Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 5 Feb 2026

3. Thiên đàng và địa ngục

Thiên Đàng và Địa Ngục

(Viết cho những hội cứu trợ thương binh)

“Bọn chúng ta hèn như bầy thỏ đế

Khổ đau chia, khi sung sướng một mình

Lúc lửa đỏ bèn cao bay xa chạy

Còn nhớ gì nghĩa huynh đệ chi binh!”(HP)

Nhà văn Ba Tây, Paolo Coelho có một câu chuyện kể được xếp hạng là một trong những câu chuyện hay, đại khái như sau:

“Một người đàn ông đang rong ruổi trên một con đường cùng hai con vật bạn đường thân yêu là một con ngựa và một con chó. Chẳng may họ bị sét đánh và cả ba đều qua đời, tuy vậy người đàn ông không biết mình đã chết, linh hồn của người và vật vẫn tiếp tục con đường của mình đi. Con đường dài và gian nan, người và vật phải qua bao nhiêu ngọn đồi dưới cơn nắng cháy da, họ đổ mồ hôi nhễ nhại và vô cùng khát nước. Vừa qua khỏi một ngọn đổi, trên một triền núi, người lữ hành trong thấy một lâu đài tráng lệ, bèn đến gõ cửa. Ông nói với người gác cổng:

-Thưa ông, cho phép tôi hỏi, lâu đài đẹp đẽ này gọi là gì?

-Ông không biết đó thôi. Nơi này gọi là Thiên Đàng.

Trong hoàn cảnh của người và vật bấy giờ, Thiên Đàng hay Địa Ngục đối với họ không là gì cả, họ chỉ cần nước:

-Chúng tôi hoàn toàn kiệt sức và cần nước uống, tôi có thể vào đây để xin nước uống được không.

-Vào đây, ông muốn uống bao nhiêu nước cũng được, và muốn gì cũng có.

Người gác cổng mở cửa cho người lữ khách bước vào nhưng khi hai con vật bạn đường của ông tiến lên, người gác cổng ngăn chúng lại:

-Chỉ mình ông thôi, hai con vật này không được vào đây.

Nghe vậy người lữ khách đứng sững lại. Mặc dầu khát khô cổ họng, ông không thể uống nước một mình.

Ông cám ơn người gác cổng và mệt mỏi kéo hai con vật rời khỏi lâu đài.

Họ lại đi qua mấy ngọn đồi cát, gần như kiệt lực, cuối cùng thấy một chiếc cổng đã cũ nát, dẫn vào một con đường có bóng mát và trồng đầy hoa. Tiếng động của họ đánh thức một ông già đang nằm ngủ dưới gốc cây. Người lữ khách lên tiếng:

-Chào ông, chúng tôi quá khát nước, hai con vật này cũng vậy.

-Có một con suối sau tảng đá kia, ông muốn uống  bao nhiêu cũng được.

Sau khi đã no nê với những ngụm nước mát, họ trởlại con đường gặp ông già để cám ơn.

Ông già nói:

-Không có gì, chừng nào thấy khát thì quý vị cứ trở lại đây!

-Đây là đâu? Thưa ông?

-Đây là Thiên Đàng!

Người lữ khách ngạc nhiên:

– -Đằng kia người ta cũng nhận đó là Thiên Đàng.  Mình có thể nào ngăn chận một sự lạm danh như thế này không?

-Không cách nào cả ông ạ! Thật ra họ cũng chấpnhận một đặc ân lớn cho những ai có thể bỏ được bạn bè tốt nhất của mình, đều ở lại đó hết!

Đừng bao giờ bỏ bạn bè của chúng ta, những người bạn chân thật đã cho chúng ta sự yêu thương và đồng hành. Đừng bao giờ bỏ rơi họ, đừng bao giờ! Trên đời này có một người bạn là được một ân huệ. Có được một người bạn là được một món quà. Giữ gìn và không bỏ bạn đạo đức. Được làm bạn của một người bạn là một vinh dự”.

Vậy mà chúng ta ra đi vào cổng “Thiên Đàng” uống nước một mình, để lại biết bao nhiêu người gọi là  “chiến hữu”, là “đồng ngũ”, là “huynh đệ chi binh”-danh xưng đó còn cao hơn cả tình bạn bè- mơ một ngụm nước giữa cơn khát cháy khô cổ họng. Tháng 4-1975, chúng ta đã có bao nhiêu anh hùng liệt sĩ hy sinh

cho tròn danh tiết, như người hạm trưởng không bỏ con tàu lúc lâm nguy. Dần dà chúng ta còn tìm ra không biết bao nhiêu con người dũng cãm khí phách như Nguyễn Đình Chi tự sát tại nhiệm sở, như Nguyễn Văn Long nổ phát súng vào đầu giữa công trường trong ngày Saigon thất thủ, như Nguyễn Hoàng Ân lao máy bay xuống biển không để lọt vào tay giặc khi phải bỏ miền Trung, như những người lính vô danh choàng tay chụm đầu chia nhau những mảnh đạn trên bãi biển Tư Hiền hay ở ngã ba Ông Tạ trên đường rút quân. Không phải ai cũng hành động được như họ. Họ không nỡ bỏ nhau, họ không thể bỏ bạn bè.

Nhưng chúng ta bỏ lại quá nhiều chiến hữu sau lưng. Nhiều người mất xác trong trại tù. Nhiều người chết ngoài biển đông. Chúng ta ra đi quá lành lặn, nhiều người còn đem theo của cải tích lũy từ máu xương của những người bạn đường cùng đi với chúng ta trong hai mươi năm. Chúng ta để lại hàng nghìn, hàng nghìn cô nhi quả phụ thương binh trong vùng đất địch. Ba mươi sáu năm nay, chúng ta đã thấy có vị tướng “công thành” nào nhớ đến “vạn cốt khô,” làm lấy một hành động có ý nghĩa cho những người “bạn đường” năm cũ đang giữa cơn đói khát nhục nhằn chưa? Kể cả một buổi lễ tưởng niệm, cầu siêu cho những người lính thuộc quyền ở lại chiến đấu anh dũng và chết oan khuất cho cấp chỉ huy lên máy bay lành lặn ra đi, cũng không thấy bóng dáng người tư lệnh năm xưa. Họ như “kẻ chăn chiên quay đầu chạy, bỏ bầy chiên lại cho lũ sói rừng!”Nhiều người đã trở về trận địa cũ năm xưa, không phải để tìm lại những chiến hữu ngày tháng cũ mà để bắt tay với kẻ thù hay đi tìm lạc thú, xát muối thêm vào vết thương của người ở lại.

Và chúng ta đang vào một nơi gọi là Thiên Đàng để được sung sướng một mình. Những người lương thiện khi bỏ bạn bè, dù đang được no ấm, cũng có cảm tưởng mình đang ở địa ngục. Thiên đàng như vậy phải chăng là nơi chúng ta có bạn bè và không bao giờ bỏ bằng hữu.

Trung Tá Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ gốc Việt Jackson T. Đoàn được đề cử thăng cấp Đại Tá

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân.

Posted on November 19, 2020 by dongsongcu

Post by Sơn râu 4 Feb 2026

Trung tá thủy quân lục chiến Jackson T. Đòan (Ảnh của 1st Marine Division).

Trung tá thủy quân lục chiến (TQLC) gốc Việt Jackson T. Đòan vừa được hội đồng thăng cấp TQLC đề cử thăng cấp đại tá, theo nguồn tin trên trang nhà của bộ chỉ huy nhân viên quân số hải quân (Navy Personnel Command) ngày 18 tháng 11 năm 2020, thông báo danh sách 97 sĩ quan cấp trung tá TQLC được đề cử thăng cấp đại tá. Hồ sơ đề cử thăng cấp sẽ được chuyển đến văn phòng Tổng thống đề cử, rồi chuyển đến Quốc hội và ủy ban quân vụ Thượng viện duyệt xét. Một thời gian sau đó, những trung tá được đề cử sẽ được chính thức thăng cấp đại tá.

Trung tá Jackson T. Đòan được biệt phái làm chỉ huy trưởng CJ7- điều hành và phát triển Lực lượng đặc biệt, toán liên kết yểm trợ hành quân đặc biệt, kiêm sĩ quan liên lạc các hoạt động đặc biệt liên ngành cho bộ an ninh nội địa/quan thuế và Bảo vệ biên giới (Department of Homeland Security/Customs and Border Protection) từ tháng 5 năm 2020 đến nay.

Trước khi biệt phái phục vụ cho bộ an ninh nội địa/quan thuế và Bảo vệ biên giới, trung tá Jackson T. Đòan thụ huấn ngành chiến lược cao cấp an ninh quốc gia tại trường cao đẳng hải chiến (Naval War College) Rhode Island từ tháng 7 năm 2018 đến tháng năm 2019.

Trung tá Jackson T. Đòan và HQ đại tá hạm trưởng chiến hạm yểm trợ thủy bộ USS Green Bay (Ảnh của cairnspost).

Trung tá Jackson T. Đòan nguyên là tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn 3, trung đoàn 5 “Dark Horse” sư đoàn 1 TQLC từ tháng 8 năm 2016 đến tháng 2 năm 2018. Ông là sĩ quan gốc Việt thứ hai đuợc bổ nhiệm làm tiểu đoàn trưởng tác chiến TQLC, trước ông có trung tá* William H. Seely III (nay là thiếu tướng), nguyên tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn 3 viễn thám, sư đoàn 3 TQLC. Ngoài ra, còn có trung tá* John T Nguyễn (nay là đại tá), nguyên là chỉ huy trưởng phi đoàn 48 truyền tin thuộc không đoàn 4 TQLC trừ bị (Phi đoàn truyền tin tương đương với tiểu đoàn truyền tin bộ binh TQLC, nhưng danh xưng của không quân TQLC gọi là Phi đoàn/Squadron).

Trung tá Jackson T. Đoàn sinh tại Sàigòn, ông gia nhập TQLC và thụ huấn tại trường sĩ quan Officers Candidate School (OCS) vào tháng 8 năm 1997, và tốt nghiệp mang cấp bậc thiếu úy. Sau đó thiếu úy Đoàn theo thụ huấn các khóa căn bản sĩ quan TQLC (TBS) và khóa sĩ quan bộ binh TQLC (IOC) trong năm 1998.

Tháng 8 năm 2002, trung úy Đoàn được thăng cấp dại úy, làm chỉ huy phó trạm tuyển mộ TQLC tại San Diego. Sau 22 tháng phục vụ tại đây, ông được khen thưởng với tư cách là đại đội trưởng đại đội K, tiểu đoàn 3 tuyển mộ. Đến tháng 8 năm 2005. ông đã hoàn thành 11 đợt tuyển mộ binh sĩ TQLC.

Trung tá Jackson Đoàn bắt tay thiếu tướng Craig Q. Timberlake, tư lệnh sư đoàn 3 TQLC tại Phillipine ngày 7 tháng 10 năm 2017. (Ảnh của hạ sĩ I Andre Peterson).

Sau đó đại úy Đoàn được chọn gởi đi thụ huấn khóa sĩ quan bộ binh cao cấp tại Fort Benning, Georgia, và tốt nghiệp ưu hạng. Ông lấy bằng nhảy dù, và tốt nghiệp hạng danh dự. Sau Khi hoàn tật chương trình huấn luyện vào tháng 6 năm 2006, Đại úy Đoàn được giao phó nhiệm vụ cố vấn lưu động cho toán chuyển tiếp quân sự 11, nơi đây ông làm xử lý thường vụ cho một đơn vị viễn thám lực lượng đặc biệt “Desert Protectors” để yểm trợ cuộc hành quân Operation Iraqi Freedom (OIF) tại khu vực tỉnh volatile Al Anbar.

Sau khi hoàn thành nhiệm kỳ phục vụ chiến đấu trong năm 2007, đại úy Đoàn được thuyên chuyển về tiểu doàn 3, trung đoàn 4 TQLC, và phục vụ tại đây 2 tháng, sau đó ông được đổi qua làm đại đội trưởng đại đôi B “Ridge Runners”, tiểu đoàn 1, trung đoàn 7 TQLC. Tại đây, ông trở lại với đại đội bộ binh yễm trợ cho cuộc hành quân OIF, tại tỉnh Al Anbar, Hitt, Irac. Đến tháng 7 năm 2008, đại úy Đoàn được chọn làm Sĩ quan huấn luyện (SGI) cho khóa học đại úy bộ binh TQLC và được thăng cấp Thiếu tá, ông được chỉ huy trưởng huấn luyện tuyên dương là sĩ quan huấn luyện xuất sắc cấp quân đội. 

Tháng 7 năm 2010, thiếu tá Đoàn được bổ nhiệm làm tiểu đoàn phó, tiểu đoàn 3, trung đoàn 4 “Darkside TQLC, đơn vị ông được khai triển tới thung lũng Upper Gereshk, Helmand để yễm trợ cho cuộc hành quân Operation Enduring Freedom.

Một thời gian ngắn sau, vào tháng 3 năm 2012, trong nhiệm vụ cố vấn chiến thuật hành quân cho toán OIC và toán 3 thuộc phòng hành quân sư đoàn TQLC, thiếu tá Đoàn tường trình kết quả hoạt động của các toán cho TQLC. Ông đã hoàn thành xuất sắc vai trò chỉ huy và tham mưu trong nhiệm vụ cố vấn chiến thuật hành quân.

Tháng 7 năm 2013, Thiếu tá Đoàn được thuyên chuyển về làm tiểu đoàn phó, tiểu đoàn huấn luyện TQLC kiêm sĩ quan hành quân và vũ khí. Trong thời gian này, ông nhận được giải thưởng lực sĩ thể thao TQLC trong năm về môn võ thuật Pankration, ông cũng là võ sĩ Pankration đoạt giải vô địch cấp quốc gia và thế giới năm 2013-2014.

Thiếu tá* Jackson T. Đoàn đoạt giải vô địch Pankration cấp quốc gia và thế giới năm 2013-2014

(ảnh của mcrdsd.marines.mil)

Thàng 6 năm 2015, thiếu tá Jackson T. Đòan được chọn làm Sĩ quan hành quân của đơn vị 13 viễn chinh TQLC-WESTPAC 13.1- (tương đương cấp Lữ đoàn). Ông được thăng cấp trung tá và là sĩ quan soạn thảo kế hoạch phối hợp hành quân trong nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho tổng thống Hoa Kỳ đến thăm các đơn vị Hoa Kỳ đang tham chiến tại đây. Ông khai triễn đơn vị hành quân truy kích địch và cho phi cơ oanh kích các mục tiêu có quân khủng bố ISIS trú ẩn trong vùng miền Bắc Irag, khu vực này thuộc vùng trách nhiệm của bộ tư lệnh trung ương Hoa Kỳ (CENTCOM) . Sau đó đơn vị của ông được điều động đến Baghdad cùng với chiến đoàn hổn hợp đặc biệt yễm trợ cuộc hành quân. Tháng 7 năm 2016, trung tá Đoàn và đơn vị trở về Hoa Kỳ.

Trung tá Jackson T. Đòan tốt nghiệp hạng tối ưu văn bằng cử nhân kỹ thuật điện toán và  văn bằng cử nhân kỹ sư cơ khí và thiết kế kỹ nghệ tại đại học Southern California. Và văn bằng cao học tại đại học Phoenix. Ngoài ra, ông còn thụ huấn và tốt nghiệp nhiều khóa huấn luyện và chương trình chuyên nghiệp quân sự.

Trung tá Jackson T. Đòan được thăng cấp thiếu úy năm 1997, trung úy năm 2001, đại úy năm 2006, thiếu tá năm 2010, trung tá năm 2015, và được đề cử thăng cấp đại tá tháng 11 năm 2020. Ông được ân thưởng các loại huy chương cao quý như: Bronze Star, Meritorious Service Medal with 2 stars (in lieu of 3rd award), Navy Commendation Medal with “V” distinguishing device and star (in lieu of 2nd award), Navy Achievement Medal, Army Achievement medal with 2 palms (in lieu of 3rd award), Combat Action Ribbon with star (OIF, OEF), Humanitarian Assistance Medal, and Outstanding Volunteer Service Medal.

Theo các tài liệu thu thập được thì sĩ quan TQLC gốc Việt rất ít, so với sĩ quan gốc Việt phục trong các quân chủng không quân, hải quân và lục quân. Sĩ quan gốc Việt đang phục vụ trong quân chủng TQLC hiện nay gồm có (không tính sĩ quan cấp trung/thiếu úy): 1 Thiếu tướng, 2 đại tá, 7 trung tá (không tính 3 vị hồi hưu), 25 thiếu tá và khoảng 40 đại úy.

Chúc tân đại tá Jackson T. Đoàn thăng tiến trên đường binh nghiệp.

Nguyễn Quân

Chú thích:* Ghi theo thời gian mang cấp bậc.

Nguồn tài liệu tham khảo: Navy Personnel Command; The United States Marine Corps (USMC); 1st Marine Division; WFTBn major wins world championship; facebook.com/3rdBattalion5thMarines; linkedin.com; dvidshub.net; bienxua – Trung tá gốc Việt Jackson T. Đoàn, tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn 3, trung đoàn 5, sư đoàn 1 TQLC Hoa Kỳ.

Phận người vận nước

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 4 Feb 2026

Phần 2 – Phân đoạn 3

Từ Thiếu Sinh Quân nên Người Lính Lớn

Thiếu Tướng Trương Quang Ân (1932 – 1968)

Dẫn Nhập

Câu chuyện sắp kể lại đáng lẽ đã phải được viết nên từ lâu, trong lần tường trình của Mùa Hè, hoặc từ dịp tháng 8, tháng 9 năm nay. Nhưng do những biến cố lịch sử Việt Nam và thế   giới xảy ra tại những thời điểm kể trên quá đổi lớn lao nên kỳ tích tưởng như huyền thoại về Người Lính Lớn Trương Quang Ân bị chìm lấp giữa khối uất hận đau thương chung của toàn dân tộc.

Nay khi lần tường trình về Mùa Hè 1972 đã qua, chúng ta có bổn phận phải nhắc lại buổi Tướng Quân Trương Quang Ân và Phu Nhân Dương Thị Thanh vị quốc vong thân bốn mươi bốn năm trước, 1968 nơi chiến trường Tây Nguyên. Và cũng như cuộc sống khiêm tốn, giản dị của Người, báo chí Sài Gòn, kể cả báo quân đội thuở ấy đã chỉ loan tin một cách sơ lược về cái chết của vị tướng lãnh đầu tiên của miền Nam gửi thân tại trận địa do đạn bắn thẳng của kẻ nghịch. Chúng ta hôm nay phải viết lại đoạn đời kiệt liệt kết thúc với cái chết bi hùng của một cựu Thiếu Sinh Quân cũng là Người Lính Lớn: Cố Thiếu Tướng Trương Quang Ân. Bởi nếu không sẽ là một thiếu sót vô cùng đối với vong linh liệt sĩ tiền nhân, những người đã dâng hiến trọn đời cho quân ngũ, chấp nhận phần thiệt hại cuối cùng, lớn lao nhất với sinh mệnh của chính mình để Tổ Quốc và Dân Tộc tồn sinh.

Một

Tường trình hôm nay cũng có phần giải thích vì sao trong trận chiến cuối cùng khởi từ 10 tháng Ba, 1975 ở Tây Nguyên, đơn vị đầu tiên hứng chịu ngọn cuồng phong khốc liệt của cuộc tấn công cường tập do bốn Sư đoàn Bộ binh cộng sản có chiến xa và đại pháo yểm trợ … Đấy là Sư đoàn 23 Bộ binh, đơn vị trách nhiệm vùng cao nguyên Ban Mê Thuột đã có sức chống cự bi hùng bền bỉ với những người lính cơ hữu từ hàng binh sĩ, đến cấp chỉ huy Tiểu đoàn, Trung đoàn. Tất cả đã đồng nêu gương trung dũng quyết liệt, đánh đến viên đạn cuối cùng mà người viết bản tường trình này đã tận mắt chứng kiến, đã trực tiếp tham dự qua cuộc đổ quân của các Tiểu đoàn thuộc các Trung đoàn 44 và 46 Bộ binh từ sân bay Hàm Rồng ở Pleiku trong hai ngày 14, 15 tháng 3 xuống quận Phước An, Tây – Nam Ban Mê Thuột để từ đây lập đầu cầu giải toa phần đất bị bộ đội miền Bắc xâm chiếm từ đêm mồng 10 cùng tháng 3 của năm 1975 mở đầu thảm kịch miền Nam.

Cuộc đồ quân của ngày 13, 14 tháng 3 năm 1975 của người Lính Sư đoàn 23 Bộ binh từ sân bay Hàm Rồng Pleiku có tham dự của những người lính không súng, không đạn, không nón sắt mà chỉ với con nhỏ bế trên tay, hoặc buộc chặt vào thân. Đấy là những người vợ lính nhảy trực thăng cùng chồng trong chiến dịch tái chiếm Ban Mê Thuột với lời thề sinh tử: “Trở về Trại Gia Binh của đơn vị hay là chết”. Cũng tại chiến địa Ban Mê Thuột đã vang dội lời nguyền quyết liệt của Đại Tá Võ Ân, thay mặt toàn thể binh sĩ thuộc Trung đoàn 53 thề chiến đấu đến cùng tại chiến trận phi trường Phụng Dực, bên trong thị xã đang bị quân cộng sản chiếm đóng hầu hết những vị trí xung yếu. Tinh thần hào hùng kiên trì này không thể hình thành trong một lúc bất ngờ, do tác động ngẫu nhiên mà phải là kết quả của một khởi đầu sâu xa bền bỉ … Ở từ đâu? Do những ai xây đắp nên? Tường trình về Thiếu Tướng Trương Quang Ân hôm nay sẽ là câu trả lời đầy đủ và chính xác nhất. Bài viết lại này cũng có thể để giúp hiểu rõ thêm, giải đáp tại sao Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam đã nên hiển thánh với cái chết làm sông núi phải quặn mình đau thắt cùng lần với hổ Tướng Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn và vô vàn anh linh tử sĩ khác, những Tướng Quân Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ … trong giờ phút thiên thu uất hận của miền Nam năm 1975. Tất cả gương trung liệt của liệt quý vị đã có xuất phát từ một nguyên nhân, có chung một động lực: Đấy là  Đất Nước Phương Nam không hề thiếu hào kiệt mà Tướng Quân Trương Quang Ân là một trong nhữngngọn nguồn ánh sáng linh hiển dẫn đầu. Bởi chính Tướng Quân Trương Quang Ân đã là Cấp Chỉ huy của vị Anh Hùng sống mãi với quê hưong, Thiếu Tưong Nguyễn Khoa Nam Tư lệnh Quân đoàn IV. Bởi Thiếu Tá Nguyễn Khoa Nam, Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù là đơn vị thống thuộc hành quân của Chiến đoàn 2 Dù do Trung Tá Trương Quang Ân hằng trực tiếp chỉ huy trong thập niên 60. Và vị sĩ quan kỳ tài, đứng đầu quân lực do công nghiệp dựng nên tại chiến trường, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn cũng chính là niên đệ của Người nơi trường Thiếu Sinh Quân Quân lực Việt Nam Cộng hòa từ những năm tháng xa xôi sau 1954.

Hai.

Trường Thiếu Sinh Quân là chiếc nôi nuôi dưỡng, phát triển lòng yêu nước vô vàn của Người Lính Việt.

Ngôi trường ấy đã là đơn vị cuối cùng, quyết liệt chiến đấu với bộ đội cộng sản khi tiến chiếm Vũng Tàu sáng 30 tháng 4, 1975 với những Người Lính chết trận cuối cùng cho quê hương miền Nam. Những Người Lính chưa đến tuổi thành niên thuộc tập thể Thiếu Sinh Quân Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Cũng cần nói thêm chi tiết, tường trình hôm nay được ghi nhận từ thuở bản thân người viết vừa qua tuổi hai mươi gần 50 năm trước. Và viên sĩ quan cấp thấp nhất của quân lực khi ấy đã tin rằng là đi đúng đường của một Người Lính với những Cấp Chỉ huy như Thiếu Tá Trương Quang Ân xứng đáng để trao gởi hết lòng thành.

Để biết được đầy đủ hơn về cuộc đời kiệt liệt của một Người Lính Lớn, chúng ta phải bắt đầu lại chuyện kể từ thời điểm sớm nhất – Ngày Thiếu Sinh Quân Trương Quang Ân tốt nghiệp Thiếu úy Khóa 7 Sĩ Quan Hiện Dịch trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt với vị thứ thủ khoa, tháng 12, năm 1952. Thiếu úy Trương Quang Ân đã chọn binh chủng Nhảy Dù, đơn vị tổng trừ bị sẵn sàng cho những chiến trận lớn suốt miền châu thổ Bắc Việt Nam, nơi những đỉnh núi cao lẫn trong mây vùng Bắc Trường Sơn, dọc biên giới Lào – Việt. Trận Bản Hiu Siu cuối năm 1953 bùng nổ trên vùng Cánh Đồng Chum nơi cao nguyên Trấn Ninh, vị trí xung trí xung yếu của miền Trung Lào, đầu nguồn sông Nậm Ngung do Tướng Cogny, Tư lệnh quân đội Pháp miền Bắc Đông Dương chỉ huy có mục đích bẻ gãy mũi tiến công của Trung đoàn cộng sản có ý hướng tiến về Thủ Đô Vạn Tượng của Lào. Đơn vị địa phương giữ Bản Hiu Siu xin quân tăng viện, Tiểu đoàn 3 Nhảy Dù Hải Ngoại viết tắt là BEP – Bataillon Étranger Parachutiste đơn vị đầu đời của Thiếu úy Trương Quang Ân nhảy xuống trận địa với hai đại đội Tiểu đoàn 7 Dù tăng phái. Trận đánh không cân sức diễn ra ngay từ phút đầu tiên vì bộ đội Việt Minh sẵn có ưu thế quân số vượt trội, chuẩn bị, chọn lựa và chiếm giữ trận địa, nhưng dần dần thắng lợi nghiêng về phía quân nhảy dù bởi sức chiến đấu quá đỗi kiên cường, lập lại thế phản công, giữ vững, kiểm soát được những vị trí quan trọng của vùng Cánh Đồng Chum, đẩy quân đội cộng sản trở về hướng Bắc.

Thành quả chiến trận không phải là điều bất ngờ, bởi Tiểu đoàn 3 Dù là một đơn vị ngoại hạng của 17 Tiểu đoàn tổng trừ bị mặt trận phía Bắc Việt Nam. Kết quả trận đánh đồng thời đã chứng minh cho thành phần lãnh đạo Pháp – Việt thấy rõ một yếu tố mới: Những sĩ quan trẻ, những hạ sĩ quan, binh sĩ người Việt tình nguyện trong đơn vị nhảy dù thuộc quân dội Liên hiệp Pháp chính là nhân tố kết nên thắng lợi. Tiếu đoàn 3 Nhảy Dù Việt Nam hậu thân của Tiểu đoàn 3 Nhảy Dù Hải Ngoại là đơn vị đầu tiên của Quân lực Cộng hòa được tuyên công Bảo Quốc Huân Chương với dây Biểu Chương Tam Hợp Ba Màu Vàng – Xanh – Đỏ do công trận chỉ huy bởi những những Thiếu úy, Trung úy của năm 1953 này. Đấy là những sĩ quan có danh tính Trương Quang Ân, Phan Trọng Chinh và sau này là Lê Nguyên Vỹ, Nguyễn Hữu Luyện …

Ba.

Chính phủ Thủ Tướng Ngô Đình Diệm được thành lập ngày 20 tháng 7, 1954 mang đủ tất cả gánh nặng của quá khứ gần 100 năm lệ thuộc người Pháp với tình thế quân sự chính trị suy sụp hỗn loạn sau thất trận Điện Biên Phủ của quân đội Pháp và công cuộc định cư hơn triệu người di cư từ miền Bắc vào Nam.

Các lực lượng chính trị chống đối của miền Nam kết hợp thành Mặt trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia yêu cầu Thủ Tướng Ngô Đình Diệm giải tán nội các cải tổ chính phủ và chấp thuận để họ duy trì tình trạng cắt cứ của những tổ chức quân sự tại những địa phương riêng biệt. Chính phủ Sài Gòn giữ nguyên lập trường: Thống nhất quân đội trước khi bàn đến những cải tổ chính trị. Lực lượng Bình Xuyên dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tướng Lê Văn Viễn quyết chống lại Chính phủ Trung ương Sài Gòn. Ngày 1 tháng 1, 1955 Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đóng cửa các cơ sở kinh tài quan trọng của Bình Xuyên, cách chức Tổng Giám đốc Cảnh sát và Công an của Lai Văn Sang, một người thân tín đắc lực của Thiếu Tướng Viễn … Cuối cùng việc phải đến, ngày 28 tháng 4, 1955 lực lượng Bình Xuyên nổ súng tấn công quân Chính phủ.

Liên đoàn Nhảy Dù với bốn Tiểu đoàn 1, 3, 5, 6 hình thành nên những trụ cột chống đỡ nền móng Quốc gia, nên chỉ một ngày sau, quân nhảy dù đã làm chủ tình hình toàn bộ đô thành Sài Gòn, Chợ Lớn. Mặt trận Sài Gòn mau chóng kết thúc vào ngày 5 tháng 5, tàn binh Bình Xuyên rút về Rừng Xác, vùng sình lầy dọc theo sông Sài Gòn và Đồng Nai lập thế chống cự. Tháng 9, lực lượng chính phủ mở Hành Quân Hoàng Diệu cũng với lực lượng nhảy dù làm thành phần xung kích truy quét đám phản loạn. Ngày 24 tháng 10 kết thúc chiến dịch, nơi khuôn viên Dinh Dộc Lập lần đầu tiên diễn ra khung cảnh Đại hội ân thưởng toàn quân kể từ ngày mở nước về phương Nam, cũng là lần đầu tiên, Quân, Quốc kỳ cùng bay rạng rỡ trên kỳ đài tòa dinh thự báo hiệu thống nhất quân đội, chủ quyền quốc gia quy về một mối. Trung úy Trương Quang Ân đứng hàng đầu giữa những chiến binh của quân đội Cộng hòa được tuyên công. Ông được trao gắn một lần hai Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu. Đây là hiện tượng độc nhất chỉ xảy ra một lần trong các quá trình nghi lễ trao gắn huy chương cho dù về sau này khi chiến trường trở nên nặng độ.

Năm 1957, Đại Tá Nguyễn Chánh Thi thay thế Đại Tá Đỗ Cao Trí giữ chức Tư lệnh Liên đoàn Nhảy Dù, Đại úy Trương Quang Ân rời Tiểu đoàn 3 Dù về Bộ Tư lệnh giữ chức vụ Trưởng phòng Ba tức Phòng Hành Quân, Huấn Luyện. Một sự kiện quan trọng xảy ra trong đời sống cá nhân Đại úy Trương Quang Ân, đồng thời cũng là một biểu tượng đặc thù của binh chủng nếu không nói là của toàn quân đội. Ông làm lễ thành hôn với Chuẩn úy Dương Thị Thanh, một trong những nữ quân nhân đầu tiên của Binh chủng Nhảy Dù. Cuộc kết ước được chính Tư lệnh đơn vị làm chủ hôn và hôn lễ được thực hiện theo nghi thức thuần túy quân đội: Đại úy Trương Quang Ân trao nhẫn đính hôn cho Nữ Chuẩn Úy Dương Thị Thanh nơi cửa máy bay, xong hai người cùng nắm tay điều khiển dù nhảy xuống đất nơi bãi đáp Ấp Đồn thuộc quận Củ Chi. Cảnh tượng cảm kích trên chắc hẳn không phải là màn trình diễn của đôi vợ chồng trẻ muốn làmnên sự kiện độc đáo ngoạn mục, nhưng đấy là hành vi biểu hiện lòng sắt son của Hai Người Lính muốn kết hợp lời nguyền hiến dâng đời sống bản thân, gia đình cho Quân Đội và Tổ Quốc.

Bốn.

Đầu năm 1965 để chuẩn bị đưa ông vào những chức vụ cao hơn, Bộ Tổng Tham mưu tuyển chọn Trung Tá Ân theo học trường Chỉ Huy Tham mưu Cao cấp Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ. Và cũng như hai mươi năm trước, Trung Tá Trương Quang Ân lại tốt nghiệp khóa học với vị thứ thủ khoa kèm lời khen ngợi nồng nhiệt kính phục từ Ban giám đốc trường: Đây là học viên tốt nghiệp với số điểm cao nhất từ trước đến nay. Ông đứng đầu trên 45 sĩ quan cao cấp của quân đội toàn thế giới, kể cả những tướng lãnh, cấp tá thuộc quân lực Mỹ.

Năm 1966, trong buổi tiệc tiễn ông đi nhận chức Tỉnh Trưởng Gia Định, binh sĩ, Hạ sĩ quan của Bộ chỉ huy Chiến đoàn 2 và sĩ quan của những Tiểu đoàn trực thuộc trong vùng Biên Hòa được mời tham dự. Mỗi người có một hộp giấy gồm hai pâté-chaud, hai bánh ngọt và một xăng-wích; thức uống gồm một chai bia và nước ngọt Quân Tiếp Vụ. Trung Tá Ân giải thích bữa liên hoan thanh đạm như sau: “Bữa liên hoan này là do tiền lương tôi xin lãnh trước để đãi anh em và bánh là do nhà tôi làm. Chứ còn như trong Chợ Lớn đã có mấy tiệm ăn, tửu lầu gì đó của người Hoa nghe tin tôi về làm Tỉnh Trưởng, họ đã đưa đề nghị đãi hết người của Chiến đoàn mình. Nhưng đó là của họ mình nhận làm chi cho mang tiếng”.

Vào một ngày của năm 1967, Đại Tá Tỉnh Trưởng Gia Định nhận danh thiếp Thiếu Tá Chánh Văn Phòng của phu nhân một viên tướng cao cấp nhất của quân lực. Viên Thiếu Tá đặt lên bàn giấy ông Tỉnh Trưởng tập hồ sơ thổ trạch đứng tên bà Tướng với lời yêu cầu ông phê chuẩn sự hợp thức hóa tình trạng sở hữu phần đất của bà. Sau khi xem xét kỹ hồ sơ và những quy định hành chánh về thủ tục hợp thức hóa đất đai thuộc phạm vi tỉnh, Đại Tá Tỉnh Trưởng Trương Quang Ân có lời quyết định: “Thiếu Tá có thể trở về trình với bà Tướng như thế này: Tôi đã xem xét kỹ càng về thủ tục hợp thức hóa thổ cư, điền thổ theo như các quy định hành chánh cho phép một Tỉnh Trưởng, nhưng lô đất nầy dẫu thuộc về Tỉnh Gia Định, nhưng cũng là công thổ Quốc gia nên tôi không thể hợp thức hóa quyền sở hữu của bà đối với phần đất đó được”.

Ông rời nhiệm sở Tỉnh Trưởng Gia Định để trở lại với chiến trường không một chút luyến tiếc.

Năm.

Phi trường Phụng Dục Ban Mê Thuột hôm ấy có một sinh hoạt khác hơn ngày thường với đoàn quân nhạc của Sư đoàn 23 Bộ binh đứng xếp hàng nghiêm  chỉnh, phòng khách phi trường được quét dọn sạch sẽ, có mặt gần như đầy đủ thành phần sĩ quan cao cấp của đơn vị và tiểu khu Darlac, đơn vị hành chính cùng có chung một địa bàn hoạt động với Sư đoàn,  lực lượng diện địa quan yếu của khu 23 Chiến thuật. Chiếc máy bay C47 hàng không quân sự đáp xuống, lố nhố những hành khách quân nhân và gia đình ào ra từ cửa máy bay. Giàn quân nhạc chuẩn bị nhạc cụ, sửa soạn trình tấu khúc Thượng Cấp Võ; đám sĩ quan vội vã xếp đội hình: Tất cả chờ đợi viên tân Tư lệnh xuất hiện.

Họ chờ một Tướng lãnh mặt trận có uy danh với những chiến công nơi trận địa mà ông đã thâu đạt từ binh chủng Nhảy Dù qua những chức vụ sĩ quan chỉ huy những đơn vị tác chiến. Nhưng vị Tướng với vóc dáng, y phục, cách thế như chờ đợi ấy đã không xuất hiện. Người ta chỉ thấy một người lính với nón sắt hai lớp, lưới ngụy trang, quân phục tác chiến xanh của bộ binh, vai mang ba-lô, tay xách sac-marin (túi đựng quân trang, quân dụng của binh sĩ) đi lẫn vào cùng đám quân nhân hành khách. Hay là ông chưa tới? Có thể ông đi máy bay Air-Vietnam để được sạch sẽ, lịch sự hơn chăng?!

Đám sĩ quan nghi lễ bàn tán. Bỗng một người nhác thấy người lính đi hàng cuối mang bảng tên màu trắng kẻ chữ “ÂN” đen trên nắp túi áo và ngôi sao huy hiệu cấp Tướng màu đen may tiệp vào cổ áo tác chiến … Không một chiếc huy chương ở phần ngực áo. Người này vội vã, hốt hoảng … Vào hàng … Vào hàng! Vào hàng! Phắc!

Hành khách quân nhân cuối cùng kia vội đi nhanh đến chỗ viên sĩ quan Trưởng toán chào kính, và nói nhanh, dẫu tiếng nhỏ nhưng dứt khoát: “Trung Tá cho anh em nghỉ, tôi không thể nhận”. Và khi đứng hẳn trước đoàn người, Đại Tá Trương Quang Ân khiêm tốn giải thích: “Cám ơn anh em đã đón tôi với đủ lễ nghi quân cách, nhưng tôi không được phép nhận vì chưa bàn giao đơn vị. Vậy chỉ cho tôi một xe jeep cũng như những sĩ quan vừa đáo nhậm đơn vị mới và chờ cho tôi bàn giao với vị Chỉ huy Trưởng xong, các anh em hằn giành cho tôi quân lễ đối với một tân Tư lệnh”.

Ông lên một chiếc jeep trần trụi, sửa lại thế ngồi, bi-đông nước và khẩu súng colt; chiếc nón sắt hai lớp đội thẳng, sát xuống mí mắt đúng quân phong, quân kỷ ấn định. Đoàn xe ra khỏi phi trường, hướng khu dân cư nơi có đặt những cơ sở quân sự của khu chiến thuật và tòa Tỉnh Trưởng. Sau chiếc jeep cũ kỹ chở vị tân Tư lệnh, một chiếc khác bóng loáng mới tinh khôi cắm cờ hiệu cấp Tướng, không người ngồi chạy theo giữa bụi mù. Ngay sau khi nhậm chức, Tướng Quân được dịp chứng nghiệm khả năng chỉ huy vào dịp Tết Mậu Thân, 1968 khi quân cộng sản Tổng tấn công miền Nam mà thị xã Ban Mê Thuột với Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 là mục tiêu đầu tiên bị những Tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 33 cộng sản Bắc Việt tập trung dứt điểm.

Liền sau giờ Giao Thừa, lúc 1 giờ 35 đêm 29 rạng 30 tháng 1, 1968 bốn Tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 33 tăng cường hai Tiểu đoàn 401 và 301 cơ động tỉnh và bốn đại đội địa phương, cùng du kích đồng loạt tấn công những mục tiêu của thị xã cần phải chiếm lãnh, tràn ngập. Sở Hành chánh Tài chánh, Tòa Hành chánh, Dinh Tỉnh Trưởng, Bộ Chỉ huy tiểu khu, Đại đội 514 Vận Tải, mà trại gia binh Đại đội trinh sát, cư xá sĩ quan và bản doanh Bộ Tư lệnh Sư đoàn là những vị trí phải được chiếm cứ trước hết – Bởi phía chỉ huy quân sự đối phương hiểu rõ rằng, nếu đập vỡ được cơ quan chỉ huy (Bộ Tư lệnh), khống chế được thành phần nhân sự hoặc thân nhân, gia đình của lực lượng trừ bị tiếp ứng (Đại đội trinh sát, thành phần sĩ quan chỉ huy, Tham mưu Sư đoàn) thì cuộc tấn công ắt chiếm giữ phần ưu thắng. Nhưng tất cả mũi tấn công đồng bị chận đứng

trước cổng các doanh trại và âm mưu lùa dân vào thị xã biểu tình thực hiện bước tổng nổi dậy tiếp theo hoàn toàn bị thất bại. Bởi từ Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23, Tướng Quân đã điều động ngay trong đêm cuộc phản công với Thiết đoàn 8 Ky binh, các Tiểu đoàn 2 và 3 thuộc Trung đoàn 45 Bộ binh và Đại đội 45 Trinh sát đang hành quân bên ngoài thị xã. Lực lượng tấn công cộng sản hóa thành bị bao vây, chia cắt bởi đoàn quân tiếp ứng. Sáng ngày 30 (mồng 1 Tết Âm Lịch) lực lượng Thiết kỵ và Bộ binh của Sư đoàn đã hoàn toàn giữ vững những vị trí, cơ quan quân sự, hành chánh trọng yếu của tỉnh và thị xã. Về mặt chiến thuật, chúng ta có thể nói rằng âm mưu tiến chiếm Ban Mê Thuột bị đập tắt từ giờ phút đầu tiên chỉ trừ những cơ sở như Ty Ngân Khố, Sở Hành Chánh Tài Chánh số 3 còn bị những tiểu tổ du kích chiếm đóng mà vì cốt tránh thiệt hại về nhân mạng cũng như tài sản chung nên phía tiểu khu, Bộ Tư lệnh Sư đoàn chưa cho lệnh phản kích, lấy lại. Tính đến ngày mồng 6 Tết, mặt trận Ban Mê Thuột hoàn toàn được giải tỏa, Trung đoàn 33 và các đơn vị địa phương, du kích bị đánh bật ra khỏi vành đai thị xã để lại 924 xác trên hiện trường, và 143 bị bắt sống. Nhưng mỉa mai thay, có một “lạnh nhạt cố ý” rất đáng chê trách: Suốt chiến dịch ca ngợi thắng lợi kiên trì giữ vững miền Nam sau biến cố lớn lao này, công trận thủ thắng ở mặt trận Ban Mê Thuột “hình như” được cố ý loại bỏ – Điều này càng thấy được cụ thể qua tập quân sử tổng kết “Cuộc tổng công kích – Tổng khởi nghĩa của Việt cộng Mậu Thân 1968″, danh tính vị Tướng Quân Tư lệnh Sư đoàn 23 – Chuẩn Tướng Trương Quang Ân hoàn toàn không được nhắc tới một lần, cho dù có hình ảnh của Người cùng viên Tư lệnh quân khu đi xem xét chiến lợi phẩm sau khi mặt trận im tiếng súng và quân địch đã toàn phần bị đánh bại (Trang 264 TCK-TKN, Khối Quân Sử Phòng 5/ Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, 1968).

Khi những người cầm quyền quốc gia, lãnh đạo quân đội xem nhẹ kẻ sĩ, bạc đãi chiến sĩ, danh tướng thì chỉ dấu suy thoái của Quốc gia, Quân đội đó ắt đã phát hiện. Nếu những Người Lính mang tên Trương Quang Ân, Nguyễn Viết Thanh, Ngô Quang Trưởng, Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn Hai, Lê Văn Hưng … nắm quyền thống lĩnh quân đội, trọng trách vận mệnh quốc gia từ thập niên 60, đầu những năm 70 thì đâu có ngày đau thương oan nghiệt 30 tháng 4, 1975. Chúng ta phải kêu lên tiếng uất hận vỡ trời cùng Anh Linh Chiến Sĩ – Tướng Quân Trương Quang Ân!

Kết Từ.

Ngày 8 tháng 9 năm 1968 sau buổi thuyết trình buổi sáng tại Trung tâm Hành Quân, Chuẩn Tướng Tư lệnh cùng cố vấn Sư đoàn, vị sĩ quan Phòng Ba ra bãi đáp trực thăng cạnh Bộ Tư lệnh để đi thanh  tra, kiểm soát những đơn vị thuộc quyền đang hànhquân trong phạm vi quận Đức Lập. Theo thường lệ, Tướng Quân đi cùng những giới chức trên bằng trực thăng HU1D của hệ thống cố vấn Mỹ, nhưng bởi sáng nay có bà tháp tùng theo cùng để đến thăm gia đình binh sĩ của đơn vị có hậu cứ tại quận ly, nên hai người quyết định xử dụng trực thăng H.34 của Không quân Việt Nam, cũng cốt để chở được nhiều nhu yếu phẩm, quà tặng cho binh sĩ và gia đình của họ. Hai vợ chồng Người Lính lớn nhất của đơn vị thăm hỏi đến mỗi gia đình binh sĩ, bà ngồi xuống giữa những người vợ lính, những em bé xao xác do thiếu dinh dưỡng, trú ngụ nơi những lều trại dã chiến mà người lính tạm dựng lên tại tiền trạm vùng hành quân. Bà bối rối, băn khoăn về nỗi khổ của từng người, bà ôm không hết những em nhỏ với nước mắt rưng rưng thương cảm. Ông yên lặng đi đến tại mỗi vị trí phòng thủ, xem xét những khẩu pháo, hỏi kỹ về nhu cầu của đơn vị và luôn nhắc nhở cán bộ sĩ quan:

“Phải luôn cố gắng chăm sóc đời sống anh em, họ đã quá thiếu thốn, quá gian khổ, bồn phận của Cấp chỉ huy là phải tận tụy hết lòng với mỗi người lính của mình. Ai cũng có thể có khuyết điểm nhưng cần nhất là biết phục thiện, sửa chữa”.

Buối thăm viếng đã quá lâu, cố vấn Mỹ, đoàn sĩ quan tham mưu, cũng như cá nhân tướng Tư lệnh phải trở về Ban Mê Thuột; những người vợ binh sĩ vây quanh bà, bà bước đi ngập ngừng … “Về mình ạ, mình còn trở lại nhiều lần nữa, mình nói với các chị, các cháu như thế”. Ông bắt tay từng sĩ quan, ân cần đáp lại ánh mắt lưu luyến của binh sĩ. Cánh quạt chiếc H.34 bắt đầu quay, Tướng Quân đỡ Phu Nhân, chiến hữu sắt son của Người suốt đời dài binh đao, bước lên cửa máy bay vì sức gió mạnh xô đẩy. Hai Người Lính nhìn lại những bóng người dưới đất bắt đầu mờ dần. Do nước mắt của bà đã thấm nhòa cảm xúc. Người dưới đất đưa tay ngoắt từ biệt. Bỗng như tia chớp cực mạnh loé sáng. Con tàu bùng vỡ khối lửa hung hãn ác độc và lao nhanh xuống như một mũi tên. Khu trại gia binh đồng la lớn kinh hoàng … Chết rồi … Chết rồi trời ơi … Ông bà tướng chết rồi trời ơi … Trời ơi là trời ơi!! Những người vợ lính bật khóc cùng với những đứa con gào ngất trong tay bởi ánh lửa đỏ rực loáng sáng khoảng trời. Tướng Quân Trương Quang Ân cùng Phu Nhân Dương Thị Thanh trở về cùng mặt Đất Quê Hương như trong tuổi thanh xuân Hai Người Lính đã kết hợp giữa bầu Trời Tổ Quốc.

Trong buổi phát tang nhị liệt vị, sĩ quan nghi lễ kê khai phần tài sản để lại gồm: 53,000 đồng, tiền lương tháng cuối cùng của Tướng Quân và tám chiếc áo dài nội hóa của Phu Nhân. Chúng ta hôm nay cùng sông núi kính cẩn nghiêng mình trước Anh Linh Người Lính Thanh Cao, Trung Liệt đã vô vàn tận hiến với Nước Việt Miền Nam:

Thiếu Sinh Quân – Người Lính Cộng Hòa

Trương Quang Ân.

Để nhớ Ngày Hè Lẫm Liệt, 1972

Phan Nhật Nam

Vẽ lại từ tác phẩm của Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh

Giờ thứ 25

vietmessenger.com

Constantin Virgil Gheorghiu

Bản dịch của Lê Ngọc Trụ và Võ Thị Hay

Gió Bốn Phương xuất bản 1967

Theo Bản Dịch La Vingt – Cinquième Heure Của Monique Saint – Côme

Nxb Gió Bốn Phương, Saigon 1967

Post by Sơn râu 4 Feb 2026

Chương 5

Traian đang viết. Moritz ngồi kề bên, nhìn cách ông cầm viết chì, mấy ngón tay khít khao, và cách ông gò gẫm viết chữ, như khi ông xỏ hột ngọc trai.

Moritz không kiên nhẫn ngồi viết, và cũng không ưa viết. Nhưng anh có thể ngồi hằng giờ xem Traian viết, mà không chán.

Moritz thầm nghĩ: “Lúc ông Traian ngồi viết giống như lúc ông đọc kinh trước tượng Thánh. Nhìn ông, người ta có thể quên ông là tù nhơn, không còn thấy ông đi chân không, đầu cạo trọc, quần lủng nhiều lỗ. Lúc ngồi viết, ông Traian là một “thánh nhân”. Người ta kính cẩn muốn giở nón và hạ thấp giọng”.

Traian ngừng viết, hỏi:

– Anh có nghe nói đến người dụ rắn không?

– Có!

– “Thánh Saint Daniel ở trong hang sư tử mà sư tử không ăn thịt thánh. Thánh chế ngự được chúng nó. Con người có thể dụ rắn và chế ngự sư tử. Mussolini có nuôi hai con cọp trong phòng làm việc. Ông tập nó hiền như thú nhà. Con người có thể thuần phục được thú dữ.

“Nhưng, gần đây mới xuất hiện trên quả địa cầu một loại thú mới. Loại thú ấy mang danh là “Công dân”. Nó không sinh sống trong rừng rậm, như các giống khác, mà ở tại văn phòng, song chúng nó lại hung tợn hơn thú dữ. Chúng nó là kết quả của giống người pha với máy móc, một giống thú khác thường. Ngày nay, chúng có thế lực mạnh nhứt trên khắp hoàn cầu. Diện mạo chúng nó giống người, và thường khi người ta lầm lẫn nó với người. Nhưng liền khi ấy, người ta nhận ra tính tình cư xử của nó không giống như người mà giống như máy móc. Thay vì một tấm lòng, nó là cái máy đo thì giờ chính xác. Đầu óc chúng nó là máy móc. Nó thì không phải máy móc mà cũng không phải con người. Y muốn của chúng là ý muốn của thú dữ. Đó là những “Công dân”…, một tạp chủng kỳ dị. Chúng nó tràn chiếp khắp thế giới”.

Moritz cố tưởng tượng thế nào là “Công dân”, mà cũng không tìm hiểu được. Anh có nghĩ đến Marcou Goldernberg trong giây lát, nhưng Traian nói tiếp, làm anh quên mất hình ảnh Marcou.

– “Tôi là văn sĩ. Theo tôi, nhà văn là một thuyết phục gia. Nhà văn chỉ rõ cho loài người cái đẹp, tức là “Sự thật”, thì họ sẽ thuần hóa. Còn tôi, tôi lại muốn thuần phục các “Công dân”. Tôi khởi viết một quyển sách, đã được tới chương năm. Kế bị “Công dân” đến bắt đem giam, nên tôi không thể viết tiếp. Chương thứ năm chưa khởi sự.

“Bây giờ, hết còn lý lẽ để viết tiếp, vì tôi không xuất bản sách nữa được. Vậy để thế cho chương năm, tôi muốn viết về những gì để chế ngự “Công dân”.

“Nếu thành công, tôi sẽ chết được yên lành. Để tôi đọc cho anh nghe những gì tôi viết. Không phải một cuốn tiểu thuyết, cũng không phải một vở kịch. “Công dân” không ưa thích văn chương. Muốn thuần dưỡng được chúng, chỉ viết loại văn chúng ưa thích. Tôi sẽ viết loại “đơn Thỉnh nguyện”. “Công dân” không có giờ dư để đọc tiểu thuyết, kịch hoặc bi kịch. Chúng nó chỉ đọc “đơn Thỉnh nguyện”.

NGƯỜI CHỨNG

Đơn Thỉnh nguyện số 1.- Vấn đề kinh tế (Chất mỡ).

Tôi sẽ gởi nhiều đơn thỉnh nguyện cho các người. Đơn khởi đầu này bàn về vấn đề kinh tế. Tôi biết nền văn minh kỹ thuật lập trên nền tảng vật chất. Kinh tế là thánh kinh của các người.

Tôi là văn sĩ, và mỗi văn sĩ là một người chứng. Đức tính của một nhân chứng là phải vô tư.

Vì thế, những đơn thỉnh nguyện của tôi đều là những chứng cứ của “Sự thật”.

Vấn đề tôi giải thích nơi đây, theo tôi, thật quan trọng: Chất mỡ.

Các người tất hiểu rõ tình trạng thiếu thốn chất mỡ trên Thế giới hiện nay. Khi tôi đến trại giam này, bọn tù đang ngủ dưới đất, nằm khít nhau. Tôi khó khăn lắm mới kiếm được chỗ nằm. Tôi vừa ra khỏi khám và mệt mỏi. Cánh đồng bao quanh trại giam rộng minh mông. Tôi không hiểu tại sao các người thâu hẹp trại giam đến dường này!

Mười lăm ngàn người trong trại, thường chật khít đeo. Lúc họ đứng, thì còn có chỗ, nhưng lúc nằm, thì chỗ quá hẹp, họ gần như chồng chất lẫn nhau. Phần tôi trọn đêm, tôi không ngay chân được. Mấy người nằm chung quanh tôi, gác cẳng lên đầu tôi. Chân họ nóng và họ gác lên mình tôi suốt đêm, nên tôi không thấy lạnh.

Bây giờ tôi mới hiểu được tại sao các người thâu hẹp trại giam: vì bọn tù đạp chết cỏ, mà các người muốn tiết kiệm cỏ mọc trên cánh đồng. Cỏ cũng đắt tiền, đứng giẫm lên cỏ như thế thật tổn hại, uổng phí vô ích. Tốt hơn nên để cho bò cái ăn, vì bò cái cho sữa, còn bọn tù thì có cho được gì đâu?

Mặt khác, nếu nới rộng trại giam, các người phải dùng nhiều dây kẽm gai. Dây kẽm gai thì đắt, mà tổn phí thêm, cốt để cho bọn tù có rộng chỗ để nằm ngay thẳng, nhắm không cần ích gì.

Thêm nữa, gặp cảnh đông thiên lạnh lẽo và mùa mưa sắp đến, phần đông bọn tù sẽ chết. Cũng có bọn chịu không nổi chết trước lần hồi, tụi còn sống tha hồ có chỗ rộng rãi mà nằm duỗi chân. Tôi tin rằng khi dựng trại giam này, các người đã dự liệu khoản ấy. Tôi không còn biết cách nào hơn là nghiêng mình bái phục trước sự dự tính xác đáng rất khoa học của các người.

Trước khi ngủ, tôi có nghe đọc một bài thuyết trình. Diễn giả, tự cho là giáo sư Đại học đường Berlin, nói về vấn đề: Chất mỡ. Và chính do đề tài của bài thuyết trình ấy mà tôi đem ra thảo luận với các người trong bản thỉnh nguyện này.

Mỗi ngày, giáo sư đếm mấy hột đậu trong cháo phát cho chúng tôi ăn tại trại giam. Ông đếm trọn ba mươi ngày liên tiếp, trưa và chiều, những hột đậu trong cháo của khẩu phần ông. Ông cộng lại và lấy số trung bình. Rồi ông quả quyết: một tù nhân được mỗi ngày mười hột đậu, trong hai buổi cháo. Mấy viên cộng sự của ông cũng đếm hột đậu trong ga-mên cháo của họ và nhìn nhận bài toán trúng.

Kế đó, giáo sư đếm vỏ khoai lang tây và ước phỏng số lượng chất bột đựng trong cháo. Bài tính này cố nhiên là tính phỏng chừng vì giáo sư không được phép vô nhà bếp.

Các người đều biết như tôi, rằng dân Đức rất sành về sự cân lường lắm. Nên ta được phép giả thiết rằng các hột đậu được đếm rất đúng. Dân Đức nhẫn nại và thận trọng. Sau ba ngày làm việc tỉ mỉ cẩn thận, giáo sư hoàn thành công trình khảo cứu, rồi mới đem ra thuyết trình và được tất cả cử tọa thẩm định về chân giá trị xác đáng của nó. Dân Đức thích nghe diễn thuyết về nhiều đề tài khác nhau. Thói quen cổ truyền ấy có từ đời Trung cổ. Thuật xong việc lượt cháo trong rây để đếm hột đậu mỗi ngày, giáo sư cho biết số nhiệt lượng chứa trong một hột đậu. Tôi không nhớ rõ con số. Rồi ông tính số nhiệt lượng trong mười hột đậu, cộng với số nhiệt lượng của khoai lang và bột mà bọn tù chẳng bao giờ thấy, nhưng giáo sư đã nhìn nhận là có. Rồi ông kết luận, mỗi ngày một tù nhân nhận được trung bình năm trăm nhiệt lượng. Một hai khi, họ được ít hơn. Có bữa, chính giáo sư không thấy một hột đậu nào trong cháo,- và mấy ngày ấy, ông không có gì để đếm. Nhưng cũng có mấy ngày khác, ông đếm được đến mười lăm hột, và có khi đến mười tám hột đậu. Như thế, số trung bình mười hột đậu là đúng!

Bọn tù không ngủ trọn ngày; tuy nhiên, giáo sư cũng làm toán kể như tù nhân, trong lúc thức, cũng cần dùng một số nhiệt lượng tương đương với số tiêu thụ nếu họ ngủ trọn ngày. Tối thiểu: một ngàn nhiệt lượng.

Bọn tù chỉ nhận được có năm trăm nhiệt lượng khi ăn hột đậu. Cái số năm trăm nhiệt lượng cần có thêm, họ phải trích trong mỡ dự trữ cho da thịt họ, nghĩa là trong số nhiệt lượng tích tụ trong thân thể họ. Và bởi mỗi ngày, họ phải trích ra năm trăm nhiệt lượng dự trữ khi họ mới đến trại giam, nên mỗi tháng, bọn tù ốm mất sáu cân mỗi người.

Cố nhiên, đây là tính lấy trung bình. Giáo sư cũng có cân mấy tù nhân với bàn cân và trái cân tạm đỡ. Song dường như mấy khí cụ cân lường tạm ấy cũng khá đúng. Mỗi tháng mỗi tù binh mất đi sáu cân, nghĩa là ba kí-lô mỡ để tạo thành nhiệt lượng. Như thế, chỉ nội một trại giam Ohrdruf, dưới thẩm quyền cai quản của các người, tổng cộng mỗi tháng có bốn mươi lăm ngàn kí-lô chất mỡ mất đi. Mỗi tháng, năm toa xe đầy chất mỡ đi ra khỏi trại giam. Chất mỡ tiêu tan trong không khí. Mười lăm ngàn tù binh bỏ mất trong không khí một số quan trọng chất mỡ như thế, thì các người thử tính xem kết quả số tổn thất là ngần nào. Riêng phần tôi, tôi không phải nhà kinh tế học. Tôi không biết giải pháp nào để chỉ giúp các người. Tuy nhiên, tôi tin chắc rằng, với phương tiện kỹ thuật sẵn có, các người có thể dùng tổng số mỡ sống ấy vào nhiều việc lợi ích.

Tại sao lại bỏ mất đi?

Đấy là mục đích của bản thỉnh nguyện của tôi.

Tôi tin chắc vào sự hiểu biết của các người. Các người thuộc về một dân tộc tiến bộ nhứt của nền văn minh kỹ thuật. Mong rằng các người sẽ gởi một tờ phúc trình về vấn đề này cho Viện Hàn lâm khoa học của xứ sở các người. Còn gì dã man hơn, là để tiêu mất bốn mươi lăm ngàn kí-lô chất mỡ mỗi tháng như thế? Vả lại, các người còn những trại giam khác nữa. Hình như ở Đức có vài trăm trại giam. Vậy các người có thể được cả núi chất mỡ “sống” mỗi ngày.

Từ khi nghe bài thuyết trình của giáo sư Đại học đượng Berlin, tôi hít mạnh không khí và ngửi thấy mùi mỡ người.

Trại giam của các người là một máy ép khổng lồ rút mỡ tù nhân. Tôi đánh hơi nó trong không khí. Các người có khi nào nghe mùi ấy chăng, lúc làm việc tại văn phòng, cửa sổ mở rộng. Dầu sao, áo quần các người ắt cũng có thấm mùi mỡ ấy. Hỏi thử vợ hoặc người yêu của các người coi, tối ngủ, nằm bên cạnh, họ có ngửi thấy da, tóc các người phưởng phất mùi mỡ đó hay không? Đàn bà thích hơi hơn chúng ta. Họ sẽ nói đúng hơn. Còn tôi, khi nghĩ đến điều đó, tôi thấy quả tim rộn lên, tôi muốn nôn mửa.

Hãy nhận nơi đây lời chào và niềm kính phục của tôi. Tôi rất hâm mộ nền Văn minh mà các người đại diện. Tôi tin chắc rằng, với tài lực và phương tiện kỹ thuật sẵn có, các người có thể sử dụng tất cả chất mỡ nói trên (xin đường quên tôi đây cũng góp mỗi tháng ba kí-lô mỡ của thân xác tôi).

Đơn Thỉnh nguyện thứ nhì.- Vấn đề thẩm mỹ (Quan niệm về vẻ đẹp con người trong xã hội kỹ thuật Tây phương).

Buổi chiều nọ, tôi có tranh luận về thẩm mỹ với một giáo sư Đức. Và chúng tôi đã cãi cọ gây gỗ nhau. Dân Đức, như tất cả người Âu châu khác, đều giữ theo phái cổ điển. Vì thế, nên xã hội họ sụp đổ. Một xã hội lành mạnh và tiến hóa như xã hội của các người, có một kỹ thuật kim thời hơn.

Giáo sư Đức chỉ cho tôi xem mấy tù nhân đi dạo trong sân trại giam. Họ chỉ còn da bọc xương, như các người đã biết. Giáo sư cho họ xấu xí quá, ông quan niệm theo lý tưởng mỹ thuật Hi-lạp.

Theo tôi, con người mà chỉ còn xương với da mới thật đẹp, đó mới thật là những công trình linh hoạt về mỹ thuật.

Tôi cố thuyết phục giáo sư Đức rằng xã hội Văn minh của các người đã thẩm định cái Đẹp tới một mức độ mà đến ngày nay chưa có xã hội nào đạt tới. Và các người đã thực hành việc “rút” mỡ con người chỉ vì mục đích thuần túy thẩm mỹ, để tô điểm vũ trụ. Nhưng giao sư không hiểu. Người Đức chậm hiểu lắm. Nên người ta nói họ có đầu vuông. Ngày mai tôi sẽ thuyết trình bài lý tưởng về vẻ đẹp con người trong xã hội Tây phương hiện nay.

Có một nhà điêu khắc Thụy-sĩ tên Alberto Giacometti đã thực hiện trong ngành điêu khắc đúng theo nguyên tắc và lý tưởng về vẻ đẹp con người, nam giới và nữ giới, mà các người đã thi hành, bằng cách làm tan mất chất mỡ trong xác thịt người ta! Khi nặn tượng, nhà điêu khắc cố gắng loại hết chất mỡ trong thân thể con người và trong không gian. Thành thử, thân thể người ta chỉ thu lại còn khuôn khổ một chiều, hình dáng dài nhẵng và khô khan, cỡ bằng sợi dây thép.

Các người cũng đã làm như thế trong trại giam này. Tôi biết từ lâu rồi, văn minh toàn diện của các người đều căn cứ trên nguyên tắc thẩm mỹ ấy.

Và một ngày kia, trên khắp địa cầu mà chỉ còn toàn những người có thân hình điều hòa theo thuyết thẩm mỹ của nhà điêu khắc Giacometti, – và của các người-, thì vũ trụ sẽ tưng bừng đẹp đẽ làm sao!

NGƯỜI CHỨNG

Traian nói:

– Anh Moritz ơi! Tôi viết đã ngót bốn chục đơn thỉnh nguyện, trong ấy tôi muốn trình bày cho họ rõ tất cả sự thật và thuyết phục họ đừng hành hạ con người nữa. Tôi tin chắc lý lẽ của tôi. Mỗi đơn, tôi trình bày khéo lắm. Nhưng vô hiệu. Tôi dùng đủ lối văn: văn tòa án, văn ngoại giao, văn điện tín, văn nhà bếp mua đồ, văn quảng cáo rao hàng; khi thì dùng tình cảm gợi lòng trắc ẩn, khi thì sỗ sàng thô tục, khi thì cầu khẩn van lơn, tôi nài xin xét xử bằng đủ mọi cách trong cảnh tuyệt vọng của tôi, nhưng tôi không được phúc đáp.

Tôi nói nhiều sự thật trắng trợn, nhưng họ không giận tôi. Tôi quỳ gối viết đơn gởi họ; nhưng họ không động lòng thương hại. Tôi chửi rủa họ thậm tệ, song họ không thấy bị thương tổn. Tôi muốn chọc họ cười, kích thích tính tọc mạch của họ, nhưng đều vô ích. Tôi không khêu gợi được tấm lòng cao cả của họ hoặc sự khao khát tầm thường của họ nữa. Tôi không thể chọc cho họ phản ứng được. Thà tôi nói với đá cục còn hơn. Họ không tình cảm, không biết oán hận, cũng không biết trả thù. Họ không biết thế nào là động lòng trắc ẩn. Họ làm việc máy móc và chẳng đếm xỉa đến những khoản gì không có ghi trong chương trình. Tôi có thể lột một miếng da tôi để viết đơn với máu còn nóng hổi của tôi, họ cũng không đọc đến. Họ sẽ liệng nó vào sọt giấy như mấy đơn khác. Họ cũng không thấy đó là miếng da thịt còn nóng hổi của con người. Họ đối với con người một cách dửng dưng. Đó là tính lãnh đạm của một “Công dân” đối với con người, tính lãnh đạm ấy còn hơn tính lãnh đạm của máy móc.

Moritz chạnh lòng thương cảm nói:

– Tội nghiệp ông Traian! Ông định làm gì khi viết mấy đơn ấy. Theo tôi tưởng đừng thèm viết nữa là hơn.

– Tôi vẫn tiếp tục viết. Chỉ khi nào chết mới thôi. Con người chế ngự được tất cả thú rừng. Tại sao ta lại không chế phục được “Công dân”.

– Hay là ta tìm cách khác để cảm hóa họ. Cứ viết hoài, sợ không đi đến đâu.

– “Bao nhiêu thành công của con người từ cổ chí kim, đều do trí óc. Thì ta sẽ nhờ trí óc mà chế ngự được các “Công dân” trong văn phòng chúng nó.

“Nếu ta không chế ngự được chúng nó, thì chúng nó sẽ xé xác ta từng mảnh, hết thảy tất cả chúng ta. Ta phải dạy chúng nó biết, hễ gặp con người, đừng làm khổ họ. Bằng không, ta không thể cùng sống trên mặt đất, chung một thành phố, chung một nhà với chúng nó được. Còn khó hơn dụ rắn, khó hơn thuần phục cọp dữ. Nhưng tôi lạc quan lắm. Chắc là sự lạc quan của con người sắp chết. Phút hấp hối của tôi là chương “Đơn Thỉnh nguyện” của giờ thứ hai mươi lăm. Nhưng tôi sẽ viết chương ấy!”.

Đơn Thỉnh nguyện số ba.

– Đề tài: Tiết kiệm (Tù nhân chỉ còn phân nửa hoặc một phần ba thân mình).

Trong bốn ngày liên tiếp, tôi và một người bạn đã đếm nơi trại giam này những tù nhân chỉ còn phân nửa, một phần ba hoặc một phần năm thân mình. Bạn tôi chưa kiểm xong các bảng thống kê, anh giỏi toán lắm. Nhưng tôi lật đật viết đơn này vì, theo tôi, vấn đề có tính cách khẩn cấp về phương diện kinh tế. Các người có thể tiết kiệm mỗi ngày ít lắm vài triệu đồng “mark”.

Thì đây: trong số mười lăm ngàn tù nhân nhốt chung với tôi, lối ba ngàn không đủ thân mình trọn vẹn. Trong số ấy có hai trăm người không có chân, chỉ lết đi như loài rắn bò trong trại. Một ngàn hai trăm chỉ có một giò. Một vài trăm còn một tay. Một mớ khác cụt cả hai tay. Đó là nhận xét bên ngoài.

Một số lớn đã thiếu mất vài bộ phận bên trong: một lá phổi, một trái cật, vài lóng xương, v.v… Bốn mươi tù nhân không có mắt. Tất cả đều bị bắt bớ một cách tự động, cùng một lượt với tôi. Lúc đầu, tôi thương hại họ. Bạn Moritz tôi nhắm mắt lại mỗi khi thấy mấy người cụt tay cụt chân tàn phế tật nguyền trong trại. Nhưng anh Moritz là người chất phác cổ lỗ. Anh không hiểu lối bắt bớ tự động này, và cũng không biết hễ là phần tử của hạng nào bị giam cầm, thì không ai được thoát khỏi, dầu chỉ có một chân, không mắt, không mũi hoặc một lá phổi đi nữa. Sự bắt bớ tự động này không miễn cho người tàn tật nào cả. Đó là công bình. Muốn công bình phải thi hành gồm tất cả, không có ngoại lệ.

Trong trại này có một giáo sư cụt mất hai cánh tay, vì bị thương ở mặt trận; khi các người ra lịnh bắt mấy giáo sư, không lý nào lại miễn trừ bạn tôi, vì anh không có tay. Có gì liên quan giữa sự bắt bớ và hai tay đâu? Không, anh là giáo sư thì anh bị bắt cùng một lượt với hạng giáo sư mà anh thuộc vào hạng đó. Các người đã thi hành đúng như vậy. Và các người không bao giờ lầm! Vì thế, tôi phục các người làm sao! Tôi có thể hy sinh đời tôi, bất cứ giờ nào, cho nền Văn minh vĩ đại và tốt đẹp của các người. Các người là hiện thân của Công bình và Tinh xác.

Trở lại vấn đề chánh: các tù nhân tàn phế ấy chỉ còn là những mảnh thịt, mà cũng được một khẩu phần lương thực như người toàn vẹn, thì thật là một đại bất công.

Tôi đề nghị cho họ một khẩu phần tương đương với thân xác còn lại của họ. Chánh phủ các người đã hy sinh lớn lao để lo cung cấp khẩu phần lương thực cho tù nhân. Nói tù nhân, là kể một người toàn vẹn. Nếu gom ba ngàn tù nhân tàn tật ấy và đếm số tay, chân, mắt, phổi của họ mất đi, thì thật sự chỉ còn độ hai ngàn người là nhiều.

Như thế, các người có thể tiết kiệm ít lắm một ngàn khẩu phần mỗi ngày. Tại sao các người lại chi tiêu để nuôi những bộ phận mà tù nhân không còn nữa? Phải là nhân đạo sái đường không?

Tôi chắc thượng cấp sẽ hài lòng khi các người báo cáo trường hợp này. Có thể các người sẽ được ân tứ huy chương nữa là khác. Làm như thế, các người sẽ thực hiện cho quốc gia một số tiết kiệm to tát. Và ai cũng biết chỉ có tiền bạc là điều đáng kể mà thôi. Vì tin chắc về lẽ ấy, nên tôi mới có bài luận này.

NGƯỜI CHỨNG

Đơn thỉnh nguyện số bốn.

– Quân sự (Biến cải đàn ông thành đàn bà).Vì đói kém, thiếu ăn, bọn tù trong trại giam bị biến tính, những biến tính ấy là một quyền lợi quân sự lớn lao cho các người. Câu chuyện tóm lược như vầy:

Bọn tù bị bắt giam lâu năm mà chỉ nhận có 500 nhiệt lượng mỗi ngày để sống, nên họ không cần cạo râu nữa. Bình thường, mỗi ngày cạo một hoặc hai lần. Khi vô trại giam, thì bắt đầu cạo một lần mỗi hai ngày, rồi một lần mỗi tuần, kế đến hai lần trong một tháng. Sau rốt, không cạo nữa. Râu họ mọc thưa lần, và giống như lông măng, những lông măng rồi cũng tiêu mất nốt. Mặt họ trở nên hiền hậu và trơn tru như mặt đàn bà. Nhưng chưa hết đâu. Giọng nói của họ cũng thanh tao như giọng đàn bà. Có vài tù nhân, vú họ nở nang to đẫy như vú thiếu nữ mười ba. Da họ mịn màng, êm mượt như da phái đẹp. Tôi không biết rõ cơ quan sinh dục họ có bị biến thể không, nhưng tôi tin chắc, với cách ăn uống như thế này (và nhứt là các người còn định giảm bớt phần ăn xuống) thì các cơ quan ấy sẽ teo mất, và chừng đó, họ sẽ biến hẳn thành đàn bà.

Bác sĩ cho rằng vì đói kém và thiếu ăn, nên sự phần tiết chất kích thích tố sẽ giảm lần đến ngưng hẳn.

Vả lại, gan quá yếu không làm phận sự điều tiết như bình thường: nó còn đủ sức diệt trừ kích thích tố nam tính thặng dư, nhưng lại để kích thích tố nữ tính vượt qua được. Thành ra, sự quân bình điều tiết đã mất, cơ thể đàn ông, vì đó, biến thành hình trạng cơ thể đàn bà.

Sự nhận sét này có ảnh hưởng quan trọng về quân sự của nền Văn minh các người. Thử nghĩ đến cảnh yên tĩnh bao trùm vũ trụ, khi các người bắt giam kẻ thù địch dã man trong trại giam,- như các người đang làm đây-, mà chỉ cho họ có vài trăm nhiệt lượng mỗi ngày để sống, thì họ sẽ biến thành đàn bà hết. Các quốc gia thù địch các người sẽ không có đàn ông. Còn ai đâu để gây chiến tranh với các người. Tôi tin rằng Bộ Tham mưu tối cao của các người sẽ thực dụng phát kiến này. Vịn vào tinh thần thực tiễn và óc sách chế của nền Văn minh các người, tôi còn tin các người sẽ áp dụng ngược lại phát kiến ấy, là nuôi thúc những phụ nữ nào của các người tình nguyện muốn biến đổi thành đàn ông. Nhân công nhờ đó sẽ tăng gia gấp bội.

Tôi đề nghị bớt xuống tỷ số 500 nhiệt lượng cấp cho tù binh. Có lẽ họ sẽ càng trở thành đàn bà mau lẹ hơn.

NGƯỜI CHỨNG

Sửa soạn ra đi. Mười lăm ngàn tù nhân phải dời đến trại giam khác. Mới hai giờ khuya. Xe tăng, xe cam nhông đậu bao quanh trại. Đèn “pha” chiếu sáng như ban ngày. Súng ca-nông và các súng máy tự động chong xỉa vào đoàn tù đang tủa đi ra cửa, như nước sông chảy. Traian và Moritz đi gần nhau. Moritz lạnh run, răng đánh bò cạp.

Ngoài cửa, có hai toán quân lính cầm ba-ton, đếm tù nhân đi ra, rồi chia từng nhóm.

Traian nói:

– Xe cam nhông thường thường chỉ chở được mười hoặc mười hai người, mà họ muốn chất đến bảy chục. Làm sao bây giờ? Anh có nghe nói đến định luật “bất khả thấu nhập thân thể con người” chưa?

Moritz không trả lời. Anh đang run. Traian chăm chỉ xem bọn lính xếp tù nhân lên chiếc cam nhông đầu tiên. Trước hết, họ cho bốn chục người lên. Thấy thì không còn chỗ cho người nào nữa hết. Bọn lính bèn lấy cây đập mấy tù nhân trên xe, họ đứng khít lại nhau. Bọn lính cho leo lên mười người nữa. Và cây lại nện bổ vào bọn tù, tốp mới lên dồn ép vào mấy người trước: như thế, lại có chỗ. Bọn lính lại cho lên thêm mười người nữa. Bây giờ, người ta dám thề rằng chẳng còn chỗ nào hết, dầu cho một đứa con nít! Thì bọn lính liền trở bá súng đập tưới vào đám tù. Và thêm mười người nữa leo được lên xe.

Trọn nhóm bảy chục người, không còn ai ở dưới đất. Tất cả đều lên trọn đủ trên xe. Lính ngừng đánh. Xe chờ lịnh chạy. Traian nắm tay Moritz leo lên một xe cam nhông khác. Hai người không muốn bị lạc nhau.

Traian nói:

– Anh Moritz à! Không có luật nào tuyệt đối cả. Cho đến vật lý học cũng chẳng có định luật bất di bất dịch. Khoa học này quả quyết rằng “hai vật không thể cùng một lúc chiếm cùng một chỗ trống không gian”. Mà ở đây, bảy người chiếm có một chỗ của một người. Như vậy làm sao còn tin vật lý học nữa được? Anh có nghe nói đến họa sư Picasso chăng?

Moritz trả lời, tiếng hơi ngộp:

– Không!

Traian to lớn, thở được. Moritz nhỏ quá, đầu anh bị kẹp giữa các ngực. Buồng phổi bị ép sát đến không còn chứa đựng được một hớp hơi. Anh nói:

– Tôi ngộp quá!

Anh hoảng sợ, muốn khóc. Anh không cựa quậy gì được. Hai lỗ mũi anh tìm hơi thở,- một chút thôi,- và tìm cũng không ra. Anh cầu cứu:

– Ông Traian ôi! Tôi ngộp quá, chắc chết!

Traian hỏi:

– Sao anh không trả lời? Anh có nghe nói đến Picasso không?

– Tôi chưa nghe lần nào. Tôi không biết gì hết. Nhưng tôi ngộp quá! Chắc chết mất!

Traian muốn nâng đầu Moritz lên, nhưng tay mắc kẹt cứng. Ông không thể cử động, thân mình bị dồn ép tột bực, và đầu vượt cao hơn các đầu khác. Traian nói:

– Picasso là đại họa sư của xã hội Tây phương ngày nay!

Moritz rên rỉ:

– Tôi không nghe gì hết. Tôi muốn đưa cái mũi ra ngoài, chỉ một lỗ mũi cũng được. Ông Traian ơi, tôi van xin ông, cứu tôi với. Tôi chết!

Traian ráng kiếm một chút chỗ trống cho Moritz, nên áp đầu anh vào ngực ông.

– Picasso có vẽ chân dung anh, anh Moritz à, giống như hình anh bây giờ, đang kẹt trong xe cam nhông!

– Chân dung tôi? Tôi nghe không rõ. Lỗ tai tôi bị bít rồi!

– Phải! Chân dung anh. Giống hệt, và đúng y, như chụp bức ảnh. Có cả hình chiếc xe cam nhông của chúng ta nữa. Bảy người cùng chiếm một chỗ, trong một lúc. Người này có năm cẳng, kẻ kia ba đầu, nhưng không có phổi. Anh thì có tiếng nói mà không có miệng. Còn tôi chỉ có cái đầu, thiếu thân mình. Cái đầu vọt trong không trung, trên chiếc xe cam nhông… Khi tôi nhìn bức họa lần đầu tiên, hồi còn ở Ba-Lê, tôi thấy thích, nhưng không hiểu ý nghĩa gì. Và bây giờ, tôi mới hơi hiểu được rõ: ấy là bức tranh của chiếc xe cam nhông chúng ta đây. Vẽ rất giống, không bỏ sót một chi tiết nào. Họa sư cũng vẽ trại giam của chúng ta nữa. Ông vẽ như ông chụp ảnh. Toàn là chuyện có thật. Thật là một họa sĩ thiên tài.

Xe rồ máy chạy. Traian nhìn các người chung quanh. Họ hết phải là người. Không còn một sinh vật nào trên xe cam nhông đang chạy qua các đường nhỏ trong làng lúc đêm tối. Tuy nhiên, mấy người trên xe chưa chết, họ đang dở sống, dở chết. Một lúc họ còn sống, phút sau họ chết rồi. Có lúc, họ vừa sống vừa chết một lượt. Khu vực họ đang chiếm không còn khoảng trống. Khoảng trống bị thu hẹp cơ hồ như bị tiêu trừ. Khoảng trống đã mất.

Trong khu vực của họ, chỉ còn những người bị chứng phong giật, đang ngất ngư; mắt, thịt, không khí, thời gian, tư tưởng, tất cả đều bị chứng phong giật. Con người mất hết hình thức, trí óc. Họ bị động kinh toàn thể.

Traian hỏi Moritz:

– Anh còn thở được không?

– Tôi hết biết gì. Tôi có cảm giác thở được nhưng chỉ thỉnh thoảng, với một lỗ mũi thôi. Đây, chỗ này, nơi ngực ông, chỗ ba sườn ông…

– Thở một lỗ mũi là đủ rồi. Nghe nè, tôi nói với anh một chuyện quan trọng đây…

– Tôi không thể nghe được gì hết. Xin ông thứ lỗi cho.

– Ráng một chút, ráng nghe đây, quan trọng lắm!

Mọi khủng khiếp đều tự giải thích,

Mỗi thảm sầu rồi cũng đến nguôi ngoai!

Trong đời ta, không rãnh đâu lo mãi mối sầu dài

Song chuyện này, ngoài cuộc đời, ngoài thời khắc,

Là nỗi khổ ác triền miên, nỗi bất công vĩnh cửu

Chúng ta bị lấm bẩn vết nhơ khôn rửa được

Vết nhớp nhơ kết hợp với giống giòi mọt siêu nhiên

Chẳng riêng ta, chẳng riêng gì nhà cửa, Đô thị dính bẩn nhơ

Mà tất cả thế gian đều bị ô danh xủ uế

Moritz nói:

– Ông nói lớn lên, tôi chẳng nghe được gì hết.

Traian lại tiếp tục hết sức la to:

Hãy thanh khiết không khí! quang tạnh trời xanh! tẩy uế gió độc!

Hãy dọn lớp sỏi trên đá; lột da cánh tay; rứt thịt dính xương, và rửa sạch hết!

Hãy rửa đá, rửa xương, rửa não, rửa sạch linh hồn. Rửa sạch hết! rửa sạch hết!

Moritz lại nói:

– Tôi không hiểu gì cả. Ông có phước được thở. Ông không bị ngộp nghẹt!

Trong trại giam, người nhỏ thó ít khổ sở vì đói hơn người lớn vóc. Nhưng ở trên xe cam nhông chật ních bảy chục người này, xe chạy vùn vụt như bóng ma trên đường lang Ohrdruf này, bọn tù nhỏ thó lại gần chết ngộp vì thiếu không khí.

Moritz nói:

– Ông Traian ôi, ông đừng nói nữa, tôi cũng không nghe hiểu được nào.

– Nếu anh không nghe, anh sẽ chết…

– Nghe gì?

– Ông giáo sư Đức tính trật. Ông đã phạm lỗi nặng và sẽ đền tội.

– Người Đức nào đã phạm lỗi nặng?

– Giáo sư đã cân mỡ và thịt sống của thân thể chúng ta đó. Ông ta cân lúc còn đang sống, nóng hổi, để lường sự đau khổ. Nhưng sự đau khổ con người nào có thể cân lường bằng kí lô hay bằng “tấn” được đâu!… Cuộc sống không thể cân lường! Và kẻ nào thử làm công việc ấy sẽ phạm lỗi nặng, đáng chết.

Moritz nói:

– Tôi không nghe gì!

– Chuyện ấy không quan trọng. Người ta cũng ngã gục dẫu không nghe. Tài xế cam nhông, lính canh gác, quân sĩ cầm cây và súng máy chực sẵn để giết chúng ta, họ cũng không nghe gì hết. Không một ai đã nghe. Thế mà họ cũng bị ngã gục cùng một lượt với chúng ta, cũng y như chúng ta. Anh có thấy họ ngã quỵ chưa?

– Mắt tôi bị che khuất, tôi không thấy.

– Anh cũng không cảm thấy gì sao?

– Không! Tôi chỉ biết bị ngộp thở mà thôi!

Traian buồn rầu nói:

– Thì anh đã cảm thấy điều cần yếu rồi. Tại sao anh nói không? Ai cũng cảm thấy như anh, nhưng không muốn thú nhận mà thôi…

Đoàn tù nhân bị lùa vô toa xe chở súc vật.

Mỗi toa để chở hai mươi bốn con ngựa, được chứa một trăm bốn chục người.

Cửa toa xe đều đóng hết.

Các toa xe chót nhốt ba ngàn người đàn bà.

Xe lửa dài lắm. Traian ước muốn được thấy nó chạy đằng xa. Ông nói:

– Xe lửa này giống đoàn người hộ tống đi lên gò Golgotha. Song xe chúng ta là đoàn hộ tống khí giới hóa. Ta leo lên Golgotha bằng phương tiện kỹ thuật. Chúa Jésus thì đi bộ giữa hai kẻ cướp chính hiệu. Anh biết tại sao Chúa Jésus bị đóng đinh giữa hai tướng cướp không?

– Tôi không biết.

– “Để trừng phạt một người vô tội, thẩm phán quan có lệ kèm thêm hai tội nhân. Mưu mẹo cổ điển! Bọn Do thái chẳng dám xử thập tự giá Jésus một mình, nên mới cho kèm theo hai tướng cướp lẫy lừng, với tôn chỉ làm xao lãng quần chúng trong lúc hành hình.

“Anh, tôi, vợ tôi và nhiều người khác, chúng ta đều có mỗi bên một tội nhân kèm theo. Cũng một mưu mẹo như ở Golgotha, song tỷ lệ lại thay đổi. Hồi đó, một người vô tội kèm hai phạm nhân, bây giờ mười ngàn người vô tội mà chỉ kèm có hai phạm nhân. Song đây chỉ là một tiểu dị. Phương pháp vẫn là một. Vả lại, chúng ta bước lên thập tự giá một cách tự động, bằng phương tiện kỹ thuật. Nhưng mưu mẹo trẻ con quá. Khi hành hình xong, quần chúng không nói đến hai kẻ tội phạm chính hiệu cũng bị đóng định một lượt với Chúa Jésus, mà chỉ nhớ đến Chúa Jésus thôi, và nhớ có một mình Chúa Jésus. Lúc nào, chuyện cũng đã xảy ra như vậy. Và cho đến ngày nay, chuyện cũng sẽ xảy ra như thế, dầu hình phạt thập tự giá có thi hành một cách tự động, dầu chúng ta có đi lên Golgotha bằng xe lửa đi nữa”.

Traian bước lại gần cửa sổ bao lưới sắt của toa xe. Xe ngừng chạy. Moritz thấp, đứng không tới cửa sổ, hỏi:

– Ông có thấy gì không?

Traian đáp:

– Xe ngừng tại ga. Có xe khác đậu dọc theo xe mình.

Moritz tọc mạch hỏi:

– Cũng có chở tù nhân nữa hay sao?

– “Cựu tội nhân vừa được thả. Họ là người các nước ngoài, làm nô lệ cho Đức Quốc xã”. Traian ngó đoàn người đàn ông lẫn đàn bà đang đi đi lại lại xôn xao trên xe bên cạnh, rồi nói:

– Họ đều hút thuốc.

Moritz nuốt nước miếng!

Traian nói tiếp:

– Một người đàn bà xuống xe, đang ăn khúc dồi với bánh mì trắng.

Và Traian cũng nuốt nước miếng.

Moritz nói:

– Tôi muốn nhìn họ, biết đâu trong đám ấy tôi chẳng nhận được một người quen. Họ là người nước nào vậy?

Traian nhìn những cờ vẽ trên toa xe, và những cờ nhỏ đeo trên áo họ, rồi trả lời:

– Đủ các nước. Người đàn bà đang ăn bánh mì thoa “bơ” với khúc dồi mà cặp đùi cũng trắng nõn như bánh mì nàng ăn, là người xứ Danemark. Đứng sau nàng, là một người đàn bà Pháp. Cô này đẹp, có cặp mắt đen.

– Có người Pháp nào nữa không?

– Có cả một nhóm, họ đứng gần toa xe chúng ta. Cũng có dân Bỉ, dân Ý nữa.

Mối cảm tình thích mến người Pháp sống dậy trong lòng Moritz. Anh nóng nảy nói:

– Tôi muốn xem mấy người Pháp đó!

Traian bèn đỡ anh lên, cho anh coi rõ.

Moritz hân hoan nói:

– Đây là người Pháp. Cái anh đứng gần người Ý đó, giống Joseph làm sao! Ông thấy không?

– Joseph nào?

– Bạn của tôi. Tôi chưa nói ông nghe. Người mà tôi giúp vượt ngục đó. Nếu tôi không biết chắc hiện giờ anh đang ở bên Pháp, thì tôi nói chính anh đây rồi. Ông nói với y một câu nào đi!

– Anh muốn nói chuyện gì?

– Chuyện gì cũng được. Y giống Joseph quá. Tôi không biết nói tiếng Pháp, nhưng tôi muốn nói chuyện với y. Ông nói chào họ và chúc họ về Pháp bình yên giùm đi!

Moritz không thể gặp một người Pháp mà chẳng nói một lời nào, hoặc thân mật cười với họ.

– Kìa, y đến gần chúng ta. Ông làm ơn nói với y một câu đi!

Traian làm thinh. Moritz không dằn được, kêu to lên bằng tiếng Đức:

– Về Pháp bình yên!

Anh nói, giọng dịu ngọt, vẻ mặt hân hoan, như nói với một người bạn Pháp thân mến.

Cả bọn thình lình nín lặng, đứng yên và nhìn lên cửa sổ xe, chỗ Moritz đứng.

Traian nghe người giống Joseph hỏi bằng tiếng Pháp:

– Thằng con heo Đức Quốc xã đó muốn gì?

Tất cả đàn bà đàn ông đứng nơi bến xe đều ngó Moritz đang cười với họ, sau song sắt.

– Thằng con heo quốc xã đó chắc muốn xin thuốc hút!

Người Pháp, giống Joseph, đưa tay vô túi định lấy thuốc, nhưng ngừng lại tức khắc. Moritz người đứng gần anh ta, cúi xuống lượm một cục đá, tống ngay vào cửa sổ, chỗ Moritz vẫn còn đứng cười, và nói:

– Điếu thuốc cho mày đó! Ba năm nay, tao bị kẹt ở Đức cũng vì mày!

Viên đá lọt qua song sắt, rớt giữa toa xe, trúng một tù nhân.

Viên đá khác chọi tới trúng hông toa xe. Viên thứ ba bồi thêm. Rồi một đám mưa đá tới tấp chọi vào trong toa. Bọn tù phải nằm dài, tránh xa cửa sổ. Đá cứ liên tiếp chọi tới như mưa rào, lời chửi rủa, tiếng la hét vang dội, như toa xe sắp bị tấn công.

Tiếng la hét của đàn bà, đàn ông, con nít, kẻ phẫn nộ. Giọng gào thét bằng đủ thứ ngôn ngữ trên hoàn cầu, bằng tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Nga, Đan-mạch, Flamand, nàng-uy… tất cả lời chửi rủa đều tỏ lòng công phẫn cực độ, lời chửi rủa tuôn theo với đá gạch tống chọi Moritz bằng đủ thứ ngôn ngữ, đều đồng một ý nghĩa: “Đồ con heo Đức Quốc xã, tên sát nhân khát máu, tên độc tại giết người, quốc xã, quốc xã…”

Tất cả bọn “được thả” trên xe kia đều xuống nhập bọn để chọi đá vào xe tù.

Lính gác và hiến binh cố giữ trật tự nhưng cuộc tấn công quá dữ dội không trẫn tĩnh nổi; nó càng lúc càng tăng và trở nên nghiêm trọng. Lính phải bắn chỉ thiên. Tiếng la hét nổi lên, đồng thanh phản đối sao lính lại che chở cho bọn độc tài quốc xã, không để cho họ hành hình chúng.

Moritz vẫn còn đứng tại cửa sổ khi mấy viên đá đầu tiên bay tới bên tai anh. Anh không nhúc nhích và vẫn còn cười, lúc cuộc tấn công sôi nổi hơn hết. Anh không hiểu chuyện gì xảy ra. Và, nếu anh có hiểu, anh cũng không làm sao tin được người Pháp giống Joseph lại muốn liệng đá cho bể mặt anh.

Trong khi Moritz lấy làm lạ, mắt mở rộng, đứng nhìn đám quần chúng tới tấp liệng đá vào anh, bọn tù trong toa nắm cảng anh lôi khỏi cửa sổ, vật anh té nằm dài trên sàn toa xe. Ai cũng muốn đánh anh. Mọi người đều giơ tay đánh, đấm, vấu, nắm chặt anh, để xé thịt anh ra.

Moritz bị cả trăm bàn chân hằn học đạp anh. Họ giậm anh nhầu anh như thú dữ, trong lúc trên đầu họ gạch đá liên tiếp liệng tới không ngớt.

Bọn tù trong xe không dung tha anh đã chọc cho người ta căm thù và tấn công chửi mắng. Họ muốn phân thây anh muôn mảnh.

Moritz không phải bị bọn người bao vây hành hạ mà bị con quái vật Apocalypse có ngàn chân, chà đạp thân xác anh.

Bên ngoài, đám quần chúng, cũng như con quái vật Apocalypse ấy có ngàn tay, đang liệng đá tới tấp vào anh.

Máu anh chảy ra mũi, ra miệng. Anh thấy sắp chết. Nghĩ tới đó, anh không còn biết gót giày đạp đá anh, quả đấm loi thụi anh nữa. Anh hết còn biết đau đớn. Nỗi thống khổ của anh sắp chấm dứt. Anh nhớ đến mục sư Koruga, nhớ nhà thờ làng Fântâna, tượng Thánh mẫu Đồng Trinh. Sự yên tĩnh trở lại trong thể xác và linh hồn anh. Anh nghe rõ tiếng đập phá toa xe, và biết sự đập phá ấy chỉ để đánh anh, đánh một mình anh thôi.

Thiên hạ muốn chà đạp anh, muốn giết anh. Đến bây giờ anh mới biết. Anh mới cảm thấy hễ bao giờ anh còn sống thì thế giới sẽ không tồn tại và không còn có tiến bộ nữa. Anh chịu trách nhiệm tất cả tội lỗi trên mặt đất này. Chỉ có một mình anh là thủ phạm. Vì thế, cả bọn người ấy đều muốn giết anh. Vì thế, anh mới bị bọn tù trong xe giậm đạp. Vì thế, anh mới bị tù vừa được thả liệng đá. Vì thế, anh mới bị cảnh binh bắt.

Quần chúng không chịu yên khi nào anh còn sống. Cảnh binh không trấn tĩnh được bọn cựu tù nhân khi Moritz chưa bị giết. Bọn tù trong toa chỉ hết phẫn uất khi nào thấy anh nằm chết trước mắt. Xe tăng và lính võ trang súng máy không trở về hàng ngũ được, khi Moritz chưa bị phân thây từng mảnh.

Anh phải chết, vì anh là Người! Anh không được dung tha.

Moritz tự nghĩ: “Trời ơi! Tôi có tội tình gì. Tôi mến thương người Pháp. Tôi muốn nói với họ một lời thân ái. Chỉ vì thế, mà họ muốn giết tôi. Chúa Jésus khi xưa cũng bị giết, bởi Ngài đã thương nhân loại”.

Moritz nhớ lại câu nói của Traian: “Chúng ta trèo đồi Golgotha bằng xe lửa. Chúng ta trèo một đồi Golgotha cơ giới hóa”.

Moritz cảm thấy như bị đóng đinh trên thập tự giá, và trời tối hẳn, tối đen, đen ngòm…

Moritz thức dậy trễ, đầu và ngực đều băng bó. Đầu anh nằm trên vai Traian. Moritz nghe gò má anh chạm vào da vai trần của Traian, vì ông không còn áo sơ-mi

Anh muốn hỏi sao Traian không có áo, nhưng anh kiệt sức. Anh chỉ nói:

– Tôi khát nước!

Traian làm như không nghe. Moritz lặp lại:

– Tôi khát nước!

Anh đã nằm hằng giờ như thế, ngất xỉu trên tay Traian. Trong lúc ấy, Traian xé áo sơ-mình băng bó cho anh, và kiếm một chỗ để anh nằm.

Moritz không nói một tiếng nào. Traian đặt tay lên ngực anh để nghe tim anh đập rất yếu. Lúc lúc, Traian rút tay ra và kề lỗ tai chỗ băng để nghe. Thỉnh thoảng, tim Moritz nhảy chậm đến đỗi tay ông không nhận được; kề sát tai, ông chỉ nghe được chút ít thôi.

Và bây giờ, Moritz nói được.

Traian vui mừng như là mình ở từ xa về.

Nhưng Moritz muốn uống nước. Như Jésus, trên thập tự giá, cũng khát nước. Mà trong toa xe không có nước.

Trọn hai mươi giờ, bọn tù bị nhốt trong toa xe, không uống ăn, và cũng không được phép ra ngoài để đi tiêu đi tiểu.

Trong xe đầy mùi phẩn. Không khí nặng nề, khó thở. Ván rầm xe đầy lền nước tiểu. Moritz đã nằm trên nước tiểu. Chính anh cũng tiểu trên đó, mà không hay. Anh chẳng biết gì hết. Mãi đến lúc ấy, anh cũng không mở mắt ra mà chỉ hé môi để nói:

– Tôi khát nước!

Traian đáp:

– Tôi rất tiếc, không có nước, không có gì để uống được!

Ông tự hỏi coi có cái gì có thể thấm môi Moritz được, nhưng chẳng có gì uống được cả.

Ông nhớ có đọc trong sách nói quân lính của Thành Cát Tư Hãn, lúc băng qua đồng cỏ hoang bao la, không tìm được thức gì để uống và ăn, bèn xuống yên, lấy dao rọc gân gần móng cẳng ngựa rồi nút vài giọt máu. Họ băng bó chỗ ấy lại, và cho ngựa tiếp tục đi. Suốt mấy tuần lễ, quân sĩ của Thành Cát Tư Hãn không ăn uống gì khác hơn là vài giọt máu nóng.

Traian bị ý tưởng ấy ám ảnh. Ông muốn lấy máu mình cho Moritz đỡ khát. Máu ấy có thể giúp Moritz đỡ khổ nhiều.

Anh van lơn:

– Tôi khát nước!

Traian an ủi:

– Bạn ơi! Không có gì uống được, giọt nước mà tôi kiếm được và vui lòng hiến cho anh đỡ khát là giọt máu của tôi. Nhưng anh đừng uống máu. Con người uống máu là con ma cà-rồng. Nó có mặt người, nhưng không phải là người. Nó là cái máy, con quỷ, quần chúng. Nó là con người, nhưng thiếu linh hồn.

Moritz thều thào:

– Tôi khát nước!

– Tôi hiểu! Nhưng dầu sao, anh đừng uống máu. Tôi không có gì khác để cho anh. Anh là con Người duy nhứt trong đám người vây quanh tôi, mà không uống máu người. Anh hiểu không? Các kẻ khác đã uống máu nên đã thành tinh hết rồi. Họ không còn phải là người nữa. Bọn tù kia, các lính canh gác, lũ tù vừa được thả đã ném đá vào anh, không ai còn là con người. Chỉ có một mình anh còn là người vì anh còn thương người.

– Tôi khát nước!

– Tôi hiểu! Tôi biết rằng anh khát và anh sẽ chết nếu không uống nước. Nhưng thà chết còn hơn sống như họ. Anh đừng uống máu người. Anh hiểu rõ lời tôi nói đó không?

Moritz thì thào một lần nữa:

– Tôi khát nước!

Đơn Thỉnh nguyện của Iohann Moritz.

Tôi ký tên dưới đây, Iohann Moritz, ở làng Fântâna, xứ Roumanie, gởi đơn này cho nhà cầm quyền nơi tôi bị giam, để xin hỏi tại sao các ông giam cầm tôi và hành hạ khổ sở tôi như chỉ có một mình Chúa Jésus bị khổ hình trên thập tự giá vậy.

Nếu tôi không hỏi câu này từ lâu,- như tôi có thể làm-, là vì tôi bẩm tính kiên nhẫn. Tôi là một nông dân. Các nông dân đều biết chờ đợi.

Tôi chờ cả một mùa xuân. Tôi chờ cả một mùa hạ. Và trọn cả một mùa đông dài dặc. Giờ đây, mùa xuân trở lại. Tôi chỉ còn xương với da. Linh hồn tôi đen tối, vì buồn rầu, vì đau khổ. Đen tối như than hầm, như mực đậm.

Hiện giờ, tôi không thể chờ đợi được nữa, nên xin hỏi: tại sao các ông giam cầm tôi?

Tôi không trộm cướp, tôi chẳng giết người, tôi không lường gạt ai, và tôi không phạm tội lỗi nào mà Pháp luật và Giáo hội ngăn cấm cả.

Nếu tôi không can án giết người, trộm cướp, bất lương, tại sao các ông cứ giam mãi tôi trong tù.

Các ông đã nhốt giam và tra tấn hành hạ tôi đến đỗi tôi chỉ còn là một cái bóng trên mặt đất.

Tôi đã bị lưu đày trong mười bốn trại giam. Tôi thiết tưởng đã đến lúc nên hỏi các ông đã khiển trách tôi về tội gì?

Phần tôi, tôi rất khó khăn để quyết định. Nhưng bây giờ, tôi đã nhứt định hỏi các ông.

Tôi gởi đơn này theo lối bưu chính cho nhà cầm quyền xứ này. Tôi cũng gởi cho lính gác cửa khám để chuyển đạt đến. Đơn tôi sẽ tới tay nhân viên chánh phủ, dầu có phải đi vòng quanh thế giới. Nhà cầm quyền phải nghe đơn khiếu nại của tôi, dầu có bịt lỗ tai đi nữa.

Tôi dán đơn tôi trên các cửa khám; tôi gói đá liệng nó ra đường. Tôi bắt mấy con chim bay ngang trại giam, cột đơn vô cẳng để được gởi đi cùng khắp thế giới.

Từ nay, tôi không ngừng kêu van, tôi gào thét mãi cho đến khi được minh oan. Có thể các ông sẽ nhốt tôi trong hầm tối để không ai nghe được tôi. Nhưng dầu ở đâu, tôi cũng không ngớt kêu van. Nếu tôi không có viết chì và giấy, tôi sẽ viết bằng móng tay tôi trên vách khám. Móng tay tôi có mòn đến da thịt, tôi sẽ chờ nó mọc ra, và viết nữa.

Nếu các ông bắn tôi, linh hồn tôi không xuống Địa Phủ, cũng không lên Thiên Đàng, hay vào Luyện Ngục. Oan hồn tôi sẽ vẩn vơ trên mặt đất và đeo đuổi mãi các ông.

Nó sẽ ám ảnh các ông như một bóng ma. Ban đêm tôi sẽ phá phách mãi giấc ngủ các ông và của mấy người yêu các ông, để kêu la rằng tôi có lý.

Và các ông không thể chợp mắt ngủ yên được. Mãi cho đến chết, các ông sẽ không nghe được điệu nhạc thâm trầm và lời nói yêu đương,- các ông không thể nghe được gì nữa hết-, lỗ tai các ông vẫn bị rền vang lời kêu oan của tôi, Iohann Moritz này.

Tôi là con người. Nếu tôi không có làm gì sái quấy, thì không ai được quyền đánh khảo, giam cầm tôi. Đời sống và hình bóng tôi là của tôi. Và các ông là ai đi nữa, dầu có xe tăng, súng máy, phi cơ, trại giam hay tài sản cự phú đến đâu, các ông cũng không có quyền chạm đến đời sống và hình bóng của tôi.

Suốt đời, tôi chỉ cầu mong một chuyện rất tầm thường: được yên thân làm việc, có chỗ đùm đậu với vợ con và kiếm đủ ăn cho gia đình.

Chính vì vậy mà tôi bị bắt sao?

Nhà cầm quyền Roumanie sai hiến binh bắt tôi sung công,- như sung công món đồ, con vật. Tôi để cho sung công. Tay trơn, tôi làm sao chống lại với nhà vua, với hiến binh có súng lục và súng trường. Họ nói tôi tên Iacob chớ không phải tên Ion như mẹ tôi đặt. Họ nhốt tôi chung với dân Do thái trong trại giam rào dây kẽm gai, như nhốt súc vật,- và bắt tôi làm những việc khổ sai. Nơi trại, chúng tôi ngủ cả bầy như thú vật, chúng tôi ăn, uống cả bầy, và chỉ chờ dẫn đem đi lò thịt như bầy thú. Các người khác chắc đã bị dẫn đi lò thịt, còn tôi, tôi trốn thoát được.

Có phải vì đó mà các ông bắt tôi không? Vì tôi vượt ngục, không chịu chờ dẫn đi lò sát sinh chăng?

Dân Hongrois nói tôi không phải tên Iacob, mà tên là Ion. Họ bắt tôi vì tôi là dân Roumanie. Họ tra khảo, đánh đập tôi, làm tôi đau đớn khổ sở, rồi bán tôi cho Đức Quốc xã.

Người Đức nói tôi không phải tên Ion, hoặc Iacob, mà tên là Ianos và đánh khảo tôi thêm, vì cho tôi là dân Hongrois. Kế đó, có một Đại tá Đức tới nói tôi không phải tên Iacob, hoặc Iankel,- mà tên là Iohann, và cho tôi được làm lính binh nhì. Đại tá đo đầu cổ tôi, đếm răng tôi, và đựng máu tôi trong ống chai nhỏ. Ông làm tất cả công việc ấy cốt để chứng minh rằng tôi có một danh tính khác hơn tên của mẹ tôi đặt. Có phải vì vậy mà các ông bắt tôi không?

Lúc làm lính, tôi giúp tù Pháp vượt ngục, có phải vì vậy mà các ông bắt tôi không?

Lúc chiến tranh dứt, tôi tưởng tôi cũng như ai, có quyền được hưởng hòa bình. Quân lính Mỹ đến và tặng biếu tôi sô-cô-la và đồ ăn thức uống ê hề, như tặng cho một ông hoàng. Rồi, không nói không rằng, họ bắt tôi bỏ tù. Họ đày tôi trong mười bốn trại giam, như những tướng cướp ghê gớm nhứt thế gian.

Và bây giờ, tôi cần muốn biết: tại sao?

Có phải tại các ông không ưa tên tôi là Ianos, hoặc Ion, Iohann, Iacob hay Iankel chăng? Các ông muốn thay đổi tên tôi nữa sao? Thì cứ tha hồ? Ngày nay tôi biết rằng con người không có quyền mang tên cha mẹ đặt cho nữa. Song tôi xin cho các ông hay rằng, từ giờ trở đi, tôi không thể chờ đợi. Tôi muốn biết lý do nào tôi bị bắt và bị tra khảo?

Tôi mong đợi các ông trả lời và kính cẩn chào các ông.

Ký tên: Moritz Ion, Iohann-Iacob-Iankel-

Ianos, nông dân và cha một gia đình

Traian đọc xong lá đơn, rồi hỏi Moritz:

– Tại sao anh khóc?

– Tôi không khóc!

– Tôi thấy mắt anh rướm lệ. Tại sao anh khóc?

– Tôi không biết.

– Anh có sợ gởi lá đơn này hay không? Chuyện tôi viết có đúng sự thật không?

– Tôi không sợ. Những gì ông viết đều đúng cả.

– Vậy tại sao anh khóc?

– Chính vì đó mà tôi khóc. Rõ là đúng ý như thật.

Ba ngày sau khi gởi đơn, Moritz được kêu lên thẩm vấn. Traian cho anh mượn áo sơ-mình với quần dài và nói:

– Ta đã thắng! Lá đơn có kết quả.

Mắt Moritz sáng lên. Anh tưởng như sắp được trả tự do. Anh nói:

– Ta đã thắng! Cũng nhờ ông tất cả. Những gì ông viết trong đơn đều đúng sự thật làm sao!

– Đừng sợ nghe anh. Có bọn chúng nó mới sợ, vì chính chúng nó là thủ phạm.

Moritz vui vẻ ra đi.

Trưa anh trở về. Traian chờ anh ngoài cửa, vồn vã hỏi:

– Chuyện ra sao? Họ có hứa thả anh chưa?

Moritz cúi xuống. Anh vẫn giữ vẻ bí mật mỗi khi ai hỏi anh chuyện gì. Anh đáp:

– Để sau rồi tôi sẽ nói. Bây giờ chưa được!

– Trời ơi! Bộ anh điên rồi hả? Tôi trông ngóng anh cả buổi, rồi bây giờ anh biểu tôi chờ một lát nữa?

Moritz lượm tàn thuốc ở phòng văn. Anh móc túi lấy ra, và thủng thẳng xé giấy bỏ, gom thuốm làm hai phần, một cho anh, một cho Traian, rồi lấy giấy nhựt trình vấn một điếu thuốc. Anh chậm rãi nói:

– Tốt hơn để sau rồi tôi sẽ nói, ông Traian à!

– Họ có hứa thả anh không?

– Không, họ không nói với tôi chuyện ấy.

– Họ có chửi mắng anh không?

Moritz vẫn tiếp tục vấn điếu thuốc và đáp:

– Họ không có chửi mắng tôi.

– Họ có đánh anh không?

– Không.

– Vậy, tại sao anh không nói? Họ có làm gì khổ anh đâu!

Moritz đốt thuốc và đáp:

– Không, chẳng có làm gì hết!

– Hay là chưa tới phiên anh? Không hại gì. Mai họ kêu anh nữa.

– Có, tới phiên tôi rồi.

– Họ có hỏi anh chuyện gì không?

– Có.

Lưỡi Moritz dường như líu lại. Phải gạn từng tiếng, Traian nóng nảy nói:

– Anh thuật lại hết cho tôi nghe coi. Khởi đầu làm sao?

– Tôi được kêu vô trước hết. Vô phòng, tôi được mời ngồi ghế, để trước bàn.

– Vô đầu như vậy là tốt lắm. Nếu chúng nó mời anh ngồi ghế là điều lành rồi. Chắc chúng nó có đọc hồ sơ anh và thấy anh vô tội. Không phải ai cũng được mời ngồi hết đâu. Nói tiếp đi.

– Một viên đội hỏi tôi.

– Nó có lễ phép không?

– Lễ phép lắm!

– Nó hỏi câu gì trước?

– Trước hết y xem giấy tờ. Rồi y hỏi tôi: “Anh phải Iohann Moritz không?”

Tôi đáp: “Phải”. Y nhìn tôi. Rồi y xem giấy tờ một lần nữa. Đoạn y hỏi tôi: “Chữ Moritz anh viết như thế nào, với “Traian” hay “tz” sau chót?”. Tôi đáp với y rằng tôi viết hai cách. Ở Roumanie, tôi viết “Traian”, còn ở Đức, thì “tz”.

Moritz ngừng nói, ngó Traian, vẻ thất vọng. Traian hỏi:

– Rồi sao nữa? Tại sao anh bị bắt?

Viên đội nói với tôi: “Cám ơn anh, được rồi, anh về chỗ”.

– Có vậy thôi sao?

– Có bấy nhiêu thôi.

– Anh không rán nói thử với nó chút gì khác nữa sao? Tại sao anh không thuật gì hết những điều tôi dạy anh đó?

– Tôi có nói, nhưng viên đội không muốn nghe. Y không ngó đến tôi, gọi: “Người kế”.

– Rồi anh nói gì?

– Không có nói gì hết.

Traian hai tay ôm đầu, than:

– Vô lý quá. Hoàn toàn vô lý! Rồi anh đi ra sao?

– Phải, tôi đi ra.

– Một cuộc thẩm vấn mà chúng ta mong đợi suốt năm trong tù là như thế sao? Không hỏi gì khác nữa à? Hoặc giả anh có quên cái gì chớ?

– Không, chẳng có hỏi thêm gì khác nữa. Tôi đi ra. Khi đóng cửa, tay tôi còn run. Họ kêu người kế, là Thomas Mann.

– Y hỏi người đó chuyện gì?

– Hỏi coi tên Mann viết một hay hai chữ “người” ở cuối.

– Có bấy nhiêu à? Không hỏi chuyện gì khác nữa sao?

Hai dòng nước mắt chảy dài theo má Moritz, giọt lệ lớn bằng hột trân châu.

Traian vỗ vai an ủi:

– Thôi, ta phải kiên nhẫn, anh Moritz à! Khi mấy con thỏ bạch chết hết dưới tàu ngầm, thì không còn giải pháp nào khác hơn là “ráng chịu”…

Đơn Thỉnh nguyện số năm.- Đề tài: Công lý (Cơ giới hóa các cuộc thẩm vấn)

Tôi biết các người được chỉ thị đặc biệt để hỏi cung tội nhân trại giam này từng người riêng rẽ. Cố nhiên, lịnh vô lý quá. Trong lúc các người này bị bắt từng đoàn, một cách tự động, thì thẩm vấn riêng từng người thật vô lý.

Tuy vậy, tôi hiểu tại sao lịnh đó được đưa ra. Nền Văn minh các người biết tỏ vài cử chỉ lễ độ đối với phong tục dân bổn xứ. Đó chỉ là chút nhân nhượng cho có lệ, theo phép lịch sự vậy thôi.

Một sĩ quan bắt buộc phải thẩm vấn năm trăm tù binh mỗi buổi sáng và năm trăm, buổi chiều. Tôi nhận thấy với ai, các người cũng chỉ hỏi một câu giống nhau, và không cần nghe trả lời. Thật vậy, có khờ dại lắm mới nghe mỗi tù nhân kể lể chuyện họ. Có gì hay ho đâu? Chẳng có gì hết.

Nhưng tôi nghĩ đến hơi sức của các người đã phung phí để nói mấy câu hỏi ấy. Cả ngàn lần mỗi ngày cũng chỉ những câu hỏi đó mà thôi. Tổn lực biết là ngần nào! Tôi nghĩ mấy sĩ quan được cử làm tại Phòng thẩm vấn, chắc phải đau quai hàm và mỏi miệng lắm, lúc mãn giờ chiều.

Vì thế, tôi đề nghị thâu vào dĩa mấy câu hỏi ấy. Cách sử dụng máy móc như thế này. Vị sĩ quan giữ phận sự thẩm vấn cứ ngồi tại phòng làm việc, vì thủ tục thẩm vấn từng người bắt buộc như thế. Rồi cho máy phóng thanh chạy. Khi tù nhân vào phòng, tiếng trong dĩa nói: “Ngồi xuống đây!”. Người tù ngồi. Dĩa tiếp tục quay. Nghe câu hỏi thứ nhứt, thứ nhì, thứ ba. Dĩa kết thúc: “Cám ơn! Đủ rồi!”. Tù nhân đứng dậy và ra cửa. Khi người tù đến trước cửa, thì dĩa cũng quay tới câu cuối cùng: “Người kế”.

Cuộc thẩm vấn như vậy là xong! Người tù khác bước vô phòng. Và đĩa bắt đầu quay và hỏi mấy câu ấy như lần trước. Với một dĩa thâu thanh, các người có thể thẩm vấn bốn năm trăm tội nhân.

Trong khi đó, viên sĩ quan thẩm vấn cứ ngồi tại bàn, và đọc tiểu thuyết trinh thám. Tới trưa, lúc đi ăn, y có thể ăn uống như thường, khỏi bị đau hàm. Nên nhớ là cách sắp đặt các cuộc thẩm vấn ấy chỉ đưa ra câu hỏi mà không nghe câu trả lời. Máy móc có thể làm công việc đó. Thuyết này thật hoàn toàn hợp lý. Đã tuân theo thủ tục, mà không làm mệt sức nhân viên thẩm vấn. Công lý được có lợi khi áp dụng phương pháp ấy. Công lý của một xã hội Văn minh phải cần được xử đoán tự động. Đâu phải dùng những lối xưa như hồi chưa tìm ra điện lực. Bao nhiêu phát minh kỹ thuật cơ khí mà làm gì, khi Công lý chưa dùng tới máy phóng thanh?

NGƯỜI CHỨNG

Darmstadt: trại giam thứ mười lăm. Cũng giống như các trại giam trước, nhưng có thêm một nhà thờ Chính thống giáo. Một nhà thờ nhỏ, lâm thời dựng lên.

Traian và Moritz lột mũ, bước vô. Nhà thờ ở dưới lều vải: tận cùng có bàn thờ Chúa. Tượng thánh làm bằng giấy cứng, vẽ bằng phấn màu và than.

Trong nhà thờ không có ván rầm; nền bằng đất.

Đêm qua trời mưa, nước chảy vô lều, đất trở thành bùn.

Giữa nhà thờ, có một thượng thánh giá cỡ người lớn. Traian quỳ dưới chân Chúa. Đức Jésus làm bằng giấy cứng, vòng gai trên đầu làm bằng thiếc đồ hộp cắt mỏng.

Traian ngó lên vết thương đóng đinh ở tay và ở lương long Chúa Ki-tô. Họa sĩ không có màu đỏ để tô màu máu, nên chỗ nào là vết thương thì lấy giấy đỏ ở bao thuốc “Lucky-Strike” dán lên. Chữ đen không thể bôi nên còn đọc được. Traian nói:

– Không bao giờ con thấy Chúa bị đóng đinh đau thương dường này! Con đến để cầu nguyện cho các vết thương của con, nhưng con thấy không còn can đảm nữa. Xin Chúa tha tội cho con! Con xin cầu nguyện các vết thương, bằng Lucky-Strike, đẫm máu ở đùi, ở chân và bàn tay Chúa. Các vết thương ấy còn đau đớn hơn các vết thương bằng máu thịt của con. Cho con xin cầu nguyện vòng gai bằng thiếc đồ hộp trên đầu Chúa nữa.

Traian nhìn lên mình Chúa, thấy ở ngực đấng Cứu thế một chữ “M” viết bằng mực in. Chữ “M” đó ở trong hộp “Menu Unit”; giấy hộp này dùng để cắt thành thân thể Chúa.

Traian đứng dậy, hôn bàn chân Chúa và nói:

– Bây giờ con mới cảm thấy đồng điệu với Thánh thể của Chúa. “Thực đơn” đời đời của chúng con là Hi-vọng. Chúa là “Menu Unit” của con; không lúc nào bằng lúc này, con mới hiểu rõ thân thể Chúa là món ăn bồi dưỡng của chúng con. Làm sao người tù họa sĩ lại có sáng kiến làm hình Chúa bằng giấy hộp “Menu Unit”? Hiện giờ, Chúa tượng trưng tất cả lòng khao khát thành kính các thánh, lòng khao khát bánh mì và tự do của con.

Traian đang trầm mặc thoát tục, chẳng còn thấy ai chung quanh.

Moritz ngắm nhìn mấy thiên thần bằng giấy láng bao thuốc điếu, tượng thánh Đồng Trinh đeo dây chuyền bằng nắp hộp mạ vàng của hộp thịt dồi.

Moritz làm dấu thánh giá trước tượng Thánh Nicolas, ông thánh giống mục sư Koruga.

Đoạn anh đến quỳ gần Traian và nhìn mấy vết thương đỏ của Chúa Ki-tô. Traian cầu nguyện:

– “Lạy Chúa, con không xin Chúa cất ly trên môi con. Con biết rằng việc ấy không được. Con khẩn cầu Chúa giúp con uống cạn ly ấy. Từ một năm nay, con ở cạnh lề cuộc sống và cõi chết. Từ một năm nay, con ở lằn ranh đời thực tế và cõi mộng, Con đã vượt khỏi thời gian, nhưng vẫn tiếp tục sống. Sinh lực thoát lìa thể xác con, nhưng con còn sống, vẫn thở, vẫn lê lết thân tàn, vẫn ăn uống, dẫu rằng con không muốn nữa. bao nhiêu đau khổ ấy đều do nơi con không còn hiểu biết là con bị tù hay được tự do?

Con thấy con bị giam cầm nhưng con chưa tin rằng con bị giam cầm.

Con thấy con được tự do nhưng Linh hồn con nhủ rằng, không lý nào con chẳng tự do. Cái khổ hình không hiểu biết này còn nặng nhọc gấp mấy lần cảnh làm thân nô lệ. Những kẻ giam nhốt con không thù ghét con, không muốn phạt vạ con và không muốn con chết.

Họ chỉ muốn cứu thế giới!

Nhưng họ hành hạ, giết lần giết mòn thân con… Họ hành hạ và giết lần mòn tất cả nhân loại. Con cũng biết, chẳng riêng gì con đau khổ.

Các nhà lãnh đạo thế giới cất những bịnh viện khổng lồ để băng bó vết thương nhân loại. Nhưng dưới cái bay thợ hồ của họ, chẳng phải bịnh viện, mà là những ngục thất được dựng lên.

Chuyện xảy ra như một định mạng!

Con không hiểu được nữa.

Vì vậy, con muốn chết. Lạy Chúa giúp con chết.

Sức con không đủ để chịu khổ não nữa. Giờ mà con đang sống đây không thuộc về cuộc sống nữa, con không đủ năng lực để trải qua giờ này, với thân xác máu thịt con. Đó là giờ thứ hai mươi lăm, cái giờ rất trễ để được cứu vãn, rất trễ để chết và để sống. Tất cả đều trễ rồi!

Lạy Chúa biến cho con thành đá, nhưng xin đừng bỏ con ở lại cõi đời này!

Nếu Chúa bỏ con, con sẽ không chết được. Xin Chúa nhìn thể xác và linh hồn con; chúng nó tha thiết muốn chết, nhưng con, con vẫn còn sống. Thế gian đã chết và con sống mãi. Con không phải một bóng ma, mà cũng không phải một con người. Con đang dở chết sở sống”.

Traian ôm đầu buồn thảm bi thương. Moritz rụt rè rờ nhẹ nhẹ vai chàng như vỗ về, nhưng Traian không hay biết.

Một mục sư vô nhà thờ. Ông mặc áo nhà binh Mỹ có chữ P.W. như các tù nhân.

Moritz đi lại ôm hôn tay ông.

Traian vẫn quỳ gối.

Moritz hỏi Moritz, hai người ở đâu lại và dân xứ nào. Khi nghe vợ Traian cũng bị bắt, ông khoanh tay trước người gực và cầu nguyện cho nàng. Ông ban phép lành cho Traian còn quỳ gối trước thánh giá, không hay có ông.

Mục sư nói:

– Mỗi ngày, lối sáu giờ sáng, Cha làm lễ mi-xa tại đây. Cha là Đại chủ giáo ở Varsovie. Tất cả đoàn mục sư của Cha đều bị bắt giam tại trại này. Nghi thức làm lễ trọng thể lắm. Các con nên tới dự. Có một mục sư xứ Roumanie nữa. Hiện giờ ông đang nằm nhà thương.

Moritz ngó sững vị Đại chủ giáo. Ông nói:

– Cha sẽ viết ít chữ vô nhà thương mời mục sư. Chắc ông sẽ đến khi biết có người dân xứ Roumanie trong trại này. Ông sẽ đến để ban phép lành cho các con…

Lối sáu giờ, đại hội giáo sĩ khởi sự làm lễ mi-xa. Các mục sư đều choàng khăn đại lễ trên bộ quân phục tù binh.

Traian và Moritz đứng kề nhau. Vị Đại chủ giáo mắc áo lễ tế trắng, đội mũ giám mục, cố nhiên, không có gắn kim cương.

Tiếng ông hiền lành và êm dịu như giọng đờn.

Traian bước tới bàn thờ, nhưng vừa đến trước thánh giá, thì ngã quỵ. Moritz tưởng Traian trợt té, chạy lại đỡ dậy. Nhưng thân mình Traian mềm nhũng dường như xương cốt đều tiêu tan. mặt mày vàng nhợt như sáp ong.

Trong lều nhà thờ, chẳng có ai, ngoài mấy mục sư. Moritz ngó lên để nhờ mấy vị đỡ phụ, nhưng anh chợt hiểu tại sao Traian té xỉu. Anh kêu: “Cha Koruga!”, chỉ được bấy nhiêu, rồi quỳ xuống trước mục sư, như muốn ôm đầu gối ông. Nhưng mục sư đâu còn hai chân, chỉ đi bằng cặp nạng, tiến lại gần hai người.

Traian và Moritz đứng im. Tóc mục sư Koruga bạc thêm nhiều. Ông mỉm cười, vẻ thật hiền lành và đầy hạnh phúc. Xuyên qua cái cười, cái ngó của mục sư, người ta tưởng thấy Thiên Đàng…

Mục sư nói:

– Traian con!

Vừa nghiêng mình, một cây nạng rớt. Ông không té. Ông còn đứng được, chống trên một cây nạng.

Rồi ông bỏ luôn cây nạng ấy. Ông đứng gần Traian, ngay như mũi tên, trên cái gì còn lại của hai chân ông. Ông bỏ cặp nạng để hai tay thong thả, ôm chằm lấy con ông.

Moritz lượm cặp nạng cầm tay, đứng gần hai cha con mục sư Koruga.

Cả ba: mục sư Koruga, Traian và Moritz đều ở chung lều trong trại giam Darmstadt.

Sau một năm chờ đợi, tù nhân được phép tiếp thơ từ.

Moritz đầu tiên được thơ của mẹ Hilda.

“Han con.

“Ngày 9 tháng 5 năm 1945, nhà con bị cháy. Chắc con chưa hay. Lửa cháy buổi chiều, lúc quân đội Nga vào thành phố, Hilda và thằng Franz đều ở trong nhà. Mấy tuần đầu, má chưa biết mẹ con nó bị chết thiêu. Nhưng bữa kia, má bới đống tro tàn, tìm coi có vật gì còn sót lại không, thì thấy thây chúng nó thành than. Hilda chết còn ẵm thằng Franz trên tay. Má không hiểu tại sao Hilda không chạy ra, lúc nhà cháy. Chắc nó còn ngủ. Nhưng má không tin Hilda có thể ngủ được vào giờ đó, nhứt là ngày ấy quân đội Nga kéo vô thành. Tất cả đều chạy trốn hết, nhứt là đàn bà. Con biết, Hilda có bao giờ ngủ buổi chiều đâu? Hồi còn đi làm ở bịnh viện, trưa về thì nó làm công việc nhà liền.

“Má gom góp hài cốt cháy thiêu của mẹ con Hilda, để trong một cái quách, chôn ở nghĩa địa gia đình. Má không thể làm được hai cái quách vì đắt quá, không ai muốn đóng. Thiên hạ ở đây chôn người chết không hòm. Ván kiếm không ra mà đinh cũng đắt giá. Má phải nhổ đinh ở vách tường và ở mấy khuôn hình, đưa cho thợ mộc đóng hòm Hilda. Nhưng thợ mộc không muốn làm, viện cớ đinh nhỏ và ngắn không thể đóng hòm được. Má phải cho một cái nón của con, thợ mới bằng lòng. Con đừng giận sao má không xin con trước. Nhưng nếu không cho cái nón ấy, thì thợ không chịu đóng hòm và đống xương lấy gì mà chôn. Má để nó trong nhà một tuần nay rồi! Má có đặt làm cây thánh giá bằng cây. Chừng con về, con sẽ đặt làm bằng đá. Gia đình ta, tại nghĩa địa, mả nào cũng có cây thập tự giá bằng đá.

“Má còn thấy trong đống tro, một thây sĩ quan cháy thiêu nữa. Chắc ông này đến xin nghỉ nhờ, hoặc thay bộ quân phục để mặc thường phục. Sĩ quan nào cũng làm như thế, lúc quân đội Nga tới. Nhưng cặp da ông không cháy trọn. Má đọc giấy tờ, thấy tên ông là Iorgu Iordan, ở xứ Roumanie, như con. Má viết những chuyện này cho con hay, vì má nghĩ rằng chắc đây là một người bạn hoặc thân quyến đến thăm con”.

Mục sư Koruga nói:

– Có lẽ như vậy là tốt hơn!

Ông để tay lên vai Moritz và an ủi anh:

– Con thử tưởng tượng Hilda còn sống, và một ngày kia con được thả ra, con sẽ về với vợ nào? Làm sao lựa chọn?

Moritz hỏi:

– Vậy thì Suzanna không có xin ly dị với con sao? Và nàng vẫn chờ con ở nhà sao?

Nhờ thế anh mới biết Suzanna vẫn chung thủy với anh.

Mục sư đáp:

– Suzanna chờ con và sẽ chờ con đến ngày cuối cùng. Lúc nào nàng cũng là vợ con. Nàng ký giấy xin ly dị chỉ là để giữ cái nhà và khỏi bị đuổi ra đường với mấy đứa con thôi. Nàng hành động như vậy vì nghĩ không còn cách nào khác nữa, chớ nàng chẳng hề nghĩ đến việc xa lìa con.

– Vậy cuộc ly dị láo, mà con ngu dại, cứ tưởng nàng lấy chồng khác rồi. Nên con mới cưới Hilda. Con tưởng Suzanna bỏ con. Làm sao chẳng tin được khi chính mắt con đọc tờ ly dị? Tội lỗi con nặng lắm! Chúa không tha con!

– Chúa sẽ tha tội con. Chuyện đã xảy ra thật là nghiêm trọng con à! Nhưng không phải con hoặc Suzanna có lỗi. Chỉ một mình Quốc gia với các luật lệ chịu trách nhiệm. Quốc gia không thể tha thứ được! Quốc gia sẽ bị trừng trị như thành Sodome và Gomorrhe. Lưỡi sét Thần nộ sẽ đánh chẳng những trên Quốc gia, mà trên tất cả Xã hội hiện tại đã phạm những trọng tội cho đến Chúa thấy cũng đau lòng!

Traian bị kêu đi thẩm vấn lần đầu. Viên sĩ quan hỏi:

– Anh cho rằng không biết tại sao anh bị bắt và bị giam từ hơn một năm nay? Trong hai mươi lăm ngàn tù binh, không một ai thú nhận đã biết tại sao mình bị bắt. Tất cả đều nói chúng tôi xâm chiếm Âu châu và bắt người một cách may rủi, vô cớ. Anh lầm rồi. Mỗi lần bắt ai đều đã theo đúng Sắc lệnh ban hành.

Traian mỉm cười. Viên sĩ quan nhìn thấy, nói tiếp:

– “Anh muốn nói luật lệ chúng tôi không phù hợp với nguyên lý pháp luật. Không ngày nào tôi khỏi nghe câu trách móc này. Tất cả các anh ai cũng viện cớ chỗ thiếu giá trị căn bản pháp lý về sự bắt bớ các anh, các anh thật đáng buồn cười. Thứ nhứt, mỗi nước đều có quyền lập luật lệ riêng, thích ứng cho nước đó tuân theo. Những luật lệ của chúng tôi, có hiệu lực trong xứ chúng tôi. Thứ nhì, pháp luật không có nguyên tác vĩnh cửu bất di dịch. Công lý do người bày ra, và không có gì của người mà vĩnh viễn được hết. Đại để, đạo luật nào cũng có giá trị tương đương với một đạo luật khác. Và tất cả đạo luật đều có thể vừa tạm thời vừa vĩnh cửu. Kẻ nào chủ trương nghịch lại chỉ làm cho tự mình lầm lạc mà thôi!

Theo luật lệ hiện hành tại vùng Mỹ chiếm đóng, thì anh bị bắt vì anh là công chức của một nước nghịch. Luật ấn định như vậy.

Vợ anh bị bắt cũng chiếu theo luật ấy, do điều khoản định rằng vợ công chức cao cấp của nước nghịch đương nhiên bị bắt. Cha anh cũng vậy, ông đương nhiên bị bắt vì là công chức nước nghịch.

Tôi nhìn nhận như thế là gắt gao với anh. Nhưng đó là luật định. Suốt thời gian lịch sử, luật pháp nào cũng nghiêm khắc cả. Không lẽ anh lại biểu tôi phải hỏi anh mỗi khi thiết lập luật lệ nước tôi sao!”.

Traian đứng dậy, muốn đi ra. Lúc khởi sự viết quyển tiểu thuyết, chàng đã chắc chắn, giai đoạn mà con người bị luật lệ cấm không được sống theo đời sống của mình đã gần đến. Khi bị bắt, chàng biết các luật ấy đã được thi hành, nhưng còn nuôi ảo vọng đoán sai.

Bây giờ được chính thức cho biết các luật lệ ấy phải được kính trọng và triệt để thi hành, chàng không còn nghi ngờ gì nữa.

“Theo luật, có những người không phạm tội cũng có thể, bị bắt, bị tra tấn, bị bỏ đói, bị tước đoạt, và bị thủ tiêu”.

Viên sĩ quan nói tiếp:

– Tôi cũng chắc chắn rằng anh không phạm tội. Lần thứ tư rồi, tôi có xin thả anh, vợ anh và cha anh, mặc dầu tôi bị cấm nhặt không được phép xin tha riêng từng người, những tội nhân đương nhiên bị bắt. Tôi chưa nhận được lời phúc đáp. Lịnh trả tự do cho riêng từng người không được chấp thuận, mà chỉ được thực hiện cho từng toàn thể hạng người thôi.

– Vậy chuyện từng cá nhân phạm tội hay vô tội không cần xét đến trong vấn đề này sao? Ông có chú ý đến, chắc chỉ vì tọc mạch mà thôi.

– Chuyện ấy không làm tôi quan tâm. Dẫu nó chạm lòng tự ái của anh là người đã sống theo quan niệm cá nhân, với tất cả tư tưởng thần học, thẩm mỹ học hoặc nhân đạo đi nữa, cũng không phải tự tôi có thể thay đổi được. Vả lại, cần gì thay đổi. Hệ thống tổ chức xứ tôi có vẻ khô khan, máy móc, tính xác như toán học, nhưng nó đúng lắm! Vũ trụ vận hành dường như đã theo “con đường lý số” và không ai nghĩ đến việc đổi dòng hoặc xoay hướng nó.

– Cuộc thẩm vấn này không ích gì cho ông, sao ông không bỏ phứt nó đi vì có thể không có nó cũng được? Những gì thuộc về cá nhân đều không có gì giúp ích cho ông sao?

– “Không. Những gì chúng tôi muốn biết về một cá nhân là những thực-sự của mỗi người: tên, họ, chỗ ở, ngày sinh, nghề nghiệp, các bằng chứng ấy để ghi vô phiếu dùng trong bảng thống kê.

Vả lại những cuộc thẩm vấn này dùng để kiểm chứng lại vài thực-sự, hoặc để phân chia tù nhân ra từng loại hạng. Bắt hoặc thả đều chỉ dự định cho từng loại hạng. Phận sự chúng tôi là sắp xếp mỗi người vào loại hạng của họ. Một công việc nghiêm xác, rất phân minh rành mạch!”.

– Vậy ông không thấy vô nhân đạo khi xóa bỏ con người và đối xử con người như một thành phần của một loại hạng hay sao?

– “Không, tôi không thấy gì là vô nhân đạo cả. Phương pháp này thực tế, mau lẹ và công bình hơn hết. Sự công bình chỉ có thể thực hiện được với phương pháp này. Sự công bình thực hành theo phương pháp tóan học và vật lý học, nghĩa là theo phương pháp tinh xác hơn hết.

Chỉ có thi sĩ và nhà thần bí mới phản đối các phương pháp ấy.

Nhưng xã hội ngày nay đã loại bỏ thần bí và thi văn rồi. Chúng ta đang ở thời kỳ toán học và khoa học chính xác, chúng ta không thể thoái lùi vì lý do tình cảm. Vả lại, tình cảm chỉ là sáng tác của thi nhân và nhà huyền học”.

Viên sĩ quan ra dấu rằng cuộc thẩm vấn chấm dứt, và nói:

– Thôi anh đừng buồn!

Traian mở cửa đi ra, và nghe tiếng viên sĩ quan lạnh lùng gọi: “Người kế”.

Moritz có ý định trốn đi. Từ lúc biết Suzanna không xin ly dị và đang nuôi con, trung thành chờ anh, anh đứng ngồi không yên.

Traian nói:

– Anh đừng trốn vô ích. Anh đi chưa tới rào kẽm là bị lính Ba Lanbắn anh rồi.

Moritz ngó mấy tên lính canh Ba Lanmặc quân phục Mỹ nhuộm màu xanh. Chúng im lặng ngó anh như đoán được ý nghĩ của anh, và cầm súng ghìm nơi tay, sẵn sàng bắn. Traian nói:

– “Và nếu lính canh Ba Lan có bắn trật anh, thì anh cũng sẽ bị lính tuần thành Mỹ hoặc Đức bắn. Trước khi về đến Roumanie, anh còn gặp bao nhiêu là lính đi tuần, lính tuần thành đủ các nước: Áo, Tiệp-khắc, Pháp, Hung-gia-lợi… và rốt lại, chẳng bao giờ anh về đến nhà được… Họ sẽ bắn anh chết dọc đường về. Nếu anh tránh được viên đạn dân nước này thì viên đạn dân nước khác chắc chắn sẽ bắn ngã anh. Giữa anh và nhà anh, giữa anh và gia đình anh, anh Moritz à, còn có tất cả các nước trên thế giới, các nước võ trang hoàn bị muốn giết anh…

Giữa mỗi người và đời sống cá nhân chí thiết của họ, còn có một đạo binh quốc tế ấy. Con người không được phép sống đời sống của họ; nếu toan làm thử thì bị bắn ngay. Xe tăng, súng máy, đèn rọi, rào kẽm gai để làm gì?”

Moritz nói:

– Dầu sao tôi cũng trốn!

Tên lính gác Ba Lan càng ngó anh lườm lườm.

Cùng lúc ấy có hai sĩ quan Mỹ đi vô sân, lại phía nhà thương. Moritz ngó theo.

Thình lình, anh không nói gì, bỏ Traian, chạy theo và đứng trước mặt hai sĩ quan. Họ đứng lại, ngó Moritz, và Moritz cũng ngó họ. Một phút qua. Viên sĩ quan mập và có tuổi, đưa hai tay ôm chằm lấy, như người anh ôm em. Bọn tù bao vây quanh, lấy làm lạ. Chưa bao giờ họ thấy sĩ quan Mỹ ôm người tù lần nào.

Moritz đi với vị sĩ quan thẳng đến nhà thương. Ông này vẫn còn choàng vai Moritz. Hai người vô nhà thương.

Traian đến gần, và đứng ngoài cửa chờ. Chàng tò mò muốn biết chuyện gì. Thế nào Moritz cũng thuật lại. Nhưng Moritz lâu ra quá!

Một lát, Traian nghe tiếng Moritz. Anh thò đầu ra cửa sổ, mắt sáng ngời, nói với Traian:

– Sĩ quan Mỹ đó là ông bạn bác sĩ Abramovici của tôi. Tôi nhìn biết ông liền. Hồi trước tôi vượt ngục xứ Roumanie với ông! Bây giờ thì tôi chắc được thả rồi!

Moritz đóng cửa sổ lại. Bạn anh kêu anh để nói chuyện.

Hồi ở trại giam Roumanie và Hongrie, Moritz chỉ nói bằng tiếng Do thái với bác sĩ Abramovici. Nên bây giờ hai người cũng dùng thứ tiếng ấy. Trung úy bác sĩ vui mừng được gặp Moritz và lắng nghe từng lời nói của anh.

Moritz thuật lại những gì đã xảy ra từ ngày chia tay cho tới nay. Bác sĩ lắc đầu tỏ vẻ thương hại, nhứt là khi nghe Moritz kể những nỗi thống khổ anh trải qua trong mười lăm trại giam mà anh bị nhốt mấy năm chót này.

Bác sĩ coi đồng hồ tay và nói:

– Tôi phải đi. Anh cần được giúp đỡ, tôi biết lắm anh Iankel à. Ấy là lẽ thường. Anh cho tôi biết anh cần dùng món gì, tôi sẽ giúp cho. Tôi không quên chúng ta đã trải qua nhiều lúc khó khăn.

Ông vỗ vai Moritz nói tiếp:

– Bây giờ tôi thế lực lắm, còn anh lại cơ cực như vầy. Anh cần gì: thuốc hút, đồ ăn hay quần áo? Anh muốn món gì?

– Tôi muốn ra khỏi chốn này. Tôi muốn được thả về nhà, gặp lại vợ con tôi.

Bác sĩ phật ý nói:

– Đừng nên đòi chuyện gì không thể được. Thứ nào thuộc quyền của tôi, tôi mới giúp được. Thả ra là khi nào có lịnh chung. Đừng nghĩ đến chuyện này nữa, phải kiên nhẫn chờ đợi, anh Moritz à!

– Tôi vô tội, tại sao giam cầm tôi?

Bác sĩ hơi giận, nói:

– Việc phạm tội và sự thả ra không cần xét đến. Ai dám quả quyết rằng anh có tội, anh Iankel? Chuyện được thả ra, anh phải ráng chờ.

– Tôi chờ đã lâu rồi!

– “Đó là theo ý anh thôi. Anh còn quê mùa, mộc mạc quá. Anh tưởng sĩ quan nào cũng có thể thả tù nhân vì người đó không có tội sao? Nếu thế, thì trại giam sẽ trống lốc trong nay mai. Mỗi tù nhân quốc xã đều có thể trưng bằng chứng vô tội. Được thả là khi nào có lịnh của Bộ Tư lịnh Francfort. Tại đó, giấy tờ gởi đi Washington, và lịnh quyết định sẽ chuyển tới Wiesbaden. Một ủy ban chuyên môn ở Esslingen cứu xét quyết định ấy, và gởi tới Berlin. Lịnh thả được ban ra từ Berlin và gởi đến Heidelberg. Nơi đây phiếu cá nhân của anh được rút ra khỏi tủ phiếu của cả trăm văn phòng. Và chừng đó, anh mới được thả về. Nhưng mấy chuyện này lằng nhằng lắm, vì do một máy điện làm việc tự động. Mỗi tội nhân có một phiếu cá nhân. Bên Mỹ có lập những cơ sở chứa tủ phiếu, to lớn bằng thành lính trước mặt ta đây. Khi lịnh thả ra gởi đến Heidelberg, thì người ta cho rút phiếu của đương sự trong những tủ phiếu tại mấy nơi này: Washington, Stuttgart, Ludwigsburg, Munich, Kornwesttheim, Paris, Berlin, Francfort.

“Tên anh có ghi trong cùng khắp thế giới, ở Phòng Liên bang Thông tin Mỹ, ở Bộ Tư lệnh tối cao Đồng minh Ba-lê, ở Ủy ban kiểm soát Berlin, trong các trại giam, các khám đường, các Văn phòng C.I.C, C.I.D, M.P., S.P., S.Q.S… Ở khắp nơi.

“Những cử động nào của anh, dầu nhỏ nhặt, tỷ như một chuyện anh bị dời từ trại giam này đến trại giam khác, đều bắt buộc phải thay đổi phiếu của anh trong tất cả mấy tủ phiếu những nơi nói trên. Chuyện ấy anh biết chăng?”.

Moritz tưởng tượng thấy tên anh viết trong các tỉnh thành lớn trên thế giới, tên anh được lặp đi lặp lại trong các máy điện to, lúc cháy sáng, lúc tắt, như mấy cây đèn rọi trên dây kẽm gai ở mấy trại giam. Từ đây, anh đã biết mỗi cử động của anh đều bị chụp hình, bị ghi sổ và bị soi sáng. Anh đáp:

– Tôi không biết chuyện ấy.

– Phải, nếu anh biết thì anh đâu có nhờ tôi xin cho anh. Tôi không phiền anh đâu. Anh tưởng một mình tôi mà kéo được anh ra khỏi guồng máy khổng lồ ấy à?

Bác sĩ Abramovici cười vang lên, và nói:

– Đến Tổng thống Huê-kỳ cũng không làm được nữa! Anh phải bình tĩnh chờ tới phiên anh.

– Nhưng trong khi tôi vô tội, tại sao phải ở mãi trong tù? Tại sao cái máy ấy thù oán tôi trong khi tôi chẳng có làm gì hại nó. Cái máy mà ông nói đó chắc là lập ra để dùng với kẻ trộm cướp, giết người, và kẻ bất lương thôi chớ?

– Anh ráng tập đừng xét đoán như một thôn dân lạc hậu nữa, anh Iankel à! Các vấn đề, anh đều xét theo quyền lợi cá nhân. Xã hội văn minh chẳng chuyên chú đến trường hợp cá nhân. Chuyện anh phạm tội hoặc vô tội là chuyện riêng của anh, chỉ quan hệ tới vợ anh, láng giềng anh, hoặc các nông dân khác trong làng anh. Chỉ mấy người ấy mới chú trọng đến việc cá nhân. Mấy xứ văn minh nhận xét các việc với tầm bao quát trọng đại hơn, mà không lo chuyện từng người.

– Nhưng tại sao lại bắt tôi?

– “Chúng tôi đã theo thủ tục bắt bớ dự phòng và từng loại hạng. Nếu chúng tôi cần dùng một phạm nhân, một tội phạm chiến tranh chẳng hạn, thì sẽ có liền, không cần phải chạy kiếm, đuổi bắt khắp làng mạc, rừng bụi, mất biết bao thì giờ. Với lối bắt bớ dự phòng này, chỉ ấn nút điện nơi chữ tương ứng với chữ khởi đầu của tên người tội nhân, thì chưa đếm đến số ba, đã có trước mặt chúng tôi tấm phiếu của tội nhân có dán hình với lời chỉ dẫn về bề cao, cân nặng, màu tóc, ngày và nơi sinh đẻ, mấy cái răng, và những gì cần ích cho chúng tôi. Kế đó, chúng tôi chỉ cầm máy nói gọi bằng vô tuyến truyền thanh nơi trại giam hoặc khám đường có tội nhân bị nhốt, thì vài giờ sau, tên ấy sẽ có mặt, bằng xương bằng thịt, trước Tòa án quốc tế Nuremberg. Anh coi có phi thường không? Kết quả của kỹ thuật đó. Thảy thảy đều tự động, đều chạy bằng điện cả. Như vậy, làm sao anh muốn nó thả anh được, có họa chăng là anh điên. Anh cũng như một sợi chỉ luồn trong máy dệt. Hễ mắc vô khung cửi rồi thì không tháo gỡ ra được nữa. Phải chờ tới khi nó ra khuôn, – dệt chung với mấy sợi khác, – phải chờ đến giờ của nó. Không thể nào làm khác được. Máy móc tinh vi lắm; với nó, phải nhẫn nại.

“Và anh, hiện anh đang ở giữa guồng máy. Anh có vùng vẫy, hoa tay múa chân cũng vô ích, anh không thể nào vượt tung khỏi dàn máy được. Cơ khí điếc mù, không nghe, không thấy, chỉ làm việc. Nó làm việc toàn hảo và đạt tới chỗ hoàn thiện mà con người không thể nào đạt được. Phải chờ, vì chắc chắn phiên mình phải đến. Máy móc không quên như con người đâu. Nó đúng giờ đúng khắc lắm, anh biết chưa?”.

Moritz rùn vai, hỏi:

– Vậy ông không thể làm cách nào cho nó thả tôi sao?

– Tôi đã cắt nghĩa rành. Anh đang ở trong guồng máy, và không có cách gì khác hơn là phải chờ đợi.

– Nhưng nếu ông muốn can thiệp giùm tôi, thì chắc có hy vọng, vì chuyện ấy có thể điều đình được. Cấp chỉ huy ắt phải là người như ông và tôi, và họ sẽ hiểu. Nếu ông giải thích cho họ nghe, tôi có vợ có con, và đã chịu đau khổ hàng mấy năm trường trong các trại giam, mà không có làm gì quấy, chắc mấy ông đó sẽ tha tôi ra.

Bác sĩ nổi giận nói:

– Thật như nói chuyện với con lừa không khác! Anh cứ đem chuyện cá nhân và riêng tư nói mãi. Anh không thể quên được anh. Đặc tính của người cổ lỗ thật! Tôi phải đi. Anh cần món gì nói đi: thuốc hút, đồ ăn hay quần áo?

– Tôi ước muốn được xử công bằng. Nhưng tôi thấy công lý nhân loại đã chết mất trên quả địa cầu rồi. Tôi không muốn gì hết.

– Anh cũng nên hút một điếu thuốc.

Ba Abramovici đưa gói “Lucky-Strike” cho Moritz, cười và nói:

– Chúng ta là bạn đau khổ với nhau mà!

Moritz thò tay lấy điếu thuốc, nhưng chỉ còn gói không. Bác sĩ lục kiếm các túi lấy gói khác, nhưng không có, ông nói:

– Tôi sẽ biếu anh điếu thuốc, lần tới, khi tôi trở lại đây!

Bác sĩ ra đi.

Mục sư Koruga ngồi ghế, cặp nạng để trên đầu gối. Viên sĩ quan hỏi ông:

– Nếu ông không phải thuộc phái độc tài quốc xã, hoặc cộng tác viên, thì ông đến nước Đức làm gì? Chuyện ông thuật lại rằng lúc tỉnh dậy thấy nằm trong quân y viện Đức mà không hiểu tại sao, chỉ dùng để nói với trẻ con. Những chuyện như thế chỉ có xảy ra trong những truyện quái dị miền Balkan của các ông, chớ chẳng khi nào có trong đời sống thực tế. Với một sĩ quan Mỹ, đó là chuyện thêu dệt vụng về, giấu đầu lòi đuôi, nó giống chuyện hoang đường, chuyện thần thoại. Quân Đức giữ ông làm chi trong nhà thương, nếu ông không phải là bạn, hoặc cộng sự viên với họ? Tại sao họ lại săn sóc ông trong sáu tháng trường và cưa hai chân ông? Bởi vì ông là kẻ nghịch à? Hay là vì lòng nhân đạo của họ? Họ nhân đạo hồi nào vậy? Quân Đức bắt giam và giết kẻ nghịch bằng hơi độc tất cả. Ông cộng tác với họ, nên được họ săn sóc. Chắc ông đã buồn lắm khi thấy Hitler không thắng trận à!

Mục sư Koruga giữ mực làm thinh. Mặt ông tái xanh, mồ hôi đượm trên cặp chân mày. Ông ngồi ghế không vững. Từ ngày bị cưa chân, ông chỉ nằm. Ông bị cảm sốt. Ông trông cho cuộc thẩm vấn được sớm chấm dứt, để ông được phép rời khỏi cái ghế ấy.

Viên sĩ quan nói tiếp:

– Chắc ông sẽ rất sung sướng khi Hitler thắng trận phải không? Chừng đó Hitler sẽ cử ông làm Đại chủ giáo xứ Roumanie, và ông sẽ toại nguyện?

– Không, tôi không vui mừng.

– Vậy ông vui mừng thấy đồng minh thắng sao?

– Càng không nữa!

Viên sĩ quan cau mày. Mục sư Koruga mỉm cười và nói:

– Không cuộc thắng trận nào bằng võ khí làm tôi sung sướng được cả.

Mục sư vừa nói vừa nhìn những hình ảnh các trại giam của Đức Quốc xã treo trên tường. Và ông nhớ đến xác của ông biện lý Goerge Damian, của chàng thanh niên Vasile Apostol và của mấy thôn dân khác trong làng Fântâna, bị Marcou giết hạ cùng một lượt với ông, và quăng bỏ trong hầm phân, sau chuồng ngựa của tòa thị sảnh. Ông nghĩ tới thây các trẻ nít thành Dresde, Francfort, Berlin. Ông nghĩ tới xác chết ngổn ngang ở Dunkerque, ở Stalingrad. Và ông không tài nào vui sướng khi nghĩ đến các thây ấy đã giúp vào cuộc đắc thắng được:

Nhất tướng công thành vạn cốt khô!

Muốn đạt đến chiến thắng, mặt đất phải lấp đầy thây của bao kẻ vô tội… Ông đọc một đoạn văn:

“Dầu Chiến Thắng, đâu có Tốt Đẹp,

“Mà cho là Tốt Đẹp

“Là kẻ vui thích giết người.

“Phàm kẻ vui thích giết người

“Ắt không thể thỏa ý muốn thống trị ở việc phục lòng thiên hạ.

“Giết người nhiều, lấy thảm thương khóc đấy,

“Chiến thắng được, lấy tang lễ mà xử đấy”.

Viên sĩ quan nói:

– Bài thơ hay quá. Phải ông sáng tác không?

– Bài này do một hiền triết Trung Hoa sáng tác hơn hai ngàn năm nay.

– Ông chép lại cho tôi đi! Tôi muốn gởi về gia đình tôi, ở Mỹ.

Viên sĩ quan tươi cười, hình như đang nghĩ tới gia đình. Nhưng rồi ông lại cau mày ngó mục sư, nghi ngờ hỏi:

– Ông chắc mấy câu thơ vừa đọc đó là của một người Trung Hoa đặt ra không?

– Chắc chắn vậy! Nhưng mấy câu thơ làm cho ông thích, thì cần gì người đó hay người khác. Cốt nhứt là thơ hay, chuyện khác không quan trọng.

– Sao lại không quan trọng. Tôi vui lòng biết rằng tác giả là một dân Trung Hoa, Trung Quốc là nước Đồng minh của Mỹ quốc. Gia đình tôi sẽ hoan hỉ tiếp được bài thơ này. Nếu tác giả là một thi sĩ nước nghịch, thì tôi không thể gởi về nhà được. Ngày mai, ông viết lại cho tôi nghe! Tôi đưa viết chì và giấy cho ông. Ngoài thần học, ông có biết gì khác nữa không?

– Tôi học tất cả những gì tôi thích, vào những lúc tôi có thì giờ rãnh.

– Ông biết viết chữ Trung Hoa không?

– Không.

– Uổng quá. Tôi định nhờ ông viết bài thơ ấy bằng chữ Trung Hoa, để gia đình tôi ngạc nhiên chơi, không dè lại nhận được chữ Trung Hoa do tôi gởi về. Nhưng không sao. Nếu không biết chữ Trung Hoa, ông cứ viết bằng chữ Anh. Tác giả bài ấy có giọng trào phúng quá, và là dân nước Đồng minh của Liên hiệp quốc.

Khi trở về trại giam, mục sư mệt đừ.

Moritz đỡ ông lên giường, đắp khăn ướt lên trán ông, và hỏi:

– Họ có nói chuyện thả Cha ra không?

– Không.

– Vậy, họ hỏi Cha chuyện giám thị?

– Họ bảo Cha viết giùm một bài thơ của Lão Tử. Họ muốn viết bằng chữ Trung Hoa, và tiếc hùi hụi sao Cha không biết đọc và viết chữ Trung Hoa.

– Cuộc thẩm vấn có bấy nhiêu đó thôi sao?

Mục sư gật đầu.

Traian được thơ của Nora. Chàng cầm bao thơ có đề trên góc hai chữ “Tù binh” và nói:

– Tôi biết Nora cũng bị bắt, nhưng tôi hy vọng vài ngày sau nàng được thả ra. Bây giờ không còn nghi ngờ gì nữa. Nàng cũng bị nhốt trong trại giam như chúng ta, cũng khổ sở, và bị đày đọa dối xử như chúng ta. Nàng cũng bị lưu đày từ trại giam này qua trại giam khác, có lính Ba Lanmang súng liên thinh gác ngoài rào kẽm gai, như chúng ta, không khác chút nào. Tôi không thể chịu đựng được nữa!

Nora không biết địa chỉ của Traian, nên đề trên phong bì tên chàng và các số hiệu của tất cả trại giam trong vùng Mỹ chiếm đóng. Bức thơ đã đi cùng khắp các trại giam trước khi đến tay chàng.

Chàng nói:

– Chúng nó không cho nàng biết tôi ở đâu và cũng từ chối không cho tôi biết nàng ở trại giam nào.

Mục sư cố an ủi chàng. Ông nằm trên giường, đầu đắp khăn ướt. Moritz đứng kề bên ông. Traian không nghe đến những lời khuyên can. Chàng đứng dậy nói:

– Mọi đau khổ đều có giới hạn. Tôi thấy đến chỗ tột cùng rồi. Không ai đi quá mức đó mà còn sống được!

Traian bước ra khỏi lều. Moritz kinh hoảng nói:

– Ông Traian đi tự tử!

Mục sư nằm nhắm mắt. Ông không nghe lời nói của Moritz. Ông cầu nguyện. Chẳng những cầu nguyện cho Traian và Nora, ông cầu nguyện cho Moritz và cho tất cả những người bị xã hội kỹ thuật Tây phương dồn hãm vào bước đường cùng, không một ai vượt qua mà còn sống được.

Moritz nói:

– Ông Traian sẽ tự sát nếu tôi để ông một mình.

Mục sư mở mắt, rờ tay Moritz và để cho anh ra đi.

Mục sư nói với Traian:

– Con đưa tay cho ba!

Ông nằm dài, mắt mở hí. Trán ông tái ngắt. Máu mặt không còn. Ông già nắm tay Traian, không nói lời nào. Hơi nóng trong hai bàn tay như san sớt lấy nhau. Máu cũng như chuyển sang qua lại. Chỉ có tình ruột thịt mới cho hai cha con gần gũi nhau như lúc này. Hai quả tim cũng cùng một nhịp. Nhưng tim của mục sư nhảy càng phút càng yếu.

Moritz muốn thay khăn đắp, nhưng mục sư ra dấu không cần. Anh bèn ngồi bên mép giường. Mục sư nói:

– Hiện giờ, Cha thấy tay cha ấm, không do hơi nóng của người, mà do nơi lửa sống của đời người. Tay con nóng đúng theo nhiệt độ đời sống cần phải có.

Traian siết chặt hai tay cha.

Bàn tay đã lạnh, nhưng mục sư vẫn tươi cười. Ông nói:

– “Cha mơ ước hai chuyện ở thế gian: làm mục sư tại Mỹ quốc và, lúc chết, được chôn trong đất thánh làng Fântâna. Con nhớ không, Traian con, cái đất thánh không có tường, không bờ rào, đầy hoa dại cỏ hoang đó.

“Đất thánh ấy giống một cánh đồng rộng. Cha tha thiết muốn yên giấc ngàn thu nơi đấy, để chiêm thưởng cuộc du ngoạn trong cảnh vĩnh cửu của Cha. Nhưng hai chuyện mơ ước lại thành tựu một cách buồn cười. Cha chưa từng đi Mỹ thì Mỹ quốc lại tìm đến Cha. Cha sẽ chết trong trại giam trên đó phấp phới ngọn cờ ngôi sao Mỹ quốc. Cha cũng sẽ không được chôn trong đất thánh Fântâna. Nhưng đất thánh này lại trở nên to rộng hơn làng Fântâna và xâm chiếm cả mặt đất Âu châu.

“làng Fântâna, và xứ Roumanie, và tất cả Âu châu hiện giờ chỉ là một vết đen lớn trên bản đồ thế giới, giống như một vết mực. Toàn cả đại lục Âu châu đều im lặng, và hết vui tươi. Nét vui tươi đã rời khỏi châu Âu như đã rời khỏi đất thánh Fântâna. Rồi chẳng bao lâu, hoa dại cỏ hoang sẽ lan tràn bao phủ khắp địa cầu như đã bao phủ nghĩa địa làng chúng ta. Chỗ nào chôn Cha cũng được. Ở nơi nào, Cha cũng sẽ tưởng tượng như ở trong đất thánh không bờ rào của làng ta”.

Traian nói:

– Tại sao Ba nói chi chuyện ấy? Ba nên nằm nghỉ cho khỏe là hơn.

– “Con nói có lý, nhưng Cha cần tỏ ít lời với con. Traian con à, con nên biết rằng: “Cuộc đời chẳng bao giờ có tôn chỉ khách quan, trừ phi sự chết mới có mục đích khách quan. Tôn chỉ thiết thực và chân chính nào cũng vẫn chủ quan”.

“Xã hội kỹ thuật Tây phương lại muốn hiến cho đời người một tôn chỉ khách quan. Nhưng đó chỉ là phương tiện hay nhứt để dễ tiêu diệt đời người. Họ đã thâu hẹp đời người thành một bảng thống kê. Nhưng “mỗi thống kê đều bỏ sót lại một trường hợp đặc biệt duy nhứt. Và nhân loại càng tiến hóa thì chính cái đặc tính duy nhứt của mỗi cá nhân và mỗi trường hợp đặc biệt lại càng đáng kể hơn.

“Cái xã hội kỹ thuật tiến triển theo một hướng ngược chiều: nó bao gồm và nhứt-luật tất cả, nó nhứt-ban-hóa tất cả. “Và càng muốn nhứt-ban-hóa, và càng tìm kiếm, càng sắp xếp tất cả giá trị vào trong cái chỗ toàn-nhứt-thể mà nhân tính Tây phươong đã mất hết ý thức về những giá trị của bản vị, nghĩa là, của đời sống cá nhân. Do đó, cái họa tập-sản nảy sanh, dầu hiểu theo lối Nga, hoặc hiểu theo lối Mỹ, cũng thế”.

“Và cũng chính tại vì đó mà chúng ta có thể tin chắc rằng cái Xã hội kỹ thuật ấy sẽ sụp đổ. Vả lại, chính con, con cũng nói đến nó, trong một buổi tối, tại làng Fântâna. Cái Xã hội kỹ thuật Tây phương không còn hạp với đời sống mỗi cá nhân. Nó bóp nghẹt con người đến chết, như đã chết ngộp, mấy con thỏ bạch trong quyển tiểu thuyết của con. Chúng ta sẽ chết ngộp trong bầu không khí đầy chất độc của Xã hội ấy, một xã hội chỉ có những tên Nô lệ kỹ thuật, những máy móc và những “Công dân” sống được mà thôi, đúng như con muốn viết trong sách con. Loài người, như thế, sẽ phạm tội nặng và sẽ đắc tội với Chúa Trời.

“Chúng ta đem hết sức lực để hành động chống lại quyền lợi chúng ta và chống lại Chúa Trời. Thật là mức trụy lạc cùng tột chưa từng đạt tới bao giờ của một Xã hội loài người. Và cái Xã hội ấy rồi cũng sẽ bị diệt vong như bao nhiêu xã hội khác đã bị diệt vong suốt thời gian lịch sử, và trước thời kỳ có lịch sử nhân loại nữa.

“Người ta muốn dùng một trật tự luận lý hình thức để cứu vớt cái Xã hội ấy, nhưng chính cái trật tự ấy lại giết chết xã hội đó.

“Tội trạng của Xã hội kỹ thuật Tây phương là cở chỗ đó. Cái Xã hội ấy giết người đang sống, hy sinh họ cho lý thuyết, cho trừu tượng, cho kế hoạch. Đó là một hình thức tân thời của lễ hy sinh cúng người. Giàn lửa và hỏa hình thuở xưa, ngày nay được thay thế bằng văn phòng và bảng thống kê, hai thần tượng của xã hội hiện tại, đang đốt tiêu mòn con người làm vật hy sinh.

“Thí dụ như nền dân chủ ;à một thể thức tổ chức xã hội lương hảo hơn chế độ độc tài, nhưng nó hcỉ tiêu biểu cho khuôn khổ xã hội của đời người mà thôi. Lầm lẫn dân chủ với lẽ sống, là giết chết đời sống con người và thâu giảm đời sống xuống còn một mặt, một khuôn khổ. Đó là lầm lỗi to tát, một lỗi chung cho phe độc tài quốc xã và phe cộng sản.

“Đời sống con người thật có ý nghĩa là khi nào nhận xét và đã sống trong toàn thể, vật chất lẫn tâm hồn. Và muốn thấu đáo ý nghãi sâu xa của lẽ sống, phải dùng một thứ dụng cụ mà ta dùng để hiểu mỹ thuật và tôn giáo: đó là những dụng cụ sáng tạo mỹ thuật, những dụng cụ của mọi sáng tạo. Trong cuộc tìm hiểu ý nghĩa sâu xa của lẽ sống, lý trí chỉ giữ vai phụ thuộc. Toán số, thống kê, luận lý cũng vậy, cũng có giá trị phụ thuộc trong sự thấu hiểu và tổ chức đời sống con người, hoặc trong sự thấu hiểu cuộc hòa nhạc của Beethoven hay của Mozart. Cần phải có tình cảm và tâm hồn cao cả.

“Nhưng Xã hội kỹ thuật Tây phương cứ ngoan cố tìm hiểu nhạc sư Beethoven và họa sư Raphaël bằng những con số toán học. Cái Xã hội ấy cứ ngoan cố tìm hiểu và nâng cao đời sống con người bằng những bảng thống kê.

“Thử đem áp dụng những phương pháp ấy thật là phi lý và bi đát.

“Với phương pháp đó, trong vài trường hợp tốt nhứt, con người có thể đạt đến chỗ tuyệt mỹ về phương diện xã hội. Nhưng chuyện ấy lại không cứu vớt được con người chút nào. Chính đời sống con người sẽ hết tồn tại, khi bị tiết giảm theo khuôn khổ xã hội, theo động tác cơ giới tự động, theo luật lệ của máy móc. Các luật này chẳng bao giờ tạo được một ý nghĩa cho đời người. Và một khi đã truất bỏ ý nghĩa của lẽ sống- cái ý nghĩa duy nhứt, hoàn toàn vô-cố và vượt hẳn luận lý mà đời sống có được- thì lúc ấy, chính đời sống con người rồi cũng mất tiêu luôn. Cái lẽ sống của mỗi người phải hoàn toàn thuộc về cá nhân, thuộc về nội tâm của mỗi người.

“Xã hội kỹ thuật ngày nay đã dứt bỏ từ lâu các chân lý ấy và đã đi sâu vào các con đường khác, với một tốc lực cao độ và tuyệt vọng. Bởi thế nên các dòng sống Rhin, sông Danube, và sông Volga mới cuồn cuộn đầy nước mắt của đám quần chúng nô lệ. Dòng nước mắt ấy cũng sẽ chảy đầy khắp các sông trên châu Âu và trên thế giới, cho đến khi biển cả trùng dương đều tràn ngập nỗi đắng cay thảm khổ của con người, con người trở thành nô lệ cho Kỹ thuật, cho Quốc gia, cho chế độ Văn phòng, chế độ Quan liêu, chế độ Tư bản.

“Sau rốt, Chúa lại đến phải xót thương con người, như Chúa đã từng thương hại nhiều lần. Và, giống chiếc thuyền của ông Noé trên lượn sóng trận đại hồng thủy, vài người thật là người, còn giữ được chân tính, sẽ nổi trôi trên trận vận xoáy nhiễu loạn của đại nạn tai ương tập thể này. Và chính nhờ mấy người ấy mà loài người sẽ được bảo tồn cứu vãn, như đã trải qua bao lần trong lịch sử.

“Tai nạn chỉ qua khỏi cho những người thật là người chân chính, nghĩa là cho cá nhân. Và lần này, chẳng phải cả loại hạng được cứu thoát.

“Không một giáo hội, một quốc gia, một đất nước nào có thể cứu tế được chúng dân của mình, cả đoàn lũ, hoặc từng loại hạng. Chỉ là những người, riêng từng cá nhân, không kể đến tôn giáo, chủng tộc, loại hạng chính trị, hoặc giai cấp xã hội của họ, chỉ mấy người ấy sẽ được cứu tế mà thôi. Và vì thế, chẳng nên xét đoán con người theo loại hạng của họ.

“Loại hạng là một sai lầm dã man quái đản hơn hết, do trí não con người tạo ra. Đừng quên rằng kẻ nghịch ta cũng là người, chớ không phải một loại hạng”.

Thừa lúc mục sư tạm ngừng nói, Traian hỏi giọng lo âu:

– Bây giờ Ba đem cắt nghĩa với con mấy chuyện ấy làm chi? Tốt hơn Ba nên nằm nghỉ cho khỏe.

– Cha sắp làm đây. Cha sẽ nghỉ yên giấc. Nhưng trước khi yên nghỉ, Cha muốn tỏ hết mấy chuyện ấy, mà con đã biết và đã cảm thông như Cha. Và ai cũng đều cảm thông như thế, cho đến cả Moritz nữa. Song Cha thấy khoan khoái nhẹ nhàng được lặp lại, bằng không nói ra trước khi nghỉ, Cha sẽ nằm không yên giấc.

– Tay Ba lạnh!

– Cha đã biết rồi con à! Chắc tại vì một sự lo sợ lạ lùng mà Cha không kềm chế nổi. Một nỗi lo âu mãnh liệt hơn thân xác.

– Con không hiểu Ba muốn nói gì? Ba thấy trong mình không yên sao?

– Không!

Mục sư đau đớn mím môi lại, dường như thân mình ông có luồng điện chạy ngang. Traian cúi nhìn cha. Mặt mục sư vùng sáng lên, với nụ cười nồng nàn, đầy yêu đương. Sau vừng trán ông, dường như có ngọn “đèn rọi” phựt lên.

Traian đã biết là phút cuối cùng, chàng quỳ gối xuống, thổn thức.

Moritz đứng dậy hỏi:

– Tôi nên đi kêu bác sĩ không?

Traian không đáp, cứ siết chặt tay cha, và khóc thảm thiết, một cách tuyệt vọng chưa từng có.

Moritz đã hiểu, nên quỳ xuống bên Traian và làm dấu Thánh giá.

Vài phút sau, Moritz đứng dậy. Tù nhân các lều khác đều đến bao chung quanh mục sư. Moritz lách mình qua đám người, đầu trần, đang đứng lặng yên. Một lát anh trở về, tay cầm cây đèn cầy làm bằng sáp, mót máy trên các hộp sô-cô-la. Anh đốt đèn, cắm trong một hộp thiếc không, và để gần đầu mục sư Koruga.

Bác sĩ trại giam vô lều mục sư Koruga với hai y tá khiêng chiếc cáng.

Traian hỏi:

– Các người muốn gì?

Bác sĩ trả lời:

– Khiêng xác đi. Chúng tôi không được phép để xác trong lều.

– Đem đi đâu?

– Đem ra khỏi trại, nhưng không biết chỗ nào. Chúng tôi phải cho thượng cấp hay để xe Mỹ đến chở đi.

– Dầu sao tôi cũng có quyền biết coi các người chôn cha tôi ở đâu?

Bác sĩ gắt giọng:

– Còn nhiều chuyện mà chúng tôi cũng muốn biết lắm, nhưng vô phương.

Hai y tá đến gần giường, định khiêng xác mục sư để lên cáng. Bác sĩ đưa tay lên cản và nói:

– Để tôi khám nghiệm đã. Biết đâu chừng ông còn sống.

Bác sĩ nắm tay mục sư hồi lâu, rồi áp lỗ tai vào ngực xác chết, đoạn bảo y tá:

– Hai người có thể khiêng đi.

Traian la lớn:

– Không được!

Bác sĩ nói:

– Anh chống lại làm gì? Chúng tôi cũng chỉ là tù nhân như anh, và không thể làm gì hơn là vâng lịnh.

– Tôi muốn biết trước hết, các ông đem xác cha tôi đi đâu? Ít nhứt tôi cũng được quyền hỏi, vì tôi không được phép dự lễ táng cha tôi kia mà! Tôi muốn biết chắc coi người có được chôn theo đạo không? Dầu là tù nhân, tôi cũng có quyền biết đến. Khi thác rồi, cha tôi đâu còn là tù nhân nữa; người phải được kính nể, như mọi người chết mới được!

– Ai nói với anh rằng người chết không được kính nể?

– Không phải tôi nói như thế. Nhưng cha tôi là mục sư Chính thống giáo, nên tôi muốn người được chôn cất theo nghi lễ của Nhà thờ thuộc về đạo của người.

– Anh viết đơn xin phép Bộ Chỉ huy Mỹ đi.

– Ông có bảo đảm rằng ngày mai không quá trễ hay không?

– Tôi không bảo đảm gì hết, vì tôi cũng là tù như anh.

– Vậy thì xác cha tôi phải ở đây. Tôi muốn trước khi lìa người, được biết chắc chắn người sẽ được mai táng theo thể thức đạo Chính thống giáo.

Bác sĩ nói:

– Anh chống lại vô ích.

– Có thể ông có lý, nhưng tôi vẫn chống.

– Chúng tôi phải đem xác đi, vì lịnh cấm để trong trại giam.

– Ông có thể giựt lấy xác, nhưng ông sẽ hối hận.

Hai y tá chụp tay Traian lôi mạnh ra khỏi giường. Xác mục sư được để lên cáng. Traian vùng vẫy trong tay những người nắm cứng anh. Khi cáng khiêng gần anh, anh chỉ thấy được cái trán của cha, vừng trán cao, tinh khiết và sáng như vừng trăng.

Moritz theo sau mấy y tá, đầu trần, tay cầm hộp thiếc đựng đèn cầy còn cháy. Traian nói:

– Đây là một trọng tội mà các người sẽ trả đắt giá. Có nhiều hành động không thể tha thứ được. Bác sĩ, ông đừng quên rằng chính ông cấm tôi đưa xác cha tôi ra tới cửa trại giam nhé!

– Chẳng phải tôi cấm, tôi chỉ tuân kỷ luật.

Viên trưởng trại đứng gần Traian, khuyên:

– Anh nên bình tĩnh. Nếu chúng nghe được, chúng sẽ nhốt anh trong hầm tối.

– “Từ rày về sau, không có gì làm tôi bình tĩnh được nữa. Không có xà-lim, khám đường nào trấn áp được tiếng kêu la của tôi. Kể từ bữa nay, tôi sẽ nhịn đói cho đến chết. Tôi sẽ tuyệt thực giữa hai mươi ngàn người trong trại giam này. Tôi sẽ chết lần mòn, từ phút, từ giờ, để phản đối. Cái chết của tôi sẽ là một tiếng hét căm hờn phản kháng. Nó sẽ đi sâu vào tai, vào mắt, vào da thịt của những người chung quanh tôi, của những người bị nhốt một lượt với tôi, của những kẻ đã giam cầm tôi. Tiếng phản kháng ấy sẽ vang dội khắp bốn phương trời, không ai tránh khỏi nghe nó. Không một ai! Không ai tránh khỏi! Dầu sau khi chết…”

Moritz hỏi Traian:

– Ông thật tình muốn chết sao? Ông không ăn, không uống gì hết?

Bốn ngày qua, từ bữa Traian nhứt định tuyệt thực. Trời nóng, Traian nằm ngửa dưới bóng lều. Đi cũng mệt, đứng nghe nói chuyện cũng mệt, ngó trời cũng mệt, và chính sự hiện diện của thân xác chàng cũng làm chàng mệt nốt.

Còi báo hiệu buổi ăn trưa. Moritz cầm ga-mên của Traian, ráng thuyết phục chàng một lần nữa, nói:

– Ông muốn tôi đem phần ăn của ông về không? Ông có chết thì cũng chính bọn chúng vui mừng. Nhưng muốn chết là tội lỗi lắm.

Traian đáp:

– Nếu anh muốn thì anh cứ lấy phần của tôi chớ tôi không cần gì nữa.

Moritz đi lấy đầy một ga-mên súp đem về. Anh đặt xuống đất, gần Traian, và móc túi lấy muỗng ra lau trên tay. Đoạn anh để ga-mên trên đầu gối. Súp còn nóng. Anh phồng mũi hít hơi súp bay lên. Traian hỏi:

– Sao anh không lấy luôn phần của tôi? Phần của anh, ăn không đủ no. Vả lại, khẩu phần nào cũng không đủ cho ai hết.

– Tôi không ăn phần của ông được. Chúa sẽ phạt tôi. Lúc ông đang đau, tôi ăn phần của ông thì tội tình lắm. Tôi không thể làm được.

Kèm ga-mên giữa hai đầu gối, Moritz ngước mặt lên trời, đang đượm màu u ám, nặng nề, nhìn mây một lát lâu, môi mấp máy, rồi làm dấu thánh giá.

Traian theo dõi từng cử chỉ của anh. Moritz chẫm rãi để cái muỗng trong súp, trịnh trọng như một người đang hành lễ.

Anh múc nửa muỗng súp và nghiêm trang đưa lên môi, như rước lễ thánh. Nuốt xong, anh nghỉ một chặp. Anh cầm muỗng ngay thẳng trên tay, không cục cựa, như muỗng còn đầy.

Mắt anh to và đen ngó chăm chú trong cõi xa xăm, một vật mà chỉ riêng anh thấy, ở một nơi ngoài biên giới chân trời mặt đất.

Moritz múc một muỗng nữa. Không bao giờ anh múc đầy muỗng. Mỗi lần, không bao giờ anh ăn hơn nửa muỗng. Không bao giờ anh ăn dưới nửa muỗng súp. Anh đưa muỗng lên môi cũng một cách chẫm rãi và trịnh trọng như trước.

Moritz ăn cũng như người ta cử hành lễ mi-xa, đều đặn và tiết độ. Ăn, đối với anh, là một cử chỉ thiêng liêng, – lễ thụ dưỡng-, phải giữ đúng theo nguyên thủy tôn nghiêm. Và cũng như mọi cử chỉ căn bản thiêngliêng, ăn không được hấp tấp, phải thận trọng nghiêm trang. Một giọt súp không được dính môi, đổ, hoặc bỏ sót.

Các cử chỉ gần như thiêng liêng của Moritz đang ăn làm tê liệt mọi thuyết hoài nghi và bắt buộc phải im lặng.

Không có vẻ gì đóng kịch, không có gì vô cố, không có gì vô ích. Tới giờ ăn, Moritz đặt mình vào tiết điệu thiên nhiên. Anh tư dưỡng cũng như loài thảo mộc sinh dưỡng, rút nhựa sống trong lòng đất. Toàn thân anh hòa điệu với cử chỉ ấy, không thấy biết gì chung quanh, anh hoàn toàn thuộc về bản ngã anh, hòa mình mật thiết với tạo vật thiên nhiên.

Khi ăn xong, lúc không còn giọt súp nào dính ga-mên, anh ngồi lặng yên một hồi, nhìn quang cảnh trước mắt, quang cảnh chỉ một mình anh thấy. Rồi, với ba ngón tay nhập lại, anh làm dấu thánh giá một lần nữa.

Day qua Traian, anh nói, như vừa tỉnh dậy sau giấc mơ dài:

– Ăn phần của người khác là một tội lớn!

Rồi anh đứng dậy, đi rửa ga-mên.

Traian nằm yên, mắt nhìn xa xăm, nhưng không thấy chân trời. Chàng còn lởn vởn trước mắt hình ảnh Moritz ngồi ăn, cử hành nghi lễ dưỡng sinh, một hành vi tư dưỡng trang nghiêm mà chàng vừa từ bỏ.

Traian nói:

– Tôi từ khước tất cả sự săn sóc thuốc men.

Chiều ngày tuyệt thực thứ tư của Traian. Trung úy Jacobson, chỉ huy trưởng trại giam, được cho hay phái đoàn phóng viên báo chí Mỹ đến viếng các tù binh và trại giam ở Đức, vừa mới tới Stuttgart. Ông ra lịnh cho xã trưởng Schmitdt điều đình với bác sĩ giám đốc đem Traian ra khỏi trại giam một thời gian, đừng cho báo giới hay biết trường hợp của chàng, trường hợp thật là đáng chú ý. Thực vậy, Traian không phải đảng viên Đức Quốc xã. Cha chàng vừa mới chết, lại là mục sư cụt hai chân. Vợ chàng là Do Thái. Bao nhiêu là yếu tố để cho phóng viên báo chí làm rùm lên! Trung úy không muốn bị tai tiếng, vì hễ có loạt bài công kích của báo chí về vụ này, chắc ông sẽ bị kêu về Mỹ lập tức, lúc mà ông đang sưu tầm gần đủ trọn bộ đồ bằng sứ của Đức rất quý giá. Ông mua tất cả bao nhiêu đó với vài bịch thuốc hút và đã vô thùng gởi cất trong hầm vùng chiếm đóng của quân đội Anh. Chỉ còn chở về Mỹ là xong. Nếu ông tìm mua được đủ trọn bộ, bị tản mác nhiều nơi: ở tỉnh, làng và hầm chứa bên Đức, thì ông sẽ đủ sống sung sướng trọn đời, không cần làm gì hết.

Nhưng muốn được như vậy, ông phải ở tại đây, tới chừng nào mua được đủ cả.

Nếu mấy ký giả không đến Stuttgart, thì ắt trung úy không lo sợ vỡ lở. Chuyện của Traian rồi sẽ ém nhẹm đi, ông không nhắc đến trong bản phúc trình. Trong trại giam, bọn tù chết đói hằng bữa, và cái việc phần đông tù nhân chết vì thiếu ăn, và một tên tù chết vì không chịu ăn, có gì là trọng hệ đâu. Nhưng trong hoàn cảnh hiện tại, chuyện xảy ra sẽ làm xáo trộn chương trình trù tính của ông. Ông muốn làm sao tránh cho kỳ được; vì cả triệu bạc bị thiệt trong đó!

Xã trưởng Schmidt, cựu đại tá S.S., và chỉ huy trưởng Sở Cảnh sát thành Weimar, hứa với trung úy Jacobson lo xong vụ này gấp gấp và rất kín nhẹm.

Đã mười giờ đêm. Ông Schmidt đến nói với Traian:

– Bác sĩ thì phải săn sóc bịnh nhân, dầu người bịnh không bằng lòng. Anh bị sốt rét, phải chở đi nhà thương của trại.

Moritz ở gần giường Traian. Anh giựt mình mỗi khi nghe giọng nói của xã trưởng Schmidt. Anh tưởng như nghe tiếng của Iorgu Iordan, cũng y một giọng nói đó.

Traian đáp:

– Tôi không rời khỏi chỗ này. Có phải vì tôi đau đâu, mà vì các người sợ tôi ở đây thì sẽ gây mối ác bình của báo chí, nên mới dời tôi ra khỏi trại đó thôi. Nhưng các người không ém nhẹm được. Mấy người cho rằng tôi chết mau quá hay sao? Cả hai chục ngàn thây ở trại giam này không làm bận lòng các người. Mấy tù nhân khác chết êm thấm hơn. Và khi chết êm thấm như vậy, thì không gây chuyện lôi thôi. Họ không gây rắc rối, vì chết lần mòn và chắc chắn. Tại sao mấy người không chở họ vô nhà thương như tôi vậy?

Hai y tá khiêng bổng Traian để lên cáng, như một món đồ. Moritz nắm chặt hai tay, nghiến răng. Anh muốn binh vực Traian, nhưng thấy thua trước, nên đành chịu. Traian nói:

– Nhơn danh cho thuyết bất chính để làm một việc phải là một trọng tội!

Bác sĩ làm như không nghe, bảo y tá:

– Thôi ta đi!

Hai y tá khiêng cáng ra khỏi lều. Bọn tù đứng dang ra để tránh đường. Không ai ngủ hết, và cả thảy đều im lặng. Giống cảnh im lặng báo hiệu cái chết! Tất cả đều hiểu rằng có việc nghiêm trọng xảy ra. Nhưng không ai biết gọi đúng là việc gì.

Trời sáng trăng. Moritz đi theo sau cáng, đầu cúi xuống, như đưa đám tang. Anh ôm quần áo, giày, mắt kiếng và ống điếu của Traian. nước mắt anh tuôn trào. Nhưng anh trực nhớ người nằm trên cáng, bạn anh, vẫn còn sống.

Tới cửa nhà thương. Moritz bị cấm không được vô. Xã trưởng Schmidt nói:

– Anh không được phép theo chúng tôi vào trong. Lịnh nghiêm nhặt lắm! Không ai được phép nói chuyện với Traian. Và y cũng không được phép gặp người nào. Anh đưa quần áo, đồ vậy của y tôi đem vô cho.

Đêm đó, Moritz một mình đi dọc theo rào kẽm gai, chung quanh nhà thương. Anh không đành lòng rời bỏ Traian.

Traian bị nhốt trong một phòng có sáu giường, nhưng không ai nằm. Họ đã dời mấy bịnh nhân đi, để chàng một mình.

Hai y tá được cắt phiên canh gác.

Traian nằm dài, mặt day vô vách. Môi chàng khô khan như tro bếp. Nhiều cảnh mơ mộng huy hoàng thoáng qua đầu óc chàng, như một phim hình màu.

Mắt tuy nhắm, nhưng vẫn bị chói lòa bởi một ánh sáng chóa gắt như sức sáng của đèn nê-ông. Ánh sáng ấy từ tâm não chiếu ra, một ánh sáng chói làm nóng cháy cả đôi mí mắt. Tư tưởng chàng cũng rực rỡ, đầy màu sắc. Và toàn thân chàng cũng sáng rạng, nhẹ nhàng và nồng cháy như giấc mê sảng của chàng.

Chàng thấy như lơ lửng trên không trung.

“Bây giờ ta mới hiểu tại sao các nhà khổ hạnh, các đạo sĩ nhịn đói. Khi ta đói, ta tách lìa mặt đất dễ dàng hơn. Ta thấy Thượng đế gần ta hơn, và hình như trán ta đụng trời”.

Traian ở trong trạng thái thoát trần này một lúc lâu, thình lình nhận thức có người đem đồ ăn đến.

Một y tá để trên ghế, gần giường Traian, một mâm đầy. Traian nằm xây lưng ra, không thấy, nhưng đã biết chắc mâm có những món gì.

Trước hết chàng đoán mùi khoai lang tây chiên bơ. Kế đó mùi cà-phê. Chàng nhận ra các món trên mâm, như đã thấy và nếm rồi. Mũi chàng trở nên thính hơi hơn lúc nào hết. Chàng phân biệt được chắc chắn mùi này của món ăn nào, mùi kia của món ăn khác.

Trên mâm còn có một chén sữa nóng lên hơi, mùi sữa cũng nặc nồng như mùi cà-phê. Lại mùi thịt cũng rất dai dẳng lâu tan. Traian nghe nó nồng gắt như trong bức tranh nhiều màu, một màu đậm nổi rõ bật. Mùi thịt ram bơ còn bắt thèm hơn các món khác. Nó thấm vào mền, vào áo sơ-mi, vào tóc chàng, vào vách tường.

Traian nghe mùi thịt ram già lửa, mùi bơ, sữa, mùi cà-phê, dính sát vào mình như chất thuốc dán. Nó theo hơi thở vào tận buồng phổi và dạ dày. Chàng có cảm giác như đang ăn, hết còn quyết định tuyệt thực nữa. Chàng cố gắng loại mùi đồ ăn ra khỏi không khí chàng thở, nhưng không thể được. Và mùi thơm các thức ăn càng phút càng thấm sâu hơn.

Traian liền phân tích mùi vị ấy một cách sáng suốt, như người ta phân tích bảy màu của ánh sáng với tam lăng kính. Chàng nói thầm:

“Đây là một lối kiểm soát lại năng khiếu khứu giác của mình”.

Rồi trí óc chàng bị lôi cuốn theo công việc ấy, tưởng như mình đã tự kềm chế được, và đang sùng các vật thực làm đối tượng khảo cứu.

Khám phá trước nhứt của chàng là thịt này không phải thịt heo hoặc thịt bò, dẫu là thịt đồ hộp, nghĩa là, đã có trộn nhiều gia vị rồi: chàng nhận ta là loại thịt gia cầm, có lẽ là thịt gà tây. Chàng có ý muốn dòm xem thử coi có trứng không, nhưng liền kềm lại, cứ nằm day mặt vô vách. Chàng đoán tiếp, và nhận ra mùi sữa, hơi khê, chắc do sữa bột khuấy đặc và nấu sôi mau. Trên mâm lại có dĩa mứt. Mùi mứt nhẹ phớt như một màu thật lợt. Nhận ra được mùi mứt, Traian thấy tự hào, sảng khoái tinh thần như mình đã phá giải kỷ lục tối cao, hoặc như đã phát minh một cái gì trọng đại trong phòng thí nghiệm. Một chuyện mà chàng không biết rõ là có bánh mì hay không. Nếu có, chắc là bánh mì trắng làm bằng bột mì ở Mỹ, rây nhuyễn còn chất bột lọc, và bánh đã nguội, hết xốp.

Viên y tá đến gần giường, nói:

– Anh nên ăn liềin đi. Để nguội thì còn mùi-lai gì?

Traian không đáp. Chàng muốn tiếp tục đoán trong mâm có thêm những gì, nhưng không thể được nữa. Chàng đã mất trớn, không còn tập trung trí não, và không thể tìm lại bình tĩnh cần thiết nữa.

Bây giờ thì các mùi pha trộn và nhập lại làm một, như bảy màu của ánh sáng hợp thành một màu trắng. Lời nói của y tá xáo trộn các mùi như hòn đá ném vô hồ nước, đánh tan gợn sóng lăn tăn đều đặn của mặt nước.

Traian buồn bã thấy không được phân tích các mùi đồ ăn nữa để hưởng trọn vẹn nó. Chàng liền ngủ thiếp.

Ngày sau, mâm đồ ăn vẫn còn y nguyên tại chỗ. Traian không màng ngó đến. Mùi vị đã lạt mất. Các món ăn đều giá lạnh như chết rồi.

Traian mệt, không xoay trở trên giường, cũng không mở mắt. Chàng liếm môi nhiều lần và buồn rầu thấy môi đắng chằng và khô khan.

Viên y tá đem một mâm khác lại để gần giường và bưng mâm trước đi. Lần này, có trứng. Mùi nó nặc nồng như màu sặc sỡ trong giấy quảng cáo. Còn có mứt cam, sữa, cà-phê, và bơ nữa. Tất cả các mùi ấy làm thương tổn Traian như những mũi tên ghim vô da thịt chàng.

Traian nhắm híp mắt lại, chứng tỏ chàng đau đớn là dường nào. Chàng lầm thầm cầu nguyện: “Lạy Chúa giúp con được chết gấp. Thật rất khổ sở cho linh hồn khi còn ở trong thân xác mà phải mãi chống lại mối cám dỗ của lòng ham muốn”.

Chàng tự an ủi, cho rằng trong vài ba ngày nữa, xác thịt chàng sẽ chịu thua.

“Trong hai ba ngày nữa ta sẽ chết!”, nghĩ đến đó, chàng nằm ngủ nữa.

Traian ngồi dậy ngó ra cửa sổ. Trời đúng ngọ. Ngoài sân, toàn thể tù nhân đều sắp hàng ba, mình trần truồng. Trọn sân của trại giam chật ních những người trần truồng như nhộng.

Dưới cửa sổ nhà thương, một se “Jeep” có quân lính cầm “ma-trắc” đứng bao quanh. Bọn lính nhai sơ-vinh-gum. Tù nhân lần lượt đến trước mặt bọn chúng. Họ đi khúm núm, vì người trần truồng đi có vẻ sợ sệt lắm. Traian đã biết cảm giác này; chàng cũng đã làm rồi trong cảnh ngộ như thế. Chàng người ghĩ thầm: “Lại có cuộc khám xét nữa? Chúng định kiếm cái gì nữa đây?”.

Mỗi tháng đều có khám xét nhiều lần.

Một ông già đến trước mặt bọn lính. Traian nhìn ra đức Đại chủ giáo thành Varsovie. Ông cao lớn, lưng hơi khòm, và ốm tong teo. Từ xa, có thể đếm được xương sườn ông, một bộ hài cốt bọc da. Râu ông bạc phếu. Trọn sân trại chỉ có một vật trắng phau này. Mắt dòm đến thấy có ánh ngời, một ánh sáng chói rạng dịu dàng. Bọn lính cười rộ khi thấy ông bước đến.

Nhưng Đại chủ giáo làm như không thấy chúng. Ông dòm trời, ngó lướt trên nón kê-pi của chúng. Và hôm ấy vòm trời xanh biếc như nóc tròn nhà thờ Chính thống giáo xứ Byzance.

Quân lính khám xét tay của Đại chủ giáo. Viên thông ngôn bảo:

– Xòe mấy ngón tay ra!

Ông già vảnh bàn tay. Bọn lính xem kỹ từng ngón. Nhưng tù nhân không có cà rá.

– Đưa tay lên!

Ông già đưa tay ra, lúc đầu ngang ngực như ban lễ thánh, rồi sau đưa thang khỏi đầu. Ông không ngó viên thông ngôn, cũng không ngó bọn lính, nhưng bọn chúng lại nhìn ông kỹ lưỡng, để xem có giấu đồ trang sức vàng bạc dưới nách hay không.

Bọn chúng lại xét đến mái tóc xõa sau ót ông. Tóc dài và bạc trắng có thể giấu đồ được. Chúng vạch từng lọn, ban đầu dùng cây ba-ton, sau lấy cây vạch tìm. Chúng xem xét từ trên đỉnh đầu xuống tới ót. Rồi chúng rờ mó đến hàm râu ông để xem coi có giấu cà rá chăng.

Viên thông ngôn bảo:

– Xây lại coi!

Ông già xây lại, đưa lưng cho lính. Viên thông ngôn nói:

– Cúi xuống!

Ông cúi xuống và khom lưng như quỳ trước tượng thánh. Nhưng dường như chưa đủ, viên thông ngôn bảo:

– Dang hai chân ra!

Đại chủ giáo dang hai chân trắng nõn và ốm khẳng kheo. Viên thông ngôn và tên lính cúi xuống dòm tận giữa hai cẳng coi ông già có giấu nhét hoặc cà rá hoặc đồ vàng gì chăng. Một tên lính nói nhỏ chuyện gì với bạn nó.

Ông già vẫn còn đứng khom, dang hai chân và xây lưng.

Viên thông ngôn bảo: “Thôi được rồi, ông đi đi”.

Và bọn lính khám xét người kế.

Đại chủ giáo đi dang ra, bước ngập ngừng. Gió thổi tung tóe râu tóc bạc của ông như ngọn cờ trắng mượt bay phất phới. Traian có cảm tưởng ông Đại chủ giáo không trần truồng như mấy người khác. Chàng ngó theo, cho đến khi ông trở về chỗ trong hàng người trần truồng. Bây giờ, ông như mấy tù khác, song cũng không lẫn lộn với đám đông. Hình như có vật gì phấp phới chung quanh đầu ông, vật gì bắt ta phải dòm ngó. Có thể là màu râu tóc bác phơ của ông. Có thể là phong độ cốt cách của cái đầu ông, một vật gì bắt buộc ta phải nhìn như cung chiêm tượng thánh.

Thình lình Traian giựt mình nói: “Thôi tôi biết rồi!”.

Hai y tá quay lại ngó chàng, nhưng Traian không biết đến họ, mải dòm ra cửa sổ. Chàng nói thầm: “Đầu của Đại chủ giáo có bao một vòng hào quang sáng rỡ. Sau vừng trán ấy, một ánh hào quang mãnh liệt hơn ánh đèn nê-ông hoặc ánh điện quang. Một hào quang vàng chói!”.

Khi đứng vào hàng, Đại chủ giáo ngước mắt dòm phía cửa sổ nhà thương. Hào quang trên đầu ông lại càng chói rạng hơn nữa. Traian nghĩ: “Vòng hào quang không phải chuyện tưởng tượng của mấy họa sĩ vẽ hình các thánh”. Chàng xem xét đến mấy tù nhân khác. Cũng có những đầu khác chiếu hào quang mà chàng không biết hết. Như viện trưởng Viện Đại học thành Vienne, một ký giả ở Berlin, một tổng trưởng Hi-lạp, vị đại sứ Roumanie tại Berlin, mỗi vị đều có vòng hào quang trên đầu. Và nhiều người nữa. Trán mấy vị ấy phát quang nhiều tia sáng rạng ngời như lửa đỏ, hoặc như luồng điện phản chiếu. Nhưng mấy tia hào quang lại đẹp đẽ hơn tất cả các thứ ánh sáng do lửa hoặc điện phát ra. Hào quang tỏa từ vừng trán mấy vị này soi sáng khắp vũ trụ. Chẳng còn màu đen tối nào đè nặng trên quả địa cầu…

Trung úy Jacobson vô phòng Traian bảo bác sĩ và xã trưởng ra ngoài, để ông ở một mình với Traian. Ông hỏi:

– Tại sao anh không muốn ăn? Anh ước muốn gì? Đừng nên lấy trại giam này làm một hội chợ nhé!

Traian đáp:

– Tôi không ăn vì tôi hết biết đói, hết muốn thèm ăn. Tôi buồn mửa, nôn mửa dữ tợn muốn lộn ruột lên, mửa tới mật xanh. Còn Trung úy có nôn mửa không?

Jacobson làm thinh. Ông hối tiếc đã ở một mình với Traian. Chắc tên này điên. Mắt nó đổ hào quang. Ông tự nghĩ thầm: “Nó có thể bóp cổ mình chết?”. Ông liếc nhìn ra cửa, rồi mỉm cười, nói:

– Anh nên bình tĩnh lại, anh bị kích thích quá nhiều. Phải mà, từ sáu ngày rày, anh không có ăn uống chút gì hết!

Traian nói:

– Ông khoan đi, tôi không điên đâu, ông đừng sợ. Câu hỏi của tôi hơi ngu xuẩn thật. Làm sao ông buồn nôn được? Đúng ra, ông không thể nào bị nôn mửa. Nếu ban đầu, cứ việc nhắm mắt và bịt mũi, thì không có sao. Con người tập quen lần với mọi thứ, luôn với sự nôn mửa. Đây chỉ là vấn đề ý chí thôi. Tôi không có nghị lực, nên mới bị nôn đây. Có nhiều người thợ, mỗi ngày ngồi ăn sớm, ăn trưa và ăn chiều, gần miệng cống hoặc cầu xí. Họ đã quen rồi, không thấy gì khó chịu. Chính mắt tôi thấy họ ăn khúc dồi với bánh mì thoa bơ, gần lỗ cầu tiêu mà còn liếm môi. Họ rất vui vẻ, vừa ăn vừa nói đùa với nhau. Mũi có thính hơi đi mấy, rồi cũng quen lần. Quân sĩ Đức thiêu xác tù nhân mấy trại giam, và khi đóng cửa lò thiêu, họ thơ thới đi ăn, không chút nôn dạ. Có nhiều người dồn nệm bằng tóc đàn bà bị giết trong trại giam, rồi chính họ nằm trên nệm đó với tình nhân họ. Chính trên nệm ấy, nệm dồn tóc đàn bà bị giết và bị đốt thiêu ấy, mà vợ họ mang thai, mà họ không chút gì gớm ghiếc, không nôn mửa. Họ coi như thường và còn vui vẻ nữa. Tôi có ở chung khám với một người đàn bà, phòng ngủ của nàng có cái chụp đèn bằng da người. Ánh sáng xuyên qua thành một màu vàng lẳng lơ. Dưới ánh sáng của chụp đèn da người ấy, nàng ăn, uống, khiêu vũ, tình tự, ngã mình trên tay gã đàn ông nghiêng qua ôm nàng, và nàng sung sướng cười như thường. Con người quen lần với sự nôn mửa. Chỉ là vấn đề thói quen và nghị lực. Quân lính Nga sô cưỡng hiếp vô số đàn bà, bà già tám mươi, luân phiên nhau, cả chục tên mỗi người, thế mà chúng nó không ghê tởm; chúng không nôn mửa, vẫn uống rượu “vodka”. Ông thì chẳng khi nào làm chuyện ấy, tôi biết. Các ông không hãm hiếp đàn bà, mà còn cho sô-cô-la, và lo phòng ngừa, mỗi khi ăn nằm với họ. Các ông cũng không làm như dân Đức. Mỗi xứ có phong tục riêng. Nhưng ông cũng vậy, ông không sợ nôn mửa, dầu ông có làm chuyện gì, ông cũng chẳng bị hại, tôi tin chắc như vậy. Ông nên tin tôi, mửa là một sự đau đớn vô ngần. Ông xem tôi đây, khổ sở dường nào. Ruột tôi lộn phèo như cái bao tay, tôi thấy nó lên tới miệng. Mật tôi chạy ngược đường, bao tử tôi đảo lộn, vì nôn mửa. Và tôi thương hại cho con người quá! Hết sức thương hại. Với mấy điều kiện như vậy, làm sao ông muốn cho tôi ăn được? Làm sao tôi ăn biết ngon miệng được trong hoàn cảnh này? Từ rày về sau, tôi hết biết thèm ăn nữa, ông đã rõ tại sao rồi chớ?

Trung úy Jacobson xích lại gần cửa. Ông rất hối hận đã đến đây. Viên xã trưởng và bác sĩ không cho ông hay trước rằng Traian điên. Họ nói bịnh nhân vẫn sáng suốt. Nhưng những lời ông vừa nghe, chứng tỏ ngược lại, hai người đều nói láo. Người bịnh điên thật.

Ông nói với Traian:

– Anh có lý. Trong cảnh này, làm sao anh bắt thèm ăn được!

Traian tiếp lời:

– Ông khoan đi. Tôi ngồi dậy khó nhọc lắm. Ông dòm qua cửa sổ xem giùm coi sự tra xét đã xong chưa?

– Chưa!

Traian lạ lùng thêm, nghĩ thầm: “Làm sao một người, vừa ngó xem cuộc tra xét đang diễn ngoài sân, lại có thể về ngồi bàn ăn liền được, như Trung úy Jacobson vậy?”.

Trời đã trưa.

Traian nói:

– Cuộc khám xét chưa xong. Nó chưa dứt sớm liền. Nó chỉ mới khởi sự. Trước hết, các ông tìm xét vàng trong va-li, trong nhà lều, trong quần áo, trong túi, giày, trong vải lót, trong quần đùi. Bây giờ, các ông tìm vàng trong mồm miệng, dưới nách, háng, nơi khu trôn người ta, tìm kiếm cùng khắp cả. Ai ai cũng phải trần truồng để bị xét. Rồi ngày mai, đến lượt các ông sẽ lột da người để tìm vàng coi có giấu ở dưới hay không? Kế đó, các ông rứt xé từng thớ thịt để tìm vàng, các ông sẽ đập nát từng lóng xương, coi có giấu tiền vàng hay không. Các ông sẽ nặn óc con người, sẽ moi móc trong ruột già ruột non người ta, sẽ cắt xé con người ra, cốt chỉ để tìm vàng. Tiền vàng, cà rá vàng, nhẫn vàng! Các ông còn sẽ đập nát quả tim ra từng mảnh để tìm vàng. Vàng! Vàng! Vàng! Chưa hết đâu! Bây giờ mới là khởi đầu: các ông mới lục xét ở ngoài da. Rồi lớn da sẽ bị lột. Cuộc tra xét lại sẽ tiếp tục.

Trung úy Jacobson không còn ở trong phòng. Traian day mặt vô vách.

Đơn Thỉnh nguyện số 6.- Đề tài: Kinh tế (Đồ vật có giá trị tìm được trong mình tù binh)

Trong cuộc khám xét tù nhân, người ta tịch thâu cà rá, nhẫn cưới, vòng vàng, đồng hồ, viết máy, tiền bạc và tất cả những đồ vật có giá trị khác.

Dầu các cuộc khám xét xó lỹ lưỡng tỉ mỉ tận da non, cũng vẫn chưa hoàn toàn trọn đủ.

Tôi nhận thấy hiện giờ vài tù nhân có chung quanh đầu một vòng sáng, giống hào quang vẽ trên đầu các tượng thánh. Tôi biết các thánh có vìng miện bằng vàng. Vòng trên đầu của tù nhân thì không phải bằng vàng, hoặc bằng một loại kim thuộc quý giá khác. Và nếu phải như thế, thì các vòng ấy, hoặc, – nếu các người muốn- các vòng hào quang ấy, đã bị tịch thu rồi. Nhưng dẫu không có chất kim thuộc quý, giá trị của nó cũng không phải là đồ bỏ.

Tôi không phải là nhà khoa học, nhưng theo tôi nghĩ thì các hào quang ấy phải đáng được một giá trị to tát lắm. Vì nó chỉ kết thành được bởi những phát quang từ Tinh thần Tâm linh của vài tù nhân.

Việc đáng quan tâm là trong Xã hội kỹ thuật Tây phương ngày nay, những hiện tượng đó không có phát sinh. Dường như các hiện tượng ấy chỉ là vật đặc hữu thiên nhiên của Xã hội không văn minh mà thôi. Nhưng chuyện ấy không quan trọng. Một khi các vòng hào quang ấy có giá trị thì không nên để cho tù nhân chiếm giữ. Luật nghiêm cấm các tù nhân có được những đồ vật quý giá!

Tôi nhớ lại, trong dòng lịch sử, loại vòng miện hào quang này có lần bị tịch thu. Bọn xâm lược hung tàn cỡ loại hạng Thành Cát Tư Hãn khi xưa đã biết được giá trị của hào quang tìm thấy trên đầu một số tù nhân, nên đã giựt lấy. Hồi thời đó không có đủ phương tiện giao thông như bây giờ. Thành Cát Tư Hãn muốn có được các hào quang ấy để trong triều đình của hắn mà đừng hư mất hình dạng và ánh sáng, bèn ra lịnh lấy luôn thủ cấp của tù nhân đem về một lượt với hào quang. Những đầu có hào quang của tù nhân Trung Hoa và Ả Rập đều được xỏ xâu buộc vào yên ngựa, và mang về Mông Cổ. Nhưng dọc đường, chắc vì thời tiết và khí hậu đổi thay, nên các vòng hào quang đã mất dạng, và mấy thủ cấp không còn vật trang sức cũng bị vứt bỏ đi. Vả lại, nó khởi sự có mùi sình rồi.

Muốn tránh mất vật quý báu như thế, tốt hơn các người đừng dùng lối chặt đầu tù nhân như Thành Cát Tư Hãn đã làm. Nên để những tù nhân có hào quang vào trong một lò hấp, có không khí điều hòa và một nhiệt độ cố định, rồi gởi về quê hương các người.

Xã hội chúng ta được cái diễm phúc vô song, là nhờ khoa học, có những phương tiện kỹ thuật cần ích gìn giữ được bảo vật, giúp ta tránh khỏi mất đi những bảo vật mà kẻ xâm lược hung bạo khi xưa không giữ được. Nghe đâu có đến nửa triệu hào quang bị mất đi, hồi thời kỳ đó.

Xin nhận nơi đây lòng khâm phục của tôi, như thường lệ- Hoan hỉ!

NGƯỜI CHỨNG

Xã trưởng Schmidt chắp tay sau lưng đi rảo trong phòng Traian. Ông nói:

– Trong năm phút nữa, anh được chở đi bịnh viện. Tại đó, anh sẽ bị bắt buộc ăn uống. Tôi rất tiếc phải làm việc ấy, tôi đã tìm đủ cách để anh ăn. Trung úy Jacobson cũng vậy. Nhưng anh không muốn hiểu chúng tôi, chúng tôi làm việc lợi cho anh, mà anh cứ xây lưng với chúng tôi.

Traian vẫn nằm dài trên giường, xây mặt vô vách.

Xã trưởng giận, nói:

– Anh làm như thế là tỏ ra không muốn thân thiện. Bác sĩ và Trung úy Jacobson mất thì giờ vì chuyện riêng của anh. Chúng tôi còn phải lo cho hai chục ngàn người chớ có phải mất thì giờ cho một mình anh đâu. Chuyện cá nhân phải để ra một bên. Mỗi người chúng ta đều có gia đình, vợ con, chuyện lo buồn. Nếu ai cũng bắt chước anh hết thì rồi sẽ ra sao? Anh ích kỷ quá, anh chẳng bao giờ nghĩ tới đoàn thể. Tôi vì tuân lời khuyên bảo của Trung úy Jacobson là người có đầu óc lãng mạn và dân chủ như các người Mỹ, nên trong mấy ngày này, tôi phải mất ít lắm năm giờ đồng hồ để lo cho một mình anh, làm thiệt hại chung cho hai chục ngàn người trong trại. Thật là điên rồ.

Traian đáp:

– “Ông chẳng có lo cho một tù nhân nào trong trại này hết. Ông chỉ lo cho guồng máy hành chánh, nghĩa là một vật vô tro. Tất cả những người trong trại giam không thể bị lẫn lộn với cái guồng máy ấy, nghĩa là sổ sách, máy đánh chữ, con số tính toán. Ông chỉ lo mấy chuyện sau, chớ có bao giờ ông lo đến hai chục ngàn tù nhân trong trại giam này đâu. Hai chục ngàn người bằng da thịt, máu tim, trí óc. Họ biết đau khổ, tin tưởng, tín ngưỡng, ham muốn, đói khát, thất vọng và mơ ước.

“Ông chẳng có lo cho máu, thịt, là yếu tố cá nhân của họ; ông cũng chẳng lo đến lòng mong mỏi hoặc nỗi thất vọng, là những chuyện thật riêng tư của họ hơn nữa. Ông mải lo cho con số và giấy tờ. Ông chẳng biết đến một người tù. Làm sao ông lại có thể quả quyết rằng ông lo cho hai chục ngàn người, trong lúc ông chẳng lo được cho một người. Thật là buồn cười. Ông với Trung úy Jacobson, các ông chỉ quan tâm đến những điều cương yếu, trừu tượng, chớ không lo nghĩ đến con người. Cho đến tôi, hiện giờ đây, ông quan tâm đến chẳng phải vì tôi là con người. Đối với ông, tôi chỉ là một phân số của con số hai chục ngàn người đó thôi. Và vì vậy mà ông mới nổi giận khi nghĩ đã mất thì giờ vì tôi. Ông cũng chẳng xem tôi là một cá nhân nữa. Cho đến vợ ông cũng vậy, ông không nhận định là một con người, xét riêng ra một mình. Ông chỉ coi vợ ông như một người đàn bà, như một người mẹ của mấy đứa con ông và như một người nội trợ, mà ông không xét theo toàn thể cá nhân. Trong lúc ấy, vợ ông chỉ hữu hiện trong toàn thể mà thôi.

“Và cho đến ông, ông càng không biết ông nữa.

“Ông không biết một người nào hết trên quả địa cầu này, vì nếu ông chỉ biết một người thôi, ông không thấy phí mất thì giờ để lo cho người đó. Ông chỉ biết con người thâu hẹp còn có một mặt, một khuôn khổ. Những hạng ấy không còn phải là con người nữa, cũng giống như những hình khối ba chiều, nếu thâu rút còn một chiều, một mặt, thì hết còn là hình khối nữa”.

Viên y tá cho hay xe chở bịnh nhân đã đến trong sân. Traian nói:

– Tôi muốn từ giã anh bạn Moritz của tôi.

– Anh bị cấm nói chuyện với một người tù nào khác.

Traian xây lưng không thèm nói. Mấy y tá liền quấn anh trong mền và mang anh như gói đồ, ra xe.

Cửa xe có che tấm màn. Traian biết chắc Moritz đứng chực tại cửa nhà thương để xem xe chạy.

Traian mỉm cười và nói với Moritz trong tưởng tượng: “Vĩnh biệt”.

Viên y tá vào báo tin:

– Có hai người Mỹ đưa một tù nhân điên tới.

Bác sĩ giám đốc bịnh viện khám đường thành Karlsrube bước xuống giường, bật đèn điện, và xem đồng hồ. Đã một giờ khuya. Viên y tá đến báo tin, phụ với ông mặc đồ. Bác sĩ ra phòng, mặt quạu quọ.

Tù nhân bị bịnh được chở từng đoàn đến bịnh viện. Ở trại giam, bịnh nhân chờ cho đủ số một trăm mới được chở đi bịnh biện. Dầu những người bịnh nặng cũng phải chờ, có khi ba bốn tuần lễ, tới chừng nào đủ số mới được đem đi. Trong năm nay có hai lần ngoại lệ. Kỳ này là lần thứ ba.

Bác sĩ bước vô phòng, hỏi:

– Điên bịnh gì mà chở tới một mình vào giờ khuya khoắc này vậy?

Viên y tá đáp:

– Chắc bịnh nặng lắm, nhưng tôi chưa thấy. Bịnh nhân còn ngủ trong xe. Nếu hai người Mỹ chịu khó đích thân chở đến vào giờ này thì chắc là bịnh nguy kịch.

Bên ngoài trời lạnh. Bác sĩ vừa ra khỏi giường ngủ ấm áp, gặp lạnh nên tay ông run khi cầm viết ký giấy cho bịnh nhân vô nằm bịnh viện.

Hai người Mỹ lên xe đi. Bác sĩ ra lịnh chở bịnh nhân vào trại nằm, rồi đi ngủ liền, không chịu xem bịnh nhân ngay lập tức, vì trời lạnh quá.

Traian không biết mình ở đâu, cũng không biết xe bị “banh” dọc đường, phải trễ đến nửa đêm. Chàng không hay biết là mấy giờ. Chừng người ta khiêng chàng nằm dài trên cáng băng ngang sân bịnh viện, chàng mới giựt mình mở mắt ra. Lúc ấy thấy trời trong xanh và đầy sao, chàng nói: “Kìa dải Ngân hà”.

Chàng mỉm cười với con đường sáng rạng trên vòm trời. Đoạn nhớ tới lời xã trưởng nói: “Chúng tôi sẽ đưa anh đến bịnh viện; tại đó, anh bị bắt buộc phải ăn uống”, chàng quyết định không chịu uống thuốc men. Chàng nói thầm: “Hễ ta còn tỉnh trí thì ta từ chối không ăn uống!”.

Hai y tá nghe Traian nói “Dải Ngân hà!” bèn cười. Họ để cáng xuống đất, một người lại gần chàng nói mỉa mai: “Chúng ta đã đến dải Ngân hà rồi đây!”.

Traian không thích lời giễu cợt. Rồi chàng cảm thấy người ta bồng chàng để nằm dài trên giường.

Traian dòm chung quanh phòng mình nằm. Nơi trần nhà, một bóng đèn có bao lưới sắt. Cửa sổ cũng bọc song chắc chắn. Phòng có bốn giường. Hai bịnh nhân nằm gần nhau đang nói chuyện. Họ mặc quân phục Đức.

Khi Traian vô phòng, họ cũng không quay đầu lại dòm, cứ tiếp tục nói chuyện. Hai người có vẻ còn trẻ. Người bịnh thứ ba nằm trùm mền. Traian thấy đôi giày to tướng ló ra ngoài. Chàng tự hỏi, sao người bịnh có đôi giày to lại có thể ngủ được vào giờ này.

Gần cửa, một y tá mặc áo choàng trắng ngồi gác. Đầu hắn giống đầu xã trưởng Schmidt. Đầu vuông và to lớn. Đầu bằng cây. Thớ thịt trên mặt không cử động, như chết đơ. Cặp mắt hắn lờ đờ không tinh thần. Đầu của viên y tá chẳng phải cái đầu của người chết, mà là cái đầu của kẻ chẳng bao giờ linh hoạt, kẻ mất tinh thần.

Viên y tá đến gần Traian, véo cằm chàng như đánh một đứa trẻ, và nói:

– Mày muốn nói câu chuyện của mày không?

Traian hất tay hắn ra, không trả lời.

Viên y tá nói:

– Mày không muốn thuật chuyện gì hết à! Vậy mày thuộc về hạng làm thinh!

Hắn tát nhẹ gò má Traian rồi nói tiếp:

– Thôi, cứ nằm chơi một mình, dòm con nhện nơi trần nhà đi, nếu chuyện ấy làm mày thích!

Đoạn, hắn đi lại ngồi trên ghế, gần cửa phòng.

Traian cắn môi hối hận, quên cả mệt nhọc. Lòng phẫn uất quyết chiến đấu xâm chiếm chàng. Chàng lầm thầm: “Chúng nó nhốt tôi trong một nhà thương điên, vì tôi tuyệt thực! Trời ơi! Tôi đã ở trong nhà thương điên! Kế của chúng chẳng phải dở, tôi không ngờ trước được, và không gặp từ trước đến giờ. Cả đến trong những quyển tiểu thuyết diễn tả cách tra khảo trong các khám đườc Nga sô! Cả thảy tù nhân, từ bác sĩ đến giáo sư đại học, tù binh trong trại giam này đều ký giấy chứng nhận tôi điên. Họ muốn chứng nhận rằng sự tuyệt thực của tôi là một hành động điên cuồng. Nhưng ở đời cũng có vài chuyện không kết thúc mau lẹ như thế, và nhất là dễ dàng như vậy đâu. Tôi sẽ tiếp tục tranh đấu…”Traian người nắm chặt hai bàn tay…

Chàng nói: “Bây giờ ta phải cho chúng nó biết rằng ta còn tỉnh trí”.

Traian đi lại gần viên y tá, lảo đảo, tay vịn vào vách tường.

Hắn cười, nói:

– Mày đến thuật chuyện của mày với tao hả? Tao biết rồi thế nào mày cũng đi lại đặng nói chuyện của mày cho tao nghe. Ai vô đây cũng có một chuyện riêng để thuật lại hết. Nhưng bây giờ tao không có thì giờ để nghe mày. Để mai, mốt, bữa kia hoặc một tháng hay một năm nữa không chừng, mày còn thiếu gì thì giờ để thuật chuyện mà!

Viên y tá cầm tờ báo, muốn đọc tiếp. Hắn bảo Traian:

– Giường mày ở cuối phòng, lại đó nằm yên. Đừng nằm giường của người khác, nghe! Mày hiểu không?

Traian nói:

– Tôi muốn hỏi một chuyện.

Viên y tá cau mặt, đáp:

– Tao biết mày muốn hỏi chuyện tao rồi. Nhưng bây giờ tao không rảnh. Về giường nằm đi. Mày phải nghe lời, như đứa trẻ ngoan, nếu không tao cho một trận đòn, với cái roi da này đây!

Hắn kéo hộc tủ lấy roi da đánh ngựa đưa ra cho Traian thấy. Rồi hắn cất lại.

Traian biết có nói cũng vô ích. Không ai nghe mà còn cho là lời của kẻ điên. Chàng trở lại giường, nằm dài.

Traian nằm nhắm mắt, suy nghĩ: “Ở tù, chưa đủ, bây giờ còn phải vô nhà thương điên!”.

Chàng còn muốn dự định một chương trình hành động cho ngày mai, nhưng tự thấy không tính nổi, đành nắm chặt hai tay, ngủ vùi.

– Đứng dậy coi!

Traian giựt mình. Chàng vừa thiu thiu ngủ. Chàng thấy viên y tá đã khiêng chàng hôm qua và nó câu: “Đã đến dải Ngân hà rồi” đang đứng trước mặt. Chàng nhận ra tiếng nó của hắn. Hắn bảo:

– Đưa cho tao tất cả những gì mày có trong túi coi!

Traian đứng dậy, tay run run, thọc vô túi lấy ra cái khăn tay đưa cho viên gác phòng. Rồi móc cái ống điếu trong túi khác, đưa luôn. Trong túi trên có cái tượng nhỏ hình thánh Antoine, chàng lấy ra cầm xem rồi cũng đưa nốt…

Viên y tá nói:

– Không còn món gì trong túi nữa hả?

– Tôi có bấy nhiêu đó thôi.

– Đưa tay lên!

Traian đưa tay lên ngang ngực. Mắt chàng bị mờ, chàng không thể đưa tay lên cao hơn được nữa.

Viên gác phòng bảo:

– Cao thêm chút nữa!

– Tôi không làm được. Tôi nghe đau quá. Tôi choáng váng!

Viên y tá bèn nắm hai tay Traian đưa cao khỏi đầu. Chàng thấy hai bàn tay chàng nặng như viên đá để trên đỉnh sọ mình. Chàng không ngợ tay chàng nặng đến thế, giở không nổi nữa.

Viên y tá lục soát trong túi chàng. Traian có cảm tưởng hai bàn tay lạ ấy không phải mò túi, mà rờ rẫm tận trong da thịt mình.

– “Thôi để tay xuống!” Viên y tá vừa nói vừa nắm hai tay của Traian bỏ thòng xuống. Hắn bảo:

– Tháo dây giày ra!

Viên gác phòng nói:

– Thôi để nó yên. Xem nó vàng như nghệ rồi đấy!

Traian bị đặt nằm dài trên giường. Hai y tá tháo dây giày, rồi mở quần, rút sợi dây lưng quần đùi. Sau rốt, chúng lột cặp mắt kiếng của chàng cất luôn.

Traian van lơn:

– Đừng lấy mắt kiếng tôi tội nghiệp!

Chàng cận thị rất nặng.

– Bộ mày muốn dùng kiếng cắt gân máu mày sao?

– Tôi không thấy đường, nếu không có cặp kiếng.

– Ở trong này mày không cần xem gì hết!

Viên y tá gói mắt kiếng, khăn tay, ống điếu và tượng thánh của Traian, rồi cầm đi. Đó là tất cả gia tài của chàng trên thế gian này.

Buổi sáng đầu tiên ở nhà thương điên.

– Ngồi dậy ăn đi!

Traian ngó chén cháo đầy do viên gác phòng bưng tới, và nói:

– Vô ích, tôi không ăn!

– Đừng cứng đầu mất thì giờ. Bộ mày tưởng có thể làm theo ý mày được à!

Viên gác phòng để chén cháo dưới đất, gần giường Traian, rồi đi lại giường kế. Traian nói:

– Tôi bãi thực sáu ngày rồi!

– Ở đây, đứa nào cũng nói bãi thực hết, có phải một mình mày đâu!

Viên y tá lại giường người bịnh nằm ngủ trùm mền ló đôi giày đóng đinh to tướng ra ngoài. Hắn tốc mền. Đó là một ông già râu bạc phơ. Ông sợ sệt ngó viên gác phòng, rồi úp mặt vô gối, hỏi:

– “Anh muốn gì?”. Nói rồi, ông lại giấu đầu dưới gối.

Viên y tá bảo:

– Ngồi dậy tía nhỏ! Chúng tôi phải cho ăn mới được.

Hai thanh niên điên cũng đến gần ông già. Họ đứng khít nhau như sợ bị chia rẽ. Viên y tá gọi chúng là hai “bouledogues” (loại chó đầu to, mõm ngắn, rất dữ). Hắn bảo, như ra lịnh với chó:

– Hai “bouledogues” nhảy chụp ổng đi!

Một gã nhảy ôm lưng, xóc nách ông già, gã kia đỡ đầu ông ngước lên và dựng ông ngồi dậy.

Viên y tá mỉm cười, nói:

– Nhè nhẹ vậy, đừng làm gãy xương ổng đa!

Ông già khóc, gục cằm xuống ngực và ngó ghì dưới đất. Viên y tá nói:

– Hả miệng ra, tía nhỏ! Chị vú đem bình bú lại đây nè!

Ông già càng áp sát cằm vào ngực và cắn cứng hàm răng lại.

Viên y tá ra lịnh cho hai gã điên:

– Cạy miệng ổng ra, nhưng nhè nhẹ vậy!

Hai gã quỳ gối trên giường, thọc hai ngón tay vô miệng ông già và vạch hàm ông hả ra.

Viên y tá, một tay nắm bịt hai lỗ mũi, một tay đổ cháo vô miệng ông già.

Bịnh nhân khạc cháo trên ngực hai gã thanh niên, làm chúng cười ầm lên. Viên y tá đổ muỗng cháo thứ nhì vào miệng; lần này, ông già không nhổ ra được. Cháo đến cổ họng, bắt buộc ông phải nuốt, kẻo bị ngộp. Ông không thở bằng mũi được, vì bị viên y tá bóp nghẹt. Ông phều phào:

– Ngộp tôi!

Cách cho ăn tiếp diễn. Ông già thỉnh thoảng la ngộp và vùng vẫy trong tay hai gã điên kềm cứng ông.

Viên y tá nói:

– Rồi cũng xong, tía nhỏ có thấy chưa?

Ông già vàng như nghệ. Traian bịt mắt lại để đừng thấy cảnh tượng ấy.

Viên y tá hỏi:

– Mày sợ phải không? Trong vài phút nữa thì tới phiên mày!

Hai gã “bouledogues” đều hỏi một lượt:

– Chúng tôi cũng cho hắn ăn nữa sao?

– Nếu nó không ngoan ngoãn thì sẽ làm.

Hai “bouledogues” không ngó ông già nữa. Chúng ngó lườm lườm quai hàm và cần cổ Traian.

Traian liền cúi xuống bưng chén cháo húp lia lịa, không cần nhai. Ăn xong, chàng nói:

– Anh có lý. Kẻ nào bị nhốt trong bịnh viện này mà từ chối không ăn là điên. Nếu điên thiệt, thì không thể bãi thực, vì đâu có hiểu biết gì. Còn tôi, tôi không phải điên, nên tôi ăn. Nhưng chưa phải là tôi bỏ cuộc tranh đấu đâu.Traian nghĩ thầm: “Mình phải làm sao để chứng tỏ mình còn tỉnh trí mới được!”.

Traian bị nhức đầu. Đồ ăn vừa nuốt vô còn nặng như chì trong bao tử chàng. Nhưng chàng cũng ráng đứng dậy mỉm cười, đến gần viên y tá, nói:

– Tôi muốn nói chuyện với bác sĩ cai quản sở này.

– Hãy chờ ông đi thăm bịnh. Chừng đó, gặp bác sĩ sẽ nói chuyện.

– Gặp ông ngoài giờ thăm bịnh không được sao?

– Bịnh nhân sở này không được phép gọi bác sĩ, ngoài giờ thăm bịnh!

– Tôi hiểu. Bác sĩ đâu có chịu mất thì giờ với một bịnh nhân điên. Nhưng tôi thề với anh rằng tôi không điên.

– Vậy sao người ta gởi mày tới đây?

– Để tôi không bãi thực nữa! Tôi có nói với anh rồi. Bây giờ tôi đã ăn, thì không còn lý do nào coi tôi như điên nữa. Nếu tôi cự tuyệt không ăn, anh có thể cho cử chỉ tôi là hành vi điên cuồng cuớ không phải vì phản đối. Nhưng bây giờ, chuyện đã rõ ràng!

Traian thấy viên y tá lo đọc báo, không nghe chàng nói và cũng không để ý đdến chàng. Chàng hỏi, giọng run run:

– Dầu đã thấy tôi ăn rồi, anh vẫn còn coi tôi như điên sao?

– Đi ngủ đi, để tao đọc báo.

– Nhưng tôi nói với anh rằng tôi không điên!

– Biết rồi! Thôi đi ngủ đi và nằm êm. Ở đây, phải ngoan mới được. Đứa nào biểu không nghe lời thì bị ăn roi da cho coi!

Suốt buổi sáng, bác sĩ không đến thăm bịnh. Gần trưa, viên y tá dẫn một trong hai gã thanh niên “bouledogue” đi. Độ nửa giờ sau, đem hắn trở về, nằm dài trên cáng, để giữa phòng. Lỗ mũi hắn bị nhét bông gòn, còn run run. Trán hắn tái dợt. Bọt mép màu xanh xanh chảy trào ngoài miệng hắn, giống bọt mép chó điên. Môi hắn run lập cập. Traian hỏi:

– Họ làm gì hắn vậy?

Gã “bouledogue” kia cười nhạo khi thấy thân mình cứng đơ của bạn bị giựt từng chặp. Ngực nhô lên xẹp xuống như ống bễ lò rèn. Các cân nhục ở tay và ở chân run lên như tách khỏi thân mình. Nước da cũng đổi màu, hết còn là màu da người sống. Xương sống cứng đờ, ngay đơ như vật chết. Cho đến cơn giựt từng chặp cũng giống như cơn giựt tự động của búp bê bằng máy cử động. Chỉ có bọt mép xanh dợt trào ra miệng, tuôn xuống ngực và vải bố của cáng khiêng là vật cho biết hắn còn sống thôi.

Traian hỏi lần nữa:

– Họ làm gì hắn vậy?

Viên y tá đáp:

– Có gì đâu. Họ chích thuốc!

– Thuốc gì vậy? Tại sao hắn giãy tê tê như vậy?

– Đừng tọc mạch. Người ta cũng chích cho mày nữa. Tới phiên mày, trễ lắm là ngày mai!

– Ngày mai?

Traian ngó thân hình bịnh nhân đang giãy giụa trên cáng. Viên y tá nói:

– Mày lấy làm lạ hả? Mày không tin sao? Ở đây ai cũng phải chích thuốc hết.

Viên y tá thay bông gòn trong lỗ mũi tên “bouledogue”, rồi véo gò má hắn. Hắn không phản ứng. Viên y tá nói:

– Mày có lấy dao chặt nó ra từng khúc, nó cũng không biết. Đương cơn hành như vậy mà biết gì được. Tụi bây cũng cần phải chích thuốc để cử động gân cốt. Ngó coi gân cốt hắn tập thể thao đẹp quá kìa!

Traian leo lên giường nằm. Cửa mở, chàng giựt mình. Không phải bác sĩ, mà một y tá đến nắm tay gã bouledogue thứ nhì dẫn ra khỏi phòng.

Một lát sau, gã bouledogue ấy được khiêng về, cũng nằm trên cáng, để giữa phòng gần bên bạn hắn. Gã cũng có miếng bông gòn nơi lỗ mũi, có bọt mép trắng và xanh dợt ở miệng, như bọt mép chó điên. Thân mình gã cũng giãy giụa từng cơn.

Rồi ông già cũng bị dẫn đi chích thuốc và khiêng trở về trên cáng, một lát sau.

Traian dòm ba thân người bị thuốc hành giãy giụa một điệu như nhau, mặc dầu họ rất xa lạ nhau.

Chàng hỏi:

– Thuốc gì vậy?

– Thuốc “cardiazol”, chích cho giựt gân, cho kích thích óc não, và cho tan lớp màn tối che mờ trí óc.

Viên y tá nói rồi cười xòa.

Traian ngó một lần nữa ba người nằm dài gần chàng. Thân hình họ bị giựt như tự động, như hình máy cử động. Lỗ mũi họ phồng lên và run chuyển cùng một lúc, một điệu và một cường độ như nhau. Ba bộ ngực cũng nhô lên, xẹp xuống đều đều như ống thụt trong dàn máy.

Sinh lực của họ chỉ còn thâu gồm trong mấy chuyển giựt tự động của gân cốt. Ý chí, bản năng, trí óc đều chết. Có sống chăng là những phản ứng đã khuếch sung chuyển thành chứng động kinh.

Traian có một ảo tượng về đời sống con người trong xã hội kỹ thuật ngày nay. Căn phòng chàng đang ở, mở rộng vô biên đến bao trùm cả Âu châu, cả Tây phương, cả mặt đất. Trong phòng, không những có ba người bị thâu giảm vào sự phản ứng cử động giống như người máy, mà tất cả loài người trên quả địa cầu.

Ảo tượng kinh ngạc, quá đáng, nhưng nó vẫn ám ảnh Traian. Hình như chàng thấy xã trưởng Schmidt đang nhảy múa một điệu quái đản ấy, cùng với Trung úy Jacobson, thống đốc Brown, bác sĩ Abramovici, và tất cả đều đang nhảy theo điệu Jazz, điệu máy móc và điệu phong giựt do mấy mũi thuốc cardiazol kích thích tạo nên. Trọn một xã hội đều giãy giụa vùng vẫy, trong những cơn động kinh phong giựt như nhau.

Traian bịt mắt lại, la lớn lên:

– Tôi không muốn, tôi không muốn!

Bác sĩ nghi ngờ ngó Traian nói:

– Trong phiếu cá nhân anh, không thấy khoản nào nói bãi thực hết. Nếu anh có bãi thực, thì chuyện ấy có ghi vào phiếu. Thay vì tuyệt thực, tôi đọc: “loạn óc, ý muốn tự tử, nổi cơn hung bạo, có ý tưởng bị ngược đãi”. Hết rồi. Chẳng thấy nói gì đến bãi thực cả. Tuyệt thực để phản kháng, là hành vi sáng suốt và có ý thức. Nhưng lại không thấy ghi trong phiếu này. Hai giáo sư đại học chẩn bịnh anh đều lý tên chứng nhận như trên. Hai danh sư Đức! Vậy tôi phải tin ai? Anh hay hai vị giáo sư ấy?

Bác sĩ quả quyết là Traian bịa đặt ra chuyện của anh, từ đầu chí cuối, ông hỏi:

– Anh chắc vợ anh cũng bị bắt không? Riêng tôi, tôi còn không tin anh có vợ nữa! Nhẫn cưới của anh đâu?

– Bị tịch thâu trong một cuộc khám xét tại trại giam rồi!

– Có thể lắm, nhưng tôi không có một chứng cớ nào về chuyện này. Tôi phải căn cứ vào phiếu bịnh trạng của anh mà xét đoán. Anh chẳng nên giận; chừng nào có chứng cớ rõ rệt sẽ hay, hiện giờ tôi bắt buộc phải lập luận khởi đầu như vầy: vợ anh không có bị bắt, có thể anh chưa có vợ, cha anh không chết trong trại giam và anh không bị bắt vô cớ. Còn những chuyện gì của anh thuật, tôi buộc lòng phải loại ra không kể đến.

Traian nghĩ thầm: “Làm sao chứng tỏ mình còn tỉnh trí? Mỗi cử động, mỗi lời nói mà ta đã cho là hợp với lẽ thông thường, nếu đem phân tách, lại trở thành những cử chỉ có vẻ điên rồ. Cũng những lời nói ấy, những câu ấy, những ý kiến ấy theo cuộc sống hằng ngày, thì dường như hợp lý và còn sáng suốt thông minh nữa là khác, mà ở trong nhà thương điên, lại trở thành triệu chứng điên cuồng. Giới hạn của trạng thái tỉnh trí với điên cuồng không thể định rõ. Nhưng phải rán chứng minh là không điên mới được!”. Chàng nói:

– Tôi van lơn bác sĩ, xin bác sĩ cứu giúp tôi với!

– Bằng cách nào?

– Tin lời của tôi!

– Chuyện ấy không tiến ích cho anh bao nhiêu.

– Tôi không yêu cầu ông nói với tôi là ông tin tôi, nhưng tôi yêu cầu ông tin tôi thật tình mà thôi. Và tôi xin ông khám lại sức khỏa và trí óc tôi một cách xác đáng.

– Lời yêu cầu thứ nhì của anh vô ích. Khám bịnh là sự bắt buộc dĩ nhiên rồi. Còn tin anh thì không thể được. Tôi là nhà khoa học. Tôi chỉ tin những gì tôi nhận thấy. Không bằng cớ, tôi không thể tin được!

– Xin ông tin tôi, theo tư cách tôi là con người!

Bác sĩ gằng từng tiếng:

– Tôi là nhà khoa học. Lương tâm nhà nghề cấm tôi không được tin lời nói suống của ai, mà không có chứng cớ làm bằng.

Traian được khám bịnh kỹ lưỡng, chàng bị chích lấy máu ở gân hai tay; lần thứ nhì, ở đầu các ngón tay, và lần chót, nơi một cánh tay, mà nhiều hơn. Chàng nhẫn nại cho máu. Con người phải hiến máu luôn. Luôn luôn và cùng khắp! Vậy mà còn chưa đủ. Họ còn chích sau đầu chàng, chỗ xương ót, lấy vài giọt nước óc nữa. Chàng kiên nhẫn chịu đau đớn. Chích như vậy đau lắm. Và phải chích lấy nhiều lần. Traian cam chịu. Chàng biết rằng con Người chẳng những hiến máu, mà còn phải cho tủy não. Bằng không, thì quyền sống của chàng không được thừa nhận.

Họ kích thích mấy bộ hạch trong mình chàng. Họ trích lấy tinh dịch để trên miếng kiếng và phân chất dưới ánh đèn. Nước tiểu, nước miếng, nước dịch trong các hạch ruột phèo, đều được xem xét dưới kiếng hiển vi, được vô ống chai, cân, lọc, trong phòng thí nghiệm của khám đường.

Mấy bác sĩ rọi phổi, rọi đầu; trọn bộ xương của Traian đều được quang tuyến Xô-viết soi từng lóng, từng khớp. Họ tìm kiếm vết thương đã gây ra lời kêu tuyệt vọng của con Người đi tìm công lý. Vết thương ở chỗ khác, nhưng mấy bác sĩ cứ tìm tòi mãi tronog khắp châu thân Traian, trong phổi, trong xương, trong óc, trong máu, trong tủy của chàng, Traian cứ để cho họ tìm kiếm. Họ lại xem xét từng cân nhục, từng gân thần kinh để coi cách phản ứng. Đầu gối, bàn tay, dạ dày đều được gõ, nắm bóp, xem qua. Trái tim cũng được nghe tiếng đập. Họ thử bắt chợp từng cử động nhỏ nhặt bất thường của hai lá phổi. Bác sĩ lắng nghe từng bộ mạch nhảy phù trầm trong châu thân.

Traian được cân, đo bề cao, đo vòng ngực, xương cốt, cánh tay, ống cẳng. Họ bảo chàng hả miệng để xem răng, đếm từng cái, gõ coi có hư hỏng hay không. Lưỡi cũng bị khám kỹ lưỡng. Toàn thân Traian bị coi như có vật gì đáng nghi ngờ. Chàng có thể hữu dụng được hay không?

Kế đến lượt bác sĩ chuyên bịnh thần kinh hạch hỏi tra gạn chàng ngày đêm. Mỗi câu trả lời đều được ghi chú kỹ lưỡng. Mấy bác sĩ tìm dấu vết đặc tính của bịnh điên cuồng, cũng như nhà trinh thám theo dấu thủ phạm một án mạng nào trong nhà nạn nhân. Họ gợi Traian kể chuyện hồi nhỏ, nói về cha mẹ, anh em, và những người đàn bà mà chàng quen biết. Traian đã biết tõ nỗi thầm kín tận thâm tâm mình, cái tâm trạng u ẩn của tiềm thức mà bác sĩ muốn tìm hiểu, nên chàng giúp họ hết lòng.

Tâm hồn chàng bị mổ xẻ phân tách khắp chỗ, bị lột trần, mở ra như một cái tủ đầy quần áo dơ cũ. Mấy bác sĩ cứ gí mũi vào, không sợ nôn mửa, để dò xét đánh hơi từng lằn xếp của cuộc đời thầm kín ấy.

Cuộc khám xét đã xong, bác sĩ kết luận:

– Anh rất lành mạnh, chỉ có bịnh thiếu sinh tố, ăn không đủ, và cân dưới mực bình thường mà thôi. Ngoài các bịnh ấy, cả thảy đều tốt, điều hòa, lành mạnh. Vì thiếu ăn mà bị bịnh thiếu máu, các khớp xương sưng và răng nhức. Mạch nhảy không đều do cơ thể suy nhược; vài đốm đen vô hại trên phổi; bịnh phong thấp nhẹ. Nhưng tất cả đều không quan hệ, chỉ là các bịnh thường.

Traian đã mệt đừ như Chúa Jésus trên núi Oliviers. Chàng hỏi:

– Ông có tin là tôi không điên chưa? Bây giờ, ông làm ơn cho tôi ra khỏi nhà thương liền giùm đi.

– Anh phải lưu lại tại phòng y dược, vì anh đang yếu lắm!

– Tôi muốn trở về trại giam liền.

– Chuyện anh đòi không hợp lẽ chút nào!

– Tôi muốn được trở về trại giam, gấp chừng nào hay chừng nấy.

Tuần sau, Traian được trở về trại giam, có đủ giấy tờ chứng nhận chàng không điên và chẳng bao giờ bị điên. Mắt chàng sáng ngời vì hân hoan thắng cuộc, nhưng thân xác chàng lảo đảo như một bóng ma chán nản, khổ đau.

Khi Traian về trại giam, trung úy Jocobson cho gọi lên phòng văn. Traian nói:

– Bắt bớ tự động là một phương pháp, nhưng không làm nên một duyên cớ để bắt bớ được. Muốn bỏ tù một người, muốn coi họ như một tội phạm và muốn giết họ lần mòn bằng mọi cách, cũng phải có một duyên cớ nào chớ. Họ phải được xét nhận là phạm tội mới được. Và tôi có phạm tội gì? Vợ tôi có tội gì? Cha tôi đã can án nào? Moritz đã làm gì? Lúc mà tôi hỏi ông câu ấy một cách tuyệt vọng rất thông thường, sau mười lăm tháng bị tù đày, thì ông coi lời kêu ca của tôi như một cơn điên. Từ khi mà sự khao khát Công lý và Tự do của con người bị cho là điên cuồng, thì con người không còn tồn tại nữa. Dầu con người ấy có thể có một nền văn minh tân tiến nhứt trong lịch sử, nền văn minh đó cũng không giúp đỡ họ được phần nào.

Trung úy Jacobson châm điếu thuốc hút. Bây giờ ông hối hận, ông nói:

– Người Âu châu các anh, đều coi chuyện gì cũng bi đát hết. Tưởng chừng như các anh chỉ biết có bao nhiêu đó thôi!

– Có thể ông nói có lý. Không chừng đó là một tật xấu. Nhưng chứng kiến cảnh bi kịch, nhìn cảnh đau thương quằn quại của con người mà mỉm cười được là một chuyện càng hết sức nghiêm trọng hơn một chuyện nghiêm trọng khôn bì được… Còn hơn một thói xấu xoàng, hoặc một tội nhỏ nữa.

– Tôi có thể giúp ích anh, nhưng không được. Tôi có xin cho anh được thả ra…

– Tôi nhìn nhận rằng ông đã làm hết sức ông. Nhưng chuyện ấy không dùng vào được việc gì. Ông không thể và cũng chẳng bao giờ thành công được. Từ rày về sau, không người nào có thể thành công trong việc giải thoát người khác, hoặc tự giải thoát. Từ nay trở đi, con Người thuộc thiểu số, và tay bị trói buộc, không thể nào giải cứu cho mình hoặc cho người đồng loại. Con người mang xiềng xích của máy móc. Ông cũng có nữa. Xiềng xích của văn phòng kỹ thuật trói buộc tay chân ông. Những gì nền văn minh Tây phương hiện tại có thể hiến cho loài người chúng ta là đôi còng!

– Thôi anh về trại đi. Nằm nghỉ cho khỏe. Tùy thích! Và nhứt là đừng chuyện bậy bạ nữa.

– Tôi chỉ còn làm cái gì mà Xã hội kỹ thuật cho phép con Người làm mà thôi.

– Đấy! Anh trở lại nỗi buồn của anh rồi! Tôi không muốn thấy anh có giọng điệu ấy. Anh hút thuốc chớ?

– Xin vui lòng?

Traian cầm điếu thuốc. Rồi chàng hỏi:

– Ông Trung úy có khi nào cảm tưởng rằng chúng ta là khán giả ương ngạnh còn ở lì trong rạp sau khi vãn hát rồi hay không? Nhưng sự ương ngạnh ấy không ích gì. Rồi khán gỉ cũng bị đuổi ra hết. Tất cả, cho đến người chót. Rạp hát cần phải thông thoáng khí; ghể đẳng xếp lại, để chốc lát khai diễn lớp tuồng mới. Mặt địa cầu cần có thoáng khí. Lịch sử tiếp tục diễn trò. Hôm qua yết bảng tuồng “Đơn Thỉnh nguyện”. “Đơn Thỉnh nguyện” là những tiếng van lơn của con người cầu xin mấy “Công dân Văn phòng” để yên cho họ sống. Nhưng đơn của Người bị xử tử hình xin ân xá lại bị bác bỏ. Vả lại, đơn ấy cũng không được đọc tới. Lớp tuồng này không có kết quả tốt đẹp, vì nó không có đoạn Chung cuộc hạnh phúc. Ngày mai sẽ diễn một tổng kết, nhan là “Vũ khúc cơ khí”, một tuồng không có người đóng kịch. Toàn là người máy, cơ khí và công nhân không có mặt mày. Tôi không còn sống để xem tuồng mới, vì diễn quá trễ. Nhưng ông sẽ có ghế dành riêng cho ông. Song chỉ dành riêng cho những buổi diễn đầu. Ông đi xem đi, và chúc ông được vui thích! Ông nên nhớ, ghế chỉ dành riêng cho ông xem diễn mấy buổi đầu mùa hát thôi nhé!

Traian để điếu thuốc cháy trong dĩa tàn thuốc trên bàn của Trung úy Jacobson và ra khỏi phòng.

Traian gặp Moritz gần cửa trại giam. Anh rất buồn, và khi thấy Traian, anh khóc òa, hỏi:

– Phải ông Traian đó không? Tôi tưởng không thấy được ông nữa.

– Rồi anh có tiếc thương tôi chăng?

Moritz siết tay Traian nói:

– Tôi sẽ hối tiếc tới chết. Tôi không nói được một lời từ giã lúc ông bị chở đi bịnh viện. Không ai cho tôi vô nhà thương thăm ông. Tôi cứ lảng vảng chung quanh hoài. Họ đem ông đi đâu?

– Ở chung với mấy người điên.

Moritz tay che miệng, ngó Traian, nói:

– Trời ơi! Nhà thương điên! Không lý nào?

– Vậy mà thiệt đó! Tôi có đem thuốc về hút đây.

Traian mở khăn tay lấy thuốc vụn ra. Hai bạn ngồi gần nhau, trên nền đất nóng, cạnh cửa trại, vấn thuốc hút. Moritz hỏi:

– Người ta nhốt ông với người điên à? Thương hại ông quá!

Anh chưa hết lạ lùng về chuyện này.

Traian hỏi:

– Anh thích cái ống điếu tôi lắm phải không?

– Có ống điếu thì chắc chắn luôn luôn sẽ có gì để hút. Có thể nhét thuốc nát, thuốc vụn, thuốc tàn không vấn được. Bởi thế, tôi rất tiếc không có ống điếu. Nhứt là ở trong trại giam, không có ống điếu thì bực lắm.

– Tôi cho anh cái ống điếu này đây! Traian đưa ống điếu cho Moritz, cái ống điếu chàng ngậm luôn nơi miệng hơn một năm nay, mặc dầu nhiều khi chẳng có thuốc. Moritz từ chối:

– Không thể được. Ở đây cái ống điếu là một gia tài. Rồi ông lấy gì để hút?

– Tôi sẽ không hút nữa. Điếu này là điếu chót của tôi.

– Bác sĩ cấm ông hút thuốc sao?

– Không phải. Chính tôi không còn muốn hút nữa.

Moritz cầm ống điếu, nhồi thuốc vô, rồi nói:

– Cám ơn ông. Nếu ông hút trở lại thì tôi sẽ trả cho. Ông tin tôi. Tôi chỉ nhận là khi ông bỏ hút.

– Chắc chắn là không hút nữa.

Moritz cười:

– Tôi cũng thường tự hứa bỏ hút, nhưng không giữ được. Không dễ gì bỏ hút đâu!

– Tôi biết lắm. Nhưng lần này, thiệt chớ không phải chơi đâu.

Traian đốt điếu thuốc. Moritz châm ống điếu. Cả hai yên lặng ngồi hút.

Traian lấy cặp mắt kiếng xuống, săm soi, trìu mến lắm. Kiếng gọng đồi mồi. Chàng chú ý nhìn như sắp từ giã nó. Tất cả vật dụng có luôn trong mình, chàng chỉ còn lại đôi kiếng này. Bóp đựng thuốc hút, chiếc nhẫn cưới, ví tiền, viết máy và viết chì đều lần lượt bị tịch thâu hết. Chàng chỉ còn có cặp mắt kiếng mà thôi.

Cây thánh giá nhỏ chàng đeo nơi cổ, chàng đã đặt lên ngực cha, lúc ông chết, để chôn luôn với xác mục sư. Theo đạo Chính thống, mục sư phải được chôn với áo lễ và một tượng thánh trên ngực. Hồi chết, ông còn mặc áo tù binh của Mỹ có hai chữ P.W. ở lưng và tay.

Ông cũng không có áo sơ-mình, vì áo mới giặt, chưa khô. Moritz vừa đem giặt hồi sáng, và lúc ông chết thì bị khiêng đi liền, Traian không kịp lấy mặc cho ông. Nhưng chàng để được dưới áo, nơi ngực ông, cây thánh giá nhỏ chàng đeo nơi cổ. Và cha chàng được chôn với cây thánh giá. Chắc mục sư được thiêu với cây thánh giá đó trong lò thiêu.

Hiện giờ Traian chỉ còn cặp kiếng. Vật sở hữu duy nhứt, ngoài thân xác chàng: chàng chỉ có thân mình với cặp mắt kiếng mà thôi. Đó là vật hữu hình lưu dấu dĩ vãng mà chàng còn giữ được. Chàng ngắm xem nó với chút mến tiếc, buồn rầu. Rồi chàng đưa cho Moritz và hỏi:

– Anh muốn giữ cặp kiếng này không?

– Bộ bây giờ ông thấy rõ, không cần mang kiếng sao?

Moritz cứ cho rằng ai đeo kiếng suốt đời là như bị một tội hành phạt nặng nề, nên anh thành thật vui mừng thấy Traian không cần mắt kiếng nữa.

Traian đáp:

– Không phải, tôi bỏ kiếng thì không thấy đương, song khỏe khoắn hơn. Tôi sẽ không bao giờ đeo kiếng nữa.

– Tôi luôn luôn lấy làm lạ thấy ông mang kiếngtrọn ngày. Ông chỉ lấy xuống lúc ban đêm. Chẳng lúc nào tôi thấy ông không có mang kiếng.

– Nếu may ra anh được thả trước tôi, nhờ anh đem cặp kiếng này cho vợ tôi. Chắc anh không gặp nàng liền, nhưng anh cứ cất trong mình. Không biết chừng nào và chỗ nào anh gặp nàng, có thể về đến Roumanie mới gặp được. Vậy anh ráng gìn giữ cẩn thận, đừng để gãy.

Moritz cầm cặp kiếng săm soi. Anh chắc Traian giấu anh chuyện gì. Việc chàng cho anh ống điếu và gởi cặp kiếng này có ý nghĩa lắm.

Traian nói:

– “Anh đừng sợ. Tôi chỉ muốn anh cất giùm cặp kiếng, vì tôi không mang nữa và tôi cũng không muốn nó lạc vào tay kẻ lạ khác. Nhờ nó mà tôi thấy bao nhiêu chuyện trong đời tôi. Anh hiểu vì sao tôi yêu quý nó không?

“Với đôi kiếng ấy, tôi thấy vợ tôi lần đầu tiên, tôi trông nhìn muôn ngàn gái đẹp, tôi ngắm xem bao nhiêu là tranh ảnh, hội họa, pho tượng điêu khắc, các viện bảo tàng, thành phố, đô thị… Với đôi kiếng ấy, tôi ngó khắp trời, biển, núi non. Với nó, đã bao nhiêu đêm ròng tôi thức đọc hàng trăm quyển sách. Với nó, tôi thấy cha tôi chết, tôi thấy anh và các bạn tôi. Với nó, tôi thấy cơ đồ Âu châu nghiêng đổ, con người chết đói, bị tù rạc giam cầm, bị tra khảo đánh đập và tàn bại chết rũ trong các trại giam.

“Với cặp kiếng này, tôi thấy được các thánh, người hiền, kẻ điên. Với nó, tôi thấy một lục địa tắc thở dưới sức nặng của loài người, của luật lệ, của tín ngưỡng và hy vọng, – tắt thở mà không biết nó đang chết, – vì lục địa ấy bị giam hãm trong các trại giam và các luật lệ kỹ thuật của một xã hội đã trở lại nghiêm khắc dã man.

“Anh Moritz ôi! Đôi kiếng này là đôi mắt của tôi đó! Nhiều lúc tôi lầm lẫn cả hai: cặp mắt với cặp kiếng bất khả phân ly. Với cặp kiếng này tôi đã thấy được tất cả những gì phải thấy cho đến giờ này.

“Kể từ nay, tôi không muốn thấy nữa. Tôi đã chán nản rồi. Màn biểu diễn đã kéo dài quá mức.

“Nếu tôi giữ cặp kiếng này thêm, tôi sẽ chỉ thấy toàn cảnh tàn phá đổ nát, thành phố, loài người, xứ sở, nhà thờ, hy vọng đều sụp đổ cả.

“Chính với cặp kiếng này mà tôi thấy sự đổ vỡ của đời tôi, cảnh đổ vỡ trong các cuộc đổ vỡ. Tôi không phải kẻ thích làm người khác đau khổ, nên tôi không thể trông thấy những cảnh đau khổ điêu tàn. Chỉ thấy toàn cảnh sụp đổ cùng khắp, tôi không thể chịu nổi nữa.

“Trên cảnh hoang tàn ấy, có nhiều người tiêng phuông tiến bước. Đó là các “Công dân” của xã hội đột khởi trên lịch sử này. Họ xây dựng theo một nhịp điệu điên cuồng. Để xây đắp nền văn minh, họ khởi sự từ nhà tù. Dầu thế nào, cũng mặc họ! Riêng tôi, tôi cảm thấy không thể xây dựng xã hội cùng chung với họ. Tôi phải giữa vai trò khán giả trọn đời. Nhưng sống như một khán giả, nghĩa là như một Người Chứng, thì không phải sống. Cái Xã hội kỹ thuật Tây phương chỉ để dành chỗ khán giả cho con người mà thôi.

“Sự mỉa mai chua cay làm sao! Vật dụng độc nhứt mà tôi không bị tịch thâu trong mấy kỳ khám xét là đôi mắt kiếng này. Như vậy chứng tỏ tôi còn được phép giữ lấy cử chỉ khán giả duy nhứt. Lắm lúc, tôi thấy bọn quân lính cũng có lòng nhân, còn để cho tôi cặp mắt kiếng. Nhưng không phải là lòng rộng lượng. Đó là tánh thích làm người khác đau khổ. Vì không những chúng hạn định tôi trong vai trò khán giả mà còn chỉ cho tôi những gì phải nhìn thấy: các trại giam. Tôi không được phép nhìn thấy cảnh gì khác hơn cảnh trại giam, nhà thương điên, khám đường, quân lính, và cả cây số ngàn dây kẽm gai. Vì thế, nên tôi bỏ cặp kiếng.

“Tôi từ bỏ vật duy nhứt mà tôi còn được quyền giữ ở thế gian này. Cặp kiếng như cặp mắt, là một trong những bảo vật kỳ diệu, khôn bì, trên mặt đất. Nhưng với điều kiện phải sống thật sự mới được. Khi con người không còn sự sống nữa, hay chỉ còn vài giọt sinh lực, hoặc tham dự tạm thời một kiếp sống hạn định, thì đôi mắt kiếng trở thành một lối giễu cợt hiểm ác. Anh có khi nào thấy người chết đeo kiếng không?”

– Mà ông đâu có chết, ông Traian?

– Đấy là một hy vọng duy nhứt chúng ta còn giữ được, hy vọng chưa chết. Nhưng hy vọng không thể thay thế cuộc sống. Hy vọng chỉ là ngọn cỏ mọc giữa các nấm mồ!

– Nhưng chúng ta vẫn còn sống đây, ông Traian!

– Chúng ta vẫn tin tưởng và hy vọng còn sống thôi!

Moritz ngó Traian một hồi lâu. Anh nhớ lại Traian mới vừa ra khỏi nhà thương điên. Chính Traian đã nói chuyện lại với anh.

Traian nói:

– Bạn Moritz đừng sợ! Tôi không điên đâu. Nếu anh mà cũng cho tôi điên nữa thì hết kể rồi! Anh cho rằng tôi còn sống, là vì anh không thấy tôi nằm lăn tắt thở, mắt nhắm, tim ngừng đập, thân thể lạnh ngắt, thây xác cứng đờ. Nhưng anh nên biết, có nhiều cái chết mà không có xác. Lục địa chết đâu có để lại thây xác. Nhiều nền văn minh, tôn giáo, quốc gia đã chết mà đâu có thây xác. Con người cũng vậy. Thỉnh thoảng có người chết trước khi thân họ thành thây ma. Anh hiểu tôi không?

Moritz vùng khóc òa.

Traian hỏi:

– Tại sao anh khóc?

– Ông đau rồi, ông Traian à!

– Anh muốn nói tôi nói nhảm nhí và điên cuồng hay sao?

– Không, tôi không muốn nói như vậy, ông Traian à! Làm sao tôi có thể nói như vậy được?

– Anh tưởng tôi điên, nên anh mới khóc. Nhưng anh khóc vô ích anh Moritz à! Tôi không điên đâu. Tôi tỉnh táo hơn lúc nào hết!

– Thật vậy sao, ông Traian?

– Đúng vậy, tôi sáng suốt lắm!

– Tôi không tin ông điên, nhưng tôi nghĩ chắc ông bị nhức đầu, vì không ăn uống nhiều ngày… Và biết đâu lúc ông ở đằng ấy, họ đã đánh khảo ông… Ông xanh quá. Tôi không bao giờ tưởng ông…

Moritz muốn tránh nói tiếng “điên”.

Traian vấn điếu thuốc khác rồi nói một mình: “Những người đau khổ vì nền Văn minh Tây phương sụp đổ sẽ bị sụp đổ và tiêu diệt một lượt với nó. Những người chứng kiến cuộc sụp đổ ấy sẽ đứng ngoài vòng thảm kịch. Họ thuộc về, hoặc nhóm Văn minh Kỹ thuật như Trung úy Jacobson chẳng hạn, đã cho mình là một người điên, hoặc nhóm người cổ lỗ như Moritz, còn tin dị đoan và sống theo bản năng, và cũng cho mình là điên nữa. Họ không cần lo nghĩ đến Âu châu. Moritz, như Jacobson, đã cho là điên, một kẻ đã đến cùng tột mức đau khổ về tinh thần.

Con người duy nhứt biết chàng không phải điên, mà đã đau khổ ê chề đến tột độ, có lẽ là Nora, vợ chàng. Chỉ một mình nàng sẽ vượt khỏi thảm trạng này, vì nàng đã quen với sự đào luyện truyền thống mấy ngàn năm nô lệ và khuất phục. Chủng tộc của nàng đã quen chịu đựng cảnh nô lệ và đau khổ ở Ai Cập, lúc xây dựng Kim tự tháp, cũng đã từng chịu hành hạ về tôn giáo ở Bồ Đào Nha, bị cuộc tàn sát Do thái ở Nga, và trải qua các trại giam diệt chủng bên Đức. Nòi giống của Nora cũng sẽ chịu đựng được nền văn minh kỹ thuật mới này. Và Traian thấy vui mừng cho Nora. Chàng mỉm cười, nói với Moritz:

– Anh đốt ống điếu hút thuốc đi, rồi đem cặp kiếng này vô lều cất. Nên nhớ, lúc đưa cho vợ tôi, anh đừng để kiếng gãy nhé!

– Tôi đi liền đây, ông Traian!

Moritz chập chạp bước đi, hai vai còm, miệng ngậm ống điếu hút từng hơi dài.

Traian có cảm tưởng thấy Moritz chẳng phải đi qua sân trại, mà đi suốt mấy thế kỷ trong lịch sử, cũng với mấy bước lơ đãng ấy, xa lạ với mọi sự vật chung quanh, bàn chân ấn sâu xuống đất, mắt đăm đăm nhìn cảnh vật luôn luôn biến chuyển trên nền trời xanh biếc, nhưng không hề bao giờ tự hỏi tại sao trời xanh dường ấy.

Traian nói lầm thầm: “Moritz và Nora sẽ sống sót sau khi Âu châu bị mất, và cũng sẽ sống được trong cái xã hội kỹ thuật Tây phương này, nhưng không thể sống lâu trong cái xã hội ấy. Không có người nào có thể sống lâu được trong cái xã hội ấy. Có thể hai người sẽ dự kiến được mấy trò biểu diễn đầu tiên. Rồi sau khi các đàn ông khỏe mạnh chót chết hết, thì con người-máy của Phương Đông, Phương Tây, Phương Bắc và Phương Nam sẽ tràn lan ở khắp mặt đất…”

Moritz vừa khuất dạng trong dãy lều thì Traian đứng dậy, quăng điếu thuốc, đi thẳng ra cửa chánh của trại giam. Tù nhân không được phép đi vô sân chỗ lối đi ra cửa chánh. Traian đã biết, nhưng vẫn đi tới xa, bước mạnh dạn, không hấp tấp, không chậm chạp. Giống như bước đi của người đi về nhà, buổi chiều, sau một ngày làm lụng, chắc ý, không nên vội vàng, và cũng không muốn dần dà.

Bọn tù ở trong sân, lối ba bốn ngàn, thấy có người đi vô đường cấm. Họ liền lại gần hàng rào kẽm gai để xem cho rõ. Họ tưởng một viên thơ ký hay một vị bác sĩ, vì chỉ có mấy người này mới được phép vượt qua lối cản ấy.

Bọn tù muốn xem chuyện sắp xảy đến. Trong trại giam không có chút gì xảy ra mà không được hàng ngàn cặp mắt chăm chú, ngó theo, dò xét.

Mỗi ngày, bị bắt buộc nhìn thấy có bấy nhiêu cảnh vật, nên họ thích tìm chuyện mới lạ, dầu nhỏ nhặt, miễn là khác với chuyện thường ngày. Nhu cầu thiết yếu của tâm trí con người là muốn thoát ra khỏi lề lối máy móc thông thường để tìm cái mới lạ, cái đặc biệt khác thường của cuộc đời.

Một tù nhân đi vào con đường cấm là một biến cố đáng chú ý. Tên tù với tư cách là nhân viên trại hoặc bác sĩ, dẫu có được quyền, cũng bị bọn tù khác theo dõi như xem một vai kép trong tuồng, vì anh ta dám làm một chuyện bị nghiêm cấm.

Traian biết bị cả ngàn cặp mắt theo dõi. Chàng cũng biết mấy tên lính canh Ba Lan đứng trong chòi cao vượt trên rào dây kẽm gai, phải ngó theo chàng, và lấy làm lạ, tự hỏi chàng định đi đâu.

Chàng đã biết, nhưng cứ tiến thẳng tới trước, không ngó bọn tù đang chú mục vào chàng, cũng không dòm mấy lính canh trước mặt, trên chòi cao. Bước đi của chàng, chẳng những như bước mạnh dạn xăng xái của người giận dữ quyết đạp đổ tất cả trở ngại, mà còn như bước lanh lẹ dẻo dai của người thích thú ra đi.

Traian không thấy thích thú bước đi, nhưng biết rõ chuyện làm của chàng có một ý nghĩa và thỏa mãn tâm hồn chàng. Vì thế, bước đi của chàng không nặng nhọc, cũng không buồn chán như một điệu cử động đdều đều của máy móc hoặc của người say đắm chạy theo sở thích. Bước đi của Traian không phải bước đi của kẻ cuồng tín.

Chàng bước đi, hai mắt mở to. Chàng không trông rõ vì không có cặp kiếng. Nhưng mắt của tâm trí, của tinh thần chàng đã mở rộng và chàng thấy rõ đường đi của chàng, thấy rõ ý nghĩa, nỗi vui sướng và thảm kịch của con đường này.

Ai hiểu được, sẽ nhận thấy trong bước đi của Traian, trong bước đi trên cát và thẳng đến rào kẽm gai và lính canh, nỗi buồn sâu thẳm, cố nén và thầm kín. Nỗi buồn của kẻ đi xa nhà, xa xứ sở. Nỗi buồn của thủy thủ khi tàu tách bến.

Ai biết xem sẽ đọc được những chuyện ấy trong bước đi của Traian. Những chuyện ấy có ghi trong dấu chân của chàng in trên cát. Nhưng người hiểu được không có ở đây.

Mắt của lính canh và của tù nhân chỉ đơn giản thấy Traian càng lúc càng đi gần tới hàng rào kẹm gai. Đó là điều cấm nhặt. Không một ai được phép đến gần cách dây kẽm gai một thước rưỡi. Nhưng Traian lại đang làm.

Bọn tù che tay lên mắt để xem cho rõ từng cử chỉ của chàng. Có người đưa nắm tay lên miệng hồi hộp chờ xem kết cuộc, như cử chỉ lúc xem một trận banh quyết liệt, một phim chớp bóng cảm kích, hoặc đọc một quyển tiểu thuyết trinh thám.

Lính Ba Lan trên chòi canh không ngờ, tưởng anh nhìn lầm, có lẽ cũng định giơ bàn tay lên miệng. Nhưng tay đã cầm súng. Lúc anh giơ tay lên, thì bá súng cũng lên theo. Lính canh nhớ ra bổn phận mình là phải bắn một tù binh nào đến gần hàng rào cấm. Và anh liền bấm cò.

Tiếng súng nổ. Tên lính Ba Lan sực nhớ lại mình đã phạm lỗi: bắn không nhắm. Khi bắn súng, phải nhắm trước. Luật lệ quy định như vậy, anh đã biết. Tiềm thức của anh cũng biết. Nên, một cách tự động, anh mau lẹ chữa lỗi, và trước khi bắn phát thứ nhì, anh đưa súng lên má và nhắm người ấy, bóp cò.

Traian nghe tiếng nổ thứ nhứt, và tiếp liền, tiếng thứ hai. Chàng thấy một lằn sáng xẹt ngang trước mắt, rồi nghe toàn thân mệt mỏi nóng ran cả người, một thứ mệt mỏi cảm thấy khi mùa đông nằm trong phòng sưởi ấm, uống cốc nước sôi pha rượu với chanh.

Chàng nghe trên tay có nước gì nóng đang chảy, rồi thân chàng lảo đảo, té ập xuống nền đất nóng, cạnh hàng rào kẽm gai. Chàng té không có tiếng động, như cái áo choàng móc trên giá áo, rơi một đống xuống đất.

Traian thấy động lòng thương hại cho thân thể chàng nằm mềm lịm như vậy. Thân này là bạn chí thiết với chàng. Bây giờ mới nhận ra chàng yêu mến nó là dường nào! Chàng nghĩ tới Nora và cha chàng mà chàng cũng thân yêu như cái xác này. Hình ảnh của Nora, của mẹ chàng, của Moritz, ông biện lý Damian và vài người bạn nữa thoáng qua trong trí chàng một lúc, rồi rơi như mấy bức tranh treo trên tường bị nhổ đinh rơi xuống đất.

Mấy tấm tranh có hình ảnh những người thân yêu nhứt của Traian đều rơi xuống đất cùng một lúc với thân xác chàng và chồng chất lẫn nhau.

Tâm trí chàng không thể kềm giữ nó trước mắt. Chàng đã kiệt lực. Vật chót còn đứng vững, thêm một lúc nữa, thẳng ngay, không chịu ngã, là đầu chàng.

Trán chàng còn đưa lên khỏi mặt đất.

Nhưng giây lát sau, rồi trán của Traian cũng nặng lần.

Chàng đặt gò má xuống nền đất nóng như muốn bấu víu một vật gì.

Trí nhớ chàng, như một lá cờ, bao phủ các tranh ảnh thuở xưa và một thân xác, giờ đây mềm nhũn, mà dòng máu vừa chảy hết.

Traian biết phải nói một lời, nhưng không thốt ra. Đó là lời cầu nguyện. Lời cầu nguyện mà chàng ưa thích. Song lời cầu nguyện ấy, cũng như bao sự vật trong đời, đều không được thổ lộ, tuy nó không dài lắm. Nếu chàng còn sống thêm chút nữa, chỉ vài giây thôi, chàng có thể đọc được lời cầu nguyện ấy:

“Hỡi Đất, Đất thân yêu!

“Tôi nguyện hiến mình mãi mãi

“Tôi, một kẻ lạ vô danh, từ phương xa đã đến đây!”

Má và môi chàng dính chặt nền đất nóng trong một cử chỉ âu yếm, thân tình, một cử chỉ hoàn toàn quên mình, nồng nàn yêu đương.

Việc xảy ra rất giản dị trang nghiêm, hoàn vẹn với cách chẫm rãi oai nghi của ngọn đèn đang tắt.

Trong sân trại giam, Moritz muốn la lớn lên, nhưng bụm miệng lại kịp. Anh cúi đầu ngó xuống và làm dấu thánh giá.

Bốn ngày sau khi Traian chết, Moritz được thơ của Suzanna. Thơ như vầy:

“Anh Iani yêu dấu,

“Chắc anh tưởng em đã chết. Chín năm rồi, chúng ta không có tin tức chi với nhau. Nhiều lúc em tự hỏi, hay anh đã chết, và em muốn xin nhà thờ làm lễ cầu nguyện cho anh, như lễ cầu nguyện cho những người chết. Nhưng luôn luôn, đến giờ chót, em đều tránh không làm. Vì lòng em nói cho em biết rằng anh chưa chết. Bây giờ em thấy vui mừng không có làm lễ cầu hồn cho anh, vì làm lễ cầu hồn cho những người chưa chết thì xui lắm.

“Ông Pérusset, trong ban Hồng thập tự Thụy Sĩ cho anh địa chỉ của anh và nói anh bị giam vài năm nay.

“Em liền cám ơn Đấng thiêng liêng che chở cho anh còn sống và cầu nguyện xin Ngài ban phước mở mắt giùm những kẻ giam cầm anh vô cớ. Em biết anh không có làm gì bậy, không trộm cắp, cũng không giết người.

“Em có nhiều chuyện nói với anh. Trong chín năm qua, biết bao chuyện đã xảy ra, nhưng trong bức thơ này, không đủ chỗ để thuật lại hết được.

“Anh sẽ giận em, khi biết hiện giờ em đang ở nước Đức, bỏ nhà cửa đất đai và những gì chúng ta có ở quê nhà, để đem con sống với người xa lạ. Thế nên em thuật chuyện xảy ra như thế nào cho anh rõ.

“Anh ra đi vào ngày thứ nhì sau lễ Pentecôte. Người trong làng cho em hay anh bị lính bồng súng dẫn đi. Em không tin, vì anh đâu có can tội chi nên không có lý gì họ bắt giam và dẫn anh đi, như một tội phạm, lưỡi lê kề bên hông.

“Bốn tuần lễ sau, em nướng một ổ bánh mì và chờ anh. Em biết anh sẽ trở về, đói khát. Khi ổ bánh mốc meo, em cho con ăn rồi làm một ổ khác để anh về có bánh sốt. Em không hiểu tại sao, nhưng lòng em tin chắc anh sẽ trở về, nên em chờ ngày một. Em lo anh về lúc tối, nên không khó cửa, để anh khỏi kêu và khỏi chờ đợi em ra mở cửa. Em biết anh trở về mệt mỏi, đau chân, vì thế em không muốn để anh đứng chờ ngoài cửa. Nhưng anh Iani yêu dấu của em không có trở về. Và em cũng không làm bánh mì cho anh nữa, vì em hết bột, song em vẫn chờ anh hằng bữa.

“Một ngày kia, vào khoảng lễ Pentecôte, viên quản đồn đến nhà cho em hay, anh là Do thái, và y có phận sự tịch thâu nhà cửa mình. Vậy để em có thể còn nhà ở nuôi con, y đưa cho em ký tên một tờ giấy. Tờ li dị. Em ký, mà không li dị với anh và vẫn chờ anh như trước.

“Khi quân Nga đến chiếm đóng, chúng bắn mục sư Koruga với mấy người lương hảo trong làng. Em với mẹ trong đêm đó, đã cứu mục sư bị bắn mà chưa chết, ra khỏi hầm phân sau tòa thị sảnh, định đem giấu trong rừng. Dọc đường, gặp một đoàn xe binh lính Đức, liền đưa cho họ đem mục sư vô nhà thương. Em không biết làm vậy có phải lẽ hay không, nhưng mẹ và em không đành để ông chết được. Ngày sau, mẹ bị Marcou xử bắn vì đã cứu mục sư. Hắn cũng muốn giết em nữa. Nhưng em đã dẫn con trốn khỏi làng. Em đã cực khổ làm lụng nhiều nơi. Em sợ quân Nga bắt được và bắn em, như chúng đã bắn mẹ, nên em chạy được xa chừng nào hay chừng nấy. Nhưng rồi quân Nga cũng bắt được em ở nước Đức sau khi hết giặc. Chúng không bắn em, mà lại xử tốt với em. Chúng cho con bánh mì, kẹo và quần áo. Vì mấy đứa nhỏ không phải dân Đức. Chúng cũng cho em vật thực và quần áo. Bây giờ em hối hận, tại sao bỏ làng Fântâna, trốn quân Nga làm chi?

“Như thế được bốn ngày, em đang bịnh, nên chờ mạnh để trở về nhà.

“Một tối có ai gõ cửa sổ. Đó là quân lính Nga. Chúng tông cửa, vô nhà, lục xét coi có đàn bà nào khác không, rồi bắt em với đứa con gái của chủ nhà, mới mười bốn tuổi, kéo đi. Bọn chúng cho chúng em uống rượu. Chúng móc súng ra, hăm dọa bắn chúng em, nếu không chịu uống. Rồi chúng ra lịnh bảo chúng em lột trần. Các con cũng ở trong phòng. Em nói thà chết chớ không chịu trần truồng trước mặt trẻ nít. Bọn quân lính bèn giựt xé nát áo ngoài và áo sơ-mình của em, rồi cưỡng hiếp chúng em đến sáng. Tất cả bọn lính đều lần lượt thay phiên thi hành thủ đoạn dã man. Đoạn chúng đổ rượu mạnh vô miệng và lỗ tai em vì em đã không chịu uống. Rồi hãm hiếp em nữa.

“Anh Iani, anh thứ lỗi cho em, sao thuật cho anh nghe những chuyện ấy, vì em không muốn giấu giếm anh chuyện gì. Khi em tỉnh dậy, quân Nga mất dạng; các con thì xúm quanh em khóc, như em đã chết rồi.

“Đêm sau, cũng bọn lính cũ trở lại. Chúng bắt đứa con gái của chủ nhà và cưỡng hiếp chúng em nữa.

“Em mới dẫn con trốn dưới hầm để quân lính Nga không thể còn gặp được em. Nhưng đêm thứ ba, chúng bắt gặp em ngạy tại dưới hầm và tái diễn chuyện tồi tệ mấy đêm trước, song em không biết gì cả, vì em đã ngất xỉu lúc chúng nắm lấy em.

“Thảm cảnh kéo dài hai tuần lễ, không sót đêm nào. Em trốn trong vườn, trong nhà người lân cận, trong vựa lúa, nhưng bọn chúng đều tìm em được. Không bữa nào em thoát khỏi. Em nhứt định tự tử, song nhìn lại con thơ, em không đành lòng bỏ chúng không mẹ. Cha chúng nó không có, đã là nhiều rồi. Chúng nó sẽ ra sao, khi bơ vơ, không ai quen thuộc ở đất lạ này? Vì con, em không tự tử, nhưng em đã chết từ lúc ấy. Để lánh xa quân Nga, em chạy trốn về phía tây, tới vùng chiếm đóng của quân Anh, rồi của quân Mỹ mà em ở hiện giờ. Nhưng dọc đường, quân Nga bắt gặp em nhiều lần, và mỗi lần, chúng cưỡng hiếp em trước mặt trẻ con, như chúng đã hành động với tất cả đàn bà chúng bắt được. Trước khi qua được vùng quân Anh, em còn bị quân Nga giữ lại ba ngày ở biên giới; chúng hãm hiếp em ngày và đêm. Lần chót này em có thai. Đã năm tháng nay, em mang con chúng trong bụng.

“Em hỏi anh vậy em phải làm sao? Anh trả lời cho em rõ. Việc đã xảy ra như thế, anh còn nhìn nhận em là vợ anh không, và chừng nào anh mới về với em?

“Em khóc, viết thơ này cho anh, nóng lòng chờ tin tức anh, để biết coi em sẽ làm cách nào”.

SUZANNA

Đọc xong thơ, Moritz nắm chặt mấy tờ giấy, im lặng hồi lâu. Anh nghe văng vẳng tiếng báo hiệu tới giờ ăn, nhưng anh nằm ngửa, không nhúc nhích. Cái nhìn của anh, thân thể anh, cho đến cách anh nằm dài đều thay đổi. Chẳng phải anh Moritz hồi nãy, anh Moritz thường ngày. Một người khác hẳn. Tâm hồn và thể xác anh như bị một luồng điện mạnh chạy qua, anh không chịu đựng nổi, chỉ là đống tro nóng. Anh không còn là Moritz nữa, có ai lấy kim chích, anh cũng không hay biết. Anh tuy sống mà không đói, không khát, cũng không vui, không buồn.

Anh có thể khóc và cười một lượt, vì anh không biết gì và cũng không thấy mình còn sống nữa.

Anh ngồi dậy, ra khỏi lều, bước đi, nhưng không biết là đi đâu.

Anh đến gần hàng rào kẽm gai như thường lệ mà cũng không hay. Nếu anh có đi qua lằn mức cấm và bị bắn như Traian, anh cũng dửng dưng. Song anh không muốn đi lố mức. Và anh cũng không muốn vượt qua. Anh không muốn và anh cũng không mong muốn gì cả.

Một lát sau, có hai lính Mỹ cầm máy ảnh tới gần để muốn chụp ảnh anh.

Moritz không cử động, và không ngó họ. Nhưng chừng thấy người thứ ba, anh giựt mình, kêu nho nhỏ:

– Strul! Sao anh lại đến đây?

Người lính Mỹ dừng lại, cầm máy ảnh ngó anh. Chính là Strul, tên Do thái coi việc lương phạn ở trại giam Roumanie, đã trốn qua Budapest với bác sĩ Abramovici và Moritz. Hai người ngó nhau và nhìn biết nhau.

Khi Moritz kêu Strul lần thứ hai thì gã vội lấy máy ảnh che lên mắt, như để chụp hình Moritz. Rồi đi liền, không trả lời.

Moritz đứng sau hàng rào kẽm gai ngó theo hai tên lính Mỹ với Strul bước lên xe Jeep chạy đi.

Lúc xe khởi chạy, Strul có ngó lại phía Moritz, nhưng ngượng nghịu, liền đưa mắt dòm nơi khác.

Moritz không giận. Nếu ngày khác, chắc anh tức sôi lên vì một người bạn trong gian khổ lại làm mặt lạ với anh.

Nhưng bây giờ, anh đều trối kệ tất cả.

Moritz đứng gần hàng rào, một hồi lâu.

Có người vỗ vai anh, anh không quay lại.

– Anh Moritz vô sửa soạn đi!

Moritz xây lại, tưởng được thả ra, mắt sáng lên, mừng rỡ hỏi viên trưởng trại đã vỗ vai anh:

– Họ thả tôi ra phải không?

– Không đâu, anh bạn à!

– Vậy đi tới một trại giam khác sao?

– Đi Nuremberg!

Moritz lắc đầu, tỏ vẻ không cần. Đã từ lâu, anh biết anh đương nhiên bị coi như một chiến phạm, như tất cả quân sĩ S.S., thì đến Nuremberg để ở chung với các chiến phạm khác, như Thống soái Goering, Rudolf Hess, Rosenberg, Von Papen… là sự thường tình. Có thể anh bị kết án tử hình, bị xử giảo, cũng mặc!

Và anh vẫn đứng ngó ra ngoài kia hàng rào, tận chân trời xa xăm.

Viên trưởng trại đập mạnh vào vai anh và nói:

– Anh sẽ đi trong nửa giờ nữa!

Moritz không nhúc nhích.

Viên trưởng trại bảo:

– Đi gói đồ của anh đi, chỉ còn đủ thì giờ thôi. Đến mười ba giờ, phải sẵn sàng để tập hợp.

– Tôi không có đồ đạc.

– Anh không lấy gì theo hết sao?

– Không!

– Cũng không lấy mền anh nữa à!

– Không cần!

Viên trưởng trại có ý nghĩ, nếu Moritz không lấy mền thì hắn sẽ được hai cái, ngủ ấm hơn, song hắn vội gạt bỏ ý tưởng ấy, nói:

– Anh nên lấy theo cái mền, ở khám đường Tòa án Quốc tế Nuremberg lạnh và ẩm ướt lắm. Anh cần phải có mền mới được.

– Tôi không cần gì hết!

– Thôi, anh đừng trễ nãi. Giờ khởi hành nhứt định đúng một giờ trưa!

Moritz đứng yên một chỗ, mũi giày để ngay trên lằn trắng, chỗ mà tù nhân được phép đi tới đó thôi. Mũi giày cẳng mặt của anh bước tới giữa lằn trắng. Moritz ngó tên lính Ba Lan đứng gác trên tháp canh. Tên lính đã đưa súng lên má, và sắp sửa bắn. Nhưng Moritz không vượt qua lằn mức, cứ đứng đó, lấy mũi giày gí qua gí lại một hồi.

Nửa giờ sau, anh ra đi Nuremberg với mấy chiến phạm khác.

Bức thơ của Suzanna còn để lại trong lều, với tất cả vật dụng của Moritz. Mấy bạn anh muốn đọc, nhưng đành chịu, vì thơ viết bằng chữ roumain, họ không hiểu gì.

Giấy của bức thơ thật mỏng, họ bèn xé ra, chia nhau làm giấy hút thuốc.

Rồi họ ráp lại hút thuốc.

Đơn Thỉnh nguyện số bảy.- Đề tài: Sự công bình. Hình phạt chiến phạm Iohann Moritz (Đơn văn phòng nhận được sau khi NGƯỜI CHỨNG đã chết).

Tòa án Quốc tế Nuremberg đã quyết định, nhân danh năm mươi hai ngàn quốc gia, cho bạn tôi, Iohann Moritz, là tên chiến phạm.

Thật là một việc hay! Từ khi ấn hành bản phán quyết, tôi không đi chơi với anh trong sân nữa. Thật không đẹp mà lại còn bị khinh rẻ nếu làm bạn, đi chơi chung với kẻ chiến phạm.

Song Moritz coi thường bản án của Tòa án Quốc tế Nuremberg, và không hiểu tầm quan trọng của tội ác anh.

Vì thế nên tôi có đơn trạng này.

Moritz quả quyết trong đời anh không giết ai, dầu là một con ruồi, thì không phạm tội được. Vậy là anh lầm to, trong lúc năm mươi hai nước đã chứng nhận ở Tòa án Quốc tế rằng anh là chiến phạm kia mà! Moritz lại còn cho rằng anh không biết năm mươi hai nước này thì làm sao anh can án được đối với các nước ấy. Luận điệu của anh ngớ ngẩn thật. Tôi có đọc tên năm mươi hai quốc gia kết án anh. Có nhiều nước anh mới nghe tên lần thứ nhứt trong đời anh, và cũng không biết các nước ấy có trên mặt đất này. Nhưng chuyện ấy đâu phải là một cớ để chữa lỗi.

Moritz nổi giận lên, khi thấy trong số năm mươi hai quốc gia kết án anh, có nước Pháp và nước Hi Lạp. Anh giận tái xanh và không tin những tội người ta gán cho anh. Anh nói lúc trước anh có biết sau người Pháp và đã cứu họ vượt ngục. Anh có biết một người Hy Lạp bị giam chung một trại giam với anh và anh đã chia sẻ bánh mì với hắn. Ngoài chuyện ấy ra, anh không có giao thiệp gì khác với nước Hy Lạp. Nhưng đây là mấy chuyện riêng tư, cá nhân của anh.

Hai nước ấy đã kết án anh là chiến phạm.

Lời phán quyết đã rõ rệt và xác thực.

Muốn cho Moritz nhìn nhận tội lỗi mình, tôi đề nghị cho anh ở tù một năm trong mỗi nước. Như thế anh sẽ biết tội phạm chiến tranh của anh và không còn thờ ơ nữa.

Nhưng chưa chắc anh sống được thêm năm mươi hai năm nữa, vì anh đã yếu lắm rồi, anh cũng như các chiến phạm khác. Nếu anh chết trước thời hạn, thì những nước chưa giam tù anh sẽ bị thiệt thòi. Tôi đề nghị giảm xuống còn sáu tháng thời gian khổ sai của anh trong mỗi nước. Như vậy, anh phải ở hai mươi sáu năm tù cả thảy.

Nếu sau hai mươi sáu năm ấy mà anh còn sống (và rất đáng tiếc nếu anh chết không trả nợ tù được cho năm mươi hai nước đồng minh), tôi lại đề nghị còng anh dẫn đi châu lưu các khám đường của các nước ấy, mỗi nơi một tháng. Đến hết vòng, anh đi trở lại.

Như thế, nước đồng minh nào cũng có phần mình, không ai bị thiệt thòi.

Và sự công bình được giải quyết. Sự công bình là nền tảng trên đó thiết lập xã hội kỹ thuật Tây phương.

Tuy nhiên, có vài nước như xứ Nga, Ba Lan và Yougoslavie, không săn sóc tù nhân cho chu đáo, có khi còn bỏ quên họ trong khám nữa, tôi đề nghị, trước khi dẫn đi, nên cân Moritz kỹ lưỡng và kê khai rành mạch các bộ phận trong châu thân anh còn nguyên vẹn.

Mỗi xứ lãnh Moritz nơi Tòa án Quốc tế Nuremberg và khi trả anh, cũng phải giao cho Tòa án này, y như trong bản nhận lãnh,- cân đúng số và còn đủ các bộ phận ghi trong bảng kê khai.

Như thế, Moritz sẽ được giữ nguyên vẹn để cho mỗi nước trong năm mươi hai quốc gia đồng minh dùng.

Xã hội kỹ thuật Tây phương có nguyên tác không để một vật gì hư hỏng.

Bổn phận chúng ta phải đòi hỏi các quốc gia kém văn minh hơn, đừng sử dụng vật gì của ta giao phó, như những kẻ dã man.

Sứ mạng của chúng ta là văn minh hóa toàn khắp thế giới! Đó là trách nhiệm của chúng ta. Và chúng ta rất hãnh diện như thế!

NGƯỜI CHỨNG

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 4 Feb 2026

Chương 14

Màng chi một cây kim, một sợi chỉ?

_ “Chưa có lệnh của tôi thì không có ai được di tản đi đâu hết!”

Đó là lời ông Graham Martin nói với ông Jim Eckes.

Mặc dầu đã có chỉ thị như thế của ông Đại sứ Martin, đã có hàng chục đường dây hoạt động tấp nập, do một số quân nhân hay dân chính Hoa Kỳ tổ chức. Một số người ước tính rằng, với lý do là tránh sự hoảng loạn, Đại sứ từ chối không gánh lấy trách nhiệm.

Đứng cạnh các kho của công ty dịch vụ Continental Air Services, ông Eckes nhìn thấy một xe vận tải nhỏ màu đen đang muốn băng ngang qua khu đất của công ty. Nhìn là biết ngay đó là xe của cơ quan CIA. Ông Eckes chận xe này lại. Ngồi ở băng trước là một đại úy Không Quân Mỹ, mạnh dạn nói:

_ “Tôi có giấy phép muốn đi đâu cũng được”.

_ “Nhưng hình như ông đang đi vào nhà kho của tôi.” Ông Eckes nói.

Hai người cãi nhau, ông Eckes lấy tên của đại úy này. Rồi ông theo dõi, thấy xe chạy đến một phi cơ C-130 đậu ở gần một phi đạo. Một số khoảng hai chục phụ nữ, ăn diện đúng cách, cho thấy không thể xuất thân từ Nhà Dòng, nhảy xuống xe và lên hết trên chiếc C-130 đó.

Được báo cho biết sự việc, ông Martin trách vị tùy viên Không quân của ông. Ông này trước thì chối, nhưng người ta đưa ra bằng chứng. Và người tùy viên này được chánh thức cho rời khỏi Việt Nam, theo lời yêu cầu của ông đại sứ.

Ông Alexandre Casella, một công dân Thụy Sĩ, vừa công chức của LHQ vừa nhà báo, là Cố vấn của Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ (UNHCR) ở thủ đô Bắc Việt.

Hà Nội có vẻ yên tĩnh, gần như đìu hiu.

Dù ở trong Nam hay ở ngoài Bắc, Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ vẫn lo giúp dân chúng sống rải rác trở về làng mạc của họ. Họ mua các máy cày của Liên Xô, vải sồ của Trung Quốc và trao hết cho người dân Việt Nam. Họ đã có sẵn một mục tiêu: sẵn sàng giúp đỡ tất cả những người dân tỵ nạn nếu Miền Nam sụp đổ. Ông Casella lo về phân bón, gà và những xe chuyên chở hai bánh loại nhỏ để có thể giúp các nông dân gầy lại sự nghiệp của họ.

Tại Hà Nội, ông Casella thường lui tới với nhân viên của Bộ Ngoại Giao và Bộ Canh Nông, và đại diện của CPLTCHMN. Không ai dự đoán trước được gì cả, nhưng Casella để ý tới một biểu ngữ được dán trên tường ở khắp thủ đô: “nước Việt Nam là lương tâm của nhân loại”. Đây là câu nói của Sartre. Casella không bao giờ gặp được ông Trần đức Thảo ở Hà Nội , ông này là một thầy giáo, một nhà triết học, một hiện tượng của Mác Lê mà các du khách người Pháp muốn gặp lắm nhưng chánh quyền, nhất là Thủ Tuớng đều tìm cách từ chối khéo: “nhà hiền triết hôm nay ốm, hay ông ở quá xa, đường xá bị hư vì lụt ngập không thể đi đến nhà ông được, mà ông này lại không có xe đạp v.v.. các ông sẽ gặp ông ta vào một dịp khác, hay trong chuyến tới….”

Tại khách sạn Thống Nhất, một phóng viên người Liên Xô của tờ Pravda nói với đại diện của Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ:

_ “Các người Việt Nam ở đây điên hết rồi. Họ đang khiêu khích người Hoa Kỳ đó. người Mỹ sẽ trách cứ chúng tôi , họ sẽ đổ lỗi cho chúng tôi là đã xúi dục người Việt Nam!”

Không biết cái ông Liên Xô này muốn dở trò gì đây? thành thật hay đang phản thông tin một cách quá sơ đẳng đây? Không khi chánh trị ở Sài Gòn đang sôi sục. Ông Thủ tướng vừa được chỉ định, không ai có ấn tượng tốt với ông hết. Ông đang bỏ ra 10 ngày để thành lập nội các. Trong 10 ngày đó Miền Nam Việt Namchỉ có Tổng Thống chớ không có Thủ tướng. Trong khoảng trống chánh trị đó, các tay đối lập, những nhà chánh trị già dặn được các trường Pháp đào tạo hoặc mới bị ảnh hưởng của Hoa Kỳ gần đây, sẽ gặp nhau để bàn cãi với nhau về những dự án gần như bất khả thi ngay cả trong thời bình . Họ thành lập ban này ban nọ, mưu tính đủ thứ nhưng không có khả năng lập một hạt nhân cho một liên hiệp. Hãy lấy thử hai chánh trị gia Miền Nam thôi và chúng ta đã thấy là đã có đến 3 ý kiến mâu thuẩn khác với nhau, chống đối nhau công khai rồi! Bây giờ ta hãy lấy 100 người có trách nhiệm ở Miền Bắc, và chánh thức họ chỉ sẽ có một ý kiến, đó là đường lối của đảng!

Đối lập của Tổng Thống Thiệu, dù họ có muốn thành lập một lực lượng thứ ba hay không thì họ cũng là một nhóm người mà Tướng Dương văn Minh là đầu não. Dĩ nhiên là họ thuộc thành phần tư sản hay tiểu tư sản của các đô thị. Vào giờ phút này Miền Nam Việt Nam còn có bao nhiêu đô thị đâu? Sài Gòn và Tây Ninh thì đang bị Bắc Việt uy hiếp, Cần Thơ, và Mỹ Tho… Lực lượng đối lập chỉ thấy có một số nhóm nhỏ không có ảnh hưởng gì nhiều ở các tỉnh. Có một vài đảng mới đang nộp đơn xin thành lập trong những ngày gần đây.

Trong số những người đối lập với Tổng Thống Thiệu, thì những tín đồ công giáo là những người thật sự chống cộng, lại nghi ngờ lực lượng thứ ba. Theo họ nghĩ thì lực lượng thứ ba đang về hùa chơi với cộng sản. Từ lúc Đức Tổng Giám Mục Địa phận Sài Gòn ngỏ ý muốn Tổng Thống Thiệu ra đi, thì tín đồ công giáo có một số ngã về phía đối lập. Nhưng hầu hết các tín đồ Phật Giáo không thích chánh trị đều rất là cẩn thận, chờ…. Các phần tử đối lập hăng say khác thì quy tụ ở chùa Ấn Quang chung quanh thầy Thích Trí Quang. Một vị sư khác, thầy Thích Tâm Châu, trước thì ủng hộ tướng Thiệu, nhưng bây giờ cũng muốn Tổng Thống ra đi. Linh mục Thanh, người lập ra phong trào chống tham nhũng thì lúc nào cũng nặng lời chỉ trích, nhưng ông không ngả theo nhóm Dương văn Minh; Lực lượng thứ ba không làm cho Tổng Thống Thiệu e ngại, nhưng một số thành viên như nghị sĩ Vũ văn Mẫu ít ra cũng làm cho Tổng Thống bực tức.

Dưới nhãn quan của Tổng Thống Thiệu thì nhân vật đối lập nguy hiểm nhứt và có thế lực nhất là cựu Tư Lệnh Không Quân Việt Nam, đã từng là Phó Tổng Thống và Thủ Tướng của Thiệu, là thiếu tướng Không Quân Nguyễn cao Kỳ. Đó mới là một đối thủ quan trọng.

Tướng Kỳ ở ngay căn cứ Tân sơn Nhứt. Nơi đây ông có một biệt thự gần Trung Tâm Hành Quân của Không Quân. Mỗi ngày đều có các phi công đến chơi với ông, uống một ly rượu với ông. Ông ta giữ tất cả liên lạc với các tướng lãnh và chánh trị gia người Bắc, sinh quán ở Bắc Việt . Hình như tướng Kỳ rất dè dặt thận trọng trong ý định đảo chánh. Từ tháng giêng, ông ta hơi khó chịu. Trong lúc Bắc Việt tấn chiếm Ban Mê Thuột thì ông đang ở trong một đồn điền thử nghiệm của ông ở gần đó. Không làm gì hết sau một thời oanh liệt trong quá khứ, ông vẫn có một trực thăng riêng cho mình. Ông đã đến gặp tướng Phú ở Nha Trang, ông đã đi gặp tướng Viên ở Sài Gòn. Sặc sỡ như một tài tử cinê, ông đã nói thẳng với Tổng Tham Mưu Trưởng rằng:

“Giao cho tôi 20 chiến xa M.48, 2 tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến hay Biệt động quân, với sự yểm trợ của pháo binh và Không quân, tôi sẽ đích thân giải tỏa Ban Mê Thuột cho”

Tướng Viên không thể tự mình quyết định được nên điện thoại cho Tổng Thống Thiệu. Ông này gởi lời khen tướng Kỳ và nói thêm là:

_ “Tôi sẽ xem lại việc đó nhưng tôi nghĩ là tôi cần phải bàn lại với các cố vấn của tôi đã “. Một sự hợp tác và một sự đối đầu lẫn nhau về mục đích đã cột hai tướng Thiệu và Kỳ lại với nhau. Tướng Kỳ đã làm việc với tướng Thiệu. Ham hoạt động, can đảm, nhưng đôi khi hơi bướng một chút, (người ta không quên là tướng Kỳ đã có lúc đòi phải có một Hitler cho Việt Nam), tướng Kỳ cũng không tin tưởng người ngoại quốc còn hơn tướng Thiệu nữa, trong lúc người vợ trước của ông là người Pháp. Ông được đào tạo ở Pháp và ở Maroc, nên ông có một tinh thần chống Mỹ giống như kiểu De Gaulle hay cộng sản vậy, và ghét cả người Mỹ lẫn tính kiêu căng phách lối của họ khi họ thật sự hay giả vờ gạt bỏ ý định đem chiến tranh ra đất Bắc của mình.

Đối với các tướng lãnh nổi bật trong Đệ Nhị Thế chiên, tướng Kỳ thích nghe người ta đánh giá ông ta là một người có khả năng nhất về quân sự, và một người khôn lanh nhất về chánh trị. Ông Thiệu có riêng cả một danh sách đủ mọi thành phần trong xã hội Việt Nam. Trước tiên là tên của tướng Kỳ đúng đầu trong đẳng cấp quân nhân. Ông Thiệu tin dị đoan, còn tướng Kỳ thì không.

Tướng Kỳ được cho nghỉ hưu và ông cho như thế là khôn ngoan. Diễn viên không còn có khán giả nữa rồi. Ông không còn mặc bộ đồ lễ trắng sặc sở đã từng chọc cười các ký giả ngoại quốc nữa, nhưng cũng từng lôi cuốn được nhiều cử tri lắm trong các cuộc vận động ứng cử của ông.

Liên hệ gia đình là điều rất cần thiết để gắn bó hai người Việt Nam, nhứt là các sự liên kết chánh trị và quân sự hay sự kết hợp giữa giữa quân nhân và chánh trị gia với nhau thường được thiết lập từ các mối liên hệ của gia đình. Trong hiện tại, những người đang có một vai trò ở Sài Gòn , hay muốn có được một vai trò nào đó, nhất định phải có một sự hợp tác với nhau trong quá khứ, hay trong một toan tính chung lúc nào đó để kết hợp họ lại với nhau, mặc dầu vẫn có sự nghi kỵ hay hiềm khích lẫn nhau. Tướng Thiệu và tướng Kỳ, tướng Khiêm và tướng Đôn, tướng Minh và một số người khác… tất cả đều đã từng hợp tác với nhau trong việc lật đổ ông Diệm 12 năm trước . Những người này vẫn nắm tay nhau . Hồi năm 1963, có đủ thông minh nhưng chưa có đủ hiểu biết, tướng Kỳ được tướng Minh giao cho chức vụ Tư Lệnh Không Quân. Nóng nảy, bực mình vì đang bị đứng ngoài rìa của thời cuộc, đôi khi tướng Kỳ nghĩ rằng các tướng lãnh làm chánh trị nhiều quá. Nhưng trong thâm tâm ông nghĩ rằng làm một cuộc đảo chánh cũng là làm cách mạng đấy.

Vào những ngày đầu tháng 4/75, ông ước tính là muốn có được một cuộc kết hợp chánh trị nào đó, trước hết là phải thắng trận giặc này hay phải ổn định được trận tuyến đã. Nhưng ông chỉ vỏn vẹn có một số vốn: đó là tinh thần chống đối người Mỹ. Trong thời gian gần đây, khi được tin xác nhận là ông Thiệu phải ra đi, thì ông thăm dò anh em quân nhân. Tổng Thống Thiệu biết mà không sao ngăn chặn được . Các sự liên lạc giữa những quân nhân trong cuộc đảo chánh 1963 đều dùng mật ngữ . Tổng Thống Thiệu cảnh giác tướng Kỳ bằng hành động bắt giam một vài người thân cận của ông này trong Không Quân, vài sĩ quan cấp tá và ông Nguyễn thiện Nhơn, dân sự. Ông cũng bắt hay cho theo dõi một vài nhân vật như Huỳnh thành Vị, Chủ Tịch Hội các nhà báo, và cả ông Nguyễn văn Ngân, một cố vấn của Phủ Tổng Thống và đảng viên đảng Dân Chủ của ông. Không có một cuộc nắm lại tình hình nào mà không có sự thanh lọc hàng ngũ, không có sư thanh lọc nào mà không có những sự bắt bớ tù đày. Tại Bộ Nội Vụ, người ta giải thích về những chuyện bắt bớ này rằng:

_ “Có một số phần tử xấu đã lợi dụng tình trạng tranh tối tranh sáng để nhảy ra xúi dục dân chúng, gây mất trật tự ở hậu phương, hỗ trợ cho một mưu toan đảo chánh quân sự để thỏa mãn tham vọng cá nhơn. Các phần tử này đã bị cơ quan an ninh bắt giữ. Cuộc điều tra đang được tiến hành.”

Hơn thế nữa, bản tuyên bố này đã tiết lộ ý định của một cuộc lật đổ chánh quyền . Tướng Kỳ không sao tiến tới theo dự tính của ông được nữa. Các tướng tá bạn bè của ông cũng chạy luôn. Ngoài ra ông cũng ngửi thấy là người Mỹ không ủng hộ việc này. Có quá nhiều nhân viên tình báo khắp nơi, việc gì người ta cũng biết được hết., có tưởng thưởng hay không cũng vậy. Được bộ phận ở Sài Gòn báo cáo, ông William Colby, giám đốc cơ quan CIA ở Hoa Thạnh Đốn đã cho chỉ thị rõ ràng ngày 6 thánh 4:

_ “Cơ quan không muốn thấy ông Thiệu bị lật đổ. Nếu cơ quan CIA dính vào chuyện gây bất ổn cho ông Thiệu, thì đó là một sự thảm hại cho chế độ và cho quốc gia. Tuy nhiên cũng phải đề phòng trường hợp xấu nhất: là Tổng Thống Thiệu bị thanh toán.”

Ông Colby còn cho lịnh:

_ “Nếu tình hình diễn tiến quá phức tạp thì công việc của cơ quan là phải giúp khuyến cáo”. Lời dặn dò và gởi gấm của tôi là nếu có gì xảy ra thì chúng ta phải làm đủ mọi cách để Tổng Thống Thiệu và gia đình ông được đưa đi trong một sự an ninh tuyệt đối.”

Tất cả các Tổng Giám Đốc CIA từ năm 1963 đều bị hình ảnh cái chết của ông Diệm ám ảnh.

Tòa Đại sứ Hoa Kỳ đã bật đèn xanh cho hành động gây bất ổn chánh trị này.

Tình hình hiện nay coi như quá trầm trọng, cho dù Hoa Kỳ có muốn vi phạm phần nào Hiệp Định Paris hay có ý định cố vấn trở lại vấn đề quân sự cho Việt Nam. Những sĩ quan thân cận với tướng Homer Smith đã hăng hái đưa ra những kế hoạch để giúp cho Miền Nam Việt Nam tái tổ chức các đơn vị lại. Một sự tranh luận của năm nào được đem ra bàn cãi lại: người Mỹ muốn phối hợp các quân nhân thiện chiến với tân binh. Họ nghĩ là họ có thể tái võ trang cho 18 tiểu đoàn bộ binh và 3 pháo đội 105 ly từ nay đến 15 tháng 4. Họ in ra những sơ đồ cho ngày 20 tháng 5 và 30 tháng 9. Miền Nam Việt Nam hy vọng thành lập một số tiểu đoàn, trung đoàn, và lữ đoàn hoàn toàn mới. Đại tướng Viên đã trao cho Tùy viên Quân lực Hoa Kỳ một dự án (có tên là KBC 4002) vừa vô vọng vừa không thực tiễn. Trên giấy tờ coi như một sự phát sinh tự nhiên : lữ đoàn 3 Nhảy dù, sư đoàn 22 bộ binh , binh đoàn 7 Biệt Động Quân, các đại đội Quân Cảnh, các tiểu đoàn công binh, và các trạm quân y lưu động. Các nhu cầu được biến thành phương tiện. Tướng Viên bình thản viết : Phải giải thể các đơn vị Nhân Dân Tự Vệ và Địa Phương Quân của Vùng I và Vùng II Chiến Thuật để bù vào quân số đang thiếu của các sư đoàn bộ binh mới thành lập”. Hầu hết các đơn vị này đã bị giải tán từ lâu rồi trong chiến dịch triệt thoái khỏi Kontum và Pleiku và các cuộc tháo chạy từ Huế và Đà Nẳng ! Đơn vị nào chạy thoát được thì cũng đang sống rãi rác quanh Sài Gòn với gia đình họ. Tài liệu KBC 4002 ước định là ở cấp tiểu đoàn công tác tái tổ chức phải “hoàn tất trong hai tuần lễ” Thử hỏi quân số thiếu hụt lấy người ở đâu ra ? “Họ sẽ được thay thế sau, hoặc tự tuyển mộ lấy” Các sĩ quan trong Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận lên những kế hoạch làm như họ sẽ không cần phương tiện chuyển vận mà vẫn tuyển mộ tân binh một cách bình thường, với thời gian đem họ đi vất vào các tiểu đoàn. Bởi vì mặc cho ai đánh tiếng là có thương lượng, là có điều đình, các sư đoàn Bắc Việt vẫn tiếp tục tiến quân dù đôi lúc cũng phải có dừng quân. “Trong khu vực lãnh đạo quân sự của Miền Nam. Việt Nam hình như người ta đang mơ ngũ” phe đối lập với Chánh Phủ thường hay nghĩ như vậy..

Bộ Tổng Tham Mưu phải trả giá quá đắt hai chục năm sai lầm tai hại của họ cũng như của đồng minh Hoa Kỳ . Tướng Viên thường có thói quen chấp nhận những kế hoạch do người Mỹ soạn thảo. Bây giờ thì đã quá muộn để mà thay đổi.

Phải chăng binh sĩ của Miền Nam Việt Nam thiếu cái mà Clausewitz gọi là “đức tính chiến đấu” ? Chắc chắn là không phải như vậy. Từ năm 1960 đến năm 1974 đã có 250.000 binh sĩ Miền Nam tử trận và hầu hết đều không ai bị trúng đạn từ sau lưng. Báo chí quốc tế thường nhấn mạnh đến các chiến thắng của họ hơn là những tật xấu hay những cuộc tháo chạy trước quân thù. Clausewitz gọi đó là “đức tánh chiến đấu”, khác với lòng can đảm và sự hăng say chiến đấu vì lý tưởng của cuộc chiến.. Đúng thế, tánh can trường là một điều cần thiết, nhưng ngay như sự gan dạ đó là một đức tính sẳn có của con người , thì đối với một chiến binh là thành viên của quân đội có thể do vì thói quen và sự tập luyện mà có được , thì tánh can trường này phải hướng người chiến binh vào một hướng đi khác hơn với một người thường, không còn theo bản tánh cá nhơn tự lập hay làm theo ý riêng của mình nữa mà phải có thêm sự phục tùng, trật tự, kỷ luật, và phương pháp hành sự. Còn “hăng say phục vụ cho lý tưởng” chỉ nuôi dưỡng ngọn lửa chiến đấu của một quân đội, nhưng không phải là một yếu tố cần thiết.”

Các bộ đội của Miền Bắc và các binh sĩ của Miền Nam phần lớn đều là nông dân. Nhìn chung thì tinh thần của họ rất khác biệt nhau. Các binh sĩ Miền Nam đều biết đại khái là họ chiến đấu chống ai ? và chống cái gì ? nhưng ít khi được biết chiến đấu cho ai? cho cái gì? Còn cán binh Bắc Việt thì bị nhồi sọ; ngay nếu như tất cả không được biết thế nào là cái tốt cái đẹp của một xã hội xã hội chủ nghĩa , thì ít nhất tất cả đều tin là giải phóng đất nước là một điều cần thiết.

Người cộng sản biết khai thác vấn đề bài ngoại một cách tự nhiên âm thầm, căn cứ trên một chuyện có thực: Phải đánh đuổi bọn quỷ dữ ngoại quốc. Các cán binh Bắc Việt và Việt Cộng đều tin tưởng cấp chỉ huy của họ, bất cứ ở cấp nào cũng vậy, thấp nhất từ dưới chi bộ tam tam chế là phần căn bản của kim tự tháp quân sự cho đến cấp cao nhất trên đỉnh tháp. Còn ở Miền Nam Việt Nam thì không có vậy. Binh sỉ biết rất rõ về sự lạm quyền trong vấn đề thăng thưởng.

Ở Miền Bắc thì các tướng lãnh không bao giờ cho thấy là họ nghi ngờ về đường lối của cuộc chiến hoặc nghi ngờ lẫn nhau. Họ giữ kín sự hiềm khích hay sự ganh đua giữa họ với nhau. Chuyện không bao giờ có ở Miền Nam . Cho tới phủ Tổng Thống – ông Thiệu là tổng tư lệnh – các cuộc bất đồng đụng chạm xảy ra công khai. Từ tháng giêng tới nay, có bao nhiêu binh sĩ đã tự hỏi xem Tổng Thống và Thủ tướng của họ có thỏa thuận được với nhau điều gì chưa? Không nói tới Tổng Tham Mưu trưởng. Khủng khoản ở lãnh đạo cấp cao xem chừng như rất trầm trọng.

Ở Bắc Việt sự chuyên chế hoàn toàn của chế độ là yếu tố tăng cường cho kỷ luật nội bộ.

Từ năm 1965 đến 1973, các tướng tá ở Miền Nam trong tất cả mọi cuộc hành quân từ nhỏ tới lớn, từ việc đi tuần tiểu, đi mở đường, nằm đường, đến các cuộc hành quân tìm và diệt địch, chạm súng , chiều ngang hay chiều sâu, nhảy dù hay trực thăng vận v.v.. tất cả đều có nhu cầu được hỏa lực pháo binh, trực thăng võ trang hay oanh tạc cơ yểm trợ tối đa, nếu không được các pháo đài bay B.52 từ Thái Lan, đảo Guam hay từ Phi luật Tân qua trải thảm trước …. Họ quá tùy thuộc và còn đang tùy thuộc vào hỏa lực yểm trợ của phi pháo và không trợ. Họ không nghĩ là người ta vẫn có thể chiến đấu mà không có một sự yễm trợ nào như vậy hết. Cán binh Bắc Việt vào chiến đấu đâu ở Miền Nam không hề có được một không trợ nào.

Quen theo những cách suy nghĩ, hay không cần suy nghĩ cũng thế, với một thói quen là cứ áp dụng đúng từng chữ những kế hoạch tấn công hay phòng thủ đã được các sĩ quan Hoa Kỳ soạn sẵn – sau khi được dịch ra – nên Bộ Tham Mưu Miền Nam Việt Namkhông có một sáng kiến nào hết. Đó là điều làm người Do Thái ngạc nhiên khi họ đến quan sát Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Tướng Viên nhìn nhận là Bộ Tổng Tham Mưu chỉ có nhiệm vụ tư vấn mà thôi. Người ta có thể nói là các sĩ quan Miền Nam Việt Nam có 2 mặc cảm tự ty, một là đối với người Mỹ, hai là đối với bộ đội Miền Bắc.

Mặc dầu các con số vẫn có đầy đủ trên giấy tờ, tại sao QLVNCH vào năm 1975, cũng như năm hay mười năm trước có thể thiếu hụt quân số tác chiến đến như vậy?

Vào thời điển năm 1975, có thể nào QLVNCH thiếu vũ khí và đạn dược đến mức độ như Tổng Thống Ford, ông Thiệu, ông Viên và những người khác đã đòi hỏi? Cũng như ông Frank Snepp, một số nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ đã không tin như vậy. Sự thật có vẻ hơi phức tạp. Các kho dự trữ rất quan trọng, – bộ đội Bắc Việt lần hồi khám phá ra trên đường tiến quân của họ- nhưng các kho dự trữ này không có gì thích hợp cho cuộc chiến hết. Vào đầu tháng 4 / 75, số lượng cơ phận thay thế (cơ phận rời) cho Thiết giáp và phi cơ thì quá thiếu, trong khi có một trữ lượng vô ích các máy truyền tin rất tối tân và quá đắt. Từ hai năm nay, quân đội bị hạn chế trong việc xử dụng đạn bách kích pháo và pháo binh. Trong các trận đánh lớn hồi năm 1972, pháo binh 105 ly trung bình xử dụng 180 quả đạn trong ngày, và trong 3 tháng nay mỗi ngày chỉ cho phép xử dụng có 10 (mười). Các Bộ chỉ huy đơn vị và các tiểu khu đều muốn giữ chặt đạn dược của họ tồn trử ở các kho nằm rải rác khắp nơi. Sự phân phát rất là tồi tệ và có quá nhiều sự mất mát. Từ tháng giêng 1975, đây đó quân dội thiếu xăng dầu. Nhưng trong tất cả các thành phố, ở các góc đường, người ta đều thấy bọn trẻ bán xăng của quân đội, một loại xăng màu đỏ rất dễ nhận ra ngay để tránh bị ăn cắp và bán ra ngoài. Và ở khắp nơi, người dân còn có thể mua nhiều vật dụng của quân đội như bình điện của quân xa hay của trực thăng, cơ phận thay thế của quân xa, vỏ ruột xe, mền, mùng màu kaki, áo mưa, giày cao cổ đi rừng, quần áo trận, quần lót, giày và có khi cả nón sắt nữa. Tất cả các thứ này đều thất thoát từ các kho của quân đội hay từ sự đồng lõa của các cấp trong quân đội ..

Tướng Trần văn Đôn, Tổng trưởng Quốc Phòng, ước tính là có khoản 1/3 tướng lãnh và sĩ quan cao cấp là còn liêm khiết sạch sẽ, một cách nói khéo để cho thấy là 2/3 kia là có tham nhũng và hối lộ. Linh mục Thanh, người đang cầm đầu chiến dịch chống tham nhũng, đoan chắc rằng đã có sĩ quan nhượng mỗi cây súng trường M.16 cho lực lượng bán quân sự Hòa Hảo ở Miền Tây với giá 20.000 đồng. Ít nhất thì vũ khí này cũng còn nằm trong tay của người quốc gia. Từ năm 1973, đã không thấy có báo cáo là các loại vũ khí nhẹ được bán cho Việt Cộng một cách gián tiếp nữa. Binh sĩ của Miền Nam Việt Nam có một số lương quá thấp không đủ sống. Một binh sĩ chỉ được lãnh có 20.000 đồng /tháng, một tướng 3 sao lãnh 5 lần hơn. Do đó họ thường ngả theo cám dỗ là mưu toan đánh cắp các cơ phận rời để bán lại kiếm thêm tiền. Hình như có cả một hệ thống tổ chức.

Trong tình trạng đó, kỷ luật quân sự và lòng yêu nước chỉ có thể bị giảm đi mà thôi. Đã quá muộn để có thể sửa chửa nếu muốn thay đổi được tình hình, nói cách khác là không thể nào cho các quân xa đã mất chạy được vì tìm không ra xăng dầu!

Những yêu sách của tướng Viên và Bộ Tham Mưu của ông đưa ra xem chừng như rơi vào khoảng không vô vọng.

Đại sứ Martin nghĩ rằng nếu QLVNCH được chấn chỉnh kịp thời thì chẳng những có thể giữ vững chiến tuyến mà còn có thể phản công lại được nữa. Nhưng các sĩ quan Hoa Kỳ của tướng Smith thì tỏ ra rất là bi quan. Đại tá William le Gro, trưởng Phòng Tình Báo, ước tính rằng, nếu Quốc Hội có chấp thuận một ngân khoản viện trợ bổ túc, thì “mọi việc coi như đã quá muộn rồi”. Ông đã trình bày quan điểm của ông với tướng Weyand. Ngay như các pháo đài bay B.52 dù có tái can thiệp thì cũng không làm chậm được sức tiến quân của Bắc Việt. Họ đang tiến trên các trục lộ lớn, băng qua các thôn xã, các thị trấn, và các thành phố. Nếu Không Quân Chiến Lược can thiệp, thì họ sẽ tàn sát hàng chục ngàn dân chúng Miền Nam . Các pháo đài bay B.52 đã trở thành biểu tượng rồi. Các quân nhân Hoa Kỳ và Miền Nam Việt Nam có kinh nghiệm, đều không quên rằng từ lâu rồi các pháo đài bay này không bao giờ thành công trong việc cắt đứt đường mòn Hồ chí Minh để bẻ gãy con đường tiếp vận của Bắc Việt được.

Cũng giống như tướng Thiệu, quân đội Bắc Việt chiến đấu cả trên ba mặt trận quân sự, chánh trị và ngoại giao, nhưng vẫn vững vàng và mạnh mẽ hơn QLVNCH. Chiến lược Hà Nội rất đơn giản : Phải giành chiến thắng quân sự trước khi gió mùa tới và đồng thời phải cho người ta có cảm tưởng là Hà Nội vẫn sẵn sàng đàm phán.

Yếu tố ngoại giao dường như quan trọng hơn yếu tố quân sự . Chủ trương trong chiến dịch “tấn công ngoại giao” thực sự đang tiến hành. Đó là phải đặt CPLTCHMN lên hàng đầu. Mặt trận quân sự thì ở Việt Nam nhưng mặt trận ngoại giao thì ở trên toàn thế giới, trước hết là ở ngay Ba Lê, tại Pháp.

Trong những ngày này, khó có thể khẳng định rằng “lực lượng cách mạng” , trên thực tế gồm toàn các sư đoàn Bắc Việt, là công cụ của “hòa bình”. Do đó, đối với đài truyền hình Pháp và trong nhiều bài phỏng vấn báo chí đã soạn sẳn, Bà Nguyễn thị Bình, ngoại trưởng của CPLTCHMN, đã quả quyết rằng “đối thủ của Sài Gòn (Bắc Việt) hiện đang ở thế ….”phòng ngự”:

– “Nếu bây giờ mà chúng tôi tấn công Miền Nam Việt Nam (sự thật ít khi được chấp nhận), thì chúng tôi bắt buộc phải ở vào thế vi phạm Hiệp Định Paris, đối với Hoa Kỳ và Chánh Phủ của Tổng Thống Thiệu. Chúng tôi chỉ muốn Hoa Kỳ chấm dứt sự can thiệp của họ vào chuyện nội bộ của Miền Nam Việt Nammà thôi.”

Và như thường lệ, bà vẫn đòi hỏi một Chánh Phủ “hòa bình, độc lập và dân chủ” v v …, ở Sài Gòn.

Trong cơ chế dân chủ ở Miền Bắc, người ta áp dụng dân chủ kiểu cộng sản . Ngày 6 tháng 4, “nhân dân” bầu Quốc Hội . Có 529 ứng cử viên cho 499 ghế dân biểu. Gần như chỉ có 2 trường hợp ngoại lệ, còn tất cả các ứng cử viên đều thuộc Mặt Trận Tổ Quốc, nơi tập trung đảng cộng sản, đảng Dân Chủ và đảng Xã hội . Trên lý thuyết thì các ứng cử viên này đều thuộc thành phần trung lưu và trí thức. Phương thức dân chủ dự trù trong Hiệp Định Paris và phương thức “dân chủ tập trung” của Bắc Việt với tính ưu việt tuyệt đối của đảng cộng sản, không bao giờ đi chung với nhau được.

Nhật báo của đảng cộng sản ở Hà Nội đã giải thích tinh thần của cuộc bầu cử đó như sau:

_ “Mỗi người cử tri phải tỏ thái độ tin yêu và tín nhiệm vào sự lãnh đạo của đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa”. Chuyện này không bao giờ làm cho người dân ở Miền Nam Việt Nam nói chung và nhất là dân Sài Gòn nói riêng được yên lòng. Nói cách khác, người dân Miền Nam Việt Nam gắn bó với tự do tôn giáo hơn là tự do chánh trị . Được tờ Chính Nghĩa, một nhật báo “Công Giáo Cấp Tiến” ở Hà Nội phỏng vấn, ông Xuân Thủy, một trong các bí thư của đảng cộng sản đã phát biểu là:

_ “đảng của những người lao động tôn trọng tự do tín ngưỡng”, nhưng lại nói tiếp là : ” “Chúng tôi chống lại sự mê tín dị đoan và những người lợi dụng đạo giáo để làm phương hại đến quyền lợi của dân tộc và của đất nước, làm cản trở sự xây dựng xã hội chủ nghĩa”

Tại Hà Nội, ngày 15 / 3 chi bộ đặc biệt có nhiệm vụ cho tiến hành chiến dịch “tấn công ngoại giao” đã ấn định đường lối như sau: Các vị đại sứ của Bắc Việt và các đại diện của CPLTCHMN phải nói thẳng thừng rằng chương trình nghị sự bây giờ là một Chánh Phủ Liên Hiệp . Họ phải cho biết luôn là Chánh Phủ Liên Hiệp này sẽ ở ngay Sài Gòn và sẽ có một mức độ độc lập nào đó. Chiến dịch phải được mở rộng và phải hữu hiệu.

Ngày 5 tháng 4, tại Paris, đại sứ Bắc Việt và đại diện CPLTCHMN đã riêng lẻ gặp ông Francois de Laboulaye, giám đốc chánh trị sự vụ ở Quai d’Orsay (Phủ Thủ Tướng Pháp). Nhà ngoại giao Pháp và đại diện CPLTCHMN đã đồng ý là : Phải có một Chánh Phủ Liên Hiệp mà CPLTCHMN là thành phành chủ động. Chánh Phủ Pháp đã coi như ông Thiệu không còn được bao lâu nữa. Họ đã liên lạc với ông Phó Lãnh Sự của họ ở Đà Nẳng và đã cho lệnh ông này nên liên lạc với người của CPLTCHMN. Viện trợ về quân dụng sẽ được trao tay cho họ.

Ông De Laboulaye nói rằng nước Pháp mong sao Chánh Phủ Liên Hiệp sẽ phát triển giống như ở Nam Tư, có được độc lập phần nào, mà không nên hoàn toàn giống như Chánh Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòaở Bắc Việt.

Xuyên qua sự trao đổi này, chúng ta thấy rõ là dường lối ngoại giao của Pháp từ nhiều năm qua đã dựa trên 4 giả thuyết sau đây:

  • cộng sản Bắc Việt tiên khởi cũng là những người quốc gia, sau đó mới trở thành cộng sản.
  • Hà Nội được coi như đại diện cho phong trào “cộng sản quốc gia kiểu Tito” ở Đông Nam Á.
  • CPLTCHMN là một thực thể riêng biệt, mặc dầu (4) biết hay không biết thì hầu hết các nhân vật quan trọng của Chánh Phủ này đều là cán bộ cộng sản có tuổi đảng cao.

Trong Chánh Phủ này người ta thấy có đủ các thành phần tư bản, trí thức… không thuộc hàng ngũ mác xít hay xã hội, những người công giáo, phật giáo v.v…..

Trong những tuần lễ sau đó, các cuộc tiếp xúc loại này được tiến hành chánh thức hay bán chánh thức khắp nơi ở Hà Nội và cả ở Sài Gòn, ở Stockholm, ở Đông Bá Linh, Varsovie, Prague, Alger…. Hoặc ngay trong tư gia của họ, bên tách trà nóng, hoặc trong các quán ăn Việt Nam, các nhân viên ngoại giao, các nhà báo của Hà Nội và của CPLTCHMN, tiếp tục đóng sâu một cây đinh tương tự, nhắc đi nhắc lại những gì mà họ muốn phổ biến và những gì mà người đối thoại của họ muốn nghe. Với một gịong nửa kín nửa hở coi như một đặc ân, họ rỉ tai:

_“Chúng tôi vẫn biết là có những khác biệt lớn giữa Miền Nam và Miền Bắc mà chúng tôi phải quan tâm….

Và một đôi khi làm như vô tình, các đại diện của CPLTCHMN thở dài:

_ “Chúng tôi và các bạn của chúng tôi ở Miền Bắc đâu có hoàn toàn dồng ý với nhau trên tất cả mọi việc đâu?

Trong một vài trường hợp, thấy cũng có đúng phần nào. Ông Phạm văn Ba, một đại diện của PLTCHMN ở Paris, một người ít học nhưng có rất cương nghị và thành thật , khi ông nói về những khác biệt giữa Miền Nam và Miền Bắc hay giữa CSBV và CPLTCHMN.

Trong khi chiến dịch tấn công ngoại giao quan trọng này đang được tiến hành rộng rãi khắp mọi nơi trên thế giới và ngay tại Việt Nam, thì ở Hà Nội lãnh đạo đảng quyết định là đã đến lúc phải nói thẳng cho các cán bộ đảng viên một cách rõ ràng rằng:

_ “Các bài diễn văn nói về việc thành lập một Chánh Phủ Liên Hiệp chỉ là một “đòn hỏa mù”. Vấn đề chính là phải chiếm lấy chánh quyền bằng bạo lực cách mạng”.

Chính ông Churchill cũng đã từng nói là: trong thời chiến, sự thật rất là quý đến độ cần phải được che dấu kỹ bằng một hàng rào tin vịt”.

Tại Sài Gòn, một vài người Mỹ nhận được tin tức về “đòn hỏa mù” của Bắc Việt. Frank Snepp đã được một nhân viên tình báo của mình cho biết nhiều lần từ ngày 7 tháng 4. Nguồn tin này vì được cấy ngay trong Bộ Tư Lệnh Cộng sản ở Miền Nam nên đưa nhiều tin rất chính xác. Rất là minh bạch và dứt khoát trong mọi trường hợp: “cộng sản Bắc Việt không đàm phán”

. Nhưng từ ông Polgar trưởng cơ quan CIA cho đến ông đại sứ Martin đều không chú ý tới tin tức này. Người Mỹ cũng không chịu lưu ý tới những bất đồng quan điểm giữa hai đại sứ Pháp ở Sài Gòn và Hà Nội . Cơ quan tình báo CIA có tất cả các dữ kiện trong tay, không phải chỉ vì các bạn bè nhân viên ngoại giao thông báo tin tức cho họ, mà cũng nhờ họ biết được mật mã của Pháp nên họ mở được một số lớn các công hàm và điện tín. Một số “sư tổ” ở Phủ Thủ Tướng Pháp còn hơn cả ông Mérillon, đều tin là họ có thể chơi lá bài Dương văn Minh: “đưa vào quỹ đạo một Chánh Phủ Liên Hiệp” là chủ trương đã được ông Tổng Thống Pháp Valéry Giscard d’Estaing hoạch định.

Ông Philippe Richer, đại sứ Pháp ở Hà Nội không có nhãn quan như vậy. Mặc dầu có nhiều bản tuyên bố cố ý muốn làm dịu bớt mùi mác-xít của chính Thủ tướng Phạm văn Đồng cũng như của một số viên chức cao cấp thuộc Bộ Ngoại Giao Bắc Việt , nhưng ông Richer vẫn khẳng định rằng đảng cộng sản lúc nào cũng là lực lượng chánh trị chủ yếu trong cái Chánh Phủ Liên Hiệp tương lai này. Chuyện không có gì vui vẽ lắm, nhưng nó đã là như vậy từ lâu rồi: “Chỉ có một tảng đá duy nhất để chánh trị dựa vào: đó là đảng CSVN”, công điện của ông Richer đã viết rõ như vậy.

Còn theo ước tính của ông Mérillon thì người ta còn có thể tránh được một thảm họa.

Âu cũng là một hiện tượng bình thường thôi : một ông Richer, có nghiêng về cánh xã hội thực đấy, nhưng không bao giờ tin vào lời lẽ dịu giọng của người cộng sản, và một ông Mérillon thuộc cánh trung hữu lại nghĩ rằng người ta cũng có thể lợi dụng họ được.

Ngày 8 tháng 4, Phạm văn Đồng tiếp ông Richer. Thủ Tướng Bắc Việt tỏ ra đồng ý với những gì mà người Pháp “đang làm ở Miền Nam Việt Nam”. Dĩ nhiên là họ muốn “bứng” Tổng Thống Thiệu ra khỏi chánh quyền . Phạm văn Đồng đã dùng miệng lưỡi, tán tỉnh, gợi lại những liên hệ tình cảm đã được thiết lập giữa Paris và Hà Nội. Nhân danh quá khứ chung sống thời thuộc địa và cùng chung ngôn ngữ Pháp, ông Đồng cho ông Đại sứ Pháp uống một ly sữa ngọt:

_ “Chúng ta có thể làm nhiều việc lắm trong tương lai.”

Thủ Tướng còn giải thích là các kỹ thuật gia và các nhà đầu tư người Pháp có thể giúp BắcViệt khai thác các mỏ dầu. Ông nghĩ là điều này sẽ làm cho Quai d’Orsay (Phủ Thủ Tướng Pháp) thích thú. Người ta tưởng tượng là các công ty của người Pháp sẽ thay thế các công ty của người Mỹ, khoan dầu ở ngoài khơi của Miền Nam Việt Nam. Phạm văn Đồng lại còn tiếp tục mở rộng chân trời cho vấn đề kinh tế. Nhưng Richer đâu có phải là người dễ bị mắc mưu cộng sản nhưng ít nhất ông cũng nghĩ rằng ông Đồng nói được tiếng Pháp lưu loát, và ông thực sự có mối liên quan về văn hóa với nước Pháp.

Được khắp nơi cung cấp dữ kiện, nhất là của chi bộ đặc trách chiến dịch “tấn công ngoại giao” từ Hà Nội , giả thuyết về nhiệm vụ mà CPLTCHMN phải đảm nhiệm và sẽ đảm nhiệm.. cũng được tung ra ở Sài Gòn . Một giả thuyết có tánh cách vớt vát! Dĩ nhiên người ta cũng dựa trên những mối bất hòa truyền thống giữa người Miền Nam và người Miền Bắc , đúng hơn là giữa Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Người cộng sản Bắc Việt đâu có ngu dại gì mà nói là sẽ hợp tác hóa nông nghiệp hay xã hội hóa nền công nghiệp ở Miền Nam như họ đã thực hiện ở Miền Bắc?. Vì trước khi biến thành CPLTCHMN, thì MTGPMN đã có dự trù chương trình tư hữu hóa công nông nghiệp rồi. Sài Gòn sẽ trở thành một đặc khu kinh tế như Hong Kong, một loại Tân gia Ba với tất cả những đặc quyền tư bản của nó. Thêm một luận cứ chót nữa để giúp cho mọi người hy vọng: chúng ta đều ở Á Châu, đều là anh em một nhà, xa lâu rồi nhau bây giờ mới đoàn tụ lại với nhau. Ngay như một vài thành viên trong cộng đồng người Pháp ở Sài Gòn có phương tiện vẫn còn có thể ở lại tại chỗ kia mà!. Không hẳn là vĩnh viễn , mà có thể là 5 năm, 10 hay 20 năm không chừng. Đã có nhiều bằng chứng cho thấy những người ở Hà Nội thông minh và có thiện chí, như Phạm văn Đồng lúc nào cũng nhắc với các nhà báo hay nhân viên ngoại giao người Pháp rằng “đặc điểm và chuyên ngành của người Miền Nam” sẽ được tôn trọng. Hơn nữa tất nhiên là cấp lãnh đạo của nước Việt Nam thống nhất hoặc tốt hơn nữa là của 2 nước Việt Nam cũng vậy, đều rất cần tín dụng của Tây Phương, cần sự giúp đở về tài chánh và kỹ thuât của Âu Châu. Các anh biết không, dân Hà Nội không muốn hoàn toàn tùy thuộc vào Mạc tư Khoa và Bắc Kinh. Quyền lợi của cộng sản Việt Nam là muốn bắt một nhịp cầu với các quốc gia Đông Phương, do đó mới biểu lộ một sự hòa hoản ở Miền Nam Việt Nam trong tương lai…..

Những bằng chứng về thiện chí của người cộng sản – dù là cộng sản ở Mạc tư Khoa hay cộng sản ở Hà Nội, tất cả đều là những lời nói suông…..

Ở điện Élysée, nơi mà đường lối chánh trị đối ngoại luôn luôn là lãnh vực riêng của Tổng Thống Pháp, cũng như ở Phủ Thủ Tướng (Quai d’Orsay), người ta thường nghe theo tòa đại sứ ở Sài Gòn hơn là tòa đại sứ ở Hà Nội . Ông Valéry Giscard d’Estaing thường có cảm tưởng rằng sẽ có một cuộc dàn xếp nào đó giữa những người lãnh đạo của Việt Nam. Ông có nói rõ như thế cho cả ông Tổng Thống Ford và Kissinger, hồi cuối năm rồi, trong cuộc họp thượng đỉnh ở Antilles. Có nhiều chỉ dấu cho thấy giả thuyết của CPLTCHMN trong một chừng mực nào đó đang được vận động ráo riết. CPLTCHMN đang thành hình. Tại Paris, ông Phạm văn Ba hủy bỏ một chuyến du lịch dự trù vào giữa tháng 4 , mà theo lời một phụ tá của ông thì Chánh Phủ của ông muốn “khẩn” bàn cãi sâu rộng với Chánh Phủ Pháp 3 vấn đề:

_ Trước hết là nghiên cứu chi tiết của vấn đề viện trợ kinh tế cho CPLTCHMN.

Kế đó là duyệt xét thật kỹ vấn đề truyền thông giữa nước Pháp và những vùng được CPLTCHMN chánh thức kiểm soát.

_ Chót hết, quan trọng nhất là xem xét quy chế và nhiệm vụ của CPLTCHMN ở Paris. Làm thế nào để cấp chiếu khán thông hành? Dù sao thì vấn đề này cũng thuộc chủ quyền của một quốc gia. Ông ta nghĩ tối thiểu CPLTCHMN cũng phải có một tòa lãnh sự ở Paris. Chánh Phủ Hà Nội đã có một tòa lãnh sự, thì CPLTCHMN cũng phải có một tòa lãnh sự nữa để đại diện cho Chánh Phủ mình chớ

Nhưng người của Phủ Thủ Tướng Pháp thì lại đặt nặng vấn đề pháp lý. Họ không tin là cái gọi là CPLTCHMN có được một sự độc lập hoàn toàn trong những năm tháng sắp tới, nhưng họ cũng mong rằng Chánh Phủ Liên Hiệp sẽ có một quyền tự trị tối thiểu nào đó. Những tin tức về một sự tương đối độc lập của cái gọi là CPLTCHMN được nhiều nơi nói đên, đặc biệt là từ Thụy Điển, một quốc gia chuyên binh vực cho Hà Nội . Ông Olof Palme, Thủ Tướng Thụy Điển đã từng tham gia các cuộc tuần hành “chống chiến tranh của Hoa Kỳ”. Ở thủ đô Stockholm, các nhà ngoại giao Tây Phương và Đông Phương đều có tiếp xúc với một trưởng phái đoàn khác của CPLTCHMN là ông Trần hữu Khá. Đối với tất cả mọi người ông Khá này đã tỏ ra vô cùng ngạc nhiên về sự tiến quân quá nhanh của “quân đội cách mạng”. Nhưng khi người ta gọi đó là những sư đoàn Bắc Việt thì ông Khá không chấp nhận cũng không phản đối, mà ông chỉ cười trừ. Có nhiều sự hiểu lầm về cái cười này của ông ta lắm. Nếu người ta nói với ông về lực lượng thứ ba và ông Dương văn Minh .. thì ông cũng chỉ cười.. Ông chỉ nhấn mạnh có một điểm:

_ “Chúng tôi cần các bạn bè người Âu Châu”.

Mục tiêu của CPLTCHMN là không phải tiến chiếm Sài Gòn bằng vũ lực, ông Khá cũng nhấn mạnh ở điểm này; Ông Thiệu phải ra đi. Ông Thiệu nên ra đi…. Sau đó, với lực lượng thứ ba, CPLTCHMN sẽ thành lập một Chánh Phủ Liên Hiệp độc lập đối với Hà Nội Các nhà ngoại giao, các nhà báoTây Phương đối chiếu các tin tức, các bản tuyên bố và các buổi trao đổi chuyện trò, sau đó thì họ gởi công hàm hay các bài tường thuật về cho cho Bộ hay cho báo chí.

Những người có chút lạc quan thì tự hỏi rằng dù muốn dù không, các tư tưởng “hai màu” của các đại diện CPLTCHMN có thật sự đúng với thiện chí và ý muốn của lãnh đạo Hà Nội hay không? Còn quá nhiều người bi quan , nhất là người Mỹ, thì cho đó chỉ là những cuộc vận động chánh trị mà thôi.

Tại Hà Nội, CPLTCHMN cho ra môt bản “tuyên bố 10 điểm” liên quan đến đường lối chánh trị của họ trong các vùng mới chiếm. Từ lâu rồi, các bản tuyên bố của Hà Nội và của CPLTCHMN thường có 10 điểm, một con số vừa ý nhất và dĩ nhiên gần như là con số mầu nhiệm của cộng sản . Trong đó điểm số 10 là “bảo đảm sanh mạng và tài sản của người ngoại quốc”. Tất cả các tài sản đó là tài sản của tư nhân. … Phần còn lại là chánh trị thống nhất, hòa hợp hòa giải v.v… bình đẳng giữa người Kinh và dân tộc thiểu số…, nam nữ bình quyền, tự do tín ngưỡng nhưng đừng quên là không có thờ cúng. CPLTCHMN sẽ giúp đỡ nông dân, và ngư dân, “những thợ rừng và những người sản xuất muối”. Những sĩ quan và binh sĩ Miền Nam Việt Nam nào “rời bỏ hàng ngũ địch để trở về vùng giải phóng hay tự nguyện ở lại vùng giải phóng” thì phải đến trình diện với chánh quyền cách mạng. “họ sẽ được giúp đỡ để tìm việc làm”, theo đó người ta có thể diễn dịch rằng họ sẽ không bị đưa đi tù. Theo cách xử trí mà không có người quân nhân Miền Nam nào lại tự nguyện ở lại các vùng giải phóng, người ta có thể hiểu ngay là bản tuyên bố của CPLTCHMN chỉ nhằm “xóa bỏ bộ máy hành chánh mà họ gọi là ngụy quyền để thành lập một chánh quyền cách mạng” mà họ cho là “chánh quyền của nhân dân” ở khắp mọi nơi, mọi cấp. Không hơn không kém.

Tất cả các nơi đều chỉ biết dựa trên các tin tức loại này, từ các công hàm và các tài liệu của Hà Nội và của CPLTCHMN để mổ xẻ và phân tích tình hình.

Chiến dịch tấn công ngoại giao của cộng sản cũng được tung ra ngay tại Sài Gòn. Ở đây, ông Trần văn Du, giám đốc phòng phân chất và bào chế thuốc, đã xác nhận là ông ta nhân danh CPLTCHMN để gặp một đại diện của tướng Trần văn Đôn Tổng Trưởng Quốc Phòng. Ông nói: “CPLTCHMN muốn đàm phán. Nhưng “không thể có đàm phán được” vì còn sự hiện diện của Tổng Thống Thiệu.”. Ông còn nói tiếp:

_ “CPLTCHMN mở rộng cửa đón mọi đề nghị. Tuy nhiên, chỉ có thể nói chuyện được với một phái đoàn của chánh quyền mới. Chánh quyền mới này phải do một “nhân vật trung lập” lãnh đạo, trong đó phải có thành phần của lực lượng thứ ba, cũng có thể có một số “chánh trị gia thân Mỹ”.

Nhưng những người nào thì ông Du không thể cung cấp danh tính được.

Tại Câu lạc bộ thể thao, người ta xác nhận là đại tá Võ đông Giang, người đại diện của CPLTCHMN ở trại Davis, đã có thử liên lạc với tướng Dương văn Minh để thương thảo về việc thành lập một Chánh Phủ Liên Hiệp. Đúng hay Sai? Một ước vọng khả tín?? Không ai biết được hết! Không phải người dân Sài Gòn nào cũng đến chơi ở Câu lạc bộ thể thao này, nhưng có thể họ có đón nghe đài giải phóng.. Đài này kêu gọi buông súng xuống, đừng giết nhau nữa, nhưng chỉ kêu gọi một phía là QLVNCH mà thôi!

“- Bởi vì chúng ta cùng là người Việt Nam cả….. CPLTCHMN sẽ không đụng tới một cây kim hay một sợi chỉ của đồng bào!”

Có nhiều gia đình ở Miền Nam có con em “tập kết” ra Miền Bắc. Thông thường họ chỉ kháng chiến ở Miền Nam trước 1954, khi tập kết ra Bắc họ không phải là cộng sản. Và có thể họ không bao giờ là cộng sản. Có thể một số đông những người tập kết sẽ trở về Miền Nam mà vẫn không phải là đảng viên cộng sản

Những lời nói của ông Giám Đốc Phòng thử nghiệm hình như có tiếng vang thuận lợi. Ông đã minh xác là “trong hiện tại, chiến lược của CPLTCHMN là cô lập Sài Gòn với các nơi khác trong nước….. CPLTCHMN không muốn tấn công vào Sài Gòn ” Chỉ cần cô lập thủ đô để buộc Sài Gòn phải thay đổi Chánh Phủ . Giải pháp cuối cùng sẽ là giải pháp chánh trị. Ông ta còn tuyên bố là: “sẽ không có tổng nổi dậy, cũng không có tắm máu trong thủ đô”

Tướng Đôn nói với người này người khác là ông sẽ ở lại trong Chánh Phủ để chuẩn bị đàm phán vời địch quân. Ông rất tiếc là không có đủ can đảm để xin với Tổng Thống Thiệu cho ông từ nhiệm. Thật là vừa khôn ngoan vừa ích kỷ, vừa thủ đoạn lại vừa thành thật. Con nhà khá giả, năm nay 58 tuổi, sanh ở Bordelais (Pháp), nói tiếng Pháp thật là tuyệt, ông Đôn là một sĩ quan cấp tướng được Pháp hóa nhất trong hàng tướng lãnh Việt Nam, và là một người gương mẫu trong số các quân nhân hăng say hoạt động chánh trị ở Sài Gòn. Ông đã từng đảm nhiệm chức vụ Quân đoàn trưởng, tổng trưởng, dân biểu và nghị sĩ. Ông thấy mình có thể giữ ghế Thủ Tướng hay Tổng Thống nếu cần. Nghịch cảnh khuyến khích ông, thành công không làm ông quá phấn khởi. Giống như tướng Kỳ, ông có nhiều rắc rối với Thiệu, ông biết Tổng Thống Thiệu lúc ông này còn là đại tá trong khi ông ta đã là tướng ba sao rồi. Vì là người lịch lãm nên Tổng Thống Thiệu đã dùng ông đi du thuyết ở ngoại quốc. Đã từ lâu ông Đôn nghĩ rằng người quốc gia nên tìm một thỏa thuận nào đó với CPLTCHMN. Nhưng ông Tổng trưởng Quốc Phòng của một tân Chánh Phủ này không thể thuyết phục được ai để củng cố được chế độ khi ông nói với người ta là Chánh Phủ này chỉ tồn tại được có 15 ngày mà thôi.

Tại Đà Lạt, linh mục Jean Mais chờ đợi.. Một cán bộ Bắc Việt khoản 50 tuổi, người nhỏ thó, gầy, đen đúa và đầu húi cua, mặc một cái quần rộng thùng thình… buớc vào cửa Đại Học, chào linh mục, cố gắng nói một vài câu bâng quơ bằng tiếng Pháp nặng chình chịt rồi đi ra.

Thành phố Đà Lạt được ổn định lại nhanh chóng. Một anh thợ cắt tóc cầm đầu Ủy Ban Quân Quản Thành Phố đóng tại rạp chiếu bóng trên chợ ở ngay khu trung ương thành phố. Vì linh mục Mais nói được tiếng Việt nên ông Hiệu trưởng trường Trung Học Pháp đến nhờ ông liên lạc với Ủy Ban Quân Quản.

Một nữ sinh viên lớp đệ tứ , nhân viên của Ủy Ban đã trả lời cho linh mục: – “Chúng tôi còn rất nhiều việc phải làm”

Thôi thì các Hội đua nhau nở rộ, nào là “Hội Các Phụ Nữ Giải Phóng”, “Hội Trí Thức Yêu Nướcc”.. v.v…. Nếu người nào không chịu vào một Hội nào thì người đó bị coi như “thành phần chống đối” . Ông viện trưỏng Dương tham gia soạn thảo bài diễn văn chào mừng các chiến sĩ cách mạng. Theo truyền thống trong tiếng Việt thì người ta thường ghép danh từ “hân hoan” đi đôi với danh từ “chào đón”. Nhưng ông viện trưởng thay vì dùng danh từ “hân hoan” lại nói là “không hân hoan”. người ta chỉ trích ông dữ dội, nhưng ông giải thích: – “Tôi có rất nhiều bạn bè trong số các sĩ quan VNCH. Tôi chào đón cách mạng trong hoàn cảnh một đất nước bị chia rẽ.” Người ta bắt ông ngay sau khi mắng chửi ông thậm tệ.

Ủy Ban Quạn Quản tiếp xúc với Đức Giám Mục Lam, địa phận Đà lạt. Ông này nhờ linh mục Mais thiết lập một bản kê khai tài sản của trung tâm Huấn Luyện Nông Nghiệp Công Giáo ở ngoại ô Đà Lạt.. Linh mục Mais dùng chiếc xe Land Rover cùng với một linh mục khác đi vào nông trường. Đi vòng một con suối có cây cầu bị phá sập, gần đến nông trường, hai người gặp một đoàn khoản 60 chiếc xe tăng đang ngụy trang dưới các lùm cây. Các bộ đội Bắc Việt ngồi dưới đất dường như chẳng ai thèm để ý gì đến hai ông hết. Đến nông trường, linh mục Mais gặp những người của Ban Quân Quản. Họ hỏi ông để lấy một số vỉ sắt trong công xưởng, nói rằng: “mượn để lót cho xe tăng qua suối”

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 4 Feb 2026

Thương Những Nấm Mồ

Mỗi lần tháng tư về, ai trong chúng ta cũng có những hồi tưởng và suy nghĩ khác nhau, phần tôi vẫn ám ảnh bởi những nấm mồ oan khuất gây ra bởi biến cố này, mà thủ phạm không ai khác hơn là những người thắng trận cuối cùng. Phải nhìn nhận sự thật rằng, điều khác nhau giữa một đoàn quân ngoại quốc xâm lược và Cộng Sản Bắc Việt “giải phóng miền Nam,” thì những người sau, cùng chung một thứ ngôn ngữ như chúng ta, nhưng sự tàn sát những người thất trận tệ hại hơn bất cứ một cuộc chinh chiến nào. Họ nhanh chóng bắn giết, cầm tù những người chống họ và đặt quyền đô hộ tức khắc lên đầu người dân ở “vùng chiếm đóng”, danh từ mà họ vẫn thường dùng để đối nghịch lại với những vùng đất gọi là “vùng giải phóng.” Theo tôi, danh từ “vùng chiếm đóng” là xác thực nhất để mô tả toàn bộ miền Nam sau ngày 30 tháng 4-1975, và Cộng Sản đã tàn ác hơn bất cứ một quân đội xâm lược nào.

Như thế nào mới gọi là một cuộc “tắm máu?” Mặc dầu đã có lệnh đầu hàng của cấp chỉ huy, những người lính VNCH, nhân viên chính quyền xã ấp, đảng viên các đảng phái khi ra đầu hàng đã bị du kích và lính chính quy Việt Cộng trả thù bằng cách tàn sát, thân xác bị vùi dập ở bìa rừng, bờ ruộng cho đến bây giờ gia đình nạn nhân cũng không hề biết họ ở đâu. Trong cuộc rút lui của những người lính miền Nam đã buông vũ khí, bọn du kích chọn trò chơi bắn sẻ và pháo tập trung để lại bao nhiêu máu xương trên những vùng cát biển của miền Trung, những hài cốt trôi dạt theo sóng biển hay lẫn lộn với đất cát thời gian. Những cái chết không để lại dấu tích, nhưng nỗi đau của những người thân không bao giờ phai nhạt vì ba mươi bảy năm qua gia đình chưa có nắm xương về.

Chính quyền mới bắt buộc trình diện và cầm tù không có bản án tất cả nhân viên chính quyền, quân đội, đảng phái miền Nam, tịch thu nhà cửa, xô đẩy gia đình của họ đi vùng “kinh tế mới” với mục đích trả thù, đày đọa những thành phần gọi “phản cách mạng,” dành nhà cửa, ruộng vườn cho cán bộ, viên chức được đưa từ miền Bắc vào. Ở những trại tập trung ven rừng hay hốc núi, mộ những người tù “cải tạo” kiệt lực, mộ những người tù anh hùng bị xử bắn bây giờ ở đâu? Làm kiệt quệ sinh lực của miền Nam bằng chính sách đánh tư sản mại bản, một lối cướp ngày công khai có súng đạn yểm trợ, bỏ tù họ và gia đình, xóa bỏ giai cấp tư sản miền Nam để tạo ra một lớp tư sản mới trung thành với chế độ. Nấm mộ những người chết vì trận chiến cướp bóc này xiêu lạc nơi nào? Nấm mồ thủy táng trong lòng biến Thái Bình Dương là nấm mồ lớn nhất trong lịch sử loài người, nơi đó hằng trăm nghìn người Việt Nam đã chấp nhận cái chết hơn là phải sống với chế độ bất nhân. Thảm kịch thủy táng vô tiền khoáng hậu này kéo dài mười lăm năm và phải nói là không một gia đình nào không có người thân tử nạn trên đường vượt biên, vượt biển. Không một vòng hoa nào được gửi xuống đại dương để an ủi những linh hồn của những người ra khơi không bao giờ cặp bến, và làm sao chúng ta quên được nỗi đau này.

Xa hơn thời điểm 30/4 vài năm chúng ta cũng chưa quên những nấm mồ tập thể của Mậu Thân, bắn giết,

chôn sống càng nhiều càng tốt để đáp ứng lời kêu gọi “toàn thắng ắt về ta.”Chúng ta cũng chưa quên đoạn đường kinh hoàng của Quảng trị mùa hè 72 khi trung đoàn pháo Bông Lau của Cộng Sản “cứ nhắm vào dân mà pháo.” Rồi chiến xa, pháo binh chận đường dân di tản trên Quốc Lộ 13 A cho lá “cờ in máu chiến thắng.”

Ngày 30/4 đưa đến cảnh đổ nát hoang tàn của nghĩa trang quân đội Biên Hòa, nơi có 16,000 mộ phần của những người lính VNCH, những người được xem là của phe thất trận. Trừ những bộ lạc mọi rợ thời Trung Cổ, còn thì trên thế giới văn minh này, ai cũng biết tôn trọng di hài những người đã chết, dù mới hôm qua đây, họ đang cầm súng đứng ở bên kia chiến tuyến. Việc kết thúc nội chiến Nam Bắc của nước Mỹ là một bài học văn minh và đạo lý mà một quân đội mọi rợ, không tính người như Bắc Việt không thể nào học nổi. Tôi cho thảm trạng của Nghĩa Trang Quân Đội ngày nay là một điều ô nhục, một vệt máu bẩn không thể nào chùi sạch trên trên khuôn mặt của chế độ mới.

Cộng Sản Bắc Việt xây một nấm mộ nổi ngay giữ thành phố Hà Nội nhưng lại lấy lý do cần đất cho thành phố đã đào xới, hủy diệt, xua đuổi cả nghìn ngôi mộ của nghĩa trang lâu đời của Saigon là Mạc Đỉnh Chi, che dấu cho lòng ganh ty, thù hận hơn cả một chính quyền đô hộ. Trong đạo lý Đông phương, đào mồ cuốc mả là một hành động khó có thể tha thứ. Sau này ở trong nước đã có nhiều vụ đào mộ để tìm của, được đưa ra xử trước tòa án, bị lên án là hành động thất đức, nhưng vụ đào mả nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, nơi có nhiều ngôi mộ của nhiều người có tiếng tăm và giàu có dưới thời Pháp thuộc, phải được coi như là một tội ác. Hai ngôi mộ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu được cải táng từ nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi về quận Lái thiêu, tỉnh Bình Dương. Mộ bia của Ông Diệm có khắc chữ Huynh, mộ bia của ông Nhu khắc chữ Đệ. Nghe nói chính quyền “cách mạng” không cho gia đình ghi tên hai người trên mộ bia. Sao lại có những hạng người thù hận, nhỏ nhen đến như vậy!

Đó là lý do vì sao cứ đến ngày 30/4, hình ảnh những ngôi mộ xa gần, mới cũ cứ ám ảnh trong tôi.

Công Tác Bên Lào

dongsongcu.wordpress.com

Phạm SơnLiêm

Posted on February 2, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 3 Feb 2026

Hình minh hoạ

Lạc và Dũng không phải là những người lính bình thường. Chỉ 12 tháng trước, họ còn đứng ở bên kia chiến tuyến. Lạc đào ngũ sau một trận bom B-52 kinh hoàng tại đường 9; còn Dũng, người đã quá mệt mỏi với những cơn sốt rét rừng hành hạ, đã quyết định tìm đến ánh sáng chiêu hồi. Họ mang trong đầu “bản đồ sống” về các kho tàng bí mật của đối phương. Hôm nay, họ trở lại Lào không phải để chiến đấu, mà để dẫn đường cho một bóng ma.

Trạm tiền phương Khe Sanh một buổi sớm mờ đục. Ban ngày, mây thật thấp ngang nóc hầm. Ban đêm, rừng thở. Gió từ thung lũng thổi về mang theo mùi thuốc súng và hơi ẩm của đồi núi rừng. Khe sanh như một cái gai cắm vào sống lưng Trường Sơn. Lạc và Dũng đứng đó, lọt thỏm trong bộ đồ chính quy, không phù hiệu. Họ là những kẻ “đi giữa hai lằn đạn”. Lạc từng là một đặc công tinh nhuệ, kẻ có thể đi xuyên qua hàng rào kẽm gai mà không làm rung một chiếc lá. Dũng là gã thợ rừng chuyên nghiệp của đường dây 559, người có khả năng “ngửi” thấy mùi sắt thép của kho đạn từ khoảng cách cả cây số. Họ quay lại Lào không phải để tìm cái chết, mà để bán đi những bí mật mà họ đã từng thề bảo vệ. Bản đồ Lào trải trên bàn gỗ thô, mép bản đồ cong vì ẩm. Những đường mực xanh đỏ chằng chịt như mạch máu.

Thiếu úy Hoàng Như Bá, trưởng toán, đứng nghiêm, giọng khàn thấp, đều, không thừa một chữ:

– Công tác 7 ngày. Không giao tranh. Không nổ súng, trừ khi!

Công tác: dò kho tiếp tế, kho đạn, đường mòn mới. Chụp hình. Ghi tọa độ. Rút êm.

Hai người đứng quanh anh là Lạc và Dũng, 2 toán viên

thanh lọc từ các nhóm chiêu hồi. Không ai gọi họ là tù binh. Cũng không ai gọi họ là lính mình. Họ đứng giữa hai chiến tuyến.

Lạc gầy, da xám, mắt sâu như người đã quen nhìn rừng ban đêm.

Dũng thấp, vai xuôi, cổ lúc nào cũng căng như sợ có bàn tay vô hình bóp lại. Họ từng đi những con đường bên kia bản đồ. Từng gùi đạn. Từng ngủ cạnh kho. Giờ họ dẫn đường…chỉ điểm cho người sẽ phá nó. Thiếu úy Hoàng như Bá chỉ tay lên bản đồ, dừng lại ở một chấm đỏ chì nhỏ:

– Khu này. Có kho. Không biết lớn cỡ nào.Nhiệm vụ của 2 anh: chỉ đúng. Nhiệm vụ của tôi: đưa mọi người về.

Không ai hỏi thêm. Trong công tác, hỏi nhiều là chết sớm. Trên bãi đáp, chiếc Kingbee H-34 của Phi đoàn 219 nổ máy chờ sẵn, luồng hơi nóng từ động cơ làm méo mó cả không gian. 3 bóng người bước lên tàu. Thiếu úy Hoàng Như Bá và 2 Hồi Chánh Viên.

Tiếng cánh quạt quật không khí như xé rừng thành từng mảnh. Đèn trong khoang tắt phụt. Chỉ còn ánh đỏ lờ mờ, soi gương mặt ai cũng giống mặt người chết.

Chiếc trực thăng H-34 “Kingbee” của Phi đoàn 219, với hình con Ong gầm thét bên sườn, nghiêng mình lao xuống một trảng cây cỏ nhỏ hẹp. Tiếng động cơ như xé nát bầu không khí đặc quánh.

Thiếu úy Hoàng Như Bá ra hiệu lần cuối. Không bắt tay. Không vỗ vai. Chỉ một cái gật đầu, thứ duy nhất còn giữ được giữa sống và chết.

Cửa mở. Gió mạnh ùa vào như một cú đấm. Rừng Lào bên dưới đen đặc, sâu hun hút, không đáy.

Dây tuột. Người trượt. Bóng rơi. Không có tiếng động khi chạm đất, nhẹ như nuốt hơi thở. 3 bóng người lao mình vào bụi rậm,ngay lập tức bị rừng già nuốt chửng. Tiếng trực thăng xa dần, trả lại một sự im lặng đáng sợ, im lặng đến ghê rợn.Ở đây, sự im lặng không có nghĩa là bình yên, nó là sự rình rập của hàng ngàn họng súng đang ẩn mình. Họ bắt đầu di chuyển như những bóng ma, bước chân không được phép chạm vào cành khô, hơi thở phải nén lại sau lồng ngực. Rừng Lào không có đường. Chỉ có những nơi từng có người đi qua. Lạc đi trước. Anh ta bước đúng chỗ đất mềm hơn nửa tấc. Đặt chân tránh đúng rễ trồi. Thiếu úy Hoàng Như Bá nhìn cách đi là biết: Không phải bịa.

Dũng đi sau, thỉnh thoảng quay đầu, mắt liếc như con thú quen bị săn. Toán đi chậm đến mức tưởng như không di chuyển. Mỗi giờ được vài trăm mét.

Không hút thuốc. Không nói chuyện. Không để lại một dấu gãy nào không cần thiết.

Đêm đầu tiên, họ ngủ treo. Không lửa. Không mùi.

Càng đi sâu, không khí càng đặc quánh mùi ẩm mốc và thuốc súng…

Đến ngày thứ 4, họ tìm thấy “mỏ vàng”. Nằm sâu dưới một triền núi đá vôi là hệ thống hầm ngầm.Lạc thì thầm: – Kho đạn của Sư đoàn 304.

Rừng bên dưới có tiếng người nói xa xa.Dũng dừng lại, ra hiệu bằng tay. Cách đó hơn trăm mét, một trạm giao liên đang hoạt động. 3 bóng người bất động như tượng đá suốt hơn tiếng đồng hồ dưới tán lá rừng. Những bước đi gần hơn nữa. Tiếng kim loại va nhẹ, rừng già bắt đầu lộ diện những “mạch máu” của đối phương. Những sợi dây điện tín chăng ngang lối đi, những vết bánh xe xích lún sâu vào bùn đất. Dũng ra hiệu dừng lại nữa, cách họ chưa đầy 10 mét, một tiểu đội đối phương đang lầm lũi hành quân. Kho ở gần. Kho không phải là hầm bê tông, chỉ là rừng dày hơn bình thường.

Lạc nằm sấp, tay vạch rất khẽ, một khe lá mở ra, lộ những thùng phủ bạt xanh sẫm.Bá nằm rạp xuống lớp lá mục, dán người dính vào mặt đất, tay lăm lăm khẩu AK-47. Anh nhìn thấy rõ khuôn mặt mệt mỏi của những người lính bên kia chiến tuyến, nghe được cả tiếng lách cách của bi đông nước chạm vào súng. Một phút trôi qua dài như một thế kỷ. Chỉ cần một con muỗi rừng đốt làm ai đó giật mình, một tiếng ho khan, hay một hơi thở quá mạnh, tất cả sẽ có đáp số kết thúc trong một trận mưa đạn. Không có lính gác lộ thiên. Chỉ có những cặp mắt không bao giờ thấy.

Bá rút chiếc máy ảnh Leica. Mỗi cú bấm như một nhịp tim rơi xuống hố.

Những khối hầm ngầm chứa đầy hòm đạn gỗ, những khẩu 12.7mm nằm chễm chệ trên giá súng hiện lên trong ống kính… Chụp ảnh, ghi tọa độ. Từng con số được Hòa ghi chép bằng bút chì lên mảnh giấy pelure mỏng dính, mồ hôi nhỏ xuống làm nhòe cả những ký tự chết người.

Dũng thì thầm, giọng run:

– Đạn pháo… Có cả hỏa tiễn… Họ mới chuyển tới… Công tác: Ghi tọa độ, chụp hình xong. Không ai tham thêm một giây. Ở đây, tham thì thâm, tham là chết.

Rừng đổi mùi. Không phải mùi lá. Không phải mùi đất.

Mùi người.

Lạc dừng lại đột ngột. Bàn tay giơ lên cứng như gỗ.

Xa xa, có tiếng ho. Tiếng kim loại kéo lê. Một toán khác đang di chuyển. Khoảng cách dưới 200 mét.

Toán nằm ép dán đất suốt cả giờ. Kiến bò lên cổ. Vắt bám vào bắp chân. Không ai cựa. Không nhúc nhích.

Khi tiếng động tan đi, ai cũng ướt đẫm mồ hôi lạnh.

Thiếu úy Bá đưa tay ra hiệu: “Rút.”

Rừng không im nữa. Rừng nghe ngóng.

Thiếu úy Bá đã biết điều đó từ lúc chim bay nhiều hướng. Từ lúc gió đổi mùi, mùi khét kim loại, mùi mồ hôi người lâu ngày.

Cuộc xâm nhập bị bại lộ vào giờ thứ 25. Một tiếng quát lớn vang lên từ phía chốt canh: “Ai đó?” Không đợi câu trả lời, một loạt đạn AK xé toạc không gian. Toán công tác lồng lên chạy. Đây không còn là lúc trốn tìm, đây là cuộc tranh đua với tử thần. Tiếng súng nổ rộ phía sau, đạn rít “chíu chíu” trên đầu, cày nát những thân cây mục. Lạc và Dũng vừa chạy vừa tung những trái lựu đạn khói để ngăn chặn tầm nhìn.

Bãi bốc được chọn là khe chữ V, hai sườn dốc dựng đứng, cây thấp, gió xoáy. Một bãi xấu. Nhưng không còn bãi nào khác. Bãi bốc không phải bãi. Chỉ là một khoảng rừng ít cây hơn bình thường. Chỉ có một khoảng trống vừa đủ cho cái chết chen vào.

Máy PRC-25 mở rất ngắn. Ăng ten không dựng thẳng.

Chỉ nghiêng vừa đủ để trời nghe mà đất không nghe.

Thiếu úy Bá không nói “xin bốc”. Anh nói bằng mật mã: “số 2.” Im lặng. 10 giây dài như 10 năm. Rồi tiếng trả lời bật lên, méo mó, như nói từ đáy giếng: “mở cửa, số 3, cho mở cửa”.

Trái khói màu vàng tung ra cho biết cửa sổ, đó là điểm đang đứng của toán…

Tiếng gunship không đến từ trên cao. Nó đến từ sau núi, thấp, nặng, như tiếng kim loại kéo lê linh hồn ra khỏi xác, 2 chiếc Kingbee lao xuống như những con chim ưng thèm mồi. Phi công phi đoàn 219 liều mạng hạ độ cao, cánh quạt chém sát ngọn cây, thổi bay tung cả một vùng lá khô.

Rồi bầu trời nổ tung xung quanh cửa sổ vừa mở. Hỏa tiễn cắm xuống sườn rừng. Cây bật gốc. Đất đá bay như mưa đạn. Đại bác quay gầm, xé từng mảng rừng, cắt lá như cắt thịt.

Rừng Lào cháy. Không bùng. Mà rỉ lửa, âm ỉ, khét, cay cả mắt.

Trên bản đồ, bãi bốc chỉ là một vòng tròn bút chì. Ngoài đời, nó là một cái miệng đang há.

Gunship báo trước, giọng bình tĩnh đến lạnh:

– Mở bãi xong. Có hỏa lực nhẹ… đang tăng.

Minh không trả lời “rõ”. Anh chỉ đẩy cần, hạ độ cao.

Trong tai nghe, tiếng quạt gió hòa với tiếng tim.

Trong buồng lái, Đại úy Lê Minh nghe rõ từng nhịp tim của chính mình qua tai nghe. Gunship báo:

– Ổ súng chưa câm. Đạn nhẹ, trung liên, có phòng không thấp.

Minh trả lời ngắn: “Biết.”

Anh không hỏi bao nhiêu ổ. Ở độ cao này, biết nhiều không cứu được gì. Kingbees hạ thấp. Thấp đến mức ngọn cây cào vào bụng máy bay. Ngay khi mũi máy ló qua khe núi, đạn lên. Không phải loạt đạn lẻ. Mà là mưa đạn. Đạn vạch đỏ bay ngang kính trước. Đạn đập vào thân nghe như ai ném đá liên tục vào thùng sắt.

Xạ thủ hét:

– Bên trái! Trên sườn!

Pilot Minh nghiêng máy. Không né hết. Chỉ né đủ để chưa trúng chết.

Thiếu úy Bá hét không thành tiếng, chỉ ra hiệu bằng tay:

– Giữ vị trí! Không chạy!

Lạc nằm ép sát đất, tay run đến mức không giữ nổi súng. Dũng cắn chặt hàm, máu rỉ nơi khóe miệng.

Gunship lượn trở lại lần hai. Lần này thấp hơn. Đạn chạm đất, nảy lên, rít qua tai như tiếng quỷ cười, ma nhát. Bãi đã mở thêm rồi. Nhưng rừng không chịu chết.

Kingbees xuất hiện giữa khói, không phải như thiên thần, mà như một con quái thú điên bay chui vào mưa đạn. Ngay giây đầu tiên, đạn phòng không bật lên, chiếu tường vào thân tàu. Không nhìn thấy. Chỉ nghe những tiếng bụp bụp… chui ngọt lịm vào thân tàu.

Bảng đồng hồ rung. Kim nhảy loạn. Một viên đạn xuyên qua khoang sau, đập vào vách, tóe lửa.

Phi công phụ la lớn:

– Áp suất tụt!

Minh gằn giọng:

– Giữ độ cao. Đừng cho nó rơi.

Anh nhìn xuống. Không thấy bãi. Chỉ thấy lửa lẻm nhẻm trong rừng và đạn bắn ngược lên trời. Dây thả xuống. Nó run như biết sắp ăn đạn. Dây thừng thả xuống không thẳng, gió mạnh làm dây quẫy như con rắn bị chặt đầu. Gunship lao vào, bắn thẳng sườn đồi. Rừng bật lửa. Nhưng ổ súng chưa chết. Một viên đạn đập thẳng vào mũi máy bay. Kính nứt. Gió lùa vào như bão gió! Minh nghiến răng, nói qua kẽ răng:

– Lấy người. Nhanh…

Máy rung bần bật. Đèn ca bin trong trực thăng tiếp tục nhảy múa chớp loạn. Trong máy, xạ thủ hét:

– Trúng rồi! Trúng rồi!

Kingbees không đứng yên. Không thể. Nó lơ lửng, nghiêng, cố giữ độ cao trong khói và lửa.

Một ổ đại liên quét lửa đạn lên. Gunship trả lời bằng đạn. Hỏa tiễn quét thẳng sườn đồi đối diện. Một ổ súng im bặt. Nhưng một ổ khác lên tiếng…

Dũng chạy ra để lên trước. Anh ta chụp dây. Gió quật. Khói xộc thẳng mặt. Một loạt đạn xé ngang bãi. Đất bắn lên như ai ném đá. Dũng trượt, dây treo lơ lửng.

Thiếu úy Bá lao tới, không cúi, không bò. Chạy thẳng như kẻ đã ký giấy chết. Anh nắm cổ áo Dũng, đập người lên dây và quát: “LEO!”

Lạc lên sau. Một viên đạn cắm ngay gốc cây cạnh anh, nổ bụp, mảnh gỗ rơi bám đầy ba lô trên lưng. Lạc không kêu, chỉ leo. Như leo khỏi địa ngục. Đến lượt thiếu úy Bá, anh vừa chạm dây thì Kingbees rung dữ dội. Xạ thủ gào:

– Mất áp! Mất áp!

Gunship gầm lên, lao xuống thấp hơn mức an toàn, bắn như điên. Thiếu úy Bá không leo bằng tay nữa. Anh ôm dây bằng cả thân người, để gió và đạn kéo mình lên. Một viên đạn xé ngang vai anh, rách áo, nóng rát. Anh không cảm thấy đau. Chỉ cảm thấy phải lên nhanh hơn.

Tiếng bụp không lớn. Nhưng Minh biết ngay:

– Trúng rồi.

Bảng điều khiển sáng lên những đèn không nên sáng.

Dưới kia, bóng người đang leo lên tàu. Minh thấy họ quá chậm. Nhưng anh cũng biết: chậm là còn sống.

Một loạt đạn quét ngang bãi. Đất bắn lên che kín kính.

Xạ thủ gào:

– Trúng nữa! Trúng nữa!

Đèn báo đỏ. Minh không nhìn đèn. Anh nhìn vòng tua. Chừng nào cánh còn quay, anh còn giữ máy. Minh nói:

– Không vòng nữa. Lấy đủ là đi.

Một tiếng “rầm” nặng vào thân. Máy nghiêng mạnh. Phi công phụ hét:

– Mất điều khiển phụ!

Minh kéo cần bằng toàn bộ sức tay. Vai rát. Cơ tay tê. Kingbee khựng lại trong không trung, như con thú bị bắn nhưng chưa chịu ngã.

Thủy lực tụt. Vòng tua nhỏ không đều.

Phi công phụ quay sang:

– Mất áp số 2.

Minh không thở dài. Anh khóa hàm, nói chậm:

– Giữ. Đừng cho nó rơi.

Gunship gào trong tai nghe:

– Đạn 12 ly! Bên phải! Bên phải!

Minh kéo cần. Máy không nghe đủ. Một viên đạn xuyên qua thân, đập vào ghế sau, xé toạc tấm giáp mỏng.

Xạ thủ hét đau. Không chết. Chưa.

Minh vẫn giữ máy đứng trên cái chết thêm vài giây nữa. Chỉ để lấy đủ người. Ngay khi người cuối cùng lọt vào khoang, Kingbee quật mạnh mũi, nghiêng hẳn sang trái.

Ngay khoảnh khắc đó, một viên đạn xé qua khoảng không anh vừa chiếm. Nếu chậm nửa giây….

Minh kéo cần hết cỡ. Kingbees khựng lại, rồi nhấc mũi như con thú bị thương bật dậy lần cuối.

Dưới đất không còn ai. Chỉ còn đạn bắn vào chỗ trống, đạn vẫn bám theo như đàn ong điên.

Đuôi máy quét ngọn cây. Lá văng như mưa.

Đạn vẫn đuổi theo, nhưng chậm lại.

Rừng cháy, nhưng không có người chết nằm lại.

Rừng lùi lại. Lửa nhỏ dần. Chỉ còn khói đen bám theo như bóng ma. Kingbees xé khỏi bãi, Gunship lao lên che phía sau. Ăn đạn thay.

Khi khoảng rừng tụt xuống phía dưới, Minh mới thở ra được một hơi.

Không ai trong buồng lái nói câu nào. Tất cả đều biết: Chỉ cần chậm thêm vài giây, là: “Xuân này con không về”… Trong khoang, những người vừa thoát địa ngục ngồi im như tượng. Minh vẫn nắm cần lái. Tay run rất nhẹ. Không phải vì sợ. Mà vì nếu buông ra, anh sợ mình sẽ nhớ lại từng giây đã giữ cả bọn lơ lửng giữa sống và chết.

Những ngày bên kia biên giới, toán Chiêu hồi không mang về chiến lợi phẩm nào ngoài vài tấm ảnh mờ và tọa độ lạnh lùng, nhưng mỗi người đều biết rất rõ: có một phút đã lấy đi cả đời ngủ yên của họ, và không ai trong số đó thực sự trở về nguyên vẹn.

Phạm Sơn Liêm

Hải Quân Đại uý Tee Nguyen (gốc Việt), Sĩ quan Đội thám sát đặc biệt số 1 (SRT-1), Lực lượng đặc nhiệm Hải quân Hoa Kỳ.

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on February 1, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 3 Feb 2026

HQ Đại uý Tee Nguyen (hình của linkedin.com).

Hải Quân Đại uý* Tee Nguyen tốt nghiệp Học viện Hải quân Hoa Kỳ (United States Naval Academy) năm 2017 với Văn bằng Cử nhân-kinh tế. Ông là Trửỏng phòng hệ thống dụng cụ lặn không người lái (Unmanned Underwater Systems (UUS) của Đội thám sát đặc biệt số 1 (SRT-1) thuộc Nhóm tác chiến đặc biệt Hải quân số 8 (NSWG-8) tại căn cứ Hải quân San Diego, California. Ông là Sĩ quan được cấp giấy phép an ninh tối mật/thông tin phân loại nhạy cảm (TS/SCI), là một trong những giấy phép an ninh cao nhất của Hoa Kỳ cho phép tiếp cận thông tin mật, thông tin tình báo mà việc tiết lộ có thể gây ra “thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng” cho an ninh quốc gia. Giấy phép này yêu cầu một cuộc điều tra hồ sơ lý lịch nghiêm ngặt, kéo dài nhiều tháng (SF-86), và phải được một cơ quan chính phủ bảo trợ. Ông được chỉ định đảm nhận vị trí hiên nay từ tháng 1 năm 2022,

Đơn vị đầu tiên trong hải nghiệp của một Sĩ quan mới ra trường, HQ Thiếu uý** Tee Nguyen được chỉ định phục vụ tại Trung tâm dự báo thời tiết Hạm đội ở Norfolk, Virginia (Fleet Weather Center Norfolk VA), từ tháng 10 năm 2017. Tại đây ông lần lượt đảm nhân các vị trí: Nhiệm vụ đầu tiên, ông là Sĩ quan phụ trách phân đội Bravo và Delta, Ông chỉ huy và quản lý hơn 70 Quân nhân và Nhân viên dân sự tại trạm trực khí tượng và hải dương học (METOC) lớn nhất của Hải quân. Năng lực lãnh đạo chỉ huy của ông đã truyền cảm hứng cho các Hạ sĩ quan và Thủy thủ hoàn thành 71 chứng chỉ. Sự tận tâm hướng dẫn của ông đã mang lại thành công tuyệt đối cho các danh hiệu Thủy thủ trẻ xuất sắc nhất, Hạ sĩ quan xuất sắc nhất của đơn vị trong năm tài khoá YF-19. Những nhiệm vụ tiếp theo, HQ Thiếu uý Tee Nguyen giữ vai trò Sĩ quan trực chỉ huy (CDO); Sĩ quan lập hải trình tối ưu cho tàu (Optimum Track Ship Routing – OTSR); Sĩ quan kế hoạch hành quân tác chiến tương lai (FUOPs); Sĩ quan phụ tá điều hành; Sĩ quan điều hành hải trình. Ông phục vụ tại Trung tâm dự báo thời tiết Hạm đội, Norfolk cho đến tháng 9 năm 2020.

HQ Trung uý Tee Nguyen (Hình của navyoutreach.blogspot.com).

Từ tháng 6 năm 2021 đến tháng 10 năm 2021, HQ Trung uý** Tee Nguyen được chỉ định phuc vụ tại Lực lượng đặc nhiệm Hải quân – các Toán SEAL Hải quân Hoa Kỳ (Naval Special Warfare – U.S. Navy SEAL Teams) tại căn cứ Hải quân San Diego, California, ông chỉ huy bộ phận khí tượng và hải dương học thuộc Phòng tình báo N2 của Đội SEAL ONE. Giám sát và hướng dẫn 10 giờ huấn luyện, 25 bản dự báo và 20 bài thuyết trình hỗ trợ nhiệm vụ huấn luyện quan trọng trong giai đoạn huấn luyện cấp đơn vị của chu kỳ huấn luyện giữa các đợt khai triển, chuẩn bị cho đợt hoạt động sắp tới của Đội SEAL ONE.

Nhiệm vụ tiếp theo, HQ Trung uý Tee Nguyen phục vụ tại Trung tâm Hải dương học chiến tranh đạc biệt Hải quân (Naval Oceanography Special Warfare Center) tại San Diego . Tại đây ông là Sĩ quan kế hoạch/huấn luyện tác chiến thông tin, và được Sĩ quan quyền Chỉ huy trưởng, Đội đặc nhiệm hải dương học Hải quân (Naval Oceanography Special Warfare Detachment) chọn làm sĩ quan huấn luyện của Nhóm đặc nhiệm Hải quân số 1 (Naval Special Warfare Group One), cung cấp khóa huấn luyện Sĩ quan tác chiến thông tin và khí tượng học, hải dương học (METOC) để đào tạo các sĩ quan và thủy thủ theo thụ huấn.

Nhiệm vụ hiện nay, HQ Đại uý Tee Nguyen là Trửởng phòng hệ thống dụng cụ lặn không người lái (Unmanned Underwater Systems (UUS) của Đội thám sát đặc biệt số 1 (SRT-1) thuộc Nhóm tác chiến đặc biệt Hải quân số 8 (NSWG-8) tại căn cứ Hải quân San Diego, California. Ông là một trong hơn 250 nam nữ HQ Đại uý gốc Việt phục vụ các ngành tác chiến, yểm trợ và chuyên môn trong Quân chủng Hải quân Hoa Kỳ.

Sĩ quan Hải Quân gốc Việt phục vụ ngành Chiến tranh đặc biệt của Hải quân Hoa Kỳ (Naval Special Warfare/Naval Special Operations (NSW/NSO) officers), Ngoài HQ Đại uý Tee Nguyen, còn có một số Sĩ quan khác, đó là cựu HQ Đại tá Hung Cao, nay là Thứ trưởng Hải quân Hoa Kỳ; HQ Thiếu tá Long Hung Phan (em trai của HQ Trung tá Chris Phan, Luật sư quân pháp) và vài vị Sĩ quan cấp uý khác cùng với một số Hạ sĩ quan và Thuỷ thủ đã đang phục vụ trong Lực lượng đặc nhiệm Hải quân Hoa Kỳ.

Chú thích: *HQ Đại uý=Navy Lieutenant; **Ghi theo thời gian mang cấp bậc.

Phận người vận nước

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 3 Feb 2026

Phần 2 – Phân đoạn 2

Hào kiệt nước Nam không đời nào thiếu – Tướng quân Nguyễn Văn Hiếu

Tướng Quân Nguyễn Văn Hiếu (1929 – 1975)

(Trong bài có trích dẫn nhiều đoạn từ tác phẩm “Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu” – Tác giả Nguyễn Văn Tín, Cali xuất bản năm 2005).

Chúng ta vừa qua tháng 6 với Lễ Tưởng Niệm người Lính Vị Quốc Vong Thân ở nước Mỹ, trùng với thời điểm Ngày Quân lực Việt Nam Cộng hòa để tưởng nhớ Người Lính đã bảo vệ miền Nam suốt một phần tư thế kỷ. Những ngày tháng buộc phải liên tưởng đến mối uất hận không nguôi khởi từ những ngày tháng 3, tháng 4, 1975 ba mươi tám năm trước. Uất hận nước mất, nhà tan, đọa đày, khổ nhục không cơ hội phục hồi, không khả năng giải thích. Bởi từ đâu? Và do những ai?! Để sau đó, mỗi người tự hoàn cảnh riêng rẽ, phải tìm cách biện minh với bản thân trước những câu hỏi khắc nghiệt: Tại sao xảy đến nông nỗi này? Tại sao đã phải chịu đựng tình thế bi thảm ấy? Và đồng lúc hiểu ra như một cách an ủi, cùng đành: Nỗi Đau này là Nỗi Đau Chung – Nỗi Đau toàn Dân Việt phải đồng lần gánh chịu. Nhưng trong cơn đau thương của buổi quê nhà tàn cuộc hấp hối trong tháng 4, 1975, có một người, cả một gia đình phải chịu tình huống oán hờn sắc đậm hơn, sớm sủa hơn trước khi miền Nam đổ sụp: Gia đình của Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu – Vị Tướng Quân bị bức tử cùng lúc đất nước lâm hồi cùng kiệt. Chúng ta sống lại cảnh huống của phận Người Lính uất hận và vận Nước điêu linh – Ngày 8 tháng 4, năm 1975 – Ngày Người Lính Trung Hiếu Dũng Lược bị oan hờn bách hại.

1. Buổi đầu khởi cuộc

Năm 1949, sau khi Hồng Quân Trung cộng thâuchiếm Hoa Lục, người thanh niên Nguyễn Văn Hiếu vừa đúng hai mươi tuổi cùng gia đình rời Thượng Hải, từ một tô giới thuộc Pháp trở lại quê nhà, bến Sài Gòn. Tiếp theo, anh di chuyển ra Hà Nội vì thân phụ, ông Nguyễn Văn Hướng, một nhân vật cao cấp của ngành An ninh, tình báo quốc gia khi chế độ vừa thành hình đầu những năm 50, được chỉ định giữ chức vụ Phó Giám đốc Công an Bắc phần. Với ảnh hưởng giao thiệp rộng, quyền chức của người cha trong chính giới; thêm trình độ học vấn cao (sinh viên Đại học Kỹ thuật Aurore, hệ thống đại học tư do các linh mục Dòng Tên điều hành) và khả năng Anh, Pháp, Hoa thông thạo, người sinh viên Nguyễn Văn Hiếu hắn quá dễ dàng, thuận lợi để theo học ngành, nghề kỹ thuật cao cấp nơi những trường Cao đẳng Âu, Mỹ, vốn đang là một phong trào nở rộ khi bắt đầu giữa thế kỷ 20 (sau Thế Chiến thứ Hai); hơn nữa số lượng sinh viên dự thi, du học lại quá ít ỏi. Nhưng anh chọn hướng đi khác, đường bất trắc, nguy biến hơn – Đời sống quân ngũ với nhiệm vụ Người Linh Chiến Đấu. Năm 1950, anh nhập học Khóa 3 trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, một trong những khóa đầu tiên sau khi trường chuyển từ Đập Đá (Huế) lên Đà Lạt trong kế hoạch đào tạo cấp chỉ huy cho Quân đội Quốc gia. Đấy sẽ là một quân đội với thành phần sĩ quan cán bộ hứng chịu toàn bộ gánh nặng cuộc chiến tranh Quốc – Cộng kéo dài theo ba thập niên với kết thúc bi thảm oan nghiệt của ngày 30 tháng 4, 1975 sau này.

Người thanh niên Nguyễn Văn Hiếu – Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu – quả tình đã đi suốt những tháng ngày bão lửa quê hương không hề đứt đoạn và kết thúc cùng lần với vận nước gian truân. Chúng ta có bổn phận phải nhắc toàn bộ hành trình chiến đấu của Người – Vị Tướng Quân Sống -Chiến Đấu – Chết theo cùng Mệnh Nước – để nhiên hậu lịch sử dân tộc phải xác chứng một điều cao cả: Người Lính Quân lực Việt Nam Cộng hòa quả là chủ thể thực hiện nhiệm vụ Bảo Quốc – An Dân, cho dù vận nước gặp phải thời suy mạt, với phận người chiến sĩ bị bức hại uất hận qua thất trận năm 1975.

Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu là một điển hình về tinh thần hy sinh khắc kỷ của Người Lính Cộng Hòa. Cái chết của Người dẫu là một kết thúc bi thảm nhưng đồng thời cũng rọi sáng thêm lòng trung liệt vô hạn thanh cao. Đoạn đường binh nghiệp của Người Lính Nguyễn Văn Hiếu khởi đầu với những bước bất trắc không suôn sẻ, dẫu người sinh viên sĩ quan Khóa 3 trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt ấy hội đủ tất cả những khả năng tối ưu để hoàn tất chương trình khóa học với chỉ số điểm cao nhất. Anh đã là sinh viên sĩ quan có điểm văn hóa cao nhất, điểm quân sự cao nhất, cũng cao nhất về điểm hạnh kiểm (côte d’amour) do tánh tình khoan hòa, khiêm tốn, luôn giúp đỡ đồng bạn, mực thước và trọng nguyên tắc – Mẫu người bẩm sinh thích hợp với đời sống quân ngũ – Nói rõ hơn, những người tuối trẻ được sắp sẵn tinh thần, trí tuệ, cá tính, ngoại hình, thể chất để trở nên hàng Tướng soái thống lĩnh ba quân nơi trận địa.

Những De Gaulle, De Lattre, Bigeard của Quân lực Pháp; Montgomery của Ky binh Hoàng Gia Anh; Rommel, Con Sói Sa Mạc của Quân đoàn Bắc Phi Quốc Xã Đức; hay Người Lính Lớn của Quân Lực Mỹ, McArthur. Thiếu úy Nguyễn Văn Hiếu tốt nghiệp với thứ hạng Á Khoa, nhường vinh dự Thủ khoa cho Thiếu úy Bùi Dzinh, bởi lẽ Quốc Trưởng Bảo Đại đã có chỉ dụ: Muốn thấy một người miền Trung giữ vị trí danh dự kia. Thiếu úy Hiếu không chút ty hiềm – Ông vững tin vào bản lãnh, năng lực riêng – Sức tự tin cao độ của Người Chiến Đấu với Tinh thần Kẻ Sĩ Đông Phương. Cuộc đời ngoại hạng tiếp theo chứng nhận chính xác về những phẩm chất cao quý đã lộ hé từ bước khởi đầu này. Tai họa kế tiếp do bịnh lao phổi gây nên từ lần trúng mưa, nhiễm lạnh nơi trường Đà Lạt trong một buổi huấn luyện thế chất (cũng có nguyên nhân ẩn tàng vì thân mẫu đã qua đời bởi chứng lao phổi). Và có thể đây là cớ sự đã gây nên lần tinh thần bị dao động của viên Trung úy trẻ tuổi khi nghe người bạn cùng khóa, Đại úy Lữ Lan kể về những chiến công tại mặt trận Quảng Trị (thành tích đã đưa người bạn đồng khóa này sớm thăng cấp Đại úy). “Moa bây giờ đã là một phế nhân, không biết cuộc đời mình sau nầy sẽ ra sao?” (NVT sđd trg 31).

Nhưng lời nói có tính cách ngã lòng trên giường bệnh ở Bệnh viện Lanessan (Hà Nội) này chỉ là dấu hiệu tạm thời và Trung úy Hiếu đã không như phần đông quân nhân mắc phải căn bệnh nguy nan này (đối với đời sống quân ngũ luôn cần thể lực tốt; hơn nữa ở buổi đầu hậu bán thế kỷ 20, thuốc chữa trị bệnh lao phổi vốn hiếm, quý), thường lấy cớ để rời bỏ quân đội. Thế nên, sau khi chữa lành bệnh ông về Nam, tiếp tục đời sống quân nhân với tư thế, tinh thần mới qua chức vụ sĩ quan Tham mưu hành quân nơi văn phòng Tham mưu Trưởng Đại Tá Trần Văn Đôn. Với nhiệm vụ sĩ quan Phòng Ba (Phòng Hành Quân, Huấn Luyện – Bộ phận quan trọng hàng đầu thuộc tổ chức Tham mưu của tất cả quân đội hiện đại) năng lực Đại úy Nguyễn Văn Hiếu được phát triển toàn diện, chuẩn bị cho những chức vụ chỉ huy Tham mưu, Tư lệnh sau này. Vì lẽ này, khi Đại Tá Trần Văn Đôn thăng cấp Thiếu tướng, lãnh nhiệm vụ Tư lệnh Quân đoàn I (Vùng I Chiến Thuật, từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi) đã đưa viên sĩ quan Tham mưu ưu tú này cùng ra Đà Nẵng.

Năm 1970, khi viên sĩ quan Tham mưu ngày trước lúc ấy đã là Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu, Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh phải ra điều trần trước Quốc hội về vụ thất bại trong lần rút quân khỏi thị trấn Snoul (Campuchia), Thượng Nghị Sĩ Trần Văn Đôn, Chủ tịch Úy ban Quốc phòng Thượng Viện đã có lời bảo chứng xác đáng: “Nếu Quân lực Việt Nam Cộng hòa có được nhiều tướng tài giỏi như Tướng Hiếu thì Việt Nam đã không mất” (NVT sđd trg57). Chắc rằng lời nhận xét này không là tiếng nói do ân huệ chủ quan mà xuất phát từ một thực tế đã được chứng nghiệm. Chúng ta hãy xét tới những chiến trận điển hình để minh xác đánh giá vừa kế ra.

II. Giữa chiến Địa

Cho dẫu những người viết quân sử có những ý kiến khác nhau bao nhiêu (ngay đến giới chức, học giả người Mỹ vốn có thiên kiến bất công đối với Quân lực Việt Nam Cộng hòa), nhưng tất cả hẳn phải đồng ý một điều: Tướng Đỗ Cao Trí là một trong những Tướng lãnh thao lược nhất của quân đội miền Nam; của cả Việt Nam (nếu so với hàng Tướng lãnh miền Bắc); cũng không kém sút đối với các danh tướng đồng minh. Nhưng chắc rằng, phần lớn số đông kia hẳn đã thiếu phần xác chứng do họ đã không tìm hiểu ra một trong những nguyên nhân cấu tạo nên những chiến thắng của Danh tướng Đỗ Cao Trí. Nguyên nhân ấy đã có từ lúc nắm giữ chức Tư lệnh Sư đoàn I Bộ binh (trước đảo chính 11/11/1963), Đại Tá Đỗ Cao Trí đã giao nhiệm vụ Tham mưu Trưởng Sư đoàn vào tay Trung Tá Nguyễn Văn Hiếu. Sự gắn bó chặt chẽ giữa hai con người chiến đấu kéo dài qua suốt một thập niên (60-70), chỉ thật đứt đoạn khi Tướng Trí bị tử nạn trực thăng trong ngày 23 tháng 2, 1971, trước khi sắp rời chức vụ Tư lệnh Quân đoàn III (Biên Hòa) để ra Đà Nẵng thay thế Tướng Hoàng Xuân Lãm lúc chiến trận Hạ Lào (Hành Quân Lam Sơn 719) đang hồi nguy kịch.

Tướng Đỗ Cao Trí cũng đã chỉ thuận nhận chức vụ Tư lệnh Vùng I nếu người thay thế ông giữ chức Tư lệnh Vùng III không phải ai khác mà chính là (và chỉ là): Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu, Nguyên Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh (Bình Dương) – Mũi nhọn xung kích đã cùng ông tạo nên Chiến thắng Bình Tây – Chiến dịch đánh vỡ Trung ương cục miền Nam khởi sự từ cuối năm 1969.

Phải có một điều gì sâu xa hơn ngoài nhiệm vụ quân sự đã làm mối nối liên kết giữa hai con người kỳ tài kia. Những chiến công lẫm liệt sau sẽ là lời giải thích tường tận về cuộc phối hợp toàn hảo giữa một viên Tư lệnh dũng cảm và một Tham mưu Trưởng ngoại hạng. Điều này cũng là một đinh chính xét ra cần thiết nêu lên: Tướng Đỗ Cao Trí không hề là một người “kỳ thị Nam – Bắc” như tin đồn đãi mà trái lại, chính ông là người “bảo vệ “ Tướng Hiếu đến kỳ cùng. Tương tự như thế, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu chỉ có thế hoàn tất được nhiệm vụ khó khăn trong “Ủy Ban Bài Trừ Tham Những” nếu không được một người miền Nam – Kẻ Sĩ sáng ngời danh tiết thuần túy Nam bộ rất mực thương yêu, quý trọng, gìn giữ: cụ Trần Văn Hương.

1964: Phá Đỗ Xá Mật khu Đỗ Xá của lực lượng cộng sản vốn nằm trong vùng miền núi ranh giới hai tỉnh Kontum, Quảng Ngãi theo chia vùng lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa; hoặc thuộc khu vực hoạt động của hai mặt trận B3 và B5 cộng sản. Đây là vùng hiểm trở nhất của dãy Trường Sơn với đỉnh Ngọc Lĩnh cao 8524 bộ, trấn giữ toàn vùng Hạ Lào, đổ xuống đồng bằng duyên hải miền Trung thuộc hai tỉnh Quảng Nam – Quảng Ngãi, cũng là đường thông về Kontum, Pleiku của Cao nguyên Trung Phần. Mật khu được đặt dưới quyền của Tướng cộng sản Nguyễn Đôn, vốn là một vùng bất khả xâm phạm từ chiến tranh Pháp – Việt, giai đoạn 1945-1954. Vào buổi chiến tranh Đông Dương lần thứ hai (1960-1975), từ lúc giữ chức Tư lệnh Quân đoàn | (Đà Nẵng), Tướng Trí đã muốn “hỏi thăm” vùng cấm địa  ày, nhưng do không đủ lực lượng để mở cuộc hành quân lớn (nhất là không quân chiến thuật yểm trợ và trực thăng đổ quân); thêm nữa những biến động chính trị, xã hội suốt năm 1963 khiến ông phải bỏ qua dự định dọn sạch Mật khu Đỗ Xá.

Tháng 1/1964, Tướng Trí đổi lên trấn thủ Vùng II (Cao nguyên Trung Phần), “cục xương” Đỗ Xá trở lại như một thách thức và lần này ông quyết ra tay, dẫu vùng hành quân dự trù phần lớn nằm trong địa vực tỉnh Quảng Ngãi (thuộc Vùng I Chiến Thuật). Đại Tá Nguyễn Văn Hiếu, Tham mưu Trưởng Quân đoàn II được trao nhiệm vụ thiết lập, điều động kế hoạch hành quân dưới quyền chỉ huy của Tư lệnh Quân đoàn, Thiếu Tướng Đỗ Cao Trí và Tư lệnh Phó, Thiếu Tướng Lữ Lan. Lực lượng hành quân chia làm hai cánh: Cánh A gồm ba Tiếu đoàn Biệt Động Quân dưới quyền của Thiếu Tá Sơn Thương; Cánh B do Thiếu Tá Phan Trọng Chinh chỉ huy Trung đoàn 50 Bộ binh làm nỗ lực chính; cánh quân này được tăng phái Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù của Thiếu Tá Ngô Quang Trưởng. Với khả năng giao thiệp rộng từ lúc còn là phụ tá hành quân Quân đoàn I, Đại Tá Hiếu đã có liên hệ mật thiết với Thiếu Tá Thủy quân Lục chiến Wagner, cố vấn của đơn vị Thủy quân Lục chiến Mỹ bên cạnh bộ tư lệnh Quân đoàn, nên hôm nay hai người là nhân tố chính để phối hợp soạn thảo kế hoạch trực thăng vận với Phi đoàn HMM-364 của Thủy quân Lục chiến Mỹ với số lượng 16 trực thăng H34 chuyển quân, đồng đổ bộ một lúc xuống bãi đáp, được hai trực thăng H34 của Không quân Việt Nam từ Đà Nẵng vào tăng cường.

Đoàn trực thăng chuyển quân có năm chiếc UH-1B võ trang thuộc Tiếu đoàn 52 Không quân “Dragon Flight” của Lục quân Mỹ yểm trợ bảo vệ suốt lộ trình tới mục tiêu và tại bãi đáp (LZ) Đỗ Xá. Vùng hành quân được phi cơ quan sát L19 “Bird Dog” Hoa Kỳ bao vùng, chỉ điểm, ngoài ra còn có máy bay Helio Courier STOL của Đại Tá Merchant, văn phòng CIA và Đại Tá Cố vấn Trưởng Quân đoàn I bay trên cao độ 5,000 bộ để thanh sát tổng quát cuộc hành quân với chỉ danh Sure Win 202 về phía Thủy quân Lục chiến Mỹ. Từ thực tế vừa trình bày, Hành Quân Quyết Thắng 202 không chỉ là một hoạt động quân sự thuần túy, nhưng đã là cuộc trắc nghiệm khả năng quân lực Cộng hòa sau những biến động chính trị 1963, 1964 và cụ thế là lượng giá khả năng của chính những sĩ quan cao cấp đang chỉ huy, điều động cuộc hành quân. Ngày 27 tháng 4, 1964 chiến dịch tấn công Đỗ Xá bắt đầu. Từ phi trường Quảng Ngãi, nơi đặt Bộ Chỉ huy Hành quân, 18 trực thăng H34 đợt xung kích đầu tiên đồng loạt đưa toàn bộ Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù vào trận địa. Súng cao xạ của cộng sản không chỉ bố trí chung quanh bãi đáp, nhưng dài theo thung lũng dọc đường bay của trực thăng chuyển quân.

Hãy nghe lại lời kể của Đại úy “Woody” Goodmansee, Trưởng toán trực thăng võ trang (sau này là Trung Tướng Lục Quân hồi hưu): “Trong đợt đầu trực thăng đầu bay thấp khoảng 100 bộ, tất cả bốn trực thăng Dragon đều thả khói hai bên trực thăng (để ngụy trang). Tôi có thể thấy các lằn đạn xẹt ngang dọc từ cả hai bên (lộ trình bay). Trong một vòng bay từ Tây sang Đông, tôi bị một súng phòng không 50 ly nhắm bắn từ phía Nam, một lằn đạn xẹt qua dưới bụng trực thăng … (NVT sđd trg 351).

Đấy là cảnh tượng trên không. Dưới mặt đất, Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù bị tấn công ngay tại bãi đáp, Thiếu Tá Ngô Quang Trưởng dàn hết bốn Đại đội tác chiến lẫn Đại đội chỉ huy để cự địch. Đại đội Trưởng Trần Đại Tân Âu tử thương ngay từ khi xuống bãi đáp; khẩu súng 57 không giật của Đại đội chỉ huy công vụ (vốn là súng phá công sự, chống chiến xa) nay biến thành vũ khí bằn thẳng để bảo vệ cận phòng bộ chỉ huy Tiểu đoàn. Tướng Đỗ Cao Trí đích thân chỉ huy trận địa từ trên không, trực thăng chở ông và các Tướng Lữ Lan, Tướng Minh (Tư lệnh Không quân sau này) phải bay sát ngọn cây để tránh phòng không; nhưng về đến phi trường Quảng Ngãi, kiểm soát lại, lưng và bụng trực thăng đều bị trúng đạn lỗ chỗ. Không núng thế, Tướng Trí thả nốt Tiểu đoàn Biệt Động quân vào trận, tiếp sức với nhảy dù cày sạch vùng bất khả xâm phạm gọi là Đỗ Xá.

Chỉ riêng ngày thứ hai của cuộc hành quân, phía biệt động đã tịch thu được một đại liên 30 ly, một trung liên, sáu tiểu liên và 144 súng cá nhân, một ngàn bịch chất nố, một số lượng lớn quân trang, lựu đạn, mìn và tài liệu quan trọng. Cuối trận, tổng số vũ khí có thêm hai phòng không 52 ly, một đại liên 30 ly và 69 súng cá nhân với 62 xác đếm tại hiện trường; 17 tù binh bị bắt. (NVT sđd trg 347-348). Cuộc hành quân chấm dứt đúng một tháng sau, 27 tháng 5 do Trung đoàn 50 Bộ binh của Thiếu Tá Phan Trọng Chinh hoàn tất quét sạch toàn vùng Đỗ Xá sau khi Nhảy Dù và Biệt Động Quân đã kết thành vòng đai chận bít không để lực lượng cộng sản chạy lẫn vào vùng núi phía Tây, hoặc về phía Nam của Cao nguyên Trung Phần. Số lượng vũ khí và nhân mạng phía cộng sản bị thiệt hại như kể trên không phải là một thắng lợi quân sự quá to lớn, nhưng đứng về mặt chính trị đã chứng minh điều quan trọng: Sau những xáo trộn chính trị (1963-64) mà tập thể người lính bị cuốn hút vào do những quân nhân chỉ huy muốn tranh đoạt quyền lực lãnh đạo Quốc gia theo một phong trào “Quân nhân cầm quyền với sức mạnh nòng súng” đang diễn ra trên toàn thế giới (Nasser ở Ai Cập; Phác Chánh Hy, Đại Hàn; Fidel Castro, Cuba; gần gũi, trong khu vực Đông Dương với Đại úy Kông Le ở Lào ..) Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã lấy lại sức mạnh chiến đấu cơ hữu; có khả nang thực hiện những cuộc hành quân lớn cấp Trung đoàn, Sư đoàn nếu như những sĩ quan Tham mưu, chỉ huy được yểm trợ xác đáng và nhất là để họ toàn quyền điều động đơn vị quân binh theo thực tế chiến trường chứ không là một biểu diễn bề mặt vì mục tiêu chính trị.

Chứng minh điển hình đối với luận cứ này là Hành Quân Phi Hỏa với hằng trăm trực thăng chuyển quân (Hành quân trực thăng vận lớn nhất, huy động trực thăng toàn vùng Đông – Nam Á) với lần tham dự của bốn Tiểu đoàn nhảy dù đồng đổ bộ xuống vùng mật khu Hố Bò (Bình Dương) vào cuối tháng 8 cũng trong năm 1964 đã không đưa lại kết quả mong muốn. Hoặc tại chính chiến trường Đỗ Xá này, Tướng Nguyễn Khánh và Tham mưu Trưởng Ngô Dzu đã một lần thất bại trước khi hoán đổi vùng trách nhiệm với Tư lệnh Đỗ Cao Trí và Tham mưu Trưởng Nguyễn Văn Hiếu.

Cuối cùng, tất cả đã chứng minh: Hành Quân Quyết Thắng 202 của Quân đoàn II vào Đỗ Xá là một  kế hoạch hành quân chính xác, đáp ứng đúng điềukiện, yêu cầu của chiến trường, được chỉ huy, điều động bởi những con người thao lược nơi trận tiền với quyết tâm: Đánh tất thắng chứ không là cuộc diễn binh cầu may với mạng sống của quân sĩ. Ngoài ra, có một chi tiết nhỏ nhưng cần phải nêu rõ: Những đơn vị nhảy dù, biệt động, bộ binh nơi mặt trận Đỗ Xá đồng được chỉ huy bởi những sĩ quan vốn xuất thân binh chủng Nhảy dù: Tướng Đỗ Cao Trí, các Thiếu Tá Phan Trọng Chinh, Ngô Quang Trưởng, Sơn Thương – Nhưng tất cả diễn tiến hành quân đã được Đại Tá Bộ binh Nguyễn Văn Hiếu lập kế hoạch tổ chức và điều hành chỉ huy Tham mưu – Đây cũng là mục đích của công việc muộn màng nhưng cần thiết của chúng ta hôm nay đối với Người Lính đã Vị Quốc Vong Thân qua cách vô ân của một chế độ do những người cầm đầu bất nhân nghĩa, tham nhũng, xây công danh, tài lợi trên xương máu chiến sĩ, đồng bào, đồng đội. Những phần tiếp theo sẽ minh chứng Nỗi Đau Chung này dẫn đến lần đau tàn cuộc ngày 30 tháng 4, 1975.

1965: Đánh thông Quốc lộ 19, Đèo An Khê

19 giờ chiều ngày 24 tháng Sáu, 1954, mà chỉ không đầy một tháng sau (20 tháng 7, 1954) Hiệp định Genève sẽ ký kết, chấm dứt chiến tranh Đông Dương lần thứ Nhất. Nhưng trên đèo Mang Yang, nơi Cây số 15, Quốc lộ 19 nối Pleiku (Thủ phủ quân sự vùng Cao Nguyên) với Quy Nhơn (Hải cảng quan trọng của duyên hải Trung Việt) đang diễn ra cảnh tượng địa ngục … Trung đoàn 803 cộng sản cố tâm diệt gọn Trung đoàn Triều Tiên của Quân đoàn Viễn Chinh Pháp, đơn vị lập kỳ tích chận đứng làn sóng biển người của Hồng quân Trung cộng nơi mặt trận Triều Tiên năm 1953 bên cạnh Sư đoàn 2 Bộ binh Mỹ. Thế nên, binh sĩ của Trung đoàn Triều Tiên này vẫn mang nơi vai áo huy hiệu Ngôi Sao Trắng với hình tượng Đầu Người Da Đỏ của Sư đoàn 2 Bộ binh Mỹ đế đánh đấu chiến thắng vinh dự kia. Nhưng vào năm 1954 với đèo An Khê của chiến

tranh Việt Nam chứ không là bán đảo Triều Tiên của năm 1953 nên những thành phần sống sót của Chiến

đoàn Lưu Động số 100 – Group Mobile 100 mà Trung đoàn Triều Tiên là thành phần xung kích điển hình, mối kiêu hãnh của Chiến đoàn đang cố gắng tập họp lực lượng lại sau lần bị nghiền nát bởi sáu giờ kịch chiến với bộ đội cộng sản. Thật sự ra họ đã chịu đựng sáu tháng hiểm nghèo từ khi tham chiến nơi mặt trận Cao nguyên Trung Phần nước Việt. Đêm xuống mau dẫu trời miền núi tháng Sáu soi rọi những ánh chớp chói lòa khi binh sĩ ném lựu đạn lân tinh phá nòng súng đại bác; đốt cháy quân trang quân cụ; bắn hết đạn các súng cộng đồng, vũ khí nặng trước khi phá hủy để chuẩn bị cho vụ rút chạy khỏi vùng tập kích của Trung đoàn 803 cộng sản. (Bernard B. Fall, Street Without Joy. Schoken Books – New York, 1972 pp214-220).

Phải nói nói rõ hơn, trận chiến đèo An Khê trên Quốc lộ 19 với lần tiêu diệt toàn bộ Chiến đoàn Lưu Động số 100 (G.M.100) năm 1954 chỉ là diện chiến thuật của một sách lược lớn của chiến trường Đông Dương bao gồm Cao Nguyên Trung Phần, ngã ba biên giới ba nước Việt – Miên – Lào. Đấy là cô lập Cao Nguyên, chiếm giữ đường di chuyển Bắc – Nam mặt Đông Trường Sơn, theo đường 14 xuống chiếm Ban Mê Thuột, vào vùng thượng nguồn sông Đồng Nai, tiếp đến miền Đông Nam Bộ. Thế trận của năm 1954 sau này được lập lại trong những năm 1974-1975 trước khi mất miền Nam với lãnh thổ Cao Nguyên miền Trung bị bỏ trống do cuộc di tản tai họa theo tỉnh lộ 7 từ Pleiku về Tuy Hòa của Quân đoàn II và toàn thể lực lượng diện địa thuộc Quân khu II trong tháng 3 năm 1975. Cuối cùng, kế hoạch xâm thực của Trung cộng hiện nay, đầu thế kỷ 21, cũng là củng cố địa bàn Cao Nguyên miền Trung qua các trọng điểm khai thác bâu-xít Nhân Cơ, Tân Rai bằng cách đóng chốt vùng cao nguyên, xương sống nước Việt với những đoàn quân binh, phạm nhân ngụy trang làm công nhân kỹ nghệ. Tất cả đang đợi một giờ G, ngày N để tháo bùn đỏ theo sông Đồng Nai tràn về miền Đông Nam Bộ. Để rồi từ cao nguyên đánh xuống đồng bằng, nối với các chốt (ngụy trang những bè cá ở Cam Ranh, Nha Trang ..) vùng duyên hải, phối hợp với lực lượng hải – lục quân từ Hoàng, Trường Sa đổ bộ vào. Kế hoạch xâm chiếm Việt Nam từ Cao Nguyên Trung Phần như vừa kể ra không phải là một cuộc chiến tưởng tượng nhưng là một quan niệm điều quân rất có khả năng thi hành đối với tất cả những ai có hiểu biết lý thuyết quân sự, kinh nghiệm chiến trường. Cụ thể qua hai cuộc chiến 1954 và 1975 nơi chiến trường Cao Nguyên quyết định này. Trở lại năm 1965 nơi núi rừng Tây Nguyên. Chúng ta hãy xem Đại Tá Tham mưu Trưởng Quân đoàn II đã chiến đấu như thế nào để giữ vững Trường Sơn. Năm 1965, Hà Nội phát động một chiến dịch nhằm cắt đôi Việt Nam từ Cao Nguyên xuống đồng bằng theo đường 19 theo một kế hoạch đánh bại Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong một trận chiến quy ước với những Sư đoàn chính quy cộng sản Bắc Việt. Đến giai đoạn này, chúng ta phải dùng đến cụm từ “cộng sản Bắc Việt” vì những lực lượng tham chiến thuần là những đơn vị chính quy thuộc mặt trận B3 và B5 được chỉ huy, điều động bởi Bộ Tổng quân ủy miền Bắc với sao chép nguyên bản từ chiến dịch Đông – Xuân 1954 như trên vừa kể ra. Quốc lộ 19, đèo Mang Yang thêm một lần sôi máu lửa. Ngày 20 tháng 2, 1965 Căn cứ tiền phương số I của một Đại đội Dân Sự Chiến Đấu (DSCĐ) dọc đường 19, Tây Đèo Mang bị tấn công sau lần một Đại đội địa phương quân bị phục kích khi di chuyển từ Pleiku về một căn cứ trên Đèo Mang. Đại đội địa phương quân lẫn trại DSCĐ không thể là những đối thủ với lực lượng cộng sản chính quy, bởi đơn vị này đã được trang bị những vũ khí hiện đại nhất do Liên Xô chế tạo và cung cấp: Súng tiểu liên AK, súng phóng lựu RPD, bản sao cải tiến của súng chống chiến xa RPG2. Trái lại phía DSCĐ, địa phương quân, hoặc các  đơn vị chủ lực của Việt Nam Cộng hòa như Nhảy Dù, Biệt Động, Thủy quân Lục chiến, (trong những năm 1965, 66, 67) vẫn còn dùng những vũ khí cố điển từ Đệ Nhị Thế Chiến để lại như Garant; Carbin M1 …

Trận chiến dọc đường 19, hai bên Đông – Tây đèo Yang lập lại chiến thuật cổ điển phía cộng sản thường áp dụng (và áp dụng hữu hiệu) – Chiến thuật “Công Đồn Đả Viện” – Nhưng sau hai ngày giao tranh khốc liệt, các trại DSCĐ số1 (Tây Đèo Mang); số 2 (Đông Đèo Mang) vẫn giữ vững được nhờ yểm trợ liên hoàn và được một Tiểu đoàn biệt động quân đóng tại An Khê (Đông Đèo Mang khoảng hơn 50 cây số) làm thành phần trừ bị, tiếp ứng. Bộ Chỉ huy Lực lượng đặc biệt đóng tại Pleiku còn thành lập sẵn những Trung đội DSCĐ chuyên nhảy trực thăng vận theo Chiến Thuật Diều Hâu để tiếp cứu chiến trường khi hữu sự. Tuy bị bất ngờ bởi chiến thuật trực thăng vận, cùng yếm trợ hỏa lực cận phòng mạnh mẽ của trực thăng võ trang Hoa Kỳ, khu trục Skyraider, B57 của Không quân Việt Nam, nhưng với hệ thống phòng không tinh vi, hữu hiệu, phía cộng sản cũng gây thiệt hại lớn đối với DSCĐ, Biệt Động Quân, các toán nhảy Diều Hâu tiếp ứng.

Tính đến ngày 24 tháng 2, tình hình ngưng lại ở điểm bế tắc: Căn cứ tiền phương số 2 của DSCĐ (bao gồm thêm một thành phần Biệt Động Quân bị kẹt lại) cần phải di tản vì không thể chịu đựng áp lực pháo kích liên tục do một hệ thống súng cối 82 ly đặt dày chung quanh căn cứ. Trong số 220 quân nhân cần di tản có một cháu nhỏ (bị thương) mới chín tháng. Đây là hành khách độc nhất được sống sót của chuyến xe đò dân sự đi từ Quy Nhơn lên Pleiku bị tàn sát ngày hôm trước khi chiếc xe rơi vào bãi pháo cộng sản.

Đại Tá Tham mưu Trưởng Nguyễn Văn Hiếu và Cố vấn Trưởng quân Đoàn sau hai ngày thám sát, nghiên cứu chiến trường đồng có chung kết luận: Lực lượng cộng sản thuần là những Tiểu đoàn chủ lực của Mặt trận B3 với vũ khí hiện đại, có khả năng cao độ về chiến thuật di động hỏa lực, tập trung hỏa lực phòng không. Đạo quân này rõ ràng có ý định biến thung lũng An Khê (Đông Đèo Mang, dọc đường 19) thành một chiến trường lớn hợp cùng đạo quân ở đồng bằng (Vùng Bình Định tức Liên khu 5 cộng sản) cắt đôi miền Nam như đã thực hiện một lần trong chiến tranh 1946-1954.

Biện pháp cấp thời được đưa ra là phải bốc ngay toán quân đang bị cầm giữ của Căn cứ 2 trước khi trại bị tràn ngập. Tướng Nguyễn Hữu Có, tân Tư lệnh đồng ý trên nguyên tắc nhưng đồng thời nêu lên một khó khăn: Không đủ hỏa lực để bao vùng yểm trợ cuộc hành quân trực thăng vận vào bốc toán quân ở căn cứ 2; hơn nữa hệ thống súng cối 82 ly cộng sản chung quanh căn cứ sẽ tạo một vũng lửa tại bãi đáp trực thăng (trong căn cứ). Và nếu tình hình như thế ắt sẽ xảy ra, cuộc hành quân trực thăng vận nhằm giải cứu lực lượng bạn sẽ biến thành một cuộc hành quân tự sát.

Cuối cùng, quân đoàn phải cậy đến một biện pháp do chính Tướng Westmoreland quyết định: Dùng phản lực cơ chiến đấu F100 Hoa Kỳ hiệp đồng với A-1E, B57 VNCH đánh tiếp cận hai bên sườn thung lũng, trong khi trực thăng võ trang xạ kích vào các vị trí cối cộng quân sát trại, để trực thăng chuyển quân vào bãi đáp cứu bạn. Cuộc hành quân trực thăng vận được thiết kế và hoàn tất như một phép lạ: Không một người bị nạn

trong ba đợt bốc đầu tiên, chỉ một trực thăng và một người bị thương trong chuyến bốc cuối cùng. Đại Tá Tham mưu Trưởng Nguyễn Văn Hiếu hoàn tất một cuộc hành quân giải cứu do ông lập kế hoạch và phối hợp tuyệt hảo (với liên quân Việt – Mỹ) mà đến hôm nay mấy người đã hay.

Giải tỏa được căn cứ DSCĐ, Bộ Tư lệnh Quân đoàn II cậy tiếp đến quân trừ bị: Chiến đoàn 2 Nhảy Dù gồm hai Tiểu đoàn 7 và 8 Dù được không vận từ Sài Gòn xuống phi trường An Khê, xong từ đây xuất quân quét sạch toàn diện đoạn đường gai góc từ quận An Túc đến Đèo Mang.

Quân cộng sản núng thế, chuyển hướng lên phía Bắc vây đánh trại Lực Lượng Đặc Biệt (LLĐB) K’nack (Bắc đường 19 để giải tỏa áp lực của nhảy dù nơi thung lũng An Khê) với cách đánh biển người (như Hồng quân Trung cộng đã áp dụng ở các cao điểm Pock Chop, T-Bone và Old Baldy ở Mặt trận Triều Tiên năm 1953): Hai Tiếu đoàn xung phong vào những tiền đồn chỉ do quân số một Trung đội DSCĐ chiếm giữ. Một tiền đồn bị tràn ngập, nhưng sau đó, DSCĐ phản công chiếm lại do trợ lực của nhảy dù từ phía Nam đánh lên, giải tỏa lực lượng cộng sản bao vây quanh trại LLĐB.

Cuối trận, quân cộng sản rút lui đế lại 126 xác chết với đại bác không giật 57 ly, súng cối 82 ly cùng rất nhiều lựu đạn, chất nổ. Nhưng thành quả lớn nhất của cuộc hành quân là: Các đoàn xe được hộ tống lên Pleiku tạo nên một sinh khí mới trên vùng cao nguyên. Vật giá thực phẩm và hàng hóa giảm từ 25 đến 30 phần trăm, đồng thời dân chúng hồi phục cảm nghiệm an ninh, tin tưởng và hy vọng. Học sinh tại Pleiku tình nguyện giúp quân lính gỡ hàng xuống và dân chúng trước đây di tản nay trở lần lượt về.

(Trung Tướng Vĩnh Lộc, Military Review, April 1966-NVT sđd p378).

Nhưng mấy ai trong những người dân của thành phố Pleiku ngày ấy hiểu ra rằng đời sống họ tìm lại được là do từ máu xương, sinh mạng của trăm, ngàn người lính – Trong đó có Người Lính Lớn vô cùng khiêm cung tận tụy với quân đội và quê hương – Đại Tá Tham mưu Trưởng Nguyễn Văn Hiếu.

Người dân Pleiku nào ai biết, nghe đến tên Người, ngay cả bản thân người viết đoạn ký sự này lúc ấy là viên Thiếu úy thuộc Tiểu đoàn 7 Nhảy Dù, đơn vị giải tỏa đoạn An Khê – Đèo Mang, tháng 3, năm 1965.

Thất bại ở mặt trận đường 19, tiếp theo chiến dịch tái chiếm Bồng Sơn, Tam Quan (tháng 4, 1965) với Sư đoàn 22 Bộ binh được tăng phái một Lữ đoàn Thủy quân Lục chiến bẻ gãy kế hoạch cắt Quốc lộ I tại khu vực chiến lược Quảng Ngãi – Bình Định (thuộc Mặt trận B5 cộng sản) buộc phía chỉ huy cộng sản tại Vùng II (của Việt Nam Cộng hòa) phải rà soát lại kế hoạch. Và một lần nữa, những người cầm đầu ở Hà Nội lại chuyển chiến trường trở lại dọc Quốc lộ 14 (Đường nối Pleiku với Ban Mê Thuột (phía Nam); với Komtum (Phía Bắc) từ mùa mưa đến khi mùa khô bắt đầu nơi cao nguyên (từ tháng 4 đến hết cuối năm 1965) với những Sư đoàn thiện chiến nhất của Mặt trận B3 cộng sản: Sư đoàn 325; SĐ F10; SĐ 2 Sao Vàng, những đơn vị chủ lực tinh nhuệ của quân đội miền Bắc do các kiện tướng Vũ Lăng, Hoàng Minh Thảo, Chu Huy Mân … chỉ huy. Sau này, vào giai đoạn chót của chiến tranh, tháng 3/1975, đích thân Tổng Tham mưu Trưởng Văn Tiến Dũng chỉ huy chiến dịch đánh chiếm Tây Nguyên theo chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tổng quân ủy Hà Nội. Trong cùng lúc, Bộ Tư lệnh Quân đoàn II lần lượt thay đổi người chỉ huy: Các Tướng Đỗ Cao Trí, Nguyễn Hữu Có, Vĩnh Lộc tiếp thay thế giữ chức Tư lệnh, nhưng chỉ riêng viên Tham mưu Trưởng vẫn giữ nguyên vị trí. Thế nên, chúng ta có thể xác định về một thực tế mà không sợ sai lầm, chủ quan: Chính Đại Tá Nguyễn Văn Hiếu, Tham mưu Trưởng Quân đoàn II là người  đã đối đầu liên tục, trực tiếp với Bộ Chỉ huy quân sự miền Bắc nơi chiến trường Tây Nguyên trong suốtnăm 1965 chứ không ai khác. Từ đó chúng ta có thể đặt nên một vấn nạn muộn màng:

Giá như năm 1974-1975, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu nắm giữ chức Tư lệnh Vùng II, biết đâu sẽ không có tình thế di tản Cao Nguyên trong tháng 3, 1975 … Từ đó tình hình quân sự đâu có thể nhanh chóng sụp đổ như thực tế đã xảy ra 55 ngày sau?! Nhưng tất cả đã thành sự với 30 tháng 4, 1975!

1965: Giải tỏa QUỐC LỘ 14, ĐỨC CƠ

Trở lại mùa mưa 1965, dọc theo Quốc lộ 14, lực lượng cộng sản liên tục mở ra những hoạt động tấn công lấn chiếm có hệ thống như sau: Ngày 16 tháng 5, quận Phú Túc và Buôn Mroc thuộc tỉnh Phú Bổn (hay Hậu Bổn, tên cũ Cheo Reo), cách Pleiku khoảng 70 cây số đường thẳng về hướng Đông – Nam bị tấn công, địa phương quân kêu cứu với trại Lực Lượng Đặc Biệt (LLĐB) đóng gần đấy để xin yểm trợ nhưng không được vì đơn vị LLĐB cũng bị tấn công, cả toán tiếp ứng, lẫn căn cứ trại.

Tình hình Phú Bổn suy sụp nhanh chóng, quân đoàn phải không vận một Tiểu đoàn của Trung đoàn 40 thuộc Sư đoàn 23 Bộ binh để tiếp cứu. Tỉnh ly Phú Bổn chỉ liên lạc, tiếp tế với bên ngoài bằng đường hàng không bởi cầu Lệ Bắc trên Tỉnh Lộ 7 bị giật sập. Ngày 20 tháng 5, quân cộng sản tấn công đơn vị địa phương giữ cầu Pokala và phá hủy cây cầu quan trọng này khiến tất cả hệ thống đồn bót, trại LLĐB, phía Tây – Bắc Kontum đồng bị cắt đứt. Tình hình càng tồi tệ hơn vào ngày 1 tháng 6, khi một phái đoàn của tỉnh Pleiku do tỉnh trưởng dẫn đầu vào thanh tra thăm viếng quận Lệ Thanh (30 cây số phía Tây Pleiku, bên trái đường 14) bị phục kích và quận bị tràn ngập từ sáng sớm cùng ngày. Quân đoàn phải cho đổ bộ các toán Diều Hâu (Eagle Flight) để giải cứu phái đoàn, đồng thời điều động chiến đoàn nhảy dù đang sẵn có mặt trong vùng vào giải tỏa quận Lệ Thanh.

Tình hình nghiêm trọng đến đây chưa hẳn hết, thành phần đi đón đoàn xe của tỉnh gặp nhau tại một điểm trên Quốc lộ 19 (đoạn đường Tây PLeiku đến biên giới Việt – Campuchia). Đây cũng chính là điểm phục kích của bộ đội cộng sản, trực thăng võ trang của Tiểu đoàn 52 Không quân Mỹ từ trại Holloway phải liên tục vào vùng để yểm trợ cho đoàn quân xa của Tỉnh Trưởng trở về, hai chiếc trực thăng bị bắn rơi; đoàn người và xe của tỉnh (đoàn của Tỉnh Trưởng lẫn đoàn đi đón) đồng bị tiêu hủy nặng nề, người sống sót phân tán tìm đường chạy về Pleiku. Tư lệnh vùng Tướng Vĩnh Lộc cuối cùng phải hủy bỏ quận đường Lệ Thanh cũ để đưa về một vị trí gần Quốc lộ 14 (gần Pleiku) để dễ yểm trợ hơn, tuy nhiên phải giữ tiền đồn Đức Cơ, điểm xa nhất của lực lượng chính phủ nằm trên nhánh Tây đường 19, đối mặt với biên giới Campuchia. Tình hình ở phía Nam, nơi tỉnh Phú Bổn cũng không khá hơn, một Tiểu đoàn của Trung đoàn 40 thuộc Sư đoàn 23 Bộ binh trên đường tiến tới cầu Lệ Bắc cốt để tái lập an ninh và sửa chữa cây cầu lại rơi vào một ổ phục kích, rốt cuộc phải rút về lại quận Phú Túc để chịu chung số phận của toàn tỉnh bị bao vây. Tiếp đến quận Thuận Mẫn, Tây – Nam của tỉnh lại bị tấn công và đe dọa bị tràn ngập, Chiến đoàn nhảy dù lại được điều động đến hợp cùng Tiểu đoàn của Trung đoàn 40 cố mở đường tiếp cứu quận. Quân cộng sản tấn công vào giữa đội hình của nhảy dù và bộ binh, tràn ngập các vị trí pháo và đốt cháy đoàn xe chở đạn đến Thuận Mẫn. Các Tiểu đoàn Dù phải co cụm lại tự bảo vệ để đợi tải thương và tiếp tế đạn dược. Tư lệnh Quân đoàn đối mặt với một tình hình càng ngày càng đen tối bởi ý đồ của phía cộng sản quyết đánh chiếm Cao Nguyên trong mùa mưa càng lộ rõ, nên phải xin tiếp viện từ Sài Gòn. Thế nên một chiến đoàn Thủy quân Lục chiến (TQLC) và một chiến đoàn Dù được điều động đến Phú Bổn trong tình trạng khẩn cấp. Phi trường Cheo Reo bỗng nhiên trở nên thành một phi trường bận rộn nhất của chiến tranh Việt Nam. Các phi cơ vận tải Hoa Kỳ do điều động của Ban Tham mưu Quân đoàn đã bay liên tục trong vòng 24 giờ để chuyển quân. Chiến đoàn nhảy dù thứ hai vừa tới nơi đã vội vào vùng để giải tỏa áp lực cho Chiến đoàn đang bị vây khốn ở Thuận Mẫn. Về mặt Bắc Pleiku, quận Toumorong cực Bắc của Kontum bị tràn ngập từ đầu tháng 7, vì đây là một nơi quá xa, lại không phải là một vị trí quan yếu nên Quân đoàn ra lệnh cho triệt thoái về quận Dakto (Tân Cảnh) nơi đặt bản doanh của Trung đoàn 42. Đến lượt quận đường Dakto bị tấn công (7 tháng 7); Trung đoàn Trưởng 42, Trung Tá Lại Văn Chữ tử thương; Thiếu Tá John R. Black Cố vấn Trưởng bị thương nặng khi điều quân lên giải cứu quận. Tình hình Trung đoàn suy sụp sau cái chết của Trung Tá Chữ, Quân đoàn vội điều Đại Tá Đàm Văn Quý đến chỉ huy Trung đoàn 42; viên Trung Tá Cố vấn Thomas Perkins (trước đây làm việc chung với Đại Tá Quý) cũng vội lên Kontum để tăng cường hệ thống cố vấn. Một Tiểu đoàn Biệt Động và Chiến đoàn Thủy quân Lục chiến vừa vào vùng được không vận lên Tân Cảnh phối hợp với Trung đoàn 42 để chặn địch mạn phía Bắc Kontum. Cùng thời điểm tình hình quân sự sôi bỏng bùng vỡ mỗi ngày nơi Tây Nguyên thì ở Sài Gòn những vụ biến động chính trị cũng thường trực xảy ra với tốc độ chóng mặt …

Biểu dương lực lượng, 12 tháng 9, 1964; đảo chính hụt, 19 tháng 2, 1965; tiếp đến phản đảo chính, 20 tháng 5 … Các nội các đua nhau thay đổi với Thủ Tướng Phan Huy Quát, Trần Văn Hương; đồng bào Công giáo, Phật giáo thay nhau xuống đường, hỗn chiến, biến Sài Gòn thành một chiến địa hung hãn không kém mặt trận súng đạn nơi Cao Nguyên. Trận chiến tại các trại Lực lượng Đặc Biệt Đức Cơ, Pleime như giọt nước tràn qua chiếc ly đã nứt vỡ, đồng lúc các Tư lệnh quân đoàn cũng liên tục thay đổi theo tình hình chính trị của Sài Gòn. Riêng chỉ Đại Tá Nguyễn Văn Hiếu vẫn giữa chắc chức vụ Tham mưu Trưởng Quân đoàn với những người lính giữa vũng lửa ở núi rừng Cao Nguyên. Trong tình thế như vừa kể ra, trại Lực Lượng Đặc Biệt Đức Cơ nằm cuối nhánh Tây đường 19, đối mặt biên giới Việt – Campuchia, hứng chịu toàn phần áp lực của lực lượng quân đội cộng sản Mặt trận B3 sau khi quận Lệ Thanh bị lấn chiếm. Vào giữa tháng 7, trại hoàn toàn bị bao vây và các cuộc tuần tiễu ra bên ngoài đều bị đánh bật vào lại bên trong. Và dù đã có hằng trăm phi vụ oanh tạc chung quanh trại, nhưng bộ đội cộng sản vốn thiện nghệ trong nghệ thuật công kiên chiến, địa đạo chiến, nên đã bố trí một hệ thống hỏa lực cối chung quanh trại, đe dọa bãi đáp trực thăng của trại cũng không thể sử dụng được.

Một kế hoạch hành quân táo bạo nhưng vô cùng tinh vi và chính xác được Tham mưu Trưởng Nguyễn Văn Hiếu thiết lập, trình lên Bộ Tư lệnh Quân đoàn II: Sử dụng Chiến đoàn I Dù gồm ba Tiểu đoàn 1, 3 và 5.

Đây là những đơn vị xung kích hàng đầu của Lữ đoàn Dù (trước tháng 12 năm 1965 phiên hiệu Sư đoàn Nhảy Dù chưa thành lập) có nhiệm vụ trong một thời hạn ngắn nhất phải chiếm cho được phi đạo (dành cho máy bay C123; C7 Caribou) sau khi phi cơ chiến đấu dội bom cách vị trí pháo cối chung quanh trại. Sau khi xuống được phi đạo theo như dự trù, Chiến đoàn I Dù cố mở rộng vòng đai kiếm soát nhưng bất thành, họ phải rút lại trở về phi đạo. Vấn đề sinh tử của chiến trận đối với Ban Tham mưu Quân đoànlà, quân số tham chiến của phía cộng sản quả thật đã hơn hẳn bên lực lượng Dù (chỉ là một Chiến đoàn gồm ba Tiểu đoàn đã bị tổn thất từ những trận ở vùng Phú Bổn, Cheo Reo từ tháng 4); trong khi lực lượng cộng sản bao vây trại là một Trung đoàn – Có nghĩa, phía đối phương đã ném hẳn một sư đoàn vào trận địa.

Vấn đề không còn là những trận đánh cấp Tiểu, Trung đoàn với đối tượng là một trại LLĐB nữa mà là ý đồ chiến lược của tất cả trận chiến năm 1965 tại vùng Cao Nguyên bây giờ hẳn hiện rõ: Quân đội Bắc Việt dưới quyền Thượng Tướng Hoàng Minh Thảo quyết tâm tấn chiếm Cao Nguyên để từ đây đổ xuống đồng bằng duyên hải – Cắt đôi miền Nam theo trục Pleiku – Bình Định (Chiến trận tháng 3, 1975 sau này chỉ là biến cải, điều chỉnh những khuyết điểm của năm 1965). Đại Tá Hiếu đề nghị lên Bộ Tổng Tham mưu một kế hoạch lớn: Yêu cầu người Mỹ thế chân cho những đơn vị Việt Nam Cộng hòa làm thành phần trừ bị, giữ an ninh lãnh thổ để quân lực Cộng hòa tập trung thành một đơn vị xung kích cấp Sư đoàn mới có khả năng giải quyết Mặt trận Đức Cơ (Theo binh thư: Bên tấn công không thể ít hơn 1/3 quân số so với lực lượng cố thủ được).

Kế hoạch được Tướng Westmoreland thêm một lần chấp thuận với quyết định: Điều động Lữ đoàn Nhảy Dù 173 do Tướng Stanley R. Larsen làm Tư lệnh Lực lượng Dã Chiến Hoa Kỳ tại Pleiku thay thế quân đội Việt Nam nhiệm vụ tiếp ứng và an ninh lãnh thổ. Được rảnh tay, Ban Tham mưu Quân đoàn II thực hiện kế hoạch: Thành lập Chiến đoàn Đặc nhiệm gồm Thiết đoàn Ky binh gồm Chiến xa M41, M48 và Thiết Vận xa M113; một Tiểu đoàn Biệt Động Quân; Chiến đoàn Thủy quân Lục chiến (có pháo binh cơ hữu) và pháo binh diện địa yểm trợ tổng quát. Lực lượng giải tỏa Đức Cơ đặt dưới quyền chỉ huy của Chuẩn Tướng Cao Hảo Hớn, Tư lệnh biệt khu 24 (Bắc Kontum). Ngày 8 tháng 8, lực lượng đặc nhiệm vào vùng, thành phần tiền phong gặp ngay sự kháng cự của địch, một chiến xa bị bắn cháy bởi súng không giật khi vừa từ ngã Ba đường 14 rẽ vào đường 19. Quân cộng sản áp dụng chiến thuật bám chặt đoàn quân tiếp ứng để tránh phi pháo, đánh vào trung tâm để chia cắt chiến đoàn ra làm nhiều thành phần không liên kết được.

Rạng ngày 9, Chiến đoàn I Dù từ phi đạo trại Đức Cơ đánh bung về phía Đông kềm chặt lực lượng cộng sản giữa hai gọng kìm … Sợ bị kẹp giữa hai lực lượng tấn công, địch chém vè và tháo lui chỉ để lại các đơn vị ngăn chận nhỏ, các toán núp bắn sẻ và mìn, bẫy dọc đường lộ. Trận chiến Đức Cơ chấm dứt với sự thảm bại nặng nề của Việt cộng. Các đơn vị chính phủ đã làm chủ chiến trường, chiến thẳng đã nâng tinh thần của chiến binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Họ đã nhận những điều tệ hại nhất mà cộng sản đã áp đặt nên và không những đã đứng vững mà họ còn làm cho địch ngưng chiến và tháo lui, để lại nhiều vũ khí, xác chết trên chiến trường. (Đại Tá Theodore Matasis – VC Summer Monsoon Offensive (5/1966) NVT sđd trg 381).

Tướng Westmoreland cùng Chủ tịch Ủy Ban Lãnh đạo Quốc gia, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu đã đến Đức Cơ để xác nhận tính chất quan yếu của chiến thắng. Nhưng Đại Tá Tham mưu Trưởng Nguyễn Văn Hiếu chưa có dịp nghỉ ngơi, ông sử dụng căn cứ mới được giải tỏa này làm bộ chỉ huy để điều quân thanh toán nốt mục tiêu thứ hai: Trại Lực lượng Đặc biệt Pleime. Ông thức trắng đêm cùng với lần giải tỏa Pleime (NVT sđd trg 385).

Giữ vững Pleime

Trước tháng 10, 1965 quả thật không mấy ai biết đến tên Pleime, một trại lực lượng đặc biệt nằm về phía Tây Quốc Lộ 14, cách Pleiku khoảng 40 cây số đường thẳng về hướng Tây – Nam. Nhưng bỗng nhiên Pleime trở thành một danh hiệu của chiến sử miền Nam bởi sau thất bại của lần đánh chiếm Đức Cơ, phía bộ đội miền Bắc đã “biến chuyển thực tế tức là một diễn tiến sinh hoạt ắt phải có sau mỗi lần thực hiện một kế hoạch tác chiến, một phương án chính trị dẫu thất bại hay thành công” và rút kinh nghiệm còn nóng của Đức Cơ nên thành một kế hoạch:

1/ Bao vây Pleime.

2/ Tiêu diệt thành phần tiếp viện. Sau khi thu hút về điểm Pleime để biến nơi đây nên thành một diện tác chiến làm suy yếu lực lượng phòng thủ Pleiku của Quân đoàn II để cuối cùng, 3/ Dùng một trung đoàn còn nguyên sức tấn công Pleiku với ba mũi giáp công (Từ phía Bắc, theo đường 14; từ phía Đông theo đường 19; và từ phía Tây – Nam, cửa ngõ của Đức Cơ, Pleime).

Tất cả diễn tiến chiến thuật này được giao phó cho Tướng Chu Huy Mân với Sư đoàn 320 (Sư đoàn Điện Biên) gồm ba Trung đoàn 32, 33 và 66 đã từ lâu là chủ lực của vùng Cao Nguyên. Để phá vỡ mưu định của phía cộng sản, ban Tham mưu Quân đoàn thiết lập một kế hoạch phản công trên những chọn lựa:

1/ Nếu giải cứu Pleime thì lực lượng tiếp cứu sẽ rơi vào bẫy phục kích ắt sẽ phải xảy ra trên lộ trình dẫn đến trại (như đã xảy ra khi giải cứu Phú Túc, Thuận Mẫn và mới mẻ của Trại Đức Cơ…); và phòng thủ Pleiku sẽ suy yếu.

2/ Nếu bỏ mặc Pleime thì sẽ gây nên một tác động tâm lý rất xấu đối với tinh thần chiến đấu của  cả Vùng II.

Thêm một lần, Tướng Westmoreland lại có quyếtđịnh hữu hiệu, sáng suốt bằng cách đưa một Lữ đoàn Không Ky từ An Khê lên Pleiku, đặt dưới quyền của Tướng Stanley R. Larsen làm thành phần bảo vệ Pleiku và trừ bị cho cuộc hành quân; Lữ đoàn này cũng bố trí những pháo đội 155, 105 cơ hữu yểm trợ trực tiếp cho chiến đoàn đặc nhiệm giải tỏa Pleime. Chiến đoàn đặc nhiệm này gồm 1,200 binh sĩ đặt dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Thiết Giáp Nguyễn Trọng Luật gồm Thiết đoàn 3 Thiết Ky, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 42BB; hai Tiểu đoàn 21 và 22 Biệt Động Quân. Chiến đoàn đặc nhiệm này có những đơn vịcông binh, pháo binh thống thuộc hành quân. Ngoài ra còn có hai đại đội LLĐB thuộc Tiểu đoàn 91 Biệt Kích Dù (Tiền thân của Liên đoàn 81 Biệt Kích) phối hợp với Toán Projet Delta của Thiếu Tá Charlie A.Beckwith (LLĐB Mỹ) trưa ngày 20 tháng 10 nhảy vào khu vực tiếp cận trại Pleime, để trở thành lực lượng xung kích từ trong trại đánh ra bắt tay lực lượng tiếp cứu của Trung Tá Luật như kế hoạch dự trù từ đường 14 tiến vào trại theo ngã rẽ của Hương lộ 6C. Nhưng kế hoạch tiếp cứu không đơn giản như những điều tổng quát vừa kể ra, ban tham mưu quân đoàn đã tinh tế rút kinh nghiệm của Đức Cơ trong tháng 8, nên trong ngày 23 tháng 10 thay vì dùng Tiểu đoàn 22 BĐQ làm thành phần tùng thiết với chiến xa của Trung Tá Luật, lại đổ đơn vị này xuống phía Nam vị trí phục kích của Trung đoàn 32 Sư đoàn 320 cộng sản để hoàn thành thế liên hoàn hai mặt Nam – Bắc kẹp chặt thế trận của quân Bắc Việt. Chiến trận hai ngày 23, 24 tuy đã chuẩn bị kỹ (của cả hai bên tham chiến), nhưng tình hình chiến trận vẫn thay đổi vào những lúc bất ngờ nhất. Các Tiểu đoàn 635, 344 thuộc Trung đoàn 32 Bắc Việt dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Nguyễn Hữu An từ những vị trí được chuẩn bị, ngụy trang kỹ bám sát bộ phận tiếp ứng của Trung Tá Luật, gây thiệt hại trầm trọng đối với đơn vị hậu vệ và chận đứng thành phần tiền đạo ở cây số 5 cách trại Pleime. Quân đoàn tăng viện một toán tiền sát pháo binh của Lữ đoàn Không kỵ cho đoàn tiếp ứng. Những tiền sát viên này điều chỉnh tác xạ cận phòng (từ những

đại bác cơ hữu của chính đơn vị Không ky) trải thảm trước mặt từng bước giúp đoàn chiến xa. Ngoài ra những phi cơ F100; trực thăng võ trang Hoa Kỳ và AD1 của Việt Nam Cộng hòa bằng kỹ thuật tác xạ chính xác đã lập nên hàng rào lửa bảo vệ cạnh sườn cho đoàn quân tiếp ứng.

Phối hợp tuyệt hảo giữa thế trận phản phục kích hợp cùng sức chiến đấu ngoan cường của chiến sĩ nơi trận địa, như hành vi dũng cảm của các chiến sĩ LLĐB Mỹ – Việt từ trong trại phản kích, xung phong ra với súng phun lửa đã tạo nên chiến thắng kiên cường: Tối 25 tháng 10, 1965 toàn tiếp ứng bắt tay được với lực lượng phòng thủ trại, chấm dứt sự bao vây Pleime mà Bộ Tư lệnh Mặt trận B3 đã mưu định từ mùa Xuân 1965. “ … Vị Tư lệnh chiến trường có thể đi ngủ để đợi tin chiến thắng khi chiến dịch bắt đầu!”.

Thống Tướng Montgomery của Thiết giáp Hoàng gia Anh Quốc đã nói lên điều kiên định này để nhấn mạnh vai trò quyết định của tổ chức, tham mưu trong những chiến dịch lớn. Trận Đức Cơ và Pleime đã xác chứng về ý nghĩa, vai trò quyết định của công tác chuẩn bị, điều hành, tổ chức, tham mưu (lẽ tất nhiên thực tế chiến trường, với sức chiến đấu của người lính trên trận địa là những yếu tố quan yếu khác nữa).

Chiến thắng Pleime được Tướng Vĩnh Lộc khai triển nên thành một biểu tượng chiến đấu và chiến thắng của Quân đoàn II – Đại bản doanh của Quân đoàn được đặt tên là Thành Pleime – Nhưng hầu như không mấy ai (trong và ngoài quân đội) biết rằng: Đại Tá Tham mưu Trưởng Nguyễn Văn Hiếu hầu như đã thức suốt ngày, đêm trong những ngày 20 đến 25 nơi chiếc hầm chỉ huy trại Đức Cơ, để sử dụng hệ thống truyền tin âm thoại (có công suất mạnh) của đơn vị Lực lượng Đặc biệt Mỹ mới có thể liên lạc, phối hợp với những tư lệnh người Mỹ thuộc nhiều binh chủng không quân, lực lượng đặc biệt, bộ binh, không ky trong suốt cuộc hành quân (NVT sđd trg 385).

Áp dụng trọn vẹn nguyên tắc của binh thư, Bộ Tham mưu Quân đoàn hợp cùng Sư đoàn I Không ky (1st Air Cavalary Div) – Cũng có nghĩa khai triển thành quả mối giao hảo tốt đẹp giữa hai cá nhân, Đại Tá Nguyễn Văn Hiếu và Tư lệnh Kinnard của Không ky qua hai lần chiến thắng lẫm liệt Đức Cơ, và Pleime

– Hai bên cùng hợp soạn một kế hoạch hành quân truy kích tàn quân của các Trung đoàn 32, 33 và 66 Bắc Việt để không cho đối phương dịp nghỉ ngơi như phía cộng sản từ bao lâu vẫn giữ ưu thế quyết định chiến trường.

Với khả năng không vận trực thăng tưởng như vô hạn (Sư đoàn Không kỵ với hơn 600 trực thăng cơ hữu là đơn vị số một và độc nhất có khả năng tác chiến di động lớn nhất so với tất cả các đơn vị hoạt động biệt lập trên toàn thế giới), Sư đoàn 1 Không ky (SĐ1KK) yểm trợ phối hợp hành quân đưa các Tiểu đoàn 1 và 2 thuộc Lữ đoàn 7 SĐ1KK và bốn Tiểu đoàn nhảy dù vào trận địa – Thung lũng la Drang sát biên giới Campuchia – Hậu cần bất khả xâm phạm từ trước tới nay của Mặt trận B3. Cánh quân nhảy dù do đích thân Tham mưu Trưởng Lữ đoàn Nhảy Dù chỉ huy: Trung Tá Ngô Quang Trưởng với tham dự cố vấn của viên sĩ quan có tên gọi: Thiếu Tá Norman Schwarzkopf.

Với kế hoạch hành quân tinh tế, cẩn mật, tiên kiến mọi tình huống; với quân binh nhảy dù tinh nhuệ dưới quyền chỉ huy của những sĩ quan kiệt liệt; phối hợp với đơn vị không ky có di động tính cao, tổ chức hiện đại, hỏa lực hùng hậu và yểm trợ trực thăng tối đa của SĐ1KK, cuộc hành quân truy kích binh đoàn cộng sản Bắc Việt vào đầu sông la Drang, sát biên giới Campuchia tháng 11,1965 là một trong những cuộc hành quân thế công thành công hiếm hoi nhất của quân lực miền Nam và Đồng Minh trong suốt cuộc chiến khởi đi từ 1960.

1966: Với chiến trường Bình Định

Nhưng, Tướng Nguyễn Văn Hiếu không chỉ là một vị tướng tài giỏi chuyên về tham mưu, tổ chức mà còn là một Tướng Quân trí dũng nơi trận địa. Những chiến trận sau đây sẽ chứng minh về khả năng thao lược của người tướng lãnh trận địa. Tỉnh Bình Định là một trong những tỉnh lớn nhất của miền Trung, cũng của cả miền Nam với mười hai quận và dân số đông nhất (gần một triệu); nhưng cũng là tỉnh có số lượng nhân sự cộng sản đông nhất. Trong chiến tranh 1945-1954, tỉnh là Thủ phủ của Liên khu 5 cộng sản (LK5), quân đội Liên hiệp Pháp không hề đặt chân đến được, chỉ thuộc quyền của chính quyền quốc gia sau 20 tháng 7, 1954.

Tại lãnh thổ này, lực lượng cộng sản có Sư đoàn 3 Sao Vàng (SĐ3SV), hệ thống tỉnh ủy, bộ chỉ huy tỉnh đội gồm nhiều Tiểu đoàn địa phương và cơ sở du kích vững chắc qua cuộc chiến tranh của thập niên 50 được gài lại sau 1954. Theo chiến lược “Lùng và Diệt ” thành hình giữa Tướng Westmoreland và Bộ Tổng Tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa, tỉnh được chia làm ba vùng:

Khu vực phía Nam của tỉnh (giáp ranh với Tuy Hòa/Phú Yên) gồm ngoại vi thị xã Quy Nhơn, các quận Phú Phong, Tuy Phước, Văn Canh thuộc trách nhiệm của Sư đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn. Khu vực rừng núi phía Tây (giáp ranh Pleiku, Kontum) gồm các quận An Khê, Vĩnh Thạnh, An Lão và Hoài Ân thuộc vùng trách nhiệm của Sư đoàn 1 Không ky (SĐ1KK) với Mật khu An Lão (nằm dọc theo sông An Lão, nhánh phía Bắc của sông Lại Giang chảy ra biển tại Bồng Sơn/ Hoài Nhơn, vùng châu thổ trù phú nhất của miền Trung), hậu cần quan trọng của toàn Liên khu 5. Vùng phía Bắc và Đông (dọc bờ biển và giáp tỉnh Quảng Ngãi) là khu vực đông dân của các quận Hoài Ân (Bồng Sơn), Tam Quan, Phù Mỹ, Phù Cát thuộc trách nhiệm hành quân của Sư đoàn 22 Bộ binh, Đại Tá Nguyễn Văn Hiếu giữ chức Tư lệnh – Không thể ai sánh được với ông trong chức vụ chỉ huy đơn vị này ở Vùng II – Nhưng ông vẫn chỉ là một vị Tư lệnh Sư đoàn với cấp bậc Đại Tá dù đã là người thiết kế nên những chiến thắng lẫm liệt trong suốt năm 1965 vừa kể ra trên. Ông mang cấp Đại Tá từ tháng 11, 1963. Nắm quyền Tư lệnh Sư đoàn từ giữa năm (tháng 6, 1966), cuối năm (tháng 11), vị tân Tư lệnh đã tạo dựng ngay một chiến thắng vẻ vang dưới chân Đèo Phù Cũ (quận Phù Mỹ). Lúc ấy, chúng tôi, đơn vị tăng phái (Chiến đoàn 3 Nhảy Dù – PNN) làm thành phần chận địch đóng trên núi, chứng kiến đơn vị bạn (Trung đoàn 42/ Sư đoàn 22 Bộ binh) hợp cùng chi đoàn thiết vận xa M113 lùa địch từ Quốc lộ I vào núi.

Trận chiến hào hùng như một đoạn phim tài liệu lịch sử kỳ Đệ Nhị Thế Chiến – Các chiến sĩ bộ binh tùng thiết với thiết vận xa M113 theo đội hình hàng ngang, ào ạt tiến tới sau một đợt tác xạ, mạnh mẽ uyvũ như những hiệp sĩ thời Trung cổ xung trận. Chiến đoàn Trưởng Nhảy Dù, Trung Tá Nguyễn Khoa Nam đứng trên sườn núi chong ống nhòm quan sát trận địa, dẫu là người kín đáo, ít nói phải nói nên lời thán phục: “Đại Tá Hiếu điều quân như một “ông thiết giáp”nhà nghề và lính Sư đoàn 22 đánh đẹp đâu thua lính mình” – Lời ngợi ca chân thật giữa những người chiến đấu nơi trận tiền. Không để địch nghỉ ngơi (như sau chiến thắng Pleime, Đức Cơ), nay với khả năng quyết định rộng rãi của quyền Tư lệnh, Đại Tá Hiếu hạ lệnh tiếp tục truy kích, diệt gọn các đơn vị của Sư đoàn 3 Sao Vàng, cũng để chứng tỏ “Ai Thắng Ai” nơi mặt trận Liên khu 5 này – Vùng “Năm Eo”, bí danh bộ đội cộng sản thường gọi với lòng kiêu hãnh – Khu vực bất khả xâm phạm mà chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa với Tổng Thống Ngô Đình Diệm phải mất hai năm (1955-1957) mới bình định được.

Chiến dịch tấn công của liên quân bắt đầu Ngày N (Ngày Khởi Sự) với lực lượng SĐ1KK đổ quân xuống vùng hai quận Hoài Ân và Vĩnh Thạnh, đơn vị Không kỵ khám phá ra nhiều kho tàng, quân nhu, quân dụng được cất giữ trong những khu vực kín đáo, an toàn (Hậu cần Liên khu 5/ Sư đoàn 3 Sao Vàng). Nhưng các đơn vị chính quy cộng sản hoàn toàn tránh né, bởi họ đã hiểu ra hỏa lực quá hùng hậu của Không ky. Nên vào lúc 11 giờ đêm ngày N+3, Thiếu Tướng Tư lệnh SĐ1KK vào Bộ Tư lệnh SĐ22 gặp Tướng Hiếu (vinh thăng Chuẩn Tướng tháng 11/1966) với yêu cầu: Sư đoàn 22 hủy bỏ kế hoạch tấn công vào hướng Tây quận Phù Mỹ theo như dự trù, để phối hợp với SĐ1KK tiến chiếm An Lão mà ông tin chắc là nơi SĐ3SV đang tập trung. Tư lệnh Kinnard nêu luận cứ: “Hôm nay, tôi đã cho một Đại đội Biệt Động/ SĐ1KK trực thăng vận vào khu vực đó (Vùng quận Phù Mỹ của SĐ22-PNN) để tìm và diệt nhưng không thấy đụng độ … Biết vậy là sai nguyên tắc (đã phân chia vùng trách nhiệm), nhưng bởi nóng lòng tiêu diệt địch nên đã làm như thế … “.

Tướng Hiếu lại đến xác định tình báo của sĩ quan Trưởng phòng 2 (Phòng Quân Báo), Thiếu Tá Trịnh Tiếu: “Thưa Thiếu Tướng, cộng sản rất né đụng độ với quân đội Hoa Kỳ vì họ sợ hỏa lực của các ông. Tôi tin Sư đoàn 22 sẽ đụng độ với Sư đoàn 3 Sao Vàng tại mục tiêu này … “.

Thiếu Tá Trịnh Tiếu giải thích thêm: “Tôi đã gặp một du kích Việt cộng sống ở vùng đồi núi phía tây quận Phù Mỹ. Tôi đã tốn rất nhiều tiền bạc nuôi gia đình tên du kích này. Cách đây vài ngày, tên du kích đã báo cho tôi biết có nhiều đơn vị của Sư đoàn Sao Vàng trú quân tại ranh giới hai quận Phù Mỹ và Hoài Ân”.

Từ xác định của Thiếu Tá Trịnh Tiếu, Tướng Hiếu có kết luận với Tướng Kinnard: “Sư đoàn chúng tôi sẽ vào vùng hành quân ngày mai, không nên thay đổi kế hoạch quá sớm …” (Đại Tá Trịnh Tiếu; NVT sđd, trg 393-394).

Dựa theo tin tức của Thiếu Tá Tiếu, Trưởng phòng 2, Tướng Hiếu chỉ thị cho Trung Tá Bùi Trạch Dzần, Trung đoàn Trưởng Trung đoàn 41 chỉ sử dụng hai Tiểu đoàn bộ binh, cùng với Bộ Chỉ huy Trung đoàn vào vùng thật sớm để khoảng ba giờ chiều hãy đóng quân, đào hầm hố, lập công sự phòng thủ thật kỹ càng.

Dân chúng nằm vùng nơi vùng xôi đậu đang hành quân tất thế nào cũng báo cáo cho Bộ Chỉ huy cộng sản biết tình hình quân số của lực lượng quân đội Cộng hòa. Sư đoàn cộng sản sẽ điều quân đến đánh theo như tin tức này – Trong khi ấy Tướng Hiếu ém quân thật kín đáo nơi xa một Tiểu đoàn trừ bị và Chi đoàn thiết vận xa, và sẽ dùng lực lượng này để phản công. Quả nhiên đến hai giờ sáng, Trung Tá Dzần báo cáo Trung đoàn cộng sản bắt đầu tấn công vị trí của ông. Tướng Hiếu ra lệnh Chi đoàn chiến xa và Tiểu đoàn trừ bị thần tốc tiến quân vào mục tiêu, bao vây, tiêu diệt không cho địch rút lui. Sư đoàn Không kỵ được tin Bộ binh Sư đoàn 22 đụng trận theo kế hoạch trù liệu, yểm trợ hỏa lực với tất cả pháo binh đã bố trí sẵn, dựng nên hàng rào lửa giữa đội hình của đối phương đã bị phơi bày dưới ánh sáng hỏa châu rọi liên tục – Biến đêm tối nên thành ngày rạng …Và khi ngày thật sự đến, các chiến sĩ của Sư đoàn 22 Bộ binh đếm hơn 300 xác chết nơi trận địa. Theo thống kê của chuyên viên quân sự: Khi có một xác chết để lại trận địa thì đơn vị ấy phải bị thiệt hại quân số đến ba lần hơn – Chiến tích của Hành quân Đại Bàng 800 và những hành quân cấp Tiểu đoàn của Sư đoàn nầy kể từ khi Tướng Nguyễn Văn Hiếu giữ chức Tư lệnh (6/1966) đã đưa Sư đoàn 22 Bộ binh từ một đơn vị bình thường trong vòng sáu tháng nên thành:

1/ Sư đoàn 22 sử dụng nhiều thì giờ hành quân tác chiến cao hơn hết so với bất cứ một Sư đoàn nào khác trong nước trong thời gian này (1966-1967).

2/ Thời giờ dùng vào công tác bình định chỉ chiếm khoảng 10% tổng số ngày cơ hữu.

3/ So với toàn quốc, Sư đoàn 22BB dùng ít thời lượng nhất trong công tác an ninh.

4/ Số lượng đụng độ địch trên đơn vị cấp Tiểu đoàn của Sư đoàn này cao nhất trong toàn quân đoàn … (Báo cáo của Toán Cố vấn Vùng II Chiến Thuật – NVT sđd trg 209).

Bản lượng giá còn nhiều ưu điểm khác được nêu lên. Chúng tôi tom lược với ý nghĩ: Nếu tất cả Sư đoàn Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa đồng có những Tư lệnh Sư đoàn như các Tướng Quân:

Nguyễn Viết Thanh, Trương Quang Ân, Ngô Quang Trưởng, Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn Hai, Nguyễn Văn Hiếu … sớm hơn một thập niên. Và các Liệt vị Nguyễn Viết Cần, Lê Nguyên Vỹ, Lê Văn Hưng, Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn Hữu Thông, Đặng Phương Thành, Nguyễn Xuân Phúc, Trung Tá Cảnh sát Nguyễn Văn Long, Thiếu Tá Điệp báo Đặng Sĩ Vĩnh … mau chóng nên thành Tướng Lãnh Huân Công Giữ Nước thì chắc hẳn không có ngày uất hận 30 tháng 4, 1975. Nỗi Đau này không chỉ riêng một người. Không phải của một người mà là của cả miền Nam.

1970: Triệt thoái Snoul

Khả năng thao lược của Tướng Nguyễn Văn Hiếu không ngừng ở cấp Sư đoàn với những đơn vị Bộ binh cơ hũu, người chứng tỏ năng lực chỉ huy, điều động trận địa ở mức độ cao hơn với quan niệm hành quân liên binh chủng, cấp Quân đoàn. Năm 1969, nắm giữ chức Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh (Vùng III), Tướng Hiếu chỉ huy Hành quân Toàn Thắng 46 đánh vào Trung ương Cục R với mục tiêu vùng Lưỡi Câu, Tây – Bắc Lộc Ninh, bên kia biên giới Việt Nam Cộng hòa – Campuchia.

Vùng Lưỡi Câu là bản doanh của Công trường (Sư đoàn) 5 cộng sản; trên danh nghĩa, đơn vị này thuộc Lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, nhưng hầu hết cán bộ khung là người miền Bắc với ủy viên chính trị từ cấp cơ sở thuần là người của Hà Nội. Điều này được hiện thực toàn diện từ khi Ba Cấp (không rõ tên, thay thế Chín Chiến, người Nam) nhận lệnh từ Lê Duẩn trực tiếp điều hành Liên minh Dân tộc Dân chủ Tranh thủ Hòa Bình từ đầu thập niên 70 (Trương Như Tảng, Journal of A Vietcong; Johanathan Cape, London, England 1986, p197). Tổ chức này bao gồm Mặt trận giải phóng miền Nam và lực lượng vũ trang là những bộ phận thống thuộc. Vùng này cũng là cơ sở hậu cần của hai đoàn 70, 80 yểm trợ không riêng cho Sư đoàn 5, mà cho toàn vùng Lưỡi Câu bao gồm mặt trận Bình Long trong nội địa Việt Nam. Hành Quân Toàn Thắng 46 xử dụng những đơn vị gồm Trung đoàn 9 thuộc Sư đoàn 5 Bộ binh Việt Nam Cộng hòa gồm có các Tiểu đoàn 2, 3, 4 cơ hữu và Đại đội 5 Viễn Thám của Sư đoàn; Trung đoàn 9 được yểm trợ, tùng thiết với Trung đoàn 11 Thiết kỵ Mỹ tiến quân theo năm giai đoạn: Giai đoạn 1 tấn công; Giai đoạn 2, 3 và 4 lùng và diệt địch; Giai đoạn 5 rút về lại đất Việt. Cuộc hành quân này chỉ kéo dài từ tháng 5 đến tháng 7, 1970 có nhiệm vụ đánh thăm dò và kiện toàn hệ thống Tham mưu, phối hợp để tiếp theo những cuộc hành quân quan trọng hơn, cũng trên đất Miên với mục tiêu là căn cứ Hậu cần 86, khu vực quanh thị trấn Snoul.

Ngày 14 tháng 10, 1970 Bộ Tư lệnh Quân đoàn III chỉ thị Sư đoàn 5 mở cuộc hành quân Toàn Thắng 8/B/5 với lực lượng được tổ chức như sau:

1/ Chiến đoàn 1 gồm Thiết đoàn 1 Thiết kỵ làm thành phần chủ lực;

2/ Chiến đoàn 9 gồm Trung đoàn 9/SĐ5 làm thành phần chủ lực;

3/ Chiến đoàn 333 gồm Chi đoàn 18 Chiến Xa và bốn Tiểu đoàn Biệt Động Quân.

Bộ Tư lệnh Tiền phương Sư đoàn 5 đóng ở Lộc Ninh chỉ huy trực tiếp cuộc hành quân chỉ rút về Lai Khê khi các đơn vị lâm chiến đã rút khỏi đất Miên an toàn về đến hậu cứ (10/11/70). Qua hai cuộc hành quân (ngắn hạn, có tính chất đánh thăm dò) này, Bộ Tư lệnh Quân đoàn III và Sư đoàn 5 rút ra hai điều căn bản:

1/ Trong giai đoạn lực lượng Việt Nam Cộng hòa tiến quân, quân cộng sản thường lẩn trốn vào sâu trong nội địa đất Miên.

2/ Khi quân đội Cộng hòa triệt thoái quân về đất Việt là lúc tình hình chiến trường trở nên khó khăn vì đối phương thường tổ chức phục kích cuộc rút binh. Thế nên, dẫu hủy diệt rất nhiều kho tàng, quân trang bị, vũ khí, đạn dược, lương thực của địch hai cuộc hành quân vừa kể, quân lực Cộng hòa cũng chưa đánh vỡ được các đơn vị chủ lực cộng sản như các Trung đoàn 174, 275 và đầu não chỉ huy là Sư đoàn 5 với các đơn vị thống thuộc trong khu vực. Thêm một lần, Tướng Hiếu đề nghị cùng Tướng Trí thay đổi quan niệm hành quân: Thay vì lùng, diệt  địch, ta phải dụ địch xuất hiện, rồi mới tập trung quân tiêu diệt. Cụ thể trong khu vực hành quân của  Sư đoàn 5BB Việt Nam Cộng hòa, có Sư đoàn 5 cộng sản với hai Trung đoàn có phiên hiệu 174, 275. Nay ta dùng một Trung đoàn để nhử địch và nếu địch dùng một Trung đoàn tấn công, thì ta sẽ tập trung một Sư đoàn để phản kích; còn nếu địch tấn công  toàn bộ một Sư đoàn thì ta sẽ dùng ba Sư đoàn cơ hữu của Vùng III tức là các Sư Đoàn 18, 25 và 5 để phản kích.

Tướng Trí đồng ý kế hoạch “Điệu hổ ly sơn” táo bạo này và Tướng Hiếu bắt đầu một kế hoạch chuẩn bị tỉ mỉ trong suốt những tháng còn lại của năm 1970. Ông cho đặt 11 vị trí máy dò thám quanh vùng Snoul và một trung tâm dò tìm tín hiệu được đặt ở Lộc Ninh với nhân viên phòng Tình Báo Sư đoàn làm việc 24/24.

Ngày 4 tháng 1, 1971 kế hoạch “điệu hổ” bắt đầu với Chiến đoàn 9 gồm Trung đoàn 9/SĐ5BB, Tiểu đoàn 74/BĐQ, Chi đoàn 1 Chiến Xa và Đại đội 5 Công Binh vào vùng hành quân … Nhưng địch quân quả tình rất tinh khôn nên luôn tránh né giao tranh, mãi đến hai tháng sau mới có chỉ dấu quân cộng sản bắt đầu dấn vào bẫy sập. Nhưng một biến cố bất lợi vô cùng quan trọng xảy ra: Ngày 26 tháng 1 năm 1971, trực thăng chở Tướng Đỗ Cao Trí bị phát nổ – Vị Tư lệnh chiến trường tử nạn vào giai đoạn quan yếu quyết định của chiến dịch – Và hệ quả tiếp theo, ngày 8/3/71, địch quân bắt đầu pháo kích vào vị trí đóng quân của Chiến đoàn 9, một cây số Tây – Nam Snoul. Cùng lúc Mặt trận Hạ Lào, Lam Sơn 719 nơi phía Bắc bị lâm vào thế bế tắc. Tướng Nguyễn Văn Minh thay thế Tướng Trí giữ chức Tư lệnh Quân đoàn đồng ý tiếp tục kế hoạch “dụ địch” của Tướng Hiếu nhưng không mấy sốt sắng. Phần vì không phải kế hoạch của chính ông; phần không đủ bản lãnh để theo đuổi một kế hoạch sẽ có nhiều diễn tiến mở rộng, khó lường trước (Sẽ phải sử dụng đến hai Sư Đoàn 18, 25 trong trường hợp Bắc quân tập Trung cấp Sư đoàn). Liên tục trong những ngày tháng 3 hai bên vẫn tiếp tục theo dõi diễn biến chiến trường để sửa soạn một cuộc tấn công quyết định. Tướng Hiếu ra lệnh cho Trung đoàn 8/SĐ5BB, thay thế Trung đoàn 9, lực lượng mới cải danh thành Chiến đoàn 8, các thành phần tăng phái, Biệt Động Quân, Thiết ky không thay đổi. Với quân số gần 5,000 người, được yểm trợ bởi Không lực Hoa Kỳ, Tướng Hiếu trải rộng vùng hành quân cốt lùa cho được địch quân vào bẫy sập. Ngày 26/5/71 cộng quân ra mặt tấn kích Snoul nhưng bị quân trú phòng đánh bật ra.

Ngày 27/5 địch chuyển hướng tấn kích sang mặt phía Tây và ngày 29 đánh vào trung tâm chỉ huy của Chiến đoàn 8 với quân số cấp Trung đoàn phá hủy hệ thống truyền tin, đài kiểm báo. Tướng Hiếu yêu cầu Tướng Minh sử dụng quân trừ bị của quân đoàn phản công với đa số áp đảo như kế hoạch đã dự trù. Cố vấn Mỹ khuyến cáo Tướng Minh đừng thi hành yêu cầu của Tướng Hiếu với lý do: “Hãy đợi quân Việt cộng tập trung đông rồi dùng B52 tiêu diệt”. Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu không thể chấp thuận kế hoạch này, vì nếu thế B52 sẽ gây thiệt hại cho quân bạn. Ông chỉ yêu cầu B52 dội bom dọc theo lộ trình rút quân (Quốc lộ 13 từ Snoul về Lộc Ninh) và nếu không áp dụng kế hoạch dự trù sơ khởi (dùng quân viện để phản kích) thì hãy cho lệnh rút Chiến đoàn 8 khỏi Snoul.

Ngày 30 tháng 5/1971, chỉ cần đợi Tướng Minh phủi tay với lời bất nhẫn: “Anh muốn làm gì thì làm!”, Tướng Hiếu đáp máy bay xuống Snoul nơi Bộ Chỉ huy của Chiến đoàn 8 đang trong tầm súng bắn thẳng của cộng quân, đích thân ra lệnh triệt thoái đến với tất cả cấp chỉ huy những đơn vị tham chiến, sau khi biết rằng lời yêu cầu của ông xin B52 yểm trợ cuộc hành quân rút lui đã bị Bộ Tư lệnh Quân đoàn và cố vấn Mỹ bỏ qua. (NVT sđd, trg 411).

Cuộc lui quân thành công cũng vì được Lực lượng Xung kích Quân đoàn III của Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi trợ lực tiếp cứu từ Lộc Ninh theo đường 13 đánh lên Snoul. Cuối cùng, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu (sau lần triệt thoái Chiến đoàn 8 khỏi đất Miên) phải ra tường trình trước Quốc Hội do lỗi đã để thất trận Snoul. Ông bị cất chức Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh cũng bởi báo cáo của Tướng Minh lên ông Thiệu: “Thiếu Tướng Hiếu và Chuẩn Tướng Khôi, Tư lệnh Lữ đoàn III Thiết kỵ lấy cớ phối hợp hành quân để đem quân về Sài Gòn đảo chánh!” (NVT sđd trg 411).

Tuy nhiên, cuộc lui binh khỏi Snoul cũng được hoàn tất (dẫu với tỷ số thiệt hại 1/3 quân số, Trung đoàn Phó Trung đoàn 8 tử trận), bởi các đơn vị vẫn giữ được đội hình chiến đấu trong lúc triệt thoái, duy trì khả năng tác chiến sau lần tổn thất do tất cả những người chỉ huy, binh sĩ các cấp đồng biết rằng: Vị Tư lệnh Sư đoàn luôn ở với họ trong những giờ phút nguy nan nhất. Điều kiện (khi còn sống) của cố Đại Tướng Đỗ Cao Trí, nếu đưa ông ra đáo nhiệm Quân đoàn 1 (để thay thế Tướng Hoàng Xuân Lãm chỉ huy chiến dịch Hạ Lào, Lam Sơn 719) là: Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu sẽ phải thay ông giữ chức Tư lệnh Quân đoàn III. Tất nhiên đề nghị này không hề được thực hiện, trái lại Thiếu Tướng Hiếu nhận được lệnh ra Quân đoàn 1 giữ chức Tư lệnh Phó mà viên Tư lệnh (Trung Tướng Lãm) cũng không biết có ông ở đấy hay không! (NVT sđd trg 478).

Hành Quân Triệt Thoai là hình thái hành quân KHÓ NHẤT – Bởi tự thân đã mang mầm thất bại, thực hiện trong những tình huống bế tắc. Cuối cùng miền Nam thật sự lâm cảnh nước mất, nhà tan từ cuộc rút lui gọi là “di tản chiến thuật” bắt đầu ngày 15 tháng 3, nơi Cao Nguyên Trung Phần từ thủ phủ Quân đoàn II – Quân khu II. Riêng phần Thiếu Tướng Hiếu rời chức vụ Tư lệnh Su đoàn 5 Bộ binh để tham dự vào một mặt trận mới – Trận chiến chống tham nhũng qua sự kiện Quỹ tiết kiệm Quân Đội.

Phan Nhật Nam

Giờ thứ 25

vietmessenger.com

Constantin Virgil Gheorghiu

Bản dịch của Lê Ngọc Trụ và Võ Thị Hay

Gió Bốn Phương xuất bản 1967

Theo Bản Dịch La Vingt – Cinquième Heure Của Monique Saint – Côme

Nxb Gió Bốn Phương, Saigon 1967

Post by Sơn râu 3 Feb 2026

Chương 4.

Mục sư Koruga trả lời thơ Traian liền, cho hay ông và bà mạnh giỏi, tại làng Fântâna tất cả đều như trước. Chỉ riêng Moritz vẫn chưa về, và không ai biết nó trở nên thế nào.

Ông biện lý Damian vô sân lúc mục sư đọc lại bức thơ vừa viết xong. Ông về đồng nghỉ hai ngày với mục sư. Thường thường, mỗi tuần ông đều về chơi với mục sư. Hai người đi ra nhà bưu điện bỏ thơ.

Dọc đường, mục sư đưa thơ của Traian cho ông biện lý xem và nói:

– Traian rất lo sợ cho chúng tôi.

Ông biện lý đọc bức thơ và mỉm cười đáp:

– Anh Traian là thi sĩ. Anh cứ thêm thắt cho to chuyện. Chắc anh sẽ bịnh vì làm việc quá sức nhiều!

Trong sân tòa thị sảnh có nhiều người tụ họp. Xe của trạm phu chưa đi. Mục sư muốn đưa thơ gởi, nhưng người phu trạm từ chối nói:

– Chúng tôi không nhận thơ gởi ra nước ngoài. Sáu giờ chiều nay, nước Roumanie đầu hàng. Xứ sở ta bị binh Nga chiếm. Vua có loan tin trên đài phát thanh rồi!

Mục sư cất thơ vô túi.

Chiều hôm ấy, thôn dân tựu trong sân nàh mục sư để hỏi ý kiến. Binh Nga đã vô thành kế cận, thiên hạ chạy về đồng trốn. Họ thuật lại nhiều chuyện ghê gớm. Đàn bà bị hãm hiếp, bị thắt cổ. Đàn ông bị bắn ngoài đường phố.

Mục sư bước ra bao-lơn. Thôn dân buồn rầu lo sợ. Mục sư nói:

– Rồi người khác sẽ đến cai trị nước ta. Họ còn tàn ác hơn mấy người trước, vì họ là kẻ ngoại bang. Nhưng người sùng đạo biế rằng tất cả nền thống trị dưới trần đều tàn khốc, ta phải đau đớn chịu đựng. Chân lạc-quốc chỉ là Thiên đàng ở trên Trời.

Một dân làng hỏi:

– Ta có nên trốn trong rừng để chiến đấu chống kẻ xâm lăng không? Cha dạy thế nào?

– Thiên Chúa giáo không xúi tín đồ đánh giặc để giành lại quyền hành ở thế gian.

– Vậy Thiên Chúa giáo khuyên ta đưa tay cho họ xiềng xích sao? Thiên Chúa giáo có muốn ta phải khoanh tay điềm nhiên nhìn kẻ khác hãm hiếp vợ con, đốt thiêu nhà cửa ta không? Đạo Thiên Chúa không đòi hỏi như thế được. Nếu mà bắt buộ, thì chúng tôi không về với Thiên Chúa giáo nữa!

Các thanh niên trong làng đều tán thành. Mục sư điềm tĩnh nói:

– Chúa Jésus dạy tín đồ phải phục tùng quyền thống trị trên thế gian. Các con nói sự thống trị hiện nay ở xứ Roumanie là của kẻ ngoại bang, tàn bạo và tà giáo. Tôi cũng biết, nhưng khi xưa những người cai trị tại xứ Chúa Jésus giáng sinh cũng là kẻ ngoại bang, tàn bạo và tà giáo vậy. Các con hãy nghĩ đến muôn ngàn trẻ nít bị cắt cổ ở Judée, theo lịnh của vua Hérode sau ngày giáng sinh của Chúa Jésus. Cách thống trị thật tàn ác. Có lẽ cũng tàn ác như cách thống trị của Cộng sản. Nhưng Chúa Jésus không phản kháng và không xúi giục ai phản kháng. Ngài nói: “Trả cho César cái gì của César, trả cho Trời cái gì của Trời”.

Một thanh niên hỏi:

– Vậy Cha đọc kinh cầu nguyện cho Staline sao? Nếu Cha đọc kinh cầu nguyện cho Staline tức là Cha đọc kinh cầu nguyện cho Quỷ vương, kẻ phản đối Đạo Thiên Chúa sao? Và như thế, chúng tôi không để chân tới Nhà thờ nữa!

– Nếu nhà cầm quyền ra lịnh tôi đọc kinh cầu nguyện cho Staline, như ngày nay tôi đọc cho vua, thì tôi tuân lịnh. Tôi biết Staline vô thần và ngoại đạo. Nhưng kẻ ngoại đạo cũng là người. Nếu linh hồn họ đầy tội lỗi là vì họ đi lạc hướng, xa đường lối của Chúa. Một mục sư phải đọc kinh cầu nguyện cho tất cả mọi người, và nhứt là cầu nguyện cho những linh hồn đầy tội lỗi.

Một thanh niên nói:

– Cha tha hồ đọc kinh cho Staline, nhưng phần chúng tôi, chúng tôi không đi Nhà thờ nữa.

Với giọng phản đối, anh hỏi gằn thêm:

– Còn nếu chúng tôi rút vô rừng chống lại Cộng sản để giành tự do, ngày chúa nhựt tại Nhà thờ, Cha cũng đọc kinh cầu nguyện cho chúng tôi nữa sao?

– Mục sư cũng đọc kinh cầu nguyện cho những ai chiến đấu trong rừng, trên núi, chẳng những ngày chúa nhựt mà mỗi ngày hai lần, vì cuộc đời tranh đấu của họ luôn luôn bị nguy ngập, nên họ cần phải có lời cầu nguyện của mục sư và lòng nhân ái của Đức Mẹ.

Tất cả thôn dân đều im lặng. Apostol Vasile nói:

– Nếu Cha đọc một kinh cầu nguyện cho chúng tôi, Cha sẽ bị bắn!

– Đó không phải là một lý do để tôi ngưng cầu nguyện cho các anh. Sự chết không làm nao lòng người có đạo.

– Chúng tôi rút vô rừng kháng chiến. Trước khi đi, xin Cha ban phước lành và làm lễ cho chúng con. Rồi không biết rồi đây sẽ ra sao và chúng con có trở về được chăng? Chúng con đi tranh đấu cho Thập tự giá và cho Giáo hội.

– Nếu các con tranh đấu cho Thập tự giá và cho Giáo hội với gươm giáo thì các con đi trong đường tội lỗi, vậy tốt hơn các con nên ở nhà. Giáo hội và lòng tín ngưỡng Chúa không phải bảo vệ bằng khí giới cầm tay.

– Chúng con sẽ tranh đấu cho xứ Roumanie là một nước có đạo Thiên Chúa.

Apostol Vasile chia dân làng thành từng nhóm. Phần đông quyết định rút vô rừng. Đó là những phần tử ưu tú trong làng, có cả phụ nữ và thiếu niên còn đi học.

Họ quỳ gối xuống sân cỏ.

Mục sư Koruga đọc kinh cầu nguyện và ban phép lành cho từng người.

Ông biện lý Damian cũng quỳ xuống trước mặt mục sư, nói:

– Xin Cha ban phép lành cho con nữa. Con cũng rút vô rừng với họ, để tranh đấu cho tự do loài người và cho nhân loại!

Mục sư đáp:

– Giáo đường ban phép lành cho tất cả ai đến xin.

Ông biện lý hỏi:

– Giáo đường cũng ban phép lành cho kẻ muốn làm chuyện quấy sao? Hoặc giả Cha nhìn nhận chính nghĩa của chúng con là hợp lý chớ!

– Hãy thương xót và hành động theo ý anh muốn. Nếu chuyện làm của anh chân thành phát tự cõi lòng, thì đừng sợ tội lỗi. Anh đã đi trúng đường!

Ông biện lý hôn tay mục sư như các dân làng, theo nhóm người ra khỏi sân, và rút vô rừng!

Trong nhà, bà mục sư khóc.

Các dân làng đi được hai giờ. Mục sư đọc sách để trấn tĩnh lo ngại. Nhưng hai thôn dân, không phải người trong làng, bước vô phòng sách, không cần gõ cửa. Họ mang dây băng ba màu và súng lục. Mục sư làm như không thấy khí giới, vui cười tiếp họ và nói to lên, cố ý để cho bà ở phòng bên cạnh nghe, và không muốn làm cho bà sợ hãi:

– Phải ở toàn thị sảnh kêu tôi không?

Một người nói:

– Chúng tôi có lịnh bắt ông dẫn đến Tòa án Nhân dân.

Mục sư ngó qua phòng vợ, và nghĩ thầm: “Chắc bà không nghe gì cả”. Ông để cuốn sách trên ghế và ra đi.

Trước khi ra khỏi sân, ông còn ngó ngoái lại, như để vĩnh biệt.

Hai thôn dân đi giữ kèm hai bên mục sư.

Ông bước qua ngưỡng cửa, đầu ngẩng lên. Ông đi không giống như một người có tội. Ông có vẻ như trán ông đụng trời.

Và ông đi như thế trên đường làng, từ nhà ra tòa thị sảnh…

Tòa án Nhân dân do Marcou Goldenberg chủ tọa. Anh ngồi trên ghế ông Đô trưởng, trong gian phòng rộng lớn của thị sảnh.

Đầu anh cạo trọc như một tên tù. Quân Nga vừa thả anh vài ngày trước, từ trong khám giam, vì anh can tội giết ông già Lengyel. Ngồi bên mặt anh là bà Aristitza, mẹ Moritz. Marcou lựa bà làm thẩm phán vì bà là người nghèo hơn hết trong làng Fântâna. Bên trái là Ion Calugaru, đã can án giết một viên hiến binh bằng búa, cách mấy năm nay. Vì thế, nên Marcou mới chọn y.

Mục sư chào họ. Marcou ngó ông chăm chăm, không chào đáp lại.

Aristitza và Calugaru ngó xuống, như không thấy mục sư. Họ đã xử nhiều người khác, trước khi mục sư đến. Lúc ấy trong phòng chỉ còn có mấy vị thẩm phán và hai thôn dân mang dây băng ba màu.

Marcou hỏi tên, tuổi và nghề nghiệp của mục sư, rồi nói:

– Làm mục sư không phải là có một nghề! Thợ giày đóng giày, thợ may may áo. Mỗi thợ sản xuất một món đồ. Ông có thể nói với tôi, mục sư sản xuất cái gì không?

Aristitza và Calugaru vẫn cúi mặt xuống. Hai thôn dân cười sau lưng mục sư.

Marcou nói:

– Ông không có một nghề gì hết! Thật là một trọng tội mà chẳng học lấy một nghề gì cả. Ông sống ăn nhờ các thợ!

Mặt Marcou vàng như vỏ chanh. Môi mỏng dánh và tím ngắt. Mục sư nhớ đến lão già Goldenberg, cha Marcou, cũng có đôi môi như vậy, cũng mỏng dánh, nhưng môi lão già thì cười, môi của Marcou lại mím chặt.

Marcou hỏi:

– Ông biết tại sao ông bị đòi ra Tòa án Nhân dân không?

– Không.

– Thật câu trả lời khuôn mẫu của kẻ phản động! Không bao giờ họ biết lý do nào đem xử họ. Ông có nhìn nhận đã tổ chức đoàn phát xít đi vô rừng không?

– Tôi không có tổ chức. Tôi nhìn nhận có đọc kinh tại sân nhà tôi cho những thanh niên trong làng đến xin cầu nguyện cho họ.

– Không phải bọn phát xít? Tại sao ông đọc kinh cầu nguyện cho họ, nếu không chẳng phải người rửa tội cho bọn phiến loạn ấy?

– Tôi biết mấy thanh niên đến xin tôi cầu nguyện đang ở trong một tình thế khó khăn. Tôi cầu nguyện Đức Mẹ Đồng Trinh giúp họ, chỉ dẫn họ con đường chân lý và công bằng!

– Tòa án Nhân dân xử treo cổ ông. Ông có tội tổ chức cuộc võ trang phản nghịch phá rối trật tự công cộng.

Aristitza và Calugaru ngước mặt lên, sợ hãi, ngó Marcou, nhưng hắn mắc viết, không ngó họ.

Hai người xây lại nhìn mục sư, thấy ông đang hiền từ mỉm cười với họ.

Marcou nói:

– Cuộc hành quyết sẽ thi hành ngày mai, sáng sớm, trước dân chúng.

Phiên xử của Tòa án Nhân dân bế mạc.

Mục sư bị hai thôn dân mang dây băng ba màu nắm dẫn đem nhốt trong chuồng ngựa tòa thị sảnh. Trong ấy đã có Damian, bị bắt trước khi vô rừng, viên quản đồn hiến binh, Apostol Vasile với tám thôn dân giàu có nhứt trong làng Fântâna. Tất cả đều bị Tòa án Nhân dân xử treo cổ và sẽ bị hành quyết sáng mai. Nhưng trong đêm, các tù nhân lại bị đem từng người ra bắn gần hầm phân. Marcou được lịnh chẳng nên cho hành hình công khai, để tránh cuộc nổi loạn của quần chúng chống Hồng quân. Chính tay Marcou bắn mỗi tội nhơn một viên đạn sau ót.

Quá nửa đêm, Aristitza nghe gõ cửa. Vợ Moritz là Suzanna đến kêu.

Nghe tiếng nàng khóc, bà tưởng quân Nga đã vô làng và hãm hiếp nàng. Bà ngồi dậy, giận dữ. Bà biết sẽ có một tốp lính tuần thành Nga đến và họ hãm hiếp đàn bà, nhưng bà không tha thứ được khi chính dâu bà bị trước tiên, dâu của một “công dân” thẩm phán quan tại Tòa án Nhân dân.

Mở cửa ra, bà hỏi:

– Có chuyện gì đó?

– Mục sư Koruga bị bắn rồi!

– Không đúng. Marcou muốn treo cổ ông sáng mai, trong sân Nhà thờ. Nhưng nó không thể làm được. Tao cũng là thẩm phán trong làng, không phải có một mình nó thôi. Sáng mai, chúng tao sẽ họp phiên xử án lại và sẽ thả mục sư. Tao có nói chuyện với Calugaru rồi. Mày đi qua nhà bà mục sư biểu bà cứ ngủ yên đi!

– Mục sư đã chết rồi! Có nhiều người thấy ông bị bắn và cho con hay.

Aristitza không tin. Bà không trở vô phòng. Bà đi liền với Suzanna tới thị sảnh. Bà chỉ mặc áo ngủ. Trời sáng mờ. Hai người lặng lẽ đi giữa đường vắng. Suzanna khóc thút thít, thỉnh thoảng lấy vạt áo chặm mắt. Bà Aristitza giận dữ, thở mệt nhọc. Nhiều lần, bà day qua mắng dâu:

– Bộ mày ngủ sao? Máu chảy trong huyết quản mày chớ có phải sữa loãng đâu?

Suzanna đi mau, nhưng biết đã muộn rồi. Mục sư đã chết, không ai làm sao được nữa.

Tới thị sảnh, đèn còn sáng, nhưng không một bóng người. Aristitza nói:

– Đi lại chuồng ngựa coi! Tao làm thẩm phán, tao có quyền hỏi và biết sự gì xảy ra!

Chuồng ngựa tối đen. Cửa đóng nhưng không khóa.

Aristitza vừa bước vô, liền sợ hãi, hỏi Suzanna:

– Mày có hộp quẹt đó không?

– Không má à!

Bà nổi giận, cằn nhằn:

– Mày không bao giờ có món gì hết. Lúc cưới, mày cũng tay không. Mày được thằng con tao khù khờ lắm mới lấy mày như vậy!

Suzanna không buồn, vì biết bà không phải giận nàng. Bà sợ mục sư chết thiệt nên rầy la nàng vậy thôi.

Vô giữa chuồng ngựa, bà la lớn lên:

– Có ai trong này không?

Suzanna nói:

– Không có ai cả, má à! Marcou bắt tất cả tù nhân trong chuồng ngựa đem ra gần hầm phân bắn hết rồi.

– Bộ mày mơ sao chớ? Làm sao nó bắn họ mà chẳng cho tao hay, tao là thẩm phán đây?

Suzanna làm thinh. Hai người trở ra sân, tìm kiếim thây mấy người bị bắn trong đêm tối.

– Không có ai trong sân hết. Tao đã nói mày mơ rồi! Hay là họ bị đem giam chỗ khác, và mấy tên phản động trong làng chỉ chờ cơ hội này để phao đồn rằng Marcou đã bắn họ.

Suzanna đi tách xa bà Aristitza, và tìm kiếm kỹ lưỡng trong sân, chung quanh hầm phân. Nàng chắc chắn mục sư đã bị bắn. Dân làng đã chứng kiến thảm kịch, thuật lại rằng Marcou cho dẫn từng người, tay bị trói, ra khỏi chuồng ngựa, và chính y bắn tất cả, vào phía sau lưng.

Aristitza nói:

– Thôi, đi kiếm Marcou coi.

Bỗng Suzanna kêu rú lên một tiếng lớn và té quỵ xuống cỏ. Aristitza chạy lại, nổi giận, hét to:

– Cái gì nữa đó, đồ hư. Mới thấy bóng mày là mày té xỉu rồi!

Nhưng cổ họng bà nghẹn ngào. Gần Suzanna, dựa hầm phân, nhiều thây nằm trên cỏ. Một xác mặc áo sơ-mình trắng nằm gần chân Suzanna. Một xác khác, mặc toàn đen nằm các vài bước, rồi vài thây khác, và thây khác nữa. Aristitza liền làm dấu thánh giá để lấy can đảm. Bà bảo Suzanna:

– “Ngồi dậy đi, tao cần dùng mày”. Bà không sợ xác chết, nhưng lúc này, bà không muốn đứng một mình.

Suzanna đứng lên, run lập cập. Bà nắm tay nàng dắt đi, cúi xuống từng xác chết để nhìn mặt. Có chín thây trên bờ và ba trong hầm phân.

Aristitza nhìn kỹ một thây và nói:

– Đây là ông cựu xã trưởng Ciubotaru.

Bà khom xuống, đặt lỗ tai kề ngực coi trái tim còn đập không. Bà đứng dậy, nói:

– Chết rồi!

Bà bước xa một chút, cúi xuống một thây khác, kê lỗ tai vào ngực, và nói:

– Thân còn nóng, nhưng tim hết đập. Đây là anh Solomon. Cầu nguyện Chúa cứu linh hồn anh. Hồi tôi còn nhỏ, anh có xin cưới tôi.

Và sợ nỗi đau thương xâm chiếm, bà quát Suzanna:

– Còn mày cũng đi kiếm coi có ai còn sống không? Ngồi đó khóc hoài hay sao? Đồ ngu!

– Con không dám, má à. Con sợ quá!

– Sợ cái gì? Cứ kề lỗ tai lên ngực mỗi người, nín thở một lát, nghe coi tim còn nhảy hay không. Nếu hết nhảy, thì cầu nguyện Chúa rước linh hồn người đó, và làm dấu thánh giá. Nếu tim còn đập, thì ta lo chuyện khác, hơn là làm dấu thánh giá. Mày hiểu chưa?

– Con hiểu, nhưng con sợ quá!

– Đồ hư! Không hiểu sao mà con tao cưới mày được chớ!

Bà Aristitza lại cúi xuống một thây khác. Bà nói:

– Đây là ông biện lý thường đến nhà mục sư mỗi tuần, và là bạn của Traian. Một thanh niên đứng đắn.

Bà mở nút áo, nghe một hồi, rồi đứng dậy, nói:

– Chúa rước linh hồn ông! Ông cũng vậy, đã chết rồi. Không biết chừng ông có vợ con đang chờ ở nhà.

Aristitza quên lửng Suzanna. Bà đã tìm được thây mục sư Koruga. Bà kính cẩn cúi xuống lật áp choàng và nghe, rồi nói nho nhỏ:

– Mục sư chưa chết con à!

Suzanna lại khóc to khi nghe ông chưa chết. Bà Aristitza nói:

– Mày điên sao? Chuyện phải mừng mà mày lại khóc. Lại nghe coi tim ông đập nhịp nhàng đây nè!

Suzanna quỳ gối trước mục sư nhưng không cúi xuống nghe tim ông.

Aristitza ấp tay mục sư trong hai tay bà và nói:

– Ông còn nóng, con à. Xem coi, ông ấm hỉm nè.

Bà muốn tìm chắc chắn coi sinh lực của mục sư còn ở đâu nữa. Nhưng ngoài sự ấm áp của bàn tay, gò má, và tiếng đập của trái tim, giác quan bà không ghi thêm được điều gì khác nữa. Bà nói:

– Sự sống chỉ có thế! Vài nhịp tim, một hơi nóng của da thịt toát ra.

Bà cho là ít quá. Bà nói tiếp:

– Nếu sinh mạng con người chỉ có thế, thật là ít ỏi quá!

Chung quanh bà hoàn toàn vắng lạnh. Bà lẩm bẩm: “Mục sư thật thơm mùi quế và trầm hương. Thể xác ông thơm tho làm sao, như mùi Nhà thờ!”.

Trừ mục sư ra, tất cả đều chết. Có vài thây còn nóng, chắc hẳn chưa chết liền, còn phải chịu đau đớn kéo dài nhiều. Chỉ nhìn thấy họ oằn oại trên cỏ, trước khi trút linh hồn thì đoán biết. Mấy thây khác lạnh ngắt, chắc viên đạn trúng là chết ngay.

Bà Aristitza lau tay vô váy. Bà làm cử chỉ này đến lần thứ năm thứ sáu gì rồi, và cũng không hiểu tại sao bà lau như vậy. Đầu gối bà ướt mem. Bà nói:

– Chắc là máu. Trời tối quá, phải đạp trên máu và đặt tay lên máu. Giẫm chân lên máu người ta như thế này rất tội lỗi. Nhưng cin Chúa tha thứ cho, vì trời tối quá.

Trong lúc bà Aristitza xuống hầm để xem xét các thây khác, thì Suzanna lo lau trán mục sư.

Bà Aristitza lên khỏi hầm, vừa lau tay vô váy lầnn nữa, vừa hỏi:

– Vết thương ở chỗ nào?

– Con không biết, má à!

– Mày thì luôn luôn không biết gì hết. Phahỉ buộc vết thương liền, nếu không, để máu ra nhiều thì nguy mất!

Bà rờ gặp chỗ máu nhiều nhứt, và thấy mục sư bị thương ở lưng, phía trên vai phải. Bà kêu Suzanna bảo:

– Đưa cho tao miếng vải để buộc vết thương lại coi.

Suzanna không biết phải tìm vải ở đâu bây giờ. Bà nổi giận, kéo vạt váy lên định xé áo sơ-mình lót mình, nhưng tay mằn hoài giữa áo ngoài với da bà, thì ra không có áo lót. Bà lật tuốt váy lên tới ngực và hỏi:

– Áo lót của tao đâu mất rồi?

Đoạn nhớ lại, hồi sáng này, mắc lật đật đi họp phiên Tòa án Nhân dân, bà quên mặc áo sơ-mình lót. Bà nói:

– Tao chỉ có áo ngoài, không có sơ-mi.

Bà bồng mục sư lên tay, mở nút áo choàng, bày trần vết thương trên vai. Bà biểu Suzanna:

– Mày đưa áo sơ-mình của mày coi!

Bà lấy tay chùi máu trên vai mục sư và nói:

– Thật ông thơm mùi quế và trầm hương làm sao. Thân ông thơm tho như mùi Nhà thờ.

Bà xây qua Suzanna, thấy nàng đã cởi áo ngoài, đang tuột áo trong ra. Nàng trần truồng như nhộng. Bà rầy to:

– Mày điên hả? Sao không thẹn, đứng trần truồng trước mục sư và người chết vậy?

Suzanna đáp:

– Chớ làm sao con trao áo sơ-mình của aon cho má được, nếu không cởi tuột áo ngoài?

Bà không thèm nghe, khạc dưới đất, cằn nhằn:

– Đồ nhơ bẩn. Dám đứng trần truồng trước mục sư và người chết như vầy!

Aristitza và Suzanna ngừng lại dựa vườn bắp, để mục sư nằm xuống cỏ. Họ khiêng ông từ chuồng ngựa tới đây, bó trong áo choàng của ông như trong tấm vải trải giường. Ban đầu, mỗi người nắm một đầu áo choàng và khiêng ông như ông nằm trên cáng. Nhưng mục sư nặng quá. Mặt họ đượm mồ hôi. Mỗi lần ngừng nghỉ thì bà Aristitza đều cúi xuống nghe chừng tim ông còn đập không, rồi mới tiếp tục đi. Bây giờ họ hết khiêng mục sư như khiêng cáng, mà bó ông trong áo choàng, kéo lết trên đất. Bà Aristitza nói:

– Cầu chúc cho ông đừng chết dọc đường! Mau mau đi con. Ngày mai, ngày mốt, mấy ngày khác, ta tha hồ nghỉ mệt.

Aristitza sợ đem mục sư về nhà, bọn cộng sản sẽ tìm thấy. Bà nói thầm: “Nếu mục sư được cứu lần này, lần sau cũng không thoát khỏi. Tốt hơn đem ông gởi cho mấy thanh niên trong rừng. Họ sẽ săn sóc và trị ông lành mạnh. Bọn cộng sản không thể nào tìm ông trong rừng được”.

Suzanna nói:

– Nhân viên y tế cũng đi với họ, nếu mình tìm được hắn. Hắn có lấy theo cả thùng thuốc men và cuồn băng.

Aristitza nói:

– Ta sẽ tìm hắn cho ra!

Nhưng càng đi gần tới rừng, lòng hăng hái của họ tan lần. Rừng quá rộng. Tìm nhân viên y tế trong ấy như mò kim đáy biển.

Aristitza nói:

– Nếu không tìm gặp mấy thanh niên, ta phải giấu mục sư xa bọn cộng sản. Cần nhứt phải làm như thế, rồi sẽ hay. Bây giờ mày ở lại coi chừng mục sư, tao về làng. Tao sẽ trở lại trước hừng đông, đem đồ ăn, nước uống, và không chừng dẫn thêm một bà già biết săn sóc vết thương.

Suzanna khóc lên. Nàng sợ ở ban đêm một mình trong rừng. Nàng lầm thầm cầu nguyện Chúa xui khiến cho gặp được mấy thanh niên.

Dọc theo rừng có một con đường đi. Trước khi băng ngang, bà Aristitza nghe ngóng coi có ai đi không. Một đoàn xe hơi, đèn tắt hết, tiến chậm chậm. Tiếng máy rồ rồ như tiếng một đoàn ông bay. Đoàn xe tới gần, lên dốoc. Hai người đàn bà để mụ sư xuống cỏ, và chạy trốn trong đám bắp, dựa lề đường.

Aristitza nói:

– Đoàn xe của quân Nga. Nhưng không sao, để cho nó qua. Họ không thấy mình đâu.

Đoàn xe đến, lên khỏi dốc thì ngừng lại. Tiếng máy tắt hẳn. Dế kêu cũng nghe. Vài binh lính nhảy xuống xe, nói chuyện nho nhỏ.

Suzanna nói:

– Lính Đức!

Aristitza ngóng tai nghe. Đoạn hai người bò sát đất, dọc theo đám bắp, đến gần đoàn xe. Họ chăm chú lóng tai nghe.

Aristitza nói:

– Lính Đức! Nếu ta đến xin cứu mục sư, chắc họ có y tá hoặc bác sĩ trong đoàn.

Hai người ra khỏi vườn bắp. Aristitza hỏi:

– Mày biết một tiếng Đức nào không? Một tiếng cũng được. Nếu ta không nói với họ, họ tưởng kẻ thù và sẽ bắn ta.

– Con không biết một tiếng Đức nào hết.Hai người đi ít bước nữa, rồi đứng lại. Họ đứng sát vào nhau, giữa đường, im lặng. Tay Aristitza bấu chặt cườm tay Suzanna. Bà nói:

– Mày còn trẻ. Ráng nhớ một tiếng Đức đi. Chắc hồi nhỏ mày có nghe người Đức nói chuyện. Cha mày nói tiếng Đức, thì mày còn trẻ tuổi sẽ nhớ được.

– Con không nhớ gì hết. Ta thử nói với họ bằng tiếng Roumanie coi!

Bà nổi giận nói:

– Làm sao nói tiếng Roumanie với họ được. Họ không hiểu, tưởng mình là cộng sản đa.

– Hay là chúng ta la lớn “Chúa Ki-Tô”, má! Dân Đức đều có đạo. Nếu họ nghe mình nói “Chúa Ki-Tô” thì không nghi là cộng sản đâu. Và lại tiếng “Chúa Ki-Tô” có nghĩa tỏ ra mình lương thiện và có ý tốt.

– Mày làm thử coi! Nếu lính Đức hiểu mày, thì mày đâu có ngu dại gì!

– Con không dám đi một mình. Hay là má với con đồng kêu lớn lên một lượt.

Hai người đàn bà lại ôm sát nhau, và kêu lên, ban đầu nhỏ, sau to:

– Chúa Ki-Tô! Chúa Ki-Tô!

Một giọng oai vệ hỏi:

– Ai đó?

Họ không hiểu người Đức nói gì, cứ việc rập nhau hô to:

– Chúa Ki-Tô!

Hai người lính đến gần họ. Aristitza run sợ. Bà lại run sợ hơn Suzanna nữa. Mấy lính không hiểu họ muốn gì. Họ liền đi vô đám bắp khiêng mục sư Koruga đem ra giữa lộ, trước đoàn xe.

Lính Đức bật đèn lên và ngó mặt một mục sư. Một sĩ quan hỏi:

– Phải một mục sư không.

Aristitza đáp:

– Chúa Ki-Tô!

Sĩ quan hỏi thêm:

– Phải quân Nga bắn ông không?

Aristitza tưởng sĩ quan nói người bịnh là cộng sản, nên lặp lại, quả quyết:

– Chúa Ki-Tô.

Đoàn quân Đức đang thoái binh. Sĩ quan nói chuyện với hai người đàn bà, bèn cho lịnh khởi hành, và ra dấu biểu Aristitza khiêng người bịnh dang ra, để xe chạy.

Aristitza bèn nắm tay sĩ quan cầu xin một bác sĩ hay y tá cứu mục sư. Khi xe rồ máy, bà đâm hoảng, không muốn để đoàn binh Đức đi luôn không băng bó cho mục sư. Bà vội quỳ trước sĩ quan, hôn tay ông. Bà biết không còn kiếm bác sĩ đâu được nữa.

Viên Thiếu tá chỉ huy đoàn quân hỏi:

– Bà già này nói gì?

Viên sĩ quan đáp:

– Bà muốn chở người bị thương đến tỉnh. Ông này là mục sư Chính thống giáo.

Thiếu tá nói:

– Sao lại không chở? Chúng ta là một dân tộc văn minh, dầu bị bại trận! Đỡ người bị thương lên xe hồng thập tự mau, rồi lên đường.

Aristitza và Suzanna thấy lính khiêng mục sư để nằm trên cáng và đắp mền lại. Đoàn xe chạy. Aristitza muốn leo lên xe theo mục sư, nhưng lính gạt ra, đóng cửa xe lại.

Đoàn xe khởi hành. Suzanna ngó theo xe, khóc thảm thiết, như muốn van xin cầu cứu. Bà Aristitza lắc mạnh vai nàng, hỏi:

– Mày làm cái gì nữa đó? Mày muốn binh Nga nghe tiếng mày la hay sao?

Suzanna đáp:

– Chúa sẽ phạt ta về tội lỗi vừa phạm. Ta không nên giao mục sư cho lính Đức. Ai biết rồi họ sẽ làm gì ông đây?

– Thì họ đem ông vô nhà thương. Cầu cho ông được nằm nhà thương hơn là ở trong rừng.

Nhưng vài phút sau, bà cũng khóc òa. Bà hối hận đã hành động như thế.

Bà la lớn lên:

– Ta không nên giao mục sư cho lính Đức! Ta đã phạm một trọng tội, rồi đây Chúa sẽ phạt ta! Ta sẽ bị thiêu đốt ở Địa ngục. Và cũng tại mày, ta mới đưa mục sư cho quân Đức!

Hai người đàn bà muốn chạy theo xe đòi mục sư lại, nhưng đường vắng teo.

Họ trở về làng.

Sáng bữa sau, Aristitza bị bắt. Tại thị sảnh, bà bị đánh đập bằng dây luột nhúng nước. Bà nhìn nhận có đem mục sư ra khỏi hầm phân và giao cho lính Đức.

Hồi chín giờ, họ bắn bà cạnh hầm phân. Suzanna dắt hai đứa con trốn khỏi làng.

Lúc nhân viên của Marcou tới bắt nàng, thì nhà Moritz trống trơn…

Joseph lên giường nằm và nói:

– Ngày nay là ngày sung sướng nhứt của đời tôi!

Nhờ Moritz, đoàn tù Pháp vượt trại giam, vừa qua tới phòng tuyến Mỹ vài giờ trước đây.Moritz và Joseph ở troong một phòng đẹp đẽ của khách sạn viện trợ Mỹ (U.N.R.A.). Họ ăn nhiều món ngon, uống rượu chát và hút thuốc lá đắt tiền. Người ta cho họ nhiều thùng thực phẩm, quần áo và các món khác nữa. Moritz ngắm mấy gói đồ, sắp kề nhau, trên tấm thảm, gần tường. Anh thấy được trọng vọng như không bao giờ có. Quân lính Mỹ cho anh nào sơ-mình, nào y phục mới tinh, dao cạo, giày, xà-bong, thuốc hút. Họ tặng riêng anh tất cả mấy món đó, khi vừa thấy mặt anh. Anh rất hãnh diện. Lần thứ nhứt, anh tin tưởng đã lập đại chiến công trong cuộc thắng trận của Đồng minh. “Nếu mình không lập một đại chiến công, người Mỹ đâu có cho mình nhiều tặng phẩm như vầy”.

Anh nhớ người Mỹ cũng không hỏi tên anh, và anh tưởng chừng họ được báo tin về chuyện vượt ngục này, trước khi bọn anh tới.

Người Mỹ nào cũng cười với anh, như để tỏ với anh rằng họ biết rõ anh đã từng đau khổ và can đảm.

Moritz mệt mỏi, nhưng không muốn ngủ. Anh dòm chung quanh anh và không thể tin được một căn phòng rộng lớn đẹp đẽ như vầy lại để dành riêng cho anh. Tất cả những gói đồ sắp trên ghế, trên bàn, trên thảm là của anh hết. Người Mỹ tặng anh vì anh đã can đảm cứu năm tù binh Pháp vượt khỏi trại giam. Joseph nói:

– Ta hoàn toàn thành công trong cuộc vượt ngục này!

Moritz nhớ lại làm thế nào anh ra khỏi sân trại giam với năm tù binh bữa sáng hôm ấy. Bọn anh đi qua các đường phố trong châu thành. Hilda vẫn ở cửa sở với thằng Franz và nói với con: “Coi kìa, người mang súng và đội nón sắt là ba con đó!”. Và Moritz cười như đã cười mỗi ngày. Nhưng bọn anh không ngừng lại nơi cầu, mà đi luôn tới ven rừng. Moritz đi sau họ, súng mang vai, ai ai cũng tưởng là một người lính dẫn năm tội nhân. Nhưng họ đã là tù vượt ngục rồi. Moritz thấy hình như có một người đàn bà ngó anh lâu, và anh nghe tim đập mạnh, anh làm lơ như không thấy họ.

Tới rừng, anh thay bộ đồ thường phục của tù binh Pháp đem theo. Joseph đập cây súng vô đá nát tan. Miểng súng văng trúng Moritz, anh tưởng như có cái gì bể trong tim anh. Nhưng anh không muốn để lộ ra. Bọn tù Pháp lại nổi lửa đốt bộ quân phục của anh, anh muốn khóc, song gượng lại, sợ họ hờn. Họ chửi rủa Hitler luôn miệng. Moritz không hiểu họ nói gì.

Bọn anh đi trọn một tuần lễ trong rừng. Một buổi sáng, vừa ra đường lộ khỏi rừng, họ thấy một đoàn xe Mỹ. Mấy người Pháp ca hát vang lên. Họ đã mệt nhừ, nhưng vẫn ca hát như điên cuồng. Họ gắn dây băng tam tài vô khuy áo của họ và Moritz, rồi đi lại đoàn xe Mỹ. Lính Mỹ liền cho họ thuốc hút và chở họ đến chỗ viện trợ U.N.R.A., một khách sạn có phòng rộng với bữa ăn dọn sẵn. Dường như bọn anh được chờ đợi ở đây vậy.

Từ lúc đầu tới bây giờ, lính Mỹ luôn luôn cho bọn anh thực phẩn và nhiều gói đồ vật. Moritz có cảm tưởng như sống trong chuyện thần tiên. Khi thấy mấy gói đồ và Joseph, anh mới tin là sự thật. Anh được trọng đãi và nhận mấy tặng phẩm ấy là vì anh đã lập một đại chiến công vẻ vang trong cuộc thắng trận của Đồng minh.

Joseph đã ngủ. Moritz tự nói thầm từ đây anh sẽ sang Pháp. Anh nghĩ đến cái nhà anh sẽ cất, tới Hilda và thằng Franz. “Lúc hết giặc, mình sẽ rước cha mẹ mình qua Pháp ở nữa!”. Nghĩ tới hạnh phúc tương lai, anh ngủ một giấc tới sáng, còn mặc nguyên bộ đồ, nằm ngay trên giường, không cục cựa.

Đã hai tuần nay Moritz ở tại khách sạn viện trợ Mỹ. Anh thuật lại cho người Mỹ nghe chuyện anh với năm người Pháp vượt ngục như thế nào. Họ khen anh và bảo anh viết chuyện lại. Họ muốn đăng trên báo cuộc đời gian truân của Moritz. Rồi ai ai cũng khen anh và nói đến anh.

Ngày qua ngày, Moritz càng thấy có công giúp Đồng minh thắng trận. Anh sung sướng và tự hào đã làm chuyện hữu ích cho Đồng minh và thấy các nước Đồng minh đều bằng lòng anh.

Một bữa, vị Giám đốc cho gọi Moritz vô phòng giấy. Ông đã gọi anh nhiều lần để nghe anh thuật chuyện vượt ngục.

Moritz hớn hở vô phòng giấy. Ông Giám đốc mời anh ngồi, đưa hộp thuốc mời hút, và tươi cười với anh. Anh khoan khoái được trọng vọng, và lần nào cũng vậy, anh được tiếp đãi tử tế, nhưng anh vẫn chưa tập quen với lối này.

Vị Giám đốc vừa đốt thuốc cho Moritz vừa nói:

– Kể từ ngày mai, anh hết được quyền ăn và ở trong khách sạn U.N.R.A. nữa. Anh phải rời căn phòng anh đang ở.

Moritz xanh mặt. Anh tự hỏi đã làm gì lỗi với người Mỹ để họ giận anh như thế. “Chắc mình có lỗi gì lắm nên họ mới đuổi tống mình ra ngoài như vầy”.

Hồi nào tới giờ, anh được biết bao nhiêu là tặng phẩm của người Mỹ. Năm gói cho anh và cho Hilda. Họ còn tặng đồ chơi và quần áo cho thằng Franz khi nghe anh nói có một đứa con trai. Họ xin coi hình thằng Franz và xúm lại xem ảnh nó. Anh nghĩ thầm: “Rồi bây giờ cũng mấy người này thình lình đuổi mình. Chắc mình đã phạm lỗi lớn lắm!”. Vị Giám đốc nói:

– Viện trợ Mỹ chỉ bảo bọc công dân các nước bạn. Còn anh, anh là kẻ nghịch của Đồng minh.

Moritz nhớ đến những gói đồ của mấy người này đã cho anh. Đó là bằng cớ anh có làm ơn trọng cho Đồng minh, nay cũng mấy người này lại bảo anh là kẻ nghịch của Đồng minh.

Vị Giám đốc lặp lại:

– Anh là kẻ nghịch của Đồng minh.

Moritz đáp:

– Tôi không có làm gì chống Đồng minh cả! Tôi xin thề với ông Giám đốc rằng tôi không có phạm lỗi gì đối với Đồng minh!

Vị Giám đốc nghiêm nghị hỏi:

– Anh không phải là dân Roumanie sao! Xứ Roumanie nghịch với Đồng minh, tức nhiên anh cũng là kẻ nghịch. Viện trợ Mỹ không thể chứa trọ và nuôi dưỡng kiều dân các nước nghịch. Anh phải đi ra khỏi phòng anh. Moritz cúi đầu, bước ra. Anh muốn trở về hàng ngũ của anh. Nhưng anh nhớ lại cây súng đã bị bẻ gãy trong rừng, quân phục đã bị đốt cháy. Làm sao trở về hàng ngũ được. Anh tự hỏi: “Rồi mình sẽ đi đâu bây giờ?”.

Liền sau khi Moritz trốn, Hilda bị bắt. Tại sở Hiến binh, nàng khai chẳng biết gì cả. Mẹ Hilda cũng bị bắt hai ngày sau. Hai mẹ con bị cật vấn, đánh đập, nhưng mấy viên thanh tra không thâu thập được lời khai nào thêm. Lúc xét nhà Hilda, họ gặp những bức thơ của Đại tá Miller. Hilda nói:

– Ông này là bạn của Moritz. Ông đã gởi cho chúng tôi mỗi tháng hai trăm “mark”. Tới lễ Pâques, lễ Noel và ngày sinh nhựt của chúng tôi, ông đều gởi thực phẩm và thuốc hút.

Sở Hiến binh báo cho Đại tá Miller biết, mong sẽ được thêm chi tiết.

Hai ngày sau, họ tiếp được, từ Tổng hành dinh, một điện văn, dài cả trang giấy, do Đại tá Miller gởi:

“Từ bốn thế kỷ nay, không thấy ghi một trường hợp đào ngũ nào xảy ra, trong gia tộc “Dòng Anh hùng” mà Moritz thuộc dòng ấy. Stop. Phải tuyệt đối loại bỏ thuyết Moritz đào ngũ. Stop. Tôi quả quyết sự mất tích của Moritz là do một vụ bắt cóc hoặc ám sát. Stop. Moritz mất tích là một sự thiệt hại không vãn cứu được cho lịch sử gia tộc “Dòng Anh hùng. Stop. Phải tìm cho được nó, dầu với giá nào. Stop. Đừng làm nhơ danh, bằng cách nghi ngờ đào ngũ, một trong các gia tộc can đảm và danh giá của dân Germain. Stop. Không được dùng từ ngữ “đào ngũ” trong cuộc điều tra của các ông. Stop. Vợ và con Moritz phải chánh thức được “Viện Nghiên cứu và Sưu tầm chủng tộc Đức” bảo vệ và nuôi dưỡng. Stop. Vợ và con Moritz sẽ lãnh lương thực của “Viện” cấp tới khi tìm ra Moritz. Cảnh sát sở tại phải săn sóc đến họ. Stop. Thông báo cho tôi biết tất cả các việc tìm kiếm. Đựơc nghe tin tức nào mới về Moritz, phải đánh điện tín về Tổng Hành dinh cho tôi. Stop.

Ký tên Đại tá Miller

O.K.W

Đại úy Cảnh sát quân vụ trưởng nói:

– Nếu Đại tá Miller biết chúng ta đã bắt và đánh khảo vơ Moritz thì chúng ta sẽ bị nghiêm trị, bị gởi ra mặt trận liền, trong hai mươi bốn giờ. Tốt hơn ta nói với vợ Moritz đừng cho Đại tá biết nàng bị chúng ta bắt.

Trung úy giữ việc Tư pháp hỏi:

– Còn hồ sơ thì chúng ta làm sao?

– Xếp lại hết, và bỏ qua vụ này, đừng chọc tới sở O.K.W.

Trung úy nói:

– Dầu sao, nếu không tin rằng ta đương đầu với một tên đào ngũ thì thật là dại dột. Lắm khi thượng cấp còn lầm lẫn hơn thường dân nhiều. Đại tá Miller là một nhà bác học. Tôi có đọc nhiều bài khảo cứu của ông trong báo chí. Ông có xuất bản nhiều tác phẩm, nhưng ông quá độc đoán. Tại sao ông tưởng rằng Moritz không đào ngũ?

Hilda được đưa về nhà bằng xe riêng của Đại uý. Ông này còn nói với nàng:

– Khi nào bà cần dùng xe, cứ kêu điện thoại cho tôi. Chiếc Mercedès này luôn luôn dành sẵn cho bà, ngày và đêm. Bà có cần dùng cái gì, cứ cho tôi biết. Tôi rất cám ơn bà. Bà đừng viết thơ cho Đại tá hay rằng bà bị bắt; chúng tôi chỉ làm cho có lệ, để làm gương thôi.

Hilda hỏi:

– Chồng tôi không đào ngũ? Vậy anh được gởi đi công cán đặc biệt gì?

– Tôi không thể trả lời. Nên biết là chồng bà không có đào ngũ. Chuyện khác là cơ mật.

Hilda đỏ mặt vui mừng. Kể từ ngày ấy, nàng sống trong mộng đẹp. Nàng tin chắc Moritz được sở O.K.W. gởi đi công cán đặc biệt. “Nếu không, thì làm sao họ lại dành riêng chiếc xe cho mình sử dụng?”.

Nàng ngồi hàng giờ trước cửa sổ, tưởng tượng Moritz đang ở trong nhiều tình cảnh đầy vẻ bí mật như trong phim ảnh truyện phiêu lưu.

Nàng nghĩ: “Chàng không nói cho mình biết gì hết, vì chàng coi mình như kẻ thấp kém. Mình sẽ ráng hết sức để làm sao cho xứng đáng với chàng”. Nàng hôn con và nói:

– Trọn đời ta không bao giờ được hân hoan như bây giờ. Chỉ có vợ của Iohann Moritz mới được hưởng diễm phúc, cái diễm phúc làm vợ một vị anh hùng.

Hilda nói:

– Tôi không tin ta thất trận. Dân thành đều chạy trốn trong rừng hoặc về đồng. Họ nói binh Nga còn cách đây mười cây số ngàn. Lối xóm này ai cũng đi hết rồi. Nhưng tôi không tin. Chắc quân địch tuyên truyền để gieo khủng khiếp thôi. Tôi ở lại đây, không đi đâu hết. Nước Đức làm sao thất trận được?

Vị sĩ quan mà nàng đang nói chuyện, bảo:

– Đem cho tôi thau nước rửa mặt!

Ông cởi áo khoác bằng da mắc trên giá áo, để va-li trên ghế, cởi áo ngoài vắt lên lưng ghế, và chỉ còn mặc một áo lạnh.

Hilda theo dõi từng cử chỉ của ông. Nàng có thể đứng hàng giờ như vậy để xem ông cởi áo khoác, máng trên giá áo và mở nút áo.

Vị sĩ quan xây lưng mở va-li và bảo tiếp:

– Đem nước nóng cho tôi cạo râu.

Hilda đi ra, không khép cửa phòng. Dòm qua cửa sổ nhà bếp, nàng thấy một quân xa đậu trước cửa. Viên sĩ quan đến nhà nàng bằng chiếc xe ấy. Nàng xem đồng hồ nhà bếp. Ông mới đến đây chừng mười lăm phút, nhưng nàng nghĩ thầm:

– Ta lại có cảm tưởng đã quen biết ông từ lâu!

Sĩ quan này đến gõ cửa. Nàng ra mở và nghe ông nói muốn rửa mặt và thay đổi y phục. Giọng nói oai nghiêm như một lịnh truyền cho quân lính. Rồi không đợi trả lời, ông đi thẳng vô nhà. Hilda đứng tại ngưỡng cửa. Ông đi lướt qua và đụng phớt nàng. Nàng nghe mùi áo khoác bằng da xen lẫn với mùi gió, bụi, mùi khói thuốc chiến tranh. Nàng đi theo ông như mê say.

Vị sĩ quan to lớn, như một vị hộ pháp. Ông mở cửa phòng ăn, một cách quen thuộc, như ở trong nhà ông. Ông vô phòng và lo thay đồ. Cửa phòng mở, Hilda đứng ngoài cửa chờ lịnh. Ông cởi y phục mà không ngó đến nàng.

Khi ông giở nón, nàng thấy tóc ông bạc hoa râm. Lúc áo khoác vừa cởi, Hilda thấy ngôi sao trung úy. Nàng nói thầm: “Ông này là sĩ quan trừ bị”.

Đã nhiều lần, ông ngó nàng, nhưng chỉ lướt qua mà không thấy rõ. Hilda bèn khởi đầu nói chuyện, những chuyện bại trận, tản cư, xuyên qua đầu nàng, nhưng sĩ quan không trả lời, cũng không ngó nàng.

Cởi áo ngoài xong, ông bảo nàng đem nước với một cái thau. Hilda muốn mời ông vô phòng tắm. Nhà nàng có một phòng tắm đẹp. Nhưng vì ông bảo đem một cái thau, nên nàng không dám cãi.

Đứng chờ nước chảy đầy bầu, nàng ngó chiếc xe đậu trước cửa. Bụi phủ đầy xe như trân áo khoác bằng da của ông.

Nàng bưng thau nước vô, thấy ông đã mặc áo sơ-mình, ông nói:

– “Đưa cho cái kiếng soi!”. Ông có vẻ lo lắng, suy nghĩ và mệt nhọc. Hilda nghĩ chắc ông muốn đi ngủ. Nàng sẽ làm giường trong buồng cho ông.

Mấy ngày rày, nhiều đoàn quân đi ngang qua thành phố. Binh lính và sĩ quan có đến kêu cửa nhà nàng, xin ngủ nhờ một đêm, xin nước để rửa mặt hoặc để đun đồ hộp. Nàng sốt sắng giúp họ, vì nàng nghĩ đến chồng. Nàng biết Moritz đang đi công cán đặc biệt. Nàng muốn tỏ ra xứng đáng là vợ của chàng. Nàng muốn chính mình cũng dự phần phụng sự Tổ quốc.

Mấy binh sĩ và sĩ quan ấy, nàng cho họ ngủ trong phòng ăn. Nhưng với ông hộ pháp này, nàng định sẽ mời ông ngủ trong buồng. Và chính nàng sẽ ngủ trên ghế trường kỷ trong phòng ăn.

Nàng nghĩ thầm, chắc ông khổng lồ không lựa giường của Moritz mà sẽ lựa giường của nàng để ngủ. Ý nghĩ ấy làm nàng rùng mình. Nàng vội vàng đi lấy kiếng soi mà Moritz thường dùng để cạo râu, đem đến cho ông hộ pháp. Ông đi đi lại lại trong phòng, nút cổ áo sơ-mình mở ra. Ông nhận kiếng soi trên tay nàng, tìm chỗ để máng, mà không có chỗ nào. Ông cao, mà để kiếng xuống bàn thì thấp, phải khòm xuống mới cạo râu được. Không nóigì hết, ông để kiếng trên tay Hilda, rồi lo thoa xà-bong trên mặt. Ông bảo:

– Giơ cao lên!

Mặt ông đen sạm vì nắng, gió. Bộ râu đỏ hoe phủ kín má ông . Hilda đang cầm kiếng ngang miệng, liền giơ lên ngang trán. Khi ông hộ pháp bước tới gần kiếng, nàng nghe hơi thở của ông. Tay nàng run lên. Nàng cố bấu ngón tay cầm chặt cái kiếng soi để giữ nó được ngay thẳng. Một tiếng dõng dạc bảo:

– Cao lên chút nữa!

Hilda giơ kiếng lên khỏi trán. Hai tay nàng như bị kiến bò. Nàng muốn nói chuyện, nhưng tiếng dao cạo sột sột đều đều bộ râu hoe đầy bọt xà-bong khiến nàng lặng thinh. Hilda nhắm mắt, lắng nghe tiếng dao cạo. Mũi nàng phồng lên hít mùi xà-bong. Không phải chỉ riêng mùi xà-bong, mà còn hơi đàn ông, mùi giặc giã, mùi người đi đường xa, mùi áo khoác da thuộc… Nàng đứng không vững, nhưng vị hộ pháp không nhận thấy, vì mải lo cạo râu kỹ lưỡng, sợ bị phạm da mặt.

Cạo râu xong, ông thoa xà-bông rửa tay trong thau. Ông nói:

– Vén tay áo sơ-mi lên!

Hilda guộn tay áo, nàng sợ đụng da ông. Tay ông chạm tay nàng, nàng rùng mình. Một mùi rừng bụi mà ông hộ pháp mang theo trong mình xông ra nồng nặc cả căn phòng. Nàng ngửi nó cùng khắp, mùi ấy thấm cả vào tủ bàn, vào thảm, vào tường, không khi nào phai. Mùi ông dính vào áo, vào tóc nàng, dầu nàng có tắm gội, giặt rửa cả đời cũng không hết.

Ông hộ pháp nói:

– Bây giờ tôi muốn ở yên một mình!

Khi Hilda quay lại khóa cửa, thì thấy ông ở trần. Ông đang cởi áo sơ-mình, lật ngược phủ đầu, chỉ còn thấy ngực. Nàng là y tá, đã từng thấy cả ngàn ngực đàn ông nhưng chưa bao giờ thấy một cái ngực như thế.

Hilda xuống bếp, đứng dựa cửa sổ, ngó xe hơi.

Thằng nhỏ con nàng ngủ. Nàng tự hỏi không biết ông đi liền hay ở nghỉ. Nàng muốn lo bữa ăn cho ông. Nhưng nàng lại lắng tai nghe, chờ ông có gọi mà ứng tiếng.

Một bà lân cận đi ngang hỏi nàng:

– Quân Nga đã tới, cách đây còn ba ngàn thước. Bà còn ở đây sao?

– Tôi ở đây.

Đoạn, Hilda tự hỏi tại sao ông hộ pháp không gọi mình. Nàng nóng lòng, không chờ đợi nữa, vội lên phòng gõ cửa và bước vô. Ông hộ pháp mặc lễ phục sĩ quan, ngực đầy huy chương.

Hilda đứng lại tỏ vẻ thán phục.

Hộ pháp mỉm cười. Ông mới cười lần đầu tiên. Trong phòng, thay thế cho mùi gió bụi, mùi chiến tranh và mùi da thuộc, một mùi hoa thơm sực nức tỏa khắp nơi.

Ông nói:

– Tôi muốn biết coi bà có phải thật là một phụ nữ Đức hay không? Tôi muốn nhờ bà một việc mà chỉ có phụ nữ Đức mới giúp nổi.

– Tôi sẵn lòng. Chẳng những tôi là phụ nữ Đức, mà chồng tôi còn được thượng cấp…

Hilda muốn thuật chuyện cơ mật của chồng nàng, nhưng liền ngưng bặt. Trên bàn, có khuôn hình hai người đàn bà đẹp. Ngó thấy hình, nàng hết còn can đảm muốn thuật chuyện cơ mật của chồng nữa, chuyện này chưa bao giờ nàng nói với ai, nhưng sẵn sàng muốn thuật lại với ông hộ pháp. Song bây giờ, thấy tấm ảnh, nàng lại hối hận đã có ý định trên đây.

Ông hộ pháp nói:

– Đây là ảnh của vợ và con tôi. Cả hai đều chết. Tôi yêu quý chúng nó lắm. Nhưng chúng nó lừa dối tôi. Cả vợ và con tôi đều dối gạt tôi. Vợ tôi đã chết rồi, còn con tôi xiêu lạc nơi nào không biết. Nó lấy một thằng không ra gì, từ đó tôi cầm như nó chết rồi.

Hilda nhìn ảnh hai người đàn bà và tự nói thầm: “Còn tôi, thì không bao giờ phản bội, nếu tôi được yêu!”

Cạnh ảnh hai người đàn bà, là ảnh của Quốc trưởng (Hitler). Ông sĩ quan nói:

– Và bây giờ Quốc trưởng cũng chết. Nước Đức không còn nữa. Tôi chỉ sống vì họ. Lúc nhỏ, tôi cũng yêu quý ngựa, nhưng đó là mối tình của tuổi trẻ. Nay, những ai mà tôi sống đây đều chết cả: vợ tôi, con tôi, Quốc trưởng và Tổ quốc tôi. Bây giờ, đến phiên tôi. Quân Nga sắp tới đây trong nửa giờ nữa. Trước khi họ đến, tôi muốn làm xong phận sự cuối cùng của đời tôi.

Hilda ứa lụy. Nàng tưởng ông sẽ ngủ trong phòng của nàng. Nàng tưởng ông đói và định lo dọn ăn. Bây giờ nàng lại thấy ông mặc nhung phục tốt đẹp, nàng hỏi:

– Tôi sẽ làm những gì ông dặn. Ông muốn đi đâu?

– Tôi không đi đâu nữa hết. Đây là lần đi cuối cùng của tôi trên cõi trần này. Bà tưởng tôi sửa soạn ra đi nên mới cạo râu, rửa mặt, thay đổi nhung phục sao?

Ông cười và vỗ vai nàng. Nàng hổ thẹn. Cạnh bên ông, Hilda thấy nàng nhỏ bé, thật nhỏ bé như lúc nàng biết được Moritz đi công cán đặc biệt vậy. Ông nói:

– Bà nhớ cho kỹ lời tôi dặn nghe! Vả lại, thật giản dị. Nhưng chỉ có phụ nữ Đức mới làm được! Vợ tôi thì không đời nào. Nhưng bà, thì bà làm được. Vợ tôi nhu nhược lắm; nếu nó còn sống, tôi cũng không mượn đến. Với bà, thì khác.

Hilda hãnh diện được ông hộ pháp giao phó một chuyện mà ông không nhờ vợ ông làm.

Ông nói:

– Chừng tôi chết rồi, bà kéo thây lôi ra sân đốt đi. Bà sẽ thấy tôi chết tại đây, trên tấm vải lều này.

Ông hộ pháp trải tấm vải lều nhà binh trên nền nhà. Vải còn mới, phủ cả nền gạch.

– Bà cứ nắm hai chéo vải, kéo tôi ra sân.

Lấy hai bình xăng để dưới bàn, đưa cho Hilda, ông nói:

– Đây là dầu xăng. Xăng máy bay. Kéo tôi ra sân rồi đắp vải lại, chế xăng lên. Và quẹt quẹt máy.

Ông hộ pháp vẫn cười, móc túi lấy một quẹt máy bằng vàng đưa cho Hilda, và nói:

– Đây là quẹt máy để đốt. Nếu bình xăng thứ nhứt cháy hết, bà chế thêm bình xăng thứ nhì và đốt nữa. Tôi chắc sẽ không còn gì hết. Quân Nga chỉ tìm thấy tro tàn của tôi mà thôi. Một quân nhân xứng đáng với tên tuổi không để thây mình lọt vào tay kẻ nghịch. Trong lịch sử, quân sĩ Đức đều hành động như thế. Lúc cùng đường, họ phải tự tử, thiêu hủy mình. Quân nghịch chỉ thấy tro đen sì mà thôi!

Ông hộ pháp xoa tay. Hilda im lặng, ngó bức ảnh.

– Nếu bà muốn đốt bức ảnh thì cứ quăng vô lửa. Nó sẽ cháy một lượt với thây tôi. Còn bà muốn giữ thì cứ giữ. Nhưng tôi không thấy bà cất để làm gì. Tôi không phải người ở đây. Tôi ở xứ Roumanie.

Hilda đứng sững! Nàng đang tưởng tượng thân hình ông hộ pháp nằm dài trên vải lều. Nàng không làm sao tin chuyện ấy có thể xảy ra được. Nàng có cảm tưởng ông là người trường cửu, sinh ra không phải để chết.

– Bà sợ sao? Một phụ nữ Đức không bao giờ sợ, nhứt là khi hành động cho Tổ quốoc. Tôi tin chắc bà cũng nhìn nhận rằng phụng sự Tổ quốc là khi làm theo lời trối của một quân nhân.

– Tôi hiểu và tôi không sợ. Nhưng tôi không thể tin những chuyện ấy là sự thật. Tôi không tin quân Nga tới đây. Tôi không tin nước Đức bại trận!

– “Hỏng hết rồi! Thua cả rồi, vô phương cứu chữa! Đừng quên để súng lục vào bao cho tôi, và thiêu hủy nó một lượt với xác tôi. Một quân nhân phải được chôn hoặc được hỏa táng với vũ khí của họ”. Một phút im lặng. Ông hộ pháp ngó mong, tư tưởng chìm trong hư không như chỗ nước sâu không đáy. Ông nói:

– Bây giờ, thế là hết!

Hilda ngó lên, tưởng ông tự tử trước mặt nàng, và nàng không thể chịu nổi cảnh tượng ấy. Nhưng ông chưa có dáng điệu muốn tự tử.

Ông quay nhìn hình Quốc trưởng, đứng nghiêm trang chào, tay giơ thẳng lên.

Hilda đứng sau ông. Nàng thấy đôi vai và thân mình ông bó gọn trong bộ nhung phục, tay giơ thẳng lên. Ông đứng yên, như pho tượng.

Đoạn quay lại, ông đưa tay lên, chào nàng, và nói:

– Xin vĩnh biệt và cám ơn bà bạn! Tôi là Trung úy Iorgu Iordan… Bà khỏi phải lặp lại tên tôi. Hãy hãnh diện về công việc bà sắp làm, thật là danh dự cho một phụ nữ Đức khi hoàn thành được ý muốn cuối cùng của một quân nhân!

Ông siết tay Hilda, siết chặt tay nàng như vĩnh biệt, rồi bảo:

– Bây giờ tôi muốn ở yên một mình! Khi nghe tiếng súng nổ, hãy trở vô. Vĩnh quyết chào bà!

Đoàn xe cam nhông đầu tiên của quân Nga lố dạng ở góc đường.

Hilda nghe tiếng máy chạy, nơi cửa sổ nhà bếp nàng thấy đằng xa đoàn xe tiến tới. Nàng vội chạy lên phòng ông hộ pháp. Ông đã dặn đừng vô, trước khi nghe súng nổ. Nàng chưa nghe tiếng gì, nên không dám trái lịnh ông.

Xe cam nhông Nga chạy ngoài đường phố, làm rung rinh mấy vách tường nhà. Hilda không thể chờ đợi được nữa, nàng đâm sợ, lật đật gõ cửa và bước vô phòng.

Thây hộ pháp nằm ngửa trên tấm vải lều, sóng sượt giữa căn phòng.

Hilda nói thầm: “Sao mình không nghe tiếng súng nổ kìa?”.

Xác nằm ngay ngắn, hình như lúc ông chết mà còn nghiêm chỉnh chào hình Quốc trưởng. Mũ còn đội trên đầu, mặt đã tím ngắt và dường như dính tro bụi. Gò má bên mặt, miệng và mũi có dấu máu nhưng không nhiều, chỉ vài tia máu nhỏ mà thôi.

Hilda lượm khẩu súng lục rơi cạnh miệng người chết và để vô bao da, khóa lại. Nàng nghĩ thầm sao ông tự sát mà nàng không nghe tiếng súng nổ.

Nàng nắm mấy góc vải phủ lên xác. Trước khi đắp mặt, nàng nhìn lại một lần nữa và nói thầm: “Ta không có cảm tưởng đang ở gần bên người chết. Cảnh chết không làm ta sợ. Ta cũng không thấy thây ma mặc dầu ở kế cận xác chết. Hay là bởi ta đã thấy nhiều người chết quá…, lúc làm việc tại nhà thương!”.

Nàng đắp mặt lại, mà không đụng người chết.

Bây giờ ông hộ pháp cũng như mọi người mà nàng đã gặp. Lúc sống, ông không giống mấy người khác. Nàng nhớ thoáng qua mới đây, ông còn sống, cạo râu, mặc nhung phục. Lúc ấy toàn thân nàng run lên khi đến gần ông.

Nhưng chuyện ấy như xa xăm lắm rồi, như đã xảy ra từ mấy chục năm về trước. Nàng như quên tất cả.

Bên ngoài, tiếng xe cam nhông và xe tăng chạy tới. Hilda vụt hoảng hốt, muốn bồng con chạy ngõ cửa sau vườn, vô trốn trong rừng. Nhưng nhớ lại lời hứa với ông hộ pháp, nàng tự nói: “Ta hối hận đã hứa thiêu ông”.

Nàng không thể lôi xác ông ra vườn, sợ lính Nga trên xe cam nhông và xe tăng chạy ngay trước cửa dòm thấy.

– “Thôi ta phải chờ đến chiều tối! Ta sẽ đem ông ra vườn đốt, rồi bồng con đi trốn!”.

Hilda ngồi gần xác, không nghĩ ngợi gì nữa. Nhưng nàng lại sợ bị bắt, nếu họ gặp thây trong nhà. Nàng chạy qua phòng bên cạnh, bồng con, trở lại ngồi trên ghế, gần người chết. Nàng tự nghĩ: “Ta không thể thất hứa với lời trối vủa một quân nhân!”.

Nàng đóng cửa và khóa lại, định chờ đến trời thật tối. Còn vài giờ nữa thì đêm đến. Nàng muốn coi giờ, nhưng không có đồng hồ. Trực nhớ ông hộ pháp có đeo nơi tay, nàng giở tấm vải lều ra xem để biết coi còn đợi mấy giờ nữa. Lúc ấy, có tiếng gõ cửa.

Hilda ôm con vào lòng, không trả lời.

Nàng nghe nói tiếng Nga ngoài cửa. Và tiếng gõ cửa dồn dập. Nàng mở cửa sổ trổ ra vườn. “Ta không thể bỏ chạy trốn mà chẳng giữ tròn lời hứa. Moritz “chồng ta” là một anh hùng, ta, ta không có quyền hèn nhát”.

Hilda mở nút một bình xăng chế lên tấm vải lều. Tiếng bá súng dộng cửa vang dội, cánh cửa gần bong ra. Nàng mở bình xăng thứ nhì, tưới thêm phân nửa. Nàng sợ quân Nga phá bể cửa, nên làm gấp. Rồi lật đật bồng con, chạy lại phía cửa sổ. Nàng nghĩ thầm:

“Ta nhảy ra cửa sổ, liện quẹt máy cháy trở vô phòng và ông ta sẽ cháy thiêu. Như thế, ta vẫn giữ lời hứa!”.

Trong phòng ngạt mùi xăng. Thằng nhỏ ho. Hilda lật đật quàng chân lên thanh sắt cửa sổ để nhảy ra sân. Lúc ấy quân Nga đã dùng vai tống bật cửa cái. Từ khuôn cửa sổ xuống tới mặt đất trong vườn không cao lắm, nàng nhảy thì dễ, nhưng đã thấy lố dạng ba mũ quân Nga nơi cửa sổ rồi.

Trong vườn, còn nhiều lính khác. Nàng không thể nhảy được, liền ngó lại cửa cái. Thằng nhỏ ngộp hơi xăng, khóc ré lên. Nàng định nhảy đại, rồi chạy giữa lính Nga, nhưng một bàn tay lòn qua cửa sổ định nắm nàng lại, đã đụng chân nàng.

Hilda kêu lên một tiếng, nàng muốn tự vệ. Nàng chỉ có cái quẹt máy cầm tay. Không suy nghĩ, nàng bấm chỗ quẹt như bấm cò súng lục, khi bị chận đánh. Trong khoảnh khắc, một làn ánh sáng phựt lên. Thế là hết, nàng không biết gì nữa, thấy tối tăm ảm đạm hơn cảnh u minh hắc ám của đêm trường. Ánh sáng hy vọng không bao giờ trở lại!

Ngọn lửa thiêu xác hộ pháp Iordan cũng là ngọn lửa bao trùm luôn cả vợ con Moritz. Và cũng ngọn lửa ấy thiêu hủy tất cả, kho đụn nhà cửa, cùng với tấm ảnh mà ông hộ pháp đem đặt trên bàn lúc nãy, ảnh mẹ Suzanna và ảnh của Suzanna, người vợ trước của Moritz.

Dầu xăng của ông hộ pháp đem đến vẫn còn cháy, ngọn lửa lên cao ngất trời.

Traian và Eleonora West ngồi trước mặt ông Tham mưu trưởng Brown, Thống đốc quân sự Mỹ tại thành Weimar.

Traian nói:

– “Thưa ông Thống đốc chỉ có bấy nhiêu thôi. Ngày 23 tháng tám, khi xứ Roumanie xin đình chiến, tôi và vợ tôi bị quân lính Croates đem giam với mấy nhân viên sứ quán Roumanie.

“Chúng tôi bị giam theo luật ngoại giao quốc tế trong một khách sạn với mấy người đại diện các nước nghịch.

“Rồi xứ Croatie bị đảng viên của Titô chiếm cứ, chúng tôi lại bị dời sang nước Áo, rồi nước Đức, chót hết là nước Tiệp-khắc.

“Khi nước Đức đầu hàng, không còn bị ai giam giữ, chúng tôi đi qua miền Tây. Chúng tôi bỏ tất cả để đi qua miền Tây”.

Eleonora thấy lại cả hai trăm cây số đi bộ, cẳng sưng, bàn chân phồng, nổi mắt cá. Nàng nói:

– Chúng tôi bỏ tất cả, để băng rừng vượt đồng, trốn qua những vùng chiếm cứ của người Mỹ, người Anh hoặc người Pháp. Chúng tôi không muốn bị sa vào tay quân Nga hoặc các đảng viên cộng sản. Chúng tôi thà tự tử hơn là để bị chúng bắt.

Ông Thống đốc hỏi:

– Tại sao các người lại sợ quân Nga với đảng viên cộng sản. Chỉ có bọn phát xít mới sợ chớ! Quân Nga và đảng viên là Đồng minh của chúng tôi. Họ chiến đấu cho cuộc thắng lợi của Đồng minh mà!

Traian đáp:

– Thưa ông Thống đốc, ông không phải là phát xít, nhưng tôi không tin rằng ông bằng lòng để vợ ông ở trong vùng của quân cộng sản chiếm đóng, dầu chỉ nội hai mươi bốn giờ thôi! Không phải vì lý do chánh trị, mà chỉ vì sự tàn bạo với sự khủng khiếp của họ gieo rắc. Và tôi tin rằng, cho đến ông nữa, ông cũng không có căn đảm đi một mình vào vùng đất Nga-sô, mà không mặc sắc phục và được hộ tống đàng hoàng. Vậy có công bình chăng, khi ông hỏi chúng tôi, hai kẻ tay không, chẳng có khí giới tự vệ, sao lại đi trốn một đám dã man tàn bạo, võ trang bằng súng máy tối tân của Mỹ?

– Bây giờ, hai ông bà muốn gì? Chắc chắn là không ra khỏi nước Đức được. Ở đây, ông bà được đối đãi như công dân nước nghịch, và cũng chịu thteo chế độ đối với dân chúng Đức, có quyền hạn như họ, và không được gì hơn.

Traian nói:

– Thế nghĩa là không có quyền hạn nào cả! Đàn bà Đức ở Weimar phải rửa cầu tiêu trong trại Buchenwald, giặt quần áo mấy tù binh được thả, ít nhứt một lần một tuần. Ông muốn bắt vợ tôi cũng làm công việc đó sao?

Eleonora nói tiếp:

– Chúng tôi không phải kẻ nghịch với nước Mỹ và các nước Đồng minh. Chúng ta bị những nước nghịch với Đồng minh giam cầm gần cả năm. Và bây giờ chúng tôi đến xin ông cho phép ở một căn phòng nào, trong vùng này, hoặc cấp cho giấy tờ để có phương tiện đi nơi khác, nếu chúng tôi không được cư trú tại đây. Chúng tôi đang ở ngoài đường, không biết ăn đâu, ngủ đâu, không thể tắm gội gì được. Người ta cấm chúng tôi ở đây và cũng cấm chúng tôi đi nơi khác.

Viên Thống đốc nói:

– Ông bà là công dân nước nghịch. Sự hiện diện của ông bà là không cần ích gì cho tôi. Có phải giấy thông hành của ông bà do xứ Roumanie cấp không? Vậy quả ông bà là kẻ nghịch.

Eleonora nói:

– Nhưng xứ Roumanie chiến đấu mười tháng nay, bên cạnh Đồng minh, chống với Đức. Và ông biết rõ việc ấy, cũng như tôi. Tám chục ngàn binh sĩ xứ Roumanie chết vì quyền lợi Đồng minh. Những người chiến đấu bên cạnh các ông lại là kẻ nghịch các ông sao?

Tham mưu trưởng Brown nói:

– “Xứ Roumanie là nước nghịch”. Ông kéo hộc tủ lấy tờ giấy ra đọc to: “Những nước nghịch: Roumanie, Hongrie, Finlande, Đức, Nhật, Ý. Như vậy là rành rẽ lắm rồi, phải không? Ông bà là kẻ nghịch của Mỹ quốc!”.

Traian đứng dậy. Eleonora van lơn, ngó ông Thống đốc nói:

– Ông không có đọc báo thấy xứ Roumanie chiến đấu bên cạnh Đồng minh từ một năm nay sao? Giấy tờ của chúng tôi biên rõ bị quân Đức cầm tù, không đủ chứng minh với ông sao? Chúng tôi không phải là kẻ nghịch.

– Nếu thật như vậy đi nữa, tôi cũng không quan tâm. Những điều khoản tôi nhận để thi hành định rõ dân Roumain là kẻ nghịch của Mỹ quốc. Tôi đã mất nhiều thì giờ bàn cãi với bà rồi. Bà là người nghịch của tôi, người nghịch của tôi, bà nghe chớ! Nếu tôi bị sa vào tay bà, tất bà ra lịnh bắn tôi, chớ không ngồi mà cãi như tôi đâu. Chuyện tôi vừa làm đây là bất hợp pháp. Và tôi không lặp lại nữa. Không ai đi cãi với kẻ nghịch bao giờ!

Tham mưu trưởng Brown, Thống đốc quân sự thành Weimar giận xanh mặt. Ông không thèm đáp lại lời chào của Traian và Eleonora.

Xuống nấc thang lầu, Traian nói:

– Tây phương là vậy đó em à! Họ không quan tâm đến sự trạng và con người. Họ bao gồm và nhứt luật tất cả, họ chỉ tuân theo luật lệ mà thôi.

Nora nói: – Em không đi được nữa!

Traian cầm tay nàng dìu đi. Nàng dựa vào vai chàng, khóc ròng và nói:

– Chúng ta đi hai trăm cây số ngàn để cầu cứu họ. Nhưng bây giờ chỉ là công cốc.

– Đừng hối tiếc em à! Ta tránh xa được cảnh kinh khủng của Nga-sô. Ta chạy khỏi là may lắm rồi. Con người không còn ở đâu được nữa bây giờ. Quả địa cầu hết còn là sở hữu của con người.

Bốn ngày sau, hai vợ chồng Traian trở lại tìm vị Thống đốc. Họ cầu xin một giấy phép cư ngụ tại Weimar thêm một tuần nữa.

Hai chân Nora sưng vù và không thể đi xa được.

Nàng mặc cái áo đẹp nhứt, đội nón và mang giày cao gót. Khi hỏi người lính gác để yết kiến ông Thống đốc, Traian day qua Eleonora, nói:

– Bữa nay em ăn mặc như đi hội.

Nàng mỉm cười. Áo này, nàng mặc lần đầu tiên, ba năm về trước, lúc đến viếng ông Tổng trưởng xứ Finlande.

Lính gác lễ phép nói:

– Ông Thống đốc xin ông bà chờ một chút.

Vài phút sau. Một lính khác đến hỏi:

– “Ông bà là nhân viên ngoại giao Roumain muốn viếng ông Thống đốc phải không? Xin chờ một chút nữa”. Nói rồi y đi khuất.

Eleonora rất hài lòng. Nàng cho ông Tham mưu trưởng Brown là người biết điều, biết phép lịch sự, chờ có năm phút mà cho người ra xin lỗi tới hai lần.

Dinh hành chánh là một tòa nhà to lớn. Dãy hành lang rộng thênh thang. Nora ngó vô kiếng thấy mình ốm, nếp áo rủ xuống nhiều hơn kỳ đến sứ quán Finlande.

Một người lính đến bảo:

– Xin theo tôi.

Eleonora mỉm cười, dang khỏi tấm kiếng. Traian vịn tay nàng. Họ theo sau người lính, không phải leo lên nấc thang như kỳ trước, mà đi thẳng nơi lối ra. Tên lính mời họ lên chiếc xe “Jeep” đậu trước cửa.

Traian hỏi:

– Đi đâu đây?

Tên lính rùn vai. Trời có gió. Xe chạy như bay trên đường phố. Traian kề tai tên lính thứ nhì, hỏi nữa:

– Đi đâu đây?

Tên lính thứ nhì cũng rùn vai, như bạn đồng nghiệp nó. Traian day qua Nora. Nàng đang đưa hai tay giữ nón. Nàng cười, vì thích xe chạy mau.

Tới cuối thành phố, xe ngừng trước một bức tường đá. Người gác cửa đội nón kết, ra mở cửa. Nhưng xe không vô sân.

Một trong hai người lính đưa thơ cho người gác cửa, rồi ra dấu cho vợ chồng Traian xuống xe. Nora hỏi:

– Ở đây là đâu?

Hai lính Mỹ chờ nàng xuống xe, không trả lời.

Nora hỏi người gác cửa bằng tiếng Đức:

– Ở đây là đâu?

– “Khám đường của đô thành”. Tên gác vừa trả lời vừa nắm tay Nora.

Nàng muốn nói vài tiếng với hai lính Mỹ, nhưng đã muộn. Chiếc xe “Jeep” chạy khuất dạng, rất mau, như lúc đến.

Nàng ngó lại thấy Traian xanh mặt. Cánh cửa sắt đóng lại.

Họ đang ở trong sân khám đường.

Traian bị nhốt trong phòng số 5, ở từng dưới đất, Nora trên từng lầu ba, phòng số 2.

Traian nghĩ thầm:

– Chắc họ lầm rồi!

Chàng muốn tìm hiểu chuyện gì xảy ra, nhưng nhớ lại Nora cũng đang bị giam trong một căn riêng giống như căn của chàng, nên chàng mất bình tĩnh.

Khi nãy, lúc chia tay, chàng muốn hôn tay Nora và nói một lời âu yếm, nhưng tên gác khám nắm vai chàng xô mạnh cho dang ra.

Nora xây qua tên gác khám, cầu khẩn. Hắn cũng đẩy mạnh nàng về phía cuối dãy hành lang. Hai người phân tay nhau trong hành lang khám đường bằng cách đó.

Traian nghĩ thầm:

“Ta định chắc họ lầm mình với một tên tội nhân nào cũng trùng tên với mình, hoặc giống mình. Nhưng tại sao họ cũng bắt luôn Nora?”

Traian tức giận, đập cửa rầm rầm, để kêu tên gác khám. Chàng lẩm bẩm nói: “Ta tưởng quân Nga bắt ta. Với quân Nga, có hai bàn tay thật sạch cũng đủ bị bắt. Và dầu họ bắt ta mà chẳng cần nhìn đến tay, hay là họ bắt ta mà chẳng có duyên cớ gì, ta cũng không lấy làm lạ. Với quân Nga, sự gì cũng có thể xảy ra.

“Ta đã đi bộ hai trăm cây số để trốn tránh một xã hội mà sự “thiếu lý do” cũng là một cớ để bị bắt, bị giết hay bị đày”.

Tay đấm cửa, đau nhừ, nhưng Traian vẫn tiếp tục đập cửa phòng giam.

Anh đấm cửa không phải để gọi tên gác khám nữa, mà để tự phạt mình, sao chạy gần hai trăm cây số, chạy đã vô ích mà lại còn kéo lê Nora cho nàng phải bị đôi chân rướm máu và sưng vù như thế.

Traian tự nghĩ:

“Dân Đức có thể bắt Nora, vì họ là độc tài quốc xã và bài Do-thái”.

Một tên gác nghe tiếng đấm cửa đến hỏi:

– Anh muốn gì?

– Tôi muốn gặp liền ông Giám đốc khám đường. Vợ chồng tôi bị bắt lầm.

Tên gác nói giọng chua ngoa: “Tôi đoán không sai! Ai vô đây cũng đều nói bị bắt lầm hết!”.

– Tôi cấm anh mỉa mai tôi! Tôi muốn nói chuyện với ông Giám ngục liền bây giờ.

– Ở đây không có ông Giám đốc nào hết. Vợ chồng ông bị quân Mỹ bắt. Chúng tôi chỉ giữ phần cai quản thôi. Chúng tôi cũng là tù nhân chớ không khác.

– Vậy tôi muốn nói chuyện với người Mỹ!

– Viên đội Mỹ chỉ đến một lần mỗi tuần, vào ngày thứ hai.

Traian nhớ lại bữa nay là thứ hai, chàng nói:

– Anh muốn biểu tôi chờ đến thứ hai tuần tới, trước khi gặp người nào hay sao? Anh tưởng vợ tôi ở được suốt tuần trong tù à?

– Tôi không làm thế nào được. Ông muốn nói gì cứ nói đi. Cứ đập cửa hàng giờ đi, nhưng vô ích. Tôi không thể làm gì được. Thứ hai tuần sau viên đội mới trở lại.

Viên gác khám đóng cửa.

Traian bèn nói:

– Anh nói với họ, hay không nói cũng được, rằng từ nay cho tới khi nào tôi có thể gặp ông Giám đốc để biết lý do bắt tôi, thì tôi không đụng đến thức ăn, thức uống gì cả. Đó là phương tiện duy nhứt của tôi để phản đối. Và tôi sẽ dùng nó.

– Ông định tuyệt thực sao?

– Và cũng nhịn khát nữa!

Tên gác khám đứng lại một lát trên ngưỡng cửa, chìa khóa cầm tay. Y thương hại ngó Traian, và nói:

– Tội nghiệp! Ông còn trẻ quá!

Y đóng cửa lại, khóa hai vòng.

Nora đập cửa gần nửa giờ đồng hồ. Một người gác đi lại đứng ngoài nghe mà không mở cửa. Y dòm vào lỗ tò vò, nói:

– Còn đập như vậy nữa thì bị trừng phạt cho coi! Tù nhân không được phép đấm cửa khám.

Nói rồi, y bỏ đi.

Nora nằm dài xuống giường. Được một lát, nàng ngồi nhổm dậy, sợ hãi nói: “Chắc có rệp”. Nàng định đấm cửa để xin đổi cái mền khác, hoặc hỏi xem coi có rệp hay không, nhưng nhớ lại nàng không có quyền đập cửa khám, nàng đành thôi, đi đi lại lại trong phòng giam.

Trong thâm tâm, nàng biết mình có tội. Nàng biết bị bắt giam như vầy, xét cho chí lý, là công bình. Sau khi giả mạo tráo đổi giấy tờ chứng nhận lý lịch nhân chủng của nàng, sau khi mua chuộc để lấy mất giấy tờ hộ tịch trong hồ sơ trữ tại Văn khố quốc gia, ngày đêm nàng cứ bị ý tưởng ngồi tù ám ảnh. Mỗi ngày, nàng chờ đợi có cảnh sát đến bắt. Nàng biết rồi đây thế nào nàng cũng bị khám phá và bị bắt. Suốt cuộc hành trình bên nước Đức, nàng run lên mỗi lần thấy cảnh binh đến, vì nàng dùng giấy tờ giả mạo.

Mấy năm sau này chỉ là một cuộc chờ đợi lâu dài, chờ giờ bị bắt. Nàng tự nói thầm: “Và giờ ấy đã đến. Họ đã khám phá ra ta là Do-thái, và ta không thể trốn thoát được!”.

Nàng run rẩy cả thân mình. Nàng lo sợ nói:

“Cho rằng quân đội Mỹ bắt mình, vì mình đã giấu giếm căn cội nhân chủng, giả mạo giấy tờ tại Roumanie, thật là vô lý. Tuy nhiên, đó là cái cớ chánh, cớ duy nhứt để bắt bớ mình. Mình biết là không hợp lý, song chuyện đã là thế. Mình phạm tội. Và bây giờ mình sẽ bị trừng phạt. Một hình phạt gương mẫu, nghiêm khắc, nhưng đích đáng”.

Nora nghe lạnh. Y phục mỏng và nhẹ như lưới không đủ ấm để che thân nàng khỏi hơi ướt lạnh của vách đá.

Cái lạnh thấm vào da thịt, luồn tới xương tủy. Nàng cảm thấy hơi lạnh ấy thấu tận cõi lòng. Từ trước tới giờ, chẳng bao giờ nàng bị lạnh thận. Nàng cũng chẳng biết đích xác hai quả thận ở chỗ nào, hình dáng ra sao. Mà hiện giờ nàng lạnh thận. Thận lạnh buốt. Và chẳng riêng gì thận, ruột gan gì cũng lạnh buốt.

Nora cố túm vạt áo phủ đầu gối, nhưng vô ích. Nàng sợ ngồi trên giường. Nàng run lập cập, răng đánh bò cạp.

Ngoài sân, trời nóng, nhưng không ích lợi gì cho nàng, trong khi nàng run phát rét như ở giữa mùa đông. Muốn được ấm áp một chút, nàng ngồi chồm hổm co rút giữa xà-lim. Lúc ấy, nàng thấy muốn tiểu tiện. Và muốn đi liền. Như cả trăm mũi kim đâm vào bọng đái, nàng không thể nín được, không điều khiển cho cân lực theo ý muốn được.

Nàng nhớ có đọc trong tiểu thuyết: mỗi phòng giam đều có một chậu nhỏ để tiểu tiện. Nhưng trong phòng giam này chỉ có một cái giường, một bàn nhỏ, và cửa sổ bao lưới sắt. Nàng đi lại cửa, giơ tay định đấm. Nàng tự nói thầm: “Chắc họ cho phép mình đi tiểu chớ!”.

Nhưng lúc ấy, nàng nhớ lại những lời nghiêm khắc của viên gác khám Đức: “Nếu đập cửa, sẽ bị trừng phạt!”. Nàng bỏ tay xuống, sợ không dám đập cửa.

Nàng tự nghĩ: “Ta phạm tội đã đấm cửa, trong khi ta không được phép!”. Rồi nàng đi tới đi lui trong phòng.

Nàng đứng lại trước cửa, giơ tay một lần nữa. Nhưng nàng không có can đảm đập cửa khi nhớ đến câu nghiêm khắc: “Nếu đập cửa, sẽ bị trừng phạt!”.

Trong khi câu ấy như còn văng vẳng trong tai, thình lình nàng cảm thấy cả thân mình như bị một luồng điện xẹt qua: đây là dấu hiệu báo nguy. Nàng thấy không thể làm chủ cơ thể được nữa. Nàng cảm thấy quần llồng bằng hàng mịn đang ướt, rồi đến cái nịt vớ và vớ cũng ướt.

Một cái gì ướt và ấm chảy dọc theo bắp vế, theo vớ, tới tận trong đôi giày.

Eleonora cố ráng sức để nín. Nhưng các thớ thịt, làn da, và tất cả thân thể không thuộc về nàng nữa, nàng không tự chủ được. Nàng ngồi xuống. Quần càng lúc càng ướt và càng ấm, thì nàng có cảm giác được thơ thới lạ thường, được giải thoát hoàn toàn, một cảm giác chưa bao giờ nàng có được, đã tràn ngập cả cơ thể nàng. Mỗi cân nhục, mỗi lỗ chân lông, mỗi thớ thịt đều nới giãn ra. Cảm giác ấy còn mạnh hơn sự sướng thích, nó như sự khoái lạc. Mà còn hơn sự khoái lạc, nó như trạng thái “xuất thần”. Nàng có cảm giác như mê ly tận đâu đâu, xuất thần khỏi trần tục. Tâm hồn nàng lâng lâng, bay liệng. Nàng như vượt ngoài thời gian: toàn thân nàng được giải thoát.

Nàng thấy như đã tiểu tiện hằng giờ, không bao giờ dứt. Nhưng, khi nhìn thấy nền xi-măng ướt đẫm chung quang, nàng hoảng hốt. Nàng đứng dậy chạy trốn trong xó góc. Đây là giờ phút thảm kịch nhứt trong đời nàng. Nền xi-măng ướt cả. Nhiều dòng nước tiểu tủa chảy cùng khắp, dưới giường, dưới bàn, tới chân nàng.

Eleonora biết mình vừa mới phạm một việc cấm. Nàng biết sẽ bị bắt gặp và bị trừng trị nghiêm khắc. Giọng hăm dọa của viên gác khám còn văng vẳng bên tai nàng: “Rồi sẽ bị trừng phạt!”.

Nàng muốn xé áo lau chùi chỗ ướt, nhưng vô ích. Nước nhiều quá mà áo hàng quá mỏng, nàng mặc quá ít, làm sao thấm cho ráo hết. Và giọng văng vẳng “Rồi sẽ bị trừng phạt! Rồi sẽ bị trừng phạt!” lặp lại không ngừng bên tai nàng.

Biết không làm sao giấu giếim, không làm sao tránh khỏi sự trừng phạt, cố tìm cách che đậy cũng vô ích, nàng lấy hai tay che mắt, hai bàn tay còn đeo bao tay trắng mỏng như lưới nhện. Nàng tuyệt vọng, khóc òa…

Viên đội Goldsmith, Giám đốc khám đường nói:

– Những chuyện xảy ra cho ông bà thật là đáng tiếc. Tôi xin tạ lỗi và rất ân hận không được biết sớm trường hợp của ông bà.

Một tuần lễ qua, từ ngày Traian và Eleonora bị bắt. Traian nằm dài trên giường, không cử động được, vì trọn bảy ngày, không ăn, không uống.

Viên đội có chở theo xe, đồ đạc của hai vợ chồng Traian. Y phụ với Nora soạn đồ ra, mời hai người hút thuốc. Y rất ái ngại và nói:

– Sáng mai này ông bà sẽ được trả tự do. Tôi sẽ đích thân kiếm chỗ ở và lái xe đưa ông bà đến đó. Tôi thành thật hối tiếc chuyện xảy ra.

Eleonora và Traian không nói lời nào.

Viên đội bảo tên gác khám:

– Ông bà Traian đây không phải bị bắt. Ông bà bị giam lầm, và còn ở đây đến ngày mai, vì chưa có chỗ ở. Hai ông bà sẽ nghỉ tạm trong căn phòng này. Anh phải thay vải trải giường và mền cho sạch sẽ. Họ là khách của chúng ta, chỉ là khách mà thôi.

Viên đội đi ra, nửa giờ sau trở lại, ôm một gói đầy đồ ăn và cam, bưởi cho Traian. Khi từ giã, y còn xin lỗi một lần nữa, bắt tay Traian, rồi mới ra về.

Tên gác khám chứng kiến việc này, mở mắt to như đứng trước một chuyện kỳ lạ.

Nora nói:

– Em biết rồi thế nào người Mỹ cũng đến xin lỗi chúng ta. Mỹ quốc là nước của người văn minh mà!

Traian bị nóng lạnh. Chàng ngủ liền. Ban đêm chàng chiêm bao thấy đang ở dưới tàu ngầm, và mấy con thỏ bạch đã chết ngộp đến con chót rồi. Chàng toát mồ hôi, thức dậy, áo ngủ ướt dầm, và nói: “Thỏ chết thì hết hy vọng”.

Trong giấc chiêm bao, chàng đã hết sức la hét, nhưng thủy thủ dưới tàu không chịu tin chàng…

Ngày sau, viên đội Goldsmith không đến. Nora chờ suốt ngày, rồi nói:

– Bộ có chuyện gì cản trở, nên ông ta không tới được. Chắc thế nào ngày mai ông cũng đến!

Tên gác khám cũng đồng ý như vậy. Nhưng ngày mai, ngày mốt, cũng không thấy viên đội Goldsmith. Tuần lễ sau, có viên đội khác đến, nói:

– Tôi không biết chuyện của ông bà ra sao? Viên đội Goldsmith đã về Mỹ. Y không để lại lời dặn bảo gì về trường hợp vủa ông bà. Tôi sẽ hỏi lại, và cho biết kết quả thứ hai tuần sau.

Y ra về.

Y là một gã thanh niên tóc đỏ, da mặt đầy dấu chấm hồng hồng. Y không muốn nói tên y, dầu với người gác khám. Chữ ký của y không đọc được và xem y nóng tính lắm.

Tuần sau, y có đến khám đường, nhưng chỉ ở giây lát nơi phòng giấy.

Khi vợ chồng Traian đến yết kiến, thì y đã đi rồi. Phải đợi thêm một tuần nữa. Lần này, viên đội quạu quọ, nói với Traian:

– Tôi có hỏi lịnh trên rồi. Ông với bà bị bắt cũng như mọi người. Không có điều khoản nào cho hưởng đặc ân.

Xây qua người gác khám, y ra lịnh:

– Nhốt mỗi người trong xà-lim riêng. Họ cũng theo chế độ chung như các tù khác. Tôi không bằng lòng có ngoại lệ trong khám đường.

Người gác khám trố mắt to, như để xác nhận đã hiểu. Ông nói giọng run run:

– Tôi hiểu. Nhốt khám riêng. Chế độ chung. Không ngoại lệ.

Nghe tiếng viên cai ngục đi ngoài hành lang, Nora ôm cổ Traian, thổn thức nói:

– Người ta đến chia rẽ hai ta. Em thà chịu chết hơn là chịu bị nhốt trở lại một mình trong xà-lim.

Viên cai ngục đứng trước cửa, lắc xâu chìa khóa. Nora không ngó y. Nàng đã biết tại sao y đến. Và Traian cũng vậy, nên chàng ngó y chăm bẳm. Chàng muốn van nài y ráng thêm năm phút nữa. Nhưng nghĩ cũng vô ích, nên làm thinh.

Viên cai ngục nói:

– Mùa hè này, tôi sẽ bị sa thải. Tôi đã già quá rồi. Từng tuổi tôi, tôi không thể học được trò cút bắt, và tôi cũng không muốn nữa.

Y ngừng một chút, rồi thu hết tàn lực, như lúc muốn cử một vật nặng, y nói:

– Ông với bà cứ ở chung như trước. Ở chung với nhau, và cửa mở rộng.

Nora hỏi:

– Bộ viên đội Mỹ đã bãi bỏ lịnh rồi hả?

– “Không, viên đội không bãi bỏ lịnh đã đưa ra!” Y trả lời, vừa đi vừa lắc xâu chìa khóa. Cửa xà-lim vẫn để mở rộng.

Nora thất vọng hỏi:

– Quân đội Mỹ đâu có gì chống chúng ta. Tại sao họ giam chúng ta đã sáu tuần nay rồi?

Traian đáp:

– Quân Mỹ không thù hằn gì chúng ta. Họ cũng không quan tâm đến đời sống chúng ta.

– Vậy phải bao lâu nữa họ mới biết được đã bắt và giam ta trong tù? Em không chịu đựng nổi nữa rồi!

– Họ không nhận chân được rằng chúng ta hữu hiện. Văn minh Tây phương trong giai đoạn chót này, không quan tâm đến cá nhân. Ta không hy vọng nào thấy họ sẽ lo nghĩ đến bao giờ. Cái Xã hội ấy chỉ biết vài phần của khuôn khở giá trị con người thôi. Con người thật sự, xét từng cá nhân, không còn tồn tại với xã hội ấy. Em Nora, em bị ngồi tù dẫu rằng vô tội, và anh với mấy người khác nữa cũng vậy, chúng ta đều không hữu hiện đối với họ. Chỉ có thế thôi! Chúng ta chỉ là con số không. Chúng ta không có. Chúng ta hữu hiện chỉ vì ta là thành phần của một loại hạng. Thí dụ họ chỉ biết em đây là một nữ công dân nước nghịch, bị bắt tại địa phận Đức quốc. Đó là chỗ tối đa của các đặc điểm mà Xã hội Kỹ thuật Tây phương có thể nhận xét về em. Dưới mắt họ, em chỉ có mấy đặc điểm đó mà thôi. Và cũng nhờ mấy đặc điểm ấy nên xã hội đó mới nhận ra được em, rồi nhân thế, đối xử với em như những người cùng nhóm em, theo phép nhơn, chia hoặc trừ của toán pháp. Em chỉ là một thành phần của xứ Roumanie. Thành phần ấy bị bắt. Lý do cuộc bắt bớ là phạm lỗi, hay trọng tội, thì thuộc chung cho cả loại hạng.

– Tuy nhiên, người Mỹ cũng có một cớ để bắt ta chớ. Hoặc họ thù ta, hoặc họ nghi ngờ ta. Nếu không, thì họ thả ta rồi. Em khổ vì không rõ duyên cớ nào bị bắt. Bởi phải có duyên cớ mới được!

– Có chớ sao không. Nhưng duyên cớ ấy trở nên vô lý khi xét theo phương diện nhân đạo, mà hoàn toàn hữu lý, theo phương diện máy móc. Tây phương nhìn con người theo đôi mắt kỹ thuật. Con người bằng xương, bằng thịt, biết vui sướng, biết đau khổ đều không có nghĩa gì đối với họ. Vì thế, cái việc họ giam cầm ta, hoặc mai kia đem hành quyết ta, không thể xem là trọng tội, là sát nhân. Đối với người bằng xương bằng thịt, chuyện đó mới là trọng tội. Còn xã hội Tây phương không thể biết được có đời sống con người, thì khi giam cầm hay giết chết một người, cái xã hội ấy không phải đã giam cầm hay giết chết một sinh vật mà chỉ giam-giết một quan niệm thôi. Theo lý lẽ thì trọng tội không thể gán cho cái xã hội kỹ thuật ấy, vì chẳng có máy móc nào bị buộc tội sát nhân cả. Và không ai có thể bắt buộc máy móc đối xử với con người như người được.

– Vậy thì duyên cớ chánh đáng và hoàn toàn theo phương diện kỹ thuật khiến cho người Mỹ giam cầm chúng ta là duyên cớ nào

– “Anh không rõ. Anh chỉ biết rằng bắt buộc con người tuân theo luật tắc và tiêu chuẩn kỹ thuật, là như cố ý sát nhân, vì các tiêu chuẩn kỹ thuật chỉ hoàn hảo đối với máy móc mà thôi. Bắt buộc con người sống theo điều kiện và hoàn cảnh của con cá, và làm ngược lại, thì người và cá sẽ chết trong vài giờ. Tây phương tạo một xã hội giống như một cái máy. Họ bắt buộc con người sống trong cái xã hội ấy phải thích ứng theo luật lệ của máy móc. Một vài khi họ tưởng thành công. Nhưng sự thật, họ giết lần con người khi bắt buộc con người tuân theo những luật lệ đã chi phối xe hơi và chiếc đồng hồ.

“Chỉ có máy móc mới thật sự giống y với nhau. Chỉ có máy móc mới có thể thay đổi nhau từng bộ phận được, mới có thể tháo gỡ hoặc lược bỏ hết, để còn trơ mấy cơ quan trọng yếu, hay là vài cử động quan trọng mà thôi. Khi nào con người thật giống hệt máy móc đến trở thành như máy móc, thì chừng đó con người không phải là con người nữa, chừng đó không có loaoì người trên quả địa cầu”.

Nora thở dại. Traian nói tiếp:

– “Em không hiện hữu, kể về nhân vị con người, còn nếu em muốn em hiện hữu, thì đã bị biến thể và được nhìn với con mắt của máy móc.

“Nhưng trong cái xã hội kỹ thuật này, cũng như ở các xã hội man rợ, con người không có một giá trị nào. Hoặc nếu có, thì giá trị ấy cũng không đáng kể. Vậy nói đúng ra, em không bị bắt”

– Chúng ta không bị bắt à?

– Kể như em và anh không bị bắt, chúng ta không bị bắt, dẫu rằng chúng ta đã ở sáu tuần trong khám. Vì đối với xã hội kỹ thuật Tây phương, cá nhân ta không có. Vì thế, cá nhân ta không thể bị bắt và cũng không có bị bắt.

– Chuyện ấy không an ủi ta được. Chúng ta không bị bắt, song chúng ta đang ở tù.

– Cũng an ủi được lắm chớ! Đó là cái “có thể được” duy nhứt trong giờ phút quá muộn của lịch sử này.

Viên gác khám bước vô xà-lim của Traian, nói:

– Hôm nay, thế là hết! Ông hãy đọc tờ bố cáo này: “Tỉnh Thuringe và thành phố Weimar đã nhượng cho Nga-sô. Đội tiền phong Nga đã vô thành phố. Cả đoàn xe cam nhông chở đầy lính đã tới trong đêm rồi. Lính Mỹ đều rút ra khỏi thành. Họ còn giữ dinh hành chánh, khám đường và vài căn nhà, không ai được phép đi đâu. Thành phố bị hiến binh vây giữ”.

Nora đọc lời bố cáo đang trong báo. Nàng ngó Traian và viên gác khám đang đứng dựa cửa, rồi nói:

– Chừng giao khám đường, chắc chúng ta cũng sẽ bị giao luôn cho quân Nga.

Viên gác khám đáp:

– Tôi cũng sợ như vậy. Quân Nga sẽ đến đây nhận lãnh khám đường sáng nay, hoặc trưa, hay trễ lắm là chiều, chưa biết đích xác giờ nào!

Traian ôm đầu suy nghĩ, rồi lẩm bẩm ôn lại: “Chạy trốn. Hai trăm cây số ngàn. Nga-sô. Kinh khủng. Hãm hiếp. Xứ Sibérie. Hai chân của Nora sưng vù và đầy vết tích. Các ủy viên chính trị. Bị giao nộp một lượt với xà-lim và khám đường, như kẻ nô lệ bị xiềng xích”. Chàng nói:

– Bây giờ chỉ nên lo việc chánh thôi, vì ngày giờ cấp bách đến rồi! Đừng giấu giếm nữa. Ông gác khám có thể nghe tôi nó chuyện. Tôi biết quân Mỹ sắp giao cho quân Nga tất cả chúng ta bị nhốt trong xà-lim. Thật là sát nhơn! Nhưng, đứng về phương diện của họ, thì họ vô tội. Họ cũng ngây ngô như đầu xe lửa, cán người trên đường rầy, mà vẫn thản nhiên, lại dường như mỉm cười. Người Tây phương đã thu hẹp tội ác còn có một chiều. Họ giảm bớt tối thiểu đến cực độ. Tôi có thể nó họ gần như không biết đến tội ác nữa. Vì thế, họ không có tội. Nhưng điều ấy không quan hệ trong giờ phút này. Tôi nhắc lại để đừng ai còn ảo vọng. Trong vài giờ nữa, chúng ta sắp bị giao cho quân Nga, nghĩa là những quân tàn bạo hơn hết, chúng ta đã hành động trên khắp mặt đất này, nhờ có một cơ cấu quốc gia. Và nếu tôi còn chịu đựng nổi, tôi sẽ là “người máy móc” bị thu hẹp trong công việc của người máy, thì tôi cũng không bao giờ đương đầu nổi với “con thú rừng cơ giới hóa” được. Tôi không thể đương đầu nổi. Vậy trước khi bị giao cho quân Nga, tôi sẽ tìm hất cách để vượt ngục, và nếu tôi không thành công, tôi sẽ tự tử.

Traian day qua viên gác khám, hỏi:

– Ông giúp chúng tôi vượt ngục không?

– Tôi sẽ làm hết sức tôi. Tôi cũng muốn đi khỏi nơi đây. Tôi là dân xứ Autriche. Tôi sẽ trở về nhà tôi tại thành Vienne. Song tôi sẽ đi sau.

Nora hỏi:

– Còn em, em sẽ trở nên thế nào? Em không thểh vượt ngục được, em sợ lắm! Tốt hơn, anh bắn chết em trước!

Traian đáp:

– Ta sẽ cùng chết với nhau!

Viên gác khám khuyên:

– Tốt hơn nên trốn thử xem sao. Đâu có khó khăn gì. Tường đã sụp đổ vì bom đạn. Chỉ cần ra được tới sấn, còn bao nhiêu khác là chuyện trẻ con.

Nora nói:

– Em không có can đảm xuống dây từ lầu thứ ba. Anh là đàn ông, anh làm được. Còn em, em sợ lắm!

Traian đang nối vải trải giường với mền để làm một sợi dây. Chàng nói:

– Đừng sợ chi hết. Em khỏi cần làm việc gì. Anh cột em, rồi thòng dây xuống, theo cửa sổ. Tới sân, em cứ đi nép theo vách tường, và chờ anh, gần cái cây mà anh đã chỉ đó.

Nora nắm đầu dây, trong lúc Traian lo nối thêm. Nàng buông sợi dây, nói:

– Em không thể trốn. Khi anh thòng dây thả em xuống, em cứ tưởng tượng người ta bắn em. Và chỉ nghĩ đến việc ấy, là em ngất lịm đi. Anh không tưởng họ sẽ bắn trong lúc em xuống dây sao?

– Có thể lắm, nhưng cứ liều thử coi. Biết đâu họ không bắn. Dầu sao, hành động như thế, ta còn có hy vọng được cứu thoát hơn là ta tự bắn ngay liền.

Nora hỏi:

– Và nếu ta ở với quân Nga? Không chừng họ không quá tàn bạn như người ta nói. Dưới chế độ cộng sản cũng có người vậy. Họ sống được, có lẽ mình cũng sống được chớ?

– “Em nói có lý. Trong vùng cộng sản cũng có người. Và có lẽ đời sống của họ không khổ khắc gì hơn đời sống của người Tây phương.

“Không có quan điểm nào khách quan để vịn vào đó mà phán đoán đúng được. Không có sự thật nào khách quan cả. Chuyện nào cũng chủ quan.

“Phần anh, anh chẳng khi nào chịu sống trong thiên đàng cộng sản. Sự ngoan cố của anh có lẽ hơi vô lý, nhưng theo quan niệm riêng của anh, thì nó lại đúng lý.

“Và đối với từng cá nhân, chỉ có những chuyện nào hạp với ý riêng mình, mình mới cho là phải.

“Nên riêng phần anh, anh không muốn lọt vào tay những tên “hung bạo cơ giới hóa” Nga-sô.

“Có lẽ anh điên rồ.

“Anh không thiết sống. Anh có thể từ bỏ nó bất cứ lúc nào.

“Nhưng nếu anh không chết, thì anh phải sống theo điều kiện nào thích hợp cho anh. Người ta sẽ thất công vô ích để giải thích rằng lối quan niệm về cuộc sống của anh không hay. Anh chấp nhận tất cả lý thuyết. Nhưng anh không bằng lòng ai chỉ dạy cách sống cho anh, cách sống họ tưởng là hay nhứt và bắt buộc anh phải theo. Đời anh là của anh. Đời anh không phải của mấy nông nhiệp sản xuất hợp tác xã, mấy đoàn thể cộng đồng, mấy ủy viên chính trị. Vậy anh có quyền sống theo sở thích anh. Nếu anh muốn, anh có thể bắt chước sống theo đời sống của một ủy viên chính trị. Nhưng anh lại không muốn. Và nếu anh có hành động như thế nào, không ai có quyền chỉ trích hoặc phê bình anh hành động phải hay quấy.

“Anh trọn quyền sử dụng đời sống của anh, và anh cự tuyệt cách sống theo lối cộng sản.

“Vì thế anh mới định tự sát”.

Nora khóc òa. Traian tiếp tục nối dây. Nàng cầm chặt mối kia. Chàng bảo Nora:

– Em ra xem coi lính Mỹ rời khỏi tháp canh trong sân chưa?

Nora xuống hành lang, chạy đến cửa khám dòm mấy tháp canh coi quân Nga đã tới chưa. Traian dặn:

– Phải dòm chừng mỗi năm phút. Cơ hội thuận tiện nhứt là lúc lính Nga đến thay lính Mỹ. Qua cơ hội đó thì trễ mất rồi.

Hai vợ chồng lo nối dây trọn buổi sớm mai. Họ nhóng thử coi dây dài và chắc tay không. Cách năm phút, thì một người đi dòm chừng tháp canh, và trở vô, vẫn nói:

– Còn lính Mỹ hoài!

Cả hai đều vui mừng vì lầm tưởng hễ còn lính Mỹ tại tháp canh trong khám, thì chưa hẳn tuyệt vọng.

Sáu giờ chiều. Traian và Nora bị lùa ra khỏi xà-lim, dẫn lên xe cam nhông Mỹ với các tù binh khác.

Traian xanh mặt, còn Nora thì khóc. Traian nói:

– Họ đem ta đến một chỗ khác để giao cho quân Nga. Xe chạy về hướng đông.

Đường lộ thành phố Weimar đầy binh lính và quân xa Nga.

Traian hỏi Nora:

– Em muốn chúng ta nhảy xuống xe không? Chắc chắn họ chở chúng ta đến một khám đường Nga.

Xe chạy ra khỏi châu thành. Nora ngó mấy cánh đồng xanh, rồi ngó mặt trời. Nàng thấy chắc chắn là xe chạy về hướng đông.

Traian nói:

– Xe gần tới một đám rừng. Em cứ nhảy trước, trốn trong bụi rậm chờ anh. Anh nhảy theo sau em liền.

Nora khóc.

Chàng hối:

– Sửa soạn đi!

Nora nói:

– Để lát nữa! Bây giờ em sợ quá!

– Không còn cơ hội nào tốt như vầy nữa đâu. Kìa mấy bụi rậm bên lề đườg, dễ trốn lắm! Em không muốn nhảy sao? Xe chạy chậm rồi đó!

Chàng nắm tay Nora, nhưng nàng níu chặt băng ngồi, co quắp mấy ngón tay, và nói:

– Không. Anh muốn thì cứ nhảy đi! Em thề không oán giận anh đâu, nếu anh có bỏ em lại đây để trốn thoát một mình.

Traian ngồi xuống gần bên nàng, nhắm mắt lại để đừng trông thấy đám rừng có bụi rậm dễ trốn, và đừng tiếc rẻ cơ hội bỏ lỡ này.

Lúc chàng mở mắt ra, mặt trời đã ở ngay trước mặt, làm chóa mắt chàng.

Xe chạy về hướng tây. Traian hớn hở nắm tay Nora nói:

– Người Mỹ kể cũng tử tế đấy! Họ không giao chúng ta cho quân Nga!

– Vậy họ chở ta đi đâu?

Traian sầm nét mặt, hổ thẹn, nói:

– “Tới một khám đường Mỹ. Em đừng giận anh sao lại hân hoan quá thế. Phải điên rồ lắm mới vui mừng khi bị giam ở khám đường này hơn là ở khám đường khác.

“Nhưng, đây là đến giai đoạn chót của con người ở Âu châu. Họ chỉ có thể lựa chọn giữa hai ngục thất”.

Viên sĩ quan cười thân mật hỏi:

– Phải anh là Iohann Moritz không? Thiếu tá Đô trưởng muốn nghe chính anh thuật chuyện vượt ngục. Có phải anh đã cứu năm lính Pháp trốn khỏi trại giam không?

Moritz hớn hở đỏ mặt.

Anh không ngờ các sĩ quan Mỹ đem xe đến chở anh đi thuật lại chiến công của anh. “Cho đến Thiếu tá Đô trưởng cũng nghe đến tên mình nữa!”, anh nghĩ thầm như thế, và thấy hân hoan thích thú hơn lúc nào hết.

– Phải, tôi là Moritz đây!

– Tôi có xe, anh đi với tôi.

Moritz muốn mặc áo ngoài, mang vớ, vì anh chỏ mặc áo sơ-mình, quần dài, mang giày mà không có vớ. Nhưng viên sĩ quan hối thúc:

– Đi như vậy cũng được mà, Thiếu tá đang chờ. Chừng nửa giờ, anh trở về, tôi sẽ chở xe cho.

Hai người lên xe “Jeep”. Moritz định sẽ thuật hết câu chuyện cho Thiếu tá nghe, chẳng thêm bớt gì. Anh bắt đầu lựa chọn trước câu nói. Anh vui sướng nghĩ tới nét mặt Thiếu tá và thấy như đang ngồi trước mặt ông, tường thuật vụ vượt ngục.

Xe ngừng trước một nhà đá. Viên sĩ quan day qua Moritz, nói:

– Anh ở lại đây!

Moritz leo xuống xe, và tiếc sao viên sĩ quan không theo mình, để mình thuật chuyện mạnh bạo hơn. Nhưng xe đã chạy. Tên lính gác cửa đưa Moritz vô sân. Hai lính Đức tới dẫn anh đi. Moritz ngó chung quanh, không hiểu sao Thiếu tá Đô trưởng lại ở cái nhà xấu tệ như vậy. Nhưng anh không dám hỏi.

Vô trong, thấy cửa sổ nào cũng có song sắt như nhà tù, anh hỏi:

– Phải Thiếu tá Đô trưởng ở đây không?

Hai cảnh binh phá lên cười rộ. Họ không thể nín nữa được. Họ nhốt anh dưới hầm, trong xà-lim tối thui, khóa hai vòng, mà còn cười về câu hỏi của tên tù.

Bà mục sư Corina Koruga bị đòi đến thị sảnh. Đã nửa đêm, khi hai thôn dân mang dây băng ba màu đến gõ cửa và ra lịnh biểu bà đi. Ngoài trời, trăng sáng làu làu. Bà mục sư khóa cửa cẩn thận, và cầm chìa khóa trong tay.

Tại thị sảnh đã có hơn mười lính Nga đang ăn uống giễu cợt với dân làng. Bà mục sư đến trước mặt họ. Họ đưa cho bà một ly rượu và nhìn bà khắp mọi phía.

Bà mục sư ngó xuống, thầm đọc kinh cầu Thánh Nicolas.

Bọn lính ép bà uống rượu. Nhưng bà vẫn đọc kinh, không ngó ai và cũng không đụng môi vô ly rượu. Một tên lính đổ rượu vô áo bà. Đứa khác lật váy bà lên, và tạt rượu vô mình bà. Nhưng bà không nghe, không thấy gì cả, cứ nhắm mắt đọc kinh cầu Thánh Nicolas, vị Thánh giống phưởng phất như mục sư Koruga, chồng bà. Bọn lính Nga và dân làng lại đổ rượu lên đầu, vô áo sơ-mình, vô váy, trong mình bà. Bà ướt mèm. Chúng lại vật bà nằm dài trên ván rầm. Bà thấy toàn thân bà bị ướt đầm như khi bà té xuống nước. Rồi bà cảm thấy như bị chìm đắm và chết đuối. Thánh Nicolas thì đứng trên bờ cầu nguyện cho bà.

Sáng lại, sau vụ xảy ra ở thị sảnh, bà Corina, vợ mục sư Koruga, treo cổ tự tử trong chuồng gà.

Đêm đầu tiên của Nora ở trại giam Ohrdruf. Nàng nghĩ thầm: “Không lý nào họ giam ta vô cớ?”. Nàng nằm dài, không nệm, không mền, trên ván lót giường. Xương hông, cùi chỏ nàng đau điếng.

Khi tới trại thì trời tối hẳn. Xe cam nhông chở hai vợ chồng Nora từ khám đường Weimar. Đến đây, Nora bị nhốt vào trại giam, còn Traian thì bị chở đi nơi khác.

Trại giam đàn bà bằng nhà cây. Phòng Nora có gần ba mươi người; trời tối, nàng không thấy rõ gương mặt họ, nhưng hình như họ còn trẻ lắm.

Nora nằm trên giường cây, khóc thầm, rồi ngủ quên.

Một tiếng cười khút khít trong góc phòng làm nàng giựt mình thức giấc. Nàng nghĩ: “Chắc đã nửa đêm rồi! Đàn bà nào bị nhốt ở đây nhiều vậy kìa?”. Nàng nghe như giọng cười của đàn ông. Nhưng trại giam đàn bà không thể nào có đàn ông được. Nàng lắng tai nghe, và rõ ràng là tiếng của một người đàn ông thật. Y không cười nữa, nhưng Nora nghe rõ họ đang tình tự với nhau.

Có tiếng đàn ông cười nữa, nhưng ở một góc khác. Nora hoảng sợ. Nàng nghĩ thầm: “Họ tình tự với nhau, sao mình lại sợ mấy người đàn ông ấy?”. Nhưng nàng không trấn tĩnh được, vội bịt lỗ tai, không nghe gì hết. Và tuy nhắm mắt, nàng cũng vẫn thấy. Tám ván giường rung rinh. Nàng mở mắt thấy cửa sổ mở bét. Nhiều người đàn ông vô phòng, đứng giữa nhà, nói chuyện với nhau. Một người đàn bà mặc áo sơ-mình, đứng kề bên.

Nora không kiềm chế được, nhắm mắt lại, la hoảng hốt lên. Lúc đầu nàng cũng không biết tại sao nàng vụt la lên. Bây giờ nàng vẫn tiếp tục la vì nàng sợ đàn ông và đàn bà trong phòng. Họ sẽ đánh đập nàng tại sao la và làm cản trở cuộc tình tự của họ.

Nàng suy nghĩ: “Thật ngu dại làm sao? Phải mình đừng la. Bây giờ, họ có ráp lại đánh chết mình, cũng phải chịu. Họ có lý để giết mình, vì mình đã la!”.

Mấy gã đàn ông vội vàng chạy trốn khỏi phòng. Họ đông lắm. Nhiều người nằm dài dưới đất mà Nora không nghe biết. Có gã nằm chung giường với người đàn bà, kế bên giường nàng, mà nàng cũng không nghe biết nữa. Họ đi ra khỏi phòng như mấy bóng ma, to lớn, đen ngòm, đen hơn trời tối.

Vài người đàn bà đi với họ, nhưng rồi lại trở vô, đi nhón gót về chỗ ngủ.

Phòng im lặng. Ai nấy đều về chỗ nằm, chỉ còn lại hai người đứng giữa nhà, trong tối. Họ mặc áo sơ-mình ngắn. Bóng dáng họ xem đẫy đà to lớn. Họ cũng không nói chuyện, chỉ đứng khít vào nhau. Nora nghe họ nhai sô-cô-la.

Nora chờ họ đi ngủ. Nàng sợ họ đánh hoặc giết nàng trong lúc nàng ngủ. Nhưng họ đứng yên, tiếp tục nhai sô-cô-la, không nói chuyện gì hết.

Một người hỏi nho nhỏ:

– Ai la hồi nãy đó? Phải con mẹ ngoại quốc, tóc hung hung, mới vô hồi tối không?

Có tiếng trả lời:

– Không biết. Nhưng tôi cũng không tiếc, vì nàng đã la. Tôi mới vừa xong với gã của tôi, và không muốn tái lại…

Họ còn ăn sô-cô-la, và không nói chuyện với nhai nữa. Nora dòm từng cử chỉ của họ. Sau rốt, họ chia tay nhau, mỗi người đi lại một góc, lên giường nằm. Ván giường kêu cót két. Rồi hoàn toàn im lặng.

Nhưng Nora ngộp thở. Nàng không thể ngủ được. Chẳng còn gã đàn ông nào trong phòng. Đàn bà đều ngủ hết, nhưng không khí ngấy mùi rượu, mùi mồ hôi, mùi đàn ông tình tự. Cửa sổ mở rộng, song không đuổi hết các mùi ấy ra được.

Nora bực tức nói thầm: “Phải có duyên cớ gì mới bắt mình chớ, nếu không, họ đâu có nhốt mình ở đây!”.

Nàng muốn ho, song lấy tay bụm miệng, nín lại, nàng sợ mấy người đàn bà kia đánh nàng …

Buổi sáng đầu tiên của Traian trong trại giam Ohrdruf. Vừa mở mắt, chàng thấy Moritz. Bắt tay Moritz, chàng hỏi:

– Ta ngủ gần nhau suốt đêm mà không biết chớ. Sao anh lại ở đây?

Moritz bèn thuật chuyện của anh, khởi đầu từ đoạn cuối. Anh nói chuyện viên sĩ quan Mỹ đến chở anh đi để tường thuật việc vượt ngục cho Thiếu tá nghe, và nói:

– Thay vì dẫn tôi đến chỗ Thiếu tá Đô trưởng, họ bỏ tù tôi! Tôi bị nhốt tám tuần trong xà-lim không cửa sổ, không ánh sáng. Tôi mải trông chờ Thiếu tá cho gọi, nhưng ông không gọi tôi. Và bây giờ, họ đem tôi đến đây. Thế thôi!

Thuật dứt câu chuyện, anh day lại hỏi Traian:

– Còn ông. Sao ông lại ở đây?

Traian rùn vai.

Bọn tù nằm ngủ la liệt dưới đất, lần lượt thức dậy từng người. Trại giam Ohrdruf chỉ là một cánh đồng bằng, rào dây kẽm gai. Mười lăm ngàn tù nhân bị nhốt nơi đây. Một cánh đồng trơ trọi, chỉ có trời, đất và người. Bốn góc rào có quân binh, súng máy cầm tay, đứng gần xe tăng canh gác trại giam.

Moritz hỏi:

– Ông có tin tức gì của làng Fântâna không? Tôi không tưởng tượng được sao ông lại ở đây. Làm sao chúng ta lại gặp nhau ở chốn này? Và trọn đêm nay ta ngủ gần kề nhau? Thật tôi không thể nào hiểu nổi…

Viên sĩ quan cai quản trại giam là một người Do thái. Eleonora mừng thầm nói: “Một người Do thái ắt hiểu rõ nỗi thống khổ của ta hơn. Người chắc sẽ giúp ta như một thân quyến. Người sẽ đem ta ra khỏi chốn này”. Nàng quyết định sẽ thuật lại cặn kẽ đời nàng, van xin, khẩn cầu viên sĩ quan cứu vớt nàng như nói với một người anh ruột.

Trên vách phòng làm việc của viên cai trại treo đầy hình ảnh chụp trong các trại giam Đức. Nora đứng xem. Bức ảnh nào cũng to lớn bằng cỡ vách tường, chụp cảnh người chết chóc, kẻ treo cổ, kẻ đói khát; cảnh đoàn tội nhân mặc bộ đồ sọc rằn của nhà tù; cảnh thây chất thành đống, những cột xử giảo sắp dài, cả dọc xe cam nhông đầy nhóc thây đàn bà.

Nora quên phứt mình đang ở đâu. Nàng tưởng như ở trong trại diệt trừ Do thái của nước Đức Quốc xã.

Nàng ngó Trung úy có bộ tóc hoe đỏ, ngồi ở bàn viết. Nàng đưa mắt van lơn như cầu khẩn để được cứu khỏi bị diệt trừ, bị chết đói, bị bỏ vào phòng hơi ngạt, hoặc bị tra tấn. “Tôi đây là Do thái cũng như ông! Xin cứu tôi với!” Không bao giờ nàng cảm thấy nàng là Do thái hơn lúc này. Nàng kêu:

– Trung úy!

Tiếng nàng run rẩy. Cổ nghẹn ngào. Nước mặt chận ngang cổ họng, nàng không nói ra lời.

Viên sĩ quan xẳng xớm quát to:

– Mày không được nói, trước khi tao hỏi.

Nora cắn môi hối hận, làm thinh chờ.

Viên sĩ quan đọc, ma không ngó nàng, rồi nghiêm nghị hỏi:

– Mày tên Eleonora West Koruga hả? Có phải mày không? Chồng mày cũng bị bắt phải không?

Y xưng hô mày tao với nàng. Giọng nói không chút gì thương hại, thân mật như giọng của một người anh. Y hỏi tiếp:

– Chồng mày là nhân viên của nhà độc tài Antonesco?

Nora đáp:

– Chồng tôi là viên chức của vương quốc Roumanie.

Sĩ quan đỏ mặt, giận dữ. Da mặt mét chằng và đầy tàn nhang của y đỏ phừng lên. Môi run run, y hỏi:

– Ở Roumanie, có nhiều cuộc hành sát Do thái rùng rợn phải không?

Nora chưa kịp trả lời. Y lại hỏi tiếp:

– Ở Roumanie có nhiều trại giam Do thái phải không? Có nhiều trại mà dân Do thái bị diệt trừ tàn nhẫn bằng hơi độc, bị xử giảo, chặt đầu, bắn chết…

Trung úy đứng dậy.

Nora muốn nói nàng cũng là Do thái. Nàng bắt buộc phải tráo đổi giấy tờ, trốn tránh, phập phồng lo sợ mỗi đêm. Nhưng viên sĩ quan đến gần nàng, giơ tay lên, hỏi to:

– Trả lời cho tao nghe coi!

Nora thấy chắc sẽ bị đánh vào mặt. Nàng nhắm mắt run rẩy chờ đợi và không dám nói một tiếng nào.

Viên sĩ quan càng hét to:

– Trả lời mau coi, quân giết người! Mày đã giết bao nhiêu đàn bà Do thái rồi! Nói mau. Mày cứ làm thinh, tao xé xác mày! Tự tay mày đã giết mấy người Do thái rồi.

Nàng vẫn im lặng.

– Mày không muốn nói à! Bây giờ mày sợ. Hiện giờ mày run sợ, mày són đái trong quần. Nhưng lúc giết người, mày đâu có sợ!

Nora ấp úng:

– Tôi đây, tôi cũng…

– Ra khỏi chốn này, đồ khốn! Đi ra!

Y quát to, hằm hằm cung tay lên trước mắt Nora. Nàng lật đật bước mau ra khỏi phòng.