Dấu Binh Lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam
Post by Sơn râu 10 Mar 2026

Tôi là người Huế, sinh ở Huế, nhưng không lớn lên từ đó, không có kỷ niệm, không nhung nhớ, không một mối tình. Giữa tôi và Huế là xa lạ, dửng dưng, không mong ước trở lại. Nhưng, tôi đã sinh ra ở đấy, đất đai đó là nơi trú ngụ đầu tiên. Và cũng chính trên mảnh đất này bạn bè tôi đã đánh những trận đầu tiên trong thành phố, những người bạn từ Sài Gòn, từ một tỉnh miền Nam, từ miền Bắc di cư vào, họ đã chết lạnh lùng, bất ngờ nằm xuống giữa đám gạch xanh rêu không sinh khí. Vậy nên tôi phải viết về Huế. Viết cho tuổi thơ đã qua, lần trở lại bi thảm, viết về một mất mát, nhưng tôi cũng viết cho những tìm thấy thật cảm động. Cảm động rưng rưng nước mắt, cảm động của buổi tái ngộ oái oăm.
Khi lớn lên sau này, ai có hỏi… Người xứ nào… Tôi thường tần ngần một lúc. Sự ngập ngừng phát sinh từ những mù mờ về Huế. Tôi là người sinh ra ở đó, nhưng biết được gì trên thành phố ấy, tên đường không thuộc, chùa Linh Mụ ra sao? Thế nào là con gái trường Đồng Khánh? Nhớ, nhớ lại một kỷ niệm xa nhất, những hình ảnh ghi nhận được, những điều còn sót lại trong vùng trí não mông mênh. Nhớ đến chỗ đầu tiên của hoài niệm tuổi thơ, tôi bốn hay năm tuổi gì đó… Cùng gia đình về Huế trong đêm khuya. Thuyền đi theo giòng sông, giòng sông đen, chiếc thuyền len lỏi qua hàng cây um tùm trên nước. Sông nào, tôi không biết. Cây gì, cây chà là. Sao lại cây chà là? Chắc hẳn đó là do bất chợt nghe đâu một lần nên tôi đặt tên cho những đám cây đêm đó là cây chà là. Thuyền ghé bến tôi lên bờ trên tay của cha, ôm chiếc chiếu trong lòng. Tôi về Huế lần đầu tiên, tôi đến trong đêm, trên giòng sông. Trí nhớ nào đủ để ghi lại vài hình ảnh mông lung như mặt nước lên tâm hồn trẻ nhỏ… Và đi ra khỏi Huế sau hai năm. Tôi còn lại hình ảnh nào nữa? Những buổi chiều cuối năm gió rét, thổi qua những con đường phố im vắng, hình ảnh một bà già lưng còng, còng xuống thật thấp, bán giò chả, tiếng rao lê dài qua khu phố theo gió đi xa, lành lạnh tái tê. Buồn hơn cả mùa đông. Thế là hết kỷ niệm của Huế. Còn gì nữa không? Chẳng còn gì hơn hình ảnh cô gái nhỏ cùng tôi chơi chiếc xe hai bánh, gồm bàn đạp, tay lái, chân để trên bàn đạp, chân chống xuống đất và chúng tôi thay phiên đẩy vào lưng nhau để tăng tốc độ. Tốc độ của đôi chân trẻ thơ nhưng quá nhanh trên mặt đường lồi lõm đá; đường không người, hai hàng phố cửa đóng, vẽ hoang tàn hậu chiến, nét linh động chỉ là hai chúng tôi… Thế là hết và tôi đi xa, xa về miền Nam, Huế đó tôi trả lại cho người, tôi về miền có biển có núi. Huế không có biển. Ở biển chúng ta nghe được thằng cuội chặt củi ở trên cung trăng. Một thằng bạn nhỏ khu xóm nghèo đường Gia Hội đã nói như vậy. Tôi đến vùng có biển và lớn lên từ những nơi này. Huế không có biển và tôi yêu biển biết bao nên xứ Huế được lãng quên.
Đà Nẵng và Nha Trang, thành phố bốn bề là biển, biển trước mặt, biển sau lưng, rẽ qua trái ra biển, rẽ qua phải đến sông, sông cũng dẫn ra biển, ngồi trong nhà gió biển lọt vào, rịn mùi muối trên da tay, đêm mùa đông nghe tiếng sóng cuồng nộ từ xa tưởng chừng như sóng xô đẩy lại kéo trôi phăng thành phố. Thịt bò khô ở Nha Trang, con ghẹ tươi luộc ở bờ biển Đà Nẵng đối với tôi là những món ăn ngon nhất, quyến rũ nhất và đáng nhớ biết chừng nào. Chạy nhảy trên những hòn đá ở Tiên Sa, hà cắt đứt bàn chân, vết thương tươi đỏ đầy máu không tạo thành đau đớn, chỉ nhức nhức nhẹ nhàng, ngâm xuống nước mặn thành xót cay, nồng nàn như tuổi mới lớn, như tình yêu ước vọng của năm mười sáu, mười bảy… Máu chảy hòa nước biển, nước biển theo vết thương ngấm vào máu thịt, người như hạt muối được hong khô dưới mặt trời. Tôi ham mê đùa giỡn cùng sóng nước, giữa khung trời xa tít không biên giới với luồng gió có hương ngát từ khoảng không trên ngọn hải đăng ở Đà Nẵng; tháp hải đăng xây bằng đá, xanh mướt, trơn bóng vì rêu phủ, gió bào, muối sát, dõi luồng sáng xanh chỉ có ở giấc mơ. Gió từ bốn phía ào ào, lau ngã nghiêng theo tám hướng. Tôi sống, lớn lên, yêu đời, yêu quê hương từ đó. Từ những nơi có gió. Từ một chỗ nào xa xăm tận cùng trời đất.
Đà Lạt nét đẹp não nùng, tưởng chừng như một nốt nhạc ngân hoài không dứt. Đà Lạt đẹp, thành phố, hồ Xuân Hương, hồ Than Thở đẹp nhưng phải đến Ankroet, trèo lên ngọn núi đằng sau nhà máy nước nhìn xuống thác Vàng, thấy cả trời đất hòa chung dưới đáy. Hồ Ankroet trong vắt như thủy tinh, xanh tươi hơn tận cùng ý niệm, nằm trong lòng núi như một chiếc gương yên lặng khẽ gợn vì gió, vì sương đọng, vì núi nghiêng hay vũ trụ đang xoay, hay do người đang rơi vào ảo giác… Trời ở trên, trời cũng dưới đáy hồ im lặng! Có tiếng động… Không, chẳng có gì, lá thông rãi, cỏ đang mọc hay nước hồ đang nở… Nào ai biết, không ai biết gì của thiên nhiên im lặng đó chỉ nhìn và nhìn tận cùng với hết con người. Trong vòng tay của núi và biển, tôi đi xa Huế vô cùng. Huế của đêm tối hồi cư, dòng sông đen đe dọa của tuổi thơ làm sao kéo được tâm hồn tôi trở lại.
Bây giờ là năm 1967. Chiến tranh đầy trên quê hương như đàn ruồi trên đống rác. Tôi đang ở Sài Gòn. Ôi Sài Gòn, làm sao thấy được mặt trời mọc lúc nào, lặn ở đâu. Đâu bốn hướng đông, tây, nam, bắc… Thế nào là màu xanh, súc vật nuôi trong nhà, màu xanh tím và hơi mát khu đường Cường Để, vùng nhà thương Grall trông tội nghiệp, vá víu giả dối và còm cõi! Sài Gòn với một khoảng thiên nhiên mơ mộng của xa lộ, vài cây dừa xơ xác, một dẫy đất hoang cỏ mọc úa vàng bị đóng khung bởi Cát Lái, Thủ Đức, Bình Lợi…
Việt Nam 1967, tôi lính chiến như một thanh mã tấu cùn rĩ, ném vào trong một đống rác vĩ đại. Đà Nẵng thì hết rồi biển Thanh Bình, hàng cây dương mới lớn của mười năm về trước nay cằn cỗi vướng vít kẽm gai bao bọc trại lính. Bờ biển thuở xưa có cái lô-cốt bị chìm bây giờ đầy nhà cửa. Thôi còn gì nữa đâu, hết cả khoảng trời xanh, tiếng sóng vỗ cuồng bạo vào bờ đêm mùa đông, biển tối âm u, hàng đường liễu ngập nước như một khu rừng nổi… Tất cả không còn gì nữa, núi Tiên Sa Mỹ đặt đài radar, con đường lên núi đỏ thẩm giữa màu xanh của lá như một vết thương chưa khép. Vị tiên nào đã sa xuống vùng núi hoang vu tuổi trẻ của tôi ngày xưa chắc bây giờ đã lăn lóc chiếc cánh bên cạnh đống vỏ bia. Tôi còn được một vùng thơ mộng nào trong quê hương?

Huế – 1967

Trong thời gian này tôi trở về Huế. “Trở về”. Sao lại dùng chữ này? Phải đi thì mới gọi trở về. Hay tôi đang trở về quê cũ? Chiếc C-130 xuống phi trường Phú Bài vào buổi chiều mưa mờ mặt. Ôi mưa, mưa đúng nghĩa của mưa, mưa đầy mặt, mưa cách nhau khoảng năm mươi thước không trông thấy, mưa không rõ hạt, chỉ một màn nước dày bao trùm cảnh vật. Tất cả xám xám ốm yếu thê lương, không chân trời, không hàng cây, không nhà cửa. Tất cả dựng khối đen lù mù im nín, không một hoạt động tồn tại, tan biến lặng lờ dưới sức nặng dị thường của hạt mưa. Mưa từ bao giờ? Hỏi người bạn đơn vị đã ra trước. Lâu lắm rồi, cả tuần nay. Không tạnh? Tạnh sao nổi. Mưa khắp nơi như từ một khoảng không bốc hơi và vạn vật đang tan thành nước. Tôi bước xuống trong vũ trụ lạnh tanh đó. Người biến vào mênh mông.
Mưa Huế ào ào phủ xuống đầu chúng tôi khi từ máy bay chạy nhanh vào trạm hàng không. Ai đã ghét mưa Huế vì phải chịu đựng nó quá nhiều, chắc tôi cũng ngao ngán vô cùng khi đi dưới cơn mưa nước ruộng ngập đến háng và bùn gần đến đầu gối từ Quảng Điền lên Phong Điền. Nhưng bây giờ mưa Huế đang chung quanh tôi, mưa của quá khứ, của tuổi thơ, tuổi lớn đang hòa vào nhau trì chậm, quay đều trong một không gian im lặng…Huế đón tôi trong cơn mưa, tôi lên xe trở vào thành phố, ra lại ngoại ô, đóng quân ở một làng có cái tên độc đáo, đặc biệt nhất của Việt Nam – Sịa. Sịa là gì? Là sình đọc trại? Không phải, cái tên đặc biệt, âm vang như một nốt nhạc lạ. Sịa, tôi sẽ hoài hoài nhớ, hoài hoài thắc mắc sao quê hương ta có những địa danh vừa kỳ cục vừa lạ lùng, quê mùa nhưng không thô, mộc mạc, bình dị và độc đáo! Ở đâu có Sịa? Chắc chỉ có Huế và đúng chỉ là có Huế.Hành quân, mục tiêu 1,2,3… Đại đội 91, 92 chiếm 1 và 2 xong đợi ở đấy, làm blocking-force về hướng đông để đại đội 94 chiếm mục tiêu 3… Mục tiêu 3, tôi nhìn vào bản đồ: Đồng Xuyên, làng Đồng Xuyên khu xóm nhỏ phía tây giáp ruộng, phía đông cồn cát. Sau cồn cát là gì? Phá Tam Giang. Phá thì lạ lắm, nhưng phá Tam Giang đã rất quen biết, lớp ba hay lớp nhì, ai chẳng một lần đã ê a trong “Tập Đọc Vui” hai mươi năm về trước. “Đường vô xứ Huế quanh quanh. Non sông nước biếc… Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”. Phá Tam Giang là tuổi thơ thứ mười của tôi. Tuổi nhìn đời đầy dẫy những câu hỏi: Tại sao đã yêu em nhưng lại không muốn vô? Đấy, phá Tam Giang tôi đã quen thuộc với nó lâu hai mươi năm rồi còn gì nữa? Phá Tam Giang, nỗi mơ mộng đầu tiên của tôi, vùng thần thánh của những lần rung cảm ngây ngất khi đọc đến: “Yêu em anh cũng muốn vô…” Đi dọc theo bờ của phá, bên trái dãy Phố Buồn Thiu, nơi B. Fall vừa chết tuần trước; người thông thuộc biến cố của Việt Nam nhiều nhất trong vòng hai mươi năm qua, nay vì trái nổ oan khiên bỏ lại đời đằng sau.
Dọc theo phá, đi hoài, đi mãi… Giữa trời đất bao la, ảnh bao la giăng giăng u uất, không rộng rãi của biển, xanh thẫm của núi, đây là hoang vu tiền sử, cỏ úa xanh nâu trãi dài đến chân trời. Bồ nông, hạc, hải âu bay từng đàn nặng nặng, buồn buồn, chim bay như cố gắng, như thở dài, như hấp hối… Bay một đoàn đầy trời, rồi cả đàn cùng dừng lại, tiếp tục bay đi, không phương hướng, không ào ạt, không khỏe, không hùng; đàn chim loang lỗ, đen trắng thấp thoáng trên cỏ khô, lúa mục. Đây là hoang vu sao lặng gió, con phá rộng mông mênh không bờ bãi, không vết sóng, chỉ một cánh buồm không no gió… Phải chăng buồm hoang, thuyền ma. Trời xám, cỏ xám, con sóng nhỏ, cánh buồm phiền, đàn chim mệt mỏi… Đây là cảnh gần tàn, đời sắp đóng, trời đất âm u để sửa soạn cho lần đổ nát. Bây giờ mới thấy Nha Trang quá trẻ trung, Đà Lạt quá sang trọng, Sài Gòn còm cõi không sinh khí. Đây mới là khuôn mặt thật của quê hương. Tôi nghĩ vậy. Câm nín, u uất, nặng trĩu buồn rầu. Quê hương ta, khuôn mặt thật chắc là đây. Lên đến Phong Điền nhìn lại bản đồ, mười bảy cây số đường chim bay. Người nát rời từng mảnh , trời rét nhưng người quá dơ,bùn từ tóc, từ mặt, bám đầy trong hốc mũi, trong tai, bùn rơi từ cái dụi mắt, chớp mày. Xuống bến sông, bên kia là Quảng Trị, bên này là Thừa Thiên, sông chảy ra phá Tam Giang, sông chảy từ Quảng Trị vào, từ núi ra, một nhánh nhỏ của sông Ô Lâu, nhưng đến đây chảy qua Mỹ Chánh sông mang tên khác. Hỏi cô giáo. Cô giáo thẹn như cô gái mới lớn, cô giáo mặc áo đen quần trắng, áo len đen, da trắng mát tự nhiên, môi đỏ hồng, mắt thật xanh. Cô giáo bao nhiêu tuổi? Dạ hai mươi lăm. Sông gì? Dạ thưa, sông Thu Rơi! Sông Thu Rơi. Tôi cười… Cô nói đùa hay thật. Dạ thưa sông Thu Rơi. “Dạ thưa sông Thu Rơi”. Tôi rưng rưng cảm động. Ai đã đối thoại với lính lễ độ, kính nể đến như vậy. Sông mang tên Thu Rơi, tên thật thường nhưng chất ngất lãng mạn và đôn hậu, dân làng đã nghĩ sao khi chấp nhận tên này. Phải chăng là thi sĩ? Phải chăng tên đã thành tự nhiên như câu hò, câu hát.
Ngược đường về, từ mục tiêu 15 trở lại mục tiêu I, ấp Đồng Xuyên, ấp Mỹ Xá, đã đọc đi đọc lại nhiều lần từ bao nhiêu ngày trên bản đồ, đã đi qua bốn ngày trước, nay trở lại sao lòng nôn nao cảm động — Đồng Xuyên, Mỹ Xá… Đúng rồi! Nơi chốn này thuở xưa mẹ tôi đã một lần đi đến, sau lệnh tổng phản công của Việt Minh năm bốn mươi sáu “Vỡ mặt trận rồi chạy về Đồng Xuyên, Mỹ Xá, sau đó mạ gánh con về ở tại Gia Lê”. Mẹ tôi thường hay nói vắn tắt như vậy để trả lời cho tôi mỗi khi tôi hỏi về những biến cố của “Vỡ mặt trận…”. Tôi nhớ mãi nhớ hoài mẹ tôi với câu nói đó. Bà hay nói những chữ Huế mà những ngày ở Đà Nẵng, chúng tôi, hàng xóm phải ngẩn ngơ không biết. Mẹ tôi là người Huế, nơi này bà đã gánh tôi một đầu đòn gánh, đầu kia áo quần, soong chảo trên cánh đồng này hai mươi hai năm trước, chân trần tay lấm, cong chiếc lưng học trò mảnh mai để gánh tôi băng qua những đồi cát mênh mông bắt đầu từ Mậu Tài ra đến Đồng Xuyên, Mỹ Xá… Nơi này, cha mẹ tôi đã thương yêu nhau trong cảnh chết, tiếng nổ trên đầu, viên đạn rạch không khí bay xuyên tim người dưới đất. Nơi này cha mẹ tôi đã lấy sức mạnh xác thân và tình thương mang tôi qua gió bão…

Phi trường Phú Bài – Huế

Hôm nay, mùa đông 1967, tôi đi qua, trên đất như có hồn, cỏ có dấu vết, biết đâu mẹ tôi đã ngừng ở đây, lấy nón quạt cho tôi, cha tôi đã cúi mình trên bờ mẫu để gạn lấy phần nước trong mát nhất cho con. Giòng nước luôn trôi chảy, mẹ cha làm sao biết được hơn hai mươi năm sau đứa con trở lại một lần nhìn xuống để thấy gương mặt thật của mình trên suối dòng bất diệt quê hương. Về Huế, nghỉ quân đóng ở Nam Giao, nơi thuở xưa vua nhà Nguyễn tế lễ trời đất. Trăng mùa đông huyền bí dọi sáng xanh nhạt thếch xuống một vùng cổ mộ… Emile Bronte, Dostoiesky, Mai Thảo, Võ Phiến, rrải dài trên tác phẩm bóng dáng quê hương họ thương yêu, hoài niệm, nếu không phải ca ngợi nồng nàn, thì cũng là bối cảnh cho những tình yêu, thù hận, hay điều ám ảnh. Tôi không là nhà văn, nhưng nếu có chọn lựa tôi sẽ viết về Huế trong tác phẩm của mình. Lạ lùng lắm, bí ẩn lắm, ngôi mộ nằm yên dưới bóng thẩm cây tùng, cây thông, trăng soi xuống, gạch đá như thở, như hấp hối thì thầm, rầu rĩ. Sông Hương đứng từ ngọn đồi lăng Khải Định nhìn xuống, không phải là sông của nước chảy, nhưng là núi xô nhau đi về nơi xa, sức xô đẩy lả lơi theo cỏ tranh, giăng giăng chập chùng đồi sim dại. Núi không cao, không phải núi, gọi là đồi mới đúng, không cây cỏ chỉ có toàn một thứ đá nâu lớn bằng ngón chân. Đồi trùng điệp nối dài, nắm tay nhau, dựa vai vào nhau, chuyển động nô đùa trên mặt nước. Vua Gia Long chọn Huế thật phải, sông có, núi có, rừng thưa, rừng mới lớn chạy bước nhỏ dưới chân đồi như bầu bạn. Và đằng xa kia, xa ở chân trời… Biển… đủ hết,cả bốn mùa thời gian, cả vóc dáng thế giới hợp vào đây, không lớn, không vĩ đại, không ồn ào, nhỏ và xinh như non bộ, giả sơn. Như cảnh mơ của em bé.
Dừng xe trên đồi, tắt máy, tắt đèn, đốt điếu thuốc nhìn xuống dòng sông, thả khói bay vào núi, bay xuống mặt nước xám mờ, sương lạnh, mưa sa hạt nhỏ… Có ai hỏi gì bây giờ, chỉ xin im lặng như cơn thở than trầm mặc… Vì tiếng hò đã cất lên. Tiếng hò xua nhau như sóng nhỏ vướng phải bụi bờ chìm xuống nghe thê thảm, quá đỗi buồn rầu. “À… ơ… Ai về Đại Lược.” Chữ “lược” xuống thật thấp như cố nuốt tủi hờn, chặn giòng nước mắt, che dấu cô đơn. À… ơ… Không thêm một chữ nào có ý nghĩa, chữ “ơ” đưa lên cao từ từ rồi mất vào với gió với trăng, làm rợn những gai ốc trên da thịt. Hò như thế mới gọi là hò, Nam Ai như thế mới đủ năng lực diễn tả hết nỗi buồn rầu chất chứa toàn thể đời người phổ vào những tiếng à, tiếng ơi vô nghĩa. Một phút, hai phút trôi qua, thuyền đi được khoảng sông, câu hò chỉ được bốn chữ “à, ơ” ngân dài trên nước, oan uổng thê lương dật dờ như thây ma trôi sấp. Tôi nghe bằng tai nhưng hồn tôi ai đem treo trên đầu ngọn gió, ai đem ướp dưới đáy sông… Thật muốn khóc… Muốn rưng rưng nước mắt!! Sao có cảnh trầm mặc, sao tiếng hò thê lương, buồn đến thế này… Nguồn đau thương dân tộc đã mất những gì, còn lại những gì… Hay mãi mãi đổ vỡ tận cùng, không bao giờ sống lại…
Tôi ở Huế một tuần, bún nước, bún khô, bánh khoái, nem chua, ăn thật nhiều, thật ngon. Tôi vốn không thích ăn ngon, không coi trọng chuyện ăn uống. Lính tráng kham khổ quen cơm hẩm, dăm miếng thịt mỡ, vài cọng rau, bi đông nước lã là xong bữa ăn. Bao nhiêu năm tôi không có dịp để chọn món ăn. Về đến Sài gòn gặp gì ăn đó cho lạ miệng, ăn với bạn cho vui, không hề ham. Nhưng ở Huế ăn phải thích, ăn nữa không chán, ăn bao nhiêu bún cũng không vừa. Phải tới quán cho kịp giờ, trễ là hết, quá năm giờ tiệm bún ở đường ngang với đường Gia Hội nhất định hết. Người Huế lạ lùng như vậy, không thay đổi, không bị lôi cuốn. Mười năm trước vẫn một nồi bún, bây giờ cũng vậy, khách đông, khách chờ, khách đòi hỏi. Mặc! Hết là hết không nấu thêm. Ngày ế khách, ngày mưa gió, không bớt. Vì khách là khách quen, xóm bên kia đường, đằng cuối phố, nhà nào, mấy người, ý thích của mỗi ai… Người bán tất biết rõ. Bán như thể rảnh rỗi, thức ăn như một tác phẩm, nhiều quá sẽ thành thừa mứa, tầm thường. Giữa khách và chủ là bạn thân, họ hàng. Người Huế sống với nhau thật khít khao. Nhà anh ấy, bác ấy có con thi đỗ cùngmừng; kÿ đám cả xóm xúm vào giúp nhau. Nhưng chính ở đây cũng là nơi xuất phát những cực đoan lộ liễu. Thầy trên chùa nhất định là đại từ, đại bi, dù vào đến Sài Gòn nghe ai nói xấu đến thầy tức khắc lồng lộn, tức tối… Không thế được, thầy không xấu như người ta nói!!
Chúng tôi trở lại Huế bằng máy bay trực thăng trong ngày mùng bốn Tết Mậu Thân. Trời thật lạnh, mưa phùn, u ám thê lương bao phủ thành phố. Máy bay nghiêng nghiêng trên đà xuống, hạ thấp dần, khu doanh trại Bộ chỉ huy Sư Đoàn 1 Bộ Binh. Chúng tôi ùn ùn kéo ra khỏi phi cơ. Sau ba ngày đánh nhau ở Quảng Trị với số mất mát khá lớn mặc dù chúng tôi đã được cả một đống vũ khí chất đầy một GMC. Mới đây, Giao thừa chúng tôi còn gọi nhau trong máy truyền tin để chúc tụng những lời đầu xuân, rồi ngày mùng Một, tôi nhớ rõ, bốn giờ sáng, từ đó là khởi đầu máu chảy… Vừa hay tin Thừa chết, đến Lộc, đến Hổ, bạn quen lâu, mới quen, thương mến thật nhiều, tất cả ra đi từng loạt từng loạt. Trong những ngày đầu năm, trong những ngày đầy sương muối và mưa phùn, chúng tôi đã chiến đấu đơn độc và tuyệt vọng. Lính Mỹ án binh bất động nằm chờ thời. Không phi cơ, không pháo binh yểm trợ. Chúng tôi đến Huế với vô cùng mỏi mệt.
Kiểm điểm lại quân số, tấn công và chiếm lại Huế, mục tiêu là mấy cổng thành. Ngày đầu quân tiến thật nhanh tràn qua Tây Lộc, xong tiếp đến cửa Chánh Tây, giao lại cho bộ binh. Tối đến cổng thành lại mất. Chúng tôi bắt đầu chiếm lại, và từ lúc này chiến trận đã xảy đến ác liệt. Phi cơ bắt đầu can thiệp, pháo binh yểm trợ và địch tăng cường cố thủ. Chúng tôi tiến lên từng đường, từng ngõ, từng nhà. Thành nội Huế với đường nhỏ vuông vức bàn cờ, tiến quân như đi trên cái chết. Qua được một đường, tiếp tục bắn che chở cho khinh binh; khinh binh chạy thật nhanh, nhanh hơn nữa, nhanh để đua với tử thần, nhanh để sống, để thở, để cười, để còn về lại Sài Gòn. Quân tiến thật chậm đến con đường Mai Thúc Loan thì bị chận đứng. Can đảm đứng lên băng qua là chết. Bộ chỉ huy Việt cộng đóng ở trường Bồ Đề nên con đường biến thành tuyến phòng thủ. Cửa Đông Ba cách hai trăm thước không thể nhào vào được. Việt cộng đào giao thông hào, phát súng cho trẻ con mới lớn, gã du đãng muốn làm anh hùng, chủ tiệm bán cà phê được lên làm cấp chỉ huy. Tất cả mặc cảm về yếu kém, vô ích, mặc cảm bị xem thừa, bỏ rơi, tất cả được Việt cộng lợi dụng đến triệt để và tập hợp thành lực lượng lớn để đè bẹp chúng tôi. B40 nổ như muốn nhức có. Em bị rách áo, hai đứa con nghỉ phép dài hạn. Dồn dập, dồn dập. Đơn vị mệt và căng thẳng như con khô nung chín.
Lệnh tấn công trở lại, có pháo binh và phi cơ yểm trợ. Lần đầu tiên của đời lính, tôi đánh nhau trong thành phố và hủy diệt thành phố. Huế, Huế của tôi vừa tìm được, Huế của Việt Nam luôn cố duy trì để trường cữu đang sụp đổ, đang cháy đỏ tươi. Trước mắt tôi tường vôi, mái ngói bị ném lên tung vỡ. Lửa cháy thành ngọn yêu ma kinh dị. Lửa củi, lửa than nghe ấm, nghe vỗ về. Lửa nhà cháy có tiếng kêu như than, như khóc, như tức tưởi, nhu hú lên vì sợ. Lửa nhà cháy ở thành phố là lửa tai ương, lửa bất hạnh, lửa có mùi… Mùi người chết, mùi của xương, của da, của thịt bị nung nóng thành than, thành một vật chất quái dị, khô đặc, nức nẻ, đụng vào thấy ươn ướt nhầy nhầy… Huế trước mặt tôi sụp đổ từng miếng một, nghe đau xót như tình nhân bị cưỡng hiếp. Tôi đã từng chứng kiến nhiều đám cháy ở Kiến Hòa, Bồng Sơn… Tiêu điều, tan nát! Đúng như vậy, nhưng chưa đến độ thấm đau đến phải bật khóc. Ở Kiến Hòa thì thấy tiếc – phải – chỉ tiếc nuối một phần vật chất bị hủy hoại. Nhưng Huế cháy, gạch bát tràng, ngói âm-dương, tượng Di Lạc, tượng Thích Ca, Kim Cang, Thiện-Ác, lớp rêu trên viên đá, đầu trường thành cây kiểng trồng từ đời Gia Long, Khải Định… Tất cả chúng đều có linh hồn, không chỉ là đất đá, cây thuần túy… Chúng có kỷ niệm trong lòng, chúng là vết tích hoài hoài mà chúng ta luôn nhớ. Đó là cổng thành vua đã đi qua, đó là Phú Văn Lâu nơi xướng danh những người thi đỗ, này cung vua, lầu Hoàng hậu, con đường đi có mái để đưa hậu về cung son. Con người đã đi qua, nhưng dấu vết lịch sử còn đó. Tôi người mới lớn trên quê hương, thấy lạc loài, bây giờ vừa tìm được, mong tay bắt mặt mừng, thì Huế đã cháy, đã đổ. Tôi thấy đau, đau ngẩn ngơ, như thuở bé có món đồ chơi, rồi phải tự tay đập phá. Chiếc cổng thành xây bằng đá tảng đi qua mát lạnh mênh mông, bây giờ đổ xuống thiểu não như một thi thể già nua. Phi cơ xuống ầm ầm, tiếng nổ, đám khói mù mịt… Huế rên lên từng tiếng não nùng, tiếng kêu la gào thét của những mái cung điện, hàng cửa sổ trên lầu Ngọ Môn. Vong linh tiền nhân còn có nơi đây? Không còn ai! Chỉ còn bức tượng đá đăm chiêu nhìn ra một sân chầu bị trốc ngược.
Trong lửa cháy người Huế dẫn nhau chạy loạn, cha cõng con, chồng dìu vợ, con bế cha, mẹ già. Tất cả bình yên đẹp đẽ, đài các của ngày xuân tan thật nhanh trong lửa đạn. Đào thêm một nhát cuốc nữa cho đủ sâu, cô gái tóc xanh hôm qua nay đầy bụi bặm, vành khăn tang quấn vội trên đầu, tay nắm chặt cán cuốc, cuốc những nhát cuốc đầu tiên trong đời để nên huyệt cho người thân. Người chết ở đâu nhiều quá, xác chết của lính, dân hay Việt cộng, chon ở lề đường, sân chùa, sân trường, chôn ở đâu có đất. Chôn ngay chỗ ngã xuống, nằm yên lần cuối. Thôi người chết hãy ngủ yên. Thôi Huế hãy nuốt cơn đau.
Người Huế chết như trò chơi, như nằm ngủ, theo lính chạy về Mang Cá, bị B.40, AK quét ngã, ở khu Gia Hội thì do pháo binh, ở khu Đập đá chết bởi súng cối từ chùa Diệu Đế bắn về… Chết, chết ở đâu cũng có, vì đạn, vì mảnh, vì hơi ép, vì chôn sống. Một ngàn cách chết, đầu đường, góc phố, xác chết nằm cong queo, nằm thẳng cẳng, sấp ngữa, kinh hoàng, uất ức, trăn trối… Làm sao nói cho hết, làm sao nói cho cùng. Hỏi trời, hỏi đất, hỏi Thượng Đế… Tôi muốn hỏi, muốn kêu, muốn hét nhưng hình như mọi phản ứng đã thừa, đều thiếu hụt, không đủ nghĩa. Im lặng. Chỉ có tiếng than im lặng đó, chỉ có nó. Chỉ có nó vang lên, vang lên.
Phi trường Phú Bài, đoàn quân sau mười lăm ngàylửa đỏ đi trong nghẹn ngào xơ xác, không tăng viện được, chúng tôi trả lại Huế cho đơn vị bạn. Đoàn quân im nín, trong mắt mọi người đều sáng lên ánh lửa – Xin cho tôi xa nơi này, nơi địa ngục. Riêng tôi, tôi hứa rằng sẽ trở lại. Trở lại nơi đây, nơi bạn bè tôi đã nằm xuống không quan tài, vùi xuống ở khoảng địa cô quạnh bên cạnh đồn Mang Cá.Tôi sẽ trở lại nơi đây vì tôi bỏ qua hình ảnh những gã trai hai mươi, mười chín, những cô gái muốn làm anh hùng ngã tắt, những trí thức làm dáng một lần vì mặc cảm rồi lao theo quỉ sứ. Những kẻ đó mới hôm qua còn tầm thường, còn đứng trong bóng tối, nay trở thành Uỷ viên, nay làm cách mạng, mang AK, đeo băng đỏ đi xe Honda, Suzuki, ném lựu đạn… Ôi cái ảo tưởng anh hùng sao mà vẫn còn hấp dẫn đến thế! Tôi quên những hình ảnh lố bịch và đáng phẫn nộ đó vì tôi biết rằng ở Phú Cam, người Huế đã chống cự bằng Garant, Carbin M.1 suốt mười mấy ngày dài. Họ đã chiến đấu trong dũng cảm nhất với ý thức rõ ràng về sự chọn lựa cho con người một vị thế.
Đáng lẽ tôi phải viết thêm để nói về trận đánh bi tráng và tuyệt vọng của tiểu đoàn tôi, tiểu đoàn 2 và 7 Nhảy dù trong suốt mười lăm ngày, kể từ ngày mùng một và mùng hai tết… Những trận đánh từ làng Đốc Sơ nơi cầu An Hòa vào đến sân bay Tây lộc. Những đơn vị bạn đã chiến đấu trong đơn độc không yểm trợ để chiếm cho được cổng An Hòa. Tôi phải nói cho rõ, nói cho cùng cái can đảm thần thoại của đại đội 92 với quân số trên bốn mươi người, chỉ hơn một trung đội Mỹ năm người, Thành “Râu”, đại đội trưởng bị thương phải chống gậy chỉ huy chiếm cửa Thượng Tứ, bị kẹt lại suốt hai ngày đói và khát. Tôi phải nói cho hết niềm kinh hoàng tột độ của thằng bạn thân – Lô – đại đội trưởng 74, người cao chỉ đến một thước sáu, lưng mang máy truyền tin, vừa chỉ huy vừa liên lạc, sử dụng luôn khẩu đại liên 60 chận địch cho quân sĩ rút lui trước, bị thương gãy chân kẹt giữa hai lằn đạn trong suốt một buổi chiều. Nhưng khốn nỗi tôi không tham dự trực tiếp trận đánh nên không thể viết trung thực được và điều giả dối ai nỡ đem vào trong văn chương. Nên nhân cảnh loạn ly tôi nói đến con người. Không nhớ có ai đã phán ra câu đại để: “Trong gian nguy mới nhìn rõ mặt người”. Điều này đúng quá, những ngày khói lửa ở Huế, tôi mới có dịp để nhìn thấy người Huế, người của quê hương từ lâu tôi không gặp.
Tôi có một người chú họ, chú Bộ làm Cảnh sát, bị Việt cộng bắt cùng đám người công chức hoặc quân nhân, Việt cộng dẫn họ đi tải đạn và cuối cùng thì bắn chết tập thể. Chú tôi, một người chậm chạp, có thể gọi là lù đù, ngớ ngẩn vì rượu đã làm cho ông suy nhược trí óc lẫn thể xác, thế nhưng khi Việt cộng bắt đi theo vác nặng bao nhiêu ông cũng chịu đựng nổi, mặc dù một chân đã bị gãy từ trước, và đến lúc Việt cộng bắt đầu hành quyết, không biết do một sức mạnh và khôn khéo nào, ông đã trốn thoát được. Về nhà sau năm ngày lẩn trốn, ông vẫn chậm chạp và ngớ ngẩn như thuở nào. Bác Soạn, người có ngôi nhà cạnh nhà bà nội tôi, luôn luôn đứng vào hàng ngũ những người chống đối chính phủ, bác thuộc phe phái thầy ở trên chùa, từng bị Chi bắt đem giam tại trại bài trừ du đãng mấy tháng sau vụ biến cố miền Trung năm 1966. Việt cộng vào thành phố Huế cùng với sự trở về của những thanh niên trên dưới ba mươi, lớp tuổi của những đồng chí của Ngô, Dinh… Những người bạn tôi đã trốn ra khu trong những năm trước, nay trở về với chức ủy viên này nọ. Tôi không hiểu có những gì đã biến đổi những người trẻ tuổi đó, những trí óc trẻ trung vị tha, trí thức ngày nào bây giờ trở nên những tâm hồn cứng rắn, trì trệ, hung tàn và hiếu sát. Có gì đã biến đổi họ để ủy ban nhân dân có đủ quyết định chôn sống từng loạt người sau trường tiểu học Gia Hội? Công chức, thuế vụ, công chánh, cảnh sát… Tội ở đâu? Hay vì đã từng bắt giữ một người đi xe đạp không đèn, người ấy bây giờ làm ở uỷ ban nhân dân?! Hận thù nào để chôn sống một nhân viên công an vì người này đã một lần dọa “bắn vỡ đầu” một người bà con của một ủy viên, thật tình tôi không hiểu động lực căm thù, chính sách khủng bố nào đã chỉ đạo cho những cuộc tàn sát tập thể trên. Người Việt cộng vào thành phố, được đón tiếp bởi những kẻ nằm vùng, chính lớp người này mới thật khó chịu, hống hách, cuồng sát và thâm hiểm một cách đáng sợ. Hình như bao nhiêu mặc cảm yếu đuối, thừa thãi từ bao năm được bù trừ lại bằng vinh quang nhất thời, họ hối hả hưởng cho hết cái uy quyền què cụt trong giây lát. Họ tố người này, bắt người kia, tuyên án giết người thể như một trò đùa. Những tên trẻ tuổi tay mang băng đỏ, lưng đeo AK, lái xe Honda lượn khắp thành phố, kênh kiệu và tàn ác như một loài thú. Một cô gái trong ba ngày tố khổ và tuyên án gần hai mươi người. Nữ sinh viên mắt sáng, mũi cao, đẹp thật tươi, nhưng sao độc ác đến ngần ấy? Khi tiểu đoàn tôi bắt được, cô ả kháng cự lên tiếng thách thức, nhưng khi nòng súng của Sơn Bum dí vào người, cô gái mới tỏ vẻ sợ hãi. Tôi nghĩ rằng giây phút sợ hãi đó là cơn tỉnh giấc của một thời gian mộng du đẫm máu.
Những ngày ở Huế tôi còn được nghe tin Việt cộng bắt Thượng Nghị sĩ Trần Điền và sau này chúng chôn sống ông. Tôi thuộc về hàng hậu bối, xa xứ Huế không biết nhiều về ông, chỉ biết ông qua vóc dáng một trưởng Hướng Đạo. Ông có Đệ Ngũ đẳng Bảo Quốc Huân Chương, khi chính quyền ông Diệm kết án ông về vụ Ba Lòng, ông đưa chiếc huy chương đó để biện minh lòng yêu nước. Thuở ấy Bảo Quốc Huân Chương là một cái gì hiếm có chứ không phải như những anh nhà binh sau này cứ đi lính lâu năm, hội đủ điều kiện thâm niên, một vài cái huy chương văn phòng nhưng tính điểm cao hơn Anh Dũng bội tinh nhành dương liễu, cộng chung tất cả lại đủ để có Bảo Quốc huân chương, ra tòa án với các vụ lẩm cẩm như ăn cắp, thụt két, hiếp dâm, giết người vì ghen hoặc thủ tiêu đàn em vì sợ thằng nhỏ “khui” mình… Thường đem Bảo Quốc huân chương ra chạy tội!? Kết quả vụ án trên ông được giảm khinh. Nhưng điều tôi nhớ về ông nhiều hơn hết là giọng nói đĩnh đạc, hùng hồn, âm thanh cuốn hút người nghe. Lòng trẻ con của tôi thuở trước mở ra nhìn ông như một vị huynh trưởng sáng giá, ông có tên rừng “Gà Hùng Biện” theo luật của Hướng Đạo. Bây giờ nghĩ lại, ông quả là một huynh trưởng sáng giá thật, khi bị bắt, ông thẳng thắn nhận mình là một Thượng Nghị sĩ của chế độ Cộng Hòa, ông vẫn giữ nguyên tinh thần bất khuất của một Tráng Sinh đã lên đường. Con ông là San, khóa sau tôi đi Biệt động quân, tôi nghĩ rằng với uy tín ở miền Trung ông có thể “chạy” cho San về một chỗ ở văn phòng, nhưng ông không làm như vậy, San đã đánh trận đánh đáng tiền nhất của Vùng I Chiến thuật năm 1965 – Trận Ba Gia. Ngày Việt cộng phản công chiếm lại đồi, tiểu đoàn San bị tổn thất nặng, nó thoát chết chạy về Đà Nẵng ngơ ngác như một bóng ma. Có phải thế không San? Mày không biết tao là ai, nhưng tao biết mày là đội trưởng đội Hổ đoàn Nguyễn Trường Tộ, thuở nhỏ tao muốn được hãnh diện của mày – Con của trưởng Điền, “Gà Hùng biện”. Bây giờ ông chết như một người Hướng Đạo sinh trong sạch từ tư tưởng, lời nói… Mày cho tao chia sẻ cùng vinh dự này.
Người Huế thuở xưa đã thực hiện một chiến công không thành nhưng biểu lộ cách can đảm hùng tâm, dùng sức người vây hãm, tấn công vào khu Morin của người Pháp trấn giữ đầy vũ khí. Mùa xuân năm nay cũng vậy, những con người bình thản như dòng sông kia đã chịu đựng nghiệt cảnh bi thảm không biên giới, và họ đã chiến đấu hết sức của một người. Khu Phú Cam, bằng Garant và Carbin M1, thanh niên và lính chuyên môn ở các trại quân cụ, công binh đã chống cự với Việt cộng cho đến ngày cuối cùng. Và tôi nghĩ rằng hình ảnh bi tráng nhất của chiến tranh này là trong buổi Huế điêu tàn người Huế đã hát quốc ca khi lá cờ Vàng dần lên cột cờ loang lỗ dấu đạn… Người Huế đã cất cao giọng hát trong gió lạnh, hòa mưa bay khi nước mắt lăn dài trên gò má. Huế ơi! Quê Hương! Tôi muốn khóc hôm ấy. Tôi muốn khóc biết bao nhiêu…

Tháng 2-1968. Huế Mậu Thân. 

Chiến Ca Mùa Hè

Thơ Phạm Lê Phan

Nhạc Phạm Duy

Post by Sơn râu 9 Mar 2026

Thơ Phạm Lê Phan

Nhạc Phạm Duy

Mẹ theo nước non

À á a a

Theo dân tộc đi tị nạn

Chiều căm gió căm

Á á a a

Nghe giòng Thạch Hãn ngậm hờn

Bờ tre giếng xưa

Á á a a

Quê hương này xin tạ từ

Bỏ trâu bỏ cày Á á a a

Ôi! Mẹ bỏ luôn ruộng vườn!

Hò ơ ơ ớ

Hò ơ ơ ớ…

Cơ nghiệp kia phút chốc tan hoang

Tiển Mẹ đi đạn réo kinh hoàng

Rưng mắt lệ nhìn quê ngụt khói

Về cố đô nặng nề bước mỏi

Lời dặn dò lạc lõng trong sương!

Ở lại nghe con…

Ở lại nghe con…

Sống chết với quê hương…

Chiến Ca Mùa Hè

Thơ Phạm Lê Phan

Post by Sơn râu 9 Mar 2026

Mẹ theo nước non À á a a!

Theo dân tộc đi tị nạn

Chiều căm gió căm À á a a!

Nghe giòng Thạch Hãn ngậm hờn

Bờ tre giếng xưa À á a a!

Quê hương này xin tạ từ

Bỏ trâu bỏ cày Á á a a!

Ôi mẹ bỏ luôn ruộng vườn

Hò ơ ơ ớ! Hò ơ ơ ớ!…

Tháng Ba Gãy Súng

Cao Xuân Huy

Post by Sơn râu 9 Mar 2026

Phần II

Ðến sáng, tức là ngày 20 tháng Ba, tiểu đoàn gọi tôi về để gắn lon. Tôi mượn bộ quần áo “ngựa” của trung sĩ nhất Ðăng, thường vụ đại đội, may đè tên tôi lên bảng tên, rồi đi theo toán lính đi lãnh tiếp tế băng qua làng Ðồng Lâm ra đến quốc lộ. Tôi lội bộ về tiểu đoàn.

Tôi và thiếu úy Ðiểu, phụ tá ban Ba tiểu đoàn được gắn lon cùng một lúc. Thật khôi hài khi Ðại bàng 816, tức Hitler, tức tiểu đoàn trưởng, gắn lon trung úy lên vai Ðiểu, ông khích lệ khuyên nhủ đủ điều, lại còn bắt tay và vỗ vai thân mật nữa. Còn tôi, hình như độc nhất vô nhị trong lịch sử gắn lon của quân đội, ông vừa gắn lon lên vai tôi vừa chửi. Tôi phải đứng nghiêm, tay phải đưa lên trán trong tư thế chào, Hitler vừa gắn lon vào vai tôi vừa nói:

“Ðụ mẹ ông, đồng ý là ông cũng có công nhưng đâu phải công của mình ông. Ông làm cái gì giờ này mới ra tới?”

Tiểu đoàn trưởng đã cấm tất cả các sĩ quan trong tiểu đoàn khi hết phép không được ra trình diện hậu cứ ở Vũng Tàu, vì như vậy là câu thêm giờ ở Sài Gòn. Ông chỉ chấp nhận cho hạ sĩ quan và binh sĩ được câu thêm vài ngày theo kiểu này, còn sĩ quan bắt buộc phải trình diện thẳng Bộ tư lệnh ở Sài Gòn, để ngày hôm trước hết phép, ngày hôm sau đã phải có mặt ở hành quân.

Không ngờ bị hài tội trong lúc này, bí quá tôi nói đại:

“Tôi ra hỏi vợ ở Bà Rịa, thiếu tá.”

“Vợ con cái con cặc! Ðụ mẹ ông!”

Bịa chuyện lấy vợ, tôi nhớ đến lần tôi cũng bịa chuyện lấy vợ để kiếm thêm một tuần ở Sài Gòn. Năm 72, tôi bị thương được đưa về điều trị tại bệnh viện Lê Hữu Sanh ở Thủ Ðức. Vì thương binh quá nhiều nên tôi chỉ được nằm ít ngày rồi cho về nhà tự chữa lấy, mỗi tuần lên tái khám một lần, gọi là xuất viện tái khám. Lần tái khám thứ ba, tuy tôi đã có thể đi lại được nhưng vẫn còn phải chống nạng. Bác sĩ Hạnh -Nguyễn Ðỗ Hạnh- y sĩ điều trị, đã bắt tôi xuất viện ra hành quân; hình như là ở đâu đó người ta muốn giảm tỉ lệ sĩ quan bị thương trên giấy tờ sổ sách. Muốn kiếm thêm một tuần phè ở Sài Gòn và cũng để đi đứng được vững chãi hơn trước khi ra hành quân, tôi bèn xuống nước:

“Bác sĩ cho tôi thêm một tuần nữa, thứ tư này tôi lấy vợ. Mọi chuyện đã chuẩn bị xong xuôi, chỉ còn đợi đến ngày làm đám cưới.”

Bác sĩ Hạnh là một người rất đẹp trai và có giọng nói rất êm, rất nhẹ đã phán một câu nghe rất đã lỗ nhĩ.

“Vác ba lô ra Quảng Trị mà cưới!”

Lần này thì tôi lại bịa chuyện lấy vợ, nhưng tôi ở thế thượng phong tức là theo đúng kỷ luật nhà binh, thi hành trước khiếu nại sau. Tôi đã thi hành, bây giờ đến lượt tiểu đoàn trưởng đang… khiếu nại. Ở cái binh chủng “sống khùng sống dại chẳng sống dai” này, khi các quan lớn đã “khiếu nại” thì cỡ các bà chợ Trần Quốc Toản hay chợ Cầu Ông Lãnh còn phải đưa đi “hấp” thêm nhiều khóa may ra mới theo kịp. Tôi đã từng được ăn hàng trăm nghìn “của ngon vật lạ” rồi nên tôi đứng nghiêm để thưởng thức mấy “món xoàng” của Hitler thì có nhằm nhò gì. Ăn mà không có nhậu thì còn gì giá trị của món ăn nên khi đứng nghiêm để “ăn”, đầu óc tôi lại đang phân vân không biết chuyến tiếp tế này hậu trạm có mang rượu thuốc Thiên Tường cho tôi theo lời dặn hay lại cứ mang rượu Vạn Ích, thằng Sáng chết rồi mà thằng Huy mập lại nằm xa đại đội, lấy ai mà nhậu đây. Kỳ lương này không biết có được thảnh thơi để làm một bữa rửa lon túy lúy không.

Xong vụ gắn lon lạ đời nhất quân đội, tôi đi theo xe tiếp tế về đại đội.

Rượu thịt ê hề nhưng chưa kịp lai rai ba sợi, tôi đã nhận lệnh mang hai trung đội tăng phái cho lữ đoàn 1 Thiết Kỵ.

Chúng tôi ngồi dọc quốc lộ 1 đợi xe của Thiết Giáp đến đón. Gặp Ó Lương đi xe Jeep tới -đại tá Lương lữ đoàn trưởng 147- Ó Lương cho biết là các đơn vị nằm phía Bắc đang bỏ chạy, chúng tôi sẽ không được một sự yểm trợ nào hết của đơn vị gốc, rán mà tự lo liệu lấy. Tôi hiểu là trong hoàn cảnh này khó có hy vọng là chúng tôi sẽ trở về. Cuộc đời nhà binh của những thằng “lính rằn” chúng tôi thường xuyên “một đi không trở lại” nên chuyến đi này cũng chẳng có gì đáng phải bận tâm. Nhưng dù sao tôi vẫn không thể nói những điều này cho lính biết.

Tôi không nói cho lính biết nhưng không phải là họ không biết. Chuyến đi này thế nào cũng sẽ rất thê thảm vì một chuyến đi bình thường của một nửa đại đội đâu cần đến đại tá lữ đoàn trưởng xuống dặn dò, cộng thêm là chúng tôi thấy lác đác đã có những người lính Bộ Binh chạy về. Một đứa nói với vẻ bất mãn:

“Ðụ mẹ, chỗ nào người ta chịu không nổi thì bắt mình tới hứng. Còn nếu mình chịu không nổi thì người ta thây kệ mẹ mình.”

Một đứa khác với giọng giễu cợt:

“Làm trai đâu sợ gì sương gió, chỉ sợ đời không có gió sương thôi em!”

Trung sĩ Khang quay sang tôi:

“Ông thầy, thằng này chưa thấy quan tài chưa đổ lệ.”

Tôi chuyển hướng câu chuyện, chỉ một người lính:

“Thằng này ngon này, không sợ ai hết, anh hùng mà.”

“Ủa, sao vậy ông thầy?”

“Tụi mày biết nó xâm cái gì trên ngực không?”

Ðám lính nhao nhao lên:

“Cái gì ông thầy?”

“Cái đầu lâu…”

“Cái hòm…”

“Không phải, tầm bậy hết!”

Tôi cười cười đọc:

“Trên trời có một vì sao.

Dưới đất có một mình tao anh hùng”.

Thằng bé có xâm hàng chữ trên ngực cười bẽn lẽn:

“Tại mấy thằng bạn đè em ra xâm hồi học trong quân trường.”

Hai chiếc GMC của Thiết Giáp chở chúng tôi ghé vào căn cứ Hòa Mỹ một lúc rồi trở ra đi lên phía bắc, dọc đường tôi thấy các đơn vị Bộ Binh đang lếch thếch chạy về phía nam. Mẹ kiếp! Gà hơn nhau tiếng gáy, mình đã lỡ gáy to rồi! Người ta đông thế kia còn phải bỏ chạy, chúng tôi ít người như thế này mà phải húc đầu vào.

Trời chập choạng tối, chúng tôi đến Bộ chỉ huy lữ đoàn 1 Thiết Kỵ – tôi quên mất tên căn cứ này – lính ở nguyên trên xe đậu gần cổng, tôi vào phòng hành quân để nhận lệnh. Phòng hành quân là một cái hầm khá rộng, bày biện rất ngon lành. Người sĩ quan trực hành quân là một ông thiếu tá. Ông ta không biết tí gì về chuyện chúng tôi tăng phái đến nên bảo tôi ngồi đợi trưởng phòng. Tôi đề nghị:

“Thiếu tá giúp cho tôi gặp trưởng phòng ngay bây giờ, trời tối rồi mà còn phải đợi, tôi sợ trễ.”

Ông ta quay điện thoại, chừng năm phút sau trưởng phòng đến.Trưởng phòng cũng là thiếu tá. Câu đầu tiên của ông trưởng phòng mà tôi nghe được khi ông ta bước vào.

“Ðụ mẹ, anh để cho tôi ăn một miếng chứ, cái con cặc gì cũng kêu tôi, cái thứ anh đeo thiếu tá làm uổng lon nhà binh.”

Người sĩ quan trực cúi đầu nhìn xuống đất, không nói một tiếng. Tôi đứng đấy ngỡ ngàng. Thiếu tá trưởng phòng quay sang hỏi tôi:

“Bộ anh không đợi tôi được sao?”

“Không, thiếu tá. Thiếu tá cho tôi biết nhiệm vụ.”

Ông ta bảo tôi cùng đi đến chỗ treo bản đồ hành quân, không hiểu nghĩ sao, ông ta quay lại hỏi tôi:

“Anh có biết bãi đất trống ở đây lên gần Mỹ Chánh nằm phía bên trái không?”

“Tôi biết, cái chợ, phía bên kia là làng Chánh Môn.”

“Rồi, anh ra đó nằm.”

“Thiếu tá cho tôi biết tình hình, nhiệm vụ và bản ám danh đàm thoại.”

“Anh cứ ra đó đi, tôi cho người mang ra sau.”

“Tôi không thể ra đó khi tôi chưa nắm được tình hình và chưa biết được nhiệm vụ.”

“Không có mẹ gì đâu, anh cứ ra nằm đêm nay đi.”

Tôi quay ra, bực mình không thèm chào, mẹ kiếp, quan liêu, hống hách và cẩu thả. Không lẽ ông ta giận tôi vì đã phá ngang bữa ăn của ông hay ông vội vàng với tôi để tiếp tục bữa ăn. Chắc chúng tôi còn phải rất chật vật vì cái kiểu cách chỉ huy của bọn “con cua” này.

Trời tối hẳn khi chúng tôi đến nơi. Dân làng đã bỏ đi hết. Một vài con chó đang xục xạo quanh những cái xạp chợ bỏ chạy khi chúng tôi đến. Thế là chúng tôi sẽ có những bữa nhậu “đã đời” với mấy con mồi này. Tôi cho lính lục soát thật kỹ trước khi đóng quân quanh chợ và hai bên quốc lộ.

Tôi không biết tí ti gì về tình hình ta và địch ở đây nên suy nghĩ rất lâu về vị trí phải đặt các toán tiền đồn. Cuối cùng, tôi đặt một toán ở tây bắc và một toán ở phía đông.

Lữ đoàn 1 Thiết Kỵ báo cho tôi biết là tôi được đặt dưới sự điều động của chi đoàn 1. Tôi lại xin bản ngụy nhưng vẫn được trả lời là sẽ cho người mang ra sau. Không lẽ bọn “con cua” này không có bản ám danh đàm thoại!

Chi đoàn 1 gọi tôi:

“Anh cho tôi biết vị trí chính xác của anh và mấy đứa con.”

“Tôi không thể báo cáo cho đến khi tôi có bản ngụy. Anh đã biết đại khái chỗ tôi nằm chứ?”

“Biết.”

“Anh cho tôi biết tình hình quanh tôi.”

“Phía bắc anh không có ai, phía đông cũng vậy, phía tây hoặc nam gì đó của anh là tôi.”

Tôi đã đặt tiền đồn theo đúng tình hình.

Tôi báo cáo tình hình và vị trí đóng quân về tiểu đoàn. Tôi cũng than phiền về lề lối làm việc của mấy ông “bố ghẻ” này. Tiểu đoàn cho tôi biết nếu có đụng độ, hãy để một máy liên lạc thường xuyên với tiểu đoàn.

Chi đoàn 1 gọi lại:

“Anh cho tôi biết vị trí chính xác của anh để tôi còn báo cáo.”

“Không thể được vì tôi không có bản ngụy. Thôi được, anh biết số nhà riêng của tôi không?”

“Biết.”

“Rồi, lấy cái đó làm alpha. Tôi ở alpha phải 27 lên 16.”

“Tôi không tìm ra.”

“Anh không tìm ra cái gì?”

“Alpha.”

“Hiện giờ tôi đang gặp anh tại số nhà của anh. Anh biết rõ số nhà của tôi không?”

“Biết.”

“Lấy số đó làm alpha. Hay thế này vậy, lấy số nhà anh làm alpha. Anh tìm ra alpha chứ?”

“Tôi chịu, không thể tìm alpha được.”

“Ðành vậy, tôi không thể cho anh biết vị trí của tôi được.”

Tôi bỏ máy. Một lúc sau chi đoàn 1 gọi lại:

“Thôi thế này, anh lật bản đồ ra.”

“Rồi.”

“Anh thấy chữ I của chữ HẢI không?”

“Rồi.”

“Lấy đó làm chuẩn, anh cho tôi biết vị trí của anh.”

“Ðâu được anh bạn, anh bạn không sợ Việt Cộng nó cười cho à? Hình như anh không phải là thẩm quyền. Anh cho tôi gặp thẩm quyền của anh đi.”

“Tôi là thẩm quyền đây.”

“Ồ, vậy thì xin lỗi thẩm quyền. Thẩm quyền cứ báo cáo đại một điểm nào đó trong cái biết đại khái về tôi, chứ tôi không thể cho thẩm quyền biết chính xác theo kiểu đề nghị của thẩm quyền được.”

Tôi không hiểu ông chi đoàn trưởng này không có kinh nghiệm hay tại bên Thiết Giáp ngay tự bản thân họ đã ồn ào khi đóng quân, máy nổ ầm ầm nên họ không cần giữ bí mật vị trí đóng quân, hay tự họ cảm thấy an toàn trong mấy cái khối sắt nên không sợ bị pháo kích.

Nhưng dù không sợ bị pháo kích thì vẫn phải đề phòng đặc công chớ.

Sáng hôm sau, 21 tháng Ba, khi tôi và mấy tên lính đang làm vơi dần chai nước biển đựng đầy rượu thuốc Thiên Tường cùng đĩa thịt chó luộc, có một đơn vị Ðịa Phương Quân kéo từ phía bắc về đến chỗ tôi một cách hỗn độn. Ðơn vị kéo về này là một đơn vị lớn nên tôi phải báo cáo cho Bộ chỉ huy lữ đoàn 1 Thiết Kỵ, tôi nghe chính giọng của đại tá lữ đoàn trưởng ra lệnh cho tôi:

“Anh chận hết tụi nó lại, đuổi ngược trở lên. Thằng nào vượt qua chỗ anh, bắn bỏ hết.”

Tôi nghĩ bụng, chỉ cần họ đái chúng tôi cũng đủ chết đuối rồi, ở đó mà bắn với bỏ. Nghĩ vậy nhưng tôi vẫn cho cả hai trung đội dàn ngang quốc lộ không cho họ đi sâu hơn nữa về phía nam. Có một đại úy trong toán này đến gặp tôi, tự giới thiệu:

“Tôi là trưởng ban Ba liên đoàn 913 Ðịa Phương Quân. Một chút nữa, trung tá liên đoàn trưởng tôi sẽ tới gặp trung úy. Hiện giờ nhờ trung úy giữ đám quân này ở đây hộ.”

“Ngồi làm một ly chơi đợi trung tá, đại úy. Lúc này rượu thuốc với thịt cầy đâu phải dễ kiếm, đại úy.”

Ông ta ngần ngừ rồi từ chối quay ra.

Tôi ngồi húp bát cháo chó, “ngon như cháo chó”, tôi chẳng thấy bát cháo chó này ngon tí nào hết, mặc dầu được nấu bởi một tay làm thịt chó được coi là “điêu luyện” gốc Hố Nai, không hiểu tại không đủ gia vị hay tại những điều xảy ra từ chiều hôm qua đến giờ.

Tôi đang gặm miếng xương chó thì có xe Jeep gắn hai cần câu chạy tới dừng ngay cạnh đường. Ngồi ghế trưởng xa là một ông to béo, bộ quân phục ủi hồ còn thẳng nếp, mắt đeo kính đen, tay cầm can, chân phải gác lên cửa xe để lộ chiếc giày bóng loáng, không hiểu ông ta giữ như thế nào mà chiếc giày không dính tí bụi, ít ra cũng phải cả chục con “mồi” đã bị ngã trên chiếc giày này. Biết ngay là trung tá liên đoàn trưởng liên đoàn 913 Ðịa Phương Quân nhưng tôi không buồn đứng dậy. Viên đại úy lúc này ngồi ở băng sau nhảy xuống đi lại phía tôi.

Ðịnh bụng là tiếp tục ngồi gặm xương chó chứ tôi không đứng dậy, nhưng tôi chợt có một ý nghĩ hơi hèn là lính tụi tôi đụng trận như cơm bữa, chết không nói làm gì, ngộ nhỡ bị thương, ra khỏi binh chủng chẳng may lại về đơn vị của ông trung tá này làm xếp thì hơi phiền, nên tôi vứt miếng xương chó, vừa chùi tay vào quần vừa đứng dậy đi ra phía xe Jeep. Ông trung tá to béo gỡ kính, bỏ can bước xuống xe.

Tôi chào lấy lệ.

“Trung úy chỉ huy ở đây?”

“Vâng, tôi.”

“Trung úy không cho tụi này xuống sâu hơn nữa, thằng nào cứng đầu trung úy bắn hộ tôi.”

“Tôi đã nhận lệnh này của đại tá Hường.”

“Vậy bây giờ trung úy tập trung chúng lại tại bãi đất này cho tôi.”

Nghe thật ứa gan! Sự lo xa mơ hồ một ngày nào đó là thuộc cấp của ông trung tá to béo này không còn nữa, mà chỉ còn trong tôi sự thương hại và một chút khinh miệt.

“Không, trung tá, họ là lính của trung tá mà. Tôi nhận lệnh của đại tá Hường là chận họ lại. Tôi chỉ là trung úy và là đại đội phó, tôi không có khả năng tập trung cả một liên đoàn của trung tá.”

“Thôi được, tôi về gặp đại tá. Ðứa nào không nghe lệnh anh cứ bắn cho tôi. Tôi sẽ nằm ở cái lô cốt dưới kia.” -Vừa nói ông vừa chỉ về cái lô cốt nằm xa xa phía nam.

Tôi chán nản quay vào, báo cáo chuyện vừa xảy ra cho tiểu đoàn.

Liên đoàn 913 Ðịa Phương Quân này nằm ở bờ bắc sông Mỹ Chánh, thuộc tiểu khu Quảng Trị, không hiểu có đánh đấm gì không mà họ lại chạy như thế này. Ðơn vị vẫn còn nguyên vẹn mà đơn vị trưởng đã không còn chỉ huy được, phải đi nhờ đến tôi thì còn trời đất chó gì nữa. Ðịa Phương Quân Quảng Trị suốt năm 72 đã sát cánh với chúng tôi, vì rất nhiều lý do họ không thể có khả năng tác chiến bằng chúng tôi, nhưng họ cũng đâu phải là những tay “vừa” để mà chưa đánh đã chạy, để mà đã mất chỉ huy khi đơn vị vẫn còn nguyên vẹn.

Lữ đoàn 1 Thiết Kỵ ra lệnh tôi tập trung liên đoàn Ðịa Phương Quân và bắt họ di chuyển về hướng tây. Tôi làm xong việc này không khó nhưng chán nản vô cùng. Một ông thiếu úy trẻ hông đeo Colt, tay cầm bản đồ, bên cạnh là hai thằng máy trông oai phong lẫm lẫm tâm sự với tôi.

“Nếu không gặp mấy anh chúng tôi còn chạy nữa. Bọn tôi dừng lại không phải vì lính của anh dàn hàng ngang ở dưới kia đâu. Anh thấy không, bọn tôi dừng lại trước khi anh cho lính ra chận nút mà. Tôi biết chắc chắn trung úy không ra lệnh bắn nếu bọn tôi cứ tiếp tục chạy, phải không?”

Tôi nghĩ bụng, tay này cũng là một tay “xịn” đây. Anh ta nói tiếp:

“Từ khi Thủy Quân Lục Chiến rút khỏi Quảng Trị, tụi tôi có cảm tưởng mình bị bỏ rơi. Dân bỏ đi theo các anh, các cơ quan hành chánh, tiểu khu, chi khu cũng bỏ đi hết, bọn tôi ở lại để tự sát à? Tôi là dân Sài Gòn thấy dân chúng bỏ đi còn sốt ruột huống gì lính tráng, tụi nó là dân địa phương, gia đình vợ con bỏ chạy, không đào ngũ là may rồi, còn nói gì đến đánh đấm.”

“Tại sao gặp tụi tôi, mấy anh không chạy nữa?”

“Tụi tôi nghĩ Thủy Quân Lục Chiến đã về hết Ðà Nẵng rồi, như vậy tức là bỏ Quảng Trị, bỏ Huế, nên chúng tôi chạy. Bây giờ thấy mấy anh còn đây, tức là vùng này không bị bỏ, mà đã không bị bỏ rơi thì chúng tôi đâu có sợ.”

Sau khi liên đoàn 913 di chuyển hết vào phía núi, tôi nhận lệnh tiểu đoàn lên quan sát Công Binh giựt cầu Mỹ Chánh. Cầu xe lửa đã không sử dụng được từ lâu, cầu đường bộ này cũng đã hỏng từ trận năm 72, nhưng sau đó đã được sửa chữa để sử dụng. Tôi báo cáo chính xác những điều tôi quan sát được.

Cầu bị bung một vài ở giữa, xe cộ không lưu thông được nhưng người đi bộ vẫn có thể qua lại tuy hơi khó.

Lữ đoàn 1 Thiết Kỵ ra lệnh cho tôi đưa một trung đội lên nằm chận phía nam cầu cùng với hai chiếc M-48, trung đội còn lại vào sâu trong núi đến nằm chung với chi đoàn 1.

Gặp đại úy chi đoàn trưởng, người thẩm quyền đã yêu cầu tôi cho vị trí chính xác tối hôm qua. Bây giờ tôi mới hiểu lý do sự bết bát của ông ta. Ông tốt nghiệp khóa 2 Chiến Tranh Chính Trị Ðà Lạt. Ðang từ một chức vụ chuyên môn là chiến tranh chính trị của Thiết Giáp, ông đã này nọ để được ra chỉ huy một chi đoàn. Hết ý kiến!

Buổi tối, chúng tôi theo chi đoàn 1 đến vị trí khác đóng quân đêm. Tôi vừa đặt xong hai chốt tiền đồn thì nhận được lệnh di chuyển. Lý do di chuyển là liên đoàn 913 Ðịa Phương Quân cảm thấy “lạnh gáy” khi chúng tôi dời đi chỗ khác nên đã báo cáo ẩu lên lữ đoàn 1 Thiết Kỵ là họ nghe thấy tiếng di chuyển của xe xích sắt ở phía trong núi, yêu cầu được chúng tôi nằm chận đầu.

Trời đã tối, hai cái chốt của tôi đã gài xong mìn và lựu đạn, bây giờ phải gỡ hết đâu phải là chuyện dễ, sau đó đến vị trí mới lại phải gài lại. Gài hay gỡ mìn tự động, lựu đạn là một chuyện rất nguy hiểm, ban ngày còn có người chết, huống hồ là ban đêm. Tôi quyết định không gỡ và khi đến đóng chốt ở vị trí mới cũng không gài, bù lại, lính phải gác theo kiểu đang đụng trận, nghĩa là cứ hai người một vọng gác, người thức người ngủ thay phiên nhau.

Ngày 22 tháng Ba, lãnh lương. Trung đội 2 của Huy mập lãnh lương xong, tôi hướng dẫn ban quân lương lên cầu Mỹ Chánh phát cho trung đội 1. Nhà cửa khu đầu nam cầu Mỹ Chánh đã tanh banh hết, không còn dấu vết đang phục hồi sau ngày ngưng bắn, rất ít căn nhà còn nguyên vẹn. Lại mất rồi cái chợ Mỹ Chánh, lại mất rồi những tiệm ăn quán nhậu.

Pháo binh vẫn bắn đều từ phía sau qua bờ bắc. Tại đây cũng vẫn ăn pháo một cách rất “vu vơ” từ bờ bắc bắn qua không trúng đâu vào đâu cả nhưng vẫn phải đề phòng, biết đâu đạn “lạc” trúng mình. Với kinh nghiệm nhiều năm trong nghề ăn 130 ly, hễ Việt Cộng pháo mình thường thì trúng chỗ khác, nhưng nếu nó nhắm bắn vào chỗ khác thì nên coi chừng, rất dễ “lạc” vào chỗ mình vài quả như chơi. Y hệt như mấy ông cảnh sát và nhân dân tự vệ ở thành phố, nếu nhắm thẳng mình mà bắn thì bảo đảm trăm phần trăm là an toàn, vì luôn luôn trúng người khác, còn nếu mấy ông ấy mà nhắm người khác hoặc bắn chỉ thiên thì coi chừng, trúng mình là cái chắc!

Trong khi trung đội 1 lãnh lương, tôi ra đầu cầu quan sát qua phía bắc, thấy Việt Cộng xuất hiện lẻ tẻ trên đường lộ, tôi cho bắn, vì chúng thập thò nên khó biết được là bắn có trúng không. Có tiếng loa vọng sang từ bờ bắc:

“Ðừng bắn nữa, vài hôm nữa Huế cũng còn không giữ nổi nói gì đến Mỹ Chánh mà bắn cho mệt.”

Mẹ kiếp, bọn này lúc nào cũng một tấc đến trời, nhưng lần này tôi nghĩ có lẽ chúng nói thật, vì nhớ lại lời anh Phát làm ở Hạ Viện là hoặc cắt đất ở An Lỗ, hoặc ở Lăng Cô; nếu cắt đất ở Lăng Cô thì Huế mất là “cẳng” rồi. Hơn nữa, tôi nghe trung sĩ nhất Ðăng, thường vụ đại đội nói: “Em nghe BBC nói 12 giờ trưa ngày 25 này là bàn giao Huế”. BBC không từng là đài phát thanh đáng tin cậy nhất từ xưa đến giờ hay sao?

Nhưng mà, mẹ kiếp, như vậy thì nhục nhã quá, chúng tôi đánh nhau với Việt Cộng như người lớn đánh với con nít, dĩ nhiên là cũng có chết chóc, nhưng vừa đánh vừa đùa chúng tôi vẫn chiếm gọn được bất cứ một mục tiêu nào được chỉ định. Khốn nỗi đã quá nhiều lần chưa đánh mà chỉ toàn nhận lệnh rút, cứ rút loạn xà ngầu đâm ra hỗn loạn, đâm ra mất chỉ huy. Lính đã mất chỉ huy sẵn súng trong tay càng gây thêm hỗn loạn.

Việt Cộng đã hết thập thò và tôi cũng hết hứng chơi trò tập bắn. Tôi về chỗ PC trung đội 1 viết vắn tắt mấy chữ nhờ ban quân lương mang về Sài Gòn đưa cho mẹ tôi: “Người ta đánh nhau nhưng ở tận mãi đâu, chỗ con đang ở mang tiếng là khủng khiếp nhưng thực sự vẫn còn yên. Ở nhà yên tâm về con”.

Một ngày trôi qua rất thoải mái với thêm một chai rượu thuốc mà hậu trạm ở Huế gửi ban quân lương mang ra cho tôi.

Ngày 23 tháng Ba, tiểu đoàn cho biết là tôi hết nhiệm vụ tăng phái. Chúng tôi trở về đại đội nhưng không có xe đến đón, có nghĩa là chúng tôi phải cuốc bộ. Dĩ nhiên khi người ta cần mình thì bao nhiêu phương tiện di chuyển mà chẳng có, đến khi không còn cần đến mình nữa thì đừng có hòng. Tôi hiểu thân phận mình như vậy nên tuy hơi ngán đoạn đường quá xa, nhưng bù lại, trong suốt thời gian tăng phái, chúng tôi thực sự đã không phải làm một việc gì đáng gọi là việc. Tôi chỉ tức một điều là Thiết Giáp không có xe đưa trả chúng tôi về đơn vị gốc trong khi chi đoàn 1 lại có xe đi Huế mua mía về nhai với nhau.

Ðang tập trung con cái ra quốc lộ 1, chỗ làng Chánh Môn, thì Ðiểu, phụ tá ban Ba tiểu đoàn gọi máy cho biết là đợi tại chỗ, chính Ðiểu sẽ hướng dẫn xe lên đón. Gặp Ðiểu và hai chiếc GMC không phải là xe và tài xế của tiểu đoàn, khi xe chạy tôi hỏi Ðiểu:

“Mấy cái xe này ở đâu ra vậy?”

“Tôi cũng không biết là của đơn vị nào, thấy xe không chạy ngang qua tiểu đoàn, tôi chận lại bắt đi đón mấy ông.”

Cám ơn sự cà ngơ của mấy cái xe này.

Ði ngang qua Bộ chỉ huy của lữ đoàn 1 Thiết Kỵ, nơi này không còn là một căn cứ quân sự nữa vì đã vắng tanh vắng ngắt, tôi chỉ còn thấy mấy đám khói bốc lên, khói của những đám lửa phá hủy hồ sơ và những thứ không mang theo được. Thảo nào bọn tôi được trả về đơn vị gốc, vì còn ai nữa đâu để mà sử dụng bọn tôi. Tôi sực nhớ là liên đoàn 913 Ðịa Phương Quân cũng biến đâu mất tự bao giờ rồi, chỉ còn lại chúng tôi và Chi đoàn 1 Thiết Kỵ. Chúng tôi đi, không hiểu chi đoàn của ông đại úy Chiến Tranh Chính Trị làm Chi đoàn trưởng bao giờ thì rút, hay là các ông xếp lờ đi để họ nằm chận hậu vô thời hạn.

Ðiểu cho hay thiếu tá Thành đã làm tiểu đoàn trưởng, thiếu tá Toàn tức Hitler và đại úy Phó đã đi Ðà Nẵng để qua tiểu đoàn 18.

Tôi nhận lệnh vào căn cứ Hòa Mỹ. Căn cứ này rộng mênh mông, ngày trước là doanh trại của Dù và Thiết Giáp, bây giờ trở thành Bộ chỉ huy của tôi, một thằng trung úy và hai trung đội. Tôi không biết đường xá và ngõ ngách của căn cứ mặc dầu trước đây đại đội tôi đã có lần tăng phái cho Thiết Giáp nằm trong căn cứ này cả tháng. Tôi chọn đại một chỗ đóng quân và tổ chức phòng thủ đêm, không phải là phòng thủ căn cứ mà là phòng thủ trong căn cứ, vì không còn ai trong căn cứ Hòa Mỹ này ngoài chúng tôi.

Ðêm có trăng, tuy không sáng nhưng cũng đủ hữu tình để chúng tôi nhâm nhi cho hết ít rượu còn lại. Rải tuyến xong, bữa nhậu nhà binh vừa được bày biện, chưa kịp lai rai, tôi đã nhận lệnh của tiểu đoàn đưa một trung đội tăng phái cho tiểu đoàn 5 đang đụng ở sông Bồ, phía tây nam cầu An Lỗ. Trung đội 1 đã nằm giữ cầu Mỹ Chánh một mình, bây giờ đến lượt trung đội 2 của Huy mập đi. Thằng nào đi cứ việc đi, thằng nào còn lại cứ việc nhậu.

Ðang ăn nhậu nửa chừng, tôi lại nhận lệnh. Lần này chúng tôi đi nốt.

Vượt qua hàng rào phòng thủ của căn cứ, nơi còn sót lại rất nhiều mìn bẫy, nhưng may mắn chúng tôi qua an toàn bằng đường mòn mà lúc trước những tên lính “dù” đi chơi khi căn cứ còn đóng quân. Băng qua thửa ruộng nhỏ, đi vòng theo bìa làng Ðồng Lâm, vào sâu trong núi, chúng tôi có nhiệm vụ làm gạch nối cho đồi 51 và quốc lộ 1. Quá nửa khuya chúng tôi đến được vị trí ấn định, bố trí sơ sơ để nghỉ ngơi, vì tôi đoán chắc chúng tôi còn phải di chuyển trong đêm.

Các tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân của liên đoàn 14 đáng lý phải nằm bắt tay hàng ngang với chúng tôi để trải dài tuyến phòng thủ bỗng dưng biến mất, chỉ còn trơ ra mấy đại đội của tiểu đoàn tôi nằm lẻ loi trên vài cái đỉnh đồi.

Khoảng 4 giờ sáng ngày 24 tháng Ba, đại đội tôi nhận nhiệm vụ làm gạch nối ở làng Ðồng Lâm để yểm trợ cho đại đội 1 và đại đội 2 rút ra từ phía núi. Trời sáng rõ khi các đại đội 1 và 2 ra đến quốc lộ. Ðại đội 1 nằm lại để đại đội tôi rút. Dân làng Ðồng Lâm đứng nhìn chúng tôi rút quân, thật khó để tôi có thể phân biệt được ánh mắt của họ căm thù hay thích thú. Ðại đội tôi về đến đồi Chẻ -cây số 23- nằm lại khi đại đội 1 rút qua mặt chúng tôi. Có vài tên du kích từ trong làng ra bám chúng tôi từ xa xa. Việt Cộng pháo 130 ly ra quốc lộ như mưa để chận đường rút của chúng tôi nhưng không chính xác nên không có thiệt hại nào.

Ðang di chuyển chúng tôi phải ngừng lại nhường một cánh quân Ðịa Phương Quân đang kéo từ hướng đông về quốc lộ. Có hai lý do, thứ nhất, chúng tôi là đơn vị chận hậu nên phải đi sau cùng, thứ hai chúng tôi không muốn bị lộn xộn mất chỉ huy như kinh nghiệm 72, rất dễ bị trà trộn.

Buổi trưa đại đội tôi phối hợp với một đại đội Biệt Ðộng Quân -không hiểu từ đâu hiện ra- rải quân nằm ở bờ bắc sông An Lỗ, trong khi tất cả tiểu đoàn tôi nằm ở bờ nam. Nhưng rồi khoảng 2 giờ trưa, đại đội Biệt Ðộng Quân lại biến mất. Họ không báo cho chúng tôi biết và họ cũng không đi qua cầu An Lỗ. Tôi không đoán nổi là họ đi lối nào và lúc nào. Tôi báo cáo về tiểu đoàn. Chỉ còn đại đội tôi nằm ở bờ bắc cầu An Lỗ. Lúc 4 giờ chiều tôi nhận lệnh rút về phía nam cầu. Chúng tôi về nằm dọc bờ sông ngay chân cầu.

Dân chúng ở đây không chạy hết như tôi nghĩ. Ngay trong khu vực đóng quân của tôi có một ngôi chùa đang tấp nập dân chúng đi lễ. Tôi không biết là ngày lễ gì nhưng quang cảnh quanh ngôi chùa rất thanh bình. Tôi tự cảm thấy thừa thãi khi xuất hiện tại đây với đầy đủ vũ khí, trang bị của một thằng lính ngoài mặt trận. Hình như người dân ở bờ nam cầu An Lỗ không biết hay không cần biết đến những chuyện đang xảy ra sát cạnh họ, ảnh hưởng trực tiếp và rất lớn đến cuộc sống của họ. Tôi thực không thể hiểu vì lẽ gì và tại sao người dân ở đây lại có thể bình thản đến như vậy.

Súng vẫn nổ liên hồi ở sông Bồ nhưng tôi đã mất liên lạc với trung đội 2 của Huy mập từ đêm hôm qua, khi chúng tôi rời bỏ căn cứ Hòa Mỹ, không hiểu bọn nó giờ này ra sao.

Tôi lại nhận lệnh ra quan sát và báo cáo về chuyện Công Binh phá cầu An Lỗ. Một người lính gác nói với tôi.

“Vừa có một chiếc Jeep chạy qua cầu, cũng có một bà già đi qua bên kia, không hiểu họ có về kịp không.”

Tôi chỉ có nhiệm vụ quan sát và báo cáo chứ tôi đâu có chỉ huy toán phá cầu, nên tôi đâu có quyền hoãn lại để đợi họ trở lại. Tôi nói:

“Họ không về kịp là tại cái số của họ phải ở lại với Việt Cộng. Tao đâu có quyền hoãn chuyện phá cầu.”

Kết quả phá cầu không được như ý, chỉ có xe là không lưu thông được, còn người đi bộ vẫn qua lại thoải mái. Không hiểu toán Công Binh này thực sự không muốn phá cầu hay tại họ không đủ khả năng. Tôi báo cáo kết quả này lên tiểu đoàn và xin phá thêm một lần nữa. Tiểu đoàn trả lời:

“Toán công binh không thuộc Thủy Quân Lục Chiến nên không thể ra lịnh trực tiếp cho họ được. Phải xin lên trên, nhưng hiện giờ số thuốc nổ của họ cũng đã hết, nếu xin được chắc cũng không kịp. Muộn rồi.”

Tôi không hiểu ý nghĩa của tiếng muộn rồi nên kỳ kèo thêm:

“Ngày hôm nay không kịp thì ngày mai, chứ cái cầu như vậy thì coi như đâu đã phá.”

“Thôi được, để tôi xin, nhưng chắc chắn với anh là không kịp đâu. Vô ích!”

Không hiểu tiểu đoàn xin thật hay chỉ hứa với tôi để tôi khỏi kỳ kèo.

Khoảng 6 giờ chiều Huy mập gọi:

“520 – 272.”

“Nói, tại sao giờ này ông mới chịu lên “mai”?”

“Cái “mai” của tôi banh rồi 520. Tôi phải mượn của bọn “con cua”.”

“Cho tôi biết tình trạng của ông ra sao. Khỏi ngụy.”

“Tụi tôi banh hết rồi, còn có mấy mống thôi, lại sắp phải ủi thêm cú nữa. Tôi cũng bị thương rồi.”

“Mấy thằng bị thương ra sao?”

“Tôi xin tải thương nhưng bọn “Lươn Ðen” -Tiểu đoàn 5 Hắc Long- bắt tự túc.”

“Sao ông không xin thẳng 324?”

324 là thiếu tá Tiền, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 5 Hắc Long, tháng trước ông còn là tiểu đoàn phó tiểu đoàn 4 tôi, người nổi tiếng “ngon lành” khi trực tiếp chỉ huy chúng tôi đánh trận Cửa Việt ngày ngưng bắn.

“324 biết rồi, ổng còn nói: “Thầy trò mày rán làm cho tao cú nữa, đây là trận đầu của tao ở bên này”.

“Thôi được rồi, tôi xin bên mình lo cho ông. Còn ông gom con cái lại. Ðây là lịnh của tôi không ủi nữa vì bất cứ lý do gì. Ông nghe rõ không?”

“Rõ, 520.”

Tôi gọi đại đội trưởng, Ðại đội trưởng bó tay. Tôi liên lạc với tiểu đoàn, tiểu đoàn hứa sẽ can thiệp.

Khoảng 7 giờ tối, tôi liên lạc thêm một lần nữa với tiểu đoàn yêu cầu lo gấp cho trung đội 2. Tiểu đoàn trả lời bất lực. Tôi liên lạc với trung đội 2 nhưng không được.

8 giờ tối, khi tôi đang cố gắng liên lạc với trung đội 2, Ðại đội trưởng gọi tôi lên họp.

“Ông cho con cái trang bị nhẹ tối đa, bằng mọi giá phải về đến Thuận An trước 6 giờ sáng mai. Ai tới trễ sẽ bị bỏ lại vì chỉ có một chuyến tàu đón mình về Ðà Nẵng thôi.”

Bây giờ tôi mới hiểu tiếng “muộn rồi” của tiểu đoàn. Tôi hỏi:

“Còn trung đội thằng Huy mập sao?”

“Bỏ! Ðại đội có một bản đồ thôi, tôi không chia cho ông được, ông về chuẩn bị khi nào có lệnh của tôi thì đi.”

“Sao tiếng bỏ của ông nghe gọn quá vậy 369?”

“Chứ ông thấy còn cách nào khác không? Bây giờ chỉ còn mỗi một việc là lo được cho thằng nào thì lo. Ông về chuẩn bị đi.”

Tôi bước ra, muốn khóc. Mẹ kiếp, bạn nhà binh tình nhà thổ, không ai lo cho bọn nó cả, còn tôi lại không thể nào lo được cho tụi nó. Tiếng súng vẫn nổ dữ dội phía sông Bồ. Không hiểu nó có nghe lệnh tôi rút ra ngoài hay lại nổi máu điên mà ủi tiếp. Ai chứ thằng Huy mập này thì mê ủi lắm.

Ðại đội tôi trang bị nhẹ. Súng cối mang theo mười quả đạn, đại liên một dây 100 viên, M-79 một dây sáu quả, M-16 một băng; mỗi người lính hai quả lựu đạn, một bao gạo sấy, một lon thịt hộp; tất cả những thứ bỏ lại vứt hết xuống sông An Lỗ, quần áo mùng mền cũng vứt.

Tôi cố gắng liên lạc với Huy mập nhưng vẫn không được. Âu cũng là phần số. Hy vọng nó bám được theo tiểu đoàn 5.

9 giờ tối tôi nhận lệnh di chuyển, đại đội tôi đi sau cùng của tiểu đoàn. Khi đi ngang chỗ đại đội trưởng, ông ta đã bỏ đi từ trước.

Tôi liên lạc một cách nhẫn nại với trung đội 2. Trời đã không phụ tôi. Trung sĩ Khang trung đội phó trả lời tôi ở đầu máy bên kia:

“Tao gặp 272.”

“520 chờ.”

“Thôi khỏi, mày nói 272 ngay bây giờ kéo hết con cái ra quốc lộ, ngay bây giờ, nghe rõ không?”

“Rõ, 520.”

“Cố gắng kéo hết con cái ra quốc lộ, theo dòng người về Huế.”

Tôi yên tâm. Với trung đội 2 tôi đã cố gắng hết khả năng của tôi. Những thằng bị thương tùy thuộc vào trung đội trưởng và những thằng còn khỏe mạnh của trung đội. Nếu tôi không cố gắng liên lạc, chưa chắc bọn nó chịu nằm yên, nhưng cũng chẳng còn ông xếp nào nghĩ đến cái trung đội què quặt đang bị bỏ rơi.

Bập bùng trước mặt là đám lửa của chiếc M-48 cháy nằm ngay trên quốc lộ. Ðó đây trên đường lộ, xác của những người lính bất hạnh nằm chết đủ kiểu. Ðoàn người vẫn đi qua, chỉ có những cái nhìn ném về phía những xác chết. Dòng người càng lúc càng đông, đại đội tôi bị lẫn trong dòng người đang di chuyển về phía nam. Thỉnh thoảng trên đường chúng tôi di chuyển, bọn du kích xuất hiện bắn chận chúng tôi, y hệt cái kiểu năm 72 đã tạo ra đại lộ kinh hoàng, nhưng lần này không phải là cuộc rút chạy hỗn loạn của năm 72. Tuy không dễ chỉ huy như bình thường nhưng chúng tôi không bị lẫn lộn với các đơn vị Bộ Binh hoặc Ðịa Phương Quân, cũng không bị lẫn lộn với những người dân, tuy rằng cũng có những đơn vị khác, cũng có một ít dân chúng cùng chạy với chúng tôi, nhưng vẫn có một sự khác biệt của một đơn vị còn chỉ huy nên những cái nút chận của bọn du kích không có khả năng chận được chúng tôi lại. Và cũng nhờ ở sự trật tự này nên nếu có bọn Việt Cộng trà trộn vào, cũng không dám giở trò ném trái khói chỉ điểm hay dùng máy truyền tin để điều chỉnh pháo binh của chúng như hồi năm 72.

Tuy nhiên tôi là thằng ích kỷ, chỉ biết đến đại đội mình nên tôi đã ngầm khuyến khích lính của tôi đi càng nhanh càng tốt, tôi đã rất lỏng lẻo trong việc kiểm soát lính, thậm chí tôi còn lờ đi khi thấy lính tách khỏi hàng đi vượt qua mặt tôi. Ðại đội tôi tan dần vào dòng người, cuối cùng chỉ còn tôi và vài người lính thân tín. Trung sĩ Khang gọi cho tôi biết là đã gặp đại đội chỉ huy của tiểu đoàn, những người lính bị thương không thể đi được đã được gửi theo xe cơ hữu của tiểu đoàn. Tôi yên tâm hoàn toàn về trung đội 2.

Tôi đi vượt lên trên, gặp đại đội 1, thật tuyệt hảo! Ðại đội 1 vẫn đi một hàng dọc bên lề đường, các sĩ quan đi ngoài hàng ngang với trung đội của mình và người đại đội trưởng, đại úy Tài, tay cầm một khúc cây làm roi đi lên đi xuống theo đại đội, miệng la hét chửi bới và cả quất roi vào đít những tên lính nào bỏ đứt đoạn hay đi chệch ra khỏi hàng. Ðại đội 1 di chuyển như đang thực tập bài di hành trong quân trường, chứ không phải đang rút lui gấp cho kịp tàu. Gặp tôi đi tới, đại úy Tài hỏi.

“Ðụ mẹ, đại đội mày đâu?”

“Loạn xà ngầu hết rồi anh Hai.” -Chúng tôi vẫn gọi đại úy Tài là anh Hai, anh Hai Tài.

Anh Hai Tài cầm roi nhắp nhắp về phía tôi:

“Ðụ mẹ, năm roi nghe mày!”

Tôi cười cười ngượng ngượng:

“Lên tàu rồi đánh, anh Hai. Em đi trước nghe.”

“Ờ, tới Huế rán gom đại đội lại nghe mày, thằng láu cá!”

Qua ngã ba An Hòa, đã gần 12 giờ khuya, tôi đi thêm một đoạn nữa, đến chỗ đèn sáng ngồi nghỉ, đồng thời để dễ gom lính lại. Khoảng hơn nửa tiếng sau, tôi gom được gần hai chục mạng chậm chân hơn tôi, tiếp tục kéo nhau đi.

Ðến cầu Bạch Hổ, tại chòi gác ở gần cầu, tôi thấy một người lính Nghĩa Quân quần áo súng đạn rất chỉnh tề đang đứng gác. Tôi ngạc nhiên hỏi:

“Giờ này còn đứng gác cái mẹ gì ở đó, cha nội?”

“Em không nhận được lệnh gì hết.”

“Lệnh cái con cặc, tiểu đội trưởng mày đâu?”

Một người lính già tay xách khẩu súng chạy lại.

“Dạ tôi.”

“Huế bị bỏ rồi, ông còn gác cái gì nữa. Tôi là trung úy ra lệnh tan hàng, về lo mang vợ con đi gấp nghe không!”

“Dạ.”

Thật tôi không thể hiểu nổi tại sao mấy ông xếp lại có thể nhẫn tâm bỏ lại lính tráng mà chạy lấy thân như vậy, trong khi tình hình đâu đến nỗi. Trung đội 2 của Huy mập đã bị mấy ông xếp bỏ rơi. Không, tiểu đội Nghĩa Quân này bị lừa ở lại thì đúng hơn. Những loại ông xếp vô liêm sỉ này trong quân đội chắc chắn không phải là ít. Không hiểu hiện giờ ở khắp Quảng Trị Thừa Thiên này có bao nhiêu đơn vị nhỏ còn đang phải thi hành nhiệm vụ nào đó trong khi các ông xếp của họ đã ung dung ở Ðà Nẵng hoặc Sài Gòn. Xin hãy gắn anh dũng bội tinh với nhành dương liễu cho những ông xếp này. Ờ mà hình như cũng chẳng phải xin, vì thường ra thì huy chương được gắn nhanh và nhiều vào ngực áo của những thằng chẳng bao giờ biết đánh đấm là gì. Xin cám ơn những cái huy chương.

Một bà già đứng ở cửa một túp lều bên vách tường thành Phú Văn Lâu, một tay cầm đèn dầu, tay còn lại quẹt nước mắt liên hồi, nhìn chúng tôi. Tôi hỏi bà cụ:

“Răng không đi mệ?”

“Mệ không có tiền để đi con ơi!”

“Tụi con cho mệ tiền, hay mệ đi chung với tụi con.”

“Chừ hết kịp rồi con ơi!”

Mặt trận Đông Nam – Xuân-Lộc 1975

baotreonline.com

Vương Mộng Long

July 10th, 2020

Post by Sơn râu 9 Mar 2026

Kỳ 5

Tướng Ðảo ngỏ ý muốn tôi dẫn ông đi một vòng của tuyến phòng thủ để thăm hỏi và khích lệ tinh thần anh em binh sĩ. Lúc này tôi mới rõ dụng ý của ông Tướng, cố ý đi một mình, không đem theo tùy tùng, để thuộc cấp nhìn vào, thấy được sự hòa đồng, bình dị của ông. Dừng chân nơi đầu con hẻm, chỗ tôi đặt cái chốt hỗn hợp Biệt Ðộng Quân và Ðịa Phương Quân, Tướng Ðảo thắc mắc:

– Hình như Long mới cho rào con lộ này thì phải?

Tôi phải từ từ kể cho ông Tướng nghe chuyện tôi đã phát giác ra những quả mìn đã bị tháo ngòi, chuyện Việt-Cộng đã đánh mốc con đường ở ngoài kia, và chuyện tôi chuẩn bị bãi mìn, rồi rào giậu ra sao cho ông Tướng Tư lệnh Sư Ðoàn biết.

Nghe xong, Chuẩn tướng Tư lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh vội nắm tay tôi,

– Ði! Long phải dẫn qua đi quan sát con hẻm này ngay!

Tôi ra lệnh cho các quân nhân đang giữ cái chốt đầu con hẻm gỡ một bên rào, rồi tiến ra ngoài bãi tranh giữ an ninh, để cho ông Tư lệnh chiến trường đi thám sát trận địa.

Tướng Ðảo đã thận trọng bước từng bước một theo con hẻm, bỏ công quan sát từng hố mìn, từng lớp kẽm gai, rồi đứng ngẩn người hồi lâu như đang suy tính điều gì đó.

Ra tới ngoài đồng cỏ, ông Tướng còn muốn tôi dẫn ông tiếp tục thám sát con đường mà Việt-Cộng đã cắm mốc trong vườn xoài, vườn chuối, nhưng tôi không đồng ý,

– Tôi không thể đưa Chuẩn tướng đi vào rừng được, nguy hiểm lắm! Nếu có chuyện bất trắc, sợ rằng mình trở tay không kịp.

Sau vài phút ngắm nhìn khu đồng tranh và vườn chuối ngoài xa, ông Tướng giơ tay chỉ về phía bìa rừng,

-Tối nay em nhớ gửi cho qua một hỏa tập đánh chặn ngay cửa rừng, phòng khi địch ào vào cánh đồng tranh kia thì mình khóa đít nó lại bằng pháo binh, khiến cho chúng nó tiến không được, mà thối cũng không xong!

– Thưa Chuẩn tướng, chiều hôm qua tôi đã đưa những hỏa tập tiên liệu cho Ðại tá Hiếu rồi!

Về tới cổng trại 181 Pháo Binh, Tướng Ðảo dang hai tay ôm vai tôi thật thân thiết,

– Em giỏi! Qua công nhận là em giỏi! Hổm rày qua đã coi thường em, tính cho em ở càng xa thành phố càng tốt, không ngờ chuyện cho em đóng quân ở đây lại là điều may! Nếu giao chỗ này cho ai khác, không phải là em, thì yếu điểm này đã bị bỏ quên rồi! Chúng ta sẽ chết vì con hẻm này! Mai mốt phải đánh nhau mà xe tank địch bị chận lại ở đây thì em là người có công đầu đó! You’re excellent!  

Nghe lời khen của Tướng Ðảo mà lòng tôi cứ dửng dưng, không mảy may vui thích hay tự hào.

Ở Vùng 2, tôi đã từng được Tướng Ân, Tướng Du, Tướng Toàn, Tướng Cẩm, Tướng Niệm… vỗ vai khen giỏi nhiều lần rồi, vậy mà đầu tháng 3 năm 1975, trên đồi Kiến-Ðức, tôi chỉ biết chết đứng giữa trời mà nhìn gia đình vợ con tôi đắm chìm trong biển lửa Ban Mê Thuột.

Tôi đưa ông Tư lệnh vào căn cứ 181 Pháo Binh để cho ông trò chuyện với anh em binh sĩ đang tạm trú nơi này. Sự ân cần, thân ái của ông đã làm những người lính Thượng của Vùng 2 cảm thấy được an ủi phần nào.

Lúc trở ra, qua cái lô cốt cổng chính, nhìn thấy mấy cháu bé đang chơi đùa giữa sân, Tướng Ðảo ngạc nhiên,

– Gia đình binh sĩ của Long hay của đơn vị nào vậy?

Tôi lắc đầu,

– Ðó là gia đình của các anh em Pháo Binh Sư Ðoàn. Con cái của chúng tôi đã mất hết rồi! Ở Ban Mê Thuột!

Nghe tôi trả lời, Tướng Ðảo bèn cầm tay tôi, nhỏ giọng,

– Qua biết vì sao về tới đây em lại dùng danh hiệu “Tiên Giao” Mong rằng hiện thời cháu bé Tiên Giao, con gái của em, vẫn bình an. Ðại tá Hưng đã kể cho qua nghe tình trạng hiện thời của gia đình em. Qua cũng đã nghe Trung tướng Tư lệnh Quân Ðoàn nhắc lại những chiến tích của em ở Vùng 2. Trung tướng ngợi khen em lắm! Qua rất ân hận trong mấy ngày vừa qua, qua đã đối xử với em không tốt. Bây giờ thì qua biết lỗi rồi. Qua tin rằng những ngày sắp tới, anh em mình sẽ không còn gì lấn cấn nữa. Em và những người lính của em đã chịu thiệt thòi quá nhiều mà vẫn còn giữ được kỷ luật như thế thì quả là rất đáng khen. Trong cuộc chiến tranh này, những quân nhân nơi tuyến đầu là những người chịu hy sinh và thiệt thòi nhiều nhất. Qua rất thông cảm với em và những người lính dưới quyền em! Từ nay có gì cần tới qua giúp thì em cứ nói, đừng ngại ngùng gì cả”

Nghe Tướng Ðảo nói, tôi chợt thấy được an ủi phần nào.

Ông Toàn và ông Ðảo là hai hình ảnh trái ngược nhau, ông Toàn thô lỗ, cộc cằn bao nhiêu thì ông Ðảo ân cần, lịch sự bấy nhiêu.

Trung tướng Nguyễn Văn Toàn là một sĩ quan Quân Phiệt; ông ta chỉ huy bằng quyền lực, và hình phạt. Trong thời gian hơn hai năm làm việc dưới quyền ông, tôi chưa từng được nghe ông nói một câu thân tình. Với Tướng Toàn chỉ có “lệnh!” và “lệnh!” cùng với hình phạt.

Trong khi đó, làm việc với Chuẩn tướng Lê Minh Ðảo, tôi thấy dễ chịu hơn, thoải mái hơn. Qua tiếp xúc lần này, tôi đã thấy rằng Tướng Ðảo là một người chỉ huy còn có một trái tim biết rung động, biết chia sẻ niềm vui, nỗi buồn của những người dưới quyền mình.

Ít có ông Tướng nào tự nhận mình có lỗi trước mặt thuộc cấp, rồi có lời hối lỗi.

Ngày hôm nay Tướng Ðảo đã cho tôi một cái gương sáng về nhân cách để noi theo.

Trước khi lên máy bay để về Long-Bình, Chuẩn tướng Tư lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh móc túi đưa cho tôi mảnh giấy nhỏ ghi tần số riêng của ông và căn dặn tôi phải có một cái máy vô tuyến giữ tần số đó để cho ông có thể liên lạc trực tiếp với tôi khi cần.

Sau thời gian một tháng, đêm nào cũng chập chờn, tối ngày 8 tháng Tư năm 1975, tôi an tâm lên võng, đi ngủ sớm.

Thế rồi, rạng đông ngày 9 tháng Tư năm 1975, lúc trời còn mù sương, tôi giật mình thức dậy.

“Ùm! Ùm! Ùm!” – “Vèo! Vèo! Vèo!”- “Xèo! Xèo! Xèo!”- “Oành! Oành! Oành!” từ ba hướng Ðông, Tây, và Bắc, đủ loại đạn xé gió bay vào Xuân-Lộc.

Tôi phóng xuống đất chạy ra tuyến phòng thủ của Ðại Ðội 1/ 82, ở đó tôi có cái hầm dã chiến với hình thù của một cái giếng lộ thiên.

Ðất Xuân-Lộc là loại đất pha đá tổ ong, moi được một cái lỗ đường kính bốn gang tay, sâu tới đầu gối đã là trần ai rồi, mong gì đào được những đường giao thông hào cao một đầu, một với và những cái hàm ếch chống pháo như ở Pleime!

Hố cá nhân chỉ che được nửa người, nếu bị cối bắn tập trung trên mục tiêu thì lính của tôi bị đứt đầu như chơi.

Tôi nghĩ rằng, khi điều nghiên trận địa, thấy căn cứ này chỉ là mấy cái nhà tôn bị bỏ trống, không người canh gác, nên địch đã loại cái trại này ra ngoài danh sách những mục tiêu cần đánh phá.

Thêm vào lý do đó, có thể bề mặt của trại 181 Pháo Binh này quá nhỏ, nếu so với diện tích của toàn thị trấn Xuân-Lộc thì chẳng thấm vào đâu. Vì thế mà, trong suốt thời gian địch pháo kích, chẳng có trái đạn đại bác nào rơi trên vị trí Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân trú đóng cả.

Ðạn cứ “Vèo! Vèo! Xèo! Xèo!” bay qua đầu chúng tôi rồi nổ “Oành! Oành! Ùm! Ùm!” toé lửa trên phi đạo, trên đường phố, trên các tòa nhà lầu của Tòa hành chánh tỉnh.

Trong gần hai giờ đồng hồ, thị trấn Xuân-Lộc đã hứng chịu hàng chục nghìn trái đạn 130 ly, 122ly, 105 ly và 120 ly.

Tôi leo lên cái lô cốt giữa sân trại nhìn về hướng thành phố. Thành phố Xuân-Lộc đang bốc cháy! Lửa đỏ, khói trắng, khói đen ngùn ngụt bốc lên cao.

Trong thời gian ba ngày ở đây, tôi mới có dịp đi qua thị xã này hai ba vòng nên chẳng biết gì, ngoài Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh, và cái chợ. Hình như lúc này cái chợ đang cháy, và Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn cũng đang cháy.

Ông đại đội trưởng Ðịa Phương Quân Bình-Long gọi tôi, báo cáo rằng phi đạo đã lãnh hàng trăm viên đại bác, ông ta phải cho quân dạt về hướng Nam, tá túc trong vườn chuối và vườn cây điều lộn hột trong xóm nhà dân.

Ông trung úy còn yêu cầu tôi cho phản pháo ngay trên vài tọa độ mà ông ta mới chấm được.

Cựu Th/Tá Vương Mộng Long & cựu Th/Tướng Lê Minh Đảo cùng vài anh em cựu sĩ quan của Sư Đoàn 18 BB (USA 2009)

Tôi nói với ông ấy cứ yên trí bám sát bìa Nam của sân bay. Có gì lạ, tôi sẽ cho lệnh sau. Hiện thời thì pháo binh của ta cứ mạnh ai nấy bắn. Pháo địch có mặt khắp nơi vùng hướng Bắc, Ðông, và Tây; không có ai rảnh mà nhận đơn phản pháo!

Tôi không liên lạc được Trung Ðoàn 43 Bộ Binh, cũng không liên lạc được Tiểu Khu Long-Khánh; các tần số đều tắc nghẽn, đài này át đài kia, chẳng nghe được gì cho trọn câu.

Tôi mở tần số của Hằng Minh thì nghe ông Tư lệnh đang đàm thoại với anh sĩ quan điều không tiền tuyến đang bay trên chiếc phi cơ L 19. Không Quân Việt-Nam Cộng-Hòa đã hiện diện, hai chiếc F 5 vừa trút bom xong, bay đi, thì hai chiếc A 37 đã có mặt.

Bom đạn của oanh tạc cơ tạo thành một màn khói bụi thứ hai bốc nhanh lên trời cao. Bầu trời sáng nay không có gió, nên khói, bụi cứ cuồn cuộn tới mây mà chưa tan.

Có nhiều tiếng “Lụp bụp! Lụp bụp!” giòn giã trong mây, đó là tiếng nổ do đạn 37 ly và 57 ly phòng không của địch.

Những lúc máy bay của ta vắng bóng trên vùng thì 37 ly của Việt-Cộng lại hạ nòng quét qua quét lại trên tường thành phòng thủ.

Có lúc góc quét của những giàn phòng không này chệch về hướng Ðông Nam khiến cho từng chùm lửa của 37 ly cứ bay “Vèo! Vèo!” qua đầu chúng tôi rồi toé khói trong rừng cây.

Tôi đứng trên pháo đài, tay cầm điếu Lucky nhìn từng đám khói đen, khói trắng, bốc lên trong phố, cứ như mình là một người ngoại cuộc, đang nhìn người khác biểu diễn cho mình coi.

Thấy chỗ mình đóng quân yên như bàn thạch, ông tiểu đoàn phó cũng leo lên đứng cạnh tôi. Bất thình lình, trên ngọn tranh trong đồng cỏ ngoài xa, có một lá cờ xanh đỏ đang nhấp nhô lao tới! Khẩu 12.8 ly trên chiếc xe tank liên tục nhả đạn “Ðùng! Ðùng! Ðùng!” về phía trước.

Có lẽ xạ thủ Việt-Cộng không biết địch nằm, ngồi chỗ nào, nên hắn cứ tưới đạn lên hàng rào kẽm gai của tường đất phòng thủ.

Ðứng trên lô cốt, tôi và Ðại úy Hoàn nhìn thấy một chiếc PT76 hình thù như một cái xà lan, với lá cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam căng gió đang nhắm hướng con hẻm bên hông trại 181 Pháo Binh mà từ từ tiến tới. Sau lưng nó là những cành lá ngụy trang của một đoàn quân rất đông đang di động.

Trong gió, tai tôi nghe tiếng cán binh tùng thiết bắt đầu reo hò “Xung phong! Xung phong!”

Trên đồng cỏ, Cộng Quân đang diễn tập màn đánh hiệp đồng bộ binh, thiết giáp trước mặt những tay súng bách chiến vừa về từ Vùng 2 Chiến thuật.

Có điều những người đang diễn tập đó không biết chúng tôi đang có mặt trên phòng tuyến để chờ đợi họ. Còn họ thì cứ cắm đầu chạy trong đồng tranh cao quá đầu người, không biết rằng sau rặng tre xanh, có hàng trăm cặp mắt đang theo dõi họ.

Tôi ra lệnh cho Ðại úy Hoàn,

– Cho tất cả anh em bắn đan cánh sẻ!

Ông Hoàn lớn tiếng ra lệnh:

“Chuẩn bị! Chuẩn bị!”

Tiếp đó ông Ðại úy dang hai tay ngang vai rồi đánh chéo hai cánh tay lại thành chữ “X” trước ngực, giống như người ta ra thủ lệnh cho một chiếc trực thăng hạ cánh; hiệu lệnh này tất cả anh em trong đơn vị đều đã thuộc nằm lòng, họ tự động xoay mũi súng, một về trái, một về phải chờ đợi.

Khi nghe ông tiểu đoàn phó ban khẩu lệnh “Bắn!” thì cứ thế, xạ thủ bóp cò, chỉ một hướng không thay đổi.

Hàng trăm lằn đạn M16 giao nhau, ngoài đồng cỏ tranh, những cành lá ngụy trang bị đốn ngã, không đứng lên được nữa.

Chỉ một phút sau, không còn cán binh Việt-Cộng tùng thiết nào chạy sau chiếc xe tank.

Trong hàng rào các chiến sĩ Cộng-Hòa vừa siết cò súng, vừa la: “Biệt Ðộng Quân! Sát! Biệt Ðộng Quân! Sát!”

Tiếng la vang dội trên cánh đồng lồng lộng gió, khiến cho những bộ đội Cộng-Sản mới ló đầu ra khỏi vườn chuối đã hoảng hồn vội vàng quay đầu co giò chạy ngược vào rừng.

Trong khi đó chiếc thủy xa PT76 cứ lừng lững tiến vào con hẻm; tên xạ thủ phòng không 12.8 ly và năm, sáu cán binh ngồi trên lưng nó đã bị Biệt Ðộng Quân bắn chết hết rồi.

Bên hàng rào tre đã có bốn năm khẩu M72 sẵn sàng! Có lẽ việc bắn hạ chiếc xe này còn dễ hơn là chuyện bắn cho trúng cái mục tiêu giả nằm ẩn hiện trong rừng Kiến-Ðức mỗi khi thực tập.

Vượt qua cửa ngõ của tử lộ vài thước thì guồng quay xích của chiếc chiến xa Việt-Cộng bị thép gai vòng cuốn chặt khiến cho nó cứ xoay dọc, rồi lại xoay ngang; nó rướn lên hai mét rồi lại lui hai mét.

“Ùm!” xích xe cán trên quả mìn đôi! Cùng lúc, một trái đạn M72 bay tới! Ngay lập tức, chiếc thủy xa PT76 bốc cháy như ngọn đuốc!  Nó đã cháy trong thế quay ngang, nên đương nhiên biến thành một cái ụ bằng thép chắn trước mặt con hẻm độc đạo dẫn vào sân bay Xuân-Lộc!

Xăng cháy, đạn dược chứa trong xe cũng cháy theo rồi nổ “Ùng! Ùng! Ùm! Ùm! Lép bép! Lép bép!”

Cột khói đen từ chiếc PT 76 ngùn ngụt bốc lên cao ngút, đã gây chú ý cho những người ngồi trên chiếc trực thăng chỉ huy đang bay trên không phận Xuân-Lộc.

Trên máy vô tuyến có tần số riêng của Chuẩn tướng Lê Minh Ðảo tôi nghe ông la lên,

– Tiên Giao đây Hằng Minh! Tiên Giao đây Hằng Minh!

Tôi chụp ống liên hợp,

– Tiên Giao nghe!

– Tiên Giao vừa bắn cháy một chiếc tank có phải không? Qua thấy khói đen đang bốc lên ở chỗ em!

 – Ðúng ra thì chiếc PT 76 này vướng mìn trước khi bị bắn!

– “Dzậy” là tụi nó tới số rồi! Tụi nó chui đầu vào cái bẫy của em! Em là Number One đó!

Bất thình lình trên trời, chiếc C&C hạ cao độ một cách thật đột ngột, thật khẩn cấp, như thể là nó đang rơi tự do!

“Bụp bụp! Bụp bụp!” đạn phòng không 37 ly của Việt-Cộng đua nhau nổ như pháo bông giữa ban ngày để nghênh đón chiếc C&C của ông Tướng Tư lệnh! Cuộc điện đàm bị cắt đứt. Chiếc C& C bị bắn rớt rồi hay là đã bay đi đâu mất tôi cũng chẳng biết. Mười lăm phút sau tôi mới nghe lại được tiếng Chuẩn Tướng Ðảo, lúc này trực thăng của ông đang bay xa về hướng Nam để tránh phòng không.

Tầng đầu địa ngục

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Hải Triều

Post by Sơn râu 9 Mar 2026

Tới 12 giờ trưa Yakanov vẫn chưa được thảnh thơi ngồi trong văn phòng lịch sự của y, y bận rộn trong phòng Số bảy với việc tổ chức sáp nhập hai phòng nghiên cứu lớn nhất trong Viện làm một – Phòng Số bảy và Phòng Âm thính – Sáng nay Oskolupov đã quyết định như thế và nhiều người đồng ý. Chỉ có ba người phản đối là Bobynin, Paryanchikov và Roitman nhưng họ chỉ là thiểu số không đáng kể. 
Nhưng trong lúc ấy có bốn người ngồi trong văn phòng Viện trưởng Mavrino. Bốn người ấy là Phụ tá Tổng trưởng Sevastyanov – lão đã báo cáo bằng điện thoại với Tổng trưởng Abakumov về những việc có thể làm ngay ở Viện Mavrino – Trung tướng Bulbanyuk, Trung úy Smolosidov và tù nhân Lev Rubin. 
Trung úy Smolosidov là một gã đàn ông vạm vỡ, mặt vuông, vai to và hơi lùn. Những người lạc quan nhất đời, những người tin rằng trong bất cứ người nào cũng phải có ít nhất là một vài điểm tốt, khó có thể tìm được một điểm nào gọi là tốt trên khuôn mặt khó đăm đăm không bao giờ vui của Smolosidov, trên vành môi dày của hắn. Địa vị của Smolosidov ở trong Viện là một địa vị thấp kém, hắn được xếp hạng không cao hơn một người thợ ráp máy radio bao nhiêu và lương bổng của hắn chỉ bằng lương của người nữ lao công thấp nhất. Y thường kiếm thêm được mỗi tháng chừng một ngàn ruble bằng cách lấy cắp những bộ phận radio trong Viện đem ra ngoài bán chợ đen và nhiều người biết rằng hắn không chỉ kiếm tiền bằng cách đó mà thôi. 
Những viên chức tự do làm việc trong Viện đều sợ Smolosidov, kể cả những người thường chơi bóng chuyền với hắn. Bộ mặt không bao giờ để lộ một chút thành thật nào của hắn trông thật đáng kinh sợ. Và sự kiện hắn được cấp trên tin tưởng còn đáng sợ hơn nữa. Nhà hắn ở đâu? Không ai biết. Hắn có gia đình, vợ con không? Cũng không ai biết. Smolosidov không bao giờ đến nhà riêng thăm ai, hắn chỉ giao thiệp với mọi người ở trong Viện. Không ai biết gì về đời tư cũng như dĩ vãng của hắn ngoài những huy chương huân công hắn mang trên ngực và một lời hắn khoe rằng trong suốt trận đại chiến vừa qua, một vị Thống chế nổi tiếng không nói qua một câu gì mà tai hắn lại không được nghe, khi người ta hỏi tại sao lại như thế, hắn nói thêm hắn là chuyên viên truyền tin riêng của ông Thống chế. 
Khi vấn đề được đặt ra là viên chức nào trong Viện Mavrino đủ tư cách phụ trách giữ những cuốn băng ghi âm tối mật do Bộ An ninh gửi đến, không do dự, Trung tướng Bulbanyuk, người mang những cuộn băng ghi âm đến, nói ngay: Smolosidov. 
Và giờ đây Smolosidov ngồi như một con chó lớn, dữ dội giữ cái máy ghi âm và những cuộn băng đặt trên một chiếc bàn nhỏ trong lúc Trung tướng Bulbanyuk, cái đầu tròn và nhẵn như một củ khoai tây khổng lồ và nghiêm trọng nói với Rubin: 
“Hiện nay anh là một tù nhân, Rubin. Nhưng trước đây anh từng là một người Cộng sản, rồi có thể có ngày anh sẽ trở lại là một người Cộng sản”. 
Rubin muốn nói: “Tôi hiện đang là người Cộng sản…”, nhưng nếu nói thế, anh sẽ phải giải thích nhiều với Bulbanyuk và anh thấy việc giải thích, phân trần lúc này là hèn hạ. 
“Vì vậy chúng tôi tin ở anh” – Bulbanyuk nói tiếp – “Rubin, anh sắp được nghe một bí mật quốc gia qua cái máy ghi âm này. Chúng tôi hy vọng anh sẽ giúp chúng tôi sớm bắt được tên khốn nạn này, tên đồng lõa của bọn phản quốc. Chúng muốn tiết lộ những phát minh khoa học quan trọng của tổ quốc ta với bọn ngoại nhân. Tất nhiên anh hiểu việc tiết lộ…”
“Tôi hiểu…” 
Rubin ngắt lời, anh chỉ sợ anh không được nghe những cuộn băng này. Không phải vì anh tò mò nhưng anh muốn biết anh có thể làm được gì, công trình nghiên cứu của anh trong những tháng qua có thực sự giá trị như anh nghĩ hay không. 
Smolosidov nhấn nút cho máy chạy. 
Rubin chăm chú nhìn vào cuộn băng xoay trên máy như anh đang nhìn mặt kẻ tử thù của anh. Khi Rubin chăm chú và bất động như thế, làn da mặt anh căng ra và nét mặt anh trở thành tàn ác. Không ai có thể xin tình thương ở một người có bộ mặt như thế. 
Trong sự im lặng của căn phòng, họ nghe cuộc đối thoại giữa một gã đàn ông vội vã, khích động với một thiếu phụ thản nhiên, nhẩn nha. 
Những câu nói qua đi và nét mặt Rubin dần mất vẻ tàn ác, rồi mặt anh trở thành suy tư, bối rối. Trời đất, anh không chờ đợi nghe những lời nói này, anh tưởng anh sắp được nghe những lời ghê gớm… 
Cuộn băng ngừng quay. 
Rubin biết người ta chờ đợi anh nói ra một lời gì đó, nhưng anh chưa biết anh nên nói gì. Anh cần thì giờ để suy nghĩ và anh cần thì giờ để đốt lại điếu thuốc lá vừa để tắt nửa chừng và nói: 
“Cho nghe lại”. 
Smolosidov nhấn nút cho cuộn băng quay trở lại. 
Rubin nhìn bàn tay có những ngón tay đen đủi của Smolosidov với hy vọng ánh lên trong mắt Smolosidov có thể lầm lẫn nhấn nút xóa tiếng nói trên băng và làm cho cuộn băng này sạch trơn tiếng nói. Nếu cuộn băng này mất tiếng, Rubin sẽ không còn phải suy nghĩ lựa chọn gì nữa. 
Nhưng Smolosidov không lầm lẫn. Hắn sử dụng máy rất đúng cách. 
Một lần nữa họ lại nghe tiếng nói của người trẻ tuổi, tiếng nói hồi hộp, cấp bách, gần như tuyệt vọng xen lẫn những tiếng ong óng, khó chịu của người đàn bà. Rubin phải cố gắng nhiều mới tưởng tượng ra được người thanh niên có tội đang bị tìm bắt nhưng anh thấy hiện ra dễ dàng bộ mặt người thiếu phụ. Đó là một người đàn bà có mái tóc dày nhuộm màu hung hung, mái tóc có thể là tóc giả. 
Anh úp mặt vào lòng hai bàn tay. Chỉ có những kẻ điên, những kẻ tâm trí cuồng loạn mới có thể coi những phát minh về y học, nói rõ hơn là những phương thuốc chữa bệnh, là những bí mật quốc gia cần giữ kín và việc phổ biến những phương thuốc này là một trọng tội cần bị trừng trị. Y học không đòi hỏi quốc tịch ở bệnh nhân. Người thanh niên gọi điện thoại đến nơi bị gài bẫy này dường như không biết rõ y sẽ gặp những nguy hiểm gì – Rubin bỗng thấy có cảm tình với người thanh niên xa lạ này. 
Nhưng Lãnh tụ quyết định rằng – quyết định có thể độc đoán nhưng dù sao, đó vẫn là một quyết định phải được tôn trọng – mọi phát minh khoa học đều phải được coi là những điều kiện làm vững mạnh quốc gia, mọi người nghĩ khác như thế đều là bọn phản tiến bộ, bọn chặn đường tiến bộ, bọn có hại cho quốc gia và cần phải loại trừ. 
Rubin cố nghĩ đến chuyện phản quốc. Người thanh niên này nhắc nhiều lần đến những tiếng “người ngoại quốc”, như vậy có nghĩa là có “ngoại nhân” dính líu trong vụ này. Ngay cả tiếng “thuốc” cũng có thể là một ám hiệu. Đó có thể không phải là thứ “thuốc” mà là một thứ gì khác. Trong lịch sử, những vụ tương tự thường xảy ra. Những thủy thủ Baltic đã nổi dậy bằng cách nào? Bằng điện tín: “Gửi Bộ Tân luật Hàng hải đến…“. Câu này có nghĩa: “Cho tàu chiến vào bến và nổ súng”. 
Cuộn băng lại ngừng. Rubin nhắc tay ra khỏi mặt và nhìn bộ mặt hung hăng của Smolosidov, rồi nhìn sang bộ mặt đần độn, quan trọng hóa của Rulbanyuk. Hai kẻ này làm anh ghê tởm, anh không muốn nhìn chúng, muốn ngồi gần chúng chút nào, nhưng chúng là đại diện của sức mạnh độc đoán đang ngự trị cõi đời này, anh không biết đến chúng không được. 
Chính là những tên đồ tể như hai tên này ở trong Chính trị Cục đã đẩy Rubin đi tù vì chúng không thể chịu đựng được tài năng của anh, sự lương thiện tâm hồn của anh. Chính là những tên đồ tể như hai tên này ở Tòa án Quân sự từ bốn năm trời nay đều tay xé và liệng vào thùng đựng giấy vụn những tờ đơn tường trình, khiếu oan của Rubin. 
Hai tên khốn nạn này chỉ đáng được người ta tặng cho chúng một trái tạc đạn, để cho thân xác chúng tan nát, vậy mà người ta vẫn cứ bắt buộc phải phục vụ chúng, như phục vụ Tổ quốc, phục vụ quốc kỳ… 
Rubin dụi mẩu thuốc lá lên đĩa gạt tàn và nhìn thẳng vào mặt Sevastyanov. Trong gian phòng này, với Rubin, Sevastyanov là người tương đối đàng hoàng nhất, có tư cách nhất: 
“Được rồi. Tôi sẽ cố gắng“. – Anh nín thở rồi thở ra một hơi dài – “Nhưng nếu các ông không nghi cho ai, tôi không thể tìm ra được đâu. Làm sao có thể thâu được tiếng nói của tất cả mọi người đàn ông ở Mạc Tư Khoa? Tôi phải so sánh tiếng nói trong băng này với tiếng nói của những ai chứ?” 
Bulbanyuk giơ tay trấn an: 
“Chúng tôi đã bắt được bốn người tình nghi ở gần phòng điện thoại công cộng mà tên phản quốc đã dùng. Nhưng chắc không phải là họ. Chúng tôi có năm tên tình nghi ở Bộ Ngoại giao. Chắc chắn là một trong năm tên này là tên phạm tội. Tôi ghi tên chúng lại đây nhưng không ghi chức vụ của chúng để cho anh khỏi bị ảnh hưởng”. 
Y đưa cho Rubin một tờ giấy nhỏ trên ghi 5 tên người: 

  1.  

Petrov. 

  1.  

Syagovity. 

  1.  

Volodin. 

  1.  

Schhevronok. 

  1.  

Zavarin. 
Rubin đọc và gập tờ giấy lại định bỏ vào túi. 
“Không được” – Sevastyanov nói vội – “Smolosidov giữ giấy này”. 
Rubin đưa trả tờ giấy. Sự đề phòng này không làm cho anh bất mãn, trái lại, nó chỉ làm cho anh vui vui. Bọn đồ tể ngu si này không biết rằng chỉ cần đọc qua một lần như thế là những cái tên người đó đã ghi sâu vào ký ức anh: Petrov, Syagovity, Volodin, Schhvronok, Zavarin. Không những anh chỉ nhớ kỹ những cái tên đó mà thôi, khả năng đặc biệt về ngôn ngữ của anh còn tự động ghi nhận cả những ngữ-nguyên của những danh từ ấy: “syagovity” có nghĩa là “người nhảy xa” và “schhevronok” là tên một con chim. 
“Tôi yêu cầu các ông cung cấp cho tôi” – Rubin nói – “tiếng nói trong điện thoại được thu vào băng của cả năm người này”. 
“Sáng mai chúng tôi sẽ mang đến đây cho anh”.
 
Rubin suy nghĩ vài giây rồi nói: 
“Tôi cần biết cả số tuổi của từng người. Tôi cần cuộn băng này suốt ngày kể từ bây giờ”. 
“Trung úy Smolosidov sẽ giữ băng và máy. Hai người sẽ có một phòng làm việc riêng ở khu Tối mật”. 
Kinh nghiệm cho Rubin biết rằng anh không nên hỏi hai tiếng “bao giờ”, bởi vì nếu anh hỏi chúng hai tiếng ấy, chúng sẽ hỏi lại anh hai tiếng ấy ngay lập tức. Chẳng hạn như nếu bây giờ anh hỏi chúng: “Bao giờ các anh cần kết quả?” chắc chắn chúng sẽ nói: “Sáng mai” hoặc chúng hỏi lại anh: “Theo anh, bao giờ có kết quả?”. Vì vậy, anh chỉ hỏi: 
“Tôi sẽ nói về công việc này với ai?” 
Sevastyanov nhìn Bulbanyuk rồi đáp: 
“Anh chỉ được nói với Thiếu tá Roitman. Với Oskolupov. Và ông Tổng trưởng”. 
Bulbanyuk nghiêm trọng hỏi: 
“Anh có cần tôi phải nhắc lại những lời khuyến cáo?” 
Rubin đứng lên mặc dù anh chưa được phép đứng, anh nheo mắt nhìn ông Tướng ngồi đó như y là một vật gì rất nhỏ, khó nhìn thấy và anh nói trống không: 
“Tôi cần có chỗ yên tĩnh để suy nghĩ”. 
Không ai phản đối anh hết và Rubin đi ra khỏi phòng, vừa đi vừa suy nghĩ. Anh cần tìm cách đưa Nerzhin vào làm việc chung với anh trong công tác này, anh cần ý kiến của Nerzhin. Tìm ra đúng tiếng người nói nhờ hai cuộn băng ghi âm không phải là việc dễ. Một khoa học mới bắt đầu thành hình. Từ trước tới giờ, người ta chỉ tìm ra tội phạm nhờ dấu tay. Và người ta đã phải mất nhiều thế kỷ tìm tòi mới hoàn thiện được khoa dấu chỉ tay. 
Giờ đây loài người sắp có khoa tìm người qua tiếng nói, gọi là dấu tiếng.

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 9 Mar 2026

“Bản phúc trình mới nhất của Bộ Ngoại Giao Mỹ dài 47 trang liệt kê những gì kém văn minh và thẩm mỹ nhất của nhà cầm quyền Honduras trong năm vừa qua: nhiều vụ làm chết người bất hợp pháp do bàn tay của cảnh sát và nhân

viên nhà nước, những án mạng do cựu viên chức ngành an ninh của chính phủ, những điều kiện sống quá ư tồi tệ trong nhà tù, bạo hành phạm nhân trong ngục thất, hối lộ và tham nhũng trong lực lượng an ninh, kéo dài vô tận thời gian điều tra các vụ trọng án, dây dưa trong việc xét xử đúng lịch trình, sự yếu kém và tham ô trong ngành tư pháp, tham nhũng trong ngành lập pháp và hành pháp, bày ra các giới hạn để phong tỏa các nhóm hoạt động dân sự và nhân quyền, bạo hành và kỳ thị phụ nữ, nạn trẻ em làm điếm và lạm dụng sức lao động con trẻ, nạn buôn người, bạo hành và kỳ thị dựa trên khuynh hướng tình dục, bất lực trong việc thực thi luật lao động, và bóc lột lao động trẻ con.” (1)

Câu chuyện này chúng ta nghe thấy quen quen, nếu chúng ta bỏ chữ Honduras trong bài báo thì chuyện này không khác gì những chuyện đang xẩy ra ở Việt Nam hôm nay. Ở đây chúng tôi không muốn nhắc đến  toàn cảnh của một đất nước chính phủ thì độc tài trongkhi thằng dân thì quá khốn khổ, mà chỉ muốn nói đến một thực trạng trong nhà tù, là chuyện bọn cai tù độc ác dùng những tay anh chị được gọi là “đại bàng” hay “đầu gấu” để trị những tù nhân khác mà nhà tù không phải nhọc công kiểm soát. Chỉ với một câu viết về thực trạng trong các nhà tù Honduras “… cơ hội cho tù đại hình tấn công, hà hiếp tù hiền lành hay bất bạo động, ban quản lý tù cũng mặc nhiên chấp nhận việc tù bắt nạt tù .. ” đã nhắc nhở cho chúng tôi những hình ảnh kinh hoàng về những gì đã mục kích về các nhà tù hình sự dưới chế độ Cộng Sản Việt Nam.

Thật ra trong các nhà tù dưới bất cứ chế độ nào, nhiều hay ít, cũng có những tay anh chị “lập chính phủ và công an” trong phòng giam để khống chế, bốc lột đồng tù, gọi là “đại bàng”, “đầu gấu”. Chúng là những tên tù giang hồ có bản án, bất cần đời, có sức khỏe, độc ác và hung dữ, mang danh “đại ca”, xử dụng những người tù trong phòng giam như là những tên nô lệ để phục vụ cho chúng. Tù mới nhập phòng phải bái lạy, quy phục, mọi hành động phải tuân thủ theo lệnh, thức ăn, quà cáp bị cắt xén để phục vụ “đại ca”, trưa tối nằm ngủ có người “tẩm quất,” quạt hầu. Nếu làm trái ý “đại ca” sẽ bị những tay dưới trướng chúng đánh dập, hành hạ cho đến chết. Khi nhà tù đến điều tra, mọi người trong phòng giam đều phải tuân thủ luật câm miệng kiểu luật giang hồ của băng đảng Ý “Omertà” (code of silence.)

Theo báo chí trong nước tường thuật, năm 1992 tại trại giam Rau Răm (Cần Thơ) đầu gấu Nguyễn Văn Mỹ ở Phòng 1, chỉ vì bất mãn với một tên tù trẻ tuổi không cho y chiếc chiếu mới khi đổi sang khu khác, y thề nếu tên tù này trở lại phòng giam cũ sẽ bị y thanh toán. Không may chỉ ba ngày sau, người tù này được đưa trở về phòng cũ, bị tất cả tù nhân trong phòng giam theo lệnh của “đầu gấu” Nguyễn Văn Mỹ đánh hội đồng, làm nạn nhân gãy 8 chiếc xương sườn, lá lách bị vỡ, xuất huyết phổi. Để kết thúc “bản án”, “đại ca” Mỹ dùng giấy tập đốt phỏng hậu môn và bộ phận sinh dục của bạn tù. Chúng còn pha nước muối đổ vào miệng nạn nhân, lấy chiếu đắp lên người Sơn và cuộc tra tấn tạm ngưng. Đến chiều tối hôm đó, phòng giam dọn cơm ra ăn thì phát hiện Sơn đã chết.

Năm 1979, khi Trung Cộng đánh vào các tỉnh biên giới của miền Bắc Việt Nam, tất cả các trại tập trung tù miền Nam đều được di chuyển xa về phía Nam, trại tù Phú Sơn- Bắc Thái là một địa điểm như thế. Buổi sáng trước khi chuyển trại, chúng tôi trông thấy một đoàn xe đổ trước cổng trại đưa một đám tù hình sự từ Phong Quang, một nơi sát biên giới Việt Hoa về. Trước khi di chuyển, tù miền Nam được một bữa ăn “bồi dưỡng” gồm cơm trắng và ba miếng thịt vịt nấu với củ cải trắng. Nhà ăn ở gần với nhà bếp và sát với những căn nhà tù hình sự mới được đưa về, chính vì vậy mà chúng tôi đã trông thấy cảnh mấy người tù khốn khổ thừa lúc sơ hở không ai canh giữ chạy ùa vào nhà ăn, tranh nhau nhặt những miếng xương thừa của đám tù chúng tôi vừa ăn xong vứt dưới nền đất, kể cả những miếng củ cải xơ già đã được nhả ra. Ba người tù hình sự còn quá trẻ, rách rưới, trong đó có một em chỉ khoảng mười ba, mười bốn tuổi, đầu trọc, thân thể họ gầy còm, ghẻ lở, đi chân đất. Họ nháo nhác nhìn trên bàn, nhặt những hột cơm vương vãi, họ tìm tòi dưới đất những mẩu xương thừa, trong lúc hai con chó gầy guộc của trại cũng đang đói, chạy kiếm cái ăn dưới gầm bàn. Nỗi xúc động đột ngột khiến chúng tôi lặng người, ngồi yên trên chiếc băng gỗ như không muốn nói hay làm một cử chỉ gì để có thể gây tổn thương tới những người tù hình sự khốn khổ này. Nhưng chưa đầy một phút sau, hai người tù hình sự lớn tuổi, hung hãn tay gậy tay hèo chạy vào nhà ăn la hét, đuổi và đánh túi bụi vào ba đứa trẻ khốn khổ đang lấy tay che mặt che đầu. Sau đó, em út của những tên “đầu gấu” dẫn ba người tù hình sự trẻ tuổi ban nãy ra sân, còng tay họ vào hàng rào giây kẽm gai và một tên “đầu gấu”,mình mẩy đầy hình chạm trổ, đang thắng tay phang những gậy đích đáng vào thân hình gầy còm của họ. Hai người tù khóc than van lạy trong khi tên đầu gấu hùng hổ không ngớt buông những lời chưởi rủa. Không thấy sự hiện diện của cán bộ quản chế hay của quản giáo. Bọn cai tù trong các trại “cải tạo” này đã ban quyền sinh sát “tối cao” cho bọn “đầu gấu” để khống chế tất những người tù xấu số khác.

Trong “chế độ tự trị” thâm độc này, những tên “đầu gấu”, “đầu nậu” hay “đại bàng” không phải những tên lạm dụng sự sơ hở của trại tù, mà do bọn cai tù chỉ định để chỉ huy toàn nhóm tù. Chúng lấy miếng ăn để cai trị và khống chế đám tù hình sự này. Thay vì bữa ăn từ nhà bếp đem về được chia đều cho đám tù, thì ở đây cai tù phá lệ, họ cho “đầu gấu” từng đội có quyền lãnh phần ăn của đội mình về và sau khi đã dành riêng cho mình một phần no nê, phần còn lại trước hết y phân phát cho đàn em thân tín của y, còn sau đó phân phát cho ai, nhiều ít, thậm chí không phát phần ăn cho ai là quyền của y. “Đầu gấu” như vậy, là một nhân vật có quyền hành tuyệt đối, trung thành với trại tù, y khỏi cầm cuốc lao động mà chỉ cầm roi trong tay, dưới trướng chúng cũng có những tay sai trung thành sẵn sàng thi hành mệnh lệnh. Trong thời điểm này, dân ở ngoài cũng không được miếng no như chúng ở trong tù. Y nắm bao tử của những người tù dưới quyền sinh sát khiến họ phải hoàn toàn phục tùng mệnh lệnh một cách ngoan ngoãn và đầy khiếp sợ. Do đó, cán bộ coi tù không cần phải nhọc công quản chế đám tù hình sự, họ chỉ cần cho đám “đầu gấu” ấy một đặc quyền tối cao là toàn quyền quản lý thau cơm hay khoai sắn của đội, làm ngơ cho chúng sai khiến, đánh đập và chỉ huy đám tù lao động theo ý muốn của trại. Đám đầu gấu và tay chân bộ hạ thằng nào thằng nấy mập ú, da dẻ hồng hào, còn đám tù dưới sự cai quản, khống chế của chúng thì ghẻ lở đầy mình, thân hình chỉ còn xương bọc da. Không khác gì trong các trại tù nhỏ, trong trại tù lớn là đất nước Việt Nam hiện nay, chế độ này đã dùng bọn “đầu gấu” để thống trị quần chúng là những người tù bất hạnh bị áp bức. Bọn “đầu gấu” chính là bọn công an có quyền lực sinh sát trong tay, được chế độ CS nuôi dưỡng, xử dụng đặc quyền để đàn áp, đánh đập người dân vô tội vạ, thậm chí đánh chết vẫn được cường quyền che chở. Thân phận người dân này có khác chỉ hoàn cảnh của những người tù hình sự yếu đuối, gầy còm, khốn khổ mà chúng tôi, những người tù miền Nam của Phân trại C- Bắc Thái ngày xưa đã mục kích.

Ông “đầu gấu” nổi tiếng nhất của đảng CSVN là Trần Quốc Hoàn, nguyên là tù hình sự được Trường Chinh cất nhắc kết nạp, lãnh đạo ngành công an từ năm 1952 cho đến 1981, nổi tiếng côn đồ nhất trong vụ cưỡng hiếp và giết chết Nông Thị Xuân, vợ ông Hồ. Trong nhà tù lớn hiện nay, chủ trương của những người cầm quyền là dùng lực lượng công an để trấn áp nhân dân, dùng tù hình sự, giới anh chị giang hồ, lục lâm, thảo khấu trong các vụ cướp ruộng đất, đàn áp tôn giáo như chúng ta đã thấy. Đương nhiên là các tay “đầu gấu” này phải được đảng trọng dụng, cho nhiều đặc quyền đặc lợi, chẳng thế mà trưởng công an phường hiện nay cũng lên đến Trung Tá, Giám Đốc Công An Hà Nội mang cấp bậc Trung Tướng. Chế độ “đầu gấu” ở tù trong hay tù ngoài cũng vậy thôi! Trong nhà tù nhỏ chỉ có một “đầu gấu”, trong nhà tù lớn hiện nay có đến mười bốn “đầu gấu!”

(1)- NgyThanh: “Honduras: cái tên đồng nghĩa với chết chóc.” (Thời Báo USA 24/2/12)

Cuối năm, cuối cuộc..

Thơ Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 9 Mar 2026

#1.

Ánh trăng gờn gợn tàn canh

Bóng người rọi chạm vách tường lạnh tanh

Thầm nghe từ cõi vô thanh

Tiếng đời cô tịch, nghiệp trần khốc âm

#2.

Viết nên khốc liệt lời thơ

Như bơi biển nỗi sấm rền bão giông 

Phận người khốn khổ long đong

Nuốt xuống cho hết mỗi phần Mối Đau!

#3.

Cuối ngày, tàn cuộc, hết năm…

Nhạt màu ảm đạm một lần trần gian

Gầm lên vô vọng oán than

Hóa ra gió thoảng bên ngoài hành lang      

 #4.

Vô tình lãng đãng nghĩ chơi

Cuộc chơi nặng nhọc căn phần gian nan

Con người thật đủ khả năng

Nhận thương tâm khiến hậu nhiên bật cười…

#5.

Cuối năm ra khỏi nhà tù

Ngỡ ngàng đi chậm qua rừng cao su

Nhìn lên trời ngày âm u…

Có không phận nghiệp con người trầm luân?! 

Sắp hết năm ta,

Nhớ ngày ra tù Tết 1989!

Phan Phi Danh

Dấu Binh Lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 9 Mar 2026

Súng đạn nổ trên quê hương đã lâu, chiến tranh nên thành hiện tượng thường hằng như chúng ta ăn, sống, thơœ và chết. Chiến tranh đã xảy ra khắp cùng rừng sâu, núi cao, nơi thôn xóm, thành thị… Chiếc xe chạy trên quốc lộ bỗng mìn nổ, bùng vỡ tàn phá. Đêm ngủ trong nhà, súng bắn tới, pháo kích, chết chóc thê thảm xảy đến như một điều tự nhiên. Ngày sầm uất ở Thủ đô, giờ tan sở, tiếng nổ phát ra từ chậu hoa, gói giấy, xe hụ còi, người rên rỉ, nhà cháy, giây kẽm gai giăng kín. Chiến tranh, khuôn mặt quen thuộc đến nhẵn lì hàng ngày của quê hương tan tác. Tuy thế vẫn có một vùng đất, có một miền dành riêng cho chiến tranh, nơi sự chết đè lên sức sống, âm ỉ thù hận, rình rập lên từng cành cây ngọn cỏ. Đấy là nơi chiến tranh mở hội, máu chảy nên sông, xương kết lá, suối hôi tanh và gió thổi qua, gió âm âm nặng mùi. Nơi vết thương làm ung độc quê hương, nơi dòi bọ nhung nhúc thù hằn từ những xác chết nằm chơ vơ, lạnh lung – Nơi chốn không của người, nơi địa ngục im lặng, vang vọng tiếng than dài dân tộc rít qua kẽ lá u ám chập chờn – Mật khu.
Mật khu ở đâu? Có ở khắp nơi. Không cần phải đến Chu-Phong, vào Ashau, A-Lưới… Quê hương có bao nhiêu đất đai, bao nhiêu sông ngòi, ao lạch, bao nhiêu ruộng vườn, tất cả đủ chỗ để trở thành vùng mang dấu tích mật khu! Đường Huế – Quảng Trị, từ cây số 17 trở đi bề ngang hẹp như một thân thể lao xương gầy guộc, quốc lộ 1, mạch máu đỏ lờ mờ di động đau khổ trên miền núi cằn, biển lỡ… Mật khu ở đó, trên những ngọn núi Bàn, núi Động Thông vùng Cổ Bi, Hiền Sĩ, bên kia Phá Tam Giang dọc dãy phố Buồn thiu… Ngược vào nam qua Quảng Ngãi, Tam Kỳ, Bồng Sơn, xuống đèo Phù Cũ, một bên đầm Trà Ổ, bên kia đèo Ông Hổ.. Mật khu có đủ nơi, chiếm đủ chỗ, bày ra khắp cùng để người Việt sẵn chốn nằm xuống. Nằm xuống nhắm mắt ngơ ngác, kinh hoàng… Tại sao tôi chết ở đây? Tại sao tôi chết ở một nơi chưa bao giờ nghĩ đến? Vào nam thêm chút nữa hay lên đến cao nguyên, bên trái, bên phải sông Ia Drang đâu đâu cũng có bếp, hầm, nhà sàn, chông, mìn, lôi, đạp… Tiếp tục xuống phương nam về gần đến Sài Gòn vùng Hóc Môn, Bà Điểm, An Phú Đông, rạch Sơ-Rô, rạch Bến Cát ăn qua Lái Thiêu, Bình Dương, qua lại sông Sài Gòn đến ấp nhà Việc, Bến Cỏ, Bến Mương. Nhiều lắm, nhiều kể không bao giờ hết. Kể làm sao hết được nơi chốn cho người Việt. Để người Việt tận giết lẫn nhau. Khắp cùng tất cả trên mọi phân vuông của quê hương này, đủ chỗ cho người giết người. Làm sao tôi xác định rõ được nơi chốn nào là mật khu? Cố gắng, cố gắng, trong hốt hoảng, với kinh sợ vì thấy tay mình vấy máu. Tôi vẽ nên Mật Khu…
Trực thăng đổ quân xuống một vùng núi bị lở ra vì bom dội xung quanh không có một dấu vết địch, rừng im lặng tịch nhiên, lấy đội hình đơn vị, người khinh binh đầu tiên dấn bước mười lăm phút, nửa tiếng đồng hồ sau, tất cả vẫn còn nguyên chỗ cũ, gã khinh binh đi đầu tiến được khoảng mười thước! Rừng dày quá cây lá đan vào nhau, gai rừng trâu, gai lưỡi cưa giăng thành từng khóm từng cụm bên trái xanh, bên phải xanh. Cứ tiến về phía trước, cúi mình xuống, bò lọt vào giữa hai rễ cây, chặt đứt phăng mối nối, đứng dậy được, lại tiếp tục chặt cho đến khi con dao rừng rơi xuống đất lúc nào không biết, gai lưỡi cưa móc vào vành tai lúc nào không hay. Từng thước, từng thước rừng, người lính tiến về phía trước.
… Báo cáo có con đường chạy từ tây sang đông. Đúng như vậy, đường giao liên, coi chừng đạp chông, cứ dọc theo nó đi về phía tây bao giờ gặp con suối thì báo cáo lục soát. Có một hầm khoảng tạ gạo. Đúng rồi, tiếp tục, chung quanh đây còn nhiều thứ nữa. Báo cáo… Trình “đích thân” có một xấp tài liệu. Đưa lui cho tôi.
Chúng tôi đang ở trong một mật khu. Có gì lạ. Không gì hết, một ít gạo, vài quần áo cũ, dăm ngôi mộ, lục soát thêm ra hai khẩu súng cũ… Sống như thế này thì sống chó gì được! Người lính bên cạnh tôi chửi đổng mấy câu. Phải, không làm sao sống được, ngày này qua ngày ngồi một góc đường mòn nhìn về một phía rừng. Rừng xanh rì một khối, trên xanh, bên trái, phải, sau trước đều là một màu xanh mệt mỏi. Mặt trời không thấy, mây trắng, biển rộng mất bặt trong màu xanh của rừng. Mới nửa buổi trong khoảng xanh nặng nề này mọi người như ngộp thở, lá như có tay che bớt, không khí đi vào phổi con người. Thân cây không to, không cao, chỉ bằng cổ tay, cổ chân, khoảng ba thước cao, nhưng đan vào nhau, sát vào nhau… Trời nắng ở trên không biết, trời vần vũ làm mưa không hay. Hai thái dương như bị đấm liên hồi, mắt mờ lòa do từ nơi chói sáng vào bóng tối. Ánh sáng của rừng không còn là ánh sáng nguyên thủy, ấy là hơi bốc từ cây, từ lá tiết ra có mùi nồng nồng, có màu nhạt nhạt xanh xanh. Nửa buổi trong rừng chúng tôi đã ao ước, mong muốn được đi qua một khoảng trống dù cỏ lau rát da, rát thịt cũng được nhưng hãy cho chúng tôi một khoảng trống, để đứng thẳng người không mỏi cổ, được nhìn thấy xa đàng trước, không bị vít, không bị án bởi muôn ngàn giây leo rễ cái. Mới nửa buổi chúng tôi đã bần thần ngây ngây, huống gì người cán binh Việt cộng hết dựa gốc cây này đổi qua gốc cây khác, xuống suối rửa mặt, leo lên chiếc sàn, đâu cũng vướng víu, đâu cũng chật hẹp, có mắt như bị mù, thấy gì được, phân biệt được gì… Rễ cây nào cũng giống nhau, lá nào chẳng một màu xanh thăm thẳm. Trong khoảng xanh đen tím thẫm này các anh đã làm gì? Sinh hoạt tổ tam tam, sinh hoạt tiểu đội, trung đội, chán ơi là chán. Cứ sinh hoạt hoài hoài với những đề tài đã thuộc từng chi li tiểu tiết. Hết sinh hoạt lại nấu ăn, đốn củi. Thức ăn là gì? Khổ lắm, vài đọt kè, đọt búp, rau tàu bay, rau má, một ít ruốc hay muối trộn vào với nhau thành một thứ canh đắng đắng, mặn mặn, cố nuốt vào để khỏi đói. Miếng cơm nhai không có cảm giác, giống như loài bò nhai lại đám cỏ khi nhàn rỗi lười lĩnh. Như nào có cơm, chỉ những lát sắn khô nấu sền sệt.
Tôi đã đi qua mật khu của các anh, đã từng đổ máu và giết người trên phần đất đặc biệt do các anh xây dựng. Thông thường tôi gặp các anh trong tình trạng đã nên xác chết, nhưng dẫu có bị bắt các anh vẫn không thấy khác với xác của người đã chết bao nhiêu!! Da các anh không phải da người, trắng xanh bạc thếch đến lạ lùng, một màu sắc không thật, không có. Các anh nhìn chúng tôi không cảm giác, không ý niệm, các anh là khoảng trống, bí ẩn, u uất, buồn bã do năm tháng dầy đặc trong rừng, trong lá. Mắt của các anh hết còn là mắt người. Đấy chỉ là đôi ngươi khép mở khi thức, ngủ. Đúng như vậy, vì các anh đã đánh mất ý niệm của thị giác, của tất cả giác quan con người. Các anh hết tính người.
Bây giờ tôi có thể hiểu tại sao các anh hung hăng khi tác chiến. Tôi biết rồi… Đấy là lúc các anh đang sống lại. Súng nổ, đạn bay, tiếng bom, ánh lửa, một thúc đẩy mới, thổi bùng lại trong người các anh những phản ứng bao ngày bị cùn, bị chặt. Chỉ xung phong, khi giao tranh, anh mới tìm được nỗi vui vì được giết, được bắn, được vung vẩy tay chân, được lập lại phản ứng của con người – Được biết thế nào là sợ. Tôi đoán như thế và tin rằng mình xét trúng. Vì có nhiều lần chúng tôi đã hạ gục các anh trong lúc canh gác, các anh không còn thói quen nghe ngóng, âm suối chảy, tiếng nỉ non côn trùng đã làm mòn hết cảm giác phản ứng… Và các anh còn tội nghiệp hơn nữa – Các anh cần đàn bà. Đàn bà, sinh vật linh động quyến rũ đã bao lâu không nhìn, không thấy… Kích thích làn da, rung động nụ hôn, ngây ngất ân ái! Tôi biết các anh thèm thuồng và nhớ. Rất nhớ. Trong những buổi hội ý, học tập những thèm muốn đó các anh dấu với nhau, các anh tự che kín ngay với chính mình, các anh tội nghiệp đến độ bi thảm. Tôi biết cảnh sinh hoạt linh động có con gái ngực nở, đồng phục đen, mũ tai bèo chỉ có ở một vài nơi thật an toàn của chiến khu miền Nam, cảnh quyến rũ huy hoàng có đàn hát, môi hồng, mắt xanh mà báo chí ngoại quốc chụp được chỉ là cảnh láo, cảnh bịa, cảnh kịch dựng lên cho đám ngoại nhân tò mò cốt để tác động tuyên truyền.
Tôi biết ở mật khu các anh chẳng có gì cả, thèm thuồng, nhung nhớ lắm các anh nếu có được một vài quần áo lót đàn bà, vài nịt vú. Đấy, các anh chỉ có thế! Có thể nói tôi chủ quan khi nhận xét trên, nhưng từ lối sống ép buộc của các anh, hẳn chẳng có nữ cán bộ nào thừa áo quần, đồ lót nhiều đến nỗi vất tung tóe khi chúng tôi xâm nhập đến. Vậy chúng cốt để cho các anh – Các anh đã mắc phải một tật về dâm tính lệch lạc đến độ khủng khiếp và bi thảm. Tôi không hạ thấp khi khêu gợi lên cái “dâm” bị cụt của các anh, nhưng tôi biết con người các anh cũng như chúng tôi sống dưới một cảnh đời, dù bị kiểm duyệt bằng chế độ nào đi nữa cũng còn những rung động âm thầm của dục tính. Nhưng hỡi ôi các anh bị giản lược đến quá nhiều, các anh thiếu đến độ cạn mòn nhất, chúng tôi hiểu và thương các anh nhiều lắm. A! Những hung bạo, những sai lệch về nhân ái chắc cũng có ở đâu đây, cũng bắt nguồn từ những ước muốn sôi bỏng bị chèn ép, từ những cuồng bạo được ngụy trang nên bình thản nầy. Tôi nghĩ rằng, từ chỗ này các anh đã trở thành bạo ngược, xem người có hạnh phúc là kẻ thù, người đàn ông bình yên bên vợ con là thách đố, đáng ghét – Đó là hạnh phúc một đời anh mơ tưởng. Ô hay, các anh hung bạo là vì thế đó sao. Và chỉ là thế!!
Tôi cũng đã bắt gặp rất nhiều mẫu thơ tình của các anh, không có gì đáng tội nghiệp hơn nữa. Đành rằng người ta có thể yêu nhau, cảm thông nhau qua trung gian nghề nghiệp, chí hướng, tình yêu nước, tình đồng đội.. Nhưng tôi cũng nghĩ ra các anh đã quá dối trá khi chen trong lá thư tình những câu “Thề đánh Mỹ cứu nước” hoặc “tặng Lan với ý định thực tế đấu tranh tốt cho cách mạng”. Làm gì có loại ái tình kỳ cục và đầy dẫy “chiến đấu tính” như thế. Đành rằng các anh đã bị nhào nặn trong lý thuyết đấu tranh, do những luận lý kềm kẹp lẫn nhau, nhưng khi lòng mở ra cùng yêu thương, làm sao còn hình ảnh thằng Mỹ nào trong bố cục tình yêu đó? Người yêu của các anh là ai? Phần lớn là gái quê ở Tuy An, Tuy Hòa, Quảng Trị, Bình Long… Những gái quê ngây thơ và mộc mạc, do tác động của sau tuổi dậy thì, yêu thương tự nhiên như một nhu cầu, những gái quê ít học đó làm sao nghĩ ra được mỗi nụ cười, mỗi bàn tay trao nhau là nằm trong chu kỳ của quá trình đấu tranh cách mạng! Làm sao giây phút đầy xúc cảm của những lần ân ái, của nụ hôn là lúc “ý thức cách mạng về liên kết công-nông”, trong công tác? Ôi các anh đã dùng nhiều danh từ quá to lớn trong những hoàn cảnh không chút cần thiết.
Người ta có thể lừa dối người khác hoặc chính mình trong rất nhiều trường hợp, nhưng khi đến chốn riêng của tình yêu và tình dục chắc chắn phải là những nơi cuối cùng để thành thật nhất. Nhưng ở đây các anh quá khốn khổ, phải che dấu những đòi hỏi của tình dục và rung động thiết tha của tình yêu; trước giờ chia tay đáng lẽ các anh phải nói với người yêu những lời hẹn hò thân ái, phải nói nỗi niềm ray rứt khi xa nhau… Đằng này các anh lại chúc người yêu -“Em ở lại vui, trẻ, khỏe, đạt ưu điểm trong công tác để tiến bộ!” Các anh lại còn “quê” hơn nữa khi hứa hẹn – “Ngày thanh bình em về quê anh ở miền Bắc, để nhìn thấy Bác bên cành hoa!” Ông Hồ Chí Minh có là gì đâu mà sao anh phải mang vác trong một lúc đáng lẽ mở toang hết cửa sổ lòng người. Thế giới tình yêu hạn chế lắm, chỉ đủ chỗ cho hai kẻ yêu nhau, người thứ ba nên gạt bỏ ra ngoài. Ấy, các anh lại bảo tình yêu thoái hóa tiểu tư sản. Không, tình yêu “ý thức mạnh, công tác tốt” làm gì có thật, nếu có, thì cũng chỉ có trong những tâm hồn khủng hoảng lệch lạc dục tính như của các anh mà thôi. Ông Hồ cũng là một điển hình.
Thôi, mật khu xanh thẫm đó, hãy xóa bỏ chúng đi, các anh hãy đi xuống miền có người, có tiếng cười, tiếng hát, lời trẻ con ậm ừ sâu giấc ngủ đêm khuya.

Tháng 8-1967. Phong Điền.