Ngày Ta Bỏ Núi

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 30th Apr 2021

Post by Sơn râu 24 Feb 2026

Lời giới thiệu: Hồi ký “Ngày Ta Bỏ Núi” đã được viết cách đây 16 năm. Nhưng khi phổ biến, nó đã bị cắt xén và che giấu nhiều điều. Tác giả Thiếu tá Vương Mộng Long đã bỏ công nhuận sắc lại toàn bộ bài viết này. “Ngày Ta Bỏ Núi” với đầy đủ chi tiết từng ngày, từng sự kiện diễn ra trong suốt cuộc lui binh, kể cả những bí mật mà trước đây bị che đậy và giấu nhẹm.

Đa Dung – con sông kỷ niệm. Nguồn: PGĐ 2021 

Kỳ 1

Giữa tháng 2 năm 1975, tôi lái xe từ đồn Kiến-Ðức, Quảng-Ðức lên thăm Ðại tá Biệt Ðộng Quân Phạm Duy Tất, Tư Lệnh Mặt Trận Kontum tại căn cứ Non Nước, khoảng 10 cây số Bắc Kontum.

Ðêm đó thầy trò tôi nằm bên nhau, hàn huyên tới khuya.

Tôi được Ðại tá Tất cho đọc bản cung từ của một hồi chánh viên Việt-Cộng.

Bản cung từ này do Ðại úy Vũ Quang Dũng của Trung Tâm Thẩm-Vấn/ Phòng 2/ Quân Ðoàn II thiết lập.

Người hồi chánh là một Thượng sĩ Trưởng mũi thám sát của Trung Ðoàn 48/ Sư Ðoàn 320A Cộng- Sản Bắc Việt.

Anh ta khai rằng, hai tháng nữa sẽ có một cuộc tấn công đại quy mô của Cộng Quân nhằm giải phóng thị xã Ban Mê Thuột. Anh ta còn kê khai ra những tổn thất của Sư Ðoàn 320A Cộng- Sản Bắc Việt trong trận đánh 33 ngày đêm vây hãm Pleime tháng 7&8 năm 1974. Trận này Trung Ðoàn 48/ Sư Ðoàn 320A chủ công đã bị thiệt hại rất nặng, mỗi đại đội chỉ còn khoảng 17, 18 cán binh. Ðơn vị này phải về hậu cứ gần biên giới Việt Miên để bổ sung quân số rồi chuyển vùng hoạt động.

Ðêm đó tôi có nói với Ðại tá Tất rằng,

– Thằng 48 đã bị tôi đánh xiểng liểng hai lần. Kỳ này Tư Lệnh cho tôi về phòng thủ Ban Mê Thuột, tôi sẽ có dịp “cưa” với nó một lần nữa. Ðại tá yên chí! Nếu tôi chưa chết thì Ban Mê Thuột chưa lung lay. Tôi cam đoan với Ðại tá như vậy!

Tôi thực lòng mong muốn được về giữ thành phố này. Vì cha mẹ, vợ con, anh em tôi, và gia đình binh sĩ đơn vị tôi sinh sống ở đây.

Ông Tất cười cười trả lời,

– Cậu đừng lo! Ông Phú đã giao cho ông Tường vụ này rồi!

(Ghi chú: Ông Phú = Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II. Ông Tường = Chuẩn tướng Lê Trung Tường, Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh)

Tôi cũng được ông Tất cho biết rằng Sư Ðoàn 23 Bộ Binh sẽ án ngữ tại Buôn Blech, có thể dễ dàng di động giữa Ban Mê Thuột và Pleiku.

Tiếp đó Ðại tá Tư Lệnh “bật mí” cho tôi một tin vui: Vài tháng nữa Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của tôi sẽ được tăng cường để có quân số trên 800 người, với một hệ thống ngang 16 máy truyền tin, gồm đủ Trinh Sát, Viễn Thám cùng một đại đội chỉ huy và bốn đại đội tác chiến. Tiểu đoàn tôi sẽ xuất phái khỏi Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân để làm lực lượng xung kích dưới quyền Tư Lệnh Mặt Trận Kontum.

Hôm sau, trước khi từ giã Ðại tá Tất, tôi có đi quanh một vòng thăm Trung tá Lê Tất Biên, Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân và vài người bạn đang tham gia phòng thủ vùng Bắc Kontum.

Thiếu tá Thi, liên đoàn phó Liên Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân hướng dẫn tôi đi quan sát vị trí bố quân của liên đoàn.

Tôi thấy mặt trận ở đây có vẻ còn yên tĩnh hơn vùng Ngã Ba Tam-Biên-Nam (Cao Miên, Nam Kỳ, Trung Kỳ) mà tôi đang trấn giữ.

Trên đường về Quảng-Ðức, tôi ghé Ban Mê Thuột thăm tiền cứ của tiểu đoàn, rồi về nhà nghỉ với vợ con tôi một đêm.

Buổi sáng ngày kế đó, tôi vào tiệm Phở Tây-Hiên, ăn điểm tâm trước khi lên đường. Lúc tôi sắp lên xe thì người lính già mới giải ngũ Dương Ðức Mai (cựu Trung tá Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân) xuất hiện giữa phố, giơ tay vẫy,

– Chào người hùng Pleime! Ghé tệ xá cho tôi hỏi thăm đôi lời đi ông Quan Tư!

Tôi và bác Mai là chỗ rất thân tình. Chúng tôi đã nhiều năm làm việc chung ở Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2.

Tôi theo chân bác, vào thăm nhà bác. Nhà bác Mai ở kế hàng rào Sân Vận Ðộng Ban Mê Thuột.

Vào tới sân, cựu Trung tá Dương Ðức Mai, thật nghiêm nghị, hỏi tôi,

– Theo ý cậu, tụi Việt-Cộng có dám đánh Ban Mê Thuột hay không?

Vừa nâng niu những giò lan rực rỡ trên giàn, tôi vừa hùng hồn cam đoan với người chỉ huy cũ.

– Bác cứ yên chí lớn! Ông Tường sẽ bảo vệ Ban Mê Thuột, ông Tất nói vậy, bác đừng lo!

Bác Mai nhìn tôi, dọ dẫm,

– Thế ông gia, bà gia và vợ con cậu không di chuyển đi đâu sao?

Tôi cầm tay bác, trấn an bác,

– Có thể địch sẽ tấn công, nhưng chắc chúng không làm nên sự việc gì đâu. Gia đình tôi còn ở đây, đủ hết, cha mẹ, anh em, vợ con tôi, vợ con binh sĩ tiểu đoàn tôi.

Tới đây thì bác Mai có vẻ yên tâm.

Tối trước, khi thấy bố vợ tôi âu lo vì những tin đồn địch sẽ tấn công, tôi nói với ông cụ rằng, một cặp chỉ huy dày dạn chiến trường Tường & Luật đủ bảo đảm cho sự đứng vững của thành phố nhỏ bé này rồi.

(Ghi chú: Tường&Luật = Chuẩn tướng Lê Trung Tường, Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh & Đại tá Nguyễn Trọng Luật Tỉnh trưởng Darlac).

Nghe tôi mạnh miệng, bố vợ tôi mới hết lo lắng.

Bố vợ tôi cũng là một cựu Trung tá của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh vừa giải ngũ được hơn một năm.  Ông cụ và bác Dương Ðức Mai là bạn khá thân.

Sau khi chuyện trò một lúc, tôi bắt tay từ giã người cựu Liên đoàn trưởng Biệt Ðộng Quân Dương Ðức Mai, rồi lên đường.

Vài ngày sau, ở Kiến- Ðức, tôi chợt nhớ ra rằng, bản cung hồi chánh đã cũ, và nếu đúng theo diễn tiến mà anh Thượng sĩ của Trung Ðoàn 48/SÐ 320 A/ Ðiện-Biên đã khai, thì giữa tháng Ba tới, địch sẽ triển khai chiến dịch tấn công Ban Mê Thuột.

Tôi lại nghe tin A 2 phổ biến từ Phòng Nhì/ Quân Ðoàn II thông báo những chỉ dấu chuyển quân của Việt-Cộng từ biên giới Việt Miên về vùng ven căn cứ biên phòng Bản-Don.

Tôi biết rất rõ về Trung Ðoàn 48/ Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản Bắc Việt, đơn vị chủ công sẽ đánh Ban-Mê-Thuột.

Tôi tin tưởng rằng đơn vị tôi đủ sức đương đầu với chúng. Trong quá khứ, đơn vị tôi đã hai lần chạm trán với trung đoàn Cộng Sản này ở căn cứ 711 Pleiku (tháng Tư 1974) và ở căn cứ biên phòng Pleime (tháng 7&8 năm 1974).

Mối quan tâm của tôi là, gia đình tôi và đa số gia đình binh sĩ Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đều ở Ban Mê Thuột. Tôi vội thảo gấp một cái công điện gởi thẳng cho hai nơi, một cho Bộ Chỉ Huy Hành Quân của Biệt Ðộng Quân/ Quân- Khu 2 đang ở Kontum, một cho Bộ Tư Lệnh /Quân Ðoàn II ở Pleiku. Tôi xin thượng cấp cho phép Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân được rời Kiến-Ðức, Quảng-Ðức để về phòng thủ Ban Mê Thuột.

Vì đây là điện văn riêng, nên tôi không gởi theo hệ thống dọc qua Bộ chỉ huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân và qua Bộ chỉ huy Tiểu Khu Quảng-Ðức mà chúng tôi đang tăng phái. Nhưng Trung tá Hoàng Kim Thanh, Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân rõ chuyện này, vì tôi có tâm sự với ông, ông rất thông cảm hoàn cảnh của tôi.

Tôi chờ đợi từng ngày. Không ai trả lời bức điện thỉnh cầu của tôi vì nó là một điện văn gửi vượt hệ thống quân giai, hoàn toàn sái nguyên tắc.

Những khi hành quân xa, tôi thường đặt đài tiếp vận để tiện liên lạc với hậu cứ. Những tiểu đoàn bạn, đôi khi cả bộ chỉ huy liên đoàn cũng vào tần số đài này nhờ chuyển tin.

Sáng ngày 9 tháng Ba năm 1975, đài tiếp vận “Tam Quái 82” của tôi đặt trên căn cứ hoả lực Núi Lửa, Ðức-Lập báo cáo rằng địch đang pháo kích vào Chi Khu Ðức-Lập. Tới gần trưa thì chính căn cứ Núi Lửa cũng bị địch pháo kích và tấn công bằng bộ binh.

Ngã Ba Kiến Đức 46 năm sau. Nguồn PGĐ 2021

Xế chiều, tôi nghe anh binh nhì trưởng toán tiếp vận báo cáo bằng bạch văn lời cuối,

– Thiếu tá ơi! Tam Quái chắc tiêu ma đợt này rồi Thiếu tá ơi!”

Sau đó tôi không còn nghe được gì nữa.

Tôi thường gọi mấy anh Biệt Ðộng Quân của Tiểu Ðoàn 82 giữ máy tiếp vận trên đỉnh Núi Lửa là “Tam Quái”. Chỉ vì toán này gồm ba anh lính có tật, một anh cà thọt, một anh điếc, và một anh thong manh. Anh điếc nấu cơm, hai anh kia trực máy truyền tin.

Những năm sau này, quân số thiếu hụt, những người có tật cũng bị bắt đi quân dịch, mà Biệt Ðộng Quân lại thiếu người, nên rất dễ dãi vấn đề tuyển quân. Biệt Ðộng Quân nhận tất cả quân nhân bổ sung từ bất cứ nguồn nhân lực nào.

Chúng tôi được bổ sung quân số từ Trung Tâm Nhập Ngũ Số 3 chuyển qua Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa, từ Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Ðộng Quân Dục Mỹ, từ Trung Tâm Huấn Luyện Lam Sơn, và từ Ðơn Vị 2 Quản Trị Ðịa Phương, Nha-Trang với những người lính vừa mãn án tù, kể cả Lao Công Phục Hồi.

Tôi không chê bất cứ ai trình sự vụ lệnh về phục vụ đơn vị mình. Thong manh, cà thọt, mẻ sứt, kể cả ma túy, xì-ke tôi nhận tuốt! Những quái nhân này ở tiểu đoàn tôi chỉ ít lâu sau đã thành những con người mới. Người nào có việc nấy, tôi cứ áp dụng lời khuyên của người chỉ huy cũ, Trung tá Bùi Văn Sâm:

“Viên đạn nào cũng bắn vào đầu địch. Chỉ cần người lính chịu bóp cò là được rồi. Xấu trai mà dám bóp cò, còn hơn đẹp trai mà ra trận chưa nghe súng nổ, mắt đã láo liên. Tốt gỗ hơn tốt nước sơn!”  

Vì thế mà quân số tiểu đoàn tôi lúc nào cũng đông hơn tiểu đoàn khác.

Lính cà thọt không chạy nhanh được, cho họ làm tiền đồn. Cà thọt đóng chốt thì khỏi lo mất chốt.

Lính thong manh, không canh gác được thì cho trực truyền tin, nấu cơm.

Lính điếc thì cho tải đạn cối 81 ly, cối 60 ly, SKZ 57 ly. Lính điếc mà bắn cối hay SKZ thì nhất! Ðiếc đâu cần bịt lỗ tai!

Xì-ke nghiện ngập cũng dễ chữa thôi! Tôi lúc nào cũng dùng lời khuyến dụ êm ngọt trước, dùng võ lực sau. Anh nào không nghe lời nhỏ nhẹ bỏ nghề chích choác thì tôi mời vào connex nằm chơi. Ngày này qua ngày khác, chỉ có món nước đường do Thiếu úy Huỳnh Kim Hoàng, Ðại đội trưởng đại đội công vụ tiếp tế. Những ngày đầu thiếu thuốc, dân choác khổ sở, vật vã vô cùng. Dăm ba ngày sau quen dần, quen dần… Người nghiện nặng cách mấy cũng chỉ một tuần là phải từ giã ống chích, kim tiêm, khỏi bịnh!

Theo lời dạy của cổ nhân, “Dụng nhân như dụng mộc”, tôi sắp xếp người của tôi vào công việc phù hợp với họ; trên dưới đề huề, thương nhau.

Những năm sau cùng, không khí sinh hoạt trong đơn vị tôi (Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân) là thế đấy!

Tin Tam Quái trên Núi Lửa bị mất liên lạc làm cả ban tham mưu tiểu đoàn buồn rầu.

Sáng 10 tháng Ba năm 1975, bộ chỉ huy liên đoàn báo cho tôi biết tin địch đang pháo kích vào tiền cứ Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân ở Ban Mê Thuột. Tiền cứ này nằm sát trại Thiết-Giáp trên đường đi Bản-Ðôn. Người chỉ huy tiền cứ của liên đoàn là Thiếu tá Lê Ðình Hồng đã bị thương nặng.

Hậu trạm của tiểu đoàn tôi ở Ban Mê Thuột cũng có mặt sáu người là, Thiếu úy Huỳnh Kim Hoàng, Chuẩn úy Lê Hữu Ðức, Chuẩn úy Nguyễn Hữu Phước, Trung sĩ 1 Lưu Ðức Hoàn, Lao công Phan Thành Hoàng, và ông Tàu Hỷ chủ Câu Lạc Bộ. Không rõ tình trạng của các ông này ra sao?

Tới trưa thì có tin chiến xa Việt-Cộng nối đuôi nhau chạy rầm rầm giữa trung tâm thị xã. Mọi cuộc đàm thoại vô tuyến bị đứt đoạn vì không có đài tiếp vận.

Liên lạc giữa Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân từ Gia-Nghĩa với tiền cứ Ban Mê Thuột bằng các hệ thống máy tầm xa như VRC 67 và PRC 74 cũng đột nhiên chấm dứt.

Ðêm đó đài BBC loan tin Ban Mê Thuột thất thủ. Tôi và cả ban tham mưu tiểu đoàn bàng hoàng, vì tiền cứ của tiểu đoàn tôi cũng như gia đình binh sĩ đều ở thành phố này.

Ngày 11 tháng Ba năm 1975, tôi nghe được tiếng Ðại tá Phạm Duy Tất trên tần số. Ông Tất đang bay trên trời Ban Mê Thuột và gọi tôi.

Tôi hỏi ông về địch tình, về phản ứng của Chuẩn tướng Lê Trung Tường.

Ðại tá Tất buồn rầu trả lời:

“Ông Tường không đủ sức ngăn chúng nó toa ơi! Bây giờ chỉ còn hy vọng thằng Dậu cố gắng cứu vãn tình thế. Không biết có được hay không?”

(Ghi chú: Thằng Dậu= Trung tá Lê Quý Dậu)

Trung tá Lê Quý Dậu là Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 21 Biệt Ðộng Quân.

Ông Dậu mới lên chỉ huy liên đoàn được hai, ba tháng, thay thế cho Trung tá Nguyễn Lang (Lang Trọc) vừa giải ngũ.

Tôi cố nài nỉ ông chỉ huy trưởng,

– Trường An cho phương tiện bốc tôi về Ban Mê Thuột đi! Trường An ơi! Vợ con tôi ở đó! Vợ con lính của tôi ở đó!

Trường An là danh hiệu truyền tin của Ðại tá Phạm Duy Tất, Chỉ huy trưởng Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2.

Lúc đó tôi nghẹn lời. Bên tôi, người Sĩ quan Tiếp liệu tiểu đoàn, Trung úy Trần Văn Ðăng mắt cũng đỏ hoe.

Tôi tỉnh người khi nghe ông Tất hứa hẹn,

– Rồi! Ta sẽ nói lại với Số 1 (Thiếu tướng Phạm Văn Phú) để bốc Thái-Sơn về!

Thái-Sơn là tên riêng của tôi, tôi mang tên này từ khi còn phục vụ ở Tiểu Ðoàn 11/ Biệt Ðộng Quân, Pleiku, thời 1967-69.

Ðược lời như cởi tấm lòng. Tôi quyết định rút trung đội tiền đồn của Ðại Ðội 4/82 trên đồi Bù-Row cách 3 cây số hướng Bắc về.

Tôi cũng gọi sĩ quan đại đội trưởng một đại đội của Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân đang tăng cường cho tôi lên gặp tôi.

Tôi dặn dò anh kỹ càng những điều phải làm để phòng thủ Ngã Ba Kiến-Ðức thay cho Ðại Ðội 1/82 Biệt Ðộng Quân của Thiếu úy Ðặng Thành Học, nếu chúng tôi có trực thăng bốc đi.

Tiếp đó tôi cho tiểu đoàn chuẩn bị hai ngày cơm vắt, vũ khí, đạn dược sẵn sàng.

Sau khi lệnh chuẩn bị hành quân của tôi được thông báo tới mọi cấp trong đơn vị, tôi nghe tiếng bàn tán xôn xao trong các túp lều và bên giao thông hào.

Niềm háo hức hân hoan lộ rõ trên những khuôn mặt sạm nắng.

Những người lính gốc Rhadé, Jarai dưới quyền tôi đã lâu, nên qua nụ cười, ánh mắt của họ, tôi hiểu rằng lúc đó họ đang vui sướng vô cùng.

Suốt ngày 12/3/75 tôi không nghe tiếng Ðại tá Tất trên máy, nhưng tôi liên lạc được một phi công đang quan sát trên trời Ban Mê Thuột.

Tôi nhờ anh ghi nhận và chuyển cho tôi những gì anh nhìn thấy dưới chân anh.

Tôi mô tả con đường Hàm Nghi cạnh nhà thờ Vinh-Sơn, là nơi gia đình tôi cư ngụ và khu tiền trạm của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân.

Sau hồi lâu quan sát, anh cho tôi biết rằng cả hai nơi đều nằm trong màn khói đen mù mịt.

Buồn quá, tôi ngồi trước cửa hầm, ôm cây đàn guitar. Tay tôi chỉ bấm một cung Mi Thứ; tôi lần mò một bài tình ca buồn.

Dấu Binh Lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 24 Feb 2026

Chúng tôi rời Sài Gòn trong thở dài nhẹ nhõm, một tháng ở Thủ Đô đủ để tạo thành sụp đổ tan hoang trong lòng, đủ thấy rõ sự phản bội của hậu phương, một hậu phương lừa đảo trên máu và nước mắt của người lính. Một tháng đủ để chúng tôi hiểu ti tiện hèn mọn của loại lãnh tụ ngã tắt, những anh hùng đường phố, những ông vua biểu tình theo ngẫu hứng, vua tôn giáo đầy thù hận và dục vọng… Một tháng “vỡ mặt” lính non cũng như lính già. Chúng tôi bây giờ biết rõ: Máu và đời sống của mình đã đổ ra cho một xã hội lừa lọc. Thủ Đô! Tôi đi xa không luyến tiếc. Quá đủ những con đường Sài Gòn đêm vắng vẻ, dây kẽm gai chằng chịt, lựa đạn cay xót xa nước mắt. Đã quá đủ với Sài Gòn những buổi trưa nóng như thiêu đốt, áo giáp, nón sắt, mặt nạ, người lính đứng cô đơn trong sỉ nhục căm thù của đám đông nhân danh Tổ Quốc và Thượng Đế… Sài Gòn, chúng tôi thù ghét và ghê tởm Thủ đô đục ngầu phản bội và thù hận. Tôi ao ước một cơn hồng thủy sẽ cuốn trôi thành phố sau lưng, một cơn hồng thủy xóa hết dấu tích nhơ bẩn mà Thủ đô đã bôi lên khuôn mặt bi thảm của quê hương. Tôi ao ước được quên một thành phố tên gọi Sài Gòn. 

Xe chạy ra khỏi thành phố hướng về Tây Ninh. Trời xanh, không khí thoáng đãng, tôi thèm được đi xa. Đến Hóc Môn, đoàn xe dừng lại để lính nhảy xuống mua các thứ lặt vặt cần thiết cho cuộc hành quân. Sau hai tháng căng thẳng trong sự chết và bạo động, người lính bây giờ được thả xuống giữa quận lÿ sầm uất chất phác. Họ thỏai mái dễ chịu như trở về thế giới quen biết. Chúng tôi phải trả nợ nghiệp lính bằng năm ngày hành quân trước khi trở về hậu cứ. Từ Hóc Môn đoàn xe đi dọc theo liên tỉnh lộ 15 hướng về phía bắc, xe chạy trong cánh đồng mênh mông, sau hơn một tháng bị nhốt chặt trong thành phố ầm ĩ nay được thả ra cùng đất trời rộng rãi, lòng tôi mở ra như cơn gió reo. Đến ấp Đông Nhất cách Hóc Môn mười cây số, dừng lại xuống xe. Một tiểu đoàn bộ binh đã có mặt từ trước đợi chúng tôi. Hai tiểu đoàn sẽ xuất phát từ đây, xâm nhập theo con đường liên tỉnh hướng tây-bắc để giải tỏa áp lực địch tại vùng Bến Cỏ. Hai đơn vị đã dàn xong đội hình, lấy con đường làm chuẩn, tiểu đoàn bạn bên trái, chúng tôi bên phải, mục tiêu là làng Paris Tân Qui, nơi gặp gỡ của đường liên tỉnh 15 và hương lộ nối từ Ấp Nhà Việc với Củ Chi. Đại đội 74 dẫn đầu, đại đội chúng tôi đi chót, trung đội tôi đi cuối cùng. Mười phút đã qua, chúng tôi vẫn chưa di chuyển được thước đất nào, rảnh rỗi tôi lấy khẩu cầm ra thổi, tiếng trầm bỗng loang xa trên cánh đồng chơi vơi như cánh chim nhàn hạ… Bỗng súng nổ, một tràng ngắn, tiếp theo những tràng đại liên ròn rã ở phía đầu tiểu đoàn bộ binh. Cuộc chạm súng kéo dài khoảng mười phút, địch chỉ muốn trì hoãn bước tiến đoàn quân để chạy trốn. Mười hai giờ trưa đến Paris Tân Qui, làng nhỏ bao bọc chung quanh bởi rừng cây cao su xanh ngắt. Địa danh thật đặc biệt, không hiểu do sự nhầm lẫn của người lập bản đồ hay do một anh Tây nào đó trong lúc nghịch ngợm đem tên của Thủ đô ánh sáng đặt cho làng nhỏ này. Tiếp tục tiến quân lên Bến Cỏ, quận lÿ đặt cuối đường liên tỉnh, bên kia suối Bến Nây. Cầu đã bị giựt sập, tiểu đoàn dừng lại bố trí quân dọc theo đường đá đỏ. Đại đội 72 đi đầu cho một vài khinh binh qua dò đường. Trời ủ giông, nắng quái mây mù, con đường vắng như một nỗi thê lương… Nếu không có chiến tranh, từ đây về Sài Gòn chỉ khoảng nửa giờ xe đò, những con đường nhỏ này là mạch máu của miền Nam nối liền Thủ đô với thôn xóm trù phú. Ruộng ở đây không bát ngát bằng những tỉnh ở miền Tây, nhưng mạnh và tươi tốt. Nhìn đồng lúa mới thấy rõ sức chịu đựng dẻo dai triền miên của dân tộc. Nhớ bài chính tả của mười hai năm trước — Đồng lúa mới… Tôi đến một vùng quê, kề bên trận địa, cánh đồng loáng nước nằm dài vắng bóng người nông phu cần mẫn, nhìn vào thôn xóm không một bóng người, khóm tre xơ xác, mái tranh im lìm… Sáng mai thức dậy, đố ai biết có những gì thay đổi, cánh đồng vắng vẻ ngày hôm qua nay đã xanh rì ngọn mạ… Bài chính tả của lớp nhì biến thành bài học thuộc lòng. Ông giáo cuả tỉnh nhỏ, thầy Tiến, trường Hoàng Diệu, dáng người mập mạp, nhưng bỗng nhiên khuôn mặt hóa nên linh động khi giảng nghĩa cho lũ học sinh nhỏ, sức chịu đựng nỗi kiên nhẫn của những người nông phu, đêm trở về trên cánh đồng vắng, cắm những cây mạ xanh trong lòng đất còn mùi thuốc súng… Cánh đồng ở đây cũng loáng nước, mái tranh thôn xóm tiêu điều xơ xác, nhưng thân lúa xanh vẫn mọc lên phơi phới. Tôi rung động trong niềm cảm phục quê hương, những người nông dân Việt Nam cuối tận cùng của khổ cực luôn luôn thắp sáng cho mình hy vọng. Nhớ đến bàng hoàng dáng dấp của thầy tỉnh lẻ, một ông giáo bình thường nhưng đã gieo vào hồn tôi những rung cảm kỳ diệu khi bằng giọng nói của người dân xứ Quảng với quê mùa mộc mạc, thầy Tiến vẽ trong đầu óc trẻ thơ một hình ảnh lặng lẽ nhưng hào hùng của dân tộc. Cảm giác này cũng tương tự như khi đọc Sơn Nam với những câu ca dao… Ra đi gặp vịt cũng lùa, gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu… Cảm ơn đời trong tuổi nhỏ đã có người tặng cho những đóa hoa dịu dàng, những lời ca ngợi quê hương. Người Đại Hàn tượng trưng cho dân tộc của một đóa hoa, Trung Hoa, Nhật Bản lấy biểu tượng ở mặt trời… Tôi ao ước được trông lại biểu tượng cây lúa của dân tộc. Cây lúa bình thường đầy kiên nhẫn. 

Ba người khinh binh đi đầu tiến ra được giữa cầu, cầu bị gãy, họ phải bò theo những thanh sắt, một loạt đạn từ bờ bên kia bắn vụt qua. Đạn chạm vào thành cầu long cong, một người lính lảo đảo rơi xuống, hai người kia vội vàng chụp lấy bò trở về. Súng cối của tiểu đoàn bắn về phía có tiếng nổ năm trái… Ba người khinh binh khác được đề cử qua cầu, dưới sự yểm trợ của súng cối 60 và 81 (1) trong lúc súng cối tạm ngưng vì tháo đạn chưa kịp, Việt Cộng ở bên kia bờ lại bắn qua tới tấp. 

Hai người lính ở sau bò lại, chỉ một người qua được bên kia bờ. Không thể làm im được toán Việt cộng bên kia bằng súng cối, mặc dù chúng chỉ ước chừng một tiểu đội, nhưng hầm hố kiên cố đạn súng cối chính xác đến đâu cũng không phá hủy được. Hơn nữa số đạn mang theo giới hạn. Bộ chỉ huy tiểu đoàn quyết định gọi máy bay đến oanh tạc đồng thời đề phòng trường hợp địch tập trung đông. Ba Skyraider (2) bay một vòng để chỉ định mục tiêu. Khói trắng vừa bốc lên khỏi lũy tre, chiến đấu cơ hạ thấp độ cao đâm thẳng xuống, cả một khu bìa làng bị cầy tung đất khói và lửa bốc thành những chiếc nấm lớn. Năm giờ chiều, người chót của tiểu đoàn mới qua hết con suối, ngôi làng con âm ỉ cháy, mùi lá tươi bị đốt nồng nặc. Chúng tôi đóng quân đêm tại đây, cứ điểm Bến Cỏ nằm sau lưng không đầy một cây số. Ngày mai chúng tôi sẽ vào đấy giao tiếp với một tiểu đoàn Biệt động quân bị cô lập suốt sáu tháng nay. 

Bảy giờ sáng, tiểu đoàn bắt đầu di chuyển, đoạn đường xuyên qua làng mạc dày đặc vườn cây ăn trái và nhà cửa. Đường liên tỉnh 15 chạy từ Hốc Môn đến Bến Cỏ chia làm hai nhánh, một đường chạy lên hướng bắc gặp bờ sông Sài Gòn, từ đây chạy song song với con sông lên đến vùng Bến Súc rồi ra Trãng Bàng. Một nhánh ngắn hơn từ Bến Cỏ chạy ra Củ Chi. Bốn cứ điểm Bến Cỏ – Bến Súc -Trãng Bàng – Củ Chi tạo thành khu tứ giác mật khu Hố Bò nằm song song với mật khu Bời Lời ở bờ phía bắc sông Sài Gòn. Cứ điểm Bến Cỏ như một cái nút chận đường xâm nhập của địch về Gia Định nên từ lâu địch đã vây kín và pháo kích vào hằng ngày. Chúng tôi tiến quân thật dè dặt, một đơn vị bạn trước đây đã bị phục kích ngay tại khu làng này khi muốn “bắt tay” (1) với đơn vị trong đồn, hôm đó pháo binh và phi cơ không thể can thiệp được, trong khi địch có đủ công sự phòng thủ và giao thông hào dày đặc trên lộ trình vào cứ điểm. Hai đại đội đi đầu không dám đi trên đường vì sợ mìn, khi đi qua các khu vườn mọi người đều ngán ngẩm, địa đạo và giao thông hào đào chi chít, nếu địch phục kích chúng tôi tại đây thì khó lòng chống trả. Vòng rào dây kẽm gai và cột dây trời của đồn hiện ra trong tàn cây xanh. Thật thận trọng, tiểu đoàn trưởng ra lệnh cho từng đại đội một tiến vào hàng rào phòng thủ, hai người lính Biệt động quân ra mở cổng… Cứ điểm gồm có hai phần, chiếc đồn chính nằm ở phía trái của con đường, bộ chỉ huy tiểu đoàn Biệt động quân đóng chung với một đại đội Địa phương quân tại đây; đồn là một loại bót nhỏ của lính Pháp để lại, tường gạch rêu phong ba tháp canh trơ trọi đứng ba góc, chung quanh đồn là tuyến phòng thủ của ba đại đội tác chiến, những người lính Biệt động quân đào hầm ở ngay trên tuyến phòng thủ. Đối diện chiếc đồn là ngôi chợ nhỏ, hai bên đường nhà thường dân san sát vào nhau, phần lớn cửa đóng, người dân đã di cư về Bình Dương hay Sài Gòn. Có những danh từ nghe thoạt tiên rất vô nghĩa, nhưng nếu với hoàn cảnh, không khí thì thích hợp, những chữ nghĩa khô khan kia hóa nên linh động hẳn ra như một nốt nhạc. Ở đây, Bến Cỏ không thể có một tên gọi nào thích hợp bằng “phố chợ”, không thể gọi là quận lỵ, thị trấn, cũng không hẳn là một cứ điểm đúng nghĩa danh từ quân sự… Một tiểu đoàn lính bao một đám dân, con đường, ngôi chợ, hai dãy nhà cửa, cây bàng xanh tươi bóng mát, vài quán hàng bán những thức lặt vặt. Bến Cỏ không có nét trẻ trung, vui vẻ của những phiên chợ thôn quê, đây không khí tang thương, khắc khoải như một bệnh nhân bị gậm mòn dần bởi chứng nan y. Chúng tôi ra đóng quân ở phía đông của cứ điểm. Những buổi sáng lính thường vào uống cà-phê ở chiếc quán dưới gốc cây bàng, những người lính ngồi đối diện với nhau lặng lẽ. Con đường vắng hoe lác đác dăm chiếc lá khô, điểm sinh động duy nhất là quán hủ tiếu của một người Tàu. Người Trung Hoa trong hoàn cảnh nào cũng đứng đầu bởi sức chịu đựng, nhưng người Việt cũng đâu kém. Chúng tôi đóng quân được hai ngày, tình hình im lặng, im lặng ngột ngạt trước trận đánh. Cứ điểm đã bị bao vây suốt sáu tháng, quân số phòng thủ của tiểu đoàn Biệt động quân bây giờ chỉ còn hơn hai trăm. Việt Cộng đào hào thông hào đến sát hàng rào phòng thủ, chúng không tấn công chỉ bắc loa chửi, bắn sẻ, pháo kích… Chiến thuật này đã làm tiêu hao quân số của đơn vị bạn. Cách hay nhất là đề phòng, nhưng ai có thể kéo dài tình trạng đề phòng trong sáu tháng. Ngồi uống nước, nghe tiếng súng cối cuả địch, nhảy xuống hố không kịp thế là bị thương. Gác ở chòi canh, tuần tiễu ra khỏi hàng rào một trăm thước, khinh binh coi như đã treo đời mình trên một đường dây mỏng manh. Giao thông hào đào sát vào con đường từ đồn đi ra, tỏa chi chít khắp nơi, kín đáo chắc chắn. Người khinh binh làm sao biết được mũi súng ở hướng nào nhắm vào mình! Sáu tháng, những người lính Biệt động quân bây giờ trở nên dửng dưng, họ đã đến chót cùng chịu đựng. Ngay đến chúng tôi, những người mới tới, bằng bao nhiêu cẩn thận cũng không tránh khỏi thiệt hại. Đang nói chuyện với nhau trong vòng phòng thủ, một viên đạn bất chợt bay đến, binh nhất Phòng của đại đội 72 ngã xuống chết không ngờ. Viên đạn xuyên thủng bàng quang chấm dứt đời kẻ bạc phước trong vòng một phút. Từ chỗ đóng quân vào chợ, đoạn đường không quá ba trăm thước, nhưng cũng không an toàn. Bất cứ lúc nào, khi toán giữ đường không cẩn thận là có kẻ ngã gục bị bắn sẻ. Việt cộng rình rập chúng tôi – đêm nay? ngày mai? – Chúng tôi chờ đợi phút hồi hộp đó. Đóng quân được bốn ngày, chúng tôi nhận được lệnh rút ra ngã Củ Chi, vẫn lấy con đường liên tỉnh 15 làm chuẩn, tiểu đoàn chúng tôi đi bên phải, tiểu đoàn bộ binh đi bên trái. Lộ trình rút ra xuyên qua khu đồn điền cao su Fihoc, hành lang xâm nhập vào mật khu Hố Bò. Chúng tôi không biết những người bạn Biệt động sẽ ra sao, họ ở lại chờ một tiểu đoàn khác đến thay thế, hay tiếp tục để nhận một cái chết mòn mỏi chậm chạp? Có thể các vị chỉ huy ở cấp lớn đã nghĩ rằng: Chúng tôi đã có mặt bên ngoài trong bốn ngày vô sự vậy là áp lực địch được giải toả, bây giờ họ đang có những vấn đề to lớn khác cần phải giải quyết ở Sài Gòn trong đường Trần Quốc Tỏan, ở Đài phát thanh. Thôi, tiểu đoàn Biệt động quân, các bạn hãy ở lại và tiếp tục như sáu tháng đã qua. Sáu tháng chỉ thèm một cục nước đá, phần đời của các bạn như vậy đã được định. Tôi nghĩ đến chiếc bánh mì và nải chuối cuả một mụ nạ giòng đem đến tặng cho lính ở Đài phát thanh để tri ân quân đội giúp đỡ đạo pháp… 

Bảy giờ, hai tiểu đoàn song song rút ra. Đại đội tôi cùng đại đội 73 đi đầu tiểu đoàn. Đại đội 73 đi phía tay mặt tôi, Toàn “đen” dẫn đầu, tôi nói với Đỗ, anh chàng “Eddie Constantin”: 

– Thằng Toàn đi đầu thế nào cũng đụng.

Có thể lắm, mặt nó có cô hồn… Vừa di chuyển được ba mươi thước một loạt đạn nổ ròn rã trước mặt. Hạ sĩ Thặng khinh binh đi trước tôi ngã xuống, hai viên đạn bẻ gãy khẩu AR 15 đồng thời làm cườm tay anh gãy đôi. Việt cộng thật ra nhắm vào tôi vì cầm tấm bản đồ, nhưng Thặng vừa qua mặt nên lãnh lấy, hai viên đạn đáng lẽ ra đâm thủng cơ thể tôi… Một thoáng rùng mình, đạn bắn thấp, nếu không gãy chân thì cũng thủng bàng quang. Tôi nhớ đến cái chết của thằng Phòng hai ngày trước, chút xíu nữa thì mạng tôi cũng xong rồi! Vết thương của Thặng không nặng lắm, cây súng đã đỡ lấy hai viên đạn, cả anh và tôi đều may mắn. Tăng Màn Tài, trung đội phó khẽ nói với tôi:

– Thiếu uý, hôm nay đụng a, sáng nay tôi nấu cơm không chín.

Tôi cười không nói, nhưng lòng đầy lo ngại… Cánh quân chúng tôi và bộ binh tiếp tục di chuyển về phía Bến Mương. Mười giờ – binh nhất Niên – khinh binh đi trước tôi đột nhiên nhảy hẳn qua một bên, bắn một loạt súng…

– Cái gì vậy?

– Thiếu uý, em thấy trước mặt có người!

– Việt cộng đó, coi chừng. 

Buổi sáng lúc xuất quân đã có người dân đến báo: Việt cộng ở khu rừng cao su rất đông, đào hầm để đợi chúng tôi. Tiểu đoàn trưởng quyết định chấp nhận trận đánh, cả chúng tôi và bộ binh đều sẵn sàng tác xạ khi di chuyển. Niên hét lớn:

– Đưa tay lên, tiến tới. 

Trong lá xanh hiện ra một người mặc quân phục màu xanh đeo ba-lô mặt mày ngơ ngác. Y là một binh sĩ của tiểu đoàn bộ binh, chúng tôi không biết tại sao anh ta đi lạc và không có súng. Chúng tôi giao cho ban 2 tiểu đoàn để điều tra. Chính trong những giờ phút dừng lại để bắt giữ người lính kia, sau này tôi mới biết đã cứu mạng cho toàn thể trung đội tôi. Vì trong khi chúng tôi dừng lại, đại đội 73 phía tay phải vẫn tiến tới để bắt gặp con đường mòn cách đó trăm thước và chính trong lúc này thì trận đánh bắt đầu, phía tiểu đoàn bộ binh và đại đội 73 súng đại liên nổ ròn rã không dứt, chúng tôi vội vã dàn hàng ngang chờ đợi.

Đạn bay trong không khí về phía chúng tôi, lá cao su trên đầu bị bắn tung bay xào xạc, đạn ghim vào thân cây nghe phầm phập, có tiếng hô xung phong nhưng không thấy bóng dáng của địch. Đại đội trưởng tôi hét lớn trong máy:

– Bên bộ binh và 73 đều đụng nặng, anh có chịu nổi không?

– Báo cáo tôi vô sự.

– Coi chừng, tụi nó đánh độn thổ! Bộ binh bị phục kích rồi đấy.

Mười lăm phút sau, đại đội 73 từ bên cánh phải rút về phía chúng tôi. Toàn bị thương, người nhăn nhó đau đớn, hắn phều phào…

– Mày coi chừng, tụi nó sắp xung phong vào đấy.

– Tao đâu có thấy gì? 

Một rừng lá cây chuyển động trước mặt, vài bóng dáng áo đen thấp thoáng. Trung đội tôi và Kỳ đồng loạt khai hỏa, năm mươi cây súng bắn ra một lượt, khói hơi thuốc súng bay nồng nặc. Chúng tôi tiến quân từ từ lên sau mỗi đợt tác xạ. Tôi giật nẩy mình, một hàng giao thông hào mới đào, lá cây ngụy trang còn xanh tươi, vỏ đạn rơi đầy ở trên mỗi miệng hầm, đúng là một phép mầu… Việt cộng đã đào hầm hố để phục kích chúng tôi, may nhờ người lính bị bắt nên trung đội tôi đã dừng lại và vô tình tránh được cái bẫy đang chờ. Bây giờ mới hiểu tại sao có loạt đạn bắn về phía chúng tôi nhưng không có địch xuất hiện. Việt cộng sau khi đã chận đầu tiểu đoàn bộ binh và chúng tôi, vòng ra đàng sau đánh tạt vào hông phải của tiểu đoàn nơi đại đội chỉ huy và 74. Mặt trước của chúng tôi và 73 tạm yên, tôi cho lính chiếm hết dãy giao thông hào, một vài xác Việt cộng chết trong vị thế đang chạy, họ thuộc lính chính quy trang bị đầy đủ súng đạn nhưng không mang gạo. Đúng là tụi nó sửa soạn sẵn để đợi chúng mình… Lính xì xào bàn tán. Phía sau chúng tôi bây giờ súng nổ mạnh, 57 của tiểu đoàn bắn ra liên tiếp, đạn nổ tiếp theo liền tiếng départ chứng tỏ địch rất gần hàng quân. Tôi nghe rõ tiếng hô xung phong của hai bên chen lẫn tiếng chửi thề… Toàn từ dưới chạy lên… 

– Mẹ kiếp, bị thương nằm cũng không yên, tụi nó tới sát rồi mày ạ!

– Ông xui quá ông ơi, đi đâu là đụng đó. Ông tới chỗ nào cũng có máu chảy…

– Mẹ mày – Nó chởi thề phản đối.

Đúng như vậy, đi chiến đấu mới thấy có may rủi không lường. Có những cái chết thật gần, nhưng tránh khỏi, đồng thời có những cái chết thật bất ngờ, tự nhiên đến không dấu hiệu. Tôi đâm tin vào định mệnh, về một sức mạnh siêu hình chi phối đời sống con người. Như cái chết của thằng Phòng hai ngày trước. Buổi chiều chúng tôi đang ngồi nói chuyện gẫu với nhau, nó từ đâu lại ngồi đối diện với tôi. Chính ngay lúc đó, một viên đạn vu vơ từ ngoài hành rào phòng thủ bắn vào, nó chết trong khi đang mở miệng định nói. Cái chết ấy đã làm tôi thấy rõ đời sống nhỏ nhoi, bèo bọt của kiếp người. Sống đó, chết đó, nào ai biết… Cũng như trường hợp hôm nay, nếu không bắt gặp người lính bộ binh, chắc chắn tôi và hai khinh binh đi đầu sẽ hứng hết đoạn đạn đầu tiên khi địch khai hỏa. Và nếu tôi có chết đi, thì có gì thay đổi? Tôi không có gia đình, không thân thích. Cái chết chỉ là bọt sóng nhỏ vỡ tan trong đại dương… 

Địch định cắt đôi tiểu đoàn chúng tôi, nên chúng tấn công thật mãnh liệt vào đoạn giữa, đại đội chỉ huy phải chống lại vô cùng vất vả, 74 đi chót lại bị cầm chân nên không thể kéo lên gỉai toả áp lực địch được. Tiểu đoàn trưởng phải gọi pháo binh bắn thật gần tuyến chiến đấu… Gunship được gọi đến tăng cường. Đại uý Ánh, sĩ quan hành quân của tiểu đoàn trong khi đứng quan sát để hướng dẫn phi cơ bị một viên đạn vỡ tan lồng ngực. Tin ông chết làm mọi người bàng hoàng, ông được cảm tình của hầu hết mọi người vì tánh tình hòa nhã, riêng tôi, những lần trước khi phải trình diện tiểu đoàn trửơng để nhận lệnh phạt thường phải gặp ông, trong những giây phút nặng nề đó, lời nói nhẹ nhàng của ông như một an ủi làm nhẹ đi nhiều phiền muộn. Tôi không biết ông nhiều, nhưng nhớ đến những buổi chiều, ông đứng ở bờ sông Biên Hòa trông cô đơn và lặng lẽ lạ lùng. Đại tá Tư lệnh và Bác sĩ Y sĩ trưởng sư đoàn đáp máy bay xuống trận địa còn nồng mùi thuốc súng. Tôi thấy nét mặt cuả bác sĩ Của cau hẳn lại khi ông đến gần xác đại uý Ánh. Tiểu đoàn tiếp tục di chuyển đến cầu Bến Mương bên kia là bãi nhảy Củ Chi, cầu bị sập binh sĩ phải qua từng người một. Trung đội tôi ở lại cuối cùng để bảo vệ tiểu đoàn qua cầu. Trời ngã về chiều và khi chúng tôi nhận được lệnh rút đi thì địch từ mé làng xung quanh bắt đầu bắn ra. Những viên đạn đỏ vạch từng đường đài trong bầu trời thẫm màu, biết chắc rằng chúng chỉ bắn phá quấy chứ không thể tấn công vào chúng tôi được. Khẩu đại liên của trung đội qua cầu được đặt trên một mô đất nhắm về phía làng, cứ chỗ nào nháng lưả là người xạ thủ bắn lại phía đó. Trận đánh như trò chơi, Việt cộng trong làng chõ loa ra chưỉ bới, tôi đứng trên mô đất khum tay làm loa chửi lại. May mắn trong suốt cuộc hành quân làm tôi tin tửơng vào mình hơn bao giờ hết. Quả thật vậy, khi trung đội qua hết con suối trời tối hẳn, Việt cộng từ trong làng chạy ra lố nhố… Chúng tôi vừa bắn vừa chạy lùi về phía Củ Chi. Bãi nhảy dù bát ngát phủ đầy lá đậu phọng, trung đội chạy nhanh để đuổi kịp toán quân đi đầu, ai nấy đều vui vẻ vì cho rằng đã được may mắn. Khi ra đến đường ba người lính trút ba-lô ra, ba-lô bị đạn xuyên thủng lỗ chỗ.

– Đ.m hên đếch chịu được, đạn trúng giờ nào mà không hay!

– Nhờ cái hên của ông thiếu uý đó mày.

Tôi leo lên xe ngồi, trời tối đen ở bên ngoài, trong lòng xe muỗi vo ve nhưng không buồn cử động để đuổi đi. Đời sống người lính qủa thật tội nghiệp, trong tận cùng nguy biến họ luôn tạo cho mình hy vọng dựa vào một may mắn mỏng manh… Bao giờ hết may mắn đó sự chết ắt gần kề chạm phải. Đời sống của chúng tôi đó, trên biên giới sự sống, cái chết. 

Tháng 9-1964. Bến Cỏ, Bình Dương

Tầng đầu địa ngục

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Hải Triều

Post by Sơn râu 24 Feb 2026

Căn phòng nhỏ hẹp và trần phong thấp. Phòng có hai cửa ra vào nhưng không có cửa sổ, tuy vậy không khí trong phòng vẫn mát và dễ chịu. Một kỹ sư đặc biệt thường trực chịu trách nhiệm giữ cho không khí trong phòng này lưu thông và trong sạch. Một phần lớn của căn phòng bị choán vì chiếc ghế dài có thành tựa bọc da nâu trên có những chiếc gối dựa bọc vải hoa. Trên tường, hai bóng đèn điện hồng nằm trong lồng kiến mờ soi sáng căn phòng. 
Trên chiếc ghế dài có một người đàn ông nửa nằm nửa ngồi. Người đàn ông này là người mà khuôn mặt, dáng người đã được điêu khắc trên đá, vẽ bằng dầu, bằng màu nước, bằng phấn, bằng sơn, bằng bột, bằng chì, bằng than với đủ thứ màu sắc, được đắp bằng những viên đá, viên sỏi, bằng vỏ sò vỏ ốc, bằng gạo, bằng những hạt đậu nành, bằng ngói, được chạm trổ trên ngà, trên gỗ quý, trên sừng, được đan bằng sợi, trồng bằng cỏ, được hợp lại bằng những đoàn phi cơ bay trên trời, được chụp hình, được quay phim. Trong khoảng ba tỷ năm dài của trái đất này chưa có người nao được người đời tạo hình nhiều đến như người đàn ông này. 
Y nằm đó hai chân để trên cao, hai chân y đi đôi giày da cao cổ, kiểu giày của người Caucase, làn da mềm như giày chỉ là đôi vớ dày. Y bận chiếc áo làm việc có bốn túi lớn, hai túi ở ngực, hai túi bên dưới – chiếc áo đã cũ, đã được mặc nhiều lần, một trong những chiếc áo bốn túi được y mặc kể từ thời nội chiến và từng được y thay bằng bộ quân phục Thống chế kể từ sau trận Stalingrad. 
Tên người đàn ông này được đăng trên báo chí, được cả ngàn xướng-ngôn-viên của cả ngàn đài phát thanh trên thế giới nhắc đến bằng hàng trăm thứ tiếng, được hô lớn bởi những diễn giả ở đầu và cuối những bài diễn văn, được hát bởi những giọng ca trong trẻo của những em nhi đồng, được thốt lên từ miệng những vị Giám mục. Tên người đàn ông này thấp thoáng trên môi những tù binh hấp hối, giữa những hàm răng tê cóng của những người tù rạc trong những trại tập trung. Tên người đàn ông này cũng được đặt cho vô số những thị trấn, những công viên, đường phố và đại lộ, những lâu đài, những đại học đường, trường học, bệnh viện, núi, sông, xưởng máy, hầm mỏ, nông trường, công xã, chiến hạm, tàu phá băng sơn, tàu đánh cá, ấu trĩ viện và được một nhóm ký giả báo chí Mạc Tư Khoa đề nghị đặt cho sông Volga và dùng để gọi mặt trăng. 
Y chỉ là một người đàn ông hơi già với một cái cằm chẻ đôi hơi xệ – trong những bức hình chụp y người ta không bao giờ thấy cái cằm xệ này – với cái miệng đượm mùi thuốc lá Thổ Nhĩ Kỳ, những ngón tay y mập và có dầu thường để lại những vết như vết mỡ trên những trang giấy mỏng. Hôm qua và hôm nay y không được dễ chịu và khoẻ lắm: Ngay cả trong bầu không khí ấm áp của căn phòng y vẫn cảm thấy lành lạnh ở lưng và hai vai, trên vai y choàng chiếc khăn lông lạc đà màu nâu. 
Y không bận rộn vì bất cứ chuyện gì. Y ngồi đó lật giở từng tờ một quyển sách nhỏ bìa da nâu với vẻ hài lòng hiện trên nét mặt. Y nhìn với một vẻ chú ý lên những tấm hình in trong quyển sách và thỉnh thoảng, y đọc vài đoạn trong sách mặc dù y đã dần thuộc lòng trọn quyển sách này. Và y lần giở từng trang. Quyển sách này càng thêm tiện lợi vì khuôn khổ của nó nhỏ bỏ vừa vào túi áo ngoài của mọi người, nó có thể đi theo người ta bất cứ đâu trong suốt cả một đời. Nó gồm hai trăm năm mươi trang và được in bằng chữ khá lớn và rõ để cho những người đã già mắt kém hoặc những người ít học cũng có thể đọc được dễ dàng. Nhan đề của nó được in trên bìa bằng chữ vàng: Tiểu sử Iosif Vissarionovich Stalin. 
Những dòng chữ rất thường, dễ hiểu và lương thiện trong quyển sách này tất nhiên là phải có tác động đến trái tim người đọc. Tài ba về chiến thuật – chiến lược thần kỳ của Stalin, sự nhìn xa thấy rộng của Stalin…tất cả đều được ghi lại trong quyển sách này. Kể từ năm 1918, y đã trở thành một phụ tá đắc lực của Lênin. (Đúng, đúng, chuyện này đúng). Người lãnh đạo cuộc cách mạng bị bối rối vì tình trạng lộn xộn tưởng như không sao giải quyết nổi, chính là nhờ Stalin mà cách mạng đã toàn thắng. (Đúng, thật đúng.) Chúng ta may mắn vô cùng nên mới có được một vị lãnh tụ tài ba và giàu kinh nghiệm – Đại Lãnh Tụ Stalin – dẫn dắt trong những ngày khó khăn, bi thảm đó. (Đúng vậy, dân tộc này quả là may mắn.) Tất cả chúng ta đều có dịp thấy rõ sự sáng suốt vô biên của người, tinh thần quang minh tuyệt vời của người. (Đúng vậy, không nên khiêm tốn giả dối, ta phải nhận đó là sự thực.) Tình yêu thương đồng bào của người. Lòng nhân ái của người. Khả năng thông cảm sâu xa của người. Bản tính khiêm tốn kỳ diệu của người. (Khiêm tốn -phải đấy, mình khiêm tốn thật.) 
Tốt. Và họ nói sách này bán chạy lắm. Ấn bản thứ hai này in năm triệu cuốn. Nhưng với một nước rộng như thế này thì con số đó vẫn còn là quá nhỏ. Ấn bản thứ ba phải in ít nhất là mười triệu cuốn, hoặc hai mươi triệu cuốn. Sách phải bán thẳng cho các xưởng may, trường học, nông xã. 
Y cảm thấy hơi lợm giọng. Đặt quyển sách xuống, y bóc vỏ một trái cam tươi trên mặt bàn tròn và cắn vào trái cam. Nếu y mút chất nước của trái cam, y sẽ hết lợm giọng và miệng y sẽ dễ chịu vì chất nước chua chua ngọt ngọt của trái cam để lại. 
Y nhận thấy, nhưng y sợ không dám nhìn nhận, là sức khoẻ của y mỗi tháng một kém đi. Y có những phút quên lãng. Y khổ sở vì chứng lợm giọng buồn nôn. Y không đau đớn gì rõ ràng cả nhưng một sự mệt mỏi khó chịu thường giữ y ngồi dính xuống ghế nhiều giờ đồng hồ trong một ngày. Ngay cả việc ngủ cũng không làm cho y dễ chịu. Sau giấc ngủ, y tỉnh dậy và vẫn bải hoải, rã rượi, bần thần như trước khi ngủ, đầu y vẫn nặng và y không còn muốn đi lại, làm việc. 
Ở miền Caucase, một người đàn ông bảy mươi tuổi vẫn còn là trẻ, vẫn còn leo núi, cưỡi trên lưng ngựa, trên bụng đàn bà. Và xưa kia, y mạnh khoẻ biết chừng nào. Y vẫn tin chắc là y sẽ sống đến chín mươi tuổi. Có chuyện gì đã xảy ra? Vì sao y lại thay đổi, lại yếu đi đến thế này? Trong khoảng những năm gần đây Stalin không còn có thể hưởng thụ cái khoái lạc lớn nhất trong đời y nữa – cái khoái lạc đó là việc ăn uống. Nước cam tươi làm cho lưỡi y rát, caviar dính vào kẻ răng y, và y ăn với một vẻ lãnh đạm không thấy gì là ngon cả những món ăn nhiều ớt, nhiều tiêu của miền Georgia. Y cũng không còn khoái uống rượu như xưa nữa – mỗi lần uống rượu y lại nhức đầu. Và chỉ cần nghĩ đến đàn bà thôi cũng đã đủ làm cho y kinh tởm. 
Vì đã quyết định sẽ sống đến năm chín mươi tuổi, Stalin buồn rầu nghĩ rằng những năm sắp tới sẽ không đem lại cho y được một nỗi vui riêng nào, y sẽ phải chịu đựng hai mươi năm trời nữa vì hạnh phúc của nhân loại. 
Một ông bác sĩ đã cảnh cáo y như thế – (và ông này đã bị bắn chết chính vì thế) – Những ông nghe run rẩy trong bàn tay của những nhân vật nổi tiếng nhất trong giới y khoa ở Mạc Tư Khoa. Những ông này không bao giờ tiêm thuốc cho Stalin. (Chính Stalin đã ra lệnh không được dùng thuốc chích). Họ chỉ dùng khoa chạy điện và khuyến cáo y dùng nhiều trái cây hơn. 
Ba ngày trước đây là ngày kỷ niệm sinh nhật thứ bảy mươi rực rỡ của y. Họ đã thực hiện lễ kỷ niệm nay từng giai đoạn: Trong đêm hai mươi Traicho Kostov đã bi đánh đến chết, chỉ sau khi ánh mắt của tên hèn hạ ấy đã mờ đi, lạc thần những cuộc liên hoan mới thực sự bắt đầu. Trong ngày hai mươi mốt có một cuộc lễ lớn được tổ chức ở Đại Hí viện Bolshoi, Mao Tse-Tung và Ibarruri cùng nhiều đồng chí khác đọc diễn văn mừng thọ ở đây. Và sau đó là một bữa tiệc lớn, rồi tiếp ngay sau đó là một bữa tiệc nhỏ. Họ uống những chai rượu quý được cất trong hầm rượu Y Pha Nho để dành vào những dịp đặc biệt này. Y uống rượu với sự thận trọng, vừa uống vừa để ý quan sát ngầm những khuôn mặt đỏ khê quanh y. Sau nữa, y và Lavrenty uống rượu Kathetinskoye và hát những bài ca miền Goergia. Trong ngày hai mươi hai có một cuộc tiếp tân ngoại giao đoàn vĩ đại. Trong ngày hai mươi ba, y ngồi coi hai cuốn phim Trận chiến Stalingrad của Đạo diễn Virta (phần hai) và phim Năm 1919 khó quên của Đạo diễn Visnhevsky. Cả hai phim này đều có hình ảnh y do hai diễn viên điện ảnh đóng. 
Mặc dù việc ngồi coi phim làm cho y mệt mỏi y vẫn thích hai cuốn phim này. (Cả hai đạo diễn đều được lãnh giải Stalin.) Hiện giờ vai trò của y trong cuộc nội chiến cũng như trong trận đại chiến Thế giới thứ hai, trận chiến tranh thần thánh bảo vệ quy hoạch, đã được diễn tả đúng và đầy đủ. Người ta đã thấy rõ ngay từ xưa y đã là một nhân vật vĩ đại đến là chừng nào. Y nhớ rằng y từng nhiều lần cảnh cáo và sửa lỗi cho Lênin. Lênin quá cả tin và đôi khi khờ khạo. Và đạo diễn Visnhevsky đã làm đúng khi để cho y nói trong phim: “Bất cứ người công nhân nào cũng có quyền nói lên ý kiến của mình. Có ngày chúng ta sẽ ghi điều ấy vào hiến pháp”. Việc đó có ý nghĩa gì? Ý nghĩa của việc đó là trong khi ở Yudenich để chỉ huy cuộc bảo vệ Petrograd, Stalin đã nghĩ đến việc soạn thảo một hiến pháp dân chủ trong tương lai. Thời đó tình trạng xã hội được gọi là “vô sản chuyên chế” – nhưng đâu có quan hệ gì, chỉ biết là chế độ đó đúng, chế độ đó mạnh. 
Và trong cuốn phim Trận chiến Stalingrad của Virta, đoạn phim ban đêm Stalin tâm sự với một người bạn là đoạn phim tốt, thành công. Thực ra, suốt đời Stalin, y chưa từng bao giờ có một người bạn nào lý tưởng như vậy cả, bởi vì loài người xảo trá và không bao giờ thành thực, nhưng khi ngồi coi đoạn phim cảm động đó chiếu trên màn ảnh, Stalin vẫn cảm thấy nghẹn ngào trong cổ họng và nước mắt ứa ra trên mi – (tâm hồn y còn là tâm hồn nghệ sĩ nữa) – và y thèm khát được có một người bạn thẳng thắn, không ích kỷ, một người bạn mà y có thể nói hết tất cả những gì y nghĩ ngợi trong những đêm dài. 
Nhưng dù không có cũng không sao. Quần chúng bình dân yêu mến Lãnh tụ, hiểu y và yêu y, vậy là đủ rồi – và đó là tình trạng có thật. Y nhìn thấy sự yêu mến và thông cảm ấy hiển hiện trên những trang báo, trên phim ảnh, qua những tặng phẩm sinh nhật. Ngày sinh nhật của y đã trở thành một ngày quốc khánh, và đó là một điều làm cho y ấm lòng. Không biết bao nhiêu là điện văn chúc thọ được gửi đến. Từ những viện, những cơ sở, những tổ chức, những xưởng máy và những tư nhân. Nhật báo Pravda đã xin phép được đăng tải mỗi ngày hai cột báo những điện văn này. Họ có thể đăng hết năm này qua năm khác mà vẫn không bao giờ hết được điện văn. Được lắm, đó cũng là một ý kiến hay. 
Và những tặng phẩm chất đầy mười gian phòng trong Viện Bảo tồn Cách mạng. Để khỏi ngăn cản những công dân Mạc Tư Khoa đến đó chiêm ngưỡng những tặng phẩm ban ngày, Stalin đã tới đó coi vào ban đêm. Đó là tác phẩm, chế tạo phẩm của cả ngàn tay thợ khéo, đó là những tặng phẩm đẹp nhất thế giới, những tặng phẩm hằng hà sa số được đặt, bày, treo, dựng trước mắt y. Nhưng ở đó y cũng cảm thấy lãnh đạm, chán chường. Những tặng phẩm này có ích gì cho y? Y coi thường tất cả và chán nản tất cả. Khung cảnh Viện Bảo tồn này gợi trong ký ức y một kỷ niệm khó chịu nào đó, một khó chịu mơ hồ thường ám ảnh y ít lâu nay. Y không sao biết rõ được nguyên nhân nó, y không nắm được nó, y chỉ thấy nó mơ hồ ẩn hiện và làm cho y khó chịu. Y đi qua ba gian phòng đầy tặng phẩm nhưng không chọn qua một món nào hết. Rồi y đứng lại trước một giàn máy Tivi lớn hơn hàng chữ khắc “Nhân viên Cheka kính tặng Đồng chí Stalin vĩ đại”. 1 
(Giàn Tivi này được chế tạo ở Viện Mavrino – đây là giàn Tivi duy nhất, lớn nhất được chế tạo ở Liên bang Xô Viết.) 
Rồi y quay gót và đi ra. 
Những ngày liên hoan trôi qua như thế. Y chẳng cảm thấy có gì là vui, là phấn khích hết. 
Có một cảm giác gì đó nặng nề trong lồng ngực làm cho Stalin lo âu và thắc mắc, cảm giác đó có từ lúc y đứng trong Bảo tồn viện, có một cái gì trong đó đã gây cho y cái cảm giác khó chịu ấy nhưng y vẫn không biết rõ vì cái gì. 
Quần chúng muốn y, điều đó đúng, đúng lắm nhưng quần chúng không biết nhìn xa. Làm cách nào sửa được khuyết điểm ấy? Chế độ cộng sản sẽ được thực hiện nhanh chóng và hoàn hảo biết chừng nào nếu không có những tên công chức vô hồn, nếu không có những tên cán bộ cao cấp ngu dốt, nếu không có những sơ hở, yếu kém trong công tác giáo dục và hướng dẫn quần chúng. Ngay cả bọn đảng viên cũng lầm lạc và xao lãng nhiệm vụ lịch sử của chúng. Lại còn những chậm trễ trong những kế hoạch xây dựng, những chậm trễ trong kế hoạch sản xuất, sự thiếu thốn những hóa phẩm tốt, những chương trình sai lầm, sự lãnh đạm của tất cả trước những cố gắng áp dụng kỹ thuật mới và dụng cụ mới, sự từ chối của bọn trẻ lười biếng không chịu xung phong đi công tác ở những miền xa để mở rộng biên cương, năng suất nông phẩm tụt dốc, tình trạng hoang phí của bọn cán bộ thuế, tình trạng trộm cắp trong những kho chứa, tình trạng tham nhũng, biển thủ, chiếm công vi tư của bọn ủy viên, bọn tù nhân phá hoại ngầm, rồi lại còn bọn công an chủ trương tự do, bọn hành nghề chợ đen hỗn xược, bọn đàn bà nội trợ tham lam, đòi hỏi, bọn trẻ con hư vì được quá nuông chiều, bọn chuyên bàn tán nhảm trên xe buýt, bọn văn nghệ sĩ đòi tự do sáng tác, bọn “phê bình, chỉ trích” láo lếu, bọn làm điện ảnh phá phách không còn biết đến kỷ luật là gì. 
Thật vậy, quần chúng có quá nhiều lỗi lầm cần phải sửa đổi. 
Như trong năm 1941 chẳng hạn, cái gì đã làm cho họ rút lui? Họ đã được lệnh ở lại đó cho tới chết. Tại sao họ không chịu làm thế? Năm đó, ai đã rút lui, ai đã bỏ chạy, nếu không phải là quần chúng? 
Nhưng nhớ lại năm 1941, Stalin cũng không sao tránh thoát được việc nhớ lại những yếu đuối và lầm lẫn của chính y – y đã vội vã đi khỏi Mạc Tư Khoa trong tháng mười năm ấy, sự bỏ đi của y không cần thiết. Tất nhiên đó không phải là y bỏ trốn, bởi vì trước khi đi, Stalin đã để lại nhiều người có trách vụ. Y đã ra lệnh cho những người phải ở lại chiến đấu bảo vệ thủ đô đến giọt máu cuối cùng, nhưng hỡi ơi, chính những đồng chí được tin cẩn này lại yếu tinh thần, trước sức tấn công của quân Đức Quốc Xã, họ bỏ chạy và sau cùng Stalin lại phải trở về và tự lực bảo vệ thủ đô. 
Y đã cho đi tù tất cả những kẻ nào không may được chứng kiến và nhớ lại cơn hoảng loạn trong ngày 16 tháng mười năm đó. Nhưng y cũng tự trừng phạt chính y -y đã đứng duyệt cuộc diễn binh trong tháng mười ấy. Khoảnh khắc thời gian đó cũng giống như y bị ngã xuống một hố băng đá ở Turukhansk, nơi y bị lưu đày. Ở Turukhansk thời đó chỉ có băng giá và tuyệt vọng, nhưng từ băng giá tuyệt vọng đã trồi lên sức mạnh. Đó không phải là một sự kiện đáng cười – một cuộc diễn binh trong khi quân địch đã đến sát chân thành. 
Nhưng muốn trở thành nhà Lãnh tụ vĩ đại nhất của muôn đời, nhà Lãnh tụ vĩ đại nhất của những nhà Lãnh tụ vĩ đại, người ta phải hy sinh, chịu đựng nhiều. Lẽ tự nhiên rồi. 
Mệt mỏi vì bất động, vô tình Stalin để cho tâm trí y bị tràn ngập bởi những tư tưởng hắc ám nặng nề. Y không chú tâm đến bất cứ vấn đề gì rõ rệt trong lúc này. Y nhắm mắt lại và nằm đó trong khi những mẩu ký ức rời rạc theo nhau trở về trong óc y. Không biết vì sao mỗi khi y hồi tưởng, y không nhớ được những kỷ niệm tốt đẹp, êm đềm, chỉ có những kỷ niệm xấu, khó chịu hiện ra. Nếu y nhớ lại những cảnh vật miền Gori, nơi y ra đời, những ngọn đồi cỏ xanh ở đó không hiện ra, những dòng sông Medzhuda, Liakhva nước trong cũng không thấy hiện ra. Y chỉ nhớ lại toàn những gì đáng thù ghét ở đó, những gì đã ngăn cản không cho y trở lại thăm nơi đó, dù chỉ là thăm trong một tiếng đồng hồ ngắn ngủi, nơi y đã ra đời, đã sống những ngày thơ ấu. Không một lần nào y trở về đó để thăm lại mái nhà xưa. Nếu y nhớ lại năm 1917, y chỉ nhớ có sự kiện Lênin từ ngoại quốc trở về với mớ chủ nghĩa chủ quan và sự kiện Lênin đảo lộn tất cả những thành quả gặt hái được từ trước, và nhớ sự kiện thiên hạ đã cười ồ chế nhạo, khinh khi ra sao khi Stalin đề nghị thành lập một đảng hợp pháp và chung sống hòa bình với chính phủ lâm thời. Họ đã cười nhạo y hơn một lần – nhưng tại sao họ lại cứ trút những việc khó khăn, nguy hiểm, tối tăm cho y làm? Họ cười y nhưng cũng chính y chứ không phải người nào khác, trong ngày mùng 6 tháng bảy năm ấy được họ sai đi từ Lâu đài Kshesinskaya đến đồn Petropavlovsk để thuyết phục đám thủy thủ ở đây trao đồn này lại cho Kerensky và rút lui về Kronstadt đám thủy thủ ném đá đuổi về. Người ta phải biết cách nói chuyện với những người dân Nga. Y nhớ lại năm 1920 và lập tức hình ảnh Tukhachevsky hiện ra khi gã, với đôi mắt long lên, với vành môi nhăn nhúm, tố cáo lớn tiếng rằng chính là lỗi ở Stalin nên mới không chiếm được Warsaw. Gã ngu dại ấy chết vì lời tố cáo bậy bạ ấy. 
Trong suốt đời y dường như không có qua một chuyện gì êm đẹp. Đời y không được êm đẹp bởi vì luôn luôn bị người khác can thiệp. Và khi kẻ này bị thanh toán đi, lại có những kẻ khác hiện ra. Cứ thế và cứ thế người ta quấy rầy y mãi không thôi. 
Y nghe tiếng gõ cửa. Những tiếng này không hẳn là tiếng gõ cửa, chúng như tiếng cào nhẹ của một con chó bên ngoài cánh cửa gỗ dày. 
Stalin xoay một nút điện bên tay ghế, đó là nút điện mở khóa cửa từ xa. Khóa cửa bật ra với một tiếng “cách” khẽ và cánh cửa mở hé. Cửa này không có màn che vì Stalin không thích quanh y có màn cửa, rèm che giường, bất cứ món gì người khác có thể ẩn nấp được. Cánh cửa hé mở đủ để cho một con chó len vào nhưng thay vì con chó, cái đầu hói nhẵn bóng của Poskrebychev rồi bộ mặt lúc nào cũng có vẻ trung thành lương thiện của gã hiện ra. 
Chú ý đến tình trạng sức khoẻ đêm nay của Lãnh tụ, Poskrebychev thấy Stalin nằm dài trên ghế với chiếc khăn lông lạc đà đắp trên vai, nhưng gã không hỏi thăm đêm nay Lãnh tụ có mạnh khoẻ hay không – sức khoẻ Stalin bao giờ cũng được coi là hoàn hảo – gã chỉ nói nhỏ đủ nghe: 
“Yos Sarionich Abakumov sẽ có mặt vào lúc hai giờ rưỡi. Ông có tiếp hắn không? Có thể cho hắn về?” 
Iosif Vissarionovich mở nút túi áo ngực rút ra chiếc đồng hồ – (cũng giống như những người sống theo kiểu cách cũ, y không chịu nổi loại đồng hồ đeo cổ tay). 
Chưa đến hai giờ sáng. 
Y không muốn thay y phục và rời căn phòng này để vào văn phòng. Nhưng y cũng không thể để cho kỷ luật bị lỏng lẻo. Nếu y lỏng tay cương một chút, chỉ cần một chút thôi, bọn họ sẽ biết ngay tức khắc. 
Stalin trả lời với vẻ mệt mỏi và đôi mắt chớp luôn mấy cái: 
“Để coi. Ta chưa biết.” 
“Dạ. Vậy thì cứ để cho hắn tới, cho hắn chờ.” 
Poskrebychev nói và gật đầu liền ba cái. (Gã biết rằng càng tỏ ra con nít và khờ khạo chừng nào địa vị của gã càng vững chắc chừng ấy). Rồi nét mặt gã nghiêm lại, gã chú ý nhìn Lãnh tụ: 
“Xin ông cho lệnh về đêm nay?” 
Stalin nói dưới chòm ria mép: 
“Sasha, đi đi. Để ta yên.” 
Poskrebychev gật đầu thêm một lần nữa và lùi ra, khép chặt cánh cửa lại. 
Iosif Vissarionovich nhấn nút điện khóa cửa lại và kéo chặt chiếc khăn đắp lên vai, xoay mình nằm nghiêng qua phía bên kia. 
Y nhìn thấy trên mặt chiếc bàn nhỏ ở đầu ghế có một quyển sách nhỏ, in trên giấy báo thường, bìa màu đen và đỏ. 
Đột nhiên y nhận ra cái gì đã làm cho y khó chịu, cái gì đã đè nặng tim y, đã cháy âm ỉ trong ngực y và làm cho lễ sinh nhật của y mất hứng thú: Cái đó là một người, một người đã can thiệp bậy vào đời y mà y vẫn chưa thanh toán được, người đó là Tito. Tito! 
Tại sao chuyện này lại có thể xảy ra được? Sao y lại có thể lầm lẫn đến như thế về con bọ cạp đó? Những năm 1936, 1937 là những năm vinh quang rực rỡ nhất trong đời y. Trong hai năm đó y đã trừ khử được những kẻ khó trừ khử nhất, không biết bao nhiêu đầu người đã rơi trong hai năm ấy nhưng vậy mà y đã để cho Tito lọt qua kẽ tay y. 
Với một tiếng gừ, Stalin buông hai chân xuống sàn. Y ngồi thẳng lên và giơ tay lên vuốt nhẹ mái tóc hung hung, xám xám, mái tóc đã có một miếng hói thấy rõ. Những sự bất-như-ý, những bất mãn chất chứa trong dĩ vãng ào ào trở lại làm cho y choáng váng. Như một người hùng trong huyền thoại, suốt đời Stalin đã bận rộn với việc chặt đầu con quái long, nhưng vừa chặt xong đầu này con vật lại mọc ngay đầu khác. Trong những năm qua y đã chặt đầu kẻ thù chất lên thành núi, nhưng y đã vấp phải một cái rễ cây. 
Isoif đã ngã vì Isoif 2. 
Kerensky, tuy trước đây cũng là kẻ thù của Stalin, vẫn còn sống ở đâu đó nhưng Kerensky không đáng cho y để ý đến nữa. Với Stalin, dù bây giờ Nicholas Đệ nhị hay Kolchak có sống lại cũng vậy thôi, y không thấy thù hận gì với hai người này, họ là những kẻ thù công khai của y, họ không lẩn tránh để rồi bày đặt thực hiện một chế độ xã hội tốt đẹp hơn chế độ xã hội của Đại Lãnh tụ Stalin. 
Một chế độ xã hội tốt đẹp hơn? Một chế độ xã hội khác với chế độ xã hội của Stalin? Mẹ kiếp. Ai có thể thành lập được chế độ xã hội mà không có Stalin? Vô lý. 
Đó không phải là vấn đề Tito có thành công hay không. Làm sao tên ngu đần đó có thể thành công cho được. Nhất định là thế rồi. Stalin nhìn Tito như một ông bác sĩ già ở đồng quê, đầy kinh nghiệm, từng mổ không biết bao nhiêu là bộ phận trong cơ thể những người bệnh, trong những túp lều không có lò sưởi, trên những tấm ván đặt ngay bên cạnh đường đi, nhìn một chú y sĩ tập sự bận áo trắng loay hoay giải phẫu. 
Những công trình do Lênin để lại đã được đổi mới ba lần, những lý thuyết của Marx và Hegel đã được sửa lại hai lần. Tất cả những kẻ không đồng ý với Stalin, những kẻ được nhắc đến từ thời Lênin còn sống, những kẻ đòi thực hiện xã hội chủ nghĩa theo những đường lối khác với chủ trương của Stalin đều ngủ yên dưới đáy mồ, đều đã bị quên lãng, khi từ cả những cánh rừng xa xôi nhất ở miền Bắc không còn vang lại qua một hoài nghi, một chỉ trích nào, đột nhiên Tito từ trong bóng tối chui ra với lão lý thuyết gia – tín điều Kardel và tuyên bố chủ nghĩa xã hội cần được thực hiện theo một lối khác. 
Nghĩ tới đây Stalin nhận thấy con tim y đập mạnh hơn, mắt y mờ đi và toàn thân y có những cái co giật bắp thịt khó chịu. 
Y cố gắng điều hòa nhịp thở. Y đưa tay vuốt mặt và sờ nhẹ bộ ria mép. Y không thể bỏ qua được. Nếu y chịu bỏ qua, Tito sẽ làm cho y mất hoan lạc trong những năm cuối cùng của đời y, sẽ làm cho y ăn mất ngon ngủ mất yên. 
Khi mắt y đã nhìn rõ lại, một lần nữa Stalin lai nhận thấy cuốn sách hai bìa màu đen đỏ nằm trên bàn. Cuốn sách này không có tội gì cả. Stalin với tay cầm cuốn sách mở ra xem và y tỏ vẻ hài lòng, y đặt lại cái gối dựa để thoải mái hơn, và y lại nửa nằm, nửa ngồi với cuốn sách mở trên tay trong nhiều phút. 
Đây là cuốn sách được ấn hành nhiều chục triệu cuốn, được dịch ra 10 tiếng Âu Châu, nhan đề của nó là: “Tito, tên phản bội” và tác giả của nó là Renaud de Jouvenel – (Nội dung cuốn này giá trị ở chỗ tác giả, một người Pháp, một người có cái tên quý phái, đã đứng ngoài cuộc tranh chấp, đã tỏ ra hoàn toàn vô tư và khách quan) – Stalin đã đọc kỹ cuốn sách này trước đó ít ngày và cũng như đối với những cuốn sách làm y khoan khoái, y vẫn để nó quanh quẩn bên mình y. Cuốn sách này sẽ làm cho tên độc tài tàn ác, hèn nhát, gian trá đó phải mở mắt. Tên phản bội dơ dáy. Tên ngu đần đệ nhất thiên hạ. Điều đáng giận nữa là cả những đảng viên Cộng sản ở Tây Âu cũng có nhiều người bị tên phản bội này làm hoang mang. Lão André Marty – già đầu rồi mà còn ngu si, lão đã bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản Pháp – đã lên tiếng bênh vực Tito. 
Y lật dần những trang sách. Những sự thực được ghi rõ ở đây. Sau khi đọc cuốn này, không ai còn có thể ca tụng được tên phản bội Tito nữa: Sự thực là đã hai lần vì hèn nhát, Tito đã muốn đầu hàng quân đội Đức Quốc Xã, nhưng Arso Jovanovich, Tổng trưởng Bộ Nhân viên, đã ép buộc Tito phải ở lại chức vụ Tổng Tư lệnh. Arso đã bị giết, Petrichevich cũng bị giết: “Bị giết vì yêu mến Stalin.” Sách ghi như thế. Ở khắp nơi người ta giết lẫn nhau, những người tốt nhất bị giết chết trước nhất, bọn người xấu xa nhất được để dành cho Stalin giết. 
Tất cả sự thật đều nằm trong sách này, tất cả – Tito rõ ràng là một tên gián điệp của bọn Ăng-lê, bằng chứng là hắn tỏ ra kiêu hãnh với những chiếc quần soọc trắng đi vớ cao tới đầu gối bắt chước bọn Ăng-lê của hắn, hắn tỏ vẻ vênh vang với những huy hiệu hoàng gia thêu trên ngực áo, trên mũ hắn, người ngợm, mặt mũi hắn trông ghê tởm, y như là tên Goering, hắn còn khoái phô trương lòe loẹt, nào là cả trăm huy chương trên ngực, nào là nhẫn kim cương đeo ở ngón tay (với một gã dốt nát về binh pháp như hắn còn có cái gì để mà kiêu căng nữa?) 
Một cuốn sách vô tư đứng đắn. Không rõ Tito có tật xấu nào về tình dục chăng? Chuyện đó cũng cần viết vào đây chứ!
“Đảng Cộng sản Yugoslav nằm trong tay bọn sát nhân và bọn gián điệp. Tito chỉ có thể nắm được quyền lãnh đạo nhờ có Béla Kun và Traicho Kostov ủng hộ.” 
Kostov! Cái tên này làm cho Stalin khó chịu đến là chừng nào. Cơn giận cuồn cuộn chảy trong máu y. Y đá mạnh chân y ra như y đá vào mặt tên khốn kiếp Kostov. Và đôi mi mắt xám của Stalin rung động vì cảm giác công lý đã được thi hành. 
Tên Kostov đốn mạt, tên chó đẻ dơ dáy. 
Và giờ đây khi hồi tưởng, Stalin thấy rõ những thủ đoạn của bọn khốn kiếp đó. Y đã tự hóa trang một cách tài tình, khéo léo. Y đã thắng được Bela Kun vào năm 1937 nhưng mới trước đây có mười ngày, Kostov đã làm ô danh tòa án Xô Viết, bằng thủ đoạn tráo trở thâm độc của hắn. Stalin từng thành công rực rỡ trong nhiều vụ kết án ly kỳ, không biết bao nhiêu kẻ thù của y đã bị y làm cho thành hèn hạ, tự hạ và thú nhận những tội lỗi đểu giả nhất – vậy mà y đã thất bại trong vụ kết án Kostov. Đó là một xấu xa nhục nhã cho chế độ xã hội vì vụ này bị cả thế giới biết. Kostov trong lúc bị thẩm vấn đã lừa được cả những chuyên viên thẩm vấn kinh nghiệm nhất, hắn khóc lóc, van xin, hắn lê gối lạy lục – để rồi khi ra trước phiên tòa xử công khai, trước mắt những thông tín viên ngoại quốc được mời đến nghe hắn thú tội, Kostov đã chối tất cả, chối hết. Hắn không còn biết gì đến liêm sỉ. Lương tâm đảng viên cộng sản của hắn để đâu? Còn đâu là tình đoàn kết vô sản thiêng liêng? Hắn chết nhưng hắn phải biết chết có lợi gì cho đảng mới phải chứ? 
Stalin ném cuốn sách xuống bàn. Không, y không thể nằm yên ở đây được. Y phải tiếp tục chiến đấu. 
Một quốc gia không lo âu có thể ngủ yên nhưng vị cha hiền của dân tộc không thể ngủ được, Stalin đứng dậy nhưng không đứng thẳng hẳn người. Y mở cánh cửa thứ hai trong phòng – cánh cửa này không phải là cánh cửa hồi nãy Poskrebychev thò đầu vào – bước qua và khóa cửa lại. Y lê chân đi qua một hành lang hẹp, quanh co, không có cửa sổ, hành lang được soi sáng bởi những miếng kiến lợp bên trên, y đi ngang những tấm gương soi chỉ thông suốt có một chiều: Y có thể nhìn qua gương ra bên ngoài nhưng người bên ngoài không thể nhìn được vào trong, để vào phòng ngủ. Phòng ngủ này cũng hẹp, trần thấp, không cửa sổ, cũng có máy điều hòa không khí. Phòng này có những tấm thép dày gắn trong vách gỗ dát kín bốn bức tường và bên ngoài là đá đảng.  Dùng chiếc chìa khóa nhỏ xíu đeo ở dây lưng Stalin mở nắp kim khí của một bình đựng rượu và rót chất rượu kích thích mà y thích uống nhất và một chiếc ly nhỏ, y uống cạn ly rượu ấy rồi lại khóa nắp bình rượu lại. 
Đi tới đứng trước gương, y soi mặt y trong gương. Đôi mắt y trong, sắc và nghiêm kinh khủng. Ngay cả những vị Chủ tịch Hội đồng Nội các cũng không sao giữ được trầm tĩnh trước đổi mới này. Bên ngoài của y nghiêm trang, đơn giản, đúng là bên ngoài của một lãnh tụ. 
Y nhấn chuông gọi tên hầu cận người miền Georgia của y vào sửa soạn y phục cho y thay. 
Ngay cả trước mắt những kẻ hầu hạ luôn luôn ở sát bên y, Stalin cũng tỏ ra trang nghiêm y hệt hình ảnh của y trong lịch sử. 
Lúc nào y cũng là con người thép. Tinh thần, ý chí lúc nào cũng như thép.

——————————–

1Cheka: Tên tắt để gọi Cơ quan Chrezvychainaya Kommissia, cơ quan mật vụ chuyên dò xét, bắt bớ và khủng bố những người bị coi là phản cách mạng ở Liên bang Xô Viết. Về sau, cơ quan này còn có những cái tên khác là GuePeou hoặc MVD. Nhân viên Cheka bị dân Nga sợ và thù nhất.
2]Tito, Thống chế và hiện nay là Thủ tướng chính phủ nước Nam Tư, cũng tên là Iosif (Joseph) như Stalin. Ra đời năm 1891, Tito cũng theo chủ nghĩa xã hội nhưng chống lại chính sách của Stalin, ly khai với Nga Xô. Stalin rất thù vì Tito chống lại bọn lãnh tụ Cộng sản Nga. Có thể nói Tito là mối hận sâu cay nhất của Stalin. Stalin chết không nhắm mắt nổi là vì không hạ được Tito.

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 24 Feb 2026

Cuối tháng 12/1998, Trần Trường, chủ tiệm Hi-Tek, sang băng phim truyện trên đường Bolsa, California, treo cờ Việt Cộng và ảnh Hồ Chí Minh trong tiệm của y, tại phố Bolsa, quận Cam, California. Cậy mình đang ở trên một xứ sở tự do, theo tu chính án số I của Hiến Pháp Hoa Kỳ, Trần Trường cũng như mọi công dân Hoa Kỳ được bảo vệ quyền tự do phát biểu, không ai có quyền bắt Trần Trường phải tháo gỡ ảnh và cờ của y xuống. Người ta nói y khùng, vì chính lá cờ và bản mặt này, mà y đã bỏ nhà cửa, mồ mả ông cha vượt biên đến

Mỹ, bây giờ đến một lúc mà y nghĩ có quyền tự do của một công dân Mỹ, y nghĩ có quyền làm những việc y thích. Trần Trường được sự bênh vực của các luật sư Mỹ trong hội ACLU, được cảnh sát bảo vệ tối đa. Y tin tưởng vào lý, nhưng về tình, Trần Trường đã xát muối lên vết thương của đồng bào, gây sự phẫn nộ cho hàng nghìn người Việt ty nạn Cộng Sản, tập trung đến khu phố này, để biểu dương thái độ chống hành động thách thức của một thành viên trong cộng đồng. Y có quyền tự do phát biểu thì đồng bào ở đây cũng có quyền bày tỏ thái độ của mình. Từ ngày 19/1/1999, mỗi ngày có hằng trăm người tập trung trước cửa tiệm để biểu tình chống đối và đòi Trần Trường phải hạ cờ và ảnh Hồ. Không ai dùng quyền và lý để phô trương hình ảnh Hitler trong cộng đồng Do Thái mà ruột thịt của họ đã chết trong lò thiêu của Đức Quốc Xã, cũng như Pol Pot đối với tập thể người Kampuchea sống sót sau thảm kịch Kmer Đỏ. Chuyện treo ảnh và cờ đỏ có thể là chuyện nhỏ trong một thế giới lớn, nhưng là cái gai nhọn đâm vào con mắt người tị nạn phải nhổ đi.

Cao điểm nhất là vào tối ngày 20/2/1999, theo lời kêu gọi của báo chí truyền thông Việt Nam hàng nghìn người Việt Nam đã tập họp tại khu phố Hi-Tek này, mang theo cờ và biểu ngữ đả đảo Cộng Sản, hát nhạc tranh đấu, lên án thái độ của Trần Trường và đả đảo chế độ Cộng Sản. Cảnh sát Westminster đã huy động hằng trăm cảnh sát với chó nghiệp vụ, vũ khí, xe chữa lửa, sẵn sàng đương đầu với người biểu tình. Cuối cùng, cuộc tranh đấu ôn hòa nhưng quyết liệt, ròng rã trong 53 ngày đêm của đồng bào Nam California, được sự đồng tình chi viện của nhiều nơi, đã đưa đến thắng lợi. Để tránh sự giao động bất an, mất trật tự thành phố, trong bóng tối, đã có người gỡ ảnh và cờ trong tiệm Hi- Tek xuống đem đi và Trần Trường đối diện với luật pháp vì tội danh sang băng lậu.

Hiện nay vì nhu cầu đổi không khí, trong nước thèm nhạc vàng, và vì thù lao cao gấp nhiều lần, ca sĩ hải ngoại đua nhau về trình diễn trong nước càng ngày càng đông, và đôi khi vì muốn lấy lòng các cơ quan chính quyền trong nước, đám ca sĩ này thường tuyên  bố với báo chí và truyền thông những lời tâng bốc, ca tụng rất sống sượng. Ca sĩ có quyền về hát ở trong nước, họ cũng có quyền tuyên bố vung vít như vậy, kể cả phủ nhận những tình cảm và sự vinh danh của hải ngoại đã dành cho họ, nuôi họ từ ngày chân ướt chân ráo bước chân lên mảnh đất tự do. Bây giờ đã đến lúc “trắng da dài tóc,” lại sắp qua thời son trẻ, nên vội vàng tranh thủ đi Việt Nam kiếm tiền. Nhưng nói về tình, trong một đất nước bất công đang xẩy ra hằng ngày, những nhà tranh đấu đang bị giam cầm, tù đày, các ca sĩ lại là những người ty nạn đã bỏ đất nước ra đi, nay lại quay về nhởn nhơ như bầy “thương nữ hát khúc Hậu Đình Hoa,” nên lấy tấm gương Việt Khang mà tìm lại chút lòng liêm sĩ. Và cũng đừng nên “qua sông phụ sóng” xem thường khán giả hải ngoại đã nuôi họ những ngày đầu khó khăn, như lời tuyên bố “ca sĩ về Việt Nam là vì họ cần khán giả.” Như vậy phải chăng người ta đánh giá hải ngoại toàn “tai trâu!” Ngay những ca sĩ khi về trình diễn Việt Nam mặc trang phục hở hang, quê mùa, thiếu thẩm mỹ, tưởng như vậy là độc đáo, ăn khách, đã bị chính báo chí trong nước lên án, chê bai, đến nổi phải cúi đầu chịu nhục xin lỗi. Về tình, cũng là cái nhục chung cho hải ngoại, khi người trong nước có cái nhìn “cá mè một lứa,” vì những người này lại trở về ca hát, nhún nhẩy trên sân khấu hải ngoại! Chúng tôi cũng biết rằng ngày 3/2, 2/9, 30/4 …không phải là ngày riêng của ai, cho nên ai muốn nghĩ gì thì cứ nghĩ, ai muốn làm gì thì làm. Nhưng không lẽ khi nhà hàng xóm có ông bố vừa mới mất mà chúng ta rước ban nhạc về nhà ca hát suốt đêm. Về lý không ai cấm đoán, nhưng về tình, sao nỡ nào muối mặt đi làm những chuyện như vậy.

Đối với miền Nam, biến cố 30 tháng 4-1975 là ngày “mất nước”, “đứt phim”, “tan hàng”, “ngày quốc hận”, tháng tư là “Tháng Tư Đen,” một thời điểm ô nhục, mang nỗi đau của người lưu vong phải sống xa quê hương, nhưng cũng có người không quan tâm, nếu ngày đó không mang dấu ấn gì, phải chăng họ và gia đình ở trong số “một triệu người vui,” có sá gì đến chuyện bên cạnh đó, có “một triệu người buồn!”

Tại Nam Cali, các vị dân cử đại diện cho những địa hạt có nhiều cử tri Việt Nam đã là đồng tác giả nghị quyết “Tuần Tưởng Niệm Tháng Tư Đen”. Nghị Quyết được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của 66 đồng viện và được thông qua với tỷ số 100% tại Hạ Viện California ngày 16 tháng 4-2012 với mục đích: “mong muốn được chia sẻ nỗi đau buồn với dân tộc Việt Nam và vinh danh các chiến sĩ đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến Việt Nam trong Tuần Tháng Tư Đen.” Người Mỹ kêu gọi dành thời gian 30 tháng Tư để tưởng nhớ những người đã hy sinh, thông cảm nỗi đau buồn của chúng ta, trong khi chúng ta, những người đã là nạn nhân của ngày 30/4, có thể nào cho rằng tôi không cần biết ngày này, tôi muốn đi đâu, làm gì thì làm. Trong tình nghĩa, người Việt chúng ta đâu có thể coi ngày 30 tháng 4 cũng như mọi ngày, một ngày cuối tuần, một ngày lễ, một ngày để vui chơi, hội hè, một ngày thuận lợi để kiếm khách, đàn ca hát xướng theo sở thích riêng của mình? Đem mục đích chính trị đặt cho một buổi trình diễn văn nghệ như thế theo tôi là hơi cao, vì sao chúng ta không nghĩ chẳng qua lý do là bởi đồng tiền, mà mỗi khi đã vì tiền, người ta có thể quên tất cả.

Trong luật giao thông của DMV, vấn đề an toàn quan trọng hơn là quyền ưu tiên khi lái xe, mặc dầu quyền ưu tiên thuộc về pháp lý.

Và không phải lúc nào chúng ta cũng hãnh tiến, lấy lý sự ra mà đương đầu, đối đáp, nhiều lúc phải xử sự, lấy tình nghĩa ra mà ăn ở với nhau. Những chuyện chúng ta lấy làm vui, cho là phải, chúng ta có quyền làm, nhưng nếu làm cho người khác bị tổn thương, đau xót thì sao? Đến một lúc nào đó, người ta sống không phải vì tiền, cũng không phải vì danh vọng, nhưng sống sao cho thuận với lòng người, không thẹn với lương tâm, không phản bội những người đã chết, sống sao cho được là người tử tế, không phải để thỏa mãn lòng tự ái nhất thời, cho dư luận chỉ là lời gió thoảng. Lắng nghe dư luận không phải là có đầu óc nô lệ, mà là có tri thức. Ông Âu Dương Tu, đời Tống cho rằng, trong đạo làm người, bỏ ngoài tai lời thiên hạ, khinh thường mà không suy xét, thì trăm việc đều hư, mà đưa đến sự tan vỡ!

Tình và lý như chuyện những đứa con bất hiếu, bỏ bê cha mẹ, không xã hội nào lấy luật pháp, lý lẽ ra mà trừng phạt, cũng không thể dùng xe bắt chó mà xử lý, nhưng về tình nghĩa, đạo lý, dư luận có quyền lên án hay không?

4/24/12

HP

Đại tá Quoc Nam Nguyen, Không quân Hoa Kỳ, Chỉ huy trưởng Cơ quan quản lý hợp đồng Quốc phòng vùng Thái Bình Dương

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on February 21, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 23 Feb 2026

Đại tá Quoc Nam Nguyen (hình của linkedin.com).

Đại tá Không quân Hoa Kỳ Quoc Nam Nguyen được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng Cơ quan quản lý hợp đồng Quốc phòng vùng Thái Bình Dương (DCMA Pacific) từ tháng 5 năm năm 2025. Ông chỉ huy một đội ngũ đa Quốc gia gồm 100 thành viên, hoạt động tại 12 địa điểm trên khắp khu vực Thái Bình Dương, bao gồm Úc, Ấn Độ, Nam Dương, Nhật Bản, Nam Hàn, Tân Tây Lan (New Zealand), Phi Luật Tân (Philippines), Singapore, Thái Lan và Guam. Cơ quan quản lý hợp đồng Quốc phòng vùng Thái Bình Dương cung cấp các dịch vụ quản lý hợp đồng bao gồm bảo đảm tiêu chuẩn sản phẩm, kỹ thuật, vận hành hàng không các sản phẩm và các dịch vụ trị giá 54 tỷ đô la được cung cấp cho các đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng qua chương trình bán vũ khí cho nước ngoài và quỹ khoa học Quốc gia. Cơ quan quản lý hợp đồng Quốc phòng Thái Bình Dương văn phòng đặt tại Sembawang, Singapore là một bộ chỉ huy khu vực quan trọng, quản lý các hợp đồng quốc phòng trong khu vực Thái Bình Dương thuộc Cơ quan quản lý hợp đồng Quốc phòng (DCMA) do Phó Đô đốc Stephen Tedford chỉ huy.

Đại tá Quoc Nam Nguyen tốt nghiệp các Văn bằng: Cao học quản trị kinh doanh (MBA), Đại học Wilmington University, năm 2006; Văn bằng Cao học Khoa học (MS) nghệ thuật và khoa học/nghiên cứu tác chiến quân sự, Trường Cao đẳng Chỉ huy và Tham mưu Không quân Hoa Kỳ (USAF Air Command and Staff College), năm 2015.

Đại tá Không quân Hoa Kỳ Quoc Nam nhận quyền chỉ huy Cơ quan quản lý Hợp đồng quốc phòng (DCMA) khu vực Thái Bình Dương tại Singapore (hình của linkedin.com).

Những đơn vị và nhiệm vụ quan trọng Đại tá Quốc Nam Nguyen đảm nhận qua các thời gian được ghi nhận:

-Sĩ quan điều hành, quan hệ khu vực thuộc Trung tâm nghiên cứu an ninh Châu Á Thái Bình Dương Daniel K. Inouye tại Honolulu, Hawaii, từ tháng 6 năm 2015 đến tháng 6 năm 2017.Thiếu tá Quoc nam Nguyen hổ trợ Trưởng phòng điều hành 7 thành viên trong các hoạt động tiếp vận của các chương trình hội thảo/hội nghị trực tiếp liên quan đến 45 Quốc Gia trong khu vực Á Châu – Thái Bình Dương. Ông hướng dẫn một nhóm 8 viên chức tổ chức Hội nghị Tham mưu trưởng Quốc phòng năm 2015 cho Tư lệnh Thái Bình Dương (PACOM), tổ chức tại Honolulu, Hawaii, và Hội nghị Tham mưu trưởng Quốc phòng năm 2016, tổ chức tại Manila, Philippines. 28 vị Tham mưu trưởng Quốc phòng cùng các đoàn đại biểu đã được đón tiếp tại Hawaii và Philippines để hợp tác và đối thoại về an ninh. Ông đã điều phối tất cả các vấn đề về di chuyển, khách sạn, lập kế hoạch các hoạt động xã giao cho cả hai hội nghị. Ông cũng đã tổ chức nhiều khóa học chuyên môn cho 67 sĩ quan cao cấp và các vị Tướng từ 32 quốc gia, và hai tổ chức quốc tế nhằm tăng cường đối thoại trong bối cảnh chính trị ngày càng khó khăn. Các khóa học này thảo luận về hàng hải, tiếp liệu, an ninh, hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thiên tai, bảo đảm sự tham gia vào các hoạt động quyền lực mềm giúp duy trì căng thẳng khu vực ở mức độ có thể kiểm soát được.

-Trưởng Chi nhánh hợp đồng năng lực toàn cầu, Bộ phận Hợp đồng thuôc Bộ tư lệnh Không quân Hoa Kỳ tại Ngũ giác đài, Arlington, Virginia, từ tháng 6 năm 2017 đến tháng 8 năm 2018. Trung tá Quoc Nam Nguyen chỉ huy một nhóm giám sát danh mục đầu tư trị giá 521 tỷ đô la của Bộ Quốc phòng cho các loại chiến đấu cơ, Phi cơ oanh tạc. Ông đã phối hợp với các nhóm mua sắm trong cuộc cạnh tranh phương tiện dàn phóng dùng một lần cải tiến (EELV) trị giá 59 tỷ đô la, bảo đảm hỗ trợ và dịch vụ phóng NSS đến hết năm tài khoá 2024; dự án GPS III trị giá 10 tỷ đô la, chế tạo 22 phương tiện không gian để tăng cường khả năng chống nhiễu; kế hoạch mua sắm hệ thống hồng ngoại liên tục trên không thế hệ tiếp theo (OPIR) trị giá 7,2 tỷ đô la, sử dụng thẩm quyền mua sắm nhanh theo Mục 804 đầu tiên, và phê duyệt kinh doanh hệ thống răn đe chiến lược trên mặt đất (GBSD) trị giá 700 triệu đô la, bảo đảm việc thay thế hoả tiễn đạn đạo liên lục địa (ICBM)..

-Phó Giám đốc, Hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa (HADR), hợp tác y tế toàn cầu và an ninh Toà đại sứ và ứng phó khủng hoảng, văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng về chính sách của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ tại Ngũ giác đài, Arlington, Virginia, từ tháng 8 năm 2018 đến tháng 8 năm 2021.

Trung tá Quoc Nam Nguyen và Phụ thân, ông Thu Nguyen, cựu Phi công Không quân VNCH, đang thử nghiệm thiết bị mô phỏng phòng thí nghiệm hàng không của Trung tâm Huấn luyện Hàng không thuộc Viện Ngôn ngữ Quốc phòng tại Trung tâm Anh ngữ của Viện Ngôn ngữ Quốc phòng tại Căn cứ Liên hợp San Antonio-Lackland, Texas, ngày 7 tháng 3 năm 2023. (ảnh của Agnes Koterba, Không quân Hoa Kỳ).

-Trung tá Quoc Nam Nguyen, Chỉ huy trưởng Phi đoàn 338 cung ứng doanh nghiệp tại San Antonio, Texas, từ tháng 8 năm 2021 đến tháng 7 năm 2023. Ông chỉ huy 98 chuyên gia hợp đồng quản lý danh mục nhiệm vụ hỗ trợ sự sống và huấn luyện trị giá khoảng 22 tỷ đô la cho 24 Không đoàn Không quân và 11 căn cứ thuộc Bộ Tư lệnh huấn luyện và giáo dục Không quân, Cục tuyển mộ Không quân và các chương trình bán vũ khí cho nước ngoài của Cục Huấn luyện hỗ trợ an ninh Không quân.

-Phó Giám đốc phụ trách hợp đồng Bộ Tư lệnh hệ thống Không gian tại Los Angeles, California, từ tháng 7 năm 2023 đến tháng 5 năm 2025. Đại tá Quoc nam Nguyen hỗ trợ các hoạt động cho Giám đốc phụ trách hợp đồng lãnh đạo 300 chuyên gia hợp đồng trong tất cả các hoạt động hợp đồng của Bộ Tư lệnh hệ thống Không gian trên danh mục đầu tư không gian trị giá 72 tỷ đô la. Và hiện nay, Chỉ huy trưởng Cơ quan quản lý hợp đồng Quốc phòng vùng Thái Bình Dương (DCMA Pacific)

Đại tá Quoc nam Nguyen là 1 trong 33 Đại tá Không quân Hoa Kỳ gốc Việt, 14 vị hồi hưu và 1 vị đã qua đời**, danh sách 18 Đại tá Không quân Hoa Kỳ gốc Việt đương nhiệm được ghi nhận sau đây: Đại tá Bui S Jeffrey; Đại tá Thang T. Doan; Đại tá Duong T An; Đại tá Tina H Nguyen; Đại tá Van T Thai; Đại tá Tam T Dinh; Đại tá Vinh Q. Tran; Đại tá Lawrence Vu Nguyen; Đại tá Cuong M. Nguyen; Đại tá Anthony LeMinh Truong; Đại tá Nga T. Do; Đại tá Cang Quoc Bui; Đại tá Asan Q Bui; Đại tá QuocNam T. Nguyen; Đại tá Lim Dinh Vu; Đại tá Diep H. Le; Đại tá Loc H. Nguyen và Đại tá Peter T. Tran (vừa được đề cử).

Chú thich: Họ và tên từ tài liệu QuocNam T. Nguyen, họ và tên Việt Nguyễn Quốc Nam; **Đại tá Le Minh Son qua đời năm 2015.

Nguồn: 37trw.af.mil/News; airandspaceforces.com; linkedin.com; dcma.mil.

Kẻ Săn Vàng

Hồi Ký của Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 23 Feb 2026

Google image

BĐQ Vương Mộng Long tốt nghiệp khóa 20/TVBQGVN. Anh phục vụ tại LĐ2/BĐQ từ khi ra trường cho đến đầu tháng 4-75. Cấp bậc, chức vụ sau cùng: Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng, TĐ82/BĐQ – Anh đã bị CS giam giữ 13 năm, qua các trại tù từ Nam ra Bắc.

        Anh chị được 4 cháu, gia đình hiện đang sinh sống tại Seattle, WA – Ngoài những chiến công thời trai trẻ, điều đáng khâm phục nơi anh là tuy định cư muộn, anh vẫn theo đuổi việc học và đã tốt nghiệp B.A. Social Science & Communication tại University of Washington năm 2003.

(Hình chụp tháng 10-74)

Một chiều đầu mùa hè 1989, bên bờ hồ đập thủy điện Trị-An, gió nhẹ và mây quang, mặt hồ gợn sóng, tôi ngồi hàn huyên cùng một ông bạn già cựu hạ sĩ quan QLVNCH. Chúng tôi ngồi nhâm nhi đôi ba chung. Rượu vào lời ra, ông ta biết tôi đã từng đơn thương độc mã vào rừng đào vàng, đào thiếc kiếm cơm trên mỏ vàng Suối-Nho, Gia-Kiệm, mỏ vàng K3, Đơn-Dương và mỏ thiếc Nắp-Bắc (Lap Bé Nord) Đà-Lạt. Thế là tối hôm ấy thằng Hai Thanh, con trai lớn của ông bạn tôi, bái tôi làm thầy, nó đề nghị tôi qui tụ và chỉ huy một “mũi” (tổ làm việc) đi kiếm “xái” (quặng mỏ) trong rừng Hiếu-Liêm. Tôi đang lúc thất nghiệp, nên nhận lời làm đầu lãnh một mũi gồm hai anh thanh niên trốn nghĩa vụ quân sự là Thanh và Hòa (bạn Thanh) và một cậu bé mười lăm tuổi, thằng Út, em của Thanh. Vì tình trạng trộm cắp nơi mỏ vàng, với sự hiện diện của hàng trăm tay chơi anh chị tứ chiếng đủ loại, tôi phải gởi cái bóp giấy tờ tùy thân tại nhà ông bạn già. Lý lịch của tôi được dấu. Trong chuyến đi này bọn bộ hạ gọi tôi là Bác Hai, đôi khi chúng gọi tôi là Bác Hai Bắc-Kỳ. Thằng Ba Chiến, em của thằng Hai Thanh, đang chạy xe thồ và bạn thồ của nó sẽ lo việc chuyển vận chúng tôi vào vùng mỏ.

       Chúng tôi trang bị hai chỉ vàng rồi lên đường vào Hiếu- Liêm một sớm mai rực rỡ nắng hè. Trong những lần “ra quân” trước đây ở Suối-Nho, Đơn-Dương, Nắp-Bắc, tôi thấy những khu vực khai mỏ đều được xem như “vùng oanh kích tự do” của dân kiếm xái. Chúng tôi đến, đi, chặt rừng, đào núi, lọc quặng, khai mương, ngăn suối, chẳng ai đòi hỏi giấy tờ khai báo phép tắc rườm rà. Lần này chúng tôi cũng được tự do đi về không ai cấm cản, duy có việc chặt rừng, phá núi phải cần một cái giấy phép khai thác rừng của Ủy Ban Nhân Dân xã Hiếu-Liêm (Đồng Nai). Lệ phí chính thức cho một tờ giấy phép chỉ có năm ngàn. Nhưng phải chờ hai, ba tháng sau đơn xin mới được chấp thuận. Trong khi đó giấy phép tuôn ra bên cửa hông thì chỉ một buổi hay một ngày là có kết quả, giá “chui” hơi đắt một chút, hai phân vàng! Tờ giấy phép của UBND xã chỉ có mấy dòng: Cấp cho đương sự quyền khai thác diện tích 10 mét x 10 mét trong rừng Hiếu-Liêm trong thời hạn 30 ngày.

       Mỏ vàng Hiếu-Liêm cách đập Trị-An (Biên-Hoà) khoảng hai giờ xe thồ, nằm trong một khu rừng nhiệt đới đất đỏ, cây cao, tàn rộng. Nơi này ngày xưa là phần địa đầu chiến khu D của Việt Cộng. Đường lên dốc, xuống đồi quanh co. Ngày chúng tôi lên đường trời trong, gió nhẹ. Trên không có những cánh diều hâu bay lượn vòng vòng. Những con ve sầu đã bắt đầu rả rích bài ca mùa Hạ. Tiếng ve rên rỉ được giữ nhịp bằng tiếng lốc cốc của chim gõ mõ từ trên thân cây bằng lăng mốc thếch. Đàn sẻ rừng ríu rít trong đám cỏ non. Bọn chích choè, chèo bẻo đang xòe đuôi, chí choé chuyền cành đuổi nhau. Trong rừng sâu âm u, vẳng lại tiếng róc rách suối rừng ngọt ngào. Tiết tháng Năm, hai bên đường hoa khoe sắc. Bướm đủ màu bay lượn chập chờn trên hoa. Đường càng lên dốc càng hẹp dần, hương rừng càng ngất ngây. Chỉ cần đưa tay, tôi đã vớt được một cành hoa rực rỡ bên vách núi. Tôi cảm thấy mình đang lạc vào nơi thiên đường bừng bừng sức sống. Ngồi sau lưng thằng Chiến trên yên xe thồ, lòng tôi phơi phới. Miền Nam đang trong mùa hoa nở. Quê hương yêu kiều rực rỡ. Quê hương ta đẹp quá! Lâu lắm rồi tôi mới có cảm giác về vẻ đẹp của quê hương. Tôi hát nho nhỏ một mình nghe, câu ca cũ, “Hoa vẫn nở trên đường quê hương. Ôi! quê hương ta đó!…”

       Trước khi tới khu khai thác, chúng tôi phải xuống xe vượt bộ qua một cái dốc khá cao. Trời chợt đổ mưa, đường dốc, trơn trượt, phải mất cả nửa giờ chúng tôi mới lên tới đỉnh dốc. Nơi đỉnh dốc, thằng Thanh chỉ cho tôi thấy một nấm đất to như cái lô cốt và gọi đó là mả cậu Linh. Có vài người đang thì thụp khấn vái trước mả ra chiều thành khẩn lắm. Hoa quả, vàng mã, chất đầy mặt đất, mà đèn nhang thì nghi ngút mịt mù. Thanh giải thích rằng hiện tượng này mới có cách đây chừng một tháng thôi. Số là một hôm có cậu bé 16 tuổi trúng mạch được cả chục cây. Bạn cùng mũi với cậu ra về ngay sau khi chia chác. Cậu còn nấn ná đãi đằng bạn bè vài ngày sau mới dứt áo ra đi. Giầu rồi, cậu không hẹn trở lại. Cậu ôm vàng trước bụng và thuê riêng một chuyến thồ về Biên-Hòa vào buổi chiều mưa to gió lớn. Mấy ngày sau, đội xe thồ không thấy anh bạn thồ trở lại. Trên đỉnh dốc có mùi thối bay xa. Người ta tìm thấy xác cậu bé chết rữa trong rừng, ruột gan bị heo rừng moi ra ăn lê lết trên mặt đất, mùi thịt thối nồng nặc cả một khu. Cậu bé bị trấn lột, hạ sát, thủ phạm là anh bạn thồ. Dân kiếm xái thương tình đồng nghiệp nên đã lấp lớp đất mỏng che tấm thân lạnh lẽo của cậu bé đào vàng vắn số. Vài ngày sau mối đất ùn lên khiến cho mộ cậu bé thành một núi đất khổng lồ trong rừng. Khách qua đường ghé thắp nén nhang cầu cho hương hồn cậu sớm phiêu diêu…

       Người ta đồn với nhau rằng cậu linh thiêng lắm! Ai có thắp nhang, cúng quảy, khấn vái cậu, đều được cậu phù hộ mau trúng mạch, khấm khá ra về. Rồi người ta gọi cậu là cậu Linh. Vì thế cái mả ấy có cái tên là Mả Cậu Linh. Từ dạo ấy, con đường qua dốc đổi hướng, tạt sang bên trái đỉnh dốc vài chục mét để người qua đường tiện ghé thắp nhang vái cậu Linh xin phù hộ độ trì. Một chị bán quán ngoài xã, đã bỏ xã, bỏ quán, vào đây bán nhang đèn, hương hoa, ngay dưới dốc. Chẳng mấy chốc chị phất to, cổ có kiềng vàng, chuyền vàng, tay có nhẫn vàng, vòng vàng.

       Ở cái mỏ vàng Hiếu-Liêm này mỗi ngày tôi khám phá thêm một điều mới lạ. Mới dẫn “quân” vào vùng được một vài giờ, ăn xong bữa cơm, uống xong bát nước chè tươi, tôi đã thấy ruột mình sôi lên rột rột… rồi thì bụng quặn đau, đi cầu. Đi cầu xong vừa về tới lều, bụng lại lâm râm, lâm râm đau. Thằng cu Hòa dẫn tôi đi gặp ông bác sĩ An để xin thuốc. Ông bác sĩ đóng đô bên bờ suối. Cái chòi của ông chia làm hai ngăn, ngăn ngoài là nơi hành nghề y khoa vỏn vẹn chỉ có một cái chõng tre trên để một cái rương gỗ chứa thuốc men, bông, băng, alcohol, thuốc tím thuốc đỏ. Ngăn trong là tư thất với một cái giường tre, một cái bàn tre đặt cạnh cái bếp làm bằng ba cục đá suối xếp châu đầu thành ông táo. Bếp nhà bác sĩ An lúc nào cũng khói lửa nghi ngút, nồi nước nấu kim chích sôi o…o… suốt ngày. Trước chòi treo một cái biển gỗ cỡ 20 x 40 cm, nền xanh, chữ trắng, “Phòng Mạch Bác Sĩ An”. Tụi nhỏ truyền khẩu với nhau, nào là bác sĩ rất giỏi, bệnh gì ổng cũng rành, cũng trị được dứt nọc. Thêm vào đó, nếu bệnh nhân là dân đào xái bị ngã bịnh trước khi chạm xái, bác sĩ cho nợ tiền công và tiền thuốc cho đến khi xái đã lọc xong thành vàng. Bịnh nhân con nợ có thể trả công bác sĩ An bằng vàng hay tiền cũng đựơc. Nếu anh nào “mo” thì ông chữa thuốc thí công (mort, tiếng Pháp có nghĩa là chết, ý nói thất bại). Ông bác sĩ An là người sinh ra ở quê hương của Bác nên giọng ông nói nặng lắm. Năm tôi có cơ duyên gặp ông nơi rừng thiêng nước độc này thì ông đã ở tuổi trên năm mươi. Bà vợ của bác sĩ lại là người miền Nam, còn rất trẻ và trông thật hiền hậu.

       Sau vài câu xã giao, bác sĩ An nhận ra tôi là người Bắc, ông liền vồn vã hỏi han huyên thuyên: “Này đằng ý ơi! Nhìn cái phong thái của đằng ý, tớ đoán chắc rằng đằng ý không phải tay xoàng. Bộ “bảng đỏ” hả? (bảng đỏ nói lái thành bỏ Đảng) – Vô Nam lâu chưa? Gia đình vợ con ra răng? Bởi lý do chi mà đằng ý phải đày đọa như ri? Tớ cũng là dân “bảng đỏ” (bỏ Đảng) đây! Anh hùng mấy khi gặp gỡ. Ngồi đây tâm sự với nhau chơi, đừng ngại!” Ông bác sĩ bỏ Đảng đâu có biết rằng người đứng trước mặt ông lại là một cựu sĩ quan Tiểu đoàn trưởng Biệt Động Quân của QLVNCH, vừa mới được tha ra từ trại tù cải tạo. Phần thì đang bị đau bụng tháo dạ, phần thì e ngại buổi sơ giao, tôi chỉ ậm ừ cho qua câu chuyện. Sau khi cặp nhiệt, bác sĩ An hỏi tôi rất kỹ về dạng phân, triệu chứng lâm sàng. Anh nói rằng tôi là một trong số ít người có cơ thể nhạy cảm với đồ ăn thức uống có hàm lượng kiềm cao. Tại các mỏ vàng, nước giếng, nước suối có chứa hàm lượng kiềm rất cao (?) Nước suối ở đây uống hơi chát. Nếu pha trà thì nước trà cũng có màu xám xịt. Nước uống chính là nguyên nhân gây ra cái bệnh đường ruột của tôi. Muốn tránh, tôi chỉ cần ngưng uống nước trong khu này thôi, không phải dùng thuốc thang gì cả bệnh sẽ tự nó chấm dứt. Nghe theo lời chỉ dẫn của ông bác sĩ, đêm đó tôi uống nước ngọt loại chứa trong bình hai lít thay cho nước trà. Sáng hôm sau tôi hết bị Tào Tháo rượt. Thế là, cứ vài ngày thằng Chiến lại thồ vào cho Bác Hai một bình nhựa 20 lít nước suối lấy từ ngoài xã.

       Tuy xa thành phố, nhưng trong khu mỏ vàng Hiếu-Liêm này không thiếu thứ gì, từ nước ngọt, bia, rượu, thuốc lá, bánh kẹo, tới rau cỏ, thịt cá, kể cả dụng cụ đào vàng như xẻng, khiên, xà beng, cuốc chim, thuốc nổ C4 dùng phá đá, và thủy ngân (để tách vàng khỏi các kim loại khác). Có cả chục cái quán cóc cung ứng đủ mọi mặt hàng nhu yếu cho dân đào vàng. Thậm chí khi bạn trúng lớn, cần có vũ khí để áp tải số vàng kiếm được về nơi an toàn, bạn cần thuê vài khẩu K54, AK 47, bạn cứ hỏi quán cô Nghĩa là có ngay.

       Bất cứ “mũi” nào có “bãi” đều có thể mở một trang trong sổ nợ của cô Nghĩa. “Mũi” là một tổ thi công (tổ làm việc), quân số tùy nghi. Có mũi quân số đông cả chục người, khai thác hai ba giếng. Có mũi chỉ có hai cha con của một gia đình. “Bãi” là một khoảnh đất vuông mỗi chiều mười mét không hơn không kém. Muốn có bãi thì dân lùng xái phải đăng ký với xã. Thủ tục đăng ký thì như tôi đã tả ở phần trên: hai phân vàng. Thời buổi này cái gì cũng chi bằng phân, bằng chỉ. Vào tới vùng hành sự, tôi mới phát giác ra rằng chẳng cần ghé văn phòng xã xin giấy đăng ký cho phí thời giờ, mua trao tay tại hiện trường một cái giấy phép với con mộc đỏ chói cũng chỉ ba, bốn phân là cao. Ngay khi chúng tôi vừa hoàn tất công việc phát quang cái bãi mà tôi đã chọn thì một người đàn bà trung niên, giọng nói rặt Bắc-Kỳ 75 tới tìm tôi để ký giao kèo tiếp tế. Từ gạo, thịt, mắm, muối, kem đánh răng, khăn mặt, xà bông cho tới cái lều vải tiểu đội cho bốn thày trò tôi đều được thím Xuân cung cấp. Phí khoản đều ghi vào sổ nợ tên Bác Hai có đóng ngoặc (Bác Hai Bắc- Kỳ). Thím Xuân đồng ý cho chúng tôi thanh toán sau khi cạn giếng, nghĩa là sau khi đã bán xong số vàng dưới lòng đất của cái diện tích mà tôi đang căng lều hạ trại. Mười bốn năm sau chiến tranh, tôi đã sống như một tay săn vàng chuyên nghiệp trong những phim Cao-Bồi Viễn-Tây của Mỹ. Đây là chuyến trở về chiến trường xưa lần thứ tư của tôi. Oái oăm là chuyến đi nào cũng có chuyện buồn, chuyện vui để nhớ.

* * *

       Quả thực, chuyện đào vàng chẳng có gì nên thơ, mơ mộng. Ngoài nỗi khổ vì muỗi mòng, lo sợ sập hầm, lo “xái rỗng” (quặng chứa ít vàng quá) không thu hoạch được chút bụi vàng nào, phí công. Ngoài ra còn cái nguy cơ bị sang đoạt bởi những tay hảo hán thương phế binh VC có vũ khí. Khác với đất Đà-Lạt và Đơn-Dương, những nơi tôi đã kinh qua trong các lần đi khai mỏ trước đây. Cấu trúc các tầng đất ở Hiếu-Liêm làm cho dân đào vàng đổ mồ hôi, sôi nước mắt, vất vả hơn nhiều so với đất vùng cao. Sau bốn, năm thước đất mùn đen thì tới đất đỏ pha đá cuội, đá tổ ong. Hết đá cuội và đá tổ ong lại tới đất pha đá giăm. Xuống sâu gần hai chục thước mới thấy đất chuyển sang màu trắng nhờ nhờ. Lúc này cũng là lúc “hi vọng vươn lên. “Đất sét mầu xám pha lẫn từng cục quặng sắt rỉ là dấu hiệu phần vỏ của lớp đất trộn quặng vàng. Đoạn đường từ miệng giếng tới lớp đất xám là đoạn đường đứt ruột, rã rời hai tay. Tôi là trưởng mũi nên không phải thay phiên “mõi” đất (đào sâu xuống lòng đất, chuyền đất lên miệng giếng). Tôi chỉ phải tản số đất đã moi lên cho gọn ghẽ. Công việc này cũng không nhẹ nhàng mà rất tốn sức, tốn công. Lớp đất đào lên trong những ngày đầu phải gánh ra đổ nơi bờ suối, cách lều cả trăm mét dưới dốc. Những ngày cận xái thì tôi chỉ việc đổ đất mới moi lên ngay nơi chúng tôi ăn ngủ. Chúng tôi làm việc gần như suốt đêm ngày. Chỉ nghỉ, ngủ vài giờ rồi lại tiếp tục công việc. Tôi phải bấm giờ để ba đứa nhỏ thay nhau mõi cho công bằng. Hai thằng đào dưới giếng, một thằng ngồi trên miệng giếng kéo gầu đất xái. Cứ hai tiếng đồng hồ chúng lại nghỉ giải lao. Thằng Thanh làm một điếu 555 thì hai đứa kia cũng gắng rít mỗi đứa một điếu. Thằng Hòa chơi một chai bia Chương Dương thì hai đứa kia cũng chơi theo ngay, mỗi đứa một chai. Chẳng đứa nào chịu phần thua lỗ cả. Tóm lại tinh thần đồng đội của dân đào vàng rất cao. Tinh thần tranh đấu cũng rất cao. Bắt tay vào việc là ăn hút cái đã! Ăn hút đồng đều, không ai ganh tị. Chỉ có cô Nghĩa và thím Xuân là lời thôi! Tôi nghĩ thầm không biết tới ngày cân lọc xong xuôi, số vàng thu được có đủ để thanh toán tiền ăn hút cho bốn người chúng tôi hay không?

       Công việc đãi xái cũng rất là vất vả. Người đãi phải cúi khom lưng cả buổi trên dòng suối, tay lắc cái khiên chao qua chao lại, giữ làm sao cho nước mới vào khiên thay nước cũ, nhả đất xuống dòng mà đừng để bột quặng trôi đi. Tụi nhỏ gọi công việc này là “múa nước”. Tôi thì tuyệt đối không có đủ cái khéo tay để làm công việc này. Tôi đành làm nghề chuyển vận và bốc xái trong bao đổ vào khiên để đồng bạn làm công việc còn lại. Khi công tác múa nước hoàn tất, thì bọn nhỏ vác bao bột quặng đi tới chòi ông Lâm Thầu người Tàu Chợ-Lớn nơi cuối dốc để mua thủy ngân và làm công tác lọc tinh vàng. Tôi lo thu dẹp rửa ráy đồ nghề, khiên, chảo, bao bì, cuốc xẻng rồi chuyển vận chúng về lều. May thay, sau khi thanh toán sòng phẳng sổ nợ cho cô Nghĩa và thím Xuân, giếng vàng đầu tiên cũng đem lại cho chúng tôi đủ số vốn hai chỉ lúc đầu tới bãi.

        Hôm sau tôi cho quân nghỉ mệt ba ngày trước khi khởi công một giếng mới. Trong ba ngày nghỉ dưỡng quân này, thằng Hòa và thằng Út thay nhau nấu cơm. Ăn sáng xong, đứa thì đi phụ đãi ngoài suối lấy công, đứa thì đi nhập sòng. Cờ bạc ở đây chỉ có món xóc dĩa. Những con bạc đặt cược bằng tiền, vàng, đồng hồ, dụng cụ khai thác mỏ. Thẻ chứng minh nhân dân đôi khi cũng có thể dùng làm vật cầm cố. Có vài ổ bán dâm dọc bên bờ suối. Trong những cái lều che bằng vải nhựa, những người con gái trẻ bán dâm trên những cái chiếu trải dưới đất. Những cô gái hành nghề ở đây không phấn son lòe loẹt. Họ cũng là những người đào xái một thời, đã “mo” nên không thèm đào nữa, đành đem thân xác cho đàn ông “đào” để kiếm cơm sống qua ngày. Họ đi la cà các bãi. Móc ngoặc được khách thì dẫn về lều. Tiền trả trước, trôn trao sau. Ra khỏi lều, người bán dâm và kẻ mua dâm lại trở thành đôi người không quen.

       Buổi trưa, tôi thả bộ lang thang dọc bờ con suối đục ngầu đất đãi xái. Dân đãi vàng làm việc cần cù, bất kể đêm, ngày. Ban ngày chúng tôi đãi xái dưới đèn mặt trời. Ban đêm, dọc hai bên bờ suối có hàng chục ngọn măng sông và đèn khí đá. Đôi khi, đêm vui hơn ngày. Nhạc từ những cái máy thu băng oang oang, bốn hướng tám phương. Nhạc vàng, nhạc kháng chiến, nhạc disco, bi kịck, hài kịch, vọng cổ xen lẫn nhau. Cùng lúc người nghe có thể thưởng thức cả giọng ca nữ đang lên Cẩm Vân, cùng giọng ca nam đang xuống Quốc Hương, xen lẫn điệu ngân xàng xê bất hủ của Thành Được và Bạch Tuyết. Lúc này khúc Lambada Nam-Mỹ đang thịnh hành. Khúc ca này đã lần mò vào tới tận rừng xanh. Mỏ Hiếu-Liêm đang ở vào thời kỳ đông đảo nhất. Lều trại đó đây, ước lượng dân số đào vàng nơi này cũng cỡ bốn, năm nghìn người là ít. Họ đến từ Phát-Diệm, họ gọi con trâu trắng là “con tâu tắng”. Họ đến từ Móng-Cái, từ Tuyên-Quang, họ nói tiếng Nùng, tiếng Tày. Họ đến từ miền Trung, giọng Quảng, giọng Huế. Họ đến từ Cà-Mau, họ chuyện trò với nhau bằng tiếng Miên…

       Mặt trời hừng hực tháng Năm. Dòng nước đầu nguồn trôi xuôi, càng về cuối nguồn càng đục. Dòng nước thành mầu cà phê sữa đặc. Người ta lội tới mắt cá, bắp chân, đầu gối. Tay khiên chao nhanh, mắt không rời những hạt vàng óng ánh trong đáy khiên. Lượng cát óng ánh nhiều hay ít là niềm vui, là nỗi thất vọng. Đủ loại người tìm sống nơi chiến trường xưa, trên con suối đục ngầu đất đỏ. Những tiếng hát cất cao, ngây ngô, giọng Bắc, Trung, Nam chen lẫn nhau. Những giọt mồ hôi đọng trên trán, trên má những khuôn mặt cháy nắng xạm khô. Những tiếng cười vô tư bên những tiếng thở dài chán chường…

       Tới cuối đồi, tôi ngừng bên những giếng vàng cũ. Dăm em bé gái trai, tuổi cỡ lên chín, lên mười, thân mình gầy guộc đang chuyền từng gàu đất xái chúng mót được lên mặt đất. Tôi tò mò hỏi, “Có khá không các em?” Một bé gái trả lời, “Tụi con mót cả ngày không đủ ăn chú ơi! Họ ‘cạo’ láng quá! ‘bợn’ còn ít lắm chú à!” Tôi xoa đầu bé cảm thông. Thương cho bé, mới tí tuổi đầu đã vất vả vì đời.

Tôi theo cái thang dây xuống thám hiểm vùng đất thế giới của Diêm-Vương. Sâu hai, ba chục thước dưới lòng đất, ở tầng quặng mỏ, vách ngăn giữa các giếng được đánh thông để lấy xái. Lớp đất sét có quặng chỉ dày chừng ba, bốn thước. Tôi đứng giữa một căn hầm rộng mênh mông. Mặt đất dưới chân tôi bị cạo sạch sành sanh. Trên trần là lớp đất sét trộn đá giăm, dưới nền cũng là đất sét pha đá giăm. Không khí dưới đáy giếng lạnh lẽo vô cùng. Ánh sáng mặt trời từ trên cao theo những lỗ giếng chiếu xuống đáy như những ngọn đèn pin trắng. Ngửa mặt nhìn lên, chỉ thấy một khoanh trời xanh xa tít, lâu lâu bay qua vài sợi mây trắng.

       Những em bé đang mót xái cách tôi không xa, vậy mà tôi không nghe được tiếng chúng nói chuyện. Xái dưới chân không còn. Chúng dùng xẻng đâm ngược lên tầng vách đất trên đầu, hi vọng tìm được những cục quặng vàng lẫn trong đất đá trên trần hầm. Những bé con đang tìm miếng cơm dưới chân Thần Chết! Có lúc đất đá sụp từng khối trên đầu chúng khiến bọn nhỏ hoảng sợ chạy dang vội ra xa. Chờ vài giây, chúng trở lại bới vét đống đá tìm những cục xái còn sót, gom thành từng cụm rồi chuyển vận lên mặt đất. Khi bọn nhỏ đi khỏi, căn hầm im lặng như tờ, không cả tiếng côn trùng. Tôi chợt nghĩ, chỉ cần một chấn động nhỏ trên mặt đất là cả khu rừng nặng hàng triệu tấn trên kia sẽ đổ xụp xuống lấp kín căn phòng khổng lồ này trong giây phút. Tôi đảo người quan sát một vòng, tôi có cảm tưởng như đang đứng dưới một bầu trời đầy mây đen kịt mênh mông. Đất dưới chân tôi bốc hơi lành lạnh. Tôi thấy hai ống chân mình có vẻ như muốn mềm nhũn từ từ. Quanh tôi không có ai. Quanh tôi im lặng quá. Tôi chợt rùng mình. Tôi tìm sợi dây thang, vội vàng leo nhanh lên miệng giếng.

       Mặt trời xế bóng, có ba người đàn ông đeo mỗi người một cái túi đựng đầy hàng hóa bên hông. Họ đang đứng trước lều của ông bác sĩ An hỏi han điều gì đó. Tôi thấy bác sĩ An và họ nói chuyện với nhau bằng tay, miệng bốn người xí xô om xòm. Khi tới gần tôi nhận ra ba người lạ là người Thái-Lan. Họ nói chuyện bằng Anh Ngữ, họ hỏi xem có ai biết tiếng Anh thì giúp việc họ bán những cái poncho line hoa hòe. Họ sẽ trả công mười lăm nghìn một ngày. Thấy không có ai lãnh việc này, tôi tình nguyện làm việc với họ. Giao kèo chỉ có một ngày thôi vì ngày kia tôi đã bắt đầu một giếng mới không thể đi theo họ được. Sáng hôm sau tôi nhận tiền thù lao trước, làm việc thông ngôn sau. Ngày hôm ấy chúng tôi đã đi qua hết cái diện tích của mỏ vàng Hiếu-Liêm, từ đầu dốc Cậu Linh cho tới triền đồi hướng tây, nơi những cây nọc phân khu mới đóng ranh. Giấy phép khai thác khu đất này chưa được phổ biến. Chúng tôi la cà từ giếng này sang giếng khác. Tôi thông dịch chuyện mua bán thì ít, mà thông dịch những câu hỏi về thời thế, gia cảnh của dân mõi xái thì nhiều. Những người Thái có vẻ thích nghe chuyện lạ bốn phương hơn là việc mời chào khách hàng. Người Thái-Lan lớn tuổi nhất cẩn thận ghi chép những điều ông ta nghe được vào quyển sổ tay dày. Lâu lâu ông lại dở ba lô lấy cái máy ảnh nhỏ chụp hình hoạt cảnh đang diễn ra trên khu khai thác mỏ. Đi từ sáng tới chiều chúng tôi chỉ bán được vài cái mền. Ban đêm ở đây cũng lạnh lắm, nhưng những kẻ đào vàng khốn khổ như chúng tôi thì đâu có thời giờ để ngủ mà cần tới mền? Trước khi chia tay chiều hôm ấy, tôi chỉ dẫn cho những người Thái thương buôn con đường lên cao nguyên để bán chăn nylon. Họ có vẻ không thiết tha lắm với việc lên Đà-Lạt rao hàng.

       Hỏi ra, tôi được biết người cao niên nhất trong bọn họ là một cựu chiến binh thuộc Sư đoàn Mãng-Xà-Vương của Quân đội Hoàng-gia Thái-Lan, một đơn vị đồng minh đã có lần hiện diện ở Long-Thành thời chiến tranh. Chuyến đi này của ông không có chủ đích buôn bán, mà chỉ mượn cớ về thăm nơi chiến trường xưa thời tuổi trẻ. Ông ta đang trên đường tìm hứng để viết lại hồi ký đời ông. Ông ta hi vọng thiên hồi ký này có thể đem về một số tiền nhuận bút lớn lao, đủ cho ông sống dưỡng già. Tôi không thiết tha lắm với đám người này, vì tôi vào lại chiến trường xưa chỉ với mục đích tìm gạo sống qua ngày, tôi không có gì hứng thú với việc trở về rừng tìm ý viết văn như họ. Chiều ấy chúng tôi chia tay.

       Tôi về tới lều thì thằng Út kể cho tôi nghe chuyện chị bán nhang đèn bị cướp. Chiều qua trên đường về nhà chị bị phục kích giữa rừng. Lúc chiếc Honda hai bánh của chị đổ dốc thì kẻ gian đã giựt một sợi dây dù căng ngang con đường xe be vừa hẹp vừa rậm rạp. Chiếc xe bổ nhào. Từ bìa rừng, hai người đàn ông bịt mặt bằng áo thun đen ào ra lôi chị và chiếc xe vào sâu trong bụi lau. Chúng trói chị lại, nhét giẻ vào miệng chị, lột hết nhẫn, vòng, kiềng, cà rá và cả đôi bông tai vàng của chị. Chúng vứt chị nằm trên đám cỏ lác cho kiến tha, rồi leo lên xe Honda của chị nổ máy chạy đi mất tiêu. Chị hì hục suốt đêm mới tự cởi trói được. Chị lết ra tới giữa đường nằm chờ người đến cứu. Gần sáng, có mấy tay bảo tiêu có súng, sau khi chuyển xái về nhà thân chủ, trên đường trở lại rừng, họ thấy chị nằm giữa đường bèn cứu chị về bãi. Chuyện chị nhang đèn bị cướp chắc cũng được truyền khẩu trong dân gian vùng mỏ này được vài ngày. Ngày sau, tuần sau người ta lại quên chuyện ấy thôi. Ở đây, mỗi ngày xảy ra cả trăm vụ lộn xộn. Đủ thứ chuyện tào lao.Tôi nghe tụi nhỏ kể lại, tôi cũng chỉ ậm ừ cho qua! Chẳng hứng thú tìm hiểu thêm làm gì. Đụng độ trong cái chợ trời này là chuyện thường ngày. Qua đường, vô ý chạm vai một yêng hùng, nếu không có lời xin lỗi kịp thời có thể gây nên cảnh sứt đầu lỗ trán. Vô tình ném cái tàn thuốc lá trước mặt một tay chơi cũng là hành động châm ngòi cho một cuộc chiến tranh. Ngoài ra, còn cả ngàn nguyên nhân gây ra ẩu đả. Đánh nhau vì gái, vì cờ bạc, vì chia chác phần hùn, vì mõi xái lấn lằn ranh, và vì vân vân… Cái khó bó cái khôn, cái khổ làm con người dễ dàng nổi khùng, rồi trút cái khùng ấy lên đầu đồng loại.

       Một hôm, tôi vừa đổ gầu đất xuống bờ suối, quay lưng định trở về giếng làm chuyến kế tiếp thì nghe có tiếng đàn ông quát tháo,”Mày không nộp hết túi vàng cục đó cho tao thì tao vặn họng mày!” Tò mò tôi dừng lại quan sát. Bên bờ suối, một hảo hán to lớn đang kẹp cổ một cô gái cỡ mười bốn mười lăm tuổi. Tay anh ta lần mò trước ngực cô giành giựt cái gì đó. Cô gái vừa cố ôm chặt cái túi áo vừa khóc lóc, “Em lạy anh, vốn liếng đào đãi cả tháng nay, em chỉ có ba chỉ. Mẹ em đang bịnh nặng chờ ở nhà. Anh mà lấy hết thì em không còn tiền thuốc thang cho mẹ em. Mẹ em chết mất! Em lạy anh ngàn lạy. Em làm đứt dây lều của anh, em đã thay bằng dây dù loại xịn đền cho anh rồi. Anh tha cho em, anh ơi! hu..hu…hu…” Người đàn ông nắm tóc cô gái mà quay, hắn nghiến răng,”Tổ mẹ mày! Dây lều của tao, mày phải đền bằng thứ dây ‘gin’. Tao không chịu cái thứ dây dù đó. Ở đây cái gì cũng tính bằng vàng. Không đền tao giết!” Vừa nói hắn vừa đấm đá túi bụi vào ngực, vào mình cô gái đáng thương.

       Cuối cùng, hắn chộp được cái túi nylon dấu trong áo ngực của cô gái. Người thanh niên bỏ bao vàng vào túi rồi buông cô bé ra. Cô bé mặt mũi đầy máu, ôm lấy chân anh thanh niên, nắm chặt vạt áo hắn, cô cố gắng giựt lại cái túi nylon. Người đàn ông liên tiếp đấm đá cô gái. Hắn tìm đủ mọi cách thoát khỏi bàn tay cô gái. Cuối cùng hắn quật cô bé lăn quay ra đất rồi nhổm mình định chạy đi. Cô gái vội nhào vào ôm chặt chân chàng hảo hán, miệng cô la bải hoải,” Bà con cô bác ơi! Cứu con! Người ta ăn cướp vàng của con. Ăn cướp! bà con ơi!” Thấy tôi đứng nhìn, cô bé cầu cứu, “Chú ơi! cứu con với! anh này cướp vàng của con chú ơi!” Tôi chưa biết tính sao, thì tay hảo hán đã hăm he, “Này! Đừng có dính vào nghe cha! Coi chừng lỗ mũi ăn trầu đó!” Tôi xua tay, nhẹ giọng,”Chuyện đâu còn đó. Anh cứ thủng thẳng mà giải quyết. Sao lại nặng tay với phụ nữ như thế, ngó sao được.” Nghe vậy, người thanh niên nộ khí xung thiên,”Đ.M! Mày có phải ông nội tao không mà lên mặt dạy khôn tao? Tao uýnh chết mẹ mày bây giờ!” Đúng là cái ách giữa đàng! Tôi phân bua với những người đồng cảnh đang đãi xái dưới suối,”Bà con nghe có được không? Tôi thấy đàn ông ăn hiếp đàn bà thì tôi có ý kiến. Anh này hàm hồ, hỗn hào như vậy thì bà con tính sao?” Bà con chưa nói gì thì anh hảo hán đã dấn cho tôi một bạt tai khiến mắt tôi nổ đom đóm. Anh co cẳng bồi thêm một cái đạp ngay hông tôi; tôi té bò càng bên bờ suối. Tôi vừa lồm cồm bò dậy lại bị thêm một cái tát ngay má phải. Thế là, tôi chẳng còn nghĩ hơn thiệt, phải trái gì nữa. Tai tôi đã ù, mắt tôi đã đổ lửa. Tôi không kìm được tiếng rú man rợ thoát ra từ miệng mình, “A! …A!…A!…!!!”.

       Tôi hất đôi quang gióng xuống đất. Cái đòn gánh trở thành cây côn. Cái đầu côn thốc lên một đòn rất nhuyễn và thuần thục. Bài côn Bình-Định do một võ sư xuất thân từ quê quán của vua Quang-Trung truyền dạy cho tôi ở Pleiku thời 1966-67 đã bị bỏ quên nhiều năm, nay được đem ra thi thố giữa rừng xanh. Mũi côn vừa thọc trúng hàm đối phương thì tôi tự động tạ người xuống thấp, tay tôi xoay cây côn một vòng trên đầu lấy đà. “Vèo!” cây côn chúc xuống quét sát mặt đất, cắt ngang ống quyển tên thảo khấu. Bị liên tiếp hai đòn chí tử, chàng hảo hán qụy gối xuống. Phát côn thứ ba, bổ xuống từ trên cao trúng vai anh ta, kết thúc bài học vỡ lòng “Tam Côn Khai Môn”- Đó là bài đầu trong ba mươi sáu bài “Đoạt Mệnh Côn” Bình-Định, bài nào cũng kết thúc bằng một thế sát thủ. Theo đúng bài bản, thì phát bổ xuống phải nhắm ngay đỉnh đầu địch thủ, nhưng tôi chợt hồi tâm, nhích tay cho nó chệch sang bên, dù sao thì anh ta cũng không phải là một tên lính Mãn-Thanh! Lúc này vị hung tinh rũ người xuống như cọng bún. Tôi bước lên một bước, tay phải vặn ngược tay trái anh ta ra đàng sau. Anh đang cố gượng đứng lên, nhưng đành tự động quỳ xuống, khi tôi xoay tay anh một vòng chín chục độ theo chiều kim đồng hồ. Mặt anh nhăn nhúm vì đau. Mồ hôi anh chảy ròng xuống má. Tôi nghe anh ta rên, “ư! ư! ư!…” trong họng. Bà con tụ tập kín xung quanh la ó như cái chợ, “Đánh chết mẹ nó đi! Đồ ăn cướp!” Tôi móc túi anh lấy cái túi nylon đựng mấy cục vàng ròng đưa cho cô bé. Cô bé vội vã bỏ vàng vào túi, miệng lúng búng “Cám ơn chú!” rồi cô ta cắm đầu vụt chạy về hướng dốc cậu Linh khuất bóng. Đợi cho cô bé chạy đã xa, tôi mới buông tay anh thanh niên ra. Tôi đẩy nhẹ, anh ta ngã chúi về phía trước. Tôi chống một đầu đòn gánh sát mũi chân phải. Bàn chân phải sẵn sàng hất cái đòn gánh lên cao phòng hờ một đòn phản ứng cấp thời. Nhưng anh thanh niên không còn hung hăng nữa. Anh lết mình trên cát như con chó đánh hơi thấy mùi cọp. Anh ta gắng lết cho xa đầu ngọn côn. Anh nhìn tôi với đôi mắt lạc thần. Anh lượm vội đôi dép râu Trường-Sơn rồi ù té chạy về phía con dốc hướng tây, nơi đầu nguồn con suối. Tôi đứng nhìn theo bóng anh ta, lòng chùng xuống, man mác buồn. Tôi tự cảm thương cho cái thân tôi! Cạn ao, bèo xuống đất, tôi đang tranh sống trong một thế giới không luật pháp, không cả tình người. Đâu có ngờ, cuộc đời tôi lại có ngày bị đẩy đưa đến cái khúc quanh thê thảm này!

       Đấy! Cuộc sống của dân Gold-seeker miền Nam vào thời 88-90 đại để là như thế đấy! Muốn nghĩ rằng nó nên thơ, thì nó nên thơ. Nếu cho rằng nó thảm sầu, thì quả thực nó quá thảm sầu. Thời gian thì cứ trôi. Mặt trời lặn rồi lại mọc. Ngày nào cũng là quá dài, đối với những kiếp người sống đọa đày trầm luân trong tăm tối, không tương lai. Tôi nghĩ đến thân phận mình và đồng bào mình. Chỉ vì cái ngày ba mươi tháng Tư năm ấy, chúng tôi đã đánh mất đất nước, mà cả đất nước tôi thành một trại tù khổng lồ. Năm 1988 ra khỏi cái nhà tù con, tôi lại cùng những người khốn khổ nhất của đất nước này tranh sống trong một nhà tù lớn.

* * *

       Chúng tôi khởi công đào giếng vàng thứ nhì vào một buổi sáng trời u ám lất phất mưa rơi. Mặt trời bị mây che kín mà rừng già thì tối om. Tôi gắng chuyền nhanh từng gầu đất, nặng như những gầu bùn khi đi tát ruộng đào ao thời còn lao động khổ sai trong trại cải tạo Nam-Hà A, Z30C, hay Z30D. Mồ hôi che mờ con mắt. Mồ hôi chảy ròng ròng xuống má, qua cằm, xuống ngực. Mồ hôi làm nóng lớp da bụng. Mồ hôi chảy xuống ướt cả cạp quần. Đúng Ngọ, gió chợt ngừng, tôi nghe như có ai đó vãi từng đợt đá sỏi trên tàng cây cao. Mưa đá! Những cục nước đá nhỏ bằng hạt ngô nhảy tưng tưng từ đọt lá này xuống đọt lá khác, rơi vãi trên nền đất mới. Thoáng chốc, mặt đất đã trắng xóa vì mưa đá. Hạt mưa đá lớn dần, bằng hạt đậu, bằng trứng cút, rồi bằng trứng gà. Trời tối thui, và nhiệt độ hạ rất nhanh. Da bàn tay tôi săn lại vì lạnh. Những vết vân tay nổi rõ lên màu bạc nhợt nhạt. Tôi thấy gai ốc nổi cùng người. Tôi cảm như bầu trời là một tảng băng khổng lồ đen kịt đang phà khí lạnh xuống những tàn cây trên đầu. Ôi! Sao trời lạnh thế! Giữa trưa, tháng Năm…

       Trên đồi, những dòng nước bắt đầu len lách quanh gốc cây. Những dòng nước đỏ ngầu tìm đường xuống dốc. Nước bắt đầu đổ ào ào vào miệng giếng đang đào. Tôi cho quân tạm nghỉ. Chúng tôi dùng một tấm vải nhựa che trên miệng giếng. Khi ba đứa nhỏ đã leo lên khỏi miệng giếng chui vào lều, tôi mới theo chân chúng ngồi bó gối nơi cửa ra vô. Tôi mồi một điếu thuốc Cửu-Long, nhìn những hạt mưa đá lăn trên mặt đất, nghĩ ngợi mông lung…

       Nhớ chuyện cũ, ở chân núi hướng đông của ngọn Lap Bé Nord, Đà-Lạt, một ngày đầu hạ năm 1965, cũng có trận mưa đá bất chợt như hôm nay. Những viên nước đá to như quả trứng gà vãi trên tàn thông năm lá, rồi lăn tưng tưng trên nền cỏ, bên miếu Thần-Hổ, trời lạnh quá, giữa trưa, tháng Năm…

       Một thằng bạn sinh viên sĩ quan cùng đại đội còn điếu Oakland cuối cùng, chuyền tay nhau năm đứa. Khói thuốc ngọt như mật. Điếu thuốc được chuyền nhanh qua những ngón tay ướt và trắng bệch vì lạnh. Hình như hôm ấy không một sợi khói nào kịp bay thoát trong không trung. Khói thuốc chui vào buồng phổi tuổi trẻ. Những lá phổi còn trẻ khỏe đầy sức sống. Những lá phổi hút từng ngụm khói thuốc gọn gàng dứt khoát, như tấm giấy thấm loại thượng hạng ép trên giọt mực tím rơi trên giấy trắng học trò ngày thơ ngây tiểu học. Điếu Oakland qua tay năm chàng tuổi trẻ, sinh viên sĩ quan khóa 20 Đà-Lạt. Trời lạnh quá! Khói thuốc chưa kịp bay thì điếu thuốc đã tàn…

       Ngày ấy, sau cơn mưa, chúng tôi tiếp tục bài chiến thuật “Tiểu Đoàn Phản Phục Kích” trên đoạn cua chữ “U” bên đồi 1441 đất đỏ, thông xanh. Con đường uốn khúc quanh co. Những anh lính “Kà” giả địch dấu mình dưới bụi sim hoa tím, lúc nào cũng chuẩn bị câu, “Tôi đầu hàng rồi! Đừng bắn nữa ông Thiếu úy ơi!” khi chúng tôi oai dũng tiến về phía họ ẩn nấp, sau một pha xung phong phản phục kích tuyệt vời qua màn khói đỏ, khói vàng, khói trắng, khói tím, khói xanh, và khói đạn mã tử!

       Rồi Đại úy Mỹ phê bình trận đánh một cách tổng quát. Rồi Trung úy Đức rút ưu khuyết điểm. Cứ thế, hai năm dài, lặp đi, lặp lại . Những bài lý thuyết với những trường hợp xử lý, những câu giải đáp a, b, c khoanh. Những buổi thực hành trên đồi thông Đà-Lạt, đương đầu với địch giả, trong màn khói đạn mã tử. Những buổi dạ hành, xuyên đêm. Những chuyến di chuyển địa hình tìm cọc mốc dưới trăng. Những phiên gác đêm đông sương mù lạnh lẽo trên đồi Bắc. Tất cả những kinh nghiệm tự tin đó đã gom góp lại làm vốn liếng hành trang cho những người trẻ tuổi lớn dần, rồi trưởng thành, vững tâm đi vào chiến trường. Ôi thời gian qua như tên bay! Đã có biết bao nhiêu lần mưa đá kinh qua trong đời. Năm thằng tuổi trẻ chuyền tay điếu Orland ngày nào, thì một thằng thành phế binh, ba thằng đền nợ nước. Hai mươi bốn năm sau lần mưa đá ấy, còn lại mình tôi, một Kẻ Săn Vàng…

       Trời gầm trên ngọn cây. Chớp giật liên hồi. Mưa như cầm chĩnh đổ. Cứ như vậy suốt đêm và kéo dài cho tới chiều hôm sau, mưa mới nhẹ hạt dần. Nước đã tràn qua bờ be miệng giếng. Nước cuốn trôi xuống chân đồi những gì cản đường. Dòng suối hiền hòa hôm qua, nay trở thành con sông nhỏ chở đầy củi cành rác rến, nước đỏ ngầu. Tôi cứ ngồi bó gối nhìn ra ngoài trời. Điếu thuốc này tiếp nối điếu thuốc khác trên môi, tôi ngồi nghĩ vẩn vơ toàn những chuyện ngày xưa. Trời càng về chiều càng lạnh hơn. Đêm đó tôi bị cảm lạnh. Trong lúc cơn sốt rét rừng hành hạ tôi, thì ngoài kia mưa vẫn rơi. Nhưng rồi chuyện gì cũng qua. Mấy hôm sau mặt trời lại trở về soi những tia nắng ấm trên cuộc đời những kẻ bất hạnh nhất trần gian. Chúng tôi bắt đầu trở lại. Những giọt mồ hôi lại đổ xuống mảnh đất chiến trường xưa. Những gầu đất tiếp tục khơi sâu lòng giếng. Từ quán cô Nghĩa vang vọng lại giọng hát ngọt ngào thuở nào, Khánh Ly,”Trời ươm nắng cho mây hồng… Mây qua mau, em nghiêng sầu…Ngoài kia lá như vẫn xanh …” Tôi chợt thấy một niềm vui nhỏ nhen nhúm trong lòng, nơi rừng thiêng nước độc này, chợt phút giây, tìm lại được cái gì đó gần gũi, ấm cúng ngày cũ. Giếng đã cạn đá sỏi, bắt đầu vào lớp đá giăm, chúng tôi mừng vui vì sắp tới ngày “hi vọng vươn lên” của giếng vàng thứ nhì.

       Đã đến ngày chúng tôi bắt đầu công việc gom xái. Xái chuyển tới mặt đất thì được đóng thành bao, chất quanh lều. Sau đó chúng tôi mới từ từ chuyển xái xuống suối để đãi lấy tinh. Với dân đào vàng thì ngày này là ngày hạnh phúc nhất. Tôi cầu mong đợt thu hoạch kỳ này sẽ khấm khá hơn lần trước. Giếng bên cạnh của hai cha con ông người Quảng mới trúng bảy cây. Giếng của chúng tôi sát nách giếng cha con nhà ấy, có rẻ cũng được năm cây! Tôi nhẩm tính trong đầu, chi phí đâu đó xong xuôi, mỗi người chắc mẩm có cả cây bỏ bọc! Tôi nghĩ đến đàn con đang ở Sài-Gòn chờ tin tôi, như những con chim non đang trông chờ con chim mẹ kiếm mồi… Tôi mơ màng hình dung trước mắt, một mâm cơm gia đình có canh, có cá. Tôi nghĩ tới tuần sau, khi tôi mang vàng về, các con tôi sẽ có tiền trả tiền học. Tôi sẽ mua thêm vài tấm tôle nhựa để che những lỗ dột trên lầu cho lũ con đỡ ướt lúc gió mưa. Tôi sẽ mua dự trữ một số chỉ thêu để con gái tôi có sẵn chỉ mà thêu hàng cho khách đặt hàng thêu. Tôi sẽ mua một cái máy thu thanh cho bọn nhỏ học Anh Văn. Vợ tôi sẽ mua để dự trữ sẵn trong nhà một tạ gạo, vài chai nước mắm, phòng đói cho con…

       Trời hừng đông, người ta bàn tán với nhau rằng, ngày mười chín tháng năm, ngày sinh của “Bác”, Huyện đội sẽ cho cán bộ bất thần vào kiểm tra an ninh khu vực khai thác vàng này. Tin tình báo nhân dân nhanh thật! Hèn nào mới gà gáy sáng, tôi thấy đã có mấy anh thanh niên hì hục chuyển hai thùng súng đạn từ cái quán của cô Nghĩa đem phân tán đi đâu đó không ai rõ.

       Sáng sớm, thím Xuân đem lên một con gà trống đã luộc chín và một nồi xôi đậu xanh. Chúng tôi lần lượt thắp nhang khấn vái cám ơn Thổ địa đã phù hộ. Sau khi ăn sáng, chúng tôi chuẩn bị đánh giây đai những bao xái để dễ dàng chuyển vận. Khoảng mười giờ sáng, nơi đầu dốc cậu Linh có tiếng súng bắn chỉ thiên, một cái loa cầm tay oang oang ra lệnh, “A lô! A lô! Ai ở đâu ở tại chỗ! Có đoàn kiểm tra an ninh kinh tế của huyện thi hành nhiệm vụ thanh lọc. Yêu cầu bà con sẵn sàng xuất trình giấy phép khai thác củi cho nhân viên chính quyền. Đây là công việc bảo vệ an ninh và quyền lợi cho bà con. Xin bà con cứ yên tâm sinh hoạt bình thường, đừng gây lộn xộn. Hãy tiếp tay với chính quyền củng cố an ninh huyện nhân dịp kỷ niệm ngày sinh của Hồ Chủ-Tịch! A lô! A lô!” Thằng Thanh ghé tai tôi nói nhỏ, “Con với thằng Hòa phải tránh mặt, vì tụi con trốn nghĩa vụ. Bác Hai và thằng Út ở lại trông coi bãi xái. Hết động, tụi con trở lại.” Sau đó nó và thằng Hòa lủi vào rừng mất hút. Tiếng loa oang oang tiến lại gần. Nhạc vàng vụt tắt. Trên đồi, vài dân mõi vàng dấu vội những bao xái trong lùm bụi. Có người ném các bao xái xuống giếng rồi ném cành lá lên trên che đi. Tôi chưa biết phải làm gì thì những cái nón cối xanh đã nhấp nhô đó đây. Dẫn đầu đoàn bộ đội là một sĩ quan cấp lớn của quân đội nhân dân. Đầu hắn đội cái nón cối rất mới, sao vàng sáng chói, bên hông có K 54, tay có đổng (đồng hồ), vai có đài (radio), có cặp, mắt có kiếng râm. Miệng hắn toe toét cười khi đi ngang qua các quán lều. Cái quân hàm màu đỏ trên cổ áo hắn với một ngôi sao và hai gạch vàng (Thiếu tá) cho tôi biết lực lượng kiểm tra hiện diện trong vùng này cũng phải cỡ trên dưới một tiểu đoàn. Như vậy là vòng ngoài, vòng trong đều có bộ đội, không rõ tụi thằng Hoà, thằng Thanh có lọt thoát không?

       Hai hàng quân triển khai dọc hai bên bờ nam bắc của con suối. Những tên lính Cộng sản, AK cầm tay, lưỡi lê đầu súng, mặt lạnh như tiền. Chúng đóng trụ, từng tổ hai đứa. Tổ này cách tổ kia khoảng hai chục thước, trải dài theo con đường mòn bên bờ chờ lệnh. Công việc kiểm tra bắt đầu với việc trình giấy phép khai thác rừng. Từng toán ba người đến mỗi bãi hỏi giấy phép. Sau đó họ làm biên bản, bắt người trưởng mũi ký tên. Có vài người bị đưa đến tập trung hướng bên kia đồi, nơi cuối dốc, ở đó có một khoảng đất bằng phẳng với những súc gỗ cũ mục. Mỗi toán kiểm tra gồm ba bộ đội thì có một tên là sĩ quan, từ một sao một gạch, tới bốn sao một gạch, tức là từ Thiếu úy tới Đại úy. Tôi nhủ thầm, “Gớm! Sao mà quân đội nhân dân có nhiều sĩ quan dữ vậy!” Một Thượng úy Cộng Sản và hai tên bộ đội tiến tới lều tôi. Mắt chúng sáng lên khi thấy hai dãy gần ba chục bao xái đã đóng bì gọn ghẽ. Với giọng Miền Trung tên Thượng úy trưởng toán hỏi tôi, “Giấy phép khai thác rừng của anh mô? Đưa tui coi!” Tôi trình cái giấy phép mới mua lại tại bãi tuần trước với cái giá ba phân vàng. “Chứng minh nhân dân của anh mô?” Tôi nhỏ nhẹ, “Vì ở đây không an toàn nên tôi để chứng minh nhân dân ở nhà.” Người sĩ quan Cộng-Sản nhăn mặt, “Anh nói năng chi lạ rứa? Anh ở ngoài Bắc mới nhập phải không?” Tôi chống chế, “Không, tôi ở trong Nam lâu rồi, nhà tôi ngoài bến phà mà! ” Hắn không để ý gì tới lời tôi nói. Quay qua một tên tùy tùng, hắn ra lệnh,”Dẫn anh này ra bãi tập trung, giao cho đồng chí Quang.” Tôi quay qua định dặn dò thằng Út đôi điều thì thằng nhỏ đã trốn mất tự lúc nào! Tôi đi trước, khẩu AK và cái lưỡi lê đi theo sau lưng. Trên đoạn đường tới bãi, tôi còn gặp cả chục người cùng hoàn cảnh nên lòng cũng không lo lắng lắm.

       Khoảng gần hai trăm người chúng tôi bị tập trung nơi bãi cây. Nơi đây có một cái lều vải dã chiến vừa được dựng lên vội vã. Có một cái bàn gỗ đặt trước cửa lều. Một Đại úy Cộng-Sản đang ngồi trên ghế nhâm nhi ly cà phê đen. Tên bộ đội đẩy tôi về phía bàn giấy và ra lệnh, “Anh trình diện Thủ trưởng Quang đi! ” Tôi chưa kịp bước lên thì tên sĩ quan Cộng-Sản đã xua tay, “Thoải mái! Thoải mái! Anh cứ thoải mái ra nghỉ ngoài kia, chờ chúng tôi nghiên cứu vấn đề rồi sẽ giải quyết sau. Nhớ đừng tìm cách thoát ly đó nhé! ” Sau đó hắn to giọng để những người khác cùng nghe, “Các anh chỉ được di chuyển trong vòng đai đánh mốc bằng dây thừng này thôi! Ai tìm cách thoát ly thì chúng tôi không chịu trách nhiệm bảo toàn tính mạng đấy nghe không!” Đám người bị câu lưu nghe lời hăm dọa mà xanh mặt. Những tên lính Cộng Sản canh gác bốn góc bãi thì vẻ mặt khó đăm đăm. Những họng AK lúc nào cũng lăm lăm chĩa vào đám đông như sẵn sàng nhả đạn. Gần hai trăm người chúng tôi ngồi trên cát, trên cỏ, nhịn đói, nhịn khát trong thời gian năm, sáu tiếng đồng hồ. Tới xế chiều thì viên Thiếu tá trưởng đoàn kiểm tra xuất hiện. Hắn vẫn toe toét cười, “Thế nào? Bà con có khoẻ không? Chờ đợi lâu thế này chắc là bà con đói bụng rồi đấy! Thôi nhé! Mình tranh thủ làm nhanh nhanh công tác kiểm điểm để bà con về nghỉ mệt. Thì giờ là vàng ngọc mà! hì! hì! hì!…” Mọi người thở ra nhẹ nhõm. Tình hình có vẻ không đến nỗi căng lắm! Vài người trong bọn tôi bạo gan giở thuốc lá ra hút trong khi chờ đợi viên Thủ trưởng đoàn kiểm tra giải quyết vấn đề. Viên Thiếu tá Cộng-Sản đưa từng xấp giấy có in sẵn mẫu cho bốn tên đàn em đem phân phát cho mỗi người chúng tôi một bản. Đó là mẫu tự khai và kiểm điểm, trong đó chúng tôi phải ghi rõ họ tên, quê quán, nghề nghiệp, ngày sinh, tháng đẻ. Về mục kiểm điểm thì tùy từng người; người không có chứng minh nhân dân thì hứa lần sau sẽ đem theo giấy tờ theo mình khi đi xa nhà; người không có giấy khai thác củi thì hứa lần sau sẽ xin giấy phép trước khi vào rừng. Nhiều ông trưởng mũi không biết đọc, biết viết, phải nhờ người khác giúp đỡ. Tôi khai tên mình là Nguyễn văn Hai, sinh quán Hà-Đông, nghề nghiệp thợ mộc. Tôi nộp tờ tự kiểm của anh chàng Nguyễn văn Hai, Hà-Đông, thợ mộc trên bàn rồi lui ra đứng lẫn vào đám đông. Những tên bộ đội canh gác an ninh lúc đó đang tháo gỡ căn lều dã chiến. Chúng nó chuẩn bị thu quân.

       Sau khi dồn đống giấy kiểm điểm của chúng tôi vào ba lô, tên Đại úy phụ tá xách cái ba lô đó đi về hướng dốc Cậu Linh. Hắn vừa nhún nhảy đi, vừa huýt sáo miệng điệu nhạc Lambada Nam-Mỹ. Viên Thiếu tá Cộng-Sản trưởng đoàn trịnh trọng hắng giọng lấy hơi rồi tuyên bố, “Nhân danh trưởng đoàn kiểm tra nhân dân, tôi khen ngợi các anh đã thành khẩn nhận lỗi và hối lỗi. Nhân ngày kỷ niệm sinh nhật của Bác Hồ, tôi châm chước cho các anh ra về. Nhớ lần sau chấp hành nghiêm chỉnh mọi quy định khai thác rừng của huyện và không được vi phạm nữa nghe không!” Mọi người vỗ tay cảm động. Đôi người còn đến mời thuốc lá và xin bắt tay tên sĩ quan trưởng đoàn. Tôi cũng thở phào nhẹ nhõm. Tôi nói với một người đồng cảnh trên đường trở về bãi, “Chắc lệnh trên ban xuống, bắt tụi nó kiểm tra, thì tụi nó cũng làm cho có lệ vậy thôi, chứ ăn cái giải gì mà khó dễ tụi khố rách áo ôm như mình!” Ông đồng cảnh của tôi cười khẩy, “Chắc tụi nó có nhận trà nước chia chác của xã, nên mới dễ dãi với mình. Lần trước tụi nó dọn sạch cả đồ nghề, khiên, bao, xẻng, cuốc, chẳng còn gì. Để về bãi mới biết kết quả ra sao anh ơi!”

       Tôi về tới bãi cũng là lúc tụi thằng Thanh chạy bát nháo đi tìm tôi. Thằng Thanh và thằng Hòa cùng vài trăm người không giấy tờ khác trốn trong khu hầm mỏ cũ suốt bốn, năm tiếng đồng hồ. Chẳng có ma nào thèm tìm đến vây bắt bọn họ. Khi bộ đội đã rút đi, có người thông báo, tụi nó mới về lều. Nghe thằng Út nói Bác Hai bị điệu ra bãi tập trung thì tụi nó lo lắng cuống quýt chạy đi tìm. Thằng Út nói lúc bộ đội dí súng bắt tôi đi thì nó chạy sang lều bác sĩ An, giả đò đau bụng để theo dõi diễn tiến ra sao. Chờ yên việc nó mới dám mon men về lều. Rồi nó mếu máo,”Bác Hai ơi! Xái của mình bị tịch thu hết rồi! Bộ đội đã khiêng đi hết rồi!” Tôi nhớ lại, khi lên nộp tờ kiểm điểm trên bàn của tên Thiếu tá Cộng sản trưởng đoàn, tôi tình cờ nghe y dặn dò tên Đại úy phụ tá, “Đồng chí nhớ cho người khẩn trương đãi xái ngay tối nay, bên huyện ủy chia cho cánh mình nột nửa số thu hoạch kỳ này đó!” Thì ra cuộc càn quét này, mục đích của huyện là lấy vàng. Trong thời gian chúng tôi bị giữ ngoài bãi súc sau đồi thì lực lượng vũ trang huyện đã lùng sục khắp các bãi. Tất cả xái đã khai quật đều bị tịch thu đóng bao khiêng đi hết. Có cả chục cái xe tải chờ sẵn ngoài dốc cậu Linh để chở đi những tấn hàng béo bở. Cán bộ giải thích với dân đào vàng rằng, huyện cho giấy phép “khai thác rừng” chứ không phải để khai thác quặng mỏ. Quặng mỏ là tài sản của nhân dân, đào vàng là xâm phạm tài sản của nhân dân. Những người trưởng mũi đều bị gán tội xâm phạm tài sản nhân dân. Họ bị làm biên bản và phải làm tờ tự kiểm điểm. Tất cả xái vàng họ đã khai thác được đều bị tịch thu giao nộp về văn phòng huyện. Mẹ kiếp! Cái giấy phép, giá chính thức là hai phân, giá chui là ba, bốn phân. Trên thực tế, khai thác một diện tích vuông, mỗi chiều mười mét, cho dù là rừng cẩm lai cũng không được một phân! Thêm tiền công, tiền di chuyển xe cộ, ăn uống, thuốc men. Lại một trò “chơi chữ”! Cái đồ ăn cướp cạn! Tôi chợt bật cười, nhớ lại cái thông cáo tháng Năm 1975 của Ủy Ban Quân Quản Sài-Gòn Chợ-Lớn ra lệnh cho Quân Cán Chính của chế độ Sài-Gòn phải “đem theo 30 ngày tiền ăn khi trình diện học tập cải tạo”- Rồi một tháng sau,”Nhà nước ra lệnh cho các anh mang theo 30 ngày tiền ăn, chứ nhà nước có hứa sẽ thả các anh về sau một tháng đâu?”-

       Thế rồi từng tờ lịch lật qua, theo nhau, mười ba tập lịch được bóc đi, tôi về. Tôi về, vợ tôi đã sắp đuối, bốn đứa con tôi còn nhỏ dại. Tôi bắt đầu lại cuộc đời với hai bàn tay trắng. Mới đó mà đã mười bốn năm trôi qua. Thời gian trôi, nhưng chính sách của Đảng và nhà nước thì lúc nào cũng tàn ác, dã man, “trước sau như một”- Tôi tự trách, “Mình đúng là thằng tối dạ! Kinh nghiệm đau thương mười mấy năm rồi mà chưa sáng mắt ra. “Thế là công cốc! Cái lều của thày trò tôi vẫn còn nguyên, nhưng những bao xái vàng chất xung quanh lều đã biến mất. Giờ này xái trong những bao bì ấy đã được những “đầy tớ trung thành của nhân dân” đem đi đãi, vàng sẽ được chia cho những người có công chỉ huy công tác “bảo vệ an ninh và quyền lợi cho bà con” trong cuộc hành quân kiểm tra sáng nay. Đúng như tên Thiếu tá Cộng-Sản đã tuyên bố, “bộ đội không tơ hào đến tài sản của nhân dân!”- Chứng cớ là bao, bì, khiên, cuốc, xẻng, đòn, đồ nghề khai mỏ vẫn nằm yên chỗ cũ, có ai đụng tới đâu? Chúng chỉ hớt tay trên miếng ăn của những kẻ đói khổ nhất trần đời. Trong rừng chiều, tôi nghe đây đó vang vọng tiếng khóc than, tiếng nguyền rủa của những nạn nhân vừa bị cướp.

       Chiều đầu hạ 1989, nắng vàng lóng lánh trên những đọt lá giữa rừng già. Trời quang và mây tạnh, nhưng trong lòng tôi cảm thấy lạnh lẽo vô cùng, lạnh hơn là khi trời đang mưa đá trên miếu Thần Hổ, Đà-Lạt ngày nào. Quán cô Nghĩa lại vang lên một bài ca xưa, nhưng giọng ca rất lạ, cuộn cassette được lén gởi về từ bên kia nửa vòng trái đất:

“Một ngày tàn chinh chiến ấy, 
 chim đã xa bầy… 
 Một ngày tả tơi hoa lá, 
 ngóng trông về xa, 
 nhớ thương hình bóng qua…”

Dấu Binh Lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 23 Feb 2026

Hai gã thiếu niên đi hàng đầu căng biểu ngữ: “Hoan hô Quân đội”. Hai gã khác mang một biểu ngữ màu vàng: “Cương quyết bảo vệ Đạo pháp”. Đám đông ước khỏang hơn trăm người, phần đông là thanh thiếu niên dưới hai mươi tuổi một số ít đàn bà lớn tuổi, thấp thoáng vài chiếc áo vàng. Trung đội tôi dàn hàng ngang ở ngã ba Trần Quốc Toản – Cao Thắng, đợi đám đông tiến tới. Cách chúng tôi khỏang trăm thước, đám biểu tình dừng lại, một tên trẻ tuổi tách ra khỏi đám đông, tay cầm một lá cờ Phật Giáo tiến về phía chúng tôi, gã bắt đầu nói… Tôi không nghe rõ, chỉ loáng thoáng mấy danh từ: Độc tài, đạo pháp, dân chủ hỗn độn va chạm nhau… Xong, gã nâng cao lá cờ… Đám đông hoan hô ầm ĩ, im lặng trơ trẽn đè nặng. Gã thiếu niên nói tiếp thêm một hồi. Một chiếc áo vàng từ trong đám đông tách ra đến đứng cạnh. Tay ông tu sĩ có chiếc cờ nhỏ, y nâng cao, hai tay dang rộng hình chữ V, kiểu võ sĩ lên đài chào khán gỉa… Tôi không nghe được lời ông ta nói gì, vì chú ý đến đám đông. Bọn thanh niên biểu tình phần đông mang dép, quần ống hẹp, áo bỏ ngoài, hai ba gã đứng hàng đầu tóc dài xùm xụp, mồm đang nhai bánh mì, có một vài ả con gái tay còn ôm cặp, ý hẳn đang đi học… Nhưng linh động hơn hết là hai chị đàn bà, quần đen áo bông, lồng lộn xỉa xói mỗi tay cầm một chiếc gậy, một ả đang chửi ngừng lại, chạy vào cái máy nước uống một hơi xong lại nhảy ra tiếp tục tru tréo…

Một chiếc xe cảnh sát màu xanh đỗ ở sau lưng chúng tôi, tiếp theo hai GMC chở đầy cảnh sát dã chiến. Chúng tôi lùi đàng sau, nhường chỗ cho cảnh sát, những chuyên viên chống biểu tình dàn đội hình mau lẹ, máy phóng thanh kêu gọi đám đông giải tán. Có tiếng la ó đả đảo từ đám đông, một vài người bắt đầu ném gạch đá. Lời kêu gọi chót không thành, cảnh sát dã chiến tấn công, gạch đá, khói lựu đạn cay bốc lên. Cảnh sát dã chiến tiến tới, đám biểu tình lui lại rút về Viện Hóa Đạo cố thủ. Trên đường vắng lăn lóc hỗn độn guốc, cặp, nón lá, dép, trơ trẽn và buồn cười. Toán CSDC lên xe rút đi, nhường lại khỏang đường cho chúng tôi, hàng rào kẽm gai mới được thành lập ngay trước cổng Viện Hóa Đạo. Chúng tôi dàn hàng ngang đứng trong nắng, gió và chuỗi giông bão chửi rủa phẫn nộ của bọn người đứng sau hàng rào kẽm gai. Một tên mặt choắt như mặt chuột chỉ tay vào tôi:

– Đ.m… mày ăn tiền của Mỹ bao nhiêu? Tụi mày nếu chết không có địa ngục nào trừng phạt cho hết, cha mẹ mày cho ăn học để mày đem đạn súng giết thầy!! 

Máu nóng bốc lên muốn nổ tung trí não, tôi đưa tay vào túi nơi đựng băng đạn vừa tháo ra khỏi súng, ước gì tôi có được một liều lĩnh. Nó sẽ chết… Nhưng khi tay chạm phải thỏi kim khí mát lạnh đó, tôi thả ra, vì bây giờ, nếu phẫn nộ được bùng cháy, thì không phải riêng tôi mà một trung đội hai mươi bốn người cũng sẽ bùng lên như ngọn đuốc. Chúng tôi chưa kịp rửa đôi giày lấm bùn của chiến trận ngày hôm qua, áo quần mặt mũi còn nguyên dấu vết của bốn ngày hành quân. Vết cháy ở áo thằng Ty tải đạn trung liên, máu ở mặt thằng Thái và tôi, gã trai trẻ nuôi dưỡng thật nhiều hiền hòa trong lòng, ngày hôm qua vừa được chứng kiến những cái chết tức tưởi của một gia đình. Chỉ mới ngày hôm qua. Không thể được, tôi phải nén xuống, phải cất dấu hết giận dữ đang bùng lên như giông bão. Thôi, đi lính để còn lãnh chịu đựng. Nỗi chịu đựng không bờ bến.

Đoàn biểu tình lại ùa ra, bây giờ dẫn đầu bởi một tu sĩ mang kiếng mát màu xanh nhạt. Đến trước chúng tôi, ông ta ngồi xuống niệm Phật, đám đông làm theo, phần đông không ngồi kiết già được, phải ngồi chồm hổm. Tôi gặp lại tên ăn bánh mì lúc nãy, một tay chấp lên ngực, tay kia đưa mồm để gỡ mẩu bánh dính ở kẽ răng!!! Tụng kinh xong, ông tu sĩ đứng dậy đến sát bên tôi yêu cầu mở lối cho đám biểu tình. Tôi lắc đầu. Ông ta năn nỉ. Không được. Mấy bà già người Bắc van xin kêu la khóc lóc, chửi bới để phụ họa… Đàng sau chiếc mặt nạ chống hơi ngạt, tôi nghĩ thầm: Nếu được giết người trong một lần ở trong đời, tôi sẽ chọn lúc này. Đám đông chửi bới bằng những tiếng tục tằn thô lỗ nhất chen với tiếng niệm Phật… Danh hiệu của Đức Thích Ca chen lẫn với rác rưởi của trần gian. Ôi khốn khổ cho tôn giáo của tôi. Tôi nhớ cái chết tự thiêu của bà chị ở Ninh Hòa. Ai bóp nghẹt hơi thở tôi lúc này. Đám đông bắt đầu hỗn loạn muốn đè bẹp lên chúng tôi, một viên đá từ đám đông bay đến đánh mạnh vào ngực của Hạ sĩ Long, tên này la lên một tiếng đau đớn – bất ngờ – hắn đánh báng súng vào ngay mặt một gã thiếu niên đang nhảy choi choi trước mặt. Tôi ném liền trái lựu đạn khói, cơn phẫn nộ bị nén suốt ngày bùng lên như lửa đỏ, báng súng carbine đả ngang một vòng trước mặt, có tiếng rú đau đớn. Tôi la lớn… Đánh nữa, đánh cho chết. Một báng súng ngược lại… Xương người chạm vào chất gỗ cứng vỡ dòn trong một niềm thỏa thuê. Trung đội tôi như trong cơn điên của thù hận và phẫn nộ, những người lính lao vào trong đám đông… Tôi ném thêm một qủa lựu đạn khói. Chạy! Chúng tôi chạy ngược về phía ngã ba Cao Thắng, Trần Quốc Tỏan, khi về đến chỗ đại đội, cởi chiếc mặt nạ… Mắt tôi đỏ hoe, tôi khóc hay lựu đạn làm chảy nước mắt. Ai biết được, nhưng lòng tôi đang là một biển buồn phiền. Làm sao tôi biết được trong ngày mãn khóa, đời sống sẵn dành cho người lính ngần này tàn bạo và tủi hổ; nhìn lại những người lính chung quanh, bây giờ họ thật gần gũi, thân thiết. Sau chiến tranh, người lính thấy lạ với hết mọi người của đời sống bên ngoài, họ chỉ còn ngục tù tự nguyện của tập thể để làm thế giới cho tâm hồn phá sản. Tôi đã cột chặt vào thế giới hung bạo, phiền muộn này, tôi đã thành một người lính, nêm cứng với những người lính khác… 

– Thiếu uý cho em chạy về nhà một lát – Một người lính trong trung đội đến gần tôi nói nhỏ.

– Lúc này biểu tình lộn xộn, đi đường có việc gì làm sao tìm ra được. 

– Không có đâu thiếu uý, nghe radio “nhạc đảo chánh” là em biết liền.

– Ừ, khi nào có “nhạc đảo chánh” thì về.

Tháng 9-1964. Sài Gòn.

Tầng đầu địa ngục

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Hải Triều

Post by Sơn râu 23 Feb 2026

Bobynin đi vào phòng. Anh cũng bận bộ quần áo màu xanh đậm y hệt bộ quần áo của Pryanchikov, người vừa đi ra. Bobynin là một người đàn ông to và cao, quắc thước, mái tóc hung hung cắt ngắn theo kiểu tóc tù nhân. 
Anh tỏ ra ít chú ý đến cảnh gian phòng và những đồ bày biện, bài trí ở đây như anh đã từng ra vào nơi đây cả trăm lần mỗi ngày. Anh đi thẳng tới trước bàn và đĩnh đạc ngồi xuống ghế không thốt ra nửa lời chào hỏi. Rồi anh rút chiếc khăn tay không được sạch lắm vì ít có dịp được giặt trong túi ra hỉ mũi. 
Abakumov, sau khi thất vọng vì sự nói nhiều nhưng không đi đến đâu của Pryanchikov, tỏ ra yên tâm hơn khi thấy Bobynin điềm tĩnh và có vẻ nghiêm trọng. Y không quát lên với Bobynin “Đứng lên” như y vẫn thường quát với những đám ngồi khi chưa được y cho phép. Nghĩ rằng người tù này không biết y là ai, và gã cũng không đoán ra gã đang ở đâu, y cất giọng gần hiền lành hỏi: 
“Tại sao anh lại ngồi khi chưa được phép?” 
Bobynin nghiêng mặt nhìn vị Tổng trưởng quyền uy, anh vẫn dùng khăn chùi mũi và trả lời bằng một giọng thản nhiên: 
“Có một câu cách ngôn Trung Hoa nói rằng: “Đứng tốt hơn đi, ngồi tốt hơn đứng và tốt hơn cả là nằm”. 
“Anh có biết tôi là ai không?” 
Ngồi thoải mái với hai cánh tay đặt trên thành ghế, bây giờ Bobynin mới nhìn thẳng vào mặt Abakumov, anh chậm chạp đưa ra lời đoán: 
“Ông là ai? Hừ… Tôi thấy ông giống như Thống chế Goering.” 
“Giống ai?” 
“Thống chế Goering. Có lần ông ấy đến thăm xưởng chế tạo phi cơ ở gần Halle, nơi tôi làm việc. Bọn tướng lãnh ở đó đều sợ xanh mặt, không tên nào dám đi mạnh, nhưng tôi không thèm cả nhìn xem ông ta ra sao. Ổng đến, đứng nhìn một hồi rồi đi.” 1 
Có một vẻ gì gần giống như nụ cười thấp thoáng trên vành môi Abakumov, nhưng y vội nghiêm mặt lại vì ngụ ý hỗn hào trong câu nói của tên tù. Y chớp mắt và hỏi, giọng bực dọc: 
“Anh không thấy có sự khác biệt ư?” 
“Khác biệt giữa ông và hắn? Hay khác biệt giữa ông và tôi?” 
Giọng nói của Bobynin có những âm thanh lạnh, cứng như thép. 
“Giữa tôi và ông, tôi thấy sự khác biệt rõ lắm: Ông cần tôi, còn tôi không cần ông.” 
Abakumov cũng có giọng nói có thể gầm lên như sấm sét, và y biết cách lợi dụng nó để đàn áp người khác. Nhưng lúc này y thấy y có gầm lên cũng vô ích. Y hiểu rằng người tù này là một gã khó chế ngự được. 
Vì vậy, y chỉ cảnh cáo: 
“Anh tù, nghe đây. Đừng thấy rằng tôi dễ dãi mà anh có thể…” 
Bobynin vẫn thản nhiên: 
“Công dân Tổng trưởng, nếu ông làm dữ với tôi, tôi sẽ không nói gì với ông nữa. Ông chỉ có thể quát tháo, chửi mắng, đe dọa bọn đại tá với tướng lãnh quân hầu của ông. Họ có nhiều thứ mà họ sợ mất trong đời.” 
“Tôi có thể bắt anh phải nói.” 
“Ông lầm đấy, Công dân Tổng trưởng.” 
Đôi mắt cương cường của Bobynin sáng lên ánh lửa thù hận: 
“Ông không làm gì được tôi hết vì tôi chẳng còn gì hết, ông hiểu không? Ông không thể làm hại được vợ con tôi vì một trái bom đã làm vợ con tôi tiêu tan lâu rồi. Ông cũng không thể hành hạ được cha mẹ tôi vì cha mẹ tôi đã chết. Tất cả những gì tôi có bây giờ chỉ là cái khăn tay dơ này, bộ quần áo cũng này và cái quần cụt rách.” 
Như để chứng minh lời nói, Bobynin vạch áo để trần ngực: 
“Tất cả những thứ này đều do chính phủ phát. Ông đã tước đoạt tự do của tôi lâu rồi, và ông không có khả năng trả lại tự do cho tôi vì chính ông, ông cũng không có tự do. Tôi đã bốn mươi hai tuổi và ông đã giáng cho tôi cái án tù hai mươi lăm năm. Tôi đã từng là tù khổ sai, từng sống với những con số thay tên trên ngực áo, từng bị còng tay, từng sống giữa bầy chó dữ, từng chết dở sống dở trong những trại giam tàn ác nhất của bọn ông. Ông còn gì nữa để mà dọa tôi? Ông chẳng còn tước đoạt ở tôi thêm cái gì nữa. Ông có thể cấm tôi hành nghề kỹ sư? Cũng được. Nhưng cấm tôi thì ông có hại nhiều hơn là tôi. Tôi hút thuốc.” 
Abakumov mở nắp hộp đựng những điếu thuốc đặc biệt mang nhãn hiệu Troika ra mời: 
“Đây, hút thuốc này.” 
“Cám ơn. Tôi không thích đổi thuốc. Thuốc của ông làm tôi ho.” 
Bobynin lấy ra một điếu thuốc Belommor tự hộp đựng thuốc do anh làm lấy. Anh nói tiếp: 
“Ông nên hiểu điều này, và ông nên nói lại điều này với những người trong bọn ông rằng các ông chỉ mạnh khi nào các ông không tước đoạt của người khác hết tất cả mọi thứ. Bởi vì khi một người đã bị các ông lấy mất hết tất cả, người đó sẽ không còn ngán sợ các ông nữa. Người đó lại trở thành tự do.” 
Bobynin lặng im, anh chú tâm vào điếu thuốc. Anh cảm thấy thú vị đã làm được cho Tổng trưởng Abakumov hoang mang, anh khoan khoái ngồi trong chiếc ghế da quá êm này. Anh chỉ hơi hối có một điều là với mục đích tỏ ra bất cần, anh đã từ chối điếu thuốc thơm hiếm có kia. 
Tổng trưởng Abakumov kiểm soát trên giấy: 
“Kỹ sư Bobynin, anh là kỹ sư Trưởng toán làm việc ở Phòng Số Bảy?” 
“Phải.” 
“Tôi yêu cầu anh trả lời thật rõ rệt: Bao giờ giàn máy điện thoại đặc biệt được hoàn thành? Bao giờ thì máy dùng được?” 
Bobynin ngước đôi lông mày đen rậm lên: 
“Chuyện này hơi lạ đó. Sao ông không hỏi Đại tá Yakanov mà lại hỏi tôi?” 
“Tôi muốn hỏi chính các anh. Đến tháng hai này máy có thể dùng được chưa?” 
“Tháng hai? Ông có giỡn chơi không đó? Ông muốn chúng tôi chế tạo ra một thứ có thể dùng được hay là làm bậy cho xong rồi muốn ra sao thì ra? Coi nào – sớm nhất cũng phải là nửa năm nữa. Còn muốn cho máy thật hoàn hảo thì phải một năm.” 
Abakumov như người bị búa tạ nện xuống đầu. Y điếng hồn nhớ lại bộ ria mép rung động, giận dữ của Lãnh tụ mỗi khi gặp điều gì trái ý hoặc phải chờ đợi, và y nhớ lại những lời y đã long trọng hứa với Lãnh tụ, những lời hứa căn cứ trên lời hứa của bọn Oskolupov, Yakanov. Y có cải cảm giác rụng rời chân tay của kẻ đi đến bệnh viện xin thuốc cảm cúm để hốt nhiên được biết mình bị ung thư cuống họng. 
Và y cố gắng gằn giọng: 
“Bobynin, tôi muốn anh suy nghĩ kỹ trước khi nói: anh có thể hoàn thành cái máy đó nhanh hơn được không? Nếu được, anh cho tôi biết: Cần phải làm những gì, cần phải có những gì?” 
“Nhanh hơn? Không thể được.” 
“Nhưng tại sao? Vì nguyên nhân nào? Kẻ nào có lỗi? Nói cho tôi biết, đừng có sợ gì cả. Cho tôi biết kẻ nào có lỗi, bất cứ kẻ đó ở cấp bậc nào, tôi cũng tống nó xuống làm lính trơn.” 
Bobynin ngồi vắt chân, dựa lưng và ngửa mặt nhìn lên trần nhà. Abakumov nói như rít lên qua hàm răng nghiến lại: 
“Dự án này đã kéo dài hơn hai năm mấy tháng rồi còn gì? Hai năm rưỡi trong lúc các anh chỉ được quyền làm trong thời hạn một năm.” 
Cơn giận trong Bobynin nổ ra: 
“Ông nói cái gì? Thời hạn là cái gì? Ai lại ngu si ra hạn cho một dự án khoa học bao giờ? Ông quan niệm khoa học như thế nào? Khoa học đâu có phải là cây đũa thần của bà tiên để ông có thể ra lệnh: Xây cho ta tòa lâu đài trước sáng mai và sáng mai ngủ dậy, ông thấy tòa lâu đài mới tinh hiện ra trước mắt? Ông phải biết là vấn đề đã được đặt ra sai ngay từ đầu. Ai có thể biết trước được có bao nhiêu hiện tượng bất ngờ xảy đến trong một dự án khoa học. Thời hạn! Ông tưởng chỉ cần ra thời hạn phải làm xong đã giải quyết được tất cả hay sao? Ông có biết rằng ngoài việc ra lệnh ông còn cần phải có những người được ăn uống đầy đủ, những người thoải mái về tinh thần, những người tự do để làm công việc ấy? Không ai có thể làm việc được trong không khí nghi ngờ vô lý ở đấy. Ông đâu có biết chúng tôi chỉ có một cái máy tiện cổ lỗ sĩ để dùng và chúng tôi phải khiêng cái máy hạng bét đó hết chỗ này sang chỗ khác. Vì máy quá cũ nên nó bị hư, cần trục gãy phải hàn lại mất ba mươi ruble. Cái máy tiện đó sống đã một trăm hai mươi năm trời rồi. Nó nhão hết mọi bộ phận. Vậy mà vì nó hư, anh Thiếu tá Shikin ngu đần, sĩ quan an ninh ở đó, bắt tất cả chúng tôi tới để thẩm vấn liền trong hai tuần lễ. Hắn muốn tìm cho ra kẻ phá hoại để gán thêm án tù vì tội phá hoại. Tên đó là sĩ quan an ninh trong Viện, một gã ăn hại. Lại còn một tên nữa cũng là sĩ quan an ninh. Tên Shikin phụ trách an ninh trong các phòng thí nghiệm, tên kia giữ an ninh trong nhà giam. Gã làm cho bọn tôi điên đầu vì những báo cáo ti tiện của gã. Mà các ông làm cái gì phải có tới hai tên sĩ quan giữ an ninh ở đấy chứ? Ai cũng biết là chúng tôi chế tạo máy điện thoại cho Stalin, và chính Stalin đích thân ra lệnh làm máy này. Vậy mà với một công tác như thế các ông cũng không cung cấp cho chúng tôi đủ vật liệu cần thiết. Khi chúng tôi cần bóng đèn thì không có hoặc là có nhưng không đúng thứ chúng tôi cần dùng, cả đến những bàn dao-động-đồ cũng không đủ. Thật là xấu hổ. Vậy mà ông còn hỏi rằng ai có lỗi. Ngoài ra, các ông đâu có nghĩ gì tới những người làm việc cho các ông ở đó. Họ đều làm việc mỗi ngày mười hai tiếng có ngày tới mười sáu tiếng, nhưng các ông chỉ cho những kỹ sư trưởng toán ăn thịt còn những người khác ăn xương. Tại sao các ông không cho họ được gặp thân nhân họ? Đáng lẽ mỗi tháng họ được gặp vợ con họ một lần thì các ông chỉ cho họ mỗi năm được gặp một lần. Việc đó giúp tinh thần họ lên cao để họ có thể làm việc cho các ông hữu hiệu hơn hay sao? Hay là các ông không có đủ xe Maria đen để đưa tù đi gặp vợ con. Hay là thiếu tiền trả cho bọn lính canh để đi làm những ngày nghỉ? Trước kia trong ngày chủ nhật chúng tôi được đi lại suốt ngày ở ngoài sân vườn, bây giờ cấm. Tại sao lại cấm? Để chúng tôi làm việc nhiều hơn ư? Các ông phải biết chúng tôi làm cho các ông những công việc gì và chúng tôi cần có những gì để làm công việc ấy chứ? Nhốt người ta suốt đêm trong phòng kín đâu có phải là công việc sẽ làm nhanh hơn. Mà tôi có nói với ông cũng vô ích. Như ông chẳng hạn – tại sao ông lại gọi tôi tới đây vào lúc nửa đêm như thế này. Bộ ban ngày không có đủ thì giờ hay sao? Tôi còn có việc phải đi làm ngày mai. Tôi cần ngủ.” 
Bobynin đứng thẳng người, giận dữ, to lớn. 
Abakumov thở phì phò, nhấn mạnh nút chuông điện. 
Lúc đó đã mười một giờ hai phút. Trong một tiếng đồng hồ nữa, vào lúc hai giờ ba mươi sáng, Abakumov phải tới báo cáo với Stalin trong biệt xá ở Kuntsevo. 
Nếu tên kỹ sư này nói đúng, bằng cách nào y có thể thoát được tai họa này? 
Stalin không bao giờ tha thứ. 
Sau khi Bobynin đi khỏi, Abakumov nhớ lại bọ tam-đầu-chế dối trá Sevastyanov, Oskolupov và Yakanov, cơn giận như một tấm màn đen phủ xuống mắt y. 
Abakumov cho gọi ba tên dối trá đó trở lại.

——————————–

1Thống chế Goering: Tư lệnh Không lực Đức Quốc Xã.

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 23 Feb 2026

Làm những gì tôi nói, đừng làm những gì tôi làm!

(Ngạn ngữ Pháp)

Một lệnh mới về “xử phạt vi phạm đối với những trường hợp sử dụng nhà sai mục đích,” vừa được Bộ Xây Dựng Việt Nam đưa ra “hướng dẫn” thực hiện, đang làm dư luận ở Việt Nam bất bình và cho đây là một “quy định lạ lùng trong lịch sử” đến “không thể thực hiện.” Chính quyền giải thích: “Về nguyên tắc, dù là căn nhà ở chung cư hay nhà ở riêng thì đều là để ở, đã được tính toán theo quy hoạch khu vực, việc biến nhà ở thành nơi kinh doanh thương mại dịch vụ, sản xuất … là vi phạm pháp luật.” Do đó lâu nay, nhà ở, nhất là những căn nhà mặt tiền các đường phố đô thị, huyện, xã, hầu như đều được xử dụng hay cho thuê để làm cơ sở kinh doanh, buôn bán hay dịch vụ sẽ phải bị phạt từ 20 triệu đồng tới 30 triệu đồng. Thật ra nghị định 23/2009 đã có từ lâu, nhưng không ai để ý vì khi gia chủ muốn buôn bán hay mở dịch vụ đều đã xin phép và đóng thuế rồi. Nếu như lệnh lạc này được áp dụng triệt để, hàng triệu chủ nhà khắp nơi tại Việt Nam có thể bị phạt nặng vì sử dụng nhà ở “sai mục đích.” Ai có nhà mặt tiền đông người qua, lại không mở tiệm phở, tiệm tạp hóa, quán cà phê kiếm sống hay cho người ta thuê mở tiệm hớt tóc hay sửa giày? Đây là một mẻ lưới khá lớn chụp xuống đầu nhân dân, chắc chắn tạo cơ hội cho các quan chức nhà nước và công an lợi dụng để nhũng lạm. Trong thời đại lương công nhân không đủ sống, hầu hết sống làm nghề tự do, bươn chải ngoài chợ đời để kiếm sống, không phải ai cũng có cơ hội vơ vét mà “không đổ mồ hôi, sôi con mắt,” nên có một ngôi nhà mặt tiền là cơ hội may mắn để có một cuộc sống khá giả hơn giúp người dân cải thiện cuộc sống. Lâu nay việc kinh doanh đã có môn bài, đóng thuế nhưng có lẽ chính quyền muốn bắt chẹt thằng dân hơn nữa, không còn đường thoát, vì những lệnh lạc áp đảo đến tận cùng, mà giải pháp đút lót, hối lộ là con đường cuối cùng làm no thêm bầy kên kên của chế độ.

Hiện nay ở các nước phát triển, trong các thành phố lớn như Paris, Rome, New Orleans, Philadelphia, San Francisco … hay ngay cả ở Washington DC đều có những ngôi nhà mặt tiền dưới làm nhà hàng trên làm chỗ ở cho gia đình, trong khi một nước đói nghèo như Việt Nam lại có thứ quy định lạ lùng như thế.

Đúng là kiểu “chân mình thì lấm bê bê, lại còn đốt đuốc đi rê chân người!” Một viên chức Việt Nam, ông Nguyễn Quang Hưng, Phó Chánh VP Thanh Tra Xây Dựng Đà Nẵng, cũng đã thấy rõ việc nhà nước đã xử dụng “nhà công vụ” hay công ốc nhà của nhà nước sai mục đích sao không nghe nói! Ý kiến của một người ký tên là “DanSaigon” đã nêu ý kiến mỉa mai hơn: “Chỗ ở cho ra ở, ăn cho ra ăn, làm cho ra làm. Trước có những thằng lấy vườn hoa của trường học, bệnh viện để trồng rau lang nuôi lợn, sau lại có những thằng đào mả người chết làm khu vui chơi. Lại có những thằng khác đòi lấy nhà thờ để làm nơi xử lý nước thải!”

Theo tôi, tại nước CS Việt Nam, chuyện gì chứ việc: “sai quy định” là bệnh của XHCN, trên dưới một giuộc, có gì đâu mà làm ầm ĩ lên thế! Hồi đi tù ngoài Bắc chúng tôi đã thấy sân chùa thì làm dùng chỗ phơi lúa, đình làng thì rào dậu nuôi lợn cho hợp tác xã nông nghiệp, chẳng là tùy tiện, sai quy định hay sao mà vẫn được ban giấy khen. Dưới thời “mở cửa,” bà con du lịch cũng đã từng bỏ tiền ngủ đêm tại “Nhà Nghỉ” của Bộ Nội Vụ, Đảng Ủy hay hợp đồng thuê “xe con” do sĩ quan công an hay viên chức lái. Chúng lấy công ốc, công chức ra cho thuê để lấy tiền “cải thiện” cho nhân viên hay bỏ túi. Công xa nếu đúng quy định đâu phải để dùng cho vợ con đi tắm biển hay để cho quý quan lớn đi bia ôm? Nhà hư, xe mòn thì đã có công quỹ, xăng nhớt, điện nước thì đã có nhà nước trả, sai quy định bê bết mà có ai dám “xử lý” đâu!

Trong 6 điều Bác Hồ dạy và “quy định” cho “Công an Nhân dân” có hai điều quan trọng là: “Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính”, “Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép.” Vậy mà có thằng nào làm đúng quy định đâu! Đối với bản thân thì vơ vét, không thấy ai là công an mà nghèo cả. Đối với nhân dân thì triệt để xem dân như kẻ thù, trâu ngựa, đánh đấm, bắn giết không nương tay! Nhiệm vụ của quân đội là bảo vệ tổ quốc chống ngoại xâm, chứ đâu phải mở Tổng công ty 15, Công Ty In QĐ2, Công Ty Viễn Thông, Công Ty Xăng Dầu Quân Đội … để khai thác kinh tế kiếm lời. Nhiệm vụ của nhân viên sứ quán Việt Nam tại ngoại quốc như Nam Phi, đâu có phải để đi buôn lậu sừng tê giác. Vai trò của sinh viên, người mẫu đâu phải để làm gái bao hay làm điếm. Tiệm hớt tóc, quán cà phê đâu phải chỗ bán dâm. Nhiệm vụ của phi công và tiếp viên đâu phải là để chuyển đồ ăn cắp hay buôn lậu. Hiệu trưởng, thầy giáo được Bộ Giáo Dục bổ nhiệm đâu phải để làm ma cô dắt gái (học trò) cho Tỉnh Ủy.

Chức năng của bệnh viện là chữa trị để cứu người, nhân viên y tế đã có lương bổng nhưng lại vô lương tâm trị bệnh theo mức độ của đồng tiền vòi vĩnh được. Khi bệnh nhân qua đời thì giữ rịt lại để “tống tiền” khâm liệm, tiền bán quan tài, tiền thuê xe đưa về quê quán với những giá cả bóc lột, khiến gia đình khi có thân nhân chết trong bệnh viện, phải nửa đêm đem thi thể của người thân trốn đi. Trên thế giới này có một xã hội nào khốn nạn đến mức như vậy không? Chỉ cần bấm vào ba tiếng “sai quy định” chúng ta đã thấy rõ nhiều trò “nói một đàng, làm một nẽo” đầy dẫy ở Việt Nam. Chính quyền địa phương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sổ đỏ bị cấp sai quy định mặc dầu hồ sơ không có gốc hồ sơ địa chính, thủ tục xét cấp không đầy đủ, một số địa phương tự đặt ra các khoản thu của các đối tượng sai quy định và để ngoài ngân sách … tóm lại là để có cơ hội bỏ túi. Chính phủ việc nghiếm cấm dùng công quỹ làm quà biếu và chiêu đãi khách sai quy định và ra lệnh các tổ chức, cá nhân khi được thưởng, biếu, tặng sai quy định phải kiên quyết từ chối. Chính phủ cũng nghiêm cấm các cơ quan sử dụng rượu ngoại để chiêu đãi, tiếp khách … Liệu những vụ như thế này, đảng viên, công chức nhà nước có thực hành … đúng quy định không? Cuối cùng, đầu lộn đuôi, xuôi lẫn ngược. Nếu mọi sự đều đúng quy định trên văn bản thì lấy đâu ra điều mà nuôi đảng viên, và sẽ không còn ai giữ đảng.

Vụ cưỡng chế 500 hecta đất của huyện Văn Giang đã cho chúng ta thấy chuyện tráo trở, thay đổi quy định, nếu cần, vì nhu cầu lợi lộc cho chính phủ. Vì năm 2002 xã Phụng Công của huyện đã được vinh dự “tặng cờ thi đua là đơn vị chuyển đổi cơ cấu cây trồng xuất sắc nhất huyện” của UBND tỉnh Hưng Yên. Với mô hình nông nghiệp vừa làm ruộng, ao cá, ương cây cảnh giúp nông dân kiếm bạc tỉ mỗi năm, làm sao người dân có thể ngờ được hôm nay, chủ trương của nhà cầm quyền là lấy hơn 500 hecta đất sản xuất và nhà ở của ba xã Phụng Công, Cửu Cao và Xuân Quan trao cho công ty Việt Hưng để đổi lại, nhà đầu tư tư nhân làm thay cho nhà nước đoạn đường hơn 10 km, trong đó bao nhiêu phần trăm là tiền lót tay cho viên chức nhà nước.

Đêm Xuân ngoài Yên Bái

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 24 Feb 2024

Post by Sơn râu 22 Feb 2026

Mặt trời từ từ lặn xuống đáy Hồ Thác Bà …

Một ngày Tháng Giêng Âm Lịch năm Đinh Tỵ 1977 đã đi qua …

Hôm nay tù cải tạo Đội 11 của Trại 4 được về sớm vì có buổi đọc báo sau bữa cơm chiều. Mỗi tuần có một buổi đọc báo, đôi khi kéo dài cả giờ. Chúng tôi ngồi nghe mà buồn ngủ muốn chết.

Cán bộ quản giáo Đội 11 là một trung úy Việt Cộng có tên Thu. Cán bộ Thu luôn luôn là người chủ trì các buổi đọc báo hằng tuần của lán chúng tôi. Cán bộ Thu bị sứt môi trên, nên chúng tôi lén gọi y bằng cái tên “Thu Sứt”. Thu Sứt ngồi giữa phòng, chúng tôi ngồi vây quanh … Cầm tờ báo Quân Đội Nhân Dân trên tay, với nét mặt thật trang nghiêm và trịnh trọng, Thu Sứt mở lời,

– Qua mục “Đọc báo để học tập” hôm nay, tôi sẽ thay mặt Đảng và Nhà Nước dạy các anh một bài học về vấn đề nhân quyền!

Tiếp đó Thu giơ tờ báo lên cao, chỉ ngón tay trỏ vào cái tiêu đề, lớn tiếng đọc từng chữ:

“Chuyện giết hai ông Mục sư da đen Ma Tinh Lu Tơ Kinh”

Y ngừng lại một giây, gật gù cái đầu, rồi tiếp tục giảng dạy,

– Học xong bài này, các anh sẽ hiểu lý do vì sao bọn đế quốc Mỹ tàn ác đã giết 2 ông mục sư da đen là Ma Tinh và Lu Tơ Kinh.

Xếp tờ báo lại, để trên đùi, Thu đảo mắt nhìn quanh,

– Trong số các anh, có ai biết 2 ông da đen này không? Các anh có biết vì sao mà 2 ông này bị chúng nó giết không?

Hơn 3 chục mạng cải tạo viên của Lán 11 đều ngồi ớ ra, chẳng ai hiểu gì.

Hầu hết các cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa tù cải tạo ở đây đều biết Mục Sư Martin Luther King là ai, vì lý do gì mà ông ta đã chết.

Nay bỗng dưng nghe cán bộ nói có tới 2 ông mục sư Mỹ đen bị sát hại, một ông tên là Ma Tinh, một ông tên là Lu Tơ Kinh thì ngạc nhiên lắm!

Tranh Bảo Huân

Chẳng lẽ chỉ qua chưa tới 2 năm bị giam cầm mà chúng tôi đã không hay biết gì về chuyện một ông mục sư da đen Martin Luther King nay đã biến thành 2 ông mục sư da đen Ma Tinh và Lu Tơ Kinh?

Tôi ngồi sát sau lưng cán bộ Thu nên nhìn rõ cái đề bài in rất đậm: “Chuyện giết hại ông Mục sư da đen Martin Luther King”  nhưng chữ “hại” bị mất dấu nặng (.) thành ra chữ “hai” do đó mà cán bộ quản giáo của chúng tôi mới đọc là “2”… ông Ma Tinh và Lu Tơ Kinh!.

Biết thế, nhưng tôi cứ giơ tay lên rồi phát biểu ngay,

– Báo cáo cán bộ! Đế quốc đã giết 2 ông này vì 2 ông này là chiến sĩ tranh đấu cho nhân quyền!

Bình thường thì trong trại này người ta thấy tôi là một anh tù lờ ngờ, ngớ ngẩn, lù đù, chậm chạp trong mọi lãnh vực, từ học tập tới sinh hoạt hằng ngày.

Cán bộ Thu là người phụ trách Đội 11.

Ngày nào y ta cũng dẫn chúng tôi đi lao động.

Y ta ‘quản lý’ mọi hoạt động, mọi sinh hoạt của Đội 11, cả trong vòng rào và ngoài vòng rào.

Y biết kỹ tính nết và khả năng của từng tù cải tạo trong Đội 11.

Y ta đâu có lạ gì tôi?

Vì thế mà chẳng thèm trưng cầu ý kiến anh em trong Đội 11, y tự tiện đặt cho tôi cái tên “Anh Long Lù Đù”. Gặp tôi ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào, cán bộ Thu cũng gọi tôi là, “Anh Long Lù Đù! Anh Long Lù Đù!”

Ấy vậy mà hôm nay trước mắt cán bộ quản giáo Thu thì tôi đã tỏ ra là một trại viên vô cùng tiến bộ.

Tên Thu gật đầu hài lòng,

– Đúng rồi! “Anh Long Lù Đù” hôm nay giỏi lắm! Anh Long trả lời rất là đúng! Tôi tuyên dương anh đấy! 2 ông Ma Tinh và Lu Tơ Kinh bị Mỹ giết chỉ vì 2 ông ấy đã là da đen mà còn dám đứng lên tranh đấu cho nhân quyền! Người ta chỉ tranh đấu đòi nhân quyền, mà nhân quyền thì có ăn được đâu? Có bán được đâu? Người ta đòi nhân quyền chứ có đòi cơm ăn, áo mặc, nhà cửa, ruộng đất, tiền bạc gì đâu mà cũng giết người ta? Đấy! Các anh thấy chưa? Đế quốc Mỹ khát máu như thế đó! Các anh có thấy thương cho 2 ông này không?

Khi nói ra những lời này, nét mặt cán bộ quản giáo của chúng tôi trông thật là thảm thương. Đôi mắt cán bộ rươm rướm lệ.

Chắc cán bộ tiếc thương 2 ông mục sư lắm? Chắc cán bộ oán giận bọn đế quốc lắm?

Cán bộ Thu đưa tờ báo cho anh tù đội trưởng là cựu Đại úy Đặng Kim Bảng,

– “Anh Long Lù Đù” mà còn thấu triệt được ý nghĩa của bài báo, chắc các anh khác cũng thấu triệt rồi! Như thế là buổi đọc báo hôm nay đã đạt được mục tiêu. Tôi cho các anh nghỉ sớm. Anh Bảng giữ tờ báo này rồi cho anh em chuyền tay nhau mà đọc. 

Tôi ngây người không cựa quậy nổi! Ai ngờ cái tên quản giáo này vừa ngu, lại vừa lười!

Tôi cứ tưởng, sau khi tôi có ý kiến thì y sẽ bắt ai đó đọc lại bài báo, sẽ thấy cái sai của y, và thấy ngay cái sai của tôi.

Nếu sự việc diễn ra như thế, thì trước mắt cán bộ Thu, tôi vẫn là một anh tù không những đã đần độn, ngớ ngẩn, ngu ngơ, khù khờ, mà còn có tính a dua, nhanh nhảu đoảng!

Chủ ý của tôi một đàng, chuyện xảy ra một nẻo!

Tôi nào có ngờ? Tên Thu này còn ngu hơn cả con bò!

Buổi đọc báo để học tập hôm đó đã kết thúc quá sớm.

Chờ cho tên cán bộ Việt-Cộng đi xa, ông tù cải tạo cựu Trung tá Nguyễn Công Luận mới đứng giữa buồng mở trang báo ra chỉ cho mấy người vây quanh,

– Mẹ nó! Rõ ràng cái tiêu đề của bài báo là, “Chuyện giết hại ông Mục sư da đen Martin Luther King” ấy vậy mà, khi in lên giấy chỉ thiếu một dấu nặng (.) dưới chữ “hại” thế là 1 ông Martin Luther King biến thành 2 ông Ma Tinh và Lu Tơ Kinh!

Anh Luận ngồi cạnh tôi, chắc cũng đọc được cái đề bài. Anh ấy cũng giơ tay xin phát biểu.

Có lẽ anh Luận định sửa sai tên Thu, không ngờ tôi nhanh nhảu quá, khiến cho anh ấy không kịp mở lời thì chúng tôi đã được nghỉ rồi!

Nghe anh Luận cặn kẽ giải thích, anh em mới vỡ lẽ vì sao cán bộ Thu cứ nằng nặc kết tội đế quốc Mỹ khát máu đã đang tay giết chết một lúc 2 nhân mạng can tội tranh đấu cho nhân quyền.

Hết giờ đọc báo, tôi vội kéo tay anh bạn tù Lê Thái Bình tức là Cựu Đại úy Đại Đức Thích Trí Thọ ra cửa để đi một vòng thăm hỏi bạn tù.

Tôi và Bình chui vào căn nhà đối diện Lán 11 là Lán 4 của Đội 4.

Lúc này, trong hiên sau Lán 4, cũng có cả chục ông tù đang ngồi tán gẫu.

Trong số các ông tù hiện diện, tôi cũng có mấy người quen,

1) Cải tạo viên Lê Phong Ba, vốn là Đại Đức Thích Giác An, cựu Đại úy Phó Giám Đốc Sở Tuyên Úy Phật Giáo Quân Đoàn II.

2) Cải tạo viên Đức Già, tôi không nhớ họ của bác Đức. Bác Đức vốn là Thiếu tá Trưởng Ban Thăng Thưởng Phòng Tổng Quản Trị Quân Đoàn II.

3) Cải tạo viên Nguyễn Văn Triết, vốn là Thiếu tá Thiết Đoàn Trưởng Thiết Đoàn 3 Kỵ Binh.

Từ thời còn ở Pleiku thì 2 ông Đức và Giác An biết tôi vì họ đã từng có mặt ở Sân Vận Động Pleiku ngày 15 tháng 9 năm 1974 để tham dự lễ khao quân và choàng vòng hoa chiến thắng cho chiến sĩ Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân của tôi sau 33 ngày đêm tử thủ.

Bác Đức nhiều lần nhắc đi, nhắc lại chuyện một ngày giữa tháng 8 năm 1974 tôi đang bị Sư Đoàn 320A Cộng Sản vây hãm, bác ấy được lệnh ôm cái gối con có cặp lon trung tá mới toanh, theo chân ông Đại tá Phạm Duy Tất bay trực thăng vào Pleime để thả xuống cho tôi, nhưng máy bay vừa tới Hàm Rồng thì phải quay về, vì có lệnh của Sài-Gòn giữ cái lon đó lại.

Thầy Giác An thì cứ thắc mắc rằng sao tôi ngu quá? Gây thù chuốc oán với những vị quyền cao, chức trọng ở Sài-Gòn làm gì để bị đì tới nỗi không ngóc cổ lên được?

Còn ông Triết Xe Tank lại là bạn đồng hành của tôi từ khi ông ta còn là Trung úy Chi đoàn trưởng Chi Đoàn 1/3 Chiến Xa ở Pleiku.

Ngày mùng 1 Tết Mậu Thân 1968 tôi cùng Trung úy Triết, Chi đoàn trưởng 1/3 và Thiếu úy Tài, Chi đoàn trưởng 2/3 đều bị trọng thương và nằm trong Khu Ngoại Thương 2 của Bác Sĩ Thới, trong Quân Y Viện Pleiku. Tôi và ông Triết thương mến nhau từ đấy.

Bây giờ, qua ông Triết, tôi có thêm một ông bạn mới thuộc giới đánh nhau bằng bút, đó là cựu Thiếu Tá Chiến Tranh Tâm Lý Tô Thùy Yên.

Trước đây tôi không quen ông thi sĩ Tô Thùy Yên, nhưng vì ông này thân với ông Triết, nên có lúc kiếm được củ khoai, củ mài, con cá, mớ rau, tôi đều chia cho 2 vị này.

Không lâu sau, ông Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên cũng có cảm tình với tôi, coi tôi là bạn để ông ta tâm sự.

Cũng trong Lán 4 này, lâu lâu tôi gặp một cựu Thiếu tá Biệt Cách 81 là cải tạo viên Phạm Châu Tài.

Thiếu tá Phạm Châu Tài là đàn em của Đại tá Trần Phương Quế; ông Quế là chú tôi.

Anh Tài đồng trang lứa với tôi. Lúc nào anh ta cũng lạc quan, yêu đời.

Sau một hồi tán dóc với mấy ông bạn Lán 4 thì Thầy Bình quay qua nói chuyện riêng với Thầy Giác An, còn tôi cũng cáo từ để xuống bếp thăm thầy Thinh.

Thầy Thinh cũng là một Đại Đức Tuyên úy Phật Giáo.Tôi không nhớ họ của thầy Thinh, nhưng nhớ pháp danh của thầy là Thích Thiện Thanh.

Thầy Thinh giữ chân bổ củi và đốt lò cho nhà bếp.

Tối tối, tôi thường xuống cửa nhà bếp ngồi chơi với thầy Thinh, không phải để nghe ông ấy giảng giải đạo nghĩa tu hành hay đọc kinh Phật, mà để nghe ông ấy độc tấu những bài tình ca tân nhạc thật là mùi.

Có điều, cây đàn của thầy Thinh không phải là loại Tây Ban Cầm bình thường, mà là một cây guitar phím lõm, còn gọi là guitar vọng cổ.

Vì phím đàn bị khoét lõm, nên khi ngón tay nhạc sĩ nhấn trên phím thì âm thanh phát ra sẽ một nửa mang nét mạch lạc, dứt khoát của Tây Ban Cầm, còn nửa kia lại mang nét dập dìu, uyển chuyển của Hạ Uy Di Cầm.

Có phải vì lý do đó mà khi nghe tiếng guitar phím lõm sô lô, tôi cảm thấy lòng mình mềm yếu hơn nếu so sánh với lúc nghe tiếng guitar bình thường?

Hầu như ngày nào tôi cũng được thầy Thinh cho nghe một lần bài “Biệt Ly” của Doãn Mẫn. Tôi không biết vì lý do gì mà thầy Thinh lại thích bản nhạc này.

Tôi cũng không tiện hỏi thầy rằng, trong đời, thầy đã trải qua một cuộc chia ly sầu thảm nào chưa?

Riêng tôi thì năm lên 4 tuổi, tôi đã biết thế nào là nỗi buồn đau của một lần biệt ly. Vào một buổi tối năm 1946, bố tôi đã đưa tiễn Mẹ con tôi lên đường về quê nội Hải Dương.

Ngồi trên toa xe lửa khởi hành rời Hà Nội, tôi đã rơi nước mắt khi nghe tiếng còi tàu rúc lên từng hồi.

Đoàn tàu từ từ đi vào bóng đêm, cùng lúc dưới sân Ga Hàng Cỏ trong ánh đèn vàng của điện đường, hình bóng bố tôi đứng bên cái xe đạp cứ mờ dần, mờ dần …

Sau buổi biệt ly ngày ấy, tôi không còn dịp nào gặp lại bố tôi nữa.

Thế rồi, tôi đã trải qua không biết bao nhiêu lần biệt ly nữa xảy ra trong đời.

Mỗi lần đối diện một cuộc chia tay, tôi đều hồi tưởng lại câu văn mà năm 1950 tôi đã học thuộc lòng,

“Ôi! Cái cảnh biệt ly sao mà buồn vậy!”

Câu văn này trích từ bài “Biệt Ly” trong quyển Quốc Văn Giáo Khoa Thư Lớp Ba. Đã biết hình ảnh một cuộc chia ly sẽ là nỗi ám ảnh không thể quên cho một con người, vì thế mà ngày tôi đi nộp mình cho kẻ địch, tôi đã lẳng lặng lên đường, tôi đã không ôm hôn và đã không nói một lời từ biệt với vợ con tôi.

Thầy Thinh thuộc rất nhiều bài tình ca, bài nhạc nào thầy đàn cũng hay.

Ngón đàn của thầy Thinh quả là có một không hai! Tiếng đàn cứ như là “nước chảy, hoa trôi …”

Tôi là cựu binh Biệt Động Quân, là con trai, mà còn mê mệt tiếng đàn của thầy thì phải biết thầy đàn hay cỡ nào!

Chẳng biết ngày xưa, đã có bao nhiêu cô con gái, bao nhiêu cô nữ sinh, bao nhiêu cô nữ Phật Tử phải đánh rơi con tim vì tiếng đàn của thầy?

Rồi kẻng gióng lên “Keng! Keng!” báo hiệu tắt đèn; không còn ai được phép đi chơi trong sân hay la cà bên lán khác. Chỉ vài phút sau khi có tiếng kẻng, nhiều ông tù đã ngáy ầm ầm …

Chừng nửa đêm, tôi thức giấc buồn đi tiểu.

Vườn rau nằm sát Lán 4 là chỗ phóng uế ban đêm cho trại viên ở Lán 4, 10 và 11.

Dù trời khuya không có mây giăng và cũng không có sương mù, vậy mà vườn rau trước mặt tôi cũng chỉ là một vũng tối đen.

Gió Bấc từng cơn lùa về…

Trời lạnh quá!

Bên cạnh tôi là một bóng người. Anh ta cứ đứng co ro vừa run vừa càm ràm cái gì đó.

Tiểu tiện xong, tôi quay mình, tính đi vào lán, thì nghe anh ta la to,

– Mẹ ơi! Mẹ có biết rằng con đang đói rét lắm không?

Đúng là lá rụng về cội, vào những lúc đau khổ nhất, tuyệt vọng nhất, người mà ta muốn chia sẻ chính là người đã sinh ra ta.

Nghe tiếng anh bạn tù than van, bất giác tôi cũng chạnh lòng nhớ Mẹ tôi, rồi buột miệng,

-Mẹ ơi! Con nhớ Mẹ! Con thương Mẹ lắm! Mẹ ơi!

Đất nước tang thương, Mẹ mất con, chồng xa vợ, tan đàn xẻ nghé bởi vì đâu?

Đổ lỗi cho ai bây giờ?

Lỗi vì chính ta đã không chiến đấu hết mình, hết sức?

Lỗi tại đồng minh bội bạc?

Lỗi vì cấp chỉ huy bất tài?

Tôi chợt nhớ câu tuyên bố của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu:

“Đất nước còn, còn tất cả! Đất nước mất, mất tất cả!”

Nếu chỉ xét về mặt tuyên truyền thì câu nói đó của ông Tổng Thống thật là hay, thật là hữu lý.

Còn xét về mặt thực tế, thì chúng ta nhận ra ngay, những người nhanh chân bỏ chạy, dù có mất nước, mất hết quyền lực, địa vị, nhà cửa, xe cộ, ruộng vườn, họ vẫn còn vợ con, còn tiền gửi ở ngân hàng ngoại quốc

Điều quan trọng nhất là họ còn tự do, còn cơ hội xây dựng lại cuộc đời.

Họ có mất tất cả đâu?

Trái lạị, để bảo vệ đất nước, bảo vệ nền Cộng Hòa, chúng tôi đã không trốn chạy, đã chiến đấu tới giờ phút chót, rồi chấp nhận đi tù, chúng tôi mới là những kẻ đã mất tất cả.

Ấy vậy mà, suy cho cùng thì chúng tôi cũng thấy mình còn chút gì đó để tự an ủi. Chút gì đó chính là cái danh dự của một quân nhân!

Một ông binh nhì đã chiến đấu tới giờ phút chót thì suốt cuộc đời còn lại, vẫn có thể ngửng mặt tự hào. Còn một ông đại tướng, khi quân thù còn ở cách Sài Gòn cả trăm cây số mà đã lo dắt díu vợ con giành giựt một chỗ ngồi trên boong tàu di tản, thì sau này có dám nhìn mặt ai hay không?

Lịch sử đã chứng minh rằng, đến khi đất nước lâm nguy mới lộ mặt những cấp chỉ huy tham nhũng, bất tài và hèn nhát.

Lịch sử sẽ lưu giữ tất cả.

Rồi đây mọi người sẽ biết ai là người tiếp tay với kẻ thù, giết chết hàng ngàn chiến hữu của tôi ở pháp trường cát Thuận An.

Rồi đây mọi người sẽ biết ai là tác giả cuộc hành quân tự sát trên Liên Tỉnh Lộ 7B tháng 3 năm 1975 khiến cho hàng chục ngàn quân dân Vùng 2 phải bỏ mạng một cách oan uổng.

Ngay trước mắt tôi, cũng trong tháng 3 năm 1975, cấp chỉ huy trực tiếp của tôi đã sớm hiện nguyên hình là thứ dòi bọ, tham sống sợ chết, mặt xanh như tàu lá, vội vội, vàng vàng leo lên trực thăng đào ngũ bỏ anh em.

Ấy vậy mà, trước tình hình dầu sôi, lửa bỏng nguy kịch đó, dưới quyền chỉ huy của tôi, Liên Đoàn 24 Biệt Động Quân vẫn là một đơn vị có kỷ luật.

Là những chiến binh cuối cùng còn hiện diện trên Cao Nguyên Vùng 2, tới tháng 4 năm 1975, đồng ngũ Liên Đoàn 24 Biệt Động Quân của tôi vẫn vững tay súng, bền gan, cam chịu đói khát, rét mướt, vừa đánh vừa lui, chết từng giờ, chết từng ngày, chết đâu, chôn đó, suốt con đường Liên Tỉnh Lộ 8B dặm dài đầy gian khổ.

Một nửa quân số của Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân đã phơi thây trong cuộc rút lui này.

Nửa còn lại chưa kịp chấn chỉnh đội hình đã phải gồng mình, chen vai, góp sức với các bạn Sư Đoàn 18 Bộ Binh để tạo dựng chiến thắng sau cùng của Quân Lực Việt-Nam Cộng Hòa trong trận Long Khánh kéo dài 12 đêm ngày.

Cho tới trưa 30 tháng Tư năm 1975, cả giờ đồng hồ sau khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, sát nách Thủ Đô Sài Gòn, những người lính của Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân vẫn còn chiến đấu.

Những chiến sĩ Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân đã ngã xuống bên nhau, linh hồn của họ bay lên trời, biến thành những vì sao …

Thế rồi, gần 2 năm sau ngày thua trận, tôi, con chim đầu đàn của Pleime Vùng 2 đang sống kiếp tù đày.

Đêm nay, một đêm Tháng Giêng Âm Lịch năm Đinh Tỵ 1977, tôi đang đứng giữa sân Trại giam số 4 Cẩm Nhân, Yên Bình, Yên Bái, Hoàng Liên Sơn, Bắc Việt, ngửng mặt ngắm trời mây.

Dõi mắt về Nam, lòng tôi chợt chùng xuống rưng rưng …

Trên kia, dải Ngân Hà trôi lờ lững …

Tôi giơ cao tay vẫy gọi.

Giòng sông chứa đầy sao chầm chậm tiến lại, mỗi lúc mỗi gần hơn, mỗi sáng hơn.

Tôi có cảm tưởng như là mình đang núp dưới bóng che của Ngân Hà.

Rồi vào phút giây nào đó, tôi biết chắc rằng những vì sao chói lóa trong dải Ngân Hà trên đầu tôi chính là các bạn tôi; các bạn tôi đang cúi xuống nhìn tôi …

Lấp lánh, lấp lánh, ánh mắt của họ thật là trìu mến và vô cùng ấm áp…

Con sông bạc cứ bồng bềnh …

Lòng tôi vui như mở hội.

Tôi dướn người lên bám lấy bờ sông.

Con sông chợt tròng trành chao đảo, khiến cho tôi trượt chân rơi vào khoảng không, mắt tôi bỗng tối sầm …

Một giây sau, tôi mở mắt ra, thì thấy mình đang nằm đè trên một luống rau dền …

Vậy là, khoảnh khắc trước đây tôi đã sống trong ảo giác!

Vườn rau vẫn là một vũng tối đen …

Gió Bấc từng cơn lại lùa về…

Yên Bái …

Đêm Xuân lạnh buốt …

VML

Seattle, Xuân Giáp Thìn 2024