This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
“Trên đê Yên Phụ vào một buổi chiều mùa hạ … ” Đó là dòng chữ mở đầu cho chuyện ngắn “Anh Phải Sống!” của Khái Hưng mà chúng ta, những người yêu Tự Lực Văn Đoàn, ngày nay đã luống tuổi, đều đã đọc hay còn ghi lại trong trí nhớ.
Một buổi chiều, sau những cơn mưa lớn, trong dòng nước lũ hung hãn, hai vợ chồng anh Phó Thức đem con thuyền nan ra sông vớt củi. Sau khi thuyền bị lật, người chồng phải dìu vợ bơi vào bờ, đã đuối sức. Người vợ đã nói với chồng lời cuối cùng trước khi buông tay để cho anh có thể bơi một mình vào bờ:
“Thằng Bò! Cái Nhớn! Cái Bé!… Không?… Anh phải sống!”
Hai vợ chồng không thể cùng chết để lại đàn con dại, mà “Anh phải sống!” để nuôi con.
Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ, trong khổ đau tận cùng, bị đày đọa bởi những tên cai tù cộng sản và cả những tên tay sai “thi đua-văn hóa” tại nhà tù Thanh Cẩm, trong lúc kề cận với cái chết, Linh Mục Lễ đã thức tỉnh và giữ lời thề: “Tôi phải sống!” Ông sống để viết lại một cuốn sách mang lời thề của ông để tố cáo chế độ nhà tù tập trung quân cán chính miền Nam sau năm 1975, và cả những con người cùng chiến tuyến đã mất hết lương tâm. Cuốn hồi ký lao tù “Tôi Phải Sống” được xem là một best-seller ở hải ngoại trong những năm 2003-2005. Sống, để ông làm những công việc vạch trần tội ác của cộng sản và Hồ Chí Minh qua những phương tiện truyền thông.
Hơn năm nay, Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ bắt đầu yếu dần vì những vết thương trong thời gian tù tội. Suốt trong thời gian từ ngày ông khỏi nhà tù đến nay, ông đã làm đủ cho mục đích cho sự sống còn của ông qua lời nguyện đẫm máu và nước mắt của ông trong những đêm bị còng trong nhà biệt giam Thanh Cẩm.
Trận chiến Okinawa giữa Nhật và Mỹ kéo dài 82 ngày, trong những giờ phút cuối cùng biết không giữ nổi đất đai của tổ quốc, ngày 15 tháng 6, trong một hang động, trước khi mổ bụng tự sát như là một cách chết trong danh dự, một truyền thống anh hùng của giới võ sĩ đạo Nhật, nghi lễ này gọi là “seppuku” hay “harakiri,” Đại Tá Kanayama, trung đoàn trưởng Trung Đoàn 27BB, tập hợp 102 người còn lại sau trận chiến của trung đoàn.
Ông làm lễ đốt quân kỳ trung đoàn và nói: “Trong ba tháng vừa qua, anh em đã cùng tôi chiến đấu. Lòng dũng cảm, chí hy sinh, sức chịu đựng của anh em, lịch sử sẽ khắc sâu. Nay tôi nói lời cám ơn anh em đã phục vụ quên mình. Giờ đây, tôi tuyên bố giải thể trung đoàn. Từ nay trở đi, anh em không còn bị ràng buộc, tôi lãnh trách nhiệm về việc này. Riêng tôi, tôi sẽ vĩnh viễn ở lại đây. Nhưng tôi cấm anh em theo tôi. Ra lệnh cho anh em phải sống để kể lại cho hậu thế biết quân đội Nhật đã anh dũng chiến đấu như thế nào ở Okinawa.”
Cũng trong ngày 21 tháng 6, trong chỉ huy sở của mình tại Mabumi, Tướng Ushijima và mọi người đều hớt tóc, cạo râu. Sau đó ông viết thư trình lên Thiên Hoàng Hiro Hito báo cáo về tình hình chiến sự tại Okinawa và tạ tội không giữ được đảo.
Trong giờ phút cuối cùng, ông nói với Đại Tá Yahara: “Đại Tá Yahara, ông cũng như tôi lẽ ra phải tự sát. Nhưng tôi ra lệnh cho ông ở lại. Nếu ông chết, sau này còn ai có thẩm quyền để kể lại về trận chiến Okinawa này. Mặc dù sống sau khi thua trận là nhục nhã, nhưng tư lệnh của ông ra lệnh cho ông phải chịu cái nhục này.”
Yahara là sĩ quan cao cấp phía Nhật Bản đã sống sót sau trận đánh, và về sau ông đã cho xuất bản cuốn sách mang tựa đề “Trận Đánh Vì Okinawa.”
Chết là oanh liệt, nhưng sống can trường cũng là anh hùng. Rất nhiều người đã thương yêu mong mỏi cho chúng ta còn sống sót qua chiến tranh, tù đày, vượt biển, nhưng liệu sự sống hôm nay của chúng ta có ý nghĩa gì không?
Anh Phó Thức trong câu chuyện “Anh Phải Sống” của Khái Hưng phải sống để thay vợ nuôi con khôn lớn thành người. Những người tù khốn khổ sau bao nhiêu năm bị đày đọa trong các trại tù tập trung, phải sống để trở về nói lên tiếng nói tố cáo cho cả nước và thế giới biết thế nào là chế độ lao tù và sự trả thù tàn độc của những người cộng sản. Cũng như hồi ký “Tôi Phải Sống,” hàng trăm đầu sách về hồi ký lao tù của các tác giả cựu tù nhân chính trị đã được viết ra là một bản cáo trạng về tội ác của cộng sản để cho con cháu đời sau biết đến một giai đoạn lịch sử khổ đau của dân tộc.
Những quân nhân VNCH không phải ai cũng có can đảm tự sát để bảo vệ thanh danh của một người lính không giữ được thành, phải sống như lệnh của Tướng Ushijima cho Đại Tá Yahara: “Nếu ông chết, sau này còn ai có thẩm quyền để kể lại về trận chiến này!” Sống là phải mang trách nhiệm của một người lính
trong câu chuyện này, dù là một người lính thất trận, chứ không phải sống để chạy theo kẻ thù, đem ô nhục cho đồng đội và cho những người đã chết cho đại cuộc.
Cuộc chiến tranh Nam Bắc đã qua, những người chết giữ trọn thanh danh đã đành, nhưng không phải ai sống cũng can trường, xứng đáng với kỳ vọng của những người đã chết, thi hành được chúc thư của những người đã nằm xuống. Chúng ta là những người thất trận “may mắn,” những người tù sống sót. Trong ý niệm và trong sự tuyệt vọng vô bờ, bản năng sinh tồn của con người trỗi dậy khiến chúng ta phải bám víu lấy sự sống. Nhưng một sinh vật sống có nghĩa là có ăn, có ngủ, có bài tiết, chắc chắn khác hẳn với sự sống của một con người. Chúng ta thương tiếc những người có cuộc sống quá ngắn ngủi, họ chết để lại những thương tiếc cho hậu thế, nhưng cũng chán chường với những người sống kéo lê tuổi thọ, như những chiếc bình vôi dưới gốc cây đa của nhà văn Phan Khôi. Những người này không những đã phản bội lại những người đã mong cho họ sống mà còn phản bội lại chính con người của mình trước đó.
Đã bao nhiêu người trước cái chết kề cận, giữa bom đạn, đói khát, tuyệt vọng, giữa biển cả muôn trùng mà sự sống như ngọn đèn trước cơn bão đã ước ao, đã thề nguyện, đã ân hận, nhưng khi đã bước chân lên bờ, họ không còn ngoảnh lại một lần. Cái chết bây giờ đã qua, nỗi sợ hãi không còn. Trong một bức thư công khai được đưa lên Internet vào tháng 12, 2008, một thương binh ở Việt Nam là Trần Nhân đã viết những dòng chữ xót xa, trách móc:
“Các anh! Bây giờ thì buồn quá! Các anh – những sĩ quan hào hùng của QLVNCH ngày nào, những người anh của chúng tôi, những Đại Bàng, những Bắc Đẩu, Hắc Báo của một thời oanh liệt, một thời tung hoành ngang dọc khắp các chiến trường, các anh đã có một thời vinh quang và một thời nhục nhã, giờ đây sau hơn 33 năm lặng lẽ, các anh cũng bị nhòa đi hình ảnh của ngày xưa? Các anh đã quên rồi sao?
Quên rồi những chiến sĩ thuộc cấp của các anh đã nằm xuống vĩnh viễn trên đất mẹ thiêng liêng, quên đi những đồng đội còn sống sót trong một tấm thân tật nguyền đau khổ, sống lây lất ở đầu đường xó chợ,” và:
“Các anh đã làm họ oán ghét, oán ghét đến độ khinh bỉ khi các anh áo gấm về làng, chễm chệ ngồi dựa ngửa ở nhà hàng khách sạn 5 sao, tung tiền ra để chứng tỏ mình là một “Việt kiều yêu nước” là “khúc ruột xa ngàn dặm” về thăm “quê hương là chùm khế ngọt.”
Dù tác giả bức thư này là một nhân vật có thật hay không, thì những điều được viết ra trong bức thư đều là những sự thật đắng cay không thể chối cãi. Sau ngày 30 tháng 4, 1975 chúng ta có 96 tướng lãnh được may mắn di tản trước khi Sài Gòn thất thủ (*), định cư yên ổn ở nước ngoài, nhưng đã mấy ai có được ý nghĩ tìm cách gây quỹ, kiếm một đồng đô la cho thương binh thuộc cấp hay thắp một nén hương cho “vạn cốt khô” đang chết dở sống dở mà họ đã bỏ lại ở quê nhà. Để mãi tới 20 năm sau, một nhóm quân nhân lâm vòng tù tội, vừa vượt thoát ra khỏi những ngày tăm tối đã cùng nhau ngồi lại, từ những đồng bạc tiện tặn, quyên góp để có một sự giúp đỡ cho thương binh VNCH quy mô như ngày hôm nay, để chịu bao nhiêu lời nhục mạ, búa rìu, sỉ nhục, vu oan, chống phá của kẻ thù.
Bao nhiêu người lính đã nằm lại trên chiến trường, bao nhiêu sinh mạng đã bỏ mình oan khuất trên biển cả chỉ mong cho anh thay họ, anh phải sống.
“Tôi ra lệnh cho anh phải sống!” Đó là mệnh lệnh của người đã chết!
Nhưng sống như thế này cũng gọi là sống hay sao, thưa anh?
(*) Theo tài liệu “Lược Sử Quân lực VNCH” của Trần Ngọc Thống-Hồ Đắc Huân-Lê Đình Tụy (California, tháng 5, 2012).
Trước khi bắt qua giai đoạn ca nhạc sau Tết Mậu Thân, tôi xin điểm mặt thêm bốn giọng hát Lệ Thu, Thanh Lan, Kim Loan và Giao Linh. Thêm vào đó là giọng của Trung Chỉnh, dù ca nghiệp của anh ngắn ngủi, nhưng anh vẫn nổi tiếng như cồn, tượng trưng cho giọng hát từ ngưỡng cửa học đường bay ra ca trường nhạc giới. Năm giọng nầy đã bắt đầu nổi tiếng vào những năm 1966, 1967, 1968.
* Lệ Thu:
Lệ Thu bước vào ngành ca hát trước khi có cuộc đảo chánh 1963. Cô là ca sĩ phòng trà Tự Do, hát nhạc ngoại quốc những bài âm hưởng bán cổ điển Tây phương đã từng được ca các sĩ hạng cừ khôi của Mỹ như Patti Page, Jo Stafford, Mahila Jackson và Andy Williams diễn tả. Khách Mỹ lui tới phòng trà Tự Do đều hoan nghinh cô nồng nhiệt, nhất là khi cô hát bài blue bất hủ “Summer Time”, một bản đã từng thắp sáng tên tuổi nữ danh ca da đen Mahila Jackson. Ngoài ra cô hát bài ruột của của Andy Williams là “Love Is a Many Splendored Thing” rất tuyệt. Nhưng thuở đó cô không nổi danh. Trước cô có nhiều nữ ca sĩ phòng trà hát nhạc ngoại quốc. Giai đoạn đó gần như thoảng xa rồi. Khán thính giả Việt Nam thích nghe những bản cây nhà lá vườn hơn. Cô đã cho thu vào dĩa nhựa microsillon bản “Xin Mặt Trời Ngủ Yên” của Trịnh Công Sơn vào năm 1966, vậy mà tên tuổi cô vẫn chưa bay ra khỏi phòng trà Tự Do và Trịnh Công Sơn vẫn chưa nổi tiếng. Phải đợi tới lúc có Quán Văn trong khuôn viên trường Đại Học Văn Khoa, phải đợi Khánh Ly và Trịnh Công Sơn nổi tiếng như cồn, khán thính giả mới ngoảnh lại tiếng hát cô. Họ mới biết rằng, chính cô là người đã đi trước Khánh Ly, đã thổi vào nhạc Trịnh Công Sơn một không khí đặc biệt, làm cho các nhạc phẩm họ Trịnh thêm tình ý mặn nồng. Nếu giọng mật ong của Hà Thanh làm giảm đi nhiều ý tình quằn quại trong hai bản “Hạ Trắng” và “Nhìn Những Mùa Thu Đi”, nếu chất chua trong giọng Thái Thanh không thể làm nổi bật tình ý đắng đót của “Diễm Xưa”, thì giọng Lệ Thu và giọng Khánh Ly đã đem lại cái ý vị cần thiết cho những ca khúc của Trịnh Công Sơn.
Rồi đó, ngoài nhạc Trịnh Công Sơn, Lệ Thu còn được bài “Ngậm Ngùi” của Phạm Duy tháp đôi hia vạn dặm để tên tuổi cô bay khắp miền Nam đất nước. Trước cô, ca sĩ Anh Ngọc có hát bản nầy một cách nhạt nhẽo. Nhưng khi nó được giọng ấm áp như hỗn hợp khói chiên đàn, trầm thủy, giao hương của cô diễn tả, giới trẻ và giới sành điệu chạy kiếm mua bản “Ngậm Ngùi” mà hát nghêu ngao. Phạm Duy liền sáng tác bản “Nước Mắt Mùa Thu” (dịch nghĩa chữ Lệ Thu) để trang tặng cô. Nhưng hình như Lệ ở đây không có nghĩa là nước mắt mà là đẹp, là mỹ lệ, hoa lệ, tú lệ có phải? Mùa thu có nước mắt biết đâu đẹp não nùng hơn lên. Người Tàu há không cho rằng mùa thu là “mùa diễm lệ túy nhân” (đẹp say người) hay sao? Giọng Lệ Thu khàn và ấm. Nhưng đây không phải là giọng alto hay giọng contralto. Bằng cớ là khi xuống chỗ hơi trầm là giọng cô hơi mỏng, hơi nghẹt lằm thính giả cảm thấy ran ngực. Độn thổ không nổi, giọng cô chỉ có nước đằng vân.
Tuyệt vời thay, giọng cô khi lên cao quát tháo dũng mãnh và vang dội. Cô rống rất hay, rất tròn tiếng (pleine voix) bởi vì lên cao mà rống thật suông sẻ, thật trơn tru thống khoái đâu phải dễ. Riêng tác giả quyển sách nầy vốn không ưa giọng hát của một số quá đông nữ ca sĩ ở chỗ khi lên cao họ phải nhốt sâu tiếng hát trong cổ họng và rít the thé, chua lòm lòm như trộn yaourt, như pha chanh pha giấm. Những bản để cho Lệ Thu rống gồm có “Chiếc Lá Cuối Cùng” của Tuấn Khanh, “Tình Khúc Thứ Nhất” của Vũ Thành An, “Xin Mặt Trời Ngủ Yên” của Trịnh Công Sơn, “Hoài Cảm” của Cung Tiến. Riêng bài “Hương Xưa” của Cung Tiến dù được giọng nồng ấm và chói ngời của cô diễn tả, nhưng cô phải nhường Mai Hương ở bản nầy. Dù giọng Mai Hương yếu ớt và lu chìm, nhưng kỹ thuật hát của Mai Hương tinh vi làm cho bài hát đẹp một cách trữ tình, đẹp và cực kỳ cao sang quý phái. Về phần ngân nga, Lệ Thu không vững. Chuỗi ngân của cô lanh chao, rời rạc, không được tự nhiên lắm.
Cuộc đời tình ái của Lệ Thu cũng bao phen chìm nổi. Mối tình lớn của cô với nhà văn kiêm ký giả Hồng Dương đã làm xôn xao dư luận một thời. Hồng Dương có vợ cái con cột. Vợ anh là nữ sĩ Linh Linh Ngọc, về văn và thơ vượt xa anh một khoảng lớn. Khi nổi tiếng, Lệ Thu cư xử với bạn đồng nghiệp lẫn ký giả kịch ảnh không được tế nhị. Có lần tại phòng trà Tự Do, cô muốn đánh gục Thanh Lan. Hôm đó, cô tới phòng trà trước Thanh Lan, hát những bản ruột của Thanh Lan. Thuở đó, Thanh Lan chưa nổi tiếng, làm sao đương đầu với Lệ Thu khi cả hai cùng hát chung một số bản nhạc? Cho nên, khi tới sau, Thanh Lan hát những bản ruột của mình, chỉ được khán giả vỗ tay chiếu lệ, không được nồng nhiệt như mấy hôm trước. Hỏi ra, Thanh Lan được bạn bè kể lại chuyện chơi khăm của Lệ Thu, cho nên Thanh Lan chỉ có nước khóc ròng. Thắng trận một lần, nhưng về sau, Lệ Thu phải chong mắt nhìn những thành công tới tấp của Thanh Lan chẳng những ở địa hạt ca hát mà còn ở lãnh vực điện ảnh nữa.
* Thanh Lan:
Đây không phải là Thanh Lan vợ ông Cao Xuân Vỹ hành nghề ca hát một thời với Trúc Mai, Thùy Nhiên, Băng Tâm … Đây là cô Phạm Thái Thanh Lan (tên cúng cơm), xuất thân từ lò Thiếu Nhi Nguyễn Đức. Thanh Lan nầy xuất thân một lượt với Hoàng Oanh, Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Hạnh. Về kỹ thuật, cô vượt cả Hoàng Oanh lẫn hai cô Phương kia. Vì rằng, sau khi rời ban Thiếu Nhi Nguyễn Đức, Thanh Lan tiếp tục luyện giọng dưới sự hướng dẫn của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát. Chính nhờ tìm gặp thầy giỏi nên cô mới luyện tập theo phương pháp chân truyền, đưa tiếng hát của mình lên hàng ngũ tiếng hát Thái Thanh, Hà Thanh. Thật ra, có lúc cô bắt chước theo tiếng hát Thái Thanh. Dù giọng cô ngọt hơn giọng Thái Thanh, nhưng cô làm sao có bùa ngải, có nét sắc bén cùng nét truyền cảm để đưa vào giọng hát như Thái Thanh? Về sau, cô hát theo cái bản sắc của cô. Nhưng dù sao đây vẫn là một giọng ngọt ngào gợi cảm, có một chút nũng nịu phơn phớt chứ không điệu đà, có những nét láy thật mềm mại bay bướm và có một chuỗi ngân có thể kéo dài theo trường độ khá dài của một nốt nhạc.
Tôi còn nhớ khi tôi vừa trải qua 4 tuần huấn nhục của khoá 26 trường Bộ Binh Thủ Đức, tức là vào gần cuối năm 1968 thì trường có tổ chức một đêm trình diễn văn nghệ với hai giọng ca then chốt là Phương Hoài Tâm và Phương Hồng Hạnh. Kỳ đó Thanh Lan cũng được mời đến hát. Hai cô Phương hát nhạc yêu lính, thạo cách trang điểm dù là họ mặc áo mousseline trắng và chiếc quần sa teng tuyết nhung trắng hơi đơn giản đi nữa. Cho nên cả hai được hoan nghinh. Thật ra giọng hát của họ làm cho tôi có cảm nghĩ đây là hai búp nụ hãy non yếu chưa thể đương đầu cùng với mưa dầm nắng cháy và bài hát do họ trình bày là những bài dành cho đám đông chứ không thể chui vào những nơi có nhiều kẻ sành điệu. Còn Thanh Lan hôm đó mặc chiếc áo trắng in những chùm rong lục trông thật tẻ ngắt tẻ ngơ. Cô lại không thạo hóa trang nên mặt cô lại càng lu càng tái. Nhưng cô hát bài “Chân Trời Tím” thật điệu nghệ. Tuy nhiên, chỗ các chàng sinh viên sĩ quan vẫn không phải là chỗ của những kẻ sành điệu nên hôm đó cô chỉ được nhận một tràng pháo tay chiếu lệ trông thật tội nghiệp.
Sau khi mãn khóa 26 và trở về thăm Sài Gòn, tôi được xem cuốn phim Tiếng Hát Học Trò do cô thủ vai chánh. Cô đóng thật hay vì cô nhạy cảm, có thể khóc theo ý muốn. Trong phim cô đẹp trội hẳn lên. Và cũng ít lâu sau đó, trường Quốc Gia Hành Chánh làm lễ mãn khóa, tôi được một anh bạn mời đến dự. Hôm đó, Thanh Lan trở thành cây đinh trong buổi trình diễn văn nghệ. Cô mặc áo dài bằng surat mềm mại vẽ những nét kỷ hà học cực kỳ choáng lộn với những màu hoàng yến, màu cam, màu đỏ, màu nâu trà trộn nhau một cách hài hòa theo giai điệu ton-sur-ton. Tóc cô chải những boucles anglaises từng chùm lạp xưởng buông hai bên vai, từng chum bì cuốn chả giò buông sau gáy. Đó là mái tóc bất hủ của nữ thần điện ảnh Greta Garbo trong phim Camille (Trà Hoa Nữ). Hôm đó cô hát những bản có giá trị như “Hương Xưa” của Cung Tiến, “Ngày Đó Chúng Mình” của Phạm Duy, “Mái Tóc Dạ Hương” của Nguyễn Hiền, “Chiều Tím” của Đan Thọ, toàn
là những bản mà các ca sĩ của lò Nguyễn Đức không dám hát. Trên sân khấu, cô đẹp như một nữ thần, xử dụng micro thành thạo nên tiếng hát càng thêm quyến rũ.
Từ đó, Thanh Lan trở nên mục tiêu ăn khách ở phòng trà, trên các sân khấu Đại nhạc hội, trong làng dĩa nhựa lẫn băng nhựa. Cô trở thành thần tượng của giới sinh viên và trở thành gần gũi với giới sành nhạc. Cô đóng một loạt phim như Xin Đừng Bỏ Em, Gánh Hàng Hoa, Ngọc Lan, Xóm Tôi …Thanh Lan có cái bậy là cô thích khỏa thân trên màn bạc, dù trong những màn ấy cô vẫn che ở ba chỗ cần phải che trên thân thể. Nhưng cái ức của cô không mịn, sủng ngực cô không báo hiệu nét gồ ghề của cặp nhũ hoa, đôi chân cô không dài, đùi cô không săn chắc, mông cô không vun cao và tròn trặn. Cô chỉ có một thân vóc tạm được vậy thôi khi cô mặc áo dài. Xin Đừng Bỏ Em là một cuốn phim mà Thanh Lan làm cho các chàng sinh viên học sinh thất vọng không ít vì ở hai màn khỏa thân cô làm hoen ố hình ảnh thánh thiện của mình trong tâm tưởng họ.
Thanh Lan ái mộ Thái Thanh và dám hát những bài đưa tên tuổi Thái Thanh lên cao. Bài “Đường Chiều Lá Rụng” của Phạm Duy được Thái Thanh diễn tả cực kỳ điệu nghệ, nhưng vẫn không nao núng, vẫn hát thu băng bản ấy. Kết quả: cô hát gãy ở nhiều chỗ, lại thiếu cái truyền cảm đậm đà, thiếu cái nét bay bướm và huê dạng mà Thái Thanh đã đưa vào bài hát trác tuyệt nầy.
* Kim Loan:
Kim Loan có một giọng hát hơi khàn, hơi nghẹt mũi một chút. Cô đến ca trường nhạc giới giữa lúc Phương Dung, Hoàng Oanh, Hà Thanh, Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Hạnh đang làm mưa làm gió khắp nơi trình diễn văn nghệ. Nhưng may mắn thay, cô vẫn có một chỗ ngồi riêng ở lãnh vực ca hát. Và càng may mắn hơn nữa, chỉ mới chân ướt chân ráo vào nghề mà cô đã nổi tiếng qua bản “Căn Nhà Ngoại Ô”.
Kim Loan có khuôn mặt đẹp, nụ cười thật tươi, sóng mũi thanh tú, vầng trán băng sương, mái tóc buông dài và cài nơ thật đẹp. Vóc mình cô cao lớn, nhưng không thanh. Bàn tay cô hơi thô, dáng đi cô không yêu kiều uyển chuyển. Nhưng cô ăn mặc đẹp, lộng lẫy mà không lố bịch. Tuy nhiên, ở cô, người đối diện nghĩ rằng nếu khéo trau chuốt thêm một chút nữa, nếu học cách đi đứng, ăn nói thêm một chút nữa, cô vẫn là cây bonsai được uốn cành tỉa lá để trở thành một thứ cây cảnh với những đường nét hài hòa ngoạn mục. Tiếng hát Kim Loan tuy nồng ấm nhưng vẫn hơi thô tháp. Cô không biết bào mỏng ở vài chỗ để tiếng hát mịn màng vóc nhung, không biết hát cho vang dội ở vài chỗ khác cho tiếng hát chói ngời vóc gấm. Cô hát quá chân phương, không biết làm sao bớt rồ ở vài chỗ khác nữa. Đó là một viên kim cương chưa được lảy những chấm bọt, chấm than và chưa được cắt cạnh giồi mặt để tra vào chiếc nhẫn bạch kim mà trở thành một món nữ trang tinh xảo. Năm 1977, cô có dịp qua Paris trình diễn tại một rạp ở khu Maubert Mutualité. Tôi có tìm gặp cô để nói dăm ba câu chuyện, nhưng thật ra cô không biết tôi là ai vì khi tôi khởi nghiệp ký giả kịch ảnh thì cô đã rời nước. Trên sân khấu, cô hiện ra với dáng dấp cao sang thanh thoát hơn xưa nhiều. Và cô cũng đẹp hơn nữa. Cái đẹp thật tươi sáng, thật thanh tao. Làn hơi cô cũng phong phú hơn nữa. Nói chuyện với cô, tôi nhận thấy đây là một mẫu phụ nữ khiêm tốn, thành thực, tránh nói nhiều về những bạn đồng nghiệp vắng mặt.
Trước đó, sau cuộc Tổng Tấn Công của Việt Cộng, có nhiều tiếng thì thào rất bất lợi cho cô khi cô bỏ ngang nghề ca hát để qua định cư bên Tây Đức. Họ cho rằng cô muốn tránh một chuyện tình cảm rối reng giữa vị nguyên thủ quốc gia và cô. Nhưng thuở đó, báo chí không dám làm om vì Bộ Thông Tin quyết lòng bịt mồm siết họng báo chí chặt chẽ quá. Nhưng vào năm 1978, Kim Loan nhận lời đóng vai Điêu Thuyền trong tuồng Phụng Nghi Đình cho đoàn Kim Chung ở Paris, một đoàn hát nổi tiếng là thân Cộng và làm việc cho tập đoàn Cộng Sản được đội cái tên là Hội Việt Kiều Yêu Nước. Từ đó, tên tuổi Kim Loan bị cháy tiêu. Báo chí Việt Nam bên Hoa Kỳ mới khui xấu cô, bảo rằng cô sở dĩ ra ngoại quốc trước năm 1975 là cốt để đợi ngày đập chum, còn tác giả cái chum mà cô mang trên bụng là Vua Thiệu. Điều đó bậy vô số! Những người viết những bài mạ ly đó chính họ cũng không rõ vận sự đó có thật hay không, hay chỉ là những tin đồn nhảm. Vả lại, lúc đó Kim Loan có chồng con, vẫn là vợ đảm mẹ hiền mà bạn bè quen thân đều biết. Mà nói cho cùng, điều đó nếu có thật đi nữa vẫn chỉ là một sự lầm lỡ của một thiếu nữ và sau cuộc lầm lỡ cô đã tạo lập một gia đình êm ấm, sống một cuộc đời lương thiện, đã rửa sạch mọi điếm nhục của dĩ vãng.
Kim Loan và phu quân của cô đã từng giúp tạp san Quê Mẹ phổ biến trên nước Đức. Bị sỉ nhục như vậy mà cả hai không thèm phản ứng, chỉ tiếp tục giúp đỡ cộng đồng kiều bào trong việc phổ biến tin tức và văn hóa. Chúng ta đừng chỉ buộc tội cô hát cho ban Kim Chung mà nỡ quên bẳn những lần cô hát ủng hộ cho những ban tổ chức giúp người vượt biển không nhận tiền thù lao hoặc chỉ nhận một món tiền tượng trưng thật khiêm nhượng. * Giao Linh:
Vào năm 1967, bà chị Thụy Vũ tôi, nghệ sĩ diễn ngâm Đoàn Yên Linh và tôi đi lên Hóc Môn dự buổi văn nghệ của một đơn vị của Công Binh. Kỳ đó, hai cây đinh của buổi trình diễn là Kim Loan và Giao Linh.
Kim Loan khá cao lớn, còn Giao Linh hơi nhỏ nhắn. Khuôn mặt Giao Linh tròn, mắt cô hơi tròn hợp với nét mày cong và thanh, cặp môi cô nũng nịu, vóc mình cô mềm mại thon thon. Cô không đẹp như Kim Loan, nhưng mặn mà hơn Kim Loan. Thuở đó, Giao Linh mới ra nghề. Cô mặc chiếc áo bằng tơ lụa nội hóa màu trắng, mình khô bông ướt. Bông dệt trên áo là cặp long phụng quấn nhau lồng trong khung mặt nguyệt to bằng miệng bát đựng bánh trôi nước. Kèm chiếc áo để dành đi bát phố chứ không phải để dành bước lên sân khấu ấy, cô mặc chiếc quần sa teng tuyết nhung đen. Mái tóc của cô uốn kiểu rất thường. Cô có vẻ một cô giáo tỉnh ly dù màu sắc trang điểm của cô khá tươi thắm. Màu phấn hồng đào, màu son môi và màu sơn móng tay móng chân màu đỏ tía, trông ngọt lìm lịm, nhưng khi cô bước ra ánh đèn sân khấu thì màu sắc trang điểm kia lại bị ánh đèn nhận chìm đi. Giao Linh do nhạc sĩ Nguyễn văn Đông khám phá. Đây là một giọng hát thanh tao sang sảng, tiếng vàng và tiếng ngọc chen tiếng đồng. Bản chất của tiếng hát là phẩm chất quý báu, giá mà cô tập luyện chu đáo thì đây sẽ là tiếng hát làm nao núng những tiếng thuộc loại thượng phẩm đã từng xuất hiện từ trước như tiếng hát của Thái Thanh, của Hà Thanh, của Mai Hương. Nhưng mà, Nguyễn văn Đông chỉ huấn luyện Giao Linh để tranh thủ với Hoàng Oanh, Thanh Tuyền, Phương Dung, chứ đâu có cao vọng nâng tiếng hát cô lên ngang hàng với những tiếng hát tuyệt vời vừa kể kia. Cho nên tiếng hát cô chỉ dừng lại ở các chương trình tạp lục, ở phòng trà, ở trong đám đông mà không bay đến những ban đại hòa tấu. Giao Linh thành công mau, nổi tiếng trong một sớm một chiều. Dù sao tiếng hát cô nhuyễn hơn tiếng Phương Dung và tiếng Thanh Tuyền. Những bài hát của Nguyễn văn Đông như “Chiều Mưa Biên Giới”, “Sắc Hoa Màu Nhớ”, “Hải Ngoại Thương Ca”, “Phiên Gác Đêm Xuân” đều được cô diễn tả bằng giọng ngân vang, vẫn có một hấp lực đặc biệt. Cô cũng sớm canh tân cải cách khoa trang điểm và lối phục sức. Mái tóc chải gie cánh quạt phía bên phải lại hợp với khuôn mặt hơi tròn của cô. Những chiếc áo dài mini, tay ráp raglan bằng đăng ten, bằng surat choáng lộn làm cho cô đẹp trội lên dưới ánh đèn sân khấu. Nhưng lúc nào cũng vậy, mỗi khi trình bày một bài hát nào, Giao Linh cũng phô trương cái mặt buồn kinh niên, buồn rã rời da diết như mang mối thất tình từ muôn thuở. Và mỗi khi cô hát bài “Tiếng Xưa” và bài “Đêm Tàn Bến Ngự” của Dương Thiệu Tước thì khuôn mặt của cô càng thảm đạm hơn để được hòa hợp với tiếng hát rên rỉ não nuột của mình.
Khi ra hải ngoại, Giao Linh vừa lập tiệm phở, vừa tiếp tục đeo đuổi lai rai nghiệp cầm ca của mình. Cô có thực hiện một băng nhạc, trong đó có nhiều ca khúc của Nguyễn văn Đông để trang tặng ông thầy cũ của cô đã từng lôi kéo cô ra m đông để đặt cô ngồi trên cương vị rực rỡ trong ca trường nhạc giới.
* Trung Chỉnh:
Anh nổi tiếng khi song ca với Hoàng Oanh bản “Nhịp Cầu Tri Âm”. Anh có khuôn mặt khôi vĩ, giọng hơi khàn, khi lên cao thoải mái, nhưng khi xuống trầm thì tiếng mỏng như the và bở rệt như mạng nhện. Song giọng anh có âm sắc đẹp, kỹ thuật vững chãi, chuỗi ngân óng ả. Anh hát chung với Hoàng Oanh khi anh hãy còn là sinh viên Đại học Y Khoa. Vì bận việc học, anh không dám dấn thân vào nghiệp cầm ca, chỉ ca hát lai rai cho thỏa mãn nghệ sĩ tính của mình. Khi ra hải ngoại, anh định cư ở Mỹ, trở thành bác sĩ y khoa. Anh được Hoàng Oanh mời thu chung dĩa nhạc qua ba bài “Hồn Vọng Phu” của Lê Thương. Tiếng hát của anh vẫn khỏe và ngọt như dạo nào, vẫn là một giọng có vẻ chuyên nghiệp lắm.
Sau 1963, trong vòng hai năm đã xảy ra 13 cuộc chính biến. Hết Dương văn Minh đảo chánh tới Nguyễn Khánh chỉnh lý. Và sau vụ xé Hiến Chương ở Vũng Tàu và Nguyễn Khánh phải lưu vong tới những cuộc khuynh đảo liên miên của Nguyễn Chánh Thi, Lâm văn Phát, Phạm Ngọc Thảo, Nguyễn Cao Kỳ. Các chính khách lần lượt lập chính phủ: Phan Khắc Sửu, Trần Văn Hương, Phan Huy Quát, Nguyễn Tôn Hoàn …
Chính phủ nào cũng không thọ được nửa năm vì bị báo chí tấn công, bị thiên hạ xuống đường đả đảo.
Tướng Nguyễn văn Thiệu thành lập Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia vào tháng 2/1965, cho tới hai tháng sau thì Hiến Pháp ra đời mở đầu cho nền Đệ nhị Cộng Hòa, tình thế mới tạm ổn định.
Về chiến tranh gia trọng, nhà văn Võ Phiến đã viết trong quyển Văn Học Miền Nam Tổng Quan như sau:
Tháng 8/64, sau vụ tàu Maddox bị tấn công, Mỹ oanh tạc Bắc Việt, trực tiếp nhảy vào vòng chiến. Sau đó Bắc Việt đánh vào các trại cố vấn, các cư xá sĩ quan Mỹ; tháng 3/65, thủy quân lục chiến Mỹ bắt đầu đổ bộ lên Đà Nẵng: sự tham dự tiến thêm một bước nữa. Bắc Việt lại đưa sư đoàn 325, đưa quân đội chính qui vào Nam; Mỹ gia tăng quân số, gia tăng oanh tạc: năm 1965 lính Mỹ ở Miền Nam lên đến 400.000, phi cơ Mỹ thả bom cả các kho dầu tại Hải Phòng, Hà Nội … Sang năm 1967, quân số Mỹ tại miền Nam lên đến hơn 670 nghìn. Đầu năm 1968, Bắc Việt mở cuộc tấn công nhân dịp tết Mậu Thân, hi sinh ngót nửa quân số …
Khi Mỹ đổ quân vào Việt Nam song song với nhạc rock thì ở Sài Gòn nhiều ban nhạc trẻ hát rặt ròng các ca khúc ngoại quốc ra đời. Đó là các ban CBC, The Uptight, The Hammers, The Enterprise, The Peanuts, Cats’ Trio (Ba Con Mèo), The Three Apples (Ba Trái Táo), The Dreamers. Những ban nầy đã tạo những ca sĩ nổi tiếng về sau như Tuấn Ngọc, Elvis Phương, Duy Quang, Minh Phúc, Paolo, Prosper Thắng, Khánh Hà, Vi Vân, Cathy Huệ, Uyên Ly, Kim Anh, Carol Kim, Pauline Ngọc, Julie Quang, Thái Hiền, Minh Xuân.
Cuộc Tổng Tấn Công của Việt Cộng trong dịp Tết Mậu Thân đã làm nhiều ngành sinh hoạt bị giới hạn hay bị tê liệt trong đó có sinh hoạt ca nhạc. Tết Mậu Thân (1968), chiến tranh vào các thành phố. Việt Cộng với chủ đích gây tiếng vang qua tận bên Mỹ để rồi bị đẩy lui. Huế nặng nhất với những cuộc thanh toán rùng rợn và vụ những mồ chôn tập thể. Nhưng Huế không phải là môi trường sinh hoạt cho ca nhạc từ đầu cuộc và xa hơn nữa từ bao đời. Tình hình vừa yên ổn là Sài Gòn vẫn tái diễn cuộc du hí về đêm, dù có vụ giới nghiêm bắt đầu từ 12 giờ khuya. Thỉnh thoảng có cuộc biểu tình bãi khoá của sinh viên hay vụ sư sãi đem bàn thờ xuống đường hoặc các cuộc biểu tình của các đảng phái nên giờ giới nghiêm bắt đầu sớm hơn 12 giờ khuya. Trong thời gian nầy, những phòng trà mới mọc lên gồm có phòng trà Tự Do với ban nhạc Blues Notes, phòng trà Ritz của Jo Marcel, phòng trà Queen Bee với ban nhạc Shotguns của Ngọc Chánh, nhà hàng Maxim’s vốn là quán ăn có phần ca nhạc và phần vũ do Hoàng Thi Thơ và Trịnh Toàn phụ trách, phòng trà Đêm Màu Hồng với ban Thăng Long và ban Tam Ca Đông Phương. Sau hết là phòng trà Khánh Ly. Các sinh viên, các nhà văn nhà thơ trẻ cũng đua nhau ra lập quán nhỏ để họ trình diễn ca nhạc. Quán Văn thành lập trên bãi đất trống sau trường Đại Học Văn Khoa với sự có mặt thường xuyên của Khánh Ly. Sau đó là quán Thằng Bờm ở đường Đề Thám. Quán Dalat ở gần sân banh Cộng Hòa. Sauđó, Khánh Ly còn mở quán Cây Tre ở Đa Kao sau khi quán Văn dẹp tiệm từ lâu. Lại thêm Chiều Tím, Hầm Gió. Những quán ca nhạc nầy nhiễm cái không khí thời thượng của văn nghệ sĩ hiện sinh bên Pháp do ông Jean Paul Sartre và bà Simone de Beauvoir chủ trương ở hai quán Flore và Aux Deux Magots. Tại quán Thằng Bờm, Phạm Duy đưa ban Dreamers đến để giới thiệu với ẩm khách rằng: “Đây là các con tôi do tôi sinh ra. Nhưng nuôi dưỡng nghề nghiệp ca hát của chúng là do quý vị”. Tại nơi đây, các nhà thơ Đỗ Quý Toàn, Trần Dạ Từ đến đọc thơ của mình cho ẩm khách nghe. Nhà văn Từ Kế Tường và nhà văn Nguyễn Hoàng Đoan cũng đọc thơ của mình.
Thiếu mất trang 293
Sắc, mà là cái Không cuối cùng khi bỏ hết cái Sắc lẫn cái Không đối đãi kia đi). Khi đạt tới cái Không cuối cùng thì mọi thứ cũng như nhau, cái nầy là cái kia, cái nầy là cái đối đãi của nó.
Chẳng hạn như câu thơ sau đây của Viên Linh:
Lưng phơi dáng thú, bụng phơi hình người.
Đây là câu thơ đạt tinh thần bất nhị rất cao. Nó không có một chữ nào trong kinh kệ, không kêu gọi thập phương chư Phật, không réo thập phương chư Bồ Tát mà nó vẫn là một câu thơ Thiền. Lưng và Bụng là hai cái đối đãi ở một Thân Thể. Còn Người và Thú là hai cái đối đãi nhau về Trí Tuệ (người khôn, thú ngu). Phải làm sao có hai cái đối đãi ở cùng một sự việc thì mới đạt tinh thần bất nhị, tức là đi vào cốt tủy của đạo Phật. Phạm Thiên Thư không làm được công việc đó. Về sau, khi ra hải ngoại, Phạm Duy sáng tác những bài nói về cái Tâm của Phật giáo cũng không làm được việc đó. Phạm thi sĩ và Phạm nhạc sĩ dù cứ gọi Phật ơi ới, nhưng không đạt được cái cốt tủy của Phật pháp nên Phật không hiện trong thi ca và lời nhạc của họ. Cả hai cứ gào rống Phật nhiều quá như chủ nợ réo con nợ chỉ tổ làm Phật kinh hãi quá lặn trốn mất biệt. Phạm Duy có một sự nghiệp vĩ đại về âm nhạc, trăm nghìn năm trước chưa có ai và trăm năm sau chẳng biết có ai nối gót anh không? Bởi anh ôm đồm quá nhiều nên nhạc anh loãng đi. Còn Phạm Thiên Thư sáng tác thơ tình, thơ yêu thiên nhiên, thơ đầy cảm tính, thơ thuần chất thẩm mỹ đều rất đạt, xứng đáng ở hàng đầu. Nhưng mấy cuốn Kinh Ngọc, Kinh Thơ của anh chỉ là một thứ thơ Thiền giả hiệu, một thứ đạo ca bị gượng ép một cách sống sượng thảm thê. Bởi vì khi làm thơ kiểu đó anh gồng mình, anh gắng sức, anh tính toán quá nhiều nên từ khởi điểm thơ anh hỏng nặng. Thơ Thiền không phải do sự dụng công mà hình thành được. Nó chỉ được kết tinh ở những phút hiển linh của thần trí sáng tạo mà thôi.
Trong giai đoạn nầy, Phạm Duy có những ca khúc dễ hát, nhưng đạt giá trị nghệ thuật cao như “Nước Mắt Mùa Thu”, “Thu Ca Điệu Ru Đơn” (lời phỏng theo thơ Verlaine), “Mùa Thu Chết” (lời phỏng theo thơ Apollinaire), “Tưởng Như Còn Người Yêu”, “Phượng Yêu”, “Giết Người Trong Mộng”, Nghìn Trùng Xa Cách” … Ngô Thụy Miên với “Mùa Thu Cho Em”, Trường Sa với “Rồi Mai Tôi Đưa Em” đều thoát khỏi cái khung sáng tác chật hẹp của loại nhạc thao túng trên thị trường của các tác giả Hoài Linh, Minh Kỳ, Phượng Linh, Tú Nhi. Còn Đỗ Lễ với “Sang Ngang”, Nguyễn Ánh 9 với “Thôi”, “Buồn Ơi Chào Mi” cũng được giới trẻ chiếu cố đặc biệt, nhưng giá trị nhạc phẩm của hai nhạc sĩ Đỗ, Nguyễn nầy không cao lắm. Về sau, Ngô Thụy Miên phổ các bài thơ của Nguyên Sa đều đạt giá trị cao như “Áo Lụa Hà Đông”, “Paris Có Gì Lạ Không Em … Cũng trong giai đoạn nầy, những nhạc sĩ trẻ tài hoa rất mực bắt đầu nổi lên gồm có thêm Lê Uyên Phương, Nguyễn Trung Cang, Lê Hựu Hà song song với nhạc của Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng. Lê Uyên Phương gồm có nữ ca sĩ Lê Uyên và chàng nhạc sĩ kiêm ca sĩ Phương, nhưng chỉ có chàng soạn nhạc, còn nàng thì hát có chàng đệm tiếng cho thêm hương nổi vị vậy thôi. Nhạc của Lê Uyên Phương vẫn có những bài buồn than thân phận theo chủ nghĩa thời thượng của hầu hết nhạc sĩ trẻ (“Vũng Lầy Chúng Ta”, “Tình Khúc Cho Em”) nhưng vẫn có bản hết sức lạc quan ca tụng tình yêu giữa thiên nhiên bao la (như “Hãy Ngồi Xuống Đây”, “Uống Nước Bên Bờ Suối”). Phạm Duy cho rằng nhạc của Lê Uyên Phương có nhục tính. Nhưng theo tôi, Lê Uyên Phương ca tụng những con người hoang sơ với bản năng bén nhạy, với những cuộc tình thật mê cảm giữa thời thái cổ hồng hoang thật thanh bình, thật thơ mộng. Những con người nầy tuy không y phục che thân, nhưng không bị chi phối bởi cái hổ thẹn giả dối … (la fausse pudeur) của kẻ văn minh. Vì rằng những kẻ văn minh như chúng ta ngày nay dù được quần áo che đậy thân thể mà không có tấm tình yêu thật chân thành, thật hồn nhiên và cực kỳ say đắm như những người thời tiền sử kia.
Hãy ngồi xuống đây
Như loài thú hoang yêu nhau ngoài đồng
Dưới nắng ban mai phô thân trần truồng
Kiếp sống hoang sơ
(“Hãy Ngồi Xuống Đây”)
Về nhạc của Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang, nhạc sĩ Phạm Duy viết như sau:
Thế là trong giai đoạn phát triển tột bực của âm nhạc ở miền Nam nầy, đã có nhiều xu hướng khác nhau, nhưng tất cả đều nằm trong hai chủ đề Tình Yêu và Chiến Tranh/Hoà Bình. Có nhạc phục vụ cho lính quốc gia, cho tuổi mơ mộng nhưng cũng có dòng nhạc nhận thức thân phận làm người trong một nước trong cơn tao loạn. Tình khúc là “nhạc tình tân lãng mạn”, “nhạc tình cảm tính”, “nhạc tình não tính”, “nhạc tình nhục tính”. Như thế đã đủ chưa? Thưa, chưa đủ ạ! Còn “nhạc tình ảo tính” của Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang nữa! Hai nhạc sĩ nòng cốt của ban nhạc trẻ PHƯỢNG HOÀNG, trong thời kỳ nầy, đã soạn ra những ca khúc, tôi cho là mới mẻ nhất. Với nhạc ngữ rất lạ, phù hợp với ban nhạc combo hơn là “nhạc tiền hiến”, những “Hợp Khúc” của họ hay không thua gì những bài hay nhất của nhạc rock Hoa Kỳ. Nhạc của Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang, theo tôi, phản ảnh một lớp trẻ lạc loàitrong xã hội sa đọa. Nói chung, trong giai đoạn gần cuối thập niên 60 để bước qua 5 năm đầu của thập niên 70, các nhạc sĩ trẻ như Thanh Trang, Hồng Duyệt, Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Trường Sa, Lê Uyên Phương, Vũ Thành An, Lê Hựu Hà & Nguyễn Trung Cang đều là những nhạc sĩ tài hoa, ý nhạc mới mẻ, lời đẹp và sâu sắc.
Nhạc và lời của Miên Đức Thắng và của Tôn Thất Lập cũng đẹp nữa, nhưng tôi không tiện nói nhiều ở đây. Nếu các bạn độc giả yêu quý của tôi cho rằng dù Trịnh Công Sơn soạn nhạc phản chiến, nhưng lời nhạc của anh truyền cảm vì anh cảm xúc chân thành lúc sáng tác thì họ Miên lẫn họ Tôn Thất cũng chân thành không kém. Nhưng họ chân thành theo khuynh hướng của họ, theo chủ nghĩa của họ. Họ không thể là nhạc sĩ của chúng ta. Và chắc chắn họ cũng không muốn họ là người của chúng ta đâu.
Những ca sĩ nổi bật trong giai đoạn nầy ngoài những chàng du ca nhạc sĩ như Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An, Từ Công Phụng còn phải kể Miên Đức Thắng, Elvis Phương, Tuấn Ngọc, Duy Quang, Thanh Phong, Phương Đại, Hoàng Hạc, Khánh Ly, Hồng Vân, Uyên Phương, Khánh Hà, Julie Quang, Cathy Huệ, Pauline Ngọc, Ngọc Minh, Bích Nga, Xuân Thu, Phương Hồng Quế, Mai Lệ Huyền, Phương Anh, Trang Thanh Lan, Trang Kim Yến, Đào Hoa Nữ, Phương Thu, Thu Oanh, Kiều Loan … Nhưng ở đây, tôi chỉ xin kể những giọng hát tiêu biểu trong giai đoạn nầy thôi.
* Khánh Ly:
Năm 1967, Trịnh Công Sơn để thay thế Lệ Thu đã từ chối không theo anh dấn bước du ca nên đã tìm gặp một giọng hát độc đáo ở Đà Lạt. Đó là Khánh Ly, ái nữ của một cựu hoa khôi đầu tiên ở Hà Nội. Khánh Ly không hưởng được cái quốc sắc của mẹ, nhưng vẫn làm khuynh đảo cả một thế hệ qua tiếng hát cực kỳ say đắm của cô. Hơn nữa, tuy cô không đẹp lắm, nhưng cô có cái duyên nồng mặn. Khuôn mặt cô khi xuất hiện trên Tivi thì ăn ảnh kỳ diệu. Khánh Ly không hề phủ nhận rằng mình đã nhờ khoa giải phẩu thẩm mỹ để khoét cho cặp mắt thêm rộng. Nhưng dù gì thì dù, cặp mắt một mí của cô khi chưa cần tới mỹ viện dù hơi nhỏ, nhưng cái nhìn cô bao la, cực kỳ niềm nở thân tình. Cặp môi Khánh Ly khi ngậm im thì thanh tú và có vẻ nũng nịu. Nhưng khi cô cười, cặp môi cô tươi sáng hẳn lên, khóe mắt và thần thái cô cũng sáng nữa. Tôi rất thích ngắm cô trong những chiếc áo dài mini bằng tơ lụa nội hóa dệt mặt nguyệt màu thúy ngọc, màu nguyệt bạch, màu vảy kim ngư, màu “boọc-đô”, màu beige hơn là những chiếc áo dài surat vẽ những bông hoa choáng lộn màu sắc như hoa trong các bức tranh dã thú của Matisse.
Tôi gặp Khánh Ly vào năm 1968, vào dịp tôi viếng Trịnh Công Sơn tại Quán Văn lúc trời mới rựng sáng. Ở đó, cuộc sinh hoạt vừa bắt đầu. Sơn nhờ tôi xem chỉ tay cho Khánh Ly. Ai chứ Sơn rất tin tưởng khoa nầy, nhất là ở cái tài tiên tri của tôi. Hôm đó, chẳng hiểu tôi nói những gì với Khánh Ly mà coi bộ cô chỉ cười chấm câu, tỏ vẻ không mấy nhiệt thành như Sơn. Số là, trước đó nửa năm, Trịnh Công Sơn có nhờ tôi xem chỉ tay cho anh. Tôi ngắm nghía hình ngôi sao trên gò Thái Dương ở bàn tay phải của anh, quả quyết bảo:
— Ông có ngôi sao năm cánh rực rỡ như thế nầy mà không nổi tiếng được thì lạ thật. Thôi, từ đây tới ba năm nữa, nếu ông không nổi tiếng thì đem con dao lại đây vanh hết hai bàn tay tôi đi.
Trịnh Công Sơn không cần đợi ba năm. Chỉ có nửa năm thôi mà tên tuổi anh và tên tuổi Khánh Ly nổi như cồn, làm bàng hoàng ngây ngất một thế hệ. Năm 1970, tôi nhảy vào nghề lính văn phòng, viết truyện ngắn lai rai cho tạp chí Tiểu Thuyết Thứ Năm. Tôi thường tháp tùng nhà thơ Phổ Đức tới quán Cây Tre thăm Khánh Ly và nhất là thăm nữ ca sĩ Uyên Phương, một giọng ca mà tôi hằng mến mộ. Thuở đó, Khánh Ly cùng Uyên Phương và Phương Hồng Hạnh lập ban Tam ca Ba Trái Xí Mụi. Tôi không hiểu vì sao có một dạo Khánh Ly tỏ ra lạnh nhạt và có vẻ hầm hừ với tôi. Truy ra, tôi có giỡn nhột Trịnh Công Sơn trong một bài báo khi anh tuyên bố rằng giọng anh sẽ thu vào dĩa vàng để hát chung với Joan Baez, Bob Dylan và Judy Garland.
Trong bài ấy, hình như tôi có chê anh hát hơi sai (faux) khi lên tới nốt cao; như thế, thì làm sao anh hát chung với một danh ca cừ khôi kiêm minh tinh màn bạc lẫy lừng như Judy Garland được? Khánh Ly binh Trịnh Công Sơn, mắng vói tôi qua ký giả Trần Quân:
— Cái thằng H.T.A là tên lính sữa Babylac, đã làm được gì chưa mà phách lối, xấc xược!
Kể từ đó, cô và tôi hễ chạm mặt nhau thì cô làm cái mặt nặng chầm vầm như cái cối đá, còn tôi làm cái mặt lạnh ngắt như khứa cá thu ướp muối nước đá. Rồi đó, sau 1975, tôi còn kẹt ở Việt Nam. Một hôm Trịnh Công Sơn lên Làng Báo Chí để viếng nhà Họa sĩ Trương Đình Quế, có đi ngang qua nhà tôi. Tôi kêu anh vào chơi. Nhân dịp đó, tôi mắng:
— Ông không biết dạy cô đệ tử của ông. Tôi lớn hơn ông một tuổi, tức là hơn anh chồng Nguyễn Hoàng Đoan của cô ta ít nhất 3 hoặc 4 tuổi. Vậy mà cô ta mắng tôi còn con nít mà đã xấc xược.
Vật đổi sao dời, thấm thoát mà chỉ còn 5 năm, tôi bước vào tuổi 60. Vào năm 1992, nhân dịp đi Paris trình diễn, Khánh Ly có phone cho tôi để cám ơn tôi, rằng dù có chánh kiến bất đồng với Trịnh Công Sơn, nhưng tôi vẫn viết tốt cho Trịnh Công Sơn trong quyển ký sự văn học Cõi Ký Ức Trăng Xanh. Cả hai, sau 21 năm (từ 1972 cho tới 1993) mới tái hội nên mừng thôi là mừng. Tôi cảm động đến rưng rưng nước mắt. Qua cuộc điện đàm, tôi không dè cô lại thích đọc tiểu thuyết của tôi và mua khá nhiều những quyển của tôi do Đại
Nam xuất bản. Cô dặn:
— Anh nên viết chuyện đồng quê ở cố hương cho Mai đọc. Đừng viết mấy chuyện bên Tây, đọc chán thấy mồ!
Nhứt là anh nên mô tả các món ăn cho thiệt nhiều, thiệt ngon. Hôm đó, tôi có nhắc lại lời cô nhiếc mắng tôi hồi 21 năm về trước, cô bảo rằng cô quên hết rồi, chẳng biết có nói lời thô lời ác ấy hay không. Và cả hai cười xòa thông cảm. Tôi có bảo cô rằng vào năm 1975, tôi không ra trình diện với chế độ Quân quản của Cộng Sản để khỏi đi học tập cải tạo. Nhưng Trịnh Công Sơn vẫn làm ngơ, không vì bài báo giỡn nhột cũ của tôi mà tố cáo tôi với chánh quyền Cộng Sản. Nói có Trời làm chứng, thuở xưa tuy ghét Khánh Ly, nhưng tôi chưa hề viết bài nào để đánh gục cô ta, nếu không bảo là khen giọng hát đặc biệt của cô ta. Vả lại, lúc đó ngôi sao danh vọng cô ta đang lên ngự đỉnh vòm trời ca nhạc; tôi dại gì chơi cái trò dã tràng xe cát Biển Đông, dại gì đem một cái khăn mu-soa để mong che một vùng nắng sáng bao la hay đem một gáo nước để mong dập tắt một đám hỏa hoạn hay sao?
Giọng Khánh Ly đặc sánh như cao hổ cốt, như mật ong, đôi lúc nẩy lóe những âm vang giòn và sang sảng. Một giọng kỳ lạ, khàn khàn như phưởng phất hơi khói thuốc lá mà vẫn trơn ngọt khỏe khoắn làm cho tâm trí thính giả trôi lênh đênh vào cơn mơ mòng ngây ngất. Giọng Khánh Ly là giọng alto, nhưng cô có thể xuống trầm đòi hỏi ở một giọng contralto được, tuy nhiên âm lượng của giọng cô ở những nốt nhạc thật trầm ấy không dũng mãnh và không thừa làn hơi để ngân nga. Cũng như Lệ Thu, Khánh Ly hát không chút õng ẹo. Nhưng giọng cô vẫn đẹp, vẽ nên cảnh hoang vu chìm trong sương mù, vẽ nên cảnh đêm trăng mờ ảo ở chốn man rợ thời khuyết sử. Chuỗi ngân của Khánh Ly óng ả, trơn ngọt, gờn gợn sóng thu. Chuỗi ngân ấy điêu luyện và đẹp hơn chuỗi ngân của Lệ Thu nhiều. Giọng hát cô đen và đắng nhưng pha ngọt có thể làm cho chúng ta liên tưởng đến hương vị ngon tuyệt vời của ly cà phê phin. Tiếng hát đó trên sân khấu có thể lan rộng khắp hí viện một âm vọng vừa huyền hoặc vừa ma quái làm cho ý tình trong những bài Phận Ca của Trịnh Công Sơn được bộc lộ gần như trọn vẹn.
Từ năm 1975, Khánh Ly là vợ của Nguyễn Hoàng Đoan, ký giả kiêm nhà văn viết tiểu thuyết phóng sự. Độc giả thuộc thế hệ tôi chắc không quên Đoan viết tiểu thuyết phóng sự rất lỗi lạc (như quyển Bà Lớn chẳng hạn). Khi làm thơ, anh ký tên là Triều Sao Đại. Thơ, văn, nghệ thuật làm báo của anh đều có bản lĩnh cả. Về báo chí và chuyện đi và sống, tôi kém anh rất xa. Vì rằng trước 1975, tôi chỉ là con mọt sách, chứ đi và sống rất ít. Giờ đây, tôi nằm khoèo dưới mái Cổ Nguyệt Đường, ngại đi xa lắm. Biết được Khánh Ly hạnh phúc với
Đoan, tôi rất mừng. Tuy là nhà báo mà anh vẫn có tâm hồn nghệ sĩ, tôi tin rằng hai vợ chồng anh luôn tâm đầu ý hiệp với nhau.
* Phương Hồng Quế:
Xuất thân từ lò Nguyễn Đức, Phương Hồng Quế bước vào nghề với một giọng hát không mấy vững vàng. Nhưng đây là tiếng hát có một hấp lực rộng rãi lan khắp quần chúng trong một sớm một chiều. Cô biết chọn những bản nhạc mà quần chúng thích. Giọng cô như một phiến ngọc không cần giồi mài, cắt cạnh. Nó hơi nghẹt mũi một chút để cô uốn vặn làm nũng với khán giả đực rựa, nhất là lính tráng bằng cái duyên dáng sắc đậm riêng. Cô cũng không cần ngân nga, khi mà đa số khán thính giả chỉ cần cô hát cho thật rõ lời, thật vang lộng mà thôi. Phương Hồng Quế thật đẹp. Khuôn mặt cô vừa chường lên màn ảnh Tivi là như say sưa, như ngây ngất, như bị một anh chàng nào đó thôi miên. Đó là một khuôn mặt chín mùi đam mê, chín rục cảm xúc, vừa thơ ngây trinh khiết vừa như sẵn sàng nhập cuộc vào tình yêu. Cô bỏ tóc xõa thật thơ mộng. Cô mặc áo màu gì, in hoa gì cũng bắt mắt, cũngchoáng lộn. Còn nhớ có lần tôi đến đài truyền hình gặp cô mặc chiếc áo mousseline đen thêu hoa vàng lá lục trông thật buồn trữ tình. Lại có lần tôi theo Toán Chiến Tranh Chánh Trị Tiểu Khu Bình Dương rước cô cùng Hương Lan và danh hề Phi Thoàn lên Lái Thiêu trình diễn. Cô xuất hiện trên bục ca với chiếc áo bằng nhiễu màu hồng phấn thật chói, màu sắc diêm dúa vẫn làm cô sang trọng một cách kỳ lạ. Từ 1969 tới 1975, Phương Hồng Quế xuất hiện trên Tivi nhiều nhất nên được báo chí gọi là “Tivi chi bảo”. Cô xuất hiện rất nhiều trên sân khấu Đại nhạc hội và xuất hiện trong các chương trình văn nghệ dành cho quân nhân.
* Julie Quang:
Trên tạp san Quê Mẹ, cũng vào năm 1978, tôi viết về tiếng hát Julie Quang như sau:
Tôi biết Julie Quang từ năm 1970, thuở nàng ra mắt giới sinh viên Sài Gòn tại quán Thằng Bờm qua bản “Mùa Thu Chết” của Phạm Duy. Hôm đó, nàng mặc chiếc mini jupe, áo tay ngắn, màu da nàng ngăm ngăm nồng mặn. Trông nàng thuở đó có vẻ chững chạc, đầy phong độ của một ca sĩ nhà nghề lắm rồi. Và ít lâu sau, tên tuổi nàng phổ biến nhiều trong giới yêu nhạc trẻ. Tiếng hát khàn của nàng như chiếc đũa thần, thâu ngắn lộ trình của nàng từ khởi điểm đến đài danh vọng, không mấy khó khăn. Tiếng hát của Julie Quang thuộc loại khàn, lúc lên hơi cao thì mất âm lượng, chuỗi ngân không óng ả và đều đặn lắm. Tiếng hát đó, nói theo kịch tác gia Trần Lê Nguyễn trong vở kịch Tối Ba Mươi là “tiếng hát đắng”. Nó thấm nhuần lời than vãn nhè nhẹ, một tiếng thở dài kín đáo. Nó không cần được uốn giọng và được nhấn vuốt tiếng hát, thế mà tự bản chất, tiếng hát như ngầm chứa nỗi ưu tư mơ hồ hoặc niềm thương tiếc mông lung. Đến năm 1971, tiếng hát Julie Quang đứng sau hàng ngũ tiếng hát Lệ Thu, Khánh Ly đối với giới yêu nhạc trẻ và cùng với Thanh Lan, Uyên Phương, Cathy Huệ, Như An, nàng tạo thành một hàng ngũ vươn lên sức sống vạm vỡ như một đợt sóng mới hùng hậu. Điện ảnh gia Lê Dân đã dùng tiếng hát của nàng qua bài “Giết Người Trong Mộng” để làm chủ đề cho cuốn phim xã hội Trần Thị Diễm Châu do ông đạo diễn. Tôi còn nhớ ở phần générique của cuốn phim, tiếng hát nàng như trải dài trên những đợt chữ sáng, thảm thiết và quằn quại để rồi ở séquence chót cuốn phim, tiếng hát đó lại vang lên theo bầy chim bồ câu từ những chiếc lồng lớn bọc lưới kẽm, bay vút lên trời xanh, tiếng hát lại như theo những cánh chim kia đi vào cái thênh thang bát ngát của hư không và tan dần trong cái plangénéral chót. Julie Quang dù có đi sâu vào nhiều môi trường sinh hoạt như truyền hình, băng nhạc, dĩa nhựa, nhưng vẫn là một giọng hát khiêm tốn. Nó mang một chất đắng vừa phải, với một nồng độ bi thảm trung bình, vì ở nó, chúng ta chỉ mường tượng một lứa tuổi trẻ ưu tư, nhưng chưa dấn thân vào cuộc đời, chưa lăn xả vào một cuộc hành hương cam go cho một tín ngưỡng nào đó … Tiếng hát đó là một người bạn sầu muộn nhưng thân quen, đưa ta đối diện với nỗi cô đơn thầm kín của chúng ta. Tiếng hát đó cũng không phải là tiếng hát của quảng đại quần chúng gồm nhiều thành phần tạp nhạp vì nó có một số thính giả chọn lọc khá sành điệu … Julie Quang thạo khoa trang điểm. Tôi còn nhớ vào chiều Chúa nhật ngày 4/3/79, nhóm báo Quê Mẹ tổ chức chương trình văn nghệ “2 Giờ Sống Với Việt Nam” tại rạp Espace Cardin tại quận 8 Paris, Julie có hát bài “Ở Bên Nhà Em Không Còn Đứng Đợi Chờ Anh”, nhạc của Phạm Duy, thơ Cao Tần. Hôm đó, cô hoá trang thật nổi, làn da ngăm của cô rất ăn son phấn, cặp môi cô tô son màu hồng đào dịu ngọt cực kỳ gợi cảm; chiếc áo dài nền đen in hoa lam ngọc thật đài các làm cô như lột xác. Tôi không hiểu vì sao, khi rời quê nhà, giọng Julie Quang không còn khàn đặc và ấm áp như xưa. Nhưng âm sắc của giọng hát cô đượm một chút nũng nịu dễ thương ăn nhịp với cặp môi nũng nịu dưới lớp son môi chói bóng và hường dìu dịu.
Sau nầy, không còn chung sống với Duy Quang, Julie Quang trở về với cái khuê danh Julie suông trơn của mình. Tiếng hát cô càng lúc càng trong, càng điệu đà, nhưng không còn gợi cảm một cách hồn nhiên như thuở cô mới bước vào nghề.
* Hồng Vân:
Cô vốn người Quảng Ngãi rất thông minh, nhanh nhẹn, nói tiếng Huế rất sõi. Cô có vóc vạc tầm thước, khuôn mặt trái soan, cặp mắt ranh mãnh, vầng trán thông minh, cặp môi như lúc nào cũng dọn một nụ cười dí dỏm. Thường thì người đàn bà nếu được vẻ thông minh thì mất vẻ gợi cảm. Đằng nầy Hồng Vân được hai cái khắc kỵ ấy. Cô vừa thông minh, vừa gợi cảm ở cái nhìn đôi lúc như rực ánh sáng trí tuệ, đôi lúc như say sưa chất ngất với tình ý bang khuâng man mác. Nụ cười cô không phải lúc nào cũng dí dỏm đâu, đôi lúc nó cũng nũng nịu để làm dáng với cuộc đời. Ở cô, đó là sự phối hợp của con thỏ ngọc yêu kiều và con chồn tinh thật quỷ quái. Hồng Vân có giọng hát sắc sảo và bén như lưỡi dao lá iễu. Làn hơi cô phong phú và bền dẻo. Chuỗi ngân của cô thật trác tuyệt. Cô hát dân ca ba miền thật điệu nghệ, ngâm thơ, hát chèo đều rựa ràng. Khi cùng Thu Hà và Tuyết Hằng thành lập ban Tam Ca Đông Phương dưới sự dìu đắt của hai nhạc sĩ Hùng Lân và Hồ Đăng Tín, Hồng Vân chưa chi đã đưa tên tuổi mình bay cao và bay xa. Cô là điểm sáng trong ban tam ca nầy, bởi cô trình diễn bài hát thật lẳng, thật tếu, thật sống động làm cho sân khấu bừng bừng phấn khởi. Cũng như Phương Hồng Quế, Hồng Vân ăn mặc y phục kiểu gì, màu gì, hoa in hoa thêu gì cũng ngoạn mục cả. Khi trình diễn cùng với Tuyết Hằng và Thu Hà trong ban Tam Ca Đông Phương, Hồng Vân luôn đội khăn vành giây màu hoàng cúc tức là màu đậm nồng hơn màu hoàng yến. Những chiếc áo dài để diện với khăn vành giây thường có màu thúy ngọc trông ngọt cả mắt, màu yên chi thật thắm rỡ rỡ, màu hoàngyến sóng sánh ánh nắng mai, màu lục ngọc thắm biếc như mạ non, như đọt chuối. Những lúc đó cùng với kiềng vàng, hoa tai, kim hoàn, kim xuyến, bướm vàng cài chéo áo, Hồng Vân hiện thân là cô tiểu thư Kinh Bắc thập phần mỹ lệ cao sang. Cho đến khi cùng diễn nhạc kịch với Vân Sơn (thuộc ban A.V.T) trong vai cô gái quê ở đồng bằng phù sa sông Cửu, cô mặc áo cánh cụt tay, quần mỹ a dệt bông mai, tóc búi tròn như trái cam hồng mật sau gáy, cô vẫn có cái đẹp mặn mà của cô gái quê Hậu Giang.
Hồng Vân đã đóng vai Lý Chiêu Hoàng bên cạnh Huyền Trân (giả trai đóng vai Trần Cảnh) trong vở hát chèo Trần Cảnh & Lý Chiêu Hoàng được báo chí khen ngợi không tiếc lời. Cô cũng đóng vai My Nương trong vở kịch thơ của Hoàng Cầm trong ban Tao Đàn, ngâm thơ với một kỹ thuật già dặn với một phong cách thật huê dạng và bay bướm.
* Mai Lệ Huyền:
Cô có vóc mình nhỏ, nhưng cân đối, khuôn mặt cô tròn, nụ cười xinh và lém lỉnh, thần thái sáng rỡ rỡ. Cô đẹp chỉ có ba bốn, nhưng xinh tới mười. Cô mặc áo dài, mini jupe, thậm chí tới quân phục rằn ri cũng xinh ơi là xinh! Trong 3 năm cuối của thập niên 60 và trong 5 đầu của thập niên 70, đây là thời đại vàng son của Mai Lệ Huyền. Cô hát những bài kích động nhạc yêu lính cùng với Hùng Cường ăn khách kinh khủng. Trên màn ảnh Tivi, trên sân khấu, cả hai làm cho sàn gỗ như nổi sóng, màn nhung như dậy bão lửa. Lính tráng say mê cô đã đành, mà giới trẻ cũng chiêm ngưỡng cô đặc biệt. Giọng cô liếng thoắng, ngập tràn hứng thú, mắt cô ranh mãnh, nụ cười cô ấm áp, tay chân cô cử động theo sự diễn tả tình ý bản nhạc một cách nhanh nhẹn, phấn khởi. Đây là giọng hơi khàn, ấm áp và giòn tan, làn hơi khá phong phú. Đừng ai tưởng rằng cô chỉ biết hát nhạc kích động mà thôi. Cô còn có thể hát nhạc buồn, chẳng hạn như bản “Điệu Ru Nước Mắt” trong phim Điệu Ru Nước Mắt do Lê Hoàng Hoa đạo diễn rất mùi mẫn du dương, rất điệu nghệ.
Mai Lệ Huyền có đóng hai vai quan trọng trong hai phim Còn Gì Cho Nhau của Minh Đăng Khánh và Mãnh Lực Kim Tiền của Lê Mộng Hoàng. Cô diễn xuất thật tự nhiên, như sống với vai trò chứ không phải đóng trò. Có lần trên màn ảnh Tivi, cô giả trai mặc quân phục rằn ri theo kiểu Thủy Quân Lục Chiến để hát chung với Túy Phượng, làm vẻ ga-lăng âu yếm trông rất tươi. Cũng có lần trên Tivi, trong ban Trường Sơn do Duy Khánh phụ trách, cô cùng Thanh Tuyền giả làm hai anh Biệt Động Quân vừa phì phà điếu thuốc, rồi hát bài “Xin Anh Giữ Trọn Tình Quê” của Duy Khánh. Cô làm gì cũng có duyên. Cho nên tôi không lấy làm lạ khi biết Mai Lệ Huyền trên tiểu bang California xoay qua đóng hài kịch với Xuân Phát và Văn Chung rất nhộn, rất thành công.
* Xuân Thu:
Lúc đầu Xuân Thu hát trong ban kích động nhạc The Blue Stars. Cô giữ phần hát, còn các cô kia giữ phần đàn, trống. Khi trình diễn, Xuân Thu mặc áo đầm, váyvà áo đều bằng vải sọc hoặc vải kể ô vuông. Cô trang điểm thật gượng tay, thật kín đáo. Ban The Blue Stars tan rã. Xuân Thu xoay qua hát nhạc tình cảm. Bởi cô có khuôn mặt hơi giống khuôn mặt của Lệ Thanh nên cô bắt chước giọng hát và cách hát của Lệ Thanh tối đa. Khi bước ra sân khấu, khi thì cô cầm khăn mu-soa, khi thì cô nâng chéo vạt áo dài trong khi hát, dáng điệu thật Ngoan lành thục nữ, khuôn mặt thật thùy mị đoan trang gấp ba gấp bốn lần dáng điệu và khuôn mặt của Lệ Thanh. Xuân Thu thường tạo vẻ e ấp, thẹn thùng một khi có ký giả đến phỏng vấn cô. Thật ra, nụ cười cô có một chút gì kềm chế, không cho niềm vui cô bộc lộ trọn vẹn. Ánh mắt cô rực rỡ và hơi nung nấu, cho nên khi nói chuyện với ai, cô làm ra vẻ mơ màng, vẻ lờ đờ cho ánh gay gắt dịu xuống đi. Những cách che giấu đó, làm cho cô có cái duyên dáng riêng, thông minh và tinh tế kỳ diệu. Tiếng hát của Xuân Thu trôi chảy và ngọt hơn tiếng Lệ Thanh, nhưng không vang lộng bằng. Khi trình diễn một bài hát, cô có một dáng dấp rất thơ mộng, rất cao sang. Cô thường mặc áo dài trắng hoặc áo màu thật tái, thật lu chìm, không inhoa. Cô trang điểm thật phơn phớt. Cho nên đối với giới trẻ, cô hiện thân là chân dung nàng thơ, dưới ánh đèn rọi cô trở nên hư ảo như hình bóng trong cơn chiêm bao. Tiếng hát cô thỏ thẻ, êm đềm cũng trở nên tiếng vọng từ một cảnh giới nào ngoài cảnh giới mà chúng ta đang sống. Mỗi khi nhìn cô trình bày một bài hát trên Tivi hay trên sân khấu, tôi có cảm tưởng ở nhất cử nhất động, Xuân Thu đều có tính toán cả. Và cô tính đâu ra đó, gợi được một phong cách, một dáng điệu có thể lôi kéo sự chú ý của khán thính giả. Cho nên sự nghiệp ca hát của cô dù không làm chấn động ca trường nhạc giới, nhưng vẫn kéo dài cho tới ngày nay.
* Uyên Phương:
Trước hết, tôi xin quý vị độc giả đừng lộn Uyên Phương ở đây với nữ ca sĩ Lê Uyên trong ban song ca Lê Uyên Phương. Uyên Phương là em họ của nữ danh ca Bạch Yến. Lúc đầu cô lấy cái nghệ danh là Bạch Uyên
Phương để có chị có em với Bạch Yến. Và cô cũng bắt chước theo giọng và cách diễn tả của Bạch Yến. Trên con đường sự nghiệp ca hát, Uyên Phương không hề được Bạch Yến chỉ dạy và dìu dắt. Sau đó, nhận thấy giọng của mình phong phú và trơn ngọt hơn giọng Bạch Yến nên Uyên Phương hát theo cái bản chất, cái cung cách riêng của mình. Và cô bỏ chữ Bạch ở đầu nghệ danh của mình vì cô nhận thấy cái tên Uyên Phương suông trơn thôi cũng đủ nên thơ lắm rồi, đèo thêm chữ Bạch vào thì coi có vẻ tên mấy cô đào cải lương của mấy gánh hạng B thế nào ấy! Uyên Phương xinh đẹp và hiền lành, không cầu kỳ, không điệu đà. Khuôn mặt cô kết hợp bằng những nét congmềm. Cặp môi cô rõ nét và gợi cảm. Giọng của cô khàn đục. Ở những chỗ ngang ngang của bài hát, cô diễn tả bằng một giọng rã rời. Nhưng khi lên cao, giọng cô trầm thống và đắng đót. Tiếng hát của cô về điêu luyện thì thua giọng Bạch Yến, nhưng về phong phú và về âm sắc thì giọng cô khỏe khoắn và đẹp hơn giọng Bạch Yến nhiều. Nhưng mà, cô vốn ngại lên sân khấu lớn. Cô chỉ thích hát ở phòng trà. Và cô cũng không cảm thấy thoải mái với ánh đèn trên sân quay của đài Truyền Hình. Mỗi khi có ánh đèn xanh rọi tạt qua mặt cô là cô bàng hoàng như bị chém hụt. Uyên Phương sinh tật say mê bài bạc. Có nhiều khi cô từ chối vài ba show trình diễn để binh xập xám thả giàn. Có một lần cô đến nhà của thi sĩ Phổ Đức tìm tôi, để tôi phỏng vấn cô cho một tờ báo xuân. Cô gầy sút hẳn đi, mặt mày phờ phạc, mắt thâm quầng. Hỏi ra thì tôi mới biết suốt cả tuần lễ vừa qua cô đánh bạc thâu đêm suốt sáng nên thua cháy túi. Cô có hứa sẽ nghỉ ngơi tịnh dưỡng rồi đi hát trở lại. Thật tình tôi không thể nghĩ ra tại sao ở một con người hiền lành mộc mạc như cô lại không chịu chí thú làm ăn mà lại ưa miệt mài trong sòng bài, trên chiếu bạc như thế?
Về hôn nhân, dù bị cha mẹ phản đối, nhưng Uyên Phương nhất định kết hôn với một cựu sĩ quan bị thương ở bàn chân phải giải ngũ. Dù anh ta có lớn tuổi hơn cô khá nhiều và dù có dáng đi hơi khập khiễng, nhưng đó là người chồng tốt, có tấm lòng rộng lượng, có nhân dáng thật hùng tráng và nhất là hết lòng yêu cô.
* Phương Thu, Đào Hoa Nữ, Thu Oanh:
Phương Thu có vóc mình dong dảy, khuôn mặt khá đẹp. Nhưng nhân dáng cô vẫn không có gì đặc biệt. Cô bắt chước hát theo Thanh Thúy. Nhưng cô thất bại. Giọng cô không được trầm rền như giọng Thanh Thúy. Cô không có cái vẻ đẹp Liêu Trai như Thanh Thúy thì làm sao hớp hồn những khán giả đã từng mê say Thanh Thúy được? Cũng vậy, Đào Hoa Nữ cũng bắt chước hát giống Thanh Thúy tối đa. Nhưng Đào Hoa Nữ không đẹp, làn da ngăm đen, khuôn mặt có nhiều góc cạnh không được thanh tú. Cô chỉ có dáng dấp phong lưu phơi phới, có cách ăn mặc bắt mắt với những màu chói sáng dưới ánh đèn sân khấu phòng trà. Nhưng tiếng hát nhại theo tiếng hát Thanh Thúy kia lại không hợp nhân dáng của cô. Cho nên cũng như Phương Thu, Đào Hoa Nữ hát hoài mà không nổi tiếng. Thu Oanh là em gái của Phương Thu, chuyên hát nhạc kích động ngoại quốc. Cô không đẹp bằng chị, lại nhỏ con. Nhưng khi cô lên sân khấu, trông cô khá xinh vì cô thạo cách trang điểm. Vào năm 1971, Phương Thu có mở một phòng trà ở Sài Gòn. Tôi được giấy mời đến xem buổi trình diễn hôm
phòng trà nầy khai trương. Thu Oanh mặc chiếc áo màu bích lục, cổ hở rộng có viền dải lụa nhiều nếp xếp, tay rộng kết nhiều tầng và nhiều nếp; chiếc váy đầm của cô cũng màu bích lục và cũng có nhiều tầng và nhiều nếp xếp như áo, trông giống loại y phục của các cô nữ vũ công Tây-ban-nha. Cô vừa hát vừa múa, thân mình uốn vặn mềm mại làm nhà thơ nữ Hoàng Hương Trang buột miệng:
— Thu Oanh mặc áo xanh và trườn mình trông giống con rắn lục quá đi thôi!
Có một dạo, Thu Oanh si tình Hoàng Hạc. Cả hai thường cặp tay nhau đi bát phố. Sau đó ít lâu, cô tuyên bố cả hai đã chia tay.
* Miên Đức Thắng:
Anh có khuôn mặt thanh tú, nước da sáng mịn. Giọng anh là giọng trong và ngọt, chỉ diễn tả những bài ca của anh mà thôi. Trong giới sinh viên anh là một thần tượng lộng lẫy huy hoàng. Rất tiếc, tôi chỉ được nghe anh hát loáng thoáng ở trong vài băng nhạc. Giọng hát anh là giọng của cậu trai sau thời kỳ vỡ tiếng, ngọt mềm và đượm men say đắm của một tuổi trẻ thật thần thoại. Năm 1992, nhân đi giải khát tại tiệm Saigon Billard ở quận 13, kinh thành Paris, tôi gặp Miên Đức Thắng qua sự giới thiệu của nhiếp ảnh gia Huỳnh Tâm. Tôi phàn nàn với Thắng rằng hồi còn ở Việt Nam, tôi không dịp hội kiến với anh, giờ đây chắc anh không biết tôi là ai. Miên Đức Thắng nở một nụ cười ấm áp và tràn ngập thiện cảm bảo rằng trong thời gian gần đây dù anh còn kẹt ở Việt Nam, anh vẫn biết tôi viết lách thật nhiều. Và sau đó, tôi được Huỳnh Tâm mời cùng chụp chung một tấm ảnh với Miên Đức Thắng. Cả hai cùng sánh vai nhau, cùng nhìn về ống kính của Huỳnh Tâm, nhưng không nhìn về một lý tưởng, một chính kiến chung. Buồn thật là buồn!
Ít lâu, Miên Đức Thắng trở về Việt Nam.
* Elvis Phương:
Elvis Phương nổi tiếng từ khi anh hát bài “Thôi” của Nguyễn Ánh 9. Tiếng hát anh vang lộng, khi chẻ qua giọng óc để làm duyên thì giọng anh trở nên quyến rũ. Một giọng hát khỏe, hơi nũng nịu một chút, nhưng không lố lăng. Khi lên cao, Elvis Phương hát tròn tiếng và ngọt lịm như kẹo gương. Những lúc đó, tiếng anh thật mê cảm, như tiếng ọng từ đáy vực sâu, từ hang động huyền bí làm người nghe bàng hoàng từng thoáng tê điếng rờn rợn. Khi bỏ nhỏ, giọng anh thật mịn như nhung, êm đềm ve vuốt những đợt sóng mềm hôn bãi cát phẳng lặng. Cái đặc sắc của Elvis Phương là anh hát những bản nhạc phố chợ, nhạc máy nước đều có thể làm bản nhạc đỡ quê, đỡ chuế, đỡ thộn. Anh hát đủ loại nhạc, nhạc cao sang hay nhạc thấp lẹt đẹt về phẩm chất đều hay tuốt luốt. Rồi chuyển qua dân ca, anh hát bài “Qua Cầu Gió Bay” cũng nổi tình nổi ý. Trong 3 năm đầu của thập niên 70, theo cuộc thăm dò ý kiến khán thính giả bốn phương do nhật báo Trắng Đen tổ chức, Elvis Phương được coi là đứng đầu về phương diện ăn khách. Ngoài bản “Thôi”, những bài làm anh nổi danh là “Bao Giờ Biết Tương Tư” của Phạm Duy, “Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang” của Phạm Duy và Ngọc Chánh, “Chiều Nay Không Có Em” của Ngô Thụy Miên, “Chờ Người” của Lam Phương v.v …
Elvis Phương không bô trai, nhưng ở anh, khán thính giả bắt gặp một mẫu người đơn giản, dễ mến. Trải qua, hơn 25 năm, giọng Elvis Phương vẫn giữ âm sắc trẻ trung, ngọt ngào và tràn trề sinh lực. Anh trải qua ba đời vợ. Người vợ thứ hai của anh vốn là một nữ diễn viên điện ảnh có nhiều triển vọng. Đó là nữ nghệ sĩ Cát Phương, ái nữ của nữ kịch sĩ Xuân Dung và kịch sĩ Ba Bé. Cát Phương có đóng vai quan trọng trong hai phim Hoa Mới Nở (do Lê Dân đạo diễn), Xóm Tôi (cũng do Lê Dân đạo diễn).
* Jo Marcel, Như An:
Jo Marcel hơi nhỏ người, nhưng anh có một khuôn mặt khôi ngô và một nụ cười thật đậm đà. Anh lại thạo dậm mặt hóa trang và chọn màu áo veste cho nổi khi bước vào ánh đèn sân khấu. Bởi đó, Jo Marcel có thể làm cho khán thính giả quên vóc mình hơi bé nhỏ của anh. Jo Marcel có một giọng đẹp nhưng không phong phú lắm. Nhưng anh xử dụng máy vi âm thật cừ, lại thường mang theo hệ thống âm thanh đặc biệt dành riêng cho mình mỗi khi anh đi trình diễn bất cứ ở đâu. Cho nên giọng anh đã đẹp lại càng thêm âm sắc mê hoặc. Jo Marcel khi hát không điệu đà, nhưng anh là một phù thủy âm thanh, biết hát cho vang lộng chỗ này, biết bào mỏng chỗ nọ, cho nên tiếng hát anh gieo vào tâm tưởng, vào ấn tượng khán thính giả những giấc mơ lộng lẫy, những khung trời tưởng tượng rực rỡ hình ảnh như trong lăng kính vạn hoa. Những bản ruột của Jo Marcel là “Mộng Dưới Hoa” của Phạm Đình Chương, “Em Tôi” của Lê Trạch Lựu, “Ai Về Sông Tương” của Thông Đạt, “Mưa Hồng” của Trịnh Công Sơn. Nhưng nói cho cùng, bản “Mộng Dưới Hoa” do anh hát thì không có có ca sĩ nào khác hát bằng anh. Khi ra hải ngoại, hai bản “Đường Xa Ướt Mưa” của Đức Huy, bài “Chiều Hôm”, nhạc Trung Hoa do anh hát rồi thì chẳng có ca sĩ nào có thể trình bày đậm đà như anh.
Vợ của Jo Marcel là Như An. Cô không đẹp, nhưng hiền hậu. Cô có giọng đắng như cà phê và sánh đặc như cao hổ cốt, thật quyến rũ. Hai bài “Đường Về” của Hoàng Trọng và “Nha Trang Ngày Về” của Phạm Duy được cô trình bày thật mặn nồng. Nhưng Như An luôn mờ nhạt bên cạnh chồng, như một cái bóng lặng lẽ song hành theo bước đường nghệ thuật của chồng. Khi cùng Nam Lộc thực hiện cuốn phim Tình Yêu và Nhạc Trẻ, Jo Marcel dan díu với cô tài tử Minh Lý đóng vai chính trong phim. Như An không hề tuyên bố điều gì với báo chí cả. Cô qua đời khi định cư được vài năm bên Tây Đức.
* Thanh Phong:
Anh có tầm vóc cũng hơi nhỏ, khuôn mặt tròn, cặp mắt một mí, nụ cười cầu tài. Ây vậy, trên sân khấu và trên khung màn ảnh Tivi, anh vẫn có nét linh hoạt dễ mến. Giọng Thanh Phong khá phong phú, có chuỗi ngân khá điêu luyện. Vậy mà vì chiều theo thị hiếu thấp kém của quần chúng nên anh hát những bản nhạc nịnh nọt lính tráng nhưng nghèo nàn giai điệu. Điều mà anh thích thú nhất là được mặc quân phục lính dù, tay cầm súng M16 để hát các ca khúc ca tụng lính theo thể điệu boléro. Sau năm 1975, anh gia nhập ban Kịch nói Kim Cương. Sau đó, anh cùng gia đình vượt biên vào năm 1979 và định cư ở Paris, hát cầm chừng trong các chương trình trình diễn văn nghệ lẻ tẻ. Có một dạo, anh sống bằng nghề làm kẹo đậu phọng và kẹo hột điều, hốt bạc ngon lành.
Tiếp nối và phát triển
Gia dình Phạm Duy những năm đầu ở hải ngoại
Henry Chúc & Dalena
Kim Huyên, Ngọc Huệ, Tuyết Nhung trình bày Bóng Chiều Xưa
Thiếu tá Nathan Nguyen tuyên thệ trong buổi lễ thăng cấp vào tháng 5 năm 2023 (hình của 643rd RSG).
Thiếu tá Nathan Nguyen* giữ chức Phó phòng Truyền tin (J-6), Sư đoàn 91 huấn luyện, Lục quân trừ bị Hoa Kỳ từ tháng 4 năm 2024, ông được cấp giấy phép an ninh tối mật (Top-Secret – TS) của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ được quyền truy cập thông tin phân loại Nhạy cảm (Sensitive Compartmented Information – SCI) để lập kế hoạch và thực hiện các hoạt động mà việc tiết lộ trái phép sẽ gây ra thiệt hại nghiêm trọng đến an ninh quốc gia. Vai trò này thường liên quan đến việc hỗ trợ trực tiếp cho các Bộ chỉ huy tác chiến, các cơ quan tình báo hoặc các hoạt động chiến lược Liên quân và Quân đội đồng minh. Sĩ quan/Viên chức được cấp giấy phép này đòi hỏi phải qua một cuộc điều tra hồ sơ lý lịch nghiêm ngặt, thường bao gồm cả máy phát hiện nói dối, và yêu cầu phải là công dân Hoa Kỳ, có phẩm chất đạo đức cao và tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình an ninh.
Sư đoàn 91 huấn luyện là đại đơn vị cung cấp huấn luyện thực tế, nghiêm ngặt và phù hợp bảo đảm cho các đơn vị Lực lượng Lục quân trừ bị Hoa Kỳ sẵn sàng chiến đấu và giành chiến thắng. Bộ chỉ huy khu huấn luyện Lực lượng trừ bị Parks ở California là nơi thuận lợi cho các cuộc tập trận quy mô lớn như các cuộc tập trận huấn luyện yểm trợ chiến đấu (CSTX) ) để nâng cao trình độ và năng lực Sĩ quan chỉ huy đơn vị. Các nhiệm vụ chính bao gồm: Tạo điều kiện huấn luyện tiến hành huấn luyện tập thể cho các đơn vị Lực lượng Lục quân trừ bị, Lực lượng Lục quân thường trực và Vệ binh Quốc gia sẵn sàng hoạt động: Xác nhận khả năng khai triển của các đơn vị thông qua các cuộc mô phỏng và tập trận phức tạp, yểm trợ, cung cấp Huấn luyện viên/Quan sát viên (OC/T) để đánh giá năng lực tác chiến của đơn vị.
Thiếu tá Nathan Nguyen sinh ra ở một làng đánh cá nhỏ gần thị xã Rạch Giá, miền Nam Việt Nam. Gia đình ông nghèo, nhưng ông thấy vui vì được sống với gia đình và bà con lối xóm, nhưng sống dưới chế độ cộng sản hà khắc, không được phép rời khỏi nơi cư ngụ và luôn bị quan sát bởi công an khu vực Khi ông lên 8 tuổi, cha ông đưa ông vượt biên, trốn thoat khỏi Viêt Nam bằng một chiếc ghe đánh cá nhõ đến được trại tỵ nạn Thái Lan và được chuyển tiếp đến trại tỵ nạn Phi Luật Tân, sau đó gia đình ông được Chính phủ Hoa Kỳ cho phép định cư vào mùa hè năm 1987.
Thiếu tá Nathan Nguyen và đồng đội hoàn tất khóa huấn luyện biệt kích Trường huấn luyện Biệt động quân Hoa Kỳ (US Army Ranger School) năm 2012 – Hình của Nathan Đạt Nguyễn.
Thiếu tá Nathan Nguyen gia nhập quân đội vì muốn phục vụ đất nước mà ông đã chọn làm quê hương thứ hai. Ông cảm thấy gia đình ông mang ơn rất lớn đối với nước Mỹ vì đã cho phép gia đình ông đến đây để có một cuộc sống tự do tốt đẹp hơn. Ông gánh vác trách nhiệm này và làm điều đó một cách tự nguyện. Ông được chấp nhận vào chương trình Green-to-Gold, và trở thành Thiếu uý Truyền tin Lục quân trừ bị năm 1999, ông đã thụ huân các khoá học chuyên môn quân sư, đặc biệt, ông hoàn thành khóa huấn luyện Biệt kích tại Trường huấn luyện Biệt động quân Hoa Kỳ (US Army Ranger School). Ông cũng từng được điều động yểm trợ chiến dịch Tự do Châu Âu (OEF). Một kỷ niệm đáng nhớ nhất đối với ông là vụ khủng bố ngày 11 tháng 9, lúc bấy giờ Trung đội Trinh sát của ông đang tham gia một cuộc diễn tập (FTX) thì được lệnh quay trở lại căn cứ. Ông và đồng đội liền mở truyền hình xem thấy cảnh hai tòa tháp đôi của Trung tâm thương mại Thế giới sụp đổ, sau khi hai phi cơ thương mại bị không tặc đâm vào, khoảnh khắc đó làm ông nhớ mãi.
Thiếu tá Nathan Nguyen hoàn tất Văn bằng Cử nhân nghệ thuât Trường Đại học Tiểu bang California State University-Sacramento. Là Sĩ quan truyền tin Lục quân, Thiếu tá Nathan Nguyen được chỉ định phục vụ nhiều đơn vị khác nhau từ 1999 đến nay, những đơn vị gắn liền với binh nghiệp của ông như: Sĩ quan Phụ tá phòng Truyền tin G-6 thuộc Sư đoàn 25 Bộ binh tại Hawaii; Sĩ quan Truyền tin Liên đoàn yểm trợ khu vực 643 (643rd RSG) và hiện nay, Phó phòng Truyền tin (J-6), Sư đoàn 91 huấn luyện, Lục quân trừ bị Hoa Kỳ. Với hơn 25 năm kinh nghiệm phục vụ Lục quân Hoa Kỳ, ông am hiểu sâu sắc về huấn luyện quân sự và các hoạt động quân sự liên hợp. Ông tận dụng kinh nghiệm và kiến thức đóng góp vào việc nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và năng lực tác chiến của đơn vị.
Sĩ quan Lục quân Hoa Kỳ gốc Việt mang cấp Thiếu tá, ngoài Thiếu tá Nathan Nguyen, còn có hơn 150 vị khác (không tính những vị đã hồi hưu) đang phục vụ các binh chủng và ngành trong Quân chủng Lục quân được ghi nhân sau đây: Thiếu Tá Truong Quoc Tran, Sĩ quan tình báo Lục quân; Thiếu tá Andrew Vu, Phi công trực thăng UH-60A/L Blackhawk, Lữ đoàn hàng không Vệ binh Quốc gia Pennsylvania; Thiếu tá Chi L. Truong, Trưởng Phòng Hóa học, Sinh học, Phóng xạ, Nguyên tử và Chất nổ, Sư đoàn 1 Thiết Kỵ; Thiếu tá Hung Nguyen, Sĩ quan Tiểu đoàn 411 Công binh; Thiếu tá Miller Tran, Nha sĩ Quân y Lục quân; Thiếu tá Perry Pham, Sĩ quan Lữ đoàn 3 Thiết giáp; Nữ Thiếu tá Nhu Tran, Sĩ quan Luật sư Quân pháp Lục quân; Nữ Thiếu tá Vy Nguyen, Luật sư Quân pháp Lục quân; Nữ Thiếu tá Diep Thuy Ho, Quân y Lục quân và còn nhiều vị Thiếu tá khác chưa tiện cập nhật.
Quốc Hội Hoa Kỳ bắt đầu họp lại từ ngày 7 tháng 4.
Ở quốc gia Hoa Kỳ, nhất là ở các khu vực bầu cử của họ, các nghị sĩ và dân biểu đã nhận thấy là cử tri của họ không nhận định được vị trí của Việt Nam Cộng Hòa (Miền Nam Việt Nam). Rất hiếm công dân Mỹ cảm thấy bị xúc động khi xem các tấm ảnh ở mặt trận Xuân Lộc, cho thấy binh sĩ Miền Nam Việt Namđang ở các vị trí phòng thủ được tổ chức rất chu đáo, hoặc khi họ phất lên những lá cờ cộng sản màu đỏ tịch thu được của quân đội Bắc Việt . Một sự thăm dò của Louis Harris đã đo được cảm tưởng của những người đắc cử. Trong ba người đã có đến 2 người chống lại viện trợ quân sự cho Cam Bốt và Miền Nam Việt Nam, dù nhờ đó mà có thể “tránh được” một sự tắm máu cho dân chúng ở hai quốc gia đó.
Các ban và các tiểu ban trong Quốc Hội cho chuyển động bộ máy dân chủ của họ, tuy chính xác nhưng quá nặng nề . Các nghị sĩ và dân biểu được cho biết tin tức từng giờ một về những sự bất đồng nội bộ ngay trong Chánh Phủ Hoa Kỳ. Nhà Trắng và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ít nhất đã chánh thức hóa đường lối ngoại giao của họ: Miền Nam Việt Nam có thể sẽ được cứu. Ở Ngũ Giác Đài thì một cách không chánh thức người ta cho biết là không còn một hy vọng nào nữa. Tuy nhiên theo lối trình bày công khai thì ông James Schlesinger vẫn trung thành bảo vệ chủ trương của Tổng Thống Ford. Ông Tổng trưởng Quốc Phòng không đi đến mức đoan chắc là một viện trợ quân sự bổ túc có thể sẽ cứu được quân đội Miền Nam Việt Nam. Ông tuyên bố là niềm tin của thế giới đối với Hoa Kỳ đang bị thử thách:
“Chúng ta không thể là một quốc gia có thể buông bỏ bạn bè, phản bội đồng minh của mình, hay nuốt bỏ lời hứa của mình được.”
Ở Hoa Thạnh Đốn càng ngày người ta càng nói tới những mật ước mà ông Nixon đã cam kết với VNCH. Còn hơn thế nữa: có phải người ta cũng đã có những bảo đảm hay cam kết “bằng miệng”? Nghị sĩ Henry Jackson buộc Henry Kissinger phải ra trước Quốc Hội để nói rõ về những bảo đảm do ông ta đã “cam kết mà không báo trước cho Quốc Hội”. Với phong cách “ta đây” của một nghị sĩ bị lăng nhục, ông tự nhủ là phải mở ngay một cuộc điều tra. Cũng như các đồng viện, ông muốn làm sáng tỏ về những cam kết của Hoa Kỳ . Thật ra ông cũng muốn làm giảm uy thế của Tổng Thống Ford khi ông hạch hỏi Kissinger. Họ đã được thấm nhuần đặc tính luôn luôn dị ứng về mọi hành động “đi đêm” từ thời Tổng Thống Wilson, một người đã ca tụng giá trị của những “thỏa thuận công khai được thực hiện công khai”, nên các nhà lập pháp không sẵn sàng để nghe những trình bày của các đại diện Hành Pháp một cách thuận lợi lắm. Hậu quả của sự kiện “nghe lén” (Watergate) chưa tan biến hết. Hơn bao giờ hết, Tổng Thống và Chánh Phủ của ông vẫn bị cáo buộc là “có tội” trước khi họ chứng minh được sự vô tội của họ
Trong các phiên họp công khai hay họp kín, các nghị sĩ và dân biểu hạch hỏi các nhân viên của Bộ Ngoại Giao, của Bộ Quốc Phòng, của Trung Ương Tình Báo hay của tất cả các cơ quan khác của Chánh Phủ gởi tới. Thẳng thừng đến gần như tàn bạo, phiên họp của các tiểu ban thường giống như các cuộc điều tra ; bên trong các phòng vuông bằng đá hoa hay cẩm thạch oai nghiêm thường diễn ra những cuộc đấu trí giữa các đại biểu của Hành Pháp và những người của Lập Pháp . Các công chức ra điều trần ở đây thường khó dấu được sự hoài nghi của họ.
Daniel Parker, trưởng cơ quan phát triển quốc tế đã tuyên bố với các thành viên của Tiểu Ban Quốc Tế của Hạ Viện rằng:
_ “Tôi không thể nói với các ông là số phận của Miền Nam Việt Namsẽ ra sao trong những tháng sắp tới, nhưng tôi có` thể nói số phận của dân chúng của họ sẽ ra sao…. nếu chúng ta không chấp thuận cho họnhững phương tiện cần thiết.”
Các tiểu ban phân biệt rõ ràng sự giúp đỡ quân sự mà họ càng ngày càng chống đối, với sự giúp đỡ nhân đạo. Nghị sĩ Hubert Humphrey, cựu Phó Tổng Thống và cựu ứng cử viên Tổng Thống của đảng Dân Chủ, đã nói trong hành lang rằng:
– “Tất cả mọi người đều đi dạo chơi với cành hoa cài trên vành tai, và nói rằng mọi việc rồi sẽ qua đi. Chuyện này sẽ không qua đi một cách tốt đẹp đâu. Đó là một thảm họa . Tôi là người không sẵn sàng cho thêm “một xu” nào nữa, cho những người không muốn đứng trở lên và chiến đấu cho sự sống còn của mình.”
Tổng Thống Ford ngỏ lời với các nghị sĩ và dân biểu đang họp mặt trong một bầu không khí trang trọng. Có nhiều thành viên trong Quốc Hội, vì một niềm tin cho số đông cử tri của họ, và cũng như có một số dân cử không sợ mất lòng cử tri của mình , đã cho các tùy viên trong Quốc Hội và các đại biểu đặc biệt của Chánh Phủ biết , khi được dò hỏi, là họ sẽ sẵn sàng bỏ phiếu thuận cho viện trợ nhân đạo, và dĩ nhiên cả ngân khoản cần thiết để tiến hành một cuộc di tản, nhưng về viện trợ cho cuộc chiến thì không có một đô la nào thêm nữa.. Do đó ông Ford phải bơi ngược dòng nước….
Hơn một nửa của bài diễn văn được ông dành để nhắc tới Đông Dương.. Về Cam Bốt, Tổng Thống Ford nhắc lại là trước đây 3 tháng ông đã có xin một ngân khoản viện trợ bổ túc. Nhưng ngay chiều nay “có thể là đã quá muộn rồi”. Do đó ông sắp sửa cho đóng cửa tòa đại sứ của ông ở Phnom Penh. Đối với ông, coi như Cam Bốt đã mất rồi, nhưng Việt Nam thì không. Về Việt Nam, ông nhắc lại những luận cứ của Chánh Phủ của ông (một số các vị dân cử cho là ông nhai lại): Hiệp Định Ba Lê có đứng vững được là do Hoa Kỳ đã trợ lực cho Sài Gòn. Những sự từ chối của Quốc Hội không bỏ phiếu cho những ngân khoản viện trợ là sẽ khuyến khích Hà Nội tăng thêm nỗ lực tấn công của họ.
Các vị dân cử không bao giờ chấp nhận luận điệu gán trách nhiệm cho họ về sự tan vỡ của Miền Nam Việt Nam. Tổng Thống Ford dự đoán nhiều giải pháp.
Có hai giải pháp tích cực: Hoặc không làm gì hết, hoặc phải tuyên chiến để thi hành Hiệp Định Ba Lê.
Có hai giải pháp gần như trung dung: Hoặc chấp thuận một ngân khoản 300 triệu mỹ kim viện trợ quân sự như đã xin từ trước, hoặc tăng ngân khoản viện trợ quân sự và kinh tế.
Tổng Thống Ford thì khuyến cáo nên dùng giải pháp thứ hai này.
Trường hợp tốt nhất, giải pháp này sẽ giúp cho Miền Nam Việt Nam ổn định được tình hình quân sự và đạt được một dàn xếp chánh trị. Trường hợp xấu nhất cũng có thể giúp di tản được 6000 người Mỹ đang còn tại chỗ và một số người Việt Nam nào đó.
Đọc bài diễn văn một cách đơn điệu, dựa trên phúc trình của tướng Weyand, Tổng Thống Ford xin Quốc Hội ngân khoản viện trợ quân sự 722 triệu và 250 triệu để giúp đỡ cho những người di cư. Tổng Thống yêu cầu Lưỡng viện Quốc Hội chấp thuận các ngân khoản này và bỏ phiếu trước ngày 19 tháng 4.
Tổng Thống Ford cũng nêu lên một bài toán phức tạp: đâu là quyền hạn của một Tổng Thống về việc xử dụng quân đội để di tản người Mỹ ở Việt Nam“nếu thấy đó là chuyện cần thiết” . Ông Ford phải thủ thế khi ông nghĩ tới hiến chế được thay đổi dưới trào ông Nixon nhằm hạn chế quyền hạn của Tổng Thống . Ông hy vọng là người ta sẽ cho phép ông được gởi quân Mỹ để “bảo vệ và hộ tống” các công dân Hoa Kỳ , ông không muốn trong trường hợp nào đó ông lại bị cáo buộc là đã gây chiến tranh trở lại. Theo Hiến Pháp thì Quốc Hội “có quyền … tuyên chiến” . Không có một Tổng Thống nào từ ông Kennedy, ông Johnson đến ông Nixon đều không có kêu gọi các nhà Lập Pháp làm đúng theo Hiến Pháp, một điều sai trái trầm trọng về tâm lý. Thật tình thì Quốc Hội Hoa Kỳ chưa bao giờ tuyên chiến từ Thế chiến Hai. Điều đó không ngăn cản các Tổng Thống gởi quân đội Mỹ qua Hy Lạp và Đại Hàn, (dưới danh nghĩa của Liên Hiệp Quốc), qua Cộng Hòa Đô mi ni ca, và qua Li băng. Trong một số trường hợp, người ta có thể cho đó là những cuộc hành quân Cảnh Sát đại qui mô. Nhất là từ sau 1965, các nghị sĩ và dân biểu Hoa Kỳ mặc nhiên cho Tổng Thống quyền được tiến hành chiến tranh mà không cần tuyên chiến. Và cứ mỗi năm các nhà Lập Pháp lại tiếp tục bỏ phiếu cho ngân khoản cần thiết.
Cung cách đó đã qua rồi. Vào tháng 7 năm 1973, Quốc Hội đã bỏ phiếu cho một Luật nhằm xóa hết các ngân khoản cho “tất cả các hoạt động tác chiến” ở Đông Dương. Mặc dầu Tổng Thống Nixon đã phủ quyết, nhưng tiếp theo đó vào tháng 11, Quốc Hội đã chấp thuận một Quyết Nghị về Quyền Hạn Chiến Tranh, quyết nghị này đã trở thành Luật (về Quyền Hạn Chiến Tranh). Theo Luật này, người ta đã thấy là mỗi lần Tổng Thống xử dụng quân đội Hoa Kỳ ở ngoại quốc là ông phải phúc trình.. Luật này không dự trù trường hợp nào có dạng như di tản từ Miền Nam Việt Nam. Vậy Tổng Thống sẽ lấy “quyền” nào để đưa quân lực Hoa Kỳ vào vùng chiến sự hay vào những vùng mà tình hình thực tế cho thấy rõ ràng là mình sẽ có thể bị lôi kéo vào chiến sự. Quyết nghị và Luật về Quyền Hạn Chiến Tranh không phải văn kiện quá sáng tỏ về mặt pháp lý. Ông Ford muốn làm sáng tỏ một vài điểm – để tự bảo vệ cho mình.
Một bài toán khác: Bộ Luật không dự trù di tản người Việt Nam vì họ không phải là công dân Hoa Kỳ. Các nhà Lập Pháp chấp thuận giúp đỡ người Mỹ đang gặp khó khăn, điều đó rất đúng, nhưng còn người Việt Nam thì sao? Và bao nhiêu người?
Để chấm dứt chuyện cam kết mật của ông Nixon, ông Tổng Thống Ford đã có một buổi họp với các lãnh tụ đa số của Quốc Hội ở Nhà Trắng vào ngày 11 tháng 4. Trên căn bản thì Tổng Thống Ford tuyên bố là “những trao đổi riêng tư giữa ông Nixon và ông Thiệu không khác những gì mà người ta đã nói lên một cách công khai”. Đúng là một đề tài rất tốt cho luận án tiến sĩ, câu hỏi hoàn toàn được giữ nguyên: ” sự cam kết riêng của một ông cựu Tổng Thống có bắt buộc ông Tổng Thống đương nhiệm phải cam kết hay không? và nhất là Quốc Hội? Tổng Thống và Quốc Hội thấy không có thì giờ cho quý vị làm luận án nữa!
Tổng Thống Ford ra lệnh cho đại sứ Mỹ John Dean ở Phnom Penh đóng cửa tòa đại sứ ở đó Ngày 12 tháng 4 hồi 7 giờ 45, có ba đợt trực thăng cất cánh từ hàng không mẫu hạm Okinawa ở vịnh Thái Lan. Một số khác đi từ mẫu hạm Hancock. Tất cả Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đều được trang bị súng M.16 và súng phóng lựu. Được chuẩn bị từ tháng 2, cuộc hành quân “Ó bay đi” (Eagle Pull) bắt đầu. Ông John Dean, một nhà ngoại giao lão luyện, người đã theo sát mọi sự kiện của Đông Dương ở Ba Lê và ở Vạn Tượng trước khi được chỉ định vào chức vụ Đại Sứ ở Phnom Penh, đã thông báo cho những nhân vật có trách nhiệm chánh trị và quân sự của Cam Bốt: Những ai muốn nhân cơ hội này để được di tản thì sẽ được bốc đi. Ông John Dean đích thân đến tư dinh của Thủ Tướng Long Boret để thông báo vấn đề này. Trừ một người, còn tất cả các Tổng trưởng và vị xử lý thường vụ Chủ Tịch Nước đều từ chối không ai chịu di tản,
Sau khi bay 160 cây số trên lãnh thổ đang nằm trong tay Kmers Đỏ, các trực thăng đầu tiên thuộc nhóm Alpha đáp xuống Phnom Penh , và các Thủy Quân Lục Chiến bố trí ngay chung quanh Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ
Ông John Dean nhận được một bức thư của ông Sirik Matak, Cố vấn Chánh Phủ , nội dung như sau:
_ “Thưa ông Đại sứ và ông bạn thân mến,
Tôi thành thật rất cám ơn ông, về bức thơ và đề nghị của ông nhằm đưa chúng tôi đến nơi Tự Do. Than ôi, tôi không thể đi một cách hèn nhát như thế được.
Về phần ông và quốc gia Hoa Kỳ hùng mạnh của ông, không có một lúc nào tôi tưởng rằng các ông buông bỏ một dân tộc đang chọn và tranh đấu cho Tự Do. Các ông đã từ chối không bảo vệ dân tộc chúng tôi ; chúng tôi không thể làm gì hơn được. Ông ra đi, Tôi xin chúc ông và quốc gia của ông tìm được hạnh phúc dưới gầm trời này.
Nhưng, xin ông ghi rõ điều này, nếu tôi có chết ở đây, chết ở ngay đất nước thân yêu của tôi, xin hãy mặc kệ chúng tôi , vì chúng tôi được sanh ra thì tất nhiên rồi cũng phải có một ngày nào đó chúng tôi phải chết thôi! Nhưng điều đáng tiếc là tôi đã có môt lầm lỗi, đó là tin nơi ông và tin nơi người Mỹ các ông.
Xin ông Đại sứ và là ông bạn thân của tôi nhận nơi đây tình cảm trung thực và thân thiết của tôi .
Surik Matak
Vì tò mò, không hận thù, người dân Cam Bốt đứng quanh tòa đại sứ nhìn cuộc hành quân di tản đang diễn tiến rất tốt đẹp. Đại úy Cyril Moter tham gia cuộc hành quân này với nhóm Thủy Quân Lục Chiến của ông. Trong hai tiếng đồng hồ, trực thăng đã bốc đi 82 người Mỹ, 159 người Cam Bốt, và một số người Phi luật Tân, Đài Loan, Úc, Thái Lan, Pháp, Tây ban Nha, Thụy điển, Anh cát Lợi, Gia nã Đại và Ý đại Lợi. Trong số những người Mỹ thì có các nhà ngoại giao và một số nhà báo. Nhưng Sydney Schanberg của tờ Thời Báo Nhiêu Do và cộng sự viên của ông, Dith Pran, người Cam Bốt, thì không đi, chọn ở lại Phnom Penh.
Đến 10 giờ 15 thì ông John Dean với vẻ mặt nghiêm trọng, nếu không muốn nói là thiểu não, ôm lá quốc kỳ Mỹ trong tay bước lên trực thăng.
Vào lúc 10.giờ 41, tất cả các dân sự đều được bốc đi hết.
Các quả đạn bách kích pháo rơi chung quanh tòa đại sứ trong khi một y tá người Mỹ đang săn sóc 2 thương binh.. Từ dưới đất, Thủy Quân Lục Chiến gởi một công điện truyền tin lên chiếc phi cơ chỉ huy là chiếc C.130 đang bay lượn trên không phận Phnom Penh. Nhưng không có một chiếc phi cơ hay trực thăng nào tìm ra vị trí của mấy khẩu bách kích pháo của Khmer Đỏ. Có hơn 12 chiếc phi cơ tiềm kích đang bay tuần tiễu giữa Phnom Penh và bờ biển, nhưng họ không can thiệp.
Ngoài khơi hải cảng Sihanouk, hạm đội Hoa Kỳ đã dàn ra từ hôm qua. Đó là những chiếc Vancouver, Thomaston, Henry D. Wilson, Knox, và chiếc Kirk. Các phi cơ Mỹ thuộc Không Lực Hoa Kỳ đang đóng trên căn cứ ở Thái Lan đều sẵn sàng có thể đến phối hơp với các chiến hạm này để đẩy lui các cuộc tấn công của Khmer Đỏ, nếu có.
Sau vài giờ tạm nghỉ trên các chiến hạm, những người di tản từ Phnom Penh được đưa về Thái Lan.
Cuộc hành quân “Ó Bay Đi” đã thỏa mãn hoàn toàn các quân nhân Hoa Kỳ . Một công tác được chuẩn bị và thi hành rất chu đáo. Một công trình tiếp vận thành công vì Khmer Đỏ không có phương tiện để chống lại. Trước hết có thể vì dân chúng ở thủ đô Cam Bốt không tìm cách ùa nhau cùng chạy loạn theo các trực thăng.
Tóm lại đây cũng có thể coi như một cuộc thao dượt cho…. Sài Gòn , nếu người ta muốn đi tới đó. Các báo chí trên toàn thế giới đều có “Một đề tài như nhau: Người Mỹ rời khỏi Phnom Penh”, “Vị Xử Lý Thường Vụ Chủ Tịch di tản, chạy theo Đại Sứ Hoa Kỳ”, “Quân đội nắm quyền tại Phnom Penh”, “Ủy Ban Quân sự được thành lập dưới quyền của tướng Sak Suttsakhom”. Tổng Thống Giscard d’Estaing say mê danh từ “thích hợp”. Ngay tức khắc Chánh Phủ Pháp nhìn nhận Quốc Gia mới, nghĩa là chế độ Khmer Đỏ. Việc nhìn nhận quá hấp tấp này thật sự có “thích hợp” hay không đây?
Tòa Đại sứ Pháp ở Phnom Penh chỉ có một lãnh sự là ông Jean Dyrac, tạm thời được nâng lên hàng Phó Lãnh Sự Nước Pháp đi trước xa đối với chế độ.
Ngày 17 tháng 4 hồi 5 giờ, có một số Khmer Đỏ đến trước Tòa Đại sứ. Sau đó, các xe thiết giáp của Chánh Phủ mang cờ trắng chạy khắp thành phố.
Quân Khmer Đỏ giải phóng Phnom Penh trước khi Bắc Việt chiếm được Sài Gòn . Đây là một cuộc chạy đua với thời gian giữa Bạn và Thù; Khmer Đỏ muốn chứng minh rằng họ có đủ khả năng tiến tới một mình, không cần có sự giúp đỡ của Bắc Việt. Sau đó Khmer Đỏ đuổi hết dân chúng ra khỏi thành phố.
Các công điện của người Pháp từ Phnom Penh được chuyển về Paris qua ngả Sài Gòn và thường bị gián đoạn. Bốn ngàn dân tỵ nạn đang cắm trại trong khuôn viên tòa đại sứ. Trong số này có những người Đông Đức và người Nga. Những người KĐ (Khmer Đỏ)
_ Các chuyên viên gọi họ là “KR”, hai chữ đầu của Khmer Rouge – đã bắn sập tường của tòa đại sứ Liên Xô bằng rốc kết. Hoàng thân Sirik Matak và các thành viên thuộc gia đình Quốc Vương Norodom Sihanouk và 3 đức cháu đang tỵ nạn ở trong tòa đại sứ Pháp. Ngày hôm sau, hai sĩ quan KR và một đoàn tùy tùng trang bị súng không giật đến tòa đại sứ Pháp đòi bắt Hoàng Thân, nhưng Lãnh sự Pháp, ông Dyrac từ chối không cho họ vào, để mua thời gian.
_ Ngày hôm sau chúng tôi sẽ đến, viên sĩ quan KĐ nói như vậy.
Ông Dyrac nhờ các linh mục Francois Ponchaud và Bernard Berger tác động giùm tinh thần cho các người dân tỵ nạn. Họ nâng cao tinh thần những người này bằng cách phổ biến các tin tức: liên lạc với Sài Gòn vẫn được duy trì cho tới khi nào điện bị cắt mới thôi.
Lúc 11 giờ, một chiếc phi cơ Hoa Kỳ lượn trên tòa đại sứ Pháp. Có hai nhà báo người Mỹ dùng máy truyền tin cầm tay liên lạc với phi cơ và yêu cầu được bốc đi bằng trực thăng. Người ta nói là Bộ Tư Lệnh Hoa Kỳ ở Thái Lan và cả Ngũ Giác Đài bên Hoa Thạnh Đốn sẽ nghiên cứu vấn đề này. Cuộc hành quân di tản được yêu cầu này có thể sẽ đưa tới một cuộc tàn sát hết tất cả người tỵ nạn ngay ở tòa đại sứ ở đây. Ngày 19 tháng 4, hoàng thân Sirik Matak và những người Cam Bốt khác quyết định ra hàng. Những người của KĐ với một chiếc xe Jeep và 2 xe vận tải đến trước tòa đại sứ. Hoàng thân Matak còn được nhìn thấy ở cách Phnom Penh chừng 20 cây số, sau đó thì không còn ai thấy được ông ta đâu nữa.
Cơn hấp hối của quốc gia Cam Bốt trong tay bọn Khmer Đỏ đang bắt đầu..
Tổng ThốngThiệu nói chuyện với ông Hoàng Đức Nhã về sự thất thủ của Phnom Penh. Nhã xác nhận:
” Mọi việc rồi cũng sẽ đến với Sài Gòn như vậy,.
“Anh tin như vậy sao?
” Vâng, nếu cộng sản Bắc Việt đưa hết lực lượng của họ để tấn công chúng ta.
” Tôi không tin như thế, và tôi không bao giờ tin như thế. Có quá nhiều việc liên quan đến vấn đề này, ông Thiệu nhấn mạnh.
Tổng ThốngThiệu vẫn còn tin chắc là ông sẽ làm cho người Mỹ phải nhảy vào.
Ông Hoàng Đức Nhã tự nguyện sẽ đi Tân gia Ba. Ông rất phục Thủ Tướng Lý quang Diệu, một nhân vật dân chủ xã hội rất có quyền thế đang lãnh đạo một đất nước trên hòn đảo nhỏ bé này . Ông ta đã cho dân chúng Tân gia Ba những gì mà người cộng sản luôn luôn chỉ có hứa suông mà không bao giờ có, như việc làm, học vấn, và nhà ở. Phương thức dân chủ rất mạnh mẽ ở đây đã làm cho Nhã say mê. Cũng vì vậy mà khi có một nhà báo Anh cho ông biết là ông Lý quang Diệu mong ước muốn gặp ông, thì ông tỏ ra rất bằng lòng. Ông Nhã đáp phi cơ đến Tân gia Ba và ở trọ tại Raffles, một khách sạn cũ nhưng rất nổi tiếng và rất đẹp. Sau đó ông đi dùng cơm tối ở nhà hàng Newton Circus. Tân gia Ba là một thành phố rất văn minh, có văn hóa, sạch sẽ, được kiểm soát rất chặt chẽ do một lực lượng gìn giữ trật tự vô hình nhưng hữu hiệu.
Một thanh tra Cảnh Sát mặc thường phục đến gần Nhã:
Ông là ông Nhã.
Phải
Ngài Thủ tướng muốn gặp ông. Ngay bây giờ
Ông Nhã rất thích lề lối mà người ta đã nhanh chóng nhận ra ông ngay ở đây.
Đến nơi, ngoài Thủ Tướng ông còn thấy có ông Tổng trưởng Ngoại Giao và một vị Cố vấn chánh trị . Mọi người đều dùng Anh văn để đàm thoại. Nhã được biết qua về một chuyến du hành của Phó Tổng Thống Hoa Kỳ, ông Nelson Rockefeller. Nhơn dịp sang dự tang lễ của ôngTưởng giới Thạch vừa từ trần hôm ngày 5 tháng 4, ông Rockefeller đi một vòng thăm vùng Đông Nam Á Châu. Ông đã tích lũy được một số chuyện phiếm. Khi người ta nói với ông về tình hình ở Việt Nam, ông trả lời dựa theo các cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ vào năm 1976:
“Nếu hai hay ba ngàn người Mỹ chết hay bị bắt làm tù binh, thì sẽ có nhiều bài toán được đặt ra”.
Nếu người ta nhắc lại câu hỏi của đảo Chypre, thì ông sẽ đề nghị với những người Hy Lạp là họ phải rất bằng lòng về cuộc xăm lăng của Thổ nhĩ Kỳ, vì nó giúp khôi phục lại được nền Dân Chủ ở Hy Lạp:
_ “Nếu tôi là người Hy Lạp, tôi sẽ quỳ xuống để cầu nguyện – tôi không biết người Hy Lạp sẽ cầu nguyện với ai? với những vị Thánh nào trong trường hợp này….”.
Không biết Tổng Thống Ford thường hay có ý định xử dụng ông Phó của ông trong lãnh vực ngoại giao loại này hay không? “Điều này chắc phải tùy thuộc xem người nào chết,”
Đi thẳng vào đề, Thủ Tướng Lý quang Diệu nói với ông Nhã :
“Chúng ta không nên để mất thì giờ., Tôi đã yêu cầu ông đến đây vì đã gần tới giờ chung cuộc rồi. (ở Việt Nam). Ông Rockefeller đã hỏi tôi, như đã hỏi các vị lãnh đạo khác ở Á Châu, là liệu chúng tôi có chấp thuận một cuộc hành quân để loại bỏ ông Tổng Thống Thiệu hay không ? (nguyên tác:opération)
Nhìn thoáng qua theo ý kiến của ông Rockefeller – của ông ta? hay của ông Ford? chắc chắn không phải của Bộ Ngoại giao hay của Trung Ương Tình Báo CIA – thì sẽ phải dựng lên một nhóm đảo chánh ở Sài Gòn. Tham gia vào đó sẽ có thể là cựu Thủ tướng Khiêm, tướng Viên Tổng Tham mưu trưởng, hay tướng Không quân Nguyễn cao Kỳ . Sau đó người ta sẽ thành lập một Chánh Phủ Liên Hiệp do nhóm này tấn phong . Ông Lý quang Diệu không bàn cãi về khía cạnh hữu lý hay hoang đường của kế hoạch này, một kế hoạch mà chỉ có riêng ông Rockefeller là người phải chịu trách nhiệm mà thôi.
Ông Lý quang Diệu nói với ông Nhã:
” Ông hãy báo cho ông anh của ông biết đi. Còn ông thì nên ở lại đây, đừng có trở lại Sài Gòn. Tôi sẽ lo đưa gia đình ông ra khỏi Việt Nam. Ông biết không? người Mỹ đã chọn nơi cư trú cho ông Thiệu rồi đó”.
Không cần nghĩ là có thể bị nghe lén hay không, ông Nhã liền gọi điện thoại ngay về cho Tổng Thống Thiệu. Tất cả tin tức nhận được đều y như thế. Qua bạn bè của ông, qua các sĩ quan cấp tá trẻ, Nhã biết được sự tức giận trong QLVNCH (Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa) trên cấp cao. Ông khuyên Tổng Thống Thiệu nên từ chức.
_Anh đừng chờ người ta lật đổ anh, hay người ta tống cổ anh đi. Hãy đi trước một bước đi, càng nhanh càng tốt.
Nhưng rồi Hoàng Đức Nhã cũng về lại Sài Gòn qua ngả BangKok. Ông điện thoại về Dinh Độc Lập. Một tùy viên xin ông gọi lại sau:
“Tổng Thống đang làm việc, ông đang thảo một bài diễn văn, nghe hình như một bài diễn văn độc đáo lắm.”.
Ông Kissinger hỏi ông đại sứ Martin: Có thể dùng hải cảng Vũng Tàu cho một cuộc di tản qui mô được không? Công điện của Tổng trưởng ngoại giao viết:
“Trong chìu hướng đó có thể tránh được sự hỗn loạn, phải phối hợp chặt chẽ với ông Thiệu.”
Ông Kissinger tỏ ra lo lắng cho số phận của những người Việt Nam đã cộng tác với người Mỹ:
“Chúng tôi muốn biết xem liệu ông Thiệu có sẳn sàng để cho một số người của họ ra đi bây giờ hay không ?”
Ông Martin bắt đầu chịu nghe theo ý kiến về một giải pháp thương thuyết. Ông đã từng luôn luôn bênh vực Tổng ThốngThiệu, nhưng bây giờ thì ông nghĩ là ông này phải ra đi. Gần đây có những tin đồn do người Mỹ gán cho tòa đại sứ Pháp, cho rằng Bắc Việt sẽ liệng bom xuống Sài Gòn nếu ông Thiệu không chịu ra đi ngay từ bây giờ. Tại Hoa Thạnh Đốn , ông Kissinger lại lên tiếng. Ông điều trần trước một tiểu ban ở Thượng Viện . Ông nói như một chiến lược gia loại Clausewitz:
” Cuộc tấn công của Bắc Việt và phản ứng của Miền Nam Việt Namkhông phải ngẫu nhiên mà xảy ra. Hơn nữa sự may mắn luôn luôn là một yếu tố trong chiến tranh.
Ông ôn lại những biến cố trong 3 tháng sau cùng. Ông chấp nhận là Miền Nam Việt Namcũng không có thi hành đúng đắn tất cả các điều khoản của Hiệp Định Ba Lê. Nhưng ông nhấn mạnh là theo thống kê thì Sài Gòn ít vi phạm hơn nhiều so với Hà Nội. Bây giờ thì đã có một sự mất thăng bằng về quân sự, có lợi cho Bắc Việt nhiều hơn . Sài Gòn đang tìm một giải pháp chánh trị xuyên qua những cuộc bàn cãi với CPCMLTMN tại Ba Lê:
” Không hề có một sự tiến bộ nào cho một giải pháp dung hòa về chánh trị , bởi vì Hà Nội không bao giờ muốn như thế …..
Ông Kissinger chứng minh qua Hiệp Định Paris. Ông nhắc lại là:
“Cả Hoa Kỳ và VNCH không bao giờ thấy Bắc Việt thi hành hoàn toàn và nghiêm chỉnh Hiệp Định Ba Lê. Vì nếu được Hà Nội áp dụng đứng đắn, thì các điều khoản chính của Hiệp Định đã giúp cho họ từ bỏ giải pháp quân sự từ lâu, để bước sang giải pháp chánh trị như Hiệp Định đã ghi rõ.”
Ông Kissinger nói rõ là tất cả đều được thiết lập trên sự mất cân bằng, không còn đồng đẳng về quân sự nữa.
“Các đơn vị chiến đấu của Bắc Việt quá nhiều so với Miền Nam , và họ lại được võ trang quá hùng hậu. Quan trọng hơn nữa là họ lại lợi dụng được một tốc độ về tâm lý chiến. Trong một trận chiến điều này có thể là một yếu tố quyết định mạnh hơn là vũ khí nữa.”
Nghị sĩ Joseph Montoya hỏi ông Kissinger về những lý do thất trận của Miền Nam Việt Nam. Kissinger dùng lại những lập luận của ông và của Chánh Phủ Hoa Kỳ:
“Với một lực lượng quân sự không cân bằng, vì những cắt xén viện trợ của Hoa Kỳ , do những áp lực về lạm phát, và giá dầu tăng cao..
Ông Kissinger khen ngợi tinh thần can đảm của Quân Lực VNCH, mặc dầu số tử vong lên đến gần 30.000 người vào năm 1994 (Theo chánh quyền Sài Gòn thì con số tử vong là 21.000 người.)
Đối với những cam kết mật của ông Nixon, nghị sĩ Montoya nêu lên bài toán về những nghĩa vụ của Hoa Kỳ trên phương diện pháp lý và tinh thần đạo đức:
“Chúng ta phải gánh nghĩa vụ tinh thần đó bao nhiêu lâu nữa, giã dụ như chúng ta đã có nghĩa vụ đó từ lâu đối với Miền Nam Việt Nam?
“Thưa nghị sĩ, thật rất khó mà ấn định được một thời gian nào để chấm dứt lắm. Trên thế giới này đã có tình trạng đe dọa thường xuyên nên người ta không thể nói trước một thời gian nào gọi là chấm dứt nghĩa vụ được, trừ phi kẻ xăm lăng chính quyết định chấm dứt cuộc xăm lăng của họ. Chúng ta đã có nghĩa vụ ở Âu Châu trong suốt thời gian sau khi thế chiến chấm dứt, một nghĩa vụ mà chúng ta không thể ấn định được lúc nào mới phải chấm dứt. Chúng ta có một nghĩa vụ đối với quốc gia Do Thái và chúng ta cũng không thể cho một thời gian nào….
Ông có thể cho biết một nước nào khác đã có nghĩa vụ tinh thần đối với Miền Nam Việt Namhay không?
Có rất ít quốc gia như vậy. Chỉ có Nam Hàn, Úc Châu và Tân Tây Lan là có gởi quân đến đó…
Một nghị sĩ khác thuộc đảng Dân Chủ, ông Henry Bellmon hỏi Kissinger:
-” Đôi khi người ta nói về ông, rằng ông là một nhà sáng tác tài tình nhiều phép lạ trong nghề ngoại giao của ông. Ông đã thiết lập được những liên hệ quá bình thường với Trung Quốc….
Ông Kissinger ngắt lời ông Bellmon nửa đùa nửa thật:
“Thiết lập quan hệ bình thường ư? Câu này không phải của tôi đâu, nhưng khi người ta dùng nó, đôi khi tôi không có phản đối quá mạnh….
Ông cũng có làm việc để đi đến thỏa thuận với Liên Xô. Các quốc gia đó (Trung Quốc và Liên Xô) đã tiếp tế cho Bắc Việt . Chúng tôi không biết trong trường hợp hiện tại, nếu những sự quan hệ của chúng ta đối với Trung Quốc và Liên Xô được cải thiện tốt đẹp, thì chúng ta có nên xài nó……
Kissinger thấy là tất cả chánh sách ngoại giao được đặt thành vấn đề trở lại, bèn đáp:
” Khi có người nói rằng họ nhờ chúng ta, thì phải tự hỏi xem chúng ta đã thiết lập được những gì…. Mục tiêu chính yếu trong vấn đề hòa hoãn với Liên Xô là để giảm thiểu nguy cơ của chiến tranh nguyên tử và làm nhẹ đi những sự căng thẳng nói chung. Đây là những gì đã xảy ra: mức độ cung cấp dụng cụ chiến tranh của Liên Xô cho Bắc Việt được giữ ở mức độ không thay đổi trong những năm sau cùng. Trong khi đó, mức độ cung ứng dụng cụ quân sự của Hoa Kỳ cho Miền Nam Việt Namđã giảm xuống đáng kể. Ngoài ra Liên Xô hình như không bao giờ tự hỏi về việc xử dụng vũ khí viện trợ đó một cách quá tỉ mỉ và quá máy móc như chúng ta”.
Trong thâm tâm, Kissnger không có ý định phải tái dội bom Bắc Việt. Nhưng nghị sĩ Walter Huddleston, Dân Chủ thốt lên một câu:
“Người Mỹ chúng ta muốn biết là sau bao nhiêu năm các ngân khoản bổ túc do Chánh Phủ yêu cầu có đi tới được một kết luận tốt hay không? Có hay không? Có một câu trả lời nào cho vấn đề này không?
“Không có một câu trả lời nào chính xác hết. Nếu ít ra chỉ có một.
Với vẻ cảm động, như một kịch sĩ lành nghề, ông Tổng truởng ngoại giao lẳng lặng đọc cho các nghị sĩ nghe bức thư của ông Sirik Matak. Các vị dân cử đều ngao ngán…Kissinger bèn khai thác ngay:
“Thưa ông Chủ tịch, thưa quý bà, quý ông.., Ông đại sứ Dean và cá nhân tôi nữa không người nào quên được lá thư này.Và ngay cả người đã can đảm viết bức thư này..cũng vậy. Bây giờ đây, với tư cách là người Hoa Kỳ chúng ta cùng nhau phải biết hành động như thế nào để có thể chắc chắn là chúng ta sẽ không bao giờ còn nhận được những lá thư như thế này nữa.!”
Ông Tổng trưởng ngoại giao muốn thử làm cao để tự bào chữa, nên chỉ nhắc sơ qua lý do chính yếu đã đẩy Bắc Việt tiến tới một cuộc tổng tấn công toàn diện và cuối cùng.
Khởi đầu thì có vụ việc “nghe lén” (Watergate) mà chỉ một mình ông Nixon là người lãnh trách nhiệm.. Vừa không thể chấp nhận được, vừa là điều phi lý, sự nghe lén đồi bại nhỏ nhoi trong những khu vực của đảng Dân Chủ đó đã kéo theo một thủ tục mà Kissinger không thể dự đoán được trong lúc đang hình thành những đoạn tế nhị của Hiệp Định Ba Lê. Nếu ông Nixon còn ngồi ở chánh quyền thì không còn nghi ngờ gì nữa và còn chắc chắn là ông sẽ gởi ngay các pháo đài bay B.52 ngay sau khi Bắc Việt tấn chiếm Ban Mê Thuột. Khi cho lệnh dội bom lên Cam Bốt hay Hà Nội , ông Nixon đã cho thấy là ông không có chút lưu tâm tới ý kiến của Quốc Hội cũng như tới dư luận dân chúng Hoa Kỳ. Nghị quyết và Luật về Quyền Hạn Chiến Tranh có ngăn cản ông ta đâu? Nếu các phi công Mỹ đã nhận lệnh của Tổng Thống , với tư cách là Tổng Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ, họ có tuân lệnh hay không? Hay là, nếu bất tuân lệnh, thì họ có nhờ luật sư của họ, viện dẫn Quyết Định và Luật đó hay không?
Yêu cầu ngân khoản viện trợ của Tổng Thống Ford đã huy động đến 8 tiểu ban ở Thượng Viện và Hạ Viện. Tổng Trưởng Quốc Phòng Schlesinger và tướng Weyand cũng phải ra điều trần.
Các con số teo dần: 515 triệu, rồi 449, 401, 370 rồi 350 triệu… Người ta tính ra là 165 triệu viện trợ quân sự và 165 triệu cho viện trợ nhân đạo. Các thành viên của Quốc Hội nhất là các nghị sĩ, gần như muốn ngân khoản viện trợ nhân đạo và cho cuộc hành quân di tản phải lên đến 200 triệu. Ông Ford vẫn chưa chịu và ông ta đòi 972 triệu cho tất cả. Chuyện đối đầu giữa Hành Pháp và Lập Pháp được công khai đưa lên truyền hình, truyền thanh, và báo chí, quả thật là mệt nhọc. Trong một cuộc họp báo, Tổng Thống Ford thử đưa ra một so sánh về yêu cầu của mình: ông xin một ngân khoản nhỏ thôi, dưới một tỷ đô la, một con số có đáng kể gì đâu “so với 150 tỷ mà chúng ta đã xài từ trước.?”
Nhưng.. Lãnh đạo ở Hà Nội và Lê đức Thọ ở Miền Nam, và trên mặt trận ai cũng biết rõ hết từng chi tiết.
Điều rõ ràng là mặc dầu có thiện chí và có thiện cảm với ông Ford, hầu hết các thành viên của Quốc Hội không sẳn sàng chấp thuận cho ông ta một ngân khoản viện trợ quân sự nào nữa. Dĩ nhiên là ông vẫn sẽ được tất cả ngân khoản cần thiết để di tản các công dân Hoa Kỳ. Thật sự, có bao nhiêu người? – 5400 hay hơn thế nữa? Người ta cũng chấp thuận cho Tổng Thống những ngân khoản chủ yếu cho viện trợ nhân đạo và để không bỏ lại cho cộng sản những người Việt Nam đã từng cộng tác với Hoa Kỳ.
Tổng Thống Ford đã tiếp tất cả những thành viên thuộc tiểu ban Ngoại giao của Thượng Viện trong suốt 1 giở rưỡi. Cả các vị dân cử thuộc hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ đều mong muốn Tổng Thống hứa là sẽ nhanh chóng đưa những người Mỹ ra khỏi nước Việt Nam. Người Việt Nam thì phải ở hàng thứ yếu. Con số được đề nghị bốc đi sẽ là bao nhiêu? Ông Ford đáp lời:
” Đại khái phải tính cho là từ 175.000 đến 200.000. Chúng ta phải có trách nhiệm tinh thần, và chúng ta phải giúp đỡ những người đã từng giúp chúng ta .”
Tổng Thống Ford không muốn cung cấp cho các nghị sĩ một ngày giờ nhứt định. Rút người Mỹ ra khỏi Việt Nam trong lúc này là sẽ tạo ngay một tình trạng hoãng loạn, và như thế sẽ nguy hiểm cho tánh mạng của những người Mỹ hiện đang còn ở Việt Nam.
” Chúng tôi cần có thời gian, chỉ trong vòng một vài ngày mà thôi.
Ở Hoa Thạnh Đốn , có nhiều người nói là sẽ di tản chừng 1 triệu người Việt Nam bằng cách chở họ bằng tàu thủy từ cảng Vũng Tàu. Như vậy sẽ có bao nhiêu binh sĩ, bao nhiêu Thủy Quân Lục Chiến Mỹ để bảo vệ cuộc hành quân đó? Phải tốn đến nhiều sư đoàn …. Các dân cử Mỹ thích con số chừng 200 ngàn người Việt Nam.
Người ta nói đến trường hợp ông đại sứ Martin. Trước khi đến gặp Tổng Thống Ford, hầu hết các nghị sĩ đều đã có đọc một tờ trình của hai ông Richard Moose và Charles Misner, hai người phụ tá của các đại biểu trong phái đoàn từ Việt Nam về. Theo đó thì ông Martin không bao giờ chấp nhận tính cách không thể đảo ngược của tình hình quân sự.
Từ Sài Gòn, đại sứ Hoa Kỳ theo dõi trận chiến ngay trên mặt trận ở Hoa Thạnh Đốn.
Với những ai muốn nghe thì ông sẳn sàng tố cáo ” những cái điếm đàng về ngân khoản của Quốc Hội” . Biết chắc là họ sẽ bỏ phiếu chống mọi viện trợ quân sự , ông Martin đề nghị với ông Kissinger là trong trường hợp đó, thì tốt hơn hết là tìm cách hoản cuộc bỏ phiếu đó lại . Chúng ta không nên làm mất tinh thần Chánh Phủ Miền Nam Việt Nam, ta phải cho họ thời gian để quay trở lại. Cuối cùng Tổng ThốngThiệu cũng đã hiểu: ông đã cùng với Tổng trưởng Nguyễn Tiến Hưng nghĩ ra một kế hoạch khác và một đường lối vận động khác để có thể đạt được viện trợ của Hoa Kỳ . Sài Gòn có thể xin vay Hoa Thạnh Đốn một số tiền chừng 3 tỷ mỹ kim, trả dài hạn trong 3 năm, có thể gia hạn trong 10 năm. Bắt đầu trả nợ từ năm 1985. Quốc Hội Mỹ sẽ ấn định lãi suất. Số nợ vay này sẽ được bảo đảm bằng tài nguyên nông nghiệp và đầu hỏa. Người ta có thể đặt tên rất kêu cho món tiền cho vay này là: “Món nợ vay cho Tự Do”. Cái tên này có vẻ quyến rũ được dư luận dân chúng Hoa Kỳ lắm đó!
Ông Nguyễn Tiến Hưng đưa ý kiến này cho ông Martin, để ông trao cho các chuyên viên kinh tế của ông nghiên cứu. Còn ông thì đi sang Hoa Thạnh Đốn hoạt động ngoài “hành lang” để vận động cho ý kiến “vay món nợ cho Tự Do” này. Qua điện thoại, hình như ông Martin không mấy chú tâm đến vấn đề này, ông Hưng chỉ nhớ thoáng qua một câu của Đại sứ:
-” Thật ra, Tổng Thống của ông sẽ từ nhiệm hay không?”
Trên phương diện quân sự , trong một công điện gởi cho ông Kissinger, ông Martin đã mô tả trân chiến ở Xuân Lộc nằm về phía Tây của Sài Gòn đang diễn tiến tốt đẹp. “Bắc Việt đã có hai ngàn chết và bị thương. Các tù binh còn rất trẻ, có một cán binh nói rằng anh ta được 14 tuổi…” Từ đó chúng tôi nghĩ rằng Hà Nội đã không còn trừ bị. …”
Đại sứ Martin vẫn còn tin tưởng:
“Tôi không tin rằng QLVNCH sẽ chịu cúi đầu.”
Cuối cùng rồi Chánh Phủ mới cũng được thành lập xong ở Sài Gòn . Ông Martin vẫn gởi công điện cho ông Kissinger nhiều lần mỗi ngày, lần này:
“Người ta không biết bây giờ thì cái gì sẽ xảy ra “
Ở Hoa Thạnh Đốn tiểu ban ngoại giao của Thượng Viện đã tạm thời chấp thuận một yêu cầu pháp chế khẩn cấp, cho phép Tổng Thống quyền được xử dụng quân đội cần thiết trong việc di tản người Mỹ và một số người Việt Nam. Các nghị sĩ bắt buộc ông Martin phải nhanh chóng rút người Mỹ ra khỏi Việt Nam. Nghị sĩ Charles Percy, Cộng Hòa, yêu cầu Tổng Thống Ford phải bảo đảm là mọi phi cơ lúc rời khỏi Sài Gòn đều không được có ghế nào trống. Tổng Thống Ford đã xác nhận với ông này rằng Kissinger đã có cho lệnh như thế rồi. Ông Martin nhận thấy là không khí ở thủ đô Hoa Kỳ xấu đến mức độ khó nói.
Ngoài những bài toán trực tiếp, cuộc truy tìm những người có trách nhiệm trong vấn đề tán loạn này cũng đã bắt đầu. Như thế là bộ máy dân chủ đang chạy..
Người ta có thể cho đi bao nhiêu người Việt Namđược ? và di tản bằng cách nào cho hợp với pháp lý của Hoa Kỳ? Người nào muốn rời khỏi nước Mỹ đều không cần phải xuất trình một tờ căn cước nào hết. Nhưng đi vào nước Mỹ thì khó lắm, vì còn phải xét đến luật lệ và cấp khoản di trú được tính cho người Việt Nam giống như những người khác. Bộ ngoại giao đã phải tranh đấu cho vấn đề này. Ngày 14 tháng 4, Bộ này đã cho Tòa Đại sư của mình ở Sài Gòn biết là họ chỉ được một vài nhượng bộ rất hạn chế. Một số người Việt Namnào đó chỉ được nhập cảnh vào Hoa Kỳ với một “lời hứa danh dự” (on parole ). Đây không phải là lòng vị tha suông. Người ta muốn “loại bỏ” một trong những lý do đã thúc đẩy một số người Mỹ từ chối không muốn rời khỏi nước Việt Nam– sự hiện hữu của vợ con họ gốc người Việt Nam– Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ lo về vấn đề di trú đã định nghĩa các tiêu chuẩn như vậy.
Muốn di cư vào Hoa Kỳ thì phải:
1.- Được kết hôn chánh thức với một nam hay nữ công dân Hoa Kỳ 2.- Là con của một nam hay nữ công dân Hoa Kỳ)
3.- Là mẹ hay cha của một công dân Hoa Kỳ (ví dụ một phụ nữ Việt Nam đã trở thành mẹ của một đứa trẻ Mỹ, qua kết hôn)
4.- Là Mẹ hay Cha của người phối ngẫu ngoại quốc của một công dân Hoa Kỳ (ví dụ mẹ hay cha của một người phụ nữ Việt Nam đã kết hôn với một công dân Hoa Kỳ mà chưa trở thành nữ công dân Hoa Kỳ)
5.- Là một trẻ vị thành niên không do sự kết hôn của một phối ngẫu ngoại quốc (ví dụ con riêng của một phụ nữ Việt Nam đã có trước khi thành hôn với một công dân Hoa Kỳ)
Trước khi đi, mỗi người phải có những giấy tờ chứng minh mối liên hệ cha mẹ của mình. và người đó phải điền vào mẫu I-94.
Các công chức ở Hoa Thạnh Đốn có cảm tưởng là đã thiết lập những luật lệ rõ ràng, công bằng, và rất nhân đạo. Nhưng vô phước thay, ho không nghĩ tới những sự thật ở Việt Nam. Có một số dân sự người Mỹ như thợ, đốc công, kỹ sư … đến làm việc cho các hãng tư ở Việt Nam, những người phóng viên, nhiếp ảnh viên … đã sống không chánh thức từ lâu với các phụ nữ Việt Nam và đôi khi họ cũng đã có con với nhau. Có vài người trong số này chỉ giản dị là quên không kết hôn với nhau thôi. Các ông công chức ở Hoa Thạnh Đốn cứ tưởng đến gia đình người Mỹ thời nguyên tử, một chồng một vợ và một hay hai đứa con là cùng, hay họa hoằn còn thêm một hay hai ông bà. Các gia đình Việt Nam đến trình diện ở Tòa Lãnh sự thường có từ 15 đến 30 người ; có nhiều gia đình người Tàu lại Việt ở Chợ Lớn có đến những 50.
Nhờ Trời, tại Sài Gòn các công chức người Mỹ biết cách xử sự và mềm dẻo hơn. Trên các chuyến bay từ Tân Sơn Nhứt mỗi ngày, số ghế được hạn chế. Do đó khó mà quyết định được ai đi ai ở? Thật là đau khổ! Rất khó khăn trong việc chọn lọc, nhất là khi người Việt Nam nói với toà lãnh sự: Tùy các ông lựa chọn giùm đi!
Một viên chức có trách nhiệm trong vấn đề chọn lọc này là ông Ken Moorefield đã quyết định bất chấp hết luật lệ. Khi người ta không thể chấp nhận toàn thể một gia đình nào đó thì người ta đi từ nguyên tắc : đừng để ở lại Sài Gòn những ông bà già nào không còn một con trai hay con gái để lo phục vụ cho đời sống của họ.
Ngoài ra trên nguyên tắc, trước khi cho giấy phép xuất cảnh, tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ phải được biết chắc chắn là trước khi rời khỏi Việt Nam người đó có ở trong tình trạng hợp lệ đối với Chánh quyền Việt Nam hay không?. Được một thông hành không phải là một chuyện dễ, đó là chưa nói tới những thủ tục về tiền bạc. Người Mỹ vi phạm luật lệ Việt Nam một cách dễ dàng hơn là đối với luật lệ của Hoa Kỳ. Từ đầu tháng 4, tòa Lãnh sự Hoa Kỳ nhận hết các loại giấy xuất cảnh do Bộ Nội Vụ Việt Nam cấp, thường là giấy giả hay giấy mua được ở đâu đó. Để cho chạy việc, người ta hứa với một vài công chức hay thanh tra là sẽ cho di tản họ và cả gia đình họ, nếu họ tỏ ra biết chịu hợp tác. Vào thời điểm bình thường, ở tại Sài Gòn , ngay như người ta muốn thuê một công chức làm giấy tờ, thì cũng phải đợi đến nhiều tuần lễ hay có khi cả mấy tháng mới có được một giấy tờ chánh thức. Còn bây giờ thì có đến hàng chục ngàn người nộp đơn, thì làm sao mà hy vọng có được thông hành, chiếu khán xuất cảnh, giấy chứng nhận không thiếu thuế, giấy thông hành .. được cấp cho một cách nhanh chóng? Do vậy mới có “kỹ nghệ làm giả giấy tờ” và kỹ nghệ này đang nỡ rộ, với tất cả các loại cần thiết từ bản chữ in đến con dấu. Và người Mỹ ở Sài Gòn đã học được cách “không cần xét kỹ ” giấy tờ.
Tại Hoa Thạnh Đốn người ta nói đến con số 1 triệu người có khả năng di cư., Tổng Thống thì gợi lên con số hai trăm ngàn. Không có một chỉ thị chánh thức nào về “con số” được gởi đến cho tòa đại sứ ở Sài Gòn . Mãi cho đến ngày 26 tháng 4, người ta mới cho phép ông Martin chánh thức cho di tản hai mươi lăm ngàn người Việt Nam.
Bên cạnh con đường di tản chánh thức, lại có những hệ thống song song bán chánh thức được thiết lập, do các công ty, các sĩ quan Không quân Hoa Kỳ, do Cơ Quan Trung Ương Tình Báo CIA hay những nhóm đặc biệt khác đứng ra tổ chức. Do đó có hai công chức cao cấp thuộc Bộ Ngoại Giao là Larry Johnstone và Lionel Rosenblatt, khoảng 30 tuổi, đang làm việc tại Hoa Thạnh Đốn sau thời gian phục vụ tại Sài Gòn , đã thấy khó chịu về sự chậm lụt hành chánh . Họ tự nghỉ phép và đến Sài Gòn bằng tiền túi của mình mà không báo cho cấp trên biết. Họ đến ở ngay khách sạn Caravelle, và sau đó họ đi thuê trong một căn phòng trống ở ngoài phố. Trong suốt 6 ngày liền họ ngủ rất ít, dùng thì giờ đi khắp Sài Gòn với một chiếc xe Citroen cũ hay với
chiếc xe buýt của hãng Pan Am. Họ nhận tất cả giấy tờ giả, rồi đến một vài chỗ hẹn bí mật trước Bưu Điện Sài Gòn hay Nhà Thờ Chánh Tòa để tập trung các người di tản. Ông Johnstone nói:
“Cũng hơi bậy, không theo đúng cung cách của Bộ Ngoại Giao
Cái khó chủ yếu là làm sao đưa những người hành khách lậu này vào phi trường. Cảnh Sát thì họ rất là nghiêm túc, các binh sĩ gát cũng vậy, ngay như đề nghị cho họ tiền cũng vậy. Một vài người chui vào thùng xe Citroen. Ông Rosenblatt giao dịch với ông Jim Eckes thuộc Dịch Vụ hàng không Continental. Nhờ đó hai ông Johnstone và Rosenblatt đã di tản được 200 người Việt Nam, trong số đó có 20 anh trai trẻ mà theo lời của hai ông công chức cao cấp người Mỹ này thì họ sẽ gặp khó khăn to lớn khi bị rơi vào tay của quân cộng sản Bắc Việt.
Trong khi đó thì tu sĩ Thích thiện Huệ đã quyết định là dù có xảy ra điều gì thì ông cũng vẫn ở lại Sài Gòn trong ngôi chùa của ông. Người anh cả của ông là một thiếu úy thường giải các tù binh Bắc Việt bị bắt ở Xuân Lộc về Sài Gòn . Viên thiếu úy này mỗi lần về Sài Gòn đều có khuyên cha mẹ anh nên rời khỏi Việt Nam. Còn cha mẹ anh thì lại khuyên anh nên đào ngũ. Anh đã từ chối. Anh đã thuật cho em của anh nghe về trận chiến ở Xuân Lộc:
“Khi bộ đội cộng sản vào thành phố Xuân Lộc lần đầu tiên, có một vài thương binh của chúng ta đã đứng lên để nguyên cả túi thuốc cùng băng ni lông trên bụng, và rảo bước đi rất tự nhiên..
Thiếu úy này có cảm tưởng là Bắc Việt đã có một số đạn pháo vô giới hạn.
Một vài vị dân biểu của Quốc Hội VNCH thường lui tới với các Thầy trong chùa, đã đoan chắc là Hoa Thạnh Đốn và Bắc Kinh đã thỏa thuận với nhau để thiết lập một vùng trái độn do CPLTCHMN kiểm soát. Do vậy mới có chuyện các đơn vị của Miền Nam Việt Nam được lệnh rút đi. Lại có nhiều chuyện phịa mới được tung ra ở thủ đô như: ở Hà Nội đã có đảo chánh và tướng Võ nguyên Giáp đã bị giết, các sư đoàn Bắc Việt đang rút về Miền Bắc để chống lại quân Trung Cộng đang tấn công vào Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, tất cả mọi chuyện đang xảy ra, kể cả trận chiến ở Xuân Lộc, đều nằm trong một kế hoạch chung rất là phức tạp, hết sức tinh tế, do Trung Quốc và Hoa Kỳ xếp đặt, hay do Liên Xô và Hoa Kỳ, hay do Bắc Việt và Hoa Kỳ dàn dựng……
Cộng đồng người Âu Châu và Hoa Kỳ thường lui tới Câu lạc bộ thể thao, nơi được mọi người được yêu cầu nên giữ đúng nội quy: không được mặc áo lá lúc đi dạo, trừ ra ở bên hồ bơi, và lúc nào cũng phải mang giầy bố trắng trên các sân tơ nít. Có người thì đi dạo, tản bộ chậm chậm gần các cây me to, có người thì chơi một ván “boule” .. Các bà thì vắng đi nhiều rồi kể từ vài tuần nay. các anh bồi mang rượu mạnh hay nước ngọt ra cho khách, thường mặc đồ trắng. Thỉnh thoảng có một chú cầm chuông rung lên và báo cáo:
Ông Hiền có điện thoại hay là
Ông Polgar
Ông Brochand …
Có một bầu không khí vui chơi giả tạo để dấu kín một sự lo âu thật sự…. Mấy người Mỹ, người Đức, người Pháp và người Úc trao đổi với nhau những tin tức sau cùng hay những chuyệntầm phào thuở xa xưa, họ đọc báo… Có đôi lúc người ta cười đùa rất thoái mái: ông Ed Daly, chủ tịch hãng hàng không Word Airways, đã gọi các nhà báo đến căn phòng ở khách sạn của ông tại Đông Kinh (Nhật Bản) và đọc cho họ nghe một công điện gởi cho Tổng Thống Ford. Ông Daly đã gởi tới Sài Gòn một chiếc phi cơ DC-8 và một chiếc Boeing 727 để giúp chở người tỵ nạn. Nhưng không một người nào được phép bước lên hai chiếc phi cơ đó, do vậy chúng phải bay trở về Đông Kinh, trống rỗng! Ông Daly đoan chắc là tòa đại sứ Mỹ muốn bắn hạ các phi cơ nào của mình muốn cất cánh, nhưng tòa đại sứ đã đính chánh. Người ta không biết liệu Tổng Thống Ford có đọc được bức công điện này của ông Daly hay không:
“Hãy ngăn mấy thắng nhơn viên CIA ngu ngốc của ông lại đi . Hãy đưa vào đây một vài người trung thành và thật sự tận tụy với công việc. Với tư cách cá nhân và của một người chuyên nghiệp đã đóng thuế quá nhiều cho ông, tôi có quyền nói lên một dư luận. Chúng ta hãy làm việc nhanh đi.”
Cơ quan ở Sài Gòn có thể thấy khó chịu vì những lời lẽ trên đây, nhưng với bản chất bình dị, ông Daly đã nói lên một sự thật: Vì muốn tránh tình trạng hoảng loạn nên ông Graham Martin phải kềm hãm sự di tản.
Gần Câu lạc bộ thể thao, trên các bãi cỏ trong Dinh Độc Lập, binh sĩ bố trí các đại bác phòng không, đào phòng tuyến, dựng lên vị trí phòng thủ bằng bao cát và đặt các khẩu liên thanh nặng. Không biết để phòng chống bộ đội Bắc Việt nếu họ tới đây, hay để đề phòng những đơn vị khác của Miền Nam, phản loạn, trong trường hợp có đảo chánh?
Từ trong dinh Độc Lập phát ra những lời tuyên bố chung chung, như những câu thần chú.. Tổng Thống tuyên bố là Chánh Phủ mới, vừa được thành lập có đầy thiện chí để sẵn sàng thương thuyết với cộng sản . Nhưng Chánh Phủ “sẽ không đầu hàng” Tổng Thống ước mong là phái đoàn cộng sản ở La Celle-Saint-Cloud sẽ trở lại bàn hội nghị để thành lập Hội Đồng Hòa Hợp Hòa Giải Quốc Gia.
Nội các mới phần lớn gồm có những người dân sự được ông Thủ Tướng Nguyễn bá Cẩn chọn lựa. Trong hàng Tổng trưởng, người ta thấy có nghị sĩ Tôn thất Niệm, một người phật tử ôn hòa. Những người dân sự trong Chánh Phủ nói thẳng ra rằng họ không tin tưởng vào giải pháp quân sự nữa, và cũng như hầu hết đồng bào của mình họ đã quá mệt mỏi với chiến tranh rồi. Nhiều người muốn Tổng Thống Thiệu nên từ nhiệm, nhưng họ không dám nói thẳng với ông .Tướng Trần văn Đôn, Tổng trưởng Quốc Phòng là người rất năng nỗ. Với sự chấp thuận của Tổng Thống, ông ta đã phạt tù một vài sĩ quan cao cấp và tướng lãnh, trong đó có tướng Phú.
Ông Đôn, người đã cho rằng ông đã có nhiều cuộc tiếp xúc với CPLTCHMN, đã chuẩn bị một chương trình hành động: ông sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống VNCH và trong 48 tiếng đồng hồ ông sẽ cho lệnh ngừng bắn. Sau đó ông sẽ thành lập một Chánh Phủ mới. Để đáp lại CPLTCHMN sẽ bảo đảm an toàn cho người Mỹ ở Sài Gòn. Trừ một toán nhỏ ở tòa đại sứ, còn bao nhiêu đều phải được di tản hết. Sau một thời gian xử lý, CPLTCHMN sẽ kiểm soát thủ đô. Ông không làm gì để ngăn cản bất cứ người Việt Namnào muốn ra đi. Ông sẽ cho chiếu khán xuất cảnh dễ dàng. Ai cũng biết là họ sẽ xin ở đâu rồi, ở Huế, ở Đà Nẵng và ở Sài Gòn. Như thế là vừa được thành lập là Chánh Phủ đã lấy khoảng cách với Tổng Thống Thiệu rồi. Trong một cố gắng cuối cùng, để đo thử dư luận dân chúng và giới dân cử Hoa Kỳ , ông Thiệu cho phổ biến một bức thơ của Tổng Thống Nixon, bức thư đề ngày 23 tháng giêng 1973 đã gây náo động cả thủ đô Hoa Thạnh Đốn . Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ra lệnh cho đại sứ Martin nhấn mạnh là một bức thư không phải trở thành một hiệp ước được. Ông Thiệu không thấy được là việc gợi lên cái tên Nixon không thôi đã là một sự vụng về rồi, kể cả trong giới dân cử hay cử tri của đảng Cộng Hòa.
Tổng Thống Thiệu kêu gọi mọi người phải chiến đấu, để chuẩn bị cho một cuộc phản công, để ổn định cả ở hậu phương cũng như ở tiền tuyến. Để góp phần vào nỗ lực chiến tranh, tòa thị chính Sài Gòn ấn định một số luật lệ mới nhắm vào vấn đề di chuyển: không còn nghi ngờ gì nữa để tránh những cuộc ám sát : tốc độ tối đa cho xe đạp được ấn định là 15 cây số / giờ, cho mô tô, xe vận tải và xe buýt là 25 cây số / giờ, và cho xe du lịch, xe xì cút tơ là 40 cây số / giờ. Nếu có còi báo động thì “dân chúng không nên hốt hoảng”
Người cộng sản không phải hên may nên đoạt thắng. Chúng ta, những người lính Quân lực Việt Nam Cộng hòa không hề thua vì kém chiến đấu. Chúng ta đã thua trận từ những nguyên nhân vượt khỏi trách nhiệm người lính, quá xa tầm súng và sức chịu đựng của chiếc lưng. Chiếc lưng mang khối nặng ba-lô đã khởi đi từ một thuở rất lâu, những năm sau Thế chiến thứ Hai, khi trên thế giới, toàn loài người đang cố gắng chữa trị vết thương, xóa bỏ dấu ấn sự chết. Từ thời điểm đáng ghi nhớ và cũng đáng nguyền rủa đó, dân tộc Việt Nam, toàn thể những con người sống trên vùng đất chữ “S” vùng Đông – Nam Châu Á bị đẩy vào vũng lửa của một cuộc chiến tranh bị hạ nhục, mạ ly, vu khống và không cân sức.
Cho dù tất cả các cuộc chiến tranh đều có chung yếu tính Sự Ác và Hủy Diệt, nhưng đây là một trong những cuộc chiến tồi tệ nhất của dòng sống con người. Cuộc chiến vô ích, dai dẳng, khắc nghiệt nhất của lịch sử dân Việt. Người lính Việt Nam, Quân lực Việt Nam Cộng hòa gánh chịu phần nặng nề, thua thiệt và đau đớn nhất.
Gần hai mươi năm sau khi cuộc chiến kia chấm dứt, vết thương bị lăng nhục vẫn còn tươi máu. Trên tất cả những vùng đất, thị trấn, xóm làng, thành phố tan tác, loang lồ của khắp miền Nam hôm nay vẫn nguyên độ nóng của dấu bom miểng đạn, vẫn hằng hằng những người tóc ngả màu mệt nhọc cúi mình trên tập vé số, tì tay lăn chiếc xe phế binh hoen rỉ bên trên lề đường đặc lềnh bụi khói mờ mờ che màu cờ đỏ của một buổi đổi thay tàn nhẫn. Nơi Nghĩa trang Quân đội Long Bình lũ chó hoang kéo lê những lóng xương rã mục, Trung Liệt Đài sụp xuống chiếc mái, biến thành nơi tích chứa phân của đơn vị bộ đội cộng sản làm nhiệm vụ khai thác đá và chăn nuôi vùng Tăng Nhơn Phú. Người lính và các con họ vẫn là đám “ngụy tiện dân” bị xếp hạng thứ “13” của phân chia thành phần giai cấp, chỉ trên đứa trộm cắp, giết người lãnh án tù chung thân khổ sai, loại cùng đinh xã hội.
Và cuối cùng, ở đây, nơi xứ người, trên đất Mỹ, “những người đi theo diện H.O” đã nên thành một giai cấp, một cộng đồng trong lòng một cộng đồng. Một tổng số của tập hợp bị xem nhẹ và coi thường. Chân dung người lính đó từ lâu đã bị ngộ nhận. Hôm nay chúng ta cần viết lại. Phải vẽ lại đúng vóc dáng kỳ vĩ nỗi chịu đựng lặng lẽ đầy bi tráng này.
1. Chiến đấu giữa bóng tối
Một cuộc biên chế toàn trại bắt đầu từ 7 giờ sáng. Đến trưa, năm trăm người thuộc thành phần sĩ quan từ Đại, Trung tá đến Đại úy được xếp theo 13 đội vào từng khu riêng biệt; một khu gồm hai căn nhà lớn liền nhau, mỗi nhà chứa hai đội khoảng bảy, tám chục người. Sân trại giam chỉ còn lại mình Nhân với đám cán bộ công an vây quanh, những khuôn mặt lạnh lùng cẩn mật. Mang đồ ra phòng trực trại ở cổng! Tại đây một màn lục soát sơ khởi tiến hành. Bắc, gã cán bộ an ninh nhân lực, người quyết định sinh mạng chính trị và cả đời sống của toàn thể tù nhân, chỉ huy cán bộ trực trại và gã phụ tá, đồng thời cũng tự tay thực hiện việc khám xét. Ba người, sáu bàn tay, sáu con mắt đồng mân mê từng lai quần, đổ tung những lon guigoz đựng đường, bột. Không khó khăn, họ tịch thu ngay cuốn nhật ký Nhân viết từ ngày vào trại Long Giao, tháng 6, 1975. Còn gì nữa không? Bắc khép mở cánh môi màu gạch nung, lớp da xác chết, hàm răng kín khít, con mắt chó đá nhìn anh không chớp. Nhân lắc đầu, quả tình anh nói không được, cổ họng đóng khô …
Anh nhìn bàn tay (không phân biệt mặt người) xé tấm bìa cuốn nhật ký; hình vẽ khuôn mặt con trai anh bị ném tung từng mảnh … Anh đưa mắt nhìn theo những mảnh vụn. Bắc biết ý. Y dẫm chân lên, đế dép lốp xe hơi chà xát giày xéo. Y nhìn vào mắt anh lạnh và ngắn … Mang một chăn, một chiếu, một bát, một cóng vào phòng kỹ luật! Vâng! Nhân long cóng ôm gói đồ lếch thếch theo hai người, kẻ thứ ba đi sau anh.
Phòng kỷ luật ở về phía cực phải cuối trại giam; khi sắp bước chân qua ngạch cửa dẫn vào khu kỷ luật, Nhân có ý định chạy về khu nhà phía trái, nơi có cánh cửa khép hờ dẫn vào đội những người già, yếu, bệnh hoạn. Nhưng anh bỏ ngay ý nghĩ. Bởi nếu muốn thế, anh phải chạy vào khu nhà ở thuộc đội những người khoẻ mạnh, gan góc (như đội cũ của anh trước cuộc biên chế sáng nay). Bây giờ, những người bạn trẻ kia đã bị chia tan tác qua những đội mới; còn đội già yếu này, đa số, nếu không nói hầu hết đều là những người lớn tuổi an phận, nếu có những người trẻ tuổi thì cũng chỉ những người vốn đau yếu. Họ đã không mang vác nổi cảnh khốn cùng của bản thân lấy đâu sức mạnh thể chất, cứng cỏi tinh thần để che chở cho anh. Vô ích thôi! Nhân bước chân vào khu kỷ luật với ý nghĩ cùng đành buông xuôi. Bắc trở mặt ngay. Để đồ xuống! Đứng nghiêm! Y lấy trong túi ra tờ giấy viết sẵn, chẳng cần nhìn vào, y đọc nhanh, vẻ chán chường, bất đắc dĩ phải làm công việc vô ích, phiền toái.
“Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Độc lập, Tự do, Hạnh phúc. Bộ nội vụ, trại cải tạo số 5 quyết địnhtên Phạm Trung Nhân, sinh 1943 tại Nại Cửu, Triệu Phong, Quảng trị can tội ngụy quân, án phạt tập trungcải tạo. Quá trình cải tạo không chuyển biến tốt, biểu hiện phản động sai trải qua hành động tổ chức phá rốian ninh trật tự trại giam ngày 13 tháng 2, 1979. Xét bốn tiêu chuẩn của trại cải tạo và để duy trì an ninh kỹ luật trại giam, nay quyết định. Phạt kiên giam tên Nhân từ 21 tháng 2 cho đến khi có biểu hiện tiến bộ. Đồng chí Bùi Dù, cán bộ trực trại thi hành”.
Cởi đồ ra! Bắc nôn nóng. Cách nóng nảy của con thú chờ mồi quá lâu. Cát, tên phụ tá chuẩn bị ra đòn, dù có vẻ bình tĩnh và quen công việc, khôn Ngoan giấu đi phản ứng. Thôi xong rồi! Nhân tự nhủ, cổ họng đắng như nuốt phải cục vôi khô. Người anh trống không nhẹ tênh. Bắc chú ý đến cái áo khoát ni-lông từ khi anh bỏ ra, lưng áo nổi cộm lộ liễu. Y đặt tay lớp lót bằng vải bao cát mà Nhân đã khâu vào thành lớp dày chống rét. A! Bắc không ngăn được vẻ khoái trá khi bóp được lớp giấy lot giữa hai tầng áo. Xoẹt! Y xé lớp vải bao cát không nương tay. Rồi! Nhân kêu lên tiếng nhỏ, xem như đã đứng trước một dãy nòng súng …
Tập thơ năm trăm bài làm từ ngày đi tù, bút ký ghi sự việc, cảm xúc từ Nam ra Bắc và cuốn dàn bài chi tiết về bộ trường thiên tiểu thuyết dự tính từ bao năm nay. Xong rồi! Nhân không còn gì phải gìn giữ và lo sợ. Mọi sự coi như đã kết thúc! Bắc không phải lật với một tay mà cả hai tay hối hả … Đây là những cái mà y đã truy lùng từ bao lâu, từ tháng 10 năm ngoái khi Nhân bắt đầu viết những tập bản thảo kia. Khuôn mặt Bắc cau lại, y không đọc ra được … (vì chữ viết bằng bút chì quá nhỏ chen lẫn giữa hai hàng chữ mực tím của bản thảo tài liệu dịch cho bộ Quốc phòng từ những năm trước mà Nhân đã lưu giữ sau bao đợt chuyển trại).
Trong dự kiến, theo báo cáo của những tên ăng-ten (những gã tù chỉ điểm trong tập thể sĩ quan cải tạo), Bắc nghĩ rằng Nhân đã có những lời đả kích lộ liễu đối với chế độ, chủ nghĩa cộng sản, chính sách giam giữ của các trại tù. Thế nhưng ở đây lại là …“Luyện Ngục Rực Lửa; Đá Nát Vàng Phai … “. Bắc không hiểu được, suy diễn ra … Cho vô cùm, mai đưa ra sân trại, đánh tàn phế một cơ quan trước tập thể … Tính sau! Cửa vào phòng kỷ luật mở ra, Nhân bước vào. Cửa đóng lại. Phòng chìm bóng tối, im lặng, ẩm mốc, không khí, cảnh sắc của sự chết, nhà mồ. Thêm một cửa nữa được mở, cửa cuối cùng, và anh bước vào căn phòng, đúng hơn một cái hộp, dài hai thước, rộng khoảng một thước, cao ba thước, chiếc bệ đất tráng lớp xi-măng, phần cuối có thanh sắt chắn ngang bên trên lủng lằng hai vòng cùm hình chữ U.
Nhân đút chân vào cùm, nằm xuống. Trời tháng 2 lạnh cóng, căn phòng sũng ướt như một hầm nước đá. Không có vật gối đầu, Nhân định cởi cái áo mưa ngắn làm gối nhưng lưng không chịu nổi lạnh, bèn dùng gà-men lính gối đầu lên. Bây giờ mới hiểu tại sao Kinh Thánh có câu: “Con Người không có chỗgối đầu ... “. Tình trạng này đây! Hoá ra cũng đã có người trải qua những giây phút này mà là Con Người – Thiên Chúa. Nhân nằm như thế bao lâu, không biết trời bên ngoài sương mù hay ửng nắng, trưa, chiều, tối, khoảng mấy giờ … Chỉ bóng tối mờ mờ lầy lầy, lạnh tanh và im lặng. Hình như chung quanh có âm động, tiếng nói nào đó … thoảng nghe xa … từ xa dội lại. Đầu và chân mình ở hướng nào? Nhân cố gắng xác định nhưng vô hiệu. Những cơn mê ngắn nối tiếp giấc ngủ chập chờn và khoảng thức tỉnh ngây ngây.
Thân thể rất lạnh, cái lạnh dị thường từ thời tiết bên ngoài, lạnh giữa bốn bức tường thẫm tối và bên trong từ gan ruột, dưới lớp da. Lạnh khiếp sợ của thần kinh bị tê liệt, tổn thương, nhưng bên ngoài da thịt hầm hập nóng như lên cơn sốt, hai hàm răng dẫu nghiến chặt vẫn đập cầm cập vào nhau. Thôi, tất cả đã hết … Vậy ta cho xong luôn! Nhân quyết định đời sống bản thân ở bước chót – Nhịn đói để chết. Bởi lẽ, nếu chỉ mỗi việc tổ chức tuyệt thực trong ngày 13 vừa rồi cũng đã phải chịu hình phạt tối đa, vì đây là trại tù Trung ương miền Bắc, hậu thân Lý Bá Sơ thiết lập và nổi danh từ năm 1945 về thành tích giam giữ, sát hại tù chính trị, lúc cộng sản chỉ là tổ chức sơ khai, còn ẩn danh dưới chiêu bài Mặt trận Việt Minh; Việt Nam độc lập đồng minh hội để tranh thủ sự yểm trợ phía đồng minh Mỹ, Anh, Tàu và cả Pháp.
Từ 1945 đến nay, 1979, hơn ba mươi năm dựng thành tích trên thân phận và sinh mạng người tù, trại 5 Lam Sơn ắt sẽ không nưong tay. Thêm ngàn trang bản thảo … Chỉ còn đường chết thôi! Lê Đức Thịnh chỉ vì mỗi câu “anh không chịu bó tay … “. Câu nói vô thưởng vô phạt trong lá thư gởi vợ cũng đủ nát thân nơi pháp trường trại Long Giao. Nhân quyết định cho mình ân huệ tự do tội nghiệp cuối cùng nầy. Việc nhịn ăn quả tình không khó lắm khi đã qua hai, ba, ngày đầu. Những ngày sau Nhân chỉ có cảm giác trống rỗng, người như bay bềnh bồng giữa khoảng không. Nhiệt lượng trong người bốc ra hừng hực để giữ thân nhiệt ở mức cần thiết, chống chỏi, vượt qua cái lạnh kỳ dị. Anh chìm dần vào cơn mê mờ nhạt lãng đãng, nhưng hình như các giác quan tinh tế, sắc sảo hơn.
Và trong trạng thái tỉnh thức bất định này anh nghe vang dội chuỗi âm động từ bên ngoài nhưng cũng bên trong vang lên. Tiếng động bàn chân người giậm mạnh lên bệ nắm theo nhịp đi … Bảo vệ làng thôn quân lực Việt Nam Cộng hòa … Nhân dân chờ mong, không nề hiểm nguy …Nhịp hát một lúc một phấn khởi, người hát như đang được thôi thúc bởi một nguồn sinh lực mạnh mẽ, tuy âm lượng không giấu nét mệt mỏi, cằn cỗi, tắc nghẹn ở những nốt cao, ngân. Và như để bù trừ cho phần khuyết điểm này, người hát chuyển qua hành khúc quen thuộc “Đường trường xa ta quyết đi cho đến cùng. Đoàn hùng binh say sưa trong gió reo vang . “. Đến điệp khúc “Muôn đời Lục quân Việt Nam … ” thì lời hát đã nên thành tiếng thét vang dội và không chỉ với bàn chân giậm trên bệ nằm mà nắm tay hình như đang sử dụng để đập vào vách tường thay nhịp trống, chêm giữa âm sắc khắc nghiệt của chiếc cùm chạm lanh canh lên thanh sắt chắn ngang … Chào cờ! Nghiêm! Này công dân ơi đứng lên đáp lời sông núi ... Tiếng hát vang vang tràn vỡ căn phòng trùm bóng tối. Người hát hình như đang tận dụng hết sức lực của cánh tay, bàn chân không bị cùm để nâng cao, đẩy mạnh lên lời hát hào hùng phơi phới. Thanh âm, ngôn ngữ đã một lần vọng dội sông núi miền Nam. Những bàn chân rất đông người chạy vào rần rật (hình như đã chuẩn bị sẵn cho tình thế), cửa vào phòng kỷ luật bị tống mạnh, ánh sáng lùa vào …Những người tù đồng bật dậy, sắt cùm kéo lê xoen xoét, cánh cửa các buồng giam lay động … Hình như toàn phòng sẵn chờ đợi diễn tiến sắp xảy ra … Ầm …ầm … Một cánh cửa nào đó bị mở tung và âm động xương của xương thịt người trong cơn cấu xé, dầm dập … Đéo mẹ cho mày còn hát được không nào …
Đánh cho chừa thói phản động đi …Chen trong tiếng chửi và chuỗi đòn thù Nhân nghe lời thét gào đứt khúc … Các ông hèn … hèn lắm!! Hèn là thế nào … Mày trả lời đi … Đánh người đang bị cùm thì giỏi giang gì, đánh thẳng già đang bị cùm thì lại hèn hơn … Tại mày già nhưng còn chống đối, mày ngu thì phải dạy cho mày khôn ra. Tiếng cười nhạt … Ai dạy ai, mấy mươi năm các ông biết đã dạy đưọc ai không rồi chứ? Mày câm mồm đi … Ông lại cho thêm một trận nữa bây giờ. Nếu ông đánh tôi chết được thì nên đánh bằng không vô ích thôi. Giọng trả lời tỉnh như không. Được, ngày mai mày trả lời với “ban” (Ban giám thị trại giam).
Cửa phòng đóng lại, bóng tối chụp xuống. Nhân biết được trời đang trong buổi trưa nhờ liếc bóng nắng đổ chéo qua ngạch cửa. Một thế giới với những con người kỳ lạ, không thấy mặt, có thật ở đây.
2. Tưởng như là không thật.
Trong ngây ngây do sau mấy ngày nhịn ăn, loạt âm động của trận đòn, lời đối đáp … Tất cả như cơn say trầm trầm đẩy Nhân xuống vũng tối mờ mờ của môi trường không thật. Cũng có vẻ như không thật những lời đối đáp mạnh mẽ anh vừa nghe được kia. Trong một lúc, anh nghĩ hoàn cảnh của mình cũng chỉ là thoáng mong manh. Anh chờ đợi điều sắp xảyra như có dự phần trực tiếp trách nhiệm ….Vâng, thưa Ban … chỗ này. Dạ, phòng này. Tiếng mở cửa phòng, chiếc cùm kéo lê. Rút chân ra! Bước chân nhiều người di chuyển ngoài hành lang, tiếng nói loáng thoáng … Đỡ hộ cho anh ý … Không, tôi có thể đi được. Âm lượng yếu ớt nhưng sắc gọn, cứng cỏi. Đưa … đưa anh ấy đến đây, chỗ sáng này. Hôm nay, ban giám thị đến tham quan phòng kỷ luật để cải tiến chế độ sinh hoạt của anh em trại viên và điều nghiên đề xuất của những người có vấn đề …
Người cán bộ trực trại lên tiếng trước. Anh là anh Thành? Một người nào đó hỏi chậm rãi; giọng người vùng Thanh, Nghệ, Tĩnh nghiêm nhặt khô khan. Anh có khoẻ không? Không có tiếng trả lời. Anh có nhận được thư nhà không? Cũng không người trả lời. Im lặng một lúc. Thôi, anh vào nghỉ … Đưa anh ấy vào đi. Tiếng chân đi chậm, bước ngắn. Cửa phòng đóng lại, ổ khoá, thanh cùm lọc xọc, kéo lê.
Rầm! Thanh sắt cùm được kéo về phía cực trái, chiếc cùm hình móng ngựa tự động rời khỏi cổ chân, tiếng khô lạnh. Nhân chưa xác định được tình thế, cửa phòng vụt mở, anh chống tay ngồi dậy ngơ ngác …
Anh đi ra, Ban giám thị đến tham quan. Nhân được dẫn đến trước người đàn ông dáng thấp đậm, mặc áo quần đại cán may theo lối lính Tàu, cổ cao, bốn túi; chiếc nón cối hơi rộng che sụp ngang tầm mắt. Nhân nghiêng đầu, khẽ nhắm mắt, ánh nắng dẫu chỉ đổ ngoài hàng hiên cũng đủ gây chói chang, người anh trống trải lao đao … Anh có khoẻ không? Nhân chưa kịp trả lời. Anh có nhận được thư gia đình không? Nhân nghe chưa hết câu. Thôi, anh vào nghỉ nhá …
Còn mấy phòng nữa? Nhân không biết câu hỏi nhắm đến ai giữa đám người hỗn độn, nhưng anh vẫn trả lời theo phản ứng không định trước … Vâng … vâng … Khi Nhân nằm lại trên chiếc bệ, tiếp quen bóng tối, anh nghe mơ hồ những cửa phòng nào đó được mở và giọng nói đều đều … Anh có nhận được thư nhà không … Hình như câu hỏi có khác một từ nào đó khi hỏi với anh. Anh cố nhớ nhưng quá mệt mỏi nên không tìm ra. Và khi cánh cửa chính căn nhà kỷ luật đóng lại, Nhân nghe từ phòng anh Thành câu chuyện vang rõ giữa bóng tối.
– Anh Thành! Bắc, gã cán bộ an ninh nhân lực lên tiếng.
– Tôi nghe cán bộ. Anh Thành nói tiếng nhỏ nhưng chắc, gọn.
– Anh hãy phát biểu về việc thăm hỏi vừa rồi của Ban giám thị.
– Tôi chẳng có gì phát biếu cả.
– Ban xuống đây là do đề xuất của anh mà, anh không thấy Ban đã hỏi anh trước sao, trong khi mấy người kia cấp bực, chức vụ người ta hơn anh xa.
– Tôi với họ khác nhau, không ai giống ai!
– Khác nhau là thế nào, các anh tất cả là ngụy quân, ngụy quyền.
– Ngụy thế nào được. Năm 1973, trong danh sách trao trả theo Hiệp-định Paris chúng tôi là “nhân viênquân sự của Việt Nam Cộng Hòa” bị bắt giữ. Các ông đã dối trá giữ lại không trả …
– Đó là do các anh tự gọi lên như thế, các anh là những người có nợ máu với nhân dân được Đảng và nhà nước khoan hồng không giết là may còn đòi trao với trả … Ai gọi các anh như thế đâu?!
– Người các ông gọi nên như thế, cả phe cộng sản các ông gọi nên như thế. Không những thế, các ông còn phát cho chúng tôi quần áo, đưa về Hà Nội để chuẩn bị trao trả … Trả mà như thế này đây!! Tiếng cùm lay lục cục …
– Tại vì anh chống đối không chịu học tập cải tạo nên chúng tôi phải áp dụng biện pháp kỷ luật để duy trì an ninh trật tự trại giam. Anh xem ngoài trại đấy, tướng, tá, tổng, bộ trưởng tất cả có đủ, chúng tôi có cần nhốt ai đâu. Hừ, chúng tôi đánh người chạy đi không đánh người chạy lại, những người thất trận đầu hàng …
Có tiếng cười nhạt.
– Cán bộ nói không đúng. Họ thất trận đầu hàng ở đâu tôi không biết. Tôi, tôi không thất trận, không đầu hàng … Chúng tôi nhảy xuống đất các ông, giật cầu, đặt mìn phá hoại. Các ông tập trung cả ba làng, một Tiểu đoàn lính đánh một toán chúng tôi. Đuổi tôi chạy hai đêm một ngày … Tôi, tôi bắn hết đạn, mới bị bắt. Tôi không thất trận, không đầu hàng. Tôi không đầu hàng ai cả. Gần mười thằng nhào vào một lúc, tôi không đánh lại được. Tôi bị bắt, tôi không đầu hàng. Giọng nói chắc nịch, dứt khoát, đôi khi hân hoan hãnh diện chen trong tiếng thở dồn dập kích động …
– Không đầu hàng mà cả lũ, cả bọn buông súng theo lệnh Dương Văn Minh, chạy được thì như Nguyễn Văn Thiệu, còn tất cả vào đây một dọc, mấy thằng chỉ huy của anh chúng tôi cũng không coi ra gì chứ đừng nói cỡ như anh, một thẳng biệt kích!
Thành cao giọng …
– Phải, tôi chỉ là binh nhì biệt kích, nhưng tôi không hề đầu hàng, tôi không cần biết Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Thiệu nào cả, Trưởng toán chúng tôi là Thiếu úy Đặng Ngọc Khiết bị các ông đem ra bắn ở chợ Ninh Bình, tôi không người chỉ huy, bắn hết đạn, bị bắt. Thành dứt khoát kết luận. Hình như yếu tố “đầu hàng” là một xúc phạm lớn, anh nhất mực chối từ.
– Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Thiệu là mấy thằng đầu sỏ, lãnh đạo các anh, sao anh lại không biết?!
Thành cắt ngang:
– Người lãnh đạo chúng tôi, miền Nam là Tổng Thống Ngô Đình Diệm, không phải là những người ông vừa kể và chuyện họ đầu hàng, bỏ chạy quả thật tôi không biết. Các ông cùm tôi suốt bao nhiêu năm nay, tôi làm sao biết được cái gì?
Câu chuyện chấm dứt ở đây với yếu tố cụ thể nầy. Khi đóng cửa phòng Thành, Bắc lẩm bẩm … Đồ ngoancố, phản động, cùm mục xương cũng không tởn. Nhân theo dõi câu chuyện với ngây ngây xúc động. Có thật không sức chiến đấu của con người giữa trùng vây đơn độc, bóng tối và sự chết. Có thật không sự xếp đặt kỳ lạ của Thượng Đế trong hành trình nguy nan của người. Bởi vì qua câu chuyện kia, Nhân đã nghe rõ đến tên một người. Một người bạn. Một bạn thân, rất thân. Đã từ lâu. Anh đặt bàn chân không cùm xuống đất, ghé mặt sát khe cửa. Một khoảng nền xám của căn phòng. Toàn thể thế giới còn lại, thấy được của anh. Nhưng anh không hề tuyệt vọng, bởi bên kia, cách mấy bước, sau cánh cửa đóng kín có một con người, một sự sống bền bỉ, một sức mạnh chiến đấu.
Một binh nhì biệt kích quân, người lính không có số quân của một quân đội đã bị đánh bại, bị hạ nhục. Nhân gọi nhỏ … Thành … anh … anh Thành ..cho tôi hỏi … Và câu chuyện được ráp nối theo từng chi tiết …
Toán biệt kích gồm tám người, Thiếu úy Đặng Ngọc Khiết, sĩ quan Khoa 17 trường Võ Bị Đà Lạt. Trưởng toán, có nhiệm vụ phá hoại đoạn đường đèo Tam Điệp, Nam tỉnh Ninh Bình, gây rối, chận bít tuyến giao thông, chuyển quân, khí cụ, đạn dược Bắc – Nam của quân đội Hà Nội. Toán quân không được may mắn, chiếc C47 vừa vào vùng, bị lộ ngay mục tiêu, một giàn đạn phòng không đan kín, viên phi công người Mỹ bắt buộc phải đáp khẩn cấp sau khi thả được toán dù.
– Thế người phi công có được cứu thoát không?
Nhân cắt ngang lời kể.
– Không, lúc ấy phương tiện cấp cứu còn ít, hơn nữa các phi vụ bí mật này coi như là hoạt động chiến tranh không quy ước, phi công mặc đồ dân sự, máy bay không số đuôi; máy bay của Air America không phải không lực Mỹ.
– Toán anh bị bắt hết ngay à?
– Không rõ, xuống đến đất phải tự cá nhân chiến đấu, chúng tôi vừa chống cự vừa chạy ra hướng biển, không biết những người kia thế nào, riêng tôi chạy đến hai ngày sau mới bị bắt. Nó dùng đến cả chục con chó kiếm tôi … Cả người lẫn chó nó bâu tôi như đỉa.
– Sau đó anh có gặp Khiết không?
– Không, nó giết liền mà … Nó họp tòa án nhân dân xong đem ra bắn tại trung tâm thị xã Ninh Bình.
Tiên sư, nó đưa cả vạn, triệu người vào Nam thì bảo là đi giải phóng, mình chỉ mới nhảy dù xuống đã mắc tội máu với nhân dân … Nhân dân nào?! Mười năm sau ở Ninh Bình vẫn còn nhắc đến vụ bắn anh Khiết.
– Tại sao?
– Thiếu úy chửi chúng nó thẳng mặt. Họ tưởng khi bắt “học tập” vụ bắn anh Khiết sẽ làm chúng tôi sợ hãi. Đâu phải thế, chúng tôi khi bước lên máy bay là coi như đã chết, cho dù sống sót trở về, cũng phải thay hình đổi họ. Nhảy xuống đất Bắc, hoàn tất công tác tức là trả đủ nợ cho đất nước, miền Nam … Chúng tôi còn điều gì phải hối tiếc hay sợ hãi. Tôi còn có mối thù của bố tôi bị đấu tố chết năm Năm Mươi Ba. Tiếc là không nổ được cái phủ chủ tịch của chúng thôi.
– Thế anh bị kiên giam từ năm nào?
– Từ 1964, có khi giam, khi cho đi lao động, nhưng từ 1972, khi Mỹ dội bom Hải Phòng, Hà Nội thì nó nhốt tôi tới bây giờ.
– Anh biết nó nhốt tôi ở đâu không? Anh nói cho biết đi?
– Dưới chân cầu Long Biên đó!
– Chứ không ở Hỏa Lò sao?
– Nó độc lắm, để dưới cầu Long Biên, nhỡ phải bom Mỹ dội chết chúng cho trưng ra để buộc tội giết
tù binh, Việt cộng mà!
– Sao lại là Việt cộng. Việt cộng là tụi trong Nam kia chứ?! Anh mà còn nói thế huống gì ai …
– Nam, Bắc không là Việt cộng thì là gì … Cá mè một lứa cả. Anh Thành cao giọng phẩn kích.
– Từ hầm dưới cầu Long Biên chúng cho tụi tôi thấy xe phái đoàn trong Nam ra nhận tù binh Mỹ, nó còn cho chúng tôi biết vụ anh nhà báo bên nhảy dù chửi chúng nó ở sân bay Gia Lâm. Và bảo thẳng chúng tôi cứ việc chống đối, tuyệt thực, phái đoàn Việt Nam Cộng hòa trong ban liên hợp có đấu tranh cách mấy, chúng cũng không trả. Cũng như loại anh nhà báo kia, chúng tôi là những người cần phải giết bỏ, không thể nào tính đến chuyện trao trả hoặc cho về. Anh phi công Mỹ chở toán chúng tôi cũng không được thả, dẫu đã cụt một tay.
– Tôi có thấy người Mỹ nào ở Hỏa Lò nữa đâu?!
– Sao anh ngây thơ thế, nó để chỗ khác, trên Bác Vạc.
– Bác Vạc ở đâu?
– Ở Sơn Tây.
– Chỗ Mỹ đổ bộ giải cứu tù ấy à?
– Đấy, chỗ đó, nhưng khi Mỹ xuống thì nó đã di đi chỗ khác rồi. Việt cộng mà anh, từ năm đó cho đến
bây giờ nó cùm tôi miết!
– Không cho ra?
– Không, đúng mười lăm năm tù, bảy năm bị cùm liên tục, trước 72 không tính! Sau 75 cũng không có gì thay đổi? Sau 75, chính tôi quyết định vụ bị cùm này!
– Anh nói tôi không rõ?
– Nghĩa là tôi coi như đã chết, ra khỏi hầm cũng là tù thôi … Dẫu được thả cũng thế!
– Thả ra mình về Nam chứ.
– Vô ích thôi, đâu còn là miền Nam của mình nữa, rồi anh sẽ thấy … Tôi sinh và lớn lên ở miền Bắc, người Nghệ An, hỏi thử bây giờ về Nghệ An tôi có sống được không, Sàigòn cũng vậy. Mình mất nước rồi, sống làm chi anh.
Giọng Thành tắt lại. Sau hai lớp cửa, Nhân nghe tiếng thở dài bị ghìm giữ.
– Có bao giờ anh nghĩ đến chuyện chết không?
– Có chứ, tôi nghĩ và sống với nó từ bao năm nay, nhất là sau 75. Nhưng bởi là người Công giáo, tôi hiểu mọi sự tất cả đã THÀNH THEO Ý CHÚA. Và tôi cũng tin thế nào người dân cũng vùng lên hất đổ chúng xuống, cũng từ những người cộng sản có lương tri, biết suy nghĩ. Không ai có thể sống mãi với sự dối trá, nói dối ngay với chính mình. Tôi sống với Đức Tin và Niềm Tin này. Ủa, mà sao anh hỏi tôi kỹ vậy?
– Tôi, tôi là bạn thời con nít với Đặng Ngọc Khiết, cùng đi đoàn Hướng Đạo, học một lớp, vào trường Đà Lạt chung khóa, ra trường lại ở với nhau một nhà. Ngày Khiết nhảy ra Bắc tôi nhớ, ngày 20 tháng 8 năm 1964, và tôi cũng chính là anh nhà báo, lính nhảy dù ra Hà Nội ngày thứ Sáu, mồng 3 tháng 4, 1973 … Tôi có đọc tấm bảng “Tù binh Hạ Lào còn bị giam ở đây” nơi nhốt tù dưới chân cầu Long Biên … Tôi đấy … tôi …ở đấy anh ơi!
Tiếng thét uất hận xé căn phòng vỡ tung …
– Nhưng tại sao mấy ngày hôm trước tôi không nghe anh nói năng gì hết?
Đến bây gời Thành đã đứng sát cửa; anh hỏi Nhân giọng nhỏ thân mật.
– À … tại vì, tôi … nhịn ăn!
– Nhịn ăn để chết ư? Hình như có tiếng cười nhỏ trong âm nói.
– Vâng, cũng trong ý định đó … Nhân lúng túng ngượng ngập.
– Thế này nhé, anh ăn lại đi, chẳng đi đến đâu đâu. Khi nó muốn mình chết, đang còn sống, nó cũng đem đi chôn. Chôn sống! Ở trại Quyết Tiến trên Hà Giang nó chôn anh em tôi như thế đó. Không có tội gì, khi cần giết, nó ghép cho năm ba tội, như trước ngày Tàu đánh Việt Nam, nó đem bắn mấy anh Tàu vì cái tội làm gián điệp cho “Cục tình báo Hoa Nam”. Cha Mã Nhì trước khi chết không biết đến cả “Hoa Nam” ở đâu. Chả là dân Móng Cái mà! Nó bắn ở đây, trong phòng số 5, trước khi các anh về trại này một tháng, đâu khoảng tháng 7. Đến tháng 8 các anh mới về phải không? Khi không muốn giết thì nó bắt mình phải sống để chịu nhục. Anh nghe lời tôi, ăn lại đi, mấy ngày kỷ luật của anh chỉ là giấc ngủ ngắn của tôi mà thôi. Nó chưa để cho anh chết đâu!
– Vâng … Nhân cầm lấy chén cơm nguội lổm cổm những lát khoai, sắn đỏ nâu, lòng chùng xuống trong nỗi phiền buồn có Tội – Tội đã sống. Tội được sống sót.
Kết Từ
Anh Thành thân mến,
Khi tôi viết những dòng này về anh thì quả tình tôi cũng không biết được anh còn sống hay đã chết …
Sống ở đâu và chết ở đâu? Tôi với anh cũng không hề thấy, biết mặt nhau, cho dẫu chúng ta chỉ ở cách nhau hai thước bề ngang. Tháng 8 năm 1980, anh chuyển lên trại Thanh Phong, tôi vào kỷ luật lần thứ hai và cũng là lần cuối cùng để rời khỏi đất Bắc mười năm sau. Con số “mười bảy năm kiên giam” của anh – Số lượng thời gian mới nghe tưởng như không có, không thật đó …
Cuối cùng chính tôi cũng vượt qua. Riêng anh vượt qua thêm bao nhiêu lằn mức nữa? Không ngờ chúng ta cùng dự phần vào một cuộc đua khốn nạn, khắc nghiệt mà chính bản thân đôi khi cũng ngạc nhiên vì tính cách phi nhân ghê tởm của nó. Cuộc chiến đấu giữ gìn sự sống, giữa bóng tối, cái chết. Lần vượt chết qua nỗi dối trá miệt thị con người. Tôi cũng nhân cơ hội này để cám ơn anh về hai điều từ anh đã thúc giục tôi tồn tại được và duy trì bền bỉ. Đấy là, Quân đội Việt Nam Cộng Hòa không hề kém cỏi, yếu hèn; lính cộng sản không phải quá đỗi tài giỏi. Nhưng quả thật họ đã được chỉ huy và học tập điều “lý tưởng” (cho dù học nhồi ép về một điều dối trá, không thật …) trong khi đó cấp chỉ huy của mình trước thì vì “bơ thừa sữa cặn”, đến khi thất trận, đi tù thì vì “canh thừa cơm cặn”.
Rồi ra sẽ thấy những điều xa xót, càng ngày càng đau lòng thêm. Trong tù cũng như ngoài xã hội tất cả sẽ bị “cộng sản hóa” ở những tính cách tồi tệ, xấu xa nhất. Lời của anh đã nói cùng tôi. Và người Việt Nam sẽ dần hóa thân nên thành biểu tượng của sự cùng kiệt – Cơn kiệt cùng tan vỡ cấu trúc tinh thần của dòng sống Việt Nam. Nhưng chúng ta phải sống, vượt sống để xác chứng điều huyền nhiệm. Con Người vẫn hằng sống trong Ý Chúa. Cho dẫu khi anh nói điều này tôi chưa hề là tín đồ của một tôn giáo nào. Khi ấy, chúng ta đang bị vây khốn giữa vũng tối.
Phải không anh Thành. Người Lính Biệt Kích Nguyễn Công Thành.
Trải qua một thời gian dài nước mất nhà tan, bị tù đày, gia đình ly tán, phải sống dưới một chế độ thù nghịch, ngày được ra khỏi đất nước, được đứng
nghiêm trang, mắt ngước nhìn lá quốc kỳ thân yêu xa vắng bao nhiêu năm, tai nghe lại điệu nhạc hùng tráng năm xưa, lòng bỗng dưng xôn xao bao kỷ niệm, hai dòng nước mắt tuôn rơi. Đã bao nhiêu người mang tâm trạng như tôi vào những ngày đầu đặt chân đến xứ người. Phải chăng những điều gì đã mất khiến cho lòng chúng ta tiếc nuối và xót xa. Nhớ mới một buổi sáng ngày nào, buổi chào cờ cuối cùng tại đơn vị và không ai ngờ đó là buổi chia ly, tan đàn sẻ nghé. Anh em đồng ngũ mỗi người đi về một hướng, người vượt thoát ra đi bỏ lại quê hương, người vào chốn lao tù nơi chốn rừng sâu nước độc. Gia đình miền Nam bỗng dưng tan tác, mỗi người lâm vào cảnh, không cách biệt giữa hai bên bờ sinh tử thì cũng nghìn trùng biệt ly.
Có những bản quốc ca xưa hàng trăm năm như quốc ca Hà Lan từ thế kỷ XVI, nhưng cũng có những bản quốc ca chỉ vang vọng trong một thời, non yểu trong hoàn cảnh chiến tranh, của một quốc gia vừa thành hình đã bị định mệnh chôn vùi. Trong đất nước ấy, tuổi trẻ bị dập vùi trong lửa đạn, tương lai mờ mịt trong khói súng, và những niềm hy vọng sớm tàn phai. Để bảo vệ cho tự do của miền Nam, một triệu thanh niên dưới lá quốc kỳ, đã nằm xuống, xương tàn cốt mục, mà bây giờ đã gần bốn mươi năm hài cốt vẫn còn xiêu lạc. Quốc ca đâu phải là một bản nhạc của một nhạc sĩ si tình nào đó viết cho một người, để đời sau những người ca sĩ hát lại cho những người mang cùng tâm trạng riêng lẻ ấy thưởng thức. Quốc ca là nhạc phẩm của một người viết cho triệu người nghe.
Xin đừng ai dạy bảo cho chúng ta biết định nghĩa thế nào là một bản nhạc hay. Lời đẹp, nhạc hay, nhưng tiếng “hay” không nói lên được một điều gì cả. Một bản nhạc mới được tác giả sáng tác xong, nếu mới nghe qua chỉ là đợt sơ khảo, mang cho người nghe cái cảm giác ban đầu hời hợt. Suối từ nguồn chỉ là những dòng nước, trở thành những con sông, chảy qua những bờ lau, cánh đồng, qua những chiếc cầu, qua xóm làng, tới những bình minh rực rỡ, đến những buổi chiều nắng xế và chan hòa với đại dương. Nhạc vô hồn nếu nhạc không mang những kỷ niệm, không in dấu được thời gian, không có quá trình vui buồn với cuộc sống của con người. Có ai nghe một bản nhạc mà không nhớ đến một quãng đời, không nhớ đến một kỷ niệm, không nhớ đến một người, ví dụ như trong câu hát nghe rất ngậm ngùi, liên tưởng trong thời chiến tranh: “Ai có nghe tiếng hát hành quân xa, mà không nhớ thương người mẹ già”(PD).
Tiến sĩ Schubert là học giả nghiên cứu Nghệ thuật trình diễn của Đại học New South Wales Úc cho rằng:”Nếu hỏi bất cứ ai bài hát họ ưa thích nhất là bài nào, nhiều người đã trả lời, đó là những bài hát mà họ đã từng nghe ở thiếu thời hay lúc mới trưởng thành”.
Theo ông, những bản ca khúc luôn đọng lại trong tâm trí người nghe với nhiều nguyên do khác nhau như các khái niệm văn hóa, qua kinh nghiệm và sự việc được lặp lại nhiều lần. Chúng ta, vì vậy không lấy làm lạ khi những ca khúc thời chinh chiến hay những bản tình ca xuất hiện trong thời gian 65-75, gần 40 năm sau đều được đón nhận nồng nhiệt bởi những người bước vào tuổi 60 ngày nay ở ngoài hay trong đất nước.
Chúng ta thường mủi lòng nhớ đến quê hương đã bỏ xa khi nghe những khúc dân ca, những tiếng đàn bầu như lời than thở, những tiếng nhị hồ như lời khóc than. Và những con đò, những đêm trăng, những dòng sông, những bờ tre, những cánh đồng, những tiếng hò, những gì của làng mạc đã xa của một thời thơ ấu như sống lại. Đó không chỉ là tiếng gọi của quê hương mà là tiếng thì thầm của dĩ vãng, bỗng dưng hiện về. Trong âm nhạc, dân ca hay những bản nhạc mang âm hưởng dân ca thường đánh động đến lòng người và dễ gây xúc động làm người ta rơi nước mắt.
Nhưng nếu có một ca khúc tác động vào lòng người nhất thì tôi không ngần ngại nói rằng đó là bản quốc ca. Không phải ngày đầu tiên lìa xa đất nước ra đi, bỏ lại tất cả những gì gọi là thân yêu từ quê hương ruột thịt mà người ta đã khóc khi nghe lại bài quốc ca, mà cho đến bây giờ, gần mấy mươi năm qua, tất cả tưởng như đã rơi vào quên lãng, nhạt nhòa theo thời gian, những dòng nhạc như đã khơi lên những “trào lệ cảm”(*) trong lòng chúng ta.
Nhiều bản nhạc chỉ nhắc cho chúng ta nhớ đến một người, hôm nay bài quốc ca làm cho chúng ta nhớ đến hàng triệu người. Những người đã phải rời bỏ đất nước vì tự do, xa cội nguồn, đã bị xô đẩy đi khắp chân trời góc biển. Bài hát nhắc cho chúng ta nhớ đến những người đã chiến đấu, hy sinh thân xác và chết dưới cờ trong suốt một thời gian giữ nước. Bài hát làm cho chúng ta nhớ lại những cánh rừng, những con đường, những bãi biển, là chiến trường, nơi mà anh em ta đã gục ngã. Bài hát làm cho chúng ta nhớ lại nỗi nhục tù đày, những chiến hữu cụt què bất hạnh, những góa phụ cô đơn. Bà hát nhắc lại cho chúng ta khoảng thời gian ba mươi năm, dù là ngắn ngủi nhưng tràn đầy kỷ niệm. Bạn đã thấy người khác khóc và chính bạn đã hơn một lần nhỏ lệ cho quốc ca.
Xin hãy hát lên bài quốc ca, hãy ràn rụa nước mắt để khóc cho một nền tự do đã bị đánh mất, hổ thẹn chomột nền hòa bình trong tủi nhục và để nghĩ đến những người chết cho chúng ta sống, những người bị thương tật cho chúng ta lành lặn, những người ở lại cho chúng ta ra đi.
(*) Chữ của Hà Mai Anh trong “Tâm Hồn Cao Thượng.”
Đai tá thủy quân lục chiến Jackson T. Đòan (ảnh khi còn mang cấp trung tá của 1st Marine Division).
Đại tá gốc Việt Jackson T. Đòan thủy quân lục chiến (TQLC) được chính thức thăng cấp ngày 1 tháng 8 năm 2021. Ông là một trong 97 trung tá hiện dịch được hội đồng thăng cấp TQLC đề cử thăng cấp đại tá vào ngày 18 tháng 11 năm 2020. Trước ngày thăng cấp đại tá 2 tháng, ông là sĩ quan biệt phái trong nhiệm kỳ làm chỉ huy trưởng CJ7 – điều hành và phát triển Lực lượng đặc biệt, toán liên kết yểm trợ hành quân đặc biệt, kiêm sĩ quan liên lạc các hoạt động đặc biệt liên ngành cho bộ an ninh nội địa/quan thuế và Bảo vệ biên giới
(Department of Homeland Security/Customs and Border Protection) thì được lệnh từ bộ tư lệnh TQLC điều động ông về lại TQLC và bổ nhiệm ông làm trưởng phòng G-35, bộ tư lệnh lực lượng thủy quân lục chiến Thái Bình Dương Hoa Kỳ (Director G-35 Regional Operations/Plans Development at U.S. Marine Corps Forces Pacific).
Nhiệm vụ của phòng G-3/5 là cố vấn và yểm trợ cho trung tướng Steven R. Rudder, tư lệnh lực lượng thủy quân lục chiến Thái Bình Dương Hoa Kỳ trong các hoạt động liên quan đến tổ chức, huấn luyện, kế hoạch, sẵn sàng chiến đấu, và khai triễn các hoạt động trong lực lượng TQLC Thái Bình Dương Hoa Kỳ (MARFORPAC). Phòng G-3/5 điều hành phục vụ tham mưu của bộ tư lệnh lực lượng TQLC Thái Bình Dương nhằm phát triển và tường trình kế hoạch, chính sách, chỉ đạo và giám sát việc thực hiện các chính sách của lực lượng.
Cần biết thêm về lực lượng thủy quân lục chiến Thái Bình Dương Hoa Kỳ, là một đại đơn vị TQLC chịu trách nhiệm hoạt động trong khu vực Ấn Độ dương và Thái Bình Dương, gồm có 2 đại đơn vị tác chiến là quân đoàn I TQLC (I Marine Expeditionary Force), quân đoàn III TQLC (III Marine Expeditionary Force) và lực lượng TQLC Darwin Úc Châu (Marine Rotational Force – Darwin.
Commandant of the Marine Corps Gen. Robert B. Neller, right, speaks with Lt. Col. Jackson T. Doan, commanding officer of 3rd Battalion, 5th Marine Regiment, at Marine Corps Air Ground Combat Center
Trung tá Jackson Đoàn và đại tướng Robert B. Neller, tư lệnh TQLC quan sát đại đội India, tiểu đoàn 3, trung đoàn 5 TQLC đang huấn luyện thao dượt Range 400. tại Marine Corps Air Ground Combat Center Twentynine Palms, Calif., ngày 7 tháng 11 năm 2016 (Ảnh của hạ sĩ Samantha K. Braun – alamy stock photo).
Đại tá Jackson T. Đoàn nguyên là tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn 3, trung đoàn 5 “Dark Horse” sư đoàn 1 TQLC từ tháng 8 năm 2016 đến tháng 2 năm 2018. Ông là sĩ quan gốc Việt thứ hai đuợc bổ nhiệm làm tiểu đoàn trưởng tác chiến TQLC, trước ông có trung tá* William H. Seely III (nay là thiếu tướng chỉ huy trưởng trường tham mưu liên quân), nguyên tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn 3 viễn thám, sư đoàn 3 TQLC. Ngoài ra, còn có trung tá* John T Nguyễn (nay là đại tá phụ tá trừ bị tham mưu trưởng, bộ tư lệnh lực lượng thủy quân lục chiến Thái Bình Dương), nguyên là chỉ huy trưởng phi đoàn 48 truyền tin thuộc không đoàn 4 TQLC trừ bị (Phi đoàn truyền tin tương đương với tiểu đoàn truyền tin bộ binh TQLC, nhưng danh xưng của không quân TQLC gọi là Phi đoàn/Squadron.
Đại tá Jackson T. Đoàn sinh tại Sàigòn, ông gia nhập TQLC và thụ huấn tại trường sĩ quan Officers Candidate School (OCS) vào tháng 8 năm 1997, và tốt nghiệp mang cấp bậc thiếu úy. Sau đó thiếu úy Đoàn theo thụ huấn các khóa căn bản sĩ quan TQLC (TBS) và khóa sĩ quan bộ binh TQLC (IOC) trong năm 1998.
Tháng 8 năm 2002, trung úy Đoàn được thăng cấp dại úy, làm chỉ huy phó trạm tuyển mộ TQLC tại San Diego. Sau 22 tháng phục vụ tại đây, ông được khen thưởng với tư cách là đại đội trưởng đại đội K, tiểu đoàn 3 tuyển mộ. Đến tháng 8 năm 2005. ông đã hoàn thành 11 đợt tuyển mộ binh sĩ TQLC.
Sau đó đại úy Đoàn được chọn gởi đi thụ huấn khóa sĩ quan bộ binh cao cấp tại Fort Benning, Georgia, và tốt nghiệp ưu hạng. Ông lấy bằng nhảy dù, và tốt nghiệp hạng danh dự. Sau Khi hoàn tật chương trình huấn luyện vào tháng 6 năm 2006, Đại úy Đoàn được giao phó nhiệm vụ cố vấn lưu động cho toán chuyển tiếp quân sự 11, nơi đây ông làm xử lý thường vụ cho một đơn vị viễn thám lực lượng đặc biệt “Desert Protectors” để yểm trợ cuộc hành quân Operation Iraqi Freedom (OIF) tại khu vực tỉnh volatile Al Anbar.
Thiếu tá* Jackson T. Đoàn đoạt giải vô địch Pankration cấp quốc gia và thế giới năm 2013-2014 (ảnh của mcrdsd.marines.mil)
Sau khi hoàn thành nhiệm kỳ phục vụ chiến đấu trong năm 2007, đại úy Đoàn được thuyên chuyển về tiểu doàn 3, trung đoàn 4 TQLC, và phục vụ tại đây 2 tháng, sau đó ông được đổi qua làm đại đội trưởng đại đôi B “Ridge Runners”, tiểu đoàn 1, trung đoàn 7 TQLC. Tại đây, ông trở lại với đại đội bộ binh yễm trợ cho cuộc hành quân OIF, tại tỉnh Al Anbar, Hitt, Irac. Đến tháng 7 năm 2008, đại úy Đoàn được chọn làm Sĩ quan huấn luyện (SGI) cho khóa học đại úy bộ binh TQLC và được thăng cấp Thiếu tá, ông được chỉ huy trưởng huấn luyện tuyên dương là sĩ quan huấn luyện xuất sắc cấp quân đội.
Tháng 7 năm 2010, thiếu tá Đoàn được bổ nhiệm làm tiểu đoàn phó, tiểu đoàn 3, trung đoàn 4 “Darkside TQLC, đơn vị ông được khai triển tới thung lũng Upper Gereshk, Helmand để yễm trợ cho cuộc hành quân Operation Enduring Freedom.
Một thời gian ngắn sau, vào tháng 3 năm 2012, trong nhiệm vụ cố vấn chiến thuật hành quân cho toán OIC và toán 3 thuộc phòng hành quân sư đoàn TQLC, thiếu tá Đoàn tường trình kết quả hoạt động của các toán cho TQLC. Ông đã hoàn thành xuất sắc vai trò chỉ huy và tham mưu trong nhiệm vụ cố vấn chiến thuật hành quân.
Tháng 7 năm 2013, Thiếu tá Đoàn được thuyên chuyển về làm tiểu đoàn phó, tiểu đoàn huấn luyện TQLC kiêm sĩ quan hành quân và vũ khí. Trong thời gian này, ông nhận được giải thưởng lực sĩ thể thao TQLC trong năm về môn võ thuật Pankration, ông cũng là võ sĩ Pankration đoạt giải vô địch cấp quốc gia và thế giới năm 2013-2014.
Thàng 6 năm 2015, thiếu tá Đòan được chọn làm Sĩ quan hành quân của đơn vị 13 viễn chinh TQLC-WESTPAC 13.1- ( tương đương cấp Lữ đoàn ). Ông được thăng cấp trung tá và là sĩ quan soạn thảo kế hoạch phối hợp hành quân trong nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho tổng thống Hoa Kỳ đến thăm các đơn vị Hoa Kỳ đang tham chiến tại đây. Ông khai triễn đơn vị hành quân truy kích địch và cho phi cơ oanh kích các mục tiêu có quân khủng bố ISIS trú ẩn trong vùng miền Bắc Irag, khu vực này thuộc vùng trách nhiệm của bộ tư lệnh trung ương Hoa Kỳ (CENTCOM). Sau đó đơn vị của ông được điều động đến Baghdad cùng với chiến đoàn hổn hợp đặc biệt yễm trợ cuộc hành quân. Tháng 7 năm 2016, trung tá Đoàn và đơn vị trở về Hoa Kỳ.
Tháng 8 năm 2016, trung tá Đòan được bổ nhiềm làm tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn 3, trung đoàn 5 “Dark Horse” sư đoàn 1 TQLC đến tháng 2 năm 2018.
Từ tháng 2 năm 2018 đến tháng 6 năm 2018, trung tá Đòan được điều động làm sĩ quan phòng hành quân ( Divison G-3 Operations ), bộ tư lệnh sư đoàn 1 Thủy quân lục chiến.
Trung tá* Jackson Đoàn tường trình hoạt động huấn luyện của tiểu đoàn 3, do ông chỉ huy cho đại tướng* Robert B. Neller, tư lệnh thủy quân lục chiến Hoa Kỳ tại Marine Corps Air Ground Combat Center Twentynine Palms, Calif, ngày 7 tháng 11 năm 2016. (ảnh của alamy).
Tháng 7 năm 2018 đến tháng năm 2019. trung tá Đòan thụ huấn ngành chiến lược cao cấp an ninh quốc gia tại trường cao đẳng hải chiến (Naval War College) Rhode Island.
Tháng 5 năm 2020 đến tháng 6 năm 2021, trung tá Đòan được biệt phái làm chỉ huy trưởng CJ7- điều hành và phát triển Lực lượng đặc biệt, toán liên kết yểm trợ hành quân đặc biệt, kiêm sĩ quan liên lạc các hoạt động đặc biệt liên ngành cho bộ an ninh nội địa/quan thuế và Bảo vệ biên giới (Department of Homeland Security/Customs and Border Protection).
Từ tháng 7 năm 2021, đại tá Đòan được bỗ nhiệm làm trưởng phòng G3/5, Lực Lượng Thủy Quân Lục Chiến Thái Bình Dương Hoa Kỳ đến nay.
Đại tá Jackson T. Đòan tốt nghiệp hạng tối ưu văn bằng cử nhân kỹ thuật điện toán và văn bằng cử nhân kỹ sư cơ khí và thiết kế kỹ nghệ tại đại học Southern California. Và văn bằng cao học tại đại học Phoenix. Ngoài ra, ông còn thụ huấn và tốt nghiệp nhiều khóa huấn luyện và chương trình chuyên nghiệp quân sự.
Đại tá Jackson T. Đòan được thăng cấp thiếu úy năm 1997, trung úy năm 2001, đại úy năm 2006, thiếu tá năm 2010, trung tá năm 2015, và được thăng cấp đại tá vào tháng 8 năm 2021. Ông được ân thưởng các loại huy chương cao quý như: 1 huy chương Bronze Star, 3 huy chương Meritorious Service Medal with 2 stars, 2 huy chương Navy Commendation Medal with “V” distinguishing device and star, 1 huy chương Navy Achievement Medal, 3 huy chương Army Achievement medal with 2 palms, huy chương Combat Action Ribbon with star (OIF, OEF), huy chương Humanitarian Assistance Medal, and huy chương Outstanding Volunteer Service Medal.
Theo các tài liệu thu thập được thì sĩ quan TQLC gốc Việt không nhiều như sĩ quan gốc Việt khác phục trong các quân chủng không quân, hải quân và lục quân. Sĩ quan gốc Việt đang phục vụ trong quân chủng TQLC hiện nay gồm có ( không tính sĩ quan cấp trung/thiếu úy ) : 1 Thiếu tướng, 2 đại tá, 8 trung tá ( không tính 3 vị hồi hưu ), 26 thiếu tá và trên 40 đại úy.
Chúc đại tá Jackson T. Đoàn thăng tiến trên đường binh nghiệp.
Nguyễn Quân
Chú thích: *Ghi theo thời gian mang cấp bậc.
Nguồn tài liệu tham khảo: Navy Personnel Command; U.S. Marine Corps Forces, Pacific; The United States Marine Corps (USMC); 1st Marine Division; WFTBn major wins world championship; facebook.com/3rdBattalion5thMarines; linkedin.com; dvidshub.net; Lão non Tuấn Marine-Quân số các đơn vị TQLC Hoa Kỳ; bienxua-Trung tá gốc Việt Jackson T. Đoàn, tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn 3, trung đoàn 5, sư đoàn 1 TQLC Hoa Kỳ; dongsongcu-Trung Tá Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ gốc Việt Jackson T. Đòan được đề cử thăng cấp Đại Tá.
Theo Bản Dịch La Vingt – Cinquième Heure Của Monique Saint – Côme
Nxb Gió Bốn Phương, Saigon 1967
Post by Sơn râu 5 Feb 2026
Chương 6 – Phần phụ.
Rốt cuộc, rồi Moritz cũng được ra khỏi trại giam.
Anh đã vắng mặt mười ba năm trường. Trong khoảng thời gian ấy, anh bị giam cầm trong hàng trăm trại giam của nhiều quốc gia.
Hiện giờ anh đã tìm được vợ con.
Lúc ấy đã mười giờ tối. Đêm sum họp đầu tiên. Moritz ăn xong, ngồi chống tay trên bàn, ngó con cái.
Petre, thằng đầu lòng, được mười lăm tuổi rồi. Moritz ngó nó một hồi lâu. Anh giụi mắt để chắc ý rằng anh không chiêm bao. Và anh không thể làm sao tưởng được nó là con trai anh.
Thằng Petre mặc bộ đồ Mỹ, vải xanh; nó hút thuốc và cũng có cặp mắt giống cha.
Thằng Petre cũng vậy, nó không làm sao tin được người đàn ông ốm yếu, tóc hoa râm, ngồi trước mặt nó, mà từ trước đến giờ nó không hề thấy, lại là cha đẻ nó.
Nhưng đã ở chung một nhà, nó kiếm cách làm thân, nói:
– Tôi sẽ nói chuyện với chủ tôi, và không chừng ông sẽ kiếm chỗ cho ba làm trong hãng.
Moritz mỉm cười. Petre nói tiếp:
– Nếu ông giới thiệu thì chắc chắn ông chủ bằng lòng. Ông chẳng khi nào thâu nhận người không thạo việc, mà ba thì không rành nghề nào. Song nếu tôi nói là ba tôi, thì ông sẽ dành cho một đặc ân.
Moritz ngó qua thằng Nicolae, đứa con thứ của anh. Nó giống Suzanna, cũng trắng hồng và có cặp mắt dịu dàng như nhung.
Anh ngó tới đứa thứ ba, lên bốn tuổi. Nó không thuộc con anh. Suzanna có thai nó với quân lính Nga. Song Moritz đã tha thứ cho nàng, vì không phải lỗi nơi nàng.
Moritz châm điếu thuốc khác, thuốc của Petre mới tặng anh nguyên gói, để mừng anh mới về.
Anh đã mệt, nhưng chưa buồn ngủ. Trong phòng có hai cái giường. Suzanna với thằng bé ngủ trong cái giường nhỏ. Moritz ngủ một mình trong cái giường kia. Hai đứa lớn trải mền ngủ dưới đất.
Thằng Petre nói:
– Hiện giờ, tạm được! Chúng ta sẽ kiếm thêm buồng hoặc mua thêm một cái giường nữa.
Mấy đứa nhỏ đã trải mền và sửa soạn thay đồ ngủ.
Moritz còn ngồi tại bàn ăn, hai tay ôm đầu, ngó Petre và Nicolae đang thay đồ đi ngủ. Chúng nó chúc anh ngủ ngon bằng tiếng Đức. Anh muốn chúng nó nói tiếng roumain hơn, nhưng chúng nó không rành.
Suzanna đặt đứa nhỏ trong giường. Moritz nghĩ thầm: “Đó là con của quân Nga”. Thằng nhỏ ngộ nghĩnh đáo để, tóc có lọn, hung hung vàng.
Moritz không muốn ngó nó, tuy hồi ở trại giam, anh đã viết thơ nói sẽ coi nó như con.
Suzanna cũng không muốn anh ngó thằng bé. Nàng thay đồ cho nó, rồi đẩy nó vô giường, như muốn giấu giếm.
Nàng đứng giữa phòng một hồi, không biết làm gì.
Đoạn nàng lại ngồi tại bàn ăn, đối diện với chồng. Nàng biết Moritz mệt mỏi, nhưng không dám bảo anh đi ngủ. Nàng tự thấy lỗi nhiều về các sự đã xảy ra. Chồng nàng bị bắt, bị đày trong trại giam bao nhiêu năm, cũng tại nàng. Tuy nghĩ vô lý, nhưng ý nghĩ quá mạnh, nàng không thể bỏ qua được…
Và còn chuyện quân Nga cưỡng hiếp nàng, lỗi cũng tại nơi nàng. Vì thế, nàng không dám nhìn cặp mắt Moritz và cũng không dám mời anh đi ngủ.
Nàng đã biết Moritz về, nên lo bữa ăn, giường ngủ. Anh về đến nhà, đói quá, ăn hết sạch đồ ăn trên bàn, hút hơn nửa gói thuốc của Petre vừa biếu.
Bây giờ các con đã ngủ rồi, Suzanna ngước mắt ngó chồng, gặp lúc Moritz đang ngó nàng. Bốn mắt gặp nhau, quyện lấy nhau hồi lâu, như không thể rời được.
– Phải cái áo em mặc đêm đó hay không?
Moritz ngó chiếc áo dài xanh, cổ hở, mà Suzanna đã mặc đêm cha nàng đánh chết mẹ nàng, chiếc áo nàng mặc lúc anh dẫn nàng về nhà cha mẹ, nhưng mẹ anh không chịu chứa, anh phải dẫn tới nhà mục sư Koruga xin ở đậu căn phòng gần nhà bếp. Lúc đầu, Suzanna chỉ có cáo áo độc nhứt này. Chẳng có cái nào khác. Cũng chẳng có áo sơ-mình. Suốt mấy tuần lễ, nàng chỉ mặc cái áo dài xanh ấy, ban đêm phải cởi ra để dành, và ngủ trần. Về sau, nàng may được thêm mấy cái khác. Nhưng chỉ có cáo áo này, nàng cho là đẹp hơn hết, và chồng nàng cũng thích nó nhứt. Chính lúc nọ nàng mặc nó, hai vợ chồng đã trải qua mấy tuần lễ yêu đương vui sướng, đẹp đẽ trong đời. Suzanna nói:
– Em không hề khi nào mặc nó, từ khi anh rời khỏi làng Fântâna. Lúc anh bị chúng bắt, em thề khi nào anh về tới cửa, em mới mặc nó. Từ mười ba năm nay, đi đâu, em cũng đem nó theo luôn luôn bên mình, và trong mười ba năm, em chờ anh mãi mãi, nhưng chưa bao giờ em mặc nó, trước bữa nay.
Suzanna hổ thẹn cúi xuống. Chặp lâu, nàng ngước mặt lên, gặp Moritz ngó nàng. Anh định muốn đặt nàng ngồi trên bắp vế và thủ thỉ bên tai nàng: “Anh mòn mỏi vì em!”.
Nhưng anh không nói gì với nàng hết.
Anh đốt thêm điếu thuốc, nhìn mấy đứa nhỏ ngủ, rồi ngó Suzanna lần nữa.
Nàng không thay đổi nhiều. Mặt hơi nhăn, da mất vẻ tươi thắm, tóc đã phai, giống màu chỉ gai, vú xệ. Nhưng nàng vẫn như xưa. Moritz không bao giờ nghĩ sẽ gặp được Suzanna như ngày trước, nàng Suzanna ở làng Fântâna của anh. Mười ba năm, ví như một thời gian tạm cho thuê!
Moritz nói:
– Tôi muốn đi chơi một chút.
Nhưng anh không đứng dậy, muốn đợi Suzanna đứng lên trước. Nàng hỏi:
– Em đi với anh được không?
Moritz không trả lời, song chờ Suzanna thay đồ. Rồi hai người nhón gót ra ngoài, sợ các trẻ nghe thấy.
Họ thẹn thầm.
Xuống thang lầu, vai họ chạm nhau vài lần. Không ai nói một lời nào.
Trời xẩm tối. Moritz muốn đi xem đường cái, thị tứ hơn. Nàng dẫn anh đi.
Trước một cửa hiệu, Suzanna nắm tay Moritz chỉ cho anh coi đôi giày nàng muốn mua cho anh. Rồi họ đi xa hơn, hai tay còn nắm nhau. Họ nhìn nhiều tủ kiếng chưng hàng khác, không nói đến chuyện trại giam, nhà cửa ở Fântâna, hoặc các chuyện đã qua. Họ muốn hưởng một đêm đầy đủ cho riêng họ, không nhắc đến kỷ niệm đau buồn.
Moritz nói:
– Anh sẽ nghỉ khỏe trong hai ngày, rồi đi kiếm việc làm. Thằng Petre chắc xin giúp cho anh vô hãng được.
– Anh cứ nghỉ vài tuần lễ rồi sẽ hay. Anh còn yếu lắm. Em và thằng Petre kiếm đủ sống rồi. Em giặt đồ, và có mối nhiều.
Nàng vừa nói vừa siết mạnh tay Moritz. Anh thích lối nàng khéo lựa lời nói để anh yên lòng nghỉ ngơi.
Hai người đi đến cửa ra khỏi thành phố. Hai bên đường là đồng cỏ rộng rãi. Trời tối đen. Moritz nói:
– Giống như ở làng Fântâna quá!
– Thật vậy!
Họ tiếp tục đi dạo, và đều nghĩ đến cảnh làng Fântâna, đến tiếng chim mèo… Moritz nói:
– Đau chân quá. Ta ngồi xuống nghỉ một lát!
Hai người vô trong một vuông vườn, và ngồi xuống cỏ. Moritz nằm dài, hai tay gối đầu, khoan khoái nói:
– “Thật giống như ở làng Fântâna!”. Rồi anh lăn qua, úp mặt xuống cỏ, và nói:
– Em hửi mùi cỏ coi, Suzanna! Giống mùi cỏ ở trong vườn, sau nhà ba em. Em còn nhớ chứ? Miếng vườn mà chúng ta gặp nhau trong đêm…
Suzanna cúi xuống hít hơi cỏ. Tim nàng đập mạnh. Nàng không trả lời được. Tiếng nàng quá run.
Moritz đặt tay lên vai nàng. Suzanna vẫn cúi xuống.
Họ yên lặng một lúc lâu, không cử động, hình như còn cách xa nhau. Họ không dám xích lại gần.
Chỉ có bàn tay Moritz còn để trên vai Suzanna. Moritz nói:
– Em biết không? Ở trại giam, anh đã tưởng nhớ tới em nhiều…
Vài ngôi sao lấp lánh trên trời. Suzanna dòm lên, rồi cúi xuống thêm gần Moritz mà anh không hay. Nàng em thẹn. Moritz tiếp:
– Em thứ lỗi cho anh, ở trại anh mơ màng đến em luôn. Anh thú thất với em, vì ai có bị giam cầm mới thấy sự đó là thường. Anh mơ thấy em, y như hồi hai ta ở trong vườn, sau nhà ba em… Mùa hè ấy là đoạn đời tươi đẹp nhứt của chúng ta.
Suzanna cúi gần thêm nữa và đặt đầu lên vai Moritz. Anh vuốt ve nàng, rồi nói:
– Em không sợ nhàu nát cái áo đẹp mà em đã khéo giữ mười ba năm nay sao?
Nàng định đáp rằng cái áo không nhàu, nhưng Moritz nói tiếp:
– Tốt hơn em cởi nó ra, để trên cỏ như em đã làm ở làng Fântâna.
Suzanna cởi áo ra, mau lẹ như muốn trốn tránh không để Moritz thấy rõ nàng. Nàng nằm trần trên cỏ xanh, vóc mình nổi bật như pho tượng đá cẩm thạch. Nàng nằm cách xa Moritz. Anh ôm ngang lưng nàng, và lấy làm lạ, nói:
– Em cũng như lúc nào! Không thay đổi gì hêế, vẫn còn là Suzanna của anh, như hồi trong vườn làng Fântâna. Làm cách nào em giữ được nguyên vẹn như vậy?
– Anh nói không đúng! Em già rồi. Chỉ có anh không thay đổi mà thôi.
Suzanna dang ra. Moritz ôm sát nàng lại:
– Em cũng dang ra như lúc xưa. Dường như không có mười ba năm xa cách chút nào!
Nàng cũng có cảm tưởng như thế về Moritz.
Như thuở nọ, anh cũng vòng tay ôm ngang lưng nàng, anh cũng ôm siết nàng vào lòng, và hôn hít lấp miệng nàng đến ngộp thở. Nàng cũng cảm thấy ngực anh đè nặng nàng như cái áo giáp. Tất cả đều giống như thuở nọ.
Suzanna nói:
– “Anh thơm mùi cỏ làng Fântâna quá! Anh còn giữ mùi cỏ mùi rơm ấy luôn.
“Em cũng vậy, em chỉ nhớ đến anh mà thôi. Em xin thề. Ngày đêm em nhớ đến anh luôn, với tất cả tâm hồn em. Em xin thề với anh. Anh là vừng đông, là mặt trời, là chồng yêu quý của em. Chỉ một mình anh mà thôi”.
Moritz biết rằng nàng không nói dối, nàng chỉ là riêng cho anh, cho một mình anh thôi. Anh đoán hiểu điều này trong nguồn hơi nóng khắp châu thân nàng, trong nhịp tim đập mạnh của nàng, trong lời nói đầy yêu đương nồng cháy của nàng bên tai anh.
Moritz cảm biết anh là mặt trời, là vừng đông của nàng và nàng chỉ tưởng nhớ đến anh và trông chờ anh. Moritz có cảm giác những gì xảy ra trong mười ba năm ấy, vụt tiêu tan mất. Và vợ chồng anh sum họp, giống như trước. Hai vợ chồng với nhau. Và một tương lai rực rỡ hiện ra trước Moritz ặt họ là cuộc đời.
Moritz không còn lo sợ cho kiếp sống mình nữa.
Trời chưa hừng sáng, hai người đã dậy. Họ thấy bẽn lẽn. Suzanna nói:
– Ta không còn trẻ như hồi mười ba năm về trước. Ta nên trở về nhà sớm sớm.
Moritz cười.
Hai người đồng ý đêm sau sẽ trở lại chỗ này. Moritz nói:
– Và các đêm kế tiếp nữa. Chúng ta sẽ đến nơi đây. Chỉ nơi đây mà thôi. Nơi đây thật giống như ở làng Fântâna. Anh có cảm tưởng như chúng ta ở tại quê nhà, và trong khoảng thời gian đã qua, như không có chuyện gì xảy ra cả.
Vợ chồng tươi cười trở về nhà. Họ đã hết xa lạ với nhau. Và họ cũng hết hổ thẹn. Nhiều lúc anh vòng tay ôm ngang lưng nàng và Suzanna vẫn để yên. Moritz nói:
– Em biết không, anh không thấy mệt mỏi chút nào. Sáng mai, anh theo thằng Petre kiếm việc làm. Chờ đợi làm chi? Ta sẽ có thể mướn được hai căn phòng. Anh đi làm có tiền, chúng ta sẽ được sung sướng.
Suzanna muốn anh nghỉ ngơi cho khỏe đã. Nhưng Moritz đã nhứt định. Anh nói:
– Ngày mai, anh đi với thằng Petre. Từ mười ba năm nay, anh làm việc suốt ngày và có nghỉ ngơi gì đâu. Và toàn là công việc thật nặng nhọc. Anh đã quen rồi!
Trước một cửa hàng, hai người ngừng lại. Tủ kiếng còn thắp đèn sáng trưng.
Moritz nói:
– Tiền anh làm ra được kỳ đầu, anh sẽ mua cho em xâu chuỗi hột chai này, xâu đỏ đó, em thích không?
Nàng ngó xuống giá tiền, rồi nhìn Moritz, không biết trả lời làm sao. Giấc mộng Moritz được trở về, mua cho nàng một xâu chuỗi hột chai đã thành sự thật. Nàng nói:
– Nếu mai anh làm liền được, thì thứ bảy này anh mua xâu chuỗi cho anh.
Khi hai người về đến con đường vô nhà thì trời sáng. Moritz ôm Suzanna vào lòng và nói:
– Anh không hôn em ở nhà được vì có mấy đứa nhỏ, chúng nó sẽ cười mình. Chúng nó tưởng mình già rồi. Nhưng chúng ta chưa già. Có phải mình chưa già không em?
Trước nhà có cái xe cam-nhông, đèn “pha” chói sáng.
Tim Moritz đập mạnh. Anh rờ giấy tờ để trong túi. Tuy anh có giấy tờ hợp lệ, nhưng anh hơi lo. Chiếc xe cam-nhông giống xe trại giam và đèn “pha” cũng chói lòa như vậy.
Moritz biết chắc chắn rằng tất cả giấy tờ của anh đều đúng phép, anh cất đủ trong mình, và tất cả đèn pha đều chói sáng y nhau, nhưng anh sợ.
Suzanna hỏi:
– Tại sao anh run vầy nè?
Moritz không đáp, kéo nàng bươn bả vào nhà. Khi lên nấc thang, gặp hai viên hiến binh vừa trong phòng anh đi xuống. Họ đã đánh thức mấy đứa nhỏ và dặn thằng Petre phải lo sẵn đồ đạc, chừng 50 kí mỗi người, đúng bảy giờ sáng, đứng chờ trước cửa nhà.
Nhưng lúc gặp Moritz ở thang lầu, thừa dịp ấy, họ cũng lặp lại lời dặn:
– Đúng bảy giờ sáng chờ ngoài cửa nghe!
Suzanna hỏi:
– Các ông định đem chúng tôi đi đâu?
– Vì viện pháp chính trị, các ngoại kiều miền Đông Âu châu đều bị giam giữ, bởi mấy xứ này đang gây chiến tranh với các nước Đồng minh Tây phương. Nhưng không sao đâu, các người sẽ sống sung sướng trong trại, ăn uống như dân Mỹ. Chỉ là một sự đề phòng thôi. Đừng sợ gì hết, không ai bắt bớ các người đâu.
Trong đêm đó, Moritz muốn trốn.
Anh đã được mời một lần để thuật cho Thiếu tá Đô trưởng nghe vụ anh cứu mấy tù binh Pháp. Lúc đó anh tin thiệt. Và vì thế anh bị giam trong nhiều năm dài đăng đẵng vừa rồi. Bây giờ, anh không tin ai nữa hết. Anh đeo túi dết mà anh vừa mang về từ trại giam Dachau mười tám giờ trước đây, và đánh thức mấy đứa con dậy, để từ giã.
Thằng Petre cười khi thấy cha nó muốn đi trốn. Nó nói tiếng Anh thông thạo và là một kẻ thân Mỹ nhiệt liệt. Nó hỏi Moritz:
– Ba muốn đi đâu? Ba thiệt thà quá! Tôi biết rõ người Mỹ, tôi có một số đông bạn Mỹ; mỗi buổi chiều chúng tôi đều đi chơi với nhau. Khi người Mỹ nói không phải là bắt bớ, ta nên tin họ. Và nếu chỉ là một biện pháp chính trị, thì chúng ta sẽ có lương thực Mỹ để ăn, có cà-phê ngon, thuốc điếu và kẹo sô-cô-la. Và ta cũng không bị bắt buộc làm việc gì. Ai dại gì đi trốn. Ba chưa hiểu người Mỹ mà!
Moritz nghĩ tới những điều anh đã biết, đã đau đớn khổ sở, và đã thấy chán chường, anh ngó thằng Petre. Anh không muốn phá tan ảo mộng của nó, và không muốn nói thiệt với nó những gì anh đã biết.
Anh cởi túi dết, để trên bàn. Anh tự nghĩ không biết phải trốn đi đâu? Trốn quân Mỹ thì gặp quân Nga. Mà ở với quân Nga, còn khổ sở hơn. Không phải anh tin lời nói của thằng Petre. Anh hiểu rõ thế nào rồi. Nhưng anh đã mòn sức, không còn đủ nghị lực đi trốn. Anh không có cách gì khác hơn là ở lại, ở lại để bị bắt một lần nữa. Anh nói:
– Mày có lý! Ai dại gì đi trốn!
Petre vỗ vai anh, thân mật nói:
– Cha con ta sẽ tình nguyện xin nhập ngũ trong quân đội Mỹ. Chừng đánh quân Nga xong, ta trở về xứ Roumanie. Trận giặc “Văn minh” chống “Dã man” mà! Ba phải tình nguyện mới được!
Moritz không nghe thêm, trí anh đang nghĩ đến những hàng rào dây kẽm gai, ở Dachau, Heibronn, Kornwestheim, Darmstdt, Ohrdruf, Ziegelheim, những hàng rào kẽm gai của ba mươi tám trại giam mà anh bị giam cầm trong mấy năm chót này, những nơi đó mục sư Koruga và Traian đã chết, và anh cũng suýt bị chết đói.
Anh cảm thấy như mấy dây kẽm gai đâm thấu tim anh. Anh nghĩ thầm “Mới tự do chỉ được có mười tám giờ, bây giờ phải vô trại giam trở lại. Lần này không phải bị bắt vì là dân Do thái, Roumain, Đức, Hongrois hoặc lính S.S., mà vì là kiều dân của một xứ Đông bán cầu”. Nước mắt Moritz tuôn trào.
Thằng Petre hỏi:
– Sao ba không sửa soạn hành lý đi?
Nó vui thích được ra đi lắm. Moritz đáp:
– Ba sẵn sàng. Từ mười ba năm nay, ba dời chỗ từ trại giam này đến trại giam khác biết bao nhiêu lần rồi, nên lúc nào ba cũng sẵn sàng. Rồi con cũng sẽ tập quen với mấy trại giam. Ba thương hại cho con, song làm đàn ông, ai ai cũng phải chịu vậy, vì từ rày về sau, họ chỉ thấy toàn là trại giam, hàng rào dây kẽm gai, và đoàn xe nhà binh có hộ tống! Ba đã trải qua một trăm năm trại giam, trại sắp tới đây sẽ là trại thứ một trăm lẻ sáu. Khổ thân ba làm sao! Vừa được thả mới có mười tám giờ! Biết đâu ba lại không có lấy một giờ tự do trước khi chết.
Moritz ngó Suzanna và nói:
– Nếu như thế thật là tốt đẹp. Bây giờ anh có thể chết được, không mến tiếc. Anh không ngờ anh có thể được sống những giờ tươi đẹp, hạnh phúc như thế. Thật như hồi ở làng Fântâna, phải không Suzanna?
ĐOẠN KẾT
– Bà West, tôi muốn nói chuyện riêng với bà!
Eleonora để tập hồ sơ trên bàn, ngó Trung úy Lewis. Ông đang ngồi tại bàn giấy, chân tréo mảy, ưỡn ngực dựa lưng ghế và hút thuốc.
Trung úy Lewis là trưởng phòng Phòng tuyển mộ ngoại kiều đến tình nguyện xin vô quân đội Mỹ. Eleonora là nhân viên và thông dịch viên tại Phòng này. Nàng làm việc từ sáu tháng nay, dưới quyền Trung úy Lewis.
Nora ngó đôi vớ cuốn kèn quanh ống quyển Trung úy, rồi nghĩ thầm: “Tại sao hắn không mang dây kẹp vớ? Và tại sao hắn ngồi ghế như ngồi ngựa vậy? Giống như bọn thủy thủ ở bến tàu! Vậy mà hắn cũng là con nhà có giáo dục, cũng xuất thân trường đại học. Dầu hắn có tự do quá mức đi nữa, hắn cũng không được phép ở trong phòng văn, đưa cặp giò trước mặt một người đàn bà như thế này!”.
Nàng thấy như bị tát tai mỗi khi Trung úy Lewis bắt tay nàng mà miệng còn ngậm điếu thuốc, hoặc mỗi lần quăng một hồ sơ trên bàn cho nàng, như ném miếng xương cho chó.
Trung úy Lewis không ngờ Nora đã nghĩ gì đến mình, trái lại, còn tưởng nàng phục mình lắm. Nhưng đôi mắt nhìn của ông vẫn còn ngượng nghịu.
Nora đáp:
– Tôi xin nghe ông.
– Bà West có bằng lòng ưng làm vợ tôi không?
Trung úy ngồi bật ngửa, xích đòng đưa chiếc ghế, chiếc ghế chỉ còn đứng có hai chân. Nora trả lời:
– Tôi không ưng làm vợ ông!
– Vậy bà có những dự tính nào khác sao?
– Không có! Nhưng câu trả lời của tôi là: không bằng lòng.
Nora giở tập hồ sơ ra, song không làm việc được. Mắt ngó giấy tờ mà trí ở đâu đâu.
Nàng ở tù hai năm trong trại giam, rồi đương nhiên được thả ra, cũng vô căn cứ, như lúc bị bắt.
Khi ra tù, nàng hết tiền bạc, chẳng còn áo dài, nữ trang nào. Đến chiếc nhẫn cưới cũng không. Tất cả đều bị khám xét lấy hết. Tiền gởi ngân hàng ở các nước ngoài cũng bị tịch thâu. Nàng nghèo xơ xác. Nàng được cho hay: Traian chết. Tự tử. Chỉ có thế. Nàng tuyệt nhiên không biết gì khác hơn. Nàng không thể trở qua Nga, mà cũng không đi đâu xa hơn được, vẫn còn ở Đức. Nàng làm việc cho một tờ báo, giữ phần phiên dịch bài vở. Rồi có lịnh bắt giam tất cả kiều dân ở Đông bán cầu. Chiến tranh tuyên cáo, nàng đương nhiên bị bắt giam lại, nhưng không phải như lần trước. Hiện giờ, nàng làm thơ ký tại Văn phòng tuyển mộ dân ngoại quốc tình nguyện nhập ngũ. Nàng ở trong trại giam, có tiền lương và được nuôi ăn. Ngoài ra, lúc rảnh, nàng tiếp tục viết quyển tiểu thuyết “Giờ thứ hai mươi lăm” của Traian chưa hoàn thành. Nàng có tìm giữ được, trong một va-li, bốn chương đầu mà nàng cho là phần chính của quyển sách. Nàng không nghĩ gì đến tương lai, chỉ cốt viết cho xong quyển truyện. Đúng ra, đây không phải là một kế hoạch tương lai. Nàng để hết tâm trí vào việc này mà nàng ưa thích. Nàng ráng viết theo giọng văn của chồng, và cố gắng hoàn thành quyển tiểu thuỵât như chính tự tay Traian làm công việc này.
Như thế, tại mỗi trang nàng viết, nàng có cảm giác như lúc nào cũng gần Traian, cũng ở kế bên chàng, và nàng có cảm tưởng như hai người cùng viết chung. Lúc trước Traian có phác họa kỹ càng đại ý nội dung quyển tiểu thuyết, nên nàng cố gắng theo đúng y hệt ý tưởng của chàng.
Trung úy Lewis suy nghĩ một chặp rồi nói:
– Được, nhưng tôi có thể biết được tại sao bà không bằng lòng chăng?
– Nếu ông tha thiết lắm thì tôi xin trả lời: Tại chênh lệch tuổi tác.
Trung úy thật tình cười lớn và nói:
– Thật vô ý nghĩa. Tôi lớn hơn bà có một năm. Tôi đã xem giấy tờ của bà. Có chênh lệch gì đâu nào? Trái lại là khác. Bà khéo vẽ chuyện!
– Ông lầm rồi!
– Bà nói chơi sao? Bà mấy tuổi?
– Nói chuyện khác đi ông.
– Không. Bà phải nói tuổi thật của bà trước đi.
– Không ai lại hỏi tuổi một người đàn bà bao giờ, nhứt là gặng đi gặng lại mãi như vầy! Song tôi có thể nói cho ông nghe. Tôi được chín trăm sáu mươi chín tuổi. Và ông nên nhớ, về phương diện tuổi tác, đàn bà thường hay nói ít hơn số tuổi của họ có thệt sự. Đúng ra, tôi còn già hơn nữa.
Trung úy Lewis cười ngất rồi nói:
– Phải đấy. Thưa bà Bành Tổ!
Nhưng Nora West không cười. Trung úy tưởng nàng sắp ưng thuận, song nàng quả quyết lặp lại tiếng “không”. Nàng nói:
– Ông Lewis đừng giận, tôi không thể nào ở chung một nhà với ông được hai mươi bốn giờ.
– Tại sao?
– Tôi đã nói vì chênh lệch tuổi tác. Ông là một thanh niên hiền hậu, dễ thương và ích kỷ, nói tóm lại, như tất cả thanh niên Mỹ. Còn tôi, tôi lại là người đàn bà ở một thế giới khác.
– Tôi không hiểu.
– Tôi biết ông không hiểu, nên mới không giải thích. Tôi có, với tôi, cả ngàn năm kinh nghiệm của giống nòi, đã hy sinh, đau khổ, một ngàn năm đào luyện cho tôi trở thành như ngày nay. Còn ông, ông chỉ có cái hiện tại và tương lai. Và có lẽ tương lai. Tôi thêm tiếng: “Có lẽ” không phải vì tôi nghi ngờ, nhưng vì chưa ai chắc chắn nơi tương lai được cả.
– Thật là ngụy biện!
– Thì ông nghe tôi đây, ông Lewis. Sau khi nghe được lời tỏ tình văn hoa của Pétrarque, Goethe, Lord Byron, Pouchkine, sau khi nghe lời nói yêu đương của Traian, sau khi nghe tiếng hát ca tụng tình ái của những chàng thi sĩ thời xưa nước Pháp, và khi thấy họ quỳ gối cầu khẩn dưới chân tôi, như với một bà hoàng, sau khi thấy vua chúa, mấy chàng hiệp sĩ chết vì tôi, sau khi nói chuyện tình ái với Valéry, Rilke, D’ Annunzio, Eliot, làm sao tôi có thể coi nghiêm trang được lời xin cưới tôi, mà ông thốt ra như tạt vào mặt tôi, cùng một lúc với làn khói thuốc nơi miệng ông?
– Vậy muốn hỏi cưới một người đàn bà thì phải là Goethe, Lord Byron hoặc Pétrarque sao?
– Không phải vậy, cũng không đợi phải là Rilke hoặc Pouchkine mới hỏi cưới một người đàn bà. Song muốn kết hôn với một người nào, điều cần nhứt là phải yêu họ.
– Mà chúng ta đã hoàn toàn đồng ý về điểm này rồi. Ai nói với bà là tôi không yêu bà?
Nora mỉm cười:
– Yêu đương là một tình yêu say mê. Ông có nghe nói đến, hoặc ít nữa, cũng đã đọc thấy ở đâu rồi chăng?
– Phải. Tôi cũng hoàn toàn đồng ý. Yêu đương là một tình say mê.
– “Nhưng ông tuyệt nhiên chẳng thể nào cảm thấy say mê. Và không phải một mình ông. Không một người đàn ông nào của Xã hội Văn minh ông có thể có được mối tình say mê cả.
“Ái tình là mối tình cao quý nhứt, chỉ có được trong một Xã hội, mà mỗi người được kính trọng, mỗi cá nhân được xem là độc nhứt, không thể thay thế. Xã hội của ông lại cho con người đều có thể thay thế được dễ dàng. Ông không cho mỗi cá nhân, mỗi người đàn bà nào mà ông yêu là một con người duy nhứt do tạo hóa tạo nên đâu? Ở xã hội các ông, mỗi người được tạo ra từng loại hạng. Dưới mắt ông, người đàn bà này như người đàn bà kia, đều như nhau cả.
“Với quan niệm đó, ông không thật tình yêu đương được. Những tình nhân của Xã hội chúng tôi biết rằng nếu họ không chiếm được quả tim của người đàn bà họ yêu quý, thì họ không thể nào yêu người khác được. Vì thế, lắm khi họ tự tử vì người yêu. Tình yêu của họ bị từ chối thì không thể thay thế bằng mối tình của người khác. Người đàn ông nào yêu tôi thật tình phải cho tôi có cảm tưởng rằng tôi là người đàn bà duy nhứt đem hạnh phúc cho họ. Chỉ một mình tôi thôi. Họ phải chứng tỏ rằng tôi là người độc nhứt, không còn người thứ hai nào trên mặt đất này. Và tôi phải được xác nhận chuyện ấy. Một người đàn ông nào không làm cho tôi có cảm tưởng tôi là duy nhứt, không thể thay thế được, là không thật yêu tôi. Và một người đàn bà nào không được sự xác nhận của người mình yêu, chưa phải được yêu thật sự. Và nếu tôi không được một người đàn ông thật tình yêu tôi, thì tôi không kết hôn với người đó. Ông có chứng tỏ như thế được không, ông Lewis? Ông có thật tình tin chắc, đối với ông, tôi là một người đàn bà duy nhứt mà người đàn bà nào khác không thay thế được chăng? Ông có thật tình tin chắc, sau khi đã tìm kiếm kỹ lưỡng, ông không thể tìm ra người nào có thể thay thế tôi được chăng? Không! Ông tin chắc, nếu tôi từ chối, ông sẽ kiếm được người khác làm vợ ông, và nếu người ấy từ chối nữa, thì ông sẽ tìm được người thứ ba, có phải vậy không ông?”
– Phải. Bà nói đúng. Nhưng tôi tiếc bà đã từ chối tôi. Bà nên tin là lời nói danh dự của tôi. Tôi vẫn tiếc mãi.
– Thôi! Tốt hơn ta lo tiếp tục làm việc đi ông!
Nàng mở hồ sơ ra và nói:
– Trong trại giam ai cũng xin đăng tên, luôn cả con nít, đàn bà và ông già nữa. Họ đều xin tình nguyện. Họ đều muốn chiến đấu bên cạnh ta.
Nàng mỉm cười. Nàng nhớ đến hàng ngàn công dân ngoại quốc đang ở miền Tây Âu. Tất cả đều xa lánh sự tàn bạo của quân Nga, chạy trốn bên phía Mỹ, Anh hoặc Pháp. Họ cũng không nghĩ chạy đi hướng nào. Họ chỉ biết trốn quân Nga, trốn sự tàn bạo dã man, tránh khủng bố, cảnh giết chóc, tra tấn. Họ nhắm hướng nào không có quân Nga nữa và họ nhắm mắy chạy về hướng ấy. Họ chỉ viết chẳng nên quay gót trở lại. Sau lưng họ toàn là đêm tối, đẫm máu. Sau lưng họ, là khủng bố, chém giết. Họ ôm chằm lấy vùng đất này, nơi không còn bóng quân Nga nữa. Họ quỳ gối ôm chằm lấy vùng đất đã bao dung họ và gọi là lãnh thổ của hứa hẹn, của hy vọng. Họ ôm chằm lấy nó, không cần xem là ở nơi nào, cũng không cần biết nó sẽ ra sao.
Hễ là đất không có quân Nga là được, không kể dân nước nào ở hoặc chiếm đóng.
Họ không muốn thấy người Nga nữa.
Người Mỹ bắt giam họ, nhưng họ không oán giậin, vẫn yên lòng ở nơi vùng đầy hứa hẹn. Họ chẳng đòi hỏi gì hơn là thoát được khỏi móng vuốt của quân Nga. Và khi họ đã thoát được, kiếp sống của họ có ra sao đi nữa, họ cũng không cần. Vì thế, họ không giận khi quân Mỹ bắt họ. Dầu người Mỹ có giết họ, họ cũng không phản kháng. Và bây giờ trận giặc thứ ba vừa mới khai hấn. Dân tị nạn đã mệt mỏi, đói khát, và bị giam cầm.
Họ muốn có lương thực, được nghỉ ngơi, có công việc làm và sống tự do. Họ không phản đối chẳng được mấy nhu cầu kể trê, vì họ được xa lánh quân Nga là điều cần thiết nhứt cho họ rồi.
Người Mỹ hứa trả tự do cho ai tình nguyện nhập ngũ vào đạo binh Tây phương, nên tất cả đàn ông đều xin tình nguyện. Chẳng phải để đi đánh giặc, mà để khỏi bị nhốt, bị chết đói.
Trung úy Lewis nói:
– Họ hoan nghinh nhiệt liệt! Chính nghĩa của trận giặc Tây Ấu chống dã man Đông Âu được toàn thể giới này chấp nhận. Ai ai cũng đều nhận định giờ quyết liệt đã đến cho họ, hoặc chết hoặc thắng trận. Trận giặc duy nhứt của Lịch sử! Tây Âu văn minh chống với Đông Âu dã man. Thật là trận thế giới chiến tranh. Trận thế giới chiến tranh đầu tiên trong Lịch sử nhân loại!
Trung úy xoa tay nói:
– Thật là hạnh phúc và danh dự được tham gia trận giặc này. Phần thắng chắc về ta rồi. Tất cả thế giới được văn minh hóa. Chẳng còn chiến tranh nữa; từ rày về sau, chỉ còn là tiến bộ, thạnh vượng và tiện nghi an lạc thôi!
Nora mỉm cười. Trung úy hỏi:
– Hình như bà không hoan nghinh? Tôi thấy bà không hăng hái tán thành chính nghĩa của Tây phương. Bộ bà có cảm tình với cộng sản sao? Bà là người duy nhứt còn dè dặt. Người duy nhứt không hoan nghinh!
– Không ai hoan nghinh cả. Chỉ có ông thấy họ hoan nghinh thôi!
– Mấy người tình nguyện kia không phải hoàn toàn chống cộng sao?
– Phải, chống cộng, nhưng chỉ có bấy nhiêu thôi, nghĩa là họ muốn sống tự do, muốn không còn cảm thấy không khí khủng bố, muốn không còn bị tàn sát, đói rét, tù đày, đánh khảo nữa. Nhưng họ không phải vì chính trị, họ chỉ lẩn trốn trước cảnh giết chóc, khủng bố và nô lệ mà thôi.
– Bà còn muốn gì nữa? Như thế nghĩa là họ hoàn toàn hoan nghinh chính nghĩa của Tây phương rồi, nên họ mới tình nguyện đăng tên, vì chúng ta chiến đấu để đem lại cho họ tự do, yên ổn, sự che chở và nền dân chủ!
– Ông đừng để bị say sưa về những danh từ, ông Lewis à! Chiến tranh mà ông cho là trận giặc thế giới thứ ba này không phải là trận giặc Tây Âu chống với Đông Âu. Và thật ra không phải là trận giặc, dẫu rằng trận tuyến chạy dài khắp thế giới, từ Tây sang Đông. Trận giặc này chỉ là một cuộc cách mạng nội bộ trong khuôn khổ của Xã hội kỹ thuật Tây phương mà thôi; một cách mạng nội bộ riêng cho Tây phương!
– Nhưng ta chống Đông Âu, chống cả vùng Âu châu miền Đông!
– Ông nói sai rồi! Tây phương các ông xung đột với một ngành vủa nên Văn minh các ông thôi!
– Chúng tôi chiến tranh với nước Nga.
– Nước Nga, sau cuộc cách mạng cộng sản, đã trở thành một ngành tân tiến nhứt của nền Văn minh kỹ thuật Tây phương. Nước Nga mượn tất cả lý thuyết của Tây phương và chỉ đem thực hành mà thôi. Nước Nga đã tiết giảm con người xuống con số không, như đã học của Tây phương. Nó đã biến cải Xã hội thành một bộ máy khổng lồ, như đã học của Tây phương. Chỉ có nước Nga mới bắt chước Tây phương được, như một giống dân dã man mọi rợ mới có thể làm. Trong Xã hội Cộng sản, những chuyện hoàn toàn do quân Nga đem đến là sự cuồng tín và dã man. Chỉ có thế thôi. Ở Nga-sô trừ đặc tính khát máu và cuồng tín ra, tất cả đều do nơi Tây phương hết. Và các ông chỉ chống phương diện ấy của nền Văn minh Tây phương, chống ngành Cộng sản của Xã hội kỹ thuật Tây phương mà thôi. Và vì thế, trận thế giới chiến tranh thứ ba này chỉ có thể là một cuộc cách mạng nội bộ, nó đã bùng nổ và tiếp tục diễn tiến chính ngay trong Xã hội kỹ thuật Tây phương. Nhóm Đại Tây dương và Âu châu của Xã hội Tây phương chống với nhóm Cộng sản Tây phương. Đây là một cuộc tranh chấp nội bộ giữa hai phái, hai giai cấp trong một xã hội, hoặc nếu ông muốn, một cuộc cách mạng giai cấp, y như cuộc cách mạng giai cấp trung sản năm 1848. Đông phương không dự vào cuộc cách mạng nội bộ Tây phương. Trừ Xã hội Tây phương, không ai dự vào cuộc cách mạng này cả. Và ông Lewis à, một khi cuộc cách mạng ấy hoàn toàn đặc biệt Tây phương thì nó không phải để phục vụ cho con người. Vì Xã hội Tây phương không có con người.
– Tôi không hiểu!
– “Dễ hiểu lắm! Quyền lợi của Xã hội Tây phương không phải là của con người, mà ngược lại. Trong Xã hội kỹ thuật Tây phương, con người sống như mấy giáo đồ đầu tiên thuở xưa ở trong hầm mộ, trong khám đường, ngục tối, ngoài lề xã hội. Họ trốn tránh lẩn lút, không được phép ra giữa công chúng. Họ không được phép giữ chức vụ hành chánh, bất kỳ ở đâu, và nhứt là trong văn phòng, vì Xã hội văn minh các ông đã thay thế bàn thờ bằng văn phòng.
“Người mà còn thật con người phải trốn lánh, bằng không thì sẽ bị bắt buộc phải hành động theo luật lệ kỹ thuật, theo luật lệ của máy móc.
“Con người bị giảm còn một khuôn khổ xã hội và bị biến thành “Công dân”, nghĩa là không phải là con người nữa.
“Xã hội kỹ thuật không biết đến con người, chỉ biết họ dưới hình thức công dân mà thôi.
“Mà một khi không biết đến họ thì làm sao có cuộc cách mạng vì họ được?
“Vì tính cách đặc biệt Tây phương, nên cuộc cách mạng hiện tại xa hẳn với quyền lợi của con người về phương tiện cá nhân.
“Con người từ lâu đã trở thành một thiểu số vô sản trong Xã hội Tây phương các ông, nên dầu có phe nào thắng trận đi nữa, thì con người vẫn là phần tử vô sản trong khung cảnh của Xã hội.
“Trận giặc hiện tại là một cuộc xung đột giữa hai hạng “Người máy”, kéo theo sau chúng, những nô lệ sinh hoạt, những người nô lệ sống bằng xương bằng thịt.
“Con người ngày nay không thể kể như có tham gia vào chiến tranh đang xảy ra, cũng giống như các người nô lệ chèo chiến thuyền La Mã thời xưa, ta không thể kể họ đã dự vào chiến tranh Đế quốc La Mã được. Họ chỉ làm công việc mang xiềng xích của trận giặc, mà mắc bị xiềng thì làm sao đánh giặc được?”.
– Tù nhân ở trại giam đến xin đăng tên tình nguyện không phải tự ý họ hay sao? Bà quả quyết liều lĩnh quá! Tôi không phải hăm dọa bà, nhưng tôi cực lực phản đối bà. Mỗi người tình nguyện đến đây đều do họ muốn cả. Bà có dám chắc rằng chúng tôi ép buộc một người nào trong đám này làm chuyện ấy không? Bà đã chứng kiến nhiều lần cảnh thất vọng của những kẻ mà chúng tôi bắt buộc phải từ chối. Họ hăm dọa sẽ tự tử nếu không được đăng tên. Vậy không phải là tự ý họ sao? Vậy không phải là họ hoan nghinh à? Họ còn cuồng tín hơn chúng tôi nữa. Họ coi như bị hình phạt nặng nề, khi chúng tôi từ chối không thâu đơn họ. Có phải vậy không bà West?
– Con người không còn lối thoát nạn nào nữa. Họ như bị nhốt trong xà-lim khám đường, tư bề lửa cháy, và chỉ còn có một cửa ra được. Cửa ấy, là xin tình nguyện nhập ngũ. Cửa ấy, là những đơn trạng ta tiếp được mỗi ngày tại văn phòng này. Mỗi lá đơn là một tiếng kêu van tuyệt vọng để được tới ngõ ra còn lại cho họ. Tất cả đều gởi đơn, không phải chỉ để riêng dân Đông Âu tị nạn, mà tất cả Âu châu toàn diện.
– Không đúng! Đơn ấy đâu phải là lối duy nhứt thoát ra khỏi biển lửa. Họ còn có thể qua bên Nga, tại sao họ không chịu đi và tại sao họ đến với chúng tôi?
– Không! Chỉ đường cho họ sang Nga, tức là bảo họ nhào vô vách tường cháy đỏ. Và nhảy qua khỏi vách tường đó thì lại sa vào căn phòng lửa phát cháy. Ở trên bức tường đó, họ chỉ có thể nhảy vào ngọn lửa và vào cõi chết mà thôi. Và không một người nào muốn nhảy vào đống lửa, khi còn thấy một cửa ra. Cửa đó, là chúng ta. Họ xin chạy thoát, nhưng không tìm xem cửa ấy sẽ đi đến đâu. Họ không quan tâm đến. Họ phải chạy vì ngộp thở. Thà chạy ra cửa hơn ở trên vách lửa cháy. Mà dầu biết qua khỏi ngưỡng cửa cũng còn gặp lửa nữa, họ vẫn chạy ra cửa, vì ít nhứt họ cũng tránh được khỏi bị cháy một lúc. Họ cố giữ một hy vọng, một ảo vọng, như thế còn hơn là không. Một ảo vọng, tuy có vô lý, cũng quan trọng lắm chớ!
– Bà xem tất cả với một khía cạnh bi đát. Các người tình nguyện có nghĩ như bà đâu? Đơn họ được chấp nhận là họ mừng rỡ. Họ liều thân chiến đấu cho chính nghĩa của chúng ta mà cũng là của họ nữa. Họ sẽ là những quân nhân ưu tú nhứt của chúng ta đó! Bà mở cửa ra và nhìn xem họ tranh nhau chờ trước phòng văn thì biết.
Có cả trăm, cả ngàn người xin tình nguyện. Tất cả đều hăm hở chiến đấu vì đại nghĩa của nền Văn minh. Tất cả đều muốn xả thân cho cuộc Đại thắng ngày mai.
– Không. Họ không tin tưởng nơi trận giặc này. Có thể họ không nghĩ giống như tôi. Họ đau khổ quá nhiều. Họ không muốn nghĩ ngợi thêm, song họ cũng cảm thông, cũng đau đớn, cũng thất vọng như tôi. Giống y như tôi. Tất cả Âu châu cũng cảm nghĩ như tôi.
– Thôi để cho việc thực tế trả lời, bà West ạ! Tôi sẽ chứng minh cho bà thấy cách họ hân hoan xin đăng tên tình nguyện. Tôi sẽ lấy một ví dụ, lựa đại trong đám đông này.
Trung úy Lewis đứng dậy, mở rộng cửa, chỉ đám đông người chờ chực ở trước, nói với Nora:
– Bà xe, hôm nay cũng có hơn năm trăm người chờ đợi. Thử kêu người đứng đầu xem.
Trung úy cho người đứng đầu vô phòng văn. Người đàn ông không đi một mình, mà có cả vợ và ba con. Y đứng tuổi, tóc đen, hơi hoa râm hai bên màng tang, má thỏn, cặp mắt to và đen, nhưng buồn và đẹp.
Nora ngó đôi mắt người này, rồi nói thầm: “Nỗi buồn tự nơi tâm hồn cao cả của y”.
Người đàn ông đứng trước mặt nàng là một người thợ, nhưng đôi mắt lộ vẻ thông minh, có tinh thần.
Thứ tinh thần của một tâm hồn cao cả. Nỗi buồn không phải riêng về thân xác, mà nhứt là về tinh thần.
Thiếu phụ đứng bên, mặc cái áo xanh, hơi rộng. Tóc hung hung vàng đã điểm sương. Nàng còn đẹp lắm. Đẹp chẳng những về hình vóc dáng điệu mà vẻ anh hoa rực rỡ phát tiết lên khắp làn da.
Nora muốn cười với nàng, như một người chị em, song nàng cúi mặt xuống. Xem nàng buồn và sợ sệt.
Đứa con trai lớn có đôi mắt đen, giống mắt cha nó, nhưng không buồn, mà láo liên, táo bạo, tò mò nhìn Nora.
Đứa kia ngó xuống, lơ đãng, như suy nghĩ chuyện gì. Nó trắng hồng.
Đứa nhỏ hết, độ bốn tuổi, tóc quăn, mắt xanh. Nora không biết nó là gái hay trai. Nhưng nó đẹp như một thiên thần.
Trung úy nói với Nora:
– Đây là một gia đình muốn tình nguyện. Bà hỏi họ coi có nghĩ như bà hay không? Bà sẽ thấy không phải vì tuyệt vọng mà họ đến đây đâu. Họ đến vì khao khát tự do và công bình. Họ xin nhập ngũ vì họ muốn chiến đấu cho Hòa bình và Văn minh. Họ có ý thức lắm. Cứ hỏi họ những gì bà muốn biết, rồi bà xem!
– Không cần thiết. Tôi không tìm thấy họ cảm nghĩ gì trong tâm khảm. Nỗi khổ tâm của tôi cũng đủ rồi. Xin đừng bắt buộc tôi gợi chuyện đau lòng của kẻ khác. Ông cứ hỏi han họ như thường lệ. Tôi không chú tâm đến.
– Tôi yêu cầu bà hỏi những gì mà muốn hỏi. Chắc chắn bà sẽ đổi ý kiến.
– Cũng được!
Câu chót của Trung úy như một lịnh truyền. Nora ngó người đàn ông đang cầm nón, đứng trước cửa. Cặp mắt anh ngó lên, nàng hỏi:
– Anh tên gì?
– Iohann Moritz. Tôi xin tình nguyện với tất cả gia đình tôi. Xin bà chấp nhận cho. Tôi cầu xin chuẩn miễn vì tuổi tôi quá hạn như đã định trên bảnh yết thị. Nhưng tôi thấy tôi còn khỏe mạnh. Mấy đứa con tôi lại trẻ quá chưa đủ tuổi nhập ngũ, song chúng nó ngay thật và siêng năng. Chúng tôi chống cộng, như đã yết trên bảng. Chúng tôi tin tưởng nơi sự thắng trận của nền Văn minh, như yết thị đã rao. Song chúng tôi không đủ điều kiện tuổi như đã định trên bảng yết thị. Vì vậy chúng tôi xin bà cho chúng tôi được chuẩn miễn. Nếu bà không chịu nhận chúng tôi, chúng tôi sẽ chết mất. Chúng tôi không thể chịu đựng được nữa.
Thằng con trai lớn, có cặp mắt đen, nắm cùi chỏ ba nó, ra hiệu. Nó muốn nhắc ba nó đã nói nhiều quá.
Moritz làm thinh, đỏ mặt. Anh tự hối, phải chi đừng nói câu sau cùng.
Anh đã vụng về. Và có thể vì đó mà người ta không thâu nhận anh. Anh liền tiếp:
– Tôi thiết tha cầu khẩn bà cho chúng tôi được ghi tên. Chúng tôi làm lụng siêng năng và tính tình ngay thẳng lắm.
Thằng Petre có dặn anh nói nhiều chuyện khác nữa, nhưng anh không muốn. Anh không có lòng nào nói được là anh tin tưởng nơi Văn minh, nơi Tây phương, và chi chi nữa. Anh không thể nói mấy chuyện ấy. Miệng anh không thốt nên lời. Lúc ra về, thế nào anh cũng bị thằng Petre giận hờn, nặng nhẹ với anh. Anh đưa cặp mắt van lờn ngó thiếu phụ, tóc hung hung đỏ, ngồi ở bàn viết, và thấy nàng cũng ngó anh.
Cả phòng im lặng.
Thiếu phụ có đôi mắt long lanh, cái nhìn ấm áp, hiền hậu.
Vợ và con Moritz cũng đưa mắt ngó nàng, chờ đợi. Nhưng nàng vẫn ngồi im, nhìn họ.
Trung úy Lewis ra khỏi phòng. Thiếu phụ lặng im một hồi, ngó người đàn ông đứng trước mặt, rồi hỏi:
– Anh biết Traian Koruga không?
Moritz giựt mình, đáp:
– Chúng tôi ở chung với nhau.
Anh không muốn nói ở chung một trại giam. Thằng Petre có dặn kỹ ở nhà rồi.
– Chúng tôi ở chung nhau cho tới ngày chót. Với ông Traian và mục sư Koruga. Tôi ở kề bên ông ấy đến lúc tai nạn…
Ngừng một lát, Moritz nói thêm:
– Thật là một người hoàn toàn tốt mà tôi được biết. Như một ông thánh sống vậy. Bà cũng biết ông Traian nữa sao?
– Tôi là vợ Traian.
Moritz tái mặt, đứng dựa vào cửa. Anh muốn lấy khăn tay trong túi, nhưng không có khăn, lại đụng một vật cứng bằng thủy tinh, cặp mắt kiếng của Traian.
Hồi sớm mai này, anh lấy nó ra để làm cái bao da, sợ để trong rương cấn bể.
Anh cầm cặp kiếng trong tay giây lát, rồi suy nghĩ, thấy không cần làm bao da làm chi, vì anh không cất trong va-li nữa.
Anh để cặp kiếng trên bàn, trước mặt Nora, nói:
– Đây là cặp kiếng của ông Traian.
Moritz nghẹn ngào, giọng khàn khàn. Anh tằng hắng lấy giọng, nói tiếp:
– Ông đưa cho tôi, trước khi chết, dặn tôi kiếm bà trao lại. Ông đưa cho tôi vừa đúng trước khi ông…
Tiếng Moritz run run, không nói thêm được lời nào. Anh vội móc khăn tay, nhưng chỉ được có miếng da để làm bao kiếng. Anh cầm lên, không biết để làm gì. Nhưng cũng phải làm một cử động gì, anh bèn để miếng da trên bàn, gần cặp kiếng, rồi nói:
– Tôi muốn làm cái bao kiếng, cho khỏi bể gãy. Trong trại, tôi sẽ có thì giờ làm. Bà sẽ cất kiếng trong bao da, kỹ lưỡng hơn; nó sẽ không thể nào bể gãy được.
Trung úy Lewis trở vô phòng văn, hỏi:
– Thế nào? Bây giờ bà có nhìn nhận họ thật lòng tình nguyện và sốt sắng nhập ngũ hay chưa?
– Đúng vậy. Bây giờ tôi hoàn toàn công nhận ông có lý. Mấy người này đều khẩn khoản xin cho họ được chuẩn miễn về tuổi tác. Họ đều muốn xin đăng tên nhập ngũ cả gia đình.
Trung úy Lewis thích chí, cười đáp:
– Bà cứ cho họ được miễn tuổi, và làm giấy tờ cho họ đi. Tôi lo chụp tấm ảnh tất cả gia đình này để đăng báo.
Trung úy bước lại gần đứa nhỏ hơn hết, vuốt tóc nó, rồi hỏi Suzanna:
– Đứa nhỏ này chũng chống Nga nữa phải không?
Suzanna cúi đầu, nhưng nghĩ phải trả lời một câu, nên đáp nho nhỏ:
– Thưa phải, nó cũng chống quân Nga!
Nàng sợ Moritz nghe. Nhưng anh đã nghe. Nàng hối hận.
Nora điền vào mẫu đơn nhập ngũ, rồi nói với Moritz:
– Chiều nay anh lại chỗ tôi ở. Tôi cũng ở trong trại. Chúng ta uống trà và nói chuyện thong thả yên tịnh hơn. Anh sẽ thuật cho tôi nghe những gì anh biết về Traian.
Mắt Nora mờ lệ.
– Bây giờ anh trả lời câu hỏi của tôi để tôi ghi cho đủ trong sổ. Từ năm 1938 đến nay, anh ở đâu? Anh cứ nói thật hết đi, đừng sợ. Đơn anh sẽ được chấp thuận.
Thằng lớn hơn hết mỉm cười, sung sướng, thấy việc đã thành.
Đứa bé cũng vui vẻ ăn kẹo của Trung úy cho, cười đưa hai hàm răng trắng nõn.
Suzanna thì cúi gằm mặt xuống.
Trung úy Lewis sửa soạn máy ảnh để chụp hình gia đình Moritz, trong lúc anh đứng biên thể thức nhập ngũ. Ông muốn tất cả đều phải có bằng chứng xác thật.
Moritz nói:
– Từ năm 1938, tôi ở trại giam Do thái xứ Roumanie. Năm 1940, ở trại giam dân Roumain xứ Hongrois. Năm 1945, trong trại giam của Mỹ. Tôi vừa được thả khỏi trại giam Dachau hôm kia. Mười ba năm trong trại giam. Tôi mới được tự do có mười tám giờ. Kế bị dẫn tới đây…
Trung úy Lewis xây máy ảnh về phía Moritz và gia đình anh, kêu to lên:
– Cười đi!
Moritz ngó Nora, và nghĩ đến cả trăm ngàn thước dây kẽm gai mà anh đã thấy.
Anh tưởng như bao nhiêu cuồng kẽm đó quấn chung quanh mình anh.
Anh không ngó lên, khi Trung úy Lewis nói với anh. Anh không hiểu tiếng Anh.
Anh nói tiếp:
– Đó là tất cả những gì xảy ra cho tôi, từ năm 1938 đến ngày nay. Toàn là trại giam, trại giam. Trong mười ba năm ròng rã, tôi chỉ ở trong trại giam.
Trung úy Lewis kêu lên:
– Cười đi!
Moritz biết rằng những lời ấy nói với anh, nên hỏi Nora:
– Người Mỹ đó nói gì?
– Nó ra lịnh bảo anh cười!
Moritz ngó cặp mắt kiếng Traian trên bàn. Anh có cảm giác thấy Traian té chết gần hàng rào kẽm gai. Anh nhớ đến mấy cây số ngàn dây kẽm gai rào quanh các trại giam. Anh nhớ đến đôi chân bị cưa của mục sư Koruga. Anh nhớ đến những gì đã xảy ra từ mười ba năm trong các trại.
Anh ngó Suzanna, ngó thằng con nhỏ, rồi mặt anh xạm lại. Hai hàng nước mắt tuôn trào. Bây giờ, người ta ra lịnh cho anh cười, làm sao anh cười được. Anh thấy sắp khóc to lên như đàn bà. Khóc vì tuyệt vọng. Thế là hết. Anh không thể đi xa hơn nữa. Không người nào có thể đi xa hơn nữa!
Cô Lan, 16 tuổi , cô gái thứ tư trong 8 người con của một gia đình người Hoa đang sống tại làng Ngọc Hải, cách Cao Bằng 15 cây số và cách biên giới Việt Hoa khoàng 45 cây số. Cha cô làm nghề đan ghế tre và chuyên chở gạo bằng xe bò. Là thợ may của hợp tác xã, mẹ cô thỉnh thoảng cũng nhờ bọn lính gác để đi qua bên kia biên giới bán đường hóa học Việt Nam và mua về các nữ trang bằng cẩm thạch. Năm vừa qua cô đã đỗ bằng Trung học đệ nhất cấp. Cô chỉ đến trường mỗi tuần có 3 ngày để có thể đi làm thay cho mẹ cô ở hợp tác xã. Công việc cũng không có gì khó khăn. Vải của Liên Xô đã được cắt sẵn ra thành từng miếng, chỉ cần ráp lại thành những chiếc sơ mi, dài tay, ngắn tay hay quần, v..v.. là xong. Càng ráp được nhiều thì càng lãnh được nhiều tiền. Ráp một chiếc sơ mi ngắn tay thì lãnh được 7 hào 70 xu. Nếu có ai đưa vải nhờ may thì giá phải bằng hai. Mẹ cùa cô đang mang thai, mà muốn lãnh được khẩu phần lương thực của mình thì mẹ cô phải làm việc 20 ngày mỗi tháng. Cha cô thì được lãnh 50 gam thịt heo phụ trội . Gíá chính thức của một kí lô gạo là 40 hào trong khi giá chợ đen phải là 16 đồng một kí. Một kí lô thịt heo giá chánh thức là 2 đồng 70, và giá chợ đen là 25 đồng.
Trong giờ học về lịch sử ở trường, cô giáo đã từng nói:
“Chúng ta hy vọng là nước Việt Nam sẽ được sống trong thanh bình và độc lập. Miền Nam và miền Bắc sẽ được thống nhất. Sẽ không có sự can thiêp nào của cả người Mỹ lẫn người Trung Hoa.
Cô giáo cũng đã từng nói là đất nước đã bị 14 thế lực ngoại bang xâm lăng, trong đó có người Tàu, người Pháp, người Đức và người Ý. Tất cả đếu đã bị đánh đuổi chỉ còn có người Mỹ.
Cô cũng còn nói:
_ “Chúng ta phải chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng. Dù phải mất 50 hay 100 năm nữa. dù chúng ta phải chiến đấu đến người cuối cùng trong gia đình.
Cô Lan không thích chiến tranh. Cô có họ hàng ờ Sài Gòn trong Miền Nam, em của bà nội cô và các con của bà. Cô cảm thấy có nghĩa vụ đối với đại gia đình của cô. Theo cô thì nhiều người không hiểu tại sao họ phải chiến đấu. Họ phải thi hành nghĩa vụ quân sự. Cô biết có một người Thái bị chung thân khổ sai vì tội đào ngũ. Cô đã thấy một số bạn trẻ đã khóc vì bị bắt đi thi hành nghĩa vụ quân sự nhưng rồi cũng phải đi. Tại Cao Bằng, có không ít người Việt lai Tàu trốn khỏi các trại lính và đào ngũ. Cô Lan đã gặp được một số thương binh. Với một anh bộ đội bị mất cả đôi chân, chánh quyền đã cấp cho anh một đôi chân giả và một chiếc xe gắn máy cà tàng cho anh ta xử dụng. Một người khác thì được một chiếc xe đạp và những bộ phận tay chân giả.
Cô Lan thích các bài tập hát trên đài phát thanh lúc 14 giờ 30. Họ dạy từng đoạn một. Cô cũng thích nghe những bài học về xã giao, về luân lý hay về vệ sinh trong các buổi phát thanh đó. Cô thuộc nằm lòng nhiều bài hát và nhiều bài thơ nhất là thơ của Tố Hữu.
Mặc ai nói xỏ nói xiêng
Lòng tôi vẫn vững như kiềng ba chân
Cô hiểu rõ những câu thơ đó lắm. Trong các nhà bếp tập thể trong làng, người ta thường xử dụng kiềng ba chân, tượng trưng cho ba miền Bắc, Trung và Nam. Cô thích nhắm nhìn giòng nước trong vắt của con sông Bằng Giang, những ngọn đồi và những ruộng xanh của làng mình.
Cô không quan tâm đến vấn đề chánh trị. Cô không đọc báo mà làng cô thường nhận được, dù đó là tờ Nhân Dân, tờ báo của đảng , trong đó có những bài rất giản dị mà người nông dân nào cũng có thể hiểu được. Trong số báo ngày 5 tháng 4, trong mục “Thời sự lịch sử”, người ta đọc được là: Tuổi Tý con chuột trong năm Mão con mèo”: ông Thiệu tuổi Tý. Tự nhiên là con chuột Thiệu bò từ cống của người Pháp sang cống của người Mỹ. Bị tấn công ở Ban Mê Thuột, Thiệu bỏ chạy tới Huế và Đà Nẳng để nhảy xuống biển Trung Quốc trở về Miền Nam chui vào Sài Gòn . Theo âm lịch năm nay là năm Mão, năm con mèo. Khi mèo gặp chuột thì mèo sẽ ăn chuột. Chỉ trong thời gian một tháng, mèo đã ăn được một số chuột rồi. Làm sao ông Thiệu vốn là tuổi Tý chạy thoát được miệng con mèo? Số mệnh được an bài rồi: sanh vào tuổi Tý phải chết vào năm Mèo!
Trong báo cáo tiến quân của mình Văn Tiến Dũng ghi là ông đã dừng chân chỗ này hay chỗ nọ để tỏ tình cảm của mình đối với cảnh vật, một niềm vui khi nhìn các ngọn đồi dưới nắng vàng, hay màu xanh tươi của cỏ cây, hoặc những vườn cao su dày đặt chạy dài suốt tận chân trời .. ..hay các cây cổ thụ hùng vĩ trong rừng già và những cành lan xinh đẹp đang nở. Ông thường la cà bên các hỏa đầu quân ngay ở bờ suối đang làm bếp bằng những chiếc lò Hoàng Cầm, với một bộ phận “ém khói” tinh vi. Ông cũng hay đứng nhìn các anh bộ đội đang ngủ say trên võng sau một đêm dài di chuyển, hoặc những dòng chữ kiểu cọ trên các tấm bản chỉ đường hướng dẫn cho họ khi họ muốn tìm đường về đơn vị hay ban ngành nào đó trên đường tiến quân. Vị Tổng tư lệnh Bắc Việt cũng thích nghe những mẩu chuyện răn đời. Ông Đinh đức Thiện, một người có trách nhiệm về tiếp vận đã kể cho ông một câu chuyện sau đây:
“một ngày nọ ờ một bãi đậu xe gần quận Đức Lập ông ta thấy hai người tài xế đang loay hoay sửa một chiếc xe vận tải. Ông hỏi: Các anh thuộc đơn vị nào đây? Ta đang sắp sửa kết thúc cuộc chiến rồi mà sao các anh còn mãi loay hoay ở đây? Các anh không biết thẹn sao? Và hai anh tài xế trả lời ngay là: Ông ơi, hai chúng tôi là tù binh ”
Tướng Dũng đã ghi lại là:
“Trên khắp các mặt trận và trong tất cả các đơn vị, người của chúng ta đã xử dụng các cựu quân nhân và chyên viên dân chính của quân đội Sài Gòn trong công tác tu bổ nhiều loại xe. Họ đã giải thích cho chúng tôi những đặc điểm của từng loại vũ khí và quân cụ của Mỹ để cho chúng tôi xử dụng và người ta có thể thấy là trong các đoàn xe của chúng tôi đã có những thiết vận xa M.113, những chiến xa M.41, M.48, hay những khẩu đại bác 105, 155 ly và những máy truyền tin chiến thuật PCR 25, hoàn toàn của Hoa Kỳ. Các phi công của ta đã nhanh chóng học và điều khiển được các phi cơ săn giặc A.37 hay F.5. Hơn bao giờ hết chúng tôi đã đánh địch được bằng chính những vũ khí của họ. Tất cà những chiến lợi phẩm này đã tăng sức mạnh hỏa lực của chúng tôi gấp 10 lần và giúp tăng nhanh nhịp độ tiến quân của chúng tôi ”
Tướng Dũng cũng đã ghi rõ trong Nhựt ký hành quân của ông ta:
_ “Sau khi giải phóng được Đà Nẳng, Quân Đoàn số 2 được lệnh tiến nhanh dọc theo bờ biển xuống phía Nam, để đến Biên Hòa (một căn cứ lớn nằm về phía Bắc của Sài Gòn) trong một thời gian là 18 ngày. Trên 900 cây số mà Quân Đoàn này phải đi, nhiều cây cầu đã bị phá hủy. Từ Đà Nẳng đến Quảng Ngãi đã có 6 cây cầu sập, và dẫn một đoàn xe 2000 chiếc, phải vượt qua 6 con sông, chưa nói đến các trận chiến. quả là một bài toán phức tạp về tổ chức và chỉ huy!”
Tướng Dũng luôn luôn dựa trên quá khứ để phân tách các bài toán của năm 1975:
” Trong cuộc hành quân năm 1972, sư đoàn 308 chỉ có 400 xe, đã không tiến lên được vì những nút chận ở dọc đường”.
Viên tổng tư lệnh và Bộ Tham Mưu của ông ta đã đoan chắc là sự hợp đồng giữa các binh chủng đã được hoàn hảo hơn.
“Quân Đoàn 2 đã được tổ chức làm nhiều thành phần; mở đường và sửa cầu là Công Binh. Đi kế đó là Chiến xa sẳn sàng tiếp ứng nếu gặp trường hợp có kháng cự. Hai thành phần này được một trung đoàn phòng không yểm trợ. Bộ binh và Pháo binh đi sau cùng.”
Bây giờ thì tướng Dũng đã không còn ngần ngại khi ông biệt phái các chiến xa tách rời xa các đơn vị bộ binh .. ..
“Các bô lão đứng dọc theo đường cùng phụ nữ và trẻ em để cho chúng tôi trà, nước dừa và mía” .Tướng Dũng không dám nói thật là thường thường thì dân chúng “bán” cho bộ đội những tách trà, những trái dừa hay những khúc mía.
“Các anh bộ đội với lệnh “Tốc chiến Tốc thắng” trên mũ, không thể dừng chân để trò chuyện với dân chúng mà họ chỉ vẫy tay chào khi đi ngang qua và tiến thẳng về trận tuyến.”
Tướng Dũng đến Lộc Ninh, một địa điểm cách biên giới Cambốt 15 cây số và cách Sài Gòn 100 cây số về hướng Bắc, sau khi đã đi qua các vườn cao su bạt ngàn từng bị hư hại qua các trận không kích của Không lực VNCH, và các vườn tiêu, vườn sầu riêng, vườn mít hay vườn dừa vừa mới được chỉnh đốn lại gần đây. Ông viết trong nhựt ký vài đoạn tuyên truyền. Lộc Ninh đã được Quân Đội Bắc Việt chiếm cách đây 3 năm. Trong thời gian thi hành Hiệp Định Paris, Lộc Ninh là thủ đô bán chánh thức của CPLTCHMN. Từ lâu liên lạc giữa Sài Gòn và Lộc Ninh đã được thiết lập bằng phi cơ. Tướng Dũng đã viết với một niềm vui cách mạng của một nông dân hơn là của một anh bộ đội:
“Hai bên đường được sửa chữa và mở rộng thêm ra; đã có những nhà lá vừa mới được dựng lên, với những cánh đồng sắn và ruộng lúa xinh tuơi”.
Ông sung sướng đứng nhìn các công nhân đang bứng các gốc cây và làm cỏ trong vườn cao su.
Ông ta đang nghỉ ngơi, sau khi ngắm nhìn không chán các vườn rau và vườn cây ăn trái; ông đánh một giấc ngủ trưa sau khi chiêm ngưỡng một cây chuối. Ông ước mơ một ngày nào đó các sư đoàn của ông sẽ tiến đến Cà Mau, điểm cực Nam của Miền Nam Việt Nam và dĩ nhiên ông nhớ ngay đến những câu thơ của Tố Hữu:
Ôi Bình Long, mảnh đất của Miền Nam
Tôi đã gặp lần đầu tiên trong một buổi sáng Nắm đất đỏ này, ta đã nắm được trong tay Gần như có chất rượu làm cho ta say
Khi ta ôm người chiến sỉ của Mặt Trận trong tay
Qua các cánh đồng của Cà Mau ta đi như ngựa chạy.. (1)
Tướng Dũng đã đi gặp ông Phạm Hùng trước hết ở Tổng Hành Dinh của Nam Bộ, nằm về phía Tây của Lộc Ninh. Ông Phạm Hùng, người chỉ huy cuộc chiến ở Nam Bộ từ năm 1967 trên phương diện chánh trị là một nhân vật quan trọng ở phía Nam của vĩ tuyến 17. Ông là bí thư Trung ương đảng cộng sản của xứ ủy Nam Bộ, một đảng viên đã từng đấu tranh từ năm 1930 trong các cuộc đình công ở Miền Nam Việt Nam, từng bị bắt nhiều lần, bị án tử hình rồi lại được ân xá và bị đày ra Côn đảo. Lần cuối cùng ông ra khỏi khám đường của người Pháp vào tháng 8 năm 1945. Ông biết rành mạch Miền Nam Việt Namvà đã từng cộng tác với Lê Duẫn trước đó ở Nam Bộ. Bây giờ ông là chánh trị viên của chiến dịch tổng tấn công, trên ông chỉ có Lê đức Thọ.
Về mặt quân sự đối ứng với ông là tướng Trần văn Trà. Ông này vừa mới đi thanh sát quân đoàn 4, đơn vị này sẽ phải tấn công vào tuyến phòng thủ phía Đông của Sài Gòn, nằm chung quanh Xuân Lộc. Tướng Trà tường trình cho tướng Dũng.
Người ta dựng lều chung quanh Tổng hành dinh cho Bộ Tham Mưu, người ta cũng đào các hầm trú ẩn và giao thông hào dưới các hàng cây. Ban ngày thì các hoạt động được tiết giảm tối đa vì Không lực của VNCH có thể đến bất thần. Ban đêm thì khu rừng mới trở nên náo nhiệt. Người ta nghe thấy tiếng xe chạy trên các tuyến đường, tiếng chạy của máy đèn, và tiếng tạch tạch sè liên tục cùa các đài truyền tin. Các phòng ban, dịch vụ được phân tán rãi rác khắp nơi để tránh tác xạ của phi cơ địch.
Rất thận trọng, tướng Dũng đôi khi được mô tô đèo đi thanh sát tất cả và khắp nơi. Các cận vệ của ông choàng khăn ca rô đen trên cổ. Các xe truyền tin thuôc Bộ Tham mưu của ông đậu sâu trong rừng ở cuối các con đường mòn quanh co khúc khuỷu để tránh không bị địch kiểm thính từ trên không, hay để tránh các cuộc hành quân đột kích của đơn vị biệt kích Miền Nam Việt Nam.
Ông Phạm Hùng nêu lên câu hỏi về các kho dự trử đạn dược. Một sĩ quan trả lời: “Tôi bảo đảm là chúng tôi có đủ để làm cho họ rung lên trong 3 thế hệ. Về sau này, cứ mội lần có câu hỏi về đạn dược thì người ta lại vừa cười vừa nhắc lại công thức:
_ “Phải cấp phát nhanh đủ để làm cho “3 đời” họ phải rung lên!
Một phiên họp vừa mới kết thúc ngay tại Tổng hành dinh. Một chiếc mô tô đến đổ ngay tại Bộ Tham Mưu ông Lê đức Thọ đến. Ông mặc một chiếc quần ka ki và một áo sơ mi mầu xanh dương, với chiếc nón cối nhẹ trên đàu. Đây là lần thứ ba ông đến Nam Bộ trong vòng 30 năm qua. Ông đã đến bằng phi cơ, bằng ô tô và lần này thì bằng mô tô.
Trong số những người đang chỉ huy chiến dịch tổng tấn công này, Lê đức Thọ là người quan trọng nhất. Ông ta là người có đủ các thông số trong đầu, chánh trị, quân sự, ngoại giao. . . và cả quốc tế quốc nội nữa Ngày 8 tháng 4 ông đưa ra một Nghị quyết, được Bộ Chánh trị ở Hà Nội chấp thuận ngày 22/3: “Tiến lên cho đến chiến thắng cuối cùng”
Các trận mưa đầu mùa trong cánh rừng đã làm cho cán bộ không ngủ được. Làm sao để ngủ bây giờ đây? Lê đức Thọ lấy giấy ra viết một bài thơ mà tướng Dũng cho là “rất đúng với hoàn cảnh lúc bấy giờ”. Đối với người cộng sản, muốn thấy được vị trí của mình trong hệ thống lãnh đạo đảng thì phải nhìn vào danh sách đảng viên được niêm yết ở Đại Hội đảng xem mình nằm ở hàng thứ mấy, mình được lên phát biểu lúc nào, và vị trí của mình trên khán đài trong mọi cuộc mít tinh. Người ta cũng có thể xét đoán tầm quan trọng của mình qua số lượng thơ phú mà mình đã sáng tác và được các đồng chí cùa mình ưa thích. Trong nhựt ký của mình tướng Dũng tự cho mình còn quá thấp trước một Lê đức Thọ. Vì Lê đức Thọ hiện là người lãnh đạo trong giai đoạn này của xứ ủy Nam Bộ. Hơn thế nữa, ông có thể là người số 1 sẽ thay thế Lê Duẫn
trong chức vụ Tổng bí thư của đảng. Người ta không sao không đề cao Lê đức Thọ được khi ông làm thơ trong cánh rừng ở Lộc Ninh. Thơ rằng:
Tôi lắng tai nghe tiếng gáy của chim cu đen Trong rừng Lộc Ninh lúc mặt trời vừa ló dạng
Tôi không sao chợp mắt được thâu đêm suốt sáng Đếm từng giọt nước mưa rơi trên giường
Lo cho binh sĩ chúng ta đang dầm mưa lội nước Trên con đường dài vô tận theo tank pháo cùng đi Ta chờ đón tin vui của những người sắp đến Từng phút từng giây trận tuyến đang mong chờ
Để đường sá khô cứng lại mưa ơi ! Đưa chúng tôi mau đến đích
Của trận chiến lịch sử hôm nay
Vì phát súng đầu tiên đã được ta khai hỏa (2)
Cấp lãnh đạo Bắc Việt lúc nào cũng làm thơ rất dễ dàng như họ đã bắt giam hay hành quyết những người đối lập của họ vậy.
Lê đức Thọ và Phạm Hùng cùng ra những chỉ thị của họ trong các vùng vừa tạm chiếm mà họ gọi là “vùng vừa được giải phóng.” Như: “Bộ đội phải giữ tư cách và thái độ đứng đắn của mình. Nhưng cán bộ của chánh quyền Miền Nam Việt Nam nhất là cảnh sát, phải được bắt giữ”. Bộ Chánh Trị muốn rằng cuộc tổng tấn công phải được bắt đầu trễ lắm là vào tuần lễ thứ ba của tháng tư này.
Trong vùng Đông Nam Á Châu, đặc biệt là Thái Lan và Phi luật Tân, đều có căn cứ Không quân của Hoa Kỳ, ở đó có phóng pháo oanh tạc cơ và pháo đài bay B.52. Vào những ngày đầu tháng 4 , lãnh đạo Bắc Việt không còn sợ sự trở lại của Quân Đội Mỹ nữa. Họ còn tin chắc 100 phần trăm là không còn sự can thiệp nào của Không lực Hoa Kỳ nữa. Ở Lộc Ninh, tại Tổng hành dinh Bắc Việt tướng Dũng giải thích là người ta theo dõi rất sát những cuộc hành quân ở Cam Bốt từ đầu tháng 4.
Từ lâu rồi các cuộc hành quân thường phải theo một chu kỳ nhứt định: vào tháng 2, tháng 3 và tháng 4 thì cộng sản đưa người và vũ khí đạn dược vào cho bố trí sẳn tại chỗ để sẳn sàng tiến hành các cuộc hành quân tấn công lấn chiếm dự trù trong năm. Các cuộc xâm nhập do đó chậm lại vào mùa mưa khi mưa bắt đầu rơi ở Lào. Vào tháng 4, Bắc Việt mở các cuộc tấn công thăm dò vào hệ thống phòng thủ của Sài Gòn. Các cuộc tấn công lớn nhỏ đều phải chấm dứt vào tháng 7. Lúc bấy giờ phần lớn lãnh thổ Miền Nam bị chìm trong biển nước trong lúc các chiến xa, lực lượng búa tạ chính của Bắc Việt thì lại cần có mảnh đất khô ráo.
Tại Sài Gòn nhiều người tưởng rằng thủ đô có thể phòng thủ và giữ vững được nhờ số lượng phi cơ khả dụng của Không quân còn nhiều. Chỉ cần giữ vững tuyến phòng thủ đến tháng 7. Sau đó là đến tháng 10 là chu kỳ mới lại bắt đầu. Người Mỹ và người Miền Nam sợ bộ đội Bắc Việt sẽ bắt tay được với các sư đoàn dọc theo bờ biển và các trung đoàn đang thành lập ở đồng bằng sông MeKong rồi tập trung bao quanh Sài Gòn. Một vài nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ thì thầm với nhau rằng các sư đoàn Bắc Việt giờ đây tương tự như các quân đoàn của Đồng Minh đang trên đường tiến vào Bá Linh vào năm 1945 vậy.
Ngày 8 tháng 4, lúc 8 giờ 25, Đại sứ Nhật Bản đã trò chuyện với ông Jean Meric Mérillon, Đại sứ Pháp. Cuộc nói chuyện có vẻ khó khăn: người Nhật thì không biết gì nhiều và người Pháp thì lại không chịu nói nhiều. Ông ta không thực sự hứa hẹn gì cả với ông khách người Nhật như ông này đã tin tưởng và hy vọng là: “nước Pháp sẽ dàn xếp được tất cả”
Cuộc chiến bộc phát. Bom đạn rơi vài trăm thước cách nhà thờ chánh tòa. Lại thêm sự ồn ào của các súng liên thanh và súng cá nhân nữa. Ông Mérillon đã cho gắn một tấm kính mầu lớn ờ cạnh văn phòng của ông ta. Nếu tấm kính này bị vỡ tan thành từng mảnh thì rất là nguy hiểm. Phẩm cách về ngoại giao đã bắt buộc hai Đại sứ lại tiếp tục nói chuyện với nhau, đại sứ Nhật vẫn giữ vẽ bình tỉnh của một Hiệp sĩ Phù Tang.
Một chiếc oanh tạc cơ F.5 bay từ hướng Nam, là là trên con rạch rồi nhắm thằng Dinh Độc Lập lao đến, từ cao độ 300 thước thả xuống 2 trái bom loại 250 cân anh. Bom nổ ngay trên sân làm chết 2 người làm vườn, Dinh Độc Lập cũng bị thiệt hại, nhưng rất nhẹ gần như không đáng kể. Chiếc F.5 bay lên cao độ 900 thước rồi lại lao trở xuống một lần nữa thả thêm xuống 2 trái bom nữa, nhưng lần này bom không nổ. Phi cơ lại dùng đại bác liên thanh 20 ly bắn vào một kho xăng Shell ở Nhà Bè nhưng cũng không gây thiệt hại. Phi cơ lấy cao độ và bay về hướng Bắc- Tây Bắc.
Loại mưu sát vào dinh Tổng Thống kiểu này là một phần trong bản nhạc chánh trị ở Việt Nam. Vào tháng 2 năm 1962, hai phi công Miền Nam Việt Nam đã thả bom và bắn liên thanh xuống dinh Độc lập cũ với hy vọng thanh toán Tổng Thống Diệm. Họ đã đánh sập một cánh của dinh này nhưng không một người nào trong gia đình của Tổng Thống bị hại. ở Việt Nam cũng như ở Á Châu và Phi Châu ngày nay hoặc Âu Châu ngày hôm qua, nhiều người tin rằng nếu thủ tiêu được những diễn viên chính của chánh quyền thì có thể thay đổi được chánh thể trong lịch sử. Phải chăng đây là một trong những căn bệnh ấu trĩ của những nước chậm phát triển?
Ở thủ đô, người ta hỏi nhau có phải việc đánh bom vào dinh Độc Lập vừa rồi có phải là hành động khởi đầu của môt cuộc đảo chánh hay không? Tướng tư lệnh Không quân Nguyễn cao Kỳ có âm mưu gì chăng ? vì tướng Kỳ và Không quân đến một thời điểm nào đó, chỉ là một thôi. Người ta vẫn biết là cộng sản Bắc Việt trong hiện tại, đang đòi tướng Thiệu phải ra đi. Người ta quả quyết là tướng Kỳ muốn thương thuyết với họ. Do đó nếu ông loại được tướng Thiệu là ông đã thỏa mãn được một điều kiện của cộng sản rồi. Có nhiều xe phóng thanh chạy khắp Sài Gòn thông báo lệnh giới nghiêm bắt đầu từ 12 giờ trưa nay, đồng thời cho phát thanh nhiều bài hát yêu nước.
Về giả thuyết tường Kỳ, Chủ Tịch Thượng Viện và một số người khác đều nhận xét là viên phi công ưu tú này không hơn gì Tổng Thống Thiệu trong tư thế đàm phán với cộng sản. Có nhiều người quả quyết là họ đã thấy một chiếc MIG. Như vậy thì đây là hành động của Bắc Việt. Một số người khác giàu óc tưởng tượng và có ý xấu đã cho là Tổng Thống Thiệu đã dàn dựng lên việc này để có lý do bắt đối lập.
Vào hồi 10 giờ, ở trung tâm báo chí, một phát ngôn viên tuyên bố là các vụ nổ đã xảy ra” trong chu vi dinh Tổng Thống”. Và sau đó, như thường lệ, phát ngôn viên này phân phối bản thông cáo báo chí trong ngày: “Trong 24 giờ qua, cộng sản đã có 142 vi phạm lệnh ngưng bắn.”
Lúc 12 giờ trưa, các đường phố vắng tanh. Hàng quán đóng cửa. Ở khắp các khu phố người ta liên lạc hỏi nhau bằng điện thoại: Cuộc tấn công vào Sài Gòn đã bắt đầu? quân Bắc Việt đã tới rồi? Tổng Thống Thiệu đã chết? các tướng lãnh đã nắm chánh quyền? tướng Minh Dương sẽ là Tổng Thống?
Tổng Thống Thiệu chứng minh là ông vẫn còn sống khi ông nói chuyện trên đài phát thanh. Ông bảo đảm là không có môt người nào trong gia đình của ông bị thương. Quân lực VNCH vẫn trung thành với ông. Không có đảo chánh gì hết. Tổng Thống Thiệu vẫn còn là Tổng Thống của VNCH. Ông ứng khẩu nói:
“Cuộc tấn công này là một cuộc tấn kích lẻ loi của một nhóm người muốn ám sát tôi, để thay đổi tính chất hợp hiến và đúng pháp lý của chế độ này.”
Sự thật đã quá rõ ràng ngay buổi chiều hôm đó. Cất cánh từ sân bay Biên Hòa với nhiệm vụ đánh các vị trí của Bắc Việt , trung úy phi công Nguyễn thành Trung đã nói là phi cơ có trục trặc kỹ thuật nên đã trở về căn cứ Biên Hòa. Chính anh ta đã thả bom xuống dinh Độc Lập. Và anh đáp xuống một sân bay dưới quyền kiểm soát của Bắc Việt ở miền Trung. Sau đó chánh quyền cộng sản đã nhanh chóng xác nhận trung úy phi công này là người của họ từ lâu rồi. Đó chỉ là đề tài tuyên truyền của Bắc Việt để kêu gọi quân lực VNCH rã ngũ, và đi đến nổi dậy. Người ta có cảm tưởng rằng trung úy Trung bị mất hết tinh thần vì gia đình của anh ta vẫn còn kẹt lại ở Đà Nẳng, nên động cơ hành động của anh là vì vấn đề cá nhân hơn là chánh trị . Cộng sản cho anh vào sát nhập và Không quân Bắc Việt và giao cho anh ta chỉ huy một phi đội gồm các phi cơ của Miền Nam mà họ vừa mới chiếm được .Anh được thăng cấp đại úy và được trao tặng huy chương giải phóng hạng 2.
Không còn lo lắng gì nữa, người dân Sài Gòn nói đùa: “nếu anh ta mà giết được Tổng Thống Thiệu thì có lẻ anh sẽ được trao tặng huy chương giải phóng đệ nhất hạng rồi!”
Và đến 6 giờ chiều thì Sài Gòn hết thiết quân luật.
Dù là ồn ào và không có ý nghĩa gì, nhưng biến cố này cũng gây được một cảm tưởng không tốt ờ Hoa Thạnh Đốn. Người ta ghi nhận là ít nhất vấn đề phòng không của Sài Gòn phải được tăng cường. Một phong trào chạy ra ngoại quốc đã bắt đầu ờ thủ đô Sài Gòn . Đây là một chỉ dấu đáng lo ngại: sự ra đi của các giám đốc chi nhánh ngân hàng Bank of America, của First National City Bank, của Chase Manhattan Bank ở Sài Gòn. Hơn thế nữa họ còn cho ngưng mọi giao dịch về ngoại tệ mà không có lời báo trước. Và họ cũng không muốn tích trữ đồng bạc Việt Nam. Đại sứ Martin đã tỏ thái độ bất bình với các ngân hàng này. Các phòng sở của ông cho biết là các giám đốc ngân hàng này chỉ “vắng mặt tạm thời” mà thôi.
Tướng Kỳ rõ ràng là không có dính líu gì vào hành động mưu sát này, nhưng người ta vẫn lo ngại về những kế hoạch bất thần của ông ta. Chiều hôm dinh Độc Lập bị dội bom, trong bửa ăn tối, ông Wolfgang Lehmann đã chăm chú để ý đến những lời nói của tướng Tổng Tham Müu trưởng. Đại tướng Viên là người ít nói , lời nói của ông cầu kỳ nhưng ông Lehmann có ý nghĩ là ông Tổng Tham Mưu Trưởng muốn tìm hiểu xem liệu Hoa Kỳ có chấp nhận một cuộc đảo chánh ông Thiệu hay không ? Đã hết rồi những trò chơi ấu trĩ đó!
“Không, Hoa Kỳ chống lại các cuộc hành quân kiểu đó, ông Lehmann nói.
Tàu chiến của Hoa Kỳ đang tiến về bờ biển Việt Nam. Đùng một cái không khí lạc quan đã lên độ ở Sài Gòn. Các hàng không mẫu hạm Coral Sea từ Phi luật Tân, Midway từ biển Nhật Bản, hay Enterprise ở nữa đường Manila và Sài Gòn , chiếc Hancock đang tiến tới Vịnh Subic..có phải tất cả sẽ đến lo phòng thủ cho Miền Nam Việt Nam? Không phải tự nhiên mà Lê đức Thọ từ Tổng hành dinh ở Nam Bộ lại cẩn thận theo dõi những gì đang xảy ra ở Đông Nam Á Châu.
Trong vịnh Thái Lan, ngoài khơi của Cam Bốt chiếc Okinawa, một chiến hạm chuyên chở trực thăng đang tuần tra tại đó. Tại Hoa Thạnh Đốn người ta ước tính Cam Bốt đã sắp sửa mất rồi. Từ ngày 7 tháng 4, ba trăm sáu mươi (360) thủy quân lục chiến thuộc lực lượng can thiệp Alpha đã được lệnh báo động sẳn sàng lên đường trong 3 giờ. Phải di tản 800 người từ Phnom Penh. Cuộc hành quân này đã được mang tên là ” Eagle Pull” (cuộc rút lui của con ó).Ở Tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn người ta biết là tất cả chỉ nhằm bảo vệ cho cuộc di tản mà thôi, không hơn không kém.
Không khí rất căng thẳng giữa những người có trách nhiệm chính trong tòa đại sứ Hoa Kỳ .
Theo hệ thống công vụ đẳng cấp càng cao thì người ta càng thấy lạc quan.
Ngày 9 tháng 4, Thomas Polgar gởi một công điện về cục CIA Hoa Thạnh Đốn mà không qua ông Martin:
_ “Tôi đã bỏ một thời gian khá dài để bàn cải về giá trị của các tin tức không tốt và cũng đễ tranh cải về sự cần thiết của những quyết định hành chánh mà Tòa đại sứ vì một lý do này hay lý do khác đã không chịu ban hành.” Đại sứ Martin cũng vậy.
Ông Polgar thực sự rất ghét sự trì trệ. Người ta không có thay đổi nào về giờ giấc làm việc ỡ văn phòng. Ít ra, trong những giờ bi thảm này người ta có thể tăng cường thêm giờ thường trực.
“ Đại sứ đã dùng gần hết thì giờ của ông ta để tìm sự giúp đỡ trong việc xin ngân khoản viện trợ kinh tế, quân sự cho Miền Nam Việt Namvà ông luôn luôn muốn giữ trật tự kỹ cương trước một tình hình càng ngày càng xấu tệ.”
Nếu ông Martin đọc được nội dung của bức công điện này, ông ta sẽ thích lối suy luận này lắm.
Polgar tố cáo chánh phủ VNCH (chưa được cải tổ xong):
“chánh phủ này không tập họp được cho một hướng hành động hữu hiệu”. Theo ý Polgar thì khả năng diễn tiến sẽ phải như thế nào đây?
_ “Tin tức cho biết là giờ đây Bắc Việt đã quyết định theo đuổi và mở rộng áp lực quân sự nhằm cô lập Sài Gòn, với mục tiêu cuối cùng là một chiến thắng quân sự trong năm 1975.”
Để cô lập Sài Gòn: Dù là có tin tức do một “nguồn tin” được Snepp cấy vào Nam Bộ (cục R), Polgar vẫn tin là cộng sản Bắc Việt cầm chắc sẽ cô lập được thủ đô Miền Nam. Polgar có một tâm hồn của một triết gia. Ông nói một cách oai phong về ông ta trong phúc trình:
“người trưởng cơ quan nhận định rõ ràng là lịch sử hiếm hoi lắm mới tiến tới bằng con đường thẳng . Tuy nhiên chúng ta đang đi đến một sự sụp đổ có tầm vóc lịch sử nếu những thay đổi cần thiết không được thực hiện đúng lúc.”
Vào đầu tuần lễ thứ hai của tháng 4, Polgar vẫn không loại ra ngoài các chuyển biến có thể thay đổi được tình hình:
“ Quan điểm của ông trưởng cơ quan vẫn là tình hình quân sự sẽ không ổn định được nếu không có một hành động nào có tánh cách quyết định. Nếu không có môt hành động nào từ phía Hoa Kỳ thì chúng tôi nghĩ là một sự tắm máu quan trọng và vô ích sẽ không sao tránh khỏi
được, nếu tướng Thiệu ra đi và nếu một chánh phủ đoàn kết quốc gia được dựng lên theo đề nghị của Ba Lê, áp dụng công thức như các người cộng sản đã từng định nghĩa.”
Như vậy là người trưởng cơ quan này đã để tang cho ông Thiệu rồi!.
Ông Polgar không lưu ý đến bản phân tách của cộng sự viên Frank Snepp. Ông này đã có viết một dư thảo công điện như sau:
“ Tất cả cho thấy là Bắc Việt đã thay đổi kế hoạch và thời khắc biểu của họ, theo đó các cuộc tấn công vào Sài Gòn có thể sẽ vào giữa tháng 4.”
Ông Snepp khẳng định:
_ “Sẽ không có viễn ảnh nào về vấn đề đàm phán hay về một chánh phủ ba thành phần”
Polgar và ông Martin cùng đọc bản tường trình này. Cả hai ông đều cho bản tường trình này là quá “hoảng hốt”. Bản này sẽ được gửi về Hoa Thạnh Đốn nhưng phài được ông Polgar sửa lại. Đoạn văn “tấn công vào Sài Gòn ” của ông Snepp được cây bút của ông Polgar viết lại là ” tấn công vào các vùng chung quanh Sài Gòn”
Tại Hoa Thạnh Đốn trong một phiên điều trần trước Ủy Ban An Ninh Quốc Gia, Ông William Colby, người có trách nhiệm cao nhất của CIA, đã giải thích là tình hình quân sự ở Việt Namlà bi đát. Những người phân tách và viết lại phúc trình của CIA ở Hoa Thạnh Đốn đã theo đùng nhận định của Frank Snepp. Họ nói thẳng thừng rằng “tất cả những chuyện lao xao về “đàm phán” của những người cộng sản chỉ là một “mưu kế” mà thôi”
Ai sẽ đề cao những nguy cơ và tầm quan trọng trong công tác “viết lại” phúc trình trong hành chánh ngoại giao, trong cơ quan tin tức tình báo , và trong ngành báo chí ?, Ý nghĩ về khả năng đàm phán vẫn còn lảng vảng đâu đây, ngay trên các tầng quan trọng của sứ quán Hoa Kỳ tại Sài Gòn . Trong số dân chúng Miền Nam Việt Nam cũng còn có nhiều người vẫn đeo đuổi hay chạy theo những cuộc đàm phán bóng gió Trong giới báo chí, một trong 3 chàng ngự lâm pháo thủ là Phạm xuân Ẩn đã cả quyết với hai người bạn là Vượng và Cao Giao rằng: “cộng sản muốn có đàm phán.” (3)
Ẩn là một người to con, nhã nhặn, là một người rất thông thạo trong việc xử dụng tiếng Anh và tiếng Pháp, cảm hóa được mọi người. Lúc nào ông ta cũng biết được nhiều tin tức, ông làm việc toàn thời gian cho báo Times tại Sài Gòn và có giao dịch với các bộ tham mưu quân sự và chánh trị . Ông đã từng cộng tác với tờ Christian Monitor và hảng thông tấn Reuter. Dưới trào Tổng Thống Diệm thì ông ở bên Mỹ nhờ có được một học bổng của Asia Founation vì người ta tưởng ông là nhân viên của CIA. Ông ta thích nuôi chó và chim. Ông là người cung cấp ít nhất 80 % tờ báo Times từ Việt Nam. Ông nói với Cao Giao:
“người cộng sản không vướng mắc gì về tình cảm đâu. Quyền lợi của họ là cho hình thành một chánh phủ lâm thời. Và hoạt động của họ là nhắm vào chuyện đó.”
Phài chăng ông Ẩn chỉ lo về công việc nên ít khi cho biết ý kiến của mình trừ khi đứng trước những người Việt Nam. Đối với bà Nga, người cùng làm việc chung với ông ở văn phòng của tờ Time, đôi khi ông để lộ cho thấy là ông ta không thích người Mỹ. Ông khuyên bà Nga nên rời khỏi Việt Nam. Riêng ông thì ước mong di tản được bà mẹ của mình. Trong hiện tại thì tờ Time đang sửa soạn cho di tản vợ con các cộng sự viên của tờ báo. Tuy nhiên ông giải thích cho ông Cao Giao là cũng chưa có gì phải hốt hoảng:
“Rất có thể người ta đang nghĩ tới môt nước Việt Nam thứ ba. Nhưng chưa có gì là xác thực hết. Ông Thiệu phải đi đã!”
Các tin tức và những lời phân tích của ông Ẩn đã được nhiều phóng viên ngoại quốc xử dụng. Trong quá khứ, ông Ẩn đã tỏ ra là một người thấy xa.
Mặc dầu tin tức có vẻ nghiêm trọng, các rạp chiếu bóng, các quán rượu và các tiệm ăn vẫn đầy người . Vẫn có nhiều khách hàng tấp nập ở chợ Bến Thành và chợ trời, dù giá cả có lên cao. Những người vừa mới nói hôm qua rằng bộ đội của tướng Giáp sẽ tiến vào Sài Gòn thì hôm nay lại xác quyết với một giọng cương quyết chắc nịch rằng “Dù có việc gì xảy ra thì Sài Gòn vẫn sẽ được cứu”. Giữ được bộ mặt bề ngoài, cũng là một cách che dấu nổi lo sợ của mình. Các tờ báo Việt Nam có rất nhiều mục “Rao Vặt”. Giá thuê mướn phòng, hay bán nhà đang xuống . Các văn phòng lo về hôn nhân hoạt động mạnh. Các cô gái Việt Nam đang tìm một ông chồng để mong có được chiếu khán. Đôi khi lại có đề nghị của người Mỹ. . . .
Tờ Sài Gòn Post có mục rao “tìm bạn” như sau:
“Đại tá thuộc Quân Đội Hoa Kỳ. Mong được gặp và đi tới hôn nhân với một bạn gái người Việt Nam trẻ, đẹp để cùng chung sống ở Ba Lê (Pháp). Phải có hiểu biết Pháp ngữ và Anh ngữ và thuộc gia đình đàng hoàng. Thư cho: Đại tá Mark Broman, 200 N. Howard, phòng số 24, Clarksville, Indiana, USA. 47130.”
Nhiều người xấu miệng cho rằng: Người Việt Nam cũng xuống giá như nhà cửa vậy. Người dân Sài Gòn chen nhau vào các ngân hàng rút tiền Việt Nam ra để đổi đồng Mỹ kim.
Thủ tục khó khăn kinh khủng: Muốn rời khỏi nước, một người Việt Nam phải có thông hành,
một chiếu khán xuất ngoại, và một chứng chỉ không thiếu thuế. Một vài chiếu khán xuất ngoại được thương lượng với giá 10 triệu đồng, tương đương với 14.000 mỹ kim (hối đoái chánh thức). Những người trong tuổi quân dịch không có quyền ra khỏi nước. Để cho hồ sơ được cứu xét, các công chức Việt Namcàng ngày càng làm khó.
Nhân viên sứ quán Mỹ thì nóng lòng muốn biết rõ xem : Hà Nội có kế hoạch gì về quân sự và chánh trị hay không? Những gì sẽ xảy ra ở Cam Bốt? Tổng Thống Ford có xin được ngân khoản viện trợ bổ túc hay không?
Trong tuần lễ thứ nhì của tháng tư, có 9 sư đoàn Bắc Việt cùng tiến về hướng Sài Gòn. Tướng Tổng Tham mưu trưởng Miền Nam không còn nghi ngờ gì là họ sẽ tấn công vào Sài Gòn. Tướng Viên không hơn gì Tổng Thống Thiệu cũng không tin vào một giải pháp chánh trị. Khi ông không suy gẫm về cái “nghiệp” của mình hay về bản chất của Chân Thiện Mỹ thì ông thấy rất khó xử. Ông không muốn trung thành với Tổng Thống. Nhưng ông tân Tổng trưởng Quốc Phòng của ông nói cho ông biết là Tổng Thống giờ đây đã trở thành một chướng ngại. Ngoài ra ông cũng lưu ý đến tinh thần cùa Quân Đội. Có không ít tướng tá đã cho Tổng Thống là người có trách nhiệm trong vấn đề triệt thoái vô trật tự của Huế và Đà Nẳng.
Tướng Viên không ước tính được xem nếu Bắc Việt tấn công vào Sài Gòn thì sẽ tấn công từ đâu? Bộ Tham Mưu Bắc Việt rất giỏi về thuật “dương đông kích tây và đánh nhứ” nên họ đã hoàn toàn vận dụng QLVNCH ở Cao nguyên theo ý của họ. Họ đã áp dụng nguyên tắc của Mao trạch Đông và của các chiến lược gia: “nếu anh muốn đánh vào hướng Tây, thì hãy nhúc nhích ở hướng Đông”. Tin tức tình báo của Phòng nhì ước tính là cuộc tấn công chính và quan trọng sắp tới của Bắc Việt sẽ là Xuân Lộc, quận lỵ của tỉnh Long Khánh với 100.000 dân, nằm giữa những vườn cao su và giữa hai triền đồi, cách 100 cây số về hướng Đông của Sài Gòn . Giữa Sài Gòn và Xuân Lộc chỉ có mỗi một căn cứ quan trọng, đó là Biên Hòa và sân bay quân sự của nó.
Quân lực Miền Nam đoán chừng cách điều quân của Bắc Việt theo lối cổ điển, gọng kềm.
Tướng Trà sẽ tung 3 sư đoàn thuộc Quân Đoàn 4 của ông ta vào trận chiến. Sư đoàn 341 sẽ từ hướng Tây Bắc sau khi vượt qua sông Đồng Nai. Sư đoàn 7 xuống từ hướng Tây Tây Bắc. trong lúc sư đoàn 6 từ phía Tây sẽ tiến theo đường 333. nhưng sẽ xuất hiện từ hướng Tây Nam. Sư đoàn 341 không phải là môt sư đoàn thiện chiến. Sư đoàn này có rất nhiều lính mớI, trong đó có một số chưa tới 17 tuổi.
Cũng như Huế, Đà Nẳng hay Tây Ninh, Xuân Lộc đã dính vào thần thoại quân sự Hoa Kỳ . Đại tá George Patton con của một đại danh tướng Mỹ, là trung đoàn trưởng của trung đoàn 11 kỵ binh thiết giáp nổi danh, đã từng đặt Tổng hành dinh của mình ở Xuân Lộc. Các sĩ quan Mỹ đóng ở Xuân Lộc đều sẵn sàng tuyên bố là thành phố ở quá xa Sài Gòn để có thể hưởng được cái đẹp của tỉnh nhà và Xuân Lộc ở quá gần thủ đô để thấy mình luôn luôn được bảo vệ.
Sư đoàn Bắc Việt 341 được pháo binh bắn dọn đường và được chiến xa T.54 yểm trợ đã tiến vào thành phố Xuân Lộc trước tiên, rất dễ nhận qua tháp chuông cao ngất của nhà thờ của tỉnh..
Có một ít đơn vị Bắc Việt tiến đến khu chợ và bến xe. Nhưng bị các binh sĩ của sư đoàn 18 bộ binh của tuớng Lê minh Đảo đảy lui. binh sĩ thuộc trung đoàn 43 /sư đoàn 18 sau nhiều pha cận chiến cũng đã đẩy lui được bộ phận tiền tiêu của sư đoàn 6 Bắc Việt. Tướng Dũng nói là các trận kịch chiến rất là dữ dội trong những ngày đầu. Trong 24 tiếng đồng hồ Bắc Việt đã rót đến 10.000 quả đạn pháo vào các vùng ngoại ô của thành phố. Họ mất rất nhiều chiến xa và đang thiếu đạn pháo binh. Đây là lần đầu tiên từ tháng giêng đến nay, Bắc Việt đã gặp khó khăn nghiêm trọng trong vấn đề tiếp liệu. Các T.54 đang thiếu đạn và nhiên liệu. Tướng Trà phải xử dụng đến các trung đoàn trừ bị của sư đoàn 6 và sư đoàn 7.
Dù sao thì binh sĩ Miền Nam vẫn giữ vững được vị trí của họ trong thành phố Xuân Lộc điêu tàn. Họ không có lo lắng gì cho gia đình của họ. Hầu hết gia đình binh sĩ và vợ con của sỉ quan thuộc sư đoàn 18 đều đã được di tản, có khi bằng phương tiện trực thăng nữa. Ở đây họ chỉ còn nghĩ đến chiến đấu. Tuy nhiên họ cũng còn bị vướng víu vì dân tỵ nạn, vì dân Xuân Lộc và vùng phụ cận đang tìm cách trốn chạy về Sài Gòn. Con đường dẫn về thủ đô đã không thể xử dụng được vì pháo binh Bắc Việt đã liên tục băn phá dữ dội, nên dân chúng tỵ nạn phải dồn hết về thành phố Xuân Lộc. Có một số chạy thoát được bằng cách băng qua chiến tuyến của Bắc Việt. Bọc vòng qua con đường chính và các con đường nhỏ, có nhiều toán dân tỵ nạn đã thoát về được đến thủ đô sau khi băng qua các hàng rào y tế của chánh phủ.
Ngày 10/4, Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH phải lấy môt quyết định quan trọng. Các đơn vị phòng giữ Xuân Lộc không lùi bước trước quân Bắc Việt nhưng họ rất cần được quân tăng viện. Lý lẽ mà người ta đã dùng trong trường hợp của Huế hay Đà Nẳng “không thể rút quân phòng thủ Sài Gòn” không còn dùng ở đây được nữa, bởi vì Xuân Lộc thuộc vòng đai phòng thủ của thủ đô. Tướng Viên tuy vậy còn ngại những mũi tấn công khác vào Sài Gòn nữa. Đùng một cái tướng Viên không còn thụ động nữa đã quyết định tung trừ bị vào trận tuyến Xuân Lộc. Dĩ nhiên với sự đồng ý của Tổng Thống Thiệu. Ngay như Không lực VNCH dù đã không được phối hợp chặt chẽ trong những tuần lễ gần đây, đã bắn phá rất hiệu quả bộ binh và chiến xa của Bắc Việt. Tướng Viên đã tung quân nhảy dù vào trận chiến Xuân Lộc. Patrick Hays, bên cạnh hảng Michelin, trên con đường đến Xuân Lộc, đã chứng kiến sự xuất quân của đơn vị Dù với con mắt của người biết chuyện. Hăng hái và dũng cảm như những vị anh hùng, các binh sĩ Dù dùng mũ sắt đội lên mũ nồi đỏ của binh chủng. Các binh sĩ này có một tinh thần rất cao. Gần hai lữ đoàn dù đã mất 30 % binh sĩ trong nhiệm vụ làm chậm lại bước tiến của quân địch trên tuyến Nha Trang và Phan Thiết.
Tại căn cứ Tân sơn Nhất, các sĩ quan Mỹ chung quanh tướng Homer Smith đều nghĩ rằng trận chiến ở Xuân Lộc dù không phải là trận chiến quyết định, biết đâu chừng sẽ chận đứng được sức tiến của Bắc Việt hay có thể ổn định được trận tuyến. Phải chăng đó là một chiến thắng mà nhân viên của phái đoàn tướng Weyand đòi hỏi? Binh sĩ Miền Nam Việt Nam đã chứng tỏ rằng họ biết phòng thủ và phản công, như vậy họ rất xứng đáng được nhận viện trợ quân sự của Hoa Kỳ. Sẽ có một số trực thăng dành cho các nhà báo ngoại quốc đề họ có thể làm chứng cho một chiến thắng cùa Miền Nam Việt Nam. Bộ tham mưu của tướng Viên khám phá ra là không có thiếu vũ khí và đạn dược. nên họ cấp phát cho binh sĩ của hai tiểu đoàn thuộc lữ đoàn 1 Nhảy Dù mỗi người một khẩu súng nhẹ chống chiến xa . Họ sẽ nới rộng gọng kềm Bắc Việt . Chiến đấu oanh tạc cơ F.5, phi cơ săn giặc A. 1 thi nhau đánh phá các điểm tập trung của Bắc Việt, nhất là các trung đoàn thuộc sư đoàn 341.Các phi cơ vận tải C.130 đã can đảm thả những trái bom loại 750 cân anh từ một cao độ thật thấp qua cánh cửa sau của phi cơ. Bộ Tư lệnh tối cao Bắc Việt cũng tung vào Xuân Lộc các sư đoàn 325 và 312.
Tinh thần của các binh sĩ phòng thủ Xuân Lộc. hình như còn rất tốt. Hệ thống truyền tin còn hoàn hảo. Các đơn vị Biệt động quân và Nhảy Dù đã đến Xuân Lộc. Đường đến Sài Gòn đã được giải tỏa và lực lượng tăng cường đã đi qua. Các trực thăng đã di tản thương binh. Trực thăng võ trang đã tham chiến. QLVNCH đã chiến đấu một chống ba, nhưng Bắc Việt không có lực lượng không trợ.
Phần lớn các phi cơ đã xuất phát từ căn cứ không quân Biên Hòa đang bị Bắc Việt pháo kích nặng nề , nhưng các oanh tạc chiến đấu cơ được chuyển về sân bay Tân Sơn Nhứt để được tiếp tế xăng và đạn dược. Chung quanh Xuân Lộc các căn cứ yễm trợ hỏa lực được che dấu cẩn thận trong các vườn cao su và được chỉ huy và tiếp tế đạn dược đày đủ. Trực thăng đã báo cáo vị trí chính xác của pháo binh và chiến xa Bắc Việt . Các sỉ quan bộ binh Miền Nam Việt Nam được pháo binh và không lực yểm trợ một cách dễ dàng. Gần như họ đã sống trở lại thời kỳ đẹp nhất trong cuộc chiến ờ Miền Nam Việt Nam. Không khí lạc quan lan truyền đến đổi từ Sài Gòn tướng Homer Smith gởi một công điện cho tướng George Browne, chủ tịch các ủy ban tham mưu ở Hoa Thạnh Đốn, người có địa vị cao nhất trong hệ thống quân sự Hoa Kỳ:
_ “Miền Nam Việt Nam đã thắng được một giai đoạn đầu. Lòng can đảm, ý chí cang cường trong chiến đấu của QLVNCH hình như trong một lúc nào đó đã giải quyết được một câu hỏi: “Quân lực VNCH đã thực sự chiến đấu?
Một chiến tuyến được ổn định + ý chí muốn đàm phán của cả 2 bên = giải pháp chánh trị.
Bà Nguyễn thị Bình đang đi du thuyết ở Phi Châu đã tuyên bố là CPLTCHMN cố gắng đạt được những mục tiêu ở Miền Nam Việt Nam bằng những phương tiện không phải là quân sự, nếu được.
Chú giải:
(1) (2)- Người dịch chỉ dịch ý 2 bài thơ bằng tiếng Pháp của tác giả Olivier Todd. Dịch giả vẫn biết 2 bài thơ tiếng Pháp này (một của Tố Hữu một của Lê đức Thọ) đã được tác giả Olivier Todd dịch từ 2 bài thơ tiếng Việt nhưng nhất thời dịch giả không kịp sưu tầm được nguyên tác. Một ngày nào đó dịch giả nhất định sẽ tìm ra nguyên tác để bổ túc cho bản dịch. Trong khi chờ đợi chúng tôi xin đăng nguyên văn 2 bài thơ bằng tiếng Pháp của tác giả để quý đọc giả thưởng thức.
(1.a )- O Binh Long, sol du Việt Namdu Sud Pour la première fois, je t’ai rencontré, ce matin
Cette poignée de terre rouge que j’ai pris dans ma main M’enivrai comme un alcool
En serrant dans mes bras le maquisard du front Je galoppais deja dans les plaines de Camau
(1.b) J’entends l’appel du coucou noir
Au soleil levant sur Loc Ninh et sa jungle. Je n’ai fermé les yeux de la nuit
Je comptais sur mon lit les gouttes qui tombaient Inquiet pour nos soldats
Pateaugent sur la piste à n’en plus finir Encore des canons après les tanks
On espère après ceux donc on est sans nouvelles Le front les attend d’une minute à l’autre, Arrête toi, veux tu, ô pluie,
Pour que sèche et durcisse la piste Qui nous conduit au but.
De cette bataille historique
Les premiers coups de feu ont déjà éclaté
(3)– Phạm xuân Ẩn là một nhân viên tình báo và điệp viên cấp cao của Bắc Việt , nằm vùng ờ Miền Nam Việt Nam trong vai một nhà báo, một phóng viên của cả báo Việt và Hoa Kỳ. Đã tung tin thất thiệt và “hòa đàm, giải pháp chánh trị” v.v.. theo lệnh của cộng sản Bắc Việt suốt chiều dài cuộc chiến dể ru ngủ dư luận trong và ngoài nước.
Ông ta đã là đại tá của quân đội Bắc Việt từ trước năm 1975, và sau đó vào thập niên 80 đã được cộng sản thăng cấp thiếu tướng.
Nhà văn Ba Tây, Paolo Coelho có một câu chuyện kể được xếp hạng là một trong những câu chuyện hay, đại khái như sau:
“Một người đàn ông đang rong ruổi trên một con đường cùng hai con vật bạn đường thân yêu là một con ngựa và một con chó. Chẳng may họ bị sét đánh và cả ba đều qua đời, tuy vậy người đàn ông không biết mình đã chết, linh hồn của người và vật vẫn tiếp tục con đường của mình đi. Con đường dài và gian nan, người và vật phải qua bao nhiêu ngọn đồi dưới cơn nắng cháy da, họ đổ mồ hôi nhễ nhại và vô cùng khát nước. Vừa qua khỏi một ngọn đổi, trên một triền núi, người lữ hành trong thấy một lâu đài tráng lệ, bèn đến gõ cửa. Ông nói với người gác cổng:
-Thưa ông, cho phép tôi hỏi, lâu đài đẹp đẽ này gọi là gì?
-Ông không biết đó thôi. Nơi này gọi là Thiên Đàng.
Trong hoàn cảnh của người và vật bấy giờ, Thiên Đàng hay Địa Ngục đối với họ không là gì cả, họ chỉ cần nước:
-Chúng tôi hoàn toàn kiệt sức và cần nước uống, tôi có thể vào đây để xin nước uống được không.
-Vào đây, ông muốn uống bao nhiêu nước cũng được, và muốn gì cũng có.
Người gác cổng mở cửa cho người lữ khách bước vào nhưng khi hai con vật bạn đường của ông tiến lên, người gác cổng ngăn chúng lại:
-Chỉ mình ông thôi, hai con vật này không được vào đây.
Nghe vậy người lữ khách đứng sững lại. Mặc dầu khát khô cổ họng, ông không thể uống nước một mình.
Ông cám ơn người gác cổng và mệt mỏi kéo hai con vật rời khỏi lâu đài.
Họ lại đi qua mấy ngọn đồi cát, gần như kiệt lực, cuối cùng thấy một chiếc cổng đã cũ nát, dẫn vào một con đường có bóng mát và trồng đầy hoa. Tiếng động của họ đánh thức một ông già đang nằm ngủ dưới gốc cây. Người lữ khách lên tiếng:
-Chào ông, chúng tôi quá khát nước, hai con vật này cũng vậy.
-Có một con suối sau tảng đá kia, ông muốn uống bao nhiêu cũng được.
Sau khi đã no nê với những ngụm nước mát, họ trởlại con đường gặp ông già để cám ơn.
Ông già nói:
-Không có gì, chừng nào thấy khát thì quý vị cứ trở lại đây!
-Đây là đâu? Thưa ông?
-Đây là Thiên Đàng!
Người lữ khách ngạc nhiên:
– -Đằng kia người ta cũng nhận đó là Thiên Đàng. Mình có thể nào ngăn chận một sự lạm danh như thế này không?
-Không cách nào cả ông ạ! Thật ra họ cũng chấpnhận một đặc ân lớn cho những ai có thể bỏ được bạn bè tốt nhất của mình, đều ở lại đó hết!
Đừng bao giờ bỏ bạn bè của chúng ta, những người bạn chân thật đã cho chúng ta sự yêu thương và đồng hành. Đừng bao giờ bỏ rơi họ, đừng bao giờ! Trên đời này có một người bạn là được một ân huệ. Có được một người bạn là được một món quà. Giữ gìn và không bỏ bạn đạo đức. Được làm bạn của một người bạn là một vinh dự”.
Vậy mà chúng ta ra đi vào cổng “Thiên Đàng” uống nước một mình, để lại biết bao nhiêu người gọi là “chiến hữu”, là “đồng ngũ”, là “huynh đệ chi binh”-danh xưng đó còn cao hơn cả tình bạn bè- mơ một ngụm nước giữa cơn khát cháy khô cổ họng. Tháng 4-1975, chúng ta đã có bao nhiêu anh hùng liệt sĩ hy sinh
cho tròn danh tiết, như người hạm trưởng không bỏ con tàu lúc lâm nguy. Dần dà chúng ta còn tìm ra không biết bao nhiêu con người dũng cãm khí phách như Nguyễn Đình Chi tự sát tại nhiệm sở, như Nguyễn Văn Long nổ phát súng vào đầu giữa công trường trong ngày Saigon thất thủ, như Nguyễn Hoàng Ân lao máy bay xuống biển không để lọt vào tay giặc khi phải bỏ miền Trung, như những người lính vô danh choàng tay chụm đầu chia nhau những mảnh đạn trên bãi biển Tư Hiền hay ở ngã ba Ông Tạ trên đường rút quân. Không phải ai cũng hành động được như họ. Họ không nỡ bỏ nhau, họ không thể bỏ bạn bè.
Nhưng chúng ta bỏ lại quá nhiều chiến hữu sau lưng. Nhiều người mất xác trong trại tù. Nhiều người chết ngoài biển đông. Chúng ta ra đi quá lành lặn, nhiều người còn đem theo của cải tích lũy từ máu xương của những người bạn đường cùng đi với chúng ta trong hai mươi năm. Chúng ta để lại hàng nghìn, hàng nghìn cô nhi quả phụ thương binh trong vùng đất địch. Ba mươi sáu năm nay, chúng ta đã thấy có vị tướng “công thành” nào nhớ đến “vạn cốt khô,” làm lấy một hành động có ý nghĩa cho những người “bạn đường” năm cũ đang giữa cơn đói khát nhục nhằn chưa? Kể cả một buổi lễ tưởng niệm, cầu siêu cho những người lính thuộc quyền ở lại chiến đấu anh dũng và chết oan khuất cho cấp chỉ huy lên máy bay lành lặn ra đi, cũng không thấy bóng dáng người tư lệnh năm xưa. Họ như “kẻ chăn chiên quay đầu chạy, bỏ bầy chiên lại cho lũ sói rừng!”Nhiều người đã trở về trận địa cũ năm xưa, không phải để tìm lại những chiến hữu ngày tháng cũ mà để bắt tay với kẻ thù hay đi tìm lạc thú, xát muối thêm vào vết thương của người ở lại.
Và chúng ta đang vào một nơi gọi là Thiên Đàng để được sung sướng một mình. Những người lương thiện khi bỏ bạn bè, dù đang được no ấm, cũng có cảm tưởng mình đang ở địa ngục. Thiên đàng như vậy phải chăng là nơi chúng ta có bạn bè và không bao giờ bỏ bằng hữu.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.