Giết người trong tháng 11 năm 1963

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 9 Nov 2026

Bài Hai

Giết Người trong Tháng 11.

Lời Người viết: Bài viết thứ Nhất chứng minh các con số 2, 3…11, 26… đã tác động như thế nào đối với bản thân của một “Con Người/Cá nhân Pnnam” từ thuở thơ ấu, lớn lên và kéo dài cho đến hôm nay. Nhưng không chỉ có vậy, “các con số/Tất cả các con số” tác động toàn diện, cùng khắp bất kể ai, bất cứ hoàn cảnh nào. Lịch Sử Việt Nam/VNCH với Cố Thống Ngô Đình Diệm (3/1/1900-2/11/1963) và người em, Cố Vấn Ngô Đình Nhu (1910-1963) là một xác chứng cụ thể, điễn hình, rõ nét hơn hẳn.

Câu chuyện Tháng 11/1963 đến nay hơn nửa thế kỷ, không mấy ai còn lưu tâm cho dầu những người trong cuộc (nếu còn sống). Thế nhưng, bài viết cố gắng nêu mục đích (cuối cùng) để chứng minh: Sự Ác từ, của Con Người/Tất cả Con Người/Những người cầm quyền/thực quyền trong chính trị, kinh tế, ngoại giao – Thành phần lãnh đạo điễn hình ở Mỹ là một Duyên/Nghiệp rất đáng sợ – Cuộc bầu cử quốc hội Mỹ giữa nhiệm kỳ vừa qua, 3/11/2026 (tính chất) không khác gì Tháng 11 của 63 năm trước: 2 Tháng 11 Tổng Thống Ngô Đình Diệm và những người em dần bị giết – Qua đến 22 Tháng 11 Tổng Thống Kennedy bị sát hại, người em, con, cháu tiếp tục không toàn thân. Tổng Thống đương nhiệm Donald Trunp đã bị bắn và mưu sát tính đến 11/2026 là lần thứ tư.  

#I. Kịch bản Thứ Nhất – Viết theo tài liệu từ những giới chức cao cấp thuộc cơ quan lãnh đạo chính trị, ngoại giao, tình báo, Tòa Đại Sứ tại Sàigòn; Tòa Bạch Cung, và dư luận báo chí Mỹ.

11. Nguyên nhân và chuẩn bị:

Câu chuyện bắt đầu với vị tổng thống đầu tiên của Miền Nam VN, Tổng Thống Ngô Đình Diệm (31/1/1900- 2/11/1963), một người Công Giáo Việt Nam thuần thành. Thoạt tiên một số đông người vào  thời điểm 1954’s đang có thẩm quyền (trên thế giới) không mấy ai tin tin Ông NĐD sẽ thành công, vượt qua được những rối loạn (chính trị, quân sự, xã hội) trong giai đoạn sau 20/7/1954 (Hiệp Định Genève chia đôi VN qua Vĩ Tuyến 17). Nhưng Tổng Thống Diệm và chính phủ cộng hòa do ông lãnh đạo đã thành công xây dụng Miền Nam, VNCH nên thành một quốc gia cường thịnh nơi vùng Đông Nam Á chỉ trong một thời gian ngắn ngủi (1954-1960) – Thủ Tướng Lý Quang Diệu (1923-2015) lúc ấy chỉ có một ước vọng nâng cấp Tân Gia Ba ngang bằng với Sàigòn 1960. Đối lại, ở Miền Bắc, đảng nhà nước cộng sản Hà Nội từ nghị quyết 15 của Đại Hội 3 Trung ương đảng đã thành hình Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (20 Tháng 12, 1960), quyết tâm thực hiện xâm chiếm Miền Nam bằng lực lượng vũ trang đúng chủ trương chiến lược cách mạng vô sản từ Mao Trạch Đông (1893-1976) nơi Bắc Kinh. Chế độ TT Diệm buộc phải thực hiện sách lược ứng phó. 1962, chính phủ Hoa Kỳ với Tổng Thống Kennedy (29/5/1917-22/11/1963) tăng cường viện trợ quân sự kinh tế cho Nam VN, cụ thể sau thất bại vụ đổ bộ tại Vinh Con Heo, Cu Ba (17/4/1961) nhằm chận đứng mưu định bành trướng phong trào cộng sản tại Đông-Nam Á.

Vào mùa Hè 1963, bùng nổ biến cố Phật Giáo bắt đầu từ ngày 8 tháng 5, 1963 tại Huế; trong cùng lúc   tình hình quân sự với trận chiến tại Trận Ấp Bắc, Cai Lậy, Định Tường (3/1/1963) mở đầu giai đoạn mới của kế hoạch công kích-nổi dậy do Nghị Quyết 15 nói ở phần trên. Nhưng đây là một “chủ đề khác” không thuộc nội dung bài viết nầy. Biến cố Phật Giáo dưới lãnh đạo của các Thượng Tọa Trí Quang (21/12/1923-8/11/2019), Thiện Minh (1921-1978) từ Huế lan rộng vào Sàigòn khiến báo chí, giới quan sát, chính quyền Mỹ đặt nặng vấn đề đối với biến cố Phật Giáo song song với với tình hình quân sự ở Nam VN. Tuy nhiên, trước, sau 30/4/1975, cho thấy sự kiện Phật Giáo 1963 và cá nhân Trí Quang dần lộ rõ đấy CHỈ là một âm mưu được phía cộng sản Hà Nội bí mật phối hợp, điều hành, thực hiện trong khi chính quyền Miền Nam bị thụ động, chỉ đề ra cách ứng phó với những biện pháp không thích hợp. Quan trọng hơn hết, chính phủ Mỹ, TT Kennedy (cũng) dần lộ rõ ý định thay đổi cơ cấu, thành phần lãnh đạo VNCH/Chính quyền TT/NĐDiệm với người em, Cố Vấn NĐNhu với lý do để sách lược ngăn chận cộng sản nơi địa bàn Miền Nam VN, ở Đông Dương được hiệu quả. 

Cũng bởi, sau biến cố Đài Phát Thanh Huế bốn ngày, Cố vấn NĐNhu đã cho nổ một trái bom làm rúng động giới ngoại giao Mỹ – Ông tuyên bố với phái viên tờ Washington Post: “Cho đến lúc này, Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà không thấy cần thiết một số cố vấn quân sự quá lớn, cho nên VNCH có thể yêu cầu Chính phủ Mỹ cho rút một nửa số cố vấn quân sự Mỹ, tức là chỉ nên duy trì (khoảng) 7, 8 ngàn là đủ (Washington Post 12/5/1963). Cũng vào thời gian này, ông Nhu nói (riêng) với Giáo Sư Bửu Hội (1915-1972), vị Đại sứ Đặc Mệnh Toàn Quyền VNCH tại các nước Châu Phi thuộc Pháp trước 11/1963: “Đã đến lúc mình phải xét lại sự viện trợ và hợp tác của Mỹ. Anh có thể giúp tôi tìm sự ủng hộ thân hữu của Pháp và các quốc gia Bắc Phi. Trong tình thế hiện nay, chúng ta phải đi đến một Modus Vivendi/Thoả Ứớc (tạm thời) với Bắc Việt”.

Khi nhận định như trên, Cố Vấn Nhu đã quên rằng với 16 ngàn cố vấn và mỗi ngày chính phủ Mỹ phải chi trên một triệu dollars cho cuộc chiến tại Nam Việt Nam (Thời điểm 1963) thì không dễ gì phía Mỹ có thể để cho ông “tự do hành động” khác với những đường lối của họ. Thế nên, một cuộc đảo chánh quân sự do các tướng lãnh người Việt (sẽ) được lên kế hoạch, thực hiện bởi một hệ thống cầm quyền (cao nhất) của giới chính trị, tình báo, ngoại giao, quân sự Mỹ ở Sàigòn, Hoa Thịnh Đốn, cụ thể với  viên Đại Sứ Mỹ Cabot Lodge (5/7/1902-27/2/1985) được cử tới Sàigòn, 22 Tháng 8, 1963. 

Đến Sàigòn, chỉ sau hai ngày, 24 Tháng 8, Đại sứ Lodge nhận được Công Điện Số 243 từ Bộ Ngoại Giao Mỹ. Bức điện có nội dung: “Đưa Nhu (gọi đích danh-Pnn) ra khỏi vị thế quyền lực, Diệm (gọi đích danh –Pnn) nếu không thuận thì (cũng) phải bị thay thế… Chính phủ Mỹ không thể dung thứ tình trạng Nhu nắm quyền, Diệm phải hy sinh Nhu và đám nịnh thần để thay thế bằng một thành phần quân sự tốt và những chính trị gia có khả năng”. Qua công địện, Đại sứ Lodge nhận được chỉ thị: “Ông hãy nói cùng những những viên tướng (Nam VN) chủ trương (cuộc đảo chánh dự trù): “Nước Mỹ không thể tiếp tục viện trợ quân sự, kinh tế nếu không có bước khẩn cấp thực hiện đưa Nhu ra khỏi quyền lực. Chúng ta (Người Mỹ-Pnn) muốn cho Diệm một cơ hội hợp lý thay thế Nhu, nếu ông ta (TT Diệm-Pnn) cứ cố chấp từ chối thì chúng ta sẽ không thể tiếp tục yểm trợ ông ấy nữa. Ông (Đại sứ Lodge-Pnn) cũng lựa lời nói cùng với những viên tướng (người Việt) chúng ta sẽ trực tiếp yễm trợ trong giai đoạn chuyển tiếp tạm thời chính quyền trung ương (Ở Sàigòn-Pnn)”

Bức điện tín được Roger Hilsman Jr. (23/11/1919 – 23/2/2014) soạn thảo trên chức vụ Phụ Tá Ngoại

Trưởng, phụ trách Viễn Đông Sự Vụ, kế tục người tiền nhiệm Averell Harriman lên giữ chức Thứ Trưởng. Harriman là kẻ chống đối TT/NĐD quyết liệt nhất do Ông Diệm phản đối vụ ký kết Trung Lập Lào, 1962. Harriman chuẩn y CĐ 243 để Micheal Forrestall, phụ tá Cố Vấn An Ninh Quốc Gia George Bundy chuyển cho TT Kennedy đang đi nghỉ mát cuối tuần, 24/8/1963 nhằm ngày Thứ 7. Cần nói rõ, Hilsman vốn chủ trương chiến cuộc VN yếu tố chính trị cũng quan trọng không kém phần quân sự – Từ quan điểm nầy, Hilsman quyết thay thế người lãnh đạo Miền Nam. Hilsman không hành động đơn lẻ, ông có một giàn đồng sự cùng chí hướng “lật đổ TT Diệm”, đấy là Thứ trưởng Ngoại giao George Ball (1909-1994), xử lý thường vụ Ngoại Trưởng Dean Rusk. Nhóm nầy đã đồng soạn thảo và ký tên Công Điện 243 trong lúc Tổng Thống Kennedy và Ngoại Trưởng Rusk vắng mặt.

Tóm lại, phía Mỹ đánh giá ông Diệm càng ngày càng trở nên độc đoán, bảo thủ, khó tiếp cận và khó thuyết phục trong khi mục tiêu chống Cộng gặp nhiều khó khăn khiến quan hệ giữa CIA và các cơ sở khác của Mỹ với Dinh Độc Lập trở nên căng thẳng trầm trọng. Chính phủ TT/Kennedy nghĩ đến nước cờ “thay ngựa giữa dòng” đối với cá nhân anh em TTNĐDiệm. Cũng bởi, Kennedy lo ngại tình hình Việt Nam (sẽ) ảnh hưởng xấu đến cuộc tái tranh cử của ông vào năm 1964, nên muốn tìm một giải pháp mới nhằm thay đổi tình hình tại VN theo chiều hướng có lợi cuộc tái tranh cử của mình. Sự kiện thay đổi Đại Sứ Lodge trong lúc tình hình căng thẳng là dấu hiệu thay đổi chính sách. Ngày 25 Tháng 8, trong chương trình phát thanh của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ, TTKennedy họp báo tuyên bố rõ: Nếu muốn công cuộc ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam hữu hiệu thì cần phải thay đổi chính sách, thay đổi hệ thống nhân sự lãnh đạo tại Sài Gòn.

Tuy CĐ 243 đã tới Toà Đại Sứ Mỹ ở Sàigòn nhưng quyết định tối hậu về “Thuận/Không thuận yểm trợ đảo chánh” vẫn còn là một vấn đề chưa có kết luận chung cuộc. Nên liên tiếp trong ba ngày 26, 27 và 28 tháng 8, TT/Kennedy đã có cuộc họp khẩn với các phụ tá, cố vấn thuộc Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, giới chức cao cấp thuộc Bộ Ngoại Giao, Bộ Quốc Phòng, Cơ Quan Trung Ương Tình báo để thảo luận về yêu cầu (tổ chức) đảo chánh tại Việt Nam. Nhưng cuối cùng, cuộc họp vẫn chưa có (thể) quyết định cụ thể: NÊN TỔ CHỨC ĐẢO CHÁNH HAY KHÔNG do có những ý kiến đối nghịch cụ thể như: 1/Tướng Maxwell Taylor, Tham Mưu Trưởng Liên Quân: Không đồng ý với dự kiến thay thế chế độ TT/NĐD bởi những thành phần tướng lãnh quân đội. 2/Của Cựu Đại Sứ Nolting đánh giá nhóm tướng lãnh VN thiếu đồng nhất, không có tư thế lãnh đạo; 3/Giám đốc CIA William Colby cho rằng tình hình SG (vẫn) yên ổn, vụ Phật Giáo không lan rộng cả nước. 4/Tuy nhiên, giới ngoại giao gồm Roger Hilsman Jr, Averell Harriman, Micheal Forrestall thì quyết liệt tán đồng phải thực hiện đảo chính.

Những cuộn băng ghi âm về cuộc họp (phổ biến sau nầy) cho thấy: TT/Kennedy phải đối diện một lựa chọn có tính cách “tiêu cực/ép buộc/khó giải quyết” đối với tình thế VN/cá nhân hai Ông Diệm, Nhu. Ông nhận định rằng, nếu CV/Nhu vẫn giữ vị thế quyền lực thì không thể thắng cuộc chiến, thế nên, ông không đồng ý với quan điểm của Bộ Trưởng McNamarra là: “Chúng ta (chính phủ Mỹ) vẫn có kế hoạch làm cho chiến tranh (được) tiến hành (khả quan)”. Bộ Trưởng McNamarra tuy không đồng ý cuộc đảo chính (dự trù), nhưng ông lại không đưa ra được một luận cứ mạnh mẽ nào cho quan điểm của mình.

Cuối cùng, ngày 29/9 Tổng Thống JFK (phải) gởi một toán nghiên cứu đến Sàigòn, gồm những nhân vật cao cấp quan trọng gồm Huntington Sheldon của Văn Phòng CIA trung ương, Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara và các Tướng Maxwell Taylor, General Krulak; và Joseph Mendenhall thuộc Bộ Ngoại Giao. Trờ về Mỹ, bản phúc trình của những nhân sự nầy tập trung vào “Vấn đề của Nhu” bởi mục tiêu của nhóm công tác là một vận động ngoại giao, tạo áp lực lên Tổng Thống Diệm (phải) cất bỏ Ông Nhu ra khỏi quyền lực. Trong cuộc gặp gỡ tại Dinh Gia Long, Bộ Trưởng MacNamara nói với TTDiệm rằng việc đàn áp Phật giáo gây trở ngại cho nỗ lực chống cộng và phàn nàn về những tuyên bố của bà Ngô Đình Nhu, nhưng qua một màn độc thoại dài hơn một giờ (bằng tiếng Pháp) TTDiệm né tránh các vấn đề do McNamara đưa ra.  Tuy nhiên phúc trình của đoàn công tác lên TT Kennedy về kết quả chuyến đi gặp TT Diệm lại có những nhận định không đồng thuận với nhau khiến TT Mỹ phải kêu lên: Chính phủ của tôi đã bị xé rách tung rồi! Trong cùng lúc, những viên tướng người Việt ở Sàigòn chiêu mộ thêm những người ủng hộ cuộc đảo chánh dự trù theo kế hoạch định sẵn.

Đến đây trước khi bước qua phần trình bày diễn tiến, kết quả vận động, đảo chánh (từ, với phía Mỹ) đối với những viên tướng người Việt tại Sàigòn thì chúng ta có thể xác định: Qua những phiên họp khẩn của những Ngày 26, 27, 28 Tháng 8, vấn đề chính của chính phủ Mỹ là tạo áp lực nhằm buộc  TT/Diệm loại bỏ CV/Nhu (lẫn Bà Nhu) ra khỏi quyền lực để người Mỹ điều hành chiến tranh (theo yêu cầu, điều kiện của họ) – Tất cả có mục đích thuyết phục quốc hội, tạo ưu thế cho cuộc tái ứng cử của TT Kennedy, 1964. Nghĩa là: 1/Sự kiện Phật Giáo (gọi là) bị đàn áp qua tai nạn Ngày 8 Tháng 5 ở Huế; Hòa Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu (11/6); Chùa Xá Lợi bị tấn công (20/21 Tháng 8): hoàn toàn không đề cập tới – Tương tự như Biến Động Miền Trung sau nầy với lực lượng Phật Giáo làm nòng cốt không hề là vấn đề của chính phủ, quốc hội, báo chí, dư luận Mỹ, Mùa Hè 1966.

2/Luận chứng cáo buộc Ông Nhu giữ thực quyền bên cạnh TT/Diệm là làm suy yếu cuộc chiến chống cộng sản theo kế hoạch của Mỹ thật sự chỉ là lý do bề mặt. Sự thật là chủ trương thiết lập quan hệ bình thường với Hà Nội qua trung gian của Pháp của ông Nhu, được sự đồng thuận của TT Diệm trên nguyên tắc “giữ chủ quyền quốc gia/nhẹ bớt áp lực của Mỹ” là một trở ngại lớn đối với sách lược (cần) chỉ huy toàn diện chiến cuộc, tình thế VN – Sau nầy sự kiện ngụy tạo biến cố Vịnh Bắc Bộ (2-4/8/64); đỗ quân lên Đà Nẵng, 8/3/1965 là xác chứng cho luận cứ nầy – Năm 1995, Cựu Bộ Trưởng McNamarra thú nhận với Võ Nguyên Giáp tại Hà Nội là một nhầm lẫn nghiệm trọng.

12. Diễn Tiến với Người và Việc

Thoạt tiên, Chính Phủ Mỹ/ TT Kennedy muốn xử dụng Đại Tá Không Quân Edward Lansdale (1908-1987), nhân viên Cơ Quan Tình Báo Chiến Lược/Office Strategic Office/Tiền thân của CIA trong âm mưu tổ chức lật đổ Tổng Thống Diệm. Do Đại Tá Landsdale từ 1950 đã có những liên lạc, kinh nghiệm với Ông Diệm lúc mới về nước giữ chức Thủ Tướng (7/1954) Quốc Gia Việt Nam của Quốc Trưởng Bảo Đại (1949-1955) Nhưng Đại Tá Landsdale đã thẳng thắng từ chối lời đề nghị của TT/Kennedy với lý do TT/Diệm là một người bạn đáng quý trọng. Sự từ chối nầy đã khiến bản thân TT Mỹ và Bộ Trưởng McNamarra phật ý. TT/Kennedy, ban tham mưu, cơ quan tình báo Mỹ chọn một nhân sự khác.    

Lucien Emile “Lou” Conein (1919 – 1998) vốn là một sĩ quan bộ binh quốc tịch Mỹ gốc người xứ Corse, Pháp, hoạt động lâu năm trong ngành tình báo OSS/CIA. Năm 1961 Conein trở lại Nam Việt Nam với tư cách một nhân viên hợp đồng của văn phòng CIA tại Sàigòn. Dẫu bị đánh giá là một tay bợm rượu (nặng) và có dính líu với đường giây buôn bán ma túy, nhưng Lou Conein vẫn được trọng dụng bởi khả năng, kinh nghiệm hoat động tình báo cao. Trước ngày nổ ra cuộc đảo chính, 25 Tháng 10, 1963, Bộ Trưởng McNamarra (dẫu công nhận khả năng chuyên nghiệp của Conein trong công tác) nhưng đánh giá đương sự là một “người Pháp không vững vàng” với TT Kennedy, nhằm loại trừ ông ta ra khỏi tổ chức, điều hành (bí mật) cuộc đảo chánh. Nhưng Conein (vẫn) được Đại Sứ Lodge chọn làm người liên lạc (có thẩm quyền/chính thức (từ Đại Sứ Mỹ) với nhóm tướng lãnh người Việt), có mặt trong căn phòng nhỏ bên cạnh văn phòng Tướng Trần Thiện Khiêm (Tham Mưu Trưởng Liên Quân, một nhân sự chính của nhóm tổ chức đảo chánh) với bao đựng 42,000 Đô-la tiền mặt. Mấy năm sau năm 1963, nhân một buổi uống rượu (say) với Edward Lansdale tại Sàigòn, Lou đã khóc với Lansdales xin tha thứ việc y đã nhúng tay vào vụ (giết) ông Diệm. Nhưng đấy là chuyện hậu đảo chánh. Trở lại sự kiện trước Ngày 1 Tháng 11, 1963 tại Sàigòn.

Tại Sàigòn, Đại Sứ Lodge phản đối việc Tướng Harkins, Tư Lệnh Quân Đội Mỹ tại VN đã can dự (có tính cách phản đối) vào việc tổ chức, khởi động, tiến hành cuộc đảo chánh của nhóm tướng lãnh người Việt. Vì (nếu) làm như vậy, cuộc đảo chánh (dự trù) có thể bị nguội lạnh, cũng có nghĩa phản đối cuộc đảo chánh trái với dự kiến của chính phủ Mỹ. Thế nên, trong Ngày 24 Tháng 10, Conein đã gặp tướng Trần Văn Đôn (nhân tố chính của tổ chức đảo chánh) để xác nhận rằng: Tướng Harkins đã thú nhận (quan niệm) chống đảo chánh là sai lầm. Đối lại, Tướng Đôn xác định tất cả kế hoạch (đảo chánh) đã toàn hảo sau nhiều lần kiểm chứng.

Tại Mỹ, Ngày 29/10, Tòa Bạch Cung họp lần cuối để xét xem liệu (có thể) trở bộ thoái lui cuộc đảo chánh hay không? Tại thời điểm cuối cùng nầy, Bộ Trưởng Tư Pháp Bob Kennedy vẫn giữ quan điểm chống cuộc đảo chánh, Tướng Maxwell Taylor đứng về phía ông; trong khi một phía kia (thành phần ngoại giao) thì đặt vấn đề một chính phủ (sau đảo chánh thành tựu) sẽ gồm những ai, và tập trung lên yếu tố cân bằng (lực lượng) giữa phe đảo chánh và phía của Dinh Gia Long/TT Diệm

Cuối cùng, Tòa Bạch Cung bật đèn xanh phát lệnh cuộc đảo chánh khởi động sau khi Tổng Thống Mỹ nghe những lời báo cáo của Giám Đốc CIA John McCone tại Sàigòn, sau đã tiếp cận với những viên tướng đảo chánh (Bản ghi âm lời TT/Kenndy được phổ biến vào năm 2003) – Hiện thực Tinh Thần và Nội Dung Công Điện 243 do Roger Hilsman gởi trong ngày 24 tháng 8, 1963.

Sẽ làm tiếp các phần

13/Đảo chánh và kết quả (của Phần 1)

II. Kịch bản thứ Hai- Phe Đảo Chánh

III. Kịch bản thứ Ba- Phe (Bị) Đảo Chánh

IV. Phần Kết Luận của Nhân Chứng – Nạn Nhân Người Việt


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply