Ba cảnh – Một ngày Giáng Sinh

Thơ Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 22 Feb 2026

Lời Giới Thiệu:

“Ba Cảnh, Một Ngày Giáng Sinh” được viết Ngày 24 Tháng 12 năm 1992, tại nơi từng là căn cứ Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù và Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà – Chốn một lần sống chết của tác giả.

Bài thơ không chỉ là ký ức cá nhân của một Người Lính Miền Nam, mà còn là hành trình đi qua ba tầng thân phận:

Buổi Sáng — Thân phận con người bị bỏ quên.

Buổi Chiều — Lịch sử đổ nát.

Vào Đêm — Ký ức và công lý bị chôn vùi.

Giáng Sinh trong bài thơ không phải đêm an lành của tiếng chuông và ánh sao, mà là đêm đối diện:

– Đối diện với nghĩa trang bị cày xới,

-Đối diện với oan hồn chưa siêu thoát,

-Đối diện với câu hỏi gửi lên Trời về Công Lý và Lòng Thương Xót.

Ở đó, Người Lính không chỉ kể lại chiến tranh, mà đứng giữa quá khứ và hiện tại như một chứng nhân – Gọi tên điều đã mất, giữ lại điều không thể bị xóa.

Đây là một bài thơ của Ký Ức, của Phẫn Nộ và của Đức Tin bị thử thách đến tận cùng.

…

Giáng Sinh ngây ngây cơn gió

Giáng Sinh thắm thiết ngọn cỏ.

Cuối năm đi đâu…

Vô định qua cầu,

Xa kia Sài Gòn,

Quanh quất vườn cau xóm nhỏ

Khói hun mờ dòng sông,

Đất trời đầm luồng rung động,

Thiên Chúa giáng trần cùng thế nhân

Thăm thẳm phận người lâm luỵ

Buổi sáng,

Lão mù ngồi lặng hong hơi nước

Tóc bạc lơ thơ loáng thoáng ướt

Mưa trái mùa se lạnh bay bay

Sáng sớm đùn hơi sương tê buốt

…

Đã qua bao năm,

Hỡ lão khổ?

Suốt buổi chiến tranh hằng nặng độ

Từ ngày đầu Xuân bão lửa khói vây (1)

Nay thời cuối năm

Tàn hơi thấm lạnh

Lão dựa thành cầu co quắp hiu quạnh

Trông miệt Nhị Bình

Xa xăm Ba Thôn

Tóc già bay xuôi theo sông xa Bình Dương

Lấm lướt khoanh tay lão che gió chướng

Nào biết

Đêm nay

Ân Thánh Yêu Thương

Không phần lão.

Qua chiều

Bước lên dốc cao

Len dần theo dấu đổ

Nắng ngật ngật bụi mù tung đỏ

Nơi chốn này một lần

Tôi qua nghiệp vận hóa thân

Nên Người Lính-Viết Văn (1)

Căn cứ Lữ Đoàn nay hoang vu

Đồi phượng trốc rễ cành lá rũ

Hàng cây bạch đàn cạn nhựa ứa

Đất đống loang lổ rối cỏ khô

Doanh trại sụp vỡ đùn ổ mối

Tháp canh rêu mốc chụp bóng tối

Lầu nước dựng cao vết thương màu đen

Nơi đâu kỳ đài uy nghi chiến binh

Hùng dũng hồi kèn diễn hành trống trận

Ôi giờ đây rền khô âm khốc

Mái tôn gió đập gầm đau như khóc!

…

Tôi đứng giữa xanh xao tàng cây

Tưởng vạn oan hồn về theo nắng quái

Một bận năm Thân như hôm nay (1)

Bao lâu không dứt phần còn lại?!

Ta đã ở đây?

Thật có nơi này?

Vô hồi gió thổi

Thấp thoáng nắng chiều rây…

Tâm chợt động nôn nao kinh hãi

Bước xuống đồi lối cũ hoang phai

Thật hay không?

Bóng ta hắt hiu trãi lặng hình hài

Thảm sầu cơn trốt xóay

Cuốn bụi đất hồng xé vết đỏ tươi…

Vào đêm

Xóm Đạo lặng lờ

Chuông lễ chiều khắc khoải

Chúa đến với người

Giữa điêu tàn lành lạnh chiều tàn đông

Hãy dậy lên hờn oan

Hãy bật cao âm thét

Vạn triệu vong linh đất sâu bằng bặt…

Về cùng ta đêm nay

Giáng Sinh huyền hoặc

Lần Chúa xuống trần giải cứu

Cõi thế hằn căm tiếng than

Sứ nhiệm Ngôi Hai đâu riêng đất Canaan?

Tình thương Trời không dành tộc Do Thái?

Chiến đấu đối mặt Sự Ác,

Sau bao nhiêu năm…

Nhân loại vẫn tràn đầy nước mắt

Oán hờn toàn cõi thế gian

Dậy oán khí mờ sắc cao muôn trượng

Sao Thánh Triệu sáng nhạt màu Linh Hướng

Chúa Hài Đồng bật khóc dài đêm đông!

Google images edited by Sơn râu

…

Đêm nay

Chốn này

Nghĩa Trang (2)

Im ghìm dãy bia mộ ngã nghiêng

Hố huyệt lạnh dậy trừng trừng thảm thiết

Hồn Liệt Sĩ hãy về đây!

“Kẻ Thua Trận” cùng chia phần đắng cay thấm nhục

Để hét lớn rung trời gớm ghê phẫn uất

Mỗi lóng xương đào trốc,

Lũ chó đói gậm mòn kéo vương vãi đồi hoang

Nỗi Đau ngun ngụt lửa từ giờ mất Miền Nam,

Bia mộ thiêng liêng,

Tác phẩm Thương Tiếc của Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu edited by Sơn râu

Cờ Tổ Quốc,

Đập vỡ kê hầm cầu,

Phá tung vất tràn hố xí!

Hãy dựng lên Khối Thương Tâm kinh dị,

Trung Liệt Đài xiêu đổ

“Bên Thắng Cuộc”tích chứa ủ phân! (3)

Về đủ đêm nay,

Thiên Chúa xuống trần,

Gục đầu chân tượng “Tiếc Thương” (4)

Tưởng tiếng kinh cầu từ nín sâu Cao Thái (5)

Hòa nhạc ân lành nghẹn bặt nơi xa Hố Nai (6)

Gào sôi với ta giòng máu nóng tươi,

Từ buổi Tháng Tư,

Ngày Ba Mươi luôn mới.

Giọt uất hận mười bảy năm tươi rói

Gầm gằm nuốt nghẹn

Chiến Binh chết thêm lần đêm nay!

Gíáng Sinh Nghĩa Trang 

Không hương tàn  

Bia mộ vỡ im.

(1) Mậu Thân 1968 –Cao điểm chiến tranh Miền Nam; thời điểm Người Lính-Viết Văn khởi sự tại Căn Cứ Nguyễn Huệ- Lữ Đoàn 2 Nhẩy Dù, trước Nghĩa Trang Quân Đội.  

(2) Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà, Xã Long Bình, Thủ Đức bị bộ đội cộng sản phá hủy sau 30 Tháng Tư, 1975.

(3) Bên Thắng Cuộc: Biên Khảo quân sự-chính trị-xã hội của Huy Đức, 2012.

(4) Tượng Tiếc Thương – Công trình của Điêu Khắc Gia Nguyễn Thanh Thu (1934-2025) đặt trước Nghĩa Trang Quân Đội Long Bình.

(5,6) Xóm Đạo Công Giáo trước nghĩa trang, vùng Biên Hoà.

Sáng, Chiều và Đêm

24 Tháng 12, 1992.

Nơi Căn Cứ Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù-Nghĩa Trang Quân Đội.

Chốn Một Lần Sống-Chết,

Của chính tôi,

Người Lính Miền Nam

Phan Nhật Nam

Dấu Binh Lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 22 Feb 2026

Sông Tiền Giang mênh mông như bể, chiếc phà lớn chuyên chất ba GMC, vài chiếc xe du lịch, bềnh bồng mang chúng tôi qua sông lẫn với đám hành khách áo quần màu sắc. Họ dồn về một phía, nhìn lũ người gươm đao thật xa cách. Tôi ngồi trên mui tàu thả từng mẩu giấy vụn xuống dòng nước, trí não lãng đãng như bọt sóng.

Đoàn xe rời quốc lộ 4 rẽ về phía phải theo con đường đỏ hướng phi trường Trúc Giang. Qua ngôi trường tiểu học quận, một dẫy quan tài sắp lớp, mùi thây chết bốc lên ngây ngấy. Biệt động quân – tiểu đoàn 41… Nghe nói hình như Tiểu đoàn trửơng hay Tiểu đoàn phó bị chết. Lính ở trên xe xì xầm bàn tán với vẻ thản nhiên. Họ không biết chiến trận đã đến hồi khốc liệt, nên chiến đoàn Dù gồm tiểu đoàn chúng tôi và một tiểu đoàn bạn đã có mặt tại vùng hành quân từ ngày trước. Đến phi trường nơi đặt bộ chỉ huy của khu chiến thuật Tiền Giang, trung tâm hành quân của cuộc hành quân, chúng tôi được lệnh ngủ tại đây để chờ ngày mai trực thăng vận vào vùng hành quân. Tôi chưa được dự trận lớn, nên không có ý niệm về những gay go sắp đến trong ngày mai, bình thản ngủ một giấc yên lặng với kết luận: Trực thăng vận đối với Nhảy dù chỉ là trò đùa, không có gì mới lạ.

Ngày 22, 8 giờ hai pháo đội đặt ở phi trường hướng súng về bãi đáp nhả đạn liên hồi để dọn bãi. Lấy cái chết của phe địch để làm an toàn cho phe mình, luật của chiến tranh quả tàn khốc. Tiếng súng dọn bãi vừa dứt, ba mươi chiếc trực thăng đồng bốc lên một lượt mang hai đại đội 71 và 72 vào trận địa. 

Báo cáo xuống bãi tốt, bình yên. Phần còn lại của tiểu đoàn được trực thăng vận tiếp theo. Toàn bộ tiểu đoàn đã xuống đủ, hai đại đội 71 và 73 dẫn đầu đơn vị, di chuyển được mười lăm phút. Súng nổ! Đụng rồi! Đụng rồi… Lính dáo dác, máy truyền tin chuyển lệnh nghe loạn xạ. Phía trước tiểu đoàn súng nổ lẫn lộn, tiếng khô và cứng của ta, sắt nhọn của địch… Đại đội 72 rút lên bố trí về phía phải của đại đội 73. Lệnh cho đại đội chúng tôi lên thật nhanh. Ngang qua chỗ đứng của Thiếu tá tiểu đoàn trưởng, một tiếng nổ thật lớn nháng lửa ngay trước mặt, quả đạn 57 ly nổ ngay khi ra khỏi nòng, người phụ xạ thủ bắn tung ra đằng sau, một bàn tay bị đứt. Ông tiểu đoàn trưởg hét lớn qua màu khói… Trung đội anh chạy ra cái nhà tranh… 

Như vậy là đụng độ lớn, người bị thương nằm la liệt ở dưới các rãnh dừa nước. Toàn đang đứng trong một giao thông hào chỉ trỏ quát tháo. Phía tay trái nơi xa có tiếng lựu đạn nổ và tiếng hô xung phong. Trung đội tôi ép phải, hướng tiến bây giờ thẳng góc với các con kinh nhỏ, nên chúng tôi chỉ có thể nhảy từng bước thật dài trên bờ kinh, một cái nhảy hụt tôi rơi vào đường mương cùng với hai người khinh binh. Bám cỏ bò lên, xác hai tên Việt cộng nằm tênh hênh, một xác bị banh nát ngực, xác kia nằm sấp, không rõ… Người chết, lần đầu tiên tôi chạm phải – một thây chết của đối phương.

– Lên đi tụi mày, thằng nào trốn đàng sau tao bắn gãy giò… 

Tôi quát tháo cũng ra gì, mấy người lính đi chậm dớn dác tìm lối qua rạch. Họ không nhảy qua được vì mang đồ quá nặng.

– Đ.m… Nhảy qua được không? Thường ngày sao liến xáo quá cỡ, hôm nay lại chậm như rùa.

Tôi chửi mắng om sòm. Trung đội đến bờ làng dừng lại bố trí trông ra cánh đồng trống. Ngồi dựa vào một gốc dừa, tôi thấy mệt vì phải quát tháo quá nhiều, nhớ lại lời chửi tục. Tôi đã thành một người lạ nào đấy. Địch từ phía trái chạy vọt qua, bóng áo đen ẩn hiện đàng sau rặng dừa xanh bên kia cánh đồng. Bắn! Bắn! Trung đội tôi khai hỏa ròn rã. Một vài bóng áo đen ngã xuống. Hơi thuốc súng, hơi bùn lầy, máu người chết xông lên ngây ngấy. 

Sáu giờ chiều, tiếng súng phía bên trái, hướng đại đội 71 hoàn toàn chấm dứt, trực thăng tải thương bắt đầu đến, khói màu xanh làm dấu bãi đáp bốc lên mờ mịt làm đặc không gian đang ngã vào đêm, rừng dừa màu xanh thẩm lại. Tiếng súng vu vơ của địch bắn lên máy bay khi tháo lui. Tôi ngồi dựa gốc dừa, mệt mỏi đến tột độ, một tên lính mò lại bên cạnh.

– Thiếu uý ăn cháo gà?-

 _Cháo gà?

– Dạ, em bắt được, nó còn ấp trứng…

– Thôi mày cho tao quả trứng, tao ăn cháo không nổi. 

Khi lính trong trung đội xịt xoạt ăn cháo, tôi đi lui về phía xác hai tên Việt cộng. Tên nằm sấp bây giờ lật ngược lại, có lẽ đấy là cử động cuối cùng của nó trước khi chết. Tôi đặt tay lên da người chết lạnh tanh. Đêm xuống, chúng tôi trải poncho nằm trên bờ rạch, không cởi giày, địch có ý tấn công lại nên phải đề phòng.

Tiểu đoàn tiếp tục truy kích, hôm nay đại đội tôi đi đầu, trung đội tôi dẫn đầu đại đội, chúng tôi đi dọc một con kinh lớn, rừng dừa xanh ngút tầm mắt, thôn xóm trù phú nhưng không một bóng người. Chúng tôi dè dặt từng bước đi. 

– Hầm có dấu chân người! Tản rộng ra chung quanh, một người đến xem mà thôi -Tôi ra lệnh. 

– Ai ở dưới, đi lên!… Im lặng…

– Lên không tao ném lựu đạn xuống! Thiếu uý, cho em ném lựu đạn xuống. Tên lính hỏi ý kiến.

– Không, mày bắn xuống mà thôi.

Tên lính lanh lẹ bắn xuống một tràn thompson, có tiếng rên khe khẽ.

– Lên không bắn nữa. Đưa tay lên trước… 

Tôi nín thở, một chiếc đầu bạc phơ từ từ nhô lên khỏi miệng hầm, ông lão bế một bà lão lên theo. Vừa ra khỏi hầm ông lão chấp tay xá bốn hướng xụt xùi khóc lóc, bà lão nằm vật xuống, ở đầu có một vết thương. 

Đến buổi trưa, tôi hoàn toàn kiệt lực như một mũi tên rơi xuống cuối đường bay. Hình ảnh hai mái tóc bạc nhô lên từ miệng hầm, nét mặt hốt hỏang của hai tên địch chưa quá mười sáu tuổi lôi lên từ một đám bèo, một tên còn đang ngậm một búng cơm… Những hình ảnh đó bây giờ cộng thêm cảnh chết cuả hai vợ chồng và ba đứa con ở trước mắt tôi. Họ chết từ ngày hôm kia, khi địch đặt bộ chỉ huy ở khu nhà thờ, người chồng là ông Từ giữ nhà thờ đã đem cả gia đình vào trốn dưới cái bệ thờ Chúa.

Tượng Chúa ngã nghiêng, tượng Thiên Thần vỡ tung tóe, hai bàn tay trắng bằng đất nung lăn lóc trên sàn nhà. Khi tôi cúi xuống nhặt hai bàn tay này thì khám phá ra năm xác chết trên. Họ chết ngồi, hai vợ chồng ngồi sát nhau ôm ba người con trước ngực. Họ chết vì bị sức ép nên thân thể vẫn còn nguyên vẹn, nét mặt in vẽ hốt hỏang. Tôi ra lệnh kéo xác họ ra sân. 

Giáo đường bây giờ im vắng, tượng Chúa linh động trong vị thế nghiêng ngã, nắng ở ngoài không rọi vào, không khí nặng nề lạnh ngắt… Tôi ngồi xuống trên chiếc ghế, hỏi thầm…

– Thượng-Đế, Ngài có thật đấy chăng? 

Khi tôi bước ra đàng sau nhà thờ, qua khu nhà ở của những người chết, một chiếc áo tím chắc hẳn của cô gái còn phơi phới bay trong gió… Nhìn ra xa, xác cô gái nằm thẳng trên sàn gạch, nắng thật sáng rọi lên rực rỡ. Người tôi ai cắm một lưỡi dao oan nghiệt vào tim, thật buồn. Tôi loay hoay đốt một điếu thuốc. Cái chết qủa bi thảm, nhưng hình ảnh của cô gái nằm chết khi chiếc áo còn bay trong gió vang vang nơi trí não tôi như một tiếng kêu thê thảm không dứt âm. Hai ông bà cụ già, tên Việt cộng trẻ, người cha và người mẹ, họ đã sống, đã chết dù sao cũng có chủ đích, có chọn lựa, cũng đã qua gần hết cảnh sống. Cô gái chết bất ngờ không báo trước, yêu đời như màu tươi của chiếc áo. Tôi choáng váng ngộp thở, người lao đao trong một niềm giận dỗi phiền muộn không cùng.

Đụng lớn, tiểu đoàn lấy được một lô súng đạn, thừa thắng truy kích địch để lùa chúng về quốc lộ 4. Bên trái là sông Tiền Giang, Tiểu đoàn 3 nhẩy dù bên phải làm thành phần chận bít. Tiểu đoàn tôi lùa địch từ đông sang tây. Việt cộng phân tán thành từng toán nhỏ để chạy trốn. Ba đại đội tác chiến được xử dụng để lục soát không chừa một hốc nhỏ. Việt cộng được moi lên từ các ao bèo, bờ lúa, đụn rơm, cuộc truy kích vừa khôi hài vừa hào hứng như trò chơi. Tôi lầm lì đi giữa hàng quân, trận đánh ngày hôm qua, một đêm mất ngủ, cái chết hàng loạt của Việt cộng, những thây ma tênh hênh lăn lóc, tất cả đổ ào xuống một lượt trên tâm hồn hồn nhiên — Tôi ngất ngư như lần đầu tiên uống rượu nhưng đây là cơn say đen. Xua quân đi vào một vườn dừa rộng, tiểu đội bên trái, tiểu đội bên phải, lục soát dọc theo hai con rạch nhỏ bao quanh khu vườn. Tôi đi vào ngôi nhà đang âm ỉ cháy, những chiếc cột lớn lỏng chỏng hỗn độn bốc khói xám…Một người đàn bà áo trắng quần đen tay ôm chiếc lẵng mây trước ngực ngồi im trên nền gạch đôi mắt nhìn thẳng ngơ ngác. Thấy chúng tôi đi vào chị ta đứng dậy, đứng thẳng người như pho tượng, như thân cây chết với đôi mắt không cảm giác. Thằng bé theo tôi cùng cùng tên hiệu thính viên lẻn ngay vào bếp kiếm thức ăn. Tôi đi đến trước chị đàn bà…

– Làm gì chị ngồi đây, không biết đang đánh nhau sao?

Im lặng, đôi mắt ngơ ngác lóe lên tia nhìn sợ hãi. Bỗng nhiên chị ta đưa thẳng chiếc lẵng mây vào mặt tôi, động tác nhanh và gọn như một người tập thể dục. Sau thoáng ngạc nhiên tôi đưa tay đón lấy… Hai bộ áo quần, chiếc khăn trùm đầu, gói giấy nhỏ buộc chặt bằng dây cao su. Mở gói, hai sợi giây chuyền vàng, một đôi bông tai. 

– Của chị đây hả? – Vẫn im lặng. Nỗi im lặng ngột ngạt, lạ lùng.

– Con mẹ này điên rồi thiếu uý, chắc sợ quá hóa điên.

Tên hiệu thính viên thì thầm sau lưng tôi, mắt nó sáng lên khi nhìn vào những miếng vàng chói trên giấy…

– Vàng, chắc cũng hơn một lượng, lấy đi thiếu uý… Ê! Đi đi.

Tên lính xua tay đuổi người đàn bà đi chỗ khác. Lạnh lùng, chị ta xoay người bước đi như xác chết nhập tràng.

– Chị kia quay lại đây tôi trả cái này… – Tôi nói vọng theo.

Người đàn bà xoay lại, cũng với những bước chân im lặng, trở về đứng trước mặt tôi nhưng đôi mắt bây giờ vỡ bùng sợ hãi, vẻ hốt hỏang thảm hại làm răn rúm khuôn mặt và run đôi môi… Chị ta còn trẻ lắm, khỏang trên dưới hai bảy, hai tám tuổi, da trắng mát tự nhiên, một ít tóc xõa xuống trán làm nét mặt thêm thanh tú. Tôi đưa trả chiếc lẵng mây, chị đàn bà đưa tay đón lấy, cánh tay run rẩy như tiếng khóc bị dồn xuống. Chiếc lẳng rơi xuống đất, hai cánh tay buông xuôi mệt nhọc song song thân người. Dòng nước mắt chảy dài trên má. Tôi hươi mũi súng trước mặt chị ta:

– Ngồi đây! Tôi chỉ nòng súng vào bực tam cấp. Khi nào tụi tôi đi thì chị đi theo… Tại sao khóc, nhặt vàng lên đi chứ… – Im lặng, chỉ có nỗi im lặng kỳ quái, thân thể người đàn bà cứ run lên bần bật, nước mắt ràn rụa… Từ từ chị đưa bàn tay lên hàng nút áo trước ngực… Không! Không thể như thế được, tôi muốn nắm bàn tay kia để ngăn những ngón tay run rẩy đang mở dần những hàng nút bóp để phơi dưới nắng một phần ngực trắng hồng! Không phải như thế chị ơi… Người đàn bà đã hiểu lầm tôi… Không lấy vàng và bắt đứng lại!! Chị ta không hiểu được lời nói của tôi, một người Việt Nam ở cùng trên một mảnh đất. Chị ta tưởng tôi thèm muốn thân xác và đòi hiếp dâm! Tội nghiệp cho tôi biết bao nhiêu, một tên sĩ quan hai mươi mốt tuổi làm sao có thể biết đời sống đầy máu lửa và đớn đau tủi hổ đến ngần này. Tôi đi lính chỉ với một ý nghĩ: Đi cho cùng quê hương và chấm dứt chiến tranh bằng cách góp mặt. Thê thảm biết bao nhiêu cho tôi với ngộ nhận tủi hổ này… Thê thảm cho tôi, cho những người lính chung quanh vì lính chúng tôi có thể tàn bạo khỏanh khắc, tham lam lén lút nhưng chúng tôi đâu phải là một thứ lính tẩy trên quê hương — Người ngoại cuộc với những tàn phá kinh tởm do chiến tranh này gây nên. Chúng tôi có lòng nào hưởng cảm giác trên xác thân của một người đàn bà Việt Nam trong cơn vỡ nát kinh hoàng thống khổ… Khổ lắm, người đàn bà của tỉnh Kiến Hòa đâu biết chúng tôi không bao giờ muốn huênh hoang, hung bạo trong vườn xanh bóng mát này, chúng tôi đâu có muốn tạo những ngọn lửa oan uổng thiêu đốt căn nhà bình yên như giấc mơ của chị. Và những mảnh vàng đó, thân thể chị đây ai có can đảm để giang tay cướp phá và xâm phạm! Tôi muốn đưa tay lên gài những chiếc nút áo bật tung, muốn lau nước mắt trên mặt chị nhưng chân tay cứng ngắt hổ thẹn. Và chị nữa, người đàn bà quê thật tội nghiệp, cảnh sống nào đã đưa chị vào cơn sợ hãi mê muội để dẫn dắt những ngón tay cởi tung hàng nút áo, sẵn sàng hiến thân cho một tên lính trẻ, tuổi chỉ bằng em út, trong khi nước mắt chan hòa trên khuôn mặt đôn hậu tràn kinh hãi.

Quân rút ra khỏi làng, chị đàn bà đi theo chúng tôi, vẫn với những bước đi ngượng ngập cứng nhắc, vẫn đôi mắt nhìn vào khỏang trống không cảm giác. Người đàn bà Việt Nam bước đi trong ngỡ ngàng với hạnh phúc khốn nạn: Hạnh phúc đến chót sau những thống nhục rời rã. Hạnh phúc lạ lùng như chiêm bao thấy thân thể chưa bị xúc phạm!

Quân rút ra gần đến quốc lộ, con sông bên trái đầy thuyền, hỗn độn dòng người chen chúc. Dân của vùng hành quân trốn ra từ ngày trước, tiếng người kêu la vang dội một khỏang sông, họ hỏi thăm tình trạng nhà cửa, người thân thích, người kẹt trong vùng hành quân. Tiếng khóc vang rân… Trời ơi, nhà ông Năm bị chết hết cả rồi bà con cô bác ơi! Tiếng kêu thê thảm như một kẻ đắm đò…

– Lai! Mày đó Lai ơi! – Bà già dưới sông mồm kêu tay ngoắc chị đàn bà theo chúng tôi. Chị ta dừng lại như để nhớ một dĩ vãng, như nhớ một khỏang sống đã đi qua… – Lai! Lai ơi, má đây con…- Chị đàn bà đứng lại xoay người về phía dòng sông… Má! Má! 

Tôi thấy đôi môi run rẩy thì thầm: Nhà cháy rồi! Nhà cháy rồi! Chị ta đi lần ra phía bờ sông, cũng với những bước chân của người mất hồn, bóng áo trắng nổi hẳn trên đám dừa xanh.

Tôi cúi đầu đi thẳng, mắng mấy người lính đứng tần ngần nhìn theo người đàn bà: Tiên sư, đi lẹ còn qua phà sớm. Lòng ngập một niềm ăn năn kỳ lạ. 

Chiếc phà đưa tiểu đoàn chúng tôi về Mỹ Tho. Dân chúng ra đứng nhìn cảm phục. Đóng quân ở sân vận động, tôi đi lên chiếc cầu hướng về phía Gò Công, dòng nước đen thấp thoáng ánh đèn chảy siết dưới chân cầu đục ngầu như tâm hồn. Đêm tỉnh lẻ đỏm dáng tội nghiệp, tôi đi lang thang, thật lạ ngay với chính mình, gặp Bang ở Biệt động quân, anh chàng nhỏ người nhưng ồn ào nhất trong số mười lăm anh khóa 15 Thủ Đức về Biệt động quân. Bang đãi tôi cơm, tôi chỉ uống được chai bia, xong chúng tôi đi coi ciné, phim The Sun Also Rise, phục Hemingway thì có khi đọc sách, nhưng phim dửng dưng, nhạt nhẽo. Tôi đi về trong đêm khuya, thành phố ngủ sớm, chiếc lá khô bay trước mặt như tà áo của cô gái. Tội nghiệp thay cho một tuổi trẻ, tôi cũng đáng tội nghiệp nữa. Ngày mai chúng tôi về Sài Gòn, ao ước được cởi áo nhà binh trong vài ngày, nhưng đó chỉ là ao ước vì chúng tôi biết rằng Sài Gòn đang có biến động, Phật giáo và Công giáo xua tín đồ ra đường phố. Lần đầu tiên trong đời, tôi biết thế nào là phẫn nộ khi về đến Sài Gòn đóng ở Tổng Nha Cảnh Sát, lãnh một cái mặt nạ để sẵn sàng dẹp biểu tình.

Tháng 8-1964. Kiến Hòa 

Tầng đầu địa ngục

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Hải Triều

Post by Sơn râu 22 Feb 2026

Đêm đó theo lệnh của Abakumov và do Sevastyanov truyền lại, Yakanov được gọi đến Bộ An ninh từ Viện Mavrino. Sau đó, có hai lệnh mật được gọi bằng điện thoại tới Viện Mavrino, mỗi lệnh tới cách nhau mười lăm phút, lệnh trước là lệnh đưa tù nhân Bobynin, lệnh sau là lệnh đưa tù nhân Pryanchikov về Bộ. Bobynin và Pryanchikov được đưa về trên hai chiếc xe khác nhau và được để ngồi chờ ở hai phòng đợi khác nhau, đề phòng họ đụng mặt nhau. 
Nhưng dù hai tù nhân này có gặp mặt nhau, họ cũng không thể nói gì được với nhau, không thể hiểu ngầm nhau. Nói rõ hơn, Pryanchikov sẽ không sao có thể hiểu được Bobynin muốn gì ở chàng. 
Linh hồn Pryanchikov đang rung động vì ánh đèn đêm ở Mạc Tư Khoa, những ánh đèn sáng lòa, lấp lánh, rực rỡ ở hai bên cửa chiếc xe Podeba. Đi từ vùng ngoại thành tối tăm quanh Mavrino vào trung tâm thành phố, Pryanchikov ngây ngất khi nhìn thấy hiện ra những đại lộ sáng choang, những cửa nhà ga xe điện ngầm đầy người, những cửa hàng rực ánh đèn néon. Pryanchikov quên mất người lái xe và hai nhân viên mật vụ bận thường phục ngồi hai bên chàng, dường như không phải là không khí mà là lửa được hít vào và thở ra từ lồng ngực chàng. Không lúc nào chàng rời mắt nhìn qua cửa xe. Chưa bao giờ họ đưa chàng vào Mạc Tư Khoa ngay cả ban ngày, và trong lịch sử Nhà Tù Đặc Biệt Mavrino, chưa từng có một tù nhân nào được nhìn thấy Mạc Tư Khoa ban đêm. 
Tới cửa Sretenka, chiếc xe chở Pryanchikov phải dừng lại chờ đám người vừa từ nhà hát bóng cuồn cuộn đi ra và sau đó, dừng lại ở ngã tư đường chờ đèn hiệu. 
Tất cả những người tù trên cõi đời này đều chẳng ít thì nhiều nghĩ rằng con cái bên ngoài, vì không có họ, đã dừng lại, bên ngoài đã hết nhẵn đàn ông và những người đàn bà cô đơn vì thiếu họ, hệ thống còn vui vẻ, đàn bà đau khổ, âu sầu hết còn trưng diện vì tình yêu họ và lòng trung thành với họ. Và đây, trước mắt Pryanchikov hiện ra đám đông no đủ, rộn rịp gồm những người đang sống ở thành phố – mũ, mạng che mặt, nữ trang, áo lạnh lông thú – và mùi hương của những người đàn bà qua đường tràn đầy cảm xúc run rẩy của người thanh niên ba mươi mốt tuổi, mùi đàn bà ấy đi qua sương đêm, qua thanh sắt của chiếc xe, đến đập vào chàng như những nhát búa. Chàng có thể nghe được tiếng họ nói, nhưng vang vang không rõ, chàng muốn lao đầu qua làn kiếng cửa xe ra ngoài để nói lớn với họ, với những người đàn bà đang đi trước mặt chàng, rằng chàng còn trẻ, chàng đang cần yên, chàng bị người ta nhốt vào tù không chút xót thương, chàng bị tù nhưng không có tội gì cả. Sau cuộc sống cô đơn khổ tù trong tòa nhà đá ở Mavrino, cảnh sắc này là một giấc mơ thần tiên. Ngay cả thời còn tự do Pryanchikov cũng chưa bao giờ được sống cuộc sống thanh lịch mà chàng thấy trước mắt kia, khi còn là sinh viên, chàng quá nghèo, rồi chiến tranh đến chàng nhập ngũ và bị bắt làm tù binh, rồi hết chiến tranh và chàng bị tù ở chính trên quê hương chàng. 
Sau đó, trong khi ngồi trong phòng đợi, Pryanchikovvẫn còn mê mẩn, chàng không nhìn rõ những cái bàn, cái ghế quanh chàng, những cảm giác ngây ngất vẫn chưa chịu từ bỏ chàng. 
Một Trung tá gọn ghẽ, sáng sủa bảo chàng đi theo. Pryanchikov, với cần cổ ngẳng và đôi cổ tay khẳng khiu, đôi vai hẹp, đôi chân gầy chưa bao giờ trông tang thương bằng khi chàng bước vào căn phòng rộng do người sĩ quan đưa chàng tới. Người sĩ quan này dừng lại ở cửa và chỉ một mình Pryanchikov bước vào phòng. 
Căn phòng rộng đến nỗi Pryanchikov không nhận ra đó là một văn phòng, chàng cũng không nghĩ rằng người đàn ông với đôi cầu vai dát vàng ngồi tít ở tận xa kia là chủ nhân căn phòng này. Chàng cũng chẳng nhìn thấy bức hình Stalin cao tới mười thước choán hết một bức tường. Mạc Tư Khoa ban đêm và những người đàn bà đi trong đêm Mạc Tư Khoa vẫn còn chập chờn ẩn hiện trước chàng. Chàng như người say rượu. Chàng như người hoang mang không biết tại sao mình lại đi vào căn phòng rộng thênh thang này và phòng này là phòng gì? Chuyện lạ và khó hiểu hơn nữa là trong một căn phòng hình cánh quạt chật ních những chiếc giường hai tầng và giường nào cũng có người nằm ở một nơi nào đó được chiếu sáng bằng một bóng đèn xanh – dù chiến tranh đã chấm dứt từ năm năm trước – có một ly nước trà nguội còn chờ đón chàng trở lại. 
Chân chàng đi trên tấm thảm rộng. Thảm dầy và êm và chàng muốn nằm lăn xuống đó. Ở bên tường bên phải gian phòng có nhiều khung cửa sổ, bên tường trái gian phòng có một tấm gương lớn cao từ mặt sàn tới tận trần. 
Những người ở bên ngoài không biết được giá trị của vật dụng. Với một người tù quanh năm chỉ được dùng cái gương soi mặt lớn không quá lòng bàn tay, có khi cả năm sáu tháng không được nhìn thấy mặt trong gương, việc được nhìn ngắm toàn thân mình trong một tấm gương lớn là cả một việc quan trọng. 
Pryanchikov như bị nam châm hút lại, đứng sững trước tấm gương. Chàng nhìn chàng hiện ra trong đó rồi chàng đến sát gương, ngắm nghía với vẻ hài lòng hiện rõ trên khuôn mặt tươi trẻ, sạch sẽ của chàng. Chàng sửa lại cổ áo và xốc lại hai tay áo. Rồi vẫn nhìn vào gương, chàng từ từ đưa chân lùi lại rồi chàng nghiêng người sang bên và cố liếc mắt nhìn xem mặt nghiêng của chàng hình dáng ra sao. Chàng quay sang trái rồi quay sang phải. Hai chân chàng di chuyển như đi vài bước khiêu vũ và chàng lại đến sát gương, nhìn ngắm mặt chàng kỹ hơn trong đó. Sau cùng, thấy rằng mặc dù bộ y phục màu xanh bạc màu quá cũ này, mình vẫn thanh nhã và cân đối lắm, với sự hài lòng, phấn khởi trong tâm hồn, Pryanchikov đi tới – chàng đi tới không phải vì chàng biết rằng trong gian phòng này có người chờ đợi chàng mà chỉ là vì chàng cần đi để xem xét hết phòng. 
Người đàn ông có thể nhốt vào tù bất cứ ai trong một phần nửa thế giới, nhà Tổng trưởng độc tài từng làm những vị tướng lãnh, thống chế sợ đến xanh mặt, ngồi nhìn gã tù nhân gầy gò với một vẻ chú ý tò mò. Lâu rồi y không có dịp nhìn kỹ một người trong số nhiều triệu người đã bắt, đã kết án, đã cho vào nhà tù, vào những trại tập trung. 
Với dáng điệu của một chàng công tử đi dạo phố, Pryanchikov đi đến trước bàn và nhìn như dò hỏi vào mặt Abakumov như chàng không ngờ có người ngồi ở đó. 
“Anh là kỹ sư Pryanchikov?” 
Abakumov lên tiếng hỏi, tay y xếp lại những giấy tờ trên bàn. 
“Phải,” Pryanchikov lơ đãng đáp “Phải, tôi.” 
“Anh là những cầm đầu toán chuyên viên ở Mavrino làm việc về… về…” 
Abakumov xem lại tờ giấy: 
“Về máy Phân-Hóa Âm Thanh Nhân Tạo?” 
“Cái gì là máy phân hóa âm thanh nhân tạo?” Không trả lời vào câu hỏi, Pryanchikov nói sang chuyện khác, “Ai bày đặt ra cái tên gọi ngớ ngẩn vậy? Chúng tôi không dùng cái tên đó. Chúng tôi gọi nó là giàn máy Ám-Hiệu Âm-Thanh nhân. Tắt là Âm Thanh cho tiện.” 
“Nhưng anh là kỹ sư trưởng toán?” 
“Trên nguyên tắc thì là tôi, nhưng có chuyện gì vậy?” 
Đột nhiên Pryanchikov trở thành đề phòng. 
“Ngồi xuống.” 
Không chờ mời đến câu thứ hai, Pryanchikov ngồi ngay xuống ghế, chàng cẩn thận kéo cho ống quần thẳng nếp. 
“Tôi muốn anh nói thật, nói thật hoàn toàn, anh không sợ rắc rối vì những người có quyền ở đó. bao giờ cái máy Âm Thanh được chế tạo xong? Tôi muốn nói là bao giờ dùng được? Cứ nói thật. Một tháng nữa hay hai tháng? Cứ nói, đừng sợ gì hết.” 
“Máy Âm Thanh? Sắp dùng được? Ha ha ha.” 
Tiếng cười tươi trẻ và trong như tiếng chuông của Pryanchikov vang lên. Chưa bao giờ giữa những bức tường này lại rộn ràng tiếng cười như thế. Chàng ngồi dựa lưng lên thành ghế và giơ hai bàn tay ra trước mặt: 
“Ông nói cái gì? Ông nghĩ gì mà lại hỏi như thế? Rõ ràng là ông không hiểu máy Âm Thanh là cái gì. Để tôi giảng cho ông nghe…” 
Chàng nhẹ nhàng đứng bổng lên từ lòng ghế và nhô người trên mặt bàn của Abakumov: 
“Ông có tờ giấy trắng không? Đây rồi.” 
Pryanchikov xé một tờ giấy trắng, vớ lấy cây viết màu thật tươi của Abakumov và bắt đầu vẽ vội và vụng những đường cong queo tượng trưng cho những làn sóng âm thanh. 
Abakumov không chút sợ hãi – trong thái độ, cử chỉ và giọng nói của người kỹ sư trẻ tuổi lạ kỳ có một cái gì thành thật, hồn nhiên và như ngây thơ làm cho y chịu đựng cuộc tấn công này. Y nhìn ngây Pryanchikov nhưng không ghi nhận những lời chàng nói. 
“Ông phải biết rằng tiếng nói của con người có rất nhiều hòa âm,” Pryanchikov gần như nghẹn lời vì muốn nói ra tất cả những gì chàng cần nói trong một thế gian ngắn nhất, “và sáng kiến căn bản của máy Âm Thính là biến tiếng nói ra những âm thanh khác hẳn rồi lại kết hợp trở thành tiếng nói. Biến hóa cách nào tùy người sử dụng máy. Trời đất, sao ông có thể viết được với cây bút tồi như vầy? Ông biết rõ về tọa độ Cartesie chứ hả? Cái này chú học sinh nào cũng biết mà – và phương pháp Fourier?” 
“Chờ chút,” Abakumov cố tự trấn tĩnh để nói. “Chú chỉ cần nói cho tôi biết: Bao giờ thì xong? Bao giờ thì máy dùng được? Bao giờ?” 
“Bao giờ xong? Hừm, tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện ấy.” 
Giờ đây Pryanchikov không còn ngây ngất vì những hình ảnh chàng vừa nhìn thấy ngoài đường phố nữa, chàng bị tràn ngập bởi niềm yêu dấu công việc chàng đang làm và một lần nữa, chàng không sao có thể ngừng nói – Không trả lời câu hỏi của ba, chàng tiếp: 
“Vấn đề quan trọng bây giờ là nếu mình chịu biến cả giọng nói đi. Trong trường hợp ấy, số đơn vị…” 
“Nhưng ngày nào? Ngày nào, tháng nào? Ngày một tháng ba? Ngày một tháng tư?” 
“Trời đất… ông nói chi vậy? Tháng tư? Không kể đến những việc về Ám Số chưa làm xong, chúng tôi chỉ có thể hoàn thành dàn máy này vào… Coi nào, không thể sớm hơn được,” Pryanchikov nắm tay áo Abakumov, kéo mạnh. “Ông để tôi giải thích tất cả cho ông nghe. Ông sẽ hiểu và sẽ đồng ý với chúng tôi rằng việc đó không thể vội mà được…” 
Nhưng Abakumov, mắt nhìn ngay xuống những hình vẽ vằn vèo vô nghĩa với y trên tờ giấy, đã đưa ngón tay ra tìm thấy nút chuông điện cạnh bàn. 
Người sĩ quan mang cấp bậc Trung tá gọn ghẽ hồi nãy lại xuất hiện và mời Pryanchikov đi ra. 
Pryanchikov đi xa bàn với vẻ bối rối hiện rõ trên mặt, miệng chàng hé mở. Chàng thất vọng vì chàng chưa giải thích được gì hết. Và khi đã đi ra được nửa phòng, bỗng dưng chàng nhận biết người đàn ông to lớn ngồi kia là ai. Chàng nhớ lại rằng những người bạn tù của chàng đã dặn chàng phải khiếu nại, phải cố gắng đòi hỏi. Chàng quay phắt lại và nói lớn: 
“Ê, tôi quên chưa nói cho ông biết.” 
Nhưng người sĩ quan chặn không cho chàng đi trở lại, đồng thời y đẩy chàng ra cửa. Và Pryanchikov thấy rõ là người đàn ông ngồi ở bàn kia không nghe chàng nói. Trong một khoảnh khắc, tất cả những hành động phạm pháp, tàn ác của bọn cai ngục trở lại với chàng nhưng chàng chỉ có thể còn kêu lớn một câu: 
“Nước sôi, chúng tôi làm việc khuya nhưng không có nước sôi pha trà. Chúng tôi không có trà nóng uống ban đêm.” 
“Không có nước sôi?” 
Một người nào đó đứng ở ngoài cửa phòng, dường như là một vị tướng lãnh, nói với Pryanchikov: 
“Được rồi. Để chúng tôi lo.”

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 22 Feb 2026

Xem phim bạo lực Mỹ thấy cái ác dữ dội, nhưng nhớ chuyện Tàu thấy cái thâm độc mới ghê gớm. Thời Đông Châu Liệt Quốc, Nước Việt thua trận nước Ngô, vua Việt là Câu Tiển bị vua Ngô bắt làm con tin. Câu  Tiễn nuôi chí phục thù, ngày đêm phục dịch hết lòngđể lấy lòng tin của Ngô Phù Sai, dắt ngựa đi giật lùi, nếm phân vua Ngô, nằm gai nếm mật để tìm cơ hội phục thù. Được Ngô Phù Sai tha về, Việt Câu Tiễn quyết tâm phục hận, một mặt chọn Tây Thi và Trịnh Đán là gái đẹp nước Việt triều cống để Phù Sai ngày đêm vui chơi, rượu chè, đàn hát mà bỏ bê việc nước, một mặt bí mật chiêu binh, mãi mã, chờ cơ hội phục hận.

Nước Việt lấy cớ mất mùa, sang nước Ngô xin vay lúa, hẹn năm sau đến mùa gặt xin hoàn trả. Được lúa, Câu Tiễn đem cấp phát cho dân nghèo trong nước được trăm họ ca tụng công đức. Năm sau nước Việt được mùa to, Câu Tiễn lựa lúa tốt trả lại cho nhà Ngô, nhưng trước đó đã đem luộc chín. Vua Ngô trúng độc kế đem phân phát lúa luộc cho dân. Năm ấy khắp nước Ngô đều gieo lúa nước Việt, nhưng lúa không mọc, dân Ngô bị đói to, nhân cơ hội này, Câu Tiễn đem quân đi đánh Ngô toàn thắng, vua Ngô phải tự vẫn.

Nước Tề muốn thôn tính Sở, loan truyền Tề Hoàn Công rất quý hươu bao nhiêu tiền cũng bỏ ra mua, một con hươu trị giá cả nghìn cân lúa. Nước Sở nông cạn, nghĩ vua Tề tham chơi hươu quý, thế nào cũng lơ là việc quân binh. Thương nhân nước Sở tập trung tất cả vào việc buôn hươu, nông dân bỏ việc ruộng đồng đi săn hươu, lính tráng xao lãng, lấy vũ khí đổi dụng cụ đi bắt hươu. Năm ấy nước Sở mất mùa nhưng tiền chất đống không mua được lương thực. Tề ra lệnh cấm vận, không cho chư hầu bán lúa cho Sở, người ngựa trơ xương. Nắm thời cơ, Quản Trọng cất quân đánh Sở.

Việt Cộng trong bao nhiêu năm làm chư hầu đã học được những điều quỷ quyệt gian hùng từ đàn anh, còn chúng ta lấy sự ngay thẳng của Bụt mà đối đấu với Ma là thất bại. Tháng 5-1975, Việt Cộng ra thông báo chơi chữ, “quân cán chính chế độ cũ trình diện đem theo 15 ngày tiền ăn,” mà không hề nói là đi tù 15 ngày, vậy mà cả nước miền Nam mắc mưu, cứ nghĩ là đi hai tuần là có thể về nhà. 15 ngày có khi thành 15 năm, và nhiều người đã mất xác trong các trại tù khắc nghiệt“học tập” Ngày nay, Việt Cộng thâm độc, nhưng ở bên cạnh nước Tàu Cộng cũng không địch nổi những tay chính trị gian hùng luôn luôn muốn cho đàn em năm xưa không cất đầu nổi. Những chiêu thức của Bắc Kinh ngày nay tuy không bằng cha ông chúng ngày trước nhưng cũng làm cho đàn em thất điên bát đảo. Một mặt vì dân chúng không có ý thức, không được giáo dục, lại tham tiền vì nghèo đói, chính phủ lại không bảo vệ chủ quyền, để con buôn Trung Cộng vào ra đất nước như chỗ không người. Trong năm nay, báo chí Việt Nam đưa tin có người ở Hải Phòng, Lào Cai đứng ra thu mua đỉa để xuất cảng sang Trung Cộng, mà không biết họ mua đỉa để làm gì, có nguồn tin cho rằng con buôn mua đỉa để dùng làm thuốc. Thế là dân đua nhau đi bắt đỉa trên đồng, ao hồ, đầm lầy, thấy lợi nông dân nuôi đỉa dể bán, giá bán một ký lô đỉa được hơn một triệu đồng. Với nông dân, đây là số tiền khá lớn, không bắt được thì ráng nuôi. Phong trào nuôi đỉa tràn lan tới miền Nam như ở Sài Gòn, Tây Ninh. Đỉa là một loại sinh vật sống ở trong mọi thời tiết, sinh sản nhanh, sống bằng cách hút máu của các động vật có xương sống, rất dễ sinh sôi nảy nở nhưng rất khó tiêu diệt. Nếu việc nuôi đỉa phổ biến, một khi chuyện thu mua chỉ là chuyện đồn đãi vô căn cứ thì rồi đây ao hồ, cánh đồng đầy những đỉa, sẽ là nỗi kinh hoàng cho nông dân có việc phải xuống đồng.

Ốc bưu vàng lại là một chuyện đau đầu khác. Thời gian gần đây, nhiều lái buôn đổ về vùng nông thôn các tỉnh ở Hậu Giang, để mua ốc bươu vàng xuất sang Tàu, mục đích để làm thuốc, làm thức ăn cho gia súc hay để nhậu. Thịt ốc được mua với giá từ 12.000 – 13.000 đồng/kg. Có cơ sở thu mua ốc bươu vàng, mỗi ngày mua khoảng 8 tấn ốc bươu vàng, để xuất cảng sang Trung Cộng. Tham tiền, muốn lời nhiều, nông dân có kế hoạch nuôi ốc bưu vàng để xuất cảng. Chỉ cần một mùa mưa lụt là ốc bưu vàng tràn ra ruộng lúa. Khi việc nuôi ốc bưu vàng rộ lên và việc thu mua chỉ là giả trá như phong trào chim cút của miền Nam trước đây thì nông dân phải nhận hậu quả khốc liệt khi ốc bưu vàng tràn lan phá hại mùa màng.

Chuột ăn lúa phá hoại mùa màng, dân nuôi mèo để bắt chuột, Trung Cộng mở chiến dịch mua mèo Việt Nam với giá cao đem về nước, gọi là “tiểu hổ” thịt ăn ngon mà bổ. Người dân VN lùng sục khắp các thôn bản, ngõ ngách, nhà nào có mèo là mua về, thậm chí còn trộm mèo hàng xóm để bán sang Tàu với giá cao, sinh ra đại dịch chuột hoành hành năm 1997-1978.

Vào khoảng 2003 – 2004 Trung Cộng tung bọn lái buôn qua các chợ ở vùng nông thôn Việt Nam thu mua móng trâu với giá rất cao. Bốn cái móng của một con trâu có giá cao hơn một con trâu, còn lại trâu đem xẻ thịt bán thêm được một món tiền nữa, dại gì không giết trâu bán móng. Ở nông thôn lại sinh ra tệ nạn trộm móng, giữa đêm kẻ trộm lẻn vào chuồng trâu, chặt chân trâu mang đi, sinh ra tình trạng thiếu trâu cày.

Có một thời gian dân miền Bắc thi nhau cắt giây cáp viễn thông quốc tế Việt Nam- Thái Lan- Hồng Kông để bán “ve chai” cho Trung Cộng. Tính ra có đến 11 km giây cáp bị cắt, thiệt hại hàng chục triệu đô la.

Trung Cộng muốn thu mua cà phê, thu mua gạo, thu mua trà … chỉ cần đem xe sang, đến tận vựa, tận vườn, tận công ty sản xuất … như trong vườn nhà, mua xong chở về nhà, qua biên giới, không cần phải Bộ Ngoại Thương hay theo kế hoạch xuất cảng như các quốc gia khác. Năm 2007, con buôn Trung Cộng sang các tỉnh trồng trà ở biên giới và trung du, thu gom toàn bộ các loại trà, đẩy giá trà lên cao khiến các nhà máy trong nước thì điêu đứng vì không có nguyên liệu chế biến, thiếu nguyên liệu, nhiều hợp đồng bị hủy, hàng nghìn công nhân không có việc làm.

Đây chỉ là những đòn “dạy cho Việt Nam một bài học” tương đối còn nhẹ nhàng và chỉ có tính chất thăm dò, cảnh cáo. Cắt móng trâu, diệt mèo, chuyện sờ sờ trước mắt mà thiên hạ giả đui vì món lợi nhỏ. Bọn Hán gian mỗi khi “ra quân” tôi nghĩ dân Việt Nam không đỡ nổi. Chính phủ thì ươn hèn, nhu nhược, không nhìn xa, dân thì đói khổ, thấy gì lợi trước mắt thì làm bừa, không nghĩ đến hậu quả, cho nên nuôi đỉa, cắt móng trâu, bán mèo, nuôi ốc bưu, vớt rong mơ, chặt cây tai ngựa, tìm đinh lăng, mua vải thiều …. cái gì có lợi thì làm, kể cả phá rừng, phá biển. Cái ác còn đỡ nổi, cái thâm mới thật khó lường. Nhưng nghĩ cho cùng, những chuyện này đâu phải nỗi lo âu cho những ai đang cầm vận nước, mà nước đang mang số phận chư hầu của Trung Cộng.

Nữ Hải quân Đại uý Lillian Ngo Usadi (gốc Việt), Sĩ quan tác chiến tàu ngầm Hải quân Hoa Kỳ

Posted on January 2, 2025 by dongsongcu

02/01/2025

Nguyễn Quân

Post by Sơn râu 21 Feb 2026

Hải quân Đại uý Lillian Ngo Usad (ảnh khi còn là Sinh viên Sĩ quan Hoc Viện Hải quân Hoa Kỳ của nj.com)

Hải quân Đại uý Lillian Ngo Usadi* tốt nghiệp Hoc Viện Hải quân Hoa Kỳ (Annapolis) năm 2017 với Văn bằng Cử nhân kỹ thuật điện tử. Sau khi tốt nghiêp, HQ Thiếu uý Lillian Ngo Usadi nhận được học bổng Rhodes, cô theo chương trình nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm Âm thanh Vật lý tại Công viên Khoa học Begbroke dưới sự hường dẫn của Giáo sư Ronald Roy và Giáo sư James Kwan tại Đại học Oxford. Trong lãnh vực nghiên cứu về âm thanh vật lý, ban đầu cô quan tâm đến âm thanh thông qua âm nhạc, nhưng các nghiên cứu về âm thanh cũng có phần liên quan đến âm thanh dưới mặt biển gắn liền đên vai trò của cô, một Sĩ quan tàu ngầm Hải quân Hoa Kỳ.

Huy hiệu Sĩ quan tàu ngầm Hải quân Hoa Kỳ (minh hoạ của en.wikipedia)

Sau khi hoàn tất Văn bằng Cao học Khoa học Kỹ thuật (nghiên cứu) tại Đại học Oxford, HQ Trung uý Lillian Ngo Usadi trở về Hải quân thụ huấn ngành Sĩ quan tàu ngầm** và trở thành Sĩ quan tác chiến tàu ngầm (Submarine Warfare Officer). Cô hiện phục vụ trong Lưc lượng tàu ngầm Hải quân Hoa Kỳ.

Từ năm 2015, Hải quân Hoa Kỳ đã khuyến khích phụ nữ gia nhập và hỗ trợ Lực lượng tàu ngầm. Nữ thuỷ thủ Dominique Saavedra là phụ nử đầu tiên nhận được huy hiệu Dolphins*** (huy hiệu Thuỷ thủ tàu ngầm Hải quân Hoa Kỳ) vào tháng 8 năm 2016. Hạm đội tàu ngầm tiếp tục nhận được số lượng nữ quân nhân Hải quân ngày càng tăng cho đến ngày nay. HQ Đại uý Lillian Ngo Usadi là một trong 700 nữ Sĩ quan và Thuỷ thủ đang phục vụ Lực lượng tàu ngầm Hải quân Hoa Kỳ.

Hải quân Đại uý Lillian Ngo Usad (ảnh khi còn là Sinh viên Sĩ quan Hoc Viện Hải quân Hoa Kỳ của nj.com)

Cùng ngành Sĩ quan tàu ngầm với HQ Đại uý Lillian Ngo Usad còn có nữ HQ Đại uý Phùng Duong, Sĩ quan tiếp vận tàu ngầm đã từng phục vụ trên Tàu ngầm chiến lược nguyên tử USS Wyoming (SSBN-742).

Ngoài Nữ Hải quân Đại uý Lillian Ngo Usadi, Nữ Sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt mang cấp bậc từ Thiếu uý lên đến Đại tá đang phục vụ các ngành của trong Quân chủng Hải quân Hoa Kỳ có thể lên đến trên 300. Một số vị đang phục vụ các ngành được ghi nhận sau đây: HQ Đại uý Phung Dương, Sĩ quan tiếp vận tàu ngầm; HQ Thiếu tá Carolyn Vu, Sĩ quan tác chiến hạm hạm đội (Surface Warfare Officers); HQ Thiếu tá Tricia D. Nguyen, Sĩ quan truyền tin tác chiến Hải quân; HQ Thiếu tá Tina Kieu, Sĩ quan chiến tranh mật mã Hải quân; HQ Đại tá Josephine Nguyen Cam Van, Bác sĩ Quân y Hải quân; HQ Trung tá Pham Nancy Do, Luật sư quân pháp Hải quân; Nữ HQ Đại uý Briana Dang là Luật sư quân pháp Hải quân; HQ Trung tá Diane Vo, Bác sĩ nha khoa quân y Hải quân; HQ Đại tá Thu Luu. Bác sĩ nha khoa Hải quân và còn rất nhiều nữ Sĩ quan Hải quan Hoa Kỳ gốc Việt khác chưa tiện cập nhật.

Chúc Hải quân Đại uý Lillian Ngo thăng tién hải nghiệp.

Chú thích: Viết theo tài liệu tham khảo; *Ghi theo họ và tên từ tài liệu; **còn được gọi là Tiềm thuỷ đĩnh; ***Huy hiệu Dolphins Vàng dành cho Sĩ quan, Bạc, Hạ sĩ quan và Thuỷ thủ.

Nguồn: linkedin.com; nj.com/news; nicolagreen.com.

Chư Pa

Hồi ký Vương Mộng Long

Tiểu Đoàn 11 BĐQ
Post by Sơn râu 21 Feb 2026

       Sau Tết Mậu-Thân hai tháng, tôi đã lành vết thương, xuất viện trở về đơn vị.  Trung úy Phạm văn Lương (k20VB) trả lại Đại đội 1/TĐ11/BĐQ cho tôi.  Anh Lương quay về đảm đương cái nghề cũ của anh là ban 3 tiểu đoàn. Đại úy Hồ khắc Đàm (k16 VB) đã thay thế Thiếu tá Nguyễn văn Huân (bị thương) giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng TĐ11 BĐQ.  Trong thời gian hơn nửa năm, chúng tôi đã tham gia hầu hết những chiến dịch lớn nhỏ của Task Force South quanh Đà-Lạt, Bảo-Lộc, đặc biệt là những vùng núi non giáp ranh với Quảng-Đức và Bình-Thuận.  Cuối năm Mậu-Thân, Tiểu đoàn 11/BĐQ được chuyển về Pleiku, hành quân phối hợp với Không-Kỵ Hoa-Kỳ. Một ngày đầu năm 1969 chúng tôi có lệnh lên đường tham gia chiến dịch Bình-Tây 49.

      Sáng sớm ngày N, xe quân vận đưa chúng tôi từ Biển-Hồ (Pleiku) vào sân bay của trại Lực Lượng Đặc-Biệt Lý thái Lợi, Plei M’rong.  Trưởng trại LLĐB Lý thái Lợi cũng là một sĩ quan Võ-Bị, Đại-úy Huỳnh Châu Báo (k17).  Niên trưởng Báo đã tiếp đãi chúng tôi rất ân cần trong khi chúng tôi đợi chờ trực thăng Mỹ tới bốc vào vùng.  Cuộc hành quân hôm ấy nhằm mục đích săn diệt Trung đoàn E 24 Mặt trận B3 CSBV trong vùng núi Chư Pa giáp ranh sông Pơ-Kô.  Hôm đó là một ngày mùa khô cao nguyên.  Mùa khô ở đây bầu trời mịt mù bụi khói đốt nương, đốt rẫy.  Ngày N, lành lạnh, cuối đông. Từ bãi bốc Plei M’rong chúng tôi thấy gunships Hoa-Kỳ dọn bãi ngay trước mặt, trên triền đồi tranh hướng tây suối Ru Ninh. Bãi thả chỉ cách sân bay Plei M’rong chừng năm cây số.        Như thường lệ, mỗi khi tới một vùng hành quân lạ, đại đội tôi vẫn là đơn vị “tiên phuông” và theo chân Đại đội 1/11 BĐQ của tôi vẫn là Đại đội 3/11 BĐQ.  Dưới triều đại Hoàng Mai (Hồ khắc Đàm) đoàn hùng binh TĐ11/BĐQ luôn luôn được chia làm hai cánh.  Cánh A là liên đội 1&3 do tôi (Trung úy Vương mộng Long) chỉ huy, cánh B là liên đội 2&4 do Trung úy Nguyễn Lạn chỉ huy.  Trái rocket sau cùng vừa nổ, tàu tôi đã “hover” trên ngọn tranh.  Miệng hô “go! go!” chúng tôi nhảy đại xuống triền đồi.  Cỏ cao quá đầu người.  Chúng tôi nhắm mắt lao xuống.  Vì phải nhảy từ trên quá cao, chúng tôi mất đà, nện đít xuống đất, thốn lưng, đau muốn chết.  Những trái rocket làm rừng cỏ tranh bốc cháy.  Nấn ná ở chỗ này lâu chắc chắn thành bê thui!  Thế là miệng hô, “Nhào lên! Bà con ơi!” chân bước tới, chúng tôi cố gắng xung phong lên bìa rừng xanh trên cao.  Vào tới bìa rừng, tóc gáy tôi bỗng dựng ngược: Rừng già toàn cây cổ thụ; thân cây nào cũng cỡ hai ba người ôm; chân rừng trống trơn, thênh thang, toàn đá đen, lạnh lẽo, trơn trượt. 

Nếu có vài cây AK Việt-Cộng trụ sau những gốc cây “bành ky” này thì đoàn quân dưới kia chỉ là những cái bia sống ngon lành.  Khi tôi lên tới đỉnh đồi thì Đại đội 3/11 của Trung úy Phan ngọc Quí còn ngồi trên HU1D.  Lửa bắt đầu lan rộng về hướng triền dốc, bãi đáp đang cháy lớn. Trên đỉnh đồi cũng có một bãi cỏ tranh khá rộng.  An ninh xong ngọn đồi mới chiếm cứ, tôi gọi đại úy tiểu đoàn trưởng và đề nghị ông chuyển bãi thả lên đỉnh đồi để cho ĐĐ3/11/BĐQ xuống chỗ tôi cho tiện. Hoàng Mai đồng ý ngay.  Sau đó bộ chỉ huy tiểu đoàn và liên đội B cũng theo chân Đại đội 3/11 xuống bãi này.  Cuộc đổ bộ tuy ồn ào nhưng trót lọt, an toàn.

       Có tiếng Hoàng-Mai gọi, “Thái-Sơn đây Hoàng Mai!  Sẵn sàng chưa?” Thái Sơn là danh hiệu truyền tin của tôi.  Tôi trả lời, “Sẵn sàng trăm phần trăm. Đợi!”  “Target số một! Zu lu!”  “Nhận Hoàng Mai 5!”  Chiều rồi, trong rừng bắt đầu âm u, nhưng lệnh lên đường vẫn ra; người nhận được lệnh vẫn thi hành nghiêm chỉnh.  Tôi gọi cho Trung úy Quí (ĐĐT 3/11), báo cho anh nhổ neo theo tôi.  Tôi dặn anh nhớ bám sát.  Mặt trời đang lặn, đi trong rừng rất dễ mất dấu người đi trước.  Tiến theo hướng bắc chừng hai trăm mét, chúng tôi gặp đường voi thồ thênh thang theo hướng tây đông.  Chúng tôi bắt đầu quẹo trái để vào mục tiêu 1.  Từ cao độ trên một ngàn thước đoàn quân lần lần thả dốc về tây.

       Chúng tôi đang đi với đội hình một hàng dọc.  Chợt bên tai tôi có tiếng người hò la trong rừng cùng tiếng chặt cây đốn gỗ.  Một toán dò tin tức được gởi đi.  Toán trở về báo cáo có một số dân Thượng đang phá rừng làm nương.  Tôi cho qua chuyện này.  Đêm buông màn, nhưng đoàn quân vẫn tiếp tục theo lối mòn đổ dốc.  Mỗi người phải giắt sau ba lô một khúc cây rừng mục.  Cây rừng mục có lân tinh lấp lánh, làm dấu cho người sau đi theo không bị lạc.  Chúng tôi bước trên đường mà cảm như đang bước chân trên thảm nhung.  Lá rừng mục bao đời, lớp này phủ lên lớp khác dày cả gang.  Cũng may, rừng vùng này không thấy vắt.  Đi trên cao, bên tai gió ào ào, không nghe tiếng muỗi kêu.  Đi được khoảng nửa cây số chúng tôi lại nghe tiếng nói chuyện ngay sát bên tai.  Tiếng người lần này giọng Bắc.  Trung đội đi đầu của Thiếu úy Đinh quang Biện vừa bố trí xong là nổ súng ngay.  Thì ra song song với trục đường chúng tôi đang đi, còn nhiều đường voi di chuyển khác.  Cả một hệ thống đường thồ trong rừng, che dấu bởi tàn cây cao, phi cơ chụp không ảnh không phát hiện, không có trên bản đồ.  Hai khẩu AK báng xếp cùng hai chiếc nón cối và hai cái balô được đem lên cho tôi khám nghiệm.  Hai cán binh vừa bị hạ thuộc C 17 Trinh sát của E 24 Mặt Trận B3 (Danh từ Việt-Cộng quy định A là tiểu đội; B là trung đội; C là đại đội; D, H, K là tiểu đoàn; E là trung đoàn; F là sư đoàn).

       Sáng N+1, chúng tôi tiếp tục đổ dốc.  Vẫn rừng già, trống chân, vẫn dấu chân voi, vẫn những con đường song song theo hướng tây đông, vẫn những đống phân voi to như những cái thúng rải rác dọc đường thồ.  Rừng nín thinh, nặng nề, đe dọa.  Mỗi lùm cây, tảng đá đều có thể là nơi che dấu sự chết chóc.  Đại đội 1/11 đội hình nấc thang, từng bước, thận trọng, xuống đồi.  Đường bắt đầu ẩm ướt.  Cái yên ngựa, trên bản đồ không ghi có nước.  Vậy mà nước rì rào, róc rách.  Nơi nào có nước, nơi đó có kẻ thù.  Một lối mòn vắt ngang đường voi đi.  Lối mòn chạy song song với con thông thủy.  Lối mòn cũng theo hướng bắc nam.  Trên lối mòn, vết dép Trường-Sơn còn mới.  Thiếu úy Biện vừa báo cáo đặt xong hai nút chặn hai đầu vết mòn thì quân của Chuẩn úy Nguyễn văn Danh đã kịp thời vượt lên thay vai trò tiên phong.  Trung đội 2 của anh chuẩn úy lính mới tò te lần đầu vào trận vừa qua khỏi ban chỉ huy đại đội, thì điểm chận lối mòn bên trái của Thiếu úy Biện đã có tiếng réo vang của một băng M16.  Kế đó, Trung đội 3 của Biện hàng ngang xung phong bên trái nhanh như máy.  Lại một khẩu AK 47 báng xếp, một cái nón cối, một balô của C17 Trinh sát E 24/B3.  Trong balô có vài lá thư viết bằng mực xanh trên giấy học trò có kẻ ô, cùng một quyển album cỡ một bàn tay, trong đó chứa những tấm ảnh đen trắng nho nhỏ có cạnh cắt răng cưa.  Ảnh chụp từ nơi nào đó xa xôi ngoài Bắc: một cô gái quê, một bà mẹ quê, một mái rạ.  Thư có những lời thương nhớ người đi B, những lời cầu Trời Phật phù hộ cho người ra trận được bình yên.  Nước ảnh còn sáng.  Màu giấy thư chưa vàng.  Người bộ đội Cộng-Sản mới xâm nhập đã không bao giờ trở về miền Bắc nữa.

       Chúng tôi tiến rất chậm.  Tất cả những lối mòn cắt ngang trục tiến quân đều phải đặt nút chặn.  Tất cả các nút chặn đều phải được bàn giao kỹ càng cho đơn vị theo sau.  Kinh nghiệm cách đây khá lâu, một lần hành quân vùng đông Lệ-Chí đã cho thấy sự lợi hại của tao ngộ chiến.  Hôm đó, trục tiến quân băng rừng của Tiểu đoàn 11/BĐQ cũng có con lộ cắt ngang.  Một cán binh VC đã đụng đầu Hoàng Mai trên mặt lộ khi ông vừa chui ra khỏi rừng cỏ hôi.  Cả ông tiểu đoàn trưởng BĐQ và tên VC đều giật mình phát hoảng.  Cả hai người đều đứng khựng lại trố mắt nhìn nhau. Ông tiểu đoàn trưởng BĐQ không mang súng dài.  Trên tay ông chỉ có cây gậy tre để đi rừng.  Khẩu súng nòng 6.35 ly tí teo, nhỏ như cái hộp quẹt (đeo làm kiểu) của ông còn ở trong bao.  Trong lúc quýnh quáng, ông tiểu đoàn trưởng BĐQ vụt vụt loạn xạ cây gậy tre trước mặt thằng VC. Miệng ông hét lớn, “Á!…Á!…Á!…”  Bất ngờ đụng đầu một bộ rằn ri giữa rừng, thằng VC đã trở bộ muốn bỏ chạy thoát thân.  Không ngờ tiếng thét của ông làm cho nó nhận ra ông là một kẻ thù không võ trang.  Nó hoàn hồn, chĩa khẩu AK 47 ngay ngực ông đại úy.  Tay trái nó run run nhích cao họng súng đen ngòm lên ngang trán ông.  Nó tính bắn vào đầu ông!  Tay chân ông bỗng cứng đơ. Hai mắt ông ngó trân trân vào mặt thằng VC.  Mắt nó liếc tránh ra hướng khác.  Ông thấy ngón tay trỏ, bàn tay phải của nó đang nằm trước cò súng.  Rồi ngón tay đó siết vào cò.  Ông hoa hai mắt. “Choác! Choác! Choác!”  Ông ù hai tai.  Đạn tém sát thái dương ông đại úy.  Đạn làm bay cái mũ đi rừng bằng vải đen rộng vành ông đang đội trên đầu.  Có lẽ thằng VC run tay, nên ba mươi viên AK đều bay cao, sượt da đầu ông đại úy.

       Bắn hết băng đạn mà thấy địch thủ còn đứng trơ trơ, thằng VC quay đầu chạy bán sống bán chết.  Vài giây sau, ông đại úy hoàn hồn.  Ông rút được khẩu 6.35 ly ra khỏi bao thì thằng VC đã khuất dạng.  Lúc đó những BĐQ cận vệ của ông tiểu đoàn trưởng mới chui ra khỏi rừng, tới đường.  Họ ngơ ngác không hiểu tại sao Hoàng Mai tay cầm khẩu 6.35 ly mà tai họ nghe “choác! choác!” tiếng AK liên thanh?  Ông đại úy tiểu đoàn trưởng đứng giữa đường quơ quơ cây gậy về hướng địch, “Nó chạy hướng này! Nó chạy hướng này!”  Lúc đó toán hộ tống mới vỡ lẽ: chỉ chút téo nữa là xếp của họ đã đi đoong!  Gỡ sĩ diện, họ reo hò, “Biệt Động! Sát!” “Biệt Động! Sát! Tiến lên!”  Lau lách hai bên đường mòn bị một phen bở vía.  Đạn M16 ròn rã đốn hoa, lá, cành, tre, nứa, ngã rạp tơi bời. Nhưng tên VC đã “chạy mẹ nó mất rồi!” 

       Hôm đó tôi đi đoạn hậu, chỉ nghe văng vẳng tiếng súng đàng trước.  Mãi tới khi tôi chuyển quân hoán đổi nhiệm vụ cho liên đội B gặp anh Đàm, tôi mới được anh chiếu lại chi tiết diễn tiến khúc phim tao ngộ chiến.  Đoạn phim diễn tả cảnh cái họng đen ngòm của khẩu AK47 đang nhắm ngay trán anh, làm tôi ớn lạnh xương sống.  Sau khi quay xong đoạn phim đứng tim trên cho tôi nghe, anh Đàm cười hí hí, “Hôm nay ta hơi quýnh một chút.  Chứ đúng lý ra, ta đã bắt sống thằng VC này rồi đó!  Nó gầy tong teo à!”  Tôi cũng phụ hoạ theo, “Đúng là thằng VC này còn hên!  Lần sau vô phúc gặp anh, nó tới số!”  Từ đó, mỗi lúc ra quân, Hoàng Mai luôn luôn nhắc nhở đàn em việc chặn nút khi gặp lối mòn.  Từ đó, cũng đã có vài lần tao ngộ, phần thua lúc nào cũng về phía bên kia.  “Cậu thấy chưa? Cứ gặp đường mòn mà chặn nút là có ăn!  Ta nói có sai đâu?”  Lần nào cũng thế, “có ăn” là anh Đàm lại dài dòng kể lể công lao “phát minh” ra chiến thuật “chặn nút”.  Hôm nay nút chặn của tôi “có ăn” thế nào anh Đàm cũng vui lắm.  Chắc chắn Thiếu úy Trần Lũy, đại đội trưởng đi bảo vệ bộ chỉ huy tiểu đoàn sẽ tha hồ mà nghe anh Đàm thuyết giảng chiến thuật.

       Xuống bình nguyên là nghe gió ngàn phần phật.  Đất giàu màu mỡ làm lau sậy mọc tràn lan.  Toán tiền thám phải dọ dẫm từng bước.  Những con lộ chính trong vùng địch kiểm soát chắc chắn không có mìn.  Nhưng tình hình an ninh không cho phép ta chỉ đi trên lộ chính.  Cái đáy trước của nấc thang phải bao gồm cả hai bên đường, lộ chính và lộ phụ.  Đặc biệt là di chuyển trên lối phụ dưới thung lũng rất dễ vướng bẫy thú của Thượng Cộng.  Chỉ cần ta ơ hờ một chút, cái bẫy đã túm ngay một cẳng ta, treo ta lên cây.  Đã có lần tôi chứng kiến một chú heo rừng bị treo lơ lửng giữa không trung.  Chú heo rừng nặng cả trăm ký tòn ten đung đưa giữa trời, miệng sùi bọt trắng. Nơi chúng tôi đang đi qua, nhiều bãi sình có dấu heo ủi, cả đàn. Nơi nào có heo rừng, có Thượng Cộng, thế nào cũng có bẫy.

       Đường bắt đầu đi lên.  Bi đông chàng nào cũng đầy nước.  Núi trước mặt cao cỡ ngàn mốt, ngàn hai.  Hai bên yên ngựa là vực sâu.  Gió hú ù ù.  Trời lạnh lắm.  Càng lên cao càng lạnh.  Mục tiêu 1 ở trên kia.  Trên bản đồ hình thù của nó chỉ như hạt đậu.  Thực tế đó là một ngọn đồi, một ngọn đồi có đủ cả các thành phần, chân, triền và đỉnh.  Anh Đàm có lẽ đã tới con thông thủy.  Tôi nghe anh ra lệnh, “Thái Sơn cho lều võng, khói lửa được rồi! Nhớ nhấn tới trước vài vòng (cao độ) cho chắc ăn nghe chưa?”  “Nhận 5!”  Tôi tự nhủ: “Hoàng Mai khôn cách chi! Ổng thì ngủ dưới con thông thủy, vừa ấm áp vừa có nước.  Ổng chơi ác! Bắt mình nằm chênh vênh giữa trời, chắc mình biến thành cục nước đá đêm nay mất thôi!”

       Đêm đó hai Đại đội 1&3 quây tròn trên mục tiêu 1.  Tôi và anh Quí ngồi tâm sự tới khuya mới chia tay về lều.  Quí là sĩ quan khóa đặc biệt.  Anh về phục vụ tiểu đoàn này đã hơn hai năm.  Anh ta gốc AET (Thiếu Sinh Quân) nên căn bản quân sự rất vững.  Hai đứa tôi khá thân. Đêm đó Quí thổ lộ với tôi rằng, sau Tết Âm-Lịch anh ta sẽ cưới vợ.  Vị hôn thê của Quí đang học Đệ Nhị Trung học Bồ-Đề, Pleiku.  Anh say sưa nói về ngày mai, về giấc mộng con con, bình thường.  Tôi cảm thấy vui lây cái vui của bạn.  Tôi nghe đâu Thiếu úy Trần Lũy (ĐĐT 2/11) sắp cưới con gái ông Thượng sĩ Thường-Vụ của Tiểu đoàn 22/BĐQ.  Còn anh đại đội trưởng Đại đội 4/11 Nguyễn-Lạn thì chuẩn bị neo thuyền trên bến Đà-Lạt.  Sắp Tết rồi!  Đám cưới!  Vui quá đi thôi!  Tha hồ mà nhậu!  Thời buổi được mùa!  Dưới trướng Hoàng Mai, sĩ quan chỉ huy của Tiểu đoàn 11/BĐQ đắt đào ghê!  Ông tiểu đoàn trưởng Hoàng Mai mới không vận được một cô sinh viên từ trường Chính-Trị Kinh-Doanh, Đà-Lạt về cư xá sĩ quan TĐ11/BĐQ làm áp trại phu nhân.  Nay đến phiên ba ông đại đội trưởng, Kỳ-Sơn (ĐĐT2/11), Trường -Sơn (ĐĐT3/11) và Lam-Sơn (ĐĐT4/11) sắp giã từ kiếp sống sê-li-bạt (célibataire).  Như vậy là sau Tết này, trong số tứ sơn (Thái Sơn, Kỳ Sơn, Trường Sơn, Lam Sơn) chỉ mình tôi (Thái Sơn) còn lênh đênh như con thuyền vô duyên của nhạc sĩ Đặng thế Phong. Quả thiệt, về cái chuyện “nớ” thì tôi chậm lụt hơn chúng bạn nhiều.  Thấy tôi có vẻ mắc cỡ, anh Quí an ủi, “Tại mày nhát gan, thấy gái là đỏ mặt, cấm khẩu.  Chứ tao thấy mày can đảm chút nữa thì thiếu gì đào!”  Nói đúng ra, trong thời gian qua, tôi cũng có nhiều dịp lọt vào “thị trường” của vài cặp mắt xanh ở thành phố Pleiku này.  Nhưng mỗi khi chạm mặt “đối phương tóc dài” thì tôi lại lờ quờ.  Đôi khi tôi tự an ủi rằng nguyên nhân của sự chậm lụt này cũng do “thời thế” mà ra.

       Số là, đầu năm 1966, khi tôi làm đại đội trưởng Đại đội 3/TĐ11/ BĐQ ở Đà-Nẵng; vài bà bạn Bắc- Kỳ di cư của mẹ tôi ở Hội-An, đang cố gắng “siết chặt dây thân ái” (VB Hành Khúc) với mẹ tôi, hi vọng sẽ có ngày thành sui gia; thì đùng một cái, ông Đại úy Nguyễn thừa Dzu, tiểu đoàn trưởng, dẫn quân theo ông Nguyễn chánh Thi, đảo chánh ông Nguyễn cao Kỳ.  Thời gian này Tiểu đoàn 11/BĐQ chỉ có ba đại đội 1, 3, 4 đóng quân tại sân vận động Chi-Lăng (Đà-Nẵng), riêng Đại đội 2/11 của Trung úy Tôn thất Trực đang biệt phái cho quận Quế-Sơn. Đảo chánh hụt, ông Thi lên máy bay chạy tuốt.  Ông Dzu trở cờ, chui vào phi trường theo ông Kỳ.  Ông Kỳ cho ông Dzu lên thiếu tá, làm Cò Cảnh-Sát.  Sau khi ông Dzu đi mất, tôi đã chỉ huy tiểu đoàn này tiếp tục chống ông Kỳ.  Kết cuộc, Tiểu đoàn 11/BĐQ bị đổi vào Pleiku; Tiểu đoàn 21/BĐQ từ Pleiku, được chuyển ra Đà-Nẵng.  Tôi bị quất tổng cộng chín chục củ: Ông Lãm (Tư Lệnh Vùng 1) phạt tôi 30 Trọng Cấm; ông Viên (Tổng Tham Mưu Trưởng) phạt thêm 60 Trọng Cấm.  Tôi còn bị đưa ra hội đồng kỷ luật Nha-Trang; bị giáng cấp; bị treo lon.  Đời tôi đi vào khúc quanh “lắc lư con tầu đi”.  Thời gian này mẹ tôi buồn lắm.  Những bà bạn của mẹ tôi, thì không ngần ngại cắt đứt ngay sợi “dây thân ái” với mẹ tôi.

       Ở Liên đoàn 2 Biệt Động Quân (Pleiku) tôi gặp Trung tá Nguyễn đức Ninh liên đoàn trưởng, Thiếu tá Phạm văn Toán liên đoàn phó, Đại úy Nguyễn văn Huân ban 3 và Trung úy Hồ khắc Đàm ban 2.  Những vị này đã bao bọc tôi sống lất lây cho qua thời mạt rệp.  Anh Huân dạy tôi nhiều thứ lắm, trong đó có món “kén vợ”.  Anh Huân giảng giải, “Con gái nó ghê lắm! Chú mày lớ ngớ không điều tra kỹ, cứ tin cái miệng ngọt xớt của chúng nó là chú mày chết!  Chưa tìm hiểu kỹ càng tông đường nhà nó, rước nó về.  Vài năm sau nó cưỡi lên cổ chú nó ‘nhong! nhong!’  Rồi nó đẻ cho chú một bầy con.  Nó đánh mắng con chú.  Đến lúc chú có cháu, nó đánh cháu chú.  Ba đời nhà chú nằm trong tay nó.  Hết đường cục cựa!”  Vì ảnh hưởng lời khuyên của huấn luyện viên Nguyễn văn Huân, gặp cô nào tôi cũng thủ thế, điều tra từ từ.  Gặp nhau, tôi cứ quan sát địch thủ mà không ra chiêu nào, thủ khẩu như bình.  Các cô thấy tôi ngồi nín khe lắng nghe, các cô cứ líu lo như chim vành khuyên.  Các cô phát thanh chán chê rồi ngồi chờ tôi nói.  Tôi chỉ toét miệng cười.  Gặp nhau vài lần, câu chuyện đổi trao vẫn loanh quanh nắng mưa, mưa nắng.  Hình như các cô chỉ chờ tôi nói nhỏ “Je t’aime” là các cô xỏ mũi tôi, lôi ra xe Jeep chở đi học để trình diện với bạn bè.  Các cô chờ tôi.  Tôi cứ đánh trống lảng.  Hai nhân vật ngồi nhìn nhau.  Nhìn nhau mãi bắt chán!  Thời gian qua đi vèo vèo.  Vì thế, tôi ở Pleiku đã ba năm rồi “mà lòng thì chưa hề yêu ai” (T.T.Thanh)  Trong lều, đôi bạn tâm sự.  Ngoài kia, gió rừng rít từng cơn.  Đêm đông, trong núi, lạnh kinh hồn.        Sáng N+2, sau khi làm chủ ngọn núi cao trên 1200 mét, tôi bố quân chờ bộ chỉ huy tiểu đoàn.  Mãi gần trưa liên đội B mới hoàn tất việc thay thế vị trí của liên đội A.  Đường tiến sang mục tiêu 2 không có gì khó đi.  Nhưng dấu vết địch dẫy đầy, toàn dấu mới.  Vừa đổ dốc được vài phút, Trung đội 3 đã chạm địch. Địch bắn trước, nhưng may mắn quân bạn không ai trúng đạn.  Nửa trung đội đi bên trái lại vớt được một tên VC, tịch thu một AK báng xếp.  Trung đội 3 của Thiếu úy Biện lại lập chiến công lần nữa!  Từ khi Thiếu úy Đặng hữu Duyên, trung đội trưởng Trung đội 1 thuyên chuyển khỏi đại đội này cách đây vài tháng, thì anh thiếu úy trẻ tuổi, đẹp trai, con nhà giàu Đinh quang Biện (khóa 25 TĐ) trở thành sĩ quan trung đội trưởng thâm niên nhất của đại đội tôi.  Thiếu úy Biện là trung đội trưởng duy nhất mà tôi dám cho đi “sô lô” một cánh riêng, xa hẳn ban chỉ huy đại đội trong những lần hành quân diều hâu quanh Pleiku.  Anh Biện là một sĩ quan rất can trường và bén nhạy lúc chạm trận.  Thêm vào đó, anh là người chỉ huy rất mát tay.  Mặc dù mỗi khi hành quân, Trung đội 3 thường chạm địch nhiều hơn các trung đội khác, nhưng cả năm nay chưa có người lính nào dưới quyền anh tử trận.  Kỳ này vào trận mới ba ngày, mà Trung đội 3 đã chạm địch ba lần.  Trên ve áo tên cán binh Việt Cộng mới bị giết có cái quân hàm bằng nỉ màu đỏ, hai sao vàng trên một gạch vàng.

Tên VC này là trung úy thủ trưởng của C17 Trinh Sát/E 24.  Tôi báo cáo tin này cho Hoàng Mai rồi chuyển gấp lên cho ông quyển sổ ghi danh sách toàn bộ Đại đội C17 Trinh Sát/ E 24 để phòng 2 quân đoàn cho người xuống lấy.  Tới tối, Hoàng Mai cho tôi biết kết quả khai thác tài liệu tịch thu được trưa nay xác nhận rằng, từ ngày vào vùng tới giờ đã có trên mười tên VC bị Đại đội 1/11 BĐQ loại ra ngoài vòng chiến.  Tiếc rằng sau mỗi lần chạm địch, tôi đã không chịu khó mở rộng vòng kiểm soát kết quả; vì vậy tôi tưởng chỉ có bốn tên địch bị giết trong ba lần chạm súng.

       Ngày N+3, tôi được lệnh tiến chiếm mục tiêu 3.  Mục tiêu 3 nằm về hướng bắc của chúng tôi.  Mục tiêu là cái khoanh tròn bao trùm một đỉnh núi có cao độ 1485 mét.  Tên ngọn núi này là Chư Pa.  Vì không rõ trên núi có nước hay không, cho chắc ăn, tôi ra lệnh mỗi người đem trên vai hai ngày cơm vắt cùng một bi đông nước dự trữ.  Quân tôi lên đường từ khi trời còn mờ sương.  Qua một cái thung lũng rất sâu chúng tôi bắt đầu leo.  Đường dốc đứng, đá xanh, cạnh sắc như dao.  Mỗi khi bản đồ ghi một vòng cao độ phình ra thì đó là một ngọn đồi.  Ngọn đồi nào cũng vĩ đại.  Cây rừng cao lắm, mà tàn lá thì đan nhau che kín ánh nắng mặt trời.  Địa thế hoàn toàn không đúng với bản đồ. Địa thế khác hẳn những chi tiết ghi trên bản đồ.  Khi băng ngang những dãy đồi kế tiếp nhau trên cao độ 1200 mét tôi cứ nơm nớp lo sợ bị tập kích bất ngờ.  Lối mòn chằng chịt, đầy dấu xe thồ, dấu giầy vải, dấu dép râu.  Đại đội tôi đi đơn độc.  Đại đội 3/11 còn nằm lại với bộ chỉ huy tiểu đoàn nơi chúng tôi đóng quân đêm trước.  Cánh B đã vào vùng hoạt động riêng của họ hướng tây nam. Tôi báo mọi tin tức thu lượm được về tiểu đoàn.  Tôi xin anh Đàm cho pháo binh Mỹ đánh tập trung trên những hỏa tập dự phòng hướng tây. Tới trưa thì chúng tôi vượt qua khu nguy hiểm.  Chúng tôi lên tới những vòng cao 1300. Lan rừng quệt trên nón sắt. Không thể ngờ rằng trên cao như thế mà trong rừng đầy khe, đầy suối.  Ban ngày mà răng chúng tôi đánh bò cạp, lạnh run. Phía trước có ánh sáng trên cao.  Sắp tới đỉnh núi! Một mảnh trời xanh xuất hiện từ từ.

       Chúng tôi chui khỏi rừng già, ra tới một vạt cỏ tranh.  Cỏ tranh vây quanh chân một tảng đá xanh.  Tảng đá xanh trước mặt tôi là đỉnh Chư Pa cao 1485 mét.  Tôi leo lên tảng đá để dễ bề quan sát địa thế. Bố quân xong, tôi dùng cái lưỡi lê M16 của Binh nhất Phạm công Cường khắc lên mặt đá những dòng chữ sau đây: TA LÀ VUA (dòng đầu), Trung Úy VƯƠNG MỘNG LONG (dòng thứ nhì), ĐĐT/ĐĐ1/TĐ11/BĐQ (dòng chót).  Thời 1966 mới tới Pleiku, tôi hay lang thang ở sân nhà thờ “nhìn” những con chiên dễ thương của Chúa đi dự lễ sáng Chủ Nhật.  Trong sân nhà thờ có bức tượng Chúa Kitô với dòng chữ “TA LÀ VUA” dưới chân ông.  Tôi mê dòng chữ đó quá. Từ đấy, trên những cái hộp quẹt ZIPPO của tôi, tôi đều thuê thợ khắc “TA LÀ VUA” ở một mặt. Mặt kia khắc cái đầu cọp và ba chữ tên tôi “VƯƠNG MỘNG LONG”.  Nay có dịp khắc tên mình lên đá, tôi cũng lặp lại những dòng chữ trên.  Cái đỉnh núi này chưa có ai đặt chân tới, tôi chinh phục được nó, tôi xác nhận chủ quyền của tôi đối với nó thì cũng là chuyện hợp lý thôi!  Những năm sau, tôi đã nhiều lần bay ngang qua đây, nhiều lần đóng quân trên đỉnh ngọn núi này.  Đầu năm 1971 tôi đã đổ bộ TĐ 4 Mike-Force của tôi xuống đỉnh Chư-Pa.  Chúng tôi xuống dốc, lục soát men theo bờ đông sông Pơ-Kô tới thác Yaly rồi tiến về trại Lệ-Khánh (Pơlei Kleng).  Lần chót, vào tháng 6/1973 tôi nằm năm ngày trên vị trí này để dễ liên lạc truyền tin với toán viễn thám của binh nhất Mok (Viễn Thám/ Phòng 2/BCH/BĐQ/ QK2).  Những dòng chữ tôi khắc trên đá vẫn còn đó.

 Chư Pa là một ngọn núi cao sừng sững án ngữ một vùng trời miền tây bắc Pleiku.  Trên bản đồ tỷ lệ 1 trên 50 nghìn thì Chư Pa nằm cách Plei M’rong hơn một gang tay về bên trái.  Đỉnh núi là một tảng đá hình khối chữ nhật, cao cỡ mười mét, dài và rộng cỡ hai chục mét.  Đứng trên tảng đá đó, tôi có thể húp từng ngụm mây vào đầy phổi; giơ tay tóm, vén từng sợi mây đang dập dềnh trước mặt; rồi có cảm tưởng mình gần với trời hơn là với đất. Dưới chân tôi, hướng đông bắc là thác Yaly, chính đông là hồ Ia-Lou và trại LLĐB Lý thái Lợi (Plei M’rong), xa hơn là Quốc lộ 14 vòng vèo quanh chân núi.  Trong tầm nhìn của tôi, đầu bắc Quốc lộ 14 là đồi Chư Pao.  Bên trái và xa hơn Chư-Pao là thành phố Kontum.  Cuối nam Quốc lộ 14 là đỉnh Dang Rơia (1478 mét).   Bên phải rặng núi này là Biển-Hồ (Pleiku), hậu cứ của Liên đoàn 2/BĐQ.  Hướng tây Chư Pa là dòng Sé-San. Giữa dòng Sé-San có một cồn cát và đá, cây cối xanh rì.  Bên kia sông, hướng tây-tây-bắc là hai đỉnh Cư Ki Tem Da và Cư Di Coi.  Đàng sau những rặng núi trùng điệp đó là biên giới tỉnh Ratanakiri, Cambot.

       Chính hai ngọn Chư Pa (1485 mét) và Cư Ki Tem Da (1528 mét) cao vòi vọi đã ép dòng sông Pơ-Kô vào giữa khiến nó dồn dòng chảy qua một khúc quẹo ngặt nghèo, rồi đổ xuống cái thung lũng xanh tươi vùng tây Plei Djereng.  Từ đây con sông Pơ-Kô mang tên mới là sông Sé-San thênh thang. Sé-San là đầu nguồn của sông Bé.  Mùa đông, hai ngọn núi Cư Ki Tem Da và Cư Di Coi mây xây thành trắng xóa. Đỉnh của hai ngọn núi này đoi, chỉ có cỏ tranh, không có cây xanh.  Buổi chiều, nắng chiếu ngược từ hướng tây, tạo nên một cái nền đỏ rực sau lưng hai ngọn núi, cho ta cái cảm tưởng hai đỉnh núi là hai cục than hồng, hừng hực cháy giữa không trung.  Mặt trời trên đường về quê hương Angkor đã để lại sau lưng nó những tia vàng lóng lánh.  Mùa khô Tây Nguyên, đứng trên đỉnh Chư Pa vào lúc chớm đêm, thật là khó phân biệt được đâu là trời, đâu là đất.  Ánh sáng lấp lánh, lập lòe trước mặt ta có thể là ánh sao trời, nhưng cũng có thể là ánh lửa từ nương rẫy đang cháy.  Đêm không trăng, trước mắt tôi là một không gian bồng bềnh.  Tôi lâng lâng trong ảo giác vertigo (chóng mặt).  Gió đuổi nhau từng cơn. Trong gió thoang thoảng hương lan rừng.  Tiếng thác rì rào có lúc nghe thật gần, có lúc nghe rất xa.  Thời gian qua chầm chậm, Chư Pa chìm từ từ xuống biển sương mông mênh.

       Sáng N+4 đại đội tôi xuống núi từ khi trời còn tối.  Chúng tôi về tới triền nam của Chư Pa vào lúc ban trưa.  Tôi dừng quân trên đoạn yên ngựa án ngữ con đường thồ độc đạo ngay đỉnh một cái dốc của vòng cao 900 mét.  Sau khi Hoàng Mai rời Đại đội 3/11 để theo cánh B thì Đại đội 3/11 nhổ neo đến với tôi.  Tới chiều N+4 thì Đại đội 3/11 bắt tay được Đại đội 1/11. Từ ngày mai, Đại đội 3/11 của Trung úy Quí sẽ giữ nhiệm vụ đi đầu.  Tôi báo cho Quí biết sự sai lệch giữa thực địa và bản đồ.  Để chắc ăn, Quí cho một trung đội của Đại đội 3/11 vượt qua Đại đội 1/11 đóng chốt cách tôi khoảng hai trăm mét về hướng tây.  Sáng mai, từ tiền đồn này, quân của Quí tiến vào mục tiêu 4. Mục tiêu 4 nằm dưới vòng cao 500 mét.  Theo dự trù, thì những ngày kế tiếp, cánh A sẽ đổ dốc, vòng qua mục tiêu 4 và 5 cho tới sát bờ Pơ-Kô thì quẹo trái để gặp cánh B nơi bờ sông có cái cồn cát lớn giữa dòng.

       Buổi tối N+4, sau khi bố quân, mấy anh trung đội trưởng đã cạn thuốc lá, mon men tới lều tôi vòi tí khói.  Lúc nào trong balô của Binh nhất Trung cũng sẵn hai cây Lucky dự trữ.  Tôi lấy thuốc lá ra phân phát cho mỗi chàng trung đội trưởng một bao.  Tôi đang chuẩn bị ăn cơm tối, nên tôi mời ba anh trung đội trưởng ăn cơm chung.  Sau hai ngày leo dốc cật lực, không khói lửa, chỉ ăn cơm vắt, bốn anh em tôi quất hết một nồi cơm và một chén thịt heo kho mắm ruốc.  Đêm nay ỷ vào vị trí đóng quân cheo leo, đàng sau có Đại đội 3/11 án ngữ, ba hướng khác đều có tiền đồn, anh em sĩ quan đại đội tôi mới dám tụ họp cùng nhau hơi lâu.  Từ sau Mậu-Thân, chiến trường càng ngày càng khốc liệt; những sĩ quan lớn tuổi đã theo nhau rời khỏi đơn vị tác chiến.  Hiện thời, chúng tôi là lớp sĩ quan trẻ nhất trong các thế hệ đã đi qua Tiểu đoàn 11/BĐQ này.  Cùng trang lứa, chúng tôi dễ hoà hợp và thông cảm nhau.  Chín mươi phần trăm sĩ quan của tiểu đoàn hiện nay còn độc thân.  Trong rừng, chúng tôi chiến đấu bên nhau.  Về hậu cứ, chúng tôi cũng không rời nhau.  Giàn sĩ quan trung đội trưởng của tiểu đoàn, dẫn đầu là những kiện tướng, trưởng thành từ khói lửa Mậu-Thân như Thiếu úy Đinh quang Biện (ĐĐ1/11), Thiếu úy Phan văn Hải (ĐĐ2/11), Thiếu úy Trần Cao Chánh (ĐĐ3/11) và Thiếu úy Trần ích Châu (ĐĐ4/11) là những mũi tên đột phá trong thế công, thành đồng trong thế thủ của chúng tôi thời gian này.  Trong rừng, chúng tôi là nỗi kinh hoàng của giặc Cộng, nhưng trong thành phố, chúng tôi thường xuyên là người thua trận, mỗi khi “đụng đầu” mấy ông già Napoléon, Hennessy, Martell, hay Johnny Đi Bộ (Walker).  Chuyện chúng tôi ngất ngưởng coi trời bằng vung, chuyện Biệt Động Quân say, tỉnh, tỉnh, say, chỉ là “chuyện thường ngày ở huyện”, không có gì là lạ.  Vì những ai đã từng vỗ ngực tự xưng “Ta là Biệt Động Quân” mà đời chưa từng kinh qua một lần “túy lúy càn khôn” thì đâu xứng danh là Biệt Động?(!)  Ở Pleiku, có những cái tên đã thành thân quen đối với chúng tôi như “Quán Nhớ”, “Quán Sương”, “Quán Thu Hà”, “Quán Kim Liên”, “Quán Tuyết Trắng”…

       Sau năm ngày đi đầu vất vả, ngày N+5 tôi cho thuộc cấp thoải mái, chuẩn bị cơm nước, hong giầy, hong vớ.  Đợi Đại đội 3/11 chiếm xong mục tiêu, tôi sẽ cho đơn vị từ từ di chuyển lên sau.  Anh em đơn vị tôi đang phì phà khói thuốc, nhấm nháp cà phê thì nghe tiếng AK nổ hướng tiến quân của đại đội bạn, phía cuối dốc.  Tôi không nghe tiếng Quí trả lời tôi trên máy tiểu đoàn.  Tôi và Thiếu úy Biện dẫn theo hai cái máy truyền tin đi về hướng đuôi Đại đội 3/11.  Tôi gặp Thiếu úy Thung, trung đội trưởng đoạn hậu của Đại đội 3/11.  Thiếu úy Thung mặt thất sắc, lắp bắp báo cho tôi một tin sét đánh, “Trung úy đại đội trưởng và Thiếu úy đại đội phó chết rồi!  Đại ca ơi!”  Tôi gạt Thung qua một bên.  Bốn thày trò tôi chạy thẳng xuống cuối dốc.  Tôi tới ban chỉ huy Đại đội 3/11 đúng vào lúc toán tản thương đang dìu một người máu me đầy mình đi tới.  Vừa thấy tôi, người bị thương đã khóc rống lên, “Thái Sơn ơi!  Thầy Quí, thầy Tâm chết rồi!”  Người đó là Hạ sĩ nhất Trần Quy.  Hạ sĩ Quy là thuộc cấp cũ của tôi ở Đại đội 3/TĐ11/BĐQ khi tiểu đoàn còn ở Đà-Nẵng, ngày tôi mới ra trường.  Những đồ đệ cũ của tôi ở Đại đội 3/11 đều được Trung úy Quí tin dùng.  Hạ sĩ Quy kể lại rằng, sáng nay trước khi lên đường, Trung úy Phan ngọc Quí đại đội trưởng và Thiếu úy Nguyễn hữu Tâm đại đội phó đã ra trước tiền đồn khoảng vài chục thước để quan sát hướng đi và so sánh sự khác biệt giữa bản đồ và thực địa.  Trinh sát VC đã nằm chờ sẵn nơi cuối dốc.  Cả hai sĩ quan và anh lính truyền tin đều bị bắn trúng sọ và ngực ngã xuống.  Riêng Hạ sĩ Quy, cận vệ của Trung úy Quí bị bắn gãy tay trái và một viên đạn vào ngực Quy chạy trối chết về tiền đồn kêu cứu.  Khi toán cứu viện ra tới nơi thì hai ông sĩ quan và anh hiệu thính viên đã chết.  Cái bản đồ hành quân, cặp lon trung úy của Quí và cái máy truyền tin đã bị địch cướp đi.  Tôi ra lệnh cho Thiếu úy Thung bố trí Đại đội 3/11 tại chỗ chờ lệnh.  Được tin báo của tôi, Hoàng Mai ngỡ ngàng, thở dài thườn thượt.  Sau khi trực thăng tải xác, tải thương cất cánh, tôi được lệnh hủy bỏ hai mục tiêu còn lại.  Liên đội A quay ngược trở về dốc 900. Đại đội 1/11 nằm lại tại dốc này qua đêm; riêng Đại đội 3/11 được lệnh di chuyển sang phòng thủ ngọn đồi nhỏ hướng tây nam, dưới chân dốc 900 để chuẩn bị bãi đáp cho bộ chỉ huy liên đoàn vào vùng.

       Sáng N+6 Trung tá (k11VB) Trịnh văn Bé liên đoàn phó và ban truyền tin liên đoàn xuống bãi thả trên đỉnh ngọn đồi cao 740 mét, dưới chân tôi.  Trung tá Bé thiết lập bộ chỉ huy nhẹ của liên đoàn ngay trên bãi đáp này.  Chiều đó, chúng tôi được tái tiếp tế.   Đêm N+6, Trung đội 2 của Chuẩn úy Danh trấn giữ tiền đồn dốc 900 trên cao.  Đại đội 3/11 và Đại đội 1/11 trừ (-) của tôi có nhiệm vụ bảo vệ bộ chỉ huy nhẹ của liên đoàn.  Tôi không rõ cánh quân B đang ở nơi nào.

      Khoảng 7 giờ sáng N+7 tiền đồn trên đỉnh 900 bị địch tấn công.  Địch nổ súng sau khi quân bạn đã tháo gỡ mìn bẫy phòng thủ.  Từ dưới chân đồi, chúng tôi thấy rất rõ khói B40 không ngừng bốc lên từng cụm sau những tiếng nổ “oành! oành!” liên tiếp nhau.  Tôi và hai Trung đội 1 và 3 chạy vội lên đồi để tiếp cứu cho đứa con đang bị đánh.  Thiếu úy Biện (Trung đội 3) đánh bọc bên trái, tôi và Thiếu úy Vi (Trung đội 1) đánh bọc bên phải.  Vừa ngóc đầu lên khỏi dốc, tiền quân của Vi đã bị thủ pháo VC chào đón nồng nhiệt.  Khói và bụi làm cho cặp kiếng cận của ông trung đội trưởng mờ mịt.  Trên đường, Vi phải ngừng chân lau kiếng nhiều lần.  Thủ pháo của VC tới tấp chọi vào khu những mô đá nhô ra bên hướng đông.  Thiếu úy Vi cho đàn em trả đũa bằng những quả M26.  Lợi dụng gió đang thổi theo chiều tây-đông, Vi “chơi” luôn hai trái lựu đạn khói cay bên hông phải ngọn đồi.  Cơn mưa thủ pháo chợt ngừng.  Trong lúc tôi và Trung đội 1 của Thiếu úy Vi đang cố vượt đoạn đường đầy gai mắc cỡ thì đạn B40 liên tục “xè! xè!” từ triền bắc, bay qua đầu chúng tôi, rơi xuống triền nam, nổ dưới thung lũng.  Quân của Chuẩn úy Danh đang reo hò “Sát! Sát!” trên cao.  Tôi bắt tay được với Trung sĩ nhất Khôi trung đội phó Trung đội 2 nơi đầu dốc.  Khẩu M60 của Binh nhất Trần Đợi đã ròn rã nổ, kiểm soát con đường voi thồ hướng bắc, dưới chân dốc. 

       Trong lúc tôi bận tiếp tay một tân binh chuyền thùng đạn đại liên cho xạ thủ thì một quả B40 bay sượt đầu thằng Đợi, trúng tảng đá trên đỉnh.  Trái đạn nổ gây một đợt mưa đá bụi trên đầu những người núp quanh chân tảng đá.  Phút sau, bên trái tôi có tiếng khóc thút thít, “Trung úy ơi! Em bị thương!”  Một Biệt Động Quân đang ôm mông, nằm nghiêng sau bụi dương xỉ, mặt người đó tái mét.  Người lính quay về phía tôi chờ đợi.  Uả! Ai mà giống như thằng Hồng, một tân binh?  Tôi trườn nhanh tới bên người lính.  Đúng nó rồi!  Binh nhì Lê văn Hồng, mười tám tuổi.  Thằng Hồng là em của cô Lê kim Cương ở Chợ Mới, Pleiku.  Cô Lê kim Cương, nữ sinh trung học Minh-Đức là bồ của một thằng bạn tôi ở bộ chỉ huy Liên đoàn 2/BĐQ.  Tôi nghĩ có lẽ thằng Hồng bị thương nặng.  Phải mất nhiều máu lắm mặt nó mới xanh như vậy.  Tội nghiệp thằng bé, mới ra trận lần đầu!  “Đạn trúng chỗ nào đâu?  Đưa anh coi!  Anh băng bó cho chú!”  Thằng Hồng vừa sụt sịt vừa ôm mông,  “Chỗ này! Máu ra ướt đẫm cả quần em!  Trung úy ơi!  Trung úy cứu em!”  Tôi lật mông nó ra coi.  Trời ơi!  Mông nó ướt đẫm!  Nhưng không phải ướt vì máu!  Nước chảy từ cái bi đông bị đạn làm cả nửa người bên trái thằng Hồng ướt đẫm!  Tôi mừng quá, đẩy nó sang một bên, “Ê! Cái đồ chết nhát!  Cái bi đông bị thương chứ nhỏ có bị thương đâu!  Mắc cỡ!  Đừng nằm vạ nữa!  Nhào lên đi!”  Thằng Hồng đỏ mặt lồm cồm bò dậy, lủi lên hướng ông Trung sĩ Khôi trung đội phó.  Hướng Trung đội 3 đang tiến, đạn nổ rền trời.        Giữa ba tảng đá nơi đỉnh đồi là cái lều của trung đội trưởng.  Ông trung đội trưởng bị thương nằm một mình trong lều rên hừ hừ.  Anh y tá của trung đội còn đang bận bóp cò M16 chống giặc ngoài hố cá nhân.  Tôi thấy Chuẩn úy Danh đang tay trái ôm hạ bộ, tay phải ôm vai trái, mặt mày nhăn nhó vì đau. 

Áo quần của người sĩ quan trẻ đầy vết máu.  Tôi ra dấu cho Trung sĩ Đức, y tá đại đội vào lều chăm sóc cho Danh.  Tôi nhảy ba bước tới triền đồi hướng bắc.  Trên mặt đất đầy những lỗ lõm như bàn tay, cỏ cháy nám đen, đó là dấu thủ pháo vừa để lại sau khi nổ.  Trung đội 3 của Thiếu úy Biện đã lập xong tuyến phòng ngự bên trái.  Những cái hố cá nhân đang hình thành.  “Vừa đánh vừa đào” là phương châm của đại đội tôi.  Những trái lựu đạn M26 được thả theo đuôi nhau lăn từ trên dốc xuống triền núi.  “Ùm! Ùm!” khói đen cuồn cuộn.  Chợt dưới chân dốc, hai ba hỏa châu phụt lên trời, đấy là những hỏa châu đỏ giựt bằng tay của VC.  Rồi tiếng súng của địch thưa dần, xa dần về hướng tây bắc.  Tôi nhận biết ngay rằng hỏa châu đỏ là hiệu lệnh rút lui của chúng!  Sau đó, tiếng súng của ta cũng im theo.

      Trận đánh nhanh như chớp.  Đây là một cú đột kích rồi rút chạy của địch.  Tôi không xin pháo binh.  Rừng núi bao la, biết chúng nó rút đi đâu mà gọi pháo binh?  Tôi cũng chẳng thèm ra lệnh truy kích.  Nếu tôi dẫn quân đi mà để trống cái tiền đồn này thì nguy hiểm lắm.  Chỉ cỡ hai đại đội địch chiếm được cao điểm này thì dưới kia, bộ chỉ huy liên đoàn chết tươi.  Trung đội 1 lục soát xa dưới triền dốc chỉ tìm được một khẩu B40 và một số thủ pháo.  Vết máu rơi rớt đầy mặt đất nhưng không có xác thằng VC nào bị bỏ lại.  Tôi chui vào lều thăm Chuẩn úy Danh.  Tôi hỏi nhỏ Trung sĩ Đức, “Nặng không?”  Người y tá đại đội nhanh miệng, “Trình trung úy, máu me tùm lum nhưng vết thương không nặng lắm đâu!  Toàn miểng B 40 không à!”  Thấy Danh đang ôm hạ bộ nhăn nhó, tôi hỏi Đức, “Thế cái ‘của qúy’ của chú ấy có còn không?”  “Dạ còn! Chuẩn úy cứ sợ đạn hớt cái đó mất tiêu nên ổng bắt em khám cái đó trước tiên.  Khi nhìn thấy của quý còn nguyên vẹn ổng mới yên tâm cho em băng bó chỗ khác.”  Tôi mồi cho Danh điếu Lucky và dúi vào tay người đàn em tờ giấy năm trăm, “Cái này là của anh cho, để cầm hơi khi xa đơn vị.  Khi tiêu hết tiền thì nói ông Trung sĩ Em (tiếp liệu) ứng trước cho, cuối tháng trừ vào lương” Danh cầm tay tôi bịn rịn rồi chào tôi, lên cáng xuống bãi tản thương. 

       Tôi đi quanh vị trí đóng quân của Trung đội 2, kiểm lại số chiến lợi phẩm khiêm nhường mới thu được.  Trung tá Bé đã vào máy theo dõi diễn tiến trận đánh từ phút khởi đầu.  Ông liên đoàn phó cho lệnh tôi giữ nguyên Đại đội 1/11/BĐQ trấn giữ cao điểm này.  Ông căn dặn tôi giăng mìn bẫy phòng thủ cẩn thận vì tin A 2 cho biết địch đang chuẩn bị đánh lớn tối nay.  Mờ sáng N+8 Trung tá liên đoàn phó cho lệnh tôi không cần tháo gỡ mìn bẫy phòng thủ nhưng rút quân thật nhanh xuống với bộ chỉ huy liên đoàn. Trung tá Bé gọi tôi vào lều của bộ chỉ huy liên đoàn để gặp riêng.  Ông nói nhỏ, “Đúng 8 giờ 6 phút 12 giây, B 52 sẽ đánh rất gần đây. Cỡ 8 giờ chú cho anh em ngồi trên miệng hố, xoay lưng về hướng đông.  Bom nổ, chấn động sẽ tới từ sau lưng.  Tránh núp dưới hầm hố. Khi bom nổ áp suất không khí dưới hố sẽ tăng cao, nguy hiểm.”  Tôi nghe lệnh và thi hành thật nghiêm chỉnh. Khoảng hơn 8 giờ sáng hôm đó tôi nghe từ trên trời cao những tiếng chim lạ gọi nhau “ủn! ủn!…ủn! ủn!” âm thanh lạ xé gió dội tới từng đợt nối tiếp.  Sau đó là tiếng “bùng! bùng!… bùng! bùng!” ba đợt nổ rền, mỗi đợt cách nhau chừng vài chục giây đồng hồ.  Tai tôi bị sức ép không khí làm căng màng nhĩ.  Mạch máu đầu tôi như căng lên. Ngực tôi bị ép hơi nghẹt thở.  Những cái poncho rung phần phật. Một vài cái lều bị đứt giây. Mấy cái võng không người nằm bị sức bom đẩy chao qua chao lại.  Ít phút sau tình hình trở lại bình thường.  Trên trời có 3 vệt khói phản lực trắng xóa, 3 cánh B52 sáng như bạc đang quẹo chữ “U” về đông. 

       B52 vừa đánh xong, chúng tôi lại được lệnh chạy ngược lên ngọn tiền đồn.  Dưới thung lũng hướng đông bắc, khói và bụi đỏ bốc cao.  Bụi lùa trong rừng cây.  Mưa bụi đỏ phủ trùm một vùng rừng bát ngát.  Lều bạt, đá núi, mặt đường đều được phun lên trên một lớp bụi đỏ dầy.  Mặt mũi, áo quần chúng tôi cũng đầy bụi đất.  Box B52 nằm ngay dưới chân Chư Pa nhưng tôi chờ hoài không thấy lệnh đi lục soát.  Chúng tôi ôm súng ngồi bên hố cá nhân.   Người này ngó người kia.  Chúng tôi hút thuốc đốt thời giờ.  Thời gian qua thật chậm. Chúng tôi ngồi im lặng nghe ngóng. Chỉ có tiếng gió lùa, tiếng cây cọ vào nhau kẽo kẹt. Không có lệnh gì cả.  Suốt ngày hôm đó không có lệnh gì cả.  Bên cánh B, liên lạc truyền tin cũng im lặng như tờ.   Nửa đêm, Trung tá Bé cho tôi biết sáng hôm sau bộ chỉ huy nhẹ của liên đoàn sẽ di chuyển, đại đội tôi được trả lại cho tiểu đoàn.

      Trời vừa tan sương mù, ngày N+9 chiếc HU1D Hoa Kỳ đầu tiên đã loạng quạng chặt vào cây lúc hạ cánh.  Chiếc tàu bổ nhào xuống bãi.  May mắn tàu không bốc cháy.   Phi hành đoàn vô sự.  Chiếc tàu thứ nhì được gởi xuống để rescue phi hành đoàn của chiếc tàu vừa rơi đã không xuống được.   Nó đang bay vòng vòng chờ trên trời. Ghunships hộ tống rà sát ngọn cây.  Những xạ thủ trực thăng võ trang đã nhận ra chúng tôi đang nằm trên núi, họ quơ tay vẫy.    Trung tá Bé cho lệnh một trung đội của Đại đội 3/11 hè nhau đẩy chiếc HU1D hư xuống triền đồi để dọn bãi trống cho những chiếc khác xuống bốc quân.  Đến gần hai giờ chiều thì bộ chỉ huy liên đoàn ra khỏi vùng.  Liên đội A được lệnh di chuyển theo hướng tây về phía bờ sông.  Tôi cho Đại đội 3/11 đi trước, Đại đội 1/11 giữ nhiệm vụ đoạn hậu.  Chúng tôi đốt chiếc trực thăng hư lúc trung đội chót rời bãi đáp.  Khi chúng tôi còn cách bộ chỉ huy tiểu đoàn chừng hơn một cây số thì Đại đội 3/11 được lệnh tách ra, nhập với một cánh quân của liên đội B để bảo vệ bộ chỉ huy tiểu đoàn.  Chiều đó đại đội tôi dừng quân trên một bình nguyên thoai thoải, cách bờ Pơ-Kô chừng bốn cây số.  Cánh B nằm về hướng tây bắc của tôi, bộ chỉ huy tiểu đoàn và Đại đội 3/11/BĐQ nằm về hướng tây của tôi.  Đêm trôi qua một cách thật yên tĩnh, không có pháo quấy rối, không có hỏa châu, hoả long. 

       Sáng N+10, vừng dương vừa lên, hướng bờ sông có tiếng súng nổ.  Tiếng mìn, lựu đạn, đại liên, trung liên, súng tay, súng cối, âm vang vách núi dội ra ầm ầm hỗn độn. Đại bác Hoa- Kỳ từ hướng đông và nam không ngừng bắn yểm trợ cho quân ta.  Hai Đại đội 2&4 đang bị địch tấn công ác liệt.  Bộ chỉ huy tiểu đoàn và Đại đội 3/11 nằm trên một ngọn đồi nhỏ, chừng hai trăm mét về hướng nam liên đội B nhưng vẫn còn bình yên.  Hiện thời toàn bộ Tiểu đoàn 11/BĐQ có mặt trong vùng này. Đại đội tôi ở xa nhất cũng chỉ cách liên đội B chưa tới hai cây số. Hoàng Mai đang liên lạc với L19. Máy bay Hoa-Kỳ đã có trên vùng và bắt đầu đánh bom trên con suối hướng bắc cánh B.  Tôi cho đơn vị cuốn lều, gọn ghẽ, chuẩn bị chờ lệnh tiểu đoàn trưởng.  Tôi chợt nghe người hiệu thính của Đại đội 4/11 kêu cứu, “Tụi nó (VC) đang lên ào ào.  Thẩm quyền Kỳ Sơn bị thương rồi.  Thẩm quyền Lam Sơn nói nếu không có cứu viện thì ổng tự tử!”  Kỳ Sơn là Thiếu úy Lũy (ĐĐT2/11), Lam Sơn là Trung úy Lạn (ĐĐT4/11) Tôi bàng hoàng, “Như vậy là liên đội B bể tới nơi rồi! Họ đang chờ cứu viện.” 

       Không đợi lệnh của tiểu đoàn trưởng, tôi cho đại đội cấp tốc lên đường.  Trung úy Nguyễn Lạn là bạn cùng khóa 20 VB với tôi.  Tôi nghĩ thầm, nếu chậm chân, có thể tôi sẽ không bao giờ còn trông thấy người bạn thân của mình nữa.  Quá nóng lòng vì bạn, tôi cho đại đội hàng một, cắm đầu chạy về hướng súng nổ, bất kể chiến thuật chiến lược gì ráo trọi.  Để trấn an quân bạn, tôi chụp cái ống nghe, phát thanh bổng, “Cố lên chút xíu! Có Thái Sơn tới cứu!” Nghe được tiếng tôi trên máy, người hiệu thính của Đại đội 4/11 mừng rỡ gọi, “Thái Sơn lên mau đi!  Cứu tụi em với!”  Tôi vội trả lời, “Thái Sơn tới ngay! Sắp tới rồi!”  Tôi ra lệnh cho Binh nhì Nguyễn Nhường, hiệu thính viên truyền tin của tôi cứ lặp đi, lặp lại câu, “Đại đội 1 đây! Đại đội 1 đây!” suốt thời gian chúng tôi trên đường tìm tới vùng có giao tranh.

       Xuống khỏi ngọn đồi đóng quân đêm, chúng tôi vừa chạy, vừa tác xạ hai bên con đường thồ dẫn về hướng liên đội B.  Cũng may, trên đường tiến, chúng tôi không gặp lực lượng chặn viện nào của VC.  Không bao lâu sau, tiền quân của tôi đã tới chân ngọn đồi đóng quân của bộ chỉ huy tiểu đoàn.  Từ đây tôi có thể quan sát rõ ràng địa thế chiến trường trước mặt.  Ngọn đồi mà liên đội B đang cố thủ rất rậm rạp, nhưng xung quanh nó lại rất trống trải.  Từ xa, tôi có thể nhìn thấy cái chỏm xanh của ngọn đồi tre nứa đó nổi bật giữa vùng đá đen xen kẽ cỏ tranh và cỏ hôi.  Giờ này từ cái chỏm xanh đó đang bốc lên từng cột bụi, khói mịt mù.  Những trái đạn cối toé lửa khi nổ trên nhánh cây, những cánh B40 phụt khói khi chạm đất. Đạn lửa của địch từ ba hướng, bắc, đông bắc, và tây bắc đồng quy trên chòm cây xanh đó.  Vũ khí bắn thẳng của địch đa phần là thượng liên nồi RPD.  Tôi không nghe tiếng 12,7 ly và đại bác 57 ly; trong khi tiếng đạn cối thì nổ “ùm! ùm!” liên lục không ngừng. 

       Tôi quyết định không vội bắt tay với cánh B.  Tôi sẽ mở một mũi tấn công giải tỏa áp lực địch từ bên trái.  Chúng tôi dàn hai hàng ngang tiến sát chân đồi.  Miệng la, “Đại đội 1 đây!”  “Biệt động! Sát!”  “Đại đội 1 đây!”  “Biệt động! Sát!” chúng tôi vừa bắn vừa tiến lên triền núi bên trái khu rừng nứa.  Trung đội 3 tiến như vũ bão lên đỉnh trọc bên trái khu giao tranh để lập đầu cầu.  Khẩu M60 tăng cường cho Trung đội 3 bắt đầu khạc đạn.  Tất cả các loại súng bắn thẳng đều tác xạ về hướng 45 độ để cản đường tiến của địch.  Việt-Cộng biết viện binh của BĐQ đã tới, nên chúng gia tăng cường độ tấn công, mong sớm dứt điểm hai đơn vị BĐQ đã bị thiệt hại nặng.  Những khẩu cối của địch bắt đầu chuyển hướng, nhắm vào tuyến dàn quân của đại đội tôi.  Chúng tôi lại tiếp tục câu châm ngôn “vừa đánh vừa đào”.  Tôi không dám cho quân vượt qua đỉnh đồi.  Vì nếu liên đội B bị tràn ngập thì tôi hết đường lui.  Tôi cho Trung đội 1 an ninh mặt sau, phòng hờ trường hợp địch vận động đánh bọc hậu.  Tôi ra lệnh cho Trung sĩ Tánh, trung đội trưởng súng nặng xoay khẩu cối 60 ly của Binh nhì Ngẫu bắn cận phòng một vòng cung ngay chân đồi, hướng trước mặt.  Đạn cối 60 ly nổ “ùm! ùm!” ngay dưới dốc.  Địch đang xung phong lên tuyến phòng ngự của liên đội B.  Những tiếng thét man rợ “Xung phong!  Xung phong!”  dội vào vách núi, vang vang. 

       Từ trên đỉnh ngọn đồi trống, tôi có thể quan sát bao quát hết khu thung lũng hướng bắc cánh B.  Tôi thấy rõ từng đợt người từ thung lũng chạy lên dốc; những thân hình tưng lên, rũ xuống vì trúng đạn.  Tôi xin anh Đàm dồn hết hỏa lực không quân yểm trợ tiếp cận vào khu lòng chảo nằm giữa dãy đồi móng ngựa.  Tôi điều chỉnh Cobra đánh sát triền núi hướng bắc để giải tỏa áp lực của VC.  Những tràng đạn 40 ly từ Cobra trải xuống như pháo dây đã chặn đứng đợt biển người sau cùng của địch quân.  Hơn nửa giờ sau tôi kiểm soát được phần tây bắc của ngọn đồi.  Việt-Cộng đã tổn thất rất nặng.  Nơi triền dốc trước mặt tôi, máu địch ngập mặt đất, đọng thành vũng.  Băng cứu thương bay phất phới, vướng vào những bụi nứa và dương xỉ như những dải lụa trắng, lụa đỏ.  Dưới thung lũng có ít nhất ba vị trí súng cối 61 ly đặt cách nhau chỉ vài mét.  (Súng cối của ta nòng 60 ly, lá thuốc bồi hình vuông; súng cối của địch nòng 61 ly, lá thuốc bồi hình vành khăn hở). 

       Trong trận này, VC đã bắn cối 61 ly không cần thuốc bồi (bồi 0) vì khoảng cách từ súng tới liên đội B chưa đầy hai trăm thước.  Những khoanh thuốc bồi cối 61 không dùng tới bị vứt đầy mặt đất.  Hai khẩu RPD bị bắn gãy nát nằm cạnh một bàn tiếp hậu cối 61 cong queo vì trúng rocket của trực thăng võ trang. Gần chục khẩu súng cá nhân của VC bị bỏ lại trên trận địa, khẩu nào cũng bị gãy vì trúng đủ loại đạn. Rải rác trên mặt đất, cả chục xác địch chưa kịp đem đi.  Trên cổ vài tử thi VC có cột một sợi dây dù dài.  Đây cũng là cách chúng di chuyển xác trong trường hợp khẩn cấp.  Tuyến xung phong của VC trải rộng từ triền đông sang triền tây của ngọn đồi cỏ hôi, nứa tép.  Chiều dài này đòi hỏi lực lượng tham gia tấn kích phải có quân số trên dưới một tiểu đoàn.  Như vậy chúng phải có ít nhất một tiểu đoàn trừ bị đàng sau.  Khi áp lực địch hướng tây bắc được giải tỏa, thì Trung úy Nguyễn Lạn bình tĩnh trở lại.  Anh xin tôi bung xa vòng kiểm soát về bắc để anh an tâm chấn chỉnh lại quân số.  Tôi cho Trung đội 2 bung rộng về bên phải bắt tay với cánh trái của Đại đội 2/11.  Thiếu úy Trần Lũy ra tới bìa rừng để gặp tôi.  Anh Lũy bị thương tay trái. Anh Lũy báo cho tôi biết rằng liên đội B bị thiệt hại khá nặng.  Số tử thương không bao nhiêu, nhưng bị thương thì nhiều lắm.

       Bom Mỹ đánh sát bìa suối hướng bắc và chuyển ra xa dần.  Cobra đang vần vũ trên cao.  Đại úy Đàm ra lệnh cho tôi tiến theo từng đợt bắn của Cobra để truy kích địch.  Đội hình một hàng ngang, đại đội tôi tiến rất thận trọng.  Thấy tôi không đủ quân để kiểm soát một vùng rộng lớn, đại úy tiểu đoàn trưởng ra lệnh cho Trung úy Nguyễn Lạn phải tiến lên truy kích địch phụ với tôi.  Vì Đại đội 4/11 đã thiệt hại nhiều, nên tôi cáng đáng phần nặng đi đầu.  Tôi cho quân của anh Lạn theo sau.  Đại đội 4/11 của Trung úy Lạn quân số còn quá ít, coi như bất khiển dụng rồi.  Quay đầu nhìn lại, tôi thấy anh bạn cùng khóa của tôi đi thất thểu như người mất hồn.  Truy kích địch trong tình trạng này quả là một sự mạo hiểm.  Chúng tôi bị lọt thỏm trong một thung lũng lác đác nứa tép xen với những cây cọ non.  Không có gì để che dấu, ẩn nấp.  Hai bên trục tiến của chúng tôi là đồi cao.  Hông trái, hông phải của chúng tôi bỏ trống.  Tôi có cảm tưởng như mình có thể bị lãnh đạn, chết bất cứ lúc nào.  Trong khi đó, dưới chân tôi, đầy rêu trơn trượt; chúng tôi bị té oành oạch mỗi khi chạy nhanh quá đà.  Tiến nhanh thì vướng rêu trơn té ngã.  Tiến chậm thì làm mục tiêu cho địch bắn.  Hỏa lực trì hoãn chiến của VC rất ác liệt.  Cộng quân bố trí thượng liên RPD xen kẽ B41 dưới khe, từng cụm, cách nhau vài chục mét.  Chúng chỉ khai hỏa khi ta lọt vào xạ trường mà chúng đã dự trù.  Cung cách tác chiến của địch cho ta thấy đây là một đơn vị rất thiện chiến.  Đạn RPD không đan nhau mà quét đều như vãi lúa trước mặt đoàn quân đang tiến tới.  Mí mắt tôi chợt giựt lia lịa, linh tính nhạy bén của tôi đang cảnh báo cho tôi một tai biến đang chờ.  Rất có thể địch đang nhử đơn vị tôi đi sâu vào khu lòng chảo trước mặt để chúng vận động đánh úp.

Tôi quyết định cho đơn vị tạm dừng.  Tôi xin đại úy tiểu đoàn trưởng cho Đại đội 3/11 xuống tiếp tay, để tôi rảnh rang đánh bọc hông bên trái.  Ngọn đồi đá đen bên trái trục tiến quân là mối đe dọa lớn cho đoàn quân đang di chuyển trong cái thung lũng trống trải dưới này.  Vài phút sau, tôi nghe tiếng Trung úy Hồ Bé (ban 3) báo cho tôi biết rằng anh và Đại đội 3/11 đang xuống đồi.  Trung úy Hồ Bé (k18 Thủ Đức) nguyên là đại đội trưởng 2/11.  Anh vừa bàn giao đại đội cho Thiếu úy Lũy để về bộ chỉ huy làm ban 3 thay Trung úy Phạm văn Lương đã thuyên chuyển.  Tôi không rõ đại úy tiểu đoàn phó Lê văn Để (k16 Thủ Đức) có đi hành quân kỳ này hay không mà từ ngày đầu cho tới giờ, tôi không nghe Hoàng Yến lên máy (Hoàng Yến là danh xưng truyền tin của Đại úy Lê văn Để) Như vậy là bốn đại đội tác chiến đều lên tuyến đầu, nhưng bộ chỉ huy tiểu đoàn vẫn ở lại ngọn đồi cũ.  Liên đoàn đã cho Đại đội 3/TĐ 22/ BĐQ của Trung úy Quách hồng Quang đang hoạt động vùng hướng nam, tới bảo vệ bộ chỉ huy TĐ11/BĐQ để Đại úy Đàm và cố vấn Mỹ có thể bình tâm điều chỉnh máy bay yểm trợ cho chúng tôi.

       Trong lúc máy bay bắn phá thì Đại đội 3/11 di chuyển lên thay thế Đại đội 4/11.  Quân số của Đại đội 3/11 vẫn còn đầy đủ.  Tôi nhờ Trung úy Bé cho đơn vị chiếm dãy đồi cao bên phải trục tiến quân, rồi cho đơn vị bắn liên tục về phía trước để thu hút sự chú ý của địch quân.  Yên trí có quân bạn bảo vệ cạnh sườn, tôi cho Đại đội 1/11 xung phong lên khu đất cao bên hướng tây.  Một đơn vị địch đang án binh chờ chúng tôi trên rặng đồi đá đen này.  Khi đại đội tôi vừa áp sát bìa rừng thì vấp phải một hàng rào lửa AK và B40 dày dặc. Giờ đây muốn sống còn, chúng tôi chỉ có một con đường độc nhất là ào lên chiếm cho được cái đỉnh móng ngựa này.  Dưới chân tôi toàn là đá cuội lởm chởm, vô phương moi hầm hố để bám đất.  Chúng tôi đành nương núp sau những gốc cọ, quần thảo với kẻ thù.  Sau mỗi mô mối là một tổ đề kháng của VC, với hai AK và một B40. “Xẹt!” “Xẹt!” “Oành!” “Oành!”  Quanh tôi, lửa chóa liên tục.  Hai cái cần ăng ten máy truyền tin của tôi là mục tiêu thu hút những cánh đạn B40, B41.  Tôi và hai anh hiệu thính viên phải thay đổi vị trí liền liền.  Không ai dám bám trụ một chỗ trong thời gian lâu quá vài phút.  Trong rừng, bóng người di chuyển, thoáng ẩn, thoáng hiện, như bóng ma.  Đại đội 1/11BĐQ đang ăn thua đủ với một địch thủ “ngang cơ” trong một địa thế lạ.  Không quân Mỹ bó tay, súng cối của Việt Cộng cũng bó tay, vì lúc này bạn và địch đang xen kẽ nhau trong rừng rậm. Trận đấu trở nên quyết liệt.  M16 chọi với AK 47, AK 66.  Lựu đạn M26 chọi với thủ pháo. M26 công phá mạnh hơn thủ pháo, nhưng bù lại, Việt Cộng có B40, B41. 

       Trong rừng cọ, Biệt Động Quân và Việt Cộng đã say khói súng, đánh vùi.  Cây, cỏ, đá, gò làm giảm phần hữu hiệu của vũ khí bắn thẳng.  Trong cuộc đọ sức giành giựt ngọn đồi này, lựu đạn M26 trở thành đáng sợ nhất.  Khéo léo thảy một trái M26, làm sao cho nó nổ ngay khi rơi sau một mô mối là ta chắc chắn loại được một mắt lưới chính của hệ thống phối hợp hỏa lực của địch quân.  Chúng tôi liên tục chuyển đổi vị trí ẩn nấp tác chiến, rồi thận trọng tiến lên.  Đây là một cuộc so tài đòi hỏi đấu thủ phải có đủ những đức tính kiên trì, bén nhạy và lanh lẹ.  Dần dà, trên đấu trường, lựu đạn M26 và M16 đã chiếm ưu thế, lấn lướt, dồn AK và B40 lui dần về hướng bờ suối.  Tôi cho Trung đội 1 lên thay cho Trung đội 3, tiếp tục dồn ép Cộng quân xuống khe.  Trung đội 2 được lệnh nép sát bìa rừng rồi đánh bọc ngang hông phải của địch.  Giờ này khu cuối đồi, đạn nổ ầm ầm và khói bay khét lẹt.  Cái đuôi ngọn đồi đá đen quả là khúc xương khó nuốt.  Một cái hầm hàm ếch đã được địch moi giữa mô mối và hai gốc cọ.  Tổ kháng cự của VC trụ ở đây đánh dai như đỉa đói.  Ẩn mình sau một gốc cọ sát bìa rừng, ông Hạ sĩ nhất Mãng đang chuẩn bị 10 quả M79 đạn nổ.  Xạ trường trước mặt ông hoàn toàn trống trải.  Ông Mãng tì súng lên vai.  Ông nhắm bắn từng quả đạn vào thân hai cây cọ.  Ông hạ sĩ người Nùng (Voòng A Mãng) của Trung đội 2 không hổ danh là một xạ thủ M79 “thần sầu”.  Mười quả đạn nổ của ông không nhắm vào thằng VC nào, nhưng khi đạn trúng thân cọ, đạn nổ, mảnh đạn đã chụp xuống cái cửa hầm hàm ếch, người ngồi trong hầm hết ngáp!  Khi biết chắc chắn bọn cảm tử VC cản đường đã chết, Trung đội 2 mới dám chui ra chiếm giữ bãi cỏ cuối đồi.  Nơi đây máu tươi loang từng cụm và ướt đẫm từng vạt tranh.

       Sau khi tôi chiếm được khu rừng lá cọ hướng tây thì cường độ hỏa lực của địch giảm thấy rõ.  Bên kia thung lũng, quân của Trung úy Hồ Bé cũng đang tiến lên cái dốc đông của dãy đồi móng ngựa.  Chúng tôi vừa tác xạ vừa lấn xuống triền bắc của ngọn đồi.  Tới khu cỏ lau trên bờ nam của con suối, tôi báo cho đại úy tiểu đoàn trưởng biết rằng trước mắt tôi, bên kia suối là rừng già, vào đó không có lợi và rất nguy hiểm.  Từ hướng rừng rậm trước mặt, bên bờ bắc, có tiếng “lép! bép!” do lửa cháy, xen lẫn tiếng nổ “bùng! bùng!” từng chặp.  Máy bay L19 báo cáo rằng kho đạn VC đang nổ.  Tiếng Hoàng Mai trong máy ra lệnh, “Thái Sơn cho kiểm chứng vụ kho đạn địch nổ xem sao!”  Tôi chưa kịp trả lời thì Binh nhì Nguyễn Nhường truyền tin đã xô tôi một cái thật bất ngờ.

       Tôi té ngã nghiêng trên mặt đất.  Một tràng RPD xé màng tai. Đạn bay chiu chíu sát trên mình tôi.  Tiếp theo là tiếng B40 và AK nổ ầm ầm ngay bờ suối.  Tôi nằm chịu trận sau một mô đá.  Bên cạnh tôi, Binh nhì Nguyễn Nhường đang ngáp ngáp.  Tôi hét lớn, “M79 đạn chài! M79 đạn chài!”  Những xạ thủ M79 phản ứng rất nhanh.  Sau một loạt, “Pinh! Pinh! Pinh!” tiếng súng bên kia suối của VC im hơi.  Tôi nhỏm dậy phất tay cho trung đội của Thiếu úy Vi hàng ngang qua suối chiếm đầu cầu.  Tôi cúi xuống đỡ thằng Nhường ngồi dậy.  Ngực nó đầy máu.  Nó thều thào, ngắt quãng, “Trung…úy!  Trung..úy! …Nhắn…với…Quyên và…con em…rằng…em không về!  …Nói…với…Quyên và …con em…rằng …em thương…em thương…Quyên và con lắm!… Thôi!…  Em…  đi!…”  Rồi nó nấc lên, mắt nó trợn trắng, đứng tròng.  Người hiệu thính truyền tin đại đội của tôi đã chết.  Tôi đặt thằng Nhường xuống đất.  Vuốt mắt cho người đồ đệ xong, tôi cùng Trung đội 3 của Thiếu úy Biện tiếp tục theo chân Trung đội 1. 

       Trên bờ suối bên kia chỉ còn 2 khẩu AK47 vấy máu cùng vài cái hoa chuối B41 chưa kịp bắn nằm dưới chân một tảng đá. Máu me trải dài trên lối mòn lên dốc.  Vừa lúc đó đại úy tiểu đoàn trưởng cho lệnh tôi lui về ngọn đồi mà liên đội B đã đóng ngày hôm trước để dọn bãi cho trực thăng tới tải thương.  Tôi nhờ Đại đội 3/11 giữ an ninh xa.  Đại đội 2/11 tải thương xong thì hết sĩ quan, vì Thiếu úy Trần Lũy bị thương; Thiếu úy Phan văn Hải, trung đội trưởng kiêm đại đội phó 2/11 bị sốt rét cũng đã rời vùng.  Tải thương xong, đại úy tiểu đoàn trưởng cho liên đội B lui về đóng quân với bộ chỉ huy tiểu đoàn; liên đội A nằm lại trên chiến địa.  Buổi chiều, tôi phải tự làm lều, căng võng cho mình.  Người mang đồ ngủ cho tôi, Binh nhất Trung, bị thương bể xương hông, đã lên trực thăng.  Đêm đông lạnh, nơi đầu võng của tôi chỉ còn hình dáng tròn ủng của Binh nhất Trần Ty, ngồi trực máy truyền tin.  Chỗ ấy xưa nay, bên “Trái Banh” Trần Ty, còn có “Cây Tre Miễu” Nguyễn Nhường.  Người đồ đệ của tôi đã cứu được ông thày của nó, nhưng nó đã chết thay thày nó!  Đêm về, trời Chư Pa sáng chói hỏa châu và hỏa long thì gầm gừ “ù! ù!…ồ! ồ!…” tới sáng.

       Ngày N+11 tôi làm lực lượng đoạn hậu cho tiểu đoàn rút về hướng bộ chỉ huy liên đoàn.  Liên đoàn hạ trại cách chúng tôi chừng ba cây số về hướng nam.  Đại úy Trần ngọc Di, ban 3 liên đoàn đang chỉ huy một toán BĐQ cưa cây phá bãi cho Chinook Hoa-Kỳ đáp. Cuộc hành quân của chúng tôi chấm dứt.  Tiểu đoàn 22/BĐQ được giao trách nhiệm thay thế chúng tôi, tiếp tục tảo thanh vùng tây Chư Pa.  Trưa đó, Chinook chở chúng tôi về trả tận sân sau của Tiểu đoàn 11/BĐQ ở Biển-Hồ.  Chúng tôi được nghỉ dưỡng quân vài ngày để tái trang bị và bổ sung.  Chừng một tuần lễ sau, tôi sững sờ nghe tin Thiếu úy Trần Lũy đã chết trong quân y viện Pleiku sau ca mổ lấy mảnh đạn từ cánh tay anh.  Trước cửa văn phòng tiểu đoàn có bụi tre đực trồng làm kiểng.  Bụi tre vàng vọt quanh năm, không lúc nào xanh tươi.   Trước ngày chúng tôi lên đường vào Chư Pa có ai đó nói rằng, những lúc tiểu đoàn đi hành quân, đêm thanh vắng, hồn ma về tụ tập quanh bụi tre đánh xóc dĩa, cãi cọ nhau om xòm.  Những người tin dị đoan trong tiểu đoàn xì xầm rằng bụi tre kiểng trước văn phòng đã đem đến những rủi ro cho đơn vị.  Sau cái chết của hai ông đại đội trưởng thì bụi tre đực đó đã bị anh Đàm cho người đánh gốc vứt đi.  Ngày cuối năm Âm-Lịch, một nữ sinh lớp đệ nhị trung học Bồ-Đề, Pleiku đến trường với cái băng đen trên ve áo dài.  Cũng từ đó, trại gia binh Tiểu đoàn 22/Biệt Động Quân vắng bóng người con gái đẹp thướt tha, ái nữ của ông thượng sĩ thường vụ. Nàng đã về quê đâu đó miền xuôi, để tìm quên một mối tình đầu chưa kịp may áo cưới.  Bên bờ Biển-Hồ, chiều chiều có một chị vợ lính bế đứa con trai nhỏ đứng nhìn về phương tây, nơi những ngọn núi xanh sừng sững án ngữ một miền trời ngăn cách hai nước Việt và Miên.  Người đàn bà vợ lính nhỏ nhắn đó tên Quyên.  Đứa bé trai cũng ngăm ngăm đen và dài ngoằng như bố nó.  Những giọt nước mắt chầm chậm lăn trên má người góa phụ.  Nước Biển-Hồ trong xanh.  Trong lòng hồ, bóng núi lung linh. 

       Tết Nguyên-Đán năm Kỷ-Dậu không vui.  Ít lâu sau Tết, một cái bảng nền nâu, chữ vàng, có ba hàng chữ: “TRẠI ” (hàng đầu), “PHAN- NGỌC- QUÍ” (hàng thứ nhì), “BỘ- CHỈ- HUY TIỂU – ĐOÀN 11 BIỆT- ĐỘNG- QUÂN” (hàng chót), được dựng trên cổng ra vào của một doanh trại Biệt động Quân ở Biển-Hồ (Pleiku).  Anh Lạn cùng hai anh đại đội trưởng vừa thay thế anh Quí và anh Lũy đã chọn danh hiệu truyền tin mới cho riêng họ.  Từ đó, trên làn sóng vô tuyến điện đàm của Liên Đoàn 2/Biệt Động Quân, những danh xưng Kỳ Sơn, Trường Sơn và Lam Sơn thành quá khứ, không ai nhắc tới nữa.  Chỉ còn mình tôi, dù đã đổi qua nhiều đơn vị, vẫn giữ cái tên Thái Sơn cho tới ngày tàn chiến tranh.  Tôi là một Biệt Động Quân yêu núi rừng vùng 2 say đắm. Mười năm lặn lội trong rừng, tôi đã chinh phục nhiều đỉnh núi cao, hùng vĩ hơn Chư Pa. Nhưng trong lòng tôi, cái tên Chư Pa mãi mãi không quên được.

Seattle, ngày 06 tháng 06 năm 2006

VML

Ba cảnh, Một ngày Giáng Sinh

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 21 Feb 2026

Tượng Thương Tiếc của Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu

Giáng Sinh ngây ngây hương gió

Giáng Sinh thắm thiết mùi cỏ.

Đi đâu…

Sáng mai qua cầu,

Xa kia Sài Gòn,

Quanh quất nơi đây vường cau xóm nhỏ

Hun hút khói loang mờ dáng sông,

Đằm đằm đất trời luồng rung động,

Thiên chúa giáng trần cùng não nhân

Đằng đằng phận người lâm luỵ thấm.

Buổi sáng,

Lão mù ngồi lặng hong hơi nước

Tóc bạc căm căm loáng thoáng ướt

Mưa trái mùa săn sắt bay bay

Sáng sớm đùn hơi sương tê buốt

Đã quá bao năm,

Hỡ lão khổ?

Suốt buổi chiến tranh hằng nặng độ

Từ ngày đầu Xuân bão lửa khói vây

Nay cuối năm

Tàn hơi thấm lạnh

Lão dựa thành cầu co quắp hiu quạnh

Trông miêt Nhị Bình

Xa xăm Ba Thôn

Tóc ướt rồi khô lay lắt gió thổi

Bay ngang trời xuôi sông xa Bình Dương

Lấm lướt khoanh tay lão che gió chướng

Không biết một lần

Đêm nay

Thánh ngời Ân lạ giáng yêu thương

Qua chiều

Bước lên giốc cao

Len dần theo dấu đổ

Nắng ngật ngật bụi mù tung đỏ

Nơi chốn này một lần

Ngưới qua nghiệp vận hoá thân

Căn cứ Lữ Đoàn nay hoang vu

Đồi phượng trốc gốc cành lá rũ

Hàng nhựa bạch đàn cạn nhựa ủ

Đất đống bời bời rối cỏ khô

Doanh trại sụp vỡ đùn ụ mối

Tháp canh rêu mốc chụp bóng tối

Nơi đâu kỳ đài uy nghi chiến binh

Âm âm hồi kèn thúc quân trống nhịp…

Thảng thốt đâu đây khảng rền cô khốc

Tấm tôn sét đập rung tiếng thét

Lầu nước dựng cao vết thương màu đen

Đậm dáng người lính buổi cùng uất nghẹn

Tôi đứng giữa xanh xao tàng cây

Tưởng vạn oan hồn về theo nắng quái

Một bận năm Thân như ngày này…

Bao lâu chưa dứt phần còn lại?!!

Ta đã ở đây

Thật có nơi này?

Vô hồi gió thổi

Thấp thoáng nắng chiều rây rây…

Chợt tâm động xôn xao kinh hãi

Khi xuống đồi đầm đầm xám ngắt tàn phai

Thật hay không

Bóng lạ hắt hiu trải lặng hình hài

Thảm sầu cơn trốt xoáy

Cuốn bụi đất hồng vết xé đỏ tươi

Vào đêm

Xóm Đạo lặng lờ

Chuông lễ chiều săn sắc

Chúa đến với người

Giữa điêu tàn sống chết buổi chiều đông

Hãy dậy lên hờn oan

Hãy bật cao gầm thét,

Vạn triệu vong linh đất sâu bằng bặt…

Về cùng ta đêm nay

Giáng Sinh xa xăm huyền hoặc

Một lần

Cháu xuống trần giải cứu

Cõi thế căm căm hằn tiếng than

Sứ nhiệm người đâu riêng đất Canaan,

Tình thương trời không dành tộc Do Thái

Người đứng cùng người

Đối mắt bên kia Sự Ác,

Sau bao năm…

Vẫn tràn nước mắt thế gian

Oán nghiệp điêu tàn cõi nhân sinh

Dậy oán khí mờ sắc cao muôn trượng

Sao báo triệu nhạt thếch màu tin tưởng

Thánh Hài Đồng bật khóc dài đêm đông

Đêm nay

Chốn này

Nghĩa Trang

ghìm ghìm dãy bia đá ngã nghiêng

Hố huyệt lạnh dậy trừng trừng gào khốc

Liệt Sĩ hãy về đây!!

Cùng người chia phần đắng cay thấm nhục

Dấu Binh Lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 21 Feb 2026

Tiểu Đoàn được chuyển vận từ Long An bằng tàu FOM theo sông Vàm Cỏ Tây, đến ngã ba nơi gặp sông Vàm Cỏ Đông, theo nhánh sông này đi ngược về phía Bến Lức. Tàu đi trong giòng sông đầy sương mù, trời chưa có nắng, nước sông mênh mông. Tôi ra đứng ở mũi tàu, gió thổi lộng, những buồn bực của tháng ngày hậu cứ như trôi đi, những tháng ngày dạy lính, quân phong, quân kỹ, mệt mỏi như cơn buồn ngủ trong trưa nắng.

Đến khoảng xã Long Sơn, quận Cần Đước tàu đổi hướng cập vào bờ, lính ùa lên… Bỏ bờ mẫu lội ngang ruộng mà lên, coi chừng mìn… Lấy đà từ sàn tàu tôi nhảy lên đám lau sậy, dừa nước ngổn ngang. Bám được vào một bờ đất leo lên. Giàn đội hình hàng ngang, trung đội tiến lên khoảng hai trăm thước, dừng lại bố trí đợi đại đội lên sau. Cởi nón sắt ngồi xuống trên một mô đất nhìn ra xa, ruộng miền Nam thật đẹp, màu xanh dài bất tận, lúa khỏe mạnh, thơm nồng nàn… Chẳng bù với miền Trung, quê hương tôi, không có đất, chỉ có cát, cát mệt mỏi và cằn cỗi, không phải những bờ cát vàng đẹp đẽ cuả bãi biển trưởng giả, cát của quê tôi xám xịt, loang lỗ đây đó dăm ba cụm xương rồng, về mùa hạ gió Nam thổi luồng như đốt lửa, con trốt lớn chạy dài lừng lững như bóng ma. 

Tiểu đoàn chia làm hai cánh quân đi song song với con lộ đất đỏ. Tuyệt đối không được đi trên bờ ruộng. Cứ nghe hoài hoài một lời dặn dò.

– Du kích vùng này nổi tiếng gài mìn, thiếu uý thấy gì lạ thì đừng đụng vào.

– Tao biết rồi, mày lo cái thân mày trước đi.

Đến giờ này tụi lính vẫn xem tôi như là một “mặt mới” đợi có dịp để lên mặt rành rẽ. Tôi kiểm soát lại hướng đi bằng địa bàn và bản đồ, kêu anh Trung sĩ trung đội phó:

-Trước mặt khoảng năm cây số có cái đồn phải không?

Tôi nói trống rỗng, vì nếu dùng tiếng mày tao thì tội nghiệp cho y, nhưng nếu gọi anh hay ông thì y lại coi thường. Nhà binh mệt nhọc thế đấy!

– Vâng, có đồn Long Sơn.

– Đồn còn người giữ không?

– Nghe nói hình như còn và vừa bị đánh nên tiểu đoàn mình đi hành quân vùng này để truy kích.

Đúng là một loại lính cũ, luôn luôn dóng tai lên để rình rập nghe ngóng tất cả, ẩn dấu sau một nét mặt lầm lì không nói. Tôi tưởng câu hỏi cốt để gây thêm tự tín, hóa thành một đòn phản. Viên trung sĩ đi ra xa, mặt thoáng vẻ hài lòng.

– Anh ra coi lại thằng vác đại liên, phía trái mình không có quân bạn. – Tôi nói với.

Khoảng bốn giờ chiều, đoàn quân đi ngang đồn Long Sơn, những người lính Nghĩa quân đứng trong hàng rào nhìn ra ngơ ngác. Họ nhìn toán quân chúng tôi như điều mới lạ đến từ nơi đầy ánh sáng. Bao nhiêu lâu sống trong chiếc đồn trơ trọi này, họ đã thành những kẻ thật xa với thế giới bình thường. Chiếc đồn chỉ cách quốc lộ hơn mười cây số đường chim bay còn thê thảm như thế, huống gì những tiền đồn ở cao nguyên, ở cuối cùng một cửa biển thì như thế nào? Tôi đâm ra hằn học với tự tin ngạo mạn của lính tôi.

Đóng quân đêm. Tôi nghĩ mênh mang. Chiến tranh là vô ích như thế, từ một nơi xa xăm đến để chết, ăn, ngủ trên một vùng đất lạ. Nhớ đến tấm ảnh trong cuốn Guerre Morte… Một anh lính Pháp ngồi đun nước với lời chú: “Jean ne fait rien dans la guerre, subitement, il mort”. Tôi chỉ ở qua một ngày trong chiến tranh, và như vậy còn rất lâu mới có kết thúc. Những ngày sau tiếp tục. Long Sơn rẽ phải, lên đông bắc là Rạch Kiến, phố chợ hoang vắng, chiếc cầu bắc qua con kinh bị đốt cháy sáu ngày trước còn loang lỗ vết than. Có một tiệm bán nước ngọt với đá, tôi uống một hơi ba ly, không biết là chanh muối, sirop hay cái gì… Chỉ biết đây là nước đá.

– Làm sao người ta mua nước đá được?

– Người ta mua từ Cần Giuộc, Cần Giuộc đi Chợ Lớn rất dễ dàng.

Người lính đứng bên cạnh tôi trả lời. Cần Giuộc, một địa danh nghe lạ hoắc. Miền Nam này thật lạ lùng, một nơi chốn đầy dẫy chết chóc vẫn có những quán cóc bán đồ nhậu, sạp bán báo, khốn nỗi chỉ bán toàn loại báo hạng bét, trang trong nói chuyện đào kép cải lương. Tuy vậy, tôi cũng mua một tờ xếp vào túi quần, chút thành phố có ở trong đây.

Một tuần đi qua không có gì, biến cố duy nhất mỗi ngày là binh sĩ đi Khinh binh thường vướng phải mìn. Việt Cộng thật tinh quái, họ gài mìn vô cùng khôn khéo, dò biết lính đơn vị tôi không đi trên bờ ruộng nên mìn được gài ngay trong bụi rậm ở bìa làng rồi giăng dây thật dài. Lính vào làng phải dàn hàng ngang để dễ dàng khi xung phong tất nhiên phải vướng dây bẫy. Được an uỉ, mìn là loại nội hóa do du kích chế tạo chẳng làm chết được ai. Số thương binh được di tản không có người nào bị nặng. Mỗi lần có tiếng nổ ở đầu hàng quân, binh sĩ ở đàng sau tỉnh bơ, la lối ầm ĩ…

– Rồi một con đã đi!

– Đ..m..Lại một thằng được ăn Tết ở nhà.

Người thương binh được di tản lui về đàng sau, ngang qua đồng bạn khi bị trêu chọc còn há mồm để chưỉ lại.

– Bị vào chân mà về “chọi” là rút gân nghe con, ráng bảo bà xã nhịn đi.

– Mẹ mày… – Lời nói buồn cười xóa tan vẻ bi thảm của dòng máu đang chảy. Đôi khi tôi cũng muốn bị nhẹ một phát vào chân. Nhảy dù gì đi ngang dọc hoài, chán bỏ mẹ!

Ngày thứ tám của cuộc hành quân, khi tiểu đoàn tiến qua rạch Long Sơn, chiếc cầu bằng sắt đã bị giựt sập. Đại đội 72 đi đầu chỉ định một trung đội tiến sát bờ sông để tìm phương tiện vượt sông. Ầm, một tiếng nổ thật lớn, cột nước bắn cao lên hơn mười thước, có tiếng súng bờ bên kia bắn qua, súng Việt Cộng. Lần đầu tiên tôi nghe tiếng súng của đối phương… Cắc… cù… Tiếng đạn rít trong gió. Tôi thoáng một giây sợ hãi cứ tưởng chừng như viên đạn như vô tình đang bay về hướng mình. Và phản ứng thật tự nhiên: Thấp hẳn người xuống. Lẽ tất nhiên tôi không đến độ nằm bẹp xuống nhưng rõ ràng có một phản ứng không báo trước kéo thân thế thấp xuống, nhỏ lại. Nhỏ hơn nữa… Súng của Việt Cộng tiếp tục nỗ dọc theo con đường chúng tôi đang di chuyển. 

– Trung đội bố trí phía tay phải.- Tôi hét lớn. Toàn thể trung đội nhào xuống một chiếc rạch nhỏ trông sang cánh đồng. Tôi yên tâm vì đã đứng được trong lòng đất. Đất vật che chở cho con người trong những giờ phút nguy nan. Chạm phải bờ cỏ ướt, tôi có cảm giác như ôm một vật thân yêu. Cảm giác này sau này trong những giờ phút ngặt nghèo nhất, tôi được thấy lại. Mỗi lần vào được trong một chiếc hầm, tôi cảm thấy tự tin hẳn lên, tin tưởng mình có thể sống sót được trong hết mọi hoàn cảnh. Một nhân vật của Georghiu trong ” La second chance ” khi biết mình sắp chết trước họng súng của bọn sát nhân đã có lực sống mãnh liệt: Tự dùng tay để đào cho mình một chỗ trú ẩn, chết khi tay còn giữ nắm đất! Đất cao cả và nhiệm màu bao nhiêu.

Trận đụng độ kéo dài chừng nửa giờ, du kích tháo chạy, chúng tôi vẫn chưa qua sông, tôi đi về phía đại đội chỉ huy. Bác sĩ Đạm đang băng bó cho thương binh, một xác chết được gói vào poncho, cột chặt bởi hai vòng băng cứu thương, gọn gàng và im lìm. Lần đầu tiên tôi đứng gần thây ma… Người chết trong chiến tranh đấy. Trở về chỗ bố trí của trung đội, thấy cần thiết một điếu thuốc hơn bao giờ hết. 

Đêm xuống, hào hứng của những ngày đầu hành quân không còn nữa. Tôi chưa quen với đời sống hung bạo và nhàm chán này. Những người lính xung quanh sau khi căng võng nằm phì phèo điếu thuốc mãn nguyện trong im lặng. Tôi chưa quen với điếu thuốc và niềm lặng lẽ cô đơn đó, tôi còn là thanh niên đang lớn, cần có bè bạn, cần người để tâm sự, những tâm sự tầm thường, những vụn vặt tình cảm… Ở đây không có bạn, trong không khí lặng lẽ đầy đe dọa, tôi cô đơn như cây nhỏ trong chiều mưa.

Mười lăm ngày qua, nhận được lệnh đi học lớp Rừng Núi Sình Lầy ở Dục Mỹ, một lớp học hành hạ thể xác và đầy đọa tinh thần con người. Lúc ở trong trường tôi đã qua trung tâm này trong ba tuần lễ, đã biết thế nào là một lớp học kéo dài trong cực nhọc với thời gian hai mươi giờ trong một ngày. Nhưng đối với hoàn cảnh bây giờ, tôi không đủ kiên nhẫn để kéo dài sức chịu đựng trong loại hành quân này. Sao cũng được, miễn là đi khỏi vùng đồng ruộng đã bắt đầu quen thuộc. Khi chiếc xe qua cầu Gò Đen thấy Sài Gòn hiện ở xa, đột nhiên tôi muốn đập phá một cái gì…

Về đến hậu cứ, đúng cung cách của một tên lính, tôi đi đến khu gái điếm ở cuối phố, âu đó cũng là một thói quen. Tôi cần tập nhiều thói quen của đời sống này. Trên chiếc xe đi về Sài Gòn, tự nhiên thấy già – già hẳn đi… 

Tháng 1-1964. Long An

Tầng đầu địa ngục

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Hải Triều

Post by Sơn râu 21 Feb 2026

Giám đốc Sở Không Một vừa trình bày xong bản báo cáo của y với Tổng trưởng Abakumov. Cao lớn, với mái tóc đen chải ngược về sau ót, mang trên cầu vai áo cặp lon ba ngôi sao của Tướng Ủy viên Đệ nhị hạng, Abakumov uy nghi chống hai cùi chỏ lên mặt bàn rộng. Y to con nhưng không mập bự – y biết giá trị của một hình dáng đẹp và đôi khi y chịu khó chơi quần vợt. Đôi mắt của y là mắt của một người không mắc lừa ai bao giờ, không ai có thể đánh lừa được. Đôi mắt ấy biểu lộ sự nhanh trí, khả năng ứng biến và bản tính đa nghi. Mỗi khi y thấy cần nói một câu nào đó trong lúc Viên Giám đốc Sở Không Một đang báo cáo, viên này vội vã ghi những lời đó xuống giấy. 
Văn phòng của Abakumov, mặc dù không quá rộng, không phải là một văn phòng tầm thường. Trong phòng có một lò sưởi bằng đá vân được để lại từ ngày xưa, lò sưởi này bây giờ không còn được dùng tới nữa, và một tấm gương soi lớn kín cả một bức tường. Trần phòng đắp bằng thạch cao đắp hình hoa lá, có một dàn đèn lớn và những hình thiên thần, tiên nữ đuổi nhau vẽ nhiều màu. 
(Abakumov giữ lại những hình vẽ này, chỉ những nét màu xám bị xóa đi, vì đó là màu mắt y chịu không nổi.) Phòng có một cửa ra ban-công, cửa này bị đóng kín trong hai mùa đông và mùa hạ, và có nhiều cửa sổ lớn nhìn xuống công trường trước Bộ nhưng quanh năm không bao giờ được mở. Trong phòng có nhiều đồng hồ: một đồng hồ thường được gọi là “đồng hồ ông nội” nằm trong vỏ gỗ quý, một chiếc đồng hồ treo tường với một hình tượng nhỏ đánh chuông giờ, trên tường còn treo một đồng hồ điện, loại đồng hồ của các nhà ga xe lửa. Những chiếc đồng hồ này chỉ không đúng giờ nhau nhưng Abakumov bao giờ cũng biết đích xác thời gian là mấy giờ vì y còn có hai chiếc đồng hồ nữa mang trên người y: một đồng hồ đeo tay vàng trên cổ tay lông lá của y, một đồng hồ quả quít nằm trong túi đừng đồng hồ trong áo y. 
Những văn phòng trong tòa nhà này lớn rộng hơn tùy theo địa vị và cấp bậc của chủ nhân cuộc sống. Những bàn viết cũng lớn hơn dần dần. Bàn hội nghị trên trải thảm xanh cũng mỗi phòng một lớn hơn. Tất cả những đồ đạc trong văn phòng của Abakumov đều lớn nhất trong nhà này. Nhưng bức hình Đại-Thống-Chế được đặt trong phòng này lớn nhất, rực rỡ nhất và nổi bật hơn tất cả. Ngay cả trong những phòng thẩm vấn tầm thường nhất cũng có treo những tấm hình Lãnh tụ lớn hơn người thật, nhưng trong văn phòng của Abakumov, bức hình vẽ này trở thành vĩ đại. Vị Chiếc Lược Gia Tài Ba Vô Song của Muôn Đời và Muôn Dân Tộc được vẽ trong một bức tranh cao mười thước, toàn thân, từ đôi giày ủng tới chiếc mũ Thống Chế lưỡi trai, trên ngực áo rực rỡ tất cả những huy chương và biểu chương. (Thực ra, trong đời sống thực, Stalin chưa từng bao giờ mang những huy chương này trên ngực, một số những huy chương này là do Stalin tự phong, số còn lại do những Sứ thần và Tổng thống các quốc gia khác trao tặng.) Chỉ có những huy chương của Yugoslav là không thấy vẽ lên tranh mà thôi. 

Tuy vậy, như để xác nhận rằng ngay cả bức tranh vẽ vĩ đại ấy đứng trong phòng cần phải có hình ảnh Người Bạn Thân Nhất của Chuyên-Viên-Phản-Gián-Điệp ở luôn luôn trước mặt để gợi hứng, y đặt một bức hình chân dung nữa của Stalin trên bàn viết của y. 
Trên một bức tường khác trong phòng treo một bức hình Beria khá lớn. Beria là thượng cấp trực tiếp của Abakumov. 
Sau khi Viên Giám đốc Sở Không Một ra khỏi phòng, có ba người đến trước cửa vào văn phòng Abakumov. Ba người đó là: Ủy viên Phụ tá Tổng trưởng Sevastyanov, Thiếu tướng Oskolupov, Giám đốc Sở Kỹ thuật Đặc biệt và Đại tá Kỹ sư Yakonov, Giám đốc Viện Nghiên cứu Khoa học Mavrino. 
Để biểu lộ lòng tôn kính vị chủ nhân văn phòng này, ba người vào đi theo hàng một, theo cấp bậc. Họ bước theo nhau trên tấm thảm dày, gần như nối gót vào nhau và chỉ có tiếng giày của Sevastyanov là thấp thoáng vang nhẹ. 
Là một ông già bận bộ y phục mà xám, mái tóc cắt ngắn lẫn nhiều sợi bạc, Sevastyanov là ủy viên duy nhất trong số mười ủy viên của Bộ An ninh là thường dân. Trách nhiệm của Sevastyanov ở đây không phải là việc điều tra hoặc hành chánh. Y giữ về liên lạc và kỹ thuật. Vì vậy y ít khi phải chịu đựng những cơn thịnh nộ lôi đình của Tổng trưởng trong những phiên họp kiểm điểm công tác hoặc trong những buổi trình diện nhận chỉ thị, có thể nói Sevastyanov là người thần kinh ít bị căng thẳng nhất Bộ An ninh mỗi khi phải đặt chân vào văn phòng này. Y ngồi ngay xuống chiếc ghế bọc da dày và êm đặt trước bàn. 
Sau khi Ủy viên Phụ tá Tổng trưởng Sevastyanov ngồi xuống, Oskolupov trở thành người dẫn đầu. Yakanov đứng sát ngay sau lưng Oskolupov như để giấu đi thân hình vạm vỡ của y. 
Abakumov nhìn thẳng vào mặt Oskolupov – người mà y chỉ mới gặp có chừng ba lần từ trước đến giờ – và y thấy trong con người của Oskolupov có một vẻ gì đó làm y có cảm tình. Oskolupov cũng có khuynh hướng trở thành to lớn về thân xác. Cổ y phình ra trên cổ áo và lúc này y cố ý ngửa mặt để cho cái cằm đôi của y khỏi xệ xuống. Bộ mặt nhẵn và trơ như gỗ của Oskolupov là bộ mặt của một người đàn ông chất phác, đơn sơ chỉ biết hành động, không phải là bộ mặt thâm trầm, khinh khỉnh của kẻ tự cho mình là trí thức. 
Chiếu cặp mắt qua vai Oskolupov để nhìn Yakanov, Abakumov hỏi đột ngột và buông thõng: 
“Anh là ai?” 
“Thưa… tôi ạ.” 
Oskolupov cúi mình về phía bàn, hoảng loạn và khổ sở khi thấy đồng chí Tổng trưởng không nhận ra mình là ai. 
“Thưa… tôi ạ.” 
Yakanov cũng nhô người về đằng trước, nhưng y chỉ nhô một chút thôi để ngực y khỏi chạm vào lưng Oskolupov, vì y vẫn đứng sát sau lưng Oskolupov. Lúc này y đang cố gắng giữ cho cái bu nguyện phệ của y khỏi phình ra nhưng y bối rối nhận thấy bụng y mỗi lúc một nở lớn bất chấp những cố gắng kềm giữ của y. Trong đôi mắt mở lớn của Yakanov không có qua một ý nghĩa nào được hiển lộ. 
“Anh và anh…” 
Ngón tay trỏ to tướng của Abakumov đưa ra điểm hai cái vào không khí: 
“Hai anh phụ trách dự án Mavrino phải không? Ngồi xuống.” 
Hai người còn đứng trước bàn líu ríu ngồi xuống. 
Tổng trưởng Abakumov đưa cây rọc giấy làm bằng plastic màu hồng ngọc lên gãi nhẹ sau tai và nói: 
“Sao? Các anh đã đùa giỡn với tôi bao nhiêu lâu rồi? Hai năm? Theo chương trình, các anh chỉ có mười lăm tháng để hoàn thành công tác. Bao giờ có máy điện thoại?” 
Và y tiếp bằng một giọng đe dọa. 
“Đừng nói dối. Tôi không thích nghe nói dối.” 
Đây chính là câu hỏi mà ba viên chức cao cấp ngành dối trá đã chuẩn bị để trả lời ngay từ khi họ được biết là họ được gọi tới cùng một lúc để hỏi. Theo sự xếp đặt trước, Oskolupov là người đầu tiên lên tiếng nói. Y nói với đôi bờ vai vuông đẩy đẩy ra đằng trước như chính đôi vai vuông ấy đẩy tiếng nói ra khỏi miệng Y: 
“Thưa đồng chí Tổng trưởng… Thưa đồng chí Đại tướng… Xin đồng chí cho tôi được trình bày trước hết rằng toàn thể nhân viên đều phục vụ với một tinh thần…” 
Bộ mặt Abakumov để lộ vẻ ngạc nhiên: 
“Anh tưởng anh đang ngồi ở đâu đây? Đây đâu phải là hội nghị. Tôi cần tinh thần của anh để làm cái gì? Để xuống đít ngồi lên ư? Tôi hỏi anh: Bao giờ? Ngày nào?” 
Bây giờ, cũng theo như xếp trước, đến lượt Yakanov. Lối nói và nhất là giọng nói trầm, nhỏ của y cho người nghe hiểu rằng y nói với tư cách là chuyên viên kỹ thuật chứ không phải là một nhân viên điều hành: 
“Kính thưa đồng chí Tổng trưởng… trong một hệ thống siêu tần cao tới 2.400 chu kỳ cho ta một cường độ truyền thanh ở mức zéro điểm chín…” 
“Chu kỳ, chu kỳ…! Zéro điểm chu kỳ… Zéro … Các anh sản xuất ra… Zéro… Siêu tần… zéro… Mẹ kiếp… Tôi muốn có máy điện thoại. Hai giàn máy. Bao giờ tôi có? Hả?” 
Bây giờ đến lượt Sevastyanov lên tiếng. Y nói chậm và nhỏ, vừa nói vừa lùa những ngón tay vào mái tóc thưa và xám:
“Xin cho chúng tôi biết đồng chí nghĩ như thế nào? Về máy điện thoại, chúng tôi đang chế tạo máy thâu phát ám hiệu…” 
Abakumov trừng mắt: 
“Đồng chí coi tôi là một thằng ngu hay sao? Máy thâu phát ám hiệu là cái quỷ gì? Tôi cần gì biết đến chuyện các người đang làm gì hay mấy người ăn không.” 
Mười lăm năm trước đây, khi không một ai trong cõi đời này, kể cả Abakumov, lại nghĩ rằng có ngày y trở thành Tổng trưởng, khi y còn là một tống thư văn của Sở Mật vụ – thời đó Abakumov là một gã trai khoẻ mạnh, rắn rỏi, có cặp chân dài và đôi tay dài – bốn năm trời học ở bậc tiểu học đã cung cấp cho y có được số vốn học vấn đủ dùng. Từ đó y “tự tiến bộ” hoàn toàn nhờ ở những đòn Jiujitsu và trường huấn luyện chuyên môn của y là phòng tập võ của Hội quán Thể thao Dynamo. 
Thế rồi, trong những năm ngành mật vụ phát triển và nhân viên mật vụ được thay mới, tăng thêm người ta thấy rằng Abakumov là một chuyên viên thẩm vấn có biệt tài và làm việc thật hữu hiệu, đôi tay dài và cứng của y là những lợi khí khi cần phải tra tấn người khác. Sự nghiệp lớn của y bắt đầu thành hình. Sau bảy năm hành nghề tra tấn người, Abakumov trở thành Chánh sở Phản gián SMERSH và bây giờ, y trở thành Tổng trưởng. Không một lần nào trong cuộc trèo dài dằng dặc ấy y cảm thấy y thiếu thốn về học vấn. Ngay cả bây giờ ngồi ở chức vụ cao nhất cái Bộ quan trọng nhất này, những thuộc cấp của y cũng không một người nào có thể lừa được y hay ngầm coi thường y. 
Và khi nghe Sevastyanov nói ra câu trên đó, cơn giận của Abakumov nổ ra. Y giơ nắm tay lớn như cái búa sắt lên định nện xuống mặt bàn. Cánh cửa phòng bỗng mở ra và một gã đàn ông thấp nhỏ với đôi má trắng hồng bước vào phòng không cần gõ cửa. Gã này là Mikhail Dmitriyevich Ryumin. Nhân viên cả Bộ gọi gã là “Minka” – Nhưng ít có người dám gọi gã bằng cái tên này trước mặt gã. 
Gã lướt đi nhanh và êm như một con mèo. Khi đến gần bàn, gã bao bọc cả ba người ngồi đó trong một tia nhìn. Gã bắt tay Sevastyanov và Sevastyanov nhổm người dậy, rồi gã đi tới đứng ở đầu bàn, cúi người xuống gần Abakumov, gã nói với vẻ mặt suy nghĩ: 
“Victor Semyonovich… ông nên nghe tôi. Nếu chúng ta phải phụ trách vụ này, chi bằng giao hết cho Sevastyanov. Tại sao mình lại để cho họ ăn không nhỉ? Họ có thể nhận ra được tiếng một người ghi trên băng nhựa hay không? Nếu không, tống cổ họ ra hết…” 
Trong khi miệng nói những câu đó, gã vẫn cười ngọt ngào như khi gã mời một cô bé ăn kẹo sô-cô-la. Gã nhìn ba kẻ có thể là nạn nhân của lời gã ngồi đó bằng đôi mắt vuốt ve, trìu mến. 
Trong nhiều năm trời Ryumin sống hoàn toàn là một gã vô danh không được ai biết đến. Gã từng giữ chân ủy viên kích thước của Hợp tác xã Tiêu thụ Tỉnh Archangel. Má hồng và trắng trẻo, gần như mũm mĩm, với đôi môi mỏng luôn luôn mím chặt, hờn giận, gã hành hạ tận tình những nhân viên dưới quyền gã bằng những câu nói đểu giả, tàn nhẫn nhất mà gã có thể nghĩ ra được, trong lúc đó gã chia phần bớt xén, biển thủ với bọn chuyên chở, thảo luận chính trị với những bác tài xế xe hơi, tỏ ra khinh mạn những người đánh xe ngựa lạc hậu và đặt những bản thống kê thành tích toàn hảo lên bàn ông Chủ tịch Hợp tác xã đúng lúc cần đến. 
Chiến tranh xảy ra, Ryumin được thâu nhận vào Hải quan và ở đây, người ta làm cho gã trở thành chuyên viên thẩm vấn của Sở An ninh Đặc vụ. Gã thích thú việc làm này và chẳng bao lâu gã thành công trong việc dựng đứng lên cả một vụ gián điệp vu cáo cho một phóng viên nhật báo hoàn toàn vô tội được phái đi viết phóng sự về Hạm đội Miền Bắc. Nhưng đây là vụ vu cáo đầu tiên trong đời gã, gã thực hiện nó lộ liễu và trắng trợn quá đến nổi Văn phòng Tổng Biện lý – vì không dính líu tới việc làm của ngành mật vụ – yêu cầu Văn phòng Tổng trưởng Abakumov điều tra vụ này. Chú chuyên viên thẩm vấn bé nhỏ của Ban SMERSH trên Hạm đội miền Bắc bị gọi về Tổng Bộ để chịu khiển trách. Gã sợ hãi bước vào văn phòng Abakumov để nhận lãnh những gì ghê gớm chờ đợi gã ở đó. Cánh cửa đóng lại. Khi cánh cửa mở ra cách đó một tiếng đồng hồ, Ryumin từ bên trong bước ra với vẻ mặt quan trọng – y vừa được Tổng trưởng cử giữ chức chuyên viên tình hình chính thức của SMERSH Trung ương, chuyên phụ trách thẩm vấn những vụ tối quan trọng. Kể từ ngày đó, ngôi sao của gã sáng đều và lên đều. 
“Tôi sẽ lo cho họ, Mikhail Dmitriyevich Ryumin. Ông tin đi. Tôi sẽ đặc biệt lo chọ họ. Thân nhân họ sẽ không còn nhận ra họ được nữa…” 
Abakumov gằn giọng nói, mắt y nhìn trừng trừng đe dọa ba gã đàn ông ngồi rúm ró trước mặt y. 
Cả ba gã này đều cúi mặt xuống như những kẻ phạm tội. 
“Tôi sẽ đưa cho họ những băng nhựa thâu tiếng nói. Họ có thể nghe lại và so sánh, tìm ra…” 
Ryumin nói và Abakumov hỏi vội: 
“Ồ… bắt được ai chưa?” 
“Rồi. Nhất định là phải rồi chứ” – Ryumin trả lời với nụ cười ngọt – “Chúng tôi bắt được bốn tên tình nghi ở gần ga xe điện ngầm Arbat.” 
Nhưng bộ mặt tươi tỉnh của Ryumin thoáng trầm xuống. Gã biết rõ hơn ai hết là những kẻ bị bắt đó đã bị bắt quá muộn, họ đều là những người bị nghi oan và bắt oan. Tuy nhiên, một khi đã bị bắt, dù có tội hay không những kẻ đó sẽ không bao giờ, mãi mãi không bao giờ còn được thả ra nữa. Họ sẽ bị giữ mãi và khi cần đến, họ sẽ phải nhận tội chỉ vì chấp nhận tình trạng có vụ án không tìm ra manh mối. 
Giọng nói của Ryumin vừa có những âm thanh bất mãn vừa đề nghị: 
“Tôi có thể ghi tiếng nói của một nửa tổng số nhân viên Bộ Ngoại giao lên bằng nhựa nếu ông Tổng trưởng muốn. Xong tôi nghĩ việc đó không cần thiết. Chỉ có sáu hoặc bảy người ở đó khả nghi mà thôi – họ là những người duy nhất được biết vụ đó.” 
Abakumov giận dữ: 
“Sao không bắt hết lũ chó ấy đi? Còn chờ gì nữa? Bảy người, Liên bang mình vĩ đại lắm, mất đi bảy tên đâu có ăn thua gì.” 
“Ông không thể bắt họ như thế được” – Ryumin phản đối. “Đó là một Tổng Bộ trong chính phủ, đó không phải là một xưởng máy chế tạo thực phẩm và làm thế, chúng ta sẽ mất hết dấu vết. Trong vụ này, chúng ta cần phải tìm đúng kẻ có tội là ai. Và phải tìm ra cho mau.” 
“Hừm…” 
Abakumov suy nghĩ và nói lớn lên ý nghĩ: 
“So sánh băng ghi âm này với băng ghi âm kia, tìm xem hai tiếng nào cùng của một người nói. Hay đấy. Sẽ có ngày mình phải nắm vững được kỹ thuật này. Sevastyanov, ông làm nổi việc này không?” 
“Thưa… tôi vẫn chưa hiểu gì cả…” 
“Có gì rắc rối đâu mà không hiểu. Không có gì hết. Có một thằng chó đẻ, một thằng khốn nạn nào đó – chắc chắn phải là một nhà ngoại giao nếu không hắn không sao có thể biết được chuyện này, gọi điện thoại đến cho một lão giáo sư. Tên lão giáo sư ấy là gì nhỉ?” 
“Dobroumov…” Ryumin nhắc. 
“Ừ, Dobroumov. Một lão bác sĩ. Nói vắn tắt là lão bác sĩ ấy vừa mới xuất ngoại sang Pháp trở về, trong khi ở trên đất Pháp lão có hứa sẽ gửi cho bọn bác sĩ Pháp một thứ thuốc mới do lão sáng chế – lão ôn dịch gọi đó là trò trao đổi kinh nghiệm và kiến thức y học. Nhưng lão quên rằng tổ quốc lão phải được hưởng ưu tiên thứ thuốc sáng chế đó. Chúng tôi muốn cho lão gửi đi số thuốc đó để bắt lão quả tang. Vụ án của lão sẽ là một vụ án chính trị lớn làm gương cho bọn khoa học gia hèn hạ nịnh bợ ngoại quốc. Nhưng có một thằng chó đẻ nào đó biết chuyện này và đã gọi điện thoại đến cho lão bác sĩ, bảo lão đừng gửi thuốc cho. Chúng ta vẫn sẽ bắt lão bác sĩ và lão phải nhận tội như thường, nhưng vụ này như vậy là đã mất một nửa giá trị. Sao? Các người nghĩ sao? Nếu các người tìm được ra tên này, các người sẽ nổi tiếng ghê gớm.” 
Sevastyanov nhìn qua mặt Oskolupov sang Yakanov. Yakanov để mắt y chạm vào tia nhìn của Sevastyanov và lông mày của y hơi nhếch lên. Với cái nhếch lông mày này Yakanov muốn nói rằng việc tìm tiếng người nói điện thoại được ghi lên băng nhựa là một nghệ thuật mới lạ cần có một thời gian dài để nghiên cứu, tìm hiểu, thí nghiệm, và hiện lúc này Viện Mavrino còn đang chết dở vì công tác chế tạo máy điện thoại đặc biệt, không nên nhận thêm công tác mới. Sevastyanov cũng thông minh để hiểu ý nghĩ cái nhếch lông mày của Yakanov và tình thế khó khăn y chuẩn bị để trả lời lửng lơ câu hỏi của Abakumov. 
Nhưng Foma Guryanovich Oskolupov lại có những ý nghĩ riêng về việc làm của y. Y không muốn y chỉ là anh giám đốc bù nhìn. Ngay từ khi y được tin y được cử làm Giám đốc, y đã tin chắc ở tài năng của y, ở giá trị cá nhân của riêng y và nghĩ rằng y làm chủ tất cả mọi vấn đề và có thừa khả năng giải quyết những vấn đề rắc rối nhất khéo léo hơn tất cả mọi người khác. Nếu không thế, người ta đã chẳng đề cử y. Tuy ngày xưa, y chưa học được đủ bảy năm ở nhà trường, nhưng bấy giờ không bao giờ y chịu rằng những thuộc cấp của y lại có thể hiểu biết về những việc làm hơn y. Họ có thể biết rõ hơn y về một phần nào đó của vấn đề, về chi tiết của bộ máy, về một đồ hình, nhưng họ không thể biết hơn y về đại thể. Cách đây không lâu, y từng có dịp đến nghỉ mát ở một khu nghỉ mát hạng nhất dành riêng cho những viên chức cao cấp và những khoa học gia làm việc với chính phủ. Ở đây y tự giới thiệu với mọi người y là một giáo sư điện tử. Y gặp ở đây một văn sĩ nổi tiếng và nhà văn này không sao có thể rời mắt nhìn Foma Guryanovich, nhà văn quan sát y và ghi những điều nhận xét vào cuốn sổ tay. Nhà văn cho y biết là ông sẽ diễn tả hình dáng của một nhà khoa học thời đại này theo hình dáng của Foma Guryanovich. Từ đó, Foma biết chắc rằng y là một nhà khoa học chính cống. 
Đột ngột, Foma Guryanovich nhảy vào cuộc đối thoại: 
“Thưa đồng chí Tổng trưởng… chúng tôi có thể làm được.” Sevastyanov nhìn y ngạc nhiên: 
“Làm ở đâu? Ở phòng thí nghiệm nào?” 
“Ở phòng thí nghiệm Âm Thính của Viện Mavrino. Ở đó chúng ta đang nghiên cứu về điện thoại. Họ cũng gọi điện thoại cho nhau mà.” 
“Nhưng Mavrino đang bận thực hiện dự án khác quan trọng hơn…” 
Oskolupov quả quyết: 
“Không sao. Chúng ta sẽ tìm được người. Chúng ta có những ba trăm người ở Mavrino kia mà. Ta có dư người để phụ trách thêm vụ này.” 
Và y nhìn ông Tổng trưởng của y với vẻ mặt của kẻ sẵn sàng thi hành mệnh lệnh. 
Tuy Abakumov không hề mỉm cười nhưng một lần nữa trên mặt y hiện ra vẻ hài lòng, một lần nữa y thấy có cảm tình với Oskolupov. Thái độ này cũng từng là thái độ của y trong thời gian y hãy còn trẻ và đang xây dựng sự nghiệp – nghĩa là hăng hái, sẵn sàng làm tất cả mọi việc cấp trên muốn, giết bất cứ ai nếu cần. Một người trẻ hơn mình mà giống mình bao giờ cũng làm cho mình có cảm tình. 
“Được lắm. Khá lắm” – Abakumov nói. “Đó là thái độ đúng: quyền lợi của quốc gia trên hết, những cái khác dẹp lại sau. Đúng không?” 
“Thưa đúng. Đồng chí Tổng trưởng nói rất đúng.” 
Ryumin không tỏ vẻ gì là ngạc nhiên, gã cũng không có vẻ nể nang hay chú ý đến Oskolupov hơn trước. Mặc dù Oskolupov là người nhận làm công tác này và Sevastyanov có vẻ muốn từ chối, Ryumin vẫn nói với Sevastyanov: 
“Sáng mai sẽ có tin mới cho ông.” 
Gã liếc nhìn Abakumov rồi lặng lẽ ra khỏi phòng. 
Vị Tổng trưởng đưa món tay vào miệng cạy một miếng thịt dắt ở chân răng từ bữa ăn tối: 
“Bây giờ trở lại vụ máy điện thoại. Bao giờ đây? Các anh đã lẩn trốn tôi quá nhiều. Không biết bao nhiêu lần khất – mùng một tháng tám, rồi ngày nghỉ tháng chín, rồi ngày đầu năm. Sao?” 
Y chiếu cặp mắt của Yakanov, bắt buộc Yakanov phải trả lời. 
Yakanov có vẻ như đang khó chịu dữ dội vì cần cổ của y. Y nhích cổ sang bên trái, rồi nhích cổ sang bên phải, đôi mắt xanh của y nhìn vào mắt Abakumov trong vài giây rồi nhìn xuống. 
Yakanov biết y là người có tài. Yakanov biết rằng nhiều kẻ khác còn có nhiều tài hơn y đang tập trung hết tư tưởng và tài năng để làm việc mỗi ngày mười bốn tiếng đồng hồ không hề có một ngày nghỉ từ hơn một năm trời nay để chế tạo ra dàn máy điện thoại mà Abakumov đang đòi hỏi. Và còn có không biết bao nhiêu là nhà khoa học ngoại quốc sống rải rác khắp nơi trên mặt đất này, những người công bố những phát minh của họ với đầy đủ chi tiết trên những tờ đặc san chuyên khoa, cũng đang tìm cách chế tạo dàn máy đó. Yakanov cũng biết rõ về cả ngàn những khó khăn đã được vượt qua nhưng đó cũng mới chỉ là bước đầu. Giữa cả chục ngàn những khó khăn đang phải đối phó, giải quyết, nhưng kỹ sư làm việc dưới quyền điều khiển của y ở Mavrino như người người đang bơi qua biển. Chỉ còn sáu ngày nữa là đến hạn chót, hạn chót của tất cả những hạn chót mà y đã năn nỉ, đã xin được ở đống thịt bận bộ quân phục kia. Y đã bị kẹt cứng vì một chỗi những hạn kỳ ngu xuẩn bởi vì bị Lãnh tụ Anh minh, Người Hướng dẫn Khoa học của Thế giới Cộng sản đã ngay từ đầu, đặt thời hạn một năm cho một công việc cần đến mười năm để thực hiện. 
Hồi nãy khi gặp nhau trong văn phòng của Sevastyanov, họ đã đồng ý xin hoãn lại mười ngày. Họ hứa sẽ giao hai giàn máy điện thoại đặc biệt vào ngày mười tháng giêng, Phụ tá Tổng trưởng Sevastyanov quyết định như thế. Oskolupov cũng muốn như thế. Họ tính toán rằng từ nay đến đó họ sẽ có thể làm xong được hai giàn máy điện thoại, tuy chưa hoàn hảo, ngh cũng đã có hình thể, cũng có thể kể là một phát minh mới. Họ sẽ xin thí nghiệm thêm cho thật hoàn hảo trước khi đưa máy được trước mặt Lãnh tụ. Trong thời gian ấy, việc nghiên cứu ở Mavrino vẫn tiếp tục và rồi họ sẽ viện ra những khó khăn mới để xin triển hạn. Nhưng Yakanov cũng lại biết rằng những vật vô tri, nhất là những máy móc, không hề biết đến những hạn kỳ, những mệnh lệnh, và tới ngày mười tháng giêng, hai giàn máy điện thoại được y đệ trình sẽ không truyền đi tiếng người, chúng sẽ chỉ truyền đi những tiếng động chói tai và những gì đã xảy đến với Mamurin nhất định sẽ lại xảy đến với Yakanov. Lãnh tụ sẽ gọi Beria và nói: “Thằng khùng nào làm ra cái máy này đây? Tống cổ nó đi…”. Và Yakanov sẽ trở thành một Người Mặt Sắt nếu y còn may mắn, rất có thể y sẽ chỉ là một tù nhân thường. 
Dưới mắt nhìn của Abakumov, với cảm giác nút thòng lọng đang thắt chặt dần cổ, Yakanov vượt lên được cơn sợ hãi khốn khổ, khốn nạn của y và cũng tự nhiên như khi y hít thở khí trời vào phổi, y thốt lên: 
“Xin cho thêm một tháng nữa. Thêm một tháng nữa. Tới mùng một tháng hai.” 
Y nhìn Abakumov bằng đôi mắt van xin của một con chó. 
Những người có tài ở cõi đời này thường tỏ ra tàn nhẫn và bất công với những người có tài khác. Thực ra, Abakumov tinh khôn hơn là Yakanov tưởng nhiều nhưng sau một thời gian dài không dùng đến, trí óc đã trở thành một cái gì vô-giá-trị với Abakumov. Trong suốt sự nghiệp của y, Abakumov đã thua, đã thất bại mỗi lần y suy nghĩ và làm theo ý của y, đã thắng khi y làm theo lòng trung thành và theo lệnh. Vì vậy Abakumov chỉ làm bận đến trí óc y càng ít chừng nào càng tốt. 
Y có thể hiểu rằng sáu ngày hay một tháng không có nghĩa lý gì hết so với hai năm trời đã qua. Nói cách khác, nếu trong hai năm trời mà không làm xong thì cho thêm một tháng nữa cũng vô ích. Nhưng trước mắt y, bộ tam-đầu-chế dối trá này là những kẻ có lỗi – Sevastyanov, Oskolupov, Yakanov là ba tên có lỗi và phải chịu lỗi. Nếu công tác khó khăn như thế, tại sao khi chúng nhận việc trước đây hai mươi ba tháng, chúng lại nhận hạn kỳ một năm? Tại sao chúng không đòi ba năm? (Bây giờ y đã quên rằng chính ý đã ra hạn một năm và ép buộc ba người kia phải nhận.) Nếu chúng nhất định không chịu nhận hạn kỳ một năm thì y cũng đã không chịu hạn kỳ một năm với Stalin, y đã đòi cho bằng được hạn kỳ hai năm để rồi kéo dài ra thành ba năm. 
Nhưng y quên rằng chính y, y cũng không dám nói gì hết về những hạn kỳ do Stalin đưa ra. Nỗi sợ hãi tiêm nhiểm vào óc họ quá nhiều trong quá nhiều năm quen vâng lệnh như những tên nô lệ nên không một ai trong bọn họ, trước kia cũng như bây giờ, dám có can đảm chống lại can đảm ý muốn của cấp trên. 
Abakumov cũng đã lo xa để dành riêng cho y được vài tháng. Y hứa với Stalin là máy điện thoại đặc biệt sẽ được trình vào ngày một tháng ba. Vì vậy, y có thể cho bọn này thêm một tháng và y cũng vẫn còn một thán để xoay trở. 
Cầm cây viết máy lên, Abakumov hỏi: 
“Anh nói một tháng là thế nào? Một tháng đúng hay anh lại nói láo lần nữa?” 
“Một tháng. Một tháng đúng…” 
Người nói câu này là Oskolupov. Mặt y tươi lên khi thấy cấp trên chấp thuận. Y có vẻ hăm hở như người ra khỏi đây là lập tức đi thẳng tới Mavrino ngồi vào bàn làm việc. 
Với một cái ngoáy bút, Abakumov viết lên tập lịch để bàn: 
“Rồi. Cho các người đến ngày 21 tháng giêng, ngày Kỷ niệm Lênin qua đời. Đúng ngày đó các người sẽ được lãnh giải Stalin. Sevastyanov… ngày đó có máy không?” 
“Dạ… có.” 
“Oskolupov … Có không? Đến ngày đó mà không có, tôi lấy đầu anh thế cho máy ạ…” 
“Dạ… có. Thưa Đồng chí Tổng trưởng… tất cả những gì cần làm chỉ là…” 
“Còn anh? Anh có biết những gì sẽ xảy đến với anh nếu anh hứa láo không? Đến ngày 21 tháng Giêng có máy không?” 
Thâu hết can đảm, Yakanov nằn nì: 
“Xin cho một tháng. Ngày mùng một tháng hai…” 
“Nếu đến ngày mùng một tháng hai vẫn không có máy thì sao? Cẩn thận. Nói phải đúng. Tôi biết anh đang nói dối…” 
Tất nhiên là Yakanov đang nói dối. Đáng lý ra y phải xin thêm hai tháng nữa, nhưng đã lỡ rồi, y đành hứa bằng một giọng âu sầu: 
“Thưa… có.” 
“Được rồi. Nhưng các người nhớ nghe… Tôi không có bắt các người phải hứa với tôi như thế. Tôi có thể tha thứ được hết trừ những kẻ nào lừa dối tôi. Cho các người đi.” 
Ba kẻ thoát nạn líu ríu đi ra. Họ cũng đi theo hàng một, kẻ nọ nối gót kẻ kia, mắt họ nhìn xuống trước bức tranh Stalin cao kín bức tường. 
Nhưng họ đã mừng quá sớm. Họ không biết rằng vị Tổng trưởng của họ đã giương một cái bẫy cho họ chui vào. 
Ba người này vừa ra khỏi phòng được vài phút thì một người khác được đưa tới văn phòng. Tên người này được báo trước với Abakumov: 
“Kỹ sư Pryanchikov.”

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 21 Feb 2026

“Dưới một chính phủ mà bắt giam bất cứ ai một cách vô lý thì chính cái chỗ dành cho kẻ ngồi xử án cũng là một nhà tù rồi.”

Henry David Thoreau (1817 – 1862)

Ngày 27 tháng 1-2010, Chủ tịch phường Điện Biên, Hà nội là Lê Văn Định dẫn một đám người cả công an, cả dân phòng đến nhà Luật Sư Cù Huy Hà Vũ số 24 Điện Biên Phủ Hà Nội, đập phá vách bức tường rào của nhà này. Theo LS Cù Huy Hà Vũ cho biết trước đó một năm, trong vườn nhà ông cơn bão đã làm ngã đổ hai cây lớn đè sập bức tường rào, sau đó để bảo vệ tính mạng cũng như tài sản gia đình, LS Vũ đã cho xây lại bức tường sập này. Hỏi vặn ông Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường là Nguyễn Trọng Khanh lý do đập phá bức tường rào, cuối cùng ông này cho biết việc này ông ta không muốn làm nhưng đây là do sự “chỉ đạo” của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Lý do là vì vào ngày 11 tháng 6 năm 2009, LS Cù Hà Huy Vũ đã đứng ra kiện việc thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ra quyết định hoàn toàn sai hiến pháp chúng ta có trường hợp Trần Khải Thanh Thủy, là một nhà văn, nhà báo, thành viên của Khối 8406 – là nhóm dân chủ bị cấm hoạt động, và là một thành viên danh dự của Hội Văn Bút Anh Quốc. Năm 2007 Trần Khải Thanh Thủy đã nhận được giải Hellman/Hammett Award của Human Rights Watch. Chỉ vì bất đồng chính kiến với đảng cầm quyền, Trần Khải Thanh Thủy đã bị bắt vào nhà tù nhiều lần, nhưng ti tiện và bẩn  thỉu nhất là chính quyền du côn Hà Nội thường chongười đổ phân người vào cửa nhà bà. Thủ đoạn này là thói quen của cái mà Trần Khải Thanh Thủy gọi là “văn hoa Ba Đình” như chúng đã dùng để liệng phân người và mắm thối vào nhà ông Hoàng Minh Chính. Trong một cuộc xô xát với bọn côn đồ do công an thuê, bà Trần Khải Thanh Thuy bị đánh vào đầu nhưng lại bị làm chứng gian ngược lại nói bà là kẻ hành hung làm bị thương một người hàng xóm nhưng bằng chứng cho thấy hình ảnh mà báo Dân Trí đưa lên tố cáo bà là những hình ảnh giả mạo, được cung cấp bởi công an. Trước đây, trò ném mắm thối cũng đã được côn đồ Hà Nội thực hiện đối với ông Hoàng Minh Chính. Để phản ứng lại trò ném phân và mắm thối vào nhà, một blogger đã có sáng kiến treo hình các lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam để nhờ quý vị này hứng chịu sự thối tha giúp gia chủ.

Trong một đất nước mà công an, lực lượng trung thành, được lập ra chỉ để trấn áp nhân dân, có quyền hành hung, đánh đập mọi người, dựa thế chính quyền, dựa thế đảng, còn xót xa hơn thời Pháp thuộc. Chúng ta đã thấy cảnh công an bạt tai người dân vì không đội mũ bảo hiểm, ném đá vào giáo dân Thiên Chúa Giáo khi họ đi hành hương, kéo lê và đạp vào mặt người yêu nước đi biểu tình chống ngoại xâm. Toàn là những cảnh bọn côn đồ, vô lại, đại diện và bảo vệ cho một chính quyền và đảng chuyên chế, chuyên dùng súng đạn, roi điện, giáo mác đối với dân đen.

Mới đây, chính quyền Trung Cộng cho xe “hủ lô” cán vỡ óc một nông dân chống lại việc cướp đất đền bù không thỏa đáng tại làng Changsha ngày 25-9-2012 không khác gì cảnh đối đầu không nương tay của Việt Cộng dùng xe ủi đất quật chết một phụ nữ trong cuộc tụ tập chống lại một vụ cưỡng đất ở Việt Nam.Đây là những đòn thù tệ hại nhất mà chính quyền Cộng Sản Việt Nam chuyên dùng để trả thù, đàn áp dân đen, nếu có sự bất bình hay khiếu nại thì được giải thích đây là sự sai lầm của cấp dưới, tựu trung thì chính sách của nhà nước vẫn tốt.

Nhưng bản án ngày 24 tháng 9 vừa qua tại Saigon xử ba nhà tranh đấu dân chủ chỉ với tội viết blog là Điếu Cày Nguyễn văn Hải, Tạ Phong Tần, Anh Ba Sàm Phan Thanh Hải với bản án tổng cộng 26 năm và 11 năm quản chế thì rõ ràng đây là lúc chính quyền dùng nhà tù để răn đe và trả thù những nhà bất đồng chính kiến. Thần Công Lý trong chế độ Việt Cộng không còn cần phải che mắt, nắm bàn cân nữa mà đã trở thành công cụ phục vụ chế độ như một tên công an tầm thường, vậy thì người dân tin tưởng gì ở tòa án, quốc hội hay chính phủ nữa, vì ba thứ này đều là con đẻ dễ sai khiến của đảng. Ngày nay chế độ Cộng Sản ở Việt Nam là tiêu biểu cho những gì xấu xa nhất của phong kiến, độc tài, thực dân, những gì mà ngày trước đảng đã mị dân, mở đầu cuộc đấu tranh đổ máu của cả dân tộc. Ai phong kiến hơn Bộ Chính Trị coi mình như những bậc Vua Chúa, xây lăng tẩm, từ đường tốn phí; ai thực dân hơn là bọn đem dân miền Bắc vào dẫm nát đất cao nguyên, chiếm đất đuổi dân; còn ai độc tài hơn chế độ đương thời,  kìm kẹp, bỏ tù, dập tắt tiếng nói của dân chúng, mà phản ảnh tiêu biểu và đúng nhất là phát ngôn của mộtkẻ đại diện cho đảng và nhà nước CS là tên Trung Tá công an Vũ Văn Hiển: “Tự Do cái con c … ” trước mặt gia đình của blogger Điếu Cày khi trông thấy họ mặc áo có hàng chữ “Tự Do Cho Người Yêu Nước”.

Kẻ thù của chế độ CSVN hiện nay hơn ai hết là người dân, nên đảng và nhà nước đã tận lực đàn áp và tiêu diệt. Dân chúng đã nhận chịu từ những đòn thù tay chân sơ đẳng do đám côn đồ hình sự được thuê mướn, đến đòn tra tấn chết người tại trụ sở của công an, cuối cùng là nhà tù oan khuất chôn vùi cả cuộc đời của những người đối lập. CSVN luôn luôn rêu rao“Tư tưởng Hồ Chí Minh luôn xây dựng và củng cố mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, lấy phục vụ nhân dân làm nhiệm vụ cao nhất theo đúng dân là chủ” và “phải giữ gìn đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân.”

Bắt chước tên sĩ quan công an Vũ Văn Hiển, nhân dân cả nước đến mức này thì phải văng tục:

“trong sạch cái con c …, xứng đáng cái con c …, trung thành cái con c …!”