Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 3 Feb 2026

18. Chương 13

Ba Sọc Đỏ

Để đón phái đoàn của tướng Weyand đến Sài Gòn, Tổng Thống Thiệu đã cho thực hiện và treo một số biểu ngữ mới. Bằng tiếng Anh, nội dung có ý nghĩa: “Dân tộc Việt Nam sẵn sàng chiến đấu đến cùng nếu được giúp đỡ”

Tướng Weyand đến phi trường lúc 3 giờ ngày 27 tháng 3, với Đại sứ Graham Martin, ông Eric von Marbod Phó Tổng Trưởng Quốc Phòng, hai kiện tướng của cơ quan Tình Báo Trung Ương CIA Ted Shackley và George Carver, một lô Phụ tá, và nhiếp ảnh viên của Tổng Thống Ford. Người ta có cảm tưởng đây là một đoàn vũ nhỏ nào đó: Vì địa vị của mình ở đây, ông Martin đã xin được là người đầu tiên bước xuống phi cơ. Ông cảm thấy các bản phúc trình về tình hình ở Đà Nẳng được phóng đại nhiều quá:

_ “Tôi phải đích thân đi xem lại chuyện này mới được.

_ “Không thành vấn đề đâu,” ông Lehmann trả lời.

Tướng Weyand đi gặp tướng Cao văn Viên, Tổng Tham mưu Trưởng của Việt Nam, người mà ông đã thường gặp từ lâu rồi. Tướng Frederick Weyand đã từng đảm nhiệm nhiều chức vụ chỉ huy ở Việt Nam. Ông đã có sư đoàn 25 bộ binh dưới quyền ông, Sau đó ông là tướng Tổng chỉ huy, thay thế tướng Creighton Abrams. Ông nói được tiếng Việt Nam, ông biết sức mạnh cũng như yếu điểm trong hệ thống quân sự của QLVNCH. Ông không thể tin được rằng Hoa Kỳ phải thất trận qua thất bại của Việt Nam Cộng Hòa. Ông Thiệu và các tướng lãnh của ông không tin tưởng những chánh trị gia loại Kissinger, cũng không tin lắm với những quân nhân như tướng Weyand hay tướng Haig. Trong tất cả các quốc gia dù dưới chế độ nào, hầu hết các tướng lãnh đều không tin tưởng những chánh trị gia dân sự.

Những người như tướng Weyand thường giải quyết các vấn đề quan trọng như vũ khí đạn dược, đâu có lo gì về các tù chánh trị hay những chuyện “bá láp” khác.

Tướng Viên trình bày các khó khăn của ông ta:

_ “Hoa Kỳ nên gởi các pháo đài bay B – 52 qua Việt Nam để triệt tiêu các điểm tập trung của quân đội Bắc Việt”.

Tướng Weyand trả lời ngay là: “mọi hành động tái can thiệp quân sự đều phải có sự chấp thuận của Quốc Hội, và những đòi hỏi loại này có rất ít cơ may được họ thỏa mãn.”

Các phiên họp tổng quát hay có giới hạn giữa Hoa Kỳ và Việt Nam được tiếp tục. Ông Weyand rất mong được gặp riêng ông Thiệu, nhưng ông Martin thì muốn có sự hiện diện của mình trong hầu hết các buổi tiếp xúc như vậy.

Buổi tiếp kiến quan trọng nhất được ông Thiệu chủ tọa trong một gian phòng lớn có các bản đồ treo trên tường. Ông Thiệu ngồi giữa, bên phải là ông Martin, bên trái là Phó Tổng Thống Hương, hàng ghế bên phải của ông Martin là tướng Weyand, ông Von Marbod và ông Carver, hàng ghế bên trái đối diện là tướng Viên Tổng Tham Mưu Trưởng, Thủ Tướng Khiêm và ông Nguyễn Tiến HưngTổng trưởng Kế Hoạch và các vấn đề kinh tế. Trước đó báo chí đã nói nhiều rằng: Dân chúng phải hiểu rằng Tổng Thống Ford rất quan tâm đến số phận của Miền Nam Việt Nam. Người ta bàn về những vấn đề dân sự và quân sự . Hoa Kỳ nhấn mạnh là phải giải quyết bài toán dân tỵ nạn, và nhất là gia đình của binh sĩ. Không nên để cho các gia đình này ở trong các vùng đang có giao tranh. Tướng Viên phản đối ngay; không nên đặt vấn đề tách rời binh sĩ và gia đình họ, nếu không sẽ có nguy cơ giảm sút tinh thần chiến đấu. Ông nói:

_ “Trong cuộc tấn công của cộng sản hồi Tết Mậu Thân (1968), trong các đồn bót hẻo lánh, người ta thấy đàn bà và trẻ con đã giúp các binh sĩ chồng cha của họ như tiếp đạn, hay tản thương, và có khi còn xử dụng các khẩu đại liên nữa.”

Nhiều người Mỹ nghĩ rằng họ đang nằm mơ, vì chuyện không thể tưởng tượng được. Ông Carver, nhân viên CIA, tự hỏi: người ta đang nói chuyện gì vậy? Phải chăng họ đang bàn chuyện sắp ghế xích đu trên bon tàu Titanic trong lúc tàu đang chìm?”

Phái đoàn Hoa Kỳ muốn Chánh Phủ phải giải thích tình hình cho dân chúng biết. Cần tránh cho người dân khỏi bị những tin đồn thất thiệt của cộng sản đầu độc. Các cấp lãnh đạo ở Miền Nam Việt Nam nên xử dụng truyền hình thường hơn. Người Mỹ rất tin tưởng hệ thống truyền hình.

Họ cũng đòi hỏi phải có một chiến thắng nào đó, dù là khiêm nhường. Như thế sẽ giúp đạt được vài trăm triệu mỹ kim. Có thế nào giáng một đòn nặng vào sư đoàn 5 Bắc Việt trong vùng Mỏ Vịt ở phía Tây Sài Gòn? sư đoàn 5 này dù sao cũng chưa phải là một sư đoàn ưu tú đâu.

Dĩ nhiên, Chánh Phủ cũng muốn có được một chiến thắng nào đó lắm chứ! Không phải chỉ để gây cảm giác cho giới Lập Pháp và dư luận dân chúng Hoa Kỳ, mà là để chận đứng bọn cộng sản xâm lăng Bắc Việt , Nhưng khổ nỗi Bộ Tổng Tham Mưu không còn quân trừ bị, nếu muốn có thì phải lấy lực lượng phòng thủ của Sài Gòn. Người ta lại nói đến pháo đài bay B.52. Người Mỹ hiện diện ở đây không tin rằng trong giai đoạn này các B.52 sẽ giúp được gì. Hơn nữa không nên bàn vấn đề này ở đây. Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH cho biết là các phi cơ C.130 A chở 24 trái bom loại 750 cân anh, đã trút hết xuống quân địch từ cao độ 15 đến 24 ngàn bộ. Anh em binh sĩ ở Miền Nam gọi các phi cơ vận tải đó là các “B52 loại nhỏ”. Bom thả như vậy cũng tàn phá được một diện tích khoản 400 thước vuông.

Ông Von Marbod nói là binh sĩ Miền Nam không được tiếp tế đạn dược. Được ông Martin đốc thúc, ông ta mới nói rõ là đạn dược bổ túc chỉ sẽ được gởi đến nhanh chóng nếu Quốc Hội chấp thuận dự án của Tổng Thống Ford:

_ “Chúng tôi có nhiều dự trữ quan trọng ở Okinawa và ở Nam Hàn.

Ông Von Marbod cũng có mặt ở Việt Namvới nhiệm vụ di tản chiến cụ.

Người Việt Nam đang tìm kiếm vũ khí loại “Phép Mầu”! Có thể nào giao cho họ loại bom 15 ngàn cân anh hay không đây? Người Mỹ dùng loại bom này để dọn bải đáp cho trực thăng. nhưng Hiệp Định Paris cấm đem loại vũ khí mới vào Việt Nam. Mặc kệ! Tướng Weyand hứa là sẽ cho gởi đến 27 trái bom loại này và cả chuyên viên cần thiết cho việc xử dụng.

Ông Carver đang tự so sánh sự giống nhau giữa QLVNCH năm 1975 với Quân đội hoàng gia Anh năm 1940.

_ “Đúng là một trận Dunkerque, ông nói, làm cho Đại sứ Martin phải nhăn mặt:

_ “Đứng trước Tổng Thống ta nên tránh không nên nêu lên những bài toán nóng bỏng, một sự cần thiết để tìm được sự thỏa thuận về trách nhiệm quan trọng cho Bộ Tổng Tham Mưu Việt Nam. Cơ quan này phải có nhiều quyền hạn hơn và không nên để bị Tổng Thống chen vào mãi như thế.”

Trong cuộc tiếp xúc này, hầu hết nhân viên của phái đoàn Weyand đều có cảm tưởng là Tổng Thống Thiệu chưa ý thức được mức độ nghiêm trọng của tình hình.

Trong một buổi họp khác, Tổng Thống mạnh niệng giải thích rất chi tiết là sau cuộc bầu cử tháng 10 1975 tới, khi ông được tái đắc cử – ông tin chắc như vậy- thì ông sẽ cho phép các đảng phái chánh trị khác được thành lập và hoạt động. Lần này thì ông sẽ cho phát triển thật sự đường lối dân chủ.

Ông Thomas Polgar xin phép được đề nghị là: ‘tất cả những chuyện đó rất rất tốt và rất hứa hẹn nhưng trước hết là chúng ta nên nghĩ tới những bài toán quân sự trong hiện tại.”

Và ông trình bày trở lại tình hình, nhấn mạnh đến những cuộc tiến quân của Bắc Việt , những điểm yếu của guồng máy chánh quyền , sự sụp đổ của Đà Nẳng. Thình lình, trước mặt trưởng cơ quan tình báo CIA/Sài Gòn và ông Sed Shackley, đại diện của cơ quan tình báo CIA / Hoa Thạnh Đốn, Tổng Thống Thiệu bật lên khóc.

Rất nhiều nhân viên thuộc phái đoàn Weyand tiến hành các cuộc điều tra trong Nam, trong vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tại Nha Trang, họ gặp được tướng Phú phờ phạc!

Có nhiều phiên họp Mỹ Việt rất căng thẳng và gay gắt. Người Mỹ thì cho rằng phía Việt Namthiếu thực tế. Phía Việt Nam thì cho rằng người Mỹ không hiểu những khó khăn của họ.. Phái đoàn Weyand đã làm việc ở Việt Nam đến ngày 4 tháng 4/1975.

Ông Nguyễn Tiến Hưng trao cho ông Von Marbod phóng ảnh của các bức thư của ông Nixon gởi cho ông Thiệu, và nhấn mạnh là Tổng Thống Ford nên đọc.

Tướng Weyand thảo một tờ trình dài 28 trang. Trong phần mở đầu, tướng Weyand viết:

_ “Tình hình quân sự hiện tại rất nguy kịch. và Miền Nam Việt Nam có khả năng tồn tại như là một quốc gia thu gọn vào những tỉnh vùng Đông Nam hay rõ hơn là sát bờ biển (ý nói vùng 4 ở miền Tây). Chánh Phủ VNCH thì gần như thất bại hoàn toàn. Tuy nhiên Miền Nam vẫn chuẩn bị tiếp tục chiến đấu tự vệ với những phương tiện mà họ đang có. Hoa Kỳ cần phải giúp đở họ. Không quân Mỹ sẽ giúp ích cho họ trên cả phương diện vật chất cũng như tâm lý và tinh thần, nhưng tôi ghi nhận có nhiều rắc rối về mặt pháp lý và chánh trị rất dễ xảy ra khi áp dụng đề nghị này”.

_ “Một vấn đề khác mà chúng ta phải quan tâm, đó là Hoa Kỳ phải sẵn sàng để di tản 6000 công dân Hoa Kỳ và hàng chục ngàn người dân Miền Nam, những người quốc gia mà chúng ta phải có bổn phận phải giúp đỡ họ. Bài học tại Đà Nẳng cho thấy là công tác di tản này đòi hỏi tối thiểu phải có một “lực lượng đặc nhiệm Mỹ”, một sư đoàn tăng cường, với sự yểm trợ của Không Quân Chiến Thuật để chống lại pháo binh và Phòng Không Bắc Việt.”

Tướng Weyand cũng đề nghị phải dứt khoát cho Hà Nội biết rằng: đến “lúc thuận tiện nào đó” thì Hoa Kỳ dự định sẽ dùng sức mạnh, bất chấp mọi trở ngại, để di tản nhơn viên của mình. “Tổng Thống Ford phải có được những quyền hạn cần thiết để “trừng phạt Bắc Việt bằng quân sự” nếu họ cản trở công tác di tản này. (1)

Tướng Weyand kết thúc phần mở đầu trong tờ trình của mình bằng một tiếng chuông như thường lệ:

_ “Ở Việt Nam người ta đang xét lại lòng tin đối với người bạn đồng minh Hoa Kỳ”. Chắc chắn diều này sẽ làm cho Kissinger bằng lòng và thích thú!

Cũng trong tờ trình này, tướng Weyand tổng kết tình hình trong 3 tháng qua tại Việt Nam:

_ “Có rất nhiều đơn vị Miền Nam đã chiến đấu rất anh dũng, đáng ngợi khen. Còn sự rút quân khỏi Kon Tum và Pleiku? Đó là một “ý định hành quân” đúng, và Tổng Thống Thiệu có thể đã có lý khi ông ước tính đó là điều cần thiết phải làm, nhưng phần thực hành đã rất tồi tệ..”

Đôi với dân chúng bị kẹt trong vùng chiến sự thì tướng Weyand cho đó là miếng mồi ngon của Bắc Việt.

Theo tướng Weyand thì quân đội Bắc Việt với 152.000 bộ đội có mặt trong Miền Nam là những quân nhân hiện diện chiến đấu thật sự , tổ chức thành 74 trung đoàn bộ binh , 5 trung đoàn thiết giáp, 14 trung đoàn pháo binh, và 33 trung đoàn phòng không. Con số này không tính số quân nhân thuộc các đơn vị yểm trợ và tiếp vận. Phía Miền Nam Việt Nam chỉ có 59.000 quân, thuộc 19 trung đoàn bộ binh, 2 lữ đoàn thiết giáp, 5 chiến đoàn Biệt động quân, 4 lữ đoàn Dù và 2 lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Sài Gòn cũng có lực lượng Không quân, Hải Quân, lực lượng Địa phương Quân. Nhưng tướng Weyand ghi nhận là lực lượng Địa phương Quân không hữu hiệu bằng lực lượng của MTGPMN (hay của CPLTCMN) . Tóm lại, lực lượng cộng sản Miền Bắc nhiều hơn lực lượng Miền Nam Việt Namvới tỷ lệ ba trên một.

Tướng Weyand gạch chữ thập tréo lên Vùng 2 và Vùng 1. Chỉ còn lại 2 vùng ở Miền Nam. Mặc dầu có nhiều áp lực lên vùng Tây Ninh và Xuân Lộc, Chánh Phủ Sài Gòn phải cố giữ Vùng 3 Chiến Thuật “như hiện trạng ngày 1 tháng 4, ít nhất cũng trong tương lai gần đây.”. Tại Vùng 4 Chiến thuật cũng vậy, nếu không có sự xuất hiện nào của bộ đội Bắc Việt.

Với đẳng cấp của mình, tướng Weyand phải nghĩ đến cả tình hình quân sự lẫn chánh trị.

Ông ước tính có 2 khả năng:

1.- Bắc Việt sẽ có thể khai thác tối đa lợi thế chiến thuật trên chiến trường để có thể đi tới một “chiến thắng cuối cùng, hoàn toàn quân sự”

2.- hoặc họ sẽ củng cố những thắng lợi chiến thuật của họ cộng với chiến thắng đạt được trong tỉnh Tây Ninh, để đòi hỏi một cuộc thương thuyết. ”

Ở đây, tướng Weyand có ý nghĩ tới một người đàn bà trong trạng thái lưỡng ước: không biết mình đang có mang hay không?

Tướng Weyand mạnh dạn nói với Tổng Thống Ford những gì ông đã không dám đề nghị với Tổng Thống Thiệu:

_ “Tình hình này đòi hỏi một người lãnh tụ có khả năng về hành chánh giỏi như Churchill và Chánh Phủ chiến tranh của ông ta đã giúp cho Anh Quốc sau trận rút quân ở Dunkerque và sau khi nước Pháp thất thủ”. Tới ngày hôm nay người lãnh tụ chưa thấy xuất hiện,. Hơn nữa không có một biển Manche để có thể tập trung quân về một chỗ trú an toàn. Các sĩ quan Miền Nam xác nhận là tinh thần của binh sĩ ở Vùng 4 rất tốt. Khi bị tấn công, họ chiến đấu “một phần bởi vì đây là phần đất cuối cùng không còn chỗ nào để họ có thể lui về nữa”. Ở chỗ riêng tư mà nói, các tư lệnh đơn vị xác nhận là nếu Vùng 3 Chiến Thuật mà thất thủ như Vùng 2 và Vùng 1 thì tinh thần binh sĩ sẽ bị suy sụp theo”

Tướng Weyand cũng giải thích là: ngoài xã hội cũng như ở các cấp hành chánh, quân sự, người Miền Nam tin chắc là “họ đã bị đồng minh Hoa Kỳ bỏ rơi và phản bội họ nữa”. Đẳng cấp càng cao bao nhiêu lòng oán hận Hoa Kỳ càng mãnh liệt bấy nhiêu.

Có một số quân nhân đã bắn lên trực thăng trên đó có nhiếp ảnh viên của Tổng Thống Ford. Tuy nhiên cho tới giờ này, ngoài một vài trường hợp ngoại lệ, người dân Miền Nam không có gì chống người Mỹ. Có tin đồn ở Sài Gòn là một số sĩ quan của Miền Nam đang toan tính sẽ bắn hạ các trực thăng hay phi cơ Mỹ nếu Hoa Kỳ di tản các viên chức của họ.

Tướng Weyand có cảm nghĩ không thuận lợi lắm về Tổng Thống Thiệu và những cố vấn chính của ông ta mà ông gọi là “một Chánh Phủ thật sự của Tổng Thống “, (bao gồm Tổng Tham Mưu Trưởng, Thủ Tướng và cố vấn an ninh tướng Đặng văn Quang). Theo tướng Weyand thì hầu hết người dân Miền Nam đều cho đây là những người dơ bẩn, không có khả năng hoặc là thành phần xấu.”

Không có một Churchill nào xuất hiện ở chân trời ! Ở Sài Gòn người ta nói nhiều về một cuộc đảo chánh . Nhưng theo tướng Weyand thì đó sẽ là một “thảm họa” ! Dầu sao thì tướng Weyand cũng dự kiến là trong những tuần lễ sắp tới, nhóm tướng lãnh thật sự kiểm soát được Quân đội, sẽ nói với Tổng Thống Thiệu là “ông nên ra đi”.

Rõ ràng tướng Weyand rất lo ngại, khi ông nhận thấy rằng Bộ Tổng Tham Mưu Miền Nam thực sự không có một kế hoạch chiến lược nào. Tổng Thống Thiệu không thể tự mình điều hành cuộc chiến từ Dinh Độc Lập, và “không một người nào khác có quyền làm việc đó ” Vì thế mà tất cả hệ thống công chức của Miền Nam gần như ở trong tình trạng “khó chịu”.

Trái lại, Miền Bắc hình như không có một bài toán nào quan trọng: Họ có thể chuyển vào Miền Nam những sư đoàn còn lại của mình còn nhanh hơn Chánh Phủ Miền Nam phối trí lại các sư đoàn mới thành lập của họ nữa.

Tướng Weyand nghĩ là phải cần đến 722 triệu đô la viện trợ quân sự , dựa trên những mất mát trong những tuần lễ cuối cùng này. Ông lên danh sách những mất mát đó như sau:

  • Đạn dược (duy nhất trong kho ) 107 triệu đô la
  • Vũ khí cá nhân và cộng đồng      24 .6 “
  • Pháo binh 16.1
  • Xe kéo      85.0
  • Quân xa thường   67.0
  • Dụng cụ truyền tin           15.6
  • Xăng dầu  4.8
  • Dụng cụ y tế        7.9
  • Công Binh            1.8
  • Dự trữ tổng quát…          67.4

Tổng cộng       397.2 triệu

Ngoài ra Không Quân Miền Nam Việt Nam đã bỏ lại 268 phi cơ, 66,8 triệu đô la cơ phận thay thế, và 48 triệu đô la đạn dược. Hải Quân VNCH đã bị mất 3 chiến hạm và một số trang thiết bị. Chưa tính đến gíá trị của một số đạn dược mà các đơn vị mang theo và bỏ lại, và những căn cứ Hải và Không quân.

Tại tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn, có một số người, như Frank Snepp, nhắc đi nhắc lại là sự sụp đổ của Miền Nam Việt Nam trước hết không phải là vì vấn đề vũ khí đạn dược. Những con số của tướng Weyand đích thân đưa ra chỉ có tính chất xác nhận điều đó thôi.

Dường như là để cho được đầy đủ, hơn là có một sự niềm tin vững chắc, tướng Weyand trình bày qua về kế hoạch của Miền Nam: là chỉ cần giữ vững một phần Đông Nam của Vùng 2 Chiến Thuật, 2/3 của Vùng 3 Chiến Thuật và cả Vùng 4 Chiến Thuật.

Đây là một lập luận quá xưa của tướng Weyand: Vùng lãnh thổ này là phần đất có nhiều dân chúng nhất, là “thực thể chánh trị và kinh tế để có thể sống còn”. Nhưng lạ lùng ở chỗ là (tướng Weyand trình bày tiếp ) “sau khi tình hình quân sự được ổn định rồi, Chánh Phủ sẽ tái tổ chức và tái thành lập nhanh chóng cơ cấu quân đội lại ” Làm cách nào ổn định được chiến tuyến mà không có sự tái tổ chức lực lượng ? Tướng Weyand trình bày lập luận của Tổng Thống Thiệu:

_ “Nếu người Miền Nam tập trung lại được thì các phương tiện giao thông sẽ ngắn hơn và sẽ không có nhiều chỗ yếu hơn. Về phần địch, họ sẽ có quá nhiều lãnh thổ, họ sẽ phải yếu hơn vì lực lượng kháng chiến hay vì những mũi tấn công đột kích của lực lượng quân sự Miền Nam”

Sự tái tổ chức của các đơn vị của Miền Nam Việt Nam chỉ nằm trên lý thuyết. Bộ Tổng Tham Mưu nói là sẽ tái tổ chức lại 4 sư đoàn bộ binh, chuyển 12 chiến đoàn Biệt Động Quân thành 4 sư đoàn khác, và biến cải 27 chiến đoàn Địa phương Quân thành nhiều sư đoàn bộ binh. Không thấy có kết quả nào nào, người Mỹ đã giải thích là chỉ nên tăng cường thêm binh sĩ thiện chiến vào các đơn vị đang hình thành.

Kết luận của tờ trình cho Tổng Thống Ford rất là dè dặt một cách khéo léo. Tướng Weyand không thể bảo đảm rằng ” một hay những biện pháp” mà ông đề nghị sẽ hữu hiệu để ngăn chận hay có thể làm chậm lại chiến thắng toàn bộ của Miền Bắc. Bản phúc trình này đưa ra một nguyên tắc mà bất cứ cấp nào trong quân đội Hoa Kỳ cũng đều biết rõ, để tự bảo vệ “cái đầu của mình” (sát nghĩa): đừng có hành động phiêu lưu nguy hiểm, đừng có hứa hẹn gì nhiều, hảy nghĩ tới tương lai của chính mình.

Trước khi rời Sài Gòn tướng Weyand có một cuộc họp báo ngắn. Ông làm các nhà báo ngạc nhiên khi ông tuyên bố:

_ “QLVNCH vẫn còn mạnh, vẫn còn đủ tiềm lực cần thiết và lòng dũng cảm để chiến đấu với kẻ thù Miền Bắc”

Cơ quan tình báo của quân đội Hoa Kỳ đã có một tờ trình dự kiến là VNCH sẽ sụp đổ trong vòng “không quá 30 ngày”.

Tướng Weyand gặp lại Tổng Thống Ford ở California. Tổng Thống Ford thiếu hẳn tế nhị, trong thời điểm dầu sôi lửa bỏng này (nguyên tác :thời điểm nguy kịch và bi thảm này) mà ông còn đi chơi gôn (golf) ở Palm Springs được! Những người đồng hương của ông còn nhìn thấy ông khều trái banh nhỏ vào lỗ, và một vài giây sau đó qua tin tức truyền hình, họ chứng kiến cảnh di tản của các thành phố Việt Nam! Có một số hình ảnh được phổ biến rộng rãi cho thấy ông Ford với chiếc sơ mi ngắn tay đã chạy nhanh lên phi cơ ở phi trường Bakersfield dể tránh các nhà báo.

Một nhà báo đã nói ngay với Ron Nessen, tùy viên báo chí của Tổng Thống rằng:

-“Ông ấy chạy còn nhanh hơn quân đội Miền Nam Việt Nam!

Bị các chuyên viên cao học về giao tế nhân sự bao vây, toàn là những bậc thầy trong ngành truyền thông, ông Ford có những vụng về chồng chất. Nhờ ông Bob Hartmann một cố vấn chuyên soạn diễn văn cho ông, Tổng Thống mới tránh khỏi một bữa ăn với diễn viên Frank Sinatra. Diễn viên có mùi “băng đảng” này rất nổi tiếng vì thường hay gặp ông Nixon.

Ông Ron Nessen đã cho biết thẳng thừng là Tổng Thống Ford không hề có ý định trong việc cho tái oanh tạc để yểm trợ cho QLVNCH:

_ “Luật pháp cấm ông ta làm như vậy. Vả lại ông cũng có khuynh hướng chống lại việc đó. Và ông không có một kế họch nào dự trù cho việc đó.

Nessen nói tiếp:

_ “Tổng Thống có nhiều cảm tình và lòng thương hại đối với dân chúng Việt Nam.

Lòng thương hại không đúng chỗ! Còn nhớ ông Phó Tổng Thống Rockerfeller lúc đi thăm viếng vùng Đông Nam Á Châu và dự đám táng của Tưởng giới Thạch trở về, đã công khai tuyên bố : – ” Tôi tin là thật sự đã quá muộn để chúng ta có thể làm được một việc gì đó…

Lúc nào cũng vậy, ông Rockefeller là người không bao giờ có một nhiệm vụ gì trong vấn đề Việt Nam.

Vậy là Hà Nội rất vui vẻ được thông báo và bảo đảm là các pháo đài bay B.52 không bao giờ trở lại Việt Nam nữa.

Ông Kissinger đã có mặt trong buổi gặp gỡ của Tổng Thống với tướng Weyand tại Palm Springs ở California. Không có đối thủ của ông, Tổng Trưởng Quốc Phòng James Schlessinger. Buổi họp ở đây người ta xoay quanh ý kiến một ngân khoản viện trợ quân sự có thể cung cấp cho Miền Nam Việt Nam744 khẩu pháo binh, 100.000 khẩu súng trường, 6000 súng liên thanh, 11.000 súng phóng lựu, 1300 đại bác ( ?) và 120.000 tấn đạn dược. Xuyên qua các cuộc thảo luận, bênh vực lập luận của ông trong tờ trình, tướng Weyand đã cố ý cho thấy là người ta còn có thể cứu vãn được tình hình bằng quân sự , và khi trở về đến Hoa Thạnh Đốn, ông đã cho ông Bùi Diễm biết rõ sự đánh giá đó của ông.

Ông Kissinger không có một ảo tưởng nào. Nhưng dù gặp tình hình khó khăn, thì phải hành động như mình đã nắm chắc vấn đ . Ở đây thì như mình đã có thể cứu được Miền Nam Việt Nam được vậy. Do đó ta phải xin Quốc Hội 722 triệu mỹ kim viện trợ. Thật tâm hay giả dối thì chiến thuật này cũng có lợi. Nếu Quốc Hội từ chối không chấp thuận viện trợ, và nếu mọi việc trở nên quá tồi tệ ở Đông Dương thì dư luận sẽ phê phán các ông nghị sĩ và dân biểu.

Các cố vấn của Tổng Thống Ford như Robert Hartmann và Ron Nessen thì không đồng quan điểm với cách tính toán này. Họ không muốn cứu Miền Nam Việt Nam. Họ chỉ muốn cứu ông Ford ra khỏi vũng lầy Việt Nam. Nhưng ông Kissinger thắng. Tổng Thống Ford sẽ xin Quốc Hội 722 triệu mỹ kim viện trợ quân sự và 250 triệu viện trợ kinh tế và nhân đạo cho Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh đến số phận đau thương của các dân tộc ở đó.

Nhiếp ảnh gia David Kennerly mang về rất nhiều hình ảnh thu được ở Đông Dương. Anh trình lên cho Tổng Thống Ford để Tổng Thống cho treo ở các hành lang trong Nhà Trắng. Anh nói với Tổng Thống:

_ “Campuchia chắc chắn sẽ không còn. Đừng nghe những gì các tướng lãnh trình bày với Tổng Thống . Họ chỉ kể chuyện tào lao nếu họ nói là Việt Nam chỉ còn tồn tại chừng ba bốn tuần lễ nữa mà thôi!.

Sau buổi họp “tiểu thượng đỉnh” ở Palm Springs, ông Kissinger tuyên bố với báo chí:

_ “Hoa Kỳ đang đứng trước một bài toán về đạo lý. Đó là phải thẩm định xem khi một quốc gia đồng minh đã sát cánh với mình trong 10 năm mà muốn tự vệ thì chúng ta có thể nào dám quyết định ngưng hết mọi cung cấp chiến cụ cho họ hay không?

Những giới chức Hoa Kỳ có trách nhiệm đều tin rằng VNCH không tái chiếm lại các tỉnh đã mất. Nhiều lắm là VNCH có thể giữ vững vòng đai phòng thủ Sài Gòn để buộc Hà Nội phải đàm phán. Trong hiện tại cần phải nghĩ đến việc di tản các công dân Mỹ và người Việt Nam.

Về phần mình, ông Schlesinger thấy là phải trao cho hệ thống truyền hình phần giải đoán tối thiểu của những biến cố ở Miền Nam Việt Nam:

_ Cuộc “tổng tấn công” của Bắc Việt đã quá rõ ràng. Đó là một danh từ mà chúng ta cần phải để vào hai dấu ngoặc kép. Chúng ta đang chứng kiến cảnh sụp đổ từng mảng của Quân Lực VNCH.”

Ông giải thích rằng, từ sau Ban Mê Thuột, đã không có thêm những cuộc giao tranh quan trọng. Không phải là một chiến thắng quân sự của Bắc Việt mà đúng ra là một cuộc bại trận của Miền Nam Việt Nam.

Đó là một sắc thái đặc biệt về ngữ nghĩa. Với đề nghị là Quân Lực VNCH không đáng được viện trợ, như dư luận khá phổ biến ở Hoa Kỳ, ông Schlesinger không trợ giúp được gì cho ông Tổng Thống ford và ông Kissinger.

Vậy ai là người có trách nhiệm trong sự thảm bại của Quân Lực Miền Nam Việt Nam? Câu hỏi này được nêu lên trong giới chánh trị. Ông Schlesinger tuyên bố là người ta không thể đưa ra câu trả lời ngay một cách đơn giản được. Hình như ông gián tiếp nhắm vào Tổng Thống Ford và ông Kissinger, đồng thời cất cao giọng xác nhận rằng Hoa Kỳ thật sự không có nhu cầu phải có một sự đối đầu quan trọng giữa Hành Pháp và Lập Pháp” trong lúc này.

Một Chánh Phủ mà các thành viên quan trọng nhất gần như công khai đối chọi nhau thì làm sao chế ngự được một cơn khủng khoảng? và dĩ nhiên không thể gây được niềm tin cho ai hết.

Để làm tăng thêm các bài toán của Nhà Trắng, người ta bắt đầu rĩ tai là ông Nixon đã có những cam kết mật, và các tin phao đồn thì đi rất nhanh. Đó là những bức thư của ông Nixon đã gởi cho ông Thiệu. Cuộc bầu cử Tổng Thống Hoa Kỳ đã gần kề rồi, vào năm 1976 tới đây.

Ngón đòn nào dường như cũng tốt hết. Ông Eric Von Marbod đã nói về các bức thơ đó cho ông Schlesinger là cấp trên của ông ta . Ông Tổng trưởng Quốc Phòng lại đem ra thảo luận với thượng nghị sĩ Henry Jackson, ông này lại nói công khai là:“đằng sau Hiệp Định Paris, còn có những “thỏa thuận mật”.

Đọc được những bức thư đó, Tổng Thống Ford đâm ra rối trí…

Sau khi Vùng 2 Chiến Thuật bị thất thủ, về đóng ở Nha Trang, tường Phú lấy lại phần nào sức khỏe sau một phen nản chí. Ông cũng đang nghĩ là phải lập lại tuyến phòng thủ từ phía Bắc của Nha Trang. Nhưng với các đơn vị nào đây để thực hành ý định này?

Thành phố Nha Trang đang yên ổn.

Một buổi sáng nọ, không báo gì trước cho tướng Phú, cũng không báo cho người Mỹ, ông tỉnh trưởng cho lệnh các phòng sở trực thuộc đóng cửa văn phòng. Tướng Phú đã đặt Tổng Hành Dinh của ông trong một dinh thự trong đó có một số phòng sở của Tỉnh. Trước đó ông không chú ý đến sự ra đi của các công chức dân chính của Tỉnh. Nhưng vào khoản giữa trưa, thình lình tướng Phú chạy qua các phòng làm việc của Quân Đoàn trên các tầng lầu, vừa chạy vừa la lớn:

_ “Ta chạy đi thôi!

Vẻ mặt lơ láo, ông bảo người phi công lái trực thăng riêng của ông:

_ “Ta đi thôi”

Và cứ thế ông rời khỏi Nha Trang. Vào lúc 1 giờ trưa, tin này chạy khắp thành phố làm sửng sốt mọi người

Nha Trang không hề bị tấn công. Có một số người nào đó đã thề là họ đã thấy các đơn vị Bắc Việt đã ở ngay cửa ngỏ vào thành phố, một số người khác thì lại nói rằng Chánh Phủ Miền Nam Việt Nam đã chia thành phố Nha Trang cho cộng sản Bắc Việt từ lâu rồi. Thế là dân chúng gồng gánh hành lý ùn ùn chạy lên phi trường, hy vọng tìm được chỗ lên phi cơ, hay chạy ra bến tàu để tìm tàu thuyền…. Trong thành phố, binh sĩ tông cửa và cướp các kho hàng, súng cầm tay họ tấn công dân chúng đòi lương thực, đòi tiền bạc , đòi nữ trang… Binh sĩ của Nha Trang trà trộn với binh sĩ chạy từ Đà Nẳng hay từ Huế về. Tại bến tàu, có quá nhiều người đến độ họ phải đứng xuống nước để chờ đợi, có chỗ ngập đến nửa thân mình . Các bô lão, phụ nữ và trẻ con bị chết ngộp, và thi thể của họ còn đó, tại chỗ, đôi khi được nằm trong chiếc túi ny- lông.

Lại một cảnh tượng của Đà Nẳng nữa!….

Cảnh hỗn loạn lan dần.. Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ ông Moncrieff Spear tâm sự với viên Lãnh sự phó người Pháp Henri Strahlheim là ông không còn biết nói gì hơn được nữa.. Người Pháp thì được di tản bằng một phi cơ do Tòa Đại sứ thuê bao. Ba vị Linh mục và một Dì Phước thuộc Hội Truyền Giáo Ngoại Quốc phải tình nguyện ở lại tại chỗ. Họ không thể rời bỏ đám con chiên Việt Nam mà họ thấy họ còn có trách nhiệm . Trong Tòa Lãnh sự Hoa Kỳ còn có 200 công dân Mỹ và một số đông nhân viên người Việt Nam. Và trong số các sĩ quan hiện diện đang công tác ở Nha Trang còn có thêm một số dân đến từ Pleiku, Huế hay Đà Nẵng. Người ta chờ đợi các phi cơ của hảng Air America, của Bird Air và của World Airways hay của Continental….

Trong sân của Lãnh sự quán Hoa Kỳ, hằng trăm nhân viên chen chúc nhau với gia đình của họ. Họ muốn rời khỏi đây và cũng muốn lãnh lương nữa . Nhưng điều bất hạnh là phát ngân viên đã di tản trước rồi với cả ngân quỷ. Binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đang ra sức ngăn cản, đôi khi làm bị thương những người Việt Nam khác muốn vào Lãnh sự quán để được bốc đi. Phải cần đến một số trực thăng để làm con thoi giữa Lãnh sự quán và phi trường chỉ cách đó có 6 cây số ngàn!

Anh Howard Archer, một nhân viên của cơ quan CIA phải chạy hết lầu 4 của Lãnh sự quán và với sự giúp sức của 4 người đồng đội để thiêu hủy tất cả máy móc truyền tin. Mặc dù đã cố gắng nhưng cơ quan CIA này cũng phải còn để lại vô số hồ sơ, tài liệu và một số nhân viên. Cuộc di tản đã được tổ chức quá dở đến độ chuyến bay C.46 cuối cùng còn trống quá nửa khi rời khỏi phi trường . Anh John Lewis, một nhân viên khác của cơ quan này đã rất kiên trì và can đảm đi tìm khắp Nha Trang những người cộng sự viên của anh ta.. Vì thế anh bị bỏ quên lại và bị Bắc Việt bắt làm tù binh.

Ông trưởng cơ quan CIA của Nha Trang chỉ lo cho những người Mỹ mà thôi. Ông giải thích là đã nhiều tuần lễ nay, người Việt Nam đã bỏ chạy mà không bao giờ nhớ đến người Mỹ.

Tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn phải nhận phần nào trách nhiệm về sự lộn xộn này. Vào lúc 17giờ rưỡi ngày mà tướng Phú rời khỏi Nha Trang, một phụ tá đặc biệt của Tòa Đại sứ là ông George Jacobson, không biết vì thiếu tin tức hay vì mất cả bình tĩnh, đã cho lệnh vị Lãnh sự như sau:

_ “Ông hãy rời khỏi thành phố ngay đi, các người Mỹ khác cũng vậy”.

Khi trực thăng cuối cùng rời khỏi lãnh sự quán, một ông già van nài đưa một em bé cho mấy người Mỹ đang ngồi trên trực thăng. Thì có một người dùng chân đạp vào mặt ông già, làm đứa bé rớt xuống đất…

Cuộc di tản này rất là vô ích, vì quá sớm! Sự thật không có một đơn vị Bắc Việt nào đến cửa ngỏ của thành phố Nha Trang. Vị tổng tư lệnh Bắc Việt lần này quá táo bạo, đã quyết định bỏ Nha Trang lại đằng sau lưng mình, cho lệnh sư đoàn 316 và 320 bọc vòng thành phố này để tiến thẳng vào hải cảng và Vịnh Cam Ranh, cách Nha Trang 35 cây số vế phía Nam. Căn cứ Cam Ranh còn ở cách Sài Gòn 260 cây số.

Tại văn phòng của cơ quan CIA ở Sài Gòn người ta đang tiêu hủy giấy tờ hồ sơ mà họ quên rằng Cảnh Sát Việt Nam còn lưu giử một bản sao. Thomas Polgar đang bị bối rối. Vô tình ông đã cho gởi bà vợ ông về Bangkok. Và sau đó ông đã viết thư cho bà ta đại ý cho biết là tình hình cũng chưa có gì đáng lo ngại. Tin chắc như vậy bà ta trở lại Sài Gòn mà không báo trước cho ông chồng, và bà đã bắt gặp chồng mình đang ở với một phụ nữ Việt Nam trẻ tuổi. Khi ông Feydeau xen vào thì bà cảm thấy nhục quá nên quyết định xa chồng và ly dị. Hoảng hốt và quá bối rối, ông Polgar không còn đủ tinh thần và sáng suốt trong việc điều hành và kiểm soát cuộc hành quân di tản đang được tiến hành. Có nhiều cơ quan Hoa Kỳ đã bắt đầu di tản một cách không chánh thức. Và nhờ thế mà người vợ của vị sĩ quan trưởng Phòng Tình báo Miền Nam Việt Nam được gởi đi đến Hạ uy Di với cái tên là bà W. Legros, với sự chấp thuận của Đại Sứ Hoa Kỳ . Nhiều người Việt Nam bâu lại các bạn thân và người quen của họ ở Tòa Đại Sứ.

Các chuyến bay quốc tế hoạt động thường xuyên, nhưng các chuyến bay nội địa của Hàng Không Việt Nam thì từ 40 giảm xuống còn có 4, hằng ngày. Lãnh thổ của VNCH đang teo dần…

Có quá nhiều người xếp hàng dài trước ngân hàng Việt Nam Thương Tín , một ngân hàng tương đối lớn nhứt ở Miền Nam . Người ta muốn có ngoại tệ, muốn có vàng. Giá đồng mỹ kim đang lên. Giám đốc Ngân Hàng tuyên bố:

_ “Chúng tôi còn đến 150 tỷ bạc tiền dự trữ, nên chúng tôi không khóa chương mục nào hết”

_ “Giá gạo, giá rau cải tăng gấp đôi. Chợ búa đang thiếu trà, cà phê, những thứ này thường đến từ Vùng Cao Nguyên.

Tổng Thống Thiệu cho lệnh thiết lập vòng đai y tế chặt chẽ quanh Sài Gòn . Những người di tản bị chận lại ở các rào cản, và trong số đó có cả binh sĩ chạy lẻ tẻ về, không có vũ khí, Họ sẽ phải bị tước hết vũ khí nếu họ còn giữ súng trường hay súng lục. Thôi thì gián điệp tràn lan, người ta thấy bọn việt cộng khắp nơi. Chánh quyền quân sự ra thông cáo cho biết là bất cứ người nào từ chối lệnh bị bắt giữ lại sẽ bị bắn tại chỗ.

Hoa Kiều của Chợ Lớn thì hấp tấp xin chiếu khán ở sứ quán Đài Loan. Người ta cũng kể lại là người Úc cũng có phân phát một số chiếu khán một cách rộng rãi. Lãnh sự Úc có nhờ Cảnh Sát dẹp bớt các nhóm quá đông đang tụ tập quanh văn phòng của lãnh sự.

Các chuyến bay đến Âu Châu và Hoa Kỳ lúc nào cũng đầy ấp. Các chuyến bay đi Bangkok, Tân gia Ba, Hong Kong và Đài Bắc không còn một chỗ trống.

Đại sứ Martin cho chỉ thị tìm cách thắng bớt sự hoảng hốt lại. Các hảng Mỹ có những biện pháp để giúp ông Martin. Họ cho các phụ nữ và trẻ con di tản từ cuối tháng 3 nhưng họ tuyên bố chánh thức là họ không nhúc nhích gì cả. Hảng “Training Co.” tuyên bố là “chúng tôi đang trong tình ttrạng chờ đợi”, hảng IBM thì nói: “Chúng tôi sẽ ở lại đây lâu chừng nào hay chừng nấy”. Hãng MobilOil vẫn tiếp tục công tác khoan dầu ngoài biển Đông và các nhân viên của hai hãng Exxon và Caltex vẫn ở nguyên nhiệm sở của họ.

Về báo chí thì những tin “Rao Vặt” đã cho thấy là còn nhiều người Việt Nam vẫn còn quan tâm thực sự đến tài sản của họ. Như trong tờ Sài Gòn Post đã có rao:

_ Xin lưu ý tất cả các công ty dầu khí

Khẩn: Bán 6 phòng lớn, có các phòng phụ thuộc (trên 1000 thước vuông, kể cả 2 phòng ở và làm việc, nhà xe, hồ tắm và sân thượng) Khu vực an ninh (quận 2) Giá: trên 100 triệu đồng.

Liên lạc: 315/21 Hai Bà Trưng. Điện thoại: 22806”

Về nhà cửa thì rao bán nhiều hơn rao mua. Tuy nhiên cho đến tháng 3 người ta vẫn còn tiếp tục xây cất như điên. Và ngay tại Tòa Đại sứ Hoa Kỳ người ta cũng vừa cho ngưng các buổi họp nhắm vào việc xây khách sạn Hyatt.

Những “Rao Vặt” vẫn xuất hiện bình thường như dạo nào. Cũng trong tờ Sài Gòn Post, dưới tấm ảnh của mình, với bộ râu quai hàm rậm rạp và chiếc khăn truyền thống Ấn độ trên đầu, Giáo sư G. Singh một chiêm tinh gia nổi tiếng của Á Châu, quảng cáo về sự bói toán chính xác và lạ lùng của ông về quá khứ, hiện tại , và tương lai bằng khoa đọc trên lá cây, bằng khoa Tử vi và xem sắc tướng…. .Ông xác định là ông đã ” thấy trước sự ra đi của Tổng Thống Hồi Quốc” (mà ông nói là ông Marcos!) Trong số thành tích của ông đưa ra trong quảng cáo, có một lá thư cám ơn của Tổng Thống Phi luật Tân. Liên lạc với Giáo Sư ở khách sạn Pasteur, phòng 401, điện thoại 91236 từ 10 giờ đến 18 giờ, và ông chỉ sẽ tiếp khách trong vòng 2 tuần lể…. v.v…Tại Sài Gòn không một ai không biết là Phnom Penh đang bị vây khổn, và Tổng Thống Cam Bốt là tướng Lon Nol cũng sắp ra đi “để trị bịnh ở ngoại quốc”.

Thủ đô Miền Nam có quá nhiều tin đồn, mơ hồ, đối nghịch nhau, rồi thanh minh rồi cải chính, rồi lại tung ra…..Ngay như tướng Dương văn Minh tuyên bố là có một số sĩ quan Việt Nam đã nghi ngờ là Tổng Thống Thiệu và người Mỹ ở Hoa Thạnh Đốn đã ký một Hiệp Định mật với cộng sản Việt Nam. Ông tướng được gán cho là thủ lãnh của lực lượng thứ 3 đã tuyên bố:

_ “Vừa đòi hỏi Tổng Thống Thiệu phải ra đi, cộng sản Việt Nam cũng vừa muốn khuấy động người Mỹ, những người đang bị rơi vào bẫy của cộng sản.”

Thật ra, sự có mặt của tướng Thiệu là điều rất thích nghi cho Bắc Việt trong chiến dịch của họ . Hoa Kỳ lại hiểu theo từng chữ mà cộng sản Bắc Việt đã nói, và họ vẫn giữ Tổng Thống Thiệu trong chánh quyền . Thật là quanh co rắc rối!

Một vài sĩ quan đã tâm tình với tướng Dương văn Minh:

_ “Một ngày đẹp trời nào đó chúng tôi sẽ thấy ông Thiệu trong bộ quân phục cộng sản.”

Một điều hoàn toàn vô nghĩa!

Rồi người ta lại đồn là sắp có một cuộc đảo chánh quân sự. Rồi mặc dầu rất ít khi tuyên bố về chánh trị , tướng Tổng Tham Mưu Trưởng lại hiểu thị là “Đã bắt đầu một cuộc chiến đấu để sống còn. Thời điểm lịch sử đã đến. Nếu chúng ta quyết tâm chiến đấu, thì chắc chắn chúng ta sẽ thắng.”

Rồi người ta đón nghe tin tức từ Hoa Thạnh Đốn. Một chỉ dấu cho thấy là ông Kissinger đã có lưu tâm trở lại về vấn đề Việt Nam. Ông bỏ chuyến du hành xuống Nam Mỹ. Lẽ ra ông phải đi Á căn Đình, Ba Tây, Pérou và Vénézuela.

Trong một buổi phát thanh sáng trên hệ thống CBS, vị Đại Sứ VNCH tại Hoa Thạnh Đốn đã tuyên bố:

_ “Hoa Kỳ không ở được đúng tầm vóc của Hiệp Định Paris. Thế giới đã có thể kết luận là tốt hơn nên chọn cộng sản làm đồng minh hơn là chọn Hoa Kỳ”

Bình luận về điều này, Tổng trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ đã tỏ ra hiểu biết:

_ “Chúng ta phải cần có lòng thương hại cho người Việt Nam”

Đã bắt đầu có những rạn nứt trong guồng máy chánh quyền Miền Nam Việt Nam. Lần này thì trong cơ quan Lập Pháp. Thông thường rất dễ dãi hơn Hạ viện, Thượng viện vừa chấp thuận một quyết nghị chống Chánh Phủ, “cáo buộc Tổng Thống Thiệu lạm dụng quyền hành và tham nhũng” . Các nghị sĩ tuyên bố là Tổng Thống Thiệu cũng phải chịu trách nhiệm về những bất công xã hội . Đức Tổng Giám Mục địa phận Sài Gòn , Đức Cha Nguyễn văn Bình, cũng lên tiếng kêu gọi sự ra đi của Tổng Thống Thiệu. Lại có nhiều tin tức độc hại đến từ Âu Châu: Phó thủ tướng Trần văn Đôn vừa trở về từ Phi Châu là nơi ông đi thăm các nước để vận động dư luận ủng hộ cuộc chiến đấu tự vệ của VNCH, Khi ông ghé lại Paris ông được tin chắc chắn rằng: “Cả 3 siêu cường Hoa Kỳ, Liên Xô và Trung Quốc đều đã đồng thuận là hai nước Việt Nam nên thống nhất lại dưới sự kiểm soát của Hà Nội”. Xuất xứ của nguồn tin mật này? Một người bạn của ông Jacques Chirac, Thủ tướng Pháp. Ông Chirac không bao giờ gặp tướng Đôn.

Tại Sài Gòn, mặc dầu không hề có tiếp xúc nào với cộng sản Trung Quốc, một vài nhân vật chánh trị ước mong rằng Bắc Kinh sẽ có một ảnh hưởng nào đó đối với Hà Nội . Tướng Đôn ghé lại Hong Kong trên đường về. Tại đây ông có gặp được Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ . Hai người đã ước tình con số người Việt Nam cần được di tản. Phải đưa đi khoản một triệu người. Ông Tổng lãnh sự này chuyển con số đề nghị của ông Đôn về Hoa Thạnh Đốn , ở đó rủi thay họ đã chánh thức đưa ra con số là 250.000 người . Sự lộn xộn này lẽ ra chỉ có trên Hỏa Tinh mới thấy được, thì Mạc tư Khoa, Bắc Kinh và Hà Nội đều nhận được hết……

Hong Kong là thủ đô của các quan sát viên thượng thặng của Trung Hoa Cộng sản . Tại đó, rất nhiều viên chức của chánh quyền cộng sản núp bóng trong các ngân hàng và các công ty của Bắc Kinh. Họ nói năng rất tự do hơn nơi khác và những tin tức thuờng rất tốt. Ngày 4 tháng 4, tổng biên tập viên tờ Tạp Chí Kinh Tế Viễn Đông (Far Eastern Economic Review), một trong những tờ báo, hay ít ra là tờ tuần báo hay nhất của Á Châu, ông Leo Goodstadt đã dùng cơm trưa với Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ. Ông Goodstadt có nhiều tiếp xúc với những người cộng sản ở Hong Kong, những người này phản ảnh rõ quan điểm của Bắc Kinh. Cộng sản Trung Quốc rất quan ngại về sự toàn vẹn lãnh thổ của hai nước Cam Bốt và Lào. Họ không thích cái lối mà những người của Hà Nội lúc nào cũng muốn tự nhận là phát ngôn viên của toàn cõi Đông Dương. Thủ Tướng Bắc Việt không bao giờ chịu trả lời về đòi hỏi của Bắc Kinh là muốn bảo đảm sự độc lập của tất cả các quốc gia ở Đông Dương. Trung Quốc nhận rất nhiều đòi hỏi của Hà Nội về nhu cầu lương thực và áo quần cho những vùng do quân đội của họ “giải phóng”.Bắc Kinh không làm sao nhận được từ phía Hà Nội là phải có một hội nghị ở đó sẽ thảo luận tất cả những bài toán về Á Châu, trong đó có quy chế của các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Trung Quốc và VNCH đang tranh chấp về vấn đề này.

Quần đảo Trường Sa được Trung Quốc ghép vào bản đồ của họ. Còn về quần đảo Hoàng Sa thì khoảng cách từ quần đảo này đến bờ biển của Trung Quốc và bờ biển Việt Nam tương đối bằng nhau. Trên các đảo này có vô số phân chim, nhưng chung quanh đó chắc chắn có mỏ dầu khí. Ngày 12/4 đã không còn nghe thấy nói gì về toán binh sĩ QLVNCH đồn trú trên đảo san hô.

Song Tử Tây thuộc quần đảo Trường Sa nữa, Tàu chiến của Bắc Việt đã cho đổ bộ bộ đội Bắc Việt lên đảo này và họ dựng cờ của CPLTCHMN trên đảo. Trưóc đó mấy tháng, đã có những cuộc giao tranh giữa binh sĩ VNCH và cộng sản Trung Quốc. Bộ đội cộng sản Trung Quốc sau khi đánh chìm một số tàu chiến của VNCH, đã lên chiếm đóng một số đảo nhỏ ở đó. Tình hình lại trở nên rắc rối vì Phi luật Tâm và Đài Loan cũng có gởi binh sĩ đến đồn trú tượng trưng trên một số đảo khác của quần đảo này. Đây là cuộc tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc và các quốc gia Á Châu không cộng sản.

Điểm chánh là : cộng sản Việt Nam và cộng sản Tàu đang tranh chấp ở đây. Ông Thiệu không bao giờ khai thác các mối bất hòa này mà ở Hà Nội và Bắc Kinh người ta gọi là các mâu thuẩn. Vào lúc mà những căng thẳng giữa Hà Nội và Bắc Kinh trở nên quyết liệt, thì tại Sài Gòn người ta đồn là cộng sản Tàu đã sẳn sàng giao Miền Nam Việt Nam cho Bắc Việt.

Ngày 4 tháng Tư Tổng Thống Thiệu tiếp Thủ tướng Khiêm và Bác sĩ Nguyễn lưu Viên, Phó ThủTướng không giữ bộ nào, trưởng phái đoàn VNCH ở hội nghị La Celle-Saint-Cloud. Tướng Khiêm tuyên bố là một cuộc cải tổ nội các chưa đủ để đối phó với những bài toán nội bộ, Bác sĩ Nguyễn lưu Viên nói:

_ “Thưa Tổng Thống, nếu bây giờ ông ra đi thì có thể có nội loạn. Nếu ông ở lại và vẫn tiếp tục đường lối chánh trị như cũ thì Chánh Phủ sẽ bị cô lập….Nếu Tổng Thống cho phép thì chúng tôi xin đề nghị với Tổng Thống 3 biện pháp.

_ Để chận đứng hẳn dư luận xôn xao, Tổng Thống hãy tuyên bố là ông không ra ứng cử Tổng Thống nhiệm kỳ thứ ba tới nữa.

_ Để lấy lại lòng tin trong quân đội, Tổng Thống nên triệu tâp một hội đồng tướng lãnh. Và giao cho hội đồng này toàn quyền hành động. Họ phải điều hành các cuộc hành quân.

_ Sau cùng, để cho Chánh Phủ được hữu hiệu hơn, Tổng Thống hảy giao cho họ thêm quyền hành.

Tổng Thống Thiệu bình tĩnh trả lời:

_ “Trở lại theo thứ tự. người ta muốn tôi phải ra đi?- Tôi được dân chúng bầu lên, tôi chỉ ra đi khi nào dân chúng bảo tôi phải ra đi . Chớ không phải một nghị quyết của Thượng Viện hay của một nhóm nào đó bắt tôi phải ra đi. Các Anh sẽ hỏi tôi: làm thế nào để cho dân chúng trình bày ý kiến của họ? – sẽ tổ chức một cuộc Trưng cầu dân ý.

_ Bác sĩ Viên nói nhỏ nhẹ:

_ Trong thời buổi này khó mà tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý lắm.

_ Như vậy là lúc nào tổ chúc được thì ta sẽ tổ chức vậy, Tổng Thống Thiệu nói.

Các anh bảo tôi hãy tuyên bố là tôi sẽ không ra tranh cử Tổng Thống một nhiệm kỳ nữa. Bên Âu Châu hay ở Hoa Kỳ thì được. Ông Johnson đã ngồi ở ghế Tổng Thống của ông cho đến hết nhiệm kỳ. Ở Việt Nam, nếu hôm nay tôi tuyên bố là tôi không ra tranh cử nữa, thì các anh sẽ biết chuyện gì sẽ xảy ra không ? Ngay ngày mai là không còn ai làm việc nữa, không còn ai tuân lệnh tôi nữa. Tôi không còn bảo tướng Bình (Chỉ huy trưởng cảnh sát) là phải giải tán đám biểu tình nào được nữa. Sẽ có một sự vô trật tự khắp nơi. Còn tệ hơn là tôi đi nữa đó.

Một hội đồng tướng lãnh hả? Tại sao? Tướng Kỳ đã có nói rồi, các anh lại đề nghị như vậy nữa. Tất cả các anh muốn gì đây? Về vấn đề quân sự thì chúng ta đã có Bộ Tổng Tham Mưu Liên Quân là đủ rồi. Thêm một hội đồng tướng lãnh nữa chỉ làm phức tạp thêm tất cả. Chuyện này làm tôi nhớ lại hội đồng tướng lãnh hồi năm 1964 và 65, với những cuộc đảo chánh liên hồi. Đừng nói chuyện đó với tôi nữa. Cứ để cho ông Tổng Tham Mưu trưởng làm việc. Cho tới giờ này ông ấy làm việc tốt lắm rồi. Tổng Thống Thiệu ít khi khen vị Tổng Tham mưu trưởng của ông lắm. Còn Chánh Phủ dân sự thì sao? Tổng Thống nói:

_ Chánh Phủ đã có đầy đủ quyền hành. Chánh Phủ không biết xử dụng đó thôi, không có những biện pháp xét thấy cần thiết phải có.

Thủ tướng không nói lớn tiếng trước Tổng Thống nhưng lần này ông buông ra một câu:

_ “Thưa Tổng Thống, chúng ta đã mất 14 tỉnh rồi. Ở các nơi khác thì không một Chánh Phủ nào được tồn tại với một biến cố lớn như thế. Không có một hình phạt nào đối với Chánh Phủ cũng như đối với Bộ Tham Mưu. Tôi muốn đứng ra gánh hết tội …”

Tổng Thống Thiệu nói không do dự:

_ “Anh muốn từ chức? Tôi chấp thuận… Tôi sẽ tuyên bố chuyện đó chiều nay trong bài diễn văn truyền hình. Tôi sẽ nói gì đây? …. Tôi sẽ không giải thích là Anh không thể thành lập một Chánh Phủ mới được …”

Tướng Khiêm cười, Tổng Thống Thiệu nói lại:

_ “Xét kỹ lại tại sao ta phải nói lý do? Tôi sẽ thông báo tên của người kế vị Anh, nếu không thì người ta đâm ra suy luận. Ở đất nước này cái gì họ cũng suy luận được hết. Bây giờ chúng ta hảy xem coi là ai sẽ thay thế Anh được đây …

Tổng Thống Thiệu lấy ra một bản danh sách các nhân sĩ, dĩ nhiên do tướng Khiêm đã lựa chọn.

_ Trước hết có Bác sĩ Trần văn Đỗ. Ông ta chắc chắn sẽ nhận ngay. Tướng Kỳ sẽ bằng lòng lắm đây, bởi vì anh ta muốn thay vào chỗ của tôi lắm.. Và khi ông Đỗ trở thành Thử Tướng thì ông ta sẽ giúp đở ứng cử viên Kỳ trong cuộc bầu cử sắp tới. Họ liên kết với nhau lắm. Không, không có ông Đỗ.

Tổng Thống Thiệu biết rõ là tướng Kỳ và Linh mục Thanh thường họp ở Câu lạc bộ sĩ quan Không Quân trong vòng 10 ngày nay. Họ đòi hỏi một Chánh Phủ quốc gia cứu quốc.. Rất khéo léo, ông ta không đứng tên vào ủy ban được thành lập trong dịp này, mà chỉ lo việc liên lạc với các chánh trị gia mà thôi.

_ Còn Giáo sư Huy thì sao? Tổng Thống lên tiếng hỏi. Ông ta là một lý thuyết gia giỏi nhưng không có kinh nghiệm. Ông chưa từng giữ một Bộ nào thì không thể là một Thủ Tướng khá được

Ông Lắm (Chủ Tịch Thượng Viện) được không? Ông này làm việc được lắm đó, nhưng trong chuyến du hành sang Hoa Kỳ vừa rồi, người Mỹ đã có nói nhỏ với ông ta điều gì đó. Khi về đến nhà, ông đã làm cách nào đó mà Thượng Viện đã chấp thuận một nghị quyết bất tín nhiệm tôi. Có thể chức vụ Thủ Tướng sẽ dọn đường cho ông ta ra tranh cử Tổng Thống kỳ này. Tôi không có dại gì đâu.. Còn lại ông Cẩn, Được lắm, Ông này thanh liêm, lại có kinh nghiệm, đã điều hành Hạ Viện trong 2 năm, một nhiệm vụ không dễ dàng đâu. Và ông đã được huấn luyện nhiều về hành chánh trong nhiệm vụ tỉnh trưởng. Để tôi đi gọi ông ta.”

Tổng Thống Thiệu bước qua phòng bên cạnh và lúc trở lại ông tươi cuời nói:

_ Ông Cẩn rất kinh ngạc, thật sự! Ông sẽ tới ngay.

Một lát sau, sĩ quan tùy viên bước vào thông báo:

_ “Có Chủ Tịch Hạ Viện tới”

Ngay chiều hôm đó, Tổng Thống Thiệu thông báo bổ nhiệm tân Thủ Tướng ông Nguyễn bá Cẩn, một nhân vật không ai ngờ tới, một nhân vật vô danh. Cũng trong tuyên bố được trực tiếp truyền thanh truyền hình này, Tổng Thống Thiệu “hứa sẽ “tái chiếm lại các tỉnh đã mất về tay Bắc Việt” . Không bao giờ ông chấp nhận một Chánh Phủ Liên Hiệp với cộng sản. Chỉ có một giải pháp duy nhất để có được hòa bình: đó là tổng tuyển cử theo đúng Hiệp Định Paris 1973. Các thất bại quân sự trong những tuần lễ vừa qua là do tinh thần chủ bại trong quân đội, có sự không trung thành của binh sĩ người thượng, do âm mưu phá hoại của bọn nằm vùng cộng sản và do các buổi phát thanh của đài BBC và VOA. Và nhất là do Hoa Kỳ vì họ không thi hành những cam kết của họ”

Đúng hai giờ 15 phút sau phiên họp giữa Tổng Thống Thiệu và Thủ Tướng Khiêm, một biến cố nghiêm trọng đã làm cho việc cải tổ nội các phải bị lùi lại ở hành thứ yếu.

Một trong những bức thư chánh thức cuối cùng mà tướng Khiêm nhận được trong cương vị Thủ Tướng là một bức thư của Bác sĩ Phan quang Đán, một trong những vị Phụ Tá của Thủ Tướng đặc trách về Y tế. Nội dung bức thư như sau:

Đề tài: Cuộc di tản của 1400 trẻ mồ côi sang Hoa Kỳ Kính thưa Thủ Tướng,

Ở Sài Gòn hiện có 1400 trẻ mồ côi, được các tổ chức từ thiện quốc tế bảo trợ. Các trẻ này đang đợi để được đưa sang ngoại quốc, nơi đó sẽ có các cha mẹ nuôi sẵn sàng nhận nuôi chúng. Tổng trưởng Y tế và Ủy Ban Quốc Tế Cứu Người muốn giải quyết ngay vấn đề này để còn lo cho một số vấn đề khác quan trọng hơn. Hơn thế nữa, vấn đề di tản các trẻ mồ côi sẽ gây ra một xúc động lớn trên thế giới, nhất là ở Hoa Kỳ và là một hành động từ thiện rất tốt cho Việt Nam Cộng Hòa.

Hiện giờ hai chiếc phi cơ Boeing 727 của hàng không World Airways đang sẵn sàng. Ông Daly, chủ tịch của công ty hàng không này là một người có tiếng tăm trong giới chánh trị . Ông có lưu ý chúng ta là cuộc di tản của trẻ mồ côi này và hàng triệu dân chúng đã bỏ chạy khỏi những vùng bị cộng sản đánh chiếm sẽ là một sự tuyên truyền (cổ xúy) rất thuận lợi cho Việt Nam, nhất là khi được các đài truyền hình và báo chí Hoa Kỳ khai thác về chiều sâu.

Do vậy, tôi trân trọng xin Thủ Tướng chấp nhận đề nghị này”

Trên phương diện pháp lý, không một vị thành niên, một trẻ em hay một hài nhi Việt Namnào được quyền rời khỏi đất nước mà không có chiếu khán xuất ngoại. Do đó cần phải có một quyết định tập thể và đặc biệt cho nhóm trẻ mồ côi. Nản lòng vì sáng kiến của ông Daly đề nghị, Đại sứ Martin sắp xếp để đưa tới một chiếc phi cơ Galaxy, chiếc C-5 A của quân lực Hoa Kỳ, một loại phi cơ vận tải lớn nhất thế giới. Chiếc Galaxy này khi đến Tân Sơn Nhứt sẽ đổ xuống một số vũ khí và đạn duợc.

Tại phi trường Tân sơn Nhứt, trên những chiếc xe buýt quá nóng, 243 trẻ mồ côi trong đó có một số bị tật nguyền, đang ngồi chờ quyết định chánh thức cho phép chúng ra đi. Các chức trách đều nghĩ rằng bức thư của Bác sĩ Phan quang Đán gởi cho Thủ tướng có giá trị như là một chiếu khán tập thể. Báo chí được gọi tới. người ta bốc vũ khí đạn dược xuống, và cho các em lên phi cơ: đẹp quá! Một đề tài quá tốt cho báo chí: đúng là một cuộc hành quân di tản để bốc trẻ mồ côi! Đại sứ Martin còn cẩn thận cho đi theo nhóm trẻ mồ côi này nhân viên y tế Hoa Kỳ và những bà vợ của các viên chức Tòa Đại sứ nữa. Để đưa các gia đình đi một cách kín đáo, người ta tìm mọi lý do như bệnh, đi phép v.v.. và như thế là có hơn 60 người nữa đã lên thêm trên chiếc Galaxy. Một trăm sáu chục em chiếm hết từng trên của phi cơ cứ từng hai đứa một nịch vào một ghế ngồi. Còn các em khác thì ngồi chen chúc nhau dưới khoang hành lý, trùm kín trong mền. Phi cơ chưa cất cánh nên nóng quá làm mấy đứa nhỏ khóc lên. Các người có phận sự đi theo trông chừng các em tháo vác lăng xăng dỗ dành. Các máy quây phim tha hồ mà làm việc, quay gần quay xa đủ các góc cạnh. Phi cơ cất cánh lên nặng nề. Mười phút sau người ta nghe một tiếng nổ lớn. Một nhân viên phi hành đoàn cho biết là các cánh cửa sau bị rớt ra khỏi phi cơ. Chiếc Galaxy mất cao độ bay thấp xuống, lượn một vòng trên mặt biển. Các ống thở dưỡng khí từ trên trần rơi xuống, nhưng làm sao đủ cho các đứa trẻ? Hơn nữa làm sao các em bé hài nhi biết tự xử dụng được? Phi trường gần nhất lúc đó là phi trường Vũng Tàu, nhưng phi cơ trở về Sài Gòn và rớt xuống một miếng ruộng. Các bờ đê cứng như xi măng đã bóc đi gần nửa chiếc phi cơ. Một chiếc trực thăng đang bay trên vùng phi trường đã báo động sự việc cho căn cứ. Các trực thăng khác bay ngay lại nơi xảy ra tai nạn. Một số trẻ bị hất tung xuống bùn. Người ta tìm lại được trên sáu mươi, còn thì đều bị tử nạn hết.

Tại Tân sơn Nhứt, ông Jim Eckes, giám đốc hàng không Continentai Air Services hỏi anh phi công phụ của chiếc Galaxy:

_ “Tại sao các anh không đáp xuống Cap Saint Jacques ở Vũng Tàu?

_ Vũng gì? người phi công đáp lại ….

Nhiều bà y tá chuyền tay nhau các đứa trẻ đầy bùn sình, rửa sạch cho chúng nó:

_ Đứa này chết nè, đứa này sống.. Còn đứa này..? Đại sứ Martin  điện thoại cho Eckes:

_ Jim, anh thử xem đã có bao nhiêu người trên chiếc Galaxy?

Ông Eckes đã chạy khắp các văn phòng dân sự và quân sự , tìm danh sách . Không có danh sách nào giống danh sách nào. Vì vào giờ chót người ta còn cho một số những người đi theo trẻ mồ côi mà tên tuổi thì không thấy ghi… Ông ta gọi ông Martin:

_ “Tôi không thể cung cấp cho ông một danh sách nào được cả”

Văn phòng của Eckes nằm ngay trong phi trường, gần Câu lạc bộ hàng không Pháp. Cũng như các chuyên viên khác, ông tự hỏi.

“Tại sao phi hành đoàn của chiếc Galaxy không biết là có một phi trường ở Vũng Tàu? Tại sao phi công trưởng lại chấp nhận chở các trẻ em này trong những điều kiện quá xấu như thế? Tại sao người ta không cho một phi cơ Boeing của Hàng Không Pan Am đến Sài Gòn để đảm trách việc chuyên chở này?. Trong khi một chiếc 707 đang sẳn sàng với trang bị hoàn toàn tốt đang chờ đợi ở Guam với phi hành đoàn và các tiếp viên tự nguyện?

Phải chăng “chiến dịch bốc trẻ” này có một đường hướng tượng trưng, nếu được thực hiện bằng các chuyến bay quân sự như chiếc Galaxy này? Qua tin tức được chiếu trên các hệ thống truyền hình trên khắp Hoa Kỳ, người Mỹ được thấy một cảnh tượng đau lòng. Sau đó họ cũng thấy được Tổng Thống Ford đã có mặt ở phi trường San Francisco để tiếp đón những đứa trẻ mồ côi khác khi các chuyến bay đem chúng đến Hoa Kỳ. Thật hết sức là khó chịu khi ông Ford tiếp nhận đứa trẻ do chuyến bay đầu tiên thuộc “chiến dịch bốc trẻ” mang đến.

Tại Sài Gòn một người Việt Nam đã nói với người Mỹ bằng một giọng chua chát, thất vọng hay trách

_ “Các trẻ em đó hả, Thật là một kỷ niệm tốt, Cũng giống như các “con voi sành sứ” mà các anh thích vậy. Rất tiếc là có nhiều con bị gảy bể. Các anh đừng lo, còn các con khác nữa không sao!”

Tướng Khiêm họp Hội đồng Nội các lần chót. Sau đó ông đến dinh Độc Lập để dùng cơm với Tổng Thống và một số đông quan khách được mời. Tổng Thống Thiệu có vẻ thoải mái, vui nữa là khác!

Ông già Hương, Phó Tổng Thống nóng giận:

_ “Phải treo cổ những anh đại tá hay tướng lãnh nào đã bỏ nhiệm sở trong thời gian mấy tuần qua”

Tổng Thống Thiệu trả lời một cách lạnh lùng,

_ “Ngay như họ đào ngũ, chúng ta cũng không thể xử họ như vậy được. Mình còn phải điều tra, và đưa họ ra tòa án xử họ chớ”.

Bác sĩ Nguyễn lưu Viên đề nghị là mình phải công khai hóa dự tính của Chánh Phủ trừng phạt những người có trách nhiệm trong các cuộc lui quân liên tiếp đó. Có thể lập một tiểu ban có sự tham gia của các nghị sĩ và dân biểu của những tỉnh bị mất.

Tổng Thống Thiệu có một phản ứng của một quân nhân không thích thấy những người dân sự chen vào công việc của quân đội , nên ông trả lới:

_ “Đó là bài toán của Bộ Tổng Tham Mưu. Họ đang tiến hành một cuộc điều tra…

Thật ra đã có nhiều cuộc điều tra đang được tiến hành, nhưng các cuộc điều tra này đều nhắm vào các sự mất mát hơn là tìm ra những người có trách nhiệm hay có tội trong sự sụp đổ này.

Bửa cơm kết thúc. Một vài quan khách đi theo Tổng Thống . Ngoài hiên của tầng dưới, trước một lá quốc kỳ Việt Nam màu vàng với ba sọc đỏ Tổng Thống Thiệu dừng lại, chỉ vào lá quốc kỳ:

_ “Các ông thấy không? Tất cả đều được viết lên đây. Tôi không biết người nào đó đã có ý để ba sọc đỏ vào lá quốc kỳ. Có lẽ ta sẽ phải có 3 nước Việt Nam.Khi nói điều này, tướng Thiệu chắc không nghĩ đến “Ba Kỳ” là Nam, Trung, Bắc …

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 3 Feb 2026

NHỮNG NGƯỜI THUA TRẬN

Tạp ghi HUY PHƯƠNG

Bìa: Uyên Nguyên

Trình bày: Võ Hương An

Ấn hành lần thứ 1

12-2012

Nhà xuất bản NAM VIỆT

Xuất bản và phát hành (2012)

Tác giả giữ bản quyền

“Ác thắng Thiện”

John McCain

“Man rợ thắng văn minh”

Dương Thu Hương

Đi Georgia nhiều lần nhưng đây là lần đầu tiên tôi được viếng thăm Stone Mountain Park nơi có hòn núi đá lớn khắc hình ba vị lãnh tụ của miền Nam thua trận trong cuộc nội chiến của Hoa kỳ kéo dài bốn năm từ tháng 4-1861 đến tháng 4-1865. Đó là hình Tổng Thống Liên Minh Miền Nam Jefferson Davis, Tướng Tổng Tư Lệnh Liên Minh Robert E. Lee và Tư Lệnh Phó Thomas Jackson. Tác phẩm điêu khắc này là do sáng kiến của “Hiệp Hội Những Người Con Gái của Liên Minh” (United Daughters of the Confederacy), khởi công từ năm 1962, sau bao nhiêu trắc trở, được hoàn thành năm 1972. Jefferson Davis chính là vị Tổng Thống lãnh đạo Liên Minh gồm 11 tiểu bang miền Nam ly khai chống lại chính sách giải phóng nô lệ da đen của Tổng Thống Abraham Lincoln lãnh đạo 25 tiểu bang miền Bắc.

Được gọi là những người “ly khai”, “phản loạn,” cuối cùng họ vẫn được tôn vinh và tưởng nhớ trong lòng người dân Mỹ. Người thua trận mà cũng được vinh danh hay sao? Cuộc chiến tranh tương tàn Nam Bắc kéo dài đúng bốn năm thiếu ba ngày, 750.000 quân nhân hai phía và một số lượng thường dân thương vong không kiểm kê được, ước tính số người chết chiếm 10% toàn bộ số nam giới miền Bắc từ 20 đến 45 tuổi, và 30% đàn ông da trắng miền Nam trong độ tuổi từ 18-40. Bị phong tỏa đường biển, thiếu tiếp vận, nhất là sau sự thất bại của trận Gettysburg tại ngay vùng đất của mình, cuộc nội chiến đẫm máu kết thúc vào ngày 9 tháng 4-1865 khi tướng Robert E. Lee, Tư lệnh phe Liên Minh, ký nhận đầu hàng không điều kiện ở Appomattox Court House, Virginia, dưới sự chứng kiến của Tướng miền Bắc Ulysses S. Grant. Tướng Lee đã an ủi quân sĩ của mình: “Sau 4 năm chiến đấu khó khăn, với sự can đảm và anh hùng chưa từng thấy, binh đoàn Bắc Virginia (của LM miền Nam) bị bắt buộc phải nhượng bộ một lực lượng và hậu thuẫn quá to lớn”.

Các điều kiện đầu hàng được soạn thảo hoàn tất vào khoảng 4 giờ chiều ngày 9 tháng 4. Khi Lee lên ngựa rời nơi ký văn kiện đầu hàng thì binh sĩ miền Bắc không dấu nỗi sự mừng rỡ đã reo hò, nhưng Grant nghiêm khắc ra lệnh ngưng ngay thái độ này. Ông nói “Những người miền Nam bây giờ là đồng bào của chúng ta, và chúng ta không nên có thái độ đắc chí trên sự suy sụp của họ.” Hiệp ước Appomattox không có điều khoản nào giam giữ, kỳ thị với 200.000 tù binh miền Nam và phe thắng trận thi hành đúng những điều khoản này, sĩ quan thua trận được giữ vũ khí cá nhân của mình và tất cả đã được an lành trở về với gia đình trong sự tôn-trọng của phe đối nghịch, được xem như là Hiệp Ước của những người hào hiệp (The Gentlemen’s greement.) Theo lời yêu cầu Robert E. Lee, quân lính miền Nam được tiếp tục cho giữ lừa ngựa để trở về quê quán giúp họ trong công việc của nông trại  và được quân đội miền Bắc cấp ngay 25,000khẩu phần lương thực vì những người lính thua trận đang bị đói khát mấy ngày hôm nay. Trước đó, trong trận đánh nổi tiếng ở Gettysburg vào tháng 7.1863, sau 3 ngày giao tranh, phe Liên bang miền Bắc chết 3.000 người, phe Liên Minh mất 4.000

người. Tổng thống Abraham Lincoln đã ra lệnh đem cả 7.000 thi hài của cả hai bên để an táng chung một nơi.

Ngày 19.9.1863, khánh thành nghĩa trang này, Lincoln đã đọc bài diễn văn công bố chiến trường Gettysburg là Nghĩa Trang Quốc Gia. 40 năm sau cuộc chiến, mở đầu cho giai đoạn hàn gắn vết thương chia rẽ của dân tộc, năm 1900, Tổng Thống William McKinley đã cho thu thập khoảng 30,000 nấm mộ của tử sĩ Liên Minh Miền Nam trong trận Nội Chiến rải rác trong vùng Washington, cải táng đưa vào một khu đặc biệt trong nghĩa trang Arlington gọi là Confederate Section.

Trước hết chúng ta nhìn lại cuộc đầu hàng miền Nam ngày 30 tháng 4-1975 tại Dinh Độc Lập Saigon.

Theo David Butler, tác giả cuốn The Fall of Saigon (1984), ghi lại tường thuật của phóng viên Neil Davis,

một người Úc biết tiếng Việt làm việc cho đài truyền hình NBC của Mỹ, có mặt trong dinh lúc bấy giờ, thì khi xe tăng đã vào sân cỏ, hai bộ đội trẻ là Pham Huy Do và Pham Huy Nghe (ghi tên không có dấu tiếng Việt theo như trong sách), tay ôm súng, chạy vào trong dinh, sau khi kéo cờ Mặt Trận trên nóc, Nghe đi tìm tổng thống Dương Văn Minh, vừa chạy vừa quát to:

“Ai là Dương Văn Minh? Dương Văn Minh hãy bước ra và quỳ xuống.” Vừa lúc thì Do dẫn vào bốn chính ủy, một người tự giới thiệu là Trung Tá Bùi Văn Tùng, chỉ huy đoàn chiến xa vào dinh Độc Lập. Sau này tài liệu của Cộng Sản ghi chép thì Bùi Văn Tùng có nói với Tổng Thống Dương Văn Minh là: “Ông không còn gì để bàn giao …. “ Nhưng sự thật, theo “Hồi Ký Dang Dở … “ của cựu Đại tá Dương Hiếu Nghĩa ghi lại lời kể của Cựu Dân Biểu Nguyễn Văn Binh (nguyên Quận trưởng Gò Vấp) có mặt trong Dinh Độc Lập vào giờ ấy, thì:

“Thấy vị sĩ quan nầy đeo đầy sao vàng trên cầu vai nền đỏ, vì không biết cấp bậc của quân đội Miền Bắc, nên ông Minh tưởng rằng mình đang đứng trước một tướng lãnh cao cấp:

– “Thưa quan sáu, tôi đã chờ ông từ ban sáng để trao quyền cho ông”

Sĩ quan nầy dùng danh từ “mầy tao” xẳng giọng hách dịch và đanh đá lên tiếng:

– “Mầy dám nói là trao quyền hả ? Mầy chỉ là một kẻ cướp quyền và một bù nhìn. Mầy làm gì có “quyền” nào để giao cho tao? Chúng tao lấy được quyền đó bằng khẩu súng nầy đây. Ngoài ra tao xác nhận với mầy là tao không phải là tướng mà chỉ là một trung tá ủy viên chính trị của một đơn vị chiến xa. Kể từ bây giờ tao cấm mầy không được ngồi xuống!”

Cũng với thái độ ấy, y nói với ông Nguyễn Văn Hảo, khi ông này ngỏ ý muốn trao “món quà” 16 tấn vàng cho Bắc Việt:

-“Đó không phải là quà mà là chiến lợi phẩm của chúng tao, tao phải tịch thu, mầy hãy trao ngay cho tao đi!”

Đọc đến đây, thấy vừa buồn vừa nhục! Nhưng trong sử sách “chính quy” của Cộng Sản chúng nó đâu có dám ghi lại những sự thật sỗ sàng như vây!

Ngày nay chúng ta đã rõ Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa và thân phận của người lính miền Nam đã bị đối xử như thế nào. Về người chết thì ngay khi Cộng Sản vào Saigon, ngày 3 tháng 5, Nghĩa Trang Quân Đội Hạnh Thông Tây, Gò Vấp đã bị bọn Cộng sản Bắc Việt dùng xe ủi đất san bằng hết ngay chiều ngày hôm đó.

Về người sống thua trận, thì cũng trong “Hồi Ký Dang Dở,” Ông Dương Hiếu Nghĩa cho biết: “Ngay tại tỉnh Vĩnh Long, các ông cai tổng Nguyễn văn Dần, Nguyễn văn Xôm, Nguyễn văn Thêm đều bị họ kết án là “có tội với nhân dân” mà không thông qua một tòa án nào, và bị hành quyết ngay khi bị bắt, bằng vũ khí thô sơ như búa, mã tấu … Riêng ngôi mộ của Trung Úy Dù Nguyễn văn Ngọc ở xã Long Hồ, dù đã chết từ hơn một năm trước, vẫn bị họ đào mả lên, đưa cả quan tài ra giữa chợ Ngã Tư Long Hồ để cho phá nát bằng cốt mìn.”

Ở Củ Chi, Hậu Nghĩa, chỉ trong ngày 30 tháng 4-1975, sau ngày Việt Cộng vào, để trả thù chúng bắt anh Nguyễn Văn Chấp, Cảnh sát Đặc biệt xã Phước Hiệp, đánh bằng cây tầm vong, xong nấu nước sôi dội từ trên đầu xuống cho đến chết. Vợ con xin xác đem về chôn nhưng không được. Đại úy Trần Thắng Toàn, Phân Chi khu Trung Lập, sau khi bị bắt, bị nhổ “sống” hết hàm râu, tùng xẻo từng miếng thịt và cuối cùng bị bắn chết.

Anh Tạ Văn Phúc, quân nhân biệt phái cảnh sát tại Xã Tân An Hội, bị những kẻ thắng trận bắt tự đào hố chôn mình, sau đó chúng chặt anh ra làm ba khúc và lùa xuống hố. Vài ngày sau khi ông Dương Văn Minh đầu hàng, một toán 81 Biệt Cách Dù ra đầu hàng tại Long Thành, bị bắn và chôn dưới một cái giếng cạn. Nhân chứng còn sống nhưng không dám lên tiếng. Ở đây chúng ta không nói đến nguyên nhân của chiến tranh Việt Nam và cuộc nội chiến tại Mỹ, cũng không thể so sánh nếp sống và tư cách của tướng lãnh Mỹ với tác phong “rừng rú” của “bộ đội cụ Hồ” trong những câu chuyện kể trên. Chỉ xin mượn lời nhà văn Dương Thu Hương để kết luận cho bài này:

” … Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ!”

Đọc lịch sử, nhiều khi muốn khóc.

Nữ thiếu tá Hải Quân gốc Việt

May 9, 2018

Hiếu Phụng

Post by Sơn râu 1 Feb 2026

Theo lẽ thường tình thì mọi người đều mong muốn học hành đến nơi đến chốn để sau này trở thành tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư,… có được công việc nhàn hạ mà lãnh lương cao.

Tuy nhiên, có một phụ nữ Việt Nam tên Diana Trần Yu là một nữ Tiến sĩ… quản lý một bệnh viện với mức lương trên 160 ngàn đô la một năm. Nhưng bất ngờ chị bỏ tất cả để thực hiện ước mơ của đời mình, bằng cách đầu quân làm lính cho lực lượng Hải quân Mỹ với muôn vàn thử thách khó khăn và đối mặt với nhiều hiểm nguy để thi hành nhiệm vụ của mình.

Diana Tran Yu phát biểu cảm tưởng trong buổi lễ

HIẾU PHỤNG

Phóng Viên Trẻ đã có dịp trò chuyện với chị Diana Trần và hiểu được nguyên nhân vì sao chị đã quyết định chọn đường binh nghiệp. Sau đây là cuộc trò chuyện với chị Diana Trần.

PV: Chào chị Diana Trần, tôi thật sự tự hào khi đất nước ta có được những người phụ nữ mạnh mẽ về ý chí như chị đứng trong lực lượng Hải quân Mỹ và rất ngạc nhiên vì sao mãi đến tuổi 40 chị mới thực hiện ước mơ của đời mình?

Diana Trần: Ước mơ của tôi xuất phát từ thời ấu thơ, khi ấy gia đình còn ở Việt Nam, các vị khách trong quân đội thường ghé nhà chơi, tôi thấy họ mặc quân phục rất đẹp và oai hùng. Từ đó, tôi đã nuôi mơ ước sau này lớn lên sẽ trở thành một người lính để phục vụ cho tổ quốc của mình.

Khi tôi lên sáu tuổi cả nhà rời khỏi Việt Nam bằng cách vượt biển và may mắn được định cư tại Ðức, nhưng cha mẹ tôi vẫn muốn sang định cư tại Mỹ để được sum họp với anh chị em. Ðến khi tôi 10 tuổi (năm 1980) thì cả nhà được chuyển qua Mỹ và ở tại thành phố Houston cho đến nay.

Ngay từ những ngày đầu định cư tại Ðức và Mỹ, tôi đã chứng kiến sự vất vả của cha mẹ trong việc mưu sinh. Và mẹ tôi cũng là người phụ nữ mạnh mẽ đã vượt qua tất cả khó khăn để chăm lo cho anh em chúng tôi. Vì thế tôi được thừa hưởng ý chí mạnh mẽ từ mẹ, tôi đã tạm gác lại ước mơ của mình để tập trung cho chuyện học hành trước mắt.

Lễ tuyên thệ khi nhận cấp bậc Thiếu tá.

PV: Mẹ chị đã cho biết, chị học rất giỏi và đã đạt được bằng Tiến sĩ ngành Dược nhưng chị lại làm quản lý bệnh viện. Vì sao có chuyện thay đổi này?

Diana Trần: Sau khi học xong trung học tôi vào trường đại học với chuyên ngành Dược ở California, khi chỉ còn thi vài môn nữa là xong chương trình học, tôi nhận được tin gia đình có chuyện khẩn cấp, thế là tôi phải ngưng chuyện học hành trở về nhà phụ giúp cho cha mẹ. Chính trong thời gian này tôi thường xuyên đến bệnh viện và tận mắt chứng kiến thái độ lạnh lùng của các nhân viên bệnh viện đối với người đến thăm nuôi. Từ đó, tôi có suy nghĩ phải học ngành quản trị để có thể chấn chỉnh thái độ làm việc lạnh lùng của những nhân viên bệnh viện như vậy. Một năm sau tôi trở lại California hoàn thành chương trình Tiến sĩ Dược năm 1995, rồi đi làm. Trong thời gian đi làm tôi tranh thủ thời gian học thêm được bằng Thạc sĩ năm 2003 ngành quản trị và tôi đã thực hiện được mong muốn trở thành quản lý bệnh viện, chấn chỉnh được những thái độ lạnh lùng trên. Tôi vẫn tiếp tục công việc cho đến khi bước vào lực lượng Hải quân Mỹ.

Diana Tran Yu cùng các cấp chỉ huy trong buổi lễ

PV: Chị đã được tuyển mộ vào lực lượng Hải quân dễ hay khó, bởi vì quân đội Mỹ chỉ thích hợp với những người trẻ. Trong khi chị đã bước vào tuổi 40 mới bắt đầu đường binh nghiệp, vậy khó khăn lớn nhất mà chị phải đối mặt đó là gì?

Diana Trần: Tôi vẫn nhớ, ngày bước vào văn phòng tuyển mộ lính Hải quân Mỹ khi ấy tôi đã 40 tuổi. Người lính nhân viên đã từ chối ngay chỉ vì tôi không còn trẻ, nhưng tôi vẫn kiên nhẫn thuyết phục anh ta cho gặp cấp trên để trình bày nguyện vọng của mình. Người cấp trên này đã hướng dẫn thủ tục cho tôi và cho biết sẽ chuyển hồ sơ lên trên để xem xét. Tôi đã kiên nhẫn chờ đợi gần ba năm với nhiều lần gởi hồ sơ và gặp được nhiều lãnh đạo trong ngành Hải quân để xem xét trước khi tuyển dụng tôi vào lực lượng dự bị Hải quân. Vào một ngày đẹp trời tôi nhận được tin nhắn “Chúc mừng bạn được gia nhập vào đại gia đình Hải quân Mỹ”.

Tuy nhiên, khi vào tôi phải vượt qua thời gian huấn luyện thể lực và các kỹ năng cần thiết như những người lính trẻ. Có lẽ thời kỳ này là giai đoạn khó khăn nhất mà tôi buộc phải trải qua. Bởi thể lực và ý chí liên tục được thử thách, đôi khi tôi nghĩ mình sẽ không vượt qua. Ví dụ, trong những đêm huấn luyện ở một khu rừng, tôi phải ngủ ngoài trời giá lạnh cùng với thiết bị và vũ khí được trang bị. Tôi đã rất hoảng sợ khi nhớ lại cảm giác bị nóng sốt lúc bảy tuổi mà phải ở nhà một mình vì cha mẹ bận việc đi xa không về được. Lúc ấy tôi tự chăm sóc bản thân và đã vượt qua những cơn sốt lẫn sợ hãi để chờ cha mẹ về. Ðêm huấn luyện đó tôi đã tự nhủ với bản thân, khi nhỏ mà đã kiên cường vượt qua thì bây giờ lớn rồi có gì mà phải ngại thế là tôi đã vượt qua giai đoạn thử thách lớn này.

Cuối cùng nhờ sự nỗ lực của bản thân và sự quan tâm giúp đỡ hết mình của cha mẹ lẫn người thân, tôi đã hoàn thành được ước mơ từ thuở còn thơ của mình.

Diana Tran Yu với con gái cũng là lính Hải quân

PV: Ðược tuyển dụng vào lực lượng Hải quân Mỹ từ năm 2012 cho đến nay, ngoài những khóa huấn luyện bắt buộc chị còn được huấn luyện đào tạo thêm chuyên môn gì và việc thăng tiến ra sao?

Khi được tuyển mộ vào lực lượng Hải quân Mỹ, tôi được mang cấp bậc Ðại úy do tôi đã có học vị Tiến sĩ nhưng vẫn nằm trong danh sách lực lượng dự bị. Từ đó đến nay tôi đã ra sức rèn luyện và làm việc vượt qua nhiều thử thách đã được 5 năm, đến ngày 04/04/2018 vừa qua, tôi đã được nói lên lời tuyên thệ “xả thân cho nước Mỹ, cho binh chủng Hải quân mà tôi đã vinh dự được đứng vào hàng ngũ…”. Buổi tuyên thệ được tổ chức dưới chân tượng đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ trên đường Bellaire (TP. Houston), trước các cấp chỉ huy cùng với những người thân trong gia đình. Ðó là ngày tôi chính thức trở thành sĩ quan thường trực (không còn dự bị) với cấp bậc Thiếu tá. Kể từ ngày 30/04/2018 trở đi tôi được chuyển về Bộ chỉ huy làm việc và sau đó cứ mỗi ba năm sẽ được chuyển nơi làm việc một lần.

Hiện nay tôi đang làm việc trong các bệnh viện thuộc lực lượng Hải quân Mỹ, ngoài ra còn có những nhiệm vụ khác mà khi cần cấp chỉ huy sẽ điều động và tôi luôn sẵn sàng cống hiến vì nước Mỹ.

Niềm vui bên cha mẹ

PV: Có nhiều lính Hải quân gốc Việt trong binh chủng này không và chị có thể cho biết những kỷ niệm vui buồn trong đời binh nghiệp của mình?

Diana Trần: Trong các binh chủng khác của quân đội Mỹ thì tôi không nắm rõ, nhưng trong lực lượng Hải quân Mỹ thì số lượng sĩ quan và hạ sĩ quan cả nam và nữ có gốc Việt rất ít, đếm được trên đầu ngón tay. Riêng nữ chiến sĩ Hải quân Mỹ gốc Việt thì hiện nay theo tôi biết chỉ có con gái tôi. Hai mẹ con  đang cùng chung binh chủng. Mẹ con chúng tôi vẫn thường xuyên liên lạc để giúp đỡ lẫn nhau.

Về những kỷ niệm vui thì tôi nhớ nhất ngày nhận tin nhắn được chọn vào lực lượng Hải quân Mỹ và những lúc tôi phiên dịch cho các chỉ huy để giúp đỡ cho những người lính đàn em gốc Việt. Còn buồn một “tí” vì phải xa cha mẹ, gia đình, người thân và nguy hiểm luôn rình rập bởi vì hiện nay tôi đang ở trong một đơn vị thường trực chiến đấu.

PV:  Khi trò chuyện với chị, tôi rất xúc động vì biết được chị rất nhớ quê hương Việt Nam dù thời gian chị sinh sống không bao lâu. Vậy chị có mong muốn gì cho quê mẹ trong tương lai?

Dian Trần: Trên con đường sự nghiệp tôi sẽ cố gắng học tập, nghiên cứu thêm nữa để có thể hoàn thành mọi nhiệm vụ.

Ðối với quê hương, tôi nhớ hoài khi còn nhỏ lúc ở Việt Nam, tôi có mấy cái áo đầm rất đẹp nhưng mẹ không cho mặc vì sợ mọi người chú ý không tốt!… Sau này nhờ đọc sách báo, lịch sử tôi mới biết đất nước mình còn nghèo, đời sống người dân còn nhiều khó khăn. Vì thế, tôi mong ước có ngày được trở về nhìn lại quê hương và nhất là trở về trong vai trò một sĩ quan của quân đội Mỹ để có thể đóng góp công sức cho đất mẹ trong công việc bảo vệ biển Ðông cùng sự tự do hàng hải.

PV: Cám ơn chị nhiều về buổi trò chuyện thú vị này và chúc chị thành công trên con đường binh nghiệp.

Người phụ nữ tham gia đóng tàu sân bay Mỹ

Minh Hiếu (Tổng hợp)

Post by Sơn râu 1 Feb 2026

Bà Giao Phan

Giao Phan – Phó giám đốc cơ quan quản trị các chương trình tiếp thu quân dụng của Lực lượng bảo vệ bờ biển Mỹ (USCG) và là người trực tiếp tham gia đóng tàu sân bay USS George H. W. Bush.

USS George H. W. Bush là một trong những tàu chiến lớn nhất trên thế giới, thuộc lớp tàu sân bay Nimitz của Hải quân Mỹ. Dự án đóng mẫu hạm này được bắt đầu từ năm 2001 và kết thúc vào năm 2009. Vào thời gian đó, khi còn trên cương vị Trợ lý Giám đốc dự án, bà Giao Phan được giao nhiệm vụ giám sát các hoạt động liên quan đến việc thiết kế, xây dựng, kiểm tra, xác định và bàn giao tàu chiến này. 

Bà Giao Phan và gia đình sang Mỹ định cư sau khi cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc, lúc đó bà mới 15 tuổi. Sau khi tốt nghiệp ngành kỹ sư công chính tại Đại học Công nghệ Virginia năm 1984, bà Giao làm việc cho Hải quân Mỹ trong suốt hơn 20 năm sau đó.

Trước khi vào làm việc tại Lực lượng bảo vệ bờ biển Mỹ, bà Giao Phan đã có thời gian dài đảm nhận các công việc tại Lầu Năm Góc (cũng có mặt trong thời

điểm xảy ra vụ tấn công 11/9). 

Năm 2007, bà chuyển sang công tác tại Lực lượng bảo vệ bờ biển Mỹ với vị trí lãnh đạo cấp cao cơ quan tiếp thu quân dụng.

Hiện tại, trên cương vị Phó giám đốc, bà quản lý và giám sát dự án tiếp thu quân dụng trị giá 27 tỷ USD, trong đó có việc duy trì và hiện đại hóa các loại máy bay, tàu chiến… để phục vụ cho nhiều hoạt động trên biển của lực lượng tuần duyên. Bà cũng đứng trong hàng ngũ những nhân viên dân sự cấp cao nhất trong Lực lượng bảo vệ bờ biển, đơn vị quân sự duy nhất trong khuôn khổ Bộ An ninh nội địa Mỹ.

Chia sẻ về công việc hiện tại, bà cho biết: “Lực lượng bảo vệ bờ biển (USCG) muốn đạt được kết quả mỹ mãn trong các nhiệm vụ thì cần được trang bị các máy bay, trực thăng, tàu bè mới và tối tân, nhưng hiện các tàu bè và máy bay của USCG đã quá cũ. Vì vậy, công việc chúng tôi là theo dõi các hoạt động từ việc đấu thầu cho tới việc kiểm tra tiến trình đóng tàu của nhà thầu, rồi sau đó bàn giao tàu hay máy bay mới cho USCG”.

Với những thành tích đã đạt được, bà Giao Phan vinh dự nhận những phần thưởng cao quý nhất mà Hải quân Mỹ trao tặng cho những nhân viên dân sự có thành tích và những đóng góp suất sắc nhất, trong đó gồm có những huân chương như Superior Civilian Service Award năm 2006 và Navy Meritorious Civilian Award năm 2004.

Bà Giao Phan khiêm tốn nói về những thành tích mà bà đạt được: “Được vinh danh những giải thưởng này thì thực sự tôi rất ngại vì bối rối. Ai cũng biết đâu có người nào có thể đạt được thành công một mình đâu”. Bà cũng chia sẻ rằng, có rất nhiều cơ hội để các bạn trẻ gốc Việt tham gia vào Lực lượng bảo vệ bờ biển Mỹ cũng như cơ hội để các bạn thăng tiến tại đơn vị này nhưng điều quan trọng là phải có niềm tin và quyết tâm cao.

Chỉ có Trời hại mới chết

Nguyễn Trãi

Posted on July 24, 2023 by dongsongcu

Post by Sơn râu 1 Feb 2026

Phù hiệu tiểu đoàn 221 pháo binh, SĐ22BB.

“Chỉ có Trời hại mới chết, người hại không chết.” Đây là những điều có thật tôi viết lại nhằm nói lên rằng, “Có thế giới vô hình, và Con Người Ta chết có số.”

Bàn Tay……..


Con đường Quốc lộ 14, từ Pleiku đi Kontum còn tương đối an ninh cho những chuyến xe đò và nhứt là xe nhà binh chạy ngược xuôi chở quân, đồ tiếp tế nhiên liệu, lương thưc cho những cánh quân, những đơn vị trú đóng vùng Kontum, Tân Cảnh, Benhet vào ban ngày vào những năm 1970-1971. Từ KonTum, nối dài cho đến Tân Cảnh, QL14 vẫn còn là đường tráng nhựa rất tốt, nhưng từ Tân Cảnh đi về hướng Căn Cứ Ben Het chỉ là con đường rải đá gồ ghề, dằng xốc. Đơn vị của tôi nằm ngay trên con đường dằng xốc này, nhưng vì địa thế hiểm trở chật hẹp nên con đường đã xẻ đôi căn cứ ra làm hai, có nghĩa là con đường chạy ngang chính giữa căn cứ. Đây là Căn Cứ Hoả Lực Dakto. Căn cứ Hoả Lực nằm trên đỉnh ngọn đồi thấp, phía dưới chân đồi có con suối và chiếc cầu sắt bắt ngang uốn cong hai vòng trước khi lên đến đỉnh. Đơn vị của tôi từ Qui Nhơn tăng phái lên vùng Dakto-Tân Cảnh, gồm có sáu khẩu đại bác 105 ly, yểm trợ trực tiếp cho Trung Đoàn 42 Bộ Binh thuộc Sư Đoàn 22 BB, chịu trách nhiệm lãnh thổ ở đây.

Một đơn vị pháo binh SĐ22BB.

Nhưng bỗng nhiên tình hình chiến cuộc trở nên sôi động, nên mới có một Lữ Đoàn Nhảy Dù tăng viện, và đã xãy ra chuyện “Người Ở lại Charlie”, một ngọn núi cao ngất cách xa tôi ngoài tầm đạn 105 ly. Đơn vị này hiện có pháo binh cơ hữu của Nhảy Dù yểm trợ.


Buổi chiều trên căn cứ Hoả lực Dakto, tôi đang thư thả ngắm trời mây sông núi trong không khí “không tiếng súng nổ” trong chốc lát, thì từ Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Sư Đoàn 22 đang đặt tại Tân Cảnh, trong đó có Bộ chỉ Huy Pháo Binh Sư Đoàn kèm theo, đã ra lệnh cho tôi chuẩn bị “thế lên đường”.
Dân Pháo Binh mà nghe lệnh “Thế Lên Đường” là phát chán vì phải dọn tất cả, nặng nhứt là chất hết đạn đại bác lên xe, trung bình chừng hai ngàn quả, khiến lính các khẩu đội vác mệt nghỉ. Trời miền núi vùng Tam Biên (ngã ba biên giới Việt Miên Lào) xuống nhanh và mau tối. Khi tôi báo cáo “Sẵn sàng” về Bộ Tư lênh Sư Đoàn, thì đầu máy bên kia bảo “chờ”.
Trời sẫm tối không nhìn thấy gì trước mặt. Than ôi! Giờ này mà còn chờ thì biết chừng nào mới “Thế lên Đường” để đến vị trí mới, chiếm đóng vị trí, rồi tác xạ yểm trợ ngay cho các đơn vị bạn đang chạm địch? Gióng hướng súng ban đêm là nổi cực hình cho Pháo Binh vì hạn chế tối đa tiếng động nhất là ánh đèn pin.


Tôi bốc máy thúc dục “Sao cho lệnh đi chưa?” Dĩ nhiên là không nói bạch văn mà phải dùng ám danh đàm thoại cho địch không biết. Bên đầu máy vẫn bảo chờ. Tôi sốt ruột lắm. Cuối cùng vì lý do gì không biết, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn đã ra lệnh hủy bỏ, vì đã điều động đơn vị 155 ly khác đến thế chỗ tôi sắp chiếm đóng.
Thế là khỏe re, nhưng phải cho lệnh Pháo Đội xuống đạn và quân dụng ở lại tại chỗ.
Một giờ khuya đêm đó, tôi nhận lệnh yểm trợ tối đa cho căn cứ Phượng Hoàng (căn cứ mà hồi chiều lệnh cho tôi di chuyển đến), vì đơn vị đại bác 155 ly của người bạn Lâm Xuân Thảo bị tràn ngập biển người sau nhiều đợt địch pháo kích liên tục. Đơn vị của tôi đã bắn liên tục từ khuya cho tới tờ mờ sáng thì được tin Pháo đội 155 ly bị “xoá sổ”, một số lính bị bắt sống. Trung Uý Thảo chết tại chỗ nhưng không toàn thây vì trận xáp lá cà của địch.
Tôi bàng hoàng xúc động thương tiếc cho người bạn trước tôi một khoá và cũng rùng mình nghĩ rằng Thảo đã chết thế mình. Tôi không hiểu tại sao đến giờ phút sau cùng thì thay đổi lệnh không cho tôi thay thế, mà là một đơn vị 155 ly, đến đó để yểm trợ cho căn cứ 5 và 6 đang bị áp lực địch vây. Thảo chết không toàn thây nhưng vẫn lấy được xác. Được tin anh ra đi, tôi nghẹn cứng cổ họng, thương cho người bạn cùng đi học một khoá Đại Đội Phó Chiến Tranh Chính Trị ngày nào. Chúng tôi, cùng ở trong Pháo Binh Sư Đoàn và cùng cấp bậc, được tham dự khoá học này, nên chúng tôi rất thân nhau. Ngày mãn khóa, Trường Chiến Tranh Chính Trị tổ chức buổi lể Sinh Nhật Tập Thể vừa dùng để mãn khóa vừa để cho các khoá sinh biết cách thực hành khi trở về đơn vị của mình.


Khi buổi lễ chấn dứt, Thảo đã nghịch phá, cắm nhiều đèn cầy xung quanh chiếc giường của tôi, rồi rải nhiều hoa tươi, và cắm một bình hoa thật to trên đầu giường. Hắn đã cắm một tấm bảng viết vội “Cố Đại Uý Nguyễn Trãi” ngay chính giữa. Ngoài ra, hắn để xắc đựng quân trang dài tròn to bằng thân tôi và chiếc nón sắt của tôi trên đầu. Tất cả được phủ bằng poncho nên trong giống y chang một thây người chết nằm đó.
Sau khi thắp sáng tất cả đền cầy, hắn chạy ra hành lang gọi tôi vào phòng. Khi nhìn thấy một thây người trùm kín, ghi tên tôi, với ánh đèn cầy tỏ sáng và hoa tươi, tôi lạnh toát cả người. Tôi liên tưởng tới chuyện không may, như báo trước một điềm xấu sẽ xảy ra cho tôi trong những ngày kế tiếp, khi trở lại mặt trận.

Tôi giận lắm, tôi biết ngay là thằng Thảo nó làm trò chơi thật quá đáng này. Tôi vừa hét vừa đá mạnh làm tung toé hết hoa và đèn cầy. Sau đó, tôi đạp văng chiếc nón sắt cùng túi đựng quân trang rơi xuống giường, rồi hầm hầm bỏ ra ngoài. Hành động giận dữ của tôi tưởng đủ để cho nó hiểu rằng tôi ghê sợ không thích trò chơi này, ngỏ hầu nó ân hận việc làm của mình. Khi nguôi giận, tôi trở lại phòng thì lại thấy trò chơi cũ được lập lại. Tôi lại đá và hất tung chiếc giường, trong tiếng cười cuả những người cùng khoá đang chứng kiến. Thực tình tôi rất sợ hình ảnh này vì linh tính báo cho tôi biết sẽ có điều không may xảy ra cho tôi khi trở về đơn vị. Giờ đây tin Thảo đã vĩnh viễn ra đi làm tôi xúc động mạnh. Chuyện này đáng lẽ ứng vào tôi. Sao Thảo lại chết thế tôi?? Hay đây là một điềm gỡ đã ứng nghiệm của một trò chơi “dại dột” trong trường Chiến Tranh Chính Trị?


Một năm sau, cũng tại Căn Cứ Hoả Lực Dakto, năm 1972, “Mùa Hè Đỏ Lửa”, trong đêm CSBV ào ạt tấn công Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 42 BB trong đó có Đại Tá Lê Đức Đạt, Tư Lệnh Sư Đoàn, và Bộ Tư Lệnh Tiền Phương. Pháo đội 105 ly của tôi đã bắn liên tục từ 10 giờ đêm đến rạng sáng hôm sau. Vì khoảng cách gần mút tầm nên tôi cho xử dụng thuốc nạp 7, là thuốc nạp hết cỡ. Vì vậy, nòng súng giật lùi rất mạnh làm cho càng súng một khẩu đã bị gãy. Theo dõi trên hệ thống vô tuyến, tôi biết giờ nào các ông xếp của mình rời hầm chỉ huy, giờ nào mất liên lạc, và giờ nào địch quân tràn ngập căn cứ, qua giọng nói vang lên trong máy của những sĩ quan “Đề Lô”.

Pháo binh Sư đoàn 22 BB yểm trợ quân bạn.

Tôi mất liên lạc với cấp chỉ huy trực tiếp, nên quay sang yểm trợ cho một cánh quân Nhảy Dù thuộc Lữ Đoàn 2, gần Tân Cảnh. Viên sĩ quan”Đề Lô” của Nhảy Dù gọi tôi xin yểm trợ. Khi tôi kiểm soát vị trí mục tiêu, và điểm đứng (toạ độ điểm đứng của sĩ quan này) thì thấy khoảng cách rất gần. Sau khi điều chỉnh nhiều lần để bắn “hiệu quả”, mục tiêu chỉ còn cách đơn vị bạn dưới 50 mét. (Khoảng cách không an toàn và không cho phép tác xạ vì quá gần quân bạn.)

Tôi đích thân gặp người Sĩ Quan Đề lô và nói:


– “Không thể bắn cho anh được vì quá gần quân bạn.”


Người SQ “đề lô” ấy trả lời, rất dõng dạc:


– “Anh cứ bắn đi. Bắn cho đến khi nào không còn nghe tiếng của tôi nữa thì coi như tôi đã chết.”


Câu nói rất anh hùng và khí tiết của một Sĩ Quan Pháo Binh hy sinh thân mình để cứu đơn vị đã làm tôi sững người, bất động. Tôi nghẹn lời vài giây vì xúc động. Tôi không có sự chọn lựa nào hơn khi nghĩ đến những loạt đạn “Bắn Hiệu Quả” sẽ cứu được đại đơn vị cuả bạn. Tôi cũng đang cầu xin an toàn cho viên sĩ quan “Đề Lô”.


Sau đó, tôi gọi danh xưng của người này nhiều lần và không thấy tăm hơi gì hết. Tôi lặng người đi và nghĩ rằng anh ta đã chết. Lúc bấy giờ tôi mất liên lạc hoàn toàn với các cấp chỉ huy của tôi từ phía Trung Đoàn 42 và Pháo Binh Sư Đoàn. Tôi biết tất cả Bộ Tư Lệnh đã di tản ra ngoài và đang ở đâu đó. Từ giờ phút này tôi thực sự cảm thấy bơ vơ, giống như “rắn mất đầu”. Tôi không biết phải làm gì ngoài việc tự phòng thủ căn cứ. Từ trên một ngọn đồi của căn cứ Dakto nhìn về hướng Tân Cảnh, tôi thấy hai chiếc phản lực đang nhào xuống, ngóc đầu lên liên tục, và rồi một cột khói mịt mù bám theo một chiếc. Chắc là bị dính hoả tiển SA7 của địch?
Khi Bộ Tư Lênh đã bị tràn ngập thì cũng là lúc bọn VC quay mũi dùi sang căn cứ của tôi bằng đại bác 130 ly. Tôi nghe tiếng depart rất rõ và xác định được hướng bắn từ đâu. Nhưng nó cách tôi 18 cây số lận, còn súng của tôi có phản pháo cũng chỉ gãi ngứa vì chỉ có 11 cây số 100 mét. Thế là cứ chịu trận ăn pháo địch mà không có một phản ứng nào. Tất cả hấm hố, đài tác xạ, hầm đạn đều trúng đạn của địch tan nát. Hệ thống truyến tin bị sập đổ, gãy cần ăng ten không còn liên lạc với ai được. Hầm chỉ huy của Tiểu Đoàn Biệt Động Quân bảo vệ Căn Cứ Pháo Binh cho tôi cũng bị pháo sập. Ông Tiểu Đoàn Trưởng đã bị thương.


Tôi chưa biết xoay sở ra sao trong tình cảnh này, trong khi bộ binh địch chưa tiến tới gần căn cứ của tôi. Tất cả lính của pháo đội đều trú ẩn dưới hố cá nhân mà chiều cao bằng với mỗi con người trừ cái đầu nhô lên để chiến đấu cá nhân. Đơn vị Pháo Binh của tôi ai cũng được trang bị thêm một khẩu M72, trong lúc này rất cần thiết để chống xe tăng địch; trên miệng hố cá nhân mỗi người đều có một khẩu M16 và một khẩu M72, chờ chiến xa địch tiến đến. Sư Đoàn Bắc Việt, nhất là đơn vị pháo binh địch đang có một “đề lô” áp sát đơn vị tôi. Bọn này cũng tiết kiệm đạn ra phết, chỉ tác xạ khi nào có người đi trên mặt đất sau khi san bằng căn cứ. Căn cứ vào nhiều đợt pháo kích bằng 130 ly; tôi đoán là “đề lô” của địch rất gần, gần sát nên chúng pháo kích chính xác lắm. Cũng đã xế chiều , người nào cũng mệt mỏi và đói. Khi đạn130 ly không còn nổ trên căn cứ, tôi leo lên khỏi miệng hố đi kiếm soát một vòng xung quanh các hố cá nhân. Tôi gọi lớn Ban Hoả Đầu Vụ đem lương khô cho tôi và cho lính còn đang dưới hố cá nhân. Binh Nhứt Nguyễn Văn An, dáng người lùn, mập không lanh lợi, tay cầm gói gạo sấy đã đổ nước chạy đến miệng tro cho tôi. Lúc này tôi đã đi đến chổ khác. Bọn “đề lô” Việt Công ma mãnh không kém, vừa thấy có người trên mặt căn cứ là gọi pháo tiếp. Một tiếng nổ đạn depart từ một khu núi quen thuộc từ sáng tới giờ phát ra, nên chúng tôi biết ngay là sẽ ăn đạn pháo 130 ly kế tiếp. Không ai bảo ai, Binh Nhứt An tự động nhảy xuống cái hố trống của tôi, còn tôi thì nhảy vào hố khác cách đó chừng 100 mét (hố bỏ trống).


Loạt pháo này chỉ chừng trên dưới một chục quả rồi ngưng. Tôi chạy thục mạng về hố của mình, thì hỡi ôi, phía dưới hố chỉ còn lại đôi giày trận của An. Hình hài An nát bấy nhừ y như bầm tiết canh vịt, vì một quả đạn 130 ly rơi đúng xuống hố mà An đang núp. An đã chết thế cho tôi trong giây phút này. Làm sao tin được, một viên đạn bay theo chiều hình cong parabol từ trên cao có thể rớt trúng phóc vô miệng một cái hố cá nhân chỉ vừa vặn đúng cho một thân con người. Viên đạn rớt đúng ngay lúc tôi đã rời chỗ khác, và An đã chết thay thế tôi. Sát miệng hố có chiếc xe GMC 10 bánh đậu từ lâu dùng để phát điện cho hệ thống truyền tin đánh “morse”. Chiếc xe đã hư nát lủng nhiều lỗ đạn và xẹp bánh từ những đợt pháo kích trước, giờ đây thịt da nhão nhoẹt nát bấy và nhỏ như thịt bầm của An một phần được bắn lên và đang bám trên thành cửa xe.

Tôi lặng người đi và tưởng như trong mơ, tôi thực sự xúc động trước cái chết của người lính thuộc cấp chết thế cho mình. Cái số của tôi chưa tới??? Điều gì đã khiến cho tôi rời cái hố? Một sự tình cờ xảy ra hay có sự “sắp xếp của bàn tay vô hình nào đó??”
Một cách tránh pháo kích địch hiệu quả nhứt không gì bằng ẩn người trong hố cá nhân. Đạn rớt trước mặt hay sau lưng hố không bao giờ gây thiệt mạng. Chưa bao giờ tôi gặp một trường hợp đạn pháo kích rớt chính xác xuống miệng hố. Điều gì đã khiến tôi rời khỏi cái hố cá nhân của riêng tôi? Tim tôi đập mạnh hơn. Tôi lặng người và TIẾC THƯƠNG CHO AN. Người đi trong cuộc chiến thường hay tin tưởng vào SỐ MẠNG, hay là TRỜI KÊU AI NGƯỜI ẤY DẠ, hoặc ĐẠN TRÁNH MÌNH CHỨ MÌNH KHÔNG THỂ TRÁNH ĐẠN.


Tâm tư tôi bị giao động mạnh khi nhìn xuống hố, tôi không có thể nhận ra một thứ gì cái còn lại là của một con người, vì nó nát bấy như băm nhỏ. Một viên đạn đại bác 130 ly làm sao có thể rớt ngay phóc vô một cái hố đường kính chỉ chừng năm mươi centimet. Nếu như lúc đạn đang bay trong không trung, tốc độ gió mạnh hơn, hay gió đổi chiều chỉ một chút cũng làm viên đạn lệch đi; hay người xạ thủ địch quân giật cò chậm hơn 1/50 giây cũng sẽ làm viên đạn lệch qua chỗ khác vì sự quay của trái đất sẽ đổi chỗ viên đạn rơi.


Nhiều yếu tố để khiến một viên đại bác rơi trúng đích, nhưng có điều gì đã khiên tôi bồn chồn đói bụng mà phải rời hố, để rồi một binh sĩ thuộc cấp chết thế mình. Tôi nhắm mắt lại và lặng người không dám nhìn vào đáy hố, chỉ còn rõ nhất là đôi giày trận của Binh Nhứt An. Trong nổi hụt hẫng kèm theo lo âu, chưa biết phải làm gì thì Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn Biệt Động Quân bảo vệ Căn Cứ chuyển cho tôi một cái lệnh. Hệ thống truyền tin gần và xa của đơn vị tôi coi như hoàn toàn tê liệt; chỉ còn duy nhứt đơn vị bảo vệ căn cứ của tôi là chỗ dựa trong lúc này.


Lệnh của Trung Tướng Ngô Du, Tư Lệnh Quân Đoàn, cho tôi “triệt thoái khỏi căn cứ đi về trại BENHET ngay bây giờ”. Thì ra vẫn còn có người nghĩ đến tôi. Thực ra họ nghĩ đến 6 khẩu đại bác thì đúng hơn. Tôi không liên lạc trực tiếp với Quân Đoàn, mà chỉ thi hành lệnh qua trung gian là Biệt Động Quân Quân Khu 2. Đơn vị Pháo Binh của tôi mất tiêu hết đâu rồi, đâu còn xếp lớn xếp nhỏ gì để liên lạc.
Tôi trở lại Pháo đội và ra lệnh “cấp tốc di tản khỏi nơi này.” Khi đề lô địch thấy lố nhố người xuất hiện chạy đi chạy lại trên mặt đất thì họ bắt đầu khai hỏa trở lại, làm cho công việc chuẩn bị trở nên phức tạp hơn. Chỉ móc được 5 khẩu đại bác vào những chiếc GMC nào còn chạy được dù là bể bánh xe, hay bể kết nước. Tôi phải bỏ lại một khẩu vì không còn kịp.


Nếu cố gắng kéo cho được 6 khẩu và đầy đủ phụ tùng thì tôi e sẽ có quân nhân trúng đạn pháo kích. Do đó, tôi quyết định tự tay tôi rút khối kích hoả của khẩu bỏ lại và ném ra xa, giấu đi, làm vô hiệu không cho địch quân xử dụng khẩu đại bác này khi họ tràn ngập.


Tôi cất chiếc nón sắt ra khỏi đầu và cúi xuống hố, nơi có xác bầy nhầy bị băm nhỏ, như chào vĩnh biệt Binh Nhứt Nguyễn Văn An. Đạn pháo kích địch vẫn tiếp tục rơi. Tôi chạy thiệt nhanh lại đoàn xe đang chờ và phóng hết ga về hướng căn cứ BENHET, căn cứ đầu não của Biệt Động Quân Biên Phòng của vùng rừng núi Tam Biên. Đi về hướng BENHET tức là không về hướng đồng bằng mà càng tiến gần với ngả ba biên giới Việt Miên Lào.


Khi đến BENHET, tôi gặp người Trung Tá Biệt Động Quân, căn cứ trưởng. Ông ta bảo tự bố trí phòng thủ tạm và chờ sẽ có lệnh sau.. . Khi mặt trời khuất sau rặng núi, tôi quyết định dùng một chiếc GMC và lựa một toán lính gan dạ, lanh lẹ cùng tôi chạy trở lại căn cứ Dakto để lấy khẩu đại bác bị bỏ lại. Vì tôi là người dấu khối kích hỏa, biết chỗ nên tôi phải đi. Vả lại, có tôi cùng đi, binh sĩ sẽ lên tinh thần.


Địch quân không ngờ rằng có người trở lại nên không phản ứng kịp và chúng tôi đã hoàn thành công tác lấy được khẩu đại bác trở về. Ở đây pháo đội không gióng hướng súng để tác xạ yểm trợ nữa, mà chỉ bắn trực xạ phòng thủ vị trí, vì đêm nào cũng nghe tiếng xích của xe tăng địch gầm rú xung quanh. Cả pháo đội thức bét con mắt để trông chừng mà trực xạ. Tới ngày thứ tư mới có trực thăng câu đại bác và toàn bộ pháo đội tôi từ Benhet về Kon Tum.


Không phải Quân Đoàn thương tiếc đơn vị tôi mà cho trực thăng hai cánh quạt đến bốc, mà vì cả Sư Đoàn vừa bị tan hàng không còn một khẩu đại bác nào để tử thủ KonTum. Khi trực thăng đáp xuống là lúc đạn pháo kích bắt đầu rơi tới tấp. Trực thăng không thể chờ nên cũng liều mạng móc súng, đạn 105 ly, và dụng cụ. Coi như chơi trò ú tim hên xui may rủi, nếu lỡ trúng đạn thì đành chịu. Mỗi lần chỉ đáp được một trực thăng vì xuống một lúc dễ trúng đạn pháo kích. Sau 10 chuyến thì chuyển xong hết đơn vị. Chỉ khi nào trực thăng lên đến độ cao an toàn thì tôi mới biết mình thoát nạn. Thời điểm này là lúc Cộng Quân Bắc Việt đang vây. KonTum chỉ còn có cái lõm. Trực thăng vừa đáp xuống thành Dapla là nhận dàn chào đạn của VC ngay. Bọn nó ở đây sẵn và pháo kích liên tục. Cái số của tôi may mắn nên không làm sao cả.


Những ngày gian khổ và nhiều nguy hiểm tại KonTum cũng qua đi khi có các đợn vị Pháo Binh của Sư Đoàn 23 đến được. Nhưng họ không thể mang theo đại bác vì trực thăng không thể câu súng qua đèo ChuPao. Không biết do ông lớn nào thương nghĩ tới, đã truyền lệnh cho tôi từ Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Sư Đoàn 23, ra lệnh tôi bàn giao tất cả súng đại bác lại cho nhân viên Pháo Binh Sư Đoàn 23 để chuẩn “trực thăng vận” về Pleiku nhận súng ở đó và tái phối trí. (Tôi là dân Pháo Binh Sư Đoàn 22)


Gia đình tôi từ quê cha sanh mẹ đẻ cho tới quê vợ không biết tin tức tôi ra sao trong hai tháng. Ba tôi chạy ngược chạy xuôi hết đi coi bói ông thầy này tới bà nọ để mong tin con. Cả một sư đoàn 22 và cả một Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Sư Đoàn của tôi tan nát, còn ai theo dõi số phận của tôi. Do đó, làm sao từ Nha Trang và Sài Gòn biết được.


Khi về đến Pleiku, đơn vị đã ổn định, tôi được đi phép đặc biệt về thăm nhà. Tất cả “gia tài” quân ngũ của tôi để lại tại căn cứ Đệ Đức. Khi Bồng Sơn bị tràn ngập, căn cứ mất, tôi cũng mất hết tất cả. Nơi này có hai ông Tiểu Đoàn Trưởng và Tiểu Đoàn Phó tiểu đoàn của tôi cũng mất tích và chết sau đó. Tôi không còn đồ đạc gì nên cứ mặc quần áo trận lên xe đò về Nha Trang.

Vừa ngồi lên xe đò nhỏ từ Qui Nhơn đi Nha Trang, một cô ngồi sát bên bảo:


– “Anh mặc đồ này khi vô tới Hảo Sơn, Vũng Rô, tụi nó chận và bắt anh đó.” Cô nói tiếp, “Để em đưa cái áo này cho anh mặc đỡ.”


Tôi nghĩ bụng, “Về tới đây còn gặp rắc rối.” Thế là tôi cũng phải nghe lời cô ấy.


Tôi nhớ đến chuyện Binh Nhứt An đã thế chỗ tôi trong hố cá nhân, để rồi thịt xương bị nổ tung và bằm như tiết canh. Tôi thở ra và nghĩ không ngờ vẫn còn thế giới vô hình đâu đây. Tôi không biết phải làm gì với em gái tôi để gọi rằng đền ơn cứu mạng.(Tôi tin là người em gái của tôi, đã chết khi vừa tròn 3 tháng tuổi, đã luôn phù hộ cho tôi.) Kể từ đó tôi rất tin tưởng CON NGƯỜI TA CHẾT ĐI VẪN CÒN LINH HỒN, cũng như tôi tin CON NGƯỜI TA SỐNG CHẾT ĐỀU CÓ SỐ.


Đến năm 1975, vùng Dakto-Tân Cảnh-Ben Hét coi như mất luôn vào tay địch. Ta chỉ còn giữ được KonTum. 1972, Sư Đoàn 22 Bộ Binh cùng với một Liên Đoàn Biệt Động Quân ồ ạt tái chiếm ba Quận Bắc Bình Định là Hoài Ân, Bồng Sơn, Tam Quan. Có lúc quân ta dàn cả 52 khẩu đại bác trong rừng dừa Vạn An để bắn TOT (Time On Target) vào vùng đất địch. Chỉ trong hai giờ tác xạ không ngưng nghỉ, các đồi núi trơ xương chỉ còn đất với đá mà không có cây cối nữa.
Pháo đội của tôi chiếm đóng đồi Vạn An. Cứ sáng sáng năm giờ là pháo binh địch bắn vào căn cứ của tôi. Mà hễ bị pháo kích là chúng tôi bắt buộc phải phản pháo. Tôi chạy ra khẩu đội ra lệnh thì lính mới dám ngóc đầu lên vì địch bắn rát quá. Tôi đứng ngay giữa hai càng súng ra lệnh nạp đạn trực xạ vì súng địch chỉ cách chừng 1000 mét. Một quả đạn súng cối 82 ly của địch rớt làm rách áo giáp và xẻ nát thịt bắp đùi người xạ thủ nạp đạn rồi rớt xuống trước mặt tôi mà không nổ. Người lính ngã xuống. May mắn, nếu quả đạn ấy nổ thì tôi cũng banh xác rồi.


Vào đầu tháng 3 năm 1975, khi Cộng quân đã chiếm Ban mê Thuột, sau đó cắt đứt quốc lộ 19 từ Pleiku xuống Qui Nhơn, thì pháo đội tôi đóng tại chân đèo Mang Giang gần Lăng Mai Xuân Thưởng. Chúng pháo kích suốt ngày đêm để khống chế đơn vị tôi không cho yểm trợ Trung Đoàn Bộ Binh. Những chuyến xe tiếp tế, có khi lên tới 20 chiếc, dồn dập chở đạn 105 ly tới mỗi ngày. Một lần khi tôi leo lên chiếc GMC đứng trên 200 thùng đạn đại bác để kiểm soát số đạn chở đến bị sai thì những quả 82 ly của địch rót đến tới tấp. Có một quả rơi ngay dưới chân tôi và nằm trên những thùng gỗ đạn 105 mà không nổ. Thật là huyền diệu, và may mắn.
Những ngày cuối cùng của Phù Cát Bình Định, tôi bị một quả B40 bắn trúng chiếc xe của tôi trước khi qua cầu. Xe trúng đạn lật làm năm người trong xe bị thương, trong đó tôi, với sáu mảnh đạn B40. (Giờ đây sau 38 năm nó vẫn còn trong cánh tay). Sau chừng 30 phút, một người lính bò lên băng bó vết thương cho tôi thì bị một viên AK, khiến anh ta ngã xuống chết ngay.
Phản ứng tự nhiên của tôi là ngóc đầu lên xem từ hướng nào bắn. Tôi liền bị ba viên AK khác bắn từ sau ót xuyên ra phía trước mặt. Cả ba viên đạn đi vô khác nhau, nhưng chỉ có một lỗ nơi ba viên đạn đi ra nên nó phá cái mặt tôi khá lớn. Đây là một điều thần diệu, chỉ cần ba viên đạn ấy nhích ra một chút xiú thì sẽ chạm tới óc và chắc chắn tôi đã chết ngay. Tôi cũng tin rằng đứa em gái tôi đã cứu tôi trong giờ phút đó.


Những người lính và sĩ quan đơn vị khiêng tôi trên đoạn đường dài từ cầu Cương vào phi trường Phù Cát. Khi vào bên trong, phi hành đoàn của chiếc trực thăng HU-1B bằng lòng cho tôi đi trong khi phi trường đang khói lửa ngập trời. Ông Trung Uý Pháo Đội Phó của tôi cùng người Trung Sĩ Khẩu Trưởng khiêng tôi bỏ lên trực thăng đã có sẵn 34 người lính bộ binh trên ấy. Chiếc trực thăng cất cánh chừng 10 mét thì rớt xuống và chặt đứt đôi người Trung Uý pháo đội phó và Trung Sĩ Khẩu Trưởng, vì khi khiêng tôi bỏ lên trực thăng thì họ vẫn còn đứng dưới đất. Cánh quạt trực thặng lúc rớt xuống đã chém đứt đôi hai người. Phần trên từ ngực của họ đã bay mất, không thể tìm thấy.


Sáng hôm sau tôi bị bắt làm tù binh, nhưng họ thấy tôi bị thương nặng quá nên bỏ tôi nằm tại chỗ trong phi trường.
Trong trại tù Hoàng Liên Sơn, Bắc Việt, một ngày chúa nhật nghỉ lao động, có người bạn tù lớn tuổi, cầm tay tôi coi chỉ tay và nói chắc như đinh đóng cột, “Mạng của anh rất lớn, nhiều lần sắp chết mà không chết, vì có một vong linh của kẻ khuất mặt che chở, Nó hiện lên rành rành đây nè.” Tôi không tin điều ấy là có thực, nhưng qua những sự kiện xảy ra, khiến tôi thoát được hiểm nguy như vậy, làm tôi phải tin rằng điều ấy có thực.
Anh em bạn tù tối đến, vừa đói, vừa buồn, đau khổ không biết ngày nào trở về nhà, nên thường hay tổ chức kể chuyện cho quên hết đói và ưu phiền. Họ thấy tôi có những vết đạn còn mang trong người, nên hỏi thăm và bảo tôi kể chuyện “Những ngày cuối cùng cuộc chiến của tôi.” Tôi đã kể lại tỉ mỉ câu chuyện bị thương, rớt máy bay. và những ngày gian nan sau đó. Sáng hôm sau Bộ Chỉ Huy Trại Tù cho người gọi tôi lên “làm việc”. Họ khủng bố tinh thần tôi từ 8 giờ sang đến 5 giờ chiều với kết luận, “còn hàm ơn luyến tiếc chế độ cũ.”


Từ ngày ra khỏi tù về với gia đình, tôi luôn tự tin rằng số tôi không chết sớm được, và có lẽ “Chỉ có Trời hại mới chết, người hại không chết.”. Đây là những điều có thật tôi viết lại nhằm nói lên rằng, “Có thế giới vô hình, và Con Người Ta chết có số.”

Nguyễn Trãi

Giờ thứ 25

vietmessenger.com

Constantin Virgil Gheorghiu

Bản dịch của Lê Ngọc Trụ và Võ Thị Hay

Gió Bốn Phương xuất bản 1967

Theo Bản Dịch La Vingt – Cinquième Heure Của Monique Saint – Côme

Nxb Gió Bốn Phương, Saigon 1967

Post by Sơn râu 1 Feb 2026

Chương 3

Viên chức của xưởng nói:

– Anh được cắt làm một công việc dễ. Anh còn đau. Vả lại người ta đưa đến đây toàn kẻ đau yếu.

Y ngó Moritz một cách thù ghét. Y đọc lại mảnh giấy cầm tay, rồi nghi ngờ ngó Moritz nữa. Từ hai năm nay ở Đức, Moritz đều bị nhìn như thế. Anh luôn luôn bị nghi có can án, mặc dầu anh không có tội gì, nhưng chắc chắn một ngày kia anh sẽ phạm tội.

Viên chức hỏi:

– Anh là Hongrois hả? Tôi có nhiều dân Hongrois rồi, nhưng họ không làm vừa ý tôi. Phần anh, chắc có khác hơn.

Rồi y mỉm cười và đọc lớn lên:

– Moritz Ianos, dân Hongrois, 32 tuổi, thợ không chuyên môn, tới nước Đức ngày 21-6-1941.

Moritz tự biết từ hai năm nay, đã trở thành dân Hongrois, vì giấy tờ biên như vậy. Anh ngó theo viên chức đang đọc bảng các xưởng các hãng và trại giam ở Đại Đức Quốc xã, những nơi mà anh đã làm công việc từ trước tới giờ. Bảng kê dài lắm. Các loại xưởng kỹ nghệ đều có trong ấy. Moritz thấy tự hào đã làm trong lắm nơi như vậy. Một lúc, anh thoáng thấy lại hàng chục trại giam có rào dây kẽm gai, hàng chục trại anh có làm việc, các hãng, các thành phố, các nỗi đau đớn anh đã chịu đựng. Anh tưởng viên chức sẽ thán phục lòng can đảm của anh đã đương đầu với bao thử thách đau khổ trước khi đến đây. Nhưng viên chức chỉ xem sơ qua tên các chỗ Moritz đã khổ sở trải qua, và đọc đoạn chót: “Ra nhà thương, thợ ngoại quốc, số 707, ngày 8-3-1943”.

Moritz lạ lùng thấy một người đọc bảng kê khai những nỗi đau khổ của anh mà không chút chạnh lòng. Viên chức đó chỉ lấy viết chì gạch thêm ở góc, nơi chỗ còn trống: “Trình diện tại xưởng làm nút áo Knopf Und Sohn, ngày 10-3-1943”. Đoạn y cất tấm thẻ trong hộc tủ với mấy thẻ khác và ngó Moritz, nói:

– “Kỷ luật, vâng lời, làm việc, trật tự!”. Đó là châm ngôn của các thợ ngoại quốc tại xưởng này. Trong xưởng cũng có thợ đàn bà Đức. Chuyện này quan trọng. Anh phải để ý: mỗi liên lạc với đàn bà Đức là bị phạt ít lắm năm năm tù. Ông giám đốc xưởng rất nghiêm khắc về khoản này. Mỗi đàn bà Đức đều có dán trên da một miếng giấy nhỏ, giấy ấy cho anh được quyền lãnh năm năm tù. Nếu một khi anh đặt tay và ông những chỗ không được phép rờ đến trong thân mình họ, thì anh đã biết cái gì chờ anh rồi. Đừng tưởng anh sẽ được cái gì khác. Tên Hongrois, trước anh, đã ngồi tù. Tôi có cho nó biết, hồi mới tới, như tôi cho anh biết hôm nay, nhưng nó không chịu đếm xỉa đến lời cảnh cáo của tôi. Nó tưởng trời tối và đã trốn trong cái mền với người đàn bà thì không ai thấy được. Nhưng ở tai Đại Đức Quốc này, anh không thể làm một cử động gì mà không bị bắt liền. Dầu ở trong mền cũng vậy. Anh không thể hành động mà chúng tôi không hay tức khắc. Chúng tôi đoán được những gì anh suy nghĩ trong đầu. Ý tưởng của anh. Tất cả những ý tưởng của anh! Sang qua điểm thứ nhì: xưởng làm việc cho chiến tranh. Tất cả những gì anh thấy và nghe đều là cơ mật quân sự. Thợ ngoại quốc không được quyền biết xưởng sản xuất thứ gì, được bao nhiêu, và phương pháp sản xuất như thế nào. Nếu anh muốn tìm hiểu, thì đầu anh sẽ rơi. Tháng giêng rồi, một thợ dân Ý bị hành hình. Hiện giờ một thợ dân Tchèque sắp bị xử vì muốn biết bí mật của xưởng Knopf Und Sohn.

Viên chức đứng nói chuyện rồi đi ra cửa, Moritz theo sau. Y nói:

– Tới bây giờ, không một người thợ Hongrois nào làm ở đây mà tôi bằng lòng. Họ ngồi tù cả. Một trong bọn ấy bị hai chục năm khổ sai, vì muốn phá hoại. Ước mong anh là một ngoại lệ, dẫu rằng tôi không tin có ngoại lệ!

Viên chức ngừng trước một cái máy chở thùng chạy trên đường rày. Tại đầu đường rày, một người thợ lấy từng thùng và chồng lên trên chiếc xe nhỏ gần y. Lúc viên chức đến gần người thợ, thì cái xe nhỏ chất đầy thùng, chạy trên đường rày. Một cái xe khác, trống không, chạy tiếp đến gần người thợ. Người thợ như không thấy có sự thay đổi, cứ tiếp tục lấy từng thùng, cái này đến cái khác, do dây trân chuyền tới, và chất đầy trên chiếc xe nhỏ trống không ấy, như anh đã làm lần trước. Mấy thùng đồ xem nặng lắm.

Viên chức nói:

– Đấy là công việc của anh kể từ ngày mai. Dễ lắm. Anh chỉ lấy mấy thùng đầy đồ trong xưởng chuyền ra và để lên trên chiếc xe trống đặng nó chở vô kho. Trật tự rất nghiêm xác, đó là luật quan trọng hơn hết. Anh có làm việc trong xưởng chưa?

Moritz ngó người thợ cúi xuống một cách máy móc, gồng tay một cách máy móc, ôm thùng nút để trên xe, không nghĩ đến việc y làm, và cũng không nghĩ đến việc gì khác cả. Y cũng chẳng tưởng đến những người đang đứng gần y. Không chừng y cũng chẳng thấy họ nữa.

Viên chức cắt nghĩa:

– Máy móc không dung tha cái gì vô trật ự. Máy móc không dung tha tình trạng hỗn loạn, sụ lười biếng, trễ nãi của con người đâu!

Moritz ngó viên chức. Y nói tiếp:

– Anh không được phép nghĩ đến chuyện khác. Máy móc sẽ phạt anh ngay. Trí óc anh phải chăm chú theo người máy, bạn đồng nghiệp anh, người thợ kỹ thuật đã đem cái thùng tới đưa anh. Anh chỉ phải cúi xuống đỡ lấy trên tay nó và đặt lên xe!

Viên chức mỉm cười.

Moritz ráng kiếm cánh tay của người máy, bạn thợ kỹ thuật của anh, nhưng anh không thấy đâu cả. Anh ngó viên chức. Y vẫn mỉm cười, nói tiếp:

– Người máy không tùy theo người ta. Anh phải tùy nó và điều hòa những cử động của anh cho ăn khớp với những cử động của nó. Sự ấy đương nhiên phải vậy, vì nó là một người thợ hoàn bị, còn anh thì không. Không một người nào có thể là một người thợ hoàn hảo hết. Chỉ có máy móc! Ta phải học nó để làm việc. Anh hiểu chưa? Nó sẽ dạy anh kỷ luật, trật tự và sự hoàn mỹ. Có bắt chước nó, anh mới trở nên một người thợ nhứt hạng. Nhưng anh chẳngk hi nào thành thợ nhứt hạng được. Anh là dân Hongrois, mà trong xưởng này, dân Hongrois nhìn ngó đàn bà, chớ không nhìn ngó máy móc.

Moritz muốn nói anh là dân Roumain, chớ không phải dân Hongrois. Anh định muốn thuật trở lại đời anh, các khám đường anh bị giam, sự đánh đập anh đã chịu đựng ở Budapest, nhưng viên chức đang trầm trồ ngó máy móc lần lượt đưa đến mấy thùng trắng tươi, lặng lẽ và cách khoảng đều đều. Ngó máy móc, rồi y ngó qua Moritz, tỏ vẻ khinh bỉ. Moritz cảm thấy sự khinh bỉ bao trùm anh, nên anh thôi, không thuật chuyện ngồi tù ở Budapest và chuyện viên thanh tra Varga.

Viên chức nói:

– Con người là một tên thợ hạ đẳng. Nhứt là dân Phương Đông. Tụi anh là dân Phương Đông, tụi anh thua kém máy móc. Anh chẳng những là một người, anh còn là người Phương Đông và dân Hongrois, vả lại anh mới vừa ra nhà thương nữa! Một bịnh nhơn! Anh chỉ là một kẻ bịnh hoạn thôi!

Moritz thấy rõ viên chức khổ sở, anh muốn nói với y rằng anh ráng hết sức mình để làm việc. Nhưng hắn lại nói tiếp:

– Anh làm sao bì lại với máy móc. Anh phải biết tự xét lấy anh!

Rồi ngó Moritz từ đầu đến chân, y nói:

– Thật là bất kính, thật là ngạo mạn đối với máy móc, mà có ý tưởng dám so sánh máy móc với anh. Chúng nó hoàn toàn tuyệt xảo. Còn anh… Người ta không nên đưa cho nó những tay sai như vầy! Thôi, theo tôi. Tôi sẽ phát quần áo làm việc cho anh. Anh chỉ được vô xưởng khi mặc sắc phục thợ. Sắc phục thợ như sắc phục mục sư. Nhưng về chuyện ấy, anh không thể nào hiểu được. Tụi anh, dân Hongrois, chỉ lo ngó đàn bà. Toàn là đồ dã man!Bốn giờ sáng bữa sau, Moritz đi một mình vô gian phòng tráng xi-măng rộng lớn, đến gần chiếc xe đã chỉ cho anh hôm qua. Còn năm phút mới khởi sự làm việc. Lòng anh nao nao. Anh mặc bộ độ xanh trùm kín thân mình và đi đôi guốc, nện xuống nền xi-mặng như tiếng búa đóng. Anh có thể đi nhón gót và không muốn khua động, lúc một mình vắng vẻ, nhưng tiếng guốc vẫn to như thường. Đến giữa phòng, nghe có tiếng kêu anh. Không phải gọi tên anh, nhưng Moritz biết là kêu anh. Anh chắc chắn như vậy. Anh quay đầu lại. Lúc ấy, người ta gọi anh lần thứ nhì. Lần này anh nghe rõ ràng:

– Salve Sclave! (Chào anh Nô-lệ!)

Một đầu bù tóc đen, một khuôn mặt có đôi mắt to, râu rậm và răng trắng bóng như men sứ, đang đứng sau cửa sổ nhỏ có song sắt. Đó là một người còn trẻ, ốm như bộ xương, đang ngó chăm chăm Moritz với đôi mắt to, đen lánh. Thân mình y bị che khuất. Khi bốn mắt gặp nhau, y nói với Moritz như đã biết nhau từ lâu:

– Salve Sclave!

– “Tôi tên Ianos Moritz”. Moritz trả lời, tưởng người ấy lầm mình với ai tên Salve Sclave.

Ốc xưởng máy rú lên. Máy móc bắt đầu chạy. Moritz đã đứng vào chỗ, trên bao-lơn. Người tóc đen còn đứng cửa sổ ngó anh, cười thân thiện. Gã có nghe câu trả lời của Moritz, nhưng trước khi vô khuất, y còn ngó ngay Moritz và nói một lần nữa:

– Salve Sclave!

Moritz bắt mấy thùng đầu chạy tới trên đường rày và để xuống một chiếc xe trống. Nếu thùng không quá nặng thì một đứa trẻ bảy tuổi cũng làm được công việc này. Anh biết thùng đựng nút áo. Anh muốn xem coi nút ra sao, nhưng thùng nào cũng đóng kín. Nếu có thùng nào mở, anh cũng không dám dở nắp ra để xem nút áo. “Tháng giêng rồi, một thợ dân Ý bị hành hình. Bữa nay, một thợ dân Tchèque sắp bị xử”.

Moritz nhớ lại, thì tại người sau này muốn biết bí mật của xưởng Knopf Und Sohn. Anh tưởng tượng người thợ Tchèque đang đứng trước quan tòa, và chắc đang xin lỗi về sự y đã khám phá bí mật của xưởng làm nút áo. Rồi anh nghĩ đến người thợ Ý bị chặt đầu. Anh có gặp nhiều người Ý, họ đều vui tính. Vì thế, anh cũng tưởng người bị chặt đầu này, bản tính ắt cũng vui vẻ. Anh thấy đầu người Ý, có râu đen và mịn, đang mỉm cười và lăn dưới chân viên đao phủ.

Moritz tự thề không bao giờ ngó đến nút áo, nếu có thùng nào mở ra tình cờ. Không đáng gì mà ngó nút áo để bị chặt đầu! Và anh tự nói thầm rằng nút này để cho binh gia dùng. Ôm thùng trên tay và đặt lên chiếc xe trống, bởi thùng kia chạy rồi mà anh quên người gó, nên anh tự hỏi không biết thùng này đựng loại nút áo nào? Có thứ cho thủy quân, cho lục quân và cho không quân. Có thứ đen, thứ xi vàng và thứ màu ka-Kilgas. Moritz muốn thùng nút mình đang ôm là nút xi vàng vì là thứ nút đẹp nhứt. Trông như mấy đồng tiền vàng nhỏ. Lính thủy dùng loại này. “Không chừng thùng này đựng nút cho thủy quân…”

Moritz trực nhớ lại lời của viên chức: “Chúng tôi biết tất cả những gì qua đầu óc anh. Chúng tôi chụp ảnh những ý nghĩ của anh”.

Anh ráng kiềm hãm tâm trí đừng nghĩ đến mấy cái nút áo trong thùng nữa. Đó là một việc bí mật, mà Moritz thì không muốn biết những bí mật của xưởng.

Một lúc sau, anh tự thấy đang nghĩ coi nhà binh Đức làm gì với bao nhiêu nút áo ấy. Lính tráng và sĩ quan Đức mà anh thấy, họ có nút đều đủ trên bộ quân phục và áo choàng của họ rồi. Nút áo đang làm đây sẽ đính trên những bộ sắc phục mới.

Moritz ngó vô số thùng đang chạy đều đều nối tiếp nhau, như nước sông cuộn chảy bằng phẳng, và tự hỏi: “Chắc thùng chứa cả triệu nút. Như vậy mới đủ để kết vào sắc phục cho toàn cả quân đội Đức. Hay chánh phủ ra lịnh cho binh sĩ mặc sắc phục mới, nên họ mới sản xuất nút áo nhiều như vầy”.

Moritz lại tự hỏi không biết quân phục mới này có phải dùng để đi diễn binh khi hết giặc, trên các đường lớn ở đô thị, cờ xí đi đầu, ăn rập theo kèn nhạc nhà binh không? Các binh sĩ đều có nút áo vàng óng ánh như mặt trời. Rồi anh bắt mỉm cười, thấy mình đang đi trong đám đông coi diễm binh, và tự hào biết rằng nút áo của các sĩ quan, binh lính và cả của các Đại tá nữa đều đã qua tay anh hết. “Mấy nút áo mà ta đang cầm đây sẽ đính trên nhung phục của một Đại tướng. Và tất cả áo choàng, tất cả các nhung phục của Đại tướng sẽ được kết bằng thứ nút áo làm riêng biệt đựng trong thùng này. Biết đâu người ta chẳng dùng hết thùng nút áo này cho ông”.

Moritz mải theo đà ý nghĩ mà quên lấy thùng chạy ngang trước mắt anh. Thùng rời khỏi đường rày, và rớt xuống đất, vang dội ầm ầm. Moritz lật đật chạy đỡ lên. Lúc ấy, thùng khác chạy đến chỗ của thùng trước. Thùng này cũng lại bị rợt xuống đất, càng kêu lớn hơn, vì đổ xuống nền xi-măng. Moritz lom khom ráng đỡ nó lên và ôm được thùng thứ nhứt trong tay. Thùng thứ ba lại rớt trên lưng anh. Anh đánh rơi hai thùng trước và đâm lo quýnh quýu. Anh chưa từng sợ quýnh quýu như bây giờ. Thùng thứ tư lại rớt nữa. Rồi thùng thứ năm.

Moritz trở về chỗ, bỏ những thùng rớt xuống đất, và lo lấy để lên xe mấy thùng khác cứ tiếp tục chạy tới. Anh ngó cái máy, như muốn van xin, thuyết phục cho dây trân ngừng lại tới chừng nào anh lượm hết mấy thùng kia. Nhưng thùng vẫn tiếp tục chạy tới đều đều, cả hàng dài. Anh sợ bị phạt, dáo dác ngó chung quanh nhưng không ai đến nói chi cả.

Đúng trưa, máy ngừng chạy. Hồi nãy đến giờ Moritz luôn luôn sợ bị bắt tội. Anh bước xuống bục, lượm mấy thùng để lên trên xe. Bây giờ anh mới mừng, vì không ai biết đến lỗi của anh đã phạm.

Nhưng xe chạy tự động, nên cũng ngừng lại một lượt với cả dàn máy và đứng yên trên đường rày với năm thùng nút. Moritz định đẩy bằng tay. Nhưng chiếc xe đã khóa cứng và chỉ chạy tự động thôi.

Moritz muốn ôm mấy thùng nút áo đem xuống kho. Nhưng anh không qua lọt cửa tường, vì nó chỉ rộng vừa chiếc xe nhỏ. Anh đứng đó, hai tay ôm hai thùng nút áo, mà không biết tính làm sao? Một tiếng nói rền sau lưng anh. Moritz sợ hãi, để mấy thùng trở lại trên xe, và xây lưng lại.

Anh thấy sau song sắt cửa sổ một khuôn mặt xương với đôi mắt đen. Người thanh niên ban sáng thân ái ngó anh và nói với anh lần thứ nhì: “Salve Sclave!”.

Moritz quên lửng mấy thùng nút áo, luôn cả lỗi của anh vừa mới phạm. Anh cười và trả lời:

– Tôi không phải tên gọi như vậy. Tên tôi là Ianos Moritz! Anh lầm tôi với ai rồi.

Thanh niên hả toác miệng cười, đưa hai hàm răng trắng nõn. Y cười giòn giã, rồi khuất sau cửa sổ, vừa nói to lên lần chót: Salve Sclave!

Moritz đi ăn trưa và ngẫm nghĩ, chắc mình giống người nào tên Salve Sclave lắm sao, nên chàng thanh niên mắt đen đó mới kêu mình như vậy, mặc dầu mình đã nói tên mình với y rồi.

Về sau, anh mới biết chàng thanh niên đứng sau cửa sổ đó đều gọi các bạn ngoại quốc làm trong xưởng là Salve Sclave cả. Y là người Pháp. Y cũng xưng là Salve Sclave nữa. Nhưng sau này Moritz mới biết tên y là Joseph.

Moritz làm trong xưởng nút áo đã năm tháng rồi, và anh chẳng còn để thùng đồ ngã nữa. Thùng tới trước mặt, anh cứ lấy để trên xe. Anh lấy thùng mà không ngó đến nó, không nghĩ đến nút gì đựng trong đó, không nghĩ đến các Đại tướng sắp mặc nhung phục có kết nút này, không nghĩ đến các quân lúnh đi diễn binh, sau khi hết giặc, mặc sắc phục mới với nút áo sáng chói, đựng trong thùng anh đang cầm tay.

Anh không còn suy nghĩ gì nữa. Anh không mơ mộng nữa, cũng không nhớ tới đầu người thợ Ý lăn lóc dưới chân viên đao phủ mà còn cười.

Có vài lúc, anh muốn biết coi người thợ Tchèque ra trước tòa, bữa anh mới đến làm việc trong xưởng, có bị án hay được tha.

Chuyện này xảy ra lúc ban đầu. Bây giờ Moritz không còn tò mò tìm hiểu mấy chuyện không đâu nữa.

Khi anh vô phòng máy, người thợ Pháp luôn luôn đứng nơi cửa sổ và hô: “Salve Sclave” để chào anh thì anh cũng đáp: “Salve Sclave” để chào lại, mà chcẳng nghĩ đến đã nói gì. Anh mỉm cười với y mà không biết mình mỉm cười. Đoạn, anh leo lên bục, chờ mấy thùng nút áo đến. Có một lần, anh thử giản dị hóa công việc, lấy một lượt hai thùng để lên xe. Nhưng đường rày cản lại, sợi dây trân trúng cạnh thùng kêu ken két như nghiến răng muốn cắn. Cả sớ thịt của Moritz run lên như lúc ai nhổ răng anh. Từ đó về sau, anh không dám thử lấy hai thùng một lượt nữa. Máy móc không bằng lòng như vậy. Và anh phải làm theo ý muốn của máy móc. Dầu anh có thể lấy năm thùng một lượt, anh cũng không làm. Anh bị lôi cuốn theo nhịp nhàng và không thể thoát ra khỏi được. Chuyện làm không khó, cũng không dễ. Lúc trước, mỗi khi anh làm công việc nặng nhọc, đổ mồ hôi và mệt mỏi thì anh chửi thề. Hiện giờ, anh không đổ mồ hôi và cũng không chửi thề nữa. Anh có cảm giác như không làm việc mà cũng không ở không. Lúc trước, khi làm công việc, anh suy nghĩ đủ chuyện và thì giờ qua mau. Hiện giờ, anh không suy nghĩ nữa. Trong lúc anh đang đỡ thùng lên và để xuống xe, anh có dư thì giờ để nghĩ muôn ngàn chuyện, nhưng đầu anh nay trống rỗng không còn hình ảnh nào hết. Ý nghĩ và tưởng tượng cũng rời bỏ anh. Và anh cũng không nghĩ đến công việc anh làm nữa. Anh biết rõ anh làm công việc này chẳng những bằng tay mà còn bằng trí não. Nếu không, thì tâm hồn và trí não anh sẽ ở chỗ khác. Nhưng chúng nó ở đây, gần thùng và gần máy móc.

Moritz cảm thấy thân xác khô khan như cây thiếu nước. Tối đến, khi nằm xuống giường, anh tưởng như đang cúi xuống lấy thùng nút. Buổi sáng, khi ngồi dậy, anh tưởng như đang đứng lên, sau khi để thùng nút trên xe rồi, và được rảnh tay vài phút. Giấc ngủ anh hết còn mộng mị. Trán và mắt anh tối dần. Da anh thấm màu máy móc chớ không phải màu đất. Mấy lúc sau này, anh quên luôn những thùng đựng gì, và nếu có nhớ lại, mà cũng không thường nữa, thì anh mỉm cười. Nụ cười của anh khô khan như đất nẻ mùa nắng.

Các bác sĩ đều nói anh bịnh, và anh bị nhốt tại nhà thương trong trại.

Moritz hiện đang ở trong gian nhà cây dựng làm nhà thương. Cửa sổ có giăng dây kẽm gai. Anh ở đã bốn tuần nay. Phổi anh bị nịnh. Toàn thân anh nóng như lửa và anh cảm thấy như sắp tiêu tan. Anh chỉ mơ tưởng đến xưởng làm nút áo và anh muốn trở lại đi làm. Anh nằm suốt ngày, mắt nhắm nghiền. Có tiếng động chung quanh anh. Anh nói thầm: “Chắc bác sĩ đi thăm bịnh”. Thình lình, anh nghe một mùi thơm của da thịt mới tắm sạch sẽ mà anh không ngửi được từ lâu, nhưng anh biết rõ, nên anh mỉm cười mở mắt ra. Một người đàn bà, y phục nhà binh, đứng gần anh. Nàng trẻ và trắng hồng. Mình nàng có mùi xà bông và hơi mát. Nàng nghiêm nghị ngó anh, nhưng anh vẫn cười. Hai viên hiến binh và mấy bác sĩ đứng bao vây anh. Trong lúc nàng nhìn anh, một bác sĩ nói:

– Phải y không?

Người đàn bà vừa đọc tấm phiếu bịnh trạng trên giường Moritz, vừa nghi ngờ ngó anh. Ai ai ở Đức cũng đều có đôi mắt nghi ngờ. Nàng nói:

– Dân Hongrois hả? Với người Ý, mới là nguy hiểm nhứt!

Rồi nàng nắm góc mền lật lên, thấy ngực Moritz, nàng nói:

– Không phải y. Tên kia có lông ở ngực!

Nàng bỏ đi, đến trước các giường khác, nhìn các gương mặt và giở mền vài bịnh nhân. Nàng không gặp người nàng muốn tìm. Hai viên hiến binh vẫn theo nàng.

Mùi thơm ấy, không phải chỉ là mùi nước hợp với mùi xà bông và dầu thơm mà thôi, vẫn còn phưởng phất trong phòng, sau khi nàng đi khỏi. Moritz nhớ lại là mùi da thịt, như của Sazanna và Iulisca.

Một bác sĩ nói:

– Một trong các bạn thợ của anh đã làm tình với một gái Đức. Người đàn bà vừa mới đi ra đã bắt gặp họ. Cô gái Đức bị bắt, gã kia chạy thoát. Gã đen đen, có lông ngực nhiều. Cô gái Đức không muốn nói tên gã. Nhưng rồi thế nào họ cũng tìm ra, và gã sẽ bị năm năm tù. Cũng tội nghiệp!

Bác sĩ là người Hòa-lan. Ông ngó ra cửa sổ và nói:

– Bắt được rồi!

Moritz chỗi dậy. Một người dân Serbe bị trói đi ngang qua cửa sổ. Người đẹp trai, tóc đen, đi giữa hai viên hiến binh. Moritz biết người này. Y làm cho xưởng thợ dây nhợ và vui tính lắm. Người đàn bà mặc quân phục đi sau y và nói:

– Tôi đã nói, thế nào cũng bắt được!

Khi ở gần Joseph thì Moritz không sợ. Chỉ với người này là anh không sợ mà thôi. Mấy lúc sau này, anh sợ tất cả. Ở xưởng, anh sợ hoảng khi nghĩ đến phải làm rớt thùng nút, hay lấy chậm trên đường rày.

Anh sợ khi ngó một người đàn bà Đức. Anh sợ khi tình cờ biết được một chuyện cơ mật về nút áo. Anh sợ tất cả người Đức. Mà chẳng phải chỉ riêng người Đức thôi, mà sợ luôn hết, và nhứt là đất đai Đức, tiếng nói Đức, không khí anh thở, vì nó cũng là của nước Đức. Ở Roumanie, Moritz bị giam cầm, đánh đập, đói khát, nhưng anh không sợ. Anh cũng không sợ người Hongrois đã hành hạ anh, xé da anh từng mảnh, vì họ là con người, Iordan cũng là người, nên anh không sợ ông.

Moritz chưa bao giờ run sợ trước con người, vì anh biết họ vừa dữ tợn vừa tốt bụng cùng một lúc. Cũng có kẻ hiền, cũng có kẻ dữ. Nhưng ai ai cũng đều có cả hai tính này.

Ở Roumanie, viên phó quản cho anh điếu thuốc sau khi thoi anh gãy hai cái răng. Ở Hongrois, mấy viên hiến binh cho anh nước uống và thuốc hút, sau khi nướng bàn chân anh bằng sắt đỏ.

Ở Đức, anh chẳng hề bị đánh. Mỗi ngày anh được bánh mì, cà phê nóng và súp. Công việc làm ở đây lại dễ dàng hơn tại kinh đào ở Roumanie hoặc tại pháo lũy ở Hongrie. Nhưng anh lại không thể sống được ở Đức. Moritz chắc chắn rồi đây dân Đức sẽ chặt đầu anh, mặc dầu anh biết rằng anh nghĩ như thế là dại dột. Nhưng anh có cảm tưởng một ngày kia anh bị còng tay dẫn đi, tuy anh không phạm tội gì cả. Họ sẽ cho anh ngồi tù, dẫu anh chẳng biết mảy may chuyện bí mật về nút áo. Người ở đây xấu như máy móc. Hoặc giả máy móc không xấu và người Đức cũng không dữ tợn. Nhưng anh không sống được gần máy móc. Anh khô héo lần mòn. Anh lo sợ. Anh sợ máy móc và luôn cả con người đã giống máy móc. Anh thấy trơ trọi giữa họ và giữa máy móc. Anh muốn la lớn lên vì quá cô độc. Và vì vậy mà anh mến người bạn Pháp của anh.

Joseph tới tìm anh nói:

– Salve Sclave!

Moritz cười và đáp: “Salve Sclave!”

Joseph thích ai trả lời bằng câu này lắm. Y cắt nghãi:

– Chúng ta đều là kẻ nô lệ. Tốt nhứt là ta phải nhắc nhở với nhau luôn cả ngàn lần mỗi ngày, để đừng quên phút nào. Nếu chúng ta lãng quên rằng ta đang làm nô lệ thì nguy mất. Lương tri ta phải luôn luôn được thức tỉnh.

Bữa ấy, chiều chúa nhựt. Moritz và Joseph nằm dài trên cỏ, chỗ hóng mát có một gian nhà gỗ. Joseph thuật lại cho Moritz nghe y yêu một người đàn bà, và Moritz biết nàng tên là Béatrice, ở Ba-lê.

Nàng có đôi mắt to và đen. Nàng khóc mỗi đêm vì Joseph bị cầm tù. Người thợ Pháp này đã nói với Moritz bao nhiêu lần rồi, nên anh chắc chắn, nếu một ngày kia gặp Béatrice, anh sẽ nhận ra nàng ngay. Có lúc anh tưởng như nghe nàng nói chuyện. Giọng nàng như hát. Anh cảm thấy hình ảnh nàng giữa anh và Joseph, khi hai người nói chuyện với nhau. Và vì vậy, khi anh ở gần Joseph, anh có cảm tưởng có ba người chuyện trò, và anh lấy làm lạ sao Béatrice không nói năng gì và cũng không trả lời với ai hết…

Qua ống loa, viên cai quản trại giam gọi to:

– Vô trong trại tất cả!

Moritz đứng dậy nói:

– Họ xét gì nữa đây.

Joseph cũng đứng dậy đi theo anh và nói:

– Họ muốn gì mình nữa!

Người thợ Pháp không bằng lòng. Y không muốn ở trong nhà gỗ buổi chiều chúa nhựt.

Các thợ ra khỏi sân, từng đoàn. Trời nắng và nóng.

Moritz và Joseph đứng dựa cửa sổ, ngó qua lưới sắt, xem chuyện gì xảy ra ngoài sân. Moritz nói:

– Quả thật rồi!

Ba chiếc xe cam-nhông nhà binh vô sân, đậu dưới cửa sổ họ.

Mấy lúc sau này, có tiếng đồn sẽ có đàn bà dẫn đến trại. Ở mấy trại khác, đã thấy chuyện ấy rồi. Các tù binh không tin. Và bây giờ thì đàn bà đến trại. Đàn bà được dẫn đến cho họ. Cả ba xe chở đầy đàn bà: tóc nâu có, hung hung có, đỏ hoe có.

Moritz nói với Joseph:

– Anh thấy chưa!

Nhưng Moritz cũng chưa dám tin, mặc dầu anh thấy tận mắt. Song đàn bà đã đến đó, anh ngó họ. Cả thảy đều phấn son và mặc áo mỏng. Họ dòm lên mấy cửa sổ, tù binh chen nhau đứng chật. Và các thị đều cười. Đoạn họ lo sửa soạn xuống xe. Khi nhảy xuống, gió tốc váy lên. Moritz dòm thấy áo lót trong, quần chẽn, đủ màu à mỏng như giấy quyến, với phần trên bắp đùi của các thị. Sau lưng Moritz, bọn tù cười ầm lên. Phần anh, anh không tin cặp mắt anh. Anh không cười được.

Viên quản trại nói lớn:

– Không ai được xuống xe. Chưa có lịnh xuống xe mà!

Tiếng trong ống loa nghe oai nghiêm và dõng dạc. Không ai thấy ông quản trại. Ông nói từ trong phòng làm việc. Mấy người đàn bà đều quay trở lại, xô đẩy nhau trèo lên xe, mau lẹ như họ vừa nhảy xuống. Họ sợ bị phạt xuống xe, không đợi lịnh. Lúc trèo trở lên, bọn tù lại được dịp thấy một lần nữa, đầu gối, áo lót và quần chẽn đủ màu tươi dợt của họ. Họ vẫn cười, nhưng khúc khích và sợ sệt hơn.

Viên quản ra lịnh:

– Mười người đàn bà trong một nhà giam, và ở đến chín giờ tối. Các trưởng gian nhà đều có huấn lịnh riêng để thi hành chương trình và sẽ chịu trách nhiệm về trật tự và kỷ luật!

Tiếng loa im.

Đàn bà đứng yên trên xe, chờ lịnh khác.

Người thợ Pháp nghiến răng, chửi thề.

Moritz tưởng y nói chuyện với anh, nên quay lại. Joseph đang giận dữ, không ngó anh.

Tiếng loa nói:

– Đàn bà phải xuống xe có trật tự, từng tốp.

Lịnh vừa ra, các thị nhảy xuống xe, chia làm năm tốp. Năm viên trưởng gian nhà đến dắt họ đi. Họ tươi cười đi theo năm người ấy.

Moritz không biết “chương trình thi hành” ra sao. Anh lấy làm lạ và tọc mạch tìm hiểu. Anh biết đàn bà dẫn đến để làm tình với tù nhơn. Người Đức cho rằng tù nhơn làm việc không đắc lực, nếu không có đàn bà. Và người Đức muốn công việc làm được nhiều kết quả. Vì thế, họ cho dẫn đàn bà đến để thợ làm việc đắc lực hơn tại mấy xưởng nút áo, xưởng nhợ và lò đúc, trong thành phố.

Moritz không hiểu tại sao, khi có người đàn bà người ta lại làm việc đắc lực hơn. Và anh cũng không biết bọn tù sẽ làm sao với các thị dẫn đến cho họ. Gian nhà thì rộng lớn và có nhiều giường. Tù thì nhiều mà đàn bà lại ít. Không thể mỗi tù nhơn có một đàn bà. Moritz nói thầm: “Hay là các thị đi từng giường?”. Rồi anh nghĩ chắc đàn bà phải hổ thtẹn lắm khi đi từ người này đến người khác. Anh chưa từng nghĩ đến việc được thấy đàn bà trong trại của anh có cửa sổ giăng dây kẽm gai bao giờ. Nhưng họ đã đến đây, đứng ngoài cửa kìa!

Viên trưởng gian nhà nói chuyện với họ, chắc dặn dò cách thức, khiến họ cười to lên.

Joseph kêu Moritz:

– Đi ra anh. Lại đằng chỗ hồi nãy.

Moritz theo Joseph đi ra cửa. Nhiều người khác cũng đi ra.

Đi ngang cửa, họ đụng mấy người đàn bà. Mùi phấn và nước hoa tỏa ra trong nhóm ấy. Tất cả đều ngó Moritz và Joseph, rồi cười. Mấy ả chế nhạo hai anh đã bỏ qian nhà, ra đi.

Moritz cảm thấy một bàn tay đàn bà rờ mặt anh. Anh ngó xuống. Bàn tay thơm và mát.

Joseph nói vào mặt họ:

– Salve Sclave!

Họ đáp lại bằng một chuỗi cười. Joseph, thì anh không cười. Trán anh xạm lại.

Ra sân, anh nằm dài trên bãi cỏ, nhìn trời. Moritz nằm kế anh, nghĩ đến mấy người đàn bà. Joseph chắc cũng có nghĩ đến, nhưng Moritz không biết ý anh nghĩ gì. Joseph nói:

– Nếu anh muốn, thì cứ trở vô đi!

Moritz đáp:

– Không, tôi không đi.

Hai người làm thinh. Lần đầu tiên, Joseph không nói với Moritz về Béatrice. Y cắt nghĩa:

– “Họ là đàn bà Ba-lan ở trại giam. Nếu họ làm nghề đó trong sáu tháng, thì họ được thả ra liền… Nhưng trong sáu tháng, thì họ đã thân tàn xác hoại mất rồi. Họ chỉ ra khỏi trại giam để đi thẳng vào nhà thương, nhà dưỡng bịnh, hay nhà xác.

Moritz nói:

– Vậy mà tôi tưởng nghề của họ chớ!

Bây giờ anh mới thấy thương hại họ. Anh không biết họ cũng là tù binh như anh.

– Họ không phải là nhà nghề, Jean à! (Joseph cứ gọi Moritz bằng tên Jean). Họ là nô lệ và cố hết sức mình để lấy lại tự do. Một kiếp nô lệ chỉ biết cố sức bứt phá xiềng xích bằng hai bàn tay trống rỗng, yếu đuối, không có khí cụ nào khác. Anh hùng thật! Nhưng khổ thay, nào họ có làm sao bứt được xiềng xích họ đâu! Chỉ nát thân họ! Xiềng xích nô lệ còn mạnh hơn xác thịt con người.

Đến chín giờ tối, các đàn bà rời khỏi trại.

Khi lên xe, họ không cười nữa. Họ im lặng hút thuốc.

Joseph tiễn họ, bằng một giọng chân thành, như chào bạn thân:

– Salve Sclave!

Đêm ấy, anh tù Pháp vượt ngục.

Viên chức của xưởng dắt Moritz vô phòng giấy và nói:

– Các sĩ quan cần dùng một thông dịch viên tiếng Balkan. Anh phải đàng hoàng và cung kính! Các ông ấy là sĩ quan của O.K.W.

Moritz đứng chờ ngoài cửa trót giờ. Rồi, anh được dẫn vô. Khói thuốc và mùi rượu nồng nặc cổ họng anh. Trên bàn la liệt ly cốc và chai không.

Lúc anh bước vô, không ai quay đầu ngó anh cả. Anh đứng dựa cửa chờ. Khói thuốc làm anh ngộp thở. Anh muốn nói với họ rằng anh thông dịch không rành và muốn xin trở về xưởng, bưng mấy thùng nút áo như cũ. Ít nữa ở đó anh được yên tịnh hơn, và khỏi bị ngộp khói thuốc. Anh ưa thích mấy sọc đỏ trên quần các sĩ quan. Họ đều còn trẻ. Moritz đếm được bảy người. Một viên sĩ quan đến gần Moritz, để tay quay tròn trên đầu anh, như quay trái banh trước khi thảy. Ông ngắm nghía mặt Moritz, ngó nghiêng bên trái, rồi bên phải. Ông bảo:

– “Xây lại coi!”. Ông nhìn đằng sau đầu anh, rờ rẫm vai anh và nâng cằm anh lên. Ông bảo Moritz hả miệng và xem răng, rồi ra lịnh:

– Cởi đồ ra!

Moritz lột áo thợ để trên kệ dựa vách. Viên sĩ quan chăm chú ngó theo anh.

Trong khi anh cởi đồ, ông cân nhắc từng chử chỉ điệu bộ của a. Mấy vị khác lo nói chuyện, không quan tâm đến anh.

Viên sĩ quan ấy là Đại tá S.S. Ông nói:

– Các bạn, tôi muốn trình bày ra đây một chứng minh luận thuyết!

Ai nấy đều im lặng và bao chung quanh Moritz, đang trần truồng đứng ngơ ngác trước mặt họ. Anh được gọi lên để làm thông ngôn, và anh không hiểu gì về chuyện ông Đại tá vừa nói. Anh tưởng một chứng minh như một cuộc diễn trò trong gánh xiếc.

Rồi anh thấy lại trong trí các cuộc chứng minh. Một khán giả được kêu lên sân khấu để nhà ảo thuật lấy trong túi người ấy ra nào mèo, thỏ, chim chóc còn sống nhăn. Theo ý anh chứng minh là như vậy đó. Ngoài ra, anh không biết cách nào khác. Và bây giờ Đại tá lại muốn dùng anh để trình bày một cuộc chứng minh, không chừng cũng như một cuộc diễn trò mà anh đã thấy trong gánh xiếc hồi anh đi lính. Anh tò mò muốn biết. Anh mỉm cười. Anh không sợ cuộc biểu diễn. Anh biết rằng người khán giả được chọn không bị hề hấn gì. Họ chỉ lấy làm lạ và thán phục thôi. Và anh cũng sẽ thán phục Đại tá khi ông bắt ra những thỏ, mèo, chim chóc từ trong nách và cườm tay anh. Anh vẫn thân ái mỉm cười với Đại tá. Anh ưa thích mấy nhà ảo thuật và tự cho mình chẳng khi nào làm được như họ, dầu có luyện tập cả ngàn năm. Anh phục ông Đại tá biết làm trò. Anh nhớ lại lời của mẹ anh: “Mấy nhà ảo thuật là tay sai của ma quỷ”. Anh hơi lo ngại và không mỉm cười nữa. Ma quỷ thường làm anh sợ hãi. Đại tá nói:

– Các bạn, người này vô đây chừng mười phút. Tôi chưa hề thấy mặt y. Tôi cũng không biết tại sao y đến đây!

Viên chức của xưởng đáp:

– Đó là viên thông ngôn tiếng Balkan mà Đại tá cần dùng.

– Vậy mà tôi quên mất chớ, quên chuyện nhờ ông kiếm cho một thông dịch viên. Lúc anh ta bước vô, khuôn mặt anh ta làm tôi để ý.

Đại tá để tay trên đầu Moritz. Anh mỉm cười và nóng nảy đợi Đại tá cho thỏ chun ra từ dưới nách anh. Đại tá thì nghiêm trang. Moritz biết rằng tại các gánh xiếc, nhà ảo thuật nào cũng nghiêm trang. Dầu khán giả có cười vỡ bụng, họ cũng vẫn nghiêm nghị. Moritz chờ nghe ai nấy cười rộ lên. Anh cũng sửa soạn cười. Từ lâu rồi, anh không có cười. Đại tá nói:

– Tôi thấy anh này lần đầu tiên, như các bạn, chừng mười phút, và chưa nói với anh tiếng nào. Thế mà tôi có thể, vịn vào những nhận xét khoa học, thuật lại từng chi tiết tiểu sử của anh và lịch sử gia quyến anh từ ba trăm năm nay.

Moritz nhớ lại hồi đi lính, cũng có thấy mấy trò xiếc này. Nhà ảo thuật kêu trong hàng khán giả, một người lên sân khấu và nói rõ tên họ, tuổi tác, vợ con, và lắm chuyện vân vân khác của người đó. Ai cũng lấy làm lạ sao nhà ảo thuật biết được các chuyện bí mất ấy. Nhưng Moritz không thích mấy trò như vậy. Anh chỉ thích những trò diễn thuật ra mèo với thỏ. Anh tiếc sao Đại tá không biết những trò ảo thuật ấy. Anh muốn cho ông lấy trong túi anh ra một con mèo chẳng hạn. Ở trong gánh xiếc, anh cũng có đứng lên để đến trước nhà ảo thuật, nhưng vì có nhiều người muốn lên, nhà ảo thuật lại lựa nhằm người khác.

Đại tá tên là Muller. Ông nói tiếp:

– Dưới chế độ quốc xã, khoa học về nhân chủng phát triển mạnh mẽ nên đã tiến bộ hơn khoa học này của các nước khác, gần một trăm năm. Chỉ nhìn người trần truồng này, tôi có thể kể rành tổ tông của y, việc cưới hỏi của thân tộc y và phong tục của gia quyến y ra sao? Muốn thí nghiệm lời trần thuật của tôi, các bạn cứ hỏi người ấy coi đúng hay không?Mấy sĩ quan đứng lại gần chung quanh Moritz và nói:

– Kỳ lạ thật!Đại tá nói:

– Theo hình thức của sọ và mô hình của xương trán, xương mũi và xương mặt, và theo cách cấu thức bộ xương, nhứt là xương ngực và vị trí xương vai, thì người này thuộc về nhóm dân Germain, hiện còn sống thiểu số tại thung lũng sông Rhin, tại Luxembourg, tại Transylvanie và tại Australie. Còn đúng chắc mười tám gia quyến ở tại Trung Hoa và Hoa Kỳ. Nhưng họ không được kê vô số thống kê, vì mới tìm được dấu vết họ chừng vài tháng trước chiến tranh. Trong bảng thống kê mà chúng tôi sẽ đăng vào số đặc sanm chúng tôi sẽ cho đầy đủ chi tiết, rành mạch, và trước tiên về nhóm dân Germain này, lấy tên là “Dòng Anh hùng”. Dòng này có nhiều nhứt chừng tám trăm người. Tổ tiên họ di cư từng đoàn, từ miền tây nam nước Đức, trong khoảng năm 1500-1600. Họ là dân Đức chánh tông và vẫn giữ được nguyên vẹn huyết thống, mặc dầu bị mọi áp lực nặng nề, trong thời gian lịch sử. Chủng tộc này có một bản năng sinh tồn mà sức người không bì kịp. “Dòng Anh hùng” mà trong đó có người thanh niên đứng trước mặt các bạn đây, chứng tỏ bản năng sinh tồn kiên cường của dân Đức chúng ta. Duyên cớ gì khiến cho tổ tiên anh này, từ ba bốn trăm năm, chỉ cưới vợ đồng chủng, trong lúc chung quanh họ có biết bao nhiêu đàn bà quyến rũ hơn. Đó là bản năng sinh tồn, tiếng gọi của huyết thống đã tránh cho gia tộc này khỏi phạm trọng tội tạp chủng. Suốt đời lịch sử, gia tộc này không bao giờ cưới gái khác chủng tộc. Và bởi duyên cớ duy nhứt ấy, nên sau bốn thế kỷ, anh trai trẻ này mới còn được giống y hệt tổ tiên anh. Thử nhìn tóc chắc và mịn của anh. Tóc giống y hệt như tóc của “Dòng Anh hùng” cách đây bốn thế kỷ, mà ta còn thấy trong di hài tàng trữ đến ngày nay. Không thể lầm lẫn với loại tóc nào khác được và người sành sẽ nhận ra tức khắc.

Tóc mịn hơn tóc của các nhóm tộc loại Germain khác, nhưng chân tóc thì cũng như nhau. Mũi, trán, mắt, cằm của thanh niên này đều giống như trong hình vẽ từ bốn trăm năm nay. Không có thay đổi với thời gian!

Các sĩ quan rờ đầu và mân mê tóc của Moritz. Họ trầm trồ ngó anh.

Moritz thấy bao nhiêu cặp mắt đổ dồn về anh. Chẳng khi nào anh được chiêm ngưỡng như thế. Anh như một vị anh hùng. Nhưng anh sợ làm thất vọng các sĩ quan. Anh tiếc chẳng có làm việc gì đáng được khen tặng, sự khen tặng chỉ để dành cho những người được gắn huy chương quân công “Croix de Fer” có kim cương sáng ngời, và nhành lá cây sồi mà thôi.

Bàn tay Đại tá lại nắn bóp xuống vai Moritz một cách cảm phục và có vẻ thành kính như rờ vào thánh cốt của Nữ thánh Paraschiva la Miraculeuse tại nhà thờ Trois Hiérarques.

Moritz cúi nhìn xuống, hổ thẹn vì không có dự mặt trận Miền Đông và không được thành tích vũ dũng nào.

Đại tá nói:

– Chủng tộc được mang danh “Dòng Anh hùng”, vì đã nêu gương anh dũng của nòi giống oanh liệt.

Thật ngày hôm nay là một ngày lễ của tôi, vì tôi may mắn tìm được một kiểu mẫu nhân chủng như vầy. Xin nói phớt qua, tôi có một ông tổ cưới vợ thuộc gia tộc “Dòng Anh hùng” này, song rủi không có con, vì ông ấy chết tại trận tiền, sau ba tháng cưới vợ. Nhưng đây lại là chuyện phụ thuộc. Tôi muốn rằng hình ảnh thanh niên này, có phụ chú những dữ kiện lịch sử và nhân chủng trắc định, được đăng trong quyển sách tôi soạn từ mười năm, dưới sự chỉ dẫn của Bác sĩ Rosenberg. Tác phẩm này là thành quả công trình khảo cứu của tôi.

Các sĩ quan bèn đứng nghiêm chỉnh chào và nói:

– Xin Đại tá nhận lời khen tặng của chúng tôi.

Đại tá đỏ mặt sung sướng. Ông đưa thẳng tay phải lên chào và bắt tay từng người.

Moritz đứng yên ngó ông. Ông hỏi:

– Anh ở Rheiland, Luxembourg hay Transylvanie?

Moritz đáp:

– Ở Transylvanie.

Các sĩ quan khen rộ. Đại tá Muller hớn hở. Ông nói:

– Tôi sẽ nói rõ chỗ ở của anh này.

Day qua Moritz, ông hỏi:

– Anh sanh tại Timisoara, tại Brasov, hay tại xứ người Szeklers.

Moritz đáp:

– Tại xứ người Szeklers.

Đại tá xoa tay cười và nói:

– Tuyệt diệu! Không thể nào tôi nói sai. Lúc anh này mở cửa bước vô, tôi có cảm giác như thấy một nhân vật của Phòng triển lãm chân dung “Dòng Anh hùng”. Tôi thuộc lòng các chân sung của gia tộc ấy. Các bạn có thể xem trong quyển sách của tôi, có cả hình màu nữa. Các bạn, tôi có thể nói anh này là một kiểu mẫu hoàn toàn về “Dòng Anh hùng”. Anh chứng thật cho lý thuyết của tôi.

Đại tá kêu viên chức của xưởng đem phiếu lý lịch của Moritz. Vừa đọc phiếu, Đại tá nổi giận nói:

– Thật là ngu! Một người trong “Dòng Anh hùng” chẳngk hi nào có tên Ianos. Đặt tên như vầy thật là vô lễ, phạm thượng!

Xây qua Moritz, ông rầu rầu hỏi:

– Phải cha anh đặt tên Ianos cho anh không?

– “Thưa Đại tá, không phải. Tôi không phải tên Ianos”. Anh muốn nói anh tên là Ion.

Đại tá nói:

– Không thể nào một người trong “Dòng Anh hùng” lại đặt tên con khác hơn tên các thánh trong lịch Đức được. Từ bốn trăm năm nay, chưa bao giờ có chuyện đó. Anh này không thể tên là Ianos được.

Đại tá ngó Moritz. Lần này ông bằng lòng và vui mừng thấy Moritz không phải tên Ianos. Ông hỏi:

– Vậy ai đặt tên này cho anh?

– Tôi không biết. Khi tới nước Đức, từ hai năm nay, tôi được ghi trong giấy tờ với tên này.

Đại tá bèn nói với các sĩ quan:

– Nó không phải tên Ianos đâu. “Dòng Anh hùng” thường thườgn bị chịu sự ông danh như thế. Những dân tộc mà họ chung chạ với nhau đã thay đổi tên tộc của họ, nhưng không làm sao thay được huyết thống họ. Máu huyết của “Dòng Anh hùng” vẫn tinh khiết như một giọt thủy tinh.

Đại tá đi thẳng đến viên chức của xưởng và nói:

– Từ nay thanh niên này sẽ để dành cho “Viện Quốc gia Khảo cứu Chủng tộc”. Đây là một kiểu mẫu mà chúng tôi cần dùng.

Viên chức hỏi:

– Vậy anh ấy không làm ở xưởng nữa?

Đại tá dáp xẳng xớm:

– Không. Tôi sẽ gởi sau những chỉ thị đặc biệt riêng về anh này.

Đại tá ngó Moritz và suy nghĩ: “Khoa học tiến triển phi thường. Nhưng ta vẫn còn cách xa sự hoàn mỹ. Kiểu mẫu ưu tú này, người tiêu biểu cho nhóm chủng tộc kỳ thú này, lẽ ra phải ở trong một “Vườn Nhân chủng” với các kiểu mẫu hiếm lạ và quý báu của loài người. Nhưng tiếc thay, “Vườn Nhân chủng” chưa thiết lập. Tại Âu châu có vườn tuyển trạch và bảo tồn các giống cầm và thú. Thế mà, vì thành kiến dư luận, không lập được một “Vườn Nhân chủng”. Một thiệt hại lớn cho khoa học! Về lãnh vực này, người Mỹ đã đi trước. Họ có lập vườn để bảo tồn những giống thổ dân kỳ lạ của Mỹ châu. Ta cũng sẽ lập “Vườn Nhân chủng” ở Âu châu. Ta phải thắng! Trong kỳ diễn giảng tới, ta sẽ đề nghị sáng lập trước tiên “Vườn Nhân chủng”. Khoa học sẽ nhờ đó mà có sẵn kiểu mẫu để nghiên cứu dễ dàng. Phần tử này của “Dòng Anh hùng” sẽ là người đầu tiên của Vườn, và chính ta đem tặng”.

Đại tá Muller ngó Moritz và mỉm cười. Ông tưởng tượng thấy Moritz ở trong Vường Nhân chủng, chỗ trại “Chủng tộc Đức”, cùng ở với vợ con. Đại tá nói:

– Rồi đây ước vọng sẽ thành… Hiện giờ, phải kiếm cho anh một nghề xứng đáng với căn cội chủng tộc của anh ta. Đời lính sẽ làm cho anh ta thỏa mãn. Tôi biết rõ “Dòng Anh hùng”. Ấy là chủng tộc háo chiến nhứt của giống dân Germain. Vậy phải giúp anh ta làm lính mới được.

Các sĩ quan khen tặng Đại tá một lần nữa, vì họ tán thành ý kiến của ông. Đại tá hân hoan kêu viên hầu đem cặp da của ông lại. Ông lấy một miếng giấy trên đầu có chữ O.K.W., và viết mấy lời gởi gắm Moritz, để được sung vô quân đội, làm lính S.S. Đưa mảnh giấy cho viên chức của xưởng, ông ra lịnh:

– Về làm các thủ tục cần thiết, và đừng để trễ nãi.

Đoạn xây qua Moritz, ông cười và nói:

– Trong tháng tới tôi muốn có một tấm ảnh của anh mặc quân phục tân binh. Nó rất quý đối với sự nghêin cứu của tôi về “Dòng Anh hùng” mà anh thuộc về gia tộc ấy. Tôi sẽ gởi một tấm tặng Bác sĩ Goebbels. Rồi anh sẽ được ngắm hình anh trong các báo chí có tranh ảnh.

Sau khi khám Moritz, Đại tá bác sĩ trong Ủy ban Tuyển mộ nói:

– Anh này không đủ sức khỏe để làm lính. Phổi bên phải anh có đốm. Quân sĩ thì buồng phổi phải lành mạnh mới được.

Đã ba tuần qua, từ lúc Đại tá Muller gặp Moritz. Anh biết làm lính thì được cấp nửa ổ bánh mì mỗi ngày, có giày tốt đi nước không thấm, có áo quần ấm áp, và được ăn uống đầy đủ, có thuốc hút. Anh biết đời lính sướng hơn đời tù, nhưng khi nghe nói anh không được chấp thuận thì anh lại mừng. Bác sĩ lật hồ sơ đọc, rồi nói:

– Thanh niên này của Đại tá Muller, ở Tổng Hành dinh và Viện Nghiên cứu chủng tộc gởi gắm. Không thể loại anh ra được.

Ba vị bác sĩ đều ngó Moritz. Đại tá hỏi:

– Anh có biết làm công việc văn phòng không?

– Tôi làm ruộng.

Mấy bác sĩ hỏi ý kiến với nhau và bảo Moritz ra ngoài chờ. Khi kêu anh vô thì họ cho biết anh có đủ năng lực đi quân dịch, và cấp cho anh giấy đi trình diện tại đơn vị của anh. Đại tá nói:

– Anh được bổ vào đội trợ binh. Anh không biết làm việc văn phòng, thì anh sẽ ở trong đội binh canh gác.

Thiếu tá trại kỷ luật huýet còi kêu ăn trưa. Binh nhì Moritz giựt mình. Anh quên mình đang đứng gác trong chòi canh và lật đật kiếm ga-men. Anh đỏ mặt, tức giận, ôm cây súng và nói thầm: “Ngu ngốc làm sao! Cứ quên mình là lính gác chớ không phải là tù nữa!”.

Ba ngày nay đứng gác, anh đều giựt mình mỗi khi nghe còi hiệu. Anh chưa nhớ được anh là lính. Thấy dây kẽm gai giăng cùng trại và đoàn tù, anh quên anh ở đâu và cứ tưởng còn bị giam. Trải nhiều năm ở trong trại giam, ý tưởng là tù trọn đời đã thâm nhập vào xương máu da thịt anh. Anh không thể tưởng nghĩ gì khác được. Khi có lính đến đổi phiên gác, anh run lên vì tưởng người lính này đến bắt anh. Giờ đây, khi có đoàn tù cầm ga-men chờ nối đuôi nhau để lấy súp, Moritz quên mình đứng gác trong chò canh và tự hỏi sao phiên súp của mình lâu tới quá vậy. Anh thấy anh cùng ở trong đoàn tù.

Mấy ngày đầu, Moritz ngó tìm trong đám tù coi có ai quen không. Anh lấy làm lạ sao không gặp được người nào. Ở Đức, anh đã ở trong cả chục trại giam, tất anh cũng có một bạn quen trong đám tù này. Anh muốn gặp một người quen, dầu anh không được phép nói chuyện với tù. Miễn anh nhìn thấy xa xa một mặt quen là đủ. Thình lình, Moritz lại quên mình là lính gác, vội kêu lên:

– Joseph, Joseph!

Đoàn tù ở sân đều ngó anh. Joseph cũng ngó, nhưng lại cúi xuống ăn, không nhìn biết Moritz.

Moritz lại kêu nữa. Joseph cầm ga-men ngó chăm chỉ anh, rồi đi xa thêm.

Moritz bèn nói lớn:

– Anh không nhớ tôi sao? Tôi là Moritz đây.

Người tù Pháp vừa nhìn ra anh, cười nói:

– Salve Sclave!

Y để ga-men xuống đất, đến gần hàng rào kẽm gai, hỏi:

– Tại sao anh ở đây, anh Jean?

Moritz thuật sơ chuyện anh làm lính. Joseph lúc này đã nghe được tiếng Đức. Nhưng vì hai người cách xa quá, nên nghe không rõ. Moritz hỏi lại:

– Còn anh, tại sao anh lại ở đây?

Joseph đáp:

– Tôi bị bắt lại, sau năm ngày vượt ngục. Anh gởi giùm thơ cho Béatrice, vì tôi không được phép viết. Tôi không có tin tức nàng từ bốn tháng nay.

Moritz hỏi địa chỉ. Người tù Pháp viết vô một mảnh giấy. Khi đó Moritz rút lấy một gói thuốc hút vừa được phát hôm qua, thảy qua hàng rào dây kẽm gai, vô sân, dưới chân Joseph, và nói:

– Chiều nay tôi gởi thơ liền. Mai tôi đem thuốc hút và bánh mì cho anh.

Joseph cúi lượm gói thuốc và liệng miếng giấy có địa chỉ của Béatrice, gòi một viên đá nhỏ. Nhưng miếng giấy rợt giữa hàng rào dây kẽm gai. Joseph muốn viết miếng khác, song Moritz nói:

– Để đó tôi lượm cho. Không ai bắn tôi đâu, nếu tôi đến gần hàng rào.

Anh vừa bước xuống thềm chòi canh, thì đằng xa thấy một viên cai đi đến đổi phiên. Moritz lật đật trở lên chòi và nói với Joseph:

– Viên cai đi tới rồi, và tôi không thể lượm được. Ngày mai, lúc chín giờ, tôi ra đứng gác sẽ lượm. Chờ tôi, chào anh nghe!

Joseph nói:

– Salve Sclave!

Y vừa đi vừa đốt thuốc, bộ đồ xám rách lúc trước nay tả tơi hơn. Y ốm nhiều. Ở trại giam luôn luôn thiếu ăn.

Khi đổi gác với viên cai rồi, Moritz ngó Joseph đang đi xa xa, và nói thầm:

– Mai tôi đem nguyên ổ bánh mì cho anh.

Đêm đó Moritz bị cảm. Bữa sau, xe chở anh vô nhà thương. Anh biết Joseph đang chờ anh gần vách tường để lấy bánh mì và thuốc hút mà anh đã hứa. Và anh còn phải lượm miếng giấy biên địa chỉ của Béatrice nữa. Anh buồn rầu đã làm cho Joseph chờ anh không được và thất vọng.

– “Tội nghiệo Joseph!” Anh thương hại và nghĩ thầm: “Biết đâu anh chẳng nóng lòng trông mau sáng và đến chín giờ để lấy bánh mì!”.

Moritz tự an ủi, trong vài ngày lành bịnh, mình sẽ mỗi ngày đem bánh mì cho Joseph và viết thơ cho Béatrice.

Nhưng Moritz bị sưng phổi, phải nằm tại bịnh viện quân y hai tháng trường.

Bữa mồng một tháng hai, bác sĩ nói với anh:

– Tuần này anh ra nhà thương được rồi. Anh sẽ có phép nghỉ dưỡng sức ba mươi ngày.

Moritz nghĩ thầm nếu nghỉ phép thì làm sao gặp Joseph. Anh tù Pháp chắc vẫn chờ anh hoài, chờ anh lượm địa chỉ viết thơ cho Béatrice, chờ anh tặng bánh mì và thuốc hút.

Moritz có ý nhứt định bỏ phép nghỉ để trở về phân đội mình. Bác sĩ lại khuyên:

– Anh cần nghỉ dưỡng sức, ăn uống và nghỉ ngơi. Nếu không thì nguy hại lắm. Anh muốn nghỉ phép ở đâu?

Moritz hết còn can đảm xin bỏ phép nghỉ. Anh cúi đầu, đỏ mặt.

Bác sĩ nói:

– Tôi hiểu anh. Anh không có chỗ nào để đi nghỉ. Tôi có thể gởi anh vào một “Viện Dưỡng sức”. Nhưng ở đó không phải là chỗ cho anh. Anh cần một bầu không khí ấm áp, như trong một gia đình…

Moritz rất cảm động vì bác sĩ đã đoán được ý nghĩ của anh. Anh ao ước một nơi mà anh có thể ở như tại nhà anh.

Bác sĩ nói tiếp:

– Anh cần một người đàn bà săn sóc và giúp đỡ anh. Anh cần phải tự tin trở lại. Nếu không, anh không bao giờ mạnh hẳn được. Nơi “Viện Dưỡng sức”, anh gặp nhiều đàn bà. Nhưng họ ở đó để thỏa mãn nhu cầu sinh lý. Với một người bịnh về thể xác và tinh thần như anh, chuyện ấy không nhằm lối. Anh cần yêu đương hơn kích thích.

Bác sĩ ngó chung quanh. Ông tin chắc tài khám bịnh của ông. Ông biết rõ cái gì hạp cho bịnh nhơn rồi! Lương tâm nhà nghề bắt buộc ông cho toa trị bịnh bằng yêu đương, không khí gia đình, sự tín cẩn và sự tận tâm của một người đàn bà. Nhưng ông không có các thứ thuốc này, mà bịnh nhơn thì chỉ cần có thế, y không thể lành mạnh nếu không có nó. Cặp mắt bác sĩ dừng lại một nữa khán hộ đứng gần ông, tay đang cầm thẻ ghi bịnh trạng. Bác sĩ nói:

– Cô hilda, cô ở gần đây với mẹ cô phải chăng?

– Thưa bác sĩ, cách nhà thương vài bước, với mẹ tôi.

Hilda ngó bác sĩ với sự tín cẩn, phục tùng của một người lính đang chờ lịnh của sĩ quan mình.

Bác sĩ mỉm cười. Ông đã tìm được phương thuốc hay. Ông nói:

– Tôi giao Moritz cho cô. Cô nên coi như một người chồng. Trong một tháng, cô dẫn anh lại cho tôi, hoàn toàn lành mạnh. Tôi muốn thấy anh bình phục trước khi trả về đơn vị của anh. Anh cần có một người đàn bà, vừa là người yêu, người chị, và người mẹ!

– Thưa bác sĩ, tôi đã hiểu.

Hilda được hai mươi tuổi, có đôi má hồng, tròn trịa. Nàng hơi lùn và mập mạp.

Bác sĩ ngó nàng, bằng lòng. Ông thấy nàng có cử chỉ yêu đương cần thiết cho Moritz. Nhìn tóc nàng, ông nói thầm: “Tóc hoe hoe này làm êm dịu người bịnh, khi thấy nó. Tóc nâu nâu không hợp mấy!”. Ông lại nói với Hilda:

– Cô được nghỉ mười bốn ngày trong dịp này. Cô chỉ lo cho Moritz mà thôi. Mỗi ngày cô cứ xuống nhà bếp bịnh viện lấy khẩu phần thường bữa. Nhưng cô nên nấu ăn thêm ở nhà. Anh ấy cần có món ăn riêng tự tay người yêu mến nấu, hơn là bữa ăn lãnh ở trong nồi nấu chung.

Hilda đáp:

– Thưa ba, tôi hiểu!

Nàng tự hào về sứ mạng của nàng. Rồi đây các bạn đồng nghiệp sẽ ganh tị với nàng. Bác sĩ hỏi:

– Cô có phòng ngủ riêng chớ?

Hilda đỏ mặt trả lời:

– Thưa có!

Bác sĩ lại hỏi thêm:

– Tôi tưởng người thanh niên này chắc vừa ý cô?

Rồi không đợi trả lời, ông bảo:

– Cô làm giấy ra nhà thương cho Moritz, giấy phép nghỉ cho hai người, và một giấy lãnh phần ăn trong ba mươi ngày cho hai người, với phần phụ thêm, loại A.

– Tuân lịnh! Hilda vừa nói vừa mở cửa.

Ba dừng lại trên thềm, ngó Moritz và nói hấp tấp:

– Thôi chào anh, mau mạnh trở lại đây!

Moritz ngồi lâu nơi cửa sổ, ngó ra sân nhà thương. Tuyết rơi. Xa xa anh thấy dạng hàng rào dây kẽm gai. Thình lình, hai bàn tay giá lạnh bịt mắt anh. Xây lại, thấy Hilda. Anh đã quên tất cả, luôn những lời của bác sĩ nữa. Hilda nói:

– Mặc đồ lính vô và lại đằng “kết” lãnh lương đi anh! Tôi có giấy phép ra nhà thương của anh rồi, và giấy anh nghỉ phép nữa. Giấy nghỉ phép của tôi cũng ký rồi.

Hilda nói rất mau. Nàng phụ mặc đồ cho Moritz, luồn tay dưới áo lạnh để sửa nó lại thẳng thớm. Moritz nhận thấy bàn tay của Hilda trên ngực mình và có cảm giác như một bàn tay thân yêu quen biết từ lâu. Nàng mặc áo cho Moritz như đã từng làm chuyện này cho chồng hay cho con.

Trước kia Hilda rất lạnh lùng và xa lạ đối với Moritz. Nàng đem thuốc men, lấy thủy, rồi đi liền. Bây giờ, bỗng dưng nàng thân thiện và thân mật. Thân mật hơn cả Suzanna và Iulisca.

Moritz thấy Hilda đã cảm anh. Cảm anh thình lình, vì lịnh của bác sĩ. Nàng yêu anh. Nàng giữ lời hứa với bác sĩ. Bàn tay chạm vào da ngực của Moritz, sửa lại áo lạnh, hay gài nút áo của anh là một bàn tay của người đàn bà yêu đương. Đúng như lời bác sĩ đã dặn.

Hilda nói:

– Bác sĩ cho phép chúng ta lấy một cái giường lớn của nhà thương. Giường lớn sơn trắng trong phòng mổ, với hai cái mền len. Giường của em nhỏ quá không đủ cho hai người.

Nghĩ tới giường, nàng lại nói:

– Bác sĩ bảo em đừng làm anh mệt. Đó là lẽ tự nhiên, anh còn đau nặng. Nhưng chừng một tuần lễ ăn uống bổ dưỡng và nghỉ khỏe, thì tất cả sẽ thay đổi.

Moritz hỏi:

– Cái gì sẽ thay đổi?

Hilda ôm anh hôn, đáp:

– Rồi anh sẽ biết.

Moritz lãnh lương. Anh không sung sướng. Anh chỉ tuân lịnh. Không phải lịnh đi làm ở phòng tuyến, ở xưởng nút áo, hay đi gác trại giam. Anh được lịnh đi với Hilda, ăn ở với nàng, và phải mạnh về thể chất với tinh thần, trong vòng một tháng. Đó là một lịnh có lợi cho anh, song là một cái lịnh. Mà hễ lịnh thì anh không làm sao sung sướng được.

Sau một tuần ở với Moritz, Hilda nói:

– Anh biết không, nếu ta làm đám cưới thì em có thêm mười bốn ngày nghỉ nữa.

Moritz âu yếm ngó nàng. Nàng lại nhắc:

– Hôm qua anh có nói, ta sẽ cưới nhau.

Moritz nhớ hôm qua có uống rượu với Hilda và mẹ nàng đến năm chai. Anh đáp:

– Phải!

– Vậy sao ta không thi hành? Nếu làm giấy thì em lại được nghỉ thêm, và anh cũng vậy. Hai ta sẽ được một căn nhà, bàn ghế trang trí và một giải thưởng hai ngàn đồng “mark”. Anh chỉ ngủ ở đồn khi đi gác thôi. Em có nói với mẹ, và điều hay nhứt, theo em nghĩ, là ta cưới nhau liền.

Moritz làm thinh. Hilda tưởng anh không muốn lúc nghỉ phép mà phải đi lo giấy tờ, liền nói:

– Anh không cần đi đâu hết. Anh cứ ở nhà nghỉ như bây giờ. Em sẽ lo tất cả cho, lo đến Phòng Hộ tịch, Phòng Cư xá, Phòng Cấp lương thực, Phòng Lao động, và Cảnh sát cuộc, nói tắt, là chạy lo khắp nơi nào cần thiết cho anh. Cần nhứt là không để cho anh mệt!

Moritz bằng lòng. Hilda nói có lý. Nếu làm đám cưới thì chỉ toàn có lợi.

Thế là họ cưới nhau. Họ được một căn nhà có ba phòng, chỗ tắm và nhà bếp. Họ được lãnh hai ngàn đồng “mark” tiền thưởng, phiếu cấp giường nệm, quần áo, bàn ghế, chén dĩa, củi than, rượu, thịt để đãi tiệc cưới, một máy radio và nhiều thứ khác nữa.

Hilda vừa phụ mặc sắc phục cho Moritz sửa soạn đi đến đồn, vừa nói:

– Ta dại khờ lắm mới không làm đám cưới, vì được bao nhiêu là lợi. Có phải anh ngủ ở nhà hơn ở đồn không?

– Phải!

– Còn đồ ăn em nấu cho anh ăn buổi chiều có phải ngon hơn đồ ăn trong cơ binh không?

Hilda hớn hở nói tiếp:

– Rồi trong hai tháng em khai có thai, em được nghỉ phép thêm, và anh có thể ăn tại nhà. Chúng ta có thêm phần ăn. Đàn bà có thai được ba phiếu lương thực. Anh sẽ được ăn uống đầy đủ. Em muốn thấy anh mập lắm!

Moritz cười, nói:

– Em Hilda thật là một người đàn bà tốt bụng!

Đồn hiến binh làng Fântâna tiếp được một châu tri, gởi đến làm hai bản, để công bố cho dân chúng xem. Viên quản đồn Dobresco đọc:

“Tên Do Thái Moritz Ion, tự Iohann, tự Jacob, tự Jankel bị truy nã khắp nơi trong xứ. Hắn vượt trại giam. Ai chứa chấp, hay biết hắn ở đâu mà không khai báo với nhà chức trách sẽ bị tù”.

Ở góc bên phải tờ rao có ảnh của Moritz, chụp bề nghiêng và bề mặt.

Viên quản nhìn tấm ảnh và nói thầm: “Vậy ra tên này là Do Thái thật à!”. Y cho gọi một tên lính, và bảo:

– Lây cây súng đi bắt cha mẹ tên Do Thái này tức khắc đem về đây. Dán tờ châu tri tại ngoài vách. Dán cho chắc đừng để gió thổi bay mất.

Tuyết rơi tại làng Fântâna. Viên quản ngó ra ngoài cửa sổ, thấy mục sư Koruga, hai vai đã khòm, ôm cặp da, đi trên đường, trước đồn.

Một lát, tên đội trở về, nói:

– Tôi bắt bà mẹ thôi. Ông cha đau.

Viên quản giận dữ. Y muốn hỏi cung hai vợ chồng một lượt. Tên đội nói:

– Nếu ông muốn thì tôi lôi hắn đi. Hắn không đứng được. Tôi có giở mền thấy mình ông ta phù như cái hũ da.

Viên quản suy nghĩ một hồi, bỏ ý định hỏi cung cha của Moritz. Y cho kêu dẫn bà mẹ Moritz đang đứng chờ trước cửa. Aristitza vô phòng, hằm hằm hỏi:

– Tại sao ông sai lính bồng súng tới bắt tôi như một tội sát nhơn? Bộ ông không còn gian phi nào bắt nữa sao mà đi bắt người lương thiện vậy? Hay là tôi đã phạm tội sát nhơn?

Bà nổi giận lôi đình. Lúc người lính vô nhà bắt bà dẫn đi, bà định sẽ tới móc mắt viên quản đồn.

– Bà không có tội, nhưng con bà bị tập nã.

Aristitza ngó tờ rao của viên quản đưa ra, thấy hình con bà, bà khóc òa:

– Sao mà nó ốm như thế này?

Khi mà Moritz ốm thì chắc bị đánh đập nhiều. Không có gì làm bà quan tâm hơn nữa.

Viên quản nói:

– Bà đọc đi.

Bà lau nước mắt, nói:

– Thôi, ích gì nữa! Chỉ thấy ảnh nó là tôi biết nó đói khát, mình đầy chí rận, và bị đánh đập giam cầm rồi. Ông còn muốn tôi đọc gì nữa? Bấy nhiêu đủ rồi!

Viên quản đọc tờ rao lớn lên. Vừa nghe câu đầu, bà chận lại liền:

– Đọc lại coi! Chắc tại tôi không hiểu rõ! Ông nói: Tên Do Thái Moritz Ion hả? Nếu ông đọc trúng, thì người đó không phải con tôi. Tôi bao giờ có con Do Thái!

Viên quản đưa hình cho bà xem. Bà lại mủi lòng một lần nữa khi thấy con ốm tong teo. Viên quản hỏi:

– Phải nó không?

– Chính nó, tội nghiệp con tôi! Cầu nguyện Chúa đừng tha thứ tội lỗi những kẻ đã giam cầm nó!

– Vậy bà nhìn ra nó à? Tại sao bà lại còn nói chắc rằng nó không phải Do Thái? Đừng làm mất thì giờ, bà nên lắng nghe tôi đọc. Lời của bà khai không chút giá trị nào, vì bà là tư nhân. Tôi chỉ tin những gì chánh thức công nhận. Giấy tờ này là công văn của chánh quyền gởi đến. Vậy nó là bất khả xâm phạm và nó quả quyết con bà là Do Thái.

– Nếu ông còn dám nói một lần nữa rằng con tôi là Do Thái, tôi móc mắt ông cho ông coi! Ông muốn chọc giận tôi hả? Tội nghiệp thằng nhỏ. Hồi ra đi, nó trẻ, đẹp, dũng mạnh như cây tùng, mà bây giờ nó chỉ còn xương với da!

– Đừng thóa mạ nhà cầm quyền! Nếu không, tôi sẽ lập biên bản tức thì về tội xúc phạm nhân viên công quyền!

– Thằng Ion, tôi có nó với cha nó, chớ không phải với nhà cầm quyền. Tôi mang nặng nó trong bụng, cho nó bú sữa tôi, chớ không phải nhà cầm quyền. Và tôi biết rõ nó không phải Do Thái!

– Theo nguyên văn trong giấy tờ này, Bộ Nội vụ quả quyết nó là Do Thái.

– Vậy Bộ Nội vụ có gan lại đây nó với tôi đi! Tôi thách đấy! Tôi sẽ khạc vào mặt nó nếu nó quả quyết biết hơn tôi, đứa con tôi mang trong bụng tôi!

– Nếu bà là dân Roumain, thì chồng bà là Do Thái. Một trong hai người. Đây là một công văn chánh thức. Hay là hai vợ chồng bà cũng chưa biết.

– Bộ ông say rượu sao chớ? Tôi mà không biết tôi thờ ai và quỳ gối trước Chúa nào à?

– Không phải thờ đạo nào. Có thể người Do Thái có đạo Thiên Chúa. Đây là nói về máu huyết.

– Máu của tôi vàu của chồng tôi đều là máu có đạo. Tụi nào bắt giam con tôi và hành hạ nó khổ sở trong ngục mới là bọn tà giáo mà thôi!

Viên quản hỏi châm biếm:

– Bà chắc chồng bà có đạo à? Trong bao nhiêu năm ở chung, ba không thấy chi khả nghi sao? Với đàn ông thì dễ thấy chứng tích hơn đàn bà. Hay là bà chưa biết tường tận?

Bà Aristitza gào thét lên:- Ông mà dám cho tôi không biết người tôi ngủ chung trong ba mươi lăm năm à? Một con điếm cũng còn biết gã đàn ông nào chung giường với nó nữa, mà ông lại dám nói tôi ngủ chung với chồng tôi trong ba mươi lăm năm mà không biết tường tận à? Nhà cầm quyền chắc có biết được rõ hơn tôi, đứa con mà vợ chồng chúng tôi tạo nên chăng? Ông và nhà cầm quyền mà lại đi hỏi tôi về đứa con tôi mang trong bụng và cho bú sữa của tôi chớ?

Cặp mắt bà chăm chăm ngó vào bình mực để trên bàn viết. Bà giận dữ, mắt đổ hào quang, thấy đỏ tất cả. Bình mực bà định chụp để vụt trên đầu viên quản cũng đỏ. Vách tường cũng đỏ. Và viên quản cũng đỏ nữa.

Viên quản thấy hướng mắt của bà nhìn nên lật đật kéo bình mực về phía mình.

Bàn tay Aristitza bấu vào vạt váy một cách giận dữ, như bóp cổ nhà cầm quyền mà bà đang nắm chặt. Bình mực mất đi là khí giới chót của bà bị tước.

Bà nghiến răng, hai tay chụp vạt váy lật ngược lên trùm phủ đầu. váy rộng xòe tung ra như bị bọc gió. Áo sơ-mi lót cũng lật lên, đưa trần da thịt nhăn nheo và xám xạm, cặp vú thòng xệ như hai túi rỗng, đen sì. Viên quản thấy trong nháy mắt trọn thân mình trần trụi của bà, cả bề mặt, bề nghiêng và bề lưng. Y nhắm mắt lại. Cửa đóng một cái rầm, vách tường chuyển động, trần nhà rớt vài miếng vôi trắng.

Aristitza chạy ra, tiếng hét của bà còn vọng lại khàn khàn như còi xe, bên tai viên quản đồn:

– Đó, tôi trả lời rồi đó! Mấy ông cứ liếm đi, ông và nhà cầm quyền của ông, kẻ trước người sau!

Về tới nhà, bà Aristitza cổi khăn choàng vai ra, ngồi bên lò sưởi. Bà để thêm củi vô lò và nhìn ngọn lửa chập chờn, le lói và đỏ au mà nước mắt tuôn trào theo má. Bà nghĩ thầm: “Ta không nói gì với ông hết. Ông đang đau, đừng làm cho ông lo buồn”.

Bà xây qua, thấy ông nằm ngửa ngủ. Nước mắt giàn giụa, bà dòm ông, và nhớ đến Moritz bị nhà cầm quyền và cảnh binh hành hạ trong các khám đường từ năm năm nay vì họ cho nó là Do Thái. Mà nào có phải đâu! Nếu thật nó là Do Thái thì đâu có bị nhốt. Mà mo sao dại khờ quá, hay tin lời người ta. Hễ họ đánh đau để cho nó nhận là Do Thái, thì nó thú nhận liền. Rồi nhà cầm quyền tin thiệt như thế!

Bà ngồi như vậy, hai tay ôm đầu khóc. Bà không giấu nổi nữa, tính phải nói với ông rằng có hình ảnh Moritz in trên tờ báo cáo xanh dán ở cửa đồn hiến binh, giống như mấy tờ tuyên ngôn ứng cử. “Nhưng ta không nói nó ốm như chó đói mà ông phải đau lòng. Tuy nhiên, phải thuật lại cho ổng nghe lời viên quản nói nó là Do Thái mới được”. Bà kêu:

– Ông à! Dậy đi! Nếu ông ngủ suốt ngày thì ban đêm ông nghỉ không được anh!

Ông già không ứng tiếng. Thường thường ai kêu thức dậy, ông cũng không đáp. Nhưng hôm nay, ông không ngủ, hai mắt mở to và chắc có nghe hỏi, song ông làm biếng không buồn trả lời. Bà nói:

– Ông à! Viên quản nói với tôi rằng ông là Do Thái. Ông nghĩ coi nó cả gan không? Nhưng tôi đã trả lời xứng đáng rồi.

Bà thấy dường như ông mỉm cười. Hai ông bà thường hay cãi nhau nhiều, trong ba mươi lăm năm sống chung, nhưng bà thương ông chí thiết. Bà rầy ông vì quá hiền từ và tốt bụng, ai cũng gạt ông được, nhưng bà yêu ông lắm. Aristitza yêu chồng hết tình, yêu trọn cả tâm hồn.

– Ông à! Nếu mai ông không mạnh thì tôi ra tỉnh rước bác sĩ. Tôi sẽ bán con heo trả tiền thuốc cho ông. Chừng nào ông mạnh, mua lại con khác. Phần ông phải lo chạy chữa cho mạnh mới được.

Ông già vẫn không trả lời.

– Ông à! Mở mắt ra xem nè! Tôi cho ông điếu thuốc tôi giấu để dành cho ông đây!Bà đứng dậy, với lấy điếu thuốc cất trên sà nhà.

– “Ông có hộp quẹt chớ?”. Vừa nói, bà cầm điếu thuốc đi lại gần ông. Bà muốn để điếu thuốc tận nơi miệng ông, như có vài lần, hồi mới cưới. Bà biết ông không mở mắt ra, nhưng sẽ nhách môi khi nghe đưa điếu thuốc kề tới miệng.

Nhưng hôm nay, đôi môi sưng vù của ông không mấp máy. Và dẫu bà đưa điếu thuốc đến tận môi, ông cũng vẫn im lìm. Bà hỏi:

– Sao vậy ông?

Bà nắm vai ông, lắc mạnh. Qua làn áo sơ-mi, bà nhận thấy da thịt ông lạnh ngắt. Bà rờ trán, trán cũng lạnh. Ông già đã chết.

Bà Aristitza kêu gào lên. Bà muốn chạy ra khỏi phòng. Nhưng bà dừng lại, ở gần với người chết. Dùng diêm quẹt đốt thuốc, bà đốt đèn cầy để chong đầu giường ông nằm. Rồi bà khóc to lên, vì bà biết không còn ai nghe bà nữa.

Bà khóc đến ngất đi. Tiếng bà đã khan. Bà than thỉ, bà khóc thầm bên xác chết, bà không nói năng, không cử động, khóc trong lòng, nhưng nỗi thống khổ vẫn tràn ngập không kém.

Tâm trí bà rồi cũng mệt. Bà nín khóc. Lúc đó, bà chỉ thấy trơ trọi, một thân một bóng. Lúc khóc than, bà tưởng có ai bên cạnh. Bà muốn khóc nữa, nhưng không còn sức. Bà đứng dậy, đốt lửa thêm.

Như thường bữa, bà bắc nước lên bếp, nấu ăn. Bà kéo màn cửa sổ, xong đâu đấy, bà lại càng thấy quạnh hiu cô độc. Bà chóng mặt, mệt mỏi. Bà nhìn mặt ông, bà không sợ người chết. Đêm nay, bà phải ngủ trong phòng một mình bên cạnh xác chết. Còn ba đêm nữa, đến ngày chôn, bà cũng phải ở trong nhà đơn độc một mình với tử thi.

Bà nhớ đến lời viên quản: “Hay là chồng bà Do Thái!”.

Bà đứng giữa nhà, khoanh tay, không biết phải làm gì.

Nước sôi, nhưng bà không đói. Giường sẵn, bà có thể nằm, nhưng bà không buồn ngủ. Bà phải làm cái gì mới được. Đầu óc, thân xác bà xúc động, thảm khổ, não nề. Bà không thể ngồi yên được. Bà phải cử động cho khuây khỏa. Lại thêm cảnh tịch mịch vắng vẻ! Bà kéo màn cửa sổ một lần nữa, và đi lại gần chỗ ông nằm, bà tưởng như viên quản đứng kế bên bà và nói vào tai: “Hay là chồng bà Do Thái”.

Bà ngó ông, rời giở mền ra. Mình ông phù lên. Nhìn áo sơ-mi và quần cụt vải gai đã bao lần tự tay bà giặt ủi, bà mở dây nịt và tuột quần khỏi đầu gối. Da người chết đã tím bầm. Bà nói to: “Tại sao ta lại mắc cỡ? Chồng ta mà!”.

Bà nhớ lúc hai vợ chồng còn son trẻ, mà bây giờ thì mình mẩy ông đã tím bầm.

Câu “Hay là chồng bà Do Thái!” văng vẳng bên tai bà. Bà đưa tay rờ ngay chỗ của ông, thấy lạnh ngắt và tím bầm, như mí mắt, cái mũi, đôi môi.Bà giựt mình kéo quần lên và đắp mền lại. Bà đứng dậy run run làm dấu thánh giá: “Lạy Chúa! Đội ơn Chúa cho con ngừng lại đúng lúc”. Bà lại làm dấu chữ thập lần nữa và nó: “Nếu tôi coi thấy thì tôi sẽ bị lửa Địa ngục thiêu đốt. Đó là một trọng tội. Nhưng tôi không coi, không thấy gì hết. Tôi không muốn biết ông có phải Do Thái hay không. Tôi không muốn!”.

Bà ngó xác ông, khóc và van vái: “Ông thứ lỗi cho tôi. Tôi thề không thấy gì hết và cũng không muốn thấy. Ông biết tôi chẳng khi nào phạm tội nặng nề như thế đâu. Ông hiểu tôi nhiều mà! Viên quản và nhà cầm quyền nhồi sọ tôi, cho chúngn ó vô lửa Địa ngục cả hai đi!”.

Binh nhì Moritz dẫn năm tội nhơn đi trên đường trong thành phố. Trời vừa bảy giờ sáng. Đi ngang nhà, Hilda bồng thằng Franz, con anh, ra cửa sổ, đưa tay chỉ anh chào. Moritz nghe Hilda nói:

– Con biết không, ba con đó. Ba có cái nón sắt và cây súng đó!

Thằng Franz mới có ba tháng. Nó chẳng làm sao biết Moritz có súng và dẫn tù, nhưng Hilda mỗi ngày cứ chỉ cho nó cảnh này để nó được hãnh diện về ba nó, cũng như nàng tự phụ cho nàng.

Dọc đường Moritz cứ nghĩ đến con và Hilda.

Ra khỏi thành phố, bọn tù băng qua một cánh đồng. Moritz lặng lẽ đi theo sau, súng vác vai. Tới dưới cầu, họ ngừng lại, vì đó là chỗ làm. Dòng sông cạn khô. Đến bờ sông, bọn tù quay lại ngó Moritz và cười vang. Ở đây không ai thấy họ.

Joseph thân mật bắt tay Moritz và hỏi:

– Salve Scalve! Anh ngủ ngon không?

Moritz cũng đáp lại:- “Salve Scalve!” và bắt tay mọi Moritz. Anh để cây súng dựa tảng đá, mở áo choàng lấy ra một ổ bánh mì và năm gói thuốc hút.

Đưa thuốc cho Joseph, anh nói:

– Tôi còn thiếu anh mười lăm “mark”. Tôi chưa mua được xà bông. Mai tôi đem lại.

Rồi lấy trong túi dết mang bên mình một ổ bánh mì, anh trao cho Joseph. Bọn tù ngồi hút thuốc. Moritz cũng hút. Mỗi buổi sáng, từ ngày đi làm cầu này tới nay, họ đều nghỉ được nửa giờ, cười giỡn với Moritz, rồi mới làm việc tới trưa. Đó là giờ sung sướng nhứt của tù và của Moritz. Anh trao cho họ mấy thơ nhận được từ bên Pháp gởi đến hco họ, theo địa chỉ anh; anh mua giùm họ thuốc hút, bánh mì cùng các vật cần dùng khác. Họ bắt tay làm việc, Moritz cũng tiếp, song làm một cách kín đáo, để khỏi bị ngó thấy, làm mà rất vui thích. Bọn tù không muốn cho anh làm, nhưng anh thương hại họ, vì họ đều là trí thức, không biết cầm cuốc, xuổng như thế nào. Moritz phải chỉ cho họ, vì anh làm đã quen. Joseph nói:

– Anh Jean à! Bữa nay tôi có chuyện bàn với anh.

Mấy người tù kia đều đứng dậy đi làm. Tiếng cuốc, xuổng đập đều đều trên đá. Còn một mình Moritz với Joseph. Anh tù Pháp nói:

– Chúng tôi sẽ trốn. Không phải bữa nay mà một ngày khác. Tất cả năm đứa tôi sẽ trốn.

Moritz ngó Joseph, tưởng anh nói chơi. Nhưng Joseph nói thiệt. Moritz hỏi:

– Tôi không có làm lỗi gì với anh và mấy người kia sao mà các anh vượt ngục? Mấy anh muốn tôi ở tù rục xương mãn đời hả?

Anh giận xanh mặt nói tiếp:

– Anh biết rằng tôi không lòng dạ nào bắn khi các anh trốn. Tôi không thể bắn các anh được. Và nếu tôi không bắn thì tôi bị tù. Song tôi tin chắc là anh nó chơi thôi.

Joseph nói:

– Không, tôi không nói chơi đâu. Chúng tôi sẽ vượt ngục, anh cũng không bị bắt.

Moritz không thèm nghe, nói:

– Tôi xin đổi chỗ khác. Ngày mai tôi không đi với các anh, vì các anh muốn trốn. Tôi, thì tôi không muốn bắn các anh, cũng không muốn bị tù rạc. Tôi chưa bao giờ bắn ai, thế mà tôi còn bị ở bao nhiêu năm tù rồi. Kể từ ngày mai, tôi không đi với các anh. Chừng không có tôi, các anh muốn trốn tùy ý.

Joseph nói:

– Tại sao anh không chịu nghe tôi nói chuyện chúng tôi sắp đặt. Anh cũng sẽ trốn với chúng tôi.

– Tôi không có lý do gì để trốn hết! Tôi có vợ, có con. Tôi không bị giam cầm. Nếu tôi bị ở tù, chừng đó có thể tôi sẽ trốn.

– Nhưng anh cũng bị giam, anh Jean à! Anh chỉ là một nô lệ có súng trên vai, còn chúng tôi là nô lệ không súng thôi. Ngoài ra, chúng ta đồng một cảnh ngộ như nhau, nên anh phải trốn với chúng tôi.

Moritz giận đỏ mặt, đốt điếu thuốc, và nói:

– Mai tôi không đến dẫn các anh nữa.

– Nhưng chúng tôi chỉ làm lợi cho anh mà! Anh biết chiến tranh sắp chấm dứt chớ. Đồng minh đang tiến. Nếu họ gặp anh mặc quân phục S.S. thì anh biết số phận anh ra sao rồi. Anh sẽ bị mười hoặc hai mươi năm tù.

– Anh đừng nói bậy! Nếu Đồng minh tới thì họ không có lý gì để giam tôi. Tôi có làm gì hại ai đâu? Đài phát thanh cũng có nói Đồng minh là người công bình biết phải kia mà!

– Nhưng anh là kẻ nghịch. Anh là người thù của nước Pháp, của quê hương tôi, và của các nước Đồng minh!

Moritz nổi giận hỏi:

– “Tôi là kẻ thù của nước Pháp à? Bởi vì tôi là kẻ thù của nước Pháp nên tôi mua bánh mì, thuốc hút, và các món mấy anh cần dùng hay sao?”. Moritz quăng điếu thuốc, nói:

– Tôi không dè các anh coi tôi là kẻ nghịch, tôi lại tưởng tôi là bạn của anh chớ!

– Anh là bạn của người Đức, anh chiến đấu cho họ, anh là lính của Hitler. Anh không thể quên điều đó.

– Khi tôi có chai “bia”, tôi uống với lính Đức hay với các anh? Tôi uống ở trong trại hay dưới cầu này?

Moritz giận dữ hỏi tiếp:

– Anh Joseph à, tôi có thuốc thì tôi hút với ai? Với ai tôi thuật chuyện tâm tình, và những gì mang nặng trong lòng tôi? Với họ hay với anh? Không khi nào tôi nói chuyện với lính Đức ở trại, mà chỉ nói với anh thôi, vì tôi là bạn anh. Bây giờ anh cho tôi là kẻ thù với anh, và là bạn của dân Đức. Anh có thấy tôi nói chuyện với họ như bạn bè không? Chỉ với anh, anh là bạn của tôi mà thôi.

Bàn tay Moritz run run đưa điếu thuốc lên miệng. Moritz hỏi tiếp:

– Anh nói nếu Đồng minh tới, thì họ giam tôi trong hai mươi năm. Và biết đâu chính lại là đội quân Pháp sẽ bỏ tù tôi phải không?

Joseph đáp:

– Phải, nếu đội binh Pháp đến.

– Nếu vậy, thì tất cả công lý đều mất hết trên mặt đất này. Và lúc ấy, họ có bắn tôi, tôi cũng không ân hận. Sống làm chi nữa, nếu hết còn công lý, nếu các anh đều cho tôi là kẻ thù. Ngày mai tôi không đến đây, các anh muốn vượt ngục, tùy ý. Tôi không dự. Tôi cũng không bắt các anh. Nếu có thể giúp các anh việc gì mà không hại đến tôi, thì tôi sẵn lòng. Giúp một tù nhơn vượt ngục là một việc nghĩa, nên tôi làm. Nhưng tôi không trốn với các anh, và tôi không muốn suốt đời ngồi tù vì các anh.

Joseph nói:

– Vấn đề không phải như thế anh à! Tôi muốn cứu anh, vậy mới thật là tình bạn chớ. Chúng tôi muốn dẫn anh về Pháp với chúng tôi.

– Tôi còn vợ và con ở đây. Tôi không thể đi với các anh được.

– Trong vài tháng, Đồng minh tới. Chừng đó, chúng tôi sẽ lo đem vợ con anh qua Pháp sau. Tôi có một nông trại ở ngoại ô Ba-lê. Anh sẽ ở đó. Anh là nông phu, lo trồng trọt làm ăn và sẽ có tiền, rồi mua đất, cất nhà. Nước Pháp đẹp, người Pháp hiền và tốt. Anh ở nước Đức làm gì, khi chiến tranh chấm dứt? Trốn với chúng tôi đi, anh à!

– Không, tôi không trốn!

– Tôi để tiền lại cho vợ anh đủ sống tới ngày tôi trở qua dẫn về Pháp. Chúng tôi có để dành cho chị năm ngàn “mark” đây. Chừng vài tháng, chúng tôi trở lại dẫn chị đi. Nước Pháp hàm ân anh nếu anh cứu năm tù binh Pháp. Anh nghĩ sao?

Moritz không đáp. Anh mãi nghĩ đến nông trại anh sẽ có ở Pháp. Anh ráng tưởng tượng thấy miếng đất anh sẽ mua, cái nhà anh sẽ cất và đời sống của anh với Hilda và thằng Franz. Anh nói thầm: “Mình sẽ có con nữa, mình muốn có một đứa gái để đặt tên Aristitza như mẹ mình”. Moritz sực thấy đang mỉm cười về tương lại của anh. Anh tiu nghỉu nói:

– Không, tôi không muốn trốn.

Hilda chờ Moritz ngoài cửa. Nàng mặc đồ sẵn, muốn đi xem chớp bóng.

Moritz không còn biết anh xem phim gì. Trí anh mắc lo ra. Anh chỉ nhớ đoạn thời sự diễn lại cuộc đánh ở mặt trận: xe “tăng” nát, nhà cháy, người chết. Có chiếu cả bản đồ ghi mặt trận gần sát biên giới Đức. Vãn hát, ra về, anh không muốn nói chuyện. Trước khi đi ngủ, anh dòm con nằm trong nôi. Lên giường nằm, anh không thể ngủ được, anh hỏi:

– Hilda à! Nếu nước Đức thua thì chúng ta sẽ ra sao?

Hilda đáp:

– Nước Đức không bao giờ thua.

Moritz nhớ tới các cuộc đánh nhau ở mặt trận anh vừa xem, nhớ tới tấm bản đồ, tới Joseph và con nằm trong nôi, rồi nói:

– Hilda ơi, anh biết nước Đức sẽ thua. Làm sao bây giờ? Phần anh, thì sẽ bị tù. Rồi em và con sống ra sao!

– Ta thắng hay ta chết tới người cuối cùng. Không một dân Đức nào chịu sống trong một nước Đức bị chiếm.

– Và nếu ta không chết?

– Ta phải chiến đấu đến chết. Ai còn sống, lúc hết hy vọng nữa, cũng phải tự tử.

– Chỉ có đàn ông mới vậy. Còn đàn bà?

– Đàn bà cũng thế. Em sẽ là người đầu tiên tự tử với con, nếu ta bại trận. Em không sống thêm một ngày nào, sau khi thua giặc. Nhưng nước Đức không bao giờ thất trận, không bao giờ thua. Tại sao anh có ý nghĩ như vậy? Thôi ngủ ngon giấc đi!

Hilda kéo mền trùm đầu.

Moritz nghĩ tới Hilda và thằng Franz, thấy vợ con anh chết. Suốt đêm, anh mơ thấy Đồng minh tiến vào nước Đức và tới trước nhà anh, xe “tăng” rần rộ. Anh nằm chiêm bao thấy Hilda cầm súng bắn Franz trong nôi, rồi rự bắn nàng. Moritz la lên, giựt mình thức dậy, mồ hôi ướt đầm. Cửa sổ có ánh sáng. Trời đã rựng đông. Kilda còn ng ủ. Moritz nhè nhẹ bước xuống giường, kẻo nàng thức giấc. Anh mặc đồ đi vô trại. Anh không xin đổi chỗ như đã định hôm qua. Mấy tù binh Pháp làm thinh khi thấy anh đến, nhưng họ đều hân hoan. Họ rất lo sợ Moritz không đến dẫn họ đi làm.

Tới dưới cầu, Joseph hỏi Moritz như mọi bữa:

– Salve Sclave! Anh ngủ ngon giấc không?

Moritz nhớ tới điềm chiêm bao hồi hôm mà trong đó anh thấy con bị bắn, vợ tự tử, anh hỏi Joseph:

– Anh thề sẽ đem vợ con tôi qua Pháp khi nước Đức bại trận không?

– Tôi xin thề, khi Đồng minh vừa tới đây, tôi dẫn vợ con anh đi Ba-lê liền.

Moritz để súng một bên, thuật lại chuyện bàn cãi với Hilda lúc xem chớp bóng về. Anh nói:

– Nếu anh đến trễ, nàng giết con rồi tự tử rồi thì sao?

Bọn tù Pháp hứa sẽ qua tới, khi đoàn quân Đồng minh đầu tiên tiến vô. Moritz cảm động, nước mắt giàn giụa. Anh nói:

– Nếu các anh hứa chắc, thì tôi trốn với các anh. Chừng nào đi?

– Ngày mai chúng ta đi làm như thường lệ, nhưng không trở về trại. Anh lập một chiến công vẻ vang với nước Pháp. Nước Pháp sẽ trả ơn anh.

– Tôi không có làm gì cho nước Pháp! Tôi biết rõ Hilda. Nàng luôn luôn giữ lời. Nếu các anh không đến kịp thì nàng sẽ tự sát với đứa con trên tay. Cả hai đều chết. Nàng sắt đá lắm. Anh đừng tưởng tôi trốn vì nước Pháp đâu. Anh học nhiều, đọc nhiều, anh hiểu biết. Còn tôi, tôi không biết nước Pháp là gì. Tôi không có chút gì liên hệ với nước Pháp. Tôi chỉ biết vợ và con tôi đang lâm nguy. Tôi vì chúng nó mà vượt ngục với các anh thôi!

Thơ của Traian gởi cho cha:

“Raguse, Dalmatie, ngày 20-8-1944

“Thưa Ba, con viết thơ này gởi bằng lối thông điệp ngoại giao. Xin Ba trả lời liền, đừng để trễ. Con “sợ có chuyện xảy ra cho Ba. Ba có thể cười về sự lo sợ vô lý của con, hoặc cho con loạn thần kinh cũng “được, nhưng con yêu cầu Ba hồi âm liền. Con muốn gấp biết Ba còn sống.

“Quyển tiểu thuyết của con tiến nhanh, tới chương thứ Tư, đã đến giờ thứ ba, sau khi các con thỏ “bạch chết. Các tên “nô lệ kỹ thuật” tàn phá tất cả trên đường đi của chúng. Các ánh sáng lần lượt tắt hết. “Con người đang phiêu lạc trong cõi u minh mông muội, cận tử thần.

“Hôn Ba Má.

Hai con: TRAIAN và NORA”

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 1 Feb 2026

17. Chương 12

Đà Nẵng thất thủ

Những người đang trương cờ gióng trống tiến hành cuộc xăm lăng đó là ai?

Đó là những anh bộ đội Bắc Việt, những người dân Miền Bắc những người lính dẻo dai, giản dị, bền bĩ, can đảm, lúc nào cũng giữ mình trong kỹ luật sắt. Họ từ Miền Bắc vào, không mang theo gia đình vợ con. Tuổi của họ vào khoảng từ 16 đến 35. Vì các tổn thất nặng trong những năm gần đây nên người ta thấy có nhiều khoảng cách lớn giữa các lớp tuổi trong quân đội Bắc Việt.

Người lính VHCH thì nặng nề lỉnh kỉnh quá. Trong lúc người lính Bắc Việt chỉ ưu tiên mang theo đạn dược. Họ được qua một khóa huấn luyện căn bản 18 tháng. Người ta chỉ biết là họ bằng lòng với sự tối thiểu: vì họ đã quá quen với sự tối thiểu đó ở Miền Bắc rồi. Khẩu phần hằng ngày của họ chỉ có 600 hay 700 gram gạo, bánh lạt làm bằng đậu, đôi khi có được 50 gram cá khô hay thịt hộp của Trung Cộng, họa hoằn lắm mới được ăn gà. Thuốc lá thì là một đặc ân khi nào có thuốc về chớ không phải đương nhiên mà có. Sĩ quan – thường không đeo quân hàm- cũng có khẩu phần như vậy suốt thời gian chiến dịch cũng như khi ra mặt trận. Nhưng ở Miền Bắc các cán bộ đảng (dân chính) đều có những đặc ân theo từng cấp về nhà ở, về lương thực và thuốc lá thì được thường xuyên. Họ biết và chấp nhận như vậy, coi như một định mệnh. Trong hàng ngũ quân đội không có một đặc quyền đặc lợi nào về vật chất, tất cả đều hoàn toàn mất hết khi bộ đội vượt qua khỏi vĩ tuyến 17 hay đến Miền Nam bằng đường mòn Hồ chí Minh. Dĩ nhiên là tướng Văn Tiến Dũng không khi nào thiếu thuốc lá.

Ngày trước người lính Bắc Việt phải đi bộ theo đường mòn Hồ chí Minh này để vào Miền Nam và họ biết là có rất ít cơ may để trở về cũng bằng con đường này trong vòng 2 hay 3 năm. Trường hợp bị thương nặng thì không bao giờ hy vọng được sống sót, trong khi người lính chiến VNCH khi bị thương thì hy vọng được tản thương bằng trực thăng.

Bây giờ thì những tân binh của Bắc Việt ước đoán là chiến tranh sẽ chấm dứt. Trước kia thì họ phải đi bộ, mỗi ngày được chừng 30 hay 40 cây số, ngày nay thì họ được di chuyển bằng ô tô.

Tất cả những người này không bao giờ biết được tình hình cuộc chiến và sự tuyên truyền của đảng. Ngay như ở đẳng cấp sĩ quan, họ bị nhồi nhét ý thức hệ, dù thật là đơn giản. Trong thời gian tiến hành chiến dịch năm 1975 này, các chánh trị viên đơn vị không có thì giờ để giảng huấn. Trong thời gian ở cấp tiểu học và trung học và trong suốt khóa huấn luyện quân sự, hầu hết các binh sĩ đều được nhồi nhét vào đầu một vài nguyên tắc sơ đẳng:

_ “Nước Việt Nam phải được thống nhất.

_ “Đồng bào Miền Nam rất nghèo khổ và bị áp bức.”

_ “Họ đang chờ chúng ta vào giải phóng họ.”

Người lính Bắc Việt không đòi hỏi mà cũng không tự hỏi về quyền lợi mà họ phải có được hay không có được khi trung đội, đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn hay sư đoàn của họ phải đi vào Miền Nam. Tất cả đều là người Việt Nam, dù giọng nói có khác nhau. Là lính của chiến xa, họ không tự hỏi xem chiến xa của họ chạy bằng gì, tại sao trên pháo tháp lại có cây cờ xanh và đỏ của CPLTCHMN chớ không phải lá cờ đỏ sao vàng của nước cộng hòa dân chủ Việt Nam? Nhất là sau khi chiếm được Ban Mê Thuột, hầu hết các bộ đội Miền Bắc, phần lớn là nông dân chất phác, đều thấy ngày chấm dứt đời quân ngủ trong tầm tay. Tất cả đều mong muốn có được “hòa bình”, muốn đạt được hòa bình tất nhiên phải chấm dứt chiến tranh. Đâu có cần gì đến các chánh trị viên mới có thể giải thích việc đó cho họ?

Chánh trị viên có một nhiệm vụ không quan trọng lắm như trước kia. Một phần vì có sự tranh cải giữa các chuyên viên và người theo ý thức hệ (chuyên và hồng), và thường ngã về phía nhóm quân nhân chuyên nghiệp. Trong đảng và trong các bộ tham mưu người ta cũng đã có cuộc thảo luận: trong việc huấn luyện binh sĩ, câu hỏi được đặt ra là ý thức hệ chánh trị và kỹ thuật quân sự môn nào ưu tiên hơn? Câu hỏi này có thể có một ý nghĩa nào đó cho các đơn vị nhỏ của kháng chiến quân không có vũ khí tối tân đang đương đầu với các đơn vị Hoa Kỳ hay của VNCH, những đơn vị được võ trang thật hùng hậu trong vùng đồng lầy của sông Cữu Long hay trong vùng rừng rậm ở biên giới Cam Bốt.

Khi người ta tiến hành một cuộc chiến tranh cổ điển, với những sư đoàn quy ước thì câu hỏi trên thật là vô nghĩa. Không có một trực giác Mác xít hay một loé sáng của ngôn ngữ nào có thể giúp hiểu được sự vận hành của một chiến xa T.54 hay của một Mig 21. Lãnh đạo Bắc Việt, đệ tử trung thành Lê Nin nít đôi khi cũng lo sợ rằng giới quân nhân của mình không nuốt nỗi cuộc cách mạng Việt Nam giống như cuộc cách mạng Pháp hay nhiều cuộc cách mạng khác trên thế giới thứ ba. Đối với Chánh Trị Bộ Bắc Việt thì “đảng kiểm soát cây súng” .Ý chí cách mạng hay lương tâm chánh trị phải chăng là động lực của quân đội? Đó là những chuyện phù phiếm rất tốt cho các đồng chí Trung Hoa. Người ta cố tránh những mâu thuẩn và căng thẳng giữa giới dân chính và giới quân nhân, hay tranh chấp giữa đảng và các Bộ Tham Mưu quân sự bằng cách đưa những quân nhân quan yếu vào Ban Lãnh đạo đảng. Tướng Giáp và tướng Dũng đều ở trong Ban Lãnh đạo. Họ đã biết rõ từ lâu là không thể phân chia quyền hành giữa người chỉ huy quân sự và chánh trị viên được, khi phải ;tiến hành cuộc chiến với những đại đơn vị. Trên lý thuyết thì vẫn có sự phân biệt, nhưng cũng nhẹ nhàng thôi khi thực hành.. Bây giờ thì các sĩ quan quyết định và chánh trị viên phải theo. Nhưng trên cao thì ngược lại vẫn có hai hệ thống kiểm soát, như Lê đức Thọ và Văn Tiến Dũng hay Phạm Hùng và Trần văn Trà.

Anh bộ đội Bắc Việt diễn hành không hay trên đường phố của Hà Nội hay Hải Phòng; ở thủ đô Tel-Aviv người lính chiến Do Thái cũng vậy. Những người cộng sản Việt Nam đã học rất lâu trong cuộc chiến ở bưng biền. Trong hiện tại thì họ đã biết thế nào là chiến tranh quy ước, và họ đã có nhiều tiến bộ trong mọi lãnh vực. Chỉ có Không quân của họ là bị chậm trể mà thôi. Anh bộ đội Bắc Việt và anh kháng chiến quân được nỗi tiếng hay đi vào truyền thuyết là vì đôi dép được gọi là dép cụ Hồ làm bằng lốp xe ô tô và khẩu súng xung kích AK.47. Không phải đôi dép râu và cây súng AK đã đem lại chiến thắng cho họ, mà là những súng đại liên, những hỏa tiển SA-7 đã giúp che chở cho các phi cơ, các khẩu đại bác thường hoạt động với những dàn ra đa, toàn là chiến cụ tối tân.

Trong chiến tranh Tây ban Nha, Đức quốc xã và phát xít Ý đã có ý thử vũ khí đạn dược của họ để sửa soạn tiến hành Thế Chiến thứ hai. Ở Việt Nam Liên Xô cũng thử chiến cụ của họ – và nhất là các dụng cụ phòng chống phi cơ (DCA). Phải chăng họ muốn chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh quy ước? một Thế Chiến thứ ba? Họ thận trọng lắm, họ không có cung cấp cho cộng sản Việt Nam những dàn hỏa tiển loại mới nhất của họ. Họ không muốn các chiến cụ tối tân này rơi vào tay Miền Nam Việt Nam để rồi bị trao lại cho Hoa Kỳ . Những người lính Bắc Việt là những con vật thí nghiệm rất tốt giống như người Á Rập vậy.

Đây không phải là những đơn vị kháng chiến quân đang tiến hành cuộc tổng tấn công xăm lược với vũ khí thô sơ hay nhặt nhạnh được, mà là những quân đoàn chánh quy Bắc Việt. Ở Miền Nam Việt Nam đã có không ít người dân và cả binh sĩ nữa đã nói rằng “Cơm đã nằm trong miệng họ rồi, họ sẽ nhai và nuốt dễ dàng thôi”

Người Pháp gọi thành phố này là Tourane (Đà Nẵng). Sau Sài Gòn, Đà Nẵng là thành phố lớn thứ nhì ở Miền Nam. Cái tên của Đà Nẵng kêu như một tiếng chuông truy điệu! Thành phố này có quá nhiều kỷ niệm quân sự và hy vọng cho người dân Sài Gòn, cho những người Việt quốc gia. Trên những bãi biển của Đà Nẵng mười năm trước, vì người ta thấy có 6.000 kháng chiến quân (việt cộng) ở gần căn cứ Không quân nên Tổng Thống Johnson đã quyết định đưa quân ồ ạt vào tham chiến ở Việt Nam. Bốn chục ngàn cố vấn Mỹ đã được nửa triệu quân thay thế, mà nhiệm vụ không còn hạn chế ở việc bảo vệ các căn cứ của Mỹ nữa.

Năm 1965, Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ lội nước đổ bộ lên Đà Nẵng với nụ cười chiến thắng trên môi , với cờ xí kèn trống… Họ được cơ quan chiến tranh tâm lý đón tiếp với biểu ngữ, và các nữ sinh trẻ tặng hoa.

Không có một thành phố nào trên toàn Đông Dương, kể cả Sài Gòn , có nhiều dấu ấn của chiến tranh bằng Đà Nẵng. Là một trung tâm chiến lược, Đà Nẵng có 2 quân cảng, 3 sân bay có thể tiếp nhận hằng ngàn phi cơ và trực thăng. Vẻ thơ mộng của thành phố biến mất với các kho đạn dược và kho nhiên liệu, với các trại đóng quân, quân y viện… được dụng lên quá vô trật tự. Rồi phải có chỗ cho quân nhân giải trí. Trên cái hổn độn đó lại mọc thêm những câu lạc bộ, các rạp xi nê và ngoài châu vi quân đội lại còn có các quán rượu, các quán cơm, các nhà thổ…

Đà Nẵng có 600.000 dân. Cũng có một số dân tản cư tương đương như vậy đang cắm trại trong thành phố. Từng đoàn từng đợt nhập cư chậm chậm vào và chỉ trong có mấy ngày họ đã trở thành dân Đà Nẵng. Có một số người vào ở ngay trong cá trường học. Cũng may là không nhiều lắm, chỉ hơn trăm thôi. Lời hứa hôm nào của Thủ tướng không thấy được thi hành, Chánh Phủ không có đón tiếp ai hết. người dân tản cư tự lo và tự sắp xếp lấy cho họ với sự giúp đở của các cơ quan từ thiện. Người ta đem gạo và mền tới, nhưng không bao giờ đủ cho hằng nghìn người vừa già trẻ lớn bé đi bộ tới hoặc được các xe buýt cũ kỹ đổ xuống. Có một số binh sĩ thất trận chạy từ Huế về, từng toán nhỏ chen chút vào với dân tản cư. Thấy sĩ quan họ không buồn chào. Nhiều quân nhân lẻ loi không tìm tới đơn vị của họ nữa: một tấm bi kịch khác lại bắt đầu? Binh sĩ, hạ sĩ quan và cả sĩ quan nữa đang lo đi tìm kiếm gia đình và thân nhân của họ.

Tướng Trưởng có mấy bài toán phải giải quyết ngay tại Bộ Tư Lệnh của ông:

  • Người dân tản cư đổ dồn về Đà Nẵng không những từ hướng Bắc xuống mà từ hướng Nam lên nữa.
  • Quốc lộ số 1, con đường huyết mạch dọc theo bờ biển lại đang sôi động, bị cắt đứt nhiều chỗ.

Do đó dân chúng và có khi binh sĩ nữa chỉ còn có đường biển may ra mới chạy thoát khỏi Đà Nẵng mà thôi. Trong lúc đó tin tức cho biết là các đơn vị Bắc Việt đang ở phía Nam và phía Tây cũng như ở phía Bắc của thành phố.

  • Thành phố đang thiếu lương thực. Các kho dự trử bị dân tấn công, các kho hàng bị mở tung. Muốn sống phải cướp giật thôi! người ta đánh nhau giành giựt với nhau, giữa quân nhân với nhau, giữa dân và lính. Hàng Không Việt Nam báo là có trộm cướp từ phi trường ở về hướng Tây của thành phố. Vé tàu bay đi Sài Gòn từ 50 vọt lên đến 140 đô la.

Bộ Tư Lệnh Bắc Việt chuẩn bị một cuộc hành quân bao vây. Rất là giản dị, ba mũi giáp công.

  • Các sư đoàn 324 B và 325 C, được 2 trung đoàn pháo binh và một trung đoàn thiết giáp yểm trợ sẽ tấn công trực diện Đà Nẵng từ hướng Bắc.
  • Các sư đoàn 404 và 711 tấn công từ phía Nam.
  • Hai cánh quân sẽ bắt tay nhau tại đèo Tượng, ở phía Tây của Đà Nẵng và từ đó họ sẽ tiến thẳng ra hướng Đông đưa hết những gì còn lại của Đà Nẵng ra biển. Tướng Dũng không biết ông Thiệu thiếu lực lượng trừ bị đến mức độ nào. Nhưng ông phải bảo đảm được là nếu có lực lượng trừ bị thì lực lượng này cũng không thể đến với Đà Nẵng được . Mà nếu ông Thiệu có chấp thuận tăng cường cho Đà Nẵng thì tướng Trưởng cũng không thể đón nhận lực lượng này từ trong đất liền được.

Ngày 27 tháng 3, pháo binh Bắc Việt nã tới tấp vào Đà Nẵng tạo ra một sự hỗn loạn khắp nơi trong thành phố.

Tướng Trưởng có 2 việc không thể làm được: vãn hồi trật tự trong thành phố, và tái tổ chức các đơn vị của quân đoàn.

12 giờ trưa, Phòng nhì của Bộ Tổng Tham Mưu từ Sài Gòn điện ra Đà Nẵng: quân Bắc Việt sẽ tấn công thành phố vào ban đêm.

14 giờ: các lực lượng địa phương quân có nhiệm vụ phòng thủ vòng đai của thành phố bỏ chạy tán loạn, nhân viên giữ các kho đạn và xăng dầu cũng bỏ chạy. Lệnh mới của Sài Gòn: “hãy di tản các trực thăng và phi cơ quân sự ” Có lẽ người ta lo cứu chiến cụ, vì không thể dùng phương tiện này để làm chậm trể bước tiến của quân Bắc Việt hay che chở cho công tác di tản bằng đường biển được. Các tàu thuyền đều tập trung ở ngoài khơi. Mặc dầu có một vài khẩu 175 cố gắng phản pháo nhưng pháo binh Bắc Việt vẫn tập trung bắn vào Bộ Tư Lệnh Quân đoàn và căn cứ Hải quân.

Dưới một trận mưa pháo dữ dội, tướng Trưởng đang ở trong một căn hầm trú ẩn khoảng 100 thước vuông với và Bộ Tham Mưu của ông và đề đốc hải quân Hồ văn Kỳ Thoại, Chỉ huy trưởng Vùng Duyên Hải.

22 giờ 30: tướng Trưởng lệnh cho Tư lệnh phó của ông, tướng Lâm quang Thi, hãy lên một tàu chiến của Hải quân đang ở ngoài khơi để thiết lập một Bộ Chỉ Huy hành quân mới. Tướng Trưởng đã có quyết định rồi. Ông không có được bao nhiêu người để thiết lập một cứ điểm phòng thủ mạnh ở trong thành phố. Có thể ông chỉ còn đủ thì giờ để cứu các đơn vị hiện còn đang chiến đấu. Ông dự trù một cuộc di tản, bắt đầu từ 6 giờ sáng.

Ra khỏi hầm trú ẩn, tướng Thi nhận thấy ngay là căn cứ hải quân chính đang bị dân chúng chiếm rồi. Họ hy vọng sẽ lên được các tàu của Hải Quân . Trong số dân ở đây người ta khám phá ra được 3 quan sát viên của Bắc Việt với phương tiện truyền tin. Họ điều chỉnh tác xạ cho pháo binh Bắc Việt.

Tướng Trưởng điện thoại về Sài Gòn cho Bộ Tổng Tham Mưu Liên Quân và cho Dinh Độc Lập. Ông đề nghị bắt đầu cuộc di tản bằng đường biển. Ông Thiệu lưỡng lự. Ông Thiệu không cho lệnh được.

Trong lúc ông Thiệu và tướng Trưởng đang nói chuyện trên điện thoại thì trung tâm truyền tin ở Đà Nẵng bị trúng đạn pháo của Bắc Việt . Liên lạc với Sài Gòn bị mất.

Kế hoạch di tản do tướng Trưởng và đề đốc Hồ văn Kỳ Thoại hoạch định có dự trù 3 điểm xuống tàu.

Từ Sài Gòn phó Thủ Tướng VNCH ông Phan quang Đán gởi điện văn đến Liên Hiệp Quốc, đến Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ, Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế, để yêu cầu sự giúp đở của các nơi này nhằm di tản mỗi ngày 100.000 người. Nhưng ngay tại Liên Hiệp Quốc, ông Tổng Thư ký cũng không chịu tiếp ông Nguyễn hữu Chì trong tư cách quan sát viên thường trực của VNCH.

Ngoài số tàu thuyền của Hải quân Miền Nam Việt Nam, người ta còn thấy có cả tàu thuyền thuộc Nam Hàn, Đài Loan đang tập trung ngoài khơi Đà Nẵng. Úc, Anh Quốc và Phi luật Tân đều cam kết tham gia vào chiến dịch di tản này. Sáu phi cơ vận tải của Úc với đầy đủ lương thực và thuốc men đang chờ tại các sân bay của Mã lai Á.

Tổng Thống Ford đã lệnh cho các tàu thuyền Hoa Kỳ, các tàu chở hàng thuộc công ty hàng hải và các tàu thuê bao như chiếc Dufresne, Ftrderick, Blue Ridge, Durham phải đến gặp chiếc Pionnier Contender và Andrew Miller . Một tuần dương hạm được lệnh ở gần đó, chiếc Lowestaff. Hoa Thạnh Đốn thông báo chánh thức là các tàu hàng hải nói trên đều không có võ trang. Nhiều lắm cũng chỉ có vài chiếc tàu chiến nhỏ thuộc Hải quân phải có mặt trong vùng để giữ trật tự. Họ được lệnh không được khiêu khích quân đội Bắc Việt .Vì cuộc hành quân di tản và cứu vớt là hoàn toàn nhân đạo.

Hà Nội và CPLTCHMN đều tố giác có “một sự can thiệp quân sự mới của Hoa Kỳ”. Từ thủ đô Bonn (Tây Đức) ông Willy Brandt – người mà ai cũng biết là chống dường lối chánh trị của Hoa Kỳ tại Việt Nam- cho biết là “Chánh Phủ của ông đã cho Chánh Phủ Hoa Kỳ biết là Tây Đức sẽ sẳn sàng tham gia vào một sự giúp đở nhân đạo”. Tại Hoa Thạnh Đốn, ông Daniel Parker Giám đốc Cơ Quan Phát Triển Quốc Tế tuyên bố: “Chúng tôi sẽ hành động hết sức thận trọng”. Điều này có nghĩa là các tàu thuyền không cập bến mà sẽ ở ngoài khơi, bên ngoài lãnh hải của Việt Nam. Để chắc ăn hơn Hoa Thạnh Đốn còn xác định rõ là công tác nhân đạo chỉ liên quan đến dân chúng mà thôi.

Tại Đà Nẵng trên các đường phố cũng như ở ngoại ô và trên bến cảng, dân chúng và binh sĩ cứ chạy lòng vòng. Các gia đình của quân nhân thì không muốn rời khỏi thành phố mà không có con cháu của mình. Bộ trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ quyết định là quân nhân nào đã rời khỏi đơn vị của mình và không mang theo vũ khí cá nhân thì có thể được coi là một người dân thường. Nhưng theo chỗ riêng tư thì người ta giải thích là nếu cần thì các tàu Hoa Kỳ có thể chở một vài đại đội thuộc QLVNCH, nhất là khi các chiến hạm VNCH không đủ để chuyên chở hết. Các chiến hạm này do đề đốc Chung tấn Cang. Tư Lệnh Hải quân VNCH gởi tới. Dĩ nhiên các tàu thuyền thuộc Hải Quân VNCH đều có quyền cập bến.

Sáng sớm ngày 28 tháng 3, sương mù dày đặt trùm khắp bờ biển làm cho các chiến hạm không thể ủi bãi hay cập vào bến được.

Trong thành phố, vẫn còn một tình trạng hổn loạn, vô trật tự. Có nhiều toán quân nhân say rượu không tự kềm chế được bắn bừa bãi vào thường dân, hay tranh giành lương thực với dân trong các kho hàng. Ba người bộ đội quan sát viên của Bắc Việt bị bắt giữ với các máy truyền tin của họ, phát sanh ra triệu chứng của đạo quân thứ năm. Có nhiều binh sĩ Miền Nam đi lùng bắt các quan sát viên khác, thật hay giả cũng không cần biết.

Trong tòa tổng lãnh sự Mỹ, nhơn viên tự hỏi không biết ông lãnh sự sẽ đi bằng cách nào? Bằng đường biển hay bằng phi cơ? Tại phi trường dân sự, chính ông lãnh sự Al Francis bị các binh sĩ Nam Việt Nambắt giữ trong khi ông đang tìm cách cho một số nhân viên của ông lên  phi cơ. Hai người Anh thuộc một tổ chức nhân đạo can thiệp và cứu được ông tổng lãnh sự Hoa Kỳ.

Hành lý chất thành đống ngổn ngang trên phi đạo. Dân chúng và binh sĩ đi lang thang khắp nơi làm cho phi cơ không thể đáp xuống được . Và khi phi cơ đáp xuống được thì dân tản cư làm cho hành khách không làm sao lên phi cơ được. Người Mỹ ở Đà Nẵng quyết định dùng một phi trường nhỏ hơn, nằm trong núi Thạch Bàn. Ông Al Francis không làm sao thuyết phục được sứ quán Mỹ ở Sài Gòn là tình hình đã quá bi đát. Ông Martin vừa trở lại Sài Gòn cùng với tướng Weyand và một số nhân vật cao cấp Hoa Kỳ ngày 27 tháng 3 đã không dông dài: “Đừng có bi thảm hóa việc gì hết ”

Nhân vật số 2 của sứ quán là ông Wolfgang Lehmann mất hết tin tưởng. Tuy nhiên trước đó chỉ vài ngày, chính ông Lehmann đã giải thích cho một nhóm thành viên của phòng Thương Mãi Sài Gòn gồm có từ những chủ quán rượu đến những thương gia, kỹ nghệ gia, những chủ ngân hàng… rằng ông Thiệu đang chuẩn bị một cuộc “phòng thủ lưu động”. Không nên bỏ đi để cho người dân Miền Nam khỏi bị mất tinh thần. Ông Lehmann cũng yêu cầu Thủ Tướng can thiệp:

“trật tự ở phi trường dân sự Đà Nẵng cần phải được vãn hồi.” Ông Khiêm gọi điện thoại cho tướng Trưởng: ông này gởi đến đó 2 tiểu đoàn Biệt Động Quân. Người Mỹ thuộc tòa Tổng lãnh sự Đà Nẵng kín đáo ngồi trong các xe vận tải đi ra bến tàu. Họ còn để lại một số cộng sự viên, hầu hết là nhân viên CIA. Họ hứa là sẽ trở lại….

Tại Sài Gòn, một người Mỹ vạm vở và hung hãn, Ed Daly, chủ của hảng Hàng không Wortd Airways nói là ông ta sẽ mở một cầu không vận ra Đà Nẵng. Là một người biết khai thác phi cơ, ông ta có một đội phi cơ vận tải Boeing 727 và đã kiếm được 21 triệu đô la trong năm 1974, nhờ chở vũ khí và gạo từ Sài Gòn lên giao cho Phnom Penh. Tin tức từ Đà Nẵng rất chính xác, phi trường chính nơi các phi cơ cần phi đạo dài để đáp xuống hiện không còn xử dụng được. Do vậy người ta cấm không cho phi cơ của hảng World Airways của ông ta cất cánh. Ed Daly tức tốc chạy lại sứ quán Mỹ, chỉa súng lục vào anh lính Thủy quân lục chiến đang đứng gác, vừa rống vừa chạy vào văn phòng Đại sứ.

_ “Họ sẽ làm gì ở Tân Sơn Nhứt nếu chúng tôi cất cánh?

_ Dĩ nhiên họ sẽ bắn, ông Martin trả lời

_ Lúc đó ông sẽ làm gì, ông?

_ Tôi sẽ vỗ tay hoan hô.”

Ông Martin rất ghét lối ăn mặc và tính thô lổ của Ed Daly và anh ta lại uống rượu nhiều nữa. Ông Martin không mong là những công ty tư loại World Airways chen vào các hành động thuộc lãnh vực của Tòa đại sứ. Dù vậy Ed Daly cũng vẫn quyết định đi Đà Nẵng với 2 chiếc Boeing 727. Trong chuyến ngao du này anh mang theo các nhà báo, trong số này có Mike Marriot chuyên viên quay phim của hảng CBS và Tom Aspell, một người Tân Tây Lan, vừa quay cho hảng ITN, vừa làm cho ABC. Như vậy có hai trong ba hệ thống lớn của Hoa Kỳ đã có mặt trên phi cơ. Sau 45 phút bay, hai chiếc Boeing đã ở trên không phận Đà Nẵng và đài không lưu cho phép họ đáp xuống. Phi đạo đầy xe Jeep, xe vận tải, đàn bà trẻ nít và binh sĩ. Chỉ cò thể đáp một chiếc Boeing được thôi. Nhiều toán người quá giao động bao quanh phi cơ, người ta tranh giành nhau để leo lên máy bay. Các binh sĩ nổ vài loạt M.16 . Có nhiều binh sĩ thuộc đơn vị “báo đen”, một đơn vị ưu tú của sư đoàn 1 bộ binh. Ed Daly bắn chỉ thiên mấy phát súng lục, tưởng là có thể sẽ gây ấn tượng với họ. Một nhà báo mang máy quay phim bước xuống phi cơ, nhưng sau đó anh không thể nào trở lên phi cơ được nữa. Về sau có trực thăng đến bốc anh đến phi trường nhỏ ở núi Thạch Bản. Trong vòng 10 phút, chiếc Boeing đã đầy người. Dàn bánh đáp bị hỏng, hệ thống nén hơi không hoạt động. Lúc phi cơ cất cánh có một số binh sĩ vẫn còn đeo theo bánh xe. Ở cao độ 200 thước, một người buông tay và rơi xuống, một người khác còn bị kẹt cứng gần bánh xe. Phi cơ bay thẳng về Sài Gòn với chiếc Boeing thứ nhì không đáp xuống được .. Trên đường bay, một nữ tiếp viên phải săn sóc một thương binh bằng cách lấy mạt cưa từ chiếc áo chống đạn của anh đang mặc để thấm máu cho anh ta. Đến Tân sơn nhứt, phi cơ thả xuống 259 binh sĩ, một người mẹ và 3 đứa con nhỏ. Có thêm 40 “hành khách” chui ra từ hầm chứa hành lý. người ta giải giới các anh “beo đen”. Ông Jim Eckes, một người có trách nhiệm của công ty Continental chở bà mẹ và 3 đứa con nhỏ của bà về căn cứ. Ngoài phi đạo, Ed Daly vênh váo lên giải thích rằng phi cơ bị một quả lựu đạn làm hư hại ở Đà Nẵng nhưng sau khi xem xét chỗ bị hư hại, Eckes có cảm tưởng là chiếc Boeing lúc đáp xuống có bị va chạm vào một vài vật trên phi đạo ở Đà Nẵng.

Ed Daly chạy tuông vào sứ quán, đâm sầm vào văn phòng ông Đại sứ, trên đường đi đã vô ý làm bật lên hệ thống báo động của sứ quán, và khi ông Martin nói chuyện với ông ta thì ông đã ngũ khò!

Không có được bao nhiêu bản tường thuật của báo chí về Phước Bình (Phước Long), về Ban Mê Thuột, Kon Tum và Pleiku hay Huế. Nhưng nhờ hai chuyên viên quay phim, nhờ một số hình ảnh của phóng viên Viên Hương, người Việt Nam, nhờ vào phóng sự của phóng viên Paul Vocle thuộc UPI, mà cả thế giới mới thấy được những đoạn của một “chuyến đi từ địa ngục” ở Đà Nẵng. Trong năm 1975, những biến cố ở Việt Nam– và rất thường ở các nơi khác – được thấy ngay từ lúc biến cố đó được quay thành phim và được phổ biến. Dư luận dân chúng Hoa Kỳ mới biết được là tình hình ở Việt Namcàng ngày càng đi xuống. Bấy giờ họ mới “thấy” được sự lầm lẫn của Hoa Kỳ ! Nhưng đã quá muộn!!!

Từ trụ sở của World Airway ở California, phó chủ tịch David Mendelsohn gởi một bức điện tín cho phi hành đoàn chiếc Boeing của Ed Daly: “Chúng tôi nguyện cầu cho các anh. Các anh có nhớ lời nói của thánh Francois hay không: Phải biết yên tâm chấp nhận những gì mà chúng ta không thể thay đổi được , phải có can đảm thay đổi những gì có thể thay đổi được, phải có chút thông minh để hiểu được sự khác biệt…” Chủ tịch Ed Daly phản đối ngay:

_ “Tôi không đồng ý với thánh Francois. Và tôi không đồng ý với Dave Men delsohn vì ông ta là dân Do Thái. Chúng tôi có thể làm cho sự việc phải thay đổi. Tôi sẽ tiếp tục thử chừng nào tôi vẫn còn có thể…”

Ed Daly còn có nhiều việc cần phải thanh toán:

_ Các cơ quan Hoa Kỳ và Việt Nam đã dậm chân tại chỗ trong 8 ngày trước khi có hành động, trước khi di tản bằng phi cơ một số trong từ 400 đến 600 ngàn dân tản cư đang bị kẹt cứng ở Đà Nẵng. Tôi không thể tha thứ được sự ngu dại, sự dốt tính của một số cơ quan của Chánh Phủ Hoa Kỳ , của tất cả bọn người chỉ biết ngồi nắn nót chiếc cà vạt…, những người không có khả năng…

Trước chuyến bay chót bị cấm vừa rồi, sứ quán Hoa Kỳ đã hủy bỏ hợp đồng thuê bao công ty của Ed Daly. Với chuyến bay đó và những chuyến sắp tới, Daly phải xài tiền túi của ông ta.

Cuộc di tản từ Đà Nẵng đã vượt quá những gì mà người ta đã thu hình hay quay phim được cho tới giờ này được mô tả như là là những màn vô cùng thảm khốc.

Bây giờ thì không còn xử dụng được phi cơ hay trực thăng được nữa, ngay như để bốc người Mỹ ra khỏi đó. Tổng Lãnh sự ở Đà Nẵng đã van nài vị Tùy Viên quân sự Hoa Kỳ ở Sài Gòn để gởi ra cho ông ta 2 chiếc trực thăng. Tùy viên quân sự từ chối và chuyển đơn xin đó về Bộ Tư Lệnh của Không Đoàn 7 Hoa Kỳ ở Thái Lan. Trả lời:

  • thứ nhất là không thể vi phạm Hiệp Định Paris;
  • thứ hai là trực thăng tại Thái Lan đang là lực lượng trừ bị sẳn sàng cho cuộc hành quân di tản Phnom Penh không biết sẽ bị thất thủ lúc nào.

Ở Đà Nẵng dân chúng và binh sĩ chỉ còn đi khỏi đây bằng đường biển mà thôi. Ở quân cảng người ta la ó, người ta khóc lóc, người ta tranh giành nhau lên các ghe thuyền, các tam bản, các ca nô hay các xà lan để có thể đi ra tàu. Bến tàu, bãi biển và hầm hố đâu cũng đều có vũ khí, các chiến xa mắc lầy, những thùng đạn dược kể cả của pháo binh, những va ly bị mở tung tóe, các trực thăng không còn xử dụng được. Trên mặt biển thì trôi lênh đênh những thùng to-nô, những ruột xe ô tô, những phao cấp cứu….

Có tiếng chó sủa… Đó đây phất lên một mùi khai của nước tiểu, mùi hôi thúi của phân người và của thây ma…sình thối bị nước dâng đùa từ ngoài biển đưa vào cảng và bải biển… Vì gấp ra khơi tìm tàu một vài thuyền quá nhỏ bị lật úp làm cho một số đàn ông đàn bà và trẻ con bị chết chìm. Thủy Quân Lục Chiến đổ thừa cho dân tỵ nạn đã chiếm chỗ của họ trên ghe thuyền. Nhưng chính những binh sĩ đến được cảng sau cùng, đã dùng súng đuổi dân tỵ nạn xuống các xe đò, chiếm xe để chở họ ra bến cảng. Tất cả các đơn vị Quân Cảnh và Cảnh Sát của thành phố đều biến mất. Có nhiều xe đang bốc cháy..,và nhiều tiếng súng nổ khắp nơi.

Có một vài xe cam nhông có loa phóng thanh chạy quanh trong các khu vực không còn bóng dáng một binh sĩ VNCH nào để tuyên truyền:

_ “Hãy yên tâm, tất cả rồi sẽ tốt hết. Bộ đội của sự hòa giải sẽ đến ngay đây thôi! quân đội giải phóng sẽ đến. Hãy trang hoàng nhà cửa bằng những lá cờ Phật giáo.

Không còn ai chỉ huy, mất hết tinh thần, không còn chút kỷ luật nào, vài trăm binh sĩ say sưa hay sợ hải đang gây hoang mang cho đồng bào. Các sĩ quan cũng không hơn gì. Một thiếu tá thuộc sư đoàn 1 bộ binh khi được một đại tá hỏi Bộ Tư Lệnh sư đoàn hiện ở đâu đã trả lời:

_ “Bản thân tôi cũng không biết vợ con tôi hiện đang ở đâu. Tại sao tôi lại phải quan tâm đến Bộ Tư Lệnh sư đoàn nhỉ?

Dân tỵ nạn dồn cứng trên tàu, có khi khoản 8000 người trên một chiếc tàu chở hàng, không có phương tiện vệ sinh, dĩ nhiên không có đủ lương thực cho bằng ấy người . Dưới hầm tàu có nhiều quân nhân lột nữ trang hay lấy hết tiền của người dân tỵ nạn. Họ cướp của, hãm hiếp và có khi còn giết chết những người phản đối hay chống cự lại họ. Một ông cha vì muốn thử can thiệp liền bị giết ngay. Có một số các em bé, trẻ em và cả người lớn nữa bị ngộp thở mà chết.

Nhiếp ảnh gia của ông Ford, David Kennerly, lúc bấy giờ cũng đến Việt Nambay trên vùng trời Đà Nẵng ngay trên đoàn tàu đang cứu vớt dân tỵ nạn. Ngồi trên trực thăng của Air America, anh bay quan sát bên trên chiếc tàu Contender, trực thăng của anh đã bị lính Miền Nam bắn lên.

Tướng Trưởng lội ra một chiếc ca nô và được một sĩ quan Hải quân đưa lên một chiến hạm Việt Nam. Nhiều dân tỵ nạn phải mất ít nhất 3 ngày mới tới được một hải cảng, Cam Ranh,

hay Vũng Tàu hay một hòn đảo nào đó. Ông Thiệu đã có lệnh: không nên cho dân tỵ nạn vào Sài Gòn. Có nguy cơ là họ sẽ làm mất tinh thần quân đội và dân chúng.

Người ta tính sổ lại: 50.000 dân và 16.000 binh sĩ đã chạy thoát khỏi Đà Nẵng. Trong thành phố hiện còn một triệu dân tính luôn cả người tỵ nạn.

Ngày chúa nhật 30 tháng 3, nhằm lễ Phục Sinh, bộ đội Bắc Việt chiếm hoàn toàn Đà Nẵng. Tại trại Davis trong sân bay Tân sơn Nhứt, đại diện của CPLTCHMN xất xược xác nhận là thành phố đã bị chiếm từ ngày 29 tháng 3:

_ “Cờ của chúng tôi đã bay phất phơi ở đó từ sau buổi trưa!

Bắc Việt đã bắt giữ được hàng ngàn tù binh. Họ không gặp một khó khăn nào để tìm bắt nhân viên cành sát hay tình báo đặc biệt của Miền Nam vì họ đã có sẳn danh sách do Chỉ huy trưởng Cảnh sát Đà Nẵng cung cấp. Việt Cộng nằm vùng?

Bộ Chánh Trị đảng cộng sản Việt Nam họp ngày đó ở Hà Nội và đưa ra một bản nhận định:

_ “Cuộc chiến tranh cách mạng ở Nam Bộ không những chỉ tiến tới một giai đoạn nhảy vọt, mà còn tiến tới một thời điểm chiến lược thuận lợi để bắt đầu một cuộc tổng tấn công và tổng nổi dậy vào sào huyệt của quân thù… Cuộc cách mạng của chúng ta tiến tới bằng những buớc đi của người khổng lồ., Tốc độ nhanh đến độ chỉ một ngày thôi đã bằng 20 năm dài.”

Không thể phủ nhận được! Nhưng vẫn không thấy có một cuộc tổng nổi nào, đó là một yếu tố tối cần cho thần thoại của người cộng sản, không thể thiếu được. Tại Đà Nẵng cũng như ở những nơi khác, dù nghĩ gì thì dân chúng vẫn ở trong tư thế “chờ xem”.

Trong cả hai miền Nam, Bắc ở Việt Nam, dân chúng bị không ít ảnh hưởng của cuộc chiến, nhưng từ mấy năm nay, trong hơn bốn chục triệu dân, chỉ có nhiều lắm là 3 triệu có dính líu hay trực tiếp can dự vào các trận chiến.

Ngày 30 tháng 3 này, Chánh Trị Bộ cộng sản ở Hà Nội quyết định chủ trương “phải nắm lấy cho bằng được thời điểm chiến lược thuận lợi này” qua hướng dẫn: “tốc chiến, táo bạo, bất thần để tốc thắng” Bộ Chánh Trị muốn “giật lấy chiến thắng bằng mọi giá trong một thời gian nhanh nhứt, trong vòng tháng tư, không trể hơn nữa” Họ muốn “nhắm thẳng vào những mục tiêu trọng yếu ngay trung tâm Sài Gòn”

Ở Nam Bộ, ngày đó tướng Trần văn Trà di chuyển đến nơi mà ông dự trù đặt bản doanh, để từ đó chỉ huy các cuộc tấn công vào Sài Gòn. Chiếc “xe chỉ huy” của ông được ngụy trang thật kín đang tiến trong cánh rừng. “Các đường mòn và đường sá lúc này khô ráo và dễ đi. Tháng ba là tháng nắng.” Tướng Trà nghe tiếng đạn pháo binh nổ, ở hướng Sài Gòn. Hoa nở hắp nơi: đúng là mùa xuân. Tướng Trà lẩm bẩm:

_ “Phong cảnh thật đẹp và hùng dũng, làm rung động lòng người …. Việt Namvẫn còn là Việt Nam.”

Ông ta nghĩ tới trận chiến hôm qua và trận chiến hôm nay. Trong nhật ký của ông ta, có ghi:

_ “Mai vàng nở làm đẹp con đường

“Gió rừng thổi mạnh pha lẫn với tiếng súng” Pháo binh đang nổ bao quanh thành phố

“Xưa hay nay cũng vậy, rừng núi sông ngòi vẫn thuộc về ta!”

Từ ngàn xưa, tháng ba là tháng chinh chiến ở Đông Dương. Năm nào cũng vậy , từ Việt Minh, rồi đến Việt Cộng, kháng chiến quân thuộc CPCMLTMN, và bộ đội chánh quy của Hà Nội … cứ đến tháng ba là họ mở những trận tấn công.

Ngày 31 tháng 3, ở Hà Nội, thủ đô của Bắc Việt, tờ Nhân Dân đã đăng một bài bình luận với một luận điệu nhẹ nhàng hơn nhận định của Bộ Chánh Trị. Đối với tờ báo của đảng, sự tiến quân của quân đội Miền Bắc đã cho thấy “một kinh nghiệm quý báu đã giúp cho bộ đội và nhân dân ta đi tới”. Tờ báo loan báo những chiến thắng, nhưng chưa báo cho nhân dân chiến thắng cuối cùng. Tờ báo xác nhận là “có nhiều lính “Mỹ ngụy” đã bỏ ngũ, quay súng trở lại “bọn phản động, và đã trở về với nhân dân”

Nhưng khắp mọi nơi, chưa thấy nói có một quân nhân nào nổi loạn quay súng trở lại bắn đồng đội hay chưa có một đại đội nào thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa “về với nhân dân” hết.

Dưới danh nghĩa “giải phóng” Bộ đội Miền Bắc tự hỏi không biết phải giải thích thế nào với “nhân dân” của họ về làn sóng tỵ nạn của người dân . Thì đây, tờ Nhân Dân đã có lời bình rằng “Bè lũ của Thiệu tranh nhau chạy vô trật tự. Mà họ còn bắt “nhân dân” chạy theo họ để đở đạn cho họ và để đánh lạc hướng dư luận quần chúng trên thế giới. ”

Tại Hà Nội nhiều ủy ban hỗ trợ Miền Nam được thành lập. Ủy Ban “Nhân Dân Cách Mạng” của tỉnh Quãng Đà và thành phố Đà Nẵng không thấy lạc quan chút nào khi họ phân phát một bản tuyên bố kêu gọi “nhân dân Miền Nam”:

_ “lực lượng giải phóng phải tấn công, “nhân dân” khắp nơi phải nổi dậy để giúp quân ta chiến đấu, sĩ quan và binh sĩ Sài Gòn phải quay về với “nhân dân”.. v.v và v.v………

Ở Hà Nội anh Tiến, một thanh niên có nhiều cao vọng về phim ảnh, một người tài tử có hạng về sân khấu, thưởng thức trước những đoạn phim hay những màn trình diển mà anh nghĩ rằng mình sẽ được tham gia. Đến giờ này thì các đoạn phim dài được trình chiếu đều là của Liên Xô. Anh chàng trẻ này luôn luôn mơ ước có ngày anh sẽ đi Liên Xô hay Đông Đức để theo học môn này. Không ai nói tới chuyện bắt anh ta thi hành nghĩa vụ quân sự. Anh ta tiếp tục đi học và hưởng đặc ân của mình. Anh không có thiếu thốn hay bị hạn chế gì cả. Khẩu phần tháng 3 này không bằng của tháng giêng. Chánh Phủ đang mở chiến dịch: Nhịn ăn cho Miền Nam. Phải san sẻ lương thực cho đồng bào Miền Nam . “Hầu hết dân thủ đô chỉ có 250 gram đường mỗi tháng, nhưng anh bạn trẻ này nhận đủ 1 kí lô lại còn được kèm theo một hộp sửa đặc nữa. Tùy theo số hàng nhận được – rất thất thường mấy lúc này- người dân ở thủ đô chỉ có quyền có được một hay hai hộp thịt 120 gram của Trung Quốc. Nếu người Trung Quốc không giao hàng thì người ta phát bột trứng. Nhưng anh bạn trẻ thì được lãnh 1 kí lô thịt tươi, nhất là thịt heo. Người ta săn sóc cho người ưu tú. Anh Tiến nhận thấy là anh ta có nhiều thực phẩm hơn cha mình, một cán bộ trung cấp của CPLTCHMN. Trong tháng giêng và tháng hai, Chánh Phủ sợ là sẽ có sự tái oanh tạc của phi cơ Hoa Kỳ : công nhân phải dọn sạch các hầm trú ẩn cá nhân dọc theo lề đường. Nhưng sẽ không có ai dùng tới . Đối với anh bạn Tiến thì các hầm trú ẩn này sẽ không bao giờ được dùng tới nữa.

Các giáo sư của anh bình luận về tin tức. Ngay như những người tranh đấu hăng say cũng không có một tư tưởng chiến thắng nào: người ta chỉ hy vọng thôi. Anh Tiến có một người bạn. Đó là con trai của ông Nguyễn hữu Thọ, Chủ Tịch của Chánh Phủ cách mạng lâm thời. Thỉnh thoảng anh này đến 69 đường Nguyễn Du, chỗ ở của ông Thọ, một biệt thự cũ của người Pháp. Có nhiều người dân Miền Nam cư ngụ trong khu này, gần hồ Giải Phóng. người bạn trẻ này không bao giờ có được quan điểm chánh trị rõ rệt. Hơn thế nữa, anh ta chỉ muốn về lại Sài Gòn thăm lại bà mẹ của anh còn ở lại Miền Nam và tìm lại bạn cũ. Những chiến thắng được loan báo cho anh thấy là đã sắp đến ngày về của anh rồi.

Trong lúc anh Tiến đang theo một khóa học, người ta kêu anh ra khỏi lớp. Một đại úy đang chờ anh:

_ “Anh có một nhiệm vụ đặc biệt..”

Anh được lệnh thu xếp một vài món hành lý và người ta đưa anh vô Bộ Tham Mưu. Từ đó anh lại lên xe jeep đi vào một “trung tâm đặc biệt”. Ở đó anh gặp lại khoảng 50 bạn trẻ, tất cả đều là người Miền Nam. Có vài người đã cùng đi với anh ra Bắc theo đường mòn Hồ chí Minh hồi năm1971.

_ “Các anh sẽ tham gia chiến dịch Hồ chí Minh”

Người ta cho anh xem bản đồ Sài Gòn in ở thủ đô Miền Nam Việt Nam và người ta hỏi anh:

_ “Anh thấy đường phố hay đại lộ có thay đổi gì không? Có thêm nhà cửa hay dinh thự mới không? Anh bạn Tiến này nhận là mình biết rất rõ khu vực phi trường.

Anh đòi phải cho anh gặp cha anh. Tại bệnh viện nơi cha anh đang làm việc, Tiến nói là anh có thể chết và anh muốn cha anh phải báo cho mẹ anh biết nếu…..

_ “Tôi được đưa đi công tác trong khuôn khổ của chiến dịch Hồ chí Minh.” Người sĩ quan đi theo anh, trách nhẹ:

_ “Ngay với cha anh, anh cũng không cần phải nói anh sẽ làm gì ..”

Trong suốt bốn ngày liền, anh Tiến xem kỹ lại các đường phố Sài Gòn trên các bản đồ không mấy tốt và cho ý kiến về địa hình của thành phố. Người ta trao cho anh một bộ quân phục không cổ lỗ lắm. Không phải của lính mà cũng không phải của sĩ quan. Anh Tiến này không ưa thích gì các hoạt động quân sự , nhưng anh cũng hiểu là anh sẽ là một trinh sát. Anh nôn nóng với ý nghỉ là sẽ được gặp lại Miền Nam.

Không còn phim ảnh gì nữa, không còn màn hát nào nữa – nhưng trong thời gian bao lâu đây? Thủ đô Hà Nội đang có trình diễn 3 vở tuồng . Tất cả đều nhằm vào Miền Nam Việt Nam: Lưỡi gươm và Biển cả, Dân chúng quanh thủ đô, và Tiếng hát của Tình Yêu. Và đây là tóm lược của vở tuồng thứ ba: Một sĩ quan Mỹ Ngụy đang thù ghét chiến tranh, đào ngũ để đi lánh nạn trong một vùng xa xôi ngoài bờ biển. Anh muốn trốn chạy trong tình yêu, nhưng cảnh sát và điệp viên không để cho anh yên. Cuối cùng anh chọn đúng con dường: Anh cùng nhân dân nổi dậy và đi ra trận, vừa đi vừa hát: “Anh em ơi Hãy đứng lên và tiến lên…”.

Ở nước Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam tất cả đều hướng về cuộc chiến ở Nam Bộ, từ quân đội, đến thợ thuyền trong hảng xưởng và nông dân các hợp tác xã , từ nhà văn đến người nghệ sĩ. Trong cái xã hội “xã hội chủ nghĩa” chuyện không mấy thực tế chút nào, đó là người dân Miền Bắc phải là những người tiên phong.

Một chiếc xe buýt đưa anh Tiến cùng với 17 người khác chạy qua cầu Paul Doumer để ra phi trường Gia Lâm. Tại đây toán người đặc biệt này có các sĩ quan vây quanh được nhà thơ Tố Hữu, thi sĩ chánh thức của chế độ và Ủy viên trung ương của đảng tiếp đón và chào mừng. Cũng như các tuớng lãnh tài ba, các nhà văn nhà thơ trác tuyệt được đưa vào guồng máy , ở đó người ta trở nên quan trọng vì người ta biết tự hội nhập với đảng. Với một giọng nói quan trọng, cảm động và đầy tình cảm,Tố Hữu nói với nhóm trẻ:

_ “Nhiệm vụ của các bạn rất quan trọng. Chúc các bạn may mắn ..!”

Các người chụp ảnh chụp lia lịa. Tiến nghĩ thầm ” nếu mình chết, người ta sẽ cho đăng hình mình lên, hình của một vị anh hùng!”.

Người ta đã trao cho anh một khẩu súng lục. Bây giờ anh lại được trao thêm cho một khẩu AK. 47 nữa.. Trong cả hai khẩu súng anh không biết xử dụng khẩu nào hết. Toán những người trẻ của anh Tiến với một số nhân vật của Chánh Phủ lớn tuổi, trầm lặng, cùng lên chiếc phi cơ C.119, một chiếc phi cơ cũ của Miền Nam Việt Nam. Đến khi trời sụp tối chiếc phi cơ mới cất cánh. Không ai nói với ai một câu nào, thời gian trôi qua.. phi cơ đáp xuống một phi trường nào đó. Các hành khách đều bước xuống. Tiến nghĩ rằng có lẻ đây là Cao Nguyên vì anh thấy đất ở đây màu đỏ. Người ta cũng không nói gì với anh.

Anh lại tiếp tục lên đường bằng ô tô, cũng không hỏi gì cả. Người ta cũng không cho anh biết tin tức gì thêm. Anh chỉ biết là anh đang đi về Miền Nam. Chuyến đi này vui hơn là chuyến anh đi ra Miền Bắc, một chuyến đi thật là dài trên con đường mòn Hồ chí Minh. Lúc đó anh đang lên cơn sốt của bịnh rét rừng mà mỗi ngày phải đi 10 tiếng đồng hồ. Trong suốt 3 tháng như vậy. Đi trong cánh rừng anh buồn nhớ Sài Gòn . Anh nhớ lại một vài hình ảnh cũ, tấm biểu ngữ ở trạm 94: “Ở đây ranh giới cuối cùng của MTGP, trước mặt là bắt đầu thuộc Miền Bắc, đường 559 của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”….

Có thể anh sẽ thấy lại được Sài Gòn. Người ta vẫn im lặng, không nói gì với anh hết. Gần như anh di dạo mát trên xe ô tô, bằng xe cam nhông, rồi lại bằng ô tô nữa, thích thú thật. Tiến nghe người ta nói về các tỉnh, các thành phố của Miền Nam bị Bắc Việt chiếm.

Cuối cùng anh đến Bộ Tham Mưu ở Lộc Ninh. Có nhiều sĩ quan và bộ đội, nhiều cột ăn ten trên các nóc nhà tranh và trên chiến xa. Anh được cho vào một lều vải để ngủ. Người ta đối đãi anh như một cán bộ không có cấp bậc. Anh không có quyền nói chuyện với một anh bộ đội nào. Anh chờ đợi ở đây nhiều ngày, Và anh có dịp quan sát những chiên xa T.54 được nghi trang dưới các lùm cây và vài chiến xa M.48 của Miền Nam vẫn còn tốt.

Một buổi sáng nào đó, anh thấy Lê đức Thọ cùng đi với một trong những người anh của mình, tướng Đinh đức Thiên. Anh Tiến lại được lên xe ô tô. Sau vài tiếng đồng hồ lúc thì chạy theo đường mòn, lúc thì chạy trên đường tráng nhựa, anh đến một căn cứ cũ của Miền Nam Việt Nam ở một bìa rừng.

Cách Hà Nội 30 cây số, trong xã Thiên Đồng, ông Ba, thợ mộc, trò chuyện với dân. Ông Ba không giống anh bạn trẻ tên Tiến mà cũng không giống nông dân ở đây. Ông không tin những tin tức qua hệ thống phóng thanh mà xã đã trực tiếp truyền lại từ đài phát thanh Hà Nội. Ông Ba không thể tưởng tượng được là một quân đội hùng mạnh như quân lực của VNCH, có sự hỗ trợ của quân lực Hoa Kỳ mà lại có thể bị bại trận được. Theo ông Ba thì các sĩ quan của Miền Nam là “những trí thức am tường nghề của họ” Ông chỉ so sánh một cách giàn dị giữa người lính – nông dân của Miền Bắc với những người sĩ quan trí thức của Miền Nam. Ở Miền Bắc , các đại tá và tướng lãnh đều luống tuổi. Họ ở vào trạc tuổi trên 40 hay 50. Thường thường những người này thuộc giai cấp tiểu tư sản hay trung lưu, có khi là giáo sư như Võ nguyên Giáp, được gởi đi học các trường quân sự ở Liên Xô hay Trung Quốc, dĩ nhiên dù được huấn luyện quá cứng ngắt nhưng họ cũng có học thức hơn các sĩ quan ở Miền Nam phần đông là hạ sĩ quan thuộc quân đội Pháp. Ở Miền Nam cũng có nhiều đại tá trẻ khoảng 34 tuổi. Dù có lạm dụng quyền hành hay tham nhũng, nhưng trong quân đội của Miền Nam vẫn có dân chủ hơn quân đội của Miền Bắc.

Ông Ba là con người thích suy nghĩ. Ông không thích cộng sản . Nhưng ông phải im lặng và quan sát để mà sống, vì phải sống còn. Dù vậy nhưng ông Ba vẫn bị bối rối. Từ tháng giêng, trong xã đã có nhiều sự thay đổi. Cán bộ đi mộ phụ nữ tuổi 18. Người ta nói họ sẽ là nhân công đi sửa đường, đi tải vũ khí đạn dược. Dân chúng được lãnh thêm khẩu phần cho ngày Tết. Sau đó ít lâu cán bộ lại khuyên dân là phải tiết kiệm:

_ “Các anh chị đều có con trai hay con gái đi ra trận địa. Nếu các anh chị muốn thấy họ trở về, thì mình phải chấp nhận hy sinh để giải phóng Miền Nam”

Ông Ba thấy là phần lớn các nông dân đều hãnh diện được đóng góp vào chiến thắng. Họ không biết sự khác biệt giữa quốc gia và cộng sản. Họ chỉ biết ghét người Mỹ vì Mỹ bỏ bom đất nước. Họ cũng ghét “ngụy” vì ngụy phục vụ cho người Mỹ. Ngoài chuyện đó ra cũng vẫn có một số người còn than phiền. Có nhiều người già nói:

_ “Hồi trào Pháp, Việt Minh đã hứa là nếu không còn thực dân ở đây nữa thì sẽ không còn người dân nào nghèo”

Người Pháp đã rời khỏi đây trên 20 năm rồi mà người dân có khá gì hơn đâu? Trong lúc các cán bộ của hợp tác xã thì sống thoải mái quá. Họ có nhà cao cửa rộng, có xe đạp. Nếu người dân có quyền nói thì họ sẽ nói là họ làm việc để nuôi cán bộ. Cán bộ thì lúc nào cũng kiên nhẫn giải thích là sau khi chiến tranh chấm dứt thì không có gì phải hạn chế nữa. Không còn nghi ngờ gì nữa là họ có lý. Nông dân không nghĩ như ông Ba, là chánh quyền thổi phồng lên con số thành phố mà quân đội đã chiếm được ở Miền Nam . Hơn nữa, những người tới thăm thân nhân ở làng Thiên Đồng thuật lại là con của họ đang ở Ban Mê Thuột, trong tỉnh Kontum gần Plei Ku. Chánh quyền tổ chức “kết nghĩa” các thành phố của Miền Bắc với các thành phố của Miền Nam: Tỉnh Hà Tây kết nghĩa với Đà Nẳng. Cán bộ đi tìm những người Miền Nam đã tập kết ra Miền Bắc sau Hiệp Định Genève năm 1954, nhất là những người thuộc ngành giáo dục . Chánh quyền giải thích là đang cần rất nhiều cán bộ ở Miền Nam.

Cộng đồng người Pháp ở Sài Gòn rất bình tĩnh và đang chuẩn bị chờ đón những thay đổi lớn. Ông Patrick Hays, một cựu sĩ quan hiện dịch không có chút nghi ngờ nào về một kết thúc quân sự . Muốn ra khỏi ngõ bí này Chánh Phủ của ông Thiệu phải tìm một giải pháp chánh trị. Tờ Courrier d’Extrême Orient, một tờ báo tiếng Pháp phát hành ở Sài Gòn, nhờ trợ cấp của sứ quán và các công ty ở địa phương của Pháp, đã tỏ ra rất thận trọng trong vấn đề này. Bà Marie- George Sauvezon chủ nhiệm của tờ báo này vẫn tiếp tục đi quan sát bằng chiếc xe Citroen DS của bà, với tài xế mang găng tay trắng hẳn hòi. Phần đông người Pháp ở Sài Gòn đều có vẻ đồng ý với ông Hays.

Có chừng vài ngàn người Pháp ở Sài Gòn. Họ có tiệm ăn, khách sạn, hãng bảo kê…và đã sống ở đây lâu rồi. Những người hợp tác cũ đã qua rồi. Những người còn ở lại đây trong vòng 5, 3 năm nay là những người làm công hay làm chủ các công ty của Pháp như Michelin, sở Cao su Đất Đỏ, Hãng bia và Nước đá Đông Dương. Người ta nói chính xác là nhà máy và kho hàng của Hãng bia và nước đá ở Đà Nẳng đã bị dọn sạch và phá tan. Các hãng thuốc lá, các hãng xe Peugeot, Citroen, Renault, các ngân hàng Pháp Á, Pháp Hoa, các hãng tàu Chargeur Reunis và Messagerie maritimes cũng có nhiều người Pháp. Các chủ hãng bắt buộc phải xem lại tổ chức của mình để hướng về tương lai. Nếu cộng sản chiếm được Miền Nam thì số phận của các công ty xí nghiệp của người Pháp ở Miền Nam sẽ ra sao? Chương trình của CPLTCHMN dự kiến một nền kinh tế hỗn hợp. Vậy bây giờ có nên cho phụ nữ và trẻ con về Pháp trước hay không?

Đại sứ Pháp cho gọi ông Hays. Ông Jean Marie Mérillon có trách nhiệm đối với Pháp kiều. Các nhà trồng tỉa từ các tỉnh chạy về Sài Gòn, các nhà buôn và các linh mục cũng vậy. Phải dự trù một giải pháp để có thể tiếp tục giữa sự thất trận của Quân Lực VNCH và công tác vãn hồi trật tự của cộng sản Bắc Việt . Cái gì cũng có thể xảy ra hết, như ở Đà Nẵng vậy. Hãy tưởng tượng có những toán binh sĩ đào ngũ và cướp bóc, lang thang phá phách khắp Sài Gòn và nhắm vào các công ty xí nghiệp của người Pháp. Hãy tưởng tượng thành phố đầy máu lửa, chúng ta sẽ tập trung đồng bào người Pháp ở đâu đây? Ở bệnh viện Grall? hay ở trường Saint Exupéry? Chúng ta sẽ mở những trung tâm nào để đón tiếp người Pháp của chúng ta? Và còn phải giữ an ninh cho họ nữa ? Một vài hiến binh đến từ Pháp để tăng cường an ninh cho Tòa Đại sứ thì có là bao. Hơn nữa họ đâu có thể trực luôn trong 24 tiếng được. Chúng ta phải lo dự trữ một số đồ hộp và gạo, nước uống v.v..

Ông Hays là cựu trung úy của Trung đoàn Nhảy Dù của Pháp, ông ta có chịu bất thần đảm trách an ninh cho các trung tâm tiếp đón Pháp kiều hay không đây? Một ông Đại sứ không thể cho phép mình mướn một cảnh sát tư để lo việc này được; còn ông Hays thì am hiểu tình hình và rảnh tay hơn . Anh ta tính với ông Mérillon là chỉ cần một nhóm nhỏ nào đó cũng có thể giữ không cho xảy ra ở Sài Gòn những màn thảm kịch như ở Đà Nẳng. Anh ta tập hợp được khoảng 15 người tin cậy như một số nhà trồng tỉa và giáo sư của trung tâm giáo khoa Pháp , những người đã từng qua một thời gian phục vụ trong quân đội , và nhất là người phụ tá của anh ta Michel Hamiaux, một người to con, bình tĩnh mà chỉ 27 tháng ở chiến trường Algérie cũng đã có được Bắc đẩu bội tinh. Bây giờ là nhu cầu cần phải có một số xe để bảo đảm cho vấn đề lưu thông được dễ dàng. Hays lấy 4 chiếc xe jeep của sở cao su, đem sơn trắng hết và cho gắn cờ Hồng thập tự. Vì dù trong bất cứ tình huống nào, các xe có cờ Hồng Thập Tự cũng lưu thông dễ dàng hơn những chiếc xe khác. Về vũ khí thì anh giải thích việc này cho một người bạn của anh là tướng Lê quang Lưỡng, sư đoàn trưởng sư đoàn Nhảy Dù, mà các đơn vị vừa rút về đóng ở Sài Gòn . Tướng Lưỡng thuận trao cho Hays tất cả những vũ khí đạn dược mà Hays đang cần. Với một nhóm nhỏ người lo về an ninh như vậy, Hays không bao giờ có ý định chống lại bộ đội Bắc Việt . Chỉ đơn thuần là “trong trường hợp lợi dụng tình trạng lộn xộn trong thành phố mà bọn người vô tổ chức không ai kiểm soát được tấn công vào các trung tâm tiếp cư của người Pháp”, nếu được báo qua vô tuyến điện, thì Hays sẽ cùng đi với người của anh ta bằng xe jeep trắng, và sẽ đến giải quyết ngay tại chỗ một cách êm thấm, càng kín đáo càng tốt. Và như thế là ông Hays tổ chức luân phiên số người trong nhóm của anh đã lựa chọn. Và họ ở trong tư thế chờ đợi….. Tất cả những người Pháp ở Việt Nam, những người ngoại quốc ở Sài Gòn cũng như ở các nơi khác đều chờ đợi…

Người Việt Nam cũng vậy, họ còn nôn nóng hơn. Trong sân hay ngoài vườn của những ngôi biệt thự cho người Mỹ thuê, hành lý được chất thành đống, ngổn ngang đây đó va ly và cặp xách tay của người Mỹ cũng như va ly bằng giấy bồi, bao hành lý bằng ni lông ràng buộc chặt chẽ kỹ lưỡng của nhân viên người Việt Nam.

Các cơ quan của sứ quán Hoa Kỳ lên danh sách những người tỵ nạn, khả năng tùy theo tiêu chuẩn khó khăn thì cắt bỏ bớt. Thông thường, về vấn đề dự liệu và chọn lựa thì người Mỹ hay lắm. Sứ quán không có soạn một danh sách chính, một kế hoạch di tản chính. Làm sao ấn định được tiêu chuẩn về ưu tiên?

Đầu tiên chắc chắn là phải cho những người Việt Nam nào có nguy cơ bị giết hay phải bị bắt đi vào các trại tập trung tẩy não nếu cộng sản tới. Hầu hết tất cả những người đã làm việc cho các cơ quan của Hoa Kỳ và gia đình của họ. Một trăm ngàn, hay hai, ba trăm ngàn người cần phải di tản. Ở Sài Gòn và Hoa Thạnh Đốn người ta đưa ra con số là 1 triệu người.

Sau đó mới đến những người Việt Nam nào muốn làm việc lại ở Hoa Kỳ như kỹ sư, bác sĩ, kế  toán…những người nói được tiếng Anh kha khá. Cuối cùng các lãnh sự quán mới nói tới những người Việt Nam nào muốn rời khỏi Việt Nam.

Ở Việt Nam hình như đối với việc gì người ta cũng nghĩ là vẫn còn thì giờ. Nhưng bây giờ thì Lịch Sữ đang đi tới nhanh quá, hết sức nhanh!. Những người Việt Nam nào mong muốn được di tản đang bị bối rối. Họ quýnh lên nhưng lại nghĩ rằng tất cả không thể sụp đổ được dễ dàng. Suốt trong 30 năm chiến tranh, đất nước cũng đã có trải qua nhiều trận chiến và sau đó thì sóng vẫn lặng gió vẫn êm. Lần này chắc rồi đâu cũng lại vào đấy thôi, đất nước vẫn tồn tại…..

Người Mỹ cũng vậy, họ tự hỏi rồi ngập ngừng. Đối với họ chắc chắn là họ phải đi rồi, nếu cần. Đối vời một số lớn công chức của sứ quán hay những quân nhân có nhiều thời làm việc ở Việt Nam thì thời gian ở Việt Nam là thời gian quan trọng nhất cho nghề nghiệp của họ. Họ cũng không thể tưởng tượng có một sự sụp đổ nhanh chóng như vậy.

Họ đã như được gắn bó vớ đất nước này, một gắn bó sâu đậm với Việt Nam qua mùi vị của món ăn hay không khí của một vài con đường, một vài cảnh đẹp ở nông thôn, hay các cánh rừng thơ mộng ở Cao nguyên. Đất nuớc này có một cái gì nó vướng víu thật. Đối với những người Mỹ dù là mặc thường phục hay quân phục, đã có tuổi hay còn trẻ, trầm ngâm hay vui tính, với một anh Frank Snepp có lương tâm mà không kiên nhẫn, hay với một anh Homer Smith nổi bật hay chán đời, với những người Mỹ đã có bạn bè người Việt Namhay đôi khi có vợ hay nhân tình người Việt … thì đất nước Việt Namnày tuy xa lạ nhưng rất quen thuộc và thủ đô Sài Gòn này dù hấp dẫn hay đáng ghét cũng đều trở thành ranh giới của tuổi trẻ hay chân trời của lứa tuổi về chiều.. Những quân nhân Mỹ bị động viên , qua đây phục vụ một năm sau đó thì họ có thể quên nước Việt Nam. Nhưng những người sĩ quan hiện dịch thì không, những nhân viên ngoại giao cũng không. Khi họ được trở về Hoa Kỳ thì Huế, Đà Nẳng hay Sài Gòn , những nơi này lúc nào cũng được gợi lên trong trí của họ.

Lịch Sử qua rất nhanh. Địch quân không còn mang tên cũ nữa. Trước đây không đầy 2 năm, người ta gọi họ là Việt Cộng, là VC (đọc là Vi Ci), (1) dù cho đó là những người đến từ Miền Bắc. Mặc dầu biết họ là quá tàn ác, nhưng với sự khát máu đó của họ, báo chí ngoại quốc quá dè dặt hay thận trọng giữ im lặng không dám nói tới như đối với một vài “án mạng” của binh sĩ Miền Nam hay của người Mỹ. Quân nhân và các nhà ngoại giao tức điên lên. vì người ta không nương tay làm ồn lên khi viết về sự kiện làng Mỹ Lai bị đốt. Báo chí ngoại quốc moi móc hết, trừ những gi đã xảy ra ở các vùng của Việt Cộng.

Các nhà báo đi theo các cuộc hành quân thường gặp quân nhân Mỹ hay của Miền Nam tử trận và thấy rõ ràng thân thể của những quân nhân này đã bị Việt Cộng dày xé, cắt, thiến tàn tệ, nhưng phóng viên chỉ biết nhìn và chỉ biết nêu lên những chuyện hãi hùng trong cuộc chiến về phía người Miền Nam hay của người Mỹ mà thôi. Thức sớm hay ngủ muộn, các phóng viên cứ mô tả những cuộc dội bom hay những chuyến khai quang tận đâu đâu. Có ai mà tường thuật những chuyện cộng sản bắt đem đi hành quyết các chủ tịch xã, hay trưởng ấp đã xảy ra ngay trước mặt mình? Từ năm 1957 đến 1973, đã có hơn 36 ngàn vụ ám sát và hơn 58 ngàn vụ bắt người mang đi hành quyết.

Những chuyện đó coi như trong dĩ vãng. Tại Sài Gòn bây giờ, người ta không còn nói Việt Cộng nữa, mà nói đến 10 hay 15 sư đoàn quân chánh quy của Miền Bắc ở ngay tại chiến trường Miền Nam Việt Namvà không còn ai tính tới MTGPMN và CPLTCHMN nữa… Hay đó là 20 sư đoàn chánh quy Bắc Việt ? Thật là một sự thân mật quá ám muội với Việt Cộng. Có một số không ít Việt Cộng đã về chiêu hồi với Chánh Phủ VNCH. Con số lên đến hai trăm ngàn, có thể người ta cũng phải lo di tản họ nữa.

Bộ đội Bắc Việt cứ tiến tới, ngay như khi họ bắt tù binh cũng không ai biết , vì có ai nắm bắt họ được đâu, chuyện đó coi như quá trừu tượng, và họ có quyền của kẻ chiến thắng. Trong nhiều năm nay, người Mỹ ở Sài Gòn, Pleiku, Huế, Đà Nẳng, Cần Thơ, Mỹ Tho hay Tây Ninh, ở ngay tỉnh lỵ hay quận lỵ, đều có sống qua những đợt tấn công và phản công. Nguời ta mất đi rồi chiếm lại rồi lại mất đi một ấp, một đồn điền, một ngọn đồi, một thung lũng hay một vùng rừng núi vô bổ nào đó… thì chỉ là để ghi nhận những biến cố thôi. người ta chơi trò hú tim với một kẻ địch quá quắt. Không ai thật sự thắng họ. Cuộc chiến rồi cũng được ổn định trở lại hay chỉ còn những dấu vết, thường rất khó hiểu được đối với người Mỹ. Và cuộc tấn công hồi Tết Mậu Thân là như vậy đó: làm thế nào mà một sự thảm bại về mặt quân sự của cộng sản lại có thể biến thành một chiến thắng phi thường về mặt chánh trị trên bình diện quốc tế? Những người Mỹ chứng kiến điều này vẫn còn thắc mắc mãi…

Thời kỳ qua vẫn còn đó, đầy đủ: Có cả tỉnh, thành phố mà người ta tưởng là không thể tái chiếm lại được đã được chiếm lại. Nhưng Đà Nẵng, Huế đang nằm trong tay Bắc Việt , người Mỹ và cả người Việt Nam ở Sài Gòn đều biết là lần này hai thành phố này không thể tái chiếm lại được . Chuyện không tuởng tượng được nó đã tới, người ta đã đến một điểm tận cùng không thể trở lui lại được nữa rồi!

Người ta không thể đo lường được mức độ sợ hãi của người dân Việt Nam. Người ta không thể thiết lập được một bản thống kê về lòng mong muốn được đi khỏi đất nước, muốn chạy khỏi thì đúng hơn, của người dân Việt Nam. Thế nhưng một điềm chỉ viên đánh giá được sự lo sợ đó bằng hối xuất chợ đen của đồng Mỹ kim ở Sài Gòn , một sự đánh giá không ai bác bỏ được. Ngày 29 tháng 3, một tấm giấy bạc 100 mỹ kim được đổi với giá là 5000 đồng, bốn ngày trước người ta còn kỳ kèo 4000 đồng. Nỗi lo sợ cũng được ghi nhận ở giá vàng đang tăng vọt lên. Ai cũng đoán được ý định của những chuyện mua bán này: người nào tìm mua mỹ kim là người đó có ý chuẩn bị bỏ nước ra đi. người nào tìm mua vàng là người đó cẩn thận tính toán chuyện bị kẹt phải ở lại.

Thứ hai lễ Phục Sinh ở Đà Lạt, những giáo sư cuối cùng của Viện Đại Học còn ở lại cũng đang sửa soạn để rời khỏi thành phố. Đêm hôm qua, trận chiến đã xảy ra ở cách đây khoảng 60 cây số, gần đồn điền trồng trà. Người ta thuật lại là có một linh mục người Pháp đã bị gãy chân vì một mảnh đạn pháo binh. Một bác sĩ Bắc Việt đã mổ cho ông ta mà không có gây mê, vì Bắc Việt không có đủ phương tiện như ở Miền Nam. Muốn đi đến Sài Gòn thì phải đi qua ngã Phan Rang vì đường Đà Lạt Sài Gòn đã bị cắt đứt rồi. Linh mục Jean Mais dùng chiếc xe Citroen 2 ngựa của ông để chở các giáo sư và một đứa trẻ mồ côi 18 tuổi, người Việt Nammà ông đang bảo trợ. Linh mục chạy về hướng đèo Ngoạn Mục. Qua khỏi nhà máy điện lực ông bắt gặp đoàn người di tản, trên những chiếc xe Peugeot 203 cũ kỹ với hàng chục người trên xe, những chiếc mô tô Honda chở cả gia đình với nồi niêu xon chảo và mền chiếu của họ. Bên vệ đường có vài binh sĩ đang gạ bán một tấm da cọp vừa mới chết vì đạp phải mìn. Tấm da cọp thì quý thật vì khó mà gặp được nhưng không ai muốn dừng xe lại hết. Sau khi cho các giáo sư xuống Phan Rang, linh mục đi dọc theo bờ biển, ngược đường với làn sóng người tỵ nạn, để đến Nha Trang xem tin tức về những linh mục khác.

Tại Nha Trang, các linh mục đang do dự. Có một số chiều nay sẽ đi Sài Gòn còn những người khác thì nghĩ rằng họ không nên bỏ con chiên trong giáo khu của họ. Linh mục Bianchetti cắm trại ngay trong thành phố với một số đồng bào Thượng đến từ một làng trong vùng Ban Mê Thuột.

Trên đường thấy có vài ngàn người chạy loạn. Nếu chiến trận không bắt buộc họ phải chạy thì một số nông dân sẽ ở lại. Đã từ mấy đời rồi, họ vẫn ở đây, gần mồ mả của tổ tiên họ. Đối với hằng triệu người còn trẻ, họ không tưởng tượng được là họ phải rời bỏ làng mạc của họ, rời bỏ lũy tre xanh của họ… nhưng họ phải bỏ chạy mà thôi… vì cộng sản đến.

Về đêm, khi trở lại Phan Rang, linh mục Mais và người con nuôi của ông ta ghé lại giáo đường Krong Pha. Có những luồng gió thổi trong thung lũng tối đen. Vào khoảng nửa đêm linh mục ngủ không được nên ra khỏi giáo đường để hóng mát. Thình lình ông thấy hàng trăm ánh đèn xe từ trên đèo Ngoạn Mục. Một đoàn xe đang đi tới: binh sĩ trú phòng của Đà Lạt, các sinh viên sĩ quan, sĩ quan, lực lượng Bảo An và gia đình của họ. Một chiếc xe Jeep ngừng lại. Đại tá Chỉ huy trưởng trường Chiến Tranh Chánh trị bước xuống, bắt tay linh mục và nói:

_ “Chúng tôi được lệnh phải rời bỏ Đà Lạt.” Một sĩ quan khác tiếp lời:

_ “Chúng tôi cố gắng về điểm tập trung ở Phan Rang.”

Cũng giống như luận điệu của đài phát thanh và báo chí, ai cũng nói tới chuyện “điểm tập trung”, hay chuyện “thu hẹp tuyến phòng thủ”, toàn là sáo ngữ không sao che dấu nổi một thảm bại hình như không thể đảo ngược được.

Linh mục đi vào ngủ. Sáng hôm sau, một ủy ban an ninh cộng sản đã được thành lập trong làng. Có cả người cựu chỉ huy lực lượng phòng vệ ở đó. Các công nhân của nhà máy điện lực đã mang băng tay đỏ trên cánh tay. Linh mục lại lên đường. Ngay ở đèo Ngoạn Mục, nhân viên của một ủy ban khác xét giấy tờ của linh mục. Một cuộc dằng dai…Nhờ một phụ tá của Viện Khoa học đi tới, ông này biết linh mục nên linh mục mới được phép tiếp tục lên đường.

Ở Đà Lạt, các hàng quán đã đóng cửa hết, chung quanh bờ hồ vắng tanh. Trong chợ, trái cây, rau cải, thịt cá .. đang bắt đầu thối… đặc biệt bấp cải đã nặng mùi. Thư viện của Hội Thánh đã có cướp vào dọn sạch các kệ sách, đập nát tủ lạnh, phá toang tủ sắt dĩ nhiên không còn gì từ trước rồi… Linh mục thu nhặt vài cuốn sách rơi rớt. Trong thành phố, linh mục gặp người phụ tá dạy Pháp ngữ của ông. Với một số bạn trẻ ông Ngữ đang rửa chợ. Ông ta nói:

_ “Chúng tôi đang đợi họ. Tất cả đều tốt, nhưng thành phố phải sạch sẽ …

Ở viện đại học linh mục gặp ông trưởng khoa văn chương, ông Nguyễn khắc Dưỡng, giáo sư triết học. Anh của ông này là Nguyễn khắc Viện, là Giám đốc chương trình phát thanh ngoại ngữ ở Hà Nội, là một nhân vật mà tất cả người Pháp ghé qua thủ đô Bắc Việt đều gặp ông ta. Trong hai anh em một người thì theo Mác Xít và chọn Miền Bắc , một người theo Ki Tô giáo ở Miền Nam.

Ông giáo sư triết nói với linh mục:

_ “Miền Nam Việt Nam quá tham nhũng, giờ thì họ phải sống với sự trừng phạt!”

Theo ông giáo sư này, cộng sản sẽ mang theo ngọn lửa tẩy uế. Mặc dầu ông biết là cộng sản Bắc Việt tàn ác, họ đã hành quyết cha ông vào năm 1956, nhưng ông không muốn đi với những người mà ông cho là hèn nhát.

Linh mục cũng không đi. Là người của Hội Thánh, linh mục hy vọng sẽ làm việc lại nếu người ta cho viện đại học mở cửa lại. Ông nghĩ là Đà Lạt coi như đã xong rồi!

Tuy nhiên chuyện Miền Nam Việt Nam ngăn chận người Miền Bắc không thể không xảy ra được.

Trong lúc đó tại Sài Gòn, nhà văn Duyên Anh hỏi đi hỏi lại là mình có nên đi hay không? người Mỹ loan báo là sẽ có một cuộc “tắm máu” nếu cộng sản Miền Bắc chiếm được Miền Nam. Đích thân Tổng Thống Ford hình như đã đòi hỏi người ta phải dự trù di tản các nhà báo và các nhà văn. Không có vấn đề loan tin hay viết lách gì nữa, lại càng không có vấn đề tiếp tục viết tiểu thuyết bây giờ nữa. Ra ngoại quốc nhà văn có thể viết được chăng ? và có độc giả hay không? Ông ta nghĩ là một nghệ nhân cần có quần chúng. Và quần chúng của quốc gia ông. Ông Duyên Anh đã viết quá nhiều bài chống cộng. Nếu cộng sản tới ông ta có thể bị hành quyết. Ông đang nghĩ về lòng can đảm của một anh Paternak hay một anh Soljenitsyne. Hai ông này sợ không trở về nhà được nên đã từ chối không đi Thụy Điển để nhận giải thưởng Nobel của họ. Nhà văn Duyên Anh đã có ghi tên vào danh sách di tản của Sở Thông Tin Hoa Kỳ ở đường Lê quý Đôn. Dĩ nhiên ông cũng có ghi tên của người vợ và 3 đứa con của ông.

Sự việc một số tỉnh và thành phố đã rơi vào tay của Bắc Việt đã không làm cho kỹ sư Văn nao núng. Mặc kệ lãnh thổ có bị mất đi cũng không sao. Điều quan trọng là con số tử vong của cả hai bên!. Kỹ sư Văn luôn luôn nghĩ rằng người ta không thể không tiến tới được một giải pháp chánh trị. Ông nói rõ quan điểm của  ông ở ngay Bộ Công Chánh, mọi người đều tán thành. Có phải vì họ nể nang chức tước của ông hay không? Ở các sở khác, có một số công chức đã không còn im lặng được nữa, Họ lớn tiếng phàn nàn rằng người ta không nên và thể nói chuyện vời cộng sản được đâu.

Với sự trợ giúp của 9 vị Thượng Tọa và lối 20 Tăng Ni của chùa Quan thế Âm, Hòa Thượng Thích Thiện Hoa đang coi sóc một số khoảng 60 người dân tỵ nạn, thuộc các gia đình Phật tử phần lớn ở một tỉnh gần Ban Mê Thuột. Những người này chiếm hết các phòng công cộng trong chùa. Các bà thì bận bịu luôn với công việc ở nhà bếp, trẻ con thì đang khóc la rên rỉ. Các máy thâu thanh lúc nào cũng ồn ào làm cho chùa không còn được yên tĩnh. Các tăng ni thì gặp khó khăn với các phòng vệ sinh cá nhân đang bị tắt nghẽn. Nhờ quỹ cúng dường của tín đồ, các Thầy mới nuôi được số dân tỵ nạn này. Lúc nào họ cũng than thở không biết ruộng vườn nhà cửa và thân nhân thất lạc của họ đã ra sao rồi. Đây là những người dân chất phác, họ không cần biết tới diễn biến của tình hình chánh trị mà chỉ nghĩ tới việc trở về làng mạc của họ mà thôi.

Một ông sư trẻ đang theo dõi thời sự. Hai người anh của ông là sĩ quan trong QLVNCH, họ có thể sẽ bị trả thù khi bộ đội Bắc Việt chiếm được phần đất này chăng? Bọn cộng sản là những người vô thần, nghe nói là họ sẽ buộc những sư sải phải thi hành nghĩa vụ quân sự. Ở Miền Bắc người ta nói cộng sản bắt những người mới vào tu phải đi nhập ngũ nên phần đông sư sải ở ngoài đó đều là những người lớn tuổi. Chuyện đó không ngăn cản được những người lãnh đạo cộng sản như Thủ Tướng Phạm văn Đồng đã từng tuyên bố với những khách ngoại quốc rằng: “Chúng tôi là Phật Tử theo nghĩa của chúng tôi”. Trong vùng chiếm đóng của CPLTMN cũng vậy, các sư sãi đều là những người già.

Các Thầy vừa lo giúp đỡ những người dân tỵ nạn, vừa lo nghĩ đến số phận của chính mình, kín đáo trong lớp áo tràng và trong những lời cầu nguyện . Rất bình tĩnh họ nhìn diển tiến của tình hình. “Sự Nam tiến của người Miền Bắc có lẽ là một nghiệp báo mà chúng ta phải trả cho hành động của ta thuở trước chăng ?” nhà sư trẻ nghỉ thầm như vậy.

Bố mẹ ông khuyên ông nên ra đi. Một trong những người anh rể của ông là một trung tá Không quân đã có xác nhận với ông là các sĩ quan cao cấp có quyền mang theo gia đình của mình. Nhưng ông sư trẻ này từ chối. Ông nghĩ là ông không thể tránh được cái nghiệp báo của ông, ông phải chấp nhận những đau khổ sắp tới. Và sau đó là ông không còn lo lắng gì nữa. Bố mẹ ông cũng ở lại, không đi. Họ chờ người con trai của họ trở về, anh này là một thiếu úy phòng nhì thuộc sư đoàn bộ binh đang chiến đấu phòng thủ thành phố Xuân Lộc ở phía Tây của Sài Gòn.

Các tàu chở xăng dầu không đi theo Sông Sài Gòn để đến Tân Cảng gần xa lộ Biên Hòa được nữa, làm cho xăng trở nên khan hiếm. Ở các trạm xăng, người ta phải xếp hàng dài….

Có hàng ngàn tin đồn khắp nơi trong thủ đô như:

_Chắc chắn là địch quân sẽ tiến hành một sự phân chia đất nước ra nữa: đã có 2 nước Việt Nam rồi chắc sẽ có một Việt Nam thứ ba nữa đây! Cộng sản Bắc Việt sẽ giữ nguyên vẹn phân lãnh thổ của họ từ biên giới Trung Quốc đến vĩ tuyến 17. Những người kháng chiến ơ Miền Nam đã từng tập kết ra Miền Bắc sẽ nắm giữ phần đất nằm giữa vĩ tuyến 17 và vĩ tuyến 13, đó là một nước Việt Nam thứ hai. Còn nước Việt Nam thứ ba, từ vĩ tuyến 13 đến mủi Cà Mau thì sẽ có một Chánh Phủ với 2 thành phần, một là quốc gia và một là cộng sản.

_ Người ta còn phao tin chắc chắn là người Mỹ, nhất là nhân viên của CIA, đã khyên các tướng tá và công chức cao cấp nên đi. Hình như người Mỹ đã bắt buộc hàng quân nhân có chức vụ cao phải lên trực thăng. Chính những quân nhân này muốn ở lại lo phòng thủ Kontum, Plei Ku, Huế, Đà Nẵng.

_ Chánh Phủ Hoa Kỳ có nhiều dự án khác. Người ta có thể ở lại Sài Gòn, và người ta bị ám ảnh về ý nghĩ này. Các nhà trồng tỉa người Pháp tiên liệu là quyền lợi của họ sẽ được cứu vãn. Người ta mong muốn, người ta sẽ được, phải ở lại Sài Gòn.

_ Tổng Thống Thiệu giải thích trên đài truyền hình: “người Mỹ không muốn bán vũ khí cho chúng ta nữa, chúng ta phải tiết kiệm từng viên đạn.” Đôi lúc ông tâm tình thật sự qua những câu : Trên chiến trường làm sao chúng ta có thể ôm bọn cộng sản để mà cắn họ được?”

Người ta đua nhau gợi lên tất cả những giải pháp khả thi, bất khả thi, và có thể xảy ra:… Nếu ông Thiệu từ chức… Ai sẽ thay thế ông đây  ông Phó Tổng Thống? ông Thủ Tướng hay ông Bảo Đại? Vị cựu hoàng đế này ở bên cạnh người Pháp, có thể người Pháp sẽ can thiệp với cộng sản Bắc Việt ….

Đây là những ghi nhận của ông Patrick Hays:

“1.- Tình hình: Khó mà biết chính xác được việc gì sẽ xảy ra, bởi vì lần này mọi việc đều đi quá nhanh, và những người có trách nhiệm đối thoại lại không thấy xuất hiện. Mặt khác, trong bầu không khi hỗn loạn này có quá nhiều tin đồn khắp nơi không thuận lợi cho việc nghiên cứu tình hình một cách bình tĩnh được . Dù sao tôi cũng mong rằng chúng ta đang nằm ở một nấc thang được giả dụ là những kế hoạch lạc quan nhất của Bộ Tham Mưu Bắc Việt trong giai đoạn tấn công của họ đã đạt được rồi hay đã vượt đi quá xa rồi, và quân nhu của họ bắt buộc phải chạy theo. Như vậy có thể chúng ta sẽ có được thời gian để tìm được biện pháp an toàn cho nhân viên và tài sản của chúng ta . ….

2.- Việc gì sẽ đến bây giờ đây? Tương quan lực lượng mới đã quá rõ rệt để không còn nghi ngờ gì nữa về một kết thúc chung cuộc quân sự. Ngay như những người nào có quyết tâm ở lại chiến đấu cho Sài Gòn, chắc phải cần một De Lattre hay phải có một thánh nữ Geneviève…..

Ông Hays nghĩ tới một sự ra đi của Tổng Thống Thiệu, nhưng ông không tin vì biết rõ bản chất của ông Thiệu. Một giả thuyết lạc quan:

_ “Bắc Việt không tim cách chiếm Sài Gòn trước cuộc bầu cử Tổng Thống vào tháng 9.. ông Thiệu sẽ không còn đại diện nữa. Sau đó, chánh quyền “phải thi hành Hiệp Định Paris” , v.v….

3.- Thái độ phải có: Tôi thấy ngã về ý kiến là quân cộng sản Bắc Việt sẽ vào Sài Gòn. (cơ may có được một phép lạ ngay ở Miền Nam tối đa chỉ vào khoản 5 %) Câu hỏi được đặt ra là làm sao biết được lúc nào và nhất là bằng cách nào? Tôi mong rằng chúng ta còn có đủ thời gian vì lý do tiếp vận và cũng có thể là vì lý do chánh trị của phía Bắc Việt …..

“Ở nhà máy, người ta vẫn làm việc bình thường. Nhưng tôi tiên liệu (trên giấy trắng mực đen lúc này) các toán lo về an ninh với những nhân viên có trách nhiệm trong trường hợp mà công việc bắt buộc phải bị đình chỉ….

“Sài Gòn vẫn yên tĩnh”….

Trời cao đất dày

vietmessenger.com

Dương Nghiễm Mậu

Post by Sơn râu 1 Feb 2026

Google image

10. Truy tìm kẻ mất tích

Tôi trả lời: vâng tôi đã nghe rõ, rất cảm ơn ông tôi sẽ đi ngay bây giờ. Nói xong tôi chờ đợi tiếng trả lời, nhưng rất lâu tôi không nghe thấy tiếng nói nào nữa. Một tiếng cụp trong ống nghe, tôi hiểu người đó đã bỏ máy điện thoại xuống. Tiếp theo là những tiếng u u. Tôi nhìn đồng hồ, 6 giờ thiếu 15 phút. Sao không phải 6 giờ, thật là phiền. Có lẽ nó bị bắt vì thiếu giấy tờ. Sau khi gửi được cái xe gắn máy, chúng tôi đứng xếp hàng chờ đợi đến lượt mình, nhưng đến khi tôi và nó đến được trước khung cửa sổ, người đàn bà nhìn chúng tôi, đưa tay ra nhận hồ sơ, bà ấy lật đi lật lại hỏi: giấy khai sinh đâu. Tôi bực dọc trở ra. Trước khi đi chính tôi đưa cho nó, căn dặn nó nhưng tới nơi thì nó đã bỏ quên. Nó vẫn thường hay quên như thế. Chắc nó mới thay chiếc áo mới. Hôm qua nó đi kiếm đâu được một chiếc áo thung, nó khoe tôi, chiếc áo không có túi gì hết, nó lại thích mặc quần ống chật. Trông cậu cao bồi lắm đó nghe, hôm nào cảnh sát hốt cho coi. Cái thằng nó lại làm phiền mình. Để hốt đi lính cho rồi. Trốn tránh gì được, đằng nào mà không phải đi, còn giặc vài chục năm nữa cho coi. Ở lại mà sống một mình, sống như con chuột chù sao. Ơ nhưng cái người gọi điện thoại đó là ai vậy. Thật là ngu, sao mình không hỏi cho rõ gì hết. Nó bị bắt lúc nào, ở đâu, hiện bị nhốt ở đâu? Tôi để lại cái điện thoại cho ngay ngắn trước mặt, những người trong phòng tôi đang bỏ giấy tờ vào trong những ngăn kéo, người thư ký khóa những tủ lại. Người thì đánh phấn, kẻ môi, người chải tóc, người đứng lên ra phòng đi tiểu, người lau kính đeo mắt, những chiếc cửa sổ được đóng lại. Ăn cho mau già và già mau chết. Chắc nó bị bắt thật rồi. Tôi thấy nháy trên mắt trái. Máy mắt ăn xôi, máy môi ăn thịt, máy đít ăn đòn, máy… Cái đầu nghĩ toàn chuyện tầm bậy. Phải đi tìm nó, xem nó ở đâu, giờ này chiều rồi, mấy nữa mà tối, bị giữ lại e đói và chắc là mong tôi. Mẹ tôi nói có mấy chị em phải thương yêu nhau. Mẹ tôi có những sợi tóc bạc thật mềm, khi mẹ tôi chết bà chỉ nói với chúng tôi thật vắn tắt nhưng tôi không quên những giọt nước mắt chảy trên đôi má nhăn nheo. Tôi theo bà nội sờ tay lên chân, lên bụng theo với sự lạnh toát của thân thể mẹ tôi, khi mẹ tôi lạnh tới cổ thì mẹ tôi nấc lên và nhắm mắt lại chậm chạp. Mẹ tôi đã chết. Chị tôi khóc òa, thằng em ngủ vùi trong lòng chị tôi, nó còn quá bé chưa biết gì. Bây giờ thì nó đã đi lính rồi. Trước khi nó nhập ngũ tôi đã nói chuyện với nó. Nó hỏi tôi đủ điều, nhưng tôi nói với nó rất ít, có một điều tôi nhắc lại với nó, có nhiều cái người ta không học được, bây giờ người ta hô một hai cho mình đi mà đi không được sao. Không có gì hết, người ta sao ta vậy, cứ theo mà làm… Khi đi thì kiếm cái quần rách nhất mà mặc, vào đó có quần áo người ta phát cho rồi, mang theo bàn chải đánh răng, thuốc đánh răng, bỏ trong túi, thuốc hút, ít tiền lẻ thế là đủ. Nó vào quân trường, khỏe ra, trong nó bé nhỏ trong bộ quân phục, nó sinh năm đói, rồi giặc giã liên miên khiến nó nhỏ thó và thấp, mỗi tuần tôi gặp nó hỏi: cần gì không, nó thường nói không, đôi lần nó hỏi tôi ít tiền lẻ uống la de những buổi đi bãi. Rồi nó thành một sĩ quan. Hồi trước nó mong thành một ông giáo, sau nó lại bỏ vì nghĩ mình không có tướng oai, nó nghĩ một ông giáo trông phải có thớ một chút, nó sợ học trò bắt chẹt nó. Trông nhỏ quá không ra ông giáo gì hết. Hồi còn đi học nó kết bạn thư từ với cô sinh viên Thụy-điển, nó đưa hình cho tôi coi, cô bé xinh xắn, nhưng tôi nghĩ chắc nếu hai đứa đứng bên nhau thì nó cao nhiều nhất đến vai cô bé, nghĩa là thua ít nhất một cái đầu, tôi nói điều này với nó, sau tôi không nghe nó nói gì về cô bạn của nó nữa. Nó bị bắt thì cái xe gắn máy nó để ở đâu. Nó vốn giữ gìn xe của nó rất cẩn thận, tôi thì cười nó. Hầu ai chứ lại hầu một khối sắt thì tôi không hầu. Có người giữ xe cộ hơn giữ vợ con, nào lau chùi, đánh bóng, nâng niu, trùm áo cho nó nữa. Nhiều lúc còn bắt cả vợ con phải hầu xe, nhiều lúc xúm lại đẩy cho tới toát mồ hôi mới nghe, ai làm xây xát chút đỉnh là nhăn nhó càu nhàu, ai mượn thì khó chịu. Tôi không chịu được những cái đó. Cái đống sắt ấy. Tôi nhắc điện thoại lên, theo cuốn sổ tôi lần lượt gọi điện thoại cho các quận cảnh sát. Thưa ông, tôi là Nguyễn Văn B., tôi muốn biết tin của em tôi, nó mới bị bắt. Dạ không có. Thưa ông tôi là Nguyễn Văn B., tôi có đứa em bị bắt. Bị bắt ở đâu. Dạ không rõ. Ông giỡn với tôi sao? Tiếng cụp trong điện thoại. Cái thằng cha này hách quá. Thưa ông, có phải quận cảnh sát không ạ. Không, đây là tổng nha. Tôi là Nguyễn Văn B., tôi có đứa em bị bắt, tôi muốn biết tại sao nó bị bắt. Bị bắt hồi nào. Dạ, tôi không rõ. Thế tên nó là gì. Dạ nó là thiếu úy Nguyễn Văn B., có lẽ nó bị bắt vì trốn quân dịch. Xin ông liên lạc với quân cảnh, mặc giả quân phục lại đeo lon nữa thì chắc bị nhốt chờ ra tòa rồi. Tôi bỏ điện thoại xuống. Thôi phải đi tìm nó mới được. Mọi người đang lần lượt dời khỏi phòng. Tôi sửa lại quần áo cho ngay ngắn, lau kính đeo lên mắt. Bỏ ghế vào trong gầm bàn. Nhìn lại chiếc bàn bỏ trống, chỗ ngồi thật tôi chưa bao giờ được nhìn tôi một cách đầy đủ, chỉ là một chỗ bỏ không. Chiếc ghế lắc lư, cái đầu cúi, cái lưng hơi gì xuống, chiếc bút trên tay, những tờ giấy trước mặt, trên bàn, cuốn lịch mỗi ngày được lật qua, những chiếc bút xanh đỏ sau một thời gian được thay ruột, nhưng hồi chuông điện thoại, những nụ cười xã giao, những cái bắt tay nhạt nhẽo, những bữa cơm và những điếu thuốc. Rồi chiều đến, đứng lên, xuống thang gác và ra đường với những chai bia… Thật là những người điên. Trời đẹp thế kia sao không ra đường đi thăm một người bạn, gặp người tình, dẫn vợ con đi chơi. Thật là điên quá lắm. Chắc là nó bị bắt ở quận nhất rồi, cái chỗ đầu đường đó lúc nào cũng có cảnh sát hết. Những tay trốn lính đều biết rõ, chẳng bao giờ điên mà ngang qua đó. Cái tiếng còi hút lên nghe mà ghê. Cái thẻ căn cước cho đàng hoàng đừng có vẻ gì cũ, nếu không là phiền. Cái giấy hoãn dịch, cũng đàng hoàng, muốn cho chắc thì mang đi mà ép nhựa cho khỏi rách, khỏi nhàu mà giữ được lâu, nào đâu phải có một cái giấy gì, nhiều khi là cả một tập hồ sơ công phu, mất nó là không ăn không ngủ được. Cái giấy chẳng là gì nhưng nó chứng nhận là một kẻ làm người. Nếu không… Xin được một cái giấy, hay được cấp một cái giấy thật bằng được trao một cái sắc phong làm Thành hoàng của vua Bảo Đại. Người cảnh sát dẫn nó vào trong sân ngang qua chiếc cổng sắt có bót gác kiên cố. Một người lính đội mũ sắt hờm súng trong lần mắt cáo kẽm. Nó sẽ đẩy chiếc xe vào trong căn nhà tôn. Nó sẽ được dẫn vào chiếc phòng giam tạm thời, rồi nó sẽ được hỏi đến. Tôi đã nói nó nhiều lần, đi đâu phải có giấy tờ cẩn thận. Chẳng sao hết nhưng cực thân. Căn phòng những người ngồi dưới nền xi măng, đủ thứ người hết, mùi nước tiểu, mùi khói thuốc, những góc phòng nhớp nháp. Đêm xuống muỗi kêu vo ve, nền xi măng cứng nằm không ngủ được. Rồi những tiếng nói, tiếng chửi tục tằn, ngọn đèn vàng úa cháy suốt đêm. Tôi bước ra khỏi phòng cuối cùng. Đóng cửa. Hành lang hẹp vắng ngắt như không có một bóng người. Cầu thang trống trải. Những hạt mưa nhỏ trên vũng nước giữa sân. Tôi châm một điếu thuốc. Chiếc hộp quẹt với con rắn cuộn. Người tình phụ đã có ba đứa con. B. nói với tôi, em biết anh không lấy em, em thì già rồi. Tôi mua hai cái kem, cho mình một cái, cho con nàng một cái, chúng tôi dắt tay nó đi trên con phố đông người. Mưa thế này thì còn lâu mới tạnh. Người bạn cùng tôi bước xuống sân, tôi nói đi đâu. Về nhà, ông đi đâu. Về nhà. Tôi nói tôi tìm thằng em bị bắt. Người bạn nói, mình đi uống bia đã đi. Tôi nói đâu có được, đám cưới của thằng bạn thân này không đến không được, nó chửi mình. Hồi xưa mình với nó đánh cuộc nếu đứa nào lấy vợ trước thì mất một con heo quay. Bây giờ nó thua rồi, tí tuổi đã cầm lòng không đậu thì còn làm việc lớn gì được. Bọn bạn mình có vợ hết trơn rồi, có lẽ rồi mình đến làm rể một tên nào đó. Trới thấp với mây xám. Trời này khiến nhớ vị hôn thê. Anh muốn đến đưa em đi dạo, anh sẽ hôn em, nhưng em ở xa, nếu anh là gió bay đến cuốn quyện lấy em, nếu anh là cánh lá rơi chạm vào má vào môi em, nếu anh là… Người bạn nói, trời thật tuyệt. Thằng em tôi đứng dựa bên xe ngay cửa, nó nói tới đón anh về. Tôi nói thôi về trước đi, anh đi chơi chút nữa về, nói nhà đừng chờ cơm. Nó đẩy xe vào trong lề rồi lôi đồ nghề ra tháo chiếc xe, nó loay hoay với cái xích rồi lại đạp, lại đạp, chiếc xe chẳng chịu nổ gì cả. Tôi đứng bên người bạn chờ xe, xe cộ ngang qua không ngớt. Con nhỏ mặc váy ngắn quá, trên chiếc xe chiếc váy cuốn lên tận đùi non trông mà sướng mắt, nhưng cái đầu gối thì như quỳ bái nhiếu quá. Cái bọn quỷ đâu có vừa gì. Tiếng máy xe nổ thật là giòn, tôi ngó lại. Thằng nhỏ cười hở cả hàm răng sún, mặt nó nhem nuốc dầu mỡ, ông coi, tôi là thợ sửa xe lành nghề mà, ông có thể đi được rồi. Tôi nói, cám ơn, tôi không biết đi. Nó có vẻ không bằng lòng. Chiếc xe lam ngừng lại, chúng tôi leo lên, tới dọc đường chúng tôi nhảy xuống. Cô bạn nói với tôi, trông anh hồi này gầy, già đi và có vẻ buồn. Tôi nói, thằng em tôi nó bị bắt. Cô bạn cười rất vui nói tôi mừng anh có ý lập gia đình. Tôi nói làm thế nào được ai tránh khỏi cái chết. Tôi nói nó chọn ngành lái xe chẳng hạn, nó không chịu, nó muốn làm lính chiến đấu. Cô bạn nói anh đi ăn cưới người bạn cuối cùng sao. Tôi nói không, tôi còn nhiều bạn độc thân lắm, bọn bạn tôi con rơi con vãi tùm lum à, tôi cũng định đi làm vườn ở trên cao nguyên nhưng hồi này đi không được, máy bay họ không chịu chở theo cho tôi mấy con trâu để cày, họ viện cớ sợ trâu nó ỉa đái trên máy bay, hơn nữa hành khách bây giờ hung tợn lắm nếu mang bò lên máy bay họ sẽ hùa nhau làm thịt ăn, bây giờ hãng máy bay tặng rượu cho hành khách mà không chịu tặng đồ nhậu. Tôi đã thấy họ cùng nhau làm thịt con mèo. Cô gái cầm cái đuôi mèo nướng vào ngọn lửa, thoáng chốc cháy hết lông còn trơ lại một đoạn ngắn trông như que củi, cô ta bỏ vào miệng nhai nghe giòn tan. Tôi nói cô có kẹo không. Cô gái nói còn, tôi mời ông. Kẹo gì mà ngọt quá. Tôi phát ho vì cái kẹo. Anh bạn kéo chiếc ghế sắt lui vào phía sau, chúng tôi cùng ngồi ngó ra ngoài mặt đường. Hai chai bia, bọt sàu trong chiếc ly trong vắt. Chai bia thứ hai. Cục đá quá lớn. Cao tay nâng chén rượu nồng… Lúc tôi bước vào, phòng tiệc đã đông người. Phải thế chứ, bỏ không đi đám cưới vợ chồng nó lại giận mình. Mình còn cam kết sẽ kết sui gia với nó nữa. Nhưng này đừng có quên con bò quay đó nghe. Ông bà cụ thân sinh của nàng niềm nở đón tôi khi vừa tới giữa phòng. Tôi được mời ngồi chung với những bạn bè của nàng, thấy tôi tới nàng vội vàng đến bên. Nàng cầm lấy tay tôi cám ơn, chúng tôi cụng ly với nhau. Mọi người chúc tôi hạnh phúc. Những ly rượu mạnh được rót liên tiếp cùng những món ăn. Chúng tôi nói tới tình hình chiến tranh. Một anh bạn chợt òa khóc khi báo tin với chúng tôi vợ anh ta vừa tử trận ngoài tiền tuyến. Một anh ngồi bên đứng lên hát bài Khỏe vì nước một cách hùng hồn và chúng tôi vỗ tay theo. Nàng nói anh yêu em không. Tôi gật đầu. Nàng nói anh có phụ em không. Tôi gật đầu. Nàng nói anh có thấy mình hạnh phúc không. Tôi gật đầu. Nàng nói em muốn chết. Tôi nói thật tuyệt diệu. trời đẹp quá. Chiếc ly rơi khỏi mặt bàn, tiếng thủy tinh vỡ giòn tan trên nền gạch, người bạn nói cậu say rồi sao. Tôi nói say quá đỗi, cho tôi chiếc ly khác đi, tể tướng. làm tướng gì mà trông như tên hầu rượu, một tên hầu rượu hạng tệ. Buổi sớm hồng một ngày tươi sáng được báo hiệu, những cơn gió thoảng qua với hơi nước mát rượi, tiếng lá lao xao trên ngọn cây, những phiến lá xanh non như ngọc thạch. Em gửi cho anh bông hồng nồng nàn nhất của mùa hạ. (Khi muốn nhìn thấy mắt chàng nàng phải xoay tròn chiếc mũ. Đỏ bầm đầy bụi. Che kín ngang mày. Dưới đó chong hoài đôi mắt. Đen buồn như mắt nai. (1) Buổi chiều làm cho mình nhớ người tình, thôi đổi rượu đi. Người bạn cầm những chiếc ly trên bàn vút cao lên không trung, những chiếc ly mất tăm trong đó. Hai chiếc ly cao cổ hiện ra trên mặt bàn son rực rỡ, màu rượu chát thân mật, chúc em hạnh phúc, tiếng cụng ly reo vui như tiếng dương cầm trong đó trong đó những bước chân chim nhảy nhót trong buổi sáng ngọt ngày phục sinh. Tiếng vỗ tay vẫn còn vang lên, và tiếng khóc của người chồng bất hạnh lẫn trong đó nghẹn ngào. Tôi nói xin chia buồn cùng anh. Nàng hiện ra bên, để tay lên vai tôi, nghe chừng nàng đang hát. Mọi người đứng dậy cùng với điệu nhạc và cuộc dạ vũ bắt đầu, mọi người mang những mặt nạ màu sắc rực rỡ. Nàng cầm lấy tay tôi, chúng tôi dìu nhau tan trong đám người và những âm thanh êm dịu. Em mơ ước chúng ta được sống trong những thung lũng với hoa và cỏ, những ngọn đồi mây thưa và cây thấp dưới chân mình, ở đó tiếng suối reo vui như một bản hòa tấu không ngừng cùng với tiếng gió trong rừng và tiếng chim muông ríu rít hân hoan, chúng ta sống một ngày cho một đời. Người bạn đã bỏ đi từ lúc nào. Trên bàn gỗ chỉ còn lại chiếc ly độc nhất của tôi. Tôi giơ tay kêu: rượu. Người hầu bàn tiến đến, màu rượu vàng xanh bọt nhỏ và trong vắt. Men rượu nồng nàn. Anh muốn được ngủ trong rừng tóc nồng của em. Có phải tình yêu là cuối cùng của ước mơ nên bão tố cũng từ đó mà dấy lên? Rượu, người hầu bạn hiện ra, màu rượu vàng ửng. Cybel. Tôi không có tên. Rượu, người hầu bàn hiện ra màu rượu đỏ chói. Đó là tên của vị thánh thảo mộc. Rượu, người hầu bàn hiện ra, màu rượu trắng trong vắt. Em sẽ chẳng bao giờ để anh nhìn thấy em khóc đâu. Không biết buổi dạ vũ đã kết thúc từ lúc nào. Tôi đứng lại trong gian phòng trống không, vắng lặng. A lô, chúng tôi muốn được gặp ông Nguyễn Văn B., chúng tôi xin nhắc lại, chúng tôi muốn được gặp ông Nguyễn Văn B. Tôi bước đến nơi chỗ bàn giấy. Người đàn ông nói với tôi. Ông là Nguyễn Văn B., dạ vâng, chúng tôi báo để ông rõ là chúng tôi không tìm thấy ai tên là Nguyễn Văn B. cả, chắc ông ta không có ở đây, ông hãy liên lạc với các bệnh viện xem, tôi sợ ông ta gặp tai nạn và người ta đã mang ông ta vào trong đó. Tôi nói cảm ơn rồi đi ra khỏi phòng. Từ trong phòng lạnh ra, tôi thấy người như rực nóng, mồ hôi tứa trên cổ trên má, tôi lấy tay áo quệt ngang và ngửi thấy mùi rượu nồng nàn. Tôi lầy chiếc khăn tay lau mặt, tôi nhận thấy vết son và hương thơm của da thịt nàng. Tô đứng lên. Chắc hắn có hẹn với ai. Tôi châm một điếu thuốc. Chiếc hộp quẹt. Có con trâu xanh hết lòng giúp đỡ… người bạn nói, mình về nhà. Tôi nói ừ, về nhà đi. Tôi không biết ai đã gọi điện thoại cho mình. Chúng tôi chia tay nhau. Mỗi buổi sáng ngồi vào chiếc ghế quen thuộc, chiếc bàn rộng, những tờ giấy, những hàng chữ, những mệnh lệnh, trưa ăn cơm, làm việc lại, buổi chiều ra về, ăn rồi ngủ, cứ như thế, mỗi tuần một buổi đi họp, mỗi buổi chiều những chai bia… Một hôm lăn ra chết. Là xong. Chủ nhật rồi thứ hai. Tờ báo mỗi ngày những tin chiến sự, những người chết, chuyện hiếp dâm, hối lộ, ăn cướp, ông này tuyên bố, ông kia tuyên bố, những tiếng hòa bình, chiến tranh, hạnh phúc, lẽ phải, công chính, gian manh, tội ác, phép lạ, huynh đệ… Giấc ngủ chập chờn những sớm mai. Về nhà. Hai tiếng ấy. Tôi nghe thắt đau trong cuống tim. Ngày trước tôi mơ ước đi xe đạp trên những con đường làng, bờ ruộng, tiếng chuông kính coong hòa trong gió và tiếng sáo diều trong không trung… Thằng em nó khóc, nói nghẹn ngào: mẹ mất rồi anh đến đi, sắp nhập quan. Chúng tôi cùng đến. Chiếc áo quan bằng gỗ vàng tâm để mộc, mùi gỗ còn thơm, vân gỗ màu vàng tươi. Mẹ tôi nằm kín trong lần vải trắng. Những lời cầu kinh rì rầm. Tôi ngồi xuống bên giường. Chị tôi bế đứa cháu nhỏ trên tay nói: Cậu phải lập gia đình thôi, lớn tuổi rồi. Tiếng cầu kinh đã dứt. Tôi mở tấm vải trắng. Khuôn mặt người đàn ông bị chém, vết chém chia hai khuôn mặt. Không còn mắt. Máu đọng trên hai khóe môi. Tôi phủ tờ giấy lại. Người đàn ông tóc bạc trắng đứng bên nói với tôi: chúng tôi đã nhận được tin của ông, tên là Nguyễn Văn B. Tôi nói phải, ông ta ở đâu, để tôi dẫn ông tới. Chúng tôi bước vào một rạp hát. Hàng ngàn thính giả đang ngồi im như cầu kinh. Người ca sĩ đang hát trên sân khấu, ánh sáng đỏ rực trên tấm màn nhung đỏ. Tiếng hát vừa dứt, những tràng pháo tay vang động cùng với tiếng reo hò. Con bò rừng tung mình húc tới tấm vải đỏ. Hát thật hay, tôi có lời khen ngợi. Tôi nói cám ơn và đi vào trong hậu trường. Người đàn bà mặt phấn, môi đỏ, mày rậm tiến đến bên cười với tôi, giọng ân cần: chúng tôi đang đợi ông. Người đàn bà dắt tôi leo lên khỏi những bậc thang. Nhũng tiếng trống đổ dồn dứt đột ngột. Tấm màn kéo lên cùng với tiếng reo hò của vạn vật. Tôi nhìn xuống thấy đủ loài muông thú. Những con rắn, những con hổ, những con chim cú… Tôi nói cám ơn quý vị, thật đau buồn rằng chiến tranh đã kéo dài quá lâu và tôi lại là kẻ sống sót. Tôi không muốn vậy. Buổi dạ vũ đã tan. Chúng tôi lần lượt xuống thang lầu. Nàng cầm lấy tay tôi rất lâu. Tôi nói chúc em hạnh phúc. Tôi nghĩ nàng khóc. Người bạn nói: cả nhà hắn chết chỉ còn lại mình hắn, trái hỏa tiễn rơi trúng giữa nhà. Người bạn nói: nó vừa ra trường tới đơn vị chưa đầy một tháng bị mìn chết không toàn thây, còn lại một cái bọc vải nhựa. Cha tôi nói: ông ấy điên từ sau khi đứa con cuối cùng bị bắn chết trong khi đi xe đò về phép. Em tôi nói: bạn em đi lính hết chỉ còn một đứa lủng phổi phải nằm bệnh viện. Người bạn nói: cuối cùng tôi thấy xác bà cụ tôi trong một hầm tập thể, chỉ còn lại những đốt xương trong chiếc áo cũ được nhận. Người cúi cố ngoi người cao lên khỏi lề đường, chìa tay ra: xin ông giúp kẻ… Xin cám ơn quý vị. Tôi tiếp tục đi trong hành lang. Lúc sau một người y tá hiện ra. Cô ta nói giọng ngọt ngào: xin ông theo tôi. Nàng dẫn tôi vào trong một gian phòng xinh xắn không có ai, trong đó chỉ có một chiếc ghế bành duy nhất, chiếc ghế bọc bằng một lần nhung màu huyết dụ, trước mặt có một chiếc bàn nhỏ phủ tấm khăn trắng muốt, một chiếc ly thủy tinh cao trong suốt có cắm một bông hồng đỏ thắm. Cô y tá để trước mặt tôi một ly nước suối. Cô nói xin ông yên tâm, bà rất khỏe, chắc ông lo cho bà lắm. Tôi nói vâng. Cô y tá vặn chiếc máy hát, một điệu nhạc êm dịu. Chợt có tiếng trẻ khóc ngoài hành lang. Cô y tá đi vào bế theo đứa nhỏ vừa sinh vừa nói: ông đặt tên cho cháu là Nguyễn Văn B., cái tên thật hay. Tôi nói cảm ơn cô. Cô y tá bế đứa nhỏ đưa cho tôi, tôi nhìn thấy những vết nhăn trên trán, đôi mắt mở lớn thật buồn. Tôi đưa trả đứa nhỏ rồi đứng lên ra khỏi phòng. Cô y tá chạy theo nói : ông bỏ quên cái này. Cô cầm bông hoa ở tay cài lên miệng cho tôi. Mùi hương thanh thoát. Tôi bước ra đường. Thằng em tôi nói: tháng này em mới được đổi quần áo. Tôi ngó nó chững chạc trong bộ quần áo quân phục. Trời mưa nhỏ. Con đường vắng lặng, hai hàng cây cao vút để lại một vòm giáo đường. Người đàn ông mặc chiếc áo mưa màu đen, che chiếc dù, người đó đứng lại trước mắt tôi, những nếp nhăn trên trán, đôi mắt mở lớn thật buồn. Người đó nói: chẳng gặp anh gì hết, có đến hơn ba mươi năm có nhận ra tôi không? Tôi Nguyễn Văn B. đây. Tôi nói chào ông. Người kia quay đi: chào ông, làm như người lạ. Phải rồi… Cái áo mưa, chiếc dù khuất đầu, hàng cây cao vút…

Ngọn nến hồng rực rỡ trước mặt. Em nhắc lại cùng anh từ đầu, anh sinh ra ngày… Những giọt nước mắt tinh khôi lăn trên má

Giờ thứ 25

vietmessenger.com

Constantin Virgil Gheorghiu

Bản dịch của Lê Ngọc Trụ và Võ Thị Hay

Gió Bốn Phương xuất bản 1967

Theo Bản Dịch La Vingt – Cinquième Heure Của Monique Saint – Côme

Nxb Gió Bốn Phương, Saigon 1967

Post by Sơn râu 31 Jan 2026

Chương 2

Moritz qua xứ Hongrie được hai giờ. Ba người Do-thái và anh chờ xe trước một sân ga. Họ sợ không dám vô phòng khách của nhà ga. Xe lửa tới.

Bác sĩ Abramovici, Strul và Hurtig leo lên một toa hạng nhì. Moritz đứng dưới trao đồ cho họ, qua cửa sổ xe. Đến phút chót, anh nhảy lên bàn đạp. Hurtig nắm tay anh, kéo vô trong và đóng cửa lại. Mặt Moritz tái xanh. Anh sợ, khi nghĩ đến phải bị bỏ ở lại sân ga. Rồi anh sẽ làm sao một mình, không có bác sĩ và hai người kia. Anh thầm cám ơn Chúa được leo lên xe kịp.

Bác sĩ và Hurtig kiếm được chỗ ngồi liền. Strul và Moritz dòm khắp các toa xe. Đèn tắt, hành khách ngủ hết, không còn một chỗ trống nào. Hai người bèn ngồi lên va-li, để chỗ đường đi trong toa xe. Một lát có người đàn bà xuống xe. Strul liền ngồi vào chỗ trống trong buồng xe, chỉ còn Moritz ở ngoài. Bác sĩ mở cửa buồng xe kêu anh dặn: “Đừng ngủ quên, họ ăn cắp đồ nghe!”.

Moritz đáp:

– “Tôi không ngủ đâu!”. Nhưng bác sĩ vừa đóng cửa thì Moritz ngủ liền. Anh buồn ngủ quá, nên nhắm mắt ngủ mê mệt, đến Budapest mới thức giấc.

Khi xuống xe, trời sáng trắng. Moritz khát nươcó quá, nhưng Hurtig không cho anh vô quán giải khát, sợ lính tuần thành gặp và biết anh vượt biên giới, thì cả bốn người sẽ bị bắt luôn.

Bác sĩ nói: “Để rồi chị tôi sẽ cho anh một ly to, đầy nước!”.

Họ đi ra xa. Khỏi ga, họ đứng lại một lúc, trước dãy xe cộ. Hurtig nói:

– Cẩn thận hơn hết là ta nên đi bộ. Người lái xe có thể nhìn ra chúng ta và tố cáo. Đừng khờ dại đến đỗi bị bắt khi tới được Budapest!

Họ liền đi bộ. Moritz vác va-li trên vai và xách ở tay. Đồ rất nặng, nhưng anh đi dễ dàng hơn đêm trước, lúc vượt qua biên giới. Anh nghĩ thầm: “Chắc đồ này ít nặng hơn là bởi mình đi trên con đường nhựa”, và anh ấn mạnh bàn chân trên đường nhựa lạnh, vì anh không mang giày. Xe điện chưa chạy, vì còn sớm. Moritz ngó mấy đèn đường tự nhiên tắt bèn hỏi Hurtig, ai tắt đèn. Hurtig nổi giận, rầy:

– Đồ con lừa! Đừng nói tiếng Roumain nữa! Ai mà nghe được thì ngồi tù cả lũ.

– Vậy cấm tôi nói tiếng Roumain sao?

– Không cấm, nhưng người Roumain ở xứ này đều bị đày đi trại giam hết. Xứ Hongrie nghịch với xứ Roumanie, anh biết chưa?

– Vậy phải nói bằng tiếng gì bây giờ?

Bác sĩ xen vô đáp:

– Nói bằng tiếng Do-thái. Ở Hongrie, dân Do-thái không bị bắt như ở Roumanie. Tới bây giờ thì chưa thấy có luật bài Do-thái.

Moritz không dám nói tiếng Roumain, nhưng anh cũng không nói tiếng Do-thái. Anh mệt lử rồi.

Tới nhà bà chị của bác sĩ, ở đường Petofi, thì Moritz mệt luỗi, lảo đảo sắp ngã vì mấy va-li quá nặng. Anh để nó xuống trước cửa. Một chị ở phụ xách lên lầu. Moritz đi theo chị vô bếp. Chị này mặc áo xanh, màu áo làm cho Moritz nhớ lại có thấy đâu đây. Thì ra anh nhớ lại Suzanna lúc trước cũng mặc cái áo giống màu này.

Chị bác sĩ Abramovici, người mập mạp, mặc một cái áo ngủ bông to màu đỏ. Bà nói chuyện huyên thiên và lẹ lắm. Bà cho gọi Moritz lên phòng có bác sĩ, Hurtig, Strul và Nagy, anh rể của bác sĩ, để uống nước suối. Moritz đứng uống, vì không đủ ghế cho mọi người ngồi. Chị bác sĩ đem một bình trà để giữa bàn, và ngó Moritz, nói:

– Không đủ chỗ, thôi anh bưng trà xuống nhà bếp uống đi.

Nagy nó bằng tiếng Hongrois:

– Ừ, như vậy đượoc, ta còn nói nhiều chuyện quan trọng với nhau.

Moritz biết mấy người này không muốn anh ngồi cùng bàn với họ. Nhưng anh không phật lòng. Chị ở tên Iulisca vui mừng thấy Moritz xuống nhà bếp. Chị lấy ba lát bánh mì thoa bơ và thịt jambon đưa cho Moritz. Anh ăn ngấu nghiến, vì đói quá. Xong, anh muốn đi tắm, nhưng chị ở bảo anh:

– Anh đi chợ với tôi, lúc về sẽ tắm.

Moritz xách giỏ và đi mua đồ với Iulisca. Và từ đó về sau, mỗi sáng anh đều đi chợ với chị này.

Đi chợ về, anh bửa củi, ôm vô nhà bếp. Khi ăn xong, anh rửa chén với chị ở. Chị ấy vui tính, giễu cợt luôn nên Moritz lấy làm thích mà ở nhà này.

Mải làm việc ở nhà bếp và nói chơi với Iulisca mà Moritz quên rằng trọn buổi sáng anh không gặp bác sĩ cùng mấy người kia. Trưa lại, anh hỏi thăm, chị bác sĩ nói ông này còn ngủ. Moritz lo làm công chuyện và không nhớ tới nữa. Tối đến, khi đi ngủ, anh nhớ lại, trọn ngày anh không có nói chuyện với họ tiếng nào. Họ có ăn tại nhà, vì sau buổi điểm tâm anh nhớ chắc đã rửa nhiều dĩa. Chiều năm giờ uống cà-phê, họ cũng còn ở đó, vì anh đã rửa năm cái tách. Nhưng anh không nhớ bữa ăn mấy người, vì chị ở bưng xuống nhà bếp một chồng dĩa, anh lo rửa nên quân đếm. Anh không ngủ được vì lo lắng. Anh nhớ, hình như số dĩa ít hơn, khi ăn buổi tối.

Anh nghĩ: “Chắc Hurtig đi về nhà bà con rồi”. Anh tiếc sao Hurtig đi mà không từ giã anh. Nhưng không biết chừng y có ăn buổi tối, mà mình lại tưởng tượng dĩa ít hơn chăng? Bữa sau, Moritz mới thấy mình đoán trúng. Hurtig đã đi hôm qua. Chiều đó, y không có dùng bữa ở nhà Nagy. Bác sĩ và Strul thì còn ở lại. Lối mười giờ, chị Iulisca đem giày của họ xuống và hai người đánh bóng kỹ lưỡng. Moritz muốn đem giày lên nhà trên, nhưng chị ở cản anh và xách đem lên một mình. Lúc trở xuống nhà bếp, chị nói:

– Bà chủ cấm tôi đừng để cho anh lên nhà trên. Tính bà như vậy đó. Bà cứ sợo bị ăn cắp đồ.

Trưa lại, bác sĩ Abramovici kêu Moritz lên phòng văn, và biểu:

– Anh xách va-li này và đi với tôi.

Moritz vui mừng vì thấy bác sĩ không quên anh.

Ra tới đường, bác sĩ nhìn anh rồi giận dữ, hỏi:

– Tại sao anh đi chân không?

Moritz hổ thầm, nhưng anh không có giày. Anh dòm chung quanh thấy những người đi đường không ai đi chân không cả. Anh cúi đầu lầm lũi đi. Anh ngó kỹ từng cặp chân mỗi người qua lại. Ai ai cũng mang giày hoặc mang ủng. Anh thẹn quá, muốn đất sụp chôn anh cho rồi. Anh tìm cách để xin lỗi bác sĩ, nhưng ông này đi trước anh, tay thọc vô túi, như không biết tới anh nữa.

Hai người đi đến một ngôi nhà cũ, có vườn hoa nhỏ. Bác sĩ xách va-li vô nhà một mình. Moritz đứng chờ ngoài cửa. Anh đọc tấm bản treo trên tường có chữ “Sứ quán”; rồi ngó kẻ qua người lại trên đường.

Không bao lâu, bác sĩ trở ra, tay không. Ông vừa xuống nấc thang vừa cười. Chợt thấym đứng dựa tường, ông không cười nữa, đứng lại, thọc tay vô túi, ra dáng nghĩ ngợi. Trán ông xạm lại. Trên đường về, ông không hé môi.

Moritz đi cách xa ông, để người qua lại không biết ông đi chung với người không mang giày. Anh không muốn bác sĩ thẹn vì anh.

Đến trước cửa nhà Nagy, bác sĩ ngừng lại chờ Moritz đi tới, và nói:

– Yankel, trường hợp anh khó lắm. Ủy ban Do-thái ở Budapest lo giấy tờ chúng tôi sang Mỹ, không muốn làm cho anh. Tôi có năn nỉ và nói giúp giùm anh, vì anh cũng đi với chúng tôi, nhưng vô hiệu. Họ không muốn giúp người có đạo. Ủy ban Do-thái chỉ la cho người Do-thái thôi. Vì thế nên người ta gọi ủy ban ấy là “Ủy ban Do-thái”. Còn anh, anh không phải Do-thái. Phải vậy hôn?

– Tôi không phải Do-thái, bác sĩ à!

– Vậy thì họ có lý. Nhưng tôi tiếc là chuyện thật như thế. Tôi muốn đem anh sang Mỹ với tôi. Vì tôi không phải là người bỏ bê anh đâu.

Bác sĩ Abramovici mở bốp lấy một xấp giấy bạc ra đếm. Moritz nhìn giấy bạc Hongrois và lấy làm lạ sao khuôn khổ nhỏ quá.

Bác sĩ nói:

– Đây là 20 pengoes để trả công anh. Số tiền này nhiều. Ở đây phải làm trong một tuần lễ mới lãnh số tiền này được. Anh chỉ có vác va-li trong vài giờ mà lãnh được tới bấy nhiêu đấy.

Moritz không hề nghĩ đến việc đòi tiền vác va-li bao giờ. Anh làm việc không phải vì tiền, nhưng bác sĩ cứ đưa hoài, thành thử anh phahỉ lấy cất vô túi áo. Bác sĩ nói tiếp:

– Điều quan trọng hơn hết là đem anh được ra khỏi trại giam và dẫn anh đến đây. Nếu chúng tôi không giúp anh vượt khỏi trại giam, thì chắc anh sẽ chết rục trong ấy. Nhưng tôi không đòi công anh chút gì, bởi tôi không phải là người đi kể ơn đã làm giùm cho người khác.

Moritz ở Hongrie được một tuần. Ngày ngày anh đều làm công việc như buổi ban đầu: đi chợ với Iulisca, bửa củi, đổ rác và rửa chén. Chiều, anh rửa nhà bếp, lau gạch và nấc thang lầu.

Một buổi sáng chúa nhựt, Nagy gặp anh trong hành lang, bèn gặt gỏng hỏi:

– Mày chưa tìm được chỗ làm sao? Đã một tuần nay mày ăn ở đây. Bộ muốn tao nuôi mãn đời à?

Rồi y đi ra, không nói gì thêm. Moritz ăn năn sao không đi kiếm việc làm. Chính anh cũng không nghĩ đến nữa. Anh tưởng làm như vậy thì kể như anh là người giúp việc trong nhà Nagy rồi.

Anh tự mắng: “Sao mình ngu dại đến thế, chẳng lo kiếm chỗ làm. Họ nói có lý. Họ không thể nào nuôi mình hoài!”.

Chiều bữa đó, anh nói chuyện với Iulisca, chị hứa kiếm giùm công việc cho anh. Chị có quen một người làm công trong xưởng Sô-cô-la. Chị nói:

– Rồi anh đem sô-cô-la về cho tôi nghe. Trừ phi anh đem cho ai khác!

Moritz lấy làm buồn mà thấy Iulisca nghi ngờ mình như thế, nên nói:

– Làm sao tôi cho cô nào khác được? Tôi lãnh bao nhiêu sẽ đem về cho chị hết, tôi cũng không ăn nữa.

Đêm ấy, Moritz chiêm bao thấy được vô làm ở xưởng Sô-cô-la.

Ngày sau, bác sĩ từ giã chị và anh rể để ra đi. Moritz vác va-li ra ga và đem lên toa xe có giường nằm. Anh hỏi:

– Ông đi đâu xa lắm sao?

– Qua Thụy-sĩ. Tôi cần nghỉ vài tuần rồi mới sang Mỹ.

Khi xe sắp chạy, bác sĩ bắt tay Moritz. Anh đỏ mặt vì hành khách đều ngó bác sĩ đang bắt tay anh, anh là một người không có mang giày. Xe chạy, bác sĩ còn nói với qua cửa sổ:

– Chào anh Yankel! Tôi không quên anh đâu. Tôi sẽ cố giúp anh.

Moritz đáp lại: “Chào ông!”.

Đến khi xe chạy khuất xa, anh cảm thấy bị bỏ rơi, trơ trọi nhứt thế gian, liền khóc thầm. Hurtig và Strul đi mà không thèm từ giã anh. Bây giờ bác sĩ cũng ra đi. Anh đứng thật lâu ở sân ga. Không lúc nào bằng lúc này, anh thấy anh là người cô thân nơi xứ lạ. Nhưng nhớ tới xưởng Sô-cô-la, anh liền nguôi ngoai. Anh đi về nhà. Dọc đường Petofi, anh tính thầm: “Chừng vô làm được, ta sẽ mua tặng Iulisca một xâu chuỗi bằng pha-lê”.

Bữa nay Moritz và Iulisca đi chợ sớm hơn thường bữa. Họ mua mau lẹ thịt, rau cải, thứ nào cần dùng, rồi đi theo một con đường có dãy nhà thấp. Moritz tay mặt xách giỏ, tay trái nắm bắp tay Iulisca. Họ đi thật mau.

Iulisca nói: “Xưởng Sô-cô-la ở tận bên kia thành phố. Ta phải đi cho mau”. Mồ hôi họ ra như tắm. Nếu về trễ thì không làm đồ ăn kịp. Nàng có nói chuyện với một người làng, làm trong xưởng. Người này bảo dẫn Moritz đến buổi sáng để thương lượng với ông chủ. Y có nói: “Chắc Moritz được nhận vô làm liền, vì trong xưởng thiếu người”.

Moritz vừa chen đám đông tụ tập ở ngã tư, vừa nói chuyện với Iulisca:

– Có thể họ cho tôi làm liền! Nếu họ nhận tôi làm thì thứ hai tuần sau tôi được lãnh lương kỳ đầu. Và chắc cũng sẽ có sô-cô-la cho chị nữa.

Moritz siết chặt tay Iulisca. Cả hai ngó nhau cười. Moritz nói tiếp:

– Tôi sẽ mướn một căn buồng. Tôi không thể ăn hại của chủ chị hoài. Tôi sẽ kiếm một căn buồng ở gần xưỏng.

Iulisca hỏi:

– Tôi tới chỗ anh ở được không?

Nhưng Moritz không nghe, vì mắc ngó đám đông. Anh tự hỏi sao mà người ta đông quá vậy. Cả mấy trăm người đang xô lấn nhau. Iulisca cũng đứng lại coi chuyện gì. Chợt nhớ phải đi cho mau, chị hối:

– Ta đi qua đường khác. Không thì trễ bữa ăn.

Họ liền quày trở lại và bước thật mau nhưng phía đầu đường kia bị một vòng lính cảnh binh bao vây.

Iulisca liếc nhìn mấy viên cảnh binh và vừa đi hối hả vừa nói:

– Cảnh binh và lính tráng toàn là người tầm thường! Không khi nào tôi ưng họ làm chồng.

Iulisca ngó lại coi Moritz có nghe không. Nhưng anh không còn đi sau chị nữa. Chị ngó dáo dác kiếm, chợt thấy Moritz đứng với cảnh binh và đưa tay ra dấu với chị. Iulisca hiểu chuyện gì đã xảy ra, chị lại gần Moritz. Hai người đang bị ở trong một cuộc khám xét. Cảnh binh bao vây cản đường để tra xét giấy tờ người đi đường. Họ không hỏi giấy đàn bà nên chị đi qua được.

Iulisca nhớ lại Moritz không có giấy tờ gì trong mình nên đâm sợ. Nàng liền chạy trở qua hàng rào cảnh binh. Một người lính muốn nắm giữ chị lại, nhưng chị gạt ra và đến gần chỗ Moritz. Anh đang đứng trong đoàn người có cảnh binh cầm súng lưỡi lê, dẫn đi tới một xe cam-nhông. Moritz bèn đưa giỏ đồ ăn lên khỏi đầu để Iulisca thấy mà đến lấy. Nàng thấy rõ giỏ đồ nhưng không tiến tới được. Cảnh binh không cho chị đi xa hơn nữa. Chị có cắt nghãi với họ rằng muốn đến lấy giỏ đồ ăn. Nhưng họ không chịu nghe chị, hoặc không muốn hiểu chị. Chị la lối, chửi rủa cũng vô hiệu; không làm sao tiến được hết.

Moritz leo lên xe. Anh để thòng giỏ đồ ăn ra ngoài, trông cho Iulisca đến lấy.

Nhưng xe khởi chạy. Moritz đành kéo giỏ để trên đầu gối. Anh nghĩ thầm: “Không có giỏ đồ ăn chắc bà Nagy đánh chị quá!”. Sức anh muốn nhảy xuống xe để trao giỏ cho Iulisca, nhưng không được. Hai cảnh binh cầm súng lưỡi lê ngồi chận hai đầu. Ngó thấy họ, anh quên giỏ đồ ăn và mới biết mình bị bắt.

Kể từ ngày ấy, đã bốn tuần qua. Những gì xảy ra ở ngoài bốn vách ngục giam, Moritz đều không biết được. Cho đến ánh sáng mặt trời, anh cũng không thấy. Cửa sổ ngục trổ ra sân, vách tường đen xạm và quá cao của nhà tù che khuất chân trời, luôn cả vòm trời. Trọn bốn tuần lễ, anh không được một hơi thở thoáng khí. Mấy tội nhân khác còn được ra ngoài sân một giờ mỗi ngày. Anh nghe họ ra, rồi trở vô ngục giam, anh biết họ đi đổi không khí, nhờ nghe tiếng chân của họ.

Nhưng hôm nay dãy hành lang êm tịnh. Trời chưa sáng. Moritz mở mắt. Đôi mí giãm ra nặng nề, anh đưa tay lên rờ, thấy sưng húp. Máu đã đặc khô. Họ đem anh về đây hồi nào, anh cũng không nhớ. “Chắc họ bồng mình về”. Đôi khi, anh không thấy đã đặt chân ở đâu, lúc bị dẫn trở về ngục. Mấy lần khác, anh không cựa quậy nổi, hằng giờ. Họ phải bồng anh về. Thường bữa, thì anh nhớ lúc nào họ thôi đánh khảo anh, lúc nào lính bồng anh về ngục, và để nằm dài trên giường. Nhưng lần này, anh không nhớ gì cả. Không nhớ mảy may gì cả. Đây là lần đầu tiên. Anh tự nghĩ: “Chắc họ đã quá tay!”. Anh nói về anh, như chuyện của một người xa lạ. Anh rờ mặt thấy râu ra dài và cứng. Máu đặc dính khắp cả râu, tóc, lông mày. Rờ đến đâu, máu khô bể ra từng mảnh, nhám như đất khô. Anh le lưỡi liếm môi, đôi môi sưng vù và đau nhức nhối như mụt nhọt sắp vỡ. Răng anh cũng làm anh nhức nhối thêm. Nhưng hiện giờ, anh bị mất hết bốn cái răng. Hôm trước, anh khác nó ra với máu, như nhả hột trái cây, khi bị đánh một thoi ở quai hàm. Hôm ấy, hàm anh cũng làm đau nhức xốn xang, như cách nhức nhối hôm nay. Anh tự nói thầm: “Nếu họ còn đánh mình gãy răng nữa thì mình làm sao nhai bánh mì!”. Anh không còn sức đưa lưỡi rà xem có mất cái nào nữa không. Mỗi cử động nhẹ đều làm anh đau nhức khó chịu. Anh nhắm mắt lại. Giờ phút qua. Anh nghe tiếng chân bước đến gần, ngoài hành lang. Anh không lắng tai nghe coi tiếng ấy của ai, từ đâu đến, và đi đâu, như thường lệ. Thịt da anh sưng bầm, trí óc anh cùn quẫn. Khi người ta đến dẫn anh đi khảo tra, và lúc anh bước xuống giường, thì anh muốn kêu rú lên, vì lòng bàn chân anh sưng vù như một ổ bánh nóng. Anh không nhớ có bị đánh ở lòng bàn chân. Người gác khám tống mạnh anh ra. Moritz bước qua ngưỡng cửa ngục. Anh đau đớn vô cùng, đau ở lưng, chỗ người gác vừa đánh. Cái đau dứt thì bàn chân làm anh khổ sở. Mỗi bước đi là một cực hình, như ai rứt từng miếng thịt.

Còn chừng một trăm bước nữa thì tới phòng ông thanh tra Varga, người lo việc hỏi tội.

Anh còn phải đi bao nhiêu bước ấy. Và chỉ nghĩ đến, là anh thất đảm, tiêu tán nghị lực, té quỵ xuống đất. Viên hiến binh xách nách anh lôi dậy. Moritz nhẹ như một đứa trẻ. Còn xương với da: những gì còn có thể cân nặng được. Về thịt với mỡ, thì thôi, khỏi cần nói đến.

Lúc bị bắt, Moritz khai đúng y như chuyện đã xảy ra, tại sao anh đến xứ Hongrie. Hiến binh không tin anh. Họ đánh anh để anh nói sự thiệt. Nhưng, sau bao lần tra tấn, anh cũng đều lặp lại chuyện của anh đúng y như trước, nên họ cứ đánh khảo anh luôn.

Hiện giờ, anh bị giam tại khám đường của Cơ quan Mật vụ xứ Hongrie. Và mỗi ngày anh bị cật vấn và đánh đập.

Viên thanh tra hỏi anh:

– Tại sao mày tới đây? Ai gởi mày đi?

Moritz trả lời:

– Không ai gởi tôi sang Hongrie hết.

– Mày khai đã được một viên phó quản dẫn tới biên giới bằng xe nhà binh!

– Đúng vậy. Viên phó quản tên Constantin, người cai quản trại giam và bạn của bác sĩ Abramovici. Ông theo đưa chúng tôi để lính tuần phòng không bắt chúng tôi.

– Đó là Thiếu tá Tanase Ion, ở cơ quan gián điệp Roumanie. Chúng ta biết y đang hoạt động ở vùng đó. Mỗi tháng, y đều phái người sang đây. Chính y đã gởi mày qua. Nhưng chúng ta muốn biết tại sao y gởi mày qua, với nhiệm vụ gì?

Moritz ngó xuống đáp:

– Tôi đã nói hết sự thật rồi!

Anh biết trong chốc lát sẽ bị lôi xuống hầm tra khảo. Xác thịt anh khởi sự đau lần.

Viên thanh tra nói:

– Mày không nhận thấy rằng tất cả cuộc đóng trò ấy chẳng dùng vào việc gì hết à? Thật là ngu dại cứ chối quanh mãi. Mày khai có bị nhốt trong trại giam Do-thái ở Roumanie mười tám tháng phải không?

– Phải!

– Nhưng mày không có để chân tới đó. Mày là dân Roumain.

– Dạ tôi là dân Roumain.

– Tới xứ Hongrie, mày lại muốn làm dân Do-thái. Và để có bằng cớ cho chúng ta tin, mày lại khai ở trại giam Do-thái. Rồi mày khai có vượt biên giới với ba người Do-thái.

– Mấy chuyện này đều đúng thật.

– Không đúng thật. Mày đi có một mình. Mày không có ở nhà Nagy. Nhà này từ sáu tháng nay, không có người lạ đến ở. Mày tưởng chúng ta tin mày bằng lời mà không điều tra sao? Tao có tờ khai của hai vợ chồng Nagy đây. Họ chẳng khi nào nghe nói đến mày. Mà bà Nosa Nagy cũng không có em trai nào làm bác sĩ hết!

Moritz liền hỏi:

– Họ nói họ không biết tôi sao? Bà Nagy không thể nào nói một chuyện như thế.Tôi làm công trong nhà bà, tôi đi chợ với Iulisca, tôi rửa chén…

Moritz khóc lên. Viên thanh tra quát:

– Mày nói láo! Bà Nagy không có đứa ở nào tên Iulisca cả. Nếu mày muốn nói dối, thì ít ra mày cũng biết tên người ở chớ!

Rồi viên thanh tra lại cười, nói tiếp:

– Tao có hỏi đứa tớ gái của bà Nagy. Nó ở trong nhà này từ tám năm nay. Tên gì mà Iulisca? Chỉ có mày bịa đặt thôi! Mày định lừa chúng ta hả? Phải Thiếu tá Tanase dạy mày chuyện cô Iulisca để mày lặp lại ở đây không?

Moritz nhắm mắt lại. Anh chờ người ta gọi người gác ngục. Anh chờ người ta dẫn anh xuống hầm tra khảo. Anh không muốn nghĩ gì nữa hết. Tuy nhiên, anh khổ sở về ý nghĩ sao bà Nagy lại có thể khai được rằng không biết anh. Anh không thể tin tưởng được.

Moritz nghe cửa mở, và tiếng chân đến gần anh. Không phải tiếng đi của mấy người lính gác. Anh mở mắt ra, thấy Isaac Nagy trước mặt. Y mặc áo quần mới, màu nu, và không ngó anh.

Viên thanh tra hỏi y:

– Ông biết người này không?

Nagy nhìn Moritz trừng trừng và đáp:

– Đây là lần thứ nhứt tôi thấy người này.

– Có ba người Do-thái trốn xứ Roumanie ở nhà ông không?

– Ngoài vợ tôi, tôi và đứa tớ gái, không có ai lạ ở nhà tôi từ mấy năm nay.

– Thôi cám ơn ông!

Nagy ra khỏi phòng. Vợ y vô tiếp theo liền. Bà cũng khai không biết Moritz và chẳng khi nào thấy anh, từ trước đến ngày nay. Viên thanh tra hỏi:

– Bà có người em bác sĩ ở tại xứ Roumanie phải không?

– Tôi là con một.

Viên thanh tra gay gắt ngó Moritz và hỏi tiếp bà Nagy:

– Bà có khi nào mướn người tớ gái tên Iulisca không?

– Không bao giờ! Từ tám năm nay, tôi ở tại Budapest chỉ mướn có một người ở tên Joséphina.

Bà Nagy bước ra khỏi phòng, tươi cười. Tiếp theo bà, có một bà già vô khai tên là Joséphina và đã ở giúp việc cho gia đình Nagy từ tám năm nay, không nghỉ lúc nào.

Bây giờ chỉ còn viên thanh tra với Moritz. Ông hỏi:

– Mày có nhìn nhận đã nói láo chưa? Hãy nói thật đi! Tại sao họ gởi mày qua đây?

Moritz khóc ròng…

Từ phòng thanh tra Varga, Moritz bị đưa ngay xuống phòng tra tấn, như thường lệ. Nhưng chưa bao giờ anh run sợ vô cùng như bây giờ. Bước vô phòng tại dưới hầm là bị ánh sáng chóa mắt ngay. Phòng này luôn luôn có một ánh sáng trắng toát như phấn. Đèn nào cũng to và chiếu sáng lạ thường.

Moritz nhắm mắt lại. Nhưng ánh đèn làm nóng màng tang anh như lửa đốt.

Tên gác cười, ra lịnh:

– Cởi đồ mày ra!

Đó là một trong hai tên gác to béo, râu ngạnh trê, và lúc nào cũng thấy hai gã đánh bài. Moritz mở nút cổ. Anh biết trước nếu chần chờ thì mấy tên này sẽ quất bổ roi gân bò vào mặt anh.

Nhưng mấy ngón tay anh sưng vù, anh không cởi được dễ dàng mấy nút áo sơ-mình nhỏ tí. Anh sợ điếng hồn nếu để hai gã kia chờ đợi. Chưa lần nào anh sợ khủng khiếp roi gân bò như lần này. Anh lén nhìn hai tên gác đang đánh bài. Họ mải mê chơi nên không nhận thấy sự chậm chạp của Moritz. Anh lần hồi cởi được áo sơ-mình. Anh khỏi phải tuột quần xuống đất. Anh đứng chờ. Trước mặt anh là một cái giá gác một hàng đũa sắt, như ở trong trại binh dùng để lau nòng súng. Đũa sắp theo cỡ. Bên trái, thứ lớn bằng ngón tay cái, kế nhỏ nhỏ lần. Lối hai chục cỡ khác nahu và mỗi cỡ hai chiếc. Moritz mới đếm lần này là lần đầu. Chiếc mảnh hơn hết ở chót giá, phía tay mặt. Chiếc ấy mảnh như cọng rơm. Moritz đã biết qua cảnh đau khổ do từng chiếc một gây nên.

Một tên gác đứng lên, quăng bài bừa bãi trên bàn và nó:

– Thôi ta làm việc. Ai không làm thì không ăn.

Moritz thấy hắn vươn vai. Hắn mặc một cái áo thun xanh, bó sát thân hình vạm vỡ của hắn. Hắn có vẻ như buồn ngủ.

Tên gác kia dụi điếu thuốc và ngó Moritz nói:

– Sao, bữa nay mày có chịu nó tại sao họ sai mày qua xứ này hay không?

Câu hỏi rất điềm nhiên như hỏi xin mồi điếu thuốc. Nói xong hắn cũng ngáp dài, và vươn vai như tên trước. Moritz đáp:

– Thì tôi đã nó rằng không ai sai tôi qua đây hết.

Hai tên gác vụt quay đầu lại, nhảy dựng lên như bị phỏng lửa, mắt đổ hào quang giận dữ. Moritz run lên. Một đứa bước lại tống Moritz một thoi dưới hàm hạ. Y đánh bồi thêm một thoi. Rồi một thoi nữa. Moritz hết còn biết cái cằm là gì.

Tên thứ hai chụp anh và xô nằm trên chiếc băng gần giá đũa sắt. Đoạn hắn leo cỡi trên lưng Moritz. Mỗi ngày, khi hắn ngồi như thế thì Moritz tưởng sẽ chết ngộp. Nhưng lần này anh muốn chết luôn. Anh nghe lồng ngực của anh như ép sát vào chiếc băng. Buồng phổi bị sức nặng của hắn như cái cối đá đè xuống, không hít không khí được.

Tên gác thứ nhứt, người đã thoi vào mặt Moritz, hỏi tên thứ nhì:

– Mày nói gì?

Tên kia không trả lời. Moritz nghe một roi đầu tiên đánh vào lòng bàn chân. Anh co rút hai chân lại. Tên gác đang cỡi trên mình Moritz liền nắm hai chân anh và đè ghì xuống băng. Chiếc đũa thứ hai đánh bồi thêm, chắc là chiếc cỡ lớn. Bàn chân anh không đau nữa. Chỉ có đầu óc anh đau thôi. Khi bị đánh tới tấp như mưa thì đầu óc anh hết nghe đau, mà ngực anh đau. Rồi vai anh đau, kế anh hết còn biết đau đớn gì nữa. Thân xác anh cứng đờ. Nhưng không được bao lâu. Bây giờ anh lại nghe như bị mũi dao xẻ vào lòng bàn chân, vì nó thốn quá, nóng như lửa đốt. Chắc đến lượt những chiếc đũa mảnh hơn. Sự đau đớn thốn đến đầu gối, đến thận. Anh không còn tự chủ được bọng đái và bụng dạ anh nữa. Cuộc đánh khảo tiếp tục bổ xuống như mưa tuôn. Anh nôn mửa. Một ánh vàng chập chờn trước mắt anh. Đồ ăn ngấu nghiến trong bụng bắt đầu trào ra miệng. Quần ướt dầm dính sát vào da. Nước và bánh mì đã ăn không thèm ở trong bao tử anh nữa.

Moritz thấy lặn hụtp trong ánh vàng bao quanh anh. Miệng anh đầy một chất nước đắng, màu xanh xanh. Mũi miệng, các khiếu trong thân đều có nước chảy ra. Nước pha một thứ bọt sủi màu xanh như bọt mép loài cóc nhái. Moritz cảm thấy sinh mạng như tách lìa khỏi cơ thể. Riêng trí óc anh vẫn còn tỉnh táo. Tên gác cứ tiếp tục đánh anh, từ chiếc đũa thứ lớn đến thứ nhỏ nhứt, nhưng anh hết cảm biết đau nữa. Máu của anh cũng không thể chịu đựng sức đánh đập, tìm lối thoát ra khỏi lớp thịt bị dần nát, chảy tuôn ra khắp các vết thương. Chỗ nào có hở thịt là có máu. Máu chảy ra mũi, miệng, lỗ tai, và hòa với nước tiểu. Đến các lỗ chân lông cũng rịn máu. Máu không chịu ở trong một thân mình nứt nở, máu tuôn thoát ra, thoát cùng khắp, miễn là thoát ra khỏi!

Khi tỉnh lại, Moritz nhớ đến sự hội diện với vợ chồng Nagy. Anh nghĩ: “Nếu họ nói thiệt thì viên thanh tra chắc thả mình ra, và hôm qua, mình đâu có bị tra tấn cực hình như vầy”. Không lần nào anh bị đánh khảo nặng nề như thế. Toàn thân anh là một vết thương, một vết thương đẫm máu, từ đầu đến chân.

Anh nói “Isaac Nagy khai rằng không biết mình. Và vợ y cũng vậy”. Anh lại thấy mỗi buổi mơi, chồng bảo đánh giày, vợ bảo bửa củi, lau sạch sàn nhà bếp. “Thế mà họ nói như vậy được. Họ còn quả quyết không biết Iulisca và chẳng khi nào mướn người tớ gái tên là Iulisca”.

Moritz kiệt sức. Anh biết thân xác và tinh thần anh yếu rồi. Hôm qua với hôm kia, anh biết bị lôi đi tra khảo, nhưng không nhớ chừng nào và bằng cách nào họ dẫn trả anh về ngục? Chắc bị đánh đập nhiều quá. Nhưng điều mà anh chắc chắn là có ở nhà Nagy. Anh chắc chắn rằng người tớ gái của họ tên là Iulisca. Thế mà Nagy nói không, vợ y nói không. Chính tai anh nghe rõ ràng họ nói không.

Moritz nhắm nhiền mắt lại.

Ít lâu sau, người ta tới kiếm anh nữa. Anh run lên. Lần thứ nhứt, anh có ý định tự tử. Anh không sức chịu đựng đau đớn thêm nữa. Tên gác mở cửa ngục và đứng trên thềm. Mở hí đôi mắt, Moritz thấy hắn cười. Hắn nói:

– Đứng dậy đi mày!

Moritz thấy lại trong trí viên thanh tra Varga, nghe tiếng ông nói, thấy phòng tra tấn, những chiếc đũa sắt đủ cỡ, nhớ đến thân hình nặng nề của tên gác đè trên mình anh. Anh mấp máy đôi môi, van lơn:

– Không, không! Hôm nay, đừng. Để ngày mai. Và ngày mốt và những ngày khác, tới khi tôi chết. Mỗi ngày. Cứ hạch hỏi và tra tấn. Nhưng hôm nay, đừng, đừng…

Tên hiến binh nói:

– Hôm nay, chúng ta thả mày ra.

Moritz không muốn tin y. Anh không làm sao tin được. Thế mà hôm ấy anh được thả ra.

Nhưng họ không để anh được tự do. Anh là dân Roumain, thì anh phải bị giải đi trại giam làm công việc.

Trước khi ra khỏi khám, Moritz nhận được một bức thư của Iulisca, do tên gác phòng văn viên thanh tra đem lại. Y vô vừa lúc Moritz sắp đi ra. Moritz mở thư thấy tuồng chữ của Iulisca

“Anh Iano yêu dấu,

“Từ bốn ngày nay, tôi không còn giúp việc nhà ông Nagy nữa. Tôi viết thơ này cho anh hay, để khi được thả ra, anh đừng đến đường Pétofi kiếm tôi. Tôi về đồng quê của mẹ tôi, ở xã Balaton, quận Tisa và nồng nhiệt đợi chờ anh ở đấy. Khi mãn tù, anh cứ tới nhà tôi.- Iulisca”.

Cuối thơ bên góc mặt, nàng có gạch thêm:

“Hôm qua tôi có đến nhà ông Nagy lấy đồ. Hai vợ chồng ông Nagy có gởi lời xin anh đừng giận họ vì họ đã khai ở bót không biết anh. Lúc nàyn ở châu thành, người Do-thái đều bị bắt. Nên họ sợ nói nhà họ có chứa người lạ. Họ đều khen anh. Ông Nagy gởi cho anh một bộ đồ mới, mượn tôi cất giùm. Chừng anh đến nhà tôi, tôi đưa cho. Ông ấy cũng tốt và bà cũng vậy, nhưng vì họ sợ bị bắt nên nói không biết anh. Đời khổ lắm! Cái sợ có thể giết chết cha mẹ được. Hôn anh.- Iulisca”.

Nội các Hongrois nhóm kín đã ba tiếng đồng hồ tại Đền Nhiếp chính vương.

Cuộc thảo luận chấm dứt, nhưng ông Tổng trưởng ngoại giao đứng lên nói nữa:

– Vấn đề năm chục ngàn dân thợ chưa giải quyết. Và đây lại là vấn đề quan trọng.

Thủ tướng đáp, giọng cứng cỏi:

– Vấn đề đã tính xong rồi!

Sự quyết định vừa được toàn thể chấp thuận.

Mấy ông Tổng trưởng xách cặp da, sắp sửa ra về. Ông Tổng trưởng ngoại giao, làm như không thấy, cứ tiếp tục nói:

– Phải kiếm cái gì để đưa ra mới được. Cuộc bang giáo của chúng ta với nước Đức Quốc xã phải được giữ vững. Chúng ta phải nhìn nhận, đây không phải một sự bang giao ngang hàng mặc dầu chúng ta rất thiết hại. Nước Hongrie đối với nước Đức là cảnh một nước phụ thuộc chớ chẳng phải một nước đồng minh. Tình cảnh này, chỉ có thể thay đổi là đối với một nước bị chiếm đóng, mà như thế, thì lại còn nguy hại hơn. Trước tiên, họ đòi ba trăm ngàn dân thợ. Nay con số giảm còn năm chục ngàn. Mà với sốo này, làm sao chúng ta cũng phải cung cấp mới được.

Thủ tướng giận đỏ mặt, nói:

– Chánh phủ ta không giao cho người Đức một công dân Hongrois nào làm tôi mọi cả. Chuyện tính như vậy là xong rồi!

Tổng trưởng ngoại giao đáp lại:

– Nước Đức quan tâm đến chuyện này lắm. Lời đòi hỏi đưa ra như một tối hậu thư. Kỹ nghệ của họ cần dùng dân thợ. Nếu chúng ta không gởi họ ít nhứt năm chục ngàn người, sự từ khước ấy có thể nguy hại cho nước ta. Tôi được cho biết một khi lời yêu cầu ấy không được thỏa mãn, thì nước ta sẽ bị quân đội Đức chiếm đóng liền. Phận sự tôi là báo cho các ông hay. Các ông sẽ lãnh trách nhiệm về vụ từ khước này.

Một ông Tổng trưởng hỏi:

– Ta không tìm được một giải pháp nào khác sao?

Thủ tướng nói:

– Nếu ta gởi một công dân Hongrois sang Đức làm nô lệ thì tình cảnh cũng nghiêm trọng và lịch sử sẽ không tha thứ cho hành động của chúng ta. Vì vậy, nên từ khước hẳn là hơn. Trong việc này, không có giải pháp nào được hết!

Tổng trưởng nội vụ nói:

– Và nếu chúng ta gởi sang Đức năm chục ngàn nhân công mà năm chục ngàn nhân công ấy không phải là công dân Hongrois có được không? Trong các trại giam của nước ta có hơn ba trăm ngàn người ngoại kiều. Tại sao ta không gởi họ sang Đức quốc?

Tổng trưởng ngoại giao nói:

– Tôi chống lại giải pháp này. Nó chỉ làm rắc rối thêm. Nó trái với luật quốc tế về tù binh và tù chính trị. Ta cần phải được cảm tình của ngoại quốc. Nếu chấp thuận giải pháp ấy, thì danh dự của “Ngai vàng Saint Étienne” sẽ bị tổn thương nặng nề. Chỉ có kết quả là tạo thêm nhiều kẻ thù.

Sau nửa giờ bàn cãi mới tìm ra một giải pháp ổn thỏa. Các Tổng trưởng đều thỏa thuận quyết định gởi sang Đức quốc năm chục ngàn dân thợ, không phải dân Hongrois, mà dân lựa chọn trong những người không có quốc tịch rõ ràng.

Tổng trưởng nội vụ hứa sẽ chọn cách nào mà mấy dân thợ ấy, không người nào có thể chứng tỏ minh bạch thuộc về một xứ nào khác được. Ông kết luận:

“Như thế, chúng ta cứu được xương máu dân Hongrois ta. Lịch sử không thế nào buộc tội ta đã gởi dân Hongrois đi làm nô lệ. Với mục đích cao cả ấy, lịch sử sẽ tha thứ chúng ta về phương tiện sử dụng”.

Bá tước Bartholy, Giám đốc sở báo chí Hongrois, vô phòng làm việc và gọi cô nữ thơ ký để đọc cho cô viết tờ thông tri về sự quyết định của Chánh phủ vừa nhóm kín.

Ông nói thầm: “Một người mà không ai tôn trọng danh dự và nhân cách là một tên nô lệ. Ngày nay, kẻ nào muốn sống một cách xứng đáng là tự mình tự sát. Xã hội ta cấm được có nhân cách và danh dự cá nhân, nghĩa là, cấm cuộc sống của một người hoàn toàn tự do. Nó chỉ cho một cuộc sống nô lệ. Nhưng tình trạng ấy không thể kéo dài được. Một xã hội mà tất cả, từ vị tổng trưởng đến người đày tớ, đều là người nô lệ, tất phải bị sụp đổ. Và càng mau chừng nào càng hay chừng nấy”.

Cô thơ ký bước vô phòng, hỏi:

– Thưa ông Tổng trưởng đã nói gì?

– Không! Cô viết đi:

Thông tư

“Hội đồng Tổng trưởng vừa nhóm kín đã chấp thuận cấp giấy thông hành và điều kiện du lịch dễ “dàng cho những dân thợ Hongrois nào muốn đi qua nước Đức làm việc chuyên môn về kỹ thutật trong “các xưởng kỹ nghệ. Số thợ Chánh phủ cho hưởng điều kiện dễ dàng hiện thời tạm định là năm chục “ngàn người”.

Thôi hết. Cô gởi cho báo chí đăng ngay, và ở trang nhứt.

Chiều lại, Bá tước Bartholy dùng bữa cơm tại nhà hàng với con trai ông mà cũng là viên Chánh văn phòng của ông nữa. Tới tuần cà-phê, ông hỏi:

– Con nghĩ sao về vấn đề gởi dân thợ qua nước Đức?

Lucian đáp:

– Thật là một đòn “đánh ngã” trên đài chánh trị. Phương pháp quả thật phi thường! Thay vì gởi dân Hongrois, ta lại gởi dân lựa trong các khám đường và trại giam. Vẻ ngạo mạn của dân Đức thật xứng với bài học đích đáng này. Quả là một ý nghĩ thần tình!

– Con biết ta có được quyền lợi nào của nước Đức để bù áap lại chăng? Hay nói rõ hơn, ta có được trả tiền khi giao năm chục ngàn dân thợ ấy không?

– Tùy mình. Không lẽ cung cấp nhân công cho nước Đức mà ta không nhận được gì của họ trả lại sao?

– Vậy con không thấy bị sỉ hổ khi biết rằng chính cha mình có dự vào cuộc buôn người sao? Cuộc buôn người là nấc thang chót của một nền đạo lý suy vong đó.

– Ba thật kỳ lạ quá! Thảo nào ba cứ đăm chiêu suốt buổi chiều nay…

– Đừng nói tránh. Con có nhìn nhận là ba có dự vào cuộc buôn người hay không?

Lucian mỉm cười đáp:

– Nếu ba cố tình đặt câu hỏi như vậy, thì có, ba có dự cuộc buôn người.

– Vậy chuyện đó không làm bận lòng con sao?

– Vô lý. Con tưởng ba buồn chuyện gì khác. Đây không phải là một cớ để ba lo âu, dầu thoáng qua đi nữa. Chúng ta bị bắt buộc phải gởi dân thợ qua Đức. Nếu ta không dùng đến phương pháp đó thì ta phải gởi đồng bào ta. Và như thế, lại càng nghiêm trọng hơn?

– Phải, về phương diện đồng bào Hongrois ta thật còn nguy hại hơn. Nhưng về phương diện nhân loại, thì cũng nguy hại vậy. Chúng ta vừa bán người cho nước Đức.

– Nhưng đây chỉ là sự cần thiết trong giờ phút nghiêm trọng này nó bắt buộc ta. Ta không thể tránh được.

– Âu châu bỏ tục buôn người từ mấy trăm năm nay. Hạng người sau cùng bụ bán là dân mọi Mỹ châu. Ngày nay việc buôn nô lệ bị cấm tại các nước trên thế giới. hủy bỏ chế độ buôn người là một thành công của xã hội văn minh ta. Bây giờ chúng ta lại giẫm lại đường cũ, đi ngược dòng thời gian và trở lại lề lối buôn người. Từ thế kỷ thứ hai mươi, ta vụt lùi lại thế kỷ trước Chúa Giáng sinh, nhảy ngang qua thời đại Phục hưng và thời đại Trung cổ.

– Nhưng, thưa ba, không nên nhìn sự thể dưới khía cạnh bi thàm như vậy. Mấy dân thợ ấy qua nước Đức không có bị xiềng xích như bọn nô lệ thuở xưa. Họ sang đó với tư cách thợ thuyền.

– Họ không bị xiềng xích vì họ không phương tẩu thoát. Xã hội hiện tại có những lối canh giữ dân nô lệ mà thuở xưa dân Hy-lạp không có. Ba không phải chỉ nói đến súng máy, hàng rào dây kẽm gai có chuyền điện, mà ba còn nghĩ đến phương pháp kỹ thuật hành chánh quan liêu: thẻ thực phẩm, giấy phép được ngủ ở khách sạn, được lên xe lửa, được đi đường hay đổi chỗ ở v.v… Dân Hy-lạp và Ai-cập sẽ không bao giờ xiềng xích tôi mọi họ, nếu họ có phương tiện kiểm soát chặt chẽ như xã hội ngày nay. Nhưng cảnh nô lệ, thì xưa hoặc nay vẫn y như nhau.

Lucian đáp:

– Tốt hơn đừng nghĩ gì đến chuyện ấy. Chúng ta không thể sửa đổi được. Ta không quyền lựa chọn. Không phải chỉ có một mình nước ta buôn người với nước Đức; nước Croatie, Roumanie, Pháp, Ý, Norvège và hầu hết các nước ở Âu châu thảy đều làm việc ấy. Ta làm thế nào khác hơn được, ngoài cách rời khỏi Chánh phủ để chống lại nước Đức, vì họ mua người nô lệ và mấy nước khác đã bán những người nô lệ cho họ. Nhưng một Chánh phủ khác thay thế thì rồi cũng lại gởi dân thợ sang Đức. Mà dầu có hạ được nước Đức Quốc xã đi nữa thì vấn đề cũng không giải quyết được. Nga sẽ thế Đức và nước Nga lại là một nước buôn người to lớn trong hoàn cầu. Ở Nga-sô, mỗi con người là vật sở hữu của quốc gia…

– Vậy tình trạng ấy không làm cho con hãi hùng sao?

– Không.

– Chính chỗ đó mới là nguy h ại! Vì như vậy đủ chứng tỏ rằng con không còn chút trọng vọng nhân tính con người. Mà con cũng là con người, thì con không còn trọng con nữa.

Lucian đáp:

– Con trọng mỗi người theo giá trị của họ. Con nhắc ba không có gì để trách con về địa hạt ấy.

– Phải, con trọng mỗi người tượng trưng một giá trị đáng kể.

– Như vậy thì có gì phải nói đâu?

– Nhưng con có trọng con người vì giá trị bản chất, vì giá trị nhân phẩm hay chăng?

– Đã hẳn rồi. Con chẳng khi nào làm cho một người đau khổ mà không thương hại họ và không hối hận.

– Nhưng đối với một con chó, con cũng không làm nó đau đớn mà không thương hại, vì con biết rằng khi lấy roi quất nó thì nó sẽ đau đớn. Con thương hại con người cũng như con thương hại tất cả sinh vật. Vậy ba muốn biết rõ con trọng người vì họ là con người, vì họ có giá trị duy nhứt, không thể thay thế được; dầu họ không có một giá trị xã hội, hoặc họ không làm cho con phải thương hại hay mến yêu như một con thú, con có kính trọng họ hay không?

– Con chưa hề nghĩ đến điều ấy. Con biết rằng con trọng người tùy theo giá trị xã hội của họ, và vì họ là một sinh vật. Vả lại, tất cả ai cũng nghĩ và cảm như con…

– Con có chắc rằng thế giới ngày nay có nghĩ và cảm như con không?

– Chắc chắn như vậy, một cuộc suy luận chặt chẽ và hợp lý buộc ta phải cảm nghĩ như vậy. Con người là một giá trị xã hội. Kỳ dư, chỉ là giả thuyết.

– Thế thì thật là nghiêm trọng.

– Có gì ba thấy là nghiêm trọng trong ấy?

– Văn hóa của ta mất đi. Nó có ba đức tính: yêu và trọng cái Đẹp, đức tính này mượn cảu người Hy-lạp; yêu và trọng cái Quyền, mượn của người La-mã; yêu và trọng con Người, mượn rất trễ và thật khó khăn của đạo Thiên Chúa. Bởi tôn trọng ba biểu tượng ấy: con Người, cái Đẹp, cái Quyền, mà văn hóa Tây phương ta mới được tốt đẹp như thế. Rồi bây giờ nó lại mất đi cái phần quý báu nhứt của di sản là tình yêu và trọng con Người. Không có tình yêu con Người, không có lòng trọng con Người, thì văn hóa Tây phương không còn tồn tại được nữa. Nó chết vậy.

– Trong lịch sử, con người đã trải qua lắm hồi đen tối hơn giai đoạn ta đang trải qua ngày nay. Con người bị thiêu đốt giữa thập mục sở thị, bị hy sinh trên bàn thờ tế lễ, bị tội buộc vào bánh xe và đánh gãy chân, bị mua bán và đối xử như một món đồ. Nếu chúng ta cũng phán đoán quá nghiêm khắc đối với thời đại chúng ta như vậy, thì ắt là không công bằng.

– Đúng vậy. Trong thời kỳ đen tối ngày nay con Người bị bỏ quên và sự hy sinh nhân mạng lại thi hành một cách dã man. Nhưng chúng ta vừa mới thắng được sự dã man và bắt đầu quý trọng con người. Chúng ta đang còn trong vòng sơ khởi và còn phải tiếp tục học hỏi thêm. Thế mà sự hiện diện của xã hội kỹ thuật đã phá hủy công trình của ta đã dày công chiến thắng và tạo nên từ mấy thế kỷ chăm bòn vun trồng. Xã hội kỹ thuật đem lại sự khinh rẻ con người. Con người ngày nay bị giảm hạ tới mức độ giá trị xã hội mà thôi… Thôi ta về, chắc đã khuya rồi?

Lucian xem đồng hồ tay và nói:

– Đồng hồ con hết chạy. Ba xem coi mấy giờ?

– Giờ thứ 25 rồi!

– Con không hiểu.

– Ba đã hiểu con. Không ai muốn biết giờ thứ 25 cả. Đó là giờ của văn minh Âu châu.

Người trưởng đoàn vừa nói vừa cười:

– Anh Moritz à! Họ bán anh cho dân Đức. Tôi tự hỏi không biết người Hongrois bán anh được bao nhiêu? Anh không đặt giá gì lắm. Đâu lối một thùng bi đạn là khá, vì tôi nghe người Đức không trả bằng tiền, mà trả bằng đạn dược. Tôi ktin rằng người Đức trả anh hơn một thùng bi đạn. Một thùng đạn để đổi tất cả: da với xương!

Rồi người trưởng đoàn lại vỗ vai Moritz cười, và tiếp:

– Giá cũng cao đấy! Dân Nga không mua tới giá đó đâu. Bên xứ họ, con người còn rẻ hơn nữa.

Moritz không ưa bị chế giễu, nhưng anh làm thinh. Người trưởng đoàn là một sinh viên ở Bucarest. Y bị dân Hongrois bắt giam, và từ tám tháng nay, làm chung với Moritz ở pháo lũy. Moritz biết anh sinh viên hay nói giỡn chơi, nhưng y không hiểm ác. Y hỏi thêm Moritz:

– Anh không tin rằng họ bán anh sao?

Moritz đáp:

– Không, tôi không tin. Con người có thể bị nhốt trong trại giam, trong khám đường, bị bắt làm việc, bị đánh khảo hoặc bị giết, chớ không bị bán!

– Thế mà anh đã bị bán. Tôi dám thề với anh rằng họ đã làm như vậy. Anh, tôi, các người Roumains, người Serbes, người Ruthènes ở trong trại này đều bị họ bán cho người Đức cả. Họ đã làm giấy tờ với nhau, bán năm chục ngàn người.

Nói xong, anh sinh viên bỏ đi.

Moritz suy nghĩ về chuyện vừa nghe. Anh nói thầm: “Y muốn chế giễu mình; chuyện ấy không thể có thật được”.

Nhưng suốt ngày, câu nói của người sinh viên cứ văng vẳng bên tai anh. Anh không thể không tin rằng người Đức đã mua anh và trả bằng một thùng đạn. Song càng suy nghĩ kỹ, Moritz nhận thấy rằng thật là điên rồ mới tin như vậy.

Trại giam ở biên giới hai nước Roumanie và Hongrie. Tội nhân đang đào hầm núp. Công việc xong được phân nửa. Antim, tên người sinh viên, định rằng phải mười tháng nữa mới đào hầm xong. Nhưng để cho công việc mau rồi, người Hongrois cứ chở thêm tội nhân đến. Có cả những tù khổ sai, trán mang dấu sắt nướng đỏ, vì họ không đủ người. Thế mà tội nhân được lịnh ra đi. Tất cả người Roumains và người Serbes ở chung trại giam với Moritz đều bị đưa lên xe lửa. Moritz nghe nói người Hongrois không bằng lòng cách làm việc của hai dân tộc này, nên họ thay thế dân khác để có thể làm xong công việc mau lẹ hơn. Antim thì cho rằng tội nhân bị chở qua Đức vì họ đã bị bán rồi. Cũng có những người Roumains khác nói như vậy, song phần đông không ai tin chuyện ấy. Moritz cũng trong số đông này.

Một buổi sớm mai, Moritz xuống xe để đi đại tiện. Trên xe không có cầu, phải chờ xe ngừng, họ mới được chạy tứ tán chung quanh để đi, có lính canh giữ. Bữa nay, xe ngừng giữa đồng trống. Trời mưa và ui ui tối. Moritz ngồi lâu ở ngoài đồng. Lúc về gần xe thì thấy mỗi toa có viết chữ phấn, bằng tiếng Đức. Anh đọc: “Dân thợ Hongrois chào mừng các bạn Đại Đức Quốc xã”, “Dân thợ Hongrois làm việc cho Trục chiến thắng”. Moritz kêu Antim và chỉ cho anh xem. Antim nói:

– Bây giờ anh có tin rằng người Hongrois đã bán chúng ta cho Đức chưa?

– Không, tôi không tin. Không ai có thể tin được một chuyện như vậy!

– Anh chờ coi, rồi anh sẽ tin!

Moritz chờ.

Chuyến xe đậu ngoài đồng cho tới chiều. Mặt trời vừa lặn, thì các lính canh đi tủa khắp cánh đồng để hái bông. Moritz chưa từng thấy lính mang súng lưỡi lê đi hái bông dưới sự chỉ huy của một sĩ quan. Viên sĩ quan này cũng hái bông. Xong rồi họ trở về xe, kết bông thành bó và giắt lên mỗi toa xe, chung với lá xanh, cỏ, dây leo và cành cây, như chưng đám cưới. Trời tối. Xe khởi chạy. Moritz muốn thức xem ra sao, nhưng buồn ngủ quá, anh ngủ quên. Khi tỉnh dậy, trời đã sáng. Cửa các toa xe đều đóng kín. Bên ngoài, nghe tiếng ồn ào. Chắc xe đậu ở một nhà ga, chớ từ trước đến giờ, xe chỉ đậu ngoài đồng trống. hay xa xa, ngoài thành phố. Dưới cửa sổ xe, nghe có tiếng người nói và tiếng đầu máy xe chạy. Moritz lắng tai nghe tiếng một người nói lớn, khi đi ngang toa anh. Anh nói thầm: “Họ nói tiếng Đức”. Và chừng đó anh mới nhìn nhận rằng Antim không có nói láo. Bọn anh bị bán cho Đức rồi. Moritz nghĩ thầm: “Chắc người Đức đã đổi mình cho dân Hongrois bằng một thùng đạn để lấy thân xác mình, xương, thịt, da mình!”.

Antim nói:

– Chúng ta bị bán làm nô lệ suốt đời!

Khi vừa biết đã tới địa phận Đức, Antim liền đứng lên diễn thuyết. Cả thảy đều nghe, nhưng Moritz thì không để tai nghe. Tâm trí anh mải chú ý đến câu: “Làm nô lệ suốt đời”, và anh tưởng tượng trọn đời anh ở trong cái trại giam, đào kinh, đào hầm, đói khát, bị đánh đập và làm mồi cho chí rận.

Rồi anh thấy anh chết trong trại giam. Nghĩ đến có thể chết trong trại giam, nước mắt anh trào ra. Anh đã thấy nhiều tội nhân chết trong trại. Anh cũng đã có đào huyệt chôn họ. Khi tội nhân chết thì bị lột hết áo quần và chôn trần. “Như chó vậy!”. Moritz nghĩ thầm: “Chó chết thì bị lột da để làm bao tay. Tù chết thì bị lột quần áo. Khi mình chết, biết đâu họ cũng quen tật mà lột da mình?”. Moritz vụt đứng phắt dậy, lẩm bẩm: “Họ có thể giam ta suốt đời. Nhưng trước khi chết, ta muốn họ thả ta ra. Ít nhứt, một giờ trước khi chết, ta muốn họ thả ta ra, ta được tự do, để đừng bị chết giam cầm! Chết bị giam cầm, thật là một trọng tội! Nhưng người ta đã bán mình cho Đức rồi, thì đời nào họ thả mình ra, dầu một giờ trước khi chết cũng không được!”.

Eleonora West nói với ông Stein ngồi trước mặt nàng:

– Trễ lắm là trong mười ngày, tôi phải ra đi. Nếu không đi khỏi xứ trước ngày, thì sẽ có lịnh tập nã bắt tôi. Mười ngày là thời hạn lâu nhứt của tôi định. Và không biết chừng như vậy cũng là lâu quá rồi.

Nàng ngó ông Stein ngồi trên cái ghế dựa như thường lệ, và để tự chứng tỏ mình không nói quá sự thật, nàng bèn kiểm điểm trong trí tình trạng cùa nàng.

Hạn kỳ cho công dân Do-thái phải ghi tên tại Bộ Nội vụ đã chấm dứt. Ai không tuân lịnh, theo một đạo luật mới, sẽ bị tù mười năm. Nàng chưa đi trình diện. Tòa án được thơ tố cáo và đã mở cuộc điều tra. Hồ sơ mà ông Chưởng lý giữ chắc có nhiều giấy tờ nàng không biết, chứng nhận đích xác nguồn gốc chủng tộc của nàng. Hồ sơ ấy không thể mất cắp được. Mọi cuộc điều đình với mấy người điều tra để mua chuộc hồ sơ như lúc trước, đều thất bại.

Nàng nói:

– Lần này thì tôi chịu thua, ông Stein anh! Tôi phải bỏ cuộc và trốn đi. Chỉ còn phương kế duy nhứt đó, tôi có thể làm. Trong hai năm rưỡi nay, tôi đương đầu với tất cả, tôi chịu đựng mọi thử thách, mọi công kích. Thật rất khó khăn, song tôi đều làm được. Nhưng định mạng không giúp mãi mãi kẻ gan dạ.

Ông Stein nói:

– Cuộc tranh đấu chưa thất bại hẳn, nhưng thời hạn thật quá ngắn. Ta có thể bán nhà in, tờ báo, nhà cửa để có một số tiền khá. Lại còn bàn ghế, tranh ảnh và tủ sách nữa. Mấy chuyện này cũng dễ, và tiền bán được có thể gởi trong một ngân hàng bên Thụy-sĩ. Nhưng trong thời hạn mười ngày, thật khó cho chúng ta chạy cho được giấy tờ bổ nhậm ông Koruga và các giấy thông hành?

– Hiện giờ, chỉ những người nào đi công cán chính thức mới được ra khỏi xứ Roumanie. Chồng tôi được cử làm Giám đốc “Viện Văn hóa Roumain” ở Raguse. Theo sự bổ nhậm đó, tôi là vợ, sẽ được giấy thông hành và được phê nhận. Nhưng phải làm sao cho mau lẹ mới được. Ông Chưởng lý đã bảo với tôi rằng ông chỉ còn một cách giúp tôi là hoãn cuộc điều tra, trong mười ngày. Sau thời hạn đó, ông không lãnh trách nhiệm, và sẽ buộc lòng ký trát bắt giam tôi.

Ông Stein thoáng thấy trước mắt, hình ảnh Eleonora West trong tù. Ông hãi hùng, xua đuổi ý ấy. Ông hỏi:

– Bà có nói gì với ông Traian chứa? Bà vụng tính lắm. Thế nào ông cũng biết được. Và nếu cho ông hay sớm, dầu một giờ đi nữa, thì biết đâu ông lại không có kế cứu bà. Ông sẽ nói làm sao khi thấy công văn bổ nhậm và giấy thông hành mà ông không bao giờ xin?

– Tôi không thể nó thật với chồng tôi được. Tôi không có lý do gì để giấu giếm một chuyện mà trong hai tuần nữa, công chúng sẽ hay biết. Chàng sẽ biết tôi là Do-thái. Nhưng tôi không thể nói ra được. Tôi đã đuối sức rồi. Tôi cố gắng không nổi nữa. Nếu muốn nói với chàng một sự bí mật mà tôi cố giữ kín trong hai năm nay, tôi phải có một can đảm mà nay tôi không còn nữa. Tôi kiệt lực rồi. Ý chí tôi quá căng thẳng từ lâu, nên đến nay tôi rất mệt, mệt mỏi, rã rời…

Eleonora hai tay ôm đầu, chống trên bàn viết. Ông Stein ngó sững nàng.

Nàng thật quá đau khổ, mỏi mệt. Ông thương cảm, nhưng ông không làm sao giúp đỡ nàng được. Ông mở cặp da để khỏi bị bắt buộc ngó nàng, để khỏi thấy cảnh nàng đau khổ hai tay cứ ôm đầu, rũ chí. Trong cặp da đựng mấy giấy tờ bán nhà, đất, nhà in, tờ báo, và tranh ảnh của Eleonora West, lại thấy có một cái bốp, đính chữ bằng vàng, tên của Traian Koruga. Ông lấy ra để trên bàn trước mặt Eleonora. Nàng nhìn rồi cầm lên.

Ông Stein nói:

– Ngày mai là ngày kỷ niệm hia năm đám cưới của bà. Tôi biết bà bận tâm, không nhớ mua món gì tặng ông, nên tôi đem cho bà vật này. Chắc ông sẽ vui lòng. Món này cũng khá tốt.

– Vậy ngày mai là ngày kỷ niệm đám cưới tôi được hai năm sao? Thế mà tôi quên mất. Cám ơn ông đã nghĩ hộ giùm tôi. Traian sẽ sung sướng lắm!

Nàng nhìn và rờ nhẹ chiếc bóp da như mơn trớn nó. Nàng nói:

– Tôi không biết tại sao tôi cứ giữ kín chuyện này. Chắc tại tôi quá yêu chàng. Nếu chàng biết được thì thế nào chàng cũng tận tâm giúp tôi. Tôi chắc chắn như vậy. Nhưng tôi không nói ra, vì tôi rất sợ mất chàng. Tôi biết rằng tôi sợ vô lý. Nhưng mỗi lần định nói, thì lại sợ sệt, nên tôi cứ giữ mãi điều bí mật ghê gớm ấy. Traian là người độc nhứt còn liên hệ đến đời tôi. Mất chàng, tôi cũng sẽ mất luôn.

Eleonora để bóp xuống và vụt nói:

– Ông biết ông Chưởng lý nói gì với tôi không? Ổng cho tôi chưa hẳn có chồng chánh thức.

Tiếng nàng run lên, nàng tiếp:

– Và ổng nói đúng. Tôi làm hôn thú, sau khi luật cấm người Roumain cưới người Do-thái. Luật ban hành tháng tư và tôi làm hôn thú với Traian bốn tháng sau. Chánh thức thì hôn thú của tôi không giá trị. Tất cả các hôn thú làm sau ngày ấy, dầu biết dầu không, đều đương nhiên bị hủy bỏ hết.

Eleonora nín bặt. Nàng còn nghe văng vẳng bên tai lời ông Chưởng lý: “Ông Traian Koruga không phải là chồng bà. Theo luật thì ông chưa vợ. Cuộc hôn nhân của bà đương nhiên tự hủy tiêu vô hiệu. Ông Traian muốn cưới vợ lúc nào tùy ý, mà không cho là phạm tội trùng hôn. Nếu bà có con, thì là con hoang, và nó chỉ được mang tên West chớ không được tên Koruga. Chính bà, bà cũng là giả mạo, mỗi khi bà ký tên là Eleonora Koruga”.

Nàng nói với ông Stein:

– Ông cứ trả giá nào cũng được, miễn trong thời hạn rất ngắn ta có giấy thông hành với lời phê nhận cầm tay. Giấy thông hành đề tên Ông và Bà Koruga…

Năm ngày sau, ông Stein trở lại với công văn bổ nhậm Koruga làm Giám đốc “Viện Văn hóa Roumain” ở Raguse và những giấy thông hành ngoại giao, bao bìa da xanh xanh.

Ông vui mừng nói:

– Bà Koruga, chúng ta đã thắng. Tôi đã mua cả giấy xe lửa có toa giường nằm đến Vienne. Thứ hai này bà đi. Tôi rất vui mừng thấy bà ra đi được.

Ông Stein lau mắt kiếng. Eleonora West vừa xem giấy tờ, vừa ngó ông. Ông nay ốm nhiều. Nàng muốn hỏi ông có đi hay không, thì ông lại nói:

– Tôi không biết rồi chúng ta có gặp nhau nữa không. Đêm nay, một số đông người Do-thái sẽ bị chở đi Transdnistrie. Tôi rất vui thấy bà ra đi. Nếu có dịp bà trở lại đây chắc bà không còn gặp một người Do-thái nào ở Bucarest cả. Tôi đây, cũng không. Người như tuổi của tôi, thì làm sao chịu đựng lâu nổi trong trại giam, bên kia Boug.

Traian Koruga đang ở trong phòng văn. Nora không bao giờ vô phòng, trong khi chàng đang làm việc. Nhưng bữa nay, nàng cầm mấy giấy thông hành bước vô phòng. Traian đang ngồi tại bàn viết, hai tay ôm đầu. Nàng nói:

– Em có món quà kỷ niệm ngày cưới năm thứ hai của chúng ta tặng anh. Em vận động cho anh đi làm Giám đốc “Viện Văn hóa Roumain” ở Raguse.

Đưa sắc lệnh bổ nhậm cho chàng, nàng tiếp:

– Ở Dalmatie, có bờ biển đẹp nhứt hoàn cầu. Anh có thể yên ổn tiếp tục quyển tiểu thuyết của anh.

– Làm sao em thành công một mình được? Và nhứt là làm sao em có thể giữ được bí mật tài vậy?

Traian hôn nàng và nói tiếp:

– Nora, em thật là thần tình! Em biết rằng anh hân hoan lắm không? Anh cần phải đổi phong thổ để viết tiếp quyển truyện. Anh không thể viết tiếp chương kế. Anh cảm thấy cần phải ở một nơi khác mới viết được. Anh linh cảm như vậy. Chắc chắn là một chương quan trọng trong quyển sách…

Eleonora bước lại hôn chàng nơi miệng để Traian khỏi thuật “chương kế” của quyển sách. Nàng quá sợ sệt rồi.

Phận người vận nước

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 31 Jan 2026

Phần 2 – Phân đoạn 1

Khởi cuộc

1963.

Phi trường Biên Hòa nằm im dưới nắng khô rốc như một khoảng sân gạch nung chín, hơi nóng từ phi đạo do những tấm vỉ sắt PSP ghép vào nhau bốc lên lớp khí lung linh hừng hừng như làn khói từ một đám cháy âm ỉ đâu dưới mặt đất. Ngọn núi Bửu Long bên ngoài hàng rào sân bay với hàng cây trên sườn núi, đỉnh đồi, cũng không cho thêm độ xanh tươi, im mát của thiên nhiên, mà chỉ tăng phần trần trụi của khu vực. Gió khô thổi từng chặp tung bụi đỏ dọc con đường đất chạy quanh phi trường, lay động lật bật những tấm che chắn tháo gỡ từ những thùng giấy, ghép lại với nhau làm lều trạm trú cho đám lính canh giữ vòng đai an ninh. Chiếc xe jeep mang phù hiệu Nhảy Dù với con số 5 màu đỏ nơi tấm kiếng chắn gió chạy chậm trên đường vòng đai là điểm linh động duy nhất của toàn cảnh tượng. Đám lính từ trong những căn lều trạm trú lần lượt hiện ra, đứng nghiêm theo lệnh hô của người chỉ huy, chào tay lên vành mũ sắt, đợi chiếc xe đi tới. Thiếu tá Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù ngừng xe xuống mỗi vị trí gác, ông đi thẳng, bước nhẹ, đến trước mỗi hàng quân, chào tay, nói nhỏ với người chỉ huy … Cho anh em nghỉ.

Nhìn thẳng mắt vào mỗi người lính, ông hỏi chuyện thân mật như với người thân … Nóng quá, anh em có đem đủ nước uống không, nhớ chùi súng, thông nòng cho sạch, đừng để bị đất bụi bám vô. Sau khi hỏi thăm đủ đến mỗi người lính, ông lại chào tay trước khi bước lên xe. Chiếc lưng và thân người thẳng đứng, lưng áo tác chiến hoa nhảy dù bó căng thân thể cao gầy – Do bị thương từ một chuyến nhảy dù bồi dưỡng, nay phần thân trên phải chịu bó cứng trong một lớp áo giáp bột thạch cao. Nắng nung khô áo vải hoa dù ni-lông như lớp

bánh tráng nướng chín, nhưng mỗi ngày hai lần, Thiếu tá Ngô Quang Trưởng tự thân đi vòng quanh phi trường để kiểm soát đơn vị đang giữ nhiệm vụ ứng chiến, an ninh.

– Chiều hôm nay thứ Bảy, sao anh không để ông phó đi thay, người lại bị bó bột như vậy, nóng chịu sao nối? Đại úy Ngô Xuân Nghị, Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 7 Nhảy Dù, đơn vị chung chiến đoàn, cùng chịu trách nhiệm an ninh phi trường Biên Hòa tỏ ý ái ngại khi Thiếu tá Trưởng ghé qua thăm đơn vị này (cũng trong vòng đai phi trường Biên Hòa) sau lần kiểm soát cuối ngày.

– Binh sĩ anh em người ta còn phải chịu nóng, cực hơn mình nhiều. Thiếu tá Trưởng ngồi xuống chiếc ghế, gỡ nón sắt đặt xuống bên cạnh. Nét mặt nghiêm nghị trầm tư. Đến chiều tối, viên sĩ quan trực Tiểu đoàn 7 khi ghé qua văn phòng Tiểu đoàn Trưởng để trình ký văn thư, anh vẫn thấy người Tiểu đoàn Trưởng đơn vị bạn ngồi ở vị thế và cách thức lúc ban chiều – Chiếc nón sắt đặt bên cạnh, lưng thẳng cứng, sắc mặt nhìn nghiêm lạnh. Chỉ khác, chai Scott để trên bàn đã vơi quá nửa. Khi đi ra khỏi văn phòng, gã Thiếu úy trẻ tuổi có ý nghĩ … “Chắc ông ấy uống rượu là uống cho có vậy thôi, chứ ai ngồi uống với bạn mà im lặng đến thế. Hằn ông đang gặp điều buồn phiền nhưng không nói ra?”. Và có thể, sau này gã sẽ quên đi nhiều chuyện, nhưng sắc mặt nhìn của người ngồi trước ly rượu kia sẽ ghi dấu với gã rất lâu. Viên Thiếu úy nghĩ thầm và tin chắc mình đã có nhận xét chính xác.

Bắt đầu năm 1963, tình hình quân sự miền Nam đã có những chỉ dấu suy thoái, lực lượng du kích, địa phương cộng sản được thành lập từ hai năm trước với những vũ khí đơn sơ, tự chế tạo như súng ngựa trời, đạp lôi, mìn bẫy, nay được tăng cường thêm thành phần cán bộ hồi kết, lẫn cán bộ Bắc Việt mới xâm nhập, cùng với những vũ khí mới, hữu hiệu nhất do khối cộng sản viện trợ. Lực lượng này biến cuộc nổi dậy của du kích địa phương nên thành một cuộc chiến tranh bán quy ước, chuyển qua giai đoạn chuẩn bị tấn công lật đổ chính quyền Hợp hiến miền Nam. Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao, Tư Lệnh Quân khu IV giữ trách nhiệm an ninh quân sự toàn vùng châu thổ sông Cửu Long, nắm quyền Tư lệnh ngày đầu năm Dương Lịch, 1 tháng 1, 1963. Tướng Cao nhận nhiệm vụ vốn không hoàn toàn do từ khả năng chỉ huy cần có đối với một Tư lệnh vùng, nhưng vì là người trung tín của Tổng thống Diệm, lại được lòng của Tổng Giám mục Ngô Đình Thục, Giáo phận Vĩnh Long, nơi đồn trú của Sư đoàn 9 Bộ binh, một đơn vị nòng cốt của vùng.

Hơn thế nữa, Tướng Cao còn được lòng tin của Cố vấn chỉ đạo Ngô Đình Cẩn, bởi gốc người Phú Cam, Huế, đồng hương, đồng đạo với cố vấn. Thiếu Tướng Cao cũng là thành viên trong Quân ủy Trung ương Đảng Cần Lao do Cố vấn Ngô Đình Nhu sáng lập, lãnh đạo. Từ vị thế vững chắc về mặt “chính trị” này nên Tướng Cao không mấy quan tâm, năng nổ trong nhiệm vụ điều quân dẹp loạn, mà mục tiêu trước tiên là làm vừa lòng những người đỡ đầu, quyết định về sự nghiệp, công danh của ông. Thế nên, về phương diện quân sự, ông phải làm thế nào để vùng trách nhiệm “có được tiếng an ninh” trong báo cáo gởi về Dinh Độc Lập, để nơi đây chuyển đến Tòa Đại sứ Mỹ. Thế nhưng,giữa những người Mỹ khác biệt nhau về chức vụ, công tác, phương tiện diễn đạt, cách thức thực hiện, cho dù họ chỉ nhắm đến một mục tiêu duy nhất, tối thượng: “Bảo vệ quyền lợi của xã hội Mỹ, quan điềm chiến lược của chính phủ Mỹ, người lính của quân đội Mỹ”, cách đánh giá cuộc chiến tranh mà họ bày ra ở Việt Nam lại theo những quan điểm hoàn toàn khác hẳn.

Điển hình cho sự phân hóa này là bản thân Tổng thống Kennedy cũng đã phải hơn một lần kêu lên với các phụ tá: “Có phải các ông đã đến và trở về cùng một nước đấy phải không?” khi đọc hai báo cáo tình hình Quân sự – Chính trị – Xã hội hoàn toàn đối nghịch trước khi có quyết định chấp thuận, hay gạt bỏ dự mưu lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm. Cuối cùng quyết định (?) được thực hiện tại Sài Gòn vào ngày 1 tháng 11 năm 1963 với cái chết của Tổng thổng Ngô Đình Diệm và Cố vấn Huynh Ngô Đình Nhu. Trong tình hình phân liệt từ thượng tầng lãnh đạo đến thành phần chỉ huy Trung cấp như vừa kể ra, Chính phủ Mỹ lại muốn toàn quyền chỉ huy, quyết định về một cuộc chiến dai dắng, thiệt hại nhất, hao tốn những số lượng tài chánh khổng lồ qua tận dụng, tiêu phí nguồn vật lực, khí tài tưởng như bất tận và điều động một khối nhân lực đắc giá nhất của quân sự thế giới.

Chỉ một thứ không được người Mỹ kể ra khi kết toán chiến tranh Việt Nam là sinh mạng dân, lính của Quốc gia gọi là Việt Nam Cộng hòa với những tổn thất không thể nào bồi hoàn đối với toàn dân tộc này, nếu tính cả hai miền Nam, Bắc. Trở lại vấn đề quân sự của Nam Việt Nam, Hiệp  định đình chiến ở Lào ký kết ngày 23 tháng 7, 1962có ngay hệ quả, từ những nhóm du kích cấp Tiểu đội, Trung đội với những vũ khí thô sơ như súng ngựa trời, lựu đạn nội hóa, lôi, chông, mìn tự chế.. lực lượng cộng sản chỉ trong một thời gian ngắn sau khi “đường đi B (miền Nam) được thông do Hiệp định “đình chiến” ở Lào tạo điều kiện, hoàn cảnh thuận tiện” đã có khả năng phát triển những trận đánh lên cấp Đại đội, Tiểu đoàn. Trận Ấp Bắc đầu năm 1963 vừa kể trên là một khởi đầu nguy biến, tiếp theo cuộc biến loạn 1-11 ở cuối năm như một đập vỡ tồi tệ với lần giải thể ngay lập tức 2,000 ấp chiến lược theo lệnh của Dương Văn Minh đẩy tình hình quân sự miền Nam vào thế hiểm nghèo, thụ động. Ngày 1 tháng 11, 1964, lần đầu tiên phi trường Biên Hòa bị pháo kích; cũng là một căn cứ quân sự lớn đầu tiên của miền Nam bị tấn công phá hoại bởi một đơn vị hỏa lực pháo, cối, loại vũ khí của chiến tranh, quy ước. Tháng 12 cùng năm 64, Tiểu đoàn 39 Biệt Động Quân, Tiểu đoàn 4 Thủy quân Lục chiến bị tồn thất nặng bởi rơi vào thế trận phục kích ở Bình Giã, Phước Tuy (Đông – Nam Sài Gòn khoảng 100 cây số đường thẳng) do một Trung đoàn cộng sản thực hiện. Các Trung đoàn này sau đó biên chế thành Sư đoàn – Công trường 7, thành phần nòng cốt của lực lượng vũ trang thống thuộc Bộ Tư lệnh Mặt trận Giải phóng. Tháng 6, 1965 hai Trung đoàn Q762 và Q763 của Công trường 7 trên lại thực hiện một cuộc vận động chiến quy mô hơn ở xã Đồng Xoài, Bình Dương (Bắc Sài Gòn) gây thiệt hại lớn cho Tiểu đoàn 2/7 Sư đoàn 5 Bộ binh, Tiểu đoàn 7 Nhảy Dù và Tiểu đoàn 52 Biệt Động. Sài Gòn lẫn Tòa Bạch Ốc rúng động, bởi chiến trường chỉ cách thủ đô miền Nam không quá 100 cây số đường thẳng. Ấp Nhà Việc, Phú Hòa Đông bên sông Sài Gòn đã là những chiến trường phải dùng đến máy bay dội bom yểm trợ lực lượng Bộ binh mới vào được. Thế nước quả đã đến hồi thật sự nguy ngập. Nhưng trước khi Thủy quân Lục chiến Mỹ kịp phối trí quân để tăng cường phòng thủ vùng biển miền Nam thì đơn vị bách thắng, Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù với người chỉ huy Ngô Quang Trưởng đã lập nên kỳ tích hiển hách – Chữ nghĩa không là lời nói văn hoa, chúng ta hãy cùng sống lại khúc hùng ca với máu mỗi người lính đổ xuống nơi những chiến địa hung hiểm trên từng vùng đất khổ quê hương. Với 100 trực thăng đổ quân và võ trang yểm trợ, ngày 27 tháng 4, 1964 Tiểu đoàn 5 nhảy xuống mật khu Đỗ Xá, vùng quận Minh Long, Tây – Bắc Quảng Ngãi sát biên giới Kontum, chận đứng kế hoạch điều quân của Bộ Tư lệnh Mặt trận B1 (danh hiệu phân chia vùng tác chiến của Bộ Tổng quân ủy cộng sản Hà Nội – Miền Nam – Khu “B”), mưu định cắt miền Trung nước Việt theo đường hành lang chạy dài từ vùng núi rừng Kontum xuống bờ biển Quảng Ngãi (như đã thực hiện một lần trong chiến tranh 1945-1954).

Mười lăm trực thăng trúng đạn, Tiểu đoàn chịu tổn thất ngay từ giờ phút đầu tiên xuống bãi đáp, bốn Đại đội tác chiến lẫn Đại đội chỉ huy liên tiếp chạm địch, nhưng với chiến thuật điều binh tấn công thần tốc, sau ba ngày kịch chiến, Tiểu đoàn phá vỡ căn cứ địa kiên cố bất khả xâm phạm của cộng sản đã xây dựng từ giai đoạn chiến tranh lần thứ nhất 1945-1954.

Từ căn cứ địa này, lực lượng cộng sản mới có thể tràn xuống đồng bằng, thành lập những “vùng giải phóng” mới. Các chiến khu Ba-Tơ, Mộ-Đức một thời vang danh là mở rộng từ căn cứ địa Đỗ Xá nầy. Tiểu đoàn tịch thu 160 súng đủ loại, kể cả những súng cộng đồng (của phía cộng sản) được tìm thấy đầu tiên ở chiến trường miền Nam. Muốn biết tầm quan trọng của trận chiến, ta hãy lưu ý đến chỉ tiêu kỹ thuật: “Theo thống kê của chuyên viên quân sự

– “Muốn lấy được 1 vũ khí thì ít nhất phải có 3 binh sĩ bị tử thương và nếu đã có 1 binh sĩ tử thương thì ắt phải có 3 binh sĩ bị thương, mất năng lực chiến đấu”.

Đơn vị cấp Tiểu đoàn Nhảy Dù vào thời điểm kia có quân số hành quân trung bình từ 500 đến 600 người, khinh binh chưa được trang bị súng XM16, một Trung đội tác chiến chỉ có hai khẩu AR 15 – Cần biết như thế để thấy ra sức chiến đấu uy mãnh của Tiểu đoàn 5 đối với một lực lượng địch chắc hẳn phải là cấp Trung đoàn chính quy (không kể đơn vị du kích, lực lượng địa phương) mới có được thành quả chiến thắng với số vũ khí tịch thu như trên. Trở lại chiến trường miền Nam, chiến thắng ở Đỗ Xá năm 1964 được lập lại thêm một lần nơi cửa ngõ Sài Gòn, đánh tan lời tự tán dương “bộ đội anh hùng vũ trang mặt trận giải phóng miền Nam – Nhiệm vụ  nào cũng hoàn thành; khó khăn nào cũng vượt qua;kẻ thù nào cũng đánh thắng” của những đơn vị cộng sản vùng miền Đông Nam Bộ.

Tháng 2, 1965 dọc Quốc lộ 15, đường đi Sài Gòn – Vũng Tàu, phối hợp với đơn vị bạn, Tiểu đoàn 7 Nhảy Dù, làm thành phần nút chận để không cho địch quân chạy qua Quốc lộ 15, khoảng núi Ông Trịnh, Phước Tuy (Bà Rịa), Tiểu đoàn trực thăng vận nhảy xuống Mật Khu Hắc Dịch, xong từ trong lòng địch đánh bung ra.

Trận chiến kéo dài từ lúc ngày vừa rạng qua đêm khuya … Khoảng rừng tối tăm dày đặc sau hai ngày tác chiến rụng sạch cành lá bởi đạn pháo, đến sáng ngày thứ ba, lính Tiểu đoàn 7 thấy qua màn khói đục bóng dáng quân bạn chạy thấp thoáng truy kích tàn binh địch, thực hiện cuộc rượt bắt cá nhân đối với những cán binh cộng sản còn lại của Trung đoàn thuộc Công trường 7.

Tiểu đoàn 5 không chỉ đánh phục hận cho đơn vị bạn – những tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến, Biệt Động Quân bị tổn thất trong trận chiến mùa đông 1964, cũng do những kẻ địch chung phiên hiệu Công trường 7 kia, cũng nơi vùng rừng Bình Giã, tỉnh Phước Tuy (Bà Rịa) này – Nhưng đã lập nên thế cân bằng an toàn chiến thuật cho mặt trận Vùng III và khu vực Biệt Khu Thủ Đô. Bởi nếu phía cộng sản thắng lợi nơi vùng chiến trường này – Đường về Sài Gòn chỉ cần một đêm điều quân (Năm 1975, chúng ta đã chứng kiến hướng tấn công (Sài Gòn) này được thực hiện với thời gian chưa tàn điếu thuốc ở những ngày cuối tháng 4).

Lần cứu nước đầu tiên này nào có mấy ai hay, kể cả những chuyên viên nghiên cứu tình hình, hoạt động Chính trị – Quân sự của hai phía Mỹ,Việt? Thiếu tá Ngô Quang Trưởng vinh thăng Trung tá tại mặt trận, ân thưởng Đệ Tứ Đắng Bảo quốc Huân chương vào năm 33 tuổi, chuyển về nhậm chức Tham mưu Trưởng Lữ đoàn Nhảy Dù (đến 15 tháng 12, 1965, đơn vị mới biên chế thành cấp Sư đoàn). Hằng ngày, ông đi lặng lẽ từ văn phòng Tham mưu Trưởng xuống nhà ăn binh sĩ, qua khu trung tâm huấn luyện tân binh, huấn luyện nhảy dù. Ánh mắt sắc, nghiêm, nhưng nhân hậu không bỏ sót một hình ảnh, sinh hoạt nhỏ nhặt nào dù chỉ là của một tân binh.

Từ trái: Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm, Đại Tướng Cao Văn Viên, Trung Tướng Richard G. Stilwell, Thiếu Tướng Ngô Quang Trưởng. (Nguồn: US Army)

Bắt đầu Mùa Hè 1966, miền Trung dậy nên cơn bão lửa ly khai từ sự kiện Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư lệnh Vùng I (Đà Nẵng) vào Sài Gòn họp Hội Đồng Quân Lực (10 tháng 3) và bị những Tướng lãnh Trung ương (Nguyễn Văn Thiệu, Chủ tịch hội đồng; Nguyễn Cao Kỳ, Chủ tịch ủy ban hành pháp; Nguyễn

Hữu Có, Tổng ủy viên quốc phòng) cách chức. Ngoài lý do Tướng Thi “bất tuân thượng lệnh” vì đồng thuận để những nhân vật khuynh tả, phản chiến (lãnh tụ Phật Giáo khối Ấn Quang, Trí Quang; nhóm Giáo sư Đại học Huế; Thị trưởng Đà Nẵng, Bác  sĩ Mẫn, một người du học Pháp về) khuynh loát, giật dây, ông còn là một đe dọa chính trị đáng ngại đối với  chức Chủ tịch hành pháp (Thủ tướng) của Nguyễn Cao Kỳ; cũng cần tính đến những hiềm khích, đấu đá vì hành vi, tư cách cá nhân giữa hai người. Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chuân Tư lệnh Sư đoàn I Bộ binh (Huế) được cử vào Đà Nẵng thay thế Tướng Thi giữ chức Tư lệnh quân đoàn; Đai Tá Phan Xuân Nhuận, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân thay thế Tướng Chuân chỉ huy Sư đoàn 1.

Ngày 12, tháng 3, lấy cớ yêu cầu phục hồi chức vụ cho Tướng Thi, phong trào chống đối Chính phủ trung ương nổ bùng ở Huế, Đà Nẵng, cũng đồng thời đòi hính quyền quân nhân (Sài Gòn) giải tán, thành lập một chế độ dân cử. Sinh viên, thanh niên võ trang thuộc Lực lượng tranh thủ cách mạng (LLTTCM) dưới  quyền điều động của nhóm tăng sĩ Phật Giáo quá khích thực sự tiến hành cuộc khởi loạn (trong giai đoạn này cũng như vào thời gian sau, có nhiều xác chứng phong trào đã hoàn toàn bị dẫn dắt bởi cán bộ cộng sản nội thành của những tỉnh cực Bắc Trung bộ; Trí Quang sau năm 1975 là một bằng cớ). Chính phủ quân nhân ở Sài Gòn tạm thời hòa dịu, hứa hẹn thành lập Hội đồng tư vấn, soạn thảo hiến pháp trong vòng hai tháng đế chuẩn bị bầu Quốc Hội Lập Hiến, sau đó sẽ có bầu Tổng Thống vào năm 1967. Chủ tịch Hành Pháp Nguyễn Cao Kỳ còn xác định rõ một thời điểm, 15 tháng 8 sẽ bầu Quốc hội (sau dời lại tháng 10, 1966).  Nhưng tất cả chỉ là những giải pháp tạm thời, bềmặt, phe tranh đấu (thành phần chỉ huy là phong trào LLTTCM) tiếp tục biểu dương uy thế và bày ra điều yêu sách cuối cùng: Chấm dứt chiến tranh, người Mỹ ngưng oanh tạc và rút quân khỏi Việt Nam bất chấp chiến thuật khôn ngoan của Trí Quang qua buổi thuyết giáo (18/4) tại chùa Từ Đàm: “Kêu gọi Phật tử ngưng biểu tình, quân nhân ly khai nộp súng đạn lại cho chính phủ”.

Những cuộc biểu tình “chống Mỹ cứu nước” ở Huế, Đà Nẵng tiếp theo lan rộng khắp cả nước, tại những thành phố quan trọng, nơi có quân Mỹ đồn trú. Tình hình trở nên xấu hơn khi xảy ra sự kiện một binh sĩ Thủy quân Lục chiến Mỹ xông vào xé biểu ngữ bài Mỹ (viết bằng Anh Ngữ) trong một buổi biểu tình  tại Huế.

Chính phủ quân nhân tại Sài Gòn đợi đến lúcphong trào trở nên quá khích một cách lộ liễu (bài Mỹ, chống Công Giáo), để có duyên cớ chính đáng (nhất là giải thích với Toà Đại sứ, dư luận báo chí Mỹ) gởi quân trừ bị ra Đà Nẵng. Lực lượng quân đội ly khai phần đông là quân nhân thuộc các đơn vị chuyên môn nên không thể nào đương cự với Nhảy Dù, Thủy quân Lục chiến, Biệt động từ Sài Gòn đưa ra. Cuối cùng, đến ngày 16 tháng 9, cuộc binh biến miền Trung hoàn toàn bị dẹp tan – Dẫu Trí Quang đã dùng đến biện pháp cuối cùng – Bày bàn thờ ra mặt lộ ngăn cản hướng điều quân của phe Trung ương.

Các Tướng lãnh chỉ huy những đơn vị Vùng I bị đưa ra tòa, chịu hình phạt quân kỷ và buộc giải ngũ. Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm Tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ binh (Quảng Ngãi) được chỉ định nhậm chức Tư lệnh Quân đoàn I. Đại Tá Ngô Quang Trưởng, Tham mưu Trưởng sư Đoan Nhay Du giữ nhiệm vụ Tư lệnh Sư đoàn I. Đại Tá Trưởng có Đại Tá Lê Văn Thân phụ tá – Đại Tá Thân, một trong tứ kiệt của binh chủng pháo binh. Người đứng đầu nhóm bốn người tuấn kiệt này là Trung Tướng Nguyễn Đức Thắng, vị tướng thanh liêm nhất (theo dư luận chung của quân, dân miền Nam mà Báo Diều Hâu, Sài Gòn đã phổ biến, đề cao).

Đại Tá Ngô Quang Trưởng nhận đơn vị, Sư đoàn 1 Bộ binh trong một hoàn cảnh bất lợi toàn diện. Những quân nhân giữ chức vụ trọng yếu, kế cả sĩ quan chỉ huy Trung cấp và Hạ sĩ quan (nếu là gốc Phật Giáo) đồng bị thuyên chuyển sang những đơn vị thuộc các vùng chiến thuật khác; người còn lại không tin những bạn đồng ngũ mới thuyên chuyển đến (tình hình tương tự ở các cấp chính quyền, quân sự miền Nam như sau đảo chính 1 tháng 11, 1963). Nhưng Đại Tá Trưởng vững tin nơi bản lĩnh cá nhân mình, cùng khả năng đơn vị, đã được thử sức sau hơn mười năm dài chiến trận nơi một vị trí quan yếu nhất của thế chiến trận miền Nam. Ông cũng rất cậy trông vào vị Tư lệnh Phó, người có khả năng tham mưu, tổ chức cao, tâm chất trung trực, đạo đức, thế nên chỉ sau một thời gian ngắn, Sư đoàn đã chỉnh đốn lại đội ngũ, phục hồi tư thế chiến đấu như hằng có. Bắt đầu với những sĩ quan trẻ, những sĩ quan cấp úy thuộc các khoá 14, 16 đến 20 Võ Bị Đà Lạt, hoặc các khoá tương đương của trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, đơn vị dần thâu đạt những tiến bộ vượt bậc sau một thời gian ngắn ngủi trong vòng một năm. Chiến trận Mậu Thân, 1968, Hành quân Lam Sơn 719 (1971) và cuộc phản kích Mùa Hè 1972 sau này là những bằng cớ chứng thực: Đơn vị thuộc quyền của Người Chỉ Huy Ngô Quang Trưởng là Sư đoàn Bộ binh tác chiến hàng đầu của quân lực. Không chỉ riêng với quân đội miền Nam nhưng nếu so sánh cùng thế giới, chúng ta vẫn giữ toàn quyền hãnh diện. Đại Tướng Abrams sau này, khi thay thế Tướng Westmoreland chỉ huy quân đội Mỹ tại Việt Nam đã nói cùng những sĩ quan, tướng lãnh của ông: “Sư đoàn của Tướng Trưởng tác chiến trong rừng giỏi hơn chúng ta”(13). Sự biến đổi thần kỳ này không là chuyện hoang đường. Trận làng Lương Cổ, Thừa Thiên đầu năm 1967 là một thí dụ điển hình của lần vượt dậy hào hùng kia. Hệ thống các làng Lương Cổ, Đồng Xuyên, Mỹ Xá thuộc huyện Hương Trà, Thừa Thiên, Tây – Bắc thành phố Huế, kết thành một dải hành lang thiên nhiên mà các đơn vị bộ đội cộng sản từ các mật khu vùng Tây – Nam Huế (A-Sao, A-Lưới), thường sử dụng để xâm nhập tiếp cận thành phố (do cố tránh các tiền đồn thượng nguồn sông Hương, mặt Nam thành phố).

Những làng này từ chiến tranh 1945-1954 đã là những căn cứ địa vững chắc “những chiến khu – vùng tự do”, mà quân đội Liên hiệp Pháp không thể nào kiểm soát được, bởi hệ thống kênh lạch của ba con sông: sông Hương, sông Bồ, sông Mỹ Chánh, tạo nên một vùng trũng thấp nắm giữa Phá Tam Giang, cửa Thuận An và Quốc lộ I ngăn cản sức tiến của bộ binh, khả năng cơ động của các đơn vị cơ giới. Từ năm khởi sự chiến tranh lần thứ hai (1961), vùng bản lề này luôn là mối âu lo của những người chỉ huy quân sự vùng Thừa Thiên – Huế. Lực lượng cộng sản bám chắc củng cố vùng bản lề này bởi đấy cũng là nơi ém quân để mở những chiến dịch quan trọng: Cắt đường số 1, chận viện lên mặt trận phía Bắc (Quảng Trị, Đồng Hà và xa hơn, Cồn Tiên, Gio Linh, Khe Sanh …). Đại Tá Trưởng sử dụng một Tiểu đoàn bộ binh cơ hữu làm thanh phần nút chận; dùng Đại đội thám kích của Sư đoàn, Đại đội Hắc Báo và Tiểu đoàn 9 Dù (tăng phái), hợp cùng Chi đoàn 2/7 Thiết Vận Xa M113, đơn vị thống thuộc của sư đoàn mở hai mũi dùi tấn công chính vào hệ thống công sự, giao thông hào mà có lẽ đã đào từ ngày bắt đầu cuộc chiến và càng ngày càng củng cố độ dày để chịu đựng nổi pháo binh cùng phi cơ oanh kích. Cũng có thể đây là lần đầu tiên phía bộ đội cộng sản gặp phải một đối thủ kỳ lạ – những địch thủ tiến thẳng vào hàng rào hỏa lực của họ. Trận chiến kéo dài từ sáng sớm kéo qua trưa, phía nhảy dù, bộ binh, thiết giáp đồng bị thiệt hại khá nặng nhưng vẫn không thể tiến vào khu làng qua những cánh đồng ngập nước.

Cuối cùng Đại Tá Trưởng chuyển lệnh trực tiếp đến cùng với Thiếu Tá Nguyễn Thế Nhã, Tiểu đoàn 9 Dù, đơn vị tăng phái cho khu chiến thuật: “Đơn vị mới thành lập (do biết rõ khi ông giữ chức vụ Tham mưu trưởng Sư đoàn Dù), anh lại vừa thay thế anh Huệ (viên Tiểu đoàn Trưởng vừa tử trận tháng trước trong trận đèo Ba Giốc, vùng Phi Quân Sự), thế nên tất cả thành bại của đơn vị là ở trận này đây”.

Ông không nói hết lời, nhưng người Thiếu tá Tiểu đoàn Trưởng đơn vị Dù tăng phái hiểu được ý: “Đây cũng là lúc quyết định một phần sự nghiệp riêng của chính ông, viên Tư lệnh chiến trường – một tướng lãnh xuất thân từ binh chủng nhầy dù – và cả danh dự binh chúng cũng sẽ được chứng thực nơi chiến trường hẻm hóc, xa xôi nầy”.

Thiếu Tá Nhã chuyển lại lệnh cho các Đại đội Trưởng tác chiến. Và trên cánh đồng loáng nước, trong ánh sáng chập choạng của buổi chiều diễn ra một cảnh tượng khốc liệt hùng tráng. Những chiếc M113 theo lệnh của Đại úy Hóa, Chi đoàn Trưởng đồng mở bung pháo tháp, các xạ thủ đại liên 50 siết cứng ngón tay vào lẩy cò tuông loạt đạn công phá mở toang các vị trí cố thủ của đơn vị Việt cộng, lính nhảy dù tùng thiết vượt qua mặt chiến xa, tiến lên thanh toán mục tiêu bằng cận chiến. Những Thiếu úy Thuận Văn Chàng, Phạm Văn Thành, Chuẩn úy Nguyễn Thành Văn … xông lên trước hàng quân với lựu đạn mở chốt cầm sẵn ở tay. Thân hình họ lảo đảo ngã xuống bờ ruộng, xong đứng lên lại với những tiếng hô … xung phong … xung phong … hòa lẫn tiếng đạn súng tay nổ bục trong thân thể, da thịt người vì đường đạn đi quá ngắn. Đám bộ đội cộng sản cố thủ không lường được thế trận với những người lính đối phương quá đỗi đi từ đêm Giao thừa Tết Mậu Thân, đêm 30 rạng 31 tháng 1, 1968. Và không phải Sài Gòn với Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham mưu, Tòa Đại sứ Mỹ dẫu đã là mục tiêu hàng đầu của cuộc tấn công, nhưng Huế lại là thành phố hứng chịu tàn phá nặng nề nhất của trận chiến kéo dài 26 ngày.

Không những chỉ thế, cư dân Huế lại là đối tượng phải thực hiện lần “trả nợ máu” – theo cách định giá của tập đoàn quân đội cộng sản, những tiểu tổ hành quyết nằm vùng trong những ngày chiếm đóng, khi thua trận rút lui – Món nợ máu mà họ không hề vay nhưng phải trả giá đắt với chính cái chết thảm khốc mà chỉ vào thời trung cổ các đội binh xâm lược thường hành xử đối với quân, dân của xứ sở đối phương. Phải chăng là giá máu của những người đã sống trong vùng “bị Mỹ – Ngụy tạm chiếm” – vùng đất mà họ đã sống từ trăm năm xưa cũ, bắt đầu từ thế kỷ 17, khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa. Nhưng cuối cùng, thành phố Huế được chiếm lại, phục hồi, đạo binh xâm lược từ miền Bắc, từ các mật khu Tây – Nam Huế, vùng Dãy Phố Buồn Thiu dọc Phá Tam Giang buộc phải rút lui, để lại những chiến tích – những hầm chôn người tập thể tại trường Gia Hội, Bãi Dâu, khe Đá Mài vùng núi Ngự Bình, những truông, vực thuộc thôn Ngũ Tây, quận Nam Hòa. Cảnh tượng tàn bạo này càng đậm thêm tính ác độc của danh tự “Việt cộng”, cùng mối kinh hoàng do họ gây nên. Một mặt khác, khi người dân nghe tiếng báng súng đập lách cách vào những thân người di chuyển, hoặc âm động rì rầm của máy xe thiết vận xa M113, chiến xa hạng nặng, lời chuyển lệnh rì rào từ các máy truyền tin có loa khuếch đại của binh đội Mỹ … Họ hé cửa nhìn ra từ những căn nhà mái thấp, sụp vỡ, leo lét ánh đèn dầu, qua hàng rào lá chè loang lổ tróc gốc, cảnh tượng u tối, đe dọa của thời chiến tranh trước 1950 và thì thào lời mừng rỡ chưa hẳn tin là thật … Lính tới, lính tới … Lính mình tới … Mỹ tới … Mỹ tới … khi họ thấy chạy thấp thoáng theo đội hình, dọc hè phố vương vãi thây người trên gạch ngói đổ nát rơi rớt, những dạng người lính với y trang màu lục đậm (bộ binh), hoặc tác chiến hoa của các binh chủng biệt động, nhảy dù, thủy quân lục chiến với ba-lô nổi gồ trên lưng, khối tròn quen thuộc của chiếc nón sắt.

Tất cả đã trở nên biểu tượng của linh thiêng cứu viện, nguồn hy vọng thiết thân giữa cảnh chết, sau bao ngày đe dọa hung hiểm bởi cái chết bao vây. Và khi Huế được sống lại, qua tiếng lời người dân, danh tính vị Tướng quân: “Ông Trưởng trong Mang Cá ra Gia Hội thăm đồng bào” gắn liền cùng chiến công Giữ Nước – An Dân, như Trần Hưng Đạo đã kiên trì bảo vệ Thăng Long (cuối thế kỷ 13); của Văn Thiên Tường đời Nam Tống (đầu thế kỷ 13) chết cùng Thành Tương Dương, hoặc M.I. Kutuzov trải thân với vận mệnh Moscow trong chiến tranh chống Napoléon năm 1812. Chúng ta hãy cùng sống lại những thời khắc hào hùng bi tráng của quê hương – Đêm Xuân đẫm nước mắt năm Mậu Thân, 1968. Hoạt động của phía cộng sản không chỉ là một chiến dịch quân sự thuần túy, do chiến tranh Việt Nam đã tạo nên một thất lợi tâm lý trầm trọng trong dư luận Mỹ Quốc, từ sự kiện Walter Cronkrite đã có mặt tại Sài Gòn ngay trong tháng 2, khi trận chiến đang bùng nổ giữa những đường phố, để sau đó trong buổi phát hình ngày 27 cùng tháng, người hướng dẫn dư luận quần chúng này đã mạnh mẽ xác định: “Hơn bao giờ hết, chúng ta có thể nói rằng kinh nghiệm đẫm máu tại Việt Nam sẽ phải mở ra một lối thoát”. Lời tiên tri này được hiện thực bởi Hòa hội Paris khai mạc vào cuối năm 1968 mà áp lực vốn có từ nhiều năm trước. Cụ thể lời như lời thúc giục của McNamara (lại là Mac chứ không ai khác) với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu trong lần viếng thăm Sài Gòn từ 1967: “Chúng tôi cần thương thuyết với Hà Nội để cho cuộc tuyển cử sắp tới (trong năm 1968)”,hoặc của Đại sứ Bunker tại Sài Gòn: “Dư luận Hoa Kỳ đã trói tay Tổng Thống (Mỹ), thế nên phải có cuộc thương thuyết hòa bình (tại Paris) để chứng tỏ cùng Quốc hội và Nhân dân Hoa Kỳ rằng chúng ta – Hoa Thịnh Đốn lẫn Sài Gòn – đều mong muốn hòa bình”. Hoặc thái độ bất phục tùng của gia đình David Vandivier ở khu Spanish Harlem, Newyork mà người cha vốn là cựu chiến binh Thế Chiến Thứ Hai qua quyết định đưa anh em David, và John Vandivier đến Canada cuối mùa Hè 1968 để tránh lệnh trưng binh. Và cho dù những sự kiện vừa kể trên đã là điều thực tế, nhưng Võ Nguyên Giáp sau nầy lại xác nhận với Ban Biên tập đặc san NAM, Nhà xuất bản Atlas, Tây Âu: “Ý kiến cho rằng Trung ương Đảng đặt nặng vấn đề về các phong trào phản đối chiến tranh ở Mỹ trong quyết định tiến hành Tổng công kích – Tổng khởi nghĩa ở miền Nam là một nhận định kém cơ sở”.

Cuối cùng, sự thật chỉ phản ảnh đúng nhất qua phân tích của Khối Quân sự, Phòng 5 BTTM/QLVNCH:

“Trận chiến Khe Sanh và cuộc Tổng công kích Mậu Thân, (Hiện thực Nghị Quyết 13 Trung ương Đảng) đồng có những mục đích:

– Dồn mọi nỗ lực để chiến thắng về mặt quân sự (đối với lực lượng Mỹ – Điển hình mặt trận Khe Sanh), buộc Mỹ phải rút quân ra khỏi miền Nam tương tự quân đội Pháp sau trận Điện Biên Phủ (Do dư luận phản chiến tại Mỹ làm áp lực như phần trên vừa trình bày – Tuy không là yếu tố quyết định hàng đầu).

– Làm băng rã Quân lực Việt Nam Cộng hòa, chứng minh cùng dân chúng miền Nam cũng như dư luận thế giới về sự lớn mạnh (Chính trị lẫn Quân sự) của phía cộng sản. Đồng thời dựng lên Mặt trận Liên minh dân chủ hoà bình tại Sài Gòn, Huế với mục đích vận động quần chúng nối dậy lật đổ chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

– Chuẩn bị, củng cố vai trò chính trị Mặt trận Giải phóng trước khi hội nghị Paris khai diễn. Nhưng cũng có dư luận cho rằng đây là “đòn mật ước” giữa Hà Nội và Mỹ (qua trung gian của Liên Xô) để thanh toán hạ tầng cơ sở Mặt trận (có khuynh hướng thân Trung cộng), giúp Hà Nội có cớ khuynh loát mạnh mẽ hơn đối với thành phần lãnh đạo cộng sản miền Nam, song song với sự kiện về vai trò của Nguyễn Chí Thanh bị tử trận, thay thế bởi đích danh Võ Nguyên Giáp; sự xâm nhập lực lượng bộ đội chính quy cộng sản miền Bắc vào Nam với khối lượng lớn. Điều này vẫn là một “nghi án chính trị” chưa soi sáng đủ. Tuy nhiên sau 1975, với lần thanh toán không nương tay cái gọi là “Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam” cùng cách xử dụng “tận diệt” những binh đội cộng sản thuộc “chính phủ” này với lối đánh thí quân không thương tiếc do những cán bộ khung đi từ miền Bắc vào sau 30 tháng 4, 1975, chỉ huy ở chiến trường  Campuchia  (1979), đã là những chứng cớ cụ thể về lần “thanh toán quyết định giá trị” cuối cùng của những “đồng chí miền Bắc đối với người anh em mặt trận giải phóng miền Nam”.

Một Tiểu đoàn bộ binh thuộc tỉnh đội Rạch Giá khi điều lên Campuchia không hề nhận được nhu yếu phẩm sinh hoạt hằng ngày; các gia đình bộ đội (hoàn toàn là cư dân miền Nam) phải tự túc tiếp tế cho con em mình! Tiều đoàn này sau một thời gian ngắn đã hoàn toàn tan rã, còn lại không quá 10 người, người sống sót trốn thoát qua Thái Lan bằng đường bộ (lẽ tất nhiên vùng đất dung thân cuối cùng không đâu khác là nước Mỹ). Nghi án chính trị vừa kể trên qua thực tế sau năm 1975 hẳn có mức độ khả thể đáng tin cậy.

Ngày 20 tháng Giêng, 1968, Đại uý W.H. Dabney chỉ huy Đại đội I, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 26 Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ tiến chiếm đồi 881, cao độ giữ mặt Tây và Tây – Bắc căn cứ Khe Sanh, trên Đường số 9 hướng biên giới Lào, mở đầu quyết định chọn Khe Sanh làm “diện”, thu hút và tiêu diệt lực lượng cộng sản trong khuôn khổ hành quân SCOTLAND. 5 giờ 30 sáng ngày 21, những quả hỏa tiễn đầu tiên của phía cộng sản đổ chụp xuống các vị trí pháo binh, bãi đậu xe, phi đạo dã chiến, sân trực thăng, hầm phòng thủ lực lượng đồn trú. Mười ba tấn đạn đại pháo gồm 130 ly, hỏa tiễn 122, súng cối 82 ly đồng rơi xuống cứ điểm mở đầu chiến dịch dứt điểm Khe Sanh với lực lượng xung kích gồm hai Sư đoàn bộ binh nặng 325C và 304 theo lệnh điều quân của đích thân Võ Nguyên Giáp; còn có một Sư đoàn khác làm trừ bị, do chưa điều động vào vùng nên chỉ danh không được xác định.

Trận đánh không hoàn toàn bất ngờ, vì từ buổi sáng Dabney đã nhận được một “người khách không mời”, viên Trung úy bộ đội chính quy Bắc Việt hồi chánh với cây cờ trắng và bản tường trình chi tiết kế hoạch tấn công tiến chiếm Khe Sanh của phía cộng sản: “Từ Khe Sanh, bộ đội cộng sản sẽ điều quân về hướng Đông, dọc theo Đường 9 đánh chiếm Quảng Trị, tiếp theo sẽ là Huế”. Nói chắc một ý niệm – Hành quân chiếm đóng toàn bộ phần đất Việt Nam Cộng hòa Bắc đèo Hải Vân. Chưa hề thấy trong cuộc chiến lâu dài ở Việt Nam có một trường hợp lệnh hành quân bị tiết lộ một cách chính xác và mau mắn đến như vậy. Sự kiện lại xảy ra từ phía cộng sản, một phe tham chiến hẳng từ lâu thực hiện tính bảo mật cao độ và có hiệu quả. Người này cũng không quên chi tiết chính xác:

Giờ G là 12 giờ 30 của Ngày N – 21 tháng 1, 1968. (“Giờ G” của “Ngày N”: Giờ của Ngày quyết định mở đầu diễn tiến hành quân). Không chậm trễ, để đối lại, phía Mỹ huy động toàn bộ hệ thống hoả lực gớm ghê của họ để “Khe Sanh không thể là một Điện Biên Phủ” với kế hoạch đánh bom mang bí danh Niagara, mà chỉ trong vòng 24 giờ của ngày 21 tháng 1, đã có đến 600 phi vụ do phi cơ Hải quân và Không lực Hoa kỳ hiệp đồng thực hiện thêm với 49 phi xuất B52 đến từ Thái Lan và đảo Guam. Khi trận đánh kết thúc, chuyên viên hoả lực không yểm chiếc tính ra số liệu chính xác: Trong 77 ngày Khe Sanh bị vây hãm, Không lực, Hải quân, Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ đã thực hiện 24,000 phi vụ chiến thuật với 350 phi cơ gồm các loại A.4, 6, 8 Skyhawk và F.4C Phantom. Đồng thời, B52 chiến lược cũng đã tham dự với 2,700 phi xuất. Chúng ta nên biết thêm chi tiết: Mỗi chiếc B52 trung bình mang 108 quả bom; mỗi quả nặng 245 ký-lô.

Tổng kết, sau 77 ngày chiến trận, chung quanh cứ điểm có chiều dài hai, chiều ngang một cây số gọi là Khe Sanh kia, trên những vị trí (có rất nhiều điểm chỉ là nghi ngờ) của hai Sư đoàn 325C và 304 Bộ binh Bắc Việt, đã có đến 110,000 tấn bom thả xuống. Không kể đến hỏa lực trực thăng võ trang và các giàn pháo 105, 175 ly của bộ binh Mỹ. Nhưng Khe Sanh chỉ là một “diện” của thế trận – là “cái cớ” thu hút quân đội của các phe tham chiến trên chiến địa. Nỗi Đau Mậu Thân – Điểm thật thực sự xảy ra ở những nơi khác, với những người dân – Người thường dân của miền Nam Nước Việt. Huế được chọn lựa làm địa điểm dấy lên vũng lửa cảnh xương máu chập chùng lớn nhất.

Đêm Giao thừa 1967 sang 1968, đài Hà Nội phát ra lời “Thơ Chúc Tết” của Hồ Chí Minh có nội dung:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua

Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà

Nam – Bắc thi đua đánh giặc Mỹ

Tiến lên toàn thắng ắt về ta!

Pháo ở Sài Gòn, các thành phố miền Nam nổ nhiều hơn tất cả mọi năm. Hiện tượng pháo nổ giòn giã bày ra điều cay đắng: “Chiến tranh và tất cả đau thương, khốn cùng của nó là một “thực thể” cần được tiêu trừ. Con người luôn cầu Hòa Bình đồng thời cũng sẵn sàng thực hiện chiến tranh”. Nương theo tiếng pháo này, bộ đội chính quy  miền Bắc, lực lượng vũ trang giải phóng, du kích địa phương cộng sản miền Nam đồng nổ súng hiện thực lời “Thơ Chúc Tết” trên. Cảnh tượng bi thảm xảy ra cùng lần trên 44 tỉnh ly miền Nam với những ghi nhận đầu tiên:

Vùng I chiến thuật, bao gồm những tỉnh cực Bắc của miền Nam, từ sông Bến Hải, Quảng Trị đến đèo Bình Đê, địa giới thiên nhiên giữa Quảng Ngãi và Bình Định với trận Quảng Trị, 4 giờ đêm và mặt trận Huế bắt đầu lúc 2 giờ sáng mồng 1 rạng mồng 2 Tết Mậu Thân (30-31 tháng 1, 1968). Trận đánh được bảo mật tối đa với những cán binh, bộ đội vũ trang, bằng giấy tờ giả mạo xâm nhập trước ngày, giờ khởi sự vào các thành phố, tỉnh ly, thị trấn, nơi đã có sẵn những cán bộ nằm vùng cơ sở lo việc tiếp đón, tiếp tế. Đặc biệt quan trọng là những đơn vị đặc công nội thành, thành phần cốt cán, mở đợt công phá đầu tiên vào những mục tiêu, dẫn đường cho lực lượng võ trang chính quy. Từ cuối năm 1967, Hà Nội cũng đã cho xâm nhập vào miền Nam hơn 300 cán bộ gồm thành phần giáo sư, giảng sư đại học, kỹ thuật gia điện ảnh, văn nghệ sĩ, kỹ sư, bác sĩ chuẩn bị phụ trách công tác trí vận. Nhóm chuyên viên này được phân đều cho các tỉnh để làm nòng cốt xây dựng mặt trận Văn hoa – Chính trị sau khi cuộc tổng công kích quân sự thành công. Trận đánh cũng hoàn toàn “bất ngờ và bảo mật” đối với những đơn vị, cá nhân thuộc lực lượng cộng sản tham dự tác chiến – Đa số, nếu không nói là hầu  hết, chỉ là những thiếu niên nông thôn miền Nam hoặc những bộ đội nhỏ tuổi miền Bắc – Những người trẻ tuổi gọi là “bộ đội giải phóng” này trên đường xâm nhập vào thành phố, thị trấn miền Nam đã được “học tập” một điều phấn khởi: “Vào tiếp thu những thành phố miền Nam, nơi bọn Mỹ – Nguy đang giẫy chết và nhân dân đã nổi dậy cướp chính quyền dưới lãnh đạo của cán bộ cơ sở Đảng”.

Huế, thành phố cổ hơn trăm năm, kinh đô của nước Việt thuở hưng thịnh, đêm mồng 1 rạng mồng 2 Tết Mậu Thân lặng chìm vũng tối. Sự im lặng cô đặc đến nỗi tiếng pháo nổ mất hút giữa tầng khối dãy tường đá tảng bất động vây quanh con sông thẫm màu với lớp dân cư nhiều thế hệ sống đời dài không chút đổi thay.

Nhưng, bất thình lình, cảnh tượng bình lặng này bị xé rách bởi tiếng đạn súng cối, hỏa tiễn rít ngang bầu trời nháng lửa soi bóng dáng chập chờn những hình người mang lá nguy trang lần lút nương theo màn đêm trên những lối đi dưới tàn cây, lề đường kín cửa – Bộ đội cộng sản xâm nhập tiến chiếm thành phố. Lực lượng cộng sản đánh Huế phối trí trận địa theo kế hoạch:

– Đoàn 5 do Nguyễn Vạn chỉ huy gồm những đơn vị K4A, K4B, K10 và Tiểu đoàn 12 Đặc công phối hợp với Thành đội Huế từ vùng núi thượng nguồn song Hương hành quân bôn tập tấn công những cơ sở chính quyền, chiếm lĩnh vùng dân cư hữu ngạn con sông, phía Nam thành phố.

– Đoàn 6 gồm có các Tiểu đoàn K1, K2, K6 và 12 Đặc công với bốn Đại đội cơ hữu 15, 16, 17, 18 tăng cường một Đại đội súng phòng không, toàn bộ lực lượng địa phương thuộc hai quận Hương Trà, Phong Điền và hai Đại đội Biệt động có nhiệm vụ tấn công từ hướng Bắc vào các mục tiêu: Bộ Tư lệnh SĐ I BB đóng tại Mang Cá; sân bay Tây Lộc; Đại nội hoàng thành Huế. Hai lực lượng trên được chi viện thêm các Tiểu đoàn 416, 418 thuộc đoàn 9 xuất phát từ vùng núi thung lũng A-Sao Tây – Nam Huế. Đơn vị này trước chiến dịch mang danh hiệu Cù Chính Lan, tên một Thủ trưởng đã chỉ huy đoàn này trong chiến dịch Hòa Bình, Bắc Việt, 1951. Vào giai đoạn sau của chiến dịch, lực lượng cộng sản được đoàn 8 (Hậu thân Trung đoàn sông Lô) tăng cường, bôn tập về Huế từ mật khu hướng Tây – Bắc. Mũi tiến công chính do Thủ trưởng đoàn 6, Nguyễn Trọng Dần chỉ huy đánh chiếm tất cả cơ sở quân sự trú đóng trong khu thành nội một cách nhanh chóng; ngoại trừ sân bay Tây Lộc, các cơ sở trên đều bị chiếm đóng dễ dàng bởi chỉ do các đơn vị chuyên môn, không tác chiến phòng thủ. Đoàn này còn có nhiệm vụ lớn, “bắt sống Tướng Trưởng” giải về Bắc. Tổng số quân cộng sản tham chiến gồm khoảng 7,500 người cộng với lực lượng đặc công Thành đội Huế. Cuối chiến dịch, phía cộng sản thiệt hại 1,042 người, trong số có một cán bộ cấp Trung đoàn, 8 cán bộ Tiểu đoàn, 24 cán bộ Đại đội và 72 Trung đội Trưởng. Trong quá trình chiếm giữ thành phố Huế, phía cộng sản khoe đã bắt theo 600 thanh niên tòng quân; chiếm kho bạc lấy 4 triệu (khoảng 400,000 đô-la theo thời giá); giải thoát 1,800 phạm nhân. Nhưng quan trọng hơn hết là thành hình Mặt trận Liên minh dân tộc dân chủ hòa bình, gồm có những thành phần:

Chủ tịch Lê Văn Hảo; Ủy viên Bà Tuần Chi, Thượng tọa Thích Đôn Hậu, huy động được một số lượng quần chúng trong những ngày chiếm đóng. Nhưng, tất cả thành quả chính trị, vật chất này hoàn toàn trở nên là điều vô nghĩa khi ta xét đến cuộc phản công của phía Cộng hòa, lực lượng Thủy quân Lục chiến Mỹ và những đau đớn tàn nhẫn mà lực lượng cộng sản đã thực hiện lên những đối tượng mà họ luôn ngại đến trong sự nghiệp “giải phóng” – Những người dân bị thảm sát cực độ vô ích phí phạm. Trận phản công liên quân Việt – Mỹ đã diễn ra rất mực hào hùng vì chiến trường này đã có mặt từ trước những đơn vị ưu tú nhất của hai quân lực: Sư đoàn 1 Bộ binh Việt Nam Cộng hòa với Đại đội xung kích trinh sát lừng lẫy Hắc Báo; Chiến đoàn I Nhảy Dù tăng phái gồm các Tiểu đoàn 2, 7, 9 dưới quyền của Trung Tá Lê Quang Lưỡng.

Về phía Mỹ có Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 5 Thủy quân Lục chiến với chi đoàn thiết vận xa cơ hữu; Chiến đoàn đặc nhiệm X-Ray do Tướng Foster Lahue, cựu chiến binh của Thế Chiến II và Triều Tiên chỉ huy gồm ba Tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến. Ngoài ra, phải kể đến hai lực lượng mạnh, hai Lữ đoàn 1 và 2 thuộc Sư đoàn Nhảy Dù 101 đóng tại Phú Bài và một Lữ đoàn Không ky (Air Cavalry) chiếm giữ vùng núi Tây – Nam Huế, ứng chiến cho chiến trường Khe Sanh. Tất cả lực lượng quan trọng tinh nhuệ này đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc theo diễn tiến sau:

Đại đội Hắc Báo, thành phần xung kích, trinh sát Sư đoàn I Bộ binh (đơn vị đại đội QLVNCH có huy chương tuyên công nhiều nhất từ hai chính phủ Việt, Mỹ, kể cả những đơn vị biệt lập của quân lực đồng minh), có nhiệm vụ trấn giữ khu Đại nội, Điện Thái Hòa, nơi thiết triều của các Vua triều Nguyễn. Trước mặt điện là sân chầu lót đá tảng, tiếp cửa Ngọ Môn, biểu tượng uy quyền không những của hoàng tộc mà là quốc thể nước Nam. Kỳ Đài đối diện cửa Ngọ Môn về hướng Nam, nơi lá cờ hồn thiêng sông núi hằng tung bay. Nhưng Đại úy Phan Gia Lâm với quân số thiếu hụt (do số lớn binh sĩ đã về nhà ăn Tết) không thể nào chống cự nổi mũi tiến công một Tiểu đoàn (một trong ba nỗ lực chính, thuộc đoàn 6 bộ đội cộng sản) vào khu vực Đại nội. Sau năm giờ cầm cự, 5 giờ sáng ngày mồng 2, đại đội của Lâm phải rút ra khỏi khu cấm thành để cố thủ kỳ đài, nhưng cuối cùng, lúc 8 giờ sáng, ổ kháng cự kỳ đài cũng đành lâm chịu thất thủ và lá cờ ba màu vàng, xanh, đỏ được bộ đội cộng sản kéo lên trên nền trời mù sương xứ Huế ngày mưa phùn.

Nhưng lần mất sân bay Tây Lộc, Đại Nội chỉ là những tai nạn ắt có đầu tiên phải gánh chịu, phía Việt Nam Cộng hòa lập tức phản công với những đơn vị chưa hề thất bại. Tiểu đoàn 2 Nhảy Dù đơn vị từ lúc mới thành lập 1965, do Thiếu Tá Lê Quang Lưỡng chỉ huy đã đánh những trận mở đầu ở Bà Điểm, ngoại ô Sài Gòn 1966, vùng Phi Quân Sự 1967, để nên thành đơn vị được xuất sắc tuyên công chỉ sau ba năm thành lập.

Đêm mồng 1, từ quận Quảng Điền, Đông – Bắc thị xã Huế, đơn vị đã hành quân cấp tốc chạy qua cây số với tất cả sức nặng ba lô vũ khí trên lưng người lính. Nhưng lần chạy việt dã băng đồng khó nhọc này không hoàn toàn bình an vì quân cộng sản đã phục kích ngay trên đoạn đường độc đạo từ quận ly đổ ra Quốc lộ 1 ở An Lỗ, trên cầu sông Bồ. Tiểu đoàn Phó Nghi bị tử thương cùng một số binh sĩ, nhưng Tiểu đoàn cũng đã kịp đến cầu An Hòa, (cửa ngõ đường lên phía Bắc, hướng Quảng Trị), hiệp đồng với đơn vị bạn, Tiểu đoàn 7 Dù, đánh qua mục tiêu làng Đốc Sơ, chiếm giữ đầu cầu, cắt đường tiếp vận về những căn cứ, mật khu cộng sản thuộc vùng Phong Điền, An Lỗ, Cổ Bi, Hiền Sĩ. Những căn cứ địa vùng Tây – Bắc Thừa Thiên – Huế đã nổi tiếng từ chiến tranh 1945-54 là những an toàn khu bất khả xâm phạm. Từ cầu An Hòa vào đến đồn Mang Cá, bản doanh Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh chỉ hơn cây số đường chim bay, nhưng hai Tiểu đoàn Dù 2 và 7 phải mất một ngày sau mới vào tới được.

Nơi này, Chuẩn Tướng Ngô Quang Trưởng đang đích thân chỉ huy cuộc chống đỡ với nón sắt, áo giáp, súng cá nhân như một khinh binh. Hai đơn vị Dù đi hết đoạn đường ngắn ngủi kia với hơn hai mươi bốn giờ tác chiến liên tục, với kết quả số thương vong hao hụt hơn một nửa quân số cơ hữu. Điển hình, Đại đội 74 mất gần trọn Đại đội với Đại đội Trưởng Nguyễn Lô bị thương nằm dưới hai lằn đạn, một ngày sau mới được kéo về như một xác ma. Một xác chết gần nghĩa đen nhất vì Lô phải giả chết hơn hai mươi bốn giờ qua, giữa những binh sĩ tử trận, trên nghĩa trang người chết từ lâu cùng những người hấp hối mới hôm qua. Trưa mồng 4, Tiểu đoàn 9 Dù, đơn vị đã chạm địch từ đêm Giao thừa ở mặt trận Quảng Trị với Trung đoàn 812 cộng sản Bắc Việt; tuy đã đánh bật được những đợt tấn công của địch trong suốt hai ngày mồng 2 và mồng 3, bảo vệ được vòng đai phòng thủ thị xã, nhưng đơn vị này cũng đã bị thiệt hại đến trăm binh sĩ; cụ thể như với Đại đội 94, đơn  vị trấn giữ khu nhà thờ Tri Bưu (chịu hướng tấn công nặng nhất mặt trận Quảng Trị) đã mất hẳn năng lực chiến đấu, bởi Đại đội Trưởng Thừa cùng hai Trung đội Trưởng Hổ, Lộc tử trận. Nhưng dù với quân số thiếu hụt này, Tiểu đoàn 9 chỉ sau một ngày đến Huế, sáng mồng 5, đơn vị đã phải xuất quân chiếm lại cửa Chánh Tây, đường thông về phía những mật khu trong Trường Sơn. Trường thành  Huế, khối đá, gạch, vuông vức mỗi chiều khoảng hơn hai cây số với những chồng gạch được ghép chặt vào nhau bởi vôi trộn mật mía, cao năm thước, trên có lối đi để binh lính tuần tra, xe ngựa di chuyển. Nhưng khối đá tảng kiên cố này trong những ngày đầu Xuân hôm nay đã là những chốn nguy nan khôn cùng với những tổ tam-tam (tổ chức theo “tam chế – 3 đơn vị một”) bộ đội cộng sản. Mỗi tổ tam đều có đủ trung liên, B40 và AK cá nhân; nơi những ngã tư, điểm chốt chận đường đi đến các cửa thành đồng được các tổ thượng, đại liên trấn giữ. Chúng ta hãy nghe lại lời tường thuật đơn giản của một người lính trong cuộc chiến ngày ấy.

“Khi đến gần cửa Chánh Tây, tôi thấy rất nhiều địch đội nón cối, tay cầm súng AK47, B40, đi qua đi lại trên bờ thành. Chúng tôi chờ trời tối cho khinh binh lén leo lên, dùng lưỡi lê đánh cận chiến, chiếm được một góc thành làm đầu cầu cho đại đội nhào lên bắn ào ạt, khiến địch trở tay không kịp. Dùng cách này tuy tổn thất nhiều, nhưng vì quân địch đã chiếm lợi thế bờ thành cao hơn 5 thước, nếu không liều mạng xông vào hang cọp, thì không sao bắt được cọp con. Sau hai ngày tác chiến, Tểu đoàn (TĐ9ND) mới chiếm được cửa Chánh Tây, bàn giao lại cho Sư đoàn l, trở ngược ra sau đánh cửa Đông Ba (Cửa Chính Đông của Thành nội Huế).

Tại đây, có một cây thượng liên đặt trên cửa thành cao, rất kiên cố. Chúng tôi thử xung phong nhiều lần mà không lên được. Trung đội tôi lúc ấy còn 21 người, nhưng do khí thế chiến thắng từ Quảng Trị và cửa Chánh Tây vừa rồi nên rất tự tin. Đợi ngay khi điều chỉnh pháo binh dập nát khẩu thượng liên, cả Trung đội vừa bắn vừa hô xung phong tiến nhanh lên chiếm cửa thành. Thấy tên xạ thủ thượng liên chết nằm trên súng, hai chân bị khóa bằng dây xích. Kiểm điểm lại Trung đội chỉ còn mười người nguyên vẹn. Mười một mạng người chết và bị thương để đổi lấy cửa thành này đây. Lính Nhảy Dù trả nợ máu cho Quê Hương miền Nam, lấy lại bình an cho đồng bào xứ Huế. Gần ba mươi năm qua, trên đất Mỹ, tôi vẫn nhớ cảm giác cay cay đau đớn khi đứng trên cổng thành đổ nát, ngày mùa Xuân năm xưa. Mùa Xuân rây máu của xứ Huế mù trời sương đục, tang tóc đau thương”. Hồi ký Trương Dưỡng Một Cánh Hoa Dù, 1997 CA, USA. Khi Huế bị đánh, về phía Mỹ không có một lực lượng tác chiến nào trong thành phố, ngoài Bộ Chỉ huy MACV ở sát cạnh Tiểu khu Thừa Thiên. Mãi đến chiều ngày mồng 3 tết (2-2) mới có một đại đội Thủy quân Lục chiến đầu tiên đến tăng cường giữ MACV. Liên tiếp trong ba ngày 1, 2, 3 tháng 2, lực lượng của Tiểu đoàn 2/5 Thủy quân Lục chiến như trên đã nói mới vào vùng hành quân với mục tiêu là Khu Đại học Huế va Bộ Chỉ huy MACV. Thủy quân Lục chiến Mỹ có đại bác ONTOS sáu nòng có khả năng công phá mục tiêu, công sự nặng. Họ đánh mỗi ngày một mục tiêu, mỗi đường phố, đến tối rút về khu MACV, thế nên, diễn tiến hành quân hóa nên trì chậm, không phát triển được thành quả ưu thế hỏa lực và tính cơ động của đơn vị. Những ngày sau, Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ tiếp tục truy kích, chiếm đóng khu đường Lê Lợi, ngang Viện Đại học và trước mặt Nhà ga. Khai triển thành quả, lực lượng Mỹ đẩy lui địch ra khỏi khu vực Phú Cam, khiến địch phải phân tán mỏng rút về phía Nam Giao.

Hồi 16 giờ chiều ngày 10 tháng 2, một đơn vị Thủy quân Lục chiến trực thăng vận tăng viện cho Tiểu đoàn 2/5. Tuy thời tiết rất xấu, nhưng cuộc chuyển quân cũng hoàn tất; trong cùng lúc một Tiểu đoànThủy quân Lục chiến khác được đưa từ Phú Bài vào Huế bằng xe. Chính quyền và dân chúng đồng lòng nô nức trước lần tăng viện mang lại phấn khởi này. Giai đoạn quyết định giải tỏa mặt trận Thành phố Huế được đánh dấu bởi lần thay thế Chiến đoàn 1 Dù bởi Chiến đoàn A Thủy quân Lục chiến, Việt Nam. Chiến đoàn này được không vận từ Sài Gòn đến sân bay Phú Bài, từ đây di chuyển đến cầu tàu hữu ngạn sông Hương, dùng thuyền đổ bộ lên bến Bao Vinh để tiếp xâm nhập vào Thành nội Huế. Chiến đoàn A gồm ba tiểu đoàn Bộ chiến do Thiếu Tá Hoàng Thông chỉ huy. Sáng ngày 14 tháng 2, Tiểu đoàn 1 Thủy quân Lục chiến do Thiếu Tá Phan Văn Thắng chỉ huy; Tiếu đoàn 5, Thiếu Tá Phạm Văn Nhã Tiểu đoàn Trưởng xuất phát từ thành nội, khai diễn hành quân Sóng Thần 739/68 với mục tiêu là khu vực Tây – Nam Thành nội Huế, để từ đây mở rộng ra hướng cầu Bạch Hổ. Mặt trận thành phố Huế chấm dứt với lần tham chiến của hai Tiểu đoàn 21 và 39 Biệt động quân có nhiệm vụ tảo thanh khu Gia Hội, vùng cư dân nằm dọc theo sông Đào và sông Hương. Vùng này nhà cửa  ít bị thiệt hại nhưng dày đặc những hầm xác người  bị thảm sát do lần rút đi trong thất bại của lực lượng cộng sản sau 26 ngày chiếm đóng. Bốn giờ chiều ngày 24 tháng 2, năm 1968, hình ảnh bi tráng linh thiêng của chiến tranh Việt Nam hiện thực: Người Huế, những người lính chiến đấu ở Huế đồng bật khóc khi LÁ CỜ VÀNG BA SỌC lên cao trên kỳ đài giữa mù sương và mưa bay. Và cũng như lần chào cờ đầu năm cách đó 26 ngày, Chuẩn Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh toàn thể lực lượng giải tỏa thành phố Huế suốt khoảng thời gian dài kia đã không hề nghỉ ngơi, với trang bị nón sắt, áo giáp như một người lính ở đầu tuyến. Ông đi tới vị trí phòng thủ của binh sĩ tiền trạm Lữ đoàn 1 Dù (gồm những lính yểm trợ, tiếp vận), cùng những đơn vị lính chuyên môn (quân y, quân xa, truyền tin…) của Sư đoàn 1 – những “đơn vị tác chiến” đầu tiên mà ông vận dụng được để chống cự đợt tấn công cường tập đầu tiên của binh đội đặc công E6 do Thủ trưởng Nguyễn Trọng Dần đích thân chỉ huy. Ông có mặt nơi trung tâm hành quân, theo dõi các vụ ném bom, phản pháo, cố thủ những vị trí tái chiếm, điều quân tăng viện. Ông đến đầu giường của thương binh vừa được chuyển về quân y viện, ông có mặt với những ca mổ nghiêm trọng, an ủi thân nhân binh sĩ thiệt mạng. Ông đã là tướng lãnh độc nhất của quân lực miền Nam sống trọn vẹn với chiến trường, với mỗi người lính, khi cần có những quyết định khẩn cấp, hiệu quả kể từ ngày khởi đầu trận đánh, để đến hôm nay trong buổi oanh liệt, chỉ huy lễ thượng kỳ. Khuôn mặt khắc khổ trĩu nặng ưu tư của người chỉ huy chiến trường lặng xuống trong khoảnh khắc.

Quân và Dân đã một lần bật khóc

Khi lá Cờ Vàng Ba Sọc

Lừng lững lên cao

Giữa mù sương xứ Huế mùa Xuân nào …

Mùa Hè 1972, Tháng 3, từ ngày Bắc quân khởi cuộc đại tấn công miền Nam, thêm một lần Quảng Trị, Thừa Thiên, hai vùng đất trước tiên hứng chịu tai ương tàn khốc của bom đạn. Và người dân lại thêm một lần lặp lại tình cảnh thương tâm, tay bế con, lưng cõng cha mẹ già xuôi theo Đường số 1 dưới che chở độc nhất hay mối hy vọng cuối cùng – Người Lính – Lính Cộng hòa ơi, cứu bà con … Lính Cộng hòa ơi!

Trên đoạn đường máu La Vang, Hải Lăng, Mỹ Chánh dọc Đường số 1 giữa Quảng Trị và Huế không phải đôi ba người trong một tình thế riêng biệt nào đó, nhưng toàn khối dân bi thương nguy biến cùng gọi lên như thế một lần. Họ gọi với hơi thở cuối, mồm há hốc, mắt trợn đứng, khi máu chảy, nằm xuống giãy giụa, tay lần chuỗi hạt, mắt nhắm nghiền, trên đầu, chung quanh đại pháo Bắc quân nổ liên hồi, nổ tàn ác …

Đạn nổ không bỏ sót một phần đất, không quên một thân người … Lính Cộng hòa ơi! Người dân rất nhiều lần kêu lên như thế. Nhưng hôm nay, tháng 5, 1972 người Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế nhất định trở về, sống lại cùng làng xưa, chốn cũ bởi: Ông Trưởng đã ra Huế! Ông Trưởng đã tới ngoài Huế rồi bà con ơi! Người dân hăm hở, tin tưởng thúc giục nói cùng nhau, và những chuyến hàng Đà Nẵng – Huế bắt đầu trở lại với hành khách chen chúc đầy ngập. Trên đoạn đường lây lất, ươn ướt thịt da người phía Nam La Vang, lối “về ngoài mền … “ thấp thoáng từng toán người gồng gánh chạy theo đoàn quân. Mền về Quảng Trị thôi bà con ơi, ông Trưởng đã vô ở Trung Mang Cá giư(1) kỳ Tết Mậu Thân với mền rồi bà con nè … (2).

Chiếc xe jeep mang cờ hiệu tư lệnh màu đỏ với ba ngôi sao trắng chạy chậm dọc đường Trần Hưng Đạo hướng cầu Gia Hội. Vị Tướng quân khẽ liếc về hai bên, che giấu cảm xúc trong ánh mắt u uất, cố giữ vẻ bình thản, ông đưa tay lên vành nón sắt tỏ ý nhấc khẽ để đáp lễ những người dân kính cẩn chào ông với cách nhìn hàm ân, trân quý. Chợ Đông Ba ngầu đục váng vất những đường khói nhỏ bốc mùi khét và loang lố vết nám đen trên lớp tường sơn vôi vàng nhạt – dấu vết của lần hỗn loạn hai ngày trước, 30 tháng 4, 1972 khi mặt trận Quảng Trị tan vỡ và đám lính phẫn nộ tràn vào thành phố với những người dân đang nháo nhác rùng rùng di tản. Quảng Trị mất. Mất chưng hửng, tức tối. Biệt động Quân nương nhau dọc Quốc lộ về Nam, Thủy quân Lục chiến co lại, Tiểu đoàn này đỡ Tiểu đoàn kia rút gần xuống Mỹ Chánh. Về phần Sư đoàn 3 Bộ binh, không phải lỗi ở lính, cấp chỉ huy không gian, cũng có thể không do Tướng Giai, Tư lệnh Sư đoàn  (chưa có thể kiểm chứng rõ), đã rã ngũ một cách mau chóng, phi lý; dẫu ba Trung đoàn bị thiệt hại từ  ngày cuối tháng 3, đầu tháng 4, nhưng vẫn còn đủquân số, vũ khí, phương tiện liên lạc, yểm trợ, bỗng nhiên như viên đá nhỏ tan trong ly nước bốc khói. Một đại đơn vị diện địa mất hẳn khả năng chiến đấu trong bất ngờ kinh ngạc, xua đẩy dân và lính Tiểu khu Quảng Trị hỗn loạn đua nhau tháo chạy về Huế như cơn nước lũ từ nguồn cao băng qua bờ đê cát nhỏ. Và tiếp theo, dưới cơn ép kinh hoàng của Quảng Trị, Huế nổ bùng tan nát như ánh lửa điên loạn bốc cháy chợ Đông Ba chen tiếng súng của đám quân không người chỉ huy gồm những thành phần lao công đào binh nhân cơ hội chạy trốn, đám phạm nhân từ các trại giam dân sự, quân đội thoát ra, và tất nhiên, không thiếu những tổ đặc công, cơ sở nằm vùng cộng sản lợi dụng tình thế đồng khởi động phá hoại. Huế mau chóng lâm cơn hấp hối cũng bởi ảnh hưởng, tác động kinh khiếp của Mậu Thân mà dấu vết vẫn còn rất mới – Từ đêm Giao thừa 1968 nối tiếp, mở rộng, thấm sâu ấn tượng bi thảm của lần thất thủ Kinh đô 1885, mà nay vẫn hằng lưu trong tâm hồn người Huế, với cảnh sắc u uẩn của hệ thống chùa, miếu, am luôn mờ mịt những đầu chân hương  cháy đỏ vào đêm đến, hoặc những ngày rằm, mồng 1 Âm lịch, rải rác cạnh những con đường nhỏ hẹp, âm âm bóng cây che kín. Giặc vào và hiện thực cảnh tượng nhà tan, cửa nát, người chết hằng hằng lớp lớp. Gần một thế kỷ  qua kể từ năm tháng bi thảm kia, mối đau không hề giảm bớt, mà lại càng tăng thêm sắc độ khốn cùng, thương tâm. Chỉ một điều khác biệt: Thực dân Pháp năm 1885 khi tiến đánh Kinh đô Huế, không có được “ý niệm chính trị tiến bộ của kẻ ngụy danh cách mạng giải phóng” sau này. Họ chưa biết cách thực hiện, không hề có cơ tâm tàn nhẫn thực hiện kỹ thuật giết người rẻ tiền và im lặng của quần lũ gọi

là “bộ đội nhân dân” – chôn sống những đồng bào, đồng loại mình.

Huế hốt hoảng kinh hoàng do đã có kinh nghiệm về thành tích tàn bạo của những toán bộ đội cộng sản và đám người cuồng khấu địa phương mang huy hiệu lá cờ đỏ (hoặc chiếc băng vải đỏ) sục sạo khắp cùng những căn nhà, ngõ ngách, đường hẻm để tìm địch, giết Ngụy. Thế nên người người hớt hải xuôi Nam hướng Đà Nẵng, rần rật chen chúc lên tất cả mọi phương tiện di chuyển. Lại một lần bỏ quê hương chạy giặc. Đấy là cảnh tượng của những ngày cuối tháng 4, năm 1972. Nhưng, nay tình thế đã hoàn toàn khác hẳn. Bởi, Quân lệnh Thứ Nhất của Trung Tướng Tư lệnh Quân đoàn 1 – Vùng 1 Chiến thuật loan báo khẳng định:

Tất cả quân nhân các cấp Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong lãnh thổ Khu 11, Vùng 1 Chiến thuật (kể cả thành phần tăng phái, thuộc dụng hành quân), quân phạm, lao công đào binh phải trở về trình diện đơn vị, hoặc tại địa điểm quân sự gần nhất trong vòng 24 giờ kể từ “Không Giờ” ngày 2 tháng 5, năm 1972.

Các trường hợp vắng mặt bất hợp pháp tại đơn vị coi như đào ngũ trong thời chiến, khi đối diện địch quân, sẽ bị truy tố ra trước tòa án quân sự mặt trận với trường hợp khẩn cấp. Tất cả hành vi cướp giật, phá hoại, khủng bố sẽ bị trừng phạt, xử bắn tại chỗ do các đơn vị Quân cảnh Quân lực Việt Nam Cộng hòa toàn quyền áp dụng, thi hành.

Huế hồi sinh từ những dòng quân lệnh mạnh mẽ và sự hiện diện uy nghiêm của vị Tướng quân Tư lệnh. Và người Huế, Quảng Trị chuẩn bị trở về.

Kết từ về một Người Lính

Ba mươi năm sau, báo chí Mỹ, cho dù tờ báo khách quan, đứng đắn; hoặc giới học giả, nghiên cứu (với những con người được tin cậy, kính phục như Giáo sư W.Tuchman) khi viết về lịch sử, quân sử Việt Nam (giai đoạn sau Mậu Thân 1968, trước Hiệp định Paris 1973) đã không hề có một dòng chữ ngắn đối với chiến công lẫm liệt kế trên. Phim ảnh, sách, báo chí Mỹ với những đầu óc chủ bại lẫn tự tôn (khiếp nhược trước kẻ nghịch, bất nhân với bạn hữu), thiến cận từ tư cách chuyên nghiệp, bác học của văn minh kỹ thuật cao nên đã không nhìn rõ địch tình; đánh giá thấp, không tận hiểu đúng sức mạnh tinh thần của một dân tộc, quân đội bạn.

Điền hình như Thượng nghị sĩ Bob Kerry, kẻ viết Biên khảo Stanley Karnow, đạo diễn phim ảnh Oliver Stone … đã sử dụng hệ thống thông tin đại chúng Mỹ để trút lỗi lầm thất bại, gánh nặng “hội chứng Việt Nam” lên lưng người lính Việt với một lý luận hàm hồ chung nhất: “Quân lực Việt Nam Cộng hoà không chịu chiến đấu dù rằng người Mỹ đã góp nên trị giá 58,000 người chết và hơn 100 tỷ đô-la trong cuộc chiến với cộng sản Việt Nam”.

Những kẻ này đã không hề biết đến (hoặc cố tình không biết) những số liệu: 587 Tù binh Mỹ và người nước ngoài (gồm một binh sĩ Đại Hàn và hai binh sĩ Thái – Số liệu của Ban Liên hợp Quân sự do chính bản thân người viết làm báo cáo là 585) trao trả theo điều khoản của Nghị định Thư Tù Binh – Hiệp định Paris gồm 473 nhân viên quân sự thuộc thành phần phi hành đoàn của những phi cơ bị bắn hạ trên lãnh thổ Bắc Việt kể từ khi Mỹ bắt đầu oanh tạc miền Bắc do cớ sự vụ tàu Maddox (tháng 8, 1964). Hiệu số của 585 và 473 là 112, trừ thêm 3 quân nhân có Quốc tịch nước ngoài kể trên, ta có con số:

109 NGƯỜI LÀ TỔNG SỐ TÙ BINH MỸ BỊ BẮT Ở MIỀN NAM, GỒM THƯỜNG DÂN, NHÂN VIÊN TÌNH BÁO, CỐ VẤN CƠ QUAN BÌNH ĐỊNH VÀ QUÂN NHÂN BỘ BINH MỸ.

Trong khi ấy phía Việt Nam Cộng hòa trao trả về phía cộng sản26,508 nhân viên quân sự và nhận về 5,081 người lính từ Binh nhì đến cấp Đại tá. Cơ sở Rand Mc Nelly sử dụng trong Chronicle of 20th Century còn cho thêm số liệu, 924,048 lính cộng sản tử thương ở chiến trường. Từ những chứng số kể trên (do những cơ quan thống kê – chắc chắn không do cảm tính với chính phủ, quân đội Việt Nam Cộng hòa – nếu không nói là ngược lại) chúng ta có thể kết luận với mức độ chính xác nhất:

TRONG SUỐT CHIẾN TRANH VIỆT NAM TỪ KHI BỘ BINH, THỦY QUÂN LỤC CHIẾN MỸ LÂM CHIẾN

– CUỘC HÀNH QUÂN STARLIGHT, THÁNG 5, 1965 ĐẾN 27 THÁNG 3, NĂM 1973 – BỘ BINH CỘNG SẢN HOÀN TOÀN NÉ TRÁNH CÁC ĐẠI ĐƠN VỊ BỘ CHIẾN MỸ. NẾU CÓ ĐỤNG ĐỘ CHĂNG CHỈ LÀ NHỮNG ĐƠN VỊ CẤP ĐẠI ĐỘI; PHÍA MỸ BỊ THƯƠNG VONG PHẦN LỚN DO BỊ ĐÁNH MÌN BẨY, PHỤC KÍCH, PHÒNG KHÔNG, PHÁO KÍCH.

Số lượng 924,048 bộ đội cộng sản tử thương; 26,508 tù binh bị bắt đổi lại 5,081 người của Việt Nam Cộng hòa (chưa kể số lượng 200,000 cán binh  cộng sản đầu hàng quân đội Việt Nam Cộng hòa tại trận địa, hồi chánh Chính phủ VNCH với nhiều hình thức, tại nhiều địa phương, trong nhiều trường hợp) Biệt động quân và một thiết đoàn chiến xa của giai đoạn 2. Trong 68 ngày đó, chỉ riêng 48 ngày của Thủy quân Lục chiến, những người lính quân đội miền Nam đã phải chiến đấu liên tục trên một chiến trường dài hai cây số năm trăm thước từ ngã Ba Long Hưng, ngõ vào thị xã Quảng Trị đến sát bờ sông Thạch Hãn và bề ngang một cây số hay 1,000 thước. Những con số này phải viết chính xác để nói đủ về một chiến trường hẹp cứng, gai góc vượt hết ý niệm chiến trận – Chiến trường có diện tích “Hai ngàn năm trăm thước vuông” đó đã được 15 Tiểu đoàn Bộ chiến bao vây, quét sạch từng thước đất, phải nói từng tấc đất, nếu muốn giữ độ chính xác trong 68 ngày.

Đội quân 15 Tiểu đoàn có khoảng 7,500 đến 8,000 người phải vượt qua 2,500 thước vuông mục tiêu. Vậy mỗi người lính có bao nhiêu thước đất chiến trận? Chỉ số trung bình cho thấy: “3 người lính có 1 thước vuông mục tiêu chiến đấu”. Một thước vuông để tác chiến trong 68 ngày! Quân sử thế giới, trước và sau Quảng Trị, không một nơi nào, không thế có một chiến trường nào chật cứng, đứt hơi bằng ở Quảng Trị, Việt Nam. Chắc chắn như thế. Trong 68 ngày đó, sáu Tiểu đoàn pháo của hai Sư đoàn Dù và Thủy quân Lục chiến, dàn hải pháo Hạm đội 7 đã bắn bao nhiêu trái đạn? Phi cơ chiến đấu Mỹ từ Chu Lai (Quảng Tín), Đông Tác (Tuy Hòa); từ Guam, của Hạm đội 7 (ngoài khơi lãnh hải Đông Dương; phi cơ Việt Nam từ Đà Nẵng đã đánh bao nhiêu bom xuống khu vực cổ thành? Trong 68 ngày, bao nhiêu cân bom, trái đạn đã rơi xuống trên mỗi phân đất của thị xã chiều dài không quá 15 phút Honda ấy?! Quảng Trị! Muốn được kêu lên một tiếng, muốn nhỏ xuống dòng nước mắt – Thành phố Quê Hương là Thánh Địa chịu nạn cho  hết tai ương nhân loại – Không một nơi chốn nào trên địa cầu này phải chịu đựng cảnh huống điêu linh khốc liệt bằng vùng đất gọi tên Quảng Trị, nơi thị xã có khối Cổ thành Đinh Công Tráng. KHÔNG DÂN TỘC NÀO NÊN SỨC CHỊU ĐỰNG SO CÙNG DÂN VÀ LÍNH Ở VIỆT NAM. Phải, Người Lính Việt Nam đã chiến đấu và tồn tại như một nhiệm màu. Trên màu nhiệm bình thường lặng lẽ này Tố Quốc điêu linh thở từng hơi ngắn đớn đau nhưng bền bỉ. Chữ nghĩa hoàn toàn vô nghĩa trước chân dung bi tráng hùng vĩ của Người và Quê Hương – Nơi ĐẤT PHƯƠNG NAM với NGƯỜI CHỈ HUY GIỮ NƯỚC tên gọi NGÔ QUANG TRƯỞNG.

Để nhớ ngày

Người Lính lẫm liệt

giữ vững Quê Hương,

14 tháng 9, 1972

Nơi Quảng Trị – Việt Nam.

Phan Nhật Nam