Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 6 Mar 2026

Người Việt chúng ta có thói quen gọi những người Châu Mỹ La Tinh là Mễ, bất kể họ đến từ Mễ Tây Cơ (Mexico,) Chile hay Ecuador … Đến Mỹ, chúng ta sống  trong một quốc gia hợp chủng cùng nhiều sắc dân khácnhư Đại Hàn, Trung Hoa, Nhật, Lào, Cam Bốt .. nhưng phải nói gần gũi với chúng ta nhất là người Mễ. Bạn thử quay nhìn đời sống chung quanh chúng ta mỗi ngày, ở đâu mà không thấy người Mễ. Người Mễ đến cắt cỏ trong vườn bạn hay lái xe lấy rác mỗi tuần, người Mễ rửa xe, lau nhà, lợp mái nhà cho bạn, người Mễ bưng dọn, rửa chén bát trong quán ăn, cầm bảng quảng cáo ở đầu đường … Xa hơn nữa, người Mễ đang sửa đường cho bạn đi, dựng cầu qua xa lộ, làm những ngôi nhà mới … Người Mễ chiếm tỷ lệ cao trong các sắc dân thiểu số, làm việc cần cù, nặng nhọc. Những việc như xây dựng cầu cống, đường sá, nhà cửa … nhân công hầu hết là Mễ, người da trắng chỉ cầm bản vẽ, chỉ trỏ và ra lệnh.

Đất Mễ Tây Cơ không nuôi nổi người Mễ, nên mỗi năm, hàng chục nghìn người Mễ vượt biên giới sang Hoa Kỳ để kiếm ăn, chính phủ Mỹ phải tăng cường quân đội đến vùng biên giới, xây tường cao, tăng cường tuần tra mà cũng không thể nào ngăn chận nỗi làn sóng vượt biên đông đảo và thường trực này.

Chính phủ Mễ chỉ cung cấp khoảng 400,000 công việc trên 1, 3 triệu nhân công. Số còn lại là thất nghiệp và tha phương để đem về cho quê nhà của họ trung bình 13 tỷ đồng mỗi năm. Nhiều người Việt đã bỏ mình trên Thái Bình Dương vì tự do, nhưng những người Mễ lại qua biên giới Mễ – Mỹ vì cái bụng đói. Họ đã chết vì đói khát trong sa mạc nóng cháy lên đến 110 độ hay hơn thế nữa. Là di dân lậu, đến được Mỹ rồi, kiếm được đồng tiền để nuôi sống bản thân qua ngày đã khó, lại lo toan dành dụm gửi tiền về quê để nuôi mẹ, nuôi vợ con.

Đến Mỹ rồi, không phải ai cũng kiếm được đồng lương 5, 7 đồng một giờ. Ở trước cửa hiệu bán vật liệu xây cất, làm vườn lúc nào cũng có hàng chục người Mễ chờ đợi khách hàng để xin việc. Nếu bạn cần đào ao, sửa nhà, cưa gỗ hay dọn vườn … thì ra đây ngã giá rồi chở một hai ông thợ này về nhà, chẳng khó khăn gì. Người Mễ bán hoa ở góc đèn xanh đèn đỏ hay người Mễ bán dâu ở chỗ đông người. Bạn thử tìm cho tôi một người Việt Nam đứng trước cửa Home Depot kiếm việc hay bán hàng dạo như những người Mễ kia! Họ cũng là những người vụng về, không khéo tay, cứ nhìn những đồ thủ công nghệ của họ trên đất Mễ hay ngành nghề của họ đang làm thì đủ rõ, quả là thua xa người Việt về chuyện thông minh, khéo tay và khôn lanh ….

Nước Mỹ đôi khi điên đầu vì nạn di dân về biên giới phía Nam. Chuyện này đã gây chia rẽ không ít qua các cuộc tranh luận tại quốc hội, qua các kỳ bầu cử. Ai cũng muốn ngăn chặn người Mễ tràn vào đất Mỹ, nhưng cũng có người lại cho rằng, nếu không có 31 triệu người nói tiếng Tây Ban Nha gốc Mễ trên đất Mỹ thì quốc gia này sẽ ra sao?

“A Day Without a Mexican”(Một Ngày Không Có Người Mễ) là một bộ phim của đạo diễn Sergio Arau sản xuất năm 2004, nó cung cấp một cái nhìn châm biếm những hậu quả khi mà người Mexico ở tiểu bang California đột nhiên biến mất: “Một buổi sáng California thức dậy và đột ngột thấy rằng 1/3 dân số của mình đã biến mất.” Chuyện gì sẽ xẩy ra sau đó? Ông chủ nhà hàng: “Tôi bước vào nhà hàng không thấy một ai. Thực phẩm không có người giao đến, chén bát dơ còn đầy trong bếp, đương nhiên không có cả khách hàng!” Quang cảnh ở ngoài phố thì “rác rến đầy đẫy trên đường, bệnh viện đóng cửa, không có giáo viên, không có trái cây hay rau quả, và ngoài đường phố vắng teo … “

Cả California cũng như ngày tận thế, đương nhiên Little Saigon cũng tiêu điều. Ai lau bàn, cửa chén, ai nhặt rau, đổ rác kể cả ai đổ bánh bèo hay nấu nồi phở cho bạn hôm nay! Không có sự hiện diện của 13,7 triệu người Mễ ở đây, dễ chừng ở California, mọi sự xẩy ra bi đát như ngày tận thế.

Người làm phim“A Day Without a Mexican” hy vọng cộng đồng La tinh có vị trí xứng đáng của nó như là một đóng góp quan trọng trong lịch sử và tương lai của Hoa Kỳ: “Chúng tôi sẽ được ghi lại quá trình và kết quả với hy vọng thúc đẩy hơn nữa các cuộc thảo luận đóng góp cho xã hội và nền kinh tế của chúng ta, không chỉ là người nhập cư La-tinh, nhưng tất cả những người từ nước khác. Đó là những đóng góp tăng năng suất và nâng cao mức sống cho tất cả chúng ta.” Lẽ cố nhiên trong đó có cả những người Việt tại Mỹ.

Vậy mà người Việt vẫn nói giọng khinh bạc: “Không ăn cắp không phải Mễ, không đi trễ không phải Việt Nam.” Một người Mễ tương đối có học, đã nói với tôi: “Tôi đã phải từ bỏ một mối tình với một thiếu nữ xinh đẹp Việt Nam, vì mẹ cô này khinh tôi ra mặt!”

Người Mễ có gì để đáng khinh?

Người Mễ “ăn cắp!” Một bà triệu phú ở quận Cam có cho tôi biết, một cô Mễ được thuê dọn dẹp vệ sinh trong phòng bà, đã đánh cắp một chiếc nhẫn hột xoàn đắt tiền trong chiếc tủ trên dầu giường của bà, nhưng bà bỏ qua, không khai báo với cảnh sát. Bà nghĩ người Mễ nào sang đây kiếm việc làm cũng nghèo, khó khăn và phải nói là đáng thương. Nếu người đàn bà này ở tù, chắc chắn sẽ bỏ lại một đàn con nheo nhóc. Đây là một người Mễ ít học, có thể nói là không được đi học, đói rách phải lặn lội qua bao nhiêu gian khổ, chết chóc để bỏ xứ ra đi, vì nghèo mà phải ăn cắp, trong khi trong cộng đồng người Việt chúng ta có vô số người giàu có, trí thức mà vẫn … ăn cắp. Bản thân tôi là một người đã bị ăn cắp căn cước để lấy tiền vô tội vạ từ quỹ Medicare của liên bang về những dịch vụ mà tôi không hề được hưởng. Người Mễ đã lừa bạn lấy tiền mua vật liệu sửa nhà rồi biến mất không? Người Mễ có lừa bán bảo hiểm “ma” cho bạn rồi cao bay xa chạy không? Có người Mễ nào làm nghề mua bán nhà đã giả chữ ký của bạn để co-signe cho một người mua nhà không đủ điều kiện không? Có người Mễ nào đã giật hụi, bán cẩm thạch giả cho bạn không? Người Mễ làm nghề nails với bạn có khi nào ra tiệm đối diện bên kia đường để giật khách lại của người chủ cũ không? Có người Mễ nào làm công mà phản chủ, học nghề để cạnh tranh với bạn không?

Người Mễ chính thống (để phân biệt với số người lai Tây Ban Nha) thường được xem là những người vai u thịt bắp, ăn no vác nặng, chơn chất thật thà, có tính cách du mục, tạm thời, thích tự do không bị ràng buộc, đương nhiên rất khó thành công. Một vị chủ nhân người Việt có đất bên Mễ Tây Cơ, thuê khoảng 200 công nhân địa phương, kinh doanh nông phẩm, trồng mít, rau, bầu bí … chở về bán ở Cali và miền Đông nước Mỹ. Lương công nhân ở đây mỗi ngày chỉ 80 pesos (chừng hơn 7 đô la,) đã có những nhận xét về các nhân công người Mễ của ông: “Tất cả đều làm việc tùy theo thời vụ và tùy hứng của họ. Không thể nào kêu họ vào làm thường trực được, khó lắm.” hay: “Nói chung thì người nông dân nào cũng rất chất phác, dễ thương. Đặc biệt với người Mễ thì càng lè phè hơn nữa. Lãnh lương xong là vô quán bia ngay. Lắm khi lương suốt tuần chỉ đủ trả một bữa nhậu suốt đêm với nhau.” Đó phải chăng là những đặc tính đáng yêu như hầu hết dân Nam Bộ của chúng ta không?

Dù đôi khi khác nhau, chúng ta đến đây vì lý do chế độ chính trị, người Mễ Tây Cơ vì chế độ cầm quyền bất lực, không tạo nỗi công ăn việc cho dân, băng đảng ma túy tràn lan, nhưng họ và mình cũng giống nhau ở chỗ là phải bỏ quê hương, làng mạc ra đi, phải chăng “cùng một lứa bên trời lận đận!” Người Mễ trên đất Mỹ, sống khó khăn hơn là chúng ta, họ chật vật nghèo khó, có khi 10 người ở chung với nhau trong một căn chung cư 1 phòng, đi lại bằng phương tiện di chuyển công cộng, mua được một cái xe cũ thì nhiều khi không đủ tiền mua bảo hiểm, con cái học hành dở dang vì phải lăn lưng ra đời kiếm cơm sớm. Người Mễ không những đáng yêu mà còn đáng thương nữa!

Dấu Binh Lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 6 Mar 2026

Phi cơ hạ cánh xuống phi trường Qui Nhơn vào buổi chiều nắng gắt, hai tiểu đoàn 3 và 5 Nhảy dù đang xếp hàng đợi về Sài Gòn, những người sắp đi hớn hở ra mặt, trong khi chúng tôi, kẻ đến thay thế ai nầy trông khó đăm đăm…
– Chúng mày ở đây bao nhiêu lâu rồi?
– Hơn ba tháng rồi đấy ông ạ, bố khỉ chẳng bao giờ đi lâu như vậy.- Cần ởtiểu đoàn 3 Nhảy dù trả lời.
– Tôi đi Pleiku một lần với ông, ông về nghỉ, bây giờ ra lại, tụi tôi mới được về… Chịu khó đi, vi-xi ở đây có sư đoàn Sao Vàng bị quần tơi tả hết, ông hỏi tiểu đoàn 3 coi, Việt cộng nó đầu hàng buồn cười không chịu được. – Âu ở tiểu đoàn 5 nói tiếp.
– Ấy, vì đơn vị tôi mới thành lập thì phải lai rai một chút xã hơi, nhưng chắc lần này phải trả nợ kỹ, mấy ông về là sướng, ở đây lại bắt đầu mưa mới khốn nạn! – Tôi nói câu cuối cùng trước khi lên xe.
Tiểu đoàn chúng tôi cùng tiểu đoàn 6 lên xe đến Phù Cát. Xe chạy qua thành phố Qui Nhơn, thành phố nhiều lính ngoại quốc đứng sau Đà Nẵng, Biên Hòa và Nha Trang. Không hiểu phải chăng là số mạng, những thành phố nào tôi lớn lên và sống đều bị hư hại nhiều nhất. Đúng là một cái số không may để thấy nơi chốn tuổi thơ bị loang lổ và vấy bẩn. Đà Nẵng, thành phố ven con sông, dựa lưng vào biển, gió thổi rịn mùi muối, con đường bờ sông xanh um lá me tây, lối về Trẹm, đường Quang Trung, đường Lê Lợi phía gần trại định cư Thăng Bình vắng vẻ như một nẻo về thơ mộng. Giờ tan lớp, học trò từ ba trường Phan Chu Trinh, Nguyễn Công Trứ, Phan Thanh Giản đổ ra reo vui rộn rã như tùy bút của Xuân Diệu… Xong con đường trở lại vắng vẻ, thấp thoáng một vài gã trai về muộn sau khi chơi bóng rổ hoặc theo sau những tà áo trắng tóc thề. Qui Nhơn, ngày tiếp thu 1955, tôi đến trong đêm khuya, mười hai giờ xe qua thành phố như nghe lại tiếng trống hào hùng của người áo vải cờ đào. Qui Nhơn, cũng thành phố này tôi tìm đến em, để thấy trong cơn say choáng váng, ngọn lửa rực rỡ của tình yêu tàn rụi dần… Những quê hương đẹp đẽ của tôi trong chiến tranh, dưới bàn tay của người bạn đồng minh trở nên lòe loẹt dơ dáy. Chiến tranh phá vỡ tận cùng kỷ niệm.
Xe chạy qua khỏi thành phố dọc quốc lộ 1, cũng như ở Nha Trang và Biên Hòa, những đống rác vĩ đại và những chiếc chòi tỵ nạn lúc nhúc bên cạnh nguồn, đống sinh lực độc hại đó. Con đường từ Qui Nhơn đến ngã ba rẽ lên Pleiku đang sửa chữa, từ đó trở đi loang lổ, nát bấy như một con đường núi. Cầu bị sập được thay thế bằng những ống cống kim khí lớn đặt theo dòng nước xong lấp đất thật chặt. Một dòng sông được ép lại qua những lòng cống nhỏ. Với nhịp làm cầu này, tôi tin chắc rằng danh từ “nhịp cầu” sẽ không bao giờ còn ở địa phương này nữa. Thôi, chỉ cốt sự tiện lợi, chiếc cầu chỉ còn vang bóng như một vẻ đẹp xưa. Xe đến Phù Cát, quận lỵ của người dân định cư với đói khổ tranh sống được tính từng ngày, từng bữa cơm có được. Tiểu đoàn chúng tôi vào đóng ở khu dân cư cách quốc lộ 1 một cây số, làng thật nghèo, đây là ngôi làng của những người thủơ trước cũng có gia sản, nay vì chạy nạn giặc dã trốn ra đây, họ thuộc về thành phần dân cư đi trước những vụ tị nạn tập thể. Dân chúng không có nghề nghiệp nhất định, đi nhặt đồ hộp, rửa xe Mỹ, Đại Hàn dọc theo quốc lộ. Một số con gái phần đông làm nghề bán nước ngọt cho toán Công binh đóng dọc đường đồng thời đời sống khó khăn nên họ làm luôn nghề bán ái tình cho các anh lính xa nhà bất kỳ ở nơi đâu… Trên bãi cát, sau bụi cây, trên xe GMC, một đôi khi dựa vào hông xe… Chỉ cốt sống được!! Người dân Phù Cát sống thật mệt.
Ngày 12 tháng Mười một, năm giờ sáng, tiểu đoàn hướng về ngã Bồng Sơn, qua quận Phù Mỹ, trời còn tối, vượt đèo Nhông đến đèo Phù Cũ, xe ngừng. Dàn đội hình, bỏ quốc lộ 1 tiểu đoàn bắt đầu tiến quân về phía đông, bên trái là núi Chóp Chài, bên phải là đồng ruộng có tiểu đoàn 6 và thiết vận xa cùng tiến song song. Quân đi chậm, nơi đây một tháng trước, chúng tôi đã có dịp chứng kiến một tiểu đoàn của trung đoàn 42 quần thảo với địch – làng Quang Nghiễm – mục tiêu thứ 1 hiện ra cuối cánh đồng sừng sững như một pháo đài. Hàng trăm tà-vẹt đường rầy được Việt cộng lấy từ đường xe lửa xuyên Việt mang về làm tuyến phòng thủ. Hàng rào phòng thủ thật chắc do được lèn thêm thân cây dừa.

– Với hàng rào này nếu có tụi nó thì mình nát xương. – Lính bàn tán.
– Bọc lên trên núi để ép xuống, lỡ có đụng thì làm ăn được.
Giọng anh Ba “râu” oang oang trong máy. Đại đội 91 bắt đầu trèo lên sườn núi phía trái, đại đội 92 đi dưới đồng ruộng phía tay mặt. Tiểu đoàn 6 bên phải chúng tôi đã chiếm được mục tiêu đầu của họ, tiểu đoàn chúng tôi được lệnh vào… Lính chạy hết tốc lực, cánh đồng không có lúa dễ di chuyển nhưng quá dài đối với người lính mang nặng. Làng vắng ngắt, nhà cửa bị bom dội đổ sập chỉ còn trơ vài cây cột. Rừng dừa vẫn còn tươi, dừa miền Trung cao và to hơn gấp bội miền Nam; vùng Bình Định, Phú Yên trong những đêm trăng, lá dừa lung linh ánh sáng như sóng biển, đi tàu lửa đêm tưởng như trôi giữa đại dương… Đêm trăng ướt lá dừa – Câu hát thật bình dị nhưng gợi cảm. Đêm trăng hôm nay vẫn còn đấy, nhưng người làm câu thơ giờ này chắc đâu còn rung động như những năm xưa. Hình như ông ta đã theo Mặt Trận.
Quân tiến đến làng Quang Nghiễm 4, xong trở về làng Quang Nghiễm 3 để đóng quân. Cao độ ba mươi sáu thước, gió từ biển thổi vào lồng lộng, đồi không cây, không căng võng được, ngủ ngay trên sườn đá. Mặt trời tắt, gió mùa đông thổi lạnh, đêm ngủ không được, thân thể mệt mỏi, nằm xuống nhớ thằng bé vừa sinh chưa đầy tháng. Cuộc hành quân còn bao nhiêu lâu? Tôi ngồi dậy nhìn ra trong đêm tối, có tiếng sóng vỗ ở nơi xa. Tôi biết mình đi gần về biển. Bao nhiêu lâu không thấy biển, nơi tuổi trẻ của tôi đã lớn. Tôi đã già. Một ngày hành quân vừa đi qua.
Tiếp tục những ngày sau, tiểu đoàn tiến về hướng nam, chợ Bình Dương Đông, chợ nhỏ nhưng đông, người từ những thôn xóm xa xăm đến họp, có những món hàng thật tội nghiệp, bốn năm quả trứng, vài bó củ cải mà người bán phải dậy từ sáng tinh mơ để đi đến đây từ một làng sát bờ biển, tay mang, đầu đội, tay dẫn con vượt qua hàng mười lăm hai mươi cây số để đổi lấy một vài thứ không thể sản xuất được. Tiểu đoàn đóng quân tại chợ, lính nhào đi mua bán, ít khi họ mua được hàng rẻ và ngon đến thế. Cả dân và lính đều hả hê vui sướng. Tiếp tục đi sâu về phía đông đến tận đầm Trà Ổ. Làng thật trù phú, vườn củ đậu xanh, dừa sai quả, tất cả nhà gạch trong làng đều bị bom cày nát. Nhà thờ Chánh Khoan chu vi rộng hai mẫu, kiến trúc theo lối Tây phương, tượng thiên thần tinh xảo còn tồn lại được trên đồi cao như dấu vết của một thời kỳ thịnh vượng.
Một tuần, hai tuần qua, càng đi vào sâu càng thấy đổ vỡ chiến tranh và tác động của nó. Cả một vùng đất đai trù phú từ đèo Nhông đến đèo Phù Cũ, rộng từ quốc lộ 1 ra đến biển nhưng tổng số dân cư không quá hai ngàn người. Không có đàn ông, thiếu người canh tác, lúa chín đỏ không người gặt. Bà cụ già đến bữa ăn ra nhặt một ít đem về xay để đủ nấu trong vài này. Dân ở bên cạnh đầm Trà Ổ không dám đánh cá, chiếc đầm rộng hơn mười lăm cây số vuông, lưới cá giăng đầy không người kéo. Sáng ngày thứ mười bốn, khi đóng quân ở trên bờ cát cao nhìn xuống mặt đầm, nước đầm bủa sóng mênh mông, một chiếc xuồng nan trôi dật dờ, ở trên có chiếc trực thăng lượn vòng, thỉnh thoảng bắn xuống một tràng đại liên. Hai giờ sau chiếc xuồng vào đến bờ, hai người đàn ông lớn tuổi được khiêng lên, cả hai đều bị thương.
– Sao ông lại ra ngoài đầm để làm gì?
– Lưới của nẫu nhiều cá quá, không ra gỡ thì uổng…
Gọi trực thăng xuống di tản, một người đàn bà từ đâu chạy lại ôm lấy người bị thương khóc lóc…
– Đã nói với nẫu đừng đi để nông nổi thế này! Đứa bé chín tuổi đứng bên cạnh nhìn chúng tôi hằn học. Không lấy gì làm lạ, địch đã ở vùng này quá lâu để gây ảnh hươœng. Ngôi trường học ở Phú Ninh bị phá nát, Việt cộng đào rộng cái hốc ở núi Lồi để làm trường dạy lũ trẻ. Tính đố: Ngày hôm qua quân giải phóng giết hai mươi quân Mỹ-Ngụy và tịch thu mười tám súng, ngày hôm nay thêm bốn mươi lính ngụy chết tịch thu ba mươi hai súng, hỏi quân giải phóng đã giết được bao nhiêu quân Mỹ-Ngụy? Và tịch thu bao nhiêu súng? Bài hát: Em có cây bút chì. Vẽ ngay một tên giặc Mỹ. Em tô con mắt xanh lè, cái mặt thật là gớm ghê… Đi đến nơi đâu: Đàn ông ở đâu? Nẫu không biết! Ai giết cô Năm ở chợ Bình Dương? Nẫu không biết! Cô Năm thợ may chỉ có cái tội sửa áo quần cho lính, đêm sau tiểu đoàn đi, Việt cộng về lôi ra chém kèm bản án liên lạc với Ngụy!
Bà già sáu mươi hai tuổi bị tình nghi là điểm chỉ cho Việt cộng bình tĩnh đối đáp trong khi chúng tôi có đủ chi tiết trên giấy tờ tịch thu được.
– Bà là mẹ chiến sĩ phải không? – Im lặng. – Chúng tôi có giấy tờ chứng nhận bà đã đi thu thuế trong vùng Chánh Khoan để nộp cho tên huyện uỷ Nguyễn Văn Bình. – Vẫn im lặng. Bà già nhổ quyết trầu xuống đất, cười khủng khỉnh: Nẫu không biết.
Sự dốt nát và hận thù, nghèo đói bệnh tật đè lên đầu dân chúng. Tiểu đoàn đi đầu, đại đội chúng tôi đi sau chót, gặp một toán dân làng thằng Hùng mang máy truyền tin cho tôi nghịch ngợm hỏi:
– Có thấy bọn Mỹ Ngụy qua đây không? Toán dân nhìn bộ áo quần của nó dò xét không trả lời.
Thằng Hùng trỗi dọng Quảng Bình:
– Các đồng chí phải hoan hô quân giải phóng, chúng tôi đã giết được hai trăm tên Mỹ Ngụy nên lấy được áo quần và súng này của chúng. Chúng tôi là quân giải phóng, các đồng chí đừng lầm, hãy chỉ tụi Mỹ Nguỵ cho chúng tôi!
… Toán dân mau mắn gật đầu:
– Kìa kìa, tụi nó đi ngã kia kìa, họ chỉ về hướng tiểu đoàn chúng tôi đang di chuyển.
Một tháng hơn đã qua, người tôi muốn nằm xuống như một chiếc lá khô. Đi mãi, đi hoài, vòng lên Vạn Phú ra Chánh Khoan, Chánh Giáo, kéo ra quốc lộ lãnh tiếp tế, xong rồi lại rút vào. Chúng tôi đi không cần địa bàn, không bản đồ, cứ nghe đến mục tiêu là đi. Đi không có kết quả. Nhưng tệ hại hơn cả là mệt mỏi tinh thần, những thảm cảnh chứng kiến cùng với sự khổ nhọc của bản thân càng ngày càng chồng chất lên cao. Người tôi căng bởi trong đau đớn và cuồng nộ vô danh.
Chiều ngày thứ bốn mươi của cuộc hành quân. Đại đội đi hoạt động biệt lập, chúng tôi đi dọc theo bờ đầm, biển và bờ cát ở bên phải, đầm ở bên trái. Trời mùa đông miền Trung xám đặc, bãi cát vàng úa, đầm giăng giăng mưa bụi, từng đàn vịt trời bay lên, đảo xuống theo một tốc độ chậm chạp buồn phiền. Tôi để một trung đội đi trên gò cát, phần còn lại của đại đội dựa theo bờ đầm, đoàn quân đi thất thểu như một lũ ma hoang. Một tháng mười ngày di chuyển không ngừng nghỉ, áo quần bẩn thỉu, nhàu nát, gió mùa đông lạnh buốt. Chúng tôi đã tận nhọc nhằn. Đến làng An Quảng, làng thuộc loại lớn nhưng hoang vắng một cách đáng sợ, mọi nhà đều đóng cửa. Có tiếng khóc trong một ngôi nhà nhỏ, tiếng khóc trẻ nít. Tôi cho một anh lính bước vào, một lúc sau trở ra dẫn theo ba đứa trẻ, đứa lớn nhất khoảng mười ba tuổi.
– Nhà có người chết, Trung úy.
– Ai chết đó mấy em?
– Nẫu cha và mẹ. Đứa con gái lớn mếu máo trả lời.
– Chết lâu hay mau rồi? Sao mà chết?
– Chết hai ngày rồi, mấy nẫu bị đau.
Soát lại tình trạng của các căn nhà khác, đâu đâu cũng có một vài người đã chết hoặc gần chết. Dịch hạch, toàn thể dân chúng trong làng đều bị dịch hạch, bệnh nhân phần đông đang hấp hối, sốt mê man hạch nổi to tướng. Tôi ra lệnh cho lính ra khỏi làng dẫn thêm ba đứa trẻ.
– Em năm nay mấy tuổi?
– Dạ mười bốn tuổi.
Mười bốn tuổi, con bé hom hem gầy guộc ước chừng mười tuổi, mắt nó ngơ ngáo, môi thâm xì. Hai đứa em trông còn thiểu não hơn, đứa bé nhất khoảng bốn hay năm tuổi. Một gói cơm khô và hộp cá được đưa ra, ba đứa bé ăn trong nháy mắt.
– Bây giờ các nẫu chôn dùm cha mẹ tôi.
Đứa bé gái xịt xoạt khóc, ngồi xuống bãi cát chắp tay lạy chúng tôi. Hai đứa em bâu lấy chị oà lên khóc theo. Tôi đứng dậy đi ra xa, cổ họng đắng ngắt, hơi thuốc lá rít vào nhờ nhợ muốn nôn. Gió ở biển thổi vào làm mi mắt mọng mọng. Tôi ước gì được chảy dòng nước mắt, nỗi giận vô cớ muốn vỡ toang trong người. Chôn hai xác chết, huyệt đào sâu không quá một thước rưởi, lót mảnh ván đặt hai thây người bó chiếc chiếu. Ba đứa bé đứng lặng nhìn những người lạ chôn xác cha mẹ chúng với đôi mắt trợn trừng của những con vật sắp chết. Tôi muốn chôn luôn cả chúng nó!
– Bây giờ các em ở đây với ai, lấy cái gì ăn?
– Dạ đào củ đậu và khoai. – Con chị chắp tay lạy tôi mấy cái để cám ơn.
Tôi ngồi xuống ôm thằng bé nhất trong tay, lòng khô như bãi cát dưới trưa nắng. Thôi cho mấy em mấy hộp thức ăn này, anh đi. Quân kéo xa khỏi làng, bóng ba đứa bé mờ dần trong sương chiều như hờn oan.
Bây giờ thì sự sụp đổ trong linh hồn coi như đã hoàn tất, lính đi lâu ngày sinh ra bê bối vì không phải quê hương ruột thịt, lính chúng tôi không làm sao có trách nhiệm trên vùng đất này được. Lính binh chủng này đem đi làm nhiệm vụ bình định nông thôn thật là buồn cười, phải có những mục tiêu, những kết quả cụ thể mới giáo dục họ được. Họ không thể chịu đựng nổi loại hành quân cứ đi hết làng này qua làng khác, không đụng trận, không gặp địch. Chỉ có đi và đi hoài, đi đến độ nhàm chán ngã lòng. Binh chủng chúng tôi phải ném vào nơi các chiến trận gay go nhất, những vùng bị áp lực địch thật mạnh, để tấn công, để chiếm giữ song cho rút ra nghỉ để tiếp tục với một cuộc quyết chiến khác. Hành quân bình định tại một làng heo hút tận miền Trung, không có lính chính quy của địch để đụng trận du kích đã từ lâu gây ảnh hưởng và tuyên truyền, lính đi lâu ngã lòng vì cảm thấy vô ích thừa thãi. Lại xảy ra các vụ buôn bán ái tình. Gái ở đây dễ tính, chiến tranh kéo hút đàn ông đi, lính xuất hiện như một đáp số đúng. Người tôi như một chiếc lá khô trôi theo giòng nước. Hai tháng trôi qua, sáu mươi ngày lê chân đủ khắp hết mọi vùng núi non, đồng ruộng, chứng kiến những tàn phá đổ vỡ của chiến tranh, cơn băng rã trong lòng người và những tình ý quí báu bể tan như bọt nước…
– Chồng nẫu đâu rồi?
– Đi sửa xe đạp ngoài Qui Nhơn.
– Nẫu đẹp quá, có ưng anh không? – Tiếp theo là thô bạo suồng sã, xác thân bị đốt cháy tiêu tan bởi dục tình.
Chiều mưa, mưa thật lớn, đoàn quân đi trước, dân đi sau. Từ Dương Liễu lên Vạn Phú, con đường bị lấp dưới làn nước chảy xiết. Lính chịu đựng im lìm, dân xơ xác nheo nhóc lếch thếch trên giòng nước bạc, trong làn mưa chập chờn như một lũ ma. Đường nhựa không xử dụng được, nước cuốn trôi những đoạn đường lớn, tất cả đưa nhau lên đường xe lửa vốn được đắp cao. Đường xe lửa xuyên Việt bây giờ chỉ còn lại nền đất và đá cuội, tà-vẹt bị bóc hẳn, đường rầy bị lật sang một bên nằm cong queo thảm hại. Tôi đi như một hồn ma trên con đường hoang tàn đó.
Ngày thứ tám mươi, trực thăng vận từ phi trường Đệ Đức vào làng nhỏ sông Phụng Tiên, nằm giữa Bồng Sơn và Tam Quan. Trực thăng bay trên vùng biển dừa xôn xao ở dưới. Đại đội đáp xuống bình yên, Tiểu đoàn tiến về phía nam. Di chuyển được một giờ, Đại đội 91 ở cánh trái thấy thấp thoáng trong vườn mía bóng người chạy. Súng nổ, có tiếng đạn bắn trở lại, đạn AK, đúng là Việt cộng khép chặt vào. Đại đội 94 từ phía phải bọc lại. Đại đội 91 cho một trung đội tiến vào lục soát, có vết máu dẫn tới một miệng hầm. Tèo ra lệnh vây chiếc hầm, cho người đến gọi:
– Lên, không thì ném lựu đạn xuống…
Gọi được hai lần… Ầm! Một tiếng nổ từ dưới hầm vang lên, Việt cộng dưới hầm vừa tự tử!! Lệnh khui chiếc hầm sáu, thi thể bê bết máu được kéo lên từng cái một. Khám phá trong xác chết của một tên ăn mặc chững chạc nhất: Huyện uỷ vùng Bồng Sơn- Tam Quan. Tài liệu trong người tên này được khai thác tại chỗ, phát giác nhiều tin động trời: Chuyến trực thăng vận của chúng tôi cách đây hai giờ đã được ghi thành báo cáo chính xác, bởi điều nghiên của các tổ thám sát theo dõi chúng tôi sau hai tháng qua. Kết quả tạm đủ, sáu chết với năm súng bị tịch thu. Tiểu đoàn rút quân chạy đua về hướng nam. Vùng hành quân sẽ trở thành miền oanh kích tự do trong đêm nay. Việt cộng đuổi theo bắn sẻ. Đại đội 92 của Đức có nhiệm vụ ở lại để làm hậu vệ cho đoàn quân qua sông, chín giờ tối đến chỗ đóng quân. Hai mươi mốt cây số đường ruộng được chạy trong bốn giờ.
Tôi lăn xuống một chỗ ngủ, sáng mai mới biết là chuồng bò. Tiếp tục đi về phía nam, phía Bồng Sơn. Dọc đường thấy chiếc xe Dauphine của một nữ ký giả Pháp. Người này đã được Việt cộng đón. Tài liệu tịch thu ngày hôm qua trong túi viên Huyện ủy đã thông báo chuyện này. Về đóng quân tại ngôi chợ cạnh quốc lộ đối diện với phi trường Đệ Đức. Thèm một cục nước đá, mặc dù đang mùa đông. Nước đá, sản phẩm thành thị đã xa từ lâu. Thị trấn Bồng Sơn lầy lội, nhỏ bé nhưng vẫn quyến rũ như một bát bún bò sau gần ba tháng chỉ ăn cơm lính hành quân. Chúng tôi, hết thảy sĩ quan trong tiểu đoàn đi qua lại hoài hoài dãy phố nhỏ không chán. Đã từ lâu không nhìn thấy mặt người. Từ lâu cũng không thấy mặt trời…
Trở về Đệ Đức, suốt ngày chơi domino, chơi đến độ hoa cả mắt, chơi suốt đêm. Tôi cố tìm cho mình một đam mê, đi lính không mê một cái gì khó sống được. Làm sao có thể bình yên trong một cuộc hành quân kéo dài đến ngày 88…Ngày thứ 89, gắn huy chương ở sân cờ Trung đoàn 42 Bộ binh. Buổi sáng vào ăn ở câu lạc bộ Trung đoàn, ly cà phê, tô bún thật dễ chịu. Có một anh trung úy đội cái nón da lót nỉ, thứ nón trong phim Bác sĩ Zivago trông thấy thật chướng mắt. Đại úy Đỉnh nhào tới, kiếm chuyện đánh liền. Tốt, chúng tôi sửa soạn lâm chiến nếu có cuộc đánh hội đồng… Anh trung úy nhịn thua, thật là buồn! Bao nhiêu phiền muộn muốn cho nổ tung ra, nhưng không có dịp may. Gắn huy chương, bản tuyên dương công trạng nhắc tới thành tích của tiểu đoàn trong ba tháng vừa qua. Địch chết, bị bắt, tình nghi… Chẳng có nhắc đến nỗi buồn chán hoài hoài của chuyến đi thất thểu bên bờ đầm trong chiều mưa. Bản tuyên công cũng không kể đến cảm giác nghẹt thở khi chôn hai thây chết trong khu vườn hoang. Những giây phút ngặt nghèo đó có gì để tưởng thưởng. Được gắn một huy chương bạc cho cuộc đi dài 89 ngày.
Chúng tôi trở về chỗ đóng quân để đợi máy bay về Sài Gòn, đánh domino suốt ngày, trời mưa không dứt. Phiên chợ bên cạnh chỗ đóng quân buồn bã xơ xác, tôi ra đứng ở bờ sông Lại Giang, trên chiếc cầu nổi, mưa giăng bụi… Thèm một ly cà phê như trong cảnh thơ Quang Dũng. Nhưng hào khí ngày nào đâu còn.

Tháng 12-1966. Bồng Sơn.

Áo tương tư!

petruskyaus.net

thơ đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 5 Mar 2026

Áo xưa, em giặt, còn đây;

mà người giặt áo chân mây cuối trời!

 ***

Đò dọc, xuôi về quê em, ven biển,

xóm, làng em nghèo, nghèo trớt mồng tơi!

học trò anh, da mốc thích, mốc cời;

chân đất, đầu trần, chai sần ruộng rẫy!

Chập chùng sóng, biển, chiều buồn sóng bủa,

nhớ nhà, anh, chiều thui thủi… bến sông,

bến sông chiều, chiều tím, tím mặt sông

anh ngó, anh mong, trông về thành phố!

May mà có em! Ra sông giặt áo!

“giặt áo anh, được không? Thưa thầy giáo!

không giặt một lần, giặt suốt trăm năm.”

câu nói giỡn? Thâm trầm như ẩn dụ?

***

Ba mươi tháng tư, giặc chiếm Sài Gòn,

hấp hối tự do, gông cùm nô lệ!

đời tang tóc, khóc thiên đường cộng sản!

ăn độn sắn khoai, nói chuyện trên trời!

Đò dọc xuôi về ven biển; đào vong,

giã biệt bến sông, nơi em giặt áo,

anh tìm em, người giặt áo không công,

em đã đi khi đồng chung… yên bão!

***

Áo xưa em giặt, giờ anh vẫn mặc,

không mặc một lần, mặc suốt trăm năm!

áo rách rồi! Ai khâu vá cho anh?

tình ta tan vỡ ai hàn? Ai gắn?

***

Nhìn đau đáu, cửa biển mờ bóng khói,

dõi đăm đăm, sóng đang bủa, đang dồi…

áo bà ba, hoa cà, hòa biển tím

tình còn đây trời đày ta mất nhau!

đoàn xuân thu.

melbourne

24 giờ ở Liên Đội Chung Sự!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 5 Mar 2026

Ngày 13 Tháng 8 năm 1971, trưa hầm hập nóng. Cái nóng của Sài Gòn, hừng hực mái tôn, như chảo lửa đun… sôi. Chiến tranh… khói… khói… lãng đãng mặt người. Trong căn nhà trọ trong hẻm 482 đường Phan Thanh Giản Sài Gòn, mình nằm chịu trận như một con cá mắc cạn, ngóc lên mà thở trong cuộc chiến khốc liệt nầy… thì nhận được thơ anh. Bức thơ nhầu nhĩ, bì thơ là một tờ giấy, người viết chỉ việc viết vào mặt sau, xếp lại, rồi đề địa chỉ ở mặt trước, có in tem sẵn, dán lại, gởi đi cho nó gọn mà những người lính từ mặt trận thường dùng để gởi về thân nhân là ba, má, vợ hay người yêu hoặc mấy đứa em thơ ngây còn ở hậu phương. Thơ anh viết từ ngọn núi Ba Hô nào đó, khoảng 17 cây số đường chim bay về phía Tây Bắc Quảng Trị, án ngữ đường 9 Nam Lào. Ai kiểm soát độ cao nầy là kiểm soát đường chuyển quân phía dưới. Và muốn tấn công, xâm nhập vào Quảng Trị thì phải tìm cách nhổ sạch quân trú phòng ở đỉnh Ba Hô! Anh nói những ngày ở đây thật là gian khổ và ác nghiệt nhưng gian khổ nhứt là đi lấy nước vì địch quân rình bắn sẻ. Anh nói: Gió Lào mùa nầy ác nghiệt cũng không kém mấy thằng Bắc Quân bên kia núi rình bắn lén. Bầu trời trên đầu, ngày lại ngày, không một đám mây, không mưa… khô khốc! Nước!
Đại đội 1, Tiểu đoàn 6 Thủy Quân Lục Chiến của anh nằm trên đỉnh Ba Hô đó. Anh không biết ngày về vì hành quân liên miên như vậy và đóng chốt ở đây không biết đến bao lâu mới có đơn vị khác đến thay?
Thơ anh đến, chưa kịp trả lời, thì 21 tây, xác anh đã về tới. Người anh bà con bạn dì, trên chiếc xe Honda, mượn của thằng bạn học khác, chở mình lên Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Chạy trong cái nắng đổ lửa của Sài Gòn mà không nghĩ gì hết. Không tin gì hết. Đầu óc như cứng lại, khô khốc, đặc quánh lại… như cơn gió Lào vi vút, u u… thổi ngoài kia của dãy Trường Sơn.
Xe qua tượng Thương Tiếc, quẹo vào con đường vòng cung. Phía trên đồi là Nghĩa Dũng Đài sừng sững, rồi ngừng lại ở tiền sảnh của Nhà Quàn Liên Đội Chung Sự Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa! Không có ai chỉ dẫn. Như linh tính của tình anh em ruột thịt, mình đến ngay chiếc quan tài hình chữ nhựt màu xanh biển thẫm, đã phủ quốc kỳ. Đầu hòm có một chữ Hán không hiểu nghĩa là gì? Anh bà con đi chung đang học năm thứ hai Văn Khoa nói: “Chữ Thượng nghĩa là trên. Đầu nó nằm đây nè!”
Mặt trước quan tài có đính một tờ giấy. Trên đó viết vài hàng chữ: Cấp bậc: Thiếu Úy. Họ tên: Đoàn Xuân Hòa. Sanh ngày 14 tháng 9 năm 1949. Đại đội Phó, Đại đội 1, Tiểu Đoàn 6 Thủy Quân Lục Chiến. Tử trận ngày 15 tháng 8 năm 1971 tại Quảng Trị.


Nằm kế bên anh là Chuẩn Úy Lê Định, sanh năm 1952, sanh quán Huế, cùng chung đơn vị. Phía sau lưng anh là khoảng hai mươi chiếc quan tài nữa, chia làm hai hàng, có một vài cái thuộc Sư Đoàn 5, còn bao nhiêu đều là lính Đại Đội 1 với anh. Sau nầy, nghe kể lại, ngày 15 tháng 8 một trận đánh khốc liệt đã xảy ra trên đỉnh Ba Hô giữa bộ đội quân chánh quy Bắc Việt và Đại Đội của anh. Đại Đội bắn hết đạn, bị tràn ngập. Trận đánh xáp lá cà bằng lưỡi lê đã diễn ra và kết thúc bằng phi cơ phản lực đến ném bom. 24 chiến sĩ Đại Đội 1 Tiểu Đoàn 6 Thần Ưng Cảm Tử tử trận! 24 chiến sĩ ngã xuống và bao nhiêu vành khăn tang đội lên đầu của thân nhân tử sĩ? Nào ai biết được con số chính xác. Nỗi đau người lính không còn đau nữa, đã đền xong nợ nước, mà nỗi đau của cha mẹ, vợ con, anh em của người chiến sĩ thì còn đau mãi đến tận bây giờ!
Quanh quẩn bên chân anh, nhang tàn rồi thắp nhang khác, nến tàn rồi đốt ngọn nến khác. Một cọng chân nhang, cắm vào đó một điếu thuốc thơm! Mời luôn những người đồng ngũ của anh mỗi người một điếu! Hà tiện chi nữa! Hết thuốc, lại dốc hết tiền trong túi ra, xuống câu lạc bộ nhà quàn mua cho anh hút trước khi xác thân các anh về với đất. Phía sau tiền sảnh là một căn phòng tối lù mù, chiếu sáng bằng những ngọn đèn tròn, vàng vọt. Rồi có tiếng trực thăng sơn chữ thập hồng, phầm phập xuống bãi đáp. Hai người lính cứu thương, quân y, bước ra, chuyển từ trong trực thăng xác một người lính thuộc Sư Đoàn 5, phù hiệu ngôi sao trắng và số 5 màu đỏ máu trên tay áo!
Xác tử sĩ nằm trên băng ca, một tay thòng xuống, còn đòng đưa theo nhịp đi của hai người lính đang khiêng… chứng tỏ anh vừa mới chết, xác hãy còn nóng hổi, chưa lạnh, nên chân tay hãy còn dịu nhỉu. Quần áo trận của anh vẫn còn ướt sũng và vấy đầy bùn đất! Xác anh được mang vào phòng và những người lính Quân Nhu thuộc Liên Đội Chung Sự xúm lại làm phần việc của mình trong im lặng. Trước hết dùng kéo cắt quần áo trận ra để tắm rửa cho tử sĩ lần cuối. Cái vòi nước xịt vào khuôn mặt giờ hơi tai tái nhưng vẫn còn lật qua lật lại được theo tia nước. Sau đó là lau khô xác, hớt tóc cho ngắn gọn, dùng phấn và son tô lại khuôn mặt, môi người tử sĩ để thân nhân nếu có lên nhìn mặt cho đỡ tủi. Mặc cho người lính vừa ngã xuống một bộ ka ki vàng còn hồ cứng. Công đoạn cuối cùng là đổi cáng. Hai chiếc thẻ bài đeo trên ngực tử sĩ được rứt ra. Một sẽ giao lại cho thân nhân và một gắn trên đầu hộc tủ, một trong khoảng ba trăm cái của phòng lạnh, để biết mà mở ra cho thân nhân lên nhận diện Năm giờ chiều thì Ba, Má dẫn mấy đứa em từ Mỹ Tho lên. Lúc đó thấy Má đi không nổi nữa. Chân như khuỵu xuống; phải tựa vào vai Ba mà bước! Mấy đứa em còn nhỏ quá nhìn quanh… ngơ ngác. Thấy Má như vậy, nước mắt mình bây giờ, trưa tới giờ có khóc được giọt nào đâu, mới trào ra như suối:
“Ảnh nằm đây nè! Má!”
Má chỉ kêu: “Con ơi!” Rồi khóc! Nghe thảm làm sao! Ba chỉ im lặng, không nói gì, mặt nhăn nhúm lại!


Đêm xuống, Ba, Má và mấy đứa em vô nhà khách nghỉ để bình minh, rạng sáng mai đưa xác anh về quê cũ. Mình không ngủ được, mặc chiếc áo ba-đờ-xuy cho đỡ lạnh. Trên đồi, gió nhiều quá, thổi u…u. Mình ngồi bó gối, dưới chân anh. Nhang tàn thắp khuya. Thuốc tàn lại đốt. Tiếng con vạc sành bám trên nóc sảnh lâu lâu lại rơi xuống, đập cánh xè xè, nghe như hơi người chết từ những chiếc quan tài chập chờn ánh nến, thoát ra.
Nhìn lên đồi cao nơi mộ ông Tướng Đỗ Cao Trí đèn thủy ngân sáng choang. Nhìn xuống dưới, những hàng bia mộ người chết trận… lặng im… chìm trong tối. Dọc đường từ nhà quàn vào khu gia binh của Liên Đội Chung Sự, những mảnh ván quan tài đang đốt dở, cháy leo lét trong gió. Những mảnh ván quan tài đang cháy dở là do việc thân nhân mướn những người thầu tư nhân rửa xác tử sĩ lại để còn nhìn mặt lần cuối. Hòm cũ bỏ đi, sau đó xác được đặt vô cái hòm kẽm mới, hàn chì lại để ngăn mùi tử khí không thoát được ra ngoài, có người nằm lại nghĩa trang cùng đồng đội, có người được mang về quê an táng.
Ba không muốn khui nắp quan tài anh ra nữa, không phải sợ tốn tiền. Mà ba sợ ảnh chết như vậy chắc không còn nguyên vẹn gì… mà nếu Má nhìn thấy thì làm sao chịu cho nổi!
Hai là hy vọng người tử sĩ nằm đó không phải là xác của con mình. Một hy vọng hão huyền là có thể ngày nào đó anh sẽ về, gặp lại Ba, gặp lại Má chăng? Rõ ràng hy vọng đó chỉ là ảo vọng; dù vậy Ba vẫn còn ráng nắm níu, ráng mà bám víu theo?!


Sáng hôm sau, một bán tiểu đội lính, 6 người, ông Trung Úy già, Trưởng Hậu Cứ Tiểu Đoàn chỉ huy và chiếc GMC mười bánh đến! Những người lính kê vai, vác, đưa chiếc quan tài lên xe! Và anh về quê cũ. Tiếng kèn đồng nghe u uất. Trước đầu xe có tràng hoa cườm và băng vải tím.
Người yêu anh, chị Loan, y tá Bệnh Viện Lê Hữu Sanh của Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, nức nở: “Anh Hòa ơi! Anh Hòa ơi!” lúc di quan! Tình nồng thắm của anh chị như bọt nước đã đành tan theo vận nước sau đó.
Lại theo xác anh. Xe qua những đường phố Sài Gòn nhộn nhịp. Người lính tử trận… lẳng lặng đi qua. Có người dừng lại, chào kính xác người chiến sĩ. Có người dừng lại, ngả nón cúi đầu! Đa số vẫn tiếp tục đi. Và xe chở xác vẫn đi!
Mang anh về lại quê nhà, Mỹ Tho… nơi, anh vì nước phải bỏ nó mà đi chỉ mới có 4 năm!
Mình không nghĩ được gì hết! Cuộc chiến tranh nầy ai gây ra ư? Tại sao vậy? Làm sao cắt nghĩa được tham vọng của một lũ điên? Chỉ biết một điều là một thanh niên mới vừa xong trung học là lên đường nhập ngũ, từ Mỹ Tho ra tận Miền Trung gió Lào khô khốc thổi, rồi ngã xuống ở Đỉnh Ba Hô nào đó của Quảng Trị để ngăn chận Bắc Quân tràn vào thị xã.
Ngày 25 tháng 8, ôm tấm di ảnh của anh, thằng em kế, thứ năm, nối bước theo sau, trên hai tay là chiếc gối nhỏ, màu vàng viền đỏ, màu cờ, có cặp lon trung úy và chiếc bảo quốc huân chương đệ ngũ đẳng kèm anh dũng bội tinh với nhành dương liễu, đưa anh đến huyệt mộ! Thòng dây đưa quan tài anh xuống kim tĩnh mà mấy ông thợ hồ vừa mới xây xong, xi măng chỉ vừa kịp khô nước.
Ba loạt tiếng M-16 bắn chỉ thiên, chào vĩnh biệt người chiến sĩ.
Lại tiếng kêu khóc của người yêu anh ở giờ hạ huyệt: “Anh Hòa ơi! Anh Hòa ơi!”
Đất lấp lại! Và năm ấy mình vừa 20 tuổi. Ngày chôn anh, ngày 25 tháng 8, là ngày sinh nhựt của mình!

DXT

Bàn phàn nàn ghế trống

http://www.phamcaohoang.com

Thơ Hồ Đình Nghiêm

Sunday, April 22, 2018

Post by Sơn râu 5 Mar 2026

Chúng tôi hẹn hò ở quán quen ăn

tối lửa tắt đèn năm khi tới

mười hoạ mới ới gặp mặt

đen bạc tình đi mút chỉ

để trắng lấn đất dành dân ngự

trên những sợi rối nhàu gần no hair.

Chúng tôi thảy già điều không thể chối

đợi thời gian xử án tuyên bệnh tình

nhân thân khác biệt sung thành oải

sức người có hạn trẻ lên ba cũng tường.

An ủi thay còn đây quan toà bia rượu

luật phán vô tư đưa cay những chuyện buồn

người khuất núi tuổi tác không giới hạn

kẻ qua đèo cũng vô cớ căn phần

ai sang sông chưa tìm chốn cực lạc

nhìn lui ngó lại toàn bọn xa cố hương.

Uống nổi không? Đừng ngôn trăm phần trăm

bỏ đi tám, từng trôi sông đổ biển lời hẹn thề

máu nhộn nhạo cơ mà rượu vào lời không ra

tay bóp trán luý tuý bao canh vạc gầy

ba mươi năm có khi trôi giấc mộng

Nguyễn Trãi ước lộn về ngày còn thơ

ngây khi nghe ra tiếng chim hót

trần thế này quá chật những lồng son.

Cánh hoa hồng chưng trên quầy xua bóng tối

dội sắc màu gương mặt sáng em thu ngân

vang hồi còi tàu gửi chùng thêm quãng lặng

hoạ sĩ hôm nào chợt buông cọ hoang mang

bức tranh quạnh dung mạo âu sầu chưa liền lạc

đường anh em đi rào cản chăm bày trò.

Tô Đông Pha có lần dại tự thú

chạnh buồn hoa biết nói

đâu nở cho ông già!

Ừ. Đản sầu hoa hữu ngữ

Ôi. Bất vị lão nhân khai!

chúng ta như bọn tư bản bị kiểm kê

tài sản bây giờ hèn mọn hết thuốc chữa

cớ làm sao trên bảo dưới không nghe?

thôi ông ạ. hãy co mình cố rụt cổ

thân tâm an lạc giá đắt phỏng tay

trời rộng thiên thanh mây rồi sẽ tan.

Chúng tôi phân tán không gửi lời hứa hẹn

người đi muôn hướng qua sông hy vọng chẳng luỵ đò

đầu thấp nặng vì thâm u lay bóng lá

đường khuya im sửng chao độ cồn

ngẫm điều vui hiếm hoi như cổ vật

cuộc đào bới nào cũng mẻ cuốc hư cày

ngóng tháng ngày trái sầu chưa rụng cùi thối cuống

mai kia mốt nọ nghe lòng chùng, bạn biệt tăm.

Đã bày bàn thì ắt phải chêm thêm ghế

dù đủ đầy bộ sậu quanh năm chúng làm thinh

vô ngôn lại xô đẩy tượng hình lời chì chiết

ta đâu phụ người sao người nỡ phụ ta!

ai tỉnh ai say cũng lạc tay lái

ngõ cul-de-sac thấp thoáng bảng stop chờ.

HỒ ĐÌNH NGHIÊM

22 tháng tư, hai ngàn mười tám.   

Âm độ

phamcaohoang.com

Hồ Đình Nghiêm

Post 24 Jan 2016

Post by Sơn râu 5 Mar 2026

Montréal (Canada) – Nguồn: Wikipedia

Không biết đã mấy giờ. Trời buốt giá, ban đầu gió là ám khí với ngàn mũi kim tẩm độc vung vãi bắn tới để không mấy lâu da thịt phơi trần hứng đỡ co quắp mất dần đi cảm giác. Cả một khuôn mặt sượng sùng tái tê bắt đầu chết trân xúc cảm. Buồng đợi xe buýt với ba mặt gương che chắn mờ đục tối dần. Tuyết chẳng rơi, nếu nó xuống, lân la với tốc độ chậm rãi, hẳn bầu trời sẽ vơi đi thứ hàn khí khắc nghiệt. Bảo rằng lạnh thì quả là chẳng chuyên chở, tải hết nỗi lập cập này. Hơn cả lạnh thì phải dùng tới chữ gì? Run như thằn lằn đứt đuôi chỉ vẽ ra một hình ảnh buồn cười.

Để nhằm chống cự, trong vô vàn phương cách, tợp rượu có lẽ là giải pháp vẹn toàn? Hai mét vuông trong trạm đợi bus có lữ hành đứng cắn răng ở một góc khuất gió, từ cơ thể còm cõi bất động ấy xông lên mùi nồng của một loại cồn nhiều độ. Rất nhiều áo xống khăn nón mũ mão bằng nỉ bằng dạ bằng laine bằng lông thú sùm sụp đậy điệm nhưng tất thảy vẫn không khiến ông ta phải phình to ra. Da bọc xương thì y phục năm bủa bảy vây bên ngoài cũng chẳng đánh lừa nhận định của mắt nhìn kẻ lạ. Ngày đầu đặt chân tới định cư chốn này tôi là một hình nhân tám lạng nửa cân so với ông ta. Ngoài khác biệt địa hình giữa vùng miền đông tây, bấy giờ tôi là một gã trai trẻ đầy năng động, luôn hăm hở với những thứ mới mẻ và rượu, đó là thứ chất lỏng chẳng hợp tạng tôi. Một ông già ốm nhách phải vin vào rượu mới đứng vững trong ngày đông, điều ấy nào có gì trở ngại. Cảnh sát cũng phải chạnh lòng, cái họ không đồng ý chừng nào ông ấy ngồi trước tay lái. Đường vốn trơn trợt, xe sẽ lảo đảo chạy quàng xiên tới cỡ nào nếu giao xe cho ông ta điều khiển. Từ một hòn đảo xa xôi được gọi tên cho nợ tiền vé máy bay sang đây, dạo đó có người biểu tôi: Mày thật thà khai báo với Liên Hiệp Quốc là ở quê nhà mày đại diện cho công ty trách nhiệm hữu hạn chuyên sản xuất tăm tre. Dĩ nhiên là tôi câm như hến, có ngoa ngôn để nói tôi là Phù Đổng thiên vương mà thu trong ngực hai lá phổi có vấn đề thì dẫu là thánh cũng không được leo lên cỡi chim sắt bay một lèo nửa vòng trái đất. Tôi là Trần Quốc Toản mà bóp chẳng nát trái cam nhưng giờ đây thì tình hình đã khác xưa, đã phương phi có chút thịt da đeo bám, chí ít thì bề thế hơn gã đàn ông cô độc đang liêu xiêu đứng với men nồng. Ở đây, tôi chưa thấy một kẻ đói ăn. Khi người ta ốm dơ xương hẳn người ta phải chịu câm lặng thu dấu một nỗi buồn lòng. Và rượu, dụng tửu giải sầu, thành ngữ kia muôn năm chẳng lạc hậu.

May phước, chuyến buýt số 50 đã trờ tới. Tôi đang đợi số 40 mới đúng tuyến, nhưng không hề gì, kể cả số 100. Miễn mang bộ hành thoát khỏi trạm đợi gồng mình cắm lẻ loi giữa một ngã tư quạnh vắng. Tôi nhường cho người lớn tuổi bước lên trước. Chúng tôi cần nghe tiếng động cơ gầm rú át tiếng gió, cần một kín bưng, cần một luồng nhiệt điện từ máy sưởi bắt dọc chiều dài chiếc buýt lấm lem bùn tuyết. Chúng tôi đang cần một sự tan chảy, khi đó máu trong thân mới đi đúng lộ tuần hoàn. Phải tiếp cận hơi ấm môi chúng tôi mới phát âm tròn lời thôi ngọng nghịu. Tôi khó khăn hỏi ông tài xế mặc đồng phục xanh nước biển về nơi tôi sẽ bước xuống. Ông nhìn những đồng xu rơi loảng xoảng vào hộp thu tiền mãi lộ. Chuyến này chạy tới trạm cuối, dừng ở đó thì nhắm số 60 mà leo lên. Thông tin chỉ ngần ấy, chẳng mấy sốt sắng nhưng đã vẹn toàn một đáp trả. Không biết mất bao lâu, trễ nải một cuộc hẹn là điều chẳng ai muốn, trong muôn ngàn lý do, thứ thời tiết chết tiệt này đã bảo chứng cho lời biện hộ. Anh phải ra đường trong hôm nay, đi dưới cảnh sắc ngập tràn băng tuyết trắng rợn như thành phố đang phải chịu tang và anh lơ ngơ tìm tới một địa chỉ được biết qua điện thoại: Cậu có sẵn bút không? Ghi nó xuống giấy kẻo quên, cũng chả xa đâu, nằm ngoại vi thành phố.

Kẻ nồng mùi rượu dường như không hề say, ông ta biết đâu là trạm cuối để bước xuống mà chẳng đợi gã tài xế loan báo bằng chất giọng như xua đuổi hành khách. Gã sẽ tắt máy xe, gã sẽ đi ngó từng mặt ghế trống để xem có ai đánh rơi vật gì không. Những trang báo Métro nhàu nát hoặc đôi găng tay xơ cũ vẫn là hình ảnh quen thuộc còn lưu lại sau lộ trình dật dờ tới đích cuối. Nếu cẩn tắc rà soát quanh thân trước khi rời ra người ta vẫn bỏ quên ở mặt ghế chút hơi ấm, nôm na là ngồi vừa nóng đít thì xe đã thắng đứng.

Tiếp cận vành đai nên chốn này coi bộ lạnh hơn trong thành phố, nơi có nhà cửa chen chúc thắp sáng dãy đèn vàng thường ít nhiều trấn áp được nỗi tái tê. Ở đây thưa nhà để gió tha hồ đi với bụi tuyết mịt mù. Tôi bước sau lưng cái bao tải di động, một tiệm tạp hoá sáng đèn cách khoảng năm chục mét phía trước hẳn là nơi ông ta tìm tới. Đi chưa xong nửa đường thì ông ta ngã lăn quay ra mặt lộ đóng băng. Rất trơn trợt, tôi cố tìm một tư thế thuận tiện, giữ thăng bằng để bặm môi thò hai tay xuống xốc nách ông ta đứng lên. Ông có sao không? Du ô-kê? Một khuôn mặt chẳng biểu lộ cảm xúc gượng rời chỗ nằm đớn đau. Fuck. Ông nói, đám khói mỏng chóng biến với hơi thở nồng mùi rượu. Quanh mồm là những cọng râu khô cứng sắp biến thành thép nguội và chúng đang bao che cho thứ vũ khí vừa bắn ra. Ông la to, tiếng khàn đục: Cứu, cứu, có ai giúp tôi không? Ban đầu là gã tài xế xe buýt bước xuống, kế đó là đứa thanh niên đứng hút thuốc cạnh tiệm tạp hoá chạy lại. Và một vị nữ lưu ở đâu hiện ra với tay cầm chiếc iPhone. Họ hiện diện nhưng họ mặc xác tôi đứng nâng nỡ cái thân xác ốm o của người nghiện rượu. Không lâu thì ánh sáng xanh đỏ vằn vện quét vào hiện trường. Nạn nhân khai với cảnh sát: Thằng người Tàu chó đẻ này đã xô tôi từ sau lưng. Cánh tay tôi rất đau, có thể là bị trật xương.

Khó khăn lắm tôi mới moi được bót đựng giấy tờ nằm sau túi quần, tôi cắn chiếc găng để dễ dàng lôi ra mấy tấm thẻ bọc nhựa theo yêu cầu của người cảnh sát trang bị vũ khí đến tận răng. Người tôi run rẩy. Tôi nghĩ tới một cốc cà phê nóng. Một điếu thuốc. Hoặc tốt hơn cả: Một ly Vodka nguyên chất. Ông có ngửi ra mùi rượu từ cơ thể ông ta không? Tôi nói với tên nhân viên công lực bặm trợn mặc áo chống đạn trương phình. Thứ hai, chỗ ông đứng có trơn không? Và việc quái gì tôi phải xô ngã ông ấy. Mà cứ cho là tôi xô, thì hà cớ gì tôi phải khom người nâng đỡ hỏi han ông ta cơ chứ! Tốt. Vị cảnh sát nói, trong lúc này cái tôi cần là một nhân chứng.  Để chấm câu ông ta đi quanh quẩn dòm chừng. Tôi ngó lão già đang được thằng thanh niên dìu đỡ, hắn trao thuốc lá theo đòi hỏi rồi cả hai cùng thở khói mù mịt. Thằng giàu lòng hảo tâm trấn an, xe cứu thương đang tới, có thể hút chưa xong điếu thuốc thì mọi chuyện sẽ tốt đẹp.

Trong túi tôi thường eo hẹp chứa đựng không mấy tiền. Tôi có thể thành tâm khai với bạn rằng là tôi nghèo. Thuộc dạng tay làm hàm nhai, đắp cái này đổi cái nọ. Tôi dùng xe buýt để đi lại thì bạn cũng hiểu. Bạn có quyền khi dễ tôi đã qua đây mà sắm không nổi chiếc xe, tôi hiểu được thứ quyền tự do phát ngôn ấy và sẽ chẳng giận hờn bạn, mặc cho bạn khinh khi tôi. Hôm nay, trong túi tôi có xấp bạc gồm mấy tờ năm đồng, mấy tờ mười đồng, mấy tờ hai chục. Tôi moi ra hết, đặt trên quầy ở tiệm tạp hoá. Tôi hỏi người đàn bà đứng sau máy tính tiền: Chừng này có mua được một chai rượu chát và một bao thuốc lá không? Dĩ nhiên rồi, thừa ra là đằng khác. Bà trả lời mà không thèm đếm tiền, con mắt lá răm quen nhìn mặt nữ hoàng in trên giấy bạc chỉ liếc qua là biết ngay một con toán đơn giản cọng trừ. Có thể bà là người di dân, đến từ miền Trung đông chẳng hạn, mập mạp, khá phúc hậu và lý ra tôi nên đề cao nhan sắc của bà lên thập phần. Bà đã nói với ông cảnh sát: Lạy Chúa tôi, tôi thấy ngay từ đầu, rằng gã say rượu kia đã đặt điều, hoàn toàn chẳng có ai hãm hại ông ta cả. Bán buôn ở đây, tôi chẳng lạ gì cái trò đùa tai quái kia. Tôi trông đến mòn con mắt. Tôi cám ơn bà, kẻ nhân chứng. Nếu tôi giàu có chút đỉnh, tôi sẽ mua thêm những nhu yếu phẩm bà sắp xếp ngăn nắp trên kệ, lấy mỗi thứ một ít, hoặc lấy hai cây thuốc và năm chai rượu. Hút và uống, chết bỏ bể bỏ để tạ từ hàn khí, lạnh đến chai người, lì lợm nén tiếng chửi thề.

Trạm cuối, bãi đỗ của xe buýt yên vắng trở lại, khoảng sân xi măng bị tuyết phủ vẫn mốc thếch như một tảng thịt không tài nào phân huỷ rã rời. Mặt trời có mọc thì chung quy chỉ là vầng dương soi tỏ thứ ánh sáng sắt se của âm độ, rét hơn cả ẩn mình trong tủ lạnh. Tôi tìm ra cái buồng điện thoại công cộng chứa đầy rác với những hình vẽ thô tục. Nó trở thành một thứ gần như sắp trú thân vào viện bảo tàng, nó còn tồn tại là cốt cho những hạng người lạc hậu như tôi sử dụng. Tôi nào có điện thoại cầm tay, di động siêu mỏng hoặc cực choáng như chữ dùng trong nước. Tôi bỏ hai cái 25 xu vào khe dọc, cầm cục nhựa đen đúa lạnh ngắt áp bên tai. U u u… Tôi xin lỗi đã trễ hẹn… Chuyện dài lắm, sẽ kể sau… A-lô… Tốt hơn bạn đừng cất công tới nữa, ông ấy nói sẽ dành việc làm đó cho người khác mất rồi. Phút đầu bạn đã cho người ta thấy sự bất tín nhiệm. Vậy đi nhé… U u u…

Hồ Đình Nghiêm 

Mặt trận Đông Nam – Xuân-Lộc 1975

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Post on  June 10th, 2020

Post by Sơn râu 5 Mar 2026

Kỳ 1

Tôi là một trong những chiến binh của Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân đã có mặt trong trận Xuân-Lộc tháng Tư năm 1975. Chiến thắng Xuân-Lộc là chiến thắng oanh liệt cuối cùng của Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Nhiều năm sau chiến tranh, cứ tới tháng Tư thì trên truyền hình, truyền thanh, trên những trang báo giấy và báo điện tử, người Việt hải ngoại lại nhắc tới trận đánh này. Mỗi khi kể chuyện Xuân-Lộc tháng Tư năm 1975, thì người ta không thể quên Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân.

Chúng tôi đã trải qua một thời gian nửa tháng trời ở đó; đã có mặt kể từ ngày mở màn, cho tới ngày kết thúc trận đánh này. Anh em chiến sĩ của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã chiến đấu hết mình, đã sẵn sàng hy sinh tính mạng để cùng các bạn Sư Ðoàn 18 Bộ Binh tạo dựng chiến thắng để đời ấy.

Từ đó, những quân nhân của Sư Ðoàn 18 Bộ Binh và Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân trở thành thân thiết, coi nhau như anh em. Mấy chục năm qua, nhiều tác phẩm liên quan tới trận Xuân-Lộc năm 1975 đã được những nhân vật trực tiếp tham chiến viết lại. Qua những hồi ký ấy, hầu như độc giả đã được nghe kể một cách chi tiết diễn tiến từng ngày, từng giờ, của trận chiến, những cuộc chuyển quân, điều binh của cả đôi bên và kết quả những lần chạm súng.

Nhưng chắc chắn khó có ai biết rằng trong trận Xuân-Lộc năm 1975 lại có những điều không ngờ trước đã xảy ra, tỷ như chuyện Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân tình cờ có mặt tại đây. Ðôi khi chỉ vì một chuyện tình cờ mà có thể đưa tới kết cục thành bại của một chiến trường.

Cuối tháng Ba năm 1975 Quân Ðoàn II tan rã, Cao Nguyên Vùng 2 đã mất, nhưng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân dưới quyền chỉ huy của Thiếu tá Vương Mộng Long vẫn tồn tại, vẫn can trường. Từ Quận Kiến-Ðức, chúng tôi đã bẻ gãy vòng vây của Trung Ðoàn 271 Cộng-Sản Bắc-Việt để về bắt tay với quân bạn ở Thị trấn Gia-Nghĩa, Quảng-Ðức; tại đây các đơn vị trực thuộc Tiểu Khu Quảng-Ðức đã bỏ tỉnh lỵ một ngày rồi.

Bị chỉ định giữ vai trò tiên phong, dẫn đầu liên đoàn rút lui, tôi quyết định không dùng Liên tỉnh lộ 8 B để về Bảo-Lộc mà sẽ đi xuyên rừng theo phương giác từ. Ngay ngày đầu triệt thoái, vừa qua sông Ða Dung, một trái lựu đạn nổ vì bất cẩn, ông Trung tá Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân bị một vết thương nhẹ ở ngực, đã rời vùng.

Hai ngày sau, thì ông Trung tá Liên đoàn phó Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân cũng vội vàng leo lên trực thăng tải thương, bỏ đơn vị lại giữa rừng. Từ hôm ấy, không còn ai thấy bóng dáng ông ta nữa; hóa ra ông Trung tá đào ngũ này đã nhanh chân chạy thẳng một lèo qua Mỹ!

Cựu Th/Tá Vương Mộng Long & cựu Th/Tướng Lê Minh Đảo (USA-2009) – Ảnh do tác giả cung cấp

Bắt đầu từ ngày thứ ba của cuộc lui binh, gánh nặng chỉ huy, lèo lái Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân đè nặng lên vai Thiếu tá Hiện Dịch Vương Mộng Long, Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân.

Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân dưới quyền chỉ huy của tôi đã vừa chiến đấu vừa tiến dần về hướng duyên hải. Kết quả công lao khó nhọc của tôi đã được đền bù: Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân là đơn vị duy nhất của Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 còn tồn tại và chiến đấu tới giờ phút chót để bảo vệ chế độ Cộng-Hòa.

Sau gần nửa tháng vừa đánh, vừa lui, ngày 5 tháng Tư năm 1975, qua tần số FM 47.70 trong máy PRC 25, tôi liên lạc được chiếc thám thính cơ L 19 bay trên trời.

Người bay trên L19 để đi tìm Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân ngày đó là Trung tá Nguyễn Khoa Lộc, một sĩ quan của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 3.

Theo lệnh của Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh Quân Khu 3 thì Phi Ðoàn 237 Trực Thăng sẽ ưu tiên bốc Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân trước, các đơn vị còn lại sẽ được chuyển vận sau.

Khoảng mười giờ sáng ngày 6 tháng Tư trên trời đã xuất hiện một đoàn trực thăng CH 47 dẫn đầu bởi một tàu chỉ huy UH 1 D và hai trực thăng võ trang. Tôi nhận được lệnh chuẩn bị bãi đáp.

“Biến mà không loạn” là phương châm chỉ huy của tôi. Cho dù cái chết kề bên, quân nhân của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân vẫn răm rắp tuân theo lời cấp chỉ huy của họ.

Tôi cho quân nối đuôi nhau theo đội hình 5 hàng dọc. Sử dụng đội hình này, người chỉ huy vừa dễ đếm quân, vừa dễ chuyển quân thành hàng ngang sẵn sàng chiến đấu nếu bị địch tấn kích bất ngờ.

Lệnh phát ra từ chiếc tàu đang lơ lửng giữa trời:

“Yêu cầu các anh chuẩn bị 45 người!”

Dưới đất lập tức có 5 hàng dọc, 9 hàng ngang tiến ra đồng cỏ tranh.

Ðang trên đường sà xuống bãi, người phi công nói tiếp:

“Yêu cầu 5 người nữa!”

Dưới đất lại thêm một hàng ngang 5 người, nhập vào đoàn người phía trước.

Trên tàu lặp lại:

“Yêu cầu 5 người nữa!”

Dưới đất lại thêm một hàng ngang 5 người nữa tiến lên.

Chứng kiến cảnh này, người chỉ huy đoàn trực thăng bỗng la lớn:

“Tuyệt vời! Tuyệt vời! Kỷ luật của đơn vị này thật là tuyệt vời! Như vậy thì các bạn cứ xếp hàng 65 người một tàu! Không vũ khí nặng, cứ 65 người là okay!’

Nhiều chục năm sau, cựu Trung tá Nguyễn Phú Chính, Phi đoàn trưởng Phi Ðoàn 237 Trực Thăng còn nhớ hình ảnh chúng tôi đã ra bãi, lên tàu như thế nào.

Mỗi khi nhắc lại chuyện bốc quân giữa rừng ngày ấy, thì anh Chính thường nói một câu nhận xét rất ngắn:

“Cung cách tay này chỉ huy lính thì không chê vào đâu được!”

Xế trưa ngày 6 tháng Tư năm 1975 chúng tôi ghé lại phi trường Phan Thiết không lâu, vừa đủ thời gian cho phi hành đoàn ăn cơm và cho máy bay tái tiếp tế nhiên liệu.

Tại phi trường Phan-Thiết, kiểm quân, tôi phát giác ra một trung đội của Ðại Ðội 4/82 không có mặt. Trung đội này do Chuẩn úy Bảo chỉ huy. Chắc ông Bảo và hai chục ông lính khác còn kẹt trong rừng Blao cùng với số người còn lại của hai tiểu đoàn bạn là Tiểu Ðoàn 63 và 81 Biệt Ðộng Quân.

Sau đó chúng tôi lại lên tàu tiếp tục cuộc hành trình.

Tới 5 giờ chiều ngày 6 tháng Tư năm 1975 thì năm chiếc máy bay Chinook CH47 hạ cánh trên phi đạo Xuân-Lộc.

Trừ ra một chiếc trực thăng có nhiệm vụ móc 5 thùng xăng rỗng bằng cao su tòn ten dưới bụng, bốn chiếc còn lại đều chở đầy quân.

Bốn chiếc Chinook này đã vận chuyển 260 quân nhân của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân từ Vùng 2 vào tăng cường cho mặt trận Long-Khánh của Vùng 3 theo lệnh của Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh Quân-Ðoàn III.

Tôi là một trong số 65 người ngồi trên chiếc CH47 thứ nhất vừa hạ cánh.

Tới Xuân-Lộc, chúng tôi còn ngồi trên tàu, thì có lệnh cho một mình tôi xuống đất trình diện Trung tướng Nguyễn Văn Toàn Tư lệnh Quân Khu 3.

Nơi đầu phi đạo có hai chiếc xe Jeep đậu bên nhau. Tàu tôi đáp cách hai chiếc Jeep chừng ba trăm mét.

Một chiếc Jeep chạy tới đón tôi, người trên xe tôi quen, đó là Ðại tá Phạm Văn Phúc, Tỉnh trưởng tỉnh Long-Khánh. Ông Phúc là cựu sĩ quan Biệt Ðộng Quân.

Ðại tá Phúc nhảy sang ghế tài xế nhường chỗ cho tôi, rồi la lớn,

– Lên xe đi Long! “Cha” Toàn đang chờ Long đó!

Hai phút sau tôi đã đứng nghiêm trước mặt Tướng Toàn.

Ông Toàn giơ cái can chỉ huy quơ quơ trước mặt tôi,

– Ð! M! Không cần chào kính gì ráo! Tau hỏi mi chớ muốn ở đây làm trừ bị cho thằng Ðảo hay muốn về Sài-Gòn sát nhập vào Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 3?

Chỉ sau vài giây suy tính, tôi buột miệng,

– Trung tướng cho tụi tôi ở lại đây!

Nghe tôi xin ở lại Xuân-Lộc, Tướng Toàn vừa cười vừa nói,

– Thằng ni khôn! Mi là tàn quân của Vùng 2, nếu mi mà về Sài-Gòn, tụi nó (?) sẽ coi mi không đáng một xu teng! Tau biết mi giỏi nên cho mi xuống đây, làm trừ bị cho thằng Ðảo, không về Sài-Gòn nữa! Mi chọn ở lại đây là phải đó!

Sau đó Tướng Toàn leo lên xe; xe trở đầu chạy đi.

Tôi và Ðại tá Phúc quay trở lại chỗ hợp đoàn Chinook đang đậu. Sau khi ngỏ lời cám ơn phi hành đoàn, tôi ra lệnh cho anh em binh sĩ xuống tập họp trên bãi cỏ nằm sát phi đạo. Năm phút sau, đoàn tàu rời sân bãi, bay về hướng Tây. Khi anh lính cuối cùng đã đứng vào hàng, lệnh đầu tiên của tôi ban ra là:

“Cấm quân”

Kỷ luật là sức mạnh của quân đội. Dù bất cứ ở đâu, bất cứ trong tình trạng nào, nếu không giữ được kỷ luật thì quân đội không còn là quân đội nữa!Vì thế, lúc nào tôi cũng coi vấn đề duy trì kỷ luật của tiểu đoàn là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu của người chỉ huy. Chính vì cái kỷ luật thép của đơn vị, mà trong tình thế nguy kịch, chúng tôi vẫn ra bãi đáp, lên tàu, với phong cách như thế ấy. Cũng chính vì cái kỷ luật thép của đơn vị, mà suốt thời gian nửa tháng trời chúng tôi tham chiến ở Xuân-Lộc, người dân của thị trấn này hầu như chưa từng nhìn thấy bộ quân phục rằn ri nào của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân xuất hiện trong đường phố. Dân mà còn không biết chúng tôi có mặt ở đây, thì chắc chắn Việt-Cộng cũng không biết gì về chúng tôi.

Đ/Tá Hứa Yến Lến, Th/Tướng Lê Minh Đảo, Tr/Tướng Phạm Quốc Thuần, Th/Tá Vương Mộng Long, Tr/Tá Nguyễn Văn Xuân – Ảnh do tác giả cung cấp

Tôi cầm tờ giấy ghi tình trạng quân số hiện diện do ông Thượng sĩ thường vụ tiểu đoàn vừa trình lên. Chính xác thì quân số của tôi tổng cộng có 260 Biệt Ðộng Quân khởi hành từ Blao, trừ đi 2 quân nhân bị thương là Hạ sĩ Nguyễn Ba trưởng toán Viễn Thám và một anh lính của Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân được phép ngồi lại trên tàu để tiếp tục về Biên-Hòa, thì số người xuống sân bay Xuân-Lộc chiều nay phải là 258 người.

Tới lúc các đại đội điểm mặt số quân nhân hiện diện để xem ai còn, ai mất, thì lòi ra một người lạ. Ông ta là một thiếu úy của Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân đứng trà trộn trong hàng ngũ của Ðại Ðội 4/82!

Cái ông thiếu úy của Tiểu Ðoàn 81 này nhanh chân quá!

Nhìn bộ dạng run rẩy sợ sệt của anh ta, tôi chợt nghĩ lại, có nhiều người cao cấp hơn anh ta nhiều mà gặp cảnh ngặt nghèo đã vội lo chạy thoát thân, bỏ rơi đồng đội, điển hình là ông Trung tá Liên đoàn phó Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân đã leo lên trực thăng, đào ngũ giữa rừng, nên tôi chỉ đá anh ta một cái rồi đuổi đi thôi.

Bình thường mà gặp cảnh này, chắc chắn tôi không nhẹ tay đâu, mà hình phạt của tôi sẽ nặng hơn nhiều.

Ðại tá Phúc nói,

– Long cho anh em tạm nghỉ trong khu nhà chứa máy bay L19 nơi đầu phi đạo. Mình vào họp với ông Toàn và ông Ðảo rồi “moa” đề nghị cho tiểu đoàn của Long vào tiểu khu ở với “moa”.

Ðại tá Phúc và tôi vào tới sân Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh thì thấy nơi này đã có cả chục sĩ quan đang đứng lố nhố.

Những người này chỉ ngừng nói chuyện, khi Trung tướng Nguyễn Văn Toàn kéo tay tôi, đẩy tôi tới trước mặt một ông Chuẩn tướng,

– Tau vừa bốc thằng ni từ Blao về! Tau giao nó cho Ðảo! Ðể nó làm trừ bị! Okay!

Không thèm nhìn mặt tôi, vị tướng một sao quay qua ra lệnh cho một ông trung tá đứng bên, sau này tôi biết ông ta tên là Nguyễn Văn Xuân,

– “Toa” cho giải giới đơn vị này. Cho chúng nó ở tạm đâu đó, đừng để chúng nó ra phố phá làng, phá xóm!

Nghe ông Tư lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh thốt ra những lời nói trên, tôi có cảm tưởng như vừa bị ông ta tát cho một cái ngay giữa mặt. Tôi đưa tay kéo áo Tướng Toàn,

– Ðược rồi! Cho chúng tôi về Sài-Gòn ngay! Chúng tôi không ở lại đây nữa!

Ðại tá Phúc vội vàng lôi tôi sang phía ông, rồi nói với ông Toàn,

– Trung tướng giao thằng Long cho tôi! Nó quen biết tôi, chúng tôi làm việc với nhau dễ dàng hơn.

Ngay lúc này, đứng cạnh chiếc xe Jeep Quân Cảnh có một sĩ quan đeo lon đen, tôi không nhìn rõ ông ta là trung tá hay đại úy, lớn tiếng góp ý,

– Muốn tránh chuyện cướp bóc thì phải giải giới! Không giải giới thì cho đi chỗ khác!

Bất thình lình, ông Tướng Tư lệnh Quân Khu 3 trợn mắt lên, giơ cao cái can chỉ huy nhứ nhứ mấy cái, rồi hét lớn,

– Tụi mi im cái mồm đi!

Thấy Tướng Toàn nổi giận, mọi người đều im re.

Tiếp đó ông Toàn dõng dạc từng tiếng một,

– Tau biết thằng ni! Không được giải giới nó! Thằng ni là dân kỷ luật số một! Ðó là lý do tại sao tau không đem nó về thẳng Sài-Gòn mà để nó ở lại đây! Tau nói là giao nó cho Sư Ðoàn 18! Ðây là lệnh! Thi hành đi!

Lúc này ông Chuẩn tướng Tư lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh mới chìa tay ra cho tôi bắt,

– “Qua” tên là Lê Minh Ðảo. Nếu Trung tướng Tư lệnh đã giới thiệu em như vậy thì “qua” tin. Thôi! Không cần giải giới nữa!

Rồi ông chỉ tay về hướng một trong hai vị đại tá đứng cách đó không xa,

– Okay! Từ giờ em được đặt dưới quyền Ðại tá Hiếu!

Một ông đại tá người Bắc bước tới bắt tay tôi, niềm nở,

– Long cần gì thì cứ cho anh hay. Ðừng ngại ngùng gì cả!

Tướng Ðảo thân mật ôm vai ông sĩ quan vừa tới, rồi cười.

Tầng đầu địa ngục

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Hải Triều


Post by Sơn râu 5 Mar 2026

Giáo sư Toán học Chelnov, một ông già, là nhân vật quen thuộc của nhiều nhà tù đặc biệt như Viện Mavrino. Giáo sư Chelnov là người đã nhiều lần viết danh từ “tù nhân” để trả lời câu hỏi “quốc tịch” trong những bản khai lý lịch. Vào năm 1950, Giáo sư Chelnov hoàn thành năm tù thứ mười tám trong cuộc đời tù tội của ông, ông cũng là người từng đặt cây viết chì trong tay ông lên rất nhiều phát minh khoa học, từ việc phát minh ra máy hơi nước đến những động cơ phản lực, trong nhiều phát minh có nằm rải rác và thấp thoáng những mảnh linh hồn của ông. 
Ở trong Viện Khoa học Mavrino, Giáo sư Chelnov là người tù duy nhất không bị bắt buộc phải bận bộ đồng phục giống kiểu quân phục của binh chủng Nhảy dù. (Vấn đề này đã được đưa lên tới tận Tổng trưởng Abakumov để xin giải quyết). Nguyên nhân chính làm cho Giáo sư Chelnov không bị bắt buộc phải ăn bận như mọi người khác ở đây là vì ông không phải là một tù nhân thường trực của Mavrino, ông chỉ là một tù nhân tạm, ông chỉ được đưa đến đây khi có việc cần đến ông, khi hết việc hoặc khi nơi khác cần đến ông hơn, ông sẽ được đưa đi nơi khác. Trong dĩ vãng, Giáo sư Chelnov từng là hội viên của Hội Khoa học gia Nhà nước và từng giữ chức Viện trưởng Viện Toán học. Hiện nay tuy bị tù, ông vẫn được đặt dưới quyền sử dụng của riêng Beria. 
Nhưng Giáo sư Chelnov không lợi dụng đặc quyền của ông để lựa chọn y phục như những kẻ tầm thường sẽ làm khi được cái quyền ấy. Ông chỉ bận những bộ y phục rẻ tiền, màu áo với màu quần không hợp nhau, ông đi đôi giày nỉ dưới chân, đội một cái mũ len đan như mũ của những người trượt tuyết trên mái tóc bạc thưa, y phục của ông nổi bật lên với chiếc khăn lên choàng trên vai, chiếc khăn choàng vai này quá rộng, khăn phủ kín cả lưng ông như kiểu khăn choàng của những bà già nhà quê. 
Nhưng trong cái mũ len ấy, dưới chiếc khăn choàng quê kệch ấy, Giáo sư Chelnov có một vẻ uy nghi riêng, sự hiện diện của ông bao giờ cũng làm cho người khác kính nể, không một ai dám cười ông vì chiếc khăn choàng đàn bà ấy. Khuôn mặt dài và thon của ông, những nét sắc của mắt mũi ông, thái độ đường bệ và ngôn ngữ nghiêm chỉnh của ông khi ông giao thiệp với những kẻ có quyền trong Viện, màu mắt xanh nhạt của ông – màu mắt mơ hồ mà người ta chỉ có thể nhìn thấy ở mắt những người suy nghĩ nhiều làm cho Giáo sư Chelnov giống một cách kỳ lạ với triết gia Descartes hoặc những nhà toán học thời Phục hưng ở Âu Châu 1. 
Giáo sư Chelnov được đặc biệt gửi tới Viện Mavrino để giúp việc thực hiện giàn máy điện thoại bí mật cho Stalin. Nhưng ông không phải phụ trách riêng một việc gì cả, ông là một thứ cố vấn hướng dẫn tất cả những nhà khoa học khác. Tất cả mọi người trong Viện Mavrino đều có thể đem những thắc mắc về toán học của mình đến trình bày với Giáo sư Chelnov, ông sẽ giải thích, sẽ cho họ biết họ đúng hay sai, phát minh của họ sẽ có giá trị hay không. 
Có thể nói là tất cả những nhà khoa học sống trong Viện Mavrino đều bận rộn với việc chế tạo giàn máy điện thọai bí mật, trừ một người. Người đó là Sologdin. 
Kỹ sư Sologdin được tuyển từ một trại tập trung ở miền Bắc Inta đưa về Viện Mavrino. Nhưng vừa về tới Viện, Sologdin đã khai với tất cả mọi người rằng tinh thần của mình bị yếu đuối vì thời gian đau ốm, thiếu thốn vật chất dài ở trại tập trung, ký ức của mình bị quên lãng và khả năng của mình nhụt kém. Nói tóm lại, Sologdin yêu cầu được có một thời gian để phục hồi trước khi nhận công tác. Sologdin yên tâm đòi hỏi như vậy vì ở trại tập trung, anh cũng là một kỹ sư, được dùng vào xưởng máy, nếu có phải trở về trại, anh cũng không đến nỗi khổ sở, vất vả lắm. 
Sologdin được ở lại Viện trong tình trạng chờ xem, thử thách. Tuy ngày ngày anh vẫn vào phòng nghiên cứu làm việc như mọi người nhưng anh không có trách vụ rõ rệt, việc anh làm không bị kiểm soát, thúc giục, anh ở ngoài dòng nước cuồn cuộn chảy về hướng giàn máy điện thoại bí mật cần hoàn thành gấp để dâng cho Lãnh tụ Tối cao. Và Sologdin đã thảnh thơi nhàn nhã và bí mật hoàn thành được một hệ thống phân thanh đặc biệt cần thiết cho việc chế tạo giàn máy điện thoại bí mật. Anh làm việc ban đêm cho đến nay, chưa ai trong Viện biết là anh đã thành công, anh đã nắm trong tay vật báu mà Yakanov đang mơ ước. 
Trong thời gian nửa năm, Sologdin đã tìm được một giải pháp mà 10 kỹ sư chuyên môn khác được giao cho trách nhiệm tìm đã không ra. những kỹ sư kia không phải là bất tài hoặc tài năng kém Sologdin, họ tìm không ra chỉ vì họ bị kiểm soát vô lý và thúc giục không đúng cách. Hai ngày trước đây Sologdin đã trao phát minh của anh cho Giáo sư Chelnov để ông này kiểm soát giùm. Đây là một việc riêng giữa Sologdin và Chelnov và buổi sáng Chủ nhận này, Sologdin kính cẩn đi bên Chelnov lên cầu thang, anh thận trọng đỡ nhẹ cánh tay ông già đề phòng ông trượt chân hoặc bị đám tù nhân xô đẩy, anh đi theo ông già vào phòng nghiên cứu để nghe ông phán quyết về phát minh của anh.
Trên con đường đi qua những hành lang và, Giáo sư Chelnov không đả động gì đến vấn đề đang làm cho Sologdin bồi hồi, khích động, ông không nói là “được” hay “hỏng” để cho Sologdin an tâm. Ông cũng vui vẻ nói chuyện buổi sáng sớm hôm nay ông gặp Lev Rubin và Rubin đã đọc cho ông nghe bài thơ hắn mới sáng tác được về một đề tài trong Kinh Thánh. Ông công nhận vần điệu của bài thơ không đến nỗi dở lắm xong tinh thần của đề tài, theo ông, không được chỉnh mấy. Bài thơ diễn tả lại việc Moses đưa đám dân Do Thái đi qua sa mạc trong bốn mươi năm, chịu đói khát, khổ ải, thiếu thốn đủ thứ, vì vậy đám dân nổi điên vì tuyệt vọng và chống lại Moses, nhưng họ sai và Moses đúng, vì cuối cùng Moses vẫn dẫn họ được tới vùng đất hứa ở đó tất cả mọi người đều sung sướng. Rubin có vẻ đã đặt hết tâm hồn của hắn vào bài thơ này. 
Nhưng Giáo sư Chelnov không đồng ý với Rubin về sự quả quyết là Moses đã hành động đúng. Ông nhắc cho Rubin nhớ về điều kiện địa dư của chuyến đi ấy. Từ sông Nil tới Jerusalem đoàn người Do Thái chỉ phải đi có 250 dặm đường, điều này có nghĩa là dù cho họ có nghỉ đi trong những ngày Sabbath, họ cũng chỉ phải đi nhiều lắm là ba tuần lễ. Vậy mà Mosses đã dẫn họ đi mất hết 40 năm. Đó là một sự quá đáng. Nếu Moses không lầm lẫn đưa họ đi quanh quẩn trong sa mạc thì đó là vì Moses cố ý không muốn cho họ đến ngay nơi họ muốn đến. Và thời gian quá đáng này là một nghi vấn về thiện chí của Moses 2. 
Giáo sư Chelnov lấy chìa khóa mở cửa phòng làm việc của ông ở bàn giấy của người sĩ quan trực ngồi trước cửa văn phòng Yakanov. Trong số những tù nhân ở đây chỉ có ông và Mặt Nạ Sắt, tức Mamurin, được đặc quyền này. (Không một tù nhân nào được quyền có mặt nửa phút trong phòng nghiên cứu khi không có sự kiểm soát của một nhân viên tự do, người ta phải thận trọng như thế bởi vì tù nhân có thể lợi dụng phút không bị kiểm soát này để mở tủ sắt bằng chìa khóa giả, chụp hình những tài liệu mật bằng một cái nút quần, cho nổ một trái bom nguyên tử rồi bay thẳng lên mặt trăng). 
Chelnov làm việc trong một căn phòng được gọi là “Bộ Óc”, nơi đồ đạc chỉ vỏn vẹn có một cái tủ áo bằng gỗ và hai cái ghế trơ trọi. Người ta phải xin lệnh của Tổng Bộ An ninh để có thể phát cho Giáo sư Chelnov một chìa khóa riêng để ra vô phòng này. Kể từ ngày đó căn phòng này là một vấn đề làm cho sĩ quan An ninh Shikin mất ăn, mất ngủ. Đêm khuya, khi bọn tù đều bị nhốt chặt trong phòng giam sau nhiều lớp cửa sắt, Shikin từng nhiều lần vào căn phòng này mò mẫm, lục lọi, y gõ lên vách, sờ soạng trên những khe ván sàn phòng nhìn vào gầm tủ, vặn từng chân ghế và âu lo lắc đầu với những ý nghĩ nhất định rằng việc thượng cấp cho tù nhân được tự do đến thế này chỉ có hại chứ không có lợi. 
Nhưng Giáo sư Chelnov không phải chỉ lấy được chìa khóa là có thể vào được căn phòng nhỏ này. Ông còn phải đi qua một trạm kiểm soát trên hành lang. Đi qua trạm này là vào khu gọi là Tối Mật. Trạm kiểm soát gồm một cái chòi gỗ như chòi canh của lính gác cửa, trong đặt một cái bàn, trên bàn là một máy điện thoại và sau bàn có một nữ kiểm soát viên ngồi hỏi giấy phép. Giấy phép ra vô khu Tối Mật này do Tổng Bộ An ninh cấp phát, gồm ba loại: giấy phép thường trực, giấy phép tuần và giấy phép một kỳ. Việc phân loại giấy phép này là do sáng kiến đề nghị của Thiếu tá An ninh Shikin. 
Mặc dù Giáo sư Chelnov biết rõ người kiểm soát ngồi đó là Marya Ivanovna và chị này xem giấy phép của ông mỗi buổi sáng, khi ông đi tới, chị này vẫn nghiêm trọng hỏi: 
“Giấy phép?” 
Chelnov xuất trình giấy phép thường trực in trên miếng giấy dày và Sologdin xuất trình giấy phép tuần in trên tờ giấy mỏng. 
Hai người đi qua trạm kiểm soát, qua hai khung cửa nữa, và Chelnov mở khóa cửa văn phòng làm việc riêng của ông. 
Phòng này ấm cúng, gọn ghẽ, sạch sẽ với một khung cửa sổ nhìn xuống sân tập thể dục của tù nhân, nhìn xa ra hàng cây sồi cổ thụ vòm lá đọng sương đêm kết lại thành băng trắng xóa. 
Một bầu trời trắng xám phủ trên trái đất. 
Ở bên trái hàng cây sồi, ngoài vùng cấm, có một căn nhà gỗ rất xưa, những vách gỗ của căn nhà này đã chuyển thành xám vì thời gian và giờ đây trắng như vôi. Căn nhà có hai từng lầu và mái nhà lợp tôn trông giống như một chiếc thuyền. Trước đây nhiều năm người chủ khu đất này từng sống trong căn nhà gỗ đó. Xa kia là những mái nhà thấp của làng Mavrino, rồi đến một cánh đồng, rồi xa nữa là đường xe hỏa chạy về Mạc Tư Khoa. Vào lúc này ở trên đường xe hỏa đó có một làn khói trắng từ một đầu tàu bốc lên – đứng trong khung cửa sổ này người ta không thể nhìn thấy con tàu và đường tàu. 
Nhưng Sologdin không để ý gì đến cảnh vật dàn trải trước mắt anh. Mặc dù được mời, anh cũng vẫn không ngồi xuống ghế. Khoẻ khoắn với cảm giác biết chắc là hai chân mình còn trẻ, còn mạnh, anh đứng dựa vai lên thành cửa sổ và nhìn lên tập giấy của anh đặt trên mặt bàn của Chelnov. 
Chelnov ngồi xuống cái ghế có thành dựa cao, sửa lại chiếc khăn choàng lên vai, mở quyển sổ ghi đến trang chết, cầm cây bút chì lên và nghiêm trọng nhìn Sologdin. Giọng nói thân mật, nhẹ nhàng vừa qua đã hoàn toàn biến mất. 
Sologdin có cảm tưởng như anh nghe thấy tiếng gió lộng trong phòng, như có những chiếc cánh lớn của một loài chim khổng lồ nào đó đang bay quanh anh. Giáo sư Chelnov chỉ nói trong có hai phút, nhưng những gì ông nói ra quan trọng và chính xác đến nỗi Sologdin phải nín thở để nghe. Chelnov đã làm cho Sologdin nhiều hơn điều mà Sologdin yêu cầu ông làm giùm. Không những ông chỉ kiểm soát phát minh của Sologdin mà thôi, ông còn dùng toán học giải quyết cho Sologdin những rắc rối mà anh mắc phải mất cả tháng trời mò mẫm cũng chưa chắc đã giải quyết được. 
Nói xong, như quan tòa tuyên án, Chelnov gập quyển sổ lại và ngồi im lặng. 
Sologdin nhắm mắt như ánh sáng vừa lóa lên làm anh bị mù, anh cũng đứng ngây ra đó, không sao nói được nên lời. 
Từ những tiếng nói đầu tiên của ông già, Sologdin đã cảm thấy một làn sóng nước nóng chảy mạnh trong cơ thể anh. Giờ đây anh phải đưa hết sức nặng của thân thể anh lên thành cửa sổ để khỏi bay lên trần nhà vì sung sướng. Sologdin thành thật nghĩ rằng anh có thể bay vọt lên trần nhà nếu anh muốn. 
Những ý nghĩ quay cuồng như bão tố trong óc Sologdin. Điều đáng kể là anh không nghĩ đến những gì chờ đợi anh với thành công khoa học này, anh nhớ lại cá nhân anh trước ngày anh bị tù. Trước kia anh là một con người như thế nào? Chắc chắn là trước kia anh không phải là một kỹ sư. Trước kia anh chỉ là một gã trẻ tuổi thích ăn diện, lo ăn diện hơn là làm việc, cho đàn bà là quan trọng hơn tất cả trên đời. Chính là vì đàn bà mà một kẻ ghen tuông với anh cho anh đi tù. 
Rồi anh sống ở những nhà tù Butyrskaya, Presnya, Sevurallag, Ivdellag, Kargopollag… 
Ngay cả vào tù, anh cũng vẫn chưa hết rắc rối với đàn bà. Sologdin nhớ đến cái tên cai tù Kamyshan chuyên đánh tù nhân bằng gậy vào mồm cho gãy răng – hôm nào gã đi ngựa đến trại giam, gã đánh tù bằng roi ngựa – một nữ y tá phốp pháp thương hại Sologdin và không chịu Kamyshan. Vì chuyện này Sologdin lãnh thêm án mười năm tù vì báo cáo của tình địch Kamyshan. Anh gần chết vì chuyện này nhưng anh vẫn không oán hận gì người nữ y tá đó hết. 
Đó là lần Sologdin bị khiêng từ tòa án xuống thẳng nhà thương. Anh hấp hối. Thân thể anh từ chối ăn uống. Anh nằm như xác chết cho đến ngày người ta khiêng anh xuống nhà xác, ở đây người ta dùng búa bổ vỡ sọ anh trước khi đem đi chôn, nhưng trên đường đi, không biết vì sao anh lại cựa quậy và ú ớ nói được lên tiếng. 
Và bây giờ anh ở đây, bây giờ anh sắp được ra khỏi đây. Nhờ phát minh này, anh sắp được trở lại với cuộc sống tự do. Đó là một giấc mơ không thể có thật. Ông già thông thái này vừa nói những lời ca tụng ai đó chứ không phải là nói với anh. 
Chelnov gập tờ giấy của Sologdin lại làm bốn, rồi làm tám cho đến khi nó có thể nằm gọn trong lòng bàn tay: 
“Chú vẫn còn nhiều việc phải làm lắm” – ông nói – “Nhưng tôi có thể nói chắc rằng kiểu mẫu này là kiểu mẫu tiện lợi nhất, tối tân nhất. Nó sẽ đem tự do lại cho chú. Án tù của chú có thể được xóa bỏ”. 
Vì một nguyên nhân nào đó mà người trẻ tuổi kia không thể hiểu, khi nói đến câu này, ông già mỉm cười. Nụ cười của ông cũng sắc và thông minh như nét mặt của ông. 
Chelnov cười vì mình chứ không cười vì Sologdin. Tuy ông từng thực hiện được nhiều việc quan trọng hơn việc của Sologdin, ông vẫn không bị đe dọa bởi chuyện được trả tự do hay không, được thủ tiêu án tù hay không. Bởi vì ông không có án tù. Lâu rồi ông đã công khai nói lên ý nghĩa của ông về Lãnh tụ Anh minh, vị Cha Hiền của Dân tộc, ông coi hắn là một con rắn độc và vì vậy, ông bị bắt đưa đi tù, không ra tòa, không có án, không hy vọng. Sologdin mở cặp mắt xanh sáng rực, đừng thẳng người lên và nói một câu cứng ngắc như một kịch sĩ tập sự nói trên sân khấu: 
“Vladimir Erastovich… ông giúp tôi rất nhiều. Ông đem lại cho tôi niềm tin và hy vọng. Tôi không biết dùng lời nào để cám ơn ông. Tôi chỉ có thể là tôi chịu ơn ông rất nặng”. 
Đưa tờ giấy gấp nhỏ trả lại cho Sologdin, như chợt nhớ ra, ông già nói: 
“Tôi phải xin lỗi chú. Chú có yêu cầu tôi là đừng cho Yakanov nhìn thấy đồ hình kiểu mẫu này, nhưng hôm qua hắn đến phòng tôi và hắn tình cờ mở xem đúng tờ giấy này. Chú hiểu cho … tôi chỉ có thể không tự ý đưa cho hắn xem nhưng tôi không thể ngăn được hắn xem giấy tờ trên bàn tôi. Hắn nhìn và hắn hiểu ngay đây là kiểu mẫu gì. Hắn hỏi và tôi phải nói đến chú”. 
Nụ cười biến mất trên môi Sologdin. Ông già thấy người trẻ tuổi cau mặt lại. Ông ngạc nhiên: 
“Chuyện hắn biết có gì quan trọng đâu? Trước sau gì chú cũng phải cho hắn biết…” 
Sologdin cũng không biết rõ tại sao anh khó chịu. Anh nhìn xuống để tránh tia mắt soi mói của ông già: 
“Tôi không biết phải nói sao… nhưng tôi chắc ông hiểu. Đây là một phát minh không có lợi cho tất cả mọi người. Tôi do dự nghĩ đến người đó dùng phát minh của tôi. Tôi không sáng tạo ra vật này với mục đích cho y dùng. Tôi chỉ làm để thử sức tôi, để chứng minh với tôi rằng tôi có thể làm được. Tôi làm cho tôi”. 
Sologdin ngẩng mặt lên. 
Chelnov hiểu hơn ai hết câu nói của người trẻ tuổi. Làm cho mình là biểu dương cao nhất của việc nghiên cứu, tìm kiếm. 
Nhưng ông cũng thản nhiên nói: 
“Tôi hiểu… Xong trong trường hợp của chú, tôi sợ chú không thể nào làm theo ý chú được”. 
“Dạ…” Nụ cười sung sướng nở lại trên môi Sologdin – “Tôi xúc động nên tôi nói bậy. Xin ông đừng nghĩ ngợi gì. Tôi cám ơn, cám ơn…” 
Anh kính cẩn nắm lấy bàn tay nhăn nheo, yếu xìu của ông già rồi cẩn thận bỏ tờ giấy vào túi, anh đi ra khỏi phòng. 
Khi đi tới căn phòng này, anh là một người tương đối tự do, lòng anh đầy hy vọng, anh ra khỏi đây như một kẻ chiến thắng nhưng lệ thuộc quá nhiều điều kiện. Anh không còn làm chủ được ý muốn của anh, phát minh của anh. 
Còn lại một mình trong phòng, ông già không dựa lưng lên ghế, ông ngồi thẳng người, hai mắt nhắm lại trong một lúc lâu.

——————————–

1Decartes, triết gia kiêm toán học gia người Pháp, sinh năm 1596, mất năm 1650, nổi tiếng nhất thời Phục hưng (Renaissance, thế kỷ XIV-XV) – thời kỳ chuyển tiếp từ Trung cổ sang Cận đại và cũng là thời khoa học, nghệ thuật phát triển rực rỡ nhất ở Âu châu.
2Nội dung bài thơ này có một ý nghĩa thời sự. Lev Rubin, tuy bị tù, nhưng vẫn là một người Cộng sản. Y muốn bào chữa cho Stalin, muốn chứng minh việc làm của Stalin là đúng. Y ngầm ví Stalin với Moses: cũng như Moses hướng dẫn dân Do Thái qua sa mạc khổ sở đến đất lành, Stalin hướng dẫn dân Nga đến hạnh phúc. Chỉ với một điểm thắc mắc rất khoa học về địa dư, Giáo sư Chelnov đánh đổ luận điệu này (người dịch).

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 5 Mar 2026

Mỗi ngày vào buổi sáng, như bình thường bạn thường dùng một tách cà phê đen, cà phê sữa hay một ly cà phê sữa đá, nhưng chắc chắn bạn chưa bao giờ bị say cà phê như có lần bạn đã say thuốc lào hay say ma túy. Tôi nhớ năm đó vào mùa đông, chúng tôi đang ở trại tù Phú Sơn – Bắc Thái trong tình trạng đói, lạnh, mệt, và buồn, thấy hiếm hoi có vài bạn tù được tiếp tế gói cà phê, pha lên mùi tỏa trong căn phòng gợi cho chúng tôi nỗi thèm trần tục. Đã bốn năm rồi, thân tù tội, khoai sắn chưa đủ no, lấy đâu ra cà phê là món xa xỉ “tiểu tư sản”. Tôi và Nguyễn Xuân Thiệp, người bạn tù cũng như bạn “chung mâm”, đồng ý là trưa chủ nhật hôm ấy, hai chúng tôi sẽ chia nhau một phần ăn trưa, phần còn lại sẽ đổi lấy một phin cà phê và hai muổng đường cát. Phần cà phê không đủ tiêu chuẩn cho một phin, nên dù đã nén chặt cà phê vẫn chảy long tong. Sau khi nhanh chóng hoàn tất nửa phần ăn trưa chỉ đủ “lót dạ” chúng tôi chia mỗi người nửa phần cà phê và bắt đầu thưởng thức, với tất cả khả năng thị giác, khứu giác và vị giác mở rộng để đón món uống xa cách đã lâu ngày. Ngụm cà phê tràn vào cổ họng, trôi xuống dạ dày, chất đắng pha ngọt như tan vào trong từng thớ da thịt. Chỉ nửa phút sau, đầu óc tôi bắt đầu lâng lâng và từ hai cánh tay và da mặt, mồ hôi rịn ra. Tôi không biết hút thuốc lào và chưa bao giờ biết đến ma túy, nhưng quả thật cà phê cũng cho ta cái cảm giác sảng khoái tột cùng. Đó là lần duy nhất trong đời tôi biết đến cái say của cà phê, món uống thông thường hằng ngày mà chúng ta không bao giờ để ý đến.

Buổi sáng thức giấc trong khí hậu lành lành lạnh, uống một ly cà phê đã thích, mà buổi tối sau bữa cơm, có bạn bè, uống một tách cà phê đen thật nóng cũng không kém phần thú vị. Tôi thích uống cà phê trong cái tách sứ dày màu trắng để trên một cái dĩa cùng chất, màu với cái tách. Uống cà phê trong cái tách Nhật sần sùi, tối om om, làm sao con mắt thưởng thức được màu đen nâu của cà phê. Ở Đà Lạt ngày xưa, uống ly cà phê nơi quán Tùng tôi thấy không bằng tách cà phê vừa pha trong chiếc vợt trên bếp lửa, trong ánh sáng chập chờn, một buổi tối trời se sắt lạnh bên hông chợ Đà Lạt. Ở những xứ nhiệt đới người ta dùng cà phê như một món giải khát, nên mới có cà phê đá hay cà phê sữa đá. Cà phê pha sữa, pha kem đã là tệ rồi, cà phê bỏ đá thì còn gì là cà phê. Cũng như những năm đầu tiên đặt chân đến Saigon, tôi ngạc nhiên đến lạ lùng khi thấy món “trà đá” của dân Saigon. Tôi yêu những quán “cóc” ở những đầu xóm lao động bình dân, ở đó từ sớm mai cho đến nửa khuya luôn luôn có tiếng chuyện trò râm ran, khách ngồi co chân trên chiếc băng dài, chậm rãi thưởng thức món “cà phê dĩa”, một kiểu uống cà phê đặc biệt của người Saigon. Cà phê vợt lọc ra, đang nóng rót vào tách đưa đến tay khách, tỏa mùi, thơm ngon hơn là ly cà phê phin chờ nhỏ giọt, khi uống đã nguội lạnh. Loại cà phê vợt này còn gọi là cà phê “bít tất”, không biết có phải nhiều chủ quán đã dùng môt chiếc vớ cũ nào để làm vợt lọc cà phê hay hình chiếc vợt na ná giống chiếc bít tất!

Cà phê được tìm thấy từ vùng cao nguyên Ethiopia, sử dụng lần đầu tiên vào thế kỷ thứ 9, sau đó, lan tới Ai Cập và Yemen. Vào thế kỷ thứ 15 cà phê mới có mặt ở Armenia, Persia, Thổ Nhĩ Kỳ và phía bắc Châu Phi. Từ thế giới Hồi giáo, cà phê đến Ý, sau đó là Châu Âu, Indonesia và Mỹ. Chắc chắn cà phê đến Việt Nam trong thời Pháp thuộc, với cái tên café, mà trong chữ Việt không có tên gọi. Ngày xưa món cà phê hạn chế trong nhóm người thượng lưu, có thể là một thức uống xa xỉ chỉ dành cho người giàu có. Thời Tây thuộc, nông dân làm sao biết đến giọt cà phê, nhưng bây giờ cà phê là món phổ thông trong tất cả giai cấp và mang nhiều ý nghĩ đặc biệt trong nhân gian.

Cà phê từ trong những phòng khách ấm cúng, ngày nay tràn lan, “bệt” xuống vỉa hè, nằm trên mặt đường, vào trong vườn cây, leo lên những chiếc giường tre, mắc trên võng đu đưa. Danh từ “cà phê” gắn liền với những danh từ lạ lẫm, tưởng chừng không hề có sự liên hệ xa gần gì với nhau. Việt Nam ngày nay không những đã biết thưởng thức cà phê tận tình, trồng và chế biến cà phê để xuất cảng mà còn chế biến ra trăm thứ cà phê để phát triển ngành du lịch, giúp cho sự phát triển của xã hội chủ nghĩa “đi lên trong thời quá độ”, đó là những thứ cà phê ôm, cà phê sex. Bạn về thăm xứ Bolsa này, nếu muốn nhờ bạn đưa đi uống cà phê, người ta sẽ hỏi bạn muốn đi uống cà phê thuần chất Starbuck, hoặc cà phê Việt Nam, nơi có thể gặp gỡ nhiều bạn bè lâu ngày ở Factory, hay loại cà phê Bikini để “rửa mắt” hiện nay mọc lên nhan nhản ở Bolsa như một hình thức “văn hóa mới” ở hải ngoại.

Nhưng ở đây mùi son phấn, nước hoa ngạt ngào chắc hẳn át hương vị cà phê! Nếu bạn về Việt Nam mà ngỏ ý muốn đi uống cà phê, thì còn rắc rối lắm chuyện. Ngoài chuyện cà phê máy lạnh Highlands Đồng Khởi hay Saigon Center còn nhiều thứ cà phê mát lạnh gió đồng nội của cà phê võng, cà phê chõng, cà phê thõng … Thời nay, trong khi Nam bộ có “cà phê vườn”, ở chốn nghìn năm văn vật đất Thăng Long lại có “cà phê giường”, nói đúng chữ chứ không phải nói chữ “vườn” theo giọng Nam. Và “cái ấy”, sau khi “cách mạng thành công”, sao nó ám ảnh cha con nhà nó đến đến điên cuồng như vậy. Bây giờ không những chỉ có mùi son phấn mà mùi cà phê còn lẫn cả mùi tinh dịch! Chỉ mỗi chuyện cà phê không thôi cũng đủ kiểu đủ cách, khai thác bằng mọi hình thức miễn sao thu được “đồng tiền tốt,” đó là ưu điểm của văn hóa xã hội chủ nghĩa, thời đại cả nước “học tập và làm việc theo gương đạo đức của bác Hồ.”

Dần dần cà phê mang theo những cái “đuôi’ xấu, chuyện đàn ông đi uống cà phê nghe rất bình thường, nhưng người ta lại nghĩ xấu chuyện đàn bà đi bán cà phê. Cà phê chỉ còn lại cái tên hay là một cái cớ. Vào quán cà phê chúng ta không đụng đến món cà phê vì đã có bao nhiêu thức uống khác, nói chuyện đi uống cà phê nhưng là để có dịp ra ngoài, gặp gỡ, bù khú với bạn bè.

Tôi uống ly cà phê đầu tiên trong đời vào năm 14 tuổi, kể là quá chậm, nhưng cho đến lúc tuổi về già đã thành người ghiền cà phê, không có cà phê thì người bần thần như người thiếu “thuốc.” Nghiên cứu về sức khỏe nói cà phê có đến 9 điều lợi mà chỉ có một hại, vậy thì sao chúng ta lại bỏ cà phê? Cà phê quả không có đặc tính chống stress, nhưng chúng ta có dịp đi ra ngoài, gọi là đi uống cà phê, để có dịp gặp gỡ, chuyện trò với bạn bè, chắc chắn chúng ta không bao giờ bị chứng trầm uất hay buồn nản. Vào tuổi già, khi chúng tôi điện thoại đến nhà bạn, nghe bà vợ cho biết chàng đi uống cà phê với bạn từ sáng chưa về, lòng lấy làm mừng, vì điều này có nghĩa là bạn tôi chưa vào phòng cấp cứu, không ở bệnh viện hay đang “ăn cơm tháng” trong nursing home.

HP

Dấu Binh Lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 5 Mar 2026

Trên chiếc xe chở toàn thể sĩ quan về hội quán Phượng Hoàng, tôi chợt nhớ đến một điều, hôm nay là ngày sinh nhật, tôi đúng hai mươi ba tuổi.
– Hôm nay là sinh nhật của tôi, được hai mươi ba tuổi rồi đó…
Thiếu tá tiểu đoàn trưởng hỏi đùa:
– Hai mươi ba tuổi, già quá hả?
Mọi người lao nhao theo để trêu chọc… Hai mươi ba tuổi, quan hai còn nhỏ lắm, không ăn thua gì đâu…
– Nhưng vẫn năm năm lính rồi chứ ít gì.- Tôi phản đối.
Đức nói nhỏ vào tai:
– Mới bằng thời gian người ta đi chơi bời thôi con trai!
Tôi cụt hứng ngồi im.
– Thế nào người anh hùng nhỏ tuổi, nhớ vợ phải không? – Châu “ghẻ” kể thêm một câu.
– Đ.m… Con giai tôi không dám không biết cái “ấy” của vợ ở đâu nữa, tôi cứ tưởng nó nhớn lắm, ai ngờ chỉ mới hai mươi ba tuổi.
Anh Ba “râu” tay ăn nói bạt mạng nhất ở Nhảy dù, phán thêm một câu làm tôi chết cứng. Tôi còn trẻ lắm, hai mươi ba tuổi chưa biết mẹ gì! Ai biết được thế nào là mười năm đã qua của tôi… Năm ngày hành quân vừa rồi, hai mươi lăm cây số đường rừng không thấy mặt trời, ngày di chuyển từ bảy giờ sáng đêm đóng quân thức giấc liên miên vì sợ Việt cộng đột kích. Người tôi đã ở tận cùng gian khổ. Hôm qua, tám giờ tối rút ra gần quận Lệ Thanh, đêm miền núi lạnh như cắt da nhưng cũng phải nhào xuống dòng suối lạnh buốt để kỳ cọ, năm trái bắp sống ăn không kịp nuốt vì đói! Cảnh khổ của ba năm liên tiếp không đủ cho tôi già sao? Cực khổ, tai ương, nhọc nhằn, cùng với những rối rắm, phiền hà của thời gian qua chưa đủ làm tôi trở nên người lớn? Và bao nhiêu thống khổ từ niên thiếu?! Tôi lầm lì cho đến hết bữa ăn. Ăn xong, mọi người kéo nhau vào phòng nhảy.
– Nhảy đi mày, có mấy em được lắm… – Trang đề nghị.
– Nhảy mẹ gì. Mày cứ kêu bia cho tao.
Phòng nhảy mờ mờ ảo ảo đến bực bội, ăn chơi tỉnh lẻ lỉnh kỉnh, quê mùa không chịu được. Lại thêm có anh thợ hát ở đâu lò dò lên ca một bài để tặng các anh chiến sĩ…
– Đ.m, tặng với chả tặng!
Ngày hôm kia trong rừng sâu, đại đội tôi đi đầu chưa kiếm ra được bãi tải thương, hai thương binh mang theo nặng như hai bao gạo, rừng dầy quá không cáng được phải dẫn tụi nó đi từng thước… Trên đầu, máy bay trực thăng lượn vòng đợi, dưới đất tiểu đoàn trưởng thúc giục, tôi như cơn lửa cháy trong đầu, thế mà anh này ở đâu trên L.19, bấm combiné của máy truyền tin Không – Lục để hát một bài tặng các anh “Thiên thần mũ đỏ”!
– Hát với chẳng hát, tiên sư anh, tôi lại tặng cho mấy quả bây giờ. – Tôi lẩm bẩm chửi thề đứng dậy…
– Can! Can! – Anh Ba “râu” cuống quýt…- Thôi, thôi, cho tôi xin bố, bố không muốn ngồi đây thì cút đi chỗ khác! Đi đi cho được việc… Trang dẫn nó đi hộ tao, để nó đánh lộn ở đây thì anh Tướng nhốt cả lũ bây giờ. Cút!!
Trang dẫn tôi ra cửa, có con hổ nhồi bông ở ngưỡng cửa ra vào, tôi sẵn chân đá luôn một cái. Mẹ kiếp! Cứ voi với hổ suốt cả đời…
– Bây giờ mày muốn đi đâu? – Trang hỏi.
– Tao đi lang thang.
– Đi lang thang làm quái gì, lên cái chỗ “dưỡng quân” cho biết.
– Ừ, đi thì đi.
Trung tâm dưỡng quân nồng nặc khói thuốc, ta với tây hỗn độn, chen chúc, bia, được uống không phải từng chai nhưng từng két, uống để đè xuống cái mùi gái, mùi lính, mùi nước hoa đĩ thõa, mùi của thân thể không được tắm rửa, mùi của “chất” đàn ông và đàn bà sau ngàn lần ân ái, bao nhiêu lâu đọng trên giường, trên gối, trong kẽ ngách, dưới sàn nhà. Sàn nhà, một địa ngục thô bỉ được dọi sáng bằng ngọn đèn lù mù yếu ớt, dầy đặc đất đỏ của muôn ngàn đôi giày lính dẫm lên, hàng trăm cái “áo mưa” nằm lềnh kềnh, tung tóe… Đế giày nhà binh dẫm lên nhừa nhựa, như bước trên thây thân người chết!!! Chưa có chỗ nào ghê tởm và nhầy nhụa hơn. Con gái điếm đứng trước mặt, ánh sáng không soi rõ, chỉ thấy một phần bụng nhăn nheo, vết thâm tím thẫm.
– Anh cởi quần áo ra đi chứ? – Im lặng. Nó vẫn tiếp tục cởi phần y phục còn lại. Đến ngồi bên mép giường, xong đưa tay ngoắc tôi…
– Em cởi quần áo cho anh nghe? – Nó đưa tay lên nút áo của tôi.
– Không cần, để thế này, “chơi đứng”!!!
– Đâu có được?
– Sao không?
– Em không quen, khó “chơi” lắm, với lại em thấp thua anh.
– Ăn thua mẹ gì! Mày đứng trên giường.
Con bé lắc đầu không chịu. Tôi đấm một cái thật mạnh, nó văng ngữa người trên giường la inh ỏi. Ngoài sân có tiếng chân chạy, phòng bên cạnh có con điếm khác chửi thằng Mỹ tơi bời…. **** you!! Tôi phóng nhanh ra cửa, ngoắc Trang leo lên xe, chạy nhanh như chớp về phía Pleiku…
– Mày say rồi hả?
– Ừ.- Tôi nhường lái cho nó. Người mệt lả như sau cuộc đua quá sức…
– Bây giờ làm gì? Trang hỏi.
– Cứ đi vào cái bar nào đó chẳng được.
Pleiku, thành phố của snack-bar, người tử tế không có ai ra đường sau tám giờ tối, tôi nghĩ vậy. Thành phố của đĩ điếm công khai, của đổi chác dâm dật lộ liễu, thành phố hết tình người, giữ gìn làm gì? Phải, giữ gìn làm gì? Phá cho thả cửa…
Còn gì nữa đâu… Thành phố này chỉ trước hai năm thôi, tháng tám năm một ngàn chín trăm sáu tư, tôi đến đây chạy như giông bão để tìm em. Tôi đến đây vào buổi tối trời mù sương, thành phố kín cửa, tôi chạy như kẻ điên, như người mất trí, tôi đập cửa từng nhà, hỏi gặn từng người qua mặt… Em ở đâu? Em ở đâu?… Đây là nhà em, con đường Hoàng Diệu nối dài hoang vắng, lầy lội không ánh sáng, không bóng người… Tôi chạy vào nhà em tưởng chừng như có giọng nói, nụ cười, và em sẽ có, có thật đầy đủ, có như những lần đã có trong tay tôi… Nhưng tất cả không còn gì? Chiếc dốc hoang vắng đưa tôi về chỗ trọ, buồn thảm như đường về cõi chết… Hơn hai năm đi qua, hôm nay trở lại thành phố, còn gì đâu những ngày xưa nữa… Đĩ điếm, xanh đỏ, lòe loẹt xuất hiện trong đường phố, tiếng cười, giọng nói đâu còn vóc dáng Việt Nam và em… Và em cũng đang tan biến đâu rồi trong tận cùng đổ vỡ quê hương…
Tối hôm đó, tôi không biết đã đi vào bao quán rượu. Không biết phải chứng kiến bao khuôn mặt nham nhở, ngu ngơ, bao nhiêu chiếc mồm thoa son đỏ loét mở ra, khép vào như những vết thương ghẻ lở. Tôi chỉ biết say, say thật nhiều. Say đi, quê hương, ta còn không giữ kể gì thân ta… Say đến nỗi không nhấc nổi bước chân. Và vào lúc mười hai giờ đêm, thành phố đẫm sương mù bao phủ, le lói ánh đèn đường nhạt nhạt mênh mông, tôi ngồi ngay hè đường run rẩy ăn tô phở, ánh hồng từ bếp lửa chiếu lên chập chờn soi rõ mặt…
– Mấy ông đi chơi gì mà khuya vậy? – Người bán phở hỏi vu vơ. Giọng nói người Huế khàn khàn. Lại một kẻ tha phương đi kiếm sống như tôi đi đánh giặc! Trang hát nhỏ thì thầm… Một đắng cay, xót xa nào đọng trên mi mắt… Ngày này tôi được hai mươi ba tuổi.

Tháng 9 năm 1966, Pleiku.