vietmessenger.com
Phan Nhật Nam
Post by Sơn râu 3 Feb 2026

Phần 2 – Phân đoạn 2
Hào kiệt nước Nam không đời nào thiếu – Tướng quân Nguyễn Văn Hiếu

Tướng Quân Nguyễn Văn Hiếu (1929 – 1975)
(Trong bài có trích dẫn nhiều đoạn từ tác phẩm “Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu” – Tác giả Nguyễn Văn Tín, Cali xuất bản năm 2005).
Chúng ta vừa qua tháng 6 với Lễ Tưởng Niệm người Lính Vị Quốc Vong Thân ở nước Mỹ, trùng với thời điểm Ngày Quân lực Việt Nam Cộng hòa để tưởng nhớ Người Lính đã bảo vệ miền Nam suốt một phần tư thế kỷ. Những ngày tháng buộc phải liên tưởng đến mối uất hận không nguôi khởi từ những ngày tháng 3, tháng 4, 1975 ba mươi tám năm trước. Uất hận nước mất, nhà tan, đọa đày, khổ nhục không cơ hội phục hồi, không khả năng giải thích. Bởi từ đâu? Và do những ai?! Để sau đó, mỗi người tự hoàn cảnh riêng rẽ, phải tìm cách biện minh với bản thân trước những câu hỏi khắc nghiệt: Tại sao xảy đến nông nỗi này? Tại sao đã phải chịu đựng tình thế bi thảm ấy? Và đồng lúc hiểu ra như một cách an ủi, cùng đành: Nỗi Đau này là Nỗi Đau Chung – Nỗi Đau toàn Dân Việt phải đồng lần gánh chịu. Nhưng trong cơn đau thương của buổi quê nhà tàn cuộc hấp hối trong tháng 4, 1975, có một người, cả một gia đình phải chịu tình huống oán hờn sắc đậm hơn, sớm sủa hơn trước khi miền Nam đổ sụp: Gia đình của Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu – Vị Tướng Quân bị bức tử cùng lúc đất nước lâm hồi cùng kiệt. Chúng ta sống lại cảnh huống của phận Người Lính uất hận và vận Nước điêu linh – Ngày 8 tháng 4, năm 1975 – Ngày Người Lính Trung Hiếu Dũng Lược bị oan hờn bách hại.
1. Buổi đầu khởi cuộc
Năm 1949, sau khi Hồng Quân Trung cộng thâuchiếm Hoa Lục, người thanh niên Nguyễn Văn Hiếu vừa đúng hai mươi tuổi cùng gia đình rời Thượng Hải, từ một tô giới thuộc Pháp trở lại quê nhà, bến Sài Gòn. Tiếp theo, anh di chuyển ra Hà Nội vì thân phụ, ông Nguyễn Văn Hướng, một nhân vật cao cấp của ngành An ninh, tình báo quốc gia khi chế độ vừa thành hình đầu những năm 50, được chỉ định giữ chức vụ Phó Giám đốc Công an Bắc phần. Với ảnh hưởng giao thiệp rộng, quyền chức của người cha trong chính giới; thêm trình độ học vấn cao (sinh viên Đại học Kỹ thuật Aurore, hệ thống đại học tư do các linh mục Dòng Tên điều hành) và khả năng Anh, Pháp, Hoa thông thạo, người sinh viên Nguyễn Văn Hiếu hắn quá dễ dàng, thuận lợi để theo học ngành, nghề kỹ thuật cao cấp nơi những trường Cao đẳng Âu, Mỹ, vốn đang là một phong trào nở rộ khi bắt đầu giữa thế kỷ 20 (sau Thế Chiến thứ Hai); hơn nữa số lượng sinh viên dự thi, du học lại quá ít ỏi. Nhưng anh chọn hướng đi khác, đường bất trắc, nguy biến hơn – Đời sống quân ngũ với nhiệm vụ Người Linh Chiến Đấu. Năm 1950, anh nhập học Khóa 3 trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, một trong những khóa đầu tiên sau khi trường chuyển từ Đập Đá (Huế) lên Đà Lạt trong kế hoạch đào tạo cấp chỉ huy cho Quân đội Quốc gia. Đấy sẽ là một quân đội với thành phần sĩ quan cán bộ hứng chịu toàn bộ gánh nặng cuộc chiến tranh Quốc – Cộng kéo dài theo ba thập niên với kết thúc bi thảm oan nghiệt của ngày 30 tháng 4, 1975 sau này.
Người thanh niên Nguyễn Văn Hiếu – Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu – quả tình đã đi suốt những tháng ngày bão lửa quê hương không hề đứt đoạn và kết thúc cùng lần với vận nước gian truân. Chúng ta có bổn phận phải nhắc toàn bộ hành trình chiến đấu của Người – Vị Tướng Quân Sống -Chiến Đấu – Chết theo cùng Mệnh Nước – để nhiên hậu lịch sử dân tộc phải xác chứng một điều cao cả: Người Lính Quân lực Việt Nam Cộng hòa quả là chủ thể thực hiện nhiệm vụ Bảo Quốc – An Dân, cho dù vận nước gặp phải thời suy mạt, với phận người chiến sĩ bị bức hại uất hận qua thất trận năm 1975.
Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu là một điển hình về tinh thần hy sinh khắc kỷ của Người Lính Cộng Hòa. Cái chết của Người dẫu là một kết thúc bi thảm nhưng đồng thời cũng rọi sáng thêm lòng trung liệt vô hạn thanh cao. Đoạn đường binh nghiệp của Người Lính Nguyễn Văn Hiếu khởi đầu với những bước bất trắc không suôn sẻ, dẫu người sinh viên sĩ quan Khóa 3 trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt ấy hội đủ tất cả những khả năng tối ưu để hoàn tất chương trình khóa học với chỉ số điểm cao nhất. Anh đã là sinh viên sĩ quan có điểm văn hóa cao nhất, điểm quân sự cao nhất, cũng cao nhất về điểm hạnh kiểm (côte d’amour) do tánh tình khoan hòa, khiêm tốn, luôn giúp đỡ đồng bạn, mực thước và trọng nguyên tắc – Mẫu người bẩm sinh thích hợp với đời sống quân ngũ – Nói rõ hơn, những người tuối trẻ được sắp sẵn tinh thần, trí tuệ, cá tính, ngoại hình, thể chất để trở nên hàng Tướng soái thống lĩnh ba quân nơi trận địa.
Những De Gaulle, De Lattre, Bigeard của Quân lực Pháp; Montgomery của Ky binh Hoàng Gia Anh; Rommel, Con Sói Sa Mạc của Quân đoàn Bắc Phi Quốc Xã Đức; hay Người Lính Lớn của Quân Lực Mỹ, McArthur. Thiếu úy Nguyễn Văn Hiếu tốt nghiệp với thứ hạng Á Khoa, nhường vinh dự Thủ khoa cho Thiếu úy Bùi Dzinh, bởi lẽ Quốc Trưởng Bảo Đại đã có chỉ dụ: Muốn thấy một người miền Trung giữ vị trí danh dự kia. Thiếu úy Hiếu không chút ty hiềm – Ông vững tin vào bản lãnh, năng lực riêng – Sức tự tin cao độ của Người Chiến Đấu với Tinh thần Kẻ Sĩ Đông Phương. Cuộc đời ngoại hạng tiếp theo chứng nhận chính xác về những phẩm chất cao quý đã lộ hé từ bước khởi đầu này. Tai họa kế tiếp do bịnh lao phổi gây nên từ lần trúng mưa, nhiễm lạnh nơi trường Đà Lạt trong một buổi huấn luyện thế chất (cũng có nguyên nhân ẩn tàng vì thân mẫu đã qua đời bởi chứng lao phổi). Và có thể đây là cớ sự đã gây nên lần tinh thần bị dao động của viên Trung úy trẻ tuổi khi nghe người bạn cùng khóa, Đại úy Lữ Lan kể về những chiến công tại mặt trận Quảng Trị (thành tích đã đưa người bạn đồng khóa này sớm thăng cấp Đại úy). “Moa bây giờ đã là một phế nhân, không biết cuộc đời mình sau nầy sẽ ra sao?” (NVT sđd trg 31).
Nhưng lời nói có tính cách ngã lòng trên giường bệnh ở Bệnh viện Lanessan (Hà Nội) này chỉ là dấu hiệu tạm thời và Trung úy Hiếu đã không như phần đông quân nhân mắc phải căn bệnh nguy nan này (đối với đời sống quân ngũ luôn cần thể lực tốt; hơn nữa ở buổi đầu hậu bán thế kỷ 20, thuốc chữa trị bệnh lao phổi vốn hiếm, quý), thường lấy cớ để rời bỏ quân đội. Thế nên, sau khi chữa lành bệnh ông về Nam, tiếp tục đời sống quân nhân với tư thế, tinh thần mới qua chức vụ sĩ quan Tham mưu hành quân nơi văn phòng Tham mưu Trưởng Đại Tá Trần Văn Đôn. Với nhiệm vụ sĩ quan Phòng Ba (Phòng Hành Quân, Huấn Luyện – Bộ phận quan trọng hàng đầu thuộc tổ chức Tham mưu của tất cả quân đội hiện đại) năng lực Đại úy Nguyễn Văn Hiếu được phát triển toàn diện, chuẩn bị cho những chức vụ chỉ huy Tham mưu, Tư lệnh sau này. Vì lẽ này, khi Đại Tá Trần Văn Đôn thăng cấp Thiếu tướng, lãnh nhiệm vụ Tư lệnh Quân đoàn I (Vùng I Chiến Thuật, từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi) đã đưa viên sĩ quan Tham mưu ưu tú này cùng ra Đà Nẵng.
Năm 1970, khi viên sĩ quan Tham mưu ngày trước lúc ấy đã là Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu, Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh phải ra điều trần trước Quốc hội về vụ thất bại trong lần rút quân khỏi thị trấn Snoul (Campuchia), Thượng Nghị Sĩ Trần Văn Đôn, Chủ tịch Úy ban Quốc phòng Thượng Viện đã có lời bảo chứng xác đáng: “Nếu Quân lực Việt Nam Cộng hòa có được nhiều tướng tài giỏi như Tướng Hiếu thì Việt Nam đã không mất” (NVT sđd trg57). Chắc rằng lời nhận xét này không là tiếng nói do ân huệ chủ quan mà xuất phát từ một thực tế đã được chứng nghiệm. Chúng ta hãy xét tới những chiến trận điển hình để minh xác đánh giá vừa kế ra.
II. Giữa chiến Địa
Cho dẫu những người viết quân sử có những ý kiến khác nhau bao nhiêu (ngay đến giới chức, học giả người Mỹ vốn có thiên kiến bất công đối với Quân lực Việt Nam Cộng hòa), nhưng tất cả hẳn phải đồng ý một điều: Tướng Đỗ Cao Trí là một trong những Tướng lãnh thao lược nhất của quân đội miền Nam; của cả Việt Nam (nếu so với hàng Tướng lãnh miền Bắc); cũng không kém sút đối với các danh tướng đồng minh. Nhưng chắc rằng, phần lớn số đông kia hẳn đã thiếu phần xác chứng do họ đã không tìm hiểu ra một trong những nguyên nhân cấu tạo nên những chiến thắng của Danh tướng Đỗ Cao Trí. Nguyên nhân ấy đã có từ lúc nắm giữ chức Tư lệnh Sư đoàn I Bộ binh (trước đảo chính 11/11/1963), Đại Tá Đỗ Cao Trí đã giao nhiệm vụ Tham mưu Trưởng Sư đoàn vào tay Trung Tá Nguyễn Văn Hiếu. Sự gắn bó chặt chẽ giữa hai con người chiến đấu kéo dài qua suốt một thập niên (60-70), chỉ thật đứt đoạn khi Tướng Trí bị tử nạn trực thăng trong ngày 23 tháng 2, 1971, trước khi sắp rời chức vụ Tư lệnh Quân đoàn III (Biên Hòa) để ra Đà Nẵng thay thế Tướng Hoàng Xuân Lãm lúc chiến trận Hạ Lào (Hành Quân Lam Sơn 719) đang hồi nguy kịch.
Tướng Đỗ Cao Trí cũng đã chỉ thuận nhận chức vụ Tư lệnh Vùng I nếu người thay thế ông giữ chức Tư lệnh Vùng III không phải ai khác mà chính là (và chỉ là): Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu, Nguyên Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh (Bình Dương) – Mũi nhọn xung kích đã cùng ông tạo nên Chiến thắng Bình Tây – Chiến dịch đánh vỡ Trung ương cục miền Nam khởi sự từ cuối năm 1969.
Phải có một điều gì sâu xa hơn ngoài nhiệm vụ quân sự đã làm mối nối liên kết giữa hai con người kỳ tài kia. Những chiến công lẫm liệt sau sẽ là lời giải thích tường tận về cuộc phối hợp toàn hảo giữa một viên Tư lệnh dũng cảm và một Tham mưu Trưởng ngoại hạng. Điều này cũng là một đinh chính xét ra cần thiết nêu lên: Tướng Đỗ Cao Trí không hề là một người “kỳ thị Nam – Bắc” như tin đồn đãi mà trái lại, chính ông là người “bảo vệ “ Tướng Hiếu đến kỳ cùng. Tương tự như thế, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu chỉ có thế hoàn tất được nhiệm vụ khó khăn trong “Ủy Ban Bài Trừ Tham Những” nếu không được một người miền Nam – Kẻ Sĩ sáng ngời danh tiết thuần túy Nam bộ rất mực thương yêu, quý trọng, gìn giữ: cụ Trần Văn Hương.
1964: Phá Đỗ Xá Mật khu Đỗ Xá của lực lượng cộng sản vốn nằm trong vùng miền núi ranh giới hai tỉnh Kontum, Quảng Ngãi theo chia vùng lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa; hoặc thuộc khu vực hoạt động của hai mặt trận B3 và B5 cộng sản. Đây là vùng hiểm trở nhất của dãy Trường Sơn với đỉnh Ngọc Lĩnh cao 8524 bộ, trấn giữ toàn vùng Hạ Lào, đổ xuống đồng bằng duyên hải miền Trung thuộc hai tỉnh Quảng Nam – Quảng Ngãi, cũng là đường thông về Kontum, Pleiku của Cao nguyên Trung Phần. Mật khu được đặt dưới quyền của Tướng cộng sản Nguyễn Đôn, vốn là một vùng bất khả xâm phạm từ chiến tranh Pháp – Việt, giai đoạn 1945-1954. Vào buổi chiến tranh Đông Dương lần thứ hai (1960-1975), từ lúc giữ chức Tư lệnh Quân đoàn | (Đà Nẵng), Tướng Trí đã muốn “hỏi thăm” vùng cấm địa ày, nhưng do không đủ lực lượng để mở cuộc hành quân lớn (nhất là không quân chiến thuật yểm trợ và trực thăng đổ quân); thêm nữa những biến động chính trị, xã hội suốt năm 1963 khiến ông phải bỏ qua dự định dọn sạch Mật khu Đỗ Xá.
Tháng 1/1964, Tướng Trí đổi lên trấn thủ Vùng II (Cao nguyên Trung Phần), “cục xương” Đỗ Xá trở lại như một thách thức và lần này ông quyết ra tay, dẫu vùng hành quân dự trù phần lớn nằm trong địa vực tỉnh Quảng Ngãi (thuộc Vùng I Chiến Thuật). Đại Tá Nguyễn Văn Hiếu, Tham mưu Trưởng Quân đoàn II được trao nhiệm vụ thiết lập, điều động kế hoạch hành quân dưới quyền chỉ huy của Tư lệnh Quân đoàn, Thiếu Tướng Đỗ Cao Trí và Tư lệnh Phó, Thiếu Tướng Lữ Lan. Lực lượng hành quân chia làm hai cánh: Cánh A gồm ba Tiếu đoàn Biệt Động Quân dưới quyền của Thiếu Tá Sơn Thương; Cánh B do Thiếu Tá Phan Trọng Chinh chỉ huy Trung đoàn 50 Bộ binh làm nỗ lực chính; cánh quân này được tăng phái Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù của Thiếu Tá Ngô Quang Trưởng. Với khả năng giao thiệp rộng từ lúc còn là phụ tá hành quân Quân đoàn I, Đại Tá Hiếu đã có liên hệ mật thiết với Thiếu Tá Thủy quân Lục chiến Wagner, cố vấn của đơn vị Thủy quân Lục chiến Mỹ bên cạnh bộ tư lệnh Quân đoàn, nên hôm nay hai người là nhân tố chính để phối hợp soạn thảo kế hoạch trực thăng vận với Phi đoàn HMM-364 của Thủy quân Lục chiến Mỹ với số lượng 16 trực thăng H34 chuyển quân, đồng đổ bộ một lúc xuống bãi đáp, được hai trực thăng H34 của Không quân Việt Nam từ Đà Nẵng vào tăng cường.
Đoàn trực thăng chuyển quân có năm chiếc UH-1B võ trang thuộc Tiếu đoàn 52 Không quân “Dragon Flight” của Lục quân Mỹ yểm trợ bảo vệ suốt lộ trình tới mục tiêu và tại bãi đáp (LZ) Đỗ Xá. Vùng hành quân được phi cơ quan sát L19 “Bird Dog” Hoa Kỳ bao vùng, chỉ điểm, ngoài ra còn có máy bay Helio Courier STOL của Đại Tá Merchant, văn phòng CIA và Đại Tá Cố vấn Trưởng Quân đoàn I bay trên cao độ 5,000 bộ để thanh sát tổng quát cuộc hành quân với chỉ danh Sure Win 202 về phía Thủy quân Lục chiến Mỹ. Từ thực tế vừa trình bày, Hành Quân Quyết Thắng 202 không chỉ là một hoạt động quân sự thuần túy, nhưng đã là cuộc trắc nghiệm khả năng quân lực Cộng hòa sau những biến động chính trị 1963, 1964 và cụ thế là lượng giá khả năng của chính những sĩ quan cao cấp đang chỉ huy, điều động cuộc hành quân. Ngày 27 tháng 4, 1964 chiến dịch tấn công Đỗ Xá bắt đầu. Từ phi trường Quảng Ngãi, nơi đặt Bộ Chỉ huy Hành quân, 18 trực thăng H34 đợt xung kích đầu tiên đồng loạt đưa toàn bộ Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù vào trận địa. Súng cao xạ của cộng sản không chỉ bố trí chung quanh bãi đáp, nhưng dài theo thung lũng dọc đường bay của trực thăng chuyển quân.
Hãy nghe lại lời kể của Đại úy “Woody” Goodmansee, Trưởng toán trực thăng võ trang (sau này là Trung Tướng Lục Quân hồi hưu): “Trong đợt đầu trực thăng đầu bay thấp khoảng 100 bộ, tất cả bốn trực thăng Dragon đều thả khói hai bên trực thăng (để ngụy trang). Tôi có thể thấy các lằn đạn xẹt ngang dọc từ cả hai bên (lộ trình bay). Trong một vòng bay từ Tây sang Đông, tôi bị một súng phòng không 50 ly nhắm bắn từ phía Nam, một lằn đạn xẹt qua dưới bụng trực thăng … (NVT sđd trg 351).
Đấy là cảnh tượng trên không. Dưới mặt đất, Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù bị tấn công ngay tại bãi đáp, Thiếu Tá Ngô Quang Trưởng dàn hết bốn Đại đội tác chiến lẫn Đại đội chỉ huy để cự địch. Đại đội Trưởng Trần Đại Tân Âu tử thương ngay từ khi xuống bãi đáp; khẩu súng 57 không giật của Đại đội chỉ huy công vụ (vốn là súng phá công sự, chống chiến xa) nay biến thành vũ khí bằn thẳng để bảo vệ cận phòng bộ chỉ huy Tiểu đoàn. Tướng Đỗ Cao Trí đích thân chỉ huy trận địa từ trên không, trực thăng chở ông và các Tướng Lữ Lan, Tướng Minh (Tư lệnh Không quân sau này) phải bay sát ngọn cây để tránh phòng không; nhưng về đến phi trường Quảng Ngãi, kiểm soát lại, lưng và bụng trực thăng đều bị trúng đạn lỗ chỗ. Không núng thế, Tướng Trí thả nốt Tiểu đoàn Biệt Động quân vào trận, tiếp sức với nhảy dù cày sạch vùng bất khả xâm phạm gọi là Đỗ Xá.
Chỉ riêng ngày thứ hai của cuộc hành quân, phía biệt động đã tịch thu được một đại liên 30 ly, một trung liên, sáu tiểu liên và 144 súng cá nhân, một ngàn bịch chất nố, một số lượng lớn quân trang, lựu đạn, mìn và tài liệu quan trọng. Cuối trận, tổng số vũ khí có thêm hai phòng không 52 ly, một đại liên 30 ly và 69 súng cá nhân với 62 xác đếm tại hiện trường; 17 tù binh bị bắt. (NVT sđd trg 347-348). Cuộc hành quân chấm dứt đúng một tháng sau, 27 tháng 5 do Trung đoàn 50 Bộ binh của Thiếu Tá Phan Trọng Chinh hoàn tất quét sạch toàn vùng Đỗ Xá sau khi Nhảy Dù và Biệt Động Quân đã kết thành vòng đai chận bít không để lực lượng cộng sản chạy lẫn vào vùng núi phía Tây, hoặc về phía Nam của Cao nguyên Trung Phần. Số lượng vũ khí và nhân mạng phía cộng sản bị thiệt hại như kể trên không phải là một thắng lợi quân sự quá to lớn, nhưng đứng về mặt chính trị đã chứng minh điều quan trọng: Sau những xáo trộn chính trị (1963-64) mà tập thể người lính bị cuốn hút vào do những quân nhân chỉ huy muốn tranh đoạt quyền lực lãnh đạo Quốc gia theo một phong trào “Quân nhân cầm quyền với sức mạnh nòng súng” đang diễn ra trên toàn thế giới (Nasser ở Ai Cập; Phác Chánh Hy, Đại Hàn; Fidel Castro, Cuba; gần gũi, trong khu vực Đông Dương với Đại úy Kông Le ở Lào ..) Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã lấy lại sức mạnh chiến đấu cơ hữu; có khả nang thực hiện những cuộc hành quân lớn cấp Trung đoàn, Sư đoàn nếu như những sĩ quan Tham mưu, chỉ huy được yểm trợ xác đáng và nhất là để họ toàn quyền điều động đơn vị quân binh theo thực tế chiến trường chứ không là một biểu diễn bề mặt vì mục tiêu chính trị.
Chứng minh điển hình đối với luận cứ này là Hành Quân Phi Hỏa với hằng trăm trực thăng chuyển quân (Hành quân trực thăng vận lớn nhất, huy động trực thăng toàn vùng Đông – Nam Á) với lần tham dự của bốn Tiểu đoàn nhảy dù đồng đổ bộ xuống vùng mật khu Hố Bò (Bình Dương) vào cuối tháng 8 cũng trong năm 1964 đã không đưa lại kết quả mong muốn. Hoặc tại chính chiến trường Đỗ Xá này, Tướng Nguyễn Khánh và Tham mưu Trưởng Ngô Dzu đã một lần thất bại trước khi hoán đổi vùng trách nhiệm với Tư lệnh Đỗ Cao Trí và Tham mưu Trưởng Nguyễn Văn Hiếu.
Cuối cùng, tất cả đã chứng minh: Hành Quân Quyết Thắng 202 của Quân đoàn II vào Đỗ Xá là một kế hoạch hành quân chính xác, đáp ứng đúng điềukiện, yêu cầu của chiến trường, được chỉ huy, điều động bởi những con người thao lược nơi trận tiền với quyết tâm: Đánh tất thắng chứ không là cuộc diễn binh cầu may với mạng sống của quân sĩ. Ngoài ra, có một chi tiết nhỏ nhưng cần phải nêu rõ: Những đơn vị nhảy dù, biệt động, bộ binh nơi mặt trận Đỗ Xá đồng được chỉ huy bởi những sĩ quan vốn xuất thân binh chủng Nhảy dù: Tướng Đỗ Cao Trí, các Thiếu Tá Phan Trọng Chinh, Ngô Quang Trưởng, Sơn Thương – Nhưng tất cả diễn tiến hành quân đã được Đại Tá Bộ binh Nguyễn Văn Hiếu lập kế hoạch tổ chức và điều hành chỉ huy Tham mưu – Đây cũng là mục đích của công việc muộn màng nhưng cần thiết của chúng ta hôm nay đối với Người Lính đã Vị Quốc Vong Thân qua cách vô ân của một chế độ do những người cầm đầu bất nhân nghĩa, tham nhũng, xây công danh, tài lợi trên xương máu chiến sĩ, đồng bào, đồng đội. Những phần tiếp theo sẽ minh chứng Nỗi Đau Chung này dẫn đến lần đau tàn cuộc ngày 30 tháng 4, 1975.
1965: Đánh thông Quốc lộ 19, Đèo An Khê
19 giờ chiều ngày 24 tháng Sáu, 1954, mà chỉ không đầy một tháng sau (20 tháng 7, 1954) Hiệp định Genève sẽ ký kết, chấm dứt chiến tranh Đông Dương lần thứ Nhất. Nhưng trên đèo Mang Yang, nơi Cây số 15, Quốc lộ 19 nối Pleiku (Thủ phủ quân sự vùng Cao Nguyên) với Quy Nhơn (Hải cảng quan trọng của duyên hải Trung Việt) đang diễn ra cảnh tượng địa ngục … Trung đoàn 803 cộng sản cố tâm diệt gọn Trung đoàn Triều Tiên của Quân đoàn Viễn Chinh Pháp, đơn vị lập kỳ tích chận đứng làn sóng biển người của Hồng quân Trung cộng nơi mặt trận Triều Tiên năm 1953 bên cạnh Sư đoàn 2 Bộ binh Mỹ. Thế nên, binh sĩ của Trung đoàn Triều Tiên này vẫn mang nơi vai áo huy hiệu Ngôi Sao Trắng với hình tượng Đầu Người Da Đỏ của Sư đoàn 2 Bộ binh Mỹ đế đánh đấu chiến thắng vinh dự kia. Nhưng vào năm 1954 với đèo An Khê của chiến
tranh Việt Nam chứ không là bán đảo Triều Tiên của năm 1953 nên những thành phần sống sót của Chiến
đoàn Lưu Động số 100 – Group Mobile 100 mà Trung đoàn Triều Tiên là thành phần xung kích điển hình, mối kiêu hãnh của Chiến đoàn đang cố gắng tập họp lực lượng lại sau lần bị nghiền nát bởi sáu giờ kịch chiến với bộ đội cộng sản. Thật sự ra họ đã chịu đựng sáu tháng hiểm nghèo từ khi tham chiến nơi mặt trận Cao nguyên Trung Phần nước Việt. Đêm xuống mau dẫu trời miền núi tháng Sáu soi rọi những ánh chớp chói lòa khi binh sĩ ném lựu đạn lân tinh phá nòng súng đại bác; đốt cháy quân trang quân cụ; bắn hết đạn các súng cộng đồng, vũ khí nặng trước khi phá hủy để chuẩn bị cho vụ rút chạy khỏi vùng tập kích của Trung đoàn 803 cộng sản. (Bernard B. Fall, Street Without Joy. Schoken Books – New York, 1972 pp214-220).
Phải nói nói rõ hơn, trận chiến đèo An Khê trên Quốc lộ 19 với lần tiêu diệt toàn bộ Chiến đoàn Lưu Động số 100 (G.M.100) năm 1954 chỉ là diện chiến thuật của một sách lược lớn của chiến trường Đông Dương bao gồm Cao Nguyên Trung Phần, ngã ba biên giới ba nước Việt – Miên – Lào. Đấy là cô lập Cao Nguyên, chiếm giữ đường di chuyển Bắc – Nam mặt Đông Trường Sơn, theo đường 14 xuống chiếm Ban Mê Thuột, vào vùng thượng nguồn sông Đồng Nai, tiếp đến miền Đông Nam Bộ. Thế trận của năm 1954 sau này được lập lại trong những năm 1974-1975 trước khi mất miền Nam với lãnh thổ Cao Nguyên miền Trung bị bỏ trống do cuộc di tản tai họa theo tỉnh lộ 7 từ Pleiku về Tuy Hòa của Quân đoàn II và toàn thể lực lượng diện địa thuộc Quân khu II trong tháng 3 năm 1975. Cuối cùng, kế hoạch xâm thực của Trung cộng hiện nay, đầu thế kỷ 21, cũng là củng cố địa bàn Cao Nguyên miền Trung qua các trọng điểm khai thác bâu-xít Nhân Cơ, Tân Rai bằng cách đóng chốt vùng cao nguyên, xương sống nước Việt với những đoàn quân binh, phạm nhân ngụy trang làm công nhân kỹ nghệ. Tất cả đang đợi một giờ G, ngày N để tháo bùn đỏ theo sông Đồng Nai tràn về miền Đông Nam Bộ. Để rồi từ cao nguyên đánh xuống đồng bằng, nối với các chốt (ngụy trang những bè cá ở Cam Ranh, Nha Trang ..) vùng duyên hải, phối hợp với lực lượng hải – lục quân từ Hoàng, Trường Sa đổ bộ vào. Kế hoạch xâm chiếm Việt Nam từ Cao Nguyên Trung Phần như vừa kể ra không phải là một cuộc chiến tưởng tượng nhưng là một quan niệm điều quân rất có khả năng thi hành đối với tất cả những ai có hiểu biết lý thuyết quân sự, kinh nghiệm chiến trường. Cụ thể qua hai cuộc chiến 1954 và 1975 nơi chiến trường Cao Nguyên quyết định này. Trở lại năm 1965 nơi núi rừng Tây Nguyên. Chúng ta hãy xem Đại Tá Tham mưu Trưởng Quân đoàn II đã chiến đấu như thế nào để giữ vững Trường Sơn. Năm 1965, Hà Nội phát động một chiến dịch nhằm cắt đôi Việt Nam từ Cao Nguyên xuống đồng bằng theo đường 19 theo một kế hoạch đánh bại Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong một trận chiến quy ước với những Sư đoàn chính quy cộng sản Bắc Việt. Đến giai đoạn này, chúng ta phải dùng đến cụm từ “cộng sản Bắc Việt” vì những lực lượng tham chiến thuần là những đơn vị chính quy thuộc mặt trận B3 và B5 được chỉ huy, điều động bởi Bộ Tổng quân ủy miền Bắc với sao chép nguyên bản từ chiến dịch Đông – Xuân 1954 như trên vừa kể ra. Quốc lộ 19, đèo Mang Yang thêm một lần sôi máu lửa. Ngày 20 tháng 2, 1965 Căn cứ tiền phương số I của một Đại đội Dân Sự Chiến Đấu (DSCĐ) dọc đường 19, Tây Đèo Mang bị tấn công sau lần một Đại đội địa phương quân bị phục kích khi di chuyển từ Pleiku về một căn cứ trên Đèo Mang. Đại đội địa phương quân lẫn trại DSCĐ không thể là những đối thủ với lực lượng cộng sản chính quy, bởi đơn vị này đã được trang bị những vũ khí hiện đại nhất do Liên Xô chế tạo và cung cấp: Súng tiểu liên AK, súng phóng lựu RPD, bản sao cải tiến của súng chống chiến xa RPG2. Trái lại phía DSCĐ, địa phương quân, hoặc các đơn vị chủ lực của Việt Nam Cộng hòa như Nhảy Dù, Biệt Động, Thủy quân Lục chiến, (trong những năm 1965, 66, 67) vẫn còn dùng những vũ khí cố điển từ Đệ Nhị Thế Chiến để lại như Garant; Carbin M1 …
Trận chiến dọc đường 19, hai bên Đông – Tây đèo Yang lập lại chiến thuật cổ điển phía cộng sản thường áp dụng (và áp dụng hữu hiệu) – Chiến thuật “Công Đồn Đả Viện” – Nhưng sau hai ngày giao tranh khốc liệt, các trại DSCĐ số1 (Tây Đèo Mang); số 2 (Đông Đèo Mang) vẫn giữ vững được nhờ yểm trợ liên hoàn và được một Tiểu đoàn biệt động quân đóng tại An Khê (Đông Đèo Mang khoảng hơn 50 cây số) làm thành phần trừ bị, tiếp ứng. Bộ Chỉ huy Lực lượng đặc biệt đóng tại Pleiku còn thành lập sẵn những Trung đội DSCĐ chuyên nhảy trực thăng vận theo Chiến Thuật Diều Hâu để tiếp cứu chiến trường khi hữu sự. Tuy bị bất ngờ bởi chiến thuật trực thăng vận, cùng yếm trợ hỏa lực cận phòng mạnh mẽ của trực thăng võ trang Hoa Kỳ, khu trục Skyraider, B57 của Không quân Việt Nam, nhưng với hệ thống phòng không tinh vi, hữu hiệu, phía cộng sản cũng gây thiệt hại lớn đối với DSCĐ, Biệt Động Quân, các toán nhảy Diều Hâu tiếp ứng.
Tính đến ngày 24 tháng 2, tình hình ngưng lại ở điểm bế tắc: Căn cứ tiền phương số 2 của DSCĐ (bao gồm thêm một thành phần Biệt Động Quân bị kẹt lại) cần phải di tản vì không thể chịu đựng áp lực pháo kích liên tục do một hệ thống súng cối 82 ly đặt dày chung quanh căn cứ. Trong số 220 quân nhân cần di tản có một cháu nhỏ (bị thương) mới chín tháng. Đây là hành khách độc nhất được sống sót của chuyến xe đò dân sự đi từ Quy Nhơn lên Pleiku bị tàn sát ngày hôm trước khi chiếc xe rơi vào bãi pháo cộng sản.
Đại Tá Tham mưu Trưởng Nguyễn Văn Hiếu và Cố vấn Trưởng quân Đoàn sau hai ngày thám sát, nghiên cứu chiến trường đồng có chung kết luận: Lực lượng cộng sản thuần là những Tiểu đoàn chủ lực của Mặt trận B3 với vũ khí hiện đại, có khả năng cao độ về chiến thuật di động hỏa lực, tập trung hỏa lực phòng không. Đạo quân này rõ ràng có ý định biến thung lũng An Khê (Đông Đèo Mang, dọc đường 19) thành một chiến trường lớn hợp cùng đạo quân ở đồng bằng (Vùng Bình Định tức Liên khu 5 cộng sản) cắt đôi miền Nam như đã thực hiện một lần trong chiến tranh 1946-1954.
Biện pháp cấp thời được đưa ra là phải bốc ngay toán quân đang bị cầm giữ của Căn cứ 2 trước khi trại bị tràn ngập. Tướng Nguyễn Hữu Có, tân Tư lệnh đồng ý trên nguyên tắc nhưng đồng thời nêu lên một khó khăn: Không đủ hỏa lực để bao vùng yểm trợ cuộc hành quân trực thăng vận vào bốc toán quân ở căn cứ 2; hơn nữa hệ thống súng cối 82 ly cộng sản chung quanh căn cứ sẽ tạo một vũng lửa tại bãi đáp trực thăng (trong căn cứ). Và nếu tình hình như thế ắt sẽ xảy ra, cuộc hành quân trực thăng vận nhằm giải cứu lực lượng bạn sẽ biến thành một cuộc hành quân tự sát.
Cuối cùng, quân đoàn phải cậy đến một biện pháp do chính Tướng Westmoreland quyết định: Dùng phản lực cơ chiến đấu F100 Hoa Kỳ hiệp đồng với A-1E, B57 VNCH đánh tiếp cận hai bên sườn thung lũng, trong khi trực thăng võ trang xạ kích vào các vị trí cối cộng quân sát trại, để trực thăng chuyển quân vào bãi đáp cứu bạn. Cuộc hành quân trực thăng vận được thiết kế và hoàn tất như một phép lạ: Không một người bị nạn
trong ba đợt bốc đầu tiên, chỉ một trực thăng và một người bị thương trong chuyến bốc cuối cùng. Đại Tá Tham mưu Trưởng Nguyễn Văn Hiếu hoàn tất một cuộc hành quân giải cứu do ông lập kế hoạch và phối hợp tuyệt hảo (với liên quân Việt – Mỹ) mà đến hôm nay mấy người đã hay.
Giải tỏa được căn cứ DSCĐ, Bộ Tư lệnh Quân đoàn II cậy tiếp đến quân trừ bị: Chiến đoàn 2 Nhảy Dù gồm hai Tiểu đoàn 7 và 8 Dù được không vận từ Sài Gòn xuống phi trường An Khê, xong từ đây xuất quân quét sạch toàn diện đoạn đường gai góc từ quận An Túc đến Đèo Mang.
Quân cộng sản núng thế, chuyển hướng lên phía Bắc vây đánh trại Lực Lượng Đặc Biệt (LLĐB) K’nack (Bắc đường 19 để giải tỏa áp lực của nhảy dù nơi thung lũng An Khê) với cách đánh biển người (như Hồng quân Trung cộng đã áp dụng ở các cao điểm Pock Chop, T-Bone và Old Baldy ở Mặt trận Triều Tiên năm 1953): Hai Tiếu đoàn xung phong vào những tiền đồn chỉ do quân số một Trung đội DSCĐ chiếm giữ. Một tiền đồn bị tràn ngập, nhưng sau đó, DSCĐ phản công chiếm lại do trợ lực của nhảy dù từ phía Nam đánh lên, giải tỏa lực lượng cộng sản bao vây quanh trại LLĐB.
Cuối trận, quân cộng sản rút lui đế lại 126 xác chết với đại bác không giật 57 ly, súng cối 82 ly cùng rất nhiều lựu đạn, chất nổ. Nhưng thành quả lớn nhất của cuộc hành quân là: Các đoàn xe được hộ tống lên Pleiku tạo nên một sinh khí mới trên vùng cao nguyên. Vật giá thực phẩm và hàng hóa giảm từ 25 đến 30 phần trăm, đồng thời dân chúng hồi phục cảm nghiệm an ninh, tin tưởng và hy vọng. Học sinh tại Pleiku tình nguyện giúp quân lính gỡ hàng xuống và dân chúng trước đây di tản nay trở lần lượt về.
(Trung Tướng Vĩnh Lộc, Military Review, April 1966-NVT sđd p378).
Nhưng mấy ai trong những người dân của thành phố Pleiku ngày ấy hiểu ra rằng đời sống họ tìm lại được là do từ máu xương, sinh mạng của trăm, ngàn người lính – Trong đó có Người Lính Lớn vô cùng khiêm cung tận tụy với quân đội và quê hương – Đại Tá Tham mưu Trưởng Nguyễn Văn Hiếu.
Người dân Pleiku nào ai biết, nghe đến tên Người, ngay cả bản thân người viết đoạn ký sự này lúc ấy là viên Thiếu úy thuộc Tiểu đoàn 7 Nhảy Dù, đơn vị giải tỏa đoạn An Khê – Đèo Mang, tháng 3, năm 1965.
Thất bại ở mặt trận đường 19, tiếp theo chiến dịch tái chiếm Bồng Sơn, Tam Quan (tháng 4, 1965) với Sư đoàn 22 Bộ binh được tăng phái một Lữ đoàn Thủy quân Lục chiến bẻ gãy kế hoạch cắt Quốc lộ I tại khu vực chiến lược Quảng Ngãi – Bình Định (thuộc Mặt trận B5 cộng sản) buộc phía chỉ huy cộng sản tại Vùng II (của Việt Nam Cộng hòa) phải rà soát lại kế hoạch. Và một lần nữa, những người cầm đầu ở Hà Nội lại chuyển chiến trường trở lại dọc Quốc lộ 14 (Đường nối Pleiku với Ban Mê Thuột (phía Nam); với Komtum (Phía Bắc) từ mùa mưa đến khi mùa khô bắt đầu nơi cao nguyên (từ tháng 4 đến hết cuối năm 1965) với những Sư đoàn thiện chiến nhất của Mặt trận B3 cộng sản: Sư đoàn 325; SĐ F10; SĐ 2 Sao Vàng, những đơn vị chủ lực tinh nhuệ của quân đội miền Bắc do các kiện tướng Vũ Lăng, Hoàng Minh Thảo, Chu Huy Mân … chỉ huy. Sau này, vào giai đoạn chót của chiến tranh, tháng 3/1975, đích thân Tổng Tham mưu Trưởng Văn Tiến Dũng chỉ huy chiến dịch đánh chiếm Tây Nguyên theo chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tổng quân ủy Hà Nội. Trong cùng lúc, Bộ Tư lệnh Quân đoàn II lần lượt thay đổi người chỉ huy: Các Tướng Đỗ Cao Trí, Nguyễn Hữu Có, Vĩnh Lộc tiếp thay thế giữ chức Tư lệnh, nhưng chỉ riêng viên Tham mưu Trưởng vẫn giữ nguyên vị trí. Thế nên, chúng ta có thể xác định về một thực tế mà không sợ sai lầm, chủ quan: Chính Đại Tá Nguyễn Văn Hiếu, Tham mưu Trưởng Quân đoàn II là người đã đối đầu liên tục, trực tiếp với Bộ Chỉ huy quân sự miền Bắc nơi chiến trường Tây Nguyên trong suốtnăm 1965 chứ không ai khác. Từ đó chúng ta có thể đặt nên một vấn nạn muộn màng:
Giá như năm 1974-1975, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu nắm giữ chức Tư lệnh Vùng II, biết đâu sẽ không có tình thế di tản Cao Nguyên trong tháng 3, 1975 … Từ đó tình hình quân sự đâu có thể nhanh chóng sụp đổ như thực tế đã xảy ra 55 ngày sau?! Nhưng tất cả đã thành sự với 30 tháng 4, 1975!
1965: Giải tỏa QUỐC LỘ 14, ĐỨC CƠ
Trở lại mùa mưa 1965, dọc theo Quốc lộ 14, lực lượng cộng sản liên tục mở ra những hoạt động tấn công lấn chiếm có hệ thống như sau: Ngày 16 tháng 5, quận Phú Túc và Buôn Mroc thuộc tỉnh Phú Bổn (hay Hậu Bổn, tên cũ Cheo Reo), cách Pleiku khoảng 70 cây số đường thẳng về hướng Đông – Nam bị tấn công, địa phương quân kêu cứu với trại Lực Lượng Đặc Biệt (LLĐB) đóng gần đấy để xin yểm trợ nhưng không được vì đơn vị LLĐB cũng bị tấn công, cả toán tiếp ứng, lẫn căn cứ trại.
Tình hình Phú Bổn suy sụp nhanh chóng, quân đoàn phải không vận một Tiểu đoàn của Trung đoàn 40 thuộc Sư đoàn 23 Bộ binh để tiếp cứu. Tỉnh ly Phú Bổn chỉ liên lạc, tiếp tế với bên ngoài bằng đường hàng không bởi cầu Lệ Bắc trên Tỉnh Lộ 7 bị giật sập. Ngày 20 tháng 5, quân cộng sản tấn công đơn vị địa phương giữ cầu Pokala và phá hủy cây cầu quan trọng này khiến tất cả hệ thống đồn bót, trại LLĐB, phía Tây – Bắc Kontum đồng bị cắt đứt. Tình hình càng tồi tệ hơn vào ngày 1 tháng 6, khi một phái đoàn của tỉnh Pleiku do tỉnh trưởng dẫn đầu vào thanh tra thăm viếng quận Lệ Thanh (30 cây số phía Tây Pleiku, bên trái đường 14) bị phục kích và quận bị tràn ngập từ sáng sớm cùng ngày. Quân đoàn phải cho đổ bộ các toán Diều Hâu (Eagle Flight) để giải cứu phái đoàn, đồng thời điều động chiến đoàn nhảy dù đang sẵn có mặt trong vùng vào giải tỏa quận Lệ Thanh.
Tình hình nghiêm trọng đến đây chưa hẳn hết, thành phần đi đón đoàn xe của tỉnh gặp nhau tại một điểm trên Quốc lộ 19 (đoạn đường Tây PLeiku đến biên giới Việt – Campuchia). Đây cũng chính là điểm phục kích của bộ đội cộng sản, trực thăng võ trang của Tiểu đoàn 52 Không quân Mỹ từ trại Holloway phải liên tục vào vùng để yểm trợ cho đoàn quân xa của Tỉnh Trưởng trở về, hai chiếc trực thăng bị bắn rơi; đoàn người và xe của tỉnh (đoàn của Tỉnh Trưởng lẫn đoàn đi đón) đồng bị tiêu hủy nặng nề, người sống sót phân tán tìm đường chạy về Pleiku. Tư lệnh vùng Tướng Vĩnh Lộc cuối cùng phải hủy bỏ quận đường Lệ Thanh cũ để đưa về một vị trí gần Quốc lộ 14 (gần Pleiku) để dễ yểm trợ hơn, tuy nhiên phải giữ tiền đồn Đức Cơ, điểm xa nhất của lực lượng chính phủ nằm trên nhánh Tây đường 19, đối mặt với biên giới Campuchia. Tình hình ở phía Nam, nơi tỉnh Phú Bổn cũng không khá hơn, một Tiểu đoàn của Trung đoàn 40 thuộc Sư đoàn 23 Bộ binh trên đường tiến tới cầu Lệ Bắc cốt để tái lập an ninh và sửa chữa cây cầu lại rơi vào một ổ phục kích, rốt cuộc phải rút về lại quận Phú Túc để chịu chung số phận của toàn tỉnh bị bao vây. Tiếp đến quận Thuận Mẫn, Tây – Nam của tỉnh lại bị tấn công và đe dọa bị tràn ngập, Chiến đoàn nhảy dù lại được điều động đến hợp cùng Tiểu đoàn của Trung đoàn 40 cố mở đường tiếp cứu quận. Quân cộng sản tấn công vào giữa đội hình của nhảy dù và bộ binh, tràn ngập các vị trí pháo và đốt cháy đoàn xe chở đạn đến Thuận Mẫn. Các Tiểu đoàn Dù phải co cụm lại tự bảo vệ để đợi tải thương và tiếp tế đạn dược. Tư lệnh Quân đoàn đối mặt với một tình hình càng ngày càng đen tối bởi ý đồ của phía cộng sản quyết đánh chiếm Cao Nguyên trong mùa mưa càng lộ rõ, nên phải xin tiếp viện từ Sài Gòn. Thế nên một chiến đoàn Thủy quân Lục chiến (TQLC) và một chiến đoàn Dù được điều động đến Phú Bổn trong tình trạng khẩn cấp. Phi trường Cheo Reo bỗng nhiên trở nên thành một phi trường bận rộn nhất của chiến tranh Việt Nam. Các phi cơ vận tải Hoa Kỳ do điều động của Ban Tham mưu Quân đoàn đã bay liên tục trong vòng 24 giờ để chuyển quân. Chiến đoàn nhảy dù thứ hai vừa tới nơi đã vội vào vùng để giải tỏa áp lực cho Chiến đoàn đang bị vây khốn ở Thuận Mẫn. Về mặt Bắc Pleiku, quận Toumorong cực Bắc của Kontum bị tràn ngập từ đầu tháng 7, vì đây là một nơi quá xa, lại không phải là một vị trí quan yếu nên Quân đoàn ra lệnh cho triệt thoái về quận Dakto (Tân Cảnh) nơi đặt bản doanh của Trung đoàn 42. Đến lượt quận đường Dakto bị tấn công (7 tháng 7); Trung đoàn Trưởng 42, Trung Tá Lại Văn Chữ tử thương; Thiếu Tá John R. Black Cố vấn Trưởng bị thương nặng khi điều quân lên giải cứu quận. Tình hình Trung đoàn suy sụp sau cái chết của Trung Tá Chữ, Quân đoàn vội điều Đại Tá Đàm Văn Quý đến chỉ huy Trung đoàn 42; viên Trung Tá Cố vấn Thomas Perkins (trước đây làm việc chung với Đại Tá Quý) cũng vội lên Kontum để tăng cường hệ thống cố vấn. Một Tiểu đoàn Biệt Động và Chiến đoàn Thủy quân Lục chiến vừa vào vùng được không vận lên Tân Cảnh phối hợp với Trung đoàn 42 để chặn địch mạn phía Bắc Kontum. Cùng thời điểm tình hình quân sự sôi bỏng bùng vỡ mỗi ngày nơi Tây Nguyên thì ở Sài Gòn những vụ biến động chính trị cũng thường trực xảy ra với tốc độ chóng mặt …
Biểu dương lực lượng, 12 tháng 9, 1964; đảo chính hụt, 19 tháng 2, 1965; tiếp đến phản đảo chính, 20 tháng 5 … Các nội các đua nhau thay đổi với Thủ Tướng Phan Huy Quát, Trần Văn Hương; đồng bào Công giáo, Phật giáo thay nhau xuống đường, hỗn chiến, biến Sài Gòn thành một chiến địa hung hãn không kém mặt trận súng đạn nơi Cao Nguyên. Trận chiến tại các trại Lực lượng Đặc Biệt Đức Cơ, Pleime như giọt nước tràn qua chiếc ly đã nứt vỡ, đồng lúc các Tư lệnh quân đoàn cũng liên tục thay đổi theo tình hình chính trị của Sài Gòn. Riêng chỉ Đại Tá Nguyễn Văn Hiếu vẫn giữa chắc chức vụ Tham mưu Trưởng Quân đoàn với những người lính giữa vũng lửa ở núi rừng Cao Nguyên. Trong tình thế như vừa kể ra, trại Lực Lượng Đặc Biệt Đức Cơ nằm cuối nhánh Tây đường 19, đối mặt biên giới Việt – Campuchia, hứng chịu toàn phần áp lực của lực lượng quân đội cộng sản Mặt trận B3 sau khi quận Lệ Thanh bị lấn chiếm. Vào giữa tháng 7, trại hoàn toàn bị bao vây và các cuộc tuần tiễu ra bên ngoài đều bị đánh bật vào lại bên trong. Và dù đã có hằng trăm phi vụ oanh tạc chung quanh trại, nhưng bộ đội cộng sản vốn thiện nghệ trong nghệ thuật công kiên chiến, địa đạo chiến, nên đã bố trí một hệ thống hỏa lực cối chung quanh trại, đe dọa bãi đáp trực thăng của trại cũng không thể sử dụng được.
Một kế hoạch hành quân táo bạo nhưng vô cùng tinh vi và chính xác được Tham mưu Trưởng Nguyễn Văn Hiếu thiết lập, trình lên Bộ Tư lệnh Quân đoàn II: Sử dụng Chiến đoàn I Dù gồm ba Tiểu đoàn 1, 3 và 5.
Đây là những đơn vị xung kích hàng đầu của Lữ đoàn Dù (trước tháng 12 năm 1965 phiên hiệu Sư đoàn Nhảy Dù chưa thành lập) có nhiệm vụ trong một thời hạn ngắn nhất phải chiếm cho được phi đạo (dành cho máy bay C123; C7 Caribou) sau khi phi cơ chiến đấu dội bom cách vị trí pháo cối chung quanh trại. Sau khi xuống được phi đạo theo như dự trù, Chiến đoàn I Dù cố mở rộng vòng đai kiếm soát nhưng bất thành, họ phải rút lại trở về phi đạo. Vấn đề sinh tử của chiến trận đối với Ban Tham mưu Quân đoànlà, quân số tham chiến của phía cộng sản quả thật đã hơn hẳn bên lực lượng Dù (chỉ là một Chiến đoàn gồm ba Tiểu đoàn đã bị tổn thất từ những trận ở vùng Phú Bổn, Cheo Reo từ tháng 4); trong khi lực lượng cộng sản bao vây trại là một Trung đoàn – Có nghĩa, phía đối phương đã ném hẳn một sư đoàn vào trận địa.
Vấn đề không còn là những trận đánh cấp Tiểu, Trung đoàn với đối tượng là một trại LLĐB nữa mà là ý đồ chiến lược của tất cả trận chiến năm 1965 tại vùng Cao Nguyên bây giờ hẳn hiện rõ: Quân đội Bắc Việt dưới quyền Thượng Tướng Hoàng Minh Thảo quyết tâm tấn chiếm Cao Nguyên để từ đây đổ xuống đồng bằng duyên hải – Cắt đôi miền Nam theo trục Pleiku – Bình Định (Chiến trận tháng 3, 1975 sau này chỉ là biến cải, điều chỉnh những khuyết điểm của năm 1965). Đại Tá Hiếu đề nghị lên Bộ Tổng Tham mưu một kế hoạch lớn: Yêu cầu người Mỹ thế chân cho những đơn vị Việt Nam Cộng hòa làm thành phần trừ bị, giữ an ninh lãnh thổ để quân lực Cộng hòa tập trung thành một đơn vị xung kích cấp Sư đoàn mới có khả năng giải quyết Mặt trận Đức Cơ (Theo binh thư: Bên tấn công không thể ít hơn 1/3 quân số so với lực lượng cố thủ được).
Kế hoạch được Tướng Westmoreland thêm một lần chấp thuận với quyết định: Điều động Lữ đoàn Nhảy Dù 173 do Tướng Stanley R. Larsen làm Tư lệnh Lực lượng Dã Chiến Hoa Kỳ tại Pleiku thay thế quân đội Việt Nam nhiệm vụ tiếp ứng và an ninh lãnh thổ. Được rảnh tay, Ban Tham mưu Quân đoàn II thực hiện kế hoạch: Thành lập Chiến đoàn Đặc nhiệm gồm Thiết đoàn Ky binh gồm Chiến xa M41, M48 và Thiết Vận xa M113; một Tiểu đoàn Biệt Động Quân; Chiến đoàn Thủy quân Lục chiến (có pháo binh cơ hữu) và pháo binh diện địa yểm trợ tổng quát. Lực lượng giải tỏa Đức Cơ đặt dưới quyền chỉ huy của Chuẩn Tướng Cao Hảo Hớn, Tư lệnh biệt khu 24 (Bắc Kontum). Ngày 8 tháng 8, lực lượng đặc nhiệm vào vùng, thành phần tiền phong gặp ngay sự kháng cự của địch, một chiến xa bị bắn cháy bởi súng không giật khi vừa từ ngã Ba đường 14 rẽ vào đường 19. Quân cộng sản áp dụng chiến thuật bám chặt đoàn quân tiếp ứng để tránh phi pháo, đánh vào trung tâm để chia cắt chiến đoàn ra làm nhiều thành phần không liên kết được.
Rạng ngày 9, Chiến đoàn I Dù từ phi đạo trại Đức Cơ đánh bung về phía Đông kềm chặt lực lượng cộng sản giữa hai gọng kìm … Sợ bị kẹp giữa hai lực lượng tấn công, địch chém vè và tháo lui chỉ để lại các đơn vị ngăn chận nhỏ, các toán núp bắn sẻ và mìn, bẫy dọc đường lộ. Trận chiến Đức Cơ chấm dứt với sự thảm bại nặng nề của Việt cộng. Các đơn vị chính phủ đã làm chủ chiến trường, chiến thẳng đã nâng tinh thần của chiến binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Họ đã nhận những điều tệ hại nhất mà cộng sản đã áp đặt nên và không những đã đứng vững mà họ còn làm cho địch ngưng chiến và tháo lui, để lại nhiều vũ khí, xác chết trên chiến trường. (Đại Tá Theodore Matasis – VC Summer Monsoon Offensive (5/1966) NVT sđd trg 381).
Tướng Westmoreland cùng Chủ tịch Ủy Ban Lãnh đạo Quốc gia, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu đã đến Đức Cơ để xác nhận tính chất quan yếu của chiến thắng. Nhưng Đại Tá Tham mưu Trưởng Nguyễn Văn Hiếu chưa có dịp nghỉ ngơi, ông sử dụng căn cứ mới được giải tỏa này làm bộ chỉ huy để điều quân thanh toán nốt mục tiêu thứ hai: Trại Lực lượng Đặc biệt Pleime. Ông thức trắng đêm cùng với lần giải tỏa Pleime (NVT sđd trg 385).
Giữ vững Pleime
Trước tháng 10, 1965 quả thật không mấy ai biết đến tên Pleime, một trại lực lượng đặc biệt nằm về phía Tây Quốc Lộ 14, cách Pleiku khoảng 40 cây số đường thẳng về hướng Tây – Nam. Nhưng bỗng nhiên Pleime trở thành một danh hiệu của chiến sử miền Nam bởi sau thất bại của lần đánh chiếm Đức Cơ, phía bộ đội miền Bắc đã “biến chuyển thực tế tức là một diễn tiến sinh hoạt ắt phải có sau mỗi lần thực hiện một kế hoạch tác chiến, một phương án chính trị dẫu thất bại hay thành công” và rút kinh nghiệm còn nóng của Đức Cơ nên thành một kế hoạch:
1/ Bao vây Pleime.
2/ Tiêu diệt thành phần tiếp viện. Sau khi thu hút về điểm Pleime để biến nơi đây nên thành một diện tác chiến làm suy yếu lực lượng phòng thủ Pleiku của Quân đoàn II để cuối cùng, 3/ Dùng một trung đoàn còn nguyên sức tấn công Pleiku với ba mũi giáp công (Từ phía Bắc, theo đường 14; từ phía Đông theo đường 19; và từ phía Tây – Nam, cửa ngõ của Đức Cơ, Pleime).
Tất cả diễn tiến chiến thuật này được giao phó cho Tướng Chu Huy Mân với Sư đoàn 320 (Sư đoàn Điện Biên) gồm ba Trung đoàn 32, 33 và 66 đã từ lâu là chủ lực của vùng Cao Nguyên. Để phá vỡ mưu định của phía cộng sản, ban Tham mưu Quân đoàn thiết lập một kế hoạch phản công trên những chọn lựa:
1/ Nếu giải cứu Pleime thì lực lượng tiếp cứu sẽ rơi vào bẫy phục kích ắt sẽ phải xảy ra trên lộ trình dẫn đến trại (như đã xảy ra khi giải cứu Phú Túc, Thuận Mẫn và mới mẻ của Trại Đức Cơ…); và phòng thủ Pleiku sẽ suy yếu.
2/ Nếu bỏ mặc Pleime thì sẽ gây nên một tác động tâm lý rất xấu đối với tinh thần chiến đấu của cả Vùng II.
Thêm một lần, Tướng Westmoreland lại có quyếtđịnh hữu hiệu, sáng suốt bằng cách đưa một Lữ đoàn Không Ky từ An Khê lên Pleiku, đặt dưới quyền của Tướng Stanley R. Larsen làm thành phần bảo vệ Pleiku và trừ bị cho cuộc hành quân; Lữ đoàn này cũng bố trí những pháo đội 155, 105 cơ hữu yểm trợ trực tiếp cho chiến đoàn đặc nhiệm giải tỏa Pleime. Chiến đoàn đặc nhiệm này gồm 1,200 binh sĩ đặt dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Thiết Giáp Nguyễn Trọng Luật gồm Thiết đoàn 3 Thiết Ky, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 42BB; hai Tiểu đoàn 21 và 22 Biệt Động Quân. Chiến đoàn đặc nhiệm này có những đơn vịcông binh, pháo binh thống thuộc hành quân. Ngoài ra còn có hai đại đội LLĐB thuộc Tiểu đoàn 91 Biệt Kích Dù (Tiền thân của Liên đoàn 81 Biệt Kích) phối hợp với Toán Projet Delta của Thiếu Tá Charlie A.Beckwith (LLĐB Mỹ) trưa ngày 20 tháng 10 nhảy vào khu vực tiếp cận trại Pleime, để trở thành lực lượng xung kích từ trong trại đánh ra bắt tay lực lượng tiếp cứu của Trung Tá Luật như kế hoạch dự trù từ đường 14 tiến vào trại theo ngã rẽ của Hương lộ 6C. Nhưng kế hoạch tiếp cứu không đơn giản như những điều tổng quát vừa kể ra, ban tham mưu quân đoàn đã tinh tế rút kinh nghiệm của Đức Cơ trong tháng 8, nên trong ngày 23 tháng 10 thay vì dùng Tiểu đoàn 22 BĐQ làm thành phần tùng thiết với chiến xa của Trung Tá Luật, lại đổ đơn vị này xuống phía Nam vị trí phục kích của Trung đoàn 32 Sư đoàn 320 cộng sản để hoàn thành thế liên hoàn hai mặt Nam – Bắc kẹp chặt thế trận của quân Bắc Việt. Chiến trận hai ngày 23, 24 tuy đã chuẩn bị kỹ (của cả hai bên tham chiến), nhưng tình hình chiến trận vẫn thay đổi vào những lúc bất ngờ nhất. Các Tiểu đoàn 635, 344 thuộc Trung đoàn 32 Bắc Việt dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Nguyễn Hữu An từ những vị trí được chuẩn bị, ngụy trang kỹ bám sát bộ phận tiếp ứng của Trung Tá Luật, gây thiệt hại trầm trọng đối với đơn vị hậu vệ và chận đứng thành phần tiền đạo ở cây số 5 cách trại Pleime. Quân đoàn tăng viện một toán tiền sát pháo binh của Lữ đoàn Không kỵ cho đoàn tiếp ứng. Những tiền sát viên này điều chỉnh tác xạ cận phòng (từ những
đại bác cơ hữu của chính đơn vị Không ky) trải thảm trước mặt từng bước giúp đoàn chiến xa. Ngoài ra những phi cơ F100; trực thăng võ trang Hoa Kỳ và AD1 của Việt Nam Cộng hòa bằng kỹ thuật tác xạ chính xác đã lập nên hàng rào lửa bảo vệ cạnh sườn cho đoàn quân tiếp ứng.
Phối hợp tuyệt hảo giữa thế trận phản phục kích hợp cùng sức chiến đấu ngoan cường của chiến sĩ nơi trận địa, như hành vi dũng cảm của các chiến sĩ LLĐB Mỹ – Việt từ trong trại phản kích, xung phong ra với súng phun lửa đã tạo nên chiến thắng kiên cường: Tối 25 tháng 10, 1965 toàn tiếp ứng bắt tay được với lực lượng phòng thủ trại, chấm dứt sự bao vây Pleime mà Bộ Tư lệnh Mặt trận B3 đã mưu định từ mùa Xuân 1965. “ … Vị Tư lệnh chiến trường có thể đi ngủ để đợi tin chiến thắng khi chiến dịch bắt đầu!”.
Thống Tướng Montgomery của Thiết giáp Hoàng gia Anh Quốc đã nói lên điều kiên định này để nhấn mạnh vai trò quyết định của tổ chức, tham mưu trong những chiến dịch lớn. Trận Đức Cơ và Pleime đã xác chứng về ý nghĩa, vai trò quyết định của công tác chuẩn bị, điều hành, tổ chức, tham mưu (lẽ tất nhiên thực tế chiến trường, với sức chiến đấu của người lính trên trận địa là những yếu tố quan yếu khác nữa).
Chiến thắng Pleime được Tướng Vĩnh Lộc khai triển nên thành một biểu tượng chiến đấu và chiến thắng của Quân đoàn II – Đại bản doanh của Quân đoàn được đặt tên là Thành Pleime – Nhưng hầu như không mấy ai (trong và ngoài quân đội) biết rằng: Đại Tá Tham mưu Trưởng Nguyễn Văn Hiếu hầu như đã thức suốt ngày, đêm trong những ngày 20 đến 25 nơi chiếc hầm chỉ huy trại Đức Cơ, để sử dụng hệ thống truyền tin âm thoại (có công suất mạnh) của đơn vị Lực lượng Đặc biệt Mỹ mới có thể liên lạc, phối hợp với những tư lệnh người Mỹ thuộc nhiều binh chủng không quân, lực lượng đặc biệt, bộ binh, không ky trong suốt cuộc hành quân (NVT sđd trg 385).
Áp dụng trọn vẹn nguyên tắc của binh thư, Bộ Tham mưu Quân đoàn hợp cùng Sư đoàn I Không ky (1st Air Cavalary Div) – Cũng có nghĩa khai triển thành quả mối giao hảo tốt đẹp giữa hai cá nhân, Đại Tá Nguyễn Văn Hiếu và Tư lệnh Kinnard của Không ky qua hai lần chiến thắng lẫm liệt Đức Cơ, và Pleime
– Hai bên cùng hợp soạn một kế hoạch hành quân truy kích tàn quân của các Trung đoàn 32, 33 và 66 Bắc Việt để không cho đối phương dịp nghỉ ngơi như phía cộng sản từ bao lâu vẫn giữ ưu thế quyết định chiến trường.
Với khả năng không vận trực thăng tưởng như vô hạn (Sư đoàn Không kỵ với hơn 600 trực thăng cơ hữu là đơn vị số một và độc nhất có khả năng tác chiến di động lớn nhất so với tất cả các đơn vị hoạt động biệt lập trên toàn thế giới), Sư đoàn 1 Không ky (SĐ1KK) yểm trợ phối hợp hành quân đưa các Tiểu đoàn 1 và 2 thuộc Lữ đoàn 7 SĐ1KK và bốn Tiểu đoàn nhảy dù vào trận địa – Thung lũng la Drang sát biên giới Campuchia – Hậu cần bất khả xâm phạm từ trước tới nay của Mặt trận B3. Cánh quân nhảy dù do đích thân Tham mưu Trưởng Lữ đoàn Nhảy Dù chỉ huy: Trung Tá Ngô Quang Trưởng với tham dự cố vấn của viên sĩ quan có tên gọi: Thiếu Tá Norman Schwarzkopf.
Với kế hoạch hành quân tinh tế, cẩn mật, tiên kiến mọi tình huống; với quân binh nhảy dù tinh nhuệ dưới quyền chỉ huy của những sĩ quan kiệt liệt; phối hợp với đơn vị không ky có di động tính cao, tổ chức hiện đại, hỏa lực hùng hậu và yểm trợ trực thăng tối đa của SĐ1KK, cuộc hành quân truy kích binh đoàn cộng sản Bắc Việt vào đầu sông la Drang, sát biên giới Campuchia tháng 11,1965 là một trong những cuộc hành quân thế công thành công hiếm hoi nhất của quân lực miền Nam và Đồng Minh trong suốt cuộc chiến khởi đi từ 1960.
1966: Với chiến trường Bình Định
Nhưng, Tướng Nguyễn Văn Hiếu không chỉ là một vị tướng tài giỏi chuyên về tham mưu, tổ chức mà còn là một Tướng Quân trí dũng nơi trận địa. Những chiến trận sau đây sẽ chứng minh về khả năng thao lược của người tướng lãnh trận địa. Tỉnh Bình Định là một trong những tỉnh lớn nhất của miền Trung, cũng của cả miền Nam với mười hai quận và dân số đông nhất (gần một triệu); nhưng cũng là tỉnh có số lượng nhân sự cộng sản đông nhất. Trong chiến tranh 1945-1954, tỉnh là Thủ phủ của Liên khu 5 cộng sản (LK5), quân đội Liên hiệp Pháp không hề đặt chân đến được, chỉ thuộc quyền của chính quyền quốc gia sau 20 tháng 7, 1954.
Tại lãnh thổ này, lực lượng cộng sản có Sư đoàn 3 Sao Vàng (SĐ3SV), hệ thống tỉnh ủy, bộ chỉ huy tỉnh đội gồm nhiều Tiểu đoàn địa phương và cơ sở du kích vững chắc qua cuộc chiến tranh của thập niên 50 được gài lại sau 1954. Theo chiến lược “Lùng và Diệt ” thành hình giữa Tướng Westmoreland và Bộ Tổng Tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa, tỉnh được chia làm ba vùng:
Khu vực phía Nam của tỉnh (giáp ranh với Tuy Hòa/Phú Yên) gồm ngoại vi thị xã Quy Nhơn, các quận Phú Phong, Tuy Phước, Văn Canh thuộc trách nhiệm của Sư đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn. Khu vực rừng núi phía Tây (giáp ranh Pleiku, Kontum) gồm các quận An Khê, Vĩnh Thạnh, An Lão và Hoài Ân thuộc vùng trách nhiệm của Sư đoàn 1 Không ky (SĐ1KK) với Mật khu An Lão (nằm dọc theo sông An Lão, nhánh phía Bắc của sông Lại Giang chảy ra biển tại Bồng Sơn/ Hoài Nhơn, vùng châu thổ trù phú nhất của miền Trung), hậu cần quan trọng của toàn Liên khu 5. Vùng phía Bắc và Đông (dọc bờ biển và giáp tỉnh Quảng Ngãi) là khu vực đông dân của các quận Hoài Ân (Bồng Sơn), Tam Quan, Phù Mỹ, Phù Cát thuộc trách nhiệm hành quân của Sư đoàn 22 Bộ binh, Đại Tá Nguyễn Văn Hiếu giữ chức Tư lệnh – Không thể ai sánh được với ông trong chức vụ chỉ huy đơn vị này ở Vùng II – Nhưng ông vẫn chỉ là một vị Tư lệnh Sư đoàn với cấp bậc Đại Tá dù đã là người thiết kế nên những chiến thắng lẫm liệt trong suốt năm 1965 vừa kể ra trên. Ông mang cấp Đại Tá từ tháng 11, 1963. Nắm quyền Tư lệnh Sư đoàn từ giữa năm (tháng 6, 1966), cuối năm (tháng 11), vị tân Tư lệnh đã tạo dựng ngay một chiến thắng vẻ vang dưới chân Đèo Phù Cũ (quận Phù Mỹ). Lúc ấy, chúng tôi, đơn vị tăng phái (Chiến đoàn 3 Nhảy Dù – PNN) làm thành phần chận địch đóng trên núi, chứng kiến đơn vị bạn (Trung đoàn 42/ Sư đoàn 22 Bộ binh) hợp cùng chi đoàn thiết vận xa M113 lùa địch từ Quốc lộ I vào núi.
Trận chiến hào hùng như một đoạn phim tài liệu lịch sử kỳ Đệ Nhị Thế Chiến – Các chiến sĩ bộ binh tùng thiết với thiết vận xa M113 theo đội hình hàng ngang, ào ạt tiến tới sau một đợt tác xạ, mạnh mẽ uyvũ như những hiệp sĩ thời Trung cổ xung trận. Chiến đoàn Trưởng Nhảy Dù, Trung Tá Nguyễn Khoa Nam đứng trên sườn núi chong ống nhòm quan sát trận địa, dẫu là người kín đáo, ít nói phải nói nên lời thán phục: “Đại Tá Hiếu điều quân như một “ông thiết giáp”nhà nghề và lính Sư đoàn 22 đánh đẹp đâu thua lính mình” – Lời ngợi ca chân thật giữa những người chiến đấu nơi trận tiền. Không để địch nghỉ ngơi (như sau chiến thắng Pleime, Đức Cơ), nay với khả năng quyết định rộng rãi của quyền Tư lệnh, Đại Tá Hiếu hạ lệnh tiếp tục truy kích, diệt gọn các đơn vị của Sư đoàn 3 Sao Vàng, cũng để chứng tỏ “Ai Thắng Ai” nơi mặt trận Liên khu 5 này – Vùng “Năm Eo”, bí danh bộ đội cộng sản thường gọi với lòng kiêu hãnh – Khu vực bất khả xâm phạm mà chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa với Tổng Thống Ngô Đình Diệm phải mất hai năm (1955-1957) mới bình định được.
Chiến dịch tấn công của liên quân bắt đầu Ngày N (Ngày Khởi Sự) với lực lượng SĐ1KK đổ quân xuống vùng hai quận Hoài Ân và Vĩnh Thạnh, đơn vị Không kỵ khám phá ra nhiều kho tàng, quân nhu, quân dụng được cất giữ trong những khu vực kín đáo, an toàn (Hậu cần Liên khu 5/ Sư đoàn 3 Sao Vàng). Nhưng các đơn vị chính quy cộng sản hoàn toàn tránh né, bởi họ đã hiểu ra hỏa lực quá hùng hậu của Không ky. Nên vào lúc 11 giờ đêm ngày N+3, Thiếu Tướng Tư lệnh SĐ1KK vào Bộ Tư lệnh SĐ22 gặp Tướng Hiếu (vinh thăng Chuẩn Tướng tháng 11/1966) với yêu cầu: Sư đoàn 22 hủy bỏ kế hoạch tấn công vào hướng Tây quận Phù Mỹ theo như dự trù, để phối hợp với SĐ1KK tiến chiếm An Lão mà ông tin chắc là nơi SĐ3SV đang tập trung. Tư lệnh Kinnard nêu luận cứ: “Hôm nay, tôi đã cho một Đại đội Biệt Động/ SĐ1KK trực thăng vận vào khu vực đó (Vùng quận Phù Mỹ của SĐ22-PNN) để tìm và diệt nhưng không thấy đụng độ … Biết vậy là sai nguyên tắc (đã phân chia vùng trách nhiệm), nhưng bởi nóng lòng tiêu diệt địch nên đã làm như thế … “.
Tướng Hiếu lại đến xác định tình báo của sĩ quan Trưởng phòng 2 (Phòng Quân Báo), Thiếu Tá Trịnh Tiếu: “Thưa Thiếu Tướng, cộng sản rất né đụng độ với quân đội Hoa Kỳ vì họ sợ hỏa lực của các ông. Tôi tin Sư đoàn 22 sẽ đụng độ với Sư đoàn 3 Sao Vàng tại mục tiêu này … “.
Thiếu Tá Trịnh Tiếu giải thích thêm: “Tôi đã gặp một du kích Việt cộng sống ở vùng đồi núi phía tây quận Phù Mỹ. Tôi đã tốn rất nhiều tiền bạc nuôi gia đình tên du kích này. Cách đây vài ngày, tên du kích đã báo cho tôi biết có nhiều đơn vị của Sư đoàn Sao Vàng trú quân tại ranh giới hai quận Phù Mỹ và Hoài Ân”.
Từ xác định của Thiếu Tá Trịnh Tiếu, Tướng Hiếu có kết luận với Tướng Kinnard: “Sư đoàn chúng tôi sẽ vào vùng hành quân ngày mai, không nên thay đổi kế hoạch quá sớm …” (Đại Tá Trịnh Tiếu; NVT sđd, trg 393-394).
Dựa theo tin tức của Thiếu Tá Tiếu, Trưởng phòng 2, Tướng Hiếu chỉ thị cho Trung Tá Bùi Trạch Dzần, Trung đoàn Trưởng Trung đoàn 41 chỉ sử dụng hai Tiểu đoàn bộ binh, cùng với Bộ Chỉ huy Trung đoàn vào vùng thật sớm để khoảng ba giờ chiều hãy đóng quân, đào hầm hố, lập công sự phòng thủ thật kỹ càng.
Dân chúng nằm vùng nơi vùng xôi đậu đang hành quân tất thế nào cũng báo cáo cho Bộ Chỉ huy cộng sản biết tình hình quân số của lực lượng quân đội Cộng hòa. Sư đoàn cộng sản sẽ điều quân đến đánh theo như tin tức này – Trong khi ấy Tướng Hiếu ém quân thật kín đáo nơi xa một Tiểu đoàn trừ bị và Chi đoàn thiết vận xa, và sẽ dùng lực lượng này để phản công. Quả nhiên đến hai giờ sáng, Trung Tá Dzần báo cáo Trung đoàn cộng sản bắt đầu tấn công vị trí của ông. Tướng Hiếu ra lệnh Chi đoàn chiến xa và Tiểu đoàn trừ bị thần tốc tiến quân vào mục tiêu, bao vây, tiêu diệt không cho địch rút lui. Sư đoàn Không kỵ được tin Bộ binh Sư đoàn 22 đụng trận theo kế hoạch trù liệu, yểm trợ hỏa lực với tất cả pháo binh đã bố trí sẵn, dựng nên hàng rào lửa giữa đội hình của đối phương đã bị phơi bày dưới ánh sáng hỏa châu rọi liên tục – Biến đêm tối nên thành ngày rạng …Và khi ngày thật sự đến, các chiến sĩ của Sư đoàn 22 Bộ binh đếm hơn 300 xác chết nơi trận địa. Theo thống kê của chuyên viên quân sự: Khi có một xác chết để lại trận địa thì đơn vị ấy phải bị thiệt hại quân số đến ba lần hơn – Chiến tích của Hành quân Đại Bàng 800 và những hành quân cấp Tiểu đoàn của Sư đoàn nầy kể từ khi Tướng Nguyễn Văn Hiếu giữ chức Tư lệnh (6/1966) đã đưa Sư đoàn 22 Bộ binh từ một đơn vị bình thường trong vòng sáu tháng nên thành:
1/ Sư đoàn 22 sử dụng nhiều thì giờ hành quân tác chiến cao hơn hết so với bất cứ một Sư đoàn nào khác trong nước trong thời gian này (1966-1967).
2/ Thời giờ dùng vào công tác bình định chỉ chiếm khoảng 10% tổng số ngày cơ hữu.
3/ So với toàn quốc, Sư đoàn 22BB dùng ít thời lượng nhất trong công tác an ninh.
4/ Số lượng đụng độ địch trên đơn vị cấp Tiểu đoàn của Sư đoàn này cao nhất trong toàn quân đoàn … (Báo cáo của Toán Cố vấn Vùng II Chiến Thuật – NVT sđd trg 209).
Bản lượng giá còn nhiều ưu điểm khác được nêu lên. Chúng tôi tom lược với ý nghĩ: Nếu tất cả Sư đoàn Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa đồng có những Tư lệnh Sư đoàn như các Tướng Quân:
Nguyễn Viết Thanh, Trương Quang Ân, Ngô Quang Trưởng, Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn Hai, Nguyễn Văn Hiếu … sớm hơn một thập niên. Và các Liệt vị Nguyễn Viết Cần, Lê Nguyên Vỹ, Lê Văn Hưng, Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn Hữu Thông, Đặng Phương Thành, Nguyễn Xuân Phúc, Trung Tá Cảnh sát Nguyễn Văn Long, Thiếu Tá Điệp báo Đặng Sĩ Vĩnh … mau chóng nên thành Tướng Lãnh Huân Công Giữ Nước thì chắc hẳn không có ngày uất hận 30 tháng 4, 1975. Nỗi Đau này không chỉ riêng một người. Không phải của một người mà là của cả miền Nam.
1970: Triệt thoái Snoul
Khả năng thao lược của Tướng Nguyễn Văn Hiếu không ngừng ở cấp Sư đoàn với những đơn vị Bộ binh cơ hũu, người chứng tỏ năng lực chỉ huy, điều động trận địa ở mức độ cao hơn với quan niệm hành quân liên binh chủng, cấp Quân đoàn. Năm 1969, nắm giữ chức Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh (Vùng III), Tướng Hiếu chỉ huy Hành quân Toàn Thắng 46 đánh vào Trung ương Cục R với mục tiêu vùng Lưỡi Câu, Tây – Bắc Lộc Ninh, bên kia biên giới Việt Nam Cộng hòa – Campuchia.
Vùng Lưỡi Câu là bản doanh của Công trường (Sư đoàn) 5 cộng sản; trên danh nghĩa, đơn vị này thuộc Lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, nhưng hầu hết cán bộ khung là người miền Bắc với ủy viên chính trị từ cấp cơ sở thuần là người của Hà Nội. Điều này được hiện thực toàn diện từ khi Ba Cấp (không rõ tên, thay thế Chín Chiến, người Nam) nhận lệnh từ Lê Duẩn trực tiếp điều hành Liên minh Dân tộc Dân chủ Tranh thủ Hòa Bình từ đầu thập niên 70 (Trương Như Tảng, Journal of A Vietcong; Johanathan Cape, London, England 1986, p197). Tổ chức này bao gồm Mặt trận giải phóng miền Nam và lực lượng vũ trang là những bộ phận thống thuộc. Vùng này cũng là cơ sở hậu cần của hai đoàn 70, 80 yểm trợ không riêng cho Sư đoàn 5, mà cho toàn vùng Lưỡi Câu bao gồm mặt trận Bình Long trong nội địa Việt Nam. Hành Quân Toàn Thắng 46 xử dụng những đơn vị gồm Trung đoàn 9 thuộc Sư đoàn 5 Bộ binh Việt Nam Cộng hòa gồm có các Tiểu đoàn 2, 3, 4 cơ hữu và Đại đội 5 Viễn Thám của Sư đoàn; Trung đoàn 9 được yểm trợ, tùng thiết với Trung đoàn 11 Thiết kỵ Mỹ tiến quân theo năm giai đoạn: Giai đoạn 1 tấn công; Giai đoạn 2, 3 và 4 lùng và diệt địch; Giai đoạn 5 rút về lại đất Việt. Cuộc hành quân này chỉ kéo dài từ tháng 5 đến tháng 7, 1970 có nhiệm vụ đánh thăm dò và kiện toàn hệ thống Tham mưu, phối hợp để tiếp theo những cuộc hành quân quan trọng hơn, cũng trên đất Miên với mục tiêu là căn cứ Hậu cần 86, khu vực quanh thị trấn Snoul.
Ngày 14 tháng 10, 1970 Bộ Tư lệnh Quân đoàn III chỉ thị Sư đoàn 5 mở cuộc hành quân Toàn Thắng 8/B/5 với lực lượng được tổ chức như sau:
1/ Chiến đoàn 1 gồm Thiết đoàn 1 Thiết kỵ làm thành phần chủ lực;
2/ Chiến đoàn 9 gồm Trung đoàn 9/SĐ5 làm thành phần chủ lực;
3/ Chiến đoàn 333 gồm Chi đoàn 18 Chiến Xa và bốn Tiểu đoàn Biệt Động Quân.
Bộ Tư lệnh Tiền phương Sư đoàn 5 đóng ở Lộc Ninh chỉ huy trực tiếp cuộc hành quân chỉ rút về Lai Khê khi các đơn vị lâm chiến đã rút khỏi đất Miên an toàn về đến hậu cứ (10/11/70). Qua hai cuộc hành quân (ngắn hạn, có tính chất đánh thăm dò) này, Bộ Tư lệnh Quân đoàn III và Sư đoàn 5 rút ra hai điều căn bản:
1/ Trong giai đoạn lực lượng Việt Nam Cộng hòa tiến quân, quân cộng sản thường lẩn trốn vào sâu trong nội địa đất Miên.
2/ Khi quân đội Cộng hòa triệt thoái quân về đất Việt là lúc tình hình chiến trường trở nên khó khăn vì đối phương thường tổ chức phục kích cuộc rút binh. Thế nên, dẫu hủy diệt rất nhiều kho tàng, quân trang bị, vũ khí, đạn dược, lương thực của địch hai cuộc hành quân vừa kể, quân lực Cộng hòa cũng chưa đánh vỡ được các đơn vị chủ lực cộng sản như các Trung đoàn 174, 275 và đầu não chỉ huy là Sư đoàn 5 với các đơn vị thống thuộc trong khu vực. Thêm một lần, Tướng Hiếu đề nghị cùng Tướng Trí thay đổi quan niệm hành quân: Thay vì lùng, diệt địch, ta phải dụ địch xuất hiện, rồi mới tập trung quân tiêu diệt. Cụ thể trong khu vực hành quân của Sư đoàn 5BB Việt Nam Cộng hòa, có Sư đoàn 5 cộng sản với hai Trung đoàn có phiên hiệu 174, 275. Nay ta dùng một Trung đoàn để nhử địch và nếu địch dùng một Trung đoàn tấn công, thì ta sẽ tập trung một Sư đoàn để phản kích; còn nếu địch tấn công toàn bộ một Sư đoàn thì ta sẽ dùng ba Sư đoàn cơ hữu của Vùng III tức là các Sư Đoàn 18, 25 và 5 để phản kích.
Tướng Trí đồng ý kế hoạch “Điệu hổ ly sơn” táo bạo này và Tướng Hiếu bắt đầu một kế hoạch chuẩn bị tỉ mỉ trong suốt những tháng còn lại của năm 1970. Ông cho đặt 11 vị trí máy dò thám quanh vùng Snoul và một trung tâm dò tìm tín hiệu được đặt ở Lộc Ninh với nhân viên phòng Tình Báo Sư đoàn làm việc 24/24.
Ngày 4 tháng 1, 1971 kế hoạch “điệu hổ” bắt đầu với Chiến đoàn 9 gồm Trung đoàn 9/SĐ5BB, Tiểu đoàn 74/BĐQ, Chi đoàn 1 Chiến Xa và Đại đội 5 Công Binh vào vùng hành quân … Nhưng địch quân quả tình rất tinh khôn nên luôn tránh né giao tranh, mãi đến hai tháng sau mới có chỉ dấu quân cộng sản bắt đầu dấn vào bẫy sập. Nhưng một biến cố bất lợi vô cùng quan trọng xảy ra: Ngày 26 tháng 1 năm 1971, trực thăng chở Tướng Đỗ Cao Trí bị phát nổ – Vị Tư lệnh chiến trường tử nạn vào giai đoạn quan yếu quyết định của chiến dịch – Và hệ quả tiếp theo, ngày 8/3/71, địch quân bắt đầu pháo kích vào vị trí đóng quân của Chiến đoàn 9, một cây số Tây – Nam Snoul. Cùng lúc Mặt trận Hạ Lào, Lam Sơn 719 nơi phía Bắc bị lâm vào thế bế tắc. Tướng Nguyễn Văn Minh thay thế Tướng Trí giữ chức Tư lệnh Quân đoàn đồng ý tiếp tục kế hoạch “dụ địch” của Tướng Hiếu nhưng không mấy sốt sắng. Phần vì không phải kế hoạch của chính ông; phần không đủ bản lãnh để theo đuổi một kế hoạch sẽ có nhiều diễn tiến mở rộng, khó lường trước (Sẽ phải sử dụng đến hai Sư Đoàn 18, 25 trong trường hợp Bắc quân tập Trung cấp Sư đoàn). Liên tục trong những ngày tháng 3 hai bên vẫn tiếp tục theo dõi diễn biến chiến trường để sửa soạn một cuộc tấn công quyết định. Tướng Hiếu ra lệnh cho Trung đoàn 8/SĐ5BB, thay thế Trung đoàn 9, lực lượng mới cải danh thành Chiến đoàn 8, các thành phần tăng phái, Biệt Động Quân, Thiết ky không thay đổi. Với quân số gần 5,000 người, được yểm trợ bởi Không lực Hoa Kỳ, Tướng Hiếu trải rộng vùng hành quân cốt lùa cho được địch quân vào bẫy sập. Ngày 26/5/71 cộng quân ra mặt tấn kích Snoul nhưng bị quân trú phòng đánh bật ra.
Ngày 27/5 địch chuyển hướng tấn kích sang mặt phía Tây và ngày 29 đánh vào trung tâm chỉ huy của Chiến đoàn 8 với quân số cấp Trung đoàn phá hủy hệ thống truyền tin, đài kiểm báo. Tướng Hiếu yêu cầu Tướng Minh sử dụng quân trừ bị của quân đoàn phản công với đa số áp đảo như kế hoạch đã dự trù. Cố vấn Mỹ khuyến cáo Tướng Minh đừng thi hành yêu cầu của Tướng Hiếu với lý do: “Hãy đợi quân Việt cộng tập trung đông rồi dùng B52 tiêu diệt”. Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu không thể chấp thuận kế hoạch này, vì nếu thế B52 sẽ gây thiệt hại cho quân bạn. Ông chỉ yêu cầu B52 dội bom dọc theo lộ trình rút quân (Quốc lộ 13 từ Snoul về Lộc Ninh) và nếu không áp dụng kế hoạch dự trù sơ khởi (dùng quân viện để phản kích) thì hãy cho lệnh rút Chiến đoàn 8 khỏi Snoul.
Ngày 30 tháng 5/1971, chỉ cần đợi Tướng Minh phủi tay với lời bất nhẫn: “Anh muốn làm gì thì làm!”, Tướng Hiếu đáp máy bay xuống Snoul nơi Bộ Chỉ huy của Chiến đoàn 8 đang trong tầm súng bắn thẳng của cộng quân, đích thân ra lệnh triệt thoái đến với tất cả cấp chỉ huy những đơn vị tham chiến, sau khi biết rằng lời yêu cầu của ông xin B52 yểm trợ cuộc hành quân rút lui đã bị Bộ Tư lệnh Quân đoàn và cố vấn Mỹ bỏ qua. (NVT sđd, trg 411).
Cuộc lui quân thành công cũng vì được Lực lượng Xung kích Quân đoàn III của Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi trợ lực tiếp cứu từ Lộc Ninh theo đường 13 đánh lên Snoul. Cuối cùng, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu (sau lần triệt thoái Chiến đoàn 8 khỏi đất Miên) phải ra tường trình trước Quốc Hội do lỗi đã để thất trận Snoul. Ông bị cất chức Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh cũng bởi báo cáo của Tướng Minh lên ông Thiệu: “Thiếu Tướng Hiếu và Chuẩn Tướng Khôi, Tư lệnh Lữ đoàn III Thiết kỵ lấy cớ phối hợp hành quân để đem quân về Sài Gòn đảo chánh!” (NVT sđd trg 411).
Tuy nhiên, cuộc lui binh khỏi Snoul cũng được hoàn tất (dẫu với tỷ số thiệt hại 1/3 quân số, Trung đoàn Phó Trung đoàn 8 tử trận), bởi các đơn vị vẫn giữ được đội hình chiến đấu trong lúc triệt thoái, duy trì khả năng tác chiến sau lần tổn thất do tất cả những người chỉ huy, binh sĩ các cấp đồng biết rằng: Vị Tư lệnh Sư đoàn luôn ở với họ trong những giờ phút nguy nan nhất. Điều kiện (khi còn sống) của cố Đại Tướng Đỗ Cao Trí, nếu đưa ông ra đáo nhiệm Quân đoàn 1 (để thay thế Tướng Hoàng Xuân Lãm chỉ huy chiến dịch Hạ Lào, Lam Sơn 719) là: Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu sẽ phải thay ông giữ chức Tư lệnh Quân đoàn III. Tất nhiên đề nghị này không hề được thực hiện, trái lại Thiếu Tướng Hiếu nhận được lệnh ra Quân đoàn 1 giữ chức Tư lệnh Phó mà viên Tư lệnh (Trung Tướng Lãm) cũng không biết có ông ở đấy hay không! (NVT sđd trg 478).
Hành Quân Triệt Thoai là hình thái hành quân KHÓ NHẤT – Bởi tự thân đã mang mầm thất bại, thực hiện trong những tình huống bế tắc. Cuối cùng miền Nam thật sự lâm cảnh nước mất, nhà tan từ cuộc rút lui gọi là “di tản chiến thuật” bắt đầu ngày 15 tháng 3, nơi Cao Nguyên Trung Phần từ thủ phủ Quân đoàn II – Quân khu II. Riêng phần Thiếu Tướng Hiếu rời chức vụ Tư lệnh Su đoàn 5 Bộ binh để tham dự vào một mặt trận mới – Trận chiến chống tham nhũng qua sự kiện Quỹ tiết kiệm Quân Đội.
Phan Nhật Nam
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.