vietmessenger.com
Phan Nhật Nam
Post by Sơn râu 28 Jan 2026

Phần 4.
Hiệp Định không có hòa bình

Một phiên họp tại Hội Nghị Paris bàn về chiến tranh Việt Nam.
Dẫn Nhập
Năm 2005, trong lần trả lời phỏng vấn của Báo Quốc tế là cơ quan ngôn luận của Bộ Ngoại giao nhà nước cộng sản, cựu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt đã có lời gọi là tâm sự chân thành: Biến cố 30/4 đã gây đau khổ cho hàng triệu người Việt, nước Việt Nam đã phải trả giá bằng nỗi đau và nhiều mất mát. Và ông cho rằng đấy là vết thương chung của cả dân tộc cần được chữa lành thay vì tiếp tục làm rỉ máu thêm. Ông kêu gọi giới cầm quyền cộng sản (bao gồm bản thân ông) phải thực tâm khoan dung và hòa hợp thì mới vận động được người Việt ở mọi nơi trong công cuộc xây dựng đất nước.
Cho dẫu lời ông Kiệt có thực tâm đi chăng nữa thì cũng chỉ mới đúng được một nửa và quả thật quá muộn màng vô nghĩa so với tình hình thực tế lúc ấy, cũng như hiện trạng tệ hại áp bức khốn cùng của xã hội Việt Nam 38 năm sau 1975. Và không những đối với tình hình hiện nay khi Đảng và nhà nước cộng sản đã bộc lộ toàn diện tính cách tai họa của một tổ chức bạo lực cấp Quốc gia mà có thể nói rằng ngay từ những ngày đang trong chiến tranh của thập niên 60, 70 thuộc thế kỷ trước. Trước rất xa thời điểm 1975 mà nếu tinh ý và trung thực, người quan sát sẽ nhận ra rằng cuộc chiến mà Hà Nội tiến hành tại miền Nam từ năm 1960 hoàn toàn không vì mục tiêu giải phóng đất nước, nhưng thực sự chỉ để tranh quyền đoạt lợi. Quyền quyết định vận mệnh dân tộc để thâu lợi cho tổ chức gọi là Đảng cộng sản Việt Nam.
MỘT
Từ lửa Mậu Thân đến bàn Hội nghị
Chúng ta cần nhìn lại từ đầu cụ thể với thời điểm 1968. Vào thời hạn cầm quyền cuối cùng ở Ngũ Giác Đài, Bộ Trưởng Quốc phòng McNamara đã sử dụng phần quyền lực còn lại sau 1,558 ngày nắm giữ chức vụ trọng yếu nhất nền Quốc phòng Mỹ để phủ quyết yêu cầu của Tướng Westmoreland, Tư lệnh quân đội Mỹ ở Việt Nam về đề nghị tăng cường thêm 200,000 nhân sự bổ sung trong các lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế và chiến tranh tâm lý. Một tháng trước lần McNamara từ nhiệm, 36 của 44 tỉnh ly; 5/6 thành phố lớn; 64/242 thị trấn, quận ly thành phố miền Nam đồng loạt bị tấn công bởi một lực lượng 323,500 bộ đội cộng sản gồm 97
Tiểu đoàn và 18 Đại đội đặc công biệt động. Cuộc tấn công khởi đi từ đêm Giao thừa Tết Mậu Thân, đêm 30 rạng 31 tháng 1 năm 1968. Hoạt động của phía cộng sản không chỉ là một chiến dịch quân sự thuần túy. Bốn mươi lăm năm sau cho chúng ta đủ thời gian để thấy rõ những yếu tố quyết định đã cấu tạo thành sự kiện năm 1968 và hậu quả tai hại của nó. Cũng bởi vào thời điểm ấy chiến tranh Việt Nam đã tạo nên một bất lợi tâm lý trầm trọng trong dư luận Mỹ Quốc với sự kiện ký giả Walter Cronkite có mặt tại Sài Gòn khi trận chiến đang bùng nổ giữa những đường phố, để sau đó trong buổi phát hình ngày 27 tháng 2, người hướng dẫn, tác động dư luận quần chúng Mỹ đã mạnh mẽ xác định: “Hơn bao giờ hết, chúng ta có thể nói rằng kinh nghiệm đẫm máu tại Việt Nam sẽ phải mở ra một lối thoát”. Lời tiên nghiệm của Cronkite được hiện thực bởi Hòa hội
Paris khai mạc vào cuối năm 1968 mà áp lực vốn có từ nhiều năm trước trong Quốc hội, ngoài xã hội, trên báo chí nước Mỹ. Trước tiên cần nêu rõ sự kiện trong những năm 60, 70 yếu tố “tâm lý phản chiến” đã là một “đức tính hợp đạo lý lẫn pháp lý” đối với quần chúng, Quốc hội và chính phủ Mỹ. Lúc ấy phong trào phản chiến đã là một biểu hiện sinh hoạt tiến bộ của xã hội Âu Mỹ nhất là trong giới sinh viên, trí thức trẻ, tiểu tư sản thành thị. Trong khi ấy Nghị quyết 13 Trung ương Đảng cộng sản Hà Nội thì quyết định thực hiện chiến lược gồm những bước chính:
– Thứ nhất dồn mọi nỗ lực để tạo chiến thắng về mặt quân sự đối với lực lượng Mỹ, điển hình tại mặt trận Khe Sanh để buộc Mỹ phải rút quân ra khỏi miền Nam tương tự quân đội Pháp sau trận Điện Biên Phủ năm 1954.
– Thứ hai làm băng rã Quân lực Việt Nam Cộng hòa đế chứng minh với dân chúng miền Nam cũng như dư luận thế giới về sự lớn mạnh chính trị lẫn quân sự của phía cộng sản. Sự kiện này được thực hiện với lần xuất hiện tổ chức chính trị Mặt trận Liên minh dân chủ và hoà bình tại Sài Gòn và Huế do Luật sư Trịnh Đình Thảo giữ vai trò chủ tịch có mục đích vận động quần chúng nổi dậy lật đổ chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Và cuối cùng là chuẩn bị, củng cố vị thế chính trị của Mặt trận Giải phóng miền Nam trước khi Hội nghị Paris sắp khai diễn. Ngoài ra cũng có dư luận cho rằng chiến dịch Mậu Thân 1968 là “đòn mật ước” giữa Hà Nội và Mỹ qua trung gian của Liên Xô để thanh toán cơ sở hạ tầng của Mặt trận Giải phóng tức là của Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, vốn có khuynh hướng thân Trung cộng. Mật kế này nếu được thực hiện đúng như dự định sẽ giúp Hà Nội có lý do chính đáng để tác động mạnh mẽ hơn đối với thành phần lãnh đạo cộng sản miền Nam với vai trò của Nguyễn Chí Thanh đã bị tử trận lúc ấy được thay thế bởi chính Võ Nguyên Giáp, cùng lần xâm nhập lực lượng bộ đội chính quy cộng sản miền Bắc vào Nam với khối lượng lớn.
Điều vừa trình bày đến nay vẫn là một “nghi án chính trị” chưa soi sáng đủ. Tuy nhiên sau 1975 với lần thanh toán không nương tay cái gọi là “Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam” bằng hành động ngang ngược qua cách biên chế tất cả lực lượng vũ trang của “Chính phủ lâm thời” này chỉ trong một đêm trước ngày lễ duyệt binh 15 tháng 5, 1975 tại Sài Gòn. Sự kiện diễn ra như một màn bi hài kịch cay đắng với nhân vật gọi là Bộ Trưởng Tư pháp Trương Như Tảng của Chính phủ lâm thời. Bộ Trưởng Tảng vốn là một trí thức, con một nhà tài phiệt lớn ở miền Nam đã theo cộng sản từ thập niên 1940 tại Pháp, trở về Sài gòn làm việc trong chính quyền miền Nam nhưng do khuynh hướng và hoạt động thân cộng nên bị cảnh sát Quốc gia bắt giữ. Năm 1967 Tảng được trao đổi với phía cộng sản qua giàn xếp từ nhân viên tình báo Tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn. Tảng được đưa ra mật khu giữ chức Bộ Trưởng Tư pháp trên danh nghĩa của tổ chức gọi là Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam dựng nên do mưu định của Hà Nội. Nhưng lịch sử không hẳn chỉ là những lừa dối chính trị như vừa kể, bởi đầu năm 1974 quân dân miền Nam đã thêm một lần chứng tỏ trước lịch sử Tính Chính Danh của cuộc chiến đấu trường kỳ dẫu với kết thúc bi thảm của ngày 30 tháng 4 năm 1975. Đấy là cuộc chiến Bảo Quốc – An Dân mà dân tộc Việt hằng giữ vững, duy trì suốt ngàn năm dựng nước. Cuộc tranh đấu không khoan nhượng với lực lượng xâm lăng truyền kiếp từ phương Bắc hiện thực qua trận hải chiến Hoàng Sa bùng nổ gần tròn một năm sau ngày Hiệp định Paris được ký kết. Hiệp định gọi đúng và đủ là “Hiệp định Tái lập hòa bình tại Việt Nam” được bốn bên gồm Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam; Bắc Việt Nam và Hoa Kỳ ký kết vào ngày 19 tháng 1, năm 1974 tại Paris, thủ đô nước Pháp.
Hiệp định được đại diện 12 nước trên thế giới gồm ba nhóm chính, nhóm cộng sản; nhóm các nước dân chủ tự do; nhóm nước trung lập ký định ước giám định sự thi hành. Nhưng hòa bình của Hiệp định hoàn toàn không có. Không hề có. Chúng ta cần nhìn lại bi kịch chính trị của Hiệp định – Thật sự chỉ là một văn bản khai tử miền Nam một cách hợp lý ký vào ngày 27 tháng Giêng bốn mươi năm trước, 1973.
Hai.
Hiệp định không tái lập hòa bình Hội nghị Paris gồm có ba giai đoạn chính. Sau hai giai đoạn thảo luận không kết quả, giai đoạn thứ ba mở đầu với cuộc họp diễn ra vào ngày 13 tháng 7 năm 1972 kéo dài qua nhiều kỳ cho đến cuộc họp cuối cùng vào ngày 18 tháng 1 năm 1973. Trong cuộc họp mở đầu giai đoạn ba này, cả hai phía Mỹ và Hà Nội vẫn giữ lập trường cũ với trọng tâm thảo luận là vai trò tương lai của chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Để khai thông sự bế tắc, ngày 19 tháng 7, Cố vấn Tổng thống Mỹ Henry Kissinger họp mật lần thứ 14 với đại diện Hà Nội là Ủy viên Bộ Chính trị Lê Đức Thọ và Xuân Thủy. Theo sự thỏa thuận của hai bên, nội dung cuộc họp mật này không được tiết lộ. Từ tài liệu được giải mật sau này cho biết, lúc ấy Hoa Kỳ đã có ý thân thiện với phía cộng sản qua quan niệm: Hoa Kỳ có thể chung sống với Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa thì cũng có thể chung sống với Hà Nội. Đây là điều mà Kissinger đã nói với Chu Ân Lai tại Bắc Kinh từ 1971. Thế nên qua cuộc họp mật trong tháng 7 với đại diện Hà Nội, lần đầu tiên Kissinger đề nghị ngừng bắn tại chỗ, Hoa Kỳ hợp tác gỡ mìn ở miền Bắc, rút quân đội Mỹ và đồng minh ra khỏi Nam Việt Nam mà không đòi hỏi Hà Nội rút quân về miền Bắc.
Hai bên Nam và Bắc Việt Nam trao trả tù binh và thường dân. Như thế có nghĩa Hoa Kỳ bãi bỏ điều kiện tiên quyết mà trước đây luôn đòi hỏi là Bắc Việt phải rút quân ra khỏi miền Nam cùng lần với Hoa Kỳ. Cần lưu ý Hoa Kỳ đã không thông báo cho phía Việt Nam Cộng hòa biết điều thỏa thuận mật này. Để đối lại với âm mưu trên, tại Sài Gòn Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đòi hỏi phải có lần rút quân song phương cả Mỹ lẫn Bắc Việt. Ông Thiệu cũng phản đối đề nghị liên hiệp với Mặt trận Giải phóng miền Nam và thành lập Ủy ban Hòa giải hòa hợp dân tộc có mặt của cộng sản miền Nam. Cần phải nhắc lại rằng, trong những cuộc thương thuyết giữa Mỹ và Liên Xô vào thời điểm tháng 5 năm 1972 này, phía Mỹ đã hứa hẹn sẽ cho Liên Xô được hưởng quy chế tối huệ quốc, mở đường cho Liên Xô giao thương với Hoa Kỳ và Tây Âu. Để đáp lại thiện chí của Hoa Kỳ, Liên Xô đã áp lực với Hà Nội ngưng đòi hỏi điều kiện tiên quyết là loại bỏ Tổng thống Thiệu để khai thông hội nghị. Vì vậy, khi trở lại Paris trong cuộc họp mật lần thứ 17 vào ngày 15 tháng 9, lần đầu tiên Lê Đức Thọ cho biết cộng sản Bắc Việt chấp nhận sự tồn tại của chính quyền Sài Gòn song song với Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Như thế có nghĩa, mỗi bên Hoa Kỳ và Bắc Việt đều rút bỏ một điều kiện tiên quyết để có thể bàn luận tiếp những vấn đề chuyên môn cụ thể hóa cho cuộc đình chiến.
Sau những thỏa thuận đạt được trong những cuộc họp mật lần cuối tháng 9, Lê Đức Thọ gởi điện văn về Hà Nội xin ý kiến quyết định, cố vấn Kissinger cũng trở về Mỹ và đề cử nhân vật phụ tá là Tướng Alexander Haig qua Sài Gòn để thảo luận với Tổng thống Thiệu. Tổng thống Thiệu tiếp phụ tá Haig hai lần vào đầu tháng 10 có mặt các nhân sự quan yếu trong Hội đồng An ninh Quốc gia. Trong cuộc họp, ông Thiệu đã phản đối lập trường cũng như những đề nghị của Hoa Kỳ đã thỏa thuận với Bắc Việt. Ông Thiệu cũng trao cho Tướng Haig một bản tóm tắt lập trường của Việt Nam Cộng hòa để đưa lại cho cố vấn Kissinger tham khảo trước cuộc mật đàm sắp đến với Lê Đức Thọ. Sau khi Tướng Haig về lại Washington DC, Tổng thống Nixon gởi Tổng thống Thiệu văn thư đề ngày 6 tháng 10 có nội dung vừa thân thiện, vỗ về, bảo đảm nhưng cũng hàm ý đe dọa. Gần cuối thư có đoạn viết: “…Tôi xin Ngài cố áp dụng mọi biện pháp để tránh sinh ra sau này một không khí có thể đưa tới những biến cố tương tự như biến cố mà chúng tôi đã ghê tởm năm 1963 và chính bản thân tôi cũng đã kịch liệt phản đối trong năm 1968 …”. Như thế có nghĩa, Nixon ngầm đe dọa ông Thiệu có thể gặp trường hợp bị sát hại như cố Tổng thống Ngô Đình Diệm trong biến cố 1 tháng 11 năm 1963 nếu không thuận theo chính sách của chính phủ Mỹ. Từ 8 đến 17 tháng 10 những cuộc mật đàm tiếp tục được tiến hành, Mỹ và Bắc Việt giải quyết những bất đồng cuối cùng, hoàn tất bản dự thảo hiệp định và dự tính sẽ ký kết Hiệp định đình chiến vào cuối tháng 10 năm 1972. Cuộc họp mật cuối cùng cũng có dự tính để cố vấn Kissinger sẽ đi Hà Nội vào ngày 23 tháng 10 sau khi đến Sài Gòn để thông báo nhằm đạt sự thỏa thuận của phía Việt Nam Cộng hòa.
Ngày 23 tháng 10 năm 1972 cũng là ngày chấm dứt chiến dịch Linebacker I oanh kích Bắc Việt Nam. Chiến dịch đã sử dụng không quân của Lực lượng Không quân Số 7 và Hải đội Đặc nhiệm 77 oanh tạc Bắc Việt kể từ ngày 9 tháng 5 cho đến ngày 23 tháng 10 của năm 1972 này để tạo sức ép buộc Hà Nội tại bàn hội nghị.
Cố vấn Kissinger đến Sài Gòn vào ngày 18 tháng 10, ngày hôm sau ông trình lên Tổng thống Thiệu bản dự thảo hiệp định bằng Anh Ngữ. Chính phủ Sài Gòn đòi xem bản dự thảo bằng Việt Ngữ nhưng Kissinger trả lời không mang theo. Sau hai giờ thảo luận cuộc họp chấm dứt không đạt được một đồng thuận nào cả.
Qua ngày 20 tháng 10, Kissinger gặp nhóm phụ tá ngoại giao của Tổng thống Thiệu, cố vấn Hoàng Đức Nhã yêu cầu ông Kissinger giải thích 64 điểm trong dự thảo hiệp ước, nhưng Kissinger cho rằng chỉ có 8 điểm là quan trọng. Cuộc họp rất gay cấn vì phía Việt Nam Cộng hòa không chịu nhượng bộ. Cuộc họp thất bại, Tổng thống Thiệu hủy bỏ phiên họp với Kissinger dự tính vào chiều hôm của ngày 20. Sau khi qua Nam Vang gặp Tổng thống Lon Nol của Campuchia, Kissinger quay trở lại Sài Gòn để thuyết phục Tổng thống Thiệu lần cuối cùng trong ngày 22. Cuộc gặp gỡ hoàn toàn không có kết quả, Tổng thống Thiệu thắng thừng tố cáo Hoa Kỳ đã thông đồng cùng Liên Xô và Trung Quốc nhằm lật đổ chế độ Việt Nam Cộng hòa và bác bỏ hầu như từng điểm một bản dự thảo hiệp định do Kissinger đưa ra. Hôm sau, 23 tháng 10, cố vấn Kissinger đến Dinh Độc Lập cố thuyết phục Tổng thống Thiệu lần cuối cùng nhưng không được và trở về nước cùng ngày với thất bại nặng nề đầu tiên trong cuộc đời ngoại giao sôi nổi đa dạng của ông.
Trước phản ứng mạnh mẽ của Tổng thống Thiệu, cả Hoa Kỳ lẫn Bắc Việt đều giận dữ đố lỗi cho Việt Nam Cộng hòa đã gây trở ngại cho việc ký kết Hiệp định. Thậm chí còn có nguồn tin chính phủ Hoa Kỳ đã tính tới việc dùng máy bay buộc Tổng thống Thiệu phải đi ra khỏi nước trong ngày 26 tháng 10. Riêng Hà Nội còn tố cáo là Hoa Kỳ đã phá hoại hiệp định bằng cách đổ lỗi gây nên từ phía Sài Gòn. Cho dẫu không có mặt ở Hà Nội trong ngày 23 tháng 10 để ký tắt Hiệp định vì không thuyết phục được Sài Gòn, tuy nhiên trong cuộc họp báo ngày 26 tháng 10 tại Tòa Bạch Ốc Kissinger vẫn tuyên bố một cách chủ quan: “Chúng tôi tin tưởng hòa bình đang ở trong tầm tay”. Phía Việt Nam Cộng hòa không còn gì phải giấu diếm cũng như không phải sợ mất một điều gì nữa, ngày 24 tháng 10, Tổng thống Thiệu đọc bài diễn văn quan trọng trước Lưỡng viện Quốc hội, thông báo cùng quốc dân những điều khẩn thiết. Thoạt tiên cộng sản đã đòi hỏi một cách xấc xược
là bản thân ông Thiệu phải ra đi nhưng sau làm ra vẻ nhượng bộ như trên đã trình bày do áp lực của Liên Xô. Tuy nhiên sau đó lại tỏ ý thuận cho ông Thiệu ở lại trong tổ chức gọi là Chính phủ lâm thời gồm ba thành phần ngang nhau là Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tức tổ chức cộng sản và đại diện của lực lượng thứ ba gồm những thành phần thiên cộng, chống đối chính phủ Việt Nam Cộng hòa tại Sàigòn. Cuối cùng tổ chức lâm thời này cũng chỉ được tồn tại trong vòng 6 tháng sau đó phải giải tán. Để chỉ rõ âm mưu đen tối của phía cộng sản, Tổng thống Thiệu nêu lên chi tiết: “Lá cờ của Chính phủ hòa giải lâm thời này chỉ là cờ đỏ sao vàng của Bắc Việt có thêm một quầng xanh trên ngôi sao vàng mà thôi!”.
Tổng thống Thiệu cũng tố cáo âm mưu gọi là “ngưng bắn” của phía cộng sản. Ngưng bắn theo mưu đồ này là quân lực Việt Nam Cộng hòa không được tấn công vào những khu vực mà lực lượng cộng sản đã lấn chiếm kể từ đầu mùa Hè kéo dài trong suốt năm 1972 theo kế hoạch của Hà Nội. Bài diễn văn cũng không quên vạch rõ những thỏa thuận của Mỹ với Hà Nội bất chấp sự sống còn của miền Nam. Dầu chưa ký hiệp định về Việt Nam, ngày 7 tháng 11 năm 1972, Tổng thống Nixon tái đắc cử, ông có được 4 năm dài trước mặt để giải quyết vấn đề Việt Nam trên thế mạnh. Những cuộc mật đàm trong tháng 12 được tiếp tục nhưng vẫn không đưa lại kết quả cụ thể với trở ngại lớn nhất là bộ đội cộng sản không chịu rút về Bắc. Cố vấn Kissinger đề nghị Tổng thống Nixon mở lại cuộc oanh kích Bắc Việt. Ngày 14 tháng 12, Tổng thống Nixon kêu gọi Hà Nội thương thuyết nghiêm chỉnh để tránh bị dội bom. Hai hôm sau, trong một cuộc họp báo, Kissinger cho biết cuộc hòa đàm thất bại vì Hà Nội không chấp nhận một nền hòa bình công chính và hợp lý do Tổng thống Nixon đề nghị theo những yêu cầu hợp lý của Sài Gòn. Hà Nội và Mặt trận Giải phóng vẫn nhắc lại luận điệu cũ, tố cáo Hoa Kỳ phá hỏng hòa đàm. Ngày 18, Chính phủ Hoa Kỳ ra lệnh thực hiện chiến dịch Linebacker II, thường được gọi là cuộc “oanh kích Giáng Sinh”, tấn công dữ dội Hà Nội và Hải Phòng. Trong phiên họp chính thức lần thứ 171 vào ngày 21 tháng 12 hai phái đoàn cộng sản bỏ phòng họp, phản đối việc Hoa Kỳ dội bom Bắc Việt Việt Nam.
Ngày 30 tháng 12, Tổng thống Nixon ra lệnh ngưng oanh tạc những mục tiêu thuộc lãnh thổ Bắc Việt, Bắc vĩ tuyến 20. Phiên họp 172 tái tục ngày 4 tháng 1 để có hiệp định được chính thức ký kết vào ngày 27 tháng 1 năm 1973. Không có giải pháp tốt cho một vấn đề vốn xấu nên hiệp định quả chỉ tồn tại cho đến ngày 30 tháng 4, 1975 với toàn bộ lực lượng 16 sư đoàn bộ binh cộng sản miền Bắc đồng loạt tấn công công khai miền Nam bất chấp cái gọi là Hiệp định tái lập hòa bình tại Việt Nam. Tuy ký kết Hiệp định nhưng chính phủ Việt Nam Cộng hòa vẫn giữ lập trường “Bốn Không” đã được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đưa ra từ năm 1971, nghĩa là không liên hiệp, không cắt đất, không hòa giải, không chấp nhận cộng sản. Về phía Bắc Việt Nam, sau khi ký Hiệp định, Bộ Chính trị Đảng Lao động đã triệu tập Quân ủy Trung ương cùng các Tư lệnh chiến trường của lực lượng vũ trang cộng sản ở miền Nam họp hội nghị tại Hà Nội vào cuối tháng 4 năm 1973. Hội nghị này đã đề ra Nghị Quyết 21 để tiếp tục chiến tranh, chuẩn bị kế hoạch lấn chiếm miền Nam bằng vũ lực. Với nghị quyết 21 Bộ Chính trị Hà Nội cho rằng Hiệp định Paris đã quy định chấm dứt các hoạt động quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam, không được sử dụng không lực trên chiến trường ba nước Đông Dương. Đây là cơ hội thuận tiện để Bắc Việt tăng cường bộ đội và tiếp vận vào Nam nhằm chuẩn bị những trận đánh sắp đến. Về phía Hoa Kỳ từ cuối năm 1972 chỉ còn khoảng 24.200 quân ở Việt Nam, số quân này rút về Mỹ đúng 60 ngày kể từ ngày 27 tháng 1. Và như phát súng ân huệ dành cho Nam Việt Nam, ngày 4 tháng 6 cùng năm 1973, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Tu Chính án Case-Church cắt bỏ tất cả ngân khoản cho các hoạt động quân sự của Mỹ tại Đông Dương. Tổng thống Richard Nixon cố vận động Quốc hội triển hạn đến 15 tháng 8 để tiếp tục cuộc dội bom trên chiến trường tại Cao Miên. Sau thời điểm nầy mọi chi phí chiến tranh Đông Dương phải được sự đồng ý của Quốc hội Mỹ .
Sau Tu Chính án Case-Church, Quốc hội Hoa Kỳ tiếp đưa ra “Nghị Quyết về Quyền Lực Chiến Tranh” (War Powers Resolution), nhưng bị Tổng thống Nixon phủ quyết. Tuy nhiên với đa số trên 2/3, Quốc hội vượt quyền phủ quyết của Tổng thống và thông qua nghị quyết vào ngày 7 tháng 11 cùng năm 1973. Với nghị quyết này Quốc hội Mỹ giới hạn quyền hành động của Tổng thống kiêm Tổng Tư lệnh Quân đội Hoa Kỳ. Trong khi đó Liên Xô và Trung Quốc mặc tình tuông đổ viện trợ quân sự, nhân vật lực cho Bắc Việt để tiếp tục cuộc chiến ở miền Nam.

Lính Mỹ bảo vệ trẻ em Việt trong chiến tranh Việt Nam.
Thế nên có thể nói sau khi Hoa Kỳ rút hết quân ra khỏi Việt Nam vào ngày 29 tháng 3, chỉ một mình miền Nam đơn thân chống cự không phải chỉ với cộng sản Việt Nam mà là cả khối cộng sản Quốc tế do Liên xô lẫn Trung cộng dẫn đầu. Và đây là cơ hội thuận tiện cho Trung cộng thực hiện mưu tính từ bấy lâu nay, bất ngờ xâm lăng Hoàng Sa của Việt Nam Cộng hòa dẫu Bắc Kinh là một bên ký kết bản “Định ước của Hội nghị Quốc tế về Việt Nam” tôn trọng nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam theo tinh thần lời văn của Hiệp định Paris ký ngày 27 tháng 1.
Kết Từ
Chiến tranh, hòa bình Việt Nam hóa ra đã được thực hiện, điều hành và quyết định bởi lực lượng cộng sản Việt Nam và Quốc tế và một bên là Chính phủ, Quốc hội Liên Bang Bắc Mỹ theo yêu cầu chiến lược của từng thời kỳ. Cả hai bên đồng nhìn lịch sử của dân tộc Việt Nam qua những sự kiện được đánh số và phân loại. Thế nên, chiến tranh đã xảy ra thật hợp lý giữa người cộng sản và những người lãnh đạo, điều hành hệ thống chính trị Mỹ. Trận hải chiến Hoàng Sa tuy chỉ diễn ra trong một ngày nhưng đã phản ảnh rõ lập trường của tất cả các có mặt trong suốt 30 năm chiến tranh từ 1946 đến 1975 của thế kỷ vừa qua trên chiến địa Việt Nam.
Việt Nam Cộng Hòa hay Nam Việt Nam do phải tự vệ, chống lại cuộc xâm lăng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hay Bắc Việt Nam. Vì tham vọng xâm chiếm miền Nam, Bắc Việt đã cầu viện với khối cộng sản Quốc tế, nhất là Trung cộng. Thế nên Thủ tướng Bắc Việt Phạm Văn Đồng đã ký Công Hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958 tán thành quyết định về lãnh hải của Trung cộng nghĩa là thuận nhượng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung cộng. Riêng về phía Mỹ, qua cuộc chiến Việt Nam, chính phủ Hoa Kỳ tạo được mối liên lạc với Trung Quốc nên đã thay đổi chiến lược toàn cầu và bỏ rơi Việt Nam Cộng hòa vào năm 1973. Nay 40 năm sau, nước Mỹ trở lại Châu Á với chiến lược chuyển trục về phía Đông và Việt Nam lại thêm một lần là diễn trường tranh chấp không ai khác giữa Mỹ và Trung Cộng. Lịch sử Tháng 1 năm 1973 thêm một lần lập lại với thân phận Việt Nam.
Phan Nhật Nam

Hình Nguyễn Ngọc Hạnh
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.