Tập San Y Sĩ Giới Thiệu
Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn
Post by Sơn râu 27 Jan 2026


6. Nghiêm Sỹ Tuấn – Đi vào lửa đỏ chiến tranh

6. Nghiêm Sỹ Tuấn – Đi vào lửa đỏ chiến tranh
Phan Nhật Nam, sinh năm 1943, tại Huế; nguyên quán Quảng Trị, tốt nghiệp Khóa 18 Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, gia nhập binh chủng Nhảy Dù, qua các đơn vị Tiểu Đoàn 7, 9, 2, và Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù; Ban Liên Hợp Quân Sự 4 và 2 Bên. Sau 1975, tù cải tạo 14 năm qua các trại giam Miền Bắc. 1993 sang Mỹ định cư, hiện vẫn viết và làm việc ở tuổi 76, cư ngụ ở Nam California. Tác phẩm:
Dấu Binh Lửa 1969, Dọc Đường Số 1 1970, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, Tù Binh và Hòa Bình 1974.
Phan Nhật Nam
Dẫn Nhập:
Hôm nay tháng Tư năm 2019, bốn mươi bốn năm sau lần mất Miền Nam, đang ở tuổi quá 70, người viết với lòng bình yên, bình thản nhớ lại quãng đời đã qua. Cách hoài niệm thường có đối với lớp người lớn tuổi vào buổi cuối đời, đánh giá lại phần được/mất, có/ không theo cách khách quan như đối với một người nào đấy có phần quen biết. Cũng nhân cơ hội đọc tuyển tập tường trình về cái chết của một y sĩ Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù, tử trận cùng lần với bạn anh, Nguyễn Đức Cần, Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù, chết chung trên chiến địa Khe Sanh, ngày tháng 3 năm 1968 … Lần ra đi nay đã qua hơn nửa thế kỷ (1968-2019) để không còn ai nhớ tới cho dù thân thích, cật ruột … Sự kiện bình thường đối với mọi người trong chiến tranh Việt Nam. Chết cùng khắp. Bất kỳ lúc nào, ở đâu, với bất cứ ai. Tháng 3, tháng 4, năm 1975 chứng tỏ rõ hơn khi nước mất nhà tan – Chết là điều tất nhiên. Tuy nhiên, cũng không phải tính đến hôm nay, năm thứ 19 Thế kỷ 21. Mà từ ngày ấy …Trên đường phố Sài Gòn cụ thể như các đường Lê Văn Duyệt, Võ Di Nguy, Hai Bà Trưng, Phan Thanh Giản … Những con lộ khởi đi từ Tổng Y Viện Cộng Hòa, Bộ Tư Lệnh Không Quân, Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô, Trại Hoàng Hoa Thám (Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Dù), Trại Đào Bá Phước (Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân) … thường xuất phát những xe tang hướng về Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp (trước 1965), Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa (sau 1965) … Xe tang GMC trên có quan tài phủ Cờ Vàng Ba Sọc, một vài quân nhân cầm súng ngồi hai bên, tiếp theo hàng thân nhân thắt khăn tang, phần lớn người già lão, phụ nữ trẻ tuổi, và con nhỏ ngồi ngó mông xuống đường phố chen chúc người, xe cộ, khói bụi … Người đi đường nhìn lên bất chợt, trống trải. Cho dù đấy là những người mặc quân phục đi song song hoặc ngược chiều với chiếc xe tang. Có người đưa tay chào theo cách nhà binh. Có người không do phải lái xe gắn máy trong dòng người đông đúc. Vào những năm 1968, 1972, cảnh tượng nầy diễn ra thường xuyên, bình thường. Cư dân Sài Gòn có thể gặp xe tang quân đội hai, ba lần trong một ngày. Tử sĩ nằm trong quan tài, gia đình người chết ngồi trên xe, khách dưới đường cùng nhau hiện thức điều tất nhiên của lẽ sống / chết ở Việt Nam. Chắc chắn chẳng ai đặt điều thắc mắc. Người nào chết đấy? Tại sao?
1.
Nghiêm Sỹ Tuấn tốt nghiệp Bác Sĩ Y Khoa năm 1965 ở tuổi 28. Bác Sĩ Tuấn nhỏ người, chỉ cao 1 thước 58, nặng 40 ký. Một thân thể tương đối nhỏ so với tầm vóc trung bình, sức nặng cần thiết cho một người lính chiến, chưa nói đến quân nhân thuộc binh chủng Nhảy Dù mà hai chiếc dù lưng, dù bụng, ba-lô hành quân, súng đạn chắc chắn lớn hơn sức nặng của thân người phải đương cự. Nhưng bởi là quân y sĩ nên anh được miễn trừ về sự thiếu sót thể chất kia. Tuy nhiên anh lại không cậy đến sự miễn trừ nầy qua sự kiện quyết định sau đây. Sau khi học xong năm thứ sáu, tất cả nam sinh viên y khoa đều phải trình diện nhập ngũ. 73 bác sĩ khóa anh mới tốt nghiệp được đưa lên Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, thụ huấn chương trình quân sự chín tuần lễ. Sau khi mãn khóa quân sự tại Thủ Đức, các bác sĩ còn phải học thêm bốn tuần về hành chánh quân y tại Trường Quân Y. Xong hai kỳ huấn luyện đến lễ mãn khóa, các tân khoa bác sĩ được mang cấp bậc Y Sĩ Trung Úy. Ngày chọn đơn vị phục vụ là một ngày quan trọng, quyết định tương lai, vận mệnh của người quân y sĩ. Người nào đậu cao nhất, do điểm ở Thủ Đức lẫn Quân Y cộng lại, sẽ được gọi tên chọn chỗ trước nhất. Và khi những chỗ nơi các đơn vị quân y lớn (Các Tổng Y Viện, Quân Y Viện, hay Bệnh Viện Dã Chiến) đã được chọn hết, những người còn lại sẽ phải chọn những chỗ thuộc Quân Y Binh Đoàn tức những đơn vị tác chiến. Những chỗ nguy hiểm nhất trong nhóm này, thuộc về các lực lượng tổng trừ bị. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có hai lực lượng tổng trừ bị là Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến. Tỷ lệ tử vong trong hai binh chủng này rất cao, bởi các y sĩ Nhảy Dù, TQLC cũng sẽ hứng chịu nguy hiểm chiến
trường như tất cả người lính của các tiểu đoàn tác chiến. Súng đạn đâu phân biệt ai với ai. Trung Sĩ Tổ Khinh Binh hay Bác Sĩ Trung Úy? Trước giờ chọn đơn vị, một thông báo được tuyên đọc cho tất cả tân bác sĩ được rõ: “Người nào muốn chọn về Nhảy Dù hoặc Thủy Quân Lục Chiến chỉ cần đưa tay lên mà không cần phải đợi đến lượt xướng danh. Cho dẫu người đậu thứ 73, tức cuối cùng nếu muốn chọn về hai đơn vị tổng trừ bị kể trên chỉ cần đưa tay lên. Yêu cầu sẽ được chấp thuận ngay.”
Bác Sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn liền đưa tay, vị sĩ quan phụ trách thoáng ngạc nhiên do thấy anh mong manh, gầy, nhỏ. “Anh chọn gì?” Tuấn đáp gọn: “Nhảy Dù.” Sau khi ký giấy tờ, anh bước ra khỏi phòng, không cần để ý đến ai sẽ đi đâu, và bao giờ buổi lễ chấm dứt. Bác Sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn chọn Nhảy Dù không do bất ngờ, ngẫu hứng bởi trước đây anh đã viết ra lời:
Cung Dâu dựng nhắm phương nào
Ngập ngừng tên cỏ ngày cao chất chồng
Mai sau đó gửi về không
Bóng vươn tinh đẩu mơ vùng núi cao.
Vâng, qua bài thơ Tuổi Đứng, Nghiêm Sỹ Tuấn hóa ra đã chọn sẵn nghiệp phận binh đao, dẫu anh là bác sĩ dân y nhà nước trưng tập, thêm điều kiện thể chất không đáp ứng đủ yêu cầu của chiến trường với chiều cao, sức nặng. Nhưng quả thật, anh đã quyết định trước. Bóng vươn tinh đẩu mơ vùng núi cao! Anh phải tới nơi rất cao. Nơi đó chỉ một mình anh.
2.
Bác Sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn hẳn không chọn binh chủng Nhảy Dù do được khích động, quyến rũ từ hình tượng “áo hoa nón đỏ” mà phần đông thành phần quân nhân tình nguyện, sĩ quan chuyên nghiệp võ bị tốt nghiệp Đà Lạt, Thủ Đức, Đồng Đế đã nồng nhiệt ghi danh. Anh thuộc về một mẫu người khác, ở nơi khác (khác thế nào chúng ta sẽ tìm hiểu sau), nhưng có thể nói trước rằng Nghiêm Sỹ Tuấn là người Trọng Kỷ Luật – Giữ Nguyên Tắc. Triết lý sống của anh giữa xã hội, với đồng nghiệp, với quân đội là Chiến Đấu -Kỷ Luật – và Vị Tha. Anh quan niệm như thế và sống đúng như thế. Giữa những năm 1960, khi đang làm báo Tình Thương của sinh viên Y Khoa, là những năm biến động, hỗn loạn toàn miền Nam, ngoài tiền tuyến chiến tranh ngày càng ác liệt lan rộng, dâng cao với chết chóc, tàn phá; trong khi hậu phương là một mặt trận khác với những cuộc biểu tình liên tục, vòng kẽm gai, và lựu đạn cay trải dài, chắn ngang, rối tung trên khắp các đường phố. Sài Gòn đã là một diễn trường tệ hại với những cuộc tranh giành quyền lợi giữa các phe nhóm, các cá nhân cấp tướng lãnh, chỉ huy quân đội. Người Lính – Lính Nhảy Dù từ mặt trận chuyển về Sài Gòn với quần áo còn nguyên mùi bùn, mùi máu im lặng phẫn uất đứng giữa sỉ nhục, lăng mạ và đá ném từ đám đông nhân danh tôn giáo và dân tộc! Y sĩ Trung Úy Nghiêm Sỹ Tuấn tình nguyện đứng cùng một phía những Người Lính nầy – Thế hệ tuổi trẻ Miền Nam chịu đựng khổ nạn một cách khắc kỷ mà không hề nói lên lời ta thán.
Buổi chọn lựa đơn vị Nhảy Dù trong ngày mãn khóa càng được soi rõ: Bác sĩ dân y trưng tập không buộc phải thi hành nghĩa vụ quân sự nơi đơn vị tác chiến. Thế nhưng, Trung úy Nghiêm Sỹ Tuấn, Bác Sĩ Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù đã chọn đúng đơn vị. Lính Nhảy Dù trả đủ nợ máu với quê hương Miền Nam cho đến sáng 30 Tháng Tư, 1975 ngay trước cổng Trại Hoàng Hoa Thám – Nơi năm xưa ngày ra trường 1965, anh đã hãnh diện đi vào với thể hình gầy, nhỏ nhưng cất tiếng mạnh mẽ .. Nhảy Dù … Nhảy Dù … Cố gắng … Cố gắng … Hơn thế nữa, Nghiêm Sỹ Tuấn còn là một Con Người Khác.
3.
Nghiêm Sỹ Tuấn là một con người khác. Người của thế giới im lặng với Sách. Người sống trực tiếp với Chữ. Sống trực tiếp nghĩa đen và nghĩa bóng. Anh tiếp xúc thằng với Nam Hoa Kinh, Đạo Đức Kinh qua Hán Văn. Anh hiểu nghĩa huyền vi của “Đạo khả Đạo phi thường Đạo. Danh khả Danh phi thường Danh. Vô danh thiên địa chi Thủy. Hữu danh vạn vật chi Mẫu. Huyền chi hựu huyền” từ Hán Ngữ. Người đã học, sử dụng Hán Văn ắt hiểu trực tiếp hình tượng của Hán Ngữ là hiện thực cấu trúc của thế giới siêu hình. Đại Sư Yogananda (1893-1952) định nghĩa: Chữ là biểu hiện của Thánh Linh (Holy Ghost). Đại Sư người Ấn thực hành Mật Tông nên nói về Lý Thiên Chúa ắt hẳn có Tính Tín Xác cao. Nghiêm Sỹ Tuấn hiểu Chữ-Nghĩa từ yêu cầu của đời sống / Cho chính đời sống. Thế nên anh viết truyện ngắn Para Bellum với chủ ý từ thành ngữ La-Tinh: Para Bellum – Si vis pacem, para bellum
– Nếu Muốn Hòa Bình Hãy Chuẩn Bị Chiến Tranh – Không những là yêu cầu sinh tử của Việt Nam Cộng Hòa trong thập niên 1960’s mà của cả Việt Nam suốt Thế Kỷ 20 cho đến hiện nay, qua Thế Kỷ 21. Khổ thay do chuẩn bị không kỹ / Không khả năng chuẩn bị / Không người chuẩn bị … nên đã phải lâm hận với ngày 30/4/1975.
Truyện ngắn Para Bellum của Nghiêm Sỹ Tuấn mấy người đã đọc, kể cả người ngồi ở Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH?! Không hiểu ở Mỹ có ai đọc, hiểu đủ, đúng nghĩa, thực hiện vận động từ thành ngữ nầy không? Những người tên gọi Kennedy, McNamara, Kissinger, Nixon … Những người quyết định “quyền chuẩn bị” của Nam VN. Nói không quá, hóa ra phía cộng sản chuẩn bị kỹ hơn. Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp chuẩn bị từ 1945, 1946, 1954, 1960 … Oan nghiệt thay họ chỉ chuẩn bị chiến tranh – Thuần là vì chiến tranh. Ngay bây giờ Bắc Kinh cũng đang chuẩn bị – Chuẩn bị chiến tranh chứ không khác. Trở lại chữ nghĩa của Nghiêm Sỹ Tuấn. Khi cùng dịch tác phẩm Dưới Mắt Thượng Đế của Hans Killian với Bác Sĩ Nguyễn Vĩnh Đức, dịch từ bản tiếng Pháp Sous le Regard de Dieu của Max Roth, Nghiêm Sỹ Tuấn còn cẩn trọng tham khảo thêm bản gốc tiếng Đức Hinter Uns Steht Nur Der Herrgott. Khi thực hiện công việc dịch thuật nầy, BS Tuấn chắc hẳn không chỉ muốn giới thiệu một tác phẩm chuyên môn phẫu thuật y khoa. Nghiêm Sỹ Tuấn muốn trình bày một điều quan trọng hơn: Thượng Đế Có Thật. Thượng Đế biểu hiện nơi những tế bào tinh tế hiện ra dưới kính hiển vi, diễn tiến biến hóa từ các ca mổ, lần hồi sinh mầu nhiệm của bệnh nhân … Không chỉ là tiến hóa của vật thể nguyên tử, phân tử qua phản ứng hóa học, tác động vật lý, nhưng là quá trình tiến hóa từ điều hành, chỉ huy bởi Thượng Đế – Quan điểm của Teilhard de Chardin (1881-1955) đã viết trong Le Phénomène Humain về Omega Point – Omega Point, điểm kết tụ cuối cùng với Thần Linh – Nhất Thể Thiên Chúa Christ của Công Giáo – Đạo của Đạo Đức Kinh mà Nghiêm Sỹ Tuấn trực quan tiếp cận qua Hán Văn. “Thư sinh muôn thuở” – Danh hiệu mà Bác Sĩ Nguyễn Vĩnh Đức đã thân ái gọi Tuấn quả có phần xác đáng.
Rất xác đáng. Bởi anh luôn đi tìm qua những suy nghĩ của Camus, Sartre, qua tư tưởng của Kant, Spinoza, v.v … để tìm trả lời cho câu hỏi của chính bản thân về cái nguyên lý đời sống và các nguyên tắc đạo đức đời người (principes éthiques) … Ta là ai? Ta sống làm gì? Cái chết sẽ như thế nào? Vấn đề mà Montaigne trong tập Essais đã lặp lại lời nói của Cicéron – “philosopher ce n’est autre chose que s’apprêter à la mort / Bàn luận triết lý đó là không khác hơn sự tự sửa soạn cho cái chết.” (Nhận định của BS Đặng Vũ Vương về người bạn vắn số của mình). Nhưng Nghiêm Sỹ Tuấn hoàn toàn không là một văn nhân / Người sống với chữ nghĩa; không là một nhà tư tưởng sống trong thế giới ý niệm, triết học, triết lý. Anh là một Kẻ Sĩ Thuần Việt sống đủ với Thân Phận Việt Nam.
4.
Nghiêm Sỹ Tuấn không viết những dòng chữ không nội dung. Nghiêm Sỹ Tuấn không nói những lời nói suông … Từ hỗn loạn Sài Gòn sau 1/11/1963, anh có một lập trường rõ rệt, phản đối mọi cuộc xuống đường, dù ở phe nhóm tôn giáo nào. Muốn cách mạng ư? Trước hết cách mạng bản thân mình trước. Anh tiên tri, dự đoán, viết ra đủ cảnh tượng hỗn loạn vô nghĩa sau một sự kiện gọi là “cách mạng / cách mạng xã hội chủ nghĩa”: Giữa một thời thế, xã hội vật chất đang lên, (giá trị) tâm hồn tinh thần dần đi xuống. Anh là một trong những người cuối cùng chống đối lại. Anh viết ra lời chỉ rõ ngọn nguồn bi kịch Việt Nam, nói rõ những mưu toan sau hàng rào danh từ gọi là “Cách mạng, dân chủ, độc lập” mà phía cộng sản luôn sử dụng và sử dụng có hiệu quả … Bác nông phu người Việt chơn chất đã gục ngã vì bị lôi cuốn trong một hành trình phiêu lưu mà trong thâm tâm bác chỉ biết thương yêu gia đình, mảnh vườn, con trâu, thửa ruộng. Nhân danh những danh từ không hề biết nội dung kia, bác bị hy sinh! Ai cứu bác đây? Nghiêm Sỹ Tuấn chấp nhận trọng trách này. Mùa Xuân đối với anh không phải là nơi kinh đô phồn hoa mà là đồng mạ xanh rì dải nước phù sa loáng ánh mặt trời, dâng sương sớm …
Nghiêm Sỹ Tuấn cố gắng thoát khỏi thân riêng, tìm kiếm và tạo dựng cộng hưởng nơi người chung quanh, cụ thể những người lính mà anh chọn lựa đứng cùng đội ngũ trong lần tình nguyện đi Nhảy Dù. Hành vi chứng tỏ với bản thân khả năng phục vụ tha nhân qua nhiệm vụ của một quân y sĩ (bình thường) trong những hoàn nguy nan nơi chiến địa. Anh nhìn ra rất rõ và rất đúng Tinh Thần Para Bellum:
“Chiến tranh chỉ xấu và tàn bạo trong mắt những người đứng xa chỉ trỏ. Nên người phải ngừng hay tiếp tục nó (Chiến Tranh) với những lý do đẹp đẽ. Cha ông chúng ta xưa kia đã nhất định tiếp tục nó, và đã chiến thắng, chắc vì hiểu rằng trật tự và kỷ luật trong sức mạnh của Con Người.”
Nghiêm Sỹ Tuấn thấy ra lớn lao và thất bại của Dân Tộc Việt:
“Nhưng ngàn năm và trăm năm tranh đấu có lẽ hơn nhiều, chúng ta thừa hưởng dễ dàng quá, nên chóng mệt mỏi. Đến độ không dám kiến tạo … Màu xám đất mầu, đục lờ nước ruộng, áo tơinón lá cày cuốc dưới mưa phùn mù mịt giá căm, đò đồng xộc xệch tròng trành trên mông mênh ruộng ngập, vốn là những phong cảnh lạt lẽo của quê hương. Bởi vì chúng ta đã sinh ra và sống ở đó … Bởi có ai mất thời giờ ngồi trong bóng tối ngắm cử chỉ tầm thường mà trang nghiêm của người nông phu gieo mạ, bóng tay vươn đến tận sao trời?”
Y Sĩ Trung Úy Nghiêm Sỹ Tuấn với ý thức tự do, đã đi tới chọn lựa: Tự nguyện dấn thân vào một cuộc chiến tranh thảm khốc.
“ … Làm gì có xương nào phơi vô nghĩa, càng vô nghĩa bao nhiêu càng ý nghĩa bấy nhiêu. Vả chăng xương nào thay được xương mình. Trái đậu thì hoa tàn. Hạt giống có chết cây mới nẩy mầm xanh, sao nói là vô nghĩa được … Cũng đừng buồn thấy lan nhược nở đỏ rồi rơi êm giữa rừng gai cằn cỗi. Cô đơn, đau khổ, gắng chịu một mình. Có thế mới thấy hết vẻ đẹp thanh tao của giếng êm, trăng rạng.”
Không hề chủ trương hay cổ động chiến tranh, nhưng cuối cùng Y Sĩ Trung Úy Nhảy Dù Nghiêm Sỹ Tuấn đã chết do đạn cộng sản pháo kích khi đang cố băng bó vết thương cho một binh sĩ nơi địa đạo Khe Sanh một ngày Tháng 4, 1968. Bác Sĩ Tuấn ơi! Lính Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù trong cơn cận tử đã kêu lên … Bác sĩ …
Bác sĩ?!
Kết Từ: Lá Thư thay lời kết
Quả thật tôi hết sức khi đến những dòng chữ của đoạn kết từ này, nên phải nhờ hình thức của một lá thư gửi bạn để nhỡ /rất có thể rơi vào một tình trạng quá độ nào đấy thì cũng có đường bào chữa, giảm khinh. Tình trạng kiệt sức nầy rất dễ nhận, đã xảy ra nhiều lần cho chính bản thân sau khi đã xong một việc quá sức mà thấy nỗ lực vượt sống / chết của mình cũng chẳng đi đến đâu! Xin nói thật như tình cảnh của ngàn, vạn của người Miền Nam sau đoạn đường “học tập cải tạo” thấy như không có ngày về, bước vào xóm nhà cũ ở Đa Kao, Tân Định, Bàn Cờ … hỏi ra mới biết vợ con đã vượt biên từ năm nào và nghe như đã tan thân đâu đó trên biển, nơi rừng bên Cam Bốt. Chủ nhân căn nhà của mình đóng sập cửa đuổi đi với lời miệt thị khinh khi: Đồ ngụy! Tôi nói không quá và cũng không đủ sức tưởng tượng ra. Kể chuyện như trên để nhớ lại tháng Tư năm 1975 (vì bây giờ là tháng Tư, 2019.) Chạy từ Quảng Trị về Huế 70 cây số; từ Huế vào Đà Nẵng hơn 100 cây số. Chạy tiếp về Nha Trang, Phan Rang, Long Khánh và cuối cùng ngồi bên lề đường Lê Lợi Sài Gòn sáng 30 để thấy chết dễ dàng hơn sống!
Biết thế chết đi từ Mậu Thân 1968, Mùa Hè 1972 còn đỡ đau hơn không!
Trở lại chuyện Bác Sĩ Tuấn. Tháng 4, 1968 được mấy tiếng phép, từ mặt trận Nhị Bình, Hóc Môn tôi tới Chùa Ấn Quang để đưa đám Nguyễn Đức Cần, Khóa 19 Đà Lạt, Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù chết trận Khe Sanh đưa về. Trong câu chuyện nghe loáng thoáng … Nó (cộng sản) pháo kích ghê lắm, toàn pháo 130 ly hoặc hỏa tiễn 122 ly bên kia Bến Hải, thằng 6 (Tiểu Đoàn 6 Dù) cũng bị nặng, chết đến cả bác sĩ … Bác sĩ Tuấn ơi, hơn nửa thế kỷ sau mới nghe ra, biết đầy đủ về bác.
Cuối bài viết mới có lời Kính Điếu muộn gởi đến với Y Sĩ Trung Úy Nhảy Dù Nghiêm Sỹ Tuấn. Với lời tạ lỗi.
PHAN NHẬT NAM
Little Saigon, tháng Tư 1975-2019
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.