolanda, mẹ nàng. Anh vội chạy ra, nói lớn:

– Má! Má làm gì vậy?

Bà già ném một cái nhìn thù hằn về phía Moritz, đập thêm Suzanna vài cái nữa, rồi chạy trốn trong vườn bắp.

Mặt Suzanna đầy máu. Môi mắt đều sưng húp. Bình sữa đã bể, miểng cắt tay nàng mấy đường lớn. Máu trộn sữa làm vấy áo xanh của nàng. Moritz vội ẵm nàng ra đi. Tới cửa, anh ghé lấy bao đồ. Đoạn anh ra sân, lưng vác bao, tay ẵm vợ. Người và đồ đều nặng trĩu, anh đi không ngước mặt lên được. Anh nặng nề bước đi chậm chạp, đầu rút vào hai vai.

Trời vừa rựng sáng, Iordan cho ngựa uống nước và ăn lúa. Hắn vuốt ve chúng. Có cả thảy tám con. Hắn giữ bốn con để cỡi, không bắc kế. Ngựa tốt giống lắm, đều là ngựa nòi á-rạp, đen tuyền, cẳng nhỏ và tráng kiện. Đó là bạn yêu quý của hắn. Hắn thuật chuyện Suzanna cho chúng nó nghe, và nói với chúng những gì chất chứa trong lòng hắn. Con người không làm hắn tin cậy. Ngựa nhìn hắn chân thật hơn, với cắp mắt trong suốt, sáng ngời, như mặt kiếng soi.

Hắn nói: “Và bây giờ đây, vợ ta đang nằm dưới đất, máu chảy, xương nhừ!”. Không thấy ngựa nhúc nhích, hắn cho là ngựa có ý trách móc hắn, hắn nói tiếp: “Thôi để ta đem nó vô nhà thương, nếu bây muốn!”.

Thế là nửa giờ sau, hắn bắc kế ra tỉnh. Hắn quấn vợ trong cái mền, để nằm trên xe, tấn giữa hai cái gối. Iolanda nằm xuội lơ, mắt nhìn xa xăm. Xe đến nhà thương sớm quá, phải ngồi ngoài xe chờ tới tám giờ. Chưa có vị bác sĩ nào đến. Trong lúc chờ đợi, Iordan chỉ nói chuyện với ngựa, không hỏi han ngó ngàng gì đến vợ lần nào. Tám giờ đúng, Iordan ẵm vợ, cả mền lẫn gối như ôm một gói đồ, đem vô phòng khám bịnh. Vợ hắn được xem trước nhứt. Khi người khán hộ cởi áo choàng Iolanda ra, bác sĩ thấy đầu bịnh nhân sưng to lên, thân mình đầy máu. Iolanda nằm dài, chỉ mặc một áo ngủ dính khắn vào da. Thật chỉ là một gói máu! Bịnh nhân nằm êm rơ. Bác sĩ hỏi:

– Ai đánh người này?

Iordan trả lời:

– Quan hệ gì đến ông. Ông cứ chữa bịnh đi, chuyện khác đừng lo đến. Bởi thế ông mới làm bác sĩ và tôi mới đem bịnh tới nhà thương.

Hắn không muốn nói rõ vụ gì.

Bác sĩ khám bịnh Iolanda và đem liền vào phòng mổ, cứu cấp.

Iordan vừa lấy nón, vừa đi ra cửa, nói:

– Tôi đi về, ông lo phận sự ông. Tôi sẽ trả tiền đủ. Nếu ông tính tiền được trước khi mổ, thì tôi trả tiền, hay đưa trước chút ít.

Hắn đưa tay vô túi móc bóp tiền ra. Bác sĩ nói:

– Ông chưa về được, chờ đây một chút!

– Tại sao phải chờ?

Y không thích ai giữ y lại. Y muốn đi khỏi nhà thương mau lẹ. Mùi thuốc men xông lên đầu y. Và y động lòng trắc ẩn. Y hối hận đã quá tay đánh vợ. Y nghĩ thầm: “Mình đánh đạp chưa đủ sao, bác sĩ còn mổ xẻ nữa”. Y thương bại nhưng không muốn tỏ ra ngoài mặt. Y không muốn như vậy. Y chỉ muốn đi ra ngoài để chờ. Thở được khoan khoái, hít cho đầy phổi hơn.

Một khắc đồng hồ sau, ông biện lý đến với một viên hiến binh. Ông cho gọi Iordan vô phòng xử tại nhà thương để lấy khẩu cung. Ông hỏi đủ thứ: nào y phải tên Iordan không, nào chỗ ở nơi đâu, y mấy tuổi, và có phải chính y có đánh vợ trọng thương chăng? Y quạu quọ trả lời, mắt lờ đờ. Sau cùng, ông biện lý tuyên bố y bị bắt giam vì tội đánh vợ. Iordan thản nhiên, không cãi lẽ. Nhưng lúc viên hiến binh nắm vai y dẫn đi, thì y tái mặt hỏi:

– Ông dẫn tôi vô khám à?

– Phải!

– Còn mấy con ngựa của tôi? Mấy con bắc kế xe đậu ngoài cửa đó, ông làm sao?

Ông biện lý ngó viên hiến binh, rồi hỏi Iordan:

– Chứ không có ai coi sóc nó sao?

– Không!

Viên hiến binh nói:

– Thôi bán lại cho lính chữa lữa đi. Họ có nuôi ngựa, họ sẽ nuôi luôn. Ở trong khám không chỗ nhốt ngựa.

Ông biện lý mỉm cười, tỏ dấu cám ơn viên hiến binh đã gỡ rối cho mình. Ông không biết phải xử trí làm sao với mấy con ngựa ấy. Ông mới đổi tới đây vài ngày. Ông tên là Damian, và đây là vụ án thứ nhứt của ông.

Đến trưa, khi ông sắp sửa đi ăn, thì có tin báo Iordan nhảy cắm đầu xuống sàn xi-măng, định tự tử. Tờ phúc trình của viên chủ ngục như sau:

“Tên tội đã khai tại nhà thương rằng y muốn tự tử vì không thể chịu được, khi nghĩ đến mấy con “ngựa thuần giống á-rạp của y chết đói, chết khát! Nghe đâu y là một tay cuồng nhiệt mê thích ngựa. “Bịnh tình y trầm trọng”.

Cùng một lúc ấy, lại có tờ phúc trình cho hay: “Iolanda, vợ y, đã chết”.

Ông biện lý Damian thấy lợm giọng. Nơi tiệm ăn, trước khi ngồi bàn, ông rửa tay thật sạch sẽ với nước lạnh và xà bong. Ông nghĩ: “Luật pháp sẽ xử Iordan về tội đánh chết vợ. Đánh đập người, hay quý ngựa hơn người không phải tội trọng của y, đó chỉ là kết quả của một tâm trạng. Sự dã man mới là tội nặng duy nhứt của Iordan. Cũng như mọi kẻ dã man, y coi rẻ con người đến đỗi hủy diệt mạng người. Về trọng tội ấy, do đó gây ra các tội lội khác, chẳng luật pháp nào trừng trị bao giờ. Sự dã man chỉ là một trạng thái bất hợp pháp trong vài trường hợp riêng biệt thôi”.

Suzanna đi bộ được vài cây số ngàn, rồi ngồi xuống lề đường. Nàng nóng hầm và mệt nhừ, nàng nói:

– Iani ơi! Em không ráng nổi nữa!

Nàng nằm dài trên cỏ. Ở đây mới nửa đường ra tỉnh. Moritz để nàng ngủ, và chờ coi có xe nào chạy ngang đặng chở nàng. Nhưng chỉ thấy toàn người đi bộ và cỡi ngựa. Tới năm giờ chiều, trời mưa. Hột mưa lạnh ướt má anh. Moritz nghĩ: “Nếu chiều hôm qua mà mưa thì mình đâu có lại thăm Suzanna, và bây giờ nàng vẫn còn ở nhà, mình thì ở trên tàu tại bến Constantza rồi! Nếu trời mưa chiều hôm qua… Thôi thây kệ!”.

Trời tối rồi mà chưa dứt hột mưa. Moritz tự nghĩ phải quyết định mới được.

Anh ái ngại nhìn Suzanna rồi nói:

– Anh trở về nhà mướn xe nhé!

Suzanna ngồi núp dưới tàn lá cây, áo và tóc ướt dầm. Nàng run lập cập vì lạnh. Nàng đáp:

– Anh tính sao cũng được.

Moritz hỏi:

– Em ngồi đây một mình, có sợ không?

– Nếu anh trở lại thì em không sợ.

Moritz hôn nàng và đi. Tới làng Fântâna thì trời tối đen như mực. Nông dân đều ngủ hết. Anh gọi cửa từng nhà, nhưng không một ai giúp anh. Họ muốn biết tên người đàn bà. Vừa nghe đến tên con gái Iordan là họ đều từ chối, viện lẽ không có chỗ chứa nàng. Tất cả đều sợ lão Iordan. Đến nửa đêm, Moritz vào sân nhà mục sư Koruga. Phòng sách còn sáng. Trước cửa, một chiếc xe hơi lớn, đen bóng, chiếu sáng dưới trời mưa. Trong nhà tiếng người nói chuyện vọng ra. Moritz nói thầm: “Chắc mục sư đang tiếp khách”. Anh định đi ra, không muốn làm phiền mục sư. Nhưng trời mưa to thêm và mái nhà dột mưa chảy từng giọt. Moritz im lặng nghe ngóng một hồi lâu. Chừng nhớ đến Suzanna đang chờ anh một mình bên bờ lộ, anh bèn gõ cửa nhẹ nhẹ.

– “Con về kịp lúc! Ba muốn gặp con”. Mục sư Koruga nói với con trai ông là Traian, và tiếp với con đem mấy va-li trong xe vô nhà. Xe đậu trước bao-lơn, phân nửa dưới giàn hoa trường xuân và hường rừng.

Trời vẫn mưa như trút.

– Con đi một mình hả.

Lúc ấy một thanh niên vừa bước xuống xe. Traian bèn giới thiệu với cha:

– Thưa ba, đây là anh Damian, bạn học và bạn thân của con. Con vừa mới gặp anh ngoài thành phố hồi trưa này. Anh là tân biện lý Tòa Hòa giải tỉnh mình.

Mục sư bèn xin lỗi về cách phục sức đơn sơ, vì không dè có khách. Ông dẫn hai người vô phòng khách rồi vào trong. Ông biện lý ngồi ngắm một hồi lâu con chim bồ câu trên đồng hồ, mấy tấm tranh treo trên tường, và mấy kệ đầy sách.

Traian cười và nói:

– Tôi biết anh đang nghĩ gì rồi! Anh ngạc nhiên về một nhà văn tân tiến nhứt trong xứ, viết những chuyện về máy bay, xe hơi, quán rượu và đèn điện, lại sanh trưởng ở một nơi mà thời gian dường như ngưng hẳn, tất cả đều cổ xưa hàng mấy thế kỷ, không chút gì thay đổi, phải không anh?

Ông biện lý đỏ mặt, gật đầu đáp:

– Thật vậy, đúng như tôi nghĩ!

Mục sư bước vào phòng, hai tay ngón búp măng và khô gầy châm lửa đốt cây đèn dầu, và trịnh trọng bưng để ngay giữa bàn. Traian mở va-li da, lấy mấy gói bao kỹ lưỡng để lên bàn. Đoạn, anh khui chai rượu chát và cho mời má anh lên. Khi bà ngồi rồi, Traian bèn rót hai ly rượu đầy, lấy trong cái hộp đựng sách mạ vàng, hai bổn đóng bìa toàn da, và nói:

– Đây là tác phẩm chót của con. Quyển tiểu thuyết thứ tám. Hai bổn này là bổn in riêng trước tiên, và cũng như thường lệ, xin để dành kính tặng cha mẹ. Và chúng ta uống rượu này khao mừng nó, cũng một thứ rượu chát hiệu “Capsa” mình đã từng uống mỗi khi xuất bản bảy quyển tiểu thuyết trước. ba má còn nhớ nỗi vui của con khi quyển thứ nhứt chào đời chăng?

Mục sư đỡ lấy quyển sách trên tay con, trịnh trọng như cầm cuốn kinh thánh trên bàn thờ. Bà mẹ nhón tay cầm quyển sách để dựa bàn, nói:

– Tay má dính dầu mỡ, má không muốn làm dơ sách của con.

Traian day qua Damian nói:

– Bổn thứ ba về phần anh.

Mục sư hôn trán con. Damian siết tay chàng. Bà mẹ hôn con nơi má rồi kề tai nói, nhưng rất to cốt để mọi người nghe:

– Má chưa đọc hết mấy quyển kia, con đừng phiền! Ba con có thuật lại cho má nghe hết rồi, nhưng quyển này má muốn tự má đọc. Má không muốn khi chết rồi mà chưa có đọc trọn quyển sách nào của con viết!

Traian cảm động, cụng ly với mọi người. Bà mẹ xin kiếu để xuống bếp. Traian bèn nói:

– Má ở đây một chút nữa. Con về đây còn một chuyện khác cũng quan trọng như vậy.

Chàng bèn móc túi lấy một bao thơ, đưa cho cha và nói:

– Đây là tiền tác quyền cuốn sách của con, xuất bản kỳ thứ nhứt. Con muốn mua một miếng đất tại làng Fântâna mình để cất nhà ở. Gần ba má càng tốt. Con sẽ ở suốt đời con.

Mục sư tươi cười lấy bao thơ để trên bàn. Bà mẹ vén vạt áo lau khóe mắt, nói:

– Má chắc con nói cho vui lòng ba má thôi. Con có bao giờ ở đây được quá ba ngày đâu. Lần nào con cũng tính ở cả tháng, mà mới hai ba ngày thì lại đi! Có khi bặt hằng mấy tháng không thấy con về.

– Thưa phải, nhưng bây giờ, con cất nhà mà!

Traian ngó cha và bạn. Chàng thấy hai người đều lộ vẻ ngạc nhiên, cho điều dự tính của chàng là một việc khác thường, bèn nói:

– Ai cũng không tin tôi có thể thực hiện được chuyện ấy. Nhưng trong hai năm nữa, cũng ngày này, nếu tôi còn sống, tôi sẽ mời tất cả đến nhà mới của tôi tại Fântâna. Chừng đó mới tin tôi được. Hiện giờ tôi không nói thêm gì nữa.

Ăn tối xong, mục sư hỏi con dự tính trước tác gì thêm. Traian ngập ngừng trả lời:

– Nội dung quyển tiểu thuyết tương lai của con sẽ là một chuyện thật. Phần văn chương của nó chỉ thuộc về phần kỹ thuật mà thôi. Các vai trong truyện của con có thật trong đời sống thực tế. Độc giả xem sách đều có thể gặp họ và chào hỏi họ ngoài đường. Con còn nghĩ muốn biên vào sách cả địa chỉ và số điện thoại của họ nữa.

Mục sư cười hỏi:

– Họ là những nhân vật nào mà con muốn làm quảng cáo như thế vậy?

– Họ là những người sống trên mặt đất! Cũng như Homère, con không thể đem cả chục triệu người ra viết truyện, nên con chỉ lựa lối mười người thôi. Không cần nhiều. Nhưng họ sẽ sống một cuộc đời như tất cả kẻ khác.

Ông biện lý hỏi:

– Có phải các nhân vật của anh sẽ được chọn theo một tiêu chuẩn khoa học, để trình bày nhân loại đúng với bản tính họ không?

– Không. Các vai truyện, tôi sẽ ngẫu nhiên chọn, không cần tiêu chuẩn khoa học. Việc gì xảy ra cho họ có thể xảy ra cho người khác, xê xích chút đỉnh thôi. Đó là những biến cố không một ai thoát khỏi. Tôi không cần lựa người phi thường, chỉ chọn đại trong số hai triệu người, những ai mà tôi biết nhiều hơn. Một gia đình chẳng hạn, gia quyến tôi đây: ba má tôi, tôi và anh, người ở của ba tôi, vài người bạn và ít người láng giềng.

Mục sư mỉm cười và rót rượu. Traian nói:

– Tôi sẽ chép truyện của từng người một trong những năm sắp tới. Chắc có nhiều chuyện lạ kỳ. Tương lai dành cho mỗi chúng ta nhiều sự bi đát mà không sử sách nào nói đến.

Ông biện lý nói:

– Nếu tương lai quả đáng kinh khủng như anh nghĩ, thì tôi ước mong nó chỉ lả ở trong truyện của anh mà thôi!

Traian đáp:

– Chừng biến cố bi thảm xảy ra trong đời rồi, tôi mới viết vào truyện sau.

Ông biện lý hỏi:

– Vậy thì tôi cũng sống những giờ phút kinh khủng nữa sao? Anh biết rằng tôi có một cuộc đời trưởng giả, không ai chú ý đến. Đời tôi trái hẳn với đời một người mạo hiểm phiêu lưu mà!

– Anh Damian à! Phần đông những người sống trên trái đất này đều không phải là người mạo hiểm, nhưng họ phải trải qua những hoàn cảnh mạo hiểm mà chẳng một tác giả quyển truyện nào tưởng tượng được.

Ông biện lý mỉm cười hỏi:

– Và chuyện gì dữ dội sẽ xảy ra mà kích động như thế?

– Thôi đừng mỉa mai nữa, anh à! Tôi cảm thấy vừa có một biến cố nghiêm trọng xảy ra chung quanh ta. Tôi không rõ nơi đâu, chừng nào và bao lâu mới dứt. Nhưng tôi cảm thấy nó có. Và chúng ta sẽ bị lôi cuốn trong trận giông tố nhiễu loạn làm nát thịt, tan xương, hết người này đến người khác. Tôi linh cảm biến cố ấy như lúc một chiếc tàu sắp đắm chìm mà chỉ có đàn chuột thoát được thôi, khi chúng vụt chạy tứ tung; có khác một điều là tôi không biết trốn vào đâu? Trên thế giới này không có nơi nào cho chúng ta ẩn trốn được.

– Anh muốn ám chỉ biến cố nào vậy?

– Nếu anh muốn, anh có thể gọi là một cuộc cách mạng. Một cuộc cách mạng khổng lồ phi thường. Và tất cả con người đều là nạn nhân.

Vẫn chưa tin lời nói của Traian là thực, ông biện lý hỏi:

– Vậy chừng nào nó xảy ra?

– Cuộc cách mạng đã bùng nổ rồi bạn ạ! Dầu bạn có mỉa mai nghi ngờ, thì nó cũng đã khởi mào rồi. Ba tôi, má tôi, anh, tôi và mấy người khác sẽ lần lượt nhận ra nguy tai và nên ráng tìm cách tự cứu, ẩn trốn đi. Có người đã khởi sự lẩn trú, như thú rừng chạy tìm chỗ ẩn khi biết cơn giông bão sắp đến. Phần tôi, tôi muốn rút về làng. Phe cộng sản cho rằng phe độc tài chịu trách nhiệm, và mối nguy tai chỉ có thể tránh được khi nào tiêu diệt hết bọn độc tài. Nhóm quốc xã muốn cứu lấy mình, phải giết dân Do-thái. Nhưng đây mới chỉ là triệu chứng của nỗi lo âu của con người trước hiểm họa. Hiểm họa, tuy nhiên, thì ở đâu cũng vậy. Chỉ có sức phản ứng của loài người trước nguy cơ là khác nhau thôi.

– Hiểm họa to tát nào hăm dọa chúng ta vậy anh?

– Tên nô lệ kỹ thuật (điện lực)! Anh cũng biết nó rồi. Tên “nô lệ kỹ thuật” là tay sai đắc lực, mỗi ngày giúp ta muôn ngàn việc mà ta phải cần đến luôn, không thể thiếu được. Nó đẩy xe hơi ta chạy, cho ta ánh sáng, đem nước ta tắm giặt, đấm bóp ta, thuật chuyện vui cho ta nghe khi ta vặn nút máy phát thanh, nó phóng đường, dời núi…

– Tôi nghĩ đây là một lối cẩn dụ ngữ nên thơ thôi!

– Đây không phải là ẩn dụ ngữ, anh à! Tên “nô lệ kỹ thuật” là thật sự. Sự hiện có của nó không chối cãi được.

– Tôi không phủ nhận sự hiện có của nó. Nhưng tại sao anh gọi nó là tên “nô lệ kỹ thuật” trong khi nó chỉ là một sức mạnh cơ giới thôi.

– Người nô lệ thời cổ, người “nô lệ nhân lực”, bạn của tên “nô lệ kỹ thuật”, bị người La-mã và Hi-lạp xem như một sức mạnh mù quáng, một động vật vô giác. Họ cũng bị bán, bị mua, bị biếu làm quà, và bị giết chết được. Họ chỉ được đánh giá theo sức mạnh của bắp thịt, và khả năng làm việc thôi. Cũng giống với một thứ tiêu chuẩn giá trị mà ta dùng ngay nay cho tên “nô lệ kỹ thuật”.

– Khác xa lắm chớ! Ta không thay thế một người nô lệ nhân lực bằng một tên nô lệ kỹ thuật.

– Sao lại không! Đúng là ta làm được chuyện ấy! Và tên nô lệ kỹ thuật lại tỏ ra ngăn nắp và ít tốn kém hơn người nô lệ nhân lực. Trước tiên, nó khởi sự thay thế rất mau chóng công việc làm của người nô lệ nhân lực. Tàu thủy thay thế thuyền chèo. Ngày nay tàu chạy bằng sức mạnh của các tên nô lệ kỹ thuật chớ đâu có do người nô lệ chèo chống nữa. Tối đến, nếu người giàu có mướn đày tớ cho thêm sang trọng, thì cũng không cần vỗ tay để thấy tên đày tớ cầm đèn sáp bưng lên, như thuở xưa ở La-mã hay ở Athènes, mà chỉ vặn nút là tên “nô lệ kỹ thuật” thắp đèn sáng trong căn phòng. Tên “nô lệ kỹ thuật” sưởi ấm nhà, nấu nước tắm, mở cửa sổ, tạo nên gió lùa cho có thoáng khí. Nó còn tiện lợi gấp mấy lần bạn đồng nghiệp nô lệ nhân lực của nó. Dễ sai, dễ biểu, không biết nghe ngóng, không dòm ngó gì. Tên nô lệ kỹ thuật chỉ có mặt khi ta cần đến nó thôi. Nó đem thơ tình của bạn trong nháy mắt, và cho đến tiếng nói của người yêu, bạn cũng nghe từ chỗ tận xa. Những tên nô lệ kỹ thuật thật là những đày tớ hoàn toàn. Nó cày ruộng, đánh giặc, làm cảnh sát, lam việc hành chánh. Nó học tất cả ngành hoạt động của người và thi hành toàn mỹ. Nó làm toán trong phòng văn, chải gỡ, hát múa, bay trên không, lặn dưới nước. Nó cũng trở thành viên hành hình kẻ tử tội. Trong nhà thương, nó chữa lành bịnh nhân cạnh bác sĩ, và nơi thánh đường, nó cũng giúp mục sư cử hành lễ mi-xa.

Traian ngừng một chặp, nhắp chút rượu. Ngoài trời mưa vẫn đều đều rơi.

Chàng nói tiếp:

– Tôi xin kết thúc nghị luận lạc đề này. Phần tôi, tôi xin thú thật lúc nào cũng thấy còn ở trong toàn thể xã hội, mặc dầu bề ngoài tôi chỉ ở một mình. Tôi vẫn có chung quanh tôi những tên “nô lệ kỹ thuật” luôn luôn sẵn sàng phụng sự và giúp đỡ tôi. Nó đốt thuốc tôi hút, thuật cho tôi nghe tin tức thế giới, soi sáng đường tôi đi ban đêm. Đời tôi theo nhịp cử động của chúng nó. Chúng nó làm bạn đồng hành với tôi hơn tất cả mấy người bạn khác. Tôi có thể hy sinh cho chúng nó. Vì thế nên tôi không ở lâu tại làng Fântâna này như má tôi vừa trách móc. Mấy tên nô lệ kỹ thuật của tôi còn chờ tôi ở Bucarest. Chúng ta ngày nay giàu hơn các bạn đồng nghiệp chúng ta hồi hai ngàn năm trước. Hồi đó, họ chỉ có vài chục tên nô lệ. Chúng ta lại có cả trăm, cả ngàn. Và hiện giờ, tôi xin hỏi: “Ước được bao nhiêu tên nô lệ kỹ thuật đang hoạt động trên trái đất này? Ít nhứt cũng vài chục tỷ. Và có bao nhiêu người?”.

Ông biện lý đáp:

– Hai tỷ người ta.

– “Đúng vậy! Con số đông hơn của các nô lệ kỹ thuật trên mặt đất thật vô cùng to tát. Nếu kể đến việc những tên nô lệ kỹ thuật nắm các then chốt tổ chức trật tự xã hội ngày nay, thì nguy cơ thật rõ rệt. Nói theo thuật ngữ quân sự, các tên nô lệ kỹ thuật nắm trong tay các yếu điểm dụng binh trong xã hội: binh bị, giao thông, lương thực và kỹ nghệ, đó là chỉ kể sơ mấy điểm quan trọng. Các tên nô lệ kỹ thuật hợp thành một giai cấp vô sản, nếu ta hiểu theo nghĩa đen chữ này, “giai cấp vô sản” là một nhóm trong xã hội ở một giai đoạn lịch sử, nhóm đó không được nhập chung với xã hội. Vận mạng các tên nô lệ kỹ thuật ở trong tay của loài người.

“Tôi không viết một quyển tiểu thuyết kỳ dị, nên vì thế, tôi không diễn tả, một ngày kia, khi các tên nô lệ kỹ thuật nổi dậy bắt nhốt loài người vào trại giam như thế nào, thủ tiêu họ trên đoạn đầu đài hoặc trên ghế điện ra làm sao.

“Những hành động cách mạng bạo tợn ấy là việc làm của loài người, của các tên nô lệ nhân lực. Tôi chỉ diễn tả những chuyện có thật. Và trong thực tế, “giai cấp” nô lệ kỹ thuật ấy làm cách mạng mà không dùng đến chướng ngại vật như các đồng chí nô lệ nhân lực của chúng nó. Trong xã hội hiện tại, các tên nô lệ kỹ thuật chiếm phần đại đa số; việc này thấy rõ ràng. Trong khuôn khổ của xã hội loài người, chúng nó lại hành động theo kỷ cương cố hữu của chúng, khác hẳn với pháp luật đặc biệt của chúng: tự động tính, trạng thái nhứt trí, và vô danh.

“Một xã hội có đến vài chục tỷ tên nô lệ kỹ thuật nhưng chỉ có độ hai tỷ người (dẫu rằng loài người cai trị xã hội ấy đi nữa), tất nhiên xã hội ấy sẽ có tính cách một đại đa số “giai cấp vô sản”.

“Hồi thời đại dân Romains xưa, người nô lệ nhân lực biết nói năng, cầu khẩn và sống theo tục lệ của họ. Họ là dân xứ Hi-lạp, xứ Thrace hoặc của các xứ bị chiếm khác bị bắt đem về La-mã. Các nô lệ kỹ thuật của xã hội chúng ta ngày nay cũng giữ bản tính đặc biệt của chúng và sống theo kỷ cương tổ chức của chúng. Bản tính ấy, hay nếu anh muốn, sự thật ấy, hiện có trong khuôn khổ xã hội chúng ta. Ảnh hưởng của chúng càng lúc càng rõ rệt. Con người muốn cho chúng phụng sự mình, bắt buộc phải biết và bắt chước những thói thường và luật tắc của chúng. Mỗi chủ nhân đều cần phải biết chút ít ngôn ngữ và phong tục của người giúp việc mình để dễ điều khiển họ. Hầu hết luôn luôn như vậy. Khi kẻ chiếm cứ thuộc nhóm thiểu số, thì phải học tiếng nói và theo tục lệ của dân tộc bị chiếm, để được thuận tiện, hoặc vì lợi ích thiết thực. Họ làm đúng vì họ là kẻ chiếm cứ và là chủ nhân quyền thế.

“Lối quá trình diễn tiến ấy cứ bành trướng mãi trong khuôn khổ xã hội ta, mặc dầu ta không chịu nhìn nhận. Ta học lề lối và cách nói năng của người nô lệ ta, để điều khiển được chu đáo. Và như thế, lần lần, ta rời bỏ bản tính con người và luật lệ của ta mà ta không để ý đến. Ta tự bỏ nhân bản mình để chịu theo lề lối đời sống của mấy tên nô lệ kỹ thuật của chúng ta. Triệu chứng đầu tiên của sự giảm hạ nhân bản ấy, là sự khinh rẻ con người. Người văn minh ngày nay biết rằng mình và đồng loại là những phần tử có thể thay thế dễ dàng. Xã hội hiện đại đã liệu tính một người phải dùng đến một vài chục tên nô lệ kỹ thuật tất phải tổ chức và điều hành theo luật tắc kỹ thuật. Đó là một xã hội thành lập tùy theo nhu cầu cơ giới, chớ không phải tùy theo nhu cầu nhân sinh. Và đến đây là khởi đầu tấn bi kịch.

“Loài người bắt buộc phải sống và cư xử theo luật tắc kỹ thuật, khác hẳn với luật pháp nhân loại. Khi luật của cơ giới đã được cất nhắc lên luật xã hội, ai mà không theo sẽ bị trừng phạt. Con người sống theo tính cách thiểu số, thì với thời gian, sẽ thành một thiểu số giai cấp. Họ sẽ bị loại ra ngoài xã hội của họ, cái xã hội mà từ rày về sau họ không thể gia nhập, nếu không chịu rời bỏ địa vị con người của họ. Do đó nảy sinh nơi họ một mặc cảm tự ty, họ muốn bắt chước kỹ thuật cơ khí và bỏ rơi đặc tính nhân bản của mình, để đừng bị cách biệt khỏi mấy nơi trung tâm hoạt động xã hội.

“Và cuộc tách lìa lần hồi ấy thay đổi tâm tính con người, khiến họ quên luôn tình cảm, xã giao: con người tiết giảm đến thành quả quyết, chính xax1 và tự động như các bộ phận ăn khớp nhau trong một cái máy. Nhịp đà và ngôn ngữ của các tên nô lệ kỹ thuật được bắt chước trong giới xã giao, hành chánh, hội họa, văn chương, khiêu vũ. Con người biến thành con kéc của mấy tên nô lệ kỹ thuật. Nhưng đến đây mới là khởi đầu thảm kịch mà thôi. Ấy là lúc khởi sự quyển tiểu thuyết của tôi, nghĩa là đời sống của ba tôi, của má tôi, của anh, của tôi, và của mấy nhân vật khác”.

Ông biện lý vẫn hỏi một cách ngạo nghễ:

– Nghĩa là chúng ta trở thành “người máy” hết?

– Chính vì đó mà bi kịch xảy ra. Ta không thể biến thành máy móc được. Cuộc đụng chạm giữa hai thực thể, máy và người, nổ bùng; các tên nô lệ kỹ thuật thắng trận. Chúng nó sẽ tự giải phóng và trở thành “công dân kỹ thuật” của xã hội chúng ta.

Và chúng ta là loài người, chúng ta sẽ trở thành giai cấp “vô sản” của một xã hội, tổ chức theo nhu cầu và văn hóa đại đa số công dân, nghĩa là của “công dân kỹ thuật”.

Ông biện lý hỏi:

– Theo thực tiễn, cuộc đụng chạm sẽ như thế nào?

– Tôi cũng tò mò muốn biết. Song, đồng thời tôi sợ. Tôi muốn thà chết trước, hơn là phải chứng kiến bị hành hình trên thập tự giá, tôi và các đồng bào tôi.

– Anh nghĩ đến những chuyện chắc chắn có thiệt à?

– Tất cả những biến cố đã xảy ra trên mặt đất và sẽ xảy ra trong những năm sắp tới, đều chỉ là triệu chứng và biến tượng của cùng một cuộc cách mạng, cuộc cách mạng của các tên “nô lệ kỹ thuật”. Kết cuộc, con người không thể sống thành xã hội được, khi còn giữ đặc tính nhân bản của mình. Họ sẽ được xem ngang hàng nhau, y nhau, và được đối xử theo một thứ luật pháp đã áp dụng cho các tên nô lệ kỹ thuật, không chút nhân nhượng nào hợp với tính chất con người nữa. Sẽ có những cuộc bắt bớ tự động, những cuộc giải trí tự động, những cuộc xử tội và hành quyết tự động. Con người chẳng còn quyền cá nhân được sống, sẽ bị coi như một bộ phận trong máy móc và sẽ bị chế giễu nếu họ muốn sống riêng biệt cá nhân. Anh có thấy một bộ phận của máy móc cử động riêng rẽ được không? Cuộc cách mạng ấy sẽ thực hiện tràn khắp thế giới. Ta không còn trốn tránh đâu được, trong rừng sâu hay trên hoang đảo. Không chỗ nào được hết. Chẳng một nước nào có thể bảo vệ ta. Tất cả những đạo binh trên thế giới đều gồm những binh sĩ đánh giặc mướn, chỉ chiến đấu để củng cố cái xã hội cơ giới, mà nơi xã hội ấy con người cá nhân bị loại trừ. Hồi xưa đến giờ, quân binh đánh nhau để chinh phục thêm đất đai tài sản, đánh nhau vì vinh dự tổ quốc, vì quyền lợi riêng tư của vua chúa, không ngoài cứu cánh xâm lược hay chiếm thế lực. Đó là mục đích của loài người. Ngày nay thì quân binh đánh giặc để giữ quyền lợi cho một xã hội mà họ chỉ có vừa đủ quyền sinh sống, họ như những người của giai cấp vô sản thuở xưa. Có thể đây là một thời kỳ lịch sử đen tối nhứt của loài người. Chưa bao giờ con người bị khinh khi đến thế. Như trong những xã hội dã man, một người bị đánh giá rẻ hơn một con ngựa. Chuyện ấy ngày nay còn thấy nơi vài giống dân hoặc nơi vài cá nhân. Có phải anh mới thuật cho tôi nghe một nông dân vừa giết vợ mà không chút hối hận, lại muốn tự tử vì nghĩ đến chuyện không ai cho ngựa anh ta ăn uống, trong lúc anh ta ngồi tù chăng? Cách làm giảm giá trị con người trong xã hội thời cổ là như thế: dùng con người làm vật hy sinh cúng tế là việc thông thương. Trong xã hội hiện đại, việc hy sinh người lại còn không đáng nhắc đến, vì nó quá ư tầm thường. Mạng người chỉ có giá trị khi dùng làm nguồn năng lực. Các tiêu chuẩn giá trị đều toàn tính theo khoa học. Đó là luật của nền kỹ thuật man rợ đen tối của chúng ta. Chúng ta sẽ đi đến tình trạng ấy khi các tên nô lệ kỹ thuật toàn thắng.

– Vậy cuộc cách mạng mà anh tiên đoán đó chừng nào sẽ xảy ra?

– Nó đã xảy ra rồi anh ạ! Chúng ta sẽ tham gia vào sự bành trướng cảu nó. Phần đông chúng ta sẽ không sống sót được. Tôi rất sợ không bao giờ viết xong quyển sách này được, bởi vì tôi cũng chết mất nữa.

– Anh thật bi quan quá sức!

– Tôi là một thi sĩ. Tôi có một giác quan mà người thường không có, và nhờ đó tôi thấy được tương lai. Thi sĩ là một nhà tiên tri. Tôi rất buồn mà thấy tôi là người đầu tiên đã nói ra trước nhứt một chuyện não lòng như thế, song sứ mạng thi sĩ của tôi bắt buộc tôi phải nói. Tôi phải kêu la lớn lên để có tiếng vang khắp chốn, dầu là chuyện không vui tai chút nào.

– Anh tin chắc chuyện anh là thật chớ!

– Khổ thay, tôi tin chắc lắm!

– Tôi chỉ tưởng là anh viết văn thôi.

– Không phải văn chương suông đâu. Mỗi đêm tôi đều chờ việc gì xảy đến cho tôi.

– Việc gì mới được chớ?

– Bất cứ việc gì. Khi mà con người bị hạ xuống tới mức một khả năng kỹ thuật xã hội, thì chuyện gì lại không thể xảy ra cho họ được. Họ có thể bị bắt, bị đày khổ sai, bị diệt chủng, hay bị bắt buộc làm một chuyện gì, nào ai biết được, hoặc làm việc để cải thiện giống nòi, hay cho một mục đích nào khác, ích lợi cho xã hội kỹ thuật, mà không chút mảy may tôn trọng phẩm cách cá nhân họ. Xã hội kỹ thuật chỉ làm việc theo luật pháp kỹ thuật, chỉ thi hành theo các kế hoạch, và chỉ có một tinh thần là: sự sản xuất.

– Có thể chúng ta bị bắt chăng?

Ông biện lý không còn mỉa mai nữa, và có vẻ lo sợ, hỏi Traian như hỏi một ông thầy bói về tương lai mình, mặc dầu trong thâm tâm ông không tin tưởng.

Traian đáp:

– Sẽ không có ai được sống yên tự do trên toàn cầu này.

– Ta chết trong ngục tối, dẫu không có tội nữa sao?

– Không! Con người sẽ bị lôi cuốn vào xã hội kỹ thuật trong nhiều năm dài đăng đẵng. Họ sẽ không bị chết trong xiềng xích tù đày. Xã hội kỹ thuật có thể tạo đủ tiện nghi, nhưng không phát sinh được tâm hồn trí óc. Mà không trí óc thì không có thiên tài. Một xã hội không có thiên tài sẽ đi lần đến chỗ diệt vong. Xã hội kỹ thuật đã chiếm địa vị của xã hội Tây phương và sắp chiếm cả hoàn vũ, cũng sẽ bị tiêu diệt nữa. Ông Albert Einstein trứ danh quả quyết rằng: “Chỉ gián đoạn chừng hai thế hệ những hạng trí não đại tài chuyên môn vật lý học, thì tất cả các cơ sở kiến tạo theo khoa học ấy đầu sụp đổ”. Sau cuộc sụp đổ của xã hội kỹ thuật sẽ nối tiếp cuộc tái sinh những giá trị nhân bản và tinh thần. Ánh sáng vĩ đại sẽ soi từ phương đông, từ Á châu. Không phải từ nước Nga. Dân Nga còn quỳ lụy dưới ánh sáng điện lực của Tây phương và không sống sót được. Người Á châu sẽ thâu phục xã hội kỹ thuật và dùng ánh sáng điện lực để soi đường sá, nhà cửa. Họ sẽ không trở thành nô lệ nó và không lập đền thờ nó, như ở xã hội kỹ thuật Tây phương này đã làm một cách man rợ. Họ không soi sáng đường lối của trí óc và tâm não bằng ánh điện nê-ông. Người Đông phương sẽ làm chủ các máy móc của xã hội kỹ thuật bằng trí khôn, như một nhạc sư điều khiển dàn nhạc do thiên tài âm điệu. Nhưng ta không thể biết thời đại đó. Ta đang sống một thời đại mà con người quỳ lụy dưới mặt trời điện khí như một dân dã man.

– Ta sẽ chết chùm với nhau sao?

– Mỗi người của chúng ta đều bị giết hại trong guồng máy kỹ thuật. Quyển sách của tôi sẽ là quyển nói về giai đoạn kết luận ấy.

– Anh cho nhan đề gì?

– Giờ thứ hai mươi lăm. Giờ mà mọi cứu cấp đều vô ích. Dầu cho Chúa Cứu Thế ra đời cũng không giải quyết được. Không phải giờ chót: ấy là giờ kế sau giờ chót. Thời giờ chính xác của xã hội Tây phương. Ấy là giờ hiện tại. Giờ thật đúng.

Mục sư ngồi im, vùi đầu trong hai bàn tay.

Damian nói:

– Thưa Cha, nếu lời tiên tri của Traian thành sự thật, và con người rồi đến phải bị đối xử như nô lệ, thì Giáo hội không làm gì được cho xã hội hiện tại sao? Nếu Giáo hội không cứu nổi nhân loại trong giờ phút nghiêm trọng ấy, thì sứ mạng của Giáo hội còn được những gì?

Mục sư Koruga suy nghĩ một lát rồi đáp:

– Giáo hội không cứu nổi xã hội, nhưng có thể an toàn sinh mạng cá nhân của con người hợp thành xã hội.

– Và Cha có tin lời tiên đoán của Traian chăng?

– Tôi thường hay tin tưởng các thi sĩ. Và, theo tôi, Traian là một đại thi sĩ.

Traian đỏ mặt, vui mừng như một đứa trẻ, nói:

– Cám ơn ba.

Mọi người đều im lặng. Traian nói:

– Hình như có ai đi trên bao-lơn.

Ba người lóng tai nghe. Bên ngoài chỉ có tiếng mưa rơi. Mục sư nói:

– Nếu có ai vô trong sân, ắt chó sủa. Chỉ có Moritz là người thân tín của tôi vô nhà thì chó mới không sủa thôi. Nhưng giờ này, chắc anh đã ngủ ngon trên tàu đi sang Mỹ quốc rồi!

Traian nói:

– Tôi chắc chắn nghe tiếng người leo lên bực thang. Tôi thính tai lắm và nghe tiếng động rõ ràng.

Ông biện lý mỉm cười, nói đùa:

– Chắc có tên nô lệ kỹ thuật nào vừa mới thoát khỏi xe hơi anh. Hay cách mạng đã bùng nổ, và chúng nó đến bắt giam chúng ta ngay đêm nay chớ gì? Anh có bao nhiêu tên nô lệ kỹ thuật trong chiếc xe hơi anh?

– Anh cứ tính: 55 mã lực, mà một mã lực là sánh với bảy người.

– Con số của vài trung đội. Còn chúng ta chỉ có ba người. Nếu chúng nó tấn công, chắc ta phải đầu hàng vô điều kiện.

– Không có sự đồng lõa của một người thì những tên nô lệ kỹ thuật không làm gì người được. Nếu có một công dân đồng lõa, mà công dân ấy không phải người, thì các tên nô lệ kỹ thuật trở thành quái vật của Apocalypse thời cổ.

– Anh nói công dân nào? Chúng ta đều là công dân đây?

– Công dân là một người chỉ sống trong khuôn khổ xã hội của cuộc đời. Như nòng ống thụt của một cái máy, nó chỉ làm có một cử động, và cứ lặp lại cử động ấy mãi mãi. Nhưng khác với nòng ống thụt, một công dân có ước vọng thiết lập hoạt động của mình thành một biểu hiện, để làm gương mẫu trong khắp thế giới, và để cho mọi người bắt chước. Công dân là một con thú nguy hiểm nhứt, sinh ra trên địa cầu, từ lúc người và các tên nô lệ kỹ thuật gặp nhau. Nó có tính tàn bạo của người và của thú, với tính lãnh đạm của máy móc. Người Nga đã phát sinh ra một kiểu mẫu công dân hoàn toàn: người ủy viên.

Hai tiếng gõ cửa nhẹ dội lên. Traian nói:

– Tôi đã nói tôi nghe rõ mà! Thính giác của một thi sĩ không khi nào sai lầm.

Mục sư ra ngoài bao-lơn, để cửa mở. Ông trở vào dẫn theo sau một thanh niên. Người này mặc áo sơ-mình, quần dài, đầu trần và ướt dầm.

Mục sư giới thiệu: “Đây là anh Iohann Moritz”.

Ông đưa cho anh một ly rượu và mời anh ngồi. Moritz từ chối, và đứng dựa cửa. Anh sợ ướt tấm thảm và cái ghế. Từ trên tóc anh, nước mưa chảy xuống có giọt, đủ biết anh đã đi lâu dưới trời mưa.

Mục sư hỏi:

– Anh muốn nói chuyện một mình với tôi à?

– Tôi có thể nói ở đây được chăng?

Mục sư nói:

– Tôi rất tiếc, hồi mơi này anh không tới lấy bao đồ tôi tặng anh.

– Tôi không đi Mỹ nữa.

Moritz ngó hai người thanh niên, rồi day qua mục sư và hỏi:

– Hôm qua Cha cho phép tôi ngủ ở phòng gần nhà bếp phải chăng?

Mục sư bây giờ mới hiểu tại sao Moritz đến gõ cửa nhà ông trong đêm tối như vậy. Ông đáp:

– Phòng đó là của anh. Anh cứ đến ở lúc nào cũng được, tùy ý.

Moritz hỏi:

– Nếu có ai khác đến ngủ đêm nay, Cha cho không?

– Sao lại không. Nếu người ấy cần dùng, mà anh muốn giúp đỡ, thì anh làm một chuyện phải.

– Chính Suzanna, con gái của Iordan. Nàng trốn nhà vì cha nàng muốn giết nàng.

Moritz nhớ đến mấy người làng đều từ chối, không cho anh ở trọ khi nghe đến tên người con gái. Anh ngó ngay mục sư. Mục sư vẫn điềm tĩnh đáp:

– Nếu trong phòng có lạnh, anh nhúm lửa lên. Anh biết chỗ để củi chớ?

Moritz đứng ngần ngại dựa cửa. Trước khi ra đi, anh thuật lại, như xưng tội, chuyện đã xảy ra. Khi anh thuật dứt chuyện và nói Suzanna đang còn ở giữa đồng, nửa đường từ làng Fântâna ra tỉnh, thì Traian liền đứng dậy, khoác áo choàng, ra xe, chở Moritz đi.

Nửa giờ sau, xe trở về, đậu y chỗ cũ. Moritz đỡ Suzanna trên tay. Ông biện lý đứng trên bao-lơn ngó xuống, thấy bà mục sư đi kề bên trái Moritz, ông mục sư, bên mặt. Người con gái nằm trên tay Moritz như đứa trẻ đang ngủ, áo xanh ướt đẫm, dính sát vào mình. Traian vô phòng khách. Ông biện lý đi theo sau, nói:

– Anh ướt hết rồi!

Traian đỏ mặt, nhìn giày dính đầy bùn, quần áo ướt dầm, nước nhểu có giọt xuống gạch. Chàng làm ướt mình vô ích, vì Moritz đã một mình bồng Suzanna lên xe. Chàng khỏi cần giúp tay vào, thế mà chàng cứ đứng ngoài mưa, gần kề anh. Traian suy nghĩ về hành động của mình và tự nói, nếu từ rày về sau, có xảy ra trường hợp y như thế, chàng cũng sẽ làm như vậy. “Ấy là sự cần thiết chia sẻ nỗi đau thương với người bên cạnh mình, dẫu sự giúp đỡ không có giá trị thực tiễn, hay dẫm làm giùm không công cũng vậy”.

Mục sư vô phòng, ông cũng ướt hết, nước chảy từ trên trán, trên má, trên râu ông. Ông cũng đi theo Moritz, dưới trời mưa. Như con ông, ông không cần giúp tay vào.

Traian lại nghĩ: “Thượng Đế cũng hành động vô ích như thế, khi tạo lập vũ trụ. Thượng Đế sáng lập nhiều vật không lợi ích thật tiễn, nhưng đó là những công trình tuyệt mỹ. Đời người là một sáng tạo vô ích. Cũng vô ích và vô lý như hành động của ta và cha bây giờ. Song le, sự nhiệt tâm rất cao quý. Dẫu là vô ích, nhưng nhiệt tâm ấy không có gì so sánh nổi!”.

Mục sư nói:

– Coi chừng con lạnh, Traian à!

– Con không lạnh. Người bịnh ra sao?

– Nàng đang cơn sốt. Má con đã làm cho nàng một tách nước trà nóng rồi. Con sẽ được ban phước về cử chỉ của con đã chở nàng về. Người nghèo cần được giúp đỡ.

Đồng hồ gõ mười hai giờ khuya.

Moritz gõ cửa. Anh không chờ đến mai sáng để cám ơn mục sư và Traian. Trong những chuyện tai họa dồn dập cho anh từ 24 giờ qua, anh chỉ nhớ có lòng nhân từ của mục sư mà thôi. Anh mang ơn ông rất nặng. Anh thỏa lòng được thấy Suzanna có chỗ yên thân, nếu không thì sẽ nguy hại đến bực nào! Traian ngó chăm chỉ Moritz, ngắt ngang lời anh, nói với mục sư:

– Thưa ba, chừng nào con có về đây, con sẽ ở nhà ba. Tiền con gởi ba cất giùm đó, ba cho Moritz đi, để anh cất một cái nhà nhỏ tại làng Fântâna. Anh còn cần hơn con nhiều.

Mục sư lấy bao thơ đưa cho Moritz một cách tự nhiên, cử chỉ giản dị như tất cả mọi cử chỉ cao thượng khác. Ông không khuyên bảo gì thêm, chỉ đưa bao thơ cho Moritz mà thôi. Moritz mở bao thơ ra. Anh không biết mình có nghe lầm hay không? Khi thấy xấp giấy bạc, mắt anh mở to, thật to như mắt người thấy những hiện tượng phép màu kỳ lạ. Anh không thốt nên lời. Lòng anh không còn chỗ nào xen lời nói vô được. Anh nắm chặt bao thơ trong tay, đứng im lặng.

Sau một lát, mục sư nói:

– Anh cám ơn Traian đi, rồi về ngủ. Đưa tiền cho Suzanna cất. Đàn bà biết giữ tiền bạc hơn đàn ông.

Ông biện lý nói:

– Chắc anh Moritz còn muốn uống một ly rượu mừng, bây giờ anh đã là một điền chủ tại làng Fântâna rồi!

Bà mụcsư bước vô phòng. Moritz để ly trên bàn và ngó bà trân trối. Bà cho hay Suzanna đỡ nhiều. Đoạn bà kéo mục sư riêng ra, và nói nhỏ vào tai. Ông già cau mày, rồi mỉm cười. Moritz ngó theo từng cử chỉ của ông. Ông lên tiếng:

– Anh vững lòng, đừng lo sợ, không phải một tin xấu đâu. Vợ tôi cho hay anh sắp làm cha. Vậy phải lo làm đám cưới trước.

Moritz siết tay từ giã Traian và ông biện lý rồi đi ra. Trời vẫn mưa. Trước khi xuống thềm, anh cất tiền vào áo sơ-mình cho khỏi ướt. Bao thơ ấm áp, và êm tay. Kẹp nó vào mình, Moritz thấy trước mắt nào nhà cửa, hàng rào, giếng nước, vườn cây trái, như lòng anh hằng mơ ước. Khi anh vô phòng, Suzanna còn ngủ. Anh để tiền dưới gối và nằm ngủ trên đống rơm.

Mục sư vừa đi ngang cửa sổ phòng sách vừa huýt sáo, rồi nói với Traian:

– Phải dè ba không nói chuyện đám cưới với nó. Mẹ Suzanna chết rồi. Thây còn để ở nhà xác, còn cha nàng thì ở tù. Thật không phải lúc.

Traian đáp:

– Nhưng hai người chưa biết. Họ tính chuyện tương lai. Họ đã có tình yêu và tiền bạc. Họ sung sướng đấy!

– Chúng nó sung sướng, song thật tình chúng nó phải khóc.

Ông biện lý nói:

– Đúng vậy! Chúng ta đã biết chuyện, nên thấy nỗi vui mừng của họ như một xúc phạm.

– Một khi phân tách cho kỹ lưỡng và đem tường thuật trong đại thể, thì những sự vui mừng nào trên thế giới đều là hành vi xúc phạm cả.

Đồng hồ gõ một giờ. Đêm ấy, ba người ngồi nơi phòng sách của mục sư, lắng tai nghe gõ giờ và trời mưa.

Chương Thứ Nhứt

Hai năm sau, Iordan được thả ra. Hắn định trở về nơi hắn đã ở hồi hai mươi bảy năm về trước. Trước khi ra đi, hắn ghé qua làng Fântâna lần cuối cùng, để bán nhà. Viên quản đồn hiến binh đi qua một đường nhỏ trong làng, cạnh nhà ngói đỏ, thấy cửa nẻo đều mở bét, thường khi thì đóng kín, mới vô nhà để xem coi sự gì.

Iordan đang đóng thùng dọn đồ ở sau nhà, viên quản nói:

– Ông giàu thiệt mà! Chắc ông tốn tiền nhiều mới ra khỏi khám mau như vậy.

Gã hộ pháp ngó anh ta và đáp cộc lốc:

– Tôi không hiểu.

Viên quản cắt nghĩa:

– Tôi hỏi ông vậy chớ ông trả bao nhiêu mới khỏi ở tù? Tội ông ít nhứt cũng mười năm.

Iordan bỏ búa, móc túi lấy miếng giấy đưa cho viên quản, và tiếp tục vừa đóng đinh, vừa nói, gằn từng tiếng:

– Tao đưa cho mày coi để mày biết tao là ai. Trong vài ngày nữa, tao sẽ mặc sắc phục hạ sĩ quan S.S. Tao là công dân Đức và tao sẽ phụng sự tổ quốc tao. Bây giờ chắc hẳn mày biết tại sao tao được ra khỏi khám. Không phải như ý mày tưởng đâu!

Viên quản lấy giấy gọi nhập ngũ và đọc.

Y biết rằng tất cả công dân Đức bị ở tù, đều đươcọ ân xá, nếu bằng lòng trở về nước và sung vào quân đội. Y bèn xếp tờ giấy lại, mỉm cười trả cho Iordan.

Hắn lại lấy ra một miếng khác và nói:

– Đây, còn cái này nữa, đọc đi!

Đó là bức thơ cám ơn. Hắn đã dưng hết gia tài cho quân đội Đức để mua một chiếc xe thiết giáp. Lãnh sự Đức ở Bucarest có gởi vô khám một bức thơ cám ơn hắn. Viên quản giở tờ giấy ra, nhưng không biết đọc, vì viết chữ Đức. Y trầm trồ ngắm bức thơ, trên đầu giấy có hình con ó với chữ Vạn, và có dấu đóng. Y hỏi:

– Ông bán hay giữ cái nhà này?

Iordan không trả lời theo câu hỏi, lại nói:

– Xe thiết giáp mới mua bằng tiềin của tôi, vừa được xuất trận lần đầu. Tôi sẽ đi theo nó lập tức. Tôi không còn trẻ, nhưng Chánh phủ Đại Đức quốc sẽ chấp thuận tôi.

Iordan xếp giấy tờ bỏ vô túi, lấy búa lo đóng mấy thùng đồ, không ngó viên quản nữa. Khi người này chào hắn ra đi, hắn cũng không ngước mặt lên, mà chỉ lẩm bẩm trong miếng mấy tiếng mẹ đẻ.

Viên quản ra khỏi nhà Iordan thì tạt qua quán rượu. Trời tháng năm. Y đi giữa lộ, sợ bụi dính giày. Y muốn giày luôn luôn bóng như gương. Y cũng ưa thích đàn bà và rượu. Rượu thì có tên Do-thái chủ quán cho y uống, khỏi phải trả tiền. Y nghĩ thầm: “Nếu thỉnh thoảng không lập thêm một luật mới thì chắc mấy viên hiến binh chết khát”. Chánh phủ thật đã chu đáo lo việc ấy. Hôm tháng giêng lịnh truyền cho y phải gởi mấy người Do-thái trong làng đi trại làm việc. Ở Fântâna chỉ có một người, là Goldenberg, tên chủ quán. Y có đưa tờ trát cho chủ quán xem. Tờ trát cơ mật, y hối hận đã đưa cho người khác xem. Nhưng, suy nghĩ kỹ, y cho là y làm đúng. Từ đây, cứ ba tháng, y gởi một giấy thầy thuốc chứng nhận chủ quán bịnh tật, không đi trại được. Như vậy, mỗi tháng y được chủ quán đưa ba ngàn “lơ”. Lương của y được lên xấp hai. Y sống dư dả và có cảm tưởng mình làm một việc phải nữa. Lão chủ quán già ở yên buôn bán, hơn là đi trại làm xâu, khổ cực dường nào.

Khi nốc xong cốc rượu, viên quản vén màn ngó qua cửa kiếng căn phòng chủ quán, cốt để chào Rosa, con gái chủ quán, như thường bữa. Rosa có làn da trắng mịn. Và khi véo cánh tay nàng, y có cảm giác như rờ vô nhung. Da của Rosa không phải như da mấy mụ nhà quê trong làng. Thường khi, nàng ngồi gần cửa sổ, đọc tiểu thuyết. bữa nay, lại có một thanh niên ngồi gần nói chuyện với nàng. Viên quản gắt gỏng hỏi chủ quán:

– Ai đó vậy?

Chủ quán ngập ngừng, không biết có nên nói thật hay không, nhưng rồi cũng phải nói:

– Thằng Marcou, con tôi, vừa ở Ba-lê về.

– Ông giới thiệu với tôi đi!

Y chưa hề gặp người nào đi Ba-lê về. Chắc có thể học hỏi được nhiều chuyện lạ với những người đã ở Ba-lê. Nhưng Marcou cộc cằn quá, phải gợi hỏi chuyện mà không thấy gã trả lời nhiều. Y tưởng người du học ở Ba-lê chắc khác, y lại thất vọng. Gã này bản tính cộc cằn, không cảm tình được. Lại còn không thèm uống ly rượu của y mời nữa. Tuy vậy, trước khi về, y cũng nói với Marcou:

– Chiều nay đến đồn chơi. Ta đánh một ván cờ.

Ra khỏi quán, y nghĩ lão già Goldenberg phí của cho con đi Ba-lê ăn học, thật như quăng tiền qua cửa sổ.

Đi ngang nhà Moritz, viên quản ngừng lại. Suzanna đang nhồi đất làm gạch ngoài sân. Moritz cất nhà đã hai năm. Hai vợ chồng làm việc suốt ngày đêm. Nhà thật đẹp, lại có bao-lơn nữa.

Viên quản hỏi Suzanna:

– Nhà cất rồi, mày còn làm gạch chi vậy?

Y muốn vô sân, nhưng cửa ngõ đã khóa. Suzanna đáp:

– Chúng tôi cất chuồng bò.

Nàng tiếp tục nhồi đất bằng chân. Viên quản thấy bắp đùi nàng trắng trong. Y hỏi:

– Chồng mày không có ở nhà hả?

Suzanna cười đáp:

– Iani vô nhà máy xay.

Hai đứa con của Moritz dan nắng ở cuối sân. Đứa nằm trong nôi, đưa chơi vọc cát. Suzanna ngó chừng chúng nó, và chế nước vô đất sét nhồi thêm. Nàng mặc áo chẽn nổi lộ thân hình tròn trĩnh của cặp đùi nàng.

Viên quản thử mở cửa một lần nữa. Y hỏi:

– Mày không mở cửa cho tao sao?

– Ông ở đó được rồi.

– Chẳng lúc nào tao gặp được mày một mình. Và bây giờ chồng mày đi khỏi mà mày cũng không chịu mở cửa cho tao nữa!

– Vậy chớ sao! Ông đứng trước cửa lâu rồi. Thôi đi đi, để tôi yên!

– Mở cửa giùm một chút đi, đừng ác mà!

– Iani sắp về. Nếu anh gặp ông ở đây, anh sẽ bửa đầu ông đa!

– Mày tiếc nó lắm sao?

– Ông thiệt khôn nhứt đời mới hỏi tôi câu này. Im ông đi! Ông về cho rảnh mắt tôi. Moritz sắp về bây giờ!

– Tao hỏi mày một chuyện thôi, rồi tao về.

– Hỏi đi.

Suzanna ngừng nhồi đất, đứng chống nạnh chờ.

– Nếu mày không chờ chồng mày thì mày có mở cửa cho tao không?

Suzanna lại nhồi đất, và đáp:

– Ông muốn biết nhiều quá!

Nàng chưa hề nghĩ đến phải làm cách nào, nếu một ngày kia, Moritz đi xa, và viên quản đến nhà nàng.

– Mày có chồng rồi, sợ gì?

Suzanna giận dữ:

– Để tôi yên! Ông có đi đi không.

– Mày trả lời, rồi tao mới đi.

Suzanna nói cụt ngủn:

– Không biết!

– Nếu mày không nói: chịu hay không, tao cứ ở đây hoài.

Y chống hai tay dựa cửa ngõ, chờ đợi. Suzanna nói:

– Sao ông cứ muốn biết hoài vậy. Iani không bao giờ xa nhà.

– Nếu nó đi thì sao?

– Ông có gan làm thử coi! Iani không đi đâu hết. Chúng tôi còn lo cất chuồng bò, đào giếng. Đi đâu mà công việc còn mê mê như vậy?

MẮt viên quản sáng lên. Y vừa đi vừa lẩm bẩm: “Tao biết mày đảm đang lắm”. Y huýt sáo, đi khỏi xa. Suzanna ngưng làm. Nàng sợ hãi, rút chân ra khỏi đất sét và chạy lại hai đứa con. Nàng ôm đứa lớn vào lòng. Nàng cảm thấy như đã phạm một tội nặng, như đã làm một việc gì nghiêm trọng có thể gây tai vạ cho Moritz và hai con. Rồi nàng lại nghĩ: “Nhưng kỳ thật, ta có làm gì tội lỗi đâu? Cứ sợ vô lý!”. Nàng bỏ đứa con xuống đất, chạy lại xăn áo lên, làm tiếp công việc…

Tuần lễ sau, một viên hiến binh đến gõ cửa nhà Moritz. Anh đang ngồi ăn, thấy dạng nón lính ngoài cửa sổ, bèn nói: “Để ra coi chú lính này muốn gì”.

Anh ra sân. Lúc trở vào, tay cầm một miếng giấy. Anh ngồi lại ăn tiếp. Suzanna hỏi:

– Giấy gì vậy?

Moritz nuốt xong, trả lời:

– Một lịnh sung công. Để ăn rồi sẽ đọc, coi Chánh phủ muốn đòi gì nữa đây.

Anh vẫn điềm tĩnh vì biết tất cả nông dân đều được những lịnh sung công như vậy. Sung công ngựa, xe, và súc vật. Anh không có ngựa, cũng không có xe. Bây giờ anh hết tiếc không có mua mấy thứ này. Chánh phủ sẽ lấy hết và anh cũng vẫn đi bộ như thường. Anh nghĩ thầm: “Hay Chánh phủ muốn ta cho một bao bắp hoặc lúa mì!”. Anh biết rõ, lúa mì cũng bị sung công.

Ăn xong, anh lau tay để khỏi dính dơ tờ giấy, và giở ra đọc. Suzanna nhìn thấy mặt anh từ đỏ sang trắng, rồi xanh dờn.

Nàng hỏi:

– Giấy nói gì ở trỏng vậy anh?

Hai đứa nhỏ nhìn cha. Moritz nằm dài trên giường, hai tay lót đầu. Suzanna hỏi dồn: “Anh không nói coi chuyện gì vậy?”.

Sự im lặng của Moritz chắc là báo điềm bất thường. Moritz đáp:

– Dầu có nói, em cũng không hiểu. Chính anh đây cũng không hiểu.

– Chuyện dữ hay sao anh?

– Viên hạ sĩ quan lo việc sung công chắc lộn hay sao chớ. Mấy ông này thường hay nghĩ chuyện khác khi ngồi viết lắm!

Moritz đưa tờ giấy cho Suzanna rồi nói:

– Em coi, đây là một lịnh sung công. Mình đã nhận hai tấm rồi. Lần đầu về lúa mì, lần sau, về mấy bao đựng đồ mua của anh Porfirie. Bây giờ, lịnh sung công không phải đồ vật nữa mà là anh đây! Làm sao họ lại sung công người ta? Em hiểu được không?

Suzanna đọc chậm chậm từng chữ. Moritz nổi nóng, giựt tờ giấy lại, đọc to lên, rồi nói:

Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 28 Jan 2026

7. Một cuốn sách

Phạm Hồng Sơn

Đọc xong cuốn sách về một con người đã chết cách đây hơn nửa thế kỷ khi còn đương xuân, đương ở những năm tháng tiềm năng nhất về sức lực và trí lực, tự tôi dằn lòng nở một nụ cười lớn hạnh phúc cho riêng tôi.

Trầm mặc, bùi ngùi, thương xót, đau khổ, nhỏ lệ là một phản xạ nhân bản, hoặc, tệ hơn, một biểu hiện bề ngoài, rất đỗi tự nhiên của con người trước cái chết của con người. Cái tự nhiên đó dường như đã khiến chúng ta quên mất một điều, đối với con người sự hệ trọng nhất không phải sống hay chết mà là đã sống ra sao và được chết như thế nào. “Đã sống ra sao” là sự nỗ lực hay thiếu nỗ lực để sống cho xứng với tên gọi Con Người. “Được chết như thế nào”  là “tử bất kỳ,” là điều không phụ thuộc vào ý muốn của chúng ta.

Nhưng tư thế của người chết, tinh thần của người chết, bi tráng, lẫm liệt hay vật vã, bi lụy, luôn luôn khiến những kẻ đang sống phải  suy nghĩ. Một con người có tầm vóc hiếm có, chỉ được sống một cuộc sống ngắn ngủi so với tha nhân, đã luôn trăn trở, nỗ lực, chịu đựng trong âm thầm cho tới tận lúc chết để bước và vươn cao hơn trên những bậc thang về cả trí tuệ lẫn nhân phẩm, được biết một Con Người như thế trong một cuộc đời còn nhiều ô trọc tại sao ta không hạnh phúc?

Nhưng cuốn sách không chỉ khiến ta phải ưu tư về đời người, không chỉ làm ta ngưỡng mộ, rung cảm về một cá nhân, một Con Người, một đồng bào máu thịt, cuốn sách còn cho ta những cảm nhận vô cùng sống động tới mức như được sống hoặc được sống lại với một thế hệ thanh niên của dân tộc Việt Nam trong một không gian, một giai đoạn đặc biệt. Đó là phần lãnh thổ phía Nam của Việt Nam trong thời hậu thuộc địa với một chính thể phi cộng sản. Đối với những người đã từng sống trong không gian đó, chế độ đó, cố nhiên cuốn sách sẽ làm hiện lại những ký ức vui buồn, những kỷ niệm sôi nổi, thân thương của một thời — thời Việt Nam Cộng Hòa. Đối với những người, do tuổi tác hoặc do biến cố chính trị, chưa có cái may mắn được sống trong chế độ đó sẽ thấy cuốn sách là một tư liệu trung thực, nghiêm cẩn để hiểu thêm, hiểu đúng về một xã hội, một chế độ chính trị do chính người Việt Nam chúng ta đã tự tìm tòi, xây dựng và bồi đắp hướng theo nhân bản, dân chủ đích thực bất chấp nghịch cảnh. Cái chế độ đó, xã hội đó, đương nhiên, không hoàn hảo, nhưng những gì, chỉ những gì được các tác giả kể lại, ghi lại một cách đa chiều, chân thành, chừng mực, cũng cho tất cả mọi người Việt Nam có lòng thành thật phải thấy ngay rằng rất nhiều điều quý giá, quý giá một cách cơ bản lẽ ra chúng ta đã phải có vẫn không có. Đối với những người đã từng đọc nhiều về ký ức chiến tranh, về văn chương Việt Nam đương đại qua ngả phi chính thống sẽ được gặp lại những chứng nhân có những bút lực thâm hậu như Phan Tấn Hải, Phan Nhật Nam, Trần Mộng Tú, Trần Hoài Thư, cùng nhiều nhân chứng lịch sử khác. Đặc biệt, đối với một số thanh niên Việt Nam hôm nay – những người vẫn giữ được sự bén nhạy  của lương tri – có thể thấy những gợi mở, cảm hứng, sức mạnh đặcbiệt không bao giờ có thể tìm thấy trong học đường, trong sách vở của chế độ hiện hành; hoặc chỉ đơn giản họ sẽ có thêm nghị lực cho  một vài khó khăn, lúng túng thường có của tuổi trẻ, rồi để đến mộtngày, một ngày nào đó, sẽ cũng ra đi – chia tay cuộc đời trần thế. Đương nhiên, một cuốn sách được thai nghén từ sự trăn trở bởi Con Người, của Con Người, cho Con Người, và riêng tư hơn, vì sự tồn vong của một Dân Tộc sẽ phải mang lại nhiều suy tư, hệ quả hơn rất nhiều những gì vừa được chia sẻ.

Đó là cuốn sách Y Sĩ Tiền Tuyến Nghiêm Sỹ Tuấn – Người Đi Tìm Mùa Xuân của một nhóm tác giả, do Ngô Thế Vinh chủ biên, được ra mắt vào đúng ngày 30 tháng Tư năm 2019. Đối với riêng tôi, cái nhan đề mộc mạc, bình dị này hoàn toàn tương hợp với tinh thần, nội dung cao cả của cuốn sách và nhân vật của cuốn sách. Sự cao cả luôn bình dị.

Phạm Hồng Sơn

07/07/2019

Phận người vận nước

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 28 Jan 2026

Phần 4.

Hiệp Định không có hòa bình

Một phiên họp tại Hội Nghị Paris bàn về chiến tranh Việt Nam.

Dẫn Nhập

Năm 2005, trong lần trả lời phỏng vấn của Báo Quốc tế là cơ quan ngôn luận của Bộ Ngoại giao nhà nước cộng sản, cựu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt đã có lời gọi là tâm sự chân thành: Biến cố 30/4 đã gây đau khổ cho hàng triệu người Việt, nước Việt Nam đã phải trả giá bằng nỗi đau và nhiều mất mát. Và ông cho rằng đấy là vết thương chung của cả dân tộc cần được chữa lành thay vì tiếp tục làm rỉ máu thêm. Ông kêu gọi giới cầm quyền cộng sản (bao gồm bản thân ông) phải thực tâm khoan dung và hòa hợp thì mới vận động được người Việt ở mọi nơi trong công cuộc xây dựng đất nước.

Cho dẫu lời ông Kiệt có thực tâm đi chăng nữa thì cũng chỉ mới đúng được một nửa và quả thật quá muộn màng vô nghĩa so với tình hình thực tế lúc ấy, cũng như hiện trạng tệ hại áp bức khốn cùng của xã hội Việt Nam 38 năm sau 1975. Và không những đối với tình hình hiện nay khi Đảng và nhà nước cộng sản đã bộc lộ toàn diện tính cách tai họa của một tổ chức bạo lực cấp Quốc gia mà có thể nói rằng ngay từ những ngày đang trong chiến tranh của thập niên 60, 70 thuộc thế kỷ trước. Trước rất xa thời điểm 1975 mà nếu tinh ý và trung thực, người quan sát sẽ nhận ra rằng cuộc chiến mà Hà Nội tiến hành tại miền Nam từ năm 1960 hoàn toàn không vì mục tiêu giải phóng đất nước, nhưng thực sự chỉ để tranh quyền đoạt lợi. Quyền quyết định vận mệnh dân tộc để thâu lợi cho tổ chức gọi là Đảng cộng sản Việt Nam.

MỘT

Từ lửa Mậu Thân đến bàn Hội nghị

Chúng ta cần nhìn lại từ đầu cụ thể với thời điểm 1968. Vào thời hạn cầm quyền cuối cùng ở Ngũ Giác Đài, Bộ Trưởng Quốc phòng McNamara đã sử dụng phần quyền lực còn lại sau 1,558 ngày nắm giữ chức vụ trọng yếu nhất nền Quốc phòng Mỹ để phủ quyết yêu cầu của Tướng Westmoreland, Tư lệnh quân đội Mỹ ở Việt Nam về đề nghị tăng cường thêm 200,000 nhân sự bổ sung trong các lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế và chiến tranh tâm lý. Một tháng trước lần McNamara từ nhiệm, 36 của 44 tỉnh ly; 5/6 thành phố lớn; 64/242 thị trấn, quận ly thành phố miền Nam đồng loạt bị tấn công bởi một lực lượng 323,500 bộ đội cộng sản gồm 97

Tiểu đoàn và 18 Đại đội đặc công biệt động. Cuộc tấn công khởi đi từ đêm Giao thừa Tết Mậu Thân, đêm 30 rạng 31 tháng 1 năm 1968. Hoạt động của phía cộng sản không chỉ là một chiến dịch quân sự thuần túy. Bốn mươi lăm năm  sau cho chúng ta đủ thời gian để thấy rõ những yếu tố quyết định đã cấu tạo thành sự kiện năm 1968 và hậu quả tai hại của nó. Cũng bởi vào thời điểm ấy chiến tranh Việt Nam đã tạo nên một bất lợi tâm lý trầm trọng trong dư luận Mỹ Quốc với sự kiện ký giả Walter Cronkite có mặt tại Sài Gòn khi trận chiến đang bùng nổ giữa những đường phố, để sau đó trong buổi phát hình ngày 27 tháng 2, người hướng dẫn, tác động dư luận quần chúng Mỹ đã mạnh mẽ xác định: “Hơn bao giờ hết, chúng ta có thể nói rằng kinh nghiệm đẫm máu tại Việt Nam sẽ phải mở ra một lối thoát”. Lời tiên nghiệm của Cronkite được hiện thực bởi Hòa hội

Paris khai mạc vào cuối năm 1968 mà áp lực vốn có từ nhiều năm trước trong Quốc hội, ngoài xã hội, trên báo chí nước Mỹ. Trước tiên cần nêu rõ sự kiện trong những năm 60, 70 yếu tố “tâm lý phản chiến” đã là một “đức tính hợp đạo lý lẫn pháp lý” đối với quần chúng, Quốc hội và chính phủ Mỹ. Lúc ấy phong trào phản chiến đã là một biểu hiện sinh hoạt tiến bộ của xã hội Âu Mỹ nhất là trong giới sinh viên, trí thức trẻ, tiểu tư sản thành thị. Trong khi ấy Nghị quyết 13 Trung ương Đảng cộng sản Hà Nội thì quyết định thực hiện chiến lược gồm những bước chính:

– Thứ nhất dồn mọi nỗ lực để tạo chiến thắng về mặt quân sự đối với lực lượng Mỹ, điển hình tại mặt trận Khe Sanh để buộc Mỹ phải rút quân ra khỏi miền Nam tương tự quân đội Pháp sau trận Điện Biên Phủ năm 1954.

– Thứ hai làm băng rã Quân lực Việt Nam Cộng hòa đế chứng minh với dân chúng miền Nam cũng như dư luận thế giới về sự lớn mạnh chính trị lẫn quân sự của phía cộng sản. Sự kiện này được thực hiện với lần xuất hiện tổ chức chính trị Mặt trận Liên minh dân chủ và hoà bình tại Sài Gòn và Huế do Luật sư Trịnh Đình Thảo giữ vai trò chủ tịch có mục đích vận động quần chúng nổi dậy lật đổ chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Và cuối cùng là chuẩn bị, củng cố vị thế chính trị của Mặt trận Giải phóng miền Nam trước khi Hội nghị Paris sắp khai diễn. Ngoài ra cũng có dư luận cho rằng chiến dịch Mậu Thân 1968 là “đòn mật ước” giữa Hà Nội và Mỹ qua trung gian của Liên Xô để thanh toán cơ sở hạ tầng của Mặt trận Giải phóng tức là của Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, vốn có khuynh hướng thân Trung cộng. Mật kế này nếu được thực hiện đúng như dự định sẽ giúp Hà Nội có lý do chính đáng để tác động mạnh mẽ hơn đối với thành phần lãnh đạo cộng sản miền Nam với vai trò của Nguyễn Chí Thanh đã bị tử trận lúc ấy được thay thế bởi chính Võ Nguyên Giáp, cùng lần xâm nhập lực lượng bộ đội chính quy cộng sản miền Bắc vào Nam với khối lượng lớn.

Điều vừa trình bày đến nay vẫn là một “nghi án chính trị” chưa soi sáng đủ. Tuy nhiên sau 1975 với lần thanh toán không nương tay cái gọi là “Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam” bằng hành động ngang ngược qua cách biên chế tất cả lực lượng vũ trang của “Chính phủ lâm thời” này chỉ trong một đêm trước ngày lễ duyệt binh 15 tháng 5, 1975 tại Sài Gòn. Sự kiện diễn ra như một màn bi hài kịch cay đắng với nhân vật gọi là Bộ Trưởng Tư pháp Trương Như Tảng của Chính phủ lâm thời. Bộ Trưởng Tảng vốn là một trí thức, con một nhà tài phiệt lớn ở miền Nam đã theo cộng sản từ thập niên 1940 tại Pháp, trở về Sài gòn làm việc trong chính quyền miền Nam nhưng do khuynh hướng và hoạt động thân cộng nên bị cảnh sát Quốc gia bắt giữ. Năm 1967 Tảng được trao đổi với phía cộng sản qua giàn xếp từ nhân viên tình báo Tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn. Tảng được đưa ra mật khu giữ chức Bộ Trưởng Tư pháp trên danh nghĩa của tổ chức gọi là Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam dựng nên do mưu định của Hà Nội. Nhưng lịch sử không hẳn chỉ là những lừa dối chính trị như vừa kể, bởi đầu năm 1974 quân dân miền Nam đã thêm một lần chứng tỏ trước lịch sử Tính Chính Danh của cuộc chiến đấu trường kỳ dẫu với kết thúc bi thảm của ngày 30 tháng 4 năm 1975. Đấy là cuộc chiến Bảo Quốc – An Dân mà dân tộc Việt hằng giữ vững, duy trì suốt ngàn năm dựng nước. Cuộc tranh đấu không khoan nhượng với lực lượng xâm lăng truyền kiếp từ phương Bắc hiện thực qua trận hải chiến Hoàng Sa bùng nổ gần tròn một năm sau ngày Hiệp định Paris được ký kết. Hiệp định gọi đúng và đủ là “Hiệp định Tái lập hòa bình tại Việt Nam” được bốn bên gồm Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam; Bắc Việt Nam và Hoa Kỳ ký kết vào ngày 19 tháng 1, năm 1974 tại Paris, thủ đô nước Pháp.

Hiệp định được đại diện 12 nước trên thế giới gồm ba nhóm chính, nhóm cộng sản; nhóm các nước dân chủ tự do; nhóm nước trung lập ký định ước giám định sự thi hành. Nhưng hòa bình của Hiệp định hoàn toàn không có. Không hề có. Chúng ta cần nhìn lại bi kịch chính trị của Hiệp định – Thật sự chỉ là một văn bản khai tử miền Nam một cách hợp lý ký vào ngày 27 tháng Giêng bốn mươi năm trước, 1973.

Hai.

Hiệp định không tái lập hòa bình Hội nghị Paris gồm có ba giai đoạn chính. Sau hai giai đoạn thảo luận không kết quả, giai đoạn thứ ba mở đầu với cuộc họp diễn ra vào ngày 13 tháng 7 năm 1972 kéo dài qua nhiều kỳ cho đến cuộc họp cuối cùng vào ngày 18 tháng 1 năm 1973. Trong cuộc họp mở đầu giai đoạn ba này, cả hai phía Mỹ và Hà Nội vẫn giữ lập trường cũ với trọng tâm thảo luận là vai trò tương lai của chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Để khai thông sự bế tắc, ngày 19 tháng 7, Cố vấn Tổng thống Mỹ Henry Kissinger họp mật lần thứ 14 với đại diện Hà Nội là Ủy viên Bộ Chính trị Lê Đức Thọ và Xuân Thủy. Theo sự thỏa thuận của hai bên, nội dung cuộc họp mật này không được tiết lộ. Từ tài liệu được giải mật sau này cho biết, lúc ấy Hoa Kỳ đã có ý thân thiện với phía cộng sản qua quan niệm: Hoa Kỳ có thể chung sống với Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa thì cũng có thể chung sống với Hà Nội. Đây là điều mà Kissinger đã nói với Chu Ân Lai tại Bắc Kinh từ 1971. Thế nên qua cuộc họp mật trong tháng 7 với đại diện Hà Nội, lần đầu tiên Kissinger đề nghị ngừng bắn tại chỗ, Hoa Kỳ hợp tác gỡ mìn ở miền Bắc, rút quân đội Mỹ và đồng minh ra khỏi Nam Việt Nam mà không đòi hỏi Hà Nội rút quân về miền Bắc.

Hai bên Nam và Bắc Việt Nam trao trả tù binh và thường dân. Như thế có nghĩa Hoa Kỳ bãi bỏ điều kiện tiên quyết mà trước đây luôn đòi hỏi là Bắc Việt phải rút quân ra khỏi miền Nam cùng lần với Hoa Kỳ. Cần lưu ý Hoa Kỳ đã không thông báo cho phía Việt Nam Cộng hòa biết điều thỏa thuận mật này. Để đối lại với âm mưu trên, tại Sài Gòn Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đòi hỏi phải có lần rút quân song phương cả Mỹ lẫn Bắc Việt. Ông Thiệu cũng phản đối đề nghị liên hiệp với Mặt trận Giải phóng miền Nam và thành lập Ủy ban Hòa giải hòa hợp dân tộc có mặt của cộng sản miền Nam. Cần phải nhắc lại rằng, trong những cuộc thương thuyết giữa Mỹ và Liên Xô vào thời điểm tháng 5 năm 1972 này, phía Mỹ đã hứa hẹn sẽ cho Liên Xô được hưởng quy chế tối huệ quốc, mở đường cho Liên Xô giao thương với Hoa Kỳ và Tây Âu. Để đáp lại thiện chí của Hoa Kỳ, Liên Xô đã áp lực với Hà Nội ngưng đòi hỏi điều kiện tiên quyết là loại bỏ Tổng thống Thiệu để khai thông hội nghị. Vì vậy, khi trở lại Paris trong cuộc họp mật lần thứ 17 vào ngày 15 tháng 9, lần đầu tiên Lê Đức Thọ cho biết cộng sản Bắc Việt chấp nhận sự tồn tại của chính quyền Sài Gòn song song với Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Như thế có nghĩa, mỗi bên Hoa Kỳ và Bắc Việt đều rút bỏ một điều kiện tiên quyết để có thể bàn luận tiếp những vấn đề chuyên môn cụ thể hóa cho cuộc đình chiến.

Sau những thỏa thuận đạt được trong những cuộc họp mật lần cuối tháng 9, Lê Đức Thọ gởi điện văn về Hà Nội xin ý kiến quyết định, cố vấn Kissinger cũng trở về Mỹ và đề cử nhân vật phụ tá là Tướng Alexander Haig qua Sài Gòn để thảo luận với Tổng thống Thiệu. Tổng thống Thiệu tiếp phụ tá Haig hai lần vào đầu tháng 10 có mặt các nhân sự quan yếu trong Hội đồng An ninh Quốc gia. Trong cuộc họp, ông Thiệu đã phản đối lập trường cũng như những đề nghị của Hoa Kỳ đã thỏa thuận với Bắc Việt. Ông Thiệu cũng trao cho Tướng Haig một bản tóm tắt lập trường của Việt Nam Cộng hòa để đưa lại cho cố vấn Kissinger tham khảo trước cuộc mật đàm sắp đến với Lê Đức Thọ. Sau khi Tướng Haig về lại Washington DC, Tổng thống Nixon gởi Tổng thống Thiệu văn thư đề ngày 6 tháng 10 có nội dung vừa thân thiện, vỗ về, bảo đảm nhưng cũng hàm ý đe dọa. Gần cuối thư có đoạn viết: “…Tôi xin Ngài cố áp dụng mọi biện pháp để tránh sinh ra sau này một không khí có thể đưa tới những biến cố tương tự như biến cố mà chúng tôi đã ghê tởm năm 1963 và chính bản thân tôi cũng đã kịch liệt phản đối trong năm 1968 …”. Như thế có nghĩa, Nixon ngầm đe dọa ông Thiệu có thể gặp trường hợp bị sát hại như cố Tổng thống Ngô Đình Diệm trong biến cố 1 tháng 11 năm 1963 nếu không thuận theo chính sách của chính phủ Mỹ. Từ 8 đến 17 tháng 10 những cuộc mật đàm tiếp tục được tiến hành, Mỹ và Bắc Việt giải quyết những bất đồng cuối cùng, hoàn tất bản dự thảo hiệp định và dự tính sẽ ký kết Hiệp định đình chiến vào cuối tháng 10 năm 1972. Cuộc họp mật cuối cùng cũng có dự tính để cố vấn Kissinger sẽ đi Hà Nội vào ngày 23 tháng 10 sau khi đến Sài Gòn để thông báo nhằm đạt sự thỏa thuận của phía Việt Nam Cộng hòa.

Ngày 23 tháng 10 năm 1972 cũng là ngày chấm dứt chiến dịch Linebacker I oanh kích Bắc Việt Nam. Chiến dịch đã sử dụng không quân của Lực lượng Không quân Số 7 và Hải đội Đặc nhiệm 77 oanh tạc Bắc Việt kể từ ngày 9 tháng 5 cho đến ngày 23 tháng 10 của năm 1972 này để tạo sức ép buộc Hà Nội tại bàn hội nghị.

Cố vấn Kissinger đến Sài Gòn vào ngày 18 tháng 10, ngày hôm sau ông trình lên Tổng thống Thiệu bản dự thảo hiệp định bằng Anh Ngữ. Chính phủ Sài Gòn đòi xem bản dự thảo bằng Việt Ngữ nhưng Kissinger trả lời không mang theo. Sau hai giờ thảo luận cuộc họp chấm dứt không đạt được một đồng thuận nào cả.

Qua ngày 20 tháng 10, Kissinger gặp nhóm phụ tá ngoại giao của Tổng thống Thiệu, cố vấn Hoàng Đức Nhã yêu cầu ông Kissinger giải thích 64 điểm trong dự thảo hiệp ước, nhưng Kissinger cho rằng chỉ có 8 điểm là quan trọng. Cuộc họp rất gay cấn vì phía Việt Nam Cộng hòa không chịu nhượng bộ. Cuộc họp thất bại, Tổng thống Thiệu hủy bỏ phiên họp với Kissinger dự tính vào chiều hôm của ngày 20. Sau khi qua Nam Vang gặp Tổng thống Lon Nol của Campuchia, Kissinger quay trở lại Sài Gòn để thuyết phục Tổng thống Thiệu lần cuối cùng trong ngày 22. Cuộc gặp gỡ hoàn toàn không có kết quả, Tổng thống Thiệu thắng thừng tố cáo Hoa Kỳ đã thông đồng cùng Liên Xô và Trung Quốc nhằm lật đổ chế độ Việt Nam Cộng hòa và bác bỏ hầu như từng điểm một bản dự thảo hiệp định do Kissinger đưa ra. Hôm sau, 23 tháng 10, cố vấn Kissinger đến Dinh Độc Lập cố thuyết phục Tổng thống Thiệu lần cuối cùng nhưng không được và trở về nước cùng ngày với thất bại nặng nề đầu tiên trong cuộc đời ngoại giao sôi nổi đa dạng của ông.

Trước phản ứng mạnh mẽ của Tổng thống Thiệu, cả Hoa Kỳ lẫn Bắc Việt đều giận dữ đố lỗi cho Việt Nam Cộng hòa đã gây trở ngại cho việc ký kết Hiệp định. Thậm chí còn có nguồn tin chính phủ Hoa Kỳ đã tính tới việc dùng máy bay buộc Tổng thống Thiệu phải đi ra khỏi nước trong ngày 26 tháng 10. Riêng Hà Nội còn tố cáo là Hoa Kỳ đã phá hoại hiệp định bằng cách đổ lỗi gây nên từ phía Sài Gòn. Cho dẫu không có mặt ở Hà Nội trong ngày 23 tháng 10 để ký tắt Hiệp định vì không thuyết phục được Sài Gòn, tuy nhiên trong cuộc họp báo ngày 26 tháng 10 tại Tòa Bạch Ốc Kissinger vẫn tuyên bố một cách chủ quan: “Chúng tôi tin tưởng hòa bình đang ở trong tầm tay”. Phía Việt Nam Cộng hòa không còn gì phải giấu diếm cũng như không phải sợ mất một điều gì nữa, ngày 24 tháng 10, Tổng thống Thiệu đọc bài diễn văn quan trọng trước Lưỡng viện Quốc hội, thông báo cùng quốc dân những điều khẩn thiết. Thoạt tiên cộng sản đã đòi hỏi một cách xấc xược

là bản thân ông Thiệu phải ra đi nhưng sau làm ra vẻ nhượng bộ như trên đã trình bày do áp lực của Liên Xô. Tuy nhiên sau đó lại tỏ ý thuận cho ông Thiệu ở lại trong tổ chức gọi là Chính phủ lâm thời gồm ba thành phần ngang nhau là Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tức tổ chức cộng sản và đại diện của lực lượng thứ ba gồm những thành phần thiên cộng, chống đối chính phủ Việt Nam Cộng hòa tại Sàigòn. Cuối cùng tổ chức lâm thời này cũng chỉ được tồn tại trong vòng 6 tháng sau đó phải giải tán. Để chỉ rõ âm mưu đen tối của phía cộng sản, Tổng thống Thiệu nêu lên chi tiết: “Lá cờ của Chính phủ hòa giải lâm thời này chỉ là cờ đỏ sao vàng của Bắc Việt có thêm một quầng xanh trên ngôi sao vàng mà thôi!”.

Tổng thống Thiệu cũng tố cáo âm mưu gọi là “ngưng bắn” của phía cộng sản. Ngưng bắn theo mưu đồ này là quân lực Việt Nam Cộng hòa không được tấn công vào những khu vực mà lực lượng cộng sản đã lấn chiếm kể từ đầu mùa Hè kéo dài trong suốt năm 1972 theo kế hoạch của Hà Nội. Bài diễn văn cũng không quên vạch rõ những thỏa thuận của Mỹ với Hà Nội bất chấp sự sống còn của miền Nam. Dầu chưa ký hiệp định về Việt Nam, ngày 7 tháng 11 năm 1972, Tổng thống Nixon tái đắc cử, ông có được 4 năm dài trước mặt để giải quyết vấn đề Việt Nam trên thế mạnh. Những cuộc mật đàm trong tháng 12 được tiếp tục nhưng vẫn không đưa lại kết quả cụ thể với trở ngại lớn nhất là bộ đội cộng sản không chịu rút về Bắc. Cố vấn Kissinger đề nghị Tổng thống Nixon mở lại cuộc oanh kích Bắc Việt. Ngày 14 tháng 12, Tổng thống Nixon kêu gọi Hà Nội thương thuyết nghiêm chỉnh để tránh bị dội bom. Hai hôm sau, trong một cuộc họp báo, Kissinger cho biết cuộc hòa đàm thất bại vì Hà Nội không chấp nhận một nền hòa bình công chính và hợp lý do Tổng thống Nixon đề nghị theo những yêu cầu hợp lý của Sài Gòn. Hà Nội và Mặt trận Giải phóng vẫn nhắc lại luận điệu cũ, tố cáo Hoa Kỳ phá hỏng hòa đàm. Ngày 18, Chính phủ Hoa Kỳ ra lệnh thực hiện chiến dịch Linebacker II, thường được gọi là cuộc “oanh kích Giáng Sinh”, tấn công dữ dội Hà Nội và Hải Phòng. Trong phiên họp chính thức lần thứ 171 vào ngày 21 tháng 12 hai phái đoàn cộng sản bỏ phòng họp, phản đối việc Hoa Kỳ dội bom Bắc Việt Việt Nam.

Ngày 30 tháng 12, Tổng thống Nixon ra lệnh ngưng oanh tạc những mục tiêu thuộc lãnh thổ Bắc Việt, Bắc vĩ tuyến 20. Phiên họp 172 tái tục ngày 4 tháng 1 để có hiệp định được chính thức ký kết vào ngày 27 tháng 1 năm 1973. Không có giải pháp tốt cho một vấn đề vốn xấu nên hiệp định quả chỉ tồn tại cho đến ngày 30 tháng 4, 1975 với toàn bộ lực lượng 16 sư đoàn bộ binh cộng sản miền Bắc đồng loạt tấn công công khai miền Nam bất chấp cái gọi là Hiệp định tái lập hòa bình tại Việt Nam. Tuy ký kết Hiệp định nhưng chính phủ Việt Nam Cộng hòa vẫn giữ lập trường “Bốn Không” đã được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đưa ra từ năm 1971, nghĩa là không liên hiệp, không cắt đất, không hòa giải, không chấp nhận cộng sản. Về phía Bắc Việt Nam, sau khi ký Hiệp định, Bộ Chính trị Đảng Lao động đã triệu tập Quân ủy Trung ương cùng các Tư lệnh chiến trường của lực lượng vũ trang cộng sản ở miền Nam họp hội nghị tại Hà Nội vào cuối tháng 4 năm 1973. Hội nghị này đã đề ra Nghị Quyết 21 để tiếp tục chiến tranh, chuẩn bị kế hoạch lấn chiếm miền Nam bằng vũ lực. Với nghị quyết 21 Bộ Chính trị Hà Nội cho rằng Hiệp định Paris đã quy định chấm dứt các hoạt động quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam, không được sử dụng không lực trên chiến trường ba nước Đông Dương. Đây là cơ hội thuận tiện để Bắc Việt tăng cường bộ đội và tiếp vận vào Nam nhằm chuẩn bị những trận đánh sắp đến. Về phía Hoa Kỳ từ cuối năm 1972 chỉ còn khoảng 24.200 quân ở Việt Nam, số quân này rút về Mỹ đúng 60 ngày kể từ ngày 27 tháng 1. Và như phát súng ân huệ dành cho Nam Việt Nam, ngày 4 tháng 6 cùng năm 1973, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Tu Chính án Case-Church cắt bỏ tất cả ngân khoản cho các hoạt động quân sự của Mỹ tại Đông Dương. Tổng thống Richard Nixon cố vận động Quốc hội triển hạn đến 15 tháng 8 để tiếp tục cuộc dội bom trên chiến trường tại Cao Miên. Sau thời điểm nầy mọi chi phí chiến tranh Đông Dương phải được sự đồng ý của Quốc hội Mỹ .

Sau Tu Chính án Case-Church, Quốc hội Hoa Kỳ tiếp đưa ra “Nghị Quyết về Quyền Lực Chiến Tranh” (War Powers Resolution), nhưng bị Tổng thống Nixon phủ quyết. Tuy nhiên với đa số trên 2/3, Quốc hội vượt quyền phủ quyết của Tổng thống và thông qua nghị quyết vào ngày 7 tháng 11 cùng năm 1973. Với nghị quyết này Quốc hội Mỹ giới hạn quyền hành động của Tổng thống kiêm Tổng Tư lệnh Quân đội Hoa Kỳ. Trong khi đó Liên Xô và Trung Quốc mặc tình tuông đổ viện trợ quân sự, nhân vật lực cho Bắc Việt để tiếp tục cuộc chiến ở miền Nam.

Lính Mỹ bảo vệ trẻ em Việt trong chiến tranh Việt Nam.

Thế nên có thể nói sau khi Hoa Kỳ rút hết quân ra khỏi Việt Nam vào ngày 29 tháng 3, chỉ một mình miền Nam đơn thân chống cự không phải chỉ với cộng sản Việt Nam mà là cả khối cộng sản Quốc tế do Liên xô lẫn Trung cộng dẫn đầu. Và đây là cơ hội thuận tiện cho Trung cộng thực hiện mưu tính từ bấy lâu nay, bất ngờ xâm lăng Hoàng Sa của Việt Nam Cộng hòa dẫu Bắc Kinh là một bên ký kết bản “Định ước của Hội nghị Quốc tế về Việt Nam” tôn trọng nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam theo tinh thần lời văn của Hiệp định Paris ký ngày 27 tháng 1.

Kết Từ

Chiến tranh, hòa bình Việt Nam hóa ra đã được thực hiện, điều hành và quyết định bởi lực lượng cộng sản Việt Nam và Quốc tế và một bên là Chính phủ, Quốc hội Liên Bang Bắc Mỹ theo yêu cầu chiến lược của từng thời kỳ. Cả hai bên đồng nhìn lịch sử của dân tộc Việt Nam qua những sự kiện được đánh số và phân loại. Thế nên, chiến tranh đã xảy ra thật hợp lý giữa người cộng sản và những người lãnh đạo, điều hành hệ thống chính trị Mỹ. Trận hải chiến Hoàng Sa tuy chỉ diễn ra trong một ngày nhưng đã phản ảnh rõ lập trường của tất cả các có mặt trong suốt 30 năm chiến tranh từ 1946 đến 1975 của thế kỷ vừa qua trên chiến địa Việt Nam.

Việt Nam Cộng Hòa hay Nam Việt Nam do phải tự vệ, chống lại cuộc xâm lăng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hay Bắc Việt Nam. Vì tham vọng xâm chiếm miền Nam, Bắc Việt đã cầu viện với khối cộng sản Quốc tế, nhất là Trung cộng. Thế nên Thủ tướng Bắc Việt Phạm Văn Đồng đã ký Công Hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958 tán thành quyết định về lãnh hải của Trung cộng nghĩa là thuận nhượng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung cộng. Riêng về phía Mỹ, qua cuộc chiến Việt Nam, chính phủ Hoa Kỳ tạo được mối liên lạc với Trung Quốc nên đã thay đổi chiến lược toàn cầu và bỏ rơi Việt Nam Cộng hòa vào năm 1973. Nay 40 năm sau, nước Mỹ trở lại Châu Á với chiến lược chuyển trục về phía Đông và Việt Nam lại thêm một lần là diễn trường tranh chấp không ai khác giữa Mỹ và Trung Cộng. Lịch sử Tháng 1 năm 1973 thêm một lần lập lại với thân phận Việt Nam.

Phan Nhật Nam

Hình Nguyễn Ngọc Hạnh

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 28 Jan 2026

Chương 9

“Đầu teo đít to”

(1)Tướng Văn tiến Dũng, Tổng tư lệnh quân đội Bắc Việt chọn một lùm cây xanh rậm rạp kế cận một đám rừng kè để đặt Bộ Chỉ Huy của mình, cách 35 cây số về hướng Tây của thành phố Ban Mê Thuột, và chỉ cách biên giới Cam Bốt có 10 cây số.

Ở vùng Cao nguyên này, người ta che dấu dễ dàng một đội tuần tiễu, một trung đoàn và ngay cả một sư đoàn nữa. Cảnh vật tưởng chừng như man rợ, bát ngát dọc theo một bình nguyên rộng lớn cao từ 400 đến 1200 thước, có nơi cao đến 2598 thước với ngọn núi Ngọc Ninh, gần tỉnh Kontum, nơi đó quân lực Hoa Kỳ đang chờ một cuộc tấn công.

(2) Sông rạch, hồ, thác nước được thấy rải rác khắp Cao Nguyên, còn đường sá thì chạy dọc theo các thung lũng.. Nếu không chiếm giữ thì cũng phải kiểm soát các con đường cũ này của Pháp vì đây là những trục lộ chiến lược. Vùng này tuyệt đối không có dân cư, nhưng rất giàu về gỗ, về tre nứa, một vùng rất thơ mộng và cũng rất hùng vĩ..Từ nhiều thế kỷ rồi, người dân ở đây được gọi là dân Thượng (3) . Họ đã từ vùng đồng bằng chạy lên đây trồng bắp trồng khoai, sắn, họ không có cùng ngôn ngữ quốc gia với người dân Việt Nam. Khi đã ổn định rồi thì họ trồng lúa, chăn nuôi và săn bắn, nhưng sống từng cộng đồng riêng lẻ xa lạ đối với đất nước.. Người Việt Nam dù là Nam hay Bắc đều có “vấn đề” với đồng bào Thượng này.

Tướng Dũng rất thích phong cảnh quá thơ mộng ở đây. Ông thích nghe tiếng lá vàng khô xào xạt dưới chân ông. Các lá vàng này đẹp thiệt nhưng rất nhạy lửa.. Các anh bộ đội thì không như ông tướng của mình, vì mỗi lần có cháy ở đâu đó, là các nhân viên truyền tin lại phải đi thiết lập các đường dây điện thoại lại.

Trong cánh rừng này thường có nhiều đoàn voi đi, nên người ta phải đi dây thật cao. Đoàn voi thường lôi các đường dây xa đến vài trăm thước. Trong khu rừng này người ta cũng gặp vài con cọp. Để dấu kín 3 sư đoàn không cho ai dò tìm được, tướng Dũng đã cho lệnh liên lạc với nhau toàn bằng điện thoại, tuyệt đối không dùng máy vô tuyến.

Ông ta so sánh thử tương quan lực lượng của chiến trường. Bộ binh của ông không có ưu thế tuyệt đối. Nhưng nếu ông tập trung được tất cả vào một điểm chính thì ưu thế không thể chối cãi được:

  • bộ binh thì 5,5 chống 1,
  • chiến xa thì 1,2 chống 1;
  • pháo binh nặng thì 2,1 chống 1.

Trong quyển nhật ký của ông, tướng Dũng không thấy nghĩ đến những khó khăn của mình như : chiến xa và pháo binh sẽ bị lầy, thiếu thợ máy lành nghề, vài đại đội đi lạc mà không được dùng vô tuyến của họ. Ông phàn nàn về một vài khuyết điểm : khả năng hợp đồng tác chiến không đồng đều của các sư đoàn . Bộ đội chánh quy Miền Bắc lại không có kinh nghiệm “tác chiến trong thành phố” và đối với một vài nhóm sự “hợp đồng binh chủng” trong một bình diện lớn là một chuyện quá mới mẻ.

Tướng Dũng rút được kinh nghiệm trong hai cuộc tấn kích năm 1968 và 1972.

Năm 1968, mặc dầu có thừa can đảm, bộ đội, nhất là Việt Cộng, không có giữ được thị trấn mà họ đã chiếm được ..

Năm 1972, không có sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ binh, chiến xa và pháo binh.

Cộng sản thường hay tự phê bình, nên trong suốt 3 năm qua Bộ Tổng Tham Mưu Bắc Việt đã tiến hành phê bình và tự phê bình các trận hành quân vừa qua.

Trong năm 1972 và nhất là năm 1968 các đơn vị cộng sản gặp những khó khăn về định hướng. Họ đến từ Miền Bắc và thường đi lạc trong những thành phố xa lạ đối với họ. Còn các tân binh Việt Cộng phần lớn là nông dân nên không quen với địa hình địa vật của các thành phố.

Trong năm 1975 này, dù là Sài Gòn hay Ban Mê Thuột, Bộ Tham Mưu Bắc Việt chỉ có nhiều chiến cụ tối tân của Liên Xô nhưng không có được bản đồ tham mưu. Để biết rõ hơn về Ban Mê Thuột, tướng Dũng đã gởi một cán bộ, sĩ quan mặc thường phục và vài người với nhiệm vụ trà trộn vào thành phố. Họ đã trở ra với một nét mặt kinh hoàng. Người cán bộ sĩ quan có vẻ hoa mắt, nói:

_ “Thành phố quá lớn, lớn như Hải Phòng vậy.”

Các anh bộ đội trong toán tiền sát bị xúc động khi nhìn thấy các tòa nhà lầu cao ngất trời sáng rực với ánh đèn nê-ông ở ngoại ô. Ở ngay Bộ Tham Mưu tại Hà Nội, người ta đã nói sai hết. Sự phân biệt không đứng vững. Ban Mê Thuột có nhiều nhất 150.000 dân. Hải Phòng có ít nhất 1 triệu dân. Những tin tức này được các báo cáo của các nhân viên thuộc hệ thống nhân dân cách mạng bổ túc, đôi khi cũng do phỏng vấn tù binh.

Đã có ưu thế về nhân số, tướng Dũng muốn thêm vào yếu tố “bất ngờ” nữa. Ông giới hạn số lượng các toán tuần tiễu để không ai có thể nhận ra sự hiện diện của quân đội của mình. Tướng Dũng cũng ghi nhận là địch quân ở Ban Mê Thuột dù yếu và lẽ loi, nhưng đã chiếm một vùng rộng lớn gồm các nhà cửa ở ngoại ô, và đó là một trở ngại lớn cho bộ đội Bắc Việt vì đâu đâu họ cũng đã có tổ chức phòng ngự. Cộng sản đã chiếm và giữ Phước Bình. Bây giờ ở Ban Mê Thuột một thành phố lớn hơn nhiều chắc rồi họ cũng phải làm như vậy.

Tướng Dũng chấp nhận là: “tấn công một thành phố lớn và hợp đồng tác chiến trong một phạm vi rộng lớn .. đều là những điều quá mới mẻ đối với bộ đội cộng sản” và ông tạm quên là trong năm 1972, bộ đội Bắc Việt đã từng tiến chiếm các thành phố lớn mà chưa từng giữ được bao giờ. Tướng Dũng cũng lo ngại về con số quá nhiều chướng ngại vật, những sông rạch hay những vị trí phòng thủ mà pháo binh nặng và các đơn vị chiến xa phải vượt qua.

Người tổng chỉ huy phải có một mục tiêu chiến thuật: “Trong một trận chiến, điều hay nhất để chấm dứt trận đánh nhanh chóng là phải giải quyết và bắt ngay Bộ Chỉ Huy địch” Do vậy tướng Dũng muốn đưa ngay các đơn vị xung kích cơ giới tiến tới thật nhanh. Trong một bình diện (đẳng cấp) khiêm nhường, đây là lần đầu tiên, chiến lược của Blitzkrieg được đem ra áp dụng ở Việt Nam. Là thành viên của Bộ Chánh Trị, tướng Dũng suy nghĩ đến những bài toán của “Giải Phóng” hay đúng hơn là “Chiếm Đóng”: Ban Mê Thuột là một trung tâm chánh trị, kinh tế quốc gia và tôn giáo của Cao Nguyên. Sự hiện diện của dân tộc thiểu số người Thượng, của những người Ky Tô giáo, Tin Lành, Phật Giáo, của gia đình đại tư bản, của những nhà trồng tỉa, của ngoại kiều. .. đã từng sống nhiều chục năm trong cái khí hậu bán thuộc địa này, tất cả đều là những bài toán rất phức tạp. Bộ đội Bắc Việt phải “có một thái độ đứng đắn” mới được. Và người ta cho lệnh hướng dẫn tất cả mọi cấp trong mọi đơn vị. Tướng Dũng dự kiến là “đối với tài sản của giới tư bản” sẽ cho áp dụng đúng đắn “chương trình của mình”. Ở điểm này tướng Dũng cũng còn mơ hồ lắm. Trái lại, ông dự kiến phải “xử dụng ngay những tù binh chiến tranh cho dịch vụ chiến trường” . Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chưa bao giờ ký văn kiện quốc tế nào có liên quan đến lãnh vực này.

Ban Mê Thuột là thủ phủ của một trong 12 tỉnh thuộc Vùng II Chiến Thuật của Miền Nam Việt Nam, một vùng tương đối rộng bằng cả 3 Vùng khác nhập lại. Nhưng cũng là một Vùng có ít dân cư nhất. Sự tùng phục của dân chúng với Sài Gòn không được vững chắc lắm. Ở Phước Bình các đơn vị Địa Phương Quân có đồng bào Thượng, Trong cuộc chiến ở Việt Nam gần như có một cái lệ: càng xa thủ đô hay các đô thị lớn bao nhiêu thì dân chúng càng ít trung thành với Chánh Phủ bấy nhiêu. Những người nông dân chất phác thường “bị đưa đi” đào đường ban đêm dưới sự giám sát của Việt Cộng, và ban ngày thì lại “phải đi” lắp lại theo lệnh của binh sỉ Miền Nam.

Tất cả những chuyện sau đây đều xem ra có lợi cho tướng Dũng: địa thế hiểm trở, với những ngọn núi dựng đứng, những thung lũng hẹp, với những hố trũng ăn sâu khắp nơi trong rừng.. tất cả không giúp gì được cho công cuộc phòng ngự của địch, hay các cuộc phản công yểm trợ của Không Quân địch. Người ta có thể ẩn nấp dễ dàng và thoải mái ở đây hơn là ở vùng đồng ruộng ở Miền Nam.

Thật là một lợi thế quân sự cho Dũng! trước mặt ông ta là sư đoàn 23 bộ binh và 6 liên đoàn Biệt Động Quân của Miền Nam. Còn phía ông ta có cả 3 sư đoàn: sư đoàn 320, 316 và sư đoàn 10, dàn trận đánh thẳng vào Ban Mê Thuột theo thế gọng kềm. Tướng Dũng rất mến sư đoàn cũ của ông ta, sư đoàn 320. Với sư đoàn này hồi năm 1952, ít người hơn, ông ta cũng đã hành quân giống như hôm nay, tấn chiếm thị trấn công giáo Phát Diệm, ở Bắc Việt. Ông đã len lỏi xuyên qua các đồn của người Pháp, đi vào tận trung tâm của thành phố và làm nổ tung Bộ Chỉ Huy của địch, chiếm giữ thị trấn trong 24 tiếng đồng hồ. Trên đường rút lui các đơn vị của ông ta đã quấy rối các đồn Pháp chung quanh thành phố trong suốt 20 cây số. Lần này, ông ta không có ý định phải rút lui, nhưng ông ta sẽ tái diễn lại kiểu hành quân mà ông gọi là “theo lối nở của hoa sen”

Cũng như mọi tổng tư lệnh đều phải để lại một cái gì đó cho đời sau, trước khi trận chiến bắt đầu, tướng Dũng có một bài diễn văn lịch sử ngắn cho sĩ quan và binh sĩ thuộc sư đoàn 316:

_ “Tôi muốn đọc lại mấy câu thơ mà tôi không nhớ là của thi sĩ nào, những vần thơ nói lên một sự cay đắng trong lòng người Việt Nam chúng ta mà chúng ta phải vứt bỏ:

Từ 30 năm rồi khi chúng ta biết cầm súng Vành trăng đã bị cắt làm đôi

Nửa trên đất Bắc, nửa ngồi phía Nam!

Để cho địch tin chắc rằng ông ta sẽ tấn công Pleiku, nơi đặt Bộ Tư Lệnh Vùng II Chiến Thuật, tướng Dũng có 3 cuộc hành quân “Dương Đông Kích Tây” để đánh lạc hướng địch.

_ Thứ nhất là Cảnh sát Miền Nam nhận được tin tức sai lạc do CPLTCHMN tung ra, theo đó thì quân kháng chiến đang chuẩn bị những cuộc biểu tình ở Pleiku và Kontum để đón mừng “giải phóng quân”

_ Thứ hai là tướng Dũng muốn cho địch biết là sư đoàn 968 từ Lào đang tiến về Pleiku, nên đã cho lệnh làm ồn ào tối đa để cho địch phải “chú ý”.

_ Thứ ba là ông ta tổ chức hành quân trên làn sóng vô tuyến: cho người ta có cảm tưởng rằng sư đoàn tinh nhuệ 320 đang đóng quân gần đâu đây, ém quân trong một góc nào đó. Chỉ cần có một đài phát tuyến, một máy phát điện và vài người là quá đủ để bày ra một hệ thống liên lạc vô tuyến quan trọng giữa các đơn vị rồi!

Ở Sài Gòn cơ quan tình bào CIA cũng biết được nhiều tin tức lắm. Phân tích gia Frank Snepp theo sát tình hình, ông ta biết rõ là có một sự điều quân quan trọng của Bắc Việt ở phía Tây và phía Bắc của Ban Mê Thuột. Ông ta chỉ dự kiến là cộng sản sẽ cô lập thành phố Ban Mê Thuột.

Trong lúc này cơ quan tình báo CIA có rất ít tin tức liên quan đến các cuộc điều quân ở vùng Cao Nguyên. Trước đó hơn một năm rưởi, nhân viên đặc trách vùng này phạm lỗi về ngân quỹ nên giờ này họ không có đủ tiền trả cho các điệp viên. Hơn thế nữa vì muốn tiết kiệm nên họ đã bỏ cơ quan ở Ban Mê Thuột và người ta chỉ còn trông cậy vào những người Việt ở cơ quan tình báo của Miền Nam . Trong vùng Cao Nguyên này có rất nhiều nhân viên tình báo nhị trùng, nhưng cuối cùng thì họ chỉ phục vụ cho Hà Nội và CPLTCHMN. Chính Frank Snepp nhìn nhận là phúc trình của ông ta ngày 7/3 là một “sai lầm to lớn”. Không phải chỉ có một Frank Snepp mà còn có những người khác nữa, không ai để ý hay chịu tin vào những tin tức của một bộ đội Bắc Việt đào ngũ, hắn ta xác quyết là sư đoàn 320 thật sự đã di chuyển từ Pleiku đến Ban Mê Thuột.

Trong số các nhân viên CIA ở Việt Nam, Snepp là một nhân vật quan trọng. Cũng giống như ông Martin, Frank Snepp là dân của tiểu bang Bắc Carolina. Anh ta theo học ở Đại học Columbia, khoa bang giao quốc tế. Năm 1968, một trong những giáo sư của anh ta, ông Philip Mosley thuộc khoa Nga ngữ, đã nói với Snepp rằng:

“Con ơi, con thiếu sự linh hoạt để có thể làm việc ở Bộ Ngoại Giao, Cơ quan tình báo CIA hợp với con hơn.”.

Giáo sư Mosley đã nhận thấy như vậy trong khi chính anh ta lại nghĩ rằng cách hay nhất để khỏi phải sang phục vụ ở Việt Namlà nên cột chặc số phận của mình với CIA. Ngay buổi chiều khi anh ta được thu nhận vào CIA, anh đi xem phim James Bond (007 chống bác sĩ No) thì anh tự nhũ: “rồi thì ta cũng sẽ lái những xe kiểu thể thao như vậy thôi!” Sự tình cờ trong vấn đề bổ nhiệm đã đưa anh ta sang Việt Nam sống nhiều năm ở Sài Gòn.

Trẻ, đẹp trai, có một trí nhớ tốt, nói cũng hay mà viết lách cũng giỏi, anh là người mà cả ông Polgar và ông Martin đều rất thích. Họ thườg dùng anh ta trong các buổi thuyết trình. Ông Martin cũng thấy đôi khi anh có vẻ hài hước, nhưng từ lâu rồi ông rất tin tưởng anh ta. Ông Martin thường mời Snepp dùng cơm với ông. Snepp chơi thân với một người con gái của Martin, cô Ginette, đã ly dị rồi nhưng còn đẹp. Snepp không mấy thiên về chánh trị nhưng anh vẫn biết rằng trong lãnh vực tình báo, con người càng có tinh thần đạo đức bao nhiêu càng nguy hiểm bấy nhiêu. Snepp không chống đối đường lối chánh trị chánh đáng của Hoa Kỳ đối với Việt Nam.

Trước sự điều quân của cộng sản Bắc Việt, các nhà quân sự của Miền Nam Việt Namrất hoang mang và không có cùng một nhận định. Cũng như người Mỹ ở Sài Gòn, tướng Phú (tư lệnh Vùng II) nghĩ rằng mục tiêu chính của Bắc Việt là Pleiku. Tin tức từ Sài Gòn cho biết là nổ lực chính của Miền Bắc sẽ nhằm vào Ban Mê Thuột. Tin tức thu lượm được từ cơ quan tình báo, từ kiểm thính, từ các tài liệu tịch thu được, từ các lời khai của tù hàng binh quá nhiều nhưng không giống nhau. Cuối cùng tướng Phú sau khi phân tích lần chót đã khẳng định là Bắc Việt sẽ tấn công vào Pleiku. Hơn nữa một số công điện của Sài Gòn đã khuyến cáo rằng: “cuộc tấn công vào Ban Mê Thuột chỉ là một khả năng có thể xảy ra mà thôi”. Do đó tướng Phú nói với các sĩ quan tham mưu của ông:

_ “Có quá nhiều mục tiêu Ban Mê Thuột rồi Pleiku, rồi Kontum!”

Theo ông, thường thì thì địch tập trung nổ lực chính vào điểm trọng yếu nhất. Mà điểm trọng yếu ở đây là Pleiku. Tại đây quân lực Miền Nam có sẳn cơ sở Tổng hành dinh của người Mỹ đã để lại. Trước kia người Pháp đã chọn Ban Mê Thuột, một vị trí trung tâm của vùng Cao Nguyên để đặt Tổng hành dinh. Còn người Mỹ không đặt nặng vấn đề địa lý, họ thích Pleiku hơn, dù đó là một thành phố nằm ở chệch xa về hướng Bắc. Nhưng họ có quá nhiều trực thăng, họ có khả năng di động cao, nên xa hay gần không còn là vấn đề đối với họ nữa.

Tướng Phú là Tư lệnh Vùng II từ năm 1994. Lúc bấy giờ ông Thiệu đã thay đổi một số tướng tá, trong đó có 3 vị Tư Lệnh Vùng. Tướng Phú xuất thân từ Quân Đội Pháp. Ông đã từng là tù binh của cộng sản Bắc Việt ở Điện Biên Phủ, cho nên ý nghĩ sẽ bị cộng sản bắt lại một lần nữa đã luôn ám ảnh ông. Lúc nào ông cũng tự xem mình là một sĩ quan tham mưu. Trong trường hợp này, người sĩ quan tham mưu lại một lần nữa có vẻ do dự. Ông không muốn vì Ban Mê Thuột mà phải rút bớt lực lượng phòng ngự của Pleiku. Trên phương diện quân sự, Pleiku là một vùng bằng phẳng, rất có lợi cho chiến xa địch. Trên phương diện chánh trị, mất Pleiku là một điều tai hại khủng khiếp. Vì tướng Dũng đã cho lệnh tấn công một số đồn bót chung quanh Pleiku và Kontum, nên tướng Phú càng tin chắc là Pleiku sẽ là mục tiêu chính của Bắc Việt . Nếu Ban Mê Thuột có bị đánh thì ông ta sẽ xin không trợ và sẽ dùng trực thăng gởi quân đến đó tăng cường, tướng Phú luôn luôn nghĩ đến chiến thuật trong khuôn khổ hành quân theo kiểu của người Mỹ ,là người ta có thể điều động một số đơn vị quan trọng đi xa bằng trực thăng.

Nhưng thong thả nghĩ lại, tướng Phú có cảm giác là địch đang đánh lạc hướng mình. Nhưng ở đâu đây?

Trưa ngày 9/3, tướng Dũng tin cho Chánh Trị Bộ, Quân Ủy Trung Ương, và tướng Giáp, bộ trưởng Quốc Phòng: “chúng tôi sẽ tấn công Ban Mê Thuột ngày 10/3”.

Ông ta nói là từ quân số, tiếp liệu, chiến cụ, súng ống đạn dược của ông ta tất cả đều rất là khả quan . Tinh thần binh sĩ theo ông cũng là tuyệt hảo. Cũng trong ngày đó lúc 19.00 giờ, ông đã dùng điện thoại liên lạc với các chỉ huy trưởng đơn vị chính của ông để được biết chắc chắn là họ đang nằm ở tuyến xuất phát. Người ta đã giải quyết xong các bài toán cuối cùng về tiếp liệu. Họ đã dùng các bè tre lớn để đưa pháo binh vượt qua sông Sre Pok. Trong sự yên tĩnh của đêm tối trùm khắp núi đồi, hàng chục ngàn bộ đội tiến tới mục tiêu của họ. Các đơn vị trưởng mà nhiều người tóc đã bạc, duyệt lại lần chót kế hoạch hành quân của đơn vị trên bản đồ.

Trước hết tướng Dũng cho cắt hết các trục lộ chính dẫn đến Ban Mê Thuột và nhất là đường 14 nối liền giữa Ban Mê Thuột và Pleiku. Để tránh một cuộc không trợ hữu hiệu của Không Lực VNCH, và tận dụng đêm tối có lợi cho bộ đội tấn công hơn quân phòng ngự, tướng Dũng cho lệnh tấn kích lúc 2 giờ sáng. Nhờ có pháo binh bắn dọn đường yểm trợ, bộ binh và chiến xa thuộc sư đoàn 10 tiến quân rất thoải mái.

Tướng Dũng có 25.000 quân, còn quân trú phòng Ban Mê Thuột chỉ có 1200.

Đến 7g. 30 sáng các chiến xa đầu tiên của Bắc Việt đã xuất hiện ở vùng phía Bắc và Tây Bắc của thành phố. Họ đã nhanh chóng chiếm và phá hủy ngay một phần của kho đạn dược và một nhà xe của đơn vị thiết giáp, để bọc vòng qua đài phát thanh. Bốn mươi lăm phút sau đó, các chiến xa bắn trực xạ vào Bộ Tư Lệnh sư đoàn 23 bộ binh . Các toán quân thuộc trung đoàn 53 (QLVNCH) đã giữ vững phi đạo chính nằm về phía Tây của thị trấn. Tướng Dũng cho áp dụng chiến thuật “hoa sen nở”, bọc vòng phi đạo chính này và tiến chiếm phi đạo nhỏ hơn nằm về hướng Bắc của thị trấn.

Không quân Miền Nam Việt Nam bắt đàu đến can thiệp. Bắc Việt vẫn không bao giờ xử dụng không quân của họ. Lực lượng Phòng Không Bắc Việt hoạt động rất mạnh. Các phi công Miền Nam vẫn còn bay thật cao và họa vô đơn chí bom họ lại thả lầm xuống trung tâm truyền tin của Bộ Tư Lệnh sư đoàn 23 bộ binh . Và do đó đã làm xáo trộn hết công tác phòng thủ thị trấn Ban Mê Thuột, mất hẳn liên lạc vô tuyến với Bộ Tư Lệnh Vùng II Chiến Thuật. Lúc bấy giờ Pleiku mới biết đâu là mục tiêu chính của Bắc Việt . Tướng Phú quyết định gởi quân tiếp viện đến Ban Mê Thuột, trước hết là trung đoàn 44 là trung đoàn trực thuộc của sư đoàn 23 bộ binh . Để chuyển 2 tiểu đoàn, tướng Phú mới biết được là mình chỉ còn có 7 chiếc trực thăng Chinooks. Mỗi chiếc chỉ chở được 40 người, nhưng sau đó có 2 rồi 3 rồi 5 chiếc bị trục trặc kỹ thuật không thể xử dụng được.

Tại sứ quán Hoa Kỳ ở Sài Gòn, không khí quá căng thẳng, người ta dự trù cho tướng Phú mượn 2 chiếc trực thăng của CIA, thuộc Hàng Không Air America. Nhưng đó là một hành động vi phạm rõ rệt Hiệp Định Paris. Dĩ nhiên không thể nào gởi viện quân đến Ban Mê Thuột bằng đường bộ rồi. Mà chuyển quân với 2 trực thăng cũng là điều rất khó khăn. Bài toán tiếp vận này xem ra tướng Phú không thể giải quyết được.

Hầu hết các đơn vị chánh quy của Miền Nam Việt Nam từ sĩ quan đến binh sĩ thường có thói quen là đem gia đình theo sống gần họ, ở hậu cứ của đơn vị. Từ lâu rồi Ban Mê Thuột là hậu cứ của sư đoàn 23 bộ binh , nhất là các đơn vị có nhiệm vụ phòng thủ thị trấn như trung đoàn 53, và các đơn vị ở Pleiku như trung đoàn 44. Chỉ trừ những đơn vị thuộc binh chủng Nhảy Dù, Biệt Động Quân và Thủy Quân Lục Chiến thì họ không mang theo gia đình lúc họ có nhiệm vụ từ tỉnh này sang tỉnh khác hay từ Vùng này sang Vùng khác. Các cố vấn Hoa Kỳ đã chấp nhận sự có mặt của gia đình quân nhân, trước hết vì lương bổng của họ quá thấp. Một binh sĩ Miền Nam chỉ lãnh 25.000/ tháng (khoản trên dưới 400 quan Pháp, hay trên dưới 25 mỹ kim), nên gia đình họ phải sống gần họ thì họ mới nuôi được.

Viện quân từ Pleiku được trực thăng đổ xuống chung quanh thị trấn Ban Mê Thuột. Một số binh sĩ chỉ lo chạy đi tìm cha mẹ vợ con và những người thân của họ. Khi họ gặp được rồi thì có khi họ vứt cả súng ống quân phục và tìm cách rời khỏi thị trấn. Chỉ có các đơn vị Biệt Động Quân là còn giữ được kỷ luật và còn chiến đấu.

Tướng tư lệnh sư đoàn 23 bộ binh Lê Trung Tường quen lối chỉ huy kiểu Mỹ, nên đã ngồi trên một chiếc trực thăng để điều động các đơn vị. Kỹ thuật này chỉ giúp người chỉ huy nhìn thấy rõ chiến trường, nhưng không giúp ông ta gần gũi binh sĩ của mình. Vợ con của tướng Tường đang đợi ông ta ở trung tâm huấn luyện, nằm về phía Đông Nam của thị trấn. Ông cho lệnh cho tiểu đội Biệt Động Quân chuẩn bị bãi đáp cho ông ở gần trung tâm huấn luyện. Và như vậy là chính ông tướng này cũng lo cho gia đình hơn là lo cho các đơn vị đang chiến đấu với cộng sản. Một tràng tiểu liên đã bắn trúng chiếc trực thăng. Ông Tường bị thương nhẹ ở gò má. Và ông tự tản thương về nằm luôn ở bệnh viện. Viên Tổng tư lệnh Bắc Việt đã dự trù là ông sẽ phải tốn cả tuần lễ mới hoàn toàn chiếm được Ban Mê Thuột. Nhưng đại khái thì ông coi như ngày 10/3 lúc 17g.30 là bộ đội Bắc Việt đã chiếm xong thành phố Ban Mê Thuột.

Ngày đầu tiên, các đơn vị Bắc Việt đã phải chịu gần 200 cuộc không tập của Không Lực VNCH. Và những ngày kế tiếp cứ mỗi ngày khoản 60 lần. Một vài đại đội và nhất là Biệt Động Quân, vẫn còn tiếp tục chiến đấu. Các phi công Miền Nam không có tin tức đày đủ nên không biết vị trí các đơn vị Bắc Việt ở đâu nên không thể yểm trợ được, vì quân hai Bên đối diện nhau rất gần. Hoặc là họ rụt rè không dám thả bom vào thành phố hay những vùng ngoại ô đang có quá nhiều thường dân lánh nạn. Các đơn vị Địa Phương Quân người Thượng ít tham gia vào công tác phòng thủ thị trấn. Một vài người thuộc tổ chức FULRO, một phong trào trung lập đòi tự trị, không mạnh như Hà Nội đã tưởng, đã được Bắc Việt dùng như trinh sát dẫn đường cho các đơn vị. Trong vùng Ban Mê Thuột cũng như ở Cao Nguyên, các đơn vị chánh quy Miền Nam Việt Nam coi thường người Thượng, có dùng trong các đơn vị phụ lực thì cũng không tin cẩn họ lắm.

Tổng thống Thiệu cho lệnh tướng Phú chiếm lại Ban Mê Thuột. Ông còn cho lệnh cho Lê vĩnh Hòa, Giám đốc đài truyền hình gởi một toán quay phim lên Ban Mê Thuột để thu hình trận tái chiếm thị trấn này. Trong lúc tướng Phú lại có kế hoạch khác.

Tại Ban Mê Thuột, bộ đội Bắc Việt bắt giữ 8 nam nữ mục sư người Mỹ, 1 người Úc, 1 người Phi luật Tân, và một nhân viên thuộc Lãnh Sự quán Hoa Kỳ là ông Paul Struharik. Tuy họ được đối xử tử tế nhưng họ được đưa ngay về Miền Bắc.

AFP là cơ quan truyền thông duy nhất có một văn phòng tại Sài Gòn và một tại Hà Nội. Tại thủ đô Sài Gòn trưởng văn phòng là ông Jean Louis Arnaud. Trong thời gian trận chiến xảy ra ở Ban Mê Thuộtthì ông Arnaud đang ở Bangkok. Một điện tín do Paul Léandri gởi đi từ Sài Gòn giải thích rằng một số người Thượng thuộc lực lượng Fulro đã dẫn đường cho các đơn vị Bắc Việt. Báo chí quốc tế đã cho đăng lại bản tin này, nên bức điện tín của Léandri làm cho cả Tổng thống Thiệu và Thủ tướng Khiêm không vừa lòng. Dưới nhãn quan của họ, bức điện tín này coi như gợi ý cho lực lượng đối lập ở Cao Nguyên Trung Phần hợp tác với lực lượng xâm lăng Bắc Việt.

Ở Việt Nam đã hơn một năm rồi, ông Léandri thường hay chỉ trích Chánh Phủ VNCH. Léandri săn tin từ một phóng viên được yêu cầu dấu tên. Hai ông cảnh sát trưởng đến văn phòng của AFP. Họ muốn biết tên của người linh mục đã đưa tin cho Léandri. Ông này từ chối. Cảnh sát khẻ cho lịnh Léandri trình diện ở Sở Di Trú. Léandri báo cho sứ quán Pháp và bạn bè của anh ta biết việc này.

Anh Léandri là một người Pháp gốc Corse, 38 tuổi, mặt mày cũng dễ coi, nhưng cứng đầu, dễ nổi giận. Chiều hôm đó, anh lái chiếc Peugeot của hảng thông tấn AFP, cùng với người tài xế, anh đi vào sở Di Trú ở Chợ Lớn. Chỗ mà anh đến trình diện và Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia nằm đối diện nhau. Một người cảnh sát trưởng mà anh đã gặp ban sáng vẫn còn đòi hỏi Léandri phải cho ông ta biết tên của “nguồn tin”. Leandri phản đối và đòi cho gặp một cấp trên. Đại tá Phạm kim Quy, Chánh sở Cảnh Sát Tư Pháp? Dĩ nhiên là có thể lắm, tại sao không? Ông đại tá không có mặt ở văn phòng trong Bộ Tham Mưu Cảnh Sát, ở ngay phía bên kia đường. Không biết ông ta có ở trong Sở Di Trú hay không? Leandri không biết mình phải đi đâu, lòng vòng quá, anh trở về văn phòng AFP của mình, xong trở lại sở Di Trú. Cũng chưa gặp được đại tá Quy. Leandri lái qua lộ, vào đậu xe trên một con đường nhỏ trong Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát. Vào lúc 19 giờ, Lảnh sự Pháp, ông Patrice Le Carruyer Deuvais đến sở Di Trú. Người ta không có nói cho ông này biết là Léandri đang còn đợi cách đó chỉ vài trăm thước, ở ngay Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát.

Léandri lúc đầu còn bình tỉnh đi đi lại lại trong sân, rồi không bình tỉnh được nữa, đâm ra cáu kỉnh: 21 giờ rồi. Người ta sẽ giữ anh suốt đêm ở đây chăng?. Anh leo lên xe, đóng cửa lại, cho nổ máy, lui lại và chạy ra cổng. Trong đêm tối, có tiếng kêu báo động của cảnh sát, có vẽ náo động. Léandri nhấn ga. Ngay tại cổng, một cảnh sát bắn một phát vào xe Peugeot, xe lủi vào tường. Léandri chạy được 300 thước, đạn trúng ngay màng tang, chết tại chỗ. Sau đó, các luận cứ của người Pháp, của người Mỹ và của Việt Nam đều không giống nhau. Dưới con mắt của người Việt Nam anh Leandri là một Việt lai Pháp. Cảnh sát có thật dám bắn anh ta hay không khi nghĩ rằng Leandri là một người da trắng? Thà là anh Leandri có cảm tình với chánh quyền Miền Nam.

Tin anh Leandri chết được loan đi thật nhanh. Tất cả các nhân viên của sứ quán Hoa Kỳ đều được lệnh không nên xen vào việc đáng tiếc này. Dù vậy, Thomas Polgar cũng phải có một công hàm cho Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Việt Nam để được giải thích rõ hơn nội vụ. Cảnh Sát thì thề rằng họ đã có lên tiếng cảnh cáo trước và người lính gác đã bắn vào lốp xe. Cái chết của anh Léandri gây mất cảm tình ở Hoa Thạnh Đốn , Ba lê và ngay cả Sài Gòn. Nhiều người coi đó là một sự thanh toán của cảnh sát đối với anh Léandri. Hoặc đối với báo chí nói chung, hay đối với nước Pháp.

Mối giao hảo của ông Thiệu và những người quốc gia với nước Pháp hay với cộng đồng người Pháp ở Việt Nam không được tốt đẹp lắm. Những người quốc gia cùng thế hệ với Tổng thống thì thân Pháp hơn là thân Mỹ. Nhưng trên phương diện chánh trị thì ông Thiệu không có thân Pháp. Các vị Tổng Thống Pháp theo sự ước tính của ông đã không nâng đỡ ông. De Gaulle thì quá chống Mỹ, gần như thù nghịch. Ông Pompidou thì đã gởi trả lại quân đội trước kia một vị đại sứ đương nhiệm ở Sài Gòn. Còn bây giờ Tổng Thống Valery Giscard d’Estaing và các nhà ngoại giao của ông ta rõ ràng đang chơi lá bài “lực lượng thứ ba”, mà theo ông là một lực lượng thân cộng trá hình. Ông Thiệu và những công chức trong guồng máy hành chánh và quân sự của ông không hiểu được cái nhìn thù nghịch của các nhà báo trong vùng. Các phóng viên thật ra nếu không phải là cộng sản thì vô Việt Nam rất dễ dàng, muốn đi đâu thì đi rất là tự do. Các đơn vị thuộc QLVNCH còn giúp chuyên chở họ trong khả năng phương tiện mà họ có được tuy ít hơn quân đội Mỹ trước kia. Đối với báo chí ngoại quốc thì không có kiểm duyệt, vậy mà các nhà báo này cứ chỉ trích chế độ Miền Nam trong khi họ hết sức khoan dung đối với Hà Nội. Họ ca tụng nào là sự can đảm, nào là sự bền chí của Việt Cộng mà họ quên rằng những người đó chính là bộ đội chánh quy của Bắc Việt. Họ không bỏ lở một cơ hội nào để nêu lên những sự yếu kém và hơn thế nữa còn bình luận về sự nhát gan của binh sĩ Miền Nam Việt Nam. Họ luôn luôn nêu lên những sự đào ngũ ở Miền Nam mà không bao giờ nói đến hành động này ở Miền Bắc. Tuy nhiên ông Thiệu rất hãnh diện về quân đội của ông, họ thường đánh rất hăng. Có mấy ai đã từng tỏ lòng kính trọng binh sĩ của Miền Nam? Năm 1972, họ đã từng tái chiếm Quảng Trị sau 45 ngày chiến đấu. Hoàng Đức Nhã thường khuyến khích ông Thiệu nên có hành động lấy lòng báo chí quốc tế, nhất là báo chí Pháp. Thường thì ông Thiệu rất là thất vọng với giới báo chí..

Mối giao hảo với những người Pháp cư ngụ tại Việt Nam tốt hơn là với giới báo chí ở Pháp, tuy nhiên cũng vẫn còn phức tạp lắm. Các chủ hãng xưởng, như ông Patrick Hays của hãng Michelin, đều là những người chống cộng. Nhưng phần đông thường tỏ thái độ không thích chánh trị khi nói đến tình hình nội bộ của Việt Nam. Tuy vậy vẫn có một vài người Pháp còn có thái độ chống Mỹ khi họ nhấn mạnh đến các phúc trình của tướng Quang trình lên cho ông Thiệu. Kẻ thù của bạn tôi là kẻ thù của tôi! Tất cả đều qua đi giống như những người Pháp chống cộng đó đã từng nói: “chúng tôi không thắng được Việt Minh thì không có lý nào người

Mỹ lại thắng được Việt Cộng và bộ đội Miền Bắc . Ông Thiệu tự cho mình là một người chống thực dân và ông ta nghi ngờ người Pháp muốn trở lại đô hộ Việt Nam. Những người khờ dại đó tưởng rằng họ có thể tính toán được với cái gọi là CPLTCHMN và với Hà Nội!!

Sự việc Léandri đương nhiên tạo ra một sự đoàn kết công khai rộng lớn trong giới truyền thông, và điều này đã gây bối rối cho ông Thiệu. Đã từng có nhiều phóng viên ngoại quốc chết ở Việt Nam rồi, nhưng đây là lần đầu tiên cảnh sát Miền Nam bắn chết một nhà báo Pháp.

Đại sứ Pháp xin được vào gặp Tổng Thống. Ông Thiệu tiếp ông Jean Marie Mérillon. Ông có vẽ buồn, ông thấy đây là một sự hiểu lầm đến ghê sợ. Đối với ông Mérillon, ông Thiệu gần như nói lên lời xin lỗi. Ông không có lợi lộc gì để mà có hành động không tốt với nước Pháp. Ông Mérillon ghi nhận là ông ta có một trái tim nhạy cảm. Bằng cớ là không bao giờ ông giải quyết việc cho lệnh hành quyết các tử tội.

Báo chí và đài phát thanh Hà Nội bình luận về cái chết của anh Léandri rằng; “những người Miền Nam Việt Nam là bọn phát xít!”

Tờ “Nhân Dân” của Hà Nội cho đăng một bài phóng sự về “cuộc giải phóng Ban Mê Thuột”:

_ “Cờ xí, biểu ngữ, hình ảnh và thông cáo được treo, dán khắp các đường phố trong thị trấn. Khắp các dường phố, dân chúng tiếp đón chánh quyền mới, giáo sư và học sinh các trường trung học, sinh viên trường kỹ thuật và sư phạm tập họp vui vẻ trong trường. Họ nói với nhau: “Không còn vui nào bằng!!” Thật vậy, sự tuyên truyền của Sài Gòn khác hẳn với thực tế như ngày với đêm! Có nhiều học sinh và dân chúng ra quét đường phố, gở bỏ hết các tàn tích văn hóa Mỹ và đi lùng sục địch quân còn ngoan cố phá rối trật tự, Ở trường trung học Bồ Đề hàng ngàn sĩ quan, binh sĩ và công chức của bộ máy bù nhìn ra trình diện.” (20/3)

Ngày 11/3, trong bữa ăn sáng, ông Thiệu có một phiên họp với 3 tướng lãnh, tướng Khiêm, Thủ tướng, tướng Viên, Tổng Tham mưu trưởng và tướng Quang, cố vấn an ninh. Bữa ăn sáng được dọn ra ở lầu 3 Dinh Độc Lập. Theo ông Thiệu thì nơi đây tránh được sự kiểm thính hay nghe lén của Hoa Kỳ . Ông Thiệu hình như không mấy xúc động đối với diễn tiến trận tấn công của Bắc Việt vào Ban Mê Thuột:

_ “Với lực lượng mà chúng tôi đang có, chúng ta không thể phòng thủ hết lãnh thổ của chúng ta được. Nếu chúng ta cứ khăng khăng muốn giữ từng đồn lẻ tẻ thì lãnh thổ của chúng ta sẽ bị gậm nhấm hết.”

Trên một bản đồ Việt Nam, ông Thiệu phác họa một chiến lược mới: Cần phải giữ và tăng cường một “Việt Nam hữu ích”, đại cương là Vùng IV Chiến Thuật ở Đồng bằng sông Cữu Long, và Vùng III Chiến Thuật, chung quanh Sài Gòn. Ở đây có đủ tài nguyên của đất nước, như lúa gạo và các mỏ dầu ở ngoài biển. Tổng thống giải thích:

_ “Phải ấn định lại trận tuyến, ở hướng Bắc, nhất là ở Vùng 2. Chúng ta sẽ bỏ phần đất phía trên cao , cũng rộng lắm. Nhưng chúng ta giữ lại một số cứ điểm thật mạnh như Huế, Đà Nẵng, Chu Lai. Những cứ điểm này có một giá trị tượng trưng hơn là chiến lược. Cứ điểm Đà Nẳng sẽ là một cứ điểm quan trọng. Ở đó quân đội Hoa Kỳ đã đổ bộ hồi năm 1965. Nếu họ có trở lại trong một tháng hay một năm nữa, thì họ cũng phải tính đến căn cứ này.

Lạ lùng chưa? ông Thiệu so sánh các cứ điểm nói trên với những đầu cầu mà Hoa Kỳ đã dùng để đổ bộ trong trận chiến ở Normandie (Thế chiến 2 ở Pháp). Không biết ông có lẫn lộn giữa kẻ xâm lăng với người bị xăm lăng hay không?

Ông Thiệu yêu cầu Thủ Tướng Khiêm và Tổng Tham mưu Trưởng Viên nghiên cứu một kế hoạch phòng thủ: tuyến phòng ngự mới mà ông đã chọn, đi từ Tây Ninh và Đà Lạt, xuống đến bờ biển Nha Trang.

Thủ tướng Khiêm không còn lạ gì với điều này. Ý định “tái phối trí” này Tổng thống Thiệu đã có nói qua mấy ngày trước rồi, thoáng qua thôi, cho tướng Ngôi Quang Trưởng, Tư lệnh Vùng 1 Chiến Thuật. Trước đó 3 tháng, tướng Charles Timmes và Đề đốc Chung Tấn Cang cũng đã nghĩ tới giải pháp này rồi. Bây giờ để thay đổi một chút, Tổng thống gợi ý lại khả năng hành động mới này, một “chiến lược mới” trong khuôn khổ một cuộc “duyệt xét lại chiến lược” với các tướng lãnh của ông. Một trong những cố vấn bất ngờ của ông là tướng hồi hưu người Úc, Ted Sarong, một người mà nhơn viên sứ quán Hoa Kỳ cho là không đáng tin cậy, đã đề nghị một ít thay đổi trong kế hoạch rút quân tái phối trí này.

Để trung thực gọi đây là một cuộc “tái phối trí”, ông Thiệu đưa ra những chứng minh về mặt ngân sách. Ông đã tính toán với Thủ Tướng và Tổng Tham mưu trưởng của ông: Trước kia với 1, tỷ rưởi mỹ kim chúng ta có thể phòng thủ được 4 Vùng Chiến Thuật. Như vậy với 700 triệu chúng ta chỉ có thể giữ được 2 Vùng mà thôi là Vùng III và Vùng IV. Ông cũng giã thiết hay hy vọng rằng khi phải bỏ đi một nửa lãnh thổ cho cộng sản, ông có thể tạo ra hai xúc động tâm lý. Bị báo động, người Mỹ sẽ sẳn sàng bỏ phiếu thuận để viện trợ bổ túc cho Miền Nam Việt Nam. Tổng trưởng kế hoạch Nguyễn Tiến Hưng bảo đảm với ông Thiệu là Hoa Kỳ có một số tiền khá lớn thuộc “quỹ đen” còn chưa xài tới, như Ngũ Giác Đài còn dự trử 850 triệu.

Ở Sài Gòn có nhiều người lẫn lộn giữa ngân sách quốc gia của Việt Nam với kế toán công khai của Hoa Kỳ. Dư luận của người dân Mỹ có thể thay đổi. Phải có một loại biến cố như Trân Châu Cảng mới có thể lật ngược được thế cờ. Một cú sốc cần thiết khác: Miền Nam Việt Nam có mất hồn thì phải trấn tỉnh lại. Hậu quả lớn lao là bỏ đất, trái ngược với nguyên tắc “bốn không” của chính mình: “không nhượng một tấc đất nào cho cộng sản”

Theo dự kiến mới này, ông Thiệu nghĩ là phải rút các đơn vị ưu tú về Sài Gòn. Đó là sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến và sư đoàn Dù, cả hai đang trấn giữ phần đất phía Nam vĩ tuyến 17, ở Vùng I Chiến Thuật.

Binh chủng Dù được người Pháp thành lập và binh chủng Thủy Quân Lục Chiến được người Mỹ thành lập.

Ý định này được nhen nhúm trong đầu các tướng lãnh Việt Nam ở Sài Gòn , nhưng người Mỹ thì không biết gì cả. Nhiều tướng tá nghĩ là ông Thiệu muốn có sẳn trong tay, tại thủ đô, các đơn vị tinh nhuệ của ông để làm nản lòng những ai có ý muốn đảo chánh ông ta. Ông Thiệu muốn có một sự ổn định cả về chánh trị lẫn quân sự, Trên phương diện quân sự, kế hoạch của ông cũng không có gì gọi là vô lý. Ông sẽ có lợi thế là có thể tập trung lực lượng đối phó với các sư đoàn Bắc Việt càng ngày càng đông. Dài hạn thì kế hoạch này cũng có lý. Còn ngắn hạn, cấp bách hơn là có thể tiến chiếm lại Ban Mê Thuột, vì Ban Mê Thuột nằm trong phần lãnh thổ của một “Việt Nam hữu ích”

Ý kiến hay chiến thuật “cứ điểm” này đã từng được tướng Hoa Kỳ là James Gavin tung ra từ lâu. Ông dùng cứ điểm như là nơi đồn trú cho binh sĩ Mỹ để tránh rải các đơn vị ra quá rộng.

Ông Thiệu không có nói ra cho người Mỹ biết kế hoạch này. Cũng có thể ông cho ông Martin biết nếu ông này có mặt ở Sài Gòn. Đại sứ là người duy nhất mà ông Thiệu thường hay trao đổi và thích trao đổi vì ông gần như không có chút tin tưởng nào đối với những người khác trong sứ quán Hoa Kỳ. Ở đó có quá nhiều người chống lại ông. Hơn nữa ông không muốn kế hoạch của ông bị tiết lộ ra ngoài.

Ông Dan Ellerman, cố vấn kinh tế của sứ quán Hoa Kỳ phân tích tình hình với ông Nguyễn văn Hảo, Phó Thủ Tướng đặc trách về kinh tế. Ông Hảo trong một thoáng đã nói qua về kế hoạch thu hẹp hệ thống bố phòng của Miền Nam Việt Nam. Ông Ellerman đã từng làm việc ở Việt Namtrong các cơ quan tình báo Hải Quân, cho nên những sự tiết lộ của ông Hảo có liên hệ đến tình hình chánh trị và quân sự không lọt khỏi ông được (9/3). Lập tức ông báo cáo mọi việc cho ông Wolfgang Lehmann. ÔngPhó Đại Sứ xin một phúc trình chi tiết của Dan Ellerman và gởi thẳng cho ông Martin ở Hoa Kỳ . Rất tiếc là ông Đại sứ Martin lại không chú ý chút nào đến sự kiện này (4)

Ngày 12 tháng 3, ông Thiệu gọi ông Nguyễn bá Cẩn đến gặp ông. Ông Cẩn thuộc đảng Dân Chủ của ông Thiệu và hiện là Chủ tịch Quốc Hội. Ông Thiệu muốn lưỡng viện Quốc Hội tuyên bố “tình trạng khẩn cấp” trên toàn quốc để khích động mạnh vào dư luận quần chúng ở Miền Nam.

Rồi ông Thiệu trở lại biến cố quân sự tối khẩn của Miền Nam. Ông sẽ đi ngay đến Bộ Tư Lệnh Vùng II Chiến Thuật ở Pleiku. Cố vấn an ninh của ông can ngăn ông: Phòng không của Bắc Việt rất nguy hiểm , chúng ta không biết hết vị trí của chúng ở đâu, Và ai mà biết được là phi cơ của Tổng Thống có thể bị chiến đãu cơ của Bắc Việt tấn công, xuất phát từ căn cứ Không Quân nằm ngay phía Bắc của vĩ tuyến 17 ? Do vậy ông Thiệu đi gặp tướng Phú ở Cam Ranh, nằm trên bờ biển giữa Pleiku và Sài Gòn.

Sáng ngày 14 tháng 3, ông Thiệu lên chíếc phi cơ DC 6 cùng với Thủ tướng Khiêm, tướng Viên, Tổng Tham mưu trưởng và tướng Quang, cố vấn an ninh của ông. Ông gặp Tướng Phú tại Cam Ranh, không có sự hiện diện của bất cứ một sĩ quan nào khác. Phiên họp được diễn ra trong một ngôi nhà trắng mà người ta đã từng sửa soạn, dự trù để đón tiếp ông Lyndon Johnson năm 1966.

Ở Cam Ranh, người ta cảm thấy xa được không khí chánh trị ồn ào của Sài Gòn và không khí xôn xao của Pleiku. Cam Ranh đã từng là một căn cứ Hải Quân và Không Quân quan trọng của Hoa Kỳ, là một vị trí chiến lược hai chìu. Với Cam Ranh, người ta kiểm soát được một phần lãnh thổ của nước Việt Nam. Trên bình diện quốc tế, tuần tự Nhật Bản, Hoa Kỳ và Liên Xô ai cũng ngấp nghé Cam Ranh. Hải cảng Cam Ranh có bến nước sâu cho tàu bè vào đậu. Ở Việt Nam, người Mỹ đã xây cấy 55 phi cảng quan trọng, mà phi cảng Cam Ranh là một trong những phi cảng được trang bị tốt nhất. Trong hiện tại, một phần của Cam Ranh không còn được hệ thống ra đa bảo vệ: hệ thống này bắt đầu từ Ban Mê Thuột. Đây là một vị trí hùng vĩ nhưng rất yên tịnh, tuyệt đẹp với những bãi cát trắng dài hàng cây số và san hô dưới biển. Người Mỹ đã có một trung tâm nghĩ mát và giải trí cho binh sĩ của họ tại đây. Họ có thể trượt nước, xem chiếu bóng, thưởng thức món bít tết ngon tuyệt có khi nặng cả nửa kí lô, và các món ăn hải sản như tôm hùm, cua bể, sò huyết v.v.. và sau đó nghỉ ngơi thoải mái trong những phòng ngũ sang trọng trang bị đày đủ tiện nghi, từ máy điều hòa không khí đến hệ thống truyền thanh truyền hình, phòng tắm, nhà vệ sinh,.. Từ sau ngày Hoa Kỳ rút quân về nước, các trung tâm này đã không còn như xưa nếu không muốn nói là đã gần như hoang tàn, nhưng nhìn chung Cam Ranh vẫn còn có một không khí yên tĩnh tuyệt diệu! Trước hết tướng Phú có vẽ mất tinh thần, nóng nảy, trình bày trên bản đồ, vị trí đóng quân của các đơn vị thuộc Vùng II Chiến Thuật của ông. Ông nói:

_ “Tình hình rất xấu trên khắp vùng Cao Nguyên. Tất cả các trục giao thông chính đều bị cắt đứt. Ban Mê Thuột thì đã bị mất rồi. Bây giờ thì Pleiku coi như đang bị bao vây và uy hiếp. Được thấy có thêm nhiều sư đoàn Bắc Việt khác đang xuất hiện. Chúng tôi không có khả năng giữ được Pleiku trong vòng một tháng hay 6 tuần lể nữa.”

Ông Thiệu nghĩ ngay đến chiến lược mới của ông, chiến lược mà ông gọi là “ đầu teo đít to” . người Mỹ dịch lại là “Nhẹ ở trên, Nặng ở dưới”. Ông Thiệu hỏi tướng Phú:

_ “Giờ này chúng ta có thể tái chiếm Ban Mê Thuột được không?

Tướng Phú trả lời quanh co, đòi viện binh, phương tiện chuyển vận và đạn dược. ông Thiệu quay sang tướng Viên. Tổng Tham mưu trưởng không có quân trừ bị, và thiếu trực thăng. Trên giấy tờ, ông có 430 trực thăng, nhưng đã có hơn phân nửa bất khiển dụng, vì thiếu phụ tùng thay thế. Phần còn lại thì có một số bị hỏa tiển Strella, một loại hỏa tiển mới của Liên Xô, bắn hạ hay bị hư hại trong trận chiến ở Phúc Long , Ban Mê Thuột và một vài chỗ khác.

Theo ông Thiệu thì: nếu Miền Nam tái chiếm được Ban Mê Thuột và nếu ông thực hiện được cuộc lui quân lớn theo chiến lược “tái phối trí” của ông thì chúng ta có thể đóng quân lại ở Pleiku và Kon Tum, tạm thời đang được triệt thối.

Một cuộc bàn cãi bắt đầu , trong mơ hồ và lộn xộn. Ông Thiệu thì có cảm tưởng rằng mình đã cho lệnh tướng Phú tái chiếm Ban Mê Thuột. Tướng Phú thì đinh ninh rằng người ta đã cho lệnh ông rút khỏi Pleiku và Kon Tum.

Các cuộc nói chuyện với ông Thiệu được biết là thiếu sự chính xác. Thông thường ông Thiệu có thói quen hay dùng những câu trả lời mơ hồ như: Sẽ coi lại; Tại sao không? Đâu phải là không được?

Có điều chắc chắn là cuộc triệt thoái khỏi Pleiku đã được quyết định. Cả Thủ Tướng và Tổng Tham mưu trưởng không có ai phản đói. Ông Thiệu chấp nhận phải mất Pleiku để cứu Ban Mê Thuột, tướng Phú thì chấp nhận mất Pleiku để cứu Bộ Tư Lệnh Vùng II mà ông sẽ chuyển đến một nơi khác.

Người ta tìm một con đường để rút quân. Con đường tốt nhất là quốc lộ 19 nối liền Pleiku và bờ biển không còn xử dụng được nữa. Quân Bắc Việt đã cắt đứt nó rồi. Hai bên đường là nơi tập trung pháo binh, các đội phòng không, hỏa tiển, và các toán chống chiến xa . Tướng Phú đề nghị dùng một liên tỉnh lộ cũ, đường 7 B. Con đường này dài 200 cây số ngoằng ngoèo lên núi xuống ghềnh, trước kia được thợ rừng xử dụng để đi đến Tuy Hòa, một thị trấn nằm sát bờ biển. Bắc Việt không có kiểm soát và chưa từng kiểm soát con đường này. Lần này quân lực Miền Nam được yếu tố “bất ngờ”. Người ta sẽ cho công binh đi trước. Họ sẽ sửa chửa hay tăng cường vài chiếc cầu. Một lợi thế khác là vùng này không có bao nhiêu cư dân. Và Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa sẽ không bao giờ gặp khó khăn nào với dân chúng ở đây. Các đơn vị Địa Phương Quân và Nghĩa Quân sẽ phải ở lại để tiếp tục nhiệm vụ phòng thủ Pleiku và Kon Tum.

(5) Và sau cùng các công chức cũng phải được giữ lại để tránh một sự hoảng loạn cho dân chúng và kế hoạch không bị tiết lộ.(6)

Trong bộ đồ lớn màu xanh đậm, với sơ mi xanh và chiếc cà vạt màu đỏ mà vợ ông quả quyết đó là màu đem lại may mắn cho ông, Thủ tướng Khiêm không có một phản ứng nào về điều này dù là công chức là những người mà ông phải có bổn phận đối với họ. Như thường lệ, ông có vẻ hờn rỗi, bực tức điều gì đó, trong khi ông rất thận trọng, không thích và không bao giờ muốn nói lên ý kiến của mình, thậm chí đến ra lệnh cũng không . Ông rất chậm chạp trong công việc, hay thoái thác và trầm ngâm bất động đến khó hiểu như đang chờ thời vậy. Người ta gán cho ông có tham vọng làm Tổng Thống. Nhưng ông chỉ thích vai trò của nhân vật thứ hai, núp sau lưng Tổng thống mà thôi. Ở đây thực sự ông là một tướng lãnh với 4 sao trên vai, nhưng ông lại có cái mũ của một ông Thủ Tướng. Hai câu trả lời mà ông thích dùng là: “Anh hảy trình thẳng với Tổng Thống đi hay là “Anh hảy xét việc đó với người Mỹ đi ” Do đó mà cả Dinh Độc Lập và sứ quán Mỹ đều thích ông.

Tướng Tổng Tham mưu trưởng trình bày với những sự dè dặt thường lệ của ông. Ông nhắc lại:

_ “Ở Đông Dương này, người Pháp luôn luôn gặp khó khăn trong các cuộc hành quân triệt thối. Cuộc lui binh ở Lạng Sơn được kết thúc bằng một cuộc tàn sát. Hai cánh quân vừa binh sĩ vừa quân xa dưới quyền của hai đại tá Lepage và Charton đều bị tiêu diệt dưới các ngọn đồi dọc theo quốc lộ số 4. Trên một địa hình gần giống như con đường rừng 7 B, một đơn vị thiện chiến của người Pháp là “chiến đoàn lưu động 100″ (GM 100) cũng đã bị đánh tan. Họ bị tiêu diệt trên quốc lộ 14, ở đèo Chu Drek.”

Tướng Phú bàn cãi:

“Dĩ nhiên là bất cứ một thiếu úy nào cũng biết rằng lui binh là một cuộc hành quân khó khăn nhất. Nhưng địa hình địa vật ở trên con đường 7 B xem chừng như thuận lợi hơn trên con đường 19. Hơn nữa, còn có sự yểm trợ của Không Quân.”

Thật ra, họ không còn sự lựa chọn nào khác, không còn có con đường nào khác.

Phiên họp sắp kết thúc. Tướng Phú khẩn khoản xin cho một trong những sĩ quan phụ tá của ông là đại tá Phạm văn Tất, Liên đoàn trưởng Liên đoàn Biệt  Động Quân, được thăng cấp thiếu tướng. Người sĩ quan này chưa bao giờ tỏ ra là một sĩ quan có khả năng đảm trách một nhiệm vụ chỉ huy quan trọng nào hết. Tướng Viên không biết anh ta. Ông Thiệu lưỡng lự. Tướng Phú là người được tướng Khiêm che chở, và đại tá Tất thì được tướng Phú đỡ đầu. Cần phải để cho ông tướng Tư Lệnh Vùng II có một chút tự do trong quyết định của ông ta, cho nên cả Tổng Thống và Tổng Tham Mưu trưởng đều đồng ý.

Ngay chiều hôm đó, sau khi rời khỏi Cam Ranh, về đến Sài Gòn ông Thiệu dùng cơm tối với Hoàng Đức Nhã. Ông phác họa chiến lược mới của ông, với những lợi và hại của nó cho ông Nhã nghe. Ông nói:

_ “Tướng Phú có xin tôi một lữ đoàn Dù và một lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Về lực lượng trừ bị, chúng ta chỉ có non một lữ đoàn Dù. Tướng Phú phải tự xoay sở lấy với những gì ông ta đang có.”

Hoàng Đức Nhã không thích ông Khiêm và không bao giờ đánh giá cao tướng Phú là người do tướng Khiêm đỡ đầu.

Rất mệt mỏi, ông Thiệu thú nhận:

_ “Phú là một tướng lãnh tốt nhưng chỉ tới cấp sư đoàn thôi, tôi không biết ông ta xoay sở thế nào trong nhiệm vụ chỉ huy trưởng của một quân đoàn.”

Ngày hôm sau, ông Thiệu tiếp ông Wolfgang Lehmann và ông không nói gì tới quyết định trọng đại trong phiên họp ở Cam Ranh. Ông muốn dùng chiến trường Ban Mê Thuộtđể tiêu diệt những đơn vị chủ yếu của địch.

Lehmann hỏi:

_ “Liệu ông có thể tập trung đủ lực lượng cho vùng Ban Mê Thuột mà không để trống các Vùng khác?”

_ “Dĩ nhiên đây là một bài toán thật khó. Phải bỏ trống phần chủ yếu phía Bắc của Cao Nguyên.”

Điều bất ngờ này đã làm cho nhân vật số 2 của sứ quán Mỹ lo ngại.

_ “Chiến trận ở Ban Mê Thuột sẽ rất là ác liệt, nó có thể được kéo dài lâu lắm.”, ông Thiệu nói tiếp.

Từ sau ngày ký Hiệp Định Paris, tất cả những người có trách nhiệm ở Miền Nam đều có xu hướng tiết kiệm đạn dược. Ông Thiệu cho ông Lehmann biết là ông đã ra lệnh cung cấp cho tất cả các đơn vị đang chiến đấu ở Vùng II Chiến Thuật, đầy đủ đạn dược mà họ đang cần. Ông cũng đang chờ đợi một cuộc tấn công trực diện nặng nề của Bắc Việt vào khu vực Huế và Đà Nẵng. Và hình như ông cũng thấy là Bắc Việt sẽ tấn công tỉnh Tây Ninh, cách Sài Gòn khoảng 150 cây số về hướng Tây Bắc.

Về đến sứ quán, ông Lehmann yêu cầu vị sĩ quan tùy viên quân lực Hoa Kỳ đến gặp vị Tổng Tham Müu trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, để biết nhu cầu thực sự của Miền Nam.

Trong một công điện gởi cho tướng Brent Scowceroft ở Nhà Trắng, ông Lehmann báo cáo về cuộc hội đàm vừa qua với Tổng Thống Thiệu. Ông cũng đã có dự liệu trước trong báo cáo là: “Kontum có khả năng sẽ thất thủ nếu bị Bắc Việt tấn công, và Pleiku cũng vậy nếu bị 2 sư đoàn Bắc Việt tấn kích. Ông Lehmann nói rõ là tướng Phú đã triệt thoái Bộ Tham Mưu của ông về Nha Trang.

Ông Lehmann đã có biện pháp để tất cả những người Mỹ ở Pleiku và Kontum được đưa về Nha Trang. Một điểm chiến lược chót trong công điện: “Các tù binh Bắc Việt trong đó có một thượng sĩ, đều được nhận diện thuộc sư đoàn 341, một trong những sư đoàn trừ bị chiến lược của Hà Nội”

Về phía mình, ông Thomas Polgar cũng có một công điện cho cơ quan tình báo trung ương CIA ở Hoa Thạnh Đốn:

_ “Miền Nam Việt Nam đang đứng trước một trong những khủng khoản trọng đại về quân sự cũng như về tâm lý. Không thể so sánh được với năm 1972. Vì lúc đó Miền Nam Việt Nam còn được sự yểm trợ của quân lực Hoa Kỳ . Bây giờ thì Bắc Việt có quá nhiều phương tiện hơn trước, nên có thể đạt được nhiều kết quả hơn , Và họ đang đạt được nhiều kết quả hơn, với nhiều phương tiện hơn đây. Sức tiến quân của Bắc Việt nhanh hơn và có ảnh hưởng mạnh hơn lúc nào hết, so với bất cứ thời điểm nào của năm 1972.”

Ông Polgar đã có gặp tướng Nguyễn khắc Bình, Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia, kiêm Chỉ Huy Trưởng Cơ Quan Tình Báo Trung Ương CIO, một cơ quan hoàn toàn Việt Nam nhưng tương đương với CIA và FBi của Hoa Kỳ. Tướng Bình xác nhận là không tránh khỏi là Bắc Việt sẽ kiểm soát toàn bộ Vùng Cao Nguyên Trung Phần. Theo tướng Bình thì cả ông Thiệu và Chánh Phủ của ông “dù là đã được cải tổ như trong hiện tại, không ai có thể nuốt nổi sự mất mác này. Một suy sụp tinh thần toàn diện đang ló dạng ở chân trời…”

Ông Polgar nói thêm rằng:

-“Mới có một tuần lể đầu của cuộc tổng tấn công mà kế hoạch tồn trử đạn dược và xăng dầu đã bị xáo trộn rồi. Dự trử đạn dược đã khô cạn trước khi năm tài chánh chấm dứt.”

Năm tài chánh của Hoa Kỳ bắt đàu từ tháng 10 năm nay đến tháng 10 năm tới. Ông Polgar nghĩ tới những cuộc tranh luận và quyết định của Quốc Hội về viện trợ bổ túc cho Việt Nam:

_ “Miền Nam Việt Nam sẽ có những khó khăn lớn lao vì quyết tâm của Bắc Việt muốn tìm một giải pháp quân sự, và vì thái độ của Quốc Hội Hoa Kỳ muốn đơn phương chấm dứt hay hạn chế sự viện trợ cho Miền Nam Việt Nam mà không cần biết tới hành động của cộng sản Bắc Việt”.

Không còn nghi ngờ gì nữa về kết quả cuối cùng bởi vì Miền Nam Việt Nam không thể tồn tại được nếu không có viện trợ quân sự của Hoa Kỳ bao lâu mà khả năng của bộ máy chiến tranh của cộng sản Bắc Việt đã chẳng những không được Liên Xô và Trung Quốc hảm lại mà còn được họ thúc đẩy mạnh tới nữa, Vì họ là cấp trên, là cấp chỉ huy trực tiếp của Bắc Việt”

Tất cả người Mỹ ở Sài Gòn dù là dân chính hay quân nhân, đều không một ai được chánh thức thông báo về quyết định của ông Thiệu. Khi họ thấy mình được đặt trước một việc đã rồi thì tướng Homer Smith than phiền với tướng Viên. Ông Tổng Tham mưu trưởng chỉ còn nước giải thích:

_ “Đó là lệnh của Tổng Thống. Ông ấy muốn giữ kín các cuộc hành quân.

Chú Thích của Dịch Giả:

  • Tác giả dùng chữ Việt không dấu chữ nghiêng, nguyên tác “ dau be dit to”.

Dịch giả xin dịch lại cho đúng hơn: “Đầu teo đít to”

  • Đây là luận điệu của cộng sản Bắc Việt, cho đúng với chiêu bài “Chống Mỹ Cứu Nước” mà họ đã tuyên truyền để khích động người dân Miền Bắc. Tác giả Olivier Todd vẫn dư biết điểm này sai hoàn toàn, nhưng có lẻ tác giã muốn nói lên tư tưởng và quan niệm về cuộc chiến của người cộng sản Miền Bắc lúc bấy giờ. Tác giả vẫn biết rất rõ là quân lực Hoa Kỳ đã rút hết về nước ngay từ sau ngày 28 tháng giêng năm 1973, sau khi Hiệp Định Paris có hiệu lực. Thời điểm mà tướng Dũng đặt Bộ Chỉ Huy tại Cao Nguyên cho chiến dịch 275 để tiến chiếm Miền Nam là tháng 3 năm 1975, tức là thời điểm không còn một binh sĩ Hoa Kỳ nào trên khắp lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa vì họ đã rút hết quân về nước từ hơn 2 năm mấy tháng rồi!
  • Người dân Miền Nam gọi họ là “Đồng Bào Thượng” hay “Dân Tộc Thiểu Số”, trong khi người dân Miền Bắc thì gọi họ là “Dân Tộc Ít Người”
  • Theo tác giả Olivier Todd thì cuộc tiếp xúc giữa Phó Thủ Tuớng Nguyễn văn Hảo và ông Dan Ellerman xảy ra vào ngày 9/3/75, còn ý định “tái phối trí chiến lược” của ông Thiệu chắc chắn phải có từ trước ngày 9/3, nên cả Thủ tướng Khiêm và Phó Thủ tướng Hảo mới biết được. Có nghĩa là trước ngày Ban Mê Thuột bị tấn công (10/3/75)?
  • Bắt các đơn vị Địa Phương Quân và Nghĩa Quân (phần lớn là đồng bào Thượng) phải ở lại với trách nhiệm phòng thủ Pleiku và Kontum là một điều đáng bị phê phán, nếu không muốn nói là quá vô trách nhiệm của Vùng II.
  • Bắt buộc các công chức người Việt Nam phải ở lại mới chính là nguyên nhân tạo sự hoảng loạn.

Trời cao đất dày

 vietmessenger.com

Dương Nghiễm Mậu

Post by Sơn râu 28 Jan 2026

6. Một nơi có người

1.

Tiếng động khô vang lên, trái bã đậu vỡ tung trên mặt bàn gỗ, mấy khía bắn xuống nền gạch nâu cũ mỗi khía một ngả, trên mặt bàn còn hai khía dính lại với nhau nằm trơ trọi bên cạnh chiếc ly trắng nhỏ và xị đế đã vơi hai phần ba chai.Tư cầm lấy hai khía trái bã đậu, vỏ ngoài khía bã đậu màu gỗ hơi nhám, phía trong đen láng bóng, một đầu lớn một đầu nhỏ uốn cong. Sau khi đốt cháy hai cạnh sắc bọn trẻ gài lên hai lỗ mũi làm thành một bộ râu mép ngỗ ngược để đóng một nhân vật dữ tợn nhưng có vẻ khôi hài nào đó. Bộ râu biến đứa trẻ thành một người già. Có đứa la lên: ta là ông già vợ của mày. Có đứa lấy giọng lụ khụ: ta là Trần Minh khố chuối đây. Ta là …Tư mỉm cười với những hình ảnh hiện ra trong trí nhớ…

Tư cầm xị rượu dơ lên cao nhìn áng chừng ngấn nước, rồi lắc cho sủi bọt trươc khi giót đầy chiếc ly để trên mặt bàn. Để chai rươu xuống, Tư cầm lấy chiếc ly đưa lên môi ngửa cổ hớp cạn …Hơi sương đục ở bên kia sông làm mờ nhạt những lùm cây xanh. Buổi chiều đang xuống chậm. Tư cầm lên tay hai khía của trái bã đậu liệng ra phía có đàn chim đang nhảy lên nhảy xuống nơi đống cỏ khô. Đàn chim hốt hoảng bay túa lên và mất hút. Nhìn ra phía ngã ba sông, con đường đất như một cái hầm được làm bởi hai hàng cây bã đậu với lá đầy kín chụm lại với nhau. Trong bóng tối của vòm cây tưởng như trên mặt đường sương bắt đầu đọng lại, những thân cây nhỏ lẩn vào vách nhà, những hàng rào thưa và những mái nhà thấp lợp lá, lợp tôn chen lẫn vào nhau. Tiếng một mái chèo khua động trên mặt nước, tiếng một người nào đó như vang lên từ bên kia sông. Ánh sáng yếu ớt của buổi chiều để lại những khoảng sáng trên mặt nước. Chừng như ở đó Tư nhận ra những vệt sáng mơ hồ của đàn muỗi đang di chuyển, đó là những con muỗi non với thân mềm nhệu màu xanh non…Tư moi từ trong túi áo ra một điếu thuốc ngậm lên môi rồi thò tay vào trong túi quần tìm hộp quẹt, lần hết túi này sang túi khác vẫn không thấy, đầu điếu thuốc đã ướt nước, Tư cầm điếu thuốc để xuống mặt bàn. Chiếc hộp quẹt đã bỏ đâu rồi: trong túi áo trận, trong ba lô, hay đứa nào đó đã cầm? Chắc cái thằng Năm Ngựa, cái thằng chỉ chờ người ta hở ra là chộp. Nó cầm nhưng có ai nhận ra thì hắn trả ngay, miệng cười hề hề: tao đâu có lấy, tao giữ hộ, không có tao thì mất rồi, đó là bài học cẩn thận cho bọn mày…Hay là mình đã bỏ ở một nơi nào khác, chưa chừng từ hôm qua ở nhà Lan, hay lúc hái dừa cho bác Thắm…Tư cầm xị đế dốc ngược, rươu tràn miệng ly, Tư vội ngừng lại, cúi xuống hớp cho ly rươu vơi đi rồi giót tiếp chút rượu còn lại. Ông già nói: mỗi giọt rượu là một giọt máu của tao, biết không? Chừng như với ông già thì mỗi giọt rượu làm cho ông thêm một giọt máu. Mỗi khi thiếu rượu trông ông thiểu não, da tái nhợt, nói không ra hơi, đi không vững. Ông thường nói: khi tao chết rồi cúng giỗ chỉ cần xị đế là đủ, không cần cá thịt gì hết, không lẽ giỗ cha mà không kiếm nổi một xị đế. Tợp hết ly rượu Tư đứng lên đặt mạnh chiếc ly xuống bàn, cầm lấy điếu thuốc ngậm lên môi, Tư bước vào trong quán:

– Tính tiền chị Năm …cho mồi chút lửa.

Chị Năm nhìn lên:

– Hôm nay ở nhà sao Tư?

– Cháu mới đi kích đêm qua…

Tư đưa tiền cho chị Năm, con Son đứng phía trong cầm ra cho Tư chiếc đèn hoa-kỳ. Ngọn lửa nhỏ xanh như hạt đậu đứng im trong chiếc bóng ố vàng rạn nứt. Tư cầm đèn đưa đầu điếu thuốc đang ngậm trên môi vào trong bóng đèn.

– Coi chừng tắt nghe.

Tư nhíu mắt hít hơi thuốc dài, bỏ ngọn đèn xuống, thở ra một cụm khói trắng đục, vẻ khoan khoái hiện rõ trên mặt. Tư đứng im nhìn con Son cầm ngọn đèn để lên kệ góc quầy hàng, có một khoảng nhỏ ánh sáng vàng vọt. Chị Năm nói vừa đủ nghe:

– Tư mày có nghe thấy tin gì về thằng So và thằng Trà không, bọn nó còn mắc tiền thuốc.

– Không nghe gì hết.

– Vậy bọn nó đi đâu?

– Ai mà biết …

– Chẳng lẽ mấy đứa dám cả gan mà …

– Sao biết được chị ơi, chết rồi cũng nên, chưa chừng ít bữa nữa xác bọn nó nổi trên mặt sông cho mà xem. Ở đây đi đâu cho thoát được, nếu thoát dễ thì …

– Mấy đồng tiền thuốc có đáng bao nhiêu, đừng nói gở cho bọn nó chứ. Nghe thằng So nói nó còn vợ với mấy đứa con, coi hình thấy mấy đứa nhỏ ngộ lắm …

Tư quay trở ra đi về phía đồn. Qua cây cầu nhỏ Tư nghe có tiếng người gọi và dừng lại. Chợt từ dưới ruộng thằng Ty rẽ bụi cỏ cao đi lên, nó nhìn trước nhìn sau vẻ lo lắng. Tư đứng im chờ đợi, thằng Ty cúi mặt không nói.

– Chuyện gì đó Ty?

– Chị Lan nhắn anh đừng xuống dưới nhà.

Thằng Ty đứng im tay bứt những ngọn cỏ cao trong tiếng nói rụt rè như dấu một điều gì đó đã xẩy ra.

– Có chuyện gì vậy?

Im lặng một lúc Ty mới nói:

– Anh Hai về hồi đêm.

Tư rời mắt nhìn khỏi những váng nước trên mặt ruộng. Thằng Ty nhìn vào mắt Tư vẻ sợ hãi. Thằng Hai về. Khuôn mặt lặng lẽ, nước da ngăm đen, nụ cười kín đáo, tiếng nói nhỏ sắc, đôi mắt ti hí bí mật, dáng người nhanh nhẹn lúc nào cũng như sắp lao về phía trước, lẩn vào trong bóng đêm. Mày muốn lấy em gái tao hả, mày không xứng đáng, mày không còn là thằng Tư bạn tao, mày bây giờ là một thằng khác…Hãy nằm im không có cựa, mày chưa thấy mũi dao nơi cạnh sườn đó sao? Lan cầm ngọn đèn từ nhà trong ra để trên mặt bàn giữa nhà, ngọn đèn vàng tù mù không ai nhìn rõ mặt ai. Giọng thằng Hai khô khan: mày muốn lấy con Lan, cũng được, mày muốn vậy thì nghe đây: mày phải bảo đảm an toàn cho gia đình tao…Tao muốn đưa mấy đứa vào dân vệ, mày phải bảo vệ cho bọn tao, mày nghe không? Tư vụt vùng dậy, thằng Hai té xuống, Tư xô đổ cái bàn làm tắt ngọn đèn, phóng ra khỏi nhà, vượt qua khoảng sân hẹp, nhảy qua bờ lạch nhỏ, chúi đầu chạy rồi rúc vào một bụi rậm ngồi im nghe ngóng. Không có tiếng động, trời tối đen. Tư ướt sũng ngồi im chờ sáng. Buổi chiều Lan lên ngồi ở quán chị Năm chờ Tư. Tư lặng lẽ, Lan lo âu. Lúc chị Năm vào trong Lan nói: em khổ lắm anh ơi. Tư nhìn thấy những giọt nước mắt lăn xuống. Tư thở dài nhìn mông ra cánh đồng trước mặt. Từng ly rượu được giốc cạn, Lan lấy ngón tay út vẽ những vòng tròn nước trên mặt bàn…Tư bước lại gần thằng Ty soa nhẹ tay lên đầu nó.

– Nghe rồi, về đi.

Tư bước về phía đồn, đi được một quãng khi nhìn lại đã không còn thấy Ty trên con đường đất. Hình ảnh ngôi nhà tranh thấp nhỏ giữa cánh đồng dựa lưng vào vườn chuối với những tàu lá xanh biếc của gia đình Lan hiện ra trong đầu Tư…

2.

Chị Năm nhìn ra con đường vắng lạnh đầy bóng tối. Son đứng lên cầm ngọn đèn xuống nhà bếp nhóm lửa nấu bữa cơm tối. Một chút nữa thằng Tố sẽ từ trường học theo con đường ven sông trở về. Chỉ còn con Son, thằng Tố, chị Năm chẳng còn gì nữa. Tang anh Năm đã qua hơn hai năm. Hồi bấy giờ chị đã muốn về dưới quê, nhưng rồi chị đã không về. Người em ở quê được đưa tới bổ xung cho tiểu đoàn nói: anh hai đã bỏ quê đi rồi, vứt lại hết nhà cửa ruộng vườn lên làm ăn trên tỉnh vì thằng con lớn bị lùa vào du kích khi chưa được 16 tuổi, mấy tháng sau nhận được tin báo đã chết, không biết ở đâu, vì sao. Thằng con sau mới 12 tuổi bị đạn gẫy chân trong một đêm có giao chiến nơi ven quốc lộ. Ở quê nay còn ai nữa mà về. Chị Năm chẳng còn biết đi đâu ngoài cái quận lỵ nhỏ bé bị cô lập này. Chị theo chồng cùng đơn vị tới đây đã hơn năm năm, chồng tử trận, chị gây dựng cái quán nhỏ bán rượu, tạp hóa và nhận sửa quần áo để có tiền nuôi con. Có một hồi người ta nói chị tằng tịu với một người bạn của chồng nhưng về sau không có gì khác, chị vẫn sống như một cái bóng lầm lũi nuôi hai đứa con. Đi đâu thì cũng phải làm mà sống. Từ khi chị nghĩ thế chị không còn tính tới chuyện về quê hay một nơi nào khác. Một hôm nào đó yên ổn hết không còn bom đạn chị sẽ đi tìm anh Hai để gửi hai đứa con, chồng chị đã không còn, chị muốn trông cậy vào một ngươi có thể thay ba chúng dạy hai đứa nhỏ thành người. Đó là điều mong ước của chị…

3.

Không khí trong quán chú Chín ồn ào náo nhiệt hẳn lên khi ba anh dân vệ từ ngoài bước vào, bốn chiếc bàn phía trong không còn chỗ, chiếc bàn ngoài hiên cũng đầy người. Những ly cà phê đen, những tô hủ tiếu, mì bốc khói, những cái đầu cúi xuống. Thằng Ri, con trai lớn của chú Chín, cổ tay vắt cái khăn lau chạy ra chạy vào có khi cả hai tay đều có ly cà phê hoặc tô mì, miệng nó kêu lớn liên hồi nước sôi, nước sôi…Chú Chín mồ hôi nhễ nhại trên cổ, trên ngực, cơ thể luôn chuyển động với những thao tác lập đi lập lại: xúc mì, múc nước, bày những miếng thịt đã thái mỏng, bỏ hành…Ba anh dân vệ vào tận trong cùng thì đứng lại đưa mắt nhìn những bàn đầy khách, họ đứng yên một lúc: quần áo nhàu nhượi, súng khoác trên vai, lựu đạn móc trễ nơi thắt lưng, vẻ ngái ngủ trên gương mặt mệt mỏi. Thằng Ri chạy tới:

– Anh Ba…vào trong nhà trong đi, ngoài này hết chỗ rồi….

Ba anh dân vệ quay vào, đi tới, bước qua cửa vào nhà trong. Gian phòng hẹp có kê một cái giường, phía ngoài kê một cái bàn thấp. Ba dân vệ bỏ súng lên cái giường rồi kéo ghế ngồi quanh cái bàn, từ đây họ có thể nhìn thấy trong khoảng sân hẹp con Xinh đang rưởa những cái tô trong một cái chậu nhôm lớn đầy nước. Quán chú Chín có mặt trong phố quận từ hồi nào không còn ai nhớ nữa, có một điều chắc chắn khi rời quận tới đây thì đã có quán chú Chín rồi, mới đầu còn vắng, nay đông hẳn. Đó là quán ăn độc nhất nằm ở bên trái của con đường nếu đi từ ngã ba sông để tới quận đường. Bọn nó ra quán chú Chín rồi. Hẹn nhau ở quám chú Chín. Quán chú Chín đã trở thành quen thuộc với người sống ở thị trấn. Chú Chín đã trở thành tên quán, trong khi đó, trên cửa quán, người ta có thể đọc thấy bốn chữ Hồng Ký Trà Gia trên một tấm bảng màu đỏ với nét chữ đen, tất cả đã cũ. Trên tấm bảng có treo một tấm gương soi và một tấm gương vẽ hình bát quái. Bên cạnh có dán mấy tờ giấy đỏ với những chữ Tàu không còn rõ nét trên mặt giấy nhoa nhuếch cũ nát.

Đa số khách hàng tới quán, chú Chín đều quen mặt thuộc tên, chú có thể dễ dàng nhận ra một người khách mới. Khi quận lỵ được thiết lập số quân nhân tăng lên đã làm chú khó sử trong một số trường hợp: nào ăn chịu, uống thiếu, uống rượu say la lối, gây lộn…với những khách hàng có sẵn súng, dao găm, lựu đạn này thực chú Chín không biết phải làm sao. Có lúc chú Chín đã nghĩ tới đóng cửa hàng, nhưng với lợi nhuận thu được đã giữ chân chú lại. Và từ đó chú cũng tỏ ra khôn khéo hơn trong giao tiếp với khách. Sự cố chú Chín nhớ nhất là vụ thằng Mười Đen. Bữa đó khi từ trong quán bước ra thấy Mười Đen đang ngồi nhậu với đám bạn, chú Chín tới bên bảo nó trả tiền còn thiếu từ tháng trước, Mười Đen mặt đỏ gay đứng lên khỏi ghế la lối, văng tục và bảo chú Chín làm nhục nó trước mặt bạn bè, chú Chín không nhịn, Mười Đen liền rút lựu đạn tung vào trong quán, lựu đạn không nổ vì chưa rút chốt. Chú Chín đi thưa trong quận, Mười Đen bị phạt giam sau đó bị đổi đi đơn vị khác đâu trong giữa rừng tràm. Có mấy người nói: nó không phải đứa xấu, nó làm vậy để được đi nơi khác. Mười Đen đi rồi thì một ngươi bạn của nó tới nói: thằng Mười nó gửi tôi tiền nó thiếu chú. Sự việc làm chú nghĩ ngợi. Sau đó trong một lần tới quán, ông quận vui vẻ nói với chú Chín: chớ cho bọn nó ăn thiếu uống chịu, tôi không đi đòi nợ cho chú được đâu nghe, nhưng đứa nào quậy phá thì cho tôi hay…Ông quận còn trẻ, ông là sỹ quan của tiểu đoàn đóng ở quận. Thỉnh thoảng ông đi bộ trên con phố duy nhất của quận, ghé nhà này, nhà kia…Ông cũng ghé quán chú Chín uống cà phê, ăn hủ tiếu hoặc mì chưa bao giờ thấy ông uống bia rượu bao giờ. Chú Chín nhớ lần đầu ông quận vào quán kêu một ca phê đen, uống xong ông kêu tính tiền, chú Chín không nhận, ông quận nét mặt nghiêm lại: chú là cộng sản hả, hay chú hối lộ đây…chú Chín ngượng ngùng nói vội vàng: dạ không, dạ không…Từ đó chú Chín coi ông quận chỉ là một người khách đặc biệt, mỗi lần ông quận ghé chú lược một ly ca phê mới, tô hủ tiếu thì nhiều bánh, nhiều thịt hơn. Quán chú Chín mở cửa suốt ngày nhưng buổi sáng bao giờ cũng đông nhất, số khách này kéo dài cho tới khi mặt trời lên cao mới vãn. Còn ngồi lại thường là những người lớn tuổi rảnh rỗi ngồi nhâm nhi ly ca phê nói chuyện gẫu. Trong những lúc đó chú Chín có thể rời xa cái xe có thùng nước lèo của mình ngồi xuống một bàn nào đó góp chuyện: tin tức về những trận đánh xẩy ra trong vùng, tin về tiểu đoàn cơ động đang mở rộng vùng an ninh, tin tức từ Cà Mâu, trên Sài gòn…Thỉnh thoảng có chuyến tàu thường lệ nối Cà Mâu với thị trấn bị đứt, quán chú Chín không có ca phê và nước đá bán khiến khách hàng chửi đổng và lo âu…Những lần như thế mọi người lại bàn tán xem có phải đang có giao tranh khiến tàu không chạy, hay là du kích ngăn không cho tàu chạy dù chủ tàu đã đóng thuế kháng chiến. Có một lần dân vệ đã xuống nằm trong tàu chờ du kích ra lấy tiền và hàng thì nổ súng. Sau vụ đó tàu hàng liên tiếp bị tấn công và cả những thuyền nhỏ cũng không dám chạy trên con đường thủy huyết mạch đó. Quận lỵ gần như bị cô lập cho mãi tới khi những chuyến hàng được quân đội áp tải.

4.

Tối đó không như thường lệ, Tư thấy trong đơn vị không có toán nào đi kích đêm, tất cả được lệnh chuẩn bị hành quân vào sớm mai. Ngay từ đầu đêm đã nghe tiếng trọng pháo hướng về vùng pháo kích tự do ở bên kia sông. Trời hừng sáng Tư và đồng đội đã vượt qua sông khá xa rồi ngừng lại. Trên trời một chiếc trực thăng đang bay là là cùng tiếng loa: Đồng bào hãy rời khỏi khu vực này, đây là vùng pháo kích tự do, đồng bào hãy về vùng an ninh, chính phủ sẽ giúp đỡ đồng bào xây dựng cuộc sống mới…Phía trước mặt: cánh đồng hoang trải rộng. Mặt trời đã lên cao. Tư kéo đổ khóm cỏ cao xuống và ngồi lên trên, súng vẫn cầm tay hướng về phía trước. Ở đâu đó những hình ảnh lại hiện ra. (Có buổi sáng: một đám đông, phần lớn đàn bà, trẻ con, người già nối đuôi nhau qua sông tụ tập gần cửa quận được đưa vào miếng đất trống là sân đá bóng, họ lặng lẽ không nói ngoài lá đơn nguyện vọng cầm trên tay, gần chiều đám đông tan dần, một số ngừơi xin ở lại, họ được hướng dẫn tới khu nhà dành cho những người tỵ nạn. Có một buổi trưa nắng tiếng khóc, tiếng gào vang lên ở phía ngã ba sông, người lính gác ở gần đó chạy lại thấy mấy người đang khiêng một người bị thương để nằm trên một tấm ván…Có buổi sớm tinh mơ, một đám người vượt qua sông đứng nhìn ngơ ngác, họ đã đi suốt đêm để tới đây, có giọng ai đó: tại sao lại phải bỏ nhà cửa ruộng vườn mà đi thế này…). Những bóng người lay động mơ hồ đang hiện ra dần dần trước mắt Tư. Tư đứng lên, một tay dơ cao vẫy ra dấu cho đám người bước tới: người đi đầu là một đứa bé tay cầm một cành tre trên treo một tấm vải trắng được phất đi phất lại, phía sau là hai người đàn bà, một cụ già và hai cô gái. Tư khoác khẩu súng lên vai. Cầm lấy cành tre trên tay đứa bé vứt xuống ruộng cỏ rồi nắm lấy bàn tay đứa bé: một bàn tay sần sùi những vết sước, khô và nhám. Đôi mắt hóm sâu, nước da sạm cháy, những nếp nhăn chồng chất, da sát xương: một đứa bé già. Cầm tay đứa bé, nhìn mông về phía chân trời: hình ảnh đứa bé lang thang trên cánh đồng bỏ hoang tìm kiếm những con cá, con cua, con chuột, những ngọn lúa ma…Có thể lúc đó trên đầu một máy bay đang lượn hoặc một trái trọng pháo nổ không xa.

…Một người nói: du kích bảo ra ngoài này họ lột da đầu, ở trong này ít bữa nữa độc lập sung sướng vô cùng…Bọn tôi chỉ muốn tới chỗ nào không có bom đạn…Một người nói: từ cái hồi còn giặc Pháp, tôi và gia đình đã từng chạy lung tung hết, lúc ở bên nội, lúc ở bên ngoại, khi lên nhà bác…cứ chạy quanh, vì thế cũng sống đủ kiểu: lúc làm ruộng tát mương, khi chăn bò lấy củi. Cứ chỗ nào yên mình tới , ai điên gì chạy tới chỗ bom đạn mà chịu chết…Không thể quên đi những hình ảnh chồng chất lên nhau. Những ngọn dừa xơ xác không còn một tàu lá, những cánh đồng cỏ dại mọc cao hơn đầu người, những mái nhà nghiêng đổ, những cây cầu gẫy…Dọc đường đâu đó có khi còn gặp xác người nằm phơi dưới nắng lửa…Một người nói: hồi đó ở trong Cái Tắc tôi đã thấy một cảnh kinh hoàng: một toán lính ba-ti-giăng từ dưới đồn đi lên tới gần đầu chợ thì dừng lại, một thanh niên gánh rau đi tới, một tên lính chặn lại, một tên khác đá tung một rổ rau, người thanh niên vụt bỏ chạy xuống cánh đồng lúa ven đường. Một tràng đạn nổ vang động. Những người đang đi trên đường, những người đang mua bán nơi đầu chợ bỏ chạy tán loạn, người chạy xuôi kẻ chạy ngược. Người ta thấy một ông già tay cầm cái phảng chạy về phía người thanh niên bị bắn ngã miệng kê liên hồi: thằng con tui, thằng con tui …ông già cúi xuống đưa tay lay lay xác người thanh niên một lúc rồi đứng thẳng im lặng. Toán lính tiến lại gần chỗ ông già. Bỗng ông già rống lên: trời ơi, con tôi…ông già thét lên, tiếng thét như xé rách bầu trời, tay vung cái phảng lên chém những tên lính đang đứng vây quanh. Quá bất ngờ khiến mấy tên lính đứng gần bị chém ngã, mấy tên khác bỏ chạy, có tên đã kịp nhả đạn nhưng ông già còn kịp chém thêm mấy tên khác rồi mới ngã vật xuống đất, cái phảng vẫn còn nắm trong tay…Một người nói: cái hồi tôi tới đây lập đồn, tối đến mọi người vào trong lô cốt, trong hầm, con đường đưa tới ngã ba sông hai bên cỏ cao ngập đầu chẳng ai dám lai vãng. Có lần một anh mới tới, tối ra đứng tiểu bên hàng rào bị bắn tỉa vừa chạy vừa la tụt mất cả quần…

Cho mãi tới gần trưa số người rời khỏi vùng oanh kích tự do lên tới khoảng hơn hai chục người. Tư tới bên một người đàn ông gầy guộc:

– Chú Hai thấy ở trong còn ai không?

Người đàn ông mắt nhìn về phía chân trời lắc đầu:

– Chắc hết rồi, từ mấy hôm nay tôi đã thấy lác đác có người đi, du kích làm dữ nhưng người ta cũng tìm ra cách thoát. Sống gì nổi mà ở – người đàn ông thở dài quay người lại , giọng nhỏ như nói thầm – chỉ còn cánh đồng ..

Chuyến vượt đồng nhọc nhằn và lo âu làm mọi người mệt nhoài nên đều tìm chỗ khô ráo ngồi xuống nghỉ chân, đôi chân nào bùn cũng lên đến tận đầu gối, mấy trẻ nhỏ bùn đất nhem nhuốc cả trên mặt, trên đầu. Sau ít phút nghỉ ngơi, từng toán người kéo nhau đi về phía quận lỵ.

Xế chiều Tư theo đơn vị trở về, tiếng trọng pháo bắt đầu nổ về phía bên kia sông. Khi đi ngang qua quán chị Năm, Tư nghe có tiếng gọi vội quay nhìn, thằng Ty từ trong quán chạy ra:

– Chị Lan bị thương ở chân…nằm trong trạm xá.

– Tại sao?

– Anh Hai về bắt chị đi theo, chị không nghe, dằng co mãi anh Hai nổi nóng chĩa súng bắn xuống đất, sau khi súng nổ, anh Hai vội vàng bỏ đi. Chờ tới sáng ba má đưa chi Lan lên đây…

Tư không nói gì lặng lẽ bước theo đồng đội về trại …

5

Chú Chín xếp cái bàn tròn lại cho gọn, bỏ những cái ghế đẩu vào bên trong rồi đứng nhìn mông ra hướng ngã ba sông: mấy cái lều, mấy cái sạp không mái che bãi đất trống của khu chợ không còn một bóng người. Lùi lại bên này, khoảng đường rộng trước khu gia binh có mấy đứa nhỏ đang đá banh bằng một cái lon sắt, xa hơn cây cầu sơn trắng nổi bật giữa những lùm cây xanh và cỏ dại. Xa xa mấy ngọn dừa in trên nền trời đang dần dần tối đi.

Từ khu gia binh có bóng mấy người lính đi về phía quận ly, chỉ trong chốc lát bóng họ đã mất hút…

(1970)

Giờ thứ hai mươi lăm

vietmessenger.com

Constantin Virgil Gheorghiu

Bản dịch của Lê Ngọc Trụ và Võ Thị Hay

Gió Bốn Phương xuất bản 1967

Theo Bản Dịch La Vingt – Cinquième Heure Của Monique Saint – Côme

Nxb Gió Bốn Phương, Saigon 1967

Post by Sơn râu 27 Jan 2026

Thay Lời Tựa

Đối với Xã hội kỹ-thuật-hóa, đây là một mặt thật của Kiếp người, sống trong thời buổi giá trị con người bị tiết-giảm xuống con số không: nhân vị, cá nhân, tình cảm hầu như không còn nữa.

Máy móc. Tất cả đều sử dụng theo máy móc, đều hành động một cách máy móc, nên con người cũng bỏ lần nhân cách để theo kịp đà tiến-hóa kỹ-thuật rồi trở thành nô lệ cho kỹ-thuật và lôi cuốn đồng loại mình vào trận cuồng phong, vào vực thẳm.

Có còn chăng chút hy vọng lập lại xã hội loài người, như lời mục sư Kogura, trong truyện:

“Sau rốt, Chúa lại đến phải xót-thương con người, như Chúa đã “từng thương-hại nhiều lần. Và, giống chiếc thuyền của ông Noé trên “lượn sóng trận đại-hồng-thủy, vài người thật là người, còn giữ được “chân tính, sẽ nổi trôi trên trận vận xoáy nhiễu loạn của đại nạn tai-“ương tập thể này. Và chính nhờ mấy người ấy mà loài người sẽ được “bảo tồn cứu vãn, như đã trải qua bao lần trong lịch sử”.

Lời dịch giả

Thi sĩ kiêm văn sĩ Constantin Virgil Gheorghiu sanh ngày 15-9-1916 tại Razboeni-Neamtz xứ Roumanie, con của một vị linh mục ở Moldavie.

Học triết-lý và thần-học tại Đại-học-đường Bucarest và Heidelberg (Đức).

Ông sáng tác nhiều quyển sách mà thi-phẩm Calligraphie sue la neige được giải-thưởng Hoàng-gia về thi-ca (Prix Royal de Poésie) năm 1940, ở Roumanie.

Ông cưới vợ là nữ sĩ, năm ngày trước trận Thế-chiến thứ Hai. Với lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ, thi-sĩ công phẫn và xúc động khi bọn thân phát-xít ám sát thủ-tướng dân-chủ Armand Calinesco, nên viết quyển thi binh-vực tự do, chống phát-xít, lấy tên là Armand Calinesco (1939). Hậu quả của thi-phẩm này là ông suýt bị bọn “cơ-quan sắt” thủ tiêu.

Và cũng với lòng công phẫn mà ông viết quyển “Bờ sông Dniestr bừng lửa”, xuất bản ở Bucarest, chống bọn chống phát-xít đã tàn sát một phần ba dân số miền Bessarabie, quê hương ông. Tác-phẩm này về sau, đã làm dư luận Pháp chống lại ông. Nhưng theo ông, “đứng trước những tàn phá giết chóc dã man, bất cứ từ đâu đến, thi-sĩ không thể không công phẫn”.

Năm 1943, hai vợ chồng phụ trách về liên lạc văn hóa tại bộ ngoại giao Roumani ở Zaghreb. Được một năm, nước Roumanie theo phe Nga. Quân Đức bắt vợ chồng ông giam trong một trại giam các nhà ngoại giao tại Đức. Kế Đức-quốc-xã thua, vợ chồng ông bị quân Mỹ giam mỗi người một nơi, mãi hai năm sau (1947), mới được thả ra và gặp nhau ở Heidelberg (Đức).

Trong thời gian bị giam cầm, ông viết quyển “Giờ thứ hai mươi lăm”. Nhằm lúc đồng mark mất giá, không thể sống ở Đức, vợ chồng ông đi bộ sang Pháp, đem quyển này dịch ra Pháp-văn và cho xuất bản ở Paris (1949).

Đây là một trong những tác-phẩm bi-đát nhứt của thời đại. Gabriel Marcel, trong bài tựa, đã viết: “Tôi tưởng không còn tìm ra một tác-phẩm nào ý-nghĩa hơn, phác họa rõ-ràng hơn tình-trạng hãi-hùng mà nhân-loại đang bị chìm-đắm”.

Tác-giả quyển sách bán chạy nhất- bán 600.000 quyển trong vài tuần lễ, riêng tại Pháp đến 300.000 quyển- lại bị dư luận Pháp chống đối (1950), khi biết ông là tác-giả quyển Bờ sông Dniestr bừng lửa, nghĩa là ông binh-vực phát-xít.

Trong một bài tự thuật, Virgil viết: “…Dấu ô nhục chống phát-xít đốt cháy da thịt “ta ở Bucarest, và dấu ô nhục phát-xít bị đóng ở Paris chỉ là duyên-cớ giản-dị để quần “chúng bóp chết ta…

“Phải chăng người ta chỉ được lên án những sự độc ác dã man của một bên…

“Không, nhà thơ ấy chỉ lấy vĩnh-cửu làm khuôn vàng thước ngọc…”

Thi sĩ đã đi tu.

Lễ thăng thiên, ngày 23-5-1963, ông được Đức giám mục từ Nữu-ước đến làm lễ thụ phong linh-mục giáo-hội Chính-thống tại nhà thờ Lô-ma-ni ở Ba-lê.

Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 27 Jan 2026

6. Nghiêm Sỹ Tuấn – Đi vào lửa đỏ chiến tranh

6. Nghiêm Sỹ Tuấn – Đi vào lửa đỏ chiến tranh

Phan Nhật Nam, sinh năm 1943, tại Huế; nguyên quán Quảng Trị, tốt nghiệp Khóa 18 Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, gia nhập binh chủng Nhảy Dù, qua các đơn vị Tiểu Đoàn 7, 9, 2, và Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù; Ban Liên Hợp Quân Sự 4 và 2 Bên. Sau 1975, tù cải tạo 14 năm qua các trại giam Miền Bắc. 1993 sang Mỹ định cư, hiện vẫn viết và làm việc ở tuổi 76, cư ngụ ở Nam California. Tác phẩm:

Dấu Binh Lửa 1969, Dọc Đường Số 1 1970, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, Tù Binh và Hòa Bình 1974.

Phan Nhật Nam

Dẫn Nhập:

Hôm nay tháng Tư năm 2019, bốn mươi bốn năm sau lần mất Miền Nam, đang ở tuổi quá 70, người viết với lòng bình yên, bình thản nhớ lại quãng đời đã qua. Cách hoài niệm thường có đối với lớp người lớn tuổi vào buổi cuối đời, đánh giá lại phần được/mất, có/ không theo cách khách quan như đối với một người nào đấy có phần quen biết. Cũng nhân cơ hội đọc tuyển tập tường trình về cái chết của một y sĩ Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù, tử trận cùng lần với bạn anh, Nguyễn Đức Cần, Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù, chết chung trên chiến địa Khe Sanh, ngày tháng 3 năm 1968 … Lần ra đi nay đã qua hơn nửa thế kỷ (1968-2019) để không còn ai nhớ tới cho dù thân thích, cật ruột … Sự kiện bình thường đối với mọi người trong chiến tranh Việt Nam. Chết cùng khắp. Bất kỳ lúc nào, ở đâu, với bất cứ ai. Tháng 3, tháng 4, năm 1975 chứng tỏ rõ hơn khi nước mất nhà tan – Chết là điều tất nhiên. Tuy nhiên, cũng không phải tính đến hôm nay, năm thứ 19 Thế kỷ 21. Mà từ ngày ấy …Trên đường phố Sài Gòn cụ thể như các đường Lê Văn Duyệt, Võ Di Nguy, Hai Bà Trưng, Phan Thanh Giản … Những con lộ khởi đi từ Tổng Y Viện Cộng Hòa, Bộ Tư Lệnh Không Quân, Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô, Trại Hoàng Hoa Thám (Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Dù), Trại Đào Bá Phước (Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân) … thường xuất phát những xe tang hướng về Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp (trước 1965), Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa (sau 1965) … Xe tang GMC trên có quan tài phủ Cờ Vàng Ba Sọc, một vài quân nhân cầm súng ngồi hai bên, tiếp theo hàng thân nhân thắt khăn tang, phần lớn người già lão, phụ nữ trẻ tuổi, và con nhỏ ngồi ngó mông xuống đường phố chen chúc người, xe cộ, khói bụi … Người đi đường nhìn lên bất chợt, trống trải. Cho dù đấy là những người mặc quân phục đi song song hoặc ngược chiều với chiếc xe tang. Có người đưa tay chào theo cách nhà binh. Có người không do phải lái xe gắn máy trong dòng người đông đúc. Vào những năm 1968, 1972, cảnh tượng nầy diễn ra thường xuyên, bình thường. Cư dân Sài Gòn có thể gặp xe tang quân đội hai, ba lần trong một ngày. Tử sĩ nằm trong quan tài, gia đình người chết ngồi trên xe, khách dưới đường cùng nhau hiện thức điều tất nhiên của lẽ sống / chết ở Việt Nam. Chắc chắn chẳng ai đặt điều thắc mắc. Người nào chết đấy? Tại sao?

1.

Nghiêm Sỹ Tuấn tốt nghiệp Bác Sĩ Y Khoa năm 1965 ở tuổi 28. Bác Sĩ Tuấn nhỏ người, chỉ cao 1 thước 58, nặng 40 ký. Một thân thể tương đối nhỏ so với tầm vóc trung bình, sức nặng cần thiết cho một người lính chiến, chưa nói đến quân nhân thuộc binh chủng Nhảy Dù mà hai chiếc dù lưng, dù bụng, ba-lô hành quân, súng đạn chắc chắn lớn hơn sức nặng của thân người phải đương cự. Nhưng bởi là quân y sĩ nên anh được miễn trừ về sự thiếu sót thể chất kia. Tuy nhiên anh lại không cậy đến sự miễn trừ nầy qua sự kiện quyết định sau đây. Sau khi học xong năm thứ sáu, tất cả nam sinh viên y khoa đều phải trình diện nhập ngũ. 73 bác sĩ khóa anh mới tốt nghiệp được đưa lên Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, thụ huấn chương trình quân sự chín tuần lễ. Sau khi mãn khóa quân sự tại Thủ Đức, các bác sĩ còn phải học thêm bốn tuần về hành chánh quân y tại Trường Quân Y. Xong hai kỳ huấn luyện đến lễ mãn khóa, các tân khoa bác sĩ được mang cấp bậc Y Sĩ Trung Úy. Ngày chọn đơn vị phục vụ là một ngày quan trọng, quyết định tương lai, vận mệnh của người quân y sĩ. Người nào đậu cao nhất, do điểm ở Thủ Đức lẫn Quân Y cộng lại, sẽ được gọi tên chọn chỗ trước nhất. Và khi những chỗ nơi các đơn vị quân y lớn (Các Tổng Y Viện, Quân Y Viện, hay Bệnh Viện Dã Chiến) đã được chọn hết, những người còn lại sẽ phải chọn những chỗ thuộc Quân Y Binh Đoàn tức những đơn vị tác chiến. Những chỗ nguy hiểm nhất trong nhóm này, thuộc về các lực lượng tổng trừ bị. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có hai lực lượng tổng trừ bị là Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến. Tỷ lệ tử vong trong hai binh chủng này rất cao, bởi các y sĩ Nhảy Dù, TQLC cũng sẽ hứng chịu nguy hiểm chiến

trường như tất cả người lính của các tiểu đoàn tác chiến. Súng đạn đâu phân biệt ai với ai. Trung Sĩ Tổ Khinh Binh hay Bác Sĩ Trung Úy? Trước giờ chọn đơn vị, một thông báo được tuyên đọc cho tất cả tân bác sĩ được rõ: “Người nào muốn chọn về Nhảy Dù hoặc Thủy Quân Lục Chiến chỉ cần đưa tay lên mà không cần phải đợi đến lượt xướng danh. Cho dẫu người đậu thứ 73, tức cuối cùng nếu muốn chọn về hai đơn vị tổng trừ bị kể trên chỉ cần đưa tay lên. Yêu cầu sẽ được chấp thuận ngay.”

Bác Sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn liền đưa tay, vị sĩ quan phụ trách thoáng ngạc nhiên do thấy anh mong manh, gầy, nhỏ. “Anh chọn gì?” Tuấn đáp gọn: “Nhảy Dù.” Sau khi ký giấy tờ, anh bước ra khỏi phòng, không cần để ý đến ai sẽ đi đâu, và bao giờ buổi lễ chấm dứt. Bác Sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn chọn Nhảy Dù không do bất ngờ, ngẫu hứng bởi trước đây anh đã viết ra lời:

Cung Dâu dựng nhắm phương nào

Ngập ngừng tên cỏ ngày cao chất chồng

Mai sau đó gửi về không

Bóng vươn tinh đẩu mơ vùng núi cao.

Vâng, qua bài thơ Tuổi Đứng, Nghiêm Sỹ Tuấn hóa ra đã chọn sẵn nghiệp phận binh đao, dẫu anh là bác sĩ dân y nhà nước trưng tập, thêm điều kiện thể chất không đáp ứng đủ yêu cầu của chiến trường với chiều cao, sức nặng. Nhưng quả thật, anh đã quyết định trước. Bóng vươn tinh đẩu mơ vùng núi cao! Anh phải tới nơi rất cao. Nơi đó chỉ một mình anh.

2.

Bác Sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn hẳn không chọn binh chủng Nhảy Dù do được khích động, quyến rũ từ hình tượng “áo hoa nón đỏ” mà phần đông thành phần quân nhân tình nguyện, sĩ quan chuyên nghiệp võ bị tốt nghiệp Đà Lạt, Thủ Đức, Đồng Đế đã nồng nhiệt ghi danh. Anh thuộc về một mẫu người khác, ở nơi khác (khác thế nào chúng ta sẽ tìm hiểu sau), nhưng có thể nói trước rằng Nghiêm Sỹ Tuấn là người Trọng Kỷ Luật – Giữ Nguyên Tắc. Triết lý sống của anh giữa xã hội, với đồng nghiệp, với quân đội là Chiến Đấu -Kỷ Luật – và Vị Tha. Anh quan niệm như thế và sống đúng như thế. Giữa những năm 1960, khi đang làm báo Tình Thương của sinh viên Y Khoa, là những năm biến động, hỗn loạn toàn miền Nam, ngoài tiền tuyến chiến tranh ngày càng ác liệt lan rộng, dâng cao với chết chóc, tàn phá; trong khi hậu phương là một mặt trận khác với những cuộc biểu tình liên tục, vòng kẽm gai, và lựu đạn cay trải dài, chắn ngang, rối tung trên khắp các đường phố. Sài Gòn đã là một diễn trường tệ hại với những cuộc tranh giành quyền lợi giữa các phe nhóm, các cá nhân cấp tướng lãnh, chỉ huy quân đội. Người Lính – Lính Nhảy Dù từ mặt trận chuyển về Sài Gòn với quần áo còn nguyên mùi bùn, mùi máu im lặng phẫn uất đứng giữa sỉ nhục, lăng mạ và đá ném từ đám đông nhân danh tôn giáo và dân tộc! Y sĩ Trung Úy Nghiêm Sỹ Tuấn tình nguyện đứng cùng một phía những Người Lính nầy – Thế hệ tuổi trẻ Miền Nam chịu đựng khổ nạn một cách khắc kỷ mà không hề nói lên lời ta thán.

Buổi chọn lựa đơn vị Nhảy Dù trong ngày mãn khóa càng được soi rõ: Bác sĩ dân y trưng tập không buộc phải thi hành nghĩa vụ quân sự nơi đơn vị tác chiến. Thế nhưng, Trung úy Nghiêm Sỹ Tuấn, Bác Sĩ Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù đã chọn đúng đơn vị. Lính Nhảy Dù trả đủ nợ máu với quê hương Miền Nam cho đến sáng 30 Tháng Tư, 1975 ngay trước cổng Trại Hoàng Hoa Thám – Nơi năm xưa ngày ra trường 1965, anh đã hãnh diện đi vào với thể hình gầy, nhỏ nhưng cất tiếng mạnh mẽ .. Nhảy Dù … Nhảy Dù … Cố gắng … Cố gắng … Hơn thế nữa, Nghiêm Sỹ Tuấn còn là một Con Người Khác.

3.

Nghiêm Sỹ Tuấn là một con người khác. Người của thế giới im lặng với Sách. Người sống trực tiếp với Chữ. Sống trực tiếp nghĩa đen và nghĩa bóng. Anh tiếp xúc thằng với Nam Hoa Kinh, Đạo Đức Kinh qua Hán Văn. Anh hiểu nghĩa huyền vi của “Đạo khả Đạo phi thường Đạo. Danh khả Danh phi thường Danh. Vô danh thiên địa chi Thủy. Hữu danh vạn vật chi Mẫu. Huyền chi hựu huyền” từ Hán Ngữ. Người đã học, sử dụng Hán Văn ắt hiểu trực tiếp hình tượng của Hán Ngữ là hiện thực cấu trúc của thế giới siêu hình. Đại Sư Yogananda (1893-1952) định nghĩa: Chữ là biểu hiện của Thánh Linh (Holy Ghost). Đại Sư người Ấn thực hành Mật Tông nên nói về Lý Thiên Chúa ắt hẳn có Tính Tín Xác cao. Nghiêm Sỹ Tuấn hiểu Chữ-Nghĩa từ yêu cầu của đời sống / Cho chính đời sống. Thế nên anh viết truyện ngắn Para Bellum với chủ ý từ thành ngữ La-Tinh: Para Bellum – Si vis pacem, para bellum

– Nếu Muốn Hòa Bình Hãy Chuẩn Bị Chiến Tranh – Không những là yêu cầu sinh tử của Việt Nam Cộng Hòa trong thập niên 1960’s mà của cả Việt Nam suốt Thế Kỷ 20 cho đến hiện nay, qua Thế Kỷ 21. Khổ thay do chuẩn bị không kỹ / Không khả năng chuẩn bị / Không người chuẩn bị … nên đã phải lâm hận với ngày 30/4/1975.

Truyện ngắn Para Bellum của Nghiêm Sỹ Tuấn mấy người đã đọc, kể cả người ngồi ở Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH?! Không hiểu ở Mỹ có ai đọc, hiểu đủ, đúng nghĩa, thực hiện vận động từ thành ngữ nầy không? Những người tên gọi Kennedy, McNamara, Kissinger, Nixon … Những người quyết định “quyền chuẩn bị” của Nam VN. Nói không quá, hóa ra phía cộng sản chuẩn bị kỹ hơn. Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp chuẩn bị từ 1945, 1946, 1954, 1960 … Oan nghiệt thay họ chỉ chuẩn bị chiến tranh – Thuần là vì chiến tranh. Ngay bây giờ Bắc Kinh cũng đang chuẩn bị – Chuẩn bị chiến tranh chứ không khác. Trở lại chữ nghĩa của Nghiêm Sỹ Tuấn. Khi cùng dịch tác phẩm Dưới Mắt Thượng Đế của Hans Killian với Bác Sĩ Nguyễn Vĩnh Đức, dịch từ bản tiếng Pháp Sous le Regard de Dieu của Max Roth, Nghiêm Sỹ Tuấn còn cẩn trọng tham khảo thêm bản gốc tiếng Đức Hinter Uns Steht Nur Der Herrgott. Khi thực hiện công việc dịch thuật nầy, BS Tuấn chắc hẳn không chỉ muốn giới thiệu một tác phẩm chuyên môn phẫu thuật y khoa. Nghiêm Sỹ Tuấn muốn trình bày một điều quan trọng hơn: Thượng Đế Có Thật. Thượng Đế biểu hiện nơi những tế bào tinh tế hiện ra dưới kính hiển vi, diễn tiến biến hóa từ các ca mổ, lần hồi sinh mầu nhiệm của bệnh nhân … Không chỉ là tiến hóa của vật thể nguyên tử, phân tử qua phản ứng hóa học, tác động vật lý, nhưng là quá trình tiến hóa từ điều hành, chỉ huy bởi Thượng Đế – Quan điểm của Teilhard de Chardin (1881-1955) đã viết trong Le Phénomène Humain về Omega Point – Omega Point, điểm kết tụ cuối cùng với Thần Linh – Nhất Thể Thiên Chúa Christ của Công Giáo – Đạo của Đạo Đức Kinh mà Nghiêm Sỹ Tuấn trực quan tiếp cận qua Hán Văn. “Thư sinh muôn thuở” – Danh hiệu mà Bác Sĩ Nguyễn Vĩnh Đức đã thân ái gọi Tuấn quả có phần xác đáng.

Rất xác đáng. Bởi anh luôn đi tìm qua những suy nghĩ của Camus, Sartre, qua tư tưởng của Kant, Spinoza, v.v … để tìm trả lời cho câu hỏi của chính bản thân về cái nguyên lý đời sống và các nguyên tắc đạo đức đời người (principes éthiques) … Ta là ai? Ta sống làm gì? Cái chết sẽ như thế nào? Vấn đề mà Montaigne trong tập Essais đã lặp lại lời nói của Cicéron – “philosopher ce n’est autre chose que s’apprêter à la mort / Bàn luận triết lý đó là không khác hơn sự tự sửa soạn cho cái chết.” (Nhận định của BS Đặng Vũ Vương về người bạn vắn số của mình). Nhưng Nghiêm Sỹ Tuấn hoàn toàn không là một văn nhân / Người sống với chữ nghĩa; không là một nhà tư tưởng sống trong thế giới ý niệm, triết học, triết lý. Anh là một Kẻ Sĩ Thuần Việt sống đủ với Thân Phận Việt Nam.

4.

Nghiêm Sỹ Tuấn không viết những dòng chữ không nội dung. Nghiêm Sỹ Tuấn không nói những lời nói suông … Từ hỗn loạn Sài Gòn sau 1/11/1963, anh có một lập trường rõ rệt, phản đối mọi cuộc xuống đường, dù ở phe nhóm tôn giáo nào. Muốn cách mạng ư? Trước hết cách mạng bản thân mình trước. Anh tiên tri, dự đoán, viết ra đủ cảnh tượng hỗn loạn vô nghĩa sau một sự kiện gọi là “cách mạng / cách mạng xã hội chủ nghĩa”: Giữa một thời thế, xã hội vật chất đang lên, (giá trị) tâm hồn tinh thần dần đi xuống. Anh là một trong những người cuối cùng chống đối lại. Anh viết ra lời chỉ rõ ngọn nguồn bi kịch Việt Nam, nói rõ những mưu toan sau hàng rào danh từ gọi là “Cách mạng, dân chủ, độc lập” mà phía cộng sản luôn sử dụng và sử dụng có hiệu quả … Bác nông phu người Việt chơn chất đã gục ngã vì bị lôi cuốn trong một hành trình phiêu lưu mà trong thâm tâm bác chỉ biết thương yêu gia đình, mảnh vườn, con trâu, thửa ruộng. Nhân danh những danh từ không hề biết nội dung kia, bác bị hy sinh! Ai cứu bác đây? Nghiêm Sỹ Tuấn chấp nhận trọng trách này. Mùa Xuân đối với anh không phải là nơi kinh đô phồn hoa mà là đồng mạ xanh rì dải nước phù sa loáng ánh mặt trời, dâng sương sớm …

Nghiêm Sỹ Tuấn cố gắng thoát khỏi thân riêng, tìm kiếm và tạo dựng cộng hưởng nơi người chung quanh, cụ thể những người lính mà anh chọn lựa đứng cùng đội ngũ trong lần tình nguyện đi Nhảy Dù. Hành vi chứng tỏ với bản thân khả năng phục vụ tha nhân qua nhiệm vụ của một quân y sĩ (bình thường) trong những hoàn nguy nan nơi chiến địa. Anh nhìn ra rất rõ và rất đúng Tinh Thần Para Bellum:

“Chiến tranh chỉ xấu và tàn bạo trong mắt những người đứng xa chỉ trỏ. Nên người phải ngừng hay tiếp tục nó (Chiến Tranh) với những lý do đẹp đẽ. Cha ông chúng ta xưa kia đã nhất định tiếp tục nó, và đã chiến thắng, chắc vì hiểu rằng trật tự và kỷ luật trong sức mạnh của Con Người.”

Nghiêm Sỹ Tuấn thấy ra lớn lao và thất bại của Dân Tộc Việt:

“Nhưng ngàn năm và trăm năm tranh đấu có lẽ hơn nhiều, chúng ta thừa hưởng dễ dàng quá, nên chóng mệt mỏi. Đến độ  không dám kiến tạo … Màu xám đất mầu, đục lờ nước ruộng, áo tơinón lá cày cuốc dưới mưa phùn mù mịt giá căm, đò đồng xộc xệch tròng trành trên mông mênh ruộng ngập, vốn là những phong cảnh lạt lẽo của quê hương. Bởi vì chúng ta đã sinh ra và sống ở đó … Bởi có ai mất thời giờ ngồi trong bóng tối ngắm cử chỉ tầm thường mà trang nghiêm của người nông phu gieo mạ, bóng tay vươn đến tận sao trời?”

Y Sĩ Trung Úy Nghiêm Sỹ Tuấn với ý thức tự do, đã đi tới chọn lựa: Tự nguyện dấn thân vào một cuộc chiến tranh thảm khốc.

“ … Làm gì có xương nào phơi vô nghĩa, càng vô nghĩa bao nhiêu càng ý nghĩa bấy nhiêu. Vả chăng xương nào thay được xương mình. Trái đậu thì hoa tàn. Hạt giống có chết cây mới nẩy mầm xanh, sao nói là vô nghĩa được … Cũng đừng buồn thấy lan nhược nở đỏ rồi rơi êm giữa rừng gai cằn cỗi. Cô đơn, đau khổ, gắng chịu một mình. Có thế mới thấy hết vẻ đẹp thanh tao của giếng êm, trăng rạng.”

Không hề chủ trương hay cổ động chiến tranh, nhưng cuối cùng Y Sĩ Trung Úy Nhảy Dù Nghiêm Sỹ Tuấn đã chết do đạn cộng sản pháo kích khi đang cố băng bó vết thương cho một binh sĩ nơi địa đạo Khe Sanh một ngày Tháng 4, 1968. Bác Sĩ Tuấn ơi! Lính Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù trong cơn cận tử đã kêu lên … Bác sĩ …

Bác sĩ?!

Kết Từ: Lá Thư thay lời kết

Quả thật tôi hết sức khi đến những dòng chữ của đoạn kết từ này, nên phải nhờ hình thức của một lá thư gửi bạn để nhỡ /rất có thể rơi vào một tình trạng quá độ nào đấy thì cũng có đường bào chữa, giảm khinh. Tình trạng kiệt sức nầy rất dễ nhận, đã xảy ra nhiều lần cho chính bản thân sau khi đã xong một việc quá sức mà thấy nỗ lực vượt sống / chết của mình cũng chẳng đi đến đâu! Xin nói thật như tình cảnh của ngàn, vạn của người Miền Nam sau đoạn đường “học tập cải tạo” thấy như không có ngày về, bước vào xóm nhà cũ ở Đa Kao, Tân Định, Bàn Cờ … hỏi ra mới biết vợ con đã vượt biên từ năm nào và nghe như đã tan thân đâu đó trên biển, nơi rừng bên Cam Bốt. Chủ nhân căn nhà của mình đóng sập cửa đuổi đi với lời miệt thị khinh khi: Đồ ngụy! Tôi nói không quá và cũng không đủ sức tưởng tượng ra. Kể chuyện như trên để nhớ lại tháng Tư năm 1975 (vì bây giờ là tháng Tư, 2019.) Chạy từ Quảng Trị về Huế 70 cây số; từ Huế vào Đà Nẵng hơn 100 cây số. Chạy tiếp về Nha Trang, Phan Rang, Long Khánh và cuối cùng ngồi bên lề đường Lê Lợi Sài Gòn sáng 30 để thấy chết dễ dàng hơn sống!

Biết thế chết đi từ Mậu Thân 1968, Mùa Hè 1972 còn đỡ đau hơn không!

Trở lại chuyện Bác Sĩ Tuấn. Tháng 4, 1968 được mấy tiếng phép, từ mặt trận Nhị Bình, Hóc Môn tôi tới Chùa Ấn Quang để đưa đám Nguyễn Đức Cần, Khóa 19 Đà Lạt, Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù chết trận Khe Sanh đưa về. Trong câu chuyện nghe loáng thoáng … Nó (cộng sản) pháo kích ghê lắm, toàn pháo 130 ly hoặc hỏa tiễn 122 ly bên kia Bến Hải, thằng 6 (Tiểu Đoàn 6 Dù) cũng bị nặng, chết đến cả bác sĩ … Bác sĩ Tuấn ơi, hơn nửa thế kỷ sau mới nghe ra, biết đầy đủ về bác.

Cuối bài viết mới có lời Kính Điếu muộn gởi đến với Y Sĩ Trung Úy Nhảy Dù Nghiêm Sỹ Tuấn. Với lời tạ lỗi.

PHAN NHẬT NAM

Little Saigon, tháng Tư 1975-2019

Phận người vận nước

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 27 Jan 2026

Phần 3.

Một mùa Hè lẫm liệt trên quê hương

Chúng ta bắt đầu những ngày vào Hè, cũng là Lễ Tưởng Niệm của Liên Bang

Bắc Mỹ đối với những người đã hy sinh cho tổ quốc vĩ đại mà hôm nay người

Việt tị nạn đã được thu nhận làm quê hương thứ hai sau ngày mất miền Nam,

1975. Ngày Hè cũng là dịp nhắc nhở lại trận chiến 41 năm trước để chứng tỏ

cùng dân tộc Việt và cộng đồng thế giới sức chiến đấu bền bỉ của Người Lính

Miền Nam mà sau 38 năm nhìn lại tưởng chừng như một câu chuyện không thật

– Huyền thoại thật về một quân đội Giữ Nước – An Dân mà hôm nay hiện tình

Việt Nam đang xác chứng trước Lịch Sử và Quốc Dân.

Kỳ I

Huế vẫn sống, Quảng Trị phải về lại

Bấy giờ, bắt đầu mùa Hè 1972, tháng thứ ba kể từ ngày Bắc quân mở cuộc đại

tấn công miền Nam. Quảng Trị, Thừa Thiên là hai nơi hứng chịu tai ương tàn

khốc của bom đạn nặng nề trước nhất và người dân của chốn đau thương này

lại thêm một lần tay bế con, lưng cõng cha mẹ già xuôi theo Đường số 1 dưới

che chở độc nhất, cũng là nguồn tin cậy cuối cùng – Người Lính. Lính Cộng

hòa ơi, cứu bà con, lính Cộng hòa ơi! Trên đoạn chiều dài máu đóng khô

vương vãi thây người … Thị xã Quảng Trị, quận Hải Lăng, cầu Mỹ Chánh,

không phải chỉ một vài-người, nhưng toàn khối dân bi thương nguy biến

cùng gọi lên như thế một lần khi thở hơi cuối, mồm há hốc, tròng mắt thất

thần dựng đứng. Họ gọi người lính khi nằm xuống nhìn máu chảy từ xác thân

bị cắt xé, cứa dập, tay lần chuỗi Thánh Giá, hạt Bồ Đề, trên đầu, chung quanh

đại pháo Bắc quân nổ liên hồi, tàn nhẫn. Đạn nổ không bỏ sót một phần đất,

chụp xuống đủ lên thân thể con người. Trong tình cảnh cùng khốn nguy nan

ấy, người dân thực chỉ còn “một lực giải cứu hy vọng duy nhất” để gọi tới sau

khi những che chở cầu xin tôn giáo đã bị đám giặc phương Bắc ngụy danh

“giải phóng” kia chà đạp thậm tệ, tàn nhẫn khinh miệt. Lính Cộng hòa ơi!

Người dân thêm một lần kêu lên như thế. Người hằng nhiều lần kêu lên như

thế khi đối mặt cùng cái chết, khi lâm tử. Đất không là Vinh Quang nguy

biến riêng cho Lính, đất còn là Thánh Địa oan khổ của Người. Người tầm

thường, còm cõi, quắt queo, héo úa như nhánh “nè”(1) khô rốc tong teo, lay

động dật dờ dưới cơn nắng hạ chí. Những người tội nghiệp, răng đen, môi nẻ,

tóc rối mà tai ương hiển hiện trong tiếng nói, bất hạnh đặt mầm ở cách “khóc

kể” rên xiết oán hờn. Bất hạnh đã có “điềm” từ giọng hò thê thiết đến rợn làn

da khi những con thuyền chập chùng nương bóng tối lướt thướt trên sóng

nhỏ qua Bảng Lãng, Vân Trình, Thế Chí, Đại Lược … A … à … ơ … chỉ hai chữ

với âm lượng vô hồi theo con thuyền đi gần hết khúc sông mà tiếng hò thê

lương còn đầm đìa trong hơi gió, váng vất trên mặt nước. Tuy điềm bất hạnh

đã nghe rõ trong âm nói, nhìn ra qua dạng hình, hiện thực nơi lát khoai mốc

meo thay hạt cơm qua từng ngày khốn đói; túp lều mái tranh hư nát, mấy

con người cùng con chó gầy trơ xương chen nhau trên khoảng chiếu nhàu

bẩn, đen xỉn; nương lúa cắn cỗi, đất sỏi đỏ nứt đường sâu khô rốc; khu vườn

cây trốc gốc, mối đùn hoang phế như nấm mộ vô chủ. Nhưng những con

người khốn khổ kia vẫn tồn tại và vượt sống. Sống với gì và như thế nào hở

trời?! Nay lại thêm ba tháng máu lửa lẩn trốn dưới hầm đất, ăn khoai, sắn

sống, hứng chịu ngàn trái đạn của cả hai bên.

Ngày quận Hải Lăng vừa được quân ta tái chiếm, đồ đạc cho vào thúng sau,

đứa con ngồi thúng trước, người đàn bà nhỏ bé, quắt queo gánh “gánh đời” đi

thoăn thoắt trên mặt cát trắng bầy nhầy lớp thịt người. Phải chăng người

vùng Quảng Trị, Thừa Thiên được Thượng Đế cho sẵn khả năng chịu khổ và

cách gánh chạy như “giặc đuổi” để chuẩn bị cho những tháng, năm, cảnh

huống tàn khốc này? Có anh phóng viên đài truyền hình chận hỏi:

– Chồng và mấy đứa con lớn bà đâu?

– Chết hết rồi. Họ (lính cộng sản) đem đi băm, vằm, chém nát, chôn sấp, dập

ngửa mô không biết?!

– Bây giờ bà đi đâu?

– Hí? Người đàn bà xứ quê không hiểu câu hỏi.

Cho dù hiểu đi nữa thì bà ta cũng không biết đi đâu … Quo Vadis? Mày đi

đâu? Chúa có hỏi đi chăng nữa người cũng không trả lời được. Đi đâu? Ngày

đã hết, đời đã hết, chỉ còn con người lừng lững với mối đau mịt mùng thăm

thắm của riêng mình. Nhưng người Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế nhất định

trở về, sống lại cùng làng xưa, chốn cũ bởi: Ông Trưởng đã ra Huế! Ông

Trưởng đã ra ngoài Huế rồi bà con ơi! Người dân hăm hở, tin tưởng mạnh mẽ

nói cùng nhau và những chuyến hàng Đà Nẵng – Huế (2) bắt đầu trở lại với

hành khách chen chúc đầy ngập. Trên đoạn đường lây lất, ươn ướt thịt da

người phía Nam La Vang, lối “về ngoài mền … “ thấp thoáng từng toán người

gồng gánh chạy theo đoàn quân. Mềm về Quảng Trị thôi bà con ơi, ông Trưởng đã vô ở Trung Mang Cá (3) giư kỳ Tết Mậu Thân với mền rồi bà con nè … (4)

Chiếc xe jeep mang cờ hiệu tư lệnh màu đỏ với ba ngôi sao trắng chạy chậm

dọc đường Trần Hưng Đạo hướng cầu Gia Hội. Vị tướng quân khẽ liếc về hai

bên, che giấu cảm xúc trong ánh mắt u uất, cố giữ vẻ bình thản, ông đưa tay

lên vành nón sắt tỏ ý nhấc khẽ để đáp lễ những người dân kính cẩn chào ông

với cách nhìn hàm ân, kính phục.

Chợ Đông Ba ngầu đục váng vất những đường khói nhỏ bốc mùi khét và

loang lồ vết nám đen trên lớp tường sơn vôi vàng nhạt – dấu vết của lần hỗn

loạn hai ngày trước, 30 tháng 4, 1972, khi mặt trận Quảng Trị tan vỡ và đám

lính phẫn nộ tràn vào thành phố với những người dân đang nháo nhác rùng

rùng di tản.

Quảng Trị mất. Mất chưng hửng, tức tối. Biệt Động Quân nương nhau dọc

quốc lộ về Nam, Thủy Quân Lục Chiến co lại, Tiểu đoàn này đỡ Tiểu đoàn kia

rút gần xuống Mỹ Chánh. Về phần Sư Đoàn 3 Bộ Binh, không phải lỗi ở lính,

cấp chỉ huy không gian, cũng có thể không do Tướng Giai, Tư lệnh sư đoàn

(chưa có thể kiểm chứng rõ), đã rã ngũ một cách mau chóng, phi lý; dẫu ba

trung đoàn bị thiệt hại từ ngày cuối tháng 3, đầu tháng 4, nhưng vẫn còn đủ

quân số, vũ khí, phương tiện liên lạc, yểm trợ, bỗng nhiên như viên đá nhỏ

tan trong ly nước bốc khói.

Một đại đơn vị diện địa mất hẳn khả năng chiến đấu trong bất ngờ kinh ngạc, xua đẩy dân và lính tiểu khu Quảng Trị hỗn loạn đua nhau tháo chạy về Huế như cơn nước lũ từ nguồn cao băng qua bờ đê cát nhỏ.

Và tiếp theo, dưới cơn ép kinh hoàng của Quảng Trị, Huế nổ bùng tan nát

như ánh lửa điên loạn bốc cháy chợ Đông Ba chen tiếng đạn của đám quân

không người chỉ huy gồm những thành phần lao công đào binh nhân cơ hội

chạy trốn, đám phạm nhân từ các trại giam dân sự. Quân đội thoát ra, và tất

nhiên, không thiếu những tổ đặc công, cơ sở nằm vùng cộng sản lợi dụng tình

thế đồng khởi động phá hoại. Huế mau chóng lâm cơn hấp hối cũng bởi ảnh

hưởng, tác động kinh khiếp của Mậu Thân mà dấu vết vẫn còn rất mới – Từ

đêm Giao thừa 1968 nối tiếp, mở rộng, thấm sâu ấn tượng bi thảm của lần

thất thủ kinh đô 1885, mà nay vẫn hằng lưu trong tâm hồn người Huế, với

cảnh sắc u uẩn của hệ thống chùa, miếu, am, luôn mờ mịt những đầu chân

hương cháy đỏ vào đêm đến, hoặc những ngày rằm, mồng một âm lịch, rải rác

cạnh những con đường nhỏ hẹp, âm âm bóng cây che kín.

Giặc vào và hiện thực cảnh tượng nhà tan, cửa nát, người chết hàng hàng lớp

lớp. Gần một thế kỷ qua kể từ năm tháng bi thảm kia, mối đau không hề giảm

bớt, mà lại càng tăng thêm sắc độ khốn cùng, thương tâm.

Chỉ một điều khác biệt: Thực dân Pháp năm 1885 khi tiến đánh Kinh đô Huế,

không có được “ý niệm tiến bộ của kẻ ngụy danh cách mạng giải phóng” sau

này – Họ chưa biết cách thực hiện kỹ thuật giết người rẻ tiền và im lặng của

quần lũ gọi là bộ đội nhân dân – chôn sống những đồng bào, đồng loại mình.

Huế hốt hoảng kinh hoàng do đã có kinh nghiệm về thành tích tàn bạo của

những toán bộ đội cộng sản và đám người cuồng khấu địa phương mang huy

hiệu lá cờ đỏ (hoặc chiếc băng vải đỏ) sục sạo khắp cùng những căn nhà, ngõ

ngách, đường hẻm để tìm địch, giết Ngụy. Thế nên người người hớt hải xuôi

Nam hướng Đà Nẵng, rần rật chen chúc lên tất cả mọi phương tiện di chuyển.

Lại một lần bỏ quê hương chạy giặc. Đấy là cảnh tượng của những ngày cuối

tháng 4, năm 1972. Nhưng, nay tình thế đã hoàn toàn khác hắn. Bởi, Quân

lệnh thứ nhất của Trung Tướng Tư lệnh Quân Đoàn 1 – Vùng 1 Chiến thuật:

Tất cả quân nhân các cấp Quân lực Việt Nam Cộng Hòa trong lãnh thổ Khu

11, Vùng 1 Chiến Thuật (kể cả thành phần tăng phái, thuộc dụng hành quân),

quân phạm, lao công đào binh phải trở về trình diện đơn vị, hoặc tại địa điểm

quân sự gần nhất trong vòng 24 giờ kể từ “Không Giờ” ngày 2 tháng 5, năm

1972.

Các trường hợp vắng mặt bất hợp pháp tại đơn vị coi như đào ngũ trong thời

chiến, khi đối diện địch quân, sẽ bị truy tố ra trước tòa án quân sự mặt trận

với trường hợp khẩn cấp.

Tất cả hành vi cướp giật, phá hoại, khủng bố bị sẽ trừng phạt, xử bắn tại chỗ

do các đơn vị Quân cảnh Quân lực Việt Nam Cộng hòa toàn quyền áp dụng,

thi hành. Huế hồi sinh từ những dòng quân lệnh mạnh mẽ và sự hiện diện uy

nghiêm của vị Tướng quân Tư lệnh. Và người Quảng Trị chuẩn bị trở về.

Nước được giữ vững thêm một lần với Người lính Ngô Quang Trưởng.

Kỳ 2

Phản công

Để mở đầu cho ngày 28 tháng 6, khai diễn chiến dịch giải tỏa toàn thể Quảng

Trị, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng đã chuẩn bị, thực hiện những điều kỳ lạ

kể từ ngày nhậm chức Tư lệnh 1 tháng 5, chỉ hơn một tháng trước. Những

điều kỳ lạ này không do chủ quan của phía người Việt tự định đặt, nhưng hiện

thực trong báo cáo của Tướng Fred Kroesen, Cố vấn Trưởng Quân đoàn 1 với

Đại Tướng Abrams:

Ông ta đã làm cho Ban tham mưu hoạt động chưa từng có ở Quân đoàn 1.

Tướng Trưởng đã đấy bộ máy kia chạy với một cách thế khẩn cấp không bao

giờ thấy từ trước đến nay. Và Tướng Abrams đã không lầm đối tượng khi trao

trực tiếp đến những người bạn vũ khí tối hảo mà ông vừa nhận được. Hai

mươi giàn phóng hỏa tiễn chống tăng TOW được gởi ngay đến mặt trận Vùng

1 cho Sư đoàn 1 Bộ Binh, Sư đoàn TQLC và Sư đoàn Nhảy Dù với lời bảo

chứng của riêng Tướng Ngô Quang Trưởng. Những vũ khí mới mẻ, công hiệu

và chiến thuật linh động sáng tạo phối hợp nhau nên thành một thế trận liên

hoàn dưới tấm thảm lửa yểm trợ của phi cơ chiến lược B52 từ Guam; giàn hải

pháo, phi cơ của Hải Quân Mỹ từ Hạm Đội 7; phi cơ Mỹ, Việt từ Đà Nẵng, Chu

Lai đã kết nên sức tổng lực của Lôi Phong mà những sư đoàn 304, 308, 324B

và 325, tổng trừ bị của Miền Bắc đã phải chôn vùi phiên hiệu lẫn khả năng

chiến đấu. Sau đây là những trận đánh khai cuộc điển hình trước buổi oanh

liệt quyết định với mục tiêu cổ thành.

Sau ngày 1 tháng 5, phòng tuyến cực Bắc của miền Nam dừng lại ở sông Mỹ

Chánh sau cuộc lui binh oan nghiệt, hỗn loạn, rời bỏ Đồng Hà, Quảng Trị, căn

cứ Ái Tử và những vị trí trọng yếu Bắc sông Thạch Hãn.

Con sông rộng không quá một trăm thước chiều ngang kia thật sự không thể

là tuyến phòng thủ thiên nhiên hữu hiệu. Hơn thế nữa, đường tiếp cận trong

Trường Sơn qua ngã thung lũng A-Sao, A-Lưới để về Huế đã hoàn toàn thuận

lợi khi các binh đoàn cộng sản chiếm được những căn cứ hỏa lực Bastogne,

Checkmate, cửa ngõ vào thành phố Huế từ hướng Tây-Nam. Nếu cộng sản

tiếp tục lấn chiếm được đoạn phía Nam Huế (đường đi Đà Nẵng) và cắt

Đường số 1 ở khoảng An Lỗ, theo chiều ngang của sông Bồ thì lực lượng Thủy

quân Lục chiến nơi phòng tuyến Mỹ Chánh này sẽ nằm gọn trong một chiếc

túi bị thắt chặt cả hai đầu Nam lẫn Bắc, không cần bị tấn công cũng sẽ phải

rút đi, mà chắc gì thoát được về Đà Nẵng (chiến trận tháng 3, 1975 sau này là

minh chứng cụ thể của ý niệm vừa trình bày). Đoạn Mỹ Chánh – Huế chỉ

khoảng năm mươi cây số và sau Huế là Đà Nẵng với hơn 100 cây số còn lại.

Chiến dịch tấn công miền Nam của Bộ Tổng Quân ủy miền Bắc với tên hiệu

Nguyễn Huệ ắt sẽ trở thành hiện thực với cuộc “Nam tiến ngụy danh giải

phóng” nếu như phòng tuyến Mỹ Chánh vỡ từ đầu những ngày tháng 5, 1972.

Nhưng Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Sư đoàn Thủy quân Lục chiến của

Đại Tá Bùi Thế Lân (Đại Tá Lân thay Trung Tướng Lê Nguyên Khang giữ chức

Tư lệnh Sư đoàn cùng ngày 1 tháng 5) với những Lữ đoàn 147 và 258 TQLC

dẫu bị tổn thất nặng trong suốt trận chiến kể từ tháng 3 nơi những căn cứ hỏa

lực Holcomb, Sarge, núi Bá Hổ, Mai Lộc Nam sông Bến Hải, đã không để mưu định kia nên hiện thật.

Hơn thế nữa, đơn vị trấn đóng phòng tuyến Mỹ Chánh trên Quốc Lộ 1, điểm

tấn công chính của Bắc quân nếu muốn mở đường về Huế kia lại là Tiểu đoàn

2 Thủy quân Lục chiến “Trâu Điên” của Trung Tá Nguyễn Xuân Phúc, Tiểu

đoàn thượng thặng của binh chủng, cũng là đơn vị lừng lẫy nhất của quân lực

Cộng hòa.

Thế nên, bộ binh miền Bắc không thể nào vượt qua được bảy mươi thước

sông bề ngang mong manh nầy. Chắc chắn không thể được. “Một thằng ‘cháu

của bác’ nào qua đây, tôi sẽ biệt phái nó đi gặp bác nó ngay”. Trung Tá Phúc

“Robert Lửa” đã nói như thế với những phóng viên báo chí tại bộ chỉ huy Tiểu

đoàn ở Đồi Đức Mẹ cạnh Sông Mỹ Chánh trong buổi họp báo bỏ túi ngày 1

tháng 5. Chung quanh xác chết những đặc công cộng sản (đơn vị đánh thăm

dò, mở đường qua cầu, hướng về Huế) nằm rải rác đến cây cầu vừa bị giật sập

còn bốc khói. Từ phòng tuyến mong manh này, với lòng tin cậy đối với những

đơn vị tăng phái hành quân, Trung Tướng Trưởng trả lại quyền điều động đơn

vị cho Đại Tá Lân trong khu vực trách nhiệm.

Lần đầu tiên kể từ ngày thành lập, Sư đoàn Thủy quân Lục chiến được hành

xử hết sức mạnh tổng hợp đúng kích thước của một sư đoàn. Biết như thế để

hiều tại sao đã có những thiệt hại oan uổng, vô lý ở trận Bình Giã, vùng rừng

miền Đông Nam Bộ tháng 12, 1964; với Lam Sơn 719, chiến dịch Hạ Lào cũng

nơi đất Trị – Thiên này trong năm 1971. Đấy là khi các Tiểu đoàn bị xé lẻ và

nguy hại hơn nữa nếu các đại đội tác chiến phải phơi thân đơn độc nơi những

căn cứ hỏa lực. Chúng ta nên trở lại yếu tố kỹ thuật trận liệt đã một lần bàn

đến. Quân số thiệt hại của cộng sản hẳn phải gấp ba lần xác chết để lại trên

chiến địa kia. Ba Tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến tổn thất nhẹ, rút về lại

phòng tuyến Mỹ Chánh trong buổi chiều cùng ngày, chỉ phải để lại một trực

thăng CH 53 trúng đạn đã được phá hủy tại chỗ. Phía tư lệnh mặt trận B2 (của Bắc quân) kể từ khi khai diễn chiến dịch Nguyễn Huệ tổng tấn công miền

Nam bị khựng lại với câu hỏi:

Phía quân Nam sẽ đánh vào đâu? Như thế nào? Chiến dịch Nguyễn Huệ sau

này được giới nghiên cứu quân sự thế giới đánh giá là cuộc tổng tấn công lớn

thứ hai của khối cộng sản kể từ lần xâm lăng Nam Hàn năm 1950 ở bán đảo

Triều Tiên với 300,000 ngàn chí nguyện quân Trung cộng. Năm ấy, Danh

tướng Mac Arthur có dưới tay 365,000 quân (Mỹ và Liên Hiệp Quốc), được cả

thế giới yểm trợ và tâm lý quần chúng, Quốc hội Mỹ phấn khởi, tự tin sau

thắng lợi Thế Chiến Thứ Hai đồng thuận (kể cả thái độ gián tiếp của Liên Xô),

mà đã phải rút lui về bán đảo Pusan trong giai đoạn đầu của cuộc chiến. Nay

trận chiến Mùa Hè 1972, hoàn toàn không có bộ binh Mỹ tham dự và không

quân Mỹ thực hiện lần cứu viện cuối cùng cho đồng minh trước khi bị Tu

Chính Án Frank Church kềm giữ hẳn. Trong “Việt Nam A History”, với tính vô

sỉ hèn hạ lộ liễu, Stanley Karnow trình bày chuyện kể về Việt Nam hoàn toàn

cố ý nhảy qua đoạn chiến sử năm 1972 này. Ông ta chỉ khai thác đề tài Mậu

Thân Huế với chi tiết ngụy tạo: “Phía Việt Nam Cộng Hòa cho người lẻn vào

‘khu giải phóng – khu vực do phía cộng sản tạm chiếm’ giết những người ‘tình

nghi đã cộng tác với bộ đội cộng sản’, xong ném vào chung hố với những nạn

nhân do cộng sản chôn sống để vu oan là ‘cộng sản giết người!'”. Đây là chứng

cớ gian trá mà sau 45 năm đạo diễn Lê Phong Lan đã dựng lại bộ phim “Mậu

Thân – 1968″ để chạy tội cho bộ đội cộng sản giết dân Huế. Stanley Karnow

chứng minh điều gọi là trung thực của câu chuyện qua trích dẫn bài hát

Trịnh Công Sơn: “Chiều đi qua Bãi Dâu, vỗ tay trên những xác người”. Theo ý

của ông ta, những xác người này là do phía Việt Nam Cộng hòa sát hại rồi đổ

tội cho Việt cộng! Và nếu “như có thật”, một số người bị chết bởi tay bộ đội

cộng sản, thì cũng chỉ là do “Việt cộng, tức du kích cộng sản miền Nam” trả thù

những kẻ “có nợ máu đối với nhân dân”, chứ bộ đội miền Bắc hoàn toàn vô can

trong vụ tổng công kích và thảm sát người ở Huế. Cộng sản Hà Nội đến cỡ của

Tố Hữu cũng không thế trâng tráo hơn được. Chúng ta tạm rời bỏ những xảo

trá đê tiện chính trị qua cuốn sách gọi là “một trong những công trình nghiên

cứu tuyệt phẩm – cách của báo Chicago Tribune tán tụng Karnow”, kẻ hãnh diện

gọi là “thành phần trí thức thuộc nhóm phản chiến Mỹ”, để trở lại chiến trường

với những người lính của quê hương. Không để cho phía cộng sản có được

thời gian chuẩn bị cuộc phản công, Tướng Trưởng chỉ thị đến hai Tư lệnh

chiến trường, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ Binh và Đại

Tá Bùi Thế Lân, Thủy quân Lục chiến phải thanh toán hai gọng kềm Tây –

Nam và Đông – Bắc Huế trước lần tổng phản công lên mặt Bắc. Mặt trận Tây –

Nam được thực hiện theo diễn tiến như sau:

9 giờ 15 ngày 14 tháng 5, 1972 tại bộ chỉ huy hành quân Trung đoàn 1 Bộ

Binh, Tướng Phú nhận được báo cáo mới nhất của cánh quân Trung đoàn 3,

đơn vị đánh chiếm lại căn cứ Bastogne (bị mất từ tháng 3) từ mạn Bắc.

Bastogne là tên do các đơn vị Mỹ đặt để nhắc lại trận đánh lừng lẫy của Sư

đoàn Nhảy Dù 82 trong Thế Chiến Thứ Hai do Tướng Maxwell Taylor chỉ

huy, nay Sư đoàn 1 đặt lại với một danh tự đầy cảm xúc là căn cứ Thuận Hóa,

tên cũ của Thừa Thiên – Huế từ ngày Chua Nguyễn vào Nam mở nước, thế kỷ

17.

Người Quảng Trị, Thừa Thiên dựng nước và mở nước từ đất Ái Tử, Thuận Hóa,

nên người lính Sư đoàn 1 phải trở lại Thuận Hóa vì ở đấy không chỉ là một

mục tiêu quân sự, nhưng là biểu tượng sức chiến đấu của đơn vị, tấc lòng của

dân, quân tha thiết với phần đất cha ông. Trận đánh từ sáng sớm đến xế

chiều vẫn chưa có kết quả quyết định dù phía Trung đoàn 3 đã báo cáo:

“Chúng tôi vượt qua hàng trăm xác của địch, nhưng bởi hệ thống chốt của chúng

(đào theo hình chữ A) quá dày đặc nên không thể nào thanh toán mau chóng

được. Thành phần bộ đội giữ chốt lại bị xích chân vào súng, nên chúng không

thể chạy trốn, quân ta phải thanh toán từng chốt một cho đến gã lính cuối cùng

bị tiêu diệt, và vì thế cuộc tiến quân phải trì chậm lại”.

Báo cáo chính xác cuối ngày dừng lại với con số 346 địch chết tại chỗ và 100

súng đủ loại bị tịch thu, phần đông là thượng liên và đại liên phòng không,

những chốt lớn còn có súng cối do một Tiểu đội (10 người) trách nhiệm cố

thủ. Trên đỉnh “T – Bone”, nơi đặt bộ chỉ huy hành quân, Tướng Phú nói cùng

với phái đoàn báo chí và phóng viên điện ảnh từ Sài Gòn đến: “Nội trong đêm

nay, Sư đoàn 1 sẽ trở lại Bastogne. Trở lại Bastogne để chứng tỏ Quân lực Việt

Nam Cộng hòa thừa sức để tái chiếm bất cứ vùng đất nào mà trước đây tạm bỏ”.

Nhưng dự định của Tướng Phú và quyết tâm của người lính Sư đoàn 1 không

thực hiện đúng hẹn được, bởi hai Tiểu đoàn K5 và K9 cộng sản quyết liệt chận

đứng cánh quân Trung đoàn 3, nhất là tại đỉnh 100 (cách Bastogne 800

thước), đơn vị chốt tại đây tử chiến tuyệt vọng, không khoan nhượng. Nửa

đêm, rạng 14 qua 15, Tướng Phú vào máy truyền tin dã chiến nói chuyện trực

tiếp với người chỉ huy Trung đoàn 3: “Chỉ trong đêm nay, hay ngày mai, chứ

không thế là 22 hay 29 tháng 5, mấy đứa con đầu của anh (các đơn vị tấn công

tiền phương) có vào được hay không? Đừng nói lòng vòng … Các anh đừng làm

hồ danh Sư đoàn 1!”.

Sáng sớm ngày 15, Tướng Phú sau lần tiếp xúc mật với Tướng Trưởng, có ngay quyết định táo bạo:

“Dùng một đơn vị trinh sát nhảy xuống Bastogne xong từ trong đánh ra

ngoài, liên kết với lực lượng của Trung đoàn 3 từ ngoài tấn công dứt điểm”.

Cuộc trực thăng vận dự trù lúc 10 giờ sáng, đợi cho trời bớt sương mù theo

yêu cầu an phi … 10 giờ, 11 giờ, 12 giờ … từng giờ một phải được kéo lùi vì

khu trục không nhìn thấy mục tiêu để đánh dọn bãi cho quân bạn. 13 giờ 30-

Giờ G của chiến dịch đột kích bắt đầu. 18 Pháo đội 105 và 155 ly đồng tập

trung hỏa lực trút xuống Bastogne vũng lưới lửa. Mỗi pháo đội có 6 khẩu

súng, tức 108 nòng đại pháo cùng lần tác xạ; mỗi pháo đội nhận được lệnh

“pháo đội 10 tràng”, có nghĩa số lượng đạn bắn đi nhân lên 10 lần số súng.

Pháo binh chấm dứt để khu trục vào vùng. Đoàn khu trục thuộc Phi đoàn 518

từ Biên Hòa ra tăng phái mặt trận giới tuyến từ đầu tháng 4, những chiếc 

phi cơ AD 6 này thật ra là đã thuộc loại “bỏ đi” của không quân lẫn hải quân

Mỹ chỉ dùng để huấn luyện, vì đã quá giờ bay sau Đệ Nhị Thế Chiến 1945,

nhưng khi vào tay phi công Việt Nam với những “người sinh ra để bay

Skyraider”, là loại khu trục cánh quạt có khả năng mang số bom nặng hơn

trọng lượng của nó như những danh tính Nguyễn Văn Cử, Phạm Phú Quốc

(thế hệ đàn anh) hoặc Trần Thế Vinh, Phạm Văn Thặng hôm nay, chúng trở

thành một vũ khí tấn công, yểm trợ tiếp cận cho bộ binh tuyệt hảo. Chỉ từ

một tuần từ 2 đến 9 tháng 4, năm 1972 Trần Thế Vinh đã hạ 21 chiến xa với

những trái bom đặt dưới cánh phi cơ của anh. Sáng ngày 15 này cũng thế,

những trái bom rơi từ phi cơ AD6 của Phi đoàn 518 như đặt vào những trái

bóng nhỏ vào những chiếc lỗ khít khao, bật tung toàn bộ hệ thống cố thủ của

các chốt quanh và của chính Bastogne. Sau đợt dội bom cường tập, Trung đội

trinh sát của Thiếu úy Hiệp nhảy xuống mục tiêu khi còn nguyên mùi bom,

lửa cháy trên đất đá. 9 Giờ sáng ngày 16, đại quân Sư đoàn 1 chiếm lĩnh tất cả

các cao độ quanh Bastogne. Từ trên cao nhìn xuống, lá Cờ Vàng của Thuận

Hóa, Bastogne đổ nát sáng rực giữa chập chùng màu xanh của rừng và hơi

khói đạn chưa tan.

Sau thất trận thê thảm ở cửa ngõ vào Tây – Nam Huế, nơi thung lũng A-Sao,

Sư đoàn 324B phải rút về Lào để tái bổ sung, biến mất khỏi chiến trường Trị –

Thiên. Nhưng thất bại quân sự của phía cộng sản không chỉ dừng lại với Sư

đoàn 324B mà còn kéo dài, mở rộng hơn với ảnh hưởng sâu xa đối với toàn

thể mặt trận phía Bắc nói riêng và sách lược của cuộc tổng công kích Mùa

Xuân 1972 trong tầm phương án tổng quát. Chúng ta hãy theo dõi tiếp sức

mạnh vô địch của Lôi Phong. Do một tính toán sai lầm tai hại (của chính Võ

Nguyên Giáp), phía Bắc quân mở trận đánh phục thù vào ngày 21 tháng 5

bằng đội hình mở rộng trên trận địa với chiến xa và bộ binh tùng thiết theo

chiến thuật cổ điển của chiến tranh quy ước. Trên vùng lau sậy bạt ngàn dọc

Phá Tam Giang song song với bờ biển, bộ binh và chiến xa cộng sản dàn đội hình theo trục lộ 555 (con đường nối quận Hải Lăng, cực Nam Quảng Trị về quận Phong Điền, Bắc Thừa Thiên). Kiểm soát được tuyến đường tức là nối được trục tiếp vận Bắc – Nam của vùng đồng bằng thuộc hai tỉnh địa đầu màmà không cần phải phụ thuộc vào Quốc lộ 1, hiện tại không thể vượt qua được chốt cầu Mỹ Chánh (do Tiểu đoàn 2 Thủy quân Lục chiến trấn giữ, phần trên vừa trình bày). Lực lượng cộng sản thoạt tiên tấn công các đồn địa phương quân và nghĩa quân, thành phần này được lệnh rút bỏ vị trí, lui về phòng tuyến của Thủy quân Lục chiến. Nương theo đà thắng lợi ban dầu, Bắc quân thọc sâu về phía Nam định bao vây,

bọc hậu hai Tiếu đoàn 3 và 9 Thủy quân Lục chiến. Nhưng hai đơn vị này đã áp dụng một kế sách tuyệt diệu: Bỏ trống trận địa không cho phía cộng sản chọn lựa chiến trường, để rồi giành lại ưu thế, khả năng thủ thắng cuộc giao tranh theo kế hoạch hành quân riêng của mình, bằng cách lui binh sâu về phía Nam năm cây số lập phòng tuyến mới. Khi binh đội cộng sản tiến vào khu vực bỏ trống mà hai Tiểu đoàn 3 và 9 vừa rút khỏi thì cơn mưa lũ lửa, sắt, thép của hàng trăm phi cơ Việt Mỹ cùng đổ xuống (nơi những vị trí đã sẵn yếu tố tọa độ tác xạ, dội bom). Không chịu buông thả mục tiêu như đã ấn định, sáng sớm ngày 22, lực lượng cộng sản tập trung hai mươi chiếc chiến xa, còn lại mở đợt tấn công lần hai vào vị trí Tiểu đoàn 3 và Bộ Chỉ huy Lữ đoàn 369. Cố gắng này hoàn toàn phá sản, bởi những giàn phóng hỏa tiễn TOW do Thủy quân Lục chiến sử dụng đã khai triển, vận động hết hỏa lực đáng sợ của nó, bắn hạ 10 chiến xa T-54 ngay trong đợt phản công đầu tiên, có chiếc bị cháy chỉ cách hầm chỉ huy lữ đoàn khoảng 400 thước. Thế trận Bắc quân hoàn toàn tan vỡ, thiệt hại 542 xác đếm được mà theo ước tính phải thêm một Trung đoàn bị loại ra khỏi vòng chiến.

Như cơn điên mê của loài thiêu thân tuyệt vọng, phía tư lệnh Mặt trận B2 cộng sản lại chuyển mũi dùi tấn công sang phía Tây, vùng trách nhiệm của Lữ đoàn 258 Thủy quân Lục chiến và Liên đoàn 1 Biệt Động Quân. Cách đánh thí quân này không thâu đạt một kết quả nhỏ nào mà còn để lại hơn hai trăm xác nằm chật trên những bờ bãi lau lách màu đỏ thẫm. Màu đỏ vốn có do từ nước cặn phèn nay thêm sẫm màu bởi máu đọng vũng. Không để cho địch quân có thì giờ dưỡng thương, lực lượng Thủy quân Lục chiến sử dụng lữ đoàn còn lại đánh dập toàn bộ những mũi tấn công của binh đoàn cộng sản cố lấn sâu xuống phía Nam sông Mỹ Chánh. Kế họach tấn công dứt điểm được hình thành với cuộc hành quân Sóng Thần 6/72 để đưa Lữ Đoàn 147 Thủy quân Lục chiến vào trận. Có thể nói rằng, đây là một cuộc hành quân thủy – bộ được tổ chức cao nhất từ trước đến nay của  chiến tranh Việt Nam do phối hợp nhịp nhàng, vận dụng hết khả năng cơ động của binh chủng Thủy quân Lục chiến Việt Nam, kỹ thuật khoa học quân sự hiện đại tinh vi của quân đội Mỹ, cùng sức mạnh ghê hồn của hỏa lực phi pháo. Ngày 23 tháng 5, Tiểu đoàn 7 Thủy quân Lục chiến kín đáo rời phòng tuyến bố quân để ra bến tàu Tân Mỹ, năm cây số Đông – Bắc thị xã Huế; Tiểu đoàn xuống tàu nhỏ ra Hạm đội 7 đậu ngoài khơi, chờ giờ vượt tuyến tấn công mà đến lúc này cấp chỉ huy mới phổ biến cho binh sĩ biết. Cần mở một giải thích quan trọng về địa thế của chiến trường được chọn. Từ lúc chiến tranh Đông  ương Thứ Nhất (1945-1954), vùng đất thuộc eo biển miền Trung dọc Phá Tam Giang, nằm giữa Quốc lộ 1 và bờ biển này là một vùng cấm kỵ đối với lực lượng quân đoàn viễn chinh Pháp, bởi địa thế quá hẹp, trống trải, nhưng lại là vùng sình lầy không thuận tiện việc điều động cơ giới, bộ binh di chuyển khó khăn, lại không có chướng ngại thiên nhiên để che giấu khi tiếp cận mục tiêu, hoặc ẩn tránh nếu xảy ra trận đánh. Tháng 7, 1953 Tướng Navarre (thay thế Tướng De Lattre giữ chức Tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương từ tháng 5, 1953) vừa cầm quyền được hai tháng, đã mở cuộc hành quân Camarque với một lực lượng thủy bộ đến ba mươi Tiểu đoàn để đánh bật Trung đoàn 95 cộng sản ra khỏi vùng, giải tỏa áp lực địch mạn Bắc Huế. Vì Huế luôn là một địa danh có giá trị tinh thần, tác động chính trị đối với tâm lý người Việt, vẫn còn lòng ngưỡng vọng một ông Vua với danh hiệu Quốc Trưởng và danh xưng nghi lễ “Hoàng Thượng, hoặc Bệ Hạ”. Nhưng dù khoa trương rầm rộ, cuộc hành quân phải chấm dứt vài ngày sau vì số thương vong do mìn bẫy quá cao và không có một đụng độ đích đáng như dự trù. Và dù trận liệt đã báo cáo bắt được 387 tù binh, 182 địch bị hạ, nhưng Trung đoàn 95 kia vẫn hoạt động và tiếp tục chiến đấu ở thời gian sau. Từ đấy, binh sĩ quân đoàn viễn chinh Pháp gọi địa danh đáng sợ này với một tên hiệu thê thảm “Dãy Phố Buồn Thiu” và Học giả người Mỹ Bernard Fall đã dùng làm tiêu đề cho một biên khảo của ông về chiến tranh Đông Dương lần thứ Nhất (1945-1954). Thế nên, địa danh trở nên quen thuộc với giới nghiên cứu quân sự và người viết nên cuốn sách kia cũng đã thiệt mạng do mìn bẫy khi theo quân đội Mỹ hành quân trên vùng đất này vào năm 1967.

Nhưng nay, Lữ đoàn 147 Thủy quân Lục chiến phá tan huyền thoại âm u kia lẫn lời tán tụng: Sư đoàn “nặng” 325 tổng trừ bị quân đội Bắc Việt là một đơn vị “quân đội nhân dân anh hùng, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Với một phối hợp đồng bộ tuyệt hảo, Bộ Tư lệnh Tiền phương của Sư đoàn Thủy quân Lục chiến Việt Nam đặt trên Soái Hạm USS Blue Ridge cùng với Ban tham mưu Hạm đội điều hành, chỉ huy cuộc hành quân đưa Tiểu đoàn 7 trở lại bờ biển bằng tàu đổ bộ của Thủy quân Lục chiến Mỹ. Khi đoàn quân cách bờ khoảng ba cây số, giàn hải pháo của Hạm đội 7 sử dụng những đại pháo có đường kính 16 inches hay 406 mm như của Thiết Giáp Hạm New Jersey đổ một màn lửa và mảnh thép công phá xuống các bãi đáp dự trù. Sau cơn bão nhân tạo do các hải pháo, phi cơ hạm đội xuất kích với Sky Hawk của hải quân, hoặc F-4C Phantom, A-7E Corsair của Thủy quân Lục chiến, tiếp dọn sạch các mục tiêu, và cuối cùng, con bài chủ lực, B52, vũ khí cột trụ của Lôi Phong được gọi tới trải tấm thảm lửa hung hãn suốt chiếu dài bãi biển dọc theo Hương lộ 555.

Lửa cuồn cuộn tung hoành đỏ rực sóng biển, hắt ánh hồng át mặt trời vừa bắt đầu bình minh. Từ khoảng cách hai cây số, (khoảng an toàn tối thiểu đối với B52, vốn là phi cơ oanh tạc chiến lược), hai đợt tàu đổ bộ gồm mỗi đợt 40 chiếc đưa Tiểu đoàn 7 ào vào bờ như những cơn sóng biển … Mà thật sự là một biển người đồng loạt xông lên bờ cát còn nóng mùi lửa. Đơn vị cộng sản cố thủ bờ biển trong chớp mắt phân tán mỏng chạy về phía Quốc lộ 1 tìm đường sống sót. Một đại đơn vị chỉ còn mười tù binh ngơ ngấn vì quá sợ hãi đưa cao tay đầu hàng lính Thủy quân Lục chiến. Nhưng đơn vị cộng sản tháo chạy về hướng Quốc lộ 1 (để vào vùng núi phía Tây), hoặc về phía Bắc (hướng sông Thạch Hãn) không còn được hy vọng trốn thoát lần cuối, vì hai Tiểu đoàn 6 và 4 Thủy quân Lục chiến đã nhảy xuống giao điểm nút chặn (của Hương lộ 555 – hướng Nam – Bắc, và Hương lộ 602 – hướng Đông – Tây) với cuộc trực thăng vận thần tốc thực hiện trong giờ Tiểu đoàn 7 đổ quân. Hai Tiểu đoàn 4 và 6 đụng độ ngay tại bãi đáp với Trung đoàn 18, đơn vị thuộc Sư đoàn 325, mà bộ chỉ huy đã thoát khỏi trận địa từ sau những thiệt hại từ giữa tháng 5. Sau bảy ngày “chà láng” mật khu “Dãy Phố Buồn Thiu”, Lữ đoàn 147 trả khung cảnh im lìm cho khu vực đúng như tên gọi, rút lại về phòng tuyến

Mỹ Chánh.

Từ trái: Đại Úy Campbell CV Trưởng TĐ, ĐU Nguyễn Xuân Phúc TĐP, TU Carson CV Phó và hàng quân TĐ 2 TQLC

Đại Úy Nguyễn Xuân Phúc

Quân đội Cộng hòa rút đi cùng lần biến mất khỏi trận địa những đơn vị từng là huyền thoại của bộ đội *cộng sản miền Bắc – Hai Trung đoàn mang danh số 66 và 88 của quân đội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hoàn toàn mất dấu khỏi hồ sơ trận liệt kể từ ngày, tháng này. Chỉ trong vòng một tháng 5 năm 1972 trong vùng trách nhiệm của Thủy quân Lục chiến đã có tới hai ngàn xác đếm được, hơn ngàn vũ khí bị tịch thu, 60 chiến xa bị loại khỏi vòng chiến, có chiếc khi bị “bắt sống” còn nguyên vũ khí, số đạn cấp phát. Chiến sĩ của những Tiểu đoàn 8 và 6 Thủy quân Lục chiến của Trung Tá Nguyễn Văn Phán, Đỗ Hữu Tùng (‘) đã không cho xạ thủ những chiếc tăng này bắn được một viên đạn.

Trong chuỗi biến động quân sự, hỗn loạn chính trị dài lâu ở miền Nam, có hai nhân vật được báo chí Tây phương, điển hình với giới truyền thông Mỹ – luôn khao khát “anh hùng, loại người có tiếng tăm hoặc gây tai tiếng” – gán cho tước vị, “người làm rung rinh Mỹ quốc”: Võ Nguyên Giáp và Trí Quang. Bởi hai con người này đã từng là thần tượng của đám trẻ nhỏ ăn chưa no, lo chưa tới trong những cuộc biểu tình nơi đường phố Sài gòn ở nhưng năm 60, 70; và những người gọi là “trí thức, học giả, văn nghệ sĩ, chính khách phản chiến” ở Mỹ, Tây Âu … Những thành phần ưu tú của xã hội Âu Mỹ có hiểu biết và cách giải thích chiến tranh Việt Nam không cao hơn tầm cỡ một gã đạo diễn làm phim ảnh giải trí, hoặc một cô đào hát bóng ở Hollywood.

Nhưng tất cả đã hoàn toàn bất tác động trước Người Lính Việt Nam Cộng Hòa với Tướng quân Ngô Quang Trưởng. Không phải chỉ một lần, mà suốt trong hai  thập niên, từ Mùa Hè hỗn loạn 1966 đến ngày Ngày Hè Lẫm Liệt 1972.

(*) Trung Tá Nguyễn Xuân Phúc, Tiểu đoàn 2 và Đỗ Hữu Tùng, Tiểu đoàn 6 sau nầy chỉ huy Lữ đoàn 147 Thủy quân Lục chiến đã tự sát cùng lần với binh sĩ thuộc quyền tại bãi biển Mỹ Khê Đà Nẵng trong ngày 29 tháng 3, 1975 khi đơn vị buộc phải lui binh theo lệnh từ Sài Gòn.

Kỳ 3

Đoạt Lại Thành!

Ngày 28 tháng 6, 1972 chiến dịch Lôi Phong giai đoạn 2, hay Hành quân Lam Sơn 72 do Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 dưới quyền chỉ huy của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng khai diễn, tiến đến mục tiêu cuối cùng: Tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị với những đơn vị vũ bão thiện chiến nhất của quân lực – cũng là những Tiểu đoàn bộ chiến hàng đầu của quân sử thế giới – những Tiểu đoàn của Liên đoàn Biệt động, Sư đoàn Nhảy Dù và Sư đoàn Thủy quân Lục chiến. Chúng ta hãy sống lại những ngày tháng linh thiêng chỉ có một lần trong chuỗi lịch sử dài của dân tộc kiên cường với một quân đội kiệt liệt. Trước khi tham dự trận đánh lịch sử của giai đoạn 2, chúng ta cần trở lại khu vực trách nhiệm của Sư đoàn Nhảy Dù (phía Tây Quốc lộ 1 mở rộng đến sâu Trường Sơn) với nhiệm vụ chận địch ngay từ tuyến xuất phát – đường 556 chạy từ Cam Lộ, Khe Sanh xuống – trên những cao điểm động Ông Đô, núi Cô-rốc với dãy căn cứ hỏa lực Anne, Barbara (bị mất trong chiến trận tháng 4, khi lực lượng bộ binh trấn thủ phải lệnh bỏ những căn cứ phía Bắc sông Mỹ Chánh), đồi 24, một trong những cao độ chiến thuật quan trọng vùng “đồi hoa sim” tiếp đổ ra Quốc lộ 1, khoảng Mỹ Chánh, Phong Điền, quận ly hành chánh cực Bắc của Thừa Thiên – Huế, tiếp giáp Quảng Trị; hoặc các căn cứ chiến thuật Checkmate, Bastogne, Tây – Nam Huế.

Nếu không chận địch từ những vị trí nầy, mặt trận phía Đông (vùng trách nhiệm của thủy quân lục chiến) sẽ bị vô hiệu hóa, do lực lượng cộng sản sẽ luồn sâu xuống phía Nam hơn nữa, tránh đụng độ ban đầu để bao vây lực lượng bạn (Thủy quân Lục chiến), sau đó phối hợp tấn công cả ba mặt Bắc – Nam, cùng với mũi xuất phát từ Tây Trường Sơn (đã trình bày ở phần đầu bài viết và phần kể về Sư đoàn 1 Bộ Binh), qua hệ thống các mật khu liên hợp Cổ Bi, Hiền Sĩ, La Sơn, La Chữ .. đã hình thành từ giai đoạn 1945-1954, được xử dụng trong lần điều quân đánh chiếm Thừa Thiên – Huế, dịp tổng công kích Mậu Thân, 1968.

Thật ra Trung Trướng Ngô Quang Trưởng đã có sẵn Liên đoàn 1 Biệt Động Quân (ba Tiểu đoàn 21, 37, và 77), và Lữ đoàn 2 Dù (gồm ba Tiểu đoàn 5, 7, 11) kể từ ngày 1 tháng 5, ngay khi ông vừa cầm quyền Tư lệnh Quân đoàn 1. Nhưng vào thời điểm ấy, lực lượng Biệt Động và Lữ đoàn Dù đặt dưới quyền chỉ huy hành quân của Bộ Tư lệnh Sư đoàn Thủy quân Lục chiến, nên phải đợi đến cuối tháng 5, khi giai đoạn 1 của chiến dịch được thực hiện với những thắng lợi lừng lẫy của Thủy quân Lục chiến và bước chuẩn bị Lôi Phong giai đoạn 2 đang dự định khai diễn, Quân đoàn 1 mới được tăng cường thêm Bộ Tư lệnh Sư đoàn Dù với hai Lữ đoàn 2, 3 còn lại (ngày 22 tháng 5).

Quyết định này được thi hành sau khi đã xét tới quan niệm – tăng viện mặt trận giới tuyến một Sư đoàn Bộ binh của Vùng IV – như đã thực hiện với những Trung đoàn của Sư đoàn 9 và 21 Bộ binh đối với mặt trận An Lộc. Nhưng Tướng Trưởng đã khẳng định: Với lực lượng cơ hữu, Sư đoàn 1 và 2 Bộ binh; Binh đoàn tổng trừ bị (Biệt Động Quân, Nhảy Dù và Thủy quân Lục chiến) tăng phái hành quân hiện có và dự trù, ông đủ khả năng để giành lại toàn bộ lãnh thổ bị mất từ tháng 4. Lời nói của vị tướng quân mặt trận được hiện thực qua những nỗ lực của từng đơn vị, với mỗi người lính. Theo kế hoạch hành quân, ngày 29 tháng 6, hai Tiểu đoàn 9 và 11 Dù được trực thăng vận xuống phía Bắc sông Nhung, con sông nhỏ bắt đầu từ nguồn động Ông Đô trong Trường Sơn chảy theo hướng Đông – Bắc qua vùng xã Trường Phước, Mai Đằng, Thường Xá để đố vào sông Thạch Hãn, phía Đông thị xã Quảng Trị. Nhưng do cuộc tiến quân của Tiểu đoàn 7 Dù (vùng Mỹ Chánh) đằng sau bị chận lại, cũng do một phần bị “Hot LZ – bãi đáp bị pháo”, nên hai Tiểu đoàn phải nhảy xuống ở phía Nam con sông. Rời khỏi thân tàu, lấy con đường làm chuẩn, 11 bên phải, 9 bên trái, những người lính đội nắng lửa và đạn pháo tiến lên trên những khu đồi trọc loang lổ vết tích, xe cộ, quân trang, vũ khí và xác người của chiến trận tháng trước. Đoàn quân không được một chút ngưng nghỉ – bởi, Quảng Trị hướng trước mặt, ly giác 4200(*), chỉ với chín cây số khoảng cách. Người lính Tiểu đoàn 11 Dù còn có thêm một yếu tố tâm lý và quyết tâm khác đối với những đồng đội thuộc đơn vị bạn: Tâm lý phục hận và ý chí quyết thắng – Họ vừa từ mặt trận Charlie, Kontum trở về và là đơn vị thành lập sau cùng của Sư đoàn Dù. Họ phải vào Quảng Trị trước nhất để xác chứng sức chiến đấu không mai một dẫu bị thiệt hại nặng của chính bản thân, cũng như của binh chủng và toàn quân lực. Tâm lý, ý chí này không là một điều tưởng tượng cố ý thổi phồng, trái lại đã hiện thực từ lần thử sức sơ khởi vào hai ngày trước buổi trọng đại ngày 28 tháng 6 đang xảy ra. Ngày 26, một lực lượng hỗn hợp của Bắc quân gồm Bộ binh và Thiết giáp vượt sông Mỹ Chánh tấn công thắng vào vị trí đóng quân của 11 Dù (để bẻ gãy mũi tiến công tiên phong của thế trận phản công mà chắc rằng họ đã theo dõi và ước tính ra). Nhưng Thiếu Tá Lê Văn Mễ (thay thế cố Đại Ta Nguyễn Đình Bảo, tử trận ngày 12 tháng 4 tại cứ điểm Charlie, Kontum) và những người lính của Tiểu đoàn 11 Dù đã phá vỡ toàn diện mưu định này với cuộc phản công tưởng như câu chuyện không thật. Vừa phát hiện thành phần tiền phương của Bắc quân, tổ báo động Đại đội 111 do Trung úy Đinh Viết Thanh chỉ huy khai hỏa trước, đội hình bị tán loạn,  toán lính Bộ binh cộng sản buộc phải tháo chạy trở lui, để chiến xa tiến lên lập phương thức tấn công mới. Nếu ở mặt trận Đường số 9, chiến dịch Lam Sơn 719, năm 1971, người lính miền Nam do lần đầu tiên đụng với chiến xa Bắc Việt, nên đã chưa tìm ra được tính chất kỹ thuật của nó và đã chịu phần thiệt hại không tránh. Nay sau một năm huấn luyện và rút tỉa kinh nghiệm từ đầu chiến trận năm nay, họ đã tìm ra yếu huyệt của T54 – nơi bình xăng cạnh hông của nó. Thế nên, khẩu súng hỏa tiễn chống chiến xa XM 202 bốn nòng đã bắn ra không phí một quả đạn, bốn chiếc tăng T54 bốc cháy, chiếc thứ năm tìm đường thoát thân, người khinh binh sử dụng tiếp khẩu XM 72 cá nhân, chiếc thứ năm cùng chung số phận với ngọn lửa hung hãn phát ra từ bình xăng bị bắn vỡ. Bắc quân vẫn không núng thế, lập lại thế trận với một đoàn chiến xa đông đảo hơn, dẫn đầu toán Bộ binh tùng thiết xung phong vào phòng tuyến quân Dù.

Nhưng quân Nam đã chuẩn bị sẵn những khắc tinh công hiệu: Pháo binh đạn đầu nổ cao để tiêu diệt Bộ binh, đạn chạm nổ chận chiến xa và phi cơ khu trục từ Đà Nẵng khẩn cấp vào vùng khi pháo dứt. Đội hình quân cộng sản dần tan vỡ và phía nhảy dù quan sát thấy Bộ binh địch đang yểm trợ nhau để rút lui. Nhưng chạy trốn không thể là chuyện dễ, Tiểu đoàn Trưởng Mê Linh điều chỉnh chính xác pháo binh 105 cơ hữu của Sư đoàn Dù tập trung vào điểm vượt sông (khoảng sông cạn nước mà lính Công binh Bắc Việt đã lấp đá xuống để chiến xa có thể đi qua) và ra lệnh cho Tiểu đoàn bỏ vị trí truy kích địch. “Khủng Long” Lại Văn Long, Đại Đội Trưởng 114, thành phần trừ bị của Tiểu đoàn xung trận như cảnh tượng của phim ảnh chiến tranh. Thân hình nhỏ bé của anh ghìm chặt cây đại liên 60 chạy trước hàng quân. Người lính âm thoại viên chạy theo … Trung úy, Trung úy, có máy của Mê Linh, Mê Linh gọi Trung úy … Anh ta đưa ống liên hợp máy truyền tin cho Long. Long hét lớn. Cái gì, mày hỏi Mê Linh nói gì? Mê Linh bảo Trung úy cho đại đội đuổi tụi nó tới bờ sông, không được vượt sông! Mày nói với ông tao sắp tới bờ sông! Cây súng giật ngã ngửa người, Long choàng sợi giây đeo súng lên vai, chéo ngang lưng, hai tay giang rộng, ngoắt ngoắt … Lên, lên … không cho một thẳng chạy thoát, đuổi hết chúng về Bắc luôn. Lính Bắc vất bỏ súng, đạp lên những đồng đội bị thương hoặc chết để qua khỏi khúc sông, những chiếc tăng đè chồng lên nhau nghẽn dòng chảy càng làm thêm cảnh tượng hỗn loạn. Lính Tiểu đoàn 11 truy kích giặc tới bờ sông, xong trở lại thu nhặt vũ khí, ngoài năm chiếc bị bắn cháy nơi tuyến đầu của Đại đội 111, Tiểu đoàn còn đếm được thêm chín chiếc T54 và PT76 khác rơi rớt dài cho đến địa điểm vượt sông, trong đó bảy chiếc còn nguyên vẹn, máy vẫn còn nổ do lính thiết giáp đã bỏ xe chạy trốn. Sau nầy, khi các Tiểu đoàn Dù bàn giao khu vực trách nhiệm lại cho Trung Đoàn 4 Sư đoàn 2 Bộ binh từ Đà Nẵng ra tăng cường, lính Trung đoàn 4 tìm thấy được nhiều thiết vận xa BTR85 khác do Bắc quân giấu trong những bụi rậm dọc bờ sông Mỹ Chánh. Chỉ là trận mở đầu, chưa hết một đêm với thành phần những đại đội tiền phong của Tiểu đoàn 11 Dù. Đơn vị vừa bị thiệt hại nặng nề tháng trước ở mặt trận Tây Nguyên.

Xuống bãi đáp, lấy Quốc lộ 1 làm chuẩn, lính của hai Tiểu đoàn 9 và 11 với vũ khí cầm tay ở vị thế sẵn sàng tác chiến cùng tiến lên. Và trước mắt họ một cảnh tượng kinh hoàng trải dài dưới ánh nắng, trên bãi cát im lặng. Dẫu lòng cứng cỏi, rạn rày, đã sống rất lâu trong dòng lửa đạn, cạnh cái chết, giữa những xác chết, nhưng người lính cũng không hề có ý tưởng tới, chịu đựng nối với cảnh tượng đang hiện ra trước mặt. Họ đang ở trên cây số 9, Nam thị xã Quảng Trị, vùng thôn Mai Đằng, xã Hải Lâm, quận Hải Lăng. Không thể dùng một chữ, một nhóm từ ngữ để diễn tả. Không thể nói nên lời, khóc, la thành tiếng. Họ chỉ có thể im lặng nghiến răng, bặm môi, dù răng vỡ, môi chảy máu tươi, tay luống cuống, mắt mờ nhạt, mũi phập phồng, hít thở khó khăn. Họ không có thể biết gì về thân thể đang mở ra, hứng chịu sự tàn khốc trước mặt.

Trời ơi! Hình như có tiếng than ngắn đau đớn này … Thanh âm mơ hồ dội ngược ở lồng ngực, sâu cổ họng, hay chỉ là ảo giác, về một ý niệm khi con người mất khả năng kiểm soát trước cảnh đau thương quá lớn. Họ không còn là người đang sống, vì sống là sống cùng với người sống, chia xẻ vui buồn, đau đớn lo âu với người sống. Nhưng nay, chung quanh, trước mặt chỉ còn một hiện tượng, một không khí – Sự Chết.

Phải, chỉ sự chết đang bao trùm vây cứng. Chỉ nỗi chết đang chập chùng phủ kín không gian. Và cho dù mới đây, ngày kia, tuần trước ngày giờ kinh khiếp này, họ trở về đây từ Kontum, Tây Nguyên, từ An Lộc, Bình Long, miền Đông Nam Bộ: Nơi chốn dày đặc những ngôi mộ vô danh, mộ tập thể. Nơi có những cách chết câm lặng, nuốt xuống đau thương … Người cha trầm tĩnh đi tìm từng bàn chân, cánh tay của năm đứa con và người vợ vừa bị tan thây vì quả đạn đại pháo, nhưng lại còn được một nấc chót – Nhưng dẫu sao bên cạnh người chết  kia vẫn có người sống – Người đang sống với thể xácvô tri, đi đứng chuyển dịch như thứ người cuồng điên bi thảm – Người điên buồn, điên lặng, điên câm nín, điên ở trong, điên chạy ngược. Ở An Lộc, người lính còn sống được với những con người cuối đáy đau thương ấy, nơi chốn anh và đồng đội đã góp phần xương, máu, mạng sống để giữ vững. Hơn thế nữa, An Lộc lại quá nhỏ, chỉ hơn một cây số vuông, nên cái chết cô đặc lại, ngập cứng vào người, nhanh, gọn như nhát dao ngọt, như đạn bắn thẳng. Chết đến chớp mắt, người chưa kịp chuẩn bị đón nhận, chưa kịp có phản ứng thì đã lún hẳn vào.

Cuối cùng, An Lộc phải cố gắng quên đi, dù rằng chỉ hơn tháng trước. Đèo Chu Pao, Tây Nguyên đành quên đi về cảnh chết (không còn người sống sót để chứng kiến) xảy ra giữa vùng núi rừng im lặng heo hút. Chu Pao, nơi nào, có ai biết. Nếu có chăng, chỉ người lính viết dòng thơ Lâm Hảo Dũng với:

Chu Pao ai oán hờn trong gió,

Một mảnh khăn tang, một tấc đường …

Trái lại, ở đây, thôn Giáp Hậu, Mai Đắng, Hải Lâm, quận Hải Lăng, Quảng Trị thì khác hắn. Khác hẳn với An Lộc. Cao hơn An Lộc một bậc. Trên hơn An Lộc một tầng. Tầng cao ngất thảm thiết. Dài hơn An Lộc một chặng. Dài hun hút thương tâm. Sự chết trên chín cây số đường này là chín cây số trời chết, đất chết. Chết trên mỗi hạt cát, chết trên đầu ngọn lá, chết vương vãi từng mảnh thịt, chết từng cụm xương sống, đốt xương sườn, chết lăn lóc đầu lâu, chết rã rời từng bàn tay cong cong đen đúa. Nhiều quá, chín cây số hay chín ngàn thước, mỗi thước trung bình hai bộ xương tung tóe. Vậy tất cả là bao nhiêu? Không làm phân biệt được tay này, chân kia, đầu lâu người nọ. Chiếc xe Công binh ủi một đường dài, những xác chết. Không, phải nói những bó xương bị dồn cùng áo quần, vật dụng, chạm vào nhau nghe lóc cóc, xào xạc, “đống rác” người ùn ùn chuyển dịch, một chất nhờn đen đen ươn ướt lấp lánh trên mặt nhựa – nhựa thịt người! Trời nắng, đồng trắng, con đường im lìm, động cơ chiếc xe ủi đất vang đều đều, hơi nắng bốc lên từng đường trên mặt nhựa, hơi nặng mùi. Vạn vật chết trong lòng ánh sáng. Ánh sáng có mùi người chết. Vượt qua cảnh chết. Giữa sự chết. Người lính xốc tới.

– Phải tiến thật nhanh nghe “râu”, tụi nó sửa soạn “pháo” cho mình kỹ lắm đó. Mê Linh, Tiểu đoàn Trưởng 11 Dù nói cùng Thành “râu”, Tiểu đoàn Phó. Chữ “pháo” Mễ nói rất nhỏ như không muốn nhắc tới như một điều cấm ky, do đã hứng chịu từ trận đồi “C”, Charlie (Kontum) suốt những ngày tháng 4 vừa qua và mới đây, khi vừa vào vùng Phong Điền đã nhận thêm sáu mảnh vụn …Hóa ra tao nặng hơn là vì trong người có thêm sắt! Mễ nói cùng người bạn phóng viên chiến trường đi theo đơn vị. Hai chỉ huy trưởng, phó của Tiểu đoàn thúc hai cánh quân đánh nhào vào trụ sở xã Hải Lâm, chiếm lấy mục tiêu trong chớp mắt. Đánh mấy mục tiêu này là đánh chơi thôi, mai, mốt, ôn, tui “đập tụi nó” trong Cổ thành mới đã! Mễ nói với Thành, giọng không một chút đùa cợt. Anh còn nguyên mối uất hận của lần thất trận oan nghiệt của hơn tháng trước. Hai người nói chuyện cùng nhau với những thổ ngữ riêng của quê hương mình. Họ đang “đánh giặc để giữ nhà”, chứ không phải là cuộc hành quân bình thường do nhiệm vụ của một người lính. Về cánh quân Tiểu đoàn 9, Bộ chỉ huy Tiểu đoàn cùng Trung đội súng cối xuống bãi đáp lung linh một màn hơi mờ đục … Ủa sao đã sáng rồi mà trời còn tối thế này và cái mùi chi mà hôi quá ta!? Trung sĩ Hùng mang máy truyền tin cho Trung tá Phú, Tiểu đoàn Trưởng loay hoay trên bãi cát, nhặt được một đôi giày khá tốt, anh khoái chí lẩm bẩm: “Trước khi đi hành quân thì nhà cháy, chỉ còn mấy mươi đồng trong túi và bộ áo quần trên người, bây giờ lượm được đôi giày cũng an ủi một phần … “.

Trước khi xỏ chân vào, Hùng lắc lắc chiếc giày, những mấu đất đá có mùi hôi từ chiếc giày rơi ra …Anh nôn khan … Mùi thịt người bị thiêu cháy dở rơi rớt đen đúa. Mặt trời lên cao, làn hơi đục có mùi gây gây tanh tưởi kia được hiểu ra: Hơi của những tàn lửa âm ỉ do những đám cháy ở ngày cuối tháng 4 vừa qua. Lửa đã bốc cháy do lửa đạn. Lửa được nuôi dưỡng bởi vật chất xăng, dầu, gỗ, thép, áo quần của đám người chạy loạn. Lửa thêm được gi  gìn bởi chất hữu cơ, thịt, xương, da, thân xác con người chảy nhão. Hùng nhìn quanh, thấy từ trong một thiết vận xa M113 hai ống chân mang giày lính lay động … Chẳng lẽ thằng cha này còn sống?! Hùng và vài người lính đi đến. Hóa ra chỉ là phần thân thể còn lại của một người, lũ chuột đang cấu xé trên phần chân thối rữa. Trời sáng hơn, nên cũng thấy rõ những chiếc sọ vữa nát nằm lềnh khênh. Không có cái nón sắt nào thì đây chắc là đầu của dân thôi, sao Việt cộng nó ác vậy hở trời! Lính Tiểu đoàn 9 ghìm xuống những phản ứng xa xót, họ biến mối đau thương nên thành nguồn lực mạnh mẽ …

“Năm Mậu Thân (1968) Tiểu đoàn mình có ở đây, hắn (Việt cộng) không làm gì được, nên bữa ni hắn trả thù dân đây mà, lần ni, bắt được thì đừng trách tui ác … “. Người lính phát âm giọng Quảng Trị, miền thôn quê vùng biển. Trong đơn vị nhảy dù, người miền Trung giữ tỷ lệ khá lớn, dân Quảng Trị, Thừa Thiên chiếm đa số, toàn là người tình nguyện, sĩ quan cùng binh sĩ.

Tiểu đoàn 9 tiến quân về hướng núi Tang Téo sát bờ Nam sông Thạch Hãn, mục tiêu cực Tây của đoàn quân tiến chiếm Quảng Trị. Tướng Ngô Quang Trưởng rất tinh tế và chính xác để đẩy đơn vị này sâu về hướng Tây: Nếu không ngăn giữ cạnh sườn (Đông Trường Sơn), hướng tiếp vận chính của Bắc quân, thì cuộc hành quân giải tỏa Quảng Trị sẽ không bao giờ được thành tựu. Bởi kế sách hàng đầu của quy luật tác chiến (chung nhất cho cả Đông, Tây; kim, cổ) là triệt lương và đả viện – vạn bất đắc dĩ mới tấn công trực diện – khi không còn kế hoạch tấn công nào khác. Chúng ta lưu ý: Trung Tướng Ngô Quang Trưởng chỉ tiến đánh Cổ thành khi đã chuẩn bị và thực hiện đủ về các giai đoạn triệt lương và tăng viện. Lính Tiểu đoàn 9 còn có thêm lòng tự tin với địa danh Quảng Trị nầy: Năm Mậu Thân, 1968 chính họ cùng những đơn vị địa phương đã giữ yên thị xã sau một ngày một đêm huyết chiến ở khu Công giáo Tri Bưu và thôn Hạnh Hoa, ngõ vào thành phố ở  hướng Nam. Đêm đóng quân đầu tiên, lính Bắc không đợi cho phía Tiểu đoàn 9 chuẩn bị thế trận, sau cơn mưa lũ trận địa pháo do những dàn pháo 130 ly (Pháo tầm bắn xa 27 cây số của Bắc quân) từ vùng Nam sông Bến Hải dội xuống, ba xe tăng cùng bộ binh tùng thiết bắt đầu tấn công vào vị trí dã chiến của hai Đại đội 91 và 94. Hai Đại đội giữ vững vị trí qua một đêm chịu pháo và những đợt tấn công liên tục do nhiều đơn vị thay nhau nối tiếp. Trời sáng, lính Tiểu đoàn 9 ra nhô mình lên khỏi hố chiến đấu, nhìn xuống triền đồi sỏi đỏ nằm la liệt những xác chết mặc áo quần màu xanh lá cây.

– Mày xem tụi nó ê càng chưa? Hai Đại đội trưởng 91 và 94 hỏi nhau.

– Tao đoán đây là tụi 320B hoặc 304, nó đánh mình nhiều đợt cả đêm chắc phải hơn Tiểu đoàn, mà không phải chỉ một Tiểu đoàn, có thể nhiều hơn nữa.

– Nếu nó dùng Tiểu đoàn đánh mình mà chết như thế này thì tại sao mình không ra lục soát, truy kích!

Lính hai Đại đội cùng bung ra khỏi hố, họ đếm được 70 xác chết và ba chiếc tăng bị bắn cháy. Nó chết ở đây 70 xác tức là cấp Tiểu đoàn đã đánh mình, phải là Tiểu đoàn nó mới có ba chiếc tăng đi theo! Những người sĩ quan chỉ huy cấp đại đội, trung đội kia đã ước tính đúng đơn vị địch tham chiến, tuy nhiên họ không biết được quan niệm điều quân của viên tướng cộng sản chỉ huy chiến dịch: “Cứ hai phút một, trên địa cầu có ba trăm ngàn người chết. Vậy bốn mươi lăm ngàn người chết trong một trận đánh có nghĩa là lý gì!” Lời tuyên bố đẫm máu này của Võ Nguyên Giáp được kẻ phỏng vấn ngợi khen: “Đấy là lý thuyết Karl Marx có tính khắc kỷ của Hà Nội.” Cách tung, hứng của tên sát nhân và kẻ tán dương việc giết người.

Tuy không biết được những tính toán tàn nhẫn này, nhưng những viên sĩ quan nơi chiến địa kia có đủ kinh nghiệm để chuẩn bị cho cuộc thư hùng kế tiếp, dẫu họ chỉ là những viên sĩ quan cấp úy quá trẻ so với ác độc của chiến tranh, như viên Thiếu úy Thắng, vừa qua hai mươi tuổi, quyền Đại đội Trưởng Đại đội 93, bởi viên Đại úy Đại đội Trưởng đã bị thương trận từ tuần trước. Đêm thứ hai, rút kinh nghiệm lần thất trận, Bắc quân đánh phục hận với một lực lượng xe tăng đông gấp bội. Lần tấn công thứ hai này cũng không có kết quả khá hơn. Sáng hôm sau, Tiểu đoàn kiểm chứng số tăng bị bắn cháy, Trung Tá Trần Hữu Phú, Tiểu đoàn Trưởng 9 Dù báo cáo: “Vậy là chỉ trong vòng 48 giờ, Tiểu đoàn tôi bắn cháy 18 chiếc tăng cả thảy. Phải bảo cáo đến lần thứ ba, viên sĩ quan trực phòng hành quân sư đoàn mới tin là thật. Nơi Bộ Tư lệnh Tiền phương Sư đoàn Dù các sĩ quan kháo chuyện cùng nhau có lời tán dương: “Nó (Tiểu đoàn 9) đánh thế này thì vi-xi còn đâu tăng nữa để cho đơn vị khác bằn cháy!”.

Thành quả chiến trận không chỉ tác động nơi những chiến địa khốc liệt, bên kia trời Tây xa, hội nghị Paris bắt đầu có dấu hiệu phía Bắc Việt cần nói chuyện nghiêm chỉnh. Lẽ tất nhiên, những người lính ở chiến trường không hề biết về điều bí ẩn này với những con người gọi là “nhà chính trị”. Cả phe cộng sản lẫn người Mỹ. Họ chỉ có những ngày nằm im dưới nắng, ẩn mình sau bóng lá nơi thông thủy (khe nước chảy giữa hai cao độ), đợi đến đêm bò lên đồi đóng quân, và chịu pháo. Nhưng họ đã bị cáo buộc là “kéo dài chiến tranh để duy trì một chế độ quân phiệt đặc quyền, đặc lợi”. Lời cáo buộc có tham dự của tất cả “những người yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới”: Những văn, thi sĩ, băng đảng của đoàn bè lũ bọn trẻ chỉ muốn làm tình chứ không chịu đi lính, trí thức có học vị cao, giáo sư triết học, đám sinh viên trốn quân dịch, chính khách cấp tiến phái tả, lãnh tụ tôn giáo, ca sĩ, đào hát, nữ tài tử điện ảnh đóng phim cởi truồng …Lẽ tất nhiên không thể thiếu những người lập nên giải thưởng gọi là “Nobel Hòa Bình” và kẻ nhận giải. Sau lưng hai Tiểu đoàn 9 và 11, Tiểu đoàn 7 Dù do Khôi Nguyên và Lôi Hổ (Khôi Nguyên: Thiếu Tá Trần Đăng Khôi, Tiểu đoàn Trưởng; Lôi Hổ: Thiếu Tá Nguyễn Lô, Tiểu đoàn Phó) chỉ huy trong đêm 28 rạng 29 đã vượt sông Mỹ Chánh với đội hình từng người một bò qua chiếc cầu đã bị giật sập từ tháng trước. Tiểu đoàn này có nhiệm vụ qua sông trước để làm an ninh bãi đáp cho hai Tiểu đoàn bạn đổ bộ trực thăng vào ngày 29 (vừa trình bày phần trên); và khi hai Tiểu đoàn 9, 11 đã thanh toán xong các mục tiêu chỉ định, Tiểu đoàn 7 vượt qua mặt hai đơn vị này với nhiệm vu: Tiến tới Cổ thành trong thời hạn ngắn nhất.

Sở dĩ đơn vị này được giao trách nhiệm vinh dự kiêu hãnh này vì những người chỉ huy mặt trận, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng; Trung Tướng Dư Quốc Đống, Tư lệnh Sư đoàn Dù; Đại Tá Lê Quang Lưỡng, Phụ Tá Hành Quân; Lữ đoàn Trưởng Lữ đoàn 2, Đại Tá Trần Quốc Lịch đồng thuận một quan niệm: Đánh vào Cổ thành thì phải có tay “ông ấy”: Ông ấy là Nguyễn Lô, người “không cao quá chai bia lớn”, theo diễn tả hài hước của bằng hữu trong và ngoài quân đội, nhưng là tay kiệt liệt nhất trong hàng ngũ sĩ quan tác chiến của nhảy dù hay cũng của toàn quân. Những ca ngợi kính phục của chiến hữu không phải tự nhiên nên có nhưng đã được dẫn chứng từ ngày ra trường năm 1963 với đơn vị hàng đầu của quân đội, Tiếu đoàn 1 Nhảy Dù. Và tại chiến trường Trị Thiên này, ngay đêm mồng 1 rạng mồng 2 Tết Mậu Thân, 1968 một mình Lô xung trận vào cửa An Hòa, cửa Chánh Tây của Thành Nội Huế làm đầu cầu để lực lượng Dù vào Mang Cá tăng viện cho Tướng Trưởng (phần thứ Hai của bài viết về Mậu Thân). Và mới đây, tháng 4, 1972 chỉ mình Lô – phải, chỉ một mình Lô với Tiểu Đoàn 7 “trừ” (tức chỉ với ba đại đội tác chiến) đã nhổ bật chốt Chu Pao, Tây Nguyên, điểm chết trên Quốc lộ 14, giữa Kontum và Pleiku. Bộ Tư lệnh Quân đoàn, giải quyết được mặt trận Vùng 2 hay không từ điểm tắt thở ngặt nghèo này. Lần này cũng thế, mọi người tin chắc Lô sẽ đến Cổ thành trước nhất. Lô phải chiếm lại Cồ thành Đinh Công Tráng. Có một điều không nói đến nhưng ai cũng nhận thấy, Lô là người Quảng Trị. Lôi Hổ phải trở lại nhà xưa.

– Sông Lô lấy bản đồ ra, moa chỉ mục tiêu phải đánh trước khi vào cái chỗ tụi khốn nạn đang đóng chốt (Cổ thành) cả hai tháng nay. Khôi Nguyên bảo Lô trước khi anh chàng dẫn Đại đội 74 làm thành phần xung kích mở đường vào khu phía Đông – Nam thị xã.

– Khỏi cần, tui đi thẳng một mạch là tới thôi, xóm đó nhà tui mà Khôi Nguyên. Nhưng mà sao tui chỉ có “thằng 74″?

– Thì toa đi với đại đội cũ của toa, moa đi với “thằng 74” của moa.

Hóa ra Thiếu Tá Trần Đăng Khôi, Tiểu đoàn Trưởng đã có kế hoạch, hai Tiểu đoàn Trưởng, Phó, chỉ huy trực tiếp hai Đại đội cũ của mình (lúc Khôi và Lô mang cấp bậc Trung, Đại úy và chỉ huy những Đại đội kia) để đánh vào những vị trí mà đơn vị phải chiếm lại nếu muốn tiến đến mục tiêu tối hậu Cổ thành. Cần nói rõ về một yếu tố, trong trận đánh lớn nhất thời chiến tranh Đông Dương lần thứ Nhất, trận Điện Biên Phủ, năm 1954, lực lượng nhảy dù quân đoàn viễn chinh Pháp sử dụng đơn vị căn bản là Đại đội làm thành phần xung kích tác chiến, thế nên cấp Tiểu đoàn Trưởng, Phó, Sĩ quan tham mưu Tiểu đoàn có được phần an toàn ở những Bộ chỉ huy hành quân, nên sau chiến dịch, dẫu lực lượng nhảy dù Pháp bị tổn thất nặng, nhưng thành phần chỉ huy đơn vị được bảo toàn.

Và khởi đầu cuộc chiến hôm nay, suốt những năm đầu thập niên 60, mô thức tác chiến kia vẫn còn được duy trì, nhưng kể từ sau khi chiến trường trở nên năng độ với trận địa chiến bắt đầu (1965), thì lần ranh an toàn của sĩ quan chỉ huy cấp Tiểu đoàn đã không còn nữa. Cũng với Tiểu đoàn 7 Dù này, chỉ riêng trận Đồng Xoài (tháng 6, 1965) đơn vị đã thiệt 14 sĩ quan từ Tiểu đoàn Trưởng đến Trung đội Trưởng.

Trận chiến Mậu Thân 1968, Hạ Lào 1971, và nay, 1972 vào trường hợp nguy kịch, Tiểu đoàn Trưởng, Phó chỉ là những khinh binh đi sau một Tiểu đội, bán Tiểu đội, họ chính là những khinh binh dẫn đầu đơn vị. Trường hợp Tiểu đoàn 6 ở mặt trận An Lộc; hay 7, và Tiểu đoàn 11 Dù ở Tây Nguyên ngày khởi đầu chiến cuộc năm nay đã là những điển hình rất mới. Hai đại đội được hai Tiểu đoàn Trưởng, Phó chỉ huy trực tiếp áp dụng cá nhân chiến đấu đánh từng hầm hố và Lô trở lại chức vụ Đại đội Trưởng thực thụ khi Trung úy Phi, Đại đội Trưởng bị thương khi đánh chiếm ngã Ba Long Hưng, nơi giao điểm của Quốc lộ 1 và đường Lê Huấn, cửa ngõ phía Nam của Quảng Trị. Quân nhảy dù và lính Bắc rơi vào một tình trạng tưởng không thể có: Những toán chốt của phía cộng sản (do không rút đi được) và tiền đồn nhảy dù xen lẫn vào nhau, nên thường vụ Tiểu đoàn Dù ban đêm khi đánh thức binh sĩ dậy thay phiên gác đã chạm phải thương binh cộng sản.

Tiểu đoàn men theo thung lũng tử thần (lối tiến quân giữa những cao ốc) được bố trí bởi B40 (súng phóng lựu) và đại liên chi chít cốt đánh dần phía Cửa Tả, lối đi về làng Công giáo Trí Bưu ở phía đông. Nhưng kể đến ngày 7 tháng 7, những người lính Tiểu đoàn 7 dẫu bằng thép đúc cũng không qua khỏi cánh đồng Mai Lĩnh để chiếm khu trường học Nguyễn Hoàng, cách vòng hào Cổ thành con đường Lê Văn Duyệt.

Tuy Tướng Trưởng đã ủy nhiệm Bộ Tư lệnh Sư đoàn Dù toàn quyền trong khu vực trách nhiệm, nhưng liên tiếp những ngày đầu tháng 7, Sư đoàn dẫu chịu thiệt hại nặng nề từ cấp Tiểu đoàn Trưởng, Tiểu đoàn Phó, và một loạt Đại đội Trưởng, Trung đội Trưởng của hầu hết các Tiểu đoàn thuộc mũi nhọn tiến công Cổ thành, điểm cao nhất của nhảy dù vẫn không đi quá ngã Ba Long Hưng với Tiểu đoàn 7. Cuối cùng, Tướng Trưởng quyết định tăng cường cho Sư đoàn Dù đơn vị chuyên đánh đêm: Liên đội xung kích thuộc Liên đoàn 81 Biệt Cách do “Hổ Xám”, Thiếu Tá Phạm Châu Tài chỉ huy để tìm cách bứng chốt Cổ thành, sau khi Đại đội 2 Trinh Sát của Lữ đoàn 2 Dù cũng đã cố công nương theo đường của Tiểu đoàn 7 để xâm nhập vào. Nhưng hai đơn vị biệt kích, trinh sát này vẫn không lập được cứ điểm kháng cự trong lòng địch một cách có hiệu quả.

Một tháng đã qua kể từ ngày khai diễn giai đoạn 2 của chiến dịch, Cổ thành Đinh Công Tráng vẫn là điểm lửa mà đôi bên thay phiên nhau giành giựt nhưng không có kết thúc rõ rệt. Ngày 25 tháng 7, Sư đoàn Dù thay quân, cho cho các mũi 7, 11 Dù lui binh, chuyển hướng chiến đấu ra vùng cận sơn phía Đông, nhường hướng tấn công lại cho hai Tiểu đoàn 5 và 6 Dù. Trước khi theo dõi tiếp phản công của 5 và 6 Dù, chúng ta trở lại đoạn cuối của Nguyễn Lô với Tiểu đoàn 7. Sau gần một tháng chịu ép mình dưới đám đất đá ngồn ngang của Quảng Trị, trưa 25 sau khi bàn giao cho quân bạn, Lô đưa hai Đại đội ra vùng phía Tây thị xã, trong phạm vi Vương Cung Thánh Đường La Vang, nơi linh thiêng của lòng dân nên Bắc quân lợi dụng đặt một hệ thống phòng không cố ý triệt hạ những máy bay vào vùng yểm trợ cho mặt trận Cổ thành. Không được dùng phi pháo để phá chốt phòng không này, nên Lô chỉ còn cậy vào những khẩu 90 ly của chiến xa M48 để phá mục tiêu. Giằng co từ trưa qua chiều, cuối cùng, Lô bảo viên sĩ quan chỉ huy chiến xa mở pháo tháp, anh đứng lên với hai hỏa tiễn M72 đã rút hết chốt an toàn. Các ông cứ chạy vào hết ga, đợi đến gần, tôi bắn bay cái chốt của tụi nó thì các ông xô sập tường mà tràn lên … Ba chiếc chiến xa dàn hàng ngang chạy băng trên triền đồi sỏi đỏ, những người lính lúp xúp chạy theo … Vào … vào … Lô giương cao hai khẩu M72 để thúc giục … Xung phong … xung phong … Lô chuyển lời gào quyết liệt, những khẩu đại liên trên chiến xa đồng loạt khai hỏa, Lô thấy nháng lửa từ một vị trí địch, anh bắn khẩu M72 đầu tiên, chiến xa bị một gò đất cao chận bớt tốc độ, Lô loay hoay cây hỏa tiễn thứ hai … Nhưng không kịp nữa, một trái B40 nổ tung tấm bửng đầu xe M48 … Người Lô bay lên cùng với đất bụi và khói đen. Hai Tiểu đoàn 5 và 6 sở dĩ được sử dụng vào giai đoạn cuối cùng bởi Tiểu đoàn 5 vốn là đơn vị cũ của Tướng Trưởng, hiện tại lại do sĩ quan cấp Tiểu đoàn Trưởng thâm niên nhất của Sư đoàn, Trung Tá Nguyễn Chí Hiếu, nguyên cựu sinh viên sĩ quan Khóa 14 Đà Lạt, khóa “được huấn luyện kỹ nhất” của trường kề từ khi đổi thành phiên hiệu Võ Bị Quốc Gia; Tiểu đoàn Phó của 5 Dù là Thiếu Tá Bùi Quyền, thủ khoa Khóa 16. Tiểu đoàn 6 do Trung Tá Đỉnh, Khóa 15 chỉ huy vừa lập kỳ tích giải tỏa mặt trận An Lộc ngày 8 tháng 6 vừa qua. Quân lực không thể nào có được một dàn sĩ quan cấp Tiểu đoàn vững vàng như thế, bao gồm những quân đội của những nước tân tiến, hiện đại nhất. Khẩu lệnh từ Tướng Ngô Quang Trưởng, đến Tướng Dư Quốc Đống chuyển đến Đại Tá Trần Quốc Lịch, Lữ đoàn Trưởng 2 Dù: Chỉ có hai ngày để thanh toán mục tiêu hoặc bàn giao cho đơn vị bạn, Sư đoàn Thủy quân Lục chiến. Từ quận Hải Lăng, Trung Tá Đỉnh thúc Đại đội 61 dẫn đầu, dọc theo Quốc lộ 1 (đoạn trong thị xã mang tên Lê Huấn, Sư đoàn 1 Bộ binh chết trận Hạ Lào 1971), đến bàn giao tại chốt ngã Tư Quang Trung – Duy Tân với Đại đội 114 (TĐ11), nhận tiêu lệnh với Đại đội 2 Trinh Sát, xong hỏi xem trong Đại đội nào tinh nguyện đi “dọn nhà” dọc đường Quang Trung, con đường chạy đến cửa Hữu của Cổ thành.

– Trung tá cho tôi đi. Trung úy Tạo, Đại đội Trưởng 61 tình nguyện ngay câu hỏi lần nhất. Đỉnh hiểu ý của Tạo. Tạo nguyên là sĩ quan của Tiểu đoàn từ những năm đầu 60, nhưng sau do máu “thảo khấu” của tuổi trẻ, Tạo bị ra khỏi binh chủng và đi một đơn vị Bộ binh ở Mỹ Tho. Đến đây, Tạo vẫn không chừa, tiếp tục “quậy” và bị nhốt vào quân lao vì tội vi phạm kỷ luật. Nay, năm 1972, Tạo trở lại đơn vị cũ với cấp bậc trung úy mang gần 10 năm. Và tại chiến trường này, Tạo muốn phục hồi danh dự sau năm tháng quân lao.

Nhưng quả thật như một định mệnh khốc liệt, Tạo và hai Trung đội Trưởng Mạnh, Trị cùng chết ngay trong đợt xung phong đầu tiên từ góc đường Quang Trung – Phan Đình Phùng khi cố từ đây đánh vào góc Đông – Nam Cổ thành. Đỉnh và Tùng, Tiểu đoàn Phó tung các đứa con ra tràn ngập vị trí để tránh pháo và đánh phục hận … Không lẽ mình clear được chốt Xa-Cam mở đường vào An Lộc mà không móc tụi ở đây ra được hay sao? Tiểu đoàn 6 xua hết chi đoàn chiến xa M48 lên vị trí tấn công. Bức tường đen mốc lầm lì hiện trước mặt. Về phía Tiểu đoàn 5, sau khi bàn giao với 7 Dù xong, tiếp bám được Liên đội Biệt Cách ở khu Công giáo Tri Bưu để từ đây dựa thế đánh vào mặt Tây – Nam Cổ thành, ngược theo hướng hai con đường Lê Văn Duyệt, Duy Tân. Sáu giờ sáng ngày 2 tháng 7, Chí, sĩ quan Hành quân của Tiểu đoàn chậm rãi như bản tính của anh nói cùng Trọng Nhi (người bạn đồng Khóa 20 Đà Lạt), sĩ quan Hành quân Lữ đoàn 2:

– Tao xong rồi, bây giờ mày cho tao đi.

– Chút nữa thôi, trời còn mờ sáng, chưa đủ nắng làm sao thấy đường được. Tao có đủ cho mày rồi, nhưng phải chờ nắng lên cái đã.

Tối hôm trước trời mưa lất phất, sáng nay, trời trĩu nặng khác thường, bức tường đen hóa nên ìm lìm ủ dột hơn. Thiếu Tá Bùi Quyền Tiểu đoàn Phó ngồi trầm ngâm với cái píp. Nhưng sau bề ngoài lặng lẽ ấy, anh đang “đo” bề dày của bức tường, lầu nước, tháp canh bộ chỉ huy tiểu khu mà bây giờ địch đã biến thành những mục tiêu bất khả xâm phạm sau hai tháng cố thủ và quyết tử để giữ, không được phép chạy trở lui.

… Một rồi. Chí báo cáo về Lữ đoàn khi phi tuần khu trục A37 Việt Nam chúi xuống. Quả bom tưởng như đang rơi vào mặt. Mà quả thật là sát mặt vì bom đánh theo hướng Đông – Tây tức là thẳng góc với trục bố quân dọc đường Quang Trung. Quyền cất ống píp vào túi, anh đứng dậy, nói câu ngắn với Chí:

Đánh thế mới tốt, cậu báo về Lữ đoàn cứ tiếp tục. Khi Chí đếm đến số bảy thì Quyền bắt đầu xua quân vào chân thành. Hai Đại đội 51, 54 bám vào bờ thành chập choạng bò lên qua những đống gạch vụn. Quyền chuyển lệnh cho hai Đại đội Trưởng …Bám mà lên từng đứa một, lên được là nằm ngay xuống, đứng là chết, bám được chỗ nào nằm im chỗ ấy, giữ chỗ cho đứa sau. Đúng 10 giờ 15 sáng ngày 25, Cổ thành Đinh Công Tráng in dấu chân người lính miền Nam sau hơn hai tháng bị Bắc quân tạm chiếm. Chí báo ngay cho Lữ đoàn: “Báo cho Trọng Nhi hay là Tố Quyên (danh hiệu truyền tin của Thiếu Tá Quyền) Đại đội của Trương Đăng Sĩ mớn được bờ thành rồi”. Lần đầu tiên Chí nhanh nhẹn trong lời nói nên được bạn khen: Tao biết mày từ hồi vào trường đến giờ mới thấy mày nói lẹ lẹ hơn một chút. Về phần Tiểu đoàn 6, vì dàn sĩ quan chỉ huy Đại đội 61 đồng bị tử thương nên Tiểu đoàn Phó Tùng đích thân chỉ huy trực tiếp Đại đội này cùng Đại đội 64 phát xuất từ những công sự góc đường Duy Tân và con hẻm nhỏ sau đường Quang Trung để tấn công vào mặt Tây – Nam (cửa Hữu) của Cổ thành. Phía Bắc quân có một tên bắn sẻ thiện nghệ, có thể y đã dùng súng CKC (súng trường có ông nhắm, bắn từng phát một) theo dõi những người chỉ huy của phía Tiểu đoàn 6. Những sĩ quan chỉ huy Đại đội 61 có thể đã chết vì tay y. Nay đến lượt Tùng, hắn ta nhắm suốt buổi và đến trưa thì hạ được người chỉ huy thứ hai của đơn vị. Tiểu đoàn Trưởng Đỉnh nghe tin Tiểu đoàn bạn đã mớn được góc Cổ thành Đông – Nam, thêm tin Tiểu đoàn Phó Tùng tử trận, Đỉnh xin Bộ Chỉ huy Lữ đoàn 2 một Đại đội Tiểu đoàn 11 Dù lên trám chỗ Đại đội 62, xong điều động toàn bộ lực lượng Tiểu đoàn cùng chi đoàn chiến xa M48 tăng phái lên đầu tuyến. “Các ông đục hộ cho tôi cái lỗ thì mấy đứa con tôi mới vào được, vì bom ưu tiên đánh cho phía bên Tiểu đoàn 5″. Nhưng có được không quân yểm trợ chưa hẳn là điều thuận lợi hoàn toàn. Sau đợt không tập của không quân Việt Nam, đến lượt phi cơ Mỹ vào vùng, nhưng bởi trái bom ném ra quá chính xác rơi ngay trên bờ thành, oan nghiệt thay chôn lấp cùng lần khoảng 40 binh sĩ Đại đội 51 do Đại úy Trương Đăng Sĩ chỉ huy. Anh la lớn đau đớn … Chết con cái tôi hết rồi! khi thấy quả bom rơi xuống ngay trên vị trí bố phòng của đại đội! Bộ Chỉ huy Lữ đoàn 2, Sư đoàn Dù đồng lặng xuống. Trung Tướng Ngô Quang Trưởng đứng phắt dậy như chạm phải khối thuốc nố tự trong thân. Ông ngồi xuống lại, im lặng, mắt nhìn lên bản đồ chỗ có chấm đỏ tròn: Cổ thành Đinh Công Tráng. Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù, Đại đội 51, đơn vị đầu đời lúc ông vừa qua hai mươi tuổi. Tiểu đoàn 5 mất đà lui lại về sau, hướng ngã Ba Long Hưng, Tiểu đoàn 6 không vào được góc thành Tây – Nam, hạn kỳ 27 tháng 7 đã tới. Đúng một tháng cho chiến dịch Lôi Phong giai đoạn 2. Trung Tướng Ngô Quang Trưởng và ban tham mưu hiểu ra điều thiếu sót: Mặt Tây, hướng Trường Sơn chưa kiểm soát đủ, nên đường tiếp vận của Bắc quân vẫn được duy trì qua vùng động Ông Đô, dãy căn cứ chiến thuật qua các căn cứ Anne, Barbara, Suzie, vùng núi Tích Tường, Như Lệ vào mặt trận Cổ thành, điển hình với Binh Trạm 18 được thiết trí quy mô cho mặt trận Nam sông Thạch Hãn.

Hơn thế nữa, dàn hải pháo của Hạm đội 7 chỉ ưu tiên yểm trợ cho phần phía Đông Quốc lộ 1 qua hệ thống Cố vấn Mỹ của Sư đoàn Thủy quân Lục chiến. Lôi Phong bước vào giai đoạn quyết định: Sư đoàn Nhảy Dù chuyển hướng tấn công về Trường Sơn. Sư đoàn Thủy quân Lục chiến trách nhiệm luôn Đông – Tây Quốc lộ 1 – có nghĩa toàn bộ khu vực thị xã Quảng Trị, Cổ thành Đinh Công Tráng. Một trang sử máu của Quân lực Việt Nam Cộng hòa được tiếp tục. Cuộc chiến đấu của dân, quân miền Nam tiếp tục như hẳng có. Cuộc chiến đấu chỉ có một lần vào Mùa Hè Lẫm Liệt 1972.

Sau 27 tháng 7, Thủy quân Lục chiến thay thế Nhảy Dù để “dứt điểm” Cổ thành Quảng Trị. Thật ra, kể từ 25 tháng 7, Tiểu đoàn 5 Dù đã bám được bức tường đá Cổ thành Quảng Trị với yểm trợ tiếp cận của phi cơ A37 Không quân Việt Nam, nhưng khi Đại úy Nguyễn Tấn Sĩ, Đại đội Trưởng 51 của Tiểu đoàn này thúc lính bò lên thành thì cũng là lúc Không quân Hoa Kỳ can thiệp, dội bom nội thành. Do những lý do kỹ thuật, hai trái bom đã đánh nhầm vào đội hình quân bạn, Tiểu đoàn 5 mất đà, khựng lại và dội ngược. Sư đoàn Dù lại để trống ngã Bến Chùa, đường qua sông Thạch Hãn về Nhan Biểu, Ái Tử: Đường tiếp vận quan yếu của hệ thống hậu cần Bắc quân. Chín Tiểu đoàn Dù hiện có chỉ vừa đủ trải dài từ Mỹ Chánh đến Quảng Trị, từ đường chiến thuật 556B  a đến Quốc lộ 1; thế nên, cần phải có thêm một Lữ đoàn (với ba, hoặc bốn Tiểu đoàn Bộ binh tác chiến) tăng cường để chận con đường Ái Tử – Nhan Biểu – Cổ Thành là ước vọng tha thiết của Bộ Tư lệnh Sư đoàn Dù hay cũng chính của Tướng Trưởng. Gần hai tháng qua đi kể từ ngày khởi cuộc phản công, tất cả các đơn vị tham chiến bị ngừng lại bên bờ hào của vòng thành đá tảng, tuyến chiến đấu của ta và địch cách nhau đúng 400 thước (hai tầm đạn súng cá nhân), nhưng cũng có nơi không còn thước nào cả, bởi các chốt kháng cự đan kín vào nhau, nên nay đã đến lúc cần phải thay đổi kế hoạch tác chiến để thực hiện lời nguyền trước Quốc dân và lịch sử. Tư lệnh chiến trường, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng quyết định cùng hai viên Tư lệnh Nhảy Dù và Thủy quân Lục chiến – Hai tướng lãnh vừa được vinh thăng tại mặt trận, trên chiến địa Trị – Thiên này

– Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng và Bùi Thế Lân một kế hoạch tái phối trí:

– Sư đoàn Thủy quân Lục chiến nhận trách nhiệm phần đất bên trái Quốc lộ 1 chạy dài ra đến biển.

– Sư đoàn Dù từ trái Quốc lộ đổ sâu vào hướng núi.

– Tiểu đoàn 6 Thủy quân Lục chiến thay chỗ 6 Dù chịu trách nhiệm góc Tây – Nam Cổ thành, ngã Tư đường Trần Hưng Đạo – Quang Trung.

– 3 Thủy quân Lục chiến đổi 5 Dù chịu trách nhiệm phòng tuyến dọc đường Lê Văn Duyệt đối diện cửa Tiền.

– 9 Thủy quân Lục chiến đổi 11 Dù, Trâu Điên (2 Thủy quân Lục chiến), Quái Điểu (1 Thủy quân Lục chiến) chận đường cửa Bắc ngang sông Thạch Hãn, cũng là đường tiếp vận cho lực lượng cộng sản cố thủ Cổ thành. Những dòng chữ sau đây viết theo câu chuyện Người Lính Thủy Đánh Bộ kể lại (22) – Chúng ta hãy sống cùng những giờ phút dũng liệt với xương máu của mỗi một người lính – Những Người Lính Vô Danh mà linh thiêng sông núi đã hun đúc nên thành, gánh chịu suốt cuộc chiến điêu linh. Đại Tá Ngô Văn Định, Lữ đoàn Trưởng Lữ đoàn 369 Thủy quân Lục chiến, vị Lữ đoàn Trưởng thâm niên nhất của Sư đoàn nhận nhiệm vụ chỉ huy đơn vị xung kích tái chiếm Cổ thành Quảng Trị từ hướng Tây – Nam. Lữ đoàn 147 chịu trách nhiệm mặt phía Đông từ quận Triệu Phong ra đến biển. Sư đoàn Thủy quân Lục chiến kể từ ngày thay thế nhảy dù tuy đã chiến đấu không hề ngưng nghỉ nhưng cũng chỉ đẩy các chốt địch từ ngoài vào trong Cổ thành và điểm gần nhất cũng còn cách bờ hào thành khoảng hai trăm thước. Không thể chần chờ hơn nữa, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 dưới điều hành trực tiếp của Tướng Trưởng soạn thảo Kế hoạch Lôi Phong giai đoạn 2 sử dụng tối đa hỏa lực phi, pháo trong 48 giờ liên tiếp theo diễn tiến: Không quân chiến lược B52 liên tục trải thảm từ sông Thạch Hãn (Bắc Cổ thành) đến Đông Hà (Bắc Quảng Trị 50 cây số), có nhiệm vụ đập nát tất cả vị trí pháo binh, hỏa tiễn, Bộ chỉ huy, điểm tiếp vận; tiếp đến hải pháo từ Hạm đội 7 bắn vào các điểm nghi ngờ liên tục trong suốt chiến dịch vào những lúc phi cơ tạm rời vùng; pháo binh diện địa 175 ly từ Phong Điền tăng cường quấy rối, đặc biệt chiếu cố thật kỹ vị trí toạ độ Cổ thành. 12 khẩu đại bác 155 ly, 54 khẩu 105 ly cơ hữu của Sư đoàn Thủy quân Lục chiến được lệnh tác xạ không ngừng một phút, pháo thủ chỉ thay nhau ngủ vài giờ nửa đêm, từng khẩu pháo được điều chỉnh để không một trái đạn rớt ra ngoài bờ thành.

Đạn bắn không cần đếm, hàng trăm xe vận tải hạng nặng chở đạn đi suốt ngày đêm trên lộ trình Đà Nẵng – Quảng Trị, đạn giở xuống để ngay trên Quốc lộ 1 dài hàng cây số, lính pháo binh cứ tự động đến lấy mang đến vị trí pháo khỏi phải làm phiếu lãnh. Có người đã ôm viên đạn trong tay nhưng kiệt sức, không nạp nổi vào nòng, anh ta ngã gục bên khẩu pháo. Trong vòng 48 giờ, đã có 60.000 ngàn quả đạn bắn đi, không một phân đất nào của khu vực chung quanh Cổ thành, trong thị xã không có dấu đạn rơi. Về phần bốn bờ tường thành được dành cho Không quân chiến thuật Việt Nam và Mỹ từ Đà Nẵng, Chu Lai, Tuy Hòa, Hạm đội 7 đồng thực hiện. Các phi công phải lựa chiều đánh bom làm sao quả bom rơi đúng trên năm thước bề dày của chiếc thành, cốt triệt hạ khối đá vuông vức kia thấp xuống, càng thấp càng tốt; phải đập nát bốn lô cốt ở bốn góc, khoá họng những thượng, đại liên mà xạ thủ đã bị xích chân vào súng. Và cuối cùng cũng phải cầu viện đến “bom mắt thần”, những quả bom nặng 500 cân Anh, điều khiển bằng ra-đa để đánh xuống những đoạn thành quá kiên cố mà pháo và bom thường không triệt hạ được. Nhưng cái tường thành ngạo nghễ kiên cố kia dầu chỉ còn thấp khoảng vài ba thước, gạch đá ngồn ngang vẫn còn những đám con cháu “bác Hồ” chui rúc trong những căn hầm chữ A, loại hầm cứng chắc có khả năng chịu được phi pháo – chỉ trừ khi bom rơi ngay vào miệng hầm. Thế nên, cứ dứt pháo thì địch lại nhô đầu ra bắn điên cuồng về phía trước mặt, hiệp cùng cối pháo hỏa tiễn bên kia bờ Thạch Hãn, trong núi, Nam sông Bến Hải dội xuống dồn dập. Không để bị bó buộc vì tình thế, Bộ Tư lệnh Sư đoàn Thủy quân Lục chiến lại thêm một lần thay đổi ý định điều quân: Lữ đoàn 369 bàn giao vị trí cho bạn, lui binh làm thành phần trừ bị, cái “bánh chưng” gọi là Cổ thành kia được cắt ra làm hai: Nửa phía Đông giao cho Lữ đoàn 147, sử dụng hai Tiểu đoàn 3 và 8 đánh từ hướng Đông qua và chính diện mặt Nam. Lữ đoàn 258 điều động “Trâu Điên” 2 Thủy quân Lục chiến đánh từ hướng Tây, “Ó Biển” 6 Thủy quân Lục chiến đánh chính diện cửa Hữu theo đường Quang Trung, vùng cư dân trước đây gọi là phường Thạch Hãn. Lực lượng tấn công dứt điểm sẵn sàng trên tuyến xung phong đợi Lôi Phong chấm dứt sau 48 giờ bão lửa. Tại hầm chỉ huy Tiếu đoàn 3 Thủy quân Lục chiến, Thiếu Tá Cảnh nói cùng Đại úy Thạch, Đại đội Trưởng Đại đội 3: “Anh Thạch, tôi biết anh mới lui về nghỉ có mấy ngày, nay giao cho anh nhiệm vụ này thì kỳ quá, nhưng Tiểu đoàn mình chỉ còn anh là Đại đội Trưởng cứng nhất, kế hoạch Lôi Phong 2 đã bắt đầu từ ngày hôm qua, đợi giờ chấm dứt, tối nay anh đem Đại đội lên trám tuyến cho “thằng 1″ (Đại đội 1), rồi tìm cách tiến sát vào chân thành kia trước khi trời sáng. Nếu không được thì lui về, để trời sáng tụi nó nhìn rõ là hỏng việc … “.

Đại úy Thạch về họp cùng với các Trung đội Trưởng để bàn định kế hoạch đột kích. Anh nói với những Trung đội Trưởng đang ngồi chen chúc trong chiếc hầm chìm bóng tối; những tròng mắt khô rốc mệt nhọc trừng trừng nhìn xuống tấm bản đồ đặt trên đất: “Đây, cái bờ thành này, làm thế nào Đại đội mình cũng phải leo lên cho được, điều tôi dặn kỹ là binh sĩ không được bắn vu vơ, đến sát bờ thành thì tung lựu đạn thật nhiều rồi leo lên, bám chặt vào đó. Đừng để tên nào leo xuống. Bám vào được thì mình mới có thể bung ra hai bên“.

Đến trước viên Thiếu úy cùng tên Thạch, anh nói riêng: “Ông với tôi cùng tên, “Thạch là đá”, đá thì phải cứng, tôi chọn ông đi tiên phong là thế. Hy vọng ông làm được việc”.

Đại đội 3 Tiểu đoàn 3 Thủy quân Lục chiến vượt tuyến tấn công lúc nửa đêm, ba giờ sáng, đoàn quân đến mục tiêu ấn định – bờ tường Cổ thành Quảng Trị, nơi cách hầm đóng quân hai trăm thước. Hai trăm thước khoảng cách được vượt qua bởi những người lính bò im lặng trong đêm trên gạch đá, mìn bẫy và dưới trùng điệp lưới lửa, đạn đại pháo của cả hai bên. Đột nhiên, một loạt đạn pháo binh nổ rền ngay đầu hướng tiến của Đại đội, Thạch (Đại đội Trưởng) giật mình cầm ống nói:

– Thạch Thảo (danh hiệu truyền tin của Thiếu úy Thạch) anh có làm sao không?

– Trình thẩm quyền vô sự.

Có tiếng nói lao xao bên đầu Trung đội của Thiếu úy Thạch (nghe qua máy truyền tin), tiếp tiếng la mừng rỡ của người Trung đội Trưởng:

– Trình đại bàng (người chỉ huy), thẳng Xuân của tôi đã qua hào vào sát bờ thành, pháo đang nổ trên đầu nó, thẩm quyền bảo ông “phở Bắc” (pháo binh) ngưng đi để tụi nó leo lên.

Báo cáo được nghe tiếp với những lời nói đứt khoảng dồn dập lẫn trong âm động đạn súng tay, lựu đạn, đại liên và pháo, cối từ phía Bắc bắn xuống yểm trợ đám bộ đội cộng sản … “Thằng Xuân đã lên đến bờ tường rồi … Chúng tôi đã sang … bên kia … bờ hào nước … Tụi nó … tụi nó bắn ghê quá … Lên … lên đi … “.

Không đợi nghe hết lời báo cáo, Đại úy Thạch đứng sỗng dậy hét to: Xung phong … xung phong!

Tất cả Đại đội vụt chạy nhanh qua chiếc hào thành đã cạn nước vì đất đá hai bên đổ xuống. Những người lính đồng thanh hòa theo lời hô của viên Đại đội Trưởng … Xung phong! Xung phong! Những thân người ngã xuống vật vã trên gạch đá tan vỡ, máu tươi rói bắn ra tia thấm đẫm bạt vào người bên cạnh. Không biết ai trúng đạn, ai còn sống – khoảng cách quá gần và trời quá tối – những người thoát đạn xốc tới … Xung phong … xung phong! Cùng lúc, phía Tây – Nam, Đại đội của Đại úy Định (Định “con”, để phân biệt với Đại Tá Định, Lữ đoàn Trưởng 369) thuộc Tiểu đoàn 6 Thủy quân Lục chiến khi nghe tiếng hô rền từ cánh quân bạn cũng đồng bật dậy, bỏ vị trí xốc tới … xung phong …xung … xung phong! Giữa bóng tối mù mịt, qua ánh chớp đạn pháo binh địch và loé sắc của lựu đạn đánh cận chiến, bóng hình người lính Thủy quân Lục chiến ào lên, thấp thoáng, vùn vụt trên những khối đen của dãy tường thành loang lổ chập chờn lửa dậy. Bốn giờ sáng, trời vừa hừng đông, được tăng thêm độ sáng do đạn lửa của pháo, hỏa tiễn cộng sản bắn tràn lên vị trí để các đơn vị đội địch tháo chạy bộ, những người lính Thần Ưng (TĐ6), Sói Biển (TĐ3) hoàn toàn làm chủ, tràn ngập trên bờ thành phía Nam. Về phía Đông, khu trách nhiệm của Tiểu đoàn 8, Tiểu đoàn Trưởng, Trung Tá Nguyễn Văn Phán vượt lên tuyến đầu đích thân thúc quân ép sát vào bờ thành bởi nhận ra sức chiến đấu của đám lính cộng sản cố thủ yếu dần, đang thất thần tìm đường lần trốn trước đợt tiến công dồn dập uy mãnh của lính miền Nam. Những tên không tháo chạy được đồng bị thanh toán tại hầm bằng lựu đạn, hoặc súng tay bắn với khoảng cách gần nhất, đạn xuyên vào da thịt người nghe lụp bụp, thân người nảy ngược lên.

Hướng chính Tây, mặt tấn công của Tiểu đoàn 2 cùng Thiết đoàn 20 chiến xa, lực lượng xung kích ào vào chân thành như thác lùa, lũ lớn, theo những khoảng vỡ đổ của bức tường thành nay đã biến dạng nên thành khối hình ngổn ngang chồng chất. Lính “Trâu Điên” xốc tới như tên hiệu đơn vị – những con trâu trong cơn phẫn nộ hung hãn – đánh phục thù cho trận lui binh oan nghiệt cuối tháng 4 mà họ đã tận mặt chứng kiến.

Đến chiều 14 tháng 9, lực lượng Thủy quân Lục chiến kiểm soát toàn phần bờ thành, khu vực phía Nam, chia quân lục soát những khu hầm nhốt tù (do người Pháp xây dựng đầu thế kỷ) mà sau nầy, trước tháng 4, 1975, tiểu khu Quảng Trị, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 3 Bộ binh đặt trung tâm hành quân. Đám lính cộng sản ném súng, lội sông Thạch Hãn tháo chạy về phía Bắc như đàn vịt nháo nhác trên khoảng sông phơi đáy cát. Một chiếc L19 (máy bay quan sát) bay lờ lững trên cao, anh phi công tinh nghịch rà xuống sát mặt nước, bắn ra trái đạn khói, những tên lính cộng sản chạy trốn hốt hoảng đưa tay đầu hàng, đứng ngơ ngác trên dòng sông mờ đục trống trải. Đêm 14 tháng 9, lần đầu tiên sau 48 ngày, đêm, Đại úy Thạch, Đại đội Trưởng Đại đội 3, Tiểu đoàn

“Sói Biển”, đơn vị tiên phong của đợt đột kích dứt điểm Cổ thành được ngủ một giấc dài vì đôi giày đã được cởi ra. Nhiều người lính của mặt trận Quảng Trị cũng được “hạnh phúc” nhỏ bé tầm thường tội nghiệp này.

Sáng hôm sau, ngày 15 tháng 9, 1972 từ căn hầm phòng thủ nơi đặt Ban Chỉ huy đại đội, qua lỗ hồng, Thạch thấy rừng rực lá cờ Vàng Ba Sọc bay uy nghi trong gió sớm lẫn màn khói đạn, bom chưa tan hằn.

Anh thấy cay cay trong mắt với cảm giác nôn nao thầm lắng … Cảm xúc từ rất lâu anh không có – Cảm giác muốn khóc về một điều bi phẫn. Thạch nhìn quanh, những người lính đồng có sắc đỏ sẫm ươn ướt nơi tròng mắt. Những khuôn mặt chai cứng, hư hao, loang lổ lấm láp khói đạn, bụi đất đồng duỗi ra theo độ sáng của ngày với vẻ kiên nghị kiêu hãnh xen lẫn đau đớn kềm giữ. Thạch nhìn xuống những xác binh sĩ đồng bạn mới đem về, nằm bó gọn trong những poncho phủ bụi đất, bê bết máu. Anh lơ đãng nghe báo cáo về số lượng vũ khí sơ khởi được tịch thu, đâu khoảng hai tấn rưỡi, phải cần một GMC mới chở hết. Nơi Trung tâm Hành quân Bộ Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn 1 ở thành Mang Cá, Huế, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng cất chiếc nón sắt đã đội suốt từ bao ngày đêm. Người chỉ huy chiến trường ngồi lặng im rất lâu, mặt ông trầm xuống không gợn nét, đổi sắc.

Để Nhớ Một Mùa Hè Lẫm Liệt

Trên Quê Hương.

Phan Nhật Nam

1972-2012

(1) Nè: Cành cây, tre gai khô, nhỏ.

(2) Đà Nẵng- Huế: Khoảng cách 103 cây số, Đà Nẵng ở về phía nam Đèo Hải Vân, địa giới thiên nhiên

giữa Quảng Nam – Thừa Thiên-Huế

(3) Mang Cá: Cơ sở thuộc Hoàng Thành Huế được dùng làm cơ sở quân sự Pháp – Việt trước 1954. Sau

1954 được sử dụng làm Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ Binh; Bộ Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn 1 trong

trận chiến Mùa Hè 1972.

(4) “mền = mình”; “trung = trong”; “giư = như”

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa

Post by Sơn râu 27 Jan 2026

13. Chương 8

Chiến dịch 275

Bắc Việt đã tiến hành được rất nhiều việc trong ba tuần lễ. Họ đã gởi tướng Văn tiến Dũng, Tổng tham mưu trưởng Quân Đội Nhân Dân vào Nam Bộ, với tư cách là Tổng Chỉ huy Chiến dịch.

Trong một xã hội khép kín và quân phiệt như Bắc Việt thì người ta có thể theo dõi hành tung của một sư đoàn, nhưng hành tung của một cá nhơn thì không thể được. Tướng Dũng đã rời khỏi căn nhà số 33 đường Phạm ngũ Lão ngày 5 tháng 2 lúc 10 giờ sáng để ra phi trường. Ông ta ghi nhận là các cây đào đã bắt đầu trổ bông.

Ông ta đã kỹ lưỡng dàn cảnh chuyến đi vào Nam của ông cũng như của Sư đoàn:

_Ông đã ký trước những công hàm để ở nhà chúng sẽ được gởi cho Mông Cổ, cho Đông Đức, cho Liên Xô, mừng ngày thành lập Quân Đội của các quốc gia này.

_ Sau khi tướng Dũng rời khỏi Hà Nội thì báo chí ở đây phải đăng những tin tức liên quan đến hoạt động của ông như thanh tra, hội họp với sĩ quan các cấp…v.v….

_ Mỗi ngày lúc 7 giờ sáng và 2 giờ chiều, chiếc xe Volga của ông phải chạy từ nhà đến Bộ Tổng Tham Mưu, rèm xe kéo kín. Và chiếc xe cũng phải trở về nhà lúc 12 giờ trưa và 5 giờ chiều. Ngoài ra người ta thường thấy tướng Dũng hay chơi bóng chuyền với bộ đội gác nhà ông, do đó mỗi buổi chiều các anh bộ đội cũng phải tiếp tục hoạt động thể thao này như thường lệ trong sân bóng của tư dinh.

_ Hơn thế nữa, một ngày trước khi ông rời Hà Nội, người thư ký của tướng Dũng lên cơn sốt – thật hay giả không ai thấy được – và một xe cứu thương được gọi đến tận tư dinh đưa người bịnh đi.

Tướng Dũng bí mật bay vào Nam trên chiếc Antonov 24.

Người Mỹ không biết được sự có mặt của tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Bắc Việt ở Miền Nam trước tháng 4/75. Toán tham mưu cùng đi với tướng Dũng có mã số là A.75, tướng Dũng lấy bí danh là Tuấn, tướng Giáp là Chiến. Trong hai người ai quan trọng nhất? Chiến hay là Tuấn?

Máy bay đáp xuống Đồng Hới, trên lãnh thổ Bắc Việt. Từ đây toán A.75 được đặt dưới sự điều động của các đơn vị chỉ huy thuộc “559”, Bộ Tư Lệnh đường mòn Hồ chí Minh. Tướng Dũng và đoàn hộ tống đi xe tới Bến Hải, dùng ca nô máy vượt vĩ tuyến 17, làn ranh phi quân sự của hai Miền Nam Bắc. Sau đó đoàn A.75 dùng cả quân xa và xe vận tải thuộc Bộ Giao Thông Vận Tải để đi tiếp xuống Miền Nam.

Trên đường xuôi Nam, dù đôi lúc phải còn dùng con đường mòn, quang cảnh làm cho tướng Dũng thích thú khi nghĩ rằng không có gì khích lệ bằng nhìn thấy “bộ đội của mình di chuyển bằng phương tiện cơ giới” . Người dân Miền Bắc đã tiết kiệm được từ ngày này qua ngày khác, từ tháng này qua tháng khác, để dành tất cả cho chiến trường Miền Nam và chờ một cơ hội lớn. Họ đã che dấu được tất cả những gì mà họ đã trữ trong 10 năm nay mà các cơ quan của Miền Nam của Hoa Kỳ , thậm chí đến Liên Xô và Trung Quốc cũng không thể biết được. Các sĩ quan Liên xô và Trung Quốc không được tự do đi lại được ở Miền Bắc, dĩ nhiên không bao giờ vào trong Nam được. Những ước tính của họ không bao giờ chính xác được vì người cộng sản Việt Nam có kỹ thuật phân tán, mà họ gọi là “sơ tán”. Thường là họ để một tấn đạn dược ở

đây, hai tấn ở chỗ kia, trong những thôn ấp và được che dấu và nghi trang cẩn thận. Họ cũng có những kho lớn mà chỉ có họ mới nhận ra được mà thôi. Nhưng đối với các đồng chí Liên Xô và Trung Cộng, cũng như đối với Hoa Kỳ và Miền Nam Việt Nam, họ có thể dấu kín hàng ngàn tấn đạn dược bằng lối sơ tán này.

Khi tới Bộ Tư Lệnh 559, tướng Dũng nghỉ trong một nhà tranh và không thể nào chợp mắt được với quá nhiều câu hỏi trong đầu:

“Làm sao biến ý chí “giải phóng Miền Nam” của Bộ Chánh Trị thành hành động?. Làm thế nào để giật được chiến thắng ở vùng Cao Nguyên?… Làm sao chiếm được Ban Mê Thuột? Làm thế nào để cho Miền Nam Việt Nam phải sụp đổ trong một thời gian ngắn đây?”

Tướng Dũng cũng nghĩ đến lề lối tác chiến độc đáo của bộ đội Bắc Việt trong hơn 30 năm qua: ” Đánh bất ngờ, đập thật mạnh vào trung tâm đầu não…”

Tôn Tử có nói: “Địch phải không biết được tôi sẽ đánh chỗ nào. Vì như thế họ mới phải chuẩn bị đối phó ở nhiều nơi. Và khi mà họ phân tán lực lượng ra nhiều nơi như vậy thì chỗ tôi định đánh họ sẽ không có nhiều quân. Và khi mà họ đưa quân ra nhiều nơi tiền tuyến thì hậu cứ của họ sẽ yếu, còn nếu họ muốn giữ cho hậu cứ mạnh thì tiến tuyến của họ sẽ yếu đi. Nếu họ chuẩn bị đề phòng ở bên tả thì bên hữu của họ sẽ yếu, và ngược lại nếu họ lo phòng vệ bên hữu thì bên trái sẽ không có nhiều quân…. Mà khi họ muốn phòng thủ khắp mọi nơi thì chỗ nào họ cũng yếu”

Còn Clausewitz thì lại nói ngắn gọn hơn: “Chúng ta nói “bất ngờ” là yếu tố căn bản của mọi hành động, không có ngoại lệ.”

Sự độc đáo trong tác chiến của bộ đội Bắc Việt không phải chỉ có yếu tố bất ngờ mà còn phải chuẩn bị cho sự bất ngờ đó trong nhiều năm chớ không phải chỉ trong nhiều tháng. Một trong những lợi khí không thể đo lường được của họ là thời gian, lợi khí khác là sự bền chí.

Là một nhà tiếp vận thận trọng, đi đến đâu tướng Dũng cũng phải biết chắc là các sư đoàn của ông ta có đủ xăng nhớt, có đủ quân xa, vũ khí và đạn dược cần thiết, ông ta cần phải nhìn rõ và muốn được nhìn rõ. Lúc bấy giờ ông ta không thể tin chắc vào khả năng hiện có của mình: “Có thể đập mạnh được hay không đây? trong những điều kiện như thế này, ta có đủ khả năng hay không đây ?”

Để cho cuộc di chuyển của ông được dễ dàng, người ta có gắn thêm vào bảng số xe của ông bản hiệu “T.50”. Điều này có nghĩa là xe của ông ta được ưu tiên số 1 và xe của ông cũng dễ được nhận dạng. Ở một đoạn nào đó, có nhiều toán nhân công nữ tình nguyện hay được chỉ định. Họ đang sửa đường. Tướng Dũng ngừng xe lại. Một số nữ quân nhân nói với ông:

_ Thủ trưởng ơi, Tết sắp đến rồi mà thư từ vẫn chưa đến!

Mỗi khi Tết đến là họ trao đổi quà cáp với nhau. Một thành viên của đoàn A.75 cho toán nữ quân nhân này một gói “kẹp tóc” . Ở một đoạn khác, đoàn xe của tướng Dũng gặp những xe trống, đi ngược chiều về hướng Bắc. Một người tài xế nói:

_ “Thủ trưởng ơi, gần ngày Tết rồi mà chúng tôi không có một điếu thuốc! Những người đi với tướng Dũng không thiếu thuốc lá, và ông ta đem ra phân phát cho nhóm tài xế này. Ở một chỗ khác đoàn xe bắt kịp sư đoàn 316, hoàn toàn cơ động. Sư đoàn có trên 500 quân xa và nhiều chiến xa, nhiều xe bọc sắt. Vốn khởi đầu cuộc chiến 30 năm về trước bằng loại súng trường bắn từ phát một, tướng Dũng cảm thấy thỏa mãn lạ thường khi thấy các xe Zil.31 kéo những khẩu đại bác 122 và 130 ly, các xe tăng T.54 và những pháo đội hỏa tiển SA 2. Tất cả sĩ quan thuộc sư đoàn 316 đều được lệnh tuyệt đối im lặng vô tuyến, Nếu không thì khó mà làm cho trên 10.000 người phải giữ im lặng, nhưng quân đội Miền Bắc có kỷ luật. Đối với một vị tư lệnh chiến trường, muốn đạt được sự bất ngờ thì cần phải có 2 điều: một là không để bị người ta dò tìm được lực lượng của mình ở đâu và hai là cho người ta có cảm tưởng rằng lực lượng của mình hiện ở đâu đó xa lắm. Trong hiện tại các cuộc hành quân dự trù có một cái tên rất giản dị không văn hoa: chiến dịch 275.

Từ các đơn vị tác chiến hiện đang có mặt ở trong Nam cho đến báo chí ở Hà Nội, người ta không tiên đoán được chiến thắng. Các mục tuyên truyền chỉ nhắm vào “năm” làm mốc. Tờ báo của đảng là tờ Nhân Dân lập lại là “năm 1975 là một năm đánh dấu những bước quan trọng của cách mạng Việt Nam: đảng chúng ta vừa tròn 45 tuổi, đất nước chúng ta 30 tuổi, và năm nay chúng ta tổ chức ngày sinh nhật thứ 85 của người đã sáng lập đảng và khai sanh nước Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam của chúng ta.”

Người ta không thấy được hình của Hồ chí Minh ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương. do đó làm cho người ta nghĩ rằng ở chỗ khác cũng không có. Nhưng người ta chỉ nghe thôi về sự tôn sùng cá nhân ở Mạc tư Khoa hay ở Bắc Kinh . Những câu châm ngôn và thơ phú của bác Hồ nhiều khi còn mạnh hơn là vấn đề tôn sùng cá nhân. Tất cả binh sĩ, hạ sĩ quan và sĩ quan đều nghe mãi một câu được nhắc đi nhắc lại cả ngàn lần : “Không có gì quý hơn Độc Lập Tự Do “. Hồ chí Minh được sanh vào tháng 5 dương lịch.

Tổng Thống Gerald Ford có một định kiến rất là Mỹ: nhất là cho các thành viên của Quốc Hội, ông tin rằng nếu người ta trình những sự kiện dưới một ánh sáng mới, các sự kiện đó có thể làm thay đổi dư luận và kế đó là thay đổi luôn số phiếu bầu. Ông Ford đặt tin tưởng vào phái đoàn các nghị sĩ và dân biểu quốc Hội đang đến Sài Gòn để có thể chuyển đổi tư tưởng của một số lớn dân cử trong Quốc Hội. Thơ mời được ông Philip Habib, Phụ tá Tổng Trưởng Ngoại Giao đặc trách Đông Nam Á Châu gởi đi. Ông này dự trù một phái đoàn khoảng 20 vị. Thông thường thì các vị được người dân bầu lên ở Hoa Kỳ cũng như các nơi khác trên thế giới, đều thích đi chơi đó đây với ngân khoản của những người đóng thuế, nhưng sau nhiều vòng đàm phán tay ba giữa Bộ Ngoại Giao, Nhà Trắng và Quốc Hội, thì người ta chỉ chấp thuận một phái đoàn 10 người gồm: 1 nghị sĩ Dân Chủ ông Dewey Barlett, hướng dẫn phái đoàn, và các dân biểu gồm 1 chủ tịch, ông John Flynt và các thành viên Bella Abzuzg, William Chappel, Donald Fraser, John Murtah, Samuel Straton thuộc đảng Dân Chủ, và Millicent Fewnwick, Jack Kemp, Paul McCloskey thuộc đảng Cộng Hòa. Đối với Nhà Trắng thì đây không phải là một thành phần lý tưởng. Vì trong số 9 vị dân biểu, đã có 4 vị thuộc đảng Dân Chủ đã cùng ký vào một cái văn bản với 78 vị khác để đòi hỏi phải giảm dần viện trợ cho Việt Nam.

Tại Sài Gòn, ở Dinh Độc Lập và Tòa Đại sứ Mỹ, người ta nhìn phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ như là một cơ may cuối cùng cho 300 triệu mỹ kim mà Tổng Thống Ford đã đòi hỏi. Ông Philip Habib và đại sứ Martin không mấy ưa nhau. Ông Graham Martin không vui vẻ gì lắm khi được biết là ông Habib đi theo phái đoàn với Eric Von Marbod.

Ông Thiệu chuẩn bị đón rước và tiếp tân phái đoàn với tất cả sự lưu tâm và lo lắng. Ông đọc cẩn thận các phiếu tiểu sử của từng thành viên do Tòa Đại sứ Hoa Kỳ cung cấp. Bà Bella Abzug, dân biểu của tiểu bang Nửu Ước, là một người khó nuốt, rất nặng ký và thiên về “hòa bình”, bà Millicent Fenwick, một người to con mà hút một ống điếu quá nhỏ…

Hội đồng nội các nhóm để bàn về phương cách đối phó với phái đoàn. Thủ tướng Khiêm thì muốn tổ chức một chuyến đi thăm viếng xã ấp rất thiết thực. Nhưng ông Thiệu không chịu, và quyết định là mình sẽ đáp ứng mọi đòi hỏi của các thành viên phái đoàn. Để đùa giỡn chơi, ông tiến cử luật sư Vương văn Bắc , Tổng trưởng ngoại giao, một người vui tính và bảnh trai hảy theo sát và o bế bà Abzug, làm mọi người đều cười ầm lên.

Theo tinh thần của bức thư mà ông Ford vừa gửi tới cho ông, ông Thiệu vẫn còn nhận thấy sự cam kết của Hoa Kỳ . Ông không biết được là Tổng Thống Ford không đọc hết các bức thư của ông Nixon. Ông không nắm được câu chuyện Watergate ở Hoa Thạnh Đốn đã làm tổn thương quyền lực và sức mạnh của Tổng Thống Hoa Kỳ đến mức độ nào. Ông Thiệu không thấy được việc Quốc Hội muốn lấy lại một số quyền hạn của Nhà Trắng, liên quan đến lãnh vực chánh trị đối ngoại, ông cũng không biết là các cố vấn của ông Ford mong muốn tách rời Tổng Thống của họ ra khỏi bài toán Việt Nam. Vượt ra ngoài các sự kiện nêu trên của các giới chức Mỹ, ông Thiệu tiếp tục đặt niềm tin mù quáng quá dễ dàng: ông Ford là ông Nixon, người nào cũng như người nào, ai cũng đại diện và cam kết cho Hoa Kỳ.

Ông Thiệu không biết ông có cần trưng ra những bức thư của ông Nixon và ông Ford hay không ?Ở sứ quán Hoa Kỳ cuộc viếng thăm bắt đầu không được tốt đẹp lắm. Có vẻ không được trôi chảy. Có trên một chục vị phụ tá hộ tống phái đoàn. Ngoài chương trình do các phòng sở của ông Martin bố trí, các ông phụ tá trẻ này chạy lăng xăng khắp Sài Gòn lục soát lung tung. Một số người tìm gặp các nhân viên của sứ quán không lạc quan lắm về lãnh đạo. Có những người thuộc cơ quan CIA như Frank Snepp, từ lâu đã nghĩ rằng Hiệp Định Paris là một sự thất bại của Hoa Kỳ, một sự thất bại mà người ta che đậy không khéo. Hơn nữa, anh Snepp này không tin là Miền Nam Việt Nam thiếu súng đạn.

Đại sứ Martin có cảm tưởng là nhiều thành viên của phái đoàn đã có định kiến rồi, điều này đôi khi được chứng thực. Họ đã biết trước những gì mà họ đến tìm kiếm rồi, đặc biệt là bà Bella Abzug hung tợn này. Họ không có tính cởi mở. Ngay như những dân biểu diều hâu đều thấy ông Martin sắc bén nhưng kém thực tế. Đương nhiên các phòng sở của sứ quán phải có nhiều buổi thuyết trình cho phái đoàn, kể cả Đại Sứ và Phó Đại sứ cũng vậy. Có nhiều chuyện không hay thường xảy ra trong các buỗi thuyết trình. Có một lần vào lúc bắt đầu buổi hội, bà Bella Abzug vừa xuất hiện vừa to tiếng vì muốn gặp trưởng cơ quan tình báo:

_ “Anh Polgar là anh nào?

Ông Đại sứ bực mình khó chịu. Ông không thích người ta điểm danh thuộc cấp của ông như thế. Ông thừa biết là các phụ tá của cả ông nghị sĩ và mấy vị dân biểu muốn tìm gặp những người khác hơn là những người mà sứ quán đã dự trù. Ở văn phòng của Tùy viên Quân lực, phái đoàn đã gặp ông đại tá William le Gro. Ông này trao cho phái đoàn một tài liệu làm cho phái đoàn chú ý. Tài liệu này đánh giá về sự đe dọa của Bắc Việt. Tài liêu này vượt quá những sự dè dặt. Đó là điều18: “người ta chờ đợi một chiến dịch tổng tấn công trên toàn lãnh thổ Miền Nam trong những ngày sắp tới. Một số lớn “nguồn tin” (1) đã cho biết là các sư đoàn trừ bị chiến lược Bắc Việt sẽ được gởi vào Miền Nam” Các vị dân cử hình như đã quen quá với những bản phân tách và đánh giá bi quan , nhất là của giới quân nhân. Họ đã quen thuộc với loại kỷ thuật này ở Hoa Kỳ quá rồi, mấy tuần trước khi bàn cãi về ngân khoản quốc phòng, vô tình người ta thấy trong báo một số bài đánh giá quá cao về mối đe dọa của Liên Xô. Người ta mãi đặt vấn đề tại sao mối đe dọa của Bắc Việt ở đây lại không giống như vậy? Mà người ta không nghĩ rằng nếu tình hình thật sự đúng như vậy thì có cần phải viện trợ cho Miền Nam hay không? Phúc trình của đại tá Le Gro nói rõ quan điểm của ông. Điều 46: “Trong ngắn hạn, Cộng Sản Việt Nam chắc chắn sẽ đạt được nhiều chiến thắng khi họ chiếm giữ được một số quận hay thị xã, nhưng về lâu về dài sự tổn thất của Miền Bắc cũng có thể sẽ là một trở ngại cho họ…”

Khi ra khỏi Sài Gònvốn có không khí yên tỉnh, các nhà điều tra muốn tìm thú vui ở chiến trường, cũng không thể nắm được những nhận xét rõ ràng và chính xác hơn giới quân nhân đâu. Ông Paul McCloskey dân biểu California, một cựu sĩ quan hải quân, người vậm vở, đi ra ngay vùng chiến trường mà ông ta đã từng biết được ở Miền Trung. So sánh với tình hình mà ông ta đã từng được biết thì ông nghĩ là tình hình bây giờ có vẻ sáng sủa hơn. Điều này không ăn khớp chút nào với những dự đoán của một anh Frank Snepp.

Khi phải đánh giá về thế lực của ông Thiệu đối với xã hội Việt Nam thì phái đoàn không theo ông Martin hay Lehmann hay Polgar. Những người này xác nhận là ông Thiệu nắm vững mọi vấn đề. Bà Bella Abzug và Dewey Bartlett thì quan tâm đến các tù nhân chánh trị và sự việc bắt bớ các nhà báo. Họ đã được trả tự do hết chưa? ông Martin thẳng thắng xác nhận là ở Miền Nam Việt Nam không bao giờ có tù chánh trị. Ông nói là ở Sài Gòn hệ thống Tư Pháp ít nhất cũng hữu hiệu không thua gì ở Nữu Ước. Người ta nói với ông Martin về những cái gọi là “chuồng cọp” trứ danh để nhốt tù ở Côn Sơn. Ông khẳng định rằng trong vùng khí hậu nhiệt đới, thì các phòng giam này rất sáng sủa và sạch mát hơn những buồng tối. Khi Sứ quán không đồng ý về con số 35.000 tù hình sự ở Miền Nam thì ông McCloskey trả lời rằng:

_ “Hơn phân nửa số tù bị nhốt mà không có bản án. Như vậy thì phải coi như số này là tù chánh trị”(2)

Sứ quán Hoa Kỳ mở tiệc khoản đãi phái đoàn. Một số thành viên của phái đoàn tẩy chay không dự. Bà Bella Abzug lớn tiếng tung ra những chỉ trích mà báo chí ghi nhận:

_ “Chánh Phủ này là Chánh Phủ thối nát, Bà nói. Vì thế không còn ai muốn chiến đấu hết.

Phải tính toán thế nào để loại trừ ông Thiệu đi.”

Được một số nhà ngoại giao cấp trung gian khuyến khích, các thành viên của phái đoàn thố lộ với giới báo chí Hoa Kỳ:

_ “ông Martin quá nghiêng về ông Thiệu nên không thể đánh giá một cách khách quan không khí chánh trị ở đây.

Hay là:

_ “Ông Đại sứ này là một thảm họa!”

Bà Bella Abzug đi lại nhà bà Ngô Bá Thành (3), có nhiều phóng viên báo chí tháp tùng. Bà Thành là một thành viên đối lập không cộng sản thuộc lực lượng thứ ba. Cảnh sát không cho bà ra ngoài nhưng người ta có thể nói chuyện với bà trong nhà. Chánh phủ Sài Gònđã có biện pháp phạt “trọng cấm” bà.

Một cách bất thần, không thông báo trước, bà Bella Abzug đến trụ sở của “Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến”. Cảnh sát giữ an ninh tại đó không cho bà vào. Nhưng cuối cùng sau một vài rắc rối khác, rồi bà cũng gặp được hai sĩ quan thuộc phái đoàn Hung gia Lơi và Nam Dương. Nhưng hai sĩ quan này không cò gì để phải “khai báo” với bà hết.

Biết được việc này ông Martin phát cáu:

_ “Thật là bẽ mặt!

Dai như đỉa, hai ông Bartlett và McCloskey được gặp một số nhà báo đã từng bị bắt. Cảnh sát trưởng Sài Gòn bám sát hai ông này. Ba nhà báo nhìn nhận rằng họ là Việt Cộng nằm vùng. Hai ông giận lắm, đòi phải cho hai ông gặp riêng những người này. Một người đã nói nhỏ rằng: “Họ đánh chúng tôi dữ lắm”

Phái đoàn có nhiều cuộc tiếp xúc với một số chánh trị gia. Linh mục Thanh, người tranh đấu chống tham nhũng tuyên bố:

_ “Một phần ba tiền viện trợ mà quý vị chấp thuận sẽ bị ăn cắp. Quân Đội sẽ bị bán cho kẻ thù cộng sản. Ngân khoản sẽ được dùng để trả lương cho lính ma! số binh sĩ chỉ có tên trên giấy tờ” (4)

Cuộc thăm viếng ở Thủ Tướng Phủ còn chán hơn nữa. Tướng Khiêm và Tổng trưởng ngoại giao của ông có mặt ở buỗi tiếp xúc, đều cảm thấy bị đứng tim. Ở tư gia của ông Vũ văn Mẫu, Bella Abzug và Donald Fraser gặp những người phật tử thuộc nhóm chủ trương hòa hợp hòa giải với ba nghị sĩ và 5 dân biểu đối lập. Các phật tử nhấn mạnh:

_ “Quý vị không nên bỏ phiếu chấp thuận viện trợ để họ xây cất nhà tù! (4)

Bà Bella Abzug lầm bầm:

_“Tôi chỉ bỏ phiếu cho viện trợ nhân đạo mà thôi.”

Thiếu tướng Không quân, cựu Thủ tướng Nguyễn cao Kỳ tiếp nghị sĩ Bartlett. Ông chỉ nói nhẹ nhàng:

_ “Cho đến khi người ta tìm được một giải pháp đúng đắn, chúng tôi rất cần được có viện trợ của Hoa Kỳ”

Các ông Flynt, Chappel, Fraser và Fenwick đã tiếp xúc rất lâu với ông Trần quốc Bửu, Chủ Tịch Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam, một loại Công đoàn như của ông André Bergeron chống cộng tới cùng từ năm 1945, khi mà Hà Nội đã đuổi, bắt, cầm tù và giết một số thành viên của liên đoàn. Ông xác nhận là Tổng Liên Đoàn của ông là tổ chức duy nhất có thể thực hiện một cuộc đình công ở Việt Nam. Đối với ông Trần quốc Bửu thì những người như Cha Lãng hay Vũ văn Mẫu không đại diện cho bao nhiêu người . Ông Thiệu phải tìm cách thử đưa họ vào guồng máy chánh trị , nếu không thì họ sẽ rơi ngay vào tay của cộng sản. Theo ông Bửu, tìm cách bứng ông Thiệu đi, đó không phải là một giải pháp:

_ “ Sau khi chúng tôi loại được Tổng Thống Diệm thì chúng tôi đã phải chịu một loạt khủng khoảng chánh trị. Chúng tôi cần có một sự liên tục và một số thay đổi quan trọng về chánh trị nội bộ.”

Ông trao cho các thành viên này những bản văn được quây “rô nê ô”. Đó là bản diễn văn mà ông đã đọc năm tháng trước trong đó ông vạch trần và tố cáo cái mà người ta gán cho là tham nhũng.

Ông cũng nghĩ rằng một số nhà báo bị bắt có dính líu đến cộng sản . Ông không chắc rằng họ đã có bị đánh đập. Ông thở dài và nói:

_ “Tất cả các nơi trên toàn thế giới này, cảnh sát đâu có hiền đâu!

Về bà Ngô Bá Thành, ông Bửu tỏ vẽ giận dữ:

_ “Tôi biết bà này lâu rồi. Tôi đã từng yễm trợ bố của bà vào chức vụ Tổng Trưởng Lao Động từ năm 1954. Bà cũng giống như các phụ nữ khác, thích đi từ thái cực này đến thái cực khác.

Ông Bửu không phải là một ứng cử viên vào chức vụ Tổng Thống. Ông nói:

_ “Người Việt Nam chúng tôi ai cũng sớm chọn một hướng đi và một mục đích cho đời sống của mình. Chúng tôi phải giử vững nó mới được . Khuynh hướng của tôi thiên về Nghiệp Đoàn chớ không thiên về chánh trị.”

Phái đoàn thực hiện một chuyến viếng thăm chớp nhoáng 12 tiếng đồng hồ thủ đô Phnom Penh. Tình hình đã bắt đầu tan rả ở thủ đô Cam Bốt này. Trong khi phái đoàn đang dùng cơm trưa, một hỏa tiển rơi và phát nổ ở cách họ khoản 800 thước. Ông Đại sứ Hoa Kỳ John Dean tỏ vẻ rất bi quan. Theo ông thì Thủ tướng Lon Nol sẽ từ chức “nếu người ta ước tính ông là một hàng rào ngăn cản con đường dẫn tới hòa bình” : Ông nói thêm rằng:

_ “Hoa Kỳ chúng ta không nên dính vào một cá nhân nào hết.”

Và cách Phnom Penh 200 cây số, ở Sài Gòn liệu Hoa Kỳ có dính với ông Thiệu hay không?

Chiều ngày 1 tháng 3, ông Thiệu đãi cơm tối phái đoàn. Trong khi nâng ly chúc mừng phái đoàn, ông nhắc tới nhiều vị Tổng Thống Hoa Kỳ đã từng cam kết yểm trợ và giúp đỡ Việt Nam trong cuộc chiến chống cộng. Nhưng ông Thiệu không nói gì đến các bức thơ của ông Nixon, ông Thiệu nói thật chậm rãi:

_ “Sự long trọng cam kết đó đã được nhắc lại trong dịp ký kết Hiệp Định Paris. Liệu những lời cam kết đó của Hoa Kỳ có còn giá trị hay không? Liệu chúng tôi có tin vào lời nói của Hoa Kỳ hay không? Đó là thông điệp mà tôi rất vui mừng khi được thấy quý vị chuyển giùm đến Quốc Hội thứ 94 của Hoa Kỳ.”

Ông Thiệu ghi nhận thái độ chống đối đương nhiên của bà Bella Abzug. Trong khi ông Thiệu nâng ly chúc mừng phái đoàn, bà ta giả bộ không nghe. Các câu chuyện trao đổi có vẻ ngượng ngùng, giữ kẽ với nhau, không được vui, trong một không khí khó thở. Nghị sĩ Bartlett cảm thấy có cảm tình với Việt Nam Cộng Hòa, nhưng ông cũng nói tới sự việc ông đã tiếp xúc với các nhà báo bị bắt. Có người cho ông Thiệu là quá vụng về, có người cho là ông quá cộc cằn.. khi ông gạt phắt nhận xét đó bằng một câu:

_ “Đương nhiên! những người cộng sản lúc nào cũng phải nói là họ bị tra tấn…

Do đó mà cả Sứ quán và Dinh Độc Lập, hình như không thể chuyển “thông điệp” của ông Thiệu được

Cho tới năm 1973, một trong những lo âu của dư luận chánh trị ở Hoa Kỳ là số phận của các tù binh Mỹ ở Bắc Việt. Bây giờ thì họ đã được trở về Hoa Kỳ rồi nên dư luận đó lại nghĩ tới nhiều hơn cho số phận các binh sỉ, hạ sĩ quan và sĩ quan bị ghi nhận lá mất tích trong chiến đấu, một đề tài mà các thành viên của phái đoàn đã có dự định là nói thẳng với đại diện của chánh quyền Miền Bắc và CPLTCHMN ở trong trại Davis, trong sân bay Tân sơn Nhứt. Đối với một số đại diện này, điều tốt nhất là có thể dùng ngay báo chí của họ trong vùng chiếm đóng hay trong quốc gia của họ để nói về số quân nhân mất tích này. Cứ hai năm Hoa Kỳ lại cử một người để thường xuyên thực hiện công tác quảng bá này.

Ngay lúc họ đến trại Davis, phái đoàn Hoa Kỳ có cảm tưởng rằng các phát ngôn viên của Hà Nội chuyển một cuộc bàn cãi có tính cách xây dựng thành một sự tuyên truyền quảng cáo cho khoảng 70 nhà báo, phóng viên, toán quây phim, và các chuyên viên về âm thanh có mặt hôm đó. Các sĩ quan cộng sản ngồi ờ đầu bàn dài dưới bức tượng bán thân của Hồ chí Minh hình như tạc từ một khối mỡ heo bóng loáng. Một trung tá Bắc Việt phó trưởng đoàn Hà Nội lập tức châm ngay ngòi lửa. Ông ta thích đưa ra một câu trả lời chung chung hơn là trả lời tuần tự ngay vào các câu hỏi. Thế là có một sự tranh luận về thủ tục phải theo. Ông trung tá này đọc một bản văn dài dòng trong hai mươi phút:

_ “Chánh Phủ Ford phải chịu trách nhiệm về sự đeo đuổi tiếp tục cuộc chiến, điều này làm cho không thể áp dụng được điều 8 B của Hiệp Định, liên quan đến những người mất tích.”

Để cắt đứt những lời tổng quát rổng tuyếch này, nghị sĩ Bartlett đưa một tấm thẻ bài ghi tên họ của đại úy Clifford Fieszel, số quân 462-56-6781, phi công bị bắn rớt trên không phận Bắc Việt và được ghi nhận là mất tích ngày 30 tháng 9 năm 1968.

Nghị sĩ Bartlett muốn biết về số phận của vị đại úy này. Vì theo một quyết nghị của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc thì Chánh Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Việt Nam phải cung cấp những chi tiết chính xác.

Trung tá cộng sản từ chối, không trả lời.

_ “Tôi phải trả lời sao cho bà đại úy Fieszel đây? Tôi sẽ có mặt ở OKlahoma trong 2 tuần nữa. Tôi phải nói gì với bà ta đây? khi mà Chánh Phủ Hoa Kỳ chúng tôi phải cung cấp mỗi tuần một chuyến bay liên lạc giữa Sài Gònvà Hà Nội? những sĩ quan trên chuyến bay đó có nhiệm vụ trước hết là thảo luận với chánh quyền Miền Bắc về công tác tìm kiếm liên quan đến những quân nhân mất tích.” nghị sĩ Bartlett nói. Rồi ông nghị sĩ Hoa Kỳ chấm dứt bằng một câu kết luận của ông:

_ “Ở Oklahoma chúng tôi, có một danh từ đó là “hogwash”! cốt để nói lên đặc tính của những nhận xét của ông.

Trong số các nhà báo có ông Cao Giao hỏi ông bạn Xuân Ẩn của ông ta hogwash nghĩa là gì. Xuân Ẩn dịch ngay:

_ “Có nghĩa là “đồ bỏ”, đồ bá láp không ra gì, đồ cặn bả để cho heo ăn!

Ông Bartlett nhìn người trung tá cộng sản kết luận:

_ “Cũng tốt thôi! sự im lặng của ông chứng tỏ là ông từ chối không trả lời cho tôi.”

Ông dân biểu Millicent Fenwick trở lại những từ ngữ trong bài diễn văn của trung tá cộng sản . Ông ta đã có nói là Chánh Phủ của ông sẳn sàng giải quyết mọi bài toán qua thương lượng. Bằng cách nào đây ? Trung tá cộng sản này trả lời cho các câu hỏi là:

_ “Tôi sẽ chuyển các đòi hỏi của quý vị cho Chánh Phủ của chúng tôi”

Gay gắt và vô ích, cuộc thảo luận tiếp tục trong sự ồn ào gần như bất tận. Những cuộc cải vả này đáng được thu hình lắm đấy, và người ta nghe tiếng máy quay phim chạy rào rào với vài chỉ thị của các nhà báo, và thỉnh thoảng những tiếng than phiền của ông Milicent Fenwick:

_ “Ông ta có trả lời câu hỏi của tôi đâu? ông ta không có trả lời câu hỏi của tôi!”

Ông Mc Closkey cố giải thích cho ông trung tá cộng sản này là có vài dân biểu trong Quốc Hội không muốn tiếp tục giúp cho Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng nếu Chánh Phủ Miền Bắc cứ chống lại công tác tìm kiếm những người Mỹ mất tích, thì ngọn gió có thể đổi chiều thổi ngược lại.

Nhưng đây là một cuộc đối thoại giữa những người điếc, mặc dầu vậy ông Frasier cứ tuyên bố là cuộc nói chuyện này rất hữu ích.

Trng tá cộng sản vẫn giữ vững đường hướng tuyên truyền đến cùng:

_ “Quý vị phải trở về Mỹ để khuyến khích nhân dân và Quốc Hội Hoa Kỳ hãy bác bỏ dường lối chánh trị của ông Ford, tức là phải chấm dứt sự ủng hộ tập đoàn Nguyễn văn Thiệu.”

Ông dân biểu Chappel, với một giọng nói thật chẩm rải và cương quyết tuyên bố:

_ “Cá nhân tôi, tôi đến Việt Nam với một tinh thần và một chủ đích là xem xét tận mắt “tình hình cụ thể” ở đây để lúc về tôi có thể bỏ phiếu “thật đúng đắn” cho bài toán quan trọng: đó là viện trợ cho Miền Nam Việt Nam.”

Để cho trung tá cộng sản này dễ hiểu, ông Chappel dùng ngay những danh từ cộng sản mà ông này đã dùng như  “tình hình cụ thể”, “thật đúng đắn”….. Và ông nói tiếp:

  • “Bây giờ khi đã gặp được các ông rồi, thì tôi đã đi tới được một vài kết luận.. Tôi tin rằng cộng sản các ông không bao giờ có ý định tôn trọng lịnh ngừng bắn… Các ông cũng không tôn trọng nghĩa vụ của các ông liên quan tới tin tức của những người bị mất tích. Các ông than phiền, các ông nói rằng ở đây người ta không tôn trọng quyền đặc miển ngoại giao của các ông, Các ông nói là ở Sài Gònnày người ta cúp nước cúp điện của các ông, nhưng tôi thấy là các ông sống ở đây rất là thoải mái và đầy đủ tiện nghi.”

Ông dân biểu đưa tay chỉ cây quạt máy trên trần nhà (đang chạy), chỉ các cây cối và sân cỏ chung quanh trại, rồi nói tiếp:

  • “tất cả những thứ này đều do hai Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ đài thọ….

Khi tôi về đến Hoa Kỳ … tôi có ý định sẽ bỏ phiếu chấp thuận 300 triệu mỹ kim viện trợ bổ túc cho Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa.”

Nhưng các nhà báo Việt Nam đều lấy làm thích thú mà ghi nhận rằng người thông dịch cộng sản không có thông dịch lại câu nói sau cùng này của dân biểu Chappel.

Bà Bella Abzug muốn cho không khí bớt găng, buông ra một câu:

_ “Sự trao trả 23 hài cốt của quân nhân Hoa Kỳ chết trong thời gian bị bắt ở Bắc Việt và sự việc mà trung tá Bao đã chấp nhận hỏi lại Chánh Phủ của ông về tin tức của đại úy Fieszel cũng đã chứng tỏ được tinh thần khả dĩ có thể an ủi được nổi đau của các gia đình có con em quân nhân bị coi là mất tích ở đây..”

Bà ước mong rằng Chánh Phủ Bắc Việt sẽ cung cấp thêm tin tức liên quan đến các quân nhân bị mất tích…

_ “Đó sẽ là một bước tiến lớn, Thiện chí tốt.. Bình thường hóa quan hệ….

Tất cả những gì mà cả Sứ Quán Hoa Kỳ và Dinh Độc Lập cho tới giờ này không thể đạt được đối với phái đoàn, thì giờ đây một cách không chủ tâm chỉ trong vòng một tiếng rưỡi đồng hồ họ đã đạt được với thái độ của một số dân biểu và vì thái độ của những người cộng sản. Các thành viên của phái đoàn Hoa Kỳ tỏ ra rất giận dữ.

Họ đi qua trại của CPLTCHMN, cách đó 50 thước.

Tướng Hoàng anh Tuấn, thuộc Ban Liên Hợp Quân Sự 2 Bên, ra tiếp phái đoàn. Thấy đã quá trể như đã dự trù , ông hỏi phái đoàn:

“Chúng ta có nên họp trong một giờ hay không?

Hai ông Barlett và Flint bàn với nhau:

_ Có lẽ nửa giờ cũng quá đủ rồi.

Tướng Hoàng anh Tuấn sẽ đọc một bản văn. Đã nghe một lần bên kia cũng quá đủ rồi. Nghị sĩ Barlett ngắt lời ông Tuấn:

_ Tại sao CPLTCHMN không chịu làm gì hết, đúng theo điều mà Hiệp Định Paris đã có ghi rõ, liên quan đến những người mất tích? (điều 8 B trong Hiệp Định)

Nhưng tướng Tuấn vẫn cứ tiếp tục đọc:

_ “Người Mỹ phải chịu trách nhiệm về sự không thi hành Hiệp Định Paris và về điều mà người ta không thể giải quyết được bài toán của những người mất tích”

Phái đoàn Mỹ đưa ra những câu hỏi thật chính xác. Nhưng cũng giống như đồng chí cộng sản Bắc Việt của ông lúc nãy, tướng Tuấn cũng chỉ nói chung chung. Ông Flynt muốn có thêm chi tiết liên quan đến 41 xác chết của người Mỹ không được trao trả cho Hoa Kỳ.

Tướng Tuấn nói:

_ “Sau khi ký Hiệp Định Paris, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục theo đuổi cuộc chiến. Không thể thi hành Hiệp Định được …. Mỗi tuần đã có hằng ngàn người Việt Nam chết ….”

Ông Flynt ngắt lời:

_ “Tôi không muốn nghe chuyện đó, Tôi muốn biết 41 xác chết đó bây giờ đang ở đâu?”

Tướng Tuấn đáp:

  • “Không ai bắt buộc tôi phải trả lời cho câu hỏi này, và tôi tưởng rằng nhân dân Hoa Kỳ sẽ hiểu tại sao.”

Nói xong ông ta nhìn đồng hồ

_ “Ba chục phút của chúng ta hình như đã hết rồi!”

Vừa nói ông ta vừa đứng dậy và bỏ đi

Trên đường ra xe đi về, bà Millicent Fenwick tâm sự với các nhà báo rằng : bây giờ thì bà ta sẽ bỏ phiếu cho cả viện trợ nhân đạo và viện trợ quân sự nữa.

Ngay sau đó đài phát thanh Hà Nội và đài phát thanh Giải Phóng đều lên tiếng là “phái đoàn nghị sĩ và dân biểu Hoa Kỳ đã có những lời tuyên bố không đứng đắn và không xứng đáng với địa vị của họ.”

Người ta ghi nhận là không có một sự giao tranh nào trong thời gian phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ có mặt ở Việt Nam. Người ta không thấy có một cuộc hành quân nào trên cấp đại đội hay ít nhất cũng không có một cuộc chạm súng nào quan trọng hết.

Ngày chúa nhật 2 tháng 3, trước khi đáp phi cơ về Hoa Thạnh Đốn, nghị sĩ Barlett mở một cuộc họp báo tại phi trường. Thêo ông: “Muốn chấm dứt cuộc chiến, phái đoàn sẽ khuyến cáo Tổng Thống Ford nên thúc đẩy ông Kissinger tiếp tục thương lượng với Liên Xô ,Trung Cộng và Bắc Việt. “Ông Nghị Sĩ Barlett có biết đâu rằng ông Tổng trưởng Ngoại Giao không có một chút hứng thú nào khi phải đàm phán với cộng sản trong tư thế yếu.

Khi phái đoàn sửa soạn lên phi cơ thì Đại sứ Martin chạy tới:

_ Tôi có thể tháp tùng với quý vị về Hoa Thạnh Đốn hay không?

Nghị sĩ và các vị dân biểu đã gặp ông Martin này quá nhiều trong những ngày gần đây rồi. Viễn cảnh có thêm vài giờ nữa với ông cũng không mấy ai thích thú nhưng làm sao từ chối cho được đây?

Sau khi phái đoàn rời khỏi Sài Gòn, nhân vật số 2 của sứ quán Hoa Kỳ gởi một điện tín về cho Bộ Ngoại Giao, có đoạn kết luận như sau:

_ Sứ quán nghĩ rằng ít nhất cũng có một số đông thành viên của phái đoàn đã được thấy một khía cạnh có ích lợi, tổng quát về sân khấu chánh trị ở Việt Nam, dù chuyện đó rất là mới mẻ đối với họ. (ký tên Lehmann)

Đến Hoa Thạnh Đốn, ông Martin nhận thấy một không khí bất lợi khắp nơi, cho đến ngay cả các phòng sở trong Bộ Ngoại Giao. Bản phân tách tin tức sau cùng của Cơ Quan Tình Báo Trung Ương và của Bộ đều xác nhận rằng:

“Quân đội Bắc Việt ở phía Nam vùng phi quân sự, dù có mạnh hơn lúc nào hết, nhưng không có khả năng đánh bại quân lực VNCH một cách dứt khoát được.”

Chỗ nào cũng thấy có ý kiến tương tự:

“Quân Lực VNCH sẽ không dễ gì bị đánh bại trong mùa khô này’’

Ông Martin ở nhà của cô con gái, đường 42, và bắt đầu đi vận động. Bộ Ngoại Giao cấp cho ông một chiếc xe, các nhân viên trẻ trong khối Đông Nam Á Sự Vụ đi lấy hẹn cho ông.

Ở Sài Gòn ông là nhân vật số 2 của thủ đô, sau ông Thiệu. Nhưng ở Hoa Thạnh Đốn thì ông chỉ là một ông Đại sứ như những người đại sứ khác thôi, không có tiền hô hậu ủng. Ngay ở Bộ, ông có cảm tưởng là những người công chức đều biết rằng “dính vào vấn đề Việt Nam không có lợi cho việc thăng quan tiến chức được đâu.’’ Ông Martin tự nhủ: “chắc chắn là họ không muốn đưa đầu ra cho Jane Fonda tát đâu”.

Ông Martin không muốn mất thì giờ để mà thuyết cho các vị dân biểu của đảng Công Hòa theo hướng đi của ông. Vậy mà ở đó ông cũng đụng phải những sự im lặng. Robert Gialmo, một dân biểu Cộng Hòa trong tiểu bang quan trọng nhất là tiểu ban Ngân Sách, hình như đang lưỡng lự:

Vậy có những ai sẽ là đồng minh của ông Martin đây? Trong hàng nghị sĩ thì có Barry Goldwater. Từ lâu rồi, ông Graham Martin không hy vọng thuyết phục được một trong những người bạn già của ông, Mike Mansfield, lãnh tụ khối đa số Dân Chủ ở Thượng Viện. Ông Martin thấy thật là cả một sự khó khăn để cho người ta nghe và hiểu được mình! Và coi như ông hoạt động xuyên qua một bãi mìn! Tất cả những người trẻ, cộng sự viên hay làm việc cho các nghị sĩ và dân biểu đều là những người chủ bại, chủ trương ‘’hòa bình”, cho nên ông Martin nghĩ là mình đang bơi ngược dòng!

Ông biết là nhiều thành viên trong phái đoàn đã loan truyền những chỉ trtích gay gắt về cá nhân ông như Doinald Fraser đã nói công khai và thẳng thừng:

_ “Chừng nào mà Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn vẫn còn đi với Chánh Phủ của ông Thiệu, chừng đó khó mà nhận thức được đâu là thực chất quyền lợi của Hoa Kỳ.”

Ông Graham Henderson Martin vốn là một người có ý thức nghiêm trọng về nhân phẩm và những đặc quyền của mình nên ông cảm thấy mình bị lăng nhục ở Hoa Thạnh Đốn. Vào tháng 3 năm 1973 khi nhận nhiệm sở ở Sài Gòn, ông đến Việt Nam chậm hết mấy ngày vì muốn có được một chuyến bay chánh thức đưa ông thẳng đến thủ đô VNCH, Vì riêng chuyện đó thôi đã thừa nhận rằng ông Đại sứ Mỹ là đại diện của cá nhân ông Tổng Thống Hoa Kỳ.

Ông là một người cao lớn, 63 tuổi, tóc ngâm đen, có cái nhìn sắc bén, sức khỏe hơi kém, hút thuốc mỗi ngày phải đến vài gói, có dáng điệu của một người quý phái mà có một số người cho đó là kiêu căng, và một số người khác thì thấy đó là kiểu cách đứng đắn. Ông Martin gốc ở tiểu bang Bắc Carolina, thuộc một trong những gia đình lớn ở bờ biển Miền Đông Hoa Kỳ như họ tộc Cabot, họ tộc Lodge, Kennedy…Ông rất hãnh diện về người cha của mình, một ông mục sư, người đã từng dạy ông rằng: “Nói thật là một điều rất dễ và rất là hữu ích hơn là nói dối..’’ Đứng trước các nghị sĩ và dân biểu, Đại sứ Martin sẳn sàng cho thấy lòng ngay thẳng chân thật của ông hon là sự thông minh hiểu biết của cá nhân mình.

Ông không phải xuất thân từ những trường đại học danh tiếng như Harvard, Princeton, hoặc Yale, mà từ trường Wake Collège không có tiếng tăm gì hết. Ông nghĩ rằng môn Lịch Sử, La tinh, và Hy Lạp đã giúp ông có một “quan niệm rõ ràng về quá khứ”

Lên Hoa Thạnh Đốn , ông là nhà báo trong một thời gian ngắn, chưa đủ lâu để hiểu rõ về nghề này nhưng cũng lâu vừa đủ để thấy “không ưa” được nghề này. Ở Sài Gòn ông chia giới truyền thông ra làm 2 nhóm. Một phần lớn trong số này (nhóm thứ nhứt) là những người không thích nghi với đường lối chánh trị chánh thức của sứ quán. Số ít còn lại thuộc nhóm thứ hai.

Ông Martin khẳng định rằng một người làm báo có lương tâm thì không được làm hại gì đến quyền lợi của Hoa Kỳ. Nếu có cảm thấy một sự thật không thuận lợi cho mình thì cũng phải nín lặng mới đúng.

Ông Martin là hiện thân của những giao tiếp thường trực và đối nghịch lẫn nhau giữa một nhà báo và một nhà ngoại giao, và đôi khi giữa các thế hệ nữa. Ở Việt Namcũng như ở các chỗ khác, những Đại Sứ có tuổi ít khi nào hòa hợp được với các phóng viên trẻ. Ngắn gọn hơn, ông tin rằng rằng hầu hết các nhà báo ở Sài Gòn và Hoa Thạnh Đốn dù là dị đồng, họ vẫn “thiên về Hòa Bình của Hà Nội”, nếu không muốn nói là “chống Thiệu”. Giờ đây, ông Martin không có được bao nhiêu người là đồng minh trong giới báo chí. Trước kia thì có Cyrus Sultzberger, một nhân vật quan trọng của tờ New York times là bạn của ông. Bây giờ thì tờ Times đó lại quay ra chống phá sứ quán của ông, đó là điều mà ông Martin trung thực nghĩ như vậy. Ở Sài Gòn ông chấp nhận tiếp một nhà báo, ông George McArthur, phóng viên của tờ Los Angeles Times, bạn thân của một nữ nhân viên sứ quán. Ông Martin có thể chứng tỏ là mình cùng đứng về phía tự do báo chí để có dịp bênh vực cho giới truyền thông. Lúc ông James Markham đi vào khu Việt Cộng, ông Martin đã kịp gặp ông Thiệu để bênh vực cho phóng viên này, nếu không thì ông ta đã bị ông Nhã trục xuất rồi. Đến giờ này thì ông Martin không còn thấy hứng thú chút nào để mà bênh vực những người phóng viên “bẩn thỉu” loại đó nữa.

Ông đã cho lệnh dứt khoát: không lẩn tránh mà cũng không liên lạc dù là bán chánh thức với báo chí. Ở Sài Gòn thuộc cấp của ông đã phản bội ông trong lúc phái đoàn của Quốc Hội Hoa Kỳ viếng thăm Việt Nam và do đó giờ đây ở Hoa Thạnh Đốn sứ quán mới phải nhận lấy những hậu quả đó.

Ông Martin bước vô nghề vào thời ông Roosevelt, ông lo về An Sinh Xấ HộI . Ông tự nhận mình thuộc đảng Dân Chủ. Vì trong thời chiến ông là Đại tá, một sĩ quan tình báo chuyên viên đặc trách về Đông Nam Á , thường hay lui tới với ông Alan Dulles, sáng lập viên của Cơ Quan Tình Báo Trung Ương (CIA), nên ông Martin tự hào rằng mình hiểu biết nhiều trong lãnh vực tranh tối tranh sáng của “tin tức” hơn hẳn một Polgar hay một Snepp. Tất cả những bản phúc trình không rõ ràng nói trên về dự tính của Bắc Việt đã làm cho ông bực mình. Nhưng cuối cùng về tình hình thì riêng ông cũng có một cái nhìn tổng hợp rồi.

Là một người có trách nhiệm về hành chánh của sứ quán Hoa Kỳ ở Paris từ năm 1947 đến 1955, ông biết rõ về những tay cộng sản Việt Nam này. Ông Martin theo dõi sát về ông Phạm văn Đồng ở Genève năm 1954. Nhất là ông đã thấy Chánh Phủ Pháp thương thuyết và nhượng bộ với Việt Minh. Ở Paris, ông đã có liên lạc chặt chẻ với những cơ quan tình báo đặc biệt. Nhờ sự liên lạc thân hữu với ông Roger Wybot mà ông Martin mới có được những tin tức mà CIA không lượm lặt được về những người Mỹ chủ trương “hòa bình” và những hoạt động của họ khắp nơi ở Âu Châu. Trong lần thăm viếng sau cùng của Phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ, niềm vui đầu tiên và duy nhất của Đại Sứ Martin là được biết Chánh Quyền Sài Gòn đã từ chối không cho một thành viên của phong trào đòi hòa bình là ông Don Luce được tháp tùng nghị sĩ và các dân biểu Mỹ.

Ông Martin vẫn còn phần nào là một người thân Pháp. Sự thiết lập bang giao của Hoa Kỳ sau bài diễn văn của tướng De Gaulle ở Phnom Penh là một điều không bình thường. Là một con người ít giao du, nên ở Sài Gòn ông Martin chỉ tới lui với Đại sứ Pháp là ông Jean Marie Mérillon mà thôi.

Ông rất thành công trong nghề: Đại sứ ở Thái Lan từ năm 1963 đến 1967, ông giành được cho Hoa Kỳ một quân cảng và 6 phi trường mà không hề ký một văn kiện chánh thức hay môt khế ước nào. Ông khinh ra mặt những người có óc quân sự thiển cận, nên đã từng chống Ngũ Giác Đài về dự án đưa quân vào Thái Lan, và ông đã yêu cầu cho triệu hồi tướng William Stillwell về, vì ông này không chia xẻ quan điểm của ông Martin. Cũng ở ngay tại Bangkok, ông Martin đã gặp ông Thiệu.

Một người con nuôi của ông Martin là phi công lái trực thăng, đã tử trận ở Việt Nam. Từ dạo đó nhiều người cho rằng ông Martin đã trở nên cứng rắn hơn. Khẳng định rằng Hoa Kỳ không nên xử dụng Hải Quân của mình ở Thái Lan – và những nơi khác -, ông Martin đã gởi về Bộ Ngoại Giao nhiều công hàm “khó ngửi” mà TổngTrưởng Ngoại Giao lúc đó là ông Dean Rusk không thể chấp nhận được, nên ông Martin phải rời khỏi nhiệm sở Bangkok, trở về Bộ với chức vụ Phụ Tá đặc biệt phụ trách về di cư và những người tỵ nạn. Một chức vụ trong tủ kính ! Nhưng may mắn cho ông là lúc còn ở Bangkok, ông đã từng trải thảm đỏ tiếp rước một luật sư của hảng Coca Cola, một người đã từng là chánh trị gia của đảng Cộng Hòa, ông Richard Nixon.

Khi đã trở thành Tổng Thống, ông Nixon nhớ tới những sự lưu ý của ông Martin và gửi ông sang Rô Ma (Ý). Ở đó ông Martin không nói tiếng Ý mà chỉ nói tiếng Pháp của thành phố Ba Lê, nhưng với tư cách trưởng phái bộ ngoại giao, ông theo sát và chỉ huy hết các phòng sở, kể cả cơ quan tình báo CIA, giám sát sự phân phối ngân khoản cho các đảng phái của người Ý, trong đó có đảng xã hội của Bettino Craxi. Tin chắc rằng chính ông đã ngăn cản không cho đảng cộng sản Ý nắm được chánh quyền, ông Martin cũng sẽ làm như vậy đối với những người cộng sản Việt Nam. Nhưng kìa! Hảy xem lại coi, ai là người thật sự va chạm với tính chất phức tạp và tế nhị của người Việt Namhơn ông ở Sài Gòn hay ngay cả ở Hoa Thạnh Đốn? Có thể là ông Kissinger, người mà ông đã từng phục vụ như một trong những phụ tá trong thời gian thương thuyết ở Ba Lê. Ngồi đối diện với Lê đức Thọ, ông Martin nhận rõ ông này là người có một lòng tin mảnh liệt vào đảng cộng sản , kiên định hoàn toàn, khó mà lay chuyển nổi. ” Những người cộng sản khẳng định rằng họ là những người thừa kế của quả địa cầu này.” Ông Martin đã từng nói như vậy. Trong những lúc nghỉ giải lao uống trà ở Ba Lê, ông Martin và Lê đức Thọ đã có nói chuyện với nhau về những đứa cháu của họ. ông Martin đánh giá cao Lê đức Thọ nhưng ít hơn ông Kissinger.

Ông đã có mua một trang trại ở Tostane, sửa soạn để về hưu. Vào tháng 12 năm 1972, ông Alexander Haig báo cho ông biết là ông Nixon muốn chỉ định ông đến Sài Gòn . Nhưng ông lưỡng lự. Ông muốn chấm dứt nghiệp vụ. Ở Sài Gòn sẽ chịu nhiều búa rìu lắm, nhưng ông Haig nhắc tới Nhiệm Vụ và Danh Dự:

_ “Nếu Tổng Thống đã nói là ông ta cần đến ông, thì ông nên đi. Ông không thể làm việc 8 năm ở Ba Lê và 4 năm ở Rô Ma, để rồi sau đó lại từ chối một nhiệm sở khó.”

Và ông Martin đã nhận lời. Vào tháng 6 năm 1973, trong lúc Thượng Viện chấp thuận sự bổ nhiệm này, ông Martin đã tuyên bố:

_ “Chúng ta phải chấm dứt sự cam kết của Hoa Kỳ ở Việt Nam càng sớm càng tốt, nhưng bằng cách nào, đó là một điều cực kỳ quan trọng. Chúng ta phải chấm dứt ở đó nhưng phải để lại một nước Việt Nam sống được với nền kinh tế vững chắc.”

Ngay trên chuyến bay về Hoa Thạnh Đốn ngày 2/3 này nhà biện luận Martin vẫn tán tụng với phái đoàn Quốc Hội về tương lai sáng lạng của nền kinh tế ở VNCH.

Ngay tại thủ đô cũng vậy, ông cứ nhắc đi nhắc lại chuyện này khi thì ở chỗ này khi thì ở chỗ khác, nhưng xem chừng như không có kết quả gì lắm. Dư luận và tin đồn được các nhà báo và các nhơn viên ngoại giao ở Sài Gòn được loan truyền từ trước đã bao vây ông và vô hiệu hóa

ông. Người ta không bao giờ cáo buộc là ông không làm việc, nhưng đã làm việc không đúng. Người ta biết ông đã đọc tất cả các công điện, rất chính xác và rất tỷ mỷ. Có người đã nói là ông chỉ nhìn thấy cây mà không thấy được đám rừng. Người khác thì nhấn mạnh là ông đã bao che cho ông Thiệu và Chánh Phủ của ông này quá nhiều, mặc dầu ông biết Thủ Tướng Khiêm là một người quá xoàng. Khi người ta nhắc tới vấn đề tham nhũng thì ông Martin gợi ý “đó là chất dầu trong tiến trình phát triển kinh tế” hay là “trong thời chiến chuyện đó cũng khó tránh được”. Ông nói tới việc xuất cảng dầu, ngư hải sản… có thể giúp cho Miền Nam Việt Nam cơ hội tốt để sống còn.

Ông Martin thường nhắm vào Hoa Thạnh Đốn trong những tháng gần đây. Theo ông, đây là mặt trận thứ hai của cuộc chiến ở Việt Nam.

Trong khi ông Martin vắng mặt, ông giao quyền xử lý thường vụ cho ông Wolfgang Lehmann, vị phó dại sứ tín cẩn của ông. Ở Hoa Thạnh Đốn Đại sừ Martin mở mặt trận chiến đấu ở hậu phương, mà theo ông là chính yếu và rất quan trọng, đó là 300 triệu mỹ kim viện trợ bổ túc cho VNCH. Quá mệt mỏi, lả người vì bị quá nhiều thử thách, lại bị đau răng, ông phải về nhà ông ở Bắc Carolina để nhờ người em họ chửa cho mình.

Đối với ông Hoa Thạnh Đốn đã xa, mà Sài Gòn còn quá xa hơn nữa!

Chú Thích của Dịch Giả

  • “Nguồn tin” : danh từ “nguồn tin” được giới tình báo định nghĩa là những người cho tin, hoặc do họ cài cấy vào lực lượng địch quân, hoặc nhân viên tình báo đi săn tin tức ở những vùng xôi đậu. Nói cách khác “nguồn tin” là “người” chớ không phải là “tin tức”.
  • “tù chánh trị”: Côn Sơn và Biên Hòa là nơi giam giữ các tù binh cộng sản bắt được tại mặt trận, hoặc những cán bộ đảng viên cộng sản ở cơ sở do Phòng Nhì của các Tiểu Khu bắt được , có quy chế riêng, khác với tù hình sự. Phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ có ác ý gọi đó là tù chánh trị. Số tù cộng sản này (trên 7000) được trao trả cho Bắc Việt và CPLTCHMN như Hiệp Định Ba Lê đã quy định.

Dịch giả biết rõ nhờ may mắn được phục vụ trong Phái Đoàn Quân Sự VNCH thuộc Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên Trung Ương, nên đã được đi thăm các trại tù cộng sản này trước khi trao trả họ cho cộng sản Bắc Việt .

  • Bà Ngô Bá Thành: Bà này là vợ của luật sư Ngô Bá Thành. Tiếng là thuộc “lực lượng thứ ba” nhưng bà là một thành phần thân cộng, hoạt động phản chiến ngay trong nước, xách động dân chúng bằng mọi hình thức (biểu tình hay bất hợp tác với chánh quyền), đòi hỏi Việt Nam Cộng Hòa phải ngưng chiến đấu, đơn phương chấm dứt cuộc chiến để có “hòa bình”. Dĩ nhiên bà không bao giờ đòi hỏi Bắc Việt và Việt Cộng cũng phải làm như vậy. Thời gian trước 30/4/75 bà thường đi vào các vùng của MTGPMN, liên lạc với cộng sản , nên Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa phải có biện pháp “cấm cung” bà. Sau 30/4/75 bà là dân biểu Quốc Hội của CSVN suốt mấy khóa cho tới ngày nay (2001). Do đó xếp bà vào thành phần đối lập không cộng sản là hoàn toàn không đúng sự thật.

Trời cao đất dày

vietmessenger.com

Dương Nghiễm Mậu

Post by Sơn râu 27 Jan 2026

5. Giọt nắng

– Nhiều khi vào bệnh viện về tôi buồn mấy ngày, nhiều hoàn cảnh thật thương tâm, với lại, có bạn nói tôi giàu tình cảm.

Sau khi gặp tôi, người mà cô tìm kiếm, cô gái ngượng ngùng ngồi xuống chiếc ghế ở bên, vạt áo dài trắng được kéo lên phía trước, chiếc xắc tay bỏ trong lòng. Cô gái nói cám ơn tôi về bức thư đã nhận được. Cô giải thích về người quen của cô làm trong bệnh viện nơi tôi đang được điều trị, cô cũng cho tôi biết là cô vẫn thường vào trong này thăm người quen và có một lần theo những bạn bè vào đây ủy lạo những thương bệnh binh. Cô cũng không quên hỏi thăm tôi về gia đình, chừng như cô gái muốn biết tôi có người thăm nom hay không:

Tôi cười nói :

– Cô bạn của tôi cũng thế, cô ấy nhìn mọi người rồi nói với tôi sự ngạc nhiên, đây là phòng của những bệnh nhân nhẹ, chắc cô rõ.

– Vâng, ở bên kia tiếng kêu khóc làm cho tôi phải bước đi thật nhanh, còn ở san bên kia, ông biết không, thuộc về khoa thần kinh. Tôi có biết một ông ở bên kia kìa, ông ta bị bom và thành câm.

Cô gái nói và chỉ sang phía bên kia, dãy nhà cách một khoảng sân hẹp. Tôi cũng đã được nghe nói về những người bệnh ở đó. Thực có nhiều trường hợp không thể tưởng tượng được.

Cô gái ngồi im nhìn quanh quất cả phòng bệnh những người nằm đứng, kẻ ngồi, tôi thấy có lúc cô gái ngừng lại rất lâu khi nhìn ra ngoài cửa sổ, qua đó khoảng sân bệnh viện với nền cỏ xanh tươi. Cô gái quay trở lại, chợt cô nhìn về phía cuối:

– Kìa, ông hãy nhìn kìa. Ông đã thấy rõ ông ta chưa, trông cái miệng của ông ta kìa, đang máy máy, ông ta lại đang nói với ông ta đó, chỉ ông ta nghe thấy, hôm trước ông ấy mới cào mặt đó,còn những vết xước, thật tội nghiệp, ông ta đỏ mặt lên đầy tức tối, chân tay múa may rồi đập tay lên đầu và cuối cùng lại ông ta cào lên mặt như một người điên, nước mắt ràn rụa… Ông bác sĩ đã phải cùng với người y tá giữ ông ta lại, chích thuốc cho ông ấy ngủ… Đây là lần thứ sáu rồi, người ta tìm cách cho ông ta nói được, nhưng vô hiệu, lần trước người ta đã chích thuốc, ông ta cầm một cái chai ở bên đánh vào đầu đến chảy máu, ông ầy bị bom… vâng bị bom, đã sáu tháng nay rồi, người hoàn toàn khỏe mạnh nhưng không nói được , người ta cố gắng giúp ông ta tìm lại tiếng nói nhưng chưa có kết quả… Ông bác sĩ vẫn hy vọng, bây giờ ông ta viết, nghe được mà nói không được, ông thấy không, trời thường sinh điếc và câm với nhau, ở đây câm mà không điếc mới tội chứ…

Người đàn ông vẫn ngồi im chỉ có miệng mấp máy, đôi mắt ông nhìn mông ra khoảng sân cỏ ngoài cửa sổ, tôi nhìn thấy những vết xước trên mặt ông và mấy miếng băng keo dán nơi gò má, ông ta có một dáng hình khỏe mạnh, hai cánh tay trần với làn da trắng mịn và đẫy. Cô gái nói:

– Ông thử tượng tượng nếu ông cũng mất tiếng nói như ông ta? Tôi nhìn cô gái, những sợi tóc mai dài, lông măng còn mượt nơi mang tai, nơi cổ:

– Nếu phải chọn tai họa không chống được có lẽ tôi ưng điếc hơn câm. Thế còn cô? hỏi có vẻ dại dột…

– Tôi không ưng gì cả, tàn tật là oan nghiệt. Thế giữa điếc và mù ông chọn cái nào?

– Điếc.

– Thế giữa mù và câm điếc thì ông ưng cái nào?

– Câm và điếc, không chịu được mù…

Cô gái bỗng cười ngặt nghẽo, đôi má ửng đỏ với lúm đồng tiền duyên dáng, tôi thấy hai chiếc răng khểnh của cô gái. Chợt cô gái nghiêm nét mặt, giọng dịu dàng:

– Xin lỗi ông, tôi nghĩ lẩn thẩn quá, thế ông bị thương ở đâu vậy?

– Ở chân đây, viên đạn nó nằm nơi hông, không hiểu sao nó lại lọt vào trong khớp xương mà không chịu ra ngoài…

– Tôi biết rồi, tôi muốn hỏi ông bị thương ở mặt trận nào?

– À, Khe Gió.

– Cái tên nghe hay qua, Khe Gió.

Cô gái nhắc lại hai tiếng Khe Gió với vẻ hài lòng, cô với tay cầm lấy trái cam nơi mặt bàn và cầm lấy con dao nhỏ gọt vỏ vẻ nhẹ nhàng khéo léo, đôi mắt nhìn xuống trái cam chăm chú:

– Anh tôi ở ngoài quân y viện đó đã hai năm, mới về phép được một lần, anh tôi ít chịu viết thư, thường anh ấy chỉ nhắn miệng hoặc gửi thư tay, lâu lâu anh ấy ghé bưu điện đánh điện tín về nhà với vài chữ vắn tắt: vẫn mạnh khỏe,, hỏi thăm, đã được thư… Anh tôi lười viết thư lắm… Lần đầu tôi nhận được thư của anh ấy dài được nửa trang giấy. Thật vui. Tôi còn cơ hội gặp ông. Khe Gió, chắc anh tôi biết chỗ đó, gần nơi anh tôi phải không?

– Khe Gió xa, có lẽ anh cô chưa tới đó, nó ở gần biên giới Ai-lao, nơi thượng nguồn của sông Ô Lâu, xa lắm, ít ai lên đó, chỉ có bọn tôi đi hành quân, nơi đó núi non hùng vĩ, nước độc và pháo kích không kể ngày đêm, mưa xuống thì bốn bề mênh mông như giữa đại dương, có lẽ chẳng bao giờ tôi còn trở lại đó nữa…

Cô gái lắng nghe chăm chú, cô bóc từng múi cam đưa sang tôi vẻ tự nhiên thân thuộc, tôi nói cám ơn và ăn từng múi cam từ tay cô đưa sang, tôi mới cô cùng ăn nhưng cô nói không thích ăn cam. Lúc sau cô gái mở ví ra lấy một gói ô mai đưa mời tôi và tự nhiên lấy ăn, cô nói của bạn, tôi cười nói của người vị hôn phu phải không. Cô gái mỉm cười gật đầu vẻ ngượng ngùng, tôi nói cám ơn cô tôi không thích của chua, tôi cũng có người vợ chưa cưới thích ô mai, thích mặc áo lụa.

– Ông ta lại đỏ mặt và đang múa may kìa.

Giọng cô gái chợt như hốt hoảng, tôi nhìn người đàn ông, ông ta đang có vẻ cuống quít với chính mình, ông ta ôm lấy mặt và gục đầu xuống hai đầu gối vẻ tội nghiệp. Cô gái ngồi lặng thinh nhìn xuống, cô với tay cầm lấy chiếc máy thu thanh nhỏ nơi đầu giường tôi và, tiếng hát vọng lên, em đến thăm anh một chiều mưa… cô gái ngồi im như lắng nghe, mắt nhìn ra ngoài sân nắng, cô gái nói:

– Ông có thích giọng ca Thái Thanh không?

– Tôi mê giọng hát đó hai mươi năm rồi mà tiếng hát vẫn chưa già, từ những năm đầu trung học cho tới nay, đã già rồi mà tôi vẫn mê Thái Thanh, thật là tuyệt diệu…

– Ông mới độ hơn ba mươi, đã già gì, tôi cũng mê tiếng hát ấy.

Cô gái nhìn tôi vẻ thân thiết:

– Hôm nào lành ông rủ cô bạn đến tôi chơi…

– Cô bạn tôi cũng mê Thái Thanh…

Cô gái ngồi im, tôi nhìn ra khoảng sân nắng.

– Tôi thích nghe hát, không thích xem hát, tôi chỉ thích nghe một mình…

Tôi nói với cô gái câu chuyện đã cũ, đó là câu chuyện hồi cách đây hơn một năm, tôi đã cùng một người bạn lớn tuổi ghé lại Đêm Màu Hồng có Thái Thanh hát. Buổi chiều tôi ra phố một mình và gặp anh Nguyễn ngoài phố, anh cũng đi một mình, đó là thời gian anh Nguyễn sắp lập gia đình. Anh rủ tôi đi nghe nhạc, chúng tôi ngồi trong phòng sớm hơn mọi người, mỗi chúng tôi kêu một ly trà nóng, với gian phòng ấm cúng, ánh đèn đỏ và mờ, khoảng cách giữa những người ngồi nghe và những người đứng trên bục gỗ không xa cách nhau bao nhiêu, có thể nói đây là một khung cảnh, một không khí thân mật. Được nghe Thái Thanh hát, tôi nghĩ, với người nghe là môt hạnh phúc, đó là tiếng hát bắt được của trời đất,chừng như nó khơi nguồn từ những mạch nước tinh khôi trong suốt và thanh thoát… Cách đây gần hai mươi năm khi đang học những năm đầu bậc trung học Hà-nội tôi đã có lần được nhìn và nghe Thái Thanh hát trong rạp Bắc Đô Hà-nội nơi gần với nhà tôi ở. Từ bấy đến nay tiếng hát Thái Thanh vẫn không thay đổi, tiếng hát ấy vẫn tiếng hát từ một cõi nào, tiếng hát làm não lòng người trong nỗi thanh thoát. Nhưng đến khi tôi thấy Thái Thanh cùng với những người anh cất tiếng với những bài hát thời trang, với dáng vẻ nhún nhẩy làm duyên cho thích hợp với thời đại thì tôi không muốn nhìn lên phía tiếng hát phát ra, một cảm giác nhột nhạt chạy khắp cơ thể. Tôi nói với anh Nguyễn nỗi ngậm ngùi của mình. Tiếng hát đó đâu đáng để hát lên từ một phòng trà như thế này, tôi nghĩ tới một thính đường quốc gia với hàng vạn con dân ngồi im lắng nghe tiếng hát Thái Thanh cất lên. Tôi nghĩ thế. Nhưng có lẽ với Thái Thanh điều đó đâu đáng quan tâm, với người tài tử đó có lẽ chỉ có cất tiếng hát cho người nghe là cần thiết, nào có kể tới nơi tới chốn… những người khóc lẻ loi một mình

– Tôi thấy buồn khi nghĩ đến cảnh một người nghệ sĩ khi về già mà vẫn phải trình diễn. Cô có nghĩ đến lúc Thái Thanh sáu mươi tuổi mà còn bước lên bục gỗ một phòng trà không?

Cô gái cười thành tiếng:

– Tôi nghe tiến hát chứ không coi hát. Các con của Thái Thanh thật sung sướng nhỉ, tha hồ nghe mẹ hát, mẹ tôi nói bà tôi ru cháu rất hay đến thời tôi, tôi không còn được nghe hát ru.

– Tôi thuộc ca dao nhờ bà ngoại và mẹ tôi.

– Ông hạnh phúc hơn chúng tôi, chúng tôi chẳng còn được nghe hát ru.

Tôi cười thành tiếng:

– Cô có biết khiêu vũ không?

Cô gái ngượng ngùng, cô nói nhanh như khỏa lấp:

– Không, tôi không có cả áo đầm, tôi thích áo lụa trắng nên phải giữ cho mình khỏi mập.

Không khí trong phòng im lặng môt cách dễ chịu, một vài bệnh nhân rời khỏi phòng ra đi dạo ngoài sân cỏ, có những người được dìu bởi những người thân, có người ngồi trên giường co chân co tay tập cử động cho bình thường trở lại. Cô gái nói:

– Cái chân ông bao giờ thì có thể lành?

– Bác sĩ nói với tôi là sáu tháng.

– Sáu tháng…

Cô gái hơi rụt cổ lại, đôi mày hơi nhíu vẻ nghịch ngợm trẻ thơ, hai tay giữ lấy chiếc ví trong lòng với dáng ngồi của một thiếu nữ còn nhiều e dè và chưa quen với sinh hoạt của giao thiệp, tôi hình dung tới không khí gia đình của cô bé, một gia đình trung lưu và nếp sống thu kín nhẹ nhàng.

– Sáu tháng ông phải nằm trên giường, thấy sợ quá.

– Đâu đến nỗi thế – tôi cười. – Hôm qua, bác sĩ đã lôi tôi xuống khỏi giường bắt bước đi, tôi suýt nữa ngã vì đau…

– Trời ơi, bác sĩ gì kỳ vậy.

– Ông ấy thử.

Cô gái nhìn cái chân tôi trắng toát, bó bột suốt từ dưới lên tới trên bỏ ngay đơ trên giường.

– Ông có chân của một người khổng lồ, có chân ai lớn và trắng như thế này không nhỉ, một người như vậy mà đi chơi với mình thì chỉ có nước chạy. Một người khổng lồ, ông thích không?

– Không, có một cái chân khổng lồ đã mệt rồi, có một người khổng lồ thì… thì…

Tôi bỏ dở câu nói. Tôi chợt nhớ đến một chuyện thương tâm, đó là câu chuyện đã được diễn tả trên màn ảnh, một người bị thương trầm trọng, tất cả người bị băng, nằm dài trên chiếc giường, anh ta đã nhờ một người bạn hạ mũi nhọn của lưỡi tê xuống trúng tim. Mẩu đối thoại chậm chạp, bàn tay sờ lên ngực và cái chết… tôi rùng mình. Chính ở trong bệnh viện này, ngày tôi vừa vào, tôi cũng thấy một cảnh thương tâm, một người cụt hẳn hai chân và một tay, còn lại một tay thì cụt mất bàn tay chỉ còn lại như que củi, trông con người ấy ngồi trên giường quờ quạng mẩu tay cụt còn lại tôi ngậm ngùi…

– Ông nghĩ gì vậy?

Tôi mỉm cười nói không và lặng đi. Cô gái nói những chuyện bình thường trong đời sống của cô, lúc sau cô đứng lên và chào tôi để trở về. Tôi nói:

– Khi lành bệnh và xuất viện tôi sẽ ghé thăm cô, chắc không phiền.

– Tôi mong lắm. ông nhớ dẫn cô bạn gái lại nghe.

Tiếng nghe sau câu nói được kéo dài và ngọt ngào lạ. Cô gái mỉm cười đi ra khỏi phòng. Tôi nhìn theo cho đến khi cô gái khuất ngoài cửa. Tôi quay nhìn ra ngoài sân cỏ, nắng lên đầy ở ngoài đó, tôi để nguyên cuốn sách úp trên ngực, đôi mắt nhìn chiếc quạt trần quay chậm chạp trên mặt, buổi trưa nóng chừng như đã bắt đầu.

Một phần băng bột nơi chân đã cược cắt đi, tôi bắt đầu lần hai bên thành giường tập đi như đứa trẻ qua giai đoạn biết bò và đứng lên được. Tôi mải miết với công việc tập đi hằng ngày cho tới khi mệt thì lên giường. Buổi chiều khi tôi đang tập đi thì có cảm tưởng như có một người nào đó đang đứng ngó mình phía sau lưng, tôi lần ra phía cuối chân giường và sang tới phía bên kia. Tôi nhận ra cô gái đang đứng mãi ở tận ngoài cửa. Mái tóc buộc lơi, áo lụa màu hoa lý nhạt, cô gái mỉm cười đi về phía tôi như một người vội vàng, tôi đứng im.

– Ông khá rồi hả, đi được rồi, tôi tưởng còn lâu.

Cô gái đến bên và nói không cho tôi kịp tỏ dấu chào. Tôi ngồi lên giường và cười với cô như một lời chào và cảm ơn. Không đợi tôi nói cô kéo vạt áo rồi ngồi xuống chiếc ghế để phía ngoài:

– Tôi được thư của anh tôi, anh tôi sắp về, độ bao giờ thì ông xuất viện.

– Có lẽ ít ngày nữa.

– Thế cô bạn của ông có lên thăm không, hôm nay chủ nhật mà, tôi tưởng ghé hôm nay thì gặp cô bạn của ông.

– Có, tại cô ghé trễ quá, cô bạn tôi bận về vì ở xa.

Cô gái mắt mở lớn nhìn tôi, đầu gúc gúc ra ý hài lòng và đùa nghịch. Cô gái mở xắc tay đưa cho tôi gói giấy nhỏ màu hồng:

– Tôi nghĩ ông nằm một chỗ chắc buồn, ăn ô mai chắc thích, thứ này không có chua đâu, ô mai cam thảo mà.

Tôi đón lấy gói giấy, mở ra, tự lấy một trái bỏ vào miệng và đưa gói giấy về phía cô gái. Cô ngần ngại một chút rồi nhón lấy một trái nhỏ cầm ra tay rồi bỏ vào miệng, sau cô lấy chiếc khăn trắng lau nhẹ nơi miệng và ngón tay. Tôi ngạc nhiên và mỉm cười khi tôi nhận thấy nơi tay của cô gái đeo một chiếc nhẫn lớn đối với ngón tay nhỏ búp măng. Cô gái nhận ra cái nhìn của tôi, cô gái cười, đồng thời cô bỏ thẳng bàn tay trên đùi :

– Ông thấy cái nhẫn có gì lạ không, quà tặng của bạn tôi.

Cô gái để bàn tay ngửa lên, tay kia thì mân mê cái nhẫn xoay tròn nghịch ngợm. Cái nhẫn có mặt vuông. Cô gái nói tiếp:

– Ông thấy đẹp không – cô gái giơ tay về phía trước – người bạn tôi đã tự làm lấy đó, anh ấy kể lại với tôi hồi cách đây hơn bốn năm, khi đang thụ huấn trong quân trường, anh ấy buồn quá, dùng thì giờ mài chiếc nhẫn này, nó là cái vòng cổ của trái lựu đạn, một thứ quà tặng của chiến tranh, anh ấy nói khi mài nó anh nghĩ tới khi cưới vợ, chắc đây là cái nhẫn duy nhất có được trên trái đất…

– Cô có thích không?

Cô gái mỉm cười:

– Thích lắm.

– Tôi không phân biệt được thế nào thứ thiệt thứ giả, tôi chưa rõ thế nào là vàng, là kim cương. Xưa kia mẹ tôi có đánh cho tôi một cái khánh bạc, khi chiến tranh thì thất lạc, cái khánh đeo trước ngực khi còn để đầu trái đào, cô biết không? Thứ ấy ngày nay không ai còn đeo nữa, thời xưa rồi.

– Người bạn tôi có mặc cảm nhà nghèo, anh ấy có vẻ giống ông, vàng, kim cương tôi cũng không biết gì cả, có người khổ sở với nó…

– Tôi không có một bảo vật nào, cuộc sống của tôi cũng không có gì là kỷ niệm, cô có người bạn dễ thương nhỉ. Bạn cô đã thất tình bao giờ chưa.

Cô gái ngừng lại một chút, tay mân mê chiếc nhẫn, mặt hơi cúi.

– Có, anh ấy nói, anh ấy cũng kể cho tôi nghe nữa, bạn tôi lắm khi cay đắng, tôi thương anh ấy, tôi nghĩ chẳng ai muốn như thế, anh ấy như một người lơ đễnh với đời. Anh ấy bảo tôi : đời sống không cho phép mơ mộng, ông có nghĩ vậy không?

– Làm sao để người ta không mơ mộng?

Cô gái ngồi im, lúc sau cô lục lọi trong xắc tay lấy ra một cái ống nhôm như một thứ ống kem tí hon, cô gái giơ lên:

– Ông có biết gì không?

– Không, gì mà lạ vậy.

– Xưa kia ông có bao giờ thổi bọt sà phòng không?

– Có, hồi nhỏ, trò chơi cũng vui nhỉ, một cọng cỏ thẳng, có lúc quên thổi ra lại hút vào…

Cô gái chăm chú mở chiếc ống nhỏ, bóp thuốc, một chút nhựa đỏ chảy ra, cô gái lấy chiếc ống quệt lên đầu ống nhựa rồi nhẹ nhàng đưa lên miệng chăm chú thổi nhè nhẹ, một trái bóng màu xuất hiện và lớn dần, nó có hình như những bong bóng sà phòng thời nhỏ, màu sắc kỳ diệu, có điều nó lớn hơn và nó không tan ngay. Cô gái để nguyên trái bóng rực rỡ nơi đầu ống nhựa, cô dùng tay nhỏ khéo léo làm trái bóng tách ra khỏi đầu ống rồi thả ra khoảng không, trái bóng lờ đờ ngang mặt rồi sà xuống dưới đất, tôi trông chờ nó vỡ nhưng nó đứng im một chỗ.

– Đẹp không, người ta bán nhiều màu lắm, ông thích thổi không?

Không chờ tôi trả lời, cô gái đưa cho tôi ống nhựa hỏ và ống thuốc. Tôi cầm lấy làm theo cô gái, nhưng ngay khi thổi, một tiếng nổ nhỏ vang lên, chiếc bóng vỡ từ ngay khi vừa nhú ra. Cô gái cười, tiếng cười giòn tan. Tôi thấy mùi thuốc thơm một cách khó chịu, chút nhựa dính ra tay cạ khôn ghết. Tôi nhớ tới mùi thơm nhẹ nhàng của ống cỏ và vẻ lun glinh của bong bóng sà phòng khi thoát ra bay lên và vỡ tan không để lại dấu vết. Tôi nhìn cuống trái bóng màu còn là là nơi mặt đất, nó đã tóp lại với một hình thù xấu xí. Tôi đưa trả đồ chơi cho cô gái :

– Tôi mơ mộng hơn tôi tưởng.

Tôi mỉm cười, cô gái nói:

– Hôm rồi ngồi trong lớp học các bạn tôi đã thổi những trái bóng này trong lớp, nhưng chơi lâu rồi chán. Ông thích không?

– Không. Tôi có nhớ tới bài thơ của Tagore, bài thơ là một truyện kể, một người gặp người ăn xin ngồi bên vệ đường chìa tay ra xin, một kẻ đi qua có túi ngô trên vai đã cho người ăn xin một hột ngô, khi về nhà bỏ ngô ra thấy có một hột ngô bằng vàng… kẻ đó nhớ lại chuyện thấn thoại, ông tiên thành người ăn mày và trả công bằng vàng cho người bố thí, kẻ đó ân hận sao không đổ cho người ăn mày kia cả túi ngô… Lúc nhỏ tôi cũng mong những người ăn xin biến thành bà tiên, nay nghĩ lại, nếu bà tiên hiện ra thật có lẽ mình sẽ thất vọng…

– Tôi vẫn mong một bà tiên.

Tôi bỏ chân xuống đất và vịn theo thành giường bước đi. Cô gái nói:

– Ông có thích ra ngoài một chút không?

Cô gái với cho tôi chiếc nạng, giữ tay cho tôi thăng bằng và giúp tôi ra ngoài sân cỏ, buổi chiều đang cuống, tiếng cô gái hát nhỏ bài Ngày trở về của Phạm Duy: Ngày trở về có con trâu xanh hết lòng giúp đỡ…

– Người bạn tôi trẻ con hơn ông, anh ấy nhút nhát và có những lúc buồn bất chợt, tôi trông cho tới lúc tôi trưởng thành thì anh ấy cũng đã ra khỏi quân ngũ, không còn chiến tranh, ông có mong vậy không ?

– Tôi đang trông mong điều đó.

Tôi thấy lòng mình trùng xuống ngậm ngùi. Bao giờ cho tàn cuộc chiến…

Chúng tôi đi một quãng ngắn trên sân cỏ rồi đến ngồi nơi băng ghế bất chợt nhìn thấy nơi cuối sân một cô bé cột tóc ngắn, dáng nhỏ bước đi tung tăng, tôi nhớ tới hình ảnh người vợ sắp cưới ngày đầu tiên đã gặp, khu vườn cây xanh, chiếc áo thảm cỏ hoa, tiếng cười nhẹ…

(11-1970)