Tầng đầu địa ngục

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Hải Triều

Post by Sơn râu 7 Mar 2026

Không một ai, kể cả những nhân viên tự do, muốn làm việc trong ngày Chủ nhật.  Họ đến sở làm với sự chán nản trong tâm hồn, những chuyến xe buýt vắng người hơn mọi ngày càng làm cho họ thêm chán nản, họ nghĩ đến cách làm cách nào để có thể ngồi hết một ngày đến sáu giờ chiều. 
Nhưng buổi sáng Chủ nhật hôm nay, quang cảnh Viện Khoa học Mavrino hoạt động hơn mọi ngày thường. Sau 10 giờ sáng có một dãy xe hơi theo nhau chạy qua cổng Viện. Bọn lính gác tới tấp đứng chào nghiêm. Những chiếc xe hơi bóng loáng chạy qua vườn trên con đường vừa mới được quét tuyết phủ, tới đậu ở trước cửa tòa nhà chính, những sĩ quan cao cấp với những cầu vai áo mang lon vàng đỏ rực rỡ bước ra khỏi ba chiếc xe đầu. Không chờ ai tiếp đón, những vị này đi thẳng lên văn phòng Viện trưởng Yakanov ở tầng lầu ba. Không một ai có đủ thì giờ để nhìn kỹ họ và để biết họ là những ai. Vài tù nhân kháo nhau rằng Tổng trưởng An ninh Abakumov đến với tám ông Tướng, nhưng ở nhiều phòng nghiên cứu khác, nhiều tù nhân vẫn không biết gì cả về đoàn quan khách sang trọng vừa đến. 
Sự thật chỉ bằng một nửa lời đồn: chỉ có Phụ tá Tổng trưởng Sevastyanov đến Viện cùng với bốn ông Tướng thuộc Bộ An ninh đi theo. 
Nhưng có nhiều chuyện bất ngờ xảy ra: Đại tá Kỹ sư Yakanov sáng nay chưa đến Viện. Người sĩ quan trực sợ hãi bỏ vội quyển tiểu thuyết y đang đọc vào ngăn kéo – y không có quyền đọc bất cứ sách báo gì trong giờ trực – và cuống quít gọi điện thoại đến nhà riêng của Yakanov, sau đó y đứng nghiêm báo cáo với ông Phụ tá Tổng trưởng rằng Đại tá Yakanov sáng nay khó ở vì chứng bệnh đau tim nhưng đang trên đường đến Viện. Trong thời gian đó Thiếu tá Roitman, Phó Viện trưởng, người phụ tá của Viện trưởng Yakanov, sửa lại bộ quân phục và đi như chạy trên những hành lang để tới trình diện với quan khách, y vội vã không phải chỉ vì luật lệ bắt buộc y phải vội vã như thế mà còn vì y ít có dịp gặp được các quan to, Yakanov tìm đủ cách ngăn chặn không cho y gặp được các vị thượng cấp. Roitman đã được biết hôm qua hai tù nhân Bobynin và Pryanchikov được gọi về Bộ để hỏi về việc gì và y đoán biết sáng nay các vị quan to ở Bộ tới Viện chỉ cốt là để kiểm soát công tác, y cần được gặp các quan để trình bày về việc làm của y trước khi Yakanov đến và nhận hết mọi thành tích. Dù chỉ mới ba mươi tuổi, Roitman đã được lãnh một giải Stalin về khoa học và y là người ngày đêm chỉ sống để làm việc phục vụ Lãnh tụ Tối cao. 
Mười vị quan to ngồi nghe Roitman thuyết trình về những dự án khoa học đang được thực hiện trong Viện xong chỉ có hai vị hiểu được y nói gì, tám vị kia chỉ ngồi trầm ngâm với một vẻ nghiêm trọng đầy bí mật. Mamurin, người được Oskolupov gọi đến, chỉ chăm chăm chờ dịp là cướp lời Roitman. Rồi Yakanov hấp tấp tới nơi. Sáng nay hai mắt Yakanov sâu trũng xuống với hai quầng đen, da mặt y tái nhợt như người đang đau nặng. Sau khi chào nghiêm, Yakanov ngồi xuống chiếc ghế cạnh tường. Cuộc thuyết trình của Roitman phải ngưng. 
Đám sĩ quan an ninh đứng hết ngoài hành lang trước cửa phòng, sẵn sàng chờ được gọi đến. Trong bầu không khí nghiêm trọng này, không ai để ý đến cửa Phòng Đồ hình được khóa kín liền trong mấy tiếng đồng hồ. 
Sau khi hội họp trong văn phòng Viện trưởng Yakanov, đám quan khách phân tán thành nhiều toán đi thăm các phòng. Chỉ có Phụ tá Tổng trưởng Sevastyanov cùng đi với Thiếu tá Roitman xuống Phòng Âm thính. Yakanov bận tiếp Oskolupov trong Phòng Số bảy. 
Trên đường đi, Sevastyanov hỏi Roitman: 
“Thiếu tá định dùng biện pháp nào tìm ra được tên ấy?” 
Roitman chỉ mới được biết về việc Viện Mavrino phải dò tiếng nói thâu được từ máy điện thoại để tìm bắt được một tên phạm tội ở Bộ Ngoại giao, nhưng năm phút cũng đã đủ để y sửa soạn được lời nói: 
“Thưa ông Tổng trưởng – Roitman nói – ở đây chúng ta có một giàn máy tuy còn đang thí nghiệm nhưng đã có thể dùng được. Chúng tôi tạm gọi máy đó là máy VIR. Tiếng nói của người ta được ghi lên giấy với những ký hiệu đặc biệt. Không tiếng nói của ai hoàn toàn giống ai. Cũng như dấu tay vậy. Và chúng ta có một chuyên viên tên là Lev Rubin đọc được những ký hiệu ấy…” 
“Lev Rubin? Hắn là tù nhân ư?” 
“Thưa vâng. Hắn là nhà ngôn ngữ học. Chúng ta sẽ đem tiếng nói của kẻ phạm tội in lên giấy rồi so sánh với tiếng nói của những kẻ bị tình nghi. Bằng cách ấy, ta sẽ tìm ra tên phạm tội”. 
“Hừm…” – Sevastyanov vừa nói vừa lắc đầu” – “tôi cần xin sự đồng ý của Đồng chí Tổng trưởng về việc dùng nhà ngữ học này”. 
“Vì vấn đề an ninh?” 
“Phải”. 
Vào lúc này, ở trong Phòng Âm thính, mặc dù mọi người đều biết rằng có Ủy ban Điều tra Kiểm soát từ Tổng Bộ đến Viện, vẫn chưa ai vượt khỏi được sự bất động của buổi sáng Chủ nhật để bắt tay vào việc, họ lười biếng mở những ngăn tủ chứa đầy những bóng đèn radio cũ, nhìn ngây lên qua cửa sổ và ngáp dài. Những thiếu nữ trong đám viên chức tự do đứng xúm lại ở những cửa sổ, bàn tán nho nhỏ với nhau. Trước khi Roitman và Sevastyanov tới Phòng Âm thính, những thiếu nữ ở đó đều đã được sĩ quan an ninh mời hết sang phòng khác. 
Nerzhin đang ngồi trong Phòng Âm thính. Trước vẻ bối rối quan trọng và nhộn nhịp của những người chung quanh. Nerzhin có cảm tưởng chàng làm một ông khách xa lạ hẳn với họ. Đây là lần thứ ba chàng vào Phòng Âm thính. Chàng không có việc gì ở đây cả, chàng đang nóng ruột chờ đợi đợi xe Maria Đen đến đưa đi gặp vợ và chàng vào đây để ngồi nói chuyện với Lev Rubin, Nerzhin ngồi dựa lưng lên thành cửa sổ, chàng khoan khoái thưởng thức khói điếu Belomor trong khi nghe Lev Rubin trình bày bài thơ về Moses vừa làm xong sáng nay. Rubin đã đọc bài thơ này cho Giáo sư Chelnov nghe nhưng anh không tin tưởng lắm ở khiếu thưởng ngoạn văn nghệ của ông giáo sư già ấy. Anh nồng nàn và quan trọng trình bày lại bài thơ với Nerzhin và hồi hộp chờ đợi Nerzhin khen ngợi. 
Đúng lúc ấy thì Thiếu tá Roitman hướng dẫn Phụ tá Tổng trưởng Sevastyanov vào phòng. Hai người đi thẳng tới chỗ Rubin ngồi. 
“Thưa Đồng chí Tổng trưởng … tôi xin giới thiệu nhà ngôn ngữ học Lev Rubin, người duy nhất trong Liên bang Xô Viết hiện nay đọc được những ký hiệu của tiếng người nói ghi trên giấy”. 
Rubin đứng dậy lặng lẽ cúi đầu chào. 
Ngay từ lúc nghe thấy tiếng Roitman nói đến “máy VIR” khi y và Sevastyanov còn đi ngoài hành lang, cả Rubin và Nerzhin cùng bất giác giật mình. Họ ngạc nhiên vì công tác nghiên cứu về tiếng nói của họ, từ trước tới nay vẫn không được ai coi trọng – những nhà khoa học đồng tù thường chỉ hỏi thăm họ về sự tiến triển của cuộc nghiên cứu này để cười nhạo họ – bỗng dưng được thiên hạ chú ý đến. Chỉ trong khoảng 45 giây đồng hồ cần thiết để cho Roitman đưa Sevastyanov đến bàn Rubin, với sự thông cảm tình hình rất nhanh đặc biệt của những người đã sống lâu năm trong tù, Rubin và Nerzhin cùng hiểu rằng như vậy là Rubin sắp trình diễn một cuộc đọc tiếng nói ghi trên giấy bằng ký hiệu, và mặc dù Rubin có thể đọc được, vẫn từng đọc, họ cũng tính ngay đến chuyện phải làm sao cho Rubin thành công trong cuộc thí nghiệm này. Nếu chẳng may mà Rubin đọc sai, cuộc nghiên cứu của họ có thể bị bãi bỏ không chút xót thương. 
Họ đưa mắt nhìn nhau thông cảm và Rubin khẽ nói: 
“Nếu họ bảo anh, hãy đọc câu: “Giấy in tiếng có thể làm cho người điếc dùng được máy điện thoại”. 
Nerzhin cũng thì thầm lại rất nhanh: 
“Nếu hắn đọc lấy, tôi sờ tay lên tóc là anh đúng, sờ cổ áo là sai”. 
Và Rubin đứng lên để chào người mới đến. 
“Bây giờ” – Roitman nói tiếp – “Lev Grgiorich sẽ trình bày để ông Tổng trưởng thấy tận mắt việc đọc giấy in tiếng nói. Chúng tôi có sẵn một xướng ngôn viên chuyên môn đây, anh Gleb Vikentich Nerzhin. Anh này sẽ ghi câu này lên giấy và anh Lev Grgiorich sẽ cố gắng đọc ra câu ấy”. 
Cả phòng thí nghiệm ngừng hoạt động. Mọi người đều hồi hộp chờ đợi. Roitman xúc động ra mặt. Đọc xong, Nerzhin ra khỏi phòng ghi âm và đứng ở xa, lãnh đạm nhìn lại phía Rubin. Mọi người đứng xúm quanh bàn Rubin. Tất cả đều đứng, chỉ có một mình Rubin là ngồi. Với những cử chỉ trang trọng của một giáo sĩ hành lễ, Rubin cầm cây viết chỉ lên tờ giấy ghi ký hiệu vừa lấy trong máy ra và giảng giải. 
Nerzhin cười thầm khi Rubin yêu cầu cử tọa đưa cho anh cái kiếng khuếch đại để nhìn cho rõ hơn. Thực ra, không cần gì phải dùng đến kiếng khuếch đại, Rubin chỉ bày vẽ ra như vậy cho công việc quan trọng hơn. Và trong lúc tất cả mọi người – tất nhiên là trừ Nerzhin – say mê theo dõi việc Rubin đọc lên từng tiếng, vừa đọc vừa viết xuống giấy: “Giấy…in… tiếng… có… thể…”, không ai chú ý đến Trung úy An ninh Shusterman nhón gót đi vào phòng. 
Shusterman đứng lại bên cửa. Ý ra hiệu cho Nerzhin đi ra. Nerzhin hiểu rằng giờ đi thăm đã đến và chàng rảo bước đi ngay. Shusterman còn muốn gọi Rubin nữa. Y muốn bắt Rubin trở về phòng ngủ để làm lại giường cho ngay ngắn. Y từng nhiều lần hành hạ Rubin với việc này. 
Rubin đã đọc được hai tiếng “người điếc” và đang nhíu mày tìm tiếng tiếp theo, chợt anh ngước mắt nhìn lên và nhìn thấy bộ mặt rạng rỡ, tươi rói của Roitman – Roitman có vẻ như chính y là người đọc được những chữ này – và anh bắt gặp tia nhìn của Shusterman. Anh hiểu ngay tên sĩ quan an ninh lắm chuyện này đến đó làm gì và tia mắt khôi hài, chế nhạo của anh nói với y: “Đi chỗ khác chơi…” 
“Người điếc… dùng được… máy điện thoại…” Rubin nói lớn, viết và quăng bút… “Máy điện thoại” là ba tiếng chúng tôi vẫn dùng đến nhiều trong những cuộc thí nghiệm nên nhìn thấy là tôi đọc được ngay…” 
“Kỳ diệu…” 
Sevastyanov nhắc lại: 
“Kỳ diệu… Tôi xin lỗi, tên anh là gì?” 
“Lev Grgiorich Rubin”. 
“Lev Grgiorich… Anh có thể nhận ra tiếng một người nhờ những bản giấy in tiếng này chứ?” 
“Đó chính là mục đích của cuộc nghiên cứu của chúng tôi”. 
“Tốt. Sẽ có một công tác… rất… quan trọng nhờ anh làm”. 
Nghe thấy quan to nói câu này, Trung úy An ninh Shusterman lủi mất.

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 7 Mar 2026

Trong cuộc đời khổ đau nhiều hơn hạnh phúc này, nói đến chữ nhàn hạ hay nhàn rỗi, gần như một sự mỉa mai cay đắng và đầy vẻ bất công. Ông Nguyễn Công Trứ theo cung cách Nho giáo muốn hưởng nhàn thơ túi rượu bầu,”Gót tiên đeo đủng đỉnh một đôi dì – Bụt cũng nực cười ông ngất ngưỡng,” hưởng thú “trăng hoa tuyết nguyệt”. Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm thì “Thanh thản ngắm hoa, nghe chim hót- Uống rượu ngâm thơ, hưởng thú đời.” Loài người khốn khổ không mấy ai được nhàn hạ, thong dong như quý cụ, muốn “sỏi đá cũng thành cơm”, con người phải “trầy vi, tróc vẫy”, làm mửa mật ra mới có miếng ăn.

Trong khi nhiều vị rủng rỉnh đồng đô la, bỏ ra nửa tháng, hai mươi ngày để đi du lịch về Việt Nam, tắm nắng Vũng Tàu, Nha Trang, đi chơi trên vịnh Hạ Long, hay nằm dài thoải mái trong tiệm tắm hơi hay massage, thì có những người như bà cụ Phạm Đoàn, 76 tuổi ở Nha trang, một giờ khuya đã dầm mình xuống biển mò cua bắt ốc, cụ Đặng Huyền, 98 tuổi ở Huế còn đạp xích lô hay nhiều ông bà già tuổi đã ngoài 70, còn phải lê lết ngữa tay đi ăn xin để cuối ngày có cái gì mà bỏ vào miệng.  Chúng ta cũng biết rằng theo cách chiết tự trong chữ nho thì “Thị tại môn tiền náo- Nguyệt lai môn hạ nhàn” (chữ thị nằm giữa chữ môn là chữ náo, chữ nguyệt ở giữa chữ môn là chữ nhàn). Người sống ở nơi chợ búa lúc nào cũng bận rộn toan tính lỗ lời, có khi tất bật vì miếng cơm mạnh áo, có đâu ung dung như kẻ phú quý thanh nhàn, biết đến thú vui nhìn cảnh trăng lên, hoa nở. Cũng trăng, cũng trời, cũng mây ấy, mà người nông dân vất vả, trời chưa sáng đã ra đồng, tối mịt mới dắt trâu về nhà, than thở một đời: “một ngày hai buổi cơm đèn, lấy gì má phấn răng đen hở chàng!” Đó là nói chuyện quê hương, còn nỗi khổ đau của loài người thì vô tận, con người sống suốt đời chỉ biết gục mặt xuống đất với miếng ăn, có giây phút nào cho trăng hoa, mây gió, “khi chén rượu, khi cuộc cờ, khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên.” Sao thế giới này bất công đến thế!

Nhiều ý tưởng lại không thích sự nhàn nhã, cho nhàn là cha đẻ của tội lỗi: “nhàn cư vi bất thiện.” Trong nhiều xứ sở, những kẻ ăn không ngồi rồi đi phá làng phá xóm, phụ nữ nhàn hạ sinh ra ngồi lê đôi mách và phải chăng cờ bạc cũng phát sinh từ chuyện quá ư rảnh rỗi. Những ông bà nội ngoại dành nhiều thời gian chăm sóc con cháu đâu còn có thời gian ngồi xe bus đi casino. Nhiều người cho rằng chính thời gian về hưu hay đến tuổi già là lúc bận rộn nhất của đời người. Ở nước Mỹ này chúng ta thấy nhiều ông cụ già bước đi không vững, giờ tan học còn ra đứng đường làm “crossing guard” hay những bà cụ móm mém còn đứng bán hàng trong “thrift store”, tôi chắc chắn họ đi làm không phải vì tiền. Cũng rất nhiều vị cao niên Mỹ đi làm “thiện nguyện” trong các cơ quan cảnh sát, trường học, bệnh viện, người già Việt Nam thì đến chùa, nhà thờ để cho đời sống của mình không quá tẻ nhạt vì nhàn rỗi. Một ông cụ được đưa vào bệnh viện ba hôm, bà cụ nuôi bệnh, đi theo năn nỉ: “Ông làm ơn ráng ăn uống, thuốc men, mau bình phục mà về nhà!”Ông cụ chán nản, rên rỉ: “Ở đâu cũng vậy, về nhà thì tôi cũng nằm lên nằm xuống, ăn ngủ có gì khác ở đây đâu, mà đòi tôi về!” Đó chính là cuộc sống nhàn hạ, nhàm chán, một thứ “địa ngục dịu dàng.” Nhưng cũng chính vì tham tiền hay tham làm việc người suốt đời tất bật, không ngơi nghỉ, có khi quên cả ăn uống và không có cả thời gian để ngủ. Chúng ta thử tưởng tượng đến hoạt động của một tiệm ăn khi bà chủ ham công tiếc việc, không biết phân công, không hề tin cậy ai, dù là con cháu trong nhà, sợ mất túi tiền, một mình ôm hết công việc từ sáng đến tối. Nghỉ một ngày là mất một số lợi tức, cứ như thế năm này qua tháng nọ, cho đến lúc vào thẳng bệnh viện, vô nursing home hay ra thẳng nghĩa địa, rồi thì số tiền tom góp, dành dụm ấy để cho ai. Trên thế giới, Âu cũng như Á, bệnh “điên vì mê làm việc” , một thứ bệnh dịch do làm việc quá nhiều, quá sức đến nỗi gây ra tình trạng tâm thần, căng thắng đưa đến việc tự tử.

Nhiều người biết bớt công việc, mỗi năm sắp đặt cho mình những cuộc du lịch xa cũng không phải là người biết hưởng nhàn. Cứ nghĩ chương trình dày đặc của những chuyến đi cũng đủ kinh hoàng. Sáng tinh mơ đã thức giấc, chuẩn bị xuống phòng khách sạn ăn sáng, lật đật ra điểm hẹn, tham quan thì vừa đi vừa chạy cho đúng giờ hẹn lên xe. Lỡ đi trễ thì bao nhiêu con mắt đổ dồn vào mình như nhìn con quái vật. Đi du lịch là phải chấp nhận ăn uống những món nơi địa phương mình đến và vì khác biệt văn hóa, ăn uống thường là một niềm vui đã trở thành một nghĩa vụ. Sau một chuyến du lịch về, không lên cân, yêu đời mà có khi sút cân, mệt mỏi.

Nhưng nhàn cũng không có nghĩa là không làm gì, nằm lên nằm xuống, đi ra đi vào, vật vờ như ngọn cỏ để cho gió đùa. Tôi thích những người biết xếp đặt cho mình một ngày làm việc, giao tiếp nghỉ ngơi hợp lý.

Nếu bạn muốn nhờ ai một công việc gì xin hỏi đến người bận rộn, đừng bao giờ nhờ đến người nhàn rỗi. Họ thật bận rộn đấy, có bao nhiêu việc phải làm, vẫn chu toàn, xếp đặt được thời gian, nhưng phong thái vẫn ung dung. Buổi sáng vẫn có ly cà phê pha xong, thưởng thức chậm rãi, không phải cái ông sáng dậy vừa đánh răng, vừa chải tóc, khi ra xe thì vừa đi vừa cài nút áo, tay cầm tờ báo, tay xách cái lunch-box. Buổi tối về, còn chút thời giờ chơi với con, đùa với con chó nhỏ hay dành chút riêng tư cho bạn đời.

Đối với các cụ cao niên ở hải ngoại, ngày nay các cụ không còn phải lo cái ăn cái mặc vất vả, nhưng nếu các cụ không tạo cho mình một sự bận rộn nào ngoài chiếc giường và cái TV, không phải là bác sĩ, tôi cũng “chẩn đoán” cho các cụ là tuổi thọ chẳng còn bao lâu. Nhiều điều không được xem là công việc vẫn là chút bận rộn cho đời đỡ nhàm chán, một buổi hẹn hò với bạn cũ ở quán cà phê, thăm bạn nằm trong bệnh viện hay ở nhà quàn, một ngày cuối tuần vui chơi họp mặt. Nhiều người buổi sáng thức giấc không muốn ra khỏi giường vì nghĩ hôm nay không có việc gì phải làm, không đi đâu, không có hẹn hò với ai, không có dự định gì. Nói cho rõ ra, nếu hôm nay con người đó chẳng may qua đời, hay ngừng thở thì cũng chẳng có ai quan tâm, vì đời sống ấy chẳng liên hệ, thiệt thòi gì đến ai, với cả ngay đứa cháu ở ngay trong nhà.

Xin một chút bận rộn cho đời khỏi nhàm chán và lúc thong dong không quên người tất bật.

HP

Viết lại bài thơ viết trên ngón tay trong hầm tối ở Thanh Hóa khoảng 1986

Phan Nhật Nam

Bước đằng trước ba bước

Bước lui sau ba bước

Ngang dọc hai-mốt gang

Cấm phòng mờ ãm đạm

Ta là ai… Họ Phan?

Người Nam giam đất Bắc!

Đôi lúc chợt bàng hoàng

Quên rồi… Năm thứ Tám?

…

Ngoài hầm ngày đến chăng?

Hay vào đêm trăng sáng?

Rét chưa…

Ngỡ Đông tới?

Thật không…

Trời đương Xuân?

Đi miết chợt đứng sững

Vô ý sờ chòm râu

Ngước nhìn nhện giăng sầu

Góc tối cóc ngồi gục

Ừ thì Tâm có Phật

Sao lòng nổi cuồng phong?

Chẳng lẻ Trời sinh Người

Để nhận đời thống khổ?

Rất đỗi Tin Ngôi Lời

Sao bủa vây gian dối?

…

Nầy đây!

Chúa trông xuống…

Đáy hầm sâu khốn nhục

Trần trụi dạng ma trơi

Đâu phải dạng Con Người?

Đường Thương Khó quá dài

Ôi sức nào bước nỗi?!

…

Bất chợt bật cười thầm

Cánh môi khô nhạt thếch

Sống-Chết thế thôi ư

Chập bóng tối phủ đậm

Nầy,

Có được một phút

Cứ từng phút cho qua

Vất bỏ gánh phiền hà

Sừng sững chạm Sự Thật

Sự Thật lớn – Cái Chết

Không phải sợ gì hết!

Có/Không…

Chớp mắt suông

Phần đời như đã đóng

Nghe rõ vọng Âm Không.

Vào một buổi nào đấy không biết nơi đâu?

Lúc nào của đoạn 1981-1988

Viết lại tại Mỹ, 4 Tháng 3, 2026

Nhớ ngày đi Hà Nội 4/3/1973

Phan Phi Danh

Dấu Binh Lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 7 Mar 2026

Tàu rời cửa Thuận An lúc năm giờ sáng, váng vất cơn say chiều hôm qua. Mặc anh thường vụ đại đội lùa lính lên tàu, tôi leo vào khoang sau buồng máy dựa lưng ba-lô nhắm mắt ngủ thiếp. Tiếng máy tàu, cảnh vật hai bên bờ, ánh nắng đầu tiên của ngày dịu dàng lời ru, cùng bềnh bồng hơi rượu và sông nước… Tôi ngủ yên như vào cuộc rong chơi. Nắng dọi vào mắt làm tỉnh ngủ, tôi ngồi hẳn dậy, đốt điếu thuốc đầu tiên của ngày, nhìn bọt sóng sau mạn tàu, người hững hờ như đang rơi trong khoảng trống lúc dù chưa bung. Cảnh vật hai bên bờ thật đẹp, lật bản đồ, tàu đang đi vào địa phận đầm Thủy Tú, bên trái Túy Vân Sơn, bên phải Hương Thủy, Phú Thứ… Những ngày hè thuở nhỏ tôi cũng thường rong chơi theo những dòng sông đẹp đẽ như thế này. Sông Cu-Đê chảy ra biển ở Nam Ô dưới chân đèo Hải Vân, tôi theo con sông vào đến nội địa đất Quảng Nam, lòng sông cát trắng, nước trong vắt, hai bờ núi in hình dưới lòng sông những ô cẩm thạch. Mái chèo khua bọt nắng lung linh trên mặt nước. Tôi không biết đường đến chùa Hương thơ mộng như thế nào, nhưng con sông Cu -Đê đầy ánh nắng của sớm mai tuổi nhỏ kia vẫn chảy hoài trong tôi như một mơ mộng không dứt đoạn. Sáng nay tôi cũng đang đi vào cảnh đẹp của quê hương. Nhưng lòng hờ hững cơn say…
Tàu đến địa điểm đỗ bộ, khu trục đến “raser” một phát, thôn xóm đang bình yên bỗng chốc biến thành biển lửa… Bốn chiếc FOM dàn hàng ngang chạy nhanh vào bờ. Xuống… Xuống, xuống thật nhanh, đem cái súng cối lên trước… Chậm như rùa.
Hiến “chó xù”, trung đội trưởng súng cối kê ngay tôi một phát:
– Vừa thôi ông ơi, Nhảy dù chứ đâu phải Thủy quân lục chiến mà ông bảo đổ bộ nhanh bằng mồm ông được…
– Kệ mẹ ông, chậm thì chết cả lũ bây giờ.
Phóng mình xuống nước, ngập tới cổ… Tôi chửi thề tùm lum. Chưa gì sáng mai đã phải tắm sớm!
Đằng xa hai đại đội tác chiến đã lập một đầu cầu, tôi tà tà lội vào bờ. Đại đội đã lên đủ. Thấy tôi lên sau chót, thằng Phen, xạ thủ súng cối nói dỗi:
– Trung úy bảo tụi em chạy theo trung úy mà bây giờ mới đến!!
– Đi theo đại đội trước… – Tôi cáu kỉnh.
Quân vào làng, làng thật nghèo, hoang vu, cát xám, gai xương rồng, luống bắp cằn cỗi. Sao cái đất của quê hương tôi tội nghiệp và thảm hại đến như vậy. Ông già, đàn bà bế con cái, cháu, chắt ra đứng hai bên đường đợi chúng tôi đi qua. Họ chứng tỏ sự chân thành bằng cách có mặt, vài ngôi nhà vừa cháy vì trận oanh tạc vừa qua, người chủ nhà không thèm chữa vì biết rằng có chữa cũng vô ích… Ngọn lửa hừng hực tung hoành tự do lan theo những đụn rơm, lũy tre.
Lũy tre già xao xác vặn mình đau
Đàn súc vật lao đầu kêu tuyệt vọng…
… Ôi quê hương đắm chìm trong khói súng.
Có bao giờ được thấy bóng thân yêu!!!
Từ thuở nhỏ, không hiểu tại sao tôi đã thích bài thơ “Cháy Quê Hương” của một tác giả vô danh, những câu thơ bình dị nhưng thiết tha như lời van xin…
Lửa nghi ngút đốt ngang trời bão loạn
Mây điên cuồng phủ kín bóng quê hương
Những cụ già tóc bạc khóc đau thương
Những thiếu phụ lo lo âu tràn mắt lệ…
Sáng hôm nay, tôi cũng đang đi đốt quê hương. Sáng hôm nay tôi cũng đang là tên lính viễn chinh trên phần đất mà tổ tiên đã bằng một nỗ lực phi thường gây dựng nên từ bờ cát, đồng ruộng phèn chua. Quê hương đẹp đẽ huyền thoại như chuyện đời xưa… Này đây chiếc đầm xanh ngắt mờ mờ sương khói.. Ôi! Tôi đi đốt quê hương tiền nhân, tôi đi cắt mạch máu tổ tiên, tôi tàn hại cuồng khoái trên thân thể đã tan hoang vì bom đạn của một giải đất nghèo tên gọi là Thừa Thiên!! Này ông già có nhà cháy, sao “ôn” không khóc?… Khóc làm chi nữa “en” ơi, nhà cháy ba lần, con đi lính gãy chân nằm ngoài Mang Cá, giặc Tây lúc xưa “đút” nhà hai lần, giặc ni “đút” ba lần… Còn chi mà khóc nữa “en” ơi! Ông ở đây với ai? Với hai thằng cháu này, cháu kêu tôi bằng ông nội… Ông nội ơi, lúc xưa tôi cũng có một bà nội, bà nội thật già tóc bạc trắng, mỗi buổi chiều để dành cái bánh đa để thằng cháu sau khi ngủ dậy có cái ăn. Bà nội thương cháu, ấp ủ cháu lớn lên với đời, che chở cho cháu vì “hắn thiếu cha”. Tôi được nuôi lớn bằng tình thương, đâu biết được sau này lại về quê hương như một kẻ xa lạ, đắm mình trong cuồng nộ điên mê.
– Trung úy cho phép tôi tới đằng cái nhà kia một lát.
Người lính Địa phương quân của chi khu Phú Thứ thuộc thành phần tăng phái theo chúng tôi để nhận diện du kích hoặc người tình nghi trong vùng nói nhỏ, tiếng than vản…
– Anh đi láng cháng coi chừng đạp phải mìn “chân tay biệt ly” thì đời tàn…
– Không sao đâu trung úy, tui người vùng này mà, nhà anh tui chỗ đó.
Người lính đi một lúc trở lại với hai đứa bé, một đứa khoảng sáu tuổi, đứa kia hơn ba.
– Con ai đây?
– Dạ cháu kêu bằng chú, cha tụi hắn chắc đi theo Mặt Trận, mạ hắn trốn đâu không thấy.
– Bây giờ anh đem nó theo?
– Dạ…
Người lính yên lặng xốc thằng nhỏ trên vai xuống, móc túi lấy mấy chiếc kẹo nhà binh đưa cho hai đứa bé. Thằng lớn cầm lấy chiếc kẹo, tần ngần. – Chú cho cháu ăn cơm, đói lắm. – Người lính móc từ ba-lô nắm cơm gói bằng giấy báo, hai đứa bé ăn trong nháy mắt, thằng lớn cầm mảnh giấy trên hai tay lè lưỡi liếm sạch từng hạt cơm còn sót lại. Tội nghiệp quá mấy em ơi! Tôi đưa tay vuốt đầu thằng nhỏ, tóc nó cứng như một thứ rễ cây. Khốn khổ cho mấy em biết mấy, ba tuổi đã phải trốn trong căn hầm tối tăm, ẩm thấp, nhịn đói, nhịn khát đã hai ngày, ba tuổi chưa biết cởi chiếc quần để đi tiểu, nước tiểu đọng vàng ố mảng quần… Em có khóc không hỡi em, hai đứa bé tang thương vùng Phú Thứ… Nhưng chắc các em cũng đủ biết thân phận khốn nạn của đứa trẻ Việt Nam trong thời loạn lạc nên đã nuốt xuống tiếng nấc… Tương lai nào cho các em, đứa sáu tuổi đã biết ôm em vào lòng, mắt nhìn lên miệng hầm đen chờ đợi một trái phá, một tràng súng chấm dứt đời chưa kịp được ngày trong sáng… Ôi các em! Người tôi căng như trên đống than hồng, nhỏ từng giọt máu xót xa!! Đau thương biết mấy hả trời… Đạn nổ. Đạn súng tay, súng cối từ bên cánh trái nổ vang, Tiểu đoàn 7 đang đụng địch. Việt cộng túng thế chạy về phía tiểu đoàn tôi, đạn 12 ly 7 từ Tiểu đoàn 7 bắn về tuy đi cao nhưng vẫn tạo thành cảm giác e ngại. Thằng nhỏ ba tuổi bíu chặt lấy lưng chú, thằng bé lớn nhào xuống bờ ruộng, lấy hai tay bịt chặt tai, mắt nhắm nghiền. Tôi nghĩ đến một tuổi nhỏ của “Guerre des boutons”, tuổi nhỏ của Sài Gòn đường Nguyễn Huệ, tuổi nhỏ mồm ngậm kem và xem ti vi. Các em ơi, các em có bao giờ biết có một tuổi nhỏ “thần thoại” nào như vậy không? Quân rút theo đường bộ ngã chi khu Phú Thứ ra quốc lộ 1, gần phi trường Phú Bài, trời trở mưa, người lính cột thằng cháu nhỏ trên lưng bằng sợi dây mang đạn, tay nắm khẩu Garant, tay dẫn thằng cháu lớn. Dấu chân trần của đứa bé in trên cát ướt, thấy thảm thương như giọt máu hồng từ quả tim non.
Xe đưa đoàn quân về lại Quảng Điền, sáu giờ chiều, tiểu đoàn vượt sông Bồ đóng quân tại làng Bát Vọng đối diện với quận lỵ. Tôi ngã xuống chiếc võng cột giữa hai cây cột đổ, kiệt lực như người bịnh nặng. Hành quân đã hai tháng mười hai ngày.
Trăng soi xuống giòng sông lăn tăn gợn sóng nhỏ, không có được chút mơ mộng, lòng đẫm ướt u uất hư hại như ánh trăng nhờn nhợt lạnh soi xuống ngôi nhà thờ đổ nát bên kia sông. Bây giờ đang tiết thu sao trời đầy giá rét, tôi chìm sâu xuống trong vùng tê cóng. Súng nổ từ phía đại đội 93, nghe qua máy truyền tin được rõ toán phục kích bắn chết hai Việt cộng, tịch thu hai súng, một tên bị thương chạy vào xóm nhà dân… Bắn trái sáng, lục soát xóm nhà, thằng bị thương chắc hẳn trốn đâu trong đó… Lệnh từ tiểu đoàn. Cả một xóm làng bị dựng dậy trong đêm khuya, ánh lửa nhấp nháy từ những chiếc đèn con, ánh sáng từ hỏa châu soi xuống nhợt nhạt.
– Trung úy, cho em qua bên đại đội 93. – Hạ sĩ Em, thư ký hành quân của đại đội tôi nói nhỏ.
– Qua bên ấy làm gì?
– Xóm đó có nhà em, mạ em ở trong đó.
– Thật không? – Em gật đầu. Dưới bóng trăng mắt nó long lanh như khóc. Khi đại đội 93 lục soát xong Em trở lại với một bà già gánh đôi quang gánh.
– Mạ em đây. – Em giới thiệu bà già với tôi.
Người đàn bà ngồi bệt xuống đất kéo vạt áo lên lau nước mắt, Em ngồi xuống bên cạnh người mẹ, nắm lấy bàn tay gầy guộc nhăn nheo. Hai mẹ con người lính ngồi im lặng dưới ánh trăng bàng bạc, thỉnh thoảng có tiếng nấc nhẹ…
– Mạ, theo con vào Sài Gòn nghe?
– Không, tao ở đây còn coi đất, coi cát, buôn bán kiếm ăn qua ngày được rồi… – Yên lặng chĩu xuống, dưới sông tiếng sóng nhỏ, con nước chảy thì thầm. Hai mẹ con Em ngồi im lặng suốt cùng đêm.
Để lại đại đội 93 tại vị trí đóng quân, tiểu đoàn kéo ra lại quận lÿ Quảng Điền, ngoài tên hiệu hành chánh này, quận còn có một tên thật độc đáo – Sịa – vô nghĩa nhưng hóm hỉnh và mộc mạc. Dân tộc tính, nếu có thì chính những chữ vô nghĩa này. Tôi là kẻ sinh quán từ miền Trung, nhưng một thứ miền Trung vong ân, phế bỏ quê hương từ thuở lâu lắm. Lẽ tất nhiên, trong tận cùng ao ước, tôi chẳng bao giờ nghĩ đến lúc phải trở về trên mảnh đất nghèo hèn này, nhưng chiến dịch đã dun dủi tôi trở về. Và tôi đã trở lại để thấy rõ sức mạnh tiềm tàng nhưng vĩ đại của tổ tiên, một giòng họ “Phan” nghèo khó theo chúa Nguyễn vào Nam, khởi đi từ những thôn xóm tận cùng miền Nghệ An, Hà Tĩnh…
Chúng tôi đã xa nhà từ lúc trời còn tiết hạ, đến bây giờ nỗi chịu đựng đã lên đến tột đỉnh, mệt mỏi rã rời cộng thêm giá rét miền Trung, người mềm đi như bóng cò trắng đứng trơ vơ trên đồng vắng. Nhưng độc hại nhất là cảnh khổ phải chứng kiến; những khổ cực lì lợm nặng nề đè lên người dân, khiến họ còm cõi lặng lờ như ngọn đèn sắp tắt. Chiến tranh đã phá nát khắp cả quê hương miền Nam, nhưng vườn cây Kiến Hòa, ruộng ở Long An dẫu tang hoang, rừng dừa Bình Định dù có bị đạn bom tàn phá vẫn giữ được sức màu mỡ tiềm tàng từ mạch đất tươi tốt, trong thân cây dừa căng cứng nhựa… Nhưng ở đây, miền đất hẹp từ Quảng Trị vào Thừa Thiên, chiến tranh đồng nghĩa với phá vỡ tận gốc rễ. Nhìn một căn nhà ở vùng An Phú Đông bị sụp đổ, ta có ý nghĩ gia chủ sẽ cất một chiếc nhà mới ngay sau khi dứt tiếng súng do thiên nhiên tràn đầy sung mãn, miền Nam luôn luôn cháy sáng hy vọng cho người… Nhưng ở đây qua La Vân, Niêm Phò, những làng nhỏ bên sông Bồ nhìn ra phá Tam Giang, những ngôi nhà sụp đổ là dấu hiệu tàn tạ của toàn thế hệ, dòng sống. Những nếp nhà thật xưa, trang nghiêm, kín đáo ba gian hai chái, thấp xuống như tan cùng bóng mát của cây đào trồng đằng trước, nền gạch mát rượi, lòng nhà tối tăm, hơi lạnh từ hàng cột, bờ tường rêu phủ xanh xao bốc lên… Trước nhà có non bộ, sau non bộ là bình phong, hàng rào gạch trên có gắn miểng chai ngũ sắc, cổng với mái ngói, hàng câu đối nét chữ trang trọng. Suốt trên dãy quê hương này ông cha chúng tôi dựng nên những nếp nhà như vậy, để đánh dấu kiêu hãnh thầm kín muốn tồn tại trong một thế giới khô cằn nghèo khổ. Cách tồn tại lặng lẽ nhưng đài các hệt câu hò tình tứ bay bổng lên nền trời từ một khoang đò lững thững. Tôi biết rõ niềm kiêu hãnh trong lòng tổ tiên, những người nông phu đã rời bỏ quê hương đi về Nam. Họ đến đây sau khi đã đi hết đoạn đường dài cát bụi của hai xứ Quảng Bình, Quảng Trị. Họ đến đây và bị chận lối bởi Hải Vân Sơn nên dừng lại, dừng lại để xây dựng một quê hương mới, một kinh đô, để biến mình thành lớp dân kinh kỳ, người kẻ chợ. Những tổ tiên đó đã chứng tỏ sức mạnh sáng tạo trên nơi chốn nghèo hèn bằng một lối sống đầy nghi lễ và kiểu cách.
Nhưng trái bom đã rơi xuống trên mộ phần tổ tiên, đã phá vỡ hàng rào quan liêu đài các của những ngôi từ đường, những phủ, những dinh, đã cuốn trôi hết thảy dấu vết của những người muốn giữ gìn sau một đời dài phấn đấu. Tôi đi qua quê hương này để thấy rõ niềm ao ước của người xưa bị cắt đứt, viên gạch tảng vôi của những cổ mộ vùng Mậu Tài, Đồng Xuyên nỗ tung dưới bom đạn trông xót xa như da thịt của người xưa. Tôi, một kẻ nhỏ trở về để nhận lãnh hân hạnh thảm hại— Chứng kiến phút giây sụp đổ của tiền nhân. Nhưng cũng trong những lúc này, những lúc nát vỡ nát toàn diện quê cha, tôi cũng được nhìn tận mặt sức phản kháng im lặng nhưng quyết liệt đối với định mệnh của một lớp người dù trong cuối đáy khổ cực, vẫn tin tưởng sắc son đến từng bụi cây, khóm cỏ… Một ngày dẫn quân đi dọc bờ sông, đến làng Lương Cổ, làng vắng nhưng sao quãng đường này sạch sẽ in dấu chổi vừa quét. Có tiếng động, một cụ già tóc bạc phơ, áo quần rách vá chằng chịt, từ một bụi rậm đi ra… Bà cụ làm gì vậy? – Thứ giọng trung pha bắc lẫn nam của tôi không làm bà cụ hiểu được, phải gọi thằng Thiên tới, anh “lạc đà” người Huế của tôi.
– “Mệ” làm chi rứa mệ?
– “Mệ” quét đường con…
– Mệ ở một chắc răng mệ?
– Có “ôn” ở trong nhà nữa con. – Hai vợ chồng già, già lắm, trong cảnh làng hoang vắng đổ vỡ, vẫn cố gắng quét sạch đoạn đường làng trước mặt nhà, cỏ dại lá tre được un về hai mép đường khéo léo và gọn ghẽ. Con đường đất vàng tươi phủ lớp bụi phơn phớt lượn vòng vèo theo bờ sông dài đến trăm thước, thế nhưng, bà cụ trên bẩy mươi tuổi, yếu đuối, lưng còng, do thói quen muốn chỗ ở luôn luôn được sạch, đã cố gắng quét dọn tươm tất. Tôi đi vào căn nhà phía trái con đường, ông lão chồng bà cụ đang lom khom trên mảnh vườn nhỏ, hoa thược dược nở từng đóa thật lớn, đỏ tươi chen lẫn với những chậu cúc vàng…
– Mấy cậu bắn răng sập cái nhà của tui lại rồi!
Lời trách cứ nhẹ nhàng làm lòng tôi trùng xuống. Một quả đạn 105 ly đã rơi trong khu vườn làm sụp một mái nhà…
– Bị bắn lâu chưa ông?
– Đại bác trong quận bắn ra tối hôm qua đó cháu…
Viên đạn phá sập tường nhà tối hôm qua, nhưng sáng hôm nay những viên gạch vỡ đã được xếp gọn ghẽ ở góc tường.
– Bữa nào yên, ông đi Huế mua xi-măng về xây lại đi ông già. – Người lính đề nghị với một vẻ cười cợt…
– Cha, tui xây mấy lần rồi đó. Cứ làm xong là bị bắn sập. Nhưng lạy ôn bà, vợ chồng tôi khôn có chi cả là mờn rồi!
Ông lão dung dị nói về tai ương phải gắng chịu. Tôi không biết trong thân thể già nua đó, sức mạnh nào đã giúp ông qua được đời sống lửa đạn để hằng ngày tỉa lại nụ cúc vàng rực rỡ…
– Sao ông không về Huế mà ở?
– Tui già rồi, ba bốn trận giặc trước còn sống được thì lúc này có chi đi nữa tui cũng phải ở lại để coi nhà cửa đất cát.- Ôi, nhà cửa đất cát… Người già đã đã xây dựng từ một tuổi thanh xuân nay chúng tôi đi phá vỡ. Tình yêu đất đó, họa chăng chỉ có người Trung Hoa mới có thể so sánh được. Phải chăng đó cũng là sức mạnh nền tảng của Dân Tộc Việt Nam.
Đóng quân ở Quảng Điền, lính vui vẻ vì thấy người, được uống cà phê, nước đá. Riêng tôi đã quá đủ, đủ quá nên chỉ xin một thế giới thật vắng vẻ, thế giới yên lặng không bị đánh thức bởi tiếng nổ. Hãy cho tôi dòng sông không pha máu người, không in bóng giáo đường bị cháy… Hãy cho tôi ngủ bình yên bên con sông mùa xuân tuổi nhỏ… Sông Cẩm Lệ, chảy từ Phong Lệ qua Miếu Bông ra sông Hàn, chỗ gần núi Non Nước, Đà Nẵng. Nơi đó, giòng sông mênh mông đầy cát nhỏ, tôi nằm dưới giàng lưới cá, nước dưới lưng lạnh ngắt và thân thể ở trên hong nắng, một thứ nắng thật mới của ngày mồng hai Tết. Cho tôi nằm lại trên dòng sông thơ ấu đó để quên những đầm Thủy Tú, sông Bồ, phá Tam Giang, xin cho tôi quên dấu chân đứa bé sáu tuổi in trên nền cát, chạy luống cuống trong hấp tấp sợ hãi vì tiếng súng, xin cho quên người mẹ bị đánh thức trong nửa đêm để gặp lại đứa con sau bốn năm xa cách, nay mặc áo rằn ri của lính Nhảy dù. Đứa con thơ dại năm xưa nay cằn cỗi như một thứ tù binh khốn nạn với những vết nhăn gian lao, người mẹ do không nhìn ra nên đã ngồi xuống chắp tay van lạy xin tha tội!!! Ôi cái tội khốn khổ vì đã làm người dân trong thời lửa đạn. Cho tôi quên Quảng Điền, buổi sáng bảy giờ, người đàn ông vác vợ trên lưng, tay bế đứa con gái hai tháng, đứa lớn bốn tuổi lẽo đẽo theo sau… Người đàn ông tiến vào văn phòng quận vì tối qua vợ bị lạc đạn gãy chân. Đứa con nhỏ hai tháng được bố đặt sát vào ngực mẹ, cố tìm trên hai đầu vú thâm tím một giọt sữa trong khi người mẹ thiếp mê vì cơn đau, một ống chân bị đạn bắn vỡ vẫn cố đưa bàn tay trong hành động vô thức, ép chiếc đầu con vào núm vú héo hắt!!! Thôi đủ quá rồi. Đóng quân ở đâu cũng chỉ có thế thôi… Hãy cho về ngủ quên trên thôn xóm bình yên không nghe tiếng súng, dân quê đừng chắp tay van lạy mỗi lần chúng tôi xét hỏi, người đàn ông xin đừng van vỉ than khóc khi thấy vợ mê đi trong cơn đau đớn, đứa bé chợt rú lên vì sữa mẹ cạn nguồn… Máu của mẹ đã chảy rồi đâu còn có sữa cho con. Quê hương của tôi ơi… Quảng Điền, Phong Điền, Phú Thứ, Hương Thủy, Đồng Xuyên, Mỹ Xá… Thôi đã quá đủ. Tôi đâu ngờ có một quê hương tang tóc như thế này hở trời!! Muốn kết cỏ ngậm vành, muốn cắn răng vào đất, muốn nhỏ máu xuống dòng sông. Đau xót lắm, tôi đang chứng kiến quê hương tàn phá bằng tuổi trẻ của tôi. Quá đủ rồi những ngày Huế – Thừa Thiên.

Tháng 10-1967. Quảng Điền, Thừa Thiên.

Bắc Cần Thơ!

petruskyaus.net

Thơ Đoàn Xuân Thu.

Post by Sơn râu 6 Mar 2026

Cần Thơ cất cầu nhưng rầu cho chiếc Bắc!

Một tiếng kêu than hai hàng nước mắt!

“Thân đui mù! Thơ tôi nói ai nghe?”

Bắc Cần Thơ! Ơi Bắc Cần Thơ!

Không còn ponton! Không còn mỏ bàn đò!

Không còn chiếc đèn pha mù mù soi đêm tối!

Không còn người lính cụt chân; giọng hát sầu năm cũ;

Cây đàn ghi ta phím lõm và cái nhịp song lang!

Một khúc tình ca vỡ tan thời dâu biển!

Tống biệt hành em tiễn biệt người đi!

Chiếc Bắc xưa chìm sâu vào miên viễn!

Xa xứ về, người yêu cũ biệt mù tăm!

Đoàn Xuân Thu.

Alain Delon

baotreonline.com

September 6th, 2024

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 6 Mar 2026

Sức khỏe của Delon đã suy yếu nhiều trong những năm gần đây sau khi ông bị đột quỵ vào năm 2019. Bao quanh ông là 3 người con và gia đình, Alain Delon, tài tử điện ảnh người Pháp, vừa qua đời trong tịnh yên vào sáng sớm ngày 18 tháng 8 năm 2024 tại nhà riêng ở điền trang tại Douchy, vùng Val de Loire, Pháp, thọ 88 tuổi.

Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã nói: “Trầm mặc, nổi tiếng, bí ẩn, Alain Delon không chỉ là một ngôi sao màn bạc mà còn là một biểu tượng của nước Pháp.”

Alain Delon đã được phong cấp bậc Sĩ quan trong Đoàn Quân Danh dự Pháp (Légion d’Honneur) vào năm 2005, cấp bậc này đứng thứ hai trong hệ thống xếp hạng của tổ chức, sau cấp bậc Chevalier (Kỵ sĩ) và trước cấp bậc Commandeur (Chỉ huy). Đoàn Quân Danh dự Pháp (Légion d’Honneur) được Napoléon Bonaparte thành lập vào năm 1802, là tổ chức vinh danh những cá nhân có đóng góp đặc biệt cho nước Pháp trong nhiều lĩnh vực, bao gồm quân sự, văn hóa, khoa học, và các hoạt động xã hội.

Sinh ngày 8 tháng 11 năm 1935 tại Sceaux, ngoại ô phía nam Paris, Pháp, tên thật dài xọc là Alain Fabien Maurice Marcel Delon, ông bị ảnh hưởng bởi cuộc ly hôn của cha mẹ nên trải qua một thời thơ ấu bất an, Alain Delon bỏ học và làm các công việc lặt vặt năm 14 tuổi. Năm 1952, khi mới 17 tuổi, ông gia nhập hải quân và tham chiến tại Đông Dương. Vì vô kỷ luật trong quân đội, ông bị bỏ tù một năm và bị đuổi khỏi quân ngũ vào năm 1956.

Alain Delon được nhà sản xuất phim Hollywood David O. Selznick phát hiện tại Cannes (Pháp). Vai diễn đầu tay của ông là trong bộ phim “Quand la femme s’en mêle” (1957), tên tiếng Anh là “Send a Woman When the Devil Fails”, với kịch bản của Jacques Sigurd dựa trên tiểu thuyết của Jean Amila, và do đạo diễn Yves Allégret chỉ đạo.

Alain Delon đã giành giải César của Pháp, tương đương với giải Oscar của Mỹ, cho nam tài tử xuất sắc nhất vào năm 1985 với vai diễn trong phim “Our Story” của Bertrand Blier. Ông cũng được đề cử giải Quả cầu vàng với vai diễn Tancredi trong phim “The Leopard” (1963).

Vai diễn đầu tiên của Alain Delon trong bộ phim “Quand la femme s’en mêle” (1957)

Delon còn xuất hiện trong nhiều bộ phim tiếng Anh như: “The Yellow Rolls-Royce” (1964) và các phim miền Tây như “Texas Across the River” (1966) và “Red Sun” (1971). Dù thành công ở Châu Âu, ông không thể lặp lại thành công đó ở Hollywood.

Sự nghiệp của ông mờ nhạt hơn trong những năm cuối đời, dù ông đã xuất hiện trở lại trên truyền hình vào đầu thế kỷ 21, vào vai các thám tử kỳ cựu trong phim truyền hình 2 tập: “Fabio Montale” (2002) và “Frank Riva” (2003-04).

Alain Delon kết hôn với Nathalie Delon từ năm 1964 đến 1969 và có một người con, Anthony Delon. Ông còn có 3 người con khác: một con trai, Christian Boulogne, với ca sĩ kiêm tài tử Nico, và 2 người con, Anouchka Delon và Alain-Fabien Delon, với nữ tài tử người Hòa Lan Rosalie van Breemen.

Dù là biểu tượng của điện ảnh Pháp và Châu Âu, Alain Delon có cuộc sống cá nhân đầy biến động, với nhiều xì-căng-đan (scandal), trở thành tâm điểm của sự tranh cãi. Ông bị chỉ trích vì quan điểm chính trị và thái độ đối với phụ nữ, đặc biệt là mối quan hệ gần gũi với Jean-Marie Le Pen, lãnh đạo đảng cực hữu Mặt trận Quốc gia của Pháp, người mà Delon cho biết có “mối quan hệ bạn bè 50 năm.”

Khi được trao giải Palme d’Or danh dự tại Liên hoan phim Cannes vào năm 2019, các nhóm bảo vệ quyền phụ nữ với bản kiến nghị thu thập được hơn 25,000 chữ ký yêu cầu không vinh danh ông bằng cách trích dẫn những phát biểu của ông khi thừa nhận đã tát tai một người phụ nữ.

Dẫu biết rằng sinh ký tử quy, sống gởi thác về, Alain Delon sống tới 88 tuổi cũng đã là thọ vì tuổi thọ trung bình của đàn ông Pháp chỉ khoảng 79 tuổi thôi. Nhưng khi nước Pháp mất Alain Delon, tui cũng bùi ngùi vì chính tui cũng mất đi một thời trẻ trai mới lớn.

Rạp Văn Hoa Đa Kao

Tui nhớ phim “Le Samouraï” (1967), do Jean-Pierre Melville viết kịch bản và làm đạo diễn. Nhân vật nữ chính là Jane Lagrange, do Nathalie Delon, vợ của Alain Delon vào thời điểm đó, thủ vai. Trong phim “Le Samouraï”, Alain Delon vào vai Jef Costello, một sát thủ chuyên nghiệp. Sau khi bị bắn trọng thương, Jef Costello phải đối mặt với nhiều khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ của mình và tìm cách sống sót, cố gắng trở về gặp lại con gái mình.

Vai Jef Costello đã giúp Delon khẳng định vẻ đẹp bí ẩn và phong thái lạnh lùng và chính trực như một ‘samurai’ trong văn hóa Nhật Bản. Những yếu tố đó đã biến ông thành biểu tượng quyến rũ và định hình sự nghiệp trong thể loại phim hình sự và tội phạm.

Tui nhớ tháng 3, hoa dầu nở, rồi kết trái. Tháng 5, trái dầu khô, gặp gió sẽ rơi xuống, xoay tít bay bay dọc đường Trần Quang Khải. Tui nhớ xem phim “Le Samouraï” ở rạp Văn Hoa trên đường Trần Quang Khải, Tân Định, gần Cầu Bông với người con gái đầu đời hò hẹn. Em ở xóm Vạn Chài, Tân Định, là nữ sinh trường Huỳnh Khương Ninh. Em bẽn lẽn theo tôi chui vào cái rạp Văn Hoa tối hù có gắn máy lạnh để hai đứa ngồi chung một ghế dù tui đã phải bỏ ra tới 30 đồng (đau lắm chớ) để mua 2 vé. Tui nhớ cạnh rạp Văn Hoa là một quán cà phê cũng tên Văn Hoa. Quán có dàn âm thanh nổi tối tân ‘chát bùm bum’ nhạc ngoại quốc. Tui nhớ em yêu uống sữa tươi, còn tui, tui uống chanh rum, môi phì phèo thuốc Captain, mặt đờ đẫn nghe nhạc Tây “La plus belle pours aller danser” với Sylvie Vartan; dù tui không hiểu gì vì tiếng Pháp tui học là sinh ngữ hai.

Xem “Le Samouraï”, nên tui cư xử như một ‘hiệp sĩ mù’. Dù thích gái, khoái em gần chết, tôi vẫn cố gắng giữ vẻ anh hùng mã thượng. Tui nhớ em  yêu nói nhỏ vào tai tui: “Nếu vào rạp hai đứa ngồi chung một ghế chỉ để xem phim thì anh nên xuống lớp Nhứt trường tiểu học Tân Định mà học; chớ đừng học lớp Đệ Nhứt trường Petrus Ký.” Em mãi mãi xa tui từ độ đó. Ối ông Alain Delon ơi! Ông đi rồi, ông mang theo tình thơ một thuở của tui.

ĐXT

Bận sau nhớ làm cây thông – Thiệt tội trời

sangtao.org

Thơ Hồ Đình Nghiêm

Posted 02/03/2018 

Post by Sơn râu 6 Mar 2026

Tranh Pablo Picasso

Bận sau nhớ làm cây thông

có loài hoa nở về đêm
nên mặt trời đỏ
thẹn thêm bóng tà
trăng đâu phải sáng ánh ngà
mà tròn đến khuyết hỏi hà cớ chi?
dáng xa về gần đôi khi
bình minh người đợi khả thi hôn hoàng
hoa ăn sương nghe bất toàn
gái tiếp thị đứng mặt xâm mày xoàng
nở làm chi nguyệt quế quàng
vai và bá cổ nặng đoàn đảng viên
ai xui bia bọt uống liền
nút đơm hai hột lộ miền đồi non
nước dâng giải hạn một lon
bàn tay năm ngón đã mòn lũng khe
người thua cuộc áo sờn che
giải phóng tiếp mụt măng tre tàn đời
hoa hướng dương hát sai lời
bởi chăng bóng tối phủ mời quỷ ma

tội em pháp nạn chửa tha
hồng nhan tiền kiếp khó ra ngục tù
nhập kho vì chẳng ô dù
an ninh một bọn lù đù ngó vô.

Thiệt tội trời

mềnh quen một nhà thơ
nữ mới nổi tiếng bài
đi đái trong bồn cầu
làm mấy ông lầu bầu
nhăn nhó đàn bà rằng
mần răng qua ngọn cỏ
xanh phê rồi bình đỏ
con mắt ngó như chộ
mặt nàng nguýt với háy
cam làm. quýt đâu chịu
chảnh vậy. mần gì nhau?
buồn vui mềnh lo ngang
dọc lưới mạng xã hội
đen có khi hoá trắng
lỡ nàng dính án oan
ôi ông địa. thị kính
lão đắc thọ khai mau
thật thà vành móng ngựa
nước kiệu nhân thân xấu
tiểu tiện vào chế độ
mi fa sắc vàng khè
sủi bọt khô nước miếng
toà khoan hồng phát bông
vệ sinh khi vào tù
nhỡ trăng sáng kinh nguyệt
mắc võng trường sơn xưa
mới chưa qua sử dụng

đụng độ chất xám tuôn
trào ra bài tân cổ
tui từng dòm mặt ảnh
đẹp giai hơn anh mao
lông lờ đâu chai mặt
háng nào biết lăn tăn
chớ lo bò trắng răng
ri rứa thêm rách việc
màng trinh nghĩa như nhau

nay ở trong thơ nên
mặc sức rặn ỉa đái
thép xung phong xuống biển
minh bạch cá chết thôi
nước thải chất dơ bẩn
đỏ như. đỏ như màu…
khẩu nghiệp tui đã tường
vách mọc loạn lỗ tai.

Hồ Đình Nghiêm

Am khuất

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 6 Mar 2026

Bóc đi một tờ lịch, giữa đêm hay đầu ngày, con người vò đi hai mươi bốn giờ mà trái tim đã đập qua, đã sống với. Quá khứ nhăn nhúm rơi vào sọt rác và hiện tiền đang tối đen hay ửng sáng? Theo trình tự, sau Tư sẽ là Năm, Sáu, Bảy, Tám, Chín… Bây giờ tháng mấy có khi được diễu nhại “bây giờ mấy tháng rồi hỡi em?”

 Một thai nhi sau chín tháng giam giữ sẽ được phóng sinh. Có khi “em bé” chui ra cửa mình sớm hơn thứ định kỳ nọ bởi vô vàn lý do. Tháng ba ấy, trong trùng trùng những lý do, trên đỉnh đèo Hải Vân, Công Huyền Tôn Nữ Lam Hồng chạy từ Huế vào Đà Nẵng đã đẻ rớt một cô bé bảy tháng tuổi. Mây mù, sương sa, khói xăng, tiếng động cơ, máu, nước mắt… Tất thảy tắc nghẽn, dồn cục trên con đường ngoằn nghèo xuôi đổ. Biển dưới vực sâu, chân đèo phía nam mang địa danh Nam Ô mà không là Nam Mô A Di Đà Phật.

 Hai ngày sau, Lam Hồng đặt được bàn chân run rẩy xuống bệnh viện Đà Nẵng. Bạc ác và lòng từ tâm của ai kia đã mang cô tới thứ bến bờ ngoài dự tưởng. Chết đi sống lại không hề là ngoa ngôn. Nước mắt chẳng còn để đổ ra không phải là thứ quá lời thêm mắm dặm muối. Và huyền nhiệm là thứ mà chúng sinh buộc phải sắc son tin, đắm đuối tưởng. Chúng sinh sống trải qua khổ nạn với ôm giữ duy một lòng thành: Hy vọng. Hy vọng chuyện gì? Tạm chưa tìm ra câu trả lời cho thứ vấn nạn quá tải kia. Huyền nhiệm Lam Hồng không chết, huyền nhiệm sơ sinh còn cất tiếng khóc giữa tai ương.

 Cô chọn tên cho cháu bé chưa? Bởi chúng tôi sẽ cấp cho cô tờ chứng nhận để làm giấy thế vì khai sinh. Tràng Hạt, đẻ tháng Ba năm Bảy lăm tại Hải Vân Đà Nẵng, chánh quán xứ Thần Kinh, cố đô Huế. Một nhân mạng hiện hữu giữa cõi ta bà với thứ sơ yếu lý lịch tạm bợ, khóc ằng ặc trong một thành phố tan tác cảnh chia lìa hoảng loạn trốn chạy. Có cần đào sâu đôi chút không? Mẹ đang ốm, thế bố Tràng Hạt đâu? Cha mang cấp bậc Thiếu úy, theo đơn vị ở phút dầu sôi lửa bỏng kẹt cứng ở biển Thuận An, cách nhà có nửa giờ lái xe Jeep nhưng vô phương xoay trở. Và cha bó tay làm hàng binh trước một thua cuộc chẳng tài nào lý giải.

 Đàn ông đi biển có đôi, đàn bà đi biển mồ côi một mình. Bà ngoại của Tràng Hạt bế cháu, ru cháu bằng tiếng vỡ lòng nghe xót xa, bởi cháu là bướm, mai sau cháu nối gót bà, theo dấu mẹ, cháu cũng tái mặt máu mà rặn cục nợ ra. Lam Hồng ôm con thơ vọng trông hướng núi nhưng tin người cải tạo khuất mặt tù đày chẳng vọng gửi về biền biệt qua năm này tháng nọ. Thời điểm hiện tại mẹ bồng con chẳng thể hóa đá như truyền thuyết hòn vọng phu bởi thời buổi này người ta đục đá để kiếm miếng cơm. Ngũ hành sơn có thể biến dạng, sông kia rày đã nên đồng và Lam Hồng mang con liều mạng vượt biển, chui lắm lần nhưng mãi thất bại, đổ bể, lộ hàng. Huyền nhiệm hình như chỉ đến một lần trong đời. Và đời xác xơ dìm mẹ con Lam Hồng xuống tận nấc thang cuối. Thứ nấc thang mà người ta nhắm mắt hồ hởi tiến vững chắc, tiến vững mạnh lên xã hội chủ nghĩa. Người ta xếp hàng cả ngày và người ta cam lòng với sự đi lui rất đỗi lạ thường: Từ người rơi xuống vượn. Lông lá, mòn khuyết nhân tính. Khỉ chi sơ tánh bổn ác.

 Lam Hồng làm trăm công ngàn chuyện để nuôi mẹ nuôi mình nuôi con, một cô sinh viên tốt nghiệp sư phạm Anh văn chưa kịp đứng trên bục giảng ngác ngơ vào trường đời với đức tin khù khờ ông trời độ. Một con cá ở hồ nước ngọt bỗng dưng bị vất vào mênh mông biển mặn thì trầy vi tróc vảy là điều hiển nhiên. Nhan sắc rơi nhanh xuống tàn phai, gái một con trông quáng gà đôi mắt. Khi chồng được tha về, chồng cất công truy tầm gạn hỏi và đến lúc tương phùng, cả hai đều không nhận ra nhau, dù đối tượng kia là thứ ảnh hình mình luôn khắc ghi vào tâm khảm. Một thứ cường toan nào đã đổ xuống thân phận họ, tàn phá đi khiến họ bị lão hóa tựa họ sống một ngày có hai- mươi-bốn-ngàn-giờ và họ đã thiệt thòi hy sinh trong sáu năm, bao ức triệu giờ? Tràng Hạt sáu tuổi và con bé rất ghét kẻ lạ kia tự dưng vào sống chung nhà mình. Đoàn tụ là nỗi vui của ai kia, chứ tôi đang sống yên ổn vậy cớ chi anh vác xác vào soán đoạt mọi thứ tôi đang có? Sáu tuổi chưa ý thức về cái chết, nhưng biết mười mươi về cơn đói khi chén cơm vốn đang lưng nay chỉ còn một nhúm lổn ngổn không sống chung hòa bình với sắn khoai. Bé cũng chưa hiểu do đâu bé có mặt giữa đời này nên bé hoài nghi tới chữ cha. Cớ sao bắt tôi gọi thằng đàn ông tiều tụy rách rưới kia là Ba? Tôi chỉ yêu mẹ và thương bà ngoại thôi, ngoài ra tôi cóc có biết một ai khác. Đừng hòng. Đừng bóc lột kiểu như người ta lộng kiếng chân dung một ông già râu dài lưa thưa và bắt mọi người phải thương yêu lão. Vô lý cũng chừng mực nào đấy thôi. Tình cảm là thứ phát xuất tự đáy lòng, một dâng hiến tự nguyện, sao lại đi ép uổng người ta chứ! Tôi thích màu xanh sao anh kề đao vào cổ bảo phải yêu màu đỏ. Yêu giả mạo, yêu tạm bợ thì nào có sắc son mà trông mong?

 Ngoại qua đời khi Tràng Hạt bắt đầu có kinh, bắt đầu nghe rạo rực từ những biến đổi tự cơ thể thanh xuân đang nhú mầm âm thầm. Lời nói cuối rót bên tai, đứt ruột: Ngoại tiếc chẳng sống lâu để có khi nhìn nhận ra ngày vui của Hạt. Ngoại cho con chiếc nhẫn này có hơi sớm… những lúc túng quẫn nhất ngoại cũng chẳng thể đành lòng cầm cố hoặc bán nó đi, bởi nhẫn ấy là vật gia truyền, gia bảo. Con đeo nó để nghĩ là tiền nhân, ba bốn thế hệ trước họ cũng đã từng đeo và mọi thứ đều tai qua nạn khỏi. Nhẫn là nhẫn nại, nhìn nhượng. Chữ nhẫn ấy giúp con chút hạnh phúc khi sống bên chồng như ngoại từng hạnh phúc. Sống thì phải tự tạo ra niềm tin, con ạ… Bàn tay lạnh, ngón co quắp. Đôi mắt khép hờ, có giọt nước ứa chảy ra. Nó tựa thứ hiệu lệnh, để khi nhìn thấy Tràng Hạt đã đổ xuống không biết cơ man nào là suối lệ. Khi buồn đau, có lắm kẻ đưa ra lời khuyên: Hãy khóc đi, khóc cho nhiều vào, rồi bạn sẽ nguôi ngoai. Đứa cháu tội nghiệp kia hoàn toàn khác, bởi càng khóc Tràng Hạt càng ngập lụt nỗi khổ tâm, càng thấy sự bất hạnh luôn là thứ đồng minh không hề tháo chạy, ôm siết, thiết thân, giăng bủa lên mái gia cư thiếu thốn của mình.

 Có người không khi dễ hoàn cảnh kiệt quệ của Tràng Hạt, người con trai ấy vẫn chuyên cần mang tới cho cô bạn gái một bầu khí quyển riêng. Anh sống có vẻ sung túc, có vẻ như ra đời dưới một thứ lý lịch tốt, hồng chuyên các thứ. Anh luôn sẵn tiền và anh mang Tràng Hạt tới chạm mặt những ngày vui lạ, anh tựa một hình nhân đại diện cho luật bù trừ để làm cơn mưa rãi xuống sự hạn hán mà Tràng Hạt luôn gánh chịu. Anh chở xe máy lên mộ bà ngoại đáp ứng lời yêu cầu của Tràng Hạt để cả hai thắp nhang quỳ xuống vái lạy như cô tin sự sánh đôi này có điều diệu kỳ từ bà ngoại đã ban phát cho. Tràng Hạt không bắt anh bạn phải thề nguyền chuyện gì cả, cũng như cô chẳng hề giải thích tình yêu là gì. Tuổi trẻ cô đã chứng nghiệm rõ cái mong manh của một phận người, đừng quan hoài vì sao hôm qua bác đi chăn trâu mà hôm nay bác thành đại gia. Vì sao chữ trinh đáng giá ngàn vàng lại có khi người ta rao trên trang mạng: “Ai đổi không, tớ đang cần một cái iPhone 5”.

 Như đông rồi sẽ sang xuân, như hài kịch sẽ kết thúc bằng một hôn lễ. Sợi chỉ hồng luồn chiếc nhẫn bà ngoại cho luôn đeo trước ngực đã tới lúc hoán đổi vị trí. Tay Tràng Hạt sẽ có ngón chứng minh trước cuộc đời: Tôi đang hân hoan từ giã thời con gái muộn phiền nhiều ẩn ức. Ba mẹ cô vẫn khen anh ấy, ba mẹ cô sẵn lòng để cho anh ấy lấy cô đi khỏi “túp lều tranh”. Mọi thứ diễn ra êm ả, sắp in thiệp hồng thì ba mẹ cô đổi ý. Họ phát hiện bố anh ấy là người năm xưa, vào dịp Tết, đã đích thân xử “bọn ác ôn”. Chôn không gớm tay già trẻ lớn bé cá mè một lứa dưới huyệt nông có tên gọi Bãi Dâu. Họ dứt khoát không làm sui gia với “ôn nớ”. Họ lập luận thà mà bộ đội chính quy, chứ thành phần nhảy núi lên xanh thì tráo trở lật lọng ngán lắm. Ôn nớ là kẻ tội đồ đó con nờ, chớ dây dưa, có tắm cạn nước sông Hương cũng không sạch thứ máu me ấy mô. Con nhớ cho chính ba mẹ từng thót tim vượt thoát được “sáu chữ vàng”: Thà giết lầm hơn bỏ sót.

 Huế còn xuân mà khí trời như đang vào chảo rang để già lửa. Đường vắng ngắt bởi không ai muốn đội thần hỏa mà đi. Ba mươi tám năm, đủ để một đứa xa xứ về lại cố hương lộn hồn lộn vía lạc tâm lạc trí đi quàng đi xiên trên những lối mà ngày trước mướt xanh kỷ niệm. Nước sông Hương không trong như quá vãng và màu nắng thì đỏ rực hơn xưa. Chẳng còn nón bài thơ tóc thề áo dài trắng, điền thế vào những Ninja dị hợm hộc tốc phóng xe máy như bị ma đuổi. Khi vẻ đẹp bị che đậy kín bưng, kín đến nghẹt thở, tựa một xác ướp, Tây ba-lô ở Phạm Ngũ Lão cũng chắc lưỡi cho sự cố An nam lắm ngược đời.

Tôi đi xe ôm lên dốc Từ Đàm, máy xe bỏng khét khi tìm ra địa chỉ. Bác điều khiển xe nói, từ đây đi bộ vô trong nớ không có xa mô, mình không nên khuấy động sự yên tĩnh của người ta. Tôi nghe lời bởi tôi cảm thấy dễ chịu khi đứng dưới một vùng bóng dâm im mát. Khi về thăm, tôi cố gắng xóa bớt dấu vết hình tích một Việt kiều, tôi đang mặc bộ bà ba màu nâu, dung dị. Trả một trăm ngàn cho cuốc xe ôm, có lẽ tôi bị chặt chém vì lỡ lộ thân phận. Tôi bị hớ nhiều bận nhưng không hề đau ruột bởi tôi tự an ủi, đó cũng là cách giúp người, chẳng mấy rộng rãi.

 Am nhỏ, nằm khuất tất như chẳng muốn hiện hữu. Trú thân trong am có sư nữ mà nguyên tên gọi trần tục của sư cũng đã nhuốm mùi phật tánh: Tràng Hạt. Khi chưa đoạn lìa chốn hung hiểm dưới kia, cô đã trao thân cho người con trai không thể làm chồng như lời tạ từ vĩnh quyết. Cô có thai, cô sanh nở trước khi cắt mái tóc thề để tìm quên trong khổ hạnh từ bi với áo nâu sòng. Tôi không thể sinh con nên chuyến về thăm nhà năm trước cơ duyên nào run rủi đã nhận đứa bé bạc phước kia làm con. Cháu con trai, tôi đặt tên Vô Ưu và cháu hiện ở Canada. Khỏe mạnh, mặt sáng lạng giống mẹ nó. Tôi thăm Tràng Hạt, chỉ thuần để vấn an cô, tuyệt đối dấu kín những gì tôi đang cưu mang, chẳng muốn đánh động sự phiền não cô muốn đoạn tuyệt. Tôi bỏ năm trăm đô vào thùng phước sương những mong am này vơi bớt vẻ tiều tụy ám tối đang vây bọc và tôi thầm nguyện sẽ nuôi dưỡng Vô Ưu trở thành một người hữu dụng. Cháu sẽ lớn khôn, tôi sẽ chuyên cần dạy tiếng Việt cho cháu và tôi có tham vọng viết lại câu chuyện này cho cháu đọc, để hiểu thấu bao oan khuất mà tiền nhân cháu đã phải đầu hàng trước nghịch cảnh.

 Mô Phật, bà giàu lòng từ bi quá. Tràng Hạt cúi đầu nói nhỏ. Tôi ôm lấy hình hài ốm yếu của vị sư nữ như giữa chúng tôi chợt hiện lên mối tình chị em. Không, phải nói là một ràng buộc nào đó hơn cả một sự cảm thông. Hơn cả một sẻ chia. Hơn tất cả những định nghĩa nào khác.

 Ve trú thân trên cây cối bao che am vắng đồng loạt cất tiếng. Chưa bao giờ, tiếng ve của Huế mùa hạ nghe buồn lòng như hôm nay. Bản chất âm hưởng của loài ve sầu là vậy, không khi nào chúng làm người nghe tìm nhặt chút bình an.

Hồ Đình Nghiêm

30 tháng 4 năm 2013

Mặt trận Đông Nam – Xuân-Lộc 1975

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Post June 19th, 2020

P{ost by6 Sơn râu 6 Mar 2026

Kỳ 2

Ðây là Ðại tá Lê Xuân Hiếu, Trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 43 cũng là bạn cùng Khóa 10 Võ Bị của qua. Ủa! Long là dân Hiện Dịch hay Trừ Bị vậy?

– Thưa Chuẩn tướng, tôi tốt nghiệp Khóa 20 Võ Bị

Tướng Ðảo gục gục cái đầu,

– Vậy là anh em cùng trường, cũng dễ thông cảm thôi!

Thấy tình hình có vẻ không còn ngột ngạt, khó chịu nữa, tôi mới thở ra, bớt bực bội và tức giận. Tôi hỏi Ðại tá Hiếu.

– Chúng tôi vừa lui vừa đánh cả tháng rồi, lương thực hết, đạn dược hết, điện trì cho máy truyền tin cũng hết, Ðại tá có thể bổ sung ngay cho chúng tôi có được không?

Nghe vậy, Trung tướng Tư lệnh Quân Khu xen vào,

– Chuyện đạn dược, gạo cơm cho Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân tau giao cho Tiểu Khu Long-Khánh! Okay?

Thế là tôi biết, từ giờ phút này Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân có hai người chỉ huy trực tiếp là ông Tỉnh trưởng Long-Khánh và ông Trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 43 Bộ Binh.

Tôi tính mở lời hỏi Ðại tá Hiếu cho đơn vị tôi mượn một chiếc xe để lo chuyện liên lạc, tản thương và chợ búa, thì có một người đứng sau lưng nắm tay tôi,

– Ba má cháu và gia đình cháu hiện nay ra sao?

Tôi quay mặt lại thì nhận ra ngay người vừa hỏi thăm gia đình mình là ông Ðại tá Ngô Văn Hưng. Bác Hưng trước đây là Trung tá Chỉ huy trưởng Pháo Binh của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh và là bạn thân của bố vợ tôi; bố vợ tôi là một cựu Trung tá, nguyên Chỉ huy trưởng Tổng Hành Dinh của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh.

Hiện thời, Ðại tá Hưng là Chỉ huy trưởng Pháo Binh của Sư Ðoàn 18 Bộ Binh. Tôi buồn bã trả lời bác Hưng,

– Ban Mê Thuột bị Việt-Cộng chiếm từ đầu tháng Ba. Thời gian ấy cháu ở Quảng-Ðức, cháu mất tin tức gia đình từ ngày đó.

Bác Hưng vỗ vai tôi trấn an,

– Bác hy vọng gia đình cháu vẫn bình yên! Bố cháu giải ngũ đã lâu rồi, chắc không sao đâu!

Nghe Bác Hưng an ủi, tôi vẫn không thấy an tâm chút nào. Nhà tôi ở ngay giữa phố Ban Mê Thuột, không biết giờ đây cha mẹ, anh em, vợ con tôi có còn sống không? Cả tháng trời nay tôi không dám nghĩ tới gia đình…

Trước khi rời sân Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn, tôi tới trước mặt Trung tướng Nguyễn Văn Toàn và năn nỉ ông,

– Nhờ Trung Tướng đem nốt thành phần còn lại của Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân về đây cho tôi. Hiện thời, tôi là người chỉ huy liên đoàn. Nếu không đem được họ về đây, sau này gặp lại, tôi không còn mặt mũi nào mà nhìn họ.

Nghe tôi khẩn khoản yêu cầu, Tướng Toàn hơi cau mày lại, rồi gật gù,

– Ừ! Ðể coi!

Nghe vậy, tôi tin tưởng rằng Trung tướng Tư lệnh Quân Ðoàn III và Quân Khu 3 sẽ tiếp tục ra tay cứu hai tiểu đoàn bạn, nên tôi yên tâm vào Trung tâm hành quân xin mấy bộ bản đồ Long-Khánh và cái đặc lệnh truyền tin, rồi lên xe trở về phi trường.

Trên đường về, tôi ghé chợ Xuân-Lộc mua vài thứ cần dùng. Chợ vẫn đông. Dân chúng ở đây vẫn sinh hoạt bình thường. Tôi bùi ngùi nhớ lại, cách đây một tháng, Ban Mê Thuột, Pleiku vẫn bình yên…

Mấy chục năm nay, người ta cứ nói rằng thượng cấp dự trù cho Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân ghé Xuân-Lộc chỉ vài ngày để nghỉ ngơi, tái trang bị, rồi về Sài-Gòn, nhưng bất ngờ Việt-Cộng tấn công thành phố, nên bất đắc dĩ chúng tôi phải tham chiến.

Ðó chỉ là một sự hiểu lầm!

Thực tế thì, chúng tôi đã được lệnh đóng trụ tại đó để ngăn địch.

Chiều ngày 6 tháng Tư năm 1975 chúng tôi đang ngồi trong trực thăng; trực thăng đang bay trên lộ trình về Sài-Gòn. Nếu cứ tiếp tục bay thì chưa tới một tiếng đồng hồ sau chúng tôi đã có mặt ở Sài-Gòn rồi. Phi đoàn 237 trực thăng đồn trú ở Biên-Hòa, sau khi thả chúng tôi xuống Xuân-Lộc, trực thăng vẫn phải bay về Biên-Hòa; sao không chở chúng tôi về thẳng Biên-Hòa hay Sài-Gòn nghỉ ngơi, tái trang bị? Cần gì phải thả chúng tôi xuống Xuân-Lộc, rồi vài ngày sau mới về Sài-Gòn?

Xuân-Lộc làm sao có dư dả quân nhu, quân dụng như Sài-Gòn? Xuống Xuân-Lộc, chúng tôi vẫn phải chờ đồ tiếp liệu từ Sài-Gòn chở tới mà!

Như vậy có phải là Tư lệnh Quân Khu 3 đã dự trù, nếu tôi đồng ý ở lại, thì tiểu đoàn tôi sẽ là một thành phần tham gia vào trận chiến chắc chắn sẽ diễn ra trong tương lai rất gần.

Nói trắng ra thì, chúng tôi có mặt ở Xuân-Lộc chính là do thâm ý của Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh Quân Ðoàn III.

Trong thời gian hơn hai năm giữ chức Tư lệnh Quân Ðoàn II và Quân Khu 2, Tướng Toàn đã hiểu rõ khả năng chiến đấu của từng đơn vị của Vùng 2.

Tướng Toàn đã tận mắt chứng kiến vào giữa tháng 8 năm 1972, dưới áp lực của Cộng-Quân, căn cứ Biên-Phòng Ðức-Cơ gần như tuyệt vọng, Thiếu tá Phạm Văn Toán là người chỉ huy căn cứ này đã bỏ chạy, tôi đã nhảy vào Ðức-Cơ, nhận chức Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân để bảo vệ Ðức-Cơ. Tới khi tình hình yên ổn trở lại, tôi mới bàn giao quyền chỉ huy cho Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn. Hai tháng sau khi tôi ra đi, thì Ðức-Cơ lại bị bao vây lần nữa, ngày 1 tháng 12 năm 1972 Ðức-Cơ thất thủ.

Rồi qua chiến dịch Pleime kéo dài 33 ngày đêm, tháng 7 và tháng 8 năm 1974, thì Tướng Toàn càng nhìn rõ con người và bản lãnh thực sự của tôi; thời gian đó tôi là người chỉ huy Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, đơn vị đã giữ vai trò tử thủ cái tiền đồn này.

Trận Pleime là chiến thắng vang dội nhứt của Quân Lực Việt-Nam Cộng Hòa ở Vùng 2 Chiến Thuật trong năm 1974.

Hiện thời, dưới mắt Tướng Toàn, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của tôi là một trái chanh chưa bị vắt hết nước, nên khi nghe tin chúng tôi còn trôi dạt trong rừng Bảo-Lộc, ông ta đã tìm cách liên lạc để tiếp cứu chúng tôi.

Hôm qua vì được thông báo rằng Trung tướng Tư lệnh Quân Khu 3 đã chấp thuận cho trực thăng cứu toàn bộ liên đoàn nên tôi mới có mặt ở đây.

Ông Toàn biết rõ tâm trạng của chúng tôi, những người của Vùng 2, đang trong cơn đau khổ và uất hận vì đã mất tất cả, gia đình, cha mẹ, vợ con, cơ nghiệp. Cả tháng trời nay, chúng tôi ví như những người đã chết rồi! Chúng tôi đã đánh nhau liên tục từ đầu tháng Ba cho tới bây giờ.

Khởi hành từ Kiến-Ðức, dưới tay tôi có hơn năm trăm quân, giờ này Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân chỉ còn hơn một nửa. Có đánh thêm một trận, hay vài trận nữa rồi thì chúng tôi cũng chết! Chúng tôi quyết định ở lại đây để “ÐÁNH!” và để “CHẾT!”

Ông Toàn đã hiểu chúng tôi muốn gì nên mớm lời, ướm hỏi, để tôi chọn ở lại.

Nếu ở lại đây, ít nhứt chúng tôi, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân còn được người ta coi như một đơn vị. Anh em tôi còn được ở bên nhau một thời gian nữa.

Còn như, leo lên tàu về Sài-Gòn thì chúng tôi sẽ chẳng thống thuộc đơn vị nào, chẳng biết dưới quyền ai.

Thêm vào đấy là cái thành kiến cho rằng chúng tôi là những người bại trận, đang chạy trốn, nhìn không giống ai, người ta có thể sẽ giải tán Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, rồi đem chúng tôi bổ sung cho những đơn vị Biệt Ðộng Quân khác.

Trong trường hợp đó, cho dù Tướng Toàn có ưu tiên, biệt đãi cá nhân tôi, giao cho tôi chỉ huy một đơn vị mới, thì tôi và những đứa em trong tiểu đoàn sẽ phải chia lìa nhau.

Giờ này, trên đời, tôi chỉ còn những đứa em này là thân thiết nhứt.

Nếu phải chia tay chúng nó thì không còn gì đau xót cho bằng.

Tôi được một ông trung úy bộ binh hướng dẫn vào nơi chúng tôi sẽ tạm trú. Ðây là khu doanh trại cũ đã bỏ trống của Tiểu Ðoàn 181 Pháo Binh của Sư Ðoàn 18.

Doanh trại này nằm đối diện với khúc đuôi hướng Ðông của sân bay Xuân-Lộc.

Nơi đây là vùng ngoại ô vô cùng hẻo lánh, cách trung tâm thành phố và chợ búa rất xa.

Nếu hồi chiều tôi không có lời phản kháng mà cứ để cho ông Tướng Tư lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh cho người giải giới thì giờ này tình trạng của chúng tôi còn thua những cô cậu Nhân Dân Tự Vệ. Vì Nhân Dân Tự Vệ còn có súng, nếu chúng tôi bị giải giới thì chỉ có tay không!

Tôi có cảm tưởng rằng người ta coi chúng tôi như cùi, hủi, nên vứt bỏ chúng tôi vào một góc tối tăm, xa xôi nhất của thành phố mà không thèm đoái hoài tới.

Tôi đang mang nỗi bực bội, muộn phiền trong lòng thì một chiếc xe Dodge của Tiểu Khu chở gạo tiếp tế và hàng hóa Quân Tiếp Vụ tới bán cho đơn vị.

Nhìn những ánh mắt sáng lên vì vui mừng của thuộc cấp, tôi thấy lòng mình dịu lại, hết buồn rầu ngay.

Tôi tự an ủi: “Dù gì thì anh em tôi cũng còn may mắn và hạnh phúc hơn các bạn khác của hai Tiểu Ðoàn 63 và 81 giờ này còn đang đói rét ở trong rừng. Không rõ ngày mai đây ông Tư lệnh Quân Ðoàn III có tiếp tục cho trực thăng tiếp cứu họ hay không.”

Suốt đêm 6 tháng Tư tôi đã trằn trọc không chợp mắt vì đây là lần đầu tiên trong đời lính, tôi đóng quân ở một vị trí mà tôi không biết xung quanh mình ra sao?

Cả tiểu đoàn nằm trong một cái đồn nhỏ tí teo với rào tre cao phủ kín như bưng. Chẳng biết địch ở hướng nào? Bạn ở hướng nào? Thường thì mất ngủ, người ta hay hút thuốc liên miên rồi nghĩ ngợi mông lung. Tôi đốt hết điếu Lucky này tới điếu khác mà đêm vẫn chưa tàn.

Nghe tiếng rì rầm của những người lính dưới quyền mình đang chụm đầu bên nhau trong bóng tối, tôi chợt phân vân tự hỏi:

“Mình tình nguyện ở lại Xuân-Lộc, nhưng không biết các anh em khác có đồng ý không? Biết đâu có nhiều anh em không muốn ở lại đây, họ muốn về nơi an toàn hơn? Họ sẽ không vui khi chính họ không được quyết định số phận của họ.”

Sáng sớm ngày 7 tháng Tư năm 1975, tôi cho lệnh tất cả anh em tập họp trong căn nhà tôn để nói với họ đôi điều.

Trước hàng quân, tôi đã dõng dạc nói thẳng với những người dưới quyền:

“Cùng các anh em Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân! Hôm qua tôi không hỏi ý kiến các anh, và tôi đã thay mặt các anh quyết định để tiểu đoàn mình ở lại đây mà không về Sài-Gòn.

Lý do tôi quyết định không về Sài-Gòn chỉ vì tôi sợ vừa tới nơi, người ta đã coi chúng ta như những người lính bại trận vừa di tản về.

Dưới mắt họ, chúng ta sẽ là mối lo ngại cho an ninh của đồng bào đô thành. Họ sợ chúng ta sau bao ngày đói khát sẽ đi ăn quỵt, uống chạy và cướp bóc. Cấp trên sẽ xé lẻ tiểu đoàn mình thành nhiều mảnh rồi đem bổ sung cho các đơn vị của Vùng 3. Các bạn đã trải qua hai năm chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ với Thái Sơn. Hai năm qua, các bạn đã từng hãnh diện với những chiến công. Chúng ta đã là những chiến binh bách chiến, xuất sắc của Vùng 2 Chiến Thuật.

Nay chúng ta rút lui khỏi Vùng 2, nhưng chúng ta không phải là người bỏ chạy vì thua trận. Cấp trên của chúng ta đã bỏ chạy, cấp trên của chúng ta đã đào ngũ, bỏ rơi chúng ta, bỏ rơi gia đình, vợ con, thân bằng, quyến thuộc của chúng ta.

Giờ này chúng ta chỉ còn cái tình đồng đội và cái tên chung là Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân thôi!

Hôm qua tôi đã thay mặt các bạn, chọn ở lại đây, chiến đấu cho tới giọt máu cuối cùng. Hôm qua tôi không có thì giờ hỏi ý kiến các bạn, hôm nay tôi tập họp các bạn lại để xác định rằng, gia đình chúng ta đã mất, và chắc chắn trong tương lai gần đất nước của chúng ta chưa chắc đã tồn tại.

Tôi sẽ tiếp tục chiến đấu, nhưng tôi không rủ rê hay ép buộc bất cứ ai theo mình chọn con đường tự vẫn.

Vậy thì, ngay sau đây, bạn nào muốn chiến đấu thì ở lại đây với tôi. Ai muốn về Sài-Gòn thì cứ tự nhiên bỏ súng xuống, bỏ hàng quân, rồi ra bến, lên xe đò mà đi. Ðường Sài-Gòn, Long-Khánh còn thông thương. Trong túi tôi còn tiền đây! Bạn nào muốn đi thì lên đây gặp Ðại úy tiểu đoàn phó để lấy tiền. Tôi cho tiền mà mua vé xe đò. Nhớ rằng, phải trả tiền mua vé xe, đừng giựt chạy! Ðừng làm mất mặt Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân!”

Cựu Đ/Tá Lê Xuân Hiếu & cựu Th/Tá Vương Mộng Long (USA, 2014). Ảnh do tác giả cung cấp

Tôi rút xấp giấy bạc loại 1 ngàn đồng từ cái túi bên ống quần ra, để trên bàn, đây là số tiền chợ chưa dùng tới của tháng Ba năm 1975.

Tôi nói với ông Ðại úy Ngũ Văn Hoàn, tiểu đoàn phó,

– Chiều qua tôi có ghé chợ Xuân-Lộc, tôi thấy trên bảng bán vé xe có ghi giá đi Sài- Gòn hiện thời chỉ có 500 hay 600 đồng thôi. Nhưng ông cứ phát một tờ 1000 đồng cho bất cứ ai muốn đi!  

Tôi xoay người bước xuống tam cấp rồi tránh mặt bằng cách đi vòng vòng tản bộ trong sân trại, xa ngoài tầm mắt của anh em đang ngồi trên sàn xi măng.

Mười phút sau, khi đã hút tàn hai điếu Lucky, tôi quay trở lại. Thuộc cấp của tôi vẫn còn ngồi trong hàng. Ðại úy tiểu đoàn phó đưa trả lại cho tôi cọc tiền mà tôi đã để trên bàn,

– Chỉ có một người trả súng, xin một tờ bạc rồi chạy đi, đó là Binh nhì Phan Thọ, người nấu cơm của Thái Sơn.

Nhét xấp bạc hầu như chưa suy suyển vào túi quần, mà tôi cảm như tay mình buốt giá, lạnh ngắt, giống như có ai vừa quất một roi đau điếng trên cánh tay phải của tôi, cánh tay đã bao lần giơ lên truyền hiệu lệnh xung phong cho đồng đội.

Tôi không ngờ giờ đây người đã bỏ tôi, bỏ đơn vị lại là Binh nhì Phan Thọ.

Tại sao người bỏ đơn vị không là ai khác, mà lại là người đêm ngày ở sát bên tôi, lo cho tôi từng bữa cơm, từng điếu thuốc, căng võng đắp mền cho tôi khi tôi ngủ, nhắc nhở tôi uống thuốc cảm mỗi khi trái gió trở trời.

Ba anh, Binh nhứt Bích, Binh nhì Thọ, và Binh nhì Ba Rỗ là những người tôi tin cẩn, theo tôi gần một năm rồi. Anh em trong đơn vị thường gọi ba anh lính này là “Cái kiềng ba chân” ngụ ý rằng họ có nhiệm vụ đỡ nồi cơm của tiểu đoàn trưởng giống như cái kiềng ba chân trong bếp. Bây giờ cái kiềng chỉ còn hai chân, thì trưa nay làm sao tôi có cơm ăn?

Một chiếc Jeep của Trung Ðoàn 43 ghé vào sân đón tôi ra phi trường. Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn đã chờ sẵn ở đây.

Ngồi trên sàn tàu, hai chân thòng xuống đánh đung đưa, ông Toàn nói,

– Chút nữa trực thăng sẽ tiếp tế 300 đôi giày mới cho mi! Còn gạo nước, súng ống, đạn dược, thì có thằng Phúc (Ðại tá tỉnh trưởng) lo. Cần gì nữa không?

Tôi bước tới sát bên cửa trực thăng,

– Cám ơn Trung tướng! Ðiều tôi mong mỏi nhứt là Trung tướng cho bốc hết số anh em còn lại của Liên Ðoàn 24 về đây càng sớm càng tốt.

Nghe tôi năn nỉ, ông Tư lệnh Quân Ðoàn III trợn mắt,

– Ð! M! Bốc cái gì nữa? Bỏ đi! Bỏ đi! Tau đem tiểu đoàn mi về đây là quá sức rồi! Tau là Tư lệnh Quân Khu 3! Tau không có trách nhiệm gì với bất cứ đứa nào đang chạy trốn của Quân Khu 2! Bỏ đi! Ðừng đòi hỏi gì thêm! 

Tầng đầu địa ngục

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Hải Triều

Post by Sơn râu 6 Mar 2026

Vẫn hân hoan sung sướng, Sologdin đẩy mạnh cánh cửa phòng Đồ Hình và bước vào. Nhưng thay vì cảnh đông đảo hoạt động mà anh chờ đợi trông thấy, trong căn phòng rộng sáng nay chỉ có mỗi một người đàn bà đứng bên cửa sổ. 
“Larisa Nikolayevna… Chỉ có mình cô ở đây thôi sao?” 
Sologdin ngạc nhiên hỏi. Anh vừa hỏi vừa rảo bước đi tới bàn làm việc của anh. 
Larisa Nikolayevna Emina, một thiếu phụ ba mươi tuổi, nhân viên tự do và là nữ họa viên, quay lại từ cửa sổ, nàng cười với Sologdin. 
“Dmitri Aleksandrovich…? Tôi tưởng cả sáng hôm nay tôi sẽ ngồi buồn một mình ở đây chứ…” 
Giọng nói của nàng như chứa đựng một ý nào đó. Sologdin nhìn nàng và ánh mắt ghi nhận nhanh của anh bao bọc tấm thân nảy nở của nàng nằm trong bộ y phục bằng sợi len đan màu trắng sáng. Không trả lời nàng, anh đi thẳng tới bàn và trước khi ngồi xuống ghế, anh cầm bút vạch một nét lên tờ giấy hồng để sẵn trên bàn. Xong, đứng quay lưng về phía Emina, anh đặt một tờ giấy vẽ lên bàn vẽ của anh. 
Phòng Đồ hình là một căn phòng rộng ở tầng lầu ba. Phòng có ba khung cửa sổ rộng mở về phía nam. Giữa những bàn viết và kệ sách thường phòng có chừng mười bàn vẽ giống như bàn vẽ của Sologdin và Emina. Bàn vẽ của Sologdin đặt hướng về cửa ra vào và ánh nắng tràn vào từ cửa sổ chan hòa trên tờ giấy gắn trên đó. 
Sau cùng Sologdin hỏi: 
“Sáng nay họ đi đâu hết? Sao không thấy ai đến cả?” 
Tiếng nói trong và nhịp nhàng của người thiếu phụ vút cao: 
“Tôi đang định hỏi anh câu ấy”. 
Sologdin quay phắt lại nhìn nàng và nói: 
“Tôi chỉ có thể trả lời cô về bốn tên tù khốn nạn làm việc ở đây hiện đang ở đâu mà thôi. Một tên được đưa đi gặp vợ. Tên Hugo Leonardovich đang dự lễ Giáng sinh Latvia. Tôi đang trả lời có tên thứ tư Ivan Ivanovich xin được phép ngồi vá lại đôi vớ. Kể từ ngày hắn vào tù đến giờ, đôi vớ rách này là đôi vớ thứ hai mươi của hắn. Những người tôi muốn hỏi sáng nay đi đâu không đến làm việc là mười sáu nhân viên tự do, những đồng chí có tinh thần trách nhiệm và yêu công tác hơn chúng tôi kìa”. 
Emina nhìn rõ nụ cười kiêu hãnh, khinh mạn trên đôi môi mỏng của Sologdin, nụ cười nở giữa hàng ria mịn và bộ râu đen gọn ghẽ để treo kiểu người Pháp ấy làm cho nàng thích thú. 
“Sao? Bộ anh không biết là đồng chí Trưởng toán của chúng tôi đã thỏa thuận với đồng chí Viện trưởng là chúng tôi được nghỉ trọn ngày hôm nay sao? Chỉ có tôi là không may phải đi trực thôi”. 
“Ngày nghỉ? Vì lý do gì mà nghỉ?” 
“Lý do gì nữa? Hôm nay là Chủ nhật”. 
“Từ bao giờ Chủ nhật được coi là ngày nghỉ nhỉ?” 
“Đồng chí Trưởng toán chúng tôi nói rằng chúng tôi có quyền nghỉ một ngày vì lúc này không có công tác gì phải làm cấp bách cả”. 

“Các người không có công tác gì phải làm?” – Sologdin kêu lên giận dữ – “Các người nghĩ sao nếu tôi dàn xếp cho các người, tất cả mười sáu người, có việc ngồi vẽ cả ngày lẫn đêm. Cô có muốn thế không?” 
Việc phải ngồi vẽ lại những đồ hình phức tạp là một đe dọa hãi hùng cho Emina cũng như cho những cô bạn của nàng, xong nàng vẫn thản nhiên. Vẻ thản nhiên, trầm tĩnh hợp với sắc đẹp nảy nở toàn diện như một bông hoa của nàng. Nàng đứng dựa bụng vào cạnh bàn vẽ và chiếc áo len đan ôm vừa vặn da thịt nàng làm nổi bật bầu ngực dày của nàng. Nàng đu đưa hai chân và nhìn Sologdin bằng cặp mắt thiện cảm: 
“Chúa cứu chúng tôi! Mà anh có nhẫn tâm làm nổi cái việc đó không chứ?” 
Sologdin lạnh lùng nhìn nàng: 
“Tại sao cô lại kêu Chúa? Cô là vợ một nhân viên Mật vụ mà?” 
Emina ngạc nhiên: 
“Là vợ nhân viên Mật vụ thì sao? Có gì khác?” – Nàng hỏi lại – “Đến lễ Giáng sinh chúng tôi cũng làm bánh Giáng sinh. Chúng tôi có gì khác mọi người đâu?” 
“Bánh Giáng sinh?” 
“Chứ sao?”
 
Emina ngồi xuống và Sologdin đứng cao nhìn xuống nàng. Màu len trắng hợp với nước da hồng hào của nàng. Cả chiếc áo và chiếc xiêm nàng bận đều bó sát lấy thân thể nàng, để cho người nhìn thấy được da thịt đầy đặn của nàng. Nút áo cổ mở để hở chút ngực và vai nàng. 
Sologdin vạch một nét nữa trên tờ giấy hồng và nói, giọng anh thản nhiên nhưng không có ác cảm: 
“Cô nói chồng cô là Trung tá Mật vụ? Phải không nhỉ?” 
“Phải. Nhưng đó là chồng tôi. Còn mẹ tôi với tôi đều là đàn bà”. 

Emina nói câu đó với nụ cười ngây thơ có sức quyến rũ thật lạ. Mái tóc đen dày của nàng quấn lại thành từng vòng quanh đầu nàng làm cho nàng, có cái vẻ trang trọng của những nữ hoàng ngày xưa. Nàng mỉm cười và đột nhiên nàng giống như một thiếu phụ nông thôn, nhưng là một thiếu phụ nông thôn do nữ kịch sĩ nổi tiếng Emma Tsesarskaya đóng. 
Sologdin không nói gì nữa, anh ngồi xuống ghế để khỏi phải nhìn Emina và anh bắt đầu nghiên cứu đồ hình trên bàn vẽ. 
Anh vẫn còn xúc động vì những lời phán quyết của Giáo sư Chelnov và anh muốn dành hết thì giờ và tâm trí vào việc hoàn thành sáng chế của anh. Giáo sư Chelnov có nói anh còn nhiều việc phải làm. Anh muốn anh hoàn toàn thảnh thơi tâm trí và tin tưởng khi anh phải đối phó với Yakanov để tính chuyện đi ra khỏi đây. 
Vì vậy Sologdin muốn cắt đứt mọi liên lạc với Emina để trở về với công việc. Emina từng ngồi cạnh anh cả nửa năm trời nay nhưng chưa bao giờ anh có dịp nói chuyện nhiều với nàng như hôm nay, chưa bao giờ chỉ có anh và nàng ngồi riêng với nhau trong căn phòng rộng này. Đôi khi Sologdin cũng nói đùa vài câu với nàng theo đúng chương trình làm việc hai tiếng đồng hồ lại có năm phút nghỉ của anh. Emina là chuyên viên họa đồ làm việc dưới quyền anh, nàng là một bà ở một giai cấp khá cao trong xã hội trong khi anh chỉ là một tên nô lệ có học và anh khó chịu nhiều hơn là thoải mái khi anh nhìn thấy tấm thân đàn bà nảy nở của nàng ở cạnh anh suốt ngày dài. 
Emina vẫn chống hai cùi chỏ tay lên bàn, nàng vẫn đong đưa nửa người trên của nàng và nàng hỏi: 
“Còn anh, Dmitri Aleksandrovich… Ai vá những chiếc vớ rách cho anh?” 
“Tôi hả?” – Đôi lông mày của Sologdin nhướng lên nhưng anh vẫn nhìn vào đồ hình – “Tôi không vá vớ. Tôi đi rách là thay đôi khác”. 
“Độ bao lâu thì anh phải thay vớ mới?” 
“Tôi đi liền một đôi vớ trong một năm, một năm thay một đôi…” 
Emina kêu lên như hoảng sợ: 
“Một năm mới thay một đôi vớ, anh nói thật hay giỡn chơi?” 
Sologdin cười lớn, tiếng cười của anh còn trong và vô tư: 
“Một năm chứ sao. Cô tưởng bọn tôi có thừa tiền để mua vớ sao? Lương tháng của cô bao nhiêu?” 
“1.500 đồng ruble”. 
“Cô… cô là người vẽ lại những gì do tôi vẽ ra, cô lãnh mỗi tháng 1.500 đồng ruble trong khi tôi, tôi là “nhà sáng chế”, tôi được lãnh mỗi tháng 30 đồng ruble. Nếu cô ở vào địa vị tôi, cô cũng không phí tiền mua vớ. Đúng không?”
 
Đôi mắt Sologdin sáng lên niềm vui. Lời anh nói chẳng có nghĩa gì với Emina hết nhưng vậy mà đôi má nàng cũng đỏ hồng lên. 
Anh chồng của Emina, nói rõ ra, là một gã vô tích sự. Từ lâu rồi gã coi gia đình gã như một nơi để gã nương tựa, với Emina, vợ gã, từ lâu rồi gã đã trở thành một vật vô hồn như bàn ghế trong nhà. Khi ở sở về nhà, gã dành hết thì giờ và tâm trí vào việc ăn uống, gã ăn tham lam và tục tĩu, ăn no gã lăn ra ngủ. Trở dậy gã đọc báo và nghe radio. Gã mê radio. Tháng nào gã cũng bận bán cái máy radio cũ đi để mua cái mới. Đề tài duy nhất làm gã chú ý ăn ngủ và kích thích được gã là những trận đá banh. Vì là nhân viên Mật vụ, đội banh được gã ủng hộ nhiệt liệt là đội Dynamo (đa số cầu thủ trong đội này là nhân viên Mật vụ). Tâm hồn gã phẳng lặng; nông cạn và con người gã tầm thường đến nỗi Emina nản không còn muốn gần gã nữa. Nàng gần Sologdin nhiều hơn là gần chồng nàng. Và Sologdin với những cử chỉ nhanh nhẹn, với lối nói sắc sảo, với khả năng biến đổi thật nhanh từ vẻ nghiêm trọng sang đùa giỡn hấp dẫn nàng ghê gớm mặc dù không cố ý. Điều đáng nói nhất là Sologdin không hề hay biết là anh hấp dẫn Emina mạnh đến như thế. 
Sologdin lại nhìn xuống đồ hình trên bàn vẽ và Emina có dịp nhìn ngắm lâu khuôn mặt anh, hàm râu đen và đôi môi dày của anh. Nàng tưởng tượng đến cảm giác những sợi râu ấy di động trên da thịt nàng. 
Một lần nữa, Emina lại phá cái yên lặng của Sologdin: 
“Dmitri Aleksandrovich … tôi có làm phiền anh không?” 
“Chút ít”. 

Sologdin đang cần tập trung tư tưởng nhưng anh không thể suy nghĩ đến công việc khi người đàn bà này ở gần anh. Anh quay vào bàn giấy và quay lưng hẳn về phía Emina, anh soạn lại những giấy tờ trên bàn. 
Anh có thể nghe rõ tiếng tích tắc phát ra từ chiếc đồng hồ đeo tay của Emina. 
Emina chắp hai bàn tay lại và đặt má nàng lên đấy. Đôi mắt nàng mệt mỏi và trìu mến nhìn người đàn ông ngồi đó. 
“Ngày nào cũng vậy, giờ nào cũng vậy” – Giọng nàng thì thầm với những âm thanh thán phục – “Anh ở trong tù mà anh vẫn học thêm, vẫn nghiên cứu thêm. Anh là một người thật lạ…” 
Sologdin đang đọc nhưng rõ ràng là anh không đọc được gì hết, vì anh ngẩng đầu lên ngay: 
“Tôi học trong khi ở tù thì đã sao? Tôi ở tù từ năm tôi hai mươi nhăm tuổi, tôi sẽ ra khỏi tù vào năm tôi bốn mươi hai. Có điều là tôi không tin là tôi có thể ra được nhà tù, người ta sẽ cho tôi một hạn tù nữa. Tôi sống những năm tháng đẹp nhất của tôi ở trong tù. Trong trường hợp tôi, nếu tôi không học ở tù, tôi học ở đâu? Ở bất cứ đâu ta cũng phải sống. Dựa vào hoàn cảnh để buông xuôi là thái độ hèn nhát”. 
Emina đưa ngón tay trỏ có móng tay dũa tròn và tô sơn hồng ra di di trên góc một tờ giấy trên bàn  Sologdin: 
“Tôi có chuyện này phải xin lỗi anh..” 
“Chuyện chi vậy?” 
“Có lần tôi đứng cạnh bàn anh và tình cờ tôi nhìn thấy anh viết thư. Tôi tình cờ nhìn thấy thật mà… Ít ngày sau tôi lại thấy…” 
“Ít ngày sau cô lại tình cờ thấy nữa…?” 

“Tôi lại thấy anh viết thư. Mà cái thư thứ hai này anh viết dường như giống hệt cái thư trước…” 
“Như vậy có nghĩa là cô đã đọc hơi kỹ thư của tôi. Rồi, còn lần thứ ba, thứ tư cô tình cờ đọc thư của tôi nữa? Đúng không?”
 
Nàng mở rộng đôi mắt nhìn anh. Miệng nàng không nhận nhưng mắt nàng nhận. 
“Nếu cô còn tiếp tục như thế nữa tôi rất tiếc sẽ phải miễn sự cộng tác của cô. Tôi sẽ tiếc cô… vì cô vẽ không đến nỗi quá dở”. 
“Nhưng chuyện đó lâu rồi. Từ ngày ấy đến nay tôi không còn thấy anh viết gì nữa”. 
“Cô lập tức báo cáo với Thiếu tá Shikinidi…?” 
“Sao lại… Shikinidi?” 
“Thì Shikin. Cô viết báo cáo dài mấy trang?” 
“Sao anh lại nghi tôi như thế?” 
“Tôi không cần phải nghi. Tôi biết chắc. Bộ cô định nói với tôi là Thiếu tá Shikin không hề chỉ thị cho cô là phải do thám tôi? Phải biết hết cả những việc tôi làm, ngay cả ý nghĩ của tôi nữa?” 

Sologdin vạch một nét bút chì lớn lên tờ giấy trắng. 
“Hắn có chỉ thị cho cô làm thế không? Nói đi. Nói thật đi”. 
“Có”. 
“Và cô đã tố cáo tôi bao nhiêu lần, bao nhiêu tội rồi?” 
“Dmitri Aleksandrovich …! Anh nghĩ rằng tôi làm được cái việc ấy sao? Tôi có báo cáo nhưng tôi không tố cáo gì anh hết. Trái lại. Tôi chỉ viết toàn chuyện tốt về anh”. 
“Hừm. Được rồi, tôi tạm tin cô. Về chuyện cô muốn biết tôi viết gì thì… nếu cô chỉ hỏi vì tò mò, tôi sẵn sàng làm thỏa mãn sự tò mò đàn bà của cô. Chuyện đó xảy vào tháng Chín. Năm ngày liền tôi viết thư cho vợ tôi”.
 
“Tôi chỉ muốn hỏi anh về chuyện đó. Anh có vợ ư? Vợ anh chờ anh ư? Anh viết gì cho vợ anh mà dài thế?” 
Trước những câu hỏi dồn dập ấy, Sologdin trả lời nghiêm trang và chậm rãi: 
“Tôi, có vợ, nhưng cũng như tôi chưa có vợ vậy. Tôi không còn có thể viết thư cho nàng được nữa. Khi tôi viết cho nàng – không, tôi không viết hết bức thư dài đó mặc dù tôi suy nghĩ về nó trong năm tháng trời. Nghệ thuật viết thư là một nghệ thuật thật cao, thật khó. Chúng ta thường viết thư quá cẩu thả, để rồi chúng ngạc nhiên khi chúng ta thấy mất những người mà chúng ta mến thương. Vợ tôi không được gần tôi từ nhiều năm nay nhưng nàng vẫn cảm thấy vòng tay tôi ôm xiết nàng. Thư từ là những sợi dây liên lạc duy nhất tôi có với nàng trong mười hai năm nay”. 
Emina đột nhiên nhô người về đằng trước. Ngực nàng gần cánh tay Sologdin hơn và nàng áp hai bàn tay lên đôi má ửng hồng của nàng: 
“Anh tin rằng anh có thể giữ được nàng ư? Mà anh giữ nàng để làm gì? Tại sao anh lại giữ nàng? Đã mười hai năm qua, anh còn xa nàng năm năm nữa. Mười bảy năm xa nhau tất cả. Anh làm nàng mất tuổi trẻ. Tại sao? Hãy để cho nàng sống”. 
“Ở đời này có một loại đàn bà đặc biệt. Đó là những người đàn bà ra đời để làm chinh phụ, làm vợ những chiến sĩ Vikgin vượt biển đi chinh phục thế giới, những nàng Isolde linh hồn bằng kim cương. Cô sống trong một xã hội thấp kém nên cô không sao biết được họ”. 
Emina nhắc lại: 
“Để cho nàng sống. Và nếu có thể được, anh cũng nên sống”. 
Hơi thở nàng dồn dập và Sologdin nhìn đi. Tay anh gạch một nét lên tờ giấy hồng. 
“Dmitri Aleksandrovich … tôi muốn hỏi anh chuyện này từ lâu… Sao anh lại cứ vạch luôn tay những nét này? Ý nghĩa gì? Tôi để ý thấy anh hết vạch lên tờ giấy trắng lại vạch lên tờ giấy hồng”. 
“Lần này tôi sợ cô tò mò quá rồi đấy…” 
Sologdin giơ tờ giấy trắng có những nét vạch lên: 
“Mỗi lần tôi nghĩ được điều hay, làm được việc gì đúng, tôi vạch một nét lên đây…” 
“Còn tờ giấy hồng?” 
“Còn tờ giấy hồng… Chắc cô cũng nhận thấy tôi hay gạch lên tờ giấy hồng này những lúc nào chứ?” 
Trong phòng không có qua một tiếng động nào, câu trả lời của Emina gần như tiếng thì thầm: 
“Có. Tôi có nhận thấy”. 
Khuôn mặt Sologdin cũng đỏ lên, anh giận dữ thú tội: 
“Tôi vạch lên đây những dấu để phạt tôi…” 
“Sao anh… lại… phạt anh?” 
“Phạt tôi… vì tội tôi… thèm muốn cô. Đây tôi đánh liền ba dấu. Dấu này là vì đôi mắt ướt đa tình của cô… tôi phạt tôi vì tội rung động vì đôi mắt ấy. Dấu này là vì… vì… cổ áo cô hở và tôi nhìn thấy ngực cô. Dấu này là vì tôi muốn… muốn hôn lên đấy”. 
Emnina nói như người mất hồn: 
“Anh muốn… sao anh không hôn đi?” 

“Cô điên ư? Cô ra khỏi đây ngay… Đi ra…” 
Sologdin quay phắt lại cùng một lúc với Emina đứng bật lên. Cái ghế nàng ngồi đổ sau nàng. Sologdin nhìn ngay lên bàn vẽ nhưng anh không thấy cái gì trên đó hết. Đột nhiên anh cảm thấy bộ ngực đầy của người đàn bà dựa vào lưng anh. 
“Lasira…” Anh nói, và anh quay lại ôm nàng. 
“Dmitri…” Nàng như người nghẹn thở. 
“Cho tôi… Để tôi khóa cửa lại…”
 
Emina không lùi lại, nàng nói trong hơi thở: 
“Phải đấy. Khóa cửa lại”.