vietmessenger.com
Phan Nhật Nam
Post by Sơn râu 27 Jan 2026

Phần 3.
Một mùa Hè lẫm liệt trên quê hương

Chúng ta bắt đầu những ngày vào Hè, cũng là Lễ Tưởng Niệm của Liên Bang
Bắc Mỹ đối với những người đã hy sinh cho tổ quốc vĩ đại mà hôm nay người
Việt tị nạn đã được thu nhận làm quê hương thứ hai sau ngày mất miền Nam,
1975. Ngày Hè cũng là dịp nhắc nhở lại trận chiến 41 năm trước để chứng tỏ
cùng dân tộc Việt và cộng đồng thế giới sức chiến đấu bền bỉ của Người Lính
Miền Nam mà sau 38 năm nhìn lại tưởng chừng như một câu chuyện không thật
– Huyền thoại thật về một quân đội Giữ Nước – An Dân mà hôm nay hiện tình
Việt Nam đang xác chứng trước Lịch Sử và Quốc Dân.
Kỳ I
Huế vẫn sống, Quảng Trị phải về lại
Bấy giờ, bắt đầu mùa Hè 1972, tháng thứ ba kể từ ngày Bắc quân mở cuộc đại
tấn công miền Nam. Quảng Trị, Thừa Thiên là hai nơi hứng chịu tai ương tàn
khốc của bom đạn nặng nề trước nhất và người dân của chốn đau thương này
lại thêm một lần tay bế con, lưng cõng cha mẹ già xuôi theo Đường số 1 dưới
che chở độc nhất, cũng là nguồn tin cậy cuối cùng – Người Lính. Lính Cộng
hòa ơi, cứu bà con, lính Cộng hòa ơi! Trên đoạn chiều dài máu đóng khô
vương vãi thây người … Thị xã Quảng Trị, quận Hải Lăng, cầu Mỹ Chánh,
không phải chỉ một vài-người, nhưng toàn khối dân bi thương nguy biến
cùng gọi lên như thế một lần khi thở hơi cuối, mồm há hốc, tròng mắt thất
thần dựng đứng. Họ gọi người lính khi nằm xuống nhìn máu chảy từ xác thân
bị cắt xé, cứa dập, tay lần chuỗi Thánh Giá, hạt Bồ Đề, trên đầu, chung quanh
đại pháo Bắc quân nổ liên hồi, tàn nhẫn. Đạn nổ không bỏ sót một phần đất,
chụp xuống đủ lên thân thể con người. Trong tình cảnh cùng khốn nguy nan
ấy, người dân thực chỉ còn “một lực giải cứu hy vọng duy nhất” để gọi tới sau
khi những che chở cầu xin tôn giáo đã bị đám giặc phương Bắc ngụy danh
“giải phóng” kia chà đạp thậm tệ, tàn nhẫn khinh miệt. Lính Cộng hòa ơi!
Người dân thêm một lần kêu lên như thế. Người hằng nhiều lần kêu lên như
thế khi đối mặt cùng cái chết, khi lâm tử. Đất không là Vinh Quang nguy
biến riêng cho Lính, đất còn là Thánh Địa oan khổ của Người. Người tầm
thường, còm cõi, quắt queo, héo úa như nhánh “nè”(1) khô rốc tong teo, lay
động dật dờ dưới cơn nắng hạ chí. Những người tội nghiệp, răng đen, môi nẻ,
tóc rối mà tai ương hiển hiện trong tiếng nói, bất hạnh đặt mầm ở cách “khóc
kể” rên xiết oán hờn. Bất hạnh đã có “điềm” từ giọng hò thê thiết đến rợn làn
da khi những con thuyền chập chùng nương bóng tối lướt thướt trên sóng
nhỏ qua Bảng Lãng, Vân Trình, Thế Chí, Đại Lược … A … à … ơ … chỉ hai chữ
với âm lượng vô hồi theo con thuyền đi gần hết khúc sông mà tiếng hò thê
lương còn đầm đìa trong hơi gió, váng vất trên mặt nước. Tuy điềm bất hạnh
đã nghe rõ trong âm nói, nhìn ra qua dạng hình, hiện thực nơi lát khoai mốc
meo thay hạt cơm qua từng ngày khốn đói; túp lều mái tranh hư nát, mấy
con người cùng con chó gầy trơ xương chen nhau trên khoảng chiếu nhàu
bẩn, đen xỉn; nương lúa cắn cỗi, đất sỏi đỏ nứt đường sâu khô rốc; khu vườn
cây trốc gốc, mối đùn hoang phế như nấm mộ vô chủ. Nhưng những con
người khốn khổ kia vẫn tồn tại và vượt sống. Sống với gì và như thế nào hở
trời?! Nay lại thêm ba tháng máu lửa lẩn trốn dưới hầm đất, ăn khoai, sắn
sống, hứng chịu ngàn trái đạn của cả hai bên.
Ngày quận Hải Lăng vừa được quân ta tái chiếm, đồ đạc cho vào thúng sau,
đứa con ngồi thúng trước, người đàn bà nhỏ bé, quắt queo gánh “gánh đời” đi
thoăn thoắt trên mặt cát trắng bầy nhầy lớp thịt người. Phải chăng người
vùng Quảng Trị, Thừa Thiên được Thượng Đế cho sẵn khả năng chịu khổ và
cách gánh chạy như “giặc đuổi” để chuẩn bị cho những tháng, năm, cảnh
huống tàn khốc này? Có anh phóng viên đài truyền hình chận hỏi:
– Chồng và mấy đứa con lớn bà đâu?
– Chết hết rồi. Họ (lính cộng sản) đem đi băm, vằm, chém nát, chôn sấp, dập
ngửa mô không biết?!
– Bây giờ bà đi đâu?
– Hí? Người đàn bà xứ quê không hiểu câu hỏi.
Cho dù hiểu đi nữa thì bà ta cũng không biết đi đâu … Quo Vadis? Mày đi
đâu? Chúa có hỏi đi chăng nữa người cũng không trả lời được. Đi đâu? Ngày
đã hết, đời đã hết, chỉ còn con người lừng lững với mối đau mịt mùng thăm
thắm của riêng mình. Nhưng người Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế nhất định
trở về, sống lại cùng làng xưa, chốn cũ bởi: Ông Trưởng đã ra Huế! Ông
Trưởng đã ra ngoài Huế rồi bà con ơi! Người dân hăm hở, tin tưởng mạnh mẽ
nói cùng nhau và những chuyến hàng Đà Nẵng – Huế (2) bắt đầu trở lại với
hành khách chen chúc đầy ngập. Trên đoạn đường lây lất, ươn ướt thịt da
người phía Nam La Vang, lối “về ngoài mền … “ thấp thoáng từng toán người
gồng gánh chạy theo đoàn quân. Mềm về Quảng Trị thôi bà con ơi, ông Trưởng đã vô ở Trung Mang Cá (3) giư kỳ Tết Mậu Thân với mền rồi bà con nè … (4)
Chiếc xe jeep mang cờ hiệu tư lệnh màu đỏ với ba ngôi sao trắng chạy chậm
dọc đường Trần Hưng Đạo hướng cầu Gia Hội. Vị tướng quân khẽ liếc về hai
bên, che giấu cảm xúc trong ánh mắt u uất, cố giữ vẻ bình thản, ông đưa tay
lên vành nón sắt tỏ ý nhấc khẽ để đáp lễ những người dân kính cẩn chào ông
với cách nhìn hàm ân, kính phục.
Chợ Đông Ba ngầu đục váng vất những đường khói nhỏ bốc mùi khét và
loang lồ vết nám đen trên lớp tường sơn vôi vàng nhạt – dấu vết của lần hỗn
loạn hai ngày trước, 30 tháng 4, 1972, khi mặt trận Quảng Trị tan vỡ và đám
lính phẫn nộ tràn vào thành phố với những người dân đang nháo nhác rùng
rùng di tản.
Quảng Trị mất. Mất chưng hửng, tức tối. Biệt Động Quân nương nhau dọc
quốc lộ về Nam, Thủy Quân Lục Chiến co lại, Tiểu đoàn này đỡ Tiểu đoàn kia
rút gần xuống Mỹ Chánh. Về phần Sư Đoàn 3 Bộ Binh, không phải lỗi ở lính,
cấp chỉ huy không gian, cũng có thể không do Tướng Giai, Tư lệnh sư đoàn
(chưa có thể kiểm chứng rõ), đã rã ngũ một cách mau chóng, phi lý; dẫu ba
trung đoàn bị thiệt hại từ ngày cuối tháng 3, đầu tháng 4, nhưng vẫn còn đủ
quân số, vũ khí, phương tiện liên lạc, yểm trợ, bỗng nhiên như viên đá nhỏ
tan trong ly nước bốc khói.
Một đại đơn vị diện địa mất hẳn khả năng chiến đấu trong bất ngờ kinh ngạc, xua đẩy dân và lính tiểu khu Quảng Trị hỗn loạn đua nhau tháo chạy về Huế như cơn nước lũ từ nguồn cao băng qua bờ đê cát nhỏ.
Và tiếp theo, dưới cơn ép kinh hoàng của Quảng Trị, Huế nổ bùng tan nát
như ánh lửa điên loạn bốc cháy chợ Đông Ba chen tiếng đạn của đám quân
không người chỉ huy gồm những thành phần lao công đào binh nhân cơ hội
chạy trốn, đám phạm nhân từ các trại giam dân sự. Quân đội thoát ra, và tất
nhiên, không thiếu những tổ đặc công, cơ sở nằm vùng cộng sản lợi dụng tình
thế đồng khởi động phá hoại. Huế mau chóng lâm cơn hấp hối cũng bởi ảnh
hưởng, tác động kinh khiếp của Mậu Thân mà dấu vết vẫn còn rất mới – Từ
đêm Giao thừa 1968 nối tiếp, mở rộng, thấm sâu ấn tượng bi thảm của lần
thất thủ kinh đô 1885, mà nay vẫn hằng lưu trong tâm hồn người Huế, với
cảnh sắc u uẩn của hệ thống chùa, miếu, am, luôn mờ mịt những đầu chân
hương cháy đỏ vào đêm đến, hoặc những ngày rằm, mồng một âm lịch, rải rác
cạnh những con đường nhỏ hẹp, âm âm bóng cây che kín.
Giặc vào và hiện thực cảnh tượng nhà tan, cửa nát, người chết hàng hàng lớp
lớp. Gần một thế kỷ qua kể từ năm tháng bi thảm kia, mối đau không hề giảm
bớt, mà lại càng tăng thêm sắc độ khốn cùng, thương tâm.
Chỉ một điều khác biệt: Thực dân Pháp năm 1885 khi tiến đánh Kinh đô Huế,
không có được “ý niệm tiến bộ của kẻ ngụy danh cách mạng giải phóng” sau
này – Họ chưa biết cách thực hiện kỹ thuật giết người rẻ tiền và im lặng của
quần lũ gọi là bộ đội nhân dân – chôn sống những đồng bào, đồng loại mình.
Huế hốt hoảng kinh hoàng do đã có kinh nghiệm về thành tích tàn bạo của
những toán bộ đội cộng sản và đám người cuồng khấu địa phương mang huy
hiệu lá cờ đỏ (hoặc chiếc băng vải đỏ) sục sạo khắp cùng những căn nhà, ngõ
ngách, đường hẻm để tìm địch, giết Ngụy. Thế nên người người hớt hải xuôi
Nam hướng Đà Nẵng, rần rật chen chúc lên tất cả mọi phương tiện di chuyển.
Lại một lần bỏ quê hương chạy giặc. Đấy là cảnh tượng của những ngày cuối
tháng 4, năm 1972. Nhưng, nay tình thế đã hoàn toàn khác hắn. Bởi, Quân
lệnh thứ nhất của Trung Tướng Tư lệnh Quân Đoàn 1 – Vùng 1 Chiến thuật:
Tất cả quân nhân các cấp Quân lực Việt Nam Cộng Hòa trong lãnh thổ Khu
11, Vùng 1 Chiến Thuật (kể cả thành phần tăng phái, thuộc dụng hành quân),
quân phạm, lao công đào binh phải trở về trình diện đơn vị, hoặc tại địa điểm
quân sự gần nhất trong vòng 24 giờ kể từ “Không Giờ” ngày 2 tháng 5, năm
1972.
Các trường hợp vắng mặt bất hợp pháp tại đơn vị coi như đào ngũ trong thời
chiến, khi đối diện địch quân, sẽ bị truy tố ra trước tòa án quân sự mặt trận
với trường hợp khẩn cấp.
Tất cả hành vi cướp giật, phá hoại, khủng bố bị sẽ trừng phạt, xử bắn tại chỗ
do các đơn vị Quân cảnh Quân lực Việt Nam Cộng hòa toàn quyền áp dụng,
thi hành. Huế hồi sinh từ những dòng quân lệnh mạnh mẽ và sự hiện diện uy
nghiêm của vị Tướng quân Tư lệnh. Và người Quảng Trị chuẩn bị trở về.
Nước được giữ vững thêm một lần với Người lính Ngô Quang Trưởng.
Kỳ 2
Phản công
Để mở đầu cho ngày 28 tháng 6, khai diễn chiến dịch giải tỏa toàn thể Quảng
Trị, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng đã chuẩn bị, thực hiện những điều kỳ lạ
kể từ ngày nhậm chức Tư lệnh 1 tháng 5, chỉ hơn một tháng trước. Những
điều kỳ lạ này không do chủ quan của phía người Việt tự định đặt, nhưng hiện
thực trong báo cáo của Tướng Fred Kroesen, Cố vấn Trưởng Quân đoàn 1 với
Đại Tướng Abrams:
Ông ta đã làm cho Ban tham mưu hoạt động chưa từng có ở Quân đoàn 1.
Tướng Trưởng đã đấy bộ máy kia chạy với một cách thế khẩn cấp không bao
giờ thấy từ trước đến nay. Và Tướng Abrams đã không lầm đối tượng khi trao
trực tiếp đến những người bạn vũ khí tối hảo mà ông vừa nhận được. Hai
mươi giàn phóng hỏa tiễn chống tăng TOW được gởi ngay đến mặt trận Vùng
1 cho Sư đoàn 1 Bộ Binh, Sư đoàn TQLC và Sư đoàn Nhảy Dù với lời bảo
chứng của riêng Tướng Ngô Quang Trưởng. Những vũ khí mới mẻ, công hiệu
và chiến thuật linh động sáng tạo phối hợp nhau nên thành một thế trận liên
hoàn dưới tấm thảm lửa yểm trợ của phi cơ chiến lược B52 từ Guam; giàn hải
pháo, phi cơ của Hải Quân Mỹ từ Hạm Đội 7; phi cơ Mỹ, Việt từ Đà Nẵng, Chu
Lai đã kết nên sức tổng lực của Lôi Phong mà những sư đoàn 304, 308, 324B
và 325, tổng trừ bị của Miền Bắc đã phải chôn vùi phiên hiệu lẫn khả năng
chiến đấu. Sau đây là những trận đánh khai cuộc điển hình trước buổi oanh
liệt quyết định với mục tiêu cổ thành.
Sau ngày 1 tháng 5, phòng tuyến cực Bắc của miền Nam dừng lại ở sông Mỹ
Chánh sau cuộc lui binh oan nghiệt, hỗn loạn, rời bỏ Đồng Hà, Quảng Trị, căn
cứ Ái Tử và những vị trí trọng yếu Bắc sông Thạch Hãn.
Con sông rộng không quá một trăm thước chiều ngang kia thật sự không thể
là tuyến phòng thủ thiên nhiên hữu hiệu. Hơn thế nữa, đường tiếp cận trong
Trường Sơn qua ngã thung lũng A-Sao, A-Lưới để về Huế đã hoàn toàn thuận
lợi khi các binh đoàn cộng sản chiếm được những căn cứ hỏa lực Bastogne,
Checkmate, cửa ngõ vào thành phố Huế từ hướng Tây-Nam. Nếu cộng sản
tiếp tục lấn chiếm được đoạn phía Nam Huế (đường đi Đà Nẵng) và cắt
Đường số 1 ở khoảng An Lỗ, theo chiều ngang của sông Bồ thì lực lượng Thủy
quân Lục chiến nơi phòng tuyến Mỹ Chánh này sẽ nằm gọn trong một chiếc
túi bị thắt chặt cả hai đầu Nam lẫn Bắc, không cần bị tấn công cũng sẽ phải
rút đi, mà chắc gì thoát được về Đà Nẵng (chiến trận tháng 3, 1975 sau này là
minh chứng cụ thể của ý niệm vừa trình bày). Đoạn Mỹ Chánh – Huế chỉ
khoảng năm mươi cây số và sau Huế là Đà Nẵng với hơn 100 cây số còn lại.
Chiến dịch tấn công miền Nam của Bộ Tổng Quân ủy miền Bắc với tên hiệu
Nguyễn Huệ ắt sẽ trở thành hiện thực với cuộc “Nam tiến ngụy danh giải
phóng” nếu như phòng tuyến Mỹ Chánh vỡ từ đầu những ngày tháng 5, 1972.
Nhưng Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Sư đoàn Thủy quân Lục chiến của
Đại Tá Bùi Thế Lân (Đại Tá Lân thay Trung Tướng Lê Nguyên Khang giữ chức
Tư lệnh Sư đoàn cùng ngày 1 tháng 5) với những Lữ đoàn 147 và 258 TQLC
dẫu bị tổn thất nặng trong suốt trận chiến kể từ tháng 3 nơi những căn cứ hỏa
lực Holcomb, Sarge, núi Bá Hổ, Mai Lộc Nam sông Bến Hải, đã không để mưu định kia nên hiện thật.
Hơn thế nữa, đơn vị trấn đóng phòng tuyến Mỹ Chánh trên Quốc Lộ 1, điểm
tấn công chính của Bắc quân nếu muốn mở đường về Huế kia lại là Tiểu đoàn
2 Thủy quân Lục chiến “Trâu Điên” của Trung Tá Nguyễn Xuân Phúc, Tiểu
đoàn thượng thặng của binh chủng, cũng là đơn vị lừng lẫy nhất của quân lực
Cộng hòa.
Thế nên, bộ binh miền Bắc không thể nào vượt qua được bảy mươi thước
sông bề ngang mong manh nầy. Chắc chắn không thể được. “Một thằng ‘cháu
của bác’ nào qua đây, tôi sẽ biệt phái nó đi gặp bác nó ngay”. Trung Tá Phúc
“Robert Lửa” đã nói như thế với những phóng viên báo chí tại bộ chỉ huy Tiểu
đoàn ở Đồi Đức Mẹ cạnh Sông Mỹ Chánh trong buổi họp báo bỏ túi ngày 1
tháng 5. Chung quanh xác chết những đặc công cộng sản (đơn vị đánh thăm
dò, mở đường qua cầu, hướng về Huế) nằm rải rác đến cây cầu vừa bị giật sập
còn bốc khói. Từ phòng tuyến mong manh này, với lòng tin cậy đối với những
đơn vị tăng phái hành quân, Trung Tướng Trưởng trả lại quyền điều động đơn
vị cho Đại Tá Lân trong khu vực trách nhiệm.
Lần đầu tiên kể từ ngày thành lập, Sư đoàn Thủy quân Lục chiến được hành
xử hết sức mạnh tổng hợp đúng kích thước của một sư đoàn. Biết như thế để
hiều tại sao đã có những thiệt hại oan uổng, vô lý ở trận Bình Giã, vùng rừng
miền Đông Nam Bộ tháng 12, 1964; với Lam Sơn 719, chiến dịch Hạ Lào cũng
nơi đất Trị – Thiên này trong năm 1971. Đấy là khi các Tiểu đoàn bị xé lẻ và
nguy hại hơn nữa nếu các đại đội tác chiến phải phơi thân đơn độc nơi những
căn cứ hỏa lực. Chúng ta nên trở lại yếu tố kỹ thuật trận liệt đã một lần bàn
đến. Quân số thiệt hại của cộng sản hẳn phải gấp ba lần xác chết để lại trên
chiến địa kia. Ba Tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến tổn thất nhẹ, rút về lại
phòng tuyến Mỹ Chánh trong buổi chiều cùng ngày, chỉ phải để lại một trực
thăng CH 53 trúng đạn đã được phá hủy tại chỗ. Phía tư lệnh mặt trận B2 (của Bắc quân) kể từ khi khai diễn chiến dịch Nguyễn Huệ tổng tấn công miền
Nam bị khựng lại với câu hỏi:
Phía quân Nam sẽ đánh vào đâu? Như thế nào? Chiến dịch Nguyễn Huệ sau
này được giới nghiên cứu quân sự thế giới đánh giá là cuộc tổng tấn công lớn
thứ hai của khối cộng sản kể từ lần xâm lăng Nam Hàn năm 1950 ở bán đảo
Triều Tiên với 300,000 ngàn chí nguyện quân Trung cộng. Năm ấy, Danh
tướng Mac Arthur có dưới tay 365,000 quân (Mỹ và Liên Hiệp Quốc), được cả
thế giới yểm trợ và tâm lý quần chúng, Quốc hội Mỹ phấn khởi, tự tin sau
thắng lợi Thế Chiến Thứ Hai đồng thuận (kể cả thái độ gián tiếp của Liên Xô),
mà đã phải rút lui về bán đảo Pusan trong giai đoạn đầu của cuộc chiến. Nay
trận chiến Mùa Hè 1972, hoàn toàn không có bộ binh Mỹ tham dự và không
quân Mỹ thực hiện lần cứu viện cuối cùng cho đồng minh trước khi bị Tu
Chính Án Frank Church kềm giữ hẳn. Trong “Việt Nam A History”, với tính vô
sỉ hèn hạ lộ liễu, Stanley Karnow trình bày chuyện kể về Việt Nam hoàn toàn
cố ý nhảy qua đoạn chiến sử năm 1972 này. Ông ta chỉ khai thác đề tài Mậu
Thân Huế với chi tiết ngụy tạo: “Phía Việt Nam Cộng Hòa cho người lẻn vào
‘khu giải phóng – khu vực do phía cộng sản tạm chiếm’ giết những người ‘tình
nghi đã cộng tác với bộ đội cộng sản’, xong ném vào chung hố với những nạn
nhân do cộng sản chôn sống để vu oan là ‘cộng sản giết người!'”. Đây là chứng
cớ gian trá mà sau 45 năm đạo diễn Lê Phong Lan đã dựng lại bộ phim “Mậu
Thân – 1968″ để chạy tội cho bộ đội cộng sản giết dân Huế. Stanley Karnow
chứng minh điều gọi là trung thực của câu chuyện qua trích dẫn bài hát
Trịnh Công Sơn: “Chiều đi qua Bãi Dâu, vỗ tay trên những xác người”. Theo ý
của ông ta, những xác người này là do phía Việt Nam Cộng hòa sát hại rồi đổ
tội cho Việt cộng! Và nếu “như có thật”, một số người bị chết bởi tay bộ đội
cộng sản, thì cũng chỉ là do “Việt cộng, tức du kích cộng sản miền Nam” trả thù
những kẻ “có nợ máu đối với nhân dân”, chứ bộ đội miền Bắc hoàn toàn vô can
trong vụ tổng công kích và thảm sát người ở Huế. Cộng sản Hà Nội đến cỡ của
Tố Hữu cũng không thế trâng tráo hơn được. Chúng ta tạm rời bỏ những xảo
trá đê tiện chính trị qua cuốn sách gọi là “một trong những công trình nghiên
cứu tuyệt phẩm – cách của báo Chicago Tribune tán tụng Karnow”, kẻ hãnh diện
gọi là “thành phần trí thức thuộc nhóm phản chiến Mỹ”, để trở lại chiến trường
với những người lính của quê hương. Không để cho phía cộng sản có được
thời gian chuẩn bị cuộc phản công, Tướng Trưởng chỉ thị đến hai Tư lệnh
chiến trường, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ Binh và Đại
Tá Bùi Thế Lân, Thủy quân Lục chiến phải thanh toán hai gọng kềm Tây –
Nam và Đông – Bắc Huế trước lần tổng phản công lên mặt Bắc. Mặt trận Tây –
Nam được thực hiện theo diễn tiến như sau:
9 giờ 15 ngày 14 tháng 5, 1972 tại bộ chỉ huy hành quân Trung đoàn 1 Bộ
Binh, Tướng Phú nhận được báo cáo mới nhất của cánh quân Trung đoàn 3,
đơn vị đánh chiếm lại căn cứ Bastogne (bị mất từ tháng 3) từ mạn Bắc.
Bastogne là tên do các đơn vị Mỹ đặt để nhắc lại trận đánh lừng lẫy của Sư
đoàn Nhảy Dù 82 trong Thế Chiến Thứ Hai do Tướng Maxwell Taylor chỉ
huy, nay Sư đoàn 1 đặt lại với một danh tự đầy cảm xúc là căn cứ Thuận Hóa,
tên cũ của Thừa Thiên – Huế từ ngày Chua Nguyễn vào Nam mở nước, thế kỷ
17.
Người Quảng Trị, Thừa Thiên dựng nước và mở nước từ đất Ái Tử, Thuận Hóa,
nên người lính Sư đoàn 1 phải trở lại Thuận Hóa vì ở đấy không chỉ là một
mục tiêu quân sự, nhưng là biểu tượng sức chiến đấu của đơn vị, tấc lòng của
dân, quân tha thiết với phần đất cha ông. Trận đánh từ sáng sớm đến xế
chiều vẫn chưa có kết quả quyết định dù phía Trung đoàn 3 đã báo cáo:
“Chúng tôi vượt qua hàng trăm xác của địch, nhưng bởi hệ thống chốt của chúng
(đào theo hình chữ A) quá dày đặc nên không thể nào thanh toán mau chóng
được. Thành phần bộ đội giữ chốt lại bị xích chân vào súng, nên chúng không
thể chạy trốn, quân ta phải thanh toán từng chốt một cho đến gã lính cuối cùng
bị tiêu diệt, và vì thế cuộc tiến quân phải trì chậm lại”.
Báo cáo chính xác cuối ngày dừng lại với con số 346 địch chết tại chỗ và 100
súng đủ loại bị tịch thu, phần đông là thượng liên và đại liên phòng không,
những chốt lớn còn có súng cối do một Tiểu đội (10 người) trách nhiệm cố
thủ. Trên đỉnh “T – Bone”, nơi đặt bộ chỉ huy hành quân, Tướng Phú nói cùng
với phái đoàn báo chí và phóng viên điện ảnh từ Sài Gòn đến: “Nội trong đêm
nay, Sư đoàn 1 sẽ trở lại Bastogne. Trở lại Bastogne để chứng tỏ Quân lực Việt
Nam Cộng hòa thừa sức để tái chiếm bất cứ vùng đất nào mà trước đây tạm bỏ”.
Nhưng dự định của Tướng Phú và quyết tâm của người lính Sư đoàn 1 không
thực hiện đúng hẹn được, bởi hai Tiểu đoàn K5 và K9 cộng sản quyết liệt chận
đứng cánh quân Trung đoàn 3, nhất là tại đỉnh 100 (cách Bastogne 800
thước), đơn vị chốt tại đây tử chiến tuyệt vọng, không khoan nhượng. Nửa
đêm, rạng 14 qua 15, Tướng Phú vào máy truyền tin dã chiến nói chuyện trực
tiếp với người chỉ huy Trung đoàn 3: “Chỉ trong đêm nay, hay ngày mai, chứ
không thế là 22 hay 29 tháng 5, mấy đứa con đầu của anh (các đơn vị tấn công
tiền phương) có vào được hay không? Đừng nói lòng vòng … Các anh đừng làm
hồ danh Sư đoàn 1!”.
Sáng sớm ngày 15, Tướng Phú sau lần tiếp xúc mật với Tướng Trưởng, có ngay quyết định táo bạo:
“Dùng một đơn vị trinh sát nhảy xuống Bastogne xong từ trong đánh ra
ngoài, liên kết với lực lượng của Trung đoàn 3 từ ngoài tấn công dứt điểm”.
Cuộc trực thăng vận dự trù lúc 10 giờ sáng, đợi cho trời bớt sương mù theo
yêu cầu an phi … 10 giờ, 11 giờ, 12 giờ … từng giờ một phải được kéo lùi vì
khu trục không nhìn thấy mục tiêu để đánh dọn bãi cho quân bạn. 13 giờ 30-
Giờ G của chiến dịch đột kích bắt đầu. 18 Pháo đội 105 và 155 ly đồng tập
trung hỏa lực trút xuống Bastogne vũng lưới lửa. Mỗi pháo đội có 6 khẩu
súng, tức 108 nòng đại pháo cùng lần tác xạ; mỗi pháo đội nhận được lệnh
“pháo đội 10 tràng”, có nghĩa số lượng đạn bắn đi nhân lên 10 lần số súng.
Pháo binh chấm dứt để khu trục vào vùng. Đoàn khu trục thuộc Phi đoàn 518
từ Biên Hòa ra tăng phái mặt trận giới tuyến từ đầu tháng 4, những chiếc
phi cơ AD 6 này thật ra là đã thuộc loại “bỏ đi” của không quân lẫn hải quân
Mỹ chỉ dùng để huấn luyện, vì đã quá giờ bay sau Đệ Nhị Thế Chiến 1945,
nhưng khi vào tay phi công Việt Nam với những “người sinh ra để bay
Skyraider”, là loại khu trục cánh quạt có khả năng mang số bom nặng hơn
trọng lượng của nó như những danh tính Nguyễn Văn Cử, Phạm Phú Quốc
(thế hệ đàn anh) hoặc Trần Thế Vinh, Phạm Văn Thặng hôm nay, chúng trở
thành một vũ khí tấn công, yểm trợ tiếp cận cho bộ binh tuyệt hảo. Chỉ từ
một tuần từ 2 đến 9 tháng 4, năm 1972 Trần Thế Vinh đã hạ 21 chiến xa với
những trái bom đặt dưới cánh phi cơ của anh. Sáng ngày 15 này cũng thế,
những trái bom rơi từ phi cơ AD6 của Phi đoàn 518 như đặt vào những trái
bóng nhỏ vào những chiếc lỗ khít khao, bật tung toàn bộ hệ thống cố thủ của
các chốt quanh và của chính Bastogne. Sau đợt dội bom cường tập, Trung đội
trinh sát của Thiếu úy Hiệp nhảy xuống mục tiêu khi còn nguyên mùi bom,
lửa cháy trên đất đá. 9 Giờ sáng ngày 16, đại quân Sư đoàn 1 chiếm lĩnh tất cả
các cao độ quanh Bastogne. Từ trên cao nhìn xuống, lá Cờ Vàng của Thuận
Hóa, Bastogne đổ nát sáng rực giữa chập chùng màu xanh của rừng và hơi
khói đạn chưa tan.
Sau thất trận thê thảm ở cửa ngõ vào Tây – Nam Huế, nơi thung lũng A-Sao,
Sư đoàn 324B phải rút về Lào để tái bổ sung, biến mất khỏi chiến trường Trị –
Thiên. Nhưng thất bại quân sự của phía cộng sản không chỉ dừng lại với Sư
đoàn 324B mà còn kéo dài, mở rộng hơn với ảnh hưởng sâu xa đối với toàn
thể mặt trận phía Bắc nói riêng và sách lược của cuộc tổng công kích Mùa
Xuân 1972 trong tầm phương án tổng quát. Chúng ta hãy theo dõi tiếp sức
mạnh vô địch của Lôi Phong. Do một tính toán sai lầm tai hại (của chính Võ
Nguyên Giáp), phía Bắc quân mở trận đánh phục thù vào ngày 21 tháng 5
bằng đội hình mở rộng trên trận địa với chiến xa và bộ binh tùng thiết theo
chiến thuật cổ điển của chiến tranh quy ước. Trên vùng lau sậy bạt ngàn dọc
Phá Tam Giang song song với bờ biển, bộ binh và chiến xa cộng sản dàn đội hình theo trục lộ 555 (con đường nối quận Hải Lăng, cực Nam Quảng Trị về quận Phong Điền, Bắc Thừa Thiên). Kiểm soát được tuyến đường tức là nối được trục tiếp vận Bắc – Nam của vùng đồng bằng thuộc hai tỉnh địa đầu màmà không cần phải phụ thuộc vào Quốc lộ 1, hiện tại không thể vượt qua được chốt cầu Mỹ Chánh (do Tiểu đoàn 2 Thủy quân Lục chiến trấn giữ, phần trên vừa trình bày). Lực lượng cộng sản thoạt tiên tấn công các đồn địa phương quân và nghĩa quân, thành phần này được lệnh rút bỏ vị trí, lui về phòng tuyến của Thủy quân Lục chiến. Nương theo đà thắng lợi ban dầu, Bắc quân thọc sâu về phía Nam định bao vây,
bọc hậu hai Tiếu đoàn 3 và 9 Thủy quân Lục chiến. Nhưng hai đơn vị này đã áp dụng một kế sách tuyệt diệu: Bỏ trống trận địa không cho phía cộng sản chọn lựa chiến trường, để rồi giành lại ưu thế, khả năng thủ thắng cuộc giao tranh theo kế hoạch hành quân riêng của mình, bằng cách lui binh sâu về phía Nam năm cây số lập phòng tuyến mới. Khi binh đội cộng sản tiến vào khu vực bỏ trống mà hai Tiểu đoàn 3 và 9 vừa rút khỏi thì cơn mưa lũ lửa, sắt, thép của hàng trăm phi cơ Việt Mỹ cùng đổ xuống (nơi những vị trí đã sẵn yếu tố tọa độ tác xạ, dội bom). Không chịu buông thả mục tiêu như đã ấn định, sáng sớm ngày 22, lực lượng cộng sản tập trung hai mươi chiếc chiến xa, còn lại mở đợt tấn công lần hai vào vị trí Tiểu đoàn 3 và Bộ Chỉ huy Lữ đoàn 369. Cố gắng này hoàn toàn phá sản, bởi những giàn phóng hỏa tiễn TOW do Thủy quân Lục chiến sử dụng đã khai triển, vận động hết hỏa lực đáng sợ của nó, bắn hạ 10 chiến xa T-54 ngay trong đợt phản công đầu tiên, có chiếc bị cháy chỉ cách hầm chỉ huy lữ đoàn khoảng 400 thước. Thế trận Bắc quân hoàn toàn tan vỡ, thiệt hại 542 xác đếm được mà theo ước tính phải thêm một Trung đoàn bị loại ra khỏi vòng chiến.
Như cơn điên mê của loài thiêu thân tuyệt vọng, phía tư lệnh Mặt trận B2 cộng sản lại chuyển mũi dùi tấn công sang phía Tây, vùng trách nhiệm của Lữ đoàn 258 Thủy quân Lục chiến và Liên đoàn 1 Biệt Động Quân. Cách đánh thí quân này không thâu đạt một kết quả nhỏ nào mà còn để lại hơn hai trăm xác nằm chật trên những bờ bãi lau lách màu đỏ thẫm. Màu đỏ vốn có do từ nước cặn phèn nay thêm sẫm màu bởi máu đọng vũng. Không để cho địch quân có thì giờ dưỡng thương, lực lượng Thủy quân Lục chiến sử dụng lữ đoàn còn lại đánh dập toàn bộ những mũi tấn công của binh đoàn cộng sản cố lấn sâu xuống phía Nam sông Mỹ Chánh. Kế họach tấn công dứt điểm được hình thành với cuộc hành quân Sóng Thần 6/72 để đưa Lữ Đoàn 147 Thủy quân Lục chiến vào trận. Có thể nói rằng, đây là một cuộc hành quân thủy – bộ được tổ chức cao nhất từ trước đến nay của chiến tranh Việt Nam do phối hợp nhịp nhàng, vận dụng hết khả năng cơ động của binh chủng Thủy quân Lục chiến Việt Nam, kỹ thuật khoa học quân sự hiện đại tinh vi của quân đội Mỹ, cùng sức mạnh ghê hồn của hỏa lực phi pháo. Ngày 23 tháng 5, Tiểu đoàn 7 Thủy quân Lục chiến kín đáo rời phòng tuyến bố quân để ra bến tàu Tân Mỹ, năm cây số Đông – Bắc thị xã Huế; Tiểu đoàn xuống tàu nhỏ ra Hạm đội 7 đậu ngoài khơi, chờ giờ vượt tuyến tấn công mà đến lúc này cấp chỉ huy mới phổ biến cho binh sĩ biết. Cần mở một giải thích quan trọng về địa thế của chiến trường được chọn. Từ lúc chiến tranh Đông ương Thứ Nhất (1945-1954), vùng đất thuộc eo biển miền Trung dọc Phá Tam Giang, nằm giữa Quốc lộ 1 và bờ biển này là một vùng cấm kỵ đối với lực lượng quân đoàn viễn chinh Pháp, bởi địa thế quá hẹp, trống trải, nhưng lại là vùng sình lầy không thuận tiện việc điều động cơ giới, bộ binh di chuyển khó khăn, lại không có chướng ngại thiên nhiên để che giấu khi tiếp cận mục tiêu, hoặc ẩn tránh nếu xảy ra trận đánh. Tháng 7, 1953 Tướng Navarre (thay thế Tướng De Lattre giữ chức Tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương từ tháng 5, 1953) vừa cầm quyền được hai tháng, đã mở cuộc hành quân Camarque với một lực lượng thủy bộ đến ba mươi Tiểu đoàn để đánh bật Trung đoàn 95 cộng sản ra khỏi vùng, giải tỏa áp lực địch mạn Bắc Huế. Vì Huế luôn là một địa danh có giá trị tinh thần, tác động chính trị đối với tâm lý người Việt, vẫn còn lòng ngưỡng vọng một ông Vua với danh hiệu Quốc Trưởng và danh xưng nghi lễ “Hoàng Thượng, hoặc Bệ Hạ”. Nhưng dù khoa trương rầm rộ, cuộc hành quân phải chấm dứt vài ngày sau vì số thương vong do mìn bẫy quá cao và không có một đụng độ đích đáng như dự trù. Và dù trận liệt đã báo cáo bắt được 387 tù binh, 182 địch bị hạ, nhưng Trung đoàn 95 kia vẫn hoạt động và tiếp tục chiến đấu ở thời gian sau. Từ đấy, binh sĩ quân đoàn viễn chinh Pháp gọi địa danh đáng sợ này với một tên hiệu thê thảm “Dãy Phố Buồn Thiu” và Học giả người Mỹ Bernard Fall đã dùng làm tiêu đề cho một biên khảo của ông về chiến tranh Đông Dương lần thứ Nhất (1945-1954). Thế nên, địa danh trở nên quen thuộc với giới nghiên cứu quân sự và người viết nên cuốn sách kia cũng đã thiệt mạng do mìn bẫy khi theo quân đội Mỹ hành quân trên vùng đất này vào năm 1967.
Nhưng nay, Lữ đoàn 147 Thủy quân Lục chiến phá tan huyền thoại âm u kia lẫn lời tán tụng: Sư đoàn “nặng” 325 tổng trừ bị quân đội Bắc Việt là một đơn vị “quân đội nhân dân anh hùng, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Với một phối hợp đồng bộ tuyệt hảo, Bộ Tư lệnh Tiền phương của Sư đoàn Thủy quân Lục chiến Việt Nam đặt trên Soái Hạm USS Blue Ridge cùng với Ban tham mưu Hạm đội điều hành, chỉ huy cuộc hành quân đưa Tiểu đoàn 7 trở lại bờ biển bằng tàu đổ bộ của Thủy quân Lục chiến Mỹ. Khi đoàn quân cách bờ khoảng ba cây số, giàn hải pháo của Hạm đội 7 sử dụng những đại pháo có đường kính 16 inches hay 406 mm như của Thiết Giáp Hạm New Jersey đổ một màn lửa và mảnh thép công phá xuống các bãi đáp dự trù. Sau cơn bão nhân tạo do các hải pháo, phi cơ hạm đội xuất kích với Sky Hawk của hải quân, hoặc F-4C Phantom, A-7E Corsair của Thủy quân Lục chiến, tiếp dọn sạch các mục tiêu, và cuối cùng, con bài chủ lực, B52, vũ khí cột trụ của Lôi Phong được gọi tới trải tấm thảm lửa hung hãn suốt chiếu dài bãi biển dọc theo Hương lộ 555.
Lửa cuồn cuộn tung hoành đỏ rực sóng biển, hắt ánh hồng át mặt trời vừa bắt đầu bình minh. Từ khoảng cách hai cây số, (khoảng an toàn tối thiểu đối với B52, vốn là phi cơ oanh tạc chiến lược), hai đợt tàu đổ bộ gồm mỗi đợt 40 chiếc đưa Tiểu đoàn 7 ào vào bờ như những cơn sóng biển … Mà thật sự là một biển người đồng loạt xông lên bờ cát còn nóng mùi lửa. Đơn vị cộng sản cố thủ bờ biển trong chớp mắt phân tán mỏng chạy về phía Quốc lộ 1 tìm đường sống sót. Một đại đơn vị chỉ còn mười tù binh ngơ ngấn vì quá sợ hãi đưa cao tay đầu hàng lính Thủy quân Lục chiến. Nhưng đơn vị cộng sản tháo chạy về hướng Quốc lộ 1 (để vào vùng núi phía Tây), hoặc về phía Bắc (hướng sông Thạch Hãn) không còn được hy vọng trốn thoát lần cuối, vì hai Tiểu đoàn 6 và 4 Thủy quân Lục chiến đã nhảy xuống giao điểm nút chặn (của Hương lộ 555 – hướng Nam – Bắc, và Hương lộ 602 – hướng Đông – Tây) với cuộc trực thăng vận thần tốc thực hiện trong giờ Tiểu đoàn 7 đổ quân. Hai Tiểu đoàn 4 và 6 đụng độ ngay tại bãi đáp với Trung đoàn 18, đơn vị thuộc Sư đoàn 325, mà bộ chỉ huy đã thoát khỏi trận địa từ sau những thiệt hại từ giữa tháng 5. Sau bảy ngày “chà láng” mật khu “Dãy Phố Buồn Thiu”, Lữ đoàn 147 trả khung cảnh im lìm cho khu vực đúng như tên gọi, rút lại về phòng tuyến
Mỹ Chánh.

Từ trái: Đại Úy Campbell CV Trưởng TĐ, ĐU Nguyễn Xuân Phúc TĐP, TU Carson CV Phó và hàng quân TĐ 2 TQLC

Đại Úy Nguyễn Xuân Phúc
Quân đội Cộng hòa rút đi cùng lần biến mất khỏi trận địa những đơn vị từng là huyền thoại của bộ đội *cộng sản miền Bắc – Hai Trung đoàn mang danh số 66 và 88 của quân đội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hoàn toàn mất dấu khỏi hồ sơ trận liệt kể từ ngày, tháng này. Chỉ trong vòng một tháng 5 năm 1972 trong vùng trách nhiệm của Thủy quân Lục chiến đã có tới hai ngàn xác đếm được, hơn ngàn vũ khí bị tịch thu, 60 chiến xa bị loại khỏi vòng chiến, có chiếc khi bị “bắt sống” còn nguyên vũ khí, số đạn cấp phát. Chiến sĩ của những Tiểu đoàn 8 và 6 Thủy quân Lục chiến của Trung Tá Nguyễn Văn Phán, Đỗ Hữu Tùng (‘) đã không cho xạ thủ những chiếc tăng này bắn được một viên đạn.
Trong chuỗi biến động quân sự, hỗn loạn chính trị dài lâu ở miền Nam, có hai nhân vật được báo chí Tây phương, điển hình với giới truyền thông Mỹ – luôn khao khát “anh hùng, loại người có tiếng tăm hoặc gây tai tiếng” – gán cho tước vị, “người làm rung rinh Mỹ quốc”: Võ Nguyên Giáp và Trí Quang. Bởi hai con người này đã từng là thần tượng của đám trẻ nhỏ ăn chưa no, lo chưa tới trong những cuộc biểu tình nơi đường phố Sài gòn ở nhưng năm 60, 70; và những người gọi là “trí thức, học giả, văn nghệ sĩ, chính khách phản chiến” ở Mỹ, Tây Âu … Những thành phần ưu tú của xã hội Âu Mỹ có hiểu biết và cách giải thích chiến tranh Việt Nam không cao hơn tầm cỡ một gã đạo diễn làm phim ảnh giải trí, hoặc một cô đào hát bóng ở Hollywood.
Nhưng tất cả đã hoàn toàn bất tác động trước Người Lính Việt Nam Cộng Hòa với Tướng quân Ngô Quang Trưởng. Không phải chỉ một lần, mà suốt trong hai thập niên, từ Mùa Hè hỗn loạn 1966 đến ngày Ngày Hè Lẫm Liệt 1972.
(*) Trung Tá Nguyễn Xuân Phúc, Tiểu đoàn 2 và Đỗ Hữu Tùng, Tiểu đoàn 6 sau nầy chỉ huy Lữ đoàn 147 Thủy quân Lục chiến đã tự sát cùng lần với binh sĩ thuộc quyền tại bãi biển Mỹ Khê Đà Nẵng trong ngày 29 tháng 3, 1975 khi đơn vị buộc phải lui binh theo lệnh từ Sài Gòn.
Kỳ 3
Đoạt Lại Thành!
Ngày 28 tháng 6, 1972 chiến dịch Lôi Phong giai đoạn 2, hay Hành quân Lam Sơn 72 do Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 dưới quyền chỉ huy của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng khai diễn, tiến đến mục tiêu cuối cùng: Tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị với những đơn vị vũ bão thiện chiến nhất của quân lực – cũng là những Tiểu đoàn bộ chiến hàng đầu của quân sử thế giới – những Tiểu đoàn của Liên đoàn Biệt động, Sư đoàn Nhảy Dù và Sư đoàn Thủy quân Lục chiến. Chúng ta hãy sống lại những ngày tháng linh thiêng chỉ có một lần trong chuỗi lịch sử dài của dân tộc kiên cường với một quân đội kiệt liệt. Trước khi tham dự trận đánh lịch sử của giai đoạn 2, chúng ta cần trở lại khu vực trách nhiệm của Sư đoàn Nhảy Dù (phía Tây Quốc lộ 1 mở rộng đến sâu Trường Sơn) với nhiệm vụ chận địch ngay từ tuyến xuất phát – đường 556 chạy từ Cam Lộ, Khe Sanh xuống – trên những cao điểm động Ông Đô, núi Cô-rốc với dãy căn cứ hỏa lực Anne, Barbara (bị mất trong chiến trận tháng 4, khi lực lượng bộ binh trấn thủ phải lệnh bỏ những căn cứ phía Bắc sông Mỹ Chánh), đồi 24, một trong những cao độ chiến thuật quan trọng vùng “đồi hoa sim” tiếp đổ ra Quốc lộ 1, khoảng Mỹ Chánh, Phong Điền, quận ly hành chánh cực Bắc của Thừa Thiên – Huế, tiếp giáp Quảng Trị; hoặc các căn cứ chiến thuật Checkmate, Bastogne, Tây – Nam Huế.
Nếu không chận địch từ những vị trí nầy, mặt trận phía Đông (vùng trách nhiệm của thủy quân lục chiến) sẽ bị vô hiệu hóa, do lực lượng cộng sản sẽ luồn sâu xuống phía Nam hơn nữa, tránh đụng độ ban đầu để bao vây lực lượng bạn (Thủy quân Lục chiến), sau đó phối hợp tấn công cả ba mặt Bắc – Nam, cùng với mũi xuất phát từ Tây Trường Sơn (đã trình bày ở phần đầu bài viết và phần kể về Sư đoàn 1 Bộ Binh), qua hệ thống các mật khu liên hợp Cổ Bi, Hiền Sĩ, La Sơn, La Chữ .. đã hình thành từ giai đoạn 1945-1954, được xử dụng trong lần điều quân đánh chiếm Thừa Thiên – Huế, dịp tổng công kích Mậu Thân, 1968.
Thật ra Trung Trướng Ngô Quang Trưởng đã có sẵn Liên đoàn 1 Biệt Động Quân (ba Tiểu đoàn 21, 37, và 77), và Lữ đoàn 2 Dù (gồm ba Tiểu đoàn 5, 7, 11) kể từ ngày 1 tháng 5, ngay khi ông vừa cầm quyền Tư lệnh Quân đoàn 1. Nhưng vào thời điểm ấy, lực lượng Biệt Động và Lữ đoàn Dù đặt dưới quyền chỉ huy hành quân của Bộ Tư lệnh Sư đoàn Thủy quân Lục chiến, nên phải đợi đến cuối tháng 5, khi giai đoạn 1 của chiến dịch được thực hiện với những thắng lợi lừng lẫy của Thủy quân Lục chiến và bước chuẩn bị Lôi Phong giai đoạn 2 đang dự định khai diễn, Quân đoàn 1 mới được tăng cường thêm Bộ Tư lệnh Sư đoàn Dù với hai Lữ đoàn 2, 3 còn lại (ngày 22 tháng 5).
Quyết định này được thi hành sau khi đã xét tới quan niệm – tăng viện mặt trận giới tuyến một Sư đoàn Bộ binh của Vùng IV – như đã thực hiện với những Trung đoàn của Sư đoàn 9 và 21 Bộ binh đối với mặt trận An Lộc. Nhưng Tướng Trưởng đã khẳng định: Với lực lượng cơ hữu, Sư đoàn 1 và 2 Bộ binh; Binh đoàn tổng trừ bị (Biệt Động Quân, Nhảy Dù và Thủy quân Lục chiến) tăng phái hành quân hiện có và dự trù, ông đủ khả năng để giành lại toàn bộ lãnh thổ bị mất từ tháng 4. Lời nói của vị tướng quân mặt trận được hiện thực qua những nỗ lực của từng đơn vị, với mỗi người lính. Theo kế hoạch hành quân, ngày 29 tháng 6, hai Tiểu đoàn 9 và 11 Dù được trực thăng vận xuống phía Bắc sông Nhung, con sông nhỏ bắt đầu từ nguồn động Ông Đô trong Trường Sơn chảy theo hướng Đông – Bắc qua vùng xã Trường Phước, Mai Đằng, Thường Xá để đố vào sông Thạch Hãn, phía Đông thị xã Quảng Trị. Nhưng do cuộc tiến quân của Tiểu đoàn 7 Dù (vùng Mỹ Chánh) đằng sau bị chận lại, cũng do một phần bị “Hot LZ – bãi đáp bị pháo”, nên hai Tiểu đoàn phải nhảy xuống ở phía Nam con sông. Rời khỏi thân tàu, lấy con đường làm chuẩn, 11 bên phải, 9 bên trái, những người lính đội nắng lửa và đạn pháo tiến lên trên những khu đồi trọc loang lổ vết tích, xe cộ, quân trang, vũ khí và xác người của chiến trận tháng trước. Đoàn quân không được một chút ngưng nghỉ – bởi, Quảng Trị hướng trước mặt, ly giác 4200(*), chỉ với chín cây số khoảng cách. Người lính Tiểu đoàn 11 Dù còn có thêm một yếu tố tâm lý và quyết tâm khác đối với những đồng đội thuộc đơn vị bạn: Tâm lý phục hận và ý chí quyết thắng – Họ vừa từ mặt trận Charlie, Kontum trở về và là đơn vị thành lập sau cùng của Sư đoàn Dù. Họ phải vào Quảng Trị trước nhất để xác chứng sức chiến đấu không mai một dẫu bị thiệt hại nặng của chính bản thân, cũng như của binh chủng và toàn quân lực. Tâm lý, ý chí này không là một điều tưởng tượng cố ý thổi phồng, trái lại đã hiện thực từ lần thử sức sơ khởi vào hai ngày trước buổi trọng đại ngày 28 tháng 6 đang xảy ra. Ngày 26, một lực lượng hỗn hợp của Bắc quân gồm Bộ binh và Thiết giáp vượt sông Mỹ Chánh tấn công thắng vào vị trí đóng quân của 11 Dù (để bẻ gãy mũi tiến công tiên phong của thế trận phản công mà chắc rằng họ đã theo dõi và ước tính ra). Nhưng Thiếu Tá Lê Văn Mễ (thay thế cố Đại Ta Nguyễn Đình Bảo, tử trận ngày 12 tháng 4 tại cứ điểm Charlie, Kontum) và những người lính của Tiểu đoàn 11 Dù đã phá vỡ toàn diện mưu định này với cuộc phản công tưởng như câu chuyện không thật. Vừa phát hiện thành phần tiền phương của Bắc quân, tổ báo động Đại đội 111 do Trung úy Đinh Viết Thanh chỉ huy khai hỏa trước, đội hình bị tán loạn, toán lính Bộ binh cộng sản buộc phải tháo chạy trở lui, để chiến xa tiến lên lập phương thức tấn công mới. Nếu ở mặt trận Đường số 9, chiến dịch Lam Sơn 719, năm 1971, người lính miền Nam do lần đầu tiên đụng với chiến xa Bắc Việt, nên đã chưa tìm ra được tính chất kỹ thuật của nó và đã chịu phần thiệt hại không tránh. Nay sau một năm huấn luyện và rút tỉa kinh nghiệm từ đầu chiến trận năm nay, họ đã tìm ra yếu huyệt của T54 – nơi bình xăng cạnh hông của nó. Thế nên, khẩu súng hỏa tiễn chống chiến xa XM 202 bốn nòng đã bắn ra không phí một quả đạn, bốn chiếc tăng T54 bốc cháy, chiếc thứ năm tìm đường thoát thân, người khinh binh sử dụng tiếp khẩu XM 72 cá nhân, chiếc thứ năm cùng chung số phận với ngọn lửa hung hãn phát ra từ bình xăng bị bắn vỡ. Bắc quân vẫn không núng thế, lập lại thế trận với một đoàn chiến xa đông đảo hơn, dẫn đầu toán Bộ binh tùng thiết xung phong vào phòng tuyến quân Dù.
Nhưng quân Nam đã chuẩn bị sẵn những khắc tinh công hiệu: Pháo binh đạn đầu nổ cao để tiêu diệt Bộ binh, đạn chạm nổ chận chiến xa và phi cơ khu trục từ Đà Nẵng khẩn cấp vào vùng khi pháo dứt. Đội hình quân cộng sản dần tan vỡ và phía nhảy dù quan sát thấy Bộ binh địch đang yểm trợ nhau để rút lui. Nhưng chạy trốn không thể là chuyện dễ, Tiểu đoàn Trưởng Mê Linh điều chỉnh chính xác pháo binh 105 cơ hữu của Sư đoàn Dù tập trung vào điểm vượt sông (khoảng sông cạn nước mà lính Công binh Bắc Việt đã lấp đá xuống để chiến xa có thể đi qua) và ra lệnh cho Tiểu đoàn bỏ vị trí truy kích địch. “Khủng Long” Lại Văn Long, Đại Đội Trưởng 114, thành phần trừ bị của Tiểu đoàn xung trận như cảnh tượng của phim ảnh chiến tranh. Thân hình nhỏ bé của anh ghìm chặt cây đại liên 60 chạy trước hàng quân. Người lính âm thoại viên chạy theo … Trung úy, Trung úy, có máy của Mê Linh, Mê Linh gọi Trung úy … Anh ta đưa ống liên hợp máy truyền tin cho Long. Long hét lớn. Cái gì, mày hỏi Mê Linh nói gì? Mê Linh bảo Trung úy cho đại đội đuổi tụi nó tới bờ sông, không được vượt sông! Mày nói với ông tao sắp tới bờ sông! Cây súng giật ngã ngửa người, Long choàng sợi giây đeo súng lên vai, chéo ngang lưng, hai tay giang rộng, ngoắt ngoắt … Lên, lên … không cho một thẳng chạy thoát, đuổi hết chúng về Bắc luôn. Lính Bắc vất bỏ súng, đạp lên những đồng đội bị thương hoặc chết để qua khỏi khúc sông, những chiếc tăng đè chồng lên nhau nghẽn dòng chảy càng làm thêm cảnh tượng hỗn loạn. Lính Tiểu đoàn 11 truy kích giặc tới bờ sông, xong trở lại thu nhặt vũ khí, ngoài năm chiếc bị bắn cháy nơi tuyến đầu của Đại đội 111, Tiểu đoàn còn đếm được thêm chín chiếc T54 và PT76 khác rơi rớt dài cho đến địa điểm vượt sông, trong đó bảy chiếc còn nguyên vẹn, máy vẫn còn nổ do lính thiết giáp đã bỏ xe chạy trốn. Sau nầy, khi các Tiểu đoàn Dù bàn giao khu vực trách nhiệm lại cho Trung Đoàn 4 Sư đoàn 2 Bộ binh từ Đà Nẵng ra tăng cường, lính Trung đoàn 4 tìm thấy được nhiều thiết vận xa BTR85 khác do Bắc quân giấu trong những bụi rậm dọc bờ sông Mỹ Chánh. Chỉ là trận mở đầu, chưa hết một đêm với thành phần những đại đội tiền phong của Tiểu đoàn 11 Dù. Đơn vị vừa bị thiệt hại nặng nề tháng trước ở mặt trận Tây Nguyên.
Xuống bãi đáp, lấy Quốc lộ 1 làm chuẩn, lính của hai Tiểu đoàn 9 và 11 với vũ khí cầm tay ở vị thế sẵn sàng tác chiến cùng tiến lên. Và trước mắt họ một cảnh tượng kinh hoàng trải dài dưới ánh nắng, trên bãi cát im lặng. Dẫu lòng cứng cỏi, rạn rày, đã sống rất lâu trong dòng lửa đạn, cạnh cái chết, giữa những xác chết, nhưng người lính cũng không hề có ý tưởng tới, chịu đựng nối với cảnh tượng đang hiện ra trước mặt. Họ đang ở trên cây số 9, Nam thị xã Quảng Trị, vùng thôn Mai Đằng, xã Hải Lâm, quận Hải Lăng. Không thể dùng một chữ, một nhóm từ ngữ để diễn tả. Không thể nói nên lời, khóc, la thành tiếng. Họ chỉ có thể im lặng nghiến răng, bặm môi, dù răng vỡ, môi chảy máu tươi, tay luống cuống, mắt mờ nhạt, mũi phập phồng, hít thở khó khăn. Họ không có thể biết gì về thân thể đang mở ra, hứng chịu sự tàn khốc trước mặt.
Trời ơi! Hình như có tiếng than ngắn đau đớn này … Thanh âm mơ hồ dội ngược ở lồng ngực, sâu cổ họng, hay chỉ là ảo giác, về một ý niệm khi con người mất khả năng kiểm soát trước cảnh đau thương quá lớn. Họ không còn là người đang sống, vì sống là sống cùng với người sống, chia xẻ vui buồn, đau đớn lo âu với người sống. Nhưng nay, chung quanh, trước mặt chỉ còn một hiện tượng, một không khí – Sự Chết.
Phải, chỉ sự chết đang bao trùm vây cứng. Chỉ nỗi chết đang chập chùng phủ kín không gian. Và cho dù mới đây, ngày kia, tuần trước ngày giờ kinh khiếp này, họ trở về đây từ Kontum, Tây Nguyên, từ An Lộc, Bình Long, miền Đông Nam Bộ: Nơi chốn dày đặc những ngôi mộ vô danh, mộ tập thể. Nơi có những cách chết câm lặng, nuốt xuống đau thương … Người cha trầm tĩnh đi tìm từng bàn chân, cánh tay của năm đứa con và người vợ vừa bị tan thây vì quả đạn đại pháo, nhưng lại còn được một nấc chót – Nhưng dẫu sao bên cạnh người chết kia vẫn có người sống – Người đang sống với thể xácvô tri, đi đứng chuyển dịch như thứ người cuồng điên bi thảm – Người điên buồn, điên lặng, điên câm nín, điên ở trong, điên chạy ngược. Ở An Lộc, người lính còn sống được với những con người cuối đáy đau thương ấy, nơi chốn anh và đồng đội đã góp phần xương, máu, mạng sống để giữ vững. Hơn thế nữa, An Lộc lại quá nhỏ, chỉ hơn một cây số vuông, nên cái chết cô đặc lại, ngập cứng vào người, nhanh, gọn như nhát dao ngọt, như đạn bắn thẳng. Chết đến chớp mắt, người chưa kịp chuẩn bị đón nhận, chưa kịp có phản ứng thì đã lún hẳn vào.
Cuối cùng, An Lộc phải cố gắng quên đi, dù rằng chỉ hơn tháng trước. Đèo Chu Pao, Tây Nguyên đành quên đi về cảnh chết (không còn người sống sót để chứng kiến) xảy ra giữa vùng núi rừng im lặng heo hút. Chu Pao, nơi nào, có ai biết. Nếu có chăng, chỉ người lính viết dòng thơ Lâm Hảo Dũng với:
Chu Pao ai oán hờn trong gió,
Một mảnh khăn tang, một tấc đường …
Trái lại, ở đây, thôn Giáp Hậu, Mai Đắng, Hải Lâm, quận Hải Lăng, Quảng Trị thì khác hắn. Khác hẳn với An Lộc. Cao hơn An Lộc một bậc. Trên hơn An Lộc một tầng. Tầng cao ngất thảm thiết. Dài hơn An Lộc một chặng. Dài hun hút thương tâm. Sự chết trên chín cây số đường này là chín cây số trời chết, đất chết. Chết trên mỗi hạt cát, chết trên đầu ngọn lá, chết vương vãi từng mảnh thịt, chết từng cụm xương sống, đốt xương sườn, chết lăn lóc đầu lâu, chết rã rời từng bàn tay cong cong đen đúa. Nhiều quá, chín cây số hay chín ngàn thước, mỗi thước trung bình hai bộ xương tung tóe. Vậy tất cả là bao nhiêu? Không làm phân biệt được tay này, chân kia, đầu lâu người nọ. Chiếc xe Công binh ủi một đường dài, những xác chết. Không, phải nói những bó xương bị dồn cùng áo quần, vật dụng, chạm vào nhau nghe lóc cóc, xào xạc, “đống rác” người ùn ùn chuyển dịch, một chất nhờn đen đen ươn ướt lấp lánh trên mặt nhựa – nhựa thịt người! Trời nắng, đồng trắng, con đường im lìm, động cơ chiếc xe ủi đất vang đều đều, hơi nắng bốc lên từng đường trên mặt nhựa, hơi nặng mùi. Vạn vật chết trong lòng ánh sáng. Ánh sáng có mùi người chết. Vượt qua cảnh chết. Giữa sự chết. Người lính xốc tới.
– Phải tiến thật nhanh nghe “râu”, tụi nó sửa soạn “pháo” cho mình kỹ lắm đó. Mê Linh, Tiểu đoàn Trưởng 11 Dù nói cùng Thành “râu”, Tiểu đoàn Phó. Chữ “pháo” Mễ nói rất nhỏ như không muốn nhắc tới như một điều cấm ky, do đã hứng chịu từ trận đồi “C”, Charlie (Kontum) suốt những ngày tháng 4 vừa qua và mới đây, khi vừa vào vùng Phong Điền đã nhận thêm sáu mảnh vụn …Hóa ra tao nặng hơn là vì trong người có thêm sắt! Mễ nói cùng người bạn phóng viên chiến trường đi theo đơn vị. Hai chỉ huy trưởng, phó của Tiểu đoàn thúc hai cánh quân đánh nhào vào trụ sở xã Hải Lâm, chiếm lấy mục tiêu trong chớp mắt. Đánh mấy mục tiêu này là đánh chơi thôi, mai, mốt, ôn, tui “đập tụi nó” trong Cổ thành mới đã! Mễ nói với Thành, giọng không một chút đùa cợt. Anh còn nguyên mối uất hận của lần thất trận oan nghiệt của hơn tháng trước. Hai người nói chuyện cùng nhau với những thổ ngữ riêng của quê hương mình. Họ đang “đánh giặc để giữ nhà”, chứ không phải là cuộc hành quân bình thường do nhiệm vụ của một người lính. Về cánh quân Tiểu đoàn 9, Bộ chỉ huy Tiểu đoàn cùng Trung đội súng cối xuống bãi đáp lung linh một màn hơi mờ đục … Ủa sao đã sáng rồi mà trời còn tối thế này và cái mùi chi mà hôi quá ta!? Trung sĩ Hùng mang máy truyền tin cho Trung tá Phú, Tiểu đoàn Trưởng loay hoay trên bãi cát, nhặt được một đôi giày khá tốt, anh khoái chí lẩm bẩm: “Trước khi đi hành quân thì nhà cháy, chỉ còn mấy mươi đồng trong túi và bộ áo quần trên người, bây giờ lượm được đôi giày cũng an ủi một phần … “.
Trước khi xỏ chân vào, Hùng lắc lắc chiếc giày, những mấu đất đá có mùi hôi từ chiếc giày rơi ra …Anh nôn khan … Mùi thịt người bị thiêu cháy dở rơi rớt đen đúa. Mặt trời lên cao, làn hơi đục có mùi gây gây tanh tưởi kia được hiểu ra: Hơi của những tàn lửa âm ỉ do những đám cháy ở ngày cuối tháng 4 vừa qua. Lửa đã bốc cháy do lửa đạn. Lửa được nuôi dưỡng bởi vật chất xăng, dầu, gỗ, thép, áo quần của đám người chạy loạn. Lửa thêm được gi gìn bởi chất hữu cơ, thịt, xương, da, thân xác con người chảy nhão. Hùng nhìn quanh, thấy từ trong một thiết vận xa M113 hai ống chân mang giày lính lay động … Chẳng lẽ thằng cha này còn sống?! Hùng và vài người lính đi đến. Hóa ra chỉ là phần thân thể còn lại của một người, lũ chuột đang cấu xé trên phần chân thối rữa. Trời sáng hơn, nên cũng thấy rõ những chiếc sọ vữa nát nằm lềnh khênh. Không có cái nón sắt nào thì đây chắc là đầu của dân thôi, sao Việt cộng nó ác vậy hở trời! Lính Tiểu đoàn 9 ghìm xuống những phản ứng xa xót, họ biến mối đau thương nên thành nguồn lực mạnh mẽ …
“Năm Mậu Thân (1968) Tiểu đoàn mình có ở đây, hắn (Việt cộng) không làm gì được, nên bữa ni hắn trả thù dân đây mà, lần ni, bắt được thì đừng trách tui ác … “. Người lính phát âm giọng Quảng Trị, miền thôn quê vùng biển. Trong đơn vị nhảy dù, người miền Trung giữ tỷ lệ khá lớn, dân Quảng Trị, Thừa Thiên chiếm đa số, toàn là người tình nguyện, sĩ quan cùng binh sĩ.
Tiểu đoàn 9 tiến quân về hướng núi Tang Téo sát bờ Nam sông Thạch Hãn, mục tiêu cực Tây của đoàn quân tiến chiếm Quảng Trị. Tướng Ngô Quang Trưởng rất tinh tế và chính xác để đẩy đơn vị này sâu về hướng Tây: Nếu không ngăn giữ cạnh sườn (Đông Trường Sơn), hướng tiếp vận chính của Bắc quân, thì cuộc hành quân giải tỏa Quảng Trị sẽ không bao giờ được thành tựu. Bởi kế sách hàng đầu của quy luật tác chiến (chung nhất cho cả Đông, Tây; kim, cổ) là triệt lương và đả viện – vạn bất đắc dĩ mới tấn công trực diện – khi không còn kế hoạch tấn công nào khác. Chúng ta lưu ý: Trung Tướng Ngô Quang Trưởng chỉ tiến đánh Cổ thành khi đã chuẩn bị và thực hiện đủ về các giai đoạn triệt lương và tăng viện. Lính Tiểu đoàn 9 còn có thêm lòng tự tin với địa danh Quảng Trị nầy: Năm Mậu Thân, 1968 chính họ cùng những đơn vị địa phương đã giữ yên thị xã sau một ngày một đêm huyết chiến ở khu Công giáo Tri Bưu và thôn Hạnh Hoa, ngõ vào thành phố ở hướng Nam. Đêm đóng quân đầu tiên, lính Bắc không đợi cho phía Tiểu đoàn 9 chuẩn bị thế trận, sau cơn mưa lũ trận địa pháo do những dàn pháo 130 ly (Pháo tầm bắn xa 27 cây số của Bắc quân) từ vùng Nam sông Bến Hải dội xuống, ba xe tăng cùng bộ binh tùng thiết bắt đầu tấn công vào vị trí dã chiến của hai Đại đội 91 và 94. Hai Đại đội giữ vững vị trí qua một đêm chịu pháo và những đợt tấn công liên tục do nhiều đơn vị thay nhau nối tiếp. Trời sáng, lính Tiểu đoàn 9 ra nhô mình lên khỏi hố chiến đấu, nhìn xuống triền đồi sỏi đỏ nằm la liệt những xác chết mặc áo quần màu xanh lá cây.
– Mày xem tụi nó ê càng chưa? Hai Đại đội trưởng 91 và 94 hỏi nhau.
– Tao đoán đây là tụi 320B hoặc 304, nó đánh mình nhiều đợt cả đêm chắc phải hơn Tiểu đoàn, mà không phải chỉ một Tiểu đoàn, có thể nhiều hơn nữa.
– Nếu nó dùng Tiểu đoàn đánh mình mà chết như thế này thì tại sao mình không ra lục soát, truy kích!
Lính hai Đại đội cùng bung ra khỏi hố, họ đếm được 70 xác chết và ba chiếc tăng bị bắn cháy. Nó chết ở đây 70 xác tức là cấp Tiểu đoàn đã đánh mình, phải là Tiểu đoàn nó mới có ba chiếc tăng đi theo! Những người sĩ quan chỉ huy cấp đại đội, trung đội kia đã ước tính đúng đơn vị địch tham chiến, tuy nhiên họ không biết được quan niệm điều quân của viên tướng cộng sản chỉ huy chiến dịch: “Cứ hai phút một, trên địa cầu có ba trăm ngàn người chết. Vậy bốn mươi lăm ngàn người chết trong một trận đánh có nghĩa là lý gì!” Lời tuyên bố đẫm máu này của Võ Nguyên Giáp được kẻ phỏng vấn ngợi khen: “Đấy là lý thuyết Karl Marx có tính khắc kỷ của Hà Nội.” Cách tung, hứng của tên sát nhân và kẻ tán dương việc giết người.
Tuy không biết được những tính toán tàn nhẫn này, nhưng những viên sĩ quan nơi chiến địa kia có đủ kinh nghiệm để chuẩn bị cho cuộc thư hùng kế tiếp, dẫu họ chỉ là những viên sĩ quan cấp úy quá trẻ so với ác độc của chiến tranh, như viên Thiếu úy Thắng, vừa qua hai mươi tuổi, quyền Đại đội Trưởng Đại đội 93, bởi viên Đại úy Đại đội Trưởng đã bị thương trận từ tuần trước. Đêm thứ hai, rút kinh nghiệm lần thất trận, Bắc quân đánh phục hận với một lực lượng xe tăng đông gấp bội. Lần tấn công thứ hai này cũng không có kết quả khá hơn. Sáng hôm sau, Tiểu đoàn kiểm chứng số tăng bị bắn cháy, Trung Tá Trần Hữu Phú, Tiểu đoàn Trưởng 9 Dù báo cáo: “Vậy là chỉ trong vòng 48 giờ, Tiểu đoàn tôi bắn cháy 18 chiếc tăng cả thảy. Phải bảo cáo đến lần thứ ba, viên sĩ quan trực phòng hành quân sư đoàn mới tin là thật. Nơi Bộ Tư lệnh Tiền phương Sư đoàn Dù các sĩ quan kháo chuyện cùng nhau có lời tán dương: “Nó (Tiểu đoàn 9) đánh thế này thì vi-xi còn đâu tăng nữa để cho đơn vị khác bằn cháy!”.
Thành quả chiến trận không chỉ tác động nơi những chiến địa khốc liệt, bên kia trời Tây xa, hội nghị Paris bắt đầu có dấu hiệu phía Bắc Việt cần nói chuyện nghiêm chỉnh. Lẽ tất nhiên, những người lính ở chiến trường không hề biết về điều bí ẩn này với những con người gọi là “nhà chính trị”. Cả phe cộng sản lẫn người Mỹ. Họ chỉ có những ngày nằm im dưới nắng, ẩn mình sau bóng lá nơi thông thủy (khe nước chảy giữa hai cao độ), đợi đến đêm bò lên đồi đóng quân, và chịu pháo. Nhưng họ đã bị cáo buộc là “kéo dài chiến tranh để duy trì một chế độ quân phiệt đặc quyền, đặc lợi”. Lời cáo buộc có tham dự của tất cả “những người yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới”: Những văn, thi sĩ, băng đảng của đoàn bè lũ bọn trẻ chỉ muốn làm tình chứ không chịu đi lính, trí thức có học vị cao, giáo sư triết học, đám sinh viên trốn quân dịch, chính khách cấp tiến phái tả, lãnh tụ tôn giáo, ca sĩ, đào hát, nữ tài tử điện ảnh đóng phim cởi truồng …Lẽ tất nhiên không thể thiếu những người lập nên giải thưởng gọi là “Nobel Hòa Bình” và kẻ nhận giải. Sau lưng hai Tiểu đoàn 9 và 11, Tiểu đoàn 7 Dù do Khôi Nguyên và Lôi Hổ (Khôi Nguyên: Thiếu Tá Trần Đăng Khôi, Tiểu đoàn Trưởng; Lôi Hổ: Thiếu Tá Nguyễn Lô, Tiểu đoàn Phó) chỉ huy trong đêm 28 rạng 29 đã vượt sông Mỹ Chánh với đội hình từng người một bò qua chiếc cầu đã bị giật sập từ tháng trước. Tiểu đoàn này có nhiệm vụ qua sông trước để làm an ninh bãi đáp cho hai Tiểu đoàn bạn đổ bộ trực thăng vào ngày 29 (vừa trình bày phần trên); và khi hai Tiểu đoàn 9, 11 đã thanh toán xong các mục tiêu chỉ định, Tiểu đoàn 7 vượt qua mặt hai đơn vị này với nhiệm vu: Tiến tới Cổ thành trong thời hạn ngắn nhất.
Sở dĩ đơn vị này được giao trách nhiệm vinh dự kiêu hãnh này vì những người chỉ huy mặt trận, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng; Trung Tướng Dư Quốc Đống, Tư lệnh Sư đoàn Dù; Đại Tá Lê Quang Lưỡng, Phụ Tá Hành Quân; Lữ đoàn Trưởng Lữ đoàn 2, Đại Tá Trần Quốc Lịch đồng thuận một quan niệm: Đánh vào Cổ thành thì phải có tay “ông ấy”: Ông ấy là Nguyễn Lô, người “không cao quá chai bia lớn”, theo diễn tả hài hước của bằng hữu trong và ngoài quân đội, nhưng là tay kiệt liệt nhất trong hàng ngũ sĩ quan tác chiến của nhảy dù hay cũng của toàn quân. Những ca ngợi kính phục của chiến hữu không phải tự nhiên nên có nhưng đã được dẫn chứng từ ngày ra trường năm 1963 với đơn vị hàng đầu của quân đội, Tiếu đoàn 1 Nhảy Dù. Và tại chiến trường Trị Thiên này, ngay đêm mồng 1 rạng mồng 2 Tết Mậu Thân, 1968 một mình Lô xung trận vào cửa An Hòa, cửa Chánh Tây của Thành Nội Huế làm đầu cầu để lực lượng Dù vào Mang Cá tăng viện cho Tướng Trưởng (phần thứ Hai của bài viết về Mậu Thân). Và mới đây, tháng 4, 1972 chỉ mình Lô – phải, chỉ một mình Lô với Tiểu Đoàn 7 “trừ” (tức chỉ với ba đại đội tác chiến) đã nhổ bật chốt Chu Pao, Tây Nguyên, điểm chết trên Quốc lộ 14, giữa Kontum và Pleiku. Bộ Tư lệnh Quân đoàn, giải quyết được mặt trận Vùng 2 hay không từ điểm tắt thở ngặt nghèo này. Lần này cũng thế, mọi người tin chắc Lô sẽ đến Cổ thành trước nhất. Lô phải chiếm lại Cồ thành Đinh Công Tráng. Có một điều không nói đến nhưng ai cũng nhận thấy, Lô là người Quảng Trị. Lôi Hổ phải trở lại nhà xưa.
– Sông Lô lấy bản đồ ra, moa chỉ mục tiêu phải đánh trước khi vào cái chỗ tụi khốn nạn đang đóng chốt (Cổ thành) cả hai tháng nay. Khôi Nguyên bảo Lô trước khi anh chàng dẫn Đại đội 74 làm thành phần xung kích mở đường vào khu phía Đông – Nam thị xã.
– Khỏi cần, tui đi thẳng một mạch là tới thôi, xóm đó nhà tui mà Khôi Nguyên. Nhưng mà sao tui chỉ có “thằng 74″?
– Thì toa đi với đại đội cũ của toa, moa đi với “thằng 74” của moa.
Hóa ra Thiếu Tá Trần Đăng Khôi, Tiểu đoàn Trưởng đã có kế hoạch, hai Tiểu đoàn Trưởng, Phó, chỉ huy trực tiếp hai Đại đội cũ của mình (lúc Khôi và Lô mang cấp bậc Trung, Đại úy và chỉ huy những Đại đội kia) để đánh vào những vị trí mà đơn vị phải chiếm lại nếu muốn tiến đến mục tiêu tối hậu Cổ thành. Cần nói rõ về một yếu tố, trong trận đánh lớn nhất thời chiến tranh Đông Dương lần thứ Nhất, trận Điện Biên Phủ, năm 1954, lực lượng nhảy dù quân đoàn viễn chinh Pháp sử dụng đơn vị căn bản là Đại đội làm thành phần xung kích tác chiến, thế nên cấp Tiểu đoàn Trưởng, Phó, Sĩ quan tham mưu Tiểu đoàn có được phần an toàn ở những Bộ chỉ huy hành quân, nên sau chiến dịch, dẫu lực lượng nhảy dù Pháp bị tổn thất nặng, nhưng thành phần chỉ huy đơn vị được bảo toàn.
Và khởi đầu cuộc chiến hôm nay, suốt những năm đầu thập niên 60, mô thức tác chiến kia vẫn còn được duy trì, nhưng kể từ sau khi chiến trường trở nên năng độ với trận địa chiến bắt đầu (1965), thì lần ranh an toàn của sĩ quan chỉ huy cấp Tiểu đoàn đã không còn nữa. Cũng với Tiểu đoàn 7 Dù này, chỉ riêng trận Đồng Xoài (tháng 6, 1965) đơn vị đã thiệt 14 sĩ quan từ Tiểu đoàn Trưởng đến Trung đội Trưởng.
Trận chiến Mậu Thân 1968, Hạ Lào 1971, và nay, 1972 vào trường hợp nguy kịch, Tiểu đoàn Trưởng, Phó chỉ là những khinh binh đi sau một Tiểu đội, bán Tiểu đội, họ chính là những khinh binh dẫn đầu đơn vị. Trường hợp Tiểu đoàn 6 ở mặt trận An Lộc; hay 7, và Tiểu đoàn 11 Dù ở Tây Nguyên ngày khởi đầu chiến cuộc năm nay đã là những điển hình rất mới. Hai đại đội được hai Tiểu đoàn Trưởng, Phó chỉ huy trực tiếp áp dụng cá nhân chiến đấu đánh từng hầm hố và Lô trở lại chức vụ Đại đội Trưởng thực thụ khi Trung úy Phi, Đại đội Trưởng bị thương khi đánh chiếm ngã Ba Long Hưng, nơi giao điểm của Quốc lộ 1 và đường Lê Huấn, cửa ngõ phía Nam của Quảng Trị. Quân nhảy dù và lính Bắc rơi vào một tình trạng tưởng không thể có: Những toán chốt của phía cộng sản (do không rút đi được) và tiền đồn nhảy dù xen lẫn vào nhau, nên thường vụ Tiểu đoàn Dù ban đêm khi đánh thức binh sĩ dậy thay phiên gác đã chạm phải thương binh cộng sản.
Tiểu đoàn men theo thung lũng tử thần (lối tiến quân giữa những cao ốc) được bố trí bởi B40 (súng phóng lựu) và đại liên chi chít cốt đánh dần phía Cửa Tả, lối đi về làng Công giáo Trí Bưu ở phía đông. Nhưng kể đến ngày 7 tháng 7, những người lính Tiểu đoàn 7 dẫu bằng thép đúc cũng không qua khỏi cánh đồng Mai Lĩnh để chiếm khu trường học Nguyễn Hoàng, cách vòng hào Cổ thành con đường Lê Văn Duyệt.
Tuy Tướng Trưởng đã ủy nhiệm Bộ Tư lệnh Sư đoàn Dù toàn quyền trong khu vực trách nhiệm, nhưng liên tiếp những ngày đầu tháng 7, Sư đoàn dẫu chịu thiệt hại nặng nề từ cấp Tiểu đoàn Trưởng, Tiểu đoàn Phó, và một loạt Đại đội Trưởng, Trung đội Trưởng của hầu hết các Tiểu đoàn thuộc mũi nhọn tiến công Cổ thành, điểm cao nhất của nhảy dù vẫn không đi quá ngã Ba Long Hưng với Tiểu đoàn 7. Cuối cùng, Tướng Trưởng quyết định tăng cường cho Sư đoàn Dù đơn vị chuyên đánh đêm: Liên đội xung kích thuộc Liên đoàn 81 Biệt Cách do “Hổ Xám”, Thiếu Tá Phạm Châu Tài chỉ huy để tìm cách bứng chốt Cổ thành, sau khi Đại đội 2 Trinh Sát của Lữ đoàn 2 Dù cũng đã cố công nương theo đường của Tiểu đoàn 7 để xâm nhập vào. Nhưng hai đơn vị biệt kích, trinh sát này vẫn không lập được cứ điểm kháng cự trong lòng địch một cách có hiệu quả.
Một tháng đã qua kể từ ngày khai diễn giai đoạn 2 của chiến dịch, Cổ thành Đinh Công Tráng vẫn là điểm lửa mà đôi bên thay phiên nhau giành giựt nhưng không có kết thúc rõ rệt. Ngày 25 tháng 7, Sư đoàn Dù thay quân, cho cho các mũi 7, 11 Dù lui binh, chuyển hướng chiến đấu ra vùng cận sơn phía Đông, nhường hướng tấn công lại cho hai Tiểu đoàn 5 và 6 Dù. Trước khi theo dõi tiếp phản công của 5 và 6 Dù, chúng ta trở lại đoạn cuối của Nguyễn Lô với Tiểu đoàn 7. Sau gần một tháng chịu ép mình dưới đám đất đá ngồn ngang của Quảng Trị, trưa 25 sau khi bàn giao cho quân bạn, Lô đưa hai Đại đội ra vùng phía Tây thị xã, trong phạm vi Vương Cung Thánh Đường La Vang, nơi linh thiêng của lòng dân nên Bắc quân lợi dụng đặt một hệ thống phòng không cố ý triệt hạ những máy bay vào vùng yểm trợ cho mặt trận Cổ thành. Không được dùng phi pháo để phá chốt phòng không này, nên Lô chỉ còn cậy vào những khẩu 90 ly của chiến xa M48 để phá mục tiêu. Giằng co từ trưa qua chiều, cuối cùng, Lô bảo viên sĩ quan chỉ huy chiến xa mở pháo tháp, anh đứng lên với hai hỏa tiễn M72 đã rút hết chốt an toàn. Các ông cứ chạy vào hết ga, đợi đến gần, tôi bắn bay cái chốt của tụi nó thì các ông xô sập tường mà tràn lên … Ba chiếc chiến xa dàn hàng ngang chạy băng trên triền đồi sỏi đỏ, những người lính lúp xúp chạy theo … Vào … vào … Lô giương cao hai khẩu M72 để thúc giục … Xung phong … xung phong … Lô chuyển lời gào quyết liệt, những khẩu đại liên trên chiến xa đồng loạt khai hỏa, Lô thấy nháng lửa từ một vị trí địch, anh bắn khẩu M72 đầu tiên, chiến xa bị một gò đất cao chận bớt tốc độ, Lô loay hoay cây hỏa tiễn thứ hai … Nhưng không kịp nữa, một trái B40 nổ tung tấm bửng đầu xe M48 … Người Lô bay lên cùng với đất bụi và khói đen. Hai Tiểu đoàn 5 và 6 sở dĩ được sử dụng vào giai đoạn cuối cùng bởi Tiểu đoàn 5 vốn là đơn vị cũ của Tướng Trưởng, hiện tại lại do sĩ quan cấp Tiểu đoàn Trưởng thâm niên nhất của Sư đoàn, Trung Tá Nguyễn Chí Hiếu, nguyên cựu sinh viên sĩ quan Khóa 14 Đà Lạt, khóa “được huấn luyện kỹ nhất” của trường kề từ khi đổi thành phiên hiệu Võ Bị Quốc Gia; Tiểu đoàn Phó của 5 Dù là Thiếu Tá Bùi Quyền, thủ khoa Khóa 16. Tiểu đoàn 6 do Trung Tá Đỉnh, Khóa 15 chỉ huy vừa lập kỳ tích giải tỏa mặt trận An Lộc ngày 8 tháng 6 vừa qua. Quân lực không thể nào có được một dàn sĩ quan cấp Tiểu đoàn vững vàng như thế, bao gồm những quân đội của những nước tân tiến, hiện đại nhất. Khẩu lệnh từ Tướng Ngô Quang Trưởng, đến Tướng Dư Quốc Đống chuyển đến Đại Tá Trần Quốc Lịch, Lữ đoàn Trưởng 2 Dù: Chỉ có hai ngày để thanh toán mục tiêu hoặc bàn giao cho đơn vị bạn, Sư đoàn Thủy quân Lục chiến. Từ quận Hải Lăng, Trung Tá Đỉnh thúc Đại đội 61 dẫn đầu, dọc theo Quốc lộ 1 (đoạn trong thị xã mang tên Lê Huấn, Sư đoàn 1 Bộ binh chết trận Hạ Lào 1971), đến bàn giao tại chốt ngã Tư Quang Trung – Duy Tân với Đại đội 114 (TĐ11), nhận tiêu lệnh với Đại đội 2 Trinh Sát, xong hỏi xem trong Đại đội nào tinh nguyện đi “dọn nhà” dọc đường Quang Trung, con đường chạy đến cửa Hữu của Cổ thành.
– Trung tá cho tôi đi. Trung úy Tạo, Đại đội Trưởng 61 tình nguyện ngay câu hỏi lần nhất. Đỉnh hiểu ý của Tạo. Tạo nguyên là sĩ quan của Tiểu đoàn từ những năm đầu 60, nhưng sau do máu “thảo khấu” của tuổi trẻ, Tạo bị ra khỏi binh chủng và đi một đơn vị Bộ binh ở Mỹ Tho. Đến đây, Tạo vẫn không chừa, tiếp tục “quậy” và bị nhốt vào quân lao vì tội vi phạm kỷ luật. Nay, năm 1972, Tạo trở lại đơn vị cũ với cấp bậc trung úy mang gần 10 năm. Và tại chiến trường này, Tạo muốn phục hồi danh dự sau năm tháng quân lao.
Nhưng quả thật như một định mệnh khốc liệt, Tạo và hai Trung đội Trưởng Mạnh, Trị cùng chết ngay trong đợt xung phong đầu tiên từ góc đường Quang Trung – Phan Đình Phùng khi cố từ đây đánh vào góc Đông – Nam Cổ thành. Đỉnh và Tùng, Tiểu đoàn Phó tung các đứa con ra tràn ngập vị trí để tránh pháo và đánh phục hận … Không lẽ mình clear được chốt Xa-Cam mở đường vào An Lộc mà không móc tụi ở đây ra được hay sao? Tiểu đoàn 6 xua hết chi đoàn chiến xa M48 lên vị trí tấn công. Bức tường đen mốc lầm lì hiện trước mặt. Về phía Tiểu đoàn 5, sau khi bàn giao với 7 Dù xong, tiếp bám được Liên đội Biệt Cách ở khu Công giáo Tri Bưu để từ đây dựa thế đánh vào mặt Tây – Nam Cổ thành, ngược theo hướng hai con đường Lê Văn Duyệt, Duy Tân. Sáu giờ sáng ngày 2 tháng 7, Chí, sĩ quan Hành quân của Tiểu đoàn chậm rãi như bản tính của anh nói cùng Trọng Nhi (người bạn đồng Khóa 20 Đà Lạt), sĩ quan Hành quân Lữ đoàn 2:
– Tao xong rồi, bây giờ mày cho tao đi.
– Chút nữa thôi, trời còn mờ sáng, chưa đủ nắng làm sao thấy đường được. Tao có đủ cho mày rồi, nhưng phải chờ nắng lên cái đã.
Tối hôm trước trời mưa lất phất, sáng nay, trời trĩu nặng khác thường, bức tường đen hóa nên ìm lìm ủ dột hơn. Thiếu Tá Bùi Quyền Tiểu đoàn Phó ngồi trầm ngâm với cái píp. Nhưng sau bề ngoài lặng lẽ ấy, anh đang “đo” bề dày của bức tường, lầu nước, tháp canh bộ chỉ huy tiểu khu mà bây giờ địch đã biến thành những mục tiêu bất khả xâm phạm sau hai tháng cố thủ và quyết tử để giữ, không được phép chạy trở lui.
… Một rồi. Chí báo cáo về Lữ đoàn khi phi tuần khu trục A37 Việt Nam chúi xuống. Quả bom tưởng như đang rơi vào mặt. Mà quả thật là sát mặt vì bom đánh theo hướng Đông – Tây tức là thẳng góc với trục bố quân dọc đường Quang Trung. Quyền cất ống píp vào túi, anh đứng dậy, nói câu ngắn với Chí:
Đánh thế mới tốt, cậu báo về Lữ đoàn cứ tiếp tục. Khi Chí đếm đến số bảy thì Quyền bắt đầu xua quân vào chân thành. Hai Đại đội 51, 54 bám vào bờ thành chập choạng bò lên qua những đống gạch vụn. Quyền chuyển lệnh cho hai Đại đội Trưởng …Bám mà lên từng đứa một, lên được là nằm ngay xuống, đứng là chết, bám được chỗ nào nằm im chỗ ấy, giữ chỗ cho đứa sau. Đúng 10 giờ 15 sáng ngày 25, Cổ thành Đinh Công Tráng in dấu chân người lính miền Nam sau hơn hai tháng bị Bắc quân tạm chiếm. Chí báo ngay cho Lữ đoàn: “Báo cho Trọng Nhi hay là Tố Quyên (danh hiệu truyền tin của Thiếu Tá Quyền) Đại đội của Trương Đăng Sĩ mớn được bờ thành rồi”. Lần đầu tiên Chí nhanh nhẹn trong lời nói nên được bạn khen: Tao biết mày từ hồi vào trường đến giờ mới thấy mày nói lẹ lẹ hơn một chút. Về phần Tiểu đoàn 6, vì dàn sĩ quan chỉ huy Đại đội 61 đồng bị tử thương nên Tiểu đoàn Phó Tùng đích thân chỉ huy trực tiếp Đại đội này cùng Đại đội 64 phát xuất từ những công sự góc đường Duy Tân và con hẻm nhỏ sau đường Quang Trung để tấn công vào mặt Tây – Nam (cửa Hữu) của Cổ thành. Phía Bắc quân có một tên bắn sẻ thiện nghệ, có thể y đã dùng súng CKC (súng trường có ông nhắm, bắn từng phát một) theo dõi những người chỉ huy của phía Tiểu đoàn 6. Những sĩ quan chỉ huy Đại đội 61 có thể đã chết vì tay y. Nay đến lượt Tùng, hắn ta nhắm suốt buổi và đến trưa thì hạ được người chỉ huy thứ hai của đơn vị. Tiểu đoàn Trưởng Đỉnh nghe tin Tiểu đoàn bạn đã mớn được góc Cổ thành Đông – Nam, thêm tin Tiểu đoàn Phó Tùng tử trận, Đỉnh xin Bộ Chỉ huy Lữ đoàn 2 một Đại đội Tiểu đoàn 11 Dù lên trám chỗ Đại đội 62, xong điều động toàn bộ lực lượng Tiểu đoàn cùng chi đoàn chiến xa M48 tăng phái lên đầu tuyến. “Các ông đục hộ cho tôi cái lỗ thì mấy đứa con tôi mới vào được, vì bom ưu tiên đánh cho phía bên Tiểu đoàn 5″. Nhưng có được không quân yểm trợ chưa hẳn là điều thuận lợi hoàn toàn. Sau đợt không tập của không quân Việt Nam, đến lượt phi cơ Mỹ vào vùng, nhưng bởi trái bom ném ra quá chính xác rơi ngay trên bờ thành, oan nghiệt thay chôn lấp cùng lần khoảng 40 binh sĩ Đại đội 51 do Đại úy Trương Đăng Sĩ chỉ huy. Anh la lớn đau đớn … Chết con cái tôi hết rồi! khi thấy quả bom rơi xuống ngay trên vị trí bố phòng của đại đội! Bộ Chỉ huy Lữ đoàn 2, Sư đoàn Dù đồng lặng xuống. Trung Tướng Ngô Quang Trưởng đứng phắt dậy như chạm phải khối thuốc nố tự trong thân. Ông ngồi xuống lại, im lặng, mắt nhìn lên bản đồ chỗ có chấm đỏ tròn: Cổ thành Đinh Công Tráng. Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù, Đại đội 51, đơn vị đầu đời lúc ông vừa qua hai mươi tuổi. Tiểu đoàn 5 mất đà lui lại về sau, hướng ngã Ba Long Hưng, Tiểu đoàn 6 không vào được góc thành Tây – Nam, hạn kỳ 27 tháng 7 đã tới. Đúng một tháng cho chiến dịch Lôi Phong giai đoạn 2. Trung Tướng Ngô Quang Trưởng và ban tham mưu hiểu ra điều thiếu sót: Mặt Tây, hướng Trường Sơn chưa kiểm soát đủ, nên đường tiếp vận của Bắc quân vẫn được duy trì qua vùng động Ông Đô, dãy căn cứ chiến thuật qua các căn cứ Anne, Barbara, Suzie, vùng núi Tích Tường, Như Lệ vào mặt trận Cổ thành, điển hình với Binh Trạm 18 được thiết trí quy mô cho mặt trận Nam sông Thạch Hãn.
Hơn thế nữa, dàn hải pháo của Hạm đội 7 chỉ ưu tiên yểm trợ cho phần phía Đông Quốc lộ 1 qua hệ thống Cố vấn Mỹ của Sư đoàn Thủy quân Lục chiến. Lôi Phong bước vào giai đoạn quyết định: Sư đoàn Nhảy Dù chuyển hướng tấn công về Trường Sơn. Sư đoàn Thủy quân Lục chiến trách nhiệm luôn Đông – Tây Quốc lộ 1 – có nghĩa toàn bộ khu vực thị xã Quảng Trị, Cổ thành Đinh Công Tráng. Một trang sử máu của Quân lực Việt Nam Cộng hòa được tiếp tục. Cuộc chiến đấu của dân, quân miền Nam tiếp tục như hẳng có. Cuộc chiến đấu chỉ có một lần vào Mùa Hè Lẫm Liệt 1972.
Sau 27 tháng 7, Thủy quân Lục chiến thay thế Nhảy Dù để “dứt điểm” Cổ thành Quảng Trị. Thật ra, kể từ 25 tháng 7, Tiểu đoàn 5 Dù đã bám được bức tường đá Cổ thành Quảng Trị với yểm trợ tiếp cận của phi cơ A37 Không quân Việt Nam, nhưng khi Đại úy Nguyễn Tấn Sĩ, Đại đội Trưởng 51 của Tiểu đoàn này thúc lính bò lên thành thì cũng là lúc Không quân Hoa Kỳ can thiệp, dội bom nội thành. Do những lý do kỹ thuật, hai trái bom đã đánh nhầm vào đội hình quân bạn, Tiểu đoàn 5 mất đà, khựng lại và dội ngược. Sư đoàn Dù lại để trống ngã Bến Chùa, đường qua sông Thạch Hãn về Nhan Biểu, Ái Tử: Đường tiếp vận quan yếu của hệ thống hậu cần Bắc quân. Chín Tiểu đoàn Dù hiện có chỉ vừa đủ trải dài từ Mỹ Chánh đến Quảng Trị, từ đường chiến thuật 556B a đến Quốc lộ 1; thế nên, cần phải có thêm một Lữ đoàn (với ba, hoặc bốn Tiểu đoàn Bộ binh tác chiến) tăng cường để chận con đường Ái Tử – Nhan Biểu – Cổ Thành là ước vọng tha thiết của Bộ Tư lệnh Sư đoàn Dù hay cũng chính của Tướng Trưởng. Gần hai tháng qua đi kể từ ngày khởi cuộc phản công, tất cả các đơn vị tham chiến bị ngừng lại bên bờ hào của vòng thành đá tảng, tuyến chiến đấu của ta và địch cách nhau đúng 400 thước (hai tầm đạn súng cá nhân), nhưng cũng có nơi không còn thước nào cả, bởi các chốt kháng cự đan kín vào nhau, nên nay đã đến lúc cần phải thay đổi kế hoạch tác chiến để thực hiện lời nguyền trước Quốc dân và lịch sử. Tư lệnh chiến trường, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng quyết định cùng hai viên Tư lệnh Nhảy Dù và Thủy quân Lục chiến – Hai tướng lãnh vừa được vinh thăng tại mặt trận, trên chiến địa Trị – Thiên này
– Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng và Bùi Thế Lân một kế hoạch tái phối trí:
– Sư đoàn Thủy quân Lục chiến nhận trách nhiệm phần đất bên trái Quốc lộ 1 chạy dài ra đến biển.
– Sư đoàn Dù từ trái Quốc lộ đổ sâu vào hướng núi.
– Tiểu đoàn 6 Thủy quân Lục chiến thay chỗ 6 Dù chịu trách nhiệm góc Tây – Nam Cổ thành, ngã Tư đường Trần Hưng Đạo – Quang Trung.
– 3 Thủy quân Lục chiến đổi 5 Dù chịu trách nhiệm phòng tuyến dọc đường Lê Văn Duyệt đối diện cửa Tiền.
– 9 Thủy quân Lục chiến đổi 11 Dù, Trâu Điên (2 Thủy quân Lục chiến), Quái Điểu (1 Thủy quân Lục chiến) chận đường cửa Bắc ngang sông Thạch Hãn, cũng là đường tiếp vận cho lực lượng cộng sản cố thủ Cổ thành. Những dòng chữ sau đây viết theo câu chuyện Người Lính Thủy Đánh Bộ kể lại (22) – Chúng ta hãy sống cùng những giờ phút dũng liệt với xương máu của mỗi một người lính – Những Người Lính Vô Danh mà linh thiêng sông núi đã hun đúc nên thành, gánh chịu suốt cuộc chiến điêu linh. Đại Tá Ngô Văn Định, Lữ đoàn Trưởng Lữ đoàn 369 Thủy quân Lục chiến, vị Lữ đoàn Trưởng thâm niên nhất của Sư đoàn nhận nhiệm vụ chỉ huy đơn vị xung kích tái chiếm Cổ thành Quảng Trị từ hướng Tây – Nam. Lữ đoàn 147 chịu trách nhiệm mặt phía Đông từ quận Triệu Phong ra đến biển. Sư đoàn Thủy quân Lục chiến kể từ ngày thay thế nhảy dù tuy đã chiến đấu không hề ngưng nghỉ nhưng cũng chỉ đẩy các chốt địch từ ngoài vào trong Cổ thành và điểm gần nhất cũng còn cách bờ hào thành khoảng hai trăm thước. Không thể chần chờ hơn nữa, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 dưới điều hành trực tiếp của Tướng Trưởng soạn thảo Kế hoạch Lôi Phong giai đoạn 2 sử dụng tối đa hỏa lực phi, pháo trong 48 giờ liên tiếp theo diễn tiến: Không quân chiến lược B52 liên tục trải thảm từ sông Thạch Hãn (Bắc Cổ thành) đến Đông Hà (Bắc Quảng Trị 50 cây số), có nhiệm vụ đập nát tất cả vị trí pháo binh, hỏa tiễn, Bộ chỉ huy, điểm tiếp vận; tiếp đến hải pháo từ Hạm đội 7 bắn vào các điểm nghi ngờ liên tục trong suốt chiến dịch vào những lúc phi cơ tạm rời vùng; pháo binh diện địa 175 ly từ Phong Điền tăng cường quấy rối, đặc biệt chiếu cố thật kỹ vị trí toạ độ Cổ thành. 12 khẩu đại bác 155 ly, 54 khẩu 105 ly cơ hữu của Sư đoàn Thủy quân Lục chiến được lệnh tác xạ không ngừng một phút, pháo thủ chỉ thay nhau ngủ vài giờ nửa đêm, từng khẩu pháo được điều chỉnh để không một trái đạn rớt ra ngoài bờ thành.
Đạn bắn không cần đếm, hàng trăm xe vận tải hạng nặng chở đạn đi suốt ngày đêm trên lộ trình Đà Nẵng – Quảng Trị, đạn giở xuống để ngay trên Quốc lộ 1 dài hàng cây số, lính pháo binh cứ tự động đến lấy mang đến vị trí pháo khỏi phải làm phiếu lãnh. Có người đã ôm viên đạn trong tay nhưng kiệt sức, không nạp nổi vào nòng, anh ta ngã gục bên khẩu pháo. Trong vòng 48 giờ, đã có 60.000 ngàn quả đạn bắn đi, không một phân đất nào của khu vực chung quanh Cổ thành, trong thị xã không có dấu đạn rơi. Về phần bốn bờ tường thành được dành cho Không quân chiến thuật Việt Nam và Mỹ từ Đà Nẵng, Chu Lai, Tuy Hòa, Hạm đội 7 đồng thực hiện. Các phi công phải lựa chiều đánh bom làm sao quả bom rơi đúng trên năm thước bề dày của chiếc thành, cốt triệt hạ khối đá vuông vức kia thấp xuống, càng thấp càng tốt; phải đập nát bốn lô cốt ở bốn góc, khoá họng những thượng, đại liên mà xạ thủ đã bị xích chân vào súng. Và cuối cùng cũng phải cầu viện đến “bom mắt thần”, những quả bom nặng 500 cân Anh, điều khiển bằng ra-đa để đánh xuống những đoạn thành quá kiên cố mà pháo và bom thường không triệt hạ được. Nhưng cái tường thành ngạo nghễ kiên cố kia dầu chỉ còn thấp khoảng vài ba thước, gạch đá ngồn ngang vẫn còn những đám con cháu “bác Hồ” chui rúc trong những căn hầm chữ A, loại hầm cứng chắc có khả năng chịu được phi pháo – chỉ trừ khi bom rơi ngay vào miệng hầm. Thế nên, cứ dứt pháo thì địch lại nhô đầu ra bắn điên cuồng về phía trước mặt, hiệp cùng cối pháo hỏa tiễn bên kia bờ Thạch Hãn, trong núi, Nam sông Bến Hải dội xuống dồn dập. Không để bị bó buộc vì tình thế, Bộ Tư lệnh Sư đoàn Thủy quân Lục chiến lại thêm một lần thay đổi ý định điều quân: Lữ đoàn 369 bàn giao vị trí cho bạn, lui binh làm thành phần trừ bị, cái “bánh chưng” gọi là Cổ thành kia được cắt ra làm hai: Nửa phía Đông giao cho Lữ đoàn 147, sử dụng hai Tiểu đoàn 3 và 8 đánh từ hướng Đông qua và chính diện mặt Nam. Lữ đoàn 258 điều động “Trâu Điên” 2 Thủy quân Lục chiến đánh từ hướng Tây, “Ó Biển” 6 Thủy quân Lục chiến đánh chính diện cửa Hữu theo đường Quang Trung, vùng cư dân trước đây gọi là phường Thạch Hãn. Lực lượng tấn công dứt điểm sẵn sàng trên tuyến xung phong đợi Lôi Phong chấm dứt sau 48 giờ bão lửa. Tại hầm chỉ huy Tiếu đoàn 3 Thủy quân Lục chiến, Thiếu Tá Cảnh nói cùng Đại úy Thạch, Đại đội Trưởng Đại đội 3: “Anh Thạch, tôi biết anh mới lui về nghỉ có mấy ngày, nay giao cho anh nhiệm vụ này thì kỳ quá, nhưng Tiểu đoàn mình chỉ còn anh là Đại đội Trưởng cứng nhất, kế hoạch Lôi Phong 2 đã bắt đầu từ ngày hôm qua, đợi giờ chấm dứt, tối nay anh đem Đại đội lên trám tuyến cho “thằng 1″ (Đại đội 1), rồi tìm cách tiến sát vào chân thành kia trước khi trời sáng. Nếu không được thì lui về, để trời sáng tụi nó nhìn rõ là hỏng việc … “.
Đại úy Thạch về họp cùng với các Trung đội Trưởng để bàn định kế hoạch đột kích. Anh nói với những Trung đội Trưởng đang ngồi chen chúc trong chiếc hầm chìm bóng tối; những tròng mắt khô rốc mệt nhọc trừng trừng nhìn xuống tấm bản đồ đặt trên đất: “Đây, cái bờ thành này, làm thế nào Đại đội mình cũng phải leo lên cho được, điều tôi dặn kỹ là binh sĩ không được bắn vu vơ, đến sát bờ thành thì tung lựu đạn thật nhiều rồi leo lên, bám chặt vào đó. Đừng để tên nào leo xuống. Bám vào được thì mình mới có thể bung ra hai bên“.
Đến trước viên Thiếu úy cùng tên Thạch, anh nói riêng: “Ông với tôi cùng tên, “Thạch là đá”, đá thì phải cứng, tôi chọn ông đi tiên phong là thế. Hy vọng ông làm được việc”.
Đại đội 3 Tiểu đoàn 3 Thủy quân Lục chiến vượt tuyến tấn công lúc nửa đêm, ba giờ sáng, đoàn quân đến mục tiêu ấn định – bờ tường Cổ thành Quảng Trị, nơi cách hầm đóng quân hai trăm thước. Hai trăm thước khoảng cách được vượt qua bởi những người lính bò im lặng trong đêm trên gạch đá, mìn bẫy và dưới trùng điệp lưới lửa, đạn đại pháo của cả hai bên. Đột nhiên, một loạt đạn pháo binh nổ rền ngay đầu hướng tiến của Đại đội, Thạch (Đại đội Trưởng) giật mình cầm ống nói:
– Thạch Thảo (danh hiệu truyền tin của Thiếu úy Thạch) anh có làm sao không?
– Trình thẩm quyền vô sự.
Có tiếng nói lao xao bên đầu Trung đội của Thiếu úy Thạch (nghe qua máy truyền tin), tiếp tiếng la mừng rỡ của người Trung đội Trưởng:
– Trình đại bàng (người chỉ huy), thẳng Xuân của tôi đã qua hào vào sát bờ thành, pháo đang nổ trên đầu nó, thẩm quyền bảo ông “phở Bắc” (pháo binh) ngưng đi để tụi nó leo lên.
Báo cáo được nghe tiếp với những lời nói đứt khoảng dồn dập lẫn trong âm động đạn súng tay, lựu đạn, đại liên và pháo, cối từ phía Bắc bắn xuống yểm trợ đám bộ đội cộng sản … “Thằng Xuân đã lên đến bờ tường rồi … Chúng tôi đã sang … bên kia … bờ hào nước … Tụi nó … tụi nó bắn ghê quá … Lên … lên đi … “.
Không đợi nghe hết lời báo cáo, Đại úy Thạch đứng sỗng dậy hét to: Xung phong … xung phong!
Tất cả Đại đội vụt chạy nhanh qua chiếc hào thành đã cạn nước vì đất đá hai bên đổ xuống. Những người lính đồng thanh hòa theo lời hô của viên Đại đội Trưởng … Xung phong! Xung phong! Những thân người ngã xuống vật vã trên gạch đá tan vỡ, máu tươi rói bắn ra tia thấm đẫm bạt vào người bên cạnh. Không biết ai trúng đạn, ai còn sống – khoảng cách quá gần và trời quá tối – những người thoát đạn xốc tới … Xung phong … xung phong! Cùng lúc, phía Tây – Nam, Đại đội của Đại úy Định (Định “con”, để phân biệt với Đại Tá Định, Lữ đoàn Trưởng 369) thuộc Tiểu đoàn 6 Thủy quân Lục chiến khi nghe tiếng hô rền từ cánh quân bạn cũng đồng bật dậy, bỏ vị trí xốc tới … xung phong …xung … xung phong! Giữa bóng tối mù mịt, qua ánh chớp đạn pháo binh địch và loé sắc của lựu đạn đánh cận chiến, bóng hình người lính Thủy quân Lục chiến ào lên, thấp thoáng, vùn vụt trên những khối đen của dãy tường thành loang lổ chập chờn lửa dậy. Bốn giờ sáng, trời vừa hừng đông, được tăng thêm độ sáng do đạn lửa của pháo, hỏa tiễn cộng sản bắn tràn lên vị trí để các đơn vị đội địch tháo chạy bộ, những người lính Thần Ưng (TĐ6), Sói Biển (TĐ3) hoàn toàn làm chủ, tràn ngập trên bờ thành phía Nam. Về phía Đông, khu trách nhiệm của Tiểu đoàn 8, Tiểu đoàn Trưởng, Trung Tá Nguyễn Văn Phán vượt lên tuyến đầu đích thân thúc quân ép sát vào bờ thành bởi nhận ra sức chiến đấu của đám lính cộng sản cố thủ yếu dần, đang thất thần tìm đường lần trốn trước đợt tiến công dồn dập uy mãnh của lính miền Nam. Những tên không tháo chạy được đồng bị thanh toán tại hầm bằng lựu đạn, hoặc súng tay bắn với khoảng cách gần nhất, đạn xuyên vào da thịt người nghe lụp bụp, thân người nảy ngược lên.
Hướng chính Tây, mặt tấn công của Tiểu đoàn 2 cùng Thiết đoàn 20 chiến xa, lực lượng xung kích ào vào chân thành như thác lùa, lũ lớn, theo những khoảng vỡ đổ của bức tường thành nay đã biến dạng nên thành khối hình ngổn ngang chồng chất. Lính “Trâu Điên” xốc tới như tên hiệu đơn vị – những con trâu trong cơn phẫn nộ hung hãn – đánh phục thù cho trận lui binh oan nghiệt cuối tháng 4 mà họ đã tận mặt chứng kiến.
Đến chiều 14 tháng 9, lực lượng Thủy quân Lục chiến kiểm soát toàn phần bờ thành, khu vực phía Nam, chia quân lục soát những khu hầm nhốt tù (do người Pháp xây dựng đầu thế kỷ) mà sau nầy, trước tháng 4, 1975, tiểu khu Quảng Trị, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 3 Bộ binh đặt trung tâm hành quân. Đám lính cộng sản ném súng, lội sông Thạch Hãn tháo chạy về phía Bắc như đàn vịt nháo nhác trên khoảng sông phơi đáy cát. Một chiếc L19 (máy bay quan sát) bay lờ lững trên cao, anh phi công tinh nghịch rà xuống sát mặt nước, bắn ra trái đạn khói, những tên lính cộng sản chạy trốn hốt hoảng đưa tay đầu hàng, đứng ngơ ngác trên dòng sông mờ đục trống trải. Đêm 14 tháng 9, lần đầu tiên sau 48 ngày, đêm, Đại úy Thạch, Đại đội Trưởng Đại đội 3, Tiểu đoàn
“Sói Biển”, đơn vị tiên phong của đợt đột kích dứt điểm Cổ thành được ngủ một giấc dài vì đôi giày đã được cởi ra. Nhiều người lính của mặt trận Quảng Trị cũng được “hạnh phúc” nhỏ bé tầm thường tội nghiệp này.
Sáng hôm sau, ngày 15 tháng 9, 1972 từ căn hầm phòng thủ nơi đặt Ban Chỉ huy đại đội, qua lỗ hồng, Thạch thấy rừng rực lá cờ Vàng Ba Sọc bay uy nghi trong gió sớm lẫn màn khói đạn, bom chưa tan hằn.
Anh thấy cay cay trong mắt với cảm giác nôn nao thầm lắng … Cảm xúc từ rất lâu anh không có – Cảm giác muốn khóc về một điều bi phẫn. Thạch nhìn quanh, những người lính đồng có sắc đỏ sẫm ươn ướt nơi tròng mắt. Những khuôn mặt chai cứng, hư hao, loang lổ lấm láp khói đạn, bụi đất đồng duỗi ra theo độ sáng của ngày với vẻ kiên nghị kiêu hãnh xen lẫn đau đớn kềm giữ. Thạch nhìn xuống những xác binh sĩ đồng bạn mới đem về, nằm bó gọn trong những poncho phủ bụi đất, bê bết máu. Anh lơ đãng nghe báo cáo về số lượng vũ khí sơ khởi được tịch thu, đâu khoảng hai tấn rưỡi, phải cần một GMC mới chở hết. Nơi Trung tâm Hành quân Bộ Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn 1 ở thành Mang Cá, Huế, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng cất chiếc nón sắt đã đội suốt từ bao ngày đêm. Người chỉ huy chiến trường ngồi lặng im rất lâu, mặt ông trầm xuống không gợn nét, đổi sắc.
Để Nhớ Một Mùa Hè Lẫm Liệt
Trên Quê Hương.
Phan Nhật Nam
1972-2012
(1) Nè: Cành cây, tre gai khô, nhỏ.
(2) Đà Nẵng- Huế: Khoảng cách 103 cây số, Đà Nẵng ở về phía nam Đèo Hải Vân, địa giới thiên nhiên
giữa Quảng Nam – Thừa Thiên-Huế
(3) Mang Cá: Cơ sở thuộc Hoàng Thành Huế được dùng làm cơ sở quân sự Pháp – Việt trước 1954. Sau
1954 được sử dụng làm Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ Binh; Bộ Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn 1 trong
trận chiến Mùa Hè 1972.
(4) “mền = mình”; “trung = trong”; “giư = như”
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.