“Xì tai” kiểu Ozzie!

dongsongcu.wordpress.com

Đoàn Xuân Thu

Posted on January 5, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 4 Mar 2026

Bà con mình chắc ai cũng biết: chữ “Australian” là từ chính thức để chỉ người hoặc điều gì đó liên quan đến nước Úc. Nhưng người Úc vốn xuề xòa, lười dài dòng, nên họ bẻ chữ cho gọn thành “Aussie”. Đọc lên nghe thân mật, gần gũi, y như giọng Ozzie kéo dài ở quán pub sau vài ly bia. Có người còn viết “Ozzie” cho nó khác chút, nhưng nghĩa cũng vậy thôi.

Chữ “Aussie style” hay “living Aussie style” mang cái nghĩa sống theo phong cách người Úc: thoải mái, phóng khoáng, thích ngoài trời, khoái bù khú với bạn bè, chẳng màng nhiều chuyện thế sự.

Nói tới “xì tai” Úc thì phải kể chuyện của tui. Ba chục năm lưu lạc ở Melbourne, từ cái ngày bồng bế vợ con chạy cộng sản, tóc tai rối bù, hành trang chỉ còn cái quần xà lỏn.

Tiền đâu mà mua sắm? Cái gì cũng mướn. Nhà mướn, bàn ghế xin, ngay cả cái nồi cơm điện xin nồi cũ của thằng tới trước.

Rồi đời cu li bắt đầu. Ban đầu là “casual” (công nhựt), làm bữa đực bữa cái; ngày nào làm thì ngày đó có lương. Sau nhích lên “part-time” (bán thời, ít nhứt 20 tiếng mỗi tuần); rồi cuối cùng thành “full-time” (toàn thời, ít nhứt 38 tiếng một tuần).

Lương lãnh hai tuần một lần (fortnight), chuyển thẳng vô tài khoản ngân hàng Commonwealth.

Cái “pay slip” coi vậy mà quý, cộng vô trừ ra, ráng dành dụm chút tiền cọc. Ngân hàng thấy mình có ăn hơi bền, liền chìa tay cho mượn phần còn lại để mua căn nhà.

Mà mua nhà ở Úc cũng như ký giao kèo với quỷ dữ. Ở nhà mướn thì mình làm đầy tớ cho chủ. Mua nhà rồi thì làm cu li cho nhà băng. Mình cày được một đồng, tụi nó hốt năm mươi cents. Năm này qua năm nọ, hai mươi lăm năm dài cày sâu cuốc bẫm trả xong thì tóc bạc răng long, nhìn lại mới hay: cái nhà nuốt hết cả tuổi xuân, cả hoa bướm của một đời trai trẻ!

Rồi tới hồi chết, cũng tay trắng. Căn nhà từng đổ mồ hôi sôi nước mắt mới có, rốt cuộc chẳng mang theo nổi. Xác đem đốt, khói bay lên trời, ô nhiễm môi trường chút rồi thong dong đi qua “cõi bên kia”. Còn cái cõi đó ra sao thì tui chịu. Bạn bè tui, kẻ thù tui, đứa nào cũng đi rồi, nhưng chưa có đứa nào quay lại báo cáo. Chắc nó sướng lắm, nên tụi nó giấu. Giống mấy ông đào vàng ngày xưa ở Ballarat, đãi được vàng thì nín khe, sợ người khác nhào vô tranh phần.

Tranh Bảo Huân

Căn nhà còn lại thì vợ con hưởng. Vợ tui mà rước thằng nào vô ở, kệ nó. “Who cares?” Mình đã thong dong đi cõi khác thì ghen làm gì. Nhà của tao sao mày dám vô ở? Ruộng của tao sao mày dám cày? Ờ, nhiều ông chết rồi còn hiện hồn bóp cổ tình địch. Tui thì không! Tui tính thoáng hơn. Đã về với mây trắng trăng trắng, vỗ tay reo trong cõi tang bồng thì buông bỏ hết cho nhẹ kiếp.

Ba chục năm qua, đời tị nạn lận đận, dọn nhà vòng vòng Miền Bắc, Miền Tây khu nghèo. Dọn từ Coburg, Fawkner, rồi West Footscray, St Albans rồi về lại Footscray… năm bảy ngoại ô, vui ít buồn nhiều. Nhưng ngộ cái, tui lại thích cái buồn đó. Thích vì trong buồn có cái xì tai Úc: ai mạnh nấy sống, không dựa dẫm, không màu mè hòa nhập hay hòa tan gì ráo.

Người Úc không bao giờ gõ cửa nhà hàng xóm xin chai beer. Họ quý tự do cá nhân, quý cái “space” riêng, nhưng lỡ gặp ngoài sân thì vẫn sẵn sàng cười toe: “G’day mate!” Nó có cho mình cắc nào đâu mà phải nịnh?

Tui nhớ hồi mới qua, tiếng Anh lõm bõm, nghe người ta gọi “Aussie, Aussie!” tưởng họ chửi mình chớ. Về nhà hỏi thằng nhỏ đi học, nó cười lăn: “Ba ơi, người ta kêu mình dân Úc đó!”

Mấy chữ giản dị mà chứa cả niềm tự hào. Sống lâu ở đây, tui cũng dần thấy: Aussie style không phải chỉ là ăn barbecue (thịt nướng) hay coi footy (bóng cà). Nó là một cách sống: không bon chen, không khoe khoang, làm lè phè nhưng chơi cũng siêng, thích ngoài trời, thích bushwalking (dạo rừng), camping (cắm trại), câu cá…

Ở Melbourne, cuối tuần dân mình hay rủ nhau ra bờ sông Maribyrnong, bờ vịnh Port Phillip cắm trại, uống bia. Bà con Úc đi ngang cũng ghé vô, hỏi thăm vài câu, rồi cụng ly “cheers” là thành bạn. Đó, cái xì tai Ozzie nó đơn giản vậy đó. Sống sao cho vui, cho thoải mái, không ai hơn ai, không ai thua ai.

Có lúc, ngồi nghĩ lại, tui thấy đời tị nạn ở Úc khá công bằng: mình bỏ công, bỏ sức, đổi lấy cơ hội cho con cái. Nhà băng thì hốt tiền lời, chính phủ thì lấy thuế, còn con mình thì hưởng tương lai sáng sủa hơn. Mình trễ rồi! Tương lai là của con, của cháu. Tui cam chịu cái phận cu li cũng vì vậy. Bon chen làm gì? Mệt!

Ở đời, ai mà chẳng phải làm cu li cho một cái gì đó. Ở quê nhà thì bị CS nắm đầu mình bắt làm cu li cho đảng, cho chế độ. Qua đây thì làm cu li cho nhà băng. Ít ra ở Úc, làm cu li mà còn có chút tự do, chút nắng, chút gió, có tiếng “mate” ấm lòng. Vậy là đủ.

Cho nên, nếu ai hỏi tui về cái “xì tai Ozzie”, tui chỉ trả lời gọn: Đó là kiểu sống không bon chen, không gồng mình, cứ thoải mái mà đi, cười được thì cười, nhậu được thì nhậu, làm được thì làm, trả được thì trả. Còn tới lúc chết thì… thôi bỏ đi tám!

DXT

Ai cũng để lại kỷ niệm chốn đó

phamcaohoang.blogspot.com

Hồ Đình Nghiêm

Post 14 Feb 2013

Post by Sơn râu 4 Mar 2026

Đà Lạt nostalgia – Tranh Đinh Cường

tặng hai người làm nên khu vườn thi sĩ.

Anh tôi tốt nghiệp Sư phạm Quy Nhơn để rồi lên Đà Lạt làm giáo viên dạy trường Tiểu học Đa Nghĩa. Anh thuê nhà ở cuối đường Hai Bà Trưng, đi bộ đâu chừng năm bảy phút là đến trường, rất tiện lợi. Anh có chiếc xe gắn máy Suzuki dùng để chở vợ đi chợ hoặc chở tôi mỗi cuối tuần trời đẹp đi câu cá ở hồ Xuân Hương, phía bên kia cầu Ông Đạo. Xem câu cá như một thú tiêu khiển chứ không nhằm muốn làm xôm tụ bữa cơm chiều vẫn thường sơ sài đạm bạc. Những con cá chép to hơn bàn tay không mấy khi cắn câu dù anh vẫn khổ công ran cám thơm làm hương hoa chiêu dụ. Mặt hồ luôn dợn sóng, chẳng hiểu vì sao, trong khi sông Hương ở Huế mãi phẳng lặng dù bề mặt nó thoáng rộng hơn.

Tôi vừa từ chốn Thần Kinh vào ở trọ cùng anh như sự bàn tính và chỉ định của các anh chị ngay sau khi Mạ tôi qua đời. Tôi câm lặng ra đi, mắt còn mọng đỏ, dấu kín nỗi buồn trong lòng và xem sự hoán đổi ấy là một giải pháp chẳng mấy vẹn toàn. Tôi sững sờ khi xuống tới phi trường Liên Khương, Đà Lạt mang vẻ đẹp lạ lùng nằm ngoài những dự tưởng chôn chặt trong trí tôi. Đó là thứ nhan sắc nửa thơ mộng nửa quý phái. Chỉ một nửa thôi, nếu nó tròn đầy quá nó sẽ làm hỏng cái kiều diễm nó mang. Lắm lúc beauté phải tiềm ẩn chút bất toàn, bởi mong manh cũng là thứ chen vai, dự phần và tôn tạo nên cái đẹp. Một đứa con vừa mất mẹ, nó sẽ sầu thảm biết dường nào nếu đến một thành phố tiêu điều khác. Đà Lạt đón tôi, choáng ngộp như thằng con trai lần đầu bị “coup de foudre” bởi một bóng hình nữ nhân. Lạc đà là con vật giỏi chịu khát vẫn thường thồ người và đồ đoàn băng qua sa mạc. Đà Lạt là một địa danh có thể chữa lành vết thương trong tôi, dung thứ tôi, dìu tôi qua chặng đời niên thiếu lắm mộng mị.

Anh tôi đứng ra lo mọi thứ giấy tờ thủ tục và tôi là cậu học trò chân ướt chân ráo chính thức vào mài đũng quần ghế nhà trường Trung học Tư thục Việt Anh, lớp 11 ban A. Đà Lạt có khi được gọi là Hoàng triều cương thổ, đất vua chúa cỡ Bảo Đại. Vậy mà tôi nói giọng Huế có nhiều bạn học mặt nghệch ra. Kinh nghiệm ấy làm tôi phải cực lòng giả giọng, thứ pha tạp nửa Sài Gòn nửa Hà Nội, cứ lơ lớ vậy mà kẻ thù tiếp mình thôi nhíu lại đôi lông mày, thần sắc giãn nở thấy rõ. Một ông nhà thơ nào đó viết: “Em ơi giọng Huế có chi, mà trong hoa nắng thềm thì cơn mưa”. Ca ngợi? Chê bai? Tôi chẳng rõ. Nhưng cá nhân, tôi yêu vô cùng giọng Hà Nội và tôi thương vô đối giọng Sài Gòn. Một người dẫn chương trình, một ca sĩ xin đừng là người mền. Vợ anh tôi là người đàn bà Bắc kỳ di cư, mai sau không thành danh cũng thành nhân tôi xin được lấy vợ người Nam kỳ lục tỉnh. Trong lớp tôi, H. ngồi bàn đầu và Hát nói giọng Nam. Hát là người duy nhất rộng lòng cởi mở chuyện trò cùng tôi vào những giờ ra chơi. Hát học giỏi, gương cận thị và là một thành viên sẵn sàng bảo vệ cho thành ngữ: “Cái nết đánh chết cái đẹp”. Nhan sắc Hát không làm xiêu đổ một ai, nhưng một thằng con trai “ngoài nớ” xớ rớ lên xứ anh đào trời xui đất khiến gặp phải Hát, hắn buộc phải cà lăm cà cặp, đứng quê một cục ra đó. Thời anh tôi, học tới lớp đệ Nhị là đã hoang dàng trời. Trình độ học vấn tương đương, tôi đang là học sinh 11 mà xem chừng bù trất một tỏ tình, ấp a ấp úng một câu văn chẳng bao giờ trôi chảy. Hát không để tâm tới lý lịch quê quán vùng miền nơi tôi chào đời, nhưng Hát có thể nhìn nhận ra vẻ cô đơn ám vào thân tôi khiến tôi phải co quắp gần như rụt rè. Và có thể do vấn nạn kia đã làm Hát vui chân tới bên bắt chuyện. Ba mẹ Hát có căn nhà lớn bên đường Phan Đình Phùng và tôi nói cho Hát nghe tôi yêu đi trên cái lộ trình như vầy: Một vòng quanh khu Hoà Bình, đổ người xuống đường Minh Mạng, ghé mua một gói thuốc lá trước rạp chiếu bóng Ngọc Hiệp rồi mài dép trên vỉa hè Phan Đình Phùng. Đứng thắp lửa điếu thuốc trước căn nhà có trải sỏi ở sân, kéo cao cổ áo ấm lên và nhìn vào ô cửa thắp sáng ngọn đèn vàng, thầm gọi tên người Hát ơi Hát ơi trong đêm đổ đầy sương.

Hàng tháng Ba tôi ra bưu điện gửi mandat lên dùng chi trả cho tiền học phí cũng như những nhu yếu phẩm mà bao giờ tôi cũng nhìn nhận ra sự thiếu hụt. Thay vì ưa chơi bảnh xô cửa vào tiệm Văn Gừng may cái quần tây, tôi quyết định thôi chưng diện để dùng số bạc nọ mời Hát đi xem phim, ghé ăn chè trôi nước. Đêm ấy gần tới Giáng sinh nhưng thời tiết ấm một cách đột ngột, tuy học ban A nhưng tôi rất dốt môn Lý hoá, về những thứ vớ vẩn cỡ như cái gọi là định luật khúc xạ ánh sáng. Cả đại số và toán học cũng vậy, tôi chẳng có cảm tình với câu: Từ một điểm ở ngoài đường thẳng ta chỉ có thể vẽ một đường, một và chỉ một mà thôi. Rất ấm ớ, rất khô khan, dễ lãnh cảm. Nhưng nhân danh một thằng ưa lơ là với sách vở, tôi khẳng định là cái lạnh của Đà Lạt trước đêm Chúa sinh ra đời chẳng thể can dự tới, gây tái tê, quấy rầy một sánh đôi giữa tôi và Hát. Khi bạn đi bên người yêu đầu đời, cả một bầu trời sụp đổ bạn cũng chẳng màng chứ nói gì tới gió máy với lại sương ẩm. Hát có một chữ rất hay mà tôi muốn học hỏi: Chuyện nhỏ! Nếu bị xô đẩy tới cuối đường với bao tình huống căng thẳng vây bọc mà ta thốt được tiếng “chuyện nhỏ” thì cuộc đời này e sẽ giản dị biết bao!

Đầu óc sẽ đánh lừa xác thân được bao lâu? Tôi rất ấm khi đi sát người Hát là câu nói thiếu tính khoa học. Dẫu sao anh mặc áo laine, anh chơi khăn quàng cổ, anh mặc áo bành tô, anh đội mũ nỉ che tai và anh rất mực cô đơn đi lạc hồn trước rạp chiếu bóng Ngọc Lan thì thân nhiệt cá nhân anh sẽ nóng hơn tôi gấp bội. Anh đưa ra lời đề nghị, xin được hoán đổi hoàn cảnh nhưng tôi sẽ cắn chặt bờ môi cương quyết chối từ, tôi sẽ án che Hát và dõng dạc nói với anh: Đừng có nằm mộng. Ưa gây chuyện lớn sao?

Hát bấu vào cánh tay tôi và tựa đầu một bên vai. Hình như Hát giàu kinh nghiệm về thời tiết khắc nghiệt cao nguyên, biết cái mong manh của cơ thể và cả hai đều có chung một cách giải phương trình: Muốn san sẻ cái lạnh, muốn ấm người, không gì khác hơn là một nụ hôn. Chuyện nhỏ không được Hát dùng vào trường hợp này, có thể Hát viết nên một mệnh đề khác; Từ một điểm ở ngoài tình bạn, ta chỉ có thể đi bên nhau, cùng lắm là nắm tay nhau, tựa vai nhau và ta chỉ hình dung ra có ngần ấy thôi. Nhiệm vụ của phái nam là gì nếu không muốn nói tới chữ nhẫn nhục chịu đựng và theo như kinh nghiệm của quý vị phụ huynh học sinh: Mới quá mà, cho con người ta có thời gian tìm hiểu đã chứ. Muốn ăn chè trôi nước anh phải nhào bột, anh phải hầm đậu xanh cho nhừ sau khi đãi vỏ, anh vo viên làm nhưn nhuỵ bên trong, anh phải chuẩn vị rang mè, thái gừng lát mỏng, anh phải để lửa nhỏ khi thắng đường cho sệt lại. Nói chung, phàm làm việc gì cho ra đầu ra đũa anh phải đầu tư công sức cũng như thời gian. Và như vậy, một nụ hôn nhằm trao gửi tới người mình yêu, anh không thể nóng lòng mang hia bảy dặm hùng dũng sãi bước chiếm ngự phủ đè. Đà Lạt rất lạnh khi đêm về, chuyện ấy trẻ lên ba cũng tường nhưng anh đang học lớp 11 anh không thể để cho nước mắt nước mũi hiện hình làm ô uế, làm mất mặt bầu cua. Anh phải giữ thể diện. Trong những lá thư Ba tôi viết vừa răn đe vừa uỷ lạo tinh thần cho đứa con út xa nhà luôn có một hàng “nhãn tự”, ấy là đói cho sạch rách cho thơm, giấy rách phải giữ lấy lề. Có lẽ tôi mang tội bất hiếu bởi tôi chưa thấy có ai đói rách mà thơm tho cả. Mũi ta phải nhăn nhíu lại khi đứng gần kề một hành khất đại hiệp, đơn giản như một cộng một bằng hai. Tình yêu là gì? Tôi rất muốn chứng minh cho Hát thấy về phương trình hình học không gian: 1+1=1.

Anh tôi vì là giáo viên, do méo mó nghề nghiệp, phần khác vì nhận lãnh trách nhiệm uốn nắn tôi thành kẻ hữu dụng nên vẫn có tiếng chì tiếng bất khi lên án việc học sa sút của tôi. Tôi cúi đầu làm ra vẻ thành tâm hối cải nhưng rõ là lời giáo huấn kia đã là thứ nước đổ đầu vịt. Tôi chong đèn thức khuya như thể siêng năng gạo bài nhưng kỳ thực tôi đang dàn trải mộng mị say sưa vào cuốn nhật ký có bề dày 200 trang với hình bìa là chiếc cyclo in mực xanh. Lý ra tôi phải học ban C vì khi viết về Hát tôi đã dựng nên một cảnh quang kỳ khu diễm tuyệt với thứ danh từ tĩnh từ động từ bán trời không văn tự. Tôi đảo lộn văn phạm chẳng màng tới thì quá khứ tương lai hiện tại. Tôi yêu Hát và tôi đang gần té giếng. Toán Lý Hoá Vạn Vật làm sao so bì được với thơ Đinh Hùng:

“em chẳng tìm đâu cũng sẵn thơ

nắng trong hoa với gió bên hồ

dành riêng em đấy khi tình tự

ta sẽ đi về những cảnh xưa”.

Vợ anh tôi lâm bồn, anh tôi là con gà mắc đẻ, lúng túng vụng về nhớ cái này quên cái kia. Một kẻ tự dưng lên chức cha, dù đã chuẩn bị tinh thần, kẻ ấy bỗng chốc đâm quờ quạng thấy rõ. Anh vào nhà thương suốt và tôi lợi dụng vác chiếc Suzuki của anh chở Hát đi tới bỏng khét. Ở Đà Lạt không hiểu sao anh lại mua hiệu xe này thay vì Honda? Xăng pha nhớt thở khói rên la khi vượt khỏi con dốc Duy Tân. Qua đồi Cù, Hát nói tụi mình thử đi hết con đường này xem tới đâu. Nắng mênh mông, nắng vàng chan ngập lối. Màu thông xanh, xanh thẳm sâu dẫn tuốt về Thái Phiên. Đà Lạt vẫn có những ngày mang vẻ đẹp độ lượng như thế, cảnh sắc thanh bình yên hàn vô sự và tôi như đang thồ một chậu kỳ hoa dị thảo thơm ngát biết nói cười ở sau lưng. Hát vòng tay ra ôm vào bụng tôi để chứng thực rằng da thịt này là của một người nữ mà con tim của đương sự vẫn mãi miết đập vào lưng tôi những sát na hạnh phúc. Hạnh phúc thay cho những kẻ mãi hồn nhiên. Câu này chắc tôi sẽ viết vào cuốn vở nhật ký. Và rồi tôi sẽ bôi bẩn nó. Một mệnh đề khác hoán đổi. Khi hôn nhau, sự hồn nhiên còn đó hay nó sẽ biến mất? Khi đôi tình nhân hôn nhau, họ có hạnh phúc không? Tôi thắng xe lại, tôi nói đây không phải là hồ Than Thở nhưng tôi mãi thở than nếu chúng ta không thử hôn nhau. Hát nói, cái đẹp trong giao tình của lứa đôi chỉ nằm vào chữ tự nguyện. Khi người ta ra điều kiện hoặc dùng tới giải pháp trấn lột, tự họ đã bôi đen vào mối quan hệ kia. Mình sẵn lòng cho bạn lựa chọn, chỉ nói cho bạn hay một điều, mình chưa có sẵn sự tự nguyện.

Mây che trên đầu một vầng im ắng và con đường trở lại thành phố nghe hao mòn tiếng cười niềm vui. Lý ra Hát phải học ban B mới hợp tạng, ở Hát đầy rẫy những công

Đà Lạt 1969 – Nguồn: panoramio.com

thức, những lề luật cứng ngắt, những tiểu tiết làm nên một tổng thể kiên định của lý trí có sức nặng đè bẹp một mưu toan của con tim dại khờ. Tôi mãi khờ dại khi yêu thơ Đinh Hùng:

“ta ra đi tìm lớp học thiên đường

và khi đó thì mẹ yêu ngồi khóc”

….

“thương nhau gói trọn hồn trong áo

mất nhau từ trong tà lụa bay”.

Viết tới đây tôi thử làm một con toán nhẩm. Như vậy tôi xa Đà Lạt đã 44 năm. Anh tôi đã về sống ở Sài-gòn sau khi ra miền Trung di dời mộ phần Mạ tôi (nằm trong khu vực bị giải toả) lên cải táng ở Đà Lạt. Anh gửi hình cho tôi xem mộ phần người tôi yêu quý suốt đời. Công sức của anh, thành quả anh tạo dựng được thật chẳng có bút mực nào tả xiết. Tôi mang ơn anh, thật nhiều, về những ngày sống cơ hàn ở bên nhau giữa một Đà Lạt thường hằng lạnh giá. Tôi cũng cám ơn Hát vô vàn, người đã rộng lòng dắt tay tôi đi qua những nỗi khổ đau dịu dàng khi “tình chỉ đẹp khi còn dang dở”.

Tôi mong mỏi có ngày được trở về thăm lại Đà Lạt dù biết rằng “không ai có thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông”. Tôi về chỉ để cúi đầu ăn năn trước mộ Mạ, nhắc lại chữ Mạ hay mắng: Đồ mạt máu! Tôi về để đi ngang qua đường Phan Đình Phùng mãi song song cùng đường Hai Bà Trưng. Hát cùng chồng, là một thương gia thành đạt hiện có cơ ngơi đồ sộ ở Nha Trang. Hát ngạc nhiên khi biết tôi có viết văn và đứa viết văn thường chung đụng với những cảnh bất ưng. Thành tâm để thưa rằng Hát biết không, chính Hát và Đà Lạt đã khiến trái tim tôi mãi mềm yếu. Thiếu cái độ mỏng dễ hư hao kia, bất luận là ai, kẻ đó suốt đời chẳng viết tròn một câu văn. Có điều này nói ra chẳng biết Hát tin không: Tôi vẫn còn yêu Hát, sâu đậm, một mối tình… mạt máu!

Hồ Đình Nghiêm

lễ tình yêu 2016

Đà Lạt 1969 – Nguồn: panoramio.com

Ạch đụi tra lão

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 08/03/2019 

Post by Sơn râu 4 Mar 2026

Nhà thơ Hoàng Xuân Sơn
Tranh của Thanh Trí

Montréal, thành phố tôi định cư, đã có ai đó thày lay phiên dịch, phụ đề Việt ngữ thành Mộng Lệ An. Thoạt nghe xướng tên, cứ ngỡ như đó là nhan truyện dài kỳ tình diễm lệ chan đầy nước mắt của nhà văn nữ Quỳnh Dao ở tận xứ lạ Taiwan. Nhiều đọc giả “khó tính” bảo: Quỳnh Dao là chưởng môn nhân môn phái Sến. Tôi chưa đọc văn bả nên chỉ biết mần thinh. Tôi nhớ có vị nào đó ở trong nước từng có thơ “mưa rơi không cần thông dịch” hoặc một thứ na ná tựa thế. Tôi lại nhớ một câu thoại “Cái gì của César thì nên trả lại cho César”.

Tôi yêu Montréal, nhỏ bé, hiền hoà, dân tình cởi mở, Anh-Pháp đề huề chẳng yes thì oui. Có khu cổ xuý việc trau dồi Pháp ngữ, lại thày lay mần thông ngôn, như sau: Tình xê la mua, tiền xê lạc răng, đời xê la vi. Ui, trẻ lên ba cũng tường những món gay cấn nọ.

Ở khu chăm nói tiếng mẹ đẻ, tôi thân thiết với hai nhà thơ: Luân Hoán, Hoàng Xuân Sơn. Hai nhà văn: Võ Kỳ Điền, Song Thao. Tôi gọi bốn vị bằng anh, vì tôi tri thiên mệnh trong khi họ thuộc dạng cổ lai hy. Họ chẳng thích nuôi râu, chứ nếu thả giàn để râu ria ra rậm rạp thì e “bác Hồ” phải nể mặt tủi hờn đọ không lại kính nhi viễn chi. Quá khứ, Luân Hoán gốc Đà Nẵng (Trung). Hoàng Xuân Sơn gốc Huế (Trung). Võ Kỳ Điền gốc Phú Quốc (Nam). Song Thao gốc Hà Nội (Bắc). Ba phương lưu lạc dặm ngàn đã tìm về chốn đất lành “chim” đậu này. Cớ sao cứ quen miệng đất lành chim đậu? Những giống loài khác muốn xớ rớ, lân la tới thì không đậu được sao? Giả dụ như ve sầu, như gà mái, như bướm vàng?

“Hoàn cảnh” nhà thơ Luân Hoán giống như tôi: Lấy vợ cùng quê, chung phường khóm. Riêng nhà thơ Hoàng Xuân Sơn và nhà văn Song Thao lại có sự khác biệt. Khác mà hoá ra chẳng khác, cái mới hay! Chị Hoàng Xuân Sơn gốc Hà Nội trong khi chị Song Thao là gốc Huế. Nói dễ mất lòng là thế này (cho dễ hiểu): Chị Hoàng Xuân Sơn mà trò chuyên với anh Song Thao thì nghe ra cung bậc lên bổng xuống trầm chuẩn mực hỏi ngã rất ư thanh lịch của Bắc kỳ 9 nút. Và anh Hoàng Xuân Sơn đối đáp cùng với chị Song Thao thì mỗi chữ tự động chêm vào dấu nặng (y như tôi vậy, Huệ mợ Huệ mộng. Có đáng ghét không?) Bực cả mình, chẳng mộng lệ an gì sất. Nhà thơ Hoàng Xuân Sơn từng lên giọng, thay tôi, đả phá cách giả giọng Huế của phường ngoại đạo, những hài kịch rẻ tiền, đầy bôi bác. Bác Sơn ta đó chính là Huế chay!

Tôi quan sát ngầm, ngay thời điểm này có bốn vị làm thơ cực kỳ sung mãn: Trần Vấn Lệ, Nguyễn Hàn Chung, Luân Hoán và Hoàng Xuân Sơn. Riêng nhà thơ Huế mềnh thì trải thơ, gửi bài đến hầu hết các diễn đàn văn học trên net. Hơi thơ cá biệt, ý tình đầy ắp. Gần đây, thơ gom chứa chút tự trào, một nụ cười kín đáo, thoạt bắt gặp không khỏi nghe ra lòng xao động. Bỡn cợt nhưng vẫn không bỏ quên chất thơ mộng lay rèm đằng sau con chữ vừa thoát ra. Nếu có ai hỏi tôi câu hóc búa: Thơ là gì? Tôi có ngay câu trả lời: Hãy đọc thơ Hoàng Xuân Sơn. Tôi xin đơn cử một trong muôn vàn bài tôi yêu thích. Bài “Nách”. (Ăn phải món ngon liền ngôn: Ngon nhức nách! Và nách còn có nghĩa là ẵm, bồng, bế, tha: Con nách em đi cho mạ rảnh tay chút nờ!):

một lần. tôi xốc nách tôi
tự mình quên đứng nên ngồi thiệt lâu
nách tôi tới chỗ buồn rầu
trước sau vẫn có một câu chuyện tình
nách tôi ra chốn thình lình
nắng mưa mưa nắng dập dình trăng sao
nách tôi về lại xứ nào
cho tôi đứng dậy cúi chào nguyên tôi.
(11. 2018)

Hay nhức nách! Bài thơ đã “nách” tôi đi một đỗi khá lâu trong bồng bềnh rù quến. Một bài mới hơn, làm xong ngày 27.01. 2019, cũng thể thơ lục bát, bài “Ơn xuân”. Xin trích đoạn:

…
nhờ em
da lão đâm chồi
ơn nuôi nấng
giữa trần ai bít bùng

đời mình có cái chung chung
cái riêng tư của
mịt mùng tai ương
phía trước xông một con đường
sau lưng
ủ mộng bình thường xác xơ

đời quá bộ
như bài thơ
cùng nhau lượm chữ
dăm tờ rối beng
…

Phải đó là lời than van? Không, chỉ một tiếng thở dài, rất nhẹ, dù lượm chữ dăm tờ rối beng có nơi bài thơ muốn đoạn lìa là một việc làm hết sức nặng nề. Một người gánh đá lên non hay con dã tràng chăm xe cát? Công việc nào nhọc sức hơn? Không biết. Không nên đào xới. Thơ là thứ “không cần thông dịch”. Tôi đọc, thấy trong người có biến chuyển, chỉ ngần ấy thôi là đã đủ để cảm ơn người làm ra bài thơ nọ. Dư dục vô ngôn.

Không cứ là lục bát, thơ bốn chữ, năm chữ, sáu chữ, bảy (bẩy) chữ của anh Huế se duyên cùng chị Bắc (cố đô + thủ đô) cũng mang đủ sự hài hoà giữa da diết hồi ức, van lơn lúc tự hoạ, một trách cứ về lối đi thẳng thớm không dưng bị thế nhân nhộn nhạo ra sức uốn cong, gập ghềnh, đắp mô, xao xác. Hơi hám của thời cuộc tham dự vào, tâm thành thay lời khuyên nhủ lẩn khuất. Và sau hết, lời thơ chuyển tải đã tới đích cuối. Tạm nhặt ra bốn bài, bốn trích đoạn, thay mặt cho bốn, năm, sáu, bẩy:

chớ đứng xớ rớ
tuyết phủ cô hồn
gió luồn tim mạch
ạch đụi bàng môn
…
lâu rồi kiệt quệ
còn chi em ơi
còn một chút đời
vo như tờ giấy
ngồi đây quên đấy
còn một dúm tro
miệt mài tra lão
còn chút mày mò
răng cỏ lộn lạo
(trích từ bài “Tháng giá”. 7. 2. 2019)

đừng xôn xao chữ nghĩa
lúc về sáng, nửa đêm
bạn sẽ là con rối
giữa mộng thực triền miên

chữ mù trong tự điển
héo lánh lên thượng nguồn
không còn ai muốn giở
một chương hồng sách thơm
(trích hai khổ đầu trong bài “Tơ chỉ rối”)

Hết bốn, năm, qua tới sáu. Một liếc xéo (nháy mắt) về quê nhà. Bài “Thời vận”:

bọn trẻ còn dám “đi bão”
thì mình đằng vân chút chơi
miễn là đừng mê mẩn gió
phượt hết yên ba một thồi.

Và thơ 7 chữ, trích ra hai đoạn trong bài “Xướng âm”:

âm quá. không cù rủ mặt đường
giữa mùa băng cực níu tai ương
ngón chân tìm một lỗ để thở
cùng tóc râu túa đời tha phương

40 năm xỏ giày mang ủng
không dám. chưa quen cái lạnh tràn
hồn tóp teo dưới tầng áo xống
bận. hay đừng rồi cũng hở hang
…

Người đọc có tinh ý nhìn ra trong thơ thượng dẫn một đôi từ cá biệt của Huế? Xớ rớ. Ạch đụi. Tra lão. Mày mò. Bận áo xống… Tôi không cố tình đâu, tôi chỉ lựa nhặt ra những bài khác thể loại, cùng lúc muốn chứng minh về thời tiết mùa đông khắc nghiệt vây lấy thành phố chúng tôi cư ngụ, lời thơ bày rõ một quang cảnh “mộng bất an”.

Khác nhà thơ Luân Hoán, nhà văn Song Thao. Hai người Huế chúng tôi tuy cái viết ra khá là bộn bề nhưng mãi không gặp duyên lành việc in thành sách. Ạch đụi. Rị mọ. Mãi lần khân ngoài sân mà chưa lần vào trong bếp: “không còn ai muốn giở, một chương hồng sách thơm”? Hoàn cảnh! Hoàn cảnh như câu thơ của Bùi Giáng:

Sáng ra bao tử mơ mòng
Cà phê bên nọ cháo lòng bên kia.

Mình sẵn cháo lòng mà lại thiếu cà phê. Mình mãi mơ mòng về cái bất toàn nọ. Rất mực gay cấn đồng thời cũng ngộ tới sự buông bỏ:

“lâu rồi kiệt quệ
còn chi em ơi
còn một chút đời
vo như tờ giấy”.

Mặc dù nhịp độ sáng tác luôn đều tay, giàu có thơ, tuy vậy Hoàng Xuân Sơn chỉ mới in ra 4 đầu sách: Viễn Phố (1988) Huế Buồn Chi (1993), Lục Bát Hoàng Xuân Sơn (2004), Thơ Quỳnh (2018). Nhà thơ tâm sự: Bây giờ tự dưng mình đi “làm phiền” bằng hữu thì nghĩ cũng không phải. Hình như có lần chính tôi đã nói ra một câu tương tợ như rứa. Cũng áy náy nếu một hôm trở trời nghe người đó lên giọng hát hỏng: “Anh còn nợ em…”. Tôi có thực hiện loạt bài phỏng vấn các anh chị viết văn làm thơ bốn phương, riêng gặp một người đặc biệt, nhà thơ Bắc Phong. Hỏi: Thấy anh làm thơ có thưa đi? Trả lời: Có lẽ về già, tuổi tác gây ảnh hưởng. Hỏi: Sao anh không in một tập thơ? Trả lời: Tại tôi lười. (Nguồn: Trang Văn Học Nghệ Thuật Phạm Cao Hoàng).

Nếu Bùi Giáng luôn chịu cảnh ngộ “bao tử mơ mòng” thì chúng ta cũng nên thông hiểu “bá nhân bá bao tử”, bụng người này khác bụng người kia. Tôi đã từng mơ mòng nhưng nay tôi tỉnh ngộ, tôi đắc đạo, buông bỏ. Thôi dẫm chân vào sạn đạo, cầm bình bát đi khất thực. Không phải lười, nhưng đã có tuổi, nhìn lui: Mọi thứ là phù vân.

Cảm ơn nhà thơ Hoàng Xuân Sơn:

“hồn tóp teo dưới tầng áo xống
bận. hay đừng rồi cũng hở hang”.

Montréal sắp vào xuân nhưng giá buốt vẫn một mực không thay đổi. Vẫn đậy đệm áo xống ba lớp, bốn lớp, năm lớp, sáu lớp, bảy lớp. May thay, thơ tứ tuyệt, ngũ ngôn, lục bát, song thất luôn còn đó, lung linh gầy nên đốm lửa làm ấm những giấc mộng không thành, xua đuổi mộng bất an.

“Trăm năm một chuyến về thiên cổ
Tuế nguyệt buồn lay chút bụi vàng”.

Thơ ai đó? Hình như của Nguyễn Đức Sơn khi bái biệt, tiễn đưa Quách Thoại? Có thể chuyển sang ca từ một bản nhạc: Buồn vào hồn không tên…

Buồn, tốt nhất xin cứ vô danh. Hãy để nó dễ siêu thoát. Chớ bắt chước “con ma nhà họ Hứa” làm chi cho nặng nghiệp. Hừ, Mộng Lệ An!

Hồ Đình Nghiêm

Ngày Ta Bỏ Núi

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 17th Jun 2021

Post by Sơn râu 4 Mar 2026

Lời giới thiệu: Hồi ký “Ngày Ta Bỏ Núi” đã được viết cách đây 16 năm. Nhưng khi phổ biến, nó đã bị cắt xén và che giấu nhiều điều. Tác giả Thiếu tá Vương Mộng Long đã bỏ công nhuận sắc lại toàn bộ bài viết này. “Ngày Ta Bỏ Núi” với đầy đủ chi tiết từng ngày, từng sự kiện diễn ra trong suốt cuộc lui binh, kể cả những bí mật mà trước đây bị che đậy và giấu nhẹm.

Kỳ cuối

Vài ngày trước, tôi đã chứng kiến cảnh Biệt Ðộng Quân hoan hô người đàn bà can đảm của Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân trên bãi trực thăng, vì thế tôi không ngạc nhiên khi thấy chị ta cũng có mặt trong đoàn người mặt mày hí hửng đang từ dưới chân đồi hì hục leo lên.

Tôi không cho lệnh đốt khu doanh trại, vì ngại khói đen bốc cao có thể thu hút sự chú ý của các đơn vị Việt-Cộng ở xa. Tôi không muốn đụng đầu với quân cứu viện của chúng lúc này.

Khi rút lui, Trung úy Phước đã sơ ý không phá hủy cái kim hỏa của khẩu súng cối. Vài giờ sau khi chúng tôi rút đi thì đạn cối 82 ly bắt đầu câu theo đít quân ta.

Chúng tôi nhanh chân vượt qua hai ngọn đồi, rồi chui vào sâu trong rừng lau sậy.

Trời vừa tối. Tôi cho lệnh dừng quân căng lều. Rừng bao la, đạn cối của Việt- Cộng “ùm! ùm!” rơi bâng quơ trong núi.

Ngày 1 tháng Tư năm 1975, lên đường!

Sáng nay mọi người đều no bụng. Ðoàn quân tìm lại được cái vẻ oai phong, khí thế ngày nào!

Ðội hình một hàng dọc! Thứ tự như cũ! Cứ theo hướng mặt trời mọc mà đi! Cứ men theo bờ Ða Dung mà tìm đường về quận lỵ Di Linh.

Binh nhì viễn thám viên Triệu Tân mở đường. Người thứ nhì là Thiếu úy Ðặng Thành Học. Người thứ ba là tôi. Sau tôi là thằng Y Don Nier. Sau thằng Don…  là đoàn rồng rắn lên mây, cả liên đoàn hàng dọc.

Ðường độc đạo, hai bên là lau sậy và gai mắc cỡ. Nếu cứ tính lộ không trung bình mỗi người cách nhau 3 mét, thì toán đi đầu của tôi cách toán đi chót của Thiếu tá Ðàng phải trên 2 cây số.

Tới chiều thì chúng tôi bắt đầu đi lên một cái dốc khá cao. Tình hình vẫn yên tĩnh! Trời đẹp quá! Trên không mây trắng vài sợi bay lờ lững. Gió nhẹ như ru. Thông ngàn reo vi vu. Chim chóc hót vang lừng. Nếu là thuở thanh bình thì cảnh này thật lý tưởng cho các thi nhân lang thang đi tìm ý thơ…

“Choác!” thằng Tân té ngửa!

Tôi và Thiếu úy Học khựng lại. Một giây sau, tôi và chú Học mới bóp được cò hai khẩu M16 theo phản xạ, nhắm về hướng bụi cây um tùm bên phải dốc.

Ðạn trúng tảng đá trong bụi rậm. Ðạn văng ngược ra đường xoáy trong không khí, kêu “Tăng! Tăng!… Tằng! Tằng!”  rồi… “Xèo!” chui xuống cỏ.

Toán viễn thám của Hạ sĩ Tuấn phóng nhanh lên dốc, vừa chạy vừa bắn.

Toán viễn thám chiếm được đỉnh dốc, nhưng tên bắn tỉa đã cao bay.

Viên đạn súng trường Nga trúng ngay giữa trán Triệu Tân. Cái nón sắt vỡ. Cái vỏ đạn bằng đồng đỏ còn nóng hổi, nằm trên mặt đất sau tảng đá.

Chỉ với một viên đạn, Thượng Cộng đã loại ra ngoài vòng chiến một viễn thám viên lợi hại của đơn vị tôi.

Khi đại đội của Thiếu úy Học đã bố trí an ninh xong, chúng tôi tạm dừng để an táng Biệt Ðộng Quân Triệu Tân.

Cặp thẻ bài đeo trên cổ Triệu Tân bị chia đôi, một chôn theo người chết, một bị cất trong ba lô của Ðại úy Hoàn, Tiểu đoàn phó.

Tôi cho liên đoàn chiếm lĩnh ngọn đồi để nghỉ qua đêm.

Ðêm đó toán viễn thám của Hạ sĩ Tuấn âm thầm lên đường. Ðiểm tới là triền dốc cuối ngọn đồi, cách chỗ chúng tôi dừng quân gần hai cây số.

Mờ sáng hôm sau một quả Claymore nổ. Tên Thượng Cộng đang nửa đường lên dốc lãnh nguyên trái mìn cơ động, khẩu súng trường bá đỏ văng trên bãi cỏ bên đường: Có vay có trả! 

Sáng ngày 2 tháng Tư năm 1975, vừa xuống tới chân dốc, tôi báo cho hai tiểu đoàn đi sau chuẩn bị đánh lạc hướng địch.

Mười năm phục vụ ở Vùng 2, tôi đã hướng dẫn nhiều quân nhân dưới quyền thành thạo nghệ thuật xoá dấu vết khi di chuyển trong rừng.

Hôm nay liên đoàn bị một phen vất vả. Ðoàn quân đang đi hàng dọc thì được lệnh dừng lại, chuyển thành hàng ngang, đâm thẳng xuống suối. Tới suối lại được lệnh lội hàng dọc trong lòng suối. Lội được khoảng nửa cây số lại có lệnh chuyển hàng ngang leo lên đỉnh. Khi lên tới đỉnh, đoàn quân lại chuyển thành hàng dọc.

Phải ma mãnh như thế mới đánh lạc được sự theo dõi của Thượng Cộng.

Vì di chuyển vòng vo tránh vùng địch hiện diện, nên chúng tôi dạt về hướng Tây hơi xa.

Buổi trưa, tôi thấy đồn Tân-Rai sừng sững bên phải trục tiến quân của mình.  Như vậy chúng tôi còn cách thành phố Blao trên chục cây số.

Nhưng khi nhìn thấy đồn Tân-Rai đã bị bỏ trống, trên cột, lá cờ vàng ba sọc đỏ còn bay, thì chúng tôi chỉ đứng xa mà ngó, chứ không dám leo lên. Mìn bẫy ai mà lường cho được!

Tôi cho quân chuyển hướng về Nam. Xế chiều, chúng tôi đã ở trên một đỉnh đồi nằm về hướng Tây Bắc của phi trường Con Hinh Ða.

Thành phố Blao nằm dưới kia, ngay trước mặt!

Từ trong phố, vẳng lại tiếng trống múa lân “thùng! thùng!”

Trước cửa vài ngôi nhà lác đác cờ bay, cờ nửa xanh, nửa đỏ, sao vàng. Blao đã rơi vào tay giặc!

Chúng tôi đành quay sang hướng Ðông, tìm đường lên Ðức-Trọng, Liên-Khương. Không biết tình hình Ðà-Lạt ra sao? Thôi thì, nước còn, ta cứ tát! Hy vọng, có còn hơn không! Bụng tuy đói cồn cào, nhưng chân chúng tôi vẫn cố gắng bước lên.

Ðêm 2 tháng Tư năm 1975, trong khi dò tìm tần số đài phát thanh Sài-Gòn, chiếc radio cầm tay của tôi bắt được một bản tin phát đi từ Lộc-Ninh qua Ðài Tiếng Nói Của Mặt Trận Dân Tộc Giải-Phóng Miền Nam.

Chương trình tối nay của đài cứ lặp đi, lặp lại lời kêu gọi của một thiếu úy trực thuộc Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân vừa ra đầu hàng quân Giải Phóng.

Anh thiếu úy này hết lời ca ngợi Quân Ðội Giải Phóng đã đối xử vô cùng nhân đạo với anh ta và hai người dưới quyền đã theo anh ta ra đầu hàng.

Anh ta còn lớn tiếng thiết tha kêu gọi những Biệt Ðộng Quân còn lại của Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân hãy noi gương anh ta, mau mau ra đầu thú để khỏi bị chết đói ở trong rừng.

Trưa ngày 3 tháng Tư năm 1975, cánh quân đầu của tôi tới sát Liên tỉnh lộ 8 B. Nơi này cách quận lỵ Di-Linh chừng năm cây số. Bên kia lộ là vườn trà. Trà bạt ngàn.

Hướng Tây Nam con lộ là rừng tre. Chúng tôi núp trong rừng tre.

Ngoài đường cơ giới địch chạy ầm ầm.

Chờ tới gần tối, tôi đem theo Thiếu úy Học và một toán cận vệ xuống thám sát con đường.

Khi chúng tôi đang kẹt giữa đường thì một chiếc xe tải đi tới.

Toán cận vệ Biệt Ðộng Quân bắn đại vào đầu xe. Chiếc xe bể máy, xẹp lốp ngừng ngay giữa đường. Hai tên Việt-Cộng ngồi ghế trước chết ngay tại chỗ.

Chúng tôi chưa kịp kiểm soát trên xe chứa gì thì nghe tiếng đàn bà và trẻ con khóc ré lên trong xe; xe chở toàn đàn bà và con nít!

Tôi không biết vì sao trong chiếc xe Zin của Việt Cộng lại đầy con nít, đàn bà?

Tôi gọi anh em rút êm về hướng cũ. Chúng tôi nhanh chân lui lại hướng Tây chừng một cây số, ngủ trong rừng trà.

Từ radio, đài BBC loan tin thành phố Ðà-Lạt mất!

Bây giờ chúng tôi chỉ còn cách bỏ núi, tìm đường ra biển.

Ngày 4 tháng Tư năm 1975, chúng tôi di chuyển thật chậm trong rừng thông và rừng cỏ hôi. Vùng này nằm giữa Di-Linh và Bảo-Lộc. Hướng tiến bây giờ là Ðông Nam. Tôi hy vọng tìm được đường tới Liên-Ðầm. Rồi từ Liên-Ðầm lủi trong rừng tre chuồn về Gia-Bắc, xuống Thiện-Giáo, Phan-Thiết.

Trưa đó toán đi đầu của tôi mới ló đầu ra một trảng trống thì nghe tiếng súng trường Nga bắn “tắc! bụp!”  Có người đi săn gần đây!

Vừa quẹo qua một cái cua đường mòn, Binh nhất Yang đi đầu chạm trán một cán binh Việt-Cộng ngồi câu cá trên một cái cầu ván bắc ngang con rạch nhỏ.

Tên Việt-Cộng không ngờ trong rừng còn có quân lính Việt-Nam Cộng-Hoà! Y há hốc mồm nhìn sững cái phù hiệu đầu cọp nhe nanh trên mũ sắt của Binh nhất Yang. “Ðoàng!” thằng Việt-Cộng rớt xuống rạch. Nước trong rạch không sâu lắm, cỡ đầu người.

Chúng tôi núp trong lùm tre nhìn về hướng đồn điền trà trước mặt.

Trời! Việt-Cộng đâu mà nhiều thế! Lều bạt, xe cộ, phòng không, đại bác, xe tank, xe xích kéo pháo và tải đạn, đậu sát rạt nhau theo các đường phân lô trà. Bóng người qua lại lố nhố.

Ðơn vị Cộng Sản Bắc Việt này cũng cỡ một E pháo (trung đoàn pháo).

Như vậy gần đây cũng phải có ít nhất là một E bộ binh yểm trợ cho cái E pháo nặng trước mắt tôi!

Trên cái đồn điền trà bát ngát đó, chỗ nào cũng có bộ đội. Chúng nói chuyện ồn ào huyên náo tự nhiên như đang ở giữa Hà-Nội.

Chẳng đứa nào để ý tới tiếng súng của Binh nhất Yang. Chắc chúng tưởng đó là tiếng súng bắn chim trời, gà rừng của đồng bọn?

Trong tình cảnh đó, tôi thấy chỉ có cách áp dụng chước thứ ba mươi sáu trong tam thập lục kế là tốt nhất. Tôi ra dấu cho mọi người đánh bài tẩu mã.

Anh Thiếu tá Ðàng đi đoạn hậu, còn ở tít đằng sau xa, chẳng hiểu ất giáp gì. Thấy tôi hối hả ra lệnh “chém vè” càng nhanh càng tốt, anh cũng cho đàn em vắt giò lên cổ chạy theo tụi tôi. (Chém vè: Danh từ Việt-Cộng, có nghĩa là rút chạy.)

Sau đó, nương theo rừng thông, chúng tôi từ từ di chuyển ngược về Tây Nam, băng qua các vườn trà Bắc Blao và Bắc Tân Bùi.

Dự trù, qua khỏi Tân Bùi, tôi sẽ lấy Quốc lộ 20 làm chuẩn. Nếu thuận tiện, chúng tôi đổ dốc xuống Thiện-Giáo.  Nếu có trở ngại, chúng tôi sẽ cặp quốc lộ để về Gia-Kiệm.

Ðoàn quân tiếp tục đi suốt đêm.

Mờ sáng ngày 5 tháng 4 chúng tôi đang nghỉ chân trên một khu đồi thông thì nghe hướng chân đồi, trên con đường xe be có tiếng người nói chuyện. Tôi cho lệnh Thiếu úy Ðặng Thành Học dẫn theo một trung đội theo dõi đoàn người này.

Mấy phút sau có tiếng súng bắn “Cành! Cành!”  và tiếng hét “Sát! Sát!” âm vang trong núi…

Thiếu úy Học không đem theo máy truyền tin, nên tôi chẳng biết chuyện gì đã xảy ra.

Chừng mười lăm phút kế đó, mười mấy ông Biệt Ðộng Quân vừa thở, vừa leo lên đồi.

Học gạt mồ hôi trên trán, báo cáo với tôi,

– Trình Thái Sơn, tôi xuống tới đường thì đoàn người dưới đó đã đi tới khúc quanh. Chắc tụi nó là dân công Việt-Cộng, có cả phụ nữ đội nón lá. Tui cho lệnh bắn chỉ thiên để ra lệnh cho bọn họ dừng lại thì họ quăng hết đồ đạc, rồi chạy luôn! Tôi kiểm soát chiến lợi phẩm, chỉ thấy mấy cái đầu máy may, mấy cái radio, mấy cái đồng hồ treo tường, mấy cái nón lá, mấy cái áo tơi… Chẳng có thứ gì ăn được cả! Chúng tôi đói quá, chạy một hơi là mệt, đành bỏ cuộc!

Tôi an ủi Học,

– Xui quá! Phải chi đám dân công này mà đang làm công tác vận tải lương thực thì hay biết mấy!

Tôi thấy, cứ như những gì mà chú Học vừa nói thì bọn Việt-Cộng đi dưới đường chắc chắn mới trở về từ thị xã Bảo Lộc. Thành phố Bảo Lộc đã bỏ ngỏ nên trở thành mục tiêu cho bọn thổ phỉ cướp phá.

Tôi đoan chắc rằng, sau khi chúng tôi đi khỏi đây, thế nào chúng cũng mon men quay lại để tìm kiếm những gì mà chúng vừa vứt bỏ.

Hướng Tây Nam của chúng tôi là những rặng đồi cuối cùng của Cao Nguyên Bảo-Lộc.

Tôi biết chắc chắn rằng bên trái những rặng đồi xanh đó là Ðèo Chuối. Rừng chuối, rừng tre vùng này thì, eo ơi! Vắt nhiều không đâu bằng!

Trưa ngày 5 tháng Tư năm 1975, tôi đang suy tính làm cách nào an toàn đưa liên đoàn băng qua Quốc lộ 20 thì trong tần số 47.70 có người gọi Thái Sơn.

Tần số 47.70 là tần số đặc biệt của tôi, chỉ có tôi và Trung tá Hoàng Kim Thanh, Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân biết mà thôi.

Tần số này chỉ dùng trong trường hợp nguy biến hay bị thất lạc.

Tôi mừng rỡ vô cùng khi nhìn thấy bóng dáng một chiếc máy bay L19 đang bay lững lờ trên vùng trời hướng Ðông. Chiếc thám sát cơ L19 này trực thuộc Quân Ðoàn III.

Sau này tôi được biết, trên đường theo đoàn người di tản từ Ðà Lạt về Nha-Trang, Trung tá Hoàng Kim Thanh, Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân đã tới trình diện Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Khu 3 đang đi thị sát mặt trận. Trung tá Thanh đã báo cáo cho Tướng Toàn hay rằng, Thiếu tá Vương Mộng Long đang chỉ huy 3 tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân còn phiêu bạt ở trong rừng. Ông Thanh đã xin ông Toàn cho máy bay đi tìm cứu chúng tôi.

Trung tá Thanh đã cung cấp đặc điểm nhận ra tôi là: “Thái Sơn nói tiếng Bắc 54” trên tần số truyền tin cố định FM 47.70.

Từ 31 tháng 3 năm 1975, mỗi chiều dừng quân, tôi đều bắt thằng Y Don Nier gắn cây ăng ten 7 đoạn vào đầu một cành cây cao rồi phát đi trong thời gian dài đúng một tiếng đồng hồ cái điệp khúc:

“ Mayday! Mayday! Ðây là Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân!” 

Thế rồi, một hôm, đài kiểm thính của ta đã bắt được lời kêu cứu ấy:

“ Mayday! Mayday! Ðây là Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân!” 

Tin tức này được trình cho Trung tướng Tư Lệnh Quân Ðoàn III.

Ngay sau đó, Chuẩn tướng Lê Minh Ðảo, Tư Lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh được ủy thác nhiệm vụ tìm cứu đơn vị này.

Trung tá Nguyễn Khoa Lộc, khóa 18 Võ Bị, Liên đoàn phó Liên Ðoàn 33 Biệt Ðộng Quân đã được chỉ định bay trên trinh sát cơ L19 từ sáng cho tới tối mỗi ngày để tìm kiếm chúng tôi.

Suốt thời gian này Trung tá Lộc trú ngụ trong tư dinh của Ðại tá Phạm Văn Phúc, Tỉnh trưởng Tỉnh Long Khánh.

Vì Ðịnh-Quán, Phương-Lâm, Blao, Di-Linh, Ðà-Lạt, đã rơi vào tay Cộng Quân, nên tất cả những phi cơ dám mạo hiểm bay trên Quốc Lộ 20, vùng giáp ranh Lâm-Ðồng và Long-Khánh đều có thể bị phòng không bắn rơi bất cứ lúc nào.

Vậy mà ròng rã 3 ngày, Trung tá Nguyễn Khoa Lộc đã gồng mình liệng tới liệng lui trên trời, cố tìm dấu tích bạn.

Sau khi bắt được liên lạc với anh Lộc, sợ địch phát giác ra vị trí bãi đáp, tôi phải dẫn theo một toán viễn thám tiến ra giữa một bãi tranh để chiếu gương cho máy bay, thay vì dùng lựu đạn khói.

Thấy chắc ăn rằng dưới đất là quân ta, anh Nguyễn Khoa Lộc mới chịu bay đi, hẹn ngày hôm sau sẽ gặp lại.

Tôi loan báo tin vui này cho anh Ðàng và anh Tài. Cả liên đoàn như hồi sinh.

Sau đó, tôi cho quân tấp vào bìa rừng nghỉ qua đêm chờ mai ra bãi bốc.

Ðêm đó là lần đầu, tôi, anh Tài, và anh Ðàng đóng quân chung. Ðó cũng là lần đầu chúng tôi có thời giờ kiểm điểm lại quân số một cách kỹ càng sau gần nửa tháng vất vả, gian nan.

Tôi cám ơn Niên Trưởng Trần Ðình Ðàng đã phụ giúp tôi một cách rất đắc lực trong vai trò đoạn hậu vô cùng khó khăn. Với những đức tính can đảm, kiên nhẫn, chịu đựng, và khiêm nhường, Thiếu tá Ðàng là tấm gương tốt cho những người khác nhìn vào, cảm phục và noi theo.

Quân số Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân còn duy trì gần như toàn vẹn, phần lớn nhờ vào công lao của Niên Trưởng Trần Ðình Ðàng, Khóa 15 Võ-Bị.

Trưa ngày 6 tháng Tư năm 1975 Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân được Phi Ðoàn 237 trực thăng Chinook của Quân Ðoàn III bốc ra phi trường Phan-Thiết. Ðổ xăng xong, trực thăng lại chở thẳng chúng tôi về Xuân-Lộc tăng phái Sư Ðoàn 18 Bộ Binh.

Hôm sau, những quân nhân của hai tiểu đoàn còn lại cũng được trực thăng bốc về Phan Thiết.

Khoảng 5 giờ chiều ngày 6 tháng 4 năm 1975 chúng tôi đặt chân xuống phi trường Long-Khánh.

Một cuộc lui binh nghiệt ngã đã đưa tôi tới chốn này. Quanh đây, tôi chỉ thấy một dải bình nguyên ngút ngàn đồng cỏ. Tìm đâu những rặng Chư-Prong, Chư-Gô suốt mùa sương phủ, mây che? Tôi đã thực sự lìa rừng, xa núi. Từ nay vĩnh biệt Pleime!

Tôi hiểu rằng chiến trận không dừng ở đây. Vì tôi biết một tướng hàng đầu Cộng-Sản đã tuyên bố:

“Muốn giải phóng Miền Nam, trước hết phải đặt bàn chân phải lên Tây-Nguyên, sau đó đặt bàn chân trái lên Duyên-Hải” (Võ nguyên Giáp)

Chúng tôi đã bình thản đợi chờ những trận đánh mới.

Tháng Tư 1975, những người lính của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân gốc Kinh, Thượng Rhadé, Jarai, Bana của căn cứ Biên Phòng Pleime đã chiến đấu một cách tuyệt vọng, nhưng với một phong cách thật tuyệt vời.

Chúng tôi đã không bỏ nhau. Theo chân nhau, chúng tôi đã ngã xuống, từng ngày. Máu chúng tôi đã tưới đẫm từng ngọn đồi, từng đoạn đường, từng khu phố để ngăn bước giặc tràn vào Xuân-Lộc, Ðồng-Nai, Sài-Gòn.

VML- K20

Seattle, ngày 21 tháng Tư năm 2006

(Nhuận sắc tháng Ba năm 2021)

Tầng đầu địa ngục

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Hải Triều

Post by Sơn râu 4 Mar 2026

Trung tá Klimentiev có những sợi tóc đen nhánh như than đá, như nước sơn đen được sơn lên sắt, những sợi tóc ấy nằm phẳng trên đầu y, chia ra làm hai phần, bộ ria tròn dưới mũi y trông như được bôi mỡ. Bụng y chưa to và tuy đã bốn mươi nhăm tuổi, Klimentiev vẫn đi đứng như một quân nhân trẻ tuổi, thân thể cuộc đời, quắc thước. Trong giờ làm việc không bao giờ y cười hoặc mỉm cười, bộ mặt rầu rầu, u ám của y vì thế lại càng thêm nặng nề. 
Tuy hôm nay là ngày Chủ nhật, y đến Viện còn sớm hơn ngày thường. Y đi ngang sang sân vận động trong lúc đám tù nhân đang giờ đi lại trong sân. Chỉ cần liếc mắt nhìn qua một cái, y đã ghi nhận hết tất cả những vi phạm. Nhưng việc can thiệp ngay vào những vi phạm của bọn tù nhân không phải là việc xứng đáng với cấp bậc của y, Klimentiev đi thẳng vào tòa nhà chính và vừa đi y vừa ra lệnh cho Trung úy Nadelashin đi gọi tù nhân Nerzhin đến trình diện y, cả Nadelashin cũng phải đến văn phòng gặp y nữa. Trong lúc đi qua sân, y nhận thấy rằng có nhiều tù nhân đi trước y bước vội hơn và nhiều tù nhân khác ở ngang đường y đi bước chậm lại hơn hoặc là đổi hướng đi. Y biết họ làm thế để khỏi phải chào y, y biết nhưng vẫn lạnh lùng, vẫn không cho đó là một chuyện đáng để y bực bội. Y biết sở dĩ những tù nhân có thái độ đó là vì càng thèm thuồng địa vị của y, phần lớn là vì chúng bối rối, ngượng nghịu trước những người bạn tù của chúng, chúng không muốn tỏ ra hèn hạ, nịnh bợ. Gần như bất cứ tù nhân nào cũng tỏ ra hòa nhã, thân thiện với y khi được gọi riêng tới văn phòng y, nhiều tên còn năn nỉ, xin xỏ đặc ân nữa. Có nhiều hạng người ở trong tù và giá trị của họ khác nhau xa. Klimentiev đã hiểu như thế từ lâu rồi, y tôn trọng quyền tự kiêu của những tù nhân, y giữ vững quyền của y là bắt tất cả phải giữ đúng luật lệ. Là một quân nhân thuần túy, y tin rằng y đem đến cho nhà tù Mavrino một kỷ luật – không phải thứ kỷ luật làm cho con người mất phẩm giá mà là thứ kỷ luật chính đáng của quân đội. 
Y mở cửa văn phòng. Trong phòng đầy hơi nóng và máy sưởi điện tỏa ra một thứ mùi sơn cháy khó ngửi. Người Trung tá mở khung thông hơi trên cánh cửa sổ, cởi áo khoác ngoài xuống ghế, thân hình vạm vỡ của y làm chật căng bộ quân phục, và y cúi nhìn mặt bàn bừa bộn giấy tờ. Tờ lịch ngày thứ Bảy trên tập lịch để bàn vẫn chưa được lật qua. Trên trang lịch đó có ghi hàng chữ: 
“Cây Mùa Xuân?” 
Trong văn phòng trơ trụi này, nơi vật duy nhất có công dụng là cái tủ sắt đựng hồ sơ lý lịch của tù nhân, nửa tá ghế, một máy điện thoại và một ổ máy nhấn chuông gọi. Đó là nơi mà Trung tá Klimentiev – không cần có dụng cụ gì khác – kiểm soát, điều động cuộc sống của 281 người và việc làm của 50 giám thị đề lao. 

Mặc dù sự kiện y đến làm việc ngày Chủ nhật – y sẽ được nghỉ trọn một ngày trong tuần – và y đến sớm hơn giờ hành chánh nửa tiếng, Klimentiev vẫn không để lạc tác phong làm việc đúng đắn thường ngày của y. 
Trung úy Nadelashin đứng trước mặt y với vẻ bối rối, sợ hãi thấy rõ. Trên hai gò má phính phính của Nadelashin hiện ra hai vết tròn đỏ. Gã sợ bị Trung tá này tuy rằng chưa bao giờ Klimentiev ghi những sơ suất, lỗi lầm quá nhiều của gã vào hồ sơ riêng. Nadelashin mặt tròn lố bịch, quê kệch, không có qua một vẻ quân nhân nào, cố gắng tỏ ra thoải mái mà không được. 
Nadelashin báo cáo rằng đêm trực của gã đêm qua đã trôi qua trong trật tự hoàn toàn, không có qua một vi phạm nào nhưng có hai sự kiện lạ đã xảy ra. Một sự kiện đã được gã viết thành báo cáo. Đã đặt tờ báo cáo lên góc bàn và lập tức tờ giấy bay xuống đất, lượn vòng và chui vào gầm ghế. Nadelashin vội vã đuổi theo, chổng mông lên lượm tờ giấy đem trở lại bàn. Sự kiện đáng kể thứ hai là hai tù nhân Bobynin và Pryanchikov được gọi về Tổng Bộ An ninh trong đêm qua. 
Ông Trung tá An ninh nhếch lông mày khi hỏi viên Trung úy những chi tiết về việc hai tù nhân được gọi đi và trả về. Tin này là một tin không những là không vui mà lại còn chứa đựng đe dọa nguy hiểm nữa. Người phụ trách vấn đề an ninh trong nhà tù đặc biệt này như lúc nào cũng ngồi trên miệng núi lửa – lúc nào cũng ở ngay dưới lỗ mũi của ông Tổng trưởng. Nơi đây không phải là một nhà tù ở một khu rừng xa xôi nào đó, nơi người sĩ quan chỉ huy có thể có cả một tiểu đội vợ bé và muốn làm gì thì làm như một lãnh chúa. Ở đây người ta phải theo đúng luật lệ và không bao giờ được hành động theo sự giận dữ hay theo lòng thương hại. Nhưng chính Klimentiev lại là loại người không bao giờ để cho việc làm của y bị ảnh hưởng bởi giận dữ hay thương hại, y không sợ rằng hai tù nhân Bobynin và Pryanchikov có thể than phiền với cấp trên về những hành động trái luật của y. Sau một thời gian hành nghề lâu năm kinh nghiệm sống cho Klimentiev thấy rằng y không có gì phải sợ những tù nhân, những người làm hại y đều là những bọn đồng nghiệp của y. 
Sau đó Klimentiev nhìn xuống bản báo cáo của Nadelashin và thấy ngay cả bản viết này chỉ là một cái gì ngớ ngẩn, ngu ngốc. Y bắt đầu khiển trách Nadelashin. Y nhớ lại tất cả những lỗi lầm mà Nadelashin đã phạm trong thời gian vừa qua, như chuyện buổi sáng để cho bọn tù đi chậm mất hai phút để cho rất nhiều chiếc giường của bọn tù trong tình trạng bê bối không ngăn nắp, Nadelashin không bao giờ tỏ ra đủ cứng rắn cần thiết để có thể gọi những tên tù làm giường không cẩn thận trở lại, bắt chúng làm lại giường của chúng cho thật ngay ngắn. Y từng nhiều lần nói với Nadelashin về vấn đề này nhưng y chỉ mất công vô ích. Và có những chuyện gì đã xảy ra trong buổi tập thể dục sáng nay? Gã Doronin đứng ngay trên ranh cấm của sân tập, nhìn vào khu đất cấm, nơi gã nhìn là một vùng đất hoang rất tiện cho một cuộc vượt ngục. Và án tù của Doronin là hai mươi lăm năm, hồ sơ của hắn có ghi tội giả mạo giấy tờ và từng bị tầm nã trên khắp Liên bang trong hai năm trời. Vậy mà không một ai bắt hắn phải đi vào hàng. Lại còn tên Rerasimovich nữa. Tên này không đi trong hàng như mọi người mà lại một mình đi lững thững về phía nhà máy điện sau hàng cây sồi. Và Gerasimovich phạm tội gì? Hắn đang sống hạn tù thứ hai – hắn bị bắt vì vi phạm điều 58, khoản IA, liên can đến điều 19. Nói cách khác, hắn bị tù vì tội phản nghịch của hắn cũng không sao chứng minh được rằng hắn tới Leningrad trong những ngày đầu tiên của cuộc chiến tranh không phải là để chờ đợi bọn Đức Quốc Xã. Phải chăng Nadelashin đã quên rằng bổn phận của một sĩ quan an ninh là phải luôn luôn xem hồ sơ của tù nhân và luôn luôn kiểm soát những hành động của tù nhân? Và sau cùng, đồng chí bận quân phục bê bối như vầy mà đồng chí được coi ư? Áo đồng chí sộc sệch – Nadelashin vội kéo lại vạt áo. Ngôi sao trên mũ đồng chí lệch – Nadelashin vội sửa lại. Đồng chí chào yếu xìu như một bà già. Vì đồng chí bê bối như vậy nên bọn tù coi thường đồng chí, chúng không chịu làm giường mền ngay ngắn khi chúng thấy đồng chí trực nhật. Để giường mền không ngay ngắn là một đe dọa nguy hiểm cho kỷ luật chung của nhà tù. Hôm nay chúng không chịu làm giường, ngày mai chúng sẽ từ chối làm việc. 
Sau đó Trung tá Klimentiev cho lệnh tập hợp những viên giám thị sắp đưa tù nhân đi gặp thân nhân vào phòng họp để nhận chỉ thị. Nerzhin được để đứng chờ ngoài hành lang. Nadelashin được phép ra khỏi phòng. 
Trung úy Nadelashin cảm thấy tinh thần gã xuống thấp. Gã rầu rĩ và hối hận nhiều mỗi lần hắn bị khiển trách, gã nhận rằng những gì cấp trên nhận xét về gã đều đúng và gã tự hứa nhất định sẽ không vi phạm những lỗi lầm ấy nữa. Nhưng rồi công việc bắt buộc gã phải tiếp xúc với những tù nhân kéo gã đi theo ý muốn của họ, tù nhân nào cũng thèm khát được hưởng một chút tự do, và Nadelashin không sao từ chối được. Gã chỉ còn hy vọng rằng những nhượng bộ của gã cho tù nhân không bị cấp trên phát giác. 
Klimentiev rút cây bút ra gạch bỏ hàng chữ “Cây Mùa Xuân” trên tờ lịch đi. Hôm qua y đã quyết định về vấn đề này. 
Trong những nhà tù đặc biệt này chưa từng bao giờ có Cây Mùa Xuân. Klimentiev nhớ rằng chưa từng bao giờ có một phép lạ như thế xảy ra. Nhưng năm nay, ở đây, một số đông tù nhân – những tù nhân có giá, được trọng nể – nhất định đòi họ phải có Cây Mùa Xuân. Và thoạt đầu, Klimentiev nghĩ: tại sao lại không cho phép họ có một Cây Mùa Xuân? Tù nhân có Cây Mùa Xuân thì đã sao? Hại gì? Không thể có chuyện xảy ra hỏa hoạn vì chạm điện rồi, ở đây toàn là những kỹ sư điện và giáo sư điện khí. Trong đêm cuối năm, một Cây Mùa Xuân sẽ quan trọng và cần thiết cho các tù nhân, nhất là khi tất cả những nhân viên tự do đều về vui chơi ở Mạc Tư Khoa, cuộc kiểm soát ở đây sẽ lỏng lẻo vì thiếu nhân viên. Klimentiev biết rằng đêm cuối năm là đêm khổ sở nhất cho những kẻ bị tù, trong đêm ấy rất có thể có những tù nhân làm những hành động cuồng dại và vô vọng. Vì vậy đêm qua y đã gọi điện thoại về Bộ để hỏi ý kiến thượng cấp của y về việc cho những nhà tù có điều cấm tù nhân không được dùng nhạc khí, nhưng họ tìm mãi không thấy điều luật nào nói về Cây Mùa Xuân. Vì vậy mặc dù họ không chính thức chấp nhận cho tù nhân làm Cây Mùa Xuân, họ cũng không ra mặt cấm. Kinh nghiệm và sự khôn ngoan sáng suốt cho Trung tá Klimentiev biết y phải làm sao trong trường hợp này. Đêm qua, trong khi ngồi xe điện ngầm để về nhà, y đã quyết định: được rồi, cho họ làm Cây Mùa Xuân. 
Trên đường đi vào trạm xe điện ngầm, Klimentiev đã nghĩ ngợi về y với sự hài lòng. Y thấy y là một người thông minh, một người có khả năng quyết định công việc không cần cấp trên phải bảo. Y không phải là một viên chức ngu ngốc không có sáng kiến, y còn là một người tốt nữa, nhưng bọn tù sẽ không bao giờ biết y là một người tốt, chúng sẽ không bao giờ biết rằng vì ai chúng có Cây Mùa Xuân, ai muốn cho chúng có Cây Mùa Xuân, ai không muốn. 
Chính vì cảm nghĩ mình là một người tốt nên Klimentiev không len lỏi chen vào toa xe điện như những thị dân Mạc Tư Khoa vội vã về nhà và muốn chiếm chỗ ngồi trong xe, y để cho mọi người vào trước và y là người cuối cùng bước vào toa xe trước khi cánh cửa đóng lại. Không tìm ghế ngồi, y đứng vịn cánh tay vào cột và nhìn khuôn mặt cương nghị, can đảm của y phản chiếu trên làn kiếng cửa sổ toa xe, sau làn kiếng ấy là hầm tối và những ống hơi, những dây điện chạy dài vô tận. Rồi y rời mắt nhìn về một thiếu phụ ngồi gần chỗ y đứng. Thiếu phụ này ăn bận gọn ghẽ, đàng hoàng nhưng không đắt tiền, chiếc áo đen nàng bận thuộc loại hàng nhân tạo, vai nàng choàng chiếc khăn cũng bằng thứ hàng này. Một chiếc cặp da đặt ngay ngắn trên hai đùi nàng, Klimentiev nghĩ rằng khuôn mặt nàng khá xinh, dễ thương nhưng mệt mỏi, và vẻ mặt nàng có một cái gì khác với những thiếu phụ hãy còn trẻ khác, nàng có vẻ như không hề chú ý gì đến những chuyện xảy ra quanh nàng. 
Đúng lúc Klimentiev đang nhìn nàng, người thiếu phu ngước mắt lên và mắt nàng bắt gặp mắt y. Hai người nhìn nhau với những đôi mắt vô hồn, vô tình cảm như những kẻ đi tàu, đi xe tình cờ nhìn nhau trong khoảnh khắc thời gian nào đó. Rồi khi đôi mắt người thiếu phụ chớp chớp như để dò hỏi, Klimentiev, nhờ thói quen nghề nghiệp, đã nhớ lại được mặt nàng. Y biết nàng là ai và y không sao dấu nổi vẻ y biết nàng là ai. Về phần người thiếu phụ, nàng nhìn thấy vẻ do dự của Klimentiev và nàng biết rằng nàng đã đoán đúng. 
Người thiếu phụ này là vợ của tù nhân Nerzhin. Klimentiev từng nhìn thấy nàng khi nàng đến thăm chồng ở nhà tù Taganka. 
Nàng nhíu đôi lông mày, đưa mắt nhìn đi, rồi lại nhìn trở lại mặt Klimentiev. Bây giờ Klimentiev nhìn qua cửa toa ra đường hầm nhưng ở góc mắt y, y cảm biết là người thiếu phụ đang nhìn y. Rồi nàng đứng dậy và với một vẻ quả quyết thấy rõ, nàng đi tới chỗ Klimentiev. Y bắt buộc phải quay lại nhìn nàng. 
Nàng đứng lên với sự quả quyết nhưng vừa rời khỏi chỗ ngồi, vẻ quả quyết của nàng tan rã ngay và nàng trở thành bối rối, ngần ngại, do dự, mặc dù có cái cặp da nặng trên tay, nàng có vẻ như người đứng dậy để nhường chỗ ngồi cho ông Trung tá đứng trước mặt nàng. Trên đầu nàng treo nặng cái số phận không may của những người vợ những tù nhân chính trị – vợ của những kẻ bị coi là kẻ thù nhân dân, dù rằng những người đàn bà này làm gì, đi đâu, ở đâu, một khi người ta biết họ là vợ những chính trị phạm đang bị tù họ cũng như kéo theo cái xấu xa ghê gớm của chồng họ. Trước mắt mọi người, họ cùng chịu chung tình trạng khốn nạn của những kẻ bất lương mà họ đã dại dột lỡ trao thân, gửi phận. Và những người đàn bà khốn khổ này cảm thấy họ có tội thực sự, họ đáng bị khinh bỉ thực sự trong khi người chồng họ, những kẻ thù đích thực của nhân dân, vì chỉ sống ở trong tù, không cảm thấy. 
Đứng ngay trước mặt Klimentiev để cho y có thể nghe được tiếng mình nói trên tiếng động của con tàu, người thiếu phụ cất tiếng: 
“Đồng chí Trung tá… Xin tha lỗi cho tôi… Ông là vị chỉ huy chồng tôi, phải không ạ?” 
Trong nhiều năm sống với chức vụ sĩ quan an ninh nhà tù, Klimentiev từng thấy đủ các hạng đàn bà đứng trước mặt y, và y không thấy có gì lạ trong vẻ sợ hãi, do dự, bối rối của họ. Nhưng trong lòng con tàu này, giữa mọi người và trước mắt mọi người, mặc dù người thiếu phụ này tỏ ra thận trọng, vẻ sợ hãi van xin của nàng cũng là một cái gì lạc chỗ. 
“Ngồi xuống chứ… Sao lại đứng lên? Ngồi đi”. 
Klimentiev bối rối nói. Y muốn nắm tay áo người thiếu phụ, đưa nàng trở lại chỗ ngồi, nhưng nàng nói: 
“Thưa… không sao…” 
Người thiếu phụ lùi xa hơn một chút để Klimentiev khỏi nắm được tay áo nàng, nàng nhìn vào mặt y, đôi mắt nàng biểu lộ một ý van xin mạnh mẽ gần như là cuồng dại: 
“Trung tá làm ơn cho tôi biết… tại sao gần một năm nay tôi không được thăm chồng tôi? Tại sao vợ chồng tôi không được gặp nhau? Bao giờ tôi được gặp? Xin cho biết…” 
Có một sự ngẫu nhiên vừa xảy ra, lạ lùng như là một hạt cát tình cờ bay trúng một hạt cát khác nằm cách xa cả trăm thước: vừa mới tuần trước đây Cơ quan MGB phụ trách an ninh nhà tù vừa mới cho phép một số tù nhân được quyền gặp vợ con, cha mẹ, trong số tù nhân này có Gleb Nerzhin, chồng của người thiếu phụ này. Gleb Nerzhin sẽ được gặp mặt trong ngày Chủ nhật 25 tháng Chạp ở nhà tù Lefortovo. Nhưng cùng với giấy phép này, những thượng cấp của Klimentiev còn ghi lệnh cuộc thăm viếng không được “niêm yết” và tù nhân không được tự mình báo tin về cho vợ, tù nhân phải cho ban quản đốc biết địa chỉ của vợ và ban quản đốc sẽ gửi thư đến địa chỉ đó báo cho người đàn bà biết. 
Nerzhin đã được Klimentiev gọi vào văn phòng để hỏi địa chỉ của vợ hắn, nhưng Nerzhin nói là hắn không biết. Kinh nghiệm cho Klimentiev biết rằng Nerzhin không muốn tiết lộ địa chỉ của vợ vì hắn không muốn làm hại vợ hắn. Bởi vì một khi thư gọi của nhà tù gửi đến, tất cả những người sống quanh vợ tù nhân sẽ biết và tự nhiên, họ sẽ tẩy chay người vợ tù nhân. Không một tù nhân nào muốn cho vợ con còn sống ở ngoài rơi vào cảnh bị tẩy chay, bị nghi ngờ, khinh bỉ ấy. 
Khi Nerzhin nói rằng hắn không biết địa chỉ của vợ, Klimentiev nói rằng nếu không biết, hắn sẽ không được gặp vợ hắn. Và Klimentiev đã quyết định gạch tên Gleb Nerzhin khỏi bản danh sách những tù nhân được gặp vợ trong ngày Chủ nhật này. 
Và giờ đây, sự tình cờ dàn xếp cho Klimentiev gặp người vợ của Nerzhin trong toa xe điện ngầm đang chạy. Nàng đang đứng bối rối trước mặt y và những kẻ khác đang chú ý nhìn họ. 
“Chị được phép thăm nhưng chị phải cho chúng tôi biết địa chỉ” – Klimentiev nói lớn để người thiếu phụ có thể nghe rõ được tiếng y trên tiếng động của con tàu đang di chuyển – “Lệnh thăm không được niêm yết”. 
“Nhưng tôi sắp phải đi xa” – nét mặt người thiếu phụ trở nên linh động, tràn đầy hy vọng bất ngờ, nàng nói lớn – “Tôi sắp phải đi xa. Tôi không có địa chỉ nhất định”. 
Klimentiev nghĩ rằng nàng nói dối. Y tính đến trạm tới y sẽ tới toa tàu và nếu người thiếu phụ này theo y, trong khung cảnh tương đối vắng vẻ của trạm xe buổi tối y sẽ giải thích cho nàng hiểu rằng y không thể tiếp chuyện nàng ở ngoài đường như thế này, muốn hỏi gì về chồng nàng, nàng phải làm đơn gửi về Bộ An ninh. 
Trong khi đó người vợ của tù nhân Gleb Nerzhin, kẻ thù của nhân dân, như quên tư cách đáng khinh của mình, nàng nhìn thẳng vào mặt viên Trung tá và đôi mắt nàng lúc đó là đôi mắt sôi nổi nồng nàn, đòi hỏi, đó là đôi mắt của một người bất mãn khi thấy quyền lợi của mình không được tôn trọng. Klimentiev ngạc nhiên vì ánh mắt ấy. Y tự hỏi không biết có một sức mạnh gì đã buộc chặt người đàn bà này vào gã đàn ông tù nhân kia, có sức mạnh nào đã làm cho nàng mù quáng hy vọng chờ đợi được đoàn tụ với người chồng mà nàng đã phải sống xa không biết bao nhiêu năm, với những chồng chỉ đem đến cho đời nàng những bi thảm, những chồng có thể tàn phá cả đời nàng. 

“Tôi cần được gặp chồng tôi. Tôi cần lắm…” 
Nàng nói, đôi mắt mở lớn, như nàng cần làm cho Klimentiev tin rằng nàng cần gặp chồng nàng. 
Klimentiev nhớ lại tờ chỉ thị về luật mới quy định việc tù nhân được thăm viếng nằm trên bàn giấy y, theo chỉ thị này, những người vợ nào không chịu khai địa chỉ sẽ không bao giờ được phép thăm chồng. Nhưng nếu sáng mai đây người thiếu phụ này đến nhà tù Lefortovo, nàng có thể tình cờ được gặp chồng nàng ở đấy, sẽ không ai biết rằng Trung tá An ninh Klimentiev là người báo tin ấy cho nàng. 
Con tàu điện bắt đầu chạy chậm lại. 
Nhiều ý nghĩ mâu thuẫn theo đuổi nhau đến trong óc Trung tá Klimentiev. Y nhớ lại lỗi lầm y đã mắc phải trong thời gian chỉ vì sự tốt bụng, chỉ vì lòng thương người, y biết rõ hơn bất cứ ai và y thường khuyên những thuộc viên của y không bao giờ được hành động theo tình cảm, một sĩ quan an ninh chỉ biết có luật lệ, sĩ quan an ninh không có tình cảm. Nhưng khi con tàu dừng lại trước trạm xe bằng đá trắng, Klimentiev nói với người thiếu phụ: 
“Chị được phép gặp vào ngày mai. 10 giờ sáng mai”. 

Y không nói ra những tiếng “nhà tù Lefortovo” vì đám hành khách đã đứng vây quanh y chờ đi ra cửa xe, y chỉ hỏi mơ hồ nhưng y tin rằng người thiếu phụ hiểu: 
“Chị biết Lefortovo chứ?” 
Người thiếu phụ cuống quít gật đầu: 
“Tôi biết… Tôi biết…” 
Và đôi mắt nàng đang ráo hoảnh bỗng tự nhiên tràn đầy nước mắt. 
Tránh nhìn nước mắt, tránh sự cám ơn làm y trở thành khả nghi trước mắt mọi người, Klimentiev bước vội ra khỏi toa xe. Y đứng trên sân ga lạnh chờ chuyến xe tới. Y ngạc nhiên không hiểu tại sao y lại hành động trái luật đến như thế và y bực dọc với chính y.

Trung tá An ninh Klimentiev cố tình để cho tù nhân Nerzhin đứng chờ thật lâu ngoài hành lang vì Nerzhin là một tên tù hỗn hào, một tên tù luôn luôn đòi áp dụng đúng luật. 
Klimentiev tính đúng tâm trạng của Nerzhin: bị đứng chờ lâu như thế, Nerzhin sẽ tiêu tan hy vọng được gặp mặt vợ trong chuyến viếng thăm hôm nay, và càng chờ lâu chừng nào, hắn càng nghĩ rằng sắp có sự không may xảy đến cho hắn. Khi được biết rằng trong vòng một tiếng đồng hồ nữa hắn sẽ được gặp vợ, Nerzhin sẽ mừng đến không còn tự chủ được. Và đúng như Klimentiev nghĩ, Nerzhin tươi hẳn nét mặt, hắn còn nồng nhiệt cám ơn, một việc mà Klimentiev chưa từng thấy hắn làm bao giờ. 
Trước sự vui mừng của tên tù, Trung tá Klimentiev lập tức ra chỉ thị cho tiểu đội giám thị có nhiệm vụ đưa bọn tù đến nhà tù Lefortovo hôm nay. 
Y nhắc lại với tiểu đội giám thị nhiều điều quan trọng, trong đó điều đáng kể nhất là nhấn mạnh cho họ nhớ lại tinh thần ngoan cố của bọn tội phạm: chúng sẽ lợi dụng cuộc thăm viếng này để truyền những tin tức mật ra ngoài, vợ chúng sẽ đem những tin tức có hại cho quốc gia đó đi bán cho bọn Hoa Kỳ – đa số giám thị không biết có những công tác gì đang được thực hiện trong Viện Mavrino và dễ dàng làm cho họ tin rằng chỉ một mảnh giấy nhỏ cũng đủ làm tan nát cả Liên bang Xô Viết – rồi y đọc lại cho bọn họ nhớ bản danh sách liệt kê những nơi mà bọn tù có thể giấu giếm tài liệu và họ phải khám kỹ – thực ra, những tù nhân được đi thăm đều được phát một bộ quần áo riêng, chúng chỉ được bận quần áo lành lặn này trước khi lên xe đi và khi về tới phải cởi trả lại ngay, nhưng giám thị cũng vẫn phải đề phòng. Sau đó Klimentiev chất vấn các giám thị để kiểm soát xem họ hiểu nhiệm vụ của họ đến chừng nào. Cuối cùng, y nói với họ một số tỷ dụ về các lời trao đổi giữa các tù nhân với vợ chúng để các giám thị có thể can thiệp kịp thời, cắt đứt những lời có hại. Tù nhân và vợ chỉ được phép nói toàn chuyện riêng và chuyện gia đình chúng. 
Trung tá An ninh Klimentiev là một sĩ quan biết rành luật lệ và thích trật tự.

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 4 Mar 2026

Trong dịp đám tang bà chị ruột vừa qua, tôi mới biết có nhiều đứa con tôi và con bà chị, anh chị em con cô con cậu mà chưa hề gặp mặt nhau lần nào và không hề biết nhau. Trước năm 1975, anh rễ tôi công tác ở nhiều tỉnh miền Trung còn gia đình tôi lưu lạc vào Nam. Sau năm 1975, sự đi lại khó khăn,

thời bao cấp, chỉ lo miếng ăn, cũng không có thời giờ mà lui tới với nhau. Một nửa gia đình bà chị di tản, một nửa ra đi theo diện bảo lãnh những ngày rất sớm, còn gia đình tôi lận bận theo chuyện tù đày, chuyện cơm áo, các con còn quá nhỏ, không hề có một cơ hội nào để gặp gỡ, sum họp toàn đại gia đình. Nói dại, không biết nhau, ra đường chúng tán tỉnh nhau hay cọ quẹt xe cộ, chửi bới, lôi ông ngoại ông nội nhau ra mà chửi, cũng chẳng ai biết mà can ngăn. Hoàn cảnh này không phải là đặc biệt có thể mà phổ thông trong mọi gia đình. Tôi nghĩ có lẽ vì chiến tranh, hoàn cảnh đất nước phân hóa, phải xa rời quê hương hay vì thời đại thay đổi, chuyện trái ngang này thường xẩy ra vì chúng ta thiếu một ngày giỗ.

Sách Mạnh Tử có câu “bất hiếu hữu tam,vô tự vi đại” (tội bất hiếu có ba, không con nối dõi là tội lớn nhất), không con nối dõi cũng có nghĩa là không có ai thờ cúng, hương khói. Việc giỗ kỵ quan trọng đến nỗi theo phong tục Việt Nam, con trưởng trong gia đình được thừa hưởng từ cha mẹ “đất hương hỏa” (nhang, lửa tượng trưng cho việc cúng giỗ- phần gia tài dành riêng cho việc cúng giỗ ông bà), cày cấy lấy lợi tức trên mảnh ruộng này mà lo việc cúng giỗ hằng năm. Đất hương hỏa quan trọng đến nỗi bằng khoán không thể đem cầm thế hay mua bán như các loại ruộng đất khác. Những người không có con trai nối giõi có thể nhờ con chú, con bác lo việc thừa tự và sở hữu đất hương hỏa. “Pháp luật không buộc nhà nào cũng đặt phần hương hỏa, nhưng theo phong tục thì những nhà giàu có , khi chia của cải cho con, thường để ra một phần làm của hương hỏa, để con cái dù không giữ được di sản, dù có thành nghèo khổ thì tổ tiên cũng không đến nổi mất giỗ mất Tết (Đào Duy Anh- Việt Nam Văn Hóa Sử Cương.) Ngay các vị hoạn quan triều Nguyễn vì không thể có con nối dõi để lo việc cúng giỗ nên phải mua ruộng cúng vào chùa Từ Hiếu (Huế) để chùa có phương tiện lo cho hậu sự này, do đó ngày xưa, Từ Hiếu là ngôi chùa giàu có nhất vì có nhiều đất hương hỏa.

Ngày xưa lúc còn nhỏ, ngày giỗ được coi là ngày vui nhất của gia đình nhất là những ngày giỗ lớn. Trước ngày giỗ mấy hôm, gia đình đã chuẩn bị dọn dẹp nhà cửa, trang hoàng bàn thờ, sắp sẵn mọi thứ cho buổi lễ. Buổi sáng bà con đã đến sớm đầy nhà, tiếng cười nói, tiếng chó sủa, lợn kêu và lũ rẻ nô đùa rộn ràng. Trừ những người sơ giao, làng xóm, viên chức địa phương mới được mời tham dự ngày giỗ, còn bà con, dòng tộc, ai cũng phải nhớ ngày mà đến tham dự, không trừ một ai. Không có mặt trong ngày giỗ, có nghĩa là từ bỏ họ hàng. Ngày xưa ít có người phải đi làm ăn xa, “tha phương cầu thực” như ông bà ta thường nói, mà chỉ quanh quẩn trong xóm làng, nhờ vậy, bà con đến không thiếu một ai, và nhân dịp này, ai cũng biết ai, dù cho là đám trẻ con vô tâm vô tính.

Theo phong tục tập quán của người Việt ngày giỗ nhằm tưởng nhớ đến những người đã mất, được tổ chức vào đúng ngày chết theo Âm lịch của người được quá vãng, nhắc nhở con cháu về ông bà tổ tiên hay những người thân thuộc trong họ hàng. Sau khi cử hành các nghi thức cúng giỗ, dâng trà rót rượu, như  mời người chết về dùng một bữa cơm với gia đình, sauđó gia đình dọn thức ăn vừa cúng xong để cùng ăn, coi như hưởng lộc. Dịp này là để con cháu trong dòng họ tề tựu lại để cùng ăn uống, có dịp gặp gỡ, thăm hỏi nhau. Như vậy, bà con thân thuộc, họ hàng làm sao không thể không biết đến nhau! Biết nhau rồi thì quý trọng, lui tới thân thiết với nhau vì luân lý vẫn coi trọng “một giọt máu đào hơn ao nước lã.” Thuở nhỏ, ngày mồng một Tết tôi thường được cha tôi dẫn đi lễ một vòng qua nhà thờ ông Bác, ông Chú, ra nhà thờ Chi (nhánh), rồi vào nhà thờ Họ, mỗi nơi lạy cả chục cái bàn thờ, chắp tay chào hỏi cả mấy chục ông Bác, ông Chú, anh em, họ hàng.

Quan trọng cho sự gắn bó, liên hệ giữa bà con, dòng tộc với nhau phải nói đến đến “gia phả”, hay “gia phổ” là sách ghi các thế hệ trong một dòng họ và lịch sử của tổ tiên. Ông bác họ tôi giữ chức Tuần Vũ có 5 vợ và trên 20 trai gái, anh chị em nhiều khi không biết mặt nhau, đến như Vua Minh Mạng đến 43 bà, 78 Hoàng Tử và 64 Công Chúa thì phải tra cứu gia phả. Nhiều người tưởng chỉ là “trùng họ” với nhau, nhưng khi truy ra họ cùng chung một gốc gác. Tôi với ông Lê văn Lân, ở Austin, Texas, tác giả nhiều cuốn sách biên khảo, tưởng chỉ cùng họ thôi, nhưng xem lại gia phả cả hai cùng phát xuất từ tỉnh Thanh Hóa, rồi tổ tiên đi lần vào Nam, tuy chưa đi tìm lại cội nguồn kỹ càng, nhưng như vậy là tôi với ông có bà con dòng họ thật rồi. “Mười đời chưa rời cánh tay,” mà tôi với ông quá lắm chỉ mới tám, chín đời.

Sau này, vì chiến tranh tương tàn, anh em ruột thịt có thể ở hai mặt trận đối đầu nhau. Chủ nghĩa Cộng Sản lại không hề tôn trọng tình huyết thống, nên con có thể đấu tố cha mẹ, anh em vì quyền lợi có thể giết nhau. Vì chế độ Cộng Sản bất nhân, người Việt Nam chúng ta bất hạnh phải rời bỏ quê hương như đàn chim vỡ tổ, mỗi con bay về một hướng, bà con dòng tộc không còn ai biết ai. Chúng ta có thể gặp một dòng họ Phan ở  Toronto, Canada, một họ Nguyễn ở Frankfurt, Đức, hay một họ Trần ở Bordeaux, Pháp, theo nghĩa “tứ hải giai huynh đệ,” nhưng cũng có nghĩa là tan tác, chia lìa.

Ra hải ngoại này nhiều gia đình có nhân số rất đông đúc, có gia đình mười anh em, không ai còn ở lại trong nước. Nhưng mỗi gia đình một nơi, mỗi gia đình, anh em lại không cùng ở chung một tiểu bang, ở đây việc đi lại không khó khăn nhưng trở ngại thường là vì công ăn việc làm. Họa hoằn lắm, quan trọng mới gặp nhau vội vội, vàng vàng trong ngày cưới hỏi hay tang lễ. Ở đây không nghe gia đình nào tổ chức được một ngày giỗ có quy mô lớn có mục đích tập họp đại gia đình từ các nước hay các tiểu bang về, vì ngày giỗ thời nay đâu có gì quan trọng nữa. Ngày trước “Thẻ Căn Cước” còn có ghi tên cha mẹ, ngày nay “Chứng Minh Nhân Dân (!) và ID không hề cần biết đến đương sự là con nhà ai.

Trong các tang lễ hay ngày cưới, lũ trẻ chỉ biết kiếm một chỗ ngồi, chúi đầu chăm chú vào chiếc “game”cầm trong tay, miễn cưỡng lắm mới ngẩng đầu lên “Hi! Ông!”-“Hi! Bà!” và có một ngày nào, lúc lớn lên, chúng kéo một con nhỏ “cháu ông Chú, con bà Cô” từ đâu về, nói với cha mẹ: “Con muốn cưới con nhỏ này!”

Dấu Binh Lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 4 Mar 2026

Gởi Phan Duy Nhân
Chúng tôi đến Đà Nẵng lúc thành phố đang trong cảnh chết, nhà đóng cửa, đường vắng dây kẽm gai dăng đầy, biểu ngữ chống chính phủ căng la liệt. Thành phố lặng lẽ nỗi phản kháng tuyệt vọng. Im lặng đáng sợ như một trái bom đã rút chốt.
Tôi không ngờ trở về với thành phố tuổi nhỏ trong cảnh oái oăm như thế này, con đường Khải Định chạy qua đường Ông Ích Khiêm đến Chùa Tĩnh Hội giờ này lặng lẽ và nguy biến. Con đường này thuở xưa qua khỏi cầu Vồng ngợp lá phượng xanh dẫn đến biển, xe đạp học trò lăn đi như bánh xe hồng trong cổ tích. Nhưng bây giờ thì đã khác. Chia lính đi hai bên đường, súng cầm tay, áo giáp, nón sắt, vì từ một ngôi nhà nào đó biết đâu có thể một họng súng đang hướng về tôi! Người bắn đó là ai? Có thể là một người mà tuổi nhỏ tôi đã biết… Từ cầu Vồng xuống khỏi chiếc dốc rẽ về phía tay trái, đường Đông Kinh Nghĩa Thục, trước sân vận động, nhà chị M… Tối mùa đông gió thổi, lá cây phượng rơi đầy sân, tôi cùng Tr và M ngồi cạnh nhau ở bậc tam cấp trước thềm nhà, Tr thổi khẩu cầm bài Étoiles des neiges, tuổi mười bảy đẹp như nốt nhạc hoang đường, tình bạn, tình yêu, ước vọng mù mờ của tuổi mới lớn hòa hợp, se sắt nồng nàn như cơn gió mùa đông làm căng da mặt, nẻ những đường môi rơm rớm hơi máu nóng. Đà Nẵng, bên kia cầu Vồng qua hai ngã tư, nghĩa trang người Pháp, trên đồi cao đầy bóng cây đại, tôi trải chiếc blousson trên một mộ bia ngủ thiếp đi trong mùi thơm nồng nồng của hoa Sứ. Trời mùa đôngxám đặc như xuống thấp, từ độ cao u ám của nghĩa trang, tôi sống như gạch nối giữa nỗi chết cùng sự sống. Bỏ nghĩa trang tiến thêm một đoạn, rẽ về phía tay trái, trường tôi… Thuở ấy chỉ có một dãy nhà ngang sáu lớp, hàng cây phượng mới trồng trơ vơ trên nền đất cát trắng. Lúc nhập học trời vào thu, trong lá cây kiền kiền đầy bướm ngài sặc sỡ, lũ bướm chập chờn bay yếu đuối như cảnh đời đài các phải chạm vào cuộc sống gió bão. Nơi chốn này, lớp học thứ hai kể từ tay trái, bàn thứ hai bên phải, tôi dùng mảnh chai khắc tên trên bàn học với hy vọng một tương lai trở về trong vinh hiển, sẽ đi vào lớp học, ngồi lại trên ghế băng học trò mát lạnh, thật im lặng rồi chào người thầy học cũ để ra đi, thành kính như Đại Tướng Carnot của bài học thuộc lòng thuở nhỏ…
Nhưng bây giờ, tôi đang trở về trên quê hương thơ ấu và không phải là như vậy. Ngôi trường kia và tôi giờ này quá xa cách, người ở thành phố này có thể đốn ngã tôi trong khoảnh khắc. Thực tại đã giết hết kỷ niệm. Lệnh tập hợp đại đội lại đi về phía chùa Tĩnh Hội vì lực lượng biểu tình từ trong chùa đang tiến ra. Ở Sài Gòn suốt thời gian cuối năm 1964, tôi đã va mặt với đủ các loại biểu tình, đã hiểu thế nào là nỗi chịu đựng của người lính khi đối diện với đám đông nhân danh Tổ Quốc và Thượng Đế… Nhưng ở đây thì khác, tôi linh cảm một sức mạnh bí ẩn làm động cơ thôi thúc một tập hợp hỗn độn đứng hẳn về một phía chống chính quyền. Đằng sau đám đông trước mặt này là gì? Tôn giáo, Đảng phái ái quốc cực đoan hay là Mặt Trận?
Tôi không rõ, nhưng với đám đông này tôi không thấy phẫn nộ như ở lần trước Viện Hóa Đạo, đường Trần Quốc Toản Sài Gòn. Bây giờ là một nỗi buồn rầu mệt nhọc đang tràn đầy…
Coi chừng tụi nó có súng, có thể chúng tấn công vào anh… Đám biểu tình dẫn đầu bởi một người mang lá cờ. Gã phất cờ và bắt đầu bằng những lời lẽ khích động, những lý luận thông minh được diễn tả bằng một giọng hùng hồn đanh thép đầy nhiệt tình. Tôi chóng mặt, người như muốn ngồi xuống với một nỗi xót xa… Dinh, đúng nó đấy, thằng bạn của tôi, thằng bạn của những ngày còn bé đã nuôi dưỡng hoài bão thay đổi đất nước và văn hóa. Không phải mơ mộng viễn vông nhưng là một ước vọng ám ảnh hiện thực. Và bây giờ cũng bằng giọng nói đó, ánh mắt rực lửa đam mê đầy nhiệt tình… Dinh đang đứng trước mặt tôi! Dinh ơi, mày có biết cho tao không? Lịnh tấn công được ban ra, tiêu lịnh riêng phải bắt cho được gã cầm cờ. Chúng tôi và Cảnh sát dã chiến bắt đầu tấn công. Tôi thấy nó, thằng bạn của tôi tóc xõa dài xuống trán, tay nâng cao lá cờ lúc chạy lui. Hình ảnh này giống một cảnh trong War and Peace do Mel Ferrer đóng. Tôi không phải là Napoléon, nhưng đang là kẻ chiến thắng phía bạo lực, và thằng bạn tôi đang chạy lùi về sau. Chưa bao giờ cảm phục một người trong đời đến như vậy.
Một viên đạn nào trúng nó, tôi thấy nó ngã quÿ, Cảnh sát dã chiến nhào tới, tôi thấy cánh tay nó đưa lên vùng vẫy, những cánh tay cứng rắn nhưng tài hoa – Những ngón tay ngày xưa mỗi khi diễn tả ý nghĩa hay đọc một câu thơ, thường hoa lên trước mắt tôi:
– Đem tình thương dựng nên đời,
– Không tro tàn, bếp lạnh…
– Mỗi độ xuân sang rộn tiếng trẻ thơ cười.
Câu thơ mở đầu cho đặc san Chỉ Đạo của Thủy Thủ được nó ngâm đi, ngâm lại nhiều lần, những ngón tay dài kia theo câu thơ chuyển động trước mắt tôi. Nhưng bây giờ chỉ cònlà những ngón tay tuyệt vọng. Dinh ơi!! Tôi kêu tiếng đau đớn trong lòng.
Từ thuở bé tôi vốn không thích làm chuyện lớn, nhưng tôi với nó chơi thân với nhau vì cùng thái độ thiết tha với những điều mình yêu quý. Những ngày ở Đà Nẵng tôi và nó chưa thân tình lắm; nhưng kể từ những năm về sau, lúc Dinh về ở tại căn phòng nhỏ cạnh cầu Bạch Hổ – Huế, chúng tôi mới thật gần nhau. Căn gác nhỏ trong mùa mưa lạnh buốt như thỏi đá, gió từ sông thổi lên luồn qua khe cửa trống trải lồng lộng. Nó ngồi như kẻ điên, một thứ điên tỉnh táo, tội nghiệp, lảm nhảm kể cho tôi nghe cảnh người ta vớt xác đứa em gái độc nhất của nó… Đứa bé gái tóc dài, mắt đen, mười hai tuổi, thông minh và xinh xắn như nàng tiên nhỏ. Nó kể cho tôi nghe cảnh người ta kéo xác em nó vào bờ nó ôm thân thể nhỏ bé ấy vào tay, bế xác em đi thất thểu trong trời đông u ám. Những câu chuyện rời rạc về người cha, một người gác cổng xe lửa bị lao xương, đứa em trai bị tê liệt lâu lâu lên cơn một lần giật bắn người, sùi bọt mép! Những câu chuyện đó lập đi, lập lại hoài bằng giọng nói… Không, bằng những tiếng hú thất thanh, tuyệt vọng như loài chó bị trấn nước. Nhưng trong những ngày tháng thê thảm đó, tôi vẫn chưa hề nghe nó một lần than vãn. Không phải là một thái độ thách đố kịch cỡm, nhưng với một can đảm dũng mãnh, Dinh vẫn chú tâm dịch cho hết cuốn Condition Humain, vẫn nuôi dưỡng những hoài bão tửơng như chỉ là huyền thoại, nhất là nói về thơ một cách si mê, cùng với tình yêu của một người con gái tên Hà. Sau này có gặp những cảnh đời khắt khe, tôi vẫn cắn răng chịu đựng vì nghĩ đến Dinh, một người bạn dị biệt, tài hoa và can đảm đáng kính phục.
Từ thời gian ấy trở về sau này, tôi không được tin tức gì về Dinh cho đến ngày hôm nay. Không biết vì một chủ quan nào, tôi vẫn nghĩ rằng Dinh không thể là một người Cộng sản thuần thành được. Đấy chỉ là một nghệ sĩ mang nhiệt tình vào đời sống và ấp ủ hoài bão dậy quê hương lớn lên. Tôi tin chắc như vậy. Dinh ơi, lâu quá tao không gặp mày, nhưng tao vẫn nhớ lá thư tình dài hơn hai mươi trang giấy học trò của mày. Nhớ để nghĩ rằng đấy tuy là tình yêu lãng mạng của tuổi mới lớn, nhưng đồng thời xác định nỗi thiết tha của mày, lòng của một người luôn luôn muốn sống chân thật. Mấy năm sau này dù mày có vào khu ra báo cho Mặt Trận nhưng tao vẫn nghĩ rằng đấy chỉ là một thế sống trong giòng đời sôi nổi và đam mê của mày. Không có một chủ nghĩa Cộng sản nào trong mày hết, chỉ có một lòng tin: Đem tình thương dựng nên đời… Phải thế không Dinh? Tao là kẻ bông lông, lếu láo ngay cả trong tư tửơng, đối với tao chẳng có gì đáng để gọi là lý thuyết và chủ nghĩa. Nên hình ảnh của mày để tao nhớ chỉ là những buổi chiều mùa đông, mưa giăng kín mặt sông, mày làm thơ tặng Hà viết vào cuốn nhật ký của tao…- Từ đó xa em đời ở trọ…
Mày chỉ nên làm gã thi sĩ của tình yêu, của lòng NHÂN. Ai có thể biết được một tương lai sau này, tao trở thành một tên lính chứng kiến lúc mày ngã xuống cho một quê hương tốt đẹp chỉ có nơi hư vô.

Tháng 7-1966. Đà Nẵng.

Ba dẻm với trăng sao

sangtao.org

Thơ Hồ Đình Nghiêm

Posted on 24/02/2017  

Post by Sơn râu 3 Mar 2026

Trăng lên rồi đó anh nờ, noái chi thì noái em về cả mạ la.
Túi ni vườn rộng gió lùa, ngó quanh ngó quất lẻ mình sao hôm.
Có người tên Sao ngồi dưới hiên Trăng
Răng như cặp đôi hoàn hảo thiệt xứng tầm
Ví như hằng nga bắc đẩu nghe thêm ốt dột
Chuyện trăng sao thì nói răng cho vừa
Cứ để cho nàng “múc ánh trăng vàng đổ đi”
Hãy để cho em “ra đứng bờ ao trông sao lặn” 
Anh thủng thẳng chuyện chi cũng còn có đó
Trong hồ cá dưới chân bèo đực rượt cái
Lá rau thơm rướn mình hứng giọt mưa tuôn
Bày giấy viết văn năng ôn võ siêng luyện
Chừ già rồi thú điền viên có nhiêu đây
Đau lưng mỏi chắc là chuyện thiên hạ
Cá cái có đá cá đực cứ mược kệ bây
Mây trên đầu náo loạn làm tóc bạc
Nghiệm ra đời e mọi sự tuỳ duyên
Đi trên đường khi không tiếng ai kêu giật giọng
Sướng chi đâu tự nhiên có bạn đồng hành
Lột dên hư xú-báp mòn bố thắng yếu bu-ri
Nửa lát bánh mì cũng là một nửa sự thật
Mềnh bây chừ như xe nuốt vạn dặm
Chỉ còn năng tiếng bóp còi tự sướng lỗ tai
May mà chưa lú lẫn ông nói gà bà nói vịt
Bà ăn nem tui cũng bỏ chả nguyện thời theo
Cứ xấn vô quán o Mười hạ hồi phân giải
Chảy nước mắt đọi ớt xé họng thuỷ chung
Dễ sợ hung, bún bò cay chết cha mệ nội!
Ác đức bất nhân mang lời Lão Tử ra nhại
Cái ni mà nỏ cay thì còn chi là bún Huế
Đạo mà dễ nuốt thì sao gọi là đạo được!
Vẫn bụng đói chuyến đi dài mải mê
Tàu vô ga xe tới bến xuống phi trường
Không email chẳng facebook toàn sương khói
Nhưng hư thực nào dễ lấp nổi bài thơ
Nếu không thơ thì bằng lòng chữ ba dẻm
Thưa thốt đôi điều như bóng nhạn vẫn còn sung
Trang vở trắng khi mô cũng chờ chực
Chỉ sợ một hôm mực trong viết bỗng cạn giòng
Còn nước còn tát nôm na còn chút lực
Đợi tối lửa tắt đèn đường đột hù san diego.

Hồ Đình Nghiêm

231

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 10/12/2018 

Post by Sơn râu 3 Mar 2026

Thời nhỏ, tôi là học trò kém. Kém là chữ cô dùng, không như những người khác đều kêu: Đồ học dốt! Thấy chưa hả, lại thòng thêm chữ “đặc”. Dốt đặc là chi? Tôi nào có thông minh để hiểu thấu. Chỉ biết trong mấy nồi chè của o quen mặt thường gánh vô sân nhà bán có hai loại: Chè đậu ván đặc hoặc đậu ván nước. Con nít kêu đậu ván đặc là chè cứt mũi và tôi vẫn thích ăn đặc (sền sệt) hơn là nước (lỏng bỏng).

Con Nữ, tên họ đầy đủ là Trần Lê Trinh Nữ, học cùng lớp, ngồi bàn đầu đã khai mở trí óc tôi: Dốt đặc vì mi đặc biệt dốt, dốt một cách đặc biệt. À, té ra là rứa. Từ bữa ni trở về sau tau kêu mi là Nữ đẹp đặc, vì mi đặc biệt đẹp, có sướng hung không? Trinh Nữ nguýt: Đã dốt còn bày đặt ba trợn. Liệu hồn, tau mét anh tau đánh cho mi sặc gạch.

Trường Tiểu học Trần Quốc Toản nằm gần Trung học Hàm Nghi. Anh con Nữ học lớp đệ Lục bên đó vẫn thường ghé đón em gái. Học trò ở bậc tiểu học thì rõ là áo xống chỉ dùng để che thân, đồ tam toạng vá chùm vá đụp màu này chen màu nọ thảy trông không chướng mắt; nhưng mà lớn đôi chút, khi đã “nhảy” vô được trường Hàm Nghi, mấy trự nam sinh đều diện đồng phục le lói áo trắng bỏ vô quần dài xanh đậm, có thêu bảng tên trên túi áo ngó đường bệ rất dễ nể. Chọc con Nữ mà lỡ đến tai anh hắn thì ắt lôi thôi lắm, cứ sợ bị đứa lớn con cao hơn cả cái đầu nhảy ra chận đường, vất cặp-táp xuống rồi bụm tay tẩn một trận quắn đít thì làm trò cười cho chúng bạn rắn mắt, chảy máu cam làm loà làm lện pha trộn với nước mắt ắt chỉ biết chửi thầm: Đồ ba de, chơi kiểu chi mất dạy rứa bây!

Trong các món, tôi rất ngán môn toán. Từ ngán sinh ra sợ, sợ đẻ ra dốt (đặc). Môn luận văn nếu có dốt thì cũng nên châm chước cho rằng dốt vừa phải, dốt lỏng. Cô ra đầu đề: “Em hãy tả về người em yêu thương nhất nhà và hãy trình bày tình cảm ấy ra”. Ngồi cắn bút một chặp thì chữ tuôn trào, lè lưỡi mà viết xuống: Ở nhà, ba mạ em có nuôi một con mèo và một con chó. Con mèo em đặt tên là Nữ, còn con chó thì kêu bằng Đực. Con Đực ni in tuồng không phải trời sinh ra vì hắn không biết sủa người lạ, bạ ai cũng chạy theo vẫy đuôi, chẳng biết giữ nhà chút chi cả, không đúng như tấm bảng ba em gò chữ viết: “Coi chừng chó dữ”. Còn con Nữ thì nhác chi nhác vô hậu, chuột đứng ngay trước mũi có vễnh râu lên hắn cũng làm bộ giả lơ. Nhưng được cái là hắn thích em ve vuốt, buổi túi Nữ ưa phóc lên giường em nằm, đúng như câu “Giỡn mèo, mèo lờn mặt”. Nếu cô biểu em thương con mô nhứt thì thiệt khó mà trả lời cho ra đầu ra đuôi. Một con ưa chạy rông ngoài đường còn một con thì ưa lim dim việc ngủ ngáy. Em rất muốn có một con chim chích choè hay con chào mào đứng hót trong lồng, ba em noái mi học giỏi thì tau mới mua cho. Nếu có, khi nớ em sẽ thương con chim nhất nhà.

Cô phê mực đỏ: “Lạc đề! Trợn trạc không chịu đọc kỹ đầu đề. Đã lâu, học lực trò vẫn chưa thấy có chút tiến bộ, thiệt uổng công cô từng uốn nắn!”. Và cô vị tình cho điểm 1. Lớp có 42 trò tôi luôn khoanh vùng từ số 40 trở đi, ba phen leo lên con số 35 dù không phải đặt đít ở xóm nhà lá, nơi mà bọn “vai u thịt bắp” luôn chiếm cứ hai bàn cuối lớp. Riêng bài tả cảnh tả tình dài cả trang giấy vở của Trinh Nữ thì được 10 điểm, cô chọn để đọc cho cả lớp nghe. Cái mặt Nữ được dịp vất lên trời, coi trời bằng vung, hiu hiu tự đắc, nhưng ngộ ở chỗ là ngó không dễ ghét chút mô, vì tình thiệt mà nói cái đầu tóc cắt kiểu “bum bê” nọ rất ăn với khuôn trăng múp máp, ba phần sáng choang bảy phần chảu lảy. Tức cười ở chỗ là ngay cả cô giáo mà cũng mò không ra, thui chột trước chữ chảu lảy. Cô hỏi: Em học mô ra hai chữ kỳ khôi thức nớ? Dạ thưa cô, em nghe mệ em nói. Mệ em lúc mô cũng đòi hun em, cho mệ làm một miếng, ai đẻ mi ra mà cái mặt chảu lảy chộ bắt dễ sợ a rứa. Vậy thì chữ đó mang nghĩa chi? Dạ thưa cô, nghĩa là bộ vó bắt con mắt, đẹp ác ôn, đẹp ác liệt. Đẹp đặc biệt. Đẹp đặc.

Tuy dốt đặc, nhờ trời tôi cũng thi đậu vô trường Hàm Nghi, tiền thân ngôi trường này mang tên Quốc Tử Giám, chuyên dạy dỗ mấy đứa con quan hoặc quý tử các vị cận thần có công trạng với nước nhà. Học đâu thì gân cổ ra bệnh vực nơi mình dùi mài kinh sử, bên hữu ngạn có ngôi trường Quốc Học nó ngon lành chỗ mô mà ai cũng ưa nhắc tới, hơn cả Hàm Nghi đóng đô tả ngạn là tại vì răng? Nghe rất dễ giận. Điểm duy nhất tôi thích Quốc Học là vì nằm sát bên hông nó, cách con đường nhỏ là trường Đồng Khánh có Trinh Nữ vừa đầu quân vô. Đội nón lá bài thơ, hai tà áo trắng vướng chân đi, dù ngực còn chín giú, chưa ra cau nhưng cái mặt Nữ đã coi mòi tra cảy. Chữ ni cũng nghe mệ tôi nói, nôm na là tra có hột, là già đời, là khôn nẻ vỏ. Thưa cô, mệ em cũng ưa dùng chữ chèm bẽm. Chữ ni thì cô biết, nghĩa là phơi mặt , nằm sờ sờ ra đó, có đúng không? Thông tín bạ gửi về nhà em tìm cách thu dấu hay để nó nằm chèm bẽm trên bàn cho ba mạ em thấy? Ui, cô hỏi câu chi mà nghiệt quá, tình cảm em dành cho cô bấy chầy e dễ bị sứt mẻ tới nơi.

Nghe đố nì. Số 231 là chỉ vô cái chi?

Là số vùng, nằm trong ngoặc đơn, ở đầu dãy số điện thoại khi mình gọi viễn liên. Đang ở vùng mô đó? Có cách trở xa ngái với chốn ni không?

Nói cho đúng thì mới bật mí.

Để coi. Là ngày 23 tháng 1 lúc xưa mình mân mê bàn tay Nữ. Nhớ dai hung hè?

Nữa, người chi mà cứ quen thói ăn mắm ăn muối ưa nói tầm bậy tầm bạ miết. Thiệt là nắng mấy hoa cũng không héo!

Tạm gát việc giải phương trình toán học nhiều ẩn số đi, Nữ biết tỏng là mình dốt toán mà, từ nhỏ tới lớn cũng chưa lỏng được chút chi. Dốt đặc là… nghề của chàng.

Cứ chưa chịu mở mắt dòm đời thương đau? Ăn ở chi tệ lậu rứa bây!

Ừ, tệ lậu thuở mô chừ. Nhưng cái ngày 23 tháng 1 nọ mình có chép trong vở bốn câu thơ của thi sĩ Nguyễn Đức Sơn để khắc ghi tâm trạng hoảng hốt:

“Năm mười bốn có lần anh ngó thấy
Em nằm truồng ngoe nguẩy cuối vườn trăng
Hồn thảo dã trong đêm vừa thức dậy
Khắp bầu trời ướt rượt cả lông măng”.

Cậm hèn chi phải. Học không lo học cứ đi sưu tầm ba chuyện quàng xiên của người lớn. Ông anh Nữ nói, cái thằng nớ tiếng là học dốt nhưng cái mặt hắn ngó cũng chảu lảy, vì rứa cứ thập thò ngoài cổng mà tau không nỡ chạy ra khỏ cho hắn u đầu. Coi bộ cu cậu muốn tìm cách hối lộ, vái tau tôn làm sư huynh, anh của hiền muội e thẹn đang nép sau tường cao kín cổng.

Ủa, bộ anh Quân không kể chuyện thằng chảu lảy xớn xác chạy xe Yamaha tới rước “anh vợ tương lai” đi uống cà phê hay răng? Anh ấy còn dụ khị, mi có câu thơ chi ác liệt đọc ra cho tau ghi để tán con Nguyệt người đẹp trường Bồ Đề…

Thiệt à? Có chuyện nớ nữa à? Rứa thì trong nhất thời người dốt đặc có đáp ứng được lời đòi hỏi của anh Quân không?

Dễ như ăn ớt. Vì mình thì lúc mô cũng có thủ sẵn trong ruột cả chục câu lận. Toàn của các thi bá tiếng tăm. Lần nớ mình chọn hai câu của Bùi Giáng:

“Cổ tay em tròn như đẵn mía
Anh về thèm ngọt đến trăm năm”.

Nguyệt bỏ anh Quân đi lấy chồng. Số chị ấy cực, ly dị chồng xong lại vui duyên mới với một ông say sưa mang tật ham cá độ bóng đá. Chị Nguyệt từng làm giáo viên, nay đã nghỉ hưu. Sở dĩ Nữ hỏi có biết ám danh con số 231? Vì chị Nguyệt vừa gửi cho xem tin một cô giáo mang tên Thuỷ ở Quảng Ninh đã tát vào mặt học sinh tới 231 lần…

Đồ ác đức bất nhân, đồ vô hậu kế đợi! Bà này kiếp trước làm nữ võ sĩ quyền Anh hay sao á? Trong Kinh thánh có ghi câu: “Nếu ai vả bên má phải của con, thì hãy đưa má bên kia cho nó nữa”. Sao lại có hạng cuồng điên say máu vả vào mặt con người ta lên tới con số đến Chúa không tin Phật cũng á khẩu.

Chị Nguyệt thì bảo là trong phim bộ của Tàu có câu: Hạng người như mi khi đẻ con sẽ không có lỗ đít!

Chỉ là một ác khẩu đi trù ẻo người ta, nhằm nhò chi với người xứ Việt, trăm họ đều hạnh phúc khi chổng khu đi ẻ vất ngoài đồng. Khi xưa mình học kém nhưng thầy cô mô có đánh kiểu tàn canh gió lạnh như rứa, đánh tới hồi gãy tay mới thôi hay răng? Lý lịch cô giáo Thuỷ nọ chắc ba đời đều có người công tác ở bộ công an? Nghe thêm tin là có cô còn bắt trò uống cả nước ngâm giẻ chùi bảng đen nữa, giáo dục kiểu chi hang động rừng rú quá, kêu trời không thấu!

Hết chuyện nói hay răng mà mang thời mạt pháp này ra so sánh với thời hoàng kim xưa cũ của bọn mình. Nì, có khi mô buồn tình mà nhớ lại trường xưa lối cũ không?

Như cơm bữa, nhớ mấy cái đường kiệt nhỏ xíu, nhớ hai dãy hàng rào hẹp té đỏ thắm màu hoa dâm bụt, nhớ cái hình tam giác cân hở da bên eo, dưới là lưng quần luồn dây thun của Nữ…

Đó, đó… Không khéo mà giờ ni bắt làm luận thì trò chắc được điểm 10 dù có bị lạc đề. Vài ngày nữa Nữ chạy đi mua vé máy bay, mua trễ sợ bị chặt đẹp.

O tính đi mô rứa o?

Đi Việt Nam, những ai muốn về quê ăn tết đều hối nhau sớm đi đặt vé cả. Nếu thích làm bạn đường thì Nữ sẽ mua thành hai vé, nói trắng ra là Nữ bao cho, từ A tới Z.

…..

Vì răng mà làm thinh làm tịnh, không nói chẳng rằng chi cả rứa eng?

Nhớ khi xưa mỗi khi tan học Nữ thường quay đầu lui doạ: Tau đi lối ni có hoa có bướm, mi đi ngả nớ có ma quỉ chận đầu… Thôi, cho mình ngồi yên một chỗ mà nhớ lại một thời thơ mộng đã vuột mất.

Nghĩa là sao? Sợ gặp ma quỉ? Ngại vấp bẻ bàng?

Người về ta chẳng cho về
Ta nắm vạt áo ta đề câu thơ:
Thương cha nhớ mẹ thì về
Nhược bằng thương kiểng nhớ quê thì đừng.

Mình thật thà như rứa không chừng mà bị Nữ mắng cho. Cũng chẳng sao vì mình lỡ làm đứa học trò dốt, mình lạc hậu, mình dị ứng với nơi chốn từng soán đoạt hết bao niềm vui của bọn mình, đổi trắng thay đen, chôn xanh để bồi đỏ.

Trò ni cứng đầu quá!

Dạ thưa cô, nếu em được phép vả vào hai má của cô Thuỷ tới 231 lần thì có tổn thất tốn kém bao nhiêu em cũng vui vẻ tháp tùng cô một chuyến ra tận Quảng Ninh. Hơn bốn mươi năm qua em “tu” gần đắc đạo rồi thì hà cớ gì phút này nông nổi nghe theo lời cô vẽ đường cho hươu chạy. Trong đời chúng mình chỉ duy một lần được đi trên lối có hoa có bướm thôi!

Trinh Nữ ngụ ở bên Houston. Người học trò giỏi năm xưa bạn tôi vừa mất chồng, Nữ hiện vẫn đi làm, nuôi hai cô con gái chưa đủ tuổi trưởng thành. Nữ quyết tâm từ chối ý tôi muốn vượt biên sang bên đó thăm cô, tôi không nghĩ là Nữ giận khi tôi chẳng muốn theo cô về thăm lại đường xưa lối cũ. Tôi thưa với Nữ, rằng chúng ta mỗi người có riêng một quan niệm sống và tôi mang thứ suy nghĩ là tại sao tự mình lại dây vào những phiền muộn đắng lòng khi về đó chứng kiến bao cảnh sống đau lòng mà người dân sa cơ lỡ vận mãi nhẫn nhục chịu đựng trong câm nín. Tôi cũng chẳng vin vào cớ gì để trách Nữ được, hãy thực hiện những việc mà nó chẳng làm mình vấn vương tới ăn năn hoặc mặc cảm các thứ. Cuối email, tôi thành thật chúc Nữ có được chuyến đi dài ngày gặp được cảnh thuận buồm xuôi gió. Và chấm dứt với hai câu của Bùi Giáng:

“Biển dâu sực tỉnh giang hà
Còn sơ nguyên mộng sau tà áo bay”.

Hồ Đình Nghiêm

Ngày Ta Bỏ Núi

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 11th Jun 2021

Post by Sơn râu 3 Mar 2026

Lời giới thiệu: Hồi ký “Ngày Ta Bỏ Núi” đã được viết cách đây 16 năm. Nhưng khi phổ biến, nó đã bị cắt xén và che giấu nhiều điều. Tác giả Thiếu tá Vương Mộng Long đã bỏ công nhuận sắc lại toàn bộ bài viết này. “Ngày Ta Bỏ Núi” với đầy đủ chi tiết từng ngày, từng sự kiện diễn ra trong suốt cuộc lui binh, kể cả những bí mật mà trước đây bị che đậy và giấu nhẹm.

Kỳ 7

Còn Thiếu tá Trần Ðình Ðàng, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân lại là sĩ quan thâm niên hơn tôi nhiều. Anh Trần Ðình Ðàng xuất thân Khóa 15 Võ Bị và phục vụ trong binh chủng Biệt Ðộng Quân từ những năm binh chủng mới được khai sinh. So với Thiếu tá Ðàng tôi là đàn em rất xa, về cả hai xuất xứ, Biệt Ðộng Quân cũng như Võ-Bị, vì tôi xuất thân từ Khóa 20 Võ-Bị.

Tôi xin ý kiến của người Niên Trưởng dễ mến này về việc tôi được chỉ định chỉ huy liên đoàn. Tôi hỏi anh có trở ngại gì khi anh phải nằm dưới sự chỉ huy của tôi không, thì anh Ðàng trả lời một cách khẳng khái,

– Chú chỉ huy là phải rồi! Chú thông thuộc địa thế Vùng 2. Chú được cấp trên, cấp dưới tín nhiệm. Anh sẽ nghe theo lệnh của chú. Yên chí đi!

Tôi siết tay anh Ðàng thật chặt,

– Cám ơn Niên Trưởng! 

Trong cơn nguy khốn, chúng tôi thấy thương nhau hơn. Trong hoạn nạn, chúng tôi thấy gần nhau hơn.

Sau khi nhận lệnh chỉ huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân, tôi đích thân kiểm điểm lại quân số các ban, ngành của bộ chỉ huy liên đoàn thì phát giác ra, chỉ có Ban Truyền Tin là hiện diện khá đầy đủ, cái máy viễn liên PRC 74 còn đủ điện trì và vận hành tốt.

Ban Quân Y chỉ còn một hạ sĩ quan cùng hai binh sĩ. Ông Trung úy Nguyễn Ðăng Tri, Y sĩ trưởng của liên đoàn đã vắng mặt từ trước ngày di tản.

Ðại Ðội Trinh Sát của liên đoàn cũng không còn người nào, không biết ông Ðại đội trưởng là Ðại úy Nguyễn Văn Song và đại đội này đang ở đâu.

Tôi tập họp tất cả quân nhân còn lại của bộ chỉ huy liên đoàn thành một trung đội, rồi cho trung đội này đi theo cánh quân đoạn hậu của Thiếu tá Trần Ðình Ðàng.

Cũng từ đêm 28 tháng Ba năm 1975, tôi không còn liên lạc được bất cứ đơn vị nào của Quân Ðoàn II.

Thì ra, thời gian này Thiếu tướng Phạm Văn Phú và Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II cùng các đơn vị khác đang bị Việt-Cộng truy kích đánh đuổi tơi bời, phải chạy từ tỉnh này tới tỉnh khác. Tình hình chỉ tạm yên sau khi lãnh thổ Vùng 2 Duyên Hải đã được sáp nhập vào Quân Khu 3 đặt dưới quyền chỉ huy của Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Ðoàn III.

Sáng 29 tháng Ba trong khi đánh răng rửa mặt, tôi bất chợt nhìn thấy một cái đầu hói nằm chung với mấy anh lính cận vệ của tôi trên một cái poncho.

Tôi hỏi Binh nhứt Bích, người lính nấu cơm cho tôi,

– Thằng đầu hói nằm kia là ai vậy Bích?

– Dạ! Trình Thái Sơn, người đó là Thiếu tá Tài. Tối qua ông Tài tới poncho của tụi em, xin vào ngủ chung, ổng nói đã xin phép Thái Sơn rồi!

Tôi ra lệnh,

– Kêu ông ta dậy! Nói với ông ta lên gặp tao!

Năm phút sau, Thiếu tá Nguyễn Hữu Tài chân còn chưa mang giày, tới đứng nghiêm trước mặt tôi, miệng run lập cập,

– Ðêm qua tui lên xin gặp Thái Sơn để trình một việc quan trọng thì Thái Sơn đã ngủ rồi, tui phải chui vào nằm với tụi cận vệ của Thái Sơn chờ sáng nay gặp mặt Thái Sơn.

Tiếp đó ông Tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân nói một hơi,

– Trình Thái Sơn! Tinh thần binh sĩ của tiểu đoàn tôi xuống thấp lắm rồi! Một thằng đại đội trưởng của tôi đã dẫn hai thằng lính dưới quyền nó trốn đi mất tiêu! Thái Sơn gắng liên lạc với thượng cấp xin tiếp tế lương thực cho anh em. Anh em tụi tôi đói quá! Thái Sơn ơi!

Nghe xong, tôi chỉ biết khích lệ tinh thần ông Tài bằng vài lời,

– Giữa rừng già thế này khó tìm lương thực lắm. Ông nói với anh em, chịu khó ăn rau tàu bay cầm hơi. Chắc cũng không còn xa làng xóm lắm đâu, gắng sức lên! Ðiều quan trọng nhất là cố giữ vững tinh thần, đừng vì quá đói mà thối chí, nản lòng, đào ngũ. 

Những ngày tiếp theo, dưới quyền chỉ huy của tôi, liên đoàn tiếp tục cuộc hành trình đã dự trù. Theo hướng Ðông Nam, chúng tôi băng rừng lội suối nhắm về quận lỵ Di Linh và thị trấn Blao, cứ cặp theo Liên tỉnh lộ 8B thì sẽ không sợ lạc. Trên đường chúng tôi đi qua chỉ có tre, mây và lau sậy; trên đường chỉ có dấu chân voi.

Ðịa thế ở đây tôi quen lắm. Thời 1968 tôi đã lặn lội, lùng sục không sót một ngọn đồi nào trong vùng này. Ðã bao lần, tôi qua lại trên dải đất từ bờ Ðông sông Ða-Dung qua Quốc lộ 20 tới Cao nguyên Gia-Bắc giáp giới quận Thiện-Giáo, Bình-Thuận.

Ngày đó, Trung tá Bùi Văn Sâm Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân đã biệt phái Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân của Ðại úy Hồ Khắc Ðàm (K16VB) cho Task Force South của Tướng Trương Quang Ân, Tư lệnh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh. Tôi lúc đó là Ðại đội trưởng Ðại Ðội 1/Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân dưới quyền anh Ðàm.

Chúng tôi được trực thăng Hoa-Kỳ tải vào rừng. Tìm mục tiêu, diệt địch. Leo hết ngọn đồi này tới ngọn đồi khác.

Mười ngày sau chui ra bãi trống nhận tiếp tế gạo, mắm. Rồi lại leo lên trực thăng, đổ xuống bãi khác.

Lại tìm mục tiêu. Lại leo hết đồi này tới đồi khác. Lại tiếp tế…

Cứ thế, mỗi đợt cả tháng trường, chúng tôi lần mò trong núi. Chỉ những anh bị thương hay sốt rét là có dịp nhìn thấy phố…

Bảy năm sau, tôi lại lội trên những con đường mòn ngày xưa tôi đã dẫn quân đi qua.

Bảy năm sau, tôi vẫn nhớ đường nào lên Ðại-Nga, hướng nào về Tân-Bùi, ngả nào qua Tân-Rai.

Lương thực của chúng tôi đã gần cạn. Giầy vớ, áo quần bắt đầu te tua.

Ngày 30 tháng Ba năm 1975, mặt trời vừa lên, trong máy nội bộ của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã có tiếng người trên trực thăng hối thúc:

“Yêu cầu Thái Sơn kiếm bãi đáp nhận chỉ thị gấp!”

Lúc đó chúng tôi đang ở gần một bãi ngô cũ. Chiếc trực thăng sà xuống. Người phi công quơ tay ngoắc tôi lia lịa. Tôi bước lên càng máy bay để nghe anh ta nói,

– Tôi được lệnh quân đoàn lên đón Thiếu tá về Ðà-Lạt.Thiếu tá lên tàu mau đi!

– Thế còn liên đoàn thì sao?

– Chúng tôi chỉ “rescue” một mình Thiếu tá thôi! Những người khác, bỏ! (Rescue: Cứu)

Tôi xua tay,

– Thôi! Nếu thế thì tôi không đi đâu! Tôi đang chỉ huy cả ngàn người. Tôi không mặt mũi nào bỏ đi một mình. Anh về báo với quân đoàn cố gắng bốc tất cả liên đoàn giùm tôi!

Nói xong câu đó, tôi bước xuống đất định quay đi thì người phi công cởi dây đai, mở cửa phi cơ. Anh nhảy xuống đất đứng nghiêm trước mặt tôi. Giơ tay chào tôi, anh nói lớn,

– Tôi không ngờ giờ này quân đội ta còn một vị chỉ huy đáng nể như Thiếu tá! Thiếu tá cho phép tôi chào kính phục ông và nói lời vĩnh biệt ông.

Người phi công nắm tay tôi lắc lắc mấy cái rồi anh buông tay tôi ra, leo lên buồng lái. Cả phi hành đoàn giơ tay vẫy vẫy giã từ. Tôi cũng giơ cái bản đồ vẫy lại. Chiếc trực thăng cuối cùng của Vùng 2 khuất dần ở chân mây.

Binh nhất Y Don Near mang máy truyền tin nội bộ của tôi lúc nào cũng đi sát bên tôi. Don đã nghe tất cả những lời tôi và viên phi công đối đáp với nhau. Chắc nó đã kể lại chuyện này cho bạn bè.

Trưa hôm đó, lúc dừng quân nghỉ chân, vài anh lính Rhadé, Jarai đã đến xúm quanh người chỉ huy của họ,

–  Ông Thiếu tá ơi! Ðừng bỏ tụi em, tội nghiệp!

–  Ừ! Thiếu tá không bỏ các em đâu! Thiếu tá lúc nào cũng ở bên các em. Chúng mình sống chết có nhau!

Nhìn những giọt nước mắt theo nhau lăn trên những gò má đen đủi của thuộc cấp, tôi thấy lòng mình ấm lại.

Chúng tôi đã cạn hết lương thực. Trên đường đi, chúng tôi phải tấp vào những nương rẫy cũ kiếm rau tàu bay, củ chuối, nấu ăn cho đỡ đói. Răng người nào cũng đen thui vì nhựa chuối rừng.

Ðiều khổ nhất phải chịu đựng là, sau khi ăn hoa chuối, cây chuối hay củ chuối thì chất xơ của chuối làm cho chúng tôi mắc bệnh táo bón. Mỗi khi đi tiêu, chúng tôi phải ngồi ngâm hậu môn xuống nước, lấy cây cạy phân ra. Hậu môn đau rát lắm. Ði tiêu xong người nào cũng bước cà-náng, hai hàng.

Buổi trưa, tôi đang ngồi bên đường chờ bát canh rau tàu bay của chú Bích thì Thiếu úy Ðặng Thành Học rón rén tới gần. Học thì thầm,

–  Có con gấu to lắm, trên cây. Thái Sơn cho phép bắn làm thịt nghe?

Tôi sáng mắt lên,

–  Ừ! Bắn đi!

Học vui vẻ phóng về hướng rừng. Lát sau chú quay lại, mặt tiu nghỉu,

–  Thấy con gấu trên cây trong bụi lau, thằng lính gác muốn bắn, nhưng lại sợ Thái Sơn la. Ðợi khi em xin phép xong thì con gấu đã chạy mất tiêu rồi!

Tôi thì buồn vui lẫn lộn. Buồn vì mất ăn một bữa thịt gấu. Vui vì tới giờ phút này, tinh thần kỷ luật của đơn vị tôi vẫn chưa bị lung lay.

Chúng tôi đang ở bên bờ một con suối lớn. Dưới nước, những con cá đuổi nhau có ngời. Tôi chợt nghĩ ra một ý lạ: Ðốt cá!

Tôi gọi Thiếu tá Tài và Thiếu tá Ðàng sẵn sàng. Tôi ra lệnh cho 3 tiểu đoàn tản xa theo dòng nước.

Mỗi tiểu đoàn trấn giữ một khúc suối. Nơi đầu nguồn của mỗi đơn vị chỉ cần đốt 3 quả lựu đạn M26 là liên đoàn có một bữa cá no nê.

Tôi học được cách “đốt cá” từ khi còn ở Ðại Ðội Trinh-Sát của Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân.

Muốn đốt cá thì làm như sau:

Vặn phần đầu của quả lựu đạn ra, vứt đi.

Bẻ đầu một viên đạn M16 lấy thuốc súng đổ vào lỗ kích hỏa của trái lựu đạn.

Ðốt thuốc súng cho lửa xanh phụt lên.

Quơ qua, quơ lại quả lựu đạn cháy trong lòng nước. Hơi cay làm cho thủy tộc bị đui. Cá đen, cá trắng, lươn, cua, rùa, rắn, ếch, nhái, vân vân, con gì trong nước cũng nổ con ngươi nổi lên mặt nước.

Buổi chiều chúng tôi mỗi người được chia một lon Guigoz cá tươi. Sáng mai chúng tôi lại có sức để lên đường.

Ngày 31 tháng Ba năm 1975, chúng tôi đang ở trên một ngọn đồi cách Bảo Lộc trên dưới hai chục cây số. Từ trên đỉnh, chúng tôi nhìn thấy thung lũng dưới chân đồi là một mật khu trù phú.

Kế hoạch đặt ra như sau: Ðại Ðội 3/82 sẽ tiến sát, rồi bất thần đột kích khu doanh trại chính; mỗi tiểu đoàn sẽ cắt hai chục người tải lương thực về.

Kế hoạch đã được thi hành như dự liệu và không có gì trục trặc xảy ra.

Ðại Ðội 3/82 thanh toán mục tiêu rất nhanh.

Một cán bộ Việt-Cộng quần áo bảnh bao đang ngồi bên bàn, chờ ly cà phê phin nhỏ giọt thì bị một viên M16 ghim vào ngực.

Hai cán bộ đang cho lợn ăn trưa cũng bị mỗi tên một viên M16 vào ngực.

Mấy anh cán binh đang tưới cây trong vườn cũng bị mỗi anh một viên M16 vào ngực. Cái mật khu dưới kia là một trung tâm huấn luyện của Tỉnh Ðội Lâm- Ðồng Việt-Cộng.

Trung tâm có khoảng trên ba trăm khẩu súng gỗ và cả chục khẩu súng thật.

Có một khẩu cối 82 ly với một kho đạn.

Tên Việt-Cộng đang chờ uống cà phê có vẻ là cấp chỉ huy. Những tên khác có lẽ là bọn lo công tác hậu cần. Bọn bộ đội bảo vệ trung tâm đã xuất trại vắng.

Quân ta làm chủ tình hình một cách lẹ làng.

Có một tai nạn lúc xung phong: Hạ sĩ Nguyễn Ba trong toán tà-lọt của tôi đã lủi đầu vào một bụi tre. Một cọng tre khô xuyên vào mắt trái của hạ sĩ. Ðói quá, quên đau, hạ sĩ xung phong bắt được một con gà và một gốc sắn rồi mới chịu lấy khăn tay bịt một mắt rút lui lên đồi. Ăn xong bữa thịt gà, hạ sĩ mới nhận ra con mắt bị thương đang hành hạ anh ta. Cái cọng tre còn lòi ra khỏi hốc mắt Hạ sĩ Ba cả tấc. Quân Y liên đoàn không dám rút cọng tre khỏi mắt Ba vì không đủ phương tiện cứu chữa. Họ chỉ dùng kìm cắt cọng tre ngắn đi cho đỡ vướng.

Vốn là một tay viễn thám gan lỳ, người tà-lọt của tôi cắn răng chịu đau, không rên, không khóc. Những ngày sau đó, hạ sĩ đành quàng súng lên vai, hai tay luân phiên che mắt đi theo đoàn tùy tùng của Ðại úy Hoàn.

Tôi cũng quên dặn dò các cánh quân coi chừng bắn gà, bắn heo có thể gây đạn lạc trúng quân ta. Kết quả, đạn của Ðại Ðội 3/82 đã sượt qua cổ một anh lính của Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân, thay vì trúng đầu một con gà. Người trúng đạn bị thương nhẹ.

Toán tải lương thực sau cùng của liên đoàn đã rút lui an toàn.