This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Tôi và thằng bạn lang thang khắp các quán nhậu, quán bia ôm trong thời gian thành phố đang xôn xao về chuyện mất Ban Mê Thuột. Vừa mới xong vụ Phước Long thương khó, bây giờ lại đến Ban Mê Thuột “khó thương”. Không biết lần này những nơi ăn chơi của trai thanh gái lịch Sài Gòn có bị đóng cửa ba ngày như lần trước không? Nhưng cả chuyện mất Ban Mê Thuột lẫn chuyện đóng cửa những nơi du hí chẳng ăn nhậu gì đến bọn tôi cả. Cho dù tất cả những quán bia ôm bị đóng cửa, bọn tôi vẫn có thể lê la những quán cóc lề đường. Hơn nữa, lúc này đã vào nửa cuối tháng lương mà ngày vui chắc chắn sẽ còn rất dài nên chuyện ngồi quán cóc lại là điều hợp lý và hợp tiền. Thành ra với bọn tôi, nhậu cái gì cũng là nhậu. Chúng tôi cần nhậu và sau đó xuống xóm tìm chị em ta, thật giản dị và dễ tính. Quán cóc và các xóm chị em ta bảo đảm là không bị ảnh hưởng một tí gì về chuyện thành phố phải để tang cho một địa danh nào đó vừa mất.
Tôi cũng vậy. Phước Long mất; Ban Mê Thuột mất; Pleiku, Kontum đang chuẩn bị mất tôi xem như “nơ pa”, bởi vì tôi sống và lớn lên ở Sài Gòn nên tôi đã thừa hưởng trọn vẹn cái thói thản nhiên, cái tính phớt tỉnh Ăng Lê hơn người Ăng Lê của dân Sài Gòn. Thành thử một địa danh nào đó dù lớn dù nhỏ, vừa mất đi hay vừa chiếm lại được nếu không ăn nhậu gì đến chuyện làm ăn của mình, chuyện mất mát người thân của mình hay ảnh hưởng đến chuyện ăn chơi của mình thì dĩ nhiên không phải là chuyện của mình. Tiếng súng ở ngoài tầm tai của mọi người mà. “Tôi vẫn sống, tôi vẫn ăn và tôi vẫn thở…”.
Tôi đã trú đóng một thời gian ở Ban Mê Thuột, cũng có một ít kỷ niệm lăng nhăng về tình cảm ở Ban Mê Thuột. Nhưng tôi không có tài sản, tôi không có thân nhân đang ở hay đang đánh đấm ở Ban Mê Thuột, và những nơi ăn chơi của tôi ở Sài Gòn không bị ảnh hưởng bởi chuyện mất Ban Mê Thuột, nên một năm mười hai tháng, chỉ có mấy ngày là được ăn nhậu thoải mái, không phải lo bất cứ chuyện gì, vậy thì tại sao tôi phải bận tâm về những chuyện không phải của mình? Mất hay không mất Ban Mê Thuột thì đã sao?
La cà ở các quán nhậu và sau đó xuống xóm đã là một chương trình bất di bất dịch trong những lần phép ở Sài Gòn. Ðã có lần tôi viết thư cho một người bạn kể về những lần phép và những ngày phép của tôi: “Ở Sài Gòn, suốt ngày tao chỉ ngồi và nằm, ngồi với rượu và nằm với gái, vì cả năm sau đó tao không còn được ngồi và nằm thoải mái nữa, và chưa chắc tao đã có thêm được một lần phép kế tiếp. Lý do thật giản dị là mỗi buổi sáng mở mắt ra mới biết là mình đã sống thêm được một ngày”.
Thời gian này tôi chỉ tiếc một điều là Rex vừa chiếu một xuất đặc biệt phim Exorcist để lấy tiền giúp đồng bào chạy loạn; giá vé thật đắt nhưng đã hết nhẵn từ chiều, kể cả vé chợ đen đắt gấp ba bốn lần giá vé chính thức. Tôi đến trễ nên không mua được vé. Không hiểu cả năm nữa tôi mới được về, chắc gì đã đúng vào dịp phim này được chiếu lại. Tôi tiếc không phải vì tôi đã không được đóng góp chút đỉnh tiền theo kiểu trước mua vui sau làm việc nghĩa để cứu giúp đồng bào mình, mà vì phim này được quảng cáo hấp dẫn quá, tôi muốn được xem đã từ lâu rồi. Thôi thì lại nhậu.
Ðến ngày hết hạn trên giấy phép tôi ra trình diện hậu cứ ở Vũng Tàu để gia hạn, vì tôi đã lên máy bay rời Huế chậm hơn ngày ghi trong giấy phép. Ðường Sài Gòn – Vũng Tàu lúc này hơi mất an ninh nên những chuyến liên lạc giữa hậu cứ tiểu đoàn với Bộ tư lệnh ở Sài Gòn thưa hơn trước. Trong khi chờ đợi quyết định của tiểu đoàn trưởng ở hành quân, tôi la cà ở Bãi Trước để tránh phải nghe chuyện ngồi lê đôi mách, nói xấu nhau của những bà vợ sĩ quan ở khu gia binh của hậu cứ.
Ăn nhậu ở đây quá phí tiền nên không đợi tiểu đoàn trưởng gia hạn giấy phép – tôi biết chắc chắn là tôi sẽ không được gia hạn – và cũng không đợi để đi theo chuyến liên lạc, tôi tự động coi như mình đã hợp lệ chuyện kéo dài ngày phép, tôi lên xe đò về Sài Gòn sau một chầu nhậu say mèm với bọn đệ tử ở hậu cứ. Thủ hai quả lựu đạn trong túi quần cho chắc ăn, nhưng vừa bước chân lên xe tôi đã ngủ như chết. Về đến Sài Gòn tên lơ xe còn phải lay một hồi lâu tôi mới tỉnh.
Tôi lại liên miên sáng xỉn chiều say tối nằm quay với gái, mặc dầu đã hết cả những ngày phép tự gia hạn. Nhưng nhằm nhò gì, tôi vẫn còn những ngày phép tự ký nữa vì tôi là một thằng có biệt tài trễ phép. Tùy cơ ứng biến, tôi có trăm phương nghìn kế để trễ phép mà không bị phạt. Tôi đã từng đi hai mươi tám ngày trong khi phép chỉ có bốn ngày, ra đơn vị cũng chỉ cười trừ. Lần đi phép này, tôi đã không định trễ, nhưng vì tôi đã bị tiểu đoàn trưởng giữ lại đơn vị đến qua Tết ta trong khi giấy phép của tôi đã được gửi về hậu trạm trước Noël, nên không lý do gì mà tôi không trễ phép để bù lại sự thiệt thòi vô lý đó.
Suốt bảy năm lính tôi chỉ được ăn Tết lén ở Sài Gòn một lần vào đầu năm 70 vì tôi tình nguyện đi học khóa Rừng Núi Sình Lầy ở Dục Mỹ để câu giờ kiếm cái Tết. Ðể trả thù vì bị mất khơi khơi một cái Tết huy hoàng ở Sài Gòn tôi tính phải trễ phép một tháng tức là phải ở Sài Gòn một tháng rưỡi mới hả dạ. Tôi được phép thưởng đặc biệt mười lăm ngày, cho nên đã hết những ngày phép tự gia hạn, tôi còn đến một tháng phép tự ký nữa. Thiếu một thằng sĩ quan tại một đại đội lúc nào cũng có sẵn hai, ba thằng sĩ quan dự bị thì đâu có nhằm nhò gì, mợ đi lấy chồng thì chợ vẫn vui mà.
Nhưng chợ đã không vui.
Chiều 15 tháng Ba, tôi gặp thiếu úy Bé Quân Cảnh vừa từ Bộ tư lệnh hành quân về, cho biết tiểu đoàn tôi đang đụng lớn. Tiểu đoàn tôi nằm ở cây số 23 về phía bắc trên quốc lộ 1 tính từ Huế. Khu vực trách nhiệm của tiểu đoàn từ bờ bắc sông An Lỗ ra đến căn cứ Hòa Mỹ. Sát sông An Lỗ là hai làng Cổ Bi và Hiền Sĩ, nơi đã xảy ra những trận đánh lớn sát quốc lộ, và hiện nay vẫn đang bị đặc công và du kích quấy phá, nhưng chỉ là quấy phá chứ không có gì đáng ngại. Sát căn cứ Hòa Mỹ là làng Ðồng Lâm, một cái làng mà hầu như từ trưởng ấp trở xuống đều là Việt Cộng. Phía đông là bãi cát mênh mông, có một ít dân Quảng Trị chạy loạn về tạm cư lập thành một vài xóm nhỏ, tương đối an toàn. Còn về phía tây của vùng trách nhiệm, nơi đối diện thực sự với Việt Cộng, nơi mặt đối mặt, có chạm tuyến, có điểm đóng quân, nơi phía tây này có một trọng điểm là đồi 51. Từ đồi 51, chúng tôi có thể quan sát được những cuộc chuyển quân, kiểm soát được những hoạt động tại các vị trí của Việt Cộng, và cũng từ đồi 51, Việt Cộng có thể kiểm soát được các vị trí đóng quân của chúng tôi, kể cả một đoạn quốc lộ 1. Việt Cộng có thể dễ dàng liên lạc với bọn du kích nằm trong làng Ðồng Lâm, nằm ngay sát quốc lộ và ngay bên cạnh căn cứ Hòa Mỹ.
Nếu tiểu đoàn tôi đụng lớn, chắc chắn là đụng tại đồi 51. Tính theo vòng thay đổi điểm đóng quân trong tiểu đoàn thì đại đội tôi đang nằm ở đồi 51.
Ban Mê Thuột mất không ăn nhậu gì đến tôi. Người ta đang bỏ Pleiku, Kontum cũng chẳng nhằm nhò gì đến tôi. Nhưng đồi 51, một ngọn đồi nhỏ không có tên, chúng tôi phải lấy cao độ của nó để đặt cho nó một cái tên cho dễ gọi, nơi mà không một người Sài Gòn nào nghe nói đến, nơi mà dù có mất nó cũng không đáng để cho người ta xê dịch cái kim hay đổi màu bút chì mỡ trên bản đồ chiến sự trong những báo cáo hằng ngày, nơi mà bản tin chiến sự hằng ngày của đài phát thanh quân đội cũng không buồn đọc, nơi mà báo chí hằng ngày cũng coi như không đáng đăng bằng tin xe cán chó, thì chính nó, cái đồi trọc lóc, nhỏ xíu và lùn tịt nằm ở cực bắc Việt Nam Cộng Hòa, lại là điều rất quan trọng đối với tôi, đã làm tôi bỏ ăn bỏ nhậu, đã làm tôi đang phè phỡn phải tìm mọi cách ra đến nơi càng sớm càng tốt. Nó mạnh hơn những ngày phép trả thù của tôi, nó hạ đo ván tất cả những lý do, những cái mánh tôi đang sắp xếp để qua mặt Tiểu đoàn trưởng, vì đó là ngọn đồi mà đại đội tôi đang trấn đóng, nơi mà anh em bè bạn, thầy trò của tôi không biết thằng sống thằng chết ra sao.
Sáng 16 tháng Ba, tôi lên trình diện Bộ tư lệnh, phòng Tư cho biết ít ra phải cả tuần nữa mới có được tên trong danh sách của chuyến bay ra Ðà Nẵng – phi trường Phú Bài đã không sử dụng được vì nằm trong tầm pháo của Việt Cộng. Lúc ăn điểm tâm tại Thị Nghè sáng ngày 17 tôi đã năn nỉ thượng sĩ Tuấn, người phụ trách lập danh sách cho các chuyến bay của Sư đoàn để được có tên trong chuyến bay ngày 18.
Chiều 17 tháng Ba, tôi chào gia đình để đi. Bà ngoại ôm tôi khóc. Mẹ tôi không muốn tôi đi. Và cậu tôi – tuy là em của mẹ tôi nhưng ông mới chính là bố tôi vì ông đã nuôi tôi từ ngày còn đỏ hỏn cho đến khi tôi bước chân vào đời – khuyên tôi nên đào ngũ vì tình hình theo ông biết là Mỹ sẽ bỏ rơi Việt Nam. Ông nói:
“Tình hình lúc này không còn được như trước nữa đâu con ạ! Những người Mỹ cậu quen đã lục tục về nước gần hết, chỉ còn ít người ở lại để thu xếp công việc, cậu chắc là rồi họ cũng sẽ đi nay mai gì đó thôi. Tốt nhất là con nên ở nhà để còn lo liệu cho gia đình. Nhà mình chỉ có cậu với con là đàn ông thôi.”
Tôi tin là ông nói thật. Dĩ nhiên là ông không nói hết những điều ông biết nhưng ông cho tôi một lời khuyên gói trọn tất cả những điều ông cần nói. Sự quen biết của ông đủ để bảo đảm những điều ông nói nên tôi tin là ông thực sự muốn tôi đào ngũ ở nhà để tránh phải húc đầu vào những trận đánh vô ích. Nhưng tôi không nghe lời ông. Chắc chắn là Mỹ không bỏ Việt Nam, bao nhiêu xương máu và của cải của Mỹ đã đổ xuống đây rồi. Và hiện giờ Mỹ chỉ không tăng viện trợ chứ Mỹ đâu có cắt hết viện trợ. Chúng tôi đã chẳng phải chiến đấu theo kiểu nhà nghèo từ sau ngày ngưng bắn rồi ư. Còn một điều nữa là bạn tôi, anh Phát làm ở Hạ Viện, cho biết là sẽ cắt đất hoặc ở An Lỗ hoặc ở Lăng Cô.
Hơn nữa, còn đồng đội tôi, còn đàn em tôi, còn danh dự tôi. Tôi sẽ ăn nói thế nào với họ khi mà tôi, thằng Huy Râu của tiểu đoàn 4 đào ngũ khi đơn vị đụng trận. Riêng chuyện trễ phép trong khi đại đội bị tấn công ở đồi 51 đã không đủ nhục hay sao, không lẽ bây giờ tôi lại bỏ mặc tụi nó, đào ngũ để lo cho thân mình vì chuyện khó tin chưa xảy ra. Không, cậu tôi nói thật nhưng chỉ là điều ông căn cứ vào những tin tức từ bạn bè, người quen của ông; còn tôi, tôi không thể nghe lời ông vì tôi không muốn là một thằng hèn. Tôi nói với ông: “Sống chết sướng khổ gì cũng có số hết cậu ạ. Cháu không muốn phải ngượng mỗi lần gặp lại bạn bè, đồng đội.”
Tôi không phải là một người hùng, nhưng tôi cũng không phải là một người hèn. Tôi chỉ là một người lính, lính của một binh chủng chuyên môn đánh trận và chỉ nhận những người tình nguyện; tôi phải xứng đáng với màu mũ tôi đang đội, màu áo tôi đang mặc, và hơi cá nhân một chút, tôi phải xứng đáng với cặp lon tôi đang đeo… Nhưng tôi cũng không phải là một người lính gương mẫu, đúc khuôn theo những điều được huấn luyện trong quân trường, thi hành đúng 8 điều, 10 điều tâm niệm của mấy ông Chiến Tranh Chính Trị đẻ ra mà chính mấy ông ấy lại không bao giờ thi hành. Tôi là một thằng lính ba gai, cờ bạc, rượu chè, trai gái đủ cả nhưng đánh giặc cũng rất tận tình. Chưa một ai, thượng cấp cũng như thuộc cấp, phải than phiền về tôi trong những trận đánh.
Trưa 18 tháng Ba, ra đến Ðà Nẵng, tôi phải ngủ lại một đêm vì không có xe ra Huế. Bộ tư lệnh hành quân đang chuyển từ Hương Ðiền Huế vào căn cứ Non Nước Ðà Nẵng. Xe cộ đang dành ưu tiên để chuyển các tiểu đoàn của Lữ đoàn 258 và 369 vào Ðà Nẵng thay cho các tiểu đoàn Dù rút về Sài Gòn.
Ngoại trừ phi trường Ðà Nẵng rất đang chộn rộn về những đống quan tài phủ cờ được đưa về Sài Gòn và những người dân Pleiku, Kontum được di tản bằng máy bay đến, nhịp sống của những người dân trong thành phố hình như không có gì thay đổi. Tôi và mấy người lính cùng tiểu đoàn lại lang thang trong thành phố để tìm các quán nhậu và xóm chị em ta. Cà phê, xi nê, vũ trường vẫn đông đảo tấp nập. Buổi tối chúng tôi còn kéo nhau đến xem hội chợ tại một trường nữ trung học nhân dịp lễ kỷ niệm một nữ anh hùng nào đó trong lịch sử mà tôi không nhớ. Người ta vẫn ăn diện, người ta vẫn chơi bời, người ta vẫn vui vẻ thoải mái, đường xá vẫn rất nhộn nhịp. Sinh hoạt bình thường này đã làm yên lòng những người dân vừa từ Quảng Trị và Huế chạy vào.
Căn cứ chuyển vận vẫn tối tăm, hôi hám và bẩn thỉu như thuở nào, vẫn nhộn nhịp và ồn ào vì chưa bao giờ được yên tĩnh. Những ông già mệt mỏi và những người đàn bà xốc xếch đang vật vã khóc quanh những quan tài phủ cờ được mang để ở đây không biết từ lúc nào, và cũng không biết đến bao giờ mới được mang đi. Máy bay đã không còn chỗ cho những chiếc quan tài này, và đường thủy cũng chỉ nhận mỗi ngày một số rất hạn chế.
Có cả xác của những người lính của tiểu đoàn tôi đã nằm đợi ở đây bốn, năm ngày. Và thân nhân của họ ở đâu miệt lục tỉnh cũng đã ra đến, xác của họ phải được mang đi gấp vì họ chết ít ra cũng đã hơn một tuần, không hiểu thứ tự ưu tiên của căn cứ được sắp xếp thế nào mà xác họ vẫn còn để đây. Và điều này cũng làm tôi thắc mắc là từ ngày Sư đoàn tôi ra Quảng Trị, chúng tôi vẫn có những chuyến bay riêng để tiếp tế, tải thương, tải xác… tại sao bây giờ chúng tôi lại phải tải xác qua hệ thống chuyển vận của căn cứ này? Tôi được yêu cầu đứng ra can thiệp nhưng chẳng đi đến đâu cả, chỉ nhận được những lời hứa, mà lời hứa thì giá trị khỉ gì trong lúc này!
Chúng tôi lại kéo nhau ra cái quán nằm xế cổng căn cứ nhậu tiếp. Lại nhậu, mặc dầu mấy thằng chỉ còn một cây thuốc Capstan đem theo để đổi rượu. Tại quán nhậu, tôi gặp mấy người lính Lôi Hổ đóng tại Ðà Nẵng, họ cho biết nửa khuya này họ phải nhảy vào Ban Mê Thuột. Tôi nghĩ bụng quả là chó má khi cố tình giết thêm một ít người nếu đúng như họ phải nhảy vào Ban Mê Thuột. Hy vọng điều này không đúng với sự thật. Quyết định thí quân hay quyết định sai lầm của một cấp chỉ huy có thể giết chết hàng đơn vị lớn cũng không đáng trách, nhưng quyết định thảy một toán lính vào một nơi mà hàng sư đoàn không chống giữ nổi, kéo theo cả một quân đoàn phải rút chạy thì cái chết của họ phí quá. Ai là người chịu trách nhiệm về những cái chết kỳ cục vô ích này? Lính cũng là người chứ đâu phải đồ chơi cho những ông xếp lớn!
Trưa 19 tháng Ba, tôi ra đến Huế. Sinh hoạt ở đây rất vội vã, vội vã chứ không ồn ào. Hình như người dân ở đây đã quá quen với những lần phải bỏ nhà bỏ cửa chạy lấy người, và hình như những người chuyên gây ra chuyện ồn ào đã bỏ chạy từ trước rồi. Những người nhà giàu đã vào Ðà Nẵng hoặc Sài Gòn, những người trung lưu cũng đã vào Ðà Nẵng trú thân, cái vội vã chỉ xảy ra ở những người buôn bán nhỏ, hoặc ở những người còn cố nán lại ở thành phố để kiếm thêm chút “cháo”.
Tôi cũng vội vã không kém. Tôi phải mua ít đồ lặt vặt để đi gấp ra tiểu đoàn trong buổi chiều để còn kịp về đến đại đội trước khi trời tối. Tôi không thể đợi đến ngày hôm sau đi theo chuyến tiếp tế vì tiểu đoàn trưởng ra lệnh tôi phải ra hành quân ngay trong ngày bằng mọi giá. Vả lại, tôi cũng không thích nhìn thành phố Huế đang trên đà giãy chết này nên ra hành quân cho êm chuyện.
Xuống xe tại sân tiểu đoàn, tôi gặp một thiếu tá rất lạ mặt đang đứng với tiểu đoàn trưởng ở cửa lều ban Ba. Tôi trình diện. Ông thiếu tá lạ hoắc đó tên là Thành cũng mang bảng tên màu đỏ của tiểu đoàn. Ông bắt tay tôi và hỏi tiểu đoàn trưởng:
“Ông sĩ quan này đây hả?”
Nghe câu này, tôi biết chắc là hai người đã nói chuyện về tôi, và dĩ nhiên không phải là nói tốt. Nhằm nhò gì! Tiểu đoàn trưởng không trả lời, quay sang nói với tôi:
“Ðụ mẹ, ông về đại đội liền bây giờ.”
“Ðại đội tôi nằm đâu, thiếu tá?”
“Ðụ mẹ, không biết, ông đi cho khuất mắt tôi đi!”
Tiếng chửi thề của ông rất nhỏ nhưng tôi biết ông chửi thề vì thấy môi ông mấp máy trước khi nói. Tôi chào và quay đi với một chút thích thú, đâu phải thằng nào cũng làm cho “Hitler” chửi thề được, dù chỉ chửi lẩm bẩm trong miệng. Ông đuổi tôi đi ngay lập tức, tức là tôi không phải trả lời ông về lý do trễ phép, dĩ nhiên như vậy tôi đâu có bị phạt. Ra đến Huế, hậu trạm đã cho tôi biết đại đội bị “banh ta lông” ở đồi 51 không phải là đại đội tôi, như vậy, cái gánh nặng trong người tôi đã được trút bỏ, chỉ còn mỗi cái gánh nhè nhẹ là bị phạt này bây giờ cũng được tháo bỏ nốt.
Trung úy Xuân đại đội trưởng đại đội chỉ huy cho tôi biết là thiếu tá Thành sẽ thay thế thiếu tá Toàn làm tiểu đoàn trưởng, hẳn là hai ông đã bàn giao cả cái ba gai của tôi. Ðại úy Phó đang tập sự làm trưởng ban Ba để đi với thiếu tá Toàn qua tiểu đoàn 18, đại đội 3 của đại úy Hiếu đã qua tiểu đoàn 14 trước, còn đại đội mới thành lập của đại úy Chiêu nay trở thành đại đội 3 đã “banh” mất nửa đại đội tại đồi 51, thiếu úy Sáng đại đội phó chết cùng với lính, trong số chết có thằng Hiếu, tên cao bồi ruột của tôi.
Khi thành lập đại đội mới, tôi chắc mẩm là qua làm đại đội trưởng nên đã đưa Hiếu qua trước để khi tôi qua khỏi bị rắc rối giấy tờ, nhưng cuối cùng đại úy Chiêu làm đại đội trưởng và thiếu úy Sáng làm đại đội phó, tôi gửi Sáng thằng Hiếu, đâu ngờ tôi đã gửi thằng Hiếu cho cái chết.
Tôi cũng được biết đáng lẽ đại đội 4 tôi lên nằm đồi 51 theo đúng vòng luân phiên nhưng vì thiếu đại đội phó -là tôi- nên đại đội 3 đã lên thay. Như vậy, chuyến đi phép của tôi đã cứu tôi và cứu nửa đại đội của tôi, nhưng chuyến đi phép của tôi đã làm chết oan Sáng và nửa đại đội của Sáng. Ðồi 51 đã được đại đội 2 lấy lại sau đó một ngày, giải thoát được một tiểu đội còn bám lại và lấy lại toàn bộ vũ khí bị mất, chỉ thiếu có bộ phận máy nhắm của một khẩu súng cộng đồng, đồng thời tịch thu được khá nhiều vũ khí. Xác lính thiếu mấy cái được kể như mất tích. Xác thiếu úy Sáng cởi trần và không có thẻ bài, được nhận diện bằng cái ống quần chật cố hữu và cái khóa thắt lưng đặc biệt, loại chỉ có khung mà không có mặt.
Sáng và tôi ở hai đơn vị khác nhau, học cùng một khóa ở Rừng Cấm, trung tâm huấn luyện của sư đoàn, cùng về đại đội một ngày, tuy mỗi thằng chỉ huy một trung đội nhưng thường đi cặp với nhau trong những trận ủi bãi. Hai thằng tôi còn là một cặp tri kỷ về nhậu. Sáng, tôi và Thiện – đã đi đơn vị khác – được mệnh danh là ba cái nắp nhạo. Sáng đeo lon chuẩn úy hơi lâu trên cổ – bốn năm – mà không vì một lý do nào hết, là một trung đội trưởng kỳ cựu nhất tiểu đoàn – hơn ba năm – nên vừa lên thiếu úy vài tháng đã được làm đại đội phó. Cuộc đời binh nghiệp của Sáng khá lận đận mặc dầu là một người rất tôn trọng kỷ luật chứ không thuộc loại mất dạy như tôi. Bây giờ lên lon, lên chức liên tục dù rằng đã trễ, tưởng rằng sự nghiệp kaki sẽ khá hơn chút đỉnh, nào ngờ lương thiếu úy chưa được lãnh, hồ sơ chức vụ đại đội phó chưa điều chỉnh xong thì đời Sáng đã xong.
Khi địch tràn ngập vị trí phòng thủ ở đỉnh đồi, Sáng đã xin pháo binh bắn thẳng vào đầu mình, không khóa, không mã, không ngụy, không ám danh đàm thoại gì hết trên hệ thống truyền tin, tiếng Sáng ngắn gọn sau một tiếng chửi thề: “Ðụ mẹ, nó đông quá, chụp lên đầu tao!” Pháo đã chụp lên đỉnh đồi và hai chiếc máy bay cũng nhắm thẳng đỉnh đồi mà dội.
Cái chết thật anh hùng nhưng cái chết thật vô danh – đã đành -. Cái sống anh hùng của cả một tiểu đội vẫn bám chặt, vẫn chiến đấu trên ngọn đồi đã bị địch tràn ngập cho đến khi được giải cứu, đã chỉ được nhắc nhở đến như một tin tức bình thường. Có vô tình quá không, mặc dù ai cũng hiểu một vài điều khích lệ lúc này, một chút cử chỉ quan tâm lúc này còn giá trị hơn một triệu hành động tuyên truyền chiến tranh chính trị. Tôi thắc mắc không hiểu tiểu đội anh hùng này là người hùng riêng của tiểu đoàn 4 hay họ cũng là anh hùng của cả binh chủng, của cả quân đội. Chắc chỉ có những ông xếp lớn chết hoặc sống hơi “ngon” một chút mới đáng là anh hùng, còn những thằng cỡ thiếu úy Sáng, cỡ tiểu đội cố thủ trên đồi 51 này thì là “cái mẹ gì”. Quân đội không thiếu những anh hùng cỡ là “cái mẹ gì” mà thành ra thiếu anh hùng một cách trầm trọng. Tôi sực nhớ lại một trong những người là chiến sĩ xuất sắc thuộc tiểu đoàn tôi về dự đại hội chiến sĩ xuất sắc ở Sài Gòn năm 73 là người quanh năm suốt tháng ở hậu cứ, hầu như suốt cuộc đời nhà binh chưa hề nghe một tiếng súng bắn ngược. Hoan hô những người hùng.
Tôi hỏi trung úy Xuân:
“Ðại đội tôi nằm ở đâu ông?”
“Chỗ cũ, đến đường rầy quẹo trái.”
Tôi ra khỏi chỗ đóng quân của Ban chỉ huy tiểu đoàn, băng ngang quốc lộ đi dọc lên phía bắc, qua chợ Ðông Hòa cũ, mặc dù hôm đi phép tôi còn ngồi ở góc chợ uống bia chờ xe đò, nhưng bây giờ chưa đầy một tháng vắng mặt, tôi đã phải gọi là cũ vì nó chỉ còn trơ ra những cái xạp cháy dở và những tấm vách nằm ngổn ngang đầy những dấu đạn đại bác. Tôi quẹo trái vào con đường đất đỏ dẫn vào phía núi.
Con đường nhỏ dẫn vào chân núi này rất quen thuộc với tôi nhưng bây giờ lạ hẳn. Ngay từ căn nhà đầu tiên, quán nhậu của mẹ con cô giáo Hương đã không còn nguyên vẹn, mái tôn đổ ụp xuống làm văng tung tóe những tấm ván thùng đạn pháo binh được đóng làm vách, căn nhà bên cạnh, tiệm hớt tóc miền quê cũng không còn cái cọc nào đứng nguyên. Suốt một dọc, những căn nhà ven chợ này đều có chung hình dạng tan nát của cái chợ. Càng vào sâu, nhà cửa càng tan hoang, dấu vết của những đợt pháo kích khủng khiếp.
Qua hết khu “thị tứ” ven chợ, băng qua một vũng sình lớn, tôi đến khu trong. Gọi là khu trong vì có đám sình ngăn cách với khu buôn bán bên ngoài chứ thực ra chỉ có lèo tèo vài căn nhà lụp xụp để ở. Khu trong còn nguyên vẹn. Tôi đến gần, một bà sư từ trong nhà đi ra, gọi tôi hỏi: “Răng eng đi giờ ni mà đi có một miềng?”
Câu hỏi làm tôi sững người. Mặt trời đã lặn, tuy còn thấy rõ mặt người nhưng chỉ là ánh sáng phản chiếu mà đường vào đến đại đội tôi còn xa. Bây giờ tôi mới chợt để ý là khu này không còn người dân nào, vì nhà cửa họ cháy hết đã đành, mà tình hình lúc này không còn phải là tình hình của những ngày tôi chưa đi phép. Nhìn xuống khẩu súng, tôi nổi gai ốc khắp người, súng tôi không có đạn.
Bằng động tác rất tự nhiên, tôi kê khẩu súng lên túi đạn bên hông – dĩ nhiên túi đạn cũng rỗng – đứng nghiêng người để bà sư không thể nhìn thấy chỗ lắp băng đạn của khẩu M-16 tôi cầm trên tay đang rỗng tuếch. Tôi trấn tĩnh rất nhanh.
“Có lính ra đón tôi. Tại sao bà lại ở đây có một mình?”
“Tui tu hành mà eng. Eng đi cho cẩn thận chứ mấy hắn thường ra giờ ni nớ.”
Tôi bước đi, trong đầu không còn nghĩ đến Sáng, không còn nghĩ đến Hiếu, không còn nghĩ đến hùng đến hèn gì nữa mà chỉ còn nghĩ đến mình. Tôi đã quá cẩu thả để không hỏi rõ tình hình, để không lấy vài băng đạn đem theo, để không gọi máy về đại đội gọi lính đi đón. Sự cẩu thả này không thể chấp nhận được. Cái lỗi này chỉ cần một chút “xui” là không bao giờ còn vấp phải lần thứ hai vì chắc chắn không còn lần thứ hai nào nữa để mà vấp phải. Tôi bước đi, hấp tấp nhưng phải cố làm ra vẻ như mình không hấp tấp, mắt đảo thật nhanh, láo liên như một thằng ăn cắp, nhưng lại phải rất kín đáo nhìn lại phía sau, súng không có đạn mà lúc nào cũng phải nắm lấy tay cầm của khẩu súng trong tư thế sẵn sàng bắn, nhưng dĩ nhiên phải giấu phía gắn băng đạn quay vào người. Cứ trong tư thế mâu thuẫn như vậy tôi đi. Trời không lạnh mà tôi run, trời không nóng mà tôi toát mồ hôi. Bàn tay phải đã ướt nhẹp mà tôi không dám rời tay cầm của khẩu súng để lau. Tôi phải giữ đúng tư thế sẵn sàng tác chiến với hy vọng may ra đánh lừa được tên du kích nào lấp ló ở đâu đó chăng. Tôi cố gạt phắt ý nghĩ là nếu thằng du kích nào đó có súng thì cho dù tôi có ở tư thế “hiên ngang” như thế nào đi nữa thì nó vẫn có thể “tỉa” tôi một cách dễ dàng. Nhưng với tư thế này của tôi, biết đâu nó có thể nghi rằng đàng sau tôi đang còn một tốp lính nữa mà tôi chỉ là thằng xích hầu, nếu chỉ có một mình chắc chắn nó sẽ không dám bắn. Một cú tháu cáy cạn láng mà tôi chỉ có đôi bạt mặt.
Sự bình tĩnh gần như chỉ còn là phản ứng không phải của tôi, được tăng lên theo sự rút ngắn của đoạn đường, nhưng lại giảm xuống theo sự mất dần của ánh sáng. Lời nói dối bà sư khi nãy trở thành niềm hy vọng to lớn tôi mong chờ: tôi chờ được gặp tốp lính đang trên đường đi đón.
Ðến đường rầy là ngã ba đường thì cũng lại là ngã ba đường của tôi, “chỗ cũ” của đại đội tôi và “tới đường rầy quẹo trái” là hai địa điểm ngược đường với nhau, quẹo trái thì không thể nào đến chỗ cũ, mà đi băng qua đường rầy thì lại sai với lời chỉ đường. Tôi chửi thầm trung úy Xuân đã chỉ đường cho tôi một cách bá láp, tôi chửi thầm tôi đã không kịp nhận định cho rõ trước khi rời tiểu đoàn, tôi cũng chửi thầm luôn đại đội trưởng đã biết tôi về đến mà không cho lính đi đón.
Tôi phân vân nhưng không được phép chần chừ, quyết định chậm phút nào là kéo dài sự nguy hiểm thêm phút nấy. Tôi không dám lên chỗ cao để nhìn cho xa, vì ánh sáng lúc này không đủ cho tôi nhìn xa và bóng tối lại quá đủ cho thân hình tôi in rõ nét trên nền trời. Chỉ còn chừng ba mươi thước là đến đúng chỗ rẽ, suy tính của tôi không được phép lâu hơn ba mươi bước đôi của một người bước vội. Tôi không còn lựa chọn giữa hai nơi “chỗ cũ” và “đến đường rầy quẹo trái” nữa, mà tôi chỉ còn được phép chọn lựa lối đi theo địa thế. Nếu đi băng qua đường rầy tôi sẽ phải đi băng qua mấy cái đồi trọc nằm thoai thoải, dễ chết quá, tôi sẽ là một mục tiêu rất rõ cho những tay súng nhắm bắn từ sát mặt đất. Còn nếu quẹo trái, tôi sẽ phải đi vào con đường mòn thật nhỏ, quanh co và nhiều bụi rậm, cũng dễ chết lắm vì khu này đã không được “ổn” từ những ngày tôi chưa đi phép, huống hồ bây giờ.
Tôi quyết định quẹo trái vì chưa chắc hiện giờ lối nào “ổn” hơn lối nào. Nếu đi trên đồi, hai bên gặp nhau thì thằng chết chỉ là tôi, nghĩa là kể cả trường hợp tôi thấy địch trước, vì tôi không có lấy một viên đạn… làm thuốc. Còn nếu quẹo trái, ngộ nhỡ có đụng đầu nhau, kể cả trường hợp tôi thấy địch sau, tôi vẫn còn có thể lủi vào bụi rậm hai bên đường để mà “chẩu”.
Tôi đi rất cẩn thận, nghe ngóng và dọ dẫm ở những khúc quanh và chạy thật nhanh ở những khúc thẳng. Ðến bụi rậm cuối cùng, tôi dừng lại quan sát ngọn đồi trước mặt. Con đường lượn lên dốc thoai thoải vòng quanh chân đồi, bên phải trống trơn, một vài bụi rậm nhỏ không đủ che giấu cho tôi đi qua được chân đồi vì bên trái con đường, lên cao một chút trên sườn đồi đang có lố nhố mấy người đứng ngồi nhấp nha nhấp nhô. Bằng mắt với ánh sáng và khoảng cách lúc này tôi không thể phân biệt được họ là ai, mình hay địch. Không phân biệt được bằng mắt thì phân biệt bằng tai vậy: tôi cố gắng lắng nghe họ nói chuyện. Dĩ nhiên với khoảng cách này thì chỉ tiếng được tiếng mất, nhưng tôi đâu cần nghe câu chuyện của họ, mà tôi chỉ cần phân biệt cái giọng của họ, nếu giọng Nam thì thật “đã đíu”, mọi chuyện sẽ êm xuôi tại đây, còn nếu giọng Bắc nhà quê hoặc giọng trọ trẹ miền Trung thì… đằng sau quay, và chắc chắn là tôi sẽ có một đêm ngủ vật vờ trong bụi để làm mồi cho lũ muỗi rừng và… đợi sáng tính sau.
Tôi vận dụng tất cả mọi khả năng, dồn hết sức sống của tôi vào đôi tai để chờ đợi, nhưng ngoài tiếng côn trùng và tiếng gió, tôi không nghe được một tiếng nói nào của mấy người trên sườn đồi kia. Tuy nhiên, tôi bình tĩnh thật lạ lùng, cái bình tĩnh của thằng lính khi ra trận đã biết rõ mục tiêu, biết rõ từng vị trí của địch, đã nghe tiếng súng nổ, không còn sự hồi hộp lo sợ của sự chờ đợi những viên đạn đầu tiên của địch thay cho lệnh khai hỏa ghim vào thân thể mình trước khi kịp nghe tiếng súng, không còn là chuyện may rủi trời kêu ai nấy dạ của những viên đạn bắn sẻ nữa, mà là cái bình tĩnh của một sự việc đã được tính toán, đúng thì sống mà sai thì… húp cháo rùa.
“Ðù má, lâu dzậy mảy?”
Tiếng nói đột ngột, không đủ lớn nhưng đủ lọt vào tai tôi. Xong rồi! Tiếng chửi thề nghe sao dễ thương lạ. Tiếng chửi thề đã chấm dứt sự nguy hiểm bao quanh tôi. Bọn này hẳn phải là lính đại đội tôi, đang gài mìn tại tiền đồn cấp tiểu đội.
Tôi ung dung trở ra đường mòn, bằng điệu bộ rất thoải mái, súng vác vai vừa đi vừa huýt gió “cờ bay cờ bay oai hùng…” để tránh sự bất ngờ có thể gây ra ngộ nhận. Mấy người lính dừng tay nhìn tôi, và khi đi vòng theo chân đồi không thấy ai lên tiếng hỏi thăm, chắc là tối quá tụi nó không nhận ra mình, tôi lên tiếng:
“Ðứa nào đó bay?”
Không nghe tiếng trả lời, tôi hỏi tiếp:
“Ðại đội 4 phải không?”
“Ðụ mẹ, đi đâu về trễ vậy cha nội?”
Tôi bực mình, lính tráng thế này thì hỏng rồi, tôi xẵng giọng:
“Ðại đội nằm đâu?”
“Ủa, phép ra há mảy, đi tới là gặp liền. Mà đi lẹ lẹ nghe cha nội, coi chừng tụi nó gài “đồ chơi” rồi đó.”
“Có máy không, báo là tao về tới, khoan gài.”
“Không.”
Tiếng không cụt ngủn và có vẻ hơi xẵng. Tôi vừa bực mình vừa buồn cười liên tưởng đến một chuyện cũ. Năm 72, tôi bị thương, trong khi nằm ở tiểu đoàn đợi trực thăng tải thương, có một tay cũng bị thương và đợi trực thăng như tôi xin tôi điếu thuốc và hỏi một câu làm quà:
“Ðụ mẹ, mày cũng bị thương hả?”
Tay lính này chắc chắn chưa tới hai mươi, mặt mũi còn non choẹt và điệu bộ đầy vẻ dê cỏn buồn sừng. Tôi trả lời ậm ừ. Nó hỏi tiếp:
“Mày trung đội mấy?”
“Trung đội 2.”
“Tao cũng trung đội 2, mày tiểu đội mấy?”
“Tao ở PC trung đội.”
“Ðụ mẹ, mày tà lọt mà cũng bị thương hả?”
“Ờ, tao trung đội trưởng.”
Thằng bé bẽn lẽn:
“Ủa, ông thầy, em đâu có biết.”
Dĩ nhiên là nó không biết tôi, và cả tôi cũng không biết nó. Nó là một thằng lính mới tò te, rất tò te vừa được đưa từ trung tâm huấn luyện Rừng Cấm ra tiểu đoàn, ban Một tiểu đoàn phân phối cho đại đội, thường vụ đại đội chia cho trung đội, trung đội phó nhận rồi đưa ra tiểu đội. Trung đội đang “ủi bãi”, nó về đến trung đội buổi chiều, buổi tối tôi bị thương, nó đâu thể biết trung đội trưởng là ai được.
Còn một chuyện nữa, cũng năm 72. Tiểu đoàn trưởng lúc đó là trung tá Quang. Trên hệ thống truyền tin ông là Quang Trung, nhưng trên cửa miệng của những thằng lính chúng tôi thì ông là Quang Bóp Cổ. Nghe tên Quang Bóp Cổ phải hiểu ngay ông là nhân vật như thế nào trong đơn vị. Tiểu đoàn nằm ở thôn Bích La bên cạnh bờ sông Vĩnh Ðịnh, đại đội tôi nằm ôm tiểu đoàn. Một hôm Việt Cộng chen vào giữa đại đội 2 và tiểu đoàn. Sáng hôm sau chúng tôi đánh bật Việt Cộng ra ngoài đồng trống, thôi thì lính tráng tha hồ bắn những cái bia di động. Quang Bóp Cổ cũng lấy M-79 ra bắn loạn xà ngầu. Tụi tôi thấy Quang Bóp Cổ thằng nào cũng né, dạt ra một nơi. Chuẩn úy Chiếm lúc đó đang đi OJT trong đại đội, thấy một thằng mặc áo thun ba lỗ bắn M-79 dở ẹc, anh chàng đi tới vừa giựt khẩu súng vừa chửi thề: “Ðụ mẹ, bắn như cái con cặc mà cũng đòi bắn, đưa đây tao!”
Ðó là những mẩu chuyện ngộ nhận, nhưng trường hợp tôi bây giờ lại khác. Trong toán lính này ít nhất cũng phải có một thằng biết tôi; không kể thời gian làm trung đội trưởng, tôi đã làm đại đội phó đại đội 4 này ít ra cũng đã hơn hai năm rồi. Tại sao ngay cả tên chỉ huy cũng không nhận ra tôi? Hay là…
Tôi chạy thật nhanh, lần này thì chạy thật chứ không còn giả vờ gì nữa, để kịp về đến đại đội trước khi mìn và lựu đạn gài chặn lối đi. Tôi chạy một mạch gần hai trăm thước tới chân đồi đại đội, thấy mấy người lính đang từ trên đồi đi xuống, tôi đi ngược lên. Khi tới ngang họ, tất cả dừng lại tránh lối cho tôi đi lên, họ nhìn tôi có vẻ ngạc nhiên, tôi nhìn họ cũng rất ngạc nhiên, tất cả những khuôn mặt đều lạ. Tôi hỏi:
“Ðại 4 phải không?”
“Ừa, đại 4.”
Một người lính từ trong lều trên đồi bước ra hỏi vọng xuống:
“Gì đó bay?”
Tôi bỏ toán lính, đi tiếp lên đồi. Toán lính nhìn nhau rồi nhìn tôi, rồi lại nhìn nhau. Khi tôi đi qua người lính gác, đi tới người lính đứng trên đồi, họ mới tiếp tục đi xuống. Người lính đứng trên đồi hỏi vọng xuống là ông thượng sĩ già. Tôi nhìn kỹ bảng tên, bảng tên màu hồng. Té ra đây là đại đội 4 của tiểu đoàn 7. Rõ chán!
“Thượng sĩ cho tôi gặp đại đội trưởng.”
Người lính già trố mắt nhìn tôi, chắc chắn là không hiểu gì cả, bảo tôi đứng đợi rồi chui vào cái lều lớn ở giữa sân. Ông ta không hiểu nhưng tôi hiểu là mình đã đến lầm đơn vị, và việc của tôi ngay lúc này là phải gặp đại đội trưởng ở đây để nhờ liên lạc với đại đội tôi cho người đến đón. Nguy hiểm có thể đã hết, nhưng mệt thì còn nhiều. Ông thượng sĩ trở ra, tay cầm đèn được thắp bằng pin của máy PRC-25; một người nữa ra theo, tôi nhận ra người đi sau là Minh, bạn tôi.
“Ê Minh, cho tao gặp đại đội trưởng mày.”
Ông thượng sĩ lại trố mắt nhìn tôi thêm một lần nữa, ông ta không thể hiểu tôi là cái giống gì Tôi không đeo lon. Tuy nhiên ông ta không nói tiếng nào, lặng lẽ bỏ đi khi nghe Minh nói với tôi:
“Ðụ mẹ, mày làm cái con cặc gì mà tới đây giờ này, vô đây phê pháo cái đã, mọi chuyện tính sau.”
Tôi theo Minh vào lều nhưng sốt ruột, lại hỏi:
“Tao gặp đại đội trưởng mày đã, phê pháo mẹ gì.”
“Phê pháo đã mà, ổng đang bận.”
“Ủa, bộ mọi chuyện đại đội trưởng mày làm hết hả?”
“Ðụ mẹ, mật mày lớn mà mạng mày cũng lớn, lóng rày tụi nó ra hà rầm.”
“Lớn cái con củ cải, tao biết chó đâu đó, đến lúc biết đã ngồi cha nó trên lưng cọp rồi.”
Tôi nhờ Minh liên lạc với đại đội tôi, nhưng vì khác tiểu đoàn nên không có tần số để liên lạc, tôi đành phải xin ít đạn và mấy quả lựu đạn để tiếp tục… du lịch. Minh cho mấy người lính đi theo tôi. Về đến chỗ cũ của đại đội, đại đội tôi không còn đóng ở đấy, thay vào đó là một toán tiền đồn thuộc đại đội Trinh Sát của sư đoàn – Viễn Thám cũ. Tôi cho lính của Minh về và nhờ một người lính Trinh Sát đưa tôi về gặp trung đội trưởng của họ. Người trung đội trưởng này là một sĩ quan còn rất trẻ mà tôi không quen nên anh ta nói chuyện với tôi một cách dè dặt. Tôi phải moi tất cả giấy tờ có trong người như thẻ căn cước quân nhân, chứng chỉ tại ngũ và cả tờ giấy phép có chữ ký của trung tướng Ngô Quang Trưởng cho anh ta xem. Tôi chỉ nhờ anh ta mỗi một điều là báo cáo và cho người dẫn tôi về gặp đại đội trưởng của anh ta. Lại muốn gặp đại đội trưởng!
Tôi nghe rất rõ tiếng ông đại đội trưởng -tôi biết là đại úy Lực- phát ra từ ống liên hợp của máy truyền tin.
“Ðụ mẹ, không tin thằng nào hết, giấy tờ giả thiếu chó gì. Ông cho tôi biết nó người Bắc hay người Nam.”
Tức cười, lúc nãy tôi đã dùng cách phân biệt Bắc Nam để phán đoán ta hay địch, bây giờ tôi lại bị người khác dùng cùng một cách để đánh giá tôi là ai. Hỏng bét rồi, tôi là một thằng Bắc Kì trăm phần trăm, không sai một ly ông cụ nào, từ giọng nói đến những tiếng tôi đang dùng đều là Bắc Kì đặc.
“Ông này Bắc Kì nhưng trông cũng có vẻ lính mình.”
“Ông cho người mang thằng đó về đây cho tôi.”
Mang tôi đi tức là tôi bị tước súng và áp giải như một thằng tù binh. Mẹ kiếp, thằng này chứ có phải thằng nào khác đâu, đâu có chuyện tước súng tôi một cách dễ dàng như vậy được.
Bỗng nhiên tôi nổi giận:
“Này, đừng có làm cái trò sỉ nhục nhau như vậy chứ thiếu úy!”
Anh ta cho một người lính dẫn tôi về đại đội Trinh Sát.
Ðại úy Lực không tiếp tôi. Ông ta để tôi đứng ngoài sân với người thượng sĩ thường vụ, tiếng ông ta hỏi vọng ra từ trong lều:
“Anh ở đơn vị nào?”
“Ðại đội 4 tiểu đoàn 4.”
“Chức vụ gì?”
“Ðại đội phó.”
Tiếng ông ta dịu lại:
“Ðại đội trưởng anh là ai?”
“Tôi không phải là tù binh để phải đứng ngoài trời này khai lý lịch vọng vào lều cho đại úy. Tôi chỉ nhờ đại úy liên lạc với đại đội tôi cho lính đến đón tôi về.”
“Ðụ mẹ, liên lạc đâu có khó, nhưng tôi phải biết anh là ai chớ!”
“Ðại đội trưởng tôi là 369. Ðại úy chỉ cần nói là 520 đang ở chỗ đại úy.”
Chừng hai phút sau, ông ta nói vọng ra không phải với tôi mà với ông thượng sĩ.
“Ông cho dẫn người này ra chỗ toán của thằng…” (tên người này tôi không nhớ).
Thượng sĩ thường vụ đi gọi người. Lúc này đại úy Lực mới từ trong lều chui ra, ông ta tới bắt tay tôi:
“Thằng Gắt” – đại đội trưởng tôi – “cho người đi đón ông lâu rồi, tôi cho người dẫn ông tới đó.”
Tôi cám ơn rồi đi theo người lính dẫn đường. Toán lính đi đón đang ngồi đợi tôi ở ngay chỗ đại đội tôi đóng cũ, vị trí của toán tiền đồn Trinh Sát, nơi mà tôi và mấy người lính của Minh đã đến. Phải chi tụi nó đến sớm hơn một chút hoặc phải chi tôi ngồi chơi với Minh lâu hơn một chút thì đâu đến nỗi phải đi lòng vòng và phải khai lý lịch với bọn “vịt tiềm” này.
Trung sĩ Khang cho tôi biết là họ phải băng ngang làng Ðồng Lâm ra đón tôi ngoài quốc lộ, sợ tôi đi qua làng một mình chắc chắn sẽ bị “xé phay” liền. Ðợi hoài không thấy, họ phải đi dọc quốc lộ về tiểu đoàn tìm tôi, gặp trung úy Xuân nói tôi đi về chỗ đại đội đóng cũ, sau đó đại đội trưởng cũng gọi máy bảo họ về chỗ này đợi tôi.
Người ta nói trong trận Xuân-Lộc tháng Tư năm 1975 cả hai ông Tướng Hoàng Cầm và Lê Minh Ðảo đều được đánh giá là toàn hảo. Cả hai vị chỉ huy Nam Quân và Bắc Quân đều đã bỏ ra rất nhiều công sức để chuẩn bị trận đánh này.
Nếu không có những biến chuyển bất ngờ thì chắc chắn trận Xuân- Lộc sẽ diễn tiến đúng theo bài bản đã dựng sẵn của cả hai ông tư lệnh.
Chiều hôm qua trong lúc vào Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn để xin mấy bộ bản đồ Xuân-Lộc và cái đặc lệnh truyền tin, tôi đã được nghe Ðại tá Hứa Yến Lến kể sơ lược tình hình bạn và địch trong vùng.
Lực lượng bạn gồm có Sư Ðoàn 18 Bộ Binh, và lực lượng Ðịa Phương Quân của Tiểu khu Long-Khánh, nay được tăng cường thêm một đơn vị Biệt Ðộng Quân duy nhất là Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của tôi.
Qua lời Ðại Tá Lến, tôi biết thêm, trong thời gian vừa qua Chuẩn tướng Lê Minh Ðảo đã bỏ công thiết trí nhiều vị trí chỉ huy tiền tiêu, phòng khi chiến trận xảy ra, bộ chỉ huy hành quân có thể di động từ vị trí này tới vị trí kia. Pháo binh cũng di động không ngừng. Ðặc biệt là khi bắn phá thì tập trung hỏa lực để tăng cường hiệu quả.
Về phía địch thì hầu như ai cũng hay, sau khi thanh toán xong Vùng 1 Chiến Thuật và Cao-Nguyên Vùng 2 của Việt-Nam Cộng-Hòa, Cộng Quân đã có đủ trong tay yếu tố tất thắng gồm cả nhân lực và khí tài.
Bản tin tình báo do Phòng 2 Quân Ðoàn III cung cấp cũng ghi rõ, người chỉ huy binh đoàn Cộng Quân sẽ tiến công Xuân-Lộc là một danh tướng của Miền Bắc, Thiếu tướng Hoàng Cầm.
Tôi đã biết Hoàng Cầm là người từng chỉ huy các đơn vị Cộng-Sản đánh chiếm căn cứ Biên Phòng Bu Prang ở làng Bù Bông, Quảng-Ðức cuối năm 1973.
Hoàng Cầm cũng là người chỉ huy trận Phước- Long đầu năm 1975. Ngày đó tôi đang trấn giữ vùng giáp ranh Quảng-Ðức và Phước-Long; những quân nhân thoát chạy từ Phước- Long về Quảng-Ðức phần nhiều đều do đơn vị dưới quyền tôi tiếp cứu, trong số đó có ông Thiếu tá Cảnh-Sát Quốc-Gia Phước-Long tên là Tư.
Từ cuối năm 1974 tôi đã từng đối mặt với Trung Ðoàn 271 trực thuộc Sư Ðoàn 7 Cộng-Sản Bắc-Việt của Hoàng Cầm trong một thời gian khá dài.
Vài ngày, trước khi rút khỏi Quảng-Ðức, tôi đã đánh cho đơn vị này một trận thất điên bát đảo.
Hiện thời, tại chiến trường Long-Khánh, dưới quyền Thiếu tướng Hoàng Cầm có 3 sư đoàn bộ binh cùng với một trung đoàn xe tank và một trung đoàn pháo binh. Ðó là chưa kể tới lực lượng địch dự bị tăng viện cho mặt trận này có thể lên tới cấp quân đoàn.
Ai cũng biết ba yếu tố quyết định thắng lợi của một trận đánh là: “Thiên Thời, Ðịa Lợi, và Nhân Hòa”
Trong chiến dịch này, Tướng Hoàng Cầm đã nắm chắc hai trong ba yếu tố quan trọng trên.
1) Về “Thiên Thời” bây giờ đang tiết cuối Xuân, đường sá khô ráo, việc vận hành quân lương, binh lính và cơ giới thật thuận tiện.
2) Về “Ðịa Lợi” xung quanh Xuân-Lộc là rừng lá xanh rì, dù có bay rà sát đọt cây, trinh sát cơ của Việt-Nam Cộng-Hòa cũng khó mà tìm ra vị trí trú quân của những binh đoàn Cộng-Sản.
Trong khi đó thì Thị trấn Xuân-Lộc của Việt-Nam Cộng-Hòa lại nằm phơi mình lồ lộ, đứng từ xa mà dùng ống nhòm, người ta có thể thấy từng nóc nhà, từng khu phố.
Cũng vì có “Ðịa Lợi” nên Hoàng Cầm có thể tự do đi đâu thì đi, có thể đích thân điều nghiên thực địa, rồi chọn lựa mục tiêu. Từ đó, ông ta biết được nơi nào có thể đánh, nơi nào không cần đánh.
Trong thiên “Hư Thực” còn gọi là thiên “Biến Hóa” của Tôn Tử Binh Pháp có ghi:
“Người giỏi đánh, quân địch không biết đâu mà giữ. Người giỏi giữ, quân địch không biết đâu mà đánh.”
Hoàng Cầm là một tướng tài, ông ta là “Người giỏi đánh, quân địch không biết đâu mà giữ.”
Dù cho không phải là Hoàng Cầm, mà bất cứ người cầm quân nào cũng phải biết rằng, “Ðánh mà chắc chắn lấy được, phải đánh vào chỗ họ không giữ.”
Bởi vậy, khi thấy con hẻm chiến thuật bên hông phi trường Xuân-Lộc đã bị lực lượng trú phòng chẳng những “không giữ” mà còn coi nhẹ, bỏ quên, nên Hoàng Cầm đã “biến hóa” nó thành một lưỡi dao găm để đâm một nhát trí mạng xuyên qua trái tim của thị trấn.
Nhưng đâu ngờ ngày đó trong số những người chỉ huy phòng thủ cũng có “Người giỏi giữ, quân địch không biết đâu mà đánh.”
Người đó đã nhìn ra sự lợi hại của con hẻm này, nên đã “biến hóa” nó thành tử lộ đón chờ những chiếc tank T54 của Hoàng Cầm sẽ đi qua.
Tóm lại, sự thắng bại trên mỗi chiến trường không chỉ do tài thao lược của cấp chỉ huy, do tay nghề và lòng quyết chiến của người lính, mà nó còn phụ thuộc vào những nước cờ “biến hóa” đúng thời, đúng khắc của người cầm quân.
Gần tối ngày 7 tháng Tư, giữa cái nhà vòm có mái tôn rộng thênh thang, tôi ngồi một mình với chai bia cổ cao. Thường thì người đối ẩm của tôi là Thiếu úy Ðặng Thành Học. Giờ này chú Học còn bận gài mấy quả mìn chưa về.
Có tiếng động cơ xe gắn máy hướng sân bay, rồi tiếng léo nhéo từ cái lô cốt ngoài cổng chính, người to tiếng là Ðại úy Ngũ Văn Hoàn,
– Mi cứ vào trình diện ổng đi! Chắc ổng không la đâu!
Rồi ai đó nói nhỏ hơn,
– Nhờ Hoàng Long dẫn em vào gặp Thái Sơn! Vào một mình, em sợ lắm!
– Hồi sáng mày ngon lắm mà! Sao giờ này lại “thỏ đế” vậy! Rồi! Ði! Ði theo tao!
Ðại úy Hoàn, danh hiệu là Hoàng Long, chân chưa kịp cột dây giày, bước thấp bước cao, đang đi về phía tôi, sau lưng ông là một người tôi chưa nhìn rõ mặt.
Ông Hoàn nói,
-Thằng Thọ vừa về lại tiểu đoàn. Nó không dám vào gặp Thái Sơn, nó nhờ tôi dẫn nó trình diện Thái Sơn đây!
Thấy Binh nhì Phan Thọ cứ nép mình sau lưng ông Hoàn, tôi lấy làm lạ, bỏ chai bia xuống rồi nhẹ nhàng,
– Sao mi không đi luôn mà còn về đây làm chi vậy?
Anh Binh nhì nấu cơm của tôi lúc này như vừa hoàn hồn, hết sợ, ào tới ôm chân tôi rồi khóc,
– Hu! Hu! Hu! Em đâu có bỏ Thái Sơn! Em chỉ chạy về thăm má em rồi em trở lại! Em đâu có bỏ ông thầy!
– Ủa! Nhà mi ở gần đây à? Sao không xin phép về thăm mà vội vàng bỏ súng chạy đi, làm cho anh em cứ tưởng rằng mi bỏ hàng, bỏ ngũ?
– Dạ! Nhà em ở sát bến xe. Má em bán bún trong chợ. Tại vì Thái Sơn ra lệnh cấm quân, em đâu dám xin phép! Em cũng không dám “dù” về thăm má. Sáng nay nhân lúc Thái Sơn không có mặt, em đánh liều chạy về nhà. Anh Hai em có cái xe đò. Cả nhà em đã chuẩn bị, sáng mai thì chạy về Hố-Nai. Anh Hai em và mấy đứa em của em đều khuyên em đi theo gia đình. Nhưng em biết rằng giờ này Thái Sơn không còn ai thân thuộc. Em không nỡ bỏ Thái Sơn. Má em cũng nói, tùy ý em, muốn đi thì đi, muốn ở thì ở. Nhưng em biết ý má muốn em ở lại với Thái Sơn. Có điều… có điều… một ngàn đồng của Thái Sơn, em tiêu mất hai trăm rồi! Thằng xe thồ đòi hai trăm tiền công chở em từ chợ về đây. Tám trăm còn lại, em đã đưa cho Hoàng Long để trả lại cho Thái Sơn!
Thằng em tôi vừa khóc sụt sùi, vừa nói một hơi không nghỉ. Rồi nó cầm bàn tay phải của tôi, bóp bóp không chịu buông. Tôi thấy hình như bàn tay lạnh giá của tôi vừa ấm lại. Ðồng thời cũng giây phút ấy, tôi thấy hai mắt mình hơi cay cay…
Ðêm đó người căng võng, đắp mền cho tôi vẫn là thằng em Phan Thọ. Sáng hôm sau, người pha cà phê cho tôi cũng vẫn là nó. Cho tới năm ngày sau nữa thì Binh nhì Phan Thọ bị phòng không 12.8 ly của Việt-Cộng bắn thủng ruột khi đang leo lên tháo khẩu súng đại liên gắn trên chiếc chiến xa T54 vừa bị bắn cháy.
Chiến tranh đã tạo nên nhiều trang sử liệt oanh, quang vinh, nhiều tấm gương hy sinh can đảm, những mối tình đẹp, những mối tình buồn, những cuộc chia ly, những chiến công rất phi thường. Nhưng cũng còn có những chuyện rất lạ thường phát sinh từ cái tình “huynh đệ chi binh” mà ra. Chính vì cái tình “huynh đệ chi binh” đó, mà thầy trò tôi, dù gặp hiểm nguy, dù cho sắp chết, cũng không nỡ lòng nào mà bỏ nhau.
Đ/Tá Hứa Yến Lến, Th/Tá Vương Mộng Long, Th/Tướng Lê Minh Đảo, Th/Tá Nguyễn Hữu Chế (USA 2009)
Tôi là một người đã trải qua một đời chinh chiến, những kỷ niệm in sâu trong tâm tưởng của tôi, suốt đời không quên được, chính là những chuyện liên quan tới ân tình của những thằng em dưới quyền tôi.
Tới tối ngày 7 tháng Tư, sau khi nghe Ðại tá Phúc báo cho biết rằng gần 5 giờ chiều hôm đó hai Tiểu Ðoàn 63 và 81 Biệt Ðộng Quân đã được Chinook của Phi Ðoàn 237 bốc về thả ở phi trường Phan-Thiết, tôi bèn vào Trung Tâm Hành Quân Tiểu Khu Long-Khánh, gọi cho Trung Tâm Hành Quân Quân Ðoàn III xin liên lạc với Trung tướng Tư lệnh Quân Khu 3 để cám ơn.
Qua ba cửa ải là, một ông Chuẩn úy sĩ quan trực mà tôi không biết tên, tới ông Thiếu tá Nho, rồi đến ông Ðại tá Thọ, tôi mới được nói chuyện với Tướng Toàn.
Tôi cám ơn Trung tướng Tư lệnh Quân Khu 3 đã nể tình tôi quen biết nên ông đã ra tay cứu vớt Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân của Vùng 2.
Ðầu máy bên kia tôi không rõ Tướng Toàn nghĩ gì, chỉ nghe ông “Ừ! À!” mấy tiếng.
Tới lúc tôi hỏi ông,
– Sao Trung tướng không đem toàn bộ Liên Ðoàn 24 về Long-Khánh cho tôi, mà lại để hai tiểu đoàn kia ở Phan-Thiết vậy?
Thì ông Toàn nổi dóa,
– Ð! M! Ðem tụi nó về Xuân-Lộc làm chi? Tau đâu cần tụi nó!
La hét xong, Tướng Toàn cúp máy.
Sau trận Long-Khánh, gặp lại nhau ở Bình-Ba, nghe tôi nhắc lại chuyện tôi đã làm cho ông nổi giận, khiến ông vì tự ái mà cứu hai tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân bạn, thì ông Toàn cười,
– Nếu hôm đó tau không ghé thăm mi, thì tau đâu có bị mi khích tướng? Tau đã để tụi nó chết trong rừng rồi! Tau là Tư lệnh Vùng 3! Tau đâu có trách nhiệm gì với Vùng 2? Không ai có quyền bắt tau phải bốc tụi nó cả! Tau chỉ cần mi thôi, nên tau bỏ tụi nó ngoài Phan-Thiết.
Tôi đâu có lạ gì ông Tướng Nguyễn Văn Toàn? Ông ta là người hứa đó rồi quên đó!
Ấy vậy mà lúc này đây, lần đầu tôi thấy ông ta tỏ ra là một người coi trọng nghĩa khí, đã hứa thì phải làm, đã nợ thì phải trả.
Tôi sẽ mãi mãi không quên cái phong cách giang hồ trượng nghĩa mà Trung tướng Nguyễn Văn Toàn đã đối xử với tôi, và các đơn vị dưới quyền tôi ngày ấy.
Như vậy là từ giờ phút này, điều băn khoăn, áy náy nhất của tôi đã được giải quyết, tôi đã không còn phải lo lắng gì tới số phận của hai Tiểu Ðoàn 63 và 81 Biệt Ðộng Quân nữa.
Mặt khác, tôi cũng đã yên tâm về mặt trang bị, vì chỉ sau một ngày, chúng tôi đã được cấp phát gạo, đạn, giày vớ, và điện trì đầy đủ. Dù không nhận được khẩu súng cộng đồng nào, chúng tôi vẫn có thể coi như một tiểu đoàn khinh chiến, dạn dày kinh nghiệm, đủ sức chiến đấu trong bất cứ tình huống nào.
Sáng ngày 8 tháng Tư tôi đang ngồi bên cái lô cốt cổng chính, uống cà phê cùng ông tiểu đoàn phó thì một anh lính tay cầm chiếc radio nhỏ chạy ào tới, miệng lắp bắp,
– Trình Thái Sơn, Sài-Gòn có loạn! Sài-Gòn có đảo chánh!
Tôi giựt cái máy thu thanh trên tay người lính. Trong máy, là tiếng Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đang kêu gọi toàn dân, toàn quân hãy đoàn kết sau lưng ông để chống lại một cuộc dấy binh lật đổ ông.
Tiếp đó là nhạc quân hành, giống y như cảnh đã xảy ra nhiều năm trước đây, khi chính trường có biến động.
Tôi rời cái pháo đài, đi một vòng ra lệnh cho anh em tu sửa hệ thống hầm hố và giao thông hào, cốt ý là để cho họ bận bịu công việc mà đừng bàn tán xôn xao về những tin tức phát đi từ thủ đô Sài-Gòn.
Ðại úy Hoàn đi kế bên, nhìn tôi dọ dẫm,
– Thái Sơn nghĩ sao, nếu có đảo chánh?
Tôi là người có quá nhiều kinh nghiệm với những vụ đấu đá của các sứ quân thời hậu đảo chánh năm 1963, và tôi đã từng là nạn nhân với nhiều năm sống xấc bấc, xang bang vì dính líu tới mấy chuyện này rồi.
Tôi buột miệng,
– Buồn quá! Sắp mất nước tới nơi mà mấy ông to đầu còn lo tranh giành nhau!
Tới trưa thì mọi chuyện sáng tỏ, không có đảo chánh, mà chỉ có chuyện một phi công nội tuyến đem bom thả xuống dinh Ðộc-Lập.
Tôi tản bộ ra khỏi vòng rào, ghé thăm Thiếu úy Thủy và Ðại Ðội 4/82, rồi tiện thể đi quan sát cây cầu nằm cách bờ rào hướng Ðông Nam của Trại 181 Pháo Binh không xa.
Tôi còn hai quả mìn chống chiến xa và vài cuộn concertina chưa dùng tới, nên tôi giao cho Ðại Ðội 4/82 lo gài mìn và rào kín một đầu cầu. Cẩn tắc vô áy náy! Dư vật liệu chống tank thì ta cứ đề phòng trước là hơn.
Khoảng hai giờ chiều, trong máy truyền tin, trên tần số của Chiến Ðoàn 43 có tiếng Chuẩn tướng Lê Minh Ðảo,
– Tiên Giao đây Hằng Minh!
– Hằng Minh đây Tiên Giao nghe!
– Em đang ở đâu vậy? Qua muốn gặp em ở đầu phi đạo.
– Tôi đang ở đó!
– Qua xuống ngay!
(Hằng Minh = là danh hiệu của Tướng Ðảo, Tiên Giao = là tên đứa con gái thứ ba của tôi, cũng là danh hiệu do tôi chọn cho Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân.)
Chiếc C&C đáp, một người nhảy xuống đầu phi đạo, chiếc tàu bay đi. Tướng Lê Minh Ðảo vẫn gọn gàng, súng ngắn, nón sắt nhưng xuống đất mình ên, không có người hộ tống, không tùy viên, không máy truyền tin.
Ông Tướng thay vì đưa tay cho tôi bắt, lại dang tay ôm tôi một cái thật chặt rồi thả ra, cứ như phong cách của các ông chỉ huy Phương Tây.
Với cử chỉ thật là vồn vã, Tướng Ðảo vỗ vai tôi,
– Qua mới từ Long-Bình lên đây cốt ý là để thăm đơn vị của em vài phút rồi qua phải đi ngay.
Sau đó ông Tướng nhìn tôi, nhẹ giọng,
– Em đã cảm thấy okay với không khí ở đây chưa?
Thật hững hờ, tôi đáp lời ông,
– Cám ơn Chuẩn tướng! Ở đây chắc chắn là thoải mái hơn những ngày vừa đói, vừa đánh, vừa lui, ở trong rừng.
Chiếc xe Maria đen được dùng để chở tù nhân đi gặp thân nhân sáng nay hư máy, không chạy được. Người ta phải gọi điện thoại về Bộ xin xe khác và vào lúc 11 giờ sáng Chủ nhật ấy, khi Nerzhin được gọi xuống từ phòng Âm thính, đến phòng kiểm soát, sáu tù nhân được đi thăm hôm nay đã có mặt ở đó. Vài người đang bị khám, vài người đã khám xong đi quanh quẩn hoặc ngồi ở bàn. Trung tá Klimentiev đứng gần tường, thẳng người, hai tay chắp sau lưng, thanh thản như người không liên hệ đến công việc khám xét đang được làm ở đây, nhưng Klimentiev biết rõ hơn ai hết là sự có mặt của y bắt buộc bọn giám thị phải khám xét kỹ hơn. Vừa bước vào khu khám, Nerzhin gặp ngay vòng tay chờ đợi của Krasnogubenky, tên giám thị khám kỹ nhất, lục lọi nhất và đáng ghét nhất bọn. “Trong túi có gì?” Krasnogubenky hỏi ngay. Từ lâu rồi Nerzhin không còn cái vẻ vội vã làm theo lời hèn hạ của những người mới ở tù trước mặt bọn giám thị. Chàng không cần trả lời và cũng không thèm nhìn lại cái túi bộ áo mới may bằng hàng cheviot vừa được phát cho chàng để mặc đi thăm. Chàng chỉ nhìn tên giám thị bằng cặp mắt vô hồn và giơ hai cánh tay lên vừa đủ để cho gã khám túi chàng. Sau năm năm ở tù và qua không biết bao nhiêu là lần khám xét như thế này. Nerzhin không còn cảm thấy, như những người mới vào tù ai cũng thấy, việc bị khám thân thể là dã man, những ngón tay dơ bẩn chạm vào người mình như chạm vào chính trái tim rướm máu của mình. Sáng nay, đặc biệt là sáng nay, không một việc gì xảy ra có thể làm cho tâm hồn chàng mất vui sướng. Krasnogubenky mở hộp thuốc lá do Potapov tặng chàng làm quà sinh nhật và kéo từng điếu thuốc gài trong đó ra coi xem có vật gì giấu trong đó không. Gã đổ cả những que diêm ra lòng bàn tay gã. Gã vuốt đường viền chiếc khăn mùi-soa của Nerzhin. Ngoài mấy vật đó ra, trong túi Nerzhin không có gì khác. Rồi gã nắn bóp khắp người Nerzhin, sờ cả vào bẹn, vào hậu môn chàng. Gã ngồi xuống sau lưng chàng để sờ kỹ hai chân chàng từ đùi trở xuống. Nhờ Krasnogubenky ngồi xuống, Nerzhin nhìn thấy người tù đang bị khám sau chàng. Người này là một anh thợ điêu khắc. Chàng thấy rõ anh này đang bối rối và chàng biết vì sao anh bối rối. Nguyên lại là sống trong tù, anh thợ điêu khắc bỗng phát giác được rằng anh có khiếu viết truyện ngắn – và anh cặm cụi viết những truyện ngắn kể lại kinh nghiệm tù binh của anh thời chiến tranh trong những trại tù binh của Đức Quốc Xã, về những cuộc gặp gỡ trong phòng giam, về tòa án. Nhờ vợ anh, anh từng chuyển được vài truyện ngắn của anh ra ngoài, nhưng những truyện ngắn như thế làm sao có thể đăng được? Ngay cả ở bên ngoài, chị vợ anh cũng phải khổ sở giấu giếm những gì chồng chị gửi ra và chỉ dám cho những bà con thân nhất đọc. Nhưng một ông có học, dường như ông chú của vợ anh, đã được đọc những truyện ngắn ấy và nói với vợ anh rằng anh viết truyện ngắn còn hay hơn cả Chekhov. Lời khen này làm cho anh càng hứng chí sáng tác 1. Ở trong tù, tất nhiên là nhà văn tập sự này phải giấu kín những gì anh viết. Việc mang được một tờ giấy có chữ viết ra khỏi tù là một việc khó khăn không thể tưởng tượng được. Hôm nay anh thợ khắc mang theo một đoản thiên mà anh cho là tuyệt tác của anh, nhưng khi thấy có mặt Krasnogubenky trong phòng khám, anh sợ bị gã xét thấy và anh đã bỏ tờ giấy có những chữ viết nhỏ li ti vào miệng nuốt đi. Giờ đây, khi anh thấy Krasnogubenky không khám anh, anh hối hận đến đờ đẫn cả người – nếu anh gan hơn một chút, nếu anh đừng vội nuốt đi, biết đâu anh chẳng mang lọt đoản thiên ấy ra ngoài? “Cởi giày ra”. Krasnogubenky nói và Nerzhin đặt chân lên chiếc ghế đẩu để cởi dây giày, rồi chàng vung chân đá chiếc giày không cần biết là nó bay đi đâu, Krasnogubenky lượm chiếc giày lên nhìn kỹ bên trong và uốn cong xem có vật gì giấu trong đế giày đó không. Với vẻ mặt thản nhiên như chàng từng làm việc này mỗi ngày, Nerzhin đã đá nốt chiếc giày kia ra khỏi chân. Cả hai chiếc vớ của Nerzhin đều rách và có những lỗ thủng lớn. Những lỗ thủng này cho gã giám thị cái quyền nghĩ rằng chàng không thể giấu vật gì ở trong vớ nên gã không cần bắt chàng tháo cả vớ. Klimentiev chớp mắt liền mấy cái khi Nerzhin đá đôi giày văng ra khỏi chân. Y coi đó là một hành động sỉ nhục giám thị. Và một lần nữa Klimentiev cảm thấy hối hận vì để cho tên tù hỗn láo Nerzhin được đi gặp vợ hôm nay. Y nghĩ đến chuyện tìm cách bắt lỗi tên tù này để hủy cuộc đi thăm của hắn, y thấy rõ tên tù này không những là không cảm thấy xấu hổ, nhục nhã vì tình cảnh tù đày khốn nạn của hắn, trái lại, hắn còn có vẻ hợm hỉnh khinh thường những người có nhiệm vụ canh giữ hắn. “Nghe đây…” Klimentiev đột ngột nói lớn và bảy người tù cùng bảy viện giám thị đều quay về cả phía y: “Các người đã biết luật lệ. Các người không được nhận bất cứ một vật gì do thân nhân các người đưa, hoặc vật gì các người muốn đưa cho thân nhân, đều phải đưa cho tôi, qua tay tôi. Trong khi nói chuyện, các người không được nói đến công tác, điều kiện công tác, điều kiện sinh hoạt, ăn uống, không được nói đến tên Viện này hoặc bất cứ một điều gì dính dáng đến Viện. Các người không được nói tên bất cứ ai. Các người chỉ nên nói rằng mọi việc đều tốt và các người không cần gì hết, không thiếu gì hết”. “Nếu cấm hết thì chúng tôi còn có chuyện gì để nói với nhau?” – một người nào đó đứng cuối hàng kêu lên – “nói chuyện chính trị ư?” Klimentiev không thèm trả lời câu hỏi này. Y thấy đó là một câu hỏi ngu ngốc. “Hãy nói đến tội lỗi của bạn” – một tù nhân nào đó rầu rĩ lên tiếng – “hãy nói đến chuyện bạn hối lỗi”. Klimentiev can thiệp ngay: “Không được nói đến án tù của các người. Phải giữ bí mật về án tù, hạn tù. Hãy hỏi về chuyện gia đình, cha mẹ, con cái. Còn điều này nữa. Đây là luật mới: từ nay trở đi các người không được nắm tay vợ, không được hôn vợ. Cấm nắm tay, cấm hôn”. Nerzhin từ đầu vẫn thản nhiên trước cuộc khám xét và việc nhắc lại những luật lệ ngớ ngẩn – chàng biết cách qua mặt bọn giám thị ngồi canh chàng – cảm thấy máu chàng chạy mạnh khi nghe chuyện cấm hôn, mắt chàng sáng rực lên: “Mỗi năm chúng tôi chỉ gặp được nhau có một lần…” Chàng la lên và Klimentiev nghiêng bản mặt hồng hào của y nhìn chàng. Klimentiev có vẻ hân hoan chờ đợi chàng nói tiếp và Nerzhin nghe thấy tiếng nói chưa được phát ra trong cổ họng y: “Tôi hủy cuộc đi thăm của anh. Anh ở lại…”, chàng nghẹn lời và im lặng. Nerzhin hiểu rằng cuộc đi thăm của chàng được báo vào phút cuối, có một cái gì không được hợp lệ và Klimentiev dễ dàng hủy bỏ, y đang muốn hủy bỏ. Là một tù nhân giàu kinh nghiệm, chàng biết nén giận. Không gặp sự phản đối, Klimentiev thản nhiên nói tiếp: “Nếu các người hôn nhau, nắm tay, hay vi phạm điều gì khác, cuộc gặp mặt sẽ chấm dứt tức khắc”. Người thợ điêu khắc lên tiếng: “Nhưng vợ tôi không biết điều cấm ấy. Vợ tôi hôn tôi thì sao?” Klimentiev vẫn thản nhiên: “Vợ anh sẽ được nói cho biết trước khi gặp anh”. “Chưa từng có luật cấm hôn bao giờ”. “Bây giờ có”. Bọn ngu đần – Klimentiev nhìn những bộ mặt ngơ ngác và nghĩ thầm – Chúng thật ngu. Phản đối với mình thì ích gì? Chúng nó làm như mình đặt ra không bằng. Luật do thượng cấp đặt ra, mình chỉ là người thi hành. Bọn tù nhao nhao hỏi: “Được gặp nhau bao lâu?” “Nếu mẹ tôi đến thay cho vợ tôi, mẹ tôi được vào không?” “Được gặp trong ba mươi phút. Chỉ có người nào có tên trong giấy mới được vào”. “Con gái tôi năm tuổi có được theo mẹ nó vào không?” “Trẻ con mười lăm tuổi được vào theo người lớn”. “Còn mười sáu tuổi?” “Không được vào. Còn ai hỏi gì nữa không? Xong rồi. Đi ra”. Tuyệt diệu. Hôm nay họ không phải ngồi kín trong chiếc xe Maria Đen chở tù đi thăm những lần trước, một chiếc xe buýt nhỏ sơn xanh chờ họ ngoài sân. Ba nhân viên giải tù, cả ba đều lại mặt ở Viện Mavrino, bận thường phục, đội mũ nỉ mềm, tay cầm súng lục trong túi áo, lên xe trước. Họ ngồi cách nhau trong xe. Hai tên trong bọn trông có vẻ như tướng cướp giải nghệ hoặc võ sĩ quyền Anh về già. Họ bận những chiếc áo khoác mới và đẹp. Sương mù buổi sáng đã tan nhưng còn lạnh. Bảy người tù lục đục lên xe. Trung tá an ninh Klimentiev cũng đi nhưng đi bằng xe riêng.
Hết chuyện công an lấy ghế che mặt để khỏi nhận diện, bây giờ lại đến một chuyện “ghế” khác là ngửi và hôn ghế. Nguồn tin từ Hà Nội cho biết nam ca sĩ Nam Hàn Bi Rain đã đến Việt Nam tham gia hai buổi trình diễn tại nhà hát Quân đội vào ngày 19/3 và một tại nhà hát lớn Hà Nội vào ngày 21/3. Trong một đêm lưu diễn của ca sĩ nhạc Pop này, một số nam nữ trẻ tuổi hâm mộ cuồng nhiệt của đất Hà Nội, nơi gọi là “đỉnh cao trí tuệ của nhân loại” đã quì xuống để ngửi và hôn hít chiếc ghế mà thần tượng của mình vừa ngồi. Đó là những gì lớp trẻ bây giờ sống và lớn lên trong cái gọi là xây dựng nếp sống văn hóa mới của xã hội chủ nghĩa, vượt hơn hắn Saigon, dù là khi ca sĩ Pháp gốc Ý Dalida nổi thần tượng. danh, thần tượng của nhiều người đến Saigon vào năm 1964.
Chúng ta cũng đã thấy tuổi trẻ đua đòi văn minh vọng ngoại của Hà Nội năm 2009, khi Micheal Jackson qua đời, đã tụ tập với nhau ở công viên, lập bàn thờ ông Hoàng này và ôm nhau khóc như cha chết, khiến nhân gian có câu:
“Thương thay con cháu bác Hồ
Nước mất không khóc, khóc Mai-Cồ Rắc-Xơn!”
Dư luận trong nước nhận xét, phê phán đây là sự xuống cấp của đạo đức và phẩm giá con người và cho rằng tuổi trẻ Việt Nam ngày càng “mất nết.” Thật ra, vì mê thần tượng dưới ánh đèn sân khấu, chúng ta đã thấy những lớp trẻ trong các buổi trình diễn đã phấn khích reo hò, nhảy múa, khóc lóc, vật vã đến điên cuồng. Họ chạy theo, níu xe chở thần tượng hằng trăm thước hoặc sẵn sàng nhận diễm phúc ngủ với thần tượng qua đêm.
Ca sĩ nổi danh thường phải có cận vệ, để ngăn cản người hâm mộ đến gần, tránh những việc không hay như nắm tay, nắm chân, ôm hôn thắm thiết hay xé áo xé quần và cũng để bảo vệ người ca sĩ khỏi bị sát hại.
Yêu thần tượng, người ta có thể giết luôn thần tượng như trường hợp Mark David Chapman, đã ám sát John Lennon của ban nhạc huyền thoại The Beatles năm 1980 vì những ám ảnh bất thường trong tâm lý và bệnh ích kỷ, điên rồ muốn chiếm hữu thần tượng cho riêng mình. Từ Tây sang Đông cũng không thiếu người tự sát vì quá yêu thần tượng, mà phần đông người đi tìm cái chết này là phụ nữ.
Ca dao Việt Nam đã có câu: “Yêu ai yêu cả bàn chân … “ Bạn đã có lần nào hôn bàn chân của người yêu chưa? Bàn chân chắc hẳn thơm tho hơn nhiều nơi khác. Không những bàn chân thơm tho mà cái vật nâng niu, ôm ấp bàn chân cũng thơm tho, nên bên Tây, người hào hoa đã dùng giày của mỹ nhân thay cốc để uống champagne, chứng tỏ tình yêu say đắm của mình. Thật ra chuyện mê mệt thần tượng không phải chỉ xẩy ra ở các nước văn minh hay chỉ dành cho lớp trẻ, mà ở một nước lạc hậu nghèo đói như Việt Nam ngày trước cũng đã xẩy ra. Muốn hướng dẫn ngu dân người ta cũng tạo ra thần tượng, suy tôn thần tượng, bằng cách dùng bọn văn công đặc trách tuyên truyền nhồi sọ ngay từ lớp trẻ ở trong nhà trường. Trẻ con không mơ hoa, mơ bướm, mơ bà Tiên, ông Bụt mà mơ bác Hồ “râu bác dài, tóc bác bạc phơ”, mơ “em âu yếm hôn lênmá bác” (trong khi theo những hình ảnh ghi lại thì bác đã ôm ghì lấy đầu em và hôn môi em!) Đã tạo nên thần tượng, thì khi thần tượng chết, tiếc thương phải khóc lóc, hơn cả cha chết, từ hoạt cảnh Hồ Chí Minh Việt Nam cho đến Kim Nhật Thành hay Kim Chính Nhật ở Bắc Hàn. Hơn cả cha chết vì thương cha thương mẹ chỉ một, nhưng thương thần tượng Staline đến mười.
Ở Trung Cộng thì ngay khi Mao Trạch Đông thở hắt ra hơi thở cuối cùng, nhiều trăm triệu dân ngoài đường vẫn tiếp tục hát bài “Suy Tôn Mao Chủ Tịch Sống Lâu Muôn Tuổi”. Tôi không nghĩ là trong các nước Cộng Sản nghèo đói, nhân dân đổ xô ra đường khóc thảm thiết khi cha già hay thần tượng chết để có nửa cân khoai mì hay một lạng đường, nhưng vì cái hệ thống “loa-báo” một chiều trong các nước này với sự dâng hiến hết mình của hằng trăm nhạc sĩ, thi sĩ, kịch sĩ … đã thành công lải nhải ngày đêm từ năm này qua năm khác, từ trong xưởng máy đến ngoài chợ làng, ca tụng, tâng bốc, suy tôn lãnh tụ đến mây xanh làm cho đám dân lành ngây thơ, man rợ trở thành đàn cừu của Panurge làm theo nhau mà không hề hỏi mình đang làm cái trò gì!
Khi mà Cộng Sản Việt Nam nợ cơm áo, nợ lương khô, nợ súng đạn đàn anh thì không những cá nhân Staline, Mao Trạch Đông là thần tượng mà cả những đất nước Liên Xô, Trung Quốc kia cũng là những gì vĩ đại, cao cả, tuyệt đối kiểu “đỉnh cao chói lọi”, nếu không, trong “kho tàng văn học cách mạng” đâu có những ví von lố bịch kiểu “trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ, đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ!”
Tác giả Nhọ của nguồn Dân Luận đã cho rằng: “Chúng ta chướng mắt khi giới trẻ Việt quì xuống hôn ghếmột thần tượng âm nhạc nước ngoài, nhưng hãy nhìn cáiquì suốt dòng lịch sử của các thế hệ đi trước!” và “Hãy nhìn lại tư thế khúm núm, xum xoe, khăm khẳm mùi nịnh bợ mà đại thi hào Tố Hữu – Nguyên Ủy viên bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bí thư Ban chấp hành Trung ương – đã dành cho cái ghế quyền lực dưới mông hai thần tượng của mình là Mao Trạch Đông và Staline.”
Vậy theo ông thì hành động ngu ngốc của lũ trẻ ngày nay không nguy hiểm và tồi tệ bằng những bậc tiền bối của chúng? Vậy thì nên tha thứ cho lũ trẻ vì hình ảnh này chỉ là phiên bản một thứ ngửi, hôn những chiếc ghế đã ôm ấp “chỗ ngồi” của những thần tượng ngày trước, đã có công đem đất nước vào chỗ khốn nạn hôm nay, phải không, thưa ông?
Bởi đã qua những Tháng Ba kể lại sau đây, nên bản thân không thể làm gì(được) hơn. Phải viết xuống. Người Đọc (sẽ) hiểu tôi không hề là loại người bày chuyện bi lụy. Xin cảm thông.
#1.
Tháng Ba năm xưa mong đi Hà Nội (1)
Nôn nao cảm xúc những chờ đợi
Qua cầu Long Biên, tới Hồ Gươm
Ôi thôi rồi… Hóa ra Hà Nội!
(1) Ngày 4/3/1973, đã là “Người Nam Hà” đầu tiên đến Hà Nội sau 20/7/1954
#2.
Đầu năm cao nguyên trời se lạnh
Ban Mê thế trận vỡ rất nhanh
Kế hoạch 75 không (cần) dấu mặt
Quân Bắc quyết diệt gọn Miền Nam (1)
(1) Kế Hoạch 275/Chiến Dịch HCM, CS Hà Nội dứt điểm Miền Nam bằng vũ lực; khai diễn 10/3/1975 đánh chiếm Ban Mê Thuộc.
#3.
Bất ngờ, khẩn di tản Quân Đoàn
Thây người đẫm thẩm máu Sông Ba
Không còn nước mắt kiệt sức khóc
Ngữa mặt lên trời gào tiếng than
(1) Chủ Nhật 16 Tháng Ba, 1975 lệnh di tản Quân Đoàn/Quân Khu II theo Tỉnh Lộ 7, vượt Sông Ba/Sông Ia Drang/Đà Rằng.
#4.
Tôi với Hải Vân buổi tàn cuộc
Đứng giữa đường đèo tim nhói buốt
Nhìn suốt quê hương ôi thảm thương
Quảng Đà-Trị Thiên hồi đổ sụp
…
Mẹ quê tóc rối môi khô quắp
Bế con im bặt không tiếng khóc
Trăm dặm đường xa rời Quảng Trị
Lên đèo nhỏ chết nghẹt đi khuất
…
Hăm-mốt dặm đường bao hãi hùng
Vũng Hàn oán thảm tận thương tâm
Lăng Cô ma qủy hờn âm khóc
Nam Ô… Ôi xóm cũ còn không? (1)
…
Tôi với Hải Vân… Sống/Chết thật
Thuở xa xưa hồn nhiên thiết thân
Tháng Ba 75 nhói đau thắt
Nay đèo còn không mây trắng bay…
(1) Vũng Hàn: Phương danh cũ Đà Nẵng; Lăng Cô-Thừa Thiên, xã đánh cá Bắc Đào Hải Vân; Nam Ô-Quảng Nam/Nam Châu Ô, nam Đèo Hải Vân.
Chúng tôi đến Huế từ tháng Chín,trời còn nóng như đang mùa hè. Đóng quân ở thôn Nguyệt Biều, bên cạnh sông Hương trông sang chùa Linh Mụ. Bao nhiêu lâu tôi không về lại Huế, từ một tuổi nhỏ bỏ đi xa nay trở về như khách lạ. Làng thật đẹp, cây im mát, con đường đất nhỏ dẫn xuống một bờ sông nước trong ngăn ngắt, tôi căng chiếc võng ngủ dưới tàn cây, đêm xanh xao ánh trăng, cô gái da trắng mát tự nhiên chao đôi thùng trên giòng nước long lanh… Bên kia sông, chùa Linh Mụ đổ hồi chuông, âm thanh trôi chảy trên sóng nước. Và sâu đêm khuya im lặng, sóng vỗ thật nhỏ, khẽ đập vào bờ lách tách như tiếng sông đang thở… Tôi tưởng ra một thiên nhiên đang nở dài im lặng. Trong những đêm khuya đẹp đẽ này, tôi thường mượn một chiếc thuyền, chỉ đủ cho một người ngồi bơi lang thang trên dòng sông để hiểu tại sao người Huế tạo ra những điệu hò buồn bã một hơi thở tàn…
Thuở xưa tôi có thằng bạn, Phan Duy Nhân, loại người hừng hực tranh đấu, nhưng trong những ngày lầm than ở căn gác nhỏ cầu Bạch Hổ đã viết những câu thơ ướt đẫm tình cảm, cũng như Đồng đã làm tập “Sóng vỗ chân cầu”. Bỏ đi những ý tưởng siêu hình, tiếng vỗ của dòng sông trong đêm đã nẩy ra những ý thơ tỏ tình với thiên nhiên… Có phải không chúng mày? Chúng tôi thay đổi chỗ đóng quân chung quanh thành phố Huế, tình hình địch nhẹ nên chỉ hành quân lục soát sáng đi chiều về. Thời giờ nhàn rỗi đủ để tập họp nhau phá nát người bằng những cơn say ngây ngất. Tiểu đoàn chúng tôi ra đây với tiểu đoàn 7 Nhảy dù: Lô, Lạc ở đấy họp với phe chúng tôi làm thành một lũ quỉ đủ khả năng vượt quá biên giới hỗn loạn. Tụi chúng nó phần đông là người Huế, nhưng trên chuyến trở về quê hương này tất cả hình như thấy lạ… Tôi hỏi Lạc: – Mày ở đây từ bé đến lớn sao không có người quen?
– Người quen cỡ tuổi tao đi hết rồi… Ở Huế chỉ có hai nghề: Đi học và đi dạy, muốn làm nghề khác thì vào Nam.
Hình như cái cảm giác xa lạ này đã gây cho chúng tôi phản ứng của những kẻ không quê hương, không trách nhiệm với phần đất đã nuôi dưỡng lớn lên. Cơn say như dấu hiệu một rời bỏ đành đoạn, cách phá vỡ hung bạo che dấu nỗi thất vọng không tên. Sau mỗi chuyến hành quân, chúng tôi họp nhau tại khoang đò, chai rượu, đêm vắng và mặt nước sông chông chênh, cơn say xảy đến đồng thời với cơn đùa cợt nặng chĩu dục tình được thả lỏng. Chúng tôi hả hê tàn phá trong oi ả nồng nực. Vào những ngày cuối tháng chín, đóng quân ở lăng ông Ngô Đình Cẩn, thật là một tham vọng tội nghiệp của trí óc non yếu, ông ta cố bắt chước cách vĩ đại của lăng tẩm vua chúa nhà Nguyễn, xây phần mộ mình theo kích thước của những vị vua. Nhưng lối bắt chước nghèo hèn, kiến trúc được xây dựng bằng vật liệu tân thời lại muốn có vẻ xưa cũ cổ kính, sự hòa hợp không có, nên trở thành tủn mủn, vụn vặt, quê mùa, kệch cỡm như một lão nông phu diện âu phục. Những ngày này tôi còn có dịp để xem Khiêm Lăng, mộ vua Tự Đức, người ta bảo đấy là lăng đẹp nhất nhưng cũng không gây cho tôi một ấn tượng nào, tất cả đều có vẻ nhỏ nhoi tầm thường. Điều này dậy nên trong tôi cảm giác ngậm ngùi vì chứng kiến tính chất càng hạn hẹp của kiếp người, dù là vua chúa. Tôi thấy càng rõ cảm giác này khi vào lăng Khải Định, thấy hai bà phi bị tiến cung từ thuở bé, rồi theo cái chết của vị vua sống trong lăng này gần bốn mươi năm, bây giờ, tuy hai bà đã già nhưng giọng nói còn trong trẻo. Phải chăng họ vẫn đồng trinh? Tôi nghĩ đến đời sống của một ông vua không lấy gì vĩ đại lắm và các đời sống tầm gửi khác vây quanh. Khi vào chỗ bệ thờ vua Khải Định thấy cái hộp plastic đựng xà phòng. Quả đã xa hẳn với quá khứ của quê hương…
Đầu tháng Mười, theo quốc lộ 1 ra Đông Hà, thị trấn cực bắc của miền Nam đầy lính và chiến tranh. Thành phố không người mặc áo quần màu, người dân ở đây sống trong không khí đặc biệt của tiền đồn nên hòa vào cùng tập thể lính. Chúng tôi chia thức ăn trên quốc lộ 1, trái hỏa tiễn 122 ly từ bên bờ Bến Hải bắn qua, hai lính chết, bốn bị thương, một nhà dân sụp đồ đạc bị bắn tung tóe. Nửa giờ sau bình thường trở lại, bà chủ quán lặng lẽ thu dọn đống gạch vụn, một vài người đi qua liếc nhìn chỗ đổ vỡ… Tụi nó lại bắn nữa!! Tôi nhìn cột cây cây số, Đồng Hới 16… Con số chót bị đạn phá vỡ đọc không được, thấy miền Bắc thật gần nhưng cũng rất xa. Nhìn ra phía Trung Lương, Gio Linh, phản lực Mỹ luôn luôn thường trực, bên kia bờ Bến Haœi, từng cuộn khói bốc lên mù mịt. Lần đầu tiên tôi có cảm giác đánh trận giặc có chiến tuyến, cảm giác gây nên nỗi bình yên vì khỏi lo đạp mìn, chông. Giặc du kích đáng sợ vì kẻ thù dấu mặt, chết xảy đến không biết nguyên do.
Cửa Việt
Chúng tôi theo sông Đông Hà ra Cửa Việt, chiến dịch được mở dài hạn, ba tiểu đoàn Nhảy dù có nhiệm vụ lập những đầu cầu và bảo vệ an ninh để các toán công binh lập cứ điểm phòng thủ hệ thống hàng rào Mac Namara, tiểu đoàn tôi lục soát từ Cửa Việt đến lằn ranh nam khu phi quân sự, bảo vệ cạnh sườn tiểu đoàn bạn. Chín giờ sáng, tàu nhổ neo rời Đông Hà, trời mù, mưa giăng kín mặt sông, hai bên bờ nước tràn mênh mông, rừng cây dương thấp thoáng qua màn sương. Hai bên bờ đồn nhỏ nằm rải rác bảo vệ thủy đạo, lính Mỹ đứng ở bờ thấy chúng tôi đi qua, la lối ầm ỉ, hình như Hải quân cho để tóc dài, nên anh nào anh nấy râu tóc bờm xờm vàng rực. Người lính thú ở miền xa nào trông cũng tội nghiệp như nhau. Tiếng gọi của họ vang xa trên mặt sông, nghe buồn buồn như một nỗi tuyệt vọng, chiếc thuyền chạy miết, bóng người lính viễn chinh chìm dần trong màn mưa.
– Mày trông tụi nó có “tay tổ” không? – Mễ, đại đội trưởng 91, tay đánh giặc sắc nét nhất trong bọn hỏi tôi.
– Tay tổ cái gì?
– Tụi con gái chèo đò đó.
Chết thật, chị em ta đã ra đến vùng phi quân sự kiếm ăn!! Miền Trung từ Huế trở ra coi như là đất kín đáo, gái điếm ở Huế sống lén lút chui rúc, cả thành phố có đâu khoảng mười ổ điếm, không kể các khoang đò. Tỷ lệ đó so ra quá ít với Sài Gòn hay bất cứ một tỉnh nào khác. Nhưng ở đây là Đông Hà, thành phố của lửa đạn cỡ lớn, súng tay chỉ là trò chơi, thành phố không một chiếc giường nổi khỏi mặt đất, thế nhưng gái điếm lại đông đúc và sinh hoạt hung hãn hơn bất cứ chỗ nào. Chị em hành nghề với một chiếc thuyền có mui đậu giữa lòng sông làm phòng ngủ lưu động, dùng chiếc thuyền con hai người chèo, cô nàng tiến sát hàng rào phòng thủ của Mỹ… Người chị em toác mồm gọi… Ô kê! Và hiện thực hơn, trình bày một ít vốn trời cho khiêu khích – Áo bà ba chỉ cần tuột ba khuy hoặc vén thân áo ở bụng lên, có người thực tế hơn nữa chỉ vào…
Đi dọc theo con sông chúng tôi chứng kiến được cảnh “liên hiệp” giữa hai quốc gia thật chặt chẽ. Những người con gái của tỉnh địa đầu lăn xã vào đám lính trẻ ngoại quốc như nhập vào cơn điên. Có gì đâu phải ngần ngại? Chiến tranh đó, sự chết, trại định cư chập hẹp dơ dáy, một ngày mười hai đồng ăn cái gì? Gạo không có, thôi cái vốn trời cho này hưởng thụ cho hết, lợi dụng cho đủ, miền đất này chỉ có đá và cát, nghề biển không được, thì thắc mắc làm gì, hãy kiếm sống vì sống là vấn đề lớn. Cần gì phải được giải Nobel văn học rồi tuyên bố “Tự tử mới là vấn đề”… Sống ở đây còn khó hơn được tự tử! Tàu đến Cửa Việt lúc bốn giờ chiều, trời mưa, cảnh vật u tối, tôi bước chân xuống biển, lòng nao nao xúc động. Lâu rồi không về với biển, biển luôn luôn là quyến rũ mới mẻ, đặt chân xuống bờ cát ướt, tưởng như thấy một tuổi trẻ mười sáu ở đâu đây. Nhưng lòng đâu còn trong sáng như những buổi chiều Đà Nẵng ngày xưa, bây giờ là nỗi phiền hư hại như tiếng cười nồng nặc dục tình của đứa con gái trên khoang đò. Nhìn sang bờ phía bắc, bờ biển lượn một hình cong đẹp đẽ; thật lạ, từ Cửa Việt chạy đến đèo Hải Vân bờ biển thẳng tắp như có một bàn tay người cắt xén, ở đây trở ra bãi cát chuyển hình cánh cung. Trong mù mờ của buổi chiều bờ biển phía bắc tối hẳn lại, ở đâu Đồng Hới, đâu là Cửa Tùng? Nhớ lại câu thơ: “Thấy mênh mông Cửa Việt Cửa Tùng… “ Đứng ở bờ Cửa Việt hôm nay, người tôi vỡ tan do xúc động ngây ngất… Quê hương miền Bắc đó, có ai đứng bên đó nhìn về bên này chăng? Chắc rằng trong tận cùng tâm hồn Việt Nam, ai đi đến nơi đây lại không có cách xúc động này. Đây cũng là niềm tin để sau chiến tranh xây dựng lại quê hương. Mong thế.Tin thế.
Hai giờ sáng, khởi hành từ Cửa Việt tiến quân lên phía bắc, đi dọc theo bờ biển. Mục tiêu là những làng nhỏ nằm sát lằn ranh khu phi quân sự. Đoàn quân di chuyển bằng xe M, Track cửa Hải quân Mỹ, tương tự như M.113 nhưng dầy và nặng nề hơn, dùng để lội nước hơn để đi trên đất. Đoàn xe chạy theo hàng dọc, không đèn, mọi người tắt lửa, cuộc chuyển quân phải thực hiện trong đêm để tránh pháo binh và hỏa tiễn địch. Xe tiến chậm rãi, trăng non vừa mọc, ánh sáng bàng bạc soi xuống mặt bể chuyển động lóng lánh những lượn sóng bạc đầu, mưa giăng bụi mờ chân trời. Chưa có một chuyến đi nào hào hùng bằng, sóng biển đánh vào thành xe bọt tung lên ướt đẫm thân thể. Giờ này mới hiểu rõ niềm cô đơn của người lính biển. Quân đi như trong giấc mơ. Cũng hiểu được tại sao thuở nhỏ tôi vẫn thích Chinh Phụ Ngâm hơn Kiều; Kiều trang trọng, kiểu cách và có vẻ “Tàu” quá. Chinh Phụ Ngâm mới là tiếng than dài…
Hơi nước lạnh người rầu mặt rạn
Giòng nước sâu ngựa nản chân bon…
Tôi yêu những câu thơ này từ năm còn học đệ ngũ, lên đệ tam, linh hồn mở ra thêm hoài những chuyến đi xa. Những câu thơ này dành cho tôi. Đã linh cảm từ những năm trẻ nhỏ đó… Năm tháng sau này sẽ là những ngày dài trôi nổi. Đi lính có nghĩa chấp nhận chuyến đi xa. Bây giờ thấy rõ ấy là sự thật. Quả tình tôi không thể làm được chuyện gì lớn trong đời, tất cả mọi chuyện hình không thể nào quan trọng với tôi. Lớp đệ ngũ, trường Phan Chu Trinh Đà Nẵng, thầy Quế hỏi:
– Theo em nghề gì tự do và thoải mái hơn hết?
– Thưa thầy: Đấm bóp!
Lẽ tất nhiên tôi nói đùa để các bạn học cười, bao nhiêu lâu chỉ xuất sắc được ở môn nói láo và khôi hài, hai quý tính này lẽ tất nhiên không giúp cho tên học trò khá hơn. Ngồi trong lớp tôi rình rập, đợi chờ, chuẩn bị câu khôi hài để cả lớp cười ồn theo. Ai làm tôi trở nên vậy? Bố mẹ tôi vốn nghiêm chỉnh, giống chăng một ông cậu ở tính “tiếu lâm vặt”. Khi trả lời với thầy Quế như vậy, tuy chỉ là câu đùa nhưng tôi biết mình đã rất nhiều thành thực. Biết làm sao được vì tôi khoái cái anh đấm bóp cầm đèn xanh và chùm kim khí chỉ xuất hiện sau khi đèn đường đã thắp sáng. Và tôi nhớ kỹ thầy Quế đã phán một câu: “Rồi suốt đời, anh sẽ không làm được gì hết”. Đúng quá, tôi chẳng thích làm lớn một tí nào hết, đời bắt làm sĩ quan, chỉ huy lính đánh giặc thì tôi làm, nhưng nghĩ cho cùng tôi chỉ muốn làm một tên lang thang.
Chuyến đi này hợp ý quá, năm giờ sáng đến mục tiêu cuối cùng, bố trí cấm lửa, hạn chế vô tuyến, địch đang dò chừng chúng tôi… Nằm trên bờ cát nhìn ra biển, hút điếu thuốc thấy thú vị vô cùng, chiến tranh và trái hỏa tiễn thù hận được quên đi. Trời tối, ở yên tại vị trí, mọi cuộc di chuyển đều cấm ngặt, nhìn sang bờ bắc trời vẫn còn mù nhưng có thể phân biệt vài căn nhà, quê hương đó xa cách như không bao giờ đi đến. Phía bên trái chúng tôi tiểu đoàn 6 bắt đầu tiến lên các đụn cát, bóng đen những người lính vừa xuất hiện trên đồi 24 đạn đại bác từ bờ bên kia rơi chính xác ngay đỉnh đồi… Những người lính tiểu đoàn 6 đào vội hố cá nhân, cử động của họ hấp tấp, vội vàng dưới làn mưa đạn, trông tội nghiệp như những con thú bị đuổi. Đồng thời có giọng nói Mễ trong máy, bây giờ nó đã vượt lằn ranh khu phi quân sự… ” Trình đích thân Mê Linh tôi bị..”. “Sếp” bấm chặt combiné, im lặng. Mễ biết ý, đổi giọng: “Trình đích thân nó ném đá, nhưng trước mặt tôi hai thước. Chắc chắn rằng Việt cộng theo dõi được đàm thoại nên từ giờ phút ấy đạn cứ rơi đằng sau chúng tôi hằng hai cây số!! Đoàn xe chở chúng tôi trên đường trở về bị đạn chạy lung tung, một vài anh tài xế dại dột cho xe chạy ra gần bờ biển trống trải, Cộng quân trông thấy điều chỉnh đạn rơi tới tấp. Tiếng đạn rít qua đầu nghe tai quái, nhưng yên chí, địch không biết chúng tôi ở đây. Phản lực từ Đà Nẵng bay ra không đầy năm phút sau, chiếc thứ nhất trút xuống, ba chiếc kia lượn vòng; thay nhau trút bom xuống phần đất phi quân sự ở bờ phía bắc, lợi dụng cơ hội, tiểu đoàn 6 gọi trực thăng tải thương, M, Track của Mỹ lình kình chạy về Cửa Việt.
Chỉ có việc nằm im trong rừng thông, máy truyền tin được lệnh hạn chế đến mức tối đa, lần đầu tiên tôi cảm thấy bình an, vì trận địa đã chia thành chiến tuyến rõ rệt, không cảm giác bị rình rập sau lưng. Đến chiều, lợi dụng lúc Hải pháo từ hạm đội số 7 bắn lên, chúng tôi hối hả nấu cơm, xong len lỏi trong rừng dương liễu rút quân về lại phía nam. Chiều mùa đông xuống thật nhanh, được lệnh đóng quân, nằm ngủ ngay trên cát bên cạnh hố. Suốt ngày đi dọc bờ biển, đêm ngủ dưới rặng phi lao, tôi nhớ những ngày mùa hè mới lớn… Suốt ngày lang thang trên bãi, đêm ngủ bờ cát, đốt đèn đi bắt ghẹ, loại cua nhỏ và dẹp, dưới ánh đèn khí đá con ghẹ chạy bay biến trên nền cát ướt, Tuấn cầm đèn, Hải kéo chiếc thùng, tôi đâm lao, số ghẹ bắt được luộc ngay ở bờ biển khi đêm khuya đang ngã về sáng , sao hiệp sĩ hiện rõ ở nền trời. Khuya này, tôi cũng ở trên bờ biển, nhưng đã là một lính già, thèm được thấy ánh lửa trại đội trưởng của Thiếu sinh Hướng Đạo miền Trung… Quê hương, tuổi nhỏ, thời ấu thơ đã xa mất rồi.
Gần sáng, cả tiểu đoàn thức hẳn dậy… B 52. Ở hậu cứ mỗi khi nghe radio phần tin tức buổi sáng: Vào bình minh hôm nay, B 52 đã dội bom xuống dùng phi quân sự… Không một ai chú ý, xem chỉ là mẫu tin nhỏ. Nhưng đến sáng hôm nay, chúng tôi mới thấy được tầm quan trọng cũng như cường độ công phá của trận oanh tạc. Nơi dội bom cách khoảng chúng tôi bốn cây số, mỗi lần bom nổ, người đang nằm dưới đất bị bắn tung lên, người nằm trên võng bị ném xuống, những cột lửa lóe lên đỏ rực như ánh đèn xì để gần mặt. Tôi chưa thể hình dung được sức nổ của bom nguyên tử, nhưng bom B 52 ở đây đã vượt qua ý niệm tàn phá. Đất rung chuyển như nức nẻ, lồng ngực bị nén hẳn lại, bom không nổ từng tiếng, nhưng từng giây, từng chuỗi kéo dài ra như âm dội của ngàn thác lớn, gây nên cảm giác đất đang vỡ vụn nhỏ. Chúng tôi ở xa nơi ném bom còn thấy nghẹt thở, không hiểu những người lính miền Bắc ở chỗ bị ném bom sẽ ra sao? Bom đạn đâu có phân biệt được người Cộng sản hay không, giáo điều của Bác và Đảng làm sao giúp người lính Bắc Việt có thể sống, hoặc bình thường nếu được sống sót dưới trận mưa bom và nếu quả thật có một người Cộng sản nào đó không sợ hãi dưới tiếng nổ xé vỡ vũ trụ kia, thì kẻ đó hẳn không còn tính người, đấy chỉ là một loại xác chết được đẩy vào chiến trận. Và như thế, chiến tranh này chỉ có giữa những người máy với nhau, một thứ từ phương trời thật xa đến, không nhìn, không nghe, không thấy mục tiêu, địa điểm đánh bom được đánh dấu bằng ra-đa, bấm nút bom rơi xong bay trở về; chắc rằng nhiều phi công B.52 chưa hề thấy một người Việt Nam. Và một loại người máy khác, lòng đầy thù hận, không tim, không óc, không tình thương, không sợ hãi lăn vào cái chết – Nào có được vinh quang gì những cái chết được xem như chủ đích của đời sống. Chúng tôi đúng là một kẻ ngoại cuộc, cô đơn trong chiến tranh.
Trở lại Huế, trời đã vào mùa đông, nhìn những chiếc áo trắng tươi mát đi học trên đường dọc dòng sông, thấy mình cằn cỗi như một thứ vũ khí bị sét. Từ Nam Giao đi xe về Huế gặp lúc tan học, học trò từ Quốc Học và Đồng Khánh dồn ra reo vui trên đường phố. Chiếc xe nhà binh đi trong tiếng cười linh động trông như một nỗi buồn già…
– Xe nhà binh đằng sau, tránh đi tụi mi! – Cô gái nhỏ báo hiệu cho bạn bè, chữ “nhà binh” nghe nặng nề như một lời trách cứ. Các em nào biết được lòng ta, một thứ lính tội nghiệp đang chống đỡ cho quê hương.
Lần đầu tiên tôi thấy sếp nổi giận thật tình, một người mặt lạnh, một gã Mộ Dung Phục tân thời, cao ngạo trầm tĩnh, nổi tiếng hách từ thuở còn quan một, quan hai, bây giờ cũng đùng đùng nổi giận, cũng cáu kỉnh ra phết… Từ trên xe bước xuống, sếp gầm gừ. Anh Ba “Vẩu”, tiểu đoàn phó khẽ nói:
– Mẹ, lại có chuyện gì ghê lắm rồi… – Dẹp bài. Chúng tôi đang ngồi rút một canh xì còm đánh lai rai kiếm tiền về Sài Gòn tiêu. Hành quân vào ngày thứ bảy mươi hai, được lệnh về Sài Gòn, sếp đi họp để bàn chuyện triệt thoái. Nhưng bây giờ với điệu bộ hung hăng của sếp như vậy chắc chắn là có vụ gì vỡ mặt, nói theo ngôn ngữ anh Ba Phó. Sếp vào, mọi người im lặng, chưởng đầu tiên nhắm vào sĩ quan hành quân… – Anh Đỉnh, lần sau tôi đi họp mọi người ở nhà trực máy cẩn thận, cái lũ truyền tin khốn nạn!
Anh Ba Đỉnh:
– Vâng.
Chưởng thứ hai hạ tiếp vào tôi:
– Tôi muốn anh điểm danh lại đại đội, ở ngoài Huế lính của anh đang làm loạn… Tôi muốn (muốn gì nhiều quá cỡ) Đại úy tiểu đoàn phó thôi không đánh bài nữa!
– Vâng… – Anh Ba “vẩu” chưng hửng. Mễ thì thầm nói với Thừa:
– Chắc phải cày thêm nữa mày ơi. – Sếp đưa mắt một vòng hình như đã bớt cơn thịnh nộ, thấp giọng:
– Chưa được về Sài gòn, ngày mai đi Darkto!
Đại úy Freund, cố vấn trưởng tiểu đoàn lân la tới:
– We will go to Darkto tomorrow, Sir?…
– “Tô” và chén cái con mẹ mày “phân” à (“Phân”: âm tự tên Freund). – Thừa trả lời, anh Mỹ ngây ngô toét miệng cười: OK!
Thế thì sống sao nổi, tưởng được về Sài Gòn ai ngờ lại đi Darkto, buổi họp bàn tính kế hoạch không vận ỉu xìu chẳng ra ngô khoai gì hết. Hết họp, sếp lúc này đã lắng xuống mới làm ra cái giọng thản nhiên.
– Các cậu về đừng cho lính biết…
Chúng tôi bước ra cửa kháo nhau… Quan biết còn đi không nổi nữa là lính… Tôi đi về chỗ đóng quân đại đội, Lính đang biểu diễn một màn gọi là “giã từ soong chén”. lính hay có những cái “khỉ” đáng yêu như vậy. Sau mỗi lần hành quân dài hạn đem chén bát ra đập vỡ bằng thích, soong chảo bị đâm nát hoặc đem tặng lại cho đồng bào, một thứ quà gởi lại em gái hậu phương cam đoan không một anh nhạc sĩ loại thủ dâm tinh thần lính có thể biết được để đưa vào nhạc cho các ông thợ hét “anh tiền chiến” rên rỉ. Gạo, cơm, mắm, muối, đồ ăn thức uống, còn bao nhiêu các anh chiến sĩ can trường đem tặng hết cho đồng bào, làm sao chỉ còn một túi ba-lô thật gọn, với vài bịch cơm sấy để mai lên tàu bay là được… Mẹ kiếp, về Sài Gòn xuống tàu bay mà mang cái nồi đen sì thì đĩ nó cũng chê nữa… Ném! Hạ sĩ Em ném cái nồi xuống lưng đồi một cách hung hãn theo lời khuyên quí báu. Nhìn cảnh tàn phá, tôi phát hoảng… Kêu thường vụ tập họp đại đội lại!! Đại đội đứng trước mặt, chưng hửng chờ đợi vì thấy tôi có vẻ nghiêm trang.
…Các anh không được cho thức ăn, không được phá đồ nấu ăn, có thể đợi máy bay ở phi trường hằng ba bốn ngày… Ai lỡ ném soong chảo phải đi tìm lại. Lính xì xào bàn tán… Tôi đệm thêm một câu: Nhắc lại, vấn đề đợi ở phi trường là điều chắc chắn. Bố khỉ, tôi nói láo cũng ra gì.
Chiếc tàu bay C.130 cất cánh khỏi phi trường Phú Bài, nhả những ống hơi điều hòa không khí, lấy bằng phi bay về hướng nam. Tôi đứng dậy từ đuôi máy bay nhìn đám lính ngồi kháo chuyện trước mặt, anh nào anh đó cũng có vẻ hí hởn, ba lô đầy cứng mè xửng với nón Huế. Thạch Sen, xạ thủ súng cối đại đội:
– Chay me, tao cho con vợ cái nón Huế bây, vợ mừng…
– Anh em yên lặng, tôi có chuyện nói. – Cả tàu im phăng phắc hướng về tôi. Ngần ngại một thoáng ngắn…- Báo tin cho biết, tàu bay không về Sài Gòn, chúng ta đi Darkto. Tiểu đoàn phải hành quân ở Darkto trong mười lăm ngày nữa.
Một tiếng ồ thật lớn nổi lên, mọi khuôn mặt hóa thành đờ đẫn, xong thộn ra thiểu não không chịu nổi. Dương Phen nói với Thạch Sen:
– Đ.m… Darkto ở đâu bây?
– Tao không biết. – Nó đấm một cái rách tung chiếc nón Huế.
– Trung úy nói giỡn chọc tụi em? Một vài người lính đến bên tôi dò xét.
– Tao hết cách giỡn rồi sao, tao cũng rầu thấy mẹ… Tên lạc đà của tôi ngồi một bên nói tiếp:
– Đi Darkto thật đó…- Những tên lính de lui, mặt dài ngoẵng.
Tôi đã xuống nhiều phi trường quân sự trong đời lính, nhưng không có phi trường nào tiêu điều buồn bã bằng phi trường Darkto chiều hôm đó. Hàng chữ xi-măng gắn trên cổng phi trường gãy đổ xiêu vẹo, chữ còn chữ mất trong càng thêm xơ xác. Đêm ở đây thật lạnh, lạnh rút vào trong xương, bao nhiêu áo quần mặc cũng không vừa, lạnh không phải từ ngoài thấm vào nhưng từ trong cơ thể thoát ra. Chúng tôi rút vào câu lạc bộ trung đoàn 42 để uống cà phê, cà phê làm sao quên được nỗi buồn nản của cuộc hành quân kéo dài này, thôi thì rượu vậy, rượu không có thì bia. Trong quán ăn lính ngồi đầy nhóc, mặt mũi anh nào cũng chảy dài ra vì buồn… Hát đi tụi mày, vì sao không hát cho vui nhỉ? Có quái gì đâu phải cau có, hành quân thêm mười lăm ngày nữa có chết con ma nào đâu! Đúng, đúng! Mượn hơi men, một vài anh cao hứng làm ra cái điều khẳng khái. Hát, một người đứng lên hát… À, Tám Lọ ở đại đội 72. Được, thằng này làm hề khá. Tiếp theo anh xạ thủ súng cối người Miên của tôi lên hát, thằng này có giọng tốt, bis, hát nữa đi Phen. Phen được uống chai bia, cao hứng làm tiếp ba bài, thiên hạ vỗ tay rào rào. Đến lượt quan ba Mê Linh làm một đường ngâm thơ “Mòn mõi” nghe cũng tình tứ… Thế là văn nghệ tạp lục hay gấp vạn lần của anh Tùng Lâm, hấp dẫn không kém một đại bang nào. Đêm đã khuya, đoàn văn nghệ bất đắc dĩ cạn vốn, ngày mai còn phải vào núi, cơn say chưa đến và lạnh như dao cắt. Phiền buồn thật xót xa.
Hành quân, những ngọn đồi phía đông bắc quận Darkto, bên phải con đường chiến lược nối Darkto với Darkpec, bên trái trung đoàn 42, phía nam Nhảy dù Mỹ. Địch đang gây áp lực mạnh chung quanh quận lỵ này, mục tiêu là phi trường nằm thấp xuống như lòng chảo Điện Biên. Núi ở đây còn khó hơn ở Pleiku, cao chót vót trơn tuột, rừng già không dấu vết người. Đi sâu vào phía đông, xong lại rút ra đi dọc theo con đường lên Toumorrong. Địch không có, biệt khu 24 lại vẽ thêm mấy mục tiêu ở phía bắc, đi tiếp cũng không có một dấu vết gì. Thôi đóng quân trên mấy ngọn đồi cao xong tung quân lục soát, xếp quyết định. Trong rừng bảy ngày rồi, thức ăn không có, đêm quá lạnh có người chịu không nổi phải đào hố đốt lửa thành than, lấp đất lên rồi căng võng trên đống lửa ngủ. Kể từ ngày ở Huế đến bây giờ là mười ngày cả tiểu đoàn ít có người nào xuống suối tắm. Rét đã làm da thịt săn lại, chẳng có ai can đảm nhúng vào nước. Tuần tiễu cấp trung đội, các đại đội trửơng được ở tại chỗ. Tôi bò lên đồi đóng quân của Mễ, nó có chai rượu whisky Nhật, mấy củ hành lá được mang ra, chai rượu uống đến giọt cuối cùng…
– Ngon mày ạ! Lần đầu tiên tao uống được whisky Nhật, cực quá!
– Gắng cực đi con, không đụng là tốt rồi…
– Có Việt cộng đâu?
– Mày không biết đấy, nó đánh với Mỹ tơi bời ở phía nam…
— Thế hả? Vậy thì về là vừa, tao nhớ thằng con quá… – Câu được câu mất, tôi nói với Mễ thì thầm trong choáng ngập buồn phiền.
Sau mười ngày trong núi, tiểu đoàn được lệnh rút ra Tân Cảnh, thị trấn nằm về phía nam của quận Darkto. Tám mươi hai ngày hành quân kể từ ngày rời Sài Gòn, mười ngày cuối cùng trong rừng không thấy mặt trời, tóc râu mọc lởm chởm trông như lũ ma. Thôi, trả nợ đời như thế này coi đã đủ, bây giờ thiết kế tính chuyện ăn chơi. Tiền ở đâu ra? Không còn một tên nào có được năm trăm trong túi. À, có ông địa mập, thiếu tá quận trưởng Darkto. Nhưng đứa nào dám lên ông ta xin rượu? Con đường Tân Cảnh-Darkto sáu cây số, hai cuộc phục kích xảy ra trong đoạn đường ngắn ngủi này đã giết chết một ông đại tá. Gần đây, ngày hôm kia các trại định cư người Thượng ở phía trái con đường bị Việt cộng tấn công, bây giờ là tám giờ tối. Đứa nào dám đi? Cả bọn đều e ngại, nhưng cuối cùng cũng có bốn ông liều do tôi chỉ huy mượn chiếc xe của một thiếu uý khóa 22A ở đơn vị bộ binh Tân Cảnh. Chúng tôi lên xe, xe chạy như điên không để đèn, sáu cây số đi như một cơn mê. Ông quận trưởng, thiếu tá Biệt động quân “ô kê” cho chúng tôi rượu, rượu không có thế vào két bia và tí tiền còm. Xong cả bọn phi nhanh về Tân Cảnh, gái ở đây chỉ còn ở tổ quỉ độc nhất ngoài thị trấn…
Những phiền toán cực nhọc cho quên hết, da thịt được mở tung ra thoả thuê, thế giới này chỉ có lính, và lính đồng nghĩa với phung phá đến tột độ. Các em bé cũng chịu chơi ra gì, đóng cửa quán lại vui vẻ với các anh, một lần đầu và cũng là lần chót. Đêm thật lạnh, rượu ngấm vào và khuôn thước nào để gìn giữ sau tám mươi hai ngày hành quân. Say đi anh em, cơn dục tình vui vẻ như một tiếng reo vô tội. Khoái quá! Nuôi “con” hét lớn. Ừ vui thật, “xong rồi anh em!!” Nhảy dù có chữ “xong” mất dạy một cách đáng yêu. “Xong rồi”, thế là hết, nhưng cũng không xong tí nào, một cây sào luôn đẩy người đối thoại vào chỗ chới với. Xong rồi! Cứ xong mãi nhưng không bao giờ xong điều phiền muộn!
Đêm khuya, rượu hết, các em gái cũng phờ phạc trông đến chán, cả tụi kéo nhau về. Không hiểu do một thứ “đào hoa vặt” hay không? Tôi được một em bé níu kéo nài nỉ ở lại. Không ở lại cũng phí của trời ông ơi! Hiến “chó xù” đề nghị. Đấy, ông giữ cái súng XM 16, này lỡ đêm nay Việt cộng có tấn công còn đường tiến thủ, xong oanh liệt chết trên bụng em bé! Xong rồi! Ta sẽ ở lại. Tôi hùng dũng nhận lời. Ôi, ái tình lẻ cũng tạm được, em bé lại khóc mùi mẫn vì sợ chia ly! Tôi đâu ngờ được cảnh thê lương thế này. Em lại cho tôi tập thơ, thế là hết chỗ nói, thơ với ái tình đi kèm nhau là phải. Đêm cao nguyên lạnh, nằm trên chiếc giường êm, em bé lại đẫy đà da thịt thừa thãi… Ba tháng hành quân, nằm đồi, ngủ núi được bù trừ một cách đầy đủ, em lại to con dai sức, bất chi lao. Sáu giờ sáng, nàng Kiều tiễn chân tôi ra bến xe Lam. Khi trèo lên cái dốc vào trại trung đoàn 42, tôi đi như muốn bò, vào đến nơi đơn vị đã lên xe để ra phi trường, tôi nặng nhọc trèo lên chiếc GMC ngủ thiếp đi lúc nào không hay.
Hôm nay là ngày 23 tháng Mười một: Hổ, Hiến, Dưỡng và Lộc được thăng chức Trung úy. Sếp gắn lon, đại đội 91 được lệnh lên tàu bay về trước, tiếp theo đến 92 và 93… Chiếc tàu bay chở đại đội 92 vừa ra đến phi đạo thì Việt cộng bắt đầu pháo kích. Quả thứ nhất rơi bên cạnh phi đạo, lính tỉnh bơ cười nói như không có gì, quả thứ hai và thứ ba trúng ngay cánh chiếc C.130 chở đầy lính đại đội 93… Phi cơ bốc lưœa, Việt cộng pháo kích liên tiếp vì mục tiêu đã nhận rõ. Lính đại đội 93 chui từ trong máy bay ra lúc nhúc như chuột bị động ổ, lửa khói và tiếng nổ khắp bốn phía… Sếp bị trúng đạn ngã xuống, Mễ chạy ra xốc nách đem xuống giao thông hào bên trái phi đạo, khu phi trường biến thành địa ngục, đạn chất sẵn để đưa lên máy bay chạm xăng bốc lửa nổ như sấm. Chạy, chỉ còn một cách là tránh khỏi khu phi trường… Bây giờ mới có thể hiểu được thảm cảnh của Điện biên phủ suốt hai tháng nằm dưới cơn mưa pháo 105 và cối 82. Chúng tôi ở đây bị ba khẩu sơn pháo mà đã chới với rồi. Tôi dẫn đại đội chạy ra ngoài phi trường, mỗi thằng chỉ mang được một cây súng, đến cổng tôi tạt vào cái lô cốt để ngồi nghỉ, nhìn xem quân ta tịch thu “chiến lợi phẩm” do lính Mỹ trong lúc hốt hoảng vất tung tóe. Cám ơn Việt cộng và cám ơn lính Mỹ!
Giao lại Darkto cho chiến đoàn 3 Nhảy dù, gồm tiểu đoàn 2 và 3 Nhảy dù. Chiến trường bắt đầu sôi động, các anh ở lại để chứng tỏ can trường của người lính Nhảy dù Việt Nam, và các anh đã thực hiện được khi treo quốc kỳ và chiếc nón đỏ trên ngọn đỉnh Ngok-Wank.
Chúng tôi triệt thoái về Kontum vì phi trường Darkto không thể sử dụng được, trên đoạn đường đầy bụi đỏ này tôi được chứng kiến thêm một “nét son” của chị em ta. Đường đầy lính Mỹ và chiến xa tuần tiễu an ninh lộ trình và một lô xe Lambretta ba bánh. Để làm gì? Một xe có từ bốn đến tám chị em, áo quần mặc đến mức tối thiểu, một ít nước ngọt hoặc la-ve, tên tài xế kiêm nghề ma-cô. Đại khái, một chị em tay cầm chai cô-ca, cặp một chiếc poncho đến sát chiếc M.113 trên xe hai anh Mỹ con mặt mũi non choẹt, đất đỏ bám vàng cháy. Anh Mỹ con gật đầu, em bé đặt cái chai vào giữa rãnh bộ ngực, anh chàng cúi xuống nắm cái cổ chai, đi một đường sờ soạng, con bé cười hinh hích… Cái chai tuột xuống bụng dưới. OK cứ loạn cả lên, chẳng biết ai hỏi ai trả lời. Chai cô-ca được kéo ra từ đũng quần con bé. Mệt rồi, cậu Mỹ mở chai nước uống một ngụm, tay cặp khẩu súng, tay kia dìu em đi vào cánh rừng xanh!… I get short time! Nó nói với thằng trên xe. Thằng nhỏ trên này gật đầu. Có một đoàn công-voa Mỹ đi ngược chiều, xe chúng tôi bị kẹt lại nên trông thấy được màn ciné cochon hấp dẫn. Lính trên xe la như giặc: Dô! Dô!… Number one!…
Đoạn đường mòn lại đầy nhóc những “khoái kịch” trên. Xe Lam ba bánh đậu san sát với chiến xa và xe công binh Mỹ làm đường.
Thuở bé, nhà tôi ở một chỗ chứa, “Mã Ông Trạng”, chúng tôi chỉ nghe người lớn nói đó là nhà đĩ, nhưng cả lũ trẻ con không đứa nào biết mặt “con đĩ” như thế nào! Thậm chí tôi còn phịa ra cảnh: Một thằng lính lê-dương đến chỗ “Mã Ông Trạng” vỗ tay ba cái, bụi rậm mở ra lỗ hổng, nó chui vào đấy. Đấy “chơi đĩ” phải bí mật và kín đáo như thế, tôi đã phải rình lâu lắm mới bắt gặp được. Bọn trẻ nhỏ phục tôi quá. Và tôi cũng nhớ một người phu xe kéo từ chối chở người đàn bà son phấn. Hắn ta nói nhỏ với người bạn – “Thứ đó đó…” – với một giọng khinh miệt. Tôi bèn mách với lũ trẻ bạn là đã được thấy một “con đĩ” rồi. Bây gờ, lũ trẻ con ở hẻm nhà tôi, trong khi ngồi chờ đợi rước mối cho mấy “chị”, đã bàn tán với nhau sự cấu tạo của mỗi chị em và cách thức hành nghề của mỗi người…
Trong hình từ trái sang: BS Trọng, Đ/U Nguyễn Viết Thanh, Thiếu Tá Phạm Kim Bằng, Thiếu Tá Lê Minh Ngọc, Đ/U Đoàn Phương Hải trong cuộc hành quân với Chiến Đoàn 333 giải toả Kompongcham năm 1970. Như thường lệ sáng nào tôi cũng vừa nhâm nhi ly cà phê, vừa đọc email Võ Bị để biết tin tức, sinh hoạt của các bằng hữu anh em khắp mọi nơi trước khi làm việc. Nhưng buổi sáng hôm nay, buổi sáng thứ Tư ngày 21 tháng 6 năm 2000, tôi đã sững sờ đánh đổ ly cà phê khi đọc những hàng chữ báo tin Thanh Râu Nguyễn Viết Thanh Khóa 19 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (TVBQGVN) vừa mới qua đời vì bạo bệnh tại Canada!
Đ/U Đoàn Phương Hải/ Cố Đ/Tá Nguyễn Đình Bảo
Tôi không biết phải bắt đầu từ đâu, dùng chữ nghĩa như thế nào để viết cho đủ, chuyên chở cho hết những ngày trên Võ Bị, những tháng năm cùng chung đơn vị với những trận chiến mịt mù bom đạn khi ở Tiểu đoàn 7 Nhảy dù với Thanh!
Thẫn thờ nhìn tấm hình để trên bàn làm việc, tấm hình nhà binh duy nhất mà tôi có do Thanh râu gửi tặng mấy tháng trước đây. “Bùi Đăng” Phạm Kim Bằng, “Ngọc Nga” Lê Minh Ngọc, “Thanh Tâm” Nguyễn Viết Thanh, tôi và Bác Sĩ Trọng chụp chung ở một căn nhà hoang hồi Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù tham dự hành quân với Chiến đoàn 333 bên Cambodge vào khoảng tháng sáu năm 1970.
Ở một nơi nào đó, tôi nghe như Thanh đang nói nói cười cười trêu chọc anh em, mắt như thấy Thanh ngồi trên thiết vận xa chỉ tay xua quân qua biên giới. Qua khung cửa nắng đã lên cao, rặng thông bên kia đồi ngả nghiêng rì rào trong gió. Trên những cành sồi, hoa nắng tròn tròn lung linh trên bộ áo hoa dù! Thanh như thoáng hiện ở đâu đây!
Ngoài kia những con chim mỏ đỏ cánh đen, giống như những con sáo ở quê nhà cất giọng hót trong cao nghe thật buồn đang bay chuyền trên cành cây maple lá đỏ. Và như thế là Thanh đã thực sự nhắm mắt xuôi tay, bỏ vợ bỏ con, bỏ Toronto tổ ấm cuối đời để về một nơi xa thật xa. Có thể là rừng dương bãi biển ở quê nhà, có thể là thung lũng mù sương Dakto, Hạ Lào, A Sao, A Lưới… Hay có thể là một chốn bình yên, không danh không lợi… Nhưng đó là nơi yên nghỉ cuối cùng của một đời người!
Cuối năm 1962 khi những chuyến xe lửa cuối cùng vừa vượt núi băng rừng, uể oải lăn bánh vào sân ga Đà Lạt trong ánh nắng héo hắt, hanh vàng co ro lạnh của thành phố cao nguyên thì tôi gặp Thanh và nhiều bạn hữu chờ xe vào trường Võ Bị. Thời gian thụ huấn ở quân trường, tuy ở hai đại đội khác nhau, nhưng tuần nào chúng tôi cũng gặp nhau trong những đêm trực gác súng cối gần kho đạn.
Nhiều đêm mưa lạnh co ro trong cái áo gác “lính cà” màu olive dài tới gót chân, Thanh thường kể tôi nghe về Phan Thiết quê anh. Thanh cao lớn đẹp trai, đôi mi cong như lông mi con gái, nổi bật với hàm râu quai nón dù đã cạo nhưng vẫn đen đậm quanh hàm, vì thế bạn bè gọi anh là Thanh Râu hay Thanh Tây Lai.
Cuối năm 1964 khi mãn khóa ra trường, Thanh và tôi nhảy múa reo hò, mua ngay chiếc nón đỏ đội lên đầu vì được về binh chủng Nhảy Dù. Thanh về Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù ở trại Phạm Công Quân. Anh bắt đầu làm quen với những người lính phong trần, len lỏi chiếc Vespa dọc theo những hàng cây cao su, cây bã đậu cao xanh rợp bóng đậm màu vôi trắng dưới gốc cây tại ngã tư Bảy Hiền.
Còn tôi thì leo lên chiếc GMC ngồi bên những người lính dù mặt sạm đen, áo trận còn vương mùi thuốc súng vừa từ mặt trận Tây Ninh về phép thăm gia đình. Chiếc xe nhà binh vút trên xa lộ về hậu cứ Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù tại trại Vũ Đào Ánh nằm khuất dưới những rặng cao su xanh mát trong căn cứ Không Quân Biên Hòa.
Sau hơn một tháng hành quân trong Chiến Khu D, cả khóa chúng tôi về học nhảy dù. Đứng ngay cửa máy bay chờ nhảy “saut” đêm, Saigon dưới chân, cả một vùng rộng lớn lấp lánh ánh đèn xanh đỏ, sông Đồng Nai như một giải lụa bạch ôm lấy thành phố uốn khúc xuôi về phía biển. Khi đứng lên móc khóa dù, Thanh nheo mắt chọc tôi:
– Coi chừng nhảy vô đồn nghe Bắc Kỳ con!
Đèn xanh vừa nháy lên, liền với tiếng “Go” tôi lao mình theo Thanh Râu phóng ra khỏi thân tàu. Trời trong vắt đầy sao, gió đêm hơi lạnh thổi mạnh từ bờ sông, hoa dù tản mạn bung trong gió, lòng lâng lâng với một cảm giác thích thú kỳ lạ khi dù nhẹ nhàng bay. Làng mạc xóm nhà quanh khu Quang Trung và bãi nhảy Ấp Đồn mờ đục trong đêm. Đôi chân hụt hững trong không khí, tôi vội co chân lấy thế. Cách tôi không xa Thanh đang kéo dù ngược chiều gió để khỏi rớt vào đồn. Lũ trẻ trong làng tay bấm đèn pin chạy đuổi theo những hoa dù căng gió, từ trên cao nhìn xuống như một bầy đom đóm, vừa chạy vừa la kéo dù như những tay chuyên nghiệp!
Chân vừa chạm đất, tôi lăn mình một vòng và cảm thấy hơi thốn ở chân. Lũ trẻ chăn trâu chợt la lên:
– Cố vấn, cố vấn Mỹ tụi bây ơi!
Rồi một số bỏ chạy về phía Thanh râu. Trong nháy mắt tụi nhỏ đã dồn dù của tôi vào bao, vui vẻ nhận tiền “lì xì.” Cách tôi không xa Thanh đang chống nạnh la oai oái:
– Ê nhóc con, tao là Việt Nam chứ không phải là Mỹ, lấy đỡ tí tiền còm đi mấy em!
– Thiếu Úy trông giống Mỹ quá! Cho thêm chút nữa đi, dù vướng vào đồn mà Thiếu Úy.
Tôi rít một hơi thuốc thơm rồi thủng thẳng đến bên Thanh ngâm nga câu thơ chợt đến trong đầu để trêu chọc Thanh râu:
– Dù bay Nam Bắc Đông Tây. Sao Ông lại kéo… dù ngay vào… đồn!
Rồi hai đứa lủi nhanh vào mấy hàng cháo, chè, hột vịt lộn… của các cô gái trong vùng bán hàng cho các toán nhảy dù ngày và đêm. Chân gác lên chiếc ghế dài, rít một hơi thuốc Pall Mall, tu liền một hơi mấy lon bia, Thanh nhe răng cười hích hích rồi chỉ mặt tôi hát chọc cái gốc Bắc Kỳ mang rau muống và dắt theo con chó vào Nam.
– Quê hương tôi cái mùng mà kêu cái màn.
Hay:
– Từ Bắc vô Nam tay cầm bó rau, tay kia cầm sợi dây và dắt theo con cầy…
Mấy thằng bạn cùng khóa và lũ trẻ cùng phá ra cười.
Sau “saut” dù đêm mãn khóa chúng tôi ít có dịp gặp nhau, nếu có thì cũng chỉ một thoáng vội vàng trong núi trong rừng, vừa bàn giao khu vực hành quân, vừa chia nhau điếu thuốc, rồi lại mỗi đứa mỗi nơi miệt mài trên khắp bốn quân khu.
Chiến trường càng ngày càng khốc liệt, chúng tôi đã trưởng thành trong lửa đạn chiến tranh. Xương thịt bạn bè, máu huyết anh em đã thực sự thấm đỏ quê hương. Hết Kháng, hết Hùng ra đi ở Bình Giả thì lại đến Châm, Trí, Chu, Bôn, Quang… một đời mũ đỏ, mũ nâu nằm xuống ở Hậu Nghĩa, Củ Chi hay Cần “bơi” vừa kịp thấy đứa con đầu lòng thì ngã gục ở Khe Sanh.
Chiến tranh đã thực sự chuyển mình, không còn CKC bá đỏ, không còn mìn bẫy hầm chông. Chiến tranh đã lớn, hung dữ như một con quái vật, vươn những cánh tay lông lá khổng lồ ác độc từ Nga sô, Trung Cộng đưa xe tăng đại pháo, hỏa tiễn súng bom, những vũ khí cực kỳ tinh xảo và hàng hàng lớp lớp tuổi trẻ miền Bắc chết dọc Trường Sơn để xâm chiếm miền Nam.
Sau Tết Mậu Thân tôi đang ở Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù, hành quân lội nát vùng An Phú Đông, Nhị Bình, Mười Tám Thôn Vườn Trầu, vòng đai ven đô thành phố thì được lệnh thuyên chuyển về Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù đang hành quân hỗn hợp với Sư Đoàn Không Kỵ của Mỹ tại Tây Ninh. Tôi ghé về thăm hậu cứ tiểu đoàn. Vẫn những căn nhà vòm thân yêu nằm dưới những hàng cây xanh mát. Vẫn những tiếng rơi khô cứng của những trái cao su khô trên mái tole. Hàng cây cao su trước sân Đại Đội 72, nơi tôi vẫn tập họp binh sĩ ngày xưa vẫn xanh tươi, những chiếc lá khô vàng bay như bươm bướm phủ đầy trên sân đại đội mỗi khi có cơn gió thổi về.
Cảnh cũ còn đây nhưng người xưa chắc chỉ còn mình tôi trở về đơn vị. Chiến tranh đã cướp đi hầu hết những người lính cũ mà tôi biết mặt quen tên! Tiếng kèn hạ cờ buổi chiều tan loãng trong không gian, lướt thướt trên rặng cao su, quyện tròn theo những căn nhà vòm, len lỏi thật sâu trong ký ức để tôi nhớ về những người lính cũ năm xưa!
Người lính kèn cúi đầu chào khi nhận ra tôi, những sợi tóc ngắn bạc trắng bên mang tai. Chiếc kèn với vết đạn xuyên một lỗ tròn ngay tay cầm nay đã ten màu đồng ngả sang màu xám, người lính đã thực sự già sau những năm dài chiến trận.
Đến Tây Ninh chiều 27 Tết, ở một thành phố xa lạ tôi thấy lạc lõng không biết về đâu, nên lái xe đến Thánh Thất Cao Đài, đến để chắp tay cầu xin an lành cho chính tôi, cho đơn vị, cho bạn bè và đồng đội của tôi. Sáng hôm sau ngồi trực thăng bay vào Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn tại căn cứ Sandra.
Đời lính chiến xa nhà, nhớ vợ, nhớ con, nhớ người tình nên mấy anh Cố Vấn Mỹ thường mượn tên người đẹp để đặt tên cho một dãy căn cứ hỏa lực nằm rải rác trong vùng rừng núi Tây Ninh. Sandra, Vicky, Carolyn, Barbara… những cái tên dễ thương, dễ gọi để phi cơ và pháo binh dễ liên lạc, dễ nhận trên bản đồ mỗi khi yểm trợ, tiếp tế hay tản thương. Trực thăng vừa đáp tôi đã thấy “Ngọc Nga” Lê Minh Ngọc, Tiểu đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù và anh cố vấn Mỹ đang cầm bản đồ chờ trực thăng để bay thám sát đổ quân. Ngọc Nga vui vẻ bắt tay và giới thiệu tôi với anh cố vấn. Chỉ trên bản đồ cho tôi biết các vị trí đóng quân, tình hình đơn vị rồi kéo tôi lên trực thăng bay với anh để chỉ huy các đại đội đang chạm địch.
Trời trong xanh, từng vạt mây trắng mỏng quấn quít thân tàu. Rừng già xanh ngắt nằm dưới gót chân, hàng loạt hố bom B-52 đầy nước xanh lơ ẩn hiện trong rừng cây. Tôi nghe tiếng Nguyễn Lô, Võ Trọng Em, Thanh Râu oang oang trên máy. Nhận lệnh Ngọc Nga xong xuôi, Thanh Râu cười hich hích hát trên máy để trêu chọc tôi.
Mấy họng pháo binh 105 ly nòng còn đang bốc khói vì vừa bắn yểm trợ cho các đơn vị hành quân. Vừa đáp xuống Sandra tôi gặp Trần Trung Nhất, anh kéo tôi đi một vòng căn cứ coi vị trí đóng quân. Nhất và tôi, bạn cùng khóa 19 Võ Bị, cùng có với nhau những ngày máu lửa khó quên tại Đồng Xoài.
Đứng tựa chiến hào nhìn những cành mai nở vàng trên góc một chòi canh, bên bức tranh Tết pháo đỏ với lũ trẻ bịt tai dán trên bao cát cạnh lỗ châu mai của khẩu đại liên làm Nhất sực nhớ và kêu lên, ngày mai đã là 28 Tết!
Mặc dù mới đổi về tiểu đoàn, nhưng tôi không thấy xa lạ mà cảm thấy quá thân quen. Tiểu đoàn trưởng Ngọc Nga là cán bộ đại đội trưởng của tôi từ ngày còn ở Đại Đội A trên trường Võ Bị. Còn 4 đại đội trưởng tác chiến thì tất cả đều là đàn anh hoặc là bạn cùng khóa 19 mày tao chi tớ của tôi. Ngọc Nga chỉ định tôi làm sĩ quan hành quân, đáng lẽ do đàn anh Nguyễn Lô Khóa 18 đảm trách, nhưng vì anh thích coi đại đội nên tôi đảm trách chức vụ của anh.
Thời gian này thì Trần Trung Nhất của Khóa 19 coi Đại Đội 71. Hiền, ít nói từ ngày ở quân trường, nhưng khi tức giận thì trời đất cũng phải ngả nghiêng. “Hồng Hà” Võ Trọng Em Khóa 19 nắm Đại Đội 72. Em trông có vẻ hiền lành nhưng thực ra là “tẩm ngẩm tầm ngầm đấm… chết voi”. Tại sao tên là Em mà lại lấy danh hiệu truyền tin là Hồng Hà thì không ai hiểu. Có thể là tên người thân hay có thể là tên bồ nhí!
Có lần Thanh Râu tình cờ lấy được bức thư tình Em đang viết dở cho người yêu, Thanh chạy xuống câu lạc bộ tiểu đoàn, tu một chai bia rồi hinh hích cười đọc cho chúng tôi nghe… “Em thương mến của Em.” Hay “Em hôn Em ngàn cái…” Cả bọn ngây người không hiểu Em nào là Em nào!
Thanh Râu hay Thanh Tây lai Nguyễn Viết Thanh, Khóa 19, đại đội trưởng Đại Đội 73, tính tình cởi mở phóng khoáng nhưng ưa trêu chọc bạn bè và luôn luôn..lỗi hẹn với đào để đi theo ông “Budweiser, ông 33… và ông Lô lọ rượu!” Trời nắng cũng như trời mưa, trời gió cũng như trời yên, lúc nào cũng có ve dầu nhị thiên đường và gói thuốc Pallmall trong túi. Nhiều lần đang lâm ly ái tình lẻ với đào, Thanh nhớ mùi lấy dầu xoa lên mũi, hít hít vài cái, đào hiểu lầm là chê mùi thơm của em nên phụng phịu ra đi. Thanh vẫn tỉnh bơ, hinh hích cười và thoa… dầu tiếp tục! Khi nhậu hơi ngà ngà Thanh thường lấy dầu bôi lên điếu thuốc, tròn mồm thở khói, sau đó bắt đầu đi trêu chọc anh em.
“Lôi Hổ” Nguyễn Lô là đại đội trưởng Đại Đội 74, đàn anh Khóa 18 Võ Bị, đánh giặc có nét nhất của sư đoàn. Bằng hữu giang hồ đặt tên anh là “Lô lọ rượu,” người nhỏ con, uống rượu như hũ chìm, tính tình hào sảng, phóng khoáng. Sống rất điệu nghệ giang hồ, chí tình với bằng hữu anh em.
Đó! đơn vị tôi đó! Tiểu đoàn tôi đó! Tiểu Đoàn 7 nhảy dù! Tiểu đoàn đã đứng lên ngạo nghễ, dũng mãnh sau trận Đồng Xoài. Tiểu đoàn đã theo “Ngọc Nga” chạy bộ từ cây số 17 đánh tung cả trung đoàn địch độn thổ phục kích tại nghĩa địa An Hòa, vượt sông vào Thành Nội Huế, tấn công cửa An Hòa, tiêu diệt địch tại Mang Cá giải vây cho Thiếu Tướng Ngô Quang Trưởng (Tư Lệnh Sư đoàn 1 Bộ Binh), khi cả cố đô đắm chìm trong bom đạn hồi Tết Mậu Thân! Sau đó không vận về thủ đô, khí thế hừng hực như bão lửa, mạnh như cuồng phong, lùa Đại Đội 73 của Thanh Râu tiêu diệt gọn 1 đại đội đặc công của địch tại khu nghĩa địa Tây giữa cổng Phi Long và ngã tư Bảy Hiền trong đợt tổng công kích Mậu Thân lần thứ 2 tại Saigon. Sau đó lại cũng chính Thanh Râu kéo quân đánh thốc vào khu xưởng dệt sau nhà thờ Đắc Lộ kéo Lôi Hổ ra khỏi vòng vây, rồi cả 2 dẫn quân theo Ngọc Nga xung kích như vũ bão tiêu diệt sạch sẽ 1 tiểu đoàn địch, giải tỏa áp lực cho Bộ Tổng Tham Mưu và phi trường Tân Sơn Nhứt.
Đó, Đơn vị tôi đó! Anh em tôi đó! Đơn vị đầy tình nghĩa đệ huynh, ấm tình niên trưởng niên đệ từ ngày trên trường Võ Bị.
Chẳng gì thì cũng cùng thầy cùng trường, chia nhau Đồi Bắc, chung nhau Miếu Tiên Sự Thái Phiên, Chi Lăng đi chung một con đường, trưa chiều quây quần chung một phạn điếm, đêm đến ngủ chung một đỉnh đồi. Ngày ngày ngạo nghễ nhìn đỉnh Lâm Viên, và nhất là sắt son chung một lời thề ngoài Vũ ĐìnhTrường khi kiếm cung xuống núi.
Anh em nương nhau mà sống, mang tình huynh đệ vượt qua những lúc nguy nan, dìu nhau lướt qua những cơn bão lửa.
– Mày kẹt thì tao vô, mày bị vây thì tao giải cứu, thiếu đạn thì tao chia, thiếu máu thì tao tiếp máu…
Sống như thế thì không thân thiết cũng thành thân thiết, không ruột thịt cũng thành ruột thịt, nghĩa đệ huynh còn đậm hơn tình nghĩa anh em. Phòng thủ căn cứ Sandra là Đại Đội 71 của Trung Nhất, Đại Đội Chỉ Huy và một pháo đội pháo binh Dù.
Thanh Tâm, Lôi Hổ, Hồng Hà hành quân biệt lập ngoài căn cứ, ngày nào cũng nhảy diều hâu, trực thăng vận, phối hợp với Sư Đoàn Không Kỵ Mỹ tìm địch rồi dùng phi pháo để tiêu diệt địch trong vùng rừng núi Tây Ninh.
Đầu năm 70 chiến trường đột nhiên cực kỳ sôi động. Đại Đội 72 đụng địch ở “Đuôi Cá,” trận đánh tàn khốc kinh hoàng ngay từ giờ phút đầu khi 1 trung đoàn thuộc Công Trường 9 cục R tao ngộ chiến với Đại Đội 72. Dưới hỏa lực khủng khiếp và quân số vượt trội của địch, Võ Trọng Em gồng mình chiến đấu, một mất một còn chống trả nhiều đợt xung phong cuồng sát, đẫm máu của địch.
Thanh Râu, Lôi Hổ đã đội pháo mà đi, đã xẻ rừng mà tiến, ào ào như giông bão đánh qua đầu địch, bằng mọi giá phải phá vỡ vòng vây để cứu thằng bạn cùng khóa, để gỡ cho thằng Em 19 thoát khỏi nguy nan. Khi gần bắt tay được với Hồng Hà thì Thanh Râu đụng nặng. Địch pháo như mưa, rồi như lũ thiêu thân lao mình vào lửa.
Tôi nghe Thanh gầm lên trong máy, chỉnh pháo binh chạm nổ ngay trước phòng tuyến, ra lệnh cho Dalton anh cố vấn Mỹ đen phóng rocket, trải hỏa lực của trực thăng võ trang Cobra cách quân bạn không đầy 50 thước. Dalton la hoảng vì rocket bắn quá gần. Nhưng chính nhờ lối yểm trợ liều lĩnh và gan dạ đó mà địch bị tổn thất nặng nề, hàng ngũ rối loạn. Thanh Râu dẫm trên xác giặc mà đi để vào tiếp ứng cho Đại Đội 72.
Trên trời Ngọc Nga, cố vấn Mỹ và tôi suốt ngày bay trực thăng, điều chỉnh khu trục, pháo binh trút hàng tấn bom tấn đạn lên đầu địch. Ngày thứ hai Ngọc Nga cho trực thăng bay sát ngọn cây, đạp được mấy thùng đạn và lựu đạn tiếp tế cho Đại Đội 72 thì trực thăng bị trúng phòng không bể ống dẫn dầu, khói bốc sau đuôi, chập choạng lết về rớt ngay ngoài căn cứ.
Sau 3 ngày đêm hứng bom hứng đạn của pháo binh và không quân Mỹ Việt, thêm hai cánh quân của Lôi Hổ và Thanh Tâm đánh ngang hông. Lại thêm chi đoàn thiết giáp của Không Kỵ Mỹ thọc sâu sau lưng đánh trúng bộ chỉ huy và những đơn vị mới của địch đang bôn tập kéo de.Hơn lúc nào hết chúng tôi hiểu thế nào là tình nghĩa anh em.
Sau trận “Đuôi Cá” thì Thiếu Tá Phạm Kim Bằng Khóa 16 Võ Bị về giữ chức vụ tiểu đoàn phó với danh hiệu truyền tin là Kim Bằng (sau này bạn bè gọi anh là “Bùi Đăng” đọc ngược lại là “Bằng đui” vì anh bị thương ngay mắt trong trận đánh rực lửa hãi hùng tại Đồi Gió khi anh mang quân đánh giải vây cho thị xã An Lộc trong mùa hè rực lửa 1972. Từ đó danh hiệu truyền tin “Bùi Đăng” đã thay thế danh hiệu Kim Bằng).
Khi ở hậu cứ hễ khi nào rảnh rỗi là chúng tôi kéo nhau ra tiệm phở Thanh Bình ngay gần rạp hát Biên Hùng của Kim Bằng để thưởng thức phở, la de củ kiệu và món ‘”xíu quách” độc đáo, hết sẩy, sau đó tà tà kéo nhau ra… ghi sổ.
Mỗi khi túng tiền đi bay bướm tụi tôi thường đưa Thanh Râu ra làm đầu tàu lên gặp Ngọc Nga. Với tài trêu chọc và câu hát sở trường “Xin mặt trời hãy ngủ yên… Cho tôi xin dăm thước mặt trời…”
Niên trưởng Khóa 16 chỉ biết cười trừ, bỏ tiền vào phong bì, nghe Thanh Râu hích hích cười, giơ tay ra hiệu cho mấy “Cùi” đứng chờ sẵn ở ngoài sân. Cả bọn lại tiếp tục chương trình kéo nhau ra Quán Thịt Rừng hay vi vút ở Văn Cảnh, Tự Do. Nhiều hôm “Đích thân” cao hứng đi theo, hôm đó kể như đàn anh trúng số. Những ngày đóng quân ở vườn Tao Đàn, cả bọn thường kéo nhau ra Đêm Màu Hồng hay Blue Dragon. Thanh Râu lúc nào cũng là người gây gió bão. Ngọc Nga chỉ biết ôm đầu và… ký giấy lãnh đủ những ngày trọng cấm vì mấy đàn em!
Chiến trường Quân Khu 3 đột nhiên bùng nổ dữ dội với những trận đụng độ ác liệt tại các đồn điền cao su vùng Hớn Quản, tỉnh Bình Long. Trung Tướng Đỗ Cao Trí, Tư Lệnh Quân Đoàn 3, quyết định tung quân vượt qua biên giới Cao Miên đánh thẳng vào các mật khu, cơ quan đầu não và hậu cứ an toàn tiếp tế chính của địch. Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù được lệnh tăng phái cho Chiến Đoàn 333, phối hợp với Biệt Động Quân, Thiết Giáp vượt biên giới qua ngả Gò Dầu Hạ đánh từ tỉnh lỵ SoàiRiêng lên thị trấn Kratie rồi vòng về Kompong Cham trong cuộc hành quân Toàn Thắng của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3.
Đụng liên miên khi tiến quân vào thị trấn Soài Riêng, phố xá vắng tanh, cửa tiệm đóng cửa im lìm. Quân đội Miên trang bị đủ loại súng ống hỗn tạp, quân phục không đồng nhất, nói tiếng Pháp như gió và chuyển quân toàn bằng xe vận tải Mercedes! Ra khỏi Soài Riêng, tiểu đoàn được lệnh tùng thiết với Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh của Trung Tá Thoàn tiến quân về thành phố Kompong Cham. Kỳ này Đại Đội 73 của Thanh Râu đi chung với Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn nên tôi và Thanh có dịp gặp nhau tăng cường cho mặt trận. Địch rối loạn hàng ngũ tổn thất nặng nề nên rút quân bỏ chạy, để lại chiến trường hơn 300 xác giặc, bắt sống một số tù binh và tịch thu hàng trăm vũ khí đủ loại. Trực thăng đáp ngay trên trận địa, Ngọc Nga, Phương Hải, Lôi Hổ, Thanh Tâm, Hồng Hà xiết chặt tay nhau giữa lúc chiến trường còn vương mùi lửa đạn.
Quê hương xứ Chùa Tháp bằng phẳng không có núi non, chiến xa như nước vỡ bờ xua quân ngang dọc trên những cánh đồng xanh rì cây cỏ. Xóm làng rải rác nằm bên lũy tre xanh. Những chiều dừng quân Thanh và tôi hay ngồi hàng giờ trên pháo tháp chiến xa phì phèo điếu thuốc, ngắm hoàng hôn đang từ từ xuống phía chân trời. Mặt trời xuống ngang tầm mắt, những mái chùa cong, những đỉnh tháp nhọn, hàng cây thốt nốt phất phơ hoa trắng, cao thẳng như những hàng cau ở quê nhà, nổi bật trên nền trời xám đỏ dưới những tia nắng tím vàng chìm dần trong cảnh hoàng hôn.
Trên cánh đồng đàn bò nâu, vàng chậm chạp di chuyển trên bờ đê, theo sau là mấy ông Lục áo vàng (các nhà sư Cam Bốt, bận áo vàng, thường được gọi là “ông Lục”) đang đi về phía những ngôi chùa lớn. Hình ảnh thật êm dịu và chiến tranh hình như còn ở mãi nơi xa! Thanh nói tới quê anh, ngày xưa cũng là một phần đất của dân Chàm nên thỉnh thoảng đó đây cũng còn lại những tháp, những đền đài hoang cổ ngày xưa!
Trên đường tiến quân vào Kompong Chak, Đại Đội 71 chạm địch ở Phum Long Giêng. Sĩ quan liên lạc Cambodge cho chúng tôi biết làng không còn dân chúng và đã bỏ hoang từ lâu. Khi 2 trung đội đầu tiên của Trung Nhất rời chiến xa dàn hàng ngang tiến gần tới bìa làng thì súng bắt đầu nổ. Nhất lùa đại đội xung phong như vũ bão đánh chiếm bìa làng. Lợi dụng hệ thống phòng thủ kiên cố và chuẩn bị kỹ lưỡng nên địch nổ súng khi binh sĩ còn cách làng có mấy chục thước. Nhất bị trúng đạn gãy tay, con cái ngã mấy mạng trong đợt khai hỏa đầu tiên. Tuy nhiên 1 trung đội đã dùng tối đa hỏa lực và đánh toàn bằng lựu đạn chiếm được bìa làng. Nhất bám sát bìa làng tung con cái thanh toán những hầm hố chung quanh. Ngọc Nga cho Kim Bằng kéo Thanh râu dùng hỏa lực của chiến xa đánh vào bên hông làng và để Lôi Hổ lên thay thế Trung Nhất chỉ huy Đại Đội 71. Đột nhiên tôi thấy máu đỏ phun lên mặt, máu và óc nhờ nhờ trắng nhỏ trên bản đồ, tôi quay sang thì thấy Thiếu Úy Thức, sĩ quan truyền tin ngồi giữa tôi và Ngọc Nga, đầu nghiêng trên vai, óc và máu hòa nhau nhầy nhụa trên vai áo đang nhỏ giọt trên khẩu Rouleau P38. Thức bị trúng đạn ngay đầu, viên đạn thượng liên quá mạnh xuyên thủng qua nón sắt cướp đi sinh mạng của anh. Chúng tôi vội nhảy xuống xe thì vừa lúc hàng loạt đạn bắn trúng pháo tháp chiến xa kêu chát chúa, tóe lửa bên thành xe. Thiết giáp xả đại liên về phía ổ thượng liên còn sót lại giữa bụi tre dầy kín ngay bìa làng. Kể như chúng tôi đã may mắn thoát khỏi loạt đạn của ổ Thượng liên!
Chi đội thiết vận xa dùng súng phun lửa xung phong vào chính diện. Lửa cuồn cuộn đốt cháy bìa làng, lũy tre xanh vặn mình bốc cháy. Đại liên 50, súng phóng lựu M79, hỏa tiễn M72 và đủ loại vũ khí khác đan những tấm thép lửa chụp xuống địch quân.
Ngọc Nga và tôi theo cánh quân tiến vào làng, xác địch ngổn ngang trên các hầm hố. Tôi lợm giọng khi thấy hàng loạt xác cháy đen. Lửa đã đốt hết khí trời buộc cả đại đội địch phải chui ra khỏi hầm hố để làm mồi cho đạn và lửa. Vũ khí đủ loại nổ dòn phía đại đội của Thanh Tâm, Đại Đội 73 đang thanh toán bộ chỉ huy tiểu đoàn của địch. Tôi nghe Thanh ra lệnh cho các trung đội trưởng đánh bằng lựu đạn để thanh toán nốt những hầm hố kiên cố cuối cùng. Một lúc sau Thanh báo cáo bắt sống hết bộ chỉ huy của địch. Phía sau làng “Hồng Hà” Võ Trọng Em điều động Đại Đội 72 dứt điểm cuối cùng khi những tên địch chém vè chạy ra khỏi mục tiêu. Trận đánh chấm dứt, nguyên một tiểu đoàn thuộc Trung Đoàn 95 thuộc Công Trường 9 Cục R bị xóa sổ hoàn toàn với hàng trăm xác địch và vũ khí, gần 20 tên địch trong đó có viên thủ trưởng bị bắt làm tù binh. Trần trung Nhất bị thương nặng gẫy cánh tay vì loạt đạn AK khi tấn công vào bìa làng. Nhất rất tỉnh táo, băng bó xong xuôi ngồi chờ trực thăng tản thương. Thanh râu ngồi trên chiếc nón sắt, móc điếu thuốc, bôi tý dầu hít một hơi dài rồi nói với Nhất:
– Về nhà là để dưỡng thương chứ không phải là để du dương đâu cha nội. Vớ vẩn là cưa tay đó em!
Sau đó hích hích cười, rồi cho tôi cây K54 mà anh mới tịch thu của tên chính trị viên tiểu đoàn. Gần đó Tubib Trọng và toán y tá đang điều trị, băng bó cho những binh sĩ bị thương. Xác Thiếu Úy Thức và 9 đồng đội tử thương được gói ghém trong những tấm poncho màu lá rừng chờ trực thăng đưa ra khỏi vùng hành quân. Phía bên kia, tù binh ngồi sắp lớp, vũ khí chiến lợi phẩm của cả tiểu đoàn địch chất đầy cánh đồng.
Nhìn Thức bó kín trong tấm poncho, nhớ lại tấm công điện vừa từ hậu cứ gửi ra chiều hôm qua báo tin Thức đã có lệnh giải ngũ sau 25 năm quân vụ! Sao cuộc đời lại có những cái oái oăm trùng hợp đến lạ lùng! 25 năm lính, Thức đã vào sinh ra tử trên khắp các chiến trường từ Bắc vào Nam, anh đã nhảy dù xuống Cao Bắc Lạng, đã vào Hòa Bình, đã chiến đấu ở Điện Biên Phủ, đã leo từ binh nhì lên đến sĩ quan. Ở giờ phút thứ 25 khi đã có lệnh giải ngũ thì tử thần lại đến kéo anh đi, chắc khi nằm xuống anh cũng không hiểu tại sao định mệnh lại quá tàn nhẫn đối với anh!
Chiều hôm đó trực thăng đến thật nhiều, các sĩ quan cấp lớn cầm “can” chỉ huy đứng chống nạnh nhìn tù binh, rồi quay sang hỏi tôi và Thanh coi đếm được bao nhiêu xác địch, tịch thu được bao nhiêu vũ khí. Và cũng như bao nhiêu lần chiến thắng khác, rất ít ai tới hỏi han các binh sĩ tử thương hay bị thương!
Và mặc dù đã được Ngọc Nga ra lệnh là phải chở thương binh và các tử sĩ ra khỏi trận địa trước để binh sĩ khỏi nhìn thấy cảnh poncho bó xác các đồng đội tử thương, nhưng các quan lớn vẫn dùng trực thăng chở tù binh và vũ khí chiến lợi phẩm đi trước.
Thanh râu đứng cạnh tôi chửi thề um sùm, ai nấy đều không vui. Thanh lấy thuốc ra hút, tiến lại gần các binh sĩ tử thương, anh cắm mấy điếu thuốc đang cháy xuống đất ngay cạnh những người đã chết rồi đứng nghiêm chào. Anh muốn đốt thuốc thay nhang để cúng vái, tiễn đưa các chiến hữu đã ra đi! Chiều hôm đó trực thăng quay lại chở hết các binh sĩ tử thương. Anh Thức ơi, dù có hơi muộn màng, nhưng cuối cùng rồi anh cũng được chở đi. Tù binh và vũ khí dầu sao cũng được ghi vào chiến tích vì đó là dấu hiệu của sự chiến thắng, đâu có ai đếm xác bạn mà được nhận huy chương! Ở phía bờ làng những người lính đang lấp đất chôn những tử thi của địch trong các hầm hố trong làng, những bộ đội Cộng Sản sinh Bắc tử Nam. Rồi gió núi mưa rừng sẽ gột sạch máu xương, chim chóc muông thú sẽ lại kéo về, cỏ cây hoa lá sẽ xanh tươi trở lại, thời gian sẽ xóa mờ vết tích chiến tranh.
Một hôm giữa đêm khuya khi chúng tôi đang ngủ thì có tiếng trực thăng chỉ huy của Trung Tướng Đỗ Cao Trí vần vũ trên đầu và đáp ngay vị trí đóng quân. Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh và Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù được lệnh di chuyển nội trong đêm nay phải đánh vào mật khu Damber, nơi Công Trường 9 Việt Cộng đặt bộ chỉ huy. Mấy sĩ quan Thiết Giáp nói với tôi, Trung Tướng Trí đang ngồi trên chiến xa chỉ huy, xua quân ào ào như nước vỡ bờ trực chỉ Damber. Trời chưa sáng chiến xa đã nghiền nát Damber. Cuộc tấn công chớp nhoáng, bất ngờ đã phá vỡ hậu cần tiếp liệu và tiêu diệt hầu hết bộ chỉ huy, bắt được một số cán bộ cao cấp nhưng Tư lệnh Công Trường 9 trốn thoát.
(Sau này giữa năm 1971 ở Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù, tôi lại cùng với Anh Năm Nguyễn Đình Bảo tùng thiết với Thiết Đoàn 18 Kỵ Binh của Thiếu Tá Lộc vào lại Damber, và đã đánh một trận kinh hoàng, trời long đất lở với địch trong mấy ngày đêm. Chiến xa ào ạt xung kích, xoáy trên xác và máu địch nghiền nát mục tiêu, phối hợp nhịp nhàng nhị thức bộ binh thiết giáp tiêu diệt nguyên 1 trung đoàn Cộng Quân ngay tai Damber, mang lại chiến thắng lớn lao cho Quân Đoàn 3).
Cuối năm 1970 tôi được lệnh về lại Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù làm sĩ quan hành quân thay cho Thiếu Tá Nguyễn Quang Sáng đi làm Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù. Sau mấy ngày ăn Tết ở nhà, toàn bộ Sư Đoàn Dù không vận ra phi trường Ái Tử ngoài Đông Hà trong cái giá rét mưa lạnh của mùa đông miền Trung để tham dự cuộc hành quân Lam Sơn 719 tại Hạ Lào.
Ngày 8 tháng 2 năm 1971, Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù sau khi dừng quân ở nhà tù Lao Bảo, gần căn cứ Tà Bạt thì được lệnh xuất phát theo Quốc Lộ 9 vượt sông Tchepone đánh qua biên giới để thiết lập căn cứ hỏa lực Bravo. Tôi gặp lại Ngọc Nga và Thanh râu ngay chân “Đồi Ma, Suối máu”. Lúc này Thanh Râu là sĩ quan hành quân của Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù.
Đang hút điếu thuốc Pallmall bôi dầu của Thanh Râu thì một trái 75 ly không giật của địch bắn trúng ngay vách núi cách chỗ chúng tôi đứng không đầy 2 thước. Cả hai bị sức ép ngã chúi xuống đường, đất đá bay ào ào phủ kín hết người. Chú đệ tử mang máy truyền tin cho tôi bị một mảnh ngay bả vai. Nhưng tôi, Thanh Râu và Ngọc Nga không hề hấn gì. Vì Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù không phải thiết lập căn cứ hỏa lực nên hễ chỗ nào đụng nặng là phải đến tiếp viện tăng cường, vì thế đụng địch liên miên trên Quốc Lộ 9. Chiều 18 tháng 3/71 qua hệ thống truyền tin tôi được biết đơn vị của Ngọc Nga, Thanh Râu bị pháo nặng nề và đại bác 90 ly không giật của địch bắn trúng ngay bộ chỉ huy giữa lúc đang giao tranh đẫm máu với địch. Cả hai đều bị thương nặng, trực thăng cứu thương của Mỹ phải tắt đèn bay đêm để tránh phòng không tác xạ như đan lưới của địch, và sau nhiều lần liều lĩnh đáp mới cứu được Ngọc Nga và Thanh Râu ra khỏi Hạ Lào. Sau đó Thanh râu và Ngọc Nga về làm việc nhẹ, dưỡng thương tạm thời tại Trung Tâm Huấn Luyện Vương Mộng Hồng ở Quang Trung. Tôi vẫn không quên lần ghé thăm Thanh ở Trung Tâm, gặp Nhật Trường Trần Thiện Thanh, bạn học từ nhỏ, cùng làng cùng xứ Phan Thiết với Thanh Râu. Ngọc Nga, Lôi Hổ, Hồng Hạnh và một số bạn bè đang có “độ.” Lần đầu tiên tôi thấy Thanh râu nổi hứng hát theo tiếng đàn. Ai cũng tưởng Thanh lại ê a mấy câu hát chọc ghẹo anh em. Nhưng không, lần này Nhật Trường đàn và Thanh râu như trút cả tâm sự của mình vào bài “Tâm Sự Người Lính Trẻ” mà Nhật Trường hình như muốn viết để tặng cho thằng bạn Phan Thiết của mình khi giã từ học đường, chia tay với người yêu để bước chân vào quân ngũ.
Thanh như kể lể, như tâm sự đâu đó cho một người tình nhỏ về những “mùa xuân xuôi quân về biên khu, cho tới đông tàn chỉ nhận một lần thư…” Những chiều ngồi trên pháo tháp chiến xa nhìn cảnh tà dương hồng, những đêm nghe nhạc ở phòng trà, băng nhạc, sách báo không thể thiếu trong những chuyến hành quân. Và sau một thời gian dài ở chung đơn vị, tôi tìm thấy sau cái dáng ngang tàng Thanh còn là một người rất văn nghệ, đầy tình cảm, nhiều tình đầy nghĩa với anh em.
Sau buổi nhậu chiều hôm đó, chúng tôi và thằng bạn học Phan Thiết mày tao chi tớ cũng tên Thanh của Râu trúng “độ” đến quên cả đường về! Bẵng đi một thời gian Ngọc Nga báo tôi biết Thanh về làm tiểu đoàn phó Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù.
Sau cuộc triệt thoái Cao Nguyên của Quân Đoàn 2 năm 1975 thì chiến sự càng ngày càng khốc liệt. Tháng 3, tháng 4/75, tháng của những cơn bão lửa đang mang bao nhiều tang tóc đổ ập xuống quê hương, và chiến tranh đã kéo tới sát nách Saigon. Mặt trận Long Khánh hừng hực lửa, trận thư hùng anh dũng cuối cùng của quân đội miền Nam ngăn chặn Cộng quân ngay cửa ngõ SaiGon.
Giữa lúc dầu sôi lửa bỏng tại tuyến đầu thì Thiếu Tá Nguyễn Viết Thanh được chỉ định làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù thay thế Trung Tá Đào Thiện Tuyển về giữ chức vụ khác tại Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù. Cùng với các chiến hữu trong Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù và các cánh quân bạn thuộc Sư Đoàn 18 Bộ Binh, Tiểu đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù, Thanh Râu Nguyễn Viết Thanh, đã đánh một trận đẹp nhất trong đời, đốn ngã tất cả mọi cuộc tấn công cuồng sát biển người của địch tại vườn Cam Ông Tỵ. Long Khánh đã đứng vững trước sức tấn công vũ bão của 3 sư đoàn Cộng Quân. Bị tổn thất quá nặng nề Cộng Quân đã ngưng tấn công chờ lệnh mới của Bắc Bộ Phủ, Hà Nội. Khi được lệnh rời bỏ mặt trận Long Khánh, Thanh Râu và toàn bộ Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù kéo quân về Bà Rịa. Tại vùng đất đỏ Phước Tuy, Tiểu Đoàn lại dàn quân tử chiến với địch tại thành phố, sau đó cùng Tiểu Đoàn 1 và 9 giữ từng tấc đất ngăn chặn địch ở Cầu Cỏ Mây, cây cầu huyết mạch dẫn vào thị xã Vũng Tàu.
Ngày 30 tháng 4/75 ập xuống như một định mệnh nghiệt ngã cho dân tộc, cả nước để tang khi Tổng Thống Dương văn Minh ra lệnh cho quân đội buông súng đầu hàng. Nguyễn Viết Thanh kéo quân ra biển, neo thuyền tại Gò Công chờ mang quân xuống Vùng 4. Nhưng vận nước cơ trời đã định, đại đơn vị Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù gồm các Tiểu Đoàn 1, 8, và 9 trôi theo vận mạng mà đi. Và đó cũng là đơn vị Nhẩy Dù đông đủ quân số nhất, ngồi trên tàu nhìn về cố hương, nhớ vợ nhớ con, nhớ gia đình, nhấp nhô theo sóng gió đại dương xa rời đất mẹ!
Thanh Râu thân mến.
Tao vừa viết để kể cho bạn bè, anh em và các chiến hữu biết về mày. Dĩ nhiên là thiếu sót, nhưng dù có thiếu ra sao, quên những khúc nào thì mày cũng đừng có buồn, vì cái thằng bạn Bắc Kỳ của mày không còn trẻ như ngày xưa, tóc sợi trắng sợi đen, trí nhớ không còn minh mẫn như ngày trước.
Sau cái ngày bỏ nước ra đi tao gặp lại mày ở đảo Guam. Mặc dù ở chung với binh sĩ anh em nhưng cứ chiều chiều là mày rủ tao ra bãi biển Gap, ngồi trên ghềnh đá nhìn sóng đại dương để nhớ gia đình, nhắc đến bạn bè cùng khóa và nói về những trận đánh cuối cùng đẫm máu, kinh hoàng ở Long Khánh, Phước Tuy.
Rồi mày về Canada, tao vào đất Mỹ, xa cách mấy ngàn miles nên dễ chừng cả chục năm không hề gặp mặt. Mãi đến giữa mùa hè năm 1990 khi cùng anh em Mũ Đỏ lên Washington DC dự lễ “rước ngọn cờ vàng” thì tao gặp lại mày. Cũng vẫn hàm râu quai nón ngày xưa, vết thẹo trên cằm ngày đánh Đồi 1416 ở Dakto để treo cho được chiếc mũ đỏ danh dự của quân đội trên đỉnh đồi. Thẹo dù có mờ đi, nhưng chiến tích khó quên của một đời mũ đỏ thì vẫn hằn sâu ở đó. Mày buồn buồn nói với tao là mày bị bệnh tiểu đường, phải chích thuốc hàng ngày. Nhưng chỉ một lúc sau gặp lại Bùi Đăng, Lôi Hổ, Ngọc Nga, Hồng Hà Võ Trọng Em thì lại hích hích cười, móc điếu Pallmall xoa tý dầu rồi lâng lâng nhả khói.
Ngày Khóa 19 họp đại hội ở Orange County cuối năm 1998 tao lại gặp mày. Bạn bè bu tới hỏi thăm, hỏi thăm “thằng Râu” cầm cờ Liên Đoàn Sinh Viên Sĩ Quan trên trường Võ Bị độ này ra sao. Sau đó tụ lại bàn của hai thằng nước mắm “Phan Thiết” Thanh, Thừa để cùng chung chai lọ. Mày bảo là quá vui và hứa với bạn bè là sẽ trở về San Jose họp mặt kỳ tới. Vui, thì dĩ nhiên là phải vui, cứ 2 năm con cháu cụ Nguyễn Trãi, những con “đại bàng” xa xứ, từ mọi góc biển chân trời xoải cánh bay vượt rừng, vượt núi, vượt biển cả trùng dương quay về tổ cũ. Và chỉ ở tổ này mới lại được nghe những tiếng nói thân quen, để mày tao chi tớ nhớ lại quãng đời trai trẻ sóng gió hào hùng, để nhìn vết thẹo trên tay, trên mặt… vết tích của một thời trận mạc, huy chương đích thực phải trả bằng máu bằng xương, điểm danh thằng đi thằng ở, thằng còn thằng mất! Trước khi về mày nói với tao là độ này mày yếu hẳn đi, và người lính Nhảy Dù nào ra trận mà không có thương đau. Sau đó mày “dô” một cái rồi phá ra hinh hích cười bình thản.
Lần tao gọi điện thoại thăm thì mày đã yếu lắm rồi. Ngọc Nga qua thăm, anh kể với tao là hai anh em kéo nhau lên thượng tầng của tháp Toronto, “Chuồng Cu” của lính Nhảy dù, khui chai Cognac rồi tự dưng mày nói với giọng thật buồn những chữ đầu của chai rượu Martell “Mai anh rời tình em lạnh lẽo,” những chữ mà ngày xưa đi nhậu mày hay nói. Nhưng lần này như một lời trăn trở ở những ngày cuối của cuộc đời, rồi chỉ thành phố Toronto phía dưới mà nói với Ngọc Nga:
– Tôi đã giữ đúng lời hứa là chỉ cho anh coi hết thành phố Toronro.
Sau đó đệ huynh cạn hết chai Martell rồi chập choạng ra về. Trời Toronto lạnh lẽo đầy tuyết giá, nhưng mày lại thiếu chiếc áo gác ‘lính cà” màu cứt ngựa mà mày vẫn mặc khi đổi gác với tao trên trường Võ Bị ngày xưa!
Trung tuần tháng 2, Huyện Móm gửi email cho bạn bè trong khóa biết là mày đang nằm nhà thương qua tin của Nguyễn Kim Ngôn và Nguyễn văn Đối là 2 người bạn cùng khóa ở gần mày nhất. Những ngày trong bệnh viện Đối và Ngôn thường lui tới an ủi, nhất là Đối cũng cùng bệnh như mày, nhưng nay đã khỏe trở lại nên ngày nào cũng ngồi hàng giờ để san sẻ, tâm sự với mày thật nhiều về hy vọng chữa khỏi bệnh tình. Trần Thanh Huyện sẽ qua thăm mày vào cuối tuần này rồi cho anh em biết sự tình. Tao kêu nhà mày nhưng không gặp ai, vội phone qua Ngọc Nga, Anh cho biết mày đau nặng.Đùng một cái thì ngày 21 tháng 2, Ngọc Nga và email Võ Bị báo tin mày đã ra đi!
Thanh Râu, Ngọc Nga gọi tao, đêm nay anh sẽ làm mâm cơm, có chai VSOP, có bao Pallmall, có ve dầu Nhị thiên đường để nhớ mày. Anh tin là mày sẽ về vì người mới ra đi thì hồn hay về thăm những người thân cũ. Tao gọi cho Võ trọng Em, Nhật Trường và Bùi Đăng rồi chạy ra báo cho Sông Lô, độ này anh làm chung với tao nên anh em ngày nào cũng gặp và hay nhớ tới mày.
Đặt bao Pallmall trước tấm hình, lấy một điếu thuốc, bôi chút dầu lên trên rồi tao hít một hơi dài. Cái mùi ngái ngái của thuốc quyện với mùi thơm thơm của dầu làm lưỡi tao tê tê. Khói cay bốc lên quyện với mùi dầu làm tao chảy nước mắt. Nhưng tao biết tự đáy lòng tao đang nhớ mày. Tao đang nhớ những ngày đơn vị, những chuyện tâm tình ở đảo Guam, khẩu súng K54 mày cho tao, và nhất là cái tiếng cười hích hích của mày hay trêu chọc anh em, tự nhiên mắt tao nhòa đi và thấy mày nói nói cười cười quanh quẩn đâu đây.
Thanh Râu.
Mày đã biết trước ngày đi nên trăn trối với gia đình, vợ con là muốn được hỏa táng rồi đem tro rải trên biển cả. Vì biển chính là cái nôi nuôi dưỡng mày từ bé cho tới lúc lớn khôn. Trước khi nhắm mắt xuôi tay mày đã thực sự muốn sóng gió trùng dương đưa mày về Phan Thiết bãi biển quê nhà! Ở đó có giòng sông Mường Mán từ rừng núi Trường Sơn đổ về, có những lớp sóng bạc đầu ngoài bãi biển Thương Chánh. Lầu nước, vườn bông, giòng sông Cà Ty và những hàng cây đầy hoa vông vang rực đỏ, vang tiếng ve kêu mỗi mùa hè. Trường trung học Phan Bội Châu, cây cầu đúc đường Trần Hưng Đạo, quán cà phê hủ tíu trên đường Gia Long. Hay những lần theo ông bác ngồi trong chiếc thuyền thúng đi vớt cá ngoài bãi biển rừng dừa Mũi Né đầy thơ mộng.
Bãi biển, ngôi trường, lối đi xưa, bờ sông cũ, hoa cỏ quê nhà… Tất cả như xôn xao, rung động, như cùng đứng lên thì thầm gọi tên cậu bé ngày xưa, để cùng được chạy nhảy nô đùa với nhau như những ngày thơ ấu!
Thanh Râu thân mến.
Ngày tiễn đưa mày đi có Ngôn, có huynh đệ anh em chung một mái trường. Trần Thanh Huyên từ DC, đại diện cho bạn bè đồng khóa từ các nơi xa đến chia buồn cùng gia đình mày, rồi cùng Đối, Ngôn thắp nhang tiếc thương tưởng niệm.
Sinh lão bệnh tử rồi ai cũng phải một lần, khi đã nằm xuống thì Hạ Lào, Quảng Trị, Khe Sanh, Phan Thiết hay Toronto thì nào có khác gì nhau. Tao mới làm hai câu thơ để nhớ mày, câu đầu là lúc Trung Đội Trưởng Thanh Râu của Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù, đã đánh một trận vang danh chiến sử tại đỉnh đồi 1416 Ngok Wan ngoài Dakto với vết thương trên cằm, trên má. Câu thứ hai là trận đánh anh dũng cuối cùng của Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù Nguyễn Viết Thanh tại Long Khánh đã làm cho kẻ thù kinh sợ, rúng động nát tan.
Thiếu tá Perry Pham giử chức Trưởng phòng phối hợp Lực lượng quân sự, phụ trách các nỗ lực chung và chiến lược cho chương trình Trung tâm huấn luyện tác chiến Lục quân tại Leavenworth, Kansas, từ tháng 7 năm 2023. Trung tâm huấn luyện liên hợp Lục quân Hoa Kỳ (CAC) tại Fort Leavenworth, Kansas, dẫn đầu các nỗ lực chung và chiến lược cho chương trình Trung tâm huấn luyện tác chiến (CTC) của Lục quân bảo đảm học thuyết huấn luyện, năng lực và phát triển chuyên môn phù hợp với các hoạt động chiến lược, đa lãnh vực, trực tiếp hỗ trợ các nỗ lực hiện đại hóa của Lục quân.
Thiếu tá Perry Pham là một Sĩ quan chỉ huy, giàu kinh nghiệm và có thành tích thành công trong ngành công nghiệp quân sự, ông có kỹ năng trong việc thiết lập kế hoạch tác chiến, hoạt động chiến thuật, chỉ huy và giao tiếp bằng văn bản của một Chuyên gia quân sự tốt nghiệp Cử nhân tâm lý học và Cao học lãnh đạo kinh doanh và tổ chức. Ông gia nhập quân đội qua Chương trình huấn luyện Sĩ quan Lục quân trừ bị (ROTC) của Trường Đại học Houston (University of Houston) và tốt nghiêp Văn bằng Cử nhân tâm lý học năm 2009.
Nhiệm vụ đầu tiên trong binh nghiệp của Sĩ quan trẻ mới ra trường, Thiếu uý* Perry Pham làm Trung đội trưởng Thiết giáp tại Fort Hood, Texas từ tháng 6 năm 2010 đến 10 năm 2011; Nhiệm vụ tiếp theo, ông được chỉ định làm Đại đội phó Thiết giáp và bộ binh tại Fort Hood, Texas từ tháng 10 năm 2011 đến tháng 5 năm 2013; Sau đó Trung uý* Perry Pham được chỉ định làm Sĩ quan phụ tá hành quân tại Fort Hood, Texas từ tháng 5 năm 2013 đến tháng 10 năm 2013.
Tháng 11 năm 2013, Trung uý Perry Pham thụ huấn khóa học Đại đôi trưởng tác chiến để chuẩn bị nhận chức Đại đội trưởng Thiết giáp và bộ binh tại Fort Benning, GA. Ông được huấn luyện những kỹ năng chỉ huy và quản lý để trở thành một Sĩ quan chỉ huy đại đội thành công, cũng như trách nhiệm lập kế hoạch chiến thuật của một Sĩ quan tác chiến Tiểu đoàn. Ông Tốt nghiệp với điểm trung bình 92% và nhận giải thưởng người viết xuất sắc (điểm cao nhất dựa trên 5 bài luận, 100%).
Từ tháng 5 năm 2014 đến tháng 10 năm 2014, Trung uý Perry Pham được bổ nhiệm làm Sĩ quan Nhóm sáng kiến của Tư lệnh Sư đoàn, cung cấp hỗ trợ trực tiếp thiết yếu cho vị Tướng chỉ huy bằng cách phát triển, đồng bộ hóa và phân phối các yếu tố quan trọng trong tầm nhìn và mục tiêu chiến lược của ông đến các Sĩ quan nội bộ và bên ngoài nhằm thực hiện thành công kế hoạch chiến dịch của Sư đoàn. Ông chịu trách nhiệm duy trì Danger Net của Sư đoàn 1 bộ binh (một trang web của căn cứ quân sự, Sư đoàn 1 bộ binh).Danger Net, cho phép các Sĩ quan chỉ huy trong Sư đoàn truy cập các sản phẩm phát triển chuyên môn dành cho Sĩ quan chỉ huy và tham gia thảo luận nhiều chủ đề. Ông đã Viết 6 bài phát biểu với tư cách là Sĩ quan viết bài phát biểu chính cho vị Tướng Tư lệnh.
Từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 3 năm 2015, Đại uý* Perry Pham được chỉ định làm Sĩ quan văn phòng tiếp tân quan khách các đơn vị, hỗ trợ trực tiếp cho Tư lệnh và Tư lệnh phó trong việc giải quyết các vấn đề qua các chuyến thăm viếng, hội nghị và các hoạt động xã giao do đơn vị khởi xướng, cũng như các nhiệm vụ do văn phòng cấp trên giao phó. Văn phòng tiếp tân cũng hỗ trợ các đơn vị bằng cách đóng vai trò liên lạc cho các vị quan khách, sắp xếp chỗ ở, phương tiện đi lại, các cuộc họp và các yêu cầu đặc biệt.
Từ tháng 11 năm đến tháng 12 năm 2016, Đại uý Perry Pham được bổ nhiệm chức Đại đội trưởng tại Fort Riley, Kansas, chịu trách nhiệm về sự sẵn sàng nhân sự và trang bị cho một Đại đội chiến xa gồn 60 Sĩ quan, Hạ sĩ quan và Binh sĩ với 14 chiến xa M1A2 Abrams.
Từ tháng 4 năm 2017 đến tháng 7 năm 2019, Đại uý Perry Pham làm Đại đội trưởng, Đại đội tuyển mộ tại Redlands, California. bao gồm bảy trạm tuyển mộ, Barstow, Hesperia, Victorville, San Bernardino, Redlands, Yucca Valley và Palm Desert, ông chịu trách nhiệm tuyển mộ nam nữ thanh niên nhập ngũ và giao tiếp quan hệ đối tác với Cộng đồng địa phương thông qua việc tiếp xúc với các Giới chức địa phương và chủ doanh nghiệp.
Thiếu tá Perry Pham và Đại úy Dan Millat, thuộc Lữ đoàn 3 Thiết giáp, Sư đoàn 1 Thiết kỵ. tham dự cuộc tập trận Winter Strike tại trại Aachen, Đức, ngày 13 tháng 12 năm 2022 (hình của Binh sĩ Alejandro Carrasquel, Lục quân Hoa Kỳ).
Đầu năm 2019, Đại uý Perry Pham được Hội đồng thăng cấp Sĩ quan Lục quân chọn đề cử thăng cấp Thiếu tá cho tài khoá năm 2019-2020, và đã được Uỷ ban quân vụ Thượng viện bầu chọn ngày 28 tháng 3 năm 2019, ông được chính thức thăng cấp Thiếu tá sau đó. Tháng 7 năm 2020, Thiếu tá Perry Pham đuợc chỉ định làm Sĩ quan kế hoạch hành quân tương lại (Future Operations Planner) tại Fort Hood, Texas.
Tháng 4 năm 2021, Thiếu tá Perry Pham đảm nhận chức Trưởng phòng tác chiến/huấn luyện và Trưởng phòng bảo trì/tiếp vận Lữ đoàn 3 Thiết giáp, Sư đoàn 1 Thiết kỵ với hơn 600 Quân nhân và 100 quân xa tác chiến tại Fort Cavazos, Texas đến tháng 6 năm 2023. Và hiện nay, Thiếu tá Trưởng phòng phối hợp Lực lượng quân sự, phụ trách các nỗ lực chung và chiến lược cho chương trình huấn luyện tác chiến tại Leavenworth, Kansas.
Thiếu tá Perry Pham tốt nghiệp các Văn bằng: Cử nhân tâm lý học, Trường Đại học Houston (University of Houston), năm 2009; Văn bằng giáo dục trunf cấp, Trường Cao đẳng Chỉ huy và Tham mưu Lục quân Hoa Kỳ (U.S. Army Command and General Staff College), năm 2020; Văn bằng Cao học lãnh đạo kinh doanh và tổ chức, Trường Đại học Kansas (University of Kansas), năm 2020.
Thiếu tá Perry pham là 1 trong hơn 150 Thiếu tá Lục quân Hoa Kỳ gốc Việt (không tính nhiều vị đã hồi hưu) đang phục vụ trong các binh chủng của Quân chủng Lục quân Hoa Kỳ, một số nam, nữ Thiếu tá được ghi nhận gồm có: Thiếu tá Nathan Nguyen, Phó phòng Truyền tin, Sư đoàn 91 huấn luyện, Lục quân trừ bị; Thiếu Tá Truong Quoc Tran, Sĩ quan tình báo Lục quân; Thiếu tá Andrew Vu, Phi công trực thăng UH-60A/L Blackhawk, Lữ đoàn hàng không Vệ binh Quốc gia Pennsylvania; Thiếu tá Chi L. Truong, Trưởng Phòng Hóa học, Sinh học, Phóng xạ, Nguyên tử và Chất nổ, Sư đoàn 1 Thiết Kỵ; Thiếu tá Hung Nguyen, Sĩ quan Tiểu đoàn 411 Công binh; Thiếu tá Tai Nguyen, Sĩ quan Chương trình trao đổi quân sự Mỹ-Úc; Thiếu tá Miller Tran, Nha sĩ Quân y Lục quân; Nữ Thiếu tá Nhu Tran, Sĩ quan Luật sư Quân pháp Lục quân; Nữ Thiếu tá Vy Nguyen, Luật sư Quân pháp Lục quân; Nữ Thiếu tá Diep Thuy Ho, Quân y Lục quân và còn nhiều nam, nữ Thiếu tá khác chưa tiện cập nhật.
Nghe ông Toàn nói, tôi không ngăn nổi sự tức giận, liền lớn tiếng,
– Thưa Trung tướng! Trung tướng có thể làm người bất tín, bất nghĩa! Nhưng tôi thì không! Tôi không thể làm một Liên đoàn trưởng đem con bỏ chợ! Yêu cầu Trung tướng cho bốc hết liên đoàn, hay là trả tôi vào rừng trở lại với thuộc cấp của tôi! Trong hai ngày tới mà Trung tướng không đem hết những người còn lại ra khỏi vùng thì tôi sẽ cho Tiểu Ðoàn 82 giải tán! Tôi không đánh nhau nữa!
Chắc thái độ của tôi đã làm cho Tướng Toàn tức giận lắm. Ông ta nhảy xuống đất, tay cầm cái can chỉ huy giơ lên, hạ xuống hai ba lần, như sắp bổ xuống đầu tôi mấy phát cho hả dạ.
Ông Toàn biết tôi là người dám nói, dám làm. Có lẽ yêu cầu của tôi đã đưa ông Tư lệnh Vùng 3 vào một tình trạng rất khó xử trí. Bình thường thì mặt Tướng Toàn đã không hồng hào, sáng sủa gì, giờ đây tôi thấy mặt ông ấy tím ngắt.
Sau khi cúi đầu đi qua, đi lại, mấy vòng quanh cái đuôi trực thăng, Tướng Toàn chợt đứng lại, giơ cao cây gậy chỉ huy của ông ta lên, rồi thẳng tay đập liên tiếp mấy cái trên tấm bảng đỏ 3 sao trắng là dấu hiệu Trung Tướng, gắn bên hông con tàu.
Lẫn với tiếng “Kịch! Kịch! Kịch!” do cán gậy gỗ chạm mặt tấm bảng thiếc là tiếng chửi thề của ông,
– Ð! M! Mi ép tau vừa thôi! Mi ép tau vừa thôi! Okay! Tau cho bốc! Tau cho bốc!
Rồi chẳng thèm nhìn mặt tôi, ông Tư lệnh leo lên trực thăng. Cánh quạt quay nhanh, con tàu bay đi.
Tới lúc chiếc trực thăng bay lẫn vào trong đám mây trắng hướng Ðông Bắc, tôi mới chợt nghĩ lại, tự thấy rằng mình vừa làm một việc quá nóng nảy, quá hồ đồ. Nhưng ngay sau đó, tôi lại tự an ủi, biết đâu vì cái hồ đồ, nóng nảy của tôi mà Tướng Toàn nghĩ lại, sẽ ra tay cứu vớt những anh em đồng ngũ của tôi còn đang nguy khốn ở trong rừng.
Tướng Toàn đi rồi, tôi theo xe của Chiến Ðoàn 43 vào gặp mặt ông Chiến đoàn trưởng. Ðại tá Lê Xuân Hiếu nói rằng tạm thời Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân giữ vai trò trừ bị cho Chiến Ðoàn 43 và có nhiệm vụ phòng thủ doanh trại 181 Pháo Binh của Sư Ðoàn.
Muốn có một ý niệm thích hợp để bố quân và điều quân, phòng khi biến động, thì tôi phải đích thân đi quan sát địa thế.
Tôi thấy trại 181 Pháo Binh nằm về hướng Tây của Núi Chứa Chan và cách xa ngọn núi này đúng 12 cây số đường chim bay. Doanh trại này có hình vuông, mỗi chiều cỡ hơn trăm mét.
Hướng Tây trại này cách bờ đất phòng thủ của thị trấn Xuân-Lộc một con đường rộng chừng bốn thước, hướng Bắc và Ðông là đồng cỏ tranh um tùm, hướng Nam là đường hương lộ lát đá kéo dài từ sân bay Xuân-Lộc tới Quốc lộ số 1. Xung quanh căn cứ này có hàng rào tre đực, với dây thép gai, cùng giao thông hào, thiết trí như một Ấp Chiến Lược. Trong vòng đai và cổng chính của căn cứ có gần chục cái lô cốt xi măng, cốt sắt.
Nếu có giao chiến, căn cứ này sẽ là một cứ điểm vô cùng lợi hại. Vậy mà nó đang bị bỏ trống.
Trên khuôn viên của trại có năm cái nhà vòm bằng tôn, bốn nhà không có tường vách, cái thứ năm nằm sát bờ rào hướng Ðông thì được vây bằng ván kín mít, hiện có ba gia đình binh sĩ với vài cháu bé cỡ năm sáu tuổi đang trú ngụ trong đó.
Giờ này không biết Tiểu Ðoàn 181 Pháo Binh đang ở đâu.
Hiện thời Bộ chỉ huy Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân còn tôi (Thiếu tá Vương Mộng Long), Ðại úy Ngũ Văn Hoàn, Trung úy Nguyễn Văn Trâm, Chuẩn úy Lê Văn Phước.
Trung đội vũ khí nặng của Ðại Ðội Chỉ Huy coi như đã triệt tiêu, không súng cối, không đại liên. Sáu toán Viễn Thám, thì còn ba toán. Ðại Ðội 1/82 của Thiếu úy Ðặng Thành Học trở thành đơn vị vững chãi nhứt của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân từ sau trận Ðạo-Trung, Quảng-Ðức cuối tháng 9 năm 1974. Suốt thời gian lui binh từ Quảng-Ðức về Blao tôi đã đi sát với đại đội này.
Ðại Ðội 2/82 hiện thời không có đại đội trưởng vì Trung úy Võ Hữu Danh coi như mất tích trên đường rút lui theo chân Tiểu Khu Quảng- Ðức nên tôi đặt đại đội này dưới quyền chỉ huy của Chuẩn úy Gấm là một sĩ quan lớn tuổi, và có nhiều kinh nghiệm trận mạc.
Ðại Ðội 3/82 được giao cho ông sĩ quan Ban 2 là Trung úy Trần Văn Phước. Phụ tá cho Trung úy Phước là một ông sĩ quan vừa đẹp trai, vừa đánh giặc giỏi là Chuẩn úy Phan Quốc Thiều.
Ðại Ðội 4 vẫn còn dưới quyền Thiếu úy Phạm Văn Thủy. Hiện nay Thiếu úy Thủy là sĩ quan đại đội trưởng thâm niên nhất của tiểu đoàn tôi. Quân số của các Ðại Ðội 1,2,3 còn khoảng trên 50 người một đại đội. Ðại Ðội 4 thiếu một trung đội của Chuẩn úy Bảo, quân số hiện giờ là hơn 40 tay súng.
Tôi cho các Ðại đội 1, 2 và 3 bố trí trong vòng rào trại 181 Pháo Binh.
Còn Ðại Ðội 4 có nhiệm vụ giữ cổng chính và cây cầu bắc ngang qua con suối khá lớn, các chị vợ lính Pháo Binh gọi con suối này là suối Rét, nhưng trên bản đồ thì tên của nó lại là suối Gia Lêu.
Khi biết rằng tôi được giao nhiệm vụ phòng thủ doanh trại 181 Pháo Binh thì Ðại tá Phúc chở theo một ông Ðại úy và một ông Trung úy Ðịa Phương Quân ra tận đầu phi đạo gặp mặt tôi, rồi vừa cười cầu tài, vừa nói,
– Chú cho anh nhờ chút được không?
Hóa ra ông Tỉnh trưởng đề nghị “bán cái” cho tôi cái nhiệm vụ phòng thủ phi trường Xuân-Lộc!
Lúc này trên sân bay có hai đại đội Ðịa Phương Quân do Quân-Khu 3 tăng cường cho Long -Khánh, nhưng không có sĩ quan liên đội trưởng, nên Ðại tá Tỉnh trưởng muốn đặt hai đại đội Ðịa Phương Quân này dưới quyền chỉ huy của tôi.
Liên đội này có một đại đội của Tiểu Khu Long-An, do ông đại úy tên là Ðức làm đại đội trưởng. Ông đại úy này là người Nam, cao, to, oai vệ, nhìn không khác gì Trung tướng Nguyễn Văn Toàn.
Ðại đội thứ nhì thì di tản từ Bình-Long về do một trung úy chỉ huy, tôi đã quên tên. Ông này là người Bắc, nhỏ con nhưng rất nhanh nhẹn, ăn nói thực thà, dễ có cảm tình, gia đình ông này ở Cái Sắn.
Tôi đang thiếu quân giữ an ninh phía sau lưng, nên vui vẻ nhận lời của ông Tỉnh trưởng, rồi giao cho đại đội của Long An phòng thủ nửa phần hướng Tây phi trường, còn đại đội của Bình-Long phòng thủ nửa phần hướng Ðông, tiếp giáp với Biệt Ðộng Quân.
Ðể khép kín vòng đai phòng thủ tuyến, tôi cho một tiểu đội Ðịa Phương Quân của Bình-Long và một tiểu đội Biệt Ðộng Quân đóng quân chung trên một cái chốt chặn ngay đầu con hẻm đất nằm giữa hàng rào căn cứ 181 Pháo Binh và tường đất bao quanh Bộ Tư Lệnh và hậu cứ Trung Ðoàn 43 Bộ Binh.
Tôi hỏi thăm các chị vợ lính Pháo Binh rằng có đơn vị bạn nào hoạt động ngoài vòng đai không, thì các chị nói không. Tôi hỏi ông Trung úy đại đội trưởng đại đội Ðịa Phương Quân Bình-Long về tình hình bạn và địch ở ngoài kia, ông ta cũng không biết gì.
Theo tôi thì địch chỉ có thể tấn công phi trường Xuân-Lộc bằng hai đường, một là từ hướng Ðông Nam, hai là từ hướng chính Ðông.
Nếu tiến từ Ðông Nam thì địch có lợi thế là đường đi rộng thênh thang, rất thuận tiện cho cơ giới và đại quân bộ chiến tiến hàng ngang. Nhưng theo hướng này thì phải dùng Quốc Lộ 1 chắc chắn sẽ dễ bị lộ, dễ làm mồi cho không quân oanh kích.
Mặt khác, ngay trên ngã ba Quốc lộ 1, muốn vào Xuân-Lộc, địch phải vượt qua xã Bảo Ðịnh là một thành đồng chống Cộng của dân Công-Giáo. Qua cái tiền đồn này, còn phải vượt hai cây số hương lộ cùng ba cây cầu nữa mới tới đầu phi trường Xuân-Lộc. Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đang ở ngay bờ Bắc của cây cầu thứ ba.
Còn tiến từ chính Ðông thì có nhiều lợi thế hơn về mặt chiến thuật. Tôi thấy trên bản đồ thì, vùng Ðông Nam của Thành phố Xuân-Lộc có một con lộ đất, con lộ này bắt nguồn từ khu vực rừng lá dưới chân núi Chứa Chan.
Ra khỏi rừng, và sau khi len lỏi qua những đồn điền cao su và vườn chuối, vườn xoài, thì con lộ đất này đâm thẳng vào một ngõ hẻm.
Ngõ hẻm này ở ngay đầu phi trường, chỗ tôi đặt cái chốt hỗn hợp của Biệt Ðộng Quân và Ðịa Phương Quân.
Thế là, chiều ngày 7 tháng Tư tôi cứ đi đi, lại lại nhiều lần trên con hẻm này.
Dưới mắt tôi, một người lính nhà nghề, một người từ khi vừa lên lớp Ðệ Thất đã thuộc nằm lòng “Tôn Ngô Binh Pháp” thì con lộ đất này ví như một lưỡi dao găm kề cổ thị trấn Xuân-Lộc.
Muốn giết Xuân-Lộc, chỉ cần một cú đâm cực nhanh, cực mạnh, xuyên qua con hẻm dài chưa tới hai trăm thước này, rồi cho lưỡi dao lách về bên phải thì trái tim của thành phố sẽ bị mũi dao đó đâm xuyên qua ngay.
Tôi ước tính, nếu một đoàn chiến xa T54 mà xuất phát từ điểm mà tôi đang đứng, thì chỉ ba phút sau chúng đã có mặt trong sân Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh và Tòa Hành Chánh tỉnh Long-Khánh rồi!
Dinh cơ của Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh chính là trái tim của thị trấn Xuân-Lộc. Nơi đó có Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn, sau lưng Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn là chỉ huy sở và hậu cứ của các đơn vị giữ nhiệm vụ phòng thủ Xuân-Lộc.
Nếu Bộ Tư Lệnh mà bị chiến xa Cộng-Sản chiếm giữ, thì các đơn vị phòng thủ trong vòng đai của Bộ Tư Lệnh sẽ bị địch đánh từ phía sau; trước mặt họ là bờ đất cao, cùng rào kẽm gai chằng chịt, đầy mìn bẫy, không đường thoát chạy. Chiến đấu trong tình thế này chắc chắn họ sẽ bị tiêu diệt.
Cũng trong tình huống ấy, tòa hành chánh cũng sẽ bị địch uy hiếp, các đơn vị Ðịa Phương Quân và Cảnh Sát Dã Chiến của Long-Khánh sẽ trở thành rắn mất đầu.
Tôi không hiểu tại sao yếu điểm này lại không có người canh gác hay rào giậu. Chợt mắt tôi nhìn thấy dọc theo lề đường có những cái hố trũng với lá khô phủ lên trên, hố này cách hố kia chừng năm thước. Tôi tò mò cào lá khô sang bên thì phát giác ra đó là những hố mìn chống chiến xa, có tất cả mười trái mìn đã được gài. Chắc những quả mìn này mới được chôn cách đây không lâu nên chưa bị cát sạn che lấp vì mưa gió.
Tôi giật mình khi thấy trên lưng những quả mìn này chỉ là những lỗ tròn trống rỗng! Không quả mìn nào còn ngòi nổ cả! Chắc lực lượng phòng thủ thấy bãi mìn của họ nằm sát phi trường, nên không cần cho người canh giữ. Nhưng nào có ai hay? Quân trinh sát của Cộng-Sản đã khôn ngoan lẻn vào gỡ hết ngòi nổ của mìn mà vứt đi rồi!
Chắc chắn chiến xa của chúng sẽ dùng con hẻm này để thọc sâu vào giữa phòng tuyến của Việt-Nam Cộng-Hòa. Tôi đoan chắc điều này chỉ vì tôi nghĩ rằng nếu họ tấn công bằng bộ binh, thì họ không cần cho lính trinh sát mạo hiểm len lỏi vào đây gỡ đi những cái ngòi nổ.
Nay ngòi nổ đã được gỡ, nhưng mìn thì vẫn còn, tức là địch đã tương kế tựu kế để đánh lừa người giăng bẫy. Người đặt mìn, nếu có bỏ công rà soát lại, cũng lười biếng, không lật lá khô lên kiểm soát xem ngòi nổ có còn hay không? Rồi cứ tưởng mìn còn đó, chiến xa địch chạy vào thì mìn nổ. Ðâu ngờ mười quả mìn giờ này đã thành vô dụng không khác gì mười cục gạch! Vừa phát giác ra mười quả mìn không còn ngòi nổ thì tôi chột dạ, vội vàng gọi Thiếu úy Phạm Văn Thủy đem theo một tiểu đội bảo vệ rồi đi ra ngoài vòng đai doanh trại để thám sát địa thế vùng xung quanh.
Ði giữa lòng con lộ đất, một bên là tường đất cao nghệu của hệ thống phòng thủ quanh Bộ Tư Lệnh, một bên là hàng rào tre đực của căn cứ 181 Pháo Binh, tôi có cảm tưởng đang đi trong Lạc Phụng Ba của Phụng Sồ thời Tam Quốc!
Ra khỏi con lộ đất, tôi tiến vào một vùng lòng chảo cỏ tranh cao quá đầu người hướng chính Ðông của doanh trại. Tiếp tục theo đường, là vườn xoài, rừng chuối ngút ngàn, rồi con đường bị cỏ tranh che phủ, không còn rộng nữa.
Chợt mắt tôi thấy thấp thoáng hình như có những cột mốc cắm thành hai hàng song song, hàng này cách hàng kia chừng bốn thước, như dấu mốc mà Công-Binh Bắc-Việt đã đánh dấu để phóng đường cho xe đi trong tương lai. Tôi rẽ cỏ tranh bước tới gần, thì đúng là địch đã cắm mốc! Cột mốc là một khúc nứa, cao cỡ ba mét, mỗi ngọn cột đều buộc một mảnh vải tai nheo màu xanh, đỏ, tím, vàng rất dễ nhận ra!
Tôi nhớ lại, cuối năm 1973, Công-Binh Việt-Cộng cũng đã đánh dấu một con đường như thế này nối dài từ thung lũng Ia Drang tiến về vùng 10 cây số Bắc Pleime; cây lớn mọc trên mặt đường có đánh dấu đều bị cưa nửa vời.
Tới tháng Tư năm 1974, khi triển khai chiến dịch, chiến xa địch chỉ cần chạy ngay giữa hai hàng mốc thì những cây cối này sẽ gãy ngay, xe tank cứ thế, đè lên cây mà lao tới.
Như thế thì trong tương lai, nếu có chuyện đánh nhau, chắc chắn con đường đã đánh mốc này sẽ được địch dùng cho chiến xa tiến vào vùng Ðông Nam của thị xã.
Từ bìa rừng, quay đầu nhìn lại, tôi thấy hệ thống tường đất cao với nhiều lớp rào phòng thủ dư sức ngăn cản chiến xa; như vậy, muốn vào thị xã, xe tank của địch bắt buộc phải dùng con hẻm độc đạo bên rào Trại 181 Pháo Binh.
Muốn chặn chúng lại, ta chỉ còn cách duy nhất là thắt nút ngõ hẻm này bằng mìn chống chiến xa và thép gai vòng loại concertina.
Nhưng để cho chắc ăn, tôi vẫn tiếp tục dẫn quân đi vòng quanh rào để thăm dò thêm. Tôi thấy mặt Ðông Nam của căn cứ là một dải đất sình lầy, tiếp giáp với bờ suối; khu vực đất thấp này bộ binh di chuyển còn khó khăn, chắc chắn chiến xa không thể vượt qua được. Sau khi hoàn tất công tác thám sát địa thế, về tới cổng trại, tôi mới nghĩ lại, thật là may mắn cho tôi, đêm qua địch chưa đánh!
Ðêm qua, tôi chưa chuẩn bị, mà địch ra tay thì chắc chắn đơn vị tôi tan tành rồi.Tôi cấp tốc gọi cho Ðại tá Tỉnh trưởng cho xe đón tôi vào để báo cho ông một phát giác thật quan trọng.
Sau khi nghe tôi trình bày chi tiết những gì vừa chứng kiến, ông Ðại tá vỗ vai tôi rồi hối thúc,
– Lẹ lên! Lẹ lên! Chú lấy một chiếc Dodge rồi chạy xuống Trung Tâm Yểm Trợ Tiếp Vận Tiểu Khu lấy tất cả những gì chú cần! Mau lên! Mau lên!
Sau hai chuyến chuyển vận, tôi nhận được mười lăm cuộn concertina, hai chục khẩu M72 và trên một chục quả mìn chống chiến xa.
Ba toán Viễn Thám đã lãnh 6 khẩu M72 rồi; số còn lại tôi chia đều cho các đại đội. Mỗi đại đội đều có ba toán chống tank do chính tay tôi huấn luyện trong thời gian phòng thủ Kiến-Ðức.
Thực ra thì chúng tôi bắn XM 202 giỏi hơn M72. Gần nửa năm trấn thủ Kiến-Ðức, kho đạn của Tiểu Khu Quảng-Ðức có bao nhiêu XM 202 đều bị tôi trưng dụng hết.
Súng chống tank hữu hiệu nhứt là XM202 với đạn màu đỏ, tức là đạn khói, đạn lân tinh. Trúng đạn lân tinh, xe tank sẽ cháy ngay. Còn bắn đạn với liều thuốc lõm màu đen thì chỉ làm cho nó đứt xích hay lủng bộ phận phun khói sau lưng; bắn ngang hông cũng có hy vọng; còn bắn trúng pháo tháp T54 thì coi như “gãi ngứa” cho nó mà thôi.
Thế là từ chiều cho tới tối, hai ông Thiếu úy Ðặng Thành Học và Phạm Văn Thủy phải nhịn đói, vất vả căng kẽm gai và moi lỗ gài mìn trên con hẻm. Mười quả mìn mới có ngòi, nằm đè lên mười quả mìn cũ đã bị Việt-Cộng tháo ngòi, thế là mình có mười lỗ mìn đôi. Nếu dính một lỗ mìn đôi, chắc chắn chiếc T54 cán mìn sẽ banh xác!
Công việc thiết trí trận địa của tôi coi như đã hoàn tất.
Và tôi có thể yên tâm là, từ tối ngày 7 tháng Tư năm 1975, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của tôi đã ở trong tư thế sẵn sàng đương cự với bất cứ địch thủ nào.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.